Quán Thơ Hư Vô 300…


CHÀO EM THÁNG 10.

Chào nhau một nụ tháng 10
Mùa thu nở giữa môi người ngọt ngây
Cảm ơn em mái tóc dài
Thả tôi lêu lỏng trên vai một thời.

Chào nhau nụ ấm hơi người
Cảm ơn em đã vì tôi biết buồn
Môi tròn theo dấu phấn son
Tóc chia hai nhánh tôi còn một bên!

Ơn em xin nguyện đáp đền
Thì tôi cũng được chút huênh hoang rồi!
Trả nhau chưa dứt nợ đời
Mà tim tôi đã tơi bời đó em.

Nợ nần chồng chất nặng thêm
Cảm ơn em vẫn còn kềm chân tôi
Chào em môi đỏ tháng 10
Thơ tôi trải xuống em ngồi cho êm…

Hư Vô

CHIỀU XUÂN LẠNH MELBOURNE

Melbourne bây giờ đang mùa xuân
Em yêu ơi! Trời lạnh vô cùng.
Anh đi lãng đãng chiều phai nắng
Khẽ gọi tên em môi run run!

Có tiếng chim gù trong gió xa
Nhớ em…chiều nắng xế quê nhà.
Anh xuýt xoa hai bàn tay lạnh
Chiều không em! Lặng ngắm mây qua!

Anh biết quê nhà đang cuối thu
Đêm buồn rưng rức trăng tương tư!
Dưới bóng hoàng lan trăng lồng tóc
Một mình em lặng bước thẩn thơ!

Em nói em yêu trời Melbourne
Đến mùa thu lá vàng đẹp hơn!
Ừ nhé em yêu! Chiều nắng tắt
Đêm vo tròn giấc ngủ cô đơn!

Trần Thoại Nguyên

CƠN ĐAU KHÔ..

Đường chưa tận mà đôi chân đã khụy
Trời vẫn xanh mà mây đục giăng đầy
Nắng đã thừa chiều mà gió chưa vơi tạnh
Lối ta về…bụi cát vẫn đang bay..

Tìm đâu thấy một lần ta sống với
Một lần ta trú tạm xác thân mình
Một thế giới hình nhơn đầy hắc khí
Nhảy loạn cuồng những điệu múa yêu tinh..

Ta thở gấp cho đầy đêm tuột áp
Buồn hôn mê theo máu chảy luân hồi
Tim loạn nhịp nghe rền cơn trống giục
Hồn ngợp chìm trong nỗi nhớ đang bơi..

Ôi, cơn đau đấy ta vào ngõ cụt
Ta nhìn ta phần mộ phía bên này
Khung trời hẹp chim không còn chỗ đậu
Một lối nhỏ ta về trả lại khoảng trống cho ai….

Trung Chinh Ho

HẮT HƠI THƠ

Có một ngày mạch thơ khô cạn
Cảm xúc giang hồ đâu đó biệt tăm
Huy động nhớ thương lục tung dĩ vãng
Nửa câu ngắc ngứ chẳng nên vần

Hồn rơi rớt nơi trạm dừng bến đỗ
Tình chơi vơi níu giọt sương mờ
Tà áo phất bên lòng nhột vòng quay lặng lẽ
Kỷ niệm vàng ký ức hắt hơi thơ

Trong khắc khoải nỗi buồn truyền kiếp
Nhịp cô đơn hồi trống giục lên đường
Mở mênh mông màn trời trải chập chùng chiếu đất
Một thiên đường ma mị yêu thương

Những huyễn mộng có bao giờ giải được
Dòng hạ lưu hổn hển chảy về đâu
Chân líu ríu nối mùa sau mùa trước
Mặc vòng tay hiu quạnh nối sầu

Cuồng phức cảm ào ạt tràn vỡ mạch
Chữ nghĩa xô bồ thơ hoại tử yêu
Ta cắm bút vãi mực tình ra đất
Trơ cành khô treo lá cờ chiều….

Lưu Xông Pha

TÌNH THƠ

Phong thư một mùa xưa cũ
Cánh hoa mỏng mảnh lưu hương
Từng dòng, từng câu nắn nót
Tình đầu như vẫn còn vương

Bâng khuâng một thời áo trắng
Lá me rơi vướng tóc bay
Sáng chiều vòng xe đưa đón
Lối em hoa nắng rơi đầy

Hoàng hôn núi đồi tím ngắt
Bầy chim cao vút tầng mây
Gót son chạy qua nội cỏ
Ngỡ tay ôm cả đời này

Phượng nở tàng cây thắm đỏ
Như mầu tim đỏ biệt ly
Mực mùng tơi giây trang vở
Hai phương chia biệt kinh kỳ

Xa lắm, mấy thu rồi nhỉ
Sầu dâng bạc trắng vầng trăng
Biển xanh u trầm đáy nước
Người nghe em gọi bao lần?

Những tờ thư xinh năm ấy
Còn ghi..mộng thuở ..ngày xanh

Thiên Di

HÀNH KHẤT

Tôi đi xin tháng xin ngày
Xin cho tôi lại thơ ngây thuở nào
Để tôi vẫn được ước ao
Trèo lên cây bưởi hái sao trên trời
Cho tôi bắt được sao rơi
Đem về tôi đổi nụ cười của em …
…..
Tôi đi xuyên suốt màn đêm
Chỉ mong nhìn được môi em mỉm cười ..
.
Tôi đi hết cả một đời
Mà không tìm được nụ cười của em ….

Nam Vu

TRƯA TÌNH

Trưa-trờ-trưa-trợt rồi em
Chưa buông chăn chiếu, nán thêm trưa tình
Bên hiên gió lạ rập rình
Thương con chim hót, thiên thanh trời về…

Kệ thời gian, nhặt đam mê
Bỏ vào ký ức cho lê thê ngày
Trưa tình lúng liếng thơ ngây
Mắt em háo hức thuở đày trái tim!

Anh. Câu lục bát đi tìm
Mùa thu chộn rộn Ngự Bình heo may
Hàng Bồ sót nụ cười đây
Để nghe mùi nhớ lên đầy vai xưa.

Trưa tình mắc võng câu thơ
Ru em chín đợi, mười chờ như ri…
Mai này dù cạn sân si
Hoa tàn, nguyệt tận không di lý đời…

Trần Dzạ Lữ

CHIỀU CAO NGUYÊN

Mây mãi phiêu bồng
Nơi đó có ai đợi trăng về đêm tháng tám
Trăng đục thơm mầu sữa
Tiếng hát buồn rơi trong hoàng hôn

Gió như chùng xuống theo hơi thở của ngày ly biệt
Quay lưng để lại giữa mùa thay lá
Rêu phong đã phủ mờ
Trên những dấu ngày tàn phai

Ngoài hiên tiếng thở dài như khẽ gọi …
ngày phai úa.

Đổ Khoa

IMG_0039

Em Qua Cầu Sương Trắng. Thơ Hư Vô, Nhạc Cung Nhật, Ca sĩ Đình Nguyên, Video Vọng Ngày Xanh


Quán Thơ Hư Vô 299


Quán Thơ Hư Vô.

CẢM ƠN EM, NGƯỜI TÌNH CUỐI

Cảm ơn em,
là chiếc bóng
Để tôi biết tượng hình hài
Cảm ơn đêm,
còn tăm tối
Chỗ tôi lăn lóc bên người!

Trái tim thì thầm
nhức nhối
Một đời hối hả tìm nhau
Cảm ơn em,
người tình cuối
Cho tôi biết yêu lần đầu.

Em là đêm,
tôi nương náu
Vết đau như đã ngọt ngào
Em là dao,
tôi rướm máu
Còn nguyên nhát chém đời sau!

Cho em dự phần
di tích
Chia đều nửa góc hình tôi
Những người tình,
còn đang khóc
Chia nhau giọt lệ,
lẻ loi…

Hư Vô

THƠ KHÔNG ĐỀ TẶNG HƯ VÔ

Ôm Lưng Nguyệt lần đầu gặp gỡ,
Kiếp phù sinh có phải Hư Vô?
Chiều thu như có sợi tơ,
Ta ngồi kể chuyện chuyện thơ thẩn cười,

Bụi nào ấm áp tình người ,
Bụi nào đau đớn tay lười phủi đi!
Bụi nào ôm ấp tình si,
Hai bờ xa cách ướt mi mỗi chiều ..

Duyên mình chỉ có bấy nhiêu?
Vô tình gặp gỡ mang nhiều bâng khuâng…
Chiều nay lòng vẫn lâng lâng,
Nhớ người nhớ bạn một lần gặp nhau …

Trầnthịminhchâu

CHIỀU THU NGẮT BÔNG HOA DẠI

Buổi chiều buồn…đi lang thang
Ngắt bông hoa dại mơ màng nhớ em.
Lặng nhìn trời đất mông mênh
Cúi hôn hoa bỗng nghe rền biệt ly!

Ôi em mười bảy xuân thì
Cành hoa em bẻ bay đi biệt mù
Bây giờ nắng úa xế thu
Anh cầm hoa dại hát… ngu ngơ buồn

Ai đâu tâm sự hoàng hôn
Nhìn hoa…hồn lạc theo hồn hoa xưa!

Trần Thoại Nguyên

Biệt Ly

Bánh xe lăn về phía chia ly.
Mắt đỏ nhìn nhau lệ hoen mi.
Phi cảng lạnh lùng sầu lan toả.
Đau lòng kẻ ở khóc người đi..

Bảng đèn nhấp nháy giờ ly biệt.
Lung linh ngấn nước bóng sao trời.
Đêm nay trăng rải vàng phi đạo..
Phòng chờ trước mặt hoá xa xôi..

Tai nghe tiếng máy bay gầm rú.
Phi đạo trải dài giữa đêm đen.
Trơ trơ chim sắt vô tình quá.
Xoải cánh nghênh ngang dưới ánh đèn.

“Sao” rơi về phía những tàng cây.
Bỗng dưng giọt nước mắt lăn dài.
Vút tận trời cao đau xé thịt.
Trải lòng thương xót ngập cung mây…

Quê nhà biền biệt trong mộng tưởng.
Vầng trăng viễn xứ khuất sau đồi.
Đêm rằm trăng đỏ như đọi máu.
Rưng rức, cồn cào bóng nguyệt soi.

Chẳng biết ta đi hay về nữa.
Một bước quê chồng nhớ quê xưa.
Thương cha thui thủi sầu nguyệt tận.
Nhớ mẹ vào ra mắt thẫn thờ.

Ta bước chân về… Ta chẳng ở.
Nhớ mẹ, thương cha dấu trong lòng.
Kia nhà ta đó, chồng con đó.
Ta về sao giống sáo sang sông.

Chim hồng tung cánh trời cô quạnh.
Vời vợi chiêm bao khóc má hồng.

Bùi Nguyên Phong

MƯỜI NĂM TÌNH NHƯ ĐÃ..

Chiều lưng trên phiến nhớ
Ký ức mòn vách ngăn
Tay với bàn tay vẫy
Chân níu hoài bước chân..

Ừ, thôi đò lỡ chuyến
Câu thề neo bến sông
Lơ thơ bèo mây dạt
Tím loang màu tình nhân..

Ơi, mười năm xiêu lạc
Giữa mùa ta bão bùng
Ơi, mười năm dấu chấm
Vết bụi mờ hư không..

Trăng treo miền hư tự
Đêm trầm hương quế lan
Gối hồn lên cố xứ
Mộng tàn theo khói nhang..

Mười năm dài cách trở
Mưa hoen chiều ngõ xưa
Ngày bặt vô âm tín
Nỗi buồn trôi dật dờ..

Mười năm lòng trắc ẩn
Giấu mình vào cơn say
Mười năm tình như đã
Úa trên mùa hoa gầy..

Ngày rơi như chiếc lá
Mười năm em có hay…

Trung Chinh Ho

ĐỜI BIỂN CẠN

Có từng đêm giữa những cơn biển động
Tôi nằm mơ nghe sóng đánh dội lòng
Con còng gió trốn mình trong bão cát
Kiếp dã tràng thương số phận long đong.

Lòng biển rộng không dung đời hai đứa
Đôi tình nhân trong thân xác tội đồ
Cơn hồng thủy đem người xa đất hứa
nhấn chìm theo lời thú tội ngu ngơ.

Và tháng chín – bước chân người xa quá
Ngày thu đi trên ngọn sóng phù du
Dõi ánh mắt khát khao bờ bến lạ
Vết dao đâm giữa tuyệt vọng khơi mù.

Lồng ngực đở bỗng đau ngàn tiếng sóng
Cơn bão tình trào đục chết đêm nay
Con chim lạ trốn tình nơi góc biển
Đời nghiệt oan chìm khuất những cơn say.

Người bỏ lại – tình tôi – đời biển cạn
Nhánh rong nào phiêu bạt chốn nhân gian
Tiếng hát mỹ nhân ngư bên bờ vắng
Đưa người về từ một thuở hồng hoang.

Nguyễn An Bình

BÔNG TRÀM

Có ai biết mùa nào bông tràm trổ?
Mà quanh năm rừng thoảng một mùi hương
Dù đi xa bao năm lòng vẫn nhớ
Hương tràm bay nhè nhẹ thấm qua hồn

Bông tràm trổ rủ ong về hút mật
Nắng lao xao trên những tán rừng chiều
Màu bông trắng mang chút tình của đất
Gió đưa hương thơm màu nắng quê nghèo

Bông tràm trổ rồi lặng thầm kết hạt
Rụng xuống rừng nối tiếp những mầm xanh
Đàn ong vẫn bốn mùa đi hút mật
Vị ngọt nào gieo nỗi nhớ quanh năm?

Đâu ai biết mùa nào bông tràm trổ
Mà U MInh xanh thẳm một màu rừng
Dòng sông vẫn mang phù sa châu thổ
Dưới chân rừng cây nhú những chồi non …

Người có về thăm quê hương miền hạ
Gió xuân còn qua suốt tận giêng hai
Trời trong veo cho rừng thêm xanh lá
Và hương tràm như níu bước chân ai!…

Sông Trẹm

NHU MÌ CÁNH MỎNG TÌM NHAU.
1/
Đào hoa rụng xuống anh thư
Chiều rưng cánh mỏng ngục tù mắt nhau
Khép mi là hết đêm sầu
Một mai lăng lắc, không đào thoát đâu!
2/
Lạc vào mê lộ ơ kìa
Ngẩn ngơ bóng ngựa qua khe trời tình
Đêm dài níu mộng đinh ninh
Mùi hương dạ lý còn in dáng Kiều!
3 /
Đăm đăm vàng đá tìm nhau
Gừng cay muối mặn rất mầu nhiệm xưa
Giọt cường toan… hẹn bao giờ
Chim sa, cá lặn sao mờ…mới yên!
4/
Trải lòng ra hết nghe em
Trái tim nung nấu cơn thèm khát dâng!
Ăn môi, dại cả văn vần
Say men rượu nhớ, đâu cần thời gian?

Trần Dzạ Lữ

IMG_9984

Chiều Trên Blue Mountains. Thơ Hư Vô


5ACD7D05-8376-4744-9ED4-BB6832B303EC.jpeg

(Blue Mountains in NSW, Úc Châu)

Tôi đứng nghiêng triền như dốc núi
Tựa vào em nắng cũng chông chênh
Để thấy mây đang lùa trong tóc
Núi bạc đầu trên vai ngủ quên.

Cho giấc mơ nhập hồn với bóng
Vết tình đọng đậy dấu môi xưa
Chỗ em bỏ lại tôi một nửa
Lời hẹn hò cho biết tương tư!

Như tiếng suối reo ngoài vực thẳm
Còn thì thầm từ nỗi quạnh hiu
Mà nghe giọt lệ dường như đã
Nhỏ xuống mùa thu ướt lưng chiều.

Dắt díu hồn tôi vào lối cỏ
Cho dài thêm mỗi bước em đi
Những phiến đá đè lên nhịp thở
Núi trăm năm ngỡ mới dậy thì!

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 298


Quán Thơ Hư Vô

DI TÍCH MỘT NỤ HỒNG

Tôi nhặt chùm hoa nhỏ
Thả nỗi buồn qua sông
Còn nghe tiếng cát lở
Theo ngọn sóng trong lòng.

Em dầu gì cũng đã
Là một nhánh gai hồng
Mọc ngang tàng ngạo nghễ
Trên từng vết rêu phong.

Thì làm sao em hiểu
Trong mỗi tiếng thở dài
Có hồn tôi động đậy
Cho vàng bóng heo may!

Còn nhấp nhô dậy mộng
Ngang mặt nước trong ngần
Bóng em đang cùng tận
Một nụ hồng không chân.

Tôi lăn vào vực thẳm
Vết đau bỗng cựa mình
Từ những chồi gai nhọn
Thương tích đã hồi sinh.

Chỗ trái tim rịn máu
Trên mỗi dấu môi trần
Mà em đã bỏ lại
Một di tích tình nhân…

Hư Vô

ĐI BÊN EM MÙA THU PARIS

Bây giờ Paris trời vào thu
Lá vàng rơi nghiêng Luxembourg
Sông Seine lửng lờ soi Pont Neuf
Lòng anh bên em vờn sương thu.

Mùa thu Paris trong mắt em
Trời mây xanh lam trôi êm đềm
Apollinaire ơi mùa thu chết
Mà lòng anh nào đâu quên em!

Ga Lyon buồn thu Paris
Đời buồn mênh mang làm chia ly!
Lòng anh trang thơ Cung Trầm Tưởng
Em còn hoài thương lệ hoen mi!

Tháp Eiffel lặng nhìn …Bohemiens
Tóc xõa rượu say hồn đau điên
Thu trầm âm chiều Montparnasse
Anh mơ Paris…theo chân em!

Anh vẽ thu về trong mắt em
Thu Paris mi cong nhung huyền
Em ơi! Con đường vàng thu đó
Có lòng anh sánh bước bên em…

Đi bên em mùa thu Paris
Lòng anh say phồn hoa kinh kỳ
Thu Paris! Anh làm Thi sĩ
Say thu vàng bay …Ô mê ly!

Trần Thoại Nguyên

MIÊN MAN CUỘC NGƯỜI

Tôi đứng gọi bên bờ sông dĩ vãng
Mà thuyền xưa, đành đoạn, chẳng quay về
Con sóng cuốn vào triền lau bãi cạn
Xót đau từng hạt cát bến sông quê

Em có nghe giữa vô cùng tịch lặng
Một lời đau chìm tận đáy sông buồn
Em có thấy giữa trùng trùng hoang vắng
Một bàn tay vẫy mãi giữa trời không

Thôi hố thẳm, đã đành là hố thẳm
Mà hư vô nào định nghĩa sinh tồn
Tôi đứng gọi bên bờ sông dĩ vãng
Lời vô âm vang tận cõi vô cùng

Rồi một ngày, tôi không còn ở lại
Trần gian ơi hoa vẫn nở bên người
Rồi một ngày thuyền xưa trôi đi mãi
Thì dòng sông muôn thuở vẫn đầy vơi

Rồi một ngày tôi quay về bến cũ
Nhận ra mình lạc lỏng giữa nhân gian
Thì dòng sông vẫn bên bồi bên lỡ
Tình chỉ là cơn sóng vỗ miên man.

Trung Lê (LVT)

BUỔI CHIỀU Ở BÌNH DƯƠNG

Người xa người đã xa rồi
Sao tôi còn mót nụ cười đánh rơi?
Tại trầu còn nhớ thương vôi
Tại cây thương cội nên tôi chàng ràng?

Hay lòng vấp chút tình oan
Bao năm không thể quên nàng đấy thôi!
Bình Dương có thêm một người
Quơ tay bắt bóng mồ côi…rưng buồn!

Người đi người đã đi luôn
Chiều tôi mắc nghẹn con đường tình yêu.

Trần Dzạ Lữ

BÀI TÌNH THƠ (KHÚC VĨ THANH)…

Không còn ai để nói
Lời đá vàng rêu phong
Tìm em qua vách tối
Xót thêm ngày trao thân..

Không còn ai để khóc
Ước mơ vừa lâm chung
Cuộc tình như lá cỏ
Trên luống cày trăm năm..

Không còn ban mai đợi
Đầm đìa những giọt sương
Biếc xanh từ cõi nhớ
Rơi trên ngày náu nương..

Không còn trưa nắng muộn
Se nỗi buồn tao nôi
Tiếng ru mềm cánh võng
Theo mấy tuổi xa người..

Không còn chiều lạc phố
Bước chân lầm ngõ xưa
Thêm đau từng gót nhỏ
Trên phiến đá trổ mùa..

Không còn em trong tối
Mắt soi tình hôn mê
Người đi không kịp đợi
Nơi ấy..còn tôi về…

Trung Chinh Ho

SÓNG

Đêm nằm nghe tiếng sóng
Vỗ hoài tận chân mây
Phải chăng đời biển động
Đánh thức người khuya nay?

Ơi mấy con còng gió
Nghe gì lại ngẩn ngơ
Chắc hiểu lòng tôi đó
Giữa biển người chơ vơ.

Thôi em đừng xe cát
Mệt nhoài sóng biển Đông
Cuốn trôi người đi mất
Xóa nhòa dấu chân không.

Tình đâu là đá cuội
Sao sóng xô bạc lòng
Hải âu chiều cánh mỏi
Treo tình vào thinh không.

Biển sâu đầy ngang trái.
Sóng vang ở đầu ghềnh
Sao nghe đau cuối bãi
Bám rong chiều lênh đênh.

Lòng đong đầy tiếng sóng
Gọi người trong mưa ngâu
Em chỉ còn chiếc bóng
Nhớ một thời yêu nhau.

Nguyễn An Bình

VỀ THỦ ĐỨC

về nơi cái thuở anh về
xin em chỗ
một vỉa hè
được không?

ngồi thương nắng gió phiêu bồng
trở cơn xa lộ
xe lồng đã xưa

em qua chợ Nhỏ bây giờ
hỏi Tăng Nhơn Phú còn ngơ ngẩn đồi?

chiến chinh thì cũng phai rồi
đời anh thì đã một đời tan hoang
về – nghe không hết điêu tàn
chỉ thương
chút nắng sân trường
và em.

Hoàng Lộc

VỀ ĐÂU NHỮNG CHUYẾN ĐÒ XƯA?

Tôi trở về nào thấy bến đò xưa
Mưa giăng giăng trắng trên vàm kênh xáng
Con đò xưa giờ chắc người quên lãng?
Thương dòng sông ôm con sóng ru bờ!

Những chuyến đò xuôi ngược buổi sớm mai
Vẫn lặng lẽ theo tôi ngày xa xưa
Nhớ những khi đò qua vàm Tắc Thủ
Mặt sông đầy gió vờn tóc ai bay

Ngày tôi đi thầm lặng bến sông buồn
Chuyến đò cũ chở ngày xa thị trấn
Người đâu biết tình tôi chưa kịp lớn
Đành ngậm ngùi gửi lại chút yêu thương!

Những chuyến đò giờ ai biết về đâu?
Đường xuyên Á đã nối dài phố quận
Còn lại tôi bên sông chiều thơ thẩn
Vắng chuyến đò, sông nước cũng buồn theo!

Sông Trẹm

IMG_9958

Dấu Tình Nhân Còn Trên Lưng Nguyệt. Tùy bút Trần Sương Lam.


Tuỳ bút Trần Sương Lam.

Lưng Nguyệt

Trăng là nguồn đề tài vô tận của bao thi sĩ. Với Nguyệt Cầm, Xuân Diệu đã đưa trăng thành tiếng đàn, ánh nhạc:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần,
(Xuân Diệu)

Với Hàn mặc Tử, ông mơ, say, ôm trăng mà ngủ:

Ta không nhấp rượu
Mà lòng ta say
Vì lòng nao nức muốn
Ghì lấy đám mây bay
Té ra ta vốn làm thi sĩ
Khát khao trăng gió mà không hay
(Hàn Mặc Tử)

Với riêng tôi, trăng là nguồn sáng vô tận, soi tỏ những đêm trời tối để hồn dật dờ giữa những nhớ quên, những nỗi đau, những hạnh phúc thoáng qua rồi lịm tắt. Trong ánh trăng vĩnh hằng của tạo hóa, tôi tìm thấy màu trăng thanh, màu tình yêu của thơ Hư Vô trong “Lưng nguyệt”:

Lưng Nguyệt

Nửa đêm pha rượu vào nhan sắc
Vườn khuya đã động khúc nguyệt cầm
Mùa thu như thoáng chiêm bao tới
Theo bước em qua lối thăng trầm.
 
Hơi người còn ấm quanh chăn gối
Tôi ôm cái bóng lạnh chỗ nằm
Trở mình hồn vướng ngang sợi tóc
Em đi, bỏ lại cả trăm năm.
 
Thì tôi cũng có đêm cùng tận
Để giấu buồn riêng nỗi nhớ người.
Tay lùa bóng tối vào lưng nguyệt
Lấp cho đầy vực khuyết tim tôi.
 
Em về soi lại dung nhan cũ
Thấy có còn tôi giữa muôn trùng?
Từ đêm rượu ướt đôi môi đỏ
Nhỏ xuống hư vô dấu nguyệt trần…
 
Hư Vô

Vừa đặt bút vào khổ thơ đầu, Hư Vô đã viết:

Nửa đêm pha rượu vào nhan sắc.
Vườn khuya đã động khúc nguyệt cầm
(Hư Vô)

Tác giả đã pha lẫn giữa thực và mộng. Quấn quýt, bâng khuâng, thấp thoáng, lay động, bàng hoàng, thảng thốt, như ngây, như say.

Đêm của bóng tối, của hồn mộng vốn đã ngập hương say, thi sĩ lại pha rượu vào nhan sắc. Rượu nhỏ xuống vầng trăng để say, để đắm, mà nhan sắc cũng dễ làm say đắm lòng người còn hơn cả rượu. Khổ thơ là sự cộng hưởng của cái đẹp nhan sắc, của men nồng rượu, của âm thanh tiếng nhạc. Không gian là sự mênh mông của thanh, hương, sắc. Cái đẹp đã lên ngôi lại bao trong đêm của đêm. Hoàn mỹ và toàn bích. Ta say đắm, lãng tử say đắm, ngất ngây. Câu thơ nghiêng ngả theo bước chân thi nhân. Cái đẹp tỏa hương từ bóng tối, huyền ảo, mộng, thực và hồn say. Thời gian đã ngủ, vườn khuya bỗng vang lên tiếng nhạc. Cõi đêm trở nên hoang dã lạ lùng. Cả không gian lung linh, dịu dặt với trăng thu với khúc nguyệt cầm. Bài thơ đẹp như nhan sắc, như khuôn mặt giai nhân. Ngôn ngữ đã thăng hoa trong thế giới ngọc ngà, long lanh, diễm ảo. Và kết lại hình tượng tuyệt mỹ của khổ thơ đọng mãi trong tâm trí tôi chính là khúc nguyệt cầm. Rượu giao bôi, đối ẩm của tình nhân mềm môi say, rượu thơm đánh thức nàng trăng dậy, trong bóng đêm kỳ diệu đang dạo khúc nguyệt cầm. Câu thơ cũng chấp cánh theo nỗi mơ màng, mênh mang, ẩn hiện đến bàng hoàng.

Khúc Nguyệt Cầm của Hư Vô gợi tôi nhớ đến bài thơ Nguyệt Cầm nổi tiếng của thi sĩ Xuân Diệu. Nguyệt Cầm của Xuân Diệu là sự giao duyên giữa trăng và nhạc tạo ra lối thơ tượng trưng đặc sắc.
 
“Bước vào Nguyệt Cầm là bước vào một thế giới linh lung. Nguyệt Cầm không bờ không bến. Tất cả đều diễm ảo, hư huyền, chơi vơi, vô định. Không còn cõi này, không còn cõi khác, không còn hiện tại, không còn quá khứ, không còn hữu thể, không còn vô thể”…(Chu Văn Sơn).

Khúc Nguyệt Cầm của Hư Vô, theo tôi, có lẽ là khúc đàn của tâm cảm, khúc đàn trăng vang lên đánh thức không gian khiến mọi sự vật bừng giấc. Bước đi của trăng dịu dàng, mơn man như tiếng đàn huyền hoặc dạo khúc mùa thu để nhân vật trữ tình giữa khung cảnh đêm thu xuất hiện thật lãng mạn, ngọt ngào, mê đắm trong ánh sáng, trong hương thơm, trong âm nhạc, trong trạng thái phiêu diêu. Phải chăng vì thế mà nhan sắc em trở thành hư ảo, mơ màng như giấc chiêm bao:

Mùa thu như thoáng chiêm bao tới
Theo bước em qua lối thăng trầm.
(Hư Vô)

Mùa thu là mùa được bao thi sĩ thi vị hóa. Sài gòn không có mùa thu chỉ có hai mùa mưa nắng nhưng tôi vẫn thích mùa thu vì lúc này tiết trời khá mát mẻ, nắng bớt gay gắt. Có lẽ vì thế, mùa thu đã thành mùa thương, mùa nhớ cho biết bao người, trở thành giấc mơ đẹp, thoáng chiêm bao mơ màng. Nhưng mùa thu của Hư Vô thì ngược lại, đã mon men theo em bước vào cõi nhân gian với những thăng trầm bàng bạc!

Khổ thơ là sự phối hợp trác tuyệt giữa ảo và thực, giữa đời và cõi vô biên. Vần bằng ôm hai câu chẵn tạo một cảm giác thâm trầm, thêm chất lạnh vào khổ thơ. Nhưng dù là cõi nào đi chăng nữa, cảm nhận của tôi khi bước vào vẫn là cảm giác lạnh. Lạnh, rất lạnh. Trăng lạnh, đàn lạnh, mùa thu lạnh. Có chăng một chút ấm áp tỏa ra từ chất men của rượu, của nhan sắc tạo cảm giác lâng lâng, say say nhưng không thực mà là mộng vì thi sĩ đã chìm đắm vào “thoáng chiêm bao” để dìu em qua “lối thăng trầm”. Chất đời bắt đầu lấn át chất mộng và trong thế giới ấy, có em và tôi:

Hơi người còn ấm quanh chăn gối
Tôi ôm cái bóng lạnh chỗ nằm
(Hư Vô)

Khuya lạnh, trăng lạnh, vườn lạnh, rượu ấm, tình nồng. Sự nối kết giữa hai sắc thái đối lập ở khổ thơ đầu dường như báo trước sự hiện diện của cái lạnh, chiếm lĩnh hết không gian và cả thời gian. Cái lạnh như mùa thu lãng đãng rơi xuống “chỗ tôi nằm” mà nghe hơi ấm còn quanh chăn gối, một trạng thái bềnh bồng, mơ hồ tựa bóng em đang lăn lóc giữa chiêm bao. Câu thơ dạt dào nỗi khắc khoải, như một vết cắt sâu không lành, để thi nhân còn mãi hoài trăn trở, lao đao!
 
Trở mình hồn vướng ngang sợi tóc
Em đi, bỏ lại cả trăm năm.
(Hư Vô)

“em đi bỏ lại cả trăm năm”, thì quả thật cái mong manh của thời giam đã làm da diết cả khổ thơ, còn nghe long đong một phận người. Nhân vật trữ tình đang giam mình trong không gian giá buốt ấy với nỗi sầu chất ngất. Tôi ôm cái bóng và sự “trở mình” là một sự vùng thoát khỏi ám ảnh của nỗi cô đơn, nhưng quá khứ không buông, hay chính giai nhân đã cố tình bỏ lại chút hương thừa để nhân vật tôi “vướng hồn ngang sợi tóc”. Một loạt nét vẽ gợi hình tạo nên cảm xúc của sự bất an, muốn chối bỏ thực tại nhưng hình như chỉ là sự cố gắng không kết quả. Sợi tóc đã níu thi nhân lại với khối tình, với bóng hình quá khứ để khúc nguyệt cầm vẫn vang vọng vào đêm với mảnh trăng sầu lê thê, bất tận trong bóng tối của hồn người, dáng nguyệt!

Không gian biến đổi từ “vườn khuya” mênh mông đến “chỗ nằm” thật hẹp. Hẹp nhưng không có nghĩa là ấm áp hơn mà ngược lại vì cái lạnh đã định hình, đã lạnh từ hơi người còn ấm, lạnh đến chiếc bóng lẻ loi, chữ nghĩa biến hóa đến tinh vi, thời gian dường như không theo kịp. Câu chữ làm ta hụt hẫng, lao đao mà giọng điệu lại ngất ngây, lừ đừ, chầm chậm, mang mang. Khổ thơ thể hiện đầy đủ ý niệm về cõi vô thường khiến người đọc suy ngẫm thoáng giật mình và riêng tôi nhận thức được hình như cả đời tôi (chắc cũng không ít người) luôn sống trong vọng tưởng. Bây giờ có lẽ tôi mới hiểu một câu thơ của Xuân Diệu:

Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
(Giục Giã, Xuân Diệu)

Tình là vô thường nên đến rồi đi nào ai biết vì không thể chiếm lĩnh nó nên khi mất với bao người là nỗi đau không tuổi. Và với nhân vật trữ tình, điều này có lẽ đúng bởi vì chính tình yêu đã là muôn đời không có tuổi!

Hư Vô có cách diễn đạt niềm nhớ, nỗi đau nhẹ mà thấm, mà sâu. Đẹp nhất của người con gái, theo tôi chính là mái tóc. Mái tóc là biểu tượng cho tuổi, cho tình, cho những ấp yêu, mong nhớ… Thi nhân lại chọn sợi tóc ngay chỗ nằm vừa tạo được hương, vừa tạo được hình, cái nhớ như vậy đã đủ đầy, trách sao mà cả đời không thương, không nhớ! Sợi tóc phải chăng vì thế tạo hình sắc, tạo thần thái cho khổ thơ để tôi cảm nhận tình yêu đã mất nhưng mùi hương, sợi nhớ vẫn còn vẫn mênh mang giữa đất trời. Sợi tóc hay sợi nhớ, sợi thương như một ám ảnh của khúc nguyệt cầm tiếp tục vang lên trong cõi nhớ: “Em đi, bỏ lại cả trăm năm”.
 
Câu thơ bảy chữ, có đến bốn thanh bằng nhưng không nhẹ nhàng, thanh thản mà buốt đau. “Đi, bỏ lại” câu chữ diễn tả một sự rời bỏ nhưng còn lại, còn lại nỗi ngậm ngùi, trơ trống “cả trăm năm”, trăm năm với con người là dài, dài lắm vậy mà em đã bỏ đi không tiếng hò hẹn, chẳng lời hứa tương phùng, thì quả thật là quá tê tái và đau thương. Câu thơ ngân dài nỗi tuyệt vọng, u uẩn và đó cũng là âm thanh từ cùng tận vang lên khúc tình tan. Tiếng nức nở của nguyệt cầm trong trăng càng tê tái lạnh, kiếp người cô đơn trong nỗi đau của tình tuyệt vọng tạo một ám ảnh, day dứt khôn nguôi. Khổ thơ làm tôi nhớ đến bài thơ của Du Tử Lê:

“ôi nhỏ có buồn như ta không
tuổi thơ nhang khói đã hoang tàn
hồn ta như miếu cô quạnh lắm
xa người như xa cả quê hương !”
(Như Xa Niềm Yên Vui, Du Tử Lê)

Hình như trong thi ca khi tình yêu bay đi, nỗi đau là chất ngất nhưng mỗi người có cách thể hiện khác nhau nhưng theo tôi, họ cũng đã từng sống trong khoảnh khắc của nỗi ngậm ngùi, của những đớn đau đến dật dờ thân xác và có lẽ vết thương lòng vẫn mãi hằn theo năm tháng để trở thành những giọt lệ trong thi ca. Tôi yêu kỷ niệm của thi sĩ chỉ là một sợi tóc mong manh, nhỏ nhoi (cái cuối cùng còn lại của thời yêu chỉ còn có thế) nhưng cái ám ảnh của sợi tóc cực lớn, nó vắt ngang cả trăm năm của đường tình chông chênh, lận đận.

Tôi đã từng có bao đêm không ngủ để mở nỗi buồn riêng, để rồi những dòng lệ cứ tuôn chảy trong nỗi nhớ khôn nguôi để rồi sau đó là lời tự vấn: vì sao cứ nhớ mãi? để buồn mãi, để nụ cười bỏ quên mình từ rất lâu nhưng tôi biết hỏi chỉ là hỏi vì trong lòng tôi câu trả lời mãi hiện diện: nỗi nhớ bây giờ chỉ còn nỗi ngậm ngùi của sự chia ly. Hư Vô cũng có những đêm thức với những trăn trở của riêng mình:

Thì tôi cũng có đêm cùng tận
Để giấu buồn riêng nỗi nhớ người.
(Hư Vô)

Đêm cùng tận là đêm cuối cùng kết thúc một năm hay đêm cùng tận của đời người hay đêm sau cuối của kiếp tình hiểu sao thì cũng cùng một ý nghĩa: Nỗi nhớ không bao giờ mất đi chỉ khác là nó không còn được phô bày mà đã trở thành nỗi buồn riêng của nhân vật tôi. Đã là riêng thì không thể chia sẻ vì thế mà câu thơ dậy lên một nỗi thê thiết, khắc khoải : kiếp tình bao giờ cho quên, khối u tình bao giờ cho tan, không gian ngoại cảnh, khoảng trống nội tâm giờ là vực sâu thăm thẳm sao lấp cho đầy, sao sầu cho vơi, cho nhạt… Bóng tối lại bủa vây, trăng không còn rõ mặt chỉ là khoảng không, là chỗ bắt đầu cho một chuyến khởi hành vào cõi đêm vô tận. “Em đi, mang theo nửa vầng trăng trên lưng như một dấu tích mà tình yêu đã hoài thai từ tiền kiếp, hoá thân vào áng mây cao vút của sự nuối tiếc ngút ngàn, để rồi bàng hoàng chìm xuống đáy biển đêm lạnh ngắt, mà nghe ngọn sóng còn giẫy giụa trong lòng. Thì vầng ấy có còn chăng cũng chỉ là một kỷ vật mà cả đời em mang theo như một dấu tích tình nhân còn in trên lưng nguyệt”. (Trích lời mở đầu của tập thơ Lưng Nguyệt – Hư Vô – Nhà xuất bản Ilu 2015).

Mà nguyệt là hồn của trăng, là nhan sắc của mùa thu, là men của rượu, là trái tim của người tình mà thi nhân không bao giờ muốn đánh mất:

Tay lùa bóng tối vào lưng nguyệt
Lấp cho đầy vực khuyết tim tôi.
(Hư Vô)

Nhưng trăng tàn, nguyệt khuyết, tình tan, trái tim hư hao, thì bóng tối nào lấp cho đầy vực khuyết trong tim… Có lùa bóng tối để tạo nhịp thơ nhanh hơn, cũng chỉ là một nỗ lực, một sự đào thoát quá khứ trái ngang, để mong con tim được lấp đầy hạnh phúc. Nhưng càng muốn lấp đầy thì nỗi sầu mỗi lúc như thể lớn thêm, tan tành thành một vực thẳm không chân!

Khúc nguyệt cầm có còn ngân vang chắc gì đã động thức nổi một vầng trăng để soi bóng thi nhân bước đi trong cõi tình mù mịt, ta đang lang thang trong ngả đời muôn nẻo có giống chăng là cùng trong cuộc tỉnh say. Tỉnh để quên và say để nhớ, chất men đời, men tình theo chén rượu lại đưa ta về, đưa thi sĩ về lối thăng trầm. Trong hư ảo của tiếng nguyệt cầm ma mị, trong men rượu ân tình kia, em hiện về lộng lẫy giữa thinh không đã tạo nên khổ thơ cuối đa sắc màu:

Em về soi lại dung nhan cũ
Thấy có còn tôi giữa muôn trùng?
Từ đêm rượu ướt đôi môi đỏ
Nhỏ xuống hư vô dấu nguyệt trần…
(Hư Vô)

Khổ thơ điểm một chút diện mạo của Đường Thi làm chân dung em bỗng mê hoặc, yểu điệu, liêu trai: “Em về soi lại dung nhan cũ” đã óng lên một dấu nguyệt trần lồng lộng, màu sắc cho khổ thơ thêm rực rỡ, chói lòa. Nhan sắc em vì thế càng kiêu sa, kỳ ảo lạ lùng! Trong không gian của men, của hương, của ánh sáng, âm nhạc (khúc nguyệt cầm) tôi và em là sự đối nghịch: có- không (em dung nhan/ -tôi- muôn trùng, hư vô). Ranh giới đã phân định rõ ràng. Em thuộc về ánh sáng, tôi thuộc về bóng tối, hư vô. Hai thế giới, hai con đường thẳng song song chỉ có thể được gặp nhau ở cõi vô cùng! Dường như cả khổ thơ không vần nhưng vẫn tạo ra hiệu quả nghệ thuật bởi cách viết tương phản, cách dùng một loạt từ Hán Việt làm ý thơ trang trọng, tao nhã, cổ kính, phảng phất nỗi buồn da diết vốn có của Đường Thi.

Sau những thăng trầm của đời sống, chàng lãng tử chỉ mơ một lần em quay về dĩ vãng. Trong hoài niệm ấy em có thấy tôi, có nhớ tôi?

Thấy có còn tôi giữa muôn trùng?
(Hư Vô)

Dấu chấm hỏi cũng lạc lõng như nhân vật trữ tình ngóng đợi câu trả lời “Thấy có còn tôi” Tại sao thi sĩ lại đặt mình lọt thỏm vào “giữa muôn trùng?” với một sự hoài nghi: em có còn thấy tôi. Hỏi nhưng chính lại là câu trả lời: vì tôi đã là muôn trùng, là Hư Vô (là không, dưới cả không, là không gì hết.) Thi sĩ đã cho mình lìa xa em, một sự lìa xa trọn vẹn. Nỗi đau đã hóa thân tôi. Em đi là hết rồi, không còn gì nữa rồi. Tôi lại cảm nhận âm thanh của khúc nguyệt cầm vẫn réo rắt không thôi, khúc đàn cất lên giữa muôn trùng, vọng từ cõi hư vô bàng bạc nỗi nhớ để gọi trăng về. Ảo khúc cất lên, hình sắc vụt quay lại:

Từ đêm rượu ướt đôi môi đỏ
Nhỏ xuống hư vô dấu nguyệt trần…
(Hư Vô)

Rượu lại rót, môi lại ướt. Màu đỏ của rượu, của môi non đã rực rỡ bức tranh tình yêu. Tố nữ vẫn nguyên vẹn dung nhan ngày cũ. Nhưng khác xưa. Rượu để say và cạn chén để quên em, quên tình xưa nhưng càng cố quên thì càng cháy bỏng những khát khao. Tôi cho rằng thi nhân đang quằn quại khát khao tình xưa, người xưa và mơ dấu môi yêu nhỏ giọt tình xuống cõi hư vô để ghi lại “dấu tích trần ai” của một thời tình đã cũ. Tình yêu lại tượng hình, lại lên ngôi, màu yêu lại dậy thức trong khúc nhạc trăng huyền diệu. Cõi yêu được thi sĩ chắp đôi cánh bay về nơi- một tôi- một rượu- một khúc trăng sầu. Dòng chảy của âm thanh bát ngát, thênh thang lối tình giữa tiếng nguyệt cầm còn lênh đênh, lận đận. Không gian trở thành đêm, hương xưa tan thành rượu, sắc màu của đôi môi đã đẳm ướt trên lưng nguyệt cũng bàng hoàng theo tiếng thét gào từ lồng ngực thật lạc lõng, mênh mông, mơ hồ trong cõi mộng, cõi nhớ của thi nhân làm ta tiếc nuối và hụt hẫng (cái đẹp luôn chóng phai tàn). Còn lại chăng chỉ là cái ảo thức giữa trăng và nguyệt. Nguyệt của hồn và Trăng của nhan sắc chơi vơi, huyền diệu để làm cho khúc đàn trăng thêm mơ màng, sương khói.

Thiên nhiên vô hạn nhưng hữu tình, con người hữu hạn nhưng lại vô tình, em đi không trở lại, em đi mang theo cả hồn tôi. Từ giã em, tôi chỉ còn là hư vô, chỉ tôi và tôi giữa muôn trùng. Từ đêm in dấu những cơn say long lanh như giọt rượu, mềm môi vẫn đắng cay, vẫn nhói lòng trong nỗi đau quá khứ. Nỗi đau đã định hình, để từng đêm vẫn nhỏ xuống tôi lận đận dấu tình sầu… Khi yêu, tiếng đàn thăng hoa thành khúc nguyệt cầm, khi tình yêu đã khắc ghi trên lưng nguyệt là khi vầng trăng cô độc đã in đậm lên cõi nhân gian một “dấu nguyệt trần” . Giữa cái không và có, Thi sĩ chiếm lĩnh cả không gian, cả khổ thơ để mọi hình sắc đều bị xóa nhòa để chỉ tồn tại duy nhất “hư vô”. Hư vô là kết thúc cuộc đời nhân vật trữ tình tôi, kết thúc một chuyện tình, kết thúc thi phẩm. Lấy cái giới hạn vô biên làm kết thúc, thi sĩ cho ta cảm nhận Lưng Nguyệt là bóng dáng của những ám ảnh về nỗi đau của kiếp tình, kiếp người với những được mất có gì vui?

Bài thơ đã kết thúc nhưng tôi còn chơi vơi, tôi đang nương theo trăng về lại cõi đời tìm chút ấm áp của hương tình yêu một thuở để cảm nhận ra một điều là yêu thật không dễ nhưng đã yêu mà phải quên thì quả thật là khổ đau. Tình là sợi dây oan nghiệt nhưng ta vẫn thích trói mình vào nên mãi mãi nỗi đau của tình yêu không bao giờ yên nghỉ. Hư Vô đã gửi đến người đọc một nỗi đau diễm tuyệt, cho người yêu thơ đi qua thi phẩm vẫn nhớ mãi sợi tóc vướng ngang lưng nguyệt, mà cả đời không có lối để bước ra..
 
Trần Sương Lam
August, 2018

C0AAE498-2D89-47C5-A00C-F251B2098D84.jpeg

Quán Thơ Hư Vô 297


F1D72875-258C-4A3B-B0C5-C3589F472940.jpeg

GỌI TÊN EM NẮNG-AN-XUYÊN

Gọi tên em Nắng-An-Xuyên
Nghe tà áo đã bay nghiêng phố phường
Gọi tên nhau Nắng-Sân-Trường
Em vui cổng trước tôi buồn cổng sau.

Tóc em chẻ phía bên nào
Chưa qua Cường Để đã vào Lý Bôn?
Hàng cây như có linh hồn
Đường áo trắng Lý Thái Tôn chợt dài.

Gió đùa quanh ngọn tóc ai
Lùa hương con gái cho đầy tay không
Em về, qua phố Gia Long
Nghiêng theo chiếc bóng bên sông đợi chờ.

Sóng xô mất dấu bến bờ
Giàn thiên lý xưa đã trơ trụi cành
Lối vào Đề Thám lạnh tanh
Còn nghe tiếng gọi thất thanh cuối đường.

Chỗ em đánh rớt mùi hương
Hồn tôi lãng đãng sân trường, đó em!

Hư Vô

NƠI NÀO

Nơi người đang ở có ai
Vẫn còn nửa cụm hoa lài năm xưa?
Hay là chừng đã mịt mờ
Mấy bông trắng đổ xuống bờ dậu thưa

Nơi người ở, trời đang mưa?
Sao em lại nhạt nắng trưa lưng đồi
Bờ vai em tựa xa rồi
Đồng tiền trên má đã trôi theo người

Ngày bên em trăng đầy vơi
Môi không dám gọi tiếng ơi ngậm ngùi
Người cuối trời. Em cuối trời.
Nơi nào chừng vẫn bồi hồi mây bay?

Hoàng Nga

NHÌN LẠI CON ĐƯỜNG THƠ

Có nhiều con đường đi trên mặt đất
Nhưng thơ chưa hề có con đường
Những bước chân luôn đi về phía trước
Trong cuộc đời đầy những vết thương

Có thể vô tình em nhặt làn hương
Trong những câu thơ mang màu cô độc
Có thể yếu lòng, thơ rơi nước mắt
Khi quặn đau trước số phận con người

Có thể gặp nhau ở một khoảng trời
Thơ chia sẻ những điều không thể nói
Như chiếc lá tìm về nguồn cội
Câu thơ hay lặng lẽ giữa đời

Bao nhiêu năm dài trong tiếng mưa rơi
Nếu không có em, thơ chỉ là cơn mộng
Nếu không có yêu thương thơ còn trong giấy trắng
Ghi dòng chữ vu vơ tôi viết cho mình

Hồ Ngạc Ngữ

NGÀY VỀ QUÊ CŨ NGHE TIN
CON SÁO NHỎ ĐÃ SANG SÔNG

Rồi gió đêm nay cũng thổi qua
Mon men khe vách bóng trăng tà
Có người lữ khách trăm năm trước
Lộn kiếp giang hồ chinh chiến xa
Góc nhỏ cờ tàn, vó ngựa hí
Gươm cùn treo ngược dưới phong ba …

Hình như nước mắt chảy đâu đây
Tịch mịch năm canh, lá rụng đầy
Khách vén hồn xưa cho thế sự
Nhìn vào giọt máu hóa sương bay

Thì ra, đá cũng hóa tâm hồn
Khơi dậy hoàng hôn thăm thẳm buồn
Một khối oan ương chưa rữa nát
Hiện lên mâm ngọc chén cường toan

Chẳng mong tẩy xóa lòng chung thủy
Chỉ đụt thời gian làm mỏi mòn
Cảnh đợi cảnh chờ, người bạc trắng
Ngàn đời con sáo cũng sang sông!

Ngàn đời con sáo xổ lồng thôi
Khách đốt đèn ma cháy lẻ loi
Soi suốt trăm năm cô độc quá
Một mình như một cánh sao rơi …

Mai sau ai đứng đợi chờ đây
Chờ sóng trường giang lớp lớp đầy
Chờ kẻ vô tình đong đáy mắt
Sót vài hình ảnh với bèo mây

Hôm nay khách trở lại thăm quê
Cảnh cũ người xưa như giấc mơ
Mấy đóa tường vi canh cánh nở
Mang theo hương lửa đời hoang sơ

Ngổn ngang phế tích thăng trầm quá
Vết nứt thời gian chẳng xóa mờ
Kẻ ở lạnh lùng ngồi hóa đá
Ngày về chim khách hót bơ vơ…

Ngô Nguyên Nghiễm

ĐÊM HUYỀN THOẠI

Ly rượu nồng mình tôi uống đêm nay
Mình tôi uống đêm say
Cây cỏ vườn trời mãi xanh tươi hương ngát
Yến tiệc trăng sao lấp lánh một mâm đầy.

Đêm Cô Đơn tĩnh lặng ôi đêm diệu kỳ!
Đêm huyền thoại ngọt ngào tiếng hót họa mi
Tôi uống giọt nồng thơm lừng trong từng hơi thở
Trong từng khoảnh khắc môi chạm vành ly!

Sự sống như hoa báu nở trần gian
Mặt đất thánh đường lộng lẫy hào quang
Tôi nâng ly, Tôi hiện hữu
Đêm trắng mênh mông sương trắng lau ngàn.

Mặt trời ngủ đêm trong đóa hoa quỳ
Đêm huyền thoại ngọt ngào tiếng hót họa mi họa mi
Ly rượu nồng ngất ngây hồn cô độc
Ngoài song khuya vườn tinh tú thầm thì

Muôn tiếng côn trùng như mền dạ nhung êm
Tôi một mình tôi cùng tường vách lặng im
Xương máu tôi đâu chỉ là thân tứ đại
Một tiếng đàn nghe cũng rụng con tim!

Đêm Một Mình Tôi ôi đêm mê ly!
Đêm huyền thoại ngọt ngào tiếng hót họa mi
Ly rượu nồng cuộc đời tôi nâng lên uống cạn
Dưỡng chất trần gian muôn thuở vẫn xuân thì!

Trần Thoại Nguyên

SÀI GÒN – PHỐ CŨ TRỜI MƯA

Giữ ngoan
tiếng hát em buồn
Để mai chiều xuống
mà thương lấy người
Anh về
phố cũ
trời mưa
Tìm em áo lụa
ngày
chưa nhạt màu
Giữ ngoan
nghĩa nặng
tình sâu
Thuở
mi khẽ chớp
mắt sầu đã mơ
Cho con bướm
mộng vào đời
Qua ô cửa lớp
một thời bâng khuâng
Giữ ngoan
mười ngón tay cầm
Giấc mơ hoa
ngọt môi hồng
em xưa
Anh về
phố cũ
trời mưa
Sài Gòn ơi!
Áo em
chưa
nhạt màu
Bây giờ
Cho đến ngàn sau

Linh Phương

ĐÊM CÔ LIÊU

Em ngơ ngác bên đời
Hồn u sầu nhỏ lệ
Anh lạc giữa cơn mê
Ngập nỗi đau nhân thế

Ai về đêm giăng gió
Cùng em trọ trần gian
Và ngắm vầng trăng tỏ
Mơ giấc mộng thiên đường

Em vẫn ngóng mười phương
Biết tình còn trắc trở
Lòng sao mãi tơ vương
Cả một trời nhung nhớ

Ngoài xa nghe trăng vỡ
Từng ánh vàng rơi rơi
Nghiêng một bóng đơn côi
Hững hờ về ngõ vắng…

Thiên Di

d2824061-5312-4dd2-a1cd-dcb9c58bb457

Nhát Chém Hư Vô. Tô Đăng Khoa


Tô Đăng Khoa

Ao Ha Vang

“Nắng trong veo…thấu lụa là
Áo em mỏng quá, lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn
Từ em tóc xỏa sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau”

-Hư Vô-

Bài thơ đọc lướt qua, có vẻ như là của gã si tình, nhưng nếu đọc kỹ, đó là bài thơ của người đã ngộ đạo. Nét độc đáo là Trí Tuệ sáng ngời của Hư Vô Thi Sĩ đã đạt tới cảnh giới “trạm nhiên thường tịnh” hay là “định trong động”. Đoản thơ là một bài Pháp rất thâm sâu và tuyệt vời nếu ta chịu đăm chiêu hơn chút nữa trong từng lời từng ý. Bây giờ thử ta đọc lại thong thả, thêm một lần nữa:

“Nắng trong veo…thấu lụa là
Áo em mỏng quá, lòng ta gập ghềnh”

Chức năng của “nắng” là soi sáng, nắng lên xua tan màn đêm đen tối và đồng thời phơi bày tất cả vạn vật. Nói cách khác nắng là nền tảng căn bản cho sự nhận ra của cái đẹp. “Nắng trong veo” ở đây là một ẩn dụ, đó là biểu tượng cho trí tuệ “thấu” thị của Hư Vô Thi Sĩ.

Chỉ có Trí Tuệ của “nắng trong veo” mới có khả năng nhìn “thấu lụa là”, tức là bản chất tạm bợ mong manh, của đời sống “lụa là” mang tính chất hưởng thụ của các dục  trong hiện tại của đại đa số con người ngày nay.

“Áo em mỏng quá, lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh”

Trí Tuệ “thấu lụa là” chạm phải “làn áo mỏng”, kết quả là: “lòng ta gập ghềnh”?  Té ra phản ứng của Hư Vô Thi Sĩ cũng  không khác chi bao gã si tình khác ư? Có thật thế không?

Nhưng ở đây, các trạng từ “gập ghềnh”, “lênh đênh” của Hư Vô Thi Sĩ gợi cho ta hình ảnh gì?  Có phải là một con thuyền đang lướt trên sóng?  Thuyền tuy “gập ghềnh”, “lênh đênh”, nhưng thực ra vẫn đang lướt tới, đang đi đến mục đích đã được định sẵn. Hơn thế nữa có con thuyền nào mà lại không “gập ghềnh”, “lênh đênh” trên sóng nước?  Điều quan trọng hơn hết không phải là không lênh đênh mà là không lạc hướng và không bị sóng nhận chìm. Còn việc “gập ghềnh”, “lênh đênh” là chuyện đương nhiên của thân phận con thuyền.  Vì lẽ? Có lẽ trên đời này không hề có con thuyền nào không “gập ghềnh”, “lênh đênh” trên sóng nước cả. Vì thế sự cố gắng giữ cho thuyền không lênh đênh quả là một việc làm vô ích, sẽ không mang đến kết quả gì. Việc cần làm chỉ chăm chú sao cho khõi bị chìm để đi đến đích cần đến là được, hãy cứ để mặc cho con thuyền lênh đênh gập ghềnh trên sóng nước.

“Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn”

Dù chỉ là một thoáng lênh đênh đó, cũng đủ cho bài thơ tuyệt vời này ra đời, cho độc giả gần xa, chia sẻ cái nhìn trí tuệ của Hư Vô Thi Sĩ: “Mùa hạ chảy trên phím đàn” là một ẩn dụ đẹp, một lối nói hoa mỹ cho sự hiện thân của bài thơ này, “phím đàn” hay bài thơ đều thuộc lãnh vực Thi Ca. Nó là tinh tuý của một cuộc tương phùng rất hy hữu: Sự Tương Phùng của “Trí Tuệ Nắng Trong Veo” của Hư Vô Thi Sĩ và “Áo Mỏng Lụa Là” của nhân gian.  Kết quả của sự tương phùng này chính là một dòng chảy thi ca của “mùa hạ chảy trên phím đàn”, tức là bài thơ tuyệt vời này đây!

“Từ em tóc xỏa sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau”

Ô hay, gặp gỡ tương phùng để rồi tiễn đưa vốn và chuyện xưa như trái đất. Như hai mặt của một đồng tiền, không hề có cuộc tương phùng nào không kết thúc với chia ly! Nhưng thái độ lúc chia ly của Hư Vô Thi Sĩ mới là điều đáng nói: “Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau”

“Rộn ràng” đó là trạng từ chỉ niềm vui. Nhưng chia ly có gì vui? Nhất là khi chia ly vì em đã sang ngang? Chỉ khi nào có được Trí Tuệ “nắng trong veo” thấu thị bản chất của “tương phùng”“ly biệt” thì lòng mới có thể “rộn ràng tiển nhạu” lúc chia ly được! Nếu không thì:

“Ngày nhà em pháo nổ, Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ, Trong trái vải cô đơn
Ngày nhà em pháo nổ, Tâm hồn anh nhuốm máu
Ôi nhát chém hư vô, Ôi nhát chém hư vô”
(Phạm Văn Bình)

Vậy đó, ôi nhát chém hư vô! Nhưng ở đây Nhát Chém của Thi Sĩ Hư Vô là nhát chém của Trí Tuệ, không làm tâm hồn anh nhuốm máu mà lại có khả năng đưa đến việc “rộn ràng tiễn nhau” thay vì phải “cuộn mình trong chăn.”  Đó là hai thái độ tương phản của hai tâm thức trên cùng một sự kiện “sang ngang”!

Nhát chém hư vô trong bài thơ này không nhận chìm con thuyền mà đó là vết chém của Trí Tuệ. Đó chính là sự cắt bỏ, sự từ bỏ của tất cả những gì thuộc lãnh vực của kinh nghiệm nhận thức trong  “một thoáng lênh đênh” của đời người.

Xin Cám Ơn Hư Vô Thi Sĩ đã điềm nhiên đem tinh hoa Phật Giáo gói ghém trong bối cảnh thơ tình cho nhân gian dễ thể nhập.

Tô Đăng Khoa

Nguồn: https://vietbao.com/a272823/nhat-chem-hu-vo

Quán Thơ Hư Vô 296


Quán Thơ Hư Vô

KHÚC MƯA THÁNG 9

Đêm rắc mưa cho hương đầy tóc
Tháng 9 về quanh những gót chân
Phố xá chờ nhau đèn thao thức
Soi buồn chưa rõ mặt tình nhân.

Con đường có lần em qua đó
Lời hẹn hò còn đỏ son môi
Tôi về không kịp như đã hứa
Giọt mưa xoá mất bóng em rồi!

Bàn tay lạnh cóng như thỏi đá
Dụi mắt rưng rưng nỗi nhớ người
Hàng cây bàng mấy lần thay lá
Mà nghe hối hả bước chân tôi.

Chỗ có mũi tên đường rẽ trái
Mưa bay đâu còn thấy lối vào
Tôi nhìn tôi lạ người lạ phố
Cỏ xanh mọc đã quá đỉnh sầu…

Hư Vô

XIN ĐỪNG DO DỰ

còn bấy lăm ngày trên cõi thế
mà không níu nổi với nhau gần?
ôi em, con-mắt-nghìn-con-mắt
hãy ngó giùm tới lão tình nhân

ta có một đời yêu chẳng kịp
một đời lớ quớ, bỏ hoang vu
thì em của ngát lừng hương sắc
sao nỡ chiều xa, gió tuyệt mù?

em cũng nửa đời yêu chẳng đủ
vì em có thể rất vô cùng!
ngọn lửa trong ta đã tam muội
xin đừng do dự uổng trăm năm…

Hoàng Lộc

LẨN THẨN SỰ ĐỜI

Nặng gánh chợ đời chân đã mỏi
Hay chăng về lại chốn non ngàn
Bữa trước ta mơ làm thi sĩ
Nay đành gác lại với thời gian

Thất chí lên rừng đẵn củi chơi
Vẽ vời dăm chuyện cũng hết hơi
Bắt chước người xưa, ta tiều lão
Đổi ánh trăng vàng chén rượu vơi

Hỏi núi nằm đây có nhớ trăng
Ngàn năm còn ôm bóng giai nhân
Dưới kia đâu thiếu chi hào sĩ
Hà cớ gì đây lại ngại ngần

Giật mình tỉnh giấc Kê Vàng
Thì thôi lên núi làm chàng đốt than
Nghêu ngao giữa chốn đại ngàn
Đôi khi nhớ rượu lại quàng gánh đi

Ngắm ta giữa chốn kinh kỳ
Người đời đâu hiểu há vì cuộc chơi
Một trời một đất thảnh thơi
So ra giàu gấp vạn đời múa may

Chiều Xưa

TRƯỚC NGÀY LỄ VU LAN

một nhành hoa lan trắng
thanh bạch và dịu dàng
một nhánh hoa lan tím
yểu điệu và nồng nàn

các con mua tặng Mẹ
nhân ngày lễ Vu Lan
cha hớn hở mau miệng
ngợi khen các con ngoan

mẹ lặng lẽ lau mắt
liếc vội cha nhẹ nhàng
cha đặt tay lên miệng
thổi nụ hôn bay sang

các con còn đủ cả
mẹ cha trong cuộc đời
chúng ta cùng ngồi lại
ngắm hoa tạ ơn trời

Luân Hoán

ĐỢI

Ngày đông lệ mờ
Nghiêng chiều bóng vỡ
Lá chết treo khô
Hoàng hôn sắc đỏ

Tô vội chút hồng
Bờ môi tháng tám
Hát giữa mênh mông
Gọi người ngàn dặm

Mây bay qua vai
Sương mù mấy ngả
Đời mở thêm hoài
Từng trang sách lạ

Có những dòng câm
Giấy hờn trắng toát
Có giọt u trầm
Rơi câu thánh thót

Nỗi nhớ khôn cùng
Trên tờ lịch mỏi
Vạt sầu ai buông
Dài thêm ngõ đợi…

Yên Thảo

NHỚ CAO NGUYÊN

Con sẽ về thăm lại căn nhà nhỏ
Ngọn đèn dầu le lói thắp đêm khuya
Con sẽ về để thấy mẹ hôm xưa
Lom khom nấu cơm chiều trong bếp nhỏ

Cơn mưa về trơn ướt đường đất đỏ
Mẹ loay hoay mớ củi ướt bên hiên
Khói bếp cay hong mắt mẹ triền miên
Tuổi thơ con buồn như những ngày ám khói

Con sẽ về giữa mùa gió nổi
Gió đầu mùa xao xác những giấc mơ
Gió mênh mông, tan vào đêm hiu quạnh
Gió âm thầm qua ruộng bắp xác xơ..

Con sẽ về cao nguyên mù sương khói
Mơ cơm chiều được bên mẹ ấm êm
Nắng lung linh hoa cà phê nở trắng
Đàn trẻ đùa trong đất đỏ lấm lem..

Chưa về được nên nghe lòng quặn thắt
Dáng mẹ ngồi bên bếp lửa chiều đông
Thương những đứa con lạc loài đâu đó
Mắt mẹ buồn chạm tới mênh mông.

Thuc Uyen

THÂU ĐÊM TRẰN TRỌC NGHE MƯA

Chưa mùa mưa trời bỗng mưa mau
Mái nghiêng gác lệch mưa rêm đầu
Nghe lòng chăn chiếu ê chề quá
Hơi hướm giang hồ chẳng ấm nhau

Cứ gom tâm sự nằm nhai lại
Tâm sự một đời hôi bể dâu
Năm năm mười năm không là mấy
Góp lại không đầy một đêm thâu

Đêm thâu nghe mưa rơi trằn trọc
Đời mòn chí mỏi biết về đâu?
Bao khách xa nhà trong thiên hạ
Đêm mưa thanh khí chẳng tương cầu

Cứ nghe mưa héo mòn trời đất
Tê buốt lòng ngàn mũi kim khâu
Chưa mùa mưa sao mưa rười rượi
Không chừng trời ốm khiến mưa đau

Chiếu chăn meo mốc chua mùi mộng
Mộng sớm mộng khuya chóng bạc màu
Nhốn nháo sinh linh thời nhiễu loạn
Lều bều thân thế lộn vàng thau

Năm nổi tháng chìm ngày mắc cạn
Đêm mưa lòng nghẽn nước đục ngầu
Nằm suông thức trắng nghe mưa giọt
Sáng dậy ngu ngơ: tóc bạc đầu!

Phạm Ngọc Lư

GIÓ VỀ QUÊ CŨ.

Chiều hôm qua ngọn gió
Từ nơi núi rừng xa
Về thăm làng quê cũ
Chợt mắt nghe vỡ òa.

Dòng sông không muốn khóc
Cho cuộc tình đã qua
Nhưng con đò bật khóc
Gói mùa đông làm quà.

Tiếng đàn bầu đã dứt
Cánh cò vừa biệt ly
Bóng chiều trên nhành trúc
Gọi gió trăng thầm thì…

Anh nông phu nào đó
Vác cày bừa vừa qua
Hình như là đôi mắt
Có nhớ người đi xa.

Gió tìm ngôi nhà cũ
Bên bến sông ngày xưa
Có người em gái nhỏ
Chèo đò qua chiều mưa

Gió tìm ngôi nhà cũ
Có bóng dừa cau xanh
Có giàn trầu của mẹ
Có giếng trong ngọt lành.

Gió tìm vầng trăng sáng
Dưới hồ sen yên bình
Lúa thơm thì con gái
Trên cánh đồng nguyên trinh.

Gió chợt sờ đôi mắt
Cô thôn nữ đa tình
Vàng rơi lay võng lụa
Vườn trăng khuya một mình.

Gió mai về viễn xứ
Tiếp cuộc hành tha hương
Biết bao giờ trở lại
Hôn môi em miên trường…..

Lê Bảo

IMG_9689

Mai Thảo – Người Kể Chuyện Bằng Văn. Trần Thanh Hiệp


Trần Thanh Hiệp

C95903EB-66AA-4B5E-AA29-D6DF0CE003A0

(Chân dung nhà văn Mai Thảo qua ống kính của Nguyễn Bá Khanh)

Mai Thảo chết đến nay đã được mười năm. Trong mấy anh em chúng tôi, quen biết nhau ở miền Nam từ 1954 – mà người ta thường gọi là nhóm Sáng Tạo – sau 1975 ra được hải ngoại, Mai Thảo là người ra đi chuyến vân du của anh sớm nhất. Sau đó lần lượt đến Ngọc Dũng rồi Nguyễn Sĩ Tế, Thanh Tâm Tuyền và mới đây là Thái Tuấn. Sự vắng mặt của Mai Thảo cũng như của các bạn khác, tôi khi nhớ khi quên. Nhưng khi chợt nhớ thì lúc nào cũng là một sự mất mát vĩnh viễn không có gì bù đắp được.

Một vài lần tôi có nói về những liên lạc thân tình giữa Mai Thảo và tôi. Lần này tôi muốn nói qua một vài nét về sự đóng góp của Mai Thảo cho văn học Việt Nam, từ phần nửa sau của thế kỷ XX. Với những hiểu biết, cách nhìn của riêng tôi về Mai Thảo mà tôi coi như những cái nhìn từ bên trong. Để mong cung cấp thêm ít nhiều dữ liệu cho hai trong những nhà nghiên cứu văn học ở hải ngoại tôi đã có dịp đọc là Bùi Vĩnh Phúc và Thụy Khuê.

Sáng Tạo, như một hiện tượng văn học.

Sáng Tạo là tên của tờ báo anh em chúng tôi xuất bản hàng tháng ở Sài Gòn từ 1956 đến đầu thập niên 1960 thì ngưng. Sáng Tạo cũng còn là tên mà người ngoài hay gọi anh em chúng tôi là “Nhóm Sáng Tạo”. Nếu hay hội họp với nhau, lúc nhiều lúc ít mà là Nhóm thì cũng có thể nói rằng có Nhóm Sáng Tạo. Nhưng bên trong chúng tôi thì thật ra không có Nhóm ấy. Sáng Tạo không phải là một văn đoàn. Chúng tôi không thành nhóm, không thành văn đoàn chỉ vì tôn trọng sự tự do của nhau… Nguyễn Sỹ Tế kể lại rằng “có lúc dân Sài Gòn đã vui đùa mà nói đến chơi nhà Sáng Tạo chỉ thấy bốn năm ông nhà văn mỗi ông ngồi một xó trước cái bàn thờ tổ sư riêng. Tạp chí Sáng Tạo không hề có chức chủ bút và tổng thư ký tòa soạn đích danh…” Nhưng sự gắn bó giữa những người bạn với nhau thì lại rất chặt chẽ. Hình thức gắn bó đặc biệt này người ta cũng tìm thấy dưới ngòi bút của nhà văn dấn thân kiêm phi công người Pháp, Antoine de Saint-Exupéry: “chỉ năm sáu người, không còn gì ở cuộc đời này nữa, ngoại trừ những kỷ niệm của họ… Thương nhau, không phải mắt nhìn mắt mà là tất cả cùng nhìn về một hướng”.

Tôi không có ý định đi sâu thêm vào tình thân giữa anh em chúng tôi, “giữa đất trời nhau”, nói theo kiểu Mai Thảo. Tôi chỉ muốn bàn về cái “hướng” chung mà Saint-Exupéry đã nêu lên, trong một hoàn cảnh khác.

Miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954, đối với những người từ miền Bắc di cư vào, giống như một thứ Viễn Tây của những di dân từ Anh đến đất Mỹ. Một triệu người đã bỏ lại đằng sau lưng quê hương ở miền Bắc và bằng tàu biển, máy bay lũ lượt kéo nhau đến sinh sống, lập nghiệp trên đất mới ở miền Nam.

“Cuộc di cư năm 1954, một cuộc di cư ào ạt, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc so cả với thời kỳ Lê (Trịnh) Nguyễn phân tranh cốt yếu là một cuộc chọn lựa chính trị, chọn lựa chế độ cai trị giữa guồng máy Cộng Sản và guồng máy Quốc Gia. Cuộc di cư lớn lao từ Bắc vào Nam đó có điều đáng ghi nhận là nó bao gồm đủ mọi thành phần quốc dân từ nông thôn qua thị thành, từ bình nguyên lên cao nguyên, nào quân nhân, công chức, nào văn nghệ sĩ, giáo chức, học sinh, sinh viên… thôi thì sĩ nông công thương đủ cả. Nguyễn Đăng Quý, sau này là chủ nhiệm Mai Thảo của Tạp chí Sáng Tạo, ở trong làn sóng di cư này với tư thế là một người trẻ không có trường để học, một công tử lang thang hết chỗ để ngao du, một nhà văn vào nghề không có nơi dụng võ. (…) Tạp chí Sáng Tạo đã bắt nguồn từ biến thiên lịch sử nói trên, nhất là cuộc di cư của anh em sinh viên Hà Nội. (…) năm 1956 (…) sau cuộc triển lãm của Duy Thanh và Ngọc Dũng, với sự giúp đỡ tận tình của nhiều nhân vật các giới, tờ nguyệt san Sáng Tạo của Mai Thảo ra đờ…” (theo lời Nguyễn Sỹ Tế).

Cuộc di trú với qui mô lớn và được hoàn tất trong một thời gian tương đối ngắn này là biến cố có thể ghi chép vào những trang đầu của lịch sử đi tìm tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam vào thời điểm giữa thế kỷ XX. Những người dắt díu nhau ra đi chỉ mang theo trong hành trang hình ảnh, kỷ niệm đậm nét về quá khứ và một niền hy vọng mong manh về tương lai. Họ phải nhìn vào cuộc sống trước mắt và phải suy nghĩ về cuộc sống những ngày sắp tới.

Cả một lớp người cầm bút thuộc nhiều thế hệ bỗng dưng được đặt trước những câu hỏi lớn về cuộc đời. Ta phải sống như thế nào? Còn có thể trở lại tắm ở những dòng sông cũ, sông nay đã đổ ra biển cả? Với anh em chúng tôi các câu trả lời đã đến rất mau lẹ và dứt khoát. Không làm người gác cổng nghĩa trang cho những tác giả đã khuất (lối nói khiêu khích của J.P. Sartre). Không nhắm mắt cặm cụi sao chép văn chương “khuôn vàng thước ngọc” thời tiền chiến (làm nhiều người không vui). Dứt khoát và kịch liệt chối bỏ mọi thứ chính trị viên văn nghệ. Sẵn sàng đương đầu với tuyên truyền dối trá để huyễn hoặc và bạo lực khủng bố để toàn trị (nhiều người chưa dám). Trước mắt, thời đại đang mở ra cả một chân trời tự do. Với niềm tin mới, chúng tôi hăng hái nhập cuộc, mang hoài bão tìm được mạch sáng tác mới trong hoàn cảnh mới của đất nước.

Có hai vấn đề đã được đặt ra là “nội dung”“hình thức” của sáng tác. Đối với những nước đã có sẵn một nền văn học có bề dày, bề dài rồi, thí dụ nước Pháp, thì tiến bộ thường chỉ là thay đổi các “hình thức” diễn tả. Cũng thời điểm này ở bên châu Âu, văn học của Paris đang chuyển mình. Thế hệ những người cầm bút kiêm triết gia từng làm mưa làm gió trong những năm 1930 đã phải nhường chỗ cho một thế hệ những người cầm bút mới, mang ý thức mới, không thiên về thuần suy tưởng mà về hành động, về trách nhiệm trước lịch sử. Cuộc giải phóng năm 1945 không xóa đi được những vết tích của cuộc chiến bại năm 1940 và những nỗi nhục của 4 năm chiếm đóng. Pháp đã thua trận vì, như chính một nhà phê bình Pháp đã nhận xét, văn hóa Pháp là nếp sống của một “tỉnh nhỏ” với những tiệm cà phê, những bài thơ tình, những lời hẹn hò thơ mộng… Mùa xuân năm 1945, Mauriac đã thốt ra những lời lẽ rất bi quan: “nhân loại đã già đi ghê gớm và bước ra khỏi cuộc tắm máu mới, đầu óc lạnh lùng, không mơ mộng nữa. Nó ôm trên tay và ghì sát ngực một con bé đã chết, con bé mà Péguy gọi là con nhỏ ‘Hy vọng'”.

Ở miền Nam Việt Nam trái lại đã có cảnh tượng những cuộc lên đường. Một sức sống đang bung ra trong tin tưởng và lạc quan. Phải chụp bắt và phô bày được trọn vẹn cái không khí phiêu lưu này của cuộc phục hưng chờ đợi từ lâu. Và như vậy có nghĩa là phải đẩy cho văn học Việt Nam bước được một bước phát triển mới. Về hai mặt. Trước hết phải cải thiện thân phận của người cầm bút. Thời trước, hình như Lê Văn Trương có than rằng nhà văn ở Việt Nam “khổ như chó”. Tại sao khổ? Vì nó chưa có cơ hội để sống đời sống xứng đáng làm con người. Nhà văn nay phải có được nhân phẩm khả kính ở trong xã hội. Nó tự trọng và buộc xã hội tôn trọng nó. Phải có những nhà văn mới với bản lĩnh kết hợp ngôn ngữ với thẩm mỹ để làm đẹp cho cuộc sống trong đời người và trong xã hội. Cuộc sống ấy đang triển khai trong những không gian được mở rộng dưới những hình thức chưa từng thấy trong quá khứ. Người Việt Nam đã trực tiếp chạm mặt với nhiếu nguồn văn hóa ngoại quốc nhờ truyền thông đại chúng. Không có lý do gì để đi vào cuộc sống này với vốn liếng cũ, rung cảm sáo mòn, kỹ thuật diễn tả chưa thoát khỏi thô sơ. Tờ báo Sáng Tạo được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử này. Và những người khai sinh ra tờ Sáng Tạo, mỗi người một cách, đã cùng nhìn về “hướng” chung ấy, từ “hình thức” đến “nội dung”.

Thanh Tâm Tuyền đã ghi lại công việc cùng làm chung bằng cách riêng trong hai câu thơ của anh:

Đau như thú dữ cháy rừng
Ta đập vỡ hình hài và thức giấc.

Mai Thảo “nhìn xuống dưới ấy” với cặp mắt riêng. Văn phong của tác giả Đêm Giã Từ Hà Nội là của riêng anh, không phải là công trình tập thể những người thường được gọi là Nhóm Sáng Tạo. Doãn Quốc Sỹ tiếp tục kể đủ thứ chuyện bằng ngôn ngữ nguyên chất dân tộc. Trần Thanh Hiệp, làm thơ, viết truyện ngắn và tiểu luận cổ võ đường lối đem nghệ thuật thắng định mệnh. Nguyễn Sỹ Tế trầm tĩnh suy tư về nhân bản và làm thơ, viết văn. Duy Thanh, Ngọc dũng rung động với màu sắc và thi ca. Thái Tuấn vẽ tranh và khi rảnh rỗi thì bàn về nghệ thuật… Trong chừng mực này, Sáng Tạo thực chất là một hiện tượng văn học. Chống Cộng, đương nhiên. Nhưng chống cộng bằng ngôn ngữ, bằng nghệ thuật, bằng văn hóa. Không theo cung cách của những người làm chính trị chống cộng vì quyền lực, đảng tranh.

Với khoảng cách thời gian gần một nửa thế kỷ nay đã đến lúc nên nhấn mạnh trên đặc tính văn học này. Chúng tôi chống cộng để chống mọi thứ quyền lực chà đạp lên nhân phẩm, cướp đoạt tự do của con người. Chúng tôi không theo đuôi, không về hùa với những kẻ làm chính trị chống cộng để cầm quyền. Vì chúng tôi nhờ linh tính đã không thể đánh giá cao đạo đức cũng như khả năng của những nhân vật giữ vai trò lãnh đạo.

Những gì đã đưa tới biến cố 1975 ở miền Nam và sau đó những ứng xử thấp kém diễn ra ở hải ngoại đã biện minh, tuy muộn màng, cho linh tính của chúng tôi. Nhưng chúng tôi vẫn minh bạch đứng dưới ngọn cờ chống cộng và anh em chúng tôi như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên v.v… đã phải trả giá rất đắt cho thái độ lấy đất đứng này. Chính để cho thái độ chung đó được sáng tỏ mà tờ Sáng Tạo đã tự ý đình bản đầu thập niên 1960.

Sáng Tạo đã nói bằng sự im lặng tâm trạng thuận tình tự chế của nó. Tâm trạng của không ít người cầm bút ở Pháp những năm 1940 bị Đức chiếm đóng mà Antoine Saint-Exupéry đã không e ngại phơi trần: “Tôi không bao giờ chối bỏ anh em cùng chiến tuyến của tôi. Nếu họ làm cho tôi phải hổ thẹn thì tôi giữ sự riêng trong lòng sự hổ thẹn ấy mà chẳng cần nói ra…”. Thanh Tâm Tuyền khi phải đi học tập đã trình diện với tư cách Đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Dzư Văn Tâm… Doãn Quốc Sỹ được tiếng chỉ coi nhà tù là nơi để thiền. Nguyễn Sỹ Tế năm lần bảy lượt bị biệt giam và nhân đó lại sáng tác ra hàng trăm bài thơ tiếng Pháp. Trong hồ sơ nghiên cứu về Sáng Tạo những chi tiết kể trên vẫn còn ít người biết ..

Mai Thảo, người kể chuyện bằng văn

Nói Mai Thảo kể chuyện bằng văn có vẻ như muốn lập dị, cho lạ, cho kêu. Đổi lại là Mai Thảo viết văn để kể chuyện thì bình thường hơn, dễ hiểu hơn. Nói như vậy không phải là không có phần xác đáng. Nhưng tôi thấy cần phải tiếp cận vấn đề từ độ góc kể chuyện để tìm hiểu tận gốc văn chương của Mai Thảo. Muốn kể chuyện thì phải có chuyện mà kể và phải biết kể. Khởi đầu là những huyền thoại được truyền tụng bằng miệng. Khi có văn từ thì dùng chữ viết ghi chép. Chuyện là gốc của văn học. Kể chuyện là bước khởi đầu của văn chương. Nhà văn là người có cách kể chuyện đặc biệt bằng thứ tiếng nói đặc biệt mà người ta gọi là văn chương.

Mai Thảo là một trong những nhà văn có số lượng tác phẩm đáng kể (trên 60 đầu sách truyện ngắn, truyện dài, thơ v.v…). Với Thụy Khuê thì Mai Thảo là “nhà văn tài hoa nhất và sáng tác sung mãn nhất của thế hệ ông… (trước 1975 ở trong nước) là đầu tầu của nhóm Sáng Tạo… (sau 1975) ở hải ngoại vẫn là đầu tầu”. Theo một ngòi bút phê bình khác, Bùi Vĩnh Phúc thì “Mai Thảo đã đóng dấu ấn văn chương của mình xuống những trang văn học Việt Nam”. Nhưng lại cũng có người cho rằng Mai Thảo với nhóm Sáng Tạo đi theo con đường “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Ông “đã đóng góp cho một cách làm mới hành văn… những thử nghiệm thành công… những chữ dùng nay đã quen nghe quen thấy nhưng vào những năm 1956-1962 là những cái mới đã làm hơn một người nhăn mặt!”. Tôi cho rằng nếu đổi cách nhìn coi Mai Thảo là người kể chuyện thay vì là nhà văn thì có lẽ sẽ tránh được cho Mai Thảo nhiều lời phê bình thiếu chính xác.

Truyện ngắn hay truyện dài đều là những câu chuyện kể (récit). Mai Thảo đã viết các truyện của mình như thế nào? Tất nhiên không ai phủ nhận được rằng Mai Thảo đã mang lại những điều mới – nếu chưa nói được đã đổi mới – cho văn học Việt nam. Cho tới nay phần lớn chúng ta hay thấy Mai Thảo được phê bình theo tiêu chuẩn văn học sử. Cho đến 1975, văn học sử Việt Nam chưa có được công trình nghiên cứu tương xứng với giá trị đích thực của số tác phẩm văn học ấn hành vào thời điểm nửa phần sau thế kỷ XX. Sự thiếu hụt này cũng chưa được những công trình nghiên cứu, ở hải ngoại, mới và khách quan bù đắp. Nhưng trong mọi trường hợp thì cũng cần phải nhờ ngôn ngữ học hỗ trợ để có những cái nhìn mới về văn học trước khi muốn hoàn thiện văn học sử. Mới, vì nó phải quay về bên trong và có phương pháp luận (méthodologie) để nắm bắt cấu trúc của ngôn ngữ văn học thời đại. Dưới ánh sáng mới này, Mai Thảo sẽ cho thấy quả thật ông đã góp công làm mới văn học Việt Nam.

Xin mở một dấu ngoặc. Hãy tạm rời lãnh vực của môn văn học sử Việt Nam hãy còn ở giai đoạn sơ lập để bước vào thế giới của ngôn ngữ học mà khám phá hiện tượng văn học Mai Thảo. Bước đi này đòi hỏi phải mang theo dụng cụ khảo sát thích hợp nghĩa là khái niệm về các thành tố chính của câu chuyện kể (récit). Câu chuyện này trước tiên phải có “chuyện” (énoncé) để “kể chuyện” (énonciation). Chuyện thì phải thành chuyện rồi để nói cho ai nghe. Trong khung cảnh (thời gian, không gian) nào và kể với mục đích gì. Như thế việc kể chuyện này sẽ đặt ra nhiều vấn đề và một ngành học chuyên môn mới về kể chuyện đã xuất hiện (narratologie). Môn học này có tham vọng cung cấp một thứ siêu-ngôn-ngữ (méta-langue) để thấu hiểu được hết mọi câu chuyện khác nhau.

Áp dụng vào trường hợp nhà văn Mai Thảo, qua các tác phẩm văn chương của ông thì có thể phân biệt “ba” Mai Thảo khác nhau: Mai Thảo trong tác phẩm, Mai Thảo ở ngoài đời và Nguyễn Đăng Quý là con người bằng xương bằng thịt mang bút hiệu Mai Thảo. Mặt khác, khi kể chuyện trong tác phẩm, Mai Thảo có thể ở ngôi thứ nhất trực tiếp kể hay mượn người khác ở ngôi thứ ba kể hay kể chung chung không xác định là ai kể. Ngoài ra, Mai Thảo kể cho người trong chuyện hay người đọc chuyện nghe hay kể cho người ngoài đời nghe, đời nay, đời sau. Và bởi là câu chuyện kể bằng văn chương chữ viết không phải kể truyền khẩu nên người kể và người nghe (đọc) rất cách biệt nhau, khó có thể khẳng định theo một chiều hướng nhất định, nhất là người kể và người đọc lại không cùng thuộc một thế hệ.

Sau nữa, nếu không phải là chuyện có thât thì phải bịa ra một câu chuyện không có, tiếng chuyên môn gọi là hư cấu (fiction). Tức là có thể mượn phần nào sự thật, bóp méo đi, thêm bớt hoặc hoàn toàn tưởng tượng ra từ khung cảnh cho đến nhân vật, tình tiết. Hư cấu để kể cho ai nghe. Điểm này sẽ quyết định cách kể chuyện và trong văn học thì đó là khuôn mặt của văn chương. Có thể nhận định với nhiều dè dặt rằng nhiều nguồn dư luận đã phát biểu cho đến nay về Mai Thảo chưa miêu tả được đủ các mặt của văn chương Mai Thảo. Và cũng có nhiều thiếu sót, sai lầm vì thành kiến hay vì dựa vào phương pháp nghiên cứu lỗi thời.

Mai Thảo là Sáng Tạo nhưng Sáng Tạo không phải là Mai Thảo

Tạp chí Sáng Tạo tự ý đình bản đầu thâp niên 1960. Sau đó sinh hoạt văn nghệ của mấy anh em chúng tôi vẫn tiếp tục, mỗi người một hướng. Mai Thảo tích cực nhất, Doãn Quốc Sỹ và Thanh Tâm Tuyền dành nhiêu thời giờ cho công việc “cầm phấn trước bảng đen” nhưng vẫn không gác bút sáng tác, Nguyễn Sỹ Tế tham chính qua bộ Ngoại giao, vẫn không quên chuyện văn chương, Trần Thanh Hiệp trở lại hành nghề luật sư đều đặn còn gắng thiết lập với Doãn Quốc Sỹ Nhà xuất bản Sáng Tạo trước khi qua Paris tham gia cuộc hòa đàm. Năm 1975 một bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam, bức màn sắt của chuyên chính toàn trị buông xuống cả nước. Sáng Tạo im tiếng từ gần mười lăm năm trước coi như đã đi hẳn vào dĩ vãng nếu đầu thập niên 1980, Mai Thảo không xuất hiện ở hải ngoại và lên tiếng cho Sáng Tạo. Mai Thảo lại “giữ vai trò hải đăng Đêm Giã Từ Hà Nội thời năm tư” (Thụy Khuê).

Người ta nhớ lại tiếng nói Sáng Tạo của Mai Thảo: “Sài Gòn, thủ đô văn hóa Việt Nam. Không phải là một danh từ, một câu nói suông nhạt (…). Sài Gòn đã đứng vào vị trí, đã nhận nhiệm vụ mình sau khi Hà Nội đã từ bỏ nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa đã sáng lên ở đây hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã ở một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ, mạnh sẵn có của Thành phố hòn ngọc của châu Á, tinh hoa của đất nước – đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu văn hóa, trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt của một mùa văn hóa mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ hệ thống …” (Sáng Tạo số ra mắt, 10-1956, do Nguyễn Vy Khanh trích dẫn, Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XX, nxb Đại Nam 2004). Năm 1971, được yêu cầu kể lại chuyện Sáng Tạo, Mai Thảo đã nói: “Chất nổ ném vào. Cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển, ra khơi. Và cuộc cách mạng biện chứng của văn chương đã bắt đầu (…). Trong những thực trạng dày đặc những chất liệu của sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực” (sđd). Mai Thảo đã quảng diễn đoạn kết luận Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam, nhân cuộc thảo luận năm 1960 của một số người đã viết cho Sáng Tạo như sau: “Chúng ta đã làm một cuộc thanh toán với thế hệ trước qua việc xác định lại giá trị đích thực của văn chương nghệ thuật tiền chiến. Chúng ta đã kiểm điểm nhận định trong ý thức hoàn toàn chủ quan của chúng ta với mục đích và hy vọng duy nhất: Cùng với nhau bỏ những ám ảnh quá khứ để nhìn vào thực trạng, khơi mở con đưnờg tiến tới nghệ thuật hôm nay. Có thể thế hệ sau chúng ta sẽ làm lại hành động này với thế hệ chúng ta. Và chúng ta chấp nhận đó là một hành động tất yếu cho sự tiến hóa của nghệ thuật. Nghệ thuật là một vận động biện chứng của hủy diệt và sáng tạo.” (Thảo luận giữa Cung Trầm Tưởng, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Huỳnh Văn Phẩm, Lê Huy Oanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp, nxb Sáng Tạo, Saigon, 1968).

Mai Thảo tuy đã vĩnh viễn vắng mặt nhưng văn chương của ông vẫn hiện diện. Bùi Vĩnh Phúc trong cuốn Lý Luận và Phê Bình của ông xuất bản ở hải ngoại, viết rằng “Mai Thảo chính là tiếng còi. Văn chương của ông cũng là tiếng còi (…) mang lại cho ta những tiếng quê nhà. Làm ta tỉnh thức (…). Nó mở lại cho chúng ta những cảm xúc và những cái đẹp mà, trong chúng và với chúng, ta đã nhìn thấy ta lớn lên”.

Tòa kiến trúc văn học đồ sộ Mai Thảo để lại cho đời sau, theo tôi quả thật Sáng Tạo chẳng có công lao gì.

Trần Thanh Hiệp
Paris, Xuân 2008

Di Tích Một Nụ Hồng. Thơ Hư Vô


Tôi nhặt chùm hoa nhỏ
Thả nỗi buồn qua sông
Còn nghe tiếng cát lở
Theo ngọn sóng trong lòng.

Em dầu gì cũng đã
Là một nhánh gai hồng
Mọc ngang tàng ngạo nghễ
Trên từng vết rêu phong.

Thì làm sao em hiểu
Trong mỗi tiếng thở dài
Có hồn tôi động đậy
Cho vàng bóng heo may!

Còn nhấp nhô dậy mộng
Ngang mặt nước trong ngần
Bóng em đang cùng tận
Một nụ hồng không chân.

Tôi lăn vào vực thẳm
Vết đau bỗng cựa mình
Từ những chồi gai nhọn
Thương tích đã hồi sinh.

Chỗ trái tim rịn máu
Trên mỗi dấu môi trần
Mà em đã bỏ lại
Một di tích tình nhân…

Hư Vô

 

Quán Thơ Hư Vô 295


QUÁN THƠ HƯ VÔ

HIÊN NGƯỜI

Chỗ anh đứng mùa xuân không về nữa
Cổng rào xưa đã mất dấu chân người
Em đâu thấy hồn anh đang mục rã
Theo lá vàng lãng đãng bóng chiều rơi.

Ngày tháng cũ còn nguyên trong tập vở
Những trang thơ em chép mộng ban đầu
Mà anh đã vân vê cho óng ả
Tóc em dài chưa biết thả về đâu!

Để tà áo bay qua cầu vội vã
Đường mưa trơn đâu có lối anh vào
Thì làm sao níu kịp hương mười sáu
Hạt mưa nào đã tan vỡ đời nhau!

Anh trở lại chỗ quen hơi ngày cũ
Cỏ mọc dài theo lối nhện giăng tơ
Nơi sợi tóc em có lần quên chải
Buông hững hờ cho rối những vần thơ!

Mà anh đã gắn hồn nhau vào nét chữ
Mang theo em từng dấu mực, hơi người
Để em đốt cho đầy tàng hương cũ
Vụt nở bừng hiên dã cúc vàng tươi…

Hư Vô

CHỜ…

Chờ nhau..nắng xế đã giòn
Chờ nhau..mưa dầm đã lụn
Chờ nhau..mộng sớm đã tàn
Chờ nhau..dài đêm đã tận..

Chờ nhau..ngày đi khập khiễng
Lênh đênh chiều dạt qua bờ
Sương khói dày thêm chạng vạng
Nỗi buồn từ ấy đa mang..

Chờ nhau..tóc mờ sương lạnh
Trổ màu trên nhánh hoa thơm
Con bướm vàng xưa rũ cánh
Chết trên cành quế lan hương..

Chờ nhau..mùa đi rất vội
Niềm yêu như lá phai hường
Trên đỉnh đời mưa gió nổi
Bay qua ngày bặt tin nhau..

Chờ nhau..tận cùng khoảng cách
Trùng trùng nỗi nhớ thang mây
Đã mỏi chân lầm sa mạc
Thêm gần cát bụi đường bay..

Chờ nhau..lòng xưa đã héo
Chơi vơi bờ mắt thâm quầng
Thôi nhé, chờ nhau kiếp khác
Ngày vô thần đã chia phân..

Chờ nhau..một đời nặng nợ
Người về khuất tịch trong xưa
Thân đã mòn như đá cuội
Lăn trên ngày tháng hững hờ..

Thôi nhé, chờ nhau chi nữa
Đến -đi cũng một chuyến tàu
Xin ghé vào ga cô quạnh
Một lần biết có còn nhau…

Trung Chinh Ho

KHẬP KHIỂNG ĐÔI CHÂN NGÀY TRỞ LẠI

Bóng nhỏ treo nghiêng đầu ngọn bấc
mặc kệ cho năm tháng phiêu bồng
nhà không có vì không ai chứa chấp
một thằng con lạc chợ trôi sông.

Xô dạt từ ngàn năm ánh sáng
tấc lòng kẻ sĩ mảnh như tơ
đã rách nát hơn đời khố rách
mà còn thương tiếc bóng trăng xưa.

Hình như Đỗ Vũ thán tình quê
luân lạc trăm năm còn gọi hè
giày rách gươm cùn phơi cuối bãi
hồn tiêu viễn khách tít sao khuê.

Đem hồn tri kỹ phơi lên đá
tuế nguyệt mơ chi đá chạnh lòng
kinh sử có khi còn đậm nhạt
thì sá gì một khóm bèo sông.

Khập khiểng đôi chân ngày trở lại
hoang vu sương khói đẫm trăng tà
dường như thể phách trăm năm cũ
hãy còn lơ lửng trước phong ba.

Khách dụi mắt nhìn quanh cố xứ
kinh hoàng cổ độ quá tiêu sơ
con sông cái suối ngưng dòng chảy
thì mong đâu đất đợi người chờ.

Trần Yên Thảo

THẢ CÂU TẬN CHÂN TRỜI

Móc mồi trăng thả câu thơ
Từng đàn cá mộng bơi mờ nhân gian
Dắt thơ lẩn thẩn tìm nàng
Trái tim thất thủ đầu hàng nguyên tiêu

Ôm đời vui hắt buồn hiu
Bước đi nào đọng vệt rêu giữa đời
Cái tâm trốn tận phương trời
Bỏ ta ở lại uống lời thị phi

Cuộc người nước vỡ tràn mi
Ngược xuôi giữa chốn sân si hững hờ
Hồn ai khẳm chiếc đò thơ
Đón đưa con chữ qua bờ tịch liêu

Môi khô đắng một ngụm chiều
Chìm tâm tư dưới lời yêu xa vời
Mồi thơ thả đến chân trời
May ra câu được một người yêu xa!

Lưu Xông Pha

NGHE…

Nghe người nhắc chiếc cầu cong
Và con sông chỉ một dòng trong thôi
Là tui đã thấy …ui trời
Ấu thơ hiển hiện, lòng vời vợi thương…

Nghe đàn kêu chỉ một phương
Mà răng quặn thắt đêm trường không yên?
Răng, ri, rứa…dư âm quen
Lại nghe chi lạ nỗi niềm Huyền Trân!

Chùa cong mái nhớ phân vân
Bên ni ngược dốc phong trần ai xưa?
Giang hồ rót cạn tinh mơ
Hồi hương cũng chỉ câu thơ nao lòng…

Đôi khi tui rất cực lòng
Muốn dắt mà ngại… bậu không chịu về!
Xứ chi mưa buồn ri thê
Nắng điên tiết nắng, sầu lê thê sầu…

Trần Dzạ Lữ

ĐÊM Ở RỪNG CÁT TIÊN

Đêm Cát Tiên ta nằm nghe rừng kể
Chuyện ngàn xưa trong tiếng sóng Đồng Nai
Ngày qua đây phà oằn mình vượt lũ
Nước từ đâu cuồn cuộn bến sông đầy.

Con đường mòn tìm dấu chân phía trước
Tầng lá khô ủ mục tự bao giờ
Mới hôm qua cơn mưa rừng trút nước
Sáng bừng lên vàng nắng đẹp hơn tơ.

Ta đứng dưới gốc bằng lăng cổ thụ
Từng khối nu hình dáng thật lạ kỳ
Suối róc rách trườn mình qua đá nhủ
Che rợp trời xanh thẩm tán cây si.

Con tê giác cuối cùng vừa mất dấu
Vùng giáp biên lòng nghe quạnh khôn cùng
Tiếng gà gáy ba nơi đều nghe rõ
Lời của rừng âm vọng đến rưng rưng.

Màu mây trắng giữa Thác Trời hùng vĩ
Em có nghe tiếng hát của đất trời
Hãy cùng ta đắm mình vào mộng mị
Chốn đại ngàn hồng bếp lửa đêm trôi.

Nguyễn An Bình

CÓ ĐỢI TÔI KHÔNG

sáng nay em vừa qua ngõ
mang theo hương sớm thu vàng
một người bên hiên ngồi đợi
chập chùng mây gọi mùa sang

em hay là thu vậy nhỉ
để tôi mơ một góc trời
có con bướm vàng thủ thỉ
nghe chừng thu nhẹ nhàng trôi

chẳng lẽ thu về lạc lối
tôi chưa kịp gửi câu chào
em ơi bước đừng đi vội
vẫn còn màu nắng nghiêng chao

hay thu còn vương nỗi nhớ
mây trôi ngập mấy phương trời
hái những đợi chờ mê mải
tôi ngồi đếm những mùa rơi

tiếng guốc khua hồn tôi dậy
miên man sương khói bềnh bồng
ơi em tình hồng trang giấy
có chờ có đợi tôi không…

nguyễn minh phúc

KHI GIÓ TÂY NAM VỀ

Gió mùa Tây Nam lồng lộng
Thổi về trên ngã ba sông
Em thả chiều trên ngọn sóng
Lăn tăn những giọt tình không

Gió mùa Tây Nam vẫn thổi
Chở mây giăng xám khung trời
Em bước chân về chi vội?
Để chiều còn lại mình tôi!

Tháng tám trời mưa cuối hạ
Chiều còn lãng đãng hơi thu
Em xưa treo đầu ngọn nhớ
Tôi xưa nay bạc mái đầu

Tây Nam còn chiều gió lộng
Sông dài vẫn chở mùa đi
Em thả tình trên ngọn sóng
Trôi theo một thuở xuân thì…

Sông Trẹm

QUÁN THƠ HƯ VÔ 295

Gọi Tên Em Nắng-An-Xuyên. Thơ Hư Vô


EFB982AD-3771-476C-9626-C9071D4C66C5

Gọi tên em Nắng-An-Xuyên
Nghe tà áo đã bay nghiêng phố phường
Gọi tên nhau Nắng-Sân-Trường
Em vui cổng trước tôi buồn cổng sau.

Tóc em chẻ phía vai nào
Chưa qua Cường Để đã vào Lý Bôn?
Hàng cây như có linh hồn
Đường áo trắng Lý Thái Tôn chợt dài.

Gió đùa quanh ngọn tóc ai
Lùa hương con gái cho đầy tay không
Em về, qua phố Gia Long
Nghiêng theo chiếc bóng bên sông đợi chờ.

Sóng xô mất dấu bến bờ
Giàn thiên lý xưa đã trơ trụi cành
Lối vào Đề Thám lạnh tanh
Còn nghe tiếng gọi thất thanh cuối đường.

Chỗ em đánh rớt mùi hương
Hồn tôi lãng đãng sân trường, đó em!

Hư Vô

Giấc Ngủ. Truyện ngắn Duy Thanh


Duy Thanh

Giấc Ngủ

À mày lại còn chối hả? im miệng hả? Thằng nào nó ngủ với mày thì phải khai ra, cái bụng mày nó chương phềnh ra thế kia thì còn giấu vào đâu hở con mụ ranh. Mày định làm xấu mặt cả làng này hay sao? Nói ngay để tao bỏ tù nó. Phép tắc luân lý ở đây đâu có đốn mạt như thế bao giờ? Mày làm bêu mặt chúng tao. Rồi mai đây báo chí đăng rầm cái tin khốn nạn này thì thể thống làng này còn ra cái gì hở… hở?

Y hồng hộc chỉ vào mặt tôi mà mắng như tát nước. Phải, tôi chửa hoang. Con mụ Tư thọt này chửa hoang đây, đứa nào làm gì thì làm, tôi hét to trong bụng tôi như vậy. Nếu tôi mà đứng được dậy thì thách y chửi tôi đấy. Tôi sẽ chồm lên mà xé tan cái mặt y ra, chứ tôi sợ gì cái mặt thịt ngồng ngộng bộ râu cá trê đáng ghét.

Y quay ra như phân vua với mọi người: Tiên nhân nó chứ, cái mặt nó cứ lầm lì như thế kia thì làm sao mà khảo được. Cái thá mày thì gọi là cho lên máy chém. Y lại xổ vào tôi mà thét: Gan, gan hở? ông thời bóp chết như ngoé. Tôi giơ tay chùi những tia nước bọt phì cả vào mặt. Nơi tay áo vải nâu đã bạc phếch, sờm ra và có mùi khăn khẳn. Ánh nắng chói làm tôi bật hắt hơi. Tức thì y lùi lại dang tay tát tôi đánh bốp kèm theo một câu chửi thật bẩn. Mấy mụ đàn bà ở bên ngoài cười rộ vì thấy tôi hực lên rồi vật đầu vào vách. Nhưng họ lại im ngay. Một không khí lo ngại trùm trong căn nhà họp của xóm. Trong đám đông có người nói to:

– Thôi đi ông Xã, nó đã không khai thì khảo mãi cũng vô ích, nhất là chị ta cũng đương bụng mang dạ chửa.

Một giọng khác phản đối:

– Sao lại không, phải bắt nó khai chứ còn thế nào. Cứ đánh bỏ mẹ thì thế nào nó cũng phải nói. Thế mà mấy tháng nay cứ tưởng chị chàng bị báng hay bệnh gì. Ðến bây giờ nó chềnh ềnh như cái trống mới thấy nhé.

Lão Xã trưởng được thể quay lại doạ tôi:

– Mày mà không khai thì còn là khổ, con ạ.

Giọng y ngọt hơn: Ờ thì cứ nói xem thằng nào, rồi tao bắt nó phải lấy mày. Chứ không biết ai thì cứ gọi là tức hộc máu.

Y hoa tay một vòng rồi nói với đám người xung quanh:

– Tôi nói thế có phải không các ông các bà?

– Kể cũng tức thật đấy, nhưng chị ta cứ không chịu nói là ai thì làm thế nào. Hay là cứ để cho chị ấy đẻ đi đã rồi trông đứa bé nó giống ai thì nó sờ sờ ra chứ còn gì nữa.
Một giọng nữa tiếp:

– Ấy chết không được, sợ cứ trông rồi đoán tầm bậy thì lại khốn khổ nhiều anh.
Mấy cô gái làng thấy câu nói lý thú bấm nhau cười cung cúc.

Tôi trông thấy chúng nó mà ghét tệ. Chúng nó đẹp, chúng nó xinh, chúng nó có chồng con, có nhân tình nhân ngãi. Còn tôi thì sống lết lê, chẳng ai thèm để ý. Hai chân tôi nó quặt đi nhỏ bằng cái ống sậy. Tôi đi bằng tay lê la như một con chó. Con chó còn sướng hơn bởi nó có bốn chân nó chạy. Còn tôi từ xó nhà ra đầu ngõ, rồi từ ngõ vào đến vườn là hết. Từ xưa chưa hề có ai để ý đến tôi cả, họ nhìn tôi như một con vật. Với ai tôi cũng phải ngửa đầu nhìn lên. Cho đến bây giờ tôi có chửa họ mới vụt nhận ra tôi cũng là người như họ. Tôi có chửa. Con mụ Tư thọt có chửa thì còn trời đất nào. Với ai? Có lẽ họ muốn biết để thoả tính tò mò, tôi còn lạ gì. Lão Xã trưởng nó hứa hẹn với tôi rằng khai ra thì gả kẻ đó cho tôi, lúc thì y lại bảo khai ra để y bỏ tù người ấy. Dễ tôi mới đẻ hôm qua chắc. Năm nay tôi ba mươi hai tuổi đầu và chưa hề nằm ngủ với người đàn ông nào trong đời, trừ một lần cách đây năm tháng. Cái bào thai trong bụng này là của anh ta. Nhưng đừng có hòng tôi nói ra… Tôi giữ cái kỷ niệm, cái hình ảnh ấy cho mình tôi. Tôi cho là đẹp, tôi ôm ấp cái hình ảnh ấy mặc cho họ rủa sả. Tôi chắc anh ta còn hối hận về phút cuồng dâm bữa ấy. Với tôi thì không. Tôi yêu. Tôi chắc anh ta sẽ tự tử nếu tôi khai tên anh ta ra. Mà sao tôi lại nói? Tôi thì mong lấy gì ai? Tôi lê đi dưới đất như một con chó. Tôi với cái bướu trên lưng. Tôi với hình người chẳng ra người. Ai cười thì cười. Ðứa trẻ nào trông thấy tôi cũng chế nhạo. Lũ người lớn thì coi tôi như không có trên thế gian này. Mỗi lần nhìn tôi sao họ có vẻ hợm hĩnh thế. Tôi thù họ. Cho đến ngày nay thì tôi trả được cái thù này. Tôi có chửa với một người của họ. Một gã đàn ông. Tôi sướng khoái với cảm giác thấy họ bị dằn vặt đau khổ. Thì ra lần đầu tôi được chú ý tới. Tôi là cái mốc cho họ bàn tán, ghen ghét. Lần đầu tiên họ nhận thấy có tôi trên cõi đời.

Mẹ tôi mang một nắm lạt tre để xuống bên cạnh tôi. Tôi vẫn tiếp tục đan thành hình một cái giỏ. Thấy người thở dài, tôi chỉ bảo:

– Bầm khỏi phải lo, chẳng ai làm gì được mẹ con ta cả. Còn người ấy thì nhất định con không nói ra đâu. Anh ta chẳng có tội gì hết. Con cũng không, con sẽ đẻ. Và sẽ nuôi đứa trẻ này.

Mẹ tôi nắm lấy tay tôi, tôi nhìn xuống bàn tay gầy guộc đầy gân xám to bằng con giun. Bàn tay tôi cũng sần lên như một bàn chân. Chưa ai ở làng này xấu bằng tôi. Thế mà tôi sắp có con với anh ta, với đứa con giai có vợ sắp cưới là cái Gái ở xóm dưới. Con bé vào loại nhất nhì trong làng. Tiếng mẹ tôi run run khàn khàn trong cái tĩnh mịch của chiều xuống. Tiếng lạt tre cọ vào nhau dưới ngón tay tôi đưa đẩy.

– Buổi chiều ông Xã có bảo với bầm rằng phải về dỗ ngon dỗ ngọt cho mày nói tên người ấy ra, không thì ông ấy đuổi ra khỏi làng. Bây giờ bầm già rồi, chỉ muốn yên phận. Vậy tùy mày xử trí thế nào thì xử. Đời bầm đã khổ nhiều từ ngày lấy bố mày.

Mẹ tôi không nói hết câu, cái hình ảnh cuối cùng là người bố chìm và tan trong một tiếng nấc. Buổi chiều lạnh và mênh mông như một cánh rừng: chơ vơ, lạc hướng. Tôi hình dung lại hình dáng người cha từ thuở nào xa lắm, cái hơi nồng của men rượu, những câu rủa tục tằn lúc nào cũng đeo trên đôi môi dày thâm sịt. Tôi biết mẹ tôi khổ nhiều, kể cả vì tôi. Không hiểu sao những kiếp người như chúng tôi lại cứ có trên cuộc đời. Đã thế lại còn bám vào cái sống không chịu buông. Ngày bố tôi chết vì say rượu trượt chân ngã xuống ao thì cả làng như bớt một gánh nặng. Chính tôi cũng không cảm thấy thương tiếc. Chúng tôi vẫn sống cái kiếp sống của con người vật, dài và buồn nản.

Tôi sờ tay lên gò má còn hằn ngón tay của lão xã, chưa bao giờ tôi thù y đến như thế. Y lại còn muốn làm khổ mẹ tôi. Với tôi như thế chưa đủ hay sao? Đã thế tôi sẽ làm cho y điên đảo. Tôi sẽ khai quách cho cháu y rồi muốn ra sao thì ra. Tôi nhớ lại cái gã đàn ông nặng nề và chậm chạp thỉnh thoảng qua ngõ nhà tôi. Đã có lần tôi ước ao ngủ với hắn và được hít cái mùi hoi hoi của chính người hắn đang vương trong không khí.

Cúi đầu xuống, tôi lại nghĩ đến cái thằng người con ngoi ngóp trong ấy. Nó đương ngọ nguậy, nhè nhẹ nhè nhẹ, nhưng nhiều khi nó cũng làm tôi đau nghiến. Tôi kéo bàn tay mẹ tôi để lên bụng:

– Bầm sắp có cháu bế.

Mẹ tôi yên lặng một lúc rồi bỗng nhiên nói:

– Mày đã định đặt tên nó là gì chưa?

– Chưa, bầm ạ.

Ba chúng tôi cùng ngồi yên, cùng nghĩ tới nhau, chưa bao giờ tôi thấy yêu mẹ tôi, yêu con tôi và yêu anh ta đến thế. tại sao tôi không đối phó để giữ những gì tôi ấp ủ?

– Bầm ạ, tôi thấy nóng mặt vì sắp nói dối mẹ tôi. Anh Ba đấy.

– Ba nào? Tiếng mẹ tôi lo âu.

– Ba, cháu ông Xã ấy mà.

Mẹ tôi chậm rãi đứng dậy chép miệng thở dài. Tôi biết người lo ngại viên xã trưởng. Tôi thì chẳng sợ gì. Y là một thứ vũ phu, y khảo tôi vì tò mò mà cũng để sĩ diện với làng xóm là mình có uy quyền. Đời nào y dám đuổi mẹ con tôi ra khỏi làng này.

– Thôi tao đi nằm đã, rồi cũng liệu mà đóng cửa Tư ạ, xẩm tối rồi.
Mẹ tôi quờ quạng tìm chiếc đèn dầu mắc ở xó nhà, châm lửa. Ánh đỏ chập chờn hoa lên trong chạng vạng của bóng tối vừa xuống. Tôi nói:

– Để con cố đan nốt chiếc giỏ này đã bầm ạ, gần xong rồi.

– Liệu mà nghỉ sớm cho khoẻ.

Mảnh trăng thượng tuần nhô lên sau đám mây dầy, lạnh lùng, đơn độc.
Tôi nhớ lại cái đêm tôi gặp anh ta, trăng cũng như thế này nhưng vào khuya hơn chút nữa. Lần đầu tôi biết một người đàn ông. Từ đó đêm nào tôi cũng nghĩ đến anh ta, cái hình ảnh ấy đến với tôi như một ám ảnh vĩnh viễn. Tôi mê cái ám ảnh đó mỗi buổi chiều tắt đi.

– Đừng anh, đừng ở đây.

Tiếng người con gái van vỉ. Giọng người đàn ông như lạc đi:

– Không, để yên nào.

– Nhưng anh vừa uống rượu với lại…

Câu nói bị đứt quãng bởi một bàn tay giật mạnh. Người con gái kêu lên một tiếng nhỏ rồi giằng ra. Tiếng xoạt của vải rách kèm theo một tiếng rủa ngắn. Tiếng chân chạy xa và gã đàn ông rên lên. Hắn loạng choạng bíu vào cành tre lả gần mặt. Tôi nghe thấy tiếng thở hừng hực. Lúc hắn đi quành ra đằng sau cậy rơm để ngồi xuống thì hắn há miệng vì ngạc nhiên. Một hình thù ngồi đấy tự bao giờ. Đó là tôi, một con vật giống cái. Thỉnh thoảng tôi vẫn bò ra ngồi chỗ này hóng mát, vì nó ở ngay phía sau nhà tôi, cạnh con đường ven làng. Lần này tôi đã thiu thiu chợp được một giấc khá dài. Trăng lấp sau bụi tre và bóng người đàn ông chỉ còn là một khối đen lớn trên nền sẩm của lá.

Anh ta chập choạng đi đến phía tôi rồi quỳ thụp xuống nhìn vào tận mặt. Hơi rượu cay cay làm tôi muốn bật ho. Một con muỗi bay bên lỗ tai vo vo, anh ta giơ tay đập cái đét rồi ôm choàng lấy tôi.

Tôi không kêu nhưng cố đẩy anh ta ra kịch liệt. Mà tại sao tôi lại chống cự cơ chứ? Tôi thường mơ ước được ngửi hơi thở một người đàn ông và lần này tôi đã được. Anh ta ở ngay trên tôi. Anh ta với những bắp thịt rắn đanh. Tay tôi ghì lấy lưng áo sâm sấp mồ hôi hay vì sương xuống tôi không biết. Ánh trăng rất mờ, đám mây xám đảo trên trời như bão hay bão ở lòng tôi, tôi cũng không hay.

Rồi anh ta buông tôi và bỏ đi giữa lúc tôi nằm yên trên cỏ. Mùi rơm hăng và thơm như lúa mới, nhưng không làm tôi quên cái mùi người anh ta, và tiếng chân bỏ xa trên đất cũng không làm tôi trở mình. Tôi nằm đấy suốt đêm với con trăng ướt lạnh, với những vòng hào quang thần thánh quay cuồng không gian.

Quả nhiên sự báo thù của tôi lại công hiệu. Viên xã trưởng thấy mẹ tôi nói là cháu hắn ta thì tái người. Y cũng không dám đánh tôi vì có người nói tôi mà trụy thai thì y không khéo mất chức mà lại khốn khổ. Mẹ tôi chỉ luôn miệng van xin. Người này, người nọ mỗi người hỏi một câu, chêm vào một chuyện. Lúc tôi trông thấy cái mặt tái xám của anh Ba thì lại không cầm lòng thương. Tôi bèn đổ đại cho một chàng khác. Rồi lại một tên nữa bay ra, khiến cả làng hoang mang. Họ càng tra hỏi thì lại càng lúng túng bởi những câu trả lời của tôi. Tôi dám chắc rằng cả đời chưa bao giờ tôi lại nguy hiểm đến như thế. Tôi không còn là một con chó thường nữa mà là một con chó dại khiến mọi người sợ điên lên. Tôi thú vị vì trả thù được những đứa con gái hợm hĩnh có tình nhân hoặc chồng bị ghép ngủ với tôi. Bao nhiêu chàng ê chề, nhục nhã và ngượng đến phát sốt rét vì bị mang cái tiếng tăm đó. Thế ra tôi đã ngủ hết với họ theo tưởng tượng của mọi người. Tôi trở thành một thần tượng cho mọi người sợ và ghét.

Chỉ vì mày đấy con ạ, ôi cái hòn máu bé nhỏ là con của mẹ. Mẹ ước ao rằng sinh ra con hoàn toàn là một người chứ không phải là con vật nữa. Mẹ mang con trong bụng mẹ và lê con trên mặt đất. Mỗi một thước dài là mẹ lại cảm thấy sự có mặt của con và nỗi yêu đương của mẹ.

Tôi thấy nó cười trong tôi, tê tái như sau đêm anh ta đến, và tự nhiên tôi thấy yêu cả cuộc đời. Lão xã trưởng với bộ râu trê ngồng ngộng không còn đáng ghét nữa, y có thể tát tôi dăm bảy cái liền. Tôi cũng không còn ghét những đứa con giai, con gái làng lầm lì nhìn tôi một cách hằn học. Bởi vì tôi đã báo được thù, tôi đã cho họ nhận thấy là tôi ngang hàng với họ, những kẻ có hai cẳng đứng hẳn hòi. Ý tưởng đó làm tôi suýt bật cười thành tiếng. Một người đàn bà sấn đến cạnh tôi vừa chửi vừa định đánh. May mà có một người khác giữ lại:

– Tiên sư nó chứ, chồng bà đâu có ngủ lang với cái thứ mày hởi con giời đánh kia. Bà chỉ cho mấy thanh củi là mày chết bỏ đời.

– Thôi thì bác chấp làm gì. Chị ta dở hơi đấy mà. Đánh chửi lắm nó lại càng khai tầm bậy. Với lại cái mã ấy cũng chẳng sống được đâu. Người như thế làm sao mà đẻ với đái được.

Câu nói đâm vào phổi tôi buốt như một cây kim nhọn.

Tôi nghĩ đến thằng người con trong bụng. Không! Nó còn sống, nó đang sống, nó phải sống. Nó đang ngọ nguậy trong tôi, làm sao nó lại chết được. Tôi bằng lòng chết cho nó sống. Tôi bằng lòng chết mà không cần oán hờn gì ai hết, kể cả anh ta. Mà tôi phải biết ơn mới đúng chứ. Anh ta đã cho tôi dư vị của sự sống. Sự sống tràn trề bùng lên như lửa.

– Không, tôi không chết, các người đi đi.

Tôi hét lên, và mọi người lầm lũi tản ra.Họ vẫn sợ tôi như một con chó dại.
Thế rồi câu chuyện cũng hơi nguôi mặc dầu bụng tôi ngày mỗi lớn. Tôi không lê được nữa. Tôi ở nhà. Mẹ tôi cũng lo ngại bảo với tôi:

– Bầm hỏi bà mụ ở làng thì bà ấy bảo phải đem mày ra tỉnh mới đủ thuốc.

Người lại chép miệng: Thì người ta cũng sợ không làm nổi, nhỡ có sao lại khốn cả hai mẹ con.

Tôi phải đi vì tôi muốn con tôi sống, nó sống để làm người. Mà tôi còn tiếc gì cái làng này khi người ta nhìn đến tôi như một con người vật.

Chúng tôi thu xếp lên tỉnh.

Lần đi này, tôi có cảm giác sẽ không bao giờ trở về nữa. Giã từ tất cả, căn nhà, bụi tre, đống rạ sau nhà. Tôi chỉ mang đi toàn hình ảnh. Những hình ảnh se thắt lại trong những cơn đau dữ dội từng hồi.

Vị bác sĩ khám cho tôi xong quay lại bảo nhỏ với cô nữ y tá tay cầm bút ghi chép. Mẹ tôi thì lo âu nhìn hai người.

– Sản phụ phải ở đây tĩnh dưỡng cho đến ngày sinh nở. Vị bác sĩ nói. Trường hợp này phải mổ để lấy đứa bé ra mới hy vọng cứu cả hai mẹ con. Nhưng tình trạng của sản phụ nguy hơn. Dù sao chúng tôi cũng cố gắng.

Không, nó sẽ sống, tôi kêu thầm như vậy. Tôi bằng lòng hy sinh để nó sống.

Nằm trên giường sắt trắng, tôi như chói mắt vì sắc trắng của trần nhà và buồn nôn vì cái không khí của nhà thương. Những sản phụ khác cũng nhìn tôi bằng con mắt tọc mạch. Chắc họ cũng tự hỏi làm sao một người như tôi lại có chửa như họ được. Và loáng thoáng tôi cũng nghe thấy những tiếng xầm xì từ giường này qua giường khác. Nhưng tôi thì cần gì nghĩ đến họ. Tôi nghĩ đến đứa con tôi, đến cái đêm mà trời như đổ xuống. Da tôi tê đi, ràn rạn như có sự cọ sát của những sợi râu thưa đâm vào má. Mẹ tôi nói:

– Tao lo cho mày, Tư ạ… nhỡ làm sao.

Tôi ngắt lời khe khẽ:

– Bầm khỏi lo, rồi bầm có cháu bế mà. Còn con thì…

Tôi cũng không nói hết câu nhưng mẹ tôi cũng thừa hiểu.

– Có gì bầm nuôi nó.

Giọng nói của tôi nghẹn trong cuống họng, chúng tôi im lặng mỗi người một ý nghĩ. Đêm ấy tôi mơ thấy tôi đi về làng như một người thường. Bằng hai chân. Ai nấy đều chào hỏi tôi như chính tôi cảm thấy từ trước mình vẫn là người thường. Đến nhà thì có một thằng nhỏ ra đón với mẹ tôi. Trông tôi thằng bé chỉ cười. Mẹ tôi dắt nó đến và bảo: Sao không chào mẹ mày đi. Tôi giơ tay bế nó hôn, rồi hai mẹ con dong chơi trong vườn. Giữa lúc đang đùa với con và đang sống tràn trề hạnh phúc thì tôi hãi hùng chợt thấy cảnh vật như lớn lên và tôi nhỏ dần, nhỏ dần lại. Một cảm giác ớn lạnh suốt sống lưng và tôi chợt thức dậy. Bấy giờ còn là đêm. Đầu phòng một ngọn đèn còn le lói và qua khung kính nhỏ trời sao lấp lánh. Căn phòng lặng lẽ như một chiếc quan tài.

Tôi đặt tay lên bụng mỉm cười nghĩ đến nó rồi lại ngủ thiếp đi.

Duy Thanh

(Nguồn: FB Tien Dang)

Quán Thơ Hư Vô 294


Quán Thơ Hư Vô

CHÉM TRĂNG

Ta vung đường cùng tận
Chém gục một vầng trăng
Rụng vàng đêm nguyệt lộ
Một bóng dáng tình nhân.

Em kiêu kỳ huyền hoặc
Trong nhan sắc ngang tàng
Lạnh như thanh kiếm bạt
Đâm thấu người tình tan.

Một đường gươm lãng mạn
Bén ngót nét xuân thì
Chém cho đời hung bạo
Nghiêng thành quách uy nghi.

Mắt em xanh như ngọc
Từ tiếng khóc lẻ loi
Ngọn gươm ngời phóng tới
Giọt nước mắt vỡ đôi!

Hư Vô

DỪNG BƯỚC PHIÊU LINH…NHỚ MẸ HIỀN

Dừng bước bên sông, chiều cháy chậm
Phiêu linh hề! Đất Trích sương mai
Con chim còn biết kêu nguồn cội
Huống hồ ta máu đỏ tim người?

Phong trần không khóc mẹ hiền ơi
Mà xé lòng ra nhớ một trời…
Ngực trái bông hồng kia trắng nụ
Từ tuổi mười ba đã ngậm ngùi…

Cô hồn tháng bảy cõng chơi vơi
Sống biệt phương xa, chết nửa vời
Ôm đàn hát hỏng…tình rưng rét
Để tiếc non tơ lá thiếu thời

Chí lụn, gươm cùn, gương chẳng soi
Tóc râu cổ quái, mộng tan rồi
Giờ chỉ khát khao lời của mẹ
Ngọt lành như thuở mới nằm nôi…

Trần Dzạ Lữ

ĐÊM PHỐ THỊ

Đêm phố thị không còn vẹn vầng trăng
đời ruộng mạ hóa tường vôi vách gạch
buồn ngồi nhớ một thời mương rạch
hoa vàng xanh biếc những vòm cây

Lòng nước trong ngần trĩu nặng mây
rong rêu ngủ giữa đôi bờ cá lội
cuối trời xa đất nằm thở khói
sân vườn cỏ mục ủ nồng hương

Chiều gầy mái lá mờ sương
giàn mướp đơm bông thòng tay chờ hái
gió từ ngàn xưa thổi lại
chập chùng lũ bướm tự nhiên vui

Cột điện chôn chân ngậm ngùi
bốn bề trống trơn không còn cỏ
đèn khuya trơ mắt đỏ
kẽ đá đục khàn con dế khóc âm âm

Trần Minh Tạo

THU

Hồn lính vương qua vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay.
(Quang Dũng)

Có người hỏi em thu vừa tới,
Hoa cúc đâu rồi bên vườn xưa
Áo vàng tha thướt chân qua ngõ
Để lạc thơ người giữa cơn mưa

Có người hỏi em còn tóc xõa
Mượt mà nhung lụa buổi ban mai
Sợi bay se sắt qua hồn lính
Sợi dấu ngập ngừng cuối lòng tay

Có người hỏi em còn mắt lệ
Nhỏ xuống vườn khuya nửa đêm thâu
Bài ca từ thuở trăng chưa khuyết
Nguyệt đã tàn rồi vẫn xót đau

Em cũ kỹ, mùa xưa cũ kỹ
Nhớ chi người, thuở chẳng còn nhau
Chiều xõa tóc một mình trong gió
Hỏi muôn trùng, hỡi cố nhân đâu…

Hoàng Nga

HỒN NHIÊN

Em hãy cứ là em như thế mãi
Cho tôi yêu từ thuở mới biết yêu
Đôi mắt đó một thoáng nhìn mê dại
Đã in sâu vào trí nhớ sớm chiều

Hồn nhiên thôi từng bước chân em đến
Tôi ngẩn ngơ nhìn sỏi đá cúi đầu
Lòng rộn rã cùng cỏ cây trìu mến
Mới hiểu rằng cây cỏ biết thương đau

Chỉ nhoẻn cười xin em thôi đừng nói
Buồn trong tôi cũng đủ để bay trôi
Đường gập ghềnh quanh co bao nhiêu lối
Đâu dễ làm rối bước mối tình tôi

2018
Ninh Trần

DƯỚI TÁN RỪNG CÁT TIÊN

Dưới tán rừng ẩm ướt
Ta lần tìm dấu chân
Đường mòn quanh phía trước
Hình như mưa xóa dần.

Cơn mưa rừng ào ạt
Chợt đến rồi chợt đi
Vắt rình theo bám chặt
Từng bước hay từng ly?

Gốc bằng lăng cổ thụ
Ngáng đường sợi mây giăng
Chim rừng còn say ngủ
Bùn quếnh đặc dưới chân.

Nắng sau mưa vàng óng
Lấp lánh qua tàng cây
Suối chảy quanh lèn đá
Hương rừng tràn quanh đây.

Nơi nào là Bàu Sấu
Chấp chới đàn bướm bay
Cây si trăm thân mọc
Tiếng nhạc rừng ngất ngây.

Mơ thấy nàng công chúa
Ngủ say trong rừng già
Đẹp như trong cổ tích
Ta say đắm hồn hoa

Nguyễn An Bình

SẼ KHÔNG GẶP MẸ NỮA RỒI

Ngày tôi xa mẹ đến gần
Khi hoàng hôn sắp lặng thầm bước qua
Liêu xiêu chiếc bóng mẹ già
Cành khô rụng lá lạc loài bóng tôi

Ai mà chẳng phải mồ côi
Rau răm ở lại cải trôi về trời
Tuổi già như giọt sương thôi
Giờ ngồi đếm tóc mẹ tôi rụng nhiều

À ơi trong ngẩn ngơ chiều
Mẹ mang câu hát dặt dìu ru tôi
Ơi à trong bóng đơn côi
Mẹ giành gánh hết nổi trôi phận người

Nhăn nheo đôi mắt mẹ cười
Ngày ru tôi ngủ bên trời gió giông
Một mình một bóng chờ mong
Mẹ ngồi xiêu vẹo mênh mông gió chiều

Lặng thầm trong khói tịch liêu
Gió hiu hắt thổi dặt dìu mây trôi
Thương sao dáng mẹ tôi ngồi
Trả bao thương nhớ lại đời cho tôi

Sẽ không còn gặp mẹ rồi
Ngày tôi ngồi khóc mồ côi mẹ mình…

nguyễn minh phúc

ĐÃ ĐỜI

Tôi nằm nghe tôi ru tôi
Tiếng ru như của ai ngồi bên ru
Ru hoài cũng úa chiếc thu
Lời tôi rụng xuống mịt mù tuổi thơ

Tôi ngồi nghe tôi ru mơ
Ngoài hiên trời thả trắng tờ sắc không
Để buồn con sáo sang sông
Tuổi thơ tôi cũng xổ lồng bay xa

Tôi ru tôi mãi cũng già
Thời gian vỗ cánh vù qua nẻo đời
Tôi đi mòn hết chân trời
Tóc râu bệt bạc đã đời tôi chưa

phan ni tấn

VỀ HỘI AN MỚI THẤY BUỒN

có phải đây thành phố bao giờ
có hồn ta mát lụa vàng xưa
để rơi nước mắt thời lưu lạc
chừng buổi về thăm đã tuyệt mù

phải thưở yêu người ta ở đây
qua sân trường tình bao nhiêu ngày
tình như ta có ai hơn được
mà chắc trọn đời người không hay?

khi ta về lạ cả người quen
khi ta về sợ ngõ nhà em
dẫu chẳng sá chi đời ghẻ lạnh
vẫn thấy lòng đau cuộc lãng quên .

thà ở quê người ta được khóc
nuôi hoài một nỗi nhớ huy hoàng
cứ tưởng em còn thương giấc mộng
cứ tưởng thuyền chưa nỡ quá giang

ai lại về khi trời sang đông
ai lại về đứng ngó bờ sông
khi đưa tay níu thân cầu gãy
buồn như mưa, buồn ơi vô chừng…

(1971)
Hoàng Lộc

Quán Thơ Hư Vô

Hiên Người. Thơ Hư Vô


Hiên Người
(Hiên Người. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Chỗ anh đứng mùa xuân không về nữa
Cổng rào xưa đã mất dấu chân người
Em đâu thấy hồn anh đang mục rã
Theo lá vàng lãng đãng bóng chiều rơi.

Ngày tháng cũ còn nguyên trong tập vở
Những trang thơ em chép mộng ban đầu
Mà anh đã vân vê cho óng ả
Tóc em dài chưa biết thả về đâu!

Để tà áo bay qua cầu vội vã
Đường mưa trơn đâu có lối anh vào
Thì làm sao níu kịp hương mười sáu
Hạt mưa nào đã tan vỡ đời nhau!

Anh trở lại chỗ quen hơi ngày cũ
Cỏ mọc dài theo lối nhện giăng tơ
Nơi sợi tóc em có lần quên chải
Buông hững hờ cho rối những vần thơ!

Mà anh đã gắn hồn nhau vào nét chữ
Mang theo em từng dấu mực, hơi người
Để em đốt cho đầy tàng hương cũ
Vụt nở bừng hiên dã cúc vàng tươi…

Hư Vô

Đường Vào Trần Gian. Truyện ngắn Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Mịt mù khói lửa binh đao
Thiên Thần gẫy cánh lạc vào trần gian

– Nào! Một, hai, ba, hấp!

Lưng của Tư Híp khom xuống và thằng Út đứng ở xa, vừa toét miệng ra cười, vừa phóng tới, hai cánh tay gầy guộc và đen đủi của nó ôm chầm lấy cổ anh, đồng thời cái mông ốm tong teo của nó theo đà phóng tới. Trong một thoáng, thằng bé đã bíu gọn gàng được trên mảng lưng to như cánh phản của anh nó, như một con nhái bấu trên một ống tre vầu. Tư Híp xốc lại mình một lần nữa cho chắc ăn rồi đứng dậy. Gã hỏi:
– Tè rồi chưa?
Thằng bé đáp lại bằng cách nhún nhẩy như nó đang ngồi trên mình một con ngựa. Anh nó tiếp:
– Mày vô trỏng mà đái dầm người ta cắt cu.
Vừa nói gã vừa nghiêng mình xuống nhấc cái tay nải lên đeo ở cánh tay. Gia tài của anh em gã chỉ có thế. Vài cái quần áo, một mảnh chăn chằng đụp và một cái mùng rách bươm. Gã đảo mắt nhìn căn buồng tối tăm như hũ nút một lần cuối với vẻ quyến luyến rồi khom lưng bước qua cánh cửa thấp và hẹp. Ở ngoài sân đất, bà cụ chủ nhà đã đợi sẵn với quả chuối trong tay. Bà trao cho thằng Út với vẻ trìu mến, rồi hỏi:
– Anh Tư đi rồi bao giờ về?
Tư Híp đáp:
– Ý chà, chắc là lâu vài ba năm.
– Rồi cũng được nghỉ phép chớ bộ đánh nhau hoài sao?
– Có chứ! Tới chừng có dịp là cháu về thăm cụ ngay.
Bà cụ nhìn thằng Út thở dài:
– Vậy là anh nhất định kéo nó đi theo thiệt đó à. Vô đó ai người ta chịu?
Tư Híp mỉm cười:
– Hổng chịu thì cũng đành vậy thôi chớ, cháu bỏ nó mà đi thì lấy ai nuôi nó? Mình cứ trình bày hoàn cảnh thì rồi mấy ổng cũng phải thông cảm cho mình chớ.
Vừa nói Tư Híp vừa xốc lại thằng Út trên vai. Gã đứng tần ngần bên cạnh bà cụ một giây rồi chậm rãi đi ra cửa. Bà cụ lặng lẽ theo sau. Phút chia tay chẳng có gì thế mà bịn rịn. Dầu sao thì anh em thằng Tư Híp cũng đã chui rúc ở đây mấy năm rồi. Đối với họ, bà cụ coi như con cháu trong nhà. Ra tới ngoài, bà cụ mới móc ra tờ giấy bạc nhét vào túi áo thằng Út. Tư hỏi:
– Cái gì thế?
– Để cho nó ăn quà, tội nghiệp.
Tư Híp lúng túng cám ơn trong khi ấy thằng Út đã tẻm hết một nửa quả chuối và vất nguyên cái vỏ ra thềm đất. Bọn trẻ con đang chơi nhộn nhịp ở ngoài ngõ bỗng ùa lại. Một vài đứa hét:
– Ê! Út, mầy đi đâu đó mậy.
Út nhấp nhổm trên lưng anh và giơ tay lên vẫy. Tư Híp trả lời thay em:
– Đi quân dịch đây. Đứa nào khoái bắn súng thì theo tao.
Cả bọn nhao nhao:
– Tôi!
– Tôi!
– Tôi! Tôi nè!
Thế là cả bọn nó xúm xít bu lấy anh em Tư Híp như một chùm sung rồi cả chùm sung đó ùn ùn kéo nhau đi chật cả lòng ngõ. Tư Híp phởn chí toét miệng ra cười. Gã cất giọng ngêu ngao:

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng quốc gia đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống.

Đường Vào Trần Gian

Đám đông ra tới đường cái thì gặp một vụ đánh lộn. Thế là lũ trẻ túa lên chạy. Trong chớp mắt chỉ còn anh em Tư Híp đứng một mình ở bên vỉa hè. Thằng Út nhấp nhổm định đòi tụt xuống, nhưng anh nó đã vội nói:
– Ý! Mình đi quân dịch mà. Đâu có theo tụi nó được.
Út hậm hực lúc lắc trên vai anh nó một chút rồi lại ngồi yên. Nửa quả chuối còn lại bây giờ nó đã tẻm nốt và chùi bàn tay lên vai áo của anh nó. Gã đàn ông thủ thỉ:
– Từ bây giờ mình phải tập vô kỷ luật thì mới được. Nhà binh ác ôn lắm mày biết không.
Thằng Út buồn bã không trả lời nhưng anh nó vẫn tiếp:
– Nghĩa là mình phải theo lời mấy ông sĩ quan. Mấy ổng thổi toe một tiếng còi là phải sắp hàng ngay cái tróc, thổi toe một tiếng nữa là im lặng như điên, toe cái nữa là hấp nhào vô tập tành ngoan ngoãn, chăm chỉ. Mà điều đó phần tao. Còn mày khỏi! Đếch phải sắp hàng sắp lề gì hết ráo. Cho mày chạy chơi như điên, chỉ cần tao đi đâu mày lót tót theo đó là “năm bờ oăn” rồi, nghe Út!
Út chẳng đáp vì nó đang nhìn quả bóng xanh đỏ bay phất phơ trên tay một thằng bé bán bóng mới xuất hiện ở bên kia đường phố. Sự im lặng của nó làm Tư Híp phải ngoái lại nhìn. Gã cằn nhằn:
– Đếch nghe gì cả, ông nội! Bộ ông nội tưởng cóc có gì quan trọng lắm sao. Vô đó mà ông láng cháng làm trật lất thì họ ghét họ cắt cu. Lính thứ thiệt chớ bộ rỡn với ông sao?
Vừa nói gã vừa xốc lại thằng bé, đổi cái tay nải sang tay bên kia cho bớt mỏi, rồi gã lại thủ thỉ:
– Phải nhớ đó nghe. Hể mà ai đụng tới thì mày phải gào to lên, gào chừng nào tao nghe tiếng, tao chạy tới thì thôi. Mà ý chà! Cái gì chớ cái gào thì đếch cần phải dặn ông kỹ. Cái họng nhà ông mà gang ra thì cả nước phải điếc tai.
Vừa nói, Tư Híp cười hì hì. Hai hàm răng của gã nhăn ra như răng ngựa. Lớp thịt ở hai bên má của gã nhúm lại, đội cho vành mi dưới trồi lên hàng mi trên, khiến cặp mắt của gã đã bé lại càng bé thêm. Chả trách hàng xóm người ta không kêu tên thật của gã mà chỉ gọi gã là Tư Híp. Người ta không biết dĩ vãng của Tư như thế nào, nhưng chỉ biết Tư sống độc thân với thằng em ruột vừa gầy vừa choắt, so với gã thật là một sự tương phản mạnh mẽ. Tư Híp quí em như vàng. Điều mà gã lo sợ nhất là sau này, nếu gã chết đi, để lại một mình nó bơ vơ trong cuộc đời thì nó sẽ không biết làm gì để xoay xỏa lấy đời sống, Tư sợ cái hình ảnh đó lắm, và gã thường cầu trời cho đừng bao giờ xẩy ra cái chuyện khủng khiếp như thế cả. Buổi tối khi đi làm về, Tư ít đi chơi hay đi nhậu lai rai, gã chỉ thích ở nhà đùa nghịch với thằng Út trong bóng tối lờ mờ của ngọn đèn dầu hôi đặt trên vách gỗ. Nhưng Út thì không khoái nghe gã rủ rỉ chuyện trò bằng sự chạy lồng lên như chó điên với bọn trẻ ở trong ngõ. Thành ra nó chỉ láng cháng với anh nó một lát là lại tìm cách chuồn đi mất biệt. Tư Híp nằm buồn tình, cằn nhằn một mình trong bóng tối rồi chỉ một chốc gã đã lăn ra ngủ. Giấc ngủ đến với gã quá dễ dãi như bản tính dễ dãi của gã. Gã không mong gì hơn là được kéo dài cuộc sống bình thản như thế cho đến trọn cuộc đời. Thằng bé cứ bé như thế mãi, và gã thì lúc nào cũng khỏe mạnh để làm được thêm nhiều, bữa cơm chiều sẽ chẳng có vài đồng thịt quay thì cũng có mấy khoanh tiết nóng cho thằng Út.
Thế là gã mãn nguyện vô cùng rồi.
Nhưng vào một đêm có lính xét sổ gia đình và gã bị chớp lên xe vì gã ở trong tuổi quân dịch. Gã như điên lên khi thấy rằng chẳng cần đợi chờ lúc gã chết đi thì hình ảnh bơ vơ của thằng Út mới thực sự trở về. Gã đã van nài lạy lục tất cả mọi người, nhưng chẳng có ai nghe lời trần tình của gã. Cuối cùng gã phải tự thoát thân lấy bằng cách liều lĩnh nhẩy ùm xuống lạch nước khi được dẫn qua cây cầu khỉ và lặn một hơi qua những gậm nhà sàn tối tăm để thoát thân sang tận bên kia. Bữa đó trở về, gã nằm ngất ngư hết mấy hôm vì uống no một bụng toàn nước sông đen ngòm, sặc mùi sú khí.
Sau hôm đó, gã tự nghĩ rằng thà đem thằng Út vô lính cùng với gã còn hơn là lại tới một hôm nào đó người ta bắt giải gã đi một mình, để thằng Út bơ vơ, không ai chăm nom săn sóc.
Thế là gã gom góp đồ lề, sửa soạn hành lý để lên đường thi hành nghĩa vụ công dân. Hành trang của gã gồm có:
– Bốn bộ quần áo
– Một cái mền
– Một cái khăn mặt
– Một đôi dép cao su
– Và thằng Út năm nay vừa tròn sáu tuổi.
Ở quân vụ thị trấn, người ghi danh sách không nín được cười trước cái cảnh tay bồng tay mang của Tư Híp. Anh ta la lên:
– Trời ơi! Sao anh không đem cả vợ lớn vợ bé đi luôn có hơn là xách theo mỗi thằng nhỏ nầy.
Tư Híp gãi đầu gãi tai:
– Xin xếp thông cảm giùm. Em chưa có vợ.
– Chưa có vợ mà bế con vô hả?
– Dạ không phải! Nó là em.
Người đàn ông giận dữ:
– Em hay cháu hay chắt thì cũng phải để nó ở nhà chớ đi lính đánh giặc chớ bộ đi nghỉ mát sao mà bồng bế nhau um sùm tới đây vậy.
– Dạ để nó ở nhà thì không có ai nuôi. Nó còn con nít quá mà xếp. Xin xếp thông cảm giùm em..
– Cảm với cúm gì. Rồi anh coi, vô trại nhập ngũ người ta tống nó ra còn thêm tội cho nó hơn nữa.
Tư Híp đặt ngay thằng bé xuống, chấp hai tay định xá một xá, nhưng nghe lời dặn của anh, thằng Út nhất định không chịu rời cái lưng êm ái của anh nó. Hai tay nó níu chặt lấy cổ Tư Híp còn hai chân thì nó quắp chặt lấy mạng sườn khiến Tư Híp giằng cũng không ra và cử chỉ lễ phép của hắn trở nên lúng túng. Người đàn ông ngước mắt lên nhìn thân hình cõi của thằng bé với bộ mặt vêu vao đen thui thủi rồi bỗng chép miệng thở dài. Ông ta gõ cái bút chì lên trán Tư Híp rồi nói:
– Không bảo đảm đâu đó nghe! Xuống đó người ta đuổi, tôi mặc kệ đa…
Mặt Tư Híp tươi hẳn. Gã biến ngay thành con ngựa nhẩy quẫng lên, Tư xóc thằng Út trên lưng khiến nó khoái chí toét miệng ra cười và quắp chân thêm chặt hơn nữa. Lần này Tư Híp phải la lên:
– Thôi đi Ba. Nới nới ra chút giùm. Bộ tôi làm ngựa cho Ba cỡi suốt ngày đó sao.
Vừa nói gã vừa gỡ thằng bé, đặt xuống sàn đá hoa rồi vươn vai răng rắc. Mặt gã rạng rỡ hẳn lên. Nhìn đâu gã cũng thấy niềm vui chan hòa. Cử chỉ của gã cũng trở nên khép nép như để biểu lộ thêm lòng biết ơn của gã đối với sự dễ dãi mà người ta đã dành cho gã.
Một lát sau gã được xua vào đứng ở một góc sân cũng với mấy chục người khác. Thằng Út lót tót đi theo. Mắt nó dáo dác nhìn cảnh vật chung quanh với cặp mắt tò mò. Rồi chỉ một lát nó đã tót lại sờ mó những chiếc xe bóng loáng đậu ven bờ tường hay đứng ngẩn người ra ngắm khẩu súng lục trên dây lưng của người lính ngồi gác giữ an ninh gần đó. Sự táy máy của nó làm Tư Híp vừa cằn nhằn vừa chìa cái lưng ra nói:
– Thôi, mời bố phốc lên đây. Bố mà cà rà ra đó người ta tống ra ngoài đừng có mà hòng xin ai nữa.
Thằng Út nheo mắt nhìn anh mỉm cười. Nó lùi ra xa ba bốn bước để lấy đà rồi mới nhào người lại như kiểu anh hiệp sĩ trong phim cao bồi phóng mình lên lưng ngựa. Lúc Tư Híp đứng dậy thì nó chồm lên, thúc đùi vào mạng sườn của anh nó rồi cười như nắc nẻ…
Vào đến trại nhập ngũ, càng thấy đông người, Út càng trở nên nghịch ngợm. Giữa đám đông toàn thanh niên trai tráng, bóng dáng loắt choắt của nó bỗng trở thành một hình ảnh ngộ nghĩnh và đặc biệt thu hút được sự chú ý của mọi người. Suốt ngày nó nhẩy quẵng lên như con chó động cỡn, len lỏi hết đám đông này đến đám đông khác, la cà ở khu này tới khu khác, khi mệt mỏi nó lại tìm về chỗ của Tư Híp mà nằm lăn ra ngủ một cách dễ dãi. Trời nắng như thiêu đốt. Tư Híp kê đầu của nó lên chiếc tay nải rồi phủ người nó bằng tấm mền hôi và bẩn để kiếm chút bóng mát. Còn gã thì ngất ngư sau một ngày chờ đợi mệt mỏi. Mặt gã đỏ rừ. Mồ hôi tháo ra đầm đìa ở mặt và ở cổ. Miệng gã khô đắng lại. Suốt từ sáng gã chỉ dám liều ra quán uống có chai nước ngọt vào lúc trời nắng gay gắt nhất. Chai nước ngọt được chia làm hai. Non một nửa cho gã, và già một nửa nhường cho cái bụng ỏng kếch sù của thằng Út. Giờ ăn, gã được lãnh một phần cơm với hai miếng thịt. Gã tưới thực nhiều nước thịt kho để cơm được chan bằng thứ nước mằn mặn. Gã tưởng phải nhường phần cho thằng Út nên không được no, nhưng đến lúc chỉ lùa được hai muỗng vào miệng, gã đã thấy cổ họng mình bứ lại. Cái khát làm cho gã hết cả đói. Môi gã rộp lên, miệng đắng nghét, cặp mắt đỏ ngầu. Chưa bao giờ gã lại mong trời mưa đến như thế. Nhưng trời trong xanh và cao thăm thẳm. Không có một làn mây, không có một ngọn gió, bốn bề chung quang chỉ hầm hập hơi nóng. Hơi nóng làm héo úa những cọng cỏ mọc ngổn ngang trên nền đất, làm khô bỏng những lớp cát rải rác trên lối đi, làm cả lớp mái tôn của dẫy nhà chật ninh ních những người như cong lên, vênh lại.
Sự sinh hoạt ồn ào lúc buổi sáng cứ theo sức nóng của buổi trưa mà chìm dần trong êm ả. Sự êm ả bức bối, nực nội, mệt mỏi và rã rời, chỉ đến lúc chiều dần xuống, cái nóng dịu đi, những ngọn gió thần tiên bắt đầu thổi hây hây trong bầu không khí dịu mát, thì tiếng hò hét, nói cười lại trở về và kéo dài liên miên cho đến đêm khuya.
Bữa cơm sáng thằng Út chỉ ăn vã đúng có hai miếng thịt kho. Đến chiều nó ngắm nghía mấy sợi măng sào trên bát cơm nguội lạnh rồi lắc đầu và vùng lên chạy. Tư Híp chẳng kịp phân trần hay khuyến khích sự can đảm chịu đựng của nó thì bóng dáng loắt choắt của nó đã mất biến ngay trong đám người đứng ngồi ngổn ngang phía trước mặt.
Mãi đến lúc sẩm tối, Út mới tha thẩn đi về. Bộ điệu của nó có vẻ như mới được ăn no, tay nó cầm một mớ nút chai. Nó ngồi xuống nệm cỏ chơi đánh phén một mình chán rồi nằm phưỡn rốn ngửa mặt lên nhìn bầu trời bắt đầu lấp lánh mấy vì sao ướt mới mọc. Bầu không khí bây giờ lại dịu hẳn đi. Gió mát thổi lồng lộng làm tung những sợi tóc lòa xòa trên trán và má của Tư Híp. Sự khoan khoái hiện tại xen với nỗi cực nhọc của suốt một ngày chờ đợi hoàn tất mọi thủ tục khiến cho gã thiu thiu buồn ngủ. Gã gối đầu lên cái tay nải, một chân của gã khều về phía mộng đít của thằng Út như để gã cảm thấy yên tâm trông coi nó ngay cả trong giấc ngủ, còn hai tay của gã ruỗi ra thật dài. Gã sung sướng nhắm nghiền hai mắt để cho từng ngọn gió lùa qua cổ áo mơn man ở khắp ngực và bụng. Cứ như thế, chỉ trong khoảnh khắc gã đã quên bẵng khung cảnh ồn ào trước mặt và cả cuộc đời dở dang của gã để ngáy như kéo gỗ.
Trong giấc mơ, gã thấy mình bơ vơ giữa một khoảng trời ngùn ngụt lửa cháy và tơi bời bom đạn. Tiếng đạn nổ, tiếng người la, tiếng động cơ gầm thét trong bầu trời đỏ rực, gã thất thanh gọi tên thằng Út nhưng chung quanh gã chỉ có những hình thù đầy máu me chạy nhẩy hỗn loạn như những hình nhân gớm ghiếc. Tư Híp rú lên thất thanh và gã choàng dậy nhớn nhác nhìn quanh. Bên tai gã tiếng súng máy, tiếng động cơ vẫn ầm ĩ nổ rôn. Gã nhận ra những âm thanh đó phát ra từ chiếc máy phóng thanh và ở gần đó người ta đang chiếu cho tân binh quân dịch coi một cuốn phim giải trí. Gã hoàn hồn giơ bàn tay lên vuốt những giọt mồ hôi vã ra ở trần và ngực.
Thằng Út bây giờ cũng đã biến đi đằng nào. Chắc nó đã len lỏi vào đám đông trước mặt để nhìn cho rõ những hình ảnh nhấp nháy nhức mắt trên tấm khung vải xộc xệch căng bằng những sợi dây buộc trên xà gỗ. Tư Híp lơ đãng nhìn về phía đó một lát rồi lại nằm xuống. Gã cảm thấy cơ thể rã rời mệt mỏi và trí óc trĩu nặng những nỗi lo âu thấp thỏm. Gã nghĩ đến những đêm nằm nghe tiếng súng nặng nề làm rung chuyển nhà cửa trong thành phố, những trái hỏa châu bắn lên soi sáng vàng úa trên mặt đường nom thê thảm như những cây nến chết chóc sừng sững leo lét ở giữa bầu trời. Gã tự hỏi rồi ngày mai gã sẽ làm được gì và phải làm những gì. Nhưng đối với gã, dù có xẩy ra bất cứ điều gì gã cũng sẽ chịu đựng tất cả, miễn là anh em gã còn được gần nhau, thằng Út không phải bơ vơ trong mớ tuổi nhỏ nhoi của nó.
Nghĩ đến thế, bỗng nhiên Tư Híp thấy sốt ruột. Gã trở mình vài ba lần rồi thốt nhiên nhỏm dậy. Gã cố nghển cổ lên nhìn, cặp mắt hướng về phía đám đông như muốn chọc thủng bóng tối để tìm bóng dáng loắt choắt của thằng em. Nhưng đám người đứng đông nghìn nghịt khiến gã thấy ngay khó mà tìm ra được thằng Út trước giờ vui giã đám. Chán nản, Tư Híp lại tiếp tục nằm ngửa mặt nhìn lên bầu trời lấp lánh mấy vì sao. Không gian thật hoàn toàn êm ả nếu thỉnh thoảng không có những đốm đỏ của từng chiếc máy bay di chuyển nặng nề qua vùng trời trước mặt. Rồi chỉ một lát, có tiếng bom ầm ĩ vọng về. Tiếng bom thật xen lẫn với tiếng súng giả nổ ròn rã trên màn bạc. Hình ảnh của những vùng đất bị cầy, xới, khoét, phá xen lẫn với những đám lửa ngùn ngụt cháy. Những rừng cây xơ xác, những làng xóm hoang tàn như điên đảo, quay cuồng trong đầu óc của Tư Híp khiến gã thấy mình như bị ném vào một cơn lốc lớn, ở trong đó con người nhỏ bé của gã bị rang phỏng lên, đầu óc căng nứt ý nghĩ chập chờn, và gã bắt đầu cảm thấy mình đang tách rời cuộc sống hiện tại để đi vào một giấc ngủ chập chờn, mộng mị.
Đến lúc gã tỉnh dậy vì sương đêm ướt lạnh cả mảng lưng dưới nệm cỏ thì bốn bề đã trở nên im lặng hoàn toàn. Bên tai gã chỉ còn tiếng những con muỗi vo ve tạt đi tạt lại ở cổ, ở má và chân tay. Phía đằng xa, trên những tấm hàng rào kẽm gai trải thẳng tắp trên vùng đất rộng bao la, những ngọn đèn ủ rũ hắt xuống một thứ ánh sáng vàng vọt, héo úa. Tư Híp quờ quạng tay sang hai bên và gã bắt gặp thằng Út lúc nầy đang rúc đầu vào chiếc tay nải ngủ cách ngon lành. Khuôn mặt của nó bây giờ nom bình thản và thơ ngây một cách tội nghiệp. Tư Híp nghĩ đến cái giường ấm cúng trong căn buồng ấm cúng ở nhà. Gã bỗng thấy lòng dâng lên một niềm thương vô hạn trước sự gian truân mà thằng Út đang phải chịu đựng. Gã vội kéo nó nằm sát lại gần rồi rũ tấm mền ra đắp lên bụng nó. Trong giấc ngủ, thằng Út trông như một con chó nhỏ nằm mệt vùi sau một ngày rông dài, chạy nhẩy…
Những ngày tiếp theo, anh em thằng Út vượt qua trót lọt tất cả những chặng đường để vẫn còn được ôm nhau trong giấc ngủ. Chẳng ai nỡ dứt thằng bé loắt choắt ra khỏi tình thương của anh nó cả. Thật sự thì Út thừa đủ tinh khôn để tự lo lấy được cho mình. Ban ngày, trong lúc Tư Híp phải rời em làm phận sự thì Út lảng vảng ở dưới khu nhà thầu. Nó kết bạn với hầu hết mọi người làm việc ở đó. Chẳng cần để anh nó phải nhường nhịn, mỗi ngày Út cũng xoay xở được hai bữa cơm no. Thường thường Út chỉ trở lại tìm anh vào lúc trời tối hẳn. Ở giai đoạn đầu, Tư Híp chưa phải vất vả học tập bao nhiêu nên ban đêm hai anh em vẫn có thể la cà đây đó hay nằm trên giường tán róc trước khi ngủ. Cũng có nhiều hôm Út đi biệt hai ba ngày liền không trở về. Lần đầu tiên Tư Híp tưởng nó bị tống ra khỏi trại nên chạy đi xông xáo tìm kiếm và bỏ cơm đúng hai ngày.
Nhưng rồi bỗng nó lại lù lù, dẫn xác trở về trong bộ quần áo không mới lắm nhưng khác lạ.
Thằng ranh con thế mà tài. Mái tóc sù lên như ổ quạ rối của nó đã được hớt lên sạch sẽ. Trong túi của nó đã thấy rủng rẻng mươi đồng tiền cắc. Sự chĩnh chạc, phong lưu của nó khiến gã đàn ông quên cả buồn, quên cả giận. Gã đá phốc ngay vào cái lon sữa bò ở gần đó như chứng tỏ cơn giận gã trút hết cả vào đó, rồi gã hét lên:
– Thằng mắc dịch, mày đi đâu tao kiếm hụt hơi muốn chết mà không ra.
Út mỉm cười, móc túi lấy ra chiếc kẹo chanh đưa lên khoe rồi thản nhiên bóc giấy bóng và cho vào miệng. Tư Híp hỏi gặng:
– Mày đi đâu vậy Út?
Út giơ ngón tay chỉ về phía trước mặt, không trả lời. Miệng của nó còn mắc lúng búng với viên kẹo thơm phức. Gã đàn ông hậm hực một lát rồi nói:
– Coi chừng cà rà cho lắm vào mấy ổng sút cho một cái là bay về tới nhà đấy nhóc con. Lần sau thì cấm đấy, nghe chưa.
Nhưng lời nói của Tư Híp đối với Út cũng chẳng khác nước đổ đầu vịt. Thằng bé vẫn ham chơi, vẫn chạy nhẩy như con chó động cỡn, và từ hôm đó về sau lâu lâu nó mới chịu nằm ngủ gọn trong lòng anh một lần. Một hôm Tư Híp bắt gặp nó theo chân hai người đàn bà, một già một trẻ, khiêng một sọt su su từ chỗ đậu xe xuống nhà bếp.
Lúc đó Tư Híp đang làm tạp dịch ở ngoài hàng rào. Gã chú ý đến người thiếu nữ khiêng sọt vừa đi vừa nô với thằng Út. Tiếng cười trong trẻo của hai người làm ấm cúng hẳn khung cảnh buồn chán ở chung quanh với những mái tôn thấp, những hàng rào kẽm gai chạy dài và những chiếc mũ sắt thấp thoáng trong từng lô cốt. Khuôn mặt của nàng đầy quyến rũ với nước da ửng hồng, từng giọt mồ hôi chẩy vã xuống hai gò má còn dính những sợi tóc dài và ướt. Dưới vầng trán phẳng, cặp mắt bồ câu long lanh sáng. Nàng cười tươi như bông hoa buổi sáng và giọng nói lanh lảnh của nàng bỗng gieo vào lòng gã đàn ông nhiều cảm xúc xao xuyến.
Thằng Út mải đùa nên không để ý đến anh nó. Nhưng hình như thiếu nữ nhận ngay ra được Tư Híp. Nàng ghé vào tai Út thì thào và Út reo to lên quay lại nhìn về phía hàng rào. Nó giơ bàn tay lên vẫy vẫy. Tư Híp bối rối vẫy lại. Mắt gã vẫn không rời khuôn mặt của người thiếu nữ lúc tiến gần ngang qua chỗ gã đứng. Gã bắt gặp cái nhìn soi mói của nàng hướng về phía gã. Điều đó làm gã lúng túng vô cùng. Gã không dám nhìn ai nữa mà chỉ cúi vội xuống vờ lúi húi trong công việc.
Đến tối, gã thủ thỉ với Út trên giường nằm:
– Ai khiêng sọt su su hồi chiều đó, Út?
Út đáp:
– Chị Hiên nhà bếp đó
– Mầy quen hả?
– Quen
– Rồi mầy nói hay sao mà cổ cũng biết cả tao.
– Biết chớ! Em chỉ anh cho cổ mấy lần.
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Mầy kỳ thấy bà, khi không “chỉ” tao làm gì, làm tao mắc cỡ muốn chết.
Út yên lặng không đáp khiến Tư Híp chờ lâu không được nên lại tiếp tục hỏi:
– Mầy chỉ tao làm sao Út?
– Thì chỉ vào anh đó.
– Rồi mầy nói chi?
– Chả nói gì hết.
– Ngu thấy bà! Chỉ rồi thì cũng phải nói lai rai chớ bộ, im thì ai mà biết.
Út mỉm cười:
– Thế thì em chẳng có nói cái gì hết.
Sự ngu độn của nó làm Tư Híp bực mình. Gã vặc lên:
– Không nói cái gì hết mà cổ lại biết tao là anh mày. Thằng ngu quá đi!
– Vậy thì em có nói. Em nói anh Tư của em đó.
Mặt Tư Híp tươi lên. Lòng gã bỗng rung động. Gã hỏi dò một cách hồi hộp:
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Ừ! Rồi cổ bảo sao?
– Không bảo sao hết đó.
Tư Híp thất vọng, vén đùi lên gãi sồn sột. Một lát gã tỉ tê:
– Vậy từ hồi đó tới giờ, mầy ăn uống ở đó, đó hả?
– Ừ!
– Bộ mầy xin hay sao!
– Em không xin mà đều cổ cứ giữ lại.
– Kỳ! Không quen mà giữ lại.
– Thiệt đó!
Mặt Tư Híp tươi lên lần nữa. Gã nói:
– Rồi mầy nói sao?
– Chả nói sao hết.
– Mầy nói ngang như cua đó. Bộ chả nói, cứ việc xông đại vô ăn cơm nhà người ta đó chắc.
– Chớ sao. Người ta mời mình mà.
– Mời sao?
– Mời là mời chớ còn mời sao. Anh hỏi kỳ thấy bà.
Nói rồi Út giận dỗi nằm quay lưng về phía Tư Híp, co hai tay lên đầu nhất định không nói nữa. Thái độ của nó làm Tư Híp ngán ngẩm. Suốt đêm hôm ấy, Tư trằn trọc mãi không ngủ. Hình ảnh của người con gái đã gieo vào lòng gã biết bao nhiêu nỗi niềm xao xuyến.
Những ngày sau đó, cũng có một vài dịp Tư được đối diện với nàng, nhưng gã không thể nào cất lời nói được với nàng một lời nào cả. Tình yêu của gã chỉ biểu lộ qua cặp mắt nồng nàn say đắm mà gã chăm chú nhìn nàng vào những lúc nàng không nhìn gã. Gã biết mình quá nhút nhát nhưng gã không thể vượt qua được cái trở lực đó. Thấm thoắt hơn hai tháng trôi qua, chương trình học của gã mỗi ngày một thêm bận rộn và gay go. Có khi suốt cả một tuần gã không còn có dịp để tâm tới cả thằng Út. Mãi tới một hôm vào ngày nghỉ, gã mới đi tìm nó và gặp Hiên đang ngồi gọt su su với nó ở đầu hè. Lần này gã lấy hết can đảm để nói được một câu:
– Tôi cám ơn cô nhiều lắm, cô Hiên ạ..
– Cái gì anh Tư
Tư bắt đầu thấy lúng túng, mặt gã nóng rực lên. Gã ấp úng:
– Thằng Út! Thằng Út đó…
– Làm sao, anh?
– Nhờ cô đã nuôi dùm nó, tôi cám ơn cô vô cùng…
– Thôi, anh cho nó làm con nuôi má tôi đi! Má tôi cũng thương nó lắm đó..
– Thiệt không?
– Thiệt chớ!
– Mầy chịu không Út?
– Chịu!
– Vậy thì tôi cũng chịu đó. Nay mai tôi sắp đi rồi. Cho nó theo chẳng biết có yên không?
Mặt Hiên đang tươi bỗng buồn hẳn đi. Nàng cố nén tiếng thở dài:
– Tôi cũng đã nghĩ đến đó rồi. Đem nó vô đây thì dễ chớ mang đi trận sao được.
Tư đứng im lặng, tần ngần. Thấy gã có vẻ buồn, Hiên an ủi:
– Anh đi yên chí. Tôi coi nó như em ruột mà.
Tư nói:
– Vậy thì may cho tôi quá. Rồi những kỳ được nghỉ phép, tôi sẽ về thăm cô và nó luôn.
Hiên ngẩng mặt lên nhìn. Trong ánh mắt của nàng bỗng chứa chan niềm thương xót. Nàng mấp máy định nói gì nhưng rồi lại thôi. Thốt nhiên giữa hai người như có một khoảng ngăn cách nặng nề mà Tư Híp cảm thấy như bị ám ảnh bởi chiến tranh, bởi bom đạn và bởi những mạng sống bất trắc của cuộc đời người lính chiến. Điều đó khiến gã không muốn phát biểu nhiều hơn. Gã lặng lẽ ngắm hai bàn tay mềm mại của người thiếu nữ thoăn thoắt trên những lớp vỏ xanh rờn của trái su su. Một lát sau gã tức tưởi từ giã ra về.
Đêm hôm ấy gã lại trằn trọc không ngủ. Có lúc gã lại muốn im lặng để khỏi ràng buộc bất cứ ai vào cuộc đời gian lao sắp tới của gã. Chưa bao giờ gã cảm thấy tủi thân và cô độc, như đêm đó. Ngay cả thằng Út đứa em ruột thịt của gã mà gã tưởng như không bao giờ rời xa lại cũng như đang sắp sửa vuột khỏi cuộc đời gian lao của gã. Đêm hôm nay thằng Út không thấy trở về. Có lẽ nó quấn quít ở bên cạnh Hiên hay ngủ vùi ở một chỗ nào đó trong gian nhà ấm cúng của nàng. Gã bỗng thèm được ôm nó vào lòng, muốn được nghe giọng nó nói, tiếng nó cười và được trông thấy những vẻ láu lỉnh trên khuôn mặt vêu vao đen đủi của nó. Lần đầu tiên trong cuộc đời gã ôm mặt khóc thúc thít.
Sau hôm đó trở đi Hiên đối với Tư có vẻ gần gũi hơn. Nàng thường gởi thằng Út những món quà vặt vãnh khi thì một trái cam, khi thì gói thuốc lá, nhưng tuyệt nhiên Hiên không nhắn gì thêm cho Tư cả. Nhưng dù sao những món quà thân yêu ấy cũng đượm vẻ đầm ấm và lôi kéo thời gian đi quá mau. Ngày mãn khóa, Hiên mời gã đàn ông đến ăn cơm vào một buổi chiều. Gã náo nức chờ đợi.
Lần đầu tiên từ ngày nhập ngũ, gã thuê giặt bộ đồ treillis để được người ta sịt hồ lên đó và ủi cho thẳng nếp. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, gã lại cầm bộ đồ cứng như mo nang lên ngắm nghía. Gã đã hình dung ra hình ảnh tươm tất, gọn ghẽ, oai nghi của gã ở trong bộ đồ đẹp đẽ đó.
Trước kỳ hẹn hai ngày, gã lại chịu khó đi hớt tóc, mặc dù lần hớt trước đây mới chỉ được gần hai tuần lễ. Hai ngày hẹn cuối cùng đối với gã dài như thế kỷ. Gã mong nó tới, rồi lại mong nó chậm chậm đừng vội xẩy ra, và rút cục gã lại thấy giờ, phút bò đi quá nặng nề đến độ như thời gian đã ngừng lại. Nghĩ đến Hiên, tim gã đập rộn ràng, ý nghĩ của gã xáo trộn, và chân tay của gã bắt đầu bối rối. Chính vì thế mà gã thích được ngồi riêng ra một chỗ để nhẩm lại những điều mà gã sẽ nói với nàng. Ngày mai, ngày kia trên đường hành quân đầy cát bụi, biết còn lúc nào rảnh rỗi để về thăm chốn cũ, người xưa. Cho nên nói thẳng với nàng là điều tất nhiên rồi . Nhưng nói thế nào, nói làm sao, nói những gì? Ôi, lần đầu tiên Tư Híp bị rơi vào một vấn đề gai góc mà không một ai có thể giúp đỡ gã được.
Đã có lúc Tư chong đèn cầy, kê giấy lên thùng gỗ để viết cho Hiên một lá thư. Nhưng nét chữ vụng về của gã không đem lại cho gã niềm tin tưởng nào. Không hiểu sao, Tư có cảm giác như văn hóa của Hiên cao hơn mình. Như vậy thì đường vào tình yêu theo ý gã, không phải là con đường “văn hóa”. Nó cũng không phải là con đường “chính trị”. Bởi vì với một bữa cơm ngắn ngủi, gã không có cách nào, mà cũng chẳng có tài cán gì để đưa nàng vào thế giới tình yêu bằng những đòn phép chính trị cả. Cuối cùng, nát óc quá, gã phải đi tới kết luận là phải làm liều. Chỉ một cái cầm tay, một câu nói cộc lốc “Tôi thương cô, cô có thương tôi không”, là gã thấy có vẻ dễ dàng nhất. Miễn là biết liều, mặc dầu cái liều tình cảm này còn khó gắp mười lần cái liều ôm súng lao vào vị trí địch.
Rồi như để đo cái mức nguy hiểm của sự liều lĩnh đó đên chừng nào, Tư hay dò hỏi thằng Út về thái độ của Hiên. Gã hỏi:
– Mày ưa nói chuyện với chị Hiên thường hôn?
Út đáp:
– Thường!
– Nói kí gì?
– Nói kí gì thì ai mà nhớ.
– Thằng ngu hôn! Hổng nhớ mười thì cũng nhớ một chớ.
– Thế thì thiếu gì.
Mặt Tư tươi lên:
– Ờ! Phải vậy chớ. Nói nghe chơi.
– Chỉ kể “chiện”thanh xà, bạch xà, chiện ông Hoàng ốc, chiện…
Tư ngắt lời:
– Cái đó thì nói làm chi. Tao nói là nói chuyện mầy, chuyện tao, chuyện bình phẩm này nọ. Như thể chị đó khen mầy ngoan hay mầy hư, mầy mất dạy hay đạo đức, tao..tao… bảnh hay không bảnh ấy chớ.
Út phá lên cười:
– Ý! Anh thì bảnh với ai. Chỉ la anh cù lần!
Mặt Tư đỏ rừ lên như chính gã vừa nghe lời bình phẩm đó từ miệng của người yêu phát ra. Rồi gã cãi một cách tức tối:
– Tao mà cù lần! Mầy nói thiệt hôn?
– Thiệt. Chỉ nói vậy hoài mờ!
– Hừ! Cù lần ở chỗ nào mới được chớ
– Thiếu gì! Anh bận đồ lính trông như áo thụng tế nè, anh đội mũ chùm hụp như đội đầu ông địa nè…
Tư la lên:
– Tại người ta phát cho tao như vậy chớ! Mắc học thấy bà, ai mà lo đi sửa được. Mầy biết hôn, cái quần mà tao không cuộn lên thì nó còn dài tới ót!
– Vậy mới cù lần!
– Cái đó khó gì! Mai mốt tao sửa! Còn gì nữa hôn?
– Gì là gì?
– Chỉ nhắc tới tao hoài hôn?
– Cái đó thì hoài. Chỉ cứ đem anh ra đe em hoài. Chỉ la chỉ mách.
Mặt Tư tươi lên:
– À! Vậy đó! Mầy thấy hôn. Miệng chị nói cù lần vậy mà chỉ đâu có khi tao. Đờn bà, con gái làm duyên thôi đó mà!
Nói rồi Tư cười, hai má hây đỏ, lòng dạ ngất ngây, gã có cảm giác như vừa được uống một ly rượu. Lúc đó gã thấy mình đầy đủ can đảm để làm thừa sức cái việc tỏ tình với người con gái. Gã lại ngồi ôn lại những điệu bộ sẽ làm: cầm tay thế nào, mắt nhìn thế nào, miệng nói thế nào, và gã cương quyết sẽ thực hiện.
Nhưng buồn thay, sắp sửa tới lúc Tư thi thố lòng cương quyết đó của mình thì cấp trên cấp tốc đưa xuống lệnh cấm trại một trăm phần trăm. Rồi trước giờ hẹn bữa ăn lịch sử của đời gã vừa đúng tám tiếng đồng hồ, gã và anh em đồng đội được lùa lên một đoàn xe đỗ dài trước cổng trại. Vị Thiếu Úy Đại Đội Trưởng chỉ nói vắn tắt với anh em là do nhu cầu chiến dịch, đại đội phải lên đường khẩn cấp.
Mười lăm phút trước khi lên đường, Tư tìm cách lỏn vào được khu gia binh cơ hữu để tìm Hiên. Nàng vắng mặt! Bà cụ nói nàng đi chợ để sửa soạn làm bữa cơm tối. Tư lặng người đi và như có điều gì nghẹn ngào chẹn tức lấy cổ họng của gã. Gã nhìn quanh như cố thu thập lấy hình ảnh căn nhà ấm cúng mà người yêu của gã vẫn ra vào. Thằng Út hình như cảm thấy điều gì quan trọng nên không giám nhẩy phóc lên lưng gã làm ngựa nhong nhong như mọi lần. Đến lúc gã quì gối xuống, hai bàn tay cục mịch nắm chắc hai cánh tay khẳng khiu của thằng bé thì những giọt nước mắt của gã chợt long lanh chẩy qua hàng mi rồi rơi ròng ròng xuống hai bên má.
Lúc đứng dậy, Tư dốc tất cả món tiền còn lại trong túi ra trao cho thằng Út. Gã cố nén xúc động:
– Anh cho em ăn quà đấy nhe!
Đó là những tiếng ngọt ngào, kiểu cách đầu tiên gã dùng ở trong đời, nhưng đối với gã cũng là lời thành thực nhất. Bàn tay của Út ruỗi ra, nó dẫy nẩy không nhận. Và đó cũng là lần đầu tiên Út từ chối một món tiền do anh nó đem cho. Bầu không khí vì thế bỗng nghiêm trọng hẳn lên. Tư muốn nói thật nhiều mà thành ra không nói được gì cả. Một lát, gã vùng dậy. Thằng Út vứt mớ tiền rơi vung vãi rồi cũng bén gót đi theo. Tư đứng lại tần ngần:
– Em ở nhà ngoan nhé.
Út lẳng lặng gật đầu. Tư tiếp:
– Nói với chị Hiên là anh sẽ về sớm nhe. Thể nào anh cũng về.
Út lại gật đầu. Lần này nước mắt của nó cũng bắt đầu long lanh. Tư cầm lòng không được, cúi xuống ôm chầm lấy nó. Thế là thằng Út òa lên khóc. Ngoài xa, tiếng còi tập hợp mỗi lúc một réo lên gay gắt. Tư hốt hoảng buông thằng Út ra và nói:
– Thôi, anh đi đây. Dăm bảy tháng nữa anh về. Dăm bảy tháng nữa anh cưới chị Hiên làm vợ. Em nói thế hộ anh nhé, nghe Út.
Thằng Út gật đầu và Tư vùng lên chạy.
Đất nước còn đang tràn ngập đau thương và khói lửa thì có đáng kể gì lời hứa của một kẻ ra đi. Dưới ánh nắng thiêu đốt của một buổi chiều đầu hạ, đoàn xe chuyển bánh tung lên lớp bụi mù mịt.
Thằng Út trèo lên một cái ụ đất để nhìn cho rõ đoàn quân lên đường. Hình ảnh của anh nó bị che lấp đi trong lớp bụi mù mịt…

Nhật Tiến
(Sài Gòn-1968)

Quán Thơ Hư Vô 293


BÓNG NÚI

Có trèo lên đỉnh núi
Cũng chưa tới bóng em
Trăm năm nằm xõa tóc
Giữa thác ghềnh chông chênh.

Hồn em như mây trắng
Tạc vào cõi hư không
Một hình hài lạnh cóng
Cỏ mọc đầy rêu phong.

Tôi lần qua vách núi
Cho tóc em dài thêm
Chải mưa đan vào nắng
Chải hồn tôi vào em!

Để nghe tim đồng vọng
Từ những nỗi khát khao
Núi trăm năm chưa ngủ
Sợi tóc đã bạc đầu!

Phất phơ như khói phủ
Trong đôi mắt vọng phu
Em nằm quay lưng biển
Cho sóng tạc hình thù!

Rạch lên đời cô phụ
Một dấu tích oan khiên
Bên tượng người dáng núi
Còn trần trụi bóng em…

Hư Vô

MAI HẸN NHỮNG GÌ, ĐÂU BIẾT…

tiếng hát em đêm nay nghe lạ
như mỗi ngày anh lạ mặt từng ngày.
có phải tình trần treo như lá
gió về trời, vàng đá chẳng về theo.

anh chẳng thèm về, ừ nhỉ, nơi nao
giữa ngổn ngang bao điều chưa nói hết.
mai thường hẹn những gì, đâu biết
thì ngại ngần thêm nữa chỉ lòng đau.

thử một lần rót hết cho nhau
như thuở giang hồ, chơi xả láng.
mai sạch túi, dễ chi tình ráo máng
mặc thế gian lắm đứa cạn tàu.

giàu nhân ngãi lắm đêm tình thắp mộng
sớm mai tim gió máy bất chừng.
anh nằm chết, đôi khi còn ngẫu hứng
đọc thơ tình tặng sáo sang sông.

nhọc với tình, nhọc lắm bao năm
sao tình chẳng cho anh một nơi ngồi nghỉ.
em tươi tắn như gái ngày mười tám
anh cũ mèm như rượu chuốc lần khân.

chẳng hẹn cùng đò, chỉ hẹn cùng em
mà tình lỡ không về kịp chuyến.
anh nằm lại giữa bến bờ hư huyễn
hát bài tình, em đã hát bao đêm…

Đức Phổ
 
GHÉ ĐÁ BA CHỒNG Ở ĐỊNH QUÁN

Không phải đá vọng phu
Sao ngàn năm vẫn đợi
Lòng không sầu vời vợi
Sao thiên thu vẫn chờ.

Ta như con ngựa già
Quay đầu về cố thổ
Ghé qua ngày mưa đổ
Bờm xơ xác ngậm ngùi.

Sừng sững ngọn Đá Voi
Mòn rêu hang Bạch Hổ
Người xưa thành mây gió
Giữa cuộc đời biển dâu.

Đá xếp chồng lên nhau
Cheo leo cùng mưa nắng
Gởi hồn vào năm tháng
Khối u tình về đâu?

Nếu có một kiếp sau
Đá thành người tri kỷ
Ta xuôi đường thiên lý
Mịt mù chốn trần ai.

Nguyễn An Bình
 
PHỐ NHỮNG CHIỀU MƯA

Ai chở mùa thu vê trên phố
Để chiều mưa ướt lối em qua
Lòng ta – chút nắng vương đâu đó
Làm sao sưởi ấm những mùa xa?

Ai chở mùa thu về trên lá
Hàng cây ướt đẫm những chiều mưa
Ta lẩn quẩn theo hồn phố xá
Đường quen cũng lạ những ngày xưa

Phố vẫn còn mưa chiều tháng tám
Buồn thu theo mấy ngõ em về
Chiều treo một khoảng trời mây xám
Ta treo ngày tháng cũ nhạt nhòa

Ừ thôi! Mưa cứ về giăng phố
Ta cứ từng chiều đếm mưa qua
Mùa thu chở mây về cùng gió
Chờ chút nắng về hong lối xưa …

Sông Trẹm
 
KHÚC CHIỀU TÀ

Người tình yêu dấu ơi!
Mùa xuân xanh bay rồi
Lòng đâu còn trẻ nữa
Chiều buồn lặng im hơi.

Chim vẫn hót trên cành
Hoa vẫn nở hiên xanh
Nắng đùa reo giậu biếc
Mà sao em xa anh!

Để trời buồn tóc mây
Sương trắng hoàng hôn phai
Đời chỉ toàn ảo ảnh
Ngửa lòng trắng hai tay!

Rừng chiều gió vẫn ru
Dòng sông nước sa mù
Như tình anh hoài vọng
Ôi tình buồn thiên thu!

Em ơi! Khúc chiều tà
Trong hồn anh ngân xa
Tình Yêu như máu Thánh
Lệ muôn đời phôi pha!

Trần Thoại Nguyên
 
VÔ ĐỀ

Tưởng sau mỗi cuộc yêu
Ta thành người dày dạn
Tưởng sau trận nhiệt thành
Lòng sẽ đầy chán ngán

Nhớ da diết lần đầu
Cầm tay thôi cũng ngượng
Thương đứt ruột lần sau
Hôn quá chừng chưa sướng!

Chẳng thể lấp nỗi buồn
Bằng những ngày thương nhớ
Sau mỗi đợt liều mình
Là mỗi lần hoảng sợ

Tình cuối lấp tình đầu
Tình sau vùi tình giữa
Ta hệt cánh rừng già
Nhú mầm nuôi tàn úa

Thì ra không thể nào
Già đời trong thương nhớ
Ngày vỗ ngực cáo già
Mới nực cười… tan vỡ

Bao nhiêu bận tin người
Là bấy lần khờ dại
Trong tay bao đợi chờ
Là bấy lần ngang trái

Đừng yêu bằng vốn liếng
Đừng thương bằng sạn chai
Vùi tim vào cuộc yêu
Là bắt đầu tê tái

Yêu lần nào cũng đau
Thương lần nào cũng bạc
Đừng vỗ ngực dạn dày
Yêu đương vốn ghềnh thác!

Nồng Nàn Phố
 
BÀI TÌNH THƠ THỨ SÁU…

Thu đã tàn bên ấy
Em vẫn mù mịt sương
Tóc có còn xanh suốt
Bay trong chiều đã mòn..

Ta chờ thêm thu nữa
Lá dẫu vàng trên cây
Mưa dẫu mềm sợi nhớ
Rớt cọng buồn trên tay..

Vẫn là thu thuở ấy
Một ngày ta với nhau
Một lần thôi cũng đủ
Ngất ngây cùng đớn đau..

Thu đã về bên nắng
Gió vẫn hoài đưa hương
Thu phong tàn mấy độ
Đường chưa mờ dấu son..

Thôi em, chiều đã rụng
Còn thu nào cho người
Ta chờ em dưới dốc
Trên đỉnh phù vân trôi..

Thôi em, tàn bóng nguyệt
Một vì sao đang rơi…

Trung Chinh Ho

223FC05F-B12A-4662-A975-F81096CC7DED

Bến Bờ Hư Vô. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Bến Bờ

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!

Lời tình còn đọng trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…

(Hư Vô)

0265f89b-b8ce-418b-a10e-0e3e3d3b30a9

Một buổi trưa không biết ở thời nào
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
(Đi Giữa Đường Thơm – Huy Cận)

Có lẽ như nhà thơ Huy Cận đã viết: “Ca dao luôn sống mãi trong bao tâm hồn Việt. Nó chính là dòng sữa ngọt ngào nuôi lớn đời ta“. Đối với người xa quê, ca dao dường như đã trở thành quê hương, thành xương thịt,  là dòng tâm  tưởng tràn trề, lai láng. Nó gợi nhớ tình quê, gợi những kỷ niệm một thời xa vắng. Chọn thể thơ lục bát của ca dao, Hư Vô đã làm ta sống lại những cảm xúc đã dồn nén bao lâu bỗng tuôn trào, lai láng. Đọc Bến Bờ của thi sĩ ta không chỉ  cảm nhận đang về lại quê hương với dòng sông, con đò, bến đợi và bên tai vẫn cứ văng vẳng những làm điệu dân ca, ca dao về những tình yêu không trọn vẹn mà chính là ta đang sống trong một thế  giới của âm nhạc, của cảm xúc, suy tưởng.

Con đò, dòng sông là mô típ thường thấy trong ca dao. Ca dao thường mượn hình ảnh con đò, bến nước, cây đa để thể hiện tình yêu thủy chung hay ly biệt, nhớ  thương:

– Con đò với gốc cây đa
Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò.

– Cây đa bậc cũ lỡ rồi
Đò đưa bến khác bạn ngồi chờ ai.

– Gọi đò chẳng thấy đò sang
Phải chăng bến cũ phụ phàng khách xưa.

“Thuyền đi để bến đợi chờ,
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau,
Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền”

Chọn một hình ảnh thường xuất hiện trong đời sống, trong ca dao, nhà thơ dễ dàng truyền đến người đọc sự đồng cảm ngay từ phút giây đầu.

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!
(Hư Vô)

Đoạn thơ xuất hiện hình ảnh dòng sông, bến đợi, con  đò và khách sang sông. Nhưng tất cả đều thể hiện sự trễ muộn. Đò đã sang sông, em ngược dòng nhân gian. Câu chữ không theo quy luật, hình ảnh cũng ngược chiều. Tất cả đều oái oăm, ngang trái. Tình tan, mộng dở dang. Lời gọi đò, gọi em, gọi nhau chỉ còn là những âm thanh buồn bã, tắt lịm. Dòng sông vẫn trôi, đò vẫn cứ sang sông không đợi khách bộ hành. Em không chờ tôi về, đã vội vã bỏ đi, lạc hướng mịt mờ bóng chim tăm cá. Tình tan, em – muôn đời vẫn làm người dưng, hoang đàng theo mỗi bước thơ tôi.

“Gọi” lập lại ba lần, “đò” lập lại hai lần, em- người dưng đã vừa lập lại vừa nhấn, câu cuối những dấu phẩy cắt câu bát thành bốn theo nhịp 1/3/2/2 diễn tả một sự rối loạn của cảm xúc. Thảng thốt, đau đớn, rã rời để rồi buông trôi, buông xuôi. Một nỗi đau định hình, sự thất vọng não nề hiện lên từng câu chữ. Có một chút gì cay trong mắt, có một chút gì nhói trong tim. Có lẽ là nỗi đau từ khúc tình tan của khách sang sông. Cấu trúc câu thơ với nhiều thanh bằng nhưng dường như không tạo được cảm giác nhẹ nhõm mà nhân rộng, tỏa rộng nỗi đau bởi vần “an”. Ngôn từ, cảm xúc của thi sĩ gợi tôi nhớ đến Lời thề cỏ may của Phạm Công Trứ:

Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê.
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…

Phạm Công Trứ gỡ bỏ lời thề cỏ may, Hư Vô khác xưa, hoang đàng cuộc đời, hoang đàng thơ. Chữ tình hư ảo sao làm tan nát bao cuộc đời, bao con người và có đôi khi sự tổn thương đã khép lại hoàn toàn trái tim yêu. Có lẽ điều này đúng với những người vốn có trái tim đa sầu, đa cảm như  chàng trai đa tình trong thi phẩm. “Hoang đàng” có lẽ là câu chữ của  thi sĩ thể hiện một sự thay đổi của nhân vật trữ tình, con người bình thường xưa đã không còn nữa, sự thay đổi quả thật đau lòng. Có lẽ chàng trai không thể chấp nhận được tình tan. Xưa nay tôi vẫn cho rằng tình là vô thưởng bởi nó đến rồi đi không hề báo trước, chính vi vậy khi tình yêu tan vỡ có những người không thể vượt qua có lẽ với một người bản lĩnh cách hành xử trên có phần nào yếu đuối, tiêu cực nhưng chưa hẳn như vậy bởi điều mình đặt hết tâm huyết vào nếu mất đi không thể xem là chuyện bình thường, bởi vậy mà  “khúc tình tan” của thi sĩ bắt đầu lên tiếng:

Lời tình còn động trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Tình yêu trong Hư Vô thường là nỗi đau, thường là chia ly. Thi sĩ không nói rõ vì sao mà ly tan nhưng đôi khi chính người trong cuộc cũng không hiểu vì sao? Chỉ biết khi tình lỡ nỗi đau dường như làm ta tuyệt vọng. Nhưng có một điều tôi nhận ra nỗi đau tình trong thơ Hư Vô không quằn quại của những rên xiết, thét gào mà thật da diết đến đớn đau của những vết cắt sâu để rồi thành những đóa hoa sầu, những giọt lệ thầm trong đêm sâu khi chỉ một mình trong thăm thẳm của bóng đêm để rồi  thảng thốt chợt nhận ra mình đã không còn như ngày xưa:

Gọi nhau một khúc tình tan
… Trái tim tôi đã tơi bời, xanh xao.

“Tơi bời” câu chữ đơn sơ, giản dị gần như là một khẩu ngữ tạo một định hình cho nỗi đau rất thực. Tơi bời là kết quả của một không gian vừa trải qua một cơn lũ tràn, một cơn bão lớn. Tất cả tan hoang, vỡ nát, rời rã, tang thương. Cơn bão tình làm giông tố phá nát hồn anh, đời anh. Cơn bão đi qua, sự sống rồi sẽ hồi sinh nhưng cơn bão tình thì mãi mãi thổi, linh hồn thành hoang mạc, nỗi sầu tạo thành quách trong tim. Cơn bão tình- cõi vô vọng đang hòa vào nhau tạo thành khúc tình tan . Có lẽ nỗi đau của khúc tình tan sẽ mãi theo chàng thi sĩ suốt những tháng ngày còn lại.  Khi tôi đọc đến câu thơ này tôi liên tưởng đến bài thơ Bão của Tế Hanh:

Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi.
(Tế Hanh- Bão)

Để rồi tôi cảm nhận ra cơn bão lòng tôi vẫn còn thổi mãi một niềm đau quá khứ có lẽ vì vậy mà tôi hiểu “trái tim xanh xao” của chàng trai, lại một câu chữ biến hóa trong tay của thi sĩ, lấy nét vẽ ngoại hình “xanh xao” để miêu tả thế giới nội tâm của riêng mình, một sự nhiễu loạn về màu sắc đỏ thành xanh, sự sống đã lìa bỏ, đã cạn nguồn khi em rời xa tôi. Nhẹ mà thấm, mà đau, câu chữ của Hư Vô vốn là vậy. Tim thay màu, không gian cũng thay màu:

Sông sâu có khúc bạc đầu
(Hư Vô)

Sông bạc đầu hay màu sông cũng đổi thay dường như là lời tự vấn của thi sĩ. Em bạc lòng, sông cũng bạc đầu, thiên nhiên vốn ít khi thay đổi mà vẫn đổi thay huống chi là con người. Em đi, đã làm tan nát cuộc đời tôi lời nhẹ trách mà thương nhiều. Trái tim nhà thơ vốn vậy luôn bao dung, luôn đầy đạm. Lời trách cứ thành âm vang trôi xuôi theo dòng sông:

Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Em đi rồi biết có quay trở lại. Nhưng cho dù có trở lại nhưng tất cả đã lỡ làng, đã kết thúc, câu thơ vang lên một âm thanh buồn bã của sự đợi chờ vô vọng “biết đâu mà chờ!”. Thời gian không đợi, người không hẹn quay về chỉ còn lại dòng sông và tâm trạng nỗi sầu của người đợi đò. Câu thơ gợi nhớ những câu ca dao với những nỗi buồn sông nước:

-Nước sông lững đững lờ đờ
Thương người nói vậy biết chờ hay không.

-Sông sâu cá lội ngù ngờ
Biết em có đợi mà chờ uổng công

-Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.

-Sông sâu biết bắc mấy cầu
Khi thương thì anh thương vội
Khi sầu anh để lại cho em

Gì buồn hơn giữa những dòng sông đỏ nước phù sa, con thuyền không thấy quay về. Dòng sông buồn thấm vào ca dao, chảy tràn qua thơ Hư Vô để thi sĩ ngẩn ngơ, nuối tiếc, xót xa, hụt hẫng và rồi chỉ biết buông xuôi:

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!
(Hư Vô)

Ở khổ thơ thứ hai, “Khi xưa” không và chưa bao giờ mất đi trong lòng thi sĩ; nó luôn song hành cùng thực tại “Bây giờ” đó là ranh giới của tình yêu: Anh vẫn không đổi  thay. Không gian xưa hẹp chỉ là một bến sông, mà anh luôn đợi dù biết đợi chờ cũng chỉ để ngậm ngùi “Đi lên đi xuống” tôi thích chữ “ vòng vo” mà thi sĩ dùng. Đẹp, lạ và mang hơi hướm của ca dao tạo sự chân thực trong từng câu chữ. Vòng vo là trạng thái đi không định hướng, câu chữ gợi tôi nhớ đến chàng trai trong bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” với động tác trèo lên/ bước xuống dường như vô thức để diễn tả sự mất phương hướng khi lỡ duyên. Và thi sĩ của chúng ta lại chọn bến sông để “đi lên đi xuống vòng vo” để diễn tả một cảm xúc buồn khi tình yêu đã hết. Vòng vo của bước chân lên xuống vô định kia làm trái tim người đọc cũng như lây nhiễm nỗi đau tình. Hư Vô đang đánh thức điệu hồn ca dao dậy để nỗi ngậm ngùi như sâu, như rộng, như dài hơn dường như để bắt kịp không gian. Ngày xưa là một không gian hẹp “bến sông” bây giờ là một không gian rộng “cách mấy đại dương”.  Xưa chỉ một không gian hẹp mà đã lạc nhau một đời, giờ là không gian rộng thì làm sao mà tìm! “Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!”. Câu thơ dường như phá cách trong kỹ thuật hài thanh, câu chữ dường như không xuôi chiều, dường như có sự chống đối lại nhau. Tôi nghĩ câu thơ có thể viết thành “Muốn thăm em, biết đường nào mà đi!” nhưng thi sĩ không viết vậy bởi vì anh muốn dùng “biết đâu” ở khổ thơ trên thành “đâu biết” ở khổ thơ này như một cách nhấn. Biết đâu là một phủ định, đâu biết cũng là một phủ định, một khẩu ngữ dù có đảo cách nào đi chăng nữa cũng để thể hiện một nỗi niềm sự bế tắc, mịt mờ phương hướng của những kiếm tìm. Tôi nghe như lời tình vô vọng đang vang lên để rồi đọng lại thành nỗi buồn sông nước. Bến chờ, bến đợi trong ca dao chỉ còn trong tâm tưởng, bến sông xưa đã ngăn cách mấy đại dương nên bến tình buồn hiu hắt. Tôi thương những dòng sông đợi đò trong chiều vắng ngắt chỉ có gió lạnh đi qua không nói năng gì, tôi thương lữ hành đợi người nơi bến vắng chiều mưa để bao nhiêu hơi buốt giá thấm vào hồn:

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…
(Hư Vô)

Chiều xuống, chiều đang rơi, chiều tàn… Đó là cách mà ta thường dùng khi nói về hoàng hôn, Hư Vô viết “chiều phơi cuối ngọn xuân thì ” cách viết vừa lạ, vừa hình tượng. Tôi tưởng tượng buổi chiều như đang phơi trần trước ta, dấu vết cuối ngày đã buồn lại càng buồn hơn khi hình ảnh người con gái ngồi phơi cuối ngọn xuân thì. Cái đẹp dường như đã tàn, đã kết thúc tạo nỗi ngậm ngùi dài và rồi nhân vật trữ tình cũng rời bỏ nỗi muộn phiền của đời mình trong một nồi niềm day dứt:

Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
(Hư Vô)

Yêu là để chờ trong muộn màng, nuối tiếc; yêu là để trĩu nặng niềm ray rứt không nguôi, yêu là những bâng khuâng, nhung nhớ… Tình yêu là hạnh phúc trong nỗi thương đau, lặng im để tưởng niệm một thời tình đã qua… Phải chăng trong thi sĩ, trong tôi và chúng ta những người từng có một thời yêu có phải đã từng cho rằng: Yêu là được nhớ nhung, giữ gìn một ai đó trong tim dù có trải qua bao dâu biển đổi dời tình ấy không mất đi mà vẫn luôn nguyên vẹn.Tình yêu không đợi có nhau trong cuộc đời mà nó sẽ là một hình bóng luôn vẹn nguyên trong tâm hồn ta, nó là động lực giúp ta đứng lên khi bị cuộc đời xô ngã. “Phủi tay” có nghĩa là buông bỏ, là không còn nghĩ đến để vui hay để buồn nhưng chỉ là cái động tác ngoại hình bởì trong tâm hồn ông chữ tình vẫn chất chứa không nguôi “biết có còn gì cho nhau” một cụm từ phủ định nhưng lại mang ý nghĩa khẳng định của sự dâng hiến đầy yêu thương. Câu thơ buồn trong từng câu chữ nhưng lại trĩu nặng những “dấu tích trần ai”. Và trong tận cùng của quá khứ hình ảnh con đò lại quay  trở về:

Chuyến đò chở khẳm bể dâu
(Hư Vô)

Khổ thơ đầu là “đò”, khổ thơ tiếp là “đò em” và hai khổ còn lại thi sĩ viết “chuyến đò” như một trình tự tăng tiến đò chở khách qua sông, em là chiếc thuyền tách bến sang sông một mình và cuối cùng là chuyến đò cuộc đời. Trễ đò, khách tiếc nhớ, mong đợi. Đò em sang sông, anh hụt hẫng đau thương. Đò đời chở nặng giông tố, biển dâu chỉ mình anh nhận thì quả thật là chua xót.

Hai câu thơ cuối khoanh tròn kiếp người, kiếp tình thành nỗi buồn phơi trên ngọn xuân thì. Phủi, bỏ, ở lại.. một loạt từ diễn tả những trạng thái ngược nhau là những suy ngẫm về cuộc đời, về tình yêu. Đời là biển dâu, chàng trai đã nhận trong khoảng đời phiêu bạt, có những nỗi buồn, nỗi nhớ không thể tỏ bày và tình yêu cũng mất chỉ còn lại thi sĩ và vực sầu lạnh tanh. Lạnh tanh nghĩa là rất lạnh. Tình lạnh, đời lạnh chồng lên nhau, nỗi đau của tình lỡ, nỗi đau của bể dâu cuộc đời chỉ mình “tôi” mang không người chia sẻ. Tại sao không là “để tôi” mà lại là “bỏ tôi” . Chữ bỏ đã nói lên tất cả. Bỏ mặc, không đếm xỉa, không đoái hoài là sự từ bỏ, bỏ rơi nó là kết quả của tình yêu một thời tươi đẹp. “Bỏ tôi” đã làm tăng cao nỗi cô đơn, bẽ bàng của thi sĩ, nó dồn ép cảm xúc là một sự cam chịu đầy cay đắng, tôi thương sự cô đơn của thi sĩ trong cuộc đời, tôi cảm nhận được vực sầu lạnh tanh mà anh viết. Hai vần ”anh” liền kề tạo một âm vang, âm vang từ đáy vực nên thăm thẳm mất hút trong không gian nên cuối cùng âm thanh cũng im bặt chỉ còn lại khoảng trắng lặng im càng tô đậm dáng vẻ cô đơn của nhân vật trữ tình. “Lạnh tanh” tôi rằng nó là cụm từ đắc địa thể hiện trọn vẹn cảm xúc của bài thơ. Lạnh của yêu thương, lạnh của nhân tình, cái lạnh đã trùm suốt bài thơ nhưng càng về cuối cái lạnh càng lạnh hơn nữa thành một chuỗi âm vang không lời thể hiện cái lạnh  lẽo, trơ trọi của một nỗi đau tình khi chỉ còn mình “anh” đi trên con đường tình, đường đời  bơ vơ.

Khúc tình tan của Hư Vô đã cho tôi một khoảng lặng của ngậm ngùi, của xót xa khi tình yêu tan vỡ.  Nếu Xuân Diệu đã từng làm xúc động bao trái tim người yêu thơ với “Cung Nguyệt Lạnh” thì Hư Vô đã đem đến cho người đọc mê lộ cùng đường của “Khúc Tình Tan”. Trong khúc ca tan vỡ kia tôi thấy thấp thoáng bóng của ca dao hiện về với giọng hò thê thiết trên sông nước mênh mông với những khúc ca não lòng của  tình yêu tan vỡ. Tôi tìm thấy trong khúc tình tan của Hư Vô nỗi chạnh lòng, nỗi thương thân trong kiếp tình buồn, trong cuộc đời dâu biển đa đoan và khi bài thơ khép lại thì cái giọt “lạnh tanh” kia chính là giọt sầu, giọt đời thi sĩ, tôi, bạn đang uống từng ngày và ngày vẫn cứ trôi trong tiếng vọng của ngàn xưa với khúc tình tan của chàng thi sĩ có tên gọi HƯ VÔ.

August, 2018
Trần Sương Lam

Bóng Núi. Thơ Hư Vô


Bóng Núi

Có trèo lên đỉnh núi
Cũng chưa tới bóng em
Trăm năm nằm xõa tóc
Giữa thác ghềnh chông chênh.

Hồn em như mây trắng
Tạc vào cõi hư không
Một hình hài lạnh cóng
Cỏ mọc đầy rêu phong.

Tôi lần qua vách núi
Cho tóc em dài thêm
Chải mưa đan vào nắng
Chải hồn tôi vào em!

Để nghe tim đồng vọng
Từ những nỗi khát khao
Núi trăm năm chưa ngủ
Sợi tóc đã bạc đầu!

Phất phơ như màu khói
Trong đôi mắt vọng phu
Em nằm quay lưng biển
Cho sóng tạc hình thù!

Rạch lên đời cô phụ
Một dấu tích oan khiên
Bên tượng người dáng núi
Còn trần trụi bóng em…

Hư Vô

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: