Chỗ Có Bụi Mật Gai. Thơ Hư Vô


Chỗ Có Bụi Mật Gai

Giọt mưa ướt ngọn xuân thì
Em đi bỏ lại những tì vết nhau
Môi quen chưa kịp úa nhàu
Màu phấn son đã biết đau kiếp này.

Để còn dấu tích trần ai
Bước qua chưa giáp đã trầy chân không
Ngày em vướng sợi tơ hồng
Chắc gì thấy tôi lòng vòng phía sau!

Nơi ngọn cỏ mọc xanh xao
Có chùm gai nhọn đang cào cấu tôi
Vết đau đã tới tim rồi
Từ em tiếng khóc lạc loài bơ vơ.

Ở phía cuối một cơn mơ
Hồn tôi cũng đã dật dờ phiêu linh
Mà nghe thương tích tượng hình
Chỗ em lãng đãng làm tình tội tôi…

Hư Vô

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Advertisements

Nhật Tiến – Một vài kỷ niệm với nhà văn Doãn Quốc Sỹ.


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Doãn Quốc Sỹ in trên trang bìa tạp chí Văn Học số 31 xuất bản tháng 08 năm 1988 tại Mỹ)

Mặc dù cùng là những cây bút xuất hiện ở miền nam sau 1954, tôi vẫn coi Doãn Quốc Sỹ như một bậc đàn anh. Trước hết về vấn đề tuổi tác. Trong khi anh Doãn Quốc Sỹ là sinh viên Văn Khoa ở Hà Nội, thì tôi vẫn còn là một học sinh bậc trung học. Mà học sinh bậc trung học thời đó (trước 1954), nhìn lên giới sinh viên thấy họ như ở một thế giới nào cao xa và cách biệt lắm. Sinh viên có hoạt động của sinh viên. Học sinh, nhất là học sinh Chu Văn An, Nguyễn Trải, Trưng Vương có những hoạt động riêng của họ. Sự hợp tác hoạt động trong lãnh vực văn hóa, xã hội của hai giới này hầu như chưa bao giờ đặt ra, vào thời điểm đó.

Sau nữa, trong khi anh Doãn Quốc Sỹ xuất hiện sôi nổi với tác phẩm Trái Cây Đau Khổ trên tạp chí Lửa Việt, diễn đàn của sinh viên Văn Khoa Hà Nội mới di cư vào nam, thì tôi vẫn loay hoay với những trang bản thảo chưa hề được đăng báo hay xuất bản của mình. Sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền nam 1954 – 1958, đối với tôi vẫn còn là miền đất xa lạ mà tôi chưa được hân hạnh bước chân vào mặc dù tôi vẫn đọc rất nhiều tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ đang nổi tiếng ở thời kỳ đó, trong đó có cả anh Doãn Quốc Sỹ.

Thế mà năm năm sau, do một sự tình cờ, tôi lại được đứng chung cùng với anh trong danh sách tác giả trúng giải thưởng văn chương toàn quốc được tổ chức cứ hai năm một lần. Anh Doãn Quốc Sỹ được giải về truyện ngắn với tập Dòng Sông Định Mệnh cùng với Linh Bảo với tập truyện Tầu Ngựa Cũ, còn tôi thì về truyện dài với cuốn Thềm Hoang. Hôm tham dự lễ trao giải ở Câu Lạc Bộ Báo Chí, sau này đổi thành Phòng Thông Tin Đô Thành, tôi đã được tiếp xúc với anh lần đầu, mặc dù trước đó tôi đã gặp anh, biết anh nhưng chưa có dịp trò chuyện với anh!

Người anh cao và gầy, khuôn mặt xương xương, cử chỉ từ tốn, điềm đạm, anh đã cho tôi cái cảm giác giản dị, tin cậy, dễ hòa hợp và hết sức thoải mái khi trò chuyện. Ở nơi anh, đúng là có sự hòa hợp giữa hai con người: một nhà văn, một nhà giáo và anh đã giữ mãi sự hòa hợp này trong suốt hơn hai mươi năm tham gia trong cả hai lãnh vực giáo dục và văn hóa.

Sau lần tiếp xúc ngắn ngủi đó, chúng tôi chưa thể gọi là thực sự quen nhau, hay nói đúng hơn, giữa chúng tôi chưa có tình bạn, dù là bạn vong niên. Anh Doãn Quốc Sỹ bận rộn với những công việc anh: vừa sáng tác, vừa dạy học. Anh đã viết rất nhiều, rất đều, kể cả sự xuất hiện trên những tạp chí văn học nổi tiếng thời đó lẫn việc ấn hành những tác phẩm mới. Kể từ ngày biết anh, không lần nào in sách anh lại không dành cho tủ sách gia đình của chúng tôi một ấn bản đặc biệt với lời đề tặng và chữ ký của tác giả. Như thế, dù ít có dịp được gặp gỡ anh để hàn huyên, hình như chúng tôi đối với nhau vẫn gần gũi, qua những hoạt động văn nghệ, qua những truyện ngắn đăng báo hoặc các tác phẩm đã in.

Năm 1971, do sự đề nghị của anh Nguyễn Hùng Trương tức giám đốc nhà sách Khai Trí, tôi nhận lãnh chức vụ chủ bút tuần báo Thiếu Nhi do anh Trương đứng chủ nhiệm. Đây là một việc làm cần thiết, đáp ứng nhu cầu sách báo thiếu nhi đứng đắn và hiếm hoi vào thời kỳ đó. Qui tụ quanh tòa soạn của tờ báo này hầu hết những nhà giáo như anh Đặng Hoàng, anh Vũ Văn Kiệt (bút hiệu Vịt Mò), Lê Xuân Nho, Phạm Đức Huyến hay những cây bút trẻ như Phan Khương Thái, Trầm Mai Hoạt, Vũ Thị Ca Dao..v.v..Đối với những nhà văn cở lớn như các anh Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Ngu Í, Lê Tất Điều (tất cả vốn cùng là gốc nhà giáo cả), tòa soạn chúng tôi một phần biết các anh bận rộn, phần khác không biết là báo của mình sẽ lớn mạnh, vững vàng được đến đâu, nên chỉ thông báo công việc mình đang làm mà không dám chính thức mời cộng tác.

Ấy vậy mà một hôm rất đột nhiên, anh Doãn Quốc Sỹ tìm đến thăm tòa soạn Thiếu Nhi hồi đó đặt ở đường Thiệu Trị, một con phố nhỏ ở ngay kề cận cổng xe lửa số 6, đường Trương Minh Ký. Sự thăm viếng đột ngột của anh làm tòa soạn chúng tôi hết sức cảm động. Điều đó chứng tỏ dù bận rộn đến đâu, anh cũng vẫn quan tâm đến những nổ lực của bạn bè trong những công tác giáo dục. Anh thăm hỏi về tình hình sinh hoạt tòa soạn, về số lượng ấn hành và số báo bán được. Rồi anh trao cho chúng tôi bản thảo một truyện ngắn viết riêng cho Thiếu Nhi. Điều mà chúng tôi hết sức mong mỏi nhưng không bao giờ dám gợi ý ra. Anh cũng không chỉ gởi bài cho chúng tôi riêng lần ấy mà liên tục sau này, anh còn gởi đăng nhiều truyện khác đặc biệt có mầu sắc giáo dục thanh thiếu nhi. Sự quan tâm và lòng ưu ái của anh đối với tòa soạn đã khích lệ chúng tôi rất nhiều trong những năm sau này trông nom nội dung tờ Thiếu Nhi (từ năm 1971 cho đến khi miền nam sụp đổ)

Nhắc đên nhà văn Doãn Quốc Sỹ với tờ Thiếu Nhi, tôi không khỏi ngậm ngùi nghĩ đến anh Nguyễn Ngu Í, cũng với một tấm lòng thiết tha với tuổi trẻ như anh Sỹ. Tôi còn nhớ, khi tờ báo phát hành được 5 số thì một hôm tòa soạn nhận được một lá thư dài của anh Nguyễn Ngu Í, trong đó ngoài những lời khen ngợi thông thường, anh còn để một đoạn thật dài nhắc nhở chúng tôi về vấn đề chính tả. Anh bảo báo chí dành cho giới trẻ thì tuyệt đối phải in đúng chính tả và phải hết sức thận trọng khi dùng từ ngữ.

Anh lấy ngay một thí dụ chình ình trên báo Thiếu Nhi: “Ra hàng tuần, ngày Chủ Nhật”. Anh chỉnh lại:”Báo ra hằng tuần, chứ không phải hàng tuần”. Những bài học của các bậc đàn anh như thế không bao giờ chúng tôi quên được, không chỉ ở một từ ngữ đơn lẻ nhưng là cả một thái độ thận trọng trong công việc viết lách, nhất là việc viết cho giới thiếu nhi.

Ngoài công việc sáng tác và dạy học, anh Doãn Quốc Sỹ còn nghiên cứu về Thiền. Khi anh cho xuất bản cuốn “Vào Thiền”, tôi hơi ngạc nhiên tự hỏi anh lấy thì giờ ở đâu để có thể đi sâu vào một lãnh vực cao siêu như thế. Nhưng quả thật tinh thần của Thiền đã ảnh hưởng sâu xa trong tư tưởng của anh và sau này hẳn đã giúp ích anh rất nhiều trong những năm dài tù tội.

Hồi đó anh Doãn Quốc Sỹ có một chiếc xe hơi loại Daihatsu dùng để chuyên chở nhẹ. Anh hay dùng chiếc xe này để chở sách đi phát hành. Quản lý của tờ Thiếu Nhi khi đó là Đỗ Phương Khanh thường hay gặp anh ở nhà phát hành. Một lần không thấy anh chở sách bằng xe hơi mà bằng xe gắn máy. Đỗ Phương Khanh hỏi:

-Chiếc xe mọi khi của anh đâu rồi?

Anh mỉm cười, giọng nhẹ nhàng thản nhiên:

-Bị lấy trộm mất rồi!

Anh có mỗi một chiếc xe, phải kể như một tài sản quí hồi đó. Thế mà mất xe, anh không hề tỏ vẻ bực bội hay oán trách. Đỗ Phương Khanh rất cảm phục anh ở thái độ này và thấy rõ anh đã thấm nhuần sâu xa tinh thần hỉ xả của Thiền.

Sau năm 1975, chúng tôi đến thăm anh ở căn nhà trong khu ngõ đường Thành Thái. Lần cuối cùng chúng tôi thăm anh vào thời gian trước khi anh bị bắt một tuần lễ. Và thời điểm đó, tin tức lọt ra từ Hội Văn Nghệ Thành Phố về danh sách những nhà văn sắp sửa bị bắt đã loan truyền rộng rãi trong giới văn nghệ. Trong danh sách này có tên anh Doãn Quốc Sỹ. Vì thế, chúng tôi đến thăm anh với tất cả mọi sự bồn chồn lo lắng và ngao ngán, cái ngao ngán chung của những người cùng một giới đang bị bao phủ bởi một bầu không khí nghiêm trọng nặng nề.

Tuy nhiên, lúc gặp anh, chúng tôi vẫn thấy anh điềm nhiên, vui vẻ. Vẫn dáng dấp điềm đạm, đôi mắt sáng, hiền từ, nụ cười thản nhiên, đôn hậu. Anh chuyện trò với chúng tôi một lát thì tiến lại cái dương cầm màu nâu nhỏ kê ở ngay ngoài phòng khách. Anh dạo cho chúng tôi nghe một bản nhạc cổ điển Tây phương. Qua những âm thanh thánh thót, tôi thấy cả tâm trạng bình thản của anh lúc đó. Lúc chia tay, chúng tôi không nói được gì nhiều với nhau. Chẳng ai muốn nói gì nhiều với nhau lúc đó. Chúng tôi chỉ nắm chặt lấy bàn tay nhau và truyền cho nhau những ý nghĩ an ủi, cảm thông.

Một tuần sau, chúng tôi được tin anh bị bắt. Rồi những tin tức từ trong tù truyền ra, chúng tôi được biết dù đã bị chịu rất nhiều đắng cay, tủi cực nhưng anh vẫn luôn luôn bình thản. Anh là một trong những người tù đã khiến cho ngay đến cả những quản giáo cũng phải cảm phục.

Một người như anh, một người cha gương mẫu trong gia đình, một nhà giáo đầy tài năng và tận tụy, một nhà văn chừng mực chỉ viết ra những điều làm đẹp con người, làm đẹp xã hội, và một con người đầy nhân cách, giàu lòng vị tha, tôi tự hỏi một con người như thế lại bị gạt ra ngoài xã hội và phải chịu nằm tù ròng rã trong bao nhiêu năm trời, thì chế độ Cộng Sản là cái thứ gì?

Hoàn cảnh của anh khiến tôi so sánh với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện gần cả một đời người ra tù vào khám ở miền Bắc. Ước mơ của Nguyễn Chí Thiện thể hiện qua thi ca cũng chỉ là những ước mơ được sống trong một xã hội bình an, với một đời sống bình dị mỗi khi chiều xuống được nghe tiếng sáo diều vọng lại từ những cánh đồng êm ả, được ăn no, mỗi mùa có đủ áo ấm, lành lặn để mặc. Vậy mà những ước mơ ấy không bao giờ thành, dưới chế độ vẫn thường vỗ ngực tự hào là một chế độ ưu việt.

Vì không có khả năng thực hiện được những mộng ước rất bình thường của những con người rất bình thường, nên chế độ đã phải bỏ tù những kẻ sĩ đã dám nói lên những sự thực xót xa ấy.

Nhưng càng giam giữ những con người như Doãn Quốc Sỹ, như Nguyễn Chí Thiện và hằng trăm văn nghệ sĩ khác nữa ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, chế độ hiện tại ở Việt Nam chỉ biểu lộ sự yếu kém và phi chính nghĩa của mình.

Đối với chúng tôi, những người may mắn hơn anh Doãn Quốc Sỹ, anh Nguyễn Chí Thiện, tuy không phải chịu đựng những năm tháng nhục nhằn trong ngục tù cộng sản, chúng tôi vẫn luôn luôn nhìn về các anh như những biểu tượng sáng chói của lý tưởng đấu tranh cho tự do và quyền làm người.

Nhật Tiến
Tháng 5- 1988

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

 

 

 

Phi Lạc Sang Tàu. Hồ Hữu Tường


Hồ Hữu Tường

PHI LẠC SANG TÀU

Phi Lạc sang Tàu là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Hồ Hữu Tường. Qua nhân vật thằng mõ làng Phù Ninh và dưới hình thức tiểu thuyết trào lộng, gần như ông thỏa sức giãi bầy những quan điểm chính trị của mình trước thời cuộc vào những năm thế giới vừa chấm dứt đại chiến thứ Hai và Việt Nam cũng vừa tuyên bố độc lập vào tháng 9 năm 1945.

Trích đoạn dưới đây nói về nhà sư Hồng Hạc, thuộc phái Hồng Môn, Trung Hoa Dân Quốc, do lời ủy thác của sư phụ là sư Hoàng Hạc có niềm tin rằng “Thánh nhân xuất hiện ở phương Nam” nên lặn lội qua Việt Nam để tìm quân sư mách nước trước hiểm họa Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo khi đó đang thắng thế ở Diên An.

Thằng mõ làng Phù Ninh có lần chơi dại, tự nhận mình là con của Ngọc Hân Công Chúa, tức dòng dõi vua Quang Trung Nguyễn Huệ (hay Hồ Thơm) và Hồ Quý Ly nên bị thằng mõ làng Cổ Nhuế gài bẫy khiến nó phải chịu mang cái vạ là nhà sư Hồng Hạc đề quyết chính nó là “thánh nhân” mà ông đang đi tìm.

Thế là thằng mõ Phù Ninh bị buộc lên máy bay, theo sư Hồng Hạc về Trung Hoa.

Và khi tới nơi, nó trổ tài khua môi múa mép về đủ mọi vấn đề, thể hiện đúng tính chất hoạt kê thời sự mang đầy tính chất trào lộng chính trị …rất Hồ Hữu Tường!

Xin mời độc giả thưởng lãm.

Nhật Tiến

………………………….                                                                                 

Máy tàu bay chạy ù ù khó thể nói chuyện với nhau được. Thằng mõ dựa ngửa trên ghế nệm, nhắm mắt lại mà tư lự…

Điều thứ nhứt, nó lo rồi đây, sang Tàu nó sẽ x­ưng là tên gì? Họ, thì nó đã có rồi. Khi đến làng Phù Ninh, xin làm chân mõ của làng ấy, nó đã học lỏm được câu chuyện tông tích của Hồ Quí Ly, Nguyễn Huệ (tức Hồ Thơm) và nghe người làng nói kín với nhau về chuyện Ngọc Hoa công chúa giấu con trong làng ấy.

Vả lại Hồ Quí Ly và Nguyễn Huệ là hai nhân vật được người Tàu kính sợ lắm. Nay xư­ng con cháu dòng dõi ấy cũng nên. Còn như­ cái tên, thì chọn tên gì cho xứng đáng với chức tối cao Cố vấn nước Tàu? Sực nhớ lại cha của Nguyễn Huệ có một cái tên nghe hay hay, là Hồ Phi Phúc, (Phi nghĩa là rộng lớn, Phúc là tốt lắm) nay mình muốn được công nhận là dòng dõi của họ nầy, thì dùng chữ Phi làm chữ đệm mới là phải cách. Hồ Phi. Được. Như­ng để tên gì? Suy đi nghĩ lại, không tìm được chữ gì cho xứng với chức tối cao Cố vấn của một nư­ớc sáu ngàn năm văn hiến.

Máy tàu bay chạy ù ù, ghế nệm êm, nó nghe như­ hai mí mắt nặng. Tha hồ cho nó xập xuống đánh một giấc dài. Đến khi nghe nhức lỗ tai, giật mình dậy thì tàu bay đang quay tròn trên sân toan đáp xuống. Chết chư­a! Hồ Phi . . . gì, nó vẫn chư­a biết!

Ở phi tr­ường không biết bao nhiêu người đón r­ước toàn là người sang trọng quyền quí, kẻ trí thức có, thư­ờng dân có, nó mới hiểu cái tai hại của một bữa nói khoác. Thật vậy, có dè đâu do một bữa nói khoác, muốn cho đồng nghiệp sợ mình chơi, nó vỗ ngực xưng rằng nó là con đích dòng Nguyễn Huệ. Ngày nay, đứng tr­ước những ngư­ời tài cao học rộng của cả n­ước Trung Hoa như vầy, nó mới hay rằng nó bị trác một cách tai hại. Làm sao mà ứng đối cho xứng đáng với cái danh mà thằng mõ Cổ Nhuế đã khoác cho? Đó là mối lo thứ hai. Thôi thì đã mang cái nghiệp nói khoác, thì cứ khoác càn. Tới đâu hay đó. Chẳng lẽ dân tộc Việt Nam đã sản xuất biết bao nhiêu ông trạng, từ ông Mạc Đĩnh Chi có tên trong sử sách, cho đến trạng Quỳnh, ngày nay chẳng lẽ anh linh của nư­ớc Việt Nam lại không ủng bộ cho nó, dìu dắt cái lưỡi của nó sao?

Chính với ý nghĩ ấy mà nó bắt tay các thân sĩ Trung Hoa.

Khi về đến khách đư­ờng, phân ngôi chủ khách xong rồi, thì s­ư Hồng Hạc mới chánh thức đọc bài diễn từ sau đây:

Thưa các ngài,

 Ba đời liên tiếp, s­ư tổ của tôi là Bạch Hạc, sư phụ là Hoàng Hạc và tôi, đã dày công nghiên cứu sấm ký, nhất là sấm của Khổng Minh Gia Cát Lượng. Nhờ vậy mà chúng tôi biết rằng chúng ta sắp đến một thời loạn to tát, chưa từng thấy trong lịch sử  Trung Hoa. Mà muốn cứu vãn tình thế, phải cần có Thánh Nhân, người xuất tại phương Nam, nghĩa là ở Việt Nam.

Bởi thế, tôi mới chịu khó lặn lội ở quê người ngót tám năm nay, để tìm vị Thánh Nhân ấy. Nhờ hồng phúc của dân tộc Trung Hoa, sức mọn của tôi lại mang đến kết quả. Tôi đã sưu tầm, điều tra, lập kế để dời vị Thánh Nhân về đây…..

Trong đám thính giả có người hỏi:

– Không hay vị Thánh Nhân ấy tên họ là chi?

Sư Hồng Hạc nghe nói, mới hay rằng trong bảy tám năm mình đã nghiên cứu kỹ lưỡng tông tích người nầy, không sót chi cả, mà quên hỏi tên họ. Liền day lại nhìn thằng mõ, để hỏi nó, thấy nó đương chăm chỉ ngó ba con chim bay, vẽ trên tấm nhãn của bình mực vuông để trên bàn. Nhà sư­ liền hỏi nhỏ nó. Nó trả lời ú ớ:

– Hồ Phi….

Cái chữ thứ ba trỏ tên cúng cháo của nó, nó không biết phải dùng chữ gì, thì nó ầm ừ trong miệng nghe không rõ.

HO HUU TUONG (2)...

Sư Hồng Hạc thấy nó nhìn ba con chim vẽ trên tấm nhãn bình mực, chắc nó trỏ loại chim ấy, tức là một thứ thiên nga, nhỏ thì đặt tên là Hồng, lớn thì đặt tên là Lạc. Không lẽ một vị Thánh Nhân mà đặt tên Hồng. Thì chắc là tên Lạc. Phi Lạc, con chim Lạc to, hay là con chim Lạc bay vẫn có nghĩa. Nhà sư­ liền trả lời lớn:

– Ngài tên là Hồ Phi Lạc.

Trong đám thính giả có người nói rằng:

– Có cái tên như vậy m­ới đích là Thánh Nhân!

Cử tọa quay lại xem, thì là một học giả già, họ Hồ tên Thích. Mọi ngư­ời đều­ yêu cầu học giả giải thích tại sao? Đáp rằng:

– Ở đây không phải là hội khảo cổ, thì không sao đem bằng chứng ra mà nói một cách khoa học được. Vậy xin tóm tắt kết luận tổng quát của các nhà bác học vế vấn đề  nầy:

” Thời xư­a, sau đời hoàng kim của Nghiêu Thuấn thì loài người ngày càng trụy lạc. Có một bộ lạc của dân Việt toan rời bỏ cõi đất Trung Hoa để tìm nơi dung thân chờ vận hội tốt mà trở về chỗ cũ. Trong trí họ, họ rất yêu con chim kia, đông đem lạnh tới thì bay về Nam tìm ấm áp, chờ Xuân về thì cùng về với xuân. Tù trư­ởng của bộ lạc ấy họ Hồ mới lấy hình ảnh tượng trưng của chim nọ mà làm vật tôn sùng cho tất cả việc cúng thờ, ý muốn nhắc nhở chúng rằng khi thời đến, như mùa xuân đến thì trở về đất Trung Hoa mà làm cho t­ươi đẹp quê của đất tổ. Con chim ấy là con chim Lạc. Bộ lạc kia là bộ lạc Lạc Việt, nguồn gốc của dân tộc Việt Nam ngày nay.

Như­ng dân Việt Nam ngày nay đang say sưa theo cái đà Nam tiến, không khác nào con chim Lạc đang say mê ấm áp mà ở mãi phương Nam, xuân đã trở lại mà không hay, quên về quê cũ. Còn con “chim lạc bay” hẳn là con chim còn mê cảnh, nghe xuân về thì trở lại Bắc phương, lên tiếng gọi thức tỉnh đoàn chim đang đậu. Thế có phải là tên Hồ Phi Lạc mới thiệt là tên của một vi Thánh Nhân chăng?”

Những thân sĩ Trung Hoa nghe lời giảng như thế thì nghĩ thầm rằng:

– Người nầy đi đến đây chắc là một tay du thuyết, toan đem ba tấc lưỡi mà nói cho nước Tàu nhìn nhận nước Việt Nam độc lập. Vậy ta hỏi thử coi hắn trả lời làm sao cho biết.

Một người đứng dậy hỏi rằng:

– Ngày nay, n­ước Việt Nam đang gặp quốc nạn. Nội tình bị một cơn cách mạng làm xáo trộn cả. Đối ngoại, đạo binh viễn chinh của một c­ường quốc đến đổ bộ với hải lục không quân, ngài nếu có tài sao không ở lại mà giúp nước, lại đến đây làm gì?

Phi Lạc nhìn kỹ coi người ấy là ai. Té ra là một mưu sĩ của phái Hồng Môn, họ Bành tên Bái. Bèn nghĩ rằng, cầm vận mạng của nước Tàu không phải là Quốc Dân Đảng, cũng không phải Cộng Đảng, mà chính lá phái Hồng Môn đư­ơng bí mật tổ chức và điều khiển tất cả nhân tài của nư­ớc Tàu­. Nếu không làm cho người nầy phục, thì ắt là nhân sĩ Trung Hoa sẽ theo chất vấn mãi. Phi Lạc ­ung dung đá:

– Tuy nư­ớc Việt Nam chúng tôi đ­ương bị, Nam có quân đội Anh chiếm cứ, rồi trả lần lần lại cho người Pháp, Bắc có quân đội Trung Hoa đóng nhân danh tước khí giới Nhật, song chúng tôi có cách để giải quyết rồi, chẳng những mưu được sự trường tồn của dân tộc Việt Nam, mà còn bồi đắp được nền hạnh phúc cho tổ quốc và xây dựng được tòa nhà lầu vinh quang cho con cháu. Ở Việt Nam, nhân tài đã thừa để mà làm việc ấy. Tôi sang qu­a đây không phải để lo cho nư­ớc tôi mà chính vì số phận của nư­ớc Trung Hoa.

– Nước Trung Hoa là một nước thắng trận. Một trong năm đại cường quốc. Cần gì phải lo cho số phận của nó?

– Ngài biết một chớ chưa biết hai. Quân đội Nhật tuy đã đầu hàng song số binh lính Nhật đào ngũ, ôm súng ống, giả làm dân quân cách mạng không phải nhỏ. Tàu tuy là nu­ớc thắng trận mà không được hư­ởng cảnh thanh bình. Đó là điều thứ nhứt, thuộc về chi tiết của ch­ương trình phá hoại của chánh sách Đại Đông Á của đảng Hắc Long, Nhật Bổn.

Điều thứ hai, là sự thống nhứt của nước Trung Hoa không chặt chẽ. Trước năm Đinh Sửu (1937), nước Tàu đã chia làm hai. Một bên theo Nam Kinh. Một bên theo Diên An. Bởi có nạn ngoại xâm, bởi Nga Mỹ cần bắt tay nhau mà chống với trục Phát-xít nên hai bên phải bắt tay nhau. Đó là việc tạm bợ.

Nay cừu địch đã bại trận không còn nạn ngoại xâm, lấy gì mà ngăn cái họa đảng phái tư­ơng tranh? Thêm nữa là sau trận giặc thứ Hai nầy, Nga Mỹ sẽ tranh hùng, giành nhau làm bá chủ thế giới. Nga lôi cuốn Cộng sản. Mỹ thôi thúc phái Q­uốc dân. Thì việc Quốc Cộng t­ương tranh đã không tránh được, lại còn như lửa được thêm dầu­, không sao tắt nổi.

Còn điều thứ ba là ngót tám năm binh lửa, chính phủ Trung Hoa vay nợ rất nhiều. Nay lấy đâu mà lo kiến thiết nước nhà, lấy đâu mà nuôi dân bị đói khát sau hồi khủng khiếp của chiến tranh?

Tôi xem ngài là kẻ rnư­u sĩ của phái Hồng Môn. Họa sờ sờ tr­ước mắt lẽ nào chẳng thấy? Sao không lo cứu vãn nước nhà để tránh cái họa của một n­ước mang tiếng là cường quốc mà không có chút thiệt lực?

Bành Bái nghe nói không biết đáp làm sao. Bỗng có người cất tiếng nói rằng:

– Phi Lạc là người khua môi múa mỏ. Đồng bào của ngư­ời qua đây khóc lóc cầu đảng ta ủng hộ không biết bao nhiêu, sao dám nói rằng dân Việt Nam đã có kế lớn và thừa nhân tài lo kế ấy?

Phi Lạc nhìn xem, người ấy là Trần Nguyên Bội giữ chức Đổng Lý Sự Vụ của phòng Trung Nam, tức là phòng để nghiên cứu chánh sách đối ngoại của nước Tàu đối với các xứ Miền Nam của mình. Phi Lạc biết rằng Trần Nguyên Bội muốn nói đến những chánh khách đã hì hụp sang Tàu mà cầu cạnh Quốc Dân Đảng ủng hộ. Điều ấy có thật. Nh­ưng không trả lời cho xứng đáng thì làm sao cho họ kiêng nể được, bèn đáp rằng:

– Kẻ trí phải biết phân biệt hư­ và thiệt. Kẻ thức phải rõ đâu là nhỏ đâu là lớn. Trong một cuộc v­ươn mình chỗi dậy của một dân tộc hai m­ươi lăm triệu người, tránh sao cho khỏi việc có người thấy không hết cả đại thể của cuộc vận động, rồi sanh ra băn khoăn, thắc mắc.

Nh­ưng tôi xin hỏi lại ngài: Những người đến cầu cạnh với nước Tàu có phải là những nhà văn, nhà tiểu thuyết, hay một số ít võ tướng nào đó phải không? Thế thì họ  làm sao có tầm mắt rộng rãi bao quát cả đại thể? Nhứt là những nghệ sĩ ấy dễ cảm xúc, bị một vài tiểu tiết ghi một ấn tượng nào đó là phóng đại ra làm một kết luận tổng quát rồi.Vậy thì sự lo lắng của họ không phải là sự lo lắng của cả dân tộc Việt Nam.

Tôi còn hỏi ngài lại một điều nữa: Ngài có thể tưởng t­ượng rằng họ đến với ngài vì kế chớ không phải vì thật tình chăng? Còn tôi, tôi dám quả quyết rằng đó là vì kế.

Cả trong phòng đều ngạc nhiên vì lời quyết đoán ấy, nên trố mắt nhìn, chờ xem Phi Lạc giải nghĩa tại sao lại là kế. Phi Lạc tằng hắng lấy giọng rồi nói:

– Thấy các ngài chăm chú nghe, chắc các ngài muốn biết kế ấy là gì? Nhưng không lẽ tôi là công dân Việt Nam lại mang lỗi lầm tiết lậu việc bí mật của quốc gia? Và không lẽ các ngài là con cháu của Trư­ơng Lương, Khổng Minh lại không biết kế ấy là kế gì nữa.

Trần Nguyên Bội nghe vậy, phát cáu nói rằng:

– Ngư­ơi đừng vì túng lý mà nói chận người khác. Ta đã biết rồi. Không có kế gì đâu mà hòng nói khoác!

– Ngài muốn cho tôi mang lỗi với n­ước tôi? Được! Xét ra, kế đã thành rồi, dầu có nói ra cũng không hại. Chỉ có ích lợi là giúp cho ngày sau, nhà làm sử hiểu rõ mà phê bình cho đúng thôi. Tôi chỉ ngại có một điều, kế ấy gạt n­ước Tàu. Mà nay tôi đến đây nói thẳng với các ngài vốn là mưu sĩ của nước bị gạt thì là hỗn láo một cách trắng trợn quá. Các ngài không tha trước, tôi không thể cắt nghĩa kế ấy ra làm sao. Tôi là khách, tôi phải giữ lễ. Chừng nào các ngài ép lắm, tôi mới chịu vô lễ mà vâng theo ý muốn của các ngài.

Cử tọa ồn ào kịch liệt, cãi nhau lăng xăng. Người thì bảo thôi bỏ việc chất vấn đi, kẻo hắn phanh phui ra không tốt gì. Kẻ thì trách sao Trần Nguyên Bội lại khởi sự vô lễ trước, hỗn láo với hắn, để cho hắn khinh miệt lại. Kẻ lại tức mình, ủng hộ Tr­ần Nguyên Bội, một hai yêu cầu Phi Lạc nói toạc móng heo ra. Nếu không đúng lý, thì phạt tội vô lễ đối với một cường quốc. Cãi vã như “bị chìm tầu” một lúc, lần lần khuynh hướng thứ ba  nầy thắng. Trần Nguyên Bội thay mặt cho tất cả mà nói rằng:

– Thay mặt cho cử tọa, tôi yêu cầu ngài nói rõ ra kế ấy làm sao? Nếu là phải, thì chúng tôi hứa hẹn không giận oán gì cả. Chúng tôi cũng hứa hẹn là chúng tôi không chấp những lời lẽ phạm đến chúng tôi. Nh­ưng mà…

Phi Lạc đứng dậy, ra dấu chận ngang lại và nói:

– Cho phép chúng tôi vô lễ mà chận ngang tại đây. Nhưng mà thái độ khoan hồng của các ngài chưa phải là thái độ cứu nước Trung Hoa được. Các ngài có thể tha thứ những lời đả động đến lòng tự ái của cá nhân các ngài. Biết nước Trung Hoa có rộng lượng như vậy chăng ? Không khéo thì Bộ Ngoại Giao của các ngài gởi thông điệp cho chính phủ Việt Nam, tỏ ý không bằng lòng. Rồi chánh phủ của nu­ớc tôi sẽ trách móc trừng phạt, tôi chịu sao nổi

– Không sao đâu! Câu chuyện này là câu chuyện ta nói riêng với nhau, một câu chuyện dầu nói thật cũng kể là nói đùa, là một thứ văn chương trào phúng. Ai mà nhột thì rán chịu, không được lòng ròng cái gì hết.

– Có vậy tôi mới dám nói chớ ! Số là nước Việt Nam chúng tôi là nước nhỏ. Sau khi Nhật bại trận, chúng tôi chịu một số rất nhiều tai ách.

– Tai ách thứ nhứt là mấy chục ngàn lính Nhật đào ngũ, toan ở lại làm mưa làm gió. Chính phủ chúng tôi khó cởi cái ách ấy bằng vũ lực được.

Tai ách thứ hai là quân đội lấy tư cách đến tước khí giới quân Nhật rồi chiếm đóng luôn xứ tôi. Làm sao mà mời họ đi?

Tai ách thứ ba là hình như một số thực dân toan đặt lại những quyền lợi đặc biệt của họ trên xứ sở. Làm sao mà tránh được?

Thử hỏi các ngài có kế gạt những tai ách ấy qua một bên chăng?

Phi Lạc dừng lại, nhìn cử tọa. Ai nấy đều lặng thinh.

Một chập, Phi Lạc nói tiếp:

– Ấy vậy mà việc các nhà văn, nhà báo đến cầu cạnh với các ngài, đó là cái kế mọn ấy! Họ đến kêu ca nói rằng nước Việt Nam xích hóa hết. Chánh phủ Tàu nghe vậy phát sợ. Việt Nam mà xích hóa  thì đường vận tải Vân Nam, Tứ Xuyên, Tây Tạng bị chận nghẹt. Nước Tàu đâm ra lo, phải bàn với Mỹ, với Anh. Nh­ưng dù là Tàu, hay Anh, hay Mỹ đều không thể lấy danh nghĩa nào mà can thiệp vào nội trị của nước Việt Nam cả. Họ phải nhờ nước Pháp tính giùm. Rồi rút lui hết, giao việc chiếm đóng và săn bắt Nhật cho quân đội Pháp.

Có phải là không kế ấy, cuộc vận động giải phóng của Việt Nam phải gặp đến bốn năm đối phương, cả thảy đều là cường quốc; còn với kế mọn ấy, cho mấy anh văn sĩ  chạy chọt chút đỉnh, mà Mỹ, Anh, Tàu đều rút lui, mà dân tộc Việt Nam chỉ còn lo nói chuyện với một nước là nước Pháp mà thôi không?

Cử tọa đếu khen hay. Còn Trần Nguyên Bội nín thinh, chịu phục.

Bỗng trong đám có người đứng dậy nói lớn:

– Các ngài làm gì mà hoan nghênh một kẻ khua môi múa mỏ, đang làm nhục chúng ta. Hỏi hắn có mưu chước gì làm cho dân hắn đừng quay đầu về vòng nô lệ thì nói thử ra coi.

Mọi người đều day lại xem là ai, thì ra là Trương Thế Hùng, người trong phái Hồng Môn, đương ngấm nghé cái ghế bộ trưởng Ngoại Giao mà chưa có cơ hội để chiếm lấy.

Phi Lạc không đáp, ngồi lặng thinh.

Ai nấy cũng chờ xem. Ban đầu êm, rồi lần lần xì xào có ý chê rằng Phi Lạc đã hết ý. Phi Lạc vụt đứng dậy. Ai nấy nín lặng nghe hắn trả lời làm sao. Thì hắn nghiêng mình tới trước, vói tay lấy bao diêm, đánh một que, đốt thuốc hút, có vẻ thản nhiên lắm.

Người ta lại ồn ào nữa.

Trương Thế Hùng lại đứng dậy nói:

– Các ngài đã rõ rồi đó! Hắn có mưu chước gì đâu! Chẳng qua hắn định uốn ba tấc lưỡi nhưng mà không tài, muốn học đòi Trương Nghi, Tô Tần mà kém sức.

Phi Lạc chờ tràng pháo tay dứt rồi mới đứng dậy ung dung đáp:

– Phàm nói chuyện phải biết đặt vấn đề. Tôi sang đây không phải tự tôi cầu. Điều này sư Hồng Hạc thừa biết. Sẵn ngài đây, ngài có thể nói rõ việc ấy. Tôi sang đây cũng chưa hề tỏ ý cầu cạnh gì với nước Tàu. Ông Trần Nguyên Bội làm chứng điều đó. Và tôi hứa ngày nào tôi còn ở trên đất Tàu, tôi không nói một điều gì để nhờ nước Tàu giúp nước tôi cả. Việc cầu cạnh giữa nước nầy với nước kia đã sẵn có sứ thần, ngoại trưởng hay ít nhất có đại biểu có ủy quyền. Còn tư nhơn mà lặn lội ở xứ người để kêu ca thì chỉ là kẻ không có tư cách…hay là kẻ dùng hư gây thiệt.

Tôi mới vừa nói đến vai trò của các nhà văn của nước tôi đến đây dùng kế, mà làm cho bộ ngoại giao Tàu bấn loạn. Ấy là tôi đã mách cho các ngài rõ vai trò của những người không tư cách, không thẩm quyền, đem chuyện xứ mình mà nói ở xứ người. Nếu tôi làm như thế nữa, sao cho phải phép.

Còn phần ngài, sau khi tôi đã trỏ một ngón ngoại giao khôn khéo của người nước tôi, ấy là việc các văn sĩ, nghệ sĩ đấn cầu cạnh nơi nước Tàu, thì ngài nên biết cho rằng mình mới được một bài học về ngoại giao, chớ nên sơ sót nữa.

Nghĩa là: gặp người ngoại quốc đến, không nên hỏi đến việc nước nhà của người. Hỏi như thế, họ có thể mượn dịp ấy mà gạt mình, bịp mình…Bài học chưa tiêu, ngài lại rơi vào lầm lỗi nữa. Buộc tôi trả lời làm chi? Tôi thấy ngài lăm le chiếc ghế bộ trưởng Ngoại Giao. Xin khuyên ngài hãy dằn lòng để cho nước Tàu được nhờ vậy!

Thế Hùng nghe nói đỏ mặt tía tai, bẽn lẽn rút lui ra ngoài.

Phi Lạc cung kính nói:

– Tôi lấy lòng thành thật mà nói với các ngài. Tôi đến đây không vì quyền lợi của nước tôi. Tôi đến đây không có mục đích gì khác. Tôi không đến cầu cạnh việc gì hết, các ngài tất nhiên không có quyền chất vấn tôi điều gì, bởi lẽ tôi không phải kẻ có tội ra trước công lý. Nếu các ngài không có điều chi lợi cho các ngài để bàn, thì xin phép cho tôi về xứ.

Sư Hồng Hạc lật đật đứng dậy can:

– Xin ngài chớ phiền. Cuộc gặp gỡ hôm nay đổi thành một trường thiệt chiến, điều ấy rất đáng tiếc. Đáng lẽ chúng ta nên cùng nhau xét những vấn đề tương lai của nước Trung Hoa như thế nào? Cách giải quyết nó làm sao? Chính vì những lẽ ấy nên tôi mới chịu khó nhọc rước ngài sang nước tôi để giúp ý kiến…

– Và chính vì lẽ ấy mà mở đầu câu chuyện tôi đã nói rõ rằng: “Tôi đến đây không phải vì nước Việt Nam mà là vì nước Trung Hoa vậy.”

– Vậy thì ta phải đặt vấn đề cho trúng cách. Vấn đề như thế này: Làm sao mà chủng hoạn cứu nạn cho nước Trung Hoa?

Cử tọa đều hoan nghinh lời hòa giải của sư Hồng Hạc…..

thumbnail

Hồ Hữu Tường

(trích Phi Lạc sang Tầu- Hồi Ba)

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

 

Ánh Sáng. Truyện ngắn Hoàng Đạo


Hoàng Đạo

(Truyện ngắn Ánh Sáng của Hoàng Đạo đã được đăng lần đầu trên Tuần Báo Ngày Nay số 18, in ngày  chủ nhật 26/07/1936 tại Hà Nội)

img_5120

– Phở có nóng không bác?
– Nóng.
– Vậy bác bán cho tôi ba xu.
Cậu bé đặt sáu đồng trinh lên mặt gánh, lặng yên đứng nhìn người bán phở nhấc môi bánh nóng hôi hôi đặt vào bát. Hơi nóng trong nồi nước dùng bay tỏa ra từng đám trắng, gió chiều thổi tạt về đầu phố.
Bằng đứng phía cuối gió, đương thẫn thờ cúi xuống nhìn cỏ, bỗng giật mình ngước mắt lên. Vô tình ngọn gió đã đột ngột đem theo mùi thơm ngào ngạt làm giác quan chàng rung động. Bằng quen tay thò vào túi, và sực nhớ rằng đồng hào cuối cùng chàng đã tiêu hết từ chiều hôm trước, cả gia tài chỉ còn một đồng trinh.
Lại một làn gió thơm đưa tới, nhẹ nhàng vờn mớ tóc rối của Bằng. Như đột nhiên nghĩ đến một việc cần, Bằng hấp tấp rảo bước đi thật nhanh. Qua gánh phở, chàng ngoảnh mặt chăm chú nhìn một bông hồng lách qua giậu sắt, rung rinh trước gió, hình như không nghe thấy tiếng hàng phở chào:
– Mời thầy mua cho một bát.
Thực thì Bằng vẫn nghe rõ lắm. Nhưng chàng không muốn lên tiếng từ chối trong khi lòng chàng rạo rực nôn nào Chàng đói Chàng đói lắm: từ sáng đến giờ, chưa có một hột cơm nào trong bụng, mà cứ thế lang thang hết phố này sang phố khác.
Bằng lang thang đi tìm việc làm. Đã hai tháng nay, từ hôm Sở dầu thải hơn sáu chục người làm công, không có ngày nào là Bằng không đi như vậỵ Chàng chỉ biết có một nghề đánh máy chữ và tính sổ, mặc dầu cha mẹ chàng xưa kia chuyên nghề làm ruộng. Đáng lẽ như người khác, Bằng bây giờ đã vác cày ra đồng, khó nhọc kiếm lấy miếng ăn dưới ánh nắng thiêu, trong những ruộng lầỵ Nhưng thuở nhỏ chàng chăm chỉ và thông minh hơn trẻ khác, nên cha mẹ chàng cố nuôi chàng ăn học, có mấy sào ruộng bán dần đi hết. Bằng vì thế trở nên một thầy ký. Công việc có nhẹ nhàng nhưng cảnh người làm công, cảnh bức bách. Có điều mỗi lúc về quê, họ hàng đối với chàng đều có vẻ trọng vọng tôn kính. Còn chàng chắc cũng an phận, nếu kinh tế không khủng hoảng. Nhưng đã gần một năm nay, sở nào cũng nghe thấy nói đến việc thải người làm. Trong Sở dầu, anh em thường thì thầm bàn đến một cách sợ sệt. Duy ai nấy cũng thầm tưởng, thầm mong rằng có thải cũng không đến mình. Bỗng một hôm, đương lúc mọi người cặm cụi làm việc, người loong toong chạy vào:
– Mời các ông lên quan Đốc gọi.
Trong phòng giấy rộng rãi, sang trọng, ông Đốc đứng nghiêm trang trong bộ áo là nếp thẳng thắn. Ông cám ơn mọi người đã làm hết phận sự, rồi ông tỏ nỗi lòng ông băn khoăn, khổ sở mấy hôm vừa qua:
– Các ông ạ, sự khủng hoảng bắt buộc chúng tôi phải rời các ông, tôi lấy làm tiếc vô hạn. Tôi mong sẽ có ngày kia, kinh tế vững chãi và các ông sẽ lại về làm ở đâỵ
Nói xong, ông Đốc xem vừa ý lắm, thắt lại cái cà vạt, vuốt lại mái tóc mượt, vẻ mặt sung sướng khoan khoái, ông bước lên xe ô tô hòm giục tài xế đưa đến một khách sạn sang để dự bữa tiệc chiều.
Trong khi ấy, các ông Ký bị thải ngơ ngác nhìn nhau, rồi buồn bã người nào trở về nhà nấy với mâm cơm cà và rau muống luộc.
Ngày theo ngày, những ngày dài dằng dặc, những ngày ngồi rỗi với một tâm hồn chán nản, với cuộc tương lai mập mờ bất trắc. Mâm cơm cà và rau muống dần dần cũng không có nữa Bằng đã tới cái cảnh ngao ngán ấy. Về quê làm nghề nông thì không còn một thửa ruộng – Bằng cũng tự biết không đủ sức cầy sâu, cuốc bẫm – và làm thợ thì không biết nghề gì, Bằng chỉ còn mong tìm được một chân bàn giấy. Chàng tiêu dần hết cả tiền dành dụm, mà không có chút hy vọng nào.
Ngày hôm nay, chàng không còn một đồng xu dính túi. Đã vậy, chủ nhà, bà Cai Đá, lại nhất định đòi tiền thuê nhà, và sau một hồi thuyết lý mỉa mai, bà ta hẹn lại cho Bằng đến sáng mai phải trả, nếu không thì đứng trách.
– Đừng trách!
Bằng nhếch mép cười một cách chua chát, tâm trí đầy rẫy nỗi uất ức, tức giận. Chàng ngẫm nghĩ:
– Dốt nát ngu xuẩn như mụ Cai Đá thì chỉ việc ngồi duỗi mà sống một cách sung sướng đầy đủ, còn mình muốn làm vất vả cả ngày để nuôi thân mà cũng không được. Ông trời bất công thực.
Bằng ngửa mặt nhìn lên không trung. Trời chiều trong xanh như ngọc thạch. Mấy đám mây hồng nhẹ nhàng trôi. Bằng cảm thấy rõ sự vô lý của lòng oán hận một cảnh vật vô tình, thản nhiên…
Bỗng chàng giật mình. Một tiếng còi gắt gỏng, một câu nói bẳn và một cái xe ô tô vụt qua trước mặt chàng. Chỉ chậm một giây nữa thì Bằng bị ô tô cán phải. Thì ra chàng bước xuống đường nhựa lúc nào không biết.
Sợ hãi, Bằng lùi lên bờ hè, mới hay mình ở trước vườn hoa nha Đốc lý. Mệt nhọc, chàng ném mình xuống một cái ghế dài gần đấy, ôn lại cái nạn vừa xảy ra:
– Thật là chết hụt!
Ngẫm nghĩ, chàng tắc lưỡi:
– Chà! Chết mà lại hay…Sống khổ sở thế này thì cũng chẳng nên sống làm gì.
Thở dài, chàng xua đuổi ý nghĩ chán nản nhìn ra chung quanh. Trời đã nhá nhem tối, những bông cúc trắng rung rinh trong ánh sáng mờ mờ khiến Bằng nhớ đến cảnh xa hoa của tết năm nào.
Có tiếng nói sẽ như đáp lại ý nghĩ của Bằng:
– Lạy thầy dón tay làm phúc.
Trông người ăn mày hốc hác, rách rưới, đứng chĩa tay trước mặt. Bằng nở một nụ cười buồn tênh, lắc đầu ra hiệu rằng mình không có tiền. Người ăn mày vẫn nhẫn nhục đứng lải nhải xin. Bằng đứng dậy móc túi lấy đồng trinh còn lại ném cho, rồi vừa đi vừa nói một mình.
– Thế là hết.
Chàng lần theo những phố đông đúc, trong lòng thấy vui vui vì đã cứu một người nghèo khó hơn mình. Thấy đói và mệt, chàng dừng lại nhìn một cửa hàng bán vàng bạc, tò mò ngắm nghía những chiếc nhẫn dát kim cương lóng lánh bên cạnh mấy đôi xuyến huyền nạm vàng.
– Nếu ta có một chiếc xuyến kia nhỉ?
Bỗng một ý nghĩ bất chính nẩy ra trong trí Bằng. Như muốn tránh sự cám dỗ, chàng ngoảnh nhìn sang một cửa hàng ở dãy bên kia phố. Trong khung kính, mấy miếng xúc xích đương lơ lửng trên vài chiếc bánh tây ngon lành, và những chiếc bánh sữa đương phơi màu vàng ngọt dưới ánh điện sáng trưng. Bằng rùng mình, tưởng tượng ra một bữa tiệc long trọng, những chiếc bánh đặt trong giỏ mây bên cạnh những cốc pha lê trắng muốt, những đĩa thịt thơm thọ Bằng rùng mình, vì ý nghĩ chiếm đoạt tiền của người khác đã hình thành trong óc chàng và xui giục chàng thò tay vào lấy trộm chiếc xuyến.
– Họ có mất chiếc xuyến cũng không sao, mà ta lại được một bữa cơm ngon.
Bằng thò đầu vào cửa hàng bỏ vắng, bỗng chàng nhìn thấy bóng trong gương, mặt mày len lét, bơ phờ. Chàng kêu rú lên một tiếng rồi cắm cổ chạy như tội nhân đi trốn.
Về đến nhà, Bằng mới hoàn hồn, chàng nằm vật xuống phản, thở hồng hộc, như vừa mới thoát khỏi một cái nạn to: thiếu chút nữa, chàng đã thành một thắng ăn cắp. Nhưng nghĩ đến cách sống ngày mai, Bằng càng bối rối. Biết làm gì mà nuôi được thân bây giờ, ngoài việc bất chính? Hay là đi hành khất? Bằng nhớ lại người ăn mày ở vườn hoa Đốc lý, nhớ lại cái nạn ô tô suýt nữa xảy rạ Chàng than thở:
– Nó chẳng đè chết đi cho rảnh chuyện.
Một tư tưởng vụt ra trong trí, khiến chàng thẫn thờ lẩm nhẩm:
– Âu là…
Rồi Bằng ôm mặt nức nở khóc.
* * *
Mặt trời đã lên caọ ánh nắng êm đềm xiên qua cửa sổ. Bà Cai Đá trỗi dậy, với lấy ống nhổ, gọi con sen:
– Đỏ, mày chạy xuống đòi thầy Bằng tiền nhà đi.
Rồi bà lẩm bẩm:
– Lần này mà không trả thì bà bảo cho. Đã hai tháng của người ta rồi, mà cứ chây ra, người đâu mà trơ đến thế!
Con sen vừa mới bước xuống cầu thang, bà Cai Đá khoác vội cái áo dài, chạy liền theo, nét mặt hầm hầm.
Đến cửa phòng Bằng ở, bỗng bà đứng dừng lại, ngạc nhiên. Bà trông thấy Bằng ngồi trên thành cửa sổ tay gõ dịp xuống tường, miệng hát nghêu ngao…
– Thế nào, thầy trả tiền nhà tôi đi chứ?
Như không nghe thấy câu hỏi của bà Cai, Bằng cúi hẳn người ra ngoài, nhìn chòm lá long não phấp phới rung rinh trước gió, tươi cười như một cô con gái nhí nhảnh. Bằng không hiểu sao mình vẫn còn sống mà ra đây nhìn ánh sáng và chàng lấy làm lạ rằng sao lúc nãy chàng lại cảm thấy một cách đằm thắm hơn mọi khi, cái vui, cái đẹp của đời.

Hoàng Đạo

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Giọt Đắng Môi Em. Thơ Hư Vô


Cà phê khuấy lung linh màu mắt
Để thấy em về trên dấu môi
Chiều đắm hồn nhau trong đáy tách
Pha buồn cho đậm nét thơ tôi!

Chỗ em bước tới xanh lòng phố
Đàn chim động tổ vút lên cao
Dáng buông sóng sánh đôi tà áo
Tôi khuấy em vào cơn khát khao!

Nhấp môi còn nóng hương mười sáu
Nụ hôn đầu lảo đảo cuồng quay
Nhịp tim em ngang tàng ngây dại
Đã vỡ tan theo một hình hài.

Ngày mai biết em còn trở lại?
Dòng đời phơi ngược nắng trên vai
Tôi uống cạn giọt tình không đáy
Quán chiều xiêu vẹo bóng hình ai!!

Hư Vô

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng. Truyện ngắn Nhất Linh


Nhất Linh

(Tặng tâm hồn Bồ Tùng Linh, tác giả Liêu Trai)
Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng của cố Văn Hào Nhất Linh. Đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 10, in tại Hà Nội năm 1935

Một đêm trăng mờ trên sông Thương. Con thuyền lờ đờ trôi bên cạnh một dảy lau cao, gió thổi qua xào xạc. Sinh ngồi dựa vào mạn thuyền, đôi mắt mơ màng nhìn một thiếu nữ tóc trần, mặc áo lụa trắng, đương ôm vào lòng một cây đàn hờ hững gảy vài tiếng rời rạc. Một cơn gió mạnh thoảng qua. Sinh hỏi thiếu nữ:

– Ở giữa sông, mà lạ thật, có mùi hoa nhài thơm lạ?

Thiếu nữ nghiêng đầu để Sinh nhìn rõ trên mái tóc mấy bông hoa nhài trắng cài trong làn tóc đen, rồi thiếu nữ đăm đăm nhìn nước trôi cạnh thuyền như muốn ôn lại trong trí những việc xảy ra từ thời quá khứ ra xa xăm. Một lát thiếu nữ thở dài, buồn rầu nói:

– Em thích nhứt hoa nhài…vì hình như kiếp trước đời em là đời hoa nhài .

Sinh cười nói đùa:

– Tuyết của tôi có linh hồn một nhà thi sĩ

Tuyết nghiêm nét mặt:

– Em không nói đùa đâu. Anh không thấy người ta vẫn bảo hoa nhài là một bông hoa đĩ, vì hoa nhài chỉ nở ban đêm, thế mà đời em – em nói ra cũng không hỏi thẹn gì – là đời một gái giang hồ.

Rồi nửa buồn rầu nửa đùa cợt, Tuyết cất tiếng hát:

Ngẫm xem hoa ấy thân này…

Tuyết đặt đàn ngồi sát lại gần Sinh:

– Anh muốn tin hay không tin tuỳ ý anh, nhưng em thì em cho đời em với đời hoa nhài có liên lạc với nhau. Mà người ta bảo hoa nhài là một thứ hoa đĩ, thật đúng lắm. Để em kể anh nghe lại cái hồi em mới bắt đầu bước chân vào cuộc đời giang hồ này:

“Năm ấy em mới mười sáu tuổi. Một đêm nhà vắng, cũng về mùa hè, có cả trăng mờ như đêm nay. Em nằm một mình ở ngoài hiên cho mát và vơ vẩn nhìn ra ngoài. Bỗng em thấy trên cái sân gạch rộng, lờ mờ dưới bóng trăng hiện ra ba người con gái mặc toàn đồ trắng, nhẹ nhàng đi lướt qua sân. Em thấy làm lạ, vì trong nhà, ngoài em ra, không có một người con gái nào khác nữa. Em ngồi nhổm dậy nhìn ra thì thấy ba người con gái đi đi lại lại chơi bời cười nói trên sân coi như nhà của họ. Em ngạc nhiên bước ra sân, toan hỏi, thì cả ba cô con gái cùng đến xúm lại bên em, cầm tay em tỏ nỗi mừng rỡ, rồi bảo em:

– Chị Tuyết đây rồi! Chúng em tìm chị mãi. Thấy em ngạc nhiên, một cô hỏi:

– Chị quên chúng em rồi sao? Sao mà chóng thế. Bạn cũ của chị đây mà, chị nhớ ra chưa?

Thế là từ lúc ấy, em mang máng nhớ dần ra rồi, em thấy hình như có gặp họ ở đâu nhiều lần rồi. Em chỉ nhớ mang máng thế thôi, chưa kịp nghĩ ngợi gì cả, thì ba cô đã cầm tay em kéo đi, vừa đi vừa nói chuyện, nói chuyện lâu lắm, nhưng em không nhớ nói những chuyện gì. Lúc đi với họ, em thấy trong người nhẹ nhõm và quanh người lúc nào cũng phảng phất một thứ hương thơm ngát, nhưng không đoán ra được là thứ hương gì. Bỗng một cô nói:

– Thôi khuya rồi, xin từ biệt chị

Rồi cả ba cô sát lại người em, ôm lấy em: em thấy hoa cả mắt, cả hương thơm ở người ba cô bạn làm em choáng váng, tê mê, thiêm thiếp đi một lúc. Khi tỉnh dậy thì cả ba cô đi đâu mất và khi em giơ vạt áo lên thì thấy đẫm mùi hoa nhài. Có tiếng cười khúc khích. Em giật mình thức dậy mới biết là mình vừa nằm mê.

Em quay mặt ra ngoài cho tỉnh hẳn, thì thấy ngay ở đầu phản bên gối em, ba bông hoa nhài trắng và to vừa mới nở, gió thổi chùm lại với nhau và quay cả về phía em nằm, hương thơm đưa thoang thoảng”.

Sinh cười bảo Tuyết:

– Nằm bên hoa, ngửi thấy mùi hoa mê như thế là thường.

Tuyết nói:

– Anh để em kể hết đã… “Từ lúc ấy trở đi, em thấy em đổi khác hẳn, rồi ngay ngày hôm sau, em gặp một chàng trẻ tuổi, em mê người ấy, và từ đó, thân em không còn là thân một cô con gái mười sáu tuổi trong sạch nữa. Em trở về thì mấy bông hoa hôm trước, cánh đã héo tàn, vàng úa. Bắt đầu từ đó, em bước dần mãi vào con đường nhơ nhuốc…cho đến ngày nay. Nhiều lúc em muốn trở về với cái đời trong sạch kia, nhưng không thể nào được nữa, hình như có một sức mạnh vô hình bắt em phải sống, phải mãi mãi sống cái đời khốn nạn này”.

Tuyết nhắc cây đàn lên gẩy xong bài Xuân Nữ Thân, rồi cúi mặt buồn rầu, hai bên má nước mắt chảy ràn rụa. Muốn khuây buồn cho người bạn một đêm, Sinh giơ tay khẽ rứt mấy bông hoa nhài ở mái tóc Tuyết, rồi cầm vứt xuống sông. Hai người cùng nhìn theo mấy bông hoa trôi theo giòng nước. Một cơn gió thoảng qua, Sinh nói:

– Để làm gì cái bông hoa ấy nó quấy rầy cuộc vui của hai người đêm nay. Hết hoa, một cơn gió qua là hết cả hương thơm ám ảnh…

Tuyết mỉm cười chua chát:

– Hết thế nào được. Cái hương ấy nó đã thấm sâu vào da thịt em, nó đã tắm cả linh hồn em, gió nào thổi cho sạch được.

Mặt trăng lộ ra, trời sáng hẳn. Tấm áo của Tuyết đã trắng lại trắng thêm, nổi hẳn lên trên nền lá sậy đen. Bỗng Sinh chăm chú nhìn vào mặt Tuyết, và ngạc nhiên thấy mặt Tuyết dưới ánh trăng mỗi lúc mặt trắng dần…trắng như mầu trắng của một bông nhài mới nở. Chàng ngạc nhiên hơn nữa, khi một cơn gió thoáng qua đưa lại phía chàng mùi hương nhài thơm nức như ở trong áo Tuyết bay ra….

Sinh dụi mắt. Lúc bỏ tay ra, thì thấy ánh sáng soi vào giữa mắt mình và thấy mình nằm trên cái ghế mây giải ở đầu hiên nhà. Lúc đó Sinh mới hay rằng mình mới vừa nằm một giấc chiêm bao. Thấy lẫn trong gió có mùi thơm hoa nhài, Sinh quay mặt nhìn ra: ngay ở đầu ghế, một cánh nhài gió thổi hắt về phía chàng để lộ ra trong đám lá một bông hoa nhài mới nở trắng nuột dưới ánh trăng. Hương thơm vẫn thoang thoảng và bông hoa rung rinh trước gió, Sinh tưởng tượng như đương còn thì thầm kể lại câu truyện chàng được nghe trong giấc mộng.

Nhất Linh

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Đường Thu. Thơ Hư Vô


Từ em tuổi mới biết buồn
Tóc bay cuốn góc linh hồn tôi theo
Nhốt vào đôi mắt trong veo
Còn nghe ngọn nắng gọi heo may về.

Để em vấp xuống cơn mê
Mùa thu trải lụa cho kề bóng tôi
Áo nhăn một phía em ngồi
Mà tôi cũng đã có thời mê man.

Lần đầu lạc giữa dung nhan
Bàn tay tôi bỗng nghênh ngang lạ lùng
Nhập hồn vào cuộc chơi chung
Nghe nhịp thở đang tận cùng, đó em!

Nụ môi ngọt tựa que kem
Tiệc tình em dọn để kèm kẹp nhau
Chỗ tôi lảo đảo bước vào
Đường thu dậy mộng hoa cau rụng đầy…

Hư Vô

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Bến Đò Năm Xưa. Truyện ngắn Khái Hưng.


Khái Hưng

(Bến Đò Năm Xưa. Truyện ngắn của Khái Hưng đã đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 21, in ngày chủ nhật, 16/08/1936 tại Hà Nội)

78cd5e6d-e0a9-4833-bb57-5d99bb5e45ee

Nguyên dừng lại trên đê cao, nhìn xuống con sông sâu. Và chàng mang máng nhận thấy rằng mười lăm, mười sáu năm về trước chàng đã đến đó một lần.

Dòng nước về mùa đông cũng cạn, cũng chảy lờ đờ. Bụi lau mọc ven bờ, lá vẫn xơ xác như xưa, hàng bông trắng vẫn se sẽ lao đao trước gió. Nhất là cây gạo thân thẳng và cao, ngạo nghễ đứng bên sườn đê rướn ngọn chọc trời, thì chàng không thể nhầm nó với một cây gạo khác được. Gốc nó phía trên tựa da trăn đầy những khoanh mốc trắng, phía dưới nổi lên những bướu tròn hùng tráng như những bắp thịt rắn chắc của nhà lực sĩ.

Nguyên đương tỉ mỉ nhận xét điều ấy, thì đưa chàng đi sâu thêm vào thời ký vãng một làn khói lan tỏa ra ôm ấp lấy cái mái rạ rồi từ từ bay tản mạn trong đám lá xanh. Bấy giờ chàng mới kịp để ý đến túp lều bé nhỏ, xiêu vẹo, túp lều mà mười lăm năm về trước chàng đã thấy nằm núp dưới gốc cây gạo. Cho đến cả mảnh lưới nâu vắt phơi trên cái lao sặt, vại nước đặt trên khóm mía ở đầu nhà, mọi vật đối với ký ức chàng như đối với con mắt nhà mỹ thuật, một bức tranh sơn bỏ quên lâu năm trong xó tủ, bây giờ bỗng đem ra lau sạch bụi và treo lên tường.

Chiếc xe sắt đã trèo hết cái dốc đê và phăng phăng xuống bến để khiêng vào thuyền sang sông. Nguyên lững thững theo xuống. Nghe tiếng gầm gừ, chàng quay lại giật mình kinh ngạc: Con chó trắng bông dương cặp mắt thao láo dữ tợn nhìn chàng đi qua. Chàng nhớ lần trước chàng cũng thấy con chó bông trắng như hệt thế nằm bên khóm chuối kia gần đàn gà con đang bới đống rác bẩn tìm sâu. Chàng chau mày tự nhủ thầm: “Hình như ta đã để ở nơi này một kỷ niệm trong giây phút.”

a0678cc7-3c50-4896-8bb8-1fb693002648

Ý nghĩ ấy làm cho chàng bật cười. Nào phải bây giờ chàng mới có cái cảm tưởng, cái cảm giác như thế về dĩ vãng. Nhiều khi lần đầu bước chân vào một phòng khách lạ chàng chẳng thấy bàn ghế, đồ đạc bầy ở đó có nhiều quen thuộc, thân mật với chàng là gì?

– Mời ông xuống đò cho thuyền sang ngang. Chúng tôi ngồi chờ tê cả chân.

Ðương tò mò ngắm những xác vờ rải trắng trên làn cát ướt, nghe lời thúc giục, Nguyên quay lại. Trong chiếc thuyền nan, ngồi bên cái xe kéo, hai người đàn bà và một người đàn ông khoác áo tơi lá, gió thổi kêu lạt sạt. Và đứng ở đằng lái, lả lơi vịn vào con sào, một thiếu nữ óng ả, thon thon, tấm áo nâu đổi vai, hai vạt trước buộc gọn gàng ra phía sau lưng.

Nguyên bước lên thuyền trân trân nhìn cô lái, khiến cô bẽn lẽn cuối gằm mặt xuống, cắm sào xoay mũi, “Lạ! người này nữa! Ta cũng đã gặp rồi, mà gặp ở đây, ở bến đò này!”

– Cô vẫn chở đò ở đây?

Cô lái cho đó là một câu trêu ghẹo, bỡn cợt, nên lặng ngảnh trông đi, không đáp.

– Tôi nhớ mang máng lần trước tôi gặp cô cũng ở bến đò nầy, nhưng đã lâu lắm, đến hơn mười lăm năm rồi.

Tiếng cười rộ của bọn sang ngang làm cho Nguyên ngơ ngác:

– Mười lăm năm trước mà ông gặp chị Thà thì chị ấy đương chập chững tập đi.

– Ờ nhỉ!

Nguyên ngây người suy nghĩ “Ô! mình lẩn thẩn quá thực. Hồi đó, cô ta mới độ lên hai, lên ba!” Rồi chàng cũng cười theo. Nhưng chàng vẫn ngờ vực: “Chẳng lẽ mình mơ mộng đến thế được?” Một câu nói tiếp của một người đàn bà khiến chàng tỉnh ngộ:

– Mười lăm năm về trước thì họa chăng ông gặp bu chị Thà.

Người ấy quay ra nói chuyện với người ngồi bên:

– Chị Thà, chị ấy giống bu chị ấy như đúc.

Nguyên mỉm cười: “Phải, bu chị ấy. Có thế chứ, ta lầm sao được.” Chàng lấy làm tự phụ về trí nhớ của mình. Rồi chàng lại đăm đăm ngắm nghía cô lái đò: “Xinh xắn thế kia thảo hèn ta nhớ lâu, nếu quả thực người mẹ ngày xưa cũng đẹp như cô con ngày nay.”

Giữa lúc ấy anh sẩm cất tiếng hát. Cái giọng khàn khàn, đùng đục. Nguyên nhận thấy như đã rầu rãi nắng mưa, chẳng khác thanh sắt vứt lay vứt lắt, bị rỉ ăn luỗng từng chỗ. Nhưng cái giọng ấy, cũng vẫn cái giọng lần trước. “Hừ! chẳng lẽ anh sẩm này lại cũng là con anh sẩm ngày xưa.”

Anh mù ngửa mặt như nhìn qua đôi kính râm, đầu lắc lư, tay kéo nhị, há hốc miệng gào:

“Công cha như núi Thái Sơn, sữa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

Người đàn ông chừng một ngày mấy lần qua sông nên thuộc lòng câu sẩm chợ, ngồi đập chân xuống sàn thuyền gõ nhịp, môi mấp máy lẩm bẩm hát theo. Còn hai người đàn bà thì thản nhiên như chỉ có bọn họ trong thuyền, oang oang nói chuyện:

– Sợi nhà bà ngâm được mấy buổi?

– Sợi nhà tôi ngâm được bốn đêm.

– Ờ! khá đấy! Nhà bà tràng vốn nên ngâm được lâu.

Nguyên kinh ngạc. Mấy mẩu chuyện, lần trước chàng đã nghe thấy không thiếu không thừa, không sai một tiếng. “Thì ra dưới trời này mọi vật không bao giờ thay đổi.”

Anh sẩm hát: “Ba năm bú mớm…”

Nguyên ném một xu vào cái thau sắt tây thủng, rồi cúi xuống ngắm bóng mây trắng lướt theo con thuyền êm lặng, trên giòng nước trong xanh.

Bài Lưu Thủy của anh sẩm nhắc Nguyên biết rằng thuyền đã tới bến. Chàng mỉm cười vơ vẩn, lấy làm lạ rằng mình đã lắng tai nghe hết bài hát. Mọi lần ở các bến phà, hễ anh sẩm cất tiếng, là Nguyên vội đãi anh một, hai xu để xin anh ngồi im cho. Nhưng lần này, bài ca tầm thường đã gợi trong lòng chàng một mối cảm hoài man mác, và đưa chàng trở lại với thời xưa. Vì thế chàng đã im lặng để những câu hát vô vị chạy lướt qua trí nhớ như bóng mây lướt trên mặt nước im trong.

Nguyên trả cô lái năm xu, rồi toan nhảy lên bờ.

– Ấy, ông để cháu giữ thuyền cho chắc chắn đã, chẳng ngã.

Nguyên đứng dốn lại hỏi:

– Bến đò này ở nơi hiu quạnh lắm nhỉ?

– Vâng, ở đây buồn lắm. Nhưng được cái cách phố phủ có sáu, bẩy cây số.

Lúc ấy có một người đứng trên đường gọi:

– Thà ơi, mày đi hộ tao, để tao chở thuyền cho. Tiền đây này!

Người đàn ông quẩy gánh củ cải nặng, bước xuống nước, bảo Nguyên:

– Bu chị Thà đấy. Có phải người thầy gặp lần trước không?

Nguyên ngửng đầu lên nhìn: “Ừ, bu con giống nhau thực!”

Cô lái đò nghe nói, mủm mỉm cười, gọi mẹ:

– Bu ơi, tiền đò đây này, bu giữ lấy. Ông cho năm xu đấy.

Người đàn bà quần áo lôi thôi nhem nhuốc chạy vội lại:

– Cám ơn thầy.

Bác gánh củ cải bảo bà ta:

– Này bà, bà có nhận được ông nầy không?

Nguyên cười, cho câu hỏi ấy vô lý hết sức. Nhưng chàng kinh ngạc xiết bao, khi thấy người đàn bà đăm đăm nhìn mình rồi vui vẻ chào:

– Ồ chào thầy! Trông thầy vẫn thế nhỉ. Không già đi mấy.

Nguyên còn ngơ ngác cố nhớ lại thì người đàn bà đã nói tiếp:

– Ngày ấy thầy mặc áo tơi dạ, chứ không phải áo sơn này. Với lại cái “bao-ly” của thầy có quai mà to hơn nhiều, tôi xách lên bờ nặng sái cả cánh tay. Mà thầy vui tính lắm, nói đùa luôn mồm.

Nguyên đáp:

– Bây giờ già rồi, nên mất cả vui tính.

Thế rồi Nguyên lên xe. Cái xe gỗ lạch cạch lắc lư, nhảy trên con đường gồ ghề, lồi lõm, không mấy khi được hân hạnh có chiếc ô-tô qua lại. Nhưng Nguyên không thấy khó chịu như lúc ở quãng đường bên kia sông. Còn văng vẳng bên tai câu nói của người đàn bà chở đò: “Thầy mặc cái áo tơi dạ… cái bao-ly của thầy có quai.” Và chàng nghĩ thầm: “Sau mười lăm, mười sáu năm, người ấy còn nhớ mình mặc áo tơi dạ và cái va-li của mình có quai! Người ấy lại nhớ cả mình vui tính nữa.”

Chàng tưởng tượng – tưởng tượng chứ không phải nhớ vì chàng không còn nhớ – chàng tưởng tượng ngay ra một cảnh gặp gỡ ở bến đò, cuộc gặp gỡ giữa cô lái xinh tươi với ông khách có duyên qua bến và như nghe thấy tiếng cười ròn tan trong luồng gió lạnh, như nhìn thấy cái liếc mắt lẳng lơ đưa theo dịp chèo đập nước.

Rồi kẻ đi người ở. Tình vẫn man mác phảng phất như chút hương nhạt trong hai tâm hồn có lẽ không bao giờ gặp nhau.

“Cái áo tơi dạ của thầy… cái bao-ly có quai của thầy…”

Cùng với cảnh chuyến đò gặp gỡ, một cảnh khác hiện ra trong tưởng tượng. Cảnh chờ đợi, nhớ mong. Nguyên như được ngắm cô lái, một đêm trăng ngồi tựa gốc cây gạo nhìn xuống dòng nước mà gửi hồn ruổi theo người khách lạ. Qua khóm lau thưa, lấp ló ngọn lửa con thuyền đánh cá. Xa xa, tiếng chó sủa trong lũy tre âm u.

Rồi hình ảnh người qua đò một ngày một phai cho đến khi mười lăm năm sau, một hôm người ấy trở lại…

Trên đường đất gồ ghề, lồi lõm, chiếc xe sắt hục hặc nhảy chồm như con ngựa bất kham… Nhưng Nguyên vẫn yên lặng bình tĩnh theo giấc mộng liên miên…

Khái Hưng

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Lê Mạnh Thát và Thích Tuệ Sỹ – Hai Vị Thiền Sư. Phạm Công Thiện


Phạm Công Thiện

img_4952

Tuệ Sỹ (Ảnh: Hạnh Viên)

Tôi được may mắn quen biết Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát khi hai vị này còn rất trẻ và còn dưới hai mươi tuổi. Bây giờ hai vị đã được 45 tuổi (cả hai đều sinh năm 1943).

Lúc tôi quen biết hai vị thì hai vị hãy còn là những chú tiểu ở chùa; bây giờ thì hai vị đã trở thành hai vị Thiền sư lỗi lạc và lại cũng là Anh Hùng Dân Tộc của Lịch Sử Việt nam hiện đại. Tại sao “gọi là Anh Hùng Dân Tộc” thì rất dễ nhận thấy (mà cụ thể nhất là cái án tử hình về tội “phản cách mạng và bạo động vũ khí lật đổ chế độ”, vân vân).

Nhưng tại sao gọi Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ là “hai vị Thiền sư lỗi lạc nhất, thông minh nhất, uyên bác nhất, trong sạch nhất của Việt nam hiện nay”? “Thiền sư” à? Chỉ nội cái danh hiệu “thiền sư” đã là mệt rồi, lại còn thêm mấy chữ mơ hồ như “lỗi lạc nhất, thông minh nhất..”? Tôi muốn nói về Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát với tất cả thận trọng và suy nghĩ chín chắn cặn kẽ, và tôi xin chịu mọi trách nhiệm về cái nhìn khác thường của tôi đối với nhị vị.

Tại sao là “thiền sư”? Và “thiền sư”: Là thế nào? Không cần trả lời trực tiếp về những câu hỏi bất thường này. Nơi đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh đôi điều gián tiếp và ai muốn hiểu gì thì cứ hiểu. Không ai có thể tự nhận đủ thẩm quyền tôn giáo và tâm linh để trả lời dứt khoát những câu hỏi bất thường trên. Chỉ có những kẻ bỏ cả trọn đời mình lặng lẽ sống chết với cái gọi là “Bồ Ðề tâm” hay “Phát Bồ Ðề Tâm” thì may ra mới trực nhận đâu đó khí phách và thần dụng bảng lảng của “nghịch hành thiền”.

Mấy chữ “thiền sư” đã bị người ta lạm dụng để tự truy tặng một cách lố bịch hay truy tặng kẻ khác với nông nổi dễ dãi tự mãn phè phỡn nông cạn, nhất là từ lúc Thiền hay Zen trở thành cái mốt trí thức đốn mạt. Bất cứ người nào tỏ vẻ “kiêu ngạo khác thường” một chút là có những hành động cử chỉ “ngược đời trái đạo” một chút thì tự gán hay bị gán là “thiền sư’.

Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ không bao giờ tự nhận lời “thiền sư” và cũng không bao giờ nghĩ mình là cái gì cả trên mặt đất này. Hai người này chỉ là những kẻ lễ độ khiêm tốn một cách tự nhiên và không bao giờ biết giả vờ “hạ mình” với ý đồ kín đáo chà đạp lên trên kẻ khác.

Có sống bên cạnh Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát từ ngày này qua ngày khác, trong những hoàn cảnh khác nhau, thì mới may ra cảm nhận đôi chút tác phong thiền sư kín đáo toát ra một cách tự nhiên và một cách “vô công dụng hạnh” từ đời sống thường nhật và tinh thần “diệu nhập” của hai vị. Tôi xin gọi hai vị này là “thiền sư” với tất cả đắn đo thận trọng và với tất cả ý nghĩa cao đẹp và “như thực” của một danh xưng “xung thiên chí”…

Giữa dòng thác lũ ào ạt và địa chấn thường trực của sinh mệnh, thế mệnh, và tính mệnh của quê hương, một sớm hôm nào đó, tôi đã được xô đẩy lặn hụp với Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát; tất cả ba anh em chúng tôi đều xuất thân từ Viện Phật Học miền Trung mà vị cha già của chúng tôi Hòa Thượng Trí Thủ (người đã bị Cộng sản Hà Nội thủ tiêu ngay lập tức sau khi Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát bị bắt giam vào ngày 1 tháng 4 năm 1984, vì “tội tán thành, ủng hộ, che chở, đùm bọc hành động phản cách mạng, lật đổ chế độ Cộng sản”).

Ðối với tôi, từ lúc nào cho đến lúc nào thì Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát cũng như và hơn cả “những đứa em ruột thịt” (mang vị thế “đàn anh” thì chỉ thực sự là “anh” khi mình có đủ sức mạnh và sở kiến xô đẩy cho những đứa em vượt xa hơn mình, và sự thực hiện nay là Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát đã vượt xa hẳn tôi đến nghìn trùng biên tế trong việc cưu mang trọn vẹn Tính Mệnh Việt Nam mà hậu quả bi đát là cái án tử hình do Hà Nội tàn nhẫn thực hiện bao nhiêu lần đối với bao nhiêu bộ óc siêu việt và bao nhiêu Anh hùng Liệt sĩ bất khuất của Dân Tộc.)

Cả ba anh em đều lớn lên, trưởng thành và làm việc với Viện Ðại Học Vạn Hạnh mà chúng tôi coi như mái nhà gia đình trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa trắng; chúng tôi đều là thành phần chính yếu nhất của Ban Biên Tập Tạp chí Tư Tưởng do tôi chủ trương thành lập, cùng với Ngô Trọng Anh, Tuệ Sỹ, Trí Hải (Phùng Khánh), Chân Hạnh, Lê Mạnh Thát.

img_4954

Trí Siêu Lê Mạnh Thát 

Tất cả ý thức dẫn đạo cho cả Viện Ðại Học Vạn Hạnh là do chính tất cả anh em chúng tôi quyết định (vị Viện Trưởng đương thời chỉ có thế lực về mặt hành chánh quản trị đại học, còn tất cả đường hướng tư tưởng triết lý dẫn đạo đều do chúng tôi khai thông và thể hiện trong những năm từ 1966 đến 1970, sau đó, tôi xa lìa Việt Nam cho đến nay và tôi không còn biết rõ tinh thần Vạn Hạnh như thế nào từ 1970 cho đến khi bị Cộng sản đóng cửa vào khoảng sau năm 1975.

Thực sự từ những năm 1966 cho đến 1970, Lê Mạnh Thát đang còn du học tại Hoa Kỳ, học ban tiến sĩ tại Viện Ðại Học Wisconsin, Madison, hình như mãi đến năm 1973 mới về Ðại Học Vạn Hạnh nhưng chúng tôi vẫn liên lạc với nhau thường xuyên, nhất là qua bài vở của tạp chí Tư Tưởng.

Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát đều sinh năm 1943 (Thát sinh quán tại Quảng Trị và Tuệ Sỹ thì nguyên quán tại Quảng Bình và ra đời ở Paksé tại Lào). Tên thực của Tuệ Sỹ là Phạm Văn Thương và pháp hiệu Tuệ Sỹ do chính mình tự đặt ra, có lẽ vì muốn theo gương của vị Ðại Thiền sư đời Trần Tuệ Trung Thượng Sỹ? Cũng như Lê Mạnh Thát đã tự đặt pháp hiệu là Trí Siêu để gợi lại tên tuổi của hai vị Trưởng lão Thiền sư có tài và có đức nhất thời hiện đại?

Tuệ Sỹ và Trí Siêu đều tu ở chùa từ lúc rất bé nhỏ; cả hai đều rất giỏi chữ Hán, và rành chữ Pháp, chữ Anh, đọc hiểu chữ Ðức, đọc được chữ Pali và chữ Phạn (Lê Mạnh Thát cũng biết đôi chút chữ Tây Tạng); cả hai đều có kiến thức uyên bác về những kinh luận chính yếu của Phật giáo Nguyên Thủy và Ðại Thừa.

Ít có nhà Phật học nào ở Việt nam có thể am hiểu tường tận về tư tưởng Vasubandhu và cả tư tưởng Asanga cho bằng Lê Mạnh Thát; cũng như có ít người hiểu được tư tưởng Abhidharma (hệ thống phức tạp nhất của Phật giáo Nguyên Thủy) và tư tưởng Nagarjuna một cách sâu sắc cho bằng Tuệ Sỹ.

Chẳng những thế, Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ đều có kiến thức sâu rộng về Triết học Tây Phương (Tuệ Sỹ đọc rất kỹ Heiderrer và Michel Foucault; bài diễn thuyết đầu tiên về Michel Foucault tại Việt Nam dạo đó là do Tuệ Sỹ thuyết trình tại giảng đường Ðại Học Vạn Hạnh; còn Lê Mạnh Thát rất thông thạo về Marxism, đọc cặn kẽ bộ Recherches logiques của Husserl, hiểu biết rành rọt Wittgenstein và Bertrand Russell và Merleau-Ponty.

Tuệ Sỹ thì có tâm hồn thi sĩ chơi vơi, sống trọn vẹn trong thế giới nghệ thuật và thi ca, thổi sáo, chơi dương cầm, làm thơ, say mê thi sĩ Ðức Hoelderlin, đọc hết toàn tập đường thi ngay nguyên tác, viết một tác phẩm sâu sắc thơ mộng nhan đề “Tô Ðông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng”; còn Lê Mạnh Thát thì không biết làm thơ và chẳng hề để ý đến nghiên cứu văn chương nghệ thuật, mà chỉ say mê luận lý học, khoa học và toán học, nghiên cứu sâu rộng về kinh tế, chính trị, và quân sự nhất là lịch sử thế giới, đặc biệt nhất là lịch sử những cuộc cách mạng ở thế giới (trong thư viện của tôi ngày xưa tặng cho Phật Học Viện Nha Trang có bộ sách Révolution Russe của Trotski).

Hồi đó vào khoảng năm 1962 hay 1963, tôi thấy Lê Mạnh Thát thường mượn đi mượn lại bộ sách ấy. Lê Mạmh Thát rất nặng tính thực nghiệm duy lý khoa học. Tôi còn nhớ vào năm 1968, nhân dịp được US State Department mời qua thăm viếng một số trường đại học Hoa Kỳ, tôi có dịp gặp Lê Mạnh Thát tại Wisconsin và không ngờ đó là lần cuối cùng và mãi đến bây giờ là 20 năm rồi mà chúng tôi vẫn chưa gặp nhau lại; đêm cuối cùng ấy, chúng tôi đã thức suốt đêm nói chuyện, và Thát đã làm tôi tức cười một cách khó quên khi Thát đề nghị xử dụng computer để hệ thống hóa tư tưởng bao la của Bát Nhã Ba La Mật. Còn nói riêng về mặt lịch sử Phật giáo bộ Chân Nguyên toàn tập (2 cuốn) và bộ Sơ thảo Lịch Sử Phật giáo Việt Nam (mới in được 2 cuốn) của Lê Mạnh Thát là những sử liệu quý báu nhất chưa từng thấy xuất hiện tại Việt Nam từ cả thế kỷ nay.

Chính Thát là người đầu tiên đã phát hiện ra “Sáu Bức Thư” quan trọng ở thế kỷ thứ V ở Việt Nam giữa Ðạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu. Trong Nghiên Cứu Lịch Sử năm 1981 ở Việt Nam. Trần Văn Giầu đã trích dẫn tài liệu của Lê Mạnh Thát về “bằng chứng sáng tỏ của một số sinh hoạt văn hóa của nhân dân Giao Châu hồi thế kỷ thứ V… rằng sinh hoạt văn hóa đó đã phát triển đến một trình độ đáng tự hào, mang nhiều đặc sắc dân tộc, yêu nước. “cả một kho tàng chờ đợi chúng ta khai thác.”

Lý thuyết gia cộng sản Trần Văn Giầu đã tận lực khai thác sự phát hiện của Lê Mạnh Thát để xuyên tạc một cách ngu xuẩn tất cả nội dung tư tưởng cao siêu của Việt Nam ở vào thế kỷ thứ V. Cộng sản Việt Nam cũng sử dụng và khai thác triệt để những công trình nghiên cứu độc đáo của Lê Mạnh Thát về Nguyễn Trãi, nhân dịp UNESCO tổ chức kỷ niệm lần thứ 600 ngày sinh nhật của Nguyên Trãi. Ðiều này ít ai biết.

Nếu không bị giam từ ngày 1 tháng 4 năm 1984 thì chắc chắn Lê Mạnh Thát còn tiếp tục phát hiện biết bao điều bí ẩn dấu kín “đã chôn vùi trong bóng tối ngàn năm” như lời của Trần Văn Giầu nói về sự phát hiện tư liệu lịch sử về thế kỷ thứ V ở Việt Nam do Lê Mạnh Thát khai quật ra từ “Hoàng Minh Tập” và sau cùng mới đây khi Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ bị Hà Nội kết án tử hình thì đó chính là sự phát hiện lỗi lạc nhất của nhị vị để cho cả thế giới thấy rằng Cộng sản Việt Nam đã lạnh lùng tàn phá tiêu diệt tất cả những gì là tinh ba, là trí tuệ thượng đẳng tâm linh siêu việt của dân tộc.

Từ lúc hãy còn rất nhỏ cho tới lớn khôn trưởng thành, Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát đều sống một đời tu hành khắc khổ và trong sạch hoàn toàn, không bao giờ ham mê danh vọng thế tục, không bao giờ để ý đến địa vị xã hội và chẳng bao giờ biết đến tiền bạc lợi lộc cho chính bản thân.

Trong lòng nhị vị vẫn thường trực hừng hực thệ nguyện vô biên đến Giác ngộ vì lợi cho tất cả và giải thoát cho tất cả, mà bước đi hùng dũng đã dược thể hiện oanh liệt nhất hiện nay là dâng hiến cả sinh mệnh mình để giải phóng quê hương thoát khỏi cái chủ nghĩa ngu xuẩn nhất, tàn bạo nhất và vô minh nhất của thế kỷ XX.

Chúng ta chỉ đủ sức nhìn thấy được những Thiền sư đúng nghĩa mỗi khi nào chúng ta có đủ sức mạnh tâm linh để tự quên mình, cũng như Ðại sư Ðạo Cao đã dạy thống thiết trong sách “Sáu Bức Thư ở thế kỷ thứ V” mà Lê Mạnh Thát đã phát hiện cho toàn dân tộc:

“Nếu quên mình mà hết lòng thành thì tất có cảm và có cảm thì tất có thấy: không cảm thì không thấy. Thánh nhân đâu phải không thường ở với quần sinh, đâu phải là ta không thường thấy”.

Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ đã quên mình mà hết lòng thành thì tất nhiên nhị vị cảm được tất cả những đổ vỡ bi đát của quê hương và kiếp người: Hai người đã được hết tất cả tính mệnh của Việt Nam thì tất nhiên nhìn thấy được những gì vẫn giữ lại Việt tính, và họ đã lên đường trở thành những Ðạo sư dẫn đường cho cả dân tộc. Lúc Hà Nội kết án tử hình Tuệ Sỹ và Lê mạnh Thát hay bất cứ kẻ nào khác vô danh đã tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam thì chính Hà Nội đã kết án tử hình toàn thể dân tộc.

Khi mà toàn thể dân tộc Việt nam bị một chế độ tàn bạo kết án tử hình thì đó cũng là lúc chế độ ấy đang tự hủy diệt trong lòng địa chấn linh diệu của Ðại mệnh Việt Nam

Phạm Công Thiện
California ngày 18.10.1988

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

(Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam đã được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 18, in ngày chủ nhật 26/07/1936 tại Hà Nội)

Mùa hè năm nay, Tâm và vợ chàng về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê. Khi người bạn mời thì Tâm nhận lời ngay, vì chàng tính được chỗ nghỉ mát suốt một tháng hè không phải mất tiền, vả lại tiện hơn nữa, chàng có dịp về thăm nhà cũng ở gần đó.

Hôm ấy trời nắng mà có gió. Buổi sáng, ăn điểm tâm xong, hai vợ chồng Tâm bắc ghế ngồi ngoài hiên hưởng gió mát. Người bạn Tâm vì có việc phải ra tỉnh từ sớm. Tâm sực nhớ đến việc về thăm nhà, mà từ khi về nghỉ đến giờ, chàng cứ để lần lữa mãi. Chàng nói với vợ:

– Hôm nay thế nào tôi cũng phải về thăm nhà mới được.

Vợ đáp:

– Thế còn tôi, tôi làm gì cho hết ngày hôm nay? Ngồi đây mãi thì chán chết.

– Độ năm giờ chiều tôi đã về đây rồi.

Vợ Tâm nũng nịu:

– Thế thành ra suốt một ngày tôi ở đây một mình à? Cậu ích kỷ lắm, chỉ biết nghỉ đến công việc của cậu, mà không nghĩ đến tôi cả.

Tâm ngẫm nghĩ. Muốn chiều vợ chàng bàn:

– Hay là thế này thì tiện nhất. Mợ cùng đi với tôi. Đến ga, chúng ta rẽ vào cao lâu ăn cơm sáng. Rồi mợ đợi tôi ở đấy, tôi về thăm nhà độ một giờ, rồi tôi lại ra ngay.

Vợ chàng bằng lòng. Hai người đánh xe ô tô nhà đi đến nhà ga xe hỏa cách đấy độ một chục cây số. Đến nơi, hai người dạo chơi phố, rồi vào hàng cơm nghỉ.

Tâm bảo:

– Bây giờ mợ đợi tôi ở đây, tôi về thăm bà cụ.

– Phải đấy, nhưng đừng có ở lâu nhé. Cậu chớ quên rằng tôi đợi cậu ở đây đấy.

Tâm mặc áo đi ra, để vợ ngồi trong căn phòng mát mẻ ở hàng cơm. Chàng đi theo một con đường đất đỏ, hai bên toàn cây dâm bụt lá xanh thẳm.

Có đến năm, sáu năm nay, tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế riễu mình, khi còn nhỏ, đã có cái đời ở thôn quê là giản dị, và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bạch dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười.

Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải vượt qua để có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết! Có khi chàng nghĩ giận bà mẹ, vì bà mà chàng phải giấu diếm như thế.

thumbnail

Tuy vậy, khi đến gần đầu làng, Tâm trong lòng cũng thấy cảm động. Hai bên cánh đồng lúa xanh gió đưa như nổi sóng. Trên đường giải đá, mặt đất khô rắn lại và nứt nẻ nhiều chỗ. Tâm nhớ lại cái đất ấy đã làm đau đớn bàn chân non nớt của chàng khi còn nhỏ ngày ngày cắp sách đi học.

Một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai: Tâm ngửng đầu lên nhìn, chàng vừa đi vừa bước vào dưới vòm lá tre xanh trong ngõ. Mấy đứa trẻ nhà quê trần truồng và đen sạm đương chơi khăng ở vệ đường. Khi thấy chàng đi qua, chúng đưa những cặp mắt bẩn thỉu nhấp nháy nhìn, và chùi tay giây bùn vào bắp chân. Nghĩ đến thuở nhỏ, chàng cũng chỉ là một đứa bẩn thỉu như những đứa trẻ này, Tâm tự phụ vì mình bây giờ đã vượt hẳn được cái bực nghèo hèn ấy.

Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân đồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiến gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.

Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:

– Con đã về đấy ư?

– Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? – Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được, vì Tâm thấy cái lãnh đạm của mình.

– Bà ở đây một mình thôi à?

Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:

– Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.

– Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng. Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.

Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:

– Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. – Bà cụ yên lặng một lát. – Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.

Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.

Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:

– Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?

Tâm nhìn ra ngoài đáp:

– Như thường rồi. – Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:

– Ở làng có việc gì lạ không?

Bà cụ trả lời:

– Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm.

Có tiếng người đi ở ngoài vườn. Bà cụ ngừng lại: Có lẽ nó về đấy. Rồi bà cụ cất tiếng gọi:

– Trinh đấy phải không con? Vào đây, có cậu Tâm vừa về chơi.

Một thiếu nữ lách cửa liếp bước vào. Tâm trông ra thấy một cô gái quê ăn mặc giản dị, nhưng sạch sẽ. Đôi mắt Tâm gặp đôi mắt cô ta, đen láy, mở to nhìn chàng:

– Cậu Tâm đấy, con không nhớ ư?

Cô Trinh mỉm cười:

– Thưa, có ạ, ai chứ cậu Tâm thì quên thế nào được.

Hình như lỡ lời, cô thiếu nữ cúi mặt, hơi e lệ. Cái cử chỉ ấy, và lời nói đã không làm cho Tâm cảm động, lại làm cho chàng hơi ghét. Cô gái quê mùa tưởng chàng để ý đến chắc? Vì vậy, Tâm cất tiếng hỏi hơi sẵng:

– Thế nào, cô Trinh còn đợi gì mà không lấy chồng đi cho tôi ăn mừng.

Thấy thiếu nữ không trả lời, Tâm để ý nhìn. Chàng thấy cô ta không thay đổi, tuy có nhớn lên mà vẫn là cái cô bé chơi đùa với chàng thuở còn nhỏ. Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không thay đổi mấy, và tính tình vẫn giữ được y nguyên. Nhưng chàng, thì chàng thay đổi khác hẳn rồi. Những kỷ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa chàng và cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cái đời tối tăm nghèo khổ.

Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả.

Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.

Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy. Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:

– Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.

– Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm.

Tâm lại an ủi:

– Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.

Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:

– Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho.

Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.

Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra:

– Thôi, bà ở lại. Chào cô Trinh nhé. Bảo tôi có nhời hỏi thăm tất cả họ hàng.

Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận.

Khi Tâm bước vào hàng cơm, vợ chàng vui mừng lộ ra nét mặt, vì không ngờ chàng chóng thế. Trời hãy còn sớm. Hai vợ chồng rủ nhau đi ngắm cảnh, đợi đến chiều mát sẽ đi ô-tô về hứng gió.

Hai người đi quanh quẩn trong phố, nhìn những cửa hàng nước tiều tụy của ta và những hiệu lớn của người Khách. Mặt trời xế ngang chiếu ánh nắng lóe vào mắt, và giải vàng lên trên những mái nhà tranh. Chợ đã vãn: những người đàn bà gồng gánh sắp ra về, trên mặt đất đầy những rác bẩn, những vỏ dưa, những lá gói: một cái mùi âm ấm bốc lên, cái mùi đặc biệt, hình như lẫn mùi đất, mùi ẩm, và mùi rác đốt. Tâm nhớ lại rõ rệt những ngày trẻ.

Bỗng nhiên, Tâm giật lùi lại: Một bà cụ già khom lưng dựa bên một cô con gái, đi ra phía ga. Tâm nhận ra bà mẹ. Có lẽ bà cụ muốn được trông thấy con một lần nữa. Chắc bà tưởng Tâm đi xe hỏa. Chàng lộ vẻ khó chịu. Bà cụ còn ra đây làm gì? Tâm sợ lúc bà cụ lại khóc lóc, để cố giữ chàng lại. Hay nắm lấy áo chàng mà kể lể giữa chốn đông người. Chàng tưởng nghe thấy những câu bình phẩm to nhỏ, và trông thấy những cái mỉm cười chế riễu của mọi người. Vợ chàng sẽ nói thế nào?

– Thôi, chúng ta về ngay đi.

Tâm nói như người sốt ruột, giật cánh tay vợ rảo bước mau.

Đợi bà cụ đi khuất đầu phố, Tâm và vợ trở lại nhà hàng trả tiền, rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm ru bắt đầu lướt trên đất.

Khi đến chỗ quặt quá ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô con gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây, Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn mình.

Tâm không ngoảnh lại, chàng nghĩ đến bà mẹ, đến cô Trinh vẫn chơi đùa với chàng thuở nhỏ. Song những hình ảnh ấy như xa xăm lắm, và Tâm vẫn thấy dửng dưng không bận tâm trí. Giữa những kỷ niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản: xe ô tô, vợ chàng, cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ.

Phong cảnh đồng ruộng hai bên đường vùn vụt trốn lại sau như càng làm xa cách chàng với cảnh thôn quê cũ.

Thạch Lam

Tặng Phẩm Cho Em. Truyện ngắn Nhật Tuấn


Nhật Tuấn

(Nhà Văn Nhật Tuấn sinh năm 1942, mất ngày 06 tháng 10 năm 2015)

TÁC PHẨM CHÍNH:

-Trang 17 (tập truyện, 1978)
-Con chim biết chọn hạt (tập truyện, 1981)
-Bận rộn (tiểu thuyết, 1985)
-Mô hình và thực thể (tiểu thuyết, 1986)
-Lửa lạnh (tiểu thuyết, 1987)
-Biển bờ (tiểu thuyết, 1987)
-Tín hiệu của con người (tiểu thuyết, 1987)
-Đi về nơi hoang dã (tiểu thuyết, 1988)
-Niềm vui trần thế (tiểu thuyết, 1989)
-Những mảnh tình đã vỡ (tiểu thuyết, 1990)
-Quê nhà Quê người (chung với Nhật Tiến, 1994)
-Tặng phẩm cho em (tập truyện, 1995)
-Một cái chết thong thả (tập truyện, 1995)

***

Tặng Phẩm Cho Em

Truyện ngắn Nhật Tuấn

Người đàn ông ngồi cuối xe khóc lặng lẽ. Không ai nhìn thấy những giọt nước mắt đang làm nhòa cặp kính đen to tướng. Chiếc xe buýt chạy rất chậm. Con đường dọc theo những ngôi nhà nhiều tầng đang xây. Buổi chiều thu muộn trong veo làm rõ những đường gờ đỉnh núi lãng đãng mây trắng. Trên đó là vệt mòn chân thú chạy ngoằn ngoèo qua tầng lá mục. Những cây đại thụ cổ kính. Chú sóc nào đó nhởn nhơ và vô tư trên sợi dây leo đu đưa. Trên đó nữa là…bầu trời.

“Nó mới nói cuối năm hai đứa sẽ làm đám cưới”.

Cô gái nói bâng quơ bên tai người đàn ông mang kính đen. Trong xe, những người ngồi và những người đứng vẫn im lìm. Tiếng máy rù rì chảy dài trên đường. Bắt đầu lên dốc, người lái gạt cần chuyển số và bất ngờ lên tiếng:

“Chiếc xe này lẽ ra sáng nay chở khách về Hà Nội. Hôm trước nó mới xin tôi cho nó đi nhờ. Nhà chồng nó ở phố Bà Triệu phải không?”.

Không ai trả lời. Xe vẫn chạy rất chậm và lên cao dần. Chiều thu muộn trải ra mênh mông trên dòng sông quanh co. Ven bờ, những máy san màu vàng đang gạt đất, lầm lũi như con dế trũi. Xa hơn nữa những cánh tay cần trục đang quay trên những hàng giáo nhọn hoắt.

“Năm ngoái đã có một người ngã từ giàn giáo tầng năm xuống đất, chết ngay…”.

“Tại sao không đeo dây phòng hộ? Tại sao an toàn viên không kiểm tra? Tại sao…”.

Giọng gay gắt của một người ngồi đầu xe chìm vào tiếng động cơ rầm rì. Không ai trả lời ông ta. Mắt mọi người dường như đang nhìn xuống.

Người đàn ông dừng khóc, đưa khăn tay lau kính. Cô gái ngồi bên nói rất khẽ:

“Ông ấy mới trên tổng công đoàn xuống. Ông ấy đã hỏi rất nhiều câu “tại sao” mà không ai trả lời được”.

“Rồi sẽ phải trả lời. Tại tôi, tại các anh hay tại nó?”.

“Ồ…không đâu. Đã có nhiều chuyện xảy ra không quy được tại ai cả”.

Cô gái nghĩ một điều gì đó, chợt trừng mắt:

“Nhưng rút cuộc, vẫn do một người nào đó chứ”.

“Tôi không biết. Tôi không được biết chuyện đó”.

“Nó hiền như đất ấy. Nó sợ tất cả mọi người. Bố chết, mẹ đi lấy chồng từ khi nó còn bé. Nó ở thuê cho người ta rồi lớn lên, đi công trường”.

Ngưòi đàn ông quay đi và lại khóc trong cặp kính. Xe buýt đi vào thung lũng, không còn nhà cao tầng, không còn cần trục, không còn giàn giáo. Phía trước, những nếp nhà sàn nằm nép mình trong lùm cây xanh tươi. Đường máng nước mảnh khảnh đổ xuống từ sườn núi. Chiếc cối cổ xưa nặng nhọc kéo cần và tự rơi buồn bã. Một con trâu đen bỗng nhô ra từ bụi rậm. Nó nhìn ngây ngô, chớp chớp đôi mắt ướt nhoèn và nhảy quàng lên đồi. Tiếng lục lạc trên cổ lóc cóc điểm vào không gian ngưng đọng.

Sau đó, người đàn ông ngồi cuối xe không còn nhìn thấy gì nữa, ngọai trừ cặp mắt kính đen nhòa nước.

Cô gái ngồi bên nhìn thấy những gương mặt căng thẳng. Tất cả mọi người đều đang nghĩ. Trong giây phút này, không ai là không nghĩ một điều gì đó.

Nguời có tuổi đứng giữa xe nghĩ về trách nhiệm của mình. “Tôi đã đôn đốc thực hiện mọi quy tắc. Tất nhiên, là giám đốc tôi không thể đi lay từng cái cột giáo xem có chắc chắn hay là không”.

Chàng kỹ sư ngồi đầu xe nghĩ về cái “ngày hôm ấy. Thật là may, ngay từ đầu giờ, mình đã đến giao việc tỉ mỉ, đầy đủ cho bà đội trưởng”.

Bà đội trưởng đang âm thầm ngồi ở gần cửa xe. Hai hôm nay, bà luôn luôn cảm thấy bị nhìn bằng những con mắt kết tội.

“Các đồng chí kết tội tôi sao được? Tôi không thể chờ phòng vật tư cấp cho tôi gỗ tốt hơn để làn giàn giáo. Ai cho phép tôi chờ? Tiến độ là cái cao hơn hết thảy. Thành tích của chúng tôi ở đó. Trong hàng trăm cây gỗ, làm sao biết đuợc cây nào đã mục ruỗng ở bên trong? Không ai có thể biết được. Năm nay, đội tôi mất danh hiệu đội lao động xã hội chủ nghĩa là cái chắc. Nhưng cái đó đâu phải tại tôi…”.

Vậy ai là người phải chịu trách nhiệm về nó trong tất cả những gương mặt căng thẳng kia? Ông giám đốc,anh kỹ sư hay bà đội trưởng? Không, không ai cả. Thế còn ông thư ký công đoàn đang trầm tư và ông trưởng phòng tổ chức đang nhìn xuống cuốn sổ ghi chép kia? Cũng không phải nốt. Thôi thì …tại trời.

Nhưng ông trời cũng đã chết từ lâu rồi, chết trong từng mỗi nguời. Trong chuyến xe này, không có ai còn tin cái điều nhảm nhí nói rằng có một ông trời ở trên cao và ở cả trong từng mỗi con nguời. Đó là một bày đặt nhảm nhí, mê tín, dị đoan. Tít trên cao kia có con tàu vũ trụ và sâu mãi trong ta chỉ có ta mà thôi. Và những “cái ta” ấy đều đã sắp sẵn một cung cách tự bào chữa một khi bị hỏi tới trách nhiệm về nó.

Riêng người lái xe, từ nãy vẫn chăm chú nhìn con đường, nghĩ về những chiếc ổ gà sẽ phải tránh, chợt quay lại hỏi to:

“Cái thằng chồng sắp cưới của nó có lên kịp không hả các ông?”.

“Có biết đâu mà lên”.

“Tại sao ông không điện cho người ta?”.

“Nó chưa xin giấy chứng nhận để làm giá thú. Trong lý lịch, nó cũng chưa khai tình trạng hôn nhân. Vậy hà cớ gì phải đánh điện?”.

Rồi ông trưởng phòng tổ chức nói thật to cho mọi người đều nghe thấy:

“Trong mục “Khi cần báo tin cho ai” nó cũng không khai ai cả”.

Người lái xe lại hỏi tiếp:

“Vậy ai sẽ lĩnh tiền tuất? Tài sản của nó sẽ thuộc về ai?”.

Bà tài vụ ngồi ghế trên cùng trả lời rành rọt:

“Không ai được lĩnh tiền tuất cả. Tài sản của nó sẽ bán hóa giá nhập công quỹ. Ngay sau cái lúc đó, chúng tôi đã cử người phối hợp với công đoàn làm bản kiểm kê. Một cái hòm gỗ, hai bộ quần áo, một chăn bông vỏ hoa, một cái gương con và một cái chậu thau”.

Bà tài vụ quay xuống nhìn ông giám đốc và yên tâm về câu trả lời của mình, bà trở lại vẻ mặt rầu rĩ cần thiết.

Trong buổi chiều thu êm đềm chiếc xe buýt chạy rất chậm. Nó đã đi hết đọan đường lớn trải nhựa chạy qua công trường. Nó đã leo đường dốc sang bên kia dãy núi. Nó đang đi vào thung sâu để đến một nơi mà mọi người đều nóng lòng muốn đến: nghĩa trang.

Lẽ ra sáng nay nó chở cô ấy về phố Bà Triệu gặp chồng sắp cưới. Bây giờ nó đang chạy rất chậm theo sau chiếc xe tải chở cô ấy. Đó là đọan đường đi xe cuối cùng của một cô gái công trường. Nhưng lần này, cô không mang theo chiếc hòm gỗ tùy thân chứa đựng tất cả gia tài góp nhóp được sau bao chuyến đi qua các công trường.

Trong chuyến di chuyển này, cô chỉ mang theo chiếc hòm gỗ dài, chứa đựng hình hài của chính cô.

***

Cô nằm trong đó, chiếc quan tài màu đỏ xung quanh đặt những vòng hoa rừng sặc sỡ. Hoa bằng lăng tím ngát, hoa mò o đỏ tươi, hoa tóc tiên vàng dịu. Không tìm được đâu ra bông hoa màu trắng để biểu thị sự trinh nguyên của cô…

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình – đó là lỗi tự thiên nhiên.

Chiếc xe tải đi rất chậm rất chậm cũng không sao tránh hết được những lồi lõm mặt đường. Mỗi lần ổ gà, chiếc quan tài giật nảy, gõ vào thùng xe, gõ vào đầu anh lái, gõ vào chiều thu mênh mông. Con đường, con đường – xin đừng gồ ghề cho cô được nằm yên để đi cho hết đọan cuối cùng. Phađin… Cam Đuờng… Trái Hút…

Những chặng đường cầm mòn cán cuốc, người con gái công trường không bao giờ còn vần chiếc hòm gỗ lên những chuyến xe di chuyển, không bao giờ còn thức dậy trong tiếng kẻng thúc vào giấc ngủ chập chờn, không bao giờ còn bịt khăn vuông kín mặt chống che nắng gió. Màu da cô, thân xác cô sắp được ấp ủ trong lòng đất kín.

Chiếc xe tải đi rất chậm, rất chậm. Đã nhìn thấy màu đất đỏ bãi san sườn núi dùng làm nghĩa địa.

”Ngát ơi..Ngát ơi…”.

Tiếng kêu than níu kéo thảng thốt chấn động trời chiều. Một cô gái ngồi trên xe tải chợt ôm cứng lấy chiếc quan tài đỏ. Đó là người duy nhất phá bỏ tập tục, chít vành khăn đại tang để trở bạn. Suốt dọc đường, cô ngồi bên thùng xe như hóa đá. Đôi mắt cạn khô và vô tri. Dường như cô không còn nhìn cái gì nữa. Cô chỉ thấy ở bên trong cô “cái Ngát”. Nó đấy. Miệng cười mơ hồ, ánh mắt xa xăm, thân quen lắm và cũng xa lạ nhiều.

“Ngát ơi, có đau lắm không?”.

“Không đau đâu, chỉ thấy tối sầm lại rồi có còn biết gì nữa đâu…”.

“Tại cái xô đấy. Lúc giàn gíáo đổ xuống, cái xô úp lên đầu Ngát, hai trăm viên gạch đè lên người Ngát. Rồi thì… thôi, đừng nhắc lại chuyện ấy nữa. Không có cái chuyện ấy đâu. Ngát không chui xuống giàn giáo để gánh nước đâu, cái xô vẫn treo ở đầu hồi đấy. Ngát về Hà Nội với anh Uyên rồi. Vài ba hôm nữa Ngát lại lên, đúng không?”.

“Không đúng đâu…”.

“Đúng đấy, hôm nào Ngát lên, mình phải đi dỡ sắn đấy. Tháng này mỗi người phải trừ một cân gạo tiết kiệm. Cả năm phải cắt đi một tháng đấy. Mình chẳng sợ Ngát nhỉ. Mình đã thái và phơi đuợc ngót một yến sắn khô rồi. Chẳng đói đuợc đâu mà lo. Mình lại còn vạt khoai lang đằng sau nhà kho nữa à… Ngát này, con gà mái tơ sáng nay nó đẻ đấy. Trứng to lắm. Tớ đã cất vào thùng gạo rồi. Chả mấy chốc mà đủ một chục. Dành cả cho Ngát bồi dưỡng anh Uyên đấy. Phấn khởi nhé. Dậy đi…”.

“Không dậy được đâu…”.

“Tháng hai này hai đứa có bảy công tăng ca đấy. Dành cả tiền cho Ngát để mua lụa cung cấp nhé. Về Hà Nội đi chơi với người yêu mà cứ diện mãi quần ta tăng cũ chẳng sợ người ta cười cho. Còn tiền bán đỗ xanh thì để cuối năm Ngát làm đám cưới nhé. Lo cho cô đến vậy, mai kia cô mải chồng quên tôi, mất chị mất em thì đừng có trách. Dậy đi, anh Uyên anh ấy ở Hà Nội về kìa…”.

“ ….”

“Giời ơi… Ngát đâu rồi. Ngát đi đâu thế này. Đêm nay Ngát ngủ đâu. Ngày mai, ngày kia… Ối Ngát ơi là Ngát ơi…”.

Cô gái òa khóc và kể lể. Chiếc quan tài giật nảy trong vòng tay cô khi chiếc xe tải dừng sững lại. Xe buýt cũng vừa tới nơi. Nghĩa trang là một vạt đất do xe ủi san bằng ven sườn núi. Màu đất đỏ, ráng chiều đỏ. Những hàng cây trang nghiêm. Những con bướm trắng bay chập chờn. Tất cả mọi người đều đã xuống xe và vây quanh chiếc áo quan đang được buộc dây.

Ông giám đốc ra lệnh khẽ:

“Nhanh tay lên…”.

Đám ma đi trong sương chiều, tiếng khóc và những bước chân bấm trên mặt đất trơn lầy. Huyệt mộ đã được đào sẵn. Những búi cỏ giập nát đã chớm héo vàng. Người đàn ông mang kính đen đứng lẫn vào đám người xung quanh huyệt. Hai sợi dây ni lông trắng chầm chậm đưa xuống chiếc quan tài đỏ. Từ đâu đó, anh cán bộ nhân sự bước ra cầm mảnh giấy đọc những lời điếu viết sẵn. Trong im lặng nặng trĩu, giọng anh khê nặc và trầm bổng.

“Cô Phạm Thị Ngát sinh năm 1960, bố chết, từ nhỏ ở với mẹ, năm mười lăm tuổi theo tiếng gọi của đoàn và của đảng, cô xung phong đi làm công nhân công trường…”.

Người đàn ông khóc nức lên sau cặp kính. Cổ ông tắc nghẹn trong lúc chính ông muốn ông phải nói: “Không đúng, không đúng đâu. Bố “nó” không chết. Bố “nó” còn sống đấy. Tôi đã im lặng từ hai mươi năm nay và cho tới bây giờ tôi vẫn còn im lặng”. Ông ta chới với níu cong xuống một cành cây gần đó.

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình, đó là lỗi tự con người.

“Hãy biến đau thương thành hành động. Hãy ra sức thi đua hoàn thành kế họach của tổng công ty giao cho. Phút mặc niệm bắt đầu…”.

Cô ấy sắp đi hẳn rồi. Đi về đâu em ơi? Về những nếp nhà sàn có chiếc cối nước rơi buồn bã. Về ngôi nhà đang xây với cánh tay cần trục quay tròn trên hàng giáo nhọn hoắt. Đi về đâu em ơi? Về đỉnh núi có chú sóc nhỏ vô tư hay về bầu trời mây trắng lãng đãng. Không ai biết, không ai có thể biết được. Cái điều huyền bí ấy là của riêng em, là tặng phẩm duy nhất em mang theo được cho một đời nỗ lực.

Những hòn đất đỏ đã rơi xuống rồi. Ngôi mộ đầy lên và sau cùng người ta đặt lên đó một bát cơm và một quả trứng bửa đôi. Gió đưa khói hương bốc lên cao và tan đi mất.

Một cánh bướm chập chọang trong nhá nhem tối. Hai chiếc ô tô nổ máy trở về công trường.

Người đàn ông mang kính đen ngồi bên ngôi mộ mới. Ông còn ngồi lại làm gì? Người con gái do chính ông sinh ra và ông đã chối từ cho tới tận lúc nó chết chỉ vì sự bình yên cho chức quyền của riêng ông, đâu còn nói được những lời tha thứ nữa…

Và ông cầu xin ai?

Nhật Tuấn

(Nguồn: Khai Phóng)

Đêm Quỳnh. Thơ Hư Vô


Đêm Quỳnh

Anh nín thở chờ em khoe da thịt
Đêm tượng hình ngào ngạt một dung nhan
Phủi áo lụa quỳnh phơi vào lưng nguyệt
Cho mái tóc dài còn biết nghênh ngang

Sương đọng tình xanh xao trên chồi lạ
Nước mắt theo em xa lắc cuộc đời
Dáng xuân thì nhung vai gầy chiếc lá
Anh bàng hoàng trăng vàng đá trên môi.

Còn nghe lời vô ngôn đang thổn thức
Mưa dọc đường ướt từng hạt trăm năm
Em cúi xuống chân trần chưa chấm đất
Đêm vặn mình dìu bóng tối khoả thân.

Lá xanh đâu che giáp vườn con gái
Áp sát môi nhau rụng trắng lối quỳnh
Sáng thức dậy còn nghe hương tóc rối
Trôi bềnh bồng ngang một nhánh phù sinh…

Hư Vô

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Gió Bấc Lạnh Lùng. Tùy bút của Tường Bách


Tường Bách

(Tùy bút của nhà văn Tường Bách đã được đăng lần đầu trên báo Ngày Nay số 1, in tại Hà Nội ngày 30/01/1935.)

Tiểu sử Cụ Nguyễn Tường Bách

Tốt nghiệp bác sĩ năm 1946, cùng thời với Bác Sĩ Ninh (Viện Việt Học), Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàng (cùng lãnh đại Đại Việt Quốc Dân Đảng với GS Nguyễn Ngọc Huy). Trước năm 1946, Pháp không công nhận bằng bác sĩ cho người Việt mà chỉ gọi họ là y sĩ.

Là con út tư trong một gia đình bẩy anh chị em: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), và Nguyễn Tường Bách.

Tác phẩm đã xuất bản:

Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn, truyện dài
Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua, hồi ký
40 Năm Sống Ở Trung Quốc, hồi ký

Ngày Nay

Mùa đông đã đem lại cho ta cái cảnh gió bấc mưa phùn trong những ngày âm-u thảm đạm. Những cánh bàng xơ xác, những chiếc lá rụng rắc đỏ trên đường phố, với những buổi sáng sương mù xuống bao bọc cả thành phố Hà Nội trên các nóc nhà đỏ và các rặng cây còn xanh tươi, gieo vào lòng người một nỗi buồn thoáng qua nhưng sâu xa, thắm thía.

Nhưng mùa đông cũng đem lại cái thi vị và những cái thú vui riêng, mà chỉ trong ngày lạnh lẽo, người ta mới hiểu rõ hết được. Những làn gió thoáng trên các vườn, phảng phất đưa đến mùi hương thanh đạm của bao thứ hoa vừa nở, của những hoa cẩm chướng hay vạn thọ nhiều sắc rực rỡ, và nhất là của những hoa cúc mềm mại như lụa hay những cành đào vừa hé nụ cười điểm màu tươi lộng lẫy trên nền trời u-ám. Mà cảnh đông lạnh lẽo thật đáng nên thơ cho những người muốn tìm lấy cảm giác hay.

Một buổi sáng, trong bộ quần áo ấm, điếu thuốc lá ngậm trên môi, hai tay đút túi, ta dạo quanh bờ hồ Tây để ngắm cảnh sương mù nhẹ lan trên mặt nước bao la, che phủ cả những xóm xa xa thấp thoáng ở chân trời. Lúc đó, những cơn gió lạnh vụt thổi xào xạc qua cành lá gợi bao cảm giác mơ màng trong tâm hồn thơ của nhà thi sĩ nếu ta là thi sĩ.

Những thú vị của mùa đông lại càng rõ rệt hơn đối với hạng người phong lưu, nhàn nhã, không phải lo âu về vật chất. Trong khi ngoài đường gió bấc đưa những giọt mưa bay đập tí tách vào cửa kính, người ta thích quây quần trong những gian phòng ấm áp bên cái lò sưởi than hồng vui cháy, bên cạnh một bàn tổ tôm hay bên cạnh cái bàn đèn đầy mới là tuyệt nhất. Những lúc ấy người ta mới cảm thấy rõ rệt cái hạnh phúc không gì bằng của gia đình.

Mùa đông tới, người ta vẫn thản nhiên sung sướng vui chơi. Vài chiếc lá bàng rụng đủ là một dịp cho trái gái Hà-thành phối phang quần áo rét. Như thế cũng hay, vì ta được ngắm những cô tân thời yểu điệu trong bộ quần áo mới kiểu Lemur bằng len mùi dịu với cái khăn san phất phơ theo chiều gió cùng mấy sợi tóc vấn vương.

0011-2

Năm nay, nhiều khi ta thấy được những ngày nắng ấm, khô ráo thỉnh thoảng nhẹ bay qua một cơn gió hây hẩy mát. Đây là những tháng ngày thích nhất trong cả năm, vì người ta thấy trong lòng hăng hái, hăng hái làm việc hay ăn chơi. Nhất là ăn chơi.

Sau khi dạo chơi quanh các phố để ngắm các cô tiểu thư lộng lẫy trong cảnh rực rỡ, huy hoàng, hay đi mấy bài trong các dancing tưng bừng đàn hát, tiết trời êm ái, hơi lành lạnh như dục người quây quần bên cái bàn đèn ấm cúng hay mua một “đêm- ái -tình” tuỳ ý. Mùa đông đối với hạng thượng lưu thực là vui vẻ nhất, vì đã đem lại cho họ bao nhiêu thú vui mua được. Nhưng hơn thế nữa, mùa đông là mùa của ái tình, vì theo câu thơ của Bán than:

“Mùa đông gió bấc lạnh lùng
Gợi tình lắm cậu, dục tình lắm cô…”

Nên trong ba tháng mùa đông có biết bao nhiêu là đám cưới! Trong ba tháng ấy, biết bao là hạnh phúc đã xây dựng lên. Những xác pháo đỏ nằm rải rác trên thềm, những con lợn quay vàng với những chiếc ô tô hòm kết hoa trắng, gợi cho ta mơ tưởng tới cái diễm phúc đầy thi vị của đôi vợ chồng mới cưới giữa lúc gió đập vi vút vào cửa sổ và sương mù xuống bao tỏa những khóm cây xanh. Nhưng nếu những bông cúc mềm mại và những dò thủy tình xinh xắn phảng phất cái hương vị của ngày Tết tưng bừng hớn hở để mừng cuộc ái ân đằm thắm, thì cũng nhắc cho ta rằng sắp tới mùa xuân nặng nề ướt át.

*

Người phong lưu trông các mùa qua bằng con mắt thân- nhiên, không những thế, họ coi như là một sự thay đổi cần phải có, vì đối với họ, trời cứ nóng hay lạnh mãi, thì còn thú vị gì nữa? Vì họ chỉ biết cái lạnh thoáng qua trên những toà nhà cao, tường dây cửa kín, chứ chưa từng biết cái lạnh căm căm buốt đến tận xương trong những gian nhà tranh lụp sụp, trống hở tứ tung và chốc chốc lại rung động theo luồng gió. Mà các cô thiếu nữ xinh tươi nơi thành thị, xin lỗi các cô – có rõ đâu nỗi khổ của những cô gái quê cao váy, mờ sáng đã phải đi tát nước hay cấy lúa, dưới những cơn gió bấc thổi vù vù trên ruộng đầy nước.

Phải đứng trên cánh đồng bát ngát, nghe tiếng gió đập xào xạc vào nhưng bụi cây khô, mới hiểu rõ nỗi buồn vô cùng của những ngày đông u ám.

*

Ngay ở Hà Nội, sống trong cảnh đầy đủ, lộng lẫy, xa hoa, ta không bao giờ để ý đến một số đông người co ro với mảnh áo rách, ngày, đêm lang thang vất vưởng trong cảnh rực rỡ, nguy nga của thành phố để ngắm nhìn cái sung sướng, vui vẻ của người khác. Những buổi tối lạnh lẽo, mưa bay, ta thấy họ tránh nấp dưới mái hiên những toà nhà đồ sộ và thỉnh thoảng ghé mắt nhìn vào trong gian phòng ấm cúng, đầy những hạnh phúc gia đình mà họ không bao giờ được hưởng. Rồi khi đường phố đã vắng, họ đi tìm chỗ ngủ với một manh chiếu trên các bực cửa, dưới gầm cầu hay trong cổng những đền, chùa. Vào khoảng 9-10 giờ trở đi, ở nhiều phố – phố hàng Than chẳng hạn – người ta thấy những bọn ăn mày, những đứa trẻ mồ côi, những người nghèo khổ kiếm công ăn việc làm, mà vì nhiều lẽ không muốn vào Dạ Lữ hay Tế Bần Viện – co quắp nằm thành những đống thịt lù lù dưới ánh đèn điện lạnh lẽo.

Mùa đông đến đem lại cho họ những nỗi lo sợ, buồn rầu – không phải nỗi lo sợ, buồn rầu nên thơ của nhà thi sĩ, mà là nỗi lo sợ thiết thực, lo sợ những hạt mưa phùn ném lạnh qua làn áo mỏng và lo sợ những cơn lạnh buốt đến tận xương.

Và đối với họ, mùa đông hẳn là không có thú vị.

Tường Bách

Bùi Giáng – Người Thi Sĩ chối bỏ Thi Ca. Tạ Tỵ


Tạ Tỵ

Bùi Giáng và thủ bút

Sinh ngày: 17-12-1926 tại Quảng Nam

Tác phẩm:
1. Lá hoa cồn (Thơ)
2. Thi ca tư tưởng (Đi vào cõi thơ), Nhà xuất bản An Tiêm, 1969
3. Sa mạc phát tiết (Thơ), Nhà xuất bản An Tiêm, 1969
4. Martin Heidegger (Vấn đề căn bản của Siêu hình học), Nhà xuất bản Võ Tánh, 1969
5. Mùa thu trong thi ca (Tư tưởng và thơ), Nhà xuất bản An Tiêm, 1970
6. Sa mạc trường ca (Thơ), Nhà xuất bản An Tiêm, 1970
7. Ngày tháng ngao du, Nhà xuất bản An Tiêm, 1971

…..

Bùi Giáng (trung niên thi sĩ), thuở còn bé, ham đọc thơ. Bỏ học về nhà quê chăn trâu. Làm thật nhiều thơ, thân tặng chuồn chuồn và châu chấu.

Bùi Giáng đã tự giới thiệu với dòng chữ trên, được in ở mép bìa tập thơ Sa mạc phát tiết do nhà An Tiêm xuất bản năm 1969. Lời giới thiệu đó cũng là ý hướng tỏ bày quan niệm về chiều hướng thi ca của thi sĩ. Cõi sống này không làm gì còn ai, có ai biết và hiểu thơ nữa, nên người thơ đành gửi tinh hoa, huyết lệ mình cho đám côn trùng đồng nội! Mỉa mai thay, Bùi Giáng! Đi già nửa vòng đời với gần 30 năm đọc sách, làm thơ, để hôm nay nói lên lời cay độc! Bùi Giáng đã sử dụng cái tinh thể của ngôn ngữ để đạt tới thượng đỉnh của suy nghĩ, nhưng không cần ai biết suy nghĩ đó để làm gì? Thơ với Bùi Giáng, đích thực không phải cứu cánh, chỉ được thực hiện nhằm giải tỏa ám ảnh về thân phận trong vòng đai cuộc sống nhiều băn khoăn với ý thức siêu hình. Cái sa-mạc-cõi-đời-thế-giới-hôm-nay đầy ngụy trang, bất trắc. Nó u tối như vùng địa ngục, nếu không, cũng rừng rú man rợ, hỗn loạn trước mắt nhìn thi sĩ.

Bùi Giáng – người thơ, không ở trong trạng thái bình thường cả tâm hồn lẫn nghệ thuật. Sự đòi hỏi về mình, cho mình cái tuyệt đối trong sáng tạo là yếu tố căn bản cho mỗi cá nhân làm văn học, nghệ thuật. Tuyệt đối, con người từ vạn cổ đã đi tìm tuyệt đối. Nhưng tuyệt đối cũng như chân lý, chúng không phải vật thể để con người có thể dùng mắt nhìn, dùng tay sờ, dùng trực giác phán đoán và phân tích chúng qua suy luận. Tuyệt đối là vô hình, vô ảnh. Nó sống do mơ ước, cũng chết theo mơ ước! Cũng chính vì con người ham tìm tuyệt đối nên mới nảy sinh tiến bộ. Cái tuyệt đối biến mất, và trở thành tương đối lúc con người tưởng rằng đã tới nó. Vậy, cái điều thi nhân mơ ước giữa cõi Thơ, đi tìm tuyệt đối trong tư tưởng, ngôn ngữ, mãi mãi chỉ là thất bại! Điều này, khi luận về chữ “Đạo” Lão Tử đã nói:

…”Có một cái nó bao gồm hết thảy, nó sinh ra trước khi có Trời có Đất. Nó yên tĩnh biết bao! Nó trơ trọi biết bao! Nó đứng một mình và không thay đổi. Nó hồi chuyển về bản thể của nó không một chút nguy hại và nó là Mẹ của Vũ Trụ. Ta không biết tên nó, nên gọi nó là “Hành Lộ” là “Đường Đi”(the Path). Miễn cưỡng ta gọi nó là “Vô Cùng Tận” (the Infinite). Vô Cùng Tận là Phù Du (Fleeting); Phù Du là Tiêu Tán (the Vanishing); Tiêu Tán là Phản Hồi (the Reverting). Đạo ở “Thông Lộ” (Passage) hơn ở trong “Hành Lộ” (Path). Nó là tinh thần của “Vũ Trụ Biến Hóa”, – sự sinh trưởng không ngừng luôn luôn quay trở về bản thể để sinh sản ra những hình thức mới. Nó cuộn mình lại như rồng, biểu tượng sở thích của môn đồ Đạo gia. Nó cuốn lại và tỏa ra như mây. Có thể ví Đạo như cuộc Biến Thiên Vĩ Đại. Theo chủ quan, nó là khí chất của Vũ Trụ. Tuyệt Đối của nó là Tương Đối…

(Trà đạo – Tiểu luận, trang 53-54, Okakura Kakuzo, Bảo Sơn dịch)

Thơ có phải là Đạo? Không, thơ không phải là Đạo nhưng nó sinh hoạt tương tự như Đạo, nghĩa là nó cũng đi tìm cái biến thiên vĩ đại trong cõi mông lung Trời Đất. Nó đi tìm niềm Tin trong mắt nhìn, hồn nghĩ. Cái niềm Tin đó không lệ thuộc vào nguyên tắc hay giáo lý của Đạo Pháp mà nó phiêu phiêu giữa ý thức của cá nhân, trong cái Nhìn và cái Nghĩ về Vũ Trụ đối chiếu với bản-thể-đời-sống. Người thơ vừa đóng vai Giáo Chủ vừa làm tín đồ ngoan đạo. Thơ, tiếng nói siêu ngôn ngữ. Cái giá trị mỹ cảm của nó, không lệ thuộc vào sự thẩm xét có tính cách thông thường mà thuộc về cái-gì-bền-bỉ và cao-đẹp-nhất của con người trong địa hạt suy tưởng. Thơ, không phải là cơ hội giải trí, nó có tính cách sùng mộ. Trong thi ca, cái đẹp không nhất thiết phải có Chân, có Thiện. Nó được quan niệm rộng rãi hơn, tự do hơn và vượt trên những thứ đó. Bởi vậy, sự dấn thân của thi nhân không phải để giành về phần mình những đặc ân, mà chính để ban phát đặc ân cho kẻ khác, còn mình chỉ thâu nhận khổ đau, khắc nghiệt.

Nói vậy, không hàm chứa ý nghĩa tuyệt đối của mỗi số phận thi nhân ở môi trường thi ca, mà nhằm tỏ bày ý niệm. Bùi Giáng, người làm thơ đã chối bỏ thi ca vì đã nhìn rõ cái mong manh của ngôn ngữ trước Định Mệnh và cõi Siêu Hình. Có lẽ, vì chịu ảnh hưởng quá nhiều các triết thuyết Tây phương và gần đây của Đông phương, nhất là giáo lý Phật giáo, nên người thơ đã đánh mất bản ngã, để chịu giày vò trong “vòng quay” của các nhà đại-tư-tưởng cả Đông lẫn Tây, làm cho ngơ ngác. Nhưng ác thay, cũng nhớ nó, để có vóc dáng đặc biệt Bùi Giáng hôm nay:

… Chân nhân đời xưa đưa ra một “chủ thuyết” nào đó, đều có như là tình phi đắc dĩ? Chẳng đừng được mà phải nói. Nói ra, mà vẫn có chỗ như là chẳng muốn nói ra.

Chẳng đừng được mà phải nói tới nhân nghĩa, lễ nghĩa, như Khổng Tử. Chẳng đừng được mà phải nói bỏ nhân nghĩa, lễ nghĩa đi, như Lão Tử. Chẳng đừng được mà viết Tề Vật Luận, như Trang Tử. Trang Tử thường dùng phép “Chi ngôn”, ấy là bởi ông đứng ngay giữa cơn lốc của sự tình bất đắc dĩ: muốn gác bỏ chuyện thị phi, mà vẫn cứ bị bó buộc phải nêu mãi chuyện thị phi…

… Sau ba cái khối Khổng, Lão, Trang, tư tưởng Trung Hoa đã đi vào phiên nhiên trong cung bậc Đường Thi. Rồi nó kết tinh trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Kiều là chỗ dung hợp của Khổng, Lão, Trang và Phật.

Người tư tưởng sẽ không còn dám viết gì về tư tưởng nữa. Trang Tử tái sinh sẽ nghĩ sao về cuốn Nam Hoa Kinh của ông? Ông sẽ viết một bộ Tân Nam Hoa Kinh, hay là ông hồn nhiên ngâm câu thơ Hồ Dzếnh?

“Thơ về nắng sáng lừng bay
Gấp đi ánh phượng cho ngày rạng ra”.
Hoặc câu thơ của Xuân Diệu:

“Trưa hôm nay con ngồi như trẻ nhỏ
Giữa đáy trưa trong lòng mẹ vô cùng.
Con là sáo mẹ là ngàn vạn gió
Mẹ là trời con là hạt sương rung
Sương uống mãi chẳng bao giờ hết sáng
Của trời cao chói lọi mỗi triều ngày
Sáo ca mãi lòng tre run choáng váng
Gió vẫn đầy ngàn nội bốn phương bay”

Thơ như thế là cái chốn của “tâm vô thố hồ thị phi, hưu hồ thiên quân.

(Thi ca tư tưởng)

Chính vì say mê triết thuyết này nọ, nên Bùi Giáng bị ám ảnh đến nỗi nghi hoặc cả thi ca và càng lúc, càng đưa thi ca vào vùng trời u mặc để cười giỡn cho vui, vì đời là chiêm bao cả! Cái Có, cái Không, cái Còn, cái Mất hàm trong tinh thể của Tạo Hóa mà sức người không có cách nào làm cho lay động! Đúng, Bùi Giáng đã đi vào chiêm bao giữa cuộc sống vì cuộc sống vừa khủng khiếp vừa nên thơ, con người không thể dùng luận lý để biện minh phải trái. Nhưng dù nói gì mặc lòng, đích thực Bùi Giáng bị cái hàng rào triết học bủa vây thật chặt chẽ. Giả dụ, Bùi Giáng không đọc sách Triết, hoặc chú trọng tới vấn đề Siêu hình mà chỉ làm thơ thôi, chắc thơ Bùi Giáng không mang sắc thái độc đáo với tinh thần u mặc thâm thúy của Lão Tử, kèm theo đấy, nào Platon (triết gia Hy Lạp, môn đồ của Socrate và là thầy của Aristote), nào Parménide, Nietzsche, Dylan Thomas, Rilke, Hoelderlin, Baudelaire, v.v. là những khuôn mặt lớn của Tư Tưởng và Thi Ca Thế Giới để chứng tỏ khả năng hiểu biết của mình. Đôi lúc, người thơ cũng bị lôi cuốn vào khung trời quái dị qua hình ảnh “thiên tài đày đọa” Edgar Allan Poe, người đã có những tưởng tượng dị thường với cái nhìn ma quỷ, luôn luôn bị ám ảnh bởi các “thiên thần kỳ quái” trong kích thước văn nghệ quốc tế.

Thơ Bùi Giáng súc tích, chứa đựng nhiều u uẩn. Cái khung trời sáng láng, hiền hậu, chan hòa mơ ước phiêu bồng của buổi nào xa xôi, vẫn thấp thoáng hiện về trong thi nhân qua những vần điệu:

Rồi mai đi về xứ nào chẳng biết
Đỗ quang ôi và có lẽ quyên ôi
Đi lìa xa xứ sở của mặt trời
Thì chuyện cũ cũng như từng chưa biết…

Ngày mai, ôi! ngày mai khi con người lìa xa cuộc thế, khi mắt đã nhắm không còn nhìn thấy mặt trời cùng người quen, kẻ lạ, thì còn nói làm chi cũ, mới? Cái chết nào đó chết biết từ đâu tới làm mờ mịt cõi nhân gian! Nó làm người đi quên hết, quên “dấu tiên sa” và “đông tàn thu gãy”, cả chút tình Đông Á cũng trôi vào về xứ nào mù thẳm, nhưng xin em, người yêu dấu, còn ở lại cõi đời cứ nô đùa, cười vui như chuyện qua rồi:

Tôi chẳng rõ cội nguồn tôi ly biệt
Dấu tiên sa và ngấn tích tiên nga
Bờ dạt bèo hay bến lạnh trôi hoa
Ngày ngóng mộng hay đêm chờ máu chảy
Xuân thơ dại hay đông tàn thu gãy
Chút tình xưa Đông Á mất đâu rồi

Rồi mai đi về xứ nào chẳng biết
Những người em hãy ở lại bên đời
Nô hay đùa xin cứ mỉm hai môi…

(Sa mạc phát tiết)

Sự đi, ở tùy số mệnh, nhưng người thơ sở dĩ phải nói ra để chứng tỏ, mình đã sẵn sàng chờ đón nó, không hề sợ hãi. Vì thế mỗi lời nói, mỗi chữ viết, mỗi ý nghĩ tuy cay đắng, nhưng vô cùng thành thực. Sống và chết, hai vấn đề cùng chung định lý: có sinh phải có tử. Vì ý thức rõ ràng, nên người thơ thung dung tỏ bày tâm sự:

“Thưa em rượu uống bây giờ
Là trăm năm gục hai bờ tử sinh…”

“Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình…”

“Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma…”

“Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận trường…”

(Sa mạc phát tiết, Rượu uống)

Bài “Rượu uống” hàm chứa một ý tình tuy can đảm, nhưng quả thực thê lương. Nếu đời sống chỉ được sinh ra để chờ đợi cái chết, chắc chẳng còn ai muốn có mặt ở cõi đời này cho mệt xác. Mọi cuộc đua tranh, mọi cố gắng để làm cho cuộc sống mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn cũng là thừa. Nhưng may mắn thay, cái tinh thần hoài nghi và bi quan ấy không phải là giáo điều cho mỗi kiếp người. Nó chỉ được phát sinh trong một cảnh huống, một trạng thái bất thường của cá nhân thi sĩ. Có thể nó bi quan, yếm thế và người thơ cấu tạo cũng nhằm mục đích tác động riêng mình bằng buồn đau, giận hờn cho khuây khỏa xót thương. Sự chấp nhận hay không, thuộc quyền người thưởng ngoạn.

Con người cô đơn, mãi mãi cô đơn vì mỗi con người, tự nó đã là điều xa lạ. Chính vì mặc cảm cô đơn nên con người cảm thấy nhỏ bé trước rộng lớn của Vũ Trụ. Sự hiện hữu nào đó, có nghĩa gì đối với Sa-Mạc-Hư-vô? Con người sợ Hư Vô, nhưng vẫn muốn tìm hiểu Hư Vô là cái gì mà khiếp đảm thế? Con người phải dùng đến suy luận để giải đoán băn khoăn qua môn học Siêu Hình. Đã bao nhiêu thế kỷ, qua nhiều công khó tìm tòi nghiên cứu mong đem lại một định nghĩa rõ ràng, để ấn định minh bạch cương vị con người và linh hồn trước Vũ Trụ. Nhưng cho tới nay, hình như các nhà đại-tư-tưởng vẫn chỉ đưa ra những nguyên cớ siêu hình mà chưa đạt tới cái tinh thể siêu hình tức là giá trị tâm linh và chu kỳ con người trước Hư-Không-Tuyệt-Đối. Bởi vậy, Bùi Giáng khuyên mọi người đừng nói làm gì đến giao hưởng, đến Tồn Tại và Hư Vô. Bận tâm làm gì cái Nếp Gấp Siêu Hình “bất khả tư nghị” trong Sein und Zeit, trong Holzwege hoặc trong Der Satz vom Grund. Sống trong cái cõi “tư lự dị thường đó” mệt lắm! Nó trừu tượng quá. Nó bao trùm mọi sinh hoạt tâm tư và ngoại giới, ngay cả ngôn ngữ nữa. Cái sa mạc Chân-Không-Tịch-Mịch chắn ngang tầm suy nghĩ đã có đủ những đau đớn rồi đó. Ngay cả Heidegger, một trong những triết gia đã cấu tạo nên triết thuyết Hiện Sinh, một nhà Đại-Tư-Tưởng chẳng những của Đức Quốc mà còn của thế giới nữa, người đã mở ra được một chân trời siêu hình rộng rãi nhất, nhưng từ xa, con người u mê đứng ngắm mãi vẫn chẳng thấy vóc dáng mình đâu! Bùi Giáng cũng đề cập đến vấn đề căn bản của Siêu Hình Học qua Heidegger mà người thơ đã chịu ảnh hưởng nhiều trong ý hướng thi ca. Điều này, trái ngược hẳn với Nguyên Sa, học Triết và dạy Triết, nhưng làm thơ rất trữ tình, không để lộ chút gì dính dấp giữa thi ca và triết học. Có lẽ Nguyên Sa đã quan niệm rõ ràng, mục đích của triết học là đi tìm cái nguyên nhân đầu tiên còn nghệ thuật là sáng tạo và phát huy chăng?

Bùi Giáng đi vào trời Thơ như một trận hiện diện dị thường trong khiếm diện, gây nên một tình tự vừa hoang vắng vừa chan hòa, một khuyết phạp thường hằng lại để mọc ra sum suê những lá cây viên mãn cứ xô ùa nhau đụng mãi:

Hồn tại thể tan lìa trong điệu ấy
Vâng là rằng không ấy phủ mây xuân
Núi bất tuyệt mưa đầu truông phượng dậy
Bước lên miền lũng thẳm bạch dương thân
Cỏ phát tiết bờ khơi sông dẫn sóng
Biển lên trời đầu ngọn mở nghe chim
Đất từ tạ Lam Kiều ngân nguyệt vọng
Nắm xuân xanh về giữa tối khuya tìm…

Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng đi vào cõi suy tưởng. Ở đấy, người thơ như bị cấu xé giữa Thực và Mộng. Tiếng thơ buồn bay lang thang trong vòm cong trí tuệ để bất chợt vượt thoát ra khỏi kiềm tỏa tung vào quỹ đạo dự ước, trong tâm cảm người thơ. Giữa cái say sưa vô độ, linh hồn bay lả lả, ngất ngất trong cõi rộng rinh ảo tưởng. Nó là một tư lường không định trước. Từ một khắc khoải đơn sơ đi vào thênh thang mộng mị đầy hào quang diễm lệ:

… Khung cảnh hẹp tờ bay trong mấy ngón
Chết là gieo vàng lộn mấy phen rồi
Sầu nhan sắc đèn lay trong mấy ngọn
Đến năm sau chờ buổi trước không lời
Nhưng màu lá nhớ màu cây đầu ngõ
Thị thành vui gì sắp sửa sang đèo
Gió khuyến khích trong dập dồn hiểm họa
Hồn thu phong trường kiếm dựng cho bèo…

(Sa mạc phát tiết, Phát tiết)

Cuộc sống là trò chơi, thay đổi bất tường trong mỗi giờ phút, nhan sắc chỉ là hư ảnh, cũng như dấu bèo in trên mặt nước làm uổng đi cái khí phách “thu phong trường kiếm”. Chết là gieo vàng, là luân hồi tiền kiếp mấy phen rồi sinh tử? Vì:

Con chim sầu tuyết băng nguồn
Mở heo hút cỏ phơi truồng đá xanh
Trên vòm thời đại đi quanh
Rách quần quỹ đạo tan vành nguyệt hoa…

(Sa mạc phát tiết)

Bùi Giáng đã thấy rõ thân phận mình với chu kỳ góp mặt và thấp thoáng cõi hư vô mở rộng bát ngát làm choáng váng mặt mày. Để chứng minh sự có đấy, Bùi Giáng luôn luôn đòi hỏi về phần mình cái nguyên cớ đầu tiên của lẽ sinh tồn, giữa vũ trụ thuần nhất, bất khả phân, bất biến của Aristote. Cái cõi vô hình, vô ảnh nó làm thi nhân cảm thấy thương thật đấy, nhưng nó là vùng sa-mạc-hoang-liêu chẳng ngào ngạt hương hoa và chất ngất mến thương. Giữa ý nghĩ mơ hồ của tiềm thức, chợt nở lên đóa hoa tâm ý: tình yêu và thương tiếc, cả hai vòng tử sinh quấn quít, như tinh thể giao hòa cùng bản thể giữa vòm trời hiền hậu:

Vì ảo mộng ở chân mình đi tới
Bước chân trời muôn hướng gọi mây xanh
Nên mùa nọ đường nằm canh ngõ lội
Đến tìm nhau ở dưới bóng thiên tài

Em gục khóc, em mỉm cười với mộng
Với môi răng và khóe hạnh mày ngài
Với dáng dấp tuổi rằm trăng lay động
Sầu nguyên tiêu tư lự nước trôi dài…

(Sa mạc phát tiết, Dặm mòn, LHC)

Tự cổ, mối sầu có cùng với bao niềm ăn năn vì đã trót làm kiếp thi nhân. Con người đi từ cuộc sống vào chiêm bao hay trái lại, nhưng trong địa hạt thi ca đích thực con người đi tìm đau khổ và thất bại! Cái vùng trời Siêu-Thoát, cái Sa-Mạc-Hư-Không mà người thơ thong dong bước vào, mong tìm thấy chân lý, chao ôi! nào ngờ phải gặp lại tiền kiếp hoang vu, cùng với bàng hoàng, điên điên tỉnh tỉnh, mập mờ không phân định. Nó là Vô Thường đó! Một khi đối diện với nó, ở trong nó rồi thì không còn chi thắc mắc, không còn gì thiết tha, ân cần, vồ vập.

… Nếu giả sử mùa xuân thu lại căn cơ thiết lập mọi cuộc cơn tồn sinh tồn hoạt, thì cái sự vụ bàn hư luận tới nó, có thật là thập phân tầm phào lẩn thẩn? Không còn dâu biển thì mất luôn cả trường sinh tử diệt phù du? Mọi mọi mất hết cả, thì còn lại riêng một cái chi? Mọi mọi mất đi, chẳng lẽ duy chỉ còn riêng Cô Em Mọi Nhỏ? Hỡi ôi!…

(Mùa thu trong thi ca)

Bùi Giáng đi vào thơ, luôn luôn đeo bên mình niềm ám ảnh của thần học để giãy giụa trong đó với băn khoăn, tuy trong thâm tâm, một thoáng nào đó, cũng muốn buông xuôi cho nhẹ nợ. Bùi Giáng đối thoại với Nietzsche, Sophocole, Parménide, Khổng Tử, Lão Tử, Sartre, Camus, v.v. lại còn trò chuyện với Brigitte Bardot, với Marylin Monroe, cô đào chiếu bóng đã tự tử ở bên trời Mỹ quốc năm nào, và cô em Mọi nhỏ cùng “Phùng Khánh mẫu thân” nữa:

… Nhiều người hỏi tôi có quả Phùng Khánh đã có đẻ tôi ra đời chăng. Bà đẻ tôi ra lúc nào?

Sự thật là Phùng Khánh chẳng hề có đẻ ra tôi một phen nào cả. Tôi nay bốn mươi bốn tuổi đầu. Phùng Khánh chỉ mới hai mươi sáu tuổi. Làm sao một thiếu nữ hai mươi sáu tuổi lại có thể đẻ ra một ông cụ luống tuổi bốn mươi bốn, bốn mươi lăm?…

… Thế thì bởi đâu Phùng Khánh lại là mẫu thân của tôi mặc dù bà không đẻ ra tôi? Ấy là bởi cái đường tơ luận lý học như thế này: Phùng Khánh vốn là bà mẹ Việt Nam. Vậy tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, thì chẳng ra tôi là người nào? Hoặc người Cao Miên. Hoặc con dân Âu Mỹ ư?… Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ của loài người. Tôi là con người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải là con người? Chẳng ra tôi là con vật?

Phân tích nghiêm mật luận lý học ra như thế, rành rành Phùng Khánh là Mẹ của tôi.

… Mỗi khi tôi mơ màng nghĩ tới dung nghi diễm lệ Phùng Khánh thì dòng thơ bát ngát lại tuôn ra ào ào. Vậy thì hiển nhiên tài của tôi là do liên tồn Phùng Khánh đẻ ra vậy…

(Thi ca tư tưởng)

Người thơ đã sử dụng luận lý học để giải thích về “mẫu thân Phùng Khánh”. Nó thật hay đùa? Nó là chiêm bao hay thực tại? Nó là sự mất thăng bằng trí não hay công việc thuần túy của luận lý học? Sự vụ này lạc quan hay bi quan? Là thất bại hay hy vọng? Dù nó là gì đi nữa, ít nhất, thi sĩ cũng đưa ra một mẫu người để bấu víu vào mà lý luận qua thi ca cho đỡ buồn, cũng như Nietzsche đã dùng Zarathoustra để khai triển thuyết siêu nhân và ý lực của quyền uy, qua tập văn vần trong khung trời triết học Tây phương. Mục đích và giá trị tuy khác nhau nhưng ý hướng là một.

Có người cho rằng, Bùi Giáng lập dị. Có người nói, vì mất thăng bằng trí não nên thi nhân mới nảy sinh ý nghĩ bất bình thường qua ngôn ngữ thi ca. Bệnh hoạn, điều may mắn hay bất hạnh cho mỗi con người làm văn học, nghệ thuật? Nếu không vì bệnh hoạn, làm sao Hàn Mặc Tử có thể chuốt sáng trời thơ Việt Nam qua ngôn ngữ thống thiết, nghẹn ngào. Tiếng thơ Hàn Mặc Tử kêu khóc không thôi từ mấy chục năm rồi đó! Cái vừng trăng lạnh lẽo mơ hồ lần quanh trái đất với chu kỳ đều đặn kia, đã dìm chết thi hào Lý Bạch dưới đáy nước đêm nào với cơn say chưa dứt. Nó còn làm thể xác Hàn Mặc Tử đớn đau đến tột độ, mỗi lần nó “lên ngôi” nên tự đáy lòng người thơ bật lên vần điệu vừa ghê rợn vừa nguy nga:

Gió rít từng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan tành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra…

(Say trăng, Hàn Mặc Tử)

Và thi nhân đã hơn một lần, xin chị Hằng tha thứ cho bàn tay tội lỗi của mình đã kẻ lên trăng những ngôn từ si mê, cuồng dại! Cái khuôn mặt xanh xao ấy, tạo nên bao nhiêu mộng mơ cho kiếp làm thơ? Vùng ánh sáng mát dịu chảy từ trời cao đối với thi nhân là mơ, là mộng, là nguồn yêu thương vô lượng. Giữa cõi thinh không mù khơi, dòng Ngân Hà xa xôi quá, các vì tinh tú lạnh lẽo quá, không làm cõi nhân gian ấm áp hằng đêm, chỉ có vầng trăng treo lơ lửng với bí mật quyến rũ qua trí tưởng tượng của thi nhân mà thôi. Nhưng đau thay, khoa học đã làm trăng mất hẳn nét thiêng liêng từ khi có bàn chân nhân thế bước chậm chạp trên thân thể chị Hằng và còn để lại dấu tích đến bao lâu nữa?…

Bích Khê cũng vì bệnh lao, tạo nên tập Tinh huyết. Phạm Hầu, họa sĩ kiêm thi sĩ, chết vì bệnh thần kinh tại nhà thương Vôi (Bắc Giang) cách đây mấy chục năm, cũng để lại ít bài thơ bất hủ. Vậy, bệnh hoạn đâu phải là một đọa đày toàn diện cho mỗi số phận tài hoa? Cái thân xác đầy tội lỗi, nhơ nhớp có đáng gì, mà phải quan tâm. Người thơ bước trên mặt trái đất nhưng tâm hồn bay bổng giữa thinh không. Một khung trời sáng tạo chói lói có muôn vạn ánh hào quang rực rỡ – vì mặt trời thì bị nhân gian hãm giữa trái tim – để rọi vào hố thẳm nhân gian từng ý nghĩ tuyệt vời, diễm lệ. Bùi Giáng làm thơ, nhưng chẳng bao giờ thừa nhận thi ca là lẽ sống duy nhất của đời mình. Người thơ coi kiếp sống như một hiện hữu bất đắc dĩ, nên làm thơ cho khuây khỏa ám ảnh, cái ám ảnh thực sâu đậm, bi thương giữa cõi đời hỗn mang và suy tưởng thuần khiết. Bùi Giáng cho rằng, con người đã đánh mất cái nghĩa thiêng liêng của nó rồi. Nó không còn linh hồn nữa. Nó được chỉ huy và phán xét bằng ước lệ. Nó tàn nhẫn, độc ác ngay với chính nó. Thời đại hôm nay đã in đậm vết tích rừng rú với hổ, báo, heo, v.v, Con người biến thành dã nhân tự bao giờ chẳng biết! Bùi Giáng thoát hồn vào ảo giác để nhận ra sự thật:

Trần gian rộng rộng hơn nhiều nữa
Mênh mông hơn và bát ngát mây hơn
Thì thua kém hay so le tàn úa
Thì thế thôi giới luật cũng phiêu bồng
Một mây chiều nguyệt có khổ buồn không?

(Mùa thu trong thi ca, Vì như vậy)

Thua kém, so le, tàn úa cũng vậy cả thôi. Cái phù du mệnh số đi song hàng với rộng rộng trần gian thì con người lấy gì để cưỡng chống, lấy gì để sinh tồn qua kiếp trăm năm? Và Thượng Đế kia, Đấng Tối Cao, Tối Linh mà con người hằng kính cẩn, liệu có còn giữ nguyên tín mộ?

Hỏi: Tại sao các hạ tin rằng có Thượng Đế?

Đáp: Bởi vì nếu không tin là có, ắt phải tin rằng không có, mà hễ tin là không có, ắt thời gian phong cảnh sẽ hoang liêu. Mọi “dưỡng chất trần gian” ắt sẽ do sa mạc cung cấp làm sao chịu đựng nổi sự tình đó? Uống một chai la-de, mà nghĩ rằng đó là của cải do hư vô ban cho, thì hỡi ôi! Làm sao còn sum suê uống ăn nhậu nhẹt thơ mộng được nữa. Tuy nhiên…

Hỏi: Tuy nhiên thế nào?

Đáp: Tuy nhiên tại hạ thỉnh thoảng cũng đánh mất Thượng Đế.

Hỏi: Thỉnh thoảng đánh mất như thế nào?

Đáp: Như trường hợp chán chường một cách đột ngột không còn muốn uống la-de.

Hỏi: Hoặc như thế nào nữa?

Đáp: Hoặc như trường hợp đọc sách vũ hiệp tới chương kết thúc.

Hỏi: Vì sao như thế?

Đáp: Vì kết thúc, thì tức nhiên là chấm dứt hết mọi miền cõi liên tồn. Còn biết lấy đâu mà đeo đuổi chiêm bao được nữa. Hỡi ơi! Đến sách vũ hiệp mà cũng kết thúc, thì Trời Xanh Thượng Đế cũng thi đua nhau tử vong, tiêu tán tuốt hết cả ngấn tích di hài…

(Mùa thu trong thi ca, Vấn đáp)

Hình như, không cách nào Bùi Giáng kinh qua được cái gốc suy luận về Siêu Hình. Luôn luôn người thơ đặt cho mình mối băn khoăn về cái Còn, cái Mất. Đi từ vật thể qua tinh thể đến khách thể rồi chủ thể, sự gì cũng tiêu tan trước Hư Không làm người thơ chán mỏi:

Bây giờ ai biết hỏi ai
Dù lòng biển rộng sông dài thênh thênh…

Cái cõi thơ trinh nguyên, đôn hậu mà tự cổ các thi nhân thường nhìn vào đấy, coi như cứu cánh, nó đã xa vời, chìm khuất. Bùi Giáng thường gặp mình, giữa hồn mình. Cô đơn và cô đơn trước bạt ngàn vướng mắc. Mảnh trời xanh kia, trái đất hệ lụy này và kiếp sống bọt bèo như mối vấn vương làm người thơ khắc khoải, trốn mình trong đường mòn suy tưởng. Nhưng suy tưởng chỉ dẫn vào tuyệt lộ trước Hư Vô. Sợ quá, người thơ ôm đầu nức nở. Những mơ ước nào đó, những khát vọng rồ dại nào đó, cũng chỉ để đi tới đỉnh nhọn của chán chường! Nào có gì đâu? Nào còn gì đâu? Một chu kỳ ngắn ngủi, một góp mặt vô danh, một ganh đua vô ích. Trời thì lãng quên, Đất lại vô tình. Ta hiện hữu hay ta thừa thãi cùng nghĩa, vì cát bụi lại trở về cát bụi! Thơ Bùi Giáng, có nhiều bài đọc nghe vui vui, nhưng nếu tìm hiểu sâu xa, phân tích kỹ, nó vẫn chứa đựng trọn vẹn những nỗi niềm bi đát: nào tình yêu vọng tưởng qua vóc dáng mẫu thân Phùng Khánh, nào “dồn nén” qua nuồng Mọi Cao Nguyên, với vú đồi căng mộng Monroe, Bardot, v.v. Không biết cái tình này có nằm trong diễn trình Phân Tâm Học của Freud không? Nó là “Es” (Bản Ngã) qua “Ich” (Cá Ngã)? Nó đã được Ueberich (Thượng Ngã) kiểm soát chưa?

Người con gái lội qua khe
Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau
Bàn chân với nước cùng nhau lại đè.

(Sa mạc phát tiết, Bàn chân với nước, LH)

Thơ Bùi Giáng mang nhiều ẩn dụ ở chiều sâu ngôn ngữ. Lời thơ tuy đơn sơ, ý thơ tuy thanh thoát, nhưng tâm trạng chắc gì xuôi mái? Thư gửi nương tử Monroe là hình thức u mặc hay chứa chấp mối ẩn ức?

Ngày nương tử còn bình sinh cuộc sống, tại hạ vốn có phen một đôi lần đôi lúc nằm ngủ chiêm bao thấy nương tử ghé về thăm nước Việt. Nương tử đưa bàn tay mềm mại nắm lấy cái hình hài xương xẩu của tại hạ, rồi ẵm bổng tại hạ ở trong lòng lộng bát ngát vô biên của liên tồn nương tử… Trong lúc nằm khoanh tròn ở trong lòng nương tử, tại hạ có sờ nhè nhẹ (sẹ sẹ) vào chỗ rốn của nương tử, thì cảm thấy một mối sung sướng siêu phàm. Nhưng mà bỗng nhiên lúc bấy giờ nương tử thét lên tiếng “Chao ôi! Nhột quá, nhột quá”. Đồng thời nương tử vung hai cánh tay, thì tại hạ té lăn nhào xuống đất, giữa một thửa ruộng bùn lầy…

(Mùa thu trong thi ca)

Lá thư viết với ý nghĩ thật ngộ nghĩnh. Bùi Giáng viết đùa, nhưng cũng có phần thực nằm trong dục tính của thi nhân. Bùi Giáng đùa qua triết học, đùa với nhiều nhân vật siêu phàm chứ chẳng riêng gì nàng Monroe. Có khác, ở mỗi người, thi nhân đùa mỗi cách. Đây có lẽ, một phương pháp dùng để tạm trốn mình chốc lát vì suy nghĩ và làm thơ khổ quá!

Bùi Giáng làm nhiều thứ thơ lắm. Ngoài thơ Việt, còn thơ Pháp và Anh cũng như chữ Nho viết bằng quốc ngữ nữa. Có thể nói, không thi sĩ nào làm nhiều thơ bằng Bùi Giáng. Nhiều ở đây, không phải tất cả, cũng không có nghĩa toàn bích, mà chỉ để chứng minh sức sáng tạo rất phong phú của thi nhân. Cái cõi thơ đích thực Bùi Giáng hằng nguyện cầu và mơ ước nó vẫn mênh mang dâu bể, bát ngát ở đầu bến Mê, với bóng dáng chàng nghệ sĩ phiêu đãng Gaugin:

Ngài đã gặp tượng đá kia của đá
Một hoàng hôn hồn lữ thứ tiêu tao
Ngài đã thử trao cho ngàn cây lá
Gọi chim bay về mỉm miệng cười chào
Ngài đã định một lần kia thư thả
Dưới trăng rằm vô định tuyệt tăm hơi
Mở ngọn cỏ tìm vết chân hội họa
Giấu quan san liều một trận không lời
Ngài bắt gặp một lần kia xứ lạ
Nước mênh mông hồ hải mộng xanh trời
Ngài đã vạch một ngân hà óng ả
Cho tinh kỳ du ngoạn giữa kim bôi
Và tinh sương thấp thoáng lấp chôn rồi…

(Sa mạc phát tiết)

Gaugin (1848-1903), nhà danh họa thuộc phái Dã Thú (Fauvisme) đã bỏ nước Pháp qua đảo Tahiti để làm hội họa. Gaugin kẻ đam mê chẳng những màu sắc, còn ma túy và tình yêu nhục thể. Gaugin, nghệ sĩ trên nghệ sĩ, dấn thân để tìm về cho mình chân trời sáng tạo mới và cuối cùng đã bất tử trong địa hạt nghệ thuật tạo hình thế giới. Người thơ cũng muốn làm cuộc lãng du để mong gặp được chân trời mới trong trí tưởng, nhưng ở cương vị của người thơ bé nhỏ và hiền lành trước cuộc sống Việt Nam, đành gửi hồn qua vóc dáng Gaugin với hàng hàng tưởng niệm!

Thơ Bùi Giáng không có chiều hướng rõ rệt ở mỗi giai đoạn. Nó được cấu tạo miên man, tùy hứng. Nó tự do tuyệt đối. Người thơ là ông Hoàng, là Lãnh chúa trong địa hạt thuộc riêng mình. Bởi vậy, trong mỗi tác phẩm, đều có phần của tác phẩm khác. Nó giao hòa trong mọi chiều tư tưởng để hình thành dòng thơ đặc biệt Bùi Giáng. Người thơ quyết định hết và chịu toàn trách nhiệm. Bùi Giáng sáng tác không cần đắn đo hơn thiệt trong mỗi bài, mỗi ý. Thơ Bùi Giáng tựa như cơn gió, lúc tản mác thổi dịu nhẹ mơn man da thịt, khi tập trung từ xa tắp không gian, cuốn thành cơn lốc quét từng luồng giận dữ làm đổ vỡ, xiêu dạt trần gian.

Viết về thơ Bùi Giáng, nên hệ-thống-hóa hoặc phân loại một cách thông thường tức là giết người thơ vậy, vì Bùi Giáng không chỉ làm thơ với ý nghĩa chung chung, mà đích thực người thơ dùng thi ca để chuyên chở tư tưởng và phô diễn những trạng thái phức tạp nảy sinh giữa cõi lòng chứa chấp nhiều hệ lụy.

Người thưởng ngoạn thơ cũng vậy, thích thì đọc, nếu không, cứ việc vứt xuống bất kỳ chỗ nào. Bùi Giáng làm thơ cho mình, nhưng tại đời. Cuộc đời chán quá! Công danh, phú quý là cái gì đâu, làm con người ham hố đến quên cả chức phận thiêng liêng mà Đấng Tối Cao ban riêng cho loài người, đó là một linh hồn thuần khiết để hướng vào Chân, Thiện, Mỹ. Người thơ u uẩn đi vào cõi Tịch Mịch. Bùi Giáng làm thơ thật tự nhiên không kiểu cách, gò bó, dù đôi chỗ để lộ ý kiêu bạc ngay cả với mình:

Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều khe nương
Hãy mang tôi tới dặm trường
Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia.

(Sa mạc trường ca, Cầu nguyện ca)

Giết tôi, hãy giết tôi trong những điều kiện do tôi mong muốn và tự nguyện. Một cuộc đời mốc meo, nhàm chán, một khe mương dơ dáy, một dặm trường bơ vơ và một ngẫu nhiên nào đó, hay giữa tôi và thuyền quyên đang “diện tiền” góp vui, thì cái chết đó cũng là điều thú vị lắm chứ? Cái chết rất triết học vì với triết học người ta chẳng có chơi một cơn, đùa một cuộc, nhảy múa một vòng, vậy cái chết do thi nhân mong muốn cũng chỉ như một nuôi dưỡng sinh tồn quẩn quanh giữa suy tư và cõi đời chán mỏi mà thôi!…

Bùi Giáng là một hiện tượng. Người yêu thơ phải nhìn Bùi Giáng qua phong cách độc đáo, ở đấy, mỗi dòng, mỗi chữ, mỗi ý, được viết ra là máu thịt của thi nhân dâng hiến cho đời. Thơ Bùi Giáng không thuộc môn phái nào hết. Nó không cũ, chẳng mới. Nó có thể là thơ, là tư tưởng, đôi khi thơ và tư tưởng lẫn lộn giao hòa tạo thành một vùng “mờ mịt thức mây”. Thơ Bùi Giáng như cơn đau chưa dứt, như nỗi bàng hoàng chiêm bao chợt tỉnh, để rồi lại chìm vào chiêm bao khác. Nó bâng khuâng ở mỗi vần, mỗi chữ. Có lúc, nó buồn bã như niềm tuyệt vọng! Người yêu thơ cứ phải men lần theo, như đi trên một hành lang trú ngụ nhiều điều bí mật. Mỗi khúc quanh lại mở ra những kỳ dị phi thường. Cái trạng thái hỗn mang này Hàn Mặc Tử đã thấy:

Bây giờ tôi dại tôi điên
Chắp tay tôi lạy cả miền không gian…

Kể từ năm 1924, André Breton và một số nhà thơ tiến bộ đồng ký tên vào bản tuyên ngôn, chính thức khai trương trường Siêu Thực giữa vòm trời thi ca Lãng Mạn Tây Phương. Cũng kể từ đó, khuôn mặt thi ca thế giới đổi thay. Thơ đã có một ngôi vị cao hơn trong ước lệ xã hội. Thơ vượt thoát dần dần mọi quy luật và đồng thời cởi bỏ những ràng buộc quá chặt chẽ và phi lý trong vần điệu, ngôn từ. Ở Việt Nam, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền cũng đưa ra một quan niệm về thi ca, tuy không phải bản tuyên ngôn về thơ mới, nhưng nội dung bản văn cũng tóm lược đầy đủ chủ điểm của vấn đề:

… Người thơ hôm nay quan niệm rằng: người ta có thể viết những bài thơ có vần điệu, nhưng người ta không biết làm thơ… Trong thơ hôm nay có một số tiếng bỗng mất tích, một số khác biến dạng và vô số những tiếng lạ xuất hiện làm nên cái thế giới riêng. Cái thế giới ấy quá kỳ quái với người đọc, người ta không hề quen thuộc, chưa nghe nói tới và ngỡ mình lạc vào một tinh cầu khác. Thơ hôm nay là một tinh cầu biệt lập với thơ hôm qua. Người ta không tìm thấy trên tinh cầu này những cảnh tượng, những sự vật trong trí người ta vẫn coi là vĩnh viễn không đổi dời của thơ. Trong thơ hôm nay không còn những bông hoa kiều diễm, những đêm trăng huyền ảo, những buổi chiều bâng khuâng, những mối tình thơ mộng dù tan vỡ, những nhớ nhung cách trở tự nhiên, những khúc đàn ca nhịp nhàng, người kỹ nữ bên Tầm Dương, tà áo tha thướt trong ánh nắng, mùa xuân với giọng chim ca, mùa thu trong lá vàng, những cơn mưa buồn hiu hắt không thôi, cái tâm hồn của ngàn đời còn run hoài chưa hết những đau thương vỡ mộng, thoáng qua của một hình bóng, một cơn gió, một bóng mây…

… Trong thơ hôm nay, người ta lạc vào cái thế giới có những đêm tối nghẹn ngào, những ánh sáng của lộ liễu, những bệnh viện lạnh lẽo, những nấm mộ hoang vu, những thành phố đổ nát không chim muông, chỉ những gạch ngói, những nỗi lặng câm khắc khoải, những cặp mắt đen cú vọ, những hoảng kinh xô đẩy của loài cầm thú trốn chạy thiên tai, những mối tuyệt vọng sâu thẳm không được cứu vớt, những hồn chết dần trong thèm khát tương lai, những ràng buộc vô lý vào cuộc đời lạ mặt với đám đông ồn ào nhung nhúc, những tầm thường khổ đau gọi ra tên tuổi, cái tâm hồn hôm nay chịu vùi dập bởi những khốn nạn tang thương đòi giải phóng ngay chính ở hiện tại…

… Trong thơ hôm nay hoặc là thiên nhiên không được nhắc đến nhường chỗ cho những vỉa hè, cột đèn, gạch ngói, khối sắt, khối thép, da thịt, tay chân, mặt mũi hoặc là hiện ra thản nhiên lạnh lùng khó chịu nếu không muốn nhập với một ý thức…

(Nỗi buồn trong thơ hôm nay)

Trên đây, chỉ tóm lược ý chính của bài văn, nhưng cũng đủ chứng minh sự dứt khoát của Thanh Tâm Tuyền trong vấn đề thi ca. Bùi Giáng không nói gì cả, nhưng toàn bộ thi phẩm của Bùi Giáng đã khơi động một trời thơ rộng rinh, bát ngát. Thi nhân không dấn thân vào đâu hết, coi cuộc đời như cõi rong chơi tạm bợ. Làm thơ cũng là một cách rong chơi cho quên đi từng đắn đo, phiền muộn! Bùi Giáng đi vào thơ như đi vào cõi vô định. Không có chọn lựa hay thử thách, chỉ có xúc cảm và ngôn ngữ giao thoa, diễn đạt những gì ám ảnh trong hồn. Với từng bước khoảng khoát nhưng rất ưu tư, người thơ đăm đăm ngó về phía trước qua sự tàn phai của vật giới trong cái bất diệt của Tạo Hóa:

Mây năm sắc giăng sông mười sáu
Tuổi mười lăm đổ máu ấu thơ
Tin vui giục giã hai bờ
Mỗi buồn chết gục từng giờ đi qua…

(Sa mạc thi ca, Xuân)

Thời gian, ai cũng sợ nó. Sáng, trưa, chiều, tối, cái nhịp đi rất êm nhưng vô cùng nghiệt ngã làm chia lìa tất cả:

Nằm xuống đất bất bình một lúc
Chợt nghe ra từng phút đang trôi
Sát na gây cấn hồi lời
Xin thâm tạ đất và trời xa nhau.

(Sa mạc thi ca, Một tấm áo)

Đất trời xa nhau đành một lẽ. Nó là cái xa của vũ trụ bất biến tự cõi vô cùng, trời đất vẫn quấn quít luân chuyển bồi hồi trong vòng ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng cái xa của con người và cuộc sống, cái bất lực của chủ thể và Hư-Không-Tuyệt-Đối, sự vụ đó mới thật đau thương! Cái nên thơ của Horace trong thi ca với quan niệm Thượng Đế là thuần nhất, chân lý cũng thuần nhất hình như cũng phôi pha theo năm tháng, với bao nhiêu tìm tòi của nhiều thế hệ qua nhiều triết thuyết. Một vùng Chân-Không-Tịch-Mịch còn đó, dù cho tinh lực của đời sống (force vitale) có là căn bản thiết yếu cho mọi sinh hoạt tinh thần hay vật chất, dù nó là yếu tố sinh tồn cho mọi chu kỳ nhân loại, nó vẫn thuộc về trừu tượng. Đời sống cho đi hay giữ lại cũng chẳng có cách nào ra thoát khỏi vòng “tử sinh hữu mệnh”. Vì ham tuyệt đối của suy nghĩ nên Bùi Giáng thường tỏ ý buồn phiền về hai danh từ thực mênh mông và bi đát: Thực-Tại với Hư-Không. Nó là đám rong rêu bám chặt vào chiếc sọ suy tư, nó đẩy thi nhân vào vùng sương mù dày đặc. Người thơ đưa tay quờ quạng lần đường, và cuối cùng phải trông cậy vào niềm tin để khai thông mê lộ qua bài thơ Chấp trước:

Không trước đông thì trước tây
Không trước cây thì trước lá
Không trước ma đầu gió thì trước quỷ cuối sương
Không trước thiên đường thì trước Ba La Mật
Không trước thật thì trước hư
Không trước hư thì trước hữu…

Bài thơ gồm 29 chữ không ở đầu mỗi câu. Không cái nọ thì cái kia, không người này thì người khác, có nghĩa là khi ta góp hơi thở thứ nhất, đời sống đã có sẵn những phiền lụy và cảnh huống vây quanh, vậy “cố chấp” làm gì trước sự kiện đã rành rành như vậy? Tại sao không kinh qua, không vượt lên để giải tỏa kềm hãm, để tìm đến cõi tịnh độ lâng lâng? Lời than thở choáng váng của Chúa Jésus trên đỉnh Golgotha hay lời từ bi của Đức Phật dưới cội Bồ Đề, muôn đời vẫn là sự “thấu suốt cơ cực trần gian” trong vòng tay độ lượng. Vì thế, trước cuộc đời, Bùi Giáng chẳng cần tỏ bày thái độ, cứ dửng dưng sống theo ý mình, thả tâm hồn vào cõi đẩy đưa tới đâu cũng được! Chuyện đời dù ngàn năm trước, trăm năm sau, hay bây giờ cũng vậy thôi! Nếu đôi khi dáng dấp cuộc đời có được người thơ nghĩ đến, cũng chỉ có nghĩa như nói đến trò chơi cút bắt có đấy. Hãy cứ vui đùa cho nhẹ bớt buồn thương. Phẫn nộ hoặc nguyền rủa xã hội là điều vô ích! Ngay cả chiến tranh và cái chết do nó tạo nên, cũng được tượng trưng bằng “nuồng” Mọi nhỏ. Cái chết đó, lẽ đương nhiên thuộc số mệnh, nên có tìm cách tránh cũng vô ích! Hoạt cảnh chiến tranh cũng được “siêu-hình-hóa” qua cuộc “luận lý” dí dỏm, chứa chấp ẩn dụ giữa hai linh hồn Monroe và Mọi Nhỏ:
Monroe: Chị tự tử đã đành. Sao em cũng tự tử? Em ở trong rừng mát mẻ, em tự tử làm gì cho phí mất cái màu da bồ quân bánh mật của em như thế?

Mọi nhỏ: Em đâu có tự tử. Chính thật ra cái hòn đạn nó tự tử em.

Monroe: Hòn đạn nào như thế?

Mọi nhỏ: Hòn đạn hoặc là trái bom gì đấy. Nó nổ một trận tam bành. Nó tự tử mất em, đồng thời với cái truông đèo thơ mộng chiều hôm qua.

Monroe: Sao em không dời đi nơi nào ẩn trú, lại ở yên một chỗ mà chờ đợi đạn bom làm gì như thế?

Mọi nhỏ: Dời đi nơi khác, thì đồng thời phải dời cái truông đèo đi nơi khác. Em sức mấy mà làm cho xuể sự đó. Kể ra lúc bấy giờ em cũng chợt có cái ý định lặn xuống ở dưới đáy nước khe kia thì thật là bảo đảm, nhưng không kịp. Cái bom nó nổ còn chớp nhoáng hơn cái ý định nảy ra trong đầu óc em.

Monroe: Lần sau em phải lo xa hơn mới được.

Mọi nhỏ: Lo xa như thế nào?

Monroe: Em phải sắp đặt có ý định cho sẵn sàng trước đi.

Mọi nhỏ: Trước bao lâu?

Monroe: Một tuần lễ là ít nhất. Chẳng hạn như trái bom nó nổ vào Chủ nhật tuần này, thì em phải sắp đặt cái ý định lặn xuống khe từ hôm Chủ nhật tuần trước.

Mọi nhỏ: Còn nếu như mình sắp đặt xong xuôi cái ý định, mà rồi ra rốt cuộc cái trái bom nó không nổ thì có phải là uổng cái công trình sắp đặt kể biết mấy mươi?

Monroe: Đâu có chi mà uổng. Cuộc sắp đặt chỉnh tề, tự nơi nó cũng đã làm một cái gì thơ mộng lắm rồi. Cũng tỷ như chàng thi sĩ kia bao năm trời nó làm thơ tặng chị, mặc dù nó biết rằng chị đã chết rồi, thì làm sao tiếp nhận được những bài thơ nhớ nhung của nó.

(Mùa thu trong thi ca)

Tất cả sắp đặt đều vô ích trước định mệnh. Con người và định mệnh luôn luôn chơi trò ú tim để chụp bắt nhau ở mỗi cung số. Chính vì người thơ đã thấy được và biết qua thực tại, nên mỗi suy nghĩ như niềm đau hủy diệt! Nhưng cuộc sống là một dòng nối tiếp vĩnh cửu cũng như Vũ Trụ, chỉ có khác, nó thay đổi theo mỗi giai đoạn góp mặt của từng lớp người liên tiếp và liên tục, nên cái qua đi và cái sắp đến, không chắc đã nằm chung ước lệ. Thơ Bùi Giáng ít có chuyện đề cao tình yêu hay lãng đãng nhớ nhung một vóc dáng đàn bà nào. Tình yêu chỉ được coi như chuyện đùa bỡn qua từng ý nghĩ u mặc. Bản chất người thơ như vậy:

Em xin chàng chớ lai rai
Con đường thôn lấm ngày dài chi mô
Mở môi ngôn ngữ hồ đồ
Vén xiêm em lội xuống hồ nước kia…

(Lá hoa cồn, Thôn nữ)

Trinh nữ em có mặc áo quần
Mà không ắt hẳn là quần thật xinh
Nếu như em chẳng mặc quần
Thì ông trời ắt càng mừng rỡ hơn…

(Sa mạc phát tiết, Tuy nhiên)

Thơ Bùi Giáng không quấn quít, vội vã. Ngôn từ đi dần vào thản nhiên, suôn sẻ gần như buông lơi trước mắt. Nhiều bài cho người đọc cảm tưởng, làm thơ dễ quá! Nhưng xin chớ tưởng lầm. Cái hồn nhiên, thư thái đó là kết quả của công phu học hỏi, ví như vị Trưởng Thượng dày công tu luyện tới mức “thượng thừa”, đã nhập Đạo rồi, thì sắc diện và thân xác bên ngoài ngó nhẹ như tơ, nhưng nội tại thâm hậu, tóm thâu càn khôn một mối.

Bùi Giáng thường nhìn cuộc đời qua tấm lăng kính bi quan, có lẽ vì mải mê suy luận. Người thơ cho rằng, cái nhân loại man rợ này đã làm ung thối hết mọi tinh hoa, và máy móc làm con người trở thành nô lệ cho phương tiện, Bùi Giáng phải đi tìm cái tinh thể đích danh của thi ca trong suy tưởng. Mỗi con người là một vũ trụ của riêng nó, tại sao chẳng ai hay biết? Cái vùng Chân-Không-Tịch-Mịch kia nào có xa gì và chiếc cánh cửa cuối cùng đều mở cho mỗi kiếp sống đó ru? Thi nhân đi tìm Heidegger trong ngôn ngữ, tư tưởng để nguôi ngoai thần trí. Nhưng cuối cùng: “Một dị báu huyền mộng huyền sương đìu hiu như đàm hoa nhất hiện. Tại miền biển tục sông lam (August vốn xưa kia từng ra phiêu du miền biển) có một cái gì động đậy (dù sao chăng cũng, tuy nhiên ấy mà), và ngoài kia có một thanh âm nào động khía bọt mơ hồ, một cái gì khả dĩ nghe ra đường gân nhúc nhích, hỡi ôi! một trận thúy lục hòa âm, thủy triều hòa tấu. Tại đây – hư vô gặp gỡ hư vô, ở đâu? Chẳng phải là ở đó, cũng chẳng phải là một cái lỗ, hoặc một khe hang. Chỉ biết cam lòng đành phận lắc đầu mà thôi…”. (SHHNM, Bùi Giáng, trang 306, có kèm theo phần Đức ngữ, nguyên tác của Heidegger)

Nhưng câu hỏi đầu tiên: “Đáo cùng do đâu mà có hiện thể, sao lại chẳng là hư không?” vẫn chìm sâu trong Nếp Gấp của nó. Người thơ muốn cùng lúc làm một triết gia? Không hẳn như thế. Bùi Giáng bị ám ảnh bởi hư vô nên muốn tìm hư vô trong tất cả mọi tư tưởng của các đại-triết-gia phương Tây lẫn phương Đông. Vấn đề này mất nhiều thì giờ và làm khổ người thơ không ít. Có lẽ, nó là nghiệp chướng! Người thơ còn để Parménide, triết gia Hy Lạp ở giữa thế kỷ thứ V và VI trước Công nguyên, đối thoại với thi hào Nguyễn Du về chiều hướng tư tưởng:
Nguyễn Du: Kể từ thiên thu đứng lại?

Parménide: Đứng lại tự bao giờ hỡi tướng công? Lão hủ mạo muội đáp nhé: đứng lại từ giữa cuộc chuyển di trên một đường-rẽ-trắng-ngã-ba, đi về trong ngôn ngữ của tồn lưu lịch sử ngậm ngùi.

Nguyễn Du: Vì sao lịch sử ngậm ngùi? Thưa lão trượng! Chắc rằng lão trượng còn kinh? Giấc mơ quỷ dị bên mình còn reo?

Parménide: Thưa tướng công, tướng công từng đã linh cảm tấn kịch bi hùng riêng biệt của non sông này, và đặc dị của dân tộc này. Linh cảm đến mức độ nào, mà lời về trong ngôn ngữ tướng công đã dạy triều mênh mông đến thế? Đó là điều lão hủ không dám chắc mình đã nghĩ ra, và đó cũng là nguyên nhân khiến lão hủ không ngại dặm nghìn nước thẳm tìm tới viếng tướng công bận này.

Nguyễn Du: Dám thưa lão trượng: sao gọi là linh cảm. Tại hạ cũng không rõ mình đã linh cảm trong cơn xuất thần trên nhịp phiêu bồng chiêm bao… hay là tại hạ đã xuất phóng hoạt tồn trước những điều trông thấy. Trông thấy một lần và bàng hoàng suốt xứ. Và biên thùy từ đó đã mờ xóa hết để miền cõi kết tụ và hiển hiện ra ở trong ánh vàng nhị bội của một vừng nguyệt biên cương.

Parménide: Những điều trông thấy…

Nguyễn Du: Vâng. Tại hạ đã nhìn suốt tuổi thanh xuân mình. Và từ đó về sau…

Parménide: Từ đó về sau tướng công đã nguyện làm liệp hộ.

Nguyễn Du: Được chăng, thưa lão trượng?

Parménide: Được. Đó là điều kiện tiên khởi cho mọi cuộc tái lập trùng tu. Làn ánh sáng Như Lai đã ngậm ngùi về trên Việt Nam vô song từ đó.

Nguyễn Du: Vì sao ngậm ngùi riêng biệt trên non nước Việt Nam?

Parménide: Vì Việt Nam là cái chốn, cái nơi của mọi cuộc tương xưng sử lịch cõi trần bên mép bờ Hình Nhi Hạ Khổng.

Nguyễn Du: Vâng ạ. Và bên cõi miền của Thiên Chúa giáo xa xôi rã rời trong mạch thẳm. Nguyên tuyên Hy Lạp không nhắc nhở lời nào cho làn nước chảy lang thang.

Parménide: Đó cũng là nguyên nhân xui ta về viếng tướng công. Mà ban sơ ta tưởng không thể nào tìm ra lời thích đương để thốt. Nhưng thưa tướng công, ngôn ngữ của tướng công còn khép mở một ẩn ngữ xui lòng ta xao xuyến. Tướng công cùng tư lự trong một cõi với ta. Nhưng những điều trông thấy của tướng công còn dội vào đáy thẳm linh hồn tướng công đến một độ nào ta không rõ lắm. Nêu câu hỏi tại chỗ đó, có là thô lỗ trống trải chăng? Có làm tướng công phiền muộn chăng?

Nguyễn Du: Lão trượng yên lòng. Chính tại hạ vừa rồi đã có ý nêu ra trong cái lời thốt… Xuất phóng hoạt tồn trước những điều trông thấy. Trông thấy một lần, và bàng hoàng suốt xứ…

Thiên cổ vô cùng giang mạc mạc…

(Trăng châu thổ)

Cuộc đàm luận Parménide – Nguyễn Du ở giữa cõi U Minh! Vì sao lại xảy ra sự tình như vậy trong ý nghĩ của Bùi Giáng? Có lẽ qua tìm hiểu, thi sĩ đã khám phá ra giữa hai thiên tài có những điểm trùng hợp về ý tưởng. Hơn hai ngàn năm trước Parménide đã ý thức được cõi Vô-Cùng-Bất-Diệt trong tập thơ De la Nature và Nguyễn Du cũng đã thấu suốt “những điều trông thấy…” nên “trải qua một cuộc bể dâu”, cũng là trải qua khoảng Chân-Không-Tịch-Mịch. Nguyễn Du vì rõ “Trước, Sau” nên tạ đáy tiềm thức hiện ra một dòng sống không ngơi nghỉ từ tiền kiếp tới mai hậu. Cố gắng làm chi, cõi Hư Vô thì câm tiếng, thời gian vẫn ác nghiệt, còn không gian lại ngoảnh mặt làm thinh.

… Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh…

… Nàng rằng tiền định tiên tri
Duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào…

… Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày…

(Kiều)

Có thể do đấy, Tố Như đi tìm Vô Cùng qua vóc dáng Giác Duyên? Nguyễn Du, phải chăng là cái gạch nối giữa Lão Tử chối bỏ và Khổng Tử dấn thân, giữa con người và cõi Siêu Thoát trong đạo Phật? Parménide đi tìm Nguyễn Du cũng vì “duyên xưa, phúc sau” để soi tỏ cái thâm hậu của Đông phương trầm mặc! Nguyễn Du đã đau đớn vì “biết” mà không tránh được mệnh trời, “thấy” mà vẫn phải làm theo duyên nghiệp với nàng Kiều mười lăm năm lưu lạc! Chẳng rõ Bùi Giáng có “biết” và “thấy” gì không, hay cũng vì chữ nghiệp mà tự đày ải vào cõi mông lung của luận lý, làm điêu đứng đời sống và chết sững tâm hồn trong vần điệu? Nguồn thơ Bùi Giáng không chảy chung một mạch nước, nó tỏa ra nhiều nhánh, ở mỗi nhánh lại chứa đựng từng buồn phiền riêng biệt. Nhưng cuộc sống đâu phải lúc nào cũng cho ta thất vọng và con người đâu cần phải có một kiến thức căn bản triết học mới sống được? Cái đời sống hồn nhiên, giản dị, mỗi người đều có thể tự mình hình thành một cách thỏa đáng, miễn tự biết và đừng có tham vọng. Người thơ chắc cũng muốn tìm đời sống hồn nhiên đó cho mình, nhưng chỉ gặp những “đoạn trường”, để từ đó, đi dần vào mê loạn tâm trí:

Cuộc điên đã chấm dứt rồi
Bây giờ điên nữa cho đời điên thêm
Dưới trời thiên hạ hằng đêm
Đổ ra thiên thượng ở trên hằng ngày
Dấu chân tỳ tử an bài
Mép rìa xuôi ngược nét ngài nở nang.

(Sa mạc phát tiết, Nỗi buồn)

Cái điên của thi nhân, sự thực, không làm phiền lụy đến ai hết, nó thuộc về đời sống riêng, người yêu thơ chỉ cần cảm thông chứ không cần lý luận.

Thỏ lặn ác tà mộng tưởng hao
Mòn con mắt một cõi chiêm bao
Ngũ canh tầm nã con đò dọc
Tam giác tinh hà ảnh động dao
Quá khứ liên tồn vô ngấn tích
Sáng tiền minh nguyệt chiếu hoàng mao
Hai hàng mọc cỏ thu sương ngậm
Vành vạnh lê hoa chước chước chào…

(Sa mạc phát tiết, Quỷ ma đối thoại)

Nguyên vẹn dồn nén và ám ảnh, từ chiêm bao ám ảnh đi: Năm canh không ngủ để tầm nã “con “đò dọc” và “liên tồn” không ngấn tích, có ánh trăng chiếu sáng “hoàng mao” với hai hàng cỏ mọc ngậm sương thu chào đón. Chao ôi! Cô đơn nó sầu thảm đến thế sao, nó giày vò thể xác như vậy sao? Nó là quỷ ma quấn riết vòng trí não vì:

… Mưa đẩy thời gian xuống tuyệt vời
Bay về đủng đỉnh cụng đầu tôi
Tháng theo ngày dậy rằm xanh nguyệt
Ba góc càn khôn lộn bốn trời.

(Sa mạc phát tiết, Đường cong)

“Ba góc càn khôn lộn bốn trời” chỉ là ngôn ngữ tượng trưng trong thi ca, nhưng chắc phải quyến rũ lắm, đam mê lắm, nên người thơ mới ngất ngây giữa thi tứ!…

Bùi Giáng, nhà thơ siêu thoát, coi đời như giấc chiêm bao, nên đùa vui để khuây khỏa, cho quên đi ngày tháng buồn tênh, và đắm chìm nhớ thương vào cõi U-Hoài-Tịch-Mịch. Bùi Giáng, người đã chối bỏ thi ca chẳng phải vì câu nói của Platon thuở nào, đã chạm tới tự ái thi nhân, mà chính vì thi ca bất lực, không có quyền năng cứu vãn được thân phận ai cả, lại còn làm cho con người chán chường thêm! Bùi Giáng đọc nhiều, nhớ nhiều, nhưng càng đọc, càng nhớ lại càng dìm sâu tâm hồn vào cõi mơ cuồng loạn đổ vỡ:

… Nếu Thượng Đế quả thật yêu thương loài người thì Thượng Đế nên tạo ra nhiều nương tử khổng lồ. Ấy là cốt để làm gì? Ấy là cốt phòng khi nào bọn chán đời muốn lọt vào lòng mẹ trở lại thì có chỗ để lọt đầu chui vào. Và như vậy sẽ còn có cơ hội được sinh ra đời lần khác, khởi sự làm trở lại một thằng bé sơ sinh tuyệt nhiên không biết sao gọi là chán đời.

Tuy nhiên vì trái đất nhỏ hẹp quá, nếu tạo ra Nương Tử khổng lồ thì các nàng sẽ không có chỗ trú. Vậy trước tiên, Thượng Đế nên thổi phồng trái đất to ra gấp mười lần, thì sự tình sẽ được dàn xếp viên mãn về sau.

(Thi ca tư tưởng, Thượng Đế)

Buổi nào đó, Bùi Giáng gặp cõi Tịch Mịch chắc thi nhân mới hết băn khoăn về ý thức Siêu Hình, về nguyên cớ thứ nhất: Đáo cùng do đâu mà có hiện thể, sao lại chẳng là hư không?… hẳn nhiên, trong ngôn ngữ thi ca đã có điều đó rồi!

Bùi Giáng dấn thân vào triết học mong tìm trong đó vài điều hợp ý mình. Nhưng có lẽ, càng vào sâu càng gặp thất vọng và cảm thấy đi sai con đường dự tưởng. Hơn nữa, giữa cuộc đời người thơ gặp nhiều u uẩn với bao thị phi rối rắm làm buồn lòng không ít. Bùi Giáng như đứng mấp mé trước hiểm họa “Tẩu Hỏa Nhập Ma”, nên cuối cùng, muốn trút bỏ hết để trở về với những cánh chuồn chuồn và châu chấu trong đồng ruộng quê hương tuổi nhỏ?…

Tạ Tỵ

Nguồn: Bùi Giáng

Bài Thơ Con Ốc. Thơ Hư Vô


Bài Thơ Con Ốc

Em là con ốc nhỏ
Giữa hoang đảo lẻ loi
Đợi nghe tiếng anh gọi
Cho vang một góc trời.

Bao giờ anh sẽ tới
Trăm năm em cũng chờ
Cuộn mình trong vỏ ốc
Khóc cho đầy mộng mơ.

Đếm buồn theo nhịp thở
Anh mấy lần nhớ em
Đường trần bao nhiêu ngả
Có ngả nào để quên!

Em nửa đời trôi nổi
Lối về còn chông chênh
Bên kia đời anh vẫn
Quạnh quẽ tựa miếu đền!

Em nằm nghe sóng vỗ
Ngỡ anh đang tới gần
Ốc mượn hồn phiêu lãng
Bóng anh vẫn biệt tăm!

Chờ nhau trong vô vọng
Từ một cõi trống trơn
Chợt nghe tiếng anh gọi
Tháng bảy sinh nhật em…

Hư Vô

Xin mờ thưởng thức nhạc phẩm Em Vẫn Chờ, nhạc sĩ Như Ngọc Hoa phổ từ Bài Thơ Con Ốc của Hư Vô với tiếng hát Vy Thảo…

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Thú Chơi Sách. Vương Hồng Sển


Vương Hồng Sển

Chân dung và tác phẩm của cụ Vương Hồng Sển

(Chân dung và tác phẩm của cụ Vương Hồng Sển)

Nhiều người, thiên tư phú tánh, biết làm thi phú từ bé thơ. Người thì vừa tu oa đã là ông hoàng bà chúa! Người chơi sách không đẻ bọc điều như vậy. Cũng có người tốt phước hưởng của phụ ấm hoặc có sẵn tủ sách của cô bác cha mẹ lưu truyền lại. Nhưng phần đông, tự tạo lấy mình và phải trọng tuổi mới hiểu thấu đáo thú chơi sách và biết giá trị bộ nào hay, bộ nào dở. Có khi khác vì một dịp may nhờ một cơ hội thuận tiện, khi nghe đồn trong một buổi dạ hội hay tiếp tân. Khi thấy trong mục quảng cáo trong tờ báo hoặc nhơn khi đi xem một cuộc triển lãm, viếng viện bảo tàng hay vào thư viện công cộng rồi nảy ra ý sưu tầm và chơi sách.

Từ thưở nhỏ, tôi đã là một con sâu đọc sách. Tôi đọc bất luận sách, truyện, thơ, tuồng, đọc để mà đọc. Lúc ấy tôi như con tằm ăn lá dâu, ăn để mà ăn, ăn thật nhiều, thật no chứ chưa biết kén lá ngon lá tệ. Sách đẹp, sách đóng bìa khéo tôi chưa biết thưởng thức, vì khi đọc, tôi đọc bất cứ nơi nào, trên giường, trên võng, kẹt sân. Đi đâu tôi cũng có thủ sẵn một xấp giấy, một cuốn sách để đọc và đọc như thế, sách đóng bìa đẹp chỉ là bề bộn. Mình sợ hư, sợ rách đã bớt hứng thú không ít vậy. Năm ra trường, lập gia đình, trước tiên tôi mua sách nhưng cốt ý để khỏi mượn nhờ chớ cũng chưa có lập tâm sắm sách như tiền nuôi heo bỏ ống.

Năm 1926, gia đình tan rã lần đầu mà cũng lần đầu tiên tôi nhìn thấy cuốn sách là một bạn tốt, tốt hơn vợ và bạn trai nhiều. Nhờ trả phố, bán đồ thập vật để theo ở đậu ăn cơm tháng cho thêm tự do, tôi có một số tiền lưng khá gọi là lớn vào thời ấy: một ngàn bạc năm 1926. Vừa đúng lúc báo “L’Impartical rao bán một tủ sách của một học giả Pháp vừa từ trần. Tôi làm gan tìm nhà hỏi mua. Tôi gặp một bà đầm già, chồng vừa mất, nay định về Tây an hưởng tuổi nhàn nên muốn bán đi bớt phân nửa số sách của chồng để lại. Tủ sách gồm lối hai ba trăm quyển, chia ra làm hai bộ y như nhau:

Một bộ bìa da đỏ, mạ vàng, bà chỉ cho xem nhưng nói trước nhứt định không bán vì bà muốn giữ lại làm kỷ niệm của chồng. Tôi nhìn kỹ, quyển nào cũng còn mới, không lem luốc, thêm có phần đẹp đẽ, sắc sảo nữa là khác. Tôi tiếc quá, trong bụng thầm muốn nài trả giá cao để mua sách như vầy cho khỏi sợ vi trùng truyền nhiễm. Nhưng bà lắc đầu, chỉ cho tôi bộ thứ hai, độ non một trăm quyển, y hệt như bộ trước, duy khác là lớp đóng bìa da đen, lớp đóng bìa vải đen. Xem có phần xấu xí, hư tệ hơn bộ kia. Bà nói đây là bộ sách của chồng thường dùng trong khi nghiên cứu và viết lách. Như cần dùng, bà sẵn lòng để rẻ.

Tôi lật thử xem thì sách không vừa bụng, phần nhiều có gạch bút chì xanh đỏ lăng nhăng và thêm bớt nhiều chỗ nhiều đoạn bằng chữ viết tay quằn quèo. Bìa sách cũng đã đúng tuổi, lùi xùi tơi tả, không ưng ý chút nào. Tôi giả đò chê sách hư, sách rách và nói chỉ thích bộ trước bao nhiêu tôi cũng sẵn lòng mua. Bà nghe tôi chê, có ý sợ tôi bỏ đi thì không còn ai xử giùm bà mớ sách dư xài ấy, nên bà hạ giọng thiết tha:

– Sách nầy không đâu có. Mua không phí tiền đâu mà sợ! Chồng tôi xưa trọng dụng nó và quý vô ngần. Thầy không mua, tôi đem về Pháp sẽ hiến cho thư viện quốc gia. Chỉ vì thân già, một bộ mang đi cũng đủ nhọc, hai bộ thì nó bận chân vướng cẳng thêm cho gì. Như thầy ưng mua, tôi tính nới, dứt giá một trăm sáu chục đồng (160$) tám mươi bốn cuốn sách.

Ối là rẻ, Chúa ơi là Chúa!! Tôi mừng quá, lật đật chi tiền và không quên ép bà biên cho ba chữ nay còn để dành trong hồ sơ:

Saigon le 30 Aout 1926
Recu de Monsieur Vuong Hong Sen
La somme de Deux cent soixante piasters pour la vente de 84 livers provenant de la bibliothèque de mon mari – y compris le grand Dictionnaire chinois de Mr de Guignes, édition de 1913, don’t le prix est de Cent piastres
Je dis 84 livres. Signé: Vve J.C.BOSCQ
(Timbre de quittance de 0$12)

Đọc tờ biên nhận, nay đã biết chồng bà tên J.C Boscq. Nếu đã hài danh, hài tánh mà các bạn vẫn không quan tâm đến nhơn vật này thì việc cũng nên tha thứ, tha thứ cho tuổi trẻ trung của các bạn mà tôi thèm thuồng. Tha thứ cho lối hành văn lẩn thẩn quên nói lão chết đã ba mươi ngoài năm ai tài nào nhớ nổi!

Kỳ trung ông Boscq nhà ở một con đường với anh Nguyễn Hiến Lê trên Tân Định (nay là đường Huỳnh Tịnh Của) là môn đệ của cụ Trương Vĩnh Ký, lão thông Nho học, nói giỏi tiếng Việt từng cộng sự với ông Diệp Văn Cường và Nguyễn Văn Mai. Ông vốn là thông dịch quan của Tòa tư pháp, tác giả quyền “Méthode de lecture Boscq”, lại là một nhà chơi sách khét tiếng thời ấy.

Không dè với hai trăm sáu chục bạc, tôi nghiễm nhiên trở nên người nối nghiệp cho ông để cất giữ những sách hư rách và bụi bặm nhưng quý vô giá đối với thời buổi hiện tại. Và nhờ có duyên kiếp trước, rõ lại những sách bà đầm mang về Pháp tuy còn mới nhưng tên tuổi không nhiều như những sách tôi mua được. Gồm những bộ có chữ ký và chữ viết của các soạn giả đồng thời với ông Boscq như các cụ Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký… Tôi dạn thêm và hỏi bà còn những gì muốn bán cho gọn nữa chăng?

Khi ấy bà đưa tôi vào văn phòng của chồng bà, tôi thấy sách mà ngốt nhưng toàn những bộ dễ kiếm, có tiền là mua được ngay từ bên Pháp chuyển sang. Tôi để ý và hỏi nài được quyển tự điển Hoa – Pháp – Latinh (Dictionnaire chinois – francais – latinh) của de Guignes, tôi mua một trăm bạc về sau bán ra được hai ngàn năm trăm đồng (sau 1954). Tự điển de Guignes in năm 1813, cho ta biết nếu hoàng đề Napoleon không thất trận Waterloo, có thể dám đánh luôn để thâu đoạt Trung Hoa và Việt Nam cũng chưa biết chừng. Vì chưa chi mà Napoleon đã sai sứ thần tại Bắc Kinh, de Guignes, dọn cho người biết văn hóa và tiếng nói Trung Quốc: hoặc Napoleon toàn thắng sẽ làm bá chủ hoàn cầu hoặc ông bại trận vì tay kiệt xuất Anh quốc rồi các thuộc địa Pháp sang qua tay Hồng mao và cuộc thế miền Đông Nam Á tế Á đổi khác sớm hơn bây giờ.

Nhưng không giỏi gì xây dựng trái đất bằng chữ “nếu”, trở lại thực tế, khi ra về, tôi thấy bỏ xó kẹt một gói giấy nhựt trình, tuy chưa biết trong ấy gói những sách gì, tôi cứ hỏi mua. Bà đưa nghiêng mắt liếc sơ gói giấy rồi lên giọng đài các:

“Ối! Đó là sách chữ Tàu, không biết nói gì ở trỏng! Tôi không định bán, nhưng cũng không biết bao nhiêu mà định. Thầy mua sách tôi đã nhiều, cứ lấy về chơi. Tôi cho thầy đó”

Cám ơn, từ giã, ôm về, chải bụi, o bế và xem kỹ: Mẹ ôi! Đó là bộ “Hoàng Việt luật lệ đời Gia Long”, mỗi quyển có ấn chữ son “Khâm sai đại thần”. Sau tôi tra cứu và hỏi thăm, gặp ông Cao Văn Sự Đốc phủ, từng biết ông Boscq, ông Sự cho tôi rõ, ông Boscq lãnh của thầy là Trương Vĩnh Ký bộ sách có chữ ấn son “Khâm Sai Đại Thần” nầy vốn là sách quý do binh Pháp lấy được nơi đồn Khải Tường của đại tướng Nguyễn Tri Phương, như vậy bà Boscq đã biếu tôi một bộ sách vô giá (1-2-1989)

Nói chí đáng, những sách tôi mua thì tôi cho rằng quý; đến ngày nay sau trận loạn 1945-1946, sách vở trở nên khan hiếm, chớ trước năm 1945, những nhà chơi sách lo sắm sách Pháp, Montaigne, Anatole France, Jules Romains chớ ít để ý đến sách khảo về văn minh Trung Hoa. Trước nhà ga Sài Gòn, có nguyên một dãy phố lầu của các chú bán lạc son những sách nữa sạc mà đâu có ai ngó ngàng đếm xỉa?

Chính tôi mua tại đó nhiều bộ rẻ mạt: bộ sử Việt của Trương Vĩnh Ký, ba quyển ba hào (0$30), bộ Abrégé de l’histoire d’Annam của Alfred Schreiner, còn mới, năm cắc (0$50), quyển sử Việt de Launay, một cắc (0$10)

Mấy năm binh Nhật tràn lan đất Việt có nhà Tín Mỹ dọn một căn phố lớn Gia Long, bán kính với Huê kiều, toàn những sách cũ mua nới đem về o bế lại. Làm ăn đương xân xẩn, kế bị bom nổ, mạnh ai về xứ nấy, khi trở lên, nhà Tín Mỹ dẹp hồi nào không ai hay biết. Lão Tín Mỹ mê cá ngựa bị ngựa đá, tiêu tùng, mất tích luôn từ đó.

Đường Gia Long, ngang bộ kinh tế ngày nay có nhà tầm tầm thỉnh thoảng bán sách của người Pháp phát mãi. Cả đống sách của trường Viễn Đông Bác Cổ (Bulletin de L’École Francaise d’Extreme-Orient) một xe bò chở không hết, bán ra không đến năm chục bạc (50$). Không như ngày nay, một bộ môn đầy đủ của tập san nầy, từ năm 1901 trở lại đây, nếu có, bán không dưới hai trăm ngàn bạc! Năm ni 1989 có bạc triệu cũng không mua được (1-2-1989)

Tôi còn nhớ một năm nọ, giáo sư Neumann từ trần, ông là nhà chơi sách khét tiếng Sài Gòn, sách đem pháp mãi, nhiều bộ tròm trèm một ngàn bạc, buổi ấy (lối 1940) ai cũng cho rằng bán được tiền.

Ngoài ra còn nhiều nhà Pháp chơi sách cẩn thận, nhưng khi thôi ở bên nầy thì chuyển chở về xứ… Có nhiều ông như quan năm Seé, mỗi tuần mỗi nhận từ Pháp sách mới, rọc coi rồi bày bán đường Tự Do không để dành. Trái lại cựu thống đốc Nam Kỳ, Pagès, mua sách loại đắt tiền, sai thơ ký rọc bằng dao tre, sách càng lùi xùi thơ ký càng mau thăng chức. Sách ông Pagès nhà đóng sách Nguyễn Văn Châu ăn tiền bộn nhưng sau không biết ra sao.

Trong giới người Việt biết yêu sách, tôi có quen một ông, tánh tình hiền lành nhưng rất khó đối với sách: quyển nào anh em mượn, trả về có chút hư hao, ông không nói gì, sai đem bán lấy tiền đắp thêm mua cuốn mới. Đó là ông Đoàn Quan Tấn.

Một ông cưng sách như trứng mỏng, cắp nắp ôm đồm từ những quyển học trường lớn bên Pháp đến những tập hai ba xu Việt văn. Việt Minh bùng dậy, phá làng đốt xóm. Tủ sách ông ra tro. Từ ấy, tóc ông càng bạc thêm, ông chuyên về tu hành, nghiên cứu Phật giáo, những ai dở chuyện sách ra nói, mí mắt ông ướt hồi nào không hay. Đó là ông Phạm Văn Còn.

Một ông nữa cắp ca cắp củm, sưu tập nhiều bộ nếu nay còn là một kho tàng quý giá vô cùng, vì ông là nhà khảo cứu chuyên về sử học Việt Nam. Không bộ sách nào ông không có, nào Khâm Định, nào Thật lục, đủ cả, luôn những bộ môn sách Pháp như bộ Đô thành hiếu cổ, bộ Viễn Đông bác cổ, kịp năm loạn lạc, lớp bị đốt, lớp Tây lấy, lớp người ta dọn. Ông chỉ còn một cái cười hồn nhiên của nhà học giả chơn chánh, không buồn sắm nữa, cũng không hít hà! Đó là ông Lê Thọ Xuân.

Tháng 5 năm 1960, báo Văn Hữu phá chơi kể ra những tủ sách quý nay không còn: thư viện Phạm Quỳnh, thư viện Phạm Liệu, thư viện Đào Duy Anh, thư viện Dương Tấn Tươi, có cả tủ sách anh bạn thân Lê Ngọc Trụ. Còn nhiều thư viên đầy đủ hơn nữa, nhưng vì chưa biết nên tác giả trong báo Văn Hữu chịu làm thinh. Kể ra tác giả cũng khéo tọc mạch chuyện người và khéo giấu tên mình, nhưng giấu làm sao được vì khi tả chân “buổi trời nước bình bồng” của lão già họ Vương thì lão ấy biết rõ ai kia được rồi! Ma mà bắt tác giả thọc mạch thóc mách!….

Vương Hồng Sển

Đêm Buông Mình Tóc Rối. Thơ Hư Vô


IMG_4838

Đêm buông mình tóc rối
Cho em biết lạnh môi
Dung nhan kề bóng tối
Đang lăn lóc vào đời.

Em mang hồn vô tội
Trải xuống lối tình nhân
Trong hình hài Thánh nữ
Có một trái tim trần.

Vỗ vào đêm cùng tận
Để tôi còn trăm năm
Như thuyền khơi sóng dậy
Lao qua vạch đá ngầm.

Chỗ vết thương trầm tích
Đau đã tới thịt da
Mà em còn bỏ lại
Giọt nước mắt đàn bà…

Hư Vô

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Chuyện Phố Tôi. Nhật Tiến


Nhật Tiến

Sau khi duyệt xét kỹ lưỡng lý lịch của tất cả các chủ hộ, Phường uỷ quyết định chọn dì Năm làm tổ phó an ninh. Quyết định này được thông báo đến lão Phú, Tổ trưởng tổ 3, Phường 15, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Lão phát biểu:

– Tôi hoàn toàn nhất trí với “trên” về việc lựa chọn này. Chị Năm xuất thân từ thành phần cơ bản, công tác tích cực, tư tưởng chuyển biến tốt…

Lão nói đến đó thì kịp thời ngừng lại. Đáng lẽ, lão còn thêm  : “ Hiềm vì văn hoá dì Năm còn rất hạn chế”. Nói nôm na là dì Năm mù chữ. Nhưng lão ý thức được ngay sự nguy hiểm nếu phát biểu ra trọn vẹn ý nghĩa ấy. Trong Phường còn thiếu gì kẻ dốt, kể cả đồng chí Sáu Đăng người xuất thân từ chân thợ nề, theo Cộng sản, nằm vùng được hơn hai năm thì bị bắt và đày đi Côn Đảo tới hơn bốn năm mới được giải phóng. Về Sài Gòn, đồng chí Sáu Đăng ra mắt bà con lần đầu ở trường tiểu học, đồng chí đánh vần mãi mới xong bài phát biểu dĩ nhiên là được viết trước. Về văn hoá thì vậy, nhưng so thành tích cách mạng thì cả Phường này chẳng có ai hơn. Ở thời buổi này, cái danh hiệu người về từ Côn Đảo vẫn luôn luôn là cái gì sáng lóa để chẳng có ai dám thắc mắc, nhỏ to điều gì. Dĩ nhiên bên cạnh đồng chí Phường uỷ phải có nhiều phụ tá. Thân cận nhất là Liễu, gái Sài Gòn, gọi ông Sáu Đăng bằng cậu ruột. Những ngày đầu tiên sau 30 tháng 4 năm 1975, Liễu đã có mặt đều đặn trong các buổi sinh hoạt ở trụ sở Thành đoàn Thanh niên đường Duy Tân. Nàng đã theo học ở đó một khoá cấp tốc về chính trị. Rồi được kết nạp đối tượng Đoàn. Đồng chí Văn ở ban Tuyên Huấn đã dặn dò :

– Thời gian xuống sinh hoạt ở Chi đoàn Thanh niên các khóm, Phường là một việc để các đồng chí phấn đấu tiến lên một bước nữa trên con đường cách mạng. Nếu các đồng chí chuyển biến tốt, khắc phục bản thân tốt, hoàn tất công tác tốt thì các đồng chí sẽ được kết nạp Đoàn. Đoàn viên Thanh niên là cánh tay mặt của Đảng, các đồng chí nhớ kỹ như thế để thấy rõ vai trò mũi nhọn xung kích tiền phong của mình…

Liễu nhận nhiệm vụ lệnh về trình diện ngay ông cậu ruột của mình. Nàng mè nheo ngay:

– Có cái tiệm điện lạnh hai tầng lầu ở ngay kế bên chợ đó cậu, chủ nhà bỏ trốn ra nước ngoài, cậu cho chúng cháu làm trụ sở Chi Đoàn Thanh niên nhé.

Nhà cửa hồi đó không thiếu. Ông Sáu Đăng ký ngay một cái giấy cho Liễu tiếp thu căn nhà khang trang đẹp đẽ đó. Hai tuần lễ sau, nơi đó đã biến thành chỗ sinh hoạt nhộn nhịp. Liễu có văn phòng riêng, có đội trực gác, có ban thông tin văn hóa, có ban văn nghệ. Riêng ban văn nghệ được chiếm nguyên cả một tầng lầu để dượt nhạc với kèn, trống om sòm từ sáng đến đêm.

Liễu đã trút bỏ bộ áo dài cổ hữu để thay bằng một loạt áo cánh may bằng soie đen. Hôm gặp Liễu ở đầu phố, nhìn thân hình tròn lẳn của Liễu trong chiếc áo nịt chật cứng, dì Năm la lên:

– Chèn ơi con Liễu, mày đổi bộ này ngó coi ngộ quá ta !

Liễu thẹn đỏ cả mặt nhưng không khỏi bực mình. Nàng cằn nhằn:

– Dì Năm ăn nói gì bô lô, ba la ngoài phố nghe lỗ mãng quá vậy.

Dì Năm cười ngỏn ngoẻn:

– Ờ ! thì mày “ ngộ” tao nói “ngộ” chứ sao . Coi chừng mấy thằng thanh niên sinh hoạt với mày chết giấc hết.

Liễu nghiêm mặt lại :

– Dì nói năng phải giữ lời chứ. Bây giờ cách mạng về rồi, đâu còn có lối sống đồi trụy như xưa .

Thấy con nhỏ bắt đầu giận, dì Năm bỏ qua mé chợ. Nó với dì chẳng có họ hàng gì với nhau. Dì cũng chẳng có họ hàng gì với ai ráo trọi ở khu phố này. Nhưng dì đã sống ở đây mấy chục năm liền, ai dì cũng quen, nhà ai dì cũng biết, ngõ ngách nào trong khu phố này dì cũng thông thuộc. Tất cả bà con đều kêu dì bằng dì. Tiếng là dì vậy thôi, chứ năm nay răng dì cũng đã rụng hết ráo, gần 70 rồi đấy chớ. Được cái dì Năm vẫn mạnh. Đi đứng nhanh nhẩu. Tính tình hồn nhiên cởi mở, một đôi lúc chanh chua, cái chanh chua của một kẻ ỷ vào thế của tuổi già, và mặt khác cũng là ở cái tuổi đang lần hồi biến chuyển tâm lý trở thành con nít. Dì Năm ở thuê một căn phòng xép nhỏ của gia đình chú Lý đạp xích lô. Cái nhà này đông con dữ, vợ Lý sòn sòn năm một, hồi dì mới tới chỉ có hai, nay đã chòm chèn cả chục đứa. Lắm lúc dì cũng vui, nhưng lắm lúc dì muốn phát khùng vì chúng nó. Nhất là càng về sau này, đời sống khó khăn, chỉ nge mấy đứa khóc đòi ăn khoai, ăn mì là cũng đủ héo trời, héo đất.

Nhưng dì Năm ít khi ở nhà. Nghề của dì  là đi lang thang khắp các cửa tiệm tạp hoá, các tư gia để bỏ mối cho một hãng sản xuất hương vòng và nhang. Hồi trước dì còn bán cả vàng mã nữa. Nhưng cách mạnh về rồi, giấy vàng mã không thịnh thành như trước, lại khan hiếm giấy, nên chỉ còn có nhang và hương vòng. Dì gửi cả nhang và hương vòng ở cửa hàng Hợp tác xã nhờ bán giùm. Đồng chí quản lý ở đó dẫy nẩy lên:

– Chết mẹ tôi rồi. Thời buổi cách mạng thế này mà dì đòi khuân hương vòng vào cửa tiệm Hợp tác xã để bán có khác gì muốn đưa cả cơ quan đi học tập cải tạo mút mùa.

Dì Năm tác xác:

– Hương vòng thì có cái gì phản động. Tao làm nghề bỏ mối hương vòng này mấy chục năm nay, đâu có thiệt hại gì tới ai.

Bà quản lý, cũng là dân trong khu phố với nhau cả, cãi lý với dì không được, tức quá đến cầu cứu với Liễu. Liễu chào thua bà cụ vì làm thế nào có thể giảng được cho bà cụ nghe và hiểu về con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho nên nàng chỉ buông xuôi:

– Thôi kệ, cứ để từ từ rồi dì ấy sẽ chuyển biến nhận thức và tự giác ngộ.

Đồng chí quản lý hoan hỷ ra mặt. Ít ra là bà cũng trút được cái trách nhiệm đó cho Liễu. Liễu không là gì nhưng là cháu đồng chí Phường uỷ. Đồng chí Phường uỷ là nhân vật to nhất Phường. Vậy là khỏi băn khoăn. Hương thẻ, hương vòng của dì Năm nhờ thế vẫn chiếm một kệ kín đáo trên quầy hàng Hợp tác xã . Thật ra bày là chỉ để mà bày, chứ rõ ràng món hàng dì Năm gởi ở Hợp tác xã đã ế sưng ra. Có ma nào dại gì đút đầu vào Hợp tác xã, nơi đầy rẫy tai mắt cán bộ để hỏi mua nhang hay hương vòng. Cắp nhang hay hương vòng đi ngờ ngờ ở trụ sở Hợp tác xã thì có khác gì tự tố cáo bản thân là “ tôi hãy còn nhiều tàn dư phản động!” . Mọi người thừa trí khôn để không làm chuyện đó. Nhưng mọi người cũng lại thừa trí khôn để mua nhang lấy lòng dì Năm kể từ khi dì được phong chức tổ Phó an ninh. Nhất là những anh lười đi họp. Vắng mặt trong buổi họp hôm trước là hôm sau dì Năm đã tò tò tới nhà tác xác:

– Ê ! Hôm qua mày làm cái giống gì ở nhà mà không đi họp tổ dân phố hả ?

Kẻ trốn họp phải cười giả lả:

– Tội con quá dì Năm ơi! Hôm qua đứng nắng xếp hàng mua gạo, về lên một cơn trúng cảm những tưởng đã vô nhị tì Quãng đông rồi ấy chớ!

Hay là:

– Chèn ơi ! Thằng nhỏ lên kinh hôm qua tưởng phải vô nhà thương rồi ấy chớ. Bụng dạ nào bỏ nó ở nhà mà đi họp, dì Năm!

Và sau một câu kể khó, kể khổ là bao giờ đương sự cũng chuyển ngay qua đề tài khiến dì Năm rất dễ nghe:

– Nhà em hết nhang rồi đó dì Năm. Bữa nào xin dì Năm cho em thêm một gói hương vòng với một chục thẻ nhang.

Cơn giận của dì Năm tan xèo ngay trong giây lát. Dì vui vẻ kể chuyện Khóm, chuyện Phường, chuyện nhà nào sắp đi kinh tế mới, chuyện thằng Phường đội nào hôm qua say, chuyện ai bị phê bình phát ngôn bừa bãi…vân…vân… Rồi trước khi về, dì không quên nhiệm vụ của mình:

– Kỳ tới phải nhớ đi họp đó nghe. Đi họp là phát huy quyền làm chủ tập thể mà, bộ tụi bây không biết sao !

Có hôm, một chị ngứa mồm hỏi lại:

– Làm chủ tập thể là làm sao dì Năm há?

Dì Năm trả lời ngay, giọng trách móc ngụ ý sao tới bây giờ mà còn có đứa không biết:

– Làm chủ tập thể tức là cách mạng giải phóng chứ làm sao. Trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đàng sau có nhân dân làm chủ tập thể. Tụi bây trốn đi họp như ranh, làm sao mà hiểu rõ được chính sách mới của nhà nước.

Lời giải thích ấy không biết cách nào lại lọt vào tai Liễu. Nàng chờ một hôm rảnh rỗi, kéo dì Năm vô trụ sở thì thào:

– Bây giờ dì là người của đoàn thể. Dì không thể phát ngôn bừa bãi tự ý được.

Dì Năm trợn mắt lên:

– Tao nói cái gì sai trái mà gọi là bừa bãi?

– Dì phải học mới biết được cái gì là sai, cái gì là đúng.

Dì Năm nổi sùng lên:

– Xí! Tao già đầu thế này mà còn phải học à?

– Chớ sao! Ai mà không học. Không học thì không có cơ sở nhận thức. Từ chỗ không có cơ sở nhận thức sẽ đi đến sự suy nghĩ sai, lập luận sai, phát biểu sai, hành động sai…

Dì Năm nói dỗi:

– Phải rồi! Cái gì tôi cũng sai hết. Chỉ có cô là đúng thôi. Cô là cháu ông Phường uỷ mà!

Liễu dẫy nẩy lên:

–  Ấy chết! Đâu phải thế. Cháu là gì đi nữa mà không học tập thì cũng sai nữa. Dì cũng vậy.

– Ờ! Thế tôi sai chỗ nào, cô nói tôi nghe coi.

– Như hôm nọ dì nói trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đằng sau có nhân dân làm chủ tập thể là sai!

– Sao sai?

– Dì phải nói cơ chế tổ chức của xã hội ta là Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý và nhân dân làm chủ tập thể thì mới đúng. Chớ làm gì có chuyện ai ở trên, ai ở dưới, ai ở đằng sau lưng như dì nói.

Dì Năm cười khanh khách:

– Tưởng cái gì chớ mấy chữ nghĩa đó nhằm nhò gì. Tao thì tao cứ nghĩ mấy ông Đảng uỷ ở tuốt trên cao thì là ở trên, như trên Phường thì có Phường uỷ, dưới Phường uỷ là ông chủ tịch Phường, tức là ông Nhà Nước, rồi sau cùng mới tới mình. Thế thì mình chả ở sau lưng là gì?

Liễu vò đầu bứt tai:

– Thế nhưng mà không phải thế. Phường uỷ chỉ lãnh đạo thôi chớ không ở trên. Chủ tịch Phường chỉ quản lý thôi chớ không ở dưới. Còn ai nói nhân dân ở mé sau lưng hồi nào?

Câu chuyện đấu lý nhùng nhằng đó rút cục cũng chẳng đi đến đâu. Trình độ hiểu biết của bà Năm như thế thì có nhồi nhét lý luận cả đời dì cũng không thể vỡ lẽ được thế nào là lãnh đạo nhưng không phải là ngồi trên, quản lý lại không phải là ngồi dưới.

Tuy nhiên không phải lý do đó mà dì Năm bị giảm lòng tin cậy của Uỷ ban Nhân dân Phường. Cảm thông với người dốt nát, ít học bao giờ chẳng xuất phát từ tình cảm hữu ái giai cấp. Hơn nữa, dì Năm lại là người tuệch toạc, có gì nói nấy, ai cũng thấy rõ là không âm mưu. Cán bộ rất sợ những người âm mưu. Càng có học, càng dễ âm mưu, cho nên cần thì vẫn xài, nhưng hết cần thì vắt chanh xong bỏ vỏ. Vấn đề chính yếu là phải nắm chắc lấy chính quyền, bằng mọi cách, mọi giá, triệt để và không khoan nhượng!

Trong thời gian giữ chức vụ tổ Phó an ninh, dì Năm thường tự hào về thành tích đối phó được với lão già cứng đầu nhất trong tổ dân phố là lão Trương Sanh. Bà con lối xóm cũng rất hả hê được nhiều dịp chứng kiến cuộc đấu trí giữa hai nhân vật cùng già nua tuổi tác này. Sau ba mươi tháng tư, con cái của Trương Sanh di tản hết. Chẳng hiểu kẹt giỏ thế nào, chỉ có một mình ông cụ ở lại. Gần một năm sau thì cụ nối liên lạc được với gia đình. Lá thư đầu tiên gửi từ Pháp về, người con lớn của cụ căn dặn: “ Ba cứ yên tâm, con đang làm giấy tờ bão lãnh cho ba đi. Từ nay tới đó chưa biết bao lâu, nhưng trễ lắm thì cũng chỉ trong vòng một năm là cùng. Con đã nhờ người quen chuyển tiền về để ba xài. Có tin gì mới, con sẽ đánh điện cho ba biết gấp!”.  Thế là ông cụ tự xếp mình vào vị trí bên lề xã hội, mặc cho thiên hạ đảo điên, xoay vần chung quanh, cụ chỉ còn có việc tiêu dao ngày tháng chờ ngày có giấy tờ bảo lãnh để rời quê hương.

Ước nguyện này mới nghe thì nhỏ nhoi, nhưng trong thực tế không giản dị chút nào. Đã có lần Liễu giải thích với cụ:

– Thưa bác, dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, lợi ích của mỗi người gắn chặt và thống nhất với lợi ích của tập thể. Vì vậy không có ai là không có trách nhiệm đối với vận mệnh chung của xã hội, lại không quan tâm đến công việc chung của tập thể…

Ông cụ Trương Sanh cau mày:

– Thế thì làm sao?

Liễu cười ngỏn ngoẻn:

– Dạ, thưa bác thế thì xin bác lưu ý đi họp đều cho. Cháu nghe dì tổ trưởng nói bác không chịu đi họp tổ dân phố.

Cụ Trương Sanh vỗ cái quạt đến đốp vào mông mình rồi văng một câu trước khi lùi lũi bỏ đi:

– Đếch!

Liễu cáu lắm nhưng nể ông cụ tuổi già, không dám láo lếu nhiều hơn. Nhưng nàng lập tức đi tìm dì Năm tổ phó an ninh:

– Ông Trương Sanh là người ở ngay trong tổ dân phố của dì. Dì chịu để ông ấy buông tuồng được sao?

Dì Năm bực bội:

– Lão già dịch đó không chịu đi họp thì biết làm sao bây giờ?

– Đó là việc của dì. Trách nhiệm của tổ Phó an ninh mà!

Nói rồi Liễu bỏ đi, mặc cho dì Năm đứng chết trân lại, vừa giận con nhỏ đáo để, vừa tức lão già đầy bản chất lạc hậu, phản động. Đến kỳ họp tổ dân phố lần sau, đích thân dì Năm đến nhà ông Trương Sanh để thông báo ngày, giờ họp. Ông lão khôn hồn rút tuốt lên tận lầu hai, cửa sắt dưới nhà kéo kín mít, thêm một lớp cửa gỗ kín bưng ở bên trong. Dì Năm gõ đùng đùng lên cánh cửa:

– Ông Trương Sanh ơi! Đi họp!

Giọng của dì trước còn hùng dũng, mạnh bạo, nhưng chỉ gào độ mươi mười lăm phút sau là nó thất thanh hẳn đi.  Bà con lối xóm chỉ còn nghe mấy tiếng:

– Sanh…ơi…họp!…

Bà con cả phố có lẽ đều nghe tiếng gào của dì Năm, trừ ông cụ đang ngồi tình queo đâu đó trên lầu hai ngay đấy. Ai cũng đều phục lăn cái tính lì của ông cụ, và càng nghe dì Năm gào thét, càng bụm miệng cười. Cuối cùng dì thua cuộc bỏ đi sau khi đã xỉa xói trước cánh cửa gỗ:

– Rồi nhé! Biết nhé! Lần sau đừng hòng đi mua nhu yếu phẩm nữa nghe ông Trương Sanh! Không đi họp là không có được mua gì hết ráo!…

Nhưng ông Sanh chẳng cần. Ông sống một mình, tiền bạc lại dư dả, ông nghe thấy hết, nên sau này chỉ cười hề hề với bà con :

– Tôi đâu cần. Nhu  yếu phẩm nhằm nhò gì tới tôi.

Thế là cuộc đấu trí giữa dì Năm và ông Trương Sanh kết thúc ở giao đoạn một. Dì Năm tức điên lên, không phải vì buổi họp thiếu người mà vì cái chức tổ Phó an ninh của dì không ăn thua gì tới lão già dịch đó cả.

Bỗng một hôm dì nẩy ra được một sáng kiến đáng giá ngàn vàng. Dì chạy đi gặp lão tổ trưởng dân phố hớt hải:

– Anh Phú đi với tui. Tui sẽ moi lão Trương Sanh ra để anh cho lão một bài học. Nó sống ở đây mà làm như đang sống trên cung trăng, không biết ai vào với ai hết.

Lão tổ Trưởng dân phố nhăn nhó lắc đầu:

– Dì kêu cách mấy lão cũng không ra đâu. Vô ích mà!

– Thì theo tôi đi! Nhớ túm được nó thì cho nó một bài học nghe.

Hai người lót tót đến cửa nhà Trương Sanh. Dì Năm gõ thình thịch lên cánh cửa gỗ:

– Ông Trương Sanh ơi! Ra mà nhận điện tín ngoại quốc nè!…

Lão tổ Tưởng dân phố giật nẩy mình:

– Chết cha! Ẩu nào dì Năm!

Dì Năm ngoảnh ra nhìn lão, khoái chí cười khà. Rồi dì lại gõ tiếp:

– Điện tín nè! Ông Trương Sanh!…

Lão tổ Trưởng không còn bụng dạ nào giảng giải nghĩa vụ công dân trong xã hội mới nữa, vội vã lủi mất. Lủi còn nhanh hơn cả ông Trương Sanh đang cuống cuồng nhảy bổ từ lầu hai xuống, lính quýnh mở mấy lần cửa khoá, then cài. Lúc ông ló mặt ra , dì Năm cười hề hề:

– Còn trốn nữa hay thôi?

Lão Trương Sanh mỉm cười cầu tài:

– Trốn! Ai thèm trốn chi!

Rồi lão hỏi:

– Đâu? Điện tín đâu?

Dì Năm dẩu môi:

– Ham lắm! có điện tín của nhà nước thì có. Điện tín mời đi họp tổ dân phố nè!

Thấy bị lừa bịp quá trắng trợn, lão Trương Sanh la lên:

– Trời đánh mụ lắm đó nghe! Người đâu mà mặt sứa quá vậy!

Dì Năm chỉ rộ lên cười. Đến lúc Trương Sanh đùng đùng kéo cánh cửa sắt lại và đóng thêm cánh cửa gỗ kêu đánh rầm thì dì còn kêu to:

– Tối nay tám giờ nghe ông Trương Sanh. Đúng tám giờ khai mạc buổi họp đó!

Cái trò loan tin trắng trợn này dì Năm không chỉ áp dụng một lần. Nói cho ngay, cũng có hôm dì nài bằng được ông phát điện tín để cho dì trao tận tay Trương Sanh một kỳ.

Lần đó dì kêu ông Trương Sanh bằng giọng quả quyết hơn khiến cho ông bán tín bán nghi. Ông chỉ đứng thập thò mà không thèm mở cửa. Đến lúc dì Năm la lên:

– Không mở cửa ra tui trả cho bưu điện rán chịu à nghe.

Chừng đó Trương Sanh mới chịu kéo cánh cửa ra. Và lần này thì lão toại nguyện. Lão quên những cơn giận dữ lần trước. Lão vồ lấy cái điện tín và cảm ơn dì Năm rối rít. Nhưng trước sau thì cũng có mỗi một lần. Còn kỳ dư những bận khác, dì Năm cho lão leo cây cả. Lão tức điên người lên, nhưng chẳng lần nào lão có đủ kiên gan để mà bỏ ngoài tai câu réo ầm ĩ của dì Năm:

– Ông Trương Sanh ơi, có điện tín ngoại quốc nè!

Riết rồi ông phát bệnh lên vì cái trò trắng trợn ấy. Có lần ông tức quá đứng chết trân ở ngay ngưỡng cửa. Lúc dì Năm đi rồi, ông quị ngay xuống đó. Cơn tức khiến cho ông muốn ngộp thở. Nhưng cả tháng mòn mỏi chờ điện tín của thằng con, lúc nghe có điện, dẫu thế nào ông cũng mừng quýnh lên, mừng xong thì đến lượt bứt râu, đấm ngực thùm thụp “ già rồi mà vẫn còn dại với con mẹ trời đánh thánh vật đó!”.

Nói cho ngay, trong một hai năm  đầu, mọi thứ chưa ổn định ra đâu và đâu thì bầu không khí sinh hoạt trong Phường còn mang cái vẻ ỡm ờ kiểu đó. Vả chăng mọi người vẫn còn rủng rỉnh tiền bạc, đời sống có khó khăn nhưng còn có cái đem bán để mà ăn. Chừng hai năm sau, mọi sinh hoạt đều như ngả sang màu tái xám. Nhịp độ ồn ào chậm đi. Nụ cười của mọi người đã thấy gượng gạo, héo hắt. Nhìn mặt ai cũng thấy vêu vao, cặp mắt lờ đờ thiếu linh động, rõ ra là thiếu chất thịt trong dinh dưỡng hàng ngày. Guồng máy chính quyền cứ siết chặt lại. Trước tiên là đồng chí Sáu Đăng, Phường uỷ, được tổ chức sắp xếp đi học bổ túc văn hoá. Căn trụ sở chi đoàn thanh niên của Liễu cũng lập tức bị thu hồi. Liễu nghe “trên” giải thích:

– Địa bàn xung kích của thanh niên bây giờ là vùng kinh tế mới. Đồng chí hãy cố gắng vận động thanh niên trong Phường hăng hái tham gia nhiệm vụ đó. Vậy mới xứng đáng với danh hiệu “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Liễu thừa thông minh để hiểu được rằng viên Phường uỷ mới nhậm chức muốn mình nộp đơn xin xung phong đi vùng kinh tế mới. Nàng vụt thấy mọi sinh hoạt, cố gắng của mình trong hơn một năm qua chỉ là một thứ trò rỡn chơi.

Nàng đã có thể phát biểu như vẹt bất cứ vấn đề gì trong các tài liệu học tập, nhưng từ lý thuyết bước sang thực hành, nó là cả một sự biến chuyển sâu xa từ cội rễ. Trong hai năm qua, Liễu nói bằng mồm rất nhiều, nhưng nàng luôn luôn che  giấu trái tim của mình. Nay đã đến lúc nàng phải moi trái tim đen ra ngoài ánh sáng để biểu lộ sự tuyệt đối trung thành với xã hội mới. Cọng rơm ba mươi của nàng chỉ qua một lời phát biểu của viên Phường uỷ mới tới đã phút chốc cháy xèo. Liễu thấy đắng ở miệng và nàng lẳng lặng rút lui. Cô gái Sài Gòn trước sau gì cũng chỉ là cô gái Sài Gòn, mặc dù trước đó có thử đội lên đầu đủ thứ nón tai bèo, bộ đội hay xỏ vào chân đôi dép râu kệch cỡm. Liễu ghé qua nhà cậu Sáu Đăng để thông báo cho ông ta biết ý định của Phường uỷ là vận động một đợt thanh niên đi tham gia vùng kinh tế mới. Cậu Sáu Đăng phát biểu ngay:

– Cháu tới đó không được đâu. Chỗ người nhà cậu nói thiệt!

Liễu mỉm cười:

– Cháu biết. Cháu có nhiều người quen đã đi về đó. Họ kể nghe thấy mà ớn. Cán bộ giao cho căn nhà thì xiêu vẹo như đồ chơi trẻ con, cỏ trong nhà mọc cao tới đầu gối, lúc tiếp thu phải khua gậy khắp nơi để đuổi rắn ra khỏi nhà.

Rồi Liễu chép miệng:

– Vậy mà Phường của mình cũng có tới mấy trăm gia đình rỡ nhà đi vùng kinh tế mới rồi đó chứ.

Liễu nói với cậu mà như thốt ra lời thú tội với chính mình. Trong quá trình công tác, Liễu tham gia tích cực nhất trong công cuộc vận động bà con trở về vùng kinh tế mới. Rất may, ông Sáu Đăng đã giải tỏa cho nàng ít ra là một phần mặc cảm tội lỗi. Ông ấy nói:

– Chúng nó nói một đằng, làm một nẻo. Kế hoạch thì hay ho lắm, mà điều chỉ toàn trên giấy tờ. Mình nghỉ thôi, cháu ạ.

Nói xong ông Sáu Đăng lẵng lặng rút vào trong nhà, Liễu nô rỡn với mấy đứa em một lát rồi cũng về. Trên đường phố Liễu gặp dì Năm đang ôm một lẵng đựng đầy thóc những thẻ nhang và hương vòng. Hồi nầy trông dì cũng có vẻ già sọm đi. Công việc buôn bán của dì ngày càng tệ. Bây giờ ai cũng lo chạy gạo, tiền đâu ra mà mua hương cúng bái. Thôi thì tâm thành là chính, vái suông cũng đủ tâm động quỷ thần linh. Mặt của dì vêu vao thấy rõ. Có nhiều hôm dì không bán được lấy một thẻ nhang. Buổi tối trở về căn phòng xếp tối om, dì không buồn châm lên ngọn đèn dầu hay nhóm bếp để đun lấy ấm nước. Dì nằm lẳng lặng xuống tấm ván gỗ kê bên vách tường xoay trở trong tiếng muỗi vo ve nhức óc. Đói. Cái đói hành hạ làm dì trằn trọc. Ở phía bên kia vách tường, mấy đứa con của Lý cũng ti tỉ khóc. Tiếng khóc của lũ trẻ vì thiếu ăn, tiếng trăn trở của bà cụ già trên ván gỗ vì nhịn đói, đã xẩy ra hàng đêm, riết rồi cũng trở thành những âm thanh bình thường sau ngày Sài Gòn được giải phóng.

NHẬT TIẾN
Santa Ana 29.3.1983

Thoáng Hương Phai. Thơ Hư Vô, Nhạc Phạm Quang Ngọc, Ca Sĩ Hà My, PPS Thảo Nguyên.


thoang huong phai

Đường Gương. Thơ Hư Vô


Đường Gương

Chạy đâu mà quýnh quáng
Đường dài lắm em ơi
Có chạy tới hụt hơi
Biết chỗ nào mà đến.

Là con đường định mệnh
Cũng có khúc ngoằn ngoèo
Hành trang em gói ghém
Còn đủ để mang theo?

Bàn chân em nhỏ xíu
Dẫm xuống bụi gai trần
Vết thương chưa cầm máu
Chỗ dấu tích tình nhân.

Dòng sông sâu phía trước
Con nước ngược đàng sau
Em có chạy về đâu
Chắc gì chân không lún!

Một đời thì tôi cũng
Đuổi theo em cùng đường
Vịn chiếc bóng trong gương
Còn nghe mùi hương cũ.

Mà có lần em đã
Vội vã để bước ngang
Mảnh thủy tinh vụn vỡ
Cứa nát cuộc tình tan…

Hư Vô

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: