Quán Thơ Hư Vô 285


Quán Thơ Hư Vô

MỘT ĐỜI Ở RIÊNG

Tôi ngồi ngoảnh cổ trông tôi
Áo khuya cài muộn một đời chưa yên
Như còn thấp thoáng hơi quen
Heo may chở lá vàng đêm mưa về.

Em còn lăn giữa cơn mê
Mùa thu rối ngọn tóc thề hẹn xưa
Buồn chia hai nhánh đong đưa
Mà nghe ngày tháng cũng vừa chấm vai.

Tôi ngồi đếm ngọn tàn phai
Thắp đêm trăng khuyết cho đầy mắt em
Lối người héo hắt chông chênh
Tựa chung chiếc bóng buồn riêng lẻ hình.

Lần theo sợi tóc bạc tình
Đêm khuya khoắt bỗng trở mình mẩy đau
Một đời mấy bận tìm nhau
Đường xa người lạ qua cầu biệt tăm…

Hư Vô

CHẢ NHẼ

Chả nhẽ ngồi nghe lòng mối mọt
Khi chiều treo cổ bến hoàng hoa?
Phong trần cạn kiếp, chưa nguôi nhớ
Chén rượu ngang mày nâng xót xa…

Uống rượu bao giờ cho đủ ấm
Giang hồ trong mắt cố nhân đây?
Chả nhẽ khoanh tay chờ mối nhện
Tơ lòng cuộn chỉ rối trong tay?

Cứ như kẻ lạ sầu ngơ ngác
Qua đường ném vội một ngày quên
Có không, không có thôi đành bước
Ngựa gầy cũng giục vó qua đêm…

Mỹ nữ xưa nay làm bại tướng
Chả nhẽ ta giam mộng hải hồ?
Ra đi, dẫu có mòn quan tái
Cũng cười khinh bạc với trăng xưa…

Trần Dzạ Lữ

BÃI CHIỀU TRONG PHỐ BIỂN

Góc phố cong cong, mòn sợi nắng
Đưa chiều trong, giăng mắc tình em
Treo lơi lả mười năm đằng đẵng
Một vụng tình buông đẫm bên thềm …

Chiều trôi êm êm, ngày thơ dại
Tuổi rong chơi, ngã bảy, ngã ba
Đưa em qua đầu bờ, cuối bãi
Phố biển xưa, đậm nhạt, mờ xa …

Anh, con cá thòi lòi bên phố
Thao láu nhìn từng bước em qua
Ngúc ngoác bãi triều rơi lổ chổ
Giọt đời chìm, trôi nổi phù hoa

Thôi buông thả tháng ngày xanh mướt
Kỷ niệm xưa đằm thắm trong chiều
Đâu hình bóng mi cong cổ mượt
Quẩn nơi này cả một đời yêu …

Lê Thanh Hùng

ĐẤT NƯỚC ĐỨNG LÊN

Hoa xinh khép nhụy hờn vong quốc
Gửi chút lòng trinh với núi sông
Gai kia phục sẵn đâm tay giặc.
Triệu triệu anh thư… Triệu đoá hồng

Ta xoá bài thơ tình dang dở.
Chôn vầng trăng cũ đáy huyệt sâu.
Nghe trong gió thu tanh mùi máu.
Lớp lớp thây phơi ngập tuyến đầu.

Con tim ta treo nơi đầu súng.
Nén lòng gác lại chuyện lứa đôi.
Tóc dài, tóc ngắn cùng giết giặc.
Một dải gian sang lửa đỏ trời.

Vân Đồn mồ chôn quân cướp nước.
Căm thù sùng sục Bắc Vân Phong
Xương giặc vun cao hòn Phú Quốc.
Thơ rung bần bật… Máu tanh nồng.

Ngàn ngàn tử sĩ vào cuộc chiến.
Đánh từ đời thực, đánh tâm linh.
Người chết phò trợ cho người sống
Có chiến tranh mới có hoà bình.

Câu thơ viết ra lời hiệu triệu
Hịch tướng sĩ, Nam Quốc sơn hà,
Bình Ngô đại cáo lời dõng dạc…
Việt Nam anh hùng… Khúc tráng ca.

Bùi Nguyên Phong

GẶP MỘT LÍNH CŨ Ở CONWAY

từ thuở tan hàng, nay mới gặp
hơn bốn mươi năm, nhìn không ra
ông của xưa là tên lính quậy
đã hóa thành một lão hiền khô

hai đứa cầm tay – ứa nước mắt
phải đâu thương tiếc chuyện sa trường
mà đau không thể ngừng ly biệt
với những gì kia ở cố hương

ta với ông từng quan với lính
lá lon chi sánh nổi thâm tình
cho nên trung úy hay trung sĩ
cũng là những thứ của phù vân

hỏi ông thường có về sông Hậu
bảo vẫn – rồi thôi – rồi phải đi
hảo hán cần quên bao chuyện cũ
phải quên luôn – nên sẽ không về

như trần gian chỉ còn hai đứa
hiên nhà ông, góc phố quê người
ngồi với nhau rót cùng chút rượu
nói những điều sắp sửa tàn phai…

Hoàng Lộc

GÀ GÁY SÁNG

Mấy mươi năm chẳng thức sớm bao giờ
say rượu tối qua chưa rạng ngày đã thức
gà gáy sáng gọi lửa trào nơi ngực
thêm một ngày một ngày nữa chẳng ra sao

Chui lại vô mùng nằm đắp kín niềm đau
nghe văng vẳng chuông nhà thờ giục bước
xao xác ngoài hè tiếng chân người xuôi ngược
âm thanh buồn muôn thưở quẩn quanh ta

Gà gáy vang vang từ cõi nhập nhòa
những tĩnh lặng thinh không dần khép lại
giữa chăn chiếu co người mong ngủ mãi
quá nửa đời chưa dậy nỗi để mà đi…

Trần Minh Tạo

LINH CẢM

ngày nào tôi yêu em
bướm hoa reo tình tự
từng giọt nắng rơi thềm
lung linh tràn giấc ngủ

bên tròi chim ca hát
rộn rã lời yêu thương
gió thơm lừng nhã nhạc
trôi mê giấc vô thường

tình yêu như giấc mộng
thênh thang ngời bước ai
ngàn trăng sao lồng lộng
bay trong ánh đêm dài

đâu biết đời sống đó
là một trời chia xa
lá bay chiều cuối gió
cơn mưa đổ nhạt nhòa

cho tôi hoài linh cảm
sẽ một ngày không nhau
cuộc tình như cõi tạm
khi tay rời đôi tay

nhưng tình yêu lên tiếng
tôi tin vào tình em
tôi tin vào định mệnh
vào dấu ái ngọt mềm

bây giờ tôi linh cảm
sẽ muôn đời bên em
dù trần gian cõi tạm
như giọt nắng rơi thếm

mốt mai đời chia biệt
ai cũng sẽ một lần
nhưng cõi tình tôi biết
sẽ muôn đời vọng ngân…

nguyễn minh phúc

Quán Thơ Hư Vô 285

Đọc “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác” của Nhật Tiến. Tùy bút Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Presentation1

Nhà văn vẫn đứng ngoài nắng. Nhà văn Mai Thảo đã nhận định về một chân dung đã có tới hơn 60 năm cầm bút là nhà văn Nhật Tiến như vậy. Trước năm 1975, ông là một khuôn mặt văn học tiêu biểu của 20 năm văn học miền Nam và đã đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961. Ông là nhà văn của tuổi thơ, của những bức xúc về một cuộc chiến tranh và là một người lưu lạc suy ngẫm về thân phận của mình và của chung một thế hệ phải trải qua những ngày chiến tranh và những ngày hậu chiến tranh mà những bi thảm, những bất toàn của xã hôi lại còn đáng sợ hơn thời còn khói lửa. Ông viết với tâm cảm mà những ý nghĩ trung thực được biểu lộ không e ngại và là tiếng nói được lắng nghe từ công luận. Sau năm 1975, ông lại là chứng nhân của những cuộc đổi thay nghiệt nghã và văn chương ông ghi chép lại những thực tế đáng buồn của một thời đại đảo điên bi thảm của dân tộc Việt Nam.

Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến: nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xã hôi, nhà văn của lưu lạc xứ người…Mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng đếu có những thông điệp trao gửi theo.. Trong con người của nhà văn Nhật Tiến, cá tính của hướng đạo sinh và đặc tính của một nhà giáo dục trộn lẫn để thành một tâm thức hướng thượng và nhiều lý tưởng. Những tác phẩm của ông biểu lộ điều đó từ lúc ở trong nước hay ra hải ngoại.

Là một nhà giáo dục, ông chú trọng nhiều đến tuổi học trò.Trong một cuộc phỏng vấn, nhà văn Nhật Tiến đã phát biểu rằng công việc ra một tờ báo dành cho thiếu nhi (trong khoảng từ 10 đến 15, 16 tuổi hay trình độ từ cuối bậc tiểu học đến hết bậc trung học phổ thông) là mơ ước của ông. Nhất là trong hoàn cảnh của đất nước chúng ta khi xã hôi có nhiều hiện tượng băng hoại do văn hóa ngoại lai xâm nhập và cũng do ảnh hưởng chiến tranh. Mãi đến năm 1971 ông mới được sự tài trợ của nhà sách Khai Trí và ra mắt tờ tuần báo Thiếu Nhi vào ngày 15 tháng 8 năm 1971 và đều đặn hàng tuần đến ngày 30 tháng tư năm 1975 thì chấm dứt. Ngoài ra ông còn tổ chức nhiều sinh hoạt khác như tổ chức thư viện cho các em mượn sách về nhà đọc, tổ chức các Gia Đình Thiếu Nhi ở các tỉnh và các đô thị lớn có những buổi sinh hoạt tập thể ngoài trời, hay tổ chức các cuộc thi viết văn làm thơ cho thiếu nhi và có giải thưởng khá lớn. Nói chung là phối hợp giửa giải trí và giáo dục để các em có những sinh hoạt vui tươi và bổ ích.

Sau khi vượt biển sống ở hải ngoại, nhà văn Nhật Tiến cũng làm chủ bút tờ Tuổi Hoa của nhà văn Quyên Di một thời gian và lúc nào cũng chú tâm đến lớp tuổi măng non ở hải ngoại…

Là một nhà văn mà tính cách của lý tưởng hướng đạo sinh biêu lộ rõ ràng trong phong cách sống như những câu văn của tác giả Mai Thảo diễn tả:

“Những trong nắng và những ngoài nắng ấy, Nhật Tiến đã thấy đã trải qua, đã viết ra, đã thuật lại. Gọi đó là nắng cáo trạng, nắng bạch thư, gọi đó là nắng Ko Kra, nắng Nhật Tiến. Trước cái khuynh hướng muôn thuở của con người là sự kiếm tìm những tàn cây đầy bóng mát cho tâm hồn và đời sống văn chương bây giờ của Nhật Tiến, những vận động, những lên tiếng không ngừng của Nhật Tiến cho thấy ông vẫn lựa chọn đứng ở đó. Ngoài nắng. Giữa nắng. Thái độ ấy có thể bị nhìn là khô cứng quá khích. Hoặc với những tâm hồn bóng rợp là một đọa đầy vô ích.Tôi chỉ nhìn thấy tự nhiên và bình thường nơi người nhà văn lưu đày ở Nhật Tiến một ý muốn. Cái ý muốn được đứng cùng, đứng mãi với vượt biển thê thảm như đứng với quê nhà, với Việt Nam”

Ngay lúc bây giò, ở tuổi đã cao, ông đã vừa xuất bản hai tác phẩm và vẫn mang dấu ấn vừa kể.

Một là tác phẩm “Hành Trình Chữ Nghĩa”, viết như một thôi thúc của một đời trôi nổi theo thời thế và buộc chặt với chữ nghĩa. 60 năm tuy dài đối với một đời người nhưng chỉ là một tích tắc của lịch sử hay văn học. Và mỗi tác giả nếu tạo được những dấu ấn sẽ không bao giờ mờ phai theo thời gian. Với tác giả Nhật Tiến, ông đã viết trong lời mở đầu:

“… Thông thường những dấu ấn trên đường đi ta vốn chỉ nên coi là những kỷ niệm. Mà kỷ niệm nào trong quá khứ dù vui hay buồn thì cũng chỉ nên ghi gói trong lòng. Cuộc hí trường trong đời một con người bất quá cũng chỉ kéo dài trong giới hạn dăm bảy chục năm, nhiều lắm là trăm năm. Rồi hai tay buông xuôi. Mọi thứ trên hình hài sẽ trở về với cát bụi.

Nhưng hình hài thì trở về với cát bụi còn những dấu ấn để lại trong phạm vi tinh thần thì có sẽ phai mờ trong lớp bụi thời gian hay không?

Tôi nghĩ là không. Vì nếu nó phai mờ trong trí nhớ để không còn được ai nhắc nhở thì lịch sử đâu còn lý do gì mà tồn tại? Cho nên trong sinh hoạt chữ nghĩa, đừng tưởng cứ hạ bút xuống rồi là phủi tay hết trách nhiệm. Rất có thể một vài năm sau có khi cả chục năm sau hay lâu lắc hơn nữa, ở những thế hệ kế tiếp cũng vẫn có người lần mò vào thư viện tìm đọc lại những trang sách báo cũ để tìm hiểu về các lớp cha anh với những gì họ đã làm, đã đóng góp cho lịch sử và ngay cả về phương thức xử thế đạo đức nhân cách của họ nữa…”

Với cá tính và tinh thần của một người hướng đạo, nhà vănNhật Tiến đã viết và không ngại những vấn đề tế nhị và nhạy cảm để nêu ra những vấn đế mà ông nghĩ rằng cần thiết để làm sáng tỏ trong mục đích phục vụ nhân sinh. Tác phẩm “Hành Trình Chữ Nghĩa” đã được viết với mục đích đó, ở một thời điểm gần như cuối đời nhìn lại một thời đã qua…

Hai là tác phẩm “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác”, ghi chép của một nhà giáo dưới mái nhà trường XHCN sau ngày 30 tháng tư năm 1975. Con người mô phạm đã có một dấu ấn rõ nét trong con người nhà văn bởi vì trước khi là nhà văn ông đã là một nhà giaó va hầu như suốt cuộc đời ở Việt Nam ông đã giảng dạy nhiều thế hệ học trò. Ngay cả việc ông chủ trương tuần báo Thiếu Nhi cũng với cung cách của một nhà giáo dục ý thức được rằng tuổi trẻ là tương lai của dân tộc.

Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam tưởng là một truyền thống bất diệt nhưng đến thời kỳ Cộng sản thì không còn nữa và sự phá sản giáo dục đã nhìn thấy rõ suốt hơn ba chục năm Cộng sản chiếm đoạt được cả nước và điều hành đất nước theo một chủ nghĩa không tưởng lai căng Mác – Lênin.

Nhà văn Nhật Tiến viết về thực trạng giáo dục khi ông còn ở Việt Nam và là một chứng nhân. Đó chỉ là khởi đầu của thảm trạng và đến nay có nhiều sự kiện thực tế không thể tưởng tượng nổi đã xảy ra. Vong bản, ảnh hưởng của Cộng sản Trung Hoa khi soạn chương trình học về lịch sử và ngôn ngữ. Thi cử thì gian lận có tổ chức. Bằng cấp giả mạo tràn lan. Đạo đức học đường bị suy vi trầm trọng, thầy mất tư cách, học trò hỗn láo như những trường hợp kể lại tràn lan trên báo chí. Thời Cộng sản là một thời đại tệ hại nhất của lịch sử Việt Nam. Ông viết:

“.. Khi thời thế thay đổi, nhất lại là sự thay đổi ý thức hệ này qua ý thức hệ khác, thì hầu như mọi vốn liếng tinh thần của nhà giáo tưởng sẽ tồn tại lâu dài với những chuẩn mực vốn đã trở thành truyền thống lâu đời, thì nay đã hoàn toàn đảo lộn, bị tróc gốc đến độ như tôi đã có cảm giác rằng mình kiêm nhiệm cùng một lúc cả hai vai trò: vừa là thầy giảng dạy, vừa là tên học trò cứ bị nhà trường uốn nắn thường xuyên từ tác phong, cử chỉ cho đến lời ăn tiếng nói…

Nhưng trải qua 4 năm trời trầy trật dưới một mái nhà trường XHCN tôi phát giác ra rằng ở đây người ta không những không trang bị điều gì tốt đẹp thêm cho cho nhận thức của nhà giáo mà tệ hơn lại còn không cho phép các thầy cô được làm trọn vẹn vai trò của một nhà giáo đúng nghĩa.

Bởi vì, một nhà giáo đúng nghĩa thì không dối trá với học trò ngay trên bục giảng hay ngay trong bài giảng của mình. Nhà giáo đúng nghĩa cũng không thể tiếp tay với nhà trường để xô đẩy học sinh vào những vùng trời mê muội như lôi kéo, dụ dỗ, nhồi nhét vào đầu óc non nớt của chúng những thứ không nhằm phục vụ cho tương lai của chúng cũng như tương lai đất nước mà chỉ nhằm phục vụ cho những ý đồ đen tối của guồng máy đang cai trị.

Nói một cách cụ thể nếu coi tâm hồn của những trẻ thơ như là một tờ giấy trắng thì cũng đã có một số người trong đám nhà giáo chúng tôi sau 30-4-1975 cũng đã từng bôi đen lên những tờ giấy trắng đó bằng những bài giảng phải tuân theo sát sạt những “pháp lệnh” của nhà nước…”

Mặc dù là một nhà văn nhưng ông là một nhà giáo dạy môn vật lý là một môn học thuộc khoa học tự nhiên nên cũng ít bị để ý soi mói hơn là những thầy cô dạy những môn học như triết, văn hoặc sinh ngữ… Bài giảng dạy học trò phải bị bắt buộc soạn sẵn thành một hồ sơ gọi là ” Giáo án” và đây chính là một dây cương tròng cổ mọi nhà giaó thời Cộng sản. Mỗi giáo viên đều phải có một cuốn sổ gọi là sổ giáo án để soạn bài và những bài soạn này phải được Ban Giám Hiệu kiểm tra đóng dấu rồi mới được đem dùng. Đã thế trong giờ học cuốn sổ này phải đặt ở bàn cuối lớp sát hành lang để bất chợt Hiệu Trưởng hay Hiệu Phó đi kiểm tra xem thầy cô có dạy đúng như trong giáo án không. Bất cứ môn học nào, giáo án cũng được soạn theo một khuôn mẫu ấn định sẵn mà ở đó mục đích về chính trị bao giờ cũng quan trong hơn hết và sự kiểm soát tư tưởng suy nghĩ của cả thầy cô và học trò cũng là phần hệ trọng. Chính vì thế, người giáo viên khi soạn giáo án phải lồng vào trong bài học những chủ đích của chế độ. Những môn học như toán, như vật lý, hóa học,… cũng phải cố gắng nhồi nhát vào những tư tưởng tuyên truyền cho chế độ Cộng sản và nêu ra những tính mà những người cầm quyền gọi là ưu việt. Và giáo án còn phải nêu ra những quan hệ bản thân và đó chính là một cách kiểm tra tư tưởng khiến cho cả thầy trò trong trường học của chế độ Cộng sản bị dắt đi vào những con đường định sẵn mà chính trị là mục tiêu chính của giáo dục XHCN.

Từ trường học với thầy cô, với đám học trò, tác giả Nhật Tiến ghi chép lại rộng rãi hơn đến những môi trường lầm than của xã hội mà trong đó người dân bị lừa dối bởi những người cầm quyền vừa ngu dốt vừa hãnh tiến chủ trương tuyên truyền dối gạt để cai trị. Tất cả đều được ngụy trang bằng những chiêu bài thật tốt đẹp thật lý tưởng nhưng thực chất chỉ là cái bánh vẽ không tưởng. Ông kể lại những sự thực đã trải qua, đã chứng kiến tận mắt. Giá trị của trường học tự nhiên bị hạ thấp một cách khó tưởng tượng. Thầy giáo cô giáo không được nể trọng như xưa nữa mà bị dòm ngó kiểm soát có khi còn hơn là những đứa học trò của mình nữa. Sống trong hoàn cảnh ấy, làm sao còn tâm trí để chú tâm vào công việc giảng dạy. Xã hội như vậy, giáo dục như vậy đã tạo thành những con người của XHCN chỉ biết chạy theo lợi nhuận với mục đích làm giàu mà quên đi những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc.

Chân dung nhà giáo của một thời nhếch nhác ấy được phác họa từ những người trong ban giám hiệu đến những thày cô với những nét đặc biệt. Như hình ảnh của một hiệu trưởng:

“Còn ông hiệu trưởng mới đổi về này không cần giới thiệu chúng tôi cũng biết ông ta là gốc bộ đội vừa được chuyển ngành. Bởi trong cương vị một Hiệu Trưởng một trường trung học ông ta vẫn bận bộ quần áo bộ đội tới trường để điều hành công việc. Hơn thế nữa bên hông ông ta lúc nào cũng kè kè một khẩu súng lục không biết để làm gì ngoài chuyện thị uy với đám giáo viên trong vùng mới “giải phóng”. Ấy vậy mà ông ta vẫn gọi chúng tôi là các “đồng chí”.

– Các đồng chí cũng nên nhớ rằng nhà nước chuyên chính vô sản sẵn sàng đập tan mọi âm mưu bạo loạn của bọn phản động tàn dư của bọn tay sai nước ngoài để bảo vệ vững chắc nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta dân chủ với mọi đồng chí nhưng dứt khoát là phải chuyên chính với mọi tàn dư phản động.

– Các đồng chí nên nhớ dạy theo đúng sách giáo khoa với giáo án đi kèm chính là một Pháp lệnh. Ai không tuân theo Pháp lệnh là chống đối nhà nước là phản động là bán nước.

Nói xong câu này ông ta còn đưa tay xốc cái thắt lưng quần khiến cho khẩu súng lục cứ bị đẩy lên chìa ra trước mặt mọi người…”

Trong hoàn cảnh ấy, nhà văn cũng nhìn lại chính chân dung mình trong đời sống đã thay đổi đến rùng mình đó. Ví dụ như một trường hợp đang giảng bài trong lớp thì nghe gọi tên mình trên loa phóng thanh lên văn phòng nhận nhu yếu phẩm. Mà nhu yếu phẩm là niềm vui hiếm hoi của thầy cô với đồng lương eo hẹp và cũng là một phần thưởng của chế độ cho công nhân viên chức. Một cô giáo cùng tổ đã mang phần cá được chia vào trong lớp học để trao cho ông một cách thật bình thường. Tự nhiên ông cảm thấy buồn và suy tư:

“Loay hoay với những ý nghĩ trong đầu rồi cuối cùng toi cũng đành phải bước ra nhận xâu cá và cất lên một lời cám ơn cô, nghe rất nhạt nhẽo. Chắc cô cũng đã thấy vẻ mặt khó đăm đăm của tôi lúc đó nên thẩy xâu cá vào lòng bàn tay của tôi xong là cô quay ngoắt đi thẳng không bình luận thêm một lời về công khó của mình nữa.

Khi cô giáo đi khỏi rồi tôi mệt mỏi tay cầm xâu cá chân bước lên bục giảng. Đột nhiên cả lũ học trò cùng phá lên cười, xen vào đó tôi còn nghe thấy cả những tiếng vỗ tay nữa. Tôi đột nhiên biến thành một thứ diễn viên hề đang ra mắt khán giả trên sân khấu. Vào cái giây phút này bài giảng Quang học về Thấu kính chẳng có liên hệ gì tới xâu cá tôi cầm trên tay. Tôi có cảm giác như mình vừa bị đẩy tuột từ vai trò một thầy giáo nghiêm chỉnh xuống vai trò của anh đứng bán xâu cá ngay ở giữa chợ trời! Còn bọn học trò thì chắc chẳng nghĩ ngợi gì xâu xa hay dè bỉu gì về cái chuyện ấy đâu. Chắc chúng nó chỉ thấy vui vui khi thấy ông Thầy đang đứng trên bục mà tay lại cầm xâu cá, một hình ảnh trái khoáy so với dáng vẻ nghiêm chỉnh của thầy mọi ngày. Có lẽ trong cả cuộc đời lấm lem cùng bụi phấn cả Thầy lẫn trò chúng tôi chưa bao giờ lại bị nhập vai trong một pha như thế này trên bục giảng và trong lớp học. Thế rồi ” Niềm vui” của lũ học trò bỗng đem lại cho tôi một ý nghĩ bất cần. Tôi chẳng còn ngần ngại hay giữ gìn ý tứ gì nữa. Cầm xâu cá trên tay tôi cũng giơ lên cao cho cả lớp nhìn thấy. Bây giờ thì tôi nhận ra đó là một xâu độ 4,5 con cá bạc má có vẻ còn tươi vì máu cá còn dính đỏ trên sợi lạt buộc. Qua sợi lạt buộc tôi cũng thấy cả gần trăm con mắt của lũ học trò đang đổ dồn vào xâu cá. Một đứa lên tiếng: “Cá còn tươi đó a thầy!” Một đứa khác ngồi ở cái bàn gần xế chỗ tôi đứng cũng lên tiếng: “Xâu cá này đem chiên giòn với mỡ thì phải biết! Hết cỡ!”

Đọc lại những trang sách của “Nhà Giaó Một Thời Nhếch Nhác” tôi như mường tượng lại một thời đã qua với những nét bôi đen lem luốc của lịch sử dân tộc. Đã hơn ba chục năm, và hình như ít nhà văn hay tác giả nào nhắc lại những chuyện thật xảy ra dưới mái trường được gọi là XHCN đó. Nhưng tấn thảm kịch của đất nước phải được nhìn lại để những kinh nghiệm sống như thế sẽ giúp ích cho những đời người sau. Thử tưởng tượng, mấy chục năm sau, những lớp hậu sinh sẽ giở lại những trang sách và họ sẽ hiểu được những nhọc nhằn của một thời kỳ mà tất cả đều phục vụ cho mục tiêu chính trị kể cả giáo dục.

Với những người tạm gọi là chứng nhân của một thời kỳ suy đồi nhất sau năm 1975, khi hồi tưởng lại là những cơn ác mộng. Lúc đó, mọi người trong xã hội phải bắt buộc diễn một vở kịch của giả trá, vẫn phải nói dối trong khi lương tâm dằn vặt vì sự bắt buộc ấy. Sự thực không ai dám nói ra và tất cả hình như ở trong trạng thái lo sợ bị rình rập theo dõi. Chế độ công an trị làm mọi người không ai tin ai, và lúc nào cũng có cảm tưởng có những tên điềm chỉ sẵn sàng báo cáo tất cả những sinh hoạt cá nhân của mình. Ngay cả vấn đề tư tưởng, cũng bị theo dõi, uốn nắn, trừng phạt nếu có những suy tư đi ngược lại khuôn mẫu của chế độ đặt ra. Nền giáo dục của chế độ độc tài như vậy có ảnh hưởng rất lâu dài cho đến tận tương lai sau bởi vì những hệ quả của nó.

Viết một cuốn hồi ký ghi chép lại những sinh hoạt giữa thầy và trò sau tháng 4 năm 1975 dưới mái trường XHCN có thực sự cần thiết không?

Nhà văn Nhật Tiến trả lời thực sự rất cần. Ông viết:

“Bởi nó là cội nguồn cho những sự tróc gốc đạo đức sẽ diễn ra trong xã hội Việt Nam trong nhiều năm sau đó. Khi nền tảng của chính sách giáo dục dựa trên những điều giả trá, những mưu toan ngoài giáo dục, lại được điều hành bởi những đầu óc thiển cận hẹp hòi đầy tự kiêu tự mãn thì thành quả của giáo dục nó sẽ ra sao ai cũng có thể thấy trước. Thấy mà chẳng ai dám nói ra có khi còn góp phần phụ họa làm cho bộ mặt giáo dục ấy càng ngày càng thêm thảm hại mà chứng cớ cụ thể là sự tuột dốc về đạo đức xã hội ngày nay đã hiện ra rõ rành rành. Bởi vì nó đã trổ hoa kết trái và tiết ra nhiều độc tố hơn là hương thơm sau nhiều chục năm được vun trồng.

Bởi chính nó, cái thành quả giáo dục ấy đã tạo nên tình trạng đạo lý suy đồi ở cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội ngày nay. Các trang tin tức quốc nội bây giờ đã đăng lên không thiếu gì những câu chuyện khó tin mà có thật với nhan nhản những con người không còn mang tính người. Mấy chữ” mac ke no” tức “mặc kệ nó” nghe tưởng vô thưởng vô phạt nhưng đã hàm chứa một triết lý sống cực kỳ tồi tệ và bi đát của một xã hội vô cảm mà hàng ngàn năm qua ta chưa bao giờ thấy hiện diện một cách lan tràn trên đất nước. Và cũng bởi chính nó tức cái thành quả giáo dục ấy mà những điều kiện an toàn của xã hội đã bị đảo lộn như luật pháp không còn nghiêm minh, tiền bạc mua được công lý chức quyền có thể đổi trắng thay đen, tiếng kêu của dân oan từ nhiều năm qua vẫn còn vang lên từ khắp mọi miền đất nước…”

Và, dù tuổi đã già, và trí nhớ một phần nào giảm sút, nhà văn Nhật Tiến vẫn viết để hoàn thành một tâm nguyện gần như cuối đời là tác phẩm ”Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác” một ghi chép chân thực về một thời đại đặc biệt của dân tộc gửi cho những thế hệ sau…

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn:https://nhavannhattien.wordpress.com/doc-nha-giao-mot-thoi-nhech-nhac-cua-nha-van-nhat-tien/

Vết Roi Nhục Hình. Thơ Hư Vô


Vết Roi Nhục Hình

Từ em lăn lóc vào đời
Trăm năm như thể một hơi thở dài
Chỗ có dấu tích trần ai
Bước chân bỏ lại tàn phai lối người.

Ta còn có nửa ta thôi
Xin em vung thẳng vết roi tuyệt tình
Cho hồn ta biết phiêu linh
Trong thương tích đã tượng hình hài em.

Lằn roi chạm buốt vào tim
Ứa chung giọt máu tưới mềm môi nhau
Lăn theo phấn nhạt son nhầu
Căng da xẻ thịt nỗi đau muộn màng.

Mà em tựa thoáng hương tan
Rắc vào hoang phế cho vàng mùa thu
Còn nghe trong xác lá mù
Ngọn roi lao tới vết thù chung thân…

Hư Vô

Nguyệt Tận. Thơ Hư Vô- Nhạc Hồ Trung Hậu- Tiếng hát JB Thanh Hưng- Hòa âm Duy Cường.


0001 (2)0002-1 (2)

Dưới Làn Sóng. Truyện ngắn Hoàng Đạo


Hoàng Đạo

Presentation3

(Báo Ngày Nay, Số 27 in tại Hà Nội Tháng 09/ 1936)

Đã mươi hôm, mưa tầm tã. Mực nước lên cao dần. Trống hộ đê đánh liên thanh không dứt. Tiếng trống đều đều gợi trong linh hồn dân quê những nỗi hãi hùng man mác, nghe buồn thảm như tiếng trống ngũ liên một đêm tối trời. Dân phu từng đám trên đê, đắp cừ, đan tre trong không khí yên lặng ghê sợ. Mấy ông kỳ mục, quần ống cao ống thấp, ngồi xổm dưới túp lều trống gió, vẻ mặt bơ phờ nhìn theo chiếc xe “quan” đi về phía huyện lỵ. Chiếc xe tay khấp khểnh nhọc mệt lăn trên con đường gồ ghề; một chú lính lệ tay xách chiếc điếu ống chạy theo sau.

Trong một đám dân phu, Mịch đang nai lưng làm việc. Anh vác từng thúng đất đào ở một thửa ruộng gần đấy đem lên mặt đê để đắp cừ. Thỉnh thoảng, mệt, anh đứng lại thở, nhìn ra mặt sông, lắc đầu lo ngại. Sông đỏ mênh mông, chảy từ từ như một huyết quản khổng lồ của một con quái vật nào. Mịch đưa mắt theo những đám bọt vẩn, những thanh củi lạc từ từ trôi về miền hạ du, mơ màng nghĩ đến cảnh rừng thẳm âm u là nơi mưa lũ đuổi những lá, những cành các thứ cây lạ trôi về. Cảm giác ấy thoáng qua trong óc Mịch như một tia chớp rồi Mịch lại quay trở lại với công việc. Mịch hì hục vác, nhanh nhẹn, nhịp nhàng, không hề nghĩ đến cái cớ bắt Mịch ra đây làm việc công.

Trưa hôm ấy, trời hửng nắng. Mọi người trông nhau, tươi tỉnh hẳn lại. Mịch vui vẻ ngồi ăn bữa cơm trưa. Anh đói nên ăn rất ngon miệng. Vài bát cơm khoai, mấy con cá kho muối, anh thấy hương vị đậm đà, nên lúc giỏ cơm đã hết, anh chép miệng nói một mình:

– Giá có cơm nữa mà ăn nhỉ!

Bỗng Mịch nghĩ đến gia đình. Anh băn khoăn tự hỏi:

– Chẳng biết hôm nay mẹ cái ốc có mò được con cua nào không? Rõ khổ… Mình ở đây còn có cơm ăn, chứ mẹ con nó biết nuôi nhau bằng cái gì?

Mịch thở dài nghĩ đến cảnh nhà bần bách.

Có vài sào ruộng công để cày cấy thì đã đem cầm cố đi cả; anh chỉ còn nghề làm mướn để sinh nhai. Nhưng anh không bao giờ bận lòng oán thán, vì yên chí rằng ở trên đời, sự khổ sở, cơ cực là phận của anh, còn sung sướng, thong thả là phận của người khác.

Chiều đến, công việc hộ đê có vẻ uể oải. Mấy ông kỳ mục, được hôm tạnh ráo, ngồi đánh tổ tôm với nhau trong điếm. Dân phu thì tụm năm túm ba ngồi trên bờ đê than thở.

– Nước năm nay to y như năm Dần…

– Có lẽ hơn, bác ạ.

Ai nấy buồn bã nhìn ra ngoài đê. ánh tà dương viền bạc đám mây xám nằm ngang phương tây, nhuộm tía mấy đám mây lơ lửng trôi ở trên không, phản chiếu xuống mặt sông, mặt đê, xuống cánh đồng lúa non rợn xanh đến chân trời. Không một ngọn gió trong không khí nặng nề. Lòng sông mênh mông cũng ngừng lại không chảy nữa. Người và vật chìm đắm trong một giấc mơ êm tĩnh lạ thường…

Bỗng trong đám mây xám, Mịch nhác thấy một tia chớp. Một lúc sau, trời tự dưng tối sầm lại; mầu nước, mầu mây biến ra nhợt nhạt trong một thứ ánh sáng mờ ảo. Mặt sông gợn sóng. Mây kéo lên khắp trời. Khoảnh khắc, dưới ngọn cuồng phong, sóng bạc đầu theo nhau nổi lên trên mặt sông mỗi lúc một mau. Mưa đổ xuống như thác. Trời tối hẳn. Tiếng trống hộ đê lại bắt đầu gieo nỗi kinh hoàng vào lòng người. Lẫn trong tiếng tre sột soạt, tiếng sóng ì ầm vỗ vào mạn đê, tiếng trống nghe bổng trầm như tiếng kêu cứu của một người hấp hối. Thỉnh thoảng, trong khoảng trời mù mịt, hiện ra một bó đuốc gieo ánh sáng đỏ thê thảm ra chung quanh rồi biến đi, khiến đêm tối lại càng thêm tối. Mịch, thân thể ướt át, đứng ở mạn đê cắm cọc tre xuống một cách mạnh mẽ, nhưng tuyệt vọng. Anh cảm thấy sự kinh khủng bao bọc lấy mình, như nom được sự hung hãn dị thường của những sức mạnh huyền bí vô cùng của trời đất. Trước những mãnh lực tàn khốc ấy, Mịch có cái cảm tưởng rõ rệt rằng cả anh và những người khác bên cạnh đều nhỏ nhặt, yếu hèn như giống kiến, giống trùng, không thể cản trở hay kháng cự lại được.

Như đáp lại tư tưởng của Mịch, gió gào một khắc một mạnh. Hạt mưa nặng rơi trên chiếc nón lá bắn nước tung tóe ra chung quanh, gió thổi tạt vào một phía, khiến chàng tối tăm cả mặt mũi. Mỗi khi Mịch cúi xuống đổ đất, anh lại nghe thấy tiếng sóng vỗ mạnh vào mạn đê như tiếng gầm giận dữ của một con mãnh thú trong cơn điên cuồng.

Bỗng cách Mịch vài trăm thước, ầm lên một tiếng lớn vang động như sấm. Theo ngay sau một tiếng kêu thất thanh rơi vào trong bóng tối. Giật mình, dân phu ai nấy đều dừng tay, yên lặng. Họ đều có cái cảm giác rằng một tai nạn ghê gớm vừa tới. Trước mặt họ, những hình ảnh khốc hại thoáng hiện ra, những hình ảnh họ đã từng biết: cánh đồng lúa xanh mềm biến đổi ra hồ nước mênh mông, nhà cửa đổ sụp trôi theo dòng nước, đàn bà trẻ con nheo nhó chạy lụt… Mịch sực nhớ đến vợ con. Anh kinh động lo lắng. Nhà anh ở ngoài đầu làng, gần cây đa lớn bên đường và nếu nước chảy xiết về, anh sợ không đủ vững.

– Phải về, phải về mới được.

Tiếng nước reo mỗi giây một rõ. Mịch hồi hộp nhìn lên. Hai bên bờ hội khẩu, dưới ánh trăng mờ tỏ của vài bó đuốc bạt ngọn trước luồng gió dữ, bóng người lung lay trên nền trời đen thẫm, dệt nên một cảnh tượng ghê sợ. Mịch rùng mình. Anh nhìn con nước xói vào cánh đồng ầm ầm như thác ngàn đổ, mãnh liệt không có sức nào cản nổi. Anh nhìn chung quanh. Toàn những bộ mặt nhợt tái diễn tả bao nhiêu nỗi khủng khiếp ngấm ngầm.

Hơn một giờ sau, Mịch mới tìm được chiếc thuyền nan. Anh nhân lúc lính vô ý, trốn thoát nhảy xuống thuyền, tâm trí để hết đến việc trở về làng. Một tay anh cầm gáo tát nước ứ ra ngoài, còn một tay ra sức chèo. Trong đêm tối, hạt mưa nặng vẫn ào ào đáp lên chiếc nón lá, gió vẫn thổi mạnh. Con thuyền bị trôi băng trên mặt nước, Mịch phải để ý giữ gìn từng li từng tý mới khỏi sóng đánh úp. Anh thuộc đường lắm nên khi ngược nước, chiếc thuyền con có chòng chành nhưng đi vẫn thoát.

Nửa giờ qua. Mịch thoáng thấy bóng cây đa cổ thụ in đám lá đen kịt lên mầu trời đen xám. Lòng anh hồi hộp, phấp phỏng. Anh vẫn biết trong lúc nguy kịch, trong làng không còn ai nghĩ đến vợ con anh. Anh chỉ còn cậy vào sức mình. May mà vài mươi con sào nữa là anh về đến nhà. Vợ anh chắc lúc này đâng ngồi ẵm con trên nóc túp lều tranh. ý tưởng ấy khiến Mịch chèo thêm mạnh tay. Giây phút, con thuyền đã vượt qua con đường bên gốc đa. Ngọn nước kéo chiếc thuyền về phía dưới, anh ra sức chèo ngược lên, con thuyền ở giữa hai cái mãnh lực gần thăng bằng đứng im một chỗ. Bỗng Mịch nghe trong khoảng đêm tối một tiếng kêu cứu, tiếng kêu hốt hoảng bao hàm bao nhiêu nỗi kinh khủng. Chàng ráng hết sức, vượt qua ngọn sóng, giơ tay vơ lấy một cành đa. Con thuyền nhẹ bồng lên, những đợt sóng réo theo nhau chạy về phía dưới. Mịch bật bồng nhìn về nhà, kêu:

– Mẹ cái ốc đâu?

Tiếng gió trả lời anh. Anh gọi luôn mấy tiếng nữa cũng không ai đáp lại. Lòng Mịch rạo rực; trái tim anh đập rất mau. Hết sức, anh dún mình đưa con thuyền đè sóng đâm ngang vào bụi tre mà anh biết là ở cạnh cổng nhà, rồi hai tay anh với cành tre giữ thuyền lại. Mắt tre đâm vào cánh tay, anh cũng không thấy đau. ánh sáng của bó đuốc nhỏ chiếu tỏa ra chung quanh. Mịch rên lên một tiếng khổ não. Anh đăm đăm nhìn về phía nhà và chỉ trông thấy vũng nước đỏ ngầu lấp lánh dưới ánh đuốc. Mắt mở to, anh trừng trừng nhìn lên mặt sóng bấp bênh chiếc mái nhà lật ngược. Tuyệt vọng, Mịch sực nhớ đến tiếng kêu ban nãy, tiếng kêu cuối cùng của vợ anh có lẽ đang ẵm con thơ. Mịch run bắn cả người, hai tay rời cành tre. Một làn gió mạnh, một đợt sóng qua. Chiếc thuyền nghiêng ngửa, Mịch không vững chân, ngã ngửa người vật xuống…

Vài giờ sau, vừng thái dương xán lạn mọc lên trong bầu trời quang đãng, âu yếm nhuộm hồng mấy sợi mây tơ chăng lên trên da trời màu bạch nguyệt, dịu dàng mơn trớn cánh đồng nước lặng sóng như mặt hồ. ánh sáng buổi bình minh tinh khiết như hồi thiên địa mới sơ khai. Nếu không có vài chiếc thuyền thỉnh thoảng lách vào mấy ngọn tre xơ xác, những sự khủng bố hồi hôm có lẽ khách du chỉ cho là một giấc mơ dữ dội.

Hoàng Đạo

Lời Tỏ Tình Tháng Sáu. Thơ Hư Vô


Tháng sáu mưa buông dài ngọn tóc
Theo bóng em gầy vai áo xưa
Của thuở hồn nhiên như lá biếc
Rụng đầy trên mỗi bước tương tư.

Mà cả đời tôi còn cất giữ
Nụ môi non ấp ủ hơi người
Cho áo em còn mùi hoa sữa
Giấu vào cùng tận giấc thơ tôi!

Rồi sẽ có lần em chợt hiểu
Mỗi hạt mưa cũng có linh hồn
Chạm vào nhan sắc em êm ả
Lời tỏ tình từ những vô ngôn.

Mà tôi còn nợ em một thuở
Ngập ngừng để lỡ dở đời nhau
Mưa tháng sáu đã mù dấu cỏ
Đường trăm năm đâu có lối vào…

Hư Vô

Một Đời Ở Riêng. Thơ Hư Vô


Tôi ngồi ngoảnh cổ trông tôi
Áo khuya cài muộn một đời chưa yên
Như còn thấp thoáng hơi quen
Heo may chở lá vàng đêm mưa về.

Em còn lăn giữa cơn mê
Mùa thu rối ngọn tóc thề hẹn xưa
Buồn chia hai nhánh đong đưa
Mà nghe ngày tháng cũng vừa chấm vai.

Tôi ngồi đếm ngọn tàn phai
Thắp đêm trăng khuyết cho đầy mắt em
Lối người héo hắt chông chênh
Tựa chung chiếc bóng buồn riêng lẻ hình.

Lần theo sợi tóc bạc tình
Đêm khuya khoắt bỗng trở mình mẩy đau
Một đời mấy bận tìm nhau
Đường xa người lạ qua cầu biệt tăm…

Hư Vô

Một chút Văn Khoa Sàigòn năm 60. Nguyễn Văn Sâm


Nguyễn Văn Sâm

Sau một vòng dạo đường sách, con đường nay được coi như bộ mặt văn hóa của thủ đô Sàigon, với nam thanh nữ tú, với du khách thanh lịch, với người có nhiều ái lực với văn chương… chúng tôi vào quán cà phê ngồi vừa nói chuyện về những quyển sách xưa nay mà cả hai cùng thích vừa ngắm hoạt cảnh sau cửa kiếng. Người chơi sách trẻ đi cùng chợt hỏi giọng rụt rè ‘Bác có quen với nữ văn sĩ Nguyễn thị Hoàng không, cháu nghĩ là cô Hoàng đồng thời với bác’.

Câu hỏi làm quá khứ hiện về trong trí với khu Đại Học Văn Khoa chật hẹp ở góc đường Nguyễn Trung Trực và Gia Long một thời tuổi trẻ chúng tôi. Thời chưa có xuống đường ồ ạt của tuổi trẻ tự dấn thân hay bị giật dây, chưa có những biến động chánh trị thay chúa đổi ngôi như chong chóng, người sinh viên chúng tôi chăm chú vào việc trau dồi kiến thức để tạo lập hành trang cho chính mình trước khi thiệt sự bước chưn vào đời. Thời của những vô tư với tiếng súng đì đùng thiệt xa ngoài kia, mơ hồ sương khói. Thời người sinh viên chưa lo lắng về tấm Giấy Gọi Nhập Ngũ của Chuẩn Tướng Bùi Đình Đạm sau nầy khi chiến tranh đã lên cao điểm. Tôi trả lời thiệt tình:

‘Đồng thời thì đúng nhưng quen biết thân tình thì chưa được cơ duyên.’

Ánh mắt ngạc nhiên dò hỏi của người bạn trẻ chiếu thẳng lên tôi rồi quay qua chỗ khác liền. Anh có vẻ ngạc nhiên về lời thú nhận của tôi. Trầm ngâm một lúc hèn lâu tôi mới nói như tâm sự:

‘Nữ sĩ cùng trạng tuổi, cùng một lớp ở trường năm ấy nhưng lúc đó như có một sự cách biệt lớn giữa nhóm nam sinh viên ‘nhà quê’ chúng tôi với nhóm các cô ‘rất sang trọng’ ấy.’

Nói tới đây tôi chợt nhớ đến ba nhóm nữ sinh viên chơi thân với nhau, mỗi nhóm chiếm lĩnh một vị trí trong giảng đường 1 ngoài sau cầu thang, ngó qua khu đất trống sau nầy biến thành Thư Viện Quốc Gia mà nay là Thư Viện Tổng Hợp của thành phố Sàigòn. Thuở ấy, không biết từ bao giờ, chúng tôi có qui ước bất thành văn là hễ có quyển tập, túi xách nào đặt lên bàn có nghĩa là ghế đó đã có người. Và không ai tranh cãi dầu cho nhiều khi ghế xí phần đó không ai vào ngồi. Thông lệ mỗi nhóm nữ thường cắt ra hai cô đi rất sớm xí chỗ trước. Với ba nhóm của các cô, bọn nam sinh viên chúng tôi dầu đi sớm cách mấy cũng thường đành chịu ngồi phía sau. Xa thầy, giảng đường bao la, nghe bài giảng tiếng được tiếng mất cũng đành chịu, chẳng lẽ xen vào giữa những tà áo dài đầy màu sắc ấy. ‘Coi sao được’. Chúng tôi bảo với nhau như vậy và chấp nhận ngồi phía sau, bất lợi về mặt thâu lượm kiến thức nhưng được cái là có dịp chiêm ngưỡng những cái ót trắng đẹp, những lọn tóc lòa xòa cố ý, những mái tóc thề cắt ngang rất thẳng hay những tà áo hở chút vai gần cổ… để trí tưởng tượng có dịp vân du phiêu bồng…

Tôi nói hơi chi tiết để người bạn trẻ hiểu:

‘Năm 1954, đất nước bị chia hai. Nỗi đau buồn vì vận nước ai cũng có, nhưng rồi chánh quyền trách nhiệm phần đất của mình phải bắt tay thực hiện những gì cần thiết để tạo thành một quốc gia. Trường Đại Học Văn Khoa trước đó Miền Nam chưa có, được thiết lập từ một bộ phận giáo sư ít ỏi bỏ Miền Bắc vào Nam. Sau một thời gian chấn chỉnh, khai giảng năm đầu tiên 1955-1956, với một vị Hán học thâm niên làm Khoa Trưởng. Mấy năm sau đó, vào niên học 1960-1961 mà chúng tôi hân hạnh tham dự, trường tương đối đã đi vào nền nếp với vài ba vị tiền bối được cấp văn bằng cử nhân là văn bằng cao nhứt lúc đó như Lữ Hồ Nguyễn Minh Hiền, Phạm Thế Ngũ, Lê Hữu Mục, Trịnh Văn Thanh… và một người là Thích Nhất Hạnh sau nầy.

Giáo Sư Khoa Trưởng thời 1960 là cụ Nguyễn Huy Bảo, một người theo Tây học. Cụ không đồng ý loại bỏ hẳn ảnh hưởng của Pháp nên tổ chức năm thứ nhứt Văn Khoa gồm hai hệ: Dự bị Việt dành cho sinh viên học chương trình Việt dưới Trung học và Dự bị Pháp, dành cho sinh viên trước đây theo chương trình Pháp, gọi là lớp Propédeutique Française. Nói thì nói vậy, nhưng ai muốn ghi danh hệ nào cũng được, tùy theo ý thích của mình. Năm thứ nhứt chia như thế nhưng sinh viên sau khi học xong thì theo hệ thống chứng chỉ, chọn những chứng chỉ nào mình nghĩ là phù hợp để hoàn tất văn bằng cử nhân sau bốn chứng chỉ. Lúc nầy hai hệ đã hòa lẫn nhau vì nhiều chứng chỉ có cả giáo sư Việt và Pháp, nhứt là các chứng chỉ thuộc nhóm Địa lý, Lịch sử và Triết học.

‘Hình như là cô Ngô Đình Lệ Thủy học Dự Bị Pháp năm đó. Bác có nhớ gì về cô ấy không?’

Tôi mơ màng, trầm ngâm khi nhớ đến sự bất hạnh cuối đời của người thiếu nữ duyên dáng nầy:

‘Lệ Thủy học Dự Bị nhưng sau nầy kìa, hình như là niên khóa 62-63. Vì có hai lớp Dự Bị nên các sinh viên gọi là cùng học năm thứ nhứt nhưng cách biệt lắm. Dân Dư Bị Pháp hào hoa sang trọng, nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp lưu loát, giọng Pháp chuẩn vì họ học ngôn ngữ nầy từ nhỏ, sử dụng tiếng Pháp hằng ngày với dàn giáo sư hầu hết từ Pháp qua. Họ ghi tên nhưng với tâm trạng tạm thời để chờ ngày đi du học Pháp, Anh. Dân Dự bị Việt thì nhà quê hơn, ít thời thượng và nói tiếng Việt. Tương lai của họ là ở trên đất nước nầy nhưng vì trở ngại ngôn ngữ nên các trào lưu văn học và triết học Âu Châu chỉ biết sơ sài. Tôi thuộc lớp nhà quê nầy mà là nhà quê bực hai vì mình ngố giữa đám đông các bạn thuộc gia đình tương đối giàu, ăn mặc đúng kiểu: Giày da bóng, quần jean bằng vải nhung mới, lúc đó chưa có mode xé rách đầu gối hay cắt cụt tối đa như bây giờ, áo Montagut mỗi ngày một màu trang nhã, sơ mi dài tay, manchette double có gài nút đắt tiền… Họ nói chuyện văn chương triết lý cao xa từ những quyển sách mới xuất bản, ít người biết, được gởi thẳng từ Pháp về qua nhà sách Việt Bằng ở đường Lê Lợi… Họ ăn uống ở nhà hàng Thanh Bạch, La Cave hay ngồi ghế cao cẳng trong khu cinéma Lê Lợi thưởng thức cà phê phin, ăn bánh mì chiên xịt maggi nhập cảng, hoặc cầm tay đào dạo passage Eden, khu phố Charner (sau nầy là passage Tax), ngồi nhà hàng La Pagode, Givral, Pole Nord tán gẫu trong những giờ không có lớp…’

‘Và cô Ngô Đình Lệ Thủy?’

‘Đó là một cô gái tương đối đẹp. Nhu mì, mềm mỏng. Lúc nào cô cũng có ba bốn người hộ vệ, họ không dữ dằn hay vô phép gì nhưng luôn luôn ngó chừng với cặp mắt nhà nghề lưu ý ai đến quá gần ái nữ của ông cố vấn họ Ngô Đình. Thường bọn nhà quê chúng tôi kháo nhau hôm nay có Lệ Thủy đi học và đến nhìn. Bao giờ cô ấy bị ai đó nhìn nhiều thì đều mỉm cười gật đầu chào thân thiện rất Tây phương để người đó biết ý mà tiến tới làm quen hay lãng xa.’

Người bạn trẻ ranh mãnh với nụ cười nửa miệng:

‘Bác có được chào thân thiện?’

‘Dĩ nhiên là có, vài ba lần vì tò mò, nhưng đến gần để làm quen thì không. Mình vốn nhát làm quen với bất kỳ ai, vả lại cũng sợ cô ấy xổ tiếng Tây mình ú ớ mặc dầu các bạn đều quả quyết rằng với người không quen cô ta đều nói tiếng Việt.’

‘Hai hệ thống giáo dục làm phân cách một thế hệ thanh niên cùng thời đại…!’ Người bạn trẻ của tôi trầm ngâm một lúc rồi đưa ra nhận xét.

‘Không ai muốn có hai hệ thống giáo dục trong một nước. Ngày đó có hiện tượng tréo ngoe nầy vì hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc đương hiện diện cần thời gian để được thay thế sau khi nước nhà độc lập, thời gian đó chưa thực sự dứt điểm.’

‘Vậy mà bây giờ chúng ta đương có hai hệ thống!’ Tiếng người trẻ tuổi thoát ra mau như tên bắn nhưng với giọng buồn như tiếng than.

Tôi trầm ngâm một lúc lâu, uống nhiều hớp nước mới nhỏ nhẹ:

‘Do sự phân cách quá xa giữa các đại gia giàu xụ dính dáng đến chế độ và lớp dân đen cùng đinh nghèo khổ kiếm từ ngàn, nuôi con được đi học là may!’ Tôi lơ đãng ngó ra ngoài rồi chuyển hướng câu chuyện: ‘Hình như chúng ta đi lệch đề tài lúc ban đầu. Em hỏi về nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng?’

Người thanh nên gật đầu bẽn lẽn.

văn khoa

Tôi tiếp moi từ ký ức xa xôi của hơn nửa thế kỷ lâu ngày nằm yên trong não bộ.

‘Nếu Văn Khoa được nhắc đến nhiều vì có Ngô Đình Lệ Thủy sau nầy thì trước đó hai niên khóa đã có Nguyễn Thị Hoàng. Dĩ nhiên là trong cái nhìn chủ quan của tôi và vài ba người bạn tôi lúc đó. Chị ấy có cái đẹp mặn mà, sang trọng. Chúng tôi thấy nét quí phái của chị trong từng cử chỉ nghiêm trang hay trong nụ cười thân thiện. Cùng học một lớp nhưng hầu hết bọn tôi đều coi chị như một người đàn chị trong dáng đi điệu đứng hay cách nói chuyện với bạn bè nam cũng như nữ. Tất niên năm đó, nhớ không lầm, thì chị đứng lên ứng khẩu bài nói chuyện bằng tiếng Anh rất lưu loát. Giáo sư Mc Kenzy, người Tân Tây Lan dạy môn Anh Văn cho năm Dự Bị Việt chúng tôi đã đeo theo nói chuyện với chị hàng giờ liền. Trong nhóm bạn của chị Hoàng có vài chị cũng đẹp và giỏi Anh ngữ, họ đối đáp với thầy mà tôi tưởng là họ thuộc nhóm theo hệ Dự Bị Anh. Các chị ấy hầu hết sau nầy đều tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ban Anh văn hay cử nhân Anh văn dễ dàng. Có một chị rất thành đạt tôi gặp ở Houston, Texas. Mấy chị khác hầu hết lập gia đình với những người có chức phận nên ít xuất hiện, họ không trở thành người của đám đông.’

‘Thầy giáo nói chuyện quá lâu với sinh viên có bị tai tiếng cho hai phía như thời nay?’

‘Có bạn thời đó như anh Nguyễn Tăng Uyên sau nầy dạy ở trường Sư Phạm Cộng Đồng Long An, quả quyết với tôi là GS. Mc Kenzy say mê một bóng hồng trong nhóm, tôi xin không nói ra là ai. Chuyện xa xưa rồi, xác nhận rõ ràng chẳng ích lợi gì. Khoảng cách thầy trò chưa đầy 10 tuổi là yếu tố để gánh những tiếng xì xầm. Một người bạn khá thân của tôi lúc ấy là anh Trương Kim Chung (đã mất) lại quả quyết có chị Bích T. thích ông Mc Kenzy. Hai năm sau gặp lại, anh vẫn xác nhận điều đó, tuy rằng hai người trong cuộc chẳng tiến xa gì hơn, ông thầy Anh văn của chúng tôi về nước liền sau niên học ấy…’

Tôi thấy mình không nên đi quá chi tiết cá nhân:

‘Tại sao em hỏi về nhà văn Nguyễn Thị Hoàng?’

‘Em muốn xin vài chữ ký cho bộ sưu tập tác phẩm có chữ ký của những nhà văn tên tuổi Sàigòn độ trước. Chữ ký của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng rất khó tìm, kể cả sách từ trong tủ của cụ Vương Hồng Sển hay của GS Nguyễn văn Trung.’

‘Chị Hoàng rời trường sớm để trở thành một hiện tượng văn nghệ thời đó…’

‘Vòng Tay Học Trò đăng trong tạp chí Bách Khoa xôn xao một thời…’

‘Tôi nghĩ rằng nhà văn Nguyễn Thị Hoàng đã phát pháo cho phong trào các nhà văn nữ viết mạnh, dám nói những điều thầm kín mà các cây bút trẻ trước đây khi muốn viết cũng phải ngập ngừng. Những Trùng Dương, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NH., Âu thị Phục An và cả Lệ Hằng có thể nói là đã tin tưởng hơn những gì mình sắp viết sau khi Vòng Tay Học Trò ra đời.’

‘Ngay cả Chu Tử với những đề tài liên quan nhiều đến phụ nữ trẻ cũng là chịu ảnh hưởng xa gần của nhà văn Nguyễn thị Hoàng.’

‘Bác nghĩ sao về trường hợp Lê Xuyên với những nhân vật nhí nhảnh và nói năng liều mạng như Phấn và mấy cô gái khác trong những tác phẩm của ông (?)’

‘Nhà văn nam chịu ảnh hưởng cách khác, nhà văn nữ chịu ảnh hưởng cách khác. Nam chú trọng đến ‘hành vi buông thả’, tới ‘lời nói bán trời’ của các cô gái, nữ chú trọng đến ‘nội tâm’ của người hành động và ‘những biện minh cho hành động của mình’. Dầu thế nào đi nữa họ cũng cảm thấy sao sao ấy khi cho nhân vật mình có những hành vi đi quá hơn cái bình thường của thời đại. Sao sao ấy là sự trói buộc, là những cấm kỵ theo quan niệm đạo đức của xã hội đương thời. Nhìn chung người phụ nữ trong văn chương thời thập niên 60 đã được cởi trói về mặt tính dục qua sự phát pháo của nữ sĩ Nguyễn Thị Hoàng, dầu là còn giới hạn, chưa tung hê tất tật như Hồ Xuân Hương ngày trước hay như hai ba nhà văn nữ nổi tiếng viết bạo dơ dáy quá đáng ở hải ngoại hay trong nước gần đây.’

‘Chắc là những người nầy muốn đi đường tắt vào văn học.’

Tôi cười nói rằng em phê bình như vậy là quá đáng, khi phê bình không được hạ nhục người ta.

Người đối thoại trầm ngâm trong bối rối. Tôi hớp từng ngụm nhỏ ly cà phê đen trước mặt, nhớ đến những vị thầy của thời xưa đã góp phần đào tạo trí thức cho chúng tôi. Cụ Sa Minh Tạ Thúc Khải dạy Hán văn quá cao vì chú trọng đến nguyên nguyên cả bài thơ. Cha Larre, dạy Hán Văn quá thấp vì muốn cho học trò có căn bản ngay từ bước đầu, cụ Vương Hồng Sển suốt năm dạy không thấy có một chương trình cụ thể nhưng đã đem cho họ trò những kiến thức đặc biệt không dễ gì có. Tôi nghĩ đến cụ Sển mà ngờ ngợ, không nhớ rõ cụ dạy chúng tôi năm Dự Bị hay năm chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm. Tôi cũng nhớ đến bà GS. Quách Thanh Tâm và phụ khảo Nguyễn Thị Bình Minh kẻ tung người hứng môn địa lý nhân văn rất khác lạ đem lại thích thú cho người học. Cụ Nguyễn Đăng Thục, thầy Nguyễn Khắc Hoạch đã giảng với sự sâu xa và đầy hứng thú đã mê hoặc một số sinh viên sau nầy đi vào con đường nghiên cứu của các thầy… Tất cả đều có thể đã quá vãng, sáu mươi năm học trò còn chịu không nổi cái búa của thời gian huống chi là thầy lớn hơn trò tròm trèm ba chục tuổi’

‘Bác có không vừa lòng ai trong số các Giáo Sư thời đó?’

‘Chúng tôi thời đó rất trọng thầy. Ai mình cũng thấy xứng đáng là nhà mô phạm, xứng đáng là người hướng dẫn tâm hồn. Cho tới bây giờ sự kính trọng đó vẫn còn, mặc dầu có trường hợp sau nầy chánh kiến khác nhau như vị thầy đã thoát ly theo MTGPMN hay vị thầy quá ủng hộ chế độ mới và nhận được nhiều ân sủng. Chỉ có điều là sinh viên Văn Khoa là những người thích đọc sách. Trong hai năm chót của Trung học họ đã thủ đắc một số lớn kiến thức sách vở, trong năm Dự Bị họ lại có thời giờ nghiền ngẫm một số lớn tác phẩm danh tiếng đương thời nên nếu vị giáo sư nào ít chuẩn bị bài dạy hay chỉ lập lại theo sách xưa mà không có ý kiến gì đặc biệt hoặc vô lớp chỉ đọc bài, không giảng thêm, thường bị sinh viên có cái nhìn hơi khang khác, khang khác nhưng không có nghĩa là không kính trọng.

Lớp tôi thời đó, sau nầy vài ba năm nổi về mặt truyện ngắn truyện dài thì có Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng, Huỳnh Phan Anh… là những người tôi biết, về mặt thi ca thì là các nhà thơ Tạ Ký, Hữu Phương, Hải Phương, Trần Văn Nam… Những người thành danh trên đường nghiên cứu nhận định thì có Đặng Tiến, Bửu Ý bên Dự Bị Pháp, Nguyễn Thiên Thụ, Trần Nhựt Tân bên Dự Bị Việt. Đó là chưa kể hơn 80% sinh viên năm đó sau nầy trở thành những nhà giáo, có người rất nổi tiếng dạy hay dạy giỏi kể không thể hết. Điều đó cho em thấy nền giáo dục trưóc đây đã đào tạo ra rất nhiều những con người có năng lực đích thực.

Người trẻ trước mặt lại hỏi bằng mắt kèm theo nụ cười hóm hỉnh. Tôi làm như không biết, chuyển đề tài:

‘Tôi muốn hỏi em: Với kinh nghiệm của người sưu tầm sách, em thấy sách của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng có giá trị không và tại sao?’

‘Sách của cô ấy được giới sưu tập ưa chuộng vì trình bày đẹp, văn vừa quá mượt mà lãng mạn vừa mang khí vị trí thức, hai điều dường như khó tương hợp.’

Tôi trầm ngâm. Tài là ở chỗ đó. Mượt mà đến mê hoặc. Trí thức tới đáng ngưỡng mộ. Khi tác phẩm của chị tràn ngập thị trường, mặc dầu đã tốt nghiệp cử nhân, tôi đọc vẫn thích thú vì mình học hỏi được nhiều điều về nội tâm bí ẩn và phức tạp của người phụ nữ. Đọc văn chị tôi thấy tâm hồn mình mới ra. Những truyện ngắn viết nhân chuyến đi Nhật Bản của chị có thể coi như những tùy bút tuyệt vời. Tôi thật sự bị cuốn hút trong vòng tay ma mị đó, theo tôi Nguyễn thị Hoàng là một hiện tượng độc đáo của văn học Miền Nam thập niên 60.’

Tôi gật đầu xác định khi thấy người bạn trẻ thích thú về nhận định của chính mình:

‘Nhà văn không phải muốn tạo nên dấu ấn của thời đại mà được. Dấu ấn đó được tạo thành bằng bản sắc cộng với những suy nghĩ đi trước thời đại và được thực hiện bằng quyết tâm chắc nịch.’

Bên ngoài nhà hàng, Đường Sách càng lúc càng vui. Nhiều người xoải chưn, dang tay chụp hình. Nhiều phụ nữ áo quần thời thượng đang tạo dáng đứng ngồi, tạo nụ cười tươi mát huyền hoặc trước máy ảnh. Quày sách bên kia đường hình như có chuyện xin chữ ký khi vài ba khách bước ra tươi cười coi tới coi lui trang đầu một quyển sách cầm tay.

Tôi bỗng có ý ước ao được nói chuyện mặt đối mặt với người học cùng thời với mình cách nay hơn nửa thế kỷ khi thấy rằng lớp trẻ bây giờ dầu hoàn cảnh xã hội đã khác xa với sáu mươi năm trước vẫn có cái nhìn công bằng về toàn bộ tác phẩm của chị. Móc điện thoại ra gọi con số mà một người quen đã trao cho, tôi chờ nghe tiếng chuông reo trong hồi hộp. Thời gian và không gian tạo sự phân cách chăng? Con số lạ sẽ làm chị e dè không bắt máy?

Và tôi rất vui mừng khi nghe giọng nói thân thiện của chị, cái giọng Huế pha Nha Trang dịu dàng như hồi nào dầu tôi chưa sử dụng tới lá bùa là người bạn học cùng thời, nhưng câu chuyện về một thời Văn Khoa xưa cũ từ mấy mươi năm trước thì cứ như mạch trào giữa hai người bạn đã từng tắm chung một dòng sông tuổi trẻ, từng loanh quanh giữa sân trường Đại học hồi nửa thế kỷ qua mà họ chưa bao giờ được dịp đối thoại nhau, dù chỉ một lần.

Gác máy lâu rồi tôi vẫn còn thấy ấm bàn tay, lại thêm một yếu tố đáng cho ta mến mộ, nhà văn nữ có chơn tài nầy qua bao nhiêu bầm dập do bất công của đời và dư luận rỗi hơi vẫn không đánh ngã được chị, ít ra khi nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng trong dòng văn học thời đó, người ta vẫn còn nhớ đến người phụ nữ mảnh mai như liễu rũ mà không yếu đuối ngã rạp trong sóng gió cuộc đời.

Nguyễn Văn Sâm

(Sàigòn 3, 2018)

(Nguồn: http://vietluan.com.au/mot-chut-van-khoa-saigon-nam-60/)

Giờ Thứ 25. Thơ Hư Vô


Dẫu tới giờ 25 tôi cũng đợi
Em về thắp lại ngọn đèn khuya
Để soi cho thấu lòng cô phụ
Cuống rún còn đau nỗi chia lìa.

Chưa đủ ấm bên hơi người lạ
Hạt mưa làm mất dấu môi hồng
Quán khuya cửa đóng hồn phiêu dạt
Tôi còn mò mẫm giữa hư không.

Trăng xưa đã vỡ trong lòng nguyệt
Hình như trời đất cũng động tình
Chuông gọi nhau về đêm dậy mộng
Mà nghe thương tích bỗng hồi sinh.

Em đi không một lời hò hẹn
Bỏ quên nhan sắc chỗ tôi nằm
Lăn theo chiếc bóng em cùng tận
Cũng đâu đuổi kịp giấc trăm năm…

Hư Vô

Bài Sinh Nhật Mùa Thu. Thơ Hư Vô


Bài Sinh Nhật Mùa Thu

(Viết cho Sinh Nhật Tôi – Mùa Thu 15/ 05..)

Tôi về trải lá vào thu
Lối chân xưa đã mịt mù tháng 5
Là ngày sinh nhật tình nhân
Mà em cũng đã có lần bước qua.

Mong manh như vạt lụa là
Môi em ngọt tựa điệu ca dao buồn
Lắng vào một cõi trầm hương
Cho tim tôi biết dậy cuồng mê man.

Rượu tình rót đáy ly tan
Uống cho đẫm lệ một tàng hương bay
Từ em buông tiếng thở dài
Đã nghe hoang phế chạm hình hài nhau!

Tựa như chiếc lá bạc đầu
Mà trời đất đã dãi dầu cưu mang
Mùa thu nắng có thôi vàng
Thì tôi cũng được một lần khai sinh…

Hư Vô

Trần Thiện Thanh, Giòng Nhạc Một Thời Chinh Chiến. Nhạc Anh Bằng -Thơ Hư Vô – Ca sĩ Thụy Long


egrggg2 phapamtc_full_18296 hu-vo1

Anh Bằng                      Thụy Long                    Hư Vô

Thủ bút của Nhạc Sĩ Anh Bằng:tre1baa7n-thie1bb87n-thanh-gic3b2ng-nhe1baa1c-me1bb99t-the1bb9di-chinh-chie1babfn

Dưới Bến Trên Thuyền. Tuỳ bút Tường Bách


Tường Bách

(Bài của nhà văn Tường Bách được đăng trên báo Ngày Nay số 3, in tại Hà Nội ngày 20/02/1935)

Bờ sông Hà Nội, ngay ở chỗ bến thuyền, là một nơi ít người để ý đến, ít để ý đến cách sinh hoạt của dân cư dưới bãi cát hay trên thuyền bè.

Người ta có đi qua cũng chỉ thấy một khung cảnh vui vẻ, tấp nập, tuy bây giờ đã kém xưa, hồi mấy năm về trước nhiều lắm. Cái rừng cột buồm thẳng tắp, khi trước chi chít, bây giờ trông có vẻ lơ thơ, buồn bã.

Những thuyền chở gỗ từ Yên Báy, Phú Thọ, chở than từ Đông Triệu, Quảng Yên, chở muối từ Nam Định, Thái Bình, tuy vẫn lui tới, nhưng chỉ còn ít. Ngoài cái nguyên nhân từ khủng hoảng kinh tế ra, còn vì lẽ những hàng hóa ấy người ta chở bằng tầu hỏa hay tầu thủy, nhanh chóng hơn và giá vận tải cũng không cao hơn là mấy.

May ra có những thuyền những thuyền Nghệ chở nước mắm là còn giữ được chút phồn thịnh ngày trước. Những chiếc thuyền đi bể này, trông to lớn, cột buồm cao vút với lá cờ phấp phới trên ngọn, hai bên mui vẽ mắt như mắt cá và rồng phượng nhiều màu như để dọa nạt những cơn sóng ngất trời ở giữa bể khơi. Một chiếc thuyền ghé vào bến Hà Nội như thể mang tới một chuyến hàng độ bốn năm trăm tấn, ngày trước có khi đến hằng nghìn. Hàng ấy chứa đầy trong đáy thuyền tối om và sâu như cái giếng, thường thường chỉ có một cái lổ vuông bằng cái bàn con để thò gáo xuống múc lên.

Bán hết rồi, họ xuôi về Nghệ. Về mùa này, phần nhiều họ đợi được gió bấc rồi mới quay mui. Người Nghệ đi bể quen nên đoán thời tiết rất giỏi. Nhiều khi, trời nắng chang chang, gió nồm thổi ẩm ướt, mà họ cũng sửa soạn cho thuyền quay về: thế là tối hôm ấy tự nhiên trời đổi lạnh, gió bấc thổi vù vù đưa những thuyền Nghệ xuôi ra bể nam.

Đời những người làm thuyền thật vất vả. Quanh năm sống trên mặt nước, những công việc khó nhọc và nắng mưa, gió bể đã khiến cho tay, chân họ thành chai và da dẻ xám đen già cỗi. Lắm khi còn phải chống cự với nhưng cơn gió táp lúc đang lênh đênh trên mặt sóng.

Mà những phu-phen làm việc ở bờ sông cũng khó nhọc như vậy. Họ phải vác những bao to hay gánh những gánh nặng đầy sỏi, cát hay than đá đen sì, trèo từ dưới thuyền lên bờ sông, dốc và gồ ghề. Những phu kéo gỗ nhiều khi phải giắt giây nhau chừng hai mươi người mới kéo nổi một cây gỗ lên cạn. Mồ hôi chảy nhễ nhại trong lúc trời rét như cắt, họ vừa ra sức vừa hát những câu tình ái kéo dài bằng những tiếng “ới a”, và thỉnh thoảng lại điểm một tiếng “dô ta” vang động cả bờ sông. Mỗi ngày như thế, tiền công được độ hai ba hào không cơm là nhiều lắm. Ăn uống lẽ tất nhiên là rất khổ sở. Và tối đến, họ chui rúc vào những nhà nứa lợp gianh ở Cấu Đất, những nhà thấp nhỏ, chật chội, bẩn thỉu và tối tăm không chút vệ sinh.

************

Bãi Cầu Đất cũng như mọi nơi khác, bên bờ sông, thật là chỗ tụ họp của người nghèo: phu phèn, thợ thuyền, buôn bán lặt vặt, như quà bánh chẳng hạn, chen chúc nhau trong dãy phố tồi tàn ấy. Đã vậy, nhiều khi nước lên to, tràn ngập cả, tình cảnh lúc đó mới thật là khốn đốn, vì còn biết chạy đi đâu. Ở bãi Cầu Đất, ta thấy rõ cái cảnh nghèo hèn, cách ăn ở khốn nạn của bọn mà ta gọi chung cả một tiếng là bọn hạ lưu. Nhưng khốn nạn thì khốn nạn, bao giờ họ cũng tìm được cách mua vui, những cuộc vui tai hại như rượu chè, cờ bạc.

Ở bến tàu thuỷ, quang cảnh vui vẻ hơn, vì sạch sẻ, sáng sủa hơn đây là lẽ tự nhiên. Nhưng lắm khi ta thấy, giữa đám đông người vừa ở dưới tàu lên, một cô gái quê ngớ ngẩn, tay cắp thúng trông bốn phía như tìm đường đi. Rồi có một người đàn bà chạy đến, nói cười một lúc rồi dắt cô đi theo. Người nhà hay quân giỗ người? Không biết chắc, nhưng ta đã nghĩ rằng cô gái quê ấy đã bước bước đầu trên con đường trụy lạc trong thành phố Hà Nội mà cái tiếng phồn hoa đã gọi cô đến nơi.

Ngoài những kẻ giỗ người, còn có những kẻ rủ người đi để bóc lột nữa. Một hôm, tôi đương đứng hứng gió bên bến tàu, bỗng có một anh quần áo cánh trắng tiến lại sẽ hỏi:

– Gỡ không?

Tôi chợt nghĩ đến bao nhiêu người ở dưới tàu lên thì giàu có, rồi chỉ vì một tiếng gỡ, mà phải ăn mày về tàu. Muốn cùng chung một số phận như họ, tôi đáp:

– Gỡ gì?

– Xốc dĩa, xì phé gần đây

Anh ta đưa tôi qua bãi cát, tới gần cầu, và lên một chiếc thuyền con chở ra giữa sông đến một cái nhà bè rộng rãi. Trong đó, đủ các hạng người đang sâu sé nhau. Mà trong đó, người hạ lưu không phải ít. Trong bộ quần áo bẩn thỉu, rách vá, họ ngồi để bị bóc lột, hình như sung sướng lắm. Trông những đồng tiền họ vứt đi, tôi lại nhớ đến bao nhiêu ngày họ phải khó nhọc, vất vả mới kiếm ra được.

Dưới bãi bờ sông thật là nơi tụ tập của người tứ xứ. Chỉ có những người các tỉnh khác, vì kinh tế phải rời làng đi kiếm ăn ở Hà Nội. Nghèo thì làm phu, làm thợ, mà giàu có hơn thi buồn bè, buồn nứa.

Cách sinh hoạt trên những nhà bè cũng có nhiều cái thú vị. Lênh đênh trên mặt sóng, nước lên đến đâu dâng cái bè lên đến đấy. Nhiều người quanh năm ở trên nhà bè, sống về nghề chài lưới. Còn những người buồn nứa, đến mùa nước cạn, họ làm một cái nhà trên bãi cát để ở.

Trông chỗ nhà bé ấy với cái nhà gianh thấp hẹp, nhiều nhất là những cái vòm tựa như cái cống làm bằng mui thuyền cũ, dưới đặt mấy cây nứa để ngủ, nằm rải rác trên bãi cát rộng, ta tưởng tượng như đứng giữa một bãi sa mạc bên Phi châu. Mà nói cho đúng, cách ăn ở của người mình ở đây cũng chẳng hơn người da đen là mấy.

Ngày họ đi làm, chẻ nứa hay bó nứa, tiền công độ một hào, hào rưởi, mà là công việc nhẹ, phần nhiều đàn bà trẻ con làm. Con bọn đàn ông thi đi giắt bè, những bè nứa từ trên Chèm về, đóng thành từng lớp, hay khuân vác những cây nứa. Như thế, họ sống cũng phong lưu. Phong lưu đối với họ, chứ trông bữa cơm với nhà cửa của họ, ta không thể hiểu sao họ sống lượm thượm đến như thế được.

Những cái nhà vòm, nhiều cái chỉ rộng bằng miệng cống, mà ở trong, nếu kê một cái giường có lẽ không đủ chỗ. Anh sáng chiếu vào chỉ rõ những cái chiếu cũ, rách giải trên sàn, và trong một góc, bát đĩa, quần áo để lộn xộn. Thế mà đêm đến, trong cái cống ấy, năm sáu người đàn ông, đàn bà, trẻ con lăn lộn co quắp ngủ trong một giấc say sưa.

Còn những cái nhà hơi ra hồn nhà một tí, thì cũng bẩn thỉu, chật chội như thế. Và mùa đông những tấm phên mỏng đầy lổ hở, chống sao nổi với cái lạnh căm căm theo luồng gió bấc thổi mạnh trên bãi cát mông mênh –  mà những ngày nắng rát, trên mặt trời chiếu xuống chói lọi, dưới hơi cát bốc lên, tưởng không còn chỗ nào nóng hơn được nữa.

Họ sống như thể, nhưng họ không lấy làm khổ lắm.  Họ hình như thản nhiên chịu cái số phận vất vả, khốn nạn, mà ít khi, ta thấy họ kêu ca oán thán lấy nữa lời.

Nhẫn nhục, biết phục tòng số mệnh, có nhẽ là cái đức tính to nhất của dân ta, dù ở nơi trên biển, dưới thuyền hay trong luỹ tre xanh cũng vậy.

Tường Bách

 

 

Theo Em. Thơ Hư Vô


Theo EM

(Chân dung Hư Vô. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Theo em bước tới đường cùng
Để nghe nhịp thở còn chung hình hài
Cho đầy dấu tích trần ai
Đường nhân gian biết có dài trăm năm!

Theo em về phía biệt tăm
Cũng còn một chỗ tôi nằm chiêm bao
Thời tình lận đận lao đao
Mang theo tiếng khóc nghêu ngao vào đời.

Dắt dìu nhau đến một nơi
Chỗ có di tích luân hồi tái sinh
Giọt mưa hối hả tượng hình
Nhỏ xuống hoang phế ngày tình tận nhau.

Nhón chân chưa tới lối vào
Cỏ hoang mọc đã xanh xao bóng người
Từ trong con mắt đỏ tươi
Có giọt lệ chảy cả đời chưa tan…

Hư Vô

Đợi Chờ. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Truyện ngắn này được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 17, in ngày chủ nhật 19/ 07/ 1936 tại Hà Nội)

img_5119

Cây im, sông lắng đợi xuân về
Thế Lữ

Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua dặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.

Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi rộng trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhẩy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay, từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.

Chàng đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.
Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây yên lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn với hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẩn trong không. Cả những làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây, nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ…
Nhưng qua giậu nứa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung.
*
* *
Cách đây hai năm, và cũng trong tháng chạp. Một hôm cưỡi ngựa đến bên sông thăm vườn cam sắp trẩy, Linh gặp một chiếc ô tô đỗ cạnh đồi. Tưởng đó là xe khách đến chơi và tài xế không biết lối vào trong ấp, Linh cho ngựa lại gần, nghiêng mình nhòm qua cửa xe. Trong xe, một bà ngót năm mươi tuổi và một thiếu nữ đầy đặn nở nang, nước da hồng hào rám nắng, mà thoạt trông chàng ví ngay với màu da cam bắt đầu rám chín dưới luồng gió heo may.
Chàng ngồi thẳng người lên, lễ phép nói:
– Xin cụ tha lỗi cho, tôi tưởng bạn đến chơi.
Nhưng thiếu nữ rất lịch thiệp đã thò đầu ra ngoài mỉm cười đáp lại:
– Thưa ông, me tôi không dám. Vả lầm thì ai chả có khi lầm.
Câu trả lời, Linh cho là vô vị. Song nụ cười tình tứ điểm theo, chàng ngắm thấy ngọt như mật ong, thơm như hoa cam sành mới nở, và có mãnh lực làm cho chàng lúng túng mất vài giây. Sự lúng túng ấy chàng che đậy bằng một câu hỏi, giọng run run:
– Thưa cô, xe liệt máy?
Nụ cười càng tình tứ hơn, tuy đôi lông mày bán nguyệt tô thêm chỉ hơi díu lại một cách rất nũng nịu, dễ yêu.
– Thưa ông, xe không chết máy, nhưng hết dầu xăng.
– Vậy ý hẳn bác tài đi mua dầu xăng?
– Không, anh ấy đến hàng nước kia hỏi xem có thể mua lại ở đâu được vài lít xăng để đủ chạy từ đây đi Kép. Vậy thưa ông, ông có biết thì xin ông làm ơn bảo giùm cho.
Linh mỉm cười:
– ồ! Tưởng hỏng máy, chứ nếu chỉ hết dầu xăng, thì tôi xin biếu cụ và cô.
Bà cụ sung sướng vội hỏi.
– Thưa ông, nhà ông ở gần đây?
– Thưa cụ, cũng không xa. Đây là đồn điền của tôi.
Thiếu nữ vẻ mặt ngạc nhiên.
– Đồn điền của ông? Chắc là rộng lắm!
– Thưa cô, cũng không rộng lắm, độ hai nghìn mẫu thôi.
Thiếu nữ mở cửa xe bước xuống, gọi:
– Anh tài!
Tức thì một người vận âu phục màu vàng từ trong hàng nước cạnh bến phà đi lại. Linh xuống ngựa, nói:
– Bác cưỡi ngựa theo con đường này vào ấp bảo người nhà tôi đưa cho một bi đông ét xăng, rồi cầm ngay ra đây…
– Thưa ông, cháu không cưỡi ngựa bao giờ.
– Chà, khó gì!
Linh ngẫm nghĩ một giây rồi chép miệng nói tiếp:
– Thôi được, để tôi đi lấy cho.
Thiếu nữ vội gạt:
– Chết thế thì phiền ông quá!
Nhưng Linh đã nhẩy lên lưng ngựa, dựt cương ra về, và nháy mắt, chàng đã biến vào trong cỏ tranh cao, rậm.
*
* *
Lúc trở lại, Linh chỉ thấy người tài xế nằm ngủ trên nệm xe. Chàng dừng lại ngồi thở, trời rét, cái áo lót của chàng ướt đẫm mồ hôi, vì chàng đã cho ngựa phi mau quá.
Bỗng có tiếng cười nói trong vườn cam. Linh vội vàng cởi bỏ vào trong xe cái bi đông dầu xăng buộc sau yên, rồi cho ngựa thong thả lên đồi. Tiếng thiếu nữ nói qua hàng giậu:
– Chúng tôi đương đợi ông ra để xin ông một quả cam.
Linh hấp tấp rẽ cương qua cửa vườn.
– Thưa cụ, cam ở đây còn chua lắm, chưa ăn được. ở trong ấp có một ít đã thực chín rồi và ngọt lắm, xin mời cụ và cô quá bộ vào chơi.
Bà cụ từ tạ:
– Xin cảm ơn ông, chúng tôi xin về… Ông đã cho chúng tôi vay dầu xăng?
Linh buồn rầu đưa mắt nhìn thiếu nữ:
– Thưa cụ, có dầu xăng rồi.
– ồ! thế thì may quá. Cảm ơn ông quá. Không có ông giúp thì mẹ con tôi chẳng biết làm thế nào mà về được đến nhà.
– Thưa cụ, ấp cách đây có hơn hai cây số, xin mời cụ quá bộ vào chơi. Thưa cụ, tôi ở nơi hẻo lánh này chẳng mấy khi được hân hạnh đón tiếp khách quý.
Thiếu nữ nể lời ân cần mời mọc của chủ ấp, áy náy nhìn mẹ:
– Thưa me, hay là me vào chơi một lát cho ông chủ bằng lòng. Vào ăn quả cam Bố Hạ rồi lại đi ngay.
Quay về phía Linh, nàng mỉm cười, láu lỉnh nói tiếp:
– Rồi ông để chúng tôi đi ngay nhé?
Linh, trên mặt lộ đầy vẻ biết ơn:
– Xin vâng.
– Vậy vào nhé, me nhé?
Bà mẹ mắng yêu con
– ừ thì vào. Gớm chết! Cô Phụng đi đâu cô cũng la cà hết ngày hết buổi.
Linh sung sướng chạy vội ra cửa vườn gọi tài xế.
*
* *
Một giờ sau, Linh đưa Phụng đi xem khắp vườn cam, quýt, trong khi bà mẹ ngồi nghỉ bên lò sưởi, vì đứng ở ngoài lâu chân tay bà rét buốt.
Nhờ có một nền giáo dục lịch thiệp nhận được ở trường học và ở một gia đình theo lối mới Phụng đối với ông chủ ấp không chút ngượng ngùng, e lệ. Nàng cười nói dễ dàng, hỏi nhiều câu mà Linh phải lấy làm kinh ngạc, tưởng các cô thiếu nữ không bao giờ dám nghĩ tới.
Đến một gốc quít cỗi, nàng ngắt một quả rồi vờ quay đi ăn vụng. Nhưng nàng quay lại ngay, phá lên cười và kêu:
– Bắt lấy con ăn cắp quýt cho tôi!
Linh cũng cười, nói một câu mà vừa buột miệng thốt ra, chàng cho là rất sáo:
– Nó được hân hạnh cô chiếu cố là may cho nó.
– Vậy tôi lại muốn chiếu cố đến nó nữa.
Vừa nói Phụng vừa với một quả ở cành cao nhưng không tới.
– Cô để tôi lấy giùm.
Linh phải nhảy lên mới với được cả cành quít chĩu chịt gần chục quả.
– ồ phí quá, ông nhỉ?
Linh toan ngắt ra từng quả nhưng Phụng vội gạt.
– ấy, ông cho xin cả để tôi mang về giữ làm kỷ niệm.
Hai tiếng kỷ niệm ở miệng mỹ nhân nói ra, Linh nhận thấy âu yếm, thấm thía tâm hồn. Chàng toan đáp lại một câu tình tứ, nhưng không tìm ra được, đành chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn thiếu nữ. Giữa phút thần tiên ấy, có tiếng gọi:
– Phụng, xin phép ông về thôi!
Lần đầu tiên trong đời, Linh cảm thấy tất cả cái ý nghĩa buồn rầu, sầu thảm của chữ “về”.
– Phụng, đi về!
– Vâng, con đây.
Nàng bỏ cả nửa quả quít vào mồm nhai ngốn ngấu. Còn một nửa có lẽ vì đãng trí, nàng đưa cho Linh:
– Trời ơi! Quít ngọt quá! Ông nếm thử mà xem.
Rồi nàng chạy vội lại chỗ mẹ.
Linh thở dài, lững thững theo sau…
*
* *
Lúc xe mở máy. Linh mới chợt nhớ ra rằng chưa hỏi địa chỉ của Phụng.
Trong một giờ được một mình ở bên người đẹp, Linh chỉ mê man nghĩ đến hiện tại mà chàng biết rằng ngắn ngủi. Và chàng chỉ cảm thấy từng phút từng giây đương lạnh lùng rơi vào quãng không.
Kẻ ở người đi rồi hiện tại sẽ thành dĩ vãng sẽ thành một kỷ niệm như cành quít mà Phụng đã đem về nhà để giữ làm kỷ niệm.
Nhưng cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn thiêng liêng.
Năm, năm, cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quít.
Linh chờ đợi, mong ngóng.
Chàng chờ đợi, mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao trong câu truyện thù ứng. Nhưng Linh tin là lời hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế nhưng chàng cũng không thể không tin được.
Đã hai năm chàng chờ đợi…
Và trên bờ sông cao khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẫn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại. Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Khái Hưng

Đọc hồi ký “Nguyễn Tường Bách và Tôi”. Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh

Chân dung và tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tường Bách

(Chân dung và tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tường Bách)

Ở tuổi của tôi, những điều hiểu biết về Tự Lực Văn Đoàn không phải chỉ gồm trong sách vở. Qua những người quen biết, đã có những câu chuyện, những giai thoại chung quanh những nhân vật đặc biệt của lịch sử này. Cuộc sống của họ, trôi nổi theo những biến cố của đất nước và tôi nghĩ, nếu ở những lớp hậu sinh, nhìn vào đó sẽ gặt hái được nhiều kinh nghiệm. Số phận của những quốc gia nhược tiểu thường không nằm trong chủ quyền độc lập mà thường lệ thuộc vào những kế sách và âm mưu của những cường quốc. Việt Nam là một ví dụ cụ thể nhất.

Từ những khai phá về văn chương tạo thành một thời kỳ văn học rực rỡ, những thành viên trong Tự Lực Văn Đoàn còn là những nhà cách mạng và họ là những người hành động có mặt trong những thời kỳ đầy biến động của lịch sử. Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, .. không phải chỉ là nhà văn mà còn là chiến sĩ, là người đem lý tưởng của văn chương thực hiện trong cuộc sống.

Và một nhân vật, là một trong lớp bác sĩ Tây y đầu tiên của Đại Học Hà Nội, đã viết văn làm thơ từ khi còn trẻ, là chủ nhiệm tờ báo Ngày Nay, là em út trong gia đình bảy người con trong đó có những tên tuổi lẫy lừng: Nhất Linh , Hoàng Đạo, Thạch Lam, cũng là một khuôn dáng lịch sử, của những nhà văn mà cũng là những người cách mạng, đã hành động với lý tưởng đã ôm ấp từ thuở thiếu thời: bác sĩ Nguyễn Tường Bách.

Cụ Nguyễn Tường Bách sinh năm 1916 đến năm nay đã 92 tuổi. Tiểu sử của cụ là nhà văn, phụ trách tờ Ngày Nay bộ mới năm 1945, rồi tờ Việt Nam, tham gia đảng Đại Việt Dân Chính rồi sau gia nhập Quốc Dân Đảng hợp nhất của Đại Việt Cách Mạng Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1946 lưu vong sang Trung Hoa và bị kẹt lại khi Mao Trạch Đông chiếm Hoa Lục và hành nghề bác sĩ đến năm 1988 mới cùng gia đình sang định cư ở Hoa Kỳ. Cuộc sống ấy, được cụ viết trong tập tiểu thuyết nhưng có phong vị của một tập hồi ký “Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn”.

Tôi vốn là đứa tò mò và luôn luôn muốn tìm hiểu xem những lớp cha anh của tôi đã suy nghĩ thế nào, đã sống như thế nào trong những thế thời lịch sử đã qua. Tôi độ chừng là từ chuyện kể của cụ Nguyễn Tường Bách sẽ tìm được những chi tiết lý thú cho cá nhân tôi và có khi cho độc giả nữa. Anh Duy Lam, vốn là cháu của cụ Bách đã sắp xếp để tôi có dịp được hầu chuyện với cụ nhân thể vấn an sức khỏe cụ bà luôn. Chúng tôi dự trù là sau tết âm lịch sẽ cố gắng có một buổi phỏng vấn mà tôi nghĩ sẽ tìm hiểu được nhiều điều từ bên trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử của văn chương cũng như nỗi niềm, tâm sự của người trí thức trước những ngả rẽ quanh co của thời thế.

Nhưng, tuần rồi, nghe tin cụ bà vừa từ trần. Tự nhiên, thấy có một điều gì buồn buồn, mất mát. Những chân dung con người ấy, rồi cũng phải mờ phai. Những cuộc sống ấy, rồi sẽ thành những câu chuyện kể của quá khứ. Đọc lại cuốn sách cụ vừa viết và xuất bản năm 2005 “Nguyễn Tường Bách và Tôi” như một cách thế tưởng niệm. Cuộc đời ấy, dường như cũng trôi nổi theo thời thế, cũng có niềm xót đau chung của một thế hệ. Trong suốt gần một thế kỷ, trải qua bao nhiêu là dâu biển, sự việc đã đổi thay đến chóng mặt, ngoài một yếu tố. Cái tình của người đối với người, cái sắt son của tình chồng vợ và tấm lòng yêu đất nước dân tộc và quặn đau theo những biến cố lôi kéo con người vào những hoàn cạnh đau thương. Nhưng, có một điều, là tinh thần lạc quan chan hòa trong hồi ký. Cái tinh thần của hướng đạo sinh cộng với nhân sinh quan đầy chất nhân bản đã giúp tác giả vượt qua được những thác ghềnh của cuộc sống.…

Trong tác phẩm, tôi đã gặp một nhà văn Hứa Bảo Liên, với văn phong đơn giản, thành thật nhưng truyền cảm. Ở đó, tôi gặp lại mẫu người vợ, người mẹ tuy là người Hoa nhưng lại mang tinh thần và suy nghĩ của người vợ, người mẹ Việt Nam. Bên cạnh người chồng, trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, vẫn còn giữ mãi hình ảnh của người yêu lúc trẻ, tài ba, trí thức, yêu đất nước và đầy lý tưởng. Làm người kể chuyện, có những chuyện thật gay cấn, thế mà dưới cảm quan và cái nhìn của cụ, vẫn đơn giản, bình thường, chân thực nhưng chuyên chở được cảm xúc cũng như suy tư lúc đó.
Trong phần mở đầu “Mấy dòng tâm sự” cụ vẫn chân thành tâm sự:

“.. Vì có nhiều người khuyến khích và cổ võ, nên sau một thời gian ôn về quá khứ, tôi mới cầm bút viết. Ban đầu tôi viết có vài ba chục trang “Một người chồng tốt, người cha tốt”. Nhưng sau đưa cho một số người thân đọc, thì họ đều cho rằng tôi viết quá ngắn ngủi, sơ sài, cần viết cụ thể hơn, nên thêm vào những nhân vật có quan hệ mật thiết mà tôi đã gặp và nên kể thêm về mình nữa.
Tôi đang cố gắng định viết, thì tai bay vạ gió, tôi mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo, phải mổ và chữa chạy hơn một năm trời. Phải chạy điện, tiêm thuốc ròng rã thực là khổ sở. Nhìn những giọt thuốc từ từ rỏ vào mạch máu vì không muốn bỏ phí thì giờ trôi đi lãng phí, tôi cố gắng cầm bút, có khi ngồi, có khi nằm, nguệch ngoạc viết. Tôi cố thuật lại những sự kiện đã qua, vì tôi nghĩ rằng có nhiều sự kiện chỉ có tôi biết mà thôi, anh Bách thì chắc chắn sẽ không viết, nếu tôi không viết ra thì phí mất. Cuối cùng, tôi viết ra được cuốn hồi ký nhỏ này, ít ra cũng là thành thực và khách quan…”

Viết trong hoàn cảnh đau ốm như vậy phải kể là người có nghị lực nhất là ở niên kỷ đã cao như cụ. Là người luôn sống với kỷ niệm và không bao giờ quên kỷ niệm, cụ bắt đầu thiên hồi ký của mình với một thành phố: Hà Nội.

Ngay bây giờ, trong lúc đứng trên những mảnh đồi xanh mướt, hay những bãi cát vàng vô tận, gợn sóng bạc nhấp nhô của bờ biển Tây Thái Bình Dương Hoa Kỳ, tôi lại nhớ. Nhớ tha thiết tới những cánh đồng lúa tại ngoại thành Hà Nội, hay mặt nước xanh êm đềm của hồ Hoàn Kiếm hay hồ Tây mênh mang.

Hà Nội là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, là nơi mà tôi không bao giờ quên được, là nơi mà mỗi khi lưu lạc chốn nào trên thế giới, tôi vẫn thường nhớ tới. Vì quãng đời thơ ấu và tuổi trẻ của tôi, những ngày có bao nhiêu kỷ niệm tươi đẹp, nhưng vẫn pha lẫn bao u buồn, đều đã qua tại thành phố đặc biệt ấy..”

Tác giả là con gái của một ông bang trưởng người Trung Hoa, nhưng sống gần gũi nhất và cũng là người yêu thương nhất là người bà và người mẹ.

Tuy sống trong một gia đình giàu có nhưng hoàn cảnh của bà là tình cảnh của một đứa con lớn lên trong nhiều nghịch cảnh. Khi người bà và người mẹ mất đi, bà phải phấn đấu để cố gắng vượt qua những trở ngại trong gia đình. Ở ngoài xã hội, tác giả là một cô gái năng động, thích thể thao, có lý tưởng, yêu đất nước, dân tộc. Hè năm 1943, bà bị quân Nhật bắt giam vì tham gia vào những việc phản kháng. Sau được bảo lãnh và trả tự do cùng với sự cam kết sẽ không dính vào những vụ việc phản kháng nữa. Tác giả hay lui tới nhà thương Phủ Doãn và ở đấy đã gặp và quen biết với sinh viên Nguyễn Tường Bách học Y khoa năm cuối cùng đang tập sự tại đây. Trai tài gái sắc, hai người trở thành một cặp tình nhân lý tưởng dù thời cuộc lúc ấy vô cùng rối ren, bom Mỹ thả khắp nơi, lại có nạn đói chết hàng triệu người ở miền Bắc, rồi quân Nhật đảo chính và sau đầu hàng Đồng Minh. Quân Tưởng vào miền bắc rồi rút đi, cuộc chiến tranh với Thực dân Pháp và cuộc chiến Quốc Cộng…

Bác sĩ Nguyễn Tường Bách đã tham dự vào những hoạt động chính trị với sự hăng say của tuổi trẻ. Làm chủ nhiệm báo Ngày Nay bộ mới với tôn chỉ của người Việt quốc gia, sau đó làm chủ bút Việt Nam Thời Báo, rồi chủ nhiệm tờ Việt Nam. Cùng với Khái Hưng và Hoàng Đạo, ông viết bài để đối chọi lại với tờ Cờ Giải Phóng của Việt Minh lúc đó. Trong khi đó, tác giả Hứa Bảo Liên vừa đi dạy học và cũng vừa tập tành cầm bút và dịch từ Việt ngữ sang Hoa ngữ những bài viết trên Việt Nam và Việt Nam Thời Báo.

Năm 1946, tác giả sang học tại Đại Học Vân Nam ở thành phố Côn Minh. Ở đây tình cờ bà gặp lại những người quen biết của Việt Nam Quốc Dân Đảng từ Việt Nam chạy qua như Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo, Vũ Hồng Khanh, Xuân Tùng,.. Và sau này bà cũng gặp lại bác sĩ Nguyễn Tường Bách từ Hà Khẩu chạy qua sau những ngày chiến đấu với Việt Minh.

Chúng tôi gặp nhau trên đất xa lạ này, thực là không ngờ. Sự trùng phùng nhanh chóng này làm tôi không khỏi nghĩ đến nhiều khi người ta chỉ khác nhau ở một bước đi, mà cả cuộc đời đã thay đổi hẳn, Mấy tháng trước nếu tôi thay đổi ý kiến ở lại Hà Nội. Tôi không khỏi rùng mình khi nghĩ đến những sự kiện có thể xảy ra – bắt bớ, tù tội do những kẻ ngạo mạn, điên cuồng! Sinh ly, tử biệt do chiến tranh bùng nổ! Lại rất có thể vì hoàn cảnh ác liệt, thời gian quá xa xôi, đến khi có dịp gặp lại nhau, một sợi dây vô hình đã ngăn cản giữa chúng ta thì sẽ ra sao?

Cuối năm đó chúng tôi đã thành hôn với hình thức đơn giản, không thủ tục và cũng không có nhẫn cưới. Chỉ có lòng tin ở nhau, can đảm cùng bước vào tương lai còn mờ mịt..”

Sau khi ở Côn Minh một thời gian, mọi người di chuyển về Quảng Châu cho gần Việt Nam hơn và tiện mọi việc liên lạc. Mọi người sống rất đạm bạc, lưu vong nhưng vẫn cố gắng hoạt động để mong ngày trở về. Giữa năm 1946, có một cái tang lớn, nhà văn Hoàng Đạo từ trần trên chuyến xe lửa từ Hồng Kông đi Quảng Châu và chôn cất ở bên đường. Trong lúc túng quẫn, tác giả phải là người đi chạy tiền để có ngân khoản lo liệu:

“… Tôi biết số tiền này rất cần, nhưng số tiền lớn như vậy, tương đương với hai lượng vàng, không biết có thể vay được hay không? Nhưng nay không còn thì giờ để nghĩ ngợi được nữa.

Lúc đó vào buổi trưa, trời nắng chang chang, giao thông lúc này cũng không tiện lợi. Ra tới bến tôi phải đợi tàu qua sông và đi bộ khá xa. Nhà cô ta ở phố buôn bán, lại cũng không biết bây giờ cô ta có ở nhà hay không?

Cô Bình là bạn thân của tôi khi còn ở Hà Nội. Vừa gặp cô tôi nói luôn việc tôi muốn nhờ. Cô bạn biết tính tôi, nếu không cần lắm, tôi không bao giờ vay mượn ai cả. Nên sau khi nghe tôi nói, cô bảo tôi ngồi chờ. Tôi thấy cô bận bịu chạy lên chạy xuống, một lúc lâu cô đưa cho tôi một tập giấy bạc hỗn độn giấy lớn giấy nhỏ. Xem ra cô phải mượn tạm của mấy cô em dâu mới đủ. Tôi mừng quá, vội gài cẩn thận vào túi trong rồi vội vàng cáo từ ra về.
Khi về đến nhà đã gần tối, cả nhà đang chờ đợi. Sau khi trao số tiền cho anh Tam, tôi mệt lử vì trong nửa ngày hôm nay tôi đã vừa đi vừa chạy không biết bao nhiêu cây số. Đó là chưa kể khi còn phải chờ đợi để chen chúc nhau đáp tàu qua sông..”

Sau đó là tan tác. Phần đông mọi người trở về Việt Nam trong khi bác sĩ Nguyễn Tường Bách ở lại Trung Hoa và kẹt lại cho đến khi Hồng Quân Trung Hoa chiếm được cả Hoa Lục. Một cuộc sống mới được kể ra với sự chân thực của người kể. Bao nhiêu là biến cố: cải cách ruộng đất, công tư hợp doanh, tức phản, tam phản, phản phái hữu, công xã nhân dân nhảy vọt lớn, đại cách mạng văn hóa,.. tất cả được gói gọn trong những trang sách khiến độc giả từ những nhan đề khẩu hiệu lạ tai ấy biết được một phần nào chính tình Trung Hoa qua cái nhìn và cảm nhận của một người dân bình thường. Cuộc sống đầy những cái chết vô lý, những sự bất công và con người đối xử với nhau hành hạ nhau nhiều khi làm hạ thấp vị trí của con người xuống thành con vật. Gia đình bác sĩ Nguyễn Tường Bách may mắn không bị bách hại gì nhưng cũng phải chịu chung đời sống nghèo đói thiếu thốn của mọi người. Tác giả thì dạy học, còn bác sĩ Bách thì làm ở nhà thương cho đến khi về hưu. Năm 1988, sau hơn 40 năm sinh sống ở Trung Quốc, gia đình tác giả định cư ở Hoa Kỳ và hiện sinh sống tại Nam California.

Đọc xong những trang hồi ký, nghĩ về một người vừa từ trần, tôi thấy hình như mình vừa được nghe chuyện về một người vợ hiền, một người mẹ tốt. Sinh trưởng trong một gia đình giàu có nhưng vẫn cố gắng học tập rèn luyện và luôn luôn nghĩ rằng thân phải tự lập thân và không nhờ cậy gì đến sự giàu có của gia đình. Với tinh thần phấn đấu của hướng đạo sinh, tham gia làm những công tác xã hội không quản thời giờ và tiền bạc cũng như thường giúp đỡ những người nghèo khổ kém may mắn.

Ròng rã gần cả một thế kỷ, đất nước Việt Nam đã trải qua biết bao nhiêu biến cố và những cuộc đời bị lôi theo con lốc ấy đã thành những cuốn hồi ký sống động. Trong văn học Việt Nam có quá nhiều cuốn hồi ký nhưng phần đông đều viết với chủ ý ngoài văn chương, hoặc để phân bua bào chữa cho mình hoặc có dụng ý đánh bóng tự khen mình. Hiếm có cuốn hồi ký như “Nguyễn Tường Bách và tôi” của tác giả Hứa Bảo Liên. Qua cái tôi của tác giả, chúng ta thấy được những nét phác họa đời sống, sinh hoạt, suy tư , của chân dung Nguyễn Tường Bách. Và cũng ở đó, chúng ta nhìn thấy những nhân vật lịch sử đang sống, đang hoạt động như Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, như Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, như Vũ Hồng Khanh, như Xuân Tùng. Họ sống lưu vong, vật lộn với đời sống khó khăn ở xứ Trung Hoa và luôn luôn hướng vọng về đất nước chờ một chuyến trở về.

Dù thiên hồi ký này viết với bút pháp đơn giản tự nhiên nhưng cũng có những đoạn tả tình tả cảnh khá lý thú. Những thành phố những con sông không phải chỉ là đơn thuần những địa danh mà còn là nơi chứa đựng những kỷ niệm một đời mà khi tác gỉa tả lại hoặc nhắc đến là với cả tấm lòng gửi theo. Có lẽ tác giả đã viết bằng cảm xúc của trái tim mình hơn là lý luận của bộ óc suy tư.

Đời người dù dài hay ngắn đều cũng phải qua đi theo lẽ sinh diệt của đất trời. Nhưng, có những điều vẫn còn tồn tại. Đó là những trang sách, như một đóng góp cho đời, như trong hồi ký “Nguyễn Tường Bách và tôi” của cụ bà Hứa Bảo Liên. Xin cầu nguyện cho hương hồn cụ bà thong dong nơi đất Phật.

Nguyễn Mạnh Trinh

Bài Ơn Em Tháng Tư. Thơ Hư Vô


Bài Ơn Em Tháng Tư

(Chân dung Hư Vô. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Tháng tư rạch tim anh như dao nhọn
Cảm ơn em những vết cắt ngọt ngào
Để anh biết tình yêu là giông bão
Hạnh phúc nào mà không có lao đao!

Chỗ vết thương còn chưa khô giọt máu
Cho tim anh thổn thức giấc mơ đầu
Cảm ơn em một thời tình che giấu
Để còn làm chứng tích nửa đời sau.

Thì cũng đã nợ nần nhau một kiếp
Những ân cần rồi vẫn phải buông tay
Anh có nấn níu cho dài quá khứ
Bóng em cũng buồn như sương khói bay!

Mà đường trần ai chỉ là quán trọ
Đến và đi như thể cuộc hành tình
Cảm ơn em tháng tư còn bỏ lại
Tiếng thở dài từ thuở biết yêu anh…

Hư Vô

Áo Hạ Vàng – Thơ Hư Vô Mỏng Tênh Như Tơ Lụa. Tuỳ bút Sương Lam


Sương Lam

Áo Hạ Vàng

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Hư Vô

Mùa hè, mùa của hoa rực rỡ, của trái chín trĩu cành, của lời mời gọi ta đến với biển với nắng. Mùa hè mở vào tâm hồn ta những khát khao thầm kín, dấy lên trong ta những yêu thương, những đam mê bỏng cháy. Trong bài Hạ Hồng, Phạm Duy dường như cũng bốc cháy với mặt trời trên cao:

Mùa hè thiên nhiên như tỉnh giấc
Mùa hè đưa ta tới hồng hoang
Trần truồng yêu nhau trong trời đất
Mùa hè của uyên ương.

Hư Vô đến với mùa hè bằng khúc lục bát bềnh bồng, mơ hồ đến mênh mông:

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Mặt trời lên cao nhưng không sáng chói, mặt trời được miêu tả một cách gián tiếp qua “bóng” em. Là bóng thôi, không là hình, bước vào thế giới tình yêu dường như ta đã chạm phải nỗi buồn và hình như ý niệm hiện hữu của “em” đang nhạt nhòa dần trong không gian, trong thời gian của một ngày nắng hạ. Thoáng thấy bóng em ngoài hiên, chỉ thoáng thấy bằng mắt hay bằng tâm không rõ nhưng rõ nhất là hình ảnh của đàn sáo nhỏ. Sáo vụt bay về cuối ngàn. Cách miêu tả âm thanh của thi sĩ lạ: “vụt” một động tác bay đột ngột, rất nhanh của cả đàn sáo. Ta nghe thật rõ tiếng đập cánh của đàn chim trong buổi trưa hạ, âm thanh của sự sống nhưng chỉ vút lên rồi tất cả lại rơi vào yên lặng. Trong cái tĩnh lặng của cõi tình tiếng đập cánh bay của đàn sáo nhỏ không chỉ khuấy động không gian mà còn khuấy động cả lòng người:

Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Tôi ít thấy chữ “rớt” trong thi phẩm nhất là thơ tình. Chữ rớt thường được dùng như một khẩu ngữ. Nhà thơ chọn hạ rớt chứ không chọn hạ rơi (chữ rơi được dùng nhiều trong văn chương bình dân lẫn văn học viết). Khẩu ngữ vào thơ không làm câu chữ trở thành bình dân mà vẫn giữ được vẻ đẹp kiêu sa của nó. Rơi là một thanh bằng chưa đủ lực làm nhân vật trữ tình giật mình phải là rớt. Thanh sắc dấy động tất cả, khơi dậy tất cả một sự bừng thức của không gian “thênh thang”, một sự bừng thức của “anh”, về “em”. Cái đẹp cũng bừng thức, hoa là em, là mùa hạ, là hoa vàng – màu của mùa hè.

Nếu thi sĩ giật mình vì bóng em khơi dậy cả mùa hạ trong anh thì tôi giật mình vì chữ nghĩa vào tay thi sĩ nó không còn tuân theo qui luật vốn có của nó. Tôi đọc khá nhiều thơ, tôi đã gặp không ít trạng thái “Giật mình” của thơ xưa cũng như nay: Nguyễn Du viết “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh? Giật mình mình lại thương mình xót xa”. Tú Xương viết Sông Lấp: ”Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, Nguyễn Duy viết: “Ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình”. Giật mình của Nguyễn Du gợi cảm xúc thương thân của Kiều, giật mình của Tú Xương là nhớ tiếc những cái tốt đẹp cứ mất dần đi, giật mình của Nguyễn Duy là sự tự hối và cái giật mình của Hư Vô mới đậm chất lạ lùng sao? Một ngẫu hứng duy lý trong một tương quan chặt chẽ “em- mùa hạ- – nỗi nhớ- lãng quên- trở về” sự khuấy động tâm thức, thời gian, không gian làm cho ta cảm nhận chữ tình trong anh trĩu nặng và chân dung của “em” cứ mở rộng dần trong bức tranh mùa hè huyền diệu:

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Mùa hạ đã định hình trong màu hoa vàng trên tóc em, mùa hạ lên cao nhập vào trong nắng tạo màu “trong veo”. Tôi thương nắng thủy tinh của Trịnh Công Sơn, tôi thích câu hỏi của nhạc sĩ với “em” màu nắng hay là màu tóc em? Nắng mùa hạ trong nhạc Trịnh như khối thủy tinh đúc cho nắng lung linh vàng rồi nắng đi vào trong mắt em. Một sự hóa thân, hòa nhập của hai vẻ đẹp: mặt trời-em. Tôi cũng thích cái nắng loạn trong thơ Hàn Mặc Tử “nắng ửng, nắng chang chang, nắng thơm” nắng hè chói chang, nóng rát không còn thay vào đó là nắng tươi, nắng thơm của gấm lụa, của dung nhan. Nắng đã trở thành biểu tượng cho cái đẹp. Nắng của Hư Vô “trong veo” nghĩa là nắng như tấm gương soi không đáy, nắng hữu hình đến trong veo. Chữ nghĩa tượng hình dần như chân dung “em” rõ dần. Không còn là bóng, không còn là mùi hương “hoa vàng” mà là hình hài, là xương thịt là vẻ đẹp kiêu sa. Tôi nghĩ Hư Vô đã dùng nét vẽ tượng trưng cho bức chân dung tình yêu của mình. Tôi nghe giọng thì thầm của thi sĩ. Em mềm như lụa, mong manh như tơ trời, áo là sương khói cho hồn ta thoáng gập ghềnh, lênh đênh. Nhan sắc của người tình sao mong manh, nét đẹp được lọc qua cảm xúc thật tinh tế, thật lãng mạn, vẻ  đẹp vừa táo bạo nhục thể vừa thanh tao duyên dáng “trong veo, thấu,mỏng” nó làm tan chảy mọi cảm giác để chỉ còn đọng lại một cảm xúc tuyệt vời: “Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn”.

Nguyễn Hồng Ân trong bài: “Chiều biển vắng thênh thang” đã viết: “Mang tên em chiều in màu lá / Vừa tàn mùa sen hạ cháy trên cành.”

Hạ cháy của Nguyễn Hồng Ân khơi gợi một sự bừng thức, ngỡ ngàng về mùa hè, Hư Vô lại cảm nhận “mùa hạ chảy trên phím đàn” thì quả là tuyệt bút. Chữ mềm như nhung lụa và tan chảy thành dòng âm nhạc thì không còn gì phải bàn đến vẻ đẹp của ngôn từ. Mỹ học của bài thơ tỏa từ hội họa màu sắc, từ thi ca mùa hạ chảy, từ âm nhạc trên phím đàn. Ta dường như lạc vào thế giới của cõi mơ, của âm nhạc, của cõi tình mê đắm. Ta đang tan chảy vào vẻ đẹp của đất trời, của tình yêu và đồng thời cũng tan chảy vào trong cảm xúc của Hư Vô. Tâm khơi, tình động cho quay quắt một hình hài:

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình.

Mái tóc thề, mái tóc bao lần vào thi ca tạo nên bao hình tượng thẩm mỹ đẹp lạ thường. Lúc còn đi học một cô bạn đã tặng tôi hai câu thơ:

Ta phiêu du mãi chưa về
Biết em còn để tóc thề hay không?

Tôi đã yêu mái tóc thề ngày đó, tôi không ngạc nhiên khi ký ức tình yêu của thi sĩ có mái tóc thề nhưng mái tóc ấy không phải xõa xuống tạo bóng mát cho tình yêu, tạo chiếc cầu cho anh sang em mà là mái tóc xõa để em đi lấy chồng. Oái oăm và trớ trêu là ở đó. Thiên nhiên sao vô tình với nỗi đau của kẻ tình si: “Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.”

Buồn vì tình yêu không trọn vẹn, buồn khi mình tiễn đưa người yêu lấy chồng, thi sĩ lạc lõng trong chốn trần gian “rộn ràng”. Mùa hạ, mùa tình yêu, mùa của hoan lạc, hạnh phúc viên mãn cũng theo em, thi sĩ trở thành khách lạ ngay trong thế giới của riêng mình “Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình”, hình như tôi đang cảm nhận nỗi chua chát đến tê đầu lưỡi, nỗi cô đơn đến rợn ngợp “khách lạ không tìm thấy bóng mình”. Tôi lại thấy đâu đây bóng hình Hàn Mặc Tử:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi thôi ước mơ.

Với Mặc Tử khi em lấy chồng là kết thúc tất cả: cõi mơ, tình mộng, niềm vui, nỗi buồn… Hư Vô không kết thúc vẫn đong đầy những khát khao:

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Nắng đâu còn trong veo, nắng đã lung linh nhuốm màu hư ảo, màu của lãng quên, thi sĩ vẫn mong mỏi đến tuyệt vọng “em giấu kín chút tình phôi pha”. Mối tình ấy sâu đậm đến khắc cốt ghi tâm, không thể quên và không bao giờ quên. Tình ấy mãi vần vương đến “còn thương góc phố quê nhà”, nơi chúng ta từng hẹn, nơi tình yêu của tuổi học trò bừng cháy những khát khao, chữ nghĩa bây giờ dung dị, giản đơn như một khúc ca dao buồn, da diết vang lên từ làng quê Nam bộ “còn thương” hai thanh bằng tạo âm hưởng kéo dài thê thiết của mối tình quá khứ làm sao quên, thương góc phố, quê nhà lặng lẽ, thương hạ vàng áo em và thi sĩ càng cảm nhận nỗi cô đơn cứ rộng đến vô cùng để rôi kết đọng lại thành những cơn mưa hạ ướt đẫm hồn, ướt đẫm tình, tình vô biên. Giấu … như một quãng lặng của cảm xúc ngậm ngùi, của mối u tình mà dẫu cơn mưa có ướt, có thấm đẫm cũng không thể phôi pha. Áo hạ vàng- một bài thơ của tình yêu dang dở, khúc ca buồn của Hư Vô về một cuộc tình đã qua nhưng không tan biến. Tình đã hòa thành dòng chảy của thời gian để rồi rung lên thành cung đàn bất tận. Tôi như thấy thi sĩ ngồi giữa biển hoa vàng nghe hạ chảy trên tay. Không gian, thời gian dường như trầm mặc như tâm trạng đầy uẩn khúc của thi sĩ. Hạ vàng hay áo em nhuộm vàng mùa hạ, nhuộm hồn anh tơi tả những dấu mưa.

Sương Lam
(Kính tặng nhà thơ Hư Vô.)
22/11/2017

Con Đò Úp Mặt. Thơ Hư Vô


(Hòn Đá Bạc – Cà Mau. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Ta về chạm chân Hòn Đá Bạc
Ngỡ như trời đất mới luân hồi
Bến cũ chờ ai đò úp mặt
Đâu còn chở khách để ra khơi.

Dẫu biết trăm năm là trễ hẹn
Biển cả còn vang tiếng sóng gào
Như gọi hồn ai về dậy mộng
Cho đầy thêm những dấu rong rêu.

Bóng em lướt theo tàng lá mục
Đong đưa cùng giọt lệ trên mi
Ta về tựa loài chim cánh cụt
Mang theo vết thương tích dị kỳ.

Lăn lóc đời nhau thành đá cuội
Mà nghe sóng vỗ đã bạc đầu
Thì dẫu em, đêm nằm úp mặt
Cũng đâu thoát khỏi cuộc bể dâu!

Hư Vô

Phong Lan. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Phong Lan. Truyện ngắn của Khái Hưng đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 22, in ngày chủ nhật 23/08/1936 tại Hà Nội)

Phất tì tay lan can ngồi ngước mắt ngắm khóm phong lan trong cái cũi nhỏ làm bằng gỗ thông treo ở hiên dưới cái gian cẩm leo nụ màu hồng nhạt vừa bắt đầu lấm tấm. Những chùm hoa vàng điểm chấm đen nhung óng ánh phản nắng chiều và se sẽ rung động đưa trước gió, trông như đàn bướm xòe cánh rập rờn bên những lá lan dài và nhọn rũ lỏa tỏa bốn phía.

Phất thở dài lẩm bẩm: “gần ba năm rồi”.

Chàng vẫn muốn quên, quên nhãng hẳn, vì chàng hiểu rằng khi nào người ta tìm nhớ thời dĩ vãng, thì thường những kỷ niệm buồn trở lại trong ký ức. Kỷ niệm vui, làm gì có kỷ niệm vui. Sự vui chỉ có trong hiện tại. Vui qua, còn lại cái buồn man mác, sự nhớ tiếc ở trong lòng, phảng phất như chút hương tan của bông hoa khô héo.

Năm ấy lần đầu Phất lên chơi Chapa. Nhà chàng không giàu, nhiều khi lại túng bẩn là khác. Chàng cũng không ưa gì cái thú nghỉ mát mà chàng cho là cái thú xa xỉ của riêng các gia đình phú quý. Hơn nữa, chàng rất khỏe mạnh, chẳng mấy khi ốm đau và cần đi nghỉ mát để dưỡng sức, tuy chàng vẫn chăm chỉ học lấy trong mấy tháng, để thi đậu tú tài phần hai.

Vậy Phất đi Chapa chỉ vì một lẽ riêng: Lẽ riêng ấy đối với cái tuổi ngoài hai mươi, chín mươi phần trăm thuộc phạm vi ái tình.

Chính thế, Chapa mà trước khi chàng không hề nghĩ đến, và cũng không biết ở về phía nào, vụt trở nên một thành phố đầy ánh sáng, đầy hy vọng, một thành phố ái tình. Vì Lan vừa cùng mẹ và em trai lên đó nghỉ mát.

Tình yêu của Phất đối với Lan thực là ly kỳ. Ngày chàng còn theo học tại trường Bảo Hộ, một hôm đến hội quán Tri Trí dự một cuộc âm nhạc tổ chức lấy tiền giúp việc thiện. Trong bọn tài tử có một thiếu nữ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, ngồi trước cây phong cầm đánh một bài độc tấu. Thế là Phất yêu ngay.

Chàng nhớ mãi khúc nhạc réo rắt và cái dáng ngồi yểu điệu của thiếu nữ: Cái đầu hơi nghiêng, một bên má phản chiếu ánh điện nhuốm sắc hồng hồng, đôi mắt buồn yên lặng ngước nhìn trần, hai bàn tay mềm, giẻo, thoắt chạy, thoắt ngừng trên hàng phím xương trắng muột. Có lúc sung sướng, mê man trong điệu trầm bổng, du dương, thiếu nữ se sẽ rung động toàn thân và bao nhiêu nếp áo của nàng đều uyển diệu rung rinh.

Hình ảnh ấy Phất chôn sâu ngay trong ký ức, trong tâm hồn. Và chàng chân thành thờ nó như thờ một lý tưởng thiêng liêng tuyệt đích.

Chàng hỏi thăm biết nhà thiếu nữ giàu, giàu lắm. Nhưng đó không phải một cớ khiến chàng tuyệt vọng. Chàng nghèo nhưng tri thức chàng giàu, tâm hồn chàng giàu. Và chàng thấy rõ rệt sự tương đương, sự cân đối của chữ “tài” và chữ “sắc” mà trước kia chàng cho rằng hai chữ sảo trong văn chương, không có một chút nghĩa lý gì thiết thực.

Từ đó, đời Phất chia hẳn ra hai phần đầy thú vị và có sự liên lạc mật thiết với nhau: học và yêu.

Yêu, nghĩa là mỗi ngày để ra chút thời gian nhàn rỗi mà tưởng nhớ tới người đánh đàn. Rồi chủ nhật, thứ năm được nghỉ học ra ngoài, khi qua nhà nàng, dừng lại trước cửa vài phút – vài phút thôi – mà ngắm cây liễu rũ lá thướt tha bên hàng giậu sắt. Hôm nào thoáng nghe thấy mấy tiếng phong cầm hay nhác trông thấy tà áo hồng phấp phới bên luống hoa chân chim thì buổi chiều về trường Phất nhảy múa, ca hát huyên thiên.

Còn học? Học như mọi ngày thường, Phất cho không thể xứng đáng với tình yêu kia được. Chàng liền bỏ trường về nhà học lấy cho chóng hơn. Thấy vậy, người ta tưởng Phất lười biếng bỏ học. Nhưng năm sau ai nấy phải kinh ngạc khi đọc nhật trình thấy tên chàng trên bảng những người đậu tú tài phần thứ nhất vào hạng bình thứ. Phất sung sướng mỉm cười nghĩ thầm: “Ảnh hưởng của ái tình. Cứ thế này thì không biết mình còn đi xa đến đâu?”

Nhưng ái tình của chàng ngoài chàng ra không ai biết, không ai có mộ tia ngờ. Chàng giữ nó âm thầm trong trái tim với cái hình ảnh cô đánh đàn diễm lệ.

Trong hai năm chàng chờ đợi, yêu, nhớ, thương thầm, chàng biết đích rằng không một ai đến hỏi Lan. Phất cho sự ngẫu nhiên ấy có ý nghĩa thiêng liêng, huyền bí và nhân duyên của chàng với Lan là một cuộc thiên duyên tiền định. Và lòng mong ước của Phất, hơn nữa lòng tín ngưỡng của Phất càng thấm thía, vững vàng.

Một hôm người ta bảo cho Phất biết rằng trong số tranh trưng bày ở phòng triễn lãm mỹ thuật có bức ảnh cô Lan, một trang tuyệt sắc Hà Thành. Phất vội thuê xe đến phòng triễn lãm, và suốt ba hôm, trừ hai bữa cơm ra, chàng ở luôn bên bức tranh thiếu nữ. Và chàng nghĩ thầm: “Biết thế mình học vẽ!”

***

Đầu mùa hè năm ấy thấy vắng bóng Lan tha thướt trong vườn. Phất hỏi thăm biết nàng cùng mẹ và em lên Chapa đã hơn nửa tháng. Lan đau phổi, thầy thuốc khuyên nên đi nghỉ mát ở vùng núi cao.

Trong mấy hôm liền, Phất chạy nháo đi khắp nơi thân thuộc vay được ba chục bạc rồi vội vàng hấp tấp lên thẳng Chapa.

Hôm đầu gặp Lan đi với mẹ và em ở trước cửa nhà bưu điện. Phất cảm động, luống cuống, toan cất mũ chào. Lan thản nhiên nhìn chàng, thản nhiên quay đi như đối với mọi người không quen biết.

Thì ra những bài thơ âu yếm phản chiếu hình ảnh nàng, vang động linh hồn nàng mà Phất đã viết và gửi đăng trên các báo, nàng không biết tác giả là ai. Lòng tự phụ, tự tin của Phất cho không thể nào như thế được. Thục ra, những bài thơ ấy Lan chưa từng đọc qua: Vì ngoài âm nhạc, nàng không thích một nghệ thuật nào khác nữa.

Hai tuần lể ở Chapa – cái ví nhẹ của chàng không cho phép chàng ở lâu hơn nữa – Phất mơ màng tưởng tượng ra mấy năm Từ Thức sống trong động Phi Lai, tuy tiên nữ của chàng đối với chàng vẫn thờ ơ, lãnh đạm, không ngờ có một khối tình vĩ đại ở dưới gót chân mềm yếu.

Nhưng chẳng vì thế mà mười lăm hôm nghỉ mát của Phất giảm phần lạc thú. Chàng yêu để yêu. Cần gì có ai yêu lại hay không! Chàng nghĩ thầm: “Ái tình mà có đi có lại thì gọi sao được là ái tình, họa chăng nó là việc buôn bán, hay một ván bạc “ăn miếng trả miếng”

Vả chàng còn ao ước vì hơn nữa. Ngày nào chàng không gặp mặt Lan ít ra một lần, hoặc ở rừng, hoặc ở Núi Đen. Câu truyện gặp gỡ trong giây phút ấy đối với chàng cũng đủ là một thiên trang thiên tiểu thuyết rồi.

Sáng, chiều, chàng đứng rình lúc Lan cùng mẹ và em ra đi. Xa xa chàng theo sau. Nếu bọn kia vào rừng thì chàng đợi đến chỗ đường hẻm để vượt qua, như thế cái mỉm cười kèm theo cái cất mũ ngả đầu chào của chàng mới có ý nghĩa:“Xin lỗi bà và cô, tôi xin phép tiến lên trước”

Cái cất mũ để vượt qua ngày ngày nhắc lại, lâu cũng thành ra có vẻ cố ý. Phất muốn tránh điều đó, nên chàng không vượt nữa, chàng gặp mặt. Cảnh gặp gỡ ấy chàng bố trí như thế này: Biết hai người đàn bà vào rừng, chàng hết sức đi thực mau, hầu như chạy về phía khách sạn lớn rồi theo con đường đồi bên kia mà vòng đến cầu. Gặp Lan, chàng vờ coi như một sự ngẫu nhiên may mắn.

Một hôm, Lan và mẹ đi qua nhà bưu điện lên Núi Đen. Phất vội rẽ đường tắt lên đó trước. Nhưng lúc nghe tiếng giày đè sỏi, chàng ngượng và sợ bà cụ ngờ vực, liền ngồi khuất sang phía bên kia mỏm đá, để nhường cái ghế dài cho hai người đàn bà.

Tiếng cười của Lan làm cho chàng sung sướng, ngây ngất. Lần ấy là lần đầu chàng nghe rõ tiếng Lan và chàng nhận thấy giọng Lan hơi khàn khàn. Chàng buồn rầu nghĩ đến bộ phổi ốm của người yêu. Bỗng Lan hỏi mẹ:

– Ồ, mẹ trông cây phong lan. Đẹp quá!

Ngừng vài giây, nàng lại nói:

– Con yêu phong lan lắm.

Bà mẹ đáp:

-Vì nó trùng tên với con đấy mà.

-Ồ nhỉ! Mẹ ạ, làm thế nào lấy được thì thích quá nhỉ. Con sẽ treo nó ở bên cái piano của con.

Phất muốn nhảy xổ ra leo lên cây lấy cho bằng được khóm phong lan để tặng người yêu. Nhưng chàng nhận thấy cử chỉ ấy không tự nhiên chút nào, nên thôi ngay.

Lúc hai người đàn bà về rồi, Phất ra đứng ngắm khóm phong lan mọc trên cây bồ kết dại, lá và hoa rũ xuống lòa xòa. Chàng buồn bã thở dài.

Hôm sau, vào giữa trưa – giờ ấy ở Núi Đen người vắng hẳn – Phất trở lại nơi hôm trước. Nhìn không thấy ai qua lại, chẳng tháo giầy, liều trèo lên cây, lấy được khóm phong lan, gói vào cái khăn rộng đem theo.

Chàng moi óc suy nghĩ mãi chưa tìm được cách biếu Lan khóm hoa rừng, thì vì cạn tiền, chàng phải về Hà Nội. Nhưng chàng thề với chàng rằng món quà kia thế nào cũng sẽ đến tay người yêu.

*****

Mùa rét năm ấy, bệnh đau phổi cướp Lan đi.

Phất ở trên đời với khóm phong lan.

Và năm năm, mỗi lần hoa phong lan bắt đầu nở, chàng lại như nghe tiếng đồng vọng trong không:

-“Ồ! Mẹ trông, cây phong lan! Đẹp quá!”

Khái Hưng

 

 

 

 

Hương Chuối. Thơ Hư Vô


348BA130-3389-4025-A558-6B56EB1608E4.jpeg

(Hương Chuối. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Quê hương như buồng chuối chín
Mẹ quằn quảy gánh yêu thương
Ru con một đời mưa nắng
Còn nghe vẳng tới cội nguồn.

Lời ca dao thơm mùi rạ
Trên cánh đồng đã bỏ không
Mà như còn xanh dáng mạ
Lòng con mới trổ đòng đòng!

Quê hương ngày con trở lại
Chập chùng nhịp sóng đò đưa
Xôn xao dòng kênh thơ dại
Chảy vào những dấu tích xưa!

Nơi mẹ chắt chiu giọt sữa
Ngọt ngào tựa chuối chín cây
Nuôi con bằng từng nhịp thở
Từ khi mới tượng hình hài.

Như dòng kênh mang đất lở
Phù sa tưới mát ruộng đồng
Lúa có gặt xong mùa nữa
Một đời mẹ cũng tay không!

Bởi con chỉ là chiếc bóng
Đong đưa giữa giấc mẹ gầy
Con về như chiều un khói
Cho đôi mắt mẹ thêm cay…

Hư Vô

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: