Bài Khai Sinh Tháng 5. Thơ Hư Vô


Viết tặng sinh nhật tôi, 15/05..

Chạm ngày 15 tháng 5
Bàng hoàng như thể đang lần tái sinh
Cùng em bày biện tiệc tình
Đêm thơm như đóa dạ quỳnh mãn khai.

Để nghe nhịp thở em dài
Phả hương cho đắm hình hài hư vô
Mà tôi là gã tội đồ
Trong cơn mê sảng sóng xô bạc đầu.

Em có hối hả về đâu
Cũng mang theo những khát khao dị kỳ
Tựa như đôi cánh thiên di
Bay đi bỏ lại bao tì vết nhau

Bóng em lụa mỏng tơ nhầu 
Phất phơ để biết còn đau lưng trần 
Hồn tôi ngọn gió không chân
Giạt vào em nỗi bấp bênh, lạ lùng…

Hư Vô
(15/05/2021)


	

Nghiệp Hành. Thơ Hư Vô


Hồn tôi như biển động 
Xua thuyền em ra khơi 
Có bơi vào vô tận
Chưa chắc khỏi luân hồi.

Kiếp này còn lận đận
Là còn nợ nần nhau 
Đời sau có gặp lại
Cũng chỉ mới bắt đầu.

Hoá thân thành đá cuội
Hay làm cây trên rừng
Thì tôi vẫn đứng đợi
Được em làm tình nhân.

Để nghe lời đá gọi
Rừng xưa cũng xôn xao
Em về như bóng chạm
Vào tim tôi rạt rào.

Nếu không là hành nghiệp
Đâu gặp nhau chốn này
Em chưa thành huyễn mộng
Mà mây vẫn còn bay...

Hư Vô 

Trong Đất Trời Nhau…Thanh Tâm Tuyền


Thanh Tâm Tuyền

Ảnh: Ngọc Dũng - Mai Thảo - Đinh Cường - Thanh Tâm Tuyền (ảnh của hs Phan Nguyên)

Trong đất trời nhau mình vẫn gần (Mai Thảo)

Khu lều bạt Thăng Long, nơi tạm trú sinh viên Hà Nội di cư nằm ngay trung tâm thành phố trên đất Khám Lớn Sài Gòn cũ tháo dẹp. Sinh viên chuyển vào Đại Học Xá Minh Mạng, dù công trình xây cất chưa hoàn tất. Đặc san Lửa Việt của Hội Sinh Viên Đại Học Hà Nội, do anh Trần Thanh Hiệp làm chủ nhiệm, anh Nguyễn Sỹ Tế làm chủ bút, sau số Xuân Chuyển Hướng, cũng ngưng xuất bản. 

Bấy giờ là năm 1955. Di cư đã đến hồi vãn cuộc. Hà Nội khuất biệt từ tháng Mười năm trước. Sài Gòn vẫn còn xô bồ những mới mẻ những hứa hẹn trong con mắt người di cư. 

Chúng tôi – các anh Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, và tôi – gặp nhau, cùng làm việc, quen dần nhau qua mấy số Lửa Việt – nơi đã in vở kịch Trắng Chiều của anh Tế viết khi còn ở Hà Nội, các truyện ngắn Chàng Nhạc Sỹ, Gìn Vàng Giữ Ngọc của anh Sỹ và một vài bài thơ của tôi – , đồng ý cần có tờ báo của mình để viết cho sướng tay, để may ra đóng góp được cái gì cho công cuộc chung. 

Trong khi chờ anh Hiệp tìm kiếm nguồn tài trợ, chúng tôi nhận hợp tác với nhật báo Hòa Bình của anh Vũ Ngọc Các, làm trang Văn Nghệ hàng tuần cho tờ báo. Tôi được giao phó công việc đầu bếp việc sắp xếp bài vở cho trang báo vì rảnh thì giờ nhất và được nết chịu khó đọc.

Nhờ trang báo chúng tôi gặp thêm bạn: Giao Thanh và Mai Thảo.

*

Giao Thanh, một nhà giáo bị gọi vào khoá 2 Thủ Đức, chết năm 79 hoặc 80 tại K5, trại Tân Lập, Vĩnh Phú. Những năm còn ở Sài Gòn, Anh và Chị thỉnh thoảng cùng nhau thả bộ từ nhà ở chung cư Sĩ Quan trên đường Trần Hưng Đạo gần Đồng Khánh sang nhà tôi chơi Bà Chiểu; năm 70, khi tôi lên Trường Võ Bị Đà Lạt, chúng tôi gần nhau hơn: anh chỉ ao ước làm sao in được tập truyện viết từ nhiều năm của anh mà không được.

Nhớ một truyện ngắn của anh gửi đến chúng tôi kể về một đôi vợ chồng trẻ di cư ở trên một nhà – thuyền, đêm thao thức, cùng nhau nỉ mon tâm sự, cùng mơ ngày có căn nhà trên đất liền cho con cái ở; để ở cảnh sông nước Hậu Giang, anh cho nhân vật ra đứng trên mũi thuyền tiểu tiện xuống sông. Nhớ, sau khi đăng truyện, gặp anh Vũ Khắc Khoan đã bị trách: mấy cậu avant-gardiste này nhảm quá…”

*

Mai Thảo gửi tới chúng tôi Đêm Giã Từ Hànội.

Tôi nhận được một bao thư dầy cộm, không địa chỉ người gửi, trong đựng xấp bản thảo đánh máy. Bút hiệu Mai Thảo hoàn toàn xa lạ với tôi.

Liếc nhìn dòng chữ đầu tiên của bài gửi, tôi giật mình kinh ngạc: 

“Phượng nhìn xuống vực thẳm: Hànội ở dưới ấy.”

Câu trích đề của truyện đột ngột khác thường. Nó không trích ra từ một tác phẩm khác đã có. Nó như tự trên trời rớt xuống, hay nói như Mai Thảo là câu “bắt được của trời”. Cái chiều sâu của nó làm chóng mặt.

Tưởng nên nhắc nhớ rằng ẩn dụ “vực thẳm”, cứ theo chỗ tôi biết, cho đến lúc bấy giờ chưa thấy được dùng trong văn chương Việt Nam. Phải đợi vài năm sau, khi Phạm Công Thiện xuất hiện với ảnh hưởng của Nietzsche, văn từ “hố thẳm” mới tràn lan và trở thành sáo ngữ.

Đọc hết truyện thì rõ câu trích đề là một câu ở trong truyện. Phượng là tên nhân vật.

Đây là một truyện không cốt truyện.

Sự hấp dẫn bắt đọc là ở lời, giọng kể, ở ma lực của tiếng nói bất lắng nghe – theo bước di chuyển của nhân vật giữa thành phố bỏ ngỏ trong đêm, sự vật ẩn hiện nổi chìm trong giấc kín bưng triền miên của chúng -, ở sự dồn đẩy khôn nguôi của chữ nghĩa tưởng chừng không sao dứt tạo thành những vận tiết mê mải tới chốn nhòa tắt mọi tiếng. Gọi Đêm Giã Từ Hànội là truyện hay tùy bút đều được. Cứ theo ký ức cùng cảm thức của riêng tôi, trong và sau khi đọc, thì đó là một bài thơ. Thơ là thứ tiếng nói tàng ẩn trong quên lãng bất chợt vẳng dội, đòi được nghe lại (nghĩa là đọc lại, lập lại). Người ta nghĩ đến một truyện ngắn, một bài tùy bút, một quyển tiểu thuyết đã đọc, nhưng người ta nhớ đồng thời nghe và gặp lại một câu thơ, một bài thơ.

Đêm Giã Từ Hà Nội là một bài thơ thỉnh thoảng vẫn vẳng dội trong tôi mà tôi không thể nhớ toàn vẹn – tỷ như lúc này đang viết đây tôi không cách nào tìm đọc bài thơ ấy trừ cách tưởng tượng dựa vào ý ức và cảm thức còn sót đọng, trừ câu trích đề.

*

Nhớ trong buổi họp kiểm bài vở trước khi chuyển xuống nhà in tôi đã không thể ngăn nổi mình yêu cầu các anh Hiệp, Sỹ, Tế nghe tôi đọc Đêm Giã Từ Hànội đăng trọn trong một kỳ báo, không cần làm giới thiệu. Và tôi đọc say sưa, hùng hồn liên hồi. Và các anh chịu khó ngồi nghe trên căn gác lửng tối chật của tòa báo. Anh Tế kết thúc buổi họp nói đùa “Anh làm chúng tôi mất cái thú tự mình khám phá”. 

Năm di cư thứ hai mươi [1974], khi viết bài Tử Địa, nghĩ đến những đứa con tư sinh của đất Bắc ở cả hai miền lúc ấy, tôi đã mở bài bằng câu trích đề của Anh, tuyên xưng nó là câu văn bất hủ. [Người ta có thể nghĩ tôi quá lời, sử dụng “ngoa ngôn”. Nabokov còn “ngoa” hơn nhiều khi ông bảo: “Cả sự nghiệp của triều đại Sa Hoàng Đại Đế sánh không bằng nửa vần thơ của Pushkin.”]. 

Khi từ Phú Thọ ra, ghé lại Hànội chờ tầu về Nam, lúc chiều tối đứng trên ga Hàng Cỏ, trông xuống phố Hàng Lọng, phố Trần Hưng Đạo sâu hoắm bóng đêm rét lạnh của một ngày cuối năm, tôi thầm nhắc thành tiếng bên tai “… Nhìn xuống vực thẳm… dưới ấy..”, câu của anh vẳng ngân như là một câu thơ. [Câu văn là một câu gắn liền trong mạch văn, tách ra khỏi mạch không ít thì nhiều cũng bất toàn. Câu thơ tách ra khỏi mạch vẫn tự đầy đủ, tự lập trên cái nền thiếu vắng nó gợi nhắc].

Đăng bài Anh, tôi viết lời nhắn mời anh đến chơi tòa soạn. Mai Thảo đến.

Anh đi chiếc xe đạp đầm sơn trắng, đầu còn đội mũ phớt kiểu Hà Thành Công Tử. Yên xe đạp được nâng lên cao hết cỡ vẫn chưa vừa với tầm chân của anh. Chúng tôi rủ nhau ra quán cà phê đầu hẻm gần ấy, ngồi trên ghế thấp trên lề đường Lê Lai trông sang bờ tường rào của nhà ga Sàigòn nói chuyện. Hồi ấy anh mới vào Nam, còn ở chung với gia đình anh Viên trong một căn phố đường Jacques Duclos, thuộc khu Tân Định (đường này song song với đường Trần Quang Khải, Trong khoảng từ nhà hát bội đến lối vào Xóm Chùa. Tôi nói lớn: “Anh ở trúng vào con đường mang tên một tay tổ Cộng Sản Pháp”).

Chuyện giữa hai chúng tôi xoay quanh văn chương, thi ca. Anh đọc và nhớ khá nhiều thơ Việt Nam thời hiện đại kể cả loại thơ ít người đọc như thơ Nguyễn Xuân Xanh trong Xuân Thu Nhã Tập. Anh rất chịu thơ Chế Lan Viên. Nhân đề cập đến thơ ở Hànội rồi Sàigòn lúc ấy, tôi nhắc đến một bài thơ gần đây tình cờ đọc trong một trang Văn Nghệ của một tờ báo mới xuất bản: một bài thơ mới, lạ, chững chạc, dưới ký tên lạ hoặc chưa từng thấy: Nhị; một bài thơ lạnh, tôi rất thích chất lạnh của thơ, và cách biểu hiện cảm thức bằng những hình ảnh dở dang, trở đi trở lại dưới những ánh rọi khác nhau, đồng thời với cái tiết điệu biến hoá được nối kết lại bằng những câu trùng, tôi đọc những câu thích nhất, có hơi thơ gần siêu thực:

Lại thấy con đường như lặng 

Những đỉnh cây xanh 

Và những ngón tay trên phím dương cầm 

Đôi guốc mộc trong căn phòng trừu tượng.

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống.

Anh lặng nghe tôi bình phẩm, đọc thơ, rồi nói: Nhị là tôi. Chúng tôi thân thiết nhau ngay từ buổi gặp gỡ ấy.

Cúi Đầu 

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống 

Mà đi vào chiều xanh đỉnh cây 

Một đẹp lên khối hai đẹp lên hình 

Người cúi đầu đi vào chiều mình

Thảm cỏ non cánh cổng thấp 

Lớp đá đường rồi thảm cỏ non 

Hướng chiều thăm thẳm phố hoang vu 

Người tuổi ấy hát chiều sao ấy 

Tiếng hát suối trong hàng mi liễu buồn 

Mắt tròn im lặng.

Tôi chọn tình yêu làm biển trời

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống 

Mà thương trở lại nhớ nhung về 

Hàng hiên xưa, trang sách mở, cánh tay ngọc 

Chiếc dây chuyền và sợi len đỏ. 

Mái tóc dài của người trong vườn 

Cột điện đầu tường lá rụng 

Rào rào mái đựng mùa thu 

Phố đếm chân đi về mãi mãi 

Điếu thuốc lá, chiếc khăn quàng, vành mũ lệch 

Đổ xuống bờ vai bóng tối núi rừng 

Mưa phùn ngõ nhớ nghiêng lưng 

Lối đi là lối dương cầm 

Đôi guốc mộc căn phòng trừu tượng

Tôi chọn tình yêu làm biển trời

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống 

Mà dựng tình yêu thành thế giới 

Cấy những chùm sao lên nền trời 

Hát nghìn năm biển đầy vĩnh viễn 

Lại thấy con đường im lặng 

Những đỉnh cây xanh

Và những ngón tay trên phím dương cầm  

Đôi guốc mộc căn phòng trừu tượng

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống 

NHỊ

Trong nhiều năm anh viết văn, bằng lòng làm nhà văn, không làm thơ. Trên Sáng Tạo chỉ một lần anh đăng hai bài thơ ngắn – Nghe Đất, Ý Thức – cũng ký tên Nhị. Cả ba bài thơ của thời trẻ này được giữ lại Trong tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền gồm những bài thơ anh làm sau ngày anh bắt buộc phải lìa bỏ Sàigòn. Chẳng rõ anh Khánh có tìm thấy những trang thảo để lại trên bàn viết của Anh bài thơ nào sót không? Câu thơ trích làm nhan cho bài viết này lấy từ một bài thơ anh gửi tôi khi tôi còn ở nhà sau chuyến đi Bắc. 

Ở Người Việt rồi Sáng Tạo, anh viết truyện ngắn, tùy bút, lý luận… Những bài tùy bút như Phương Sao, Tiếng Còi Trên Sông Hồng đánh dấu một bước mới mẻ của câu văn Việt. Tuy nhiên, đối với tôi, anh lúc nào cũng là một thi sĩ cho dù anh không làm thơ.

Đầu năm 78, ở Lao Kay lần đầu tiên nhận được thơ nhà, biết tin anh đi xa. (Vợ tôi viết: “Bố nuôi của Thái về quê ngoại sống, không ở Sàigòn nữa”) tôi như người chợt tỉnh sau giấc hôn thuỵ. Bài Nhớ Thi Sĩ (*) viết vào lúc ấy đề tặng một thi sĩ đã mất và gửi Anh, một thi sĩ lưu lạc khi chúng tôi nghĩ chắc không còn ngày gặp lại. Trong những lời thơ vẳng trong tôi bấy giờ có cả lời thơ của anh.

*

Như mọi thi sĩ của một thời điêu đứng, anh chạy trốn thơ cho đến lúc không thể trốn được nữa, bởi anh đã rõ: 

Cõi không là thơ, Không còn gì hết là Thơ. Nơi không còn gì nữa hết là Thơ. Một xóa bỏ tận cùng. Từ sự xoá bỏ chính nó. Tôi xoá bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ.

Và như thế…? 

Et le poète reconquiert son invisibilité. 

Jean Cocteau 

Good Night, Sweet Prince! 

Hamlet – Shakespeare. 

Chúc Người An Giấc, Công Tử của Lòng Ta.

Thanh Tâm Tuyền 2-98 

Tạp Chí Thơ, số Mùa Xuân 1998 

* Bài Nhớ Thi Sĩ

Nhớ Già Ung 

Gửi MT

Sáng nay thức giấc trong nhà giam

Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ

Bừng cháy trong lòng anh bấy lâu

u ám quạnh quẽ

Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu

Mưa bụi rì rào

Gió náo nức mù tối

Trễ muộn mùa xuân trên miền cao

Đang lay thức rừng núi biên giới

Đã qua đã qua chuỗi ngày lạnh lẽo anh tự nhủ

Cũng qua cơn khô hạn khác thường

Tắt theo ngọn nắng chon von mê hoặc

đầu óc quái gở

Từng thiêu đốt anh trên đồi theo vào đêm

hành hạ anh đớn đau

Từ bao giờ anh đứng trân trối cô đơn

Hôn ám trời sơ khai nhìn qua song tù ngục

Hoang vu lời thơ ai reo hát cùng cỏ lá heo hút

Dẫn đưa anh về tận nẻo nguồn

chốn bình minh lẩn lút

(Bình minh bình minh anh kêu khẽ cảm động muốn khóc

Mai Mai xa Mai như hoa Mai về

tình thơ hôm nay)

Em, em có hay kẻ tội đồ biệt xứ

sớm nay về ngang cố quận

Xao xuyến ngây ngô hắn dọ hỏi bóng tối sâu thẳm

Đêm vây hãm lụn dần

Thủ thỉ mưa ru ngày khốn đốn

Em, soi bóng em hồn nhiên trên lối thời gian

Lặng lẽ anh gầy nhóm lửa tinh mơ đầm ấm.

Lào Kay 4/78

Vĩnh Phú 1/79

Thanh Tâm Tuyền 

(Ghi chú của tác giả: Già Ung: Giuseppe Ungaretti (1898-1970). Thi sĩ Ý.)

Nhát Gương. Thơ Hư Vô


Hình hài tôi đau điếng
Chỗ thương tích hoành hành
Em mảnh gương bén ngót
Lao tới đời lạnh tanh.

Từ trong cơn thảng thốt
Đã cứa nát tim nhau
Vết đau còn cào cấu
Cho em biết thét gào.

Nơi hồn tôi nương náu
Dung nhan em một lần
Bềnh bồng như ngọn sóng
Đang ập vào hư không

Có dài thêm giấc mộng
Chớp mắt cũng vô thường
Tựa nhát người dộng xuống
Đã tan tành bóng gương...

Hư Vô 

Quán Thơ Hư Vô 421



THÁNG TƯ, NGÀY TẬN THẾ

Sài gòn tháng tư ngày tận thế
Mẹ về chưa kịp phút lâm chung
Để thấy thằng con ria họng súng
Viên đạn đồng kết liễu anh em.

Bốn mươi năm còn nghe tiếng khóc
Ngổn ngang một chứng tích tương tàn
Có tự hào bên nào chiến thắng
Bàn thờ cũng đã lạnh khói nhang.

Dòng máu đỏ mang hồn tổ quốc
Tội tình gì mà phải giết nhau
Mẹ đẻ hoang đàn con mất giống
Trơ gan vùi dập xác đồng bào!

Bốn mươi năm Sài gòn đã chết
Kể từ ngày thành phố đổi tên
Cờ sao bay đỏ tròng con mắt
Đắng hồn giỗ muộn tháng tư đen…

Hư Vô

CHỜ AI

Ừ thì mộng vẫn là mơ,
Thôi đành quay mặt thờ ơ với đời.
Nghiêng vai dòng nước chảy trôi,
Trôi đi ảo mộng một trời trăng sao.

Ừ thì lòng vẫn nao nao,
Nhớ tình ngày cũ đêm thao thức dài.
Tay em hơi ấm nồng hoài,
Theo ta năm tháng miệt mài chuyện xưa.

Ừ thì còn nhớ cơn mưa,
Đôi ta ướt sũng cho vừa vòng tay.
Nụ hôn ngày tháng ta say,
Đong tình trong mắt cho ngày đi hoang.

Ừ thì đò mới em sang,
Để cho bến đợi, lòng mang mang sầu.
Chờ ai, ai thấy, ai đâu?
Ta người hành khất bạc đầu lang thang.

trầnthịminhchâu

TÓC DÀI BÁN KHÔNG...

Tóc dài... có bán ơ... không
Tiếng rao rát ruột loang rong phố hè

Nồng nàn bồ kết hương quê
Nắng thơm hương sả mơn mê tóc dài

Ngõ về thả rối mùa phai
Quýnh chân mượt khúc tình hoài tóc ơi

Nón che nghiêng. Nón bồi hồi...
Mà nay bung bả trong lời bán rao

Sợi thương thắt thỏm phương nào
Mỏng mơ sợi nhớ đã hao hớt nhiều

Chỉ xin bền dạ sợi yêu
Bồng bênh gió.Đẫm Thu chiều, tương tư!

Tóc dài...ai bán không...ơ...

Nguyễn Nguyên Phượng

LỜI TÌNH TRÊN NGỌN KHÔ
 
Mây xám chảy xuống đời nghiêng dáng núi
Soi bóng hoàng hôn ta tìm lại tuổi mình
Trăng chếnh xuống tiếng chim tàng kinh các
Sau lầu chuông xao xác động tâm kinh.
 
Chén rượu đế khề khà câu chuyên cũ
Thời gian đi năm tháng đã mỏng teo.
Qua sông rộng dòng đời cuồn cuộn nước
Gà đâu đây sao tiếng gáy óc eo.
 
Thân cá chậu ngược dòng về suối cũ
Đâu nguồn xưa rêu đá đã xanh màu
Thả lời kinh trôi qua bờ nhật nguyệt
Nhạn lạc loài mất dấu để tìm nhau.
 
Hoa đã úa dù sương mai tinh khiết
Nước cam lồ có thắm ngọn phù dung
Lòng đã chết thân tàn tưa gỗ mục
Nhựa ứa tràn vết chém đọng ngang lưng.
 
Nuôi giấc mơ qua cuối mùa giông bão
Mang lời tình treo ngược ngọn gió khô
Người trăm năm thành hoa hồng xứ khác
Biển mênh mông còn sót lại tình hờ.

Nguyễn An Bình 

THÁNG TƯ VỀ KHÔNG DƯNG 

Em từ đâu đến vội 
Áo hoa vàng, từ khi
Ta quên mình cát bụi 
Bay khuất chiều sa di

Ta nửa đời lưu xứ 
Em một thời hường nhan 
Biết chi ngày khổ nạn 
Yêu trên mùa lầm than

Nhặt phiến sầu quá vãng 
Lót trên đường em qua 
Gót son vừa chạm ngõ 
Mà buồn tôi đã già 

Em đi mù tăm cá 
Chim lạc đàn bóng quê
Tháng Tư sầu vạn ngã 
Đời rụng xuống câu thề 

Về thôi, trăng đã xế 
Hồn khuyết gầy trong nhau 
Mười năm chưa kịp hẹn 
Biển đã thành cồn dâu

Áo hoa vàng đã úa 
Tóc em giờ có phai 
Mắt môi còn sót lệ
Lăn trầm xuống hai vai 

Tháng Tư mùa bỏ lại 
Khúc trầm ca lạc loài 
Rong rêu từng hạt nắng 
Rơi theo chiều lưu vong

Đi qua ngày gió nóng 
Hong chút tình phai phôi 
Mười năm dài gối mộng 
Có nhau mà như xa 

Đã tàn rồi nắng hạ 
Tháng Tư về không dưng

Ta tìm nhau mấy cõi 
Trên từng nắm mộ phần
Đắng cay tình như đã 
Chết trên mùa thu phân. 

Trung Chinh Ho 

GIẤC MƠ ĐỒNG BẰNG

Gọi em đêm qua tôi mơ
Về phía cánh đồng mây trắng
Tôi thấy dòng sông yên lặng 
Chở mùa qua miền ca dao

Tôi thấy cánh gió lao xao
Về ngang qua đồi cỏ lạ 
Con ve tiên tri bối hạ
Đỏ lên chùm phượng chia ly

Tôi thấy đôi bờ xanh mi
Cong lên đêm miền trăng khuyết 
Tôi bỗng thấy em là nguyệt
Lung linh về đêm nguyên xuân

Tôi thấy mắt em bâng khuâng 
Rưng rưng lời kinh cầu nguyện 
Vạt mắt nâu trầm quyến luyến 
Gọi cánh buồm vời vợi xa

Tôi thấy em về đêm qua 
Một đóa linh đàm nở muộn
Nghìn nụ chuông ngân rụng xuống 
Chạm phía mặt hồ an nhiên 

Có một tháng tư linh thiêng 
Nhặt ký ức xanh xâu chuỗi
Nghe đêm phù sa không tuổi 
Đồng bằng một mùa rất riêng ...!

Quỳnh Nga 

PHỐ

Tóc thương nhớ ai 
mà bay ngược gió
Nắng dỗi hờn chi
Đậu mãi rát vai

Phố vẫn quạnh hiu
ta về ngang đó
Ve ngủ trên cây
bỗng thức thở dài...

Loan Nguyễn

TIẾC MỘT MÙA HOA
 
Tháng Ba về nhặt giọt buồn hong nắng
Thương lá vàng ươm ấm ngủ mê say
Nhớ ánh nhìn trong veo ngày xưa ấy
Để hồn tôi ngây dại phút giây đầu.
 
Tháng Ba về chở ngọn gió xôn xao
Hoa Dành Dành đón chào tôi bẽn lẽn
Như cô gái ôm mối tình thầm kín
Dấu lời yêu e thẹn chẳng tỏ bày.
 
Thuở em cài hoa trắng quá thơ ngây
Màu tinh khiết nét diệu hiền đằm thắm
Em trong trắng lời yêu tôi chưa dám
Để bốn mùa trôi mất tháng ngày xanh.
 
Tháng Ba về treo nỗi nhớ mong manh
Hoa Dành Dành trước sân còn e ấp
Tôi ngắm hoa mà lòng nghe rạo rực
Em giờ đâu sao vẫn mãi biệt tăm.
 
Tháng Ba về hoa nở...lại bâng khuâng
Em hạnh phúc hay bên đời lận đận
Còn hồn nhiên cài Dành Dành khoe dáng
Nét trang đài có dãi nắng dầm mưa.
 
Tháng Ba về em có biết hay chưa
Có nhớ đến Dành Dành mùa lại nở
Có thổn thức cho cuộc tình lỡ dở
Có cùng tôi luyến tiếc một mùa hoa

Lâm Băng Phương
 


Quán Thơ Hư Vô 420



HÀNH THÁNG TƯ 

Đường nhân gian lạ lẫm
Một ngày tháng tư đen
Xô đời em vấp ngả
Vào đám người chưa quen.

Đâu còn ai hò hẹn
Giữa trời đất ngổn ngang
Em xanh xao quờ quạng
Níu một cuộc tình tan.

Đã lỡ làng lỡ vận
Ở phía ngoài cơn mê
Tôi lạ nơi lạ chỗ
Đâu còn lối quay về.

Mà em như cọng cỏ
Mọc giữa trái tim tôi
Vết sầu đang mưng mủ
Tươm qua đời tả tơi.

Có bước vào quá khứ
Cũng chỉ tới đường cùng
Đâu còn ai ngoảnh lại
Được thấy lần khóc chung.

Ngày tháng tư quằn quại
Đau đã thấu hình hài
Tiếng gọi nhau khản giọng
Chưa qua khỏi trần ai.

Bốn mươi năm gộp lại
Như một tiếng thở dài
Để hồn tôi dị mộng
Thành giọt lệ mãn khai.

Lăn vào em lận đận
Thời tình cuối tháng tư
Đã hoang tàn phế tận
Một khúc đời còn dư…

Hư Vô

LẠI MỘT NGÀY QUA 

hắt hiu chiều rơi xuống
hoàng hôn rụng chân trời
mới bình minh một thoáng
là đêm về chơi vơi

ai đếm ngày tháng tận
theo bóng chầm chậm qua
có thấy đời lỡ vận
trong từng chiều mưa xa

em xưa giờ cũng mất
tình xa mù bãi hoang
còn nỗi buồn rất thật
trôi chậm giữa cuối ngàn

tôi ngồi đây mà nhớ
trông những chiều mưa qua
trên tay đầy gió nổi
ngùi ngậm bóng trăng tà

một ngày thôi đã hết
em cũng vừa xa tôi
ôm niềm đau mỏi mệt
trên dốc chiều phai phôi...

nguyễn minh phúc

VỀ RỪNG

Bỏ vui
ta đến với rừng
Nghe trên phiến lá,
mưa từng giọt lơi.
Giọt nào
lạnh buốt đêm côi?
Giọt nào nổi,
giọt nào trôi,
giọt nào...?

Đêm nằm
vỗ giấc chiêm bao
Cánh chim bạt gió
ngỡ chào thinh không
Nửa nào nhớ,
nửa nào mong?
Nửa đan sầu mộng,
nửa lòng vụt đau..!

Đưa tay
ta gối lấy đầu
Đường về cố lý
nhuốm màu phù vân.

Châu Ly

HẠNH NGỘ. 

Nắng đã ấm thì thào qua kẽ lá
Ngày đã xuân chim én rợp trở về 
Cánh uyên nguyên bay qua mùa hoang phế 
Đường nắng lên hoa nở rợp bóng che

Ngày đã đượm hương ngời sắc nắng 
Gió reo vui rờm rợp bước thảo nguyên
Tung cánh mộng vỡ hồn con bướm nhỏ 
Xác tung tăng bay lượn cánh thuyền quyên

Mùa đã về bên kia đồi gió hú
Giọt nắng vàng ngờm ngợp ánh mắt trong
Ngày đã lốc theo từng cơn gió nổi
Mây bên đồi đã chở chật phù vân

Ngày đã cuối trôi dài cơn mộng mị .
Hoàng hôn êm dìu dịu bước tình chung
Tiếng ai cười mong manh trong gió 
Hạnh ngộ rồi e ấp bóng phù dung ..

Thục Uyên

NGÕ NHỎ CHUYỆN NHỎ

Hái vội đóa tình sầu treo ra ngõ
Nhỏ cũ người nhưng rất mới ta
Không em, ngơ ngác nhìn thiên hạ
Tranh nhau giành giật miếng ta bà

Một mình ta lòng lành như đất
Hiền như cây đứng gác làn hương
Tạm yêu thử người xưa nay vẫn ghét
Thời dối gian thật giả chuyện bình thường 

Vạch năm tháng lênh đênh tìm giấc mộng
Giữa màu xuân mộng mị lén phiêu bồng 
Cám ơn em chút buồn vui mỏng mảnh 
Đã nhóm lên cảm xúc thật lòng

Dù không thể cõng tình qua giông bão
Giữa cuồng trào yêu dấu sáng lung linh 
Không có em vắt hồn lên khung cửa
Ngắm nhân gian tìm kẻ lụy tình

Buồn nho nhỏ gieo vào ngõ nhỏ
Mặc bao người chí lớn bóng chim xa
Nghe nước réo kinh hoàng nghe đất lở
Từng đám đông như nắng vữa nhạt nhòa... 

Lưu Xông Pha

KHÔNG CHỈ MÌNH ANH 

Không chỉ mình anh buồn đêm nay,
Thao thức năm canh nhớ mẹ già,
Gia đình chia cách nơi xứ lạ,
Chờ đợi đoàn viên đợi tháng ngày.

Không chỉ mình anh, say đêm nay.
Khóc buồn vận nước đã đổi thay.
Xếp lá cờ thiêng, lòng tủi hận,
Hồn thiêng sông núi, biết cho con?

Không chỉ mình anh khóc Sài gòn .
Triệu người cùng khóc,tiếc không nguôi.
Bao con đường cũ trong nhung nhớ,
Đã mất tên rồi, ôi xót xa.

Không chỉ mình anh buổi chiều tà,
Nhìn trời mây nước vọng trời Nam.
Bâng khuâng chân bước, bao câu hỏi.
Giữa chốn đông người, sao lẻ loi?

Không phải chỉ anh, còn có tôi,
Là người xa xứ nhớ quê hương.
Máu Việt da vàng ta không đổi,
Ngàn năm hãnh diện giống Lạc Hồng.

trầnthịminhchâu 

TÔI SỐNG...

Tôi sống đời tôi ở cõi đời .
Vui, buồn, chơi với chơi mà thôi...
Sang, hèn, mảnh áo che tâm thức.
Vinh, nhục, thời trang đủ tính người...

Ngôn ngữ, rào tai miếng lạt mềm...
Đầu môi, là để trói con tim.
Chiến trường thay máu, rừng thay lá.
Hiểm tự thân, hoạ tự anh em...

Đàn khảy trùng âm, diễn tri âm...
Tiệc ngồi chung chiếu, chẳng chung mâm...
Thú ngàn tương tác, sinh ngàn thú.
Tương đắc, tương đồng, nghĩa tương xâm...

Tôi sống đời tôi không giống ai...
Ngày qua đêm, sẽ đêm qua ngày.
Nhân danh ong, bướm yêu trời đất.
Soải cánh, phơi tình trong nắng mai...

Tôi sống đời tôi, mấy kỷ nguyên.
Ngựa hồ hý lộng sử biên niên.
Nhân danh sông núi phiền ưu ấy.
Chém một đường gươm xuống ưu phiền...
............
Chém một đường gươm đứt gông xiềng...

Đặng Triều

 THÔN VÔ ƯU NGÁT HƯƠNG ĐỜI

Mây hồng vương nhẹ mùa hoa
Vòm xanh chim hót mượt mà phố quen
Vườn ươm thơm thoảng hương sen
Dịu dàng…ngát nụ cười em thật hiền
 
Vai mềm nón lá nghiêng nghiêng
Anh như khao khát chung chiêng xuân ngời
Vấn vương khoảnh khắc lên ngôi
Chút tình rót lại - tim bồi hồi …say
 
Tháng Ba lãng đãng trời mây
Thôn Vô Ưu gợi đong đầy niềm thương
Về đây hoa lá đơm hương
Buông sầu cõi tạm vô thường…trầm luân
 
Vô ưu giữa cõi định phần
Tiếng cười hạnh phúc ru ngần ước mơ.
 
Nhật Quang


Từ Thuở Mưa Tan . Thơ Hư Vô


Em đứng quay mặt chờ ai
Nghiêng nghiêng cái dáng cho dài bóng anh
Thì trong một thoáng mong manh
Cũng là chứng tích để hành tình nhau.

Chỗ anh cất giấu cơn đau
Cho vết xước mãi cấu cào thịt da
Từ em áo mỏng lụa là
Vướng vào anh nỗi xót xa diệu kỳ.

Một lần em đã bỏ đi
Anh cũng đâu còn có gì cho em
Chỉ là những giọt mưa tan
Lăn qua để biết hoang đàng đời nhau.

Tựa như chiếc lá bạc đầu
Mang theo thương tích còn đau kiếp này
Hồn anh lãng đãng như say
Lao vào chiếc bóng mà bày biện em…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 419




MÊ LỘ

Áo bay bụi lấp chân người
Em đi bỏ lại đất trời quạnh hiu
Bước qua thành quách tiêu điều
Hồn tôi như thể đã phiêu diêu rồi.

Chào nhau con mắt xa xôi
Ngoảnh lại chưa tới một thời lãng du
Đường em đi đã mịt mù
Lối xưa thắp ngọn thiên thu biệt ngàn.

Nợ người một khúc tình tan
Trả em ngày tháng hoang đàng đắm say
Quay lưng giấu thoáng hương bay
Còn nghe tiếng khóc hoài thai tội tình.

Từ trong giọt lệ lung linh
Có chiếc bóng bỗng cựa mình khóc vang
Nhón theo đóm nguyệt đang tàn
Trừng trừng con mắt ngang làn khói phai…

Hư Vô

RỪNG XƯA

Ta đã thấy những cánh rừng thao thức
Từng đêm thâu
Khi vắng tiếng chim buồn
Những gốc cây dường như đang ứa máu
Vết cắt chưa lành, lá rụng đau thương.
Ta đã thấy những người đi tìm đất
Xoè đôi tay chai sạn đón ban mai
Những tia nắng giữa ngày gay gắt
Thấy hoàng hôn hiu hắt cuối ngày
Ta đã thấy trên cánh rừng đã cháy
Những chàng trai mãi miết trồng rừng
Trong cái nắng rát da chắt chiu từng giọt nước
Mong một ngày cây lá biếc xanh
Ta đã thấy những ngôi nhà cổ tích
Dấu thời gian trên những tấm phên dài
Người đã mất ngôi nhà hoang lạnh
Nỗi buồn thương héo hắt lúc ban mai
Ta đã thấy những con đường xưa cũ
Vết chân trên những lối đi mòn
Người đã khuất và ngày đã tắt
Nghe cánh rừng thao thức bóng hoàng hôn

Lê Triều Hồng Lĩnh

CẢM CHIỀU

Cát ẩm quá chiều qua sương muộn
đôi cánh chim quạt gió âm thầm
vài giọt nắng thả thềm thưa thớt
bay dịu dàng hương ái hoa ân

Sau ô cửa ráng hồng lớt phớt
như ngân vang chuỗi tiếng gọi dài
xa xôi lắm miền xưa cổ tích
xin lá bùa tính chuyện tương lai

Ta ngược phố đường mưa rả rích
ai vào cùng trú ngõ thanh tân
vô tình chạm mắt cười thiếu phụ
giá một lần mang án...chung thân!

Diệp Hoàng

LỜI HẸN VỚI TRĂM NĂM

Ta đi qua nhau chạm vào vàng thau nỗi nhớ
Nghe trăm năm hóa tạc linh hồn
Mà lời hẹn biết dành cho kiếp nào của những trái thương nghịch mùa để chín
Cô liêu với màu sắc riêng mình hòa trộn long đong

Biết chẳng về đâu sao dành những câu dỗi hờn
Biết chẳng thể ấp iu những ngón tay úm vào mênh mông
Vết tích của đợi chờ
Của những lòng còn lơ lửng dấu nắng mai

Ai có giữ những từ đã viết vào bức tường
Cầm chân đôi lần lung lạc bởi nụ cười, tiếng nói thả vào thiên thu
Biết là không nhau mà lời hứa thành dấu cộng
Vô cùng chính mình để hóa trôi đi

Người qua người chỉ còn lời hứa tô điểm tháng năm.

Lê Tuyết Lan

SẦU ĐÂU

Tháng ba sầu đâu giăng tím
Gợi chi tình nhỏ hoa ơi
Tóc mây dịu dàng thắt bím
Hồn nhiên mộng với mây trời

Mộng rồi. mộng thôi từ ấy
Người đi, tan giấc mơ hoa
Buồn chi giăng ngang trời tím
Rưng rưng mưa bụi xuân già

Đếm từng ngày tháng heo may
Lòng riêng không ai tỏ bày
Khuyết trăng treo nhành hoa tím
Nhớ trăng mười sáu về đâu...

Sầu chi mà để cho đông
Hoa thơm sao tím cả lòng
Cây xanh mấy mùa thay lá
Ai đành lỗi hẹn trùng phùng

Hoàng hôn mắt biếc cô liêu
Đứt dây gió cuốn cánh diều
Cánh hoa li ti tím ngát
Bay tìm một thuở có nhau

Ai đưa em về lối nhỏ
Có gì ở trong tầm tay
Bước chân làm chim vỗ cánh
Tối trời chim lỡ lạc đôi...

Thiên Di

KẾT TUỔI HỌC TRÒ

Giữ mãi làm chi những tàn tro
Mai kia rồi cũng rụng xuống mồ
Chiều nay nhặt lại từng ký ức
Kết tuổi học trò xưa hóa mơ

Em trả cho anh lại con đường
Của ngày gió kết một mùi hương
Của tim mười bảy màu áo trắng
Ngỡ ngàng câu nói dậy yêu thương

Anh đã về đâu hay đến đâu
Em nào hay biết quả địa cầu
Mang anh đi tới miền viễn tận
Mà soi dĩ vãng nỗi niềm đau

Em hứa với lòng thôi sẽ quên
Bởi vì gặp gỡ đã không duyên
Nhớ chi ánh mắt anh đau khổ
Mà trói tim mình xanh ước miên.

Dung Thị Vân

LẠC GIỮA BIỂN NGƯỜI MỘT TIẾNG TƠ
 
Mười năm ta mượn trăng làm chiếu
Gối đầu lên cỏ ngóng mưa sa
Uống chén rượu khan em có hiểu
Tìm đâu bờ bãi bóng quê nhà.
 
Mười năm đồng đất còn gieo hạt
Hoa nở đợi người mãi tha phương
Chân lấm cũng đành vai đã mỏi
Quê người ta thiếu một quê hương.
 
Mười năm như ngọn đèn dầu cạn
Còn chút thời gian đọng trước thềm
Ngõ xưa vắng biệt lời chim khách
Chỉ còn xao xác tiếng dơi đêm.
 
Mười năm chuyện cũ làm sao kể
Dáng núi uy nghiêm cũng cỗi già
Có ai hiểu được lòng của biển
Đời người theo bóng ngựa trôi qua.
 
Nghe tiếng nguyệt cầm trên sông lạnh
Nửa đêm choàng thức lại ngẩn ngơ
Cỏ lau cúi gập buồn hiu quạnh
Lạc giữa biển người một tiếng tơ.

Nguyễn An Bình

CÒN LẠI CHÚT YÊU THƯƠNG

Qua chợ Trường An sương xuống sớm
Em ơi có đợi ở Long Hồ
Nhìn xác lá rơi sầu phố cũ
Cổ Chiên hiu quạnh khói triền mơ

Theo dấu em về đường hạ đỏ
Phượng bay trong gió đậu vai mềm
Bụi vàng nhuộm nắng phơi vàng úa
Sao nỡ vô tình cay mắt em?

Nhớ quá đò chiều qua Mỹ Thuận
Ngang dòng sông tím lục bình trôi
Mùa thi năm cuối anh dang dỡ
Tay trắng ra đi tận cuối trời

Em bước chân vào trường đại học
Để đời còn lại chút yêu thương
Cơn mưa ngày cũ xanh lên tóc
Đâu biết lạc nhau mấy nẽo đường

Nhớ giữ hồn anh trong mắt biếc
Mai thành dòng lệ ướt long lanh
Ví dù đang học môn lo gic
Em hiểu được lời trái tim anh?

Hoàng Anh 79

CÂU THƠ XƯA PHỐ CŨ!

Câu thơ cũ giấu hồn riêng của phố
Ký ức buồn đọng lại cuối hoàng hôn
Phố ngày xưa đan kín những lối mòn
Ta ngàn lần qua lại đếm tàn thu

Chiều hanh hao em có về phố cũ
Lắng nghe mình một thuở biết chờ mong
Ngại ngùng chi, chuyện một thời mơ mộng
Tuổi học trò...quên, nhớ, lắm bâng khuâng

Như chợt mưa, chợt nắng bao hờn giận
Trang sách cũ trải lòng mơ kiến thức
Chiều giảng đường có nghe mình rạo rực?
Còn riêng ta đồng vọng cả trời mây!

Con phố buồn rưng rức khóc chiều nay.
Ta trở về nghe nỗi nhớ chênh vênh
Câu thơ xưa gởi lại, cũng buồn tênh
Nỗi lòng mình mưa nắng chắc vàng phai!

Trần Nguyên

Quán Thơ Hư Vô 418



CHÉM TRĂNG

Ta vung đường cùng tận
Chém gục một vầng trăng
Rụng vàng đêm nguyệt lộ
Một bóng dáng tình nhân.

Em kiêu kỳ huyền hoặc
Trong nhan sắc ngang tàng
Lạnh như thanh kiếm bạt
Đâm thấu người tình tan.

Một đường gươm lãng mạn
Bén ngót nét xuân thì
Chém cho đời hung bạo
Nghiêng thành quách uy nghi.

Mắt em xanh như ngọc
Từ tiếng khóc lẻ loi
Ngọn gươm ngời phóng tới
Giọt nước mắt vỡ đôi!

Hư Vô

LỜI NÓI DỐI THẬT THÀ

Lời nói dối thật thà,
Trên vành môi mặn mà,
Rượu đỏ choáng mặt người,
Niềm tin chợt vụt xa.

Lời nói dối ba hoa,
Giữa dòng đời náo động,
Cái Tôi lên thật cao,
Đêm về bỗng lao đao.

Lời nói dối trăng sao,
Lòng chợt thấy cồn cào,
Tình yêu như chiếc bóng,
Bắt hoài có được đâu...

Lời nói dối nhạt mầu,
Cuốn mình như con sâu,
Gặm nhấm những nỗi sầu,
Cũng đi qua một đời.

Lời nói dối chơi vơi,
Trong đêm dày bóng tối.
Tôi nhìn tôi không thấy,
Nỗi buồn đang bao vây...

trầnthịminhchâu

MÙA XANH EM LÚA GIÊNG HAI

Mùa xanh em lúa giêng hai
Đang thời con gái sắp thai nghén rồi
Làm đòng ngậm sữa em ơi
Là thôi, con gái hết thời nghe em!

Một mai bông trĩu cong mềm
Cánh đồng thơm ngát gió êm ru chiều.
Lúa thời con gái tôi yêu
Đồng xanh quê mẹ sóng triều ước mơ

Từ xa quê đến bây giờ
Hồn tôi gặp lại tuổi thơ hương đồng.
Mùa xanh con gái qua sông
Mùa xanh tôi tóc mộ đồng thời gian!

Trần Thoại Nguyên 

TÌNH CỜ

Hồ thu ba lặng sóng
Chiếc lá chờ duyên rơi
Nước ôm trăng nửa bóng
Bắt đầu hay phai phôi

Đất trời chưa chạm môi
Vô ngôn gió thay lời
Thiên hà đêm say tỉnh
Đất trời còn hai nơi

Phù vân lạc xa xôi
Ngược trôi về núi đợi
Xưa sau mờ chứng tích
Mộng du rồi tan thôi

Sông cứ trôi cứ trôi
Đò xuôi truông chẳng vội
Hai hạt nắng cuối trời
Tình cờ rơi ...đang rơi

Hai hạt nắng cuối trời
Tình cờ rơi ...rơi ...rơi!

Nguyễn Thụy Sơn

DÂU BIỂN

Lửa đã đỏ hai bên bờ chiến tuyến
Vùi quê hương trong vũng tối hoang tàn
Giọt nước mắt giữa trùng trùng dâu biển
Chảy ngậm ngùi theo mỗi giấc mơ hoang.

Em réo gọi tên Người vào nhịp thở
Hết thật rồi cuộc hò hẹn trăm năm
Ai chở gió đầu sông về cuối chợ?
Cho đau thương theo huyết lệ loang dần...

Người cũng vậy, tình neo vào khói sóng
Gom cơn mơ thành xe cát dã tràng
Chợt thảng thốt: đất trời kia sâu rộng
Biết nơi nào là chỗ để dung thân?

Ôm khuất nhục trước ván bài định mệnh
Em như con chim nhỏ trở về nguồn
Hót mòn mỏi điệu ru buồn mất tổ
Điệu ru buồn gãy nhịp giữa quê hương...

Châu Ly

THÁNG BA THÊNH THANG ĐẠI NGÀN

Anh đến ĐRây-sap tìm em
Tháng Ba hoa pơ lang đỏ rực
Tây Nguyên Ca fe thơm phức...
Thác cao uốn khúc, lượn vòng

Anh ngược ra thác Gia Long
Đặt chân lên đồi cỏ hồng
Khói sương mờ tỏ giăng giăng
Vi vu khúc nhạc đồi thông

Tung tăng ĐRây- nu non bồng
Thả hồn nước tung bọt trắng
Lội qua thác ghềnh giữa nắng
Anh về lòng thấy mang mang!

Tìm em. Đời ta lang thang...
Ngao du ca fe tuyết trắng
Vượt qua vực sâu trầm lắng
Dư âm thác đổ vọng về

Tháng Ba. Cao Nguyên, say mê!
Gặp em lòng chẳng muốn về...
Đắm say hương sắc Đại Ngàn
Thoát ly rũ mộng trần gian!

Nguyễn Thị Tuyết Ba

CHÂN DUNG MẸ
 
Người họa sĩ vẽ chân dung mẹ lên giấy
Với tấm lòng thơm thảo nét cọ run run
Thời gian kết thành nếp nhăn lời sám hối
Những bão dông xao xác gọt mãi không mòn.

Tôi vẽ chân dung mẹ bằng những giấc mơ
Bằng ngọn gió thổi qua cánh đồng khô hạn
Bằng nỗi cô đơn giấu trong cánh cò lận đận
Bay giữa ráng chiều mù mịt cả gió mưa.
 
Bỏ lại sau lưng lời hát nhịp võng đưa
Hằn dấu chân chim cài lên sau khóe mắt
Có bao nỗi lo toan muộn phiền tất bật
Nặng đôi vai gầy oằn gánh nỗi yêu thương.
 
Cũng chừng đó thôi đời mẹ đã khói sương
Em có cùng tôi thắp sáng lên ngọn lửa
Đi khắp thế gian, đi gõ từng cánh cửa
Tìm lấy tiếng cười tan thành sóng đại dương.
 
Mơ một ngày về nghe vọng nỗi yêu thương
Bao ký ức long lanh vơi đi lòng con trẻ
Đóa hồng trắng xin dâng thơm chân dung mẹ
Con ngỡ lại mình ngủ dưới cánh nôi xưa.

Nguyễn An Bình

BÌNH MINH LƠ LỬNG

Có điều gì nằm phía sau khúc hát
Mà cỏ cây phiêu dật đến vô cùng
Trong âm huyết của loài chim trôi giạt
Một cung trầm lay động mấy tầng không

Hoàng hôn khép. Trả tình nhân về cõi
Ngàn sao khuya không vén nổi mây trời
Đêm thở vội nghe triều dâng mắt mỏi
Tiếng chuông gầy rơi đụng lá vàng rơi

Thâm trầm quá. Kìa! giọt sương động đậy
Lung linh này đã có tự ngàn năm
Thì khoảnh khắc sợi nắng vàng đưa đẩy
Chỉ tô thêm vẻ đẹp của vĩnh hằng

Người thi sĩ hành hương trong bóng tối
Áo hồng hoang còn lấm bụi trăng mờ
Nghe chuyện kể một dòng sông mắc cạn
Nước trôi về nương náu tận hoang sơ

Màu du tử ứa vàng trang giấy cũ
Nước xa dòng mộng mị với trông theo
Vin sợi gió treo vầng dương ẩn dụ
Một bình minh lơ lửng giữa lưng đèo…

Sơn Nguyễn 

EM LÀ NGỌN GIÓ MÙA XUÂN

Em - ngọn gió mùa xuân
đóa hồng vàng hương ngát
nụ hôn nồng khúc hát
tình diệu kỳ bay lên.

Em - nắng ánh mùa xuân
đưa anh qua bờ vực
nở tim mùa hạnh phúc
vượt bão giông cuộc đời.

Em - giọt lệ tinh khôi
đường tình lung linh tím
thả chiêm bao nụ cười
thiên thai chiều lạc lối.

Chết trăm năm bờ mộng
giấc mơ xưa trong ngần
huy hoàng màu Nguyên đán
Em - ngọn gió mùa xuân.

Nguyễn Nguyên Phượng

Mẹ Tháng Tư. Thơ Hư Vô


Tiếng súng còn đì đùng trong tim mẹ
Bay ngang tờ lịch ngày cuối tháng tư
Của thuở đi tìm đàn con thất lạc
Trên những xác người nằm chết chơ vơ.

Mắt mẹ loanh quanh giữa hai làn đạn
Đâu biết thằng con chết phía bên nào
Lịch sử kinh hoàng một thời mạt vận
Anh em cùng mẹ tận mặt giết nhau!

Mẹ sinh ra một bầy con vong bản
Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau
Nuôi lớn khôn để chia bè lập đảng
Khoác lác huênh hoang lừa bịp đồng bào.

Đất nước hòa bình sinh ly tử biệt
Họng súng thanh trừng vùi dập anh em
Hết chiến tranh vẫn bế bồng chạy giặc
Hàng triệu người phải làm kiếp lưu vong!

Mẹ lai sinh những thằng con mất giống
Mang búa liềm cày mồ mả cha ông
Chiến tích hào hùng một thời giải phóng
Là xác đồng bào trôi khắp Biển Đông!!

Bỏ lại chỗ đã chôn nhau, cắt rún
Núm ruột Việt Nam máu đỏ dạt dào
Mà mẹ đã cưu mang nhầm thế kỷ
Những thằng con bôi mặt tẩn liệm nhau..

Hư Vô

Mê Lộ. Thơ Hư Vô


Áo bay bụi lấp chân người
Em đi bỏ lại đất trời quạnh hiu
Bước qua thành quách tiêu điều
Hồn tôi như thể đã phiêu diêu rồi.

Chào nhau con mắt xa xôi
Ngoảnh lại chưa tới một thời lãng du
Đường em đi đã mịt mù
Lối xưa thắp ngọn thiên thu biệt ngàn.

Nợ người một khúc tình tan
Trả em ngày tháng hoang đàng đắm say
Quay lưng giấu thoáng hương bay
Còn nghe tiếng khóc hoài thai tội tình.

Từ trong giọt lệ lung linh
Có chiếc bóng bỗng cựa mình khóc vang
Nhón theo đóm nguyệt đang tàn
Trừng trừng con mắt ngang làn khói phai…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 417



ĐIỆP KHÚC CHIỀU THÁNG BA

Sài gòn chiều mưa thời xanh tóc
Vỉa hè cỏ mọc dấu chân em
Đường Duy Tân hay Trần Quý Cáp
Chỗ nào cũng thấy rất còn quen.

Em đã không về nơi ấy nữa
Phố xá chờ nhau lạnh bóng chiều
Áo phai chưa hết đời lãng tử
Mà hồn tôi đầy vết rong rêu.

Cà phê sóng sánh ngang đáy tách
Nguyễn Du buồn nhớ mắt Thuý Vân
Điệp khúc của ngày tình con gái
Còn khua vang nhịp guốc thật gần.

Của những lần Sài gòn mưa tới
Chiều xanh xao góc phố Brodard
Giọt cà phê chờ ai buông chậm
Cho buồn về kịp giữa tháng ba…

Hư Vô

GIỌT TÌNH

Buổi sáng mặt trời mọc,
Từng giọt nhỏ đáy cốc,
Cà phê thơm đậm đà,
Như giọt tình chúng ta.

Những buổi chiều nhớ nhà,
Anh ngồi bên quán nhỏ,
Giọt cà phê vẫn đậm,
Như có em bên đời.

Chiều gió lộng lưng trời,
Giọt tình ta vẫn trôi,
Nhớ môi em ngọt lịm,
Hoà trong cà phê đen.

Tình ta đã lên men,
Bước qua đường phố chợ,
Bàn chân em bỡ ngỡ,
Sợ thấy những người quen..

Cà phê vẫn đậm đen,
Nay giọt tình đã trắng,
Trả nhau những thói quen,
Và đời sao rất lặng…

trầnthịminhchâu

XUÂN TÌNH

Ví dầu đôi đũa so le
Tình yêu vẫn tự nghìn khuya cháy về…
Cầm tay miễn chấp câu thề
Môi hôn vẫn mặn, mắt kia vẫn nồng

Ví dầu chẳng bế, không bồng
Keo sơn vẫn buộc, chỉ hồng vẫn neo…
Lòng em như suối trong veo
Câu thơ anh lội qua chiều tương tư!

Ví dầu mai mốt tình hư
Kẻ nung, người nấu cho vừa lòng nhau
Dễ gì qua cuộc bể dâu
Mà không trả gía cho màu nhớ nhung?

Trần Dzạ Lữ

THÁNG GIÊNG, SÀI GÒN MỘT GÓC NHỚ

Đâu phải tháng giêng mới làm anh nhớ
Con đường Nguyễn Du rợp những hàng me
Cái nắng Sài Gòn sao hanh hao đến lạ
Màu mật non vàng ngọt đón ai về.

Hình như Sài Gòn năm qua rất muộn
Nên chồi non lộc biếc vẫn xuân thì
Góc phố Huyền Trân lá dầu reo trong gió
Chầm chậm mà trôi hoa nở kẻo lỡ kì.

Góc nhớ giữa Sài Gòn ở đâu em nhỉ?
Trốn nơi nào trong ký ức gầy hao
Dẫu bốn mùa nắng mưa ngày đêm vẫn thế
Lặng lẽ nơi nầy hay chốn khác lao xao.

Trong quán cốc cùng ghế bàn cũ kỹ
Dòng người vô tình đâu nhớ đến tháng giêng
Có một người quen sao khó tìm đến thế
Giữa Sài Gòn cũng đành lạc dấu chân chim.

Nguyễn An Bình

HOA, MỘNG VỀ ĐÂU

Em có về không mà sáng nay
Gió đưa sương xuống nụ hoa gầy
Hoa rung trong gió hương xanh ngát
Hoa chạm vào thơ thành rượu cay

Em giấu tình tôi trong ngực biếc
Em thắp tình tôi trong tim hồng
Đêm tôi sáng một màu trăng lạ
Trăng thuở mười ba, em biết không?

Em có về không mà nắng lụa
Rực vàng theo nỗi nhớ nhung bay
Vàng bay từng cánh vàng hoa bướm
Vàng cả mùa xưa mà không hay

Tôi ngồi vẽ lại cơn mơ cũ
Thuở áo vàng ươm nắng lụa vàng
Thuở mây như tóc mềm vai nhỏ
Mỗi bước chân hồng một bước xuân

Tôi ngồi vẽ lại cơn mơ cũ
Vẽ mãi mà tranh nhuốm một màu
Màu của vàng hoa từ dạo ấy
Tóc cài hoa thắm, mộng về đâu.

Lê Văn Trung

TẠ ƠN NGƯỜI TA ĐÃ CÓ NHAU

Khúc hạnh ngộ chở chiều lên đỉnh gió
Chiếc lá vàng thong thả đợi mùa sang
Sông chẳng thể bước hoài con sóng nhỏ
Hát đi em cho lộng lẫy mây ngàn

Hoa vẫn thắm trong vườn chiều cạn nắng
Đã thiên thu từng ánh mắt ân cần
Trong giấc mộng của bông hoa thầm lặng
Con bướm vờn. Là cả một mùa xuân

Trong hữu hạn đã chứa đầy vô hạn
Khoảnh khắc là. Hiện hữu đã hư vô
Tia nắng mỏng vẫn sống đời thanh thản
Vẫn thong dong soi bóng mặt gương hồ

Rồi ảo ảnh sẽ choàng xanh ký ức
Như chim đi còn gởi giọng bên chiều
Một hơi thở sẽ nhói trong lồng ngực
Một linh hồn sẽ xoãi cánh phiêu diêu

Trần gian đó. Ngôi đền thiêng máu lệ
Mỗi nụ hôn là nhịp thở ban đầu
Nơi vạn vật chan hoà cùng Thượng Đế
Tạ ơn Người cho ta được có nhau…

Sơn Nguyễn

MÙI ỔI XANH

Neo vào tháng năm. Mùi cỏ lạ
Từ bữa trăng trôi trên tóc non
Em cầm mùa xuân thơm lên môi son

Tôi gọi. Tiếng chuông gió choàng qua vai
Những hạnh ngộ vừa kịp chín.
Trong đôi mắt mùa hạ lửa thức

Thoáng xưa.
Những vết nắng di trú trong vòm ngực cũ
Em có nghe không?

Ai vừa buông vài hạt kinh chiều
Tôi bước qua mùa thu. Bằng nỗi buồn của lá
Bằng vết cắt trên lưng sen

Em có phải mùa đông ly hương? Trên khóm mây màu tuyết….
Tôi chạm những ngón tay vừa chín.
Thơm mùi hương ổi xanh!

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

CÒN MỘNG CHO TÔI

Ai đem đến đời tôi
Hoa nắng cười trên môi
Mắt hồ thu trong vắt
Và mộng tím khung trời

Mộng tôi viết thành lời
Thành câu ca của gió
Thành hoa vàng triền cỏ
Tôi vẽ sắc đời vui

Tôi giữ mộng không rời
Người đi qua …xa vắng
Quên cánh đồng ngập nắng
Quên hồ xanh xưa soi

Đêm mồ côi cùng tôi
Níu sao trời thổn thức
Nhặt sương làm châu ngọc
Xâu chuổi tặng tình ai

Ly rượu ngọt nồng say
Sao dư hương vị đắng
Dòng sông hiền sóng lặng
Da diết hoàng hôn buông

Đêm vớt ánh trăng suông
Điên bên bờ ảo vọng
Mơ đời như cánh mộng
Bình yên chốn nhân gian

Thiên Di

HỒN QUÊ

Ta về gặp lại hồn quê
Mẹ ta xưa quẩy nắng về hong mưa
Một đời sướng thiếu khổ thừa
Mẹ đan hạnh phúc vặn vừa nỗi đau

Heo may trở dạ mùa sau
Mẹ se gió lạnh khỏi nhàu nắng tươi
Chắt chiu ủ ấm nụ cười
Mẹ nhen lửa giữ cho “Người ở xa”

Tháng Mười, tháng Bảy, tháng Ba
Mẹ gom gió lạnh mưa sa bão dồn
Đổ vào sẫm đỏ hoàng hôn
Mẹ ru ta nặng trĩu hồn quê Cha

Ta về gặp lại hồn ta
Mẹ ta thì đã đi xa cuối trời…

Đặng Xuân Xuyến

Quán Thơ Hư Vô 416



EM CÓ LÀ MƯA NẮNG

CŨNG LẠNH TỰA NHÁT DAO

Có khi trời còn nắng
Đã nghe mưa trong lòng
Có khi chiều rất vắng
Ta ngồi với bóng không.

Em thì như mưa nắng
Còn chưa biết hẹn hò
Để ta thành trang giấy
Chất đầy những câu thơ.

Tìm nhau trong tập vở
Có khi rất tình cờ
Như một giọt mực tím
Mà biếc cả giấc mơ.

Ta nương theo nhịp thở
Níu sợi tóc em dài
Bàn tay chưa vói tới
Hình hài em như mây.

Lơ lửng cùng mưa nắng
Cho đầy thêm mùa thu
Lá bay che kín lối
Đường em qua mịt mù.

Ta như người lữ khách
Đâu còn chốn nương thân
Bước chưa tới chiếc bóng
Đã chạm nỗi thăng trầm.

Làm tim ta rỉ máu
Vết thương đang dậy thì
Chỗ em đã dẫm xuống
Cả một thời tình si.

Êm ả mà nhói buốt
Từ nỗi đau ngọt ngào
Em có là mưa nắng
Cũng lạnh tựa nhát dao…

Hư Vô

THƠ TÌNH CUỐI THÁNG GIÊNG

Tháng giêng nào vừa trôi ngang cửa
Hương xuân còn quấn quít nồng nàn
Có phải má hồng môi thiếu nữ
Men tình còn đọng – cỏ dưới chân.

Bằng lăng trước nhà vừa mới nở
Hoa đầu mùa tím ngát thời xa
Nắng lụa vàng ươm trong mắt nhớ
Chao ôi tôi thấy cả trời hoa.

Giêng đã sang mùa thêu cánh mỏng
Chuồn chuồn đã vội trốn đi chơi
Tháng tận năm dài chim bay mỏi
Giữ chút tình riêng ta đấy thôi.

Tháng giêng mưa bụi vương tà áo
Mà lộc non xanh cả đất trời
Đánh thức tầm xuân trong đáy cốc
Em còn thương nhớ tuổi ô mai?

Nguyễn An Bình

THU VỀ

Có người nhặt lá trong sân,
Vo tròn nỗi nhớ vò tan nỗi sầu.
Treo lên chiếc áo bạc mầu,
Tình ơi ai gọi, tay khâu mảnh đời.

Chim bay mỏi cánh lưng trời,
Xoãi tìm tổ ấm mù khơi nơi nào?
Chân chim trên lá lao xao,
Mây bay lãng đãng vừa vào mùa thu.

Ai về đong nỗi phù du,
Đếm thêm chiếc lá vụng tu lìa cành.
Dường như một chút duyên lành,
Mùa thu vừa chớm trên vành môi khô.

Gọi người, đừng nhé hững hờ,
Mỗi ngày viết một câu thơ cho đời.
Tặng nhau chiếc lá thu rơi,
Khát khao tiếng gọi một thời xa nhau.

trầnthịminhchâu

RÊU

Lầm lì đá đợi chân rêu
Người quên kẻ nhớ dấu yêu chưa mòn
Đội trời bữa tiệc cô đơn
Mời em phong kín cho tròn dấu yêu
Tôi đem mùi rệu bắc cầu
Gom nồng nàn gối giao đầu với em
Chải hương tóc rối vào đêm
Nối bờ môi ấm dài thêm kiếp người
Hững hờ rêu chẳng rêu tôi
Hòn hoang tưởng giọt đơn côi rụng đầy
Chén buồn cụng với bóng mây
Giấc mơ lăn khỏi đầm lầy hóa rêu!

Lưu Xông Pha

NGHE NGUYỆT TRONG SƯƠNG

Bập bùng lửa cháy lên đêm
Bóng trăng nguyên thủy xanh em nguyệt tà
Cúi chùng một đoá hằng nga
Xé toang lụa mỏng đi qua kiếp người

Nụ quỳnh vừa thắp tinh khôi
Đón sương trắng cả vành nôi dậy thì
Ai đem gió cúc nhu mì
Trải lên lụa mộc nghe rì xanh non

Em còn son ta còn son
Phủ nhau một lớp bụi mòn chiếu chăn
Hạt mưa xưa chín mùi rằm
Cạn trăng đắm một nguyệt cầm trong sương!

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

KHAI BÚT ĐẦU NĂM

Ba mươi chưa phải giao thừa
Nên phơ phất những cơn mưa ướt đầu
Đắm mình trong cuộc bể dâu
Thấy rồi ta thấy một bầu rượu ngon

Có con chim hót véo von
Sáng mùng một tết trời còn đầy sương
Bay bay những giọt vô thường
Phải chăng phía trước con đường phù du

Em đi xa lắc mịt mù
Sao nghe trong gió tiếng ru tình nồng
Mùng hai em ở bên chồng
Còn ta ngồi với một dòng sông sâu

Mùng ba tết cũng qua mau
Cơn say chưa dứt rượu bầu đã khô
Thì thôi khai bút làm thơ
Thả vài con chữ đến bờ tịch nhiên…..

Hoàng Anh 79

NGUYỆT MÚC HỒN

Rằm ơi
Nguyệt múc hồn đầy
chén quỳnh
Trăng
rót. giọt ngây
giọt mềm.
Nghe từ
hương thổ êm. Êm
lời thương thảm trải
chín thềm rộ hoa.
Nét hồng
thơ gởi quần thoa
chút tình mộ ái
yên hà tịnh không(!)
Mai lên thăm xứ vân mồng

hay đi
chỉ cậy trông
hạnh đào…

Đức Phổ

LỜI CHO ĐÓA SEN HỒNG

Em băng qua đêm tối
Em vụt khỏi bùn nhơ
Mang hình hài vô tội
Mỉm nụ cười thánh thơ!

Tôi lặng nhìn kinh ngạc
Hồn run rẩy phút giây.
Bài thanh ca Em hát
Lừng sáng hồng quang bay…

Ồ. Đóa sen hồng tươi
Em thoát lìa mê chấp.
Hoa tâm Phật không lời,
Bung nở trời diệu pháp.

Trần Thoại Nguyên

MẶC NHIÊN

Nếu đem lục bát ra phơi
Mặt trời sẽ đọc những lời điêu ngoa
Ngẫm ra đâu cõi ta bà
Chỉ là quán trị người ta tựa đầu

Sớm vò mấy khúc hà đâu
Thấy em hư thực khuyết cầu sương mai
Mặc nhiên áo gấm khuy cài
Mặc nhiên nhung lụa trang đài khoá then

Này em nâng cánh hồng sen…

Dung Thị Vân

THÁNG BA ƠI

Xuân vừa qua cửa tháng ba
Rộn ràng hoa cỏ đã ngà ngật hương
Se se sớm một làn sương
Mùa nắng mật đã biếc hường mắt môi

Tháng ba là tháng ba ơi
Ta nghe nụ phượng bung chồi trong cây
Rạng hồng nở những áng mây
Mùi thơm ngọn gió uống say hoa vàng

Tháng ba trời đất minh mang
Câu thơ cháy ngọn điêu tàn lửa yêu
Nhớ em suốt mấy phương chiều
Nghe từng hơi thở cũng thiu thỉu buồn

Tháng ba mùa gạo ven sông
Thắp trời hoa đỏ dối lòng người đi
Búp bàng xanh lửa xuân thì
Như là muốn nói điều chi với người

Tháng ba em và tôi
Nụ hôn thơm cả muôn đời xưa sau

Vương Phạm Tâm Ca

Khái Hưng – Nhất Linh – Thạch Lam dưới cái nhìn Xã Hội Chủ Nghĩa. Phê bình văn học Trọng Đạt


Trọng Đạt


Nhân ngày sinh lần thứ 110 của Nhà Văn Thạch Lam (7/7/1910-7/7/2020)

Văn chương há phải là đơn thuốc. Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu. (Tú Xương)

Chúng tôi nhận được cuốn “Thạch Lam, Về Tác Giả Và Tác Phẩm” do một người bạn về thăm quê hương tặng, sách dầy 500 trang, khổ lớn, nhà xuất bản Giáo dục, sách gồm trên 70 bài viết về Thạch Lam. Khoảng một phần tư là những bài viết từ thập niên 39, 40 tại Hà Nội và tại Sài Gòn trước 1975, ba phần tư là những bài viết trong nước đa số ở thập niên 90. Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên Thạch Lam có thể được dư luận chú ý và ca ngợi nhiều đến thế, nhất là dư luận trong nước.

Ngày nay trong nước người ta đã đánh giá lại Tự Lực Văn Đoàn trong bài Thạch Lam Với Quê Hương Sáng Tác của Đinh Quang Tốn (Thạch Lam, Văn Chương Và Cái Đẹp, NXB Hội Văn Hà Nội, 1994)

“Gần đây kỷ niệm 82 năm sinh và 50 năm mất của Thạch Lam, chúng tôi lại về phố huyện Cẩm Giàng. Phần nhiều những người chúng tôi hỏi chuyện đều có biết nhà văn Thạch Lam quê ở đây. Những mặc cảm về giòng họ Nguyễn Tường cũng không còn nặng nề. Nhìn chung mọi người kể chuyện với thái độ khách quan, kể cả những cán bộ kháng chiến cũ. Họ đã “bước qua lời nguyền”để nhìn lịch sử một cách công bằng với tư duy đổi mới, đánh giá đúng con người với những đóng góp và những hạn chế của họ với lịch sử. Riêng đối với Thạch Lam, được họ nhắc đến với thái độ cảm tình”.

Như vậy theo tinh thần tư duy đổi mới, họ được nhìn lịch sử một cách công bằng hơn và đánh giá lại một giai đoạn đã qua của nền văn chương Việt Nam. Nhưng trên thực tế chúng tôi thấy nhiều nhà phê bình trong nước có khuynh hướng đánh giá rất cao Thạch Lam, coi ông như một ngôi sao sáng chói nhất của Tự Lực văn đoàn thí dụ như Lê Dục Tú nhận xét dưới đây.

“Nhưng về phía độc giả Thạch Lam cũng hiểu một tình trạng có thực: đó là sự tồn tại của hai hạng người: một hạng chỉ cốt xem truyện để giải trí và hạng thứ hai thực sự là biết thưởng thức. Khác với một số nhà văn đương thời, Thạch Lam đã dũng cảm phục vụ hạng độc giả thứ hai để rồi phải chịu một thiệt thòi là sách của ông đã không tránh khỏi bị quên lãng trong một thời điểm nào đó. Song chỉ một thời gian sau đó, bạn đọc đã nhận ra được vẻ đẹp đích thực của văn chương ông và thừa nhận ông là “người có tài” và “viết hay hơn cả” trong Tự Lực văn đoàn”.

(Thạch Lam, Người Đi Tìm Cái Đẹp Trong Cuộc Đời Và Trong Văn Chương).

Hoăc như Nguyễn Phúc trong Quan Niệm Văn Chương Của Thạch Lam, Vị Nghệ Thuật Hay Vị Nhân Sinh (Thạch Lam,Văn Chương Và Cái Đẹp, NXB Hội văn Hà Nội 1994)

“Nét đặc trưng của văn tài Thạch Lam trước hết thể hiện ở chỗ: Là thành viên chủ chốt của một văn đoàn vẫn được nhất trí coi là “lãng mạn”nhưng toàn bộ sáng tác của ông lại không chịu nằm gọn trong cái tên gọi đó, các nhà nghiên cứu văn học đã dụng công đi tìm những khái quát thích hợp, như “khuynh hướng nghiêng về bình dân với sự đồng cảm chân thành” “bút pháp tả thực tỉnh táo”… song xem ra vẫn chưa tìm được danh xưng nào vừa ý. Quả là một đời văn tuy ngắn ngủi nhưng lại có một tầm vóc “ngoại cỡ”

Ông này lại đánh giá văn nghiệp Thạch lam cao hơn ông kia một bậc: ngoại hạng, quá cỡ. Chúng tôi lại xin dẫn chứng một số nhận xét khác.

Hà Văn Đức (Thế Giới Nhân Vật Thạch Lam, Văn Học Việt Nam 1900-1945, NXB Giáo dục 1997). Cho thấy lối viết Khái Hưng, Nhất Linh không thực như Thạch Lam khi so sánh các nhà văn đồng nghiệp với nhau ấy dưới đây.

“Ngòi bút của Thạch Lam tỏ ra trân trọng khi viết về những mặt tốt đẹp ớ người lao động. Trong tác phẩm của những nhà văn lãng mạn như Nhất Linh, Khái Hưng, dân quê hiện ra như một đám người ngờ nghệch dốt nát, bản năng (Vọi, Trống Mái). Thạch Lam không chấp nhận cách gán cho nhân vật của mình “những đức tính và tật xấu mà người dân quê không thực có”. Ông nhìn thấy những niềm vui bình dị, những ước mơ nho nhỏ, những đức tính đẹp tiềm ẩn trong họ”.

Theo chúng tôi nghĩ cá nhân anh Vọi không thể coi là đại diện cho đám dân quê, cái ngờ nghệch của anh Vọi chỉ là trường hợp cá biệt không có tính cách biểu tượng, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

Chúng tôi xin trích dẫn tiếp vài nhận định khác, dưới đây Phong Lê trong bài Thạch Lam Trong Tự Lực văn đoàn (cuốn Văn Chương Và Cái Đẹp).

“Sự sống lại những giá trị văn học tiền chiến trong đó Tự Lực văn đoàn là hiện tượng ta đang chứng kiến, nhưng tôi không tin tất cả những gì thuộc Tự Lực văn đoàn sản sinh ra đều cần được khôi phục lại. Nhiều giá trị mà Tự Lực văn đoàn xây dựng được đã bị thời đại vượt qua, có bộ phận đã bị vượt qua ngay từ trước 1945. Còn Thạch Lam thì tôi vững tin ở sự tồn tại. Nếu không là tất cả thì cũng là phần lớn những gì ông đã viết”.

Nghĩa là theo Lê Phong toàn bộ văn nghiệp của Tự Lực văn đoàn chỉ riêng có Thạch Lam là có giá trị vượt thời gian còn lại đều lỗi thời và bị đào thải.

Dưới đây là nhận xét của Trần Ngọc Dung trong bài Phong Cách Truyện Ngắn Thạch Lam (cuốn Văn Chương Và Cái Đẹp).

“Các nhà tiểu thuyết Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, cũng tỏ ra quan tâm đến nhân dân lao động. Qua các trang viết không phải họ không hiểu được những nỗi thống khổ của người dân nghèo thành thị hay nông dân lao động, nhưng tình cảm không sâu sắc, nhiều khi không tránh được thái độ  khinh bạc của những trí thức trưởng giả đối với những đám người “vô học” “dốt nát”, “hủ lậu”, “bẩn thỉu”(Trống Mái, Dưới Ánh Trăng . . .của Khái Hưng. Tối Tăm, Một Kiếp Người, Chàng Nông Phu, Đầu Đường Xó Chợ… của Nhất Linh, Bùn Lầy Nước Đọng của Hoàng Đạo), nhân vật chủ yếu và lý tưởng của họ nói chung thuộc tầng lớp giầu sang, có học thức cao trong xã hội cũ (Hiền trong Trống Mái, Hạc, Bảo trong Gia Đình của Khái Hưng, Duy, Thơ trong Con Đường Sáng của Hoàng Đạo, Dũng, Loan trong Đôi Bạn của Nhất Linh). Còn Thạch Lam lại xây dựng cho mình một thế giới nhân vật khác. Ông lặng lẽ hướng ngòi bút về phía những người nghèo khổ với tấm lòng trắc ẩn thương xót chân thành”.

Trần Ngọc Dung chỉ công nhận Thạch Lam là người thực sự tôn thờ nhân bản trong Tự Lực văn đoàn, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

Một cách tổng quát chúng tôi xin thu gọn những ý kiến đánh giá cao Thạch Lam của các nhà phê bình trên đây như sau:

-Thạch Lam là người viết hay hơn cả trong Tự Lực văn đoàn.

-Thạch Lam là nhà văn ngoại cỡ, ngoại hạng.

-Thạch Lam là người mô tả dân quê bằng những nét chân thực nhất, các nhà văn khác của văn đoàn như Khái Hưng gán cho dân quê những cá tính mà họ không có.

-Chỉ có văn chương Thạch Lam là tồn tại, giá trị văn chương của các tác giả khác  trong văn đoàn đều đã lỗi thời, đã bị thời đại vượt qua.

-Chỉ có Thạch Lam là thực sự tôn thờ nhân bản, các cây bút khác của văn đoàn như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo. . nhìn người nghèo bằng cặp mắt khinh bạc.

Như quí vị độc giả đều đã biết theo dư luận của các nhà phê bình và dư luận độc giả, Khái Hưng và Nhất Linh đã và đang được coi như có sự nghiệp văn chương lớn nhất trong Tự Lực văn đoàn. Theo dư luận chung, Thạch Lam đã được coi như nhân vật số ba của văn đoàn. Nay theo các nhà phê bình trong nước, thứ tự ấy cần phải được định giá lại nghĩa là Thạch Lam phải là cây viết sáng giá nhất của Tự Lực văn đoàn và Khái Hưng, Nhất Linh đương nhiên phải bị hạ bệ đưa xuống dưới chưa biết xếp vào đâu!

Các nhà phê bình có quyền đánh giá, khen chê một tác phẩm hoặc cả một công trình văn học, họ cũng có quyền định giá lại toàn bộ văn chương của một văn đoàn song không có nghĩa là ý kiến chung, dư luận chung của độc giả bị loại bỏ bởi vì người đọc cũng là một lực lượng phê bình đáng kể mà ta không thể phủ nhận hay loại bỏ một cách dễ dàng. Điều chúng tôi muốn nói ở đây là các nhà phê bình không thể bắt đám đông độc giả phải tuân theo sự lượng giá của họ trên thực tế, độc giả vẫn là độc giả, nhà phê bình vẫn là nhà phê bình.

Các nhà phê bình Tây phương từ hơn nửa thế kỷ nay đã không ngớt lời ca ngợi ngọn bút thần sầu quỉ khốc của Dostoievsky, nhà văn hào Nga thế kỷ 19, nổi tiếng về kỹ thuật mô tả tâm lý nhân vật. Người ta bảo ông ấy là nhà văn hào vĩ đại nhất của nhân loại từ trước tới nay, văn chương của ông ấy cho đến nay vẫn còn mới không bị rơi vào cổ điển, có người cho ông là triết gia sâu sắc, kẻ nói ông là nhà phân tâm học đại tài… thậm chí có người còn so sánh tư tưởng của ông với thuyết tương đối của nhà bác học Einstein nữa…Nhưng trên thực tế số độc giả của Dostoievsky tương đối ít thôi, nhiều người lại bảo đọc sách của ông họ không hiểu ông ấy nói cái gì, cũng có nhiều người thích và khen lấy khen để văn Dostoievsky tuyệt diệu nhưng trong số này nhiều người không biết nó hay ở chỗ nào cả.

Và như vậy phải chăng các nhà phê bình chuyên nghiệp không thể lái độc giả theo ý mình vì độc giả cũng là một lực lượng phê bình đáng kể. Trở lại vị trí của Thạch Lam trong Tự Lực văn đoàn chúng tôi xin được đánh giá theo dư luận chung như sau.

Theo dư luận chung Khái Hưng vẫn được coi là một trong số các tác giả lớn nhất của Tự Lực văn đoàn. Theo  Phạm Thế Ngũ (Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn 3), Khái Hưng là cột trụ của Tự Lực văn đoàn, sáng tác của ông trong văn đoàn dồi dào cả về phẩm lẫn lượng. Theo Nguyễn Vỹ, người đã gặp Nhất Linh ở Sài Gòn 1952 (Kỷ Vật Cuối Cùng, Phượng Hoàng, Cali 1997) Nhất Linh cho biết trong thời kỳ sáng tác cho Tự Lực văn đoàn ông thường đưa bản thảo cho Khái Hưng sửa, cuốn nào Khái Hưng sửa nhiều thì lấy tên cả hai người, cũng có cuốn do Khái Hưng sửa nhiều nhưng vẫn để tên Nhất Linh.

Chúng tôi đã được tiếp xúc với cụ Nguyễn Thạch Kiên trước đây, nhà văn, đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng, cụ cho biết Khái Hưng là người đã khuyến khích và nâng đỡ Thạch Lam. Tiểu thuyềt luận đề của Nhất Linh bị Phạm Thế Ngũ chỉ trích trong khi Khái Hưng không thấy bị chỉ trích, người ta thường coi Khái Hưng như cây viết hay nhất của văn đoàn. Nhất Linh là người đóng góp nhiều nhất cho công cuộc cải cách xã hội, vì công lao của ông với cách mạng xã hội quá lớn nên trên thực tế người ta vẫn thường xếp ông ngang với Khái Hưng.

Và như vậy dư luận chung từ trước đến nay đã xếp hạng Nhất Linh, Khái Hưng như ngôi sao sáng của văn đoàn dĩ nhiên Thạch Lam, Hoàng Đạo sẽ đứng hạng ba, hạng tư. Ta thử so sánh toàn bộ văn nghiệp của Thạch Lam với Khái Hưng, Nhất Linh để có một kết luận khách quan công bằng hơn.

Về mặt số lượng, văn nghiệp của Thạch Lam so với Khái Hưng, Nhất linh thật là quá khiêm tốn: một truyện dài khoảng  200 trang, ba tập truyện ngắn được độ 200 trang, một tùy bút khoảng 60 trang, một lý luận văn chương khoảng 70 trang, toàn bộ chỉ hơn 500 trang, dài bằng Xóm Cầu Mới của Nhất Linh hay cuốn Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng. Như vậy nếu muốn xếp hạng Thạch Lam như một ngôi sao sáng chói đứng đầu Tự Lực văn đoàn thì phẩm chất các truyện của ông phải xuất sắc gấp bội Khái Hưng, Nhất linh vì số lượng quá ít oi.

Trên thực tế các tài liệu cho thấy truyện của Thạch Lam bán chậm, ngược lại truyện của Khái Hưng, Nhất Linh như Hồn Bướm Mơ Tiên, Gánh Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt… bán chạy như tôm tươi. Lý do gì tác phẩm của Thạch Lam không được hoan nghênh? một điều chắc chắn là nó thiếu khả năng lôi cuốn vì tác giả của nó quá chú trọng vào hiện thực và mô tả nội tâm khiến cho câu chuyện trở lên buồn tẻ. Trong bài nói về cuốn Theo Giòng chúng tôi đã phân tích về tiêu chuẩn nghệ thuật của Thạch Lam, về cái chủ quan của ông trong việc đi tìm cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương.

Ông đã nói nhiều lần rằng người nghệ sĩ phải chăm chú vào sự thực, bề trong của con người, hầu như ông đã cho hiện thực, diễn tả tâm lý hướng nội là tiêu chuẩn duy nhất của nghệ thuật và không để ý đến những tiêu chuẩn khác. Thạch Lam chỉ trích những hạng độc giả chỉ chú ý đến cốt truyện mà không màng đến tâm lý nhân vật có đúng hay không, hời hợt hay sâu sắc, nhưng trên thực tế tiêu chuẩn nghệ thuật của một tác phẩm văn chương rất phức tạp chứ không đơn giản như tác giả đã quan niệm.

-Đa số người đọc chú trọng về cốt truyện, những cuốn được coi như có giá trị lâu dài vượt thời gian là những cuốn có cốt truyện hay có khả năng lôi cuốn người đọc như Tam Quốc Chí, Nghìn Lẻ Một Đêm, Hồn Bướm Mơ Tiên chẳng hạn.

-Những tác phẩm có giá trị về lịch sử như Khói Lửa Kinh Thành (Lâm Ngữ Đường) Chiến Tranh Và Hoà Bình, Sông Don Thanh Bình (Sholokhov)… đã làm sống lại một giai đoạn lịch sử.

-Những tác phẩm có giá trị về xã hội như Godfather có thể coi như một tài liệu đầy đủ về xã hội đen tại Mỹ.

-Những tác phẩm lãng mạn bay bướm như Anna Karénine, Đôi Bạn, Cuốn Theo Chiều Gió…

-Những tác phẩm diễn tả được những ý nghĩa, luận đề như Lão Ngư Ông Và Biển Cả của Hemingway ca ngợi tinh thần phấn đấu với số mệnh đến cùng.

Một tác phẩm văn chương hay phải là một tác phẩm cân đối và hoàn chỉnh rung cảm được người thưởng thức qua nhiều tiêu chuẩn nghệ thuật chứ không quá đơn giản như dưới cái nhìn của Thạch Lam. Sách của ông không bán được phần lớn vì buồn nản, monotone mặc dù tâm lý nhân vật sâu sắc, hiện thực, tâm lý và hiện thực cũng không cứu vãn được tình thế.

Không đủ khả năng lôi cuốn người đọc mặc nhiên về nghệ thuật cốt truyện phải thua kém Nhất Linh, Khái Hưng và nhất là tính chất lãng mạn, một yếu tố quan trọng để khiến nó đủ khả năng lôi cuốn thì truyện của Thạch Lam cũng không được phong phú cho lắm như ở Khái Hưng, Nhất Linh. Không khí yêu đương lãng mạn trong văn chương Thạch Lam so vói Nhất Linh, Khái Hưng còn thua kém nhiều. Nghệ thuật phải có tính chất đại chúng, phục vụ đám đông chứ không phải làm theo cái ý thích của mình.

Tiểu thuyết, truyện ngắn của Thạch Lam hiện thực được cả những nền nếp phong tục xã hội, những cảnh bần cùng đói khổ của giới người nghèo cùng mạt xã hội nhưng lại không mang những ý nghĩa cách mạng, cải cách xã hội như Đôi Bạn, Nửa Chừng Xuân, hoặc không nói lên được nhiều về những mặt trái tàn nhẫn của nền luân lý cổ như Lạnh Lùng của Nhất Linh. Thế giới giầu cũng có những cái hay riêng như trong Băn Khoăn của Khái Hưng, không phải chỉ nói về giới nghèo mới là có giá trị cao.

Một tác giả muốn được xếp vào hàng ngoại cỡ chúng tôi nghĩ cần phải có sự toàn diện về nghệ thuật bởi vì một vài tiêu chuẩn riêng thực không đủ để xếp hạng như vậy, tiêu chuẩn nghệ thuật đa dạng và toàn diện, cái mà văn chương của Thạch Lam còn thiếu mặc dù có xuất sắc ở một vài bình diện nào đó.

Ở đây chúng tôi không lạc đề, không chỉ trích những yếu điểm của Thạch Lam để dìm ông xuống và đề cao Khái Hưng, Nhất Linh nhưng vấn đề là chúng ta phải nhìn nghệ thuật bằng cặp mắt khách quan đứng ngoài ảnh hưởng của thành kiến. Chúng tôi đồng ý nhìn nhận Thạch Lam là một nhà văn chuyên về đoản thiên có những nét sâu sắc, độc đáo, người đã đóng góp nhiều cho Tự Lực văn đoàn cũng như đã tô điểm những nét đẹp cho nền văn chương Việt Nam nhưng ông vẫn chỉ là một nhân vật số ba của Tự Lực văn đoàn không hơn không kém và địa vị của Khái Hưng, Nhất Linh mà người ta thường gọi là cột trụ của Tự Lực văn đoàn là một sự kiện  dĩ  nhiên  không thể đảo ngược bởi những lý do mà chúng tôi đã diễn đạt ở trên.

Chúng tôi xin trở lại nhận xét của những nhà phê bình trong nuớc về việc thẩm định lại giá trị văn chương của Tự Lực văn đoàn. Theo như nhận xét của Trần Ngọc Dung, các nhà văn Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo chỉ chú trọng tới xã hội trưởng giả, giầu có, ông ngụ ý chỉ trích họ không thực sự quan tâm đến giới bình dân, nhưng đề tài văn chương đâu có thể hạn hẹp vào một khuôn khổ nhất định được. Thiên chức của nhà văn không phải chỉ để ca tụng giới bần cố nông khố rách áo ôm mà nghệ thuật của họ phải được mở rộng ra cho tới tận chân trời đến tất cả mọi khía cạnh của xã hội, con người. Chiến Tranh và Hòa Bình, Anna Karénine… của Léon Tolstoi chỉ diễn tả thế giới của giai cấp quí tộc, ông hoàng bà chúa  không ca ngợi nông dân nhưng đã chẳng được dư luận chung xếp vào hàng những công trình văn hóa nhân loại là gì?

Các nhà phê bình khen lấy khen để Thạch Lam như một ngôi sao sáng chói nhất trên bầu trời Tự Lực văn đoàn nhưng họ lại quên chú ý đến một điểm là sách của ông khó bán, chúng ta thử tìm hiểu tại sao? Thạch Lam ca ngợi Dostoievsky như một nhà viết tiểu thuyết có giá trị nhất của thế kỷ và trên hoàn cầu, ông đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Dostoievsky. Chủ đề chính trong các tác phẩm của nhà văn hào này là sự tranh đấu giằng co giữa thiện và ác để làm chủ tâm hồn và đã ảnh hưởng tới Hồn Bướm Mơ Tiên (Khái Hưng), Tháng Ngày Qua, Bắn Vịt Trời (Nhất Linh), Sợi Tóc, Một Cơn Giận (Thạch Lam). Thạch Lam chịu ảnh hưởng Dostoievsky nhiều nhất về thuật tả tâm trạng con người, đó chính là một trong những lý do khiến cho tác phẩm của ông khó được hoan nghênh vì thiếu khả năng lôi cuốn không đáp ứng được sự đòi hỏi của người thưởng thức. Người đọc có nhu cầu của họ, nhà văn viết theo sở thích của mình tức là tự mình tách rời đám đông và sẽ bị họ lơ là bỏ rơi không thương không tiếc.

Các nhà phê bình văn học trong nước ca ngợi Thạch Lam là người yêu thương và đi sát với những người nghèo cùng khổ, nhưng sự đi sát của ông có giá trị hơn công cuộc tranh đấu cải cách xã hội của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo hay không? Điều mà họ nói nhìn lại lịch sử một cách công bằng phải chăng chỉ là trò GIAN MANH VĂN NGHỆ?  nhìn lại lịch sử một cách khách quan như thế phải chăng chỉ là đưa chính trị vào văn chương một cách vô cùng khôn khéo.

Phải chăng việc các ông lên án Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo vì họ là những người quốc gia chân chính đã can đảm đứng lên chống lại một tập đoàn đại bịp gian ác trước kia? Phải chăng việc kết án Khái Hưng là khinh bạc dân nghèo để bào chữa cho việc thủ tiêu nhà văn lớn này tại bến đò Cựa Gà Nam Định 1947 mà chứng cớ còn rành rành qua lời tường thuật của các nhân chứng hiện còn sống sót trong cuốn Kỷ Vật Cuối Cùng. Nhìn lịch sử một cách khách quan như các ông chỉ là trò mập mờ đánh lận con đen, giả mù sa mưa hoặc trò tuyên truyền xảo quyệt.

Những ý kiến lệch lạc và sai lầm tận gốc rễ ấy thực không đáng được gọi là phê bình, được viết lên bởi những kẻ đã cố tình bóp méo văn chương, bóp méo sự thật để loại bỏ những tác giả mà họ không đồng quan điểm.

Phê bình văn học đã đóng một vai trò quan trọng không những trong văn học sử mà còn có thể ảnh hưởng tới nền văn hoá lâu dài của cả một dân tộc. Chẳng thế mà người xưa đã nói: làm thầy thuốc mà sai lầm thì giết một người, làm chính trị mà sai lầm thì hại một đời, làm văn hoá mà sai lầm thì hại muôn đời.

Trọng Đạt

Quán Thơ Hư Vô 415



HẾT NỬA ĐỜI MỚI BIẾT ĐẮM SAY NHAU

Ta đã lãng phí đời nhau một nửa
Một nửa đời sau còn được bao lâu
Thì em hãy vì ta như đóm lửa
Đốt cháy cả trần ai để bạc đầu!

Cho em biết tình yêu là hung bạo
Là bão giông theo mỗi tiếng thở dài
Dù ta có tan vào đêm cùng tận
Em vẫn nồng nàn như đang sớm mai.

Chưa hết trăm năm để thành người lạ
Em nửa đời như thể mới hôm qua
Vẫn hừng hực nhịp tim trong lồng ngực
Vụt cháy bùng theo vạt áo lụa là.

Còn vẳng tiếng em từ cơn mê hoặc
Lời cuồng say tựa những đợt sóng gào
Ta đã có một thời tình thất lạc
Hết nửa đời mới biết đắm say nhau…

Hư Vô

ĐƯA VÕNG NGÀY XUÂN

Võng êm tình tự ngày Xuân,
Đong đưa hạnh phúc trăm lần yêu thương.
Rót lên từng sợi vấn vương,
Tuổi thơ ngà ngọc mùi hương dậy thì.

Thủy tinh nắng mới trên mi,
Nhởn nhơ chân bước, tình si ai chờ…
Đong đầy thêm những ước mơ,
Mùa Xuân má đỏ bên trời trong xanh.

Anh về gieo hạt mộng lành,
Nụ cười chúm chím trên vành môi thơm.
Yêu nhau từ buổi sớm hôm,
Một đời chẳng đủ tay ôm không vừa.

Xuân về, lại hỏi về chưa?
Tóc xanh bỗng chạm bạc mầu thời gian.
Ngày Xuân lắng đọng lòng trần,
Võng đưa ngày mới tâm thân an lành.

trầnthịminhchâu

NỒNG NÀN MƯỜI HAI

Gió se chiều muộn
rớt lạnh tàn năm
ngân dài nỗi nhớ
thả sầu thinh không.

Một thời đuổi bóng
phớt cuộc tình theo
én trùng dương sóng
xô đời dạt xiêu.

Mùa Đông choàng ấm
ngọt mềm môi thơm
giọt suy tư đắng
vết thương lăn tròn.

Phố chìm vào mộng
em niềm mơ hoang
sủng ân cõi thế
mười Hai nồng nàn!

Nguyễn Nguyên Phượng

THƯƠNG NHỚ TRẦU CAU

Sóng đôi như cá bạc đầu
Ai têm cánh phượng cau trầu kết đôi
Thắm duyên từ thuở yêu người
Bên núi lỡ – phía sông bồi ai hay.

Bến quê con nước vơi đầy
Bước chân phiêu dạt dấu giầy long đong
Đời người sóng bủa mênh mông
Trầu cay từ buổi lọt lòng mẹ cha.

Khi tình xếp lá ngây thơ
Tiếng ru đã vắng câu hò về đâu
Giàn xưa xanh ngát liếp trầu
Hương cau ngây ngất quyện màu khói sương.

Quê người có lúc chiều buông
Sáo qua sông tiếng kêu buồn lẻ loi
Tôi ơi từ buổi xa người
Trầu cau đã cạn hết lời nhớ thương.

Nguyễn An Bình

CHÚT ƠN TÌNH THÁNH NỮ

Từ cõi nào rất lạ
Đến hẹn giữa mùa nhau
Tôi đã đời lữ thứ
Em một thời tiểu thư

Ngỡ như mùa sắp cạn
Ngày vẫn đầy sắc hương
Nụ cười em biếc ngọc
Gói nỗi buồn mang đi

Tìm nhau trong mộng mị
Đêm dư thừa nhớ nhung
Em đã là thánh nữ
Giữa mùa tôi tục trần

Cõi diệu huyền em tới
Những nẻo đời biếc xanh
Tìm nhau trong ngõ tối
Lòng đã đầy bao dung

Chút ơn, tình thánh nữ
Giữa vô ngần bão dông
Bụi hồng tôi trước gió
Tình em hoài mênh mông.

Trung Chinh Ho

GIAO MÙA

Ta đứng bên trời ngong ngóng đợi
Mùa xuân lừng lững bước qua đời
Lá vàng rơi rụng thềm nhung nhớ
Khẽ nhặt tình ai lặng lẽ rơi

Em đến rồi đi sầu ở lại
Nỗi buồn hóa thạch phủ hồn thơ
Bến đời ai đứng chờ mê mải
Khoảng lặng vô hồn chôn giấc mơ

Ta trả cho em một nỗi buồn
Chín buồn còn lại hóa mười thương
Em về giữ cả mười thương đó
Để mãi lòng ta trọn vấn vương

Đêm bỗng thấy dài hơn tưởng tượng
Làm sao dỗ giấc mộng hoang đường
Nghĩ gì khi cạn dòng suy tưởng
Nhắm mắt quên đi những chán chường

Dẫu biết tình yêu luôn tuyệt diệu
Đời người chỉ tựa áng mây trôi
Ngắm trời lòng chợt rưng rưng hiểu
Giọt lệ ngày nào em đánh rơi

Ninh Tran

SƯƠNG CHIỀU CỐ QUẬN
(Gửi Thục Uyên)

Ta có những đêm sầu cố quận
Chong đèn ngồi nhớ buổi long đong
Hỡi ơi! con nước xa bờ ấy
Còn rớt ven sông mấy giọt buồn!

Muốn hỏi bên kia trời viễn xứ
Đường chiều lặng lẽ cuối chân mây
Xuân qua đã mấy mùa rong ruổi
Sao vẫn hồn vương gió ngập đầy…?

Nằm nghe tuyết phủ bên trời rộng
Bên này- lòng cũng giá băng thôi
Núi chẳng xanh cây, chim chẳng đậu
Còn sá chi đất Mẹ, quê người…

Há lẽ chúng mình như lữ khách
Có cố hương không một lối về
Lỡ một lần xa là vạn dặm
Mỏi mòn từng nỗi nhớ thương quê.

Đã bước chân đi vào mê lộ
Là biết đi vào cơn biển dâu
Bên sông chưa thấy hoa quỳ nở
Đã thấy sương pha bạc mái đầu…!

Châu Ly

CÙNG ANH UỐNG NGỤM GIAO THỪA

Cũng là tháng chạp tinh khôi
Và sương như áo mỏng ngồi trên cây
Chở nhau về trú đêm này
Nắng lên hắt một bụm mây. Ra đồng

Sắc trời đã hóa hư không
Hỏi cô én nhỏ phải lòng ai chưa?
Cùng anh uống ngụm giao thừa
Nhắc em kịp nhớ. Khi vừa vặn quên

Dịu dàng giấu một cái tên
Vào trong đôi mắt tháng giêng trong ngần
Nụ hồng ai để trước sân
Và xuân lấp ló về lân la ngồi

Mai Tuyết

YÊU NGƯỜI

Yêu người ta đã yêu người ấy
Yêu cả trăm năm cả nghìn năm
Vẫn chưa thấy đủ nên ta đã
Viết vào khuôn trăng một ánh rằm

Câu thơ ta viết trong như nước
Để đẹp nhân gian một nụ cười
Chẳng phải Hằng Nga chẳng Chức Nữ
Chỉ là em em của ta thôi

Em cũng như ta chỉ là cỏ
Là mây trôi là nước giang hồ
Trên đỉnh non cao vầng nguyệt quế
Ngó thiên đường chỉ thấy hư vô

Yêu người bằng trái tim thơ dại
Như người xưa yêu cả lối về
Yêu đến độ trái tim cháy lửa
Dẫu tro tàn chẳng hết si mê

Câu thơ ta viết xanh màu lá
Vào khuôn trăng em rất thiệt thà
Có nụ cười hiền ngoan của cỏ
Có một đời mưa nắng thiết tha

Yêu người ta chỉ yêu người ấy
Hơn cả trăm năm cả nghìn năm

Vương Phạm Tâm Ca

Em Có Là Mưa Nắng, Cũng Lạnh Tựa Nhát Dao. Thơ Hư Vô



Có khi trời còn nắng
Đã nghe mưa trong lòng
Có khi chiều rất vắng
Ta ngồi với bóng không.

Em thì như mưa nắng
Còn chưa biết hẹn hò
Để ta thành trang giấy
Chất đầy những câu thơ.

Tìm nhau trong tập vở
Có khi rất tình cờ
Như một giọt mực tím
Mà biếc cả giấc mơ.

Ta nương theo nhịp thở
Níu sợi tóc em dài
Bàn tay chưa vói tới
Hình hài em như mây.

Lơ lửng cùng mưa nắng
Cho đầy thêm mùa thu
Lá bay che kín lối
Đường em qua mịt mù.

Ta như người lữ khách
Đâu còn chốn nương thân
Bước chưa tới chiếc bóng
Đã chạm nỗi thăng trầm.

Làm tim ta rỉ máu
Vết thương đang dậy thì
Chỗ em đã dẫm xuống
Cả một thời tình si.

Êm ả mà nhói buốt
Từ nỗi đau ngọt ngào
Em có là mưa nắng
Cũng lạnh tựa nhát dao…

Hư Vô

Hết Nửa Đời Mới Biết Đắm Say Nhau. Thơ Hư Vô


Ta đã lãng phí đời nhau một nửa
Một nửa đời sau còn được bao lâu
Thì em hãy vì ta như đóm lửa
Đốt cháy cả trần ai để bạc đầu!

Cho em biết tình yêu là hung bạo
Là bão giông theo mỗi tiếng thở dài
Dù ta có tan vào đêm cùng tận
Em vẫn nồng nàn như đang sớm mai.

Chưa hết trăm năm để thành người lạ
Em nửa đời như thể mới hôm qua
Vẫn hừng hực nhịp tim trong lồng ngực
Vụt cháy bùng theo vạt áo lụa là.

Còn vẳng tiếng em từ cơn mê hoặc
Lời cuồng say tựa những đợt sóng gào
Ta đã có một thời tình thất lạc
Hết nửa đời mới biết đắm say nhau…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 414



DÃ QUỲ VÀO XUÂN

Cánh dã quỳ mong manh như lụa
Trên tóc em gầy vai áo xưa
Của những mùa xuân đang trở lại
Cho dài bóng lá biết tương tư.

Thềm cũ miên man hồn cuối chạp
Chập chờn theo mỗi bước chân tôi
Chỗ có em ngồi phơi dáng nắng
Như còn óng ánh dấu son môi!

Em suốt đời vẫn là chiếc bóng
Hoá thân vào một cõi dung nhan
Thì tôi cũng có lần quờ quạng
Trên môi em để biết hoang đàng.

Cho tóc còn thơm tho mùi Tết
Dã quỳ như thể mới tầm xuân
Mà em tựa hạt sương tan chậm
Không có trăm năm cũng một lần…

Hư Vô

MÙA XUÂN TRONG HY VỌNG

Xuân còn lãng đãng bên khung cửa,
Lòng đã vàng theo với hoa mai.
Có phải kiếp sau mình gặp lại?
Thì một đời gọi mãi tình nhân.

Đất trời gió bụi bao chuyển vận,
Mây xám buồn giăng với nhân gian.
Rót chén trà thơm xin cùng nhấp,
Để lại tình đời chữ bình an.

Xuân vẫn ở đây chẳng muốn tàn,
Chỗ ngồi còn ấm đợi sương tan,
Mặt trời thôi khóc, niềm hy vọng,
Ta gặp lại nhau ấm tình nồng.

trầnthịminhchâu

NẾU NHƯ…

Nếu mở mắt chỉ thấy toàn bóng tối
Thì khác chi ta một kẻ mù lòa
Nếu xuân về quay mãi guồng tơ rối
Thì khác chi đông lạnh lẽo mưa sa

Nếu câu hỏi không có lời đáp trả
Thà làm rêu ngồi trên đá lặng câm
Nếu yêu thương chỉ đầu môi chót lưỡi
Thà làm chim ca hát giữa cánh đồng

Phố, phố vắng như hành tinh hoang vắng
Người, người trôi xa lạ khuôn mặt người
Khi tay chạm đến kiệt cùng vực thẳm
Nơi đáy sâu thiếu hơi ấm tình đời

Những ký ức nhắc giấc mơ tan vỡ
Muôn kiếp dường sẽ mãi vậy mà thôi
Hết sớm tan, chiều đi, đêm đen tới
Mùa gối mùa, tháng gối tháng. Lặng trôi…

Nếu nụ cười, nước mắt là mộng cảnh
Nếu buồn, vui cũng chỉ thoáng phù vân
Sao lòng phải day dứt cùng khổ luỵ
Nhủ lòng mình sống trọn một ngày xanh

Thiên Di

XUÂN MUỘN

ơi em
ngày đã qua rằm
ơn trời
cho nụ tơ tằm đơm hoa.
hẹn thề trải mấy can qua
thương xuân trổ muộn mùa xa biệt mùa.

ơn đời
còn tiếng dạ thưa
ơn em
dành chút tình thua thiệt tình.
mai ngày cưỡi mộng về dinh
mời em cạn chén nhục vinh kiếp người.

anh về
sắm chiếc gương soi
mình chung đôi
với bóng đời xế tan…

Đức Phổ

NGÀY XUÂN QUÁ VỘI

Thế rồi xuân cũng vội
Trôi qua lòng hoàng hôn
Vàng hoa chiều tiếc nuối
Rơi như giọt lệ buồn

Hình như em cầm giữ
Mấy mươi mùa xuân tôi
Hình như em vừa thả
Tình xuân tôi bên trời

Tôi hóa thành chiếc lá
Vàng suốt một rừng xuân
Em ướm lòng hương cũ
Chưa nguôi niềm lãng quên

Ngày xuân qua quá vội
Lòng chưa kịp giao thừa
Có người thay áo mới
Thầm nhớ mùi hương xưa

Tình em vàng hoa cúc
Từ buổi nguyệt chưa rằm
Tôi một đời nở muộn
Nở muộn hoài trăm năm.

Lê Văn Trung

GIẤC MƠ NÀO MẶC CẢ ĐƯỢC HƯ VÔ

Là giọt lệ không đan thành nước mắt
Nụ trên môi mà nhụy khép trong hồn
Con sẻ nhỏ trên đường biên hiu quạnh
Ngó mây trời bằng đôi cánh hoàng hôn

Là hơi thở nép mình vào trôi giạt
Bước miên man còn vướng sợi tơ hoài
Âm huyết lạnh tự trầm trong khúc hát
Sonate chiều lơ lửng nhịp tàn phai

Ngọn cỏ úa nghiêng mình hôn mặt đất
Nghe bàn chân kể lể chuyện lưu đày
Đàn kiến mỏng đi về trong sương lạnh
Giữa điêu tàn hương rụng lá vàng bay

Từ cõi nọ đã bộn bề trống rỗng
Chén mênh mông đong từng giọt mơ hồ
Thì tôi hỡi giữa thiên đường hoa mộng
Giấc mơ nào mặc cả được hư vô

Bờ tịch mịch cổng huyền xưa khép mở
Nhánh lau gầy cõng gió với mông lung
Tiếng chim mọc phía bèo tan nước vỡ
Một âm rung thiêu cháy cả vô cùng…

Sơn Nguyễn

XUÂN VỀ

Khẽ thôi,
bước khẽ
thôi người

Nghe mùa
để dáng
bên đời sáng nay

Dịu dàng
tươi thắm
sắc mai

Muôn hoa rộ nét
mãn khai,
xuân về…

BT Áo Tím

NHỚ QUÊ

tôi ngồi với bóng tôi đây
ngọn đèn bạch lạp chảy nhầy nhụa đêm

lần tay đếm cả bao diêm
giao thừa tôi với mình ên. tôi và

nhớ chi là nhớ. chu choa!
nhớ mẹ nhớ bà. nhớ bố nhớ ông…

chắc con Trang cũng lấy chồng
mình đi biệt dục đã không tin gì

con chó mực biết giờ đây
mình về nó có nhớ này nữa không?

nhớ gì. nằm nhớ phông lông
nhớ tùm lum hết mà không nhớ gì

gần sáng rồi thôi ngủ đi
nhắc mình thế. lại nằm lì. thở ra

nhớ tháng chạp mấy luống hoa
dướng dương vạn thọ mồng gà trổ huê

tết nghèo nhưng ấm ám quê
mấy sắp nhỏ cứ đi khoe lì xì

trở mình nghe giấc thiên di
tết sum họp được mấy người tha hương?

tôi nằm/ngồi gác trọ vuông
ước gì ngủ giấc luông tuồng cho xong

vậy mà đêm não đi rong
ngược về quá khứ cho lòng nhểu ra

cây đèn bạch lạp thêu hoa
mắt người mắt phố nhòe ra vô cùng…

Trần Thanh Dũng

CẢM NHẬN CUỐI NĂM

Ô kìa,
những hạt mưa sa
bay qua
vẫn bay

Nỗi nhớ nào đang lay
trên từng xác hoa gầy

Ngày níu theo ngày
Đang bỏ ta
Với ta bà
Nhìn theo
những dấu chân xa..

Trung Chinh Ho

Dã Quỳ Vào Xuân. Thơ Hư Vô



Cánh dã quỳ mong manh như lụa
Trên tóc em gầy vai áo xưa
Của những mùa xuân đang trở lại
Cho dài bóng lá biết tương tư.

Thềm cũ miên man hồn cuối chạp
Chập chờn theo mỗi bước chân tôi
Chỗ có em ngồi phơi dáng nắng
Như còn óng ánh dấu son môi!

Em suốt đời vẫn là chiếc bóng
Hoá thân vào một cõi dung nhan
Thì tôi cũng có lần quờ quạng
Trên môi em để biết hoang đàng.

Cho tóc còn thơm tho mùi Tết
Dã quỳ như thể mới tầm xuân
Mà em tựa hạt sương tan chậm
Không có trăm năm cũng một lần…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 413



LẠC LỐI VỀ

Tôi về như thể hồn Lưu – Nguyễn
Lối xưa lạ lẫm tự bao giờ
Trăm năm chưa dài hơn nhịp thở
Thì làm sao đuổi kịp cơn mơ!

Mà em từ thuở quên hò hẹn
Chốn cũ hoang tàn những dấu chân
Của người lữ khách không chỗ trọ
Có lần bước vấp bóng tình nhân.

Núi còn không hay lời đá gọi
Em chắc gì đã biết tôi đau
Vết thương dẫu có liền da thịt
Trong tim vẫn rát buốt cồn cào.

Tôi về như thể người đi lạc
Vào cõi nhân gian chịu nhục hình
Chân trần dẫm xuống chùm gai nhọn
Còn nghe loạng choạng cuộc phù sinh…

Hư Vô

CƠN MÊ
Thân tặng Nhứt Lang

Tìm đâu một lối đi ra,
Quanh co cũng mãi lòng va nỗi sầu.
Môi son chợt bỗng nhạt mầu,
Cuối năm buồn hỏi Tết đâu chẳng về?

Thôi thì gió bụi cơn mê,
Tử sinh chia cắt lòng tê tái lòng.
Đêm khuya bên ngọn đèn chong,
Như người thấp thoáng, nhớ vòng tay ôm.

Chiều về nhìn ánh sao hôm,
Gió Xuân se lạnh còn thơm hương tình.
Khoác vào áo lụa hoa xinh,
Soi gương vẫn thấy bóng hình đôi ta.

Chuông vang tiếng nhạc lời ca,
Cuộc đời không thật như là trong mơ.
Bên này xin gởi bài thơ,
Bên kia đón đọc duyên tơ vẫn hồng…

trầnthịminhchâu

LỜI CUỐI NĂM

Em à sa mạc hoa đắt
dành dụm chút vì tương lai
mà em thường hay lãng mạn
ngó trời vạn đóa hoa mây

Đừng ngây người ra đứng thế
kẻo mà thừa thãi đôi tay
giẻ đây lau chùi nhà, bếp
giúp anh dọn dẹp nơi này

Thôi chả thêm quần áo mới
tết chỉ vài ngày loay hoay
môi em không cần son đỏ
đi đâu tô vẽ lông mày

Phiền em ngồi yên một chỗ
đừng viết thơ tình cho ai…

Diệp Hoàng

KHÚC CUỐI ĐÔNG

Một ngày ngọn gió di cư
Thổi ràn rạt xuống hồn từ đêm qua
Se lòng lá cuộn bâng quơ
Cây co ro lạnh ngọn khô phơi mình.

Một ngày ngọn gió vô tình
Tôi ơi thân phận tội tình gì không?
Em cùng tôi chạy long đong
Kiếp tằm có nhả tơ lòng ngày sau.

Một ngày ngọn gió hư hao
Về miền xa thẳm ai nào đón ai
Phiêu bồng ngọn cỏ chiều nay
Tình còn nán lại chút nầy đó thôi.

Một ngày ngọn gió mồ côi
Tráo bao thân phận mảnh đời phù hoa
Nhạn bay khắp cõi giang hà
Bỏ tôi ở lại bên bở tử sinh.

Một ngày ngọn gió trở mình
Cuối năm cứ ngỡ bóng hình người xa
Một cơn mưa muộn trôi qua
Cánh hoa đào rụng la đà riêng tôi.

Nguyễn An Bình

MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ – Đỗ Phủ

Nửa phía biển dạt trôi…miền vọng nhớ
Tan tác chiều chia biệt bởi vì đâu
Nắng Cali chập chờn tầng ngất phố
Những bông li rụng trắng dưới chân cầu.

Áo tình em cuốn mê đời phiêu bạt
Giảng đường xưa Cường Để giữ mà thương
Mộng bình nguyên bên trời chất ngất
Một nhành mơ phất gọi nấy nẻo đường!

Thơ ta đọc vỉa hè run rẩy gió
Nhà Tây Hồ đằm ngọt cọng rau tươi
Về Phú Nhuận ngã tư đời đứng ngó
Sóng ưu tư lên chờn chợn mặt người.

Em đừng hỏi tuổi xanh pha sợi bạc
Hỏi này sông thả lá đợi chờ Thu
Như thuở ngu ngơ cầm nhầm Thạch Thảo
Tìm thấy nhau cuối bến lạ sương mù?

Giọt thơm đắng Sài Gòn năm tháng tận
Bạn bè ta mây trắng lãng đãng trôi
Rưng hồn quê Cúc vàng thơ Đỗ Phủ
Mộng hoài hương da diết Sài Gòn ơi!

Nguyễn Nguyên Phương
Cuối Chạp, Canh Tý 2021

MÙI HƯƠNG VANI

Tôi đi ngang qua khu vườn lá non
Buổi sớm mai. Nghe tiếng chim thơm mùi cỏ biếc.
Nghe giọt sương vừa kể câu chuyện mùa xuân…

Nghe cánh gió đậu lại môi cười.
Tôi nhìn thấy. Nàng răng đen
Mắt một mí!

Tóc xoăn như chiếc bắp cải xanh
Đôi mắt như viên bi ngây thơ. Nàng trong hình hài cô lọ lem hiện đại
Tôi mãi mê ngắm nhìn. Tôi ước tôi cũng giống nàng.

Ước tôi được như nàng. Trong vắt
Ngoài kia những cụm khói như sóng
Tràn qua ký ức tôi. Rụng mùi hương vani!

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

HƯƠNG XUÂN

sáng nay thoáng một nụ hoa vàng
Sau chòm lá biếc sương chưa tan
Chú chim sẻ nhỏ reo thánh thót
Rót giọt nắng mềm… Ô! xuân sang

Xuân đến nhẹ nhàng như giấc mơ
Ta nghe ấm lại một hồn thơ
Đất trời đang độ mùa giao hưởng
Hoa lá cựa mình, đẹp mgẩn ngơ…

BT Áo Tím

TỰ NHIÊN

Tự nhiên thấy mình đã già
Thấy xuân trẻ quá sắp qua tết rồi
Tự nhiên mồ côi tiếng cười
Hiếm hoi như thể ba mươi trăng về

Tự nhiên thương lắm miền quê
Thương bờ lau trắng triền đê bồi hồi
Tự nhiên chỉ tự nhiên thôi
Mà nước mắt mặn trên môi nhớ thầm

Tự nhiên xinh một đóa rằm
Cài trên ngực thuở thanh tân xuân thì
Tự nhiên ai đó trồng si
Trổ cành vươn nhánh mỗi khi đông tàn

Tự nhiên nhớ bến đò ngang
Đưa người buổi ấy để ngàn chiều đau
Tự nhiên tóc lại đổi màu
Như là thương nhớ rối nhàu mây bay

Tự nhiên muốn nghe tim say
Tự nhiên ghét thế gian này ghét em

Vương Phạm Tâm Ca

ANH YÊU EM MÙA XUÂN

Anh yêu em mùa xuân
Hoa nắng hồng tình nhân
Áo xuân choàng hương sắc
Trải nhạc lừng bước chân.

Tay trong tay tình mơn
Gió dịu dàng môi thơm
Hoa bướm vờn giậu biếc
Yêu tha thiết trong hồn!

Mùa xuân cỏ non xanh
Lăn tròn em với anh
Cây hồng hào da thịt
Chim hót reo trên cành

Mùa xuân đẹp đường cong
Xanh núi rừng biển sông
Cuộc đời ly rượu mạnh
Mùa xuân chín say lòng!

Nầy cành mai vàng thắm
Nầy là cành đào yêu
Muôn hoa xuân sắc thắm
Anh yêu em! Anh yêu!

Mùa xuân! Anh yêu em
Đất trời lạ mà quen
Tình phút giây vĩnh cửu
Trong lòng Mẹ Thiên Nhiên!

Anh yêu em mùa xuân
Máu rạo rực trong thân
Dù đêm xuân trăng khuyết
Vẫn tình nồng ái ân…

Trần Thoại Nguyên

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: