Chuyện Phố Tôi. Nhật Tiến


Nhật Tiến

Sau khi duyệt xét kỹ lưỡng lý lịch của tất cả các chủ hộ, Phường uỷ quyết định chọn dì Năm làm tổ phó an ninh. Quyết định này được thông báo đến lão Phú, Tổ trưởng tổ 3, Phường 15, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Lão phát biểu:

– Tôi hoàn toàn nhất trí với “trên” về việc lựa chọn này. Chị Năm xuất thân từ thành phần cơ bản, công tác tích cực, tư tưởng chuyển biến tốt…

Lão nói đến đó thì kịp thời ngừng lại. Đáng lẽ, lão còn thêm  : “ Hiềm vì văn hoá dì Năm còn rất hạn chế”. Nói nôm na là dì Năm mù chữ. Nhưng lão ý thức được ngay sự nguy hiểm nếu phát biểu ra trọn vẹn ý nghĩa ấy. Trong Phường còn thiếu gì kẻ dốt, kể cả đồng chí Sáu Đăng người xuất thân từ chân thợ nề, theo Cộng sản, nằm vùng được hơn hai năm thì bị bắt và đày đi Côn Đảo tới hơn bốn năm mới được giải phóng. Về Sài Gòn, đồng chí Sáu Đăng ra mắt bà con lần đầu ở trường tiểu học, đồng chí đánh vần mãi mới xong bài phát biểu dĩ nhiên là được viết trước. Về văn hoá thì vậy, nhưng so thành tích cách mạng thì cả Phường này chẳng có ai hơn. Ở thời buổi này, cái danh hiệu người về từ Côn Đảo vẫn luôn luôn là cái gì sáng lóa để chẳng có ai dám thắc mắc, nhỏ to điều gì. Dĩ nhiên bên cạnh đồng chí Phường uỷ phải có nhiều phụ tá. Thân cận nhất là Liễu, gái Sài Gòn, gọi ông Sáu Đăng bằng cậu ruột. Những ngày đầu tiên sau 30 tháng 4 năm 1975, Liễu đã có mặt đều đặn trong các buổi sinh hoạt ở trụ sở Thành đoàn Thanh niên đường Duy Tân. Nàng đã theo học ở đó một khoá cấp tốc về chính trị. Rồi được kết nạp đối tượng Đoàn. Đồng chí Văn ở ban Tuyên Huấn đã dặn dò :

– Thời gian xuống sinh hoạt ở Chi đoàn Thanh niên các khóm, Phường là một việc để các đồng chí phấn đấu tiến lên một bước nữa trên con đường cách mạng. Nếu các đồng chí chuyển biến tốt, khắc phục bản thân tốt, hoàn tất công tác tốt thì các đồng chí sẽ được kết nạp Đoàn. Đoàn viên Thanh niên là cánh tay mặt của Đảng, các đồng chí nhớ kỹ như thế để thấy rõ vai trò mũi nhọn xung kích tiền phong của mình…

Liễu nhận nhiệm vụ lệnh về trình diện ngay ông cậu ruột của mình. Nàng mè nheo ngay:

– Có cái tiệm điện lạnh hai tầng lầu ở ngay kế bên chợ đó cậu, chủ nhà bỏ trốn ra nước ngoài, cậu cho chúng cháu làm trụ sở Chi Đoàn Thanh niên nhé.

Nhà cửa hồi đó không thiếu. Ông Sáu Đăng ký ngay một cái giấy cho Liễu tiếp thu căn nhà khang trang đẹp đẽ đó. Hai tuần lễ sau, nơi đó đã biến thành chỗ sinh hoạt nhộn nhịp. Liễu có văn phòng riêng, có đội trực gác, có ban thông tin văn hóa, có ban văn nghệ. Riêng ban văn nghệ được chiếm nguyên cả một tầng lầu để dượt nhạc với kèn, trống om sòm từ sáng đến đêm.

Liễu đã trút bỏ bộ áo dài cổ hữu để thay bằng một loạt áo cánh may bằng soie đen. Hôm gặp Liễu ở đầu phố, nhìn thân hình tròn lẳn của Liễu trong chiếc áo nịt chật cứng, dì Năm la lên:

– Chèn ơi con Liễu, mày đổi bộ này ngó coi ngộ quá ta !

Liễu thẹn đỏ cả mặt nhưng không khỏi bực mình. Nàng cằn nhằn:

– Dì Năm ăn nói gì bô lô, ba la ngoài phố nghe lỗ mãng quá vậy.

Dì Năm cười ngỏn ngoẻn:

– Ờ ! thì mày “ ngộ” tao nói “ngộ” chứ sao . Coi chừng mấy thằng thanh niên sinh hoạt với mày chết giấc hết.

Liễu nghiêm mặt lại :

– Dì nói năng phải giữ lời chứ. Bây giờ cách mạng về rồi, đâu còn có lối sống đồi trụy như xưa .

Thấy con nhỏ bắt đầu giận, dì Năm bỏ qua mé chợ. Nó với dì chẳng có họ hàng gì với nhau. Dì cũng chẳng có họ hàng gì với ai ráo trọi ở khu phố này. Nhưng dì đã sống ở đây mấy chục năm liền, ai dì cũng quen, nhà ai dì cũng biết, ngõ ngách nào trong khu phố này dì cũng thông thuộc. Tất cả bà con đều kêu dì bằng dì. Tiếng là dì vậy thôi, chứ năm nay răng dì cũng đã rụng hết ráo, gần 70 rồi đấy chớ. Được cái dì Năm vẫn mạnh. Đi đứng nhanh nhẩu. Tính tình hồn nhiên cởi mở, một đôi lúc chanh chua, cái chanh chua của một kẻ ỷ vào thế của tuổi già, và mặt khác cũng là ở cái tuổi đang lần hồi biến chuyển tâm lý trở thành con nít. Dì Năm ở thuê một căn phòng xép nhỏ của gia đình chú Lý đạp xích lô. Cái nhà này đông con dữ, vợ Lý sòn sòn năm một, hồi dì mới tới chỉ có hai, nay đã chòm chèn cả chục đứa. Lắm lúc dì cũng vui, nhưng lắm lúc dì muốn phát khùng vì chúng nó. Nhất là càng về sau này, đời sống khó khăn, chỉ nge mấy đứa khóc đòi ăn khoai, ăn mì là cũng đủ héo trời, héo đất.

Nhưng dì Năm ít khi ở nhà. Nghề của dì  là đi lang thang khắp các cửa tiệm tạp hoá, các tư gia để bỏ mối cho một hãng sản xuất hương vòng và nhang. Hồi trước dì còn bán cả vàng mã nữa. Nhưng cách mạnh về rồi, giấy vàng mã không thịnh thành như trước, lại khan hiếm giấy, nên chỉ còn có nhang và hương vòng. Dì gửi cả nhang và hương vòng ở cửa hàng Hợp tác xã nhờ bán giùm. Đồng chí quản lý ở đó dẫy nẩy lên:

– Chết mẹ tôi rồi. Thời buổi cách mạng thế này mà dì đòi khuân hương vòng vào cửa tiệm Hợp tác xã để bán có khác gì muốn đưa cả cơ quan đi học tập cải tạo mút mùa.

Dì Năm tác xác:

– Hương vòng thì có cái gì phản động. Tao làm nghề bỏ mối hương vòng này mấy chục năm nay, đâu có thiệt hại gì tới ai.

Bà quản lý, cũng là dân trong khu phố với nhau cả, cãi lý với dì không được, tức quá đến cầu cứu với Liễu. Liễu chào thua bà cụ vì làm thế nào có thể giảng được cho bà cụ nghe và hiểu về con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho nên nàng chỉ buông xuôi:

– Thôi kệ, cứ để từ từ rồi dì ấy sẽ chuyển biến nhận thức và tự giác ngộ.

Đồng chí quản lý hoan hỷ ra mặt. Ít ra là bà cũng trút được cái trách nhiệm đó cho Liễu. Liễu không là gì nhưng là cháu đồng chí Phường uỷ. Đồng chí Phường uỷ là nhân vật to nhất Phường. Vậy là khỏi băn khoăn. Hương thẻ, hương vòng của dì Năm nhờ thế vẫn chiếm một kệ kín đáo trên quầy hàng Hợp tác xã . Thật ra bày là chỉ để mà bày, chứ rõ ràng món hàng dì Năm gởi ở Hợp tác xã đã ế sưng ra. Có ma nào dại gì đút đầu vào Hợp tác xã, nơi đầy rẫy tai mắt cán bộ để hỏi mua nhang hay hương vòng. Cắp nhang hay hương vòng đi ngờ ngờ ở trụ sở Hợp tác xã thì có khác gì tự tố cáo bản thân là “ tôi hãy còn nhiều tàn dư phản động!” . Mọi người thừa trí khôn để không làm chuyện đó. Nhưng mọi người cũng lại thừa trí khôn để mua nhang lấy lòng dì Năm kể từ khi dì được phong chức tổ Phó an ninh. Nhất là những anh lười đi họp. Vắng mặt trong buổi họp hôm trước là hôm sau dì Năm đã tò tò tới nhà tác xác:

– Ê ! Hôm qua mày làm cái giống gì ở nhà mà không đi họp tổ dân phố hả ?

Kẻ trốn họp phải cười giả lả:

– Tội con quá dì Năm ơi! Hôm qua đứng nắng xếp hàng mua gạo, về lên một cơn trúng cảm những tưởng đã vô nhị tì Quãng đông rồi ấy chớ!

Hay là:

– Chèn ơi ! Thằng nhỏ lên kinh hôm qua tưởng phải vô nhà thương rồi ấy chớ. Bụng dạ nào bỏ nó ở nhà mà đi họp, dì Năm!

Và sau một câu kể khó, kể khổ là bao giờ đương sự cũng chuyển ngay qua đề tài khiến dì Năm rất dễ nghe:

– Nhà em hết nhang rồi đó dì Năm. Bữa nào xin dì Năm cho em thêm một gói hương vòng với một chục thẻ nhang.

Cơn giận của dì Năm tan xèo ngay trong giây lát. Dì vui vẻ kể chuyện Khóm, chuyện Phường, chuyện nhà nào sắp đi kinh tế mới, chuyện thằng Phường đội nào hôm qua say, chuyện ai bị phê bình phát ngôn bừa bãi…vân…vân… Rồi trước khi về, dì không quên nhiệm vụ của mình:

– Kỳ tới phải nhớ đi họp đó nghe. Đi họp là phát huy quyền làm chủ tập thể mà, bộ tụi bây không biết sao !

Có hôm, một chị ngứa mồm hỏi lại:

– Làm chủ tập thể là làm sao dì Năm há?

Dì Năm trả lời ngay, giọng trách móc ngụ ý sao tới bây giờ mà còn có đứa không biết:

– Làm chủ tập thể tức là cách mạng giải phóng chứ làm sao. Trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đàng sau có nhân dân làm chủ tập thể. Tụi bây trốn đi họp như ranh, làm sao mà hiểu rõ được chính sách mới của nhà nước.

Lời giải thích ấy không biết cách nào lại lọt vào tai Liễu. Nàng chờ một hôm rảnh rỗi, kéo dì Năm vô trụ sở thì thào:

– Bây giờ dì là người của đoàn thể. Dì không thể phát ngôn bừa bãi tự ý được.

Dì Năm trợn mắt lên:

– Tao nói cái gì sai trái mà gọi là bừa bãi?

– Dì phải học mới biết được cái gì là sai, cái gì là đúng.

Dì Năm nổi sùng lên:

– Xí! Tao già đầu thế này mà còn phải học à?

– Chớ sao! Ai mà không học. Không học thì không có cơ sở nhận thức. Từ chỗ không có cơ sở nhận thức sẽ đi đến sự suy nghĩ sai, lập luận sai, phát biểu sai, hành động sai…

Dì Năm nói dỗi:

– Phải rồi! Cái gì tôi cũng sai hết. Chỉ có cô là đúng thôi. Cô là cháu ông Phường uỷ mà!

Liễu dẫy nẩy lên:

–  Ấy chết! Đâu phải thế. Cháu là gì đi nữa mà không học tập thì cũng sai nữa. Dì cũng vậy.

– Ờ! Thế tôi sai chỗ nào, cô nói tôi nghe coi.

– Như hôm nọ dì nói trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đằng sau có nhân dân làm chủ tập thể là sai!

– Sao sai?

– Dì phải nói cơ chế tổ chức của xã hội ta là Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý và nhân dân làm chủ tập thể thì mới đúng. Chớ làm gì có chuyện ai ở trên, ai ở dưới, ai ở đằng sau lưng như dì nói.

Dì Năm cười khanh khách:

– Tưởng cái gì chớ mấy chữ nghĩa đó nhằm nhò gì. Tao thì tao cứ nghĩ mấy ông Đảng uỷ ở tuốt trên cao thì là ở trên, như trên Phường thì có Phường uỷ, dưới Phường uỷ là ông chủ tịch Phường, tức là ông Nhà Nước, rồi sau cùng mới tới mình. Thế thì mình chả ở sau lưng là gì?

Liễu vò đầu bứt tai:

– Thế nhưng mà không phải thế. Phường uỷ chỉ lãnh đạo thôi chớ không ở trên. Chủ tịch Phường chỉ quản lý thôi chớ không ở dưới. Còn ai nói nhân dân ở mé sau lưng hồi nào?

Câu chuyện đấu lý nhùng nhằng đó rút cục cũng chẳng đi đến đâu. Trình độ hiểu biết của bà Năm như thế thì có nhồi nhét lý luận cả đời dì cũng không thể vỡ lẽ được thế nào là lãnh đạo nhưng không phải là ngồi trên, quản lý lại không phải là ngồi dưới.

Tuy nhiên không phải lý do đó mà dì Năm bị giảm lòng tin cậy của Uỷ ban Nhân dân Phường. Cảm thông với người dốt nát, ít học bao giờ chẳng xuất phát từ tình cảm hữu ái giai cấp. Hơn nữa, dì Năm lại là người tuệch toạc, có gì nói nấy, ai cũng thấy rõ là không âm mưu. Cán bộ rất sợ những người âm mưu. Càng có học, càng dễ âm mưu, cho nên cần thì vẫn xài, nhưng hết cần thì vắt chanh xong bỏ vỏ. Vấn đề chính yếu là phải nắm chắc lấy chính quyền, bằng mọi cách, mọi giá, triệt để và không khoan nhượng!

Trong thời gian giữ chức vụ tổ Phó an ninh, dì Năm thường tự hào về thành tích đối phó được với lão già cứng đầu nhất trong tổ dân phố là lão Trương Sanh. Bà con lối xóm cũng rất hả hê được nhiều dịp chứng kiến cuộc đấu trí giữa hai nhân vật cùng già nua tuổi tác này. Sau ba mươi tháng tư, con cái của Trương Sanh di tản hết. Chẳng hiểu kẹt giỏ thế nào, chỉ có một mình ông cụ ở lại. Gần một năm sau thì cụ nối liên lạc được với gia đình. Lá thư đầu tiên gửi từ Pháp về, người con lớn của cụ căn dặn: “ Ba cứ yên tâm, con đang làm giấy tờ bão lãnh cho ba đi. Từ nay tới đó chưa biết bao lâu, nhưng trễ lắm thì cũng chỉ trong vòng một năm là cùng. Con đã nhờ người quen chuyển tiền về để ba xài. Có tin gì mới, con sẽ đánh điện cho ba biết gấp!”.  Thế là ông cụ tự xếp mình vào vị trí bên lề xã hội, mặc cho thiên hạ đảo điên, xoay vần chung quanh, cụ chỉ còn có việc tiêu dao ngày tháng chờ ngày có giấy tờ bảo lãnh để rời quê hương.

Ước nguyện này mới nghe thì nhỏ nhoi, nhưng trong thực tế không giản dị chút nào. Đã có lần Liễu giải thích với cụ:

– Thưa bác, dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, lợi ích của mỗi người gắn chặt và thống nhất với lợi ích của tập thể. Vì vậy không có ai là không có trách nhiệm đối với vận mệnh chung của xã hội, lại không quan tâm đến công việc chung của tập thể…

Ông cụ Trương Sanh cau mày:

– Thế thì làm sao?

Liễu cười ngỏn ngoẻn:

– Dạ, thưa bác thế thì xin bác lưu ý đi họp đều cho. Cháu nghe dì tổ trưởng nói bác không chịu đi họp tổ dân phố.

Cụ Trương Sanh vỗ cái quạt đến đốp vào mông mình rồi văng một câu trước khi lùi lũi bỏ đi:

– Đếch!

Liễu cáu lắm nhưng nể ông cụ tuổi già, không dám láo lếu nhiều hơn. Nhưng nàng lập tức đi tìm dì Năm tổ phó an ninh:

– Ông Trương Sanh là người ở ngay trong tổ dân phố của dì. Dì chịu để ông ấy buông tuồng được sao?

Dì Năm bực bội:

– Lão già dịch đó không chịu đi họp thì biết làm sao bây giờ?

– Đó là việc của dì. Trách nhiệm của tổ Phó an ninh mà!

Nói rồi Liễu bỏ đi, mặc cho dì Năm đứng chết trân lại, vừa giận con nhỏ đáo để, vừa tức lão già đầy bản chất lạc hậu, phản động. Đến kỳ họp tổ dân phố lần sau, đích thân dì Năm đến nhà ông Trương Sanh để thông báo ngày, giờ họp. Ông lão khôn hồn rút tuốt lên tận lầu hai, cửa sắt dưới nhà kéo kín mít, thêm một lớp cửa gỗ kín bưng ở bên trong. Dì Năm gõ đùng đùng lên cánh cửa:

– Ông Trương Sanh ơi! Đi họp!

Giọng của dì trước còn hùng dũng, mạnh bạo, nhưng chỉ gào độ mươi mười lăm phút sau là nó thất thanh hẳn đi.  Bà con lối xóm chỉ còn nghe mấy tiếng:

– Sanh…ơi…họp!…

Bà con cả phố có lẽ đều nghe tiếng gào của dì Năm, trừ ông cụ đang ngồi tình queo đâu đó trên lầu hai ngay đấy. Ai cũng đều phục lăn cái tính lì của ông cụ, và càng nghe dì Năm gào thét, càng bụm miệng cười. Cuối cùng dì thua cuộc bỏ đi sau khi đã xỉa xói trước cánh cửa gỗ:

– Rồi nhé! Biết nhé! Lần sau đừng hòng đi mua nhu yếu phẩm nữa nghe ông Trương Sanh! Không đi họp là không có được mua gì hết ráo!…

Nhưng ông Sanh chẳng cần. Ông sống một mình, tiền bạc lại dư dả, ông nghe thấy hết, nên sau này chỉ cười hề hề với bà con :

– Tôi đâu cần. Nhu  yếu phẩm nhằm nhò gì tới tôi.

Thế là cuộc đấu trí giữa dì Năm và ông Trương Sanh kết thúc ở giao đoạn một. Dì Năm tức điên lên, không phải vì buổi họp thiếu người mà vì cái chức tổ Phó an ninh của dì không ăn thua gì tới lão già dịch đó cả.

Bỗng một hôm dì nẩy ra được một sáng kiến đáng giá ngàn vàng. Dì chạy đi gặp lão tổ trưởng dân phố hớt hải:

– Anh Phú đi với tui. Tui sẽ moi lão Trương Sanh ra để anh cho lão một bài học. Nó sống ở đây mà làm như đang sống trên cung trăng, không biết ai vào với ai hết.

Lão tổ Trưởng dân phố nhăn nhó lắc đầu:

– Dì kêu cách mấy lão cũng không ra đâu. Vô ích mà!

– Thì theo tôi đi! Nhớ túm được nó thì cho nó một bài học nghe.

Hai người lót tót đến cửa nhà Trương Sanh. Dì Năm gõ thình thịch lên cánh cửa gỗ:

– Ông Trương Sanh ơi! Ra mà nhận điện tín ngoại quốc nè!…

Lão tổ Tưởng dân phố giật nẩy mình:

– Chết cha! Ẩu nào dì Năm!

Dì Năm ngoảnh ra nhìn lão, khoái chí cười khà. Rồi dì lại gõ tiếp:

– Điện tín nè! Ông Trương Sanh!…

Lão tổ Trưởng không còn bụng dạ nào giảng giải nghĩa vụ công dân trong xã hội mới nữa, vội vã lủi mất. Lủi còn nhanh hơn cả ông Trương Sanh đang cuống cuồng nhảy bổ từ lầu hai xuống, lính quýnh mở mấy lần cửa khoá, then cài. Lúc ông ló mặt ra , dì Năm cười hề hề:

– Còn trốn nữa hay thôi?

Lão Trương Sanh mỉm cười cầu tài:

– Trốn! Ai thèm trốn chi!

Rồi lão hỏi:

– Đâu? Điện tín đâu?

Dì Năm dẩu môi:

– Ham lắm! có điện tín của nhà nước thì có. Điện tín mời đi họp tổ dân phố nè!

Thấy bị lừa bịp quá trắng trợn, lão Trương Sanh la lên:

– Trời đánh mụ lắm đó nghe! Người đâu mà mặt sứa quá vậy!

Dì Năm chỉ rộ lên cười. Đến lúc Trương Sanh đùng đùng kéo cánh cửa sắt lại và đóng thêm cánh cửa gỗ kêu đánh rầm thì dì còn kêu to:

– Tối nay tám giờ nghe ông Trương Sanh. Đúng tám giờ khai mạc buổi họp đó!

Cái trò loan tin trắng trợn này dì Năm không chỉ áp dụng một lần. Nói cho ngay, cũng có hôm dì nài bằng được ông phát điện tín để cho dì trao tận tay Trương Sanh một kỳ.

Lần đó dì kêu ông Trương Sanh bằng giọng quả quyết hơn khiến cho ông bán tín bán nghi. Ông chỉ đứng thập thò mà không thèm mở cửa. Đến lúc dì Năm la lên:

– Không mở cửa ra tui trả cho bưu điện rán chịu à nghe.

Chừng đó Trương Sanh mới chịu kéo cánh cửa ra. Và lần này thì lão toại nguyện. Lão quên những cơn giận dữ lần trước. Lão vồ lấy cái điện tín và cảm ơn dì Năm rối rít. Nhưng trước sau thì cũng có mỗi một lần. Còn kỳ dư những bận khác, dì Năm cho lão leo cây cả. Lão tức điên người lên, nhưng chẳng lần nào lão có đủ kiên gan để mà bỏ ngoài tai câu réo ầm ĩ của dì Năm:

– Ông Trương Sanh ơi, có điện tín ngoại quốc nè!

Riết rồi ông phát bệnh lên vì cái trò trắng trợn ấy. Có lần ông tức quá đứng chết trân ở ngay ngưỡng cửa. Lúc dì Năm đi rồi, ông quị ngay xuống đó. Cơn tức khiến cho ông muốn ngộp thở. Nhưng cả tháng mòn mỏi chờ điện tín của thằng con, lúc nghe có điện, dẫu thế nào ông cũng mừng quýnh lên, mừng xong thì đến lượt bứt râu, đấm ngực thùm thụp “ già rồi mà vẫn còn dại với con mẹ trời đánh thánh vật đó!”.

Nói cho ngay, trong một hai năm  đầu, mọi thứ chưa ổn định ra đâu và đâu thì bầu không khí sinh hoạt trong Phường còn mang cái vẻ ỡm ờ kiểu đó. Vả chăng mọi người vẫn còn rủng rỉnh tiền bạc, đời sống có khó khăn nhưng còn có cái đem bán để mà ăn. Chừng hai năm sau, mọi sinh hoạt đều như ngả sang màu tái xám. Nhịp độ ồn ào chậm đi. Nụ cười của mọi người đã thấy gượng gạo, héo hắt. Nhìn mặt ai cũng thấy vêu vao, cặp mắt lờ đờ thiếu linh động, rõ ra là thiếu chất thịt trong dinh dưỡng hàng ngày. Guồng máy chính quyền cứ siết chặt lại. Trước tiên là đồng chí Sáu Đăng, Phường uỷ, được tổ chức sắp xếp đi học bổ túc văn hoá. Căn trụ sở chi đoàn thanh niên của Liễu cũng lập tức bị thu hồi. Liễu nghe “trên” giải thích:

– Địa bàn xung kích của thanh niên bây giờ là vùng kinh tế mới. Đồng chí hãy cố gắng vận động thanh niên trong Phường hăng hái tham gia nhiệm vụ đó. Vậy mới xứng đáng với danh hiệu “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Liễu thừa thông minh để hiểu được rằng viên Phường uỷ mới nhậm chức muốn mình nộp đơn xin xung phong đi vùng kinh tế mới. Nàng vụt thấy mọi sinh hoạt, cố gắng của mình trong hơn một năm qua chỉ là một thứ trò rỡn chơi.

Nàng đã có thể phát biểu như vẹt bất cứ vấn đề gì trong các tài liệu học tập, nhưng từ lý thuyết bước sang thực hành, nó là cả một sự biến chuyển sâu xa từ cội rễ. Trong hai năm qua, Liễu nói bằng mồm rất nhiều, nhưng nàng luôn luôn che  giấu trái tim của mình. Nay đã đến lúc nàng phải moi trái tim đen ra ngoài ánh sáng để biểu lộ sự tuyệt đối trung thành với xã hội mới. Cọng rơm ba mươi của nàng chỉ qua một lời phát biểu của viên Phường uỷ mới tới đã phút chốc cháy xèo. Liễu thấy đắng ở miệng và nàng lẳng lặng rút lui. Cô gái Sài Gòn trước sau gì cũng chỉ là cô gái Sài Gòn, mặc dù trước đó có thử đội lên đầu đủ thứ nón tai bèo, bộ đội hay xỏ vào chân đôi dép râu kệch cỡm. Liễu ghé qua nhà cậu Sáu Đăng để thông báo cho ông ta biết ý định của Phường uỷ là vận động một đợt thanh niên đi tham gia vùng kinh tế mới. Cậu Sáu Đăng phát biểu ngay:

– Cháu tới đó không được đâu. Chỗ người nhà cậu nói thiệt!

Liễu mỉm cười:

– Cháu biết. Cháu có nhiều người quen đã đi về đó. Họ kể nghe thấy mà ớn. Cán bộ giao cho căn nhà thì xiêu vẹo như đồ chơi trẻ con, cỏ trong nhà mọc cao tới đầu gối, lúc tiếp thu phải khua gậy khắp nơi để đuổi rắn ra khỏi nhà.

Rồi Liễu chép miệng:

– Vậy mà Phường của mình cũng có tới mấy trăm gia đình rỡ nhà đi vùng kinh tế mới rồi đó chứ.

Liễu nói với cậu mà như thốt ra lời thú tội với chính mình. Trong quá trình công tác, Liễu tham gia tích cực nhất trong công cuộc vận động bà con trở về vùng kinh tế mới. Rất may, ông Sáu Đăng đã giải tỏa cho nàng ít ra là một phần mặc cảm tội lỗi. Ông ấy nói:

– Chúng nó nói một đằng, làm một nẻo. Kế hoạch thì hay ho lắm, mà điều chỉ toàn trên giấy tờ. Mình nghỉ thôi, cháu ạ.

Nói xong ông Sáu Đăng lẵng lặng rút vào trong nhà, Liễu nô rỡn với mấy đứa em một lát rồi cũng về. Trên đường phố Liễu gặp dì Năm đang ôm một lẵng đựng đầy thóc những thẻ nhang và hương vòng. Hồi nầy trông dì cũng có vẻ già sọm đi. Công việc buôn bán của dì ngày càng tệ. Bây giờ ai cũng lo chạy gạo, tiền đâu ra mà mua hương cúng bái. Thôi thì tâm thành là chính, vái suông cũng đủ tâm động quỷ thần linh. Mặt của dì vêu vao thấy rõ. Có nhiều hôm dì không bán được lấy một thẻ nhang. Buổi tối trở về căn phòng xếp tối om, dì không buồn châm lên ngọn đèn dầu hay nhóm bếp để đun lấy ấm nước. Dì nằm lẳng lặng xuống tấm ván gỗ kê bên vách tường xoay trở trong tiếng muỗi vo ve nhức óc. Đói. Cái đói hành hạ làm dì trằn trọc. Ở phía bên kia vách tường, mấy đứa con của Lý cũng ti tỉ khóc. Tiếng khóc của lũ trẻ vì thiếu ăn, tiếng trăn trở của bà cụ già trên ván gỗ vì nhịn đói, đã xẩy ra hàng đêm, riết rồi cũng trở thành những âm thanh bình thường sau ngày Sài Gòn được giải phóng.

NHẬT TIẾN
Santa Ana 29.3.1983

Advertisements

Thoáng Hương Phai. Thơ Hư Vô, Nhạc Phạm Quang Ngọc, Ca Sĩ Hà My, PPS Thảo Nguyên.


thoang huong phai

Đường Gương. Thơ Hư Vô


Đường Gương

Chạy đâu mà quýnh quáng
Đường dài lắm em ơi
Có chạy tới hụt hơi
Biết chỗ nào mà đến.

Là con đường định mệnh
Cũng có khúc ngoằn ngoèo
Hành trang em gói ghém
Còn đủ để mang theo?

Bàn chân em nhỏ xíu
Dẫm xuống bụi gai trần
Vết thương chưa cầm máu
Chỗ dấu tích tình nhân.

Dòng sông sâu phía trước
Con nước ngược đàng sau
Em có chạy về đâu
Chắc gì chân không lún!

Một đời thì tôi cũng
Đuổi theo em cùng đường
Vịn chiếc bóng trong gương
Còn nghe mùi hương cũ.

Mà có lần em đã
Vội vã để bước ngang
Mảnh thủy tinh vụn vỡ
Cứa nát cuộc tình tan…

Hư Vô

Những Con Đường Việt Nam. Tùy bút của Mai Thảo.


Mai Thảo

Những con đường Việt Nam

Đất nước chúng ta, trong cái muôn vàn điệp điệp của những đời sống nhỏ và những thân thế nhỏ- để riêng chỉ là những phiến lẻ và những tờ rời, nhưng cùng đựng chung một lẵng thời gian, là một tổng hợp làm nên Đời Sống Lớn và Thân Thế Lớn- đã có những đời sống và những thân thế dài thẳm ấy của những con đường. Tỏa thành nan quạt trên ba miền quê hương, vẽ thành bàn cờ, mê cung trên địa hình đất nước, từ rất nhỏ và mang linh hồn ngõ, tới rộng xa bát ngát mênh mông chân biển chân trời, những con đường Việt Nam, đã có một tiến trình đường và một lịch sử đường toàn vẹn hơn tất cả những đời đường và những kiếp đường thế giới.

Tôi đã nghĩ đến những con đường của hiện tại Việt Nam như vậy. Như những hiện tượng đời sống sinh động, mất và còn, thay hình và đổi dạng, theo một quy luật biện chứng. Tôi đã nhìn thấy những lòng đường của thời chiến và thời bình Việt Nam như vậy. Đường bước cùng thời thế. Đường đi theo đời người. Mỗi dặm biếc là một đánh dấu, mỗi dặm hồng là một chứng tích, ở đó đã biểu hiện đằm thắm và đau đớn rực rỡ những dấu chân ta và những khởi hành ta. Nói đến những con đường Việt Nam, nói làm sao hết chuyện của những cây cột trắng. Kể chuyện những đời đường đất nước, kể làm sao hết tâm sự của sỏi, linh hồn của đá. Đường có máu chảy và có tim đập. Đường có tiếng nói và có sống chết. Những con đường rất già, những con đường thật trẻ, đi từ những bình minh anh đi tới những hoàng hôn tôi, đó là những con đường Việt Nam.

Huyền thoại về đường phát sinh từ chính cái muôn vàn và muôn mặt của đường. Con đường không chỉ còn là một hình thể, một chiều dài, một diện tích. Định mệnh của lối, hiện hữu của ngã, không chỉ còn giản đơn là một nơi để đi, một chốn để về. Mà hòa nhập bằng một hòa nhập tận cùng của chuyển mình đất nước một đêm kia, dưới một chùm sao báo tin cách mạng, những con đường Việt Nam hai mươi năm nay đã đồng loạt thức giấc, đi ngút ngàn thành ba mươi triệu dấu chân đi. Con đường đã trở thành một ý, một sự. Một hiện tượng và một trạng thái đường. Mỗi lối về đã trở thành một tấm gương soi, thấy mưa bay và giông bão. Mỗi ngã đến đã trở thành một giai đoạn sống, dừng lại thấy quá khứ, đi nữa thấy tương lai, quay sang tả thấy máu chảy, ngó sang hữu thấy lúa xanh, cái trước mặt và cái sau lưng của một đời người, một đầu này, một đầu kia cùng hiện rõ. Những con đường của chúng ta đều vang dậy trong chúng những vang động không cùng như vậy. Chúng là suối róc rách, là sóng ào ào, là biển bao la, là triều dào dạt. Những con đường đứng lên. Và sống. Dũng mãnh. Những con đường ngã xuống. Và chết. Tan nát. Đưa tới những chân trời, bằng dặm vàng xe lăn gấp gấp, ruổi tới những xóm làng bằng chân chuyển tấp nập, của tản cư trong đêm, chuyển quân dưới nắng, tiễn biệt lúc sương mù, trùng phùng khi nắng dấy, băng qua những chiến hào, vượt qua những hầm hố, một vĩ tuyến bỏ qua, một mật khu bỏ lại, từ độc đạo trong rừng, tới xa lộ giữa lúa, nghiêng nghiêng bóng dừa miền Nam, lượn lượn lũy tre miền Bắc, xanh bóng núi từ Nam Quan đường xuống, vàng dáng biển từ Cà Mau đường về, đón cách mạng lên, mời đảo chính tới, những con đường có tim đập và có hơi thở ấy là những con đường Việt Nam, tôi muốn nhớ lại tất cả một lần. Bằng những dấu chân một đời đã gặp.

Những con đường thứ nhất của người cũng là của một thời thanh bình đã mất, là những lối đi dưới lá, trong cây, nhỏ, yên, lắng động và thơ mộng hiền hậu. Đó là những sợi chỉ hồng múa lượn dịu dàng giữa hai bờ cỏ, lòng đất mát thơm da thịt. Đó là những sợi chỉ biếc thả luồn trong nắng, mỗi buổi sáng mùa xuân mưa phùn lất phất, mỗi buổi trưa mùa hè chập chờn những cánh bướm lang thang. Chiều, hoàng hôn màu tím đến êm như tình nhân. Đêm, cái mái tóc óng ả của con trăng hiền là một mái tóc bằng hữu. Đom đóm bay theo vui tôi ở đó, vui của đầu đời lớn dần với tuổi. Tiếng gà gáy, tiếng chim hót, tiếng rì rào của lá tre múa múa, của trâu bò về chuồng, của lúa rơi ngày mùa, của gió trong vườn, của mưa đầu ngõ, tôi đã nghe thả xuống những lòng đường ấu thơ thuở ấy, mỗi con đường là một dàn nhạc, đất đựng âm thanh, đường trong đất là một phím dương cầm, đất trong đường là một phòng vi âm, thu và phát hết những lời ru và những ca khúc sáng tươi trăm nghìn của thôn dã. Chân chim sẻ nhảy trên lối tuổi hồng. Lối đến của ca dao, ngã vào của lục bát, lá trên đầu lợp mái, cỏ hai bờ trải thảm, tôi là con sáo nhỏ ngậm một bông hồng hàm tiếu bay hồn nhiên trên đường thơ thơ. Rồi thình lình là chấn động và phá vỡ lớn. Cùng với đất nước, người người lớp lớp đứng lên bằng những dấu chân chuyển núi của khởi nghĩa và cách mạng, là sự hiện hình kinh dị, thảng thốt của những đời đường và những kiếp đường mới.

Những con đường Việt Nam

(Khu phi quân sự vĩ tuyến 17)

Lửa tiêu thổ cháy bùng ngọn đỏ. Những thị trấn san phẳng. Những xóm làng mất tích. Và những con đường Việt Nam hùng hậu, từ lối mòn tới nẻo khuất, từ cái quan tới quốc lộ, đã đổi ngược hẳn đi cái ý nghĩa, cái thực thể đường. Hết là một nối liền, lối là một chặt đứt. Thôi là một dẫn tới, ngã là một đứt rời. Khi chiếc ụ đất đầu tiên được đắp lên trong đêm đen đặc, tối tăm thứ nhất của hủy phá toàn diện, trong tiếng thét dậy đất của bạo động khởi sự, còn là tiếng kêu thất đảm của giao thông tử thương và rãy chết cùng khắp vang lên. Búa chim bổ xuống đầu. Xẻng cuốc đâm trúng tim. Mìn nổ. Bằng những con dốc chênh vênh khóc xuống những cây cầu đổ sập, bằng những khúc quành chi chít những nhát đâm, lỗ chỗ những vết chém, bằng sắt đường tàu cắm tua tủa vào thân thể tan nát như từng chùm lông nhím, bằng chông dựng ngược và bằng bẫy đặt ngầm, là những tay chân óng ả uyển chuyển của đường bị chặt cụt, là những đời đường thương phế binh. Trí nhớ của tôi, trí nhớ nằm trong những bước chân đã đi qua suốt một thời kỳ lưu động lang thang từ rừng xuống biển, còn nguyên vẹn cái cảnh tượng hồng hoang ấy của những đời đường lâm nạn. Đường là một nghĩa địa. Mỗi cột cây số còn sống sót là một mộ chí màu trắng. Thân cây nằm dọc. Chướng ngại đứng nghiêng. Trên những chữ chi của hố chữ nhật, trên những khúc quanh của hố hình tròn, bằng biểu ngữ chăng ngang, bằng cổng chào dựng thẳng, những con đường Việt Nam bị cắt gân, tùng xẻo, điểm huyệt. Và chết. Tôi đã đi trên những đường đời lâm chung ấy. Nghe sỏi nức nở. Nghe đá quằn quại. Thấy đất hủy thể. Thấy cỏ tan tành. Những bước chân người vì vậy mà cũng đổi khác. Từ một hóa thân tập thể của đường, những huyền thoại bắt đầu. Kẻ lữ hành phải tập cho mình một lối đi mới. Những con đường của chiến thời đã thay đổi hẳn bộ mặt đất nước. Bằng một thay đổi hoàn toàn. Chúng ta đã đi như thế nào từ hai mươi năm nay. Con đường nào là con đường dài thẳm nhất. Chân bước về phía tả hay chân đi về phía hữu. Những tên đường đã có, đã mất, đã lỡ và đã lạc. Đi cho chân cứng đá mềm. Đi cho trời yên bể lặng. Hành trang nào và lúc nào là giờ hoàng đạo. Những con đường riêng, kín thầm, nhỏ nhỏ. Những con đường chung, bát ngát mênh mông. Điều đáng nói và đáng tìm hiểu nhất là những dấu chân của người trên những thân thế và những đời sống ấy như thế nào? Riêng tôi, bước chân đã mỏi, con đường còn dài. Trên một trạm mang tên là hoài nghi, những dặm biếc, những dặm hồng từ lâu không thấy nữa.

Mai Thảo

https://123hoang.wordpress.com/2012/08/25/nhung-con-duong-viet-nam/

Lãng Đãng Khúc Sông Thu. Thơ Hư Vô


(Georges River in Autumn)

Có một dòng sông em bỏ lại
Lời tình tan theo sóng bạc đầu
Mà đâu chắc gì em đã thấy
Hồn tôi lãng đãng đáy sông sâu.

Để biết đau cùng con nước lớn
Bóng em còn sóng sánh mùa thu
Như vạt lụa là phơi trong mắt
Vụt bay theo xác lá mịt mù.

Thềm đá xanh xao ngày tháng cũ
Chất chồng thêm bao nỗi quạnh hiu
Chỗ trái tim tôi dường như cũng
Đâm chồi ngang những nhánh rong rêu.

Nói làm sao để cho em hiểu
Trăm năm như thể một nhịp cầu
Mà dòng sông chia thành hai ngả
Chảy vào hoang phế nửa đời nhau…

Hư Vô

Cảo Thơm Lần Giở… Bùi Giáng viết về Thơ Tuệ Sỹ


Bùi Giáng

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…. Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty

(Tuệ Sỹ – Tác phẩm của Dominique de Miscault)

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.

Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Tôi hoảng vía đề nghị: Đại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

Ông đáp: – Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời
Hội cũ

Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? – Cung trời hội cũ.

Một hội đạp thanh? Một hội nao nức? – “Giờ nao nức của một thời trẻ dại?”.

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ…

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh…. Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều “phải nói” với mọi người “muốn nghe” với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).

Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.

Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du: “Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (…). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?”.

Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!

Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.

Đáp: – Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ

Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh?

Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.

Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?

“Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang”

Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?

(Thi sĩ Bùi Giáng)

Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?

Mình là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?

Phải có nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.

Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du:

Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Một tiếng “buồn chăng” lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường:

Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi:

Đếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Đủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh

Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ? Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi “đá” sớm từ giã mọi yêu thương?

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.

Bùi Giáng

https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=17C459

 

 

Điếu Khúc Tiễn Cha. Thơ Hư Vô


(Điếu khúc này như một nén hương lòng con kính dâng Bác Nguyễn Văn Tây, một người cha nhân từ đã mệnh chung ngày 05/09/2017 tại Sydney, Australia.)

IMG_4770

Trăm năm dài tới bao lâu
Cũng đâu vượt khỏi nhịp cầu trần ai
Thì trong một tấm hình hài
Sinh ly tử biệt đâu ngoài hư không.

Cha vào một cõi mênh mông
Bỏ lại tiếng khóc bên dòng nhân gian
Con quấn chặt mảnh khăn tang
Vẫn chưa lau ráo lệ tràn trên mi.

Thắp nhang tiễn biệt cha đi
Mà nghe như thể đá ghì chân con
Từ nay thôi sẽ không còn
Thấy bóng cha dắt đàn con qua cầu.

Làm sao biết đáy sông sâu
Lòng cha đâu có thước nào mà đo
Để con lủi thủi lần mò
Tiễn cha qua một chuyến đò tử sinh…

Hư Vô

Nhận Thư Con. Truyện Ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

Bà cụ Tám quẹt đến que diêm thứ ba rồi mà vẫn chưa châm được mồi lửa. Diêm quốc doanh hồi nầy tồi tệ quá, đầu que chỉ dính chút xíu thuốc mồi, lại mềm xèo, quẹt vô vỏ bao chỉ bở toẹt ra và bốc khói lên thôi. Cơn bực bội của cụ như có thêm được lý do để nổ bùng. Cụ ném văng hột quẹt xuống vệ đường và la lối:

– Tổ cha nhà nó, diêm quẹt thế nầy cũng bán cho người ta.

Rồi cụ lật thúng, lật rổ đùng đùng như thể kiếm xem trong gánh hàng của cụ còn sót lại bao diêm cũ kỹ nào không. Ngồi ngay bên cạnh, chị Bảy bán xôi bắp thấy sốt ruột phải kêu lên:

– Thôi đi ngoại ơi, vía van ở đâu ra mà đốt hoài! Từ sáng ngoại đốt đã hai lần rồi, cũng đến vậy thôi.

Bà cụ quay sang sẵng giọng:

– Có đốt có hơn, có kiêng có lành chớ. Mới mở mắt ra đã mấy đứa tới ám quẻ, làm gì không xui.

Chị Bẩy bật lên cười:

– Ai mà ám quẻ ngoại làm chi. Khoai của ngoại sùng, người ta mất tiền mua, người ta phải kêu nài chứ. Tội là tội mấy thằng trong ban điều hành Hợp tác xã kia kìa. Chúng nó ăn tay với bọn đi thu mua, đem về toàn đồ dỏm rồi bắt bà con tiêu thụ. Ngoại ham rẻ buôn lại mấy thứ nợ đó rồi có ngày hết vốn!

Lời phân giải của chị Bảy chẳng làm nguôi ngoai được bà cụ chút nào mà trái lại còn khiến bà cụ tức tối thêm. Cụ với tay chụp lấy cái vỉ đập ruồi khua loạn xạ lên mấy cái mẹt trước mặt khiến cho những con nhặng xanh, những con ruồi đen kịt đang bu trên mớ khoai lổn nhổn vụt bay lên tán loạn.

Một lát sau, cơn tức giận của cụ dịu xuống. Cụ bắt đầu chú ý nhìn ra chung quanh. Con hẻm chật chội lõng bõng bùn nước vì cơn mưa đêm qua, vào lúc này đã tấp nập người qua lại. Mấy đứa nhỏ còn có cơ hội đi học đang cắp sách đến trường, trên cổ đeo những chiếc khăn quàng màu đỏ chói mắt. Vài người trong xóm tay xách những chiếc bao tải, những cái giỏ không, bên nách kẹp cuốn sổ hộ khẩu và sổ thực phẩm đang đi đến trụ sở của Hợp tác xã Thương nghiệp. Ở trước căn nhà nhỏ được dùng làm trụ sở của Chi đoàn Thanh niên, một đám thanh niêm nam nữ đang tụ tập mỗi lúc một đông. Không biết hôm nay có công chuyện gì mà thấy lển nghển đủ thứ cờ quạt, khẩu hiệu và biểu ngữ. Xế cửa bên mé đó là trụ sở của một tổ hợp may cắt, vào lúc nầy cánh cửa cũng đã mở toang, bên trong thấy lố nhố nhiều người. Một cái xe vận tải nhỏ đậu chình ình ở đó ngay từ sáng sớm hiện đang bốc dỡ những xúc vải lớn để khuân ùn ùn vào bên trong nhà tổ hợp. Hồi nầy cách làm ăn bên đó có vẻ trúng mối. Nhà nước gởi tới may loạt sơ mi dài tay bằng vải trắng có chạy những đường kẻ sọc màu xanh hay nâu. Một lần bà cụ Tám đi ngang qua đó vào buổi chiều, có tiếng của Hảo, con gái ông Đông bên hàng xóm, gọi véo von:

– Ngoại ơi! Coi nè!

Bà cụ đứng khựng lại, ngó vô. Bà thấy cái Hảo đang xoè rộng cái áo sơ mi vừa được nó may xong và giơ lên cho cụ thấy. Ôi chao là dị kỳ. Nó dài, nó to, nó rộng, chỉ nội cái thân đã nuốt thòm lỏm hết cả từ đầu con bé xuống đến quá đầu gối rồi. Bà cụ kêu lên:

– Áo sơ mi nầy may lớn thế thì bán cho ai ?

Cái Hảo vừa cười ngặt nghẽo vừa trả lời:

– Đâu có bán cho ai. Cái này nhà nước xuất khẩu đi Liên Xô!

À ra thế. Hèn chi mà vải vóc cứ chở đến ùn ùn, công nhân ra vô tấp nập, đèn đóm ở đó sáng choang từ sáng đến tối. Hôm đó vui chân bà cụ Tám tạt ngay vô nhà và xoè tay bốc cái vạt áo sơ mi lên để xem cho tận mắt cái vải “xuất khẩu đi Liên Xô” nó ra làm sao. Bà cụ không tin ở mắt mình. Bà vê đi vê lại cái mặt vải trên mấy ngón tay. Rồi bà kêu lên:

– Cái này vải bông xí òm, giặt đi một nước thì nó nhão nhoẹt ra rồi nhăn túm lại chớ gì.

Cái Hảo mỉm cười:

– Thì thế! Hồi trước mình đâu có xài mấy thứ nầy để may áo sơ mi. Giỏi lắm thì cũng đến chỉ để may áo gối thôi.

Cụ Tám càng ngạc nhiên:

– Vậy chớ sao đem xuất khẩu đi Liên Xô?

Cái Hảo phá lên cười:

– Ngoại đi mà hỏi mấy ông nhà nước chớ cháu làm sao mà biết đường trả lời. Mà “Xô” thì “Xô” chớ cũng nghèo chết ra ấy chớ, có cái mà mặc cũng quí rồi.

Thế chẳng cần “đi hỏi mấy ông nhà nước”, Cụ Tám cũng đã hài lòng về cách giải thích của cái Hảo rồi. Cụ cười khà lên một tiếng rồi đi ra. Trong bụng cụ nghĩ vừa ấm ức, vừa tức cười. Tổ cha mấy thằng liếu láu bên ban Thông tin Văn hoá phường. Lúc nào cũng dẻo cái mồm “Liên Xô vĩ đại, Liên xô vĩ đại”, làm như chỉ cần nói cho lấy được, bất kể trắng đen. Tuy nhiên bà cụ Tám cũng chả bận tâm gì nhiều đến chuyện đó. Chúng nó nói gì thì nói. Nói riết rồi đâm nhàm, chả ai thèm để ý. Mối lo âu duy nhất của mọi người bây giờ là làm sao chạy ra cái ăn. Sự thiếu thốn cứ thế mỗi ngày một hiện ra rõ ràng trước mắt. Mặt ai cũng xanh xám, gò má vêu vao, mắt như đục đi, răng miệng như hô ra, nụ cười cứ mỗi lúc trở nên héo hắt.

Riêng cụ thì từ ngày thằng Quang đi học tập, cụ bám riết lấy mớ thúng mủng hàng ngày ra ngồi ở đầu hè. Hàng họ bầy bán ngày một sa sút đi. Trước đó còn có đôi quả xoài, dăm nải chuối, vài trái thơm và linh tinh bánh kẹo đủ thứ. Nay thì chỉ còn phần lớn là những củ khoai lang, khoai mì và mấy trái cóc, trái ổi đèn đẹt. So với những dãy hàng rong ngồi la liệt ở khu hẻm nầy, gánh hàng cụ Tám thiểu não nhất.

Ngay bên cạnh cụ, chị Bảy cũng còn có gánh xôi khá tươm tất. Một bên là cái thúng lớn, trong chia nhiều ngăn được được ủ kín bằng những tàu lá chuối có cả xôi bắp, xôi vò, xôi đậu xanh, đậu đen. Bên kia quang gánh là linh tinh bát đũa đủ thứ. Ai mua mang về được gói trong một mảnh giấy to bằng bàn tay được lót một mẫu lá rong. Ai ăn tại chỗ thì có bát đũa tươm tất. Tính chị Bảy vừa đàng hoàng, vừa rộng rãi. Chả bao giờ chị nỡ từ chối một bác xích lô xin thêm ít mỡ hành, hay một thằng nhỏ năn nỉ đòi thêm một thìa đường chẳng phải loại đường như trước mà là thứ đường cục được nghiền nát thành bột. Chị Bẩy may mắn hơn nhiều người là chồng chị không phải học tập cải tạo. Những ngày đầu có lệnh của Uỷ ban Quân quản bắt các cựu sĩ quan phải đi tập trung, hễ có ai hỏi thăm về trường hợp của anh Bảy, chị cười sung sướng, khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên:

– Ảnh mới có hạ sĩ thôi à! Hạ sĩ chỉ học có ba ngày rồi nhà nước cho “dìa”.

Chả bù với ngày xưa thấy bạn bè có chồng con nên chức nên phận, những lúc giận nhau với ảnh chị vẫn đay nghiến:

– Anh thì làm nên cái cơm cháo gì. Hơn mười năm ở lính vẫn lẹt đẹt cái “hạ sĩ”.

Nào ngờ, sau một cuộc đổi đời, lại có lúc chị nhắc nhở đến chức tước của anh như một thành tích vẻ vang, trong khi đó mấy đứa bạn cũ hồi còn đi học nay lấy chồng sĩ quan, đứa nào đứa nấy khóc sưng đỏ vù cả con mắt.

Sau ba ngày học tập ngay địa phương, anh Bẩy được trả quyền “công dân”. Thỉnh thoảng anh vẫn lầu bầu:

– Mẹ kiếp, công dân ở cái xứ nào không biết, chứ trong cái xã hội chủ nghĩa này thì số phận lúc nào cũng đen như mõm chó.

Chị Bẩy phải lừ mắt nhìn anh để nạt nộ và có lúc chị phải nói:

– Muốn học tập mút mùa hay sao mà cứ ngứa mồm nói năng ẩu tả. Nói cho anh hay, tụi nó bắt đầu thắc mắc cái nghề lái xe ôm của anh rồi đó.

Anh Bẩy nhìn chị tức tối:

– Lái xe ôm thì sao. Tui đâu có nhờ vả trông cậy gì được của tụi nó tí chút nhu yếu phẩm nào đâu.

– Mà điều anh không có lao động sản xuất. Thời buổi này không lao động sản xuất là ăn bám xã hội anh hiểu chưa.

Anh Bẩy kêu lên:

– Ái cha, cô đi sinh hoạt học lóm được đôi ba chữ chính trị bây giờ đem về dạy dỗ cả tui nữa há.

Chị Bẩy không tức vì anh không đồng quan điểm với mình, nhưng tức là vì anh đã gán cho chị hai chữ “học lóm”. Chị mà thèm học lóm đứa nào. Mấy cái tư tưởng lao động đó chúng nó ra rả tối ngày trong cái loa bên ban Thông tin Văn hoá Phường ai cũng nghe, ai cũng rõ chứ chị đâu thèm học lóm. Thế là hai người cãi nhau. Anh Bẩy tức tối xách cái xe máy ra đường đi biệt từ sáng tới tối. Lúc trở về, hỏi tiền kiếm được không thấy đưa ra, lại mang thêm bộ mặt đỏ ké, mồm miệng sặc sụa hơi rượu. Cuộc cãi nhau về đêm sau đó còn to hơn nữa.

Tuy nhiên những chuyện lỉnh kỉnh như vậy không xảy ra thường xuyên. Đời sống khó khăn, thiếu thốn đã khiến cho vợ chồng gần gũi thương yêu nhau hơn. Chỉ phú quý mới sinh lễ nghĩa mà, các cụ ngày xưa đã dạy thế. Cũng nhờ vậy, anh Bẩy đỡ đần chị khá nhiều khi mỗi ngày anh chịu xách xe ra cổng, đầu đội mũ tùm hụp, móc một bên túi áo trên ra lọ thuốc muỗi chứa đầy xăng mồi mồi một chút xíu cho cái máy rồi đạp cần số cho máy nổ. Cái xe máy chạy bằng dầu hôi nổ rầm rầm như cái xe hủ lô và tuôn khói mù mịt. Chị Bẩy cảm thấy khoan khoái khi được ngửi cái mùi khói quen thuộc ấy. Nó đem lại cho chị cái cảm giác dễ chịu đồng nghĩa với sự dễ chịu khi nghĩ tới buổi tối anh trở về là có tiền mua thêm chai nước mắm, hay vài bó củi, hay nửa ký đường hoặc những cái linh tinh vặt vãnh nào đó vừa hết soẳn ở trong nhà.

Còn chị thì vẫn cố thủ với gánh xôi. Chị cũng kiếm được đồng ra đồng vào nhưng thủ kỹ chẳng bao giờ nói ra với anh Bẩy là chị có lưng vốn bao nhiêu, mỗi ngày lời lãi bao nhiêu. Điều rõ nhất mà anh biết là hai đứa nhỏ nhà anh chưa đến nỗi nhịn đói, còn chị Bẩy thì tuy có sa sút nhưng cũng còn mát mẻ, phong độ lắm.

Mỗi buổi sáng vào giờ này, như sáng nay, là chị cũng đã tự bán cho mình một gói xôi nóng hổi rưới cả mỡ lẫn đường nhiều gấp đôi, gấp ba các khách hàng khác. Mùi xôi mỡ thơm phức bay sang lỗ mũi bà cụ Tám bên cạnh cứ mỗi lúc một làm cho cụ nôn nao. Cơn tức tối vì chuyện mấy đứa ám quẻ kêu nài khoai sùng, khoai thối đã nguôi ngoai trong lòng cụ. Bây giờ cụ chỉ thấy cơn đói đang râm ran chạy khắp cơ thể làm cho cụ cảm thấy hết sức khó chịu. Cái đầu cứ chòng chành. Cặp mắt nhìn đâu cũng thấy như mờ đi. Chân tay của cụ run rẩy. Trong ruột thì cái trống rỗng cứ mỗi lúc một làm cụ thấy buốt xót như có ai đang bào nạo. Đói. Đói từ chiều hôm qua. Cụ nhớ đến hũ gạo vét vơ đến hạt cuối cùng từ bốn năm ngày trước. Ngày hôm kia ra chợ định đong ít lon về nấu độn nhưng nó đòi mười đồng một ký gạo. Trong khi ấy thằng Quang hồi mấy tháng trước viết thư về chỉ xin một gói muối mè rang mè, một lọ dầu gió và mấy thẻ đường bổi. Hôm nhờ người ta đọc thư của nó lên cho bà cụ nghe, bà cụ ôm mặt khóc:

– Nó biết tôi nghèo, tội nghiệp, nó chẳng dám xin gì.

Với nhu cầu thiếu thốn của nó như thế đời nào cụ dám bỏ ra tới mười đồng để đong một ký gạo. Thế là cụ chọn giải pháp ăn bậy bạ cái gì cho qua cũng được. Cụ quyết tâm dành dụm để lo phần quà chu đáo cho thằng Quang trong lần thăm nuôi tới.

Tuy nhiên mùi hành mỡ quái ác từ mẹt xôi của chị Bẩy đưa sang cứ làm tất cả các tế bào khứu giác của cụ nhất loạt đứng hết cả dậy. Mới đầu thì cụ tránh để không nghĩ tới nó. Nhưng càng cố tránh mùi thơm càng đưa lên ngào ngạt. Nó bắt buộc cụ phải quay đầu lại phía những mẹt xôi và để cho hai lỗ phập phồng đón tiếp tự do cái mùi vị mà cả hai tháng nay cụ chưa hề thưởng thức tới. Rồi cụ sững người ra nhìn chị Bẫy nhai nhóp nhép tự lúc nào mà cụ không ý thức được, không kiểm soát được. Đã có lúc cụ định xuất ra đồng bạc để mua cho mình một gói xôi. Nhưng ý nghĩ dại dột ấy lập tức bị dập tắt ngay bởi hình ảnh gầy đét, ốm yếu xanh xao như một bộ xương khô của thằng con trai cụ. Cụ cố níu lấy cái hình ảnh đó để chống trả với những cuộc tấn công của mùi hành ngập mùi mỡ béo và cả mùi thơm phức của những hạt xôi dẻo quạch. Về một ý nghĩa nào đó, quả thực cụ cũng đang bị trải qua một cuộc tra tấn bằng cân não, đánh vào cái bao tử cồn cào, đánh vào hai lỗ mũi đầy thần kinh khứu giác, đánh cả vào bộ não bồng bềnh, phiêu dạt bởi những cảm giác đói run cứ diễn ra trong đầu óc.

Cuối cùng thì cụ đành phải đầu hàng cái cuộc tra tấn ấy bằng cách lượm lên một củ khoai. Củ khoai đẹt nhất, có nhiều dấu loang lổ xanh bầm của vết sùng, vết thối nhất. Cụ run rẩy bóc vỏ bằng mấy ngón tay. Rồi cụ cắt một khoanh nhỏ đưa lên miệng. Vị bùi của khoai không lấn át vị đắng nghét của vết sùng làm cho mặt cụ nhăn lại. Bây giờ thì cụ cảm thấy mấy đứa ám quẻ mua khoai rồi đem trả lại là có lý. Khoai hư thối thế này ai mà nuốt nổi. Cắt toang một củ ra, để chỉ có một phần ăn được, còn tới bốn phần hư. Thế thì trăm tội đổ lên đầu mấy thằng bên Hợp tác xã Thương nghiệp là đúng rồi. Cụ chém cái sống dao xuống mép một cái thúng rồi bật kêu lên:

– Tổ cha nó! Khoai thế này cũng bán cho người ta.

Chị Bẩy ngồi bên chợt rích lên cười:

– Thì đã biểu rồi mà. Ngoại ham rẻ buôn mấy thứ đó có ngày hết vốn.

Bà cụ định nói một câu gì đó nhưng miếng khoai chẹn trong cổ làm cụ nghẹn lại. Vị đắng nghét đứng sững ở đó, thấm vô nước miếng rồi loang ra. Bà cụ thấy rõ cái cảm giác khó chịu đó chui xuống tận bên trong cổ họng. Còn đang lúng búng với miếng khoai và những ý nghĩ rã rời, bỗng bà cụ Tám chợt giật nẩy người lên khi nghe từ đằng xa có ai réo gọi tên mình. Quả nhiên chỉ trong một thoáng sau đó mấy đứa nhỏ đã lốc nhốc chạy lại từ phía đầu hẻm, vừa chạy vừa la chói lói:

– Cụ Tám có thư! Cụ Tám có thư!

Những tiếng la có tác dụng làm cho người cụ chết sững lại. Cụ quên cả đói. Quên vị khoai đắng nghét còn chứa đầy trong miệng. Quên luôn cả sự hờn giận mấy đứa làm ăn bê bối bên Hợp tác xã Thương nghiệp. Trong đầu óc cụ bây giờ chỉ còn lùng bùng mấy tiếng “Cụ Tám có Thư. Cụ Tám có thư”. Cụ muốn nhỏm dậy nhưng toàn thân đã tê điếng. Củ khoai nham nhở còn nằm nguyên vẹn trong mấy ngón tay nhưng bây giờ ngó như tất cả đều đang run bắn lên. Cụ cũng cố cất lên một lời đáp lại tiếng la của lũ nhỏ nhưng giọng nói của cụ cũng như bị tắc lại. Cụ chỉ còn biết giương to cặp mắt nhìn về phía đầu ngõ. Mọi người ở đó đông đảo quá nên cụ chưa phân biệt được gì. Duy có một điều cụ biết chắc mình đang được thụ hưởng một biến cố. Cái biến cố ấy cụ chờ đợi đã từ lâu, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, đêm nào trước khi nhắm mắt đi ngủ cụ cũng hình dung ra thân hình xanh xao, còm cõi của thằng con với một sự băn khoăn tức tủi “đến hôm nay rồi sao nó chưa có thư?”.

Bây giờ thì cái thư ấy đã tới. Nó tới một cách bất ngờ, đột ngột. Tới trong một buổi sáng mà cụ không đợi chờ, không hy vọng, một buổi sáng mà cụ cho là xui xẻo nhất vì cụ đã phải đốt vía mấy lần để xua đuổi cái xui do mấy kẻ mua hàng đem lại. Chợt có tiếng của chị Bẩy nói to làm cụ choàng tỉnh cơn sững sờ của mình:

– Vậy là có thư của cậu Quang rồi.

Chị vừa nói dứt lời thì lũ nhỏ cũng đã chạy tới. Chúng nó bu lại quanh mẹt khoai của bà cụ. Đứa này nói, đứa kia nói. Vừa nói vừa thở, quang cảnh ồn ào, náo nhiệt hẳn lên. Sự nồng nhiệt của chúng nó làm cụ cảm động. Cụ thấy rõ tất cả mọi người, kể cả lũ trẻ lam lũ, vô tội này cũng đều chia sẻ với cụ nỗi lòng của người có thân nhân đi học tập cải tạo. Nếu chúng nó không quá đông, nếu những củ khoai của cụ không quá nhiều vết sùng, và nếu cụ đã cầm chắc được cái thư của thằng Quang trên tay rồi thì cụ dám hứng chí đưa cả mẹt khoai cho lũ trẻ phân phối với nhau. Nhưng ít ra cụ cũng còn đủ sáng suốt để nhớ lại cái vốn gần chục bạc bỏ ra buôn khoai chưa thu lại được một phần tư. Cụ cũng nhớ đến ước vọng của thằng Quang viết trong những thư trước: “Con biết mẹ già yếu chẳng làm ăn buôn bán được gì. Nếu xoay xoả được, xin mẹ gửi cho con một gói muối mè rang mặn…”. 

Chỉ mới nghĩ được đến thế thì nước mắt của cụ bà đã tuôn trào. Cụ khóc vì thương nó cũng có và vì mừng rỡ hôm nay được tin của nó cũng có.

Lúc này thì người phát thư cũng đã đi tới. Vai ông ta  đeo một túi vải đựng đầy nhóc những lá thư. Một tay ông giắt chiếc xe đạp bằng cách cầm ở một bên tay lái, còn tay kia thì ông giơ cao một bao bì màu trắng loại giấy được nấu lại nên đã ngả màu úa ngà. Vừa đi ông ta vừa nói to:

– Nguyễn Thị Dần là ai?

Bà cụ la lên, tưởng như không hét to thì ông ta không nghe thấy:

– Tôi…Dạ tôi đây!

Người phát thư ngừng lại ở ngay trước mặt cụ và hỏi tiếp:

– Cụ có thân nhân nào tên Võ Ngọc Quang không?

Bà cụ đột nhiên bị cơn xúc động làm cho miệng trở nên sệu mệu:

– Dạ, đó là con tôi. Nó đang học tập cải tạo…

Nói chưa dứt câu thì cụ oà lên khóc. Cơn khóc kéo đến quá bất ngờ, mau chóng như thể là kết tinh lại ở đầu bao nhiêu là nỗi niềm tủi nhục, oán hờn, bao nhiêu là đêm thao thức, trằng trọc, chờ đợi mong thư.

Thấy cụ khóc lên một cách quá dễ dàng, người phát thư hơi sững sờ một chút nhưng ông ta cất lên lời khuyên nhủ ngay:

– Thôi không sao đâu. Nó đi rồi nó lại về mà. Học tập cải tạo chớ có phải tù tội gì đâu.

Lời nói của ông lọt vào tai chị Bẩy làm chị thảng thốt. Chị quay phắt sang nhìn vào tận mặt bác đưa thư, và cơn giận bỗng ùa đến thật mau. Chị nói như phủi vào mặt:

– Giam con nhà người ta mấy năm liền mà nói có tù tội gì đâu. Ăn gì mà ngu quá vậy.

Người đàn ông tức tối vì bị dùng hai chữ “ăn gì”, lại nữa câu nói ấy lại được sử dụng ở ngay giữa đám đông, nếu không có lời cãi lại thì mất mặt quá. Cho nên bác ta đã quay lại phía chị Bẩy sừng sộ:

– Chị nói ai “ăn” gì?

– Tôi nói cái đứa nào ngu mà biểu học tập cải tạo chứ đâu phải đi tù, giỏi có ngon thì vô đó học đi!

Bác phát thư bật lên một tiếng cười khẩy:

– Hơ! Tôi việc gì mà phải vô đó nhỉ? Tôi đâu có nợ máu. Tôi đâu có phản cách mạng. Coi chừng những quân phản động ăn nói mất lập trường mới phải vô đó thôi nghe.

Chị Bẩy đang ngồi bỗng đứng phắt ngay dậy. Chị gạt cái mẹt đang vướng víu ở chân qua một bên rồi sấn xuống lòng đường. Lần này giọng của chị tác xác hơn:

– A! Ra bác chụp mũ tôi là phản động phải không. Tôi nói sự thật như thế đó mà kêu là phản động phải không. Đi mà trình báo đi. Con này cùi rồi đâu có sợ lở .

Màn đấu khẩu không đâu vào đâu thế mà trong khoảnh khắc có vẻ trở nên trầm trọng. Bà cụ Tám hốt hoảng nhất vì sợ mất lòng người đưa thư, lần này đã vậy, lần sau nó vất vô sọt rác thì kêu ai, cho nên bà cụ vội níu ngay lấy cánh tay của chị Bẩy kéo lại và nói:

– Thôi đi mà. Chuyện có gì đâu mà xé ra to.

Chị Bẩy phân bua:

– Thì có ngoại ở đây từ đầu ngoại thấy đó. Cháu có nói gì đâu, vậy mà bác ấy kêu cháu phản động. Cháu hỏi ngoại chớ thằng Quang đi cải tạo có phải là đi tù không? Ngoại nói thật đi.

Bà cụ nài nỉ:

Thôi mà, nhắc làm chi tới những chuyện đó. Tù hay cải tạo hay học tập gì cũng được tuốt. Chữ nghĩa mà ăn nhằm gì.

Chị Bẩy được lời nói của bà Tám nên reo lên:

– Đó! Thấy không? Hiền lành như bà cụ đây cũng thấy rõ chữ nghĩa mà ăn nhằm gì. Có xảo ngôn cách mấy thì tù vẫn là tù thôi, đâu có khác được.

Bà cụ tưởng mình ngỏ lời dàn hoà cho vui vẻ cả hai bên, đâu có ngờ chỉ mới thốt lên một câu đã khiến cho mọi người hiểu lầm và chị Bẩy túm được lấy nó xài xể thêm bác đưa thư. Điều đó khiến cho cụ mặt ngẩn ra và không biết phải sửa chữa lại cách nào.

Đã thế một thằng nhỏ, đứng ở ngoài bỗng ngứa mồm la lên:

– Để bác ấy vô rồi bác ấy biết…

Bác phát thư đang đuối lý, cũng chưa bết phản ứng cách nào, bỗng túm được thằng nhỏ cà chớn ở đâu xía mồm vào, bác liền trút ngay cơn giận dữ của mình lên đầu nó. Bác liền quay phắt người lại và chỉ vào mặt nó gằn giọng:

– Này, ranh con biết gì. Mày không câm mồm tao “ goắn” chết mẹ mày!

Thằng nhỏ chột dạ về thái độ quyết liệt của bác ta, vội vã lùi lại ra phía ngoài đám đông, rồi chợt nó vùng lên chạy, vừa chạy nó vừa la to:

– Goắn đi! Goắn đi!…Người lớn bắt nạt con nít.

Mấy đứa bạn của nó cũng a dua ùa lên chạy theo. Một đứa buột mồm kêu:  Ế! Ế !…Chị Bẩy được cả lũ hỗ trợ nên vẻ hài lòng hiện rõ trên nét mặt. Chị cảm thấy cuộc đấu khẩu coi như đã ngã ngũ và phần thắng đã ngả về phe chị. Do đó chị không cưỡng lại cử chỉ của bà cụ kéo chị trở về chỗ ngồi của mình.

Bác phát thư thấy cũng chẳng còn lý do để mà gây thêm phiền nhiễu ở cái con hẻm đầy dẫy những thành phần phức tạp này nên cũng vội vã ấn vào bàn tay của bà cụ phong thư màu vàng úa và vội vã leo lên xe đạp đạp đi. Bà cụ không còn bụng dạ nào để tâm tới bác ta nữa. Bà vồ lấy phong thư như một kẻ đi trong sa mạc  nóng bỏng nhiều ngày bỗng vớ được một ly nước lạnh. Nhưng bỗng nhiên chân tay của bà mềm nhũn hẳn ra. Bà cầm phong thư trước mặt mà không tin cặp mắt của mình. Đúng nó là phong thư được gửi đi từ trại cải tạo. Đúng nó là phong thư đề đích danh tên người nhận chính là bà. Nhưng nó không phải là phong thư do tay thằng Quang đã viết bằng nét chữ quen thuộc của nó. Đấy chính là lá thư của ban Quản trại. Mà một khi Ban Quản trại đã gửi thư đến nhà cho những thân nhân thì kể như tất cả mọi trường hợp đã từng xảy ra, nó chỉ mang đến cho mọi người một sự thật kinh hoàng. Sự thật ấy bây giờ choáng ngợp trong đầu óc của bà cụ. Nó làm cho bà đang đứng ở giữa phố mà chết sững như trời trồng. Chung quanh bà có một vũ trụ đang chan hoà ánh sáng bỗng nhiên như tối sầm lại và đổ sụp xuống. Mọi người ở gần đó chỉ được nghe tiếng ở miệng bà bỗng bật ra một tiếng la “ới con ơi!” não nùng, thảm thiết, tuy ngắn ngủi nhưng chất chứa biết bao nhiêu nỗi oán hờn, tủi nhục trước khi trông thấy bà đổ khuỵ xuống kéo theo những củ khoai đèo đẹt văn vương vãi trên mặt đường…

NHẬT TIẾN
Santa Ana ngày 19.10.82

Huế Hôm Nay. Tùy bút Trịnh Công Sơn


Trịnh Công Sơn

Sinh ngày: 28-2-1939 tại Lạc Giao. Chính quán: Minh Hương. Soạn nhạc từ năm 1958-1959

Tác phẩm: 1. Trên ba mươi bản (Ướt mi, Biển nhớ, Lời buồn thánh, Hạ trắng, Tuổi đá buồn, Nắng thuỷ tinh, Chiều một mình qua phố, Xin mặt trời ngủ yên…) do các nhà xuất bản An Phú, Ly Tao, Minh Phát phát hành từ 1959 đến 1965; 2. Tập Thần thoại quê hương, tình yêu và thân phận do nhà xuất bản An Tiêm và Nhân Bản phát hành 1965-1966; 3. Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời, Những tình khúc Trịnh Công Sơn, Như cánh vạc bay, Cỏ xót xa đưa,… do nhà xuất bản Nhân Bản in ấn lần lượt từ 1966 đến 1970-71.

Trịnh Công Sơn và tiếng ru máu lệ
Tôi là một nghệ sĩ thuần tuý. Tôi chỉ diễn tả những điều gì tôi mơ ước, nhưng tôi không biết làm cách nào để hoàn thành những mơ ước của tôi!…
(Trịnh Công Sơn, trích The New York Times, 10-6-1970)

(Chân dung và thủ bút của Trịnh Công Sơn từ góc nhìn của họa sĩ Tạ Tỵ)

Một cửa sổ của căn phòng bẩn thỉu nơi tôi đang sống đã nhìn ra phía ngoài một góc thành phố đông đúc. Trong một buổi chiều, tôi nằm dài yên lặng trên ghế bố, nhìn ra ngoài cửa và tôi nhớ Huế.
Từ cửa sổ ngó ra, Huế, là hai cây bông bụt đỏ ối, những làn mưa nghiêng nghiêng trong một bầu trời ảm đạm.

Mỗi năm vào tháng này, tôi đi Huế. Đi ở đây, có nghĩa là trở về với những cái gì tầm thường như quý giá: một căn nhà chật hẹp, một tô bún bò gạo giã, bạn bè tại những quán cà phê nhỏ Mệ Tồn và giữ Huế trong tay suốt mùa hạ. Bản chất của Huế nằm trong kích thước nhỏ bé của nó. Nó không ồn ào và bận rộn. Những lề đường của Huế thân mật. Trên con đường của thành phố, bạn có thể giơ tay vẫy bạn bè suốt ngày. Khách lạ mới tới Huế có cảm tưởng rằng tất cả mọi người ở Huế đều có họ hàng với nhau.

Trước hết, tôi trở về để thưởng thức những vật tầm thường nhỏ bé đó. Tôi đã thưởng thức nó trong một thời gian ngắn trước khi biến cố Mậu Thân xảy ra.

Một sự sợ hãi lớn lao đã đến với Huế. Thật là điều khó khăn đối với tôi để quên, mùi xác thịt thối rữa trên đường Lê Lợi khi tôi cùng gia đình tản cư ngang qua đó. Hai hàng cây trước kia che chở đại lộ bằng những bóng mát cũng bị tróc gốc và trở thành những chướng ngại vật cho chúng tôi.

Nhìn vào Huế tháng Hai, tôi thấy một bộ mặt sụp đổ của thành phố cổ kính. Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài suốt tháng này. Họ là những người còn sống sót trong những cuộc chém giết, dường như họ chỉ còn thân xác mà không còn hồn. Nỗi buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn. Tất cả dân Huế sống cùng với nhau trong suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất, đều đã thở bầu không khí bẩn thỉu nhất của trại tị nạn. Tất cả đều đã được biết sự tận cùng của đau khổ. Tôi nhìn những căn nhà bên kia sông bị nổ tung vì đạn đại bác, tạc đạn rơi trên dòng sông Hương, làm mặt nước tung bọt trắng xoá. Trong những ngày đầu của trận chiến, gia đình và tôi ngồi yên lặng trong nhà. Buổi sáng đi qua trên những khuôn mặt khổ não. Các anh tôi và tôi ngồi nhấp nháp rượu trong khi đạn réo ngang đầu. Qua khung cửa, chúng tôi nhìn thấy những người lính Bắc Việt di chuyển, nấu ăn, đào hố trong vườn trước mặt nhà. Đó là những ngày đẹp trời của mùa xuân, với những giọt mưa nhẹ như sợi chỉ đan vào nhau và không khí lành lạnh. Tôi muốn tản bộ dọc theo những con đường đầy bóng mát trước cửa nhà. Tôi muốn có cốc cà phê ở một tiêm bên kia sống, trong nội thành, đằng trước Trường Âm nhạc và Mỹ thuật.

Nhưng tôi đã ngồi bất động hơn 15 ngày. Anh tôi và tôi ví những ngày của chúng tôi với những ngày của Anne Frank.

Tôi không biết bây giờ những gì có thể tìm thấy, khi tôi trở về Huế. Những cây cầu bắc ngang qua dòng sông nhỏ đã bị gãy. Tất cả mọi cây cầu An Cựu, Khe Ron, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao v.v… Một trong những cây cầu này đã chứng kiến sự trưởng thành của người bạn gái thân nhất, những dấu chân của nàng đã in hằn trên đó khi đi đến trường.

Khu nhà tôi ở bây giờ đã trở thành bãi dây kẽm gai. Căn nhà tôi, một phần lớn bị tàn phá, đã đầy rác. Ngày đầu tiên tôi trở về. Tôi ngồi duỗi dài chân tay trên một cái giường bị gãy và nhìn giọt mưa nhỏ rơi trên tôi, từ chỗ trống của mái nhà, tôi nghĩ rằng đang mơ. Thật sự, Huế chẳng còn gì cả. Bầu không khí thanh lịch, ấm áp của ngày xưa sẽ không bao giờ trở lại. Các kho tàng cổ kính và quý giá của Huế đã bị bom đạn đốt cháy.

Chỉ trong vòng hai tháng, tất cả mọi người dân của thành phố Huế đều trở thành những công nhân. Tập quán cổ truyền có từ lâu của một lối sống vương giả ở những gia đình ngày xưa đã bị xoá đi mất. Tôi đã nhiều lần bước ngang qua cầu Tràng Tiền gãy đổ nhiều nhịp. Tôi qua dòng sông Hương với con thuyền đầy người. Còn đâu sự êm đềm trong tâm hồn thành phố. Rất khó kiếm thấy một chỗ không bị lỗ chỗ bởi những hố bom.

Những con đường tráng nhựa sạch sẽ thuở nào nay đã trở nên lộn xộn, bẩn thỉu. Từng đám bụi bay lên cao suốt ngày ở hai con đường chính. Một bảng quảng cáo của rạp hát Châu Tinh vẫn còn treo ở trước cử chợ Đông Ba. Phim này dường như cũng là một điềm gở: Le Temps du Massacre.

Máu đã chảy và thấm xuống đất thành phố. Tôi đã mất nhiều thời gian ngồi trong quán cà phê trên đường Trần Hưng Đạo để quan sát những người qua lại buồn phiền, những người đã thăm được chiều sâu của sự buồn phiền. Tôi nhớ rằng tôi đã không tắm, không thay quần áo và không cạo râu cắt tóc trong hai tháng.

Sau giờ giới nghiêm, thành phố còn trở nên bi thảm hơn. Cửa nội thành đóng, đường phố bị bao phủ bởi một bầu không khí lạnh lẽo của bãi tha ma. Những ngôi mộ mới mọc lên như nấm dóc theo những con đường và lề đường trong công viên, trong vườn cam Tây Lộc và trong những cánh đồng nơi đàn bò ăn cỏ. Những bức tường của thành nội cũng đầy những vết đạn. Có lẽ hương hồn của những vị vua chúa ngày xưa và những quan lại cũng sợ hãi. Huế luôn luôn được nếm mùi bất hạnh. Từ lụt lội, bão tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng ngàn căn nhà, hàng ngàn gia đình trong cuộc chém giết tàn nhẫn ngày hôm nay, người dân Huế đã phải học cách sống trong kiên nhẫn. Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. Sẽ không bao giờ có thành phố Huế cổ kính ngày xưa nữa. Tại đây, dân chúng không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải 4 thế hệ: ông, cha, con và hcáu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn nhà được truyền từ đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng sà nhà, từng bậc cửa.

Vì thế phải cần một thời gian lâu, mọi người có thể nhìn Huế mà không nhìn thấy khuôn mặt bị tàn phá. Huế của ngày xưa đã biến mất đi khi mái cao của cửa Thượng Tứ và cửa Đông Hoà đã bị tàn phá và đầy lỗ thủng.

Tôi bước dọc theo đường thành nội nơi mà hàng ngàn căn nhà đã bị đốt cháy rụi.

Tôi đi lên An Hoà, đứng trên ngọn đồi Uông Voi và nhìn chung quanh, cạnh những hố bom sâu hơn 10 thước. Nơi đây là nhà của hàng ngàn những gia đình nghèo khó. Họ đã trở về để nhìn lại những cây chuối non, những cột gỗ, những lăng tẩm, từng bậc đá ghi lại những dấu vết của những cái gì đã một lần ở đó.

Tất cả mọi thứ đều bị tàn phá. Huế đã phải lo cúng bái thêm nhiều linh hồn con đi lang thang. Huế đã có một ngày giỗ chung cho tất cả mọi người chết, ngày mà người ta nhìn thấy nhiều đống xác người. Nhưng bây giờ lại có thêm nhiều thân người nữa. Sự tàn phá cũng càng ngày càng nhiều. Nước mắt của người dân Huế đã đủ để làm dòng suối nhỏ. Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng, tại Bãi Dâu, tại Kim Long, tại Long Thọ, là những dấu vết của một bạo lực hung ác, không có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống.

Nhớ những ngày ở Huế trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi không bao giờ có thể quên được những người mẹ chạy theo xe chở xác, đã mang đứa con trai của bà và trong khi chạy, bà đã vỗ tay cười suốt con đường lầy lội đất đỏ.

Tôi cũng sẽ không bao giờ quên được những người lính Mỹ ngồi dài trên lề đường, nhìn bà ta cười ngạo nghễ. Tôi cũng nhớ một người đàn ông già, bước những bước nặng nề, trên vai ông một cỗ quan tài bé, trên quan tài có cắm ba nén hướng đang cháy.

Huế đã sống qua những ngày tàn nhẫn. Hàng đoàn người đã đào lỗ để tìm xác cha, anh, mẹ hay chị. Những tiếng khóc của đám ma có thể làm rung chuyển cả núi rừng. Nhiều cái chết do sự ác độc của loài người gây nên. Ngày kia tôi lẩn trốn trong một thư viện của Viện Đại học Huế, tâm hồn tôi là một tảng băng. Chung quanh tôi mọi vật đều bị tàn phai. Tôi không thể nói được gì cả, khi đời sống chỉ là một trò đùa. Trong một tháng, tôi đã sống ở nơi ẩm ướt, lạnh lùng, trong bầu không khí ảm đạm của thư viện. Tôi không biết phải làm cái gì với cảnh tàn phá này. Căn bản luân lý của chiến tranh đã ra khỏi giới hạn của năng lực loài người để chịu đựng.

Huế ơi! Tôi hy vọng có một ngày thanh bình nào đó, tôi có thể trở về để ăn bánh bèo ở cây Phượng, bún bò thịt nướng ở Kim Long, bún bò tiệm bà Rốt. Tôi muốn quay trở lại để ngủ đêm trên dòng sông Hương và gọi ông Bê mang cho tôi một bát bún, rất cay, cay đến chảy nước mắt. Tôi sẽ gọi cô con gái trên thuyền mang cho tôi một con mực nướng khô, một cốc rượu nhỏ, thật nhỏ để làm cho đêm trở nên ấm hơn, những bài hát nửa đêm trở nên hay hơn và giấc ngủ hiền hoà hơn trong lúc sông lặng lờ trôi…

Trịnh Công Sơn

(Nguồn: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ)

 

 

Như Loài Chim Thorn Birds. Thơ Hư Vô


IMG_4662

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lỏng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…

Hư Vô

Địa Danh Cũ Sàigòn. Hồi ký Bình Nguyên Lộc


Bình Nguyên Lộc

IMG_4638

(Boulevard Charner (Đại lộ Nguyễn Huệ) nhìn thẳng Tòa Hôtel de ville hay Dinh xã Tây trong tiếng Việt. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là Tòa đô chánh Sàigòn)

Phần 1…
Tên đường thời Pháp thuộc:

Song-song với những địa-danh tên Tây, các đường phố và nhiều nơi chốn ở Sàigòn đều có tên Việt, được dân-chúng quen dùng.

Đây là những tên tôi còn nhớ lỏm-bỏm:

Bót cảnh-sát quận nhì, có tên là Xi Nho. Con đường trước bót không bao giờ mang tên Tây Chaigneau hay Signor lần nào cả. Có lẽ là một ông Tây cảnh-sát đã giữ chức-vụ liên-lạc với dân-chúng chăng?

Đầu đường Hồng-Thập-Tự ngày nay, được gọi là đường Hàng Bàng vì hai bên đường trồng hai hàng cây bàng. Tây đặt tên đường là Chasseloup Laubat, nhưng ta bất kể.

Đường Mạc-Đỉnh-Chi ngày nay, có tên Tây là Massiges nhưng ta cứ tiếp-tục gọi là đường Hàng Sao, vì hai bên đường trồng hai hàng sao, có lẽ là trồng trước các đường khác chớ về sau thì đường nào cũng trồng sao cả.

Đường Bùi-Quang-Chiêu là đường Cá Hấp thuở trước vì chỗ ấy nằm cạnh chợ Bến-Thành, các vựa cá hấp đóng đô ở đó.

Đường Bùi Chu, thuở ấy tên Tây là Frère Guillerault, nhưng người ta cứ kêu là đường Huyện Sĩ, vì cái nhà thờ cất ở đó do tiền một tư-nhơn, ông Tri-huyện-hàn Lê-Phát-Sĩ tài-trợ.

Đại-lộ Kitchener (Nguyễn-Thái-Học) được gọi là đường Lò Heo vì lò heo cũ ở đó.

Dĩ-nhiên là đường Phó-Đức-Chính, tên Tây là Alsace Lorraine được gọi là đường Chú Hỏa vì con đường ấy nổi danh nhờ cái cư-xá đồ-sộ của họ Hui-Bon-Hoa.

Đường Khổng-Tử nguyên là đường Gaudot và được gọi là đường Đèn Năm Ngọn.

Đường Phát-Diệm, tên cũ cũng là tên Việt, đường Nguyễn-Tấn-Nghiệm, vậy mà thiên-hạ cứ gọi là đường Cầu Kho. Vậy thì người dân không phải tránh tiếng Tây khó đọc, mà tránh sự bị chỉ-định. Họ ưa theo thói quen hơn.

Nhưng buồn cười lắm là có hai trường-hợp ngược đời, ta ưa Việt-hóa tên Tây, nhưng trong hai trường-hợp ta lại theo Tây một cách mù-quáng. Đó là địa-danh Đakao. Địa-danh ấy nguyên trước là Đất Hộ, bị Tây Pháp-hóa thành Đako, rồi ĐaKao.

Ta lại mù-quáng theo Tây ở một trường-hợp nữa là vùng đất gần cầu Tân-Thuận trước kia là bãi đất hóng mát của dân Sàigòn, tên ta là Láng-Thọ. Tây Pháp-hóa thành Lanto rồi ta lại Việt-hóa thành Lăng-Tô. Không biết cái Lăng đó của Tô-Định hay của ai.

Những con đường tên Tây mà ta không có tên Việt, ta Việt-hóa nó một cách buồn cười.

Chẳng hạn đường Eyriaud des Verges (Trương-Minh-Giảng) được đặt là “Ai-vô rờ-quẹt?”, còn đường Léon Combes được đọc là “Lên-ăn-cơm”.

Đường Dixmude (Đề-Thám) là đường Đít-Xơ-Mít.

Đường Blansubé, tức đoạn Phạm-Ngũ-Lão ngay chợ Thái-Bình được đọc là đường Lan-Si-Bê. Chợ Thái-Bình, cho tới năm 1925, còn được dân-chúng gọi là chợ Lan-Si-Bê.

Đường Huỳnh-Thúc-Kháng (Monlaii) là đường Mộng-Lầu.

Dân-chúng ưa đọc tên đường De Lattre (Công-Lý) nhứt vì tên cũ là Mac Mahon, đọc ra là Mặt-Má-Hồng, nghe hay quá.

Nhưng ngộ-nghĩnh số một là đường Phan-Thanh-Giản (Legrand de la Liraye). Vì tên Tây quá khó đọc, nên đọc ra là “Nhăn răng Rìa ai đi đây?”

Hiệu bán thực-phẩm tươi (épicier) của Tây ở đường Tự-Do, hiệu Guyenot (ngày nay vẫn còn) cứ được gọi là “Hãng Mỡ”, tôi ngạc-nhiên, điều-tra mãi mới hay vì hiệu ấy chuyên chế-tạo xúc-xích (saucisse) nên thừa mỡ rất nhiều. Họ bèn rót mỡ nước vào thùng dầu hỏa bán cho người Quảng-Đông là dân-tộc rất thích ăn mỡ nước, mỗi tháng bán ra hằng mấy trăm thùng, nên nổi danh như vậy.

IMG_4639

(Đường Tự Do Sàigòn)

Xóm Máy Đá trong Chợlớn ngày nay, có tên như vậy vì buổi đầu hãng Larue phát-tích ở đó, và ngày nay vẫn còn chi-cuộc Larue ở đó nữa.

Thuở tôi còn học trung-học, mỗi lần trường đưa đi viếng kỹ-nghệ trong thành-phố thì viếng hãng Larue tại đó, hãng Sàigòn chưa xây.

Cái ngã sáu ở đầu các đường Lê-văn-Duyệt, Võ-Tánh, Gia-Long, Phan-văn-Hùm ngày nay, phải gọi là Ngã Sáu Quẹt-Đoong, dân-chúng mới hiểu, vì cái ngã sáu trong Chợlớn cao-niên hơn tới 30 tuổi, họ quen với tên cũ, tên mới, phải kêu thêm chút gì để phân-biệt.

Phần 2…
Tên đường thời Đệ Nhị Công Hoà:
.
duong hai ba trung

Đại lộ Hai Bà Trưng

Đi trên đại lộ Hai Bà Trưng tôi bỗng sực nhớ lại một điều rồi tủi thân cho bọn đàn ông của ta. Là hễ đờn ông được danh vọng thì đàn bà cũng thơm lây, nhưng khi đàn bà nổi danh thì tên tuổi đàn ông chìm sâu thêm.

Đành rằng ông Thi Sách chỉ có mỗi một cái công nhỏ đối với nước nhà là bị viên thái thú Tàu giết thôi, nhưng quên mất ông ấy cũng tội.

Vậy nên tôi đã đi khắp Sàigòn để tìm xem có con phố nào là phố Thi Sách không ? Có. Hoan hô quí vị đặt tên đường đã nhớ dai hơn nhân dân.

Nhưng mà tội quá, ông Thi Sách ở mãi bên kia nhà thương Đồn Đất, ở xóm ngoại nhân, không bao giờ có người Việt bước chân đến. Ông nầy đã chết vì tay ngoại nhân mà hương hồn ngày nay vẫn lẩn quẩn với ngoại nhân.

Ông Thi Sách và Hai Bà Trưng chạy song song với nhau cho tới mé nước, và không bao giờ gặp nhau cả, đó cũng là một điểm đáng buồn cho cặp vợ chồng ấy.

Ông Nguyễn Thái Học mà còn ngậm cười được vì đã gặp Cô Giang, Cô Bắc ở hai ngã ba chợ Cầu Muối, đằng nầy ông chồng Bà Trưng chỉ nghe văng vẳng tiếng bà đâu đó thôi.

Bà Sương Nguyệt Ánh cũng không bao giờ đi thăm cha được, vì bà ở xóm Bùi Chu còn cụ đồ lại qui điền mãi tận trên Tân Định.

Vị nữ anh hùng thứ nhì của ta, Bà Triệu cũng bị ta quên mất vì bà cũng ở xóm ngoại nhân, trong Chợ Lớn.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng đô thành đặt tên rất khéo, Công chúa Huyền Trân ở một căn phố buồn hiu, sau dinh Độc Lập, buồn như con đường thiên lý ngàn dặm băng rừng đưa công chúa từ Việt sang Chiêm.

Còn cái phố có nhiều tiệm mì, tiệm ăn và tửu lâu trong Chợ Lớn mà đặt tên là phố Tản Đà thì tuyệt diệu bởi vì Tản Đà không phải là thi sĩ mà thôi, lại còn là thực sĩ nữa.

Cho Binh Tay

Chợ Bình Tây

Nếu đô thành có bất công chút ít, chẳng qua là vì quên đó thôi. Chẳng hạn như ông Phan Huy Chú được nêu danh trong Chợ Lớn mà ông Phan Huy Vịnh lại không.

Đô thành lại trọng văn nghệ lắm. Không có nhà văn, nhà thơ nào ngày xưa mà không được lấy tên đặt tên phố cả, khiến lũ văn nhân thi sĩ hậu sanh là ta đây cũng nức lòng muốn cố gắng để có thể được biệt đãi như thế về sau.

Chỉ phiền văn nhân thi sĩ của thế hệ ta đông quá, mà đường phố chỉ có hạn thôi, dễ gì tìm được một chỗ “mần”.

Có một điều đáng chú ý là họ Nguyễn chiếm đa số trong các phố Sàigòn. Dân tộc ta họ Nguyễn cũng như dân tộc Pháp họ Dupont vậy mà!

duong nguyen hue

Đại lộ Nguyễn Huệ

Một người Pháp quen biết kể chuyện rằng thuở Đức chiếm đóng nước Pháp, một khi kia quân đội Đức bố ráp ở một ngoại ô nhỏ tại Ba Lê để bắt ông Dupont nào đó. Cuộc bố ráp thi hành xong thì chúng bắt được tất cả tám trăm mười bảy ông Dupont, vừa già, vừa trẻ, đó là chúng đã loại trừ những cậu Dupont oắt con ra rồi đó.

Một cựu thông ngôn nhà binh Pháp ở đây cũng kể rằng một khi kia Pháp ruồng bố ở làng nọ để bắt Nguyễn Thị Hai nào đó. Chỉ một làng ấy thôi, mà họ đã bắt đến bốn mươi tám Nguyễn Thị Hai chẳn chòi.

Vậy thì họ Nguyễn chiếm đến 55 con phố ở Sàigòn – Chợ Lớn không phải là chuyện lạ. Đó là chưa kể những bà Sương Ngyệt Ánh v.v… cũng là họ Nguyễn mà không nêu họ ra. Bà Đoàn Thị Điểm cũng có người bảo thật ra là Nguyễn Thị Điểm, và biết đâu cô Giang, cô Bắc lại không là họ Nguyễn.

Họ Nguyễn được ưu đãi như thế, còn họ Tô không biết vì sao lại ra rìa. Năm kia trên Hòa – Hưng có một con phố tên là Tô Hiến Thành. Năm nay không thấy tên phố đó nữa.

Ngoại nhân có công với dân tộc cũng được nêu danh, cho công bằng. Nhưng không hiểu ông J.J Rousseau có công trực tiếp gì với dân tộc ta. Còn ba ngoại nhân khác rất có công là Tích Quang, Nhâm Diên, và Sĩ Nhiếp lại vắng bóng.

duong le thanh ton

Đường Lê Thánh Tôn

duong pham ngu lao

Đường Phạm Ngũ Lão

Sàigòn có một con phố cong queo một cách rất ngộ nghĩnh, được đặt tên là phố Cống Quỳnh. Thật là khéo, vì cách lập luận và hành động của ông Cống Quỳnh cũng cong cong quèo quẹo như con phố kỳ dị ấy.

Tiếc rằng Cống Quỳnh có lẽ chỉ là một nhân vật tưởng tượng thôi.

Sàigòn đặc biệt vì có phố không vỉa hè, thí dụ đoạn phố Đề Thám trước dãy nhà cũ đối diện với hông nhà thờ Tin Lành.

Thật ra thì có một vỉa hè rộng độ tám tấc, nhưng đã lì xuống bằng với mặt đường, ô tô tha hồ leo lên và người đi bộ rất lắm khi phải nhảy vào nhà người ta để thoát chết.

Lại có vỉa hè mà người đi bộ không được xử dụng, thí dụ vỉa hè Cô Giang tại chợ Cầu Muối. Người đi bộ ở đoạn nầy hễ xuống đường thì bị xe cán, còn lên lề thì bị mấy chị bạn hàng đuổi, vì mấy chị mướn vỉa hè ấy có đóng tiền chỗ đàng hoàng.

Thành ra qua đoạn đường đó y như là qua cầu đoạn trường, lên lề thì đoạn tâm, còn xuống thì đoạn cẳng.

Có lắm vỉa hè công khai dùng làm ga-ra, nói công khai vì xe để trên ấy nằm đó năm nầy qua năm khác mà không sao cả. Thế nên chỉ mướn một căn phố bé nhỏ thôi mà người ta có thể mở ga-ra to là nhờ vậy.

Nói đến vỉa hè không thể không chú ý đến những vỉa hè mức độ khác nhau, khách đang đi bỗng sụp chơn suýt ngã. Ấy, nhà bên nầy xây cao một tấc năm, nhà bên kia chỉ xây một tấc thôi mà. Vì mạnh ai nấy xây vỉa hè nên vỉa hè lại mang đủ màu sắc, có quãng xanh, quãng vàng, quãng xám, và lại kiến thiết bằng đủ cả vật liệu : gạch xi-măng, xi-măng trắng, gạch thẻ, gạch Tàu, nhựa, đá ong. Sợ nhứt là vỉa hè đá ong trên đường Thủ Khoa Huân. Đá ong lổm chổm khiến bộ hành không lọi chân cũng trặc cẳng.

Nếu đô thành tự làm lấy vỉa hè rồi bắt người ta trả tiền thì tình trạng nầy đã không có.

Bình Nguyên Lộc

Áo Em Vàng Góc Phố Sydney. Thơ Hư Vô


Áo Em Vàng Góc Phố Sydney

Hỏi em, vì ai em thay áo mới?
Từ khi tôi biết thích lụa là
Vạt áo dài thêm ngày em tới
Quất vào tôi nhức nhối thịt da.

Phố xá bỗng thướt tha màu nắng
Để tôi tựa xuống bóng em về
Ba mươi năm chưa thành người lạ
Còn nghe lời nôn nả hẹn thề.

Trên môi quen một thời ngây dại
Chỗ em nở vội đóa xuân thì
Kề sát dung nhan ghì ngực thở
Cho áo em vàng góc phố Sydney.

Trải lụa là ngang dòng giao hưởng
Khúc Schubert trong Nhà Hát Con Sò
Réo rắt gọi nhau hồn tháng bảy
Giọt tình nhỏ xuống phím piano…

Hư Vô

Lễ Phát Giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1960-1961. Nguyễn Ngu-Í


Nguyễn Ngu-Í  kể

(Tạp chí BÁCH KHOA, số 138 ra ngày 1-10-1962)

 

         Năm nay Ban tổ chức lễ đã cố ý chọn ngày giỗ của tác giả Truyện Kiều làm ngày phát giải: ngày mùng mười tháng tám âm lịch, nhằm ngày thứ Bẩy 8 tháng 9 dương lịch, lúc 10 giờ .

Đến dự, ngoài quan khách ngoại quốc và trong nước còn văn nhân, ký giả đô thành, Hội đồng Tuyển trạch  và các nhà văn trúng giải (nữ sĩ Nguyễn thị Vinh đại diện cho Linh Bảo). Ông Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa và Xã hội (Trương Công Cừu) chủ tọa buổi lễ.

Ông Phan văn Tạo, Tổng Giám Đốc Thông Tin khai mạc cuộc lễ cho biết năm nay cơ quan tổ chức có sáng kiến gửi phiếu trưng cầu ý kiến đến khắp các văn gia và nghệ sĩ trong toàn quốc để thành lập một Hội đồng Tuyển trạch giải Văn chương, trong đó hầu như các khuynh hướng văn học đều được đại diện.

Sau hết ông đặt nhiều hy vọng ở nhiều cố gắng mới, “cố gắng sáng tạo về phía văn giới cũng như cố gắng khuyến khích về phía nhân dân, tất cả những cố gắng đó sẽ đưa tới những tác phẩm xứng đáng với tầm thước của cuộc chiến đấu mà chúng ta đang theo đuổi, xứng đáng với truyền thống của văn hóa dân tộc.”

Tiếp lời ông Phan văn Tạo, ông Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Chủ tịch Hội đồng Tuyển trạch Giải thưởng Văn Chương Toàn quốc, nhấn mạnh về sự đề cử và bầu Hội đồng Giám khảo năm nay cùng ý nhĩa của sự đổi tên thành Hội đồng Tuyển trạch.

Sau đó ông nêu lên tiêu chuẩn lựa chọn của Hội đồng, thâu tóm trong hai chữ Văn chương (có nghĩa là ý hay lời  đẹp) và theo ông: “Tác phẩm được chọn sẽ là phản ảnh của một nền văn hóa tự do, nghĩa là không bị bó buộc ở trong khuôn khổ của một hệ thống tư tưởng, hay phải theo một khuynh hướng văn nghệ hay chính trị nào cả”.

Sau cùng ông tuyên bố, sau 5 tháng lảm việc của Hội đồng, kết quả như sau:

Về bộ môn khảo luận: Giải nhất và độc nhất: quyển “Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị” của ông Lê Ngọc Trụ.

Về bộ môn Tiểu thuyết: giải nhất, quyển “Thềm Hoang” của nhà văn Nhật Tiến, Giải nhì đồng hạng, quyển “Tàu Ngựa Cũ” của nhà văn Linh Bảo“Gìn Vàng Giữ Ngọc” của nhà văn Doãn  Quốc Sỹ.

Về bộ môn Thơ: Giải nhất quyển “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng, Giải nhì, quyển “Hy vọng” của Hoàng Bảo Việt . Giải ba đồng hạng, “Tổ Ấm” của Anh Tuyến  “Bốn Chục Bài Thơ” của Mai Trung TĩnhVương Đức Lệ .

 Về bộ môn Kịch: không có giải thưởng.

Sau khi đã phát giải, Ban tổ chức mời ông Lê Ngọc Trụ, đại diện cho các nhà văn trúng giải lên phát biểu ý kiến. Ông cho rằng sự lựa chọn ngày phát thưởng đúng vào húy nhật  Nguyễn Du là đầy ý nghĩa và gợi cho ông cùng các bạn văn trúng giải tinh thần trách nhiệm thiêng liêng, ấy là thiên chức của nhà văn đối với tiếng Việt và nguyện vọng của nhà văn đối với tiền đổ văn hóa Tổ quốc là ngôn ngữ được thống nhất, văn tự được điển chế.

Ông mong rằng rồi đây sẽ có một Viện Hàn Lâm để lo tu soạn một bộ tự vị tiêu chuẩn, quyển văn phạm mẫu mực, bộ Việt Nam Bách Khoa Tự Điển thâu thập biên khảo các ngành học thuật văn hóa của xứ sở. Theo ông, văn hóa chỉ có thể phát triển trong tự do và phát triển mạnh mẽ nếu được khích lệ nâng đỡ.

Sau cùng ông Trương Công Cừu Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa và Xã hội đọc  diễn từ bế mạc. Ông cho rằng hiện nay chúng ta đang sống một thời đại nguyên tử, nền văn hóa quốc gia phải được xây dựng trên một nhân bản toàn diện đúng theo tinh thần  nhân vị đấu tranh và cảnh giác.

Theo ông, chủ nghĩa nhân vị đặt nhà văn vào chính trung tâm cuộc thử thách của lịch sử, và mỗi người trong chúng ta phải dấn mình vào lịch sử, phải thúc đẩy cuộc vận động lịch sử chớ không phải ngồi yên chờ đợi và nhìn ngắm hay mơ ước xuông.

Cuối cùng, ông chúc các nhà văn sẽ là những danh công tinh xảo xây đắp xã hội mới của ngày mai, “Xã hội mới đó sẽ là một thế giới gấm vóc mỹ lệ dệt bằng tình bác ái không vụ lợi, bằng đức liêm khiết không xảo trá, và bằng tài trí không tự tôn tự tại .”

Buổi lễ kết thúc vào lúc 11 giờ 15 phút.

Nguyễn Ngu-Í  kể

         Hình ảnh in kèm bài báo:

               

  

 

 

Thềm Hoang. Truyện dài Nhật Tiến


Nhật Tiến

Truyện dài
Giải Văn Chương Toàn Quốc 1961

Thềm Hoang – Chương 1

Ai mang tôi đến chốn này
Ban đêm thì tối, ban ngày thì đen…

Tiếng đàn rời rạc bật lên giữa những ngón tay của bác Tốn. Bác ấy đứng ở đằng sau. Không cần nhìn, Ích cũng biết hai con mắt của bác lim dim dưới ánh đèn sáng. Có thể bây giờ bác đang nhếch miệng cười vì tiếng đàn của bác đột nhiên căng lên phừn phựt. Những lúc hứng chí, bác hay bật dây đàn như thế. Bật xong thì bác cười, nụ cười vu vơ bao giờ cũng chỉ nhếch ra ở nửa miệng, làm bờ môi hơi trễ xuống, đồng thời gò má của bác dúm lại thành mấy nếp nhăn. Ích đứng ở đằng trước. Nó đang hát. Tiếng hát của nó rơi lạc lõng vào tiếng ồn ào của cửa tiệm. Những lúc ấy, đầu óc của Ích hay vấn vương ở trên ngọn đèn ống có những con thiêu thân đang nhảy múa. Nhiều khi chúng nó bay chấp chới quanh mấy sợi dây đèn hoặc trước cái mồm đỏ hỏn của những con thạch sùng. Mỗi lần mấy chú này chớp được một con thì Ích lấy làm khoái, cái khoái như lúc người ta ném vào mũ của bác Tốn một đồng bạc. Mắt Ích nhìn đi vẩn vơ như vậy mà miệng nó vẫn hát, vì thế có lúc chính Ích cũng không hiểu mình đang hát cho mọi người nghe bài gì. Điều ấy làm cái giọng đang trơn tru của nó tự nhiên tắc lại. Nó quên tịt ngay câu hát ở dưới, và nó đứng ì ra với một vẻ mặt hết sức đần độn. Bác Tốn thấy nó tự nhiên câm họng vội lấy cái cùi chỏ dúi vào lưng nó:

– Nhà ông làm sao thế?

Ích nói:

– Quên mất rồi.

Bác Tốn vội búng sợi dây đàn dạo lại mấy nốt nhạc lúc trước. Ích vụt nhớ ra, nó vội vàng rít lên qua hai hàm răng sún:

Chiều… chiều nhớ em khôn lòng nguôi… nhớ em khôn lòng nguôi…

Tiếng đàn của bác Tốn lại kêu giòn ở phía đằng sau. Chắc bác ấy lại đang cười. Hát xong một bài, Ích lùi lại mấy bước. Bây giờ thì nó lại nhìn ra xung quanh. Mọi người có vẻ không nhớ rằng họ vừa được thưởng thức xong một bản nhạc. Những cái thìa vẫn múa lên trong từng bát phở bốc khói. Mùi nước dùng tỏa ra ngào ngạt. Ích hếch mũi lên cho cái hương vị thơm tho ấy thấm vào tận ruột. Nó nghĩ đến mấy khoanh hành tây trắng nõn xếp gọn gàng bên cạnh những lá hành hoa xanh biếc, rồi lại có cả tương ớt đỏ rưới lên những miếng thịt óng ánh mỡ vàng nữa. Tự nhiên nước bọt ứa ra chân răng làm Ích phải nuốt vào ừng ực. Bàn tay xương xẩu của bác Tốn chợt sờ soạng lên đầu Ích. Nó biết ý dẫn bác ta đi chầm chậm. Một tay nó nắm vào vạt áo tây vàng của bác, một tay nó chìa cái mũ dạ xuống từng bàn, không nói. Có một vài đồng bạc rơi vào lòng mũ. Ích nhón lên ấn vào túi bác. Bác Tốn mỉm cười gật gật. Sợi dây đàn bật lên rất khẽ dưới mấy ngón tay. Âm thanh rung nhè nhẹ và ngân dài trong bầu gỗ. Chợt thằng Ích đứng lại. Bác sờ tay lên đầu nó dò dẫm, thì ra nó thoáng trông thấy một lưng bát phở. Bát phở không có khói nhưng vẫn còn có thịt. Ích úp cái mũ lên đầu và bưng bát phở lên môi. Tiếng sợi phở kêu lách chách trên đầu lưỡi của nó. Mùi nước dùng thơm ngậy đưa thoang thoảng qua mũi bác Tốn, làm bác hếch mặt lên cười:

– Phở hả?

Ích nói qua miệng bát:

– Phở!

– Chín hay tái!

– Chín!

– Sướng mê đi rồi!…

Hàm răng bác Tốn đưa ra phía đằng trước. Mũi bác cũng hấp háy. Một dúm nước bọt quyện ở trong hàm, trôi một cách khó khăn qua cổ. Bác nghe thấy tiếng thằng bé mút chùn chụt và nhai khoái trá. Nghĩ đến món bở của nó bác gõ ngón tay lên bầu đàn rồi cười vu vơ. Nụ cười làm hai bờ môi của bác trễ xuống, kéo theo làn da má dúm dó lại. Mặt bác ngửa lên. Bác nom thấy một khoảng đục lờ lờ có những cái bóng mờ thấp thoáng phía đằng trước. Đứng ở đấy bác có thể nghe thấy tiếng quạt chạy vù vù trên đầu. Gió mát lùa qua lần cổ áo và mơn man trên lưng. Đâu đó quanh đây có mùi nước hoa và phấn thơm thoang thoảng. Cái hương vị rạo rực ấy khiến bác nhớ đến mỗi lần cô Huệ đi qua hàng rào vào lúc nửa đêm. Tiếng guốc của Huệ khua lóc cóc trên mặt đất gồ ghề. Một đôi lần có tiếng hỏi bâng quơ của mấy người phu xe tinh nghịch:

– Mệt không cô Huệ ơi?

Huệ đáp chanh chua:

– Mệt cái phải gió! Cha tổ bố, ít tiền mà cứ muốn của đẹp!

Cái chanh chua của Huệ làm bác Tốn rất khoái. Bác cười một mình trong bóng tối. Và bác hít nhè nhẹ mùi phấn thơm của nàng còn thoang thoảng trong gió mát ban đêm.

Khi Ích ăn xong bát phở, nó lại kéo bác đi chầm chậm. Cái mũ dạ lại chìa xuống từng bàn. Nhưng lần này không có đồng bạc nào được ném vào đấy cả. Bác bảo Ích:

– Tao đói rồi.

Ích vừa quệt ngang cái mồm còn bóng mỡ vừa hỏi:

– Về chưa?

Bác Tốn hỏi lại nó:

– Mấy giờ rồi nhỉ?

Ích bước ra ngoài, nhìn lên nền trời lặng lẽ có sao lưa thưa trên đỉnh đầu. Nó trông về phía những nóc nhà cao ngất đứng im lìm trong ánh sáng mờ nhạt. Ích đoán phỏng:

– Chắc gần một giờ.

Hai bác cháu dẫn nhau đi lầm lũi. Gió về đêm thổi lành lạnh. Bầu không khí nhẹ nhàng, mất hẳn cái ngột ngạt trong hiệu ăn. Đèn cuối phố úa vàng trên những lùm cây. Vài chiếc xích-lô đi chầm chậm vào bóng tối. Mắt Ích bắt đầu thấy díu lại Nó ngáp một cái thật dài và có mấy giọt nước mắt ứa ra nhếch nháp ở bờ mi. Ích nghĩ đến cái ổ rơm đầy muỗi và bóng tối. Nằm đấy, Ích có thể nhìn ra khung cửa đục lờ lờ của đêm mùa hạ. Những hôm có trăng, ánh sáng êm mát lùa vào tới tận mép chiếu. Khoảng sân đằng trước cũng sáng lên, soi rõ cái bể nước thấp lè tè xây cạnh mấy chum tương của u nó vẫn làm để bán ngoài chợ. Về đêm, lúc bắt đầu ngủ, Ích hay nghe thấy tiếng con Vện nằm nhá cái ống bơ lóc cóc ngoài ngõ. Xa xa, có tiếng bác Tốn hát vu vơ một mình vẳng lại từ phía bên kia bờ rào. Và trong bóng tối của nhà trên, Ích nghe thấy cả tiếng ngáy rất nặng nề của dượng Tám nữa. Thấy nó lâu không nói, bác Tốn hỏi:

– Ích nghĩ gì thế?

Nó uể oải:

– Buồn ngủ ghê!

Tiếng đàn bật lên khe khẽ. Bác Tốn không hỏi nữa, và lẩm nhẩm hát một mình trong miệng. Ích quay lại nhìn. Khuôn mặt trắng xanh và xương xương của bác có ánh đèn chiếu sáng một nửa. Mái tóc cắt ngắn ép sát vào vầng trán cao hơi dô. Hai mắt bác lúc nào cũng nhắm nghiền, cái miệng hay cười một nửa làm tăng vẻ ngạo nghễ, khôi hài. Ích thấy mến bác ở cái cười như thế. Điều mà nó khoái nhất là bác luôn luôn coi nó như một người lớn thật sự. Bác hay thủ thỉ với nó đủ các loại chuyện, từ chuyện nhà cửa, chuyện vợ chồng, chuyện đi ô tô, tầu bay, tầu ngầm, cho đến cả chuyện gái điếm nữa. Những lần hai bác cháu dẫn nhau đi qua ánh đèn đỏ gay gắt của các tiệm nhảy trên phố, có tiếng kèn xoáy vào không khí tĩnh mịch ban đêm, tiếng cốc tách va vào nhau lách cách, bác Tốn thường lắc lắc vai nó:

– Nhảy đầm khoái chứ nhỉ?

Ích đáp có vẻ thành thạo:

– Khoái đứt đuôi đi ấy chứ lị.

– Dơ bỏ bố đi.

– Dơ mà lại khoái!

– Khoái nhưng dơ! Đếch gì ôm nhau thế này, rồi lại đi uốn éo như vào xiếc. Tao thì tao khoái ở nhà với vợ hơn.

Ích cãi:

– Bác có vợ đếch đâu mà nói.

Bác Tốn cười hề hề:

– Không có nhưng mà phải biết chứ. Mày nhớn như tao rồi mày cũng biết.

Ích nói:

– Vợ chồng hay đánh nhau bỏ sừ đi.

Bác Tốn cười:

– Dào, vợ chồng như dượng với u mày thì nói làm chó gì. Phải biết hy sinh.

Ích hỏi:

– Hy sinh cái gì?

– Cái gì mà không được. Nghĩa là nhường nhau. Tao mà có vợ thì tao nhường phải biết. Yêu không chê được.

Rồi bác lại bật dây đàn, hát lẩm nhẩm trong miệng:

– Cô Huệ ơi!

Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng…

Hàm răng của bác lại đưa ra phía đằng trước. Nụ cười có vẻ ngạo nghễ lại nở trên vành môi. Nghĩ đến Huệ, lòng bác tự nhiên thấy nôn nao, cái nôn nao đầy êm ả.

Về đến vườn hoa, bác Tốn đòi nghỉ. Hai người ngồi xuống chân cột đèn. Cây đàn va vào nền xi-măng reo lên một tiếng khô khan. Bác Tốn bảo:

– Bây giờ đếm cái đã.

Vừa nói, bác vừa chậm rãi móc túi lấy ra những tờ giấy bạc. Ích vuốt lại cho thẳng rồi xếp lên nhau. Bác hỏi:

– Mấy?

Nó kiểm lại một lần nữa rồi nói:

– Hai mươi hai!

– Vậy tao mười một, mày mười một.

Chia tiền xong hai người lại đứng dậy, Ích dặn:

– Về nhà bác nói chín thôi nhé.

Bác Tốn cấu vào lưng Ích, mắt bác tìm về phía nó:

– Ôn con, mày giấu hai làm gì?

Ích vừa nhét hai đồng bạc vào sâu trong cạp quần, vừa đáp:

– Để đành ăn một chầu ga-tô thật no.

– Ăn no thì hết mấy. Sức mày chỉ ba cái chứ gì.

Ích xì một cái rồi bĩu môi:

– Ba! Ba cái chả bõ dính răng. Bác thử bỏ chục cái ra đây xem nào. Cháu chỉ đớp một cái là hết xoẳn.

Vừa nói nó vừa nghĩ đến những cánh hoa bằng kem xanh đỏ rực rỡ rắc ở trên mặt bánh. Nó tưởng tượng nếu được ngoạm một miếng như thế thì chắc sướng phải biết! Nước bọt lại ứa ra trong mồm. Ích tắc lưỡi mấy cái y như nó đang được thưởng thức món thần tiên ấy. Bác Tốn nói:

– Tao thì tao khoái phở hơn.

– Sao hôm qua có mấy bát, bác không ăn?

– Ai lại đi húp thừa ấy.

– Thế thì mua hẳn một bát. Phở gầu giòn, muối tiêu chanh ớt vào. Tuyệt!

– Đắt bỏ bố đi. Những bẩy đồng một tô. Gần một buổi đi hát của nhà cháu đấy ông ạ!

Ích cười khanh khách:

– Thế thì cả đời không bao giờ bác được ăn phở cả.

Bác Tốn cãi lại:

– Có chứ! Ngày xưa thì tao ăn khối ra. Lúc nào khoái là tao có phở ngay…

– Ngày xưa thì nói làm đếch gì! Kể bây giờ cơ chứ. Cháu mà như bác thì gọi mua đàng hoàng. Phở nóng hổi, húp vào bỏng môi, cay sè lưới ra… khoái phải biết.

Bác Tốn cười vu vơ:

– Nói như bố chó xồm ấy. Phở nóng thì còn chê thế đếch nào được.

Nói đến chuyện phở, Ích chợt nghĩ đến em gái. Cái Ngoan vẫn ước ao được ăn một mình một bát phở, mặc dầu một đôi khi nó cũng đã được nếm cái hương vị thơm ngon ấy. Nhưng phở của nó chỉ là phở trộn cơm nguội mà dượng Tám ăn thừa cho nó, hết cả nóng, hết cả thịt, chỉ lõng bõng ít nước đục lờ đờ đỏ ửng lên vì ớt. Ích thấy thương em. Nó vẫn đinh bụng khi ăn bớt được tiền thì một bận nào đó sẽ dẫn em ra chợ. Nó sẽ ăn một chầu ga-tô thật no, và em nó sẽ ăn riêng một mình một bát phở. Tuy vậy nó nơm nớp sợ dượng Tám. Nếu dượng ấy mà biết thì ốm đòn. Ích rùng mình khi nghĩ đến những lần dượng Tám say rượu đánh u chúng nó ở ngoài sân, chán tay rồi ngủ gục ngay ở bực cửa. Trong khi trên nhà xô xát ầm ĩ thì anh em nó lén xuống bếp ngồi trong xó tối. Ngoan khóc thút thít vì sợ. Tiếng dượng Tám gọi tên chúng nó giận dữ bên ngoài. Nhưng không bao giờ chúng nó dám thưa cả. Thưa thì chết. Dượng sẽ tóm chúng nó như tóm củ khoai. Và chúng nó sẽ bị dượng đá lăn lông lốc từ thềm hiên xuống sân đất. Bởi vậy chúng nó chỉ nín thở, nép mình vào ổ rơm, lặng yên nhìn ra khung cửa bếp in rõ nền trời lấp lánh những vì sao. Trời càng về khuya, gió lùa trong sân đất càng trở nên mát mẻ. Tiếng động trong xóm bớt dần dần, cho đến khi chúng nó chỉ còn nghe thấy tiếng u Tám nỉ non khóc một mình ở bậc cửa và tiếng dượng Tám ngáy pho pho ở đầu hè. Ánh trăng sáng tỏ soi rõ khuôn mặt ngây thơ của con bé. Má nó bầu bĩnh, miệng nó bĩu ra. Hai mắt nó còn ngấn lệ. Nhưng cũng có lần Ngoan thức đến khuya với anh. Hai đứa ngồi thủ thỉ nói chuyện với nhau. Ngoan kể với anh chuyện buổi sáng, chuyện buổi chiều. Có khi nó khoe với anh tờ giấy một đồng mới tinh mà nó kiếm được. Ngoan tuy nhỏ nhưng nhanh nhẹn, giỏi dắn. Nó giữ việc đi mua bán đồ đồng nát rồi đem về đổi cho bác Vang ở trong ngõ. Mới mười tuổi đầu, nhưng nó cũng đỡ được cho gia đình một món chi tiêu không phải là nhỏ. Câu chuyện của chúng nó chẳng bao giờ dứt. Chúng nó hay đố nhau xem ban ngày đã được ăn món gì sang nhất. Cả đời Ngoan chỉ nói được món ô mai vì ô mai rẻ nhất và hợp với ý thích của nó nhất. Còn thằng Ích thì nói ngay món phở thơm tho mà nó vẫn thưởng thức ở trên hiệu. Ngoan chịu thua ngay vì đối với Ngoan, phở là món quà lý tưởng rồi. Tuy vậy, nếu được ước ao, thì Ngoan không ước ao món phở. Nó mê một cái lược xanh thật đẹp cài trên đầu hơn. Chúng nó nói chuyện với nhau quên cả ngủ. U Tám đã hết khóc và nhà trên đã hoàn toàn im lặng. Ngoài ngõ chỉ còn thấp thoáng một vài cô áo trắng đi về. Có tiếng xe xích lô lăn khấp khểnh trên nền đất lồi lõm. Họ hỏi thăm nhau:

– Mệt không cô Huệ ơi!…

Vẫn tiếng chanh chua của Huệ:

– Mệt cái phải gió. Cha tổ bố, ít tiền mà cứ muốn của đẹp!

Những lúc như thế là phải hơn hai giờ. Hai anh em Ích nằm ngủ quên trên đống lá. Giấc ngủ đến với chúng nó thật dễ dàng. Khuôn mặt thơ ngây của chúng thấp thoáng dưới ánh trăng lọt qua khung cửa. Cái Ngoan gối đầu lên chân của thằng Ích. Nhiều khi chúng nó ngủ quên, lăn mãi vào gầm chạn hay ghếch đùi lên cạnh liếp. Đến sáng, Ngoan đậy sớm, quẩy hai cái sọt xinh xinh đi lên phố. Ích ở nhà thổi cơm, gánh nước cho đến chiều thì đi hát với bác Tốn. Ngày trước hồi chưa có nó thì bác nuôi thằng Đăng, cũng bằng trạc tuổi nó. Thằng Đăng láu cá hơn Ích nhiều. Nó lại xin tiền dai như đỉa nên kiếm cho bác Tốn khá bộn. Cũng vì thế bác Tốn để dành được một món tiền lớn. Một dạo bác ta tầm ngầm có ý định cưới vợ. Những đồng bạc để dành, bác cẩn thận nhét vào cái ống tre ở thành trõng. Nhưng có lần bác để cho thằng Đăng trông thấy. Nó “chớp” luôn mấy nghìn bạc và trốn đi bịệt. Bác Tốn tiếc ngẩn tiếc ngơ như người mất vợ. Những đêm buồn, bác hay mang đàn ra gẩy ở ngoài sân rồi cất tiếng hát:

Tôi mấy cô… không duyên, không nợ…

 Tôi mấy cô… không vợ, không chồng…

Giọng hát của bác buồn buồn vang trong ngõ vắng. Tiếng hát vẳng sang nhà Ích vào những đêm trời nóng nực, mọi người thao thức không ngủ. Dượng Tám nằm đập muỗi trong mùng nói vọng ra:

– Cái thằng, không mù thì khối đứa cảm.

Rồi không hiểu nghĩ lan man thế nào, dượng điều đình với bác cho Ích thay chỗ của thằng Đăng. Ích bỏ nghề kiếm củi khô để đi hát với bác từ dạo ấy.

*

Về đến nhà, Ích còn dặn bác Tốn một câu trước khi chia tay:

– Dượng cháu có hỏi thì bác nói chín thôi nhé.

Bác Tốn mỉm cười, gật gật. Bóng của bác quờ quạng đi trong sân đất. Tiếng đàn bật nhẹ và kêu rung rung trong bóng tối. Ích rẽ sang phía cổng nhà mình. Con Vện hực lên mấy tiếng. Ích vuốt lên đầu con vật mấy cái rồi đi thẳng lên thềm. Đèn trong nhà tối om om. Có tiếng cười rúc rích ở giường dượng Tám. Trong bóng tối, bàn tay cái Ngoan thò ra nắm lấy tay nó kéo xuống bếp. Ích hỏi:

– U đâu?

Ngoan thì thào:

– U đi làm hồ từ hồi chiều rồi.

– Còn tương thì sao?

– Mẻ tương này chậm vì lần trước không có đỗ ngon. Bác Nhan rủ, u đi rồi.

– Ai trong nhà thế?

– Cô xóm trong!

Hai đứa dừng lại. Tiếng cười len qua vách lá to hơn rồi im bặt. Ích dắt em ra đầu nhà. Thỉnh thoảng u chúng nó đi vắng, dượng Tám vẫn ngủ với một vài người như thế. Nhưng chẳng lần nào chúng nó dám mách cả. Cứ chỉ nhìn vào đôi mắt đỏ như tiết và nom như bốc lửa của dượng là bọn chúng nó cũng đủ dúm người lại rồi.

Hai đứa ngồi xuống thềm đất. Ngoan lấy ra cho Ích một gói nhỏ:

– Kẹo tây đây này!

Ích mở to mắt trong bóng tối:

– Ở đâu ra thế?

– Em mua đấy. Một đồng năm cái.

Ích suýt soa:

– Sang nhỉ! Hôm nay mày được bao nhiêu?

– Có tám đồng.

Ích vội khoe:

– Tao có riêng gần một chục đây này.

Ngoan nắm lấy tay anh:

– Ở đâu ra mà nhiều thế?

Ích định thú thật với em rằng mình đã ăn bớt tiền đi hát được, nhưng rồi nó lại ngập ngừng:

– Thì người ta cho chứ ở đâu.

Hai đứa im lặng một lúc lâu. Ích chợt nói:

– Tao sẽ cho mày ăn riêng một tô phở và mua thêm một cái lược.

Ngoan náo nức:

– Lược mầu xanh biếc ấy anh nhá.

– Được rồi, mai cùng đi rồi tha hồ mày chọn.

– Nhưng mua rồi thì giấu ở đâu.

Ích đáp:

– Tao có chỗ này kín lắm. Mai tao chỉ cho. Dượng Tám có tìm một ngày cũng không thấy được.

Ngoan chép miệng:

– Mình chán nhỉ. Có tiền mua mà cũng không dám dùng hẳn hoi.

Tự nhiên Ích thấy buồn buồn và thương Ngoan. Ít khi tình thương đến với nó một cách rõ ràng như thế. Thường thường có nghĩ đến em thì nó cũng chỉ biết để dành cho em cái bánh, cái kẹo là cùng, chứ không bao giờ Ích lại thấy lòng nôn nao một cách khó tả như thế. Nó nhìn trộm sang phía Ngoan. Khuôn mặt bầu bĩnh của con bé chìm mờ trong bóng tối. Bất giác Ích giơ tay tìm tay em. Ngoan lặng lẽ nắm hờ lấy anh, mắt nó nhìn long lanh ra phía ngoài sáng. Giây lâu nó bóc kẹo trao cho Ích. Hai anh em ngồi ngậm kẹo. Bốn bề im lặng chỉ có tiếng gió rì rào trên lùm cây xanh đen, xen lẫn tiếng chó sủa vu vơ ở phía đằng xa. Hai đứa cùng như cảm thấy một điều gì nhẹ nhõm. Mãi Ích mới nghĩ ra rằng tại u Tám đi vắng và dượng Tám đang ngủ với cô gái ở trên nhà. Chúng nó được tự do ngồi với nhau, lại có cả kẹo ngậm nữa. Vì thế đêm đã khuya rồi mà chúng nó chưa buồn ngủ. Ngoan kể với anh chuyện ban ngày, chuyện ở dọc đường, ở mọi nhà mà nó đến đổi đồ đồng nát. Nó nói với anh như mới khám phá một điều lạ:

– Anh Ích này, bé như em mà người ta cũng mượn đi làm cơ.

Ích đáp:

– Dĩ nhiên! Bằng mày mà không chạy được khối việc à.

– Em tưởng phải nhớn cơ chứ?

– Nhớn công nhiều, bé công ít.

– Ít là bao nhiêu?

Ích tịt mít. Nó cũng không hiểu cỡ như cái Ngoan đi ở thì một tháng được bao nhiêu tiền. Nhưng Ngoan đã ước lượng hộ nó:

– Chắc một trăm.

Ích cãi:

– Hơn chứ!

– Một trăm có cơm nuôi. Đến tết lại được một bộ quần áo.

– Sao mày rõ thế?

– Em hỏi mà lị. Giá dượng cho em đi làm như thế thì em đi ngay. Ở nhà, u với dượng hay đánh nhau, chán chết!

Ích nói:

– Nhưng cũng còn hơn là làm đầy tớ người ta.

– Ồ! Mình cũng phải làm chứ có đi xin đâu mà sợ.

Rồi nó thấy mình lỡ lời, nên vội chữa:

– Như anh đấy, cũng phải hát mới có tiền chứ!

Ích ngập ngừng:

– Chắc dượng không cho đâu!

Ngoan thấy cái náo nức trong lòng đang nhen nhúm tự nhiên tắt hẳn. Anh nó nói đúng. Chẳng bao giờ u nó và dượng nó lại cho đi như thế. Ở nhà, nó còn đỡ được nhiều việc. Nó mà đi thì chỉ mình nó sướng thôi. Ngoan nghĩ đến những chiếc nhà tây hai, ba tầng, quét vôi sáng sủa. Buổi chiều có nắng chiếu lên những dàn hoa sặc sỡ. Sân gạch ở đằng trước đầy gió và bóng mát. Đã có lần nó đi theo người ta vào trong ấy khuân các đồ chai lọ. Nó đã được đứng trên mặt đá hoa mát lạnh mà chưa từng bao giờ nó đặt chân đến. Những vòi nước máy bằng đồng sáng loáng, mở ra có nước tuôn xối xả quyến rũ nó một cách lạ lùng. Ở trong căn nhà ấy, thứ gì, vật gì đối với nó cũng đều lạ mắt cả. Từ cái quạt cao hơn đầu dượng Tám dựng đứng, xoay khắp trong phòng, đến những ổ điện nhằng nhịt, những bàn, ghế, giường, nệm, tất cả tạo thành một thế giới riêng biệt, thần tiên, khác xa hẳn với căn nhà lá ẩm thấp và tối tăm của dượng nó ở xóm Cỏ này. Vì thế mà Ngoan vẫn nuôi cái mộng trong đầu là được rời xa chốn khốn khổ ấy. Nhất là nó sẽ chẳng còn phải chứng kiến cái cảnh dượng Tám uống rượu say rồi nắm từng mớ tóc của u nó mà giật. Những khi ấy, Ngoan có cảm tưởng như chính những mảng tóc của nó đang bị bật ra, và nó chỉ biết ngồi ôm mặt khóc.

Về phần u Tám, thì nhiều lúc u lầm lì như cục đất. Trong nhà, u chẳng hay nói với ai một lời vui vẻ, ngay cả đến anh em nó. Chúng nó nhận ra sự im lặng của u có một vẻ khác thuờng. Hình như u sống với chúng nó đấy, mà đầu óc chẳng để ý gì đến ai cả. Cặp mắt của u bạc nhược, khuôn mặt trắng xanh nổi lên những nét khắc khổ và mệt nhọc. U rất chăm làm, làm như một con vật mà lại là thứ con vật vô tri giác. Ấy thế mà dượng Tám chẳng mấy khi để cho u được yên cả. Tiền u kiếm được, dượng moi bằng hết để đi đánh bạc. Mỗi lần không có, thì dượng gây sự với u để lại túm lấy u và đánh như đánh một quân thù không đội trời chung. Nhiều khi u Tám cũng chống cự lại bằng sức lực yếu đuối của mình. Như thế, trong nhà lại tán loạn lên vì tiếng khóc và tiếng chửi rủa. Anh em Ích lại rúc vào ổ rơm mà trốn bịệt.

Nghĩ lan man thế nào, Ngoan tự nhiên rưng rưng khóc. Thấy nó không nói, Ích ngẩng lên nhìn và trông thấy những giọt nước mắt ứa ra trên hai má của Ngoan. Nó hỏi em:

– Ngoan làm sao thế

Ngoan không đáp chỉ lắc đầu, và bắt đầu khóc thành tiếng nho nhỏ. Ích vỗ lên lưng em, dỗ dành:

– Mày đi làm làm gì. Ở nhà có anh, có em sướng hơn.

Ngoan càng lắc đầu mạnh. Nó biết không phải nó khóc vì không được đi làm. Nó chỉ tủi thân thôi. Mà tủi thân thì nói thế nào cho Ích hiểu được. Vì thế nó chỉ ôm hai tay lên mặt, im lặng cho dòng nước mắt nóng hổi chảy trên từng ngón tay nhớp nháp. Ích cũng ngồi yên không nói nữa. Cái vui nhẹ nhàng ban nãy không còn. Bây giờ chúng nó lại cảm thấy buồn hơn hết. Chúng nó nghĩ đến ngày mai, ngày kia và mãi mãi, buổi sáng phải đi mót củi khô và lá rụng ở mặt đường, buổi trưa nắng gắt, đi quẩy nước ở ngoài giếng, chiều tối, lúc dượng Tám uống rượu lảo đảo trở về, chửi lảm nhảm đến khuya. Mỗi cử động mạnh của dượng, ngay lúc dượng chẳng đánh ai cả, cũng đủ làm cho tim Ích đập nhanh trong lồng ngực. Ích nghĩ, dượng Tám thật là tráo trở, vui đấy, mà cũng giở mặt ngay đấy. Nhiều khi Ích dám có ý nghĩ là mình được cầm một con dao nhọn hoắt mà đâm mạnh vào tim dượng. Máu đỏ phun ra sẽ làm nó rất kinh sợ nhưng hẳn cũng hả hê biết mấy. Hả hê ngay từ khi nó mới chỉ tượng tượng ra như thế mà thôi. Cũng có lúc Ích ao ước mình được dẫn em bỏ trốn nhà ra đi. Nhưng điều ấy lại còn khó khăn hơn là sự cầm dao giết dượng Tám. Vì trong thành phố ồn ào này, tuy rộng rãi thật, nhưng nó chẳng biết là mình sẽ đi về đâu. Bất giác Ích thở dài, ngẩng lên nhìn về phía nhà trên. Ở trong vẫn tối om và chắc dượng Tám đã cùng cô gái ngủ say rồi. Nó trông lên nền trời xanh đen. Bây giờ có một lớp sương trắng đùng đục che mờ những vì sao thưa. Gió càng về đêm càng lạnh hơn và sương đêm hắt vào vai nó một cảmgiác âm ẩm. Nó kéo Ngoan đứng dậy. Hai anh em dắt nhau xuống ngủ ở nền lá khô dưới bếp. Ngoan trở mình một lúc rồi nằm yên. Còn Ích thì nhìn rất lâu ra khung cửa đùng đục trắng. Ánh sáng nhàn nhạt lùa vào đống lá một vệt sáng nhờ. Ích thấy những mơ ước vẩn vơ của mình hiện lên ở trên nền cửa ấy. Những con thiêu thân trên ngọn đèn sáng ở ngoài tiệm phở bay mơ hồ qua lại. Tiếng đàn của bác Tốn văng vẳng bên tai nghe xa xôi. Ích thiếp đi trong những cảm giác chập chờn như thế…

Nhật Tiến

Xem tiếp Chương 2

Văn Cao, Giấc Mơ Một Đời Người. Phan Lạc Phúc


Phan Lạc Phúc

Văn Cao - Phan Lạc Phúc...

(Chân dung Nhạc Sĩ Văn Cao và Nhà Văn Phan Lạc Phúc)

Đầu năm 1995, có người trao cho tôi một cuốn video mà tôi mong đợi đã từ lâu. Cuốn băng về Văn Cao: “Giấc Mơ Của Một Đời Người”. Từ bữa ấy tới nay, đã hai, ba lần xem đi xem lại cuốn băng này mà lần nào xem xong tôi cũng không tránh khỏi thở dài. Một con người tài hoa như vậy, tâm hồn lớn lao như vậy, có đóng góp như vậy mà cuối đời, sao mà tẻ lạnh, buồn tênh. Một ông già lụm cụm, râu tóc bạc phơ, một mình trong gian phòng vắng, ngoài trời mưa bay, cây bàng khẳng khiu, những chiếc lá cuối cùng đã rụng. Văn Cao nhìn “cây bàng mồ côi mùa đông” trong khi chiếc đồng hồ trên tường không ngừng nghỉ, điểm những giọt thời gian tích tắc, tích tắc. Những tiếng tích tắc ấy vang lên mênh mông trong gian phòng vắng như một câu hỏi mơ hồ nhưng khắc nghiệt: đến bao giờ.

Đến bao giờ xuất hiện dấu chấm hết cho một đời người, bởi vì không ai tránh khỏi: con người sinh ra là để chết (l’homme, un être mortel). Những tiếng tích tắc ấy như những giọt cường toan nhỏ xuống lòng người.

Khi cuốn băng này ra đời (1994) Văn Cao đã bước qua ngưỡng cửa “thất thập cổ lai hi”. Không nói ra nhưng hình như những người dựng cuốn băng này muốn thực hiện một khúc bi ca, viếng người còn sống: sợ không làm thì không kịp nữa, thời gian gấp gáp đuổi theo sau lưng. Cũng có thể những người thực hiện cuốn băng thấu hiểu cái lẽ “sinh ký tử qui” giống như người xưa, có tuổi rồi là sắm một “cỗ áo” để sẵn trong nhà phòng khi hữu sự. Hay là bắt chước mấy ông nhà Nho già ngày trước, thân với nhau đến độ làm sẵn những câu đối sinh vãng (làm sẵn từ khi còn sống) để lỡ khi bạn mình nằm xuống thì đã có sẵn câu đối, cứ thế mà treo lên. “Người sắp chết nói lời khôn – Chim sắp chết tiếng kêu thương” xem cuốn phim video này nó thảm, nó buồn là vì vậy. Ở Úc này, nghe nói có loài chim thorn bird (cũng như có cuốn tiểu thuyết lừng lẫy The Thorn Bird). Giống chim này hót hay nhất, thê thiết nhất, tuyệt vời nhất khi chiếc gai nhọn đâm thấu vào tim, máu chảy tràn trề. Máu trong tim vừa cạn thì khúc bi ca cũng vừa chấm dứt.

Cái cảm giác thảm thê, rờn rợn khi xem cuốn video này của tôi đã dự báo đúng. Văn Cao, con chim thorn bird Việt Nam đã mất vào tháng 7 năm 1995. Những người yêu mến Văn Cao đã kịp thời thực hiện cuốn băng này trước khi không còn kịp nữa.
. . . . . .

GẶP GỠ VĂN CAO

Đầu thập niên 40 tôi là một anh học trò mới lớn, tuổi mười lăm mười bảy. Thời kỳ ấy tôi thuộc nằm lòng Thăng Long Hành Khúc của Văn Cao: “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng. Trông khói sương chiều ám trên giòng sông”. Tôi cũng bắt đầu say mê Buồn Tàn Thu với lời đề tặng đáng ghi nhớ của tác giả trên đầu bài hát. “Thân tặng Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn”. Lúc bấy giờ Phạm Duy đang đi theo các đoàn cải lương suốt từ Bắc vào Nam và ngược lại. Giữa hai màn cải lương, Phạm Duy ôm đàn ra hát …“Đêm tàn thu tới, nghe mùa đông đang rớt rơi theo lá vàng. Em ngồi đan áo. Lòng buồn vương vấn. Em thương nhớ chàng.” Lối hát ấy, thời bấy giờ gọi là entre-scènes. Và Phạm Duy cho tới nay vẫn tự xưng là một kẻ hát rong, chính đã bắt đầu như vậy.

Cách mạng tháng tám bùng lên. Như một trò chơi hấp dẫn, người học trò mới lớn ném cả tâm hồn và thể xác vào cuộc đấu tranh dành độc lập cho xứ sở. Văn Cao lúc ấy nổi lên rực rỡ như một khuôn mặt điển hình của thanh niên. Vừa mang súng lục làm trưởng ban ám sát thành (Tô Hiệu – Hải Phòng) vừa là nhạc sĩ sáng tác những bản nhạc đấu tranh cách mạng: Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng, Hải Quân Hành Khúc, Không Quân Hành Khúc, Bắc Sơn v.v…

Không những thế con người cách mạng ấy còn là tác giả những khúc tình ca ngây ngất: Suối Mơ, Thiên Thai, Đàn Chim Việt, Trương Chi.

Cách mạng bùng lên, rồi kháng chiến trường kỳ … Văn Cao là một nhà sáng tác lừng lẫy. Phạm Duy lúc bấy giờ là một ca sĩ hàng đầu, được yêu mến khắp mọi nơi …
. . . . . .

Một hôm ông anh tôi mới hỏi tôi “Muốn đi gặp Văn Cao không?” Thời kháng chiến 9 năm, Văn Cao là một tên tuổi lẫy lừng khắp nước, ai mà không hát Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng … ai mà không ngâm ngợi “Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối …” Cho nên tôi nao nức đạp xe theo ông anh tôi liền. Từ quê tôi qua Thạch Thất tới Cầu Trò rồi theo đường liên tỉnh (lúc đó đã phá hoại, đào đường kháng chiến ngang dọc khắp nơi, nhưng xe đạp vẫn còn đi được) lên thị xã Sơn Tây. Từ Sơn Tây qua Quảng Oai lên bến Trung Hà. Ở đây phải đi đò qua sông Cái (sông Hồng) sang một thành phố ngã ba bên kia sông: Việt Trì. Ngày xưa chỗ này gọi là Ngã ba Hạc. Việt Trì là một thành phố trại lính. Thời Pháp thuộc có hẳn một binh đoàn lê dương (légion Việt Trì) trấn đóng khu vực chiến lược này. Đây là địa đầu của trấn Sơn – Hưng – Tuyên trong yếu ngày xưa (Sơn Tây – Hưng Hóa – Tuyên – Quang).

Sang đến bên kia sông, ông anh tôi đi tìm một người bạn “thổ công” ở miền đất này. Đó là nhạc sĩ Lưu Bách Thụ, tác giả Con Thuyền Xa Bến. “Theo gió thuyền xuôi, sóng đưa bèo trôi”. Theo ông anh tôi kể lại, Lưu Bách Thụ nguyên là lính kèn ở thị trấn này. Bây giờ ông không thổi kèn la vầy tò te, tí tét nữa mà ông sáng tác nhạc cải cách và trở thành ông bầu văn nghệ của Việt Trì.

Hôm nay, Ca kịch Giải Phóng đoàn văn nghệ đầu đàn thời ấy, gồm những khuôn mặt lớn như kịch sĩ Song Kim (bà Thế Lữ), Phạm Văn Đôn (kiêm họa sĩ, nhạc sĩ), các ca sĩ Phạm Duy, Mai Khanh, Phạm Đình Viêm (Hoài Trung sau này), nữ ca sĩ Thương Huyền, Hoàng Oanh (Hoàng Oanh xưa ở Hải Phòng không phải Hoàng Oanh bây giờ) v.v…

Văn Cao ngoài tư cách là nhạc sĩ sáng tác còn kiêm nghề tiền đạo diễn (élément précurseur) đi trước một bước để sắp xếp nơi diễn và lo liệu nơi ăn chốn ở cho đoàn kịch. Đoàn chưa đến nhưng Văn Cao đã có mặt trước ở Việt Trì. Tôi theo ông anh và nhạc sĩ thổ công Lưu Bách Thu tới một quán nước ven bờ sông. Ở đó tôi gặp một người đàn ông còn trẻ chừng 24, 25 tuổi nhưng có vẻ muốn làm già đi với cái mũ nồi sụp trước mắt và chiếc pipe phì phà khói. Người thanh niên này không đẹp trai, phải nói như vậy, nhưng có một phong cách khác người, một vẻ tự tin đặc biệt. Ông anh tôi khẽ nói với tôi “Văn Cao đấy”. Đến lượt tôi tiến tới bắt tay, anh tôi bỏ nhỏ “Cậu em tôi ở quê nhà, muốn được gặp Văn Cao”. Người thanh niên không nói gì chỉ giơ tay bắt, con mắt nheo lên một nét cười thầm lặng.

Lúc bấy giờ, tôi chỉ là một anh “nhóc” mới lớn lên, 19 tuổi, nên ngồi lặng im nghe các đàn anh chuyện vãn. Một lát sau, bún riêu, cà phê xong xuôi, ông anh tôi và Lưu Bách Thụ vội vàng đi vì nghe tin thuyền buồm chở đoàn kịch đã tới. Chỉ còn Văn Cao và tôi ngồi lại. Văn Cao vẫn không ngớt phì phà khói pipe. Tôi rụt rè nêu câu hỏi: “Dạo này, hát bài của anh sướng quá. Từ các bản cách mạng Tiến Quân Ca, Bắc Sơn sang các bản trữ tình suối Mơ, Thiên Thai. Dạo năm ngoái triển lãm tranh Cách Mạnh tháng 8 ở Khai Trí Tiến Đức còn thấy bày tranh của anh nữa. Rồi thơ “Chiếc Xe Xác Qua Phường Dạ Lạc”. Văn Cao giơ tay như muốn ngắt lời tôi “Tôi hiểu ý của bạn rồi. Có phải bạn muốn hỏi rằng tôi rồi đây sẽ nghiêng về địa hạt nào?” Tôi gật đầu, đồng ý. Văn Cao nói tiếp “Tôi sống với cả ba, nhưng thời kỳ qua có thể gọi là thời kỳ nhạc, thời của Cách mạng, của kêu gọi, của đám đông. Đến một lúc nào đó, con người phải quay về với nội tâm mình, có lẽ thời kỳ đó đối với tôi là thời kỳ thơ, thời kỳ họa.”

Với lại về nhạc, dạo này có một người bạn tôi, mới sáng tác nhưng anh ta có một sensibilité kỳ lạ (tôi còn nhớ nguyên chữ sensibilité nói rât trang trọng của Văn Cao) – Người ấy là Phạm Duy …

Thành phố trại lính Việt Trì cũng như các thành phố khác lúc bấy giờ đang tiêu thổ kháng chiến. Một rạp hát đã phá bỏ mái, không còn tường bao xung quanh, nhưng sân khấu vẫn còn. Buổi trình diễn của đoàn ca kịch Giải Phóng cho quân, dân, chính Việt Trì được tổ chức trong nhà hát ấy. Không có ghế, mọi người phải ngồi xổm xuống sàn mà coi. Có kịch “Trả con tôi đây” do những kịch sĩ danh tiếng một thời trong ban kịch Thế Lữ thủ diễn. Có đơn ca của Thanh Huyền “khi bước đi vó câu xa xa dồn bao nhớ thương”. Có tam ca Hòn Vọng Phu I do Phạm Duy – Mai Khanh – Thương Huyền trình bày. Có những bài hát hài hước “Con vỏi con voi cái vòi đi trước”, “Con mèo mày trèo cây cau” của Nguyễn Xuân Khoát do giọng ca trầm ấm và dí dỏm Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) diễn tấu. Có đơn ca của giọng hát đang được yêu chuộng nhất lúc bấy giờ Phạm Duy. Ca sĩ đêm nay hát bài của anh vừa sáng tác xong: Chiến sĩ Vô Danh. Anh đã cúi đầu chào khán giả và định rời sàn diễn thì một tiếng hô không biết của ai vang lên “Trương Chi mới, Trương Chi mới”.

Những tiếng hô tiếp nối Trương Chi mới, cùng tiếng vỗ tay từng chập nổi lên. Hồi đầu thập niên 40, Văn Cao đã sáng tác một bài Trương Chi. Bài hát chưa được phổ biến rộng rãi, mới được lưu hành hạn hẹp trong một số người thân quen với tác giả. Nhưng giờ đây sau Cách mạng tháng 8, 1945 Văn Cao sáng tác một bài Trương Chi khác, được coi là một thành tựu mới. Bài Trương Chi này chưa được chính thức phát hành; nó là bài hát đang được kiếm tìm, đang được ưa chuộng của người thưởng ngoạn. Cùng một lúc với những bài hát Cách Mạng sục sôi như Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng, Bắc Sơn, Không Quân, Hải Quân … Người ta còn tìm thấy nơi Văn Cao một nguồn suối những bàn tình ca thần thoại: Bến Xuân, Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi … Người ta bàng hoàng ngơ ngẩn, choáng ngợp trước tâm hồn giàu có và đa dạng của tác giả.

Phạm Duy người ca sĩ thời danh đã ôm guitare bước ra tiền trường sân khấu. Mắt kính trắng loáng lên trước ánh đèn “măng xông”. Anh nghiêng đầu, tay vuốt nhẹ một arpège dẫn vào khúc dạo của Trương Chi. Cả thính phòng im phắc. Chỉ nghe một tiếng hát không phải từ cuộc đời này mà từ một tiền kiếp xa xôi nào vọng lại:

“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ …”

BẾN XUÂN

Đối với anh em văn nghệ, buổi trình diễn đầu năm 1947 ở Việt Trì chỉ là “công tác”. Cuộc gặp gỡ sau khi trình diễn mới là đáng kể. Chiến tranh toàn quốc mới nổ ra mấy tháng, nhưng súng đạn làm cho những cuộc gặp gỡ bất ngờ trên đường kháng chiến thêm đậm đà ý nghĩa. Chỉ mấy tháng thôi nhưng Hà Nội – Hải Phòng đã thấy vời vợi xa. Vùng ánh sáng mờ mờ kia đó là Hà Nội, nhưng đâu còn về được. “Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài” (Thơ Quang Dũng). Trong cơn mưa đêm lấm tấm của một mùa xuân muộn, mấy người bạn văn nghệ tìm đến nhau. Nhạc sĩ “thổ công” Lưu Bách Thụ và cũng là “khổ chủ” đưa mấy người bạn thân đi khoản đãi riêng. Trong một căn phòng nhỏ còn lại của một nhà khách địa phương đang phá hoại dở, mọi người tụ tập, uống rượu mía đặc biệt Quảng Oai, ăn cháo gà. Căn phòng nhỏ lù mù dưới ánh đèn dầu hỏa chỉ có dăm bảy người chen chúc. Có Văn Cao, Phạm Duy, Thương Huyền, Hoàng Oanh, khổ chủ Lưu Bách Thụ và ông anh tôi, Trần Ngọc D. Tôi may quá được “ăn theo”.

Trong số các khuôn mặt hiện diện theo lời ông anh tôi cho biết, đáng lưu ý nhất là nữ ca sĩ Hoàng Oanh. Hoàng Oanh là một người đẹp “huyền thoại” của Hải Phòng. Ở đây có hai người Hải Phòng: Văn Cao và Hoàng Oanh. Đầu thập niên 40, Hoàng Oanh đã là nguồn cảm hứng để Văn Cao sáng tác khúc tình ca bất hủ Bến Xuân “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần …” Đó là Hoàng Oanh đến thăm Văn Cao trên bến đò Rừng. Có lẽ người đẹp chỉ đến một lần, rồi không đến nữa nên trong lời ca thứ hai của bài Bến Xuân, Văn Cao kể lể “Chiều nay tôi vẫn còn ngơ ngác. Em đến tôi một chiều. Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu”.

Nàng không đến nữa, tất cả chỉ còn là kỷ niệm. “Không có em, cõi nhân gian này hoang vắng” (un seul être vous manque, tout est dépeuplé) (Thơ Lamartine). Vì vậy nên Văn Cao sáng tác Bến Xuân như một hoài niệm xót xa và đẹp đẽ nói về một cuộc tình vừa mới nhen lên đã tắt.

Được biết người đẹp Hoàng Oanh sau đó đã lên xe hoa, về làm vợ một nhạc sĩ rất tiếng tăm thời ấy cũng ở Hải Phòng, bỏ lại Văn Cao, bỏ lại căn nhà “bên chiếc cầu soi nước”.

Nhưng “hồng nhan đa truân” người đẹp Hoàng Oanh vui duyên mới đâu được vài năm, người chồng, người nhạc sĩ tài danh vắn số kia tạ thế. Hoàng Oanh trở thành một góa phụ đa cảm đa sấu.

Chiến tranh toàn quốc, người góa phụ đi theo ban ca kịch, đi kháng chiến để phần nào nguôi ngoai quên sầu muộn. Theo con mắt tôi, một gã thanh niên vừa lớn thì Hoàng Oanh vẫn đẹp não nùng. Không phải là cái đẹp mơm mởn của tuổi dậy thì, mà là cái đẹp tròn đầy của một trái cây vừa chín tới.

Bữa ăn đêm ấm bụng thêm vào chất rượu đặc sản Quảng Oai, Sơn Tây, rượu mía ngọt lừ mà say lúc nào không biết. “Thổ công” Lưu Bạch Thụ tay cầm ly rượu ngất ngưởng đứng lên “Đêm nay, không ngờ lại được gặp Văn Cao và Hoàng Oanh ở đây, hai người con yêu của Hải Phòng mà cũng là hai nhân vật chính trong bản tình ca Bến Xuân bất hủ. Để mở đầu cuộc họp mặt văn nghệ thân hữu đêm nay, yêu cầu anh Phạm Duy hát lại Bến Xuân …” Tiếng vỗ tay hưởng ứng vang lên trong căn phòng nhỏ. Trong khi Phạm Duy đi tìm cây đàn guitar tròng vào vai, Văn Cao cảm khái ngâm hai câu thơ dẫn nhập “Chiều nay run rẩy thơ đôi cánh. Một cánh chim xưa đến lạc loài”. Lời thơ chìm vào âm điệu trầm buồn dìu dặt của cung Rê thứ. Phạm Duy bắt đầu hát:

“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao cánh chim rừng, rập rờn trên khắp bến Xuân …
. . . .
Dìu vai theo dốc suối mơ ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây sao thấy lòng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền trên nước
Tà áo tung bay nghe thoáng nhẹ thẹn thùng ngoài Bến Xuân …
Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Về đâu buồm nâu còn trên lớp sóng Xuân
Ai tha hương nghe réo rắt oanh ca
Cánh nhạn vào mây thướt tha
Lưu luyến tình vừa qua …”

Từ khi nghe bài Bến Xuân năm ấy đến nay đã gần 50 năm trôi qua. Ngày ấy tôi là một thanh niên vừa mới lớn mà bây giờ, tôi đã là một anh già “thất thập” … Nửa thế kỷ … thời gian đâu có ngắn nhưng mỗi khi nhớ lại bài Bến Xuân, tôi lại thấy suốt châu thân rờn rợn. Phạm Duy không phải là một giọng ca vàng, nhưng Phạm Duy hơn người ở chỗ anh biết nắm lấy cái “thần” của từng bài hát. Bài hát đã thấm vào tâm hồn ngây dại của tôi lúc ấy và ở lại đó y nguyên.

Ở trên đời này có biết bao nhiêu mối tình dang dở, nhưng đối với tôi không có cuộc tình nào dở dang, trữ tình, dìu dặt xót xa như Bến Xuân năm ấy. Có thể khung cảnh đặc biệt trong một đêm Xuân ở Việt Trì đã ghi khắc vào tâm hồn non dại của tôi những dấu vết không phai.

Hai người tình xưa gặp lại nhau trong một đêm xuân mưa bụi. Gặp nhau đây, bao kỷ niệm xưa bừng dậy nhưng ngày mai … không hứa hẹn gì. Chiến tranh, đổ nát, chia ly. Kỷ niệm xưa càng đẹp, chia tay bây giờ lại càng đau xót. Bất giác tôi nhớ một câu thơ của J. Prévert “Moi qui t’aimais. Toi qui m’aimais. Mais la vie sépare ceux qui s’aiment” (Tôi yêu em và em yêu tôi, nhưng những kẻ yêu nhau thường bị cuộc đời chia rẽ).

GIẤC MƠ THÊ THẢM

tie1babfng-quc3a2n-ca-vc483n-be1baa3n

(Tiến Quân Ca được dùng làm Quốc Ca hiện tại)

Theo tôi nghĩ, một bài hát mà mình yêu thích thường đánh dấu một quãng thời gian, không gian nào đó, khắc ghi một kỷ niệm đáng nhớ trong đời. Bài hát ấy, thời, không gian ấy, ca sĩ ấy … tất cả tạo thành một dấu ấn không quên. Đối với tôi bài Bến Xuân là một vùng kỷ niệm của ngày đầu đi kháng chiến chống Pháp, có “giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến” có đôi người tình cũ Văn Cao – Hoàng Oanh gặp nhau rồi xa nhau, có bến giang đầu Ngã ba Hạc – Việt Trì thê thiết, có giọng hát thấm vào hồn người Phạm Duy. Nó cũng đánh dấu thời kỳ đầu đi kháng chiến của bao nhiêu lứa thanh niên kẻ trước người sau, nô nức đi vào ngày hội lớn.

Vào khoảng giữa năm 1947, ông anh tôi Trần Ngọc D. không “công tác” ở vùng Sơn Tây nữa, lúc bấy giờ thuộc khu 2, mà đi lên khu 10 tận Việt Bắc – Lào Kay mở một cái “quán biên thùy” ở miền biên giới Hoa – Việt. Tôi cũng không biết việc đó là buôn bán tư nhân hay là công tác nữa. Ông anh tôi lúc nào cũng giữ đúng qui luật, “bem” tuyệt đối. Chỉ biết là một bộ phận nhạc trong đoàn ca kịch Giải Phóng tách ra lên Lào Kay, trong đó có Phạm Duy ở quán Biên Thùy. Ít tháng sau, trong những lượt về thăm quê, ông anh tôi có mang theo những sáng tác mới của Phạm Duy như Bên Cầu Biên Giới, Thu Chiến Trường, Nợ Xương Máu v.v… Tôi bắt đầu nghĩ đến từ sensibilité (sự mẫn cảm) mà Văn Cao hôm nào trong quán nhỏ bên sông đã đặc biệt nói về Phạm Duy. Đây cũng là một khúc rẽ để Phạm Duy từ một ca sĩ chuyển sang phần đất chính của anh: sáng tác.

Bữa ở Việt Trì khi tôi từ biệt đoàn ca kịch Giải Phóng trở về Quốc Oai, Phạm Duy có chép tặng tôi bài Bến Xuân của Văn Cao có ký tên Phạm Duy mà tôi còn nhớ mãi nét phẩy cuối cùng của chữ Y trong chữ ký được Phạm Duy xoáy vòng trong vòng ngoài như một con ốc vặn. Sự lập dị của nghệ sĩ, sự “chơi trội” của một tài danh, không biết nữa, nhưng bản thân tôi giữ bài Bến Xuân này rât kỹ.

Theo tôi được hiểu, tình hình chiến sự không cho phép tổ chức một đoàn ca kịch lớn lao và cồng kềnh như đoàn ca kịch Giải Phóng. Chiến tranh du kích thì văn nghệ cũng phải du kích. Phải chia ra từng nhóm nhỏ, bám trận địa, bám nhân dân mà trình diễn. Chiếc thuyền buồm lớn chở đoàn ca kịch chỉ trình diễn thêm một điểm nữa ở Vân Đình là giải thể. Cho nên bữa chia tay ở Việt Trì hôm ấy không khí đã bâng khuâng. Thuyền đã nhổ neo rồi. Đoàn đã đi. Phạm Duy, ông anh tôi Trần Ngọc D. cũng đi theo đoàn kịch.

Trên bến Việt Trì, chỉ còn tôi ngồi lại với Văn Cao. Văn Cao nắm tay tôi khá chặt, không lặng lờ “cảnh vẻ” như lần trước. “Mình còn gặp nhau nữa chứ. À bientôt”, anh nói vậy trước khi chia tay. Tôi đạp xe đi được một đoạn, quay lại nhìn thấy Văn Cao, cái mũ béret basque kép sụp xuống mắt đang đứng sững một mình trước bến Việt Trì chập chùng sông nước.

Anh hẹn “sớm gặp lại nhau” (à bientôt) nhưng trong chiến tranh, mấy ai giữ được lời ước hẹn. Sớm gặp lại nhau. Sớm là bao nhiêu lâu? Một vài tuần, một vài tháng, một vài năm? Ở đây là 50 năm, tôi mới được gặp lại anh. Mà không phải gặp Văn Cao bằng xương bằng thịt, mà chỉ gặp một hình bóng Văn Cao thấp thoáng trên băng nhựa. Văn Cao thật sự đã nằm yên trong lòng đất. Con chim thorn bird Việt Nam đã cạn khô giòng máu, tắt hơi rồi.

Mỗi khi xem cuốn băng Văn Cao, giấc mơ một đời người, tôi lại chìm trong kỷ niệm. Đặc biệt là bài hát Bến Xuân. Tôi yêu thầm một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người con gái ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Nên mới có câu “Em đến tôi một lần”. Tác giả Văn Cao đã dẫn nhập như vậy trước khi đi vào bài hát nhưng khi ca sĩ trình bày, nó không phải là Bến Xuân mà là bài Đàn Chim Việt. Bài Bến Xuân đã từng thấm vào tâm hồn tôi từ 50 năm về trước; đó là một bản tình ca diễm tuyệt, làm gì có “hoàng hôn Thái Nguyên tung hoành”, với “Bắc Sơn kia thời tung cánh”. Hai người tình đi với nhau dưới nắng xuân đầm ấm, thì giờ đâu mà nhớ đến “mấy đồi Yên Thế”. Không có Đàn Chim Việt nào bay từ Bắc sang Trung.

Bản tình ca dìu dặt Bến Xuân thời kỳ Cách Mạng 1946 đã được cải trang thành Đàn Chim Việt. Không biết sự cải trang này là do chính tác giả Văn Cao hay do nhà xuất bản muốn phục vụ đúng lúc, đồng thời tung ra một món hàng ăn khách. Chưa biết được. Phục vụ một giai đoạn Cách Mạng, hoặc là làm vừa lòng một phong trào thời thượng, mượn giai điệu Bến Xuân trở thành Đàn Chim Việt, tạm cho là được đi. Nhưng 50 năm sau thực hiện một cuốn băng video ghi dấu một chặng đường sáng tác của một tác giả lớn, có giá trị như một lễ vật viếng người còn sống thì không thể “nhập nhằng” như thế được.

Phải trả cho Caesar cái gì của Caesar, phải trả lại Bến Xuân cho cuộc tình đắm say và dìu dặt của Văn Cao. Tình ca là tình ca, bài ca Cách Mạng là bài ca Cách Mạng, không nên “nửa dơi nửa chuột” như thế. Nó vừa thất lễ với tác giả Văn Cao, mà làng âm nhạc VN cũng thiếu vắng đi một bản tình ca đặc sắc.

Không biết tôi có quá yêu bài hát Bến Xuân, quá yêu kỷ niệm của tôi hay không? Nhưng bữa nào gặp lại Phạm Duy (tôi hi vọng là gặp sớm) tôi sẽ xin anh hát lại Bến Xuân; chắc chắn, dù đã nửa thế kỷ trôi qua, Phạm Duy vẫn sẽ hát “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần” …

“Văn Cao Giấc Mơ Một Đời Người” tôi xem đi xem lại mấy lần mà lần nào cũng buồn hiu hắt. Nửa thế kỷ nay không gặp lại Văn Cao … từ một thanh niên kiêu mạn, tự tin ngày nào anh đã trở thành một ông già đầu râu tóc bạc, lụm cụm chống gậy đi tìm dĩ vãng. Cái đổi thay thể chất không nói làm gì “Được là bao cái thân người, mà cay đắng trải mọi mùi thế gian” nhưng cái khiến tôi âm thầm ái ngại là cái tự tin, kiêu mạn ngày nào nơi anh đã mất. Tụi tôi một lũ người thua trận ở xứ tạm dung này cứ mỗi khi thời tiết đổi thay là lại ngóng về quê hương mà thở dài; anh ở quê nhà, lại là tác giả bài “quốc ca” mà cũng buồn bã, cô đơn như vậy hay sao?

Anh nói nào là “Tôi luôn luôn thất bại … trong tình yêu.” “Tôi muốn tìm lại trong giấc mơ những gì tôi đã đánh mất trong những ngày trẻ tuổi.” – “Không nên sống với những gì mơ mộng – cuộc sống không đạt được” v.v… Anh là Lưu, Nguyễn từ Thiên Thai trở về trần thế. Người cũ đã xa, suối mơ đã cạn “ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta”.

Nhìn anh tôi lại nhớ đến ông anh tôi. Trần Ngọc D. bạn anh ngày nào. Ông anh tôi đi theo Cách Mạng suốt cả một đời người mà kết thúc cuộc đời cũng âm thầm tức tưởi. Chết rồi, chết ở Paris. Tự tử bắn một phát súng vào đầu. Ông anh tôi “bem” suốt đời nên bà chị tôi cũng không hiểu vì sao mà ông anh tôi lại liều mình như vậy. Tôi đi tù cải tạo về năm 1985, nhận được thư bà chị tôi từ Hà Nội báo tin như thế.

Đây cũng là giấc mơ thê thảm của một đời người.

Phan Lạc Phúc

 

 

 

Nụ Hôn Tội Tình. Thơ Hư Vô


 

Môi em trái cấm đầu mùa
Nhìn lé con mắt còn chưa đã thèm
Nín thở liều mạng hôn em
Trái tim tôi bỗng cuồng điên lạ lùng.

Chắc gì em đã khoan dung
Chắc gì em biết tôi run rẩy mình
Chạm vào một cõi hiển linh
Môi em độc ác làm tình tội tôi!

Thà được chết ở trên môi
Kiếp sau còn chút nợ đời cưu mang
Hôn nhau một nụ ngang tàng
Chỗ tôi lăn lóc giữa dung nhan người.

Còn nghe da thịt rã rời
Hôn cho trời đất tả tơi cội nguồn
Từ em ngực thở ngây cuồng
Phả hồn tôi xuống mùi hương diệu kỳ.

Nở bùng một đoá tường vy
Trên môi cũng đã in tì vết nhau
Khắc vào chứng tích đời sau
Để tôi còn biết lao đao kiếp này…

Hư Vô

Françoise Sagan và Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi). Huyền Viêm


Huyền Viêm

Buồn ơi! Vĩnh biệt!
Buồn ơi! Xin chào!
Tên mi viết ở trần cao,
Viết trong đôi mắt dạt dào ta yêu.
Mi đâu hẳn nỗi khốn nghèo,
Khi môi cằn ấy cố trêu nụ cười…

Françoise Sagan

(Françoise Sagan
Thần tượng của giới trẻ Pháp thế kỷ XX)

Adieu trítesse!
Bonjour trítesse!
Tu es inscrite dans les lignes du plafond,
Tu es inscrite dans les yeux que j’aime.
Tu n’es pas tout à fait la misère
Car les lèvres les plus pauvres te dénoncent
Par un sourire…

Paul Eluard (La vie immédiate).

Một buổi sáng tháng giêng năm 1954, một cô gái e lệ bước vào căn nhà mang số 30 đường Đại học – trụ sở của Nhà xuất bản Julliard – leo lên lầu một, men sát bờ tường, tới trao tập bản thảo vào tay cô Musy, người thư ký có nhiệm vụ nhận các bản thảo.

Cô thiếu nữ rất ít nói, gần như bỏ đi ngay sau khi hỏi xem trong bao lâu nữa thì nhận được hồi âm.

– Chừng một tháng. Cô Musy trả lời.

Tập bản thảo đánh máy, có nhan đề “Bonjour Tristesse” (Buồn ơi, chào nhé!).

Ngay chiều hôm đó, cùng với mấy tập bản thảo khác, bản thảo của cô gái được đặt trên bàn của viên giám đốc văn học. Ông này nhìn phớt qua các tập bản thảo, tới tập bản thảo của Françoise Sagan, với ghi chú số tuổi 19 khiến ông tò mò. Ông đọc qua mấy dòng, cảm thấy bàng hoàng vì giọng văn mới lạ nên giao tập bản thảo cho nhân viên cao niên nhất và được tôn trọng nhất trong ban Tuyển đọc là ông François Le Grix năm ấy đã 80 tuổi.

Bảy ngày sau – ngày 12-1-1954 – cụ Le Grix chuyển tới ban Tuyển đọc một bản tường trình rất nhiệt thành. Chiều hôm đó, ông chủ Nhà xuất bản, Renée Julliard, đang dự tiệc tại nhà ông Chủ tịch Hội đồng Kinh tế, được tin, vội cáo lỗi với chủ nhân là phải về sớm và giải thích :

– Dường như người ta đã khám phá ra loài chim hiếm. Tôi phải về đọc bản thảo ngay đêm nay.

Bảy giờ sáng hôm sau, ông đã đọc xong, chú dẫn, chấp thuận và cho gửi một bức điện khẩn mời Sagan tới. Ba ngày sau, hợp đồng xuất bản được ký kết, không phải với tác giả vì cô còn là gái vị thành niên, mà ký với người cha, đại diện cho cô.

Nhà xuất bản Plon – nơi mà F. Sagan cũng có gửi một bản thảo cuốn sách ấy – tiếc hùi hụi vì chậm hơn Nhà xuất bản Julliard một bước, dù ban Tuyển chọn đã làm một bản tường trình nhiệt liệt tán thành việc in tác phẩm ấy.

Françoise Sagan sinh ngày 21 tháng 6 năm 1935 ở Cajarc (Pháp) với tên Françoise Quoirez, nhưng lấy bút hiệu Sagan, một nhân vật của Marcel Proust trong tác phẩm “À la recherche du temps perdu” (Đi tìm thời gian đã mất), một tác phẩm nổi tiếng và được xếp vào lọai những tác phẩm hay nhất thế giới. Sagan rất ái mộ tác giả này.

Françoise Sagan bất ngờ bước vào lĩnh vực văn học làm sững sờ thế giới. Đã từ lâu, ở Pháp không có cuốn tiểu thuyết nào được mọi tầng lớp – nhất là giới trẻ – hâm mộ và yêu chuộng đến thế.

Sagan viết xong cuốn “Bonjour tristesse” trong vòng bảy tuần lễ, đánh máy bản thảo bằng hai ngón trong quán cà phê. Tháng 3 năm 1954, cuốn “Bonjour Tristesse” chào đời, buộc dải băng mang dòng chữ “Quỷ trong tim” (Diable au Cœur) (2), tức khắc trở thành một trong những best-seller sau chiến tranh: tháng 5-1954 bán được 8000 cuốn, 45.000 cuốn tháng 9, 100.000 cuốn tháng 10, 200.000 cuốn tháng 12 (1954). Năm năm sau, “Bonjour tristesse” đã bán được 4 triệu cuốn trên khắp thế giới (tại Mỹ 1 triệu cuốn).

Sagan chưa kịp ước mơ, vinh quang đã ào đến. Tháng 5 được giải Critique, và quyển tiểu thuyết chưa tới 200 trang này được dịch ra 22 thứ tiếng. Ở Việt Nam, Nguyễn Vỹ là người đầu tiên dịch cuốn này năm 1959.

Sagan kể trong Bonjour Tristesse:

“ Năm đó tôi, Cécile, mười bảy tuổi, hoàn toàn sung sướng vì sống trong một gia đình khá giả. Bố tôi, Raymond, 40 tuổi, góa vợ từ 15 năm trước, có người tình là Elsa, bên cạnh là Anne – bạn người mẹ quá cố của tôi – rất đoan trang, đứng đắn. Tôi tình cờ gặp Cyril, một thanh niên đẹp trai khỏe mạnh trong một lần đi tắm biển, tôi rất yêu chàng và chàng cũng yêu tôi. Tôi sống rất phóng khoáng, tự do, không chịu được Anne muốn hướng dẫn mình vào con đường nghiêm chỉnh. Tôi biết bố muốn tính chuyện trăm năm với Anne nên tìm cách phá đám. Tôi xếp đặt để cho Anne thấy bố đang âu yếm Elsa. Anne thất vọng, phóng xe như điên và rơi xuống vực sâu 50 mét. Từ đó, tôi bắt đầu biết buồn….” và Sagan bắt đầu nổi lọan (3).

Năm 12 tuổi (1947), Sagan vào học trường dòng Couvent des Oiseaux, nhưng sau đó bị đuổi học vì nàng sống rất phóng túng, không chịu ép mình theo kỷ luật nhà trường, còn nhà trường thì cho rằng nàng thiếu tâm linh, không thể theo học lâu dài được.

Năm 1950, nàng bỏ ra cả năm trời để thưởng thức nhạc Jazz ờ Saint Germain des Prés, có lẽ vì thế mà năm 1951 nàng thi hỏng tú tài. Sau đó nàng ghi tên học văn chương ở Sorbonne nhưng rồi cũng bỏ dở dang.

Sagan yêu văn chương từ nhỏ, khi còn ở lứa tuổi vị thành niên nàng đã say mê đọc André Gide, Marcel Proust, Rimbaud rồi Camus, Sartre, Stendhal, Faulkner… và biết rằng con đường mình phải theo là con đường văn nghiệp.

Năm 1954, cuốn Bonjour Tristesse ra đời là một quả bom nổ giữa bầu trời văn học Pháp, gây chấn động cả làng văn nước Pháp, mà tác giả của nó lại là một cô gái nổi loạn ở tuổi 19 nên rất được độc giả hâm mộ và yêu chuộng. Năm 1954 cũng là năm nước Pháp mỏi mệt vì hai cuộc chiến tranh ở Đông Dương và Algérie, nhất là sau cuộc thảm bại ở Điện Biên Phủ nên thanh niên Pháp có tâm trạng chán chường, sống buông thả, luôn cảm thấy cô đơn và thất bại cay đắng trong tình trường. Trong khi đó, các nhân vật của Sagan lại bất chấp luân lý, lao vào những cuộc tình ngẫu nhiên để tìm một chỗ dựa – dù là tạm thời – cho tâm hồn đã quá ê chề mỏi mệt. Cuốn sách ra đời đúng lúc nên nhanh chóng trở thành best-seller cũng không phải là chuyện lạ.

Văn Sagan giản dị, dễ hiểu, thẳng thắn, bóng bẩy, không trau chuốt, chuyển tải mạnh mẽ rung cảm của tác giả sang độc giả. Cốt truyện chặt chẽ, các lớp lang nối tiếp nhau rất tự nhiên như sự thật vốn có. Tác giả không cố công tìm tòi cái mới mẻ, chỉ viết theo dòng cảm xúc tuôn trào nên hấp dẫn được người đọc.

Ông Serge Gavronsky, giáo sư dạy môn văn học Pháp tại đại học Barnard cho rằng “Buồn ơi, xin chào!” đã chuyển tải được sự nổi loạn và tính hoài nghi, yếm thế của rất nhiều người trong tầng lớp tư sản Pháp thời ấy.

Image11

Nhà văn François Mauriac (1885-1970), Viện Sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1933), giải Nobel văn chương 1952 gọi Sagan là “tiểu quỉ duyên dáng” và Emile Henriot (1889-1961), Viện Sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1945) gọi quyển “Buồn ơi, xin chào!” là “kiệt tác nhỏ vô sỉ, tàn ác”.

Ngoài giải Critique năm 1954, năm 1985 Sagan được giải Prince-Pierre-de-Monaco cho toàn bộ tác phẩm của mình.

Cuộc sống của Sagan rất phóng túng. Để trốn tránh nỗi buồn, bà lao vào các cuộc ăn chơi trác táng, yêu cuồng sống vội, thức đêm cờ bạc, rượu và ma túy. Vì thế mà số nhuận bút khổng lồ chẳng bao lâu không còn một xu dính túi.

Sagan rất liều lĩnh, yêu xe thể thao, thường cùng một số bạn bè phóng xe như điên nên suýt chết nhiều lần, nhất là năm 1957. Mặc dù vậy, bà vẫn không chừa.

Vì lối sống phóng đãng, tiêu tiền như rác nên nhiều lúc Sagan đảo điên vì túng bấn. Bà có một ngôi nhà ở gần Biển Bắc, mua bằng tiền được bạc 80.000 quan nhưng rồi cuối cùng cũng phải bán vì túng thiếu. Bà thiếu thuế của nhà nước, bị phạt một năm tù treo. Bạn bè và kẻ ái mộ phản đối, cho rằng Sagan thiếu tiền nhà nước, nhưng nhà nước thiếu Sagan nhiều hơn thế nữa. Ngay cả diễn viên nổi tiếng Isabelle Adjani cũng đã kêu gọi chính phủ Pháp phải xem bà như một báu vật quốc gia và phải để tên tuổi ấy nằm ngoài sự dính líu với thuế vụ.

Về đời tư, Sagan có hai đời chồng. Lần thứ nhất, năm 23 tuổi (1958) bà kết duyên với Guy Schoeller lớn hơn bà 20 tuổi, hai năm sau ly dị. Lần thứ hai, năm 27 tuổi (1962) bà lấy Robert Westhoff, điêu khắc gia người Mỹ và có với ông này một đứa con trai tên Denis. Một năm sau ly dị, từ đó bà sống độc thân cho đến chết, tuy hãy còn rất trẻ và có hàng tá nhân tình.

Bạn bè của Sagan phần lớn là những người tên tuổi như nhà văn Jean Paul Sartre (tác giả của những tác phẩm nổi tiếng: La nausée, Les chemins de la Liberté, minh tinh màn bạc Brigitte Bardot và nhất là người mê sách François Mitterrand sau này trở thành Tổng Thống Pháp. Theo Sagan thì F. Mitterrand là người bạn thông minh, lý tưởng và duyên dáng. Tình cảm giữa hai người rất thắm thiết vì có sự đồng cảm sâu sắc về cách cảm nhận cuộc sống.

Ngày 24 tháng 9 năm 2004, Françoise Sagan qua đời vì suy tim và nghẹt đường hô hấp, thọ 69 tuổi. Bà được an táng tại một nghĩa trang nhỏ gần nơi sinh trưởng. Rất đông bạn bè, người hâm mộ và nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền đưa tiễn, tỏ lời ca ngợi và tiếc thương. Nữ tài tử điện ảnh Brigitte Bardot mỉa mai:

“Vậy mà khi Sagan sống trong khó khăn thì chẳng ai cục cựa ngón tay giúp đỡ”.

Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã nói về bà:

“Nước Pháp vừa mất đi một trong những văn sĩ tài năng có sức ảnh hưởng nhất, một nhân vật xuất chúng của đời sống văn học”.

Françoise Sagan mất đi nhưng hình ảnh bà vẫn còn in sâu trong lòng những người ái mộ. Tác phẩm của bà đã đi sâu vào lòng người vì bao giờ cũng thể hiện sự khao khát tình yêu mãnh liệt cùng nhữn g hoài nghi về cuộc sống quanh mình.

Sách của Sagan vào Việt Nam được giới trẻ thời ấy đón chào nồng nhiệt vì họ yêu bầu không khí cực kỳ mới mẻ trong sách và tinh thần tự do của Cécile (nhân vật trong Bonjour Tristesse). Họ ước ao được sống tự do thoải mái như Cécile vì lúc ấy chiến tranh còn đang tiếp diễn.

Với gần 50 tác phẩm để lại cho đời, trong đó nhiều tác phẩm rất có giá trị, Françoise Sagan đáng có một chỗ đứng xứng đáng trong nền văn học Pháp cũng như thế giới./.

Huyền Viêm
Posted on 8 Tháng Tám 2017
by banmaihong

http://khaiphong.net/showthread.php?20629-Fran%E7oise-Sagan-v%E0-Bonjour-Tristesse-(Bu%26%237891%3Bn-%26%23416%3Bi-Ch%E0o-Mi)

Chim Hót Trong Lồng. Truyện dài Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Chương 1

…..

Chủ Nhật, ngày 16 tháng 11…
Má ơi,

Thế là hôm nay má không đến con rồi. Con bắt đền má đấy. Cả buổi tối hôm qua con gấp áo ở đầu giường, con đi ngủ rồi mà còn nghĩ đến má. Con cũng nằm mơ thấy má dẫn con đi nhặt lá đa ở trên hồ, nhưng không phải hồ Gươm đâu má ạ. Cái hồ mà lại có khói mờ mờ ở trên mặt nước. Con thì mặc cái váy đầm xanh mà má mới mua cho con. Còn má thì bận quần đen, áo đen. Má đánh môi son làm ai cũng nhìn. Con đang mơ thì Ma soeur Félicité đến đánh thứùc con dậy. Bà mắng con đi ngủ mà không buông màn. Con tiếc quá, định nằm mơ nữa thì ngủ quên đi mất. Đến sáng hôm nay thì con chờ má hết hơi. Con bắt đền má đấy. Ở ngoài cổng trường bao nhiêu là người đến đón. Sáng nay lành lạnh nên đứng ở trong hiên nhìn ra có nhiều màu áo lắm má ạ. Có một bà mặc áo vét xanh, mà da cũng trắng như má, đứng ôm cái gì ở ngực. Con tưởng là má, nhưng đến lúc mọi người vào sân trương rồi thì hóa ra không phải.

Lũ bạn chúng con tìm được ba má chúng nó, nên hét vang lên rồi chạy nhắng nhít ở trên sân sỏi. Còn con thì cứ nhớn nhác nhìn bà này bà kia, mà chẳng có ai là má cả. Ma soeur Félicité đi tìm hộ con cũng không thấy má. Đến lúc người ta ra hết rồi thì chỉ còn lại mỗi một mình con. Con đứng ở giữa sân nhìn theo mọi người. Con tức má ghê lắm. Nước mắt con chạy vòng quanh, rồi con ngồi ở ghế đá mà khóc. Soeur Félicité lau nước mắt cho con. Bà ấy dỗ dành mà con vẫn thấy buồn, thấy ghét má. Cả một tuần có một ngày Chủ Nhật, mà má lại không đến tìm con. Ma soeur rủ con lên phòng nhưng con vẫn ngồi ở đấy. Con nhìn những chiếc lá bàng đỏ ối rơi ở trên sân sỏi mà nhớ đến giấc mơ đêm hôm qua. Hôm nay con cũng bận váy đầm xanh mặc áo len trắng. À, dép của con đứt một quai rồi má ạ. Nếu hôm nay mà được ra thì sẽ đem khâu được. Hôm Thứ Năm chơi nhẩy dây ở ngoài sân con bị trẹo chân vì cái quai dép ấy đấy. Nhưng không làm sao má ạ. Con khỏi ngay, chỉ hơi đau đau thôi. Hôm nay má không vào thì con còn phải lê một tuần nữa. Tuần sau đấy má nhé, tuần sau má phải vào với con không thì con khóc đến chiều, đến mai nữa không biết chừng.

Mấy hôm nay hơi rét má nhỉ. Đêm nằm má có lạnh không? Cái cửa sổ có kính vỡ má đã bịt đi chưa? Ở đây, hôm Thứ Sáu các Ma soeur cũng phát thêm chăn rồi. Buổi tối lúc tắt đèn, con rúc vào chăn ấm mà nghĩ đến má thì thích lắm. Giá bấy giờ mà được nằm với má, ôm cổ má mà ngủ thì còn thích bằng mấy. Nhưng bao giờ má lại cho con ngủ với má. Con chỉ cần ngủ với má một tuần một lần vào tối Chủ Nhật thôi. Thế mà dạo này má cũng không cho. Con ghét má rồi. Má hay bắt con về trường từ chiều tối hôm trước, làm con sợ cái buồng vắng vẻ này lắm. Những ngày khác còn vui vui, chứ tối hôm ấy thì chỉ có một mình con. Như thế là chẳng có tối hôm nào con được nằm rúc vào nách má cả. Tại sao thế má? Con đoán là tại tối hôm ấy đang ngủ với con, má bỏ ra đi đến gần sáng, rồi con cứ hỏi mãi má phải không má? Nếu đúng như thế thì con hứa sẽ không hỏi má đi đâu nữa. Má cứ đi, nhưng má cho con ngủ với má mỗi tuần một lần là con bằng lòng rồi. Con không sợ ma nữa. Con không bắt đền má nữa, nhé má nhé. Tuần sau nhé, tuần sau má cho con ở lại nhà một tối nhé. Con nhớ cái mùi thơm thơm ở cổ má, con nhớ làn da mịn mịn ở tay má vuốt vào lưng con. Con cũng gãi lưng cho má. Mẹ con mình nằm với nhau như thế có phải là sướng hơn không.

À, tuần này con nhiều bon point lắm má ạ. Soeur Lucie khen này, soeur Antoine cũng khen này, con nhất về dictée, về vocabulaire, còn géographie thì con được thứ ba. Thế là má nợ con một buổi đi chơi chùa đấy nhé. Tuần này con cũng mới học được kiểu thêu point de chainette. Nếu má mua vải cho con thì con viền và thêu mù xoa cho má. Còn hộp thuốc ho thì con đưa các soeur rồi. Mỗi ngày Ma soeur cho con uống hai viên. Uống ba hôm thì khỏi. Má đừng buồn nhé. Ở trong này ấm bằng mấy ở nhà. Vì chỗ nào cũng có cửa kính, không có gió đâu má ạ. Con chỉ lo cho má thôi. Nếu má giầu thì má thuê nhà khác. Ở đây ghét nhất là phải lội bùn những hôm trời mưa. Mà lại còn buồn nữa. Má ở một mình như thế chắc má cũng nhớ con lắm má nhỉ. Còn con thì khỏi phải nói. Lúc nào con cũng nhớ má. Con chỉ mong cho chóng đến ngày Chủ Nhật để về với má.

Lần sau thì má phải vào với con. Con cứ đứng chờ má ở ngoài sân. Nếu má lại không tới thì con cứ đứng cho chết cóng thì thôi đấy. Lá thư này đến mai thì con gửi đi. Con sẽ chờ đến khi cổng trường mở cho mọi người trở về thì con chạy tọt ra thùng thư chỗ cột đèn mà bỏ vào đấy. Con không có tem nhưng mặc kệ cho má bị phạt. Ai bảo má không yêu con gái, má không nhớ con gái của má.

Con hôn má thật nhiều đấy má nhé.
HẠNH

Nhật Tiến

Xem tiếp Phần 2

 

 

Nỗi cô đơn lớn lao của Mai Thảo. Tùy bút Nguyễn Mộng Giác


Nguyễn Mộng Giác

Mai Thảo

Sau nhiều tháng bệnh nặng, sức khoẻ suy nhược dần như ngọn đèn hết dầu, nhà văn Mai Thảo đã vĩnh biệt tất cả bạn bè chúng ta hồi ba giờ sáng ngày 10 tháng 1 năm 1998. Tuy mọi người đều chờ tin buồn này với tất cả sự bất lực tuyệt vọng như chờ một định mệnh không thể tránh được, tin buồn vẫn gây một xúc động lớn lao trong văn giới hải ngoại. Bạn bè bốn phương đổ về Quận Cam đưa nhà văn Mai Thảo đến nơi an nghĩ cuối cùng, một nghĩa trang nằm cạnh con đường Bolsa chạy xuyên qua khu trung tâm của Little Sài gòn. Từ đây hằng ngày Mai Thảo vẫn có thể trông thấy bạn bè của mình qua lại trên con đường tấp nập có nhiều đồng hương qua lại, và ở bên kia thế giới, chắc anh vẫn mỉm cười nhìn đám bạn bè cũ tất tả lo toan cho cuộc mưu sinh với nụ cười hiền lành và ánh mắt ân cần quen thuộc của gương mặt anh.

Những người bạn không có cơ hội thăm viếng Mai Thảo trong những tháng bệnh cuối cùng, hôm viếng anh lần cuối ở nhà quàng, đều ngỡ ngàng không nhận ra anh. Ngày thường, khuôn mặt anh dài, nghiêm trang ít nói, và điềm tĩnh trong tất cả mọi tình huống. Hôm cuối, khuôn mặt anh choắt lại, như khuôn mặt một đứa bé. Tôi đã nghe nhiều lời thì thào trong tiếng nức nở: “Anh Mai Thảo đây ư?”

Hôm cùng với chị Trần thị Lai Hồng và chị Bùi Bích Hà lên thăm anh tại bệnh viện Barlow ngoại ô Los Angeles, chúng tôi cũng đã thốt lên câu hỏi ấy. Chúng tôi không nhận ra anh nữa. Chị Bùi Bích Hà nghĩ là chúng tôi đã vào lộn phòng. Chị Lai Hồng trỏ vào tấm bảng ghi tên bệnh nhân QUY NGUYEN, chúng tôi mới dám chắc người nằm đó là Mai Thảo. Cô y tá người Hoa đang bơm thực phẩm vào dạ dày anh, và anh thở bằng hai ống ni-lông nối vào bình dưỡng khí. Anh đã không thế tự sống được bằng hoạt động của chính cơ thể mình. Anh sống bằng máy. Cô y tá cố gắng tập cho hai chân anh co lên co xuống để khỏi tê liệt nhưng anh không cử động đôi chân được. Cô y tá khuyến khích bảo gắng tập cho đôi chân cử động bình thường để cô chuyển anh lên xe lăn đẩy ra hành lang ngắm cây cối xanh tươi chung quanh bệnh viện cho đỡ buồn. Anh lắc đầu. Cô y tá cũng lắc đầu, mang vào chân anh hai chiếc tất nĩ để gót chân khỏi bị nhiễm trùng tạo ra vết lở ở gót. Cô rời phòng, nét mặt thôi không còn buồn rầu thất vọng mà hớn hở vui mừng sau khi chị Bùi Bích Hà cho biết bệnh nhân của cô là một nhà văn tiếng tăm của Việt Nam. Chữ nghĩa, văn chương, trong những hoàn cảnh bất ngờ nhất, ít ra cũng giúp cho những người khổ sở vì nó một niềm an ủi nhỏ nhoi!

Anh Mai Thảo nhận diện được tất cả chúng tôi. Do dụng cụ hô hấp gắn ở mũi và cổ họng, anh không nói được, anh ra dấu cho chị Lai Hồng bảo đem bút và giấy cho anh bút đàm. Chúng tôi mừng vì đôi tay anh vẫn có thể cử động tuy yếu ớt. Và đôi mắt anh, tuy mỏi mệt, vẫn còn có thể phát ra ánh vui. Anh viết lên tập giấy hai câu:

“Cảm ơn đã vào thăm.”
 “Xin lỗi bị đau nặng chưa nói được.”

Chúng tôi lặng người sau khi đọc hai câu anh viết. Cảm ơn! Xin lỗi! Đáng lẽ tất cả chúng tôi, tất cả bạn bè và độc giả của anh phải “cảm ơn” và “xin lỗi” anh, chứ không phải anh thốt ra hai tiếng đó. Chúng tôi lúng túng không biết phải làm gì để cho anh hồi phục, lúng túng vì dù không có kiến thức y khoa, chúng tôi đều cảm thấy anh đang đi trên con đường một chiều, không còn cơ may nào quay trở lại đời sống bình thường như trước. Chị Lai Hồng vừa kể chuyện đời sống mới của chị ở Florida vùa xoa bóp hai ống chân và cánh tay anh. Tất cả chỉ còn xương bọc da. Trên toàn thân, trừ hai tay, đôi mắt là còn sự sống, tất cả đều bất động. Trong khi đầu óc anh vẫn hết sức tinh tường. Hai câu anh viết , với cái gạch ngang ở đầu dòng, với những lời lẽ được lựa chọn thích hợp và chính xác, vẫn còn đầy đủ tính cẩn trọng cần thiết của một người suốt đời trân trọng và tin tưởng ở sức mạnh của ngôn ngữ. Vẫn còn đầy đủ sự trân trọng của anh đối với bạn bè, không phân biệt tuổi tác, tính tình, tài năng, học thức. Bất cứ ai yêu văn chương đều là bạn anh, đều được anh xem là tâm giao vì đã sống hết mình trong “cõi viết”, và theo anh, như thế họ “đã là”. Tôi nghĩ suốt thời gian anh nằm một mình trong các bệnh viện vào giai đoạn cuối đời, ngay cả thời gian anh còn ở căn phòng chung cư sau quán Song Long nằm suốt ngày trên giường vì đôi chân quá yếu, sự đau khổ nhất của Mai Thảo là trí óc minh mẫn trong khi thân thể ngày càng bất lực. Nhớ bài thơ bệnh anh làm khi chưa thật sự bệnh:

Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Bảo nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho.

Như thế nghĩa là từ lâu lắm, từ hơn mười năm trước khi “cơ thể gây thành chuyện lớn”, anh đã tiên liệu cái ngày trí óc anh và cơ thể anh không đi cùng một con đường. Phải chăng đây là cái mâu thuẫn lớn nhất trong cuộc đời đầy mâu thuẫn của anh?

Đám tang của nhà văn Mai Thảo qui tụ hầu hết những người bạn thực sự yêu thương quí trọng anh, và nếu nhìn một vòng những người đưa anh tới nơi an nghỉ cuối cùng, chúng ta thấy họ thuộc đủ mọi thành phần. Họ khác biệt nhau về tuổi tác, sở thích, tính tình, học thức, nghề nghiệp… Có thể ngoài niềm đau chung là cái chết của Mai Thảo, họ không có gì để nói với nhau. Mai Thảo là một người có nhiều bạn. Anh sống hết mình với bạn, ân cần lo lắng cho bạn. Nói như thế không có nghĩa là anh coi tất cả những người anh gặp trên đường đời là bạn. Anh có một tiêu chuẩn kết bạn khá lạ lùng, đôi khi cực đoan và phi lý. Chẳng hạn trong văn giới, anh thường phân biệt những người “bạn văn” của anh với những người anh liệt vào hạng “ngoại đạo”. Tiêu chuẩn ấy không dựa vào tài năng, vào giá trị tác phẩm của người viết. Cũng không dựa vào vị trí xã hội của họ. Bằng cách định giá của riêng anh, Mai Thảo liệt vào hàng “ngoại đạo” tất cả những người (theo anh nghĩ) không xem văn chương là lẽ sống duy nhất trong đời, những người đầu tư tâm lực của mình vào một ngành hoạt động khác nhưng lâu lâu nhảy vào văn chương như một thú giải trí cuối tuần. Cũng có lúc anh nới rộng tiêu chuẩn ngoại đạo này, xét cả đến cách sống. Anh không mấy ưa cách sống ngăn nắp sáng vác ô đi tối vác về của giới công chức, và cảm thấy dễ thân thiết gần gũi hơn với giới nghệ sĩ trình diễn sống không theo khuôn phép khắc khe của guồng máy xã hội. Một khi đã nhận ai là người “trong đạo”, Mai Thảo cư xử hết sức chân thành với họ. Ngược lại, anh dửng dưng (và đôi khi còn cay nghiệt nữa) đối với những người bị liệt vào hàng ngoại đạo. Khuynh hướng định giá bạn bè theo lối ấy, theo tôi, đã làm nẩy sinh những tình cảm yêu ghét cực đoan về Mai Thảo. Làm nẩy sinh một hiện tượng trong văn học Miền Nam trước 1975 mà nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, khi trả lời phỏng vấn của Đài RFI, gọi là hiện tượng “thiết triều”. Những nhà nghiên cứu phê bình văn học sau này có thể không đồng ý với nhau về văn chương Mai Thảo và ảnh hưởng thực sự của nhóm Sáng Tạo đối với văn học Miền Nam, nhưng trong sinh hoạt văn hóa của Miền Nam suốt hai mươi năm (1955-1975), không ai có thể phủ nhận được ảnh hưởng lớn lao của Mai Thảo. Anh gây thành một phong trào viết óng ả chải chuốt như lối viết của anh, lối viết đó lan sang giới truyền thanh qua những lời giới thiệu bài hát, chương trình Tao đàn, và cho tới bây giờ, đã trở thành cái nếp không thể bỏ được, làm nhịp cầu giữa ca nhạc và văn chương. Anh tạo thành một thế lực văn hóa ảnh hưởng lan rộng qua nhiều ngành, từ văn chương, báo chỉ, xuất bản, qua ca nhạc, điện ảnh.

Tất cả những “thế lực”, những “ảnh hưởng” lớn lao ấy không do chủ ý của Mai Thảo. Anh không hề “muốn gây thành chuyện lớn”. Tìm hiểu về thuở ban đầu của tờ Sáng Tạo (qua lời những người sáng lập, qua chính lời anh kể), chúng ta sẽ thấy không hề có những tuyên ngôn lớn lao, những triết lý định hướng, những sơ đồ cách mạng nào cả. Mỗi người một ý. Bản tính ai thế nào thì cứ viết như thế. Doãn Quốc Sỹ là một trong những cây bút cột trụ của Sáng Tạo, nhưng làm sao tìm ra “không khí Sáng Tạo” trong Khu Rừng Lau hay Dòng Sông Định Mệnh? Người “sáng tạo” nhất của nhóm có lẽ là Thanh Tâm Tuyền. Còn Mai Thảo, người cầm lái, thì văn phong của anh dù hết sức tân kỳ trong cách sử dụng ngôn ngữ (biến dành từ thành động từ, biến tĩnh từ thành danh từ…) vẫn nặng tính cổ điển biền ngẫu. Ngay cả chuyện nhận tài trợ của cơ quan USIS (mà chính quyền cộng sản dựa vào đó kết án cả Mai Thảo lẫn tờ Sáng Tạo là công cụ của Mỹ), Mai Thảo vẫn không xem là điều quan trọng. Anh khơi khơi mà viết, khơi khơi mà sống, kết bạn kết thù cũng hết sức khơi khơi, như một người đi lạc giữa đời. Do đó tuy nhiều bạn, nhưng suốt đời anh cô đơn.

Anh kết bạn vì sợ cô đơn. Không biết thời trước 1975 ở Sài gòn thế nào, chứ trong thời gian quen anh ở Hoa Kỳ, tôi thấy anh là người cô đơn nhất trong những bạn văn tôi biết.

Mai Thảo tự phác hoạ chính xác chân dung của anh, hay nói đúng hơn, chân dung nỗi cô đơn lớn lao của anh:

Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy

Nhiều hôm sau một cuộc họp mặt đông vui nhiều bạn bè, tôi chở anh về căn gác trọ lúc phố xá vắng tanh. Khu chung cư dành cho người già cũng ngủ im trong khuya khoắc. Xe dừng. Nhưng Mai Thảo ngồi im, không muốn xuống. Anh đề nghị tìm một chỗ họp mặt nào khác. Khi thấy đề nghị của mình vô lý, anh đành mở cửa, bước khỏi xe. Anh than: “Lại phải trở về cái quan tài này nữa.” Anh không cảm thấy yên ổn trong căn phòng quen thuộc của anh. Mà anh cũng không tìm thấy chỗ nào trên trần gian này là nơi an trú, từ ngày anh phải xa quê hương. Chỗ nào cũng là quan tài, phòng giam lạnh lẽo.

Mỗi ngày một gạch mỗi ngày giam
Lên bức tường câm cạnh chỗ nằm
Gạch miết tới không còn chỗ gạch
Gạch vào trôi giạt tới nghìn năm.

Anh là hiện thân trọn vẹn nhất của hai tiếng “lưu vong”, hơn thế nữa, trong khi những bạn văn khác tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới, Mai Thảo khăng khăng sống y như cũ, từ chối tất cả những thay đổi cần thiết để hội nhập. Anh không học Anh văn, không lái xe, chữ viết nắn nót trang trọng trên trang giấy kẽ hàng, thậm chí hàng tháng cứ dùng viết Bic viết từng địa chỉ và họ tên của bảy trăm độc giả dài hạn của tạp chí Văn lên phong bì chứ không dùng phương tiện điện toán hiện đại. Tinh thần anh đề kháng với những gì đang đổi thay trước mắt. Bức ảnh chụp Mai Thảo ngồi một mình trên ghế chờ xe buýt trong khi hậu cảnh là một vệt mờ của chiếc xe buýt đang chạy qua, sở dĩ được xem là bức ảnh đẹp nhất trong loạt chân dung Mai Thảo, vì nhiếp ảnh viên đã chụp bắt được “chất lưu vong” của nhà văn. Anh là người ngồi chờ một chuyến xe buýt không bao giờ có. Chuyến xe của quá khứ. Những chuyến xe của đời thường qua lại đúng giờ trước mắt anh, nhưng anh từ chối không bước lên. Anh chờ những chuyến xe từng chở anh từ Nam Định lên Hà Nội. Anh chờ những chuyến xe chở anh từ đường Ký Con về đại lộ Tự Do. Anh chờ Quá Khứ. Một mình chờ. Héo hắt chờ.

Y lý hiện đại không giải thích được căn bệnh của Mai Thảo. Theo lẽ thường, uống rượu nhiều như anh thì dù có lá gan bằng bạch kim cũng phải cháy. Lúc bệnh anh trở nặng, các bác sĩ quen thân của anh đoán chắc không cần chẩn đoán thử nghiệm lôi thôi cũng biết anh đã tới ngày phải trả giá cho thói quen lạm dụng rượu mạnh. Nhưng kết quả hoàn toàn trái ngược. Gan anh bình thường. Rà soát hết lục phủ ngũ tạng, cơ thể Mai Thảo không mắc phải chứng bệnh gì. Bệnh viện kết luận anh chỉ bị chứng suy dinh dưỡng, vì anh không chịu ăn uống gì cả. Chỉ cần rán ăn cho cơ thể có đủ chất dinh dưỡng, là mọi sự được giải quyết.

Thật dễ dàng, và đơn giản. Nhưng tới đây thì cơ thể của Mai Thảo lên tiếng. Nó “gây thành chuyện lớn”. Nó từ chối không chịu ăn. Nó hợp tác với tinh thần lưu vong đề kháng để nói lớn: “Không!”

Mắt đã từ lâu mù dáng người
Tai đã từ bao lạc tiếng đời
Đứng lên gửi lại lời xin lỗi
Của kẻ ra về giữa cuộc chơi.

Gửi lại lời xin lỗi! Mai Thảo xin lỗi chúng tôi hôm ấy ở bệnh viện Barlow. Anh không muốn đi cùng đường với chúng tôi, cố gắng thích nghi với cuộc sống trước mắt. Anh muốn quay ngược trở lại. Cho nên tôi không mấy ngạc nhiên khi hay tin trong những ngày cuối đời ở bệnh viện Garden Grove, anh cũng dùng bút đàm hỏi nhà thơ Trần Dạ Từ là bao giờ cho anh về lại đường Ký Con. Nỗi cô đơn lớn lao của anh chỉ được giải tỏa khi anh bước lên những chuyến xe buýt cũ của quê hương mà không còn phải sợ bất cứ thứ quyền lực trần thế nào. Anh đã toại nguyện.

Nguyễn Mộng Giác

http://nguyenmonggiac.com/tap-chi-van-hoc/250-noi-co-don-lon-lao-cua-mai-thao.html

 

Nụ Hôn. Thơ Hư Vô


Bềnh bồng trong mê lộ
Hối hả tìm môi nhau
Đêm không còn chỗ dựa
Giữa mịt mù chiêm bao.

Tay em như dao nhọn
Rạch vào trái tim tôi
Vết cứa cào ngọt lịm
Còn rịn máu trên môi.

Cuồng say hơn rượu phạt
Uống cho đầy một hơi
Cạn ly chưa cạn mộng
Bên hương đêm rã rời.

Em ơi, đừng bối rối
Đời còn có bao lâu
Là nụ hôn lần cuối
Hay chỉ mới bắt đầu?

Khi nào em hiểu thấu
Giọt lệ có linh hồn
Là em đang cất giấu
Lời vàng đá vô ngôn.

Mà khúc đời mê lộ
Chắc gì có trăm năm
Thì một lần lăn lóc
Cũng đã là tình nhân…

Hư Vô

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: