Quán Thơ Hư Vô 296


Quán Thơ Hư Vô

KHÚC MƯA THÁNG 9

Đêm rắc mưa cho hương đầy tóc
Tháng 9 về quanh những gót chân
Phố xá chờ nhau đèn thao thức
Soi buồn chưa rõ mặt tình nhân.

Con đường có lần em qua đó
Lời hẹn hò còn đỏ son môi
Tôi về không kịp như đã hứa
Giọt mưa xoá mất bóng em rồi!

Bàn tay lạnh cóng như thỏi đá
Dụi mắt rưng rưng nỗi nhớ người
Hàng cây bàng mấy lần thay lá
Mà nghe hối hả bước chân tôi.

Chỗ có mũi tên đường rẽ trái
Mưa bay đâu còn thấy lối vào
Tôi nhìn tôi lạ người lạ phố
Cỏ xanh mọc đã quá đỉnh sầu…

Hư Vô

XIN ĐỪNG DO DỰ

còn bấy lăm ngày trên cõi thế
mà không níu nổi với nhau gần?
ôi em, con-mắt-nghìn-con-mắt
hãy ngó giùm tới lão tình nhân

ta có một đời yêu chẳng kịp
một đời lớ quớ, bỏ hoang vu
thì em của ngát lừng hương sắc
sao nỡ chiều xa, gió tuyệt mù?

em cũng nửa đời yêu chẳng đủ
vì em có thể rất vô cùng!
ngọn lửa trong ta đã tam muội
xin đừng do dự uổng trăm năm…

Hoàng Lộc

LẨN THẨN SỰ ĐỜI

Nặng gánh chợ đời chân đã mỏi
Hay chăng về lại chốn non ngàn
Bữa trước ta mơ làm thi sĩ
Nay đành gác lại với thời gian

Thất chí lên rừng đẵn củi chơi
Vẽ vời dăm chuyện cũng hết hơi
Bắt chước người xưa, ta tiều lão
Đổi ánh trăng vàng chén rượu vơi

Hỏi núi nằm đây có nhớ trăng
Ngàn năm còn ôm bóng giai nhân
Dưới kia đâu thiếu chi hào sĩ
Hà cớ gì đây lại ngại ngần

Giật mình tỉnh giấc Kê Vàng
Thì thôi lên núi làm chàng đốt than
Nghêu ngao giữa chốn đại ngàn
Đôi khi nhớ rượu lại quàng gánh đi

Ngắm ta giữa chốn kinh kỳ
Người đời đâu hiểu há vì cuộc chơi
Một trời một đất thảnh thơi
So ra giàu gấp vạn đời múa may

Chiều Xưa

TRƯỚC NGÀY LỄ VU LAN

một nhành hoa lan trắng
thanh bạch và dịu dàng
một nhánh hoa lan tím
yểu điệu và nồng nàn

các con mua tặng Mẹ
nhân ngày lễ Vu Lan
cha hớn hở mau miệng
ngợi khen các con ngoan

mẹ lặng lẽ lau mắt
liếc vội cha nhẹ nhàng
cha đặt tay lên miệng
thổi nụ hôn bay sang

các con còn đủ cả
mẹ cha trong cuộc đời
chúng ta cùng ngồi lại
ngắm hoa tạ ơn trời

Luân Hoán

ĐỢI

Ngày đông lệ mờ
Nghiêng chiều bóng vỡ
Lá chết treo khô
Hoàng hôn sắc đỏ

Tô vội chút hồng
Bờ môi tháng tám
Hát giữa mênh mông
Gọi người ngàn dặm

Mây bay qua vai
Sương mù mấy ngả
Đời mở thêm hoài
Từng trang sách lạ

Có những dòng câm
Giấy hờn trắng toát
Có giọt u trầm
Rơi câu thánh thót

Nỗi nhớ khôn cùng
Trên tờ lịch mỏi
Vạt sầu ai buông
Dài thêm ngõ đợi…

Yên Thảo

NHỚ CAO NGUYÊN

Con sẽ về thăm lại căn nhà nhỏ
Ngọn đèn dầu le lói thắp đêm khuya
Con sẽ về để thấy mẹ hôm xưa
Lom khom nấu cơm chiều trong bếp nhỏ

Cơn mưa về trơn ướt đường đất đỏ
Mẹ loay hoay mớ củi ướt bên hiên
Khói bếp cay hong mắt mẹ triền miên
Tuổi thơ con buồn như những ngày ám khói

Con sẽ về giữa mùa gió nổi
Gió đầu mùa xao xác những giấc mơ
Gió mênh mông, tan vào đêm hiu quạnh
Gió âm thầm qua ruộng bắp xác xơ..

Con sẽ về cao nguyên mù sương khói
Mơ cơm chiều được bên mẹ ấm êm
Nắng lung linh hoa cà phê nở trắng
Đàn trẻ đùa trong đất đỏ lấm lem..

Chưa về được nên nghe lòng quặn thắt
Dáng mẹ ngồi bên bếp lửa chiều đông
Thương những đứa con lạc loài đâu đó
Mắt mẹ buồn chạm tới mênh mông.

Thuc Uyen

THÂU ĐÊM TRẰN TRỌC NGHE MƯA

Chưa mùa mưa trời bỗng mưa mau
Mái nghiêng gác lệch mưa rêm đầu
Nghe lòng chăn chiếu ê chề quá
Hơi hướm giang hồ chẳng ấm nhau

Cứ gom tâm sự nằm nhai lại
Tâm sự một đời hôi bể dâu
Năm năm mười năm không là mấy
Góp lại không đầy một đêm thâu

Đêm thâu nghe mưa rơi trằn trọc
Đời mòn chí mỏi biết về đâu?
Bao khách xa nhà trong thiên hạ
Đêm mưa thanh khí chẳng tương cầu

Cứ nghe mưa héo mòn trời đất
Tê buốt lòng ngàn mũi kim khâu
Chưa mùa mưa sao mưa rười rượi
Không chừng trời ốm khiến mưa đau

Chiếu chăn meo mốc chua mùi mộng
Mộng sớm mộng khuya chóng bạc màu
Nhốn nháo sinh linh thời nhiễu loạn
Lều bều thân thế lộn vàng thau

Năm nổi tháng chìm ngày mắc cạn
Đêm mưa lòng nghẽn nước đục ngầu
Nằm suông thức trắng nghe mưa giọt
Sáng dậy ngu ngơ: tóc bạc đầu!

Phạm Ngọc Lư

GIÓ VỀ QUÊ CŨ.

Chiều hôm qua ngọn gió
Từ nơi núi rừng xa
Về thăm làng quê cũ
Chợt mắt nghe vỡ òa.

Dòng sông không muốn khóc
Cho cuộc tình đã qua
Nhưng con đò bật khóc
Gói mùa đông làm quà.

Tiếng đàn bầu đã dứt
Cánh cò vừa biệt ly
Bóng chiều trên nhành trúc
Gọi gió trăng thầm thì…

Anh nông phu nào đó
Vác cày bừa vừa qua
Hình như là đôi mắt
Có nhớ người đi xa.

Gió tìm ngôi nhà cũ
Bên bến sông ngày xưa
Có người em gái nhỏ
Chèo đò qua chiều mưa

Gió tìm ngôi nhà cũ
Có bóng dừa cau xanh
Có giàn trầu của mẹ
Có giếng trong ngọt lành.

Gió tìm vầng trăng sáng
Dưới hồ sen yên bình
Lúa thơm thì con gái
Trên cánh đồng nguyên trinh.

Gió chợt sờ đôi mắt
Cô thôn nữ đa tình
Vàng rơi lay võng lụa
Vườn trăng khuya một mình.

Gió mai về viễn xứ
Tiếp cuộc hành tha hương
Biết bao giờ trở lại
Hôn môi em miên trường…..

Lê Bảo

IMG_9689

Mai Thảo – Người Kể Chuyện Bằng Văn. Trần Thanh Hiệp


Trần Thanh Hiệp

C95903EB-66AA-4B5E-AA29-D6DF0CE003A0

(Chân dung nhà văn Mai Thảo qua ống kính của Nguyễn Bá Khanh)

Mai Thảo chết đến nay đã được mười năm. Trong mấy anh em chúng tôi, quen biết nhau ở miền Nam từ 1954 – mà người ta thường gọi là nhóm Sáng Tạo – sau 1975 ra được hải ngoại, Mai Thảo là người ra đi chuyến vân du của anh sớm nhất. Sau đó lần lượt đến Ngọc Dũng rồi Nguyễn Sĩ Tế, Thanh Tâm Tuyền và mới đây là Thái Tuấn. Sự vắng mặt của Mai Thảo cũng như của các bạn khác, tôi khi nhớ khi quên. Nhưng khi chợt nhớ thì lúc nào cũng là một sự mất mát vĩnh viễn không có gì bù đắp được.

Một vài lần tôi có nói về những liên lạc thân tình giữa Mai Thảo và tôi. Lần này tôi muốn nói qua một vài nét về sự đóng góp của Mai Thảo cho văn học Việt Nam, từ phần nửa sau của thế kỷ XX. Với những hiểu biết, cách nhìn của riêng tôi về Mai Thảo mà tôi coi như những cái nhìn từ bên trong. Để mong cung cấp thêm ít nhiều dữ liệu cho hai trong những nhà nghiên cứu văn học ở hải ngoại tôi đã có dịp đọc là Bùi Vĩnh Phúc và Thụy Khuê.

Sáng Tạo, như một hiện tượng văn học.

Sáng Tạo là tên của tờ báo anh em chúng tôi xuất bản hàng tháng ở Sài Gòn từ 1956 đến đầu thập niên 1960 thì ngưng. Sáng Tạo cũng còn là tên mà người ngoài hay gọi anh em chúng tôi là “Nhóm Sáng Tạo”. Nếu hay hội họp với nhau, lúc nhiều lúc ít mà là Nhóm thì cũng có thể nói rằng có Nhóm Sáng Tạo. Nhưng bên trong chúng tôi thì thật ra không có Nhóm ấy. Sáng Tạo không phải là một văn đoàn. Chúng tôi không thành nhóm, không thành văn đoàn chỉ vì tôn trọng sự tự do của nhau… Nguyễn Sỹ Tế kể lại rằng “có lúc dân Sài Gòn đã vui đùa mà nói đến chơi nhà Sáng Tạo chỉ thấy bốn năm ông nhà văn mỗi ông ngồi một xó trước cái bàn thờ tổ sư riêng. Tạp chí Sáng Tạo không hề có chức chủ bút và tổng thư ký tòa soạn đích danh…” Nhưng sự gắn bó giữa những người bạn với nhau thì lại rất chặt chẽ. Hình thức gắn bó đặc biệt này người ta cũng tìm thấy dưới ngòi bút của nhà văn dấn thân kiêm phi công người Pháp, Antoine de Saint-Exupéry: “chỉ năm sáu người, không còn gì ở cuộc đời này nữa, ngoại trừ những kỷ niệm của họ… Thương nhau, không phải mắt nhìn mắt mà là tất cả cùng nhìn về một hướng”.

Tôi không có ý định đi sâu thêm vào tình thân giữa anh em chúng tôi, “giữa đất trời nhau”, nói theo kiểu Mai Thảo. Tôi chỉ muốn bàn về cái “hướng” chung mà Saint-Exupéry đã nêu lên, trong một hoàn cảnh khác.

Miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954, đối với những người từ miền Bắc di cư vào, giống như một thứ Viễn Tây của những di dân từ Anh đến đất Mỹ. Một triệu người đã bỏ lại đằng sau lưng quê hương ở miền Bắc và bằng tàu biển, máy bay lũ lượt kéo nhau đến sinh sống, lập nghiệp trên đất mới ở miền Nam.

“Cuộc di cư năm 1954, một cuộc di cư ào ạt, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc so cả với thời kỳ Lê (Trịnh) Nguyễn phân tranh cốt yếu là một cuộc chọn lựa chính trị, chọn lựa chế độ cai trị giữa guồng máy Cộng Sản và guồng máy Quốc Gia. Cuộc di cư lớn lao từ Bắc vào Nam đó có điều đáng ghi nhận là nó bao gồm đủ mọi thành phần quốc dân từ nông thôn qua thị thành, từ bình nguyên lên cao nguyên, nào quân nhân, công chức, nào văn nghệ sĩ, giáo chức, học sinh, sinh viên… thôi thì sĩ nông công thương đủ cả. Nguyễn Đăng Quý, sau này là chủ nhiệm Mai Thảo của Tạp chí Sáng Tạo, ở trong làn sóng di cư này với tư thế là một người trẻ không có trường để học, một công tử lang thang hết chỗ để ngao du, một nhà văn vào nghề không có nơi dụng võ. (…) Tạp chí Sáng Tạo đã bắt nguồn từ biến thiên lịch sử nói trên, nhất là cuộc di cư của anh em sinh viên Hà Nội. (…) năm 1956 (…) sau cuộc triển lãm của Duy Thanh và Ngọc Dũng, với sự giúp đỡ tận tình của nhiều nhân vật các giới, tờ nguyệt san Sáng Tạo của Mai Thảo ra đờ…” (theo lời Nguyễn Sỹ Tế).

Cuộc di trú với qui mô lớn và được hoàn tất trong một thời gian tương đối ngắn này là biến cố có thể ghi chép vào những trang đầu của lịch sử đi tìm tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam vào thời điểm giữa thế kỷ XX. Những người dắt díu nhau ra đi chỉ mang theo trong hành trang hình ảnh, kỷ niệm đậm nét về quá khứ và một niền hy vọng mong manh về tương lai. Họ phải nhìn vào cuộc sống trước mắt và phải suy nghĩ về cuộc sống những ngày sắp tới.

Cả một lớp người cầm bút thuộc nhiều thế hệ bỗng dưng được đặt trước những câu hỏi lớn về cuộc đời. Ta phải sống như thế nào? Còn có thể trở lại tắm ở những dòng sông cũ, sông nay đã đổ ra biển cả? Với anh em chúng tôi các câu trả lời đã đến rất mau lẹ và dứt khoát. Không làm người gác cổng nghĩa trang cho những tác giả đã khuất (lối nói khiêu khích của J.P. Sartre). Không nhắm mắt cặm cụi sao chép văn chương “khuôn vàng thước ngọc” thời tiền chiến (làm nhiều người không vui). Dứt khoát và kịch liệt chối bỏ mọi thứ chính trị viên văn nghệ. Sẵn sàng đương đầu với tuyên truyền dối trá để huyễn hoặc và bạo lực khủng bố để toàn trị (nhiều người chưa dám). Trước mắt, thời đại đang mở ra cả một chân trời tự do. Với niềm tin mới, chúng tôi hăng hái nhập cuộc, mang hoài bão tìm được mạch sáng tác mới trong hoàn cảnh mới của đất nước.

Có hai vấn đề đã được đặt ra là “nội dung”“hình thức” của sáng tác. Đối với những nước đã có sẵn một nền văn học có bề dày, bề dài rồi, thí dụ nước Pháp, thì tiến bộ thường chỉ là thay đổi các “hình thức” diễn tả. Cũng thời điểm này ở bên châu Âu, văn học của Paris đang chuyển mình. Thế hệ những người cầm bút kiêm triết gia từng làm mưa làm gió trong những năm 1930 đã phải nhường chỗ cho một thế hệ những người cầm bút mới, mang ý thức mới, không thiên về thuần suy tưởng mà về hành động, về trách nhiệm trước lịch sử. Cuộc giải phóng năm 1945 không xóa đi được những vết tích của cuộc chiến bại năm 1940 và những nỗi nhục của 4 năm chiếm đóng. Pháp đã thua trận vì, như chính một nhà phê bình Pháp đã nhận xét, văn hóa Pháp là nếp sống của một “tỉnh nhỏ” với những tiệm cà phê, những bài thơ tình, những lời hẹn hò thơ mộng… Mùa xuân năm 1945, Mauriac đã thốt ra những lời lẽ rất bi quan: “nhân loại đã già đi ghê gớm và bước ra khỏi cuộc tắm máu mới, đầu óc lạnh lùng, không mơ mộng nữa. Nó ôm trên tay và ghì sát ngực một con bé đã chết, con bé mà Péguy gọi là con nhỏ ‘Hy vọng'”.

Ở miền Nam Việt Nam trái lại đã có cảnh tượng những cuộc lên đường. Một sức sống đang bung ra trong tin tưởng và lạc quan. Phải chụp bắt và phô bày được trọn vẹn cái không khí phiêu lưu này của cuộc phục hưng chờ đợi từ lâu. Và như vậy có nghĩa là phải đẩy cho văn học Việt Nam bước được một bước phát triển mới. Về hai mặt. Trước hết phải cải thiện thân phận của người cầm bút. Thời trước, hình như Lê Văn Trương có than rằng nhà văn ở Việt Nam “khổ như chó”. Tại sao khổ? Vì nó chưa có cơ hội để sống đời sống xứng đáng làm con người. Nhà văn nay phải có được nhân phẩm khả kính ở trong xã hội. Nó tự trọng và buộc xã hội tôn trọng nó. Phải có những nhà văn mới với bản lĩnh kết hợp ngôn ngữ với thẩm mỹ để làm đẹp cho cuộc sống trong đời người và trong xã hội. Cuộc sống ấy đang triển khai trong những không gian được mở rộng dưới những hình thức chưa từng thấy trong quá khứ. Người Việt Nam đã trực tiếp chạm mặt với nhiếu nguồn văn hóa ngoại quốc nhờ truyền thông đại chúng. Không có lý do gì để đi vào cuộc sống này với vốn liếng cũ, rung cảm sáo mòn, kỹ thuật diễn tả chưa thoát khỏi thô sơ. Tờ báo Sáng Tạo được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử này. Và những người khai sinh ra tờ Sáng Tạo, mỗi người một cách, đã cùng nhìn về “hướng” chung ấy, từ “hình thức” đến “nội dung”.

Thanh Tâm Tuyền đã ghi lại công việc cùng làm chung bằng cách riêng trong hai câu thơ của anh:

Đau như thú dữ cháy rừng
Ta đập vỡ hình hài và thức giấc.

Mai Thảo “nhìn xuống dưới ấy” với cặp mắt riêng. Văn phong của tác giả Đêm Giã Từ Hà Nội là của riêng anh, không phải là công trình tập thể những người thường được gọi là Nhóm Sáng Tạo. Doãn Quốc Sỹ tiếp tục kể đủ thứ chuyện bằng ngôn ngữ nguyên chất dân tộc. Trần Thanh Hiệp, làm thơ, viết truyện ngắn và tiểu luận cổ võ đường lối đem nghệ thuật thắng định mệnh. Nguyễn Sỹ Tế trầm tĩnh suy tư về nhân bản và làm thơ, viết văn. Duy Thanh, Ngọc dũng rung động với màu sắc và thi ca. Thái Tuấn vẽ tranh và khi rảnh rỗi thì bàn về nghệ thuật… Trong chừng mực này, Sáng Tạo thực chất là một hiện tượng văn học. Chống Cộng, đương nhiên. Nhưng chống cộng bằng ngôn ngữ, bằng nghệ thuật, bằng văn hóa. Không theo cung cách của những người làm chính trị chống cộng vì quyền lực, đảng tranh.

Với khoảng cách thời gian gần một nửa thế kỷ nay đã đến lúc nên nhấn mạnh trên đặc tính văn học này. Chúng tôi chống cộng để chống mọi thứ quyền lực chà đạp lên nhân phẩm, cướp đoạt tự do của con người. Chúng tôi không theo đuôi, không về hùa với những kẻ làm chính trị chống cộng để cầm quyền. Vì chúng tôi nhờ linh tính đã không thể đánh giá cao đạo đức cũng như khả năng của những nhân vật giữ vai trò lãnh đạo.

Những gì đã đưa tới biến cố 1975 ở miền Nam và sau đó những ứng xử thấp kém diễn ra ở hải ngoại đã biện minh, tuy muộn màng, cho linh tính của chúng tôi. Nhưng chúng tôi vẫn minh bạch đứng dưới ngọn cờ chống cộng và anh em chúng tôi như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên v.v… đã phải trả giá rất đắt cho thái độ lấy đất đứng này. Chính để cho thái độ chung đó được sáng tỏ mà tờ Sáng Tạo đã tự ý đình bản đầu thập niên 1960.

Sáng Tạo đã nói bằng sự im lặng tâm trạng thuận tình tự chế của nó. Tâm trạng của không ít người cầm bút ở Pháp những năm 1940 bị Đức chiếm đóng mà Antoine Saint-Exupéry đã không e ngại phơi trần: “Tôi không bao giờ chối bỏ anh em cùng chiến tuyến của tôi. Nếu họ làm cho tôi phải hổ thẹn thì tôi giữ sự riêng trong lòng sự hổ thẹn ấy mà chẳng cần nói ra…”. Thanh Tâm Tuyền khi phải đi học tập đã trình diện với tư cách Đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Dzư Văn Tâm… Doãn Quốc Sỹ được tiếng chỉ coi nhà tù là nơi để thiền. Nguyễn Sỹ Tế năm lần bảy lượt bị biệt giam và nhân đó lại sáng tác ra hàng trăm bài thơ tiếng Pháp. Trong hồ sơ nghiên cứu về Sáng Tạo những chi tiết kể trên vẫn còn ít người biết ..

Mai Thảo, người kể chuyện bằng văn

Nói Mai Thảo kể chuyện bằng văn có vẻ như muốn lập dị, cho lạ, cho kêu. Đổi lại là Mai Thảo viết văn để kể chuyện thì bình thường hơn, dễ hiểu hơn. Nói như vậy không phải là không có phần xác đáng. Nhưng tôi thấy cần phải tiếp cận vấn đề từ độ góc kể chuyện để tìm hiểu tận gốc văn chương của Mai Thảo. Muốn kể chuyện thì phải có chuyện mà kể và phải biết kể. Khởi đầu là những huyền thoại được truyền tụng bằng miệng. Khi có văn từ thì dùng chữ viết ghi chép. Chuyện là gốc của văn học. Kể chuyện là bước khởi đầu của văn chương. Nhà văn là người có cách kể chuyện đặc biệt bằng thứ tiếng nói đặc biệt mà người ta gọi là văn chương.

Mai Thảo là một trong những nhà văn có số lượng tác phẩm đáng kể (trên 60 đầu sách truyện ngắn, truyện dài, thơ v.v…). Với Thụy Khuê thì Mai Thảo là “nhà văn tài hoa nhất và sáng tác sung mãn nhất của thế hệ ông… (trước 1975 ở trong nước) là đầu tầu của nhóm Sáng Tạo… (sau 1975) ở hải ngoại vẫn là đầu tầu”. Theo một ngòi bút phê bình khác, Bùi Vĩnh Phúc thì “Mai Thảo đã đóng dấu ấn văn chương của mình xuống những trang văn học Việt Nam”. Nhưng lại cũng có người cho rằng Mai Thảo với nhóm Sáng Tạo đi theo con đường “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Ông “đã đóng góp cho một cách làm mới hành văn… những thử nghiệm thành công… những chữ dùng nay đã quen nghe quen thấy nhưng vào những năm 1956-1962 là những cái mới đã làm hơn một người nhăn mặt!”. Tôi cho rằng nếu đổi cách nhìn coi Mai Thảo là người kể chuyện thay vì là nhà văn thì có lẽ sẽ tránh được cho Mai Thảo nhiều lời phê bình thiếu chính xác.

Truyện ngắn hay truyện dài đều là những câu chuyện kể (récit). Mai Thảo đã viết các truyện của mình như thế nào? Tất nhiên không ai phủ nhận được rằng Mai Thảo đã mang lại những điều mới – nếu chưa nói được đã đổi mới – cho văn học Việt nam. Cho tới nay phần lớn chúng ta hay thấy Mai Thảo được phê bình theo tiêu chuẩn văn học sử. Cho đến 1975, văn học sử Việt Nam chưa có được công trình nghiên cứu tương xứng với giá trị đích thực của số tác phẩm văn học ấn hành vào thời điểm nửa phần sau thế kỷ XX. Sự thiếu hụt này cũng chưa được những công trình nghiên cứu, ở hải ngoại, mới và khách quan bù đắp. Nhưng trong mọi trường hợp thì cũng cần phải nhờ ngôn ngữ học hỗ trợ để có những cái nhìn mới về văn học trước khi muốn hoàn thiện văn học sử. Mới, vì nó phải quay về bên trong và có phương pháp luận (méthodologie) để nắm bắt cấu trúc của ngôn ngữ văn học thời đại. Dưới ánh sáng mới này, Mai Thảo sẽ cho thấy quả thật ông đã góp công làm mới văn học Việt Nam.

Xin mở một dấu ngoặc. Hãy tạm rời lãnh vực của môn văn học sử Việt Nam hãy còn ở giai đoạn sơ lập để bước vào thế giới của ngôn ngữ học mà khám phá hiện tượng văn học Mai Thảo. Bước đi này đòi hỏi phải mang theo dụng cụ khảo sát thích hợp nghĩa là khái niệm về các thành tố chính của câu chuyện kể (récit). Câu chuyện này trước tiên phải có “chuyện” (énoncé) để “kể chuyện” (énonciation). Chuyện thì phải thành chuyện rồi để nói cho ai nghe. Trong khung cảnh (thời gian, không gian) nào và kể với mục đích gì. Như thế việc kể chuyện này sẽ đặt ra nhiều vấn đề và một ngành học chuyên môn mới về kể chuyện đã xuất hiện (narratologie). Môn học này có tham vọng cung cấp một thứ siêu-ngôn-ngữ (méta-langue) để thấu hiểu được hết mọi câu chuyện khác nhau.

Áp dụng vào trường hợp nhà văn Mai Thảo, qua các tác phẩm văn chương của ông thì có thể phân biệt “ba” Mai Thảo khác nhau: Mai Thảo trong tác phẩm, Mai Thảo ở ngoài đời và Nguyễn Đăng Quý là con người bằng xương bằng thịt mang bút hiệu Mai Thảo. Mặt khác, khi kể chuyện trong tác phẩm, Mai Thảo có thể ở ngôi thứ nhất trực tiếp kể hay mượn người khác ở ngôi thứ ba kể hay kể chung chung không xác định là ai kể. Ngoài ra, Mai Thảo kể cho người trong chuyện hay người đọc chuyện nghe hay kể cho người ngoài đời nghe, đời nay, đời sau. Và bởi là câu chuyện kể bằng văn chương chữ viết không phải kể truyền khẩu nên người kể và người nghe (đọc) rất cách biệt nhau, khó có thể khẳng định theo một chiều hướng nhất định, nhất là người kể và người đọc lại không cùng thuộc một thế hệ.

Sau nữa, nếu không phải là chuyện có thât thì phải bịa ra một câu chuyện không có, tiếng chuyên môn gọi là hư cấu (fiction). Tức là có thể mượn phần nào sự thật, bóp méo đi, thêm bớt hoặc hoàn toàn tưởng tượng ra từ khung cảnh cho đến nhân vật, tình tiết. Hư cấu để kể cho ai nghe. Điểm này sẽ quyết định cách kể chuyện và trong văn học thì đó là khuôn mặt của văn chương. Có thể nhận định với nhiều dè dặt rằng nhiều nguồn dư luận đã phát biểu cho đến nay về Mai Thảo chưa miêu tả được đủ các mặt của văn chương Mai Thảo. Và cũng có nhiều thiếu sót, sai lầm vì thành kiến hay vì dựa vào phương pháp nghiên cứu lỗi thời.

Mai Thảo là Sáng Tạo nhưng Sáng Tạo không phải là Mai Thảo

Tạp chí Sáng Tạo tự ý đình bản đầu thâp niên 1960. Sau đó sinh hoạt văn nghệ của mấy anh em chúng tôi vẫn tiếp tục, mỗi người một hướng. Mai Thảo tích cực nhất, Doãn Quốc Sỹ và Thanh Tâm Tuyền dành nhiêu thời giờ cho công việc “cầm phấn trước bảng đen” nhưng vẫn không gác bút sáng tác, Nguyễn Sỹ Tế tham chính qua bộ Ngoại giao, vẫn không quên chuyện văn chương, Trần Thanh Hiệp trở lại hành nghề luật sư đều đặn còn gắng thiết lập với Doãn Quốc Sỹ Nhà xuất bản Sáng Tạo trước khi qua Paris tham gia cuộc hòa đàm. Năm 1975 một bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam, bức màn sắt của chuyên chính toàn trị buông xuống cả nước. Sáng Tạo im tiếng từ gần mười lăm năm trước coi như đã đi hẳn vào dĩ vãng nếu đầu thập niên 1980, Mai Thảo không xuất hiện ở hải ngoại và lên tiếng cho Sáng Tạo. Mai Thảo lại “giữ vai trò hải đăng Đêm Giã Từ Hà Nội thời năm tư” (Thụy Khuê).

Người ta nhớ lại tiếng nói Sáng Tạo của Mai Thảo: “Sài Gòn, thủ đô văn hóa Việt Nam. Không phải là một danh từ, một câu nói suông nhạt (…). Sài Gòn đã đứng vào vị trí, đã nhận nhiệm vụ mình sau khi Hà Nội đã từ bỏ nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa đã sáng lên ở đây hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã ở một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ, mạnh sẵn có của Thành phố hòn ngọc của châu Á, tinh hoa của đất nước – đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu văn hóa, trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt của một mùa văn hóa mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ hệ thống …” (Sáng Tạo số ra mắt, 10-1956, do Nguyễn Vy Khanh trích dẫn, Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XX, nxb Đại Nam 2004). Năm 1971, được yêu cầu kể lại chuyện Sáng Tạo, Mai Thảo đã nói: “Chất nổ ném vào. Cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển, ra khơi. Và cuộc cách mạng biện chứng của văn chương đã bắt đầu (…). Trong những thực trạng dày đặc những chất liệu của sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực” (sđd). Mai Thảo đã quảng diễn đoạn kết luận Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam, nhân cuộc thảo luận năm 1960 của một số người đã viết cho Sáng Tạo như sau: “Chúng ta đã làm một cuộc thanh toán với thế hệ trước qua việc xác định lại giá trị đích thực của văn chương nghệ thuật tiền chiến. Chúng ta đã kiểm điểm nhận định trong ý thức hoàn toàn chủ quan của chúng ta với mục đích và hy vọng duy nhất: Cùng với nhau bỏ những ám ảnh quá khứ để nhìn vào thực trạng, khơi mở con đưnờg tiến tới nghệ thuật hôm nay. Có thể thế hệ sau chúng ta sẽ làm lại hành động này với thế hệ chúng ta. Và chúng ta chấp nhận đó là một hành động tất yếu cho sự tiến hóa của nghệ thuật. Nghệ thuật là một vận động biện chứng của hủy diệt và sáng tạo.” (Thảo luận giữa Cung Trầm Tưởng, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Huỳnh Văn Phẩm, Lê Huy Oanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp, nxb Sáng Tạo, Saigon, 1968).

Mai Thảo tuy đã vĩnh viễn vắng mặt nhưng văn chương của ông vẫn hiện diện. Bùi Vĩnh Phúc trong cuốn Lý Luận và Phê Bình của ông xuất bản ở hải ngoại, viết rằng “Mai Thảo chính là tiếng còi. Văn chương của ông cũng là tiếng còi (…) mang lại cho ta những tiếng quê nhà. Làm ta tỉnh thức (…). Nó mở lại cho chúng ta những cảm xúc và những cái đẹp mà, trong chúng và với chúng, ta đã nhìn thấy ta lớn lên”.

Tòa kiến trúc văn học đồ sộ Mai Thảo để lại cho đời sau, theo tôi quả thật Sáng Tạo chẳng có công lao gì.

Trần Thanh Hiệp
Paris, Xuân 2008

Di Tích Một Nụ Hồng. Thơ Hư Vô


Tôi nhặt chùm hoa nhỏ
Thả nỗi buồn qua sông
Còn nghe tiếng cát lở
Theo ngọn sóng trong lòng.

Em dầu gì cũng đã
Là một nhánh gai hồng
Mọc ngang tàng ngạo nghễ
Trên từng vết rêu phong.

Thì làm sao em hiểu
Trong mỗi tiếng thở dài
Có hồn tôi động đậy
Cho vàng bóng heo may!

Còn nhấp nhô dậy mộng
Ngang mặt nước trong ngần
Bóng em đang cùng tận
Một nụ hồng không chân.

Tôi lăn vào vực thẳm
Vết đau bỗng cựa mình
Từ những chồi gai nhọn
Thương tích đã hồi sinh.

Chỗ trái tim rịn máu
Trên mỗi dấu môi trần
Mà em đã bỏ lại
Một di tích tình nhân…

Hư Vô

 

Quán Thơ Hư Vô 295


QUÁN THƠ HƯ VÔ

HIÊN NGƯỜI

Chỗ anh đứng mùa xuân không về nữa
Cổng rào xưa đã mất dấu chân người
Em đâu thấy hồn anh đang mục rã
Theo lá vàng lãng đãng bóng chiều rơi.

Ngày tháng cũ còn nguyên trong tập vở
Những trang thơ em chép mộng ban đầu
Mà anh đã vân vê cho óng ả
Tóc em dài chưa biết thả về đâu!

Để tà áo bay qua cầu vội vã
Đường mưa trơn đâu có lối anh vào
Thì làm sao níu kịp hương mười sáu
Hạt mưa nào đã tan vỡ đời nhau!

Anh trở lại chỗ quen hơi ngày cũ
Cỏ mọc dài theo lối nhện giăng tơ
Nơi sợi tóc em có lần quên chải
Buông hững hờ cho rối những vần thơ!

Mà anh đã gắn hồn nhau vào nét chữ
Mang theo em từng dấu mực, hơi người
Để em đốt cho đầy tàng hương cũ
Vụt nở bừng hiên dã cúc vàng tươi…

Hư Vô

CHỜ…

Chờ nhau..nắng xế đã giòn
Chờ nhau..mưa dầm đã lụn
Chờ nhau..mộng sớm đã tàn
Chờ nhau..dài đêm đã tận..

Chờ nhau..ngày đi khập khiễng
Lênh đênh chiều dạt qua bờ
Sương khói dày thêm chạng vạng
Nỗi buồn từ ấy đa mang..

Chờ nhau..tóc mờ sương lạnh
Trổ màu trên nhánh hoa thơm
Con bướm vàng xưa rũ cánh
Chết trên cành quế lan hương..

Chờ nhau..mùa đi rất vội
Niềm yêu như lá phai hường
Trên đỉnh đời mưa gió nổi
Bay qua ngày bặt tin nhau..

Chờ nhau..tận cùng khoảng cách
Trùng trùng nỗi nhớ thang mây
Đã mỏi chân lầm sa mạc
Thêm gần cát bụi đường bay..

Chờ nhau..lòng xưa đã héo
Chơi vơi bờ mắt thâm quầng
Thôi nhé, chờ nhau kiếp khác
Ngày vô thần đã chia phân..

Chờ nhau..một đời nặng nợ
Người về khuất tịch trong xưa
Thân đã mòn như đá cuội
Lăn trên ngày tháng hững hờ..

Thôi nhé, chờ nhau chi nữa
Đến -đi cũng một chuyến tàu
Xin ghé vào ga cô quạnh
Một lần biết có còn nhau…

Trung Chinh Ho

KHẬP KHIỂNG ĐÔI CHÂN NGÀY TRỞ LẠI

Bóng nhỏ treo nghiêng đầu ngọn bấc
mặc kệ cho năm tháng phiêu bồng
nhà không có vì không ai chứa chấp
một thằng con lạc chợ trôi sông.

Xô dạt từ ngàn năm ánh sáng
tấc lòng kẻ sĩ mảnh như tơ
đã rách nát hơn đời khố rách
mà còn thương tiếc bóng trăng xưa.

Hình như Đỗ Vũ thán tình quê
luân lạc trăm năm còn gọi hè
giày rách gươm cùn phơi cuối bãi
hồn tiêu viễn khách tít sao khuê.

Đem hồn tri kỹ phơi lên đá
tuế nguyệt mơ chi đá chạnh lòng
kinh sử có khi còn đậm nhạt
thì sá gì một khóm bèo sông.

Khập khiểng đôi chân ngày trở lại
hoang vu sương khói đẫm trăng tà
dường như thể phách trăm năm cũ
hãy còn lơ lửng trước phong ba.

Khách dụi mắt nhìn quanh cố xứ
kinh hoàng cổ độ quá tiêu sơ
con sông cái suối ngưng dòng chảy
thì mong đâu đất đợi người chờ.

Trần Yên Thảo

THẢ CÂU TẬN CHÂN TRỜI

Móc mồi trăng thả câu thơ
Từng đàn cá mộng bơi mờ nhân gian
Dắt thơ lẩn thẩn tìm nàng
Trái tim thất thủ đầu hàng nguyên tiêu

Ôm đời vui hắt buồn hiu
Bước đi nào đọng vệt rêu giữa đời
Cái tâm trốn tận phương trời
Bỏ ta ở lại uống lời thị phi

Cuộc người nước vỡ tràn mi
Ngược xuôi giữa chốn sân si hững hờ
Hồn ai khẳm chiếc đò thơ
Đón đưa con chữ qua bờ tịch liêu

Môi khô đắng một ngụm chiều
Chìm tâm tư dưới lời yêu xa vời
Mồi thơ thả đến chân trời
May ra câu được một người yêu xa!

Lưu Xông Pha

NGHE…

Nghe người nhắc chiếc cầu cong
Và con sông chỉ một dòng trong thôi
Là tui đã thấy …ui trời
Ấu thơ hiển hiện, lòng vời vợi thương…

Nghe đàn kêu chỉ một phương
Mà răng quặn thắt đêm trường không yên?
Răng, ri, rứa…dư âm quen
Lại nghe chi lạ nỗi niềm Huyền Trân!

Chùa cong mái nhớ phân vân
Bên ni ngược dốc phong trần ai xưa?
Giang hồ rót cạn tinh mơ
Hồi hương cũng chỉ câu thơ nao lòng…

Đôi khi tui rất cực lòng
Muốn dắt mà ngại… bậu không chịu về!
Xứ chi mưa buồn ri thê
Nắng điên tiết nắng, sầu lê thê sầu…

Trần Dzạ Lữ

ĐÊM Ở RỪNG CÁT TIÊN

Đêm Cát Tiên ta nằm nghe rừng kể
Chuyện ngàn xưa trong tiếng sóng Đồng Nai
Ngày qua đây phà oằn mình vượt lũ
Nước từ đâu cuồn cuộn bến sông đầy.

Con đường mòn tìm dấu chân phía trước
Tầng lá khô ủ mục tự bao giờ
Mới hôm qua cơn mưa rừng trút nước
Sáng bừng lên vàng nắng đẹp hơn tơ.

Ta đứng dưới gốc bằng lăng cổ thụ
Từng khối nu hình dáng thật lạ kỳ
Suối róc rách trườn mình qua đá nhủ
Che rợp trời xanh thẩm tán cây si.

Con tê giác cuối cùng vừa mất dấu
Vùng giáp biên lòng nghe quạnh khôn cùng
Tiếng gà gáy ba nơi đều nghe rõ
Lời của rừng âm vọng đến rưng rưng.

Màu mây trắng giữa Thác Trời hùng vĩ
Em có nghe tiếng hát của đất trời
Hãy cùng ta đắm mình vào mộng mị
Chốn đại ngàn hồng bếp lửa đêm trôi.

Nguyễn An Bình

CÓ ĐỢI TÔI KHÔNG

sáng nay em vừa qua ngõ
mang theo hương sớm thu vàng
một người bên hiên ngồi đợi
chập chùng mây gọi mùa sang

em hay là thu vậy nhỉ
để tôi mơ một góc trời
có con bướm vàng thủ thỉ
nghe chừng thu nhẹ nhàng trôi

chẳng lẽ thu về lạc lối
tôi chưa kịp gửi câu chào
em ơi bước đừng đi vội
vẫn còn màu nắng nghiêng chao

hay thu còn vương nỗi nhớ
mây trôi ngập mấy phương trời
hái những đợi chờ mê mải
tôi ngồi đếm những mùa rơi

tiếng guốc khua hồn tôi dậy
miên man sương khói bềnh bồng
ơi em tình hồng trang giấy
có chờ có đợi tôi không…

nguyễn minh phúc

KHI GIÓ TÂY NAM VỀ

Gió mùa Tây Nam lồng lộng
Thổi về trên ngã ba sông
Em thả chiều trên ngọn sóng
Lăn tăn những giọt tình không

Gió mùa Tây Nam vẫn thổi
Chở mây giăng xám khung trời
Em bước chân về chi vội?
Để chiều còn lại mình tôi!

Tháng tám trời mưa cuối hạ
Chiều còn lãng đãng hơi thu
Em xưa treo đầu ngọn nhớ
Tôi xưa nay bạc mái đầu

Tây Nam còn chiều gió lộng
Sông dài vẫn chở mùa đi
Em thả tình trên ngọn sóng
Trôi theo một thuở xuân thì…

Sông Trẹm

QUÁN THƠ HƯ VÔ 295

Gọi Tên Em Nắng-An-Xuyên. Thơ Hư Vô


EFB982AD-3771-476C-9626-C9071D4C66C5

Gọi tên em Nắng-An-Xuyên
Nghe tà áo đã bay nghiêng phố phường
Gọi tên nhau Nắng-Sân-Trường
Em vui cổng trước tôi buồn cổng sau.

Tóc em chẻ phía vai nào
Chưa qua Cường Để đã vào Lý Bôn?
Hàng cây như có linh hồn
Đường áo trắng Lý Thái Tôn chợt dài.

Gió đùa quanh ngọn tóc ai
Lùa hương con gái cho đầy tay không
Em về, qua phố Gia Long
Nghiêng theo chiếc bóng bên sông đợi chờ.

Sóng xô mất dấu bến bờ
Giàn thiên lý xưa đã trơ trụi cành
Lối vào Đề Thám lạnh tanh
Còn nghe tiếng gọi thất thanh cuối đường.

Chỗ em đánh rớt mùi hương
Hồn tôi lãng đãng sân trường, đó em!

Hư Vô

Giấc Ngủ. Truyện ngắn Duy Thanh


Duy Thanh

Giấc Ngủ

À mày lại còn chối hả? im miệng hả? Thằng nào nó ngủ với mày thì phải khai ra, cái bụng mày nó chương phềnh ra thế kia thì còn giấu vào đâu hở con mụ ranh. Mày định làm xấu mặt cả làng này hay sao? Nói ngay để tao bỏ tù nó. Phép tắc luân lý ở đây đâu có đốn mạt như thế bao giờ? Mày làm bêu mặt chúng tao. Rồi mai đây báo chí đăng rầm cái tin khốn nạn này thì thể thống làng này còn ra cái gì hở… hở?

Y hồng hộc chỉ vào mặt tôi mà mắng như tát nước. Phải, tôi chửa hoang. Con mụ Tư thọt này chửa hoang đây, đứa nào làm gì thì làm, tôi hét to trong bụng tôi như vậy. Nếu tôi mà đứng được dậy thì thách y chửi tôi đấy. Tôi sẽ chồm lên mà xé tan cái mặt y ra, chứ tôi sợ gì cái mặt thịt ngồng ngộng bộ râu cá trê đáng ghét.

Y quay ra như phân vua với mọi người: Tiên nhân nó chứ, cái mặt nó cứ lầm lì như thế kia thì làm sao mà khảo được. Cái thá mày thì gọi là cho lên máy chém. Y lại xổ vào tôi mà thét: Gan, gan hở? ông thời bóp chết như ngoé. Tôi giơ tay chùi những tia nước bọt phì cả vào mặt. Nơi tay áo vải nâu đã bạc phếch, sờm ra và có mùi khăn khẳn. Ánh nắng chói làm tôi bật hắt hơi. Tức thì y lùi lại dang tay tát tôi đánh bốp kèm theo một câu chửi thật bẩn. Mấy mụ đàn bà ở bên ngoài cười rộ vì thấy tôi hực lên rồi vật đầu vào vách. Nhưng họ lại im ngay. Một không khí lo ngại trùm trong căn nhà họp của xóm. Trong đám đông có người nói to:

– Thôi đi ông Xã, nó đã không khai thì khảo mãi cũng vô ích, nhất là chị ta cũng đương bụng mang dạ chửa.

Một giọng khác phản đối:

– Sao lại không, phải bắt nó khai chứ còn thế nào. Cứ đánh bỏ mẹ thì thế nào nó cũng phải nói. Thế mà mấy tháng nay cứ tưởng chị chàng bị báng hay bệnh gì. Ðến bây giờ nó chềnh ềnh như cái trống mới thấy nhé.

Lão Xã trưởng được thể quay lại doạ tôi:

– Mày mà không khai thì còn là khổ, con ạ.

Giọng y ngọt hơn: Ờ thì cứ nói xem thằng nào, rồi tao bắt nó phải lấy mày. Chứ không biết ai thì cứ gọi là tức hộc máu.

Y hoa tay một vòng rồi nói với đám người xung quanh:

– Tôi nói thế có phải không các ông các bà?

– Kể cũng tức thật đấy, nhưng chị ta cứ không chịu nói là ai thì làm thế nào. Hay là cứ để cho chị ấy đẻ đi đã rồi trông đứa bé nó giống ai thì nó sờ sờ ra chứ còn gì nữa.
Một giọng nữa tiếp:

– Ấy chết không được, sợ cứ trông rồi đoán tầm bậy thì lại khốn khổ nhiều anh.
Mấy cô gái làng thấy câu nói lý thú bấm nhau cười cung cúc.

Tôi trông thấy chúng nó mà ghét tệ. Chúng nó đẹp, chúng nó xinh, chúng nó có chồng con, có nhân tình nhân ngãi. Còn tôi thì sống lết lê, chẳng ai thèm để ý. Hai chân tôi nó quặt đi nhỏ bằng cái ống sậy. Tôi đi bằng tay lê la như một con chó. Con chó còn sướng hơn bởi nó có bốn chân nó chạy. Còn tôi từ xó nhà ra đầu ngõ, rồi từ ngõ vào đến vườn là hết. Từ xưa chưa hề có ai để ý đến tôi cả, họ nhìn tôi như một con vật. Với ai tôi cũng phải ngửa đầu nhìn lên. Cho đến bây giờ tôi có chửa họ mới vụt nhận ra tôi cũng là người như họ. Tôi có chửa. Con mụ Tư thọt có chửa thì còn trời đất nào. Với ai? Có lẽ họ muốn biết để thoả tính tò mò, tôi còn lạ gì. Lão Xã trưởng nó hứa hẹn với tôi rằng khai ra thì gả kẻ đó cho tôi, lúc thì y lại bảo khai ra để y bỏ tù người ấy. Dễ tôi mới đẻ hôm qua chắc. Năm nay tôi ba mươi hai tuổi đầu và chưa hề nằm ngủ với người đàn ông nào trong đời, trừ một lần cách đây năm tháng. Cái bào thai trong bụng này là của anh ta. Nhưng đừng có hòng tôi nói ra… Tôi giữ cái kỷ niệm, cái hình ảnh ấy cho mình tôi. Tôi cho là đẹp, tôi ôm ấp cái hình ảnh ấy mặc cho họ rủa sả. Tôi chắc anh ta còn hối hận về phút cuồng dâm bữa ấy. Với tôi thì không. Tôi yêu. Tôi chắc anh ta sẽ tự tử nếu tôi khai tên anh ta ra. Mà sao tôi lại nói? Tôi thì mong lấy gì ai? Tôi lê đi dưới đất như một con chó. Tôi với cái bướu trên lưng. Tôi với hình người chẳng ra người. Ai cười thì cười. Ðứa trẻ nào trông thấy tôi cũng chế nhạo. Lũ người lớn thì coi tôi như không có trên thế gian này. Mỗi lần nhìn tôi sao họ có vẻ hợm hĩnh thế. Tôi thù họ. Cho đến ngày nay thì tôi trả được cái thù này. Tôi có chửa với một người của họ. Một gã đàn ông. Tôi sướng khoái với cảm giác thấy họ bị dằn vặt đau khổ. Thì ra lần đầu tôi được chú ý tới. Tôi là cái mốc cho họ bàn tán, ghen ghét. Lần đầu tiên họ nhận thấy có tôi trên cõi đời.

Mẹ tôi mang một nắm lạt tre để xuống bên cạnh tôi. Tôi vẫn tiếp tục đan thành hình một cái giỏ. Thấy người thở dài, tôi chỉ bảo:

– Bầm khỏi phải lo, chẳng ai làm gì được mẹ con ta cả. Còn người ấy thì nhất định con không nói ra đâu. Anh ta chẳng có tội gì hết. Con cũng không, con sẽ đẻ. Và sẽ nuôi đứa trẻ này.

Mẹ tôi nắm lấy tay tôi, tôi nhìn xuống bàn tay gầy guộc đầy gân xám to bằng con giun. Bàn tay tôi cũng sần lên như một bàn chân. Chưa ai ở làng này xấu bằng tôi. Thế mà tôi sắp có con với anh ta, với đứa con giai có vợ sắp cưới là cái Gái ở xóm dưới. Con bé vào loại nhất nhì trong làng. Tiếng mẹ tôi run run khàn khàn trong cái tĩnh mịch của chiều xuống. Tiếng lạt tre cọ vào nhau dưới ngón tay tôi đưa đẩy.

– Buổi chiều ông Xã có bảo với bầm rằng phải về dỗ ngon dỗ ngọt cho mày nói tên người ấy ra, không thì ông ấy đuổi ra khỏi làng. Bây giờ bầm già rồi, chỉ muốn yên phận. Vậy tùy mày xử trí thế nào thì xử. Đời bầm đã khổ nhiều từ ngày lấy bố mày.

Mẹ tôi không nói hết câu, cái hình ảnh cuối cùng là người bố chìm và tan trong một tiếng nấc. Buổi chiều lạnh và mênh mông như một cánh rừng: chơ vơ, lạc hướng. Tôi hình dung lại hình dáng người cha từ thuở nào xa lắm, cái hơi nồng của men rượu, những câu rủa tục tằn lúc nào cũng đeo trên đôi môi dày thâm sịt. Tôi biết mẹ tôi khổ nhiều, kể cả vì tôi. Không hiểu sao những kiếp người như chúng tôi lại cứ có trên cuộc đời. Đã thế lại còn bám vào cái sống không chịu buông. Ngày bố tôi chết vì say rượu trượt chân ngã xuống ao thì cả làng như bớt một gánh nặng. Chính tôi cũng không cảm thấy thương tiếc. Chúng tôi vẫn sống cái kiếp sống của con người vật, dài và buồn nản.

Tôi sờ tay lên gò má còn hằn ngón tay của lão xã, chưa bao giờ tôi thù y đến như thế. Y lại còn muốn làm khổ mẹ tôi. Với tôi như thế chưa đủ hay sao? Đã thế tôi sẽ làm cho y điên đảo. Tôi sẽ khai quách cho cháu y rồi muốn ra sao thì ra. Tôi nhớ lại cái gã đàn ông nặng nề và chậm chạp thỉnh thoảng qua ngõ nhà tôi. Đã có lần tôi ước ao ngủ với hắn và được hít cái mùi hoi hoi của chính người hắn đang vương trong không khí.

Cúi đầu xuống, tôi lại nghĩ đến cái thằng người con ngoi ngóp trong ấy. Nó đương ngọ nguậy, nhè nhẹ nhè nhẹ, nhưng nhiều khi nó cũng làm tôi đau nghiến. Tôi kéo bàn tay mẹ tôi để lên bụng:

– Bầm sắp có cháu bế.

Mẹ tôi yên lặng một lúc rồi bỗng nhiên nói:

– Mày đã định đặt tên nó là gì chưa?

– Chưa, bầm ạ.

Ba chúng tôi cùng ngồi yên, cùng nghĩ tới nhau, chưa bao giờ tôi thấy yêu mẹ tôi, yêu con tôi và yêu anh ta đến thế. tại sao tôi không đối phó để giữ những gì tôi ấp ủ?

– Bầm ạ, tôi thấy nóng mặt vì sắp nói dối mẹ tôi. Anh Ba đấy.

– Ba nào? Tiếng mẹ tôi lo âu.

– Ba, cháu ông Xã ấy mà.

Mẹ tôi chậm rãi đứng dậy chép miệng thở dài. Tôi biết người lo ngại viên xã trưởng. Tôi thì chẳng sợ gì. Y là một thứ vũ phu, y khảo tôi vì tò mò mà cũng để sĩ diện với làng xóm là mình có uy quyền. Đời nào y dám đuổi mẹ con tôi ra khỏi làng này.

– Thôi tao đi nằm đã, rồi cũng liệu mà đóng cửa Tư ạ, xẩm tối rồi.
Mẹ tôi quờ quạng tìm chiếc đèn dầu mắc ở xó nhà, châm lửa. Ánh đỏ chập chờn hoa lên trong chạng vạng của bóng tối vừa xuống. Tôi nói:

– Để con cố đan nốt chiếc giỏ này đã bầm ạ, gần xong rồi.

– Liệu mà nghỉ sớm cho khoẻ.

Mảnh trăng thượng tuần nhô lên sau đám mây dầy, lạnh lùng, đơn độc.
Tôi nhớ lại cái đêm tôi gặp anh ta, trăng cũng như thế này nhưng vào khuya hơn chút nữa. Lần đầu tôi biết một người đàn ông. Từ đó đêm nào tôi cũng nghĩ đến anh ta, cái hình ảnh ấy đến với tôi như một ám ảnh vĩnh viễn. Tôi mê cái ám ảnh đó mỗi buổi chiều tắt đi.

– Đừng anh, đừng ở đây.

Tiếng người con gái van vỉ. Giọng người đàn ông như lạc đi:

– Không, để yên nào.

– Nhưng anh vừa uống rượu với lại…

Câu nói bị đứt quãng bởi một bàn tay giật mạnh. Người con gái kêu lên một tiếng nhỏ rồi giằng ra. Tiếng xoạt của vải rách kèm theo một tiếng rủa ngắn. Tiếng chân chạy xa và gã đàn ông rên lên. Hắn loạng choạng bíu vào cành tre lả gần mặt. Tôi nghe thấy tiếng thở hừng hực. Lúc hắn đi quành ra đằng sau cậy rơm để ngồi xuống thì hắn há miệng vì ngạc nhiên. Một hình thù ngồi đấy tự bao giờ. Đó là tôi, một con vật giống cái. Thỉnh thoảng tôi vẫn bò ra ngồi chỗ này hóng mát, vì nó ở ngay phía sau nhà tôi, cạnh con đường ven làng. Lần này tôi đã thiu thiu chợp được một giấc khá dài. Trăng lấp sau bụi tre và bóng người đàn ông chỉ còn là một khối đen lớn trên nền sẩm của lá.

Anh ta chập choạng đi đến phía tôi rồi quỳ thụp xuống nhìn vào tận mặt. Hơi rượu cay cay làm tôi muốn bật ho. Một con muỗi bay bên lỗ tai vo vo, anh ta giơ tay đập cái đét rồi ôm choàng lấy tôi.

Tôi không kêu nhưng cố đẩy anh ta ra kịch liệt. Mà tại sao tôi lại chống cự cơ chứ? Tôi thường mơ ước được ngửi hơi thở một người đàn ông và lần này tôi đã được. Anh ta ở ngay trên tôi. Anh ta với những bắp thịt rắn đanh. Tay tôi ghì lấy lưng áo sâm sấp mồ hôi hay vì sương xuống tôi không biết. Ánh trăng rất mờ, đám mây xám đảo trên trời như bão hay bão ở lòng tôi, tôi cũng không hay.

Rồi anh ta buông tôi và bỏ đi giữa lúc tôi nằm yên trên cỏ. Mùi rơm hăng và thơm như lúa mới, nhưng không làm tôi quên cái mùi người anh ta, và tiếng chân bỏ xa trên đất cũng không làm tôi trở mình. Tôi nằm đấy suốt đêm với con trăng ướt lạnh, với những vòng hào quang thần thánh quay cuồng không gian.

Quả nhiên sự báo thù của tôi lại công hiệu. Viên xã trưởng thấy mẹ tôi nói là cháu hắn ta thì tái người. Y cũng không dám đánh tôi vì có người nói tôi mà trụy thai thì y không khéo mất chức mà lại khốn khổ. Mẹ tôi chỉ luôn miệng van xin. Người này, người nọ mỗi người hỏi một câu, chêm vào một chuyện. Lúc tôi trông thấy cái mặt tái xám của anh Ba thì lại không cầm lòng thương. Tôi bèn đổ đại cho một chàng khác. Rồi lại một tên nữa bay ra, khiến cả làng hoang mang. Họ càng tra hỏi thì lại càng lúng túng bởi những câu trả lời của tôi. Tôi dám chắc rằng cả đời chưa bao giờ tôi lại nguy hiểm đến như thế. Tôi không còn là một con chó thường nữa mà là một con chó dại khiến mọi người sợ điên lên. Tôi thú vị vì trả thù được những đứa con gái hợm hĩnh có tình nhân hoặc chồng bị ghép ngủ với tôi. Bao nhiêu chàng ê chề, nhục nhã và ngượng đến phát sốt rét vì bị mang cái tiếng tăm đó. Thế ra tôi đã ngủ hết với họ theo tưởng tượng của mọi người. Tôi trở thành một thần tượng cho mọi người sợ và ghét.

Chỉ vì mày đấy con ạ, ôi cái hòn máu bé nhỏ là con của mẹ. Mẹ ước ao rằng sinh ra con hoàn toàn là một người chứ không phải là con vật nữa. Mẹ mang con trong bụng mẹ và lê con trên mặt đất. Mỗi một thước dài là mẹ lại cảm thấy sự có mặt của con và nỗi yêu đương của mẹ.

Tôi thấy nó cười trong tôi, tê tái như sau đêm anh ta đến, và tự nhiên tôi thấy yêu cả cuộc đời. Lão xã trưởng với bộ râu trê ngồng ngộng không còn đáng ghét nữa, y có thể tát tôi dăm bảy cái liền. Tôi cũng không còn ghét những đứa con giai, con gái làng lầm lì nhìn tôi một cách hằn học. Bởi vì tôi đã báo được thù, tôi đã cho họ nhận thấy là tôi ngang hàng với họ, những kẻ có hai cẳng đứng hẳn hòi. Ý tưởng đó làm tôi suýt bật cười thành tiếng. Một người đàn bà sấn đến cạnh tôi vừa chửi vừa định đánh. May mà có một người khác giữ lại:

– Tiên sư nó chứ, chồng bà đâu có ngủ lang với cái thứ mày hởi con giời đánh kia. Bà chỉ cho mấy thanh củi là mày chết bỏ đời.

– Thôi thì bác chấp làm gì. Chị ta dở hơi đấy mà. Đánh chửi lắm nó lại càng khai tầm bậy. Với lại cái mã ấy cũng chẳng sống được đâu. Người như thế làm sao mà đẻ với đái được.

Câu nói đâm vào phổi tôi buốt như một cây kim nhọn.

Tôi nghĩ đến thằng người con trong bụng. Không! Nó còn sống, nó đang sống, nó phải sống. Nó đang ngọ nguậy trong tôi, làm sao nó lại chết được. Tôi bằng lòng chết cho nó sống. Tôi bằng lòng chết mà không cần oán hờn gì ai hết, kể cả anh ta. Mà tôi phải biết ơn mới đúng chứ. Anh ta đã cho tôi dư vị của sự sống. Sự sống tràn trề bùng lên như lửa.

– Không, tôi không chết, các người đi đi.

Tôi hét lên, và mọi người lầm lũi tản ra.Họ vẫn sợ tôi như một con chó dại.
Thế rồi câu chuyện cũng hơi nguôi mặc dầu bụng tôi ngày mỗi lớn. Tôi không lê được nữa. Tôi ở nhà. Mẹ tôi cũng lo ngại bảo với tôi:

– Bầm hỏi bà mụ ở làng thì bà ấy bảo phải đem mày ra tỉnh mới đủ thuốc.

Người lại chép miệng: Thì người ta cũng sợ không làm nổi, nhỡ có sao lại khốn cả hai mẹ con.

Tôi phải đi vì tôi muốn con tôi sống, nó sống để làm người. Mà tôi còn tiếc gì cái làng này khi người ta nhìn đến tôi như một con người vật.

Chúng tôi thu xếp lên tỉnh.

Lần đi này, tôi có cảm giác sẽ không bao giờ trở về nữa. Giã từ tất cả, căn nhà, bụi tre, đống rạ sau nhà. Tôi chỉ mang đi toàn hình ảnh. Những hình ảnh se thắt lại trong những cơn đau dữ dội từng hồi.

Vị bác sĩ khám cho tôi xong quay lại bảo nhỏ với cô nữ y tá tay cầm bút ghi chép. Mẹ tôi thì lo âu nhìn hai người.

– Sản phụ phải ở đây tĩnh dưỡng cho đến ngày sinh nở. Vị bác sĩ nói. Trường hợp này phải mổ để lấy đứa bé ra mới hy vọng cứu cả hai mẹ con. Nhưng tình trạng của sản phụ nguy hơn. Dù sao chúng tôi cũng cố gắng.

Không, nó sẽ sống, tôi kêu thầm như vậy. Tôi bằng lòng hy sinh để nó sống.

Nằm trên giường sắt trắng, tôi như chói mắt vì sắc trắng của trần nhà và buồn nôn vì cái không khí của nhà thương. Những sản phụ khác cũng nhìn tôi bằng con mắt tọc mạch. Chắc họ cũng tự hỏi làm sao một người như tôi lại có chửa như họ được. Và loáng thoáng tôi cũng nghe thấy những tiếng xầm xì từ giường này qua giường khác. Nhưng tôi thì cần gì nghĩ đến họ. Tôi nghĩ đến đứa con tôi, đến cái đêm mà trời như đổ xuống. Da tôi tê đi, ràn rạn như có sự cọ sát của những sợi râu thưa đâm vào má. Mẹ tôi nói:

– Tao lo cho mày, Tư ạ… nhỡ làm sao.

Tôi ngắt lời khe khẽ:

– Bầm khỏi lo, rồi bầm có cháu bế mà. Còn con thì…

Tôi cũng không nói hết câu nhưng mẹ tôi cũng thừa hiểu.

– Có gì bầm nuôi nó.

Giọng nói của tôi nghẹn trong cuống họng, chúng tôi im lặng mỗi người một ý nghĩ. Đêm ấy tôi mơ thấy tôi đi về làng như một người thường. Bằng hai chân. Ai nấy đều chào hỏi tôi như chính tôi cảm thấy từ trước mình vẫn là người thường. Đến nhà thì có một thằng nhỏ ra đón với mẹ tôi. Trông tôi thằng bé chỉ cười. Mẹ tôi dắt nó đến và bảo: Sao không chào mẹ mày đi. Tôi giơ tay bế nó hôn, rồi hai mẹ con dong chơi trong vườn. Giữa lúc đang đùa với con và đang sống tràn trề hạnh phúc thì tôi hãi hùng chợt thấy cảnh vật như lớn lên và tôi nhỏ dần, nhỏ dần lại. Một cảm giác ớn lạnh suốt sống lưng và tôi chợt thức dậy. Bấy giờ còn là đêm. Đầu phòng một ngọn đèn còn le lói và qua khung kính nhỏ trời sao lấp lánh. Căn phòng lặng lẽ như một chiếc quan tài.

Tôi đặt tay lên bụng mỉm cười nghĩ đến nó rồi lại ngủ thiếp đi.

Duy Thanh

(Nguồn: FB Tien Dang)

Quán Thơ Hư Vô 294


Quán Thơ Hư Vô

CHÉM TRĂNG

Ta vung đường cùng tận
Chém gục một vầng trăng
Rụng vàng đêm nguyệt lộ
Một bóng dáng tình nhân.

Em kiêu kỳ huyền hoặc
Trong nhan sắc ngang tàng
Lạnh như thanh kiếm bạt
Đâm thấu người tình tan.

Một đường gươm lãng mạn
Bén ngót nét xuân thì
Chém cho đời hung bạo
Nghiêng thành quách uy nghi.

Mắt em xanh như ngọc
Từ tiếng khóc lẻ loi
Ngọn gươm ngời phóng tới
Giọt nước mắt vỡ đôi!

Hư Vô

DỪNG BƯỚC PHIÊU LINH…NHỚ MẸ HIỀN

Dừng bước bên sông, chiều cháy chậm
Phiêu linh hề! Đất Trích sương mai
Con chim còn biết kêu nguồn cội
Huống hồ ta máu đỏ tim người?

Phong trần không khóc mẹ hiền ơi
Mà xé lòng ra nhớ một trời…
Ngực trái bông hồng kia trắng nụ
Từ tuổi mười ba đã ngậm ngùi…

Cô hồn tháng bảy cõng chơi vơi
Sống biệt phương xa, chết nửa vời
Ôm đàn hát hỏng…tình rưng rét
Để tiếc non tơ lá thiếu thời

Chí lụn, gươm cùn, gương chẳng soi
Tóc râu cổ quái, mộng tan rồi
Giờ chỉ khát khao lời của mẹ
Ngọt lành như thuở mới nằm nôi…

Trần Dzạ Lữ

ĐÊM PHỐ THỊ

Đêm phố thị không còn vẹn vầng trăng
đời ruộng mạ hóa tường vôi vách gạch
buồn ngồi nhớ một thời mương rạch
hoa vàng xanh biếc những vòm cây

Lòng nước trong ngần trĩu nặng mây
rong rêu ngủ giữa đôi bờ cá lội
cuối trời xa đất nằm thở khói
sân vườn cỏ mục ủ nồng hương

Chiều gầy mái lá mờ sương
giàn mướp đơm bông thòng tay chờ hái
gió từ ngàn xưa thổi lại
chập chùng lũ bướm tự nhiên vui

Cột điện chôn chân ngậm ngùi
bốn bề trống trơn không còn cỏ
đèn khuya trơ mắt đỏ
kẽ đá đục khàn con dế khóc âm âm

Trần Minh Tạo

THU

Hồn lính vương qua vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay.
(Quang Dũng)

Có người hỏi em thu vừa tới,
Hoa cúc đâu rồi bên vườn xưa
Áo vàng tha thướt chân qua ngõ
Để lạc thơ người giữa cơn mưa

Có người hỏi em còn tóc xõa
Mượt mà nhung lụa buổi ban mai
Sợi bay se sắt qua hồn lính
Sợi dấu ngập ngừng cuối lòng tay

Có người hỏi em còn mắt lệ
Nhỏ xuống vườn khuya nửa đêm thâu
Bài ca từ thuở trăng chưa khuyết
Nguyệt đã tàn rồi vẫn xót đau

Em cũ kỹ, mùa xưa cũ kỹ
Nhớ chi người, thuở chẳng còn nhau
Chiều xõa tóc một mình trong gió
Hỏi muôn trùng, hỡi cố nhân đâu…

Hoàng Nga

HỒN NHIÊN

Em hãy cứ là em như thế mãi
Cho tôi yêu từ thuở mới biết yêu
Đôi mắt đó một thoáng nhìn mê dại
Đã in sâu vào trí nhớ sớm chiều

Hồn nhiên thôi từng bước chân em đến
Tôi ngẩn ngơ nhìn sỏi đá cúi đầu
Lòng rộn rã cùng cỏ cây trìu mến
Mới hiểu rằng cây cỏ biết thương đau

Chỉ nhoẻn cười xin em thôi đừng nói
Buồn trong tôi cũng đủ để bay trôi
Đường gập ghềnh quanh co bao nhiêu lối
Đâu dễ làm rối bước mối tình tôi

2018
Ninh Trần

DƯỚI TÁN RỪNG CÁT TIÊN

Dưới tán rừng ẩm ướt
Ta lần tìm dấu chân
Đường mòn quanh phía trước
Hình như mưa xóa dần.

Cơn mưa rừng ào ạt
Chợt đến rồi chợt đi
Vắt rình theo bám chặt
Từng bước hay từng ly?

Gốc bằng lăng cổ thụ
Ngáng đường sợi mây giăng
Chim rừng còn say ngủ
Bùn quếnh đặc dưới chân.

Nắng sau mưa vàng óng
Lấp lánh qua tàng cây
Suối chảy quanh lèn đá
Hương rừng tràn quanh đây.

Nơi nào là Bàu Sấu
Chấp chới đàn bướm bay
Cây si trăm thân mọc
Tiếng nhạc rừng ngất ngây.

Mơ thấy nàng công chúa
Ngủ say trong rừng già
Đẹp như trong cổ tích
Ta say đắm hồn hoa

Nguyễn An Bình

SẼ KHÔNG GẶP MẸ NỮA RỒI

Ngày tôi xa mẹ đến gần
Khi hoàng hôn sắp lặng thầm bước qua
Liêu xiêu chiếc bóng mẹ già
Cành khô rụng lá lạc loài bóng tôi

Ai mà chẳng phải mồ côi
Rau răm ở lại cải trôi về trời
Tuổi già như giọt sương thôi
Giờ ngồi đếm tóc mẹ tôi rụng nhiều

À ơi trong ngẩn ngơ chiều
Mẹ mang câu hát dặt dìu ru tôi
Ơi à trong bóng đơn côi
Mẹ giành gánh hết nổi trôi phận người

Nhăn nheo đôi mắt mẹ cười
Ngày ru tôi ngủ bên trời gió giông
Một mình một bóng chờ mong
Mẹ ngồi xiêu vẹo mênh mông gió chiều

Lặng thầm trong khói tịch liêu
Gió hiu hắt thổi dặt dìu mây trôi
Thương sao dáng mẹ tôi ngồi
Trả bao thương nhớ lại đời cho tôi

Sẽ không còn gặp mẹ rồi
Ngày tôi ngồi khóc mồ côi mẹ mình…

nguyễn minh phúc

ĐÃ ĐỜI

Tôi nằm nghe tôi ru tôi
Tiếng ru như của ai ngồi bên ru
Ru hoài cũng úa chiếc thu
Lời tôi rụng xuống mịt mù tuổi thơ

Tôi ngồi nghe tôi ru mơ
Ngoài hiên trời thả trắng tờ sắc không
Để buồn con sáo sang sông
Tuổi thơ tôi cũng xổ lồng bay xa

Tôi ru tôi mãi cũng già
Thời gian vỗ cánh vù qua nẻo đời
Tôi đi mòn hết chân trời
Tóc râu bệt bạc đã đời tôi chưa

phan ni tấn

VỀ HỘI AN MỚI THẤY BUỒN

có phải đây thành phố bao giờ
có hồn ta mát lụa vàng xưa
để rơi nước mắt thời lưu lạc
chừng buổi về thăm đã tuyệt mù

phải thưở yêu người ta ở đây
qua sân trường tình bao nhiêu ngày
tình như ta có ai hơn được
mà chắc trọn đời người không hay?

khi ta về lạ cả người quen
khi ta về sợ ngõ nhà em
dẫu chẳng sá chi đời ghẻ lạnh
vẫn thấy lòng đau cuộc lãng quên .

thà ở quê người ta được khóc
nuôi hoài một nỗi nhớ huy hoàng
cứ tưởng em còn thương giấc mộng
cứ tưởng thuyền chưa nỡ quá giang

ai lại về khi trời sang đông
ai lại về đứng ngó bờ sông
khi đưa tay níu thân cầu gãy
buồn như mưa, buồn ơi vô chừng…

(1971)
Hoàng Lộc

Quán Thơ Hư Vô

Hiên Người. Thơ Hư Vô


Hiên Người
(Hiên Người. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Chỗ anh đứng mùa xuân không về nữa
Cổng rào xưa đã mất dấu chân người
Em đâu thấy hồn anh đang mục rã
Theo lá vàng lãng đãng bóng chiều rơi.

Ngày tháng cũ còn nguyên trong tập vở
Những trang thơ em chép mộng ban đầu
Mà anh đã vân vê cho óng ả
Tóc em dài chưa biết thả về đâu!

Để tà áo bay qua cầu vội vã
Đường mưa trơn đâu có lối anh vào
Thì làm sao níu kịp hương mười sáu
Hạt mưa nào đã tan vỡ đời nhau!

Anh trở lại chỗ quen hơi ngày cũ
Cỏ mọc dài theo lối nhện giăng tơ
Nơi sợi tóc em có lần quên chải
Buông hững hờ cho rối những vần thơ!

Mà anh đã gắn hồn nhau vào nét chữ
Mang theo em từng dấu mực, hơi người
Để em đốt cho đầy tàng hương cũ
Vụt nở bừng hiên dã cúc vàng tươi…

Hư Vô

Đường Vào Trần Gian. Truyện ngắn Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Mịt mù khói lửa binh đao
Thiên Thần gẫy cánh lạc vào trần gian

– Nào! Một, hai, ba, hấp!

Lưng của Tư Híp khom xuống và thằng Út đứng ở xa, vừa toét miệng ra cười, vừa phóng tới, hai cánh tay gầy guộc và đen đủi của nó ôm chầm lấy cổ anh, đồng thời cái mông ốm tong teo của nó theo đà phóng tới. Trong một thoáng, thằng bé đã bíu gọn gàng được trên mảng lưng to như cánh phản của anh nó, như một con nhái bấu trên một ống tre vầu. Tư Híp xốc lại mình một lần nữa cho chắc ăn rồi đứng dậy. Gã hỏi:
– Tè rồi chưa?
Thằng bé đáp lại bằng cách nhún nhẩy như nó đang ngồi trên mình một con ngựa. Anh nó tiếp:
– Mày vô trỏng mà đái dầm người ta cắt cu.
Vừa nói gã vừa nghiêng mình xuống nhấc cái tay nải lên đeo ở cánh tay. Gia tài của anh em gã chỉ có thế. Vài cái quần áo, một mảnh chăn chằng đụp và một cái mùng rách bươm. Gã đảo mắt nhìn căn buồng tối tăm như hũ nút một lần cuối với vẻ quyến luyến rồi khom lưng bước qua cánh cửa thấp và hẹp. Ở ngoài sân đất, bà cụ chủ nhà đã đợi sẵn với quả chuối trong tay. Bà trao cho thằng Út với vẻ trìu mến, rồi hỏi:
– Anh Tư đi rồi bao giờ về?
Tư Híp đáp:
– Ý chà, chắc là lâu vài ba năm.
– Rồi cũng được nghỉ phép chớ bộ đánh nhau hoài sao?
– Có chứ! Tới chừng có dịp là cháu về thăm cụ ngay.
Bà cụ nhìn thằng Út thở dài:
– Vậy là anh nhất định kéo nó đi theo thiệt đó à. Vô đó ai người ta chịu?
Tư Híp mỉm cười:
– Hổng chịu thì cũng đành vậy thôi chớ, cháu bỏ nó mà đi thì lấy ai nuôi nó? Mình cứ trình bày hoàn cảnh thì rồi mấy ổng cũng phải thông cảm cho mình chớ.
Vừa nói Tư Híp vừa xốc lại thằng Út trên vai. Gã đứng tần ngần bên cạnh bà cụ một giây rồi chậm rãi đi ra cửa. Bà cụ lặng lẽ theo sau. Phút chia tay chẳng có gì thế mà bịn rịn. Dầu sao thì anh em thằng Tư Híp cũng đã chui rúc ở đây mấy năm rồi. Đối với họ, bà cụ coi như con cháu trong nhà. Ra tới ngoài, bà cụ mới móc ra tờ giấy bạc nhét vào túi áo thằng Út. Tư hỏi:
– Cái gì thế?
– Để cho nó ăn quà, tội nghiệp.
Tư Híp lúng túng cám ơn trong khi ấy thằng Út đã tẻm hết một nửa quả chuối và vất nguyên cái vỏ ra thềm đất. Bọn trẻ con đang chơi nhộn nhịp ở ngoài ngõ bỗng ùa lại. Một vài đứa hét:
– Ê! Út, mầy đi đâu đó mậy.
Út nhấp nhổm trên lưng anh và giơ tay lên vẫy. Tư Híp trả lời thay em:
– Đi quân dịch đây. Đứa nào khoái bắn súng thì theo tao.
Cả bọn nhao nhao:
– Tôi!
– Tôi!
– Tôi! Tôi nè!
Thế là cả bọn nó xúm xít bu lấy anh em Tư Híp như một chùm sung rồi cả chùm sung đó ùn ùn kéo nhau đi chật cả lòng ngõ. Tư Híp phởn chí toét miệng ra cười. Gã cất giọng ngêu ngao:

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng quốc gia đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống.

Đường Vào Trần Gian

Đám đông ra tới đường cái thì gặp một vụ đánh lộn. Thế là lũ trẻ túa lên chạy. Trong chớp mắt chỉ còn anh em Tư Híp đứng một mình ở bên vỉa hè. Thằng Út nhấp nhổm định đòi tụt xuống, nhưng anh nó đã vội nói:
– Ý! Mình đi quân dịch mà. Đâu có theo tụi nó được.
Út hậm hực lúc lắc trên vai anh nó một chút rồi lại ngồi yên. Nửa quả chuối còn lại bây giờ nó đã tẻm nốt và chùi bàn tay lên vai áo của anh nó. Gã đàn ông thủ thỉ:
– Từ bây giờ mình phải tập vô kỷ luật thì mới được. Nhà binh ác ôn lắm mày biết không.
Thằng Út buồn bã không trả lời nhưng anh nó vẫn tiếp:
– Nghĩa là mình phải theo lời mấy ông sĩ quan. Mấy ổng thổi toe một tiếng còi là phải sắp hàng ngay cái tróc, thổi toe một tiếng nữa là im lặng như điên, toe cái nữa là hấp nhào vô tập tành ngoan ngoãn, chăm chỉ. Mà điều đó phần tao. Còn mày khỏi! Đếch phải sắp hàng sắp lề gì hết ráo. Cho mày chạy chơi như điên, chỉ cần tao đi đâu mày lót tót theo đó là “năm bờ oăn” rồi, nghe Út!
Út chẳng đáp vì nó đang nhìn quả bóng xanh đỏ bay phất phơ trên tay một thằng bé bán bóng mới xuất hiện ở bên kia đường phố. Sự im lặng của nó làm Tư Híp phải ngoái lại nhìn. Gã cằn nhằn:
– Đếch nghe gì cả, ông nội! Bộ ông nội tưởng cóc có gì quan trọng lắm sao. Vô đó mà ông láng cháng làm trật lất thì họ ghét họ cắt cu. Lính thứ thiệt chớ bộ rỡn với ông sao?
Vừa nói gã vừa xốc lại thằng bé, đổi cái tay nải sang tay bên kia cho bớt mỏi, rồi gã lại thủ thỉ:
– Phải nhớ đó nghe. Hể mà ai đụng tới thì mày phải gào to lên, gào chừng nào tao nghe tiếng, tao chạy tới thì thôi. Mà ý chà! Cái gì chớ cái gào thì đếch cần phải dặn ông kỹ. Cái họng nhà ông mà gang ra thì cả nước phải điếc tai.
Vừa nói, Tư Híp cười hì hì. Hai hàm răng của gã nhăn ra như răng ngựa. Lớp thịt ở hai bên má của gã nhúm lại, đội cho vành mi dưới trồi lên hàng mi trên, khiến cặp mắt của gã đã bé lại càng bé thêm. Chả trách hàng xóm người ta không kêu tên thật của gã mà chỉ gọi gã là Tư Híp. Người ta không biết dĩ vãng của Tư như thế nào, nhưng chỉ biết Tư sống độc thân với thằng em ruột vừa gầy vừa choắt, so với gã thật là một sự tương phản mạnh mẽ. Tư Híp quí em như vàng. Điều mà gã lo sợ nhất là sau này, nếu gã chết đi, để lại một mình nó bơ vơ trong cuộc đời thì nó sẽ không biết làm gì để xoay xỏa lấy đời sống, Tư sợ cái hình ảnh đó lắm, và gã thường cầu trời cho đừng bao giờ xẩy ra cái chuyện khủng khiếp như thế cả. Buổi tối khi đi làm về, Tư ít đi chơi hay đi nhậu lai rai, gã chỉ thích ở nhà đùa nghịch với thằng Út trong bóng tối lờ mờ của ngọn đèn dầu hôi đặt trên vách gỗ. Nhưng Út thì không khoái nghe gã rủ rỉ chuyện trò bằng sự chạy lồng lên như chó điên với bọn trẻ ở trong ngõ. Thành ra nó chỉ láng cháng với anh nó một lát là lại tìm cách chuồn đi mất biệt. Tư Híp nằm buồn tình, cằn nhằn một mình trong bóng tối rồi chỉ một chốc gã đã lăn ra ngủ. Giấc ngủ đến với gã quá dễ dãi như bản tính dễ dãi của gã. Gã không mong gì hơn là được kéo dài cuộc sống bình thản như thế cho đến trọn cuộc đời. Thằng bé cứ bé như thế mãi, và gã thì lúc nào cũng khỏe mạnh để làm được thêm nhiều, bữa cơm chiều sẽ chẳng có vài đồng thịt quay thì cũng có mấy khoanh tiết nóng cho thằng Út.
Thế là gã mãn nguyện vô cùng rồi.
Nhưng vào một đêm có lính xét sổ gia đình và gã bị chớp lên xe vì gã ở trong tuổi quân dịch. Gã như điên lên khi thấy rằng chẳng cần đợi chờ lúc gã chết đi thì hình ảnh bơ vơ của thằng Út mới thực sự trở về. Gã đã van nài lạy lục tất cả mọi người, nhưng chẳng có ai nghe lời trần tình của gã. Cuối cùng gã phải tự thoát thân lấy bằng cách liều lĩnh nhẩy ùm xuống lạch nước khi được dẫn qua cây cầu khỉ và lặn một hơi qua những gậm nhà sàn tối tăm để thoát thân sang tận bên kia. Bữa đó trở về, gã nằm ngất ngư hết mấy hôm vì uống no một bụng toàn nước sông đen ngòm, sặc mùi sú khí.
Sau hôm đó, gã tự nghĩ rằng thà đem thằng Út vô lính cùng với gã còn hơn là lại tới một hôm nào đó người ta bắt giải gã đi một mình, để thằng Út bơ vơ, không ai chăm nom săn sóc.
Thế là gã gom góp đồ lề, sửa soạn hành lý để lên đường thi hành nghĩa vụ công dân. Hành trang của gã gồm có:
– Bốn bộ quần áo
– Một cái mền
– Một cái khăn mặt
– Một đôi dép cao su
– Và thằng Út năm nay vừa tròn sáu tuổi.
Ở quân vụ thị trấn, người ghi danh sách không nín được cười trước cái cảnh tay bồng tay mang của Tư Híp. Anh ta la lên:
– Trời ơi! Sao anh không đem cả vợ lớn vợ bé đi luôn có hơn là xách theo mỗi thằng nhỏ nầy.
Tư Híp gãi đầu gãi tai:
– Xin xếp thông cảm giùm. Em chưa có vợ.
– Chưa có vợ mà bế con vô hả?
– Dạ không phải! Nó là em.
Người đàn ông giận dữ:
– Em hay cháu hay chắt thì cũng phải để nó ở nhà chớ đi lính đánh giặc chớ bộ đi nghỉ mát sao mà bồng bế nhau um sùm tới đây vậy.
– Dạ để nó ở nhà thì không có ai nuôi. Nó còn con nít quá mà xếp. Xin xếp thông cảm giùm em..
– Cảm với cúm gì. Rồi anh coi, vô trại nhập ngũ người ta tống nó ra còn thêm tội cho nó hơn nữa.
Tư Híp đặt ngay thằng bé xuống, chấp hai tay định xá một xá, nhưng nghe lời dặn của anh, thằng Út nhất định không chịu rời cái lưng êm ái của anh nó. Hai tay nó níu chặt lấy cổ Tư Híp còn hai chân thì nó quắp chặt lấy mạng sườn khiến Tư Híp giằng cũng không ra và cử chỉ lễ phép của hắn trở nên lúng túng. Người đàn ông ngước mắt lên nhìn thân hình cõi của thằng bé với bộ mặt vêu vao đen thui thủi rồi bỗng chép miệng thở dài. Ông ta gõ cái bút chì lên trán Tư Híp rồi nói:
– Không bảo đảm đâu đó nghe! Xuống đó người ta đuổi, tôi mặc kệ đa…
Mặt Tư Híp tươi hẳn. Gã biến ngay thành con ngựa nhẩy quẫng lên, Tư xóc thằng Út trên lưng khiến nó khoái chí toét miệng ra cười và quắp chân thêm chặt hơn nữa. Lần này Tư Híp phải la lên:
– Thôi đi Ba. Nới nới ra chút giùm. Bộ tôi làm ngựa cho Ba cỡi suốt ngày đó sao.
Vừa nói gã vừa gỡ thằng bé, đặt xuống sàn đá hoa rồi vươn vai răng rắc. Mặt gã rạng rỡ hẳn lên. Nhìn đâu gã cũng thấy niềm vui chan hòa. Cử chỉ của gã cũng trở nên khép nép như để biểu lộ thêm lòng biết ơn của gã đối với sự dễ dãi mà người ta đã dành cho gã.
Một lát sau gã được xua vào đứng ở một góc sân cũng với mấy chục người khác. Thằng Út lót tót đi theo. Mắt nó dáo dác nhìn cảnh vật chung quanh với cặp mắt tò mò. Rồi chỉ một lát nó đã tót lại sờ mó những chiếc xe bóng loáng đậu ven bờ tường hay đứng ngẩn người ra ngắm khẩu súng lục trên dây lưng của người lính ngồi gác giữ an ninh gần đó. Sự táy máy của nó làm Tư Híp vừa cằn nhằn vừa chìa cái lưng ra nói:
– Thôi, mời bố phốc lên đây. Bố mà cà rà ra đó người ta tống ra ngoài đừng có mà hòng xin ai nữa.
Thằng Út nheo mắt nhìn anh mỉm cười. Nó lùi ra xa ba bốn bước để lấy đà rồi mới nhào người lại như kiểu anh hiệp sĩ trong phim cao bồi phóng mình lên lưng ngựa. Lúc Tư Híp đứng dậy thì nó chồm lên, thúc đùi vào mạng sườn của anh nó rồi cười như nắc nẻ…
Vào đến trại nhập ngũ, càng thấy đông người, Út càng trở nên nghịch ngợm. Giữa đám đông toàn thanh niên trai tráng, bóng dáng loắt choắt của nó bỗng trở thành một hình ảnh ngộ nghĩnh và đặc biệt thu hút được sự chú ý của mọi người. Suốt ngày nó nhẩy quẵng lên như con chó động cỡn, len lỏi hết đám đông này đến đám đông khác, la cà ở khu này tới khu khác, khi mệt mỏi nó lại tìm về chỗ của Tư Híp mà nằm lăn ra ngủ một cách dễ dãi. Trời nắng như thiêu đốt. Tư Híp kê đầu của nó lên chiếc tay nải rồi phủ người nó bằng tấm mền hôi và bẩn để kiếm chút bóng mát. Còn gã thì ngất ngư sau một ngày chờ đợi mệt mỏi. Mặt gã đỏ rừ. Mồ hôi tháo ra đầm đìa ở mặt và ở cổ. Miệng gã khô đắng lại. Suốt từ sáng gã chỉ dám liều ra quán uống có chai nước ngọt vào lúc trời nắng gay gắt nhất. Chai nước ngọt được chia làm hai. Non một nửa cho gã, và già một nửa nhường cho cái bụng ỏng kếch sù của thằng Út. Giờ ăn, gã được lãnh một phần cơm với hai miếng thịt. Gã tưới thực nhiều nước thịt kho để cơm được chan bằng thứ nước mằn mặn. Gã tưởng phải nhường phần cho thằng Út nên không được no, nhưng đến lúc chỉ lùa được hai muỗng vào miệng, gã đã thấy cổ họng mình bứ lại. Cái khát làm cho gã hết cả đói. Môi gã rộp lên, miệng đắng nghét, cặp mắt đỏ ngầu. Chưa bao giờ gã lại mong trời mưa đến như thế. Nhưng trời trong xanh và cao thăm thẳm. Không có một làn mây, không có một ngọn gió, bốn bề chung quang chỉ hầm hập hơi nóng. Hơi nóng làm héo úa những cọng cỏ mọc ngổn ngang trên nền đất, làm khô bỏng những lớp cát rải rác trên lối đi, làm cả lớp mái tôn của dẫy nhà chật ninh ních những người như cong lên, vênh lại.
Sự sinh hoạt ồn ào lúc buổi sáng cứ theo sức nóng của buổi trưa mà chìm dần trong êm ả. Sự êm ả bức bối, nực nội, mệt mỏi và rã rời, chỉ đến lúc chiều dần xuống, cái nóng dịu đi, những ngọn gió thần tiên bắt đầu thổi hây hây trong bầu không khí dịu mát, thì tiếng hò hét, nói cười lại trở về và kéo dài liên miên cho đến đêm khuya.
Bữa cơm sáng thằng Út chỉ ăn vã đúng có hai miếng thịt kho. Đến chiều nó ngắm nghía mấy sợi măng sào trên bát cơm nguội lạnh rồi lắc đầu và vùng lên chạy. Tư Híp chẳng kịp phân trần hay khuyến khích sự can đảm chịu đựng của nó thì bóng dáng loắt choắt của nó đã mất biến ngay trong đám người đứng ngồi ngổn ngang phía trước mặt.
Mãi đến lúc sẩm tối, Út mới tha thẩn đi về. Bộ điệu của nó có vẻ như mới được ăn no, tay nó cầm một mớ nút chai. Nó ngồi xuống nệm cỏ chơi đánh phén một mình chán rồi nằm phưỡn rốn ngửa mặt lên nhìn bầu trời bắt đầu lấp lánh mấy vì sao ướt mới mọc. Bầu không khí bây giờ lại dịu hẳn đi. Gió mát thổi lồng lộng làm tung những sợi tóc lòa xòa trên trán và má của Tư Híp. Sự khoan khoái hiện tại xen với nỗi cực nhọc của suốt một ngày chờ đợi hoàn tất mọi thủ tục khiến cho gã thiu thiu buồn ngủ. Gã gối đầu lên cái tay nải, một chân của gã khều về phía mộng đít của thằng Út như để gã cảm thấy yên tâm trông coi nó ngay cả trong giấc ngủ, còn hai tay của gã ruỗi ra thật dài. Gã sung sướng nhắm nghiền hai mắt để cho từng ngọn gió lùa qua cổ áo mơn man ở khắp ngực và bụng. Cứ như thế, chỉ trong khoảnh khắc gã đã quên bẵng khung cảnh ồn ào trước mặt và cả cuộc đời dở dang của gã để ngáy như kéo gỗ.
Trong giấc mơ, gã thấy mình bơ vơ giữa một khoảng trời ngùn ngụt lửa cháy và tơi bời bom đạn. Tiếng đạn nổ, tiếng người la, tiếng động cơ gầm thét trong bầu trời đỏ rực, gã thất thanh gọi tên thằng Út nhưng chung quanh gã chỉ có những hình thù đầy máu me chạy nhẩy hỗn loạn như những hình nhân gớm ghiếc. Tư Híp rú lên thất thanh và gã choàng dậy nhớn nhác nhìn quanh. Bên tai gã tiếng súng máy, tiếng động cơ vẫn ầm ĩ nổ rôn. Gã nhận ra những âm thanh đó phát ra từ chiếc máy phóng thanh và ở gần đó người ta đang chiếu cho tân binh quân dịch coi một cuốn phim giải trí. Gã hoàn hồn giơ bàn tay lên vuốt những giọt mồ hôi vã ra ở trần và ngực.
Thằng Út bây giờ cũng đã biến đi đằng nào. Chắc nó đã len lỏi vào đám đông trước mặt để nhìn cho rõ những hình ảnh nhấp nháy nhức mắt trên tấm khung vải xộc xệch căng bằng những sợi dây buộc trên xà gỗ. Tư Híp lơ đãng nhìn về phía đó một lát rồi lại nằm xuống. Gã cảm thấy cơ thể rã rời mệt mỏi và trí óc trĩu nặng những nỗi lo âu thấp thỏm. Gã nghĩ đến những đêm nằm nghe tiếng súng nặng nề làm rung chuyển nhà cửa trong thành phố, những trái hỏa châu bắn lên soi sáng vàng úa trên mặt đường nom thê thảm như những cây nến chết chóc sừng sững leo lét ở giữa bầu trời. Gã tự hỏi rồi ngày mai gã sẽ làm được gì và phải làm những gì. Nhưng đối với gã, dù có xẩy ra bất cứ điều gì gã cũng sẽ chịu đựng tất cả, miễn là anh em gã còn được gần nhau, thằng Út không phải bơ vơ trong mớ tuổi nhỏ nhoi của nó.
Nghĩ đến thế, bỗng nhiên Tư Híp thấy sốt ruột. Gã trở mình vài ba lần rồi thốt nhiên nhỏm dậy. Gã cố nghển cổ lên nhìn, cặp mắt hướng về phía đám đông như muốn chọc thủng bóng tối để tìm bóng dáng loắt choắt của thằng em. Nhưng đám người đứng đông nghìn nghịt khiến gã thấy ngay khó mà tìm ra được thằng Út trước giờ vui giã đám. Chán nản, Tư Híp lại tiếp tục nằm ngửa mặt nhìn lên bầu trời lấp lánh mấy vì sao. Không gian thật hoàn toàn êm ả nếu thỉnh thoảng không có những đốm đỏ của từng chiếc máy bay di chuyển nặng nề qua vùng trời trước mặt. Rồi chỉ một lát, có tiếng bom ầm ĩ vọng về. Tiếng bom thật xen lẫn với tiếng súng giả nổ ròn rã trên màn bạc. Hình ảnh của những vùng đất bị cầy, xới, khoét, phá xen lẫn với những đám lửa ngùn ngụt cháy. Những rừng cây xơ xác, những làng xóm hoang tàn như điên đảo, quay cuồng trong đầu óc của Tư Híp khiến gã thấy mình như bị ném vào một cơn lốc lớn, ở trong đó con người nhỏ bé của gã bị rang phỏng lên, đầu óc căng nứt ý nghĩ chập chờn, và gã bắt đầu cảm thấy mình đang tách rời cuộc sống hiện tại để đi vào một giấc ngủ chập chờn, mộng mị.
Đến lúc gã tỉnh dậy vì sương đêm ướt lạnh cả mảng lưng dưới nệm cỏ thì bốn bề đã trở nên im lặng hoàn toàn. Bên tai gã chỉ còn tiếng những con muỗi vo ve tạt đi tạt lại ở cổ, ở má và chân tay. Phía đằng xa, trên những tấm hàng rào kẽm gai trải thẳng tắp trên vùng đất rộng bao la, những ngọn đèn ủ rũ hắt xuống một thứ ánh sáng vàng vọt, héo úa. Tư Híp quờ quạng tay sang hai bên và gã bắt gặp thằng Út lúc nầy đang rúc đầu vào chiếc tay nải ngủ cách ngon lành. Khuôn mặt của nó bây giờ nom bình thản và thơ ngây một cách tội nghiệp. Tư Híp nghĩ đến cái giường ấm cúng trong căn buồng ấm cúng ở nhà. Gã bỗng thấy lòng dâng lên một niềm thương vô hạn trước sự gian truân mà thằng Út đang phải chịu đựng. Gã vội kéo nó nằm sát lại gần rồi rũ tấm mền ra đắp lên bụng nó. Trong giấc ngủ, thằng Út trông như một con chó nhỏ nằm mệt vùi sau một ngày rông dài, chạy nhẩy…
Những ngày tiếp theo, anh em thằng Út vượt qua trót lọt tất cả những chặng đường để vẫn còn được ôm nhau trong giấc ngủ. Chẳng ai nỡ dứt thằng bé loắt choắt ra khỏi tình thương của anh nó cả. Thật sự thì Út thừa đủ tinh khôn để tự lo lấy được cho mình. Ban ngày, trong lúc Tư Híp phải rời em làm phận sự thì Út lảng vảng ở dưới khu nhà thầu. Nó kết bạn với hầu hết mọi người làm việc ở đó. Chẳng cần để anh nó phải nhường nhịn, mỗi ngày Út cũng xoay xở được hai bữa cơm no. Thường thường Út chỉ trở lại tìm anh vào lúc trời tối hẳn. Ở giai đoạn đầu, Tư Híp chưa phải vất vả học tập bao nhiêu nên ban đêm hai anh em vẫn có thể la cà đây đó hay nằm trên giường tán róc trước khi ngủ. Cũng có nhiều hôm Út đi biệt hai ba ngày liền không trở về. Lần đầu tiên Tư Híp tưởng nó bị tống ra khỏi trại nên chạy đi xông xáo tìm kiếm và bỏ cơm đúng hai ngày.
Nhưng rồi bỗng nó lại lù lù, dẫn xác trở về trong bộ quần áo không mới lắm nhưng khác lạ.
Thằng ranh con thế mà tài. Mái tóc sù lên như ổ quạ rối của nó đã được hớt lên sạch sẽ. Trong túi của nó đã thấy rủng rẻng mươi đồng tiền cắc. Sự chĩnh chạc, phong lưu của nó khiến gã đàn ông quên cả buồn, quên cả giận. Gã đá phốc ngay vào cái lon sữa bò ở gần đó như chứng tỏ cơn giận gã trút hết cả vào đó, rồi gã hét lên:
– Thằng mắc dịch, mày đi đâu tao kiếm hụt hơi muốn chết mà không ra.
Út mỉm cười, móc túi lấy ra chiếc kẹo chanh đưa lên khoe rồi thản nhiên bóc giấy bóng và cho vào miệng. Tư Híp hỏi gặng:
– Mày đi đâu vậy Út?
Út giơ ngón tay chỉ về phía trước mặt, không trả lời. Miệng của nó còn mắc lúng búng với viên kẹo thơm phức. Gã đàn ông hậm hực một lát rồi nói:
– Coi chừng cà rà cho lắm vào mấy ổng sút cho một cái là bay về tới nhà đấy nhóc con. Lần sau thì cấm đấy, nghe chưa.
Nhưng lời nói của Tư Híp đối với Út cũng chẳng khác nước đổ đầu vịt. Thằng bé vẫn ham chơi, vẫn chạy nhẩy như con chó động cỡn, và từ hôm đó về sau lâu lâu nó mới chịu nằm ngủ gọn trong lòng anh một lần. Một hôm Tư Híp bắt gặp nó theo chân hai người đàn bà, một già một trẻ, khiêng một sọt su su từ chỗ đậu xe xuống nhà bếp.
Lúc đó Tư Híp đang làm tạp dịch ở ngoài hàng rào. Gã chú ý đến người thiếu nữ khiêng sọt vừa đi vừa nô với thằng Út. Tiếng cười trong trẻo của hai người làm ấm cúng hẳn khung cảnh buồn chán ở chung quanh với những mái tôn thấp, những hàng rào kẽm gai chạy dài và những chiếc mũ sắt thấp thoáng trong từng lô cốt. Khuôn mặt của nàng đầy quyến rũ với nước da ửng hồng, từng giọt mồ hôi chẩy vã xuống hai gò má còn dính những sợi tóc dài và ướt. Dưới vầng trán phẳng, cặp mắt bồ câu long lanh sáng. Nàng cười tươi như bông hoa buổi sáng và giọng nói lanh lảnh của nàng bỗng gieo vào lòng gã đàn ông nhiều cảm xúc xao xuyến.
Thằng Út mải đùa nên không để ý đến anh nó. Nhưng hình như thiếu nữ nhận ngay ra được Tư Híp. Nàng ghé vào tai Út thì thào và Út reo to lên quay lại nhìn về phía hàng rào. Nó giơ bàn tay lên vẫy vẫy. Tư Híp bối rối vẫy lại. Mắt gã vẫn không rời khuôn mặt của người thiếu nữ lúc tiến gần ngang qua chỗ gã đứng. Gã bắt gặp cái nhìn soi mói của nàng hướng về phía gã. Điều đó làm gã lúng túng vô cùng. Gã không dám nhìn ai nữa mà chỉ cúi vội xuống vờ lúi húi trong công việc.
Đến tối, gã thủ thỉ với Út trên giường nằm:
– Ai khiêng sọt su su hồi chiều đó, Út?
Út đáp:
– Chị Hiên nhà bếp đó
– Mầy quen hả?
– Quen
– Rồi mầy nói hay sao mà cổ cũng biết cả tao.
– Biết chớ! Em chỉ anh cho cổ mấy lần.
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Mầy kỳ thấy bà, khi không “chỉ” tao làm gì, làm tao mắc cỡ muốn chết.
Út yên lặng không đáp khiến Tư Híp chờ lâu không được nên lại tiếp tục hỏi:
– Mầy chỉ tao làm sao Út?
– Thì chỉ vào anh đó.
– Rồi mầy nói chi?
– Chả nói gì hết.
– Ngu thấy bà! Chỉ rồi thì cũng phải nói lai rai chớ bộ, im thì ai mà biết.
Út mỉm cười:
– Thế thì em chẳng có nói cái gì hết.
Sự ngu độn của nó làm Tư Híp bực mình. Gã vặc lên:
– Không nói cái gì hết mà cổ lại biết tao là anh mày. Thằng ngu quá đi!
– Vậy thì em có nói. Em nói anh Tư của em đó.
Mặt Tư Híp tươi lên. Lòng gã bỗng rung động. Gã hỏi dò một cách hồi hộp:
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Ừ! Rồi cổ bảo sao?
– Không bảo sao hết đó.
Tư Híp thất vọng, vén đùi lên gãi sồn sột. Một lát gã tỉ tê:
– Vậy từ hồi đó tới giờ, mầy ăn uống ở đó, đó hả?
– Ừ!
– Bộ mầy xin hay sao!
– Em không xin mà đều cổ cứ giữ lại.
– Kỳ! Không quen mà giữ lại.
– Thiệt đó!
Mặt Tư Híp tươi lên lần nữa. Gã nói:
– Rồi mầy nói sao?
– Chả nói sao hết.
– Mầy nói ngang như cua đó. Bộ chả nói, cứ việc xông đại vô ăn cơm nhà người ta đó chắc.
– Chớ sao. Người ta mời mình mà.
– Mời sao?
– Mời là mời chớ còn mời sao. Anh hỏi kỳ thấy bà.
Nói rồi Út giận dỗi nằm quay lưng về phía Tư Híp, co hai tay lên đầu nhất định không nói nữa. Thái độ của nó làm Tư Híp ngán ngẩm. Suốt đêm hôm ấy, Tư trằn trọc mãi không ngủ. Hình ảnh của người con gái đã gieo vào lòng gã biết bao nhiêu nỗi niềm xao xuyến.
Những ngày sau đó, cũng có một vài dịp Tư được đối diện với nàng, nhưng gã không thể nào cất lời nói được với nàng một lời nào cả. Tình yêu của gã chỉ biểu lộ qua cặp mắt nồng nàn say đắm mà gã chăm chú nhìn nàng vào những lúc nàng không nhìn gã. Gã biết mình quá nhút nhát nhưng gã không thể vượt qua được cái trở lực đó. Thấm thoắt hơn hai tháng trôi qua, chương trình học của gã mỗi ngày một thêm bận rộn và gay go. Có khi suốt cả một tuần gã không còn có dịp để tâm tới cả thằng Út. Mãi tới một hôm vào ngày nghỉ, gã mới đi tìm nó và gặp Hiên đang ngồi gọt su su với nó ở đầu hè. Lần này gã lấy hết can đảm để nói được một câu:
– Tôi cám ơn cô nhiều lắm, cô Hiên ạ..
– Cái gì anh Tư
Tư bắt đầu thấy lúng túng, mặt gã nóng rực lên. Gã ấp úng:
– Thằng Út! Thằng Út đó…
– Làm sao, anh?
– Nhờ cô đã nuôi dùm nó, tôi cám ơn cô vô cùng…
– Thôi, anh cho nó làm con nuôi má tôi đi! Má tôi cũng thương nó lắm đó..
– Thiệt không?
– Thiệt chớ!
– Mầy chịu không Út?
– Chịu!
– Vậy thì tôi cũng chịu đó. Nay mai tôi sắp đi rồi. Cho nó theo chẳng biết có yên không?
Mặt Hiên đang tươi bỗng buồn hẳn đi. Nàng cố nén tiếng thở dài:
– Tôi cũng đã nghĩ đến đó rồi. Đem nó vô đây thì dễ chớ mang đi trận sao được.
Tư đứng im lặng, tần ngần. Thấy gã có vẻ buồn, Hiên an ủi:
– Anh đi yên chí. Tôi coi nó như em ruột mà.
Tư nói:
– Vậy thì may cho tôi quá. Rồi những kỳ được nghỉ phép, tôi sẽ về thăm cô và nó luôn.
Hiên ngẩng mặt lên nhìn. Trong ánh mắt của nàng bỗng chứa chan niềm thương xót. Nàng mấp máy định nói gì nhưng rồi lại thôi. Thốt nhiên giữa hai người như có một khoảng ngăn cách nặng nề mà Tư Híp cảm thấy như bị ám ảnh bởi chiến tranh, bởi bom đạn và bởi những mạng sống bất trắc của cuộc đời người lính chiến. Điều đó khiến gã không muốn phát biểu nhiều hơn. Gã lặng lẽ ngắm hai bàn tay mềm mại của người thiếu nữ thoăn thoắt trên những lớp vỏ xanh rờn của trái su su. Một lát sau gã tức tưởi từ giã ra về.
Đêm hôm ấy gã lại trằn trọc không ngủ. Có lúc gã lại muốn im lặng để khỏi ràng buộc bất cứ ai vào cuộc đời gian lao sắp tới của gã. Chưa bao giờ gã cảm thấy tủi thân và cô độc, như đêm đó. Ngay cả thằng Út đứa em ruột thịt của gã mà gã tưởng như không bao giờ rời xa lại cũng như đang sắp sửa vuột khỏi cuộc đời gian lao của gã. Đêm hôm nay thằng Út không thấy trở về. Có lẽ nó quấn quít ở bên cạnh Hiên hay ngủ vùi ở một chỗ nào đó trong gian nhà ấm cúng của nàng. Gã bỗng thèm được ôm nó vào lòng, muốn được nghe giọng nó nói, tiếng nó cười và được trông thấy những vẻ láu lỉnh trên khuôn mặt vêu vao đen đủi của nó. Lần đầu tiên trong cuộc đời gã ôm mặt khóc thúc thít.
Sau hôm đó trở đi Hiên đối với Tư có vẻ gần gũi hơn. Nàng thường gởi thằng Út những món quà vặt vãnh khi thì một trái cam, khi thì gói thuốc lá, nhưng tuyệt nhiên Hiên không nhắn gì thêm cho Tư cả. Nhưng dù sao những món quà thân yêu ấy cũng đượm vẻ đầm ấm và lôi kéo thời gian đi quá mau. Ngày mãn khóa, Hiên mời gã đàn ông đến ăn cơm vào một buổi chiều. Gã náo nức chờ đợi.
Lần đầu tiên từ ngày nhập ngũ, gã thuê giặt bộ đồ treillis để được người ta sịt hồ lên đó và ủi cho thẳng nếp. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, gã lại cầm bộ đồ cứng như mo nang lên ngắm nghía. Gã đã hình dung ra hình ảnh tươm tất, gọn ghẽ, oai nghi của gã ở trong bộ đồ đẹp đẽ đó.
Trước kỳ hẹn hai ngày, gã lại chịu khó đi hớt tóc, mặc dù lần hớt trước đây mới chỉ được gần hai tuần lễ. Hai ngày hẹn cuối cùng đối với gã dài như thế kỷ. Gã mong nó tới, rồi lại mong nó chậm chậm đừng vội xẩy ra, và rút cục gã lại thấy giờ, phút bò đi quá nặng nề đến độ như thời gian đã ngừng lại. Nghĩ đến Hiên, tim gã đập rộn ràng, ý nghĩ của gã xáo trộn, và chân tay của gã bắt đầu bối rối. Chính vì thế mà gã thích được ngồi riêng ra một chỗ để nhẩm lại những điều mà gã sẽ nói với nàng. Ngày mai, ngày kia trên đường hành quân đầy cát bụi, biết còn lúc nào rảnh rỗi để về thăm chốn cũ, người xưa. Cho nên nói thẳng với nàng là điều tất nhiên rồi . Nhưng nói thế nào, nói làm sao, nói những gì? Ôi, lần đầu tiên Tư Híp bị rơi vào một vấn đề gai góc mà không một ai có thể giúp đỡ gã được.
Đã có lúc Tư chong đèn cầy, kê giấy lên thùng gỗ để viết cho Hiên một lá thư. Nhưng nét chữ vụng về của gã không đem lại cho gã niềm tin tưởng nào. Không hiểu sao, Tư có cảm giác như văn hóa của Hiên cao hơn mình. Như vậy thì đường vào tình yêu theo ý gã, không phải là con đường “văn hóa”. Nó cũng không phải là con đường “chính trị”. Bởi vì với một bữa cơm ngắn ngủi, gã không có cách nào, mà cũng chẳng có tài cán gì để đưa nàng vào thế giới tình yêu bằng những đòn phép chính trị cả. Cuối cùng, nát óc quá, gã phải đi tới kết luận là phải làm liều. Chỉ một cái cầm tay, một câu nói cộc lốc “Tôi thương cô, cô có thương tôi không”, là gã thấy có vẻ dễ dàng nhất. Miễn là biết liều, mặc dầu cái liều tình cảm này còn khó gắp mười lần cái liều ôm súng lao vào vị trí địch.
Rồi như để đo cái mức nguy hiểm của sự liều lĩnh đó đên chừng nào, Tư hay dò hỏi thằng Út về thái độ của Hiên. Gã hỏi:
– Mày ưa nói chuyện với chị Hiên thường hôn?
Út đáp:
– Thường!
– Nói kí gì?
– Nói kí gì thì ai mà nhớ.
– Thằng ngu hôn! Hổng nhớ mười thì cũng nhớ một chớ.
– Thế thì thiếu gì.
Mặt Tư tươi lên:
– Ờ! Phải vậy chớ. Nói nghe chơi.
– Chỉ kể “chiện”thanh xà, bạch xà, chiện ông Hoàng ốc, chiện…
Tư ngắt lời:
– Cái đó thì nói làm chi. Tao nói là nói chuyện mầy, chuyện tao, chuyện bình phẩm này nọ. Như thể chị đó khen mầy ngoan hay mầy hư, mầy mất dạy hay đạo đức, tao..tao… bảnh hay không bảnh ấy chớ.
Út phá lên cười:
– Ý! Anh thì bảnh với ai. Chỉ la anh cù lần!
Mặt Tư đỏ rừ lên như chính gã vừa nghe lời bình phẩm đó từ miệng của người yêu phát ra. Rồi gã cãi một cách tức tối:
– Tao mà cù lần! Mầy nói thiệt hôn?
– Thiệt. Chỉ nói vậy hoài mờ!
– Hừ! Cù lần ở chỗ nào mới được chớ
– Thiếu gì! Anh bận đồ lính trông như áo thụng tế nè, anh đội mũ chùm hụp như đội đầu ông địa nè…
Tư la lên:
– Tại người ta phát cho tao như vậy chớ! Mắc học thấy bà, ai mà lo đi sửa được. Mầy biết hôn, cái quần mà tao không cuộn lên thì nó còn dài tới ót!
– Vậy mới cù lần!
– Cái đó khó gì! Mai mốt tao sửa! Còn gì nữa hôn?
– Gì là gì?
– Chỉ nhắc tới tao hoài hôn?
– Cái đó thì hoài. Chỉ cứ đem anh ra đe em hoài. Chỉ la chỉ mách.
Mặt Tư tươi lên:
– À! Vậy đó! Mầy thấy hôn. Miệng chị nói cù lần vậy mà chỉ đâu có khi tao. Đờn bà, con gái làm duyên thôi đó mà!
Nói rồi Tư cười, hai má hây đỏ, lòng dạ ngất ngây, gã có cảm giác như vừa được uống một ly rượu. Lúc đó gã thấy mình đầy đủ can đảm để làm thừa sức cái việc tỏ tình với người con gái. Gã lại ngồi ôn lại những điệu bộ sẽ làm: cầm tay thế nào, mắt nhìn thế nào, miệng nói thế nào, và gã cương quyết sẽ thực hiện.
Nhưng buồn thay, sắp sửa tới lúc Tư thi thố lòng cương quyết đó của mình thì cấp trên cấp tốc đưa xuống lệnh cấm trại một trăm phần trăm. Rồi trước giờ hẹn bữa ăn lịch sử của đời gã vừa đúng tám tiếng đồng hồ, gã và anh em đồng đội được lùa lên một đoàn xe đỗ dài trước cổng trại. Vị Thiếu Úy Đại Đội Trưởng chỉ nói vắn tắt với anh em là do nhu cầu chiến dịch, đại đội phải lên đường khẩn cấp.
Mười lăm phút trước khi lên đường, Tư tìm cách lỏn vào được khu gia binh cơ hữu để tìm Hiên. Nàng vắng mặt! Bà cụ nói nàng đi chợ để sửa soạn làm bữa cơm tối. Tư lặng người đi và như có điều gì nghẹn ngào chẹn tức lấy cổ họng của gã. Gã nhìn quanh như cố thu thập lấy hình ảnh căn nhà ấm cúng mà người yêu của gã vẫn ra vào. Thằng Út hình như cảm thấy điều gì quan trọng nên không giám nhẩy phóc lên lưng gã làm ngựa nhong nhong như mọi lần. Đến lúc gã quì gối xuống, hai bàn tay cục mịch nắm chắc hai cánh tay khẳng khiu của thằng bé thì những giọt nước mắt của gã chợt long lanh chẩy qua hàng mi rồi rơi ròng ròng xuống hai bên má.
Lúc đứng dậy, Tư dốc tất cả món tiền còn lại trong túi ra trao cho thằng Út. Gã cố nén xúc động:
– Anh cho em ăn quà đấy nhe!
Đó là những tiếng ngọt ngào, kiểu cách đầu tiên gã dùng ở trong đời, nhưng đối với gã cũng là lời thành thực nhất. Bàn tay của Út ruỗi ra, nó dẫy nẩy không nhận. Và đó cũng là lần đầu tiên Út từ chối một món tiền do anh nó đem cho. Bầu không khí vì thế bỗng nghiêm trọng hẳn lên. Tư muốn nói thật nhiều mà thành ra không nói được gì cả. Một lát, gã vùng dậy. Thằng Út vứt mớ tiền rơi vung vãi rồi cũng bén gót đi theo. Tư đứng lại tần ngần:
– Em ở nhà ngoan nhé.
Út lẳng lặng gật đầu. Tư tiếp:
– Nói với chị Hiên là anh sẽ về sớm nhe. Thể nào anh cũng về.
Út lại gật đầu. Lần này nước mắt của nó cũng bắt đầu long lanh. Tư cầm lòng không được, cúi xuống ôm chầm lấy nó. Thế là thằng Út òa lên khóc. Ngoài xa, tiếng còi tập hợp mỗi lúc một réo lên gay gắt. Tư hốt hoảng buông thằng Út ra và nói:
– Thôi, anh đi đây. Dăm bảy tháng nữa anh về. Dăm bảy tháng nữa anh cưới chị Hiên làm vợ. Em nói thế hộ anh nhé, nghe Út.
Thằng Út gật đầu và Tư vùng lên chạy.
Đất nước còn đang tràn ngập đau thương và khói lửa thì có đáng kể gì lời hứa của một kẻ ra đi. Dưới ánh nắng thiêu đốt của một buổi chiều đầu hạ, đoàn xe chuyển bánh tung lên lớp bụi mù mịt.
Thằng Út trèo lên một cái ụ đất để nhìn cho rõ đoàn quân lên đường. Hình ảnh của anh nó bị che lấp đi trong lớp bụi mù mịt…

Nhật Tiến
(Sài Gòn-1968)

Quán Thơ Hư Vô 293


BÓNG NÚI

Có trèo lên đỉnh núi
Cũng chưa tới bóng em
Trăm năm nằm xõa tóc
Giữa thác ghềnh chông chênh.

Hồn em như mây trắng
Tạc vào cõi hư không
Một hình hài lạnh cóng
Cỏ mọc đầy rêu phong.

Tôi lần qua vách núi
Cho tóc em dài thêm
Chải mưa đan vào nắng
Chải hồn tôi vào em!

Để nghe tim đồng vọng
Từ những nỗi khát khao
Núi trăm năm chưa ngủ
Sợi tóc đã bạc đầu!

Phất phơ như khói phủ
Trong đôi mắt vọng phu
Em nằm quay lưng biển
Cho sóng tạc hình thù!

Rạch lên đời cô phụ
Một dấu tích oan khiên
Bên tượng người dáng núi
Còn trần trụi bóng em…

Hư Vô

MAI HẸN NHỮNG GÌ, ĐÂU BIẾT…

tiếng hát em đêm nay nghe lạ
như mỗi ngày anh lạ mặt từng ngày.
có phải tình trần treo như lá
gió về trời, vàng đá chẳng về theo.

anh chẳng thèm về, ừ nhỉ, nơi nao
giữa ngổn ngang bao điều chưa nói hết.
mai thường hẹn những gì, đâu biết
thì ngại ngần thêm nữa chỉ lòng đau.

thử một lần rót hết cho nhau
như thuở giang hồ, chơi xả láng.
mai sạch túi, dễ chi tình ráo máng
mặc thế gian lắm đứa cạn tàu.

giàu nhân ngãi lắm đêm tình thắp mộng
sớm mai tim gió máy bất chừng.
anh nằm chết, đôi khi còn ngẫu hứng
đọc thơ tình tặng sáo sang sông.

nhọc với tình, nhọc lắm bao năm
sao tình chẳng cho anh một nơi ngồi nghỉ.
em tươi tắn như gái ngày mười tám
anh cũ mèm như rượu chuốc lần khân.

chẳng hẹn cùng đò, chỉ hẹn cùng em
mà tình lỡ không về kịp chuyến.
anh nằm lại giữa bến bờ hư huyễn
hát bài tình, em đã hát bao đêm…

Đức Phổ
 
GHÉ ĐÁ BA CHỒNG Ở ĐỊNH QUÁN

Không phải đá vọng phu
Sao ngàn năm vẫn đợi
Lòng không sầu vời vợi
Sao thiên thu vẫn chờ.

Ta như con ngựa già
Quay đầu về cố thổ
Ghé qua ngày mưa đổ
Bờm xơ xác ngậm ngùi.

Sừng sững ngọn Đá Voi
Mòn rêu hang Bạch Hổ
Người xưa thành mây gió
Giữa cuộc đời biển dâu.

Đá xếp chồng lên nhau
Cheo leo cùng mưa nắng
Gởi hồn vào năm tháng
Khối u tình về đâu?

Nếu có một kiếp sau
Đá thành người tri kỷ
Ta xuôi đường thiên lý
Mịt mù chốn trần ai.

Nguyễn An Bình
 
PHỐ NHỮNG CHIỀU MƯA

Ai chở mùa thu vê trên phố
Để chiều mưa ướt lối em qua
Lòng ta – chút nắng vương đâu đó
Làm sao sưởi ấm những mùa xa?

Ai chở mùa thu về trên lá
Hàng cây ướt đẫm những chiều mưa
Ta lẩn quẩn theo hồn phố xá
Đường quen cũng lạ những ngày xưa

Phố vẫn còn mưa chiều tháng tám
Buồn thu theo mấy ngõ em về
Chiều treo một khoảng trời mây xám
Ta treo ngày tháng cũ nhạt nhòa

Ừ thôi! Mưa cứ về giăng phố
Ta cứ từng chiều đếm mưa qua
Mùa thu chở mây về cùng gió
Chờ chút nắng về hong lối xưa …

Sông Trẹm
 
KHÚC CHIỀU TÀ

Người tình yêu dấu ơi!
Mùa xuân xanh bay rồi
Lòng đâu còn trẻ nữa
Chiều buồn lặng im hơi.

Chim vẫn hót trên cành
Hoa vẫn nở hiên xanh
Nắng đùa reo giậu biếc
Mà sao em xa anh!

Để trời buồn tóc mây
Sương trắng hoàng hôn phai
Đời chỉ toàn ảo ảnh
Ngửa lòng trắng hai tay!

Rừng chiều gió vẫn ru
Dòng sông nước sa mù
Như tình anh hoài vọng
Ôi tình buồn thiên thu!

Em ơi! Khúc chiều tà
Trong hồn anh ngân xa
Tình Yêu như máu Thánh
Lệ muôn đời phôi pha!

Trần Thoại Nguyên
 
VÔ ĐỀ

Tưởng sau mỗi cuộc yêu
Ta thành người dày dạn
Tưởng sau trận nhiệt thành
Lòng sẽ đầy chán ngán

Nhớ da diết lần đầu
Cầm tay thôi cũng ngượng
Thương đứt ruột lần sau
Hôn quá chừng chưa sướng!

Chẳng thể lấp nỗi buồn
Bằng những ngày thương nhớ
Sau mỗi đợt liều mình
Là mỗi lần hoảng sợ

Tình cuối lấp tình đầu
Tình sau vùi tình giữa
Ta hệt cánh rừng già
Nhú mầm nuôi tàn úa

Thì ra không thể nào
Già đời trong thương nhớ
Ngày vỗ ngực cáo già
Mới nực cười… tan vỡ

Bao nhiêu bận tin người
Là bấy lần khờ dại
Trong tay bao đợi chờ
Là bấy lần ngang trái

Đừng yêu bằng vốn liếng
Đừng thương bằng sạn chai
Vùi tim vào cuộc yêu
Là bắt đầu tê tái

Yêu lần nào cũng đau
Thương lần nào cũng bạc
Đừng vỗ ngực dạn dày
Yêu đương vốn ghềnh thác!

Nồng Nàn Phố
 
BÀI TÌNH THƠ THỨ SÁU…

Thu đã tàn bên ấy
Em vẫn mù mịt sương
Tóc có còn xanh suốt
Bay trong chiều đã mòn..

Ta chờ thêm thu nữa
Lá dẫu vàng trên cây
Mưa dẫu mềm sợi nhớ
Rớt cọng buồn trên tay..

Vẫn là thu thuở ấy
Một ngày ta với nhau
Một lần thôi cũng đủ
Ngất ngây cùng đớn đau..

Thu đã về bên nắng
Gió vẫn hoài đưa hương
Thu phong tàn mấy độ
Đường chưa mờ dấu son..

Thôi em, chiều đã rụng
Còn thu nào cho người
Ta chờ em dưới dốc
Trên đỉnh phù vân trôi..

Thôi em, tàn bóng nguyệt
Một vì sao đang rơi…

Trung Chinh Ho

223FC05F-B12A-4662-A975-F81096CC7DED

Bến Bờ Hư Vô. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Bến Bờ

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!

Lời tình còn đọng trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…

(Hư Vô)

0265f89b-b8ce-418b-a10e-0e3e3d3b30a9

Một buổi trưa không biết ở thời nào
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
(Đi Giữa Đường Thơm – Huy Cận)

Có lẽ như nhà thơ Huy Cận đã viết: “Ca dao luôn sống mãi trong bao tâm hồn Việt. Nó chính là dòng sữa ngọt ngào nuôi lớn đời ta“. Đối với người xa quê, ca dao dường như đã trở thành quê hương, thành xương thịt,  là dòng tâm  tưởng tràn trề, lai láng. Nó gợi nhớ tình quê, gợi những kỷ niệm một thời xa vắng. Chọn thể thơ lục bát của ca dao, Hư Vô đã làm ta sống lại những cảm xúc đã dồn nén bao lâu bỗng tuôn trào, lai láng. Đọc Bến Bờ của thi sĩ ta không chỉ  cảm nhận đang về lại quê hương với dòng sông, con đò, bến đợi và bên tai vẫn cứ văng vẳng những làm điệu dân ca, ca dao về những tình yêu không trọn vẹn mà chính là ta đang sống trong một thế  giới của âm nhạc, của cảm xúc, suy tưởng.

Con đò, dòng sông là mô típ thường thấy trong ca dao. Ca dao thường mượn hình ảnh con đò, bến nước, cây đa để thể hiện tình yêu thủy chung hay ly biệt, nhớ  thương:

– Con đò với gốc cây đa
Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò.

– Cây đa bậc cũ lỡ rồi
Đò đưa bến khác bạn ngồi chờ ai.

– Gọi đò chẳng thấy đò sang
Phải chăng bến cũ phụ phàng khách xưa.

“Thuyền đi để bến đợi chờ,
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau,
Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền”

Chọn một hình ảnh thường xuất hiện trong đời sống, trong ca dao, nhà thơ dễ dàng truyền đến người đọc sự đồng cảm ngay từ phút giây đầu.

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!
(Hư Vô)

Đoạn thơ xuất hiện hình ảnh dòng sông, bến đợi, con  đò và khách sang sông. Nhưng tất cả đều thể hiện sự trễ muộn. Đò đã sang sông, em ngược dòng nhân gian. Câu chữ không theo quy luật, hình ảnh cũng ngược chiều. Tất cả đều oái oăm, ngang trái. Tình tan, mộng dở dang. Lời gọi đò, gọi em, gọi nhau chỉ còn là những âm thanh buồn bã, tắt lịm. Dòng sông vẫn trôi, đò vẫn cứ sang sông không đợi khách bộ hành. Em không chờ tôi về, đã vội vã bỏ đi, lạc hướng mịt mờ bóng chim tăm cá. Tình tan, em – muôn đời vẫn làm người dưng, hoang đàng theo mỗi bước thơ tôi.

“Gọi” lập lại ba lần, “đò” lập lại hai lần, em- người dưng đã vừa lập lại vừa nhấn, câu cuối những dấu phẩy cắt câu bát thành bốn theo nhịp 1/3/2/2 diễn tả một sự rối loạn của cảm xúc. Thảng thốt, đau đớn, rã rời để rồi buông trôi, buông xuôi. Một nỗi đau định hình, sự thất vọng não nề hiện lên từng câu chữ. Có một chút gì cay trong mắt, có một chút gì nhói trong tim. Có lẽ là nỗi đau từ khúc tình tan của khách sang sông. Cấu trúc câu thơ với nhiều thanh bằng nhưng dường như không tạo được cảm giác nhẹ nhõm mà nhân rộng, tỏa rộng nỗi đau bởi vần “an”. Ngôn từ, cảm xúc của thi sĩ gợi tôi nhớ đến Lời thề cỏ may của Phạm Công Trứ:

Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê.
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…

Phạm Công Trứ gỡ bỏ lời thề cỏ may, Hư Vô khác xưa, hoang đàng cuộc đời, hoang đàng thơ. Chữ tình hư ảo sao làm tan nát bao cuộc đời, bao con người và có đôi khi sự tổn thương đã khép lại hoàn toàn trái tim yêu. Có lẽ điều này đúng với những người vốn có trái tim đa sầu, đa cảm như  chàng trai đa tình trong thi phẩm. “Hoang đàng” có lẽ là câu chữ của  thi sĩ thể hiện một sự thay đổi của nhân vật trữ tình, con người bình thường xưa đã không còn nữa, sự thay đổi quả thật đau lòng. Có lẽ chàng trai không thể chấp nhận được tình tan. Xưa nay tôi vẫn cho rằng tình là vô thưởng bởi nó đến rồi đi không hề báo trước, chính vi vậy khi tình yêu tan vỡ có những người không thể vượt qua có lẽ với một người bản lĩnh cách hành xử trên có phần nào yếu đuối, tiêu cực nhưng chưa hẳn như vậy bởi điều mình đặt hết tâm huyết vào nếu mất đi không thể xem là chuyện bình thường, bởi vậy mà  “khúc tình tan” của thi sĩ bắt đầu lên tiếng:

Lời tình còn động trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Tình yêu trong Hư Vô thường là nỗi đau, thường là chia ly. Thi sĩ không nói rõ vì sao mà ly tan nhưng đôi khi chính người trong cuộc cũng không hiểu vì sao? Chỉ biết khi tình lỡ nỗi đau dường như làm ta tuyệt vọng. Nhưng có một điều tôi nhận ra nỗi đau tình trong thơ Hư Vô không quằn quại của những rên xiết, thét gào mà thật da diết đến đớn đau của những vết cắt sâu để rồi thành những đóa hoa sầu, những giọt lệ thầm trong đêm sâu khi chỉ một mình trong thăm thẳm của bóng đêm để rồi  thảng thốt chợt nhận ra mình đã không còn như ngày xưa:

Gọi nhau một khúc tình tan
… Trái tim tôi đã tơi bời, xanh xao.

“Tơi bời” câu chữ đơn sơ, giản dị gần như là một khẩu ngữ tạo một định hình cho nỗi đau rất thực. Tơi bời là kết quả của một không gian vừa trải qua một cơn lũ tràn, một cơn bão lớn. Tất cả tan hoang, vỡ nát, rời rã, tang thương. Cơn bão tình làm giông tố phá nát hồn anh, đời anh. Cơn bão đi qua, sự sống rồi sẽ hồi sinh nhưng cơn bão tình thì mãi mãi thổi, linh hồn thành hoang mạc, nỗi sầu tạo thành quách trong tim. Cơn bão tình- cõi vô vọng đang hòa vào nhau tạo thành khúc tình tan . Có lẽ nỗi đau của khúc tình tan sẽ mãi theo chàng thi sĩ suốt những tháng ngày còn lại.  Khi tôi đọc đến câu thơ này tôi liên tưởng đến bài thơ Bão của Tế Hanh:

Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi.
(Tế Hanh- Bão)

Để rồi tôi cảm nhận ra cơn bão lòng tôi vẫn còn thổi mãi một niềm đau quá khứ có lẽ vì vậy mà tôi hiểu “trái tim xanh xao” của chàng trai, lại một câu chữ biến hóa trong tay của thi sĩ, lấy nét vẽ ngoại hình “xanh xao” để miêu tả thế giới nội tâm của riêng mình, một sự nhiễu loạn về màu sắc đỏ thành xanh, sự sống đã lìa bỏ, đã cạn nguồn khi em rời xa tôi. Nhẹ mà thấm, mà đau, câu chữ của Hư Vô vốn là vậy. Tim thay màu, không gian cũng thay màu:

Sông sâu có khúc bạc đầu
(Hư Vô)

Sông bạc đầu hay màu sông cũng đổi thay dường như là lời tự vấn của thi sĩ. Em bạc lòng, sông cũng bạc đầu, thiên nhiên vốn ít khi thay đổi mà vẫn đổi thay huống chi là con người. Em đi, đã làm tan nát cuộc đời tôi lời nhẹ trách mà thương nhiều. Trái tim nhà thơ vốn vậy luôn bao dung, luôn đầy đạm. Lời trách cứ thành âm vang trôi xuôi theo dòng sông:

Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Em đi rồi biết có quay trở lại. Nhưng cho dù có trở lại nhưng tất cả đã lỡ làng, đã kết thúc, câu thơ vang lên một âm thanh buồn bã của sự đợi chờ vô vọng “biết đâu mà chờ!”. Thời gian không đợi, người không hẹn quay về chỉ còn lại dòng sông và tâm trạng nỗi sầu của người đợi đò. Câu thơ gợi nhớ những câu ca dao với những nỗi buồn sông nước:

-Nước sông lững đững lờ đờ
Thương người nói vậy biết chờ hay không.

-Sông sâu cá lội ngù ngờ
Biết em có đợi mà chờ uổng công

-Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.

-Sông sâu biết bắc mấy cầu
Khi thương thì anh thương vội
Khi sầu anh để lại cho em

Gì buồn hơn giữa những dòng sông đỏ nước phù sa, con thuyền không thấy quay về. Dòng sông buồn thấm vào ca dao, chảy tràn qua thơ Hư Vô để thi sĩ ngẩn ngơ, nuối tiếc, xót xa, hụt hẫng và rồi chỉ biết buông xuôi:

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!
(Hư Vô)

Ở khổ thơ thứ hai, “Khi xưa” không và chưa bao giờ mất đi trong lòng thi sĩ; nó luôn song hành cùng thực tại “Bây giờ” đó là ranh giới của tình yêu: Anh vẫn không đổi  thay. Không gian xưa hẹp chỉ là một bến sông, mà anh luôn đợi dù biết đợi chờ cũng chỉ để ngậm ngùi “Đi lên đi xuống” tôi thích chữ “ vòng vo” mà thi sĩ dùng. Đẹp, lạ và mang hơi hướm của ca dao tạo sự chân thực trong từng câu chữ. Vòng vo là trạng thái đi không định hướng, câu chữ gợi tôi nhớ đến chàng trai trong bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” với động tác trèo lên/ bước xuống dường như vô thức để diễn tả sự mất phương hướng khi lỡ duyên. Và thi sĩ của chúng ta lại chọn bến sông để “đi lên đi xuống vòng vo” để diễn tả một cảm xúc buồn khi tình yêu đã hết. Vòng vo của bước chân lên xuống vô định kia làm trái tim người đọc cũng như lây nhiễm nỗi đau tình. Hư Vô đang đánh thức điệu hồn ca dao dậy để nỗi ngậm ngùi như sâu, như rộng, như dài hơn dường như để bắt kịp không gian. Ngày xưa là một không gian hẹp “bến sông” bây giờ là một không gian rộng “cách mấy đại dương”.  Xưa chỉ một không gian hẹp mà đã lạc nhau một đời, giờ là không gian rộng thì làm sao mà tìm! “Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!”. Câu thơ dường như phá cách trong kỹ thuật hài thanh, câu chữ dường như không xuôi chiều, dường như có sự chống đối lại nhau. Tôi nghĩ câu thơ có thể viết thành “Muốn thăm em, biết đường nào mà đi!” nhưng thi sĩ không viết vậy bởi vì anh muốn dùng “biết đâu” ở khổ thơ trên thành “đâu biết” ở khổ thơ này như một cách nhấn. Biết đâu là một phủ định, đâu biết cũng là một phủ định, một khẩu ngữ dù có đảo cách nào đi chăng nữa cũng để thể hiện một nỗi niềm sự bế tắc, mịt mờ phương hướng của những kiếm tìm. Tôi nghe như lời tình vô vọng đang vang lên để rồi đọng lại thành nỗi buồn sông nước. Bến chờ, bến đợi trong ca dao chỉ còn trong tâm tưởng, bến sông xưa đã ngăn cách mấy đại dương nên bến tình buồn hiu hắt. Tôi thương những dòng sông đợi đò trong chiều vắng ngắt chỉ có gió lạnh đi qua không nói năng gì, tôi thương lữ hành đợi người nơi bến vắng chiều mưa để bao nhiêu hơi buốt giá thấm vào hồn:

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…
(Hư Vô)

Chiều xuống, chiều đang rơi, chiều tàn… Đó là cách mà ta thường dùng khi nói về hoàng hôn, Hư Vô viết “chiều phơi cuối ngọn xuân thì ” cách viết vừa lạ, vừa hình tượng. Tôi tưởng tượng buổi chiều như đang phơi trần trước ta, dấu vết cuối ngày đã buồn lại càng buồn hơn khi hình ảnh người con gái ngồi phơi cuối ngọn xuân thì. Cái đẹp dường như đã tàn, đã kết thúc tạo nỗi ngậm ngùi dài và rồi nhân vật trữ tình cũng rời bỏ nỗi muộn phiền của đời mình trong một nồi niềm day dứt:

Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
(Hư Vô)

Yêu là để chờ trong muộn màng, nuối tiếc; yêu là để trĩu nặng niềm ray rứt không nguôi, yêu là những bâng khuâng, nhung nhớ… Tình yêu là hạnh phúc trong nỗi thương đau, lặng im để tưởng niệm một thời tình đã qua… Phải chăng trong thi sĩ, trong tôi và chúng ta những người từng có một thời yêu có phải đã từng cho rằng: Yêu là được nhớ nhung, giữ gìn một ai đó trong tim dù có trải qua bao dâu biển đổi dời tình ấy không mất đi mà vẫn luôn nguyên vẹn.Tình yêu không đợi có nhau trong cuộc đời mà nó sẽ là một hình bóng luôn vẹn nguyên trong tâm hồn ta, nó là động lực giúp ta đứng lên khi bị cuộc đời xô ngã. “Phủi tay” có nghĩa là buông bỏ, là không còn nghĩ đến để vui hay để buồn nhưng chỉ là cái động tác ngoại hình bởì trong tâm hồn ông chữ tình vẫn chất chứa không nguôi “biết có còn gì cho nhau” một cụm từ phủ định nhưng lại mang ý nghĩa khẳng định của sự dâng hiến đầy yêu thương. Câu thơ buồn trong từng câu chữ nhưng lại trĩu nặng những “dấu tích trần ai”. Và trong tận cùng của quá khứ hình ảnh con đò lại quay  trở về:

Chuyến đò chở khẳm bể dâu
(Hư Vô)

Khổ thơ đầu là “đò”, khổ thơ tiếp là “đò em” và hai khổ còn lại thi sĩ viết “chuyến đò” như một trình tự tăng tiến đò chở khách qua sông, em là chiếc thuyền tách bến sang sông một mình và cuối cùng là chuyến đò cuộc đời. Trễ đò, khách tiếc nhớ, mong đợi. Đò em sang sông, anh hụt hẫng đau thương. Đò đời chở nặng giông tố, biển dâu chỉ mình anh nhận thì quả thật là chua xót.

Hai câu thơ cuối khoanh tròn kiếp người, kiếp tình thành nỗi buồn phơi trên ngọn xuân thì. Phủi, bỏ, ở lại.. một loạt từ diễn tả những trạng thái ngược nhau là những suy ngẫm về cuộc đời, về tình yêu. Đời là biển dâu, chàng trai đã nhận trong khoảng đời phiêu bạt, có những nỗi buồn, nỗi nhớ không thể tỏ bày và tình yêu cũng mất chỉ còn lại thi sĩ và vực sầu lạnh tanh. Lạnh tanh nghĩa là rất lạnh. Tình lạnh, đời lạnh chồng lên nhau, nỗi đau của tình lỡ, nỗi đau của bể dâu cuộc đời chỉ mình “tôi” mang không người chia sẻ. Tại sao không là “để tôi” mà lại là “bỏ tôi” . Chữ bỏ đã nói lên tất cả. Bỏ mặc, không đếm xỉa, không đoái hoài là sự từ bỏ, bỏ rơi nó là kết quả của tình yêu một thời tươi đẹp. “Bỏ tôi” đã làm tăng cao nỗi cô đơn, bẽ bàng của thi sĩ, nó dồn ép cảm xúc là một sự cam chịu đầy cay đắng, tôi thương sự cô đơn của thi sĩ trong cuộc đời, tôi cảm nhận được vực sầu lạnh tanh mà anh viết. Hai vần ”anh” liền kề tạo một âm vang, âm vang từ đáy vực nên thăm thẳm mất hút trong không gian nên cuối cùng âm thanh cũng im bặt chỉ còn lại khoảng trắng lặng im càng tô đậm dáng vẻ cô đơn của nhân vật trữ tình. “Lạnh tanh” tôi rằng nó là cụm từ đắc địa thể hiện trọn vẹn cảm xúc của bài thơ. Lạnh của yêu thương, lạnh của nhân tình, cái lạnh đã trùm suốt bài thơ nhưng càng về cuối cái lạnh càng lạnh hơn nữa thành một chuỗi âm vang không lời thể hiện cái lạnh  lẽo, trơ trọi của một nỗi đau tình khi chỉ còn mình “anh” đi trên con đường tình, đường đời  bơ vơ.

Khúc tình tan của Hư Vô đã cho tôi một khoảng lặng của ngậm ngùi, của xót xa khi tình yêu tan vỡ.  Nếu Xuân Diệu đã từng làm xúc động bao trái tim người yêu thơ với “Cung Nguyệt Lạnh” thì Hư Vô đã đem đến cho người đọc mê lộ cùng đường của “Khúc Tình Tan”. Trong khúc ca tan vỡ kia tôi thấy thấp thoáng bóng của ca dao hiện về với giọng hò thê thiết trên sông nước mênh mông với những khúc ca não lòng của  tình yêu tan vỡ. Tôi tìm thấy trong khúc tình tan của Hư Vô nỗi chạnh lòng, nỗi thương thân trong kiếp tình buồn, trong cuộc đời dâu biển đa đoan và khi bài thơ khép lại thì cái giọt “lạnh tanh” kia chính là giọt sầu, giọt đời thi sĩ, tôi, bạn đang uống từng ngày và ngày vẫn cứ trôi trong tiếng vọng của ngàn xưa với khúc tình tan của chàng thi sĩ có tên gọi HƯ VÔ.

August, 2018
Trần Sương Lam

Bóng Núi. Thơ Hư Vô


Bóng Núi

Có trèo lên đỉnh núi
Cũng chưa tới bóng em
Trăm năm nằm xõa tóc
Giữa thác ghềnh chông chênh.

Hồn em như mây trắng
Tạc vào cõi hư không
Một hình hài lạnh cóng
Cỏ mọc đầy rêu phong.

Tôi lần qua vách núi
Cho tóc em dài thêm
Chải mưa đan vào nắng
Chải hồn tôi vào em!

Để nghe tim đồng vọng
Từ những nỗi khát khao
Núi trăm năm chưa ngủ
Sợi tóc đã bạc đầu!

Phất phơ như màu khói
Trong đôi mắt vọng phu
Em nằm quay lưng biển
Cho sóng tạc hình thù!

Rạch lên đời cô phụ
Một dấu tích oan khiên
Bên tượng người dáng núi
Còn trần trụi bóng em…

Hư Vô

Quê Hương Tôi… Đồng Bào Tôi… Hồi ký Đỗ Phương Khanh


Đỗ Phương Khanh

Bách Khoa

(Đã đăng trên Báo Bách Khoa, số 267, Tân Niên 1968, số đặc biệt về biến cố Mậu Thân)

Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn.

Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc T.C.S. để mà thấy thêm yêu chuộng hòa bình.

Nhưng thật ra là dân đô thị, tôi cũng chưa thấu rõ được chiến tranh là thế nào. Đó đây trong trí nhớ của tôi chỉ thoảng qua một vài hình ảnh người đàn bà đi buôn hàng chuyến dọc đường bị mìn, cả khuôn mặt nát bấy còn lại vài cái hốc và những mảng thịt bầy nhầy di động cố thì thào:

– Con tôi, các con ơi…

Hoặc bà mẹ trẻ bế con mới sinh chạy hớt hải, tới khi nhìn xuống tay thì chỉ còn lại mớ tã lót bọc trong cái chăn, con đã lọt đi từ lúc nào, bà ta chạy nguợc lại thì ra dòng người chen chúc xô đẩy đã vô tình dẫm nát đứa nhỏ. Chỉ vài ba hình ảnh vụn vặt với cái tầm kiến thức về hiểm họa chiến tranh rất nghèo nàn của tôi như thế cũng đã đủ làm tôi rùng mình ghê sợ không muốn nhớ tới nữa. Và, như những người thích thanh bần, tôi cũng không muốn hiểu biết dồi dào thêm về mặt này.

Nhưng với chiến tranh, tôi không còn có quyền muốn hay không. Nó tàn nhẫn dạy dỗ, nhồi nhét cho tôi được hiểu biết. Tôi đã biết. Và tất cả dân đô thị đều đã biết, biết rõ ràng những đau đớn, thống khổ, tang tóc do chiến tranh gây ra. Biết vào đúng lúc lòng đang phơi phới mừng Xuân mới, biết vào lúc đang tung tăng trên đường đến Chùa, đến Nhà Thờ, lúc đang điểm trang, đang nhận tiền lì xì và các cô cậu bé biết cả vào lúc đang nhí nhảnh trước gương làm điệu hiệp sĩ….

Họ đã đổi lấy sự hiểu biết này bằng nhà tan cửa nát, bằng sinh mạng, bằng cánh tay, bằng cẳng chân, bằng máu, bằng bơ vơ xó chợ đầu đường ngay giữa ngày Xuân.

mauthanhue19681

Đây chiếc xe lam chở người đàn bà và đàn trẻ mặt mũi nhọ nhem, trong đó có một đứa mặt xanh ngắt, máu đỏ thẫm đã ngả đen bê bết trên chiếc áo sơ mi mới tinh, một cánh tay còn nát bấy lèo nhèo thịt lẫn với vải rách. Bà mẹ mặt mày ngơ ngác kinh hoàng nhìn tai nạn chụp vào đứa con yêu quí, chỉ còn biết giữ chặt lấy cánh tay chết của con như ước mong có phép mầu gắn lại. Kia, một ông mặc complet vừa chạy vừa đẩy chiếc xe Scooter mồm la hét inh ỏi, ông ta quá sợ không dám dừng lại để đạp cho xe nổ máy.

Tất cả đều kinh hoảng tột độ. Họ chết, bị thương vào những giây phút bất ngờ nhất. Họ đã được yên tâm, được ru ngủ bằng lời hứa hẹn “hưu chiến đầu năm”. Họ đã được mời dự một bữa tiệc thịnh soạn, thiệp mời in long trọng trên giấy kim nhũ, yêu cầu thực khách mặc lễ phục, để được thết bằng những món ăn tẩm thuốc độc.

Suốt những ngày khói lửa, tôi vô dụng đối với đồng bào. Tôi không giúp được gì khi được tin chồng chị bạn tôi chết giữa ngày Mồng Hai Tết, sau khi từ biệt chị để vào trại chiến đấu cùng đồng đội. Chị mếu máo:

– Hôm qua tụi em hẹn nhau tối nay đến mừng tuổi anh chị. Thế mà anh ấy bỏ em rồi. Anh ấy mới còn ngáp đây mà đã chết rồi.

Tôi không làm được gì cho chị giúp việc cũ của tôi. Nhà chị bị pháo kích cháy, chị cuống cuồng cắp hai đứa con ba và hai tuổi ra đường, chạy được vào định bế nốt con bé ba tháng thì mái nhà sập xuống. Chị tức tưởi:

– Cháu còn thấy nó dẫy trên võng. Tại đạn bắn rát quá nên mãi lúc cháy to cháu mới liều chạy ra. Cô ơi! Tội nghiệp nó quá, người nó teo lại bằng con gà quay mà bụng còn nguyên máu đỏ.

Tôi không thể làm vơi nỗi đau khổ của họ. Những lời an ủi đều vô nghĩa. Một mớ quần áo cũ, chút tiền cứu trợ có nghĩa gì với nỗi đau đớn tột cùng kia. Tất cả chỉ để cho họ được an tâm phần nào trong khi sự đau khổ đang xé nát trái tim họ.

Nhưng cũng có những hành động đẹp như bát nước mưa mát rượi tưới vào những cõi lòng héo hắt. Đó là những cụ già tóc bạc còn lặn lội đi hiến máu, những giọt máu của người già thật quí đối với họ, nó giữ gìn chút hơi tàn cuối đời mà cũng cố san sẻ để giúp nhân loại. Những cô cậu học sinh mò mẫm đi các trung tâm cứu trợ để giúp đỡ cho đồng bào tị nạn, các anh lái xe taxi, xe lam, xe honda, xe gắn máy ngược xuôi đi chở giúp những người bị nạn dời ra xa chốn bom đạn để tới những trạm tiếp cứu và những anh lính chiến len lỏi mò mẫm tìm đủ mọi cách tới được đơn vị, để chống giữ và đẩy lui những tang tóc đau thương đang tràn vào chụp thêm lên đầu dân chúng.

Trong những ngày dài dặc lo âu và xúc động, tôi thường nhìn những đứa nhỏ trong trại tị nạn đã mất cả cha mẹ một sớm một chiều – những đứa trẻ chẳng hiểu tang tóc đã đến, còn nhe răng cười khi thấy thằng bạn trượt chân – nhìn bà mẹ mất con mà phải dẹp đau đớn trong lòng, chen lấn để giành cho những đứa còn lại một chỗ nằm kín gió, nhìn ông già ngồi cạnh miệng cống đăm chiêu quấn điếu thuốc sâu kèn, để mà tự hỏi:

“Liệu tôi có nghĩ đúng khi cho rằng chỉ cần buông súng xuống là có hòa bình hay không ? Và còn có đời sống tự do hay không? Hay sẽ là những cuộc thanh trừng tàn sát còn đẫm máu hơn nữa”.

Tôi nghĩ…, tôi nghĩ…

***

Tôi không còn muốn nghĩ gì nữa. Từ thuở bé, tôi được ân huệ trời dành một nguồn hạnh phúc vô tận, là hằng đêm thường mơ thấy những giấc mộng đẹp. Tối lại, tôi đi ngủ với hy vọng gặp những giấc mộng. Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng gặp ác mộng. Đại khái là một bà già hình dung cổ quái nhe răng nhìn tôi, rồi cánh tay bà vươn ra muốn chụp lấy tôi. Tôi cố chạy mà không thể được. Những cơn ác mộng của tôi thường được kết liễu bằng sự cố chạy mà không được, tôi sẽ tỉnh lại bằng tiếng la của chính tôi.

Cơn ác mộng đã đến với tất cả các đô thị, đã đến với đồng bào tôi…. đến trong mùa Xuân … trong tiếng pháo nổ tưng bừng…. Không ai có thể la hét lên để mong tỉnh lại. Chỉ còn ao ước ác mộng chóng qua và những ngày thanh bình êm đềm cũ lại trở về.

Đỗ Phương Khanh
Sài Gòn -1968

Nguồn: http://khaiphong.net/showthread.php?18756-Tuy&%237875;n-t&%237853;p-&%23272;&%237895;-Ph&%23432;&%23417;ng-Khanh

 

Quán Thơ Hư Vô 292


EM NHƯ CHÙM HOA SỨ

Em như chùm hoa sứ
Nở giữa vườn không tôi
Đêm thả hương đầy tóc
Giấu riêng cho một người.

Chỗ em nghiêng xuống thấp
Quờ quạng thoáng chiêm bao
Mưa còn chưa ướt áo
Một thời tình qua mau.

Thì dù sao đi nữa
Cũng có lần cho nhau
Nụ hôn đầu bỡ ngỡ
Bên chùm sứ ngọt ngào.

Chân tôi còn lảo đảo
Bước vào cuộc bể dâu
Giữa trần ai huyên náo
Còn chút tình mang theo.

Giữ cho đời thơm ngát
Những dấu tích thăng trầm
Trong nụ hoa nở chậm
Có bóng người trăm năm…

Hư Vô

LÁ VÀNG THU CŨ

sao nhớ quá chiếc lá vàng thu cũ
buổi người đi màu nắng cũng phai dần
trong ký ức một cõi buồn trú ngụ
chợt vỡ òa trong nỗi nhớ bâng khuâng

có phải không từ mùa thu đã chết
đã theo nhau đi suốt cả cuộc đời
để còn tiếc chút hương tình tha thiết
vẫn đậu hoài trong nỗi nhớ chơi vơi

màu lá vẫn còn nằm trong hoài niệm
dẫu úa vàng theo năm tháng xa xôi
em có nhớ chút tình tôi lưu luyến
mãi theo nhau về phía cuối chân trời

tôi giữ lại những mùa vàng xưa cũ
chiếc lá nằm nguyên vẹn giữa tim đau
nghe chợt nhớ mối tình giờ yên ngủ
đã dần phai trong màu nắng thu nhàu…

nguyễn minh phúc

MỘT LẦN ĐI

rồi ta cũng một lần đi, vĩnh viễn
khi khăn tang thầm lặng đội lên đầu
em mới hiểu nghĩa tử là nghĩa tận
và những gì cần tha thứ cho nhau

em sẽ khóc – có khi không khóc được
chút hoàng hôn còn trống trải lòng em
em sẽ tiếc một lần không nói hết
để ta nghe không hết một êm đềm

đến như thế là đời em phải thế
phải đầy hơn những chia biệt trong đời
sông cứ chảy mù xa, và cứ chảy
nên vô tình em chẳng biết sông trôi?

Hoàng Lộc

CUỘC VỀ

Người về một nắng hai sương
Da chia, thịt xẻ, thiên đường vỡ tan
Lưng khom, áo lạnh, tay dàn
Thương em, nhớ mẹ cung đàn vỡ đôi

Người về chân thọt, tình phai
Nương cau, vườn chuối ngọt bùi với ai?
Chiều xuân chống gậy nhìn trời
Lòng nghe mưa bụi hết thời thanh niên

Người về mặt đất nhá nhem
Đồng không mông quạnh sầu điên trong hồn…

Trần Dzạ Lữ

MƯA BÊN NẦY NHỚ NẮNG BÊN KIA.

Người chối từ chia sớt buồn vui
Sương giăng in mép lá ngậm ngùi
Hồn treo đá tảng từ muôn kiếp
Giấu nỗi oan khiên lẫn ngọt bùi.

Gió tẩy trần thơm một ngón tay
Trăng non tiếc nuối dấu lưu đày
Che tôi khôn hết màu mây khói
Cuối một phương trời lạnh phút giây.

Vó đã chồn chân kiếp ngựa người
Em còn son trẻ đỏ bờ môi
Tội mưa và nắng chia hai hướng
Người một mình ngược bóng đêm trôi.

Em như nắng sớm nét tinh khôi
Tôi hóa mưa chiều rơi lẻ loi
Mai kia tóc nhớ thèm xanh lại
Đuổi kịp dòng đời đã mù khơi?

Đón nhau về thắp ngọn nắng khuya
Thèm hôn ánh mắt vội chia lìa
Ừ thôi tình mỏng hơn voan lụa
Mưa bên nầy nhớ nắng bên kia.

Nguyễn An Bình

CÒN PHẢI ĐI QUA NGÀY THÁNG ẤY..

Đi qua ngày tháng vụn
Gom không hết nỗi buồn
Niềm vui như gió thoảng
Thổi qua mùa vô lương..

Đi qua thời khắc cạn
Thuyền đắm dưới bãi bờ
Con còng bươi nỗi nhớ
Lăn giữa chiều ốm o..

Đi qua vùng ngộ nạn
Ta tiển ta về nguồn
Bên kia đời hẹn lại
Vạt cỏ mềm hơi sương..

Đi qua thời thổ tả
Thân nhiễm bùn ô man
Tình trối lời tuẫn tiết
Trên vũng lầy nhân gian..

Đi qua vòng hữu hạn
Soi lại mình sau đêm
Giọt rượu nào đã gội
Một mảnh hồn lấm lem..

Đi qua miền cổ sự
Đất gọi lạ tên mình
Về đâu, dông đã tới
Vây phận đời mong manh…

Trung Chinh Ho

CHIỀU ĐẬM HƠN XƯA

Thân đứng thẳng giữa cõi đời nghiệt ngã
Hồn liêu xiêu theo gió quật trăm chiều
Bàn tay lạnh ngoi lên từ cơn lũ
Vẫy phương nào nghe tiếng vọng mùa yêu

Kìa phương em vạt nắng chiều thoi thóp
Kìa phương người sương khói phủ ngàn lau
Khi gặp gỡ có khi là ly biệt
Dây đàn chùng đọng vũng những niềm đau

Ngày giá rét môi có làm khăn ấm
Mắt có làm tia lửa sáng long lanh
Đời đã phất bao nhiêu tà áo giấy
Áo lụa sầu loang lổ vệt rêu xanh

Ấp giả định nở ra đầy quán tính
Dăm tấm lòng mòn mỏi góp tàn hơi
Đá vô cảm phũ phàng khoe nét tĩnh

Lũ đười ươi lấp liếm những con người
Vẫn lặng lẽ độc hành vào vô ngã
Quay trở về tìm những dấu chân đi
Buồn tù đọng trong tâm hồn vi cảm
Nghiêng bên nào để trút sạch u mê?

Lưu Xông Pha

NẾU CÓ MỘT NGÀY

Nếu tháng giêng khi xuân vừa mở cửa
Tôi quay về… tìm hoa dại đường xưa
Có cánh bướm một thời tôi vương vấn
Biết còn không? sao cứ nhớ bâng khuâng.

Nếu tôi về mùa rộn tiếng ve ngân
Sắc hoa phượng cháy đỏ trời thương tiếc
Vạt áo trắng bay bên đường ngày ấy
Xa lắm rồi… kỷ niệm cũng mù khơi.

Nếu chớm thu tôi về không ai đợi!
Biết tìm đâu một thuở dấu chân người?
Thắp ngọn nến – đón mùa sang lặng lẽ
Tuổi thêm đầy – càng vợi bớt ngày xanh.

Nếu mùa đông tôi về bên giếng lạnh
Khua tiếng gàu tìm kiếm một vầng trăng
Mặt nước kia đã lâu rồi phẳng lặng
Tìm được không dư ảnh của một thời?

Đã bao lần tôi đếm lá vàng rơi
Mới chớp mắt mười năm đi qua cửa
Nếu một mai – tôi không quay về nữa
Mọi ưu phiền gió hãy cuốn dùm tôi…

Phan Mạnh Thu

THƠ TẶNG NGƯỜI BẠN NHỎ

Mùa hạ cũng sắp đi qua rồi đó
Ve thôi ngân khúc ly biệt trên cành
Và thu cũng chở mây về theo gió
Lối quen còn im một khoảng trời xanh

Lòng nôn nao chờ vào năm học mới
Vàng thu chiều nắng nhạt ở trên cao
Sân trường nhớ một mùa vui vẫy gọi
Tuổi hồn nhiên năm tháng vẫn đợi chờ

Bỏ sau lưng những ngày hè qua vội
Những chuyến ngoạn du xuống biển lên rừng
Ngày sẽ lại vui cùng trang vở mới
Với bạn bè và trường lớp đợi mong …

Xin dang tay đón mùa thu trở lại
Hàng phượng già thay lá mới non tơ
Và cứ thế, tuổi thơ qua chầm chậm
Để mai này đôi lúc nhớ ngẩn ngơ!

Sông Trẹm

Quán Thơ Hư Vô 292

Quán Thơ Hư Vô 291


Quán Thơ Hư Vô 291

CÀ PHÊ VỈA HÈ

Tôi chạy tới khúc đường cùng tận
Đuổi giọt mưa bay ướt áo người
Chân dẫm nát lên chồi gai nhọn
Còn nghe thương tích chạm tim tôi!

Ngày đi không một lời hò hẹn
Quán vỉa hè đã vắng bóng em
Giọt cà phê chờ nhau rơi chậm
Trên từng nốt nhạc vẫn còn quen.

Góc phố Nguyễn Du chiều chủ nhật
Muỗng khua đáy tách gọi em về
Dáng ai hiu hắt như giọt lệ
Pha buồn sóng sánh khói cà phê.

Để em quay mặt vào người lạ
Dấu son còn bỏ lại trên môi
Tôi hớp giọt tình chung cùng cạn
Quán không mà thiếu một chỗ ngồi…

Hư Vô

PHỐ VÀ EM

Một hôm
ngồi với mỹ nhơn
Uống bia
uống cả Sài Gòn không say
Chỉ là
cách một gang tay

em
anh
thấy như dài hụt hơi
Chiều nghiêng
nắng ngã lưng trời
Anh nghiêng mặt
hôn môi người trăm năm
Hồ Con Rùa
nước lặng câm
Sững sờ
phố bỗng xanh ngần
Phố ơi!

Linh Phương

CHỚM THU

Nàng thu vừa gõ cửa
Chân rón rén qua thềm
Đêm qua hồn hoa cúc
Cựa mình tạ từ sen.

Trăng non nhô tóc mây
Vườn khuya thoảng hơi may
Mùa rưng rưng cảm giác
Thu vừa đến nơi nầy…

Khuôn mặt buồn tinh khôi
Nàng chớm thu lên ngôi
Đất trời im không nói
Em choáng ngợp hồn tôi!

Sáng ra bờ giậu biếc
Cánh bướm non thẩn thơ
Ồ nàng thu trong lá
Máu buồn rười rượi thu!

Trần Thoại Nguyên

MÂY MÙ TỎA

Ta sẽ đi và người sẽ xa
Sẽ buồn sẽ nhớ cơn mưa hạ
Sẽ thương vó ngựa đời thiên mã
Thép đã xanh lên mộng hải hà.

Phiêu linh, phiêu linh đường lên dốc
Nhớ Mẹ chiều hôm lệ bỗng sa
Biên cương, biên cương hề! cô độc
Ta nhớ mùa thu nhớ chiến trường.

Đường xa mây cuốn mây mù tỏa
Ai nấu trà thơm ở cuối sông
Bao nhiêu cánh hạc còn phiêu bạt
Ta ở ven trời mơ nước lên.

Gió bụi vẫy tay cùng mưa nắng
Lãng tử hề! con mắt đẫm mù sương
Kề môi khẻ chạm vào thinh lặng
Lần sau cùng từ biệt cả thân tâm.

Lý Thừa Nghiệp

GIẬN ĐÃ NƯ CHƯA?

O giận đã nư chưa?
Lần ni tui khôn dỗ…
Đi mút mùa luôn đó
Thói ương ương cho chừa!

Biết Huế trời hay mưa
O qua cầu lạnh lẽo…
Vôi chưa têm trầu héo
Tình nớ không ai đưa…

O giận đã nư chưa?
Chiều căm về lối cũ
Tui sẽ ngưng làm thơ
Cho tim ai thúc thủ!

Nhặt nỗi buồn đã cũ
Đưa lên môi hôn bừa
Ghét rồi O Tôn Nữ
Trong cấm thành khi xưa…

Trần Dzạ Lữ

LỤC BÁT TUỔI HAI MƯƠI

Thu về gợi nhớ thu xưa
Ngày rời cố xứ trời thưa nắng vàng
Ra đi khuất mấy dặm ngàn
Thềm xưa đành để trăng vàng lạnh rơi.

Sớm nay thu nhạt sắc trời
Ngoài hiên chiếc lá buồn phơi ngậm ngùi
Ta vừa sang tuổi hai mươi
Đêm mơ cố xứ tàu xuôi quê nhà.

Mơ thời áo trắng đã xa
Chút hương mùa cũ hẳn đà nhạt phai
Tóc dài đã cắt ngang vai
Lấy gì để hẹn một mai quay về.

Quê người mờ mấy sơn khê
Sắc hương giữ đến ngày về được không
Sợ mai nhạt mất má hồng
Tìm trong cổ kính chẳng còn bóng xưa!

Nến tàn bỏng lệ – buồn chưa!
Vừa hai mươi tuổi đã thưa tiếng cười.
Lược gương cũng vắng tay người
Cung đàn rơi lạnh ngậm ngùi vì đâu!?
……
Ngoài sân ướt đẫm hạt ngâu
Mưa chi mưa mãi… để sầu riêng ai.

Phan Mạnh Thu

RÓT RƯỢU TRẦN GIAN

“Mưa từ cõi cũ mênh mang
Rượu trần gian lạnh nên lòng hoang vu”
Thơ Hạ Quốc Huy
1*
Thiền sư ôm rượu xuống đời
Hồ trường lệ tửu hâm mời giai nhân
Say đi để nhớ một lần
Sá gì thiên hạ, đâu cần nhân gian
2*
Rượu ta pha với bạt ngàn
Có ngâm sim tím, tẩm hàng lệ đau
Có cung kiếm lạnh trăng sầu
Có đời bảo táp dãi dầu quan san

Rượu ta nấu bởi ngang tàng
Rót ra, gió hú, thơm ngàn gian nan
3*
Rượu xưa, ủ đá cơ hàn
Nhạt môi trinh nữ. Lỡ làng thương đau
Ta từ cỏ úa sông sầu
Kêu con nước cạn biển dâu gọi nàng

Mưa từ cõi cũ mênh mang
Rượu trần gian lạnh nên lòng hoang vu
4*
Hồ trường rót hận thiên thu
Một trời hảo hán bụi mù chưa qua
Máu tươi đẫm nửa sơn hà
Thấm vào mạch đất, phù sa tài bồi
5*
Chung nầy tặng cuộc đổi dời
Mai đi, hồn núi vẽ đời ngàn sau
Em về, hát khúc tình sâu
Đợi lòng phai nhạt qua cầu nước trôi
6*
Rượu chừ ướt ngực áo lơi
Thoảng hương thiếu phụ thơm trời nổi trôi
Rượu say anh nhớ em cười
Em say. Cứ ngủ. Ta ngồi quạt cho

Hạ Quốc Huy
Wildomar, Riverside, California, USA

LỜI NGUYỆN CẦU TRONG MƯA.

Xin mưa cho qua những lời nguyện cầu
Xin tay cho ôm những nụ hôn đầu.
Đời người hôm nay gặp nhau bao lâu
Để rồi mai thôi giận dỗi u sầu.

Xin mưa trôi đi những hòn sỏi nhỏ
Những lá rụng buồn xoay tít mương sâu
Cơn gió vô tâm xô ngày rúm lại
Người cầm nụ cười nhân gian về đâu.

Mưa cuốn trôi đi linh hồn đá sỏi
Đồng ruộng sặc cười cỏ rác u ơ
Tôi muốn nghe chim kinh cầu nhật tụng
Trong hốc u buồn sâu mọt tìm nhau.

Người trên ngôi sang ngai vàng chói lọi
Có biết tận cùng giun dế kêu than
Có biết cao xa chúa thần vẫy gọi
Có biết nhân gian xói lấp non ngàn.

Lòng người mưa trôi mưa trôi triền miên
Đồng hoang nhớ ánh mặt trời cuồng điên
Em ở trong ta vô cùng tuyệt vọng
Nước mắt em tràn sông suối vô biên.

Ngày em về mưa xin mưa ngừng lại
Cho tóc em gầy xanh nốt ngày xanh
Đồng hoang ta đi chưa cày cấy lại
Hạt giống chung tình khô dại mong manh…

Lê Bảo

Quán Thơ Hư Vô 291..

Em Như Chùm Hoa Sứ. Thơ Hư Vô


Em như chùm hoa sứ
Nở giữa vườn không tôi
Đêm thả hương đầy tóc
Giấu riêng cho một người.

Chỗ em nghiêng xuống thấp
Quờ quạng thoáng chiêm bao
Mưa còn chưa ướt áo
Một thời tình qua mau.

Thì dù sao đi nữa
Cũng có lần cho nhau
Nụ hôn đầu bỡ ngỡ
Bên chùm sứ ngọt ngào.

Chân tôi còn lảo đảo
Bước vào cuộc bể dâu
Giữa trần ai huyên náo
Còn chút tình mang theo.

Giữ cho đời thơm ngát
Những dấu tích thăng trầm
Trong nụ hoa nở chậm
Có bóng người trăm năm…

Hư Vô

0624A256-C156-4D61-86A7-0D6C5999F7C5

Thi Sĩ Hư Vô – Như Loài Chim Thorn Birds. Tùy bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Như Loài Chim Thorn Birds

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…

Hư Vô

Như Loài Chim Thorn Birds

Hình ảnh chim, cánh chim không lạ trong văn chương Việt Nam xưa cũng như nay. Ta có thể bắt gặp trong văn chương trung đại cánh chim mang cả buổi chiều trong đôi cánh nhỏ, chao nghiêng; cánh chim bơ vơ, lạc loài cuối chân trời tìm về chốn bình yên; cánh chim với giọng hót nức nở của nỗi thương nhà, nhớ nước… Nối tiếp dòng văn thơ cổ, nhiều thi phẩm hiện đại vẫn thấp thoáng những cánh chim bay:

“Chim trời thả bóng vào mây
Ngẩn ngơ thả nhớ vào ngày xa em”
(Hoàng Đình Quang –Chiêm Bao)

Ngày mai nhạn sẽ hợp đôi
Ngày mai tôi sẽ ngỏ lời yêu em (Ngày mai)

Nhưng tội nghiệp, trên trời đôi nhạn lạc,
Cứ yêu nhau đừng tưởng đến ngày mai..
(Lòng anh – Hàn Mặc Tử)

Những cánh chim trong thi đàn hiện đại Việt Nam thường là cánh chim chuyển tải những cảm xúc của con người trong tình yêu với khúc hoan ca lẫn bi ca về tình yêu. Hư Vô cũng hòa vào chương khúc tình yêu của Việt Nam, của nhân loại lời hát tình yêu “Như Loài Chim Thorn Birds”.

Trong truyền thuyết có một loài chim là Thorn Birds. “Loài chim ấy chỉ hót một lần trong đời nhưng là tiếng hót hay nhất thế gian. Có một lần nó rời tổ bay đi tìm cho bằng được một bụi mận gai. Giữa đám cành gai gốc, nó cất tiếng và hát bài ca của mình rồi lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Nó không biết sức mạnh nào đã buộc nó lao vào mũi nhọn đến chết mà vẫn hót. Lúc mũi gai xuyên qua tim, nó không nghĩ rằng mình sắp chết, nó chỉ hót cho đến lúc mất tiếng đứt hơi”…và thi sĩ Hư Vô đã mượn loài chim Thorn Birds để gửi vào đó khúc tình buồn của mình.

Khúc tình buồn ấy bắt đầu bằng câu chuyện thuở mới quen nhau:

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.
(Hư Vô)

Hai câu thơ đầu tôi cảm nhận lạnh, lạnh tanh. Trần gian lạc lõng, chơi vơi. Trần gian đơn điệu chỉ có tiếng khóc, tiếng cười. Trần gian không có gì để gắn bó nên chẳng thiết tha. Lạnh, nhạt, câu chữ hằn một nỗi chán chường đến mệt mỏi. Nhưng chàng thi sĩ không đi một mình, vô tình nhận ra “em” cũng bước vào cõi tạm với sự “lân la, chen chúc” hai từ này trong văn nói thường mang nghĩa “chê” (nghĩa âm tính), nhưng khi ngôn ngữ đã thành thơ sẽ trở nên sống động, tượng hình lạ lùng. Còn từ “hóa thân” lại là một từ đẹp. Tôi cho rằng “em” ở đây có một cái gì không như trước, không giống như xưa và khi hai người yêu thương nhau không cảm nhận sự gần gũi thì sao có thể gắn bó. “em hoá thân thành người lạ” dường như là lời báo trước của thi sĩ về cuộc tình tan. Kiếp trước hẹn hò gặp nhau kiếp sau. Nhưng kiếp sau lại có một cái gì chênh giữa hai con người ấy. Tôi cảm nhận hình như giữa hai con người ấy “lạc” mất nhau rồi. Nhớ lời thề nguyền, tìm dấu tình yêu, tìm chốn ước hẹn chờ người:

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
(Hư Vô)

Lãng tử tìm thấy dấu chân thuở trước như một di tích luân hồi. Nhẽ ra dấu vết ấy nên dùng chứng tích hay dấu tích nhưng nhà thơ lại chọn di tích luân hồi. Một nghệ thuật cường điệu để dấu tích trần ai bình thường thành di tích luân hồi đặc biệt. Đặc biệt vì khối tình ấy như khối ngọc lưu ly không tan, luân hồi theo kiếp người. Tình đẹp, thi sĩ nặng tình. Câu thơ ấm áp, tỏa rạng, cảm xúc thăng hoa. Nhưng cái gì đẹp lại không ở với ta lâu, tình như chiếc bóng vừa thấy đã tan biến. Sự chóng vánh tạo giọng điệu xót xa:

Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!
(Hư Vô)

“Cựa mình” câu chữ chạm đến sự mong manh. Tình sao mong manh thoáng qua trong tia nhìn rồi hun hút trôi đi. Hụt hẫng, bàng hoàng, tiếc nuối. Trái tim nặng tình đau xót không nguôi. Ý thơ làm tôi nhớ đến một câu ca dao:

“Xốn xang như muối xát gừng,
Phải chi hồi trước ai đừng biết ai!” (Ca dao)

Người tình trong ca dao hối tiếc vì biết duyên không thành thì thà đừng quen nhau. Lãng tử không hối tiếc mà đau xót vì không giữ được tình đã đợi chờ nhau bao kiếp.

Tình yêu đã hết thì không thể quay lại được nữa, cho dù tâm còn động, cho dù không thể quên. Điều này đến bây giờ tôi mới cảm nhận được: Người ta rời bỏ nhau không phải vì hết yêu nhau mà vì không còn có thể ở cùng nhau được nữa. Có lẽ vì vậy mà câu thơ “Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!” đã trở thành nỗi ngậm ngùi dài.

Vì sao mà chia tay có lẽ chỉ mình lãng tử hiểu và đã là niềm riêng thì sao có thể sẻ chia chính vì cứ mang nên nỗi sầu cứ nhân lên nhiều dần cho đến một lúc phải vỡ tung, phải kết thúc, phải dừng lại. Khổ thơ tiếp tôi cho rằng nó là khổ thơ nặng chất kịch tính đẩy cảm xúc của thi sĩ lên cao trào:

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.
(Hư Vô)

“Tôi” xốn xang, lảo đảo, thất thanh, thảng thốt… một loạt từ láy diễn tả nhiều cung bậc của tâm trạng tràn ngập những âu lo, thảng thốt, hãi hùng. Âm thanh, cảm xúc, hành động được khuấy động lên như một cơn giông bão mịt mù. Động lực cuối cùng để tồn tại cũng không còn. Tình bao kiếp cũng tan vỡ, sức chịu đựng hoàn toàn sụp đổ thương quá hình hài của chàng trai “phiêu lãng mang hồn đi ở trọ” âm thanh thảng thốt cuối cùng cất lên là khúc hát về tình yêu bất tử trỗi dậy trước khi nhận chùm gai nhọn xuyên thấu qua trái tim mình. Dòng máu chim Thorn Birds đang tuôn chảy, dòng máu của chàng trai đang tuôn chảy cuốn theo dòng nước mắt của tôi – người đã chứng kiến mối tình giẫy chết. Hóa thân của tình yêu sao quá đắt, gục xuống trên chùm gai nhọn vẫn là kiếp cô đơn và trong tận cùng sâu thẳm của linh hồn yêu vẫn khắc khoải một điều da diết: mong giọt nước mắt em rơi trước chân tình của tôi. “Đâu chắc gì” vẫn là giọng buồn thương da diết ẩn chứa một nỗi niềm một hoài vọng, mong ngóng. Không có dịp để làm người tình chung nhưng không thể thì mong được một lần “khóc chung”. Ước muốn đơn giản nhưng vẫn không thành hiện thực. Lời thơ chất chứa những đắng cay.

Sự ruồng bỏ đã thành hình nhưng trái tim tình yêu vẫn không ngừng khắc khoải một ước mơ: chàng trai phiêu lãng gửi lại cho đời khúc tình yêu bất tử, một tặng vật tình yêu quý giá cho những tình nhân đang tha thiết yêu nhau:

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…
(Hư Vô)

Một hồi ức về tình yêu đã qua. Vẫn là cái nhìn bao dung, nhân hậu của thứ tha. Em cũng đã từng yêu tôi, từng hy sinh cho một tình yêu vĩnh cửu cũng từng bị gai cào nát thịt da. Dấu tích tình yêu, sự tận hiến của em cho tình vẫn còn ghi dấu, cho dù hôm nay em đã quên, đã không còn yêu thương tôi vẫn không trách hờn, tôi vẫn muốn để lại cho em một khúc hát của tình yêu bất tử, món quà tôi tặng ghi dấu những hoan lạc của tình yêu cùng những ngọt ngào, cay đắng. Đó là “dấu tích trần ai” Nếu chỉ là dấu chân hoang qua cõi tình nhiều kiếp chỉ là một “di tích luân hồi” nhưng đã là sự hiến dâng thì lại là một kết thúc luân hồi để tình yêu chuyển sang một cung bậc mới “dấu tích trần ai”. Tình yêu định hình trở thành những vết cắt đớn đau “Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn” nhưng rồi nó “ghim” thành một một dấu tích ngọt ngào. Điều rất sâu trong cảm nhận của thi sĩ là nỗi đau đớn của kiếp tình sẽ thăng hoa trở thành một bông hoa, bài nhạc khi nó được trui rèn trong sóng gió, trong sự tha thứ, bao dung, trong sự tận hiến của con người như Meggie Cleary – người phụ nữ trong tiểu thuyết “Tiếng Chim Hót Trong  Bụi Mận Gai” được Colleen Mc Culough xây dựng lên chính là hiện thân của loài chim Thorn Birds. Meggie biết tình yêu không phải chỉ là vị ngọt, nó có cả vị mặn chát, chua, cay của nước mắt, của ghen tuông, của hiểu lầm, của chia ly… mà nhiều khi, cái vị ngọt ngào của hạnh phúc, trong cả cuộc yêu mình chỉ nếm được một lần. Nhưng cái gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi người ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại. Bởi vậy nên cô cứ lao ngực vào bụi mận gai, vắt kiệt sức mình vì tình yêu, dù biết nó có thể vô cùng đau đớn.

Bụi mận gai không lạ với những tình yêu mãnh liệt. Ở đó, những tình nhân đã từng nếm nhiều hương vị của tình yêu ngọt ngào, chua cay lẫn đớn đau. Mỗi lần đớn đau là thương tích toàn thân, nỗi đau như máu tim chảy tràn. Lời thơ làm tôi nhớ đến lời của một bài nhạc “Speak Softly Love” của Nino Rota do Larry Kusik viết ca từ và Trường Kỳ dịch lời Việt: “Có biết đau thương mới như là tình / Say đắm trong đời thì mới là yêu. / Tình như đớn đau tình xé lòng nhau / Muôn đời không lành.” (Thú Yêu Thương)

Chết cho tình yêu, cái chết ngọt ngào tuy đớn đau nhưng khẳng định cái quý giá của tình yêu. Nếu cuộc sống trần gian không còn chỗ cho tình yêu tồn tại thì nơi ấy đã tận thế.

Đọc bài thơ tôi tự hỏi: Tình yêu không phải lúc nào cũng là khúc ca hoan lạc mà có khi còn là khúc bi ai. Phạm Thái vì tình mà vỡ tan giấc mộng anh hùng, Honoré de Balzac chờ đợi hơn hai mươi năm để đến với tình yêu muộn của mình và còn bao nhiêu cặp tình nhân đã như loài chim Thorn Birds kia chấp nhận cái chết để dâng tặng cuộc đời một khúc ca tuyệt vời, như Meggie Cleary hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho “người tình trăm năm” mà không hề hối tiếc. Vị đắng của tình yêu càng nhiều thì vị ngọt ngào càng có ý nghĩa hay nói một cách khác tình chỉ đẹp, mãi mãi tồn tại nếu ta biết dâng hiến, chấp nhận mọi nỗi đau chỉ cho riêng mình.

Trần Sương Lam

Tài liệu tham khảo:

Trang Tho Hư Vô

https://evan.vn- : Hạ Miên

Quán Thơ Hư Vô 290


Người Tinh Hư Vô...

NGƯỜI TÌNH HƯ VÔ

Tại em bước vội qua cầu
Đâu hay ngọn tóc vướng vào vai anh
Giật mình chiếc lá rơi nhanh
Heo may gãy đọt trên cành nguyên trinh.

Ghềnh khơi con nước động tình
Mùa thu cởi áo phơi hình hài em
Tơ vàng trải lối chưa quen
Ngại em dốc lạ đường trơn khó vào.

Anh về bước chậm, cầu cao
Gai ngang vết cắt nát nhầu dấu chân
Có qua hết đoạn đường trần
Xin em chăn giữ mộ phần, riêng anh.

Nhỏ xuống giọt lệ tàn canh
Thao thức cùng ngọn cỏ xanh trở mình
Mà nghe hồn vía phiêu linh
Từ em cát bụi tượng hình hư vô…

Hư Vô

TRỞ LẠI

Tôi trở lại Duy Xuyên rồi đó bạn!
Bến sông xưa bông hoa gạo không còn
Trời Mỹ Sơn nắng ngả vàng hiu hắt
Dọc đường về hoa tím trải mênh mông.

Xóm nhà nhỏ – một thời tôi đã sống
Cỏ lên xanh khuất lấp dấu xưa rồi
Kể từ độ lửa binh mờ Xuyên Phú
Nước mắt mình rơi ướt buổi chia phôi.

Bạn bây giờ phương trời xa vời vợi
Có khi nao chạnh nhớ tuổi ấu thời
Nhớ ngôi trường ta học hồi bé dại
Cây phượng già kết trái mỗi mùa thu?

Bốn mươi năm, tôi quay về chốn cũ
Đứng bên sông thèm nghe tiếng gọi đò
Ôi tuổi thơ – đồi mơ – thung lũng nhỏ
Quay quắt lòng, nhớ quá những ngày xưa.

Phan Mạnh Thu

XIN GIỮ LẠI CÂU THƠ

trời sinh chi nhiều hồng nhan cho mệt
chỉ em đây đủ giết một đời người
ta bị giết (và ta từng chịu chết)
trên ngọn tình còn đắm đuối, trăng soi

cầm câu thơ ta, em đi bát phố
uy nghi buổi chiều môi mắt thanh tân
có khi câu thơ động lòng thiên hạ
nghe ra lồng lộng tiếng thơ buồn?

em thiếu phụ bỗng hóa thành thiếu nữ
chồng con – (một lần vắng mặt chồng con)
em cất câu thơ ngập ngừng e sợ
để cứ đi về một phía tình nhân

phía tình nhân – ta đã từng chết ngọt
trái tim năm xưa chưa hết dại khờ
ta quên mất ta có lần bị giết
đưa tay gầy xin giữ lại câu thơ…

Hoàng Lộc

ĐÊM CUỐI, CÙNG THẾ KỶ

Ta về qua ngõ vắng
đêm tối lửa tắt đèn
ví xưa đừng hẹn ước
đâu bận lòng nhớ mong.

Ngõ quen giờ bỗng lạ
người gần giờ bỗng xa
rót tràn chung tiễn biệt
uống tràn nỗi can qua.

Mai rồi ta mạt kiếp
hồn còn vương vấn sầu
đêm cuối, cùng thế kỷ
lệ biết chảy về đâu?

Thắp đầu môi ngọn thuốc
đốt mãi tình không già
sao nghe hồn giá buốt
thương trái tim không nhà.

Đêm nay trọ quán vắng
men buồn thấm ướt mi
cố nuốt cơn mộng đắng
ôi còn đâu! Xuân thì?

Ta về qua ngõ hẹp
hồn miên man buồn
đêm cuối, cùng thế kỷ
bỗng dưng thèm: Cố nhân!

Đức Phổ

ĐỨNG BÊN ĐỜI, ĐỢI GIÓ

Cánh cửa nào em mở ra hong tóc
gió sẽ lọt vào từng sơị chi li
tóc bồng bềnh em, ngàn sợi nhỏ
phả giữa đời anh một thuở tình si

gió sẽ về bên em, biển lộng
như giấc mơ ngoan tha thiết gọi mời
em sẽ đếm trăm ngàn lời gió thổi
bay qua tình anh mắt liếc, môi cười

gió sẽ tung áo em bay ngược
cho anh được nhìn tơ nỏn lông măng
thân thể em hiện nguyên hình, áo mỏng
bờ ngực vun cao như cát, hằng hằng

cũng có thể biển làm em ngây ngất
biển vờn quanh phủ dụ tình em
em sẽ thấm những mệt nhoài cát lấp
phù sinh là một cõi mê man

anh sẽ đứng ở bên đời, hú gọi
gió hãy về quấn chặt lấy thân em
lời ước hẹn sẽ vơ cùng dịu ngọt
tình trăm năm trong một phút ngọt mềm.

Trần Yên Thảo

TRĂNG XƯA VỪA RỤNG

Thơ ngây mắt rực ánh cười
bạc đầu gặm lấy cõi đời buồn tênh
ngủ vùi tìm ngõ lãng quên
mới hay nỗi nhớ kê trên đầu nằm

Dang tay ôm ánh trăng rằm
trăng xưa vừa rụng xuống gầm tóc em
nhặt rừng núi cũ lên xem
nụ cười ngày ấy trời đêm nuốt rồi

Biết ai đâu để mà đòi
võng giăng hai chiếc tôi ngồi mình ên

Trần Minh Tạo

NƠI ĐẤT LÀNG

Những mùa thu đã bay đi
Nước sông, nước giếng phân bì trời cao…
Nắng thôi soi biếc dây trầu
Từ em quá vội tô màu son môi!

Đất làng còn lại mình tôi
Nghe lời ru mẹ bồi hồi thương quê
Vắng con chim nhạn bay về
Chiều rưng rưng rét lời thề hẹn xưa!

Nỗi niềm cũng chợt ngu ngơ
Đêm soi trăng lẻ, phụng thờ chiêm bao…
Đèn mờ bởi dĩa dầu hao
Trái tim mối mọt bởi mau dại khờ!

Bây giờ? Rồi đến bao giờ?
Chạm câu chung thủy thành thơ hở người?

Trần Dzạ Lữ

KHI QUA ĐỒI CHARLIE

Tôi nghe lá trên rừng đang chuyển cơn mưa
Khi xe qua đồi Charlie Đắc Tô Tân Cảnh
Màu xanh ngút không giấu đi niềm cô quạnh
Vẫn rợn người hồn tử sĩ lạnh quanh đây.

Súng bên trời có tiếng hát tiễn đưa ai
Người ở lại Charlie trong cơn bão lửa
Pháo tầm nhiệt chớp lòe qua từng khe cửa
Cày xới tung từng thớ đất đỏ máu người.

Quá khứ đi qua niềm đau mãi không rời
Tiếng pháo rền vẫn nổ vang trên đồi máu
Dưới giao thông hào chắc anh thèm phút giây tỉnh táo
Ngước nhìn trời mơ một khoảng trời xanh.

Chẳng ai ngờ thoáng chốc mấy mươi năm
Màu nương rẩy cao su bạt ngàn trong gió
Tôi vẫn nghe tiếng anh cười vang rất rõ
Trước khi hồn hóa thành làn mây trắng bay.

Chim lìa đàn mù mịt một màu nắng phai
Dòng Pô Kô vẫn uốn mình tưới xanh cây trái
Đất ba dan muôn đời đỏ tươi mãi mãi
Xin hãy giữ gìn từng tất đất dau thương.

Nhắc ta một thời chiến sử đẩm máu xương
Tiếng gà gáy trên đồi Charlie buốn đến thế
Người lính già hai bên tìm về nghe gió kể
Có nhìn nhau bằng đuôi mắt của tình thâm?

Nguyễn An Bình

NẦY EM TÔI NỢ

yêu em tôi nợ bờ vai
chông chênh nỗi nhớ bàn tay ngại ngần
tôi còn nợ mắt lá răm
trăng chao bóng khuyết đợi rằm tương tư

hay là nợ gió mùa thu
đậu trăm thương nhớ ngày ru em buồn
và còn nợ cánh tay thuôn
hơi em đằm thắm đượm nguồn ái ân

mắt môi buổi ấy ân cần
tôi còn nợ lại một lần hôn em
nầy em tôi nợ gì thêm
nghìn câu say đắm ngọt mềm yêu nhau

hay tôi nợ nét thu ngài
yêu em một thưở thương hoài nghìn sau
trần gian đổi sắc thay màu
tôi còn nợ lại cõi ngày rong chơi

yêu em tôi nợ cả đời
làm sao trả hết một thời yêu nhau…

nguyễn minh phúc

Quán Thơ Hư Vô

 

Cà Phê Vỉa Hè. Thơ Hư Vô


Nhà Thơ Hư Vô

(Chân dung Hư Vô)

Tôi chạy tới khúc đường cùng tận
Đuổi giọt mưa bay ướt áo người
Chân dẫm nát lên chồi gai nhọn
Còn nghe thương tích chạm tim tôi!

Ngày đi không một lời hò hẹn
Quán vỉa hè đã vắng bóng em
Giọt cà phê chờ nhau rơi chậm
Trên từng nốt nhạc vẫn còn quen.

Góc phố Nguyễn Du chiều chủ nhật
Muỗng khua đáy tách gọi em về
Dáng ai hiu hắt như giọt lệ
Pha buồn sóng sánh khói cà phê.

Để em quay mặt vào người lạ
Dấu son còn bỏ lại trên môi
Tôi hớp giọt tình chung cùng cạn
Quán không mà thiếu một chỗ ngồi…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 289


THÊM MỘT LẦN THÁNG BẢY

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…

Hư Vô

LỜI XIN LỖI GỞI HẬU DUỆ V.N.C.H

Mặc chiến y ta buồn vời vợi
Bốn mươi hai năm biệt sa trường
Bốn mươi hai năm đau đáu nhớ
Quê nhà xa khuất bóng núi sông

Ta cười – ta cười chảy nước mắt
Sớm mai nào rời bỏ kinh thành
Sớm mai nào khăn tang trắng cột
Trên đầu ta tóc hãy còn xanh

Trên đầu ta tóc giờ điểm bạc
Bốn mươi hai năm già lắm rồi
Xưa thủ đô lọt vào tay giặc
Lỗi cha ông không giữ được cơ đồ

Nhắn nhủ cháu con mai ta chết
Trăn trối sau cùng phút lâm chung
Những hậu duệ kiên cường bất khuất
Những chàng trai – cô gái Việt Nam

Tha thứ cho cha ông ngày trước
Mười tám – hai mươi cầm súng lên đường
Mười tám – hai mươi vốn dòng hào kiệt
Thì tiếc gì xương máu với máu xương

Vậy mà. Trời ơi! Đành bất lực
Sớm mai nào tạ tội đồng bào
Quỳ dưới lá quốc kỳ bật khóc
Cả đoàn quân chẳng biết về đâu?

Về đâu – về đâu Sài Gòn thất thủ
Kẻ chốn lao tù – kẻ lưu vong
Bốn mươi hai năm chưa yên giấc ngủ
Gởi cháu con lời xin lỗi muộn màng

Linh Phương
2017

CÓ TUỔI NÀO KHÔNG CẦN?

Có tuổi nào không cần bầu bạn
Để sẻ chia ấm lạnh đời mình?
Con chim lẻ…bầu trời tắt nắng
Là mưa mù, kỷ niệm buồn tênh…

Gió thông thốc vào hồn của em
Đừng nói là hóa đá trái tim
Gã lang bạt chùng lòng, chẳng lạ
Giấu sao đành nỗi nhớ vô biên?

Có tuổi nào không cần gõ cửa
Cuối đêm sâu đợi bóng thương hình?
Sống đất Trích cũng chờ cạn kiếp
Con mắt tình biết nói…thưa em!

Tuổi nào rồi cũng sẽ rất điên
Khi trắng tay canh bạc đời mình?
Khôn ngoan ư? Chỉ lần sơ sẩy
Là chính ta thành kẻ đốt đền…

Trần Dzạ Lữ

YÊU NGƯỜI NGÓNG NÚI

Ngồi bên nhau em nhé
Cùng ngắm ngọn thông già
Lắng nghe lời gió kể
Tuổi trẻ mình đã xa.

Nhớ mùi hoa thạch thảo
Theo gió xưa bay về
Sao lòng đầy dông bão
Em có còn lắng nghe.

Ta yêu người ngóng núi
Yêu mây xám lưng đồi
Thương cánh chim lầm lũi
Trong bóng chiều vừa rơi.

Trong bàn tay định mệnh
Buồn vui một kiếp người
Biết bao làn chỉ rối
Lạc mất cuộc tình trôi.

Dòng sông nhiều sương trắng
Ai chia cắt đôi bờ
Nghe mênh mông tiếng sóng
Chia tay hoài ngẩn ngơ.

Ta yêu người ngóng núi
Yêu sương tím ven hồ
Con sông buồn tiếc nuối
Một cuộc tình vừa xa.

Nguyễn An Bình

THƠ NỬA ĐÊM

từ bữa về lòng cứ mùa đông
rượu say, thê thiết chuyện hoang đường
ta mấy lần qua cầu đứt ruột
hỏi em rồi có dám qua không?

ngọn nến tình đâu cháy tới khuya
mà đêm trăn trở gió ngoài kia
ta đây đâu phải là Kim Trọng
bút rứt phòng văn cái nỗi chi?

em giữ hoài thôi chút bụng gần
rằng ta thất lạc hết tình nhân
kể như ở cuối đời – du tử
đau đớn nằm nghe những bước chân

trăm sự rồi – thương nhớ cũng rồi
lòng ta, hơn nữa, có trăng soi
ơi em rất mực là khuê các
trở giấc – làm ơn nghĩ lại coi!

Hoàng Lộc

HẠ XƯA

Về trường xưa, nhớ bóng ai…
Rưng rưng phượng đỏ rơi đầy tuổi thơ.
Tiếng ve lừng sáng giấc mơ
Tóc xanh vuốt cái: Trắng phơ mái đầu!

Quỳ hôn thoảng gió hương màu
Bỗng nghe vọng tiếng chuông sầu thời gian!
Bao nhiêu mộng ước phai tàn
Tình hoa mộng chết cho vàng đá đau.

Thầy xưa bạn cũ giờ đâu
Tường loan sử lịch rách nhàu quê hương
Chiến tranh qua, lệ phai hồng
Hoa xưa nở giữa bão giông thêm sầu!

Hàng cây long não cúi đầu
Trường xưa bạn cũ mấy màu khói sương
Về đây vỗ khúc vô thường
Mình tôi với nắng phượng buồn hạ xưa!

Trần Thoại Nguyên

KHUNG CỬA

Tôi vẫn đến mặc nhà em kín cửa
Khẽ nghiêng lòng hái trộm mấy câu thơ
Đâu dám trách người hững hờ đóng mở
Một niềm vui như sóng vỗ xa bờ

Bâng khuâng thả tiếng tim vào trong gió
Lời trên mây đâu dễ cột chân tình
Đường hun hút bước chân mòn nhịp lẻ
Nhún vai chiều so bóng lệch xa xăm

Khi cánh cửa im lìm quên năm tháng
Khi lòng người thăm thẳm vịn chân mây
Ai đó vẫn ôm đời ru giấy trắng
Ngày lật qua đêm xóa mất dấu giày

Cửa khép lại mơ màng chờ tiếng gõ
Sao câu thơ gõ mãi vẫn im lìm
Khói vô tình quện cùng sương hư ảo
Từng năm dài tuổi dại rót vào tên

Nỗi nhớ về gọi hoàng hôn điểm mặt
Từng ngày qua ai gõ cửa chân trời
Người xa lạ từ khi môi khép chặt
Thơ ngậm sầu hiu hắt gõ chơi vơi!

Lưu Xông Pha

RƯỢU ĐỜI

Còn chút yêu thương mùa rụng hết dại khờ
tơ giăng ngập mắt buồn lên tóc xõa
vòng tay ấm len nắng chiều qua ngõ
lặng chết thơ ngây mi khép ngửa môi mềm

Ngà ngọc căng tròn thăm thẳm nở tràn đêm
sông thẳng tắp đôi bờ phơi bãi đợi
sương phủ lạnh càng đi càng không tới
cùng bước đời ta lại gặp ta thôi

Bên nhau nằm cứ sợ phút chia phôi
mai ly biệt không còn tìm thấy nữa
chợ sắp vãn đất trời thôi khép cửa
lá biếc trĩu cành hoa trái ngọt dâng nhau

Gối nệm nhăn nhàu môi ngước mắt chìm trao
lòng quấn quýt tan thành muôn tiếng gấp
nào biết chắc kiếp sau còn lại gặp
tóc rối chân dài dốc cạn một đêm say

Chăn chiếu bạc đầu môi mắt ngã màu phai
nghe giá buốt hư không chờ chực gọi
hình như sắp rã hồn vào sương khói
rượu đã cạn rồi bình vại vẫn chưa vơi…

Trần Minh Tạo

90A6E2B9-3C9D-413B-8B5C-1D6AEFB7AE6B

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: