Tuệ Sĩ – Người Gầy Trên Quê Hương. Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu.


HT Thích Nguyên Siêu

(Chân dung nhà thơ Hòa Thượng Thích Tuệ Sĩ)

Tuệ Sĩ – Người gầy trên quê hương điêu tàn. Tuệ Sĩ – Người ẩn mình dưới lòng hố thẳm hun hút, Tuệ Sĩ – Trên đỉnh Trường Sơn chót vót sương mù, mây trắng. Những hình dung từ tiêu biểu cho một con người như còn lãng vãng đâu đó, náu mình trong khói đá. Ẩn hiện trên khói sóng. Nhấp nhô trên những lượng nước bạc đầu của đại dương. Hiển hiện trên quê hương điêu tàn. Núp sâu trong lòng người khốn khó. Ngày cũng như đêm luôn có ở những nơi đó. Có như một linh hồn mục nát, đọa đày giữa muôn triệu linh hồn đau thương, gầy guộc. Luôn kêu gào thấu trời xanh, nhưng những kẻ quyền uy tham vọng ở nơi đó vẫn bịt tai, nhắm mắt như loài khỉ nhảy nhót trên cành cây vô lương tri. Như bầy thú hoang dẫm nát núi rừng nơi chúng ở.

Một vì sao sáng ở phương đông để dẫn lối cho các vì sao lạc hướng. Cả bầu trời đen ngòm, thăm thẳm u minh, bao trùm muôn vật, gục đầu trong tuyệt vọng.

“Ôi nỗi buồn từ ngày ta lạc bước,
Cố quên mình là thân phận thần tiên”
(Giấc Mơ Trường Sơn 57- An Tiêm 2002)

Đúng! Tuệ Sĩ người đã lạc bước, nên bốn mươi năm qua đã phải sống với cỏ cây, sương mù, vạt nắng… với rừng xanh, cốc lặng thâm u, để nuôi dưỡng một thân người gầy còm như Khô Mộc Thiền Sư, trên đỉnh Trường Sơn gió hú. Lạc bước để ru đời mình qua cơn mộng kinh hoàng của quê hương. Qua nỗi đọa đày, lầm than của dân tộc. Vì lạc bước vào một thảm cảnh điêu tàn đã làm xốc dậy nỗi đau chung của loài người. Nỗi oán hờn của cỏ cây, sỏi đá, của kiếp người cuốn theo bụi mờ của thời gian tăm tối.

Mang thân phận người mà chia sẻ những cảm nghĩ, suy tư chẳng ai thấu hiểu, nhìn nhận, vì đã bị lạc điệu. Con người ở nơi đó đã choáng ngợp ánh đèn tham vọng. Con đường tham nhũng để dẫn tới cảnh bán nước cầu vinh. Nhóm người vong thân, lạc hướng của thời đại điêu tàn hoang dã của thời tiền sử. Vì lạc bước nên không cùng chung ý thức sống. Ý thức của ý thức. Người thật người. Người của lương tri. Người của người. Người của tất cả, cỏ dại mây ngàn, biển xanh, núi thẳm… Vì lạc bước nên ở đó cảm thấy mình cô độc giữa xã hội người mà chẳng ai cảm thông, chia sẻ, nỗi niềm, ước vọng để đồng hành trên con đường phụng sự tha nhân, làm lợi đạo ích đời. Khi mình còn hiện hữu. Có tâm lý nào của loài người khi có được viên ngọc quý trong tay mà quăng nó vào xó nhà, vứt nó vào xọt rác. Tâm lý này có thể có ở những kẻ sống xa thế giới người, không biết cái quý của viên ngọc. Hay đúng hơn như loài vượn, loài khỉ. Cho nó ăn chuối, cầm lấy ăn liền, nhưng đưa nó viên ngọc, nó nhìn qua nhìn lại rồi ném đi chẳng hối tiếc. Vượn khỉ chẳng suy tư nghĩ ngợi gì giá trị hiếm có của viên ngọc, nên dưới mắt của vượn khỉ viên ngọc không quý bằng trái chuối.

Trong mọi thời gian, dù rằng xa xưa ở quá khứ, loài người mới xây dựng một đời sống xã hội thấp, lao tác bằng tay chân, ít sử dụng việc làm bằng đầu óc. Nhưng những ai có được cái đầu, cho những dòng tư tưởng tuôn chảy, cho tri thức hiện hữu qua sự sinh hoạt thường nhật, thì người có cái đầu vẫn hơn, vẫn được trọng dụng để khai phá, phát triển những việc cần khai phá, cần phát triển. Có được như vậy, thì loài người mới tiến bộ thăng hoa đời sống thánh thiện, nâng cao trình độ tri thức xã hội. Bằng không xã hội người đó sẽ không bắt kịp với những nền văn minh tiến bộ khác.

Đã lỡ lạc bước rồi, thôi thì hãy cố quên mình là thân phận thần tiên đi, mà phải vào rừng ăn trái cây, uống nước suối, cùng lũ khỉ vượn chuyền cành cho qua ngày tháng, theo dòng thời gian:

“Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn,
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm 2002)

Có người ngược xuôi để tìm cầu, tranh giành quyền uy tước cả, dù có đi bằng cái đầu xuống dưới đất, họ vẫn làm để được những tham vọng bất lương, những tiền bạc bất nghĩa, quyền cao lộc cả dù phải bán nước cho ngoại bang, những mong tiền bạc đầy túi, vàng ngọc đầy nhà, để lót, để nạm bàn ghế ngồi chơi hưởng thụ trên xương máu của dân đen. Nhưng nơi đây có người “ngược xuôi” mà chỉ có để “nhớ nửa cung đàn” chưa được trọn “cung đàn”. Đơn giản quá! Tri túc quá! Biết đủ như là một thân người có chiều cao 1.59 m và cân nặng 39.5 kg. Có mấy ai được cái ngược xuôi đó? Hay chỉ có kẻ đứng ngoài vòng danh lợi, ngoài cái thị phi, nhân ngã, tầm thường của thế nhân.

Nửa cung đàn ấy như là tiếng ngân dài của cung đàn rồi chợt dứt. Như dòng lịch sử của quê hương dân tộc rớt tỏm xuống hố sâu, tối tăm, mịt mờ, tuyệt vọng qua chặng đường lịch sử hôm nay.

Đời sống như là quán trọ, con người đến rồi đi. Sanh rồi tử, muôn trùng, thăm thẳm, vô biên, vô tận. Con người đắm chìm trong cái quán trọ đó mà sinh ra đủ thứ chuyện để làm ngăn nẻo về của những bước chân phương trời viễn mộng. Vậy thì, bị ngăn nẻo về, không về được nên quay lại để sống với mình. Đóng cửa phòng, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nhịn đói, tuyệt thực. Ngày chỉ uống nước chanh pha đường. Có lúc xỉu trên bàn vì đói. Còn lở dở mấy câu thơ:

“Ta cưỡi kiến đi tìm tiên động
Cõi trường sinh đàn bướm dật dờ
Cóc và nhái lang thang tìm sống
Trong hang sâu con rắn nằm mơ”.
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 68, 2002)

Bị ngăn nẻo về nên cưỡi kiến đi tìm tiên động, để tu tiên thành tiên ông. Sống nơi cõi trường sinh bất tử đó, mà vui với bướm ong, cóc nhái, rắn rít trong hang sâu nằm mơ phương trời mộng. Sống thực không được thì sống mộng mơ. Sống cho chính mình. Sống cho qua một giấc chiêm bao tưởng chừng như đã:

“Đêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ xoi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 67, 2002)

Có bà mẹ nào xoi tim con thành lỗ để móc bên trong hạt ngọc sáng ngời? Chỉ có bà mẹ điên thời đại mới làm như vậy. Bà mẹ điên ấy chỉ biết vàng và ngọc mà không có tình yêu thiêng liêng sinh con và thương con. Bà mẹ điên thời đại đã đẩy đàn con mình lang thang bươi rác rưởi để sinh nhai. Tìm sống trên những vỉa hè cùng khốn. Thất học, mù chữ, đói nghèo… Còn bà mẹ thì ngất ngưỡng hưởng thụ ngọc ngà, vòng bạc từ máu của người dân, mà qua đêm chiêm bao “ta thấy máu”. Máu nhuộm đỏ con người. Máu tuôn chảy như sông. Máu lan tràn cả nước. Rồi có những đêm ngồi bên cửa sổ, ngắm ngọn nến tàn qua khung cửa sổ để sống mộng, sống mơ y như sống thực.

“Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 12, 2002)

Đi đâu bây giờ, vì ai đó đã ngăn nẻo về thì có lối đâu mà về. Có đường đâu mà đi và có quán trọ nào để tới. Nẻo về không. Quán trọ cũng không. Chỉ chôn mình bên chồng sách cũ với bốn vách tường rong rêu mà gõ nhịp. Vì sống mộng nên tránh xa cõi người, vào hang động núi rừng để cuốc đất sinh nhai. Trồng bí bầu, khoai lang, mướp đắng, rau quả, tía tô, xà lách… để đêm đêm nằm nghe tiếng dế nỉ non, côn trùng hát ca bài ca dân tộc.

“Người đi đâu bóng hình mòn mỏi
Nẻo tới lui còn dấu nhạt mờ
Đường lịch sử
Bốn nghìn năm dợn sóng
Để người đi không hẹn bến bờ.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 85, 2002)

Sống với người bị ngăn nẻo về. Sống thực đã thành mộng và sống mộng để thấy hiện thực, một sự sống vì đời mà tranh đua. Tranh đua, giành giật cả ngày lẫn đêm trên mặt đất hay dưới lòng đất lắng nghe từ sự tan vỡ hãi hùng, giết chết sự sống của sức người lao tác.

“Ta biết mi bọ rùa
Gặm nhắm tàn dãy bí
Ta vì đời ghanh đua
Khổ nhọc mòn tâm trí.

Ta biết mi là dế
Cắn đứt chân lá non
Ta vì đời nô lệ
Nên phong kín nỗi hờn

Ta biết mi là giun
Chui dưới lòng đất thẳm
Ta vì đời thiệt hơn
Đêm nằm mơ tóc trắng”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 31, 2002)

Nổi trôi theo năm tháng, thân hình gầy còm như cọng lau, giữa rừng núi Bảo Lộc, trong đêm trường u tịch, có lúc chẳng thèm thở nữa, nằm giữa núi rừng, dân làng mang về tiếp hơi để thở. Đây là mộng hay thực, là đời sống văn minh thế giới loài người hay đời sống của loài dã thú nơi chốn núi sâu, rừng hiểm?

Có ai một lần nghĩ tới “Tiên ông” để thấy viên ngọc quý của giống nòi nước non, mà thắp nén hương lòng khấn nguyện, giữ gìn nghìn năm sau không hề phai. Núi rừng Bảo Lộc như cúi đầu thầm lặng để lắng nghe “Tiên ông” cưỡi kiến đi cùng khắp nẻo vô sinh. Lão tử cưỡi trâu thành bất tử. “Tiên ông” cưỡi kiến để cùng sinh tử với chúng sinh.

San Diego, Mạnh Đông, 05 tháng 01 năm 2017
Nguyên Siêu

Quán Thơ Hư Vô 336


HÀNH THÁNG TƯ

Đường nhân gian lạ lẫm
Một ngày tháng tư đen
Xô đời em vấp ngả
Vào đám người chưa quen.

Đâu còn ai hò hẹn
Giữa trời đất ngổn ngang
Em xanh xao quờ quạng
Níu một cuộc tình tan.

Đã lỡ làng lỡ vận
Ở phía ngoài cơn mê
Tôi lạ nơi lạ chỗ
Đâu còn lối quay về.

Mà em như cọng cỏ
Mọc giữa trái tim tôi
Vết sầu đang mưng mủ
Tươm qua đời tả tơi.

Có bước vào quá khứ
Cũng chỉ tới đường cùng
Đâu còn ai ngoảnh lại
Được thấy lần khóc chung.

Ngày tháng tư quằn quại
Đau đã thấu hình hài
Tiếng gọi nhau khản giọng
Chưa qua khỏi trần ai.

Bốn mươi năm gộp lại
Như một tiếng thở dài
Để hồn tôi dị mộng
Thành giọt lệ mãn khai.

Lăn quanh em lận đận
Thời tình cuối tháng tư
Đã hoang tàn phế tận
Một khúc đời còn dư…

Hư Vô

GIÓ NGƯỢC ĐỜI

Chiều hôm thứ bảy em ra phố
Xôn xao hàng quán vẫy tay chào
Áo lụa phất phơ mời mọc gió
Vuốt ve từ ngọn đến gốc đào.

Năm trước làng quê em con gái
Chỉnh chu đức hạnh nết na thừa
Thị thành phù phép gì rất lạ
Nuốt hết nhu mì cô gái xưa.

Anh về gặp lại nhìn không ra
Cô gái năm nao đã đổi rồi
Tà áo nếp quần không còn nữa
Chỉ còn phơi phới thịt da thôi.

Bước qua hàng xóm để thăm hỏi
Mới biết thời nay hết chỗ nói
Thời thế tạo người không tử tế
Quần thoa nề nếp để treo chơi.

Quý bậc cha anh rầu thúi ruột
Cũng đành nhắm mắt để đưa chân
Thương con trẻ giáo đa thành oán
Chỉ mong xã hội bớt cơ cầu…

Đức Phổ

PHỐ VẮNG

Chiều nay phố vắng một người ,
Trời giăng mưa bụi tiếng cười không vui!
Chợ chiều chân đến chân lui,
Bên khung cửa sổ vẫn mùi cà phê..

Nơi này trở gió lòng se,
Người về quê cũ sầu ve trái mùa!!!
Thiếu người thơ cũng thẹn thùa,
Thơ không ai đọc gió lùa thơ bay …

Người đi phố cũ có hay,
Trăng còn nghiêng bóng chờ ngày đoàn viên?
Nơi đây ngọn gió thật hiền,
Đợi người hư ảo dấu niềm cô đơn!

trầnthịminhchâu

LỜI CÁM ƠN BUỒN BÃ

Xin cám ơn nụ hoa tình nở muộn
Còn vàng ươm màu của sắc xuân phai
Vẫn nồng hương từ trong tiếng thở dài
Vẫn say đắm trong hồn chiều xế bóng

Xin cám ơn tình như từng ngọn sóng
Vỗ nhẹ nhàng vào quạnh vắng đời tôi
Vỗ nhẹ nhàng vào những giấc chiêm bao
Tôi mơ thấy tóc người bay bối rối

Tôi mơ thấy mắt mù sương mòn mỏi
Một phương tình vời vợi giữa trăm năm
Một phương tình in hằn vệt sao băng
Tôi rụng giữa tình em ấm nồng giọt lệ

Xin cám ơn cuộc tình như truyện kể
Kể tháng, kể năm, kể hết đời nhau
Kể tóc phai sương, kể áo nhạt nhàu
Kể hết tai ương, kể tàn hoạn nạn

Xin cám ơn nụ hoa tình nở muộn
Cho tôi mầm hạnh phúc giữa thương đau
Thời gian ơi! Xin dừng lại bên cầu
Cho tôi kể truyện tình còn dang dở.

Lê Văn Trung

BÀI THƠ THÁNG TƯ CHO BẠN BÈ

Bao nhiêu lần tháng tư đã đi qua
Vẫn không quên được một thời máu lửa
Bạn bè tôi có bao nhiêu đứa
Mãi mãi không về – cả bên thắng, bên thua!

Tháng tư đã thay đổi số phân biết bao người
Thương những đứa bỏ phố lên rừng cuốc rẫy
Ngơ ngác giữa mưa dầm nắng cháy
Lầm lũi thời mạt vận bởi bể dâu

Những đứa ở rừng về thành phố chưa lâu
Chễm chệ trong vòng xoay thời cuộc
Quen rất nhanh mùi vinh hoa, chức tước
Có đứa quên luôn một thời được đùm bọc, chở che…

Và cứ mỗi năm tháng tư lại về
Bạn bè lại thêm những thằng lưu lạc
Vượt biển đi tìm thiên đường nơi xứ khác
Mang thêm nỗi đau lạc mất quê nhà!…

Bạn bè bây giờ có đứa ở gần, nhưng rất xa
Có đứa ở xa lại vô cùng gần gũi
Thoáng qua đã gần hết đời dâu bể
Tháng tư về – tôi lặng lẽ với tôi!

Sông Trẹm

ANH SẼ ĐƯA EM VỀ

Rồi anh sẽ đưa em về Phò Trạch
Găm một đời yêu dấu ở trong tim
Chợ huyện mừng vì không còn ngăn cách
Người bên ni bên nớ thuở yên bình!

Và mình sẽ có một khoảng trời riêng
Để khai sinh một thiên đàng mơ ước
Như đôi chim chực chao về phía trước
Ta liền cành liền cánh phải không em?

Giây phút nào rồi anh cũng không quên
Em thủy chung mặc áo màu tím Huế
Rất tím Huế cả lời người thỏ thẻ
Chiều ngoại thành không nửa bước rời em…

Mỉnh tựa vào nhau để nhìn sao đêm
Anh sẽ chỉ một ngôi sao sáng nhất
Sáng rạng rỡ mà tấm lòng chân thật
Ngôi sao này chính là bóng hình em!

Đâu hôn phối, vậy mà bạn thân quen
Cứ gọi mình là đôi sam quấn quýt
Cuộc hành trình sẽ tuyệt vời đoạn kết
Không cau trầu cũng đỏ nụ nhân duyên…

Anh đưa em về một cõi vô biên
Nơi Huế thương tím màu hoa Phò Trạch
Lý qua cầu mềm lòng câu em hát
Và thơ tình anh mọc cánh bay lên…

Trần Dzạ Lữ

NGẬM NGÙI THÁNG TƯ..

Đi chưa hết một chặng đời mê lộ
Thời gian ơi, sao vội Tháng tư về
Nắng cháy khét xua những ngày gió giật
Bạn-ta-nào bỏ lại mấy sơn khê..

Tan tác mộng, ngàn đêm vùi cuộc hẹn
Hồn dật dờ, trôi nổi mấy lần thu
Ta chẳng đợi, rồi Tháng tư cũng đến
Vết lăn trầm gõ xuống nẻo hoang vu..

Tình như thể theo ngày đi biệt dạng
Buồn hôm qua thâm tín những câu thề
Em đã khuất, bên kia đời mây dạt
Để Tháng tư thành nỗi nhớ u mê..

Ta xếp nốt hành trang nơi cuối bãi
Vác lên mình năm tháng nặng thiên tai
Mưa cứ trút và gió cuồng cứ thổi
Tháng tư nào đã khuất giữa cơn say…

Trung Chinh Ho

TÌNH CỜ

Tôi có về qua đó.
Mong ngóng chuyện tình cờ…
Cho một lần hội ngộ
Tựa như là giấc mơ…

Biển chiều nay lặng sóng
Bãi vắng đợi hoàng hôn
Một mình tôi với bóng
Giữa đất trời bao dung

Người sẽ không trở lại
Như một chuyện tình cờ
Ra đi là xa mãi
Đời không như là mơ

Nụ hôn đầu ngày đó
Thật nồng nàn trên môi
Có bao giờ người nhớ???
Đã một lần yêu tôi….

Mực Trắng (LT)

thumbnail_IMG_2006

Chặng Đường Cuối. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)

Một thời như thế…..

Cả hai người đều ăn mặc quần áo bộ đội. Một anh trẻ tuổi và một gã trung niên. Anh trẻ tuổi, mới chạc khoảng ngoài hai mươi, đầu hớt ngắn, chải gọn ghẽ, quần áo phẳng phiu, mầu nhuộm của vải kaki còn nguyên vẹn nước hồ mới. Trên người anh chỉ có ngôi sao quân hàm là cũ kỹ đã bong sơn, ngôi sao màu đỏ chói gắn ở hai bên trên ve cổ áo. Gã trung niên thì có vẻ xuề xòa hơn. Quần màu xanh đậm, áo mầu lá úa, cả hai đều đã bạc mầu. Gã không đeo một loại quân hàm nào cả nhưng cử chỉ lại đủng đỉnh, chững chạc hơn là cái anh trẻ trẻ kia nhiều. Ông chủ quán cà phê đang ngồi ngáp vặt bên chiếc tủ kính cũ kỹ đựng những bao thuốc lá bán lẻ, thấy hai người
bước vào vội vã đon đả:
– Chào Thiếu Tướng. Mời Thiếu Tướng vô uống cà phê.
Gã trung niên đột nhiên phá lên cười. Gã quay ngay sang người bạn đồng hành, giơ tay vỗ lên lưng anh ta nghe bồm bộp rồi nói:
– Sướng nhé! Thế là từ sáng, cậu được phong lên Tướng cả thẩy ba lần rồi.
Mặt ông chủ quán nghệt ra. Ông ta ngó một lúc cả hai người với một vẻ vừa bỡ ngỡ vừa sượng sùng. Gã trung niên lên tiếng giải thich:
– Quân hàm của chúng tôi không giống bọn ngụy quân, ngụy quyền đâu. Các đồng chí trong Quân Đội Nhân Dân ở cấp binh nhì mang một sao, binh nhất hai sao. Hạ sĩ quan thì vừa có sao vừa có vạch. Cấp sĩ quan thì chỉ có vạch mà thôi. Một vạch là Thiếu Úy, hai vạch là Trung Úy, ba vạch là Thượng Úy….
Ông Hưng, chủ quán làm bộ ngạc nhiên:
​-Ủa! Lại có cả chức Thượng Úy nữa cơ à.
Bây giờ thì tiếng anh binh nhì đeo ngôi sao đỏ lên tiếng giải thích:
​- Có chứ. Thượng rồi mới lên Đại. Thượng Úy rồi mới lên Đại Úy. Thượng Tá rồi mới lên Đại Tá.
Ông Hưng giả bộ lè lưỡi:
​-Thế thì leo lên được tới chức Đại Tá Quân đội Nhân dân cũng mệt lắm nhỉ!
Anh binh nhì quay sang nhìn gã trung niên rồi cất giọng nịnh khéo:
​- Sao lại không mệt! Chả nói xa xôi, nội cứ leo lên được tới quân hàm Đại úy của Thủ trưởng tôi đây thì chiến công phải đã nhớ không hết rồi.
Ông Hưng lại “à” lên một tiếng nữa rồi quay sang phía gã trung niên đổi giọng trịnh trọng:
-Thưa chào Đại Úy!
Mặt gã trung niên hơi thoáng một vẻ hài lòng. Gã chọn một cái ghế thấp sát vách, ngồi quay mặt ra phía ngoài để có thể dòm chừng luôn được cả hai cái xe đạp dựng ở ngay bên ngưỡng cửa ra vào. Có đủ loại đồ đạc lỉnh kỉnh cột chung quanh hai cái xe đó, nào khung xe, nào vành bánh, nào túi gói, nào tay nải. Đó là chưa kể hai cái ba lô to kềnh mà cả hai người đã ngả xuống dựa nó vô vách gỗ. Trong lúc lúi húi pha cà phê, ông Hưng có ý lắng nghe câu chuyện trao đổi giữa hai người:
– Kỳ này về mà đời sống không cải thiện, Thủ trưởng dời vào trong này đi.
– Để coi sao đã!
– Bên địa phương của Thủ Trưởng thế nào thì không biết, chứ ở nhiều nơi, bộ đội phục viên rồi chẳng được phân biệt đối xử gì hết.
Rồi vẫn cái giọng của anh trẻ trẻ:
-Thủ trưởng có nhớ Trung úy Lộc bên quân khu Bảy không? Giải ngũ hơn ba năm nay rồi bây giờ đứng bán quần áo cũ ở chợ trời. Dân buôn chui chính tông đấy.
Gã Đại úy thốt lên:
– Thằng ấy nhảm!
– Thì làm sao hơn được. Chiến công, thành tích đâu có liên hệ gì tới sản xuất. Muốn sản xuất thì phải có tay nghề. Đi lính mười năm, toàn bắn súng, tay nghề ở đâu ra?
– Thì cũng phải có công việc văn phòng dành cho các đồng chí ấy chứ. Trong lãnh vực điều hành, có thiếu gì cương vị chỉ cần có mỗi một bộ óc suy nghĩ, xếp đặt mọi công việc hợp lý theo khoa học kỹ thuật.
Tiếng anh lính trẻ cười rích lên:
– Những chỗ như thế mà còn chen được chân vào, em xin đi bằng đầu.​ ​- Chú đừng lo! Đất nước mình đã hòa bình, thống nhất rồi. Có bao nhiêu là lãnh vực mới sẽ mở ra thu hút các loại lực lượng lao động. Chỉ sợ mình không đủ nhận thức để cung ứng hết mà thôi.
Anh lính trẻ đổi giọng an ủi:
– Thì em cũng tin tưởng như vậy. Mấy năm trước khác, còn bây giờ khác. Với lại những người có khả năng như Thủ trưởng, thiếu gì nơi cần dùng. Bỏ rẻ ra Thủ Trưởng cũng được giao trách vụ Chủ nhiệm một cái Hợp Tác Xã.
​- Chủ nhiệm Hợp Tác xã thì chẳng tới phiên mình đâu. Nhưng làm gì trong Hợp Tác Xã cũng được. Tôi thích cái không khí thoải mái ở Hợp Tác Xã hơn là ngồi ở các cơ quan.
​- Thế thì mèng ra Thủ trưởng cũng phải là Bí Thư Chi Bộ. Có được chỗ tốt rồi, Thủ trưởng cũng nên tính chuyện lập lại gia đình đi thôi….
Buột miệng xong câu nói, anh lính trẻ biết mình lỡ lời nên vội vàng im thít lại. Vẻ mặt của anh thoáng một nét sợ hãi. Anh biết rõ Thủ trưởng của mình thù ghét những kẻ nào khơi lại hoàn cảnh gia đình bi đát mà ông ta đã trải qua. Khi bước chân ra đi, cả làng xóm tiễn chân linh đình. Người vợ trẻ sụt sùi trong chiếc khăn tay đẫm lệ. Ngoảnh đi ngoảnh lại, mới có vài năm, cô ả tót đi lấy một anh chồng khác, địa vị cao, nhiệm sở công tác tốt, đời sống thấy cải thiện hẳn ra. Chuyện này địa phương bưng bít mất mấy năm sau gã đàn ông mới hay biết. Nhưng ai làm gì được trong thời buổi chiến tranh này. May mà gã chưa có con. Gã chỉ còn có một bà mẹ già, bà mẹ mà gã đi lính hơn mười năm chưa có dịp gửi về tặng được lấy một mảnh vải để may áo, trừ những lá thư gửi về kể lể đủ loại chiến công. Hồi bị thương nằm ở quân y viện và bị cưa xoẹt mất một ngón tay, gã vẫn mơ đến một ngày phục viên để về chăm lo cho mẹ. Bây giờ thì ước mơ ấy sắp hoàn thành.
Chuyến về này là chặng chót của cuộc đời quân ngũ của gã. Gã cũng ký luôn cho anh lính trẻ một cái giấy nghỉ phép để chuyến ra có bạn đồng hành. Thằng nhỏ nhanh nhẩu dễ thương, học lực cũng quá tốt, lớp 10 rồi chớ đâu phải ít. Lúc bưng hai ly cà phê ra cho hai người, ông Hưng mới nhận ra bàn tay thiếu ngón của gã đàn ông trung niên. Gã không che đậy, không giấu diếm chỗ làn da bị rúm ró, sần sùi. Ở thời buổi này, thương tích là mốt cái mà ai cũng muốn phô ra để chứng tỏ công lao đóng góp của mình. Nó cũng giống như những bà cán bộ mới ở rừng về, cố làm ra vẻ mệt mỏi hơn, lừ đừ hơn, trời chưa trở gió đã khoác một chiếc áo len mỏng, cộng thêm với chiếc khăn rằn ri quàng kín quanh cổ. Chỉ cần thoáng trông là ngườì ta như đã thấy hết được cả cái quá trình gian khổ chui rúc nhiều năm dưới hầm hố, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chịu đựng, cái hình ảnh này hoàn toàn tương phản với hình ảnh phây phây, nõn nà, tràn đầy sức sống của những thiếu nữ, phụ nữ Sài Gòn, những bà, những cô mà cho tới lúc này vẫn chưa biết mùi ăn độn là gì do hoàn cảnh kinh tế riêng tư vẫn còn phong phú, dồi dào.
Thí dụ như Hồng là một. Hồng ào vào quán cà phê của ông Hưng mang theo một mùi nước hoa thơm ngào ngạt. Nước da của nàng trắng như trứng gà bóc. Nàng bận một chiếc quần lụa thâm óng ả và mềm đến độ mỗi lần cất bước, lớp lụa in rõ cả hình dáng đôi chân thon và dài. Chiếc áo cánh mầu mỡ gà cổ thêu ren tỉ mỉ bó sát lấy thân hình tròn lẳn mang lại cho nàng một vẻ sinh lực hết sức tràn đầy, nhất là ở bộ ngực cao che giấu sau lớp áo phin mỏng được thêu thùa bằng những cánh hoa xếp đặt rất ỡm ờ, khéo léo. Nhận ra khách quen của mình, ông Hưng cất giọng đon đả:
– Chào cô Hồng. Sao bữa nay khá không?
Hồng trả lời lại câu hỏi bằng cách bưng mấy ngón tay thon dài có tô những móng lấp lánh ánh bạc kêu thành tiếng đánh “tách” một cái rồi nhoẻn một nụ cười. Hai hàm răng của nàng đều và trắng bong. Mới chỉ biểu diễn có thế thôi nhưng Hồng đã thực sự làm ngây ngất tất cả mọi người hiện diện. Cổ họng gã trung niên tự nhiên se khô lại. Anh lính trẻ trẻ thì vừa giương tròn đôi mắt lén nhìn vừa đưa lưỡi ra liếm mép. Ông Hưng luống tuổi đến như thế mà ánh mắt lúc này cũng thấy đĩ hẳn ra. Ông cất tiếng hỏi:
– Thuốc lá bữa rầy lên giá chút đỉnh. Cô lấy không?
Hồng lẳng lặng móc ở cái ví xinh xinh ra một cuồn giấy bạc và đặt lên bàn tờ giấy năm chục đồng còn mới tinh. Ông Hưng mở tủ kính lấy ra một gói Salem và thối lại năm đồng bạc lẻ. Chỉ thiếu một chút nữa là anh lính trẻ xuýt xoa bật lên thành lời. Hút một gói thuốc mà chi ra tới bốn mươii lăm đồng. Bốn mươi lăm đồng là chín tháng lương lính của anh. Không biết cái thứ thuốc lá này có nạm vàng, nạm bạc gì ở trong mà sao nó đắt thế. Lúc Hồng mở gói thuốc ra châm một điếu, mũi của anh lính trẻ hơi hỉnh lên . Anh cũng có ý hít thử xem cái khói thuốc đắt đỏ ấy thì mùi vị nó ra làm sao. Và anh tự nghĩ thơm thì có thơm thật nhưng đốt một cái nhấp nháy mà văng nguyên một lúc cả chín tháng lương thì vô lý quá. Còn Hồng thì như đo lường được cái mức độ ảnh hưởng về sự hiện diện của mình nên nàng cử động rất khoan thai, dềnh dàng. Vẻ mặt của nàng đầy chất tự mãn của một người đàn bà đẹp vẫn thường được tất cả mọi người chung quanh chiêm ngưỡng. Chợt ông Hưng lên tiếng giới thiệu một cách bâng quơ:
– Đại Úy đây sắp về Bắc. Cô Hồng có món hàng gì mới giới được thì giới thiệu đi.
Hồng được lời xoay mình hẳn lại phía đối diện hai người và nhìn về phía gã trung niên với cặp mắt tìm hiểu đánh giá. Lúc gã ngẩng đầu lên, Hồng liền nhoẻn một nụ cười. Rồi không chờ cho gã lên tiếng, Hồng tiến lại phía bàn gỗ thấp, kéo ngay một chiếc ngồi và vô đề một cách ngon ơ như mọi sự ở trên đời này đều ngon ơ dễ dàng như vậy cả:
– A! Anh Đại úy hả? Để tôi đề nghị với anh chuyến này kiếm ít tiền đem về Bắc xài chơi.
Câu chuyện của nàng là một áp phe còn đang nóng hổi. Nàng nói là nàng có một người bạn buôn bán chung. Buôn bán cái gì nàng chẳng tiết lộ, nhưng chỉ biết cô bạn hàng mới buổi chiều hôm nay bị bọn Phường Đội Phường 10 hốt luôn cả hàng họ lẫn người đem về tạm giam ở trụ sở. Nàng cong cớn:
─ Tụi nó bắt oan con người ta. Lại đòi tịch thu cả hàng hóa. Cách mạng cách mung gì mà ăn hiếp bà con lao động theo kiểu đó. Lộng còn hơn mấy ông trời con nữa.
Rồi nàng đề nghị:
─ Vụ này dễ ợt. Chỉ cần Đại úy ghé qua, nhận cô ta là em để xin thả về. “Chúng em” xin biếu Đại úy hai nghìn đem về Bắc mua quà cho các cháu.
Anh lính trẻ nghe nói liền món tiền khổng lồ hai nghìn bạc thì chịu quá, cứ nhấp nhổm như muốn thúc giục Thủ trưởng của mình chơi càn một vố. Dính dấp vô vụ này bỏ rẻ ra anh ta cũng ké được vài ba trăm. Mà đâu có gì là khó. Mấy thằng Phường đội, thứ lính bán chính quy nom thấy quân hàm Đại úy là chết khiếp. Nói ngọt trước. Hù sau. Nhấp nhấy trong mười lăm phút sơi ngon hai nghìn, thật là tiền ở trên trời rơi xuống.
Ấy thế mà gã Thủ trưởng khờ khạo của hắn lại lắc đầu mới chết cha con nhà người ta chớ. Gã đàn ông trung niên nghe Hồng nói xong mới cất tiếng:
─ Tôi muốn giúp cô lắm nhưng không thể được đâu. Các đồng chí bên ấy nếu có phải bắt là họ có lý do chính đáng.
Hồng nổi đóa lên, đổi giọng chanh chua ngay:
─ Chính đáng cái con mẹ gì. Người ta buôn bán thì cũng đổ mồ hôi sôi máu họng mới kiếm ra lời chớ đi ăn cướp của ai. Làm sao không dưng đi bắt cả người lẫn hàng họ của người ta.
Nghĩ một giây rồi nàng tiếp:
─ Thôi dứt khoát ba nghìn đấy. Ba nghìn đem được nguyên vẹn cả người lẫn hàng trở về. Mà Đại úy có mất công khó gì đâu.
Gã Đại úy vẫn lắc đầu:
─ Không được! Tôi không thể dính dấp vô chuyện này được.
Đến lúc này thì Hồng thực sự nổi giận. Nàng rít một hơi thuốc lá, thổi phà ngay về phía trước mặt làm cho làn khói bay tỏa ra mù mịt rồi đứng phắt dậy. Cử chỉ này làm cho anh lính trẻ tiếc ngơ ngẩn như rõ ràng nhìn thấy ba nghìn bạc vừa vuột ra khỏi bàn tay mình. Anh ta đâm tức mình với gã Đại úy. Lúc Hồng bước ra khỏi tiệm rồi, anh ta cất giọng bực tức, vẻ trọng nể lúc trước mất hẳn đi:
─ Chuyện nhỏ như thế sao mình không làm. Ba nghìn bạc chứ đâu có phải chuyện chơi.
Gã Thủ trưởng nghiêm nét mặt lại:
─ Chú đừng có ham tiền mà mất cảnh giác. Chuyện chót lọt thì không sao, nhưng đổ bể ra là tiêu tùng sự nghiệp cách mạng. Tôi chả dại.
Bầu không khí giữa hai người tự nhiên đâm ra nặng nề hẳn ra. Gã đàn ông thì xoay xoay ly cà phê đã nguội ngắt của mình và nghĩ đến chức vụ Bí Thư Chi Bộ trong một Hợp Tác Xã mà gã hy vọng khi trở về, cả làng xã sẽ mời gã đến để trịnh trọng đưa ra một lời đề bạt. Chiến công của gã, thương tích của gã với hàng xấp giấy ban khen chẳng là một vinh dự cho cả xã hay sao. Còn anh lính trẻ thì vẫn không quên được hình ảnh của một xấp tiền mới dẫn đến quá nhanh mà tan biến đi cũng hết sức dể dàng. Hắn rủa thầm trong lòng về sự ngờ nghệch của gã Thủ trưởng. Hắn nghĩ rằng cứ đi về làng xóm đi rồi biết bộ đội phục viên được đối xử ra sao. Có khả năng, có sức khỏe còn đỡ. Bị thương tích, bị tàn tật là thấy cuộc đời như cái mền rách ngay. Chế độ này là chế độ “vắt chanh bỏ vỏ” mà. Câu nói này không phải là của hắn nghĩ ra nhưng chính hắn đã nghe thấy hồi còn ở làng, chưa đi nhập ngũ. Một anh phế binh đã đứng ở cửa trụ sở cơ quan hành chính xã lớn tiếng thóa mạ như thế. Chẳng ai muốn phản ứng gì cả vì anh ta là một phế binh. Nhưng cũng chẳng ai có thể làm gì cho anh được khi mà tất cả cũng đang đều gặp khó khăn. Hình ảnh của anh vẫn còn như mới trong đầu óc của người lính trẻ. Và hắn nghĩ rằng rồi đây Thủ trưởng của hắn cũng đến cùng một hoàn cảnh như thế mà thôi. Vậy mà có tới ba nghìn làm vốn liếng thủ cẳng, gã lại chê thì có tức không.
Một lát sau, cả hai người đều đứng dậy. Gã đàn ông trung niên móc túi trả tiền cho nhà hàng. Đồng hồ mới chỉ gần chín giờ nhưng cả hai đều đồng ý nên ra ga sớm cho kịp chuyến tàu Thống Nhất khởi hành lúc mười giờ. Ông Hưng nói với theo một câu:
─ Chúc Đại úy về Bắc bình yên nhé. Khi nào có dịp vô Nam nhớ ghé lại đây uống cà phê.
Bóng dáng cồng kềnh của hai chiếc xe đạp chất đầy đồ đạc trong khoảnh khắc hòa lẫn vào khung cảnh ồn ào, đông đúc của thành phố, ông Hưng quên ngay mọi chuyện vừa xẩy ra vì những nhân vật, những tâm tình, những hoàn cảnh tương tự như thế vẫn xẩy ra hàng ngày ở đây. Bóng dáng của cán bộ, bộ đội, hình ảnh của những chiếc xe đạp cũ kỹ, những chiếc ba lô, túi sà-cột, những khuôn mặt xanh xao với nước da bì bì, tái tái, những chiếc áo cánh mầu trắng hay xanh lơ, chiếc quần thâm ngắn cũn cỡn, cái nón cối hay mũ tai bèo cùng những đôi dép râu hay dép xăng-đan thô kệch, tất cả đã hòa vào vẻ nguy nga tráng lệ của thành phố này một cách gượng gạo khiến cho cảnh vật đều nhuộm một mầu sắc quen thuộc, cũ kỹ đến độ nhàm chán.
Tuy nhiên, lâu lâu thì cũng có một vài biến cố bất ngờ, giống như một hòn sỏi nhỏ ném xuống mặt nước của một cái ao tù. Như trường hợp của gã đàn ông trung niên mang cấp bậc Đại úy là một thí dụ. Gã đang ở trên đường phục viên. Gã đang ướm một giấc mơ giản dị là khi trở thành dân thường gã sẽ được đề bạt một chân gì đó trong một Hợp Tác Xã để khởi đầu cho cuộc đời phục viên của gã. Và gần gũi nhất là niềm vui lần đầu được trao về tận tay bà mẹ già những món quà mà trước đó cả hàng chục năm, gã chưa có dịp mua được cho bà đến một vuông vải may áo.
Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc niềm vui và ước mơ của gã bỗng tan tành ra mây khói. Tài sản của gã bị cuỗm mất trước khi tàu chạy. Rồi con tầu Thống Nhất khởi hành đã hơn hai mươi phút mà gã vẫn còn hiện diện trong thành phố này, chỉ có thằng lính là vẫn an nhiên đi về phép.
Gã chạy đôn đáo đây đó như một thằng điên. Gã lớn tiếng mạt sát mấy cậu Công an bên cục đường sắt hết lời. Gã chửi Mỹ chửi Ngụy như điên. Nhưng rồi rốt cục gã cũng lại phải phóng về tiệm cà phê của ông Hưng vừa nói vừa thở hổn hển:
─ Cô Hồng đâu? Cô Hồng đâu ?
Ông Hưng ngạc nhiên nhìn thân hình tơi tả của gã. Quần áo thì xốc xếch. Đầu tóc thì rối bù. Vẻ mặt tái xanh tái xám một cách vô cùng thê thảm. Đến lúc gã la lối tiếp thêm thì ông Hưng mới vở lẽ ra:
─ Tiên sư nó! Tiên sư cả lò nhà chúng nó. Mới ngoảnh đi ngoảnh lại mà nó đã lấy mất cái xe đạp đầy hàng của tôi rồi. Thế có chết tôi không. Thế thì làm sao tôi dám vác mặt về thăm nhà, thăm mẹ tôi đây…
Chỉ thiếu điều gã ta bật lên tiếng khóc. Gã cố giữ cho cơn nghẹn ngào khỏi trào ra khóe mắt. Tuy nhiên giọng của gã cũng đã thấy lạc đi, mất vẻ bình thường. Gã nói tiếp:
─ Ông làm ơn dẫn tôi đi gặp cô Hồng lúc này. Tôi bằng lòng đi bảo lãnh cho người bạn của Cô ấy ra. Phải kiếm ít tiền bù vào cả cho bị mất cấp chứ…
Ông Hưng luôn mồm chép miệng về cơn sui sẻo của gã. Cấp này dân chúng đói khát nên lắm kẻ sinh làm càn. Nhất là ở nhà ga. Trộm cắp ở đó như rươi, có thiếu gì cảnh mấy anh bộ đội ngủ lại qua đêm để chờ giờ tầu chạy, sáng sớm ra bỗng thấy mình bị lột sạch!
Ông Hưng hỏi:
─ Thế còn chuyến tàu Thống Nhất hôm nay ra sao?
─ Tôi bán vé lại cho người khác rồi!
─ Vậy là Đại úy còn thời giờ để sắp xếp công việc. Vào giờ này thì chịu không thể kiếm đâu ra được cô Hồng đâu. Mời Đại úy sáng mai trở lại. Tôi sẽ dẫn Đại úy ra chợ trời. Tôi biết chỗ của cô ấy hay lui tới với bạn hàng.
Không có cách nào hơn, gã trung niên đành phải trở lại nhà ga. Đêm hôm đó, gã nằm ngủ ngoài trời để có dịp trằn trọc suy gẫm về con đường mà gã đã trải qua trong suốt bao nhiêu năm. Mọi sự đều hầu như trọn vẹn trừ sự mất mát một cô vợ trẻ và một ngón của bàn tay trái. Bây giờ gã đang ở trên chặng đường cuối. Chặng ngắn ngủi nhất, chỉ dài không quá ba ngày tàu chạy, tưởng sẽ trôi qua dễ dàng nhất, ấy thế mà lại đẩy gã vào tình thế kẹt cứng. Suốt đêm gã đã ngủ một giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị. Có lúc gã thấy mình vẫn còn đang ở nhà, chưa biết mùi vị đời lính, bên cạnh gã vẫn còn nhí nhảnh tiếng nói của người vợ trẻ. Có lúc gã lại thấy hình ảnh của Hồng hiện ra choáng lộn che kín tất cả tâm tư, tình cảm của gã. Rồi gã lại thấy mình bị lột lon nhục nhã giữa bao nhiêu là con mắt châm chọc của bạn bè đồng ngũ. Khi tỉnh dậy, trời mới mờ mờ sáng. Gã ghé vô một quán cà phê bán ở đầu đường, ngồi nhâm nhi suy nghĩ về những việc sắp tới của mình. Cuối cùng gã tặc lưỡi đứng dậy. Chẳng có đồng chí nào có thể giúp được gã qua cơn khó khăn này. Gã đành liều nhắm mắt mà đưa chân.
Mãi tới gần xế trưa gã mới được ông Hưng dẫn tới gặp được Hồng. Nàng đang ngồi trên một chiếc ghế salon bằng mây kê ở phía sau một căn hàng quán ở giữa khu chợ trời. Trước mặt nàng la liệt những bát và đĩa. Chắc nàng mới vừa ăn điểm tâm xong. Nàng vẫn giữ cái cốt cách đủng đỉnh ngày hôm qua. Khi hai người ghé vào, nàng không đứng dậy. Cũng chẳng thèm lấy một chiếc ghế nữa để mời khách ngồi. Nàng không quan tâm đến chuyện đó mà chỉ mở bóp lấy ra thỏi son môi. Nàng vừa thoa son vừa nghe ông Hưng trình bày tự sự. Một lát, nàng nhìn gã đàn ông trung niên rồi buông lời chỏng lỏn:
─ Anh khờ bỏ mẹ! Cờ đến tay cho phất mà không chịu phất. Sáng hôm nay tụi Phường Đội nó giải con bé lên công an Thành rồi. Có họa ông Lê Duẩn nhà anh nhúng tay vào thì mới gỡ được!
Gã đàn ông nghệt mặt hẳn ra. Thêm một lần thứ hai, niềm hy vọng của gã bị tan tành ra mây khói. Trông gã thất sắc một cách thiểu não. Cứ cung cách này thì đến một cái vé tàu ra Bắc gã cũng sẽ chẳng còn đủ tiền mà mua. Ông Hưng thấy thế thương hại vội nói vun vào:
─ Thì chẳng vụ này có vụ khác, cô thì thiếu gì cơ hội có thể giúp cho đồng chí ấy.
Gã đàn ông cũng tiếp lời:
─ Tôi không cần gì nhiều. Chỉ mong kiếm cho đủ số bị lấy mất rồi trở về.
Hồng lại nhìn gã từ đầu đến chân như đánh giá. Rồi nàng hỏi:
─ Giấy tờ anh còn đủ cả chứ ?
Gã nhanh nhẩu gật đầu.
─ Đưa tôi coi!
Thế là có một màn chớ trêu, một cô gái Ngụy mở ra kiểm soát đủ loại giấy tờ của một ông sĩ quan Cách mạng đứng xớ rớ trước mặt. Vừa coi Hồng vừa tra hỏi như người thẩm vấn: “Cái này là giấy gì? Con dấu này ở đâu? Của ai? Cấp bậc gì? v…v…” Cuối cùng nàng buông một câu làm cho cả gã đàn ông lẫn ông Hưng thở phào nhẹ nhõm:
─ Được đấy! Sẽ có việc cho anh làm. Vài ba vố dư tiền về Bắc tậu nhà.
Sau lần gặp gỡ đó, hai người toan tính gì với nhau, ông Hưng không quan tâm tới. Ông trở về với quán cà phê bình dân của mình. Bẵng đi tới hơn hai tháng sau, bỗng nhiên ông gặp lại người khách có tuổi trung niên của mình. Gã ta trông trẻ người lại và linh động hoạt bát hẳn ra. Bộ quân phục bây giờ đã được thay thế bằng một cái quần Jean và chiếc áo sơ mi trắng toát. Chỉ có bàn tay trái với bốn ngón tay là dấu tích cũ còn sót lại. Bây giờ gã đã lái được xe Honda đàng hoàng. Hồng ngồi vắt vẻo ở đàng sau. Trông nàng vẫn đầy vẻ kiêu sa một cách bệnh hoạn với điếu thuốc không ngừng cháy giữa những ngón tay thon dài chải chuốt bằng lớp sơn mầu ánh bạc. Ông Hưng mỉn cười hỏi kháy:
─ Đủ tiền ra Bắc chưa, ông Đại úy?
Gã đàn ông nhoẻn miệng cười không đáp. Làm sao gã có thể dám thổ lộ ra rằng đối tượng của gã theo đuổi bây giờ không chỉ còn là hai nghìn bạc ít ỏi mà chính là cô gái nõn nà đang đứng trước mặt. Một mục tiêu lúc nào cũng đẹp phây phây như thế hẳn sẽ còn cần nhiều khổ công để chinh phục. Đường về miền Bắc vì thế vẫn còn xa xôi, thăm thẳm mịt mù…..

California, tháng 12,1983.
NHẬT TIẾN

Khúc Tơ Chiều. Thơ Hư Vô


Chiều thơm một thoáng hơi người
Lối em đi nắng còn phơi lưng trần
Hồn tôi sợi khói không chân
Nương theo làn gió cho gần bóng em.

Để nghe ngọn tóc dài thêm
Quấn tôi vào cõi mông mênh lạ thường
Tựa như nét lược lòng gương
Còn quen hương tóc dọc đường tôi qua.

Em từ thủy mặc bước ra
Buồn pha dáng nắng nghiêng tà áo bay
Bỏ lại tôi một hình hài
Hồn xanh bóng lá chiều phai lụa nhầu

Tôi bước lạc giữa chiêm bao
Theo câu lục bát trọ vào tim em
Dẫu đời không có trăm năm
Cũng còn sợi tóc tơ trầm luân nhau..

Hư Vô

Một Cảnh Tượng Kỳ Ảo. Tuỳ bút Mai Thảo


Mai Thảo

Mai Thảo

Anh Đinh Hùng, tôi nhớ năm ngoái cũng vào tháng này, để đánh dấu ngày giỗ đầu cái chết của anh, nhà xuất bản Văn ở số 38 đường Phạm Ngũ Lão Saigon, (chủ nhân là anh Nguyễn Đình Vượng, người đã mở đầu cho nhà xuất bản Văn bằng Người Đao Phủ Thành Đại La của anh) cho in lại Mê Hồn Ca. Tái bản mang ý nghĩa truy điệu thi sỹ này, đáng lẽ phải có, bằng văn tôi, một bài vào tập. Mê Hồn Ca được phát hành sau đó. Nhà Văn đành xin lỗi những người đọc thơ anh, bởi bài vào tập đã báo trước, cuối cùng không có. Tôi không viết được nó. Mặc dầu đã định. Đã muốn. Hết lòng. Không viết nổi vài hàng dẫn nhập cho một tập thơ đến nay tôi vẫn thành thực xem như một trong những đỉnh cao của thi ca tiền chiến, không nói được lời nào về một người, người đó là một nhà thơ sinh thời là bạn, là điều đến nay vẫn còn làm tôi hết sức ngạc nhiên. Không thực hiện được một bài viết tưởng đã có hàng trăm ý nghĩ trong đầu, tôi tìm hiểu nguyên nhân, chỉ có thể đi đến kết luận này: với tôi, Mê Hồn Ca vẫn đích thực là cái thế giới mê hồn kỳ lạ của riêng anh. Và nếu hiểu thơ của một người, cũng phải như hiểu một sự vật, một đời sống, nghĩa là thấu triệt được những quy luật cấu thành biện chứng của sự vật và đời sống, thì cái chân tướng của Mê Hồn Ca lung thoát, mơ hồ, tôi không nhìn thấy được cái từ đâu mà thành, bởi đâu mà có. Văn học sử Việt Nam sau này tất yếu sẽ phải làm thay tôi việc đó. Tôi nói tất yếu. Cõi thơ, tiếng thơ, một ngôn ngữ thơ mang tên Đinh Hùng, đích thực vẫn còn hay sẽ mất với những liên hệ chặt chẽ với thơ của cả một thời kỳ, một thời đại. Thơ anh là thơ của một người. Còn là thơ của một thời.

Thơ Việt Nam bây giờ chuyển lưu sang một trời thơ khác, chứng minh điều đó. Nhận cho thơ Đinh Hùng như một động lực đưa tới một hóa thân, một tiến trình mới của thơ, thì cũng cứ vẫn phải công nhận thêm một điều này: thơ anh nếu có khép đóng lại một giòng thơ thì cũng chính từ khép đóng này mà thơ đã mở đi những giòng thơ khác.

Anh Đinh Hùng, tôi kể lại anh nghe chuyện nhỏ này. Nghĩ nó, tuy cũng trà dư tửu hậu mà thôi, có chiếu sáng cho tôi phần nào về một vài bình diện thi sỹ. Một buổi chiều tuần trước, tôi cùng Thạch Chương và Thanh Tâm Tuyền đến chơi một người bạn. Ở đây, chúng tôi tình cờ gặp lại nhà thơ Bùi Giáng. Với tôi, cõi thơ Bùi Giáng là một trong những cõi thơ bát ngát nhất hiện nay của thơ ta. Thơ Bùi Giáng là một vực thẳm không cùng. Một cánh rừng dầy đặc.

Nó òa tới, làm nhạt nhòa Xuân Diệu. Nó vụt qua làm mất biến Xuân Xanh. Dẫm đạp lên mọi thể loại ngôn ngữ tĩnh tại, sáng hồng, đôn hậu, toàn vẹn, đã xong, thơ Bùi Giáng là cái tang trống kinh dị treo căng trên hai đầu cọc nhị trùng: từ một băng hoại tận cùng tới một thăng hoa chói lọi. Thơ nguy nga như thế mà con người bệnh quá. Mỏi nhọc, già yếu, Bùi Giáng ngồi đó, bóng chiều lãng đãng, như hình như bóng, mang trên hình hài âm u cái hiện tượng dị thường của một cõi ngôn ngữ khi bình lặng thì thiêm thiếp, hư không, khi dấy động là dấy động bàng hoàng một trời giông bão. Chừng như tôi điên, một năm vài tháng, Bùi Giáng nói. Thế nhưng khổ nhất cho Bùi Giáng lại là lúc tỉnh. Tỉnh thức, ra khỏi những quằn quại nghẹn ngào, những nhức nhối đốt lửa, Bùi Giáng mới biết là có thật nhiều điều, dầu biết phải nói, chẳng nên nói ra bằng giấy trắng mực đen. Nhưng rồi những cơn lốc kinh hoàng hệt như những cơn say sượng sần mê ngất chụp bắt lấy. Và khi đó thi sỹ lại nói hết. Nói hết những niềm quái dị, những nỗi hoang vu bất chợt sáng ngời, bằng một Ánh Sáng Lạ, trong tâm linh và tiềm thức. Tôi nhớ chiều hôm đó, Thanh Tâm Tuyền, yêu mến Bùi Giáng lắm, đã giải thích cái trạng thái bất bình thường nơi Bùi Giáng như một hòa nhập quá thể say đắm, quá thể trầm trọng với ngôn ngữ. Rằng đó là tại vì anh coi trọng ngôn ngữ quá. Rằng anh muốn phá tan ngôn ngữ còn muốn phá tan chính Cuốn Sách là cái biểu tượng cái thể tích thường hằng được chấp nhận cho ngôn ngữ, cho thơ.

Anh Đinh Hùng, cái “ca” đặc biệt của Bùi Giáng trở lại trong trí tưởng tôi lúc này tôi nói chuyện với anh về những cõi ngôn ngữ dị thường ấy là những cõi ngôn ngữ thi sỹ. Nếu Breton định nghĩa cái đẹp như một bàng hoàng, bàng hoàng đó đã sấm sét, đã địa chần bao nhiêu năm dưới trời siêu thực, và nếu ngôn ngữ ở Bùi Giáng là những lượng chất nổ thả dần bằng những ngón tay thơ rất đỗi dịu dàng vào cái tôi nhìn thấy rõ nhất ở Bùi Giáng là một cõi tâm linh mê ngất – chúng ta đã thấy nhưng không thể tan tành và toàn vẹn bằng, ở cõi thơ trái điên và mật đắng của Hàn Mặc Tử – tôi muốn nhìn thơ anh, như nỗ lực một đời của ước muốn đến với cái phía bên kia đã mất của thực tại. Đó là cái nỗ lực cài đính trang trọng lên một nền trời những vì sao đã rụng. Sự vật tất yếu nằm trong vận động của một sinh thành và một hủy diệt. Quy luật ấy, đích thực anh đã không chịu chấp nhận nó. Đã muốn phản chống lại bằng thơ. “Khi miếu đường kia phá đổ rồi. Ta đi về những hướng sao rơi.” Trời thơ anh nằm gọn trong mười bốn chữ đó. Giữa một thời đại ào ạt vươn tới những biển vàng chưa gặp. bây giờ người ta đã nghĩ đến những ngọn cỏ đường cho năm 2000, vẫn có những nhà bác học nghiêm túc phủi đi những bụi phấn trên một đồ vật chôn vùi cũ bằng đất nung. Cho sáng rỡ trở lại cái nghệ thuật tạo tác của một hơi lửa tiền sử. Anh là một trong những nhà bác học đó. Vần đề tưởng rằng lớn lao và ngột ngạt nhất của thi ca là ngôn ngữ không đặt ra với Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử tiên thiên tuy cũng là một nỗ lực biểu hiệu tới tận cùng một định mệnh ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ với Đinh Hùng đôn hậu, ngoan ngoãn. Nó chỉ là một phương tiện. Cái phương tiện dẫn đi. Cái phương tiện chở về.

Vào thơ anh trước hết tôi nhìn thấy một vũ trụ một thế giới không tiếng động, không ánh sáng. Nó là một cánh rừng chết. Im phắc. Rất đen và rất đêm. Rồi lửa thơ ngang đầu, thi sỹ đi tới. Thi sỹ vào. Đánh thức những bằn bặt. Lay tỉnh những thiêm thiếp. Gõ cửa những chôn vùi. Như một ngọn đèn pha trên một con đường tối, ánh sáng lướt. Những sự vật hiện. Nhặt những “sao rơi” anh đang cài đính từng chùm một, lên một nền trời đã nghìn triệu năm tắt nghỉ mọi cuộc đời tinh tú. Người ta bảo thơ Đinh Hùng là một thất bại trong ý hướng tạo dựng và làm sống lại một thế giới đã vĩnh viễn tịch mịch. Người ta nói Đinh Hùng không làm sao đón được đời sống vào vũ trụ mình giản đơn là bởi vì cái vũ trụ đó không có. Tôi muốn nghĩ khác.

Tôi muốn nghĩ khác. Tri thức và trầm tư cho một bản thể rực rỡ như Đinh Hùng, ít nhất cũng là đã mở được những cửa ngõ hòa nhập dư thừa vào hằng cữu và tạo vật, hiểu được thế nào là chân thân kia của một hạt cát sông Hằng, tri thức đó nhất định không đến nỗi rơi ngã vào ảo tưởng mù lòa về những cái đã chết, đã mất, phải làm cho sống lại. Bởi không thể. Cài đính trang trọng những nhành sao rụng lên một nền trời kia, ở Đinh Hùng chỉ là đốt lửa đêm cho cuộc đời nhìn thấy cái mặt sấp kia của một đồng tiền. Cái mặt không reo không nhẩy. Cái phía đã im phắc. Đã bất động. Đã thành tượng.

Thành tựu của thơ Đinh Hùng ở nơi anh được những vì sao rụng trên mặt cỏ hằng cữu. Và không, khi nào “miếu đường” không phá đổ được miếu đường còn đứng đó, cản ngăn đường ngưng về một hướng sao rơi. Thơ ở một phía khác thơ Đinh Hùng, thơ ngợi ca đời sống, thơ đầm ấm hơi thở, thơ tươi tắn máu hồng, thơ trái tim trên tay, thơ như một thâm nhập tràn đầy và dữ dội của ngôn ngữ, thơ trên mỗi tảng đá, mỗi ngọn cỏ, để lại cái dấu khắc đau đáu tươi mầu của hiện hữu và tri thức người, khác ở nơi nó không vấp phải một miếu đường nào. Sao cũng rơi trên chúng ta đấy chứ. Nhưng sao rơi gần. Với Đinh Hùng, đã cách một miếu đường thực tại, sao còn nghìn dặm.

Thả hòn đá xuống một lòng giếng thẳm, vang vọng mất biến. Ném ngôn ngữ đi quá xa tới những vùng trời biệt tích ngoài mình, ngôn ngữ biệt tích luôn. Mê Hồn Ca tuyệt nhiên không đắm say cái ý tưởng mù lòa làm sống lại những đồ vất đất nung được tạo tác ngày nào bằng hơi lửa tiền sử. Chỉ Đinh Hùng muốn dẫn chúng ta tới đó. Tới những cõi chôn vùi. Tới những trời hủy hoại. Tới một lối đi xưa. Tới một cửa đền cũ. Cái khác là chúng ta đã tới và đã trở về. Riêng Đinh Hùng ở lại.

Anh Đinh Hùng, bây giờ thì với anh miếu đường kia đã đích thực phá đổ. Tôi nhìn thấy trời thơ anh sáng dần. Thi sỹ đã tới. Trên một nền trời kia, từ một bàn tay ấy, những vì sao đang được khoan hòa và trang trọng đính cài lên. Cảnh tượng này đối với tôi và với thơ, đã dư thừa một cảnh tượng kỳ ảo.

Mai Thảo

(Khởi Hành số 17)

Quán Thơ Hư Vô 335


Quán Thơ Hư Vô 335

EM TAN VÀO NGƯỜI LẠ

Em tan vào người lạ
Nhịp guốc còn xôn xao
Có về đâu cũng đã
Cỏ mọc đầy chiêm bao.

Bước chân em quýnh quáng
Nhón qua đường dốc cao
Áo che mù góc nắng
Biết em đi lối nào!

Tôi lao vào mây trắng
Níu chiếc bóng muôn trùng
Em bỏ đi thì cũng
Còn chút buồn ở chung.

Để những lần em khóc
Sẽ không thấy lẻ loi
Trong mỗi giọt nước mắt
Nhỏ xuống tượng hình tôi.

Như mây chiều dáng núi
Phất phơ giữa cuộc người
Có bước qua bóng nắng
Cũng hoang phế tả tơi.

Còn nghe tiếng em gọi
Giữa trời đất lao xao
Dậy mùi hương dị ảo
Tan vào người lạ nhau…

Hư Vô

THƯƠNG NHỚ TÌNH EM

Ngày ra đi, mùa cuối thu vàng lá
Mưa bên cầu rắc nhớ xuống hồn anh
Tình mới tượng trong nhau chưa chín nụ
Mà rừng đời đã khép kín ngày xanh!

Ngày ra đi, áo chưa sờn vai nhỏ
Dạ đã sầu trong một phút xa nhau
Anh chưa đủ vòng tay ngoan gìn giữ
Mà thác ghềnh đã đón trước, ngăn sau

Ngày ra đi, giang hồ chưa đủ thấm
Lòng đã mềm từ một sớm heo may
Anh gánh tình em lên vai vạn lý
Với rất nhiều thương nhớ ngập hồn mây…

Mắt không tiễn vì người đi bất chợt
Và chia ly không rượu chuốc, tay mời
Nhưng anh ngỡ trong đường tim, lạch máu
Có hồn em đang theo dõi tuyệt vời!

Lúc không thấy tay đan đời quấn quýt
Đó chính là anh vướng vít đời em
Nên ngày đi, đường chưa là biển lớn
Mà lòng anh chất sóng đã xây thành!

Ngày ra đi, núi chưa cao phía trước
Mà một dòng sông lưu luyến ngăn anh
Một bến say rất tình cờ níu lại
Bước bao nhiêu cũng thấy chậm với tình…

Trần Dzạ Lữ

DẤU CHÂN MÙA HẠ

Đi ngang qua chiều mùa hạ
Lối xưa còn dấu chân người
Mùa đi chưa vàng sắc lá
Tiếng ve ngân khúc buồn tôi

Đi qua một thời áo trắng
Như còn tóc gió ai bay
Thuở tình trong veo màu nắng
Ngại ngần tay nắm bàn tay

Trôi ngang qua miền ký ức
Chiều nghiêng mái phố già nua
Trang thơ tím thơm màu mực
Đã vùi theo bao nắng mưa

Ngang qua một chiều mùa hạ
Dấu chân mòn lối đi, về
Dáng xưa nghiêng vành nón lá
Thẹn thùng tà áo vên vê

Đi ngang qua mùa hạ cũ
Thấy người đứng bên bờ vui
Nào hay xa thời yêu dấu
Chỉ còn chiếc bóng lẻ loi!…

Sông Trẹm

ĐÊM MƯA NHỚ SÀI GÒN

Tiếng mưa rơi vỗ về đêm mất ngủ
Nhớ Sài Gòn những tối nhạt nhoà xa …
Đường Duy Tân hai hàng cây năm cũ
Vọng người xưa lâu lắm chẳng về qua!

Ngọn đèn đêm hắt hiu vàng góc phố
Vị ngọt nào còn đọng mãi trên môi?
Từ ly kem đợi người trong quán nhỏ???
Đã chảy tan… buốt lạnh suốt nửa đời

Đêm hò hẹn những vòng xe lăn chậm
Ngang qua Nguyễn Huệ, ghé lại bờ sông
Trời chợt mưa …đêm bỗng dài thăm thẳm
Bến đợi thuyền… hun hút nỗi chờ mong

Mưa đêm nay có người về qua phố,
Ghé Bạch Đằng tìm vị ngọt năm xưa…
Đã lâu rồi … người quên hay còn nhớ??
Dòng đời trôi bong bóng vỡ đêm mưa …

Mực Trắng (LT)

CHIỀU XƯA NGƯỜI QUA ĐÂY

bước chân về rất nhẹ
chiều xưa người qua đây
ru hồn tôi khe khẽ
một trời mù sương bay

gió trên đồi vẫn thổi
thao thiết cuối chân ngày
người về phơi tóc rối
hiên một trời nắng phai

mắt môi kia hờn tủi
cũng xin người bao dung
nụ hôn nào đắm đuối
nghe dâu bể muôn trùng

trong mệnh đời đứt gãy
thì ơi người đôi môi
vẫn là tình tôi đấy
trao cho người tinh khôi

chiều vẫn chiều đang tới
mà người giờ sương bay
em về không tôi đợi
như chiều nào qua đây…

nguyễn minh phúc

SÀI GÒN 1971

Thầm thương
áo trận bạc màu
Nặng vai Tổ quốc
binh đao không rời
Gặp nhau
như thể tình cờ
Kiêu sa em nở
nụ cười hiền khô

Ngang tàng anh
với câu thơ
Em tương tư hết
một thời thanh xuân
Rồi mang đi
lúc theo chồng
Mấy mươi năm
đọc lại dòng thư xưa

Thư xưa
thư của ngày xưa
Ngày anh trai trẻ
đời chưa dập vùi
Một mình buồn
một mình vui
Ngồi đây mà ngỡ
còn mùi hương em

Linh Phương

MÙA BIỂN ĐÃ QUÊN BỜ

Về Bạc Liêu mùa biển đã quên bờ
những cây mắm hóa rừng chôn chân bãi vắng
cát trống không đời nghiêng phía nào cũng nắng
tôi thả nỗi buồn cho gió thổi lên cao

Biển đã xa tôi bỏ cứng lại xác hào
bầy cá bống sao bò quanh trũng nước
tôi bò quanh tôi giữa bơ vơ xuôi ngược
mùa biển quên bờ khép nỗi nhớ lặng câm

Biển giấu nơi đâu tiếng sóng cũ thì thầm?
thuở lắng vào nhau đôi dòng sông xõa tóc
biển chôn vào đâu bầu trời xanh nạm ngọc?
con cá bống sao ngồi thừa thải chiếc đuôi yêu

Mùa biển quên bờ tôi về với Bạc Liêu
lầu Công tử không còn công tử nữa
vài chiếc lá gom về quanh bậu cửa
biển trốn nơi nào bốn phía mắt giai nhân?

Ngồi bên nhau nghe sóng vỗ thật gần
những cây mắm hóa rừng
bầy cá bống sao vẫn bò quanh trũng nước
Phật tượng ngồi thiền
những gốc nhãn già nua với tay gầy trôi ngược
bờ bãi thở chiều mùa biển đã xa tôi…

Trần Minh Tạo

GIỮ CHÚT XUÂN THÌ

Gió ơi! Chớ vội cuốn đi
Để ta giữ chút xuân thì trên tay
Buồn ơi! Xin nốt đêm nay
Mai xuôi bến cũ tìm ngày hồn nhiên

Thênh thang lối cỏ an yên
Một dòng xanh biếc ngày biền biệt xa
Quanh co ngàn dặm mưa sa
Sầu gieo mộng mị ,sầu nhòa cuộc vui

Nỗi lòng những ngỡ chôn vùi
Biết đâu đá cũng ngậm ngùi chiều phai
Người ơi! Còn đó trang đài
Tơ vàng xin dệt tình ai hiền hòa…

Thiên Di

thumbnail_IMG_1961

Bùi Giáng Một Bài Thơ Lạc Vận. Tuỳ bút Nguyễn Đình Toàn


Nguyễn Đình Toàn

(Chân dung nhà thơ Bùi Giáng)

Bùi Giáng đã được nói đến nhiều. Mỗi người đọc ông nói đến ông theo một cách. Người ta nói đến thơ ông, nói đến tư tưởng của ông, nói đến cách thế ông sống, tùy theo cách nhìn của mình.

Người ta nhìn thấy ở ông, rõ hơn, kiến thức của ông, tư tưởng của ông, như một hội tụ lớn của tư tưởng Đông Tây.

Người ta cũng nói đến ông như một người điên.

Nếu ai có dịp nhìn thấy ông mang trên mình đủ các thứ: nồi, niêu, xoong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi, vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không gì quá đáng.

Nhưng cũng người điên ấy, vai mang một tấm biển, đi rong qua các phố, trên tấm biển có những dòng chữ viết tay:

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhảy tưng lên trời

Thì nhiều người lại cho rằng đó là một người điên giả vờ. Một sự việc quan trọng như thế, một người Việt “đi dép lốp mà bay vào vũ trụ” như thế, mà nói tới một cách giễu cợt vậy sao?

Ông bị bắt giam.

Nhưng rồi sau đó người ta cũng thả ông ra, vì… ông điên! Và có lẽ vì điên nên ông không biết sợ, ông nói toáng lên những điều có người nghe rồi cười, có người không muốn nghe, cả những điều người ta không dám lập lại dù là để báo cáo đi nữa!

Người ta nhìn thấy ông, mặc bộ quần áo rằn ri của quân đội cũ, đứng trước cửa trường Đại Học Vạn Hạnh, nhìn các đám sinh viên nam nữ qua lại, mủm mỉm cười, bảo: “Lịch sử bức bách tụi bay quá!”

Có rất nhiều giai thoại liên quan tới Bùi Giáng, liên quan tới những cơn điên của ông.

Cũng vô lý như làn kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đất xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư vô

Đọc một lần, đọc hai lần những câu thơ ấy của Bùi Giáng, ai có thể cả quyết ông nói tới điều gì?

Cái mất, cái còn, cái cổ xưa, cái cận đại, Hồn nguyên tiêu/ Phượng Thành Hy Lạp úa/ Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa / điển tích và những câu nói cửa miệng xen lẫn, bờ trùng ngộ là gì mà cả một phen này phen nữa?

Đọc liền một bài thơ của Bùi Giáng, đọc một hơi mươi mười lăm câu thơ của ông, người ta có cảm tưởng ông đùa rỡn với một điều gì đó hết sức nghiêm trọng. Nhưng đã nghiêm trọng sao lại đùa? Đọc một hai câu thơ của ông thôi, có khi chúng ta lạnh mình, tựa hồ bị thổi tạt bởi cơn gió rét không biết tự phương nào lại.

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Đất khóc, trời khóc hay người khóc? Nhưng khóc cái gì mới được chứ? Đất trời có vĩnh biệt đã vĩnh biệt lâu rồi, không còn gì để khóc. Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu. Hãy tưởng tượng một sớm hay một chiều nào đó, ta trở về quê cũ, ngẩng mặt trông những hàng cây, gió thổi lùa sương từ cành này qua cành khác. Cành nói với lá. Lá nói với hư vô, nói với ta, hay chỉ vì gió lay nên cành động? Cố hương. Cố quận. Cố nhân tình. Mờ mờ, ảo ảo…

Cảnh cũng là người và người cũng là cảnh, lẫn lộn trong sương mù.

Ta cười cợt, ta nghiêm chỉnh, ta nhớ quên, ta làm bộ hay ta biết rõ, tất cả đều diễn ra cùng một lúc với cái chết. Cái chết như sương mù bôi xóa.

Nhưng nghĩ như thế cũng có thể là nghĩ sai về thơ Bùi Giáng.

Hãy nghe ông nói về thơ ông:

“Muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác”.

Ông còn bảo rằng:

“Kẻ nào tự xét mình từ trong tinh thể mà ra chẳng có chi là phiêu bồng tí chút thì chả nên cưỡng cầu tự ép uổng ghé vào thi ca thâm xứ mà chi”.

Như thế, Bùi Giáng vừa làm thơ vừa muốn đóng cửa thơ.

Nguyễn Vy Khanh, trong một bài viết về thơ Bùi Giáng cũng cho rằng “người ta đã viết nhiều về hành trạng Bùi Giáng hơn là thơ của ông”.

Những hành trạng sống của ông cũng là thơ ông.

Thơ ông làm để tặng chuồn chuồn châu chấu tại sao chúng ta lại lấy đọc rồi trách ông tư tưởng rời rạc, không có hệ thống?

Trữ tình chăng?

Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.

Hiện thực chăng?

Bây giờ em để quần đâu
Cỏ trên mình mẩy em buồn ra sao?

Cười cợt chăng?

Que diêm que lửa que lời
Cõi trăm năm cũng một đời ba que.

Hai câu thơ vừa rồi rút trong bài “que diêm” Bùi Giáng viết sau năm 1975.

Thơ Bùi Giáng như vậy.

Ông không khóc nhưng hình như thơ ông có nước mắt. Ông cười cợt khi nói lời nghiêm trang. Ông nói với chính mình nhiều hơn với người khác.

Về cái chết của mình ông để sẵn trong tập Mưa Nguồn cách ngày ông qua đời mười năm mấy câu này:

Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian này mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu

BÙI GIÁNG LÀ AI?

Một trung niên thi sĩ như ông vẫn tự gọi?

Một nhà thơ lớn của Việt Nam?

Hay giản dị: Ông chỉ là một gã điên?

Rất nhiều người, trong đó có cả những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học của chúng ta, đã thử trả lời câu hỏi ấy, nhưng hình như vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Mỗi người nhìn ông một khác.

Người ta viết, nói về Bùi Giáng như một cách tự giải đáp những thắc mắc của mình về Bùi Giáng nhiều hơn là thơ của ông.

Và khi nói về thơ của ông dường như người ta lại nói về các giai thoại quanh ông, những điều bàn tán về ông nhiều hơn.

Nhưng nếu người ta đã có lần đọc Bùi Giáng, yêu những bài thơ, những bài phiếm luận của ông liên quan tới thi ca, triết học, tôn giáo, chuyện tào lao dính tới Brigitte Bardot, Kim Cương hay Mẹ Phùng Khánh của ông, thì người ta sẽ vô cùng thích thú vì thấy tất cả những điều đàm luận kia chẳng khác những tấm gương phản chiếu nhiều khuôn mặt của Bùi Giáng: cười cợt, đau đớn, nghiêm chỉnh, điên rồ…

Người khen ông nhiều lắm: Huy Tưởng, Mai Thảo, Huỳnh Hữu Ủy, Cung Tích Biền… người ta không tiếc lời ca ngợi Bùi Giáng.

Nhưng cũng không thiếu những người nghĩ khác.
Chẳng hạn như Thụy Khê.
Thụy Khê viết:

“Trong gần nửa thế kỷ làm thơ. Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài thơ, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du ban đầu làm xao xuyến người đọc… Nhưng vì lập lại nhiều lần, chúng bị phá giá.”

Còn Trần Hữu Thục trong một bài nhận định của mình đã viết rằng:

“Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay, chưa hẳn là rất hay, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ của ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngay ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò.”

Xin trích mấy câu thơ lục bát của Bùi Giáng:

Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi

Có những câu ta thật sự không hiểu ông định nói gì:

Một hôm gầu guộc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm

Xen vào đấy là những câu có thể làm chúng ta sởn người khi đọc:

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Hoặc chỉ một câu thôi đủ làm chúng ta ngẩn ngơ:

Còn hai con mắt khóc người một con.

BÙI GIÁNG ĐIÊN THẬT CHĂNG?

Người ta kể lại rằng, một cán bộ nhà văn khi gặp Bùi Giáng đã nói, họ đánh giá cao những tác phẩm của ông, nhưng muốn rằng Bùi Giáng phải thay đổi cách suy nghĩ, phải tỏ ra tiến bộ mới có thể làm việc trở lại được, hiểu theo nghĩa mới được “phép” viết lách trở lại. Bùi Giáng đã đứng dậy chỉ vào mặt người này hỏi lại:

-Thế nào là tiến bộ? Trời đất có bắt núi non tiến bộ không? Nếu núi non tiến bộ mãi mày đi đâu mà ở?

Đó có phải là lời nói của một người điên chăng?
Đây là một giai thoại bịa đặt hay có thật?

Trở lại với thơ Bùi Giáng.

Hình như ông không làm thơ theo quan niệm, theo cái cách người ta thường nghĩ.

Ông rũ bỏ thơ ra khỏi mình như những bụi bặm, như một oan nghiệp.

Mai Thảo mất trước Bùi Giáng.
Trước khi chết Mai Thảo có để lại bốn câu thơ:

Và ở Sài Gòn vẫn còn Bùi Giáng
Tối tối về chùa, đêm làm thơ
Ngày ca múa, khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi

Hai người có gặp lại nhau chăng?
Nếu có, họ sẽ nói gì với nhau nhỉ?

Bùi Giáng đã nói về mình thế này:

Miệng anh còn đủ lưỡi môi
Mà răng rụng hết lấy gì nhe ra
Mím môi ôm mặt khóc òa
Hôn em một chút cho đỡ già nua thôi.

Tóm lại khó có một bức chân dung Bùi Giáng. Chỉ có một hình ảnh từa tựa. Ông là một bài thơ lạc vận và đôi khi thừa chữ.

Nguyễn Đình Toàn

Rồi Cũng Phải Bỏ Nhau. Thơ Hư Vô


Rồi Cũng Phải Bỏ Nhau

Chắc gì đã có thiên đàng
Thôi thì nán lại trần gian làm người
Bắt đầu một cuộc rong chơi
May còn có em cho đời lên hương.

Đầu thai lạc chốn vô thường
Vòng vo mãi cũng một đường mà đi
Em xanh xao nụ xuân thì
Tôi đâu biết làm được gì cho nhau.

Có chăng là chút đớn đau
Để còn quay quắt quơ quào cưu mang
Một đời lang bạt nghênh ngang
Dắt nhau vào chỗ nhân gian xô bồ.

Tay em níu bóng hư vô
Khóc cho ngọn cỏ xanh mồ trần ai
Dẫu có được chung hình hài
Thì cũng phải tới một ngày bỏ nhau…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 334


TẤU KHÚC BIỂN

Mùi biển còn thơm đêm tóc rối
Trên vai tôi đã biết hoang đàng
Em về giũ áo phơi nhan sắc
Cho còn lãng đãng thoáng mây tan.

Làm sao em biết tôi thao thức
Đá xanh đâu dễ đã bạc tình
Hồn tôi như thể con nước lớn
Chờ em động bóng để hồi sinh!

Biển tấu âm ba lời sóng biếc
Tiếng đêm tan tác giữa muôn trùng
Tôi bơi đắm đuối trong lòng mắt
Nghe còn đẫm lệ dấu tình chung.

Dẫu qua mấy biển em vẫn thấy
Theo từng ngọn sóng cuốn nhau đi
Đêm có dài thêm hương tóc rối
Thì em cũng đã mới xuân thì…

Hư Vô

TỪ ĐÂU…

có lẽ bắt đầu từ ánh mắt
sáng sao mai rọi giữa đỉnh trời.
một nụ đông phương vừa hé nở
đã lâu rồi ấp ủ trong tôi.

có lẽ bắt đầu từ đôi môi
một thủa con tim bừng nhung nhớ.
quê nhà đã muôn trùng cách trở
buổi hẹn về bỗng ngái xa hơn.

có lẽ bắt đầu từ mái tóc
tơ vương len vào nỗi ngậm ngùi.
tóc vẫn xanh như ngàn bóng núi
sừng sững bên trời một cố hương.

có lẽ bắt đầu từ giọng nói
lời qua mang lại tiếng quê tình.
từ phía bán cầu đang tăm tối
bán cầu này sáng cũng bằng không.

Đức Phổ

HỒN XUÂN SAY

Sau những giờ chúc tụng
Sống ồ ạt triều dâng
Tôi lặng hồn hiu hắt
Nghe ơ hờ mùa xuân!

Ngồi một mình với bóng
Nhìn khói thuốc trắng bay
Nhớ trời mây lồng lộng
Thèm cỏ hoa núi đồi.

Tôi ra ngồi bờ sông
Nhìn sóng nước mênh mông
Xõa tóc bay cùng gió
Nghe thanh thản trải lòng.

Ngày Xuân hoa cánh bay
Hương tình xanh cỏ cây
Tôi hôn giọt nắng mới
Bất chợt hồn Xuân say.

Trần Thoại Nguyên

NHỚ XƯA XÁCH SÚNG LÊN RỪNG

Mấy mươi năm trước – ta tráng sĩ
Xách súng lên rừng bắt chuột chơi
Đụng giặc lu bù đánh mệt nghỉ
Rượu uống mồi ngon nhậu đã đời

Mấy mươi năm trước – ta còn trẻ
Chí dời non – lấp biển – vá trời
Thua cuộc – bỏ quê – chửi đù mẹ
Lãng tử ngược xuôi chốn sông hồ

Ba chết lúc mùa hè đỏ lửa
Má cũng xuôi tay trọn chữ tình
Ta thằng ngụy tặc không nhà cửa
Tháng tư nào cũng khóc một mình

Tháng tư nào cũng mơ đánh trận
Giống gã du côn thuở hết thời
Bại binh đám đàn em kiếm sống
Biệt quan hà trôi dạt khắp nơi

Thêm vài năm nữa ta già chát
Nhớ tiếng kèn đồng hôm xuất quân
“Này bao hùng binh…” rớt nước mắt
Dưới cờ thiêng nghe lệnh quy hàng

Thêm vài năm nữa ta với đất
Nằm ôm nhau kể chuyện Sài Gòn
Tháng tư miền Nam Việt Nam mất
Thủ đô buồn quấn mảnh khăn tang

Thêm vài năm nữa mồ xanh cỏ
Em có về thắp nén nhang thơm?
Em có về đứng nhìn bia mộ
Dỗ dành ta – “Thôi ! Ngủ đi Phương“

Ngủ đi quên hết đời khốn nạn
Đời giết ta rồi chẳng tiếc thương
Ngủ đi quên hết đời lận đận
Người đã phụ người mấy mươi năm

Linh Phương

NGOÀI HUẾ

Không phải Huế ,đó mới là chuyện lạ
Bởi dạ, thưa răng quá đổi ngọt ngào
Nghe một lần là mãi mãi về sau
Anh cứ nhớ giọng em như giọng mạ!

Ui chao ơi! Em cũng gầy na ná
Tôn Nữ xưa qua mấy cửa Hoàng Thành
Anh kiêu bạc cũng nghe chừng rất nhớ
Dấu ai về, bay màu áo thiên thanh…

Con-đường-vương-phi cũng hóa ra hiền
Khi gió thổi sang lòng anh bối rối
Không phải Huế mà răng em lại nối
Câu Nam Bình khi khít điệu Nam Ai?

Không phải Huế răng em lại trang đài
Qua Gia Hội để chiều anh tở mở
Giòng sông Hương lặng lờ mà cắc cớ
Soi rất xanh dấu ái thuở em về!

Không phải Huế mà em gọi bên tê
Là Vỹ Dạ mùa trăng lênh láng nhớ
Dây trầu cũ cuốn vào thân cau đó
Xuân nay hồng, môi đỏ nụ tình quê…

Không phải Huế rứa mà em rất Huế
Ngọt bên ni bên nớ đến nao lòng
Tháng giêng ngon đậu vào tim tử tế
Thương nhau rồi em có đợi anh không?

Trần Dzạ Lữ

MÀU HOA KHẾ

Gió phơi nắng thắm vàng tơ lụa
Trải xuống vườn xanh nỗi nhớ người
Có đôi bướm trắng vô tình quá
Âu yếm bay vờn theo nắng rơi

Hoa khế cũng vàng pha sắc tím
Không rụng mà rơi rất nhẹ nhàng
Nhớ em chiều vắng buồn qua phố
Hương còn tương tư, hương chưa tan

Hoa tím hay thơ chùng nỗi nhớ
Tím giữa vàng ươm nắng lụa vàng
Hoa tím hay lòng chưa kịp nở
Nụ tình dang dỡ với trăm năm

Bóng em – Hoa tím – Chùng trong nắng
Tôi gửi về đâu màu tím phai
Màu hoa xưa rụng vào quên lãng
Tình em theo hoa từng cánh bay.

Lê Văn Trung

CHIỀU BÊN NGÃ BA SÔNG

Con nước chiều ôm bóng nắng tháng ba
Bên vàm sông nghe mùi gió đồng xa
Em có theo ghe về qua sông Trẹm
Cho anh gửi chút tình sông nước bao la…

Anh đứng trên cầu treo Thới Bình
Nhìn bờ sông im bóng lá dừa xanh
Đò xưa chờ thấy qua một chuyến
Mà vẫn như bóng người xưa biệt tăm!

Anh đi tìm ai giữa chiều nắng phai
Đường xuôi theo mấy ngã sông dài
Dấu chân ngày cũ chièu tan lớp
Đã bước qua đời anh, đâu hay!

Chiều một mình bên ngã ba sông
Anh thả hồn theo con nước xuôi dòng
Để nghe tiếng sóng ru bờ vắng
Như tiếng vọng từ nỗi nhớ mênh mông…

Sông Trẹm

ĐOẠN KHÚC CHO MÌNH..
I.
Ngày hớt hải
Đêm buông trôi
Quay mặt vào vách tối
Rõ phận người…
II.
Đất nhuốm bệnh
Gió nghịch mùa
Rừng hôm qua tử nạn
Sót nhành thơ..
III.
Cuồng phong đỉnh
Xiết bến bờ
Nỗi buồn như lật mở
Cội nguồn xưa..
IV.
Ngày ráng đỏ
Cuộc tranh giành
Cơn mơ màu huyết dụ
Vẽ nên hình..
V.
Lời ru muộn
Đoạn khúc chiều
Còn nghe trong tạp niệm
Một tiếng kêu..
VI.
Đường đã chắn
Ta lại về
Bàn chân như thú tội
Trước cơn mê…

Trung Chinh Ho

Sài Gòn Thủ Đô Văn Hoá Việt Nam. Mai Thảo


Mai Thảo

Sài gòn thủ đô văn hóa Việt Nam: Không phải là một danh từ, một câu nói xuông nhạt. Không phải là một ảnh hình trừu tượng. Không phải là một ảo tưởng mong manh còn nằm trong ngày tới xa thẳm. Không phải là một ý niệm khát khao đợi chờ. Đã là một thực thể được minh định : Văn Hóa Việt Nam thực hiện hôm nay và sẽ được kiện toàn trong ngày tới đã có được một trung tâm xuất phát và sinh thành: Thủ đô Sài Gòn.

Thực thể lòa chói này được biểu tỏ rõ rệt xâu đậm, ngày lại ngày.

Ánh sáng của Văn Hóa cháy lên hôm nay từ giữa lòng đời sống lớn rộng của dân tộc là một giòng máu bừng bừng mãnh liệt luân lưu trong một cơ thể chứa đựng cái vô hạn của những năng lực sáng tạo trẻ mạnh phong phú. Giòng máu bắt nguồn từ trái tim. Sài Gòn xuất hiện trên những kinh rạch tăm tối ngày nào, đã đổi thay để có thêm một hình thể tinh thần nữa: hình thể của một trái tim đập mạnh, với những đường máu, những lối ánh sáng đan chen nhau, tỏa đi trên toàn thể, toàn diện.

Không còn là chân tay, Sài Gòn đã là một trái tim. Những biến cố trọng đại của lịch sử đất nước từ một ngày nào đã chuyển đổi trọng tâm sinh hoạt dân tộc, và Sài Gòn đang phát triển, thay thế cho một Hà Nội đã tàn lụi, đã nghiễm nhiên biến thành một thứ cứ điểm chính yếu quy tụ mọi thiện chí xây dựng và mọi nỗ lực đóng góp của những hoạt động văn-hóa hiện hữu, trên mọi ngành mọi mặt.

Từ người du khách ngoại quốc đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, đến những chuyến tầu vượt đại dương vào hạ neo trên mặt nước phẳng lặng của thương khẩu thành phố, đến những con người xa cách không biết bao nhiêu trùng dương, lúc mở nút điện nghe một tiếng nói, một giọng hát, một bản nhạc truyền thanh qua không gian, hoặc đọc một cột báo tường thuật ghi chép những chứng tích của Văn Hóa – nghĩ đến Việt Nam – đều mang trong tâm hồn hình ảnh đằm thắm của thành phố lớn rộng đã trở nên trung tâm sinh hoạt và phát huy của tất cả mọi lực lượng tinh thần đất nước giữa mùa kiến tạo.
Thành phố đổi khác. Thêm một tấm áo của Văn-Hóa khoác lên mình tấm áo của thiên nhiên. Nắng nhiệt đới chói chang vàng diệp bừng cháy thêm một thứ ánh sáng văn hóa càng ngày càng thắm thiết rực rỡ.

Không phải chỉ là những công trình kiến trúc với những đại lộ rộng thẳng, những ngã tư trùng điệp xe cộ, những công viên xanh mướt mầu cỏ bóng lá, những xưởng may vang vọng nhịp điệu sản xuất, những trường học, chợ búa sinh hoạt thường xuyên. Không phải chỉ là một khoảng không gian tập hợp một dân số đông đảo có chung một gốc nguồn, một lịch sử, một tương lai. Không phải chỉ là một thương cảng lớn đón nhận và gửi đi những kiện hàng những chuyến tầu.
Sài Gòn còn là thủ đô Văn-Hóa Việt Nam.
*
Từ một điểm son bé nhỏ vô nghĩa ghi trên tấm bản đồ hình thể xứ sở, đến những công trình xây dựng bề mặt, thành phố dựng lên theo chiều cao đang tỏa đi theo chiều rộng và thấm lắng xuống chiều sâu, để từ một đô thị miền Nam biến thành một thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước.

Sài Gòn đã đứng vào vị trí. Đã nhận nhiệm vụ mình. Sau khi Hà Nội đã từ bỏ vị trí nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa vượt vĩ-tuyến đã sáng lên ở đây, hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ mạnh sẵn có, Thành phố hòn ngọc của Á Châu tinh hoa của đất nước đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt nhất của một mùa văn hóa mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ, hệ thống.
Những công trình nghệ thuật đang được thể hiện song song với những công trình khoa học, kỹ-thuật. Thành phố từ một mảnh đất mầu mỡ trở nên một kho tàng. Đời sống đang đóng góp cho kho tàng này. Sự đóng góp về từ khắp nơi. Nhìn thấy ánh sáng văn hóa phát xuất trên bờ Cửu Long, chảy qua đại dương, băng qua lục địa, những con người văn hóa Việt Nam trên toàn thể thế giới đã ý thức được sự chuyển đổi trọng tâm, đã xuống một chuyến tầu biển, lên một chuyến máy bay vượt không gian về đặt chân xuống Thủ Đô Mới, hiến dâng phần kiến thức chuyên môn của mình vào cuộc dựng xây văn hóa. Người vẫn ở đây, người về từ hải ngoại, người đến qua vĩ tuyến, chung lưng trong sự nghiệp xây dựng toàn thể. Những chứng tích mới. Những phát minh mới. Kho tàng văn hóa đầy dần.

Thủ Đô lộng lẫy về hình thức, càng thêm rực rỡ tinh anh. Ánh sáng văn hóa hồng cháy, tỏa rộng, bốc lên, lan đi xa rộng. Ánh sáng của nghệ thuật, của khoa học, ánh sáng của đời sống, của con người là ánh sáng của thủ đô hôm nay. Ngọn lửa mới của văn hóa có một sức tác động lấn át cả thứ ánh sáng cố hữu của thiên nhiên trong xanh giữa mùa nắng lớn.

Từ hải ngoại, từ nội địa, ở khắp mọi miền núi rừng đồng nội, trên khắp các khu vực của đất nước, những xu hướng và khả năng tỉnh thần đều nghiêng xuôi về thủ đô miền Nam trở nên thủ đô toàn quốc, như những giòng suối chảy về một hội trùng dương. Những đoàn ghe thuyền ngược giòng những nhánh sông đầy của Tiền Giang Lục Tỉnh ăm ắp thóc lúa khoai sắn của những bàn tay cần lao của những miền đất đai phì nhiêu, ngày đêm suôi về những bến xá nằm trong phạm vi trung tâm văn hóa. Những ngả đường từ cao nguyên đổ xuống, những ngả đường từ duyên hải đi lên, đều mang hình ảnh của những giòng máu chảy về trái tim, những giây thần kinh chảy về đầu óc.

Trái tim, đầu óc là thành phố. Là trung tâm văn hóa. Là Sài Gòn. Sài Gòn sáng tạo và suy tưởng.
*
Người trở về từ hải ngoại giữa mùa mưa 56. Tôi đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất từ mùa nắng 54. Những người bạn đường đã sinh trưởng ở đây kể từ ngày thành phố xuất hiện trên những kinh rạch ẩm ướt đen tối. Những người bạn đường còn ở rải rác trên những đô thị thế giới, bên kia muôn ngàn trùng dương. Tất cả đời sống chúng ta, kể cả phần tâm tưởng thầm kín đến phần sinh hoạt thường nhật, đều hướng về Sài Gòn. Như những nhành hoa hướng dương nở về một phía bình minh. Như những bước chân đi về trạm hẹn. Mang trong lòng ít nhiều thiện chí xây dựng, rất nhiều tin tưởng, qua một ý niệm chân thành ở tiền đồ văn hóa đất nước, chúng ta đang lăn mình vào sinh hoạt văn hóa. Mỗi người, mỗi chỗ đứng là một vị trí nhỏ trong trung tâm văn hóa rộng lớn.

Chúng ta đến với một số mặc cảm. Trong tin tưởng có hoài nghi. Ý chí xây dựng cương quyết mà tâm hồn thì còn nhiều thắc mắc. Sự giao động này là một lẽ tất nhiên. Dĩ vãng buồn đau còn gửi về hình ảnh một thủ đô cũ, một trung tâm cũ. Niềm đắng cay của một thiện chí dựng xây nào đổ vỡ hoặc không thành. Anh còn nhớ đến cái ánh sáng lòa chói của những thủ đô văn hóa thế giới. Chúng ta đặt những bước chân bỡ ngỡ vào thành phố đã trở nên trung tâm, nên quê hương. Hiện tượng mới đột ngột. Thủ Đô văn hóa vừa được chọn ở đây. Nhưng rồi lăn mình vào sinh hoạt, đứng lại giữa vị-trí, những hoài nghi tan biến dưới những tin tưởng vững mạnh lên hình. Như sương mù tan đi trong ánh sáng. Như những tảng bóng tối dầy đặc rụng đổ lả tả giữa biển ngày trong veo.

Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam! Từ một hiện tượng đến một thực thể. Nền văn hóa dân tộc đặt định những nền tảng ở đây, đang phát huy ở đây bằng những nỗ lực sáng tạo của chúng ta – những con người hiện có mặt ở đây. Bằng những nỗ lực sáng tạo của những người bạn đường thế giới. Bằng những hành động đóng góp tương trợ của những dân tộc huynh đệ, những xu hướng văn hóa bằng hữu của thế giới.

Sài Gòn khác biệt với bất cứ một thủ đô nào của thế giới. Nhưng Sài Gòn cũng là một trong những thủ đô văn hỏa thế giới. Trên bản đồ đất nước, chúng ta ghi tên Sài Gòn: thủ đô văn hóa dân tộc hôm nay và ngày mai.

Mai Thảo
Sáng Tạo số 1 tháng 10/1956

Em Tan Vào Người Lạ. Thơ Hư Vô


Em tan vào người lạ
Nhịp guốc còn xôn xao
Có về đâu cũng đã
Cỏ mọc đầy chiêm bao.

Bước chân em quýnh quáng
Nhón qua đường dốc cao
Áo che mù góc nắng
Biết em đi lối nào!

Tôi lao vào mây trắng
Níu chiếc bóng muôn trùng
Em bỏ đi thì cũng
Còn chút buồn ở chung.

Để những lần em khóc
Sẽ không thấy lẻ loi
Trong mỗi giọt nước mắt
Nhỏ xuống tượng hình tôi.

Như mây chiều dáng núi
Phất phơ giữa cuộc người
Có bước qua bóng nắng
Cũng hoang phế tả tơi.

Còn nghe tiếng em gọi
Giữa trời đất lao xao
Dậy mùi hương dị ảo
Tan vào người lạ nhau…

Hư Vô

Mục Lục 44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại


Luân Hoán

(Hình tập 1 và 2 trong 7 tập: “44 Năm Văn-Học Việt-Nam Hải-ngoại (1975-2019)”

Tuyển tập 44 Năm Văn Học Việt-Nam Hải Ngoại (1975-2019) do nhà văn/họa sĩ Khánh Trường, nhà thơ Luân Hoán và nhà biên khảo Nguyễn Vy Khanh thực hiện, vừa được nhà Mở Nguồn / Nhân Ảnh (Hoa-Kỳ) xuất-bản, được thực hiện với mục-đích ghi dấu lịch sử và những thăng trầm, biến đổi của dòng văn học Việt-Nam vì hoàn cảnh đã phải thiên cư ra khỏi nước. Dòng văn-học này với nội dung cá biệt và những nhân tố rõ rệt, đã góp phần gìn giữ văn hóa Việt Nam.

Hơn 300 nhà văn nhà thơ và phê-bình, biên-khảo văn-học góp mặt là những người đã từng hoặc đang sinh hoạt văn học nghệ thuật ở hải ngoại và gần 50 vị sinh sống ở trong nước nhưng đã cộng tác, đăng bài hoặc xuất bản tác phẩm ở ngoài nước. Chúng tôi cũng cố gắng giới thiệu một số các tác-giả đã quá cố. Có những nhà văn thơ không có mặt trong tuyển tập hoặc do chúng tôi không liên lạc được hoặc vì một lý do nào đó đã không tham gia. Riêng các tác giả từng có mặt trong tuyển tập 20 Năm Văn Học Việt-Nam Hải Ngoại 1975-1995 do nhà Đại Nam xuất-bản năm 1995, chúng tôi giữ nguyên phần giới thiệu nếu như không thể liên lạc được và nhận cập nhật.

Cộng đồng Việt Nam hải-ngoại hình thành đã được 44 năm! Thời gian đủ dài để một lớp người, do hoàn cảnh lịch sử, phải bỏ nước ra đi và dần dà tạo được một cộng đồng không ngừng phát triển, lớn mạnh, từ non trẻ đến trưởng thành về nhiều mặt, trong đó không thể không nói đến văn học. Khối óc và trái tim của cộng đồng. Cũng do hoàn cảnh lịch sử, người Việt ngụ cư khắp nơi trên thế giới, lớp sau tiếp nối lớp trước, rồi thế hệ thứ 2, thứ 3,… làm nên một nền văn-học viết bằng tiếng Việt ở hải-ngoại rất đỗi phong phú , đa dạng, đa văn hóa, và nhất là dân chủ, tự do, khai phóng!

Trước ngày 30 tháng Tư 1975, văn học miền Nam từng phát triển và hiện đại hóa không ngừng, đã được những người ra đi mang theo, để rồi trải dài hơn bốn thập kỷ, cho đến hôm nay. Chúng ta hãy nhìn lại quá trình hình thành nền văn học này. 44 năm, đã có nhiều giai đoạn: di tản, lưu vong (phôi thai, 1975-1979), trở nên tị nạn chính trị (hình thành, 1980-86), rồi thời hy-vọng và hợp lưu (trưởng thành, 1987-1991), kế tiếp là hoài niệm (1992-2000) và sau cùng là lão hóa và chuyển động thế kỷ (2001-2019).

Trân trọng giới thiệu với quý độc giả bộ tuyển tập văn-học gồm 7 tập, mỗi tập trên dưới 700 trang.

TÁC GIẢ GÓP MẶT TRONG TUYỂN TẬP 44 NĂM VĂN HỌC VIỆT-NAM HẢI NGOẠI (1975-2019)

MỤC LỤC 

Tập 1: Vần A, B, C, D

*Lời cảm ơn – Khánh Trường7
*Danh sách tác giả8
*Lời tựa11
1.Ái Cầm27
2.Bạt Xứ35
3.Bắc Phong39
4.Bùi Bảo Trúc49
5.Bùi Bích Hà65
6.Bùi Vĩnh Phúc79
7.Cái Trọng Ty105
8.Cao Bình Minh115
9.Cao Đông Khánh151
10.Cao Mỵ Nhân162
11.Cao Nguyên168
12.Cao Tần (Lê Tất Điều)173
13.Cao Xuân Huy196
14.Chân Phương209
15.Chim Hải213
16.Chu Vương Miện219
17.Cung Tích Biền226
18.Cung Trầm Tưởng253
19.Cung Vũ258
20.Diên Nghị275
21.Doãn Quốc Sỹ282
22.Du Tử Lê312
23.Duyên Anh347
24.Dư Mỹ361
25.Dương Kiền366
26.Dương Như Nguyện405
27.Dương Thu Hương410
28.Đặng Hiền426
29.Đặng Mai Lan434
30.Đặng Phú Phong449
31.Đặng Phùng Quân457
32.Đặng Thơ Thơ476
33.Đặng Tiến503
34.Đinh Cường524
35.Đinh Huyền Dương536
36.Đoàn Nhã Văn543
37.Đoàn Nhật575
38.Đoàn Thêm579
39.Đoàn Xuân Kiên595
40.Đỗ Hoàng Diệu616
41.Đỗ Kh.644
42.Đỗ Quí Toàn665
43.Đỗ Quyên672
44.Đỗ Trường693
45.Đông Duy704
46.Đức Phổ743

MỤC LỤC
Tập 2: Vần G, H, K, L

1. Giang Hữu Tuyên 13
2. Hà Huyền Chi 20
3. Hà Kỳ Lam 25
4. Hà Nguyên Du 44
5. Hà Thúc Sinh 55
6. Hà Thượng Nhân 69
7. Hạ Quốc Huy 78
8. Hạ Uyên 97
9. Hàn Song Tường 101
10. Hoa Văn 111
11. Hoài Ziang Duy 117
12. Hoàng Anh Tuấn 124
13. Hoàng Chính 131
14. Hoàng Du Thụy 137
15. Hoàng Khởi Phong 153
16. Hoàng Lộc 176
17. Hoàng Mai Đạt 181
18. Hoàng Nga 205
19. Hoàng Ngọc Tuấn 215
20. Hoàng Phủ Cương 225
21. Hoàng Quân 229
22. Hoàng Thị Bích Ti 243
23. Hoàng Xuân Sơn 260
24. Hồ Đình Nghiêm 267
25. Hồ Minh Dũng 275
26. Hồ Phú Bông 288
27. Hồ Trường An 298
28. Huy Trâm 319
29. Huy Tưởng 322
30. Huỳnh Hữu Ủy 327
31. Huỳnh Liễu Ngạn 337
32. Hư Vô 341
33. Khánh Trường 345
34. Khế Iêm 375
35. Kiệt Tấn 388
36. Kiều Diễm Phượng 401
37. Kinh Dương Vương 411
38. Lâm Chương 437
39. Lâm Hảo Dũng 467
40. Lãm Thúy 479
41. Lâm Vĩnh Thế 485
42. Lê An Thế (Lê Bi) 521
43. Lê Cần Thơ 527
44. Lê Đại Lãng 547
45. Lê Giang Trần 563
46. Lê Hân 570
47. Lê Lạc Giao 580
48. Lê Mai Lĩnh 601
49. Lê Minh Hà 613
50. Lê Nguyên Tịnh 638
51. Lê Phương Nguyên 642
52. Lê Thị Huệ 651
53. Lê Thị Nhị 662
54. Lê Thị Thấm Vân 675
55. Lê Thị Ý 687
56. Lê Uyên Phương 691
57. Lê Văn Tài 698
58. Lệ Hằng 704
59. Liễu Trương 718
60. Linh Vang 732
61. Luân Hoán 742
62. Lương Thư Trung 763
63. Lưu Diệu Vân 773
64. Lưu Nguyễn 777
65. Lữ Quỳnh 783

MỤC LỤC
Tập 3: Vần M, N (1)

1.M.H. Hoài Linh Phương 13
2.Mai Khắc Ứng18
3.Mai Ninh33
4.Mai Thảo60
5.Mai Trung Tĩnh66
6.Miêng73
7.Minh Đức Hoài Trinh 87
8.Nam Dao104
9.Nghiêu Đề137
10.Ngọc (Ngọc Nguyễn) 144
11.Ngọc Khôi152
12.Ngô Du Trung192
13.Ngô Nguyên Dũng211
14.Ngô Thế Vinh227
15.Ngu Yên237
16.Nguyên Lương247
17.Nguyên Nghĩa251
18.Nguyên Sa256
19.Nguyên Vũ267
20.Nguyễn Âu Hồng277
21.Nguyễn Bá Trạc306
22.Nguyễn Chí Kham325
23.Nguyễn Đăng Thường 358
24.Nguyễn Đăng Trúc 375
25.Nguyễn Đăng Tuấn 497
26.Nguyễn Đình Toàn 401
27.Nguyễn Đông Giang 416
28.Nguyễn Đông Ngạc 420
29.Nguyễn Đức Bạt Ngàn 435
30.Nguyễn Đức Lập446
31.Nguyễn Hải Hà464
32.Nguyễn Hàn Chung 468
33.Nguyễn Hoàng Nam 475
34.Nguyễn Hoàng Văn 487
35.Nguyễn Hưng Quốc 504
36.Nguyễn Hương513
37.Nguyễn Hữu Nhật537
38.Nguyễn Lương Vỵ552
39.Nguyễn Mạnh An Dân 564
40.Nguyễn Mạnh Trinh 617
41.Nguyễn Minh Nữu623
42.Nguyễn Minh Phương 639
43.Nguyễn Mộng Giác 655
44.Nguyễn Nam An693
45.Nguyễn Ngọc Ngạn 707
46.Nguyễn Phước Nguyên 725
47.Nguyễn Sao Mai733
48.Nguyễn Tấn Hưng737
49.Nguyễn Tất Nhiên748
50.Nguyễn Thanh Châu 752

MỤC LỤC
Tập 4: Vần N(2), P

1. Nguyễn Thị Hải Hà 13
2. Nguyễn Thị Hoàng Bắc 29
3. Nguyễn Thị Minh Ngọc 46
4. Nguyễn Thị Ngọc Lan 54
5. Nguyễn Thị Ngọc Nhung 80
6. Nguyễn Thị Thanh Bình 103
7. Nguyễn Thị Vinh 109
8. Nguyễn Tiến 120
9. Nguyễn Trung Hối 123
10. Nguyễn Vạn Lý 133
11. Nguyễn Văn Sâm 152
12. Nguyễn Văn Trung 161
13. Nguyễn Vy Khanh 191
14. Nguyễn Xuân Hoàng 210
15. Nguyễn Xuân Quang 218
16. Nguyễn Xuân Thiệp 261
17. Nguyễn Xuân Tường Vy 271
18. Nguyễn Ý Thuần 287
19. Nhã Ca 299
20. Nhật Tiến 316
21. Như Quỳnh de Prelle 334
22. Phạm Cao Hoàng 344
23. Phạm Chi Lan 354
24. Phạm Công Thiện 368
25. Phạm Hải Anh 376
26. Phạm Hồng Ân 393
27. Phạm Miên Tưởng 399
28. Phạm Ngũ Yên 402
29. Phạm Nhã Dự 422
30. Phạm Quốc Bảo 428
31. Phạm Thăng 441
32. Phạm Thị Hoài 463
33. Phạm Thị Ngọc 473
34. Phạm Trần Anh 495
35. Phạm Văn Nhàn 507
36. Phạm Việt Cường 517
37. Phan Huy Đường 524
38. Phan Lạc Tiếp 548
39. Phan Nguyên 565
40. Phan Nhật Nam 578
41. Phan Nhiên Hạo 597
42. Phan Ni Tấn 608
43. Phan Quỳnh Trâm 613
44. Phan Tấn Hải 618
45. Phan Tấn Uẩn 632
46. Phan Thị Trọng Tuyến 647
47. Phan Việt Thủy 692
48. Phan Xuân Sinh 705
49. Phùng Nguyễn 711
50. Phương Tấn 729
51. Phương Triều 734

MỤC LỤC
Tập 5: Vần Q, S, T(1)

1. Quan Dương 13
2. Quyên Di 19
3. Quỳnh Thi 37
4. Sĩ Trung 49
5. Song Hồ 65
6. Song Nhị 68
7. Song Thao 77
8. Song Vinh 95
9. Sương Mai 100
10. Sỹ Liêm 107
11. Tạ Tỵ 126
12. Tâm Thanh 140
13. Thái Tú Hạp 150
14. Thái Tuấn 156
15. Thanh Nam 161
16. Thanh Tâm Tuyền 168
17. Thành Tôn 174
18. Thảo Trường 187
19. Thận Nhiên 207
20. Thế Giang 217
21. Thế Uyên 242
22. Thi Vũ 264
23. Thu Nga 270
24.Thu Thuyền 285
25. Thụy Khuê 303
26. Thường Quán 347
27. Tiểu Thu 354
28. Tiểu Tử 367
29. Tô Thùy Yên 377
30. Tôn Nữ Thu Dung 389
31. Trạch Gầm 393
32. Trang Châu 398
33. Trầm Phục Khắc 412
34. Trân Sa 417
35. Trần Dạ Từ 432
36. Trần Diệu Hằng 458
37. Trần Doãn Nho 472
38. Trần Đại Sỹ 499
39. Trần Hạ Vi 527
40. Trần Hoài Thư 534
41. Trần Hồng Châu 538
42. Trần Hồng Hà 544
43. Trần Long Hồ 577
44. Trần Mộng Tú 594
45. Trần Phù Thế 606
46. Trần Thị Diệu Tâm 611
47. Trần Thị Hương Cau 621

MỤC LỤC
Tập 6: Vần T(2), U, V, X, Y

1.Trần Thị Kim Lan13
2.Trần Thị Lai Hồng33
3.Trần Thu Miên46
4.Trần Trúc Giang59
5.Trần Trung Đạo68
6.Trần Văn Nam75
7.Trần Văn Sơn96
8.Trần Vũ104
9.Trần Yên Hòa121
10.Triều Hoa Đại130
11.Triệu Châu134
12.Trịnh Gia Mỹ154
13.Trịnh Khắc Hồng162
14.Trịnh Thanh Thủy169
15.Trịnh Y Thư175
16.Trung Hậu181
17.Trùng Dương187
18.Trương Anh Thụy219
19.Trương Văn Dân237
20.Trương Vũ253
21.Túy Hồng265
22.Tường Vũ Anh Thy 281
23.Tưởng Năng Tiến290
24.Uyên Nguyên297
25.Vi Khuê313
26.Vĩnh Hảo327
27.Võ Đình345
28.Võ Hoàng360
29.Võ Kỳ Điền371
30.Võ Phiến385
31.Võ Phú410
32.Võ Phước Hiếu425
33.Võ Quốc Linh464
34.Võ Thị Điềm Đạm474
35.Vũ Huy Quang488
36.Vũ Kiện495
37.Vũ Quỳnh Hương502
38.Vũ Quỳnh N.H.537
39.Vũ Thị Thanh Mai550
40.Vũ Thùy Hạnh575
41.Vũ Thư Hiên582
42.Vũ Trà My605
43.Vũ Uyên Giang610
44.Vương Đức Lệ635
45.Vương Trùng Dương 640
46.Xuân Vũ660
47.Xuyên Trà679
48.Y Chi685
49.Yên Sơn711

MỤC LỤC
Tập 7: Quốc Nội

1.Bùi Chát13
2.Bùi Ngọc Tấn19
3.Bùi Thanh Minh53
4.Cao Thoại Châu67
5.Dung Thị Vân74
6.Dương Nghiễm Mậu 80
7.Đặng Châu Long108
8.Đoàn Văn Khánh118
9.Hoàng Hưng127
10.Khoa Hữu137
11.Khuất Đầu143
12.Lê Văn Trung150
13.Lê Vĩnh Thọ164
14.Nguyên Cẩn175
15.Nguyên Minh186
16.Nguyễn An Bình208
17.Nguyễn Dương Quang 221
18.Nguyễn Hiến Lê225
19.Nguyễn Hữu Hồng Minh 292
20.Nguyễn Huy Thiệp 304
21.Nguyễn Lệ Uyên340
22.Nguyễn Thành357
23.Nguyễn Thụy Long 366
24.Nguyễn Tôn Nhan387
25.Nguyễn Văn Gia397
26.Nguyễn Viện404
27.Như Không421
28.NP Phan436
29.Phạm Hiền Mây441
30.Phạm Ngọc Lư450
31.Phan Huyền Thư458
32.Phùng Cung464
33.Thiếu Khanh497
34.Tiêu Dao Bảo Cự507
35.Trần Dzạ Lữ532
36.Trần Mạnh Hảo549
37.Trần Thị Ng.H.576
38.Trần Vạn Giã600
39.Trần Vàng Sao607
40.Văn Quang618
41.Vy Thượng Ngã649
42.Xuân Thao670

Luân Hoán

(Nguồn: FB Luân Hoán)


Nguyễn Đình Toàn – Nước Mắt Cho Sài Gòn. Tùy bút Trần Yên Hoà


Trần Yên Hòa

(Chân dung văn thi sĩ Nguyễn Đình Toàn)

Năm 1966, tôi đang học đại học ở Sài Gòn thì cha tôi ở quê viết thư vào bảo: “Quê mình mất an ninh rồi, cha mẹ phải bỏ quê mà tản cư xuống quận lỵ tỵ nạn. Trong một đêm, địch về làng bắn giết, đốt phá nhà cửa của cán bộ làm việc bên phe quốc gia nhiều lắm, cha mẹ sợ quá nên phải tản cư xuống quận lỵ tạm trú, chứ ở quê không yên. Con cố gắng tự túc đi học nghe con.” Tôi đọc thư mà nghe buồn bã quá. Tìm đọc trên mục rao vặt trên các báo Chính Luận, Công Luận, tôi đi dạy kèm, đi giặt đồ cho một công ty thầu giặt đồ cho lính Mỹ, mà lương lậu chẳng đâu vào đâu. Tôi học không vô nữa, bèn nộp đơn xin đi dạy theo một thông cáo tuyển lựa giáo sư tư nhân dạy giờ của Bộ Giáo Dục. Sau đó mấy tháng, tôi được giấy của bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy ở trường trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Với nỗi buồn vui lẫn lộn. Buồn vì phải bỏ giảng đường đại học mới tập tểnh bước vào mấy năm. Vui vì mình sắp bước vào con đường mới, con đường dạy học. Đó cũng là mộng ước của tôi thời niên thiếu. Với lại, Quảng Ngãi tôi chưa biết đến bao giờ. Và cả Mộ Đức, một quận lỵ, vẫn nghe đồn rằng, đó là vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm “giải phóng”. Nhưng tôi lại nghĩ, mình chỉ là thầy giáo quèn, gỏ đầu trẻ, có gì đâu mà sợ, nên tôi cũng vững tâm đến đó.

Mộ Đức là một quận lỵ buồn, không có phố xá, chỉ có con đường quốc lộ một chạy qua. Bộ chỉ huy chi khu và văn phòng quận hành chánh đóng chung bên kia đường, đối diện trường trung học, do một trung úy bộ binh làm quận trưởng kiêm luôn chi khu trưởng.

Tôi đã dạy học ở đó với những em học sinh tóc cháy vàng vì nắng gió và nhờ đó mà tôi vui.

Những buổi chiều quận lỵ thật buồn. Chênh chếch phía bên kia đường có một loa phóng thanh của chi thông tin bắt trên ngọn cây, hàng ngày thường mở đài Sài Gòn hay đài Quảng Ngãi cho dân chúng nghe tin tức. Một buổi chiều, cũng như mọi buổi chiều khác, tôi được nghe từ loa phóng thanh, một bài hát có tên Tình Khúc Thứ Nhất được xướng ngôn viên giới thiệu tác giả là Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn, bản nhạc này, nhạc đã hay mà lời cũng quá hay:

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi

Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế

Lúc này, Vũ Thành An và Nguyễn Đình Toàn chứa nổi, tác giả chỉ là cái tên, nhưng bản nhạc quá hay nên có tôi cảm tình với tác giả ngay, nhất là tác giả viết lời. Lúc đó, tôi cứ nghĩ Vũ Thành An đã phổ từ một bài thơ nào đó của Nguyễn Đình Toàn. Nhưng sau này, khi tôi đọc trên một tờ báo nào đó, mới biết là nhạc phẩm này của Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn viết lời.

Chúng ta hãy đọc lại mấy câu, ông dùng ngôn ngữ rất lạ mà rất thơ:

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy…
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Bản nhạc này, tôi nghe (sau đó được nghe lại mấy lần) và tự nhiên thuộc lời, rồi tôi đã đem lời nhạc này đọc cho học sinh trong lớp tôi dạy (vì tôi dạy môn Việt văn nên tôi tha hồ mà bình luận, bốc phét, thêm nhưn nhị vào bài thơ, những ý tưởng mà có lẽ tác giả cũng không nghĩ ra). Có thể nhờ bản nhạc này mà tôi có một (vài) mối tình rất thơ với một (vài) cô gái Mộ Đức, một cô gái có tên là Nề, mà sau này tôi có viết trong một truyện ngắn, truyện Nề xưa. Bây giờ tất cả đã xa lắc lơ, chỉ còn là kỷ niệm. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn.

Sau này, cũng thời gian năm 66 hay 67 gì đó, tôi có đọc một bài thơ của Nguyễn Đình Toàn ở đâu đó, và rất mê. Nhưng lâu rồi cũng quên nhan đề, sau khi tìm kiếm, lục lọi, mới biết đó là bài Khi Em Về. Tôi xin ghi lại như sau:

Khi em về

Quê mẹ đấy ưu phiền nhiều quá lắm
Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo
Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng
Đi qua dần khi nước mắt buông theo

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá

Khi em về bước chân chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã lắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim

Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che

Nguyễn Đình Toàn còn có bài thơ Khúc Ca Phạm Thái cũng rất nổi tiếng. Bài thơ ghi lại hình ảnh chàng tráng sĩ Phạm Thái yêu Trương Quỳnh Như, em ruột của người bạn thân là Trương Quang Ngọc, mối tình đó đã trở thành tình sử trong văn học Việt Nam mà Khái Hưng đã viết thành tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Bài thơ với ngôn ngữ mang mang hào sảng, nói lên chí khí của người tráng sĩ mang gươm đi cứu nước, nhưng thất bại, phải dẹp bỏ cuộc tình riêng, giọng thơ hào khí ngất trời. (hơi thơ giống bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác). Cho nên trong những cuộc vui chơi với bằng hữu, những người thích thơ, biết làm thơ hay cảm thơ, mỗi khi ngồi uống rượu với nhau thường ngâm bài thơ này:

Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề, sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Chí nhỏ lòng kiêu, đổ thưà vận rủi,
Tài sơ sức mỏi, trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ,
Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng.

Em ơi tám hướng sông hồ,
Mười năm ngang dọc, bây giờ là đây ..
Sự đời chừ đã trắng tay,
Ngủ vùi một giấc, cho đầy gối tham .
Ta say hay ta tỉnh?
Nàng buồn hay nàng vui?
Ngọc châu pha vỡ tiếng cười ,
Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau .

Từ lâu, nghĩa là từ trước năm bảy lăm, tôi nghĩ là Nguyễn Đình Toàn chỉ làm thơ và viết văn thôi, nếu cùng lắm thì ông đặt lời cho nhạc như bài Tình Khúc Thứ Nhất. Nhưng sau này tôi biết ông còn sáng tác nhạc, ông viết rất nhiều ca khúc. Trong những ca khúc của ông tôi thích đâu 3, 4 bài, như bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, mà nhiều người biết đến, sau đây:

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên – như dòng sông nước quẩn quanh buồn – như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không…
Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao – trong niềm vui tiếng hỏi câu chào – sáng đời tươi thắm vạn sắc màu – còn gì đâu…”

Theo tôi, bản nhạc này là bản nhạc hay nhất của nhạc Việt Nam viết về Sài Gòn sau khi mất nước và lúc Sài Gòn đã thay đổi tên. 2 bản đứng thứ nhì đồng hạng là bài Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng và bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Du Tử Lê. Sau rót mới đến bản Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc. Bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt được mọi người biết đến nhiều có lẽ nhạc phẩm này ra đời sớm, khoảng đâu sau bảy lăm một hai năm, trong lúc đó, lòng người Việt Nam, nhất là những người di tản từ ba mươi tháng tư bảy lăm, luôn luôn khắc khoải trong lòng nổi nhớ quê hương, mà Sài Gòn là biểu tượng một quê hương trong lòng mọi người, nên mất đi Sài Gòn, rời xa Sài Gòn, ai cũng tưởng tiếc, cũng nhớ về. Kể cả những người đi ở tù cộng sản như chúng tôi, khi nghe bản Vĩnh Biệt Sài Gòn (được đưa chui vào trại tù), chúng tôi nghe cũng thật bùi ngùi, cảm động (lúc đó tôi ở Long Khánh, có tin truyền miệng nhạc phẩm Vĩnh Biệt Sài Gòn là của một sĩ quan sư đoàn 5 bộ binh sáng tác). Đến khi qua Mỹ, tôi mới biết tác giả là Nam Lộc. Và theo tôi đánh giá về nghệ thuật, bản nhạc này lời rất giản dị, bình thường, ca từ không có gì mới lạ, có nhiều câu, suy cho kỹ thì phản ý của người di tản hay người vượt biên, ví dụ như câu “bây giờ tôi như con thú hoang lạc đàn”, sao lại là “con thú hoang”? Nếu như vậy thì đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước bảy lăm và những người sống trong đất nước đó là đàn thú hoang sao?. Và sau đó có những câu như “Sài Gòn ơi ta xin hứa là ta sẽ về.” Sao đã vĩnh biệt rồi, như theo đề tựa, vĩnh biệt là không bao giờ gặp lại, mà sao hứa sẽ trở về? Cho nên, bản nhạc này được nhiều người nghe là do tâm trạng thương nhớ Sài Gòn có sẳn trong lòng, chứ không phải là bản nhạc hay.

Nguyễn Đình Toàn sáng tác nhạc rất nhiều, sau khi ra hải ngoại ông đã cho ra mắt 2 CD, đó là: Hiên Cúc Vàng với chỉ một giọng ca Khánh Ly, và Tình Ca Việt Nam với Duy Trác, Khánh Ly, Sĩ Phú, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.
Nhạc Nguyễn Đình Toàn mang hơi hám của một người lưu vong luôn luôn nhớ về những kỷ niệm cũ, một hoài niệm không rời với hồi ức, thường buồn hơn vui, đã đưa người nghe vào một không gian âm thanh sâu lắng, không sôi nỗi xáo động, nó trầm lắng, dịu dàng, nên lớp người cũ đã sống trước bảy lăm ở miền Nam rất thích nghe.

Từ Giờ Ra Chơi đến Áo Mơ Phai

Truyện Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1970. Tôi mua quyển truyện này tại một tiệm sách ở khu Hòa Bình trong một chủ nhât đi phép. Đời SVSQ/CTCT ngày phép thường ra bát phố Đà Lạt, sau khi đã vào tiệm tắm nước nóng tắm để rũ sạch bụi đỏ quân trường, sau đó đi ăn phở Bằng hay vào quán Tùng uống cà phê hay ra bờ Hồ Xuân Hương vào Thủy Tạ ăn kem. Nhưng tôi thì hay đi loanh quanh mấy tiệm sách để tìm mua những tác phẩm mới xuất bản của các nhà văn mình yêu thích. Thời điểm đó, truyện dài Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn mới phát hành nên tôi nhìn thấy là chộp mua ngay.

Giờ Ra Chơi kể lại mối tình của cô gái học trò Đà Lạt tên Thục và tình yêu của tuổi mới lớn của Thục. Truyện nhẹ nhàng êm dịu, thơ mộng như trời mây non nước xứ Đà Lạt. Lúc này tôi có một người bạn gái là một cô học trò trường Hồng Đức, Đà Nẵng, tôi liền mua thêm một cuốn gởi về tặng cô gái và tả tình tả cảnh Đà Lạt, cũng như mối tình đẹp của cô học trò tên Thục trong truyện. Tôi cố rũ người bạn gái lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh để được gần tôi, cuối cùng cô gái nghe lời “dụ dỗ” của tôi mà lên Đà Lạt theo học. Rất tiếc là khi cô lên Đà Lạt thì tôi cũng xong hai năm thụ huấn. Tôi đổi đi xa nên mối tình cũng bay theo sương khói.

Áo Mơ Phai, tập truyện dài của Nguyễn Đình Toàn đăng “phơidơtông” ở Nhật Báo Tiền Tuyến, được nhiều người đón nhận, theo dõi say mê từng ngày. Sau này in thành sách và được giải văn chương toàn quốc năm 1972.

Truyện Áo Mơ Phai kể lại những mối tình thơ mông ở Hà Nội trước ngày di cư năm 1954, khi Hà Nội còn là ngàn năm văn vật đất Thăng Long, cùng với một Hà Nội thơ mộng trữ tình là sự dùng dằng, ra đi hay ở lại của những người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử năm 1954, chia đôi đất nước.

Chúng hãy đọc một đoạn ngắn trong Áo Mơ Phai khi tác giả tả những cái đáng yêu của Hà Nội:

“Những tiếng động nhỏ ấy, những hương vị mờ nhạt ngửi thấy, cây cối trong mùa mưa, phấn hương của người quen thuộc, những món ăn, thức uống, những câu thơ, những bài hát, Hà Nội giống như một cái chuông và những tiếng kêu ấy là những cách khua động, người ta tự gõ vào trí tưởng mình, tự xé lòng mình, để nhẹ bớt nỗi nhớ mong, ám ảnh của Hà Nội, Hà Nội đã biến thành khuôn mặt người tình đầu tiên, khi người ta ghé môi hôn thì cũng là lúc cái hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm khảm. Những khu phố dịu dàng dưới sương đêm, sáng cái ánh sáng của vầng trăng lúc nào cũng giống như, trăng khi còn thơ ấu, và những cơn gió nhẹ thổi trên các lối đi, thổi lên các cành cây, chẳng khác những hơi thở nồng nàn tình ái, người ta không thể biết rõ cái vẻ dịu dàng của Hà Nội được tẩm đẫm nhan sắc, dáng vẻ của những người đàn bà, những cô gái Hà Nội, hay chính những người này thừa hưởng cái không khí êm đềm đó, những trận gió mang đầy hơi phù sa của sông Hồng, mùi cỏ của con đê Yên Phụ, mùi rượu ngang, rêu phong của những mái nhà cũ kỹ, của những bức tường thành của ngày Hà Nội bị xâm chiếm xa xưa, của các xưởng máy, của hoa đào, hoa sấu, sắc đỏ của những bông gạo vừa tàn rụng hết trong ngày hè với muôn ngàn tiếng chim kêu hót…”

Nguyễn Đình Toàn đã hiến cho đời những tác phẩm hay, với riêng với tôi, tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn đã theo bước chân thời gian của cuộc đời đeo đuổi tôi, qua những cuộc tình học trò, sinh viên, thơ mộng, dịu êm. Còn ngoài đời, tôi chỉ gặp ông đâu có hai, ba lần gì đó, cũng chẳng được dịp nói chuyện lâu, nhưng trong lòng tôi, lúc nào cũng mến mộ Nguyễn Đình Toàn.

Rất cảm ơn nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Trần Yên Hoà

Quán Thơ Hư Vô 333


ĐIỆP KHÚC CHIỀU THÁNG BA

Sài gòn chiều mưa thời xanh tóc
Vỉa hè cỏ mọc dấu chân em
Đường Duy Tân hay Trần Quý Cáp
Chỗ nào cũng thấy rất còn quen.

Em đã không về nơi ấy nữa
Phố xá chờ nhau lạnh bóng chiều
Áo phai chưa hết đời lãng tử
Mà hồn tôi đầy vết rong rêu.

Cà phê sóng sánh ngang đáy tách
Nguyễn Du buồn nhớ mắt Thuý Vân
Điệp khúc của ngày tình con gái
Còn khua vang nhịp guốc thật gần.

Của những lần Sài gòn mưa tới
Chiều xanh xao góc phố Brodard
Giọt cà phê chờ ai buông chậm
Cho buồn về kịp giữa tháng ba…

Hư Vô

TRĂN TRỞ

Ngày… quay cuồng nhịp sống
Đêm …nỗi nhớ tượng hình
Đời dài như cơn mộng
Trăn trở đợi bình minh…

Nắng hạ về len lén
Soi nhan sắc úa tàn
Đời bao lần lỡ hẹn
Cuộc tương phùng nhân gian…

Tháng hai đi qua vội
Hoa sứ rụng sân nhà
Tình xa không tạ lỗi
Buồn dài đến tháng ba …

Em về trang điểm lại
Rạng rỡ mắt môi cười
Dấu tình yêu mãi mãi
Cất giử cho một người …

Mực Trắng LT

QUÁ GIANG

Những trái bơ không còn chín nữa
Cây thông già bỗng trút lá, chung thân
Con mắt thiên văn con mắt lửa
Đốt người hóa thạch tự ngàn năm.

Những chùm nho chín đầy tay áo
Người mang đi không hẹn lúc quay về
Biển đã chết và im lìm giông bão
Ta ngồi đây mơ mãi cuộc chia ly.

Thì cứ vẽ từng đường hương sắc
Của bốn mùa lũ lượt sang trang
Của ánh mắt hoang vu mù bạc
Xin quá giang một chuyến phai tàn.

Ta đã thấy những mùa lúa chín
Chẳng một ai gồng gánh mang về
Bầy cá chết trên dòng sông rộng
Và mỗi ngày chết một bình minh.

Lý Thừa Nghiệp

LỤC BÁT MÙA XUÂN

Giang tay ta đón mùa xuân,
Như là hạnh phúc một lần ước mơ.
Lá xuân đan một bài thơ,
Gió xuân thổi đến sợi tơ nguyệt hồng.

Tóc em bồ kết thơm nồng,
Em – mùa xuân đến – để lòng tôi say.
Tình xuân e ấp đôi tay,
Thẹn thùng má đỏ, ơ hay anh này…

Thì thầm xuân mới cầu may,
Thơ xuân lục bát vui ngày đầu năm…
Cho nhau lời hứa trăm năm,
Tim bao nhiêu nhịp, đầy ngăn xuân cười.

Mây xuân tình tự lả lơi,
Với tay gom hết góc trời riêng ta.
Xuân em áo lụa mượt mà,
Xuân anh một giải ngân hà đêm nay…

trầnthịminhchâu

PHÓNG SINH THƠ

Khi mặt đất bốc mùi quái lạ
Cường quốc mơ thả rác mộng lên trời
Ta phóng sinh những bài thơ cánh cụt
Không đường bay rụng xuống phai phôi

Lạc phương hướng trong tầm nhìn vô cảm
Hỏa mù che mờ mịt dấu âm hồn
Vẫn lấp lánh giữa khoảng không thầm lặng
Những vì sao đơn độc giữ thiên lương

Nhấp nhô bám niềm đau trên biển động
Những câu thơ xé sóng quặn yên bình
Những khát vọng mãi xanh màu hy vọng
Từng đêm dài trăng thanh tẩy tâm linh

Bẻ đôi cánh hảo huyền chôn huyễn mộng
Thân hạt tiêu chen chúc dưới đời thường
Cố lắng đọng từng giờ sau vọng động
Ôm cội tình nâng niu trái yêu thương

Ru tĩnh mịch ngủ trong mùa huyên náo
Cỡi ưu phiền rong ruổi với nhân gian
Phóng sinh thơ khỏi phận người lơ láo
Trò điêu ngoa phong thánh phong thần…

Lưu Xông Pha

VỀ QUA SÔNG HẬU

Tháng giêng ta về qua sông Hậu
Khói sóng có làm cay mắt em
Trên cầu chỉ thấy mây vô định
Buồn rơi theo từng tiếng vạc đêm.

Bạn ơi đừng hỏi sao ta nhớ
Nửa thế kỷ buồn hơn chiêm bao
Thời gian trôi bóng chiều trong gió
Nghiêng ngả bên nào cũng đớn đau.

Có nghe tiếng dế ngày thơ ấu
In dấu hài xanh của thuở nào
Có nghe vị ngọt từ hương bưởi
Đôi bờ ai có nhớ thương nhau?

Vắt kiệt phù sa theo sóng nước
Nông sâu nào biết bến không bờ
Em xa từ thuở trăng mười sáu
Nên tình chia nhánh tự ngàn xưa.

Tháng giêng ta về qua sông Hậu
Có thấy hoàng hôn trong mắt sâu
Có thấy cánh chim vờn trên sóng
Tơ trời em giữ lại đời nhau?

Nguyễn An Bình

EM MANG THEO MÙA THU

Thung lung buồn đâu phải bởi sương mù
Tìm không ra đâu phải bởi mùa thu
Nắng đã không về trên đó nữa
Ai nhắc dùm tôi tháng mấy rồi?

Con đường quanh hồ đâu có xa
Thông cứ đứng, đứng dài như chờ đợi
Còn tôi cứ đi, đi hoài mà không tới
Gặp lại mùa thu em đã mang theo.

Một mùa thu không có lá vàng rơi
Che bước chân em quay đi rất vội
Bỏ lại cuộc tình rơi trong đêm tối
Đường Quang Cư dài vời vợi nỗi đau!

Tháng tám về rồi, mùa thu ở đâu
Nước vẫn xanh dưới mặt hồ Than Thở
Lặng lẽ gót giầy dẫm lên từng nỗi nhớ
Đà Lạt bây giờ buồn giăng như sương

Bao mùa thu qua theo năm tháng dặm trường
Hình như giữa cái lạnh cao nguyên có một mùa thu dừng lại
Biết là tôi không bao giờ nhìn thấy
Sao vẫn tìm đâu đó một mùa thu!

Nguyễn Trung Thành

Lá Diêu Bông. Tùy bút Đỗ Thái Nhiên


Đỗ Thái Nhiên

Xã hội là môi trường sống của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giúp con người giao lưu với xã hội. Sống đồng nghĩa với đối thoại. Tuy nhiên ngôn ngữ là ngôn ngữ chung. Sử dụng ngôn ngữ chung để diễn tả tâm tình riêng vốn là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp. Dưới chế độ độc tài hà khắc, người cầm bút đã phải vừa vận dụng ngòi bút với tất cả khó khăn của ngôn ngữ chung, vừa tinh vi lách tránh công an văn hóa bằng kỹ thuật: dùng cái hư làm nổi bật cái thực, nhắc đến cái thực với ẩn ý đẩy sự suy nghĩ hướng về cái hư. Đó là lý do giải thích tại sao trong lòng của chế độ CSVN đã xuất hiện một số các tác phẩm văn học nghệ thuật mang nội dung kỳ bí gần như huyễn hoặc. Không khí kỳ bí và huyễn hoặc kia là cả một lời mời gọi, thiết tha bao nhiêu, xoáy tim óc bấy nhiêu. Trên đỉnh cao nhất của thế giới thiết tha nhưng xoáy tim óc này, chúng ta tìm thấy bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm.

Lá Diêu Bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thờ đi tìm

Đồng chiều

Cuống rạ…

Chị bảo:

Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng.

Hai ngày,

Em tìm thấy lá

Chị châu mày:

– Đâu phải lá Diêu Bông.

Mùa đông sau,

Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu.

Trông nắng vãn ven sông

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!

Hoàng Cầm (1959)

 (Chân dung nhà thơ Hoàng Cầm)

Chúng ta hãy khảo sát bài thơ Lá Diêu Bông trên cả ba mặt: bản thể nhận thức và phương pháp.

BẢN THỂ của Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Hình ảnh vào đề bài thơ là hình ảnh lạnh lùng của chiều đông,

trên cánh đồng ngổn ngang “cuống rạ”, người chị tâm sự với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng”

“Hai ngày sau”, “mùa đông sau” người em khoe với chị:

“Em tìm thấy lá”

Mỗi lần em khoe “tìm thấy lá”, chị lại lắc đầu:

“Đâu phải lá Diêu Bông”

Thời gian trôi qua mà chẳng có “đứa nào tìm được lá Diêu Bông”, người chị đành phải đi lấy chồng:

“Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim”

Có một lần, sau khi chị đã lấy chồng, người em lại khoe:

“Em tìm thấy lá”

Lần này, người chị phủ định một cách dứt khoát:

“Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn”

Mặc cho người chị dứt khoát không tin ở sự xuất hiện của lá Diêu Bông, người em vẫn miệt mài đi tìm Diêu bông… Thế rồi, đời sống thật là thảm sầu:

“Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!”

Đi tìm bản thể của bài thơ Lá Diêu Bông tức là đi tìm ẩn ý nằm đàng sau các câu hỏi: Chị là ai? Em là ai? Tại sao Lá Diêu Bông lai là một loài lá chỉ có trong mộng tưởng? Phần nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông sẽ cho chúng ta đáp số đối với các câu hỏi vừa nêu.

NHẬN THỨC về Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông tức là nhận thức về mối liên hệ giữa tác giả và nội dung của tác phẩm. Đồng thời cũng là nhận thức về thái độ đón nhận tác phẩm từ phía người đọc. Trước hết, chúng ta hãy ghi nhận hai chi tiết sau đây của bài thơ:

– Chi Tiết Một: Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh gợi nhớ một chiều đông, trên cánh đồng trơ “cuống rạ”. Câu chuyện trong thơ là câu chuyện diễn ra trong nhiều năm: mùa đông này rồi lại đến “mùa đông sau”.

– Chi Tiết Hai: Bài thơ được sáng tác vào năm 1959. Trong liên hệ giữa mùa này với mùa kia: mùa Đông đến sau mùa Thu. Trong liên hệ giữa năm này với năm kia: năm 1959 đến sau năm 1945.

Mang hai chi tiết nêu trên đặt cạnh nhau, chúng ta thấy ngay rằng Lá Diêu Bông là bài thơ có chủ ý diễn tả những cảm nghĩ của tác giả về một sự việc đã thực sự xảy ra và thực sự có những yếu tố hiển nhiên để đánh giá. Sự việc đã xảy ra là sự việc gì? Đối với Hoàng Cầm, một nhân vật trọng yếu của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, sự việc đã xảy ra chẳng thể là gì khác hơn cái gọi là: Cách mạng mùa thu 1945. Mùa thu là mùa của “cách mạng” thì mùa đông là mùa nhân dân bắt đầu thắc mắc về “cách mạng”. Điều này cho chúng ta thấy không phải vô tình mà vấn đề Lá Diêu Bông được đặt ra vào mùa đông. CSVN đã trả lời hoài nghi của nhân dân đối với cách mạng bằng hai biến cố: Cải Cách Ruộng Đất và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1956).

Hoàng Cầm đã tài tình dùng hình ảnh chị và em để nói lên mối liên hệ giữa thế hệ này và các thế hệ sau. Chị là biểu tượng của thế hệ này: thế hệ của những người Việt Nam đã thực sự đau khổ dưới ách Cộng Sản, có kinh nghiệm về Cộng Sản. Em là biểu tượng của các thế hệ sau. Các thế hệ sau bao gồm những người vẫn còn tin tưởng ở một lúc nào đó, tại một nơi nào đó “các em” sẽ tìm được lá Diêu Bông.

Bây giờ chúng ta hãy trở về với nhân vật người chị. Đối với một thiếu nữ: ước mơ tha thiết nhất, ước mơ trang trọng nhất là ước mơ gặp được một người chồng tâm đầu ý hợp. Ước mơ này đồng dạng với ước mơ của nhân dân có được một chánh quyền thực tâm phục vụ tự do dân chủ. Ý niệm về tự do dân chủ đơn giản và rõ ràng như hình ảnh một chiếc lá. Thế nhưng đối với “ngụy quyền kiểu CSVN” thì tự do dân chủ phải là một loại lá không có thật: Lá Diêu Bông. Biết được thực chất phản dân chủ của CSVN, chị nói với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng”.

Chữ “đứa” ở đây rõ ràng là cách xưng hô của chị đối với em. Văn hóa Việt Nam không cho phép vợ gọi chồng bằng “đứa”. Do đó, câu thơ vừa trích dẫn ở trên không thể bị hiểu rằng: đứa nào tìm được lá Diêu Bông, từ nay ta gọi đứa đó là chồng. Vậy thì người chồng mà người chị để ý tìm kiếm là ai? Thưa rằng: như đã trình bày ở trên, người chồng chỉ là hình ảnh biểu tượng cho nhà cầm quyền. Câu nói của người chị nên được hiểu như sau: người nào chứng minh được nhà cầm quyền CSVN thực sự tôn trọng tự do dân chủ (có được lá Diêu Bông), từ nay “ta” gọi nhà cầm quyền đó là chính quyền. Và dĩ nhiên, “ta” chấp nhận làm người dân ngoan ngoãn của chính quyền. Thái độ của “ta” chẳng khác nào thái độ của bà vợ hiền bên cạnh ông chồng mẫu mực.

Ngay sau “Cách mạng mùa thu”, guồng máy tuyên truyền của CSVN làm việc rất tích cực và ồn ào. Mỗi thắc mắc của quần chúng về tự do dân chủ (Lá Diêu Bông) đều được cán bộ Cộng Sản nhanh nhẩu giải đáp. Tuy nhiên:

Hai ngày

Em tìm thấy lá

Chị chau mày

Đâu phải lá Diêu Bông”

Thế rồi với thời gian, thực chất phản dân chủ của CSVN càng ngày càng phơi bày trắng trợn. Và, cũng với thời gian, người dân (người chị là biểu tượng) đành phải bó tay trước bạo lực của “ngụy quyền CSVN”, đành phải miễn cưỡng chấp nhận mối quan hệ “quan chức” và nhân dân. Quan hệ này được ẩn náu dưới quan hệ vợ chồng. Trong tình huống đó, nhóm chữ “tự do, dân chủ” chỉ có ý nghĩa của một mỉa mai:

“Ngày cưới chị,

Em tìm thấy lá

Chị cười

Se chỉ ấm trôn kim”

Điều đau đớn nhất nằm ở sự thể rằng: không riêng gì chị, mà con cháu chị, các thế hệ sau chị vẫn phải sống, phải tiếp tục âm thầm và nhọc nhằn bước trên con đường tuyệt đối không tự do dân chủ:

“Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt,

Chị không nhìn”

“Chị không nhìn” có nghĩa là chị đã hoàn toàn nhìn ra: tất cả những gì mà CSVN gọi là tự-do dân-chủ chỉ là chiêu bài. Thế nhưng thật là xót xa cho các thế hệ đàn em. Họ vẫn miệt mài đi tìm Lá Diêu Bông. Lá Diêu Bông sẽ không bao giờ có. Có chăng chỉ là muôn vạn sinh linh trong Cải Cách Ruộng Đất đang quyện vào “gió quê” để tạo thành lời than vãn bi thiết về một tự-do dân-chủ chỉ có trong mộng tưởng:

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

– Diêu Bông hời…

Ới Diêu-bông…!

Bằng bài thơ Lá Diêu Bông, thi sĩ Hoàng Cầm có chủ ý nói với thế hệ chúng ta và các thế hệ mai hậu: đi tìm tự-do dân-chủ dưới chế độ Cộng Sản, chắc hẳn chúng ta sẽ đi đến kết quả: “Em đi trăm núi, ngàn sông, nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ!” (nhạc và lời Phạm Duy).

PHƯƠNG PHÁP LUẬN của bài thơ LÁ DIÊU BÔNG

Theo lời của tác giả Lý Kiệt Luân, có một lần Hoàng Cầm đã tâm sự với thân hữu: “Cái cuộc đời của tôi, ngẫm nghĩ cái gì cũng thế… nó cứ bị trói gom lại như… như… cái lá Diêu Bông! Nếu có ai bắt nguồn với tôi, dù chỉ là quen biết sơ khai ban đầu thì nó cũng từ cái lá Diêu Bông mà ra… Cho nên phải nói: nó là cái lá Định Mệnh của tôi hơn là gọi nó như là tên của một bài thơ” (Việt Nam News – Xuân Ất Hợi – trang 85).

Lời phát biểu kể trên của thi sĩ Hoàng Cầm chỉ là một kiểu nói khiêm tốn. Trong thực tế, Hoàng Cầm đã ban cho Lá Diêu Bông một sinh mệnh, chứ Lá Diêu Bông không hề tạo được định mệnh cho Hoàng Cầm. Bằng phương pháp nào Hoàng Cầm đã mang sinh mệnh đến với Lá Diêu Bông? Sinh mệnh của thi phẩm chính là sức sống của thi phẩm đó trong lòng người. Nói đến lòng người tức là nói đến sự thuận hợp với Lịch Sử quan. Cách nay hơn bốn thập niên, mặc dù bị chế độ Cộng Sản bưng mắt bịt tai, Hoàng Cầm vẫn nhìn ra Sử Quan con người: lấy tự-do dân-chủ làm hướng tiến của lịch sử. Lá Diêu Bông chuyên chở ba chủ ý:

– Tố cáo chế độ CSVN phản dân chủ, nhân quyền.

– Nói lên nỗi đau khổ của người dân bị “ép duyên” phải sống với chế độ độc tài.

-Trình bày những di hại của chế độ phản dân chủ qua nhiều thế hệ.

Điều quan trọng không là tác giả đã nghĩ gì khi sáng tác ra bài thơ. Mà điều quan trọng chính là những cảm nghĩ của người đọc trải dọc theo chiều dài sinh mệnh của bài thơ. Người nghệ sĩ không thể và không cần tiên liệu mọi phản ứng của người đọc đối với tác phẩm của mình sau một thời gian dài tác phẩm đó đã đi vào dòng đời. Người nghệ sĩ bao giờ cũng sáng tác trên lập luận rằng: bên cạnh tiêu chuẩn về nghệ thuật, phương pháp xây dựng sinh mệnh cho tác phẩm đòi hỏi tác giả phải có khả năng tạo điều kiện cho tác phẩm sống thuận chiều với lịch sử. Nói cách khác, tác giả cần có lịch sử quan thích nghi.

Tóm lại, bản thể của Lá Diêu Bông là ước vọng tự do dân chủ được gói ghém bên trong một câu chuyện thiết tha, trữ tình và duyên dáng. Nhận thức của Lá Diêu Bông là những nhận thức đạt mức quân bình hữu lý giữa hai nhu cầu. Bên này là nhu cầu an toàn của người cầm bút. Bên kia là nhu cầu chuyển gửi một cách trung thực những cảm nghĩ sâu sắc của tác giả đến với người đọc. Phương pháp của Lá Diêu Bông là phương pháp vận dụng lịch sử quan con người, lịch sử quan của tự-do dân-chủ nhân-quyền nhằm gầy dựng sức sống bền bĩ và hấp dẫn cho tác phẩm. Trên cả ba mặt bản thể, nhận thức và phương pháp, Hoàng Cầm quả thực là tác giả tuyệt hảo của Lá Diêu Bông.

Đỗ Thái Nhiên

Nguồn: http://vietluan.com.au/la-dieu-bong/

Tấu Khúc Biển. Thơ Hư Vô


Mùi biển còn thơm đêm tóc rối
Trên vai tôi đã biết hoang đàng
Em về giũ áo phơi nhan sắc
Cho còn lãng đãng thoáng mây tan.

Làm sao em biết tôi thao thức
Đá xanh đâu dễ đã bạc tình
Hồn tôi như thể con nước lớn
Chờ em động bóng để hồi sinh!

Biển tấu âm ba lời sóng biếc
Tiếng đêm tan tác giữa muôn trùng
Tôi bơi đắm đuối trong lòng mắt
Nghe còn đẫm lệ dấu tình chung.

Dẫu qua mấy biển em vẫn thấy
Theo từng ngọn sóng cuốn nhau đi
Đêm có dài thêm hương tóc rối
Thì em cũng đã mới xuân thì…

Hư Vô

Nhà văn Dương Hà và Bên Dòng Sông Trẹm. Tuỳ bút Nguyễn Thị Hàm Anh


Nguyễn Thị Hàm Anh

Lời giới thiệu: Nhà văn, nhà báo Dương Hà vừa qua đời vào hôm thứ Hai 20.8.2018 tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi. Tên thật Dương Văn Chánh, sinh ngày 25-2-1934 tại Bạc Liêu và sống ở Sài Gòn. Ông là một nhà báo, nhà văn nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975, từng cộng tác với nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn và là tác giả của gần 60 tác phẩm, trong đó cuốn “Bên Dòng Sông Trẹm” được nhắc đến nhiều nhất. Bài viết dưới đây của tác giả Nguyễn Thị Hàm Anh viết cách đây vài năm và xin đăng lại để tưởng nhớ một trong những nhà văn hóa có tiếng ở Miền Nam trước 1975.

(Việt Luận – The Vietnamese Herald)

(Chân dung nhà văn Dương Hà)

Tôi qua phà Thủ Thiêm. Nhìn sông Saigon rộng lớn vỗ sóng bên mạn phà, tôi liên tưởng đến tên một con sông của cuốn truyện vừa mới xem. Sông Trèm Trẹm ở Cà Mau chia vùng U Minh thành hai miền U Minh Thượng và U Minh Hạ. Dòng sông chảy qua huyện An Minh (Kiên Giang) và Thới Bình (Cà Mau) đã trở thành nổi tiếng khi nó được đặt tựa cho một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Dương Hà: Bên Dòng Sông Trẹm.

Tôi đang trên đường đến thăm nhà văn. Trước kia ông ở đường Cao Thắng- quận 3, nay dọn về Thủ Thiêm- quận 2 ở cùng với một người con gái. Con đi làm suốt ngày. Thủ Thiêm còn vắng vẻ, ít hàng quán, chợ búa nên thỉnh thoảng ông phải vào nội thành mua thức ăn về dự trữ. Một mình trong căn nhà rộng rãi, buồn quá nên ông ra quán nước gần đó. Điểm tâm xong, với ly bia trước mặt, ông thường ngồi đấy luôn từ sáng đến chiều tối mới về. Ngày nào cũng đều đặn, giống nhau như vậy.

Mặc dù bữa rượu hôm trước còn ngầy ngật nhưng ông vẫn nhất định kéo mọi người ra ngoài. Ông cười nói: Ngồi quán mới khí thế…

Nhà văn Dương Hà tên thật Dương Văn Chánh, sinh năm 1934 tại Bạc Liêu, đáng lẽ học ở Cần Thơ, ông bỏ quê lên Saigon sống. Ông là bạn đồng môn với nhà văn Ngọc Linh, Hoàng Hải Thủy, Phượng Hải ở trường Tân Thanh. Lúc bấy giờ Tân Thanh có hai chi nhánh. Một trường nằm trên đường Phạm Hồng Thái do kỹ sư Phan Út làm hiệu trưởng, trường kia nằm ở cư xá Đô Thành do ông Thái Sanh Khương đứng đầu nơi nhà thơ Trần Tuấn Kiệt theo học.

Ở thành phố một thời gian ngắn, ông bắt đầu thử sức vào nghiệp văn rất sớm. Từ năm mới mười mấy tuổi, ông đã gửi truyện ngắn cho báo Tin Điển của Nguyễn Dân.

Sau đó vào năm 1952, ông làm thư ký toà soạn cho tờ Mạch Sống, Nhân Loại. Rồi chuyển qua thử viết phóng sự gửi cho tờ Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc.

Khoảng 53, 54, ông chuyển qua cộng tác với Saigon Mới. Bắt đầu công việc của một phóng viên quèn, ông chạy lui tới bệnh viện, tòa án, cò bót… để lượm lặt đủ loại tin cung cấp cho mục Từ Thành Ra Tỉnh. Tuy nhiên bà Bút Trà rất biết nhìn người, sau này bà không giao cho ông chạy phóng sự nữa mà chỉ chuyên viết tiểu thuyết hàng ngày thôi. Ông rất hợp với cái “e” của bà Bút Trà. Dần dần, giã từ luôn công việc phóng viên chuyên đi lấy tin vặt, nhà văn Dương Hà chỉ chuyên tâm vào lãnh vực tiểu thuyết. Mọi việc trở nên dễ dàng với ông. Khoảng 1955, 57, cùng lúc làm các phụ trang Điện Ảnh, Tân Nhạc, Kịch Trường, Sân Khấu…, ông viết feuilleton đầu tiên cho báo Saigon Mới, sau đó cùng lúc viết cho các tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Thẩm Mỹ…

Truyện hàng ngày hấp dẫn, phù hợp với độc giả phụ nữ của báo. Loại tiểu thuyết này lôi kéo lượng độc giả tăng hẳn lên, nhờ thế báo bán rất chạy. Ông bắt đầu nổi tiếng nhà văn viết feuilleton ăn khách. Cứ vừa đăng hết truyện trên báo là ông cho ra sách ngay. Truyện đã lôi cuốn trên nhật báo nên khi in thành sách tiêu thụ rất nhanh. Những cuốn này về sau đều được tái bản nhiều lần.

Làm phóng viên phải chạy lấy tin nhưng viết tiểu thuyết chỉ cần nằm nhà. Ông thuê phòng ở khách sạn Đại Nam, ngồi viết miệt mài suốt ngày. Đến giờ, thợ sắp chữ các báo đến tận khách sạn lấy bản thảo của ông.

Sau thời kỳ Hồ Biểu Chánh là Lê Minh Hoàng Thái Sơn… Ngọc Sơn rồi đến giai đoạn tung hoành của thể loại tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội feuilleton mà tiêu biểu là nhà văn Dương Hà, Trọng Nguyên, bà Tùng Long, bà Lan Phương…

Với giọng văn rặt Nam bộ, tiểu thuyết của ông rất được ưa thích. Ông lồng những câu chuyện tình yêu muôn đời vào bối cảnh thực tế. Khung cảnh, địa danh trong truyện đều có thật, ai cũng biết. Đó là màu đỏ quạch đặc biệt của nước sông Trèm Trẹm vào mùa mưa, hàng dừa nước ven kênh rạch, chiếc tam bản thương hồ ngược xuôi trên kinh Xã Thoàn, kinh Phó Sinh… Ngoài ra còn cảnh giã gạo, xay lúa, chèo thuyền… là những sinh hoạt ngày thường quen thuộc.

Vì thế khi đọc truyện, độc giả cảm thấy do địa danh có thực, trong bối cảnh với tình tiết thật mà ai nấy từng nghe đến, đi qua, thậm chí ở ngay đó. Những ngang trái, éo le, vì thế trở nên gần gũi, đời thường hơn. Câu truyện hư cấu dường như cũng biến thành chuyện thật xảy ra quanh quất. Tới nỗi ngay cả độc giả cũng có người tin nó từng xảy ra ở địa phương của mình.

Theo như cách viết tiểu thuyết bấy giờ, giống như Hồ Biểu Chánh, Lê văn Trương… nội dung truyện Dương Hà bao giờ cũng là những mối tình trắc trở, trong chiến tranh ác liệt, đạo lý cổ xưa vẫn được giữ gìn. Kẻ ác bị đền tội, người hiền lành nếu không nhận một kết cục có hậu thì đổi lại cũng được sự thông cảm, yêu mến của độc giả do nhân nghĩa luôn được đề cao.

Khi ấy thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết Dương Hà. Lúc đó, ông kết bạn thân với Hoàng Hải Thủy, Thanh Nam, Hoàng Anh Tuấn… Chủ nghĩa hiện sinh chỉ sau này mới xuất hiện với các nhân vật nổi loạn nằm trong một dòng văn học mới mẻ mang tên một loạt các tác giả mới.

Tác phẩm đầu tiên ra đời của ông là tập truyện ngắn có tên Bên Song Cửa. Sau này ông in sách ồ ạt. Tổng số đầu sách có đến năm, sáu chục quyển: Anh Ơi Đừng Yêu Em, Đứa Con Rơi, Em Vẫn Chờ Đợi Anh… Theo thời gian, sách bị mất, thất lạc, bị đốt cháy… nay chỉ còn sót giữ được độ bốn, năm quyển. May mắn trong đó có Bên Dòng Sông Trẹm.

Thật ra, đây không phải là cuốn tiểu thuyết ông thích nhất nhưng lại được độc giả ưa chuộng nhất. Khi nhắc đến tên Dương Hà là phải nhắc đến tác phẩm này. Đến nỗi rất nhiều người biết tiếng cuốn truyện dù chưa từng đọc qua.

Bên Dòng Sông Trẹm kể về mối tình trắc trở nhưng đẹp đẽ, đầy hy sinh cao quý giữa hai nhân vật chính là chàng điền chủ trẻ tuổi Triệu Vỹ và cô thôn nữ Mỹ Lan. Cuốn truyện phổ biến tới nỗi nhiều lần được đưa lên sân khấu kịch và cải lương. Hiện có hãng phim cũng đang muốn chuyển thể kịch bản dựng thành phim sau thành công của một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

Song song với việc viết feuilleton, ông còn ra báo. Đó là các tờ Miền Nam, Sống Mới, Diễn Đàn… nhất là nhật báo Dân và tuần báo Phụ Nữ Đẹp rất ăn khách. Vừa nhà xuất bản, vừa nhà in Đẹp, ông làm không xuể, lại cho ra nhà xuất bản Kim Lệ in sách của Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Nguyên Vũ… Nhà văn bản tính xuề xòa, công việc điều hành báo chí và nhà xuất bản chủ yếu do vợ ông trông nom. Bà quản lý giỏi nên nhà xuất bản phát triển mạnh mẽ. Vì thế ngoài lúc viết lách, ông dành thời gian chỉ rong chơi cùng bạn bè.

Vừa uống ngụm bia, ông lại nhấp ly rượu. Một vại bia và một ly rượu để trước mặt, ông uống xen kẽ tới lúc cả hai cùng cạn. Nhà tận ngoại ô, khó gặp bạn bè. Một bữa điểm tâm ngoài quán, một bữa tối sơ sài ở nhà, ông cứ mỗi ngày một mình đóng đô ngoài quán. Nhìn mông lung ra đằng trước quán, đám rau muống xanh biếc phủ dày mặt ao, ngoài xa xe cộ qua lại thưa thớt, ông than thở bạn già người mất hết, kẻ đi xa chẳng còn ai, độc ẩm mãi thật chán. Khi tôi hỏi còn viết tiểu thuyết nữa không, ông lắc đầu cười xòa:

– Tiểu thuyết gì nữa. Gác bút rồi. Bây giờ chỉ muốn viết hồi ký thôi.

Quả là ngay từ sát năm 75, ông đã bớt viết truyện mà chỉ in lại các tác phẩm cũ. Ông sống quá nhiều, kinh nghiệm, hiểu biết quá dày cho một cuốn hồi ký có thể ra đời. Nhưng rồi ông chỉ vào ly rượu trước mặt, lắc đầu nói ngay:

– Muốn viết lắm nhưng mắc cái này làm sao viết nổi!

Không phải bây giờ mới uống. Từ xưa vốn là người thích la cà, ông có thể ngồi uống với bạn bè cả ngày, cả buổi được. Một cuốn hồi ký chắc chắn rất hấp dẫn nhưng thật khó để thực hiện khi tuổi già đã nhấm nháp nỗi cô đơn vào men rượu.

Chỉ còn cuốn Bên Dòng Sông Trẹm mới tái bản nằm trước mặt ông. Đứa con yêu quý của đời văn sẽ còn lại mãi mãi với đời…

Nguyễn thị Hàm Anh

Quán Thơ Hư Vô 332


BÀI THƠ TÌNH THỨ 101

Bài thơ tình thứ một trăm lẻ một
Tôi lần mò viết đủ số cho em
Là bài thơ của những đêm không ngủ
Màu mắt em hoang dã giữa lòng trăng.

Soi thấu tim tôi ngang hàng nến lụn
Vòng tay cùng tận níu bóng nhau về
Khúc Chopin cuồng quay đêm nguyệt thực
Lùa tôi tan vào vực thẳm u mê.

Tôi viết cho em bài thơ tình kỳ quặc
Trong cơn say thảng thốt một hơi người
Mà cả đời mùi hương còn dậy mộng
Bỏ lại tôi chết đứng chỗ không tôi!

Dấu tình nhân còn in trên lưng nguyệt
Em mang đi khập khiễng gối chăn nhàu
Một trăm lẻ một khúc tình tuyệt tự
Nảy sinh từ giọt máu đã xanh xao…

Hư Vô

MÀU NẮNG THÁNG GIÊNG

Vẫn còn đó hàng cây xanh lá mới
Xanh màu trời trong mắt nắng tháng giêng
Nghe từng ngày mang mùa qua rất vội
Còn bên đời tôi một nỗi chung chiêng…

Im một chỗ tôi ngồi bên góc phố
Sớm mai nhìn một ngày mới đang lên
Hồng chút nắng tháng giêng trên lối nhỏ
Thấy quanh mình chìm khuất những thân quen

Có khi nắng trở vàng trong chiều muộn
Là trong tôi đã thấy bóng xuân tàn
Mùa cũng trôi theo năm dài tháng rộng
Trôi qua tôi thêm tuổi đã bao lần

Tháng giêng về ngày vẫn thơm màu nắng
Còn chiều tôi nghe gió tạt qua đời
Nắng trưa xanh, nắng mai hồng buổi sáng
Chút nắng vàng còn lại với chiều tôi !…

Sông Trẹm

EM VỀ TẾT CẢ GIÊNG HAI

Tưởng rằng xuân đã cạn ngày
Rượu còn đôi chén hiên mai úa vàng
Xuân qua rồi sẽ phai tàn
Nắng rơi rớt giọt khẽ khàng mong manh

Thế rồi em đến cùng anh
Mưa chan nỗi nhớ tình xanh nụ hồng
Xôn xao hoa cỏ thơm nồng
Mùa xuân khẽ hát bềnh bồng tiếng chim

Ô hay đã hết rằm giêng
Mà hoa vẫn nở mà đêm vẫn dài
Em về tết cả giêng hai
Hoa kia hôn bướm đắm say trên cành

Hay vì đậu giữa đời anh
Môi em thanh khiết ngọt lành lâng lâng
Từ đêm huyền diệu thơm ngần
Hôn em cùng với mùa xuân tràn về …

nguyễn minh phúc

SỰ THẬT

mây xám nghĩa là đang trọng đông
rét căm căm. rét tự trong lòng
nhớ sao nhớ lạ lùng không biết
trách lửa ngồi hơ thuở mẹ còn…

bây chừ gió máy không chừng đỗi
mới ấm khi trưa. tối rét rồi
nhà anh xang gió mùa đông bắc
ai chắn che giùm lúc lẻ đôi.

nhớ dạo quay về thăm cố quận
bờ tre gầy ốm chẳng ai canh
con chó buồn thiu ngồi ngáp vặt
bất cần thế sự ở chung quanh.

nhìn ra phố xá vui như tết
nhậu nhẹt hát ca thật vui vầy
tội nghiệp dân tình vô tư quá
chẳng hiểu cơ đồ rách đó đây.

anh cũng ham vui nhưng chẳng thể
say sưa như kẻ bất cần đời
cũng may còn được cô hàng xóm
đốt lửa nhen lòng chuyện bể khơi.

Đức Phổ

THƠ CHO TÓC DÀI

Tóc dài kia quấn chặt lấy hồn anh
Gần suốt đời mà nào em đâu biết?
Đêm tình mộng ru những lời tha thiết
Chỉ có tim mình là biết rung chuông…

Em vô tình đâu biết những yêu thương
Anh cuộn tròn cô đơn nơi chăn chiếu?
Mùa xuân lò rất nhanh qua cửa sổ
Như mắt em hun hút thoáng mơ hồ!

Rưng rức hoài khuya tận mé hiên thơ
Giá như gặp được em ngày ấy nhỉ?
Anh sẽ bưng trái tim làm quà hoan hỉ
Tặng tóc dài thay sính lễ cầu hôn…

Sa vào ăn năn . anh nghiêng ngả bồn chồn
“Em có chồng” thế là tiêu đời lãng tử!
Bao nhiêu năm lăn vòng vòng do dự
Sợ nói ra sẽ trúng mũi tên buồn…

Chừ lặng lẽ ôm kỷ niệm đem chôn
Một nơi chỉ có riêng mình anh biết
Nơi ngàn trùng, hình như trời sắp Tết
Chỉ xin em một sợi tóc ăn mừng…

Trần Dzạ Lữ

TÌNH VỘI THÁNG HAI

Lòng tôi vừa tháng Chạp
Tình em vội giêng hai
Vàng hoa tôi hàm tiếu
Nụ hồng em mãn khai

Lòng vườn tôi cửa mở
Gió reo ngoài hiên khuya
Tưởng em về như thuở
Tôi giao thừa cơn mơ

Bàn tay nào thả nhẹ
Từng giọt – sương – tôi buồn
Bàn tay nào chạm khẻ
Vào nỗi nhớ mênh mông

Dòng sông em muôn kiếp
Chảy buốt lời chia xa
Tôi ngồi trên bến vắng
Đếm từng mùa xuân qua.

lê văn trung

CŨNG ĐÃ PHÙ DU

mưa ở Huế mà mưa còn tạnh
huống chi mưa như mưa bóng mây
ta với em tình kia đã cạn
đúng sai chi cũng tội cho đời

chỉ có trăng buồn hơn một chút
quay về đầu núi ngủ trong sương
em với ta lòng nhau đã bạc
cúi đầu xin từ tạ muôn trùng

cũng chẳng có gì ta để lại
câu thơ bát ngát phía sau trời
chẳng có gì khi em muốn gửi
chút lỡ làng ngắn ngắn phù du

để thuở làm người thôi tiếc nhớ
bấy ơn nhau cũng đã không còn
ta cúi lượm coi ngày rất cũ
chiếc lá từng thao thức vì em…

Hoàng Lộc

KHÚC MÊ CA & TÔI

Xin đêm hỡi ,dài thêm chút nữa
Để nhung êm lau bớt ưu phiền
Nơi nguồn suối dường như đã cạn
Có loài sâu hóa kén trong đêm

Sương cứ rót lệ hồng vào cốc
Uống đi em say khướt môi mềm
Mai mốt khi rừng thẳm gọi tên
Vơi cơn khát đường xa khúc khuỷu

Gió đong đưa ủ ê cành liểu
Nửa chừng xuân vội héo màu xanh
Quắt quay hồn xót yến thương oanh
Mờ mờ bóng chênh vênh dốc núi

Phía bên kia mây che từng búi
Nhạt cánh đào trắng bụi tuyết hoa
Bên này mai rớt lụn chiều tà
Chim than khóc mùa tàn ảo mộng

Trên bến vắng vạt tà áo rộng
Xin chén quên sông nước Vọng Xuyên
Xin cuộc đời một cõi an yên
Đốt ngọn nến tuổi buồn ấm lại

Thiên Di

NẾU CÒN NGÀY MAI…

Em ở lại sân ga
Đèn khuya vàng hiu hắt.
Chị xuôi tàu về xa
Nghe lòng buồn quặn thắt.

Ba mươi năm dằng dặc
Gặp nhau nói vài câu.
Chị hối hả lên tàu
Nhìn em chưa kịp rõ.

Thời gian nhanh như gió
Vút qua… hết một đời.
Ngoảnh trông về lối cũ
Nắng vãn rồi bên sông.

Chị sắp qua mùa đông
Lá vàng rồi rụng hết.
Ngày nào đôi mi khép
Là một đời hư không…

Gió lạnh thổi từ sông
Tàu sắp qua ga lẻ.
Hẹn mai này em nhé!
Nếu chị còn…ngày mai…

Phan Mạnh Thu

Đêm Giã Từ Sài Gòn. Thơ Hư Vô


Hồn tôi đang lăn chậm
Theo nhịp thở Sài Gòn
Đêm giã từ quán trọ
Còn quấn quít mùi hương.

Ngọn đèn vàng đứng đợi
Bàn tay em nôn nao
Bám vào tôi thật chặt
Rồi cũng vuột mất nhau!

Đêm Sài Gòn mưa nhẹ
Vừa đủ ướt mi em
Vậy mà hồn tôi đã
Trôi bồng bềnh lênh đênh.

Bỏ lại nhau ngày tháng
Những đắm cuồng mê man
Một thời tình lãng đãng
Còn dấu tích hoang đàng.

Chỗ tim em vụn vỡ
Chất đầy nỗi mong manh
Xanh xao tựa chiếc lá
Vụt hối hả lìa cành.

Sài Gòn như con gái
Đêm đánh thức mùi hương
Cho ngang tàng tóc rối
Phất phơ em dọc đường.

Đứng chờ chuyến tàu cuối
Chở buồn đầy sân ga
Tôi là gã lữ khách
Đâu có phố, có nhà.

Đến, đi như chiếc bóng
Rồi đời cũng hư không
Chỉ còn giọt nước mắt
Em bỏ lại sau cùng…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 331


ĐÊM ĐÁNH THỨC SÀI GÒN

Em về như gió chướng
Đêm đánh thức Sài Gòn
Cho tôi được cuồng đắm
Trong tận cùng mê man.

Còn bàng hoàng hấp hối
Lần chết đuối trên môi
Như loài chim Thorn Birds
Lao thẳng xuống vực đời!

Chỗ hạnh phúc thảng thốt
Nhói tựa dấu gai đâm
Ngón tay em bén ngót
Bấu vào nỗi thăng trầm.

Em về đêm mưa lớn
Tạt cho đầy chiêm bao
Tôi bềnh bồng lảo đảo
Đau đã tới ngọt ngào!

Hồn lơ mơ lạ lẫm
Đêm lăn lóc Sài Gòn
Không trăm năm thì cũng
Còn một lần tình nhân…

Hư Vô

XIN EM TRẢ HẾT DẠI KHỜ CHO TÔI

Cuối cùng tay cũng rời tay
Người đi từ buổi mưa bay ngập trời
Điếng hồn sương khói chơi vơi
Bóng tôi về với mây trôi cuối chiều

Cũng đành đắng một lời yêu
Tình phai từ độ hắt hiu môi cười
Ngỡ ngàng úa lá thu rơi
Tôi ngồi chết lặng một trời tương tư

Chiều tàn níu mộng phù hư
Thả vào đâu cũng ngất ngư bão lòng
Đưa người lạc lối bờ sông
Mà nghe sóng vỗ bềnh bồng mang theo

Còn đây mưa rớt hiên chiều
Tôi ngơ ngác níu cô liêu đợi chờ
Hỡi đời bạc kiếp bơ vơ
Xin em trả hết dại khờ cho tôi…

Nguyễn Minh Phúc

ĐỜI KHÔNG CÒN GÌ

thôi rồi em đã của ai
buồn chi – em cũng một thời của anh
gió qua, lá rớt sân đình
làng xưa lo nỗi bồng bênh phận người

em xa thì đã xa rồi
ngàn sau cố quận đâu lời cố nhân?
anh về ngó lại hiên sân
trời xưa thì đã lắm lần mây xưa

trái tim từng nhịp cuối mùa
nổi trôi củi mục cũng vừa mấy sông
ơn em một bữa theo chồng
để anh kịp biết đời không còn gì!

Hoàng Lộc

CHIỀU CUỐI NĂM

biết trải bao lần chiều cuối năm
trời tây sương khói đã khuất rằm
sống lê như kẻ chờ tắt bóng
chiều vội rơi. sầu chảy âm thầm.

rồi một sớm mai nào thức dậy
đời chưa sắm kịp buổi sum vầy
ngẫm chuyện trăm năm chừng ngắn ngủi
sáng. trưa chớp mắt đã tan ngày.

chiều cuối năm ai người nhúm lửa
sưởi hồn che đỡ ngọn bấc đưa
nhà ba gian chật lòng trung hiếu
cội mai già kịp trổ bông chưa!(?)…

thân đơn. hồn lẻ. tình xa ngái
chiều xuống gần thêm phần ái ngại
sống nữa sẽ thừa thêm chút nữa
cuối năm nào lòng cũng u hoài.

chiều cuối năm xin đừng qua vội
phút tàn mùa buồn lắm tuổi tôi
đã sống một đời như tuồng tích
múa may gì cũng thế mà thôi!…

Đức Phổ

CÕI TÌNH XA….

Chiêm bao về người áo mỏng
Bay trắng nửa đời ta mong
Vi vu mối sầu thoáng động
Cõi tình xa ấy như không

Lênh đênh một dòng tóc thả
Ngậm hai bờ nắng môi son
Mắt em soi ngàn bóng lá
Ủ tình trên nhánh vai ngoan..

Em có về qua mùa gió
Có thương một trời mưa sa
Cuối miền hư hao còn đó
Sửng sờ nỗi nhớ nguy nga..

Áo bay một thời trắng quá
Trắng rồi mấy ngả chia tan
Ngồi trông nỗi buồn óng ả
Tháng ngày gù nặng vai mang..

Chợ đời không dung chí cả
Em còn dung nữa tình ta
Tình yêu một thời trao..trả
Còn gì… Ta lại thương ta….

Trung Chinh Ho

XUÂN ĐẾN

Chiều êm rung động tiếng tơ đồng
Nắng nhẹ đong đưa tiễn gió đông
Bờ liểu tóc xanh soi nước biếc
Nhạn bay lẻ bạn xuyến xao lòng

Người ấy đi rồi con phố vắng
Đường xa hiu quạnh gót phiêu bồng
Thương ai áo bạc mầu sương gió
Nhìn khói lam chiều chạnh nhớ mong

Xuân đến hiên nhà chim ríu rít
Ra vườn em hái mấy cành bông
Má hồng e ấp, mơ thầm kín
Song cửa tựa vai mãi ngóng trông

Chiều nay bướm trắng đậu cành hồng
Ngớ ngẩn làm rơi giọt sương trong
Buồn quá vì ai quên lối hẹn
Để mây tím sẫm cả hoàng hôn

Thiên Di

MỘNG CŨ

Mùa trôi giấc mộng
Hồn vờn mây xưa
Tình không hóa bướm
Sao thành cơn mưa?

Áo vàng dải lụa
Ửng đỏ tà dương
Chiều buông tiếng ngựa
Hí dài trong sương.

Đá in bóng núi
Tím thẩm đồi nương
Vẳng trong tiếng suối
Khúc hát thiên đường.

Tình treo quán trọ
Kiếp người đa đoan
Ngủ yên phận cỏ
Điệu kèn bát âm.

Môi thơm mùi táo
Ngọt đóa quỳnh hương
Tôi về nương náu
Giấc mơ vô thường.

Từng viên đá cuội
Lăn trầm ăn năn
Cánh chim hấp hối
Mộng người trăm năm?

Nguyễn An Bình

TÌNH XUÂN

Lòng đã chạp, vàng hoa tôi vội nở
Mà mùa xuân còn ở cuối phương người
Lòng chưa tết mà đất trời ươm nỗi nhớ
Rượu lòng ai còn ủ mật phía đời vui

Chiều đã chạp, chiều xanh, chiều biếc ngọc
Con én tình rối rít gọi tình ơi
Ai gõ nhẹ vào đàn tôi suối nhạc
Rừng xôn xao gió hát gọi mây trời

Lòng đã chạp, lòng xanh tôi trổ lộc
Mà xuân em còn bến cũ neo thuyền
Tôi – sóng – vỗ vào bờ em thao thiết
Lòng xuân chưa? Tình đã nở vô biên

Áo hoa nở hay lòng hoa nở tết
Vàng hoa tôi nhuộm thắm giấc mơ người
Xin về nở giữa lòng tôi tháng chạp
Tô lên chiều màu đỏ thắm son môi.

Lê Văn Trung

BÀI THƠ THÁNG CHẠP

Nửa đêm thức giấc thương mình
Đời trơ gốc rạ khi tình gặt xong…
Em đi hơn hớn bên chồng
Để ai gặm nhấm tàn đông thẫn thờ?

Nửa đêm thức giấc nghe mưa
Quặn trong tiếng nhớ Huế vừa chiêm bao…
Đồng tiền rớt đáy sông sâu
Đau tôi lặn hụp xót cau xa trầu!

Trùng trùng sóng vỗ ngàn dâu
Nụ hôn sửng lại…môi đầu hàng môi!
Tay thôi níu mộng bên người
Hai hàng nến thắp ngậm ngùi sao em?

Chưa bình minh đã mòn đêm
Gắp thương nhớ để nốc thêm lượng sầu
Mùa xuân chỉ ở lầu cao
Vói chi con mắt đã nhàu nát thương?

Trần Dzạ Lữ

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: