Đọc hồi ký “Nguyễn Tường Bách và Tôi”. Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh

Chân dung và tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tường Bách

(Chân dung và tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tường Bách)

Ở tuổi của tôi, những điều hiểu biết về Tự Lực Văn Đoàn không phải chỉ gồm trong sách vở. Qua những người quen biết, đã có những câu chuyện, những giai thoại chung quanh những nhân vật đặc biệt của lịch sử này. Cuộc sống của họ, trôi nổi theo những biến cố của đất nước và tôi nghĩ, nếu ở những lớp hậu sinh, nhìn vào đó sẽ gặt hái được nhiều kinh nghiệm. Số phận của những quốc gia nhược tiểu thường không nằm trong chủ quyền độc lập mà thường lệ thuộc vào những kế sách và âm mưu của những cường quốc. Việt Nam là một ví dụ cụ thể nhất.

Từ những khai phá về văn chương tạo thành một thời kỳ văn học rực rỡ, những thành viên trong Tự Lực Văn Đoàn còn là những nhà cách mạng và họ là những người hành động có mặt trong những thời kỳ đầy biến động của lịch sử. Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, .. không phải chỉ là nhà văn mà còn là chiến sĩ, là người đem lý tưởng của văn chương thực hiện trong cuộc sống.

Và một nhân vật, là một trong lớp bác sĩ Tây y đầu tiên của Đại Học Hà Nội, đã viết văn làm thơ từ khi còn trẻ, là chủ nhiệm tờ báo Ngày Nay, là em út trong gia đình bảy người con trong đó có những tên tuổi lẫy lừng: Nhất Linh , Hoàng Đạo, Thạch Lam, cũng là một khuôn dáng lịch sử, của những nhà văn mà cũng là những người cách mạng, đã hành động với lý tưởng đã ôm ấp từ thuở thiếu thời: bác sĩ Nguyễn Tường Bách.

Cụ Nguyễn Tường Bách sinh năm 1916 đến năm nay đã 92 tuổi. Tiểu sử của cụ là nhà văn, phụ trách tờ Ngày Nay bộ mới năm 1945, rồi tờ Việt Nam, tham gia đảng Đại Việt Dân Chính rồi sau gia nhập Quốc Dân Đảng hợp nhất của Đại Việt Cách Mạng Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1946 lưu vong sang Trung Hoa và bị kẹt lại khi Mao Trạch Đông chiếm Hoa Lục và hành nghề bác sĩ đến năm 1988 mới cùng gia đình sang định cư ở Hoa Kỳ. Cuộc sống ấy, được cụ viết trong tập tiểu thuyết nhưng có phong vị của một tập hồi ký “Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn”.

Tôi vốn là đứa tò mò và luôn luôn muốn tìm hiểu xem những lớp cha anh của tôi đã suy nghĩ thế nào, đã sống như thế nào trong những thế thời lịch sử đã qua. Tôi độ chừng là từ chuyện kể của cụ Nguyễn Tường Bách sẽ tìm được những chi tiết lý thú cho cá nhân tôi và có khi cho độc giả nữa. Anh Duy Lam, vốn là cháu của cụ Bách đã sắp xếp để tôi có dịp được hầu chuyện với cụ nhân thể vấn an sức khỏe cụ bà luôn. Chúng tôi dự trù là sau tết âm lịch sẽ cố gắng có một buổi phỏng vấn mà tôi nghĩ sẽ tìm hiểu được nhiều điều từ bên trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử của văn chương cũng như nỗi niềm, tâm sự của người trí thức trước những ngả rẽ quanh co của thời thế.

Nhưng, tuần rồi, nghe tin cụ bà vừa từ trần. Tự nhiên, thấy có một điều gì buồn buồn, mất mát. Những chân dung con người ấy, rồi cũng phải mờ phai. Những cuộc sống ấy, rồi sẽ thành những câu chuyện kể của quá khứ. Đọc lại cuốn sách cụ vừa viết và xuất bản năm 2005 “Nguyễn Tường Bách và Tôi” như một cách thế tưởng niệm. Cuộc đời ấy, dường như cũng trôi nổi theo thời thế, cũng có niềm xót đau chung của một thế hệ. Trong suốt gần một thế kỷ, trải qua bao nhiêu là dâu biển, sự việc đã đổi thay đến chóng mặt, ngoài một yếu tố. Cái tình của người đối với người, cái sắt son của tình chồng vợ và tấm lòng yêu đất nước dân tộc và quặn đau theo những biến cố lôi kéo con người vào những hoàn cạnh đau thương. Nhưng, có một điều, là tinh thần lạc quan chan hòa trong hồi ký. Cái tinh thần của hướng đạo sinh cộng với nhân sinh quan đầy chất nhân bản đã giúp tác giả vượt qua được những thác ghềnh của cuộc sống.…

Trong tác phẩm, tôi đã gặp một nhà văn Hứa Bảo Liên, với văn phong đơn giản, thành thật nhưng truyền cảm. Ở đó, tôi gặp lại mẫu người vợ, người mẹ tuy là người Hoa nhưng lại mang tinh thần và suy nghĩ của người vợ, người mẹ Việt Nam. Bên cạnh người chồng, trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, vẫn còn giữ mãi hình ảnh của người yêu lúc trẻ, tài ba, trí thức, yêu đất nước và đầy lý tưởng. Làm người kể chuyện, có những chuyện thật gay cấn, thế mà dưới cảm quan và cái nhìn của cụ, vẫn đơn giản, bình thường, chân thực nhưng chuyên chở được cảm xúc cũng như suy tư lúc đó.
Trong phần mở đầu “Mấy dòng tâm sự” cụ vẫn chân thành tâm sự:

“.. Vì có nhiều người khuyến khích và cổ võ, nên sau một thời gian ôn về quá khứ, tôi mới cầm bút viết. Ban đầu tôi viết có vài ba chục trang “Một người chồng tốt, người cha tốt”. Nhưng sau đưa cho một số người thân đọc, thì họ đều cho rằng tôi viết quá ngắn ngủi, sơ sài, cần viết cụ thể hơn, nên thêm vào những nhân vật có quan hệ mật thiết mà tôi đã gặp và nên kể thêm về mình nữa.
Tôi đang cố gắng định viết, thì tai bay vạ gió, tôi mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo, phải mổ và chữa chạy hơn một năm trời. Phải chạy điện, tiêm thuốc ròng rã thực là khổ sở. Nhìn những giọt thuốc từ từ rỏ vào mạch máu vì không muốn bỏ phí thì giờ trôi đi lãng phí, tôi cố gắng cầm bút, có khi ngồi, có khi nằm, nguệch ngoạc viết. Tôi cố thuật lại những sự kiện đã qua, vì tôi nghĩ rằng có nhiều sự kiện chỉ có tôi biết mà thôi, anh Bách thì chắc chắn sẽ không viết, nếu tôi không viết ra thì phí mất. Cuối cùng, tôi viết ra được cuốn hồi ký nhỏ này, ít ra cũng là thành thực và khách quan…”

Viết trong hoàn cảnh đau ốm như vậy phải kể là người có nghị lực nhất là ở niên kỷ đã cao như cụ. Là người luôn sống với kỷ niệm và không bao giờ quên kỷ niệm, cụ bắt đầu thiên hồi ký của mình với một thành phố: Hà Nội.

Ngay bây giờ, trong lúc đứng trên những mảnh đồi xanh mướt, hay những bãi cát vàng vô tận, gợn sóng bạc nhấp nhô của bờ biển Tây Thái Bình Dương Hoa Kỳ, tôi lại nhớ. Nhớ tha thiết tới những cánh đồng lúa tại ngoại thành Hà Nội, hay mặt nước xanh êm đềm của hồ Hoàn Kiếm hay hồ Tây mênh mang.

Hà Nội là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, là nơi mà tôi không bao giờ quên được, là nơi mà mỗi khi lưu lạc chốn nào trên thế giới, tôi vẫn thường nhớ tới. Vì quãng đời thơ ấu và tuổi trẻ của tôi, những ngày có bao nhiêu kỷ niệm tươi đẹp, nhưng vẫn pha lẫn bao u buồn, đều đã qua tại thành phố đặc biệt ấy..”

Tác giả là con gái của một ông bang trưởng người Trung Hoa, nhưng sống gần gũi nhất và cũng là người yêu thương nhất là người bà và người mẹ.

Tuy sống trong một gia đình giàu có nhưng hoàn cảnh của bà là tình cảnh của một đứa con lớn lên trong nhiều nghịch cảnh. Khi người bà và người mẹ mất đi, bà phải phấn đấu để cố gắng vượt qua những trở ngại trong gia đình. Ở ngoài xã hội, tác giả là một cô gái năng động, thích thể thao, có lý tưởng, yêu đất nước, dân tộc. Hè năm 1943, bà bị quân Nhật bắt giam vì tham gia vào những việc phản kháng. Sau được bảo lãnh và trả tự do cùng với sự cam kết sẽ không dính vào những vụ việc phản kháng nữa. Tác giả hay lui tới nhà thương Phủ Doãn và ở đấy đã gặp và quen biết với sinh viên Nguyễn Tường Bách học Y khoa năm cuối cùng đang tập sự tại đây. Trai tài gái sắc, hai người trở thành một cặp tình nhân lý tưởng dù thời cuộc lúc ấy vô cùng rối ren, bom Mỹ thả khắp nơi, lại có nạn đói chết hàng triệu người ở miền Bắc, rồi quân Nhật đảo chính và sau đầu hàng Đồng Minh. Quân Tưởng vào miền bắc rồi rút đi, cuộc chiến tranh với Thực dân Pháp và cuộc chiến Quốc Cộng…

Bác sĩ Nguyễn Tường Bách đã tham dự vào những hoạt động chính trị với sự hăng say của tuổi trẻ. Làm chủ nhiệm báo Ngày Nay bộ mới với tôn chỉ của người Việt quốc gia, sau đó làm chủ bút Việt Nam Thời Báo, rồi chủ nhiệm tờ Việt Nam. Cùng với Khái Hưng và Hoàng Đạo, ông viết bài để đối chọi lại với tờ Cờ Giải Phóng của Việt Minh lúc đó. Trong khi đó, tác giả Hứa Bảo Liên vừa đi dạy học và cũng vừa tập tành cầm bút và dịch từ Việt ngữ sang Hoa ngữ những bài viết trên Việt Nam và Việt Nam Thời Báo.

Năm 1946, tác giả sang học tại Đại Học Vân Nam ở thành phố Côn Minh. Ở đây tình cờ bà gặp lại những người quen biết của Việt Nam Quốc Dân Đảng từ Việt Nam chạy qua như Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo, Vũ Hồng Khanh, Xuân Tùng,.. Và sau này bà cũng gặp lại bác sĩ Nguyễn Tường Bách từ Hà Khẩu chạy qua sau những ngày chiến đấu với Việt Minh.

Chúng tôi gặp nhau trên đất xa lạ này, thực là không ngờ. Sự trùng phùng nhanh chóng này làm tôi không khỏi nghĩ đến nhiều khi người ta chỉ khác nhau ở một bước đi, mà cả cuộc đời đã thay đổi hẳn, Mấy tháng trước nếu tôi thay đổi ý kiến ở lại Hà Nội. Tôi không khỏi rùng mình khi nghĩ đến những sự kiện có thể xảy ra – bắt bớ, tù tội do những kẻ ngạo mạn, điên cuồng! Sinh ly, tử biệt do chiến tranh bùng nổ! Lại rất có thể vì hoàn cảnh ác liệt, thời gian quá xa xôi, đến khi có dịp gặp lại nhau, một sợi dây vô hình đã ngăn cản giữa chúng ta thì sẽ ra sao?

Cuối năm đó chúng tôi đã thành hôn với hình thức đơn giản, không thủ tục và cũng không có nhẫn cưới. Chỉ có lòng tin ở nhau, can đảm cùng bước vào tương lai còn mờ mịt..”

Sau khi ở Côn Minh một thời gian, mọi người di chuyển về Quảng Châu cho gần Việt Nam hơn và tiện mọi việc liên lạc. Mọi người sống rất đạm bạc, lưu vong nhưng vẫn cố gắng hoạt động để mong ngày trở về. Giữa năm 1946, có một cái tang lớn, nhà văn Hoàng Đạo từ trần trên chuyến xe lửa từ Hồng Kông đi Quảng Châu và chôn cất ở bên đường. Trong lúc túng quẫn, tác giả phải là người đi chạy tiền để có ngân khoản lo liệu:

“… Tôi biết số tiền này rất cần, nhưng số tiền lớn như vậy, tương đương với hai lượng vàng, không biết có thể vay được hay không? Nhưng nay không còn thì giờ để nghĩ ngợi được nữa.

Lúc đó vào buổi trưa, trời nắng chang chang, giao thông lúc này cũng không tiện lợi. Ra tới bến tôi phải đợi tàu qua sông và đi bộ khá xa. Nhà cô ta ở phố buôn bán, lại cũng không biết bây giờ cô ta có ở nhà hay không?

Cô Bình là bạn thân của tôi khi còn ở Hà Nội. Vừa gặp cô tôi nói luôn việc tôi muốn nhờ. Cô bạn biết tính tôi, nếu không cần lắm, tôi không bao giờ vay mượn ai cả. Nên sau khi nghe tôi nói, cô bảo tôi ngồi chờ. Tôi thấy cô bận bịu chạy lên chạy xuống, một lúc lâu cô đưa cho tôi một tập giấy bạc hỗn độn giấy lớn giấy nhỏ. Xem ra cô phải mượn tạm của mấy cô em dâu mới đủ. Tôi mừng quá, vội gài cẩn thận vào túi trong rồi vội vàng cáo từ ra về.
Khi về đến nhà đã gần tối, cả nhà đang chờ đợi. Sau khi trao số tiền cho anh Tam, tôi mệt lử vì trong nửa ngày hôm nay tôi đã vừa đi vừa chạy không biết bao nhiêu cây số. Đó là chưa kể khi còn phải chờ đợi để chen chúc nhau đáp tàu qua sông..”

Sau đó là tan tác. Phần đông mọi người trở về Việt Nam trong khi bác sĩ Nguyễn Tường Bách ở lại Trung Hoa và kẹt lại cho đến khi Hồng Quân Trung Hoa chiếm được cả Hoa Lục. Một cuộc sống mới được kể ra với sự chân thực của người kể. Bao nhiêu là biến cố: cải cách ruộng đất, công tư hợp doanh, tức phản, tam phản, phản phái hữu, công xã nhân dân nhảy vọt lớn, đại cách mạng văn hóa,.. tất cả được gói gọn trong những trang sách khiến độc giả từ những nhan đề khẩu hiệu lạ tai ấy biết được một phần nào chính tình Trung Hoa qua cái nhìn và cảm nhận của một người dân bình thường. Cuộc sống đầy những cái chết vô lý, những sự bất công và con người đối xử với nhau hành hạ nhau nhiều khi làm hạ thấp vị trí của con người xuống thành con vật. Gia đình bác sĩ Nguyễn Tường Bách may mắn không bị bách hại gì nhưng cũng phải chịu chung đời sống nghèo đói thiếu thốn của mọi người. Tác giả thì dạy học, còn bác sĩ Bách thì làm ở nhà thương cho đến khi về hưu. Năm 1988, sau hơn 40 năm sinh sống ở Trung Quốc, gia đình tác giả định cư ở Hoa Kỳ và hiện sinh sống tại Nam California.

Đọc xong những trang hồi ký, nghĩ về một người vừa từ trần, tôi thấy hình như mình vừa được nghe chuyện về một người vợ hiền, một người mẹ tốt. Sinh trưởng trong một gia đình giàu có nhưng vẫn cố gắng học tập rèn luyện và luôn luôn nghĩ rằng thân phải tự lập thân và không nhờ cậy gì đến sự giàu có của gia đình. Với tinh thần phấn đấu của hướng đạo sinh, tham gia làm những công tác xã hội không quản thời giờ và tiền bạc cũng như thường giúp đỡ những người nghèo khổ kém may mắn.

Ròng rã gần cả một thế kỷ, đất nước Việt Nam đã trải qua biết bao nhiêu biến cố và những cuộc đời bị lôi theo con lốc ấy đã thành những cuốn hồi ký sống động. Trong văn học Việt Nam có quá nhiều cuốn hồi ký nhưng phần đông đều viết với chủ ý ngoài văn chương, hoặc để phân bua bào chữa cho mình hoặc có dụng ý đánh bóng tự khen mình. Hiếm có cuốn hồi ký như “Nguyễn Tường Bách và tôi” của tác giả Hứa Bảo Liên. Qua cái tôi của tác giả, chúng ta thấy được những nét phác họa đời sống, sinh hoạt, suy tư , của chân dung Nguyễn Tường Bách. Và cũng ở đó, chúng ta nhìn thấy những nhân vật lịch sử đang sống, đang hoạt động như Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, như Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, như Vũ Hồng Khanh, như Xuân Tùng. Họ sống lưu vong, vật lộn với đời sống khó khăn ở xứ Trung Hoa và luôn luôn hướng vọng về đất nước chờ một chuyến trở về.

Dù thiên hồi ký này viết với bút pháp đơn giản tự nhiên nhưng cũng có những đoạn tả tình tả cảnh khá lý thú. Những thành phố những con sông không phải chỉ là đơn thuần những địa danh mà còn là nơi chứa đựng những kỷ niệm một đời mà khi tác gỉa tả lại hoặc nhắc đến là với cả tấm lòng gửi theo. Có lẽ tác giả đã viết bằng cảm xúc của trái tim mình hơn là lý luận của bộ óc suy tư.

Đời người dù dài hay ngắn đều cũng phải qua đi theo lẽ sinh diệt của đất trời. Nhưng, có những điều vẫn còn tồn tại. Đó là những trang sách, như một đóng góp cho đời, như trong hồi ký “Nguyễn Tường Bách và tôi” của cụ bà Hứa Bảo Liên. Xin cầu nguyện cho hương hồn cụ bà thong dong nơi đất Phật.

Nguyễn Mạnh Trinh

Advertisements

Bài Ơn Em Tháng Tư. Thơ Hư Vô


Bài Ơn Em Tháng Tư

(Chân dung Hư Vô. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Tháng tư rạch tim anh như dao nhọn
Cảm ơn em những vết cắt ngọt ngào
Để anh biết tình yêu là giông bão
Hạnh phúc nào mà không có lao đao!

Chỗ vết thương còn chưa khô giọt máu
Cho tim anh thổn thức giấc mơ đầu
Cảm ơn em một thời tình che giấu
Để còn làm chứng tích nửa đời sau.

Thì cũng đã nợ nần nhau một kiếp
Những ân cần rồi vẫn phải buông tay
Anh có nấn níu cho dài quá khứ
Bóng em cũng buồn như sương khói bay!

Mà đường trần ai chỉ là quán trọ
Đến và đi như thể cuộc hành tình
Cảm ơn em tháng tư còn bỏ lại
Tiếng thở dài từ thuở biết yêu anh…

Hư Vô

Áo Hạ Vàng – Thơ Hư Vô Mỏng Tênh Như Tơ Lụa. Tuỳ bút Sương Lam


Sương Lam

Áo Hạ Vàng

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Hư Vô

Mùa hè, mùa của hoa rực rỡ, của trái chín trĩu cành, của lời mời gọi ta đến với biển với nắng. Mùa hè mở vào tâm hồn ta những khát khao thầm kín, dấy lên trong ta những yêu thương, những đam mê bỏng cháy. Trong bài Hạ Hồng, Phạm Duy dường như cũng bốc cháy với mặt trời trên cao:

Mùa hè thiên nhiên như tỉnh giấc
Mùa hè đưa ta tới hồng hoang
Trần truồng yêu nhau trong trời đất
Mùa hè của uyên ương.

Hư Vô đến với mùa hè bằng khúc lục bát bềnh bồng, mơ hồ đến mênh mông:

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Mặt trời lên cao nhưng không sáng chói, mặt trời được miêu tả một cách gián tiếp qua “bóng” em. Là bóng thôi, không là hình, bước vào thế giới tình yêu dường như ta đã chạm phải nỗi buồn và hình như ý niệm hiện hữu của “em” đang nhạt nhòa dần trong không gian, trong thời gian của một ngày nắng hạ. Thoáng thấy bóng em ngoài hiên, chỉ thoáng thấy bằng mắt hay bằng tâm không rõ nhưng rõ nhất là hình ảnh của đàn sáo nhỏ. Sáo vụt bay về cuối ngàn. Cách miêu tả âm thanh của thi sĩ lạ: “vụt” một động tác bay đột ngột, rất nhanh của cả đàn sáo. Ta nghe thật rõ tiếng đập cánh của đàn chim trong buổi trưa hạ, âm thanh của sự sống nhưng chỉ vút lên rồi tất cả lại rơi vào yên lặng. Trong cái tĩnh lặng của cõi tình tiếng đập cánh bay của đàn sáo nhỏ không chỉ khuấy động không gian mà còn khuấy động cả lòng người:

Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Tôi ít thấy chữ “rớt” trong thi phẩm nhất là thơ tình. Chữ rớt thường được dùng như một khẩu ngữ. Nhà thơ chọn hạ rớt chứ không chọn hạ rơi (chữ rơi được dùng nhiều trong văn chương bình dân lẫn văn học viết). Khẩu ngữ vào thơ không làm câu chữ trở thành bình dân mà vẫn giữ được vẻ đẹp kiêu sa của nó. Rơi là một thanh bằng chưa đủ lực làm nhân vật trữ tình giật mình phải là rớt. Thanh sắc dấy động tất cả, khơi dậy tất cả một sự bừng thức của không gian “thênh thang”, một sự bừng thức của “anh”, về “em”. Cái đẹp cũng bừng thức, hoa là em, là mùa hạ, là hoa vàng – màu của mùa hè.

Nếu thi sĩ giật mình vì bóng em khơi dậy cả mùa hạ trong anh thì tôi giật mình vì chữ nghĩa vào tay thi sĩ nó không còn tuân theo qui luật vốn có của nó. Tôi đọc khá nhiều thơ, tôi đã gặp không ít trạng thái “Giật mình” của thơ xưa cũng như nay: Nguyễn Du viết “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh? Giật mình mình lại thương mình xót xa”. Tú Xương viết Sông Lấp: ”Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, Nguyễn Duy viết: “Ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình”. Giật mình của Nguyễn Du gợi cảm xúc thương thân của Kiều, giật mình của Tú Xương là nhớ tiếc những cái tốt đẹp cứ mất dần đi, giật mình của Nguyễn Duy là sự tự hối và cái giật mình của Hư Vô mới đậm chất lạ lùng sao? Một ngẫu hứng duy lý trong một tương quan chặt chẽ “em- mùa hạ- – nỗi nhớ- lãng quên- trở về” sự khuấy động tâm thức, thời gian, không gian làm cho ta cảm nhận chữ tình trong anh trĩu nặng và chân dung của “em” cứ mở rộng dần trong bức tranh mùa hè huyền diệu:

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Mùa hạ đã định hình trong màu hoa vàng trên tóc em, mùa hạ lên cao nhập vào trong nắng tạo màu “trong veo”. Tôi thương nắng thủy tinh của Trịnh Công Sơn, tôi thích câu hỏi của nhạc sĩ với “em” màu nắng hay là màu tóc em? Nắng mùa hạ trong nhạc Trịnh như khối thủy tinh đúc cho nắng lung linh vàng rồi nắng đi vào trong mắt em. Một sự hóa thân, hòa nhập của hai vẻ đẹp: mặt trời-em. Tôi cũng thích cái nắng loạn trong thơ Hàn Mặc Tử “nắng ửng, nắng chang chang, nắng thơm” nắng hè chói chang, nóng rát không còn thay vào đó là nắng tươi, nắng thơm của gấm lụa, của dung nhan. Nắng đã trở thành biểu tượng cho cái đẹp. Nắng của Hư Vô “trong veo” nghĩa là nắng như tấm gương soi không đáy, nắng hữu hình đến trong veo. Chữ nghĩa tượng hình dần như chân dung “em” rõ dần. Không còn là bóng, không còn là mùi hương “hoa vàng” mà là hình hài, là xương thịt là vẻ đẹp kiêu sa. Tôi nghĩ Hư Vô đã dùng nét vẽ tượng trưng cho bức chân dung tình yêu của mình. Tôi nghe giọng thì thầm của thi sĩ. Em mềm như lụa, mong manh như tơ trời, áo là sương khói cho hồn ta thoáng gập ghềnh, lênh đênh. Nhan sắc của người tình sao mong manh, nét đẹp được lọc qua cảm xúc thật tinh tế, thật lãng mạn, vẻ  đẹp vừa táo bạo nhục thể vừa thanh tao duyên dáng “trong veo, thấu,mỏng” nó làm tan chảy mọi cảm giác để chỉ còn đọng lại một cảm xúc tuyệt vời: “Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn”.

Nguyễn Hồng Ân trong bài: “Chiều biển vắng thênh thang” đã viết: “Mang tên em chiều in màu lá / Vừa tàn mùa sen hạ cháy trên cành.”

Hạ cháy của Nguyễn Hồng Ân khơi gợi một sự bừng thức, ngỡ ngàng về mùa hè, Hư Vô lại cảm nhận “mùa hạ chảy trên phím đàn” thì quả là tuyệt bút. Chữ mềm như nhung lụa và tan chảy thành dòng âm nhạc thì không còn gì phải bàn đến vẻ đẹp của ngôn từ. Mỹ học của bài thơ tỏa từ hội họa màu sắc, từ thi ca mùa hạ chảy, từ âm nhạc trên phím đàn. Ta dường như lạc vào thế giới của cõi mơ, của âm nhạc, của cõi tình mê đắm. Ta đang tan chảy vào vẻ đẹp của đất trời, của tình yêu và đồng thời cũng tan chảy vào trong cảm xúc của Hư Vô. Tâm khơi, tình động cho quay quắt một hình hài:

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình.

Mái tóc thề, mái tóc bao lần vào thi ca tạo nên bao hình tượng thẩm mỹ đẹp lạ thường. Lúc còn đi học một cô bạn đã tặng tôi hai câu thơ:

Ta phiêu du mãi chưa về
Biết em còn để tóc thề hay không?

Tôi đã yêu mái tóc thề ngày đó, tôi không ngạc nhiên khi ký ức tình yêu của thi sĩ có mái tóc thề nhưng mái tóc ấy không phải xõa xuống tạo bóng mát cho tình yêu, tạo chiếc cầu cho anh sang em mà là mái tóc xõa để em đi lấy chồng. Oái oăm và trớ trêu là ở đó. Thiên nhiên sao vô tình với nỗi đau của kẻ tình si: “Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.”

Buồn vì tình yêu không trọn vẹn, buồn khi mình tiễn đưa người yêu lấy chồng, thi sĩ lạc lõng trong chốn trần gian “rộn ràng”. Mùa hạ, mùa tình yêu, mùa của hoan lạc, hạnh phúc viên mãn cũng theo em, thi sĩ trở thành khách lạ ngay trong thế giới của riêng mình “Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình”, hình như tôi đang cảm nhận nỗi chua chát đến tê đầu lưỡi, nỗi cô đơn đến rợn ngợp “khách lạ không tìm thấy bóng mình”. Tôi lại thấy đâu đây bóng hình Hàn Mặc Tử:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi thôi ước mơ.

Với Mặc Tử khi em lấy chồng là kết thúc tất cả: cõi mơ, tình mộng, niềm vui, nỗi buồn… Hư Vô không kết thúc vẫn đong đầy những khát khao:

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Nắng đâu còn trong veo, nắng đã lung linh nhuốm màu hư ảo, màu của lãng quên, thi sĩ vẫn mong mỏi đến tuyệt vọng “em giấu kín chút tình phôi pha”. Mối tình ấy sâu đậm đến khắc cốt ghi tâm, không thể quên và không bao giờ quên. Tình ấy mãi vần vương đến “còn thương góc phố quê nhà”, nơi chúng ta từng hẹn, nơi tình yêu của tuổi học trò bừng cháy những khát khao, chữ nghĩa bây giờ dung dị, giản đơn như một khúc ca dao buồn, da diết vang lên từ làng quê Nam bộ “còn thương” hai thanh bằng tạo âm hưởng kéo dài thê thiết của mối tình quá khứ làm sao quên, thương góc phố, quê nhà lặng lẽ, thương hạ vàng áo em và thi sĩ càng cảm nhận nỗi cô đơn cứ rộng đến vô cùng để rôi kết đọng lại thành những cơn mưa hạ ướt đẫm hồn, ướt đẫm tình, tình vô biên. Giấu … như một quãng lặng của cảm xúc ngậm ngùi, của mối u tình mà dẫu cơn mưa có ướt, có thấm đẫm cũng không thể phôi pha. Áo hạ vàng- một bài thơ của tình yêu dang dở, khúc ca buồn của Hư Vô về một cuộc tình đã qua nhưng không tan biến. Tình đã hòa thành dòng chảy của thời gian để rồi rung lên thành cung đàn bất tận. Tôi như thấy thi sĩ ngồi giữa biển hoa vàng nghe hạ chảy trên tay. Không gian, thời gian dường như trầm mặc như tâm trạng đầy uẩn khúc của thi sĩ. Hạ vàng hay áo em nhuộm vàng mùa hạ, nhuộm hồn anh tơi tả những dấu mưa.

Sương Lam
(Kính tặng nhà thơ Hư Vô.)
22/11/2017

Con Đò Úp Mặt. Thơ Hư Vô


(Hòn Đá Bạc – Cà Mau. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Ta về chạm chân Hòn Đá Bạc
Ngỡ như trời đất mới luân hồi
Bến cũ chờ ai đò úp mặt
Đâu còn chở khách để ra khơi.

Dẫu biết trăm năm là trễ hẹn
Biển cả còn vang tiếng sóng gào
Như gọi hồn ai về dậy mộng
Cho đầy thêm những dấu rong rêu.

Bóng em lướt theo tàng lá mục
Đong đưa cùng giọt lệ trên mi
Ta về tựa loài chim cánh cụt
Mang theo vết thương tích dị kỳ.

Lăn lóc đời nhau thành đá cuội
Mà nghe sóng vỗ đã bạc đầu
Thì dẫu em, đêm nằm úp mặt
Cũng đâu thoát khỏi cuộc bể dâu!

Hư Vô

Phong Lan. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Phong Lan. Truyện ngắn của Khái Hưng đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 22, in ngày chủ nhật 23/08/1936 tại Hà Nội)

Phất tì tay lan can ngồi ngước mắt ngắm khóm phong lan trong cái cũi nhỏ làm bằng gỗ thông treo ở hiên dưới cái gian cẩm leo nụ màu hồng nhạt vừa bắt đầu lấm tấm. Những chùm hoa vàng điểm chấm đen nhung óng ánh phản nắng chiều và se sẽ rung động đưa trước gió, trông như đàn bướm xòe cánh rập rờn bên những lá lan dài và nhọn rũ lỏa tỏa bốn phía.

Phất thở dài lẩm bẩm: “gần ba năm rồi”.

Chàng vẫn muốn quên, quên nhãng hẳn, vì chàng hiểu rằng khi nào người ta tìm nhớ thời dĩ vãng, thì thường những kỷ niệm buồn trở lại trong ký ức. Kỷ niệm vui, làm gì có kỷ niệm vui. Sự vui chỉ có trong hiện tại. Vui qua, còn lại cái buồn man mác, sự nhớ tiếc ở trong lòng, phảng phất như chút hương tan của bông hoa khô héo.

Năm ấy lần đầu Phất lên chơi Chapa. Nhà chàng không giàu, nhiều khi lại túng bẩn là khác. Chàng cũng không ưa gì cái thú nghỉ mát mà chàng cho là cái thú xa xỉ của riêng các gia đình phú quý. Hơn nữa, chàng rất khỏe mạnh, chẳng mấy khi ốm đau và cần đi nghỉ mát để dưỡng sức, tuy chàng vẫn chăm chỉ học lấy trong mấy tháng, để thi đậu tú tài phần hai.

Vậy Phất đi Chapa chỉ vì một lẽ riêng: Lẽ riêng ấy đối với cái tuổi ngoài hai mươi, chín mươi phần trăm thuộc phạm vi ái tình.

Chính thế, Chapa mà trước khi chàng không hề nghĩ đến, và cũng không biết ở về phía nào, vụt trở nên một thành phố đầy ánh sáng, đầy hy vọng, một thành phố ái tình. Vì Lan vừa cùng mẹ và em trai lên đó nghỉ mát.

Tình yêu của Phất đối với Lan thực là ly kỳ. Ngày chàng còn theo học tại trường Bảo Hộ, một hôm đến hội quán Tri Trí dự một cuộc âm nhạc tổ chức lấy tiền giúp việc thiện. Trong bọn tài tử có một thiếu nữ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, ngồi trước cây phong cầm đánh một bài độc tấu. Thế là Phất yêu ngay.

Chàng nhớ mãi khúc nhạc réo rắt và cái dáng ngồi yểu điệu của thiếu nữ: Cái đầu hơi nghiêng, một bên má phản chiếu ánh điện nhuốm sắc hồng hồng, đôi mắt buồn yên lặng ngước nhìn trần, hai bàn tay mềm, giẻo, thoắt chạy, thoắt ngừng trên hàng phím xương trắng muột. Có lúc sung sướng, mê man trong điệu trầm bổng, du dương, thiếu nữ se sẽ rung động toàn thân và bao nhiêu nếp áo của nàng đều uyển diệu rung rinh.

Hình ảnh ấy Phất chôn sâu ngay trong ký ức, trong tâm hồn. Và chàng chân thành thờ nó như thờ một lý tưởng thiêng liêng tuyệt đích.

Chàng hỏi thăm biết nhà thiếu nữ giàu, giàu lắm. Nhưng đó không phải một cớ khiến chàng tuyệt vọng. Chàng nghèo nhưng tri thức chàng giàu, tâm hồn chàng giàu. Và chàng thấy rõ rệt sự tương đương, sự cân đối của chữ “tài” và chữ “sắc” mà trước kia chàng cho rằng hai chữ sảo trong văn chương, không có một chút nghĩa lý gì thiết thực.

Từ đó, đời Phất chia hẳn ra hai phần đầy thú vị và có sự liên lạc mật thiết với nhau: học và yêu.

Yêu, nghĩa là mỗi ngày để ra chút thời gian nhàn rỗi mà tưởng nhớ tới người đánh đàn. Rồi chủ nhật, thứ năm được nghỉ học ra ngoài, khi qua nhà nàng, dừng lại trước cửa vài phút – vài phút thôi – mà ngắm cây liễu rũ lá thướt tha bên hàng giậu sắt. Hôm nào thoáng nghe thấy mấy tiếng phong cầm hay nhác trông thấy tà áo hồng phấp phới bên luống hoa chân chim thì buổi chiều về trường Phất nhảy múa, ca hát huyên thiên.

Còn học? Học như mọi ngày thường, Phất cho không thể xứng đáng với tình yêu kia được. Chàng liền bỏ trường về nhà học lấy cho chóng hơn. Thấy vậy, người ta tưởng Phất lười biếng bỏ học. Nhưng năm sau ai nấy phải kinh ngạc khi đọc nhật trình thấy tên chàng trên bảng những người đậu tú tài phần thứ nhất vào hạng bình thứ. Phất sung sướng mỉm cười nghĩ thầm: “Ảnh hưởng của ái tình. Cứ thế này thì không biết mình còn đi xa đến đâu?”

Nhưng ái tình của chàng ngoài chàng ra không ai biết, không ai có mộ tia ngờ. Chàng giữ nó âm thầm trong trái tim với cái hình ảnh cô đánh đàn diễm lệ.

Trong hai năm chàng chờ đợi, yêu, nhớ, thương thầm, chàng biết đích rằng không một ai đến hỏi Lan. Phất cho sự ngẫu nhiên ấy có ý nghĩa thiêng liêng, huyền bí và nhân duyên của chàng với Lan là một cuộc thiên duyên tiền định. Và lòng mong ước của Phất, hơn nữa lòng tín ngưỡng của Phất càng thấm thía, vững vàng.

Một hôm người ta bảo cho Phất biết rằng trong số tranh trưng bày ở phòng triễn lãm mỹ thuật có bức ảnh cô Lan, một trang tuyệt sắc Hà Thành. Phất vội thuê xe đến phòng triễn lãm, và suốt ba hôm, trừ hai bữa cơm ra, chàng ở luôn bên bức tranh thiếu nữ. Và chàng nghĩ thầm: “Biết thế mình học vẽ!”

***

Đầu mùa hè năm ấy thấy vắng bóng Lan tha thướt trong vườn. Phất hỏi thăm biết nàng cùng mẹ và em lên Chapa đã hơn nửa tháng. Lan đau phổi, thầy thuốc khuyên nên đi nghỉ mát ở vùng núi cao.

Trong mấy hôm liền, Phất chạy nháo đi khắp nơi thân thuộc vay được ba chục bạc rồi vội vàng hấp tấp lên thẳng Chapa.

Hôm đầu gặp Lan đi với mẹ và em ở trước cửa nhà bưu điện. Phất cảm động, luống cuống, toan cất mũ chào. Lan thản nhiên nhìn chàng, thản nhiên quay đi như đối với mọi người không quen biết.

Thì ra những bài thơ âu yếm phản chiếu hình ảnh nàng, vang động linh hồn nàng mà Phất đã viết và gửi đăng trên các báo, nàng không biết tác giả là ai. Lòng tự phụ, tự tin của Phất cho không thể nào như thế được. Thục ra, những bài thơ ấy Lan chưa từng đọc qua: Vì ngoài âm nhạc, nàng không thích một nghệ thuật nào khác nữa.

Hai tuần lể ở Chapa – cái ví nhẹ của chàng không cho phép chàng ở lâu hơn nữa – Phất mơ màng tưởng tượng ra mấy năm Từ Thức sống trong động Phi Lai, tuy tiên nữ của chàng đối với chàng vẫn thờ ơ, lãnh đạm, không ngờ có một khối tình vĩ đại ở dưới gót chân mềm yếu.

Nhưng chẳng vì thế mà mười lăm hôm nghỉ mát của Phất giảm phần lạc thú. Chàng yêu để yêu. Cần gì có ai yêu lại hay không! Chàng nghĩ thầm: “Ái tình mà có đi có lại thì gọi sao được là ái tình, họa chăng nó là việc buôn bán, hay một ván bạc “ăn miếng trả miếng”

Vả chàng còn ao ước vì hơn nữa. Ngày nào chàng không gặp mặt Lan ít ra một lần, hoặc ở rừng, hoặc ở Núi Đen. Câu truyện gặp gỡ trong giây phút ấy đối với chàng cũng đủ là một thiên trang thiên tiểu thuyết rồi.

Sáng, chiều, chàng đứng rình lúc Lan cùng mẹ và em ra đi. Xa xa chàng theo sau. Nếu bọn kia vào rừng thì chàng đợi đến chỗ đường hẻm để vượt qua, như thế cái mỉm cười kèm theo cái cất mũ ngả đầu chào của chàng mới có ý nghĩa:“Xin lỗi bà và cô, tôi xin phép tiến lên trước”

Cái cất mũ để vượt qua ngày ngày nhắc lại, lâu cũng thành ra có vẻ cố ý. Phất muốn tránh điều đó, nên chàng không vượt nữa, chàng gặp mặt. Cảnh gặp gỡ ấy chàng bố trí như thế này: Biết hai người đàn bà vào rừng, chàng hết sức đi thực mau, hầu như chạy về phía khách sạn lớn rồi theo con đường đồi bên kia mà vòng đến cầu. Gặp Lan, chàng vờ coi như một sự ngẫu nhiên may mắn.

Một hôm, Lan và mẹ đi qua nhà bưu điện lên Núi Đen. Phất vội rẽ đường tắt lên đó trước. Nhưng lúc nghe tiếng giày đè sỏi, chàng ngượng và sợ bà cụ ngờ vực, liền ngồi khuất sang phía bên kia mỏm đá, để nhường cái ghế dài cho hai người đàn bà.

Tiếng cười của Lan làm cho chàng sung sướng, ngây ngất. Lần ấy là lần đầu chàng nghe rõ tiếng Lan và chàng nhận thấy giọng Lan hơi khàn khàn. Chàng buồn rầu nghĩ đến bộ phổi ốm của người yêu. Bỗng Lan hỏi mẹ:

– Ồ, mẹ trông cây phong lan. Đẹp quá!

Ngừng vài giây, nàng lại nói:

– Con yêu phong lan lắm.

Bà mẹ đáp:

-Vì nó trùng tên với con đấy mà.

-Ồ nhỉ! Mẹ ạ, làm thế nào lấy được thì thích quá nhỉ. Con sẽ treo nó ở bên cái piano của con.

Phất muốn nhảy xổ ra leo lên cây lấy cho bằng được khóm phong lan để tặng người yêu. Nhưng chàng nhận thấy cử chỉ ấy không tự nhiên chút nào, nên thôi ngay.

Lúc hai người đàn bà về rồi, Phất ra đứng ngắm khóm phong lan mọc trên cây bồ kết dại, lá và hoa rũ xuống lòa xòa. Chàng buồn bã thở dài.

Hôm sau, vào giữa trưa – giờ ấy ở Núi Đen người vắng hẳn – Phất trở lại nơi hôm trước. Nhìn không thấy ai qua lại, chẳng tháo giầy, liều trèo lên cây, lấy được khóm phong lan, gói vào cái khăn rộng đem theo.

Chàng moi óc suy nghĩ mãi chưa tìm được cách biếu Lan khóm hoa rừng, thì vì cạn tiền, chàng phải về Hà Nội. Nhưng chàng thề với chàng rằng món quà kia thế nào cũng sẽ đến tay người yêu.

*****

Mùa rét năm ấy, bệnh đau phổi cướp Lan đi.

Phất ở trên đời với khóm phong lan.

Và năm năm, mỗi lần hoa phong lan bắt đầu nở, chàng lại như nghe tiếng đồng vọng trong không:

-“Ồ! Mẹ trông, cây phong lan! Đẹp quá!”

Khái Hưng

 

 

 

 

Hương Chuối. Thơ Hư Vô


348BA130-3389-4025-A558-6B56EB1608E4.jpeg

(Hương Chuối. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Quê hương như buồng chuối chín
Mẹ quằn quảy gánh yêu thương
Ru con một đời mưa nắng
Còn nghe vẳng tới cội nguồn.

Lời ca dao thơm mùi rạ
Trên cánh đồng đã bỏ không
Mà như còn xanh dáng mạ
Lòng con mới trổ đòng đòng!

Quê hương ngày con trở lại
Chập chùng nhịp sóng đò đưa
Xôn xao dòng kênh thơ dại
Chảy vào những dấu tích xưa!

Nơi mẹ chắt chiu giọt sữa
Ngọt ngào tựa chuối chín cây
Nuôi con bằng từng nhịp thở
Từ khi mới tượng hình hài.

Như dòng kênh mang đất lở
Phù sa tưới mát ruộng đồng
Lúa có gặt xong mùa nữa
Một đời mẹ cũng tay không!

Bởi con chỉ là chiếc bóng
Đong đưa giữa giấc mẹ gầy
Con về như chiều un khói
Cho đôi mắt mẹ thêm cay…

Hư Vô

Đường Cùng. Thơ Hư Vô


(Đường Cùng. Photo by Huỳnh Hoàng Oanh)

Rồi em cũng bỏ tôi đi
Thì thôi, ngó lại làm gì em ơi
Nửa đời tôi đã không tôi
Thêm nửa đời nữa cho rồi trăm năm.

Quẩn quanh chưa biết chỗ nằm
Đường nào cũng chỉ tối tăm mịt mù
Em đi đã tới thiên thu
Tôi còn lạc giữa mộng du cuối ngàn.

Chỗ in vội dấu chân hoang
Cỏ leo đã bám ngang tàng lá khô
Nửa đời tôi vẫn ngây ngô
Để trái tim mãi nhấp nhô cồn cào.

Chắc gì đã có đời sau
Thì em hãy để tôi đau một lần
Xin đừng quyến luyến phân vân
Cũng là một khúc đường trần, thế thôi!!

Hư Vô

Tịnh Không. Thơ Hư Vô


7B33FAB7-119C-4C89-B414-977395434123.jpeg

Tôi ngồi giữa tịnh không tôi
Hồn trôi lãng đãng bên đồi cúc hoang
Phất phơ như vạt lụa vàng
Áo em ngày đó còn lan man buồn.

Quấn vào một cõi tịnh hương
Em mùi dã cúc hoang đường đời nhau
Từ trong sợi tóc tơ nhầu
Như có giọt lệ ẩn sau hình hài.

Cũng là dấu tích trần ai
Bỏ lại chiếc bóng cho đầy mắt tôi
Kiếp sau còn được làm người
Để em nhớ có một thời tình nhân!

Mà tôi lẩn quẩn lần quần
Thở bao nhiêu nhịp là ngần ấy em
Tôi ngồi giữa giấc tịnh miên
Còn nghe động thức dục thiền tình si…

Hư Vô

Chia Tay Mùa Xuân. Tùy bút Sương Lam


Sương Lam

Thơ tình yêu thời đại nào cũng lấn át các chủ đề khác nhất là mảng thơ về tình yêu nam nữ. Thơ tình theo tôi cảm nhận vui ít nhưng buồn thì nhiều nhất là những tình yêu tan vỡ. Hạnh phúc nhất của đời người có lẽ là yêu, được yêu và cùng bước chung một con đường đến cuối cuộc đời cùng với người mình yêu thương. Nhưng không phải ai yêu cũng được toại nguyện. Có khi yêu mà phải chia tay. Chia tay hai từ thôi cũng đủ gợi lên bao nỗi đau và có bao giờ ta tự hỏi ta có bao lần trong đời đã yêu và cũng đã chia tay với bao nhiêu cuộc tình. Sau mỗi cơn đau có lẽ trái tim ta hằn thêm một vết cắt để rồi ta lại tiếp tục tìm kiếm hay rồi chán nản buông xuôi. Tình tuyệt vọng đôi khi làm thăng hoa cuộc sống có lẽ vì do nỗi đau không dễ gì quên nên cứ luôn nhớ. Yêu và ly tan hình như không phải là mới nhưng chuyển tải nỗi niềm để đi vào tâm hồn người lại thuộc về tài năng của người sáng tác. Hãy dừng lại dăm ba phút của cuộc sống bộn bề, hãy thư giãn và nghe một nhà thơ kể chuyện tình buồn:

Chia Tay Mùa Xuân

Hôm chia tay Sài gòn vừa chớm Tết
Trong mắt em như thể đã ra giêng
Phố xá gập ghềnh chông chênh nhịp guốc
Còn xôn xao từng chiếc lá công viên.

Môi em hiền tựa như mùi hương cốm
Áp vào tôi ngọt đắm nụ tầm xuân
Giọt lệ không chân long lanh vàng đá
Đang mặn mà em đã vội quay lưng!

Bỏ lại Sài gòn rưng rưng góc phố
Ngọn đèn vàng xô dạt bước chân tôi
Trời đất mịt mù ngày mưa giông tới
Nơi máu trong tim chưa kịp luân hồi.

Mà cũng có đôi lần em biết khóc
Lối hẹn hò cỏ mọc đã xanh um
Để nhớ một thời em còn xoã tóc
Chỗ lời tình thổn thức tiếng vô ngôn …

Hư Vô

Tết đến có nghĩa là xuân về. Mùa xuân trong đời thực lẫn trong thơ làm bao nhiêu người đắm say, ngơ ngẩn. Bởi vì mùa xuân là mùa tình yêu, mùa của sự sống, của lộc biếc căng tràn. Tôi yêu Mùa Xuân Chín của Hàn Mặc Tử, yêu Xuân Thì của Phạm Duy, yêu Bến Xuân của Văn Cao… Đó là những bài  thơ, bài hát ca ngợi mùa xuân đẹp, thanh xuân đẹp và tình yêu cũng đẹp như xuân. Hư Vô cũng đến với mùa xuân nhưng không phải bằng một tâm trạng lâng lâng hạnh phúc của thi nhân mà là một nỗi niềm thăm thẳm:

Hôm chia tay Sài gòn vừa chớm Tết

Tình yêu thường gắn liền với nỗi nhớ. Chỉ cần xa một vài giờ là nhớ là mong là đợi chờ gặp gỡ. Yêu thế mà chia tay. Anh phải đi, phải xa chưa một lời hứa hẹn tao phùng. Cô gái không kịp nói lời từ biệt nhưng đôi mắt đã thay điều muốn nói:

Trong mắt em như thể đã ra giêng

Mùa xuân mới bắt đầu, sự ngọt ngào vừa thấm vào cảnh vào hồn người thì nỗi buồn đã tràn đến bủa vây “chớm / chia tay” Ngữ nghĩa dường như đối kháng nhau tạo ra một nghịch cảnh trớ trêu:

Phố xá gập ghềnh chông chênh nhịp guốc
Còn xôn xao từng chiếc lá công viên.

Tình đang đắm say mà lại cách xa, con đường tình bắt đầu gập ghềnh cho em lao đao. Tiếng guốc khua trên hè với nhịp chông chênh, đổ vỡ, tiếng guốc tạo những âm thanh chí chát đánh thức cả những hàng cây lá công viên đang còn mơ màng trong giấc xuân. Và trong mắt em đang ánh lên tia nhìn xa vắng.  Thời gian không dừng lại, đang trôi qua không thể níu giữ “chớm tết mà đã ra giêng”. Tôi cảm nhận cô gái đang mòn mỏi, đợi chờ.

Phương xa, nhân vật trữ tình mãi ngày nhớ đêm mong về một bóng hình trong tim và hình ảnh người con gái đã hiển hiện với muôn sắc màu, hương vị, hình ảnh vừa thực vừa mơ:

Môi em hiền tựa như mùi hương cốm
Áp vào tôi ngọt đắm nụ tầm xuân

Môi em thơm mùi hương cốm, mềm như vạt lụa và hiền tựa chiêm bao. Một người tình nho nhỏ, dễ thương. Ý thơ làm tôi nhớ đến một câu thơ của Đỗ Quý Toàn trong “Chuyện tình”:

Ôi anh yêu em vì em biết nói
Em đã biết thưa em còn biết gọi

(Đỗ Quý Toàn)

Chàng trai trong  “Chuyện tình” yêu cái nết ngoan hiền ở người con gái, yêu tiếng dạ thưa ngọt ngào làm mê đắm lòng người còn chàng thi sĩ của chúng ta cũng yêu em bởi nết ngoan hiền. Tình yêu đến không chỉ vì nhan sắc mà còn từ sự dịu dàng trong em. Sự dịu dàng đã làm hồn chàng tan chảy đến mê đắm. Hư Vô diễn tả nụ hôn cũng thật lạ lẫm.

Khi đọc Nụ Hôn Đầu của Trần Dạ Từ tôi cảm nhận một không gian nhã nhạc, một hồn phách tiêu tan, một cảm xúc bàng hoàng và như một giọt nước mắt đang rơi trong chứa chan hạnh phúc của nụ hôn đầu đời:

Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vườn xanh cỏ biếc trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông.

(Trần Dạ Từ)

Nụ hôn đầu của Trần Dạ Từ đã làm thay đổi cả thế giới, cả không gian rất lặng ngoài kia, tất cả đều đổi thay hướng về cái đẹp một loạt màu sắc hiện lên cạnh nhau những gam màu hội họa đối lập mà đan xen của một cảm giác mê đắm, chất ngất “vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng, phượng đỏ” thật là khi yêu đâu đâu ta cũng thấy một màu yêu.

Thế giới tình yêu của Hư Vô cũng là thế giới của sắc màu yêu “hương cốm, nụ tầm xuân, vàng đá”  nhưng ông không chọn sắc màu rực rỡ, lộng lẫy như Trần Dạ Từ mà thật hiền hòa, nhẹ nhàng của sắc xanh đồng nội tỏa ta từ cốm, sắc hồng tỏa từ những đóa tầm xuân nằm mơ màng bên lưng giậu, góc hiên nhà như màu hồng của má hồng con gái. Tôi yêu chút hây hây hồng trên đôi má thanh xuân.

Đi vào thế giới thơ Hư Vô là đi vào thế giới của sắc màu bình dị pha lẫn kiêu kỳ khiến nhan sắc em vừa mê đắm vừa hồn hậu, dịu dàng. Hôn em, hôn môi hiền, nụ hôn thơm như ướp mật. Mùi hương cốm tỏa nhẹ qua môi hôn, môi em xinh như nụ tầm xuân trinh nguyên của vườn thiếu nữ. Nụ hôn là hội tụ của hương hoa, của đất trời, của những gì thân thuộc của quê hương. Môi hôn vì thế dù đắm say vẫn đượm một chút gì hiền thục, đằm thắm. Tự nhiên hay là một lựa chọn mà thi sĩ đã đặt hương cốm cạnh nụ tầm xuân dường như chẳng có sự nối kết về thời gian. Cốm có vào mùa thu, hoa tầm xuân nở vào tháng chạp, tháng giêng. Tôi cho là một sự sắp xếp cố ý của thi sĩ để nới rộng biên độ thời gian để khẳng định tình yêu là vô tận ở đó không có không gian, cũng không có thời gian mà nơi đó chỉ là hội tụ của cả một khối tình. Câu thơ biểu lộ một niềm tin vào sự thủy chung son sắt trong tình yêu. Tình yêu đã cho nhân vật trữ tình đôi cánh bay lên vào huyền thoại. Hạnh phúc làm rưng rưng những giọt lệ long lanh như những hạt châu:

Giọt lệ không chân long lanh vàng đá

Âm vang của ngôn ngữ vì thế cũng mờ đi, nhòe dần trong suy tưởng. Tôi nghe được lời cám ơn thầm lặng của thi sĩ với người tình: Cám ơn em đã yêu anh. Cám ơn vì em chấp nhận sự cách xa vẫn yêu anh, cám ơn em đã cho anh một tình yêu ngọt ngào, cám ơn em đã luôn cho anh niềm tin vào độ bền của lòng chung thủy…

Nhưng niềm hạnh phúc không kéo dài, bóng mây đen đã che ngang mặt trời làm không gian thoáng đãng, rực rỡ bỗng tối sầm:

Đang mặn mà em đã vội quay lưng!

Em đã từng nói yêu tôi, em đã từng chung thủy với tình tôi, em đã từng chờ đợi ngày tôi về nhưng thật chóng vánh nhanh đến không ngờ “quay lưng!”

Dấu chấm cảm cuối dòng để biểu lộ nỗi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của kẻ đang yêu, được yêu và đang hạnh phúc với tình yêu. Nếu là tôi có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ hỏi lý do người bỏ ta đi chỉ đơn giản là câu hỏi chẳng bao giờ có câu trả lời mà cho dù có cố gắng trả lời chỉ là những lời không thật để cố gắng tránh làm tổn thương nhau. Tôi nghĩ thi sĩ không hỏi mà đây chỉ là cái cớ để anh trang trải nỗi niềm khi tình yêu đã mất:

Bỏ lại Sài gòn rưng rưng góc phố
Ngọn đèn vàng xô dạt bước chân tôi
Trời đất mịt mù ngày mưa giông tới
Nơi máu trong tim chưa kịp luân hồi.

Ý thơ làm tôi nhớ đến ca từ trong một bài hát của Trịnh Công Sơn “Em đi bỏ lại con đường/ Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em”. Một con đường thôi mà đã bao nhớ nhung còn đây là cả một thành phố của những con đường bao dấu chân qua. Tôi thích “Sài gòn rưng rưng góc phố”. Tiếng khóc nghẹn chưa tuôn thành giọt lệ chỉ mới rưng rưng mà chừng như trái tim đã xót. Tình yêu đã đọng lại thành giọt châu rơi, những giọt không chân, mênh mông trời đất bây giờ chỗ nào cũng là em, là bóng em, dáng em, bước chân, nụ hôn nồng nàn của em… giọng thơ hình như đã nghẹn dần thành một chuỗi bi thương, câu chữ như cuộc tình bị đẩy xô trôi dạt để rồi về lại nơi đây ngổn ngang, tăm tối, tù mù “Ngọn đèn vàng xô dạt bước chân tôi, trời đất mịt mùng, máu không kịp chảy trở về…”

Tôi cảm nhận không gian hình khối đang vỡ tan, dòng máu đang tuôn chảy, nỗi đau cào cấu linh hồn. Từng chữ, từng câu đang cứa nát tất cả, như muối đang chà xát vết thương ứa máu chưa lành để người con gái quay lưng kia cũng đôi lần “biết khóc”

Mà cũng có đôi lần em biết khóc
Lối hẹn hò cỏ mọc đã xanh um
Để nhớ một thời em còn xoã tóc
Chỗ lời tình thổn thức tiếng vô ngôn …

Giọt lệ của ăn năn, của nuối tiếc và cũng là một an ủi cho thi nhân khi tình yêu đã ngoài tầm với. Lối thu xưa, lối xuân xưa không còn em và tôi qua lại chỗ cỏ đã phủ xanh xao lòng phố.

Đau xót khó nguôi ngoai. Có lẽ nỗi đau còn vì tình chưa phai nên vẫn nhớ đến hình bóng của người xưa một thời tóc xoã xanh um như ngọn cỏ. Không thể nói ra lời tình nhưng trái tim vẫn thổn thức tiếng vô ngôn.

Con người sinh ra khó ai vượt qua được chữ tình. Tình yêu dù có một kết thúc trọn vẹn hay dở dang vẫn cứ đẹp. Nhưng có lẽ những cuộc tình không trọn vẹn sẽ làm người ta nhớ mãi, không quên, nhớ đến muôn đời. Chia tay – mùa xuân đặt cạnh nhau trong mối quan hệ tương phản càng làm dấy lên trong lòng ta một nỗi buồn vô hạn về kiếp tình ngắn ngủi của những người có duyên không phận và chính điều đó đã tạo cho nhân loại những bài thơ tình êm đềm như dòng sông trôi đi vào mênh mang của đất trời trong một trạng thái mông lung: Đời ta trôi về đâu, tình ta đi về đâu trong cái vô cùng vô tận của đất trời…

Cũng là cuộc chia tay nhưng thi sĩ đã chọn không gian mùa xuân chính điều này đã làm cho lần cuối cùng gặp gỡ không tuyệt vọng mà vấn vương, thương nhớ đến cả cuộc đời. Chia tay mùa xuân, chia tay hoàng hôn cũng vẫn là những cuộc chia tay đau khổ nhưng dường như thi sĩ vẫn kịp cho mình chiếc áo khoác mùa xuân phủ lên cuộc tình tan của mình một hương vị lạ: Tình xa nhưng không mất như mùa xuân đi nhưng rồi lại quay về dù đó là sự quay về của ký ức nhưng vẫn đáng quý, đáng yêu. Bài thơ buồn nhưng không bi lụy. Tôi vẫn thấy mùa xuân đang lộng lẫy khoác áo lụa vàng đứng bên cạnh tôi với cái nắm tay thân thiết mà tôi đang cảm nhận: “Mùa xuân đang chạm tới da trần”. (Hư Vô)

Sương Lam

Bóng Xuân Phai. Thơ Hư Vô


Bóng Xuân Phai

Tôi ngồi đếm tuổi tôi chơi
Nửa đời lăng lắc tựa hơi thở dài
Tôi ngồi đếm những tàn phai
Thấy trong giọt lệ có hình hài em.

Gập ghềnh giữa chốn nhân gian
Bước qua cho biết hoang đàng đời nhau
Trăm năm mấy bận bạc đầu
Để tôi nhặt hết cơ cầu mang theo.

Đường đi có khúc ngoằn ngoèo
Trái tim tôi cũng đã meo móc rồi
Em ngồi đếm bóng xuân trôi
Chắc gì còn được luân hồi tái sinh.

Trách chi trời đất bạc tình
Chỉ là chiếc bóng thình lình lướt qua
Mà em như vạt lụa là
Vướng trong con mắt tôi xa muôn trùng…

Hư Vô

 

Hồ Trường An viết về Nhật Tiến và Đỗ Phương Khanh


Hồ Trường An

(Chân dung Nữ Sĩ Đỗ Phương Khanh và Nhà Văn Nhật Tiến – 1955)

Vào những năm 1969, 1870, 1971, Tô Thùy Yên thường bảo tôi:

– Các nhà văn có khuynh hướng xã hội, nghiêng xuống kẻ bất hạnh, người cùng đinh lại thường khá giả, có xe hơi đi. Còn các nhà văn có khuynh hướng mới thì nghèo hơn, chỉ đi xe gắn máy.

Đúng như lời anh nói, các nhà văn xã hội thời đó đều sắm xe cả: Lê Tất Điều, Vũ Hạnh, Minh Quân và cặp vợ chồng Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh.

Ở Việt Nam, tôi quen rất sơ đôi uyên ương cầm bút nầy nhưng tôi đọc hầu hết tác phẩm của họ. Về tác phẩm của Nhật Tiến, đầu tiên tôi đọc Những Vì Sao Lạc đăng từng kỳ trên tạp chí Tân Phong do chị Nguyễn thị Vinh chủ trương. Về truyện của Phương Khanh, tôi đọc một vài truyện ngắn của chị đăng rải rác trên Văn Hoá Ngày Nay và Tân Phong: Đi Mua Giày, Giận Nhau, Con So, Hương Thu.

Trên hành trình viết về xã hội, trước hết Nhật Tiến viết về các trẻ em mồ côi qua các tác phẩm: Những Vì Sao Lạc, Những Người Áo Trắng, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng. Sau đó anh mới viết về xã hội nghèo khó như: Thềm Hoang, Vách Đá Cheo Leo …Khi chiến tranh sôi động, anh có các tác phẩm: Tặng Phẩm của Dòng Sông, Giấc Ngủ Chập Chờn.
Cuốn Thềm Hoang đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc nâng tên tuổi Nhật Tiến lên hàng đầu . Nhưng truyện kịch Người Kéo Màn của anh mới là tác phẩm gây xôn xao và có giá trị nghệ thuật.

Nhật Tiến là nhà giáo, nhà văn. Anh nghiêm trang, đạo mạo nên có vẻ già trước tuổi. Cái nhìn của anh như có vẻ thờ ơ, lãnh đạm sau cặp kính cận, nụ cười của anh nhẹ nhàng, lạt lẽo . Nhưng thật ra anh là người làm việc rất hăng say, nghiêm chỉnh và nồng nhiệt với văn nghiệp, với sự tranh đấu chống bất công, bạo lực. Gia nhập Trung Tâm Văn Bút, được bầu vào ban chấp hành, anh sát cánh với Linh Mục Thanh Lãng vận động cho hội viên thêm đông. Vào quân đội, được phái làm giảng viên ngành Chiến Tranh Chính Trị cho các sĩ quan, anh là kẻ giảng bài tỉ mỉ nhất, lời giảng hùng hồn lưu loát. Năm đó, vừa tốt nghiệp khoá 26 trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi được biệt phái qua Địa Phương Quân ở Bình Dương và được cho theo học một khoá chiến tranh chính trị tại đường Đặng Đức Siêu, Sài Gòn. Ông thày dạy tôi là nhà văn Nhật Tiến.

Tôi đã gặp nhà văn Nhật Tiến vào dịp dự bữa tiệc do chị Hoàng Hương Trang và Thụy Vũ thết đãi tại nhà cụ Vi Huyền Đắc ở Ngã Năm Bình Hòa. Sau đó là bữa tiệc tại nhà chị Nguyễn thị Vinh ở cư xá Lữ Gia. Gần tàn bữa tiệc thì chị Phương Khanh bồng con tới. Chị không đẹp lắm nhưng hoạt bát, thông minh, duyên dáng. Hôm đó chị mặc chiếc áo xẩm cụt tay bằng gấm đen nổi hoa xanh đỏ. Ít lâu sau, nhà xuất bản Ngọc Minh thực hiện tuyển tập các nhà văn nữ do chị Nguyễn thị Vinh cố vấn việc chọn bài. Các nhà văn nữ có mặt trong tuyển tập gồm: Nguyễn thị Vinh, Linh Bảo, Minh Quân, Vân Trang, Trúc Liên, Đỗ Phương Khanh, Hoàng Hương Trang, Minh Đức Hoài Trinh, Trùng Dương, Nguyễn thị Thụy Vũ ….Trong tuyển tập ấy, truyện Vàng Son của Đỗ Phương Khanh rất hay, có khuynh hướng xã hội rõ rệt.

Nhật Tiến không ưa lối viết bạo của Thụy Vũ. Trên các tạp chí xuân năm Mậu Thân 1968, anh nạo Thụy Vũ tơi bời , cho rằng văn chương Thụy Vũ tục tĩu, ngang ngược, không có một chút giá trị căn bản của nghệ thuật. Song song với Nhật Tiến chà láng Thụy Vũ, nhóm Tin Văn pháo kích Nguyễn thị Hoàng tơi bời manh giáp. Nhưng trong hai năm liền, sách của hai nữ tác giả này bán chạy như tôm tươi.

Xét cho cùng, Nhật Tiến nạo sát ván Thụy Vũ chẳng phải vì tư thù. Anh có đường lối văn chương xã hội nên không thể nào chịu nổi lối viết mạnh bảo tả chân của Thụy Vũ. Dù bị phê bình tàn mạt, Thụy Vũ vẫn không có chút thù hằn Nhật Tiến. Bốn năm sau, hai chị em tôi có dịp đến Trung Tâm Văn Bút để gặp Linh Mục Thanh Lãng thì gặp lại cặp Nhật Tiến – Đỗ Phương Khanh. Giữa hai bên hầu như chưa hề có bài phê bình nặng lời đó. Chị Đỗ Phương Khanh rủ Thụy Vũ gia nhập Văn Bút trở lại.
Vào năm 1968, nhà xuất bản Huyền Trân do Nhật Tiến chủ trương, cho xuất bản tập truyện Hương Thu của Đỗ Phương Khanh. Tôi đã viết bài điểm cuốn ấy trên tạp chí An Lạc do Đại Đức Thích Thông Bửu làm chủ nhiệm.

Năm 1973, tôi ăn dầm nằm dề tại nhà ký giả Lê Khiêm (con trai nhà văn Lê Trương). Mỗi sáng chúng tôi ra cổng xe lửa số 6 đáp xe lửa đi Biên Hoà làm việc ở Quân đoàn 3. Chiều, hai đứa cùng về, tụ tập với lũ ký giả ăn nhậu tán dóc lu bù mà không ngờ Nhật Tiến ở gần đó (ngã ba Trương Minh Giảng – Nguyễn Huỳnh Đức). Thời gian đó, tôi đang theo dự lớp tôi ở đại học Minh Đức, phân khoa điện ảnh. Một hôm khi ra tới đường để đón xe lam đi học, tôi gặp chị Đỗ Phương Khanh. Cả mừng, chị rủ tôi đến chơi cho biết nhà và anh chị cho tôi một lô sách.

Sau ngày 30-4-75, tôi có tháp tùng nhà văn Vũ Mai Anh đến thăm Nhật Tiến. Anh có dịp hiểu tôi hơn, dù ba tôi thân Cộng, giữ chức cố vấn Hội Văn Nghệ Sĩ Giải Phóng đồng với cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, nghệ sĩ Bảy Nhiêu (Hùynh Năng Nhiêu) và nhà thơ nữ Ái Lan, nhưng tôi vẫn là sĩ quan ngụy, đang trốn học tập và phải rời bỏ xóm cũ.

Rôi tôi cùng cặp Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh học khóa I Bồi dưỡng Chính trị vào năm 1976. Trong lúc bàn về sách vở, báo chí miền Nam, tên cán bộ văn hoá Mai Quốc Liên đã khinh miệt chê bai văn chương miền Nam là văn chương chợ trời, văn chương bán “sôn”. Chị Phương Khanh dằn không nổi, thét lớn:

” Sao anh dám nói thế? Anh đã xem hết sách vở miền Nam chưa? Anh nói thế là do ý anh hay anh nhân danh Bác và Đảng của anh?”

Chị bật lên khóc và ngồi xuống ghế . Sau đó, khi nghe một nhà văn nữ van xin Cộng Sản:

“Hãy để cho chúng tôi viết lại. Chúng tôi là kẻ bị chế đô cũ đầu độc, yếu đuối. Chúng tôi cần có sự dìu dắt của các anh”, chị Đỗ Phương Khanh đã dõng dạc nói: “Cô có xin thì xin cho cô ấy. Đừng có xin cho chúng tôi làm gì !”

Về phần Nhật Tiến, sau khi làm tự phê tự kiểm, anh vào phòng rửa mặt khóc nức nở. Anh bị tên Bùi Đức Ái (tức Anh Đức, tác giả truyện dài Hòn Đất ) nạo sát ván nhưng anh vẫn không chịu nhận đường lối văn chương xã hội của anh là sai, ngay cả những gì anh viết trong cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn là bịa đặt (cuốn nầy tố Cộng khá nặng). Trước sau anh vẫn khăng khăng trả lời cán bộ Cộng sản rằng anh chỉ là kẻ ghi chép những gì mắt thấy tai nghe và anh cũng đã viết về những băng hoại, thối nát của chế độ miền Nam.

Hồ Trường An

Nguồn: Khai Phóng
Hồ Trường An viết trong “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ”

Một Vạt Nắng Xuân Trên Hè Phố. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Một vạt nắng xuân ngang vườn Tao Đàn, Sài gòn)

Con bé ì ạch đạp. Mấy chồng báo tuy không nặng lắm nhưng cũng đủ làm cho cả người của nó vẹo đi mỗi lần nó mắm môi lấy gân sức. Chỉ còn mấy quãng phố nữa thì tới nơi trả báo ế, lấy báo mới, nhưng mà sao kìa, cái xe cứ mỗi lúc một nặng hơn. Một tay nào đó phóng xe hon-da chợt xẹt qua người nó như một lằn chớp và ném lại phía sau cho nó một câu gọn ghẽ:

– Xẹp lốp rồi!

Nó thốt ngừng ngay lại và lái cái xe chúi mũi vào vỉa hè. Không còn nghi ngờ gì nữa, cả cái bánh sau của nó bẹp gí không còn lấy một chút hơi. Nó ngơ ngẩn xòe bàn tay nhỏ xíu ra vuốt lên vành bánh, và nó chợt phát giác ra một điều đáng nguyền rủa: Cái xe bị cán đinh!

Vào đúng cái lúc nó nhớn nhác nhìn dọc theo hè đường để tìm xem kẻ nào đã làm cái việc thất nhân ác đức đó, thì một thằng nhỏ đứng ở một gốc cây đang nhìn nó và nhoẻn miệng cười:

– Lại đây vá cho. Lấy rẻ!

Con bé gân mặt lên:

– Rẻ mắc gì! Phải anh rải đinh từ mé đằng kia lại, có phải không?

Thằng nhỏ, áng chừng hơn nó vài tuổi, cũng vênh mặt lên:

– Này đừng có mà ăn nói bặm trợn. Tao rải đinh hồi nào. Cái xe của mày cũ mèm thì có.

Con bé nhìn thằng nhỏ một cách kỹ càng hơn. Tóc bờm sờm, da đen đúa, mặt mũi vêu vao, chỉ được có mỗi một vẻ là khi cười, nó phô ra hai hàm răng trắng nhởn. Thấy con bé không nói gì, thằng nhỏ giọng sốt sắng hơn:

– Người ta hai ngàn, tớ lấy một ngàn thôi! Sáng mở hàng lấy hên.

Con bé vùng vằng:

– Tiền đâu mà sẵn thế. Không dưng làm xẹp bánh xe người ta rồi đòi tiền.

– Mày thử đi khắp cái phố Sì-Gòn này coi, có ai chịu vá xe một ngàn không. Cái ngữ xẹp kiểu đó bỏ rẻ cũng phải ba lỗ vá.

Con bé không thèm đáp lại nữa. Nó hầm hầm dắt cái xe đi ngang qua mặt thằng nhỏ. Cũng không thèm nhìn nữa. Nó đã có chủ đích rồi. Ráng dắt xe cuốc bộ vài quãng, về tới nhà thì ba của nó cũng có đủ đồ nghề làm chuyện đó. Hơi sức đâu mà thí cho quân ác ôn đến ngàn bạc.

Thế là con bé ráng đẩy cái xe đi. Người nó ốm nhách, giò cẳng khẳng khiu, so cái xe với chồng báo tú hụ, nó cứ như một con nhái bén đang hì hục xoay vần. Được một quãng xa, nó đã thấy mệt bở hơi tai. Mồ hôi rịn ra ở những chân tóc, nhễu xuống trán và nhỏ xuống hai bờ mi. Con bé phải dừng lại để vén vạt áo lên chùi. Bỗng có tiếng la bải hải phía đằng sau, cùng một lúc có tiếng xe hon-da trờ tới. Nó nhận ra ngay bác hàng xóm nhà mình.

– Chèn ơi, giờ này mà mầy còn lang thang ở đây làm tao kiếm hụt hơi. Có về ngay không, má mầy té xẩy thai, đang nằm liệt kìa…

Con bé run rẩy:

– Nằm …nằm..ở đâu?

– Nhà mụ Xoài mé bển đó! Tới mau đi…

Vừa nói hết câu là người hàng xóm đã lại vụt lao đi, nhanh như một cú điện xẹt. Con bé chẳng buồn nhìn theo vì trong đầu của nó đang bận rộn tính toán. Tiếp tục đẩy cái xe trở về hay là quay lại vá cái bánh xe. Nghĩ đến mẹ nó đang nằm ở một chỗ, chắc đang cần tới nó để bảo ban công việc, ruột nó bỗng nóng sôi lên và nó hối hả quay lại chỗ thằng nhỏ vừa nãy. Nhìn thấy nó, thằng nhỏ lại nhăn ra cười. Ơi, dưới ánh nắng bình minh, sao mà hàm răng của nó nom trắng nhởn như răng bò đến thế. Con bé hậm hực:

– Một ngàn đấy, vá đi.

Thằng nhỏ hỏi móc:

– Sao tính không vá, bây giờ lại vá.

Con bé nguýt nó một cái thật dài:

– Thế đấy. Nẫy không thích, bây giờ thích. Có sao không?

Ui da, cái con nhỏ sao mà chanh chua. Nhưng nghĩ cho cùng, phải thế mới được. Sống ở giữa đám người lam lũ, rách rưới đông nghìn nghịt như kiến cỏ trong cái thành phố này, không cứng cựa làm sao yên. Thằng nhỏ nghĩ thế nên nhìn con bé một cách cảm tình rồi xăng xái bầy đồ ra vá cái vỏ xe. Trong lúc làm việc, nó tỉ tê:

– Này! Cái vỏ đã bốn miếng vá rồi. Liệu mà thay đi.

– Nói dễ nghe nhỉ! Bộ giầu lắm sao mà muốn thay là thay.

– Giầu nghèo gì cái xăm xe. Phải chi như mấy ổng, đổi xe hơi đời này sang đời khác, mô-đen này qua mô-đen khác thì mới nói chớ.

– Ơi! Nói chuyện như thế mà đòi nói. Mà điều mấy ổng giầu, thay cái xe còn dễ hơn mình vá cái lốp kìa. Đúng không?

Thằng nhỏ nhìn con bé, bỗng cảm thấy cảm tình hơn. Nhãi con bằng từng nấy sao mà suy nghĩ đã khôn lanh quá trời. Nó bỗng cười toe toét:

– Mày nói đúng đó. Thiên hạ tiền muôn, bạc triệu, thay có cái xe hơi thì nhằm nhò gì. Nhưng mà về phần mầy, nom đâu đã đến nỗi mà vá có cái xăm xe cũng phải cò cưa.

Con bé dẩu mồm lên:

– Không cò cưa thì có đói nhăn răng ra. Sáng nay, má xẩy thai, nằm một chỗ rồi.

Thằng nhỏ kêu lên:

– Ý cha! Chuyện thật hay rỡn đó mậy?

Con nhỏ tốc vạt áo lên lau thêm mấy giọt mồ hôi đọng trên trán. Rồi nó thở dài, giọng than vãn:

– Má sắp tới cữ rồi mà vẫn còn đi vác gạch, tui nói không nghe.

– Mày nói…mà nói sao?

– Tui nói má ơi, nghỉ đi. Má làm nữa, vác nặng, em bé trong bụng nó chịu hổng nổi đâu.

– Cái đó thì má mày cũng biết rồi.

Con bé trợn mắt:

– Biết rồi thì cũng phải nói chớ. Mà nói riết thì cũng vậy thôi. Có dư được đồng nào, ba moi bằng hết mang đi uống rượu với đánh bạc cha nó hết.

Thằng bé xuýt xoa:

– Ui choa, cái thằng cha bất nhân.

Con bé chợt sửng cồ lên:

– Này, đừng có kiếm cớ mạt sát cha tui nhé. Bề gì thì ông cũng là ổng.

Thằng nhỏ vội vã xua tay:

– Đâu có…. đâu có… Tớ nói vậy thôi, chớ ba của đằng ấy, tớ đâu dám!

Con bé ngồi im không nói gì thêm nữa. Nó cũng chẳng nhìn xem thằng nhỏ đã loay hoay những gì với cái xe của nó. Chừng mười lăm phút sau, thằng nhỏ cất tiếng:

– Rồi! Bi giờ thì có đạp lên cung trăng cũng chẳng hề hấn gì.

Con bé phủi đít, đứng dậy. Nó toan móc túi lấy tiền trả thì thằng nhỏ đã xua tay:

– Tiền nong gì! Cất đi!

– Ô hay, sao lại không lấy?

– Không lấy vì tao thích không lấy. Có sao không?

– Chả sao hết. Không lấy thì đây cám ơn.

– Ơn huệ gì. Lần sau mà mày còn vác xác tới, tao tính tiền gấp ba. Hôm nay hãy để đó.

Con bé nhoẻn miệng cười:

– Ui cha, anh lại định dở trò rải đinh nữa ra với tôi phải không? Ê! Bữa nay thì êm đó, chớ lần sau thì tôi đi thưa.

Thằng bé nhăn ra cười:

– Ừa, thưa đi. Mày thưa tao, tao thưa lại.

– Tôi làm gì mà anh thưa?

– Thưa mày không lo cho má, để má vác nặng tới xẩy thai. Ôi chà! Tù mọt gông đó nghe “em”!

Con bé nguẩy người, lườm thằng nhỏ một cái thật dài rồi dắt xe xuống đường. Lúc nó đạp được vài vòng thì thằng nhỏ đã nói với theo:

– Tao mới ráp thêm hai cái má thắng đó. Ui da, xe cộ gì mà thắng không có, chạy loăng quăng có ngày mất mạng như chơi!

Con bé ngó xuống mé bánh sau. Quả nhiên nó nhìn thấy cái má thắng mòn vẹt gần hết nay đã được thay bằng hai miếng cao su dầy dặn và trắng phau. Nó thử thắng cái xe lại. Ôi chao, vừa mới nhấp một tí mà cái xe đã giật đứng ngay lại, chả bù cho lúc trước, vừa phải ghì cái xe, vừa phải lết cả hai bàn chân xuống mặt đường mỗi khi cần ngừng gấp. Nó ngoái đầu nhìn lại chỗ sửa xe. Thằng nhỏ vẫn còn đứng đó nhìn theo. Hình như nó đang nhe răng ra cười. Hai hàm răng, nhìn từ xa mà vẫn thấy trắng nhởn. Sao mà lại có người có cái cười ngạo nghễ đến thế!

Hai hôm sau, vào đúng chiều hai mươi tám Tết, con bé đạp xe trở lại hè đường cũ. Hôm nay cái xe của nó nhẹ tênh vì chẳng có chồng báo nào đèo sau lưng của nó. Chỉ có gói giấy dầu nhỏ xíu, bên trong có một cái bánh bao còn nóng hổi. Con bé ngơ ngáo nhìn hết gốc cây này tới gốc cây khác. Chẳng thấy thằng nhỏ đâu. Bên đống đồ nghề sửa xe, chỉ có một ông già đang ngồi chúi mũi vào tờ giấy dò vé số. Nó cất tiếng hỏi:

– Ông ơi, cái anh…. cái anh sửa xe mọi khi ở đây đâu rồi?

Ông già ngẩng đầu lên, bộ râu lởm chởm như cố đỡ lấy cái gọng kính đồi mồi cũ kỹ:

– A! Thằng Tín. Cháu cần hỏi gì nó?

Con bé tự nhiên nóng cả mặt. Chân tay của nó luống cuống hẳn ra. Nó ấp úng:

– Cháu…. cháu tìm anh ấy.

– Hôm nay nó không ra. Có chuyện gì thế?

– Dạ…. cháu…. cháu…. mua cho ảnh cái bánh bao.

– Ý chà! Sao mà sang thế!

Con bé càng quíu hơn. Hai bên má của nó nóng rực và hồng lên trong sáng sớm:

– Dạ…. Tại vì…. tại vì bữa nọ ảnh sửa xe cho cháu…. tốt quá!

Ông già vui vẻ:

– Thế hử. Cái thằng nom thế mà tay nghề nó cũng vững lắm. Bánh bao hả? Cứ để đây, chốc về, ông mang về cho nó.

Con bé bẽn lẽn nhìn ông già:

– Ông là ông của anh Tín hả.

– Ừ! Ông ngoại! Bố nó chết rồi. Mẹ nó đi lấy chồng. Nó về ở với ông. Chỉ có mỗi nó thôi.

Con bé trao gói bánh cho ông già rồi rồi vội vã đạp xe mất hút trong lòng thành phố. Tim nó đập thình thịch. Nó thấy mình sao mà liều lĩnh quá. Không dưng lại đi trao bánh cho ông già. Phải chi chờ thằng Tín ra thì sự việc có vẻ suông sẻ hơn. Bên sửa xe, bên cho bánh, có cái gì là không nên không phải đâu. Không biết lúc thằng Tín nhận gói bánh thì sẽ nghĩ sao. Nó lại cũng tiếc là không nán lại chút xíu nữa để hỏi thêm về Tín. Nhà ở đâu? Có đi học trường nào không? Lớp mấy? Nhưng mà thôi, trao được cái bánh là đủ rồi. Mai mốt sẽ còn có dịp đạp xe qua mà.

Rồi nó lại lan man nghĩ đến cái bánh bao còn nóng hổi. Tối hôm qua nó đã ngồi lột củ cải cho bà Hưng mãi đến tận hai giờ sáng. Hàng Tết đổ về, ngoài linh tinh mọi thứ, nhà bà Hưng còn tràn ngập những củ cải trắng, cái nào cái đó to bằng bắp tay. Từ phòng trong ra nhà ngoài, tràn xuống cái sân con rồi tuôn ra cả cái con hẻm còn lép nhép nước mưa, toàn là những củ cải chỗ thì trắng phau, chỗ thì nhoe nhoét đất với bùn. Bà Hưng đã huy động mấy đứa con, lớn thì mười sáu mười bẩy, bé thì lên tám, lên chín, tất cả xúm vào, mỗi đứa một con dao sắc lẻm, chém, vạt, xả, cắt…. làm túi bụi mà vẫn không xuể. Những đống củ cải đã làm xong được thồn vào những cái bao tải chất cao như núi trong nhà. Ấy vậy mà khắp mọi chỗ, từ trong nhà ra ngoài ngõ vẫn bề bộn vương vãi từ củ đến lá, từ vỏ đến ruột, tất cả nom cứ như một bãi xây cất ngổn ngang, chồng chất những vật liệu. Đến nỗi ông Tổ trưởng Dân phố cứ soạch một cái lại thò đầu ở bên kia ràng rào ra đe:

– Quá lắm rồi đó chị Hưng ơi! Chị bày ra kiểu này… chết bà con, rồi chết tới tui luôn.

Bà Hưng xoắn xuýt:

– Hết rồi…. Hàng về hết rồi. Chỉ loáng cái là xong thôi.

Rồi bà nháy mắt cho thằng con lớn. Nó biết ý, ngưng tay dao, lại tủ bán thuốc lá của con em nhón ra một gói ba số rồi lẻn ra ngoài. Một lát sau quay về cười tủm tỉm. Bà Hưng thấy thế cũng tủm tỉm cười theo.

Rồi bà lại cho đi gọi con bé hàng xóm sang phụ, thế là nó có thêm việc từ tối tới quá nửa khuya. Xong xuôi nó được rúi vào tay những mười nghìn. Thế là nó nghĩ ngay tới cái bánh bao thơm phức nằm trong cái nồi hơi bốc nghi ngút khói của ông già vẫn ngồi bán ở đầu ngõ. Tín vá xăm xe, lại tự ý sửa hai cái má phanh cho nó, cả đời nó chưa bao giờ được hưởng cái sự mình không nói ra mà lại có người tự ý làm cho mình. Chính cái đó làm cho nó thấy bứt rứt, người cứ nao lên mà chẳng biết vì cái gì.

Sáng hôm sau, theo thông lệ, nó chở báo đến nhà phát hành để đổi báo cũ, lấy báo mới thì đã thấy thằng Tín ngồi chồm hổm ở vỉa hè, ngay chỗ mọi người đang kiểm báo. Nó thấy choáng cả người và thốt lên:

– Úi chao ơi….

Tín nom thấy nó thì đứng phắt dậy và nhe răng ra cười. Hai đứa nhìn nhau mãi mà không đứa nào lên tiếng. Rút cục, con bé phải lên tiếng hỏi, giọng như người hết hơi:

– Kiếm ai vậy?

– Còn phải hỏi. Đang sùng lắm đây.

Con bé mở to mắt lên nhìn. Mặt nó hơi thoáng một vẻ sợ hãi khiến cho thằng Tín phải nhỏen thêm một nụ cười nữa như để trấn an, rồi cố lấy giọng dịu dàng:

– Đã không có tiền, sao còn đi mua bánh bao?

Mặt con bé chợt đỏ bừng lên. Nó thấy nóng ran cả người từ chân ngọn tóc cho đến các đầu ngón chân. Nó ấp úng:

– Ơ…. tại hôm qua làm thêm được mớ củ cải.

Tín sấn lại gần nó, giơ cả bàn tay nhem nhuốc vì dầu mỡ lên rồi dằn giọng:

– Lần sau thì đừng, nghe không. Xắt mớ củ cải thì được bao nhiêu. Má hôm nay sao rồi?

– Má xẩy xong rồi, cái nhau bự cho thấy là con trai.

Rồi nó bùi ngùi:

– Tiếc quá…. tui đang mong có em trai. Nhưng cũng đỡ, nhà nghèo quá, có thêm thì chỉ khổ cả nó lẫn má thôi.

Tín cầm tay nó lên, cũng cất giọng bùi ngùi:

– Thôi quên chuyện đó đi. Đời còn dài. Chẳng có ai khổ mãi suốt đời đâu.

Tự nhiên con bé ứa nước mắt. Nó cũng không rõ tại sao mình lại khóc dễ dàng thế. Mấy hôm trước, chính tay nó bưng cái hũ thai xẩy của mẹ nó ra góc nghĩa địa vùi xuống mà nó có khóc đâu, mặc dù nó cũng đã lâm râm khấn:

– Em ơi. Em tìm nhà khác mà đầu thai. Ở đây mẹ với chị quần quật lắm cũng không đủ nuôi cho em sung sướng đâu.

Thế mà bây giờ nó lại khóc. Những giọt lệ long lanh trong khóe mắt rồi lăn dài xuống hai má. Tín thấy thế cũng cuống quýt cả lên. Nó muốn lau mặt cho con bé mà chân tay cứ quều quào, không thực hiện được. Cuối cùng nó kêu to:

– Thôi, gửi cái xe lại rồi lên đây.

Con bé ngơ ngác nhìn. Rồi nó hỏi:

– Đi đâu?

Tín nhoẻn miệng cười. Nó lấy lại được sự thoải mái bình thường sau câu hỏi đó. Nó cất giọng rõng rạc:

– Đi chợ Tết!

Mặt con bé thoáng lên một niềm vui hồn nhiên như thể ngày xưa còn bé, hồi bà ngoại nó còn, bà hứa cho nó một cái kẹo chanh. Hai má của nó chợt hồng lên, đôi mắt long lanh như vừa có một vạt nắng xuân le lói chiếu vào. Nhưng nó vẫn hỏi:

– Mà đi chợ Tết thì mua gì cơ chứ?

Tín nói như ra lệnh:

– Mua cho đằng ấy cái lược!

Con bé dẫy nẩy lên:

– Ui! Em thì cần gì lược.

– Nói không cần lược nên cái đầu mới xù lên như cái tổ quạ thế này. Năm mới, phải chải cái đầu cho bảnh thì mới ra dáng con người mà ăn Tết chớ.

Con bé ngúng nguẩy:

– Không đi đâu, cũng chẳng mua bán cái gì hết.

Tín giở giọng ngang tàng:

– Không đi thì đây bế lên mà đi, ráng chịu!

Vừa nói nó lại vừa sấn tới. Cái thằng sao mà ngang tàng, coi trời bằng vung đến thế. Nhưng con bé lại không lấy thế làm bực mình. Nó chỉ cuống quýt lên và la bải hải:

– Đi… Ừ….. đi thì đi…. Mà hượm để gửi xe cái đã.

Vừa nói, con bé vừa chen vào đám đông lúc ấy đang nhốn nháo với những chồng báo cao ngất nghểu. Chợt Tín gọi giật lại:

– Ê…. này….. ấy ơi….

Nó chưa biết tên con bé là gì nên giọng rõ ra vẻ lúng túng. Từ bữa hổm tới giờ, nó cứ xuýt xoa là quên mất không hỏi con bé tên gì. Cái sự lúng túng này cứ đeo đẳng trong đầu nó mãi, ngay cả khi hai đứa đã len lỏi vào rừng người đông nghẹt trong chợ Tết. Nhưng cuối cùng thì nó cũng chợt vùng lên nói:

– Này…. gì ấy nhỉ?

– Gì là gì?

– Tên ấy! Phải có tên mà gọi chứ!

– Em biết tên của anh rồi, anh Tín!

– Thế còn…..

Nó chợt ngừng lại. Miệng tắc tị. Nó thấy rõ là chẳng có khi nào mình phát ngôn lại khó khăn như lúc này. May quá, con bé thông minh, đã trả lời ngay:

– Còn em ấy à? Gọi em là Hoa.

– Hoa gì?

Con bé nhìn Tín, hai mắt long lanh, giọng tinh nghịch:

– Anh thích hoa gì?

– Hoa Mai ! Ở làng anh, mỗi lần giáp Tết, hoa Mai nở rộ cả một vùng.

Hoa mỉm cười:

– Vậy em cũng thích hoa Mai. Chừng nào hết nghèo, được về quê ăn Tết, em sẽ trưng hoa Mai khắp trong nhà.

Tín nắm ngay lấy bàn tay xinh xắn của nó rồi lôi đi:

– Nghèo giầu gì! Mình sẽ đi mua cả cái lược lẫn một cành Mai!

Chẳng cần bảo nhau, cả hai đứa cùng như cảm thấy cả một vườn hoa Mai rực rỡ ở chốn xóm làng xưa cũ hiện ra trước mắt làm cho chúng nó thấy rộn rã trong lòng.

Thế rồi vô tình con bé cũng nắm chặt lấy cánh tay của Tín và cả hai cùng mất biến trong đám người lố nhố, cũng đang ồn ào chen chúc nhau để vội vàng mua sắm Tết.

Nhật Tiến

Dốc Nắng Mùa Xuân. Thơ Hư Vô


Mùa xuân rắc phấn hương vào Tết
Cho nồng thêm từng dấu môi hôn
Còn nghe ngan ngát em mùi tóc
Từ khi da thịt có linh hồn.

Bóng tôi đổ xuống con dốc lớn
Hoa đã vàng mù mịt bóng gương
Mà thơ vẫn còn nguyên ý tứ
Để tôi mắc nợ những con đường.

Em đứng khóc bên hiên mười sáu
Coi chừng nước mắt rớt vào thơ
Buồn đã tới vườn quen con gái
Chỗ hồn tôi lăn lóc dại khờ.

Mùa-em, xuân mới hườm đôi má
Còn nghe bịn rịn dấu môi đau
Tôi đâu phụ bạc mùi hương cũ
Chỉ nắng chói chang mất lối vào..

Hư Vô

Thuyền Quyên. Thơ Hư Vô, Nhạc Phùng Việt Dũng, Ca sĩ trình bày Thu Hương, Hòa âm Đỗ Hải, Video Thảo Nguyên Sydney


Vườn Xuân. Thơ Hư Vô, Nhạc Viễn Trình, Ca sĩ Diệu Hiền, Thụy Long. PPS Thảo Nguyên Sydney.


Vào Xuân, đọc bài thơ: “Phơi Áo Tình Nhân Ngày Giáp Tết” của Thi Sĩ Hư Vô. Tùy bút Sương Lam


Sương Lam

Đẹp nhất trong năm là những ngày sắp Tết. Trời se se lạnh cho dù khí hậu Sai gòn sớm nắng chiểu mưa. Còn gì thú vị hơn khi được lang thang qua những con đường vắng, đón Tết sớm của riêng mình cũng là một hạnh phúc không dễ gì có được.

Sài gòn ngày xưa đi đâu đâu ta cũng bắt gặp những tà áo dài thướt tha trong gió. Nữ sinh, phụ nữ làm công sở, người đi chơi… ai cũng thích mặc áo dài. Tôi một người con gái của Sài gòn thuở ấy cũng chỉ thích một trang phục duy nhất – áo dài.

Đêm giao thừa nào cũng vậy, cả nhà tôi đều đi lễ chùa, hái lộc đầu năm. Những tà áo dài tha thướt trong đêm sương lành lạnh, trong mùi nhang trầm thơm ngát, trong tiếng chuông chùa, trong tiếng pháo đì đùng tiễn đưa năm cũ là những kỷ niệm không dễ gì quên, nó đi vào cuộc sống của tôi thầm lặng mà đầy nhung nhớ mênh mông. Tôi yêu mùa xuân, tôi yêu Sài gòn những ngày giáp Tết:

Giao thừa em đi hái lộc
Chuông chùa theo gió trầm đưa
Lòng tôi vang hồi tín mộ
Trôi dài suốt chuỗi ngày xưa
(Sưu tầm)

Sài gòn sau 75 bao thay đổi. Đổi từ diện mạo đến cách sống, giá trị sống và cả con người. Bây giờ còn mấy ai ngồi lặng lẽ một mình trong đêm giao thừa mà đọc thơ tình. Cuôc sống thực dụng đã làm thay đổi và đồng thời cũng làm mất đi nhiều thứ lắm. Cái thành phố từng được xem là Hòn Ngọc Viễn Đông bây giờ cũng xô bồ, chen chúc, hỗn loạn; đi tìm một chốn thanh vắng thật là không dễ dàng gì. Thôi thì trong căn phòng nhỏ của riêng mình, cái thế giới thật nhỏ nhưng không lụy phiền mỗi ngày tôi đi về với nó để cảm nhận một thoáng bình yên trong dòng đời cuộn chảy. Tôi đón mùa xuân trong thời khắc lặng lẽ, riêng mình với bài thơ mùa xuân của Hư Vô:

Phơi Áo Tình Nhân Ngày Giáp Tết.

Áo tình nhân em phơi vào Tết
Trên chồi mai nhọn đóa xuân thì
Em phơi cái bóng tôi trong mắt
Vạt áo buồn ai bay ướt mi.

Ngày tôi đi em còn kẹp tóc
Đứng nép bên song để đợi chờ
Tôi về không kịp như hò hẹn
Xác pháo đường hoa đỏ dốc mơ.

Em còn đứng bên bờ tơ lụa
Áo chưa khô giọt lệ lăn trầm
Để em mặc khoe cùng nhan sắc
Chút kiêu kỳ tặng phẩm tình nhân.

Thì như tôi vẫn còn đâu đó
Ở loanh quanh một chỗ thật gần
Tìm trong hương cũ em sẽ thấy
Mùa xuân đang chạm tới da trần…

Hư Vô

Trong tình yêu, quà tặng cho nhau là điều bình thường. Tặng quà – món quà người yêu mình thích đó là điều những người yêu nhau thường làm. Tặng để lưu dấu tình yêu, tặng như một lời đính ước, đợi chờ nhau…

Hư Vô tặng cho tình nhân mình chiếc áo. Món quà bình thường, giá trị vật chất không cao nhưng nó bao hàm một ý nghĩa sâu sắc. Tặng áo để người yêu luôn nhớ về mình, nhớ những kỷ niệm tình yêu. Món quà của thi sĩ phù hợp với tình yêu ngây thơ, đượm sắc màu lãng mạn của mối tình đầu thời đi học. Thuở mà tình yêu chưa bao giờ đạt lên cân mà tính toán lỗ lời. Hẳn món quà đó làm cho người con gái được yêu muôn vàn hạnh phúc. Sư lựa chọn ngẫu nhiên vô tình trùng lặp hay là một ẩn ý của thi sĩ đưa người đọc trở về nguồn cội của chiếc nôi văn hóa dân gian, một tặng vật gợi tình, gợi nhớ đẫm chất thơ. Ca dao Việt Nam có nhiều bài nói về việc tặng áo, tặng khăn cho tình nhân. Cái áo trong ca dao đã thành vật kỷ niệm, biểu tượng của tình yêu lứa đôi nồng nàn, bền chặt, là chỗ dựa tinh thần, phương thuốc mầu nhiệm của những lứa đôi.

Chiếc áo của thi sĩ không chỉ là tặng vật đơn thuần mà gắn vào đó là lời hứa. Chiếc áo vì thế mà thiêng liêng mà mang bao giá trị. Em giữ gìn chiếc áo, đợi anh về. Thế nhưng lời hứa chưa thể thực hiện, người con gái không đủ niềm tin để đợi chờ. Chiếc áo được giấu kỹ, khóa kín như một phần đời không bao giờ được bộc lộ ra. Không nỡ bỏ, vẫn quý yêu nên Tết đến xuân về, người con gái mang chiếc áo ra phơi. Phơi có nghĩa là đã rất lâu không dùng đến, phơi là để cố giữ một kỷ niệm của một thoáng vàng son, phơi là vẫn bận lòng, vẫn một chút tiếc nhớ mối tình thơ ngây đã qua đi. Chiếc áo vì thế mà dường như có linh hồn, có nỗi buồn – nỗi buồn của những lãng quên.

Áo tình nhân em phơi vào Tết
Trên chồi mai nhọn đóa xuân thì

Áo phơi lên đón mùa xuân về . Hai sự việc như dẫn dắt nhau đưa người đọc đến thế giới của không gian tự nhiên và không gian của hồn thi sĩ.

Mùa xuân kéo theo chồi non, lộc biếc, càng đẹp hơn khi “em” đang độ xuân thì. Hư Vô thật tinh tế khi viết về mùa xuân non tơ phải là “chồi mai nhọn”, chồi nhọn là chồi chưa lớn, chưa căng tràn sức sống, còn e ấp, thơ ngây. Mùa xuân ở đây thuộc về vẻ đẹp chưa mãn khai, vẻ đẹp mới tượng hình, non tơ, nõn nà, e ấp. Vẻ đẹp tinh khiết, thơ ngây của đóa xuân ngời. Cái đẹp của liên tưởng, của dẫn dắt, của khám phá, của sự toàn bích. Hương mùa xuân bát ngát đất trời, hương xuân nữ bao la khắp chốn. Vẻ đẹp khiến ta phải cảm xúc đến trào tuôn và có khi còn phải thốt thành lời ca ngợi. Khung cảnh tươi, không gian ngát hương, mùa của đôi lứa, của tình yêu nhưng không là đôi lứa đang yêu và tình tự với mùa xuân mà lại chỉ có một – cái một lẻ loi: “Cái bóng tôi”. Nếu là người yêu thơ anh, có lẽ ta không ngạc nhiên khi thấy không gian mùa xuân xuất hiện cái bóng. Tôi nhớ đến truyện dài của Túy Hồng “Tôi nhìn tôi trên vách” và có cảm nhận chúng ta như chiếc bóng cả đời tự rượt đuổi mình nhưng vẫn không làm sao vượt qua nỗi cô đơn. Nghĩ nhiều nên tâm động, cuộc sống chỉ có tôi tồn tại. Tâm là bóng, tình là bóng, đời cũng là một chiếc bóng. Câu thơ dường như đã cực tả được nỗi cô đơn của kẻ lãng du qua đường tình mà không có điểm dừng chỉ lang thang, đơn độc. Mối tình tơ, mối tình thơ thoáng như một giấc mơ nhưng nó để lại trong tâm hồn thi nhân bao dấu tích. Để từ đây, trong thơ Hư Vô ta thường bắt gặp chiếc bóng của chàng nghệ sĩ đa tình:

Bước chưa qua chiếc bóng
Quẩy cái gánh cồng kềnh
Mà hồn nghe luýnh quýnh
Biết còn kịp tái sinh.
(Con Đường- Hư Vô)

Một lần em biết khóc
Giọt nước mắt dậy thì
Cho trắng da dài tóc
Che bóng người tình si.
(Từ Khúc Mùa Xuân -Hư Vô )

Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình.
(Áo Hạ Vàng -Hư Vô )

Bóng mình không tìm thấy ai tìm ra bóng ta trong cuộc đời dài rộng. Nỗi u ẩn muộn phiền đang thấm vào không gian, thấm vào lòng người những gam màu ảm đạm.

Em phơi cái bóng tôi trong mắt
Vạt áo buồn ai bay ướt mi.

Thì ra chàng đã cảm nhận rất rõ: anh không còn gì trong em. Sự hiện hữu của anh chỉ còn đọng trong đôi mắt đã mơ hồ, đã không còn tồn tại. Đôi mắt của tình xưa kéo không gian về lại quá khứ êm đềm:

Ngày tôi đi em còn kẹp tóc
Đứng nép bên song để đợi chờ
Tôi về không kịp như hò hẹn
Xác pháo đường hoa đỏ dốc mơ.

Em vẫn còn kẹp tóc, vẫn ôm cặp đến trường, vẫn đón lời hò hẹn, nép bên song đợi chờ. Mối tình có lẽ đẹp như bài thơ vì nó còn mới mẻ, còn ngây thơ, trong sáng. Họ yêu không lâu và phải từ biệt nhau với lời hẹn ước đợi chờ. Và tình yêu đã bước vào ngã rẽ, con đường anh đi lắm chông gai. Thời gian không biết là bao lâu em đã quên lời hẹn- người con gái đi lấy chồng. Có hạnh phúc không khi em là người lỗi hẹn? Có đớn đau không khi tôi không còn có em? Chỉ biết câu thơ cuối đoạn kết bằng máu đỏ của trái tim đau: “Xác pháo đường hoa đỏ dốc mơ”. Dốc mơ đâu còn màu hoa tím mà chỉ toàn sắc đỏ của ly tan. Ý thơ làm tôi nhớ đến câu thơ của TTKH:

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

Hoa đỏ nhưng bài thơ không sáng, không rực rỡ . Dốc mơ không đẹp như thơ, màu đỏ của tim tan vỡ làm nhức nhối trái tim ta. Dốc mơ của đồi yêu bây giờ chỉ là máu nhỏ của chàng thi sĩ cô đơn. Nỗi đau vì thế đã tượng hình thành nỗi tiếc nhớ khó nguôi ngoai:

Em còn đứng bên bờ tơ lụa
Áo chưa khô giọt lệ lăn trầm
Để em mặc khoe cùng nhan sắc
Chút kiêu kỳ tặng phẩm tình nhân.

Đọc khổ thơ này tôi lại nhớ một đoạn thơ tôi biết lâu lắm từ thuở còn đi học:

Ta đứng bên đường chờ em buổi xuân
Có nụ tình xanh ru má em hồng
Có hạnh phúc nào ru đời rất ngắn
Như cuộc tình đầu mang nhiều bâng khuâng

Tình đầu luôn thánh thiện đến tuyệt vời mãi mãi ủ hương hoa trong hồn ta làm say đắm đến diệu kỳ. Người Tình Hư Vô trở thành nàng tiên trong một không gian bát ngát của tơ lụa, gấm hoa, của nhan sắc kiêu kỳ. Chiếc áo lụa là quà tặng của tình nhân càng làm rực rỡ hơn vẻ đẹp huyền hoặc, mê đắm của người con gái. Đoạn thơ sống động, rực rỡ và cũng lắm những u tình. Áo có đẹp nhưng chỉ mặc một mình không anh cùng xuống phố chỉ càng tô đậm cảm giác lẻ loi, kỷ niệm dù đẹp không đủ gói cả cuộc đời. Có tình yêu mà vẫn lẻ loi, những giọt lệ khóc thầm chảy tràn trên gối mỗi đêm, chảy thấm vạt buồn của chiếc áo hẹn hò, kỷ niệm. Với Hư Vô, xa không gian nhưng tình lại thật gần. Câu thơ bật lên nỗi niềm thấu cảm. Trái tim người tình sâu sắc, thiết tha. Thương em với nỗi buồn đơn lẻ, những lúc khóc ai là người lau nước mắt. Xa tặng áo để em luôn nhớ, để em khoe với bạn bè. Chu đáo, tận tình, đầy yêu thương, trìu mến trong cách tặng, quà tặng. Em đã qua cầu, pháo đỏ rượu hồng, xuân xanh phấp phới. Màu đỏ với em hân hoan, chất ngất. Màu đỏ trong tôi là máu nhỏ từ tim, những giọt máu tình yêu đang tuôn chảy. Đau đớn mà không oán trách mà vẫn là những chăm chút yêu thương:

Thì như tôi vẫn còn đâu đó
Ở loanh quanh một chỗ thật gần

Bềnh bồng, lãng đãng như là mưa, như là sương, là gió hay là lá nhưng dù gì đi chăng nữa vẫn là điều không tồn tại. Mạch buồn đã ngấm, chữ nghĩa đã nhòa, bóng tôi đang mờ dần, nước mắt đang nhỏ xuống… Em khóc thương tình tôi, hay em khóc cho mình không đủ kiên nhẫn để đợi chờ hay vì lẽ gì nuối tiếc một tình yêu đẹp đã phai tàn. Tôi như nghe tiếng thì thầm đầy yêu thương của thi sĩ: :”Thì như tôi vẫn còn đâu đó/ Ở loanh quanh một chỗ thật gần” Nước mắt rơi xuống rồi nhưng không không phải của thi sĩ, của Người Tình Hư Vô mà của tôi, người suốt đời đi tìm một bóng mát cho đời mình chưa bao giờ gặp. Tôi khóc cho sự đầy đạm trong tình yêu của chàng thi sĩ – Tình yêu không có sự kết thúc nếu là một tình yêu đích thực.

Tình yêu phải là sự quan tâm, ân cần, chăm sóc, chở che. Chỉ đứng loanh quanh, một chỗ thật gần, mãi mãi bên đời rất gần em chỉ đâu đó mà thôi (nhưng em có biết hay em đâu biết ?). Tôi nhìn thấy sự đôn hậu, dịu dàng, ân cần, chu đáo mà vẫn đủ đầy đam mê ở thi nhân.

Thế giới tình yêu của Hư Vô thật đẹp, cái đẹp của thủy chung, của những ngọt ngào, da diết như lời trò chuyện thầm lặng cuối gửi cho tình nhân:

Tìm trong hương cũ em sẽ thấy
Mùa xuân đang chạm tới da trần…

Nếu khi nào buồn, em muốn quay lại tìm chút mùi hương cũ của tình ta, em sẽ thấy mùa xuân trong chiếc áo ngày nào anh tặng, mùa xuân vẫn còn nguyên vẹn chưa phai, chưa bao giờ mất đi. Chữ “chạm” tôi cho đó là chữ “đẹp nhất” của bài thơ. Chạm đã kết tinh cả không gian, thời gian, sự sống, thanh xuân, tình yêu vào đó. Khẽ chạm vào chiếc áo quá khứ sẽ làm sống lại trong em tình anh ngày ấy- bây giờ – mai sau cũng chỉ vẻn vẹn một khối tình chưa bao giờ thay đổi.

Tôi yêu ngôn ngữ thơ Hư Vô vì tôi cảm nhận điều anh viết giống như bút hiệu của anh: Thực ra mọi điều trong cuộc đời này kể cả chữ tình đắm đuối làm đau đớn bao người nó chỉ là hư vô nhưng bước vào cõi hư vô ta lại thấy một điều rất thực mùa xuân đang chạm vào ta, thấu đến da trần. Nhục cảm- Đê mê- Tràn trề- Bát ngát đến mênh mông- Đó là cách nhà thơ tìm đến mùa xuân. Những năm 40, Xuân Diệu đã làm cho bao người Việt Nam phải kinh ngạc vì cách miêu tả mùa xuân rất gợi của ông “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”; “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” thì ở thế kỉ XXI cũng có một nhà thơ tả mùa xuân cũng tuyệt vời không kém “Mùa xuân đang chạm tới da trần…” Nếu Xuân Diệu vồ vập, ngấu nghiến, ôm chầm mùa xuân thì Hư Vô. chiếm lĩnh mùa xuân một cách nhẹ nhàng, tinh tế. Ta cảm nhận mùa xuân trong thơ Hư Vô tinh khôi, thanh khiết, lãng đãng nhưng lại rất đời, rất gần không hề xa chính vì vậy thơ anh đã đi vào bao tâm hồn đồng điệu họ đã giao cảm, đã ngậm ngùi, đã trân trong những thi phẩm tuyệt vời mà anh đã đưa đến cho mọi người (kể cả tôi)

Nếu Xuân Diệu trong Vội Vàng đã đưa đến cho người đọc một thiên đường trần gian, một mâm cỗ tuyệt diệu của những món ngon vật lạ để ngợi ca tuổi trẻ, mùa xuân, tình yêu thì Hư Vô lại đem đến cho chúng ta một ly rượu mùa xuân có men đời chua chát hòa với men tình đắm say của nuối tiếc da diết về cái đẹp của tình yêu- rất đẹp nhưng cũng chóng phai tàn vì cái đẹp vốn mong manh, yếu ớt.

Mùa xuân sẽ lại về với đất trời, với chúng ta một lần nữa. Trong trời đất vô cùng này hãy tận hưởng tất cả cuộc sống trần gian cho dù đó là niềm vui hay nỗi buồn tất cả đều đáng trân quý vì dù vui, dù buồn hạnh phúc nhất là được làm một con người . Và thi sĩ Hư Vô của chúng ta cũng cảm nhận trong cõi vô cùng của đất trời, anh vẫn tìm đến mùa xuân với cả tấm lòng yêu đắm đuối:

Một chút hương thầm rơi xuống đất
Là cả mùa xuân rất diệu kỳ…
(Vườn Xuân- Hư Vô)

Phơi Áo Tình Nhân Ngày Giáp Tết chính là chút hương thầm mà Hư Vô đã rắc vào thế giới nhiều bộn bề, toan lo của tôi, của chúng ta một mùa xuân rất diệu kỳ…

Sương Lam
(29.11.2017)

Chiều Bên Giáo Đường Fatima. Thơ Hư Vô


Có một dòng sông chảy ngang Sàigòn in bóng Giáo Đường Fatima nhấp nhô theo ngọn sóng trong lần tiễn em, giữa tiếng chuông chiều đang gióng xuống đón Thánh Lễ Giáng Sinh của một thời tình lận đận…

Có dòng sông chảy vào đáy mắt
Từ buổi chiều hiu hắt tiễn nhau
Tượng đá còn đau thời xanh tóc
Sóng xô trời đất cũng bạc đầu.

Em đâu quay về nơi ấy nữa
Để nghe lời thủ thỉ thật gần
Mà đã có lần tôi lạng quạng
Gọi nhau ngọng nghịu tiếng tình nhân.

Của thuở hàng cây chưa thay lá
Bước chân em đã quá đỉnh sầu
Soi bóng buồn chung con nước lớn
Dòng sông chảy ngược sóng về đâu!

Đưa em qua bến bờ xa lắc
Nhìn chưa rõ mặt chỗ đông người
Hồi chuông gióng ngang dòng cựu ước
Dội xuống đời tiếng khóc lẻ loi…

Hư Vô

http://www.amazon.com/Nguoi-Tinh-Hu-Vo-Vietnamese/dp/0987137603

Quán Thơ Hư Vô – Giáng Sinh 2017


ĐÊM MƠ THÁNH NỮ

Dìu em ngang góc giáo đường
Tôi như ngả xuống mùi hương dại khờ
Chuông nhà thờ đổ bơ vơ
Rung cây thánh giá nghiêng bờ tháp cao.

Dìu em qua lối tơ đào
Đèn khuya đang trải lụa vào đêm sâu
Muốn ôm . Ngại áo em nhầu
Muốn hôn . Lại sợ em đau môi gần.

Hàng me xõa tóc phân vân
Mơ đêm thánh nữ chân trần kiêu sa
Tay em lạnh buốt lụa là
Lùa tôi ngang điệu thánh ca lạc vần.

Bàn tay mấy ngón tình nhân
Ngón nào đeo nhẫn định lần hứa hôn?
Nhẫn tôi liễu óng tơ tròn
Kề em nhan sắc còn thơm da người.

Giữ nhau ngọc biếc hương đời
Mở trang cựu ước về soi hình hài
Đá vàng đâu dễ tàn phai
Trăm năm chỉ một đêm này, thôi em…

Hư Vô

BÀI PHỤC SINH

lại ơn em
phải nặng lòng
vớt đời tôi
ở bến sông
một ngày
nổi chìm là chuyện không may
sao tôi sống lại thế này,
tiểu thơ?

ơn em chăm chút từng giờ
vết thương kín miệng dù chưa mấy lành
chỉ vì
em rất giai nhân
trái tim thơ đã không còn lẻ loi?

ai từng hất hủi đời tôi?
mà em thơm thảo nét cười khoan dung

Hoàng Lộc

DA DIẾT

Da diết chi lắm Huế ơi
Lạnh như dao cắt mà trời còn mưa
Thương thương xứ Huế mình chưa
Thừa trời , thiếu đất nên mưa dầm dề

Mưa từ bên nớ bên tê
Mưa trên Bến Ngự, mưa về Đông Ba
Đập Đá người qua buốt da
Mưa rơi tí tách la đà thấm vai

Trường Tiền trầm lắng u hoài
Trong mưa mờ mịt, bóng ngày chênh vênh
Mưa hoài nên Huế buồn tênh
Sông Hương, Núi Ngự mông mênh dáng chiều…

Dạ Lê Đoàn
Huế – Mùa Đông 17 . 12 . 2017

NGHĨ VỀ EM TRONG ĐÊM NOEL

Chắc chắn em không là Ma Soeur
Sao anh ngong ngóng phía nhà thờ?
Nửa đêm uống cạn hồi chuông nguyện
Uống mắt em cười rất nai tơ…

Chắc chắn em không là Ma Soeur
Mà sao thánh lễ ấy như vừa
Có em chứng kiến anh xưng tội
Trước Chúa xin quỳ với giấc mơ!

Chắc chắn em không là Ma Soeur
Sao anh dại dột để tôn thờ?
Hay là Định Mệnh kia xui khiến
Mình trói tim nhau suốt bốn mùa?

Đêm Noel anh chất đầy thơ
Tặng Ma Soeur mà không MaSoeur
Em là con thỏ trong đêm thánh
Anh gã si tình ngơ ngác ngơ…

Trần Dzạ Lữ

CÀ MAU CHIỀU CUỐI NĂM

chút gió bấc hiu hiu chiều tháng chạp
trôi miên man nỗi nhớ tạt trong hồn
năm tháng cũ đau mảnh đời lưu lạc
sao là chiều sao cứ tím hoàng hôn

đâu cứ phải sông buồn mà sóng vỗ
em đâu chiều mà đã buốt lòng anh
sao phải nhớ một chân trời đổ vỡ
chiều cuối năm mưa tạt mãi không đành

ký ức đã phôi phai dần năm tháng
chợt quay về như chưa đã từng quên
em ở đâu ngút chân trời vỡ rạn
để tôi ngồi gom nỗi nhớ mông mênh

tình yêu cứ muôn đời là dang dở
như Cà Mau giờ không hết nỗi buồn
trời cuối năm lạc loài trên đỉnh nhớ
tôi một mình ngồi đếm vệt chiều buông …

Nguyễn Minh Phúc

ĐI TÌM MÙA ĐÔNG HÀ NỘI

Tìm em mùa đông Hà Nội
Thèm nghe tàu điện leng keng
Ấp lên môi người thiếu nữ
Thơm hoài hương cốm lá sen.

Cầu Rồng đắm mình trong sương
Tháng mười sông Hồng lộng gió
Tàu đi mang bao nhớ thương
Run run rét tràn phố cổ.

Một mình tìm trong giấc mơ
Chồi non ẩn mình dưới cỏ
Sao mai lãng đãng mặt hồ
Lao xao rơi từng lá đỏ.

Giấu tình trên từng góc phố
Giấu lòng trong tóc em thơ
Tiếng dương cầm trôi lặng lẽ
Mùa đông đến tự bao giờ?

Khăn quàng giữ thơm hơi thở
Em ở nơi nào sáng nay
Qua những ngày đông đứng gió
Rượu nồng đọng chút men say.

Tìm em giữa đông Hà Nội
Sóng xô con nước xao lòng
Hương tình suốt mùa lay động
Ủ sao ấm mãi tình anh?

Nguyễn An Bình

MÂY ĐẦU NÚI

Buổi sáng ta lên rừng đốn củi
tình cờ gặp lại sáng hôm qua
núi xanh cười ngất trên đầu núi
giọng cười kiêu bạc tìm đâu xa.

Búa sắt nhẹ khua thềm đá trắng
bạc đầu, hỏi núi đã già chưa
biết đâu ẩn khuất nơi hang động
còn vài tiều lão ngàn năm xưa.

Gối đá nhìn mây trắng trời xanh
thần người xác bướm giấc Trang Sinh
ở đâu là mộng, đâu là thực
mộng-thực rồi…cũng một trống canh.

Cũng đã từng mộng giấc Kê Vàng
sực tỉnh ta lên nguồn đốt than
mới biết chốn kinh kỳ nghẹt thở
dập dìu kẻ sĩ chạy lăng xăng.

Gánh củi đầu non, rao cuối phố
cũng sắm vai chen chúc chợ đời
đi qua dâu bể cười khúc khích
chợt biết mình chưa bỏ cuộc chơi.

Người kẻ chợ thương ta không nhà
quanh năm thơ thẩn trong rừng già
đâu biết đất trời che chở khắp
thì lẽ nào ngược đãi riêng ta.

Tựa gốc cây già khe suối vắng
xem ra phú quí biết dường nào
tiều lão ngàn xưa chừ…mây trắng
chiều chiều qua núi hát nghêu ngao.

Trần Yên Thảo

NGÀY & ĐÊM MÙA ĐÔNG

hiện thực lắm nắng ngày nào cũng mới
ngực đời xanh âm gió lạnh khô rồi
em biết chứ, những chiều đông yên lắng
chim bay ngang trời thả vài giọt vàng rơi

tôi bước chậm bên hàng cây đường phố
nghĩ về mưa cuốn cát bụi lăn trầm
lòng tự nhủ thành tâm lời tạ lỗi
thay nỗi vô tình đã chạm đến trăm năm

nhìn nến cháy reo vui chùm hạt lửa
hơi thở chúng mình đã ngắn lại phải không
hãy choàng ấm nhau bằng ngôn ngữ trắng
kinh nguyện vô thanh. đêm thánh vô cùng

những hình dung giữa sắc màu sinh động
những gương mặt tin yêu chớp mắt trong ngần
những cái bóng người lướt qua nhanh quá
tôi vịn con chữ tươi cười háo hức đón mùa xuân

Khaly Cham

CHỚM ĐÔNG…

Sáng nghe cái lạnh nhẹ nhàng
Gió đang thổi khẻ lên hàng hoa lan
Gió từ tây bắc thổi sang
Mang theo cái lạnh dịu dàng. Chớm đông

Biết em xứ lạ buồn không
Nhớ về quê cũ khi đông đang kề
Mỗi người có một hồn quê
Mỗi người có một cơn mê cuối đời

Bỗng nhiên tôi nhận ra tôi
Trái tim còn đập những lời tình ca
Tình yêu không có trẻ, già
Tình yêu là dải ngân hà. Đầy sao…

hochibuu

5E283EB1-8853-4FE3-BDB4-6CCBD59882F7

Chia Tay Mùa Xuân. Thơ Hư Vô


Chia Tay Mùa Xuân. Thơ Hư Vô

Hôm chia tay Sài gòn vừa chớm Tết
Trong mắt em như thể đã ra giêng
Phố xá gập ghềnh chông chênh nhịp guốc
Còn xôn xao từng chiếc lá công viên.

Môi em hiền tựa như mùi hương cốm
Áp vào tôi ngọt đắm nụ tầm xuân
Giọt lệ không chân long lanh vàng đá
Đang mặn mà em đã vội quay lưng!

Bỏ lại Sài gòn rưng rưng góc phố
Ngọn đèn vàng xô dạt bước chân tôi
Trời đất mịt mù ngày mưa giông tới
Nơi máu trong tim chưa kịp luân hồi.

Mà cũng có đôi lần em biết khóc
Lối hẹn hò cỏ mọc đã xanh um
Để nhớ một thời em còn xoã tóc
Chỗ lời tình thổn thức tiếng vô ngôn …

Hư Vô

 

 

 

Những Mùa Xuân Xưa. Tản mạn cuối năm của Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Bìa báo Xuân Việt Luận Úc Châu 2018 và bài tản mạn của nhà văn Nhật Tiến)

Hơn 50 năm trời đã trôi qua, tuy không phải là xa lắm nhưng cũng có thể gọi được là xưa. Vào cái thời ấy, tức khoảng thời gian của những năm tiếp cận của hai thập niên 40 và 50, thế hệ chúng tôi đã từng được trải qua những mùa xuân có nhiều điều đáng ghi nhớ. Vui vẻ, hồn nhiên, háo hức và tràn đầy những kỷ niệm khó phai mờ.

Niên học 1948-1949, tôi là một học sinh lớp Nhất ở trường Nguyễn Du, ở phố hàng Vôi nên còn gọi là trường Hàng Vôi, Hà Nội. Thầy dạy tôi năm đó là thầy Quỳnh, một ông thầy nghiêm khắc, ít cười nhưng yêu thương, lo lắng cho học trò hết mực.  Hồi ấy hãy còn duy trì kỳ thi Tốt nghiệp bậc Tiểu Học dành cho học trò lớp Nhất. Nhà thầy Quỳnh ở mãi ngoại ô gần khu Bạc Mai, nhưng khi gần tới kỳ thi, thầy bắt học trò đi học sớm thêm một giờ để luyện 2 môn Toán và Luận.

Ðã gần tới mùa hè, trời nóng như đổ lửa, thầy phải đạp xe đi dạy từ lúc hơn 12 giờ. Tới trường, các lớp chiều còn vắng hoe, vậy mà riêng lớp của thầy, bọn học trò gần 50 đứa đã cặm cụi ngồi làm bài, soạn bài, mọi người đều im phăng phắc. Chỉ còn nghe tiếng ve sầu kêu rộn rã ngoài khung cửa sổ mang cái nôn nao, háo hức của những tháng hè nhưng đồng thời cũng tràn đầy những cảm giác lo lắng hồi hộp vì kỳ thi sắp tới. Cuốn 280 Bài Tính Ðố của thầy Nguyễn Văn Tòng, cuốn sách quy tụ những bài toán Số học luyện thi từ dễ đến khó, bọn chúng tôi đã giải gần hết. Còn môn Luận thì khỏi nói, thầy Quỳnh tập trung vào những đề tài bình giải các câu ca dao, tục ngữ như : “Hữu chí cánh thành”, “Học thầy không tầy học bạn”, “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “Có công mài sắt, có ngày nên kim”..v..v.. để cho bọn học trò tuy còn lau nhau nhưng quen thuộc với lối hành văn biện luận, bình giải.

Công khó của thầy Quỳnh quả đã không phí uổng. Năm đó, đề thi môn văn khá hóc búa:

“Bình giải câu: Quân tử cầu ở mình, Tiểu nhân cầu ở người”, học trò các trường rớt la liệt, thế mà lớp của Thầy Quỳnh chỉ rớt có bốn đứa! Ðây là một thành tích vẻ vang do nỗ lực của cả thầy lẫn trò, nhất là thầy, vì ông luôn luôn mang cái tâm trạng lo lắng của một bà mẹ sắp sửa phải đẩy đàn con vào cuộc đời mà lòng vẫn áy náy sợ chúng chưa đủ lông đủ cánh. Vì thế, dù mệt mỏi, tốn sức bao nhiêu, thầy cũng không ngần ngại, miễn sao khi lũ học trò ra khỏi tầm tay của mình, đứa nào cũng phải có một căn bản vững vàng như thầy mong mỏi.

Nhưng kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất của tôi trong năm học này là Buổi Văn Nghệ Tất Niên do bọn chúng tôi có sáng kiến tổ chức nhân dịp đón Xuân về. Khi chúng tôi nêu sáng kiến này để xin phép thầy Quỳnh, thầy đã hoan hỉ bằng lòng ngay. Lại dặn rằng phải đưa cho thầy coi bảng ghi các tiết mục trước 10 ngày để thầy góp ý.

Ui, chương trình buổi tổ chức được mấy tên đầu sỏ trong lớp “vẽ” ra  đủ thứ hết. Có chào cờ, mặc niệm, có diễn văn chúc xuân các thầy, có sớ táo quân, có kịch vui lại thêm các màn đồng ca, đơn ca xen kẽ nữa. Thầy Quỳnh chấp thuận hết và ra lệnh chỉ được tổ chức riêng trong lớp học, có mời đại diện các lớp khác nhưng không mời các phụ huynh. Quan khách, ngoài thầy Quỳnh sẽ còn có thêm Thầy Hiệu trưởng với hai thầy khác cũng dậy lớp Nhất trong năm học đó mà thôi.

Rồi suốt cả tuần lễ trước ngày cả trường nghỉ tết, bọn đầu têu ngót mười đứa chúng tôi lo chối chết, vừa soạn “diễn văn”, vừa tập kịch, tập hát. Tôi còn nhận làm Sớ Táo Quân nữa. Sáng sớm hôm khai mạc cả bọn còn chia nhau khuân cả chăn màn, thừng chão, đồ đạc ở nhà đi để căng màn làm sân khấu và trang trí cho nội dung các vở kịch. Gọi là Kịch cho xôm thôi, nhưng đó chỉ là loại Kịch lửa trại Hướng Ðạo, tức là lâu lâu đi cắm trại ngoài trời qua đêm thì chúng tôi đốt lửa trại, diễn kịch thi đua với nhau. Diễn kịch mà lại không bao giờ được sửa soạn trước, bởi vì kịch phải có nội dung theo chủ đề, mà chỉ sắp tới giờ khai mạc, các huynh trưởng điều hành mới ra chủ đề cho các vở kịch. Thí dụ như chủ đề đưa ra là “Làm việc thiện”, vậy nội dung của các vở kịch hôm đó chỉ được xoay quanh chuyện việc thiện mà thôi. Thế là các đội xúm lại bàn với nhau tìm một câu chuyện gì đó cho hợp với chủ đề rồi cắt cử các vai ra sân khấu, cứ đóng phứa đi, cốt sao diễn tả được chủ đề là xong. Kịch tuy thế mà rất vui, vui cả vì câu chuyện ngộ nghĩnh lẫn những cái ngô nghê, vụng về của diễn viên do lắm khi các cậu cứ đứng ngớ ra chờ nhau xem ai đến lượt phải nói. Nhưng chính nhờ thế mà các Hướng Ðạo Sinh thường tập được tính nhanh nhẹn, tháo vát và dạn dĩ trước đám đông.

Trở lại cái buổi tổ chức Văn nghệ Tất niên năm đó, sở dĩ tôi nhớ được dai dẳng mãi cho tới ngày nay, là vì hôm ấy có quá nhiều điều bất ngờ ra ngoài dự tính. Trước hết là “nội bộ” của lũ học trò lớp Nhất B chúng tôi. Ai đời sĩ số gần năm chục tên, thế mà tới hôm khai mạc, ngoài Ban tổ chức và thành phần có công tác trình diễn, còn lại bao nhiêu chúng nó chuồn ở nhà hết, không ai tới dự! Thế là chỉ trơ lại có hơn mười tên. Mà ngay cả đại diện các lớp khác dù đã được mời với nhiều lời căn dặn nhưng cũng chả thấy mống nào hiện diện.

Về mặt quan khách, vì thầy Quỳnh đã dặn không được mời phụ huynh, chỉ vui chơi nội bộ trong trường thôi, nên tính ra chỉ có ba thầy dạy ba lớp Nhất (A,B,C), thêm thầy Hiệu trưởng nữa là bốn. Hôm ấy các thầy tới đông đủ hết, mà  lại tới đúng giờ nữa mới chết.  Nhìn khung cảnh vắng hoe của những hàng ghế kê trước sân khấu, chúng tôi vừa thấp thỏm như bị lửa đốt nơi bàn tọa, vừa thất vọng và xấu hổ với tất cả các thầy.

Thế rồi, theo lịch trình thì buổi lễ khai mạc lúc ba giờ mà quá ba rưỡi cả lớp vẫn trống trơn, cả bọn hoảng quá, lén tới gặp thầy Quỳnh xin hủy bỏ buổi diễn. Nhưng thầy đã quắc mắt lên:

– Sao lại hủy bỏ?

Rồi không cần chờ nghe chúng tôi nêu lý do, thầy ra lệnh:

– Khai mạc đi!

Thế là buổi tổ chức diễn ra đúng theo chương trình nhưng không khỏi có phần gượng gạo, tẻ nhạt vì không có sự hiện diện của đám đông. Tuy nhiên các thầy lại tỏ ra bình thản như chẳng có chuyện gì khác biệt xẩy ra. Các thầy tham dự các tiết mục rất tận tình, cũng vỗ tay, cũng cũng ghé tai bàn tán với nhau biểu lộ sự chú tâm hết mình vào những tiết mục lần lượt trên sân khấu. Ðến khi bế mạc, thầy Hiệu trưởng cũng trịnh trọng đứng lên ngỏ lời cám ơn và khen ngợi tinh thần hoạt động hăng hái của chúng tôi, đã thế thầy lại còn hứa là qua năm tới, thầy sẽ bảo các lớp cùng họp nhau chung việc tổ chức cho toàn trường nữa!

Bây giờ ngẫm lại mới thấy đó là tác phong của những bậc thầy, những nhà giáo dục lão luyện với những tâm hồn bao dung, rộng lượng và đầy thiết tha với sự nghiệp giáo dục con trẻ.

Khi quan khách ra về hết, thầy Quỳnh còn nán ở lại với chúng tôi, trò chuyện về nội dung của buổi diễn và sau cùng thầy còn nhắc nhở: “Phải nên nhớ rằng ở đời không phải chuyện gì cũng suông sẻ theo như mình dự tính. Nhưng cái gì đã tính làm rồi thì hãy quyết tâm làm cho đến cùng, không nên nản chí, bỏ cuộc nửa chừng”. Lời của thầy khiến cả đám cảm động muốn phát khóc. Dĩ nhiên, bao nhiêu nỗi bàng hoàng, lo sợ  lúc trước giờ khai mạc đều tan biến hết chỉ để lại trong đầu chúng tôi một dấu ấn không bao giờ phai và tấm lòng của các thầy đối với chúng tôi tôi vẫn không hề quên mặc dù đã hơn năm chục năm trời trôi qua.

Khi đã lên trung học thì mỗi mùa Xuân lại mang đến cho tôi những nỗi niềm rung động khác. Vui nhất là bầu không khí sáng tác văn nghệ trong đám học sinh vào những ngày cận Tết. Thuở ấy lũ chúng tôi chưa ai qua hết bậc Trung học Ðệ Nhị  cấp vì vẫn còn ở trong lứa mười lăm, mười sáu nhưng lòng yêu báo chí văn nghệ thì thật ồn ào, sôi nổi. Ngày ấy, nhạc sĩ Cung Tiến đã soạn nhạc, dĩ nhiên là chưa có những Thu Vàng, Hoài Cảm, Hương Xưa …nhưng anh chàng Hướng đạo sinh trong Thiếu đoàn Bạch Ðằng ấy đã viết bài hát cho toàn Ðạo chúng tôi làm bài hát chính thức.

Theo tổ chức Hướng Ðạo hồi ấy, cứ 4 Ðoàn thì họp hành một Ðạo. Ðạo của chúng tôi có tên là Ðạo Ðồng Nhân, lấy địa danh của làng Ðồng Nhân (nay nằm ở phố Hương Viên, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội) , nơi có đền thờ Hai Bà Trưng mà chúng tôi hay tụ họp ở bãi cỏ sân trước. Bốn đoàn trong Ðạo Ðồng Nhân là Bạch Ðằng, Chí Linh, Ngô Quyền và Bình Than. Cung Tiến là Thiếu sinh Bạch Ðằng. Tôi ở Thiếu đoàn Bình Than.

Nhưng mỗi lần họp Ðạo là chúng tôi đồng ca bài do Cung Tiến sáng tác:

Sóng réo ầm vang
Sóng cuốn Ðằng Giang
Bạch Ðằng chung vai ta cùng tiến bước
Ðây Chí Linh: Bao phen lừng danh,
Trong khó khăn bên nhau liều thân: Bình Than…..

********

Thời ấy có lẽ chỉ một mình Cung Tiến có khiếu về âm nhạc. Còn hầu hết chúng tôi thì lại sính làm thơ, viết văn hơn. Trong đám học trò thời ấy, tuy chưa anh nào bước qua tuổi mười bẩy, mười tám nhưng nhiều người đã có thơ, có văn, có truyện in trên báo hay thậm chí, in cả thành sách. Tôi nhớ đến anh chàng học cùng lớp Nhất với tôi, lớp của thầy Quỳnh tên là Nguyễn Ðức Cầu, chuyên lái chiếc xe đạp mà tay lái (guidon) gẫy mất một bên chỉ còn một bên và chơi đàn Banjo rất giỏi. Vậy mà khi lên tới lớp đệ Lục (năm thứ Hai bậc trung học) Cầu đã có bút hiệu là Hùng Phong, đã viết một phóng sự lấy tên là Con Cò Mày Ði Ăn Ðêm đăng dài nhiều kỳ trên tờ nhật báo Liên Hiệp của ông SoubrierVăn Tuyên ở Hà Nội. Nội dung của loạt phóng sự này viết về những đường dây buôn lậu từ hậu phương vào thành, mà cho tới bây giờ tôi cũng thực sự chưa hiểu cậu học sinh mười sáu tuổi này đã liều mạng cỡ nào mà chọn một đề tài đầy khó khăn nhưng lại rất hay ho ấy. Nhưng chỉ biết loạt phóng sự của Cầu đã được độc giả rất hoan nghênh.

Rồi phải kể tới Vũ Mai Anh, học trò lớp đệ Ngũ Chu văn An, trong cặp-táp, bản thảo tiểu thuyết còn dầy hơn là những trang vở học trò. Tác phẩm đầu tay của Vũ Mai Anh năm ấy (năm 1951 – Vũ Mai Anh còn học lớp Ðệ Ngũ) là cuốn Duyên Kiếp, đang được đăng từng kỳ trên tuần báo Hồ Gươm của bác sĩ Bùi Cẩm Chương, rồi cuốn Phũ Phàng, một tiểu thuyết diễm tình dầy gần 200 trang lại được nhà xuất bản Chính Ký ở phố Sinh Từ in thành sách.

Cũng trong khoảng thời gian đó, giới văn nghệ học sinh còn bàn tán sôi nổi về những cây bút vẫn còn đang ngồi ghế học trò, thậm chí ngồi cùng lớp với nhau. Như cậu học trò lớp Ðệ Tam với bút hiệu Hiệp Nhân được thầy Nguyễn Uyển Diễm, giáo sư môn Văn khen ngợi hết lời và đem giới thiệu với học trò trong tất cả các lớp thầy đang dạy, về cuốn truyện dài Linh Hồn Ngọc của anh sáng tác. Vào mùa hè, một cậu học sinh khác, Lê Ninh đứng ra chủ trương giai phẩm Lửa Lựu, nội dung tập trung nhiều bài sáng tác của giới cầm bút học trò.

Phải nói, vào thời kỳ đó, sinh hoạt văn nghệ giới trẻ rất sôi nổi với những tên tuổi như Mọc Ðình Nhân, tác giả tập thơ Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra chung tập thơ Ươm Ðẹp; Thế Phong, Song Hồ, Dương Vy Long, Huy Sơn, Kiều Liên Sơn, Hồ My, Tạ Vũ ..v…v… có thơ in trên các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên Hiệp (ở Hà Nội) hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại (ở Sài Gòn). Ðặc biệt nhất là anh Nguyễn Nam Tê, một thanh niên nghèo, vừa đạp xích lô kiếm sống vừa làm thơ để rồi xuất bản được thi tập Tin Về Ðất Bắc, gây sôi nổi một thời.

Trong khung cảnh viết lách náo nhiệt đó, mỗi khi mùa Xuân tới, đám chúng tôi còn hoạt động sôi nổi hơn. Trời thì mùa đông rét mướt đấy nhưng ý Xuân lại tuôn ra ào ào ngậu sị cả lên: nào khai bút, nào xuất hành, nào Chúa Xuân, hoa Xuân, bướm Xuân, vườn Xuân ….cái gì cũng cố gài tiếng “Xuân” vào cho hợp tình, hợp cảnh.  Lại vì muốn thức khuya nên còn kéo nhau ra tiệm uống cà phê. Nhưng vì  lâu lâu mới có tiền đi tiệm một lần nên bị cà phê nó hành cho trắng mắt, thức đến bốn, năm giờ sáng mà vẫn còn tỉnh như sáo sậu dù đã viết xong bài. Ai cũng mong có bài được in trên báo Tết và cái bầu không khí văn nghệ như càng thêm nôn nao, háo hức thêm khi chúng tôi đón chờ từng tờ báo Xuân xuất hiện trên các sạp báo hay trong các tiệm sách với những tấm hình bìa in mầu sắc rực rỡ mang đầy hương vị của mùa Xuân.

Khuynh hướng sáng tác của những người làm văn nghệ trẻ ở thời kỳ đó, ngoài sự ca ngợi tình yêu, quê hương, đất nước, cũng còn mang nhiều dấu ấn của các vấn đề xã hội, vì tuy còn ở trong ngưỡng cửa của học đường nhưng họ cũng đã biết  suy tư về các hoàn cảnh sống lầm than, nghèo khó, những cuộc đời bị đối xử bất công, những phận người chìm đắm trong tủi nhục, cùng quẫn.  Có thể lấy vài ví dụ, như Vũ Hùng, một học sinh lớp đệ Ngũ, lấy bút hiệu Tạ Vũ. Hùng mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ bà dì ở góc Phố Mới, ngay đầu Ô Quan Chưởng Hà Nội bây giờ. Có lúc Hùng lại xin vào tá túc ở khu nuôi trẻ bụi đời trong ngôi chùa Tầu, gần phố Sinh Từ Hà Nội. Do hoàn cảnh phải chen chúc với đám mồ côi, anh đã viết những dòng thơ như sau:

Ánh đèn không soi mái phố
Linh hồn dắt díu về đây
Chăn đâu cho đầy giấc ngủ!
Nôn nao cơm lưng dạ dầy!

Thao thức nằm nhìn bóng tối
Nghẹn ngào khóc dưới cửa ô
Ðêm mơ thấy đời đổi mới
Sáng ra buồn hơn bao giờ ….

Hơn 50 năm trời không gặp lại, nhưng tôi được biết từ sau năm 1954 còn ở lại miền Bắc, Tạ Vũ vẫn tiếp tục làm thơ. Và anh vẫn làm thơ cho đến tận bây giờ. Ðã có một thời, anh nổi tiếng ở miền Bắc là một thi sĩ của những công nhân trong ngành khuân vác.

Sâu sắc, già giặn hơn Tạ Vũ của những năm 1952-53 thì có Song Nhất Nữ với bài Cửa Ô cũng rất được chúng tôi truyền tụng trong thời kỳ ấy :

Cửa Ô

(Gửi năm Cửa Ô Hà Nội)

Mầu sắc u huyền,
Ðất trời nghiêng ngửa,
Ðô thành bừng lửa.
Ngoại ô này lành lạnh sống trong đêm…

Ánh đèn le lói
Chìm đắm triền miên
Nơi đây son phấn,
Nơi đây kim tiền,
Nơi đây trụy lạc,
Nơi đây nghèo hèn
Ðêm về những giấc mơ điên
Ðêm về ngùn ngụt túi phiền lầm than
Ðêm về vàng bệch đèn tàn
Ðêm về điên loạn cung đàn xót xa

Cửa Ô xa…
Ði trong bê tha…
Ði trong xênh phách
Ði trong đói rách
Ði trong lệ nhòa
Thất thểu… la cà…
Bóng ma… bóng ma…

Ðâu đây vàng ngọc lụa là,
Cửa ô… ngõ hẻm… a ha! Cuộc đời!

Song Nhất Nữ

Một nhà thơ khác cũng rất nổi tiếng trong giới bạn bè non trẻ chúng tôi là Nguyễn Thị Hồ My (sau đổi thành Hồ My). Ðó chẳng phải là một nữ thi sĩ mỹ miều nào mà chỉ là bút hiệu của một chàng thư sinh cũng đang mài đũng quần ở bậc trung học. Cái sự tuy là nam nhi mà lại ưa lấy bút hiệu phái nữ hình như là một cái mốt của đám cầm bút tuổi  học trò chúng tôi ở thời kỳ đó, như Song Nhất Nữ  là bút hiệu của anh Ðặng Bá Ngư (nay anh đã không còn nữa) hay Nguyễn Thị Yếm Thắm là bút hiệu của Nguyễn Yên Tri, một anh chàng học trò cùng lớp, cùng trường với tôi từ khi còn ở bậc tiểu học. Xin nhắc lại một bài thơ của Hồ My sáng tác năm 1953, in trên báo Tia Sáng ở Hà Nội, có những câu:

Ðêm nay dưới ánh đèn le lói
Bóng mẹ già, vợ dại, con thơ,
Ðang bơ vơ
Ðang thao thức
Ðang rạo rực
Ðang mong chờ
Nóng lòng mong kẻ bên bờ đường khuya.
Tiếng guốc kéo lê thê
lóc cóc
lách cách
Như nửa tỉnh nửa mê
Ðau thương lên bước bên hè
Ðêm dài, phố vắng, đường khuya một mình

******

Kỷ niệm về những ngày xưa, về những mùa Xuân xưa thì có biết bao nhiêu điều có thể viết ra. Tuy nhiên, cái rõ nét nhất mà tôi nhìn thấy là sự khác biệt sâu xa giữa đám học trò Hà Nội ngày xưa với những cô cậu học trò Hà Nội bây giờ. Hình như tuổi trẻ Hà Nội bây giờ ít rung cảm về đời sống xã hội chung quanh và hầu như họ không biết phẫn nộ. Ðất nước, trước mắt họ đã diễn ra biết bao nhiêu điều ngang trái, bất công, nhưng văn chương của thế hệ trẻ Hà Nội bây giờ như đã ngoảnh mặt làm ngơ. Thì dĩ nhiên là họ bị chế độ Công an kìm kẹp không cho viết, không cho in. Nhưng ai cấm nổi họ việc phổ biến tác phẩm của mình trên Internet?

Vào một đêm của thời điểm năm 2000 khi về thăm quê, tôi nằm ở giữa lòng Hà Nội. Ðêm đêm tôi được nghe thấy tiếng rao hàng cất lên trong các ngõ hẻm. Vào ngày đông lạnh giá, tiếng rao với cái giọng sà sã như cố ngoi lên từ một làn hơi đã sắp tàn lụi, đập vào cái tĩnh lặng của nửa khuya về sáng, nghe ai oán không khác gì tiếng vạc kêu đêm. Những tiếng rao này đã ám ảnh giấc ngủ của tôi y như tiếng guốc kéo lê trên hè phố mà Hồ My đã diễn tả cách đây một nửa thế kỷ.

Nghĩa là vẫn còn có những cuộc sống lầm than ngay giữa lòng Hà Nội dù trên 50 năm trời cách biệt đã trôi qua! Ðó là chưa kể tới những cảnh huống đau lòng khác mà xưa nay chưa từng bao giờ có, như việc bán máu trở thành một phương tiện kiếm sống, bán thân xác cho đàn ông Ðài Loan, Trung Quốc dưới danh nghĩa đi làm dâu xứ người và trong lòng của những thành phố sa hoa rực rỡ, có những kẻ đốt tiền bằng cả năm lương của người lao động để mua một trận cười.

Như thế, những hình ảnh vẽ ra trong thơ của Song Nhất Nữ: Cửa Ô xa… Có nhiều bóng ma… Ði trong bê tha…Ði trong xênh phách- Ði trong đói rách- Ði trong lệ nhòa- Thất thểu… la cà… Bóng ma… bóng ma… nào có khác gì hình ảnh của những con người thất thểu đi trong bóng đêm của các thành phố Việt Nam bây giờ. Họ ngủ dưới gậm cầu. Họ chen chúc nhau dưới những mái hiên. Họ lang thang vất vưởng trên những đống rác cao ngút đầu để xăm xoi đào bới. Hà Nội bước vào những năm đầu thiên niên kỷ 21 mà vẫn còn nhiều bất công, nhiều chênh lệch, nhiều hoàn cảnh xót xa, não lòng, hơn cả 50 năm về trước.

Tôi không hiểu tuổi trẻ Hà Nội bây giờ có ươm những giấc mơ làm đẹp xã hội như những tuổi trẻ Hà Nội thời 50 năm trước hay không? Họ bị chèn ép để không còn sáng tác được hay lòng họ đã lạnh tanh trước những biến đổi phũ phàng của thời kỳ kinh tế thị trường, hay vì cả hai? Nhưng dù là bất cứ lý do nào thì nhân dịp cuối năm, khi mở lại những trang sách cũ, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ lại những con người của một thời đã qua.

Thành phố ngày xưa bây giờ đã có biết bao nhiêu thay đổi. Hồ Gươm với làn nước trong xanh và Tháp Rùa rêu phủ hẳn đã chứng kiến biết bao nhiêu vật đổi sao dời. Năm mươi năm tưởng là dài nhưng cũng chỉ là một khoảnh khắc của lịch sử. Tôi mong mỏi thế hệ trẻ bây giờ đừng bao giờ lạnh tanh trước những nỗi bất công của đời sống, trước những hoàn cảnh thống khổ của con người, bởi vì thế hệ chúng tôi, năm mươi năm trước, vốn cũng mang nhiều xót xa, buồn bã nhưng bao giờ cũng ngước lên nhìn cuộc đời với ánh mắt tin tưởng. Chúng tôi tin ở đất nước, tin ở con người, và dù trong hoàn cảnh khó khăn nào thì cũng vẫn  tìm đủ mọi phương cách để vươn lên.

Ước mong rằng tuổi trẻ bây giờ cũng thế!

Nhật Tiến

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2018, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: