Vẽ Bóng…Thơ Hư Vô



Tôi như ngọn bút Rotring
Chấm trăm dấu cỏ còn hình dung nhau
Bàn tay lảo đảo lao xao
Vẽ em chiếc bóng vai nhầu áo xưa.

Pha thêm giọt mực cho vừa
Môi em màu nắng thuở chưa biết buồn
Tôi còn quấn quít mùi hương
Thời tình con gái bên đường lá me.

Áo bay trắng phới vỉa hè
Em như dáng phố chiều khoe tóc dài
Để tôi ở trọ trên vai
Hồn treo lơ lửng cho đầy mộng du.

Vẽ em một góc hình thù
Sân trường Kiến Trúc mùa thu đã vàng
Nhuộm chiều quanh những gót chân
Bóng em tan tác ngang tàn tôi xưa…

Hư Vô

Bài Sinh Nhật Không Mẹ. Thơ Hư Vô


(Viết cho sinh nhật tôi, 15/05…)

Mẹ cho con một hình hài
Để con biết khóc trong ngày khai sanh
Nương theo tiếng Mẹ dỗ dành
Thân con như cọng mạ xanh đâm chồi.

Biết buồn từ thuở nằm nôi
Biết nơm nớp sợ Mẹ rời khỏi con
Từ trong giấc ngủ chập chờn
Như còn dáng Mẹ chong đèn thắp khuya.

Đường trần dẫu có rẽ chia
Bóng con hồn Mẹ đâu lìa khỏi nhau
Thì con tóc có bạc đầu
Vẫn như một thuở cuống nhau chưa rời!

Mẹ cho con tiếng khóc cười
Mẹ cho con một kiếp người mong manh
Là ngày sinh nhật tháng 5
Con chờ ngọn nến tàn canh, Mẹ về…

Hư Vô





	

Giêng Non…Thơ Hư Vô




Tôi về giữa tháng giêng non
Trên môi em như vẫn còn tầm xuân
Bềnh bồng sợi nắng sau lưng
Mà nghe hương tóc bừng bừng thịt da.

Bóng em tựa gió lướt qua
Mùa xuân bỏ lại quanh tà áo bay
Lụa là mỏng dính như mây
Quấn vào nhau cho rách trầy dung nhan.

Có đau thì cũng lỡ làng
Chút hương thiếu phụ còn bàng bạc tôi
Tháng giêng chưa kịp đâm chồi
Để em giũ áo chiều phơi lưng trần.

Tôi về ngang phố tình nhân
Còn ai ngoái lại mà chần chờ nhau
Trăm năm hay mới bắt đầu
Hồn tôi cũng đã cứa cào giêng non…

Hư Vô

Lạ Là Tôi…Thơ Hư Vô



Tôi về lạ chỗ lạ nơi
Lạ con phố có một thời tình tan
Đường xưa nắng đã hoang đàng
Hồn tôi chĩu xuống ngang tàng lá khô.

Còn nghe xào xạc mơ hồ
Bóng em như gió nhấp nhô lưng chiều
Tôi về quanh nỗi quạnh hiu
Chân chưa lún đất, rong rêu mọc đầy

Chợt nghe hơi ấm trên vai
Mong manh tơ nắng cho dài tóc em
Tôi về lạ phố lạ tên
Lạ là tôi, vẫn chưa quên nhớ người!

Nhớ từng tiếng khóc lẻ loi
Thuở em quýnh quáng bỏ tôi vào đời
Lạ từ một nét son môi
Nụ hôn ngày cũ em mời mọc nhau…

Hư Vô





	

Khung Cửa Mùa Đông. Thơ Hư Vô




Đâu còn ai ở đó
Lá đỏ rụng đầy sân
Tôi về như lữ khách
Lê lết gót chân trần.

Cửa nhà em chưa khép
Mà người đã biệt tăm
Hồn tôi còn bụi bám
Chút tình em riêng mang.

Dựa lưng vào chiếc bóng
Mùa đông thoáng hơi sương
Mênh mang tựa khói bếp
Em nhúm từ hư không.

Tôi về như gió bấc
Lớt phớt ngoài hiên em
Chỉ một lần thất hứa
Trễ hẹn cả trăm năm!

Còn mấy lần rét mướt
Để nhặt lá sầu đông
Đốt cho tàn qua khứ
Mà em đã gánh gồng.

Cửa nhà em chưa đóng
Tôi bước vào ngổn ngang
Hồn rêu phong phế tích
Còn dấu vết hoang đàng…

Hư Vô

Tôi Biết Nhà Văn Mai Thảo Như Thế. Orchid Lâm Quỳnh


Orchid Lâm Quỳnh


(Nhà văn Mai Thảo (trái) và nhà thơ Du Tử Lê.)

Tấm bảng lớn bự, dựng trước khu Song Long. Hàng thứ hai, kẻ chữ xanh, loại chữ in to, rõ: “Nhà may Thảo.” Tức nhà may áo quần tên Thảo.

Vậy mà tôi đọc làm sao không biết, thành là “nhà Mai Thảo.”

Và nghĩ lao lung: Làm nhà văn lớn oai thật, nhà ở trong hóc bò tó, nhỏ xíu, chỉ là căn phòng chật hẹp trong dãy nhà dài như một bệnh viện tỉnh lẻ. Vậy mà, được ghi tên trên bảng chỉ dẫn lớn bự ở ngoài đường “Nhà Mai Thảo!”

Tôi nghĩ vậy và giữ kín trong lòng, đâu dám bép xép, bác lại mắng cho: “Ê! Con nhóc kia, mày thì biết cái đếch gì”. Cái gì Bác cũng “đếch” hết. Mà hình như khi nào để tỏ dấu âu yếm, thương mến Bác mới dùng chữ “đếch”

Tôi làm sao quên được, những ngày đầu đến Mỹ, trời đông, lạnh buốt, Bác đưa cho tôi cái mền và càm ràm: “Tao chia cho mày cái mền. Có hai vết cháy vì thuốc lá, Nhưng không sao! Vậy là tối nay ông sẽ bị lạnh, nhưng bù lại ông đếch còn lo cho mày nữa.” Một tháng sau, tôi chính thức vào trường. Vào ngay lớp 9, tôi học gấp đôi những đứa nhỏ bình thường. Học không khổ lắm, cái mà tôi sợ nhất là, mỗi ngày phải chạy hai vòng quanh sân trong giờ thể dục.

Bác Mai Thảo nói với bố tôi.

– “Vào trong trường bảo với chúng nó, con tao chỉ bằng cái kẹo, đâu có to béo như chúng mày. Để cho nó chạy nửa vòng thôi!”

Bố tôi dạ vâng nhưng lơ đi. Lần sau, tôi không dám than gì nữa. Tôi sợ có ngày, bác Mai Thảo sẽ lừng lững vào trường nói với thầy hiệu trưởng của tôi, nói bằng tiếng Việt kiểu Bắc kỳ hẳn hoi: “Này ông để cho tôi dẫn nó đi ăn đã. Nó bé thế, học làm đếch gì cho nhiều.” Mặc, cho ông hiệu trưởng có hiểu hay không hiểu tiếng Việt, bác Mai Thảo “đếch” cần biết!

Sáng nào bác cũng đưa tôi hết quán này đến quán khác. “Ông phải cho mày đi ăn chứ! Món ngon vật lạ ở Cali, mấy năm ở Canada, làm đếch gì mày có mà ăn.”

Bác có một tập hồ sơ các quán ăn, trong đó bác cắt những mẫu quảng cáo của các nhà hàng. Mỗi lần bố mẹ đưa tôi đến thăm, bác lại giở ra. “Bún Viễn Đông nhá! Ở đây có món miến lươn rất ngon. Nhưng thế nào cũng phải nghe ông chủ quán Nghị Viên Tony Lâm. hát: “Chỉ hai đứa mình thôi nhé! Đừng cho trăng hé bên thềm” thì cũng kinh lắm, lại còn phải chuẩn bị trả lời câu: ‘Nghĩ thế nào về tình hình thế giới?’ của ông Nghị Viên.” “Phở Nguyễn Huệ nhá! Ăn phở ở đây thì lại được ông chủ nói ‘Xong rồi, đi đi’.”

Bác Cảnh, chủ nhân phở Nguyễn Huệ, chẳng bao giờ lấy tiền của Bác Mai Thảo và cả Bố tôi. Lúc nào thấy chúng tôi, bác cũng sà vào bàn, cười hào sảng “Đi, đi. Xong cả rồi.”

Có một lần tại quán Viễn Đông bàn rất đông văn nghệ sĩ, có cả hai ông chủ tiệm bún Viễn Đông và phở Nguyễn Huệ. Bác Mai Thảo khủng khỉnh nói:

“Quán Viễn Đông là nơi tụ tập của anh em văn nghệ. Anh em văn nghệ khắp nơi về, bao giờ cũng muốn đến Viễn Đông và Viễn Đông bao giờ cũng đón tiếp anh em văn nghệ.”

Nghe thế ông chủ Viễn Đông cười tít tát, rót nước lia lịa vào ly của khách, thì bác Mai Thảo tiếp:

“Tuy nhiên, phở Nguyễn Huệ là nơi… chả bao giờ lấy tiền của anh em văn nghệ.”

Ông chủ quán Viễn Đông quê cơ quá đi. Nói là nói vậy chứ ông Nghị Tony Lâm cũng giúp đở rất nhiều người. Mẹ tôi vẫn nhắc hoài chuyện ông Nghị giúp Mẹ có giấy tờ chính thức để ở lại Mỹ.

Bác Cảnh chủ nhân Phở Nguyễn Huệ cũng là một ân nhân lớn của gia đình tôi. Lúc tôi mới đến Mỹ, vì không có giấy tờ, sợ không đi học được. Bác Cảnh đã nói với Mẹ tôi: “Em cứ lo cho con nó học trường tư, anh sẽ trả tiền cho.” Dù sau đó tôi học được trường công, nhưng chẳng khi nào tôi quên những gì bác đã dành cho gia đình tôi. Bác luôn cho tiền tôi mỗi kỳ nhập học, để mua sắm sách vở áo quần. Ngay khi thấy Mẹ tôi hằng ngày phải lên shop để may, bác cũng mua cho Mẹ tôi máy để Mẹ tôi có thể may ở nhà.

Bác Mai Thảo là người sành ăn và hình như bác chuộng sự cầu kỳ của món ăn hơn là hương vị của món ăn. Bác khen vợ bác Mặc Thu, làm món chả cá Thăng Long rất ngon, bác nhắc hoài chi tiết, nếu không đủ các loại rau yêu cầu, là cô ấy không chịu nấu. Bác khen nhà bác Thăng có món lòng luộc tuyệt vời, dồi phải nhồi đúng cách và nướng lên, đủ bộ mới thơm giòn.

Có hai điều bác say sưa kể là thơ và món ăn. Bác hay nhắc đến Hồ Dzếnh và Vũ Hoàng Chương. Đôi khi bác cũng nhắc đến Chinh Phụ Ngâm, càng uống càng đọc thơ. Bác không thuộc Chinh Phụ Ngâm mấy, đọc vài câu, sau đó “ờ… ờ” lướt đi. Chữ nào thuộc thì đọc lớn, chữ nào không thuộc thì hạ thấp giọng “ờ… ờ”, làm như ngang đó phải “ờ… ờ” như vậy mới đúng cách. Bao giờ bác đọc cũng minh họa bằng cách giơ tay chém vào không khí, chém mạnh hay nhẹ tùy theo câu thơ… thuộc hay không.

Bác cũng hay kể chuyện chưởng. Tôi đâu ngờ bác cũng mê truyện chưởng, kể say sưa. Bác khoái Trương Vô Kỵ và Diệt Tuyệt Sư Thái. Về các chi tiết trong truyện chưởng có vẻ bác thuộc nhiều hơn Chinh Phụ Ngâm. Bác và bố tôi, hai người huơ tay múa chân say sưa với những màn luyện Cửu Âm Chân Kinh, những màn vừa “tuyệt” vừa “diệt” của Sư Thái, những pha quần thảo trên núi, những màn quần hùng tụ họp. Bác Mai Thảo múa, nói đúng hơn là khều khào trong không trung. Bố tôi mặc dù hai lá phổi đã teo tóp vì thuốc lá cũng cười to sảng khoái. Hai “ông thần” nói toàn chuyện lấp biển vá trời, toàn chuyện xẻ băng bửa núi. Có phải đó là niềm mơ ước thầm kín của hai con người thực tế chỉ có thể cầm nổi cây bút, trói gà không chặt!

Hai “chưởng môn” mà bác Nguyên Sa có thơ rằng:

Mai Thảo:

Ông ngồi với hai ông Tây

Ông kia tên Mạc (Martel), ông này tên Cô (Cognac)

Buổi sáng ông chỉ say vừa

Nửa khuya mới tới đúng mùa nho ngon.

Du Tử Lê

Bạn ta bằng nửa cò

Vác trên vai cái đền thờ con voi

Con voi nặng cũng vừa thôi

Có em người đẹp lại ngồi bên trên.

Khi còn tờ báo Văn, bác Mai Thảo hay phàn nàn, tụi Mỹ nó không xài dấu, nên người ta cứ nhầm, không biết “văn” hay “vân”. Đây là tòa soạn báo Văn mà ngày nào cũng có người gọi đến đặt bánh xèo Vân. Bác cũng chúa ghét tiếng alarm của xe. “Ở Mỹ cái gì cũng được, chỉ thỉnh thoảng trong không khí tỉnh lặng, êm đềm, tự nhiên lại nghe đâu đó oạo oạo hú… hú tò te… tò te nghe đếch chịu được.” Lại “đếch”!

Bác nhất định không lái xe, không xài computer và không nói tiếng Mỹ.

Sau này thấy bác yếu quá, chú Khánh Trường có đề nghị, chú sẽ in sẵn những label có tên và địa chỉ của những độc giả dài hạn, bác chỉ việc dán vào bì thư gởi đi. Nhưng bác không chịu, cho là, như thế không đủ trân trọng, không nói được tấm lòng của mình, như đích thân viết tay. Bác nói, người nhận sẽ thích biết bao, khi đọc tên họ bằng chính nét chữ của Mai Thảo. Bác vẫn miệt mài hàng tháng viết tay, tên và địa chỉ những độc giả dài hạn, và gửi đi.

Sau này khi bác quá yếu, Mẹ tôi đã làm thay cho bác. Thỉnh thoảng, trong số độc giả của tờ Văn, mẹ tôi nhận ra tên và địa chỉ của những người yêu cũ, mới của bố tôi. Mẹ tôi không ghen bao giờ, nhưng chắc là đá chảy mồ hôi, đôi khi phải chảy trộm. Tôi tâm đắc vô cùng ý này từ cô Bùi Bích Hà, tôi than với mẹ “Để giữ thể diện cho chồng và cho mình, sau này bé cũng phải làm đá chảy mồ hôi sao? Mẹ nói: “đến đời con, sẽ không còn cảnh đó.”

Những ngày bác Mai Thảo còn tờ Văn, một người nữa cũng bận bịu vì bác, đó là chú Phan Tấn Hải. Một tháng 2 lần, chú Phan Tấn Hải phải chở bác Mai Thảo xuống tận Los, để bỏ báo in và đem báo về. Chú Phan Tấn Hải có một đứa con trai chừng 6, 7 tháng, những lần chú đi Los, bố mẹ tôi phải đến trông thằng bé. Thằng bé đầu trọc lóc, tròn quay và lành như cục đất, chỉ phải cái tội, đòi ẵm suốt trên tay. Nó như một cái máy điện tử tối tân, chỉ cần để nó xuống giường là lập tức nút “on” bật lên. Nó thét nhanh và nhọn như có kim đâm vào người. Ôm nó lên, lập tức nút “off” hoạt động, nó nín bặt. Nay thì nó lớn xồ, lại còn học võ, người to khỏe đến độ có thể ẵm mẹ tôi, để đền cái ơn ẵm nó năm xưa.

Bác Mai Thảo giống như ông Già Làng. Những văn nghệ sĩ ở xa có dịp đến quận Cam, đều muốn ghé thăm bác. Những anh em có cuốn sách mới ra đều muốn có vài dòng của Bác. Bác như một người thân chung của giới văn học và cả nghệ thuật. Bác như cái khuôn dấu ai cũng muốn đóng vào bản văn của mình.

Điều này cũng là cái cớ để chú Khánh Trường biến rất nhiều người trở thành nạn nhân, trong buổi họp mặt có bác Mai Thảo. Mẹ tôi là một nạn nhân mà chú đem ra trêu chọc. Một hôm chú nói giọng nghiêm trọng. “Thưa anh Mai Thảo, có người sắp in tập thơ, vì là tập thơ đầu tiên nên họ muốn nhờ anh viết vài lời giới thiệu.” Bác Mai Thảo mắt lườm lườm, khủng khỉnh: “Ai thế?” Cả bàn ai cũng tò mò, thì vừa lúc ấy chú Khánh Trường chỉ ngay vào mẹ tôi; “Cô này chứ ai.” Trời đất, mẹ thôi la làng, mẹ tôi có bao giờ tơ hào đến chuyện thơ từ, thi phú. Gia đình tôi một người làm thơ đã quá dư, đã quá phiền hà, đã quá nhiều chuyện. Trời ơi! thơ, mẹ tôi sợ muốn chết, mà không biết sao chú Khánh Trường lại nói vậy! Chú đang không có chuyện gì làm rồi đây. Bác Mai Thảo lườm lườm nhìn mẹ tôi, gừ gừ trong cô họng… Mẹ tôi rối rít “Không có đâu anh, anh Khánh Trường nói đùa đó!” Nhưng chú Khánh Trường không tha; cứ nhất quyết là mẹ tôi đã nhờ chú vẽ bìa và lay out, chỉ còn ao ước có vài dòng của bác Mai Thảo là đưa ra nhà in.

Bác Mai Thảo rất quí mẹ tôi, nhưng bác hoang mang quá, không lẽ mẹ tôi lại làm điều cấm kỵ này. Bác nói giọng tuyệt vọng: “Chớ chớ nha em, chớ… chớ… làm thơ nha em!…

Mẹ tôi từng than: Chồng tôi là một nhà thơ, Ra vào ngẩn ngẩn ngơ ngơ thế nào. Đến nay tôi rất tự hào. Vì con tôi chẳng đứa nào làm thơ!!!!

Những lúc ngồi riêng với gia đình tôi, bác Mai Thảo hay tẩn mẩn kể về những người phụ nữ trong đời bác. Cô Phụng, bác quen từ hồi còn ở Hà Nội, cô còn một người em tên Loan. Hai chị em đẹp nổi tiếng ở làng Bình Hồ. Về sau người em trở thành vợ của bác Quỳnh, anh ruột của nhà thơ Du Tử Lê. Còn cô Phụng sau là vợ của ông Xuân Thiêm, một người bạn chí thân của bác Mai Thảo. Dạo đó, thấy bác Mai Thảo quá nghệ sĩ, ông Xuân Thiêm đã nói thẳng: “Cậu và cô Phụng sẽ chẳng đi đến đâu, như vậy tội người ta, cậu nên để tớ cưới cô ấy.”

Vậy là cô Phụng trở thành bà Xuân Thiêm. Sau biến cố năm 75, ông Xuân Thiêm là cán bộ CS cao cấp, ông vào Nam rất sớm, tìm gặp bác Mai Thảo. Hai người bạn xưa đã nằm gác chân lên nhau nói chuyện quá khứ, họ vẫn vui vẻ, thân thiết như ngày xưa. Chỉ đến khi ông Xuân Thiêm nói: “Thôi để tớ “tranh thủ” đi tắm cái đã” thì bác Mai Thảo ngán ngẫm. (bác “đếch” chịu được). Lần thứ hai ông vào, ông đem cho bác một cuộn băng cassette:

“Vợ tớ nó khóc, nó nhắc đến cậu, nó gởi cho cậu cái này.”

Trong cuộn băng, cô Phụng kể lại những ngày cũ, rồi bác Mai Thảo vào Nam, cô ở lại cơ cực biết chừng nào.

Điều mà bác Mai Thảo sợ đã không xảy ra, vẫn cái giọng Hà Nội chậm rãi, đài các, ngọt ngào, không hề lẫn một chữ nào của thời đại mới. Cô vừa nói vừa khóc.

Tất cả những điều này, bác Mai Thảo ghi lại trong một tùy bút có tên “Người Hà Nội Cuối Cùng” trong tập “Ngọn Hải Đăng Mù” do Làng Văn xuất bản năm 1986.

Một người nữa mà bác Mai Thảo luôn nhắc bằng một giọng trân trọng, lưu luyến, là cô Thái Thanh. Hằng năm, sinh nhật cô, bác thường bảo Mẹ tôi mang hoa đến. Có một lần tôi được hân hạnh là người mang hoa đến cho cô, và được nghe cô, vừa đàn vừa hát những bài tình ca bất hủ của Phạm Duy và Phạm Đình Chương.

Nhà cô Thái Thanh, tôi không tìm ra một hạt bụi, chỗ nào cũng tinh tươm ngăn nắp. Bác Mai Thảo kể: “Thái Thanh rất thích ‘nhiều’, cái gì nhiều là thích.

Những lần đi chơi ở Chợ Lớn, khi thấy người ta để cả dãy lu, Thái Thanh reo lên thích thú. Ngày tôi đến Mỹ, đi vào các siêu thị, thấy người ta sắp hàng hóa từng dãy dài. Tôi nhớ Thái Thanh và chỉ ước ao có cô ấy ở đây.” Tôi chảy nước mắt khi nghe Bác nói như vậy. Đơn giản, nhưng chí tình đến thắt ruột gan.

Sau này trí nhớ Bác kém đi, cô Thái Thanh có năm nhận đến hai lần hoa sinh nhật.

Bác cũng hay nhắc đến một người ca sĩ nổi tiếng khác, là cô Hà Thanh (*), cô người Huế. Đáng lẽ đã có một đám cưới giữa Bác và cô. Bác biết đến cô qua Bác Vũ Quang Ninh, bấy giờ là Giám Đốc Đài Phát Thanh Huế. Bác kể cứ mỗi lần đi chơi là cô Hà Thanh rủ tất cả chị em đi theo, “mà tôi thì đếch muốn đi đông như thế.” Khi đến gặp bố mẹ cô để xin hỏi cưới. Bác đã nói: “Thưa hai bác, tôi là Mai Thảo, tôi muốn xin hỏi cưới em Lục Hà. Nếu hai bác đồng ý thì vài hôm nữa tôi sẽ nói bố mẹ tôi vào thưa chuyện cùng hai bác.” Thời đó khi muốn cưới vợ, phải nhờ một người mai mối, người này phải quen biết cả hai gia đình và quan trọng là người này phải cùng vai vế với hai bên bố mẹ. Không ai tự mình thưa chuyện như thế. Nên đương nhiên bố mẹ cô Hà Thanh không chịu được cái lối hỏi cưới đường đột của Bác, nhất là gia đình cô Hà Thanh là gia đình trâm anh thế phiệt ở đất Thần Kinh!

Một người nữa, bác Mai Thảo cũng hay nhắc là cô Cúc. Cô là một vũ nữ đẹp nổi tiếng. Có hôm mẹ tôi hỏi bác Nguyên Sa “Có phải hoa cúc trong thơ anh là Cúc của anh Mai Thảo” “Bậy! Cúc của anh không dính dáng gì đến Mai Thảo hết.” Hôm đám tang bác Mai Thảo, khi hạ quan tài xuống, người ta có làm một lễ đổ rượu. Mọi người rót rượu mời bác uống, xong đổ rượu xuống huyệt. Bác Nguyên Sa có nói về điều này rất thú vị, nhưng tôi không dám kể ra đây.

Trở lại chuyện cô Cúc. Có một lần bác Mai Thảo nói, nếu bác không ép buộc cô Cúc đi nhà thương, thì nay bác đã có một người con. Bác rất hối hận về chuyện này, nhất là những ngày cuối đời, bác cứ than: “Vậy là hết, chấm dứt Mai Thảo, không còn gì tiếp nối nữa. Tôi yêu cái hình ảnh người cha đội mũ lưỡi trai xoay đằng sau, cõng một đứa con trên vai và thơ thẩn ở bãi biển.”

Bao nhiêu năm ở Mỹ bác đã nhắn tin nhiều lần để tìm tông tích cô Cúc, nhưng vẫn biệt tăm. Về sau hình như bác Hoàng Anh Tuấn (tác giả Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội) đã gặp được cô Cúc, còn ở Việt Nam, bán chuối chiên ngoài chợ. Nhưng lúc này bác Mai Thảo đã vào nursing home ở đường Haster, khi tỉnh khi mê.

Bác nói về cô Cúc: “Cái con bé đó, nó cứ ưa lấy áo sơ mi của tôi để mặc, nó thì bé, mặc cái áo thùng thình, trông hay đáo để.”

Trong câu chuyện, bác Mai Thảo hay nhắc đến người này người kia, phần nhiều là những điều tốt đẹp. Tôi quý bác Mai Thảo nên hầu như những chuyện bác kể, tôi cũng vui buồn theo như bác. Tôi cũng nhớ ơn cô Nhã Ca như Bác đã nhớ ơn cô. Khi cô Nhã Ca cho sắp hàng các con, để hỏi ý kiến “Bác Mai Thảo đang bị công an lùng bắt, các con có đồng ý cho bác trốn ở nhà mình không?” Tất cả những bàn tay nhỏ xíu đồng loạt giơ lên.

Bác cũng kể ca sĩ cổ nhạc Thành Được, vẫn thường cung kính gọi bác là “Thưa Văn Nhân.” Mặc dù bác Mai Thảo đã bao lần nhắc là đừng làm thế, nhưng lòng quý mến người có chữ nghĩa khiến nghệ sĩ Thành Được cho rằng không chữ nào xứng đáng với Mai Thảo bằng chữ “văn nhân”

Không chỉ giới văn nghệ quý mến bác. Kể cả những nơi công sở Mỹ họ cũng dành cho bác sự ưu ái đặc biệt. Mẹ tôi kể có một hôm bác Mai Thảo làm mất hết giấy tờ. Bố mẹ tôi chở bác lên DMV, đang sắp hàng rồng rắn, thì có một người Mỹ chạy đến mời bác vào sớm hơn số thứ tự. Sau này hỏi ra mới biết có người nhận ra bác, nên họ xin với boss cho bác vào sớm hơn.

Những ngày cuối đời, bác sống rất là thương. Bác dời phòng từ lầu một xuống tầng trệt, vì bác không còn lên nổi cầu thang. Phòng lúc nào cũng mở cửa, để anh em có thể vào bất cứ lúc nào. Bác nằm trên giường chờ ngóng bước chân anh em. Bác bảo: “Chúng nó cũng rầm rập đến, nhưng chúng nó lên phòng Khánh Trường nhậu vui hơn, chúng đếch ghé vào đây, đi ngang đây chúng rón rén sợ làm phiền tôi. Tôi biết hết! Tại sao chúng nghĩ chúng làm phiền tôi, thì chúng cứ vào đi chứ, cửa tôi mở mà!”

Sáng nào bố mẹ tôi cũng đến, đưa bác ra Nguyễn Huệ. Mẹ tôi phải dìu bác, bác không còn vững nữa. Ban đầu bác còn hất tay mẹ tôi, nhưng sau đó bác không còn sức nữa nên phải ngã cả khung xương lòng khòng của bác trên hai vai mẹ tôi. Mỗi lần bác vào, tất cả khách trong quán đều buông đũa lặng người đi, như thấy nếu mình không ngưng sẽ rất mang tội với một người có chữ nghĩa như bác. Thỉnh thoảng buổi chiều tối bố mẹ tôi cũng đưa bác ra ngoài, có hôm bác năn nỉ bố mẹ tôi ngủ lại. Ban đầu Bác còn nói xa gần “Hai bạn về làm đếch gì. Ở lại đây đi, mai sáng mình lại đi tiếp, Lê và tôi ngủ dưới đất, để cho cô ấy nằm khò trên giường tôi.” Về sau bác không nói thế nữa, mà thú thật: “Cứ đến khuya là tôi sợ, tôi cứ thụt lùi, thụt lùi, khi tôi đụng vào tường hết đường chạy thì tôi sợ quá! cái thằng cha thần chết nó cứ ám tôi về đêm.”

Phòng bác, sau này bừa bộn, đồ đạc không còn ngăn nắp như xưa… Tội bác quá! trong restroom, hàng áo quần khi nào cũng đưa ra tiệm giặt ủi, vẫn thẳng tắp, vì lâu lắm rồi, bác không đụng đến, những chiếc áo mang hơi hướm Mai Thảo, những chiếc khăn quàng điệu đà của công tử Hà Thành.

Trên bàn thờ gia đình tôi, ngoài hình của bà nội, ông ngoại, cô Huyền Châu (nhân vật chính trong Trên Ngọn Tình Sầu) là hình của bác Mai Thảo. Mẹ tôi cất giữ rất nhiều trang báo viết về Bác khi Bác mất, những trang cáo phó, phân ưu, cùng với mảnh vải đen nhỏ cho những ai muốn để tang Bác, Mẹ tôi cất như của gia bảo. Ngoài ra Mẹ tôi cũng giữ kỹ thủ bút cuối cùng của Bác, đó là vài chữ nguệch ngoạc của Bác viết trên miếng băng của hospital. Cả nhà tôi yêu Bác, rất nhiều nơi trong nhà có hình bác Mai Thảo.

Như thế, chúng tôi chẳng bao giờ không có Bác Mai Thảo trong cuộc sống.

Orchid Lâm Quỳnh

_______

Chú thích:

Do sự giới thiệu của ông Vũ Quang Ninh, nhà văn Mai Thảo đến Huế để phỏng vấn và viết bài cho Kịch Ảnh về 3 cô Hà Thanh, Ngọc Hoa và Huyền Vân. Sau lần đó ông trở lại Huế lần nữa và đến thẳng nhà cô Hà Thanh để hỏi cưới như đã nêu trong bài (Hồ Đình Vũ)

Tháng Sáu, Paris và Em. Thơ Hư Vô




Em giấu mùi hương sau gáy tóc
Cho còn thơm thảo chút Paris
Tôi về ở trọ em, ngực trái
Tim chung nhịp đập ngát xuân thì!

Vòng tay ghì chặt cùng nhan sắc
Như chùm hạt dẻ cuốn vào nhau
Cho Paris xanh hồn tháng sáu
Trên da non còn vết cứa cào.

Từ em biết nâng niu vạt nắng
Khi lòng gương cũ dậy mùi hương
Bóng tôi còn vướng ngang sợi tóc
Thì trăm năm đâu dễ hoang đường.

Mà tôi mường tượng cùng tháng sáu
Chỗ em phơi dáng nắng Paris
Tượng đá còn chưa thành cổ tích
Vì em muôn thuở vẫn kiêu kỳ…

Hư Vô

Gửi Các Bạn Tôi, Sống Chết Ở Sài Gòn. Hoàng Hải Thuỷ


Hoàng Hải Thuỷ
Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002


Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau-

Ngày mới đến Hoa Kỳ tôi nói: “Tôi mang Sài gòn trong trái tim tôi…” Tôi muốn nói tôi yêu Sài Gòn, tôi đã sống đến bốn mươi năm trong lòng thành phố Sài Gòn thương yêu, tôi đã vui buồn, đã đau khổ với Sài Gòn. Nay phải đi xa, tôi mang Sài Gòn theo tôi nên tôi sẽ không thấy nhớ Sài Gòn!

Sự thật không như tôi nói, không như tôi tưởng.
Trước hết, câu nói ấy có cái giọng của Sáu Keo: “Miền Nam trong trái tim tôi…”

Dù tôi có yêu thương Sài Gòn đến chừng nào đi nữa – là Công Tử Hà Đông bên hông Hà Nội, Bắc kỳ chính cống Bà Lang Trọc nhưng tôi yêu Sài Gòn hơn tôi yêu Hà Nội -, dù tôi có sống với Sài Gòn lâu đến chừng nào đi nữa, khi phải xa Sài Gòn tôi vẫn nhớ thương Sài Gòn. Nhớ thương vỡ tim, xé gan, cháy lòng, đứt ruột như nhớ thương người đàn bà mình yêu, người đàn bà đa tình yêu mình cực kỳ, cho mình hưởng tất cả, mình từng sống hạnh phúc bên nàng mà mình phải xa nàng.

Đêm cuối năm, mưa rơi suốt đêm trên Rừng Phong.
Canh khuya trằn trọc nằm nghe tiếng mưa đập vào khung kính cửa sổ, tưởng như đang nằm nghe mưa rơi trên mái ngói xanh rêu trong căn nhà nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ Sài Gòn.

Bồi hồi tưởng nhớ những cây mưa đầu mùa năm xưa ở quê nhà. “Cây mưa”! Đúng là cây mưa. Những năm 1956, 1957 xanh xưa tôi còn trẻ, trong loạt bài gọi là phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn, tác phẩm đầu tay của tôi, tôi viết: “Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong…”

Hơn bốn mươi mùa mưa sau nhớ lại, thấm và thấy đúng biết chừng nào. Sài Gòn của tôi thuở 1956-1960 thanh bình sau những cơn mưa lớn, nhất là những cơn mưa đêm, sạch như người đàn bà đa tình yêu tôi, tôi yêu, khi nàng mới tắm xong.

Sáng nay mưa vẫn rơi trên Rừng Phong.
Người tha hương lúc nào cũng nhớ quê hương.

Tết đến. Tết là dịp đoàn tụ gia đình. Tết đến, người tha hương nhớ thương quê hương hơn. Những lời thơ Thanh Nam ray rứt trong tim tôi:

Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau.
Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
Hiện rõ trời xuân một thưở nào.

Tỉnh cơn mê sảng âm thầm
Ngó ra đất khách mưa xuân hững hờ
Tháng Tư, cơn sốt đầu mùa
Gợi trong tiềm thức những giờ oan khiên
Ghé thân lữ thứ trăm miền
Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn!


Tháng Chạp Tây, bánh xe lãng tử đưa tôi đi một vòng Cali. Đêm cuối năm trong một thành phố nhỏ, tôi xem một phim video về Hà Nội do những người Hà Nội làm. Thành phố Hà Nội được người Hà Nội yêu thương quá cỡ. Hà Nội được yêu thương trước 1945, Hà Nội được yêu thương sau 1945. Có đến 50 bài thơ, bản nhạc được làm để ca tụng Hà Nội và diễn tả tình yêu Hà Nội.

Trong khi đó thành phố Sài Gòn thương yêu của tôi có gì? Thành phố Sài Gòn của tôi được thương yêu, được ca tụng như thế nào? Bao nhiêu? Một bài Sài Gòn Đẹp lắm Sài Gòn ơi của Y Vân, một bài Vĩnh biệt Sài Gòn của Nam Lộc. Còn gì nữa??

Tôi sẽ viết về thành phố Sài Gòn và tình yêu Sài Gòn.
Sáng nay, tôi làm một cuộc tính sổ những văn nghệ sĩ đã từ giã cõi đời này kể từ ngày 30 Tháng Tư. Bản danh sách của tôi không đầy đủ. Tôi xin lỗi vì không thể kể tên tất cả những văn nghệ sĩ đã vĩnh viễn đi khỏi cuộc đời. Nhớ được người nào tôi ghi lại người ấy, ghi không theo thời gian mà cũng không theo vần ABC.
Trước hết tôi phải kể anh Chu Tử Chu Văn Bình. Anh là văn nghệ sĩ chết trước nhất kể từ ngày 30 Tháng Tư. Anh không chết sau ngày 30 Tháng Tư mà là trong ngày 30 Tháng Tư. Đạn quân thù bắn theo con tầu ngày ấy đưa anh ra biển đã giết anh, thân xác anh nằm trong lòng đại dương.

Anh một đời hai lần bị trúng đạn. Một buổi sáng năm 1964 – thời điểm quân đội Hoa Kỳ đang kéo vào tham chiến trên chiến trường Việt Nam – khi từ nhà ở đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận, ra xe hơi để đến tòa báo Sống, nhà in Tường Vân đường Gia Long, có kẻ chờ sẵn trước cửa nhà bắn anh nhiều phát đạn xuyên qua cửa xe sau. Có viên đạn trúng cổ anh, xuyên qua miệng. Nguy hiểm cực kỳ nhưng anh không chết. Anh sống được mười năm nữa-

Và đây là tên những văn nghệ sĩ, những ký giả đã lìa đời kể từ ngày 30 Tháng Tư 1975 đến sáng hôm nay. Những người ra đi vĩnh viễn từ những ngõ hẹp, những cư xá đông người, những nhà tù Sài Gòn:

Hoàng An, Mai Anh; Thái Dương Nguyễn Văn Mai, nguyên Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam; Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp, nhạc sĩ Lan Đài (hai người nghe nói bị chết trên biển khi vượt biên); Mạc Ly Châu; Huy Cường diễn viên điện ảnh; Thi sĩ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn; Trần Việt Hoài, thi sĩ, bút hiệu Thiết Bản đạo nhân, chết trong Làng Báo Chí; Thiên Hổ tức Linh mục Nguyễn Quang Lãm, chủ nhiệm nhật báo Xây Dựng, nhà thờ, nhà riêng, nhà in, tòa báo ở đường Thánh Mẫu, Ngã Ba Ông Tạ, cùng khu với Cà phê Thăng Long của Vũ Văn Cẩn; Cát Hữu; Minh Đăng Khánh – Khánh có nhiều nghề: giáo viên, ký giả, biên tập đài phát thanh giữ chương trình Gia đình Bác Tám, diễn viên kiêm đạo diễn điện ảnh, họa sĩ, dậy hội họa, bị bắt Tháng Tư 1976, đi tù về Khánh bị bại liệt nửa người, vẫn lê lết đi lại được cho đến ba năm sau; Trọng Khương, tác giả Bánh Xe Lãng Tử, Ghen; Thiếu Lang; Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú, dịch giả Bố Già (The Godfather, Mario Puzo, từng là sách bestseller). 1985 hai nhà xuất bản Mít Cộng tái bản Bố Già của Tú Lé. Tú bị bắt vì choác. Sau thời gian nằm ở cái gọi là Trại Phục Hồi Nhân Phẩm Khu Nhà Thờ Fatima, Tú bị đưa ra một trại lao động cải tạo – gọi tắt là Trại Lao Cải – ở miền Trung. Nghe nói sáng sớm, trời lạnh, Tú rít hơi thuốc lào và ngã ra chết; Thi sĩ Bàng Bá Lân; Ký giả Thể thao Thạch Lê tức Trung Tá Lê Đình Thạch, người từng là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến, anh Thạch đi cải tạo về, qua đời tại nhà ở Khu Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa; Nguyễn Hiến Lê; Hoàng Vĩnh Lộc, đạo diễn điện ảnh, tác giả phim Người Tình Không Chân Dung, Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương-; Hoàng Ly, tác giả tiểu thuyết Một Thời Ngang Dọc, Giặc Cái-; Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, tác giả hai câu thơ nghe nói là tả nữ ca sĩ Khánh Ly: “Từ Em tiếng hát lên trời, Tay khơi dòng tóc, tay vời âm thanh-“; Trọng Nguyên; Vương Hồng Sển; Xuyên Sơn; Trần Việt Sơn; Hoàng Thắng; Trịnh Viết Thành; Lê Thanh tức Phòng Cao; Hai nhạc sĩ lớn Lê Thương; Dương Thiệu Tước; Hồ Hữu Tường; Minh Vồ, chủ nhiệm tuần báo Con Ong; Y Vân, tác giả Lòng Mẹ, Sài Gòn Đẹp Lắm Sài Gòn Ơi; Hoàng Thư; Trần Lê Nguyễn; Thượng Sĩ; Huy Thanh Nguyễn Huy Thái tức Trường Sơn; Lê Văn Vũ Bắc Tiến; Mặc Thu
° ° °
Những văn nghệ sĩ chết trong tù:
– Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, bị bắt năm 1984, chết vì cao áp huyết trong Nhà tù Chí Hòa năm 1986.
– Anh Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt tháng 3, 1976, tuyệt thực đòi Việt Cộng trả tự do năm 1978 ở Trại Lao Cải Xuyên Mộc, bị cai tù không cho uống nước đến chết.
– Anh Vũ Hoàng Chương, bị bắt tháng 3, 1976, bị tù sáu tháng, về nhà được bẩy ngày thì qua đời.
– Dương Hùng Cường – Dê Húc Càn, sĩ quan, đi cải tạo trở về năm 1980; năm 1984 bị bắt lại trong nhóm Biệt Kích Cầm Bút, chết trong sà lim Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu năm 1987.

– Huy Vân, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc.
– Nhạc sĩ Thục Vũ, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc, tác giả bản nhạc “Anh Ở Đây, Bạn Bè Anh Cũng Ở Đây-“
° ° °
Những văn nghệ sĩ qua đời ở hải ngoại:
Duyên Anh Vũ Mộng Long, mất ở Paris, 1997. Ký giả Anh Quân, ký giả Nguyễn Ang Ca, mất ở Bỉ quốc, Hùng Cường, Vũ Huyến, An Khê, Vũ Khắc Khoan, ký giả Tô Văn Trần Đức Lai, Tử Vi Lang, Nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh, Bình Nguyên Lộc, Thanh Nam Trần Đại Việt, Nguyễn Tất Nhiên, nhạc sĩ Thẩm Oánh, Đạm Phong, Nguyên Sa, Mai Thảo – những ông trên đây sống và chết ở Hoa Kỳ. Trần Văn Trạch qua đời ở Paris, ký giả Thái Linh Phạm Linh, chị Kiều Diễm Hồng trang Mai Bê Bi nhật báo Chính Luận ngày xưa, qua đời trong một Nursing Home ở Virginia Đất Tình Nhân, Hoàng Trọng, Sĩ Phú, Hoàng Thi Thơ ở Cali, Ngọc Dũng ở Virginia, Mai Trung Tĩnh ở Maryland
° ° °
Tháng Giêng Tây 2000 gần như tất cả các văn nghệ sĩ VNCH còn sống, quân và dân, đều đã rời quê hương đi ra hải ngoại. Họ sống nhiều nhất ở Hoa Kỳ, rồi Úc, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Canada.

Số văn nghệ sĩ còn sống ở Thành Hồ có thể đếm được trên mười đầu ngón tay: Tú Kếu Trần Đức Uyển; Lê Xuyên Chú Tư Cầu, bán thuốc lá lẻ ở góc đường Ngô Quyền – Bà Hạt, gần chợ Nguyễn Tri Phương; Huỳnh Phan Anh; Trần Phong Giao; Thế Phong, tác giả Việt Nam Bi Thảm Đông Dương; Hồ Nam; Phan Nghị; Văn Quang; Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung; Đằng Giao; Dương Nghiễm Mậu; Cao Nguyên Lang; Vũ Bình Thư Lã Phi Khanh, tác giả Lệnh Xé Xác; bà Tùng Long, bà Lan Phương; bà Mộng Tuyết; hai nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng; Nguyễn Thị Thụy Vũ; Lý Thụy Ý; nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang-

Văn nghệ sĩ hiện sống ở Thành Hồ ly kỳ nhất, theo tôi, là Văn Quang, tác giả những truyện tình Chân Trời Tím, Suối Đam Mê, Tiếng Hát Học Trò v.v-

Văn Quang là Trung Tá Giám đốc Đài Phát Thanh Quân Đội cho đến ngày tan hàng. Anh nhan sắc không hơn gì anh em chúng tôi bao nhiêu, nếu có gì hơn thì chỉ là anh hơn chúng tôi cái mác carihom Oméga bộ xương cứu chúa. Nhưng anh có cái số đào huê dễ nể. Anh có đến năm bà vợ – những bà cùng đương sự ăn ở công khai, chính thức vợ chồng với nhau, dù không cưới hỏi, không đãi ăn nhà hàng, trong thời gian dài ngắn không đều là một hai niên, ba bốn niên, tức là không kể những nhân tình, nhân bánh lâu lâu sáp lại nhấp nháy, tan hàng. Bà vợ nào của anh cũng nhan sắc trên mức trung bình. Đi cải tạo mười mấy mùa thu chết mới được về, Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến bút hiệu Văn Quang, có thừa tiêu chuẩn để đi HO sang Hoa Kỳ, nhưng anh đã không đi.

Văn Quang không sang Mỹ không phải vì ghét Mỹ.
Văn Quang ở lại Thành Hồ không phải vì ưa Việt Cộng.
Anh không sang Mỹ vì anh hùng thấm mệt, vì đại bàng mỏi cánh, vì những lý do riêng tư.
Hiện anh sống bình yên trong căn hộ ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Quận Ba, Sài Gòn.

ÁO VÀNG HOA

Sáng cuối năm trong căn nhà tối
Em mở tủ nhìn đời ngày cuối.
Mắt Em buồn bừng sáng mầu hoa
Em nhớ lại ngày may áo mới.
Hai năm rồi mặc áo bà ba
Đời tẻ nhạt như làn tóc rối.
Áo ướm thân, Em khóc, Em cười…
Em có biết Em vừa trẻ lại.
Đây áo hoa vàng, anh chọn, em may
Như giọt nước trong giòng tình ái.
Trong ưu phiền mắt lặng nhìn nhau
Em thầm hẹn áo này giữ mãi-!
Em yêu dấu, ngày Em trở lại
Đất ngàn năm, như cỏ, như hoa
Anh sẽ mặc cho Em lần cuối
Áo hoa này rồi tiễn, rồi đưa-
Em lại hỏi có ngày ta phải
Chia áo này cho các con ta?
Em yêu dấu, Em ơi, đừng ngại
Mặc cho đời tháng lại, ngày qua
Trong xương thịt ta còn giữ mãi
Những cái gì riêng của đôi ta.
Khi Em nằm xuống, khi tàn lửa
Trong hào quang của những tiên nga
Khi xe hạc vàng nhung tới cửa
Đón Em về xa cõi trời xa
Anh sẽ mở hồn Anh lấy áo
Mặc cho Em chiếc áo vàng hoa.
Trong u ám một ngày mây phủ
Nặng những sầu thương, những xót sa
Em đóng cửa hồn, che áo mới
Và ra đường trong chiếc bà ba.

Hoàng Hải Thủy

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng. Nguyễn Bảo Trung (Vô Thường)


Nguyễn Bảo Trung – (Vô Thường)


Một lần nọ tôi đi khám bệnh từ thiện cho những đứa trẻ mồ côi tật nguyền ở Thủ Đức. Thật ra tôi không muốn đi, vì đó là Chủ Nhật, ngày để nghỉ ngơi. Ngày mà tôi có thể nằm dài trên sofa vừa uống bia vừa xem trận bóng ngoại hạng, thi thoảng gào lên tức tối, cứ y như là cả cuộc đời chỉ có mỗi chuyện đá bóng vào gôn là có ý nghĩa.

Tôi khám qua quýt cho xong. Lúc ra về tôi lướt qua những ma sơ chăm sóc trẻ. Họ chẳng có gì đặc biệt, không phấn son với những chiếc áo dòng màu xanh. Nhưng khi gần tới cổng, tôi thấy một ma sơ dáng người nhỏ thó, chiếc lưng còng xuống, vẻ như đang gánh một vật gì đó quá lớn trên vai. Cam chịu. Cô chỉ có một cánh tay trái, tay phải đã cụt.

Khi bước qua, tôi cúi đầu, chào theo phép lịch sự tối thiểu của một bác sĩ. Nhưng lúc cúi xuống, vô tình tôi cảm nhận được một mùi hương thanh thoát tỏa lan nhẹ nhàng từ cánh tay đang kéo chiếc cổng sắt nặng nề.

Tại sao ma sơ tật nguyền này lại có đôi tay thơm tho đến thế?

Câu hỏi đó theo tôi suốt chặng đường về. Để rồi từng đêm từng đêm tôi bị mùi hương đó ám ảnh. Tôi nói với đồng nghiệp, mọi người đều bật cười và trêu: Mày nên đi khám tâm thần, bị ảo khứu, nguy hiểm lắm. Ha ha… sau những nụ cười vui vẻ ấy tôi đâm hoang mang. Không lẽ mình bị tâm thần? Không lẽ đôi tay xấu xí, tật nguyền ấy lại có thể ám mình? Tôi có rất nhiều đôi tay để ám cơ mà? Những đôi tay hồng hào, mềm mát như gió của bạn tình, những đôi tay đầy ma lực từng ngón như rắn lên xuống, làm tôi kiệt sức bao lần.

Quyết không để mình bị tâm thần lãng như vậy, tôi đi Thủ Đức một chuyến nữa, vẫn người ma sơ có đôi tay gớm ghiếc ấy mở cổng và vẫn mùi hương thanh khiết bay, váng vất như hương hoa hồ điệp. Người ma sơ tên Thị Mây bối rối cúi xuống trả lời khi nghe tôi hỏi: Dạ… tại sơ bị tai nạn giao thông. Chỉ vậy thôi, đúng chỉ vậy thôi, tai nạn giao thông nghiền nát cánh tay phải của ma sơ. Như vậy đó, ừ thì cũng như bao người cụt chân, cụt tay khác bị tai nạn. Thế thôi. Có gì mà vướng bận?

Tôi quay về Sài Gòn, nhủ lòng mình rảnh và vớ vẩn quá. Lo công việc đi, còn bao nhiêu thú để ăn chơi, còn bao nhiêu bàn tay đẹp để nắm, để sờ mó những khi bản năng thôi thúc, đúng không? Nhưng tất cả vẫn như cũ. Hết ngày rồi lại đêm mùi hương cánh tay đó vẫn thoang thoảng quanh tôi.

Khi thì dịu dàng như mùi hoa chanh, khi thì nồng nàn như mùi hoa nguyệt quế. Tôi sợ đến nỗi, tưởng mình đã điên. Sao kỳ lạ đến như vậy? Một ma sơ có đôi tay cụt vì tai nạn thì có gì là bất thường? Tôi điện thoại cho thằng bạn thân, thạc sĩ chuyên khoa tâm thần, nó cười hú hú lên rồi phán: Mày bị con nhỏ “viêm cánh” bỏ bùa rồi, ha ha ha, mày có gu với mùi hôi đó, cưới đi, để tối tối hít hít ngửi ngửi cho sướng, ha ha ha. Tôi cũng ha ha ha trong ngượng ngùng.

Nhân dịp có chuyên gia tâm lý bên Mỹ qua dự hội nghị Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân tai biến mạch máu não. Tôi liên lạc xin một cuộc hẹn để tư vấn. Thật khó, vì bà ta không có ý định là qua Việt Nam khám chữa bệnh. Người nước ngoài rất rõ ràng trong công việc. Sau khi hỏi hết mọi chuyện, bà Rose, chuyên gia tâm lý Mỹ, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi dừng ở khoảng giữa. Tôi hơi ngượng một chút với cái nhìn soi mói ấy.

– Lần cuối cậu quan hệ tình dục khi nào?
Tôi quan hệ tình dục thì liên quan gì đến một vụ ám ảnh cánh tay cụt, tôi suy nghĩ như thế, nhưng vẫn trả lời: “Cách đây ba tháng”.
– Tại sao lâu thế? Tôi nghĩ vấn đề của cậu là một thiếu thốn trong việc quan hệ, hay không thỏa mãn trong vấn đề chăn gối nên mới như vậy.

Trời… Sao người nước ngoài hay liên kết mọi sự rắc rối cuộc sống vào trong tình dục thế kia? Hay họ xem việc đó cũng giống như ăn, ngủ, cầu nguyện?

Bó tay. Tôi hay dùng nhiều từ “thông dụng” như thế. Chứ còn biết làm gì? Nhiều khi ngủ tôi mở bung hết cửa sổ xịt nước hoa khắp phòng mà không thể đuổi được mùi hương đó.

Tôi đành quấy quả trở xuống Thủ Đức. vẫn người ma sơ có cái tên quê mùa Thị Mây ấy mở cổng. Và vẫn lời đáp nhẹ như bấc, sơ bị tai nạn giao thông. Nhưng ánh mắt ma sơ nhìn tôi rất khó hiểu.

Lần này tôi không về vội, tôi đi lang thang trong khuôn viên ngôi nhà dòng dưới hàng cây bàng xanh thẳm lá. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá. Không gian thật thoáng đãng và thanh bình. Bầu trời rất trong và mây trắng trôi nhởn nhơ. Tôi giật mình tự hỏi, sao tháng ngày qua tôi cuống cuồng hết đi rồi chạy, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng để được gì? Tôi chưa bao giờ chịu dừng lại ngồi xuống bên một tách trà thơm để ngắm nhìn cuộc sống, hay đơn giản hơn để đọc một trang sách.

Vô tình tôi nhìn vào căn phòng đối diện. Tiếng cười the thé của lũ trẻ tật nguyền vọng ra, có một ma sơ già ngồi giữa chúng. Bà ta vỗ tay nhè nhẹ vào nhau, hết nghiêng nhìn đứa này ríu rít cười, đến nghiêng nhìn đứa kia nheo mắt. Cả căn phòng như bừng sáng. Thứ ánh sáng trong trẻo thánh thiện. Nụ cười móm mém không có son môi, không có phấn má, mà sao đẹp đến thế. Lũ trẻ bu quanh chạy tới chạy lui ríu rít. Tiếng ú ớ vỡ ra thành hàng ngàn tiếng leng keng reo lên trong gió. Tôi như chết lặng, sững sờ trước hình ảnh ấy. Đẹp quá, thật quá, lộng lẫy quá. Nắng chan hòa, gió cũng chan hòa.

Không biết bao lâu tôi mới choàng tỉnh. Bối rối nhận ra có một linh mục già ngồi kế bên. Khuôn mặt ông ta toát lên một vẻ hiền từ bình an. Ánh mắt như chờ đợi tôi trút nỗi lòng. Tôi hỏi, sao cánh tay ma sơ Mây bị cụt. Trầm ngâm một chút ông kể:

Năm 16 tuổi, thay vì như những cô gái khác, ngây thơ vui đùa cùng bạn bè, Mây cùng mẹ Mây đến nhà dòng này xin khấn trọn đời. Lúc đó Mẹ bề trên nhìn Mây ái ngại, vì Mây là con một, gia đình lại giàu có. Mẹ ruột của Mây rưng rưng nước mắt, nhưng trong giọt nước mắt ấy có một tình yêu, một niềm tự hào.

Năm 18 tuổi, Mây ra dáng một thiếu nữ mơn mởn, tóc dài đen nhánh, đôi tay xinh đẹp mềm mại, rất khéo nấu ăn, thêu thùa. Nhưng lúc nào Mây cũng giấu mình trong chiếc áo dòng tu kín đáo.

Có một đêm cô gõ cửa Mẹ bề trên, xin cho được ra làng mồ côi, chăm nuôi mấy em nhỏ. Mẹ bề trên ưng thuận. Thế là đôi tay đẹp kia hằng ngày mớm cơm đút cháo cho mấy em. Có khi các em sốt, Mây thức trắng đưa bàn tay mình đặt lên trán chúng, xem nhiệt độ thế nào, rồi nhúng khăn lau tới lau lui. Bàn tay búp măng mũm mĩm không còn nữa, mà thay vào đó là bàn tay không ngần ngại hốt phân dãi của các em đi đổ. Nhiều đêm, thấy đôi tay ấy chắp lại trước ngực cầu nguyện. Cầu nguyện điều gì không ai biết. Chỉ biết rằng đôi tay đó không còn như xưa…

Hôm kia, có một bé chạy tung tăng trong sân, cổng để mở, bé băng ra đường. Xe tải dìu dập trên xa lộ lớn. Em bé ấy quá nhỏ, và lao ra quá nhanh, nên không ai kịp trở tay. Rầm, khi tất cả các sơ chạy ra thì tiếng em bé khóc lên thất thanh thật to. Bên cạnh em, Mây nhắm nghiền mắt. Cánh tay phải bị bánh xe nghiền nát. Máu chảy lênh láng.

Khi tỉnh dậy cô kể: Lúc đó, con đang đứng trên dải phân cách chờ băng qua đường thì thấy nó lao ra giữa xa lộ, con sợ quá, chạy ào đến, ôm nó, lăn vội vào. Tội nghiệp nó lắm, nó sợ quá, khóc thét lên. Nghe Mây kể, mọi người chưa hết bàng hoàng. Sao cô kể chuyện hồn nhiên đến thế? Liều cả mạng mình mà không tiếc chỉ để cứu một đứa bé tật nguyền, rồi còn tội nghiệp vì nó sợ khóc thét lên. Có lẽ Mây bị khùng mất rồi. Không khùng ai làm thế ? Từ đó cô lại xin Mẹ bề trên đứng gác cổng ra vào, cô sợ các em tật nguyền kia, không ý thức lại lao ra giữa dòng xe. Cô nói cuộc sống đáng quý lắm.

– Con xin lỗi mẹ, vì con cứ đòi hỏi mẹ hết lần này đến lần khác. Mẹ bề trên bật khóc: Con đâu có gì phải xin lỗi. Con luôn đòi hỏi để phụng sự người khác.

Thế là từ đó, Mây thành người gác cổng… Khi được hỏi tại sao cô bị cụt tay, cô đáp nhẹ như bấc, bị tai nạn giao thông.

Tôi không dám hỏi, cô có tiếc vì mất cánh tay không. Vì hỏi như vậy là thừa. Ngay cả mạng mình cô còn không tiếc.

Vị linh mục già kết thúc câu chuyện. Nắng chiều rải rác xuống thềm như một tràng hoa rực rỡ. Chỉ có hoa nắng mới kết vừa vương miện cho những con người ở đây. Tất cả loài hoa thế gian, tất cả kim cương, ngọc bảo thế gian khi đính vào vương miện chỉ làm cho nó trần tục hơn, vật chất hơn mà thôi.
Bây giờ tôi mới biết, vì sao đôi tay của Mây có hương thơm kỳ lạ. Và bây giờ tôi mới biết tại sao nụ cười và ánh mắt những người ở đây luôn ẩn chứa một trời long lanh nắng sớm.

Bởi vì như linh mục Nguyễn Tâm Thường đã viết: Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại.

Tôi về thành phố, thấy lòng mình bỗng chật hẹp. Những gì trước đây tôi cho là đúng, bây giờ tôi đâm nghi ngờ. Những gì trước đây tôi luôn theo đuổi, giành giật để có, bây giờ thấy chẳng còn quan trọng nữa.

Những tay thét ra lửa, những tay sừng sỏ mà tôi từng kính nể, bỗng dưng tôi thấy họ bình thường. Họ cố gắng dùng đôi bàn tay chứng tỏ mình, khuếch trương mình, những cái họ có được chỉ là thứ trơ trẽn. Họ không bình yên trên vật chất họ có được. Họ khoác những chiếc áo sang trọng, tay đeo đầy những kim cương, xịt toàn nước hoa hảo hạng, nhưng không bao giờ có mùi hương thanh tao, dịu ngọt, tỏa lan khắp bầu trời.

Tôi bị ám ảnh, vì trong tôi hoài thai một lẽ sống. Tôi muốn thoát khỏi bàn tay của chính mình. Tôi là người tìm kiếm bàn tay đẹp.

Bàn tay biết dang ra, biết sẻ chia là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nắm lấy tay người bất hạnh hơn mình để cùng bước là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nâng niu, gìn giữ cái đẹp, cái chân, cái thiện, là bàn tay đẹp. Và hàng ngàn định nghĩa về bàn tay đẹp khác. Có bàn tay cầm nắm rất nhiều, có thể điều khiển người khác. Có bàn tay xòe ra ăn từng đồng lẻ bố thí. Có bàn tay khéo léo làm nên những tuyệt tác nghệ thuật. Có bàn tay vụng về chỉ làm đổ vỡ mọi thứ khi chạm vào. Có bàn tay cho đi. Có bàn tay giữ lại. Nhưng khi về với đất, bàn tay nào cũng rỗng. Rỗng tuyệt đối.

Vậy sao không ướp hương cho đôi tay mình, tôi tự hỏi lòng như thế. Có hàng ngàn cách ướp hương. Như ma sơ Mây, ướp hương thánh thiện, âm thầm, khiêm cung, bé nhỏ, mà hương thơm lại bay vượt mọi không gian. Có bao giờ Mây kể lể với Giê su về mình không? Chắc không, vì Mây không có thời gian cho mình, đủ biết lo cho mọi người thôi.

Khi sinh ra, tay tôi nắm chặt. Khi chết đi, tay tôi buông thõng. Từ nắm chặt đến buông thõng, một hành trình dài đầy nụ cười hạnh phúc và nước mắt đau thương…

Nguyễn Bảo Trung – (Vô Thường)

Tượng Đá Còn Chờ Nhau. Thơ Hư Vô



Ghế xưa đã lạnh xanh lòng đá
Chờ ai để nhớ một lần quên
Tôi về ngơ ngác như khách lạ
Ngày chưa đêm phố đã lên đèn.

Soi dáng tình nhân lần trễ hẹn
Nửa đời đâu dễ đã tàn phai
Bóng em có tan vào người lạ
Vẫn còn nghe vẳng tiếng thở dài.

Xoè tay đếm tháng ngày cùng tận
Biết còn mấy bận để chờ nhau
Ngày đi như áng mây bay chậm
Vậy mà thăm thẳm tựa chiêm bao!

Bước chân có lún ngang thềm cũ
Ghế xưa cũng riêng một chỗ ngồi
Làm sao em biết hồn tôi đã
Hóa thân thành tượng đá lẻ loi…

Hư Vô

Xóm Gà Tan Giấc… Phạm Công Luận


Phạm Công Luận


Ngã tư xóm Gà (ngã tư Lê Quang Định – Nguyễn Văn Đậu) ngày nay. Tranh màu nước của Phạm Công Tâm

Năm 2016, lần về quê hương cuối cùng trước khi mất, nhà văn Nhật Tiến hỏi tôi: “Xóm Gà bây giờ ra sao? Sáu mươi năm trước gia đình tôi sống ở đó!”. Ông kể, năm 1954, vợ chồng ông còn rất trẻ di cư từ Hà Nội vào miền Nam và sống ở Đà Lạt. Một năm sau, ông về Gia Định, lần đến xóm Gà để cư ngụ. Đó là cái xóm ngoại ô, giá thuê nhà rẻ. Lúc đó vì không quen biết ai nên kiếm việc làm rất khó khăn. Trong gần hai năm liền, gia đình ông sống rất nghèo ở xóm Gà, chui rúc dưới mái nhà lá mà ông gọi là “tồi tàn”. Ngoài ông và vợ là nhà văn Đỗ Phương Khanh, ở đó còn có nhà thơ Song Hồ và nhà văn Nguyễn Đình Toàn, tác giả tiểu thuyết “Áo mơ phai” và hai bài thơ phổ nhạc rất hay “Anh đến thăm em đêm Ba mươi” và “Tình khúc thứ nhất”. Dù khó khăn, mọi người sống vẫn hồn nhiên, Nguyễn Đình Toàn ôm đàn ca hát suốt ngày, khi viết văn chỉ dùng mặt sau của bản tin Việt Tấn Xã làm giấy viết, lấy bút hiệu là Tô Hà Vân. Sau, lần lượt các văn nhân thi sĩ Bắc di cư rời cái xóm tạm dung đầy tình người chân chất này để tỏa đi khắp nơi. Song Hồ phiêu du một thời gian rồi trở lại Sài Gòn đi dạy học, làm thơ. Nguyễn Đình Toàn vừa làm cho Đài Phát Thanh Sài Gòn vừa tiếp tục sáng tác. Riêng Nhật Tiến thì đi dạy học ở Mỹ Tho. Sau này, khi sống ở Mỹ nhiều năm, ông vẫn nhớ cái xóm Gà hiền lành đó.

Xóm Gà thuộc quận Bình Thạnh bây giờ. Thời xưa, người Việt ở Gia Định thích sống khu Xóm Gà vì có nước ngọt quanh năm. Đây là xóm nuôi gà độ, có từ đầu thế kỷ 19. Trước năm 1954, vùng này còn vắng vẻ. Vài người già kể lúc đó phố xá không có mấy, đèn điện chỉ có ở người khá giả và nhà quanh chợ. Đa số dùng đèn dầu thắp ban đêm, dùng nước giếng.

Một tác giả ở hải ngoại, ông Lê Bảo Trân viết về xóm Gà trong sách: “Nhà cửa cất theo lối cổ, lợp ngói âm dương. Hầu hết có vườn cây bao quanh, trồng bốn loại cây chánh là mít, mãng cầu, nhãn và mận. Ranh đất là hàng rào cây tươi cao khỏi đầu. Về đêm cảnh vật trở nên huyền bí mơ hồ” (cuốn ”Chiều chiều lại nhớ chiều chiều” in ở hải ngoại năm 1992). Ông kể khu này, có hai nhân vật cùng hành nghề liên quan đến… con heo, với hai hình ảnh tương phản. Họ đều là người Hoa cao niên trên dưới ngũ tuần. Một ông “tóc cắt ngắn, tay cầm cây sáo nhỏ màu đen, đi rảo trong xóm thổi réo rắt”, đó là ông thiến heo. Còn ông kia, chuyên cho mướn heo nọc, dễ nhận ra nhờ dẫn con heo có dính theo một thứ ngộ nghĩnh là… vòng hoa giấy dán ngang lưng. Cả hai ông đều khô đét do hút thuốc phiện. Ông gầy giống heo đi tới đâu là chó sủa tới đó. Lúc heo hành sự, con nít xúm quanh khiến các bà vừa cầm roi đuổi vừa la ỏm tỏi. Heo gầy giống xong, ông cho nó hai trứng gà tươi để bồi dưỡng. Thời Pháp thuộc, vào buổi trưa, phía xóm Gà nghe được tiếng ốc hụ từ cái cột do Pháp dựng lên ở ngã tư Bình Hòa lúc 12 giờ trưa để báo giờ tan sở. Dân quanh xóm thường nghe tiếng xe lửa từ ga Đông Nhì chạy đến ga Xóm Gà.

Đó là giai đọan mà Xóm Gà có sự hiện diện của hai nhà báo nổi tiếng: ông Cử Tùng Lâm Lê Cương Phụng và nhà thơ Tản Đà. Một đêm Giao thừa, ông Lê Cương Phụng được phân công đi mua gà, còn Tản Đà ở nhà lo rượu. Ông Phụng mua con gà luộc, lấy thêm chai Mai Quế Lộ nữa cho xôm tụ. Xui xẻo thay, khi đi đường, ông Phụng mải mê xem đám đánh nhau mà bị bắt nhốt vô bót. Ông Tản Đà ở nhà đợi miết đành uống hết chai rượu rồi lăn ra ngủ.

Thời gian ngắn ngủi ở Sài Gòn chắc hẳn Tản Đà có tâm trạng nhớ quê hương và lo lắng về chuyện nợ nần ngoài Bắc. Đến khi trở về quê Bắc, kỷ niệm sống ở thành phố phương Nam này lại dậy lên, nhất là sự đối đãi trọng thị của ông Diệp Văn Kỳ chủ báo Đông Pháp. Ông còn ngoái lại bằng bài thơ đầy cảm xúc, nhắc nhớ nơi chốn vừa rời xa:

Xóm Gà tan giấc rạng vầng ô
Tối đến Nha Trang, rượu một hồ.

Không rõ ngôi nhà ông từng cư ngụ cuối thập niên 1920 ấy nằm ở đâu trong Xóm Gà?

Anh Nguyễn Đạt, từng sống ở khu Xóm Gà trước khi đi Mỹ kể về thời gian anh sống ở đó khoảng thập niên 1960. Lúc đó, anh cũng như hầu hết con nít ở xóm Gà đều học ở trường Thiên Ca, bây giờ có tên là trường Nguyễn Văn Bé. Khu này có hàng chục ngôi chùa, nổi tiếng như chùa Dược Sư, Già Lam… Có nhiều người làm lớn hai bên Quốc gia lẫn Cộng sản. Có cả du đãng nổi tiếng như Dũng Mexico. Ngay ngã tư Xóm Gà, phía đầu đường Lê Quang Định trước 1975 có bót cảnh sát Nguyễn Văn Gập, bây giờ đã đập bỏ. Khi anh lớn lên, không còn dấu vết trường gà hay không còn mấy ai nhắc các ông Năm Đồ, Ba Giáp là dân võ nghệ giang hồ nữa.

Ở Xóm Gà cũng có một khu nhà nghệ sĩ sống quây quần giống như bên cư xá Chu Mạnh Trinh ở Phú Nhuận. Bên trong cư xá Thanh Bình 2 (ở đối diện chùa Pháp Vân trên đường Ngô Tùng Châu, nay là đường Nguyễn Văn Đậu) là nhà của nghệ sĩ hài Văn Hường. Cư xá này còn là nơi tập trung nhiều gia đình nổi tiếng trước năm 1975, có nhà của ký giả Huyền Vũ, một bình luận viên thể thao nổi tiếng trên đài phát thanh Sài Gòn và con trai của ông là thủ môn Quốc Bảo (bắt gôn cho đội Euquinol, Hải Quân rồi đội tuyển quốc gia), ông thẩm phán Tối cao Pháp viện Tôn Thất Hiệp, nhạc sĩ Lê Dinh, ông bà Tô Văn Lai (chủ nhân trung tâm Paris by night). Cư xá này nổi tiếng nhiều người đẹp, trong đó, con gái của bà chủ tiệm tạp hoá Hương Nam đẹp nhất, nhiều người khen.

Sâu vào trong hẻm là nhà của các nghệ sĩ khác như ông Tùng Lâm, một nghệ sĩ rất bình dân, ưa thả bộ từ trong xóm ra uống cà phê, ca sĩ Trang Thanh Lan luôn cười nói vui vẻ, cư xử với bà con lối xóm rất dễ thương, được tiếng là thương yêu gia đình. Hẻm này ăn sâu lên tận ngã ba chợ Cây Thị là khu lao động nghèo, dân lao động và dân giang hồ sống chung với nhau.

Xóm Gà có sân banh Lê Văn Duyệt ở đường Trung Dũng thuộc quận Gò Vấp, có đội Euquinol, Ngôi sao Gia Định đến tập dượt. Sau 1975, sân này đổi tên thành sân Trần Phú với nhiều tuyển thủ đến đá, như ông Nguyễn Kim Hằng đội Hải Quan. Mỗi chiều, chú bé Đạt đợi nghe tiếng bạn bè rủ rê là nhập vào đám bạn ôm banh, len lỏi theo đường mòn trong xóm để ra sân banh, chọn một phần sân rồi chia phe nhau đá. Lớn lên mới đá nổi trên cả cái sân rộng nhưng cột gôn không có lưới. Sân này còn là sân thể thao thể dục của trường trung học Hồ Ngọc Cẩn (gần chợ Bà Chiểu, bây giờ là trường tiểu học Nguyễn Đình Chiểu). Hồi đó các trận tranh giải giữa các trường trung học tổ chức ở đây. Sau năm 1986, sân bị “quy hoạch”, biến thành khu dân cư là cư xá Nguyên Hồng.

Sau 1975, anh Đạt đã thấy thi sĩ Bùi Giáng lang thang trong cư xá Thanh Bình 2 rồi đi lên chợ Cây Quéo, quần áo te tua và đã thể hiện đầu óc không bình thường, dù có người cho là ông giả bộ. Dù sao, ông còn để lại mấy câu thơ nhắc một chút đến khu xóm ông ở, trong tập thơ “Như Sương”:

Sài Gòn bất tận ngoại ô
Xóm Gà Bình Thạnh xóm mô Chuồng Bò
Ghé thăm Chuồng Ngựa quanh co
Chạy về thẳng tắp viếng chùa Già Lam.

Cạnh ngã tư Xóm Gà có tiệm mì của chú Thông từng là huấn luyện viên đội bóng Tổng cục Hóa chất sau 1975. Mì của tiệm chú bán khá ngon, khách ăn đa số là dân sống quanh ngã tư Xóm Gà, ra ngồi ăn hoặc mua tô hoành thánh về làm canh ăn với cơm. Thỉnh thoảng Đạt được theo ba má ra ăn ở quán Trung Thành (ngay ngã ba đường Trần Quý Cáp và đường Nguyễn Văn Học, nay là đường Nơ Trang Long) ngon có tiếng trước 1975. Quán còn có canh chua, cá kho tộ, cua lột lăn bột… các món miền Nam rặt, ngon nhất là món cua rang muối, nhắc lại còn thèm.

Anh Đạt nhớ ngày xưa vào buổi tối thức học bài thường đói bụng, đạp xe ra mua ổ bánh mì patê chả lụa, hay sang hơn là chạy lên phía đường Nguyễn Văn Học (Nơ Trang Long bây giờ) làm tô mì Minh Sanh hay tô hủ tiếu bò viên, rồi một ly sâm bổ lượng. Bên Mỹ, khu anh ở không bán đồ ăn đêm. Những đêm lạnh, anh thức dậy nấu tô mì gói Đại Hàn, nhớ ngày xưa vô cùng, nhất là khi về già thì càng nhớ về kỷ niệm. Quê hương đôi khi hiện ra dễ ợt trong đầu, chỉ bằng một món ăn hay một trò chơi tuổi nhỏ ở Xóm Gà là đủ.

Phạm Công Luận

Ngã tư xóm Gà (ngã tư Lê Quang Định – Nguyễn Văn Đậu) ngày nay. Tranh màu nước của Phạm Công Tâm

Sài Gòn Cà Phê và Nhạc Sến. Vũ Thế Thành


Vũ Thế Thành

…Tách cà phê ấm môi,
Mình ngồi ôn lại những phút vui trôi qua mất rồi…

(Hai Mùa Mưa)

Thằng bạn ở nước ngoài về chơi Việt Nam, trên đường tới Hội An, ghé quán cà phê ven đường, “Cho ly cà phê đá Sài Gòn đi bà chủ”. Cà phê mang ra, chưa nếm, y đã lắc đầu, “Không phải. Cà phê là cà phê kiểu Sài Gòn, có biết không?”. “Dạ, dạ… biết”. Dân miền Trung nhẫn nại. Cái gì cũng biết, trừ những cái không biết. Ly cà phê khác mang ra. Cũng không phải!

Tôi sống ở cái đất Sài Gòn này gần mãn kiếp, mấy tiếng cà phê Sài Gòn đã nhạt nhòa từ thuở tám hoánh nào rồi. Nay, nghe một khứa Tây da vàng, biệt xứ 40 năm (xẹt đi xẹt lại Việt Nam giỏi lắm là vài ba lần) dõng dạc: “Cà phê kiểu Sài Gòn”. Thấy sốc!

Tôi không nhớ mình đã uống cà phê từ lúc nào. Chắc từ thuở biết bưng bê, uống vụng cà phê của các bậc bề trên hơi nhiều. Nhưng chỉ thèm cà phê khi thấy mấy ông khách ở quán cà phê các chú (Tàu) đổ cà phê sữa vào đĩa, chấm bánh tiêu. Thèm cà phê hay bánh tiêu? Tôi không biết, có thể cả hai.

Nhưng vị đắng cà phê biết nếm từ lúc nào thì tôi biết chắc. Đó là những tháng ngày của năm 1972, khi bè bạn bỗng chốc xếp bút nghiên ra đi. Thằng về, thằng đi… luôn. Đóng đô ở quán cà phê nhiều hơn lớp học. Cà phê có đường hay không đường đều đắng như nhau. Vị đắng quá dư để nhận lời ủy thác, mày đưa thư này cho em… dùm tao, mà đợi tao đi rồi hãy đưa. Chết thiệt tới nơi rồi, không ngán, mà lại chết… nhát vì mấy sợi tóc dài. Thua xa bọn trẻ @ thời nay.

Cà phê ngon nhất Sài Gòn, theo cái lưỡi của tôi, ở góc đường số 4 Duy Tân. Chỉ là quán vỉa hè, không bảng hiệu, tụi tôi gọi là cà phê lá me, mà hình như ở đó chẳng có cây me nào thì phải. Hồi đó tôi học ở Đại học Khoa Học, mà mấy bà bên khoa học, nói phải tội, khô khan và nặng vía. Tôi phải vượt qua cà phê Năm Dưỡng gần trường, đến ngồi đồng ở cà phê lá me, chiều chiều ngắm mấy cô sinh viên Luật khoa, Văn khoa tha thướt. Trời ơi, nắng Sài Gòn mát rượi chứ không phải “chợt mát” như thi sĩ Nguyên Sa vã mồ hôi làm bài thơ Áo Lụa đâu.

Quẹo trái chừng vài trăm mét là đường Cường Để, con đường đẹp nhất Sài Gòn. Hai bên đường là những biệt thự lâu đời, chủng viện, tu viện cổ kính với hàng cây cổ thụ cả trăm tuổi… Lá đổ muôn chiều là con đường này, chẳng cần đợi tới mùa thu. Bây giờ nơi đây là nhà cao tầng, khu thương mại, ồn ào náo nhiệt, đi quờ quạng kẹt xe. Cả trăm cây cổ thụ bị đốn trên con đường vài trăm mét thì chẳng còn gì để nói thêm nữa. Mất hết…

Cảnh đẹp, người đẹp, cà phê không ngon sao được. Mà cà phê lá me ngon thiệt, chứ không phải tôi mù quáng cái đẹp nói bừa. Cô chủ quán không biết pha kiểu gì, pha vớ, chứ không phải pha phin, mà ly cà phê sữa đá 80 đồng ngon không thể tả. Sau này nếm thử Starbucks, Green Mountain,… cũng không thể bằng. Sức mạnh của dĩ vãng nặng oằn vai.

Luận về cà phê ngon dở hơi bị khó, mỗi người mỗi goût, chân lý đa dạng. Nhưng cà phê Sài Gòn chắc là luận được. Từ luận được cho đến luận hết nổi. Người ta cứ đồn cà phê Sài Gòn độn bắp, độn cau, rượu đế, mắm muối,… toàn là mấy thứ dân dã. Có lửa, có khói. Lời đồn này đúng. Cà phê Tây cũng đâu phải nguyên chất, cũng pha thứ này, trộn thứ nọ chút chút. Thích nghi văn hóa mà! Cà phê Sài Gòn không độn bắp rang làm sao có độ sánh. Xứ nóng, uống cà phê đá mà lỏng le coi sao được. Cà phê không thêm cau rang làm sao đủ đắng mà ngẫm chuyện đời. Cà phê đá làm gì có chuyện hương thơm thoang thoảng nếu không tẩm chút rượu. Rồi cũng phải mắm muối chút đỉnh cho đậm đà… Những thứ lằng nhằng này coi như là… phụ gia, chứ “chính gia” vẫn phải là cà phê rang sao cho tới tới… Bí quyết ngon dở là ở chỗ đó.

Rồi theo thời thế, mọi thứ đổi đời. Phụ gia trở thành chính gia, chính gia thành phụ gia. Đổi đời thêm cú nữa, cà phê biến luôn, chỉ còn đậu nành và hóa chất. Muốn đắng có ký ninh, hạt mắt rồng, dexamethasone. Muốn sánh có a dao gelatin. Muốn đen có nước màu caramel. Hương cà phê thì vô vàn nhớ không hết. Muốn bọt? Đã có lauryl sulfate (tạo bọt xà phòng). Làm gì còn “cà phê kiểu Sài Gòn” hở thằng bạn Tây da vàng kia, thèm lauryl hay sao mà ngồi đó làu bàu.

Thiệt ra, cà phê Sài Gòn vẫn còn, vẫn có vẻ đẹp của riêng nó – Vẻ đẹp của ký ức.

Cà phê lề đường làm gì có âm nhạc, chỉ có âm thanh đường phố, tiếng rao hàng, tiếng còi xe, và cái “mát rượi” riêng tư. Cà phê nghe nhạc phải vào quán đèn mờ, máy Akai băng cối, những bản tình ca diễm lệ, tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly,… Bảnh hơn thì nhạc Tây, Il est mort le soleil, Oh Mon amour,… Thời cuộc thì ca khúc da vàng, đại bác ru đêm, người chết hai lần… Bè bạn về phép (có khi chúng liều mạng “nhảy dù” cũng không chừng) lại kéo nhau ra quán nhậu. Nhậu đã rồi tới quán cà phê Chiêu đường Cao Thắng. Ở quán nhậu thì tranh nhau nói, tới quán cà phê, chẳng thằng nào buồn nói. Cà phê và khói thuốc. Cà phê nhỏ giọt. Giọt có buồn không? Mờ quá không thấy giọt, nhưng nỗi buồn thì thấy.

Dạo sau này tôi đổ đốn khoái nhạc sến, từ khoái tới mê chỉ là gang tấc. Giác ngộ tiệm tiến qua nhiều ngõ khác nhau. Một trong những ngõ đó là nhạc kẹo kéo. Xe kẹo kéo chiều chiều đẩy ngang nhà, mở to những bản nhạc sến một thời. Chưa hát nhạc sến bao giờ, mà sao trong đầu lại hát theo. Thời gian chưa đủ nghe hết bản nhạc thì tiếng hát đã xa dần, và cái đầu lại lẩm bẩm hát tiếp, thuộc lời nhạc sến từ thuở nào chẳng hay. Cù cưa với ký ức kiểu này thì con đường tới bến giác mê cũng chẳng bao xa.

Một ngõ giác ngộ khác, khi tiếng lòng lời ca bỗng nhiên gặp nhau. Cách nay 7-8 năm gì đó, tôi ra Hà Nội có chuyện, nhân tiện ghé quê ngoại. Mẹ tôi bệnh nằm một chỗ, hớn hở dặn dò, con về phải ghé người này trước, thăm người nọ sau, nói mẹ biếu người này cái này, người kia cái kia,… Quê mẹ tôi ở làng Chử Xá, mảnh đất của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Nửa tiên nửa tục, nên có máu lãng tử, nhảy cóc qua đời mẹ tôi, tới tôi thành gen trội. Trước hôm đi, bè bạn kéo nhau ra Hóc Môn nhậu gà hấp hèm. Đất ven đô hồi đó còn hơi vắng, nhưng cũng đã lên vàng, chẳng vàng 4 số 9, thì cũng 9 số 4, hơi hớm văn minh đô thị đã len tới. Dàn nhạc lưu động, cũng bass treble ra trò, đến trước quán vừa bán kẹo, vừa mượn nhạc đệm karaoke chơi nhạc sống. …Một mai con về quê ngoại xưa, để mẹ nhắn lời thăm… Càng nghe càng thấm.

Đất Sài Gòn tìm đâu ra cà phê nhạc sến. Dù cà phê ở những quán deluxe không quá tệ như cà phê đậu nành, nhưng chắc chắn không phải là “cà phê Sài Gòn”. Cà phê gì mà đen thui đặc sệt, chỉ là một thứ cà phê bá đạo có bản quyền. Nhạc thì ầm ầm DJ uốn éo, khổ cho cái đầu già cổ lỗ sĩ. Cũng có quán chơi nhạc trữ tình, nhạc của một thời, nhưng nhìn cách bài trí của quán, tôi đã cảm thấy kiểu “một thời” đó là cái mà mình muốn quên. Như lúc này, tôi không còn muốn nghe ca khúc da vàng nữa. Nghe mà ngượng, thì nghe làm gì? Trên đời đâu có gì hoàn hảo, chỉ có thể chọn giữa cái xấu hoặc cái ít xấu hơn. Không chọn lựa chẳng khác nào gián tiếp chọn cái xấu hơn.

Vài năm trở lại đây, mỗi lần từ Đà Lạt về Sài Gòn, tôi vẫn hay ghé xe cà phê đường Nguyễn Minh Chiếu, chỉ là cà phê vỉa hè trong hẻm. Ly cà phê đá 6.000 đồng, mấy năm rồi giá không đổi. Giá đậu nành chưa lên thì cà phê đâu cần lên giá. Đằng nào cũng chẳng tìm đâu ra hương vị cà phê Sài Gòn xưa, thì cà phê ở đâu cũng thế thôi.

Tôi vào quán cà phê vỉa hè đó chỉ để nghe nhạc sến, chẳng phải đến từ dàn Onkyo loa Bose, mà từ cái máy cassette nhỏ xíu rù rì trong hẻm. Ngồi cả giờ đồng hồ, đến khi rời quán mà ly cà phê vẫn còn quá nửa, đá tan loãng hết rồi. Dĩ vãng vay mượn cà phê, để cái vẻ bụi bặm của quán, và nhạc sến đưa tôi về ký ức. Tiếng đại bác không còn ru đêm nữa, nó dội ngược vào lòng. Nhiều bản nhạc từ hồi xửa hồi xưa, giờ nghe lại, rồi lẩm nhẩm hát theo mà chạnh lòng,
Tiếng còi đêm lướt mau,
Đoàn tàu đi về mãi, mà bạn thân tôi nơi đâu…

Thấy tiếc và nhớ. Nhớ ngẩn người!

Vũ Thế Thành

Chuyện Của Một Thời Để Nhớ. Vũ Thế Thành


Vũ Thế Thành


Thằng bạn Việt kiều mới đây gửi mail cho tôi: “Sài Gòn dạo này còn nhiều xích lô không? Cứ đến những ngày tháng Tư này, tao lại nhớ đến xích lô. Bây giờ, mày chạy hai bánh nổi không?” Chạy hai bánh ở đây là nghiêng xe, giữ thăng bằng, thì xích lô ba bánh có thể chạy bằng hai bánh.

Tên Việt kiều này có thời là đồng nghiệp xích lô của tôi. Nó đang theo học ban Triết (Tây) thì đứt phim. Sau 75, mọi ngành học bên Văn khoa (trừ Ngoại ngữ) đều có “vấn đề”, môn Triết lại càng có “vấn đề” hơn nữa. Nó phải bỏ học, sống lông bông đủ kiểu. Tôi theo ngành khoa học nên được chiếu cố cho học nốt những môn còn thiếu, ra trường và làm việc tại một trung tâm nghiên cứu.

Một buổi chiều cũng dạo tháng Tư thế này, lang thang ngoài phố, tình cờ gặp nó đang đạp xích lô. Tay bắt mặt mừng. Y ra hiệu cho tôi bước lên xe, chở thẳng ra quán nhậu lề đường. Chén thù chén tạc, đời xích lô lắm chuyện ly kỳ bụi bặm. Y nói: “Tao mướn xe tháng, xài không hết công suất, chiều tối hay sáng sớm gì đó, khi nào rảnh, mày lấy xe tao chạy kiếm thêm tiền.” – “Tao chưa thử xích lô lần nào. Có dễ chạy không?” – “Không khó lắm”.

Nói vậy cũng hơi ngần ngừ, ngoài giờ làm việc cho cơ quan nghiên cứu, tôi còn dạy kèm luyện thi đại học cũng kiếm thêm được chút đỉnh, đủ nhậu lai rai. Một bà bước đến bên bàn nhậu hỏi: “Xích lô! Có đi không?” “Nghỉ rồi dì”, thằng bạn lắc đầu. Vài ly rượu đủ làm tôi bốc lên: “Để tao! Ngồi đó chờ một chút”. Tôi quay qua bà khách: “Dì đi đâu?”

Hình như tôi có khiếu… đạp xích lô. Chẳng cần tập tành gì cả, mọi thứ đều an toàn, trót lọt. Nửa tiếng sau, tôi trở lại quán rượu, đặt số tiền cuốc xe đầu tiên lên bàn, cười sảng khoái: “Năm giờ rưỡi chiều mai, tao ghé nhà mày lấy xe.”

Những năm sau 75 mọi thứ đều đổi đời. Leo lên chiếc xích lô, tôi cũng phải ăn mặc và ứng xử như một người đạp xích lô thứ thiệt. Xắn cao ống quần chân phải để khỏi bị xích xe nghiến nát, kẻo tai nạn dập mặt cũng không chừng. Nhưng điều quan trọng là phải đội nón, tránh nắng là chuyện nhỏ, tránh gặp người quen mới là chuyện lớn. Thành phố Sài Gòn đông người mà ngõ hẹp, không ít lần tôi đã “đụng” phải học trò, đồng nghiệp, thậm chí cả bạn (gái) ngoắc xe. Đời lắm nỗi oái oăm!

Có lần tôi chở hai bà khách, mà trọng lượng của cả hai chắc cũng trên tạ rưỡi. Trưa nắng, dốc cầu Thị Nghè dài như vô tận. Tôi chợt thấm thía câu thơ của Cao Bá Quát: “Trời nắng chang chang người trói người…” Trời ơi! Hai bà khách vẫn vô tư cười nói, sao họ không xuống xe đi bộ một quãng cho mình đỡ khổ! Cho dù thế nào, có Chúa làm chứng, tôi đã tận lực làm tròn nhiệm vụ của thằng đạp xích lô. Dốc mỗi lúc mỗi cao, lực bất tòng tâm, tôi không còn ghì nổi tay lái, chiếc xe đổ nhào về phía trước… Đôi khi con người cũng nên biết lắng nghe những lời chửi rủa mà tưởng như đang nghe nhạc trữ tình. Cuộc đời nhờ đó sẽ đỡ khổ hơn chăng?

Một trường hợp khác, tôi chở một bà khách ăn mặc quý phái, túi da, vòng vàng, son phấn sáng rực. Thỏa thuận địa điểm và giá cả xong, tôi khởi hành, dù giá hơi hẻo, nhưng chở một người thì xe cân bằng, dễ chịu hơn đi xe trống. Khi tới nơi, bà khách nói đi xích tới nữa, sắp tới, và tới nữa… cũng cả hơn hai cây số. Đến đây thì tôi hiểu mình bị lừa vặt. Tôi dừng xe lại, và lịch sự mời bà khách xuống. Bả sừng sộ: “Mày là thằng đạp xích lô, chứ là cái thá gì mà đòi nói bà xuống…” Tôi nổi nóng, nhảy xuống xe, định ăn thua đủ, nhưng thoáng thấy quần mình đang mặc ống thấp ống cao… Trong nháy mắt, tôi chợt nhận ra đúng thân phận, mình chỉ là thằng đạp xích lô. Tôi xua tay: “Tặng bà cuốc xe đó”, rồi lên xe đạp thẳng, còn kịp nghe tiếng nguýt đuổi theo: “Xí…! Nghèo mà còn làm phách…”

Những năm cuối thập niên 70, đầu 80 chẳng ai sống bằng lương nhà nước nổi. Lương kỹ sư khoảng 73 đồng. Nhu yếu phẩm gạo (13kg), đường (0,5kg), thịt mỡ (0,6kg)… được mua theo giá chính thức. Cũng phải kể, đàn ông được mua thêm 3 gói thuốc đen, phụ nữ vài thước vải mùng. Mấy thứ này ngốn hơn nửa tiền lương rồi. Còn giá thị trường đại khái thế này: 3đồng/tô phở bình dân, 3đồng/xị rượu hạng bét, 0,5đồng/ly cà phê bắp… Mức sống tiêu chuẩn cán bộ (kỹ thuật) là thế. Còn dân thường hầu như phải vật lộn theo giá thị trường. Sổ gạo khi có khi không, chen lấn, khoai mì, bo bo, hàng độn đủ thứ… Vậy mà thiên hạ vẫn sống, vẫn loay hoay kiếm cái gì đó để ăn, để tồn tại. Sức đề kháng của con người để sinh tồn trong nhiều trường hợp thật không tưởng tượng nổi. Sau này tôi mới hiểu vì sao mấy ông tù cải tạo, phải chờ thả về nhà mới chịu… đổ bệnh.

La cà trong giới xích lô tôi mới biết ra rằng, không ít người là trí thức (cũ) đã chọn con đường mưu sinh này. Khá bộn cái gọi là “ngụy quân, ngụy quyền” cũng tham gia vào nghề này. Họ khó có chọn lựa nào khác. Ai cũng tìm cách che giấu thân phận, nhưng “phát hiện” ra nhau không phải là điều khó. Lúc ế độ, không có khách, tấp vào bóng mát nào đó, nằm khểnh trên xe đọc sách. Tri thức vẫn là một nhu cầu, ngoài chuyện ăn uống.

Tôi biết có nhiều nhà giáo sau 75 bỏ nghề để đi hớt tóc dạo, bán thuốc lá lẻ, sửa giày dép… Tôi hỏi một vị: “Bộ không được lưu dụng hay sao mà bỏ nghề giáo? Làm nghề này chi cho cực?” – “Không, tôi tự nguyện ‘mất dạy’. Tôi thà mất dạy…”, ông cựu giáo chức cười méo miệng. Tôi không hỏi thêm nữa, sợ ông buồn.

Có một nghề mà mấy ông cựu thầy giáo rất thích, nghề bơm mực, bởi nó dính dáng tới văn phòng tứ bảo, cũng gần gần với cái “nghiệp” năm xưa của mấy ổng. Tôi xin mở ngoặc một chút để các bạn trẻ có thể hình dung về cái nghề lỗi thời này. Bút bi mà các bạn đang dùng, xài hết mực thì vất đi. Sau 75, bút bi thuộc loại “quý giá” và là hàng dễ hỏng. Bút nào mà xài được tới hết mực, được xem là hàng… chất lượng cao. Xài hết thì mang ra ngoài đường bơm mực, xài tiếp. Nói tới bút dỏm, mà không nói tới giấy dỏm thì có vẻ hơi thiếu. Giấy vàng khè, còn lộm cộm những bã rơm rạ nghiền chưa kỹ, đè bút mạnh tay một chút để ra chữ, có khi văng cả bi ra ngoài. Tôi còn lưu giữ khoảng vài trăm trang giấy như thế, là các báo cáo và bản dịch tài liệu kỹ thuật. Đôi lúc ngậm ngùi, nhìn lại bút tích của chính mình. Quả là một thời kiên nhẫn không cần thiết.

Không phải khách đi xích lô nào cũng hãm tài như tôi vừa kể ở trên. Khách đàn ông dễ chịu hơn, ít kì kèo. Khách nhi đồng thì miễn trả giá, cỡ nào tôi cũng chạy. Có khách lên xe, buông một câu: Anh chở tôi đi đâu loanh quanh cũng được, đi đủ hai tiếng đồng hồ. Thời buổi đó, lên voi xuống chó, tình người đẩy đưa, tình đời đen bạc, tâm tư chất chứa đủ chuyện. Người khách im lặng suốt cuốc xe. Tôi chở khách, chở luôn nỗi buồn thời cuộc của họ.

Một buổi sáng chủ nhật, tôi chở bà khách từ chợ An Đông. Bà bao xe nguyên ngày, đi nhiều nơi trong Sài Gòn, mỗi nơi bà đi vào khoảng nửa tiếng, rồi trở ra đi tiếp. Đi kiểu này thì khỏe, tôi khỏi tốn công cảo xe lòng vòng kiếm khách. Tới nơi, khách đi công chuyện của khách, tôi ngả người lên xe nằm chờ, và lấy sách ra đọc. Chặng cuối cùng, bà yêu cầu đi ra Bến xe Miền Tây để đón xe đò về Rạch Giá. Có vẻ như đã xong công việc, bà khách ngồi trên xe vui vẻ bắt chuyện:

– Anh đạp xích lô lâu chưa?

– Chừng vài tháng.

– Tôi thấy anh đâu có dáng đạp xích lô, mặt mũi như thế phải là người có ăn học.

– Tôi đang kiếm sống bằng nghề đạp xích lô mà.

– Ban nãy tôi thoáng thấy anh đọc truyện tiếng Anh, quyển gì, à… “16 skeletons from my closet”

Bà khách này đáo để quá… Tôi im lặng hồi lâu.

– Sao anh không đi?

– Đi đâu? – Tôi vờ ngớ ngẩn

– Ở đây khó sống. Bên kia còn thấy tương lai…

Tới bến xe, bà trả tôi gấp đôi số tiền thỏa thuận. “Anh không muốn đi thật sao?” Tôi lờ mờ hiểu ra công việc của bà sáng nay. “Tôi có hoàn cảnh riêng. Chúc chị đi bằng an.”

Đi vài bước, bà khách chợt quay lại, rút ra trong túi xách quyển sách: “Anh cầm cuốn này mà đọc.” Tôi chưa kịp cám ơn bà đã quầy quả đi ngay vào bến. Đó là tiểu thuyết “Nhịp cầu trên sông Drina” của Ivo Andritch.

Sáu tháng đạp xích lô, tôi hiểu ra được nhiều mảng đời, nhiều số phận. Cuộc sống đảo điên và kỳ lạ, một chút tàn nhẫn, một chút thánh thiện, không đơn giản như những gì tôi chúi mũi trong phòng thí nghiệm.

Trong những ngày gian khổ đó, bên cạnh những mảng tối, vẫn còn đâu đó vài điểm coi được. Thèm miếng thịt, thèm lắm, vậy mà dĩa thịt trong mâm cơm nhiều khi còn đầy, người này nhường người nọ, không ai nỡ gắp. Tuổi trẻ thời nay không hình dung nổi chuyện lẻ tẻ đó. Thế hệ @ là phải nhanh như điện xẹt, yêu cuồng sống vội. Đối với họ, cuộc sống là hưởng thụ, là đề cao cá nhân, là ứng xử bầy đàn. Chia sẻ cái gu ăn chơi thì được, chứ chia sẻ tấm lòng thì hơi khó. Thanh niên thiếu nữ giành giựt ở hội chợ hoa Hà Nội năm nào chẳng phải là điều đáng suy nghĩ hay sao? Hay chỉ cách đây vài hôm, báo chí đưa tin, cả ngàn fan nữ thảng thốt vì vẻ đẹp của một ngôi sao Hàn Quốc. Cũng chả trách bọn trẻ được, một khi triết lý giáo dục đã không xem con người là cứu cánh, mà chỉ xem con người là phương tiện cho mục tiêu nào đó.

Còn biết bao chuyện để nói. Tóc bạc rồi, không nói bây giờ thì lúc nào sẽ nói đây? Và nói để ai nghe? Bọn trẻ không chừng vừa nghe vừa bấm facebook, twitter, hờ hững với quá khứ. Nói ra không phải để than vãn một thời khổ cực, mà đâu chỉ có chuyện cơm áo gạo tiền mới làm mình khổ cực. Còn nhiều thứ khổ khác nữa, khổ tinh thần thì đến giờ vẫn còn phải chịu đựng. Tôi nhớ câu nói của một người bạn đã khuất núi: “Nghèo thì ăn bắp ăn khoai cũng chịu được, nhưng chịu nhục thì không.” Có cách nào khác không?

Quyển tiểu thuyết bà khách để lại, chiếc cầu trên sông Drina được xây từ thế kỷ XVI, nối liền Bosnie và Serbie, khi đó Nam Tư còn thuộc đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Viên tể tướng của đế quốc lại mang dòng máu Nam Tư, đã cho xây chiếc cầu bắc ngang dòng sông ngăn cách đó. Máu và nước mắt, thù hận và nhẫn tâm. Biết bao biến cố xảy ra chung quanh cây cầu trải dài suốt bốn trăm năm, từ chiến tranh, bệnh dịch cho đến cái chết của một thiếu nữ lao mình xuống sông Drina vào ngày hôn lễ, hay tâm tư của cô chủ quán già Lotika ê chề vì tình đời bạc bẽo. Rồi chiếc cầu cũng đến ngày kết thúc số phận của nó khi Thế chiến thứ Nhất bùng nổ. Số phận của chiếc cầu và thân phận của con người. Bốn trăm năm có là giấc mộng?

Thằng bạn xích lô bỏ đi từ giữa thập niên 80, từ đó chưa một lần trở về Việt Nam. Ra nước ngoài, nó đi học lại và trở thành chuyên viên máy tính, bỏ lại sau lưng một thời mưa gió và lý sự cùn về triết học Hiện sinh, nhưng một thời xích lô chắc chưa đến nỗi quên, mặc dù có thể nó không hình dung nổi xích lô ở Sài Gòn lúc này được trang hoàng lộng lẫy như xe hoa để chở khách du lịch Tây.

Người Đà Lạt nói: “ba chiều, chín chiều”, nghĩa là ba chiều mưa, qua đến chiều thứ tư vẫn còn mưa, thì sẽ mưa thêm năm buổi chiều nữa. Đà Lạt lúc này đang mưa đến chiều thứ ba rồi, và có lẽ trong những ngày cuối tháng Tư này, mai sẽ còn mưa nữa, mưa cho đủ chín chiều, có khác gì “cửu hồi trường”, chín chiều quặn đau?

Tôi nhìn ra sân vườn, mưa vẫn rơi rả rích. Mưa rơi trên khóm trúc sát bên cửa sổ, rơi từng giọt một, chẳng vội vàng gì. Vậy là 38 năm đã trôi qua, rồi câu chuyện bốn trăm năm chiếc cầu trên sông Drina, và còn biết bao chuyện của một thời chưa nói hết. Buồn!

Vũ Thế Thành

Ngày Tháng Năm Tôi. Thơ Hư Vô


(Sinh nhật tôi, Sydney autumn 15/05…)



Chào em ngày tháng năm tôi
Tiệc tình đã dọn xin mời mọc em
Chắc gì còn nhớ để quên
Chỗ em bước tới bên thềm hoang nhau.

Trăm nãm hay mới bắt đầu
Thì tôi cũng đã bể dâu kiếp này
Chỉ là một thoáng vân mây
Tôi về ở trọ trong ngày tái sinh.

Em như chiếc lá bạc tình
Nương theo ngọn gió phiêu linh mịt mù
Một đời mấy bận mùa thu
Cho tôi thấy được hình thù tôi rơi!

Chờ nhau ngày tháng năm tôi
Để nghe em nói những lời tình tan
Tháng năm nắng có còn vàng
Hồn thu cũng đã hoang đàng, từ khi…

Hư Vô

Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi. Mạnh Kim


Mạnh Kim


Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió” nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng.

Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway).

Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.
Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt. Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”.

So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc.

Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”…

Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”.

Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ.

Họ nhảy múa với ngôn ngữ.
Họ thăng hoa với ngôn ngữ.
Họ bay bổng với ngôn ngữ.

Sự cuồng nhiệt trong tình yêu ngôn ngữ của họ đã tạo ra một nền văn hóa trong đó tiếng Việt vượt qua cả khái niệm ngôn ngữ như là ký hiệu giao tiếp thuần túy mà vươn lên đến chóp đỉnh của một thứ trừu tượng hơn: linh hồn dân tộc.

“Tôi yêu tiếng nước tôi”. Tình yêu của họ với tiếng Việt đã làm đẹp tiếng mẹ đẻ, làm sang trọng tiếng mẹ đẻ, và cuối cùng làm nên một nền văn hóa đẹp đẽ.

Chỉ những giai đoạn tiếng Việt bay bổng thì nền văn hóa mới thăng hoa, hay là ngược lại, thật khó có thể nói chính xác.

Nhưng, có thể đoan chắc rằng một nền văn hóa xuống cấp luôn đi đôi với việc ngôn ngữ và cách dùng ngôn ngữ xuống cấp.

Nó bị dùng sai là một chuyện. Nó bị xem thường mới là điều đáng nói.

Khi tiếng Việt không còn được tôn trọng, văn hóa và xã hội sẽ không còn được tôn trọng.

Con người cũng không còn được tôn trọng. “Tiếng Việt còn, nước ta còn”.

Nhưng tiếng Việt bầy hầy, như đang thấy trên báo chí hàng ngày, trong các ca khúc được hàng triệu người nghe, thì “nước ta” còn gì?
Đừng trông chờ ở những khẩu hiệu “giữ gìn tiếng Việt” hay “làm trong sáng tiếng Việt” hô hào chiếu lệ trong nền giáo dục hiện tại.

Tiếng Việt đang bị hỏng không chỉ bởi các MC tung hứng bừa bãi với những câu chữ làm màu “cho sang”, như “điểm trang” thay vì phải nói cho đúng là “trang điểm”; không chỉ bởi các phát thanh viên truyền hình học nhau cách nói rập khuôn, hay các nhà báo viết bài không bao giờ xem lại lỗi chính tả; không chỉ bởi những cách dùng sai như “cặp đôi” hay “fan hâm mộ”; không chỉ bởi các từ ghép Hán-Việt vô nguyên tắc như “phượt thủ”… Nguồn gốc khiến tiếng Việt hư chính là từ giáo dục.

Không ngôn ngữ nào có thể bay bổng trong một mô hình giáo dục giáo điều.

Chẳng ai có thể sửa lại tiếng Việt với đà tuột dốc của nền giáo dục hiện nay.

Muốn “làm trong sáng tiếng Việt”, hệ thống giáo dục phải tự làm trong sáng mình.

Điều này sẽ chẳng bao giờ có, không bao giờ thành hiện thực, khi mà giáo dục đang nằm dưới bàn chân của những “chủ trương” và “đường lối”.

Đừng mong chờ những thay đổi trong giáo dục.

Sẽ chẳng có thay đổi tích cực gì cả. Tiếng Việt sẽ tiếp tục bị hành hạ và văn hóa sẽ tiếp tục bị tra tấn.

Dường như không ai có thể cứu tiếng Việt nhưng tiếng Việt có thể được cứu nếu mỗi người trong chúng ta cùng quay lại với con đường “tôi yêu tiếng nước tôi”.

Tìm kiếm và đọc lại những quyển sách của một thời làm nên sự kỳ vĩ một nền văn hóa, như một cách thức tự giải độc khỏi những luồng khí đen đang bủa quanh, có thể được xem là một cách thức.

Nhiều giá trị hiện bị mất đi đang nằm trong những quyển sách đó.

Văn hóa sẽ đi lạc vĩnh viễn nếu chẳng có ai tìm.

Con đường đi tìm văn hóa đã mất có thể sẽ giúp tìm lại ánh hào quang của tiếng Việt, và cuối cùng, dẫn đến việc nhìn lại sự cần thiết phải tôn trọng tiếng Việt.

Không người dân nào có thể thay đổi được hệ thống giáo dục hiện tại. Họ không có quyền hạn để làm điều đó.

Tuy nhiên không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa để dung nạp một nền văn hóa khác với “hệ văn hóa” nhồi sọ và tuyên truyền.

Cũng không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa đọc gì bên ngoài phạm vi những bài văn mẫu hay nên đọc gì trên những trang mạng xã hội.

Đó là sự chọn lựa cần thiết, và cấp bách, để “tôi yêu tiếng nước tôi” có thể còn tồn tại và còn có cơ may truyền lại cho hậu sinh.

Mạnh Kim

Văn Học Miền Nam Trước 1975- Quen Và Lạ. Đỗ Thu Thuỷ


Đỗ Thu Thuỷ


(Bộ tiểu thuyết 5 cuốn của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng vừa được phát hành).

Nhiều hiện tượng văn học miền Nam trước 1975 thực ra đã đến với độc giả miền Bắc từ rất sớm, bằng những cách thức và con đường khác nhau…

Cùng với lĩnh vực nghiên cứu – phê bình, sự trở lại của văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 ở lĩnh vực xuất bản trong những năm gần đây là một tất yếu sau gần nửa thế kỷ đất nước thống nhất. Những cái tên như: Bùi Giáng, Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Trang Thế Hy, Sơn Nam, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Võ Phiến, Nguyễn Thị NgH, Nguyễn Thị Thụy Vũ… và gần đây nhất là trường hợp Nguyễn Thị Hoàng đã/đang dần trở nên quen thuộc hơn với độc giả ở những không gian tiếp nhận khác, nhờ sự tái xuất bản và xuất hiện của các tác phẩm, cũng như sự đề cập hoặc gợi nhắc ở nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về bộ phận văn học này, trong đó có cả những công trình văn học sử. Đây là một tín hiệu tích cực và đáng mừng, bởi nó dự báo một tương lai không xa, bức tranh văn học Việt Nam thế kỷ XX, nhờ thế, sẽ trở nên đa dạng, đủ đầy hơn trong một tinh thần học thuật, sáng tạo thuần khiết và mong muốn hướng tới một nền văn chương đa dạng, giàu giá trị nhân văn, nhân bản và dân chủ của dân tộc.

Theo TS Mai Anh Tuấn, việc đọc, thẩm định tác phẩm của nhiều gương mặt quan trọng làm nên diện mạo văn học đô thị miền Nam trong vòng 20 năm qua như: Bùi Giáng, Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Tràng Thiên, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Thụy Vũ… đang dần đi vào bài bản, trong đó các công bố chính thức dưới dạng chuyên khảo hay tiểu luận của Trần Hoài Anh, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Mạnh Tiến, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Thị Việt Nga, Nguyễn Bá Thành… đóng vai trò như là chỉ dẫn bước đầu. Bên cạnh đó, sự xuất hiện một khối lượng phong phú báo chí văn chương miền Nam và các tác phẩm khảo cứu, dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Vũ Đình Lưu, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Duy Cần, Phan Khoang, Kim Định, Nguyễn Thế Anh, Tạ Chí Đại Trường… cũng là tín hiệu khả quan về một tương lai đủ đầy của bức tranh văn học Việt Nam thế kỷ XX đặt trong tổng thể văn hóa và giá trị dân tộc hài hòa. Tuy nhiên, thực tế và những động thái tái dựng văn học đô thị miền Nam như trên chưa thể coi là đầy đủ và có tính hệ thống, đòi hỏi tiếp tục cần có nhiều tiếng nói cộng hưởng cùng nghiên cứu dài hơi, quy mô, bài bản hơn…

Là một trong những người quan tâm và sớm có nghiên cứu về văn học miền Nam 1954 – 1975 từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: việc tái phục dựng, trở lại của văn học miền Nam 1954 – 1975 là một tất yếu khách quan, đáp ứng đòi hỏi của khoa học và cả câu chuyện của lương tâm, đạo đức, bất chấp rào cản và ngăn trở của định kiến xã hội. Trên thực tế, cách nhìn nhận, đánh giá về một số hiện tượng văn học này gần đây đã trở nên rộng mở, khách quan hơn.

Đánh giá về một số hiện tượng văn học xuất hiện trong không gian đô thị miền Nam nhìn từ tương quan xã hội, trong đó có nhà văn Nguyễn Thị Hoàng và tiểu thuyết “Vòng tay học trò”, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân gợi dẫn khái niệm về “nền văn học tồn tại trong một xã hội dân sự” dựa trên tiêu chí: sự gắn bó, tương tác công khai, tự nguyện giữa tác giả và độc giả, giữa hoạt động sáng tạo và hoạt động tiếp nhận mà không chịu bất kỳ sự áp đặt hay mệnh lệnh hành chính nào. Đối với các hiện tượng văn học miền Nam 1954 – 1975, ông cho rằng cần có cái nhìn, cách đánh giá cởi mở hơn để bộ phận văn học này có thể trở lại một cách bình thường trong tiếp nhận của công chúng.

PGS.TS La Khắc Hòa khẳng định: nhiệm vụ của các nhà xuất bản là làm thế nào để đưa những tác phẩm/hiện tượng văn học từng bị lãng quên trở lại với độc giả; còn nhiệm vụ của giới nghiên cứu, phê bình là phải đánh giá đúng vị trí của các hiện tượng văn học đó trong dòng chảy của lịch sử văn học. Ông cũng cảnh báo về nguy cơ “ngôn ngữ thao túng ý thức”, dẫn tới những khuyết thiếu, thậm chí cách hiểu sai lệch về các hiện tượng văn học từ chính cách gọi tên/định danh theo vùng miền hoặc theo ý thức hệ. Vì vậy, muốn viết đúng, viết đủ về văn học sử, cần/nên tìm cách phân chia văn học theo loại hình.

Trong quan sát rộng dài từ góc nhìn tiếp nhận, TS Trần Ngọc Hiếu cho rằng: nhiều hiện tượng văn học miền Nam trước 1975 thực ra đã đến với độc giả miền Bắc từ rất sớm, bằng những cách thức và con đường khác nhau.

Từ trường hợp Nguyễn Thị Hoàng, nhà phê bình Ngô Thảo khái quát hành trình “trở về” của văn học miền Nam từ 1975 tới nay theo “quy luật của lòng nhân ái”, ở đó thời gian đã đủ dài và chúng ta đã đủ bình tâm để hàn gắn vết thương, những chia rẽ hay hiểu nhầm của quá khứ. Đối với văn chương hay nhìn rộng hơn là với đời sống tinh thần xã hội, đó đều là việc đáng mừng.

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng chia sẻ, khi viết, bà luôn trong tâm thế/tư thế “đứng riêng lẻ”, “không thuộc về ai hay về một phe phái nào” mà là ở giữa “mênh mông trời đất”, với tất cả sự đơn độc cùng ước vọng xóa nhòa ranh giới của những rào cản, sự bất thông, chia rẽ, hiểu lầm giữa con người với con người. Chỉ có như vậy mới có thể tồn tại, vượt qua tất cả mọi ngăn chia, cách biệt, để cùng nhau làm được một điều gì đó thật ý nghĩa cho cuộc đời, cho các thế hệ mai sau. Việc chọn cách im lặng hay tiếp tục xuất hiện trong đời sống cũng như trong sáng tác với bà, vì thế, hoàn toàn là lựa chọn cá nhân, là những trải nghiệm cần thiết và quý giá với một người viết…

Trong một chia sẻ của mình về “Sự trở lại của những nhà văn nữ vang bóng”, nhà thơ Từ Kế Tường từng khẳng định: “Dòng chảy văn học cũng như con sông lớn có bản sắc vùng miền, mặn, ngọt của vị phù sa châu thổ nơi ấy. Chúng đều có ngóc ngách và hứng chịu nắng mưa giông bão… để rồi đổ ra biển cả. Một nền văn hóa giống như đại dương phải biết dung nạp, tổng hòa những đặc trưng làm thành nguồn nước. Văn chương mang sắc thái riêng thì mới có màu sắc lấp lánh. Vì vậy không lý gì chúng ta không hội nhập với chính chúng ta…”.

Khách quan mà nói, có thể thấy độ lùi thời gian đã khiến những rào cản tâm thế và những cách ngăn của quá khứ với hiện tại dần được dỡ bỏ…

Đỗ Thu Thuỷ

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương: Sài Gòn Rong Chơi Ký. Đoàn Thạch Hãn


Đoàn Thạch Hãn

Ông sinh ngày 5.5.1916 tại làng Phù Ửng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, Nam Định (nay thuộc về Hưng Yên). Vũ Hoàng Chương đỗ tú tài Pháp năm 1937. Sau đó, theo học Trường Luật rồi cử nhân toán tại Hà Nội, nhưng tất cả cũng chỉ được một vài năm rồi bỏ, để theo nghề dạy học và làm thơ cho đến cuối đời. Năm 1954, ông di cư vào Nam, tiếp tục dạy văn ở một số trường trung học, và  Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Vũ Hoàng Chương mất ngày 6.9.1976, khi vừa tròn tuổi 60.

Tác phẩm của thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Tôi là một người may mắn, khi có một thời gian được tiếp xúc và gặp gỡ thi sĩ Vũ Hoàng Chương dường như mỗi ngày. Đó là vào khoảng cuối năm 1973, đầu năm 1974, khi vợ chồng ông đang tá túc tại nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, trong một căn phòng được ông gọi là “gác mây”, nằm cuối đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận).

Lúc bấy giờ, tôi đang giữ trang thơ của nhật báo Sóng Thần. Một buổi sáng, vừa bước vào tòa soạn ở số 133 Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi), đã thấy nhà văn Chu Tử (chủ bút) đang ngồi uống trà với Ngọc Thứ Lang (người dịch cuốn Bố Già) và nhà thơ Hoàng Trúc Ly. Bỗng dưng có ai đó nhắc đến thi sĩ Vũ Hoàng Chương và nói ông đang bệnh nặng. Thế là Ngọc Thứ Lang buột miệng: “Tội nghiệp, Vũ Hoàng Chương nghèo kiết xác, nên thiếu “thóc” (thuốc phiện) là ngã bệnh, nếu được hút đủ đô là khỏe ngay”.

Điều này có lẽ không sai, bởi hơn ai hết, Ngọc Thứ Lang cũng là một con nghiện rất nặng và thỉnh thoảng vẫn ghé lại “gác mây” thù tạc với Vũ Hoàng Chương. Không hỏi thêm một câu nào, ông Chu Tử quay sang ra lệnh cho tôi, xuống ban Trị sự, lấy tiền mua vài lạng thuốc phiện đem biếu cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nghe thế, tôi rất vui khi biết mình sắp được gặp gỡ nhà thơ lớn mà mình ái mộ từ lâu, nhưng chỉ nghe danh chứ chưa được diện kiến lần nào. Có tiền, tôi nhờ anh Ngọc Thứ Lang đưa qua con hẻm đối diện tòa soạn, nơi có hai động hút dường như bán công khai, mua hai lạng thuốc phiện loại hảo hạng rồi đi ngay. Dọc đường, tôi cứ phân vân không biết phải xưng hô với thi sĩ Vũ Hoàng Chương như thế nào cho phải phép. Cuối cùng, tôi quyết định sẽ gọi ông bằng thầy và xưng em là ổn nhất.

Không có gì khó khăn để tôi tìm ra nhà nữ sĩ Mộng Tuyết. Gọi là “gác mây”, cái tên nghe rất thơ mộng, nhưng thật ra, đó là một căn phòng nhỏ, chỉ hơn 20 thước vuông, không có lấy một thứ đồ đạc nào đáng giá. Trên một chiếc đi văng bằng gỗ, được trải mấy tấm chiếu hoa, Vũ Hoàng Chương ngồi tựa lưng vào vách, gầy gò và mệt mỏi. Trên khuôn mặt xanh xao là một cặp kiếng trắng dày cộm. Trước mặt ông là một tờ báo và một chiếc kính lúp, mỗi khi đọc, ông phải soi từng dòng. Ngồi trên chiếc ghế kê sát cửa ra vào là bà Thục Oanh, vợ của ông, một người đàn bà với vẻ bên ngoài rất bình thường, nhưng lại có đời sống rất phi thường.

Bởi lẽ, bà còn là chị ruột của thi sĩ Đinh Hùng. Suốt đời người đàn bà này là chỗ dựa của hai nhà thơ lớn mà ngoài tánh khí thất thường ra, cả hai còn là những con nghiện á phiện rất nặng từ khi còn rất trẻ, nhưng chẳng bao giờ làm ra được nhiều tiền. Vì thế, mà bà Thục Oanh âm thầm chịu đựng cảnh túng thiếu, cắn răng lo cho hai nhà thơ lớn của Việt Nam mà chẳng hề ta thán. Thấy tôi xuất hiện, bà Thục Oanh đứng dậy chào khách và hỏi tôi muốn tìm ai? Tôi nói ngay: “Ông Chu Tử nhờ em đem biếu cho thầy ít quà”. Tôi trở nên hụt hẫng khi nghe Vũ Hoàng Chương nói, cho dù giọng ông chậm rãi và nhỏ nhẹ: “Chu Tử là ai? Hình như tôi không quen người này, nhưng  tại sao lại biếu quà cho tôi, mà quà gì thế?”. Khi nghe tôi nói tới thuốc phiện, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên.

Tôi ngồi xuống mép đi văng, đặt hai lạng thuốc phiện lên tờ báo cũ mà ông đang đọc dở. Như bị ma lực của nó thu hút, ông cầm lên, mở ra, vẻ thích thú của một tay sành điệu: “Thuốc Thượng Lào, sản phẩm hảo hạng đây”. Thế là câu chuyện giữa tôi và thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở nên thân mật hơn. Ông nói, mỗi ngày ông vẫn có thú vui đọc báo, nhưng chỉ đọc được một tờ, bởi không có đủ báo. Tôi hứa, mỗi ngày sẽ mang đến cho ông đủ các loại nhật báo phát hành trong ngày. Để cho ông yên lòng, tôi nói, mỗi ngày tôi thường đi ngang qua đây, nên rất thuận đường. Nói thế là vì tôi mong được kết thân với ông, chứ chẳng có việc gì phải cần đến khu vực này cả. Ông nhận lời một cách vui vẻ, và từ đó, chiều nào tôi cũng mang báo đến cho ông, rồi ngồi chuyện trò với nhau đủ mọi thứ chuyện trên đời, rồi thành thân thiết.

Vài tuần sau, một lần Vũ Hoàng Chương bất chợt nhắc đến sức khỏe nhà văn Chu Tử. Nhân đó, tôi hỏi, dường như ông và Chu Tử cũng quen nhau, nhưng giữa hai người có điều gì đó lấn cấn? Ông thú thật là có quen biết. Nhưng do mâu thuẫn gì đó với Chu Tử, nên thôi. Còn như Chu Tử có xúc phạm Vũ Hoàng Chương hay không, cũng chẳng ai biết hư thực ra sao, bởi đó cũng chỉ là thị phi của người đời.

Có những buổi chiều khi tôi đến thì bà Thục Oanh vắng nhà. Tôi tự pha trà và ngồi đối ẩm với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Tôi hỏi ông về chuyện tình yêu và những bài thơ đau tình bất hủ của ông. Nét mặt ông trở nên buồn vời vợi, nói như nói với chính mình: “Năm tôi 25 tuổi thì Tố Uyển đi lấy chồng, tôi đã như điên, như cuồng. Người ta biết nhiều đến chuyện tình ly cách và những bài thơ tôi làm cho Tố Uyển giai đoạn này, đặc biệt là hai câu mà nhiều người thuộc:

Tình ta, ta tiếc cùng ta khóc –

Tố của Hoàng, nay Tố của ai…

Ông nói tiếp: Thật ra còn có một người phụ nữ nữa, cũng  làm cho tim tôi và thơ tôi rỉ máu, nhưng ít được người ta nhắc tới  hơn:

Kiều Thu hề! Tố em ơi

Ta đang lữa đốt tơi bời mái tây…

Tôi hỏi: “Thế còn cô Thục Oanh?”. Ông nói: “Đó là một người bạn đời, người chia ngọt sẻ bùi, tuy không phải là người tình nhưng còn hơn cả người tình”.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương thường nói với tôi là ông không có bạn. Nhưng theo tôi nhìn thấy thì ông sống rất tình nghĩa. Có lần ông hỏi tôi có thường gặp Ngọc Thứ Lang không? Tôi nói rất thường gặp. Sáng nào cũng thấy anh ngồi ở quá cà phê trước tòa soạn báo Sóng Thần. Dạo này trông anh rất yếu và hay đau ốm. Thế là chẳng nói, chẳng rằng, ông lấy trên đầu nằm ra một cục thuốc phiện, cắt làm đôi, gói cẩn thận bằng một mảnh giấy kiếng màu cam, rồi trao cho tôi, dặn dò:  “Đưa cho Ngọc Thứ Lang và đừng nói gì cả”.

Một buổi chiều khác, tôi gặp Lê Cung Bắc (nay là đạo diễn – NSƯT Lê Cung Bắc) tại tòa soạn, và rủ anh ghé Vũ Hoàng Chương chơi. Lê Cung Bắc nhận lời ngay, bởi anh cũng là người yêu thơ và rất ái mộ thơ Vũ Hoàng Chương. Đó là một buổi gặp gỡ hết sức thú vị.

Trước khi theo tây học, Vũ Hoàng Chương từng học chữ Nho nhiều năm, thuộc loại uyên bác. Còn Lê Cung Bắc lại xuất thân trong một gia đình khoa bảng, mấy đời ông cha liên tục đỗ đầu các đại khoa dưới triều Nguyễn. Do đó, anh cũng rất tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh,… từ hồi còn rất trẻ. Đặc biệt, Lê Cung Bắc thuộc làu rất nhiều bài Đường thi, và cả những bài từ, bài phú. Thế là một già, một trẻ, hết đọc rồi bình thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, đến Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu… say sưa cho đến sẩm tối. Vũ Hoàng Chương nói, ông tuy đã già nhưng tâm hồn còn rất trẻ, nên rất thích chuyện trò với những người bạn trẻ có được kiến thức như Bắc.

Ông dặn tôi, thỉnh thoảng nhớ rủ Lê Cung Bắc đến thăm ông, để chuyện trò cho đỡ buồn. Khi chia tay, ông rời đi văng bước ra cửa tiễn chúng tôi bằng những bước đi không vững, để bày tỏ lòng mến khách. Ông nói: “Lâu lắm không bước ra đường, chẳng biết phố xá dạo này ra sao?”. Lê Cung Bắc trả lời: “Phố xá thì vẫn thế. Có điều, càng ngày các cuộc xuống đường của những lực lựơng tranh đấu càng nhiều hơn. Ngựa sắt, hàng rào kẽm gai và khẩu hiệu, biểu ngữ xuất hiện khắp nơi”. Ông lại hỏi: “Người ta viết gì trên đó?”. Tôi đáp: “Thì đại loại chế độ của Tổng thống Thiệu muôn năm, hoan hô cái này, đả đảo cái kia”. Lập tức thi sĩ Vũ Hoàng Chương ứng khẩu, đọc liền hai câu:

Thế mà cứ chúc muôn năm mãi

Nó sống lâu thì nước chết non.

Ra đầu đường, Lê Cung Bắc nói với tôi, quả thật, nếu cứ nhìn vào cái thân xác gầy còm, yếu ớt đó, không ai ngờ tiềm ẩn trong tim là ngữ khí ngất trời.

Điều làm tôi cảm động nhất, là vào một buổi chiều cuối năm 1974, khi tôi đến với ông như thường lệ đã thấy trước mặt ông là một tập sách mỏng. Ông cầm lên đưa cho tôi và nói: “Đây là quà của tôi biếu anh, một trong những người rất hiếm hoi mà tôi quý mến”. Tôi lật ra, cứ tưởng như mơ. Đó là một tập thơ của Vũ Hoàng Chương, do chính ông viết bằng đầu tăm, chấm mực tàu viết lên giấy bổi. Tập thơ có cái tựa là Song Kiều, ngoài bìa Vũ Hoàng Chương viết tặng đích danh tôi, có chữ ký và triện son hẳn hoi, nhưng chỉ dày hơn 20 trang, mỗi trang có 4 câu lục bát, vì nét chữ rất to. Dĩ nhiên là tôi vô cùng sung sướng. Cái công mỗi ngày tôi vẫn mang báo đến tặng ông rõ ràng không bỏ.

Đầu năm 1975, khi chuyển nhà đi nơi khác, vì không ổn định chỗ ở, tôi đã mang tập thơ quý giá, với chỉ một ấn bản duy nhất đó, cùng một ít tư liệu riêng, gởi gắm cho nhà thơ Huy Tưởng trên đường Huỳnh Tịnh Của. Về sau tôi hỏi, thì Huy Tưởng nói đã nhiều lần cố lục tìm trong đống sách vở và đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà anh, nhưng chẳng biết thất lạc ở đâu. Thế là mất!

Một thời gian sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương rời khỏi “gác mây”, dọn về Vĩnh Hội. Từ đó, cho đến lúc ông qua đời vào năm 1976, vì bộn bề công việc, tôi không đến với ông được nữa. Ngay cả khi ông  nhắm mắt, tôi lại ở  thật xa thành phố, nên cũng không thể đến thắp cho ông một nén nhang như lòng tôi mong ước.

Tôi nghĩ, cho dù quá nhiều thăng trầm ở đời này, hạnh phúc thì ít, khổ đau thì nhiều, nhưng có lẽ thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đã mỉm cười ra đi bởi ông đã thấm đẫm tinh thần Phật giáo như lời thơ ông:

Biển khổ mênh mông sóng ngập trời

Khách trần chèo một mái thuyền chơi

Thuyền ai ngược sóng, ai xuôi sóng

Cũng chỉ trong cùng biển khổ thôi.

Bình Trưng Đông, tháng Chạp Tân Mão

Đoàn Thạch Hãn

Xe Đạp Ơi… Thơ Hư Vô



Một đời lăn lóc tả tơi
Tôi thân viễn xứ chở người cố tri
Chở em qua lối xuân thì
Hồn tôi ở lại chiếc ghi-đông buồn.

Như còn vướng vấp mùi hương
Trên vai tôi để mà mường tượng em
Đạp xe qua phố không đèn
Cơn mưa bất chợt rối ren lối vào.

Cả đời vấp váp hư hao
Lăn theo con dốc đổ nhào bóng tôi
Còn đau một chỗ em ngồi
Trái tim tôi cũng tơi bời, đó em!

Con đường đã mất bảng tên
Chỗ em một thuở đã quên hẹn hò
Để tôi mải miết vòng vo
Đạp xe lên xuồng lần mò dấu xưa…

Hư Vô

Lá Diêu Bông. Tuỳ bút Đỗ Thái Nhiên


Đỗ Thái Nhiên

Viết tại Omaha năm 2009


Xã hội là môi trường sống của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giúp con người giao lưu với xã hội. Sống đồng nghĩa với đối thoại. Tuy nhiên ngôn ngữ là ngôn ngữ chung. Sử dụng ngôn ngữ chung để diễn tả tâm tình riêng vốn là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp. Dưới chế độ độc tài hà khắc, người cầm bút đã phải vừa vận dụng ngòi bút với tất cả khó khăn của ngôn ngữ chung, vừa tinh vi lách tránh công an văn hóa bằng kỹ thuật: dùng cái hư làm nổi bật cái thực, nhắc đến cái thực với ẩn ý đẩy sự suy nghĩ hướng về cái hư. Đó là lý do giải thích tại sao trong lòng của chế độ CSVN đã xuất hiện một số các tác phẩm văn học nghệ thuật mang nội dung kỳ bí gần như huyễn hoặc. Không khí kỳ bí và huyễn hoặc kia là cả một lời mời gọi, thiết tha bao nhiêu, xoáy tim óc bấy nhiêu. Trên đỉnh cao nhất của thế giới thiết tha nhưng xoáy tim óc này, chúng ta tìm thấy bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm.
Lá Diêu Bông
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thờ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ…
Chị bảo:
Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay, ta gọi là chồng.
Hai ngày,
Em tìm thấy lá
Chị chau mày:
– Đâu phải lá Diêu Bông.
Mùa đông sau,
Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu.
Trông nắng vãn ven sông
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười
Xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt
Chị không nhìn
Từ thuở ấy…
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hời…
Ới Diêu Bông…!
Hoàng Cầm (1959)
Chúng ta hãy khảo sát bài thơ Lá Diêu Bông trên cả ba mặt: bản thể nhận thức và phương pháp.
BẢN THỂ của Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG
Hình ảnh vào đề bài thơ là hình ảnh lạnh lùng của chiều đông, trên cánh đồng ngổn ngang “cuống rạ”, người chị tâm sự với em:
“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng”
“Hai ngày sau”, “mùa đông sau” người em khoe với chị:
“Em tìm thấy lá”
Mỗi lần em khoe “tìm thấy lá”, chị lại lắc đầu:
“Đâu phải lá Diêu Bông”
Thời gian trôi qua mà chẳng có “đứa nào tìm được lá Diêu Bông”, người chị đành phải đi lấy chồng:
“Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười
Xe chỉ ấm trôn kim”
Có một lần, sau khi chị đã lấy chồng, người em lại khoe:
“Em tìm thấy lá”
Lần này, người chị phủ định một cách dứt khoát:
“Xòe tay phủ mặt
Chị không nhìn”
Mặc cho người chị dứt khoát không tin ở sự xuất hiện của lá Diêu Bông, người em vẫn miệt mài đi tìm Diêu bông… Thế rồi, đời sống thật là thảm sầu:
“Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hời…
Ới Diêu Bông…!”
Đi tìm bản thể của bài thơ Lá Diêu Bông tức là đi tìm ẩn ý nằm đàng sau các câu hỏi: Chị là ai? Em là ai? Tại sao Lá Diêu Bông lai là một loài lá chỉ có trong mộng tưởng? Phần nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông sẽ cho chúng ta đáp số đối với các câu hỏi vừa nêu.
NHẬN THỨC về Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG
Nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông tức là nhận thức về mối liên hệ giữa tác giả và nội dung của tác phẩm. Đồng thời cũng là nhận thức về thái độ đón nhận tác phẩm từ
phía người đọc. Trước hết, chúng ta hãy ghi nhận hai chi tiết sau đây của bài thơ:
– Chi Tiết Một: Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh gợi nhớ một chiều đông, trên cánh đồng trơ “cuống rạ”. Câu chuyện trong thơ là câu chuyện diễn ra trong nhiều năm: Mùa đông này rồi lại đến “mùa đông sau”.
– Chi Tiết Hai: Bài thơ được sáng tác vào năm 1959. Trong liên hệ giữa mùa này với mùa kia: mùa Đông đến sau mùa Thu. Trong liên hệ giữa năm này với năm kia: Năm 1959 đến sau năm 1945.
Mang hai chi tiết nêu trên đặt cạnh nhau, chúng ta thấy ngay rằng Lá Diêu Bông là bài thơ có chủ ý diễn tả những cảm nghĩ của tác giả về một sự việc đã thực sự xảy ra và thực sự có những yếu tố hiển nhiên để đánh giá. Sự việc đã xảy ra là sự việc gì? Đối với Hoàng Cầm, một nhân vật trọng yếu của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, sự việc đã xảy ra chẳng thể là gì khác hơn cái gọi là: Cách Mạng Mùa Thu 1945. Mùa thu là mùa của “cách mạng” thì mùa đông là mùa nhân dân bắt đầu thắc mắc về “cách mạng”. Điều này cho chúng ta thấy không phải vô tình mà vấn đề Lá Diêu Bông được đặt ra vào mùa Đông. CSVN đã trả lời hoài nghi của nhân dân đối với
cách mạng bằng hai biến cố: Cải Cách Ruộng Đất và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1956).
Hoàng Cầm đã tài tình dùng hình ảnh chị và em để nói lên mối liên hệ giữa thế hệ này và các thế hệ sau. Chị là biểu tượng của thế hệ này: Thế hệ của những người Việt Nam đã thực sự đau khổ dưới ách Cộng Sản, có kinh nghiệm về Cộng Sản. Em là biểu tượng của các thế hệ sau. Các thế hệ sau bao gồm những người vẫn còn tin tưởng ở một lúc nào đó, tại một nơi nào đó “các em” sẽ tìm được lá Diêu Bông.
Bây giờ chúng ta hãy trở về với nhân vật người chị. Đối với một thiếu nữ: ước mơ tha thiết nhất, ước mơ trang trọng nhất là ước mơ gặp được một người chồng tâm đầu ý hợp. Ước mơ này đồng dạng với ước mơ của nhân dân có được một chánh quyền thực tâm phục vụ tự do dân chủ. Ý niệm về tự do dân chủ đơn giản và rõ ràng như hình ảnh một chiếc lá. Thế nhưng đối với “ngụy quyền kiểu CSVN” thì tự do dân chủ phải là một loại lá không có thật: Lá Diêu Bông. Biết được thực chất phản dân chủ của CSVN, chị nói với em:
“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay, ta gọi là chồng”.
Chữ “đứa” ở đây rõ ràng là cách xưng hô của chị đối với em. Văn hóa Việt Nam không cho phép vợ gọi chồng bằng “đứa”. Do đó, câu thơ vừa trích dẫn ở trên không thể bị hiểu rằng: Đứa nào tìm được lá Diêu Bông, từ nay ta gọi đứa đó là chồng. Vậy thì người chồng mà người chị để ý tìm kiếm là ai? Thưa rằng: Như đã trình bày ở trên, người chồng chỉ là hình ảnh biểu tượng cho nhà cầm quyền. Câu nói của người chị nên được hiểu như sau: Người nào chứng minh được nhà cầm quyền CSVN thực sự tôn trọng tự do dân chủ (có được lá Diêu Bông), từ nay “ta” gọi nhà cầm quyền đó là chính quyền. Và dĩ nhiên, “ta” chấp nhận làm người dân ngoan ngoãn của chính quyền. Thái độ của “ta” chẳng khác nào thái độ của bà vợ hiền bên cạnh ông chồng mẫu mực.
Ngay sau “Cách Mạng Mùa Thu”, guồng máy tuyên truyền của CSVN làm việc rất tích cực và ồn ào. Mỗi thắc mắc của quần chúng về tự do dân chủ (Lá Diêu Bông) đều được cán bộ Cộng Sản nhanh nhẩu giải đáp. Tuy nhiên:
“Hai ngày
Em tìm thấy lá
Chị chau mày
Đâu phải lá Diêu Bông”
Thế rồi với thời gian, thực chất phản dân chủ của CSVN càng ngày càng phơi bày trắng trợn. Và, cũng với thời gian, người dân (người chị là biểu tượng) đành phải bó tay trước bạo lực của “ngụy quyền CSVN”, đành phải miễn cưỡng chấp nhận mối quan hệ “quan chức” và nhân dân. Quan hệ này được ẩn náu dưới quan hệ vợ chồng. Trong tình huống đó, nhóm chữ “tự do, dân chủ” chỉ có ý nghĩa của một mỉa mai:
“Ngày cưới chị,
Em tìm thấy lá
Chị cười
Se chỉ ấm trôn kim”
Điều đau đớn nhất nằm ở sự thể rằng: Không riêng gì chị, mà con cháu chị, các thế hệ sau chị vẫn phải sống, phải tiếp tục âm thầm và nhọc nhằn bước trên con đường tuyệt đối không tự do dân chủ:
“Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt,
Chị không nhìn”
“Chị không nhìn” có nghĩa là chị đã hoàn toàn nhìn ra: tất cả những gì mà CSVN gọi là tự-do dân-chủ chỉ là chiêu bài. Thế nhưng thật là xót xa cho các thế hệ đàn em. Họ vẫn miệt mài đi tìm Lá Diêu Bông. Lá Diêu Bông sẽ không bao giờ có. Có chăng chỉ là muôn vạn sinh linh trong Cải Cách Ruộng Đất đang quyện vào “gió quê” để tạo thành lời than vãn bi thiết về một tự-do dân-chủ chỉ có trong mộng tưởng:
“Từ thuở ấy…
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
– Diêu Bông hời…
Ới Diêu-bông…!
Bằng bài thơ Lá Diêu Bông, thi sĩ Hoàng Cầm có chủ ý nói với thế hệ chúng ta và các thế hệ mai hậu: đi tìm
tự-do dân-chủ dưới chế độ Cộng Sản, chắc hẳn chúng ta sẽ đi đến kết quả: “Em đi trăm núi, ngàn sông, nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ!” (nhạc và lời Phạm Duy).
PHƯƠNG PHÁP LUẬN của bài thơ LÁ DIÊU BÔNG
Theo lời của tác giả Lý Kiệt Luân, có một lần Hoàng Cầm đã tâm sự với thân hữu: “Cái cuộc đời của tôi, ngẫm nghĩ cái gì cũng thế… nó cứ bị trói gom lại như… như… cái lá Diêu Bông! Nếu có ai bắt nguồn với tôi, dù chỉ là quen biết sơ khai ban đầu thì nó cũng từ cái lá Diêu Bông mà ra… Cho nên phải nói: nó là cái lá Định Mệnh của tôi hơn là gọi nó như là tên của một bài thơ” (Việt Nam News – Xuân Ất Hợi – trang 85).
Lời phát biểu kể trên của thi sĩ Hoàng Cầm chỉ là một kiểu nói khiêm tốn. Trong thực tế, Hoàng Cầm đã ban cho Lá Diêu Bông một sinh mệnh, chứ Lá Diêu Bông không hề tạo được định mệnh cho Hoàng Cầm. Bằng phương pháp nào Hoàng Cầm đã mang sinh mệnh đến với Lá Diêu Bông? Sinh mệnh của thi phẩm chính là sức sống của thi phẩm đó trong lòng người. Nói đến lòng người tức là nói đến sự thuận hợp với Lịch Sử quan. Cách nay hơn bốn thập niên, mặc dù bị chế độ Cộng Sản bưng mắt bịt tai, Hoàng Cầm vẫn nhìn ra Sử Quan con
người: lấy tự-do dân-chủ làm hướng tiến của lịch sử. Lá Diêu Bông chuyên chở ba chủ ý:
– Tố cáo chế độ CSVN phản dân chủ, nhân quyền.
– Nói lên nỗi đau khổ của người dân bị “ép duyên” phải sống với chế độ độc tài.
-Trình bày những di hại của chế độ phản dân chủ qua nhiều thế hệ.
Điều quan trọng không là tác giả đã nghĩ gì khi sáng tác ra bài thơ. Mà điều quan trọng chính là những cảm nghĩ của người đọc trải dọc theo chiều dài sinh mệnh của bài thơ. Người nghệ sĩ không thể và không cần tiên liệu mọi phản ứng của người đọc đối với tác phẩm của mình sau một thời gian dài tác phẩm đó đã đi vào dòng đời. Người nghệ sĩ bao giờ cũng sáng tác trên lập luận rằng: Bên cạnh tiêu chuẩn về nghệ thuật, phương pháp xây dựng sinh mệnh cho tác phẩm đòi hỏi tác giả phải có khả năng tạo điều kiện cho tác phẩm sống thuận chiều với lịch sử. Nói cách khác, tác giả cần có lịch sử quan thích nghi.
Tóm lại, bản thể của Lá Diêu Bông là ước vọng tự do dân chủ được gói ghém bên trong một câu chuyện thiết
tha, trữ tình và duyên dáng. Nhận thức của Lá Diêu Bông là những nhận thức đạt mức quân bình hữu lý giữa hai nhu cầu. Bên này là nhu cầu an toàn của người cầm bút. Bên kia là nhu cầu chuyển gửi một cách trung thực những cảm nghĩ sâu sắc của tác giả đến với người đọc. Phương pháp của Lá Diêu Bông là phương pháp vận dụng lịch sử quan con người, lịch sử quan của tự-do dân-chủ nhân-quyền nhằm gầy dựng sức sống bền bĩ và hấp dẫn cho tác phẩm. Trên cả ba mặt bản thể, nhận thức và phương pháp, Hoàng Cầm quả thực là tác giả tuyệt hảo của Lá Diêu Bông.

Đỗ Thái Nhiên

.

Vũ Hoàng Chương trong mắt Bạn Bè. Minh Anh


Minh Anh

Những ngày gần đây giới yêu văn chương, thơ ca nước nhà đã rất bất ngờ khi nhà thơ Vũ Hoàng Chương có mặt trong 100 cái tên đề cử Nobel Văn chương vào năm 1972. Theo đó danh sách đã được công bố sau 50 năm tiểu thuyết gia người Đức Heinrich Böll chiến thắng.

Đây cũng là dịp đặc biệt để độc giả trong nước nhìn lại đời thơ của “thi bá” họ Vũ.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (trái) đem tới cho thi ca Việt Nam một tiếng thơ “giàu nhạc, giàu văn, nhiều khi kiểu cách nhưng rất đỏm dáng, dềnh dàng một cách có duyên”. Ảnh tư liệu

Quá trình sáng tạo

Vũ Hoàng Chương (1915 – 1976) sinh tại Nam Định, trong một gia đình khoa bảng giàu có. Cha ông giữ chức tri huyện nhỏ, sành sỏi văn học. Mẹ ông cũng có tài năng nghệ thuật, hay chữ và biết chơi đàn. Có lẽ vì phông nền này mà ông đã được tiếp xúc với Hán văn từ sớm. Năm 12 tuổi, ông bắt đầu học tiếng Pháp và năm 1930 đỗ vào trường trung học Albert Sarraut, Hà Nội.

Năm 1938 ông học Luật, nhưng sớm thôi học và ra làm việc cho ngành hỏa xa. Năm 1940, tập Thơ say đầu tiên của ông ra đời, gây tiếng vang lớn, và liền sau đó là những tác phẩm ấn tượng như Mây, Rừng phong, Hoa đăng, Trời một phương… Ngoài thơ ông cũng viết kịch thơ, từng cùng Nguyễn Bính và Chu Ngọc thành lập ban kịch ở Hà Nội và diễn các tác phẩm như Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp, Lên đường, Thằng Cuội…

Ngoài các tác phẩm trong nước thì thơ của ông cũng được dịch sang các tiếng nước khác. Năm 1960 ông cho xuất bản tập Cảm thông (tựa tiếng Anh Communion) với 6 bài mới sau cuộc Âu du và 9 bài cũ tiêu biểu của mình. Những năm sau đó, Tâm tình người đẹp (1961, tựa Pháp: Les 28 Étoiles), Thi tuyển (1963, tựa Pháp: Pòemes choisis) kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ người Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie cũng được ra mắt.

Năm 1964 ông tham dự hội nghị Văn Bút Á châu (PEN Asia) họp tại Bangkok. Giai đoạn 1969 – 1973, ông giữ chức chủ tịch tổ chức Văn bút Việt Nam. Có thể từ đây mà Thang Lang (nhiều người cho rằng là lỗi đánh máy của nhà phê bình Thanh Lãng) đã đề cử ông vào danh sách xét duyệt Nobel Văn chương. Hồi ký Ta đã làm chi đời ta là tác phẩm cuối cùng của ông, xuất bản vào năm 1993 gần đây cũng được tái bản trở lại.

Theo nhà nhà thơ – nhà giáo Bàng Bá Lân trong tập Văn thi sĩ hiện đại, thì thơ của Vũ Hoàng Chương “giàu nhạc, giàu văn, nhiều khi kiểu cách nhưng rất đỏm dáng, dềnh dàng một cách có duyên. Thơ anh nửa cũ nửa mới, lời già dặn, chữ dùng khá bạo nhưng không ‘Tây đặc’ […] nên vẫn giữ được vẻ đài các trang nhã của Đông Phương”. Ông cũng cho rằng Thơ say là tập thơ “thành thực nhất” của Vũ Hoàng Chương mà trong đó, “nguồn thi hứng chính là mối tình đầu lỡ dở và cái thú đi gió về mây”.

Mối tình dang dở

Trong tập Thơ say, ta có thể thấy những suy tư rất riêng của “thi bá” họ Vũ trong chuyện tình yêu. Đi từ tổ khúc Say vô cùng hoang dại với những điệu nhảy để quên tình buồn, ông cũng viết các tổ khúc khác như Mùa, Yêu, Cưới nói về tình yêu ở thuở ban sơ còn nhiều vụng dại cũng như ngây thơ với em Vân (đề tặng trong Mùa), Kiều Thu (tên khác của Vân trong tổ khúc Yêu). Rồi đây cũng chính vì mối tình này mà sự nghiệp ông đã rẽ sang một hướng khác.

Tập thơ “Say” của Vũ Hoàng Chương

Trong Văn thi sĩ hiện đại, tác giả Bàng Bá Lâng đã tả chân dung họ Vũ vô cùng sống động. Theo đó vào mùa xuân 1941, bộ ba Nguyễn Bính, Tô Hoài và Vũ Hoàng Chương đã đến thăm ông. Ông viết “Nguyễn Bính quần áo lôi thôi đúng gã ‘giang hồ vặt’, Tô Hoài non choẹt bạch diện thư sinh, Vũ Hoàng Chương ăn vận bảnh bao, dáng dấp phong lưu công tử, phóng túng và hưởng lạc”. Từ những dòng này ta có thể thấy một nghệ sĩ tính có phần thật thà và bất cần đời đến từ họ Vũ.

Ông cũng tiết lộ vì sao Vũ Hoàng Chương xuất bản văn thơ. Theo đó họ Vũ đã trần tình rằng: “Thơ tôi làm khá nhiều và đã từ lâu, nhưng chưa hề có ý định in. Tại Lưu Trọng Lư có nợ tôi ít tiền, y không trả được liền gán cho tôi số giấy bản mà y đã trữ tính để in thơ. Thế là bỗng tự nhiên tôi có giấy, lại sẵn thơ, vì vậy Thơ say ra đời”. Tuy thế cảm hứng đến với sáng tác không hề vô tình, mà có ý định và bắt nguồn từ một cuộc tình dang dở của ông.

Trong tập Mười chân dung nhà văn cùng thời, nhà văn Vũ Bằng cũng đã chép lại một cuộc phỏng vấn tâm tình (interview sentimentale) với họ Vũ về chuyện tình này. Khi được hỏi trong 10 thi tập mình thích tập nào, Vũ Hoàng Chương bảo rằng mình “thích tập Mây, còn kịch thơ thì thích Vân Muội”. Vũ Bằng cũng khá tinh ý để rồi hỏi tiếp “Mây có sức mạnh gì ám ảnh anh như thế?” Họ Vũ tinh quái trả lời: “Hỏi vớ vẩn quá. Đấy là chuyện riêng. Nhưng thôi, cánh mình đã nói thật với nhau thì phải nói cho hết câu nói thật. Đúng là tôi hay nói về mây. Là vì mây là cả một tâm sự của tôi” và tiết lộ thêm “Mây ấy tên là Tố Vân” trong lúc cười buồn và cúi đầu xuống suy nghĩ một giây.

Nói về những nỗi vui buồn của cuộc tình duyên, họ Vũ kể rằng “Tôi biết Tố Vân từ lúc nàng còn đi học ở trường Hàng Cót (Brieux). Nàng là con gái một nhà khá giả, đậu bằng Cơ thủy, hỏng Tú tài phần nhất. Tình yêu giữa Tố Vân và tôi có ghi trong thơ Mười hai tháng sáu in trong cuốn Mây.” Thật vậy, ta có thể thấy những câu thơ sầu trong các bài thơ “khóc nàng”.

Ví như trong bài Mười hai tháng sáu: “Tố của Hoàng ơi, hỡi nhớ thương. / Là thế, là thôi, là thế đó, / Một năm thôi thế mộng tan tành. /Mười năm trăng cũ ai nguyền ước”. Hay Bài ca hoài Tố, in trong tập Rừng phong xuất bản vào năm 1954: “Giọt lệ chiều nay đẫm máu, / Gọi hồn em ngày – chưa – tháng – sáu – mười – hai / Ta đã mất em rồi Kiều Thu ngày xưa, Hào quang đã phai rồi, tóc mun dòng thơ”.

Hỏi thêm Tố Vân giờ đây ra sao, thì Chương đáp lời “Ở Hà Nội. Trước khi vào Nam, tôi có gặp nàng lần chót. Bà cụ thân ra nàng sang Pháp, còn nàng và gia đình ở lại. Cũng như trong những truyện cổ tích Âu Tây, lúc tôi từ giã nàng, nàng sống sung sướng và có nhiều con. Nhưng mười lăm năm nay rồi, tuyệt mù tin tức, không biết còn sống hay đã mất”. Sự mất mát ấy cũng được Bàng Bá Lân ghi lại sau khi gặp lại họ Vũ lần thứ hai.

Ông viết về lần gặp thứ 2 năm 1943 khi thơ Mây vừa được xuất bản: “Chất ma túy đã tàn phá cơ thể anh nhanh chóng. Chàng thanh niên khá khỏe mạnh, lanh lợi, có vẻ ăn chơi của Thơ say […] giờ gầy nhom, nét mặt hốc hác, xúng xính trong bộ nam phục nhàu nát (áo dài kép bằng nhiễu tam giang, quần chúc bâu vàng khè, bít tất nhăn nhúm) […] tóc dài lõa xõa che kín cả gáy lẫn tai càng làm cho gương mặt ốm yếu, da bọc xương” Bởi ông rơi vào hố sâu tuyệt vọng, nên “nàng thơ nâu” – những chất thức thần và thú ăn chơi, đã kịp tiến đến và ám ảnh ông.

Bàng Bá Lân viết: “Anh lao mình vào thú vui vật chất để tìm say và mượn rượu để quên lãng. Nhưng tửu lượng không được hào, mà còn gây kết quả trái lại, dẫn đến đi tìm những thú say khác: giọng hát, tiếng đàn, khiêu vũ – thú vui Tây phương vừa mới nhập cảng, quyến rũ, lôi cuốn khiến anh bê trễ cả việc nhà ga, và rồi bỏ việc”. Cũng chính nơi hỏa xa đó mà cả hai đã có những lần “nằm võng mắc ở hiên nhà ga, anh đọc thơ cho tôi nghe, mơ màng nhìn chiều xuống chầm chậm, tai lắng thâu từng âm thanh dìu dịu của lời thơ mà hồn tôi phiêu phiêu như bay vào xứ mộng”.

Thật cụ thể hơn, có lần chua chát họ Vũ nói rằng: “Khi mình định bỏ học ra làm việc ở sở Hỏa Xa thì ‘người ta’ không phản đối. Đến lúc mình đi làm rồi, thì ‘người ta’ lại tuyên bố là không thích người làm ga! Và ‘người ta’ đi lấy chồng làm ông huyện […] cái chua xót của câu thơ không phải ở lấy chồng quan mà là chẳng một lời”.

Như vậy có thể thấy rằng chính mối tình đầu thiết tha nhưng lỡ dở đã ám ảnh Vũ Hoàng Chương suốt đời và là nguồn thơ phong phú nhất của ông. Tuy đầy đau đớn nhưng cũng từ đó mà những áng thơ bất hủ đã được ra đời, và còn sống mãi với những thế hệ yêu thơ dẫu ở thời nào.

Minh Anh

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au