Qua Đò. Thơ Hư Vô


Ký ức xa và con đò già
Tranh sơn dầu Trần Hải

Chuyến đò nhỏ chở đầy áo trắng
Chở hồn tôi lãng đãng qua sông
Dòng nước đã cuốn trôi bờ bến
Còn nghe ngọn sóng vỗ trong lòng!

Mái chèo khua xôn xao vạt nắng
Mùa thu như mới tượng hình hài
Tà áo ngày xưa còn thấp thoáng
Dáng em bàng bạc tựa mây bay.

Cho gió lay mùi hương con gái
Xanh thì ngan ngát nụ môi non
Mà em đã bỏ quên nhan sắc
Trên vai tôi thuở mới biết buồn.

Bến cũ con đò nghiêng dáng nắng
Sông sâu đã lún mấy nhịp chèo
Thì dẫu tôi có bơi ngược sóng
Cũng còn chiếc bóng để mang theo…

Hư Vô

Ngẫm Nghĩ Về Khái Hưng. Dương Nghiễm Mậu


Dương Nghiễm Mậu


Khái Hưng đã chết như thế nào? Từ rất lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái Hưng, tôi lại nghĩ đến điều đó và cùng lúc tôi vẫn muốn biết Khái Hưng, cùng Tự-lực văn-đoàn,cũng như tất cả những người ở thế hệ Khái Hưng đã làm cách mạng như thế nào, họ đã nghĩ gì, làm gì. Họ đã hoạt động trong giai đoạn kháng chiến giải phóng dân tộc ra sao?

Tại sao Cộng sản thủ tiêu Khái Hưng? tôi nhớ câu thơ ấy của Thanh Tâm Tuyền. Khái Hưng đã bị thủ tiêu, điều ấy đã chắc. Hồi còn nhỏ ở Hà-nội, đọc một tờ tuần báo vào khoảng năm 1950 gì đó tôi có được thấy trong một thiên hồi ký, không nhớ tên tác giả, không nhớ rõ tên thiên hồi ký, tôi chỉ nhớ thiên hồi ký mô tả lại những ngày tù tội của các chiến sĩ quốc gia bị V.M. bắt giam, trong thiên hồi ký có một đoạn tác giả cho biết đã gặp Khái Hưng trong một trại giam ở Việt Bắc, tác giả cho biết lúc đó Khái Hưng ốm yếu, bị đi kiết vì bị hành hạ và cuộc sống đầy ải của nhà tù, rồi Khái Hưng chết ở đây, những chiến sĩ quốc gia, những bạn của Khái Hưng đã đẵn tre làm phên quấn xác Khái Hưng thay quan tài và an táng trong một khu rừng ở Đại-từ, những điều này tôi nhớ mơ hồ lắm và cùng đó hình như tác giả còn nói ngày Khái Hưng chết là 17-11 năm 1947. Tôi không nhớ rõ, nhưng trí óc tôi còn mường tượng nên viết ra, nó không nhằm cung cấp chính xác một tài liệu, mà tôi chỉ muốn ghi lại những điều mà trong tâm tưởng tôi hai chữ Khái Hưng vẫn có lúc nhớ đến.

Trong thời gian làm tờ Văn Nghệ tại nhà in ở đường Cô Bắc tình cờ tôi được nghe truyện về Khái Hưng, người nói chuyện giới thiệu là một người cháu về đằng bà Khái Hưng, người này nói chính ông đã gặp Khái Hưng lần cuối vào ngay buổi chiều cán bộ V.M. bắt Khái Hưng dẫn đi, bọn cán bộ này là một thứ du kích tự vệ xã, Khái Hưng mặc quần áo thường, mang theo một chiếc chăn dạ màu cứt ngựa, người kể truyện gặp Khái Hưng ở đầu làng, Khái Hưng có nét mặt rầu rầu buồn bã mỉm cười và giơ tay chào. Sau đó, người nói chuyện bảo dù rất kín, mấy tên du kích đã lộ ra rằng họ bỏ Khái Hưng vào bao bố đâm chết rồi quăng xuống sông.

Không hiểu ngoài những điều mơ hồ, không có gì làm bằng chứng kia, còn có những điều nào khác được kể về cái chết của Khái Hưng? Có điều Khái Hưng đã chết. Khái Hưng đã chết thực và tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng -theo như ghi chép- để lại cho chúng ta là tác phẩm Băn khoăn, trước khi Khái Hưng bước vào đoạn đường tranh đấu cách mạng cùng các bạn, cùng toàn dân để giải phóng dân tộc và Khái Hưng đã chết trong cuộc tranh đấu đó.

Nghĩ về cái chết của Khái Hưng, cùng lúc tôi nghĩ đến cái chết khác của các chiến sĩ quốc gia kéo theo sự thất bại của những người quốc gia trong lúc đối đầu với Cộng-sản, tôi muốn tìm hiểu và rút ra từ đó những nguyên nhân đưa đến hoàn cảnh lịch sử đương thời mà với chúng tôi buộc phải có trách nhiệm. Trở về khung cảnh, những hoạt động của sau năm 1901 khi Đông-Kinh Nghĩa-thục phải ngưng hoạt động, sau năm 1924 chiến khu Yên-thế của Hoàng Hoa Thám bị tan, sau năm 1930 Nguyễn Thái Học bị chết ở Yên-báy, Tự-lực văn-đoàn với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Thế Lữ, Thạch Lam, Tú Mỡ … hoạt động trên mặt trận báo chí, văn chương không phải chỉ là để làm báo, làm văn chương, mà những công việc của nhóm đã chứng minh rõ, họ chỉ dùng văn chương báo chí để hoạt động cách mạng, hay nói khác đi, nhẹ hơn, đúng hơn dùng văn chương báo chí cho một vận động cải cách xã hội theo tinh thần Tây-phương. Những gì đã được viết ra trên báo Phong Hóa, báo Ngày Nay, cùng các tác phẩm đã minh chứng điều này. Sau bao nhiêu năm bế môn tỏa cảng, người Tây-học, người trí thức mới của thế hệ 1930 đã nhận thấy sức mạnh của Tây-phương, cụ thể là nền đô hộ của người Pháp, người trí thức mới nhận ra sự bại trận, nô lệ của mình: xã hội ta lạc hậu, tinh thần Nho-giáo suy đồi, hủ lậu, dân ta cực khổ thất học, với quá nhiều tệ đoan, mê tín. Họ thấy rõ muốn thoát cảnh lệ thuộc trước hết phải nâng cao dân trí, cải cách xã hội. Và họ đã làm. Các tác phẩm văn chương của Tự-lực văn-đoàn đã đóng một vai trò lớn trong công việc này: mô tả tranh chấp mới cũ, đề cao đời sống mới. Trên căn bản chấp nhận tinh thần tự do, dân quyền của những nhà tư tưởng đã làm thành cuộc cách mạng tư sản 1789 của Pháp. Lý thuyết gia chỉ đạo của Tự-lực văn-đoàn là Hoàng Đạo đã viết: Mười điều tâm niệm, Nhất Linh đã viết Đoạn tuyệt, Khái Hưng đã viết Nửa chừng xuân. Trên phương diện xã hội đã đưa ra phong trào Ánh Sáng. Sau cùng Tự-lực văn-đoàn thành đảng Hưng Việt hoạt động cách mạng, kéo liền theo đó, Khái Hưng chết. Nhất Linh bỏ ghế bộ trưởng chạy sang Tầu, Hoàng Đạo chết ở Tầu, Tú Mỡ, Thế Lữ ở lại với Cộng-sản, còn một mình Nhất Linh bơ vơ, lạc lõng ở Miền Nam đề cao văn chương vượt thời gian không gian, và với chính bản thân chọn cái chết chống lại chế độ Ngô Đình Diệm.

Suốt một lịch sử kéo dào ba mươi năm, trong đó liên tiếp 20 năm chiến tranh trên quê hương chúng ta, nếu đổ tội cho cái vận nước mình khốn khổ, khốn nạn thì không nói làm gì nữa, nhưng nói đến trách nhiệm của những ai tự nhận như một chiến sỹ quốc gia thì chúng ta phải nhận chúng ta đã thua, chúng ta phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc với hiện tình, và từ đó phải nhận định: từ những vận động của thế hệ 1930, qua cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đến nay, cuộc cách mạng phải có của chúng ta vẫn chưa chấm dứt, vì chúng ta vẫn chưa có một mẫu người mới, một xã hội mới được xây dựng trên một ý thức hệ Việt mới. Có phải tôi đã nói lông bông lang bang, vì tôi đang viết những gì về Khái Hưng không? Có thể phải mà cũng có thể không vì tôi đã nghĩ đến nó khi nhớ lại những điều Khái Hưng đã viết, và cái chết của Khái Hưng để lại cho tôi. Và vì tôi, chính tôi, đang có những vấn đề đặt ra: văn chương với xã hội, văn chương với cách mạng, sự liên hệ của người cầm bút với xã hội, quê hương và nhất nữa khi đặt mình là nhà văn tôi phải làm gì? Có văn chương nghệ thuật thuần túy không?

Trong số các tác phẩm của Khái Hưng, cuốn được ghi cuối cùng là Băn khoăn, cuốn sách hình như đã được viết ngay vào lúc đầu những hoạt động cách mạng của tác giả cùng với lúc Nhất Linh viết cuốn Bướm trắng. Tôi vẫn tự hỏi: tại sao giữa tác phẩm và đời sống tác giả lại không có một chút liên hệ nào như vậy. Tại sao Nhất Linh và Khái Hưng lại viết được hai tác phẩm thuần túy như thế vào giữa lúc họ bắt đầu hoạt động cách mạng. Có thực Băn khoăn và Bướm trắng đã được viết lúc ấy hay đã viết từ trước mà mãi lúc đó mới in ra?

Hơn nữa Nhất Linh đã viết Đôi bạn, và tôi nhớ có đọc được một vài số báo nào đó Khái Hưng viết truyện Xiềng xích rõ ràng là những tác phẩm liên can mật thiết đến tư tưởng và đời sống tác giả trong xã hội đương thời ấy.

Có hai tác phẩm của Khái Hưng tôi lưu giữ mà với chủ quan tôi cho là quan trọng và giá trị là Tiêu-sơn tráng sĩ và Băn khoăn. Cuốn trên tôi thích có lẽ một phần vì nhân vật Phạm Thái, một nhân vật vừa là chiến sĩ, vừa là tu sĩ, vừa là nghệ sĩ mà Khái Hưng đã làm sống lại được, còn cuốn sau, tôi cho đó là một tiểu thuyết rất mới của thời đó, và cho đến bây giờ nữa về nội dung đã cho tôi một phần nào lý do sự thất bại của những trí thức mới trong giai đoạn lịch sử vừa qua.

Băn khoăn của Khái Hưng muốn nói là “băn khoăn” của ai? Của Cảnh chăng? Cậu sinh viên trường luật học giỏi đã hai mươi nhăm tuổi đang yên ổn học hành… nhưng sang năm thứ ba một hôm như chợt lởn vởn trong đầu chàng câu hỏi: “Học để làm gì, và đỗ để làm gì?” Rồi câu hỏi trở thành ám ảnh dòng dã hàng tháng, ám ảnh kỳ cho tới khi nẩy ra câu trả lời mới thôi. Câu trả lời ấy là: “Học để chẳng làm gì ráo. Đỗ cũng chẳng ích lợi gì cho chàng, cho tương lai của chàng.” Rồi chàng lý luận ầm ỹ trong thâm tâm để tìm nguyên tắc, quan niệm, ý nghĩa của sự sống, của đời mình. Luận lý cho tới lúc đến một kết cục chán nản, đau đớn. sống không mục đích, đời là vô vị[1]. Cảnh không học nữa, và mới bắt đầu một cuộc phiêu lưu, dấn mình vào cuộc sống chơi bời. “Muốn thì được” Cảnh thường nói. Mà khi người ta giàu như Cảnh thì người ta lại càng dễ được cái người ta muốn. Vì thế mà ngay đêm hôm ấy Cảnh đã trở nên tình nhân người yêu của bạn. Khi đã phạm tội, hai người ngỏ với nhau những ý riêng caủ mình rồi ôm nhau cười ngất.

Liên bảo Cảnh:

– Đối với bọn chúng ta chả còn cái gì chúng ta cho là thiêng liêng nữa.

Cảnh lạnh lùng:

– Rõ em khéo nói kiểu cách!… Và ở cái thời gian khoa học này, đến thần thánh cũng đã mất hết thiêng liêng đối với lòng tín ngưỡng thành kính của người đời, thì còn cái gì đáng gọi là thiêng liêng nữa. Họa chăng chỉ có cái tính xác thịt, cái thú vui hiện tại đáng gọi là thiêng liêng cho một cái gì”[2]. Rồi Cảnh yêu Lan Hương, rồi yêu Hảo, ăn chơi, đánh bạc, bán cả nhà của bố cho, sau chót bỏ đi, đi đâu, phải chăng đó là cái “băn khoăn” Khái Hưng muốn nói?

Hay cái “băn khoăn” đó là cái “băn khoăn” của ông Thanh Đức, xuất thân từ một gia đình buôn bán, cai thầu, kinh doanh, và ông đi theo con đường ấy, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, đến mỏ, đến đồn điền, cho ngay tới khi đang đánh bạc với một người tình mà ông đã say đắm theo đuổi nghe nói đến cơ hội làm giàu cũng rũ áo đứng lên ngay. Hoằng, người đang ngồi cùng chiếu bạc đã phê phán: “Kim tiền! Trời ơi! Kim tiền! Kim tiền làm cho người ta quên hết ghét, yêu, thù, tức để chỉ nghĩ đến nó, chỉ nhớ đến nó, chỉ chạy theo một nó. Kim tiền vạn tuế! Sống mãi trong xã hội này, thì một ngày kia tôi điên thật.”[3] Chừng như với ông Thanh Đức tiền có thể mua được tất, mua người này một đêm, mua người kia một đêm, mua nhà, mua mỏ, mua nhân nghĩa danh vọng. Như vậy ông Thanh Đức “băn khoăn” cái gì, “băn khoăn” vì không lấy được Hảo chăng?

Hay cái “băn khoăn” đó là “băn khoăn” của Hảo, con gái độc nhất của bà án, giàu có, trẻ đẹp, 20 tuổi sống một cuộc đời nhung lụa với bên cạnh vô số bậc thượng lưu trí thức, vô số thanh niên tân học tán tỉnh, một người mà bố con Thanh Đức cùng yêu, cùng muốnchiếm đoạt mà cuối cùng lại lấy một người khác. Phải chăng “băn khoăn” bày tỏ tâm trạng lưỡng lự khi lực chọn trước vô số người trước mặt mình của Hảo?

Ba nhân vật Cảnh, ông Thanh Đức, cô Hảo là chính trong câu chuyện “băn khoăn” của Khái Hưng. Thời gian của tác phẩm ngắn ngủi, khởi đầu từ lúc có tin ông Thanh Đức muốn tục huyền cho tới khi cô Hảo, người con gái mà ông Thanh Đức theo đuổi, báo tin lấy ông huyện Tô thì chấm dứt.

Khung cảnh xã hội “một đời nhiễu loạn, vô gia đình giáo dục, vô gia đình luân lý”[4], đưa thanh niên đến nhận định “sinh ra ở đời để mà sung sướng, để mà thỏa mãn, chớ không phải để khổ sở; để than phiền, hay để theo đuổi một mục đích viển vông nào.”[5] Khung cảnh của một xã hội thượng lưu với rượu, với cà-phê rum ngây ngất, với những canh bạc không nghĩ đến ăn thua; với một phút quyết định đã đủ phương tiện để rời Hà-nội đi Sầm-sơn tắm biển, rồi từ Sầm-sơn đi Hải-phòng coi chớp bóng, ngủ với gái, với sinh viên luật thấy chẳng cần phải thi đỗ, với bác sĩ có bịnh viện giao cho người phụ trông nom, với những cô gái mà tất cả các bạn đều là tình nhân chung chăn chung gối, chán người này đổi người khác, một xã hội mà ngay trong đó đã có người phán xét… “thấy đám thanh niên sống không mục đích, hay với mục đích độc nhất là sự chơi bời phóng lãng thì em ghê sợ… cho họ quá, và tiếc cho họ nữa… Những bực thanh niên trí thức như anh Đoan em mà chịu khó làm việc, làm việc với lòng tín ngưỡng thì… hay biết bao, có ích cho đồng bào biết bao?”[6].

Những nhà luân lý đã từng nói đến những truyện của Sagan thời hậu chiến vô luân, mà có ai nhớ đến rằng, chính đời sống vô luân, cảnh chồng chung vợ chạ, cảnh đề cao thú vui xác thịt đã có trong tác phẩm Khái Hưng từ thời tiền chiến ở Việt Nam.

Trình bày câu chuyện Băn khoăn của Khái Hưng tới đây, tôi ngưng lại để trở về nhận định tôi đã đưa ra: vì sao người trí thức Tây-học đã thất bại trong giai đoạn vừa qua khi lãnh đạo tranh đấu.

Lớp trí thức mới sinh ra sau khi tinh thần Văn-Thân khởi nghĩa đã hết, sau khi lớp trí thức Nho học đã tàn, và người Pháp đã mang văn hóa Tây-phương vào đào tạo một lớp người mới. Từ tình thế lụn bại của tinh thần quốc gia đó, người trí thức Tây-học chạy theo ngay, hạ bệ cái cũ một cách tàn tệ, kịch liệt, và cái mới chói lòa trước mắt làm họ không nhìn thấy gì nữa. Họ du nhập đơn phương, không lựa lọc, không nhìn chính vào mình. Họ lên án nhà Nho câu nệ khuôn bó theo Khổng-học, thì chính họ lại bước theo con đường đó để đến với Tây-học, và tạo ra một lớp trí thức mất gốc, rơi vào cái thực trạng mà cuốn Băn khoăn của Khái Hưng đã phản ảnh. Với lớp người như thế, với tư tưởng như thế, họ làm sao không thất bại, phải chăng, đó chính là điều “băn khoăn” của Khái Hưng?

Lỗi lầm của lớp trí thứ Tây-học từ ngay lúc đầu đã gây ra, đưa đến hiện trạng này, và ngày nay, lớp thanh niên mới, với bài học cũ của lịch sử, đã nhận ra chưa trách nhiệm của mình từ ngay trên căn bản tư tưởng trong cuộc dấn thân mà họ phải thực hiện. Hay họ đang tiếp tục đi trên con đường mòn nối dài khi xưa mà họ cố tình làm ngơ như không biết?

Nhưng tôi vẫn tự hỏi: vì sao giữa lúc bước chân vào cuộc tranh đấu cách mạng mà Khái Hưng lại viết được Băn khoăn? Không hề có ảnh hưởng giữa đời sống và tư tưởng tác giả với tác phẩm sao?

Dương Nghiễm Mậu
(Văn, số 22, ngày 15-11-1964, trang 33-39)
11-1964

[1] Băn khoăn, Khái Hưng, bản in lần thứ ba, Phượng Giang, Sài-gòn, 1958, trang 16

[2] Sách đã dẫn, trang 44.

[3] Sách đã dẫn, trang 268.

[4] Sách đã dẫn, trang 13.

[5] Sách đã dẫn, trang 50.

[6] Sách đã dẫn, trang 86.

Dáng Thơ. Thơ Hư Vô


Đêm rung theo phím dương cầm
Nghiêng câu lục bát thăng trầm đời nhau
Chong đèn thức với chiêm bao
Em như sương khói tan vào dáng thơ.

Tóc tơ thả xuống tình cờ
Thương ai nhánh chẻ đôi bờ so le?
Đường thu mù mịt lá me
Vàng chân tôi một vỉa hè chưa quen.

Giật mình đánh rớt trái tim
Tay không ôm bóng em biền biệt xa
Còn nghe vướng vấp lụa là
Mùa thơ đã biết kiêu sa tên người.

Tôi mang cái tội tình tôi
Phiêu diêu vào một cuộc chơi lạ lùng
Dáng em như thể muôn trùng
Thơ tôi tận khúc cùng đường, đó em…

Hư Vô

July Once More. By Hư Vô



Saigon rainfall spreading fragrant from your hair
Flowing down shoulders like a stream of the past
Tự Do Street or Saigon Tax Trade Center
Everywhere your silhouette has entered!

The streets appear to be in their sweet sixteen
From when your first kiss has stunningly been
Forever you hide my soul in your áo dài flaps
For our love tie passionately trapped

If it is not a dream it has ever presented
An amazing time filled with laughter with you
For me to caress July all through
The raindrops to be wished for on your lips

There are at times when you shed tears
When the city witnesses me disappear
Whether it is in Sydney or Los Angeles
Sorrow is very similar without analysis

But it is only me, only me to comprehend
Road of opposite direction tamarind leaves blend
Though your charming steps lengthening July
It’s hard to hold on to a silhouette passing by

#englishversionbyvothinhumai


Thêm Một Lần Tháng Bảy. Thơ Hư Vô

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá me bay
Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…

Hư Vô

Nhà Thơ Hữu Loan, Lần Gặp Mặt. Cung Tích Biền


Bài viết của nhà văn Cung Tích Biền

Sau tháng Tư 1975, tôi có dịp gặp gỡ các văn nghệ sĩ từ miền Bắc vào Nam. Những cuộc “gặp” lẫn “gỡ” này, cái đinh đóng vô đầu, vui ít buồn nhiều. Vui, là gặp được những người mình từ lâu mong đợi gặp. Lại khá bàng hoàng khi đụng phải những nhà văn nhà thơ từng là các tác gia được “vang bóng một thời”, nay trở thành những cán bộ tuyên truyền, “Nói mãi không thôi những điều dân miền Nam nghe muốn ói”.

Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.
Những người bị chế độ đương thời bắt bớ, tù đày là hầu hết những trí thức, văn nghệ sĩ có chủ trương, qua tác phẩm công khai của mình trên báo chí, mục đích chống lại đường lối cai trị độc đoán, đàn áp tư tưởng, thủ tiêu quyền tự do sáng tác.

Nhớ, hôm gặp nhạc sĩ Văn Cao trong một đêm nhạc Sài-gòn chào mừng ông. Ông sinh năm 1923, lúc chúng tôi gặp ông, ông chỉ vừa độ tuổi 60, nhưng quá gầy yếu, mái tóc đã trắng phau, lưng còng, trông như một cụ già gần chín mươi tuổi. Ông rất vui, lại đầy nước mắt, khi nghe-nhạc-của-mình-được-hát, khi được trao những bó hoa với đầy lòng thương yêu và kính trọng của người Sài-gòn.

Lại gặp quý ông Phùng Quán, Hoàng Cầm, Đoàn Phú Tứ tác giả Màu Thời Gian… mỗi ấm áp, cùng uống cốc cà phê, nghe chuyện. Hóa ra, quý vị ấy rất “giàu chuyện”, tuy dài dặt cuộc đời bị quản chế tư tưởng, cơ cực về đời sống, gian lao trong hành xử một xã hội bị bao vây, tưởng đã “hết chuyện”.

Nhà thơ Phùng Quán gầy ốm nhưng khí lực chừng rất mạnh mẽ. Ông rất trân quý những gì là tài sản văn hóa, trí tuệ, tinh thần của Miền Nam. Nhưng ông có cái thói quen gần như một quán tính, lúc ngồi trò chuyện ông thỉnh thoảng đảo mắt nhìn quanh, lo lắng. “Chừng như sau lưng, hay bàn kế cạnh có ai đó theo dỏi lời nói, tư tưởng, hành tung của mình”.

Phùng Quán, ông lớn hơn tôi bốn tuổi. Tôi đã thuộc nằm lòng bài thơ Lời Mẹ Dặn của ông từ 1960, khi thơ văn của Nhân văn – Giai phẩm được phổ biến rộng rãi tại Miền Nam:
“Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”.

LỜI MẸ DẶN
PHÙNG QUÁN

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tócCon ơi trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.

Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời.
In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.(1957)

Và, lúc đối diện ông tôi cũng liên tưởng, ngỡ ra nỗi lòng đau, qua lời thơ của nhà thơ Trần Dần:
“Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
Máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?”

Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó thể hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.

Ông vào thăm Sài-gòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông bảo, “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi Duy Th. đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, một kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.

Bùi Giáng ngạo nghễ. Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng. Sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao.

Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.

Luôn nhìn quanh, ưa quay nhìn lui sau lưng. Nói ít, nói nho nhỏ. Cẩn trọng, đề phòng. Lâu ngày thành thói quen, trong một chế độ không thể “Trong bụng có gì ta có thể nói ra thế ấy”.
“Khó thể thật tình tỏ lòng với nhau, thì phải nói khéo, nói dối để che chắn sự thật, đậy nắp cái cốt lõi sự việc”. Mèo phải nước sôi phải biết sợ cả nước lạnh.

Hữu Loan có khác. Ông chừng là một bậc tiên đang bị đọa đày xuống cõi trần. Trong đau đớn tột cùng hãy còn phảng phất cái thanh cao. Bắt tay nhau, tôi chạm phải một bàn tay thô tháp. Những ngón to, cứng. Gân nổi trên lưng bàn tay. Sau này biết, đôi bàn tay ấy từng đẽo đá, từng đẩy xe cút kít, xe thồ, ròng rã mấy mươi năm, để sống qua ngày, nuôi vợ con trong tình thế một nhà thơ bị vây khổn, bị khủng bố, cái giá treo cổ là không vô hình. Tất cả là bóng tối, thất nghiệp cả nhà, đói khát, cơ cực. Là cả hoạn nạn thời thế, cách ly, nghiệt ngã.

Hữu Loan, dù gặp mặt ngay đây, cầm bàn tay ấm áp giữa lòng tay, ông vẫn là một huyền hoặc, với tôi.

Như một truyện kể xa lơ, từ thưở tôi còn trẻ thơ, thời chiến tranh Việt-Pháp. Chín tuổi, tôi học thổi sáo, đàn mân-đô-lin từ người anh ruột, học thêm lý thuyết từ thầy Lê Khắc Bạc, học ghi-ta với anh Hàn Vĩ, về sau tập kết ra bắc anh là một phó khoa tại Nhạc viện Hà Nội. Theo các anh chị đánh đàn ca hát, tôi ngây thơ mê muội, nhỏ nhoi như con tằm trong nong nia, lẫn lộn với lá dâu xanh. Nhưng thuở ấy tôi đã nghe, chỉ biết nghe, chưa đủ hiểu để cảm bài thơ Màu Tím Hoa Sim của ông.

https://www.youtube.com/watch? v=cqkVjSBwXp4

Thời ấy, những năm đầu khởi chiến, mọi thứ còn hoang mộng. Cả thảy một tình yêu nước nồng nàn, toàn dân một tình cảm ngây thơ trước những mưu đồ chính trị. Sinh hoạt xã hội, ý thức hệ đối kháng, chưa từng cay nghiệt như tháng ngày nội chiến về sau. Thưở ấy, ảnh hưởng một nền văn hóa cũ hãy còn. Văn thơ, là Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo của Tự Lực văn đoàn, là Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… âm nhạc với Thiên Thai, Suối Mơ, Giọt Mưa Thu, Trăng mờ bên suối, Trương Chi…

Cách sống văn hoa lãng mạn của một lối sống trí thức tiểu tư sản hãy còn in đậm. Những cụm từ ngày nay đã trở nên sáo mòn cũ rích, nhưng buổi ấy là những “thanh âm” gợi cảm, gây mê cho bao thanh niên nam nữ trên đường trường chinh, những “Chiều biên khu, trấn thủ lưu đồn, sương biên thùy, chinh phu, chiến bào, sơn khê…”

Thấp thoáng dưới ánh trăng thôn dã là những bản nhạc chép tay chuyền cho nhau, Dư âm, Nụ cười sơn cước. Tiếng hát Sông Lô. Cung Đàn Xưa, Làng Tôi…Những thơ, Tây Tiến, Đôi Bờ..Và, đã có Màu Tím Hoa Sim.

Quê tôi, nơi tôi chào đời, làng Văn An, những đồi nương thuở ấy hãy còn man mác rừng nối rừng sim. Hữu Loan, tác giả Màu Tím Hoa Sim, đã bồng bềnh hình bóng, đã vang động rất xa tình thơ trong tôi. Một sưởi ấm xanh lơ.
Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen.bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!

Cùng một bàn. Những tách cà phê đã vơi. Sắp mời ông đi tiệc tùng buổi trưa đây. Nhưng cuộc trò chuyện càng lúc càng gần gũi hơn, dù ông chỉ lắng nghe, ít phát biểu. Ít cả nụ cười. Ông được đón tiếp nồng hậu. Bùi Giáng khinh bạc nhưng rất mực yêu mến những tài năng, từng rất mê đắm Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà. Lúc này, Bùi Giáng nhìn Hữu Loan một cái nhìn trôi nổi, một ánh mắt có thể gọi là thơ dại, trong ngần như ánh trăng.

Thường khi ngồi uống rượu hay cà phê cùng anh em ,Bùi Giáng chỉ ngồi một lúc rồi đứng dậy đi nghêu ngao, ra đường chặn xe cộ, đùa chơi. Có khi biến mất luôn chẳng chào chia tay một ai. Hôm nay, Sáu Giáng ngồi rất lâu. Bùi Trung Niên Thy Sỹ một thời trẻ chăn dê nơi núi đồi Quảng Nam, là rất đắm đuối với “Lá hoa cồn”, cùng “Đồi sim trái chin”.

Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.

Gặp ông, ngoài những chia nhau nỗi oan giữa đời, còn là một điều khá thú vị, vì chúng tôi có một cái thói, rất “thoái trào” trong thời đại “cơm áo gạo tiền”, là lúc chung trà chén rượu cùng nhau, chỉ rặt bàn luận văn chương, triết học, âm nhạc nghệ thuật..

Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần.
Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”.

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ống phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!

Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sài-gòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sài-gòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng. Ông nói:

“Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”.

Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi gọi một đĩa tương tự rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”..

Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trử tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm hát trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.

Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt.

Từ rất lâu, ông không có khăn tay. Nghe rằng lúc đẽo đá, những khi lao động cực nhọc, ông chỉ có một tấm áo cũ, rách không còn dùng được nữa, giờ dùng làm tấm khăn quàng vai, để lau “cái suối mồ hôi thân mình”.

Những giọt nước mắt hiếm hoi ấy, là của ai vậy?
Của một người yêu nước, từng tham gia cách mạng rât sớm. Mặt trận Bình dân 1936. Phong trào Việt Minh từ 1943. Là Phó Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa huyện Nga Sơn, tháng 8-1945. Rồi, Ủy viên văn hóa tỉnh Thanh Hóa. Là, anh bộ đội trong Đại đoàn 304. Về Hà Nội 1954, đất nước tuy chia đôi, nhưng buổi ấy là thời ngưng tiếng súng đôi bên, Hữu Loan lại cầm but, tại báo Văn Nghệ.
Là ai khóc vậy? Là tác giả một bài thơ khá nổi tiếng. Ngay trên đất Bắc, nơi tác giả của nó đang dâng cả một đời mình cho đất nước, đang tận tụy phục vụ, thì bài thơ ấy bị cấm hát, cấm lưu hành dưới bất cứ hình thức nào. Lý do, một tác phẩm tiêu cực, ủy mị, thiếu tính chiến đấu, chẳng Hồng không Chuyên.

Lại lạ lùng, ngay tại Miền Nam Cộng Hòa, đất thù của phương Bắc, bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc qua nhiều tựa đề khác nhau, năm này tháng khác, đã hàng triệu người nghe. Dzũng Chinh [Những đồi hoa sim], Phạm Duy [Áo anh sứt chỉ đường tà], Anh Bằng [Chuyện hoa sim]. Duy Khánh – Song Ngọc [Màu tím hoa sim], Thu Hồ [Tím cả rừng chiều]…

Lịch sử, Người nước tôi, như tự sơ nguyên đã cài lắp những triền miên nội tình thù nghịch lẫn nhau, chẳng phép màu nào có thể hòa/hóa giải. Cho tới nay, vẫn là một chờ đợi khó khăn: “Giờ phán xét cuối cùng”.

Nhân văn – Giai phẩm. Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, và nhiều nữa…những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.

Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về. Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này.

Cung Tích Biền


Vân Mây Tháng Bảy. Thơ Hư Vô



Em về như thoáng vân mây
Lướt ngang tháng bảy đã trầy gót chân
Chỗ tôi cũng có đôi lần
Dìu em qua lối tình nhân thuở nào.

Bước chưa tới giấc chiêm bao
Nhịp tim tôi bỗng lao xao lạ lùng
Đời này có được đi chung
Cũng là một khúc đường cùng, đó em!

Phải chi tôi được ngủ quên 
Thì mây đâu đã bồng bềnh lãng du
Để cùng em tạc hình thù
Cho mưa Ngâu rắc mịt mù bóng gương.

Em về lãng đãng trong sương
Mây che dáng đứng tóc buông lưng trần 
Tựa như thủy mặc phù vân 
Tan vào tháng bảy giữa lần tái sinh…

Hư Vô 

Những Người Có Công Với Sách Cũ Sài Gòn. Nguyễn Văn Lục


Nguyễn Văn Lục


Sách vở, báo chí miền Nam trở thành món ăn tinh thần là do công sức của các nhà văn, nhà phê bình, giáo sư đến các học giả. Điều hiển nhiên là thế. Nhưng sức bật, sự tác động để phổ biến những văn hoá phẩm ấy là nhờ vào một số lớn nhà xuất bản có công với Văn Học. Họ là những nhà xuất bản như Trình Bày, Nam Sơn, Nguyễn Đình Vượng, Văn Hoá Á Châu, Diên Hồng, Xưa nay, Khai Trí, Lá Bối, An Tiêm. Những nhà xuất bản này đã đóng góp vào việc xuất bản 200 triệu cuốn sách trong 20 năm. Con số thật không nhỏ.

1.- Ông Khai Trí: Chẳng mấy ai biết tên thật của ông, thành ra thương hiệu nhà sách KT, 62 Lê Lợi được đồng hoá vào tên ông. Thật ra tên ông là Nguyễn Hùng Trương, với hai tay trắng làm nên sự nghiệp. Ông vừa là một doanh gia, vừa là người làm văn hóa. Ông biên sọan khoảng 15 cuốn sách như Thơ tình Việt Nam và thế giới chọn lọc, Chánh tả cho người miền Nam… và chủ trương tuần báo Thiếu Nhi cùng với Nhật Tiến.

Sau giải phóng, nhà sách KT là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá. Sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường. Tôi đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực, bất lực của một người tự xếp hàng vào người thua cuộc. Tôi không biết lúc bấy giờ ông Khai Trí đứng ở đâu. Đứng ở đâu thì cũng cùng tâm cảnh đau xót đó thôi. Khi đã chứng kiến cảnh này rồi thì đừng bảo tôi có thể nghĩ hay cho những người mới đến. Họ không hiểu được điều đó vì quá hăng say trong men chiến thắng hay họ chưa bao giờ biết nghĩ tới người dân muốn gì, nghĩ gì. Tiếp theo đó là hai kho sách lớn cũng bị trưng thâu. Hằng vài trăm ngàn cuốn sách ra khỏi kho, rồi biến mất dạng.

Ông trắng tay sau bao nhiêu năm tốn công gây dựng.

Sau này, ông ở Mỹ về VN một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước. Ông đã mang về 2000 đầu sách để tiếp tục làm Văn hoá. Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75. Theo Nguyễn Thụy Long, phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng. Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả. Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ. Nó chỉ có một cái tội: Tội đã in trước 1975.

Trước 75 là xấu, vi phạm luật. Sau 75 là tốt.
Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu.

Trước khi ông mất, người ta đã không quên đặt tên ông cho một con phố nhỏ. Đúng như ông thày TQ nhận xét : Hôm qua nó giết mình, hôm sau nó mang vòng hoa đến phúng điếu.

Ông ra đi lúc 5h15 ngày 11/3, linh cữu hiện quàn tại nhà riêng (237 Điện Biên Phủ, quận 3, TP HCM), lễ động quan lúc 6h ngày 14/3, hỏa táng tại Bình Dương. Nguyện vọng của gia đình là gửi tiền phúng điếu vào quỹ từ thiện thành phố.

Cụ Toan Ánh, năm nay 91 tuổi, trong bữa đưa đám ma ông Khai Trí than thở: tại sao mình sống lâu như thế, ông Khai Trí mới có 80 tuổi.

2- Nhà Lá Bối: nhà Lá Bối do nguyên Đại đức Từ Mẫn, tên thật là Võ Thắng Tiết trông nom. Sau ông hoàn tục. Ông là người có lòng, để việc phụng sự văn học nghệ thuật lên trên tiền bạc. Từ Mẫn đã giúp các nhà văn có nơi xuất bản những đầu sách có giá trị và người đọc có cơ hội đọc những cuốn sách trang nhã, chăm sóc từng chút trong việc trình bầy ấn loát và cả đến nội dung sách. Tất cả sách của Nhất Hạnh đều từ đây mà ra. Nếu không có Lá Bối, những Chiến tranh và Hoà Bình, Chiến Quốc Sách, Sử Ký Tư Mã Thiên, Kiếp người của Sommerset Maugham, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay và Lối thoát cuối cùng của V. Georghiu sẽ nằm ở đâu? Nếu không có Lá Bối, nhiều sách chắc gì đã có cơ hội ra mắt bạn đọc. Nhất là bộ Chiến tranh và Hoà Bình của Léon Tolstoi. Sách in tốn vài ba triệu thời bấy giờ, bao giờ lấy lại vốn. Sau này, ở Hải ngoại, ông tiếp tục làm công tác văn học với nhà xuất bản Văn Nghệ. Nếu cần một vinh danh gì cho 20 năm Văn học dịch nói riêng và Văn học nói chung, có cần nên nhắc đến Võ Thắng Tiết không? Kẻ lót đường cho Văn học miền Nam

3.- An Tiêm Thanh Tuệ:
Tôi chỉ xin trích dẫn ba bài viết lúc mà Thanh Tuệ nằm xuống để thấy được rằng nhà xuất bản An Tiêm với Thanh Tuệ có lòng với văn chương như thế nào.Thái Kim Lan về Thanh Tuệ:

Hình như dưới tay anh tác phẩm được in nào cũng mang một chút lòng trân trọng của anh như thế đối với tác giả và độc giả, một nét cười bao dung mời gọi, vừa cảm khái liên tài vừa khuyến khích thúc dục, một nhịp nối uyển chuyển tài hoa giữa giãi bày tâm sự và tìm kiếm tri âm trong chữ nghĩa và tri thức, giữa người và người…

An Tiêm đã khai phá, mở cửa khu vườn văn học của các nghệ sĩ trẻ miền nam trong khung cảnh sôi động của thập niên 60…

Tiếc Văn Chương, thương chữ nghĩa, Trần Thị Lai Hồng.

Biết là vô thường, nhưng vẫn không khỏi tiếc thương. Tôi tiếc thương người An Tiêm Thanh Tuệ hiền hòa đã đành, mà nỗi tiếc Thương Văn Chương chữ nghĩa còn trĩu quá nặng. Thôi từ nay, còn ai khổ công lặn lội tìm tòi đãi lọc để phổ biến văn chương như đã từng với Tuệ Sĩ, Bùi giáng, Sao Trên Rừng, Nguyễn Đức Sơn. Thôi từ nay còn ai trân quý nâng niu bảo trọng chữ nghĩa như đã từng với Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Mười Hai con Mắt.. Đêm Nguyệt Động, Cái chuồng khỉ và còn nhiều, rất nhiều công lao với văn học đã, đang và chưa thực hiện được.

Với nhà văn Lê Thị Huệ:
Rồi bỗng nhiên nghe tin Ông chết. Đặng Ngọc Loan hôm trước rủ đi uống cà phê với Ông một lần, gọi điện thoại nói với tôi: Tin gì kỳ cục. Sao người vậy mà chết nghe kỳ cục quá.

4.- Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, Sàigòn.
Có lẻ phải nói đây là một ông Khai Trí thứ hai. Trong một dịp đi dự một buổi phát giải thường, do cái TTNCBTVPHVHDT. Viết tắt thế để quý vị khỏi mất thời giờ với cái Trung Tâm đó. Tôi có gặp anh Võ Thành Tân, Tổng giám đốc nhà sách Thành Nghĩa và nhất là anh Vũ Quang Trình, trợ lý TGĐ trong bữa ăn trưa đó. Gốc gác các anh đều là dân Quảng Nam, Quảng ngãi mà người dân gọi đùa là: Cộng Hoà Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam Quảng Nam, Đà Nẵng. Gọi như thế để thấy cái dân ngoài đó đi theo đảng nhà nước tận tình. Nay sau 30 tháng tư, Họ, những người dân miền ấy có mặt khắp nơi, nhất là trong ngành báo chí, xuất bản. Các báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên v.v. đều có người của họ. Chẳng hạn báo Thanh Niên có Nguyễn Công Khế, Tuổi Trẻ có Hùng Sơn Phước, Công An thành phố Trần Trữ Lang, Sài gòn time có Võ như Lanh, Kinh tế VN có Cung Văn, Nhất Ánh..

Võ Thành Tân, sau 75 đang còn học Văn Khoa. Với cái vốn liếng ấy đâm ra hữu dụng, anh làm nghề mua bán sách cũ. Biết sách nào quý, biết sách nào giá trị là sở trường của một người mua bán sách cũ. Có tý vốn rồi, anh mua lại một cái ki ốt bán sách lẻ ở đường An Dương Vương. Kịp đến thời mở cửa, 1986.. Theo lời anh Trình, các anh liên kết với các nxb của nhà nước để in sách. Họ đứng tên, cho giấy phép rồi họ mặc cho mình muốn làm gì thì làm. Một cuốn sách mới đầu ít vốn in 1000 cuốn thăm dò. Bán chạy thì in lại, bán tiếp. Một năm mới đầu xuất bản 4, 5 đầu sách, rồi cứ thế tăng dần. Đến năm 2004 thì đã cho xuất bản đến 3000 đầu sách đủ loại. 2005 tăng lên 3500 đầu sách một năm.

Nay thì các anh trở thành tỉ tỉ phú trong ngành xuất bản. Ngoài ra, các anh còn mở ra 18 cửa hàng bán sách với 2000 nhân viên. Hỏi sao có nhiều nhân viên như thế. Trả lời là để trông chừng những khách hàng ăn trộm đồ trong tiệm sách.

Có những tiệm sách lớn có đến 40 chục ngàn đầu sách đủ loại.

Làm gì còn có những Thanh Tuệ, những Từ Mẫn nữa. Làm gì còn có Lá Bối, An Tiêm, Nam Sơn nữa. Làm gì còn có Loan mắt Nhung nữa.

Thôi chào vĩnh biệt sách cũ Sàigòn. Chào những đứa con tinh thần sinh trước 1975 còn sót lại.

Nguyễn Văn Lục

The Embrace Of June. Thơ Hư Vô


Please sense the embrace of June
Where sorrow can be buried in glowing noon
My heart is waveing on plain and hill
It might be hard for you to feel tranquil

Late trailing shadow tilting in the rain
The path on returning is hidden in pain
Sliding desolated life into our embrace
Resting on your lips to passionately taste!

Light up the night with aromatic cinnamon
On the mossed rock falling leaves depart
We all step by June once in a skipping heart
But sadness remains on her eyelid for months

How do you know if raindrops gliding on hair
For tears on first walk of life to compare
Embrace the moment of night blanket
It’s your silhoutette lingering in my nothingness …

Translated by vothinhumai
Original Title Tựa Lưng Tháng Sáu. Thơ Hư Vô

Hãy tựa vào tôi lưng tháng sáu
Chỗ em nương náu nỗi muộn phiền
Lòng tôi bấp bênh như triền dốc
Chắc gì em đã được bình yên.

Dáng khuya nghiêng thấp lần mưa tới
Đâu còn thấy lối để quay về
Tựa vào nhau nửa đời hoang phế
Ghé môi cho đắm nỗi cuồng mê!

Thắp đêm hương quế xanh lòng đá
Trên từng xác lá bỏ nhau đi
Cũng một lần bước qua tháng sáu
Mà buồn còn ở lại trên mi.

Làm sao em biết mưa dài tóc
Để nghe tiếng khóc thuở vào đời
Tựa xuống lưng đêm cùng chăn gối
Là em còn chiếc bóng không tôi…

Hư Vô

Having Lost Everything, There Is Only Each Other. Thơ Hư Vô


We let slip from our hands the first half of life.
The last half still lies ahead.
Our two halves combine to make one.
Added up, it comes to an eternity together.

I have strayed to a distant, foreign land
Where I do not feel at home in a crowd.
Forsaken during your dream youth,
The day you married, you cried, didn’t you?

Like a river split into two branches,
The heart retains the first fresh essence.
To have a dream once, through a small one,
To have you living by me – living and dying
would be all the same.

Who knew life would bring
so many drastic changes.
Time raced by, our hair turned gray,
We will find our way back
when the moon falls to the earth.
Having lost everything, there is only each other…..

Translate by James Banerian
Original Title Chúng Mình Mất Hết, Chỉ Còn Nhau. Thơ Hư Vô

Lỡ tay đánh mất nửa đời trước
Còn nửa đời sau cho hết em
Hai nửa đời ta chung thành một
Tính ra còn được cả trăm năm.

Anh bước lạc xứ người xa lạ
Biết đâu là nhà giữa phố đông
Bỏ quên em tuổi đời xanh mộng
Ngày theo chồng khóc nhiều lắm, phải không?

Như dòng sông chia hai nhánh rẽ
Lòng vẫn y nguyên những ngọt ngào
Mơ ước một lần, dù ít ỏi
Có em bên đời, sống chết như nhau!

Đâu biết trước đời nhiều dâu bể
Chạy loanh quanh tóc đã hai màu
Tìm được lối về trăng rơi xuống đất
Chúmg mình mất hết, chỉ còn nhau…

Hư Vô

Cà Phê Đời. Thơ Hư Vô



Anh giọt cà phê đắng
Em hạt đường chưa tan
Muỗng khua vòng đáy tách
Khuấy tình ta trăm năm.

Anh lang thang cuối phố
Đếm hạt mưa bay qua
Đếm nỗi buồn ở lại
Em mấy lần xót xa?

Giọt cà phê đắng chát
Chảy trên môi xanh xao
Hạt đường chưa tan hết
Mình đã vội mất nhau.

Bên kia bờ biển lớn
Em ngọt lịm thênh thang
Anh trưa chiều ngồi quán
Uống từng giọt rưng rưng…

Hư Vô

Mái Tóc Ngang Đời. Thơ Hư Vô


Bài thơ viết nửa đời còn dang dở
Bởi anh quên tóc em chẻ bên nào
Tìm nhau theo dấu mòn ngày tháng cũ
Trăng quên tròn, biết tóc chẻ về đâu?

Thà được hồn nhiên như chiếc lá
Buồn vui sấp ngửa một đời nhau
Để môi anh không còn rướm máu
Gọi tên em thảng thốt giữa chiêm bao.

Em có đếm mấy mùa hoa gạo nở?
Là mấy lần mái tóc xõa dài thêm
Để thành dòng sông trôi anh ra biển
Nghe sóng ngang đời vỗ ướt mắt em.

Về đâu, trăng chơi vơi bờ bến
Lối em qua bóng ngả bên nào
Hồn anh lãng đãng như mây thấp
Nương theo ngọn sóng cũng bạc đầu…

 Hư Vô

Chúng Mình Mất Hết, Chỉ Còn Nhau.


Thơ: Hư Vô   
Nhạc: Phạm Quang Ngọc  
Giao duyên: Đào Thuý - Lã Anh Dũng 


CHÚNG MÌNH MẤT HẾT, CHỈ CÒN NHAU.
Thơ Hư Vô

Lỡ tay đánh mất nửa đời trước
Còn nửa đời sau cho hết em
Hai nửa đời ta chung thành một
Tính ra còn được cả trăm năm.

Anh bước lạc xứ người xa lạ
Biết đâu là nhà giữa phố đông
Bỏ quên em tuổi đời xanh mộng
Ngày theo chồng khóc nhiều lắm, phải không?

Như dòng sông chia hai nhánh rẽ
Lòng vẫn y nguyên những ngọt ngào
Mơ ước một lần, dù ít ỏi
Có em bên đời, sống chết như nhau!

Đâu biết trước đời nhiều dâu bể
Chạy loanh quanh tóc đã hai màu
Tìm được lối về trăng rơi xuống đất
Chúmg mình mất hết, chỉ còn nhau…

Hư Vô

Nhật Tiến. Hồi ký Khánh Trường


Khánh Trường

Cách đây 25 năm, nhà tôi cách nhà anh Nhật Tiến khoảng 5 phút xe. Nhiều buổi chiều nếu không đi nhậu tôi thường tản bộ trong chu vi một dặm vuông quanh nơi cư trú, vừa thể dục vừa suy nghĩ đủ chuyện, hội họa, văn chương, thời sự… Nhiều bức tranh, nhiều trang chữ được thai nghén vào thời điểm này. Suốt ba năm, cho đến ngày gia đình tôi chuyển đến nơi khác, tôi vẫn trung thành với độc nhất một lộ trình.

Nhà văn Nhật Tiến (Hình: Khôi Nguyên/Người Việt)

Lộ trình này sẽ ngang qua nhà anh Nhật Tiến, nằm góc một vòng cua trong khu xóm yên tĩnh nhiều bóng cây dọc hai vỉa hè. Nhìn sân trước, nếu không thấy xe, tôi biết anh đã ra ngoài, ngược lại, anh có nhà. Thường, tôi ít khi ghé vào, bởi giản dị, chuyện trò với anh tôi phải luôn giữ mình, không thể lếu láo, bông phèng như bản chất tôi vốn thế.Nhưng từ lúc Hợp Lưu ra đến số 3, cụt vốn, tôi phải “cứu” bằng cách viết và bán cho một nhà xuất bản một cuốn dâm thư lấy tiền tiếp tục duy trì tờ báo. Tuy Hợp Lưu không chết, song bị “tẩm quất” khắp nơi, từ tít mù bên trời Âu, Pháp, Đức, Na Uy, Đan Mạch… đến láng giềng gần, Canada, Mễ.Riêng tại quận Cam, Mỹ, không tuần nào tôi không bị mang ra “hài tội” và rủa sả, bỉ thử. Chả hạn trong bài phiếm một tờ tuần báo viết thế này, về tôi: “Ra đường, nhỡ gặp KT, tránh không được buộc phải bắt tay, thì để khỏi lây bệnh aids, nhớ cẩn thận đeo vào mười ngón tay mười cái condoms.” (ý nói hai tay tôi từng gõ bàn phím viết dâm thư nên vi trùng aids bám đầy, nguy cơ lây bệnh rất cao nếu không bảo vệ bằng những cái condoms!)Tâm trạng tôi thời điểm này không mấy tốt vì phải tứ bề thọ địch, thường trực cảnh giác, chống trả, tả xung hữu đột. Nhiều lúc mệt mỏi quá, tôi ghé anh Nhật Tiến, cốt tâm sự, và tìm đồng minh. Anh tiếp tôi đúng phong cánh nhà giáo, từ tốn nhưng vui vẻ, tận tình, bằng tấm lòng rộng mở của một người anh hiểu biết và cực kỳ sâu sắc. Anh đồng cảm việc tôi đang làm. Để khích lệ cũng như tiếp sức, anh bảo tôi đưa tên anh vào ban biên tập, dù tôi chưa mời. Có lẽ nhờ uy tín của anh nên sau đó, nhanh chóng, đã thêm rất nhiều nhà văn, nhà thơ trên khắp thế giới bằng lòng ghi tên vào “sổ phong thần” để cùng tôi nghe chửi!Nhờ tác quyền cuốn dâm thư, và nhờ sự đánh phá… cạn tàu ráo máng của các đấng có lập trường chống cộng kiên định, tờ báo bỗng nổi tiếng, độc giả tò mò tìm mua và đọc. Nghề của tôi là vẽ vời, liên quan mật thiết đến mỹ thuật, nên ngoài nội dung bài vở, hình thức của tờ báo cũng là điều tôi quan tâm rất mực. Tôi vẫn quan niệm một bài báo, một cuốn sách sẽ được lưu ý, trân trọng nếu trình bày, in ấn đàng hoàng. Hợp Lưu đáp ứng được hai yêu cầu trên, bài vở phong phú, hình thức mỹ thuật. Tờ báo được đánh giá là diễn đàn văn học nghệ thuật biên khảo đẹp và uy tín nhất ở hải ngoại vào thời điểm ấy.Thành quả này tất nhiên không do một mình tôi tạo nên, mà là công sức, tim óc của tất cả anh chị em từng cộng tác với tờ báo. Rõ nét và cụ thể nhất là những người gần gũi với tôi, như anh Nhật Tiến. Một lần tôi ghé anh, mặt mày cau có bặm trợn. Anh hỏi:“Việc gì thế?”

Tôi vọt miệng chửi thề,

“Đ.M… tức chịu không nổi.”

Anh nhìn tôi nhỏ nhẹ,

“Bình tĩnh nào.”

Chợt nhận ra mình vừa thô lỗ, tôi xuống giọng,

“Xin lỗi anh.”Anh bảo tôi ngồi xuống sofa, mở tủ lạnh lấy chai nước lọc đẩy về phía tôi,

“Uống đi cho hạ hỏa rồi nói tôi nghe, chuyện gì?”Tôi kể, đêm qua khoảng 2 giờ sáng điện thoại reo, tôi bắt máy thì lập tức tiếng rủa xả thô tục từ đầu dây bên kia ném sang, kèm theo lời hăm dọa: “Đ.M thằng Việt cộng nằm vùng, bọn tao sẽ ném lựu đạn vào nhà, cho cả lũ chúng mày chầu diêm vương.” Nổi máu du côn, tôi đáp trả: “Đụ mẹ chúng mày, nói đéo thiêng, ngon, sáng mai, đúng 10 giờ tao chờ chúng mày ở Mile Square Park muốn chơi kiểu gì cũng được, tay không, dao, súng, tao cân tuốt.”“Thế sáng nay thế nào?”

       “Em ra Mile Square Park, chờ mãi chả thấy thằng nào.”Thực ra tôi đã tiên liệu kết cục này, Bảy năm ở lính tôi rành quá bọn chuyên đánh võ mồm, chửi rủa thì không ai bằng, đụng chuyện là co vòi ca bài tam thập lục kế tẩu đào vi thượng sách.Bấy giờ anh Nhật Tiến mới từ tốn:“Cậu nóng quá mất khôn, ngộ nhỡ gặp đứa cũng nóng như cậu, ra điểm hẹn cùng cậu thi thố võ công, dao, súng. Ăn thua chưa bàn đến, chỉ thấy nhãn tiền là cậu và nó bị bắt, nằm ấp. Thiệt thân lãng xẹt. Sao không thâu băng giao cảnh sát? Trên xứ này, hăm dọa kiểu đó tù mọt gông là cái chắc.”Ngẫm, anh Nhật Tiến nói không sai. Nóng tính và phổi bò là nhược điểm lớn nhất gây không ít rắc rối cho tôi trong dĩ vãng. Suốt mười ba năm làm Hợp Lưu, đã không ít lần anh Nhật Tiến giúp tôi kềm chế, suy nghĩ thiệt hơn trước khi đưa ra một quyết định liên quan đến tờ báo. Như chuyện nhận hay không tài trợ.Tôi quen với Đoàn Văn Toại. Một hôm Toại nói: “Ông muốn xin tài trợ của chính phủ cho tờ Hợp Lưu không?”Và giải thích, Quốc Hội Hoa Kỳ có một phân bộ là “Viện Vận Động Dân Chủ”. Viện này có một ngân sách lớn, dùng để tài trợ cho các tổ chức đối lập tại các quốc gia độc tài, thiếu vắng dân chủ, Việt Nam nằm trong danh sách những quốc gia thuộc dạng này. Nếu tôi xin, với lời giới thiệu của Toại, bảo đảm sẽ được. Tôi vui lắm, mét ngay với anh Nhật Tiến, anh nói:“Chuyện quan trọng, cậu họp ngay ban biên tập đi.”Tôi triệu tập một buổi họp. Địa điểm, garage nhà tôi, cũng là tòa soạn Hợp Lưu. Buổi họp chừng sáu người, tôi không nhớ chính xác gồm những ai nên không nêu tên, nhỡ sai, không hay. Hầu hết mọi người cùng quan điểm với tôi, dưng không mỗi năm có 10.000 đô (số tiền này sẽ tăng hàng năm) không còn lo tờ báo chết. Chỉ riêng anh Nhật Tiến phản đối, anh nói:“Ngày xưa tờ Sáng Tạo của Mai Thảo vì nhận trợ cấp của Mỹ mà mang tiếng đến bây giờ. Hợp Lưu tự nuôi thân được, không việc gì phải xin trợ cấp.Các bạn hẳn biết không đồng tiền nào ném ra mà không có những điều kiện kèm theo. Điều kiện rõ nhất ngay khi mình chấp nhận nhận tiền là mỗi số báo phải có ít nhất một bài phê phán, kêu gọi tự do dân chủ cho Việt Nam, bài báo này phải được dịch sang tiếng Anh gửi cho Viện Vận Động Dân Chủ. Các bạn nghĩ xem, phiền phức không?”Sau một hồi bàn thảo, tất cả đều công nhận điều anh Nhật Tiến nói là đúng. Và ban biên tập quyết định từ chối trợ cấp.*Tôi quen khá nhiều văn nghệ sĩ thuộc mọi bộ môn, trong, ngoài nước, mới, cũ, già, trẻ. Người nào tôi cũng yêu mến, duy chỉ ba người tôi kính phục, trân trọng hết lòng. Đó là anh Nghiêm Xuân Hồng, Mai Thảo và Nhật Tiến.Về mặt văn chương, cả ba đều không hợp tạng tôi.Ngày xưa anh Nghiêm Xuân Hồng là đầu tàu của nhóm Quan Điểm, dùng văn chương làm vũ khí chống cộng, nên khô như gạch. Tác phẩm kịch của anh, Người Viễn Khách Thứ Mười, ráng lắm tôi đọc đến trang thứ 30 là đầu hàng, bỏ dở, không cách chi đọc tiếp!Anh Nhật Tiến xuất thân là nhà giáo nên văn chương hiền lành, nhẹ nhàng, “tải đạo.” Tôi, đi lên từ bùn nhơ, nên không chịu được loại văn chương “giáo khoa” này.Anh Mai Thảo, ngoài tập tùy bút mỏng dính Đêm Giã Từ Hà Nội và một vài truyện ngắn cùng tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền, số còn lại, trên dưới 50 tiểu thuyết, tôi đều không chịu nổi, văn chương điệu đà, đọc phát mệt. Nhưng cả ba đều là những nhân cách tuyệt vời.Về già anh Nghiêm Xuân Hồng thay đổi hẳn 180 độ. Từ một người say mê chính trị, anh biến thành một cư sĩ, một thiền sư uyên thâm kinh điển. Ngoài các tác phẩm liên quan đến Phật giáo anh đã viết và đều đặn xuất bản, còn hàng ngày tới các chùa giảng kinh. Anh thường đến thăm tôi, nhìn công việc tôi làm, cười nhẹ hiền từ:“Cậu có biêt cậu đang làm công việc của một Bồ tát không?”“Em không hiểu.”“Phát nguyện của các Bồ tát là yêu thương tất cả mọi người, xóa bỏ hận thù, xiển dương điều thiện. Cậu làm Hợp Lưu là đang thực hiện công việc tôi vừa nói. Đó là công việc của các Bồ tát.”

Nhà Văn Nhật Tiến tại toà soạn Thiếu Nhi

Anh Mai Thảo thường bị hiểu lầm là một người trịch thượng, cao ngạo, khó gần. Sự thật anh thủy chung, hào sảng, trượng phu với tất cả mọi người, nhất là bạn bè, không phân biệt tuổi tác, mới cũ và đặc biệt hơn nữa, trân trọng rất mực chữ nghĩa. Suốt cuộc đời chưa bao giờ anh dùng chữ nghĩa để bỉ thử ai, dù có không ít những đồn thổi, những bài viết tiêu cực về anh. Đã rất nhiều lần anh nói với “bọn trẻ” chúng tôi, chữ nghĩa đẹp lắm cơ, đừng dùng nó như một thứ vũ khí, hãy tử tế với nó. Hợp Lưu có những lúc bị đối xử tồi tệ, tôi nóng, nhiều lần định trả đũa rồi chợt nhớ lời Mai Thảo, tôi nuốt cơn giận xuống. Phải, “chữ nghĩa đẹp lắm cơ, hãy tử tế với nó.” Anh Mai Thảo, em nhớ anh!Anh Nhật Tiến, những lúc tôi lao đao vì tờ báo, anh luôn bên cạnh. Tấm lòng của anh, nhân cách của anh mãi mãi không bao giờ tôi quên. Ngày anh ra đi, vì bệnh tôi không thể đến tiễn đưa, đến hôm nay tôi vẫn còn ân hận.

Khánh Trường

Thơ Tình Hư Vô – Một Dư Âm Huyền Diệu. Cảm nhận của độc giả Cao Minh Nguyệt


(Chân dung Hư Vô)

Cao Minh Nguyệt

Vừa đọc xong tập thơ Người Tình Hư Vô đêm qua, giờ đây lòng vẫn còn lâng lâng dư âm huyền diệu của những mối tình không tuổi, vượt thời gian và không gian. 

Đặc điểm của thơ anh là bài đầu cũng như bài cuối, đắm đuối như chuyện tình Romeo-Juliet, dìu dặt sâu xa như nhạc vàng, mênh mông, huyền hoặc như liêu trai,  ngọt như cô gái yêu tình nhân lần đầu, và nhiệt cuồng, trang trọng, vội vã như những mối tình muộn, đang yêu đã nghĩ đến phút ly biệt, đêm còn sớm mà đã cầu xin cho nó dài mãi cho đến kiếp sau. 

Thơ anh bao gồm tất cả những giai đoạn của tình yêu. Trong khi lịch sử đã có rất nhiều bài thơ tuyệt đỉnh, nhưng phần đông là bởi những tác giả chỉ sáng tác được dăm câu hay dăm bài bất hủ đề rồi lại chỉ cho ra những bài rất thường, dễ bị chìm trong lãng quên, và thường ngừng lại ở một chặn đường của tình yêu. Tôi thấy thi sĩ Hư Vô là người đã yêu với tất cả tâm hồn và huyết quản của mình. Người đã yêu với tình yêu nhẹ nhàng như cánh bướm của Nguyên Sa, thầm lặng như Đỗ Huy Nhiệm, tuyệt vọng như Hàn Mặc Tử, vò xé tơ lòng như Nguyễn Bính trong bài Rượu Xuân:

“Em đi dệt mộng cùng người. 
Lẻ loi chỉ một góc trời riêng anh” 
(Nguyễn Bính)

Và sống động, mê ly, man dại như Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng.

Tôi không biết chọn những câu nào, bài nào tôi thích nhất của Hư Vô, vì bài nào cũng là một bản nhạc thâm trầm, đi sâu vào lòng người. Hư vô đã thăng hoa tình yêu. Ẩn dụ và hoán dụ được người khai thác rất khéo để dàn ý tình và cảm xúc mình – và cũng là của phần đông độc giả, vì rất thiết thực – trên trang giấy trắng.

Đặc biệt những câu sau đây đã để lại nơi tôi một ấn tượng khó quên:

“Đường xa lạ hoắc lạ quen.
Đâu còn ai đợi mà chen chúc vào”

Anh về bước chậm cầu cao. 
Gai ngang vết cắt nát nhầu dấu chân. 
Có qua hết đoạn đường trần. 
Xin em chăn giữ mộ phần riêng anh.”

“Trăm năm tôi vẫn nặng lòng. 
Hạt mưa rớt xuống phập phồng bóng em”

“Môi em sẵn mới vào mùa. 
Tôi nghiêng nghiêng thấp cho vừa vặn đau”

“Lỡ tay đánh mất nửa đời trước. 
Còn nửa đời sau cho hết em”

“Ta về cho kịp tái sinh. 
Nửa đêm chiếc bóng cựa mình khóc vang.
Thắp trăm ngọn nến da vàng.
Trăng đang mãn nguyệt ngang tàn tích em”

“Hồn tôi bỗng chốc lên men. 
Trái tim nhảy nhỗm cuồng điên lạ kỳ.
Thì em cũng đã u mê. 
Cơn say gào thét cho kề cận môi”

“Ngày em xõa tóc theo chồng. 
Có nghe xám hối động phòng cô dâu?..”

“Từ em sợi tóc biết buồn.
Áo bay cuốn góc linh hồn tôi theo”

“Nắng trong veo, thấu lụa là. 
Áo em mỏng quá, lòng ta gập ghềnh.
Dù là một thoáng lênh đênh. 
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn”

Và còn nhiều đoạn nữa, kể sao cho hết. Tôi xin tạm ngưng ở đây và cảm tạ thi sĩ Hư Vô mà dòng thơ đã khơi dậy trong tôi tiếng lòng êm ái của một thời khó quên.

Cao Minh Nguyệt

Nụ Môi Non. Thơ Hư Vô – Nhạc Lam Thủy – Ca Sĩ Huy Tuấn – Hòa âm Chính Mung


Dáng Xuân Thì. Thơ Hư Vô


Em ngồi xoã tóc trên sông
Kết mơ thành sợi tơ hồng lẻ loi
Em ngồi vớt bóng em trôi
Về phơi ngọn nắng bên đồi trầm hương.

Đầu non nở đóa vô thường
Dáng em mây trắng còn vương cuối ngàn
Buồn như sợi khói chưa tan
Áo pha dấu nắng thênh thang đôi bờ.

Lụa là còn biết bơ vơ
Môi non mắt biếc em chờ đợi ai 
Chiều nghiêng theo chiếc lá bay
Trăm năm như thể một ngày thôi em…

Hư Vô

Nguyễn Thị Hoàng – Người Yêu Muôn Thủa


Thuỵ Khuê


Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11-12-1939, tại Huế. Bút hiệu khác: Hoàng Đông Phương. Nguyên quán: thôn Quảng Điền, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Cha là Nguyễn Văn Hoằng, công chức cao cấp trong Bộ Giáo dục. Học trung học đệ nhất cấp ở trường Đồng Khánh, Huế. Năm 1957 gia đình chuyển vào Nha Trang, học trường trung học Võ Tánh.

Tại đây, xảy ra mối tình với nhà văn, nhà giáo Cung Giũ Nguyên (1909-2008) người dạy thêm Nguyễn Thị Hoàng về Pháp văn tại nhà, gây xôn xao dư luận. Gia đình kiện ông Nguyên tội dụ dỗ gái vị thành niên. Trước toà, người thiếu nữ đứng ra nhận trách nhiệm: không hề bị dụ dỗ, vị giáo sư được trắng án, nàng sinh con gái đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng, do bà Nguyên nuôi vì bà không có con.

Năm 1960, Nguyễn Thị Hoàng vào Sài Gòn học Đại học Văn Khoa, rồi Luật, được ít lâu bỏ dở, làm thư ký riêng cho một tỷ phú. Năm 1961, bỏ việc, dạy Việt và Anh văn. 1962 lên Đà Lạt, dạy trường trung học Trần Hưng Đạo; tại đây xảy ra mối tình giữa cô giáo đệ nhất cấp Nguyễn Thị Hoàng và Mai Tiến Thành, học sinh lớp 12, sanh con gái Mai Quỳnh Chi (mẹ của Thành nuôi). Mai Tiến Thành về sau viết cuốn Tiếng nói học trò, do Thụy Vũ đề tựa và Kim Anh xuất bản; sáng tác tập thơ Bi ca và nhục cảm.

Năm 1963, Nguyễn Thị Hoàng trở về Sài Gòn. Vòng tay học trò viết tại Sài Gòn trong vòng một tháng, ký bút hiệu Hoàng Đông Phương, gửi đăng trên Bách Khoa từ số 169 (15/1/1964) đến số 192 (1/5/1965). Tiếp đó, Nguyễn Thị Hoàng kết hôn với Nguyễn Phúc Bửu Sum, giáo sư triết, cả hai về sống ẩn dật ở miền Bình Định, Hoàng làm việc cho hãng nhuộm Sincovina ở thị xã An Nhơn.

Năm 1966, ký giả văn học Lê Phương Chi người giúp đỡ nhà xuất bản Kim Anh, tìm gặp tác giả để điều đình in tác phẩm Vòng tay học trò, sách đoạt thành công kỷ lục, tái bản bốn lần trong vài tháng. Nhưng Nguyễn Thị Hoàng cho biết: “Sóng gió nổi lên từ mọi phiá… Năm tờ báo, cùng nhất loạt lên tiếng phê phán, chỉ trích, tóm lại là chửi bới.” (Trả lời phỏng vấn của Mai Ninh).

Trừ Nhật Tiến trong bài Sinh hoạt tiểu thuyết một năm qua (Bách Khoa số 265-266, 15/1/1968), đã nhận định đúng giá trị của Vòng tay học trò và của những tác phẩm văn học phái nữ xuất hiện trong hai năm 1966-1967.

Tháng 11/1967, Nguyễn Thị Hoàng cùng chồng lập nhà xuất bản Hoàng Đông Phương, bà cho biết: “Từ năm 1966 đến 1969, mình viết liên tục theo những đơn đặt hàng. Trong thời gian này mình viết rất nhanh, có khi viết hai, ba truyện cùng một lúc… rồi thì lại buồn chán, mệt mỏi, kiệt sức và mất hoàn toàn tinh thần làm việc vì trong suốt những năm dài liên tục mình chỉ sống với bổn phận làm vợ, làm mẹ và gánh vác kinh tế gia đình. Cái nguồn sống riêng phải nín lại, bị khô héo đi. Sau một chuyến đi xa vào năm 1970 mình lấy lại được hứng khởi và phần không nhỏ cũng là vì năm đứa con, một đòi hỏi lớn về kinh tế gia đình nên phải tiếp tục viết… Do đó mà chưa có quyển nào coi như được viết từ tim óc của mình”(Trả lời phỏng vấn của Tố Tâm, Đất Mới, số 4, bộ 2, tháng 4/1990).

Về cách viết của bà, Hồ Trường An kể: “Dàn bài khi được coi như hoàn tất; tức thời chị Hoàng đảo ngọn bút, viết nhanh như gió táp mưa sa, không thèm đọc lại những gì mình đã viết; ngòi bút của chị như cuồng lưu, như ngựa phi đường xa, lướt phom phom, không có gì ngăn cản nổi. Vậy mà chị Nguyễn Thị Hoàng vẫn có thì giờ chăm sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa; đảm đang việc bếp núc. Anh Bửu Sum hết vụ trốn lính, tới chuyện đào ngũ, rồi bị bắt, rồi lại đào ngũ, không làm ăn gì được”(Giai Thoại Hồng, trang 278).

Tóm lại, sau thời kỳ sống sung túc, đến giai đoạn khó khăn: Bà một mình gánh vác kinh tế gia đình, viết văn để kiếm tiền nuôi năm con đến kiệt sức. Chuyến đi xa năm 1970 mà bà nhắc đến trên đây có lẽ là chuyến sang Nhật. Xúc cảm trước bối cảnh huyền bí của cố đô Kyoto, bà đã viết tuyệt tác Tan theo sương mù (in trong tập Bóng lá hồn hoa).

Cũng trong thời gian này, bà tổ chức cho chồng trốn lính, sau đó, bị truy nã, gia đình lánh về Long Xuyên, ở một nơi hẻo lánh, lập Trại Đá Mềm… bà chỉ trở lại Sài Gòn khoảng 1975. Sau 1975 là thời gian dài im lặng. Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện lại với tác phẩm Nhật ký của im lặng do Đồng Nai in năm 1990.

Tác phẩm đã inĐã in hơn 30 tác phẩm, còn khoảng 10 cuốn chưa xuất bản.

Truyện dài: Vòng tay học trò (Kim Anh, 1966), Tuổi Sài Gòn (Kim Anh, 1967), Ngày qua bóng tối (Văn, 1967), Vào nơi gió cát (Hoàng Đông Phương, 1967), Về trong sương mù (Thái Phương, 1968), Một ngày rồi thôi (Hoàng Đông Phương, 1969), Cho đến khi chiều xuống (Gió, 1969), Đất hứa (Hoàng Đông Phương, 1969), Tiếng chuông gọi người tình trở về(Sống Mới, 1969), Vực nước mắt (Gió, 1969), Vết sương trên ghế đá hồng (Hoàng Đông Phương, 1970), Tiếng hát lên trời (Xuân Hương, 1970), Trời xanh trên mái cao (Tân Văn, 1970), Bóng người thiên thu (Hoàng Đông Phương, 1971), Bóng tối cuối cùng (Giao Điểm, 1971), Tình yêu, địa ngục (Nguyễn Đình Vượng, 1971), Định mệnh còn gõ cửa(Đồng Nai, 1972), Bây giờ và mãi mãi (Đời Mới, 1973), Năm tháng đìu hiu (Đời Mới, 1973), Trời xanh không còn nữa (Đời Mới, 1973), Tuần trăng mật màu xanh (Đồng Nai, 1973), Buồn như đời người (Đời Mới, 1974), Chút tình xin lãng quên(Trương Vĩnh Ký, 1974) Cuộc tình trong ngục thất(Nguyễn Đình Vượng, 1974), Nhật ký của im lặng(Đồng Nai, 1990)…

Truyện ngắn: Trên thiên đường ký ức (Hoàng Đông Phương, 1967), Mảnh trời cuối cùng (Hoàng Đông Phương, 1968), Cho những mùa xuân phai (Văn Uyển, 1968), Dưới vầng hoa trắng (Sống Mới, không đề rõ năm), Bóng lá hồn hoa (Văn, 1973)…

Thơ: Sầu riêng (1960), Kiếp đam mê (1961), Thi ca và nhục cảm (1967).

Thơ Nguyễn Thị Hoàng

Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện trước tiên như một nhà thơ. Khi còn ở Nha Trang, tháng 8/1959 đã gửi tới Bách Khoa một chùm bốn bài, tựa đề Bước thời gian, phỏng theo câu thơ của Gérard de Nerval: Semons de roses/Les pas du temps được Hoàng dịch sang tiếng Việt:

Hãy gieo cánh hồng

Trên bước thời gian.

Bách Khoa đăng ngay hai bài đầu: I- Nắng trưa (số 63, 15/8/1959) và II- Chiều (số 64, 1/9/1959), sau đó ngừng tám tháng, với lời cáo lỗi “vì một lẽ riêng” nay mới cho đăng tiếp bài III- Chiêm bao (số 80, 1/5/60) và bài IV- Ánh sáng (số 81,15/5/60). 

Trong bốn bài thơ này, bài số III và số IV giọng tâm sự về mối tình đầu:

Bẻ khóa đào nguyên lướt dặm trời.

Hồn xa dương thế một lần thôi

Mênh mông bốn phiá trời mây nước

Chỉ một người yêu với một người.

(Chiêm bao)

và:

Lòng khép chặt nẻo u sầu tăm tối

Hồn tìm sang tinh tuý của tình yêu.

(Ánh sáng)

Phải chăng vì lẽ đó mà Bách Khoa ngại không đăng ngay, sợ làm phiền nhà văn Cung Giũ Nguyên, đang viết cho Bách Khoa lúc bấy giờ?

Tiếp đó, sang giai đoạn hai, thơ làm ở Sài Gòn, với bài Niềm đau chia phôi, sáng tác tại khu Bàn Cờ, chiều 6/6/60, đăng trên Bách Khoa số 83 (15/6/60), đánh dấu sự chia tay với mối tình đầu:

Đã ba mùa cách trở

Nửa năm rồi biệt ly

Áo màu không thắm nữa

Thủa tàn phai xuân thì…

(Niềm đau chia phôi)

Rồi bẵng đi ba năm không đăng thơ, đến Bách Khoa số 156 (1-7-63) có bài Nỗi niềm, chỉ bốn câu:

Nỗi niềm bi thiết ai hay

Năm năm nước cũ sông này trôi xuôi

Iin lên sắc xám da trời

Nét buồn thiu nửa cuộc đời lang thang

(Nỗi niềm)

Lời thơ lâm ly vọng về mối tình cũ. Nhưng đến ba bài Yêu, Nhớ, Nhịp buồn, làm mùa hè năm 1963 (Bách Khoa số 161, 15/9/63), mối tình mới hiện ra đậm nét:

Khi em về giữa vòng tay

Trong yêu dòng nước mắt này lại khô

Vết hôn ngày cũ chưa mờ

Phút giây đầm ấm bao giờ nữa em

(Yêu)

Không ai về thăm chiều nay

Cho tôi chết giữa vòng tay một người

Tiếng hôn khép kín môi cười

Gối chăn mùa lạnh rã rời thú xưa

(Nhớ)

Và bài Nhịp buồn:

Cúi đầu đếm bước bơ vơ

Hoàng hôn khép kín bao giờ đây em?

Nhìn lên thành phố không đèn.

Âm u còn lại màn đêm cuối cùng

Mắt sâu dòng lệ ngập ngừng

Mình xa nhau đã muôn trùng thời gian.

(Nhịp buồn)

Tóm lại, thời gian (1959-63) thơ thể hiện tâm sự hai mối tình.

Tháng giêng 1964 là ngõ quặt lớn trong đời văn: Bách Khoa số 169 (15/1/64) đăng bài Giới hạn, thơ Nguyễn Thị Hoàng, đồng thời bắt đầu in truyện dài Vòng tay học trò ký tên Hoàng Đông Phương. Giới hạn tỏ ý muốn dứt khoát với cuộc tình “học trò” và nói đến sáng tác như một phục sinh:

Ngày mai tôi bỏ đi

Xa vòng đua thứ nhất

Cuộc đời không chấm dứt

Bằng một lần phân ly

Tôi bắt đầu vẽ lại

Những vòng cung ái tình

Thêm một lần tuổi dại

Chết theo hồn băng trinh.

(Giới hạn)

Sau đó trên Bách Khoa thơ bớt dần, chỉ còn lại truyện dài Vòng tay học trò.

Vòng tay học trò

Ở tuổi 24, Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện với một thi pháp độc đáo: Thi pháp của tình yêu và đam mê.Sau Nguyễn Tuân và Mai Thảo, đây là nhà văn thứ ba trong văn học Việt Nam có một thi pháp đặc biệt, thể hiện trong tác phẩm đầu tay Vòng tay học trò. Ở cuốn tiểu thuyết thứ ba Ngày qua bóng tối,thi pháp này được lồng trong nghệ thuật hiện thực huyền ảo (réalisme fantastique), tạo nên một thứ ám ảnh có hấp lực lạ lùng. Tóm lại, tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng có thể chia làm hai khuynh hướng: hiện thực hiện sinh (Vòng tay học tròVào nơi gió cátCuộc tình trong ngục thất…)và hiện thực huyền ảo (Mê lộ, Dấu chân bãi cátTan theo sương mùNgày qua bóng tối, Trời xanh trên mái cao…), nhưng phải nói ngay đó là khuynh hướng tự nhiên vì không có gì chứng minh Nguyễn Thị Hoàng, thời đó, đã tiếp xúc hay chịu ảnh hưởng trực tiếp của những dòng văn học này.

Với khả năng sáng tạo phi thường, Nguyễn Thị Hoàng có thể thay đổi đề tài, thay đổi văn phong, mỗi khi có một động lực dấy lên, như: tình yêu, tan vỡ, đợi chờ, nhớ nhung, khổ đau, hạnh phúc… tất cả đều có thể cung cấp cho bà chất liệu sáng tác, và khi đã đặt bút rồi, bà viết không ngừng, bà viếtnhư gió táp mưa sa, như dòng cuồng lưu, nhưlời Hồ Trường An. Độc giả, hoặc không thích, bỏ qua ngay, hoặc nếu đã nhập vào, thì sẽ bị lôi cuốn bởi dòng cuồng lưu, không thể thoát ra được, bởi ma lực của cái đẹp trong mỗi câu văn, bởi sự đổi thay không ngừng cảnh quan, ý thức. Khó có thể hiểu tại sao một cấu trúc văn phong tư tưởng chặt chẽ như vậy lại có thể viết một lèo như mưa sa bão táp.

Tính chất thứ nhất trong tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng là hiện thực hiện sinh. Người ta thường chế giễu Nguyễn Thị Hoàng như một nhà nhà văn “theo đuôi hiện sinh” nhưng ít người hiểu hiện sinh là gì. Triết học hiện sinh trong nghiã đơn thuần nhất, chính là triết học tìm hiểu con người, con người đang sống (hiện sinh). Tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng, vô tình hay hữu ý, luôn luôn chiếu ống kính về mìnhkhảo sát mình.

Vai chính trong truyện, thường là những người đàn bà trong các tình huống khác nhau, đối diện với người yêu, người chồng. Họ luôn luôn đi tìm mình, xem mình là ai, muốn gì, cái gì đã xảy ra cho mình, tất cả những hành động, cảm giác, xúc động của “mình” đều được tác giả ghi lại để xác định bản chất “của mình” trong cuộc đời hiện hữu.

Trong Vòng tay học trò, tình yêu là đối tượng khảo sát, tình yêu được đưa lên “bàn mổ” hệt như trong Buồn nôn Sartre đã “mổ moi” tất cả những hành động và ý tưởng của Roquentin. Một công việc như thế, thuật ngữ triết học gọi là dùng hiện tượng luậnđể phân tích. Nhưng ta không thể nói Nguyễn Thị Hoàng dùng hiện tượng luận, như thế sẽ không có tiểu thuyết mà chỉ có tiểu luận, và chỉ có thể nói tác giả đã coi tình yêu như một hiện tượng, bà đã chiếu nhiều ống kính vào khắp các ngõ ngách khác nhau của hiện tượng tình yêu để vẽ lại bằng một bút pháp đam mê, lôi cuốn, đầy nghệ thuật. Tình yêu là nội dung sáng tác và đam mê hướng dẫn ngòi bút. Tình yêu ở đây trở thành đối tượng nghệ thuật, giống như một bức tranh, một bài thơ, tức là tình yêu đã trở thành một vật thể. Vật thể tình yêu này được soi rọi trên mọi khía cạnh, mọi tình huống, được nhìn bằng trăm mặt khác nhau, và viết nên bằng một thứ bút pháp đam mê không ngừng nghỉ như một hơi thở bất tận.

Vì vậy, khi ta bước vào tác phẩm Vòng tay học trò, dù do bất cứ động lực nào: vì tò mò muốn đọc một truyện “xì-căng-đan” giữa cô giáo học trò, vì muốn biết sự “đồi trụy” của tác giả mà các ngòi bút luân lý lên án, hay vì muốn tìm kiếm những pha dâm ô như những kẻ không đọc tác phẩm này rêu rao.

Dù bằng lý do gì chăng nữa, thì qua những trang đầu, hoặc ta sẽ quẳng sách đi, vì thấy nó “chẳng có chuyện gì xảy ra cả” hoặc ta bị lôi cuốn vào cái văn phong đam mê ấy, ta sẽ đọc tác phẩm như nghe một bản nhạc giao hưởng về tình yêu, thoát khỏi cõi trần nhơ nhớp: bởi tình yêu ở đây đã thăng hoa thành nghệ thuật. Trâm, người phụ nữ đã từng sống một thời dạ lạc, nhìn lại những tình nhân đã qua, thấy “bây giờ họ là những xác chết. Mỗi tình yêu là một bông hoa đã uá tàn. Mỗi ngày vui là một chiếc lá vàng rơi rụng”,nàng bỏ đi, định sẽ không bao giờ còn yêu được nữa: “nàng bỏ đi như một từ khước và như một lẩn trốn. Từ khước những thú vui buông thả đưa tới lỗi lầm cay đắng, đưa tới trống không dằng dặc tủi hờn, lẩn trốn những đòi hỏi xôn xao của chính mình, của một bản chất sôi nổi, thèm sống, thèm yêu đến tột cùng, đến vô bờ vô bến” (trang 9).

Từ bỏ Sài Gòn ồn ào ồ ạt, nàng tìm đến Đà Lạt như một nơi để “vùi chôn đời đời. Nhưng đâu có dễ. Trốn đi đâu? Bởi Trâm không thể trốn được chính mình, nàng là “nòi tình”, nàng là hiện thân của tình yêu, làm sao bỏ “nó” được.

Khi “thằng nhóc” Minh đến, nó đã kéo nàng trở lại với bản lai chân diện mục của mình. Bản giao hưởng dẫn ta vào những trầm bổng của nhịp tình, lôi cuốn, hờn ghen, đớn đau, giận dỗi… Ở đây không hề có tội. Tội gì? Khi tất cả chỉ là sự tiếp nối không ngừng những ái ân thanh cao tế nhị nhất:

Trâm lần tay xuống những cành củi thông. Tiếng sột soạt nhẹ nhàng của củi cọ trên sàn gỗ, bỗng Trâm cảm thấy tay mình vương vướng trên mớ củi khô. Những ngón tay cóng tê run rẩy, những dây thần kinh bé bỏng đầu ngón tay chuyền cảm giác đi khắp thân thể Trâm như những đoàn quân nồng nhiệt đi chiếm đóng một quê hương gần hàng phục, bị trị. Trong một mấp máy của thời gian, Trâm như trong chiêm bao mơ hồ thấy hơi ấm dịu dàng của bàn tay người con trai ấp ủ lấy bàn tay hấp hối của mình. Giọng Trâm rưng rưng vừa ăn năn vừa thú tội: -Em… Hai bàn tay bứt rứt buông nhau.” (trang 177).

Thi pháp tình yêu và đam mê đã dẫn ta tới nguồn cội của cảm giác: chỉ cần sự va chạm của mấy ngón tay đã đủ đánh thức tất cả hệ thống thần kinh, đã khơi dậy một trời đam mê, đã thoả mãn cả núi đồi nhục cảm. Giá trị tác phẩm nằm ở chỗ đó.

Mỗi một hơi thở, một cựa mình… là một lời gọi kêu tội lỗi”, “Từng ngón tay Trâm đột nhiên run rẩy bám chặt vào chéo gối”, “Mùi thuốc thơm phảng phất. Hơi khói nồng nồng quen thuộc từ phiá Minh len lén bay qua phả lên mặt nàng như một gửi trao liều lĩnh”…

Không một chữ sàm, chữ sỡ, không dâm, không ô, trong toàn bộ tác phẩm.

Vòng tay học trò đã đào sâu tình yêu qua ngả nhận thức và cảm giác. Mỗi yếu tố nhỏ nhất đều có thể là động tác tình yêu: một hơi thở, một tiếng cựa mình, một làn khói… tất cả đều đã có chất yêu ở trong, nhà văn đã chắt nó ra, và như thế, tác giả đã tìm tới tất cả những nguồn cội dẫn đến nhục cảm có thể tưởng tượng được.

Vào nơi gió cát

Vào nơi gió cát không phải là tiểu thuyết mà là một lá thư hay một bài văn dài viết cho người chồng đang đi hành quân đâu đó; lấy câu thơ “Chàng từ đi vào nơi gió cát” trong Chinh phụ ngâm, làm đề. Bài văn kể lại chuyện từ lúc gặp nhau, lấy nhau, rồi nàng có thai đứa con đầu lòng và chàng xa vắng. Ở đây, sự nhớ thương vẫn là đối tượng khảo sát bằng hiện tượng luận.

Sự nhớ thương chăn gối điên cuồng của một người vợ, mới cưới, chồng bị gọi động viên, rồi ra trận, rồi liều lĩnh bỏ về thăm vợ, bị bắt, bị tù, được tha, lại phải trở ra trận… Nỗi nhớ thương đến cuồng dại điên rồ, sự lo lắng đến bệnh hoạn về cái chết có thể đến với chồng trong giây phút. Văn phong đam mê cực điểm đến độ mù quáng, mê sảng. Tính chất quá độ có thể làm giảm giá trị của tác phẩm, nhưng đây là bài văn duy nhất, đã thám hiểm đến tận đáy của cảm giác trong lòng những thiếu phụ có chồng ra trận, dường như chưa ai dám đi xa đến thế.

Cuộc tình trong ngục thất

Vào nơi gió cát bắt buộc phải dẫn đến Cuộc tình trong ngục thất, bởi người thiếu phụ không thể chịu được cảnh xa chồng, chuyện gì phải đến đã đến: họ tính chuyện đào ngũ. Người vợ, bụng chửa sáu tháng đứa con thứ ba, giúp chồng thực hành ý định. Tác phẩm được viết như một bi kịch kín (huis clos) xảy ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ, từ khi người vợ vác bụng chạy đến phi trường tỉnh lỵ sắp đóng cửa, nài nỉ mua cho bằng được hai vé máy bay cho ngày hôm sau trở lại Sài Gòn; rồi nàng về nhà trọ đợi chồng tẩu thoát từ một đơn vị đang tác chiến.

Mọi động tác, mọi toan tính đều được chắt lọc, vắt cạn, tạo sức ép đến độ nghẹt thở, hệt như trong một truyện trinh thám. Nhưng đây không phải là trinh thám mà là văn chương. Tác giả đánh động mọi giác quan của ta bằng tình yêu, bằng nỗi chết, bằng sự sống còn: nếu muốn sống, muốn yêu, thì bắt buộc phải đào ngũ. Không có đường nào khác. Không có vấn đề đê hèn hay phản chiến, mà chỉ có một lựa chọn: sống hoặc chết và họ đã chọn đường sống.

Phần thứ nhì trong tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng là hiện thực huyền ảo. 

Mê lộ

Truyện ngắn Mê lộ, đăng trên Bách Khoa số 246 (1/4/1967), viết về một vụ án mạng mà nạn nhân là một tiếng hát. Tiếng hát quyền rũ tất cả, tiếng hát đưa ta “trở về những thời gian hoang vu tiền sử xa lắc xa lơ, về những bến bờ sơ khai nguyên thuỷ của con người… Về quê hương. Về mất mát, về chiến tranh. Về tình yêu và những tháng ngày diễm mộng…

Một tiếng hát “mê hồn” như thế, làm sao có thể giết được? Kẻ sát nhân bèn đi theo “nó”, rình mò “nó” như một thám tử cừ khôi và cuối cùng hắn đã hạ sát được “nó”, hắn cắm phập con dao vào tim “nó”, trong một lâu đài hoang phế, trên ngọn đồi âm u của núi rừng. Về lại Sài Gòn, hắn đang hả hê nghĩ đến chiến công oanh liệt của mình; bỗng, tiếng hát lại nổi lên, mê hoặc hơn bao giờ hết, lại réo rắt vọng vào tai hắn, thì ra hắn đã giết lầm: hắn lăn đùng ra.

Hắn là ai? Hắn chính là cái quê hương, nơi chôn rau cắt rốn của “nó”, hắn đã sản sinh ra “nó”, thế mà…

Mê lộ là một trong những truyện ngắn rất hay và rất lạ của Nguyễn Thị Hoàng. Mê lộ xác định tính cách fantastique, trong cõi viết Nguyễn Thị Hoàng, từ năm 1967, đưa bà lên địa vị một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên viết theo lối hiện thực huyền ảo (réalisme fantastique), mặc dù lúc ấy ở Việt Nam có lẽ chưa mấy ai biết hiện thực huyền ảo là gì.

Ngày qua bóng tối

Tiểu thuyết Ngày qua bóng tối, cảm hứng từ mối tình đầu ở Nha Trang, có cấu trúc khác hẳn Vòng tay học trò. Ở đây tác giả đã nhuần nhuyễn kỹ thuật huyền ảo với một nghệ thuật làm lạc hướng tài tình, khiến ta không thể nhận được, đâu là hư, đâu là thực, ai là ai, còn sống hay đã chết. Truyện mở vào không gian trinh thám với cái chết rùng rợn của một kẻ bị ám sát, chết ngồi trên mui xe lửa, máu rớt xuống vai áo những hành khách trong toa tàu…

Nhưng đó chỉ là đòn lừa, dẫn đến một “thực tại” khác hẳn: sự gặp gỡ bất ngờ trên tàu, của cô gái chưa mười tám và cặp vợ chồng đứng bóng, “ân nhân” của nàng.

Nhân dạng mối tình đầu hiện dần ra: người đàn ông đứng tuổi “như một khách lạ ở hành tinh xa vời nào xuống nhàn du trái đất” mà cô gái gọi là người lạ. Chính người lạ này sẽ đánh thức những tiềm năng ngủ sâu trong tâm hồn và thể xác của cô gái, toàn bộ tri thức, nhận thức, cảm quan, giác quan của nàng được dựng dậy, được khai thác…

Người lạ vừa là thầy, vừa là đối tượng bí mật cần khám phá, một thứ thần tượng, từ khâm phục dẫn đến thần phục và tình yêu. Người con gái chưa hiểu được thứ cảm tình gì chi phối mình, kèm thêm thứ cảm tình lạ lẫm đối với người vợ bao dung của ông ta, luôn luôn che chở và săn sóc nàng như một người em gái yếu mềm, dễ vỡ. Tất cả những xao động và hành động xảy ra giữa nàng và người lạ, và bà vợ dẫn đến những đổ vỡ, ăn năn, tuyệt vọng và nỗi chết. Tác phẩm vừa bí mật, vừa lôi cuốn như một truyện hoang đường, không lối thoát, nhưng nó xác nhận mối tình đầu mới là mối tình sâu xa nhất của tác giả, mối tình này vẫn sống trong nàng, mặc dù nó đã chết từ lâu.

Tan theo sương mù

Tan theo sương mù là một tuyệt tác trong những truyện ngắn của Nguyễn Thị Hoàng và của văn học Việt Nam, viết năm 1970 ở Osaka. Trong tác phẩm này, tất cả đều đạt đỉnh cao của tế nhị và hư ảo: Tình yêu được đặt trong một không gian mới lạ, diệu kỳ. Không hiểu tại sao chỉ một chuyến qua Kyoto, mà tác giả có thể nhập vào nhiều thứ đến thế: không khí mê hoặc của những gia trang huyền bí Nhật Bản, của vườn cảnh, của những bình phong, của những bông hoa lạ, của hương thơm, của ảo giác, của bức tranh bí mật dị kỳ và nhất là của tâm hồn Nhật Bản. Bút pháp trong Tan theo sương mù không thua bất bất cứ loại bút pháp nào trong tác phẩm của Kawabata. Tình yêu ở đây là sự sống chung giữa mộng và thực, giữa trần gian và âm cảnh của người đàn ông với người vợ đã chết, ẩn thêm bóng dáng người lạ của Ngày qua bóng tối, nhưng Nhật Bản hơn, thanh khiết và cao đạo hơn.

Thụy Khuê

Paris, tháng 10-2018

Những Mẩu Dây Leo. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)


Từ con lộ chính mang tên đường Prespect phía Nam, qua một cột trụ điện thì có lối rẽ vào khu vực đậu xe được bao quanh bằng những luống dày đặt loại dây leo Ivy tứ thời xanh mướt mà không bao giờ có hoa. Ở bãi đậu xe lại có một con đường trải sỏi rộng rãi dẫn vào bên cánh trái của toà buiding ba tầng lầu. Đằng sau tầng buiding ba tầng lầu là một dãy nhà kho. Phía sau dãy nhà kho là một khoảng đất trống có hàng rào kẽm gai ngăn thưa thớt giữa cơ sở thương mại này với xa lộ suốt ngày có xe cộ chạy qua như một dòng nước chảy liên tu bất tận. Đó là sở làm của Vũ.

Hôm đến nhận công việc, người bạn đồng nghiệp của Vũ (nay sắp nghỉ và Vũ phải thế chân) đã giơ cánh tay khoác một cử chỉ bao quát bốn bề chung quanh và nói bằng một giọng Anh ngữ của người dân gốc Mễ:

– Không có gì nhiều lắm đâu. Tôi sẽ chỉ cho anh đủ mọi thứ.

Nói rồi anh ta sâm sâm kéo Vũ vô một cái bàn giấy nhỏ kê thêm ở sát góc tường ngay gần chỗ cầu thang lối dẫn lên các tầng lầu. Rồi anh ta nói lia chia mà Vũ cố gắng lắm cũng chỉ lõm bõm hiểu câu được câu chăng. Đại khái là phải đi rải vòng quanh cơ sở mỗi giờ một lần, từ parking lot cho tới hàng rào kẽm gai, từ toà buiding cho đến dãy nhà kho, từ lầu trên cho xuống tới lầu dưới và phải ghi báo cáo vào cái bản in sẵn gọi là daily activity report. Cuối cùng anh ta trao cho Vũ một cái hộp đen xì có quai xách trên có gắn một mặt đồng hồ và nói:

– Ở đây có tất cả hai mươi lăm cánh cửa có gắn chìa khoá của cái “round clock” này. Mỗi giờ anh phải đi xoay đủ hai mươi lăm cái. Nó có tape ở trong đó, bỏ sót là không được đâu. Sáng nào manager cũng mở ra, chỉ cần coi cái tape ghi như thế nào là nó biết anh có làm việc hay không.

Sau đó anh ta lôi tuồn tuột Vũ đi qua hai mươi lăm cánh cửa trong số cả trăm cánh cửa chằng chịt ở trong cơ sở này. Vũ bỗng trở nên như ở trên mây. Có tài thánh chỉ trong mấy phút mà người ta có thể nhớ hết vị trí của 25 cái chìa khoá treo lủng lẳng ở hai mươi lăm nơi khác nhau từ lầu trên xuống lầu dưới, từ sân trước xuống sân sau để có thể mỗi giờ người ta đến đúng vị trí của nó, thọc nó vô cái hộp đen kỳ cục này, xoay nó một vòng để nó in cái vòng ám số lên cuộn hàng giấy nằm bên trong. Cuộn băng chạy theo cùng với trục kim đồng hồ. Lố giờ nào, sót cái chìa khoá nào, tự nó có thể tố cáo ra hết! Đúng là cái xứ văn minh kỹ thuật, xài rất ít người nhưng lại có thể kiểm soát tối đa, Vũ có ác cảm ngày với cái hộp đen mà anh chàng Mễ kia gọi nó là cái “round clock” từ mấy phút trước.

Màn bàn giao công tác kể như tạm xong, anh Mễ có vẻ hí hởn như một con chim đang được tháo cũi sổ lồng. Hẳn anh ta vừa kiếm được cái job thơm hơn. Hẳn vĩnh viễn từ từ nay anh sẽ không còn là nô lệ cho cái hộp đen vô tri cục mịch lạnh lùng và vô tình cảm này. Bây giờ thì Vũ treo cái hộp lên chiếc đinh đóng ở ngay trên mé tường kế chỗ Vũ ngồi. Tại vị trí đó, nom nó đúng là một cái đồng hồ như tên gọi của nó, nhưng là một cái đồng hồ kỳ cục ở chỗ ngay chính giữa nó lại có cái lõm sâu hoắm, chỗ mà Vũ sẽ phải tra chiếc chìa khoá, mỗi chiếc vừa to vừa nặng không nhỏ hơn một ngón tay trỏ của một con người. Lúc này thì Vũ có thể nghe thấy tiếng tích tắc của nó phát ra như hơi thở đều hoà của một sinh vật sống, loại sinh vật được sinh ra ở cõi đời này để chỉ làm có mỗi công việc là KIỂM SOÁT và TỐ CÁO kẻ khác. Nó làm cho Vũ liên tưởng ngay đến những khuôn mặt đáng ghét của những anh công an khu vực ở quê nhà, hể để cho bọn chúng bước qua ngưỡng cửa rồi thì mọi ngõ ngách, ngọn nguồn trong nhà đều bị những cặp mắt soi mói, tọc mạch ghi gói hết. Vũ nhớ lại một lần, có hôm một anh công an ghé vô, chưa kịp chào hỏi thì anh ta đã kêu lên:

– Ủa, cái kệ gỗ mọi hôm ở đây, anh chị đem đi đâu rồi?

Vũ ngạc nhiên nhìn về phía góc tương. Quả nhiên cái kệ gỗ mọi khi vẫn để những món đồ linh tinh nay đã bị rời đi từ lúc nào mà chính Vũ cũng không hay. Vừa may lúc đó vợ Vũ đã chạy ra trả lời đon đả:

-Bán rồi anh! Hết tiền, hết gạo thì phải bán. Của trong nhà cứ đội nón ra đi đó anh à!

Vũ nhìn vợ như trách móc, chẳng phải vì nàng tự tiện quyết định để lại món này, bán đi món kia, nhưng vì nàng bán đi rồi mà chẳng thèm thông báo cho Vũ biết.

Những kỷ niệm như thế vẫn lổn nhổn đầy dẫy trong đầu Vũ như những hạt sạn dù rằng chàng đã vượt biên được tới đây. Mấy năm qua rồi mà trí nhớ chàng vẫn còn in nguyên những ấn tượng cũ giống như những tâm hồn đã bị bầm dập, chỉ một lần thoáng xao động là cũng đủ đem lại một cơn đau đớn thảng thốt, xót xa.

Đó cũng là những lý do mà Vũ có ác cảm ngay với cái hộp đồng hồ đen đang yên nguyên tự tại trên tường với những tiếng tích tắc đều hoà. Vũ tránh không nhìn tới nó nhưng vẫn có cảm giác kể từ nay nó bắt đầu đè nặng lên tâm hồn mỏi mệt của mình. 

Chàng lại bàn giấy và kéo ghế ngồi phịt xuống. Trước mặt chàng là một xấp giấy in sẵn để bên cạnh một cây viết được cột bằng một sợi dây xích nhỏ. Lại một hình ảnh trói buộc làm Vũ thêm khó chịu. Bất giác chàng nhớ lại bộ đồng phục mình đang mặc trên mình. Cái quần quá rộng, cái ống quá dài. Nhất là cái thắt lưng đen to bản, thật không tương xứng chút nào với con người vừa nhỏ thó, vừa gầy gò, yếu đuối như chàng. Hôm đầu tiên đóng bộ này trên mình, Vũ soi mặt trong gương. Rõ là một sự tương phản gay gắt giữa bộ quần áo có chức năng bảo vệ, hùng dũng với khuôn mặt có làn da xám như màu chì và nhăn nhúm ở mọi chỗ của chàng.

Vũ lại nhớ lời khuyên chí tình của một worker:

-Ăn cho nhiều, ngủ cho đầy giấc đi. Béo khỏe ra ngây thì kiếm việc mới dễ. Ông mà cứ giữ cái vẻ mặt rầu rầu thế này thì có gõ vào nhiêu cửa cũng thế thôi.

Ai mà chả biết! Ở cái xứ này tuổi trẻ có lợi kiếm việc hơn ông già, bà già. Kẻ nhanh nhẹn hoạt bát dễ có cảm tình hơn những kẻ u sầu, ủ dột mới nhát thấy đã lây ngay bệnh chán đời. Nhưng ăn cho nhiều, ngủ cho đầy giấc để “béo khỏe ra ngây” là một chuyện không dễ gì làm được. Không phải Vũ chê gì đồ ăn xứ Mỹ, nhưng hể mỗi lần Vũ giơ gậm một cái đùi gà, dù là đùi gà để cả lố trong gói ướp lạnh, bán rẻ rề ở các chợ Mỹ, thì chàng lại nhớ đến những dòng chữ của đứa con gái út viết trong thư gửi qua cho mình. “Hôm qua nhận được món quà bố gửi, hôm nay mẹ bỏ tiền ra mua xương phở cho cả nhà được gậm. Ngon lắm bố. Lâu lắm rồi không được ăn thịt”. Hôm đầu tiên vừa ăn tối vừa đọc thư, tới chỗ đó. Vũ liệng ngay cái đùi gà đang gậm và bỏ lên giường nằm đắp chăn khóc rấm rức.

Giấc ngủ của Vũ vì thế vẫn tràn đầy mộng mị và chàng hay choàng dậy thảng thốt vào lúc nửa đêm. Mấy năm rồi mà chàng vẫn có cảm giác mình tỉnh giấc trên chiếc phản gỗ trong căn phòng nhỏ nơi quê nhà. Chàng tưởng rằng sẽ cảm thấy ngay được hơi hướng ấm áp của vợ mình ở ngay bên cạnh hay nghe tiếng nói mê ú ớ của con bé út ở ngay chiếc giường nhỏ kê dưới cuối phòng. Nhưng lúc tỉnh trí lại, Vũ chỉ thấy mình đang bị giam hãm bởi một khoảng sâu mênh mang, vô tận, bốn bề lạnh lẽo, cái mạnh lẽo sâu buốt như những mũi kim gắn ngay ở giữa trái tim của mình. Rồi cơn bất ngủ kéo đến, lâu ngày nó làm cho da mặt của Vũ nó rão ra, nhăn nhúm lại, cặp mắt hõm sâu, mỗi ngày một thêm bạc nhược thẩn thờ. Tuổi của chàng mới bốn mươi mà trông như đã ngoài năm mươi.

Hậu quả là chẳng nơi nào nhận cho chàng làm việc, trừ loại công việc mà mới nghe tưởng như một trái khoán rỡn đùa nhân viên an ninh bảo vệ tiếng Mỹ gọi là Security Guard!

Cái dáng dấp chậm chạp, ủ rủ ấy, cái khuôn mặt khắc khổ u sầu ấy coi vậy mà được dễ dàng chấp nhận hơn những thanh niên trai trẻ tràn đầy sức sống hoạt bát và linh động. Lý đó là các ông trẻ dễ nản, dễ chán và thường gây bốc đồng vô trách nhiệm. Điều này thật tối kỵ đối với ngành an ninh bảo vệ, không phải là thứ an ninh bảo vệ cần đeo súng đứng gác ở các nhà băng nhưng là thứ an ninh chỉ cần có đủ sức khỏe lê hết cánh cửa này đến cánh cửa kia để xoay những cái ổ khoá cứ mỗi giờ một lần.

Văn phòng nhân viên của cơ sở Certified Protection Service bắt Vũ ký lia chia đủ thứ giấy tờ, từ giấy cam kết đối vói nhiệm vụ cho tói giấy mượn đồng phục, từ đơn xin nhập học cho tới giấy lãnh các sách vở tài liệu chỉ dẫn. Trong vòng không đầy năm phút, nghiễm nhiên Vũ trở thành một thứ Guard chính hiệu, hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt, lại tốt nghiệp về khóa học an ninh bảo vệ với số điểm tối đa 100 trên 100. Đó là điều kiện bắt buộc theo luật của tiểu bang đối với những loại chức vụ dù muốn dù không thì cũng là loại được trao cho quyền hạng bắt giữ kẻ bất lương gọi là có “powers to arrest”

Bây giờ thì họ đẩy Vũ tới đây, trong vòng rào cơ sở của một hảng tư , có những luống dây leo xanh rì, có một bãi đậu xe mênh mông bát ngát, một tòa buiding rộng ba tầng lầu và một dãy nhà kho chằng chịt ngõ ngách.

Trước khi giả từ Vũ, anh chàng người Mễ còn dặn vớt:

-Hai mươi lăm cái chìa khóa đó nhé. Nhớ đừng có quên cái nào. Cuộc truyền nghề diễn ra trong vòng không đầy nửa tiếng. Bây giờ thì đầu óc của Vũ lộn phèo, chẳng còn nhớ được vị trí của cánh cửa nào có gắn sợi dây xích đeo lủng lẳng cho cái chìa khóa cần xoay cho cái hộp đen “round clock” hay cánh cửa nào đó chỉ cần kiểm soát sơ qua mà không có gắn sợi xích vô chìa.

Rồi Vũ khởi sự công tác thực sự về ngành an ninh bảo vệ đầu đời của mình. Chàng đeo cái hộp đen lên vai. Nó không nặng lắm nhưng nó gây cho Vũ một cái cảm giác mình có bạn đồng hành, đúng hơn một loại công an áp tải không bao giờ biết mệt mỏi hay lơ đểnh.

Phòng ốc của Mỹ coi bên ngoài thì có vẻ ngăn nắp, gọn ghẽ, nhưng có đến bên trong mới thấy nó chằng chịt, ngăn chỗ này, chia khu vực chỗ kia, cửa này bít không xài, cửa kia coi như một cái ngách vậy mà lại là chỗ nhân viên ra vô thường xuyên. Tủ, kệ, hồ sơ chất cao như núi, bàn ghế nhiều cái không xài tới hay còn chờ chỉnh trang, sửa chữa nằm choáng chỗ ở nhiều nơi, đã thế lại còn những kiện hàng mới tới , kiện hàng đang khui, nằm chen chút với chỗ này là dãy bình pha cà phê hâm suốt ngày, chỗ kia là mấy bấm kim, máy cắt bìa, máy xẻ rốc. Đó là chưa kể tới những giàn máy computer cái thì in ra thành giấy, cái thì chớp xanh chớp đỏ trên màn ảnh, còn máy chữ tự động thì nhiều vô cùng, Vũ nhìn mà cứ hoa cả mắt chẳng còn nhớ đâu là cánh cửa mà mình đã đi qua, đã xoay ổ khoá, cửa nào còn sót lại chưa đi, cửa nào là lối ra, cửa nào là lối đi sâu thêm vào, cứ cái điệu này thì đến suốt ngày loay hoay với những cái ổ khoá chứ chẳng phải nói nghe ngon ơ có hai mươi lăm cái chìa chỉ cần xoay có mỗi giờ một lần.

Nhưng rút cục rồi Vũ cũng lần ra hết thảy. Chàng chơi cái trò chia vòng đi tuần của mình ra từng móc nhỏ cho dễ nhớ, mỗi móc nhỏ đánh dấu bằng một hình ảnh, thí dụ như đi qua cái bàn hẹp trên có bày một lũ vỏ ốc vỏ sò của bà Mỹ già hay sưu tập những thứ lẩm cẩm là chàng đã xoay đủ năm vòng khoá đầu tiên. Rồi đi tới một vách tường trên có ghim hình ảnh ba bốn cầu thủ nổi tiếng về football là Vũ biết rằng mình phải vòng qua tay trái. Chàng sẽ gặp một cánh cửa bằng tôn gần bị che lấp bằng một tủ hồ sơ vĩ đại. Có một cái chìa khoá nằm ở đó nó mang số Z7. Từ cái chìa Z7 chàng sẽ phải tới cái chìa L.15 ở đằng sau bàn giấy của một cô Mỹ mập như một con voi. Giỏ rác ở dưới chân cô ta chứa toàn một loại đồ ăn, đồ uống để diet. Sau cái chìa L.15 thì sẽ đến cái chìa R9. Lắm lúc Vũ bực bội chửi thề rằng sao nó không để theo thứ tự cho con người ta dễ nhớ. Vì nhớ không được nên Vũ có khi đã xoay một cái chìa tới hai lần, ba lần mà cứ tưởng rằng nó là cái chìa chưa được xoay tới. Rồi chàng đâm ra oán cái đồng hồ hộp đen. Phải chi không có nó thì muốn chìa nào xoay hay không xoay thì cũng mặc xác nó. Nhưng nếu được như vậy thì đã chẳng phải nói và Vũ đã chẳng phải đánh vật với những màn đếm nhẩm, tính toán lầm nhầm như một kẻ tội đồ vừa đi vừa đọc kinh khấn nguyện. Cái Z7 rồi thì đến cái L.15, sau cái L.15 thì phải đến cái R9, không gặp cái R9 là mình đi lộn, khi đi lộn thì ra ở cửa này, lộn vào ở cửa kia, phải gặp cái bàn để linh tinh đủ loại vỏ nghêu, sò, ốc, hến..vân vân…

Những ngày đầu tiên ở đây, Vũ làm việc phờ phạc. Khởi sự đi tua lúc đầu giờ, leo hết được ba dãy lầu và một dãy nhà kho, xoay đủ hai mươi lăm cái chìa khoá Vũ phải tiêu mất bốn mươi lăm phút đồng hồ. Ngồi thở dốc được 15 phút thì lại tới đầu giờ kế tiếp và lại leo lên cầu thang của ba tầng lầu. Lắm lúc Vũ lại tự ví mình như một con sên bò lên vách tường. Leo cho đã rồi bị tụt xuống. Tụt xuống rồi lại leo lên nữa. Một ngày tám tiếng, mỗi tuần năm ngày, có hai ngày được nghỉ thì lại không phải là thứ bảy hay chủ nhật. Thứ bảy, chủ nhật hay ngay cả ngày lễ nữa là ngày không thể xin nghỉ được đối với những làm nghề security. Bởi vì ngày nghỉ thiên hạ về hết thì còn ai trông coi phòng ốc nếu không là những anh bảo vệ.

Vào những hôm đó, sở làm vắng hoe không có một móng, tuy nhiên không phải vì thế mà Vũ bớt đi một chút xíu công việc nào. Cái hộp đen đồng hồ quái ác vẫn lủng lẳng treo trên vách tường nó vẫn sẵn sàng tố cáo nếu Vũ lười đi tua một lần hay nhảy cóc không xoay đủ hai mươi lăm lần chìa khoá. Quyền năng của văn minh, kỹ thuật thế mới biết là ghê gớm. Lần đầu đối với Vũ không còn là công việc phải nhớ vị trí của từng chiếc chìa nữa mà là sự chạy đua với thời gian của một lần gọi là clock, round. Lúc trước hết một vòng Vũ phải dành hết bốn mươi lăm phút. Dần dà chàng rút xuống có nửa giờ, rồi hai mươi lăm phút, và chàng đang cố đạt tới kỹ lục hai mươi phút. Chàng tự tiêu khiển với chính mình bằng cuộc chạy đua này với cây kim đồng hồ của chiếc hộp đen. Bây giờ thì những ngón tay của Vũ đã đạt tới mức độ chính xác hết chỗ chê, dù cái chìa có treo ở đâu trên vách, bằng sợi xích ngắn hay dài, ở chỗ có thuận tay hay trái tay thì Vũ cũng chỉ cần với một cái là đã đặt đúng cái đầu chìa vào ổ khoá trên đồng hồ. Rồi chàng cũng chỉ cần xoay với một tốc độ vừa phải không mạnh quá mà cũng không nhẹ quá, sẽ có một tiếng “cốc” vang lên, trái với hồi đầu Vũ phải luôn luôn xoay cái chìa tới hai lần để cho nó chắc ăn là hàng số ám trên chìa đã được in trên giấy. Vũ chưa từng được thấy cuộn băng khi được mở ra kiểm soát hàng ngày sẽ ra sao nhưng chàng tin chắc trong phần việc của chàng, những chữ số sẽ rất đều, rất đẹp. Không đậm mực quá, cũng không lợt quá do bàn tay “xoay chìa khoá” một cách thiện nghệ của mình.

Mọi thủ tục chàng đã hoàn tất trong vòng hai mươi phút cho mỗi giờ phải đi tua. Nói cho chính xác ra là phải mất hai mươi phút và hai mươi giây. Thêm mười phút nữa là ngồi thượt ra thở dốc cho tim bớt đập mạnh và hoàn tất thủ tục báo cáo trên tờ report từng giờ với vỏn vẹn một hàng chữ “clock round on secure”. Còn có dữ kiện gì phải báo cáo thêm đối với loại công việc buồn nản này. Một nửa giờ còn lại Vũ không biết làm gì hơn là ngồi khoanh tay hút thuốc tại bàn giấy của mình. Hồi mới đến, nói cho ngay chàng còn có thể coi sách hay đọc báo. Nhưng rồi sau một đợt “cải tiến” lề lối làm việc cho tăng uy tín của sở bảo vệ, ngay chỗ chàng ngồi có thêm một cái bảng hiệu mới “Cấm đọc sách trong giờ làm việc”. Thế là mọi thứ bị tém dẹp hết. Vũ trở nên ngồi hêu ra trong mỗi nửa giờ của tám tiếng làm việc. Chàng bắt đầu chán cái thú chạy đua với thì giờ và khởi sự là cà ở hành lang này hay tầng lầu kia. Chàng có dư thời giờ để so sánh mầu xanh của lá chậu cây này với mầu xanh của lá chậu cây kia, toàn là những loại cây Vũ chẳng bao giờ thấy ở quê nhà đặt rải rác ở đầu cầu thang, ở dọc lối đi, được nuôi sống không phải vì đất mà chỉ là những mớ bùi nhùi được tẩm hoá chất. Có lần Vũ tò mò tới sờ mó từng sớ lá, từng vẩy thân cây xem là đồ thật hay đồ giả. Vậy mà Vũ cũng không kết luận được cây nào giả cây nào thật. Cái xứ Mỹ này có lắm cái thật kỳ chỉ thiếu điều chúng phải bẻ ngay ra một cành và ngửi tận mũi để phân biệt thì họa là may ra mới biết được. Nhưng chưa bao giờ Vũ làm chuyện ấy cả. Chàng chỉ đứng trước bồn cây một cách tần ngần và một đôi khi cử chỉ này của chàng bị một vài nhân viên bắt gặp. Họ đã ngó chàng với cặp mắt kỳ lạ như đang đối diện với tên mất trí, hay ít ra là một kẻ bất bình thường. Không bất bình thường sao được. Khi mà có một kẻ không biết làm gì khác hơn là đứng ngây người ra để ngắm một chậu cây chỉ có toàn lá xanh mà không có lấy một bông hoa. Lá xanh thì có điều gì lạ để mà ngắm nghía hay sờ mó kia chứ.

Điều này đối với Vũ, thoạt tiên chàng tưởng là chuyện không có gì đáng phải quan tâm. Mỹ quốc là một xứ tự do, dĩ nhiên là sự tự do không xâm nhập đến quyền lợi hay những điều riêng tư của kẻ khác. Đứng ngẩn người để ngắm một chậu cây xem nó là thứ giả hay thứ thiệt, nếu có giơ bàn tay xương xẩu ra mà rờ mó một cành lá một khúc cành thì cây cối đâu biết phiền hà gì mà đáng phải quan tâm. Vậy mà Vũ đã vi phạm một lỗi lầm trầm trọng trong cuộc đời đi làm sở Mỹ của mình.

Có một hôm chàng bị gọi về sở làm trình diện ông Manager. Ông ta hỏi chàng đủ thứ về lãnh vực sức khoẻ của mình, đặc biệt là câu hỏi: “Có bao giờ anh phải đi bác sĩ về bịnh Mental health không?”

DĨ nhiên Vũ phủ nhận tất cả những luận điệu chụp mũ đó. Đồng ý là chàng có nhiều tâm sự buồn chán, xa quê, nhớ vợ, thương con nhưng chưa bao giờ Vũ cảm thấy quẩn trí. Quẩn trí sao được khi vợ con chàng hàng tháng vẫn hằng ngóng đợi ở nơi chàng gởi về chia xẻ từng gói quà nhỏ nhặt trong vòng 2 pounds. “Hôm nay mẹ bỏ tiền ra mua xương phở cho cả nhà được gậm. Ngon lắm bố. Lâu lắm rồi con không được ăn thịt”

Đó là lý do tình cảm quan trọng nhất bắt buộc chàng phải đứng dậy, phấn đấu với mọi nỗi mệt mỏi, chán chường để chen chân lấy một chỗ đứng trong cái xã hội xa lạ, lạnh lùng này. Đó cũng là lý do mà dù tâm trạng của Vũ tràn ngập những nỗi ê chề, chua xót nhưng chàng vẫn cứ phải gân cổ lên cải.

-Tôi rất khỏe mạnh. Tôi rất yêu đời. Đời sống này quá tốt đẹp, có điều gì khiến tôi phải rơi vào tình trạng “mental health” đâu.

Viên manager nhìn chàng thêm một lần nữa để đánh giá con người của chàng rồi buông sổng một câu:

-Vậy từ nay đừng có ngẩn người trước những chậu cây nữa. Có người complain anh về chuyện đó.

À! Thì ra người ta tưởng Vũ điên, hay có dấu hiệu của kẻ đang đi đến chỗ mất trí. Từ hôm đó, chàng đi qua những chậu cây mà không dám liếc nhìn. Chàng có cảm giác như lúc nào cũng có hàng chục cặp mắt ở chung quanh, bên trái, bên phải, đàng trước, đàng sau, sẵn sàng bắt được chàng trong tư thế quả tang “biểu lộ một sự mất quân bình về tâm trí”. Nỗi ám ảnh này cứ mỗi ngày một gia tăng, dần dà tệ đến nỗi ngay khi chàng cô đơn lủi thủi trong căn phòng chật hẹp của riêng mình, chàng cũng có cảm giác như mình đang bị bao vây, theo dõi. Có đêm Vũ choàng thức giấc, chàng vừa mơ thấy một giấc mơ hãi hùng, ở đó chàng bị sa thải về bịnh “mental health”, chàng thất nghiệp, chàng không có tiền gửi về cho gia đình ngay đến cả một gói quà hai pounds. Hình ảnh của con bé út nhạt nhoà chen lấn với những khúc xương phở, những bát bo bo và chiếc đồng hồ hộp đen mà ngày ngày chàng vẫn đeo lủng lẳng trên vai. Giấc mơ không phải chì thoáng qua dễ dàng. Nó thật sự gây cho chàng nhiều nỗi rối rắm trong đầu. Nó xen vào những ý nghĩ đang thứ tự lớp lang theo một chuỗi tư tưởng xuôi dòng nào đó, và làm cho tất cả những thứ tự này trở nên lộn phèo. Tình trạng này trước còn xãy ra thưa thớt, dần dà Vũ phát hiện được ra rằng nó đến với mình có vẻ thường xuyên hơn. Như một con kiến đang bò trên sợi chỉ căng thẳng bất chợt đụng phải nút buộc con kiến bò quanh, bò quanh có lúc lộn đường bò ngược lại. Nhưng nút buộc trên sợi dây chỉ cản chàng nếu đem ví chàng với con kiến, thì cứ ngày một nhiều hơn. Nó vây quanh lấy ý nghĩ của chàng và lại làm cho chàng cái cảm giác của con thú bị săn đuổi. Chàng tự nhủ “mình phải chống lại chúng nó chứ. Phải chống trả bằng bất cứ giá nào để chứng minh với tất cả mọi người rằng tôi là một kẻ bình thường chứ”. Ý nghĩ chống trả này đã có lần thôi thúc chàng vòng lại cửa phòng lão manager đạp rầm rầm. Khi đối diện với lão, chàng nói bằng một giọng quả quyết, chắc nịch như một kẻ chưa bao giờ tin tưởng mạnh mẽ vào lời nói của mình đến như thế:

-Thưa ông John, xin ông đừng có hiểu lầm rằng tôi khao khát ngắm nhìn những loài cây èo uột, cằn cổi nuôi một cách tù túng trong những chậu cảnh của ông đặt trong cơ sở này. Những thứ đó thua xa các loại cây cảnh ở xứ tôi. Nếu ông có dịp qua xứ tôi, ông sẽ thấy tôi không thèm đoái hoài những loại cây cỏ ở đây. Ông nhớ chứ. Đứa nào tố cáo với ông như vậy, chính nó là đứa có bệnh “Mental health” đó thưa ông.

Nhật Tiến

05/05/1984

Bài Khai Sinh Tháng 5. Thơ Hư Vô


Viết tặng sinh nhật tôi, 15/05..

Chạm ngày 15 tháng 5
Bàng hoàng như thể đang lần tái sinh
Cùng em bày biện tiệc tình
Đêm thơm như đóa dạ quỳnh mãn khai.

Để nghe nhịp thở em dài
Phả hương cho đắm hình hài hư vô
Mà tôi là gã tội đồ
Trong cơn mê sảng sóng xô bạc đầu.

Em có hối hả về đâu
Cũng mang theo những khát khao dị kỳ
Tựa như đôi cánh thiên di
Bay đi bỏ lại bao tì vết nhau

Bóng em lụa mỏng tơ nhầu 
Phất phơ để biết còn đau lưng trần 
Hồn tôi ngọn gió không chân
Giạt vào em nỗi bấp bênh, lạ lùng…

Hư Vô
(15/05/2021)


	

Nghiệp Hành. Thơ Hư Vô


Hồn tôi như biển động 
Xua thuyền em ra khơi 
Có bơi vào vô tận
Chưa chắc khỏi luân hồi.

Kiếp này còn lận đận
Là còn nợ nần nhau 
Đời sau có gặp lại
Cũng chỉ mới bắt đầu.

Hoá thân thành đá cuội
Hay làm cây trên rừng
Thì tôi vẫn đứng đợi
Được em làm tình nhân.

Để nghe lời đá gọi
Rừng xưa cũng xôn xao
Em về như bóng chạm
Vào tim tôi rạt rào.

Nếu không là hành nghiệp
Đâu gặp nhau chốn này
Em chưa thành huyễn mộng
Mà mây vẫn còn bay...

Hư Vô 

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: