Quán Thơ Hư Vô 390


BÍM TÓC HOA VÀNG

Ta về theo dấu mưa tan
Vòng vo chốn cũ đâu tàn tích em
Phố nhà như đã chưa quen
Hàng cây khép nép bên hiên đợi chờ.

Chùm hoa điệp nở bơ vơ
Ngỡ em đôi bím buông hờ ngang vai
Rộn ràng hương tóc em bay
Mênh mông phủ xuống chiều lay dáng gầy.

Hồn ta lãng đãng như mây
Buồn trên chiếc lá tàn phai lối về
Em còn bím tóc vân vê
Để hoa rực nở cận kề tên em.

Thềm xưa còn nhơ hay quên
Ta ngồi với bóng chia niềm xót xa
Điệp vàng từng cánh bay qua
Hình như em bỏ ta, vào đời…

Hư Vô

NẮNG HẠ


Nắng cuối hạ cuộn mình trầm tích
Ngun ngút trong từng lớp lớp sa mù
Khô hạn rưới trên từng âm sắc
Xác xơ chiều cằn cỗi nhánh phù du

Con chim nhỏ khóc thương dòng cạn kiệt
Cánh trải buồn soi bóng nước liêu xiêu
Quắt queo nắng chói chang mùa hạ đỏ
Vỡ tung chiều sa mạc nắng đốt thiêu

Nắng thiên cổ ngàn năm chưa trở giấc
Nấu nung trên từng ánh dọi tinh cầu
Làn tóc rối cháy khô miền xích đạo
Hong võ vàng trầy trụa vết đời nhau

Phượng vẫn nở bàng hoàng chùm hoa cuối
Nở lẫy lừng vì sợ cuộc tàn phai
Nắng qua hiên sợi nắng buồn hấp hối
Giọt cuối cùng khâm liệm hạ sớm mai.

Thục Uyên

ĐÊM


Đêm nay nữa em về ta không đón
Buồn không em buồn lắm phải không em
Đời ta đã nửa đường đi xuống
Nên lâu rồi nhớ cũng như quên

Đêm nay nữa ta lang thang ngoài phố
Đến rồi đi chỉ cách mỗi con đường
Sao nghe lòng tràn ngập nỗi nhớ thương
Buồn khôn tả khi âm thầm trở bước

Đêm nay nữa một mình tìm say khướt
Vẫn tưởng rằng uống rượu sẽ chóng quên
Rượu bao nhiêu đủ chuốc để môi mềm
Khi cuồn cuộn một trời thương yêu đó

Đời hiu quạnh khi lòng không bỏ ngỏ
Đánh mất đi điểm tựa của chính mình
Mãi quay cuồng theo ảo ảnh nhân sinh
Chơi trốn chạy giữa trò đời hư thực…

Ninh Tran

TÌNH THƠ THÁNG TÁM


Tháng tám tình trong veo,
Nhẹ nhàng đưa mái chèo,
Thuyền tình mùa nước nổi,
Chòng chành ắp yêu thương.

Nắng vàng ngát mùi hương,
Đếm từng giọt mưa rơi,
Vội vã bàn tay đợi,
Vụng về viết vần thơ.

Nghiêng vành nón ai cười,
Tình bỗng nở hoa tươi,
Sợi tóc bay trong gió,
Run tay cứ hụt hoài.

Nhánh sông đời miệt mài,
Tình đầu chẳng nhạt phai,
Như mưa tuôn thác đổ,
Trong trái tim dại khờ.

Tháng tám tình như thơ,
Vẫn nhớ tiếng cười xưa,
Bài thơ hoài dang dở,
Ai làm nốt giùm tôi…

trầnthịminhchâu

Ở PHƯƠNG ẤY EM BAO NGÀY LẶNG LẼ


Không níu được chiều qua mảnh nắng
tan vào đêm tiếng thở mịt mùng
cũng chẳng thể cho người danh phận
dẫu thương yêu khắc khoải kiệt cùng

Trăng mờ tỏ lối mòn bóng lẻ
lặng trong nhau mong ước đã từng
như mỗi sớm hiên nhà đôi sẻ
lót tổ mình rơm cỏ riêng chung

Từ tiền kiếp ngàn đời khao khát thế
mắt môi mềm hơi ấm cả vòng tay
ở phương ấy em bao ngày lặng lẽ
phố mình anh thao thiết gió heo may

Diệp Hoàng

CHỈ MỘT CHÚT THÔI…


Chỉ nhìn một chút thôi
Chỉ để chơi một chút
Khi từ giã cõi đời
Làm sao mang theo được!

Như sợi nắng ban mai
Đâu phủ ngày sắp tắt
Khi đến lúc buông tay
Cũng chỉ cầm chốc lát

Như thuở nào ta đến
Chưa vương chút bụi trần
Vàng son nào tô điểm
Rồi cũng về quán không

Đâu thể nào mang theo
Trong mộ phần hoang lạnh
Cả một đời chắt chiu
Cũng chỉ là bọt sóng

Cuộc đời rồi cũng khép
Cát bụi rồi hóa thân
Những giấc mơ phù phiếm
Khác chi bóng phù vân

Chỉ để nhìn chút thôi
Chỉ để chơi một lát
Rồi bỏ lại trần đời
Tay không về với đất!

Nguyễn Sông Trẹm

BÃO ĐÊM


Đêm nay ai khóc nghìn trang sử
Mà gió ùn lên vạn nỗi sầu
Ta gọi tên mình bên vách núi
Nghe lòng ngun ngút nỗi mòn hao.

Trái đất cơ hồ quay chậm lại
Đêm dài như thể lại dài thêm
Bàn tay Chúa, Phật không đành nắm
Biển sóng cuồng dâng những cát lầm!

Trần gian vạn nẻo vào hư lộ
Thiên hạ trầm luân lạc lối về
Thế giới nơi đâu còn mở cửa?
Cho người về trú một đêm mưa

Hỡi ơi! Tiếng gió kêu ngoài bãi
Một phút quay cuồng, một phút đau
Bốn bể mây giăng sầu tê tái
Hồn thiêng lung lạc khắp tình cầu

Đêm nay ta dựa vào vách núi
Khản giọng gọi thầm tên cố tri
Những ai còn thức bên trời đó
Cùng ta chia cuộc bể dâu này…

Châu Ly

THƯƠNG LẮM, SÔNG HOÀI


Vẫn ngọn đèn sông Hoài,
Vẫn giọng nói sông Hoài.
Chỉ có mái ngói là rất cũ
Chỉ có cánh cửa là rất cũ.

Trên bậc cầu thang già nua
Bước chân chúng mình còn quá trẻ,
Bây giờ mình đi lên, đi lên.

Anh với sông Hoài có nỗi nhớ
Anh với sông Hoài có cơ duyên
Gặp nhau từ trên núi?

Những đêm nằm nhắc chuyện quê hương
Bước chân tảo tần của mẹ
Những món ăn ngon của mẹ.

Trái Ớt này xé lưỡi mà thương
Cọng rau thơm nồng này nữa
Những vị này không lạ.

Anh không là người sông Hoài
Không là người phố Hội như em
Can cớ gì, ứa nước mắt mà thương?

Thương ngọn đèn lồng sông Hoài,
Thương giọng nói sông Hoài,
Thương cả hồn của sông Hoài – rất cổ!

Lê Văn Hiếu

EM CỨ HUẾ


Em cứ Huế của ngày xưa bịn rịn
Trên ga chiều lưu luyến tiễn đưa anh
Tàu khuất dần in bóng nhỏ mong manh
Em vẫn đứng hòa chung cùng dáng Huế

Em cứ Huế với một lời thỏ thẻ
Trưa Khiêm lăng lặng lẽ dáng em ngồi
Lòng bồi hồi tôi hỏi nhỏ em ơi
Mai xa lắc chắc đời tôi trống vắng

Cứ Huế nghe em dù ta xa ngàn dặm
Vẫn vọng về tiếng sóng nước sông Hương
Vẫn thanh âm chuông Linh mụ chiều buông
Vẫn là em bởi em luôn là Huế!

Trâm Nguyễn

Bóng Đông. Thơ Hư Vô


Như vạt lụa bay mù góc phố
Giật mình ngoái lại đã tàn đông
Tháng tám dáng ai đang dậy mộng
Còn gập ghềnh theo chiếc bóng không!

Mà em như lá sầu đông rụng
Rét mướt chiều lê những bước chân
Con đường một thuở quên hò hẹn
Biết khóc cùng em đã mấy lần?

Hay chỉ là tuyết rơi trong mắt
Chạm thoáng mi em lạnh phố chiều
Hình như trong giọt pha lê ấy
Đã nhuốm màu hoang phế rong rêu.

Tháng tám còn liêu xiêu lối cỏ
Em đi bỏ lại một con đường
Hồn tôi như hạt sương tan chậm
Ướt gót chân em thuở biết buồn…

Hư Vô

Tuý Hồng Giữa Chúng Tôi. Tuỳ bút Mai Thảo


Mai Thảo

(Chân dung nhà văn Túy Hồng và Mai Thảo)

Nhà văn nữ Túy Hồng ngoài đời là người trăm năm của nhà văn Thanh Nam, tôi gặp mặt lần đầu, bấy giờ là khoảng cuối năm 1960. Chị vừa chia tay ngọn núi Ngự, từ biệt giòng sông Hương vào sống với gia đình trong một căn nhà nhỏ giữa khu Nguyễn Cư Trinh náo nhiệt. Người Huế đi tới chân trời góc biển nào cũng mang Huế, tận cùng theo mình tới đó. Nhất là người Huế lại là một phụ nữ Huế, biểu tượng rực rỡ của Huế bên cạnh nam phái Huế thường có khuynh hướng che dấu phần nào gốc gác mình, không có những tỏ hiện rõ ràng và ngỗ ngược về Huế bằng mái tóc thề và nón bài thơ Đông Ba, Thành Nội.

Túy Hồng cũng vậy. Một biểu tượng rực rỡ của người đàn bà Huế. Huế từ vóc dáng đến phục sức, từ cái lối đưa tay lên che miệng cười, từ cái lối cầm dù đi trên hè phố Sài Gòn một chiều mưa lớn, đến cái lối đứng tránh đón bạn vào nhà, đến cái lối sôn sao tiễn bạn ra đầu ngõ. Biểu tượng. Trộn vào muôn vàn cũng không sao lẫn được. Biểu tượng, hiểu tới tột đỉnh của biểu tượng, trong muôn nghìn kết thành ở một, với đầy đủ những đặc thù riêng tây và đậm đà nhất, với Túy Hồng sẵn đã Huế nói theo cách nói của kép hát Hùng Cường: “một chăm phần chăm”. Túy Hồng còn là một nhà văn. Và nhà văn nữ lỗi lạc sinh trưởng ở quê hương của mè xửng và của bún bò cay nhức óc này lại viết về Huế rất nhiều, chỉ viết về Huế, cái thế giới văn chương của bà ném đi xa rộng tới đâu cũng từ một tâm thức Huế, cũng ở trong những chân trời Huế.

Lần gặp đầu ấy, cái cảm tưởng thứ nhất của của tôi về đám chị em Túy Hồng rất đông, là giữa khu Nguyễn Cư Trinh vẫn cầu Tràng Tiền, cái dốc Nam Giao đâu đó, Phú Bài ngoài đầu ngõ, Vọng Cảnh ngay hông nhà, tôi vừa lọt vào xanh biếc tĩnh Tâm, tôi vừa rơi vào sương chiều Linh Mụ, giữa một bầy thiếu nữ Huế ríu rít tiếng chim, mà chim Huế một bầy ríu rít thì Nam Bắc đờ người ra, chim nói làm sao người hiểu được. Cảm tưởng thứ hai, và riêng về Túy Hồng thôi, là vị nhà văn nữ miền Trung, nổi danh từ tập truyện đầu, thật lạc lõng với Sài Gòn. Có vẻ như Sài Gòn làm Túy Hồng bối rối và kinh hoảng, trong những điều Sài Gòn thật sự làm bối rối, cả trong những điều Sài Gòn chẳng làm kinh hoảng gì người. Biển náo động kia làm xao xuyến hồ này trầm lặng, phải vậy chăng? Cái khối người bốn triệu vây bọc, tràn lấn là một dội đập bàng hoàng với người chỉ quen soi bóng mình trên yên tĩnh Hương Giang? Hay Sài Gòn của ban đêm, của tới sáng, của quán xá hội chợ, nhịp sống cơn lốc, đà sống thủy triều làm chấn động người nữ sinh Đại Nội, trong dậy thì chỉ biết cái ánh nắng dịu dàng của thôn Vĩ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử, sự lắng đọng nghìn đời của tịch mịch những lăng tẩm vua xưa?

Sự thể không rõ rệt lắm. Rõ rệt chỉ chính Túy Hồng viết được ra. Tạm giải thích là Túy Hồng có một tâm hồn và một bản thể địa phương rất mực. Cái sự địa phương tính đã tới mức linh hồn và tủy não, như trái quýt trong Cổ Học Tinh Hoa mới là nó khi được trồng trên đất nó Giang Nam và lạc thể ở bất cứ một đất vườn nào khác. Sự rõ ràng nếu thấy nằm ở phản ứng. Thân thế và cung cách sống ngoài Huế và xa Huế ở Túy Hồng vĩnh viễn là một phản chống tiên thiên không hòa nhập không đồng hóa. Không thể. Không thể. Đã bao nhiêu năm bà vẫn ở Huế, như là Huế từ đầu. Bản thân lưu lạc, nhưng bản thể vẫn ở bên kia ngọn đèo Hải Vân, thời còn con gái. Gia đình đã yên ấm, người thiếu nữ Huế đã êm đềm sang sông, mà chiều chiều vẫn cặp mắt trong thơ Nguyễn Bính hướng về mịt mùng quê ngoại. Văn chương và tiểu thuyết Túy Hồng, từ ngữ trong tạp văn, hình ảnh trong truyện ngắn đều đậm đà cách nói, cách viết Huế, những trang xưa như những trang mới bây giờ.

Thành ra câu trả lời sau cùng có lẽ là Túy Hồng như vậy, không một chút thay đổi ở bản chất sâu thẳm, không một chút biến tướng dầu ở tình huống nào, và chính bởi vậy bà mới là nhà văn, đã sống đã viết như tới bây giờ đang sống và viết, dựng nổi được một cõi ngôn ngữ không thấy ở một người viết nữ nào khác.

Huế không thực hiện được những giấc mộng cho người. Phải đi khỏi bóng cổ thành, những dấu tích dĩ vãng. Những trận mưa hàng tháng hàng tuần của Huế không cầm chân được lòng người muốn bay đi. Cuối cùng là đành phụ Huế, xa Huế, không thể đồng hóa vĩnh viễn định mệnh mình và định mệnh Huế. Phương trình chia lìa này là nền tảng cõi văn Túy Hồng, cũng như ở cõi thơ của một người viết nữ Huế khác, của Nhã Ca:

Từ độ xa chuông khôn lớn giữa đời

Thế nhưng tiếng chuông Linh Mụ ấy, Nhã Ca đêm nào cũng nghe “văng vẳng tiếng chuông reo”, và nhịp cầu Tràng Tiền ấy Túy Hồng tuổi nào cũng thấy nó bắc dài qua trí nhớ. Trước sau Huế vẫn là ngọn đỉnh, là trọng tâm, là đường kính tâm hồn. Thành ra có thể nói, bằng cái sự ở hay không ở của tấm lòng mà định ý nghĩa và trọng lượng của nơi chốn, thì Túy Hồng vào Nam với gia đình, Túy Hồng vượt biển từ Phú Quốc, mùa tuyết trước ở New Jersey, mùa tuyết này ở Seattle, đã chồng Bắc, bạn Bắc, đã phở, đã cà cuống, mà cây cầu bà đi vẫn là cây cầu Tràng Tiền, “bàn tay che thời tiết” như tựa đề một truyện dài của bà vẫn là thời tiết Đông Ba, trước sau nhà văn nữ này chưa từng một ngày rời xa Huế. Điều này, vẫn là cứ đọc Túy Hồng là thấy. Những cái khác Huế, ngoài Huế, bà đều thuật tả được sắc sảo, sinh động. Nhưng trên những cái tả cái thuật đó, chỉ thấy cái thấy, không có cái yêu, chỉ thấy cái thân tình mà không thấy cái gắn bó. Đôi khi còn là cái khô của phân tích, cái lạnh của giải phẫu, những phê phán nhức nhối, những nhận xét nghiệt ngã. Chỉ viết về Huế, Huế trong túi nhớ, Huế trong thói quen, Huế trong tấm lòng là Túy Hồng viết khác hẳn, cái xấu của Huế cũng biến thành cái đẹp, Huế phẳng lặng vậy mà tuyệt diệu, tâm tình người Huế hay nhất hoàn cầu, miếng ngon của Huế ngon nhất thế giới. Huế, và riêng về Huế, viết không bằng trí óc nữa. Mà bằng trái tim. Huế, và riêng về Huế là không khoảng cách, không nhìn vào, mà Huế ở trong tôi chính là tôi, muôn vàn thương yêu, muôn vàn tưởng nhớ.

Tập truyện ngắn thứ nhất của Túy Hồng, tập Thở Dài, truyện đã in ra nhưng tác giả bấy giờ còn ở Huế, tôi tình cờ thấy và đọc hết nó một buổi trưa trên căn phòng nhỏ chật của Thanh Nam ở khách sạn Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, căn phòng đêm đêm trong khói thuốc dày đặc, bọn Phan Nghị, Vũ Đức Duy cùng mấy em vũ nữ tan vũ trường về đánh bạc tới sáng, cũng là căn phòng, sau thành hôn của Túy Hồng, bọn quỉ sứ này phải cuốn gói bước hết, Túy Hồng sống những ngày thứ nhất cuộc đời thiếu phụ của mình. Thở Dài hay tuyệt. Tôi đọc một mạch. Một bất ngờ lớn. Hỏi Thanh Nam ai mà từ ngữ giàu có, bút pháp khác thường như vậy, Thanh Nam rung đùi, cười hề hề: “Một nhỏ Huế, chúng mày chưa ai biết”. Trước 60. Khách sạn Cửu Long. Rượu rồi cờ bạc. Cờ bạc rồi rượu. Thuốc phiện nữa. Đủ. Thanh Nam bấy giờ quá trời trong đời sống độc thân. Ngày cơm tiệm, đêm khách sạn. Chiều chiều theo bọn Hoài Bắc, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Anh Ngọc chúng tôi la cà khắp vùng Chợ Lớn, Chợ Cũ, hộp đêm, vũ trường, quầy rượu, không thiếu mặt một chiều nào. Đêm say ngất ngủ ở bùng binh Ngã Bảy. Ngày còn say, đã đóng cửa phòng ra đi. Và tập Thở Dài tôi đọc lần đầu, cạnh một kệ sách khách sạn, Túy Hồng thời gian đó còn là một “con nhỏ Huế” xa lạ thật. Rồi bà vào Sài Gòn, tôi gặp ở Nguyễn Cư Trinh. Rồi cơm tối ở nhà Trần Thanh Hiệp, điểm tâm với Phan Lạc Phúc, Thanh Tâm Tuyền. Cứ thế, trong cái dáng vẻ e dè bối rối, vẫn cứ thấy đông người là chùn lại, Túy Hồng đi dần vào những sinh hoạt hoang toàng hồi đó của bọn viết chữ chúng tôi. Rồi những người bạn mới đồng phái với bà, Trùng Dương, Thụy Vũ, với họ bà viết liên tiếp và đều tay những tác phẩm mới sau Thở Dài, mau chóng trở thành một nhà văn nữ toàn phần. Và với Trùng Dương, Thụy Vũ, thêm Lệ Hằng, Nhã Ca, Nguyễn thị Hoàng nữa, trở thành một thành viên hàng đầu của hàng tiền đạo văn chương nữ phái, hiện tượng đặc biệt và đáng ghi nhận nhất của văn học Miền Nam hai thập niên 60 và 70.

Đám cưới Thanh Nam, như chương sách của một chuyển đoạn lớn lao nhất trong tự truyện Túy Hồng, được anh em văn nghệ cùng nhà gái nhà trai tổ chức thật đông vui ở nhà hàng Đồng Khánh. Nhớ hôm đó, cô giáo Túy Hồng trông lạ hẳn với mái tóc cắt ngắn rất Shirley MacLaine, mái tóc chắc là công phu hơn mọi lần, mái tóc trong đời, khiến cô dâu Huế tới muộn và bối rối xin lỗi. Tối đó, Thụy Vũ say ngất và Thanh Nam vĩnh viễn giã từ cuộc đời và nếp sống độc thân. Tôi cứ nhớ mãi cái Đêm Màu Hồng ấy của Đất Khách với Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, của chàng sông Hồng lấy vợ như một giai thoại đầy bất ngờ kỳ lạ, và của nàng sông Hương lên xe hoa cũng vậy. Đám cưới của bạn với bạn, nhưng đặc biệt nhớ, bởi vì trên tinh thần, còn là đám cưới của Túy Hồng với toàn thể gia đình văn nghệ miền Nam, với mấy tờ Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề, trên hết thảy mọi diễn đàn thân hữu này từ đó văn chương Túy Hồng là một có mặt thường xuyên và Túy Hồng, một người viết chủ lực.

Hôn nhân với Thanh Nam một đời. Hôn nhân với văn chương đến nay chưa biết thế nào. Chưa một nhà văn nào trên cái đất này tuyên bố sống tới hơi thở cuối cùng với bút giấy. Nhưng nhìn lại thời gian từ đổ đèo Hải Vân vào Sài Gòn tới đêm Phú Quốc vượt biển, mười mấy năm văn học miền Nam của Túy Hồng đã đích thực là mười mấy năm xanh tươi, đầy ắp. Những trang bản thảo chữ viết xô chen, dập dập xóa xóa, đã tới số nghìn, nhiều nghìn. Sách đã một dãy ở Nam Cường. Sách đã một hàng ở Khai Trí. Cảnh tượng chữ nghĩa rực rỡ được mùa này ở Túy Hồng cũng giống như ở Nhã Ca. Người nữ Huế từ vòm trời tuổi nhỏ tới kinh thành không phải chỉ để chiều thứ bảy đi dạo trên hè đường Tự Do, may những chiếc áo dài mới trong thương xá Tax. Cái đích của đời sống cũng không chỉ ngừng lại với tấm thiệp báo hỷ, cái chỗ đứng trước bảng đen trường tiểu học Phú Lâm. Mà lộ trình còn mang trọn vẹn ý nghĩa một tiến tới nhọn hoắt, mộng tưởng văn chương cái đinh lóng lánh trên đầu mũi kiếm nữ hiệp xuống núi và từ xuống núi, thế kiếm Nga My cứ thế mà liên hoàn phóng tới, khiến cho cái quãng trường chữ nghĩa trọn một thập niên 60 chỉ còn là ầm ầm chỉ còn là náo động cái trận thế Nga My.

Người, là mái tóc dài lồng lộng thành mây, gót chân son vùn vụt thành gió, Huế không còn khép nép che nửa mặt hoa, Huế không còn âm thầm mưa đêm Thành Nội, mà là con suối nhỏ vào đời đã đi lên thành biển, nàng Bovary trong tiểu thuyết Flaubert đã mở toang cánh cửa của giới hạn ước lệ giam nhốt, đi thẳng ra với ngã tư đời sống mênh mông. Túy Hồng trở thành cây bút chuyên nghiệp. Túy Hồng trở thành nhà văn toàn phần. Thanh Nam ham vui, bạn ới đi là đi ngay hàng quán. Túy Hồng ở nhà, trên cái mặt bàn có một góc bàn viết, ý truyện thành hình đêm trước thức ru con, truyện đã viết xong trưa sau đặt nồi cơm lên bếp. Viết không còn là đôi lúc, cái phụ lục. Viết đã trở thành cái hàng ngày, cái chính cung. Nguyên Đán chưa tới nhưng mỗi năm, tháng mười, tháng một đã năm bảy cái đoản thiên viết sẵn cho hàng chục số Xuân chắc chắn tới đưa tiền. Bài phải ghim sẵn, cho các chú tùy phái Tia Sáng đúng giờ gõ cửa. Bút phải cầm tới, bởi đã hứa cái truyện dài cho Sóng Thần tuần sau. Chẳng bao lâu mà đã sống hẳn, ở hẳn với sinh hoạt với báo chí. Với những tách nước trà tòa soạn, với những bì thư tiền trị sự. Hiểu rõ được tạp chí Bắc kia, như thế nào phải viết. Thấy rành được nhật báo Nam này muốn gì ở cái viết ta. Rồi năm đó, đoạt Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc, cầm ly khai vị đứng trò chuyện với phu nhân Tổng thống trong dinh Độc Lập. Rồi năm nọ ngồi tươi cười giữa kỷ niệm Chu Niên Văn.

Bằng sinh hoạt văn chương, Túy Hồng Sài Gòn hóa dần dần. Thế sống vững chãi hơn. Đời sống trên cả cái mặt áp đảo biến nghịch của nó, cũng không còn làm bà bàng hoàng kinh dị nữa. Tiểu thuyết mỗi ngày một làm chủ ngòi bút, vấn đề mỗi ngày một đặt ra đàng hoàng, bút pháp mỗi ngày một thao túng, bay múa, người viết nữ đã cứng rắn không còn “tôi nhìn tôi trên vách”, mà chuyển hẳn lại thế ngồi, đối diện với toàn bộ, với chung quanh.

Tôi không nói Túy Hồng mở đường cho ngọn triều tiểu thuyết nữ phái một thời. Cùng lúc đã có những Trưng, Triệu văn nghệ khác. Không phải một cá nhân tiền phong nào mà cùng Túy Hồng đã một hiện tượng viết nữ, một tập thể viết nữ tạo mưa nắng làm giông bão, gây thành cái sự thể lấn lướt nam phái chưa từng thấy trong văn chương cận đại và hiện đại ta. Nhưng phải có Túy Hồng hiện tượng mới toàn phần, ngọn triều mới tới đỉnh. Ai ngờ được Huế vào Sài Gòn mà làm dữ vậy? Có lẽ tới bây giờ nhớ lại, chính Huế cũng không ngờ Sài Gòn anh tài, Sài Gòn tứ xứ tưởng chẳng có đất chen chân mà lại có chỗ đứng dưới mặt trời, mà lại là một dàn phóng ngon lành đến thế cho người từ Huế tới.

Viết về Túy Hồng, tôi chợt liên tưởng tới một người bạn thân khác, đã mất: nữ nghệ sĩ sân khấu Bích Hợp. Một thời chúng tôi thường cùng Phạm Mạnh Cương chồng của Bích Hợp tới sân khấu Kim Chung, Tổng Đốc Phương đón Bích Hợp vào Chợ Lớn ăn đêm. Hoặc trưa chủ nhật, tới nhà người nữ nghệ sĩ khả ái này ăn những bữa cơm gia đình do chính tay Bích Hợp củi lửa. Trên sân khấu, Bích Hợp là một đào thương, đào độc, lối diễn tan nát, khốc liệt, giọng ca bi thảm não nùng. Ngoài đời, Bích Hợp khác hẳn. Không thể dịu dàng không thể khép nép hơn, ở tiệm, trong xe, bao giờ cũng ngồi từ tốn một góc, có hỏi mới lễ phép mới vâng dạ trả lời. Bạn bè đến nhà, thật thân rồi mà bữa ăn dọn ra vẫn chắp tay thưa được để ăn sau, rồi xin phép lui vào phòng trong ngồi nói chuyện với mẹ.

Bích Hợp khác, Túy Hồng khác. Nhưng điểm tương đồng ở họ là sự khác biệt hoàn toàn giữa người nghệ sĩ với người đàn bà ngoài đời và trong gia đình. Cõi văn Túy Hồng bạo tợn, lối viết ngạo ngược phá phách. Ở trong cái hằng ngày của bà lại không thấy một dấu vết nào như vậy. Bà không bừa bãi như Thụy Vũ, rượu như Nguyễn Thị Hoàng, thuốc lá như Trùng Dương, bụi đời như Hoàng Hương Trang. Cũng không hội họp, lập đảng như Tuệ Mai, Nguyễn Thị Vinh. Chỉ ở nhà, chỉ chồng con, chỉ nội trợ. Hết độc thân rồi, Thanh Nam vẫn lu bù với chúng tôi, một mình. Bạn bè kéo đến trước ở Bùi Chu, sau ở Lý Thái Tổ, Túy Hồng dọn bữa nhậu cho đảng, rồi ở trong bếp hoặc lên trên lầu rất ít tham dự. Đem đối chiếu với văn viết, phô diễn, mạnh mẽ, thế sống ngược nghịch ở cái mờ nhạt, cái lùi khuất. Chừng như Túy Hồng hiển lộng với cuộc đời bằng văn chương mình là đủ, cái tiếng nói muốn nói giữa đồng thời đã nói ở nghìn trang tiểu thuyết là xong, sáng sáng xuống đời cây viết trên tay, chiều chiều lại trở về hang động mình không còn ai thấy mặt. Đã bao nhiêu năm như vậy, không một chút thay đổi. Vẫn Huế trong hồn, Tĩnh Tâm trong da, lặng lẽ, thu nhỏ. Thời tiết che nghiêng, mỏng manh cái nón bài thơ. Vùng an toàn tột đỉnh, vẫn cái vỏ ốc khép kín. Cái vẻ an phận cũng nhiều bằng cái dáng thỏa hiệp. Đã bao nhiêu năm như thế, thấy văn chương mà không thấy người. Cảnh tượng văn chương, một cảnh tượng riêng. Cảnh tượng đời sống, một cảnh tượng khác.

Bây giờ lại càng yên càng khuất nữa. Yên ở Tây Bắc. Sau tấm màn mưa, sau cánh cửa thông. Khuất ở Seattle, hồ vịnh một cõi. Mấy năm trước, một chỗ ngồi im lặng trên xe bus, xuống phố làm việc, cặp mắt Huế ngó thẳng con đường hàng ngày. Bây giờ ở nhà, ngôi nhà Othello đằng sau một cánh cổng thấp, lúc nào cũng như bên trong mọi người đi vắng hết. Những buổi trưa đi chợ, chiếc xe lái từ từ, tránh những ngả đèo dốc. Những buổi sáng dậy sớm, sửa soạn cho con đi học, con ăn cereals mẹ cũng một trái bưởi. Trật tự Mỹ. Đời sống Mỹ. Cái chung quanh Mỹ. Bữa điểm tâm Mỹ. Nhận như vậy, cái năm nay. Nhận như thế cái năm sau. Sự thỏa thuận dịu dàng như cái cử chỉ mỗi buổi sáng thắp một nén hương lên bàn thờ Phật.

Duy có ngòi bút, mỗi lần vẫn một thức động. Duy có cách viết, mỗi lần vẫn một nhọn hoắt. Duy có tâm thể, vẫn câu thơ bất hủ của Tản Đà. Seattle mưa là mưa bay đi. Nhưng trong nghìn triệu giọt mưa Tây Bắc, vẫn một giọt mưa Huế. Mưa có bay ra biển, mưa vẫn trở về nguồn. Tâm sự tha hương, trong kín thầm vẫn nguyên vẹn. Phòng khách Othello. Bầy con cãi lộn bằng tiếng Mỹ. Người mẹ ngồi ở giữa, tiếng Mỹ đầy trong đầu. Bữa điểm tâm bằng một trái bưởi nhưng Othello vẫn gió mưa một phiến trời Huế, vẫn xanh ngắt một tâm cảnh Huế. Vẫn là cả Huế mang theo. Vẫn không xa Huế một ngày.

Thành ra những thân tình lâu ngày không gặp, muốn thăm Túy Hồng ở Seattle bây giờ, nếu thấy ngôi nhà Othello dựng trên đất Mỹ mà vẫn có giòng sông Hương chảy qua phía trước, ngọn Ngự Bình in hình phía sau, một hông nhà vẫn lối vào Đông Ba, hông bên kia vẫn vòm cổng Thượng Tứ, thì những thân tình cũng đừng nên ngạc nhiên.

Mai Thảo
(Chân Dung Mười Lăm Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, Văn Khoa 1985)

Quán Thơ Hư Vô 389


THÁNG BẢY ĐÂU CÒN THẤY MƯA NGÂU

Buồn đến nổi thèm nghe em khóc
Cho tận cùng dấu tích quạnh hiu
Tôi như tháng bảy chờ mưa tới
Dòng tóc em buông ướt lưng chiều.

Để nghe mưa chạm vào nhan sắc
Đôi mắt buồn ai biết lẻ loi
Giọt lệ ngày xưa còn đắm đuối
Lăn vào tan tác giấc mơ tôi.

Tựa ngọn sóng dội trong lòng đá
Biển cả nào mà không bấp bênh
Em như vạt lụa đang bay thấp
Bắc ngang qua những nỗi gập ghềnh.

Nhưng đã gãy nhịp cầu Ô-Thước
Tháng bảy đâu còn thấy mưa Ngâu
Bên kia biển làm sao em biết
Hồn đá xanh xao đã bạc đầu!

Hư Vô

ĐÁ CUỘI


Lẻ loi viên đá bên lề,
Ngắm tình nhân bước,chiều về bên nhau.
Đá buồn tủi phận đá đau,
Cuộc đời náo động quên lau bụi đời.

Nhỏ nhoi viên đá giữa trời,
Cơn mưa đổ xuống thêm lời bình an.
Nỗi sầu nhòa nhạt biến tan,
Vào trong lòng đất hoà chan tình người.

Đá cười thân phận chơi vơi,
Dòng đời xô đẩy chẳng mời ai chung.
Gánh về những nỗi tận cùng,
Nhỏ to cùng đất côn trùng tỉ tê…

Gọi người hoài vọng cơn mê,
Dường như thấy bóng ai về giữa đêm.
Phập phồng lồng ngực đầy thêm,
Tròn viên đá cuội bỗng thèm tiếng ru…

trầnthịminhchâu

ĐÊM…SAY…


Cùng đêm tối dựa lưng vào triền dốc
Nghe nỉ non, dế hát khúc nhạc sầu.
Nhấp chén đắng đầy vơi cùng tiếng thở
Thườn thượt dài, nhoi nhói mảnh đời đau.

Cạn một chén, quên đời nhau mặn chát
Ừ quên thôi, từng vun khối ân nồng.
Cạn chén nữa, quên thói đời ngọt nhạt
Hẹn trăm năm chưa đủ đã bạc lòng!

Sao chẳng thể cúi cùng nhau uống cạn
Giọt gần rơi, giọt mấp mé chực tràn
Gượm một chút, nắm níu thêm một chút
Có khi giờ, không phải nhặt ly tan…

Say chưa nhỉ mà hồn du tám hướng
Xoay phương nào cũng trống hoác tan hoang.
Đêm cũng cạn chỉ côn trùng giao hưởng
Ru hồn ta hay đợi mảnh thân tàn?

Phạm Thuỳ Dung

NHỚ MÙI KIỀU NGUYỆT NGA


Ta đứng bên sông buồn vô cùng
Chim chiền chiện líu lo nhành ớt
Tuổi mười sáu giữa đồng em hát
Võ Đông Sơ biệt Bạch Thu Hà”

Đời con gái như hạt mưa sa
Hạt ngoài trời hạt trong xó bếp
Mai em vu quy – ta ngồi tiếc
Ánh trăng khuya nghèn nghẹn rưng rưng

Tiễn đưa em về miệt Trúc Giang
Phà Rạch Miễu đỏ hoe con mắt
Về với chồng – mừng em hạnh phúc
Về với Hàm Luông mát bóng dừa

Mất em rồi ta bỏ quê xưa
Làm Lục Vân Tiên vào lính thú
Nhớ mùi Kiều Nguyệt Nga ngày cũ
Theo dấu giày saut khắp bốn vùng

Bích La Thôn – Cửa Việt – Cửa Tùng
Đông Hà – Gio Linh – đánh mệt nghỉ
Đường xuôi quân mút mùa lệ thủy
“…Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”

Bảy mươi lăm bẻ súng – xếp cờ
Vô trại – ra tù – ta thành giặc
Không cửa nhà – bơ vơ – lưu lạc
Sống tha hương – góc biển – chân trời

Năm mươi năm gặp lại một người
Hai mái đầu xanh giờ chớm bạc
Kiều Nguyệt Nga ơi! Em đừng khóc
Năm mươi năm ta lại trùng phùng

Năm mươi năm – chưa vợ – chưa chồng
Thì thôi! Đôi ta thành nhân ngãi

Linh Phương

BÓNG CHIỀU KHÔNG

Tặng N.K.D

Chiều không Em, lạnh bóng chiều không
Mây ngừng trôi khoác áo ráng hồng
Trời đất lặng thinh chiều thắp mộng
Cho hồn anh đuối mộng dòng sông

Gió êm lướt thướt ru làn sóng
Về tận muôn trùng trăng viễn khơi
Em sương tuyết nghìn thu ảo mộng
Xõa tóc liễu gầy giọt lệ rơi!

Chiều không Em, thành phố hoang liêu
Đường nhân gian mấy nẻo tiêu điều
Đời anh soi bóng sông vô định
Mênh mông khách lữ giữa hư chiều

Nghìn đêm thao thức mộng hồn Em
Sương trắng cô đơn, trắng quanh thềm
Đời có lúc đùa vui tếu lộng
Anh cười, đôi mắt sáng hồn nhiên.

Chuông nhà thờ đổ dội trời mây
Chúa Niềm Tin sáng tợ hồn đây
Mà sao cứu khổ, Em bặt tiếng
Anh nguyện cầu máu rỏ bàn tay!

Bóng chiều không! Dẫu nắng hay mưa
Trần gian cát bụi gió hoa đưa
Em ơi! Bóng mộng chìm nhân thế
Anh lạc Em! Từ bao kiếp xưa!

Trần Thoại Nguyên

ĐÊM BÌNH CHÂU


Xuyên Mộc hề! Xuyên Mộc đang rừng
Bình Châu mùi gỗ quý đưa hương
Đất trời hôn phối-Trăng kiêu bạc
Nấn ná gì? Đêm mọc nhớ thương?

Bên bóng cây Kơ- Nia em từng
Điệu đàng…sơn nữ cũng thua cưng
Nước khoáng nóng, Suối Mơ em tắm
Để thịt da kia thêm trắng ngần!

Bình Châu hề! Như đã chung thân
Với Sunrise, Resort tầng tầng
Vịn cửa Bàng Khoa anh lại nhớ
Một thời quê ngoại bóng quan văn…

Bình Minh bên giếng trời…tình tang
Thả trứng luộc cho em ân cần
Để được trả “Nụ hôn thần chết “
Một lần là mê muội trăm năm!

Xuyên Mộc hề! Con mắt người thương
Một chút trần gian đã thiên đàng
Bình Châu, ta mơ ngày trở lại
Nghe giọng em cười đêm tắm trăng…

Trần Dzạ Lữ

VẪN LÀ EM THÔI


Rót lời buồn chảy thành dòng sầu muộn
Trăng vàng son trăng của vạn ngày xưa
Buông tơ vàng trên mọi nẻo hoang sơ
Lòng nay chín trái mơ chua đắng chát

Ngày bên nhau tựa vai chiều nắng nhạt
Chút giận hờn quay mặt giả làm ngơ
Người cùng em vui họa những vần thơ
Vườn tình ái xanh nụ tình ươm nắng

Thu dịu dàng, nhẹ bay làn mây trắng
Nắng Sài Gòn vẫn khát những cơn mưa
Tà lụa bay trên phố em sang mùa
Thơ trải lòng những điều không thể nói

Làm sao biết trái tim nào gian dối
Mặc thời gian dần phai nhạt sắc hoa
Người chỉ là khách lạ giữa sân ga
Qua khung cửa con tàu dần xa khuất

Che ngọn gió giữ lửa lòng không tắt
Chút bình yên với cây cỏ hiên đời
Khi thế gian tình nhân hóa chơi vơi
Thì với em thơ vẫn là tri kỷ

Thiên Di

TRỞ VỀ


Quảy gánh ưu tư xuống chợ gần
Con đường ken chật những bàn chân
Bóng phố bóng người len nhau lách
Một cánh hoa mơ, rụng mấy lần

Khăn gói phiêu bồng lội suối xa
Mây ngàn ngơ ngẩn gót hoàng hoa
Bóng lạ mơ màng chen bóng núi
Sợi nắng đau gãy rụng chiều tà

Lửa ướt hong khô thắp mặt trời
Sông cùng bến ngược ngó bờ xuôi
Ba ngàn ý tưởng nuôi trong tóc
Bật xuống thinh không một tiếng cười

Trăng mọc ngàn sau đã ngàn xưa
Rằm khuyết phiêu lưu thế cũng vừa
Bâng khuâng nước cũ chiều sa mạc
Một tiếng chèo vừa chạm tiếng mưa…

Sơn Nguyễn

Hương Nắng. Thơ Hư Vô – Nhạc Phạm Quang Ngọc – Ca sĩ Quốc Duy – Video Thảo Nguyên Sydney


Hương Nắng

Thà phụ tình nhau còn đỡ nhớ
Con đường áo trắng đã thành thơ
Dáng em e ấp theo chiều nắng
Lối về chung vẫn thấy bơ vơ.

Hay tại anh ngu ngơ bỡ ngỡ
Ngập ngừng chờ ngọn nắng tàn phai
Một lời thôi còn chưa dám ngỏ
Sợ lá vàng trên tóc em bay..

Ngày tháng quằn vai thành quá khứ
Bước qua cầu còn gọi tên nhau
Hỏi em, ngày xưa sao không nói?
Anh ngây khờ để nắng vút cao.

Về đâu, chân trần đang rướm máu
Dốc cầu nghiêng động bóng em qua
Bỏ lại anh vòm cây trụi lá
Còn phất phơ vạt áo lụa là…

Hư Vô

Bím Tóc Hoa Vàng. Thơ Hư Vô – Nhạc Phạm Quang Ngọc – Ca sĩ Huy Bảo – Video Vọng Ngày Xanh


Quán Thơ Hư Vô 388


THƯƠNG ANH, EM ĐỂ TÓC DÀI

Thương anh, em để tóc dài
Dòng trăng ngày cũ trên vai còn buồn
Tiếng anh như thể hoang đường
Từ con sóng đầu sông Tương gọi về.

Thương anh, em để tóc thề
Đêm đêm gối mộng cho kề cận anh
Tóc em còn ngọn dừa xanh
Soi gương mùa đã tàn canh bắt đầu!

Nhánh sầu biết chẻ về đâu
Hôm quay lưng có sợi nào vấn vương?
Tay anh luồn giữa mùi hương
Sợi nào bỏ lại cuối đường em đi.

Tóc em lỡ dở xuân thì
Chải vào hoang phế còn tỳ vết nhau
Ngày em bước vội qua cầu
Sóng xô con nước bạc đầu bóng không …

Hư Vô

LÀM SAO MÀ TIN ĐƯỢC


Sớm nay hoa vẫn nở
nắng thưa leo tường rào
đôi chim sâu bé nhỏ
lích chích cùng với nhau

Má mặt trời đo đỏ
lần đầu em gặp anh
làm sao mà biết được
sợi mong manh tơ tình

Gió đổi chiều xoáy ngược
xam xám dạt tầng mây
tan tầm đông lối phố
run rẩy những tàng cây

Ai đem mùa thu đến
úa vàng rừng heo may
làm sao mà tin được
mình xa nhau bao ngày…

Diệp Hoàng

TÌNH CỜ…


Em giờ nắng ngả qua cầu
Mây trời bàng bạc, mái đầu điểm sương
Đâu rồi mười ngón tay thon
Sắc hương dạo ấy,phấn son phai màu .

Tình cờ ta gặp lại nhau
Dáng anh cũng đã áo nhàu thời gian
Bao nhiêu năm, chút ngỡ ngàng
Ôi! Người trai của một thời xa xưa .

Bỗng nghe hồn ướt cơn mưa
Đường trơn, phố nhỏ anh đưa em về
Tay mềm đan chặt đam mê
Môi hồng âm vọng lời thề sắt son.

Bóng câu ngựa nhịp chân bon
Giờ đây mắt cũ không còn xanh xưa
Ngậm ngùi biết mấy cho vừa
Mình quay lưng bước, cuối mùa vàng thu…

BT áo tím

NGƠ NGÁC

Bước vào quá khứ nhớ anh,
Bước ra giấc mộng cũng đành xa nhau.
Đường xưa thắm một hàng cau,
Giờ khô ngơ ngác lá trầu xanh rêu.

Duyên tình tạo hoá trớ trêu,
Cà phê sánh,chẳng khuấy đều đời nhau.
Ngậm ngùi trời đổ mưa mau,
Chào thôi tình nhé một màu tím than.

Thời gian độ lượng bao lần,
Bỗng dưng thoáng chốc hai bàn tay không.
Đời quay như chiếc đèn lồng,
Xin ngưng một chút cho lòng bình yên.

trầnthịminhchâu

TRÊN NGỌN TÌNH MONG MANH


Thềm hoang chỉ thấy màu cúc dại
Vườn xưa rêu lạnh chẳng ai về
Chẻ ngọn tóc sầu về muôn hướng
Chợt thấy hồn mình tựa xác ve.

Chiều chưa đủ giấc còn vương nắng
Sao thấy quanh mình những hoàng hôn
Bóng in tường cũ còn loang lở
Chẳng giấu được gì nỗi cô đơn.

Cánh chim còn biệt mùa di trú
Ngày chưa qua hết những hàng cây
Em có nghe gió từ tiền kiếp
Thả xuống muôn trùng giọt đắng cay.

Ngồi lại bên đời thân đã nát
Chờ ác trùng ăn thuổng thịt da
Dấu chân lạc đường về cố quận
Đất trời bão nổi một mình ta.

Mây xám giăng giữa trời hiu quạnh
Mong manh sợi khói thuở bình yên
Sâu bướm còn đợi ngày thoát xác
Sao ta đành quên mất tuổi tên?

Nguyễn An Bình

EM ĐI QUA TÔI


Em đi qua tôi
Một thời gió nổi
Thuở biết yêu người
Con tim bổi hổi

Từ trong nguồn cội
Em đi qua tôi
Bàn chân khát đói
Trên mùa lá rơi

Em đi qua tôi
Mưa rụng trên ngàn
Vùi trong ngực tối
Mộng vừa ly tan

Lần theo năm tháng
Em đi qua tôi
Mùa xưa đã cạn
Sầu lên đỉnh trời

Em đi qua tôi
Ngày lạnh hơi sương
Rơi thầm giọt nhớ
Trên da thịt buồn

Lần theo vô tưởng
Em đi qua tôi
Bàn chân độ lượng
Dẫm đời tôi vơi.

Trung Chinh Ho

LẮNG NGHE HẠ VỀ!


Có những trưa rất lạ
Về ngang ô cửa này
Hôm em vàng áo lụa
Nghe gió vời vợi bay
*
Nghe mênh mang trời rộng
Thắp lên vòm mắt đầy
Nghe làn hương rất mỏng
Trôi dịu dàng qua đây
*
Nghe trong như tiếng hát
Rót trên đôi bàn tay
Nghe sợi chiều lưu lạc
Rơi vàng mùa lá bay
*
Theo em về cổ tích
Thơm dấu hài ngày xưa
Thơm lên từng ô cửa
Thơm cánh hồng đẫm mưa
*
Thời gian xanh chiếc bóng
Một người ngồi lắng nghe
Một người ngồi kể chuyện
Lặng trôi vào tiếng ve!

Quỳnh Nga

MÙA VỘI


Mùa vội theo hoa về trước ngõ
Còn ươm mà mượt sắc tình xanh
Hương gió thu xưa trông vòi vỏi
Áo người về nhuộm nắng vàng hanh

Lòng chưa thu mà vàng câu thơ
Tình chưa thu mà chùng cơn mơ
Sương chìm trong mắt mùa thu cũ
Giọt lệ còn vương khúc nhị hồ

Mây vội ôm chiều phơi trên tóc
Sợi tóc nào bay rối cả chiều
Hay sóng xôn xao hồ lệ ngọc
Hay lời nhung lụa chảy như mây

Mùa vội, hay lòng tôi quá vội
Vàng hoa ơi! Vàng quá! Buổi xa người
Cho tôi nở cùng hoa vàng rười rượi
Hương thời gian còn mọng chín trong tôi.

Lê Văn Trung

CŨNG ĐÀNH MẮC NỢ ÁNH ĐÈN CÂU THƠ


Một mình ôm cục đất xưa
Cong hai đầu tháng năm đưa vũng lầy
Bơi trời lội biển banh thây
Thả neo lên chín tầng mây tạm dừng

Ta và chiếc bóng đã từng
Bóng nhìn ta vẫn ngập ngừng chưa quen
Gặp thời mặt đỏ lòng đen
Cũng đành mắc nợ ánh đèn câu thơ

Lời ru cánh cửa đợi chờ
Có con bướm rụng giữa hờ hững hoa
Gối đầu lên sóng mù xa
Đặt chân lên mỗi sát na mà gần

Lòng ta nào thiếu ân cần
Sao bàn tay ấy cứ ngần ngại buông
Không thân thuộc chẳng người dưng
Mỗi lòng đất lạnh dùng chung lối về

Dài thì rốt cuộc lê thê
Ngắn vẫn mắc cạn giữa mê mệt đời
Nụ hôn gởi lại môi người
Ta về chôn giấu những lời tàn phai…

Lưu Xông Pha

Vàng Son Ngày Tháng Cũ. Tuỳ bút Đinh Hùng


Đinh Hùng

Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ… Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng Cung nữ thời xưa và trong vườn nhà ai thấp thoáng, hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn trẻ?

Nắng ở đây vẫn là nắng vàng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự thay đổi, vì lại thấy mình đi trên con đường này, thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá. Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và nay cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn lại nhiều rồi, nhưng chỉ buồn như năm trước. Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng.

Tôi nhớ một người lữ khách nào xưa, ra đi từ một mùa thu… Thế rồi cũng một mùa thu trở lại những bước đầu tiên trên con đường bạn, mắt buồn như nước, mảng tìm hồn mình hiu hắt trong hồn thu mới… Thu đã về đây, tôi làm lữ khách đi hết sông này, sông khác, cả núi, cả đèo và lại cả rừng cả suối, bây giờ tôi cũng về đây để buồn thêm một ít, nhớ thêm một ít và yêu thêm rất nhiều.

… Từ hôm rời chân ở bến sông vàng.

Từ biệt con thuyền phiêu bạt, tôi đã hết nhớ dãy núi xanh phơn phớt đằng xa và bâng khuâng trở lại con đường quê thân mật.

Đi trên đất đó, giữa hai ruộng ngô thơm nghe ngào ngạt… Hương này có phải hương xưa? Ôi ! Những dây đậu vẫn còn non mà luống khoai lang đã xanh tươi rồi nhỉ? Đi trên đất đỏ, bên những luống rau cải cúc và dẫm lên cỏ may vàng. Đây là những con bướm cũ, những cánh hoa xưa và này đây tất cả Ngày xưa: từng cơn gió nhỏ, từng sợi dây buồn…

Thôi! Thôi! Tôi không còn trẻ thơ nữa để say sưa đuổi bắt bướm đồng, và chẳng ngắm gió sầu mây, chỉ hoa lòng nở cũng nhiều bông trắng!

Thương nhớ vì sao! Tôi sớm giã từ hồn niên thiếu, hôm nay đi giữa cánh đồng lại thấy tuổi nhỏ của mình tản mạn trên từng cánh bướm, sắc hoa, và chân bước đi những bước ngậm ngùi, bởi chưng lòng tưởng con đường tan tác cánh hương của đóa xuân hồng thuở cũ.

Đinh Hùng

Thương Anh, Em Để Tóc Dài. Thơ Hư Vô


Thương anh, em để tóc dài
Dòng trăng ngày cũ trên vai còn buồn
Tiếng anh như thể hoang đường
Từ con sóng đầu sông Tương gọi về.

Thương anh, em để tóc thề
Đêm đêm gối mộng cho kề cận anh
Tóc em còn ngọn dừa xanh
Soi gương mùa đã tàn canh bắt đầu!

Nhánh sầu biết chẻ về đâu
Hôm quay lưng có sợi nào vấn vương?
Tay anh luồn giữa mùi hương
Sợi nào bỏ lại cuối đường em đi.

Tóc em lỡ dở xuân thì
Chải vào hoang phế còn tỳ vết nhau
Ngày em bước vội qua cầu
Sóng xô con nước bạc đầu bóng không …

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 387


NGÀY TÌNH THÁNG BẢY

Anh cõng tháng bảy vào thơ
Như có chiếc lá ngủ nhờ trên vai
Nương theo mái tóc em dài
Thả câu lục bát xuống bài ca dao.

Tháng bảy hối hả tìm nhau
Để anh cõng giấc chiêm bao vào đời
Em bỏ quên dấu son môi
Trên vai anh còn một thời nghênh ngang.

Cõng em xuống biển lên ngàn
Nhón qua một cõi nhân gian xô bồ
Chân dẫm trên bụi gai khô
Cho tim em biết nhấp nhô chập chùng.

Níu nhau vào tới đường cùng
Mà nghe nhịp thở còn chung hình hài
Anh cõng nhan sắc trên vai
Bước ngang tháng bảy một ngày khai sinh…

Hư Vô

TRĂNG MÙA ĐÔNG


Trăng rằm rực rỡ mùa đông,
Choàng khăn ấm, mặc áo bông bên chàng.
Tình anh một đóa hoa vàng,
Hoa giờ đã cũ vẫn ràng buộc nhau.

Ân tình giữ một đời sau,
Lả lơi liễu rũ bên cầu chiều hôm.
Đong tình đầy một vòng ôm,
Đam mê ánh mắt lịm hồn trong mơ.

Đáy hồ trăng cứ dại khờ,
Lung linh bỡn cợt như chờ đợi ai.
Vô tình tay vuốt gót hài,
Như dòng điện chạm đêm dài nhớ thương.

Trăng mùa tháng bảy dầm sương,
Nỗi buồn bầm dập còn vương tiếng cười.
Bể dâu cũng đã một đời,
Thênh thang lối mộng mây trời chờ nhau.

trầnthịminhchâu

LẼ NÀO…

lẽ nào người bỏ tôi đi
xem ta chẳng nợ nần gì với nhau
lẽ nào mưa ướt nghìn sau
tàn cơn mộng đã buốt đau trời chiều

lẽ nào chỉ một lần yêu
mà tôi đành nhặt cô liêu cuối đời
chỉ là mưa nhạt nhòa trôi
nghìn ân ái cũ xóa lời yêu thương

lẽ nào sương nhạt nhòa buông
người đi tàn tạ mây nguồn đỉnh cao
bỏ tôi lại một câu chào
mưa giăng đầu núi tình nhàu duyên xưa

lẽ nào gió úa mây đưa
đã thành sương khói chạm mùa hư không
người về mưa tạt bờ sông
để đời tôi lại gió giông…lẽ nào…

nguyễn minh phúc

DƯỚI HÀNG CÂY TRÚT LÁ


Từ sương cỏ đã trùng khơi lãng đãng
Vỡ long lanh trên ngày tháng mơ hồ
Giọt lệ ứa trong chiều mưa goá bụa
Vẫn lăn dài. Khắc khoải một đường tơ

Tà áo mỏng dưới hàng cây trút lá
Môi nghìn trùng còn nẫu vệt son khuya
Tình hun hút một đường trăng trở dạ
Cành phôi pha vẫn trổ nụ chia lìa

Ngày bước nhỏ gót thầm run mắt phố
Chút mây hồng có che được sương mang?
Đêm mở cõi chong đèn soi mộng mị
Lửa tàn tro có sưởi ấm chăn màn?

Con chim hót trên cành vang tiếng gọi
Rót mùa xuân vào những chấn song gầy
Hàng lá úa đã đường chân bước mỏi
Thì nỗi gì mà sợ gió rung cây

Này bến nhỏ đã chiều sương suối tóc
Sóng vân vi, mây trắng lượn bên thềm
Xin được nhón vào miền em cỏ mọc
Một nụ hồng và tấm áo choàng đêm…

Sơn Nguyễn

HẠT MUỐI


Sáu năm bỏ phố về rừng
Anh trao hạt muối chấm gừng cho em.

Tháng ngày súng vọng trời đêm
Tường hoang, bóng lẻ, cánh chim sa mù.
Giọt mừng nhỏ xuống thiên thu
Ngày Ô THƯỚC đến bắc cầu anh qua.
Giọt rơi trong mái hiên nhà
Năm canh sầu muộn, ới à võng đưa…

Giọt chiều đọng dưới song thưa
Gừng cay, muối mặn thấm vừa trăm năm!

Châu Ly

ĐÊM RƠI XUỐNG VỞ KỊCH ĐỜI


Vở kịch mở màn. Đêm chiêm bao
Giấc mơ không có ghế thượng hạng
Tôi ngồi xem, hơi thở cồn cào
Có ánh trăng qua khung cửa hẹp!

Một đời người gian lao, sướng khổ
Đếm thời gian khôn lớn thành người
Không có vai hài, thiếu nụ cười
Đường gai chông, lối đi khập khiểng?

Vở kịch mười năm, sáu mươi năm…
Đằng đẳng những tháng ngày ở trọ
Lưng lưng chén cơm đường, cháo chợ
Vị đắng cay độ thuở trăng rằm!

Đạt cao trào chưa? Nút thắt kịch
Mấy hồi, sương thấm lạnh giấc mơ?
Khoe áo công hầu, mang hia, mão
Chưa hàng thần, công dân loại…đơ!

Thoáng chán, quên tuồng, quên tích cũ
Màn buông vừa chợt giấc mơ phai
Đã quá hoàng hôn còn nấm nuối
Chút ráng ngày trôi theo mây bay…

Còn chút nữa, hậu trường tiếng nhạc
Nhịp vỗ tay rời rạc bám theo
Mai cát bụi, hồn xanh ngọn cỏ
Nhớ cõi người làm mãnh trăng treo!…

Trần Hoàng Vy

NGỌ XƯA.

Bốn mươi năm gặp lại em
Vẫn Ngọ xưa một thời cắp sách
Áo lụa em qua ngày ấy trắng sân trường
Ta chết lâm sàng bởi thoáng một mùi hương
Ngày em qua sông theo người về phố lạ.

Bốn mươi năm sau gặp lại
Đời em bể dâu, ta tang hải
Lối em về soi bóng nửa vầng trăng
Thương gầy guộc con đò cô đơn cuối bến
Cắm sào khuya thắp nến đợi trăng về

Ta khách viễn phương bụi đường đơn lẻ
“Hôm nay tình cờ đi lại đường xưa“
Anh học trò giờ đã sáu mươi ba
Em nghiêng chiều vừa tròn lục thập

Đã đủ duyên trùng lai thiên lý ngộ
“Âm vang thuở nào bước nhỏ tìm nhau“
Nắng cũ sân trường tu hú gọi mùa
Anh đưa ngọ về bóng đổ trăm năm .

Thụy Sơn

KHÚC THÁNG BẢY


Nghe mưa buông giọt ngắn dài
Từ muôn kiếp trước miệt mài rong chơi
Sờ tay lạnh cả phận người
Chợt long nỗi nhớ khóc cười hồn nhiên.

Nghe chim bỗng gọi bên thềm
Ngoài hiên lá biếc còn phiền muộn sương
Cũng đành ủ giấc tà dương
Thương hoa sớm nở tàn hương ban chiều.

Nghe dòng sông chảy buồn hiu
Bờ lau sậy trắng giấu điều riêng mang
Sóng xa khuất một cánh diều
Gieo neo bến đậu ít nhiều tiếc thương.

Nghe chừng dấu ngựa cầu sương
Về trong tháng bảy – quên đường từ lâu
Còn ai ngồi lại bên cầu
Ta nghe mưa nắng hát câu nghìn trùng.

Tiễn người vào cõi vô cùng
Tan vào sương khói mưa phùn thấy đau.
Khúc tình trắng ngọn chiêm bao
Tháng năm đánh mất biển dâu đời mình.

Nguyễn An Bình

THÁNG BẢY CŨNG VỀ


Em đến hay đi thì tháng bảy cũng về
Tình nhân ơi có lẽ nào anh không biết
Trái đất vẫn quay quanh kiếp người đen trắng
Chỉ một mặt trời mà sáng cả thế gian

Em đến hay đi cỏ vẫn xanh – rồi lại úa
Tình nhân ơi – chiều cũng xuống mỗi ngày
Trái đất vẫn quay quanh phận người đen bạc
Chỉ ông mặt trời rọi nắng khóc cùng em

Em có yêu hay không anh cũng chẳng bao giờ biết
Không bao giờ anh thấy được trái tim em
Máu chảy về tim anh có phân biệt – dòng đen dòng đỏ
Tháng cũng như ngày – rồi trở lại – khác mỗi năm

Tình nhân ơi
– rồi tất cả cũng lặng câm
Tình nhân ơi
– rồi tất cả cũng âm thầm.

Dung Thị Vân

Quán Thơ Hư Vô 386



THÁNG BẢY RỒI MÂY VẪN PHÙ VÂN

Là ngày sinh nhật thơ tháng bảy
Tên em như đã lẩn vào mây
Tôi ngồi đếm lá bay trong mắt
Có chiếc còn như biết thở dài.

Chỗ em bỏ lại thời con gái
Giũ áo mơ phai nắng sân trường
Tôi có thành tàng cây chết đứng
Còn nghe trời đất dậy mùi hương.

Trên từng sợi tóc em phiêu lãng
Tháng bảy rồi mây vẫn phù vân
Mang theo một khúc tình lỡ vận
Lững lờ cùng chiếc bóng không chân!

Mà em tựa thoáng mây bay chậm
Lãng đãng tan vào những giọt Ngâu
Hồn tôi như lá sầu đâu rụng
Chưa tới dung nhan đã bạc đầu…

Hư Vô

EM VẪN THẾ


Em vẫn thế muôn đời em vẫn thế,
Nụ cười buồn và mái tóc lả lơi.
Rằng thời gian có trăm ngàn nghiệt ngã,
Em còn đây ôm gối mộng chơi vơi…

Gió có bay qua bao lần em đợi,
Mưa có làm hoen mất những ước mơ,
Em chẳng đổi dù biết là hư ảo,
Đời vô thường cuộc sống được bao lâu.

Cúi xuống đất vò tay trong nỗi nhớ,
Ngẩng mặt nhìn trời gọi cố nhân ơi,
Chiều đông lạnh sao chiều dài hun hút,
Chim lạc đàn cất tiếng hát nỉ non.

Đêm trở mình quay quắt nụ môi hôn,
Biệt tăm người, sầu mọng nước trên mi,
Em vẫn thế, dẫu ngàn thu ngóng đợi,
Tình đợi chờ, buồn nhỏ giọt tràn ly…

trầnthịminhchâu

ĐÔI KHI


Đôi khi thương kỷ niệm
Chằm vá lại tình yêu
Hai tay nhừ lưu luyến
Hồn trổ nhánh rong rêu…

Dù cắc củm bao nhiêu
Cũng rụng vàng thương nhớ
Đời tròn câu kinh khổ
Ta bước qua chín chìu

Thề xưa người thôi đeo
Trên vai ngày xa lạ
Sân si đêm tim đá
Nguyệt tận dưới chân đèo…

Chằm vá lại tình yêu
Có khi lòng ngơ ngác
Bụi trần đau thánh giá
Đành chọn lối cô liêu!

Trần Dzạ Lữ

ÁO NGƯỜI BAY TRẮNG ĐỒI SƯƠNG LẠNH


Buổi sớm em vùi trong chăn ấm
Có người đứng đợi trước hiên mưa
Tháng sáu bỗng dưng Đà Lạt khóc
Phố núi sương buồn như giấc mơ.

Từng giọt cà phê rơi lặng lẽ
Khói thơm có làm ấm môi người
Thì ra có lúc lòng hiu quạnh
Thèm một vòng tay để nhớ thôi.

Thương gốc thông già bên triền dốc
Cuối mùa cằn cỗi đứng cô đơn
Cho anh được ngắm bờ tóc rối
Khẽ chạm bờ môi thoáng dỗi hờn.

Biết có mềm lòng nghe anh nói
Áo vàng em mặc thật dễ thương
Dù chiếc khăn quàng em ra phố
Trôi lạc loài về phía Đơn Dương.

Chút nắng cuối ngày không đủ ấm
Khi một người đã lỡ buông tay
Chuyến xe thổ mộ khua đường vắng
Đâu kịp đưa người về tối nay.

Áo em trắng quá đồi sương lạnh
Sim tím nao lòng dưới thung xa
Ừ nhỉ đã mòn chân lữ khách
Nên tình dan díu mãi ngàn hoa.

Nguyễn An Bình

TÌNH CA HỘ PHÒNG


Đánh rơi nửa cuộc phiêu bồng
Vén sương khói vái Hộ Phòng làm quê
Tình ru thương lấp lối về
Thời gian lót ổ đẻ bề bộn yêu

Buồn ca sớm vui ngâm chiều
Bình yên rong cuộn vào rêu yên bình
Hiên nhà trổ rộ bình minh
Nắng vàng trải thảm cho xanh được mùa

Ngày xuân nhặt lá mê bùa
Tàn đông rót tiếng chuông chùa vào mơ
Ơn đời lắm xác nhiều xơ
Ơn em nướng những vầng thơ chín vàng…

Lưu Xông Pha

CHIỀU TRONG HOANG VẮNG

Hoàng hôn dần xuống lòng em thầm nhớ
Tình yêu một thuở say đắm ngọt ngào
Dư hương còn đó ngàn hoa còn nở
Mà đoá môi trao úa tự hôm nào!

Ngày nao Người hứa mình yêu trọn kiếp
Dù cho năm tháng sông cạn đá mòn
Vượt qua giông gió vượt qua gian khó…
Đến nay chẳng còn tình đã héo hon.

Tình không là dối là gian Người hỡi!
Sao nỡ quay đi chẳng nói một lời?
Tình không là khói là mây,Trời hỡi!
Sao nỡ đoạ đày chia lìa lứa đôi?

Người đi xa mãi cánh chim bạt gió
Mòn chân phiêu lãng không bước quay về
Vui gì phương đó mà sao chẳng nhớ?
Chốn cũ nơi đây cùng những hẹn thề!

Bỏ nhau tội quá ,niềm đau vàng lá
Chiều trong hoang vắng mùa cũng phai tàn
Tình ta ngang trái mà sao lòng mãi
Nhớ thương vô vàn ,dù biết dở dang!

Phạm Thuỳ Dung

SỢI TÓC


Sợi tóc còn vương lại
Chỗ em nằm đêm qua
Sợi tóc anh vừa thấy
Đã nhuốm màu phôi pha

Sợi tóc nào vừa rụng
Rớt xuống ngày an yên
Đêm vừa qua giấc mộng
Tan vào đời mông mênh

Sợi tóc nào đã bạc
Mang theo nỗi ngậm ngùi
Tay anh xin làm lược
Nâng niu những ngày vui

Dáng xưa miền tóc rối
Soi gương cười làm duyên
Thời gian như gió thổi
Bóng chiều phai bên hiên

Anh nhặt lên sợi tóc
Thấy thời gian dần vơi
Tuổi thanh xuân ngà ngọc
Theo từng ngày lặng trôi…

Sợi tóc nào vừa rụng
Chỗ em nằm đêm qua
Lòng anh cũng rớt xuống
Một nỗi niềm xót xa!…

Nguyễn Sông Trẹm

THẮP ĐÈN TÌM NHAU


Những chiếc đèn lồng bé xíu
Thắp lên tôi đi tìm tôi
Những chiếc đèn lồng nho nhỏ
Con mắt trái tim… vạn lời

Nỗi lòng da diết người ơi
Bơ vơ rừng ngàn lá rụng
Biết người đi mãi nơi đâu
Cánh mỏng bao ngày chờ đợi

Vẫn biết là xa vời vợi
(Chao ôi! biết mấy u _sầu…)
Vẫn biết mùa thu không đợi
Thắp hoài đèn sáng đêm thâu

Về đâu muôn nẻo tìm nhau?
Bay mãi thân như chiếc lá
Dòng đời bao nhiêu bến lạ
Khi nào tìm đến thành châu?

Đèn thắp đêm vắng ước cầu
Bóng hình người tình trong mộng
Đường mây tiếng xưa còn vọng
Lối gió …hun hút ..tìm..nhau…

Thiên Di

CỔ ĐIỂN


Ngàn năm thấp thoáng hồn luân lạc
ta nhớ người về nhạt khói sương
ta thương người đi từ vạn kiếp
trăng gầy thao thức đêm quỳnh hương.

Một bóng giai nhân bên vườn thúy
sầu vương trăng lạnh gác non đoài
một bóng khách thơ trên lầu hạc
mơ màng dõi cánh chim lả bay.

Thi khách gởi lòng về vạn cổ
thiên thu gãy khúc tương tư sầu
thinh không vang vọng câu trầm mặc
nhịp mõ ai buồn sâu đêm thâu.

Nguyễn Bình

Tháng Bảy Rồi Mây Vẫn Phù Vân. Thơ Hư Vô


Là ngày sinh nhật thơ tháng bảy
Tên em như đã lẩn vào mây
Tôi ngồi đếm lá bay trong mắt
Có chiếc còn như biết thở dài.

Chỗ em bỏ lại thời con gái
Phủi áo mơ phai nắng sân trường
Tôi có thành tàng cây chết đứng
Còn nghe trời đất dậy mùi hương.

Trên từng sợi tóc em phiêu lãng
Tháng bảy rồi mây vẫn phù vân
Mang theo một khúc tình lỡ vận
Lững lờ cùng chiếc bóng không chân!

Mà em tựa thoáng mây bay chậm
Lãng đãng tan vào những giọt Ngâu
Hồn tôi như lá sầu đâu rụng
Chưa tới dung nhan đã bạc đầu…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 385


THÁNG BẢY TÔI VỀ

Tháng bảy tôi về ngang lối cũ
Áo khuya chưa đủ ấm hơi người
Còn nguyên dấu tích thời phiêu lãng
Bàng hoàng theo mỗi bước chân tôi.

Nhịp đêm dội xuống hồn khuya khoắt
Chập chờn như thể giấc chiêm bao
Tháng bảy mưa dài thêm sợi tóc
Chờ em ngồi thắp ngọn bạc đầu.

Con đường thao thức ngang lòng đá
Dốc liễu ngày xưa cũng đã già
Dáng em thấp thoáng hiên mưa tới
Lá buồn che ướt lối tôi qua.

Một lần hôn phối hồn tháng bảy
Quảy gánh trăm năm cõi đi về
Để nghe mùi hương đêm lạ lẫm
Như còn trầm uất giữa cơn mê…

Hư Vô

DẪU TRĂM NĂM CÓ TÌNH CỜ…


ngậm chồi lộc giữa đôi môi
em mang xuân đến bồi hồi ca dao
nghe xuân lơi lả mời chào
bên em tinh khiết ngọt ngào hiến dâng

tôi quên ngày tháng thăng trầm
quên đời cơm áo lặng thầm gian nan
cầm trên tay nhánh mai vàng
đã nghe thương nhớ nồng nàn trên tay

ơn em và sáng xuân nầy
hồn tôi đậu mãi giữa ngày bình yên
ơn tình yêu dẫu truân chuyên
vẫn thao thiết gọi bình yên ngọt ngào

lắng nghe từng mạch xuân trào
mùa xuân khe khẽ chạm vào trang thơ
dẫu trăm năm có tình cờ
xin cho tôi mãi phút giờ yêu em..

nguyễn minh phúc

TIỄN ĐƯA


Ta về qua chốn đó
Vàng rụng lá mùa xưa
Ngập ngừng chân bước khẽ
Buồn nào hơn tiễn đưa

Hồn chìm trong khoảng lặng
Đánh rơi kỷ niệm buồn
Vầng trăng giờ cô quạnh
Vườn cũ cũng mờ sương

Mây bay hoài viễn xứ
Biền biệt một nhánh sông
Mùa đi không trở lại
Con nước mãi xuôi dòng

Buông tay cơn huyễn mộng
Ta nép bên dốc đời
Cuộc người là hư ảo
Ngày xưa … Ngày xưa ơi!

BT Áo Tím

THÁNG BẢY EM
VỀ
(Tặng Dũng &Việt Luận)


Này giữa mùa đông lạnh,
Tháng bảy mây chẳng xanh.
Em hoài trong nhung nhớ.
Một thuở tình rong chơi.

Tháng bảy giọt mưa rơi,
Trên cành khô trơ lá,
Gầy guộc ta tuổi đời,
Đếm mãi rồi lại quên!

Mưa bên này không tên,
Đâu giống mưa quê cũ,
Áo mỏng khoe eo nhỏ,
Anh mơ chiều học về.

Tháng bảy lạc đêm mê,
Mưa giọt ngắn giọt dài,
Guốc khua trong nước đọng,
Ướt hồn anh đi hoang.

Em đong từng giọt mưa,
Lòng sũng niềm bứt rứt,
Chuyện đời trả xong chưa,
Mưa ngâu nào đã dứt.

Tháng bảy mù hơi sương,
Phố xá đón em về,
Nâng niu niềm hạnh phúc,
Em ơi rất yêu thương…

trầnthịminhchâu

NHỮNG HỢP ÂM NỞ HOA

*
Người lặng lẽ nâng phím
Từng nốt nhạc tỏa hương
Đêm thành phố ngủ yên
*
Trên đôi tay anh
Nghe một loài hoa khai nhụy
Anh người nhạc sĩ
*
Vẽ tranh bằng những nốt đam mê
Tôi nghe thanh âm rộn ràng trong vòm gió
Nơi có một thế giới khác biệt
*
Sinh sôi từ những hợp âm!

Quỳnh Nga

ANH NHƯ CON NƯỚC ÂM THẦM SÓNG


Thôi nhé em về! giấc mộng thôi
Ngoài kia sương khói vẫn qua đồi
Đường xa mỏng áo sao che lạnh?
Gối chăn nào sưởi ấm bờ môi?…

Một bóng trăng xưa. Một nguyệt mờ
Mây ngàn xao động lá vàng khô
Anh như con nước âm thầm sóng
Vỗ bờ không buốt cả mơ hồ

Tôi viết bài thơ tựa khói sương
Thả vào đâu đó một làn hương
Mùi tóc nguyên sơ ngày tháng cũ
Thuở lược gương chưa chải môi hường

Thơ anh vụng quá không mang nổi
Một nỗi ưu tư đã úa vàng
Một ánh trăng soi đường em bước
Một linh hồn bỏ phố lang thang

Trả lại người một thoáng non khơi
Đôi họa mi vẫn hót bên đồi
Một chút mây trời trong nắng hạn
Vỡ… ngập ngừng… trên lá vàng rơi!

Sơn Nguyễn

U MINH-TRONG NỖI NHỚ..


Thôi đành, xa lắc U Minh
Tiếng chim còn nhắc tên mình
Bông tràm rơi trong nỗi nhớ
Trắng một góc trời vô thanh..

Năm tháng vàng trong ký ức
Thương xưa lửa cháy bên rừng
Lá rơi ngấm dòng nước đỏ
Ngấm cả mùa cây đương xanh..

Bỏ lại bên rừng tuổi mộng
Những ngày đợi nắng tươi nguyên
Mưa cũng nghìn đêm sùi sụt
Gọi thầm một ánh trăng lên..

Cay đắng một thời trận mạc
Máu xương nhuộm lấy đất này
Vết đau trên từng tán lá
Che đời thương tích quanh đây..

Con sáo ngậm chiều bay mỏi
Rừng xanh một sớm thay mùa
Ơi, người-muôn-năm ở đó
Ru đời ngủ muộn đêm xưa..

Gởi lòng theo từng cánh gió
Về đâu. mây trắng Cà Mau
U Minh. một thời để nhớ
Rừng ơi, biết đến bao giờ…

Trung Chinh Ho

LẠI KHÔNG ĐỀ


Khi ta biết trăm ngàn lần không thể
Vượt chính mình đạt thấu cõi vô biên
Thôi đành vậy ta còn đôi nhịp thở
Để thơ ta trọn vẹn với ân tình

Khi ta biết muôn đời là rơm cỏ
Xác thân này xin bón cõi trăm năm
Tình em sẽ bên mộ sầu rực rỡ
Nở cùng ta, em nhé, triệu bông bồng.

Lê Văn Trung

BẾN ĐỜI TA …RƯNG ĐAU!


Một vết đau dịu ngọt
In hằn trong tim ta
Ôi trái tim thật lạ
Vẫn mãi hoài thiết tha!

Thuyền tình bao cách trở
Sông sâu chia đôi bờ
Còn đâu mà mong nhớ
Chỉ về trong cơn mơ…

Nhớ ngày xa xưa ấy
Vun tình yêu thật đầy
Em cho ta được thấy
Thêm yêu cuộc đời này.

Một khúc ca tình muộn
Ru đời ta đắm say
Dập dìu như sóng cuộn
Con thuyền tình ngất ngây…

Rồi tình xa thật vội
Không trối trăn nửa lời
Vầy tim ta thật tội
Đến tận cùng tả tơi!

Nào trách ai bội bạc
Xoáy tình đến hư hao.
Thêm lần yêu lầm lạc
Bến đời ta… rưng đau!

Phạm Thuỳ Dung

Sơn Núi. Tùy bút Tuệ Sỹ


Tuệ Sỹ

1.
Sinh ra để làm thơ, đó là Định mệnh? Hay Lịch sử? Hay cái gì nữa? Có bao nhiêu câu hỏi tương tợ như vậy, nghĩa và vô nghĩa, để chắp cánh cho ta đi tìm một bóng dáng huyền thoại của một nhà thơ, và chỉ một mà thôi? Không; không có câu hỏi nào cả. Neti, neti, Tat tvam asi. Không có gì cả.

Chỉ có tiếng hú, và huyền thoại của tiếng hú, trong cơn lốc quằn quại của con vượn biết mình đang tan vào lượn sóng, chồm lên hung hãn đòi hỏi phẩm chất làm người. Sóng gào thét với gió ngàn bạt đỉnh, nhận chìm tiếng hú xuống dòng xoáy của hư vô. Từ đó, loài người xuất hiện, lầm lũi bước đi trong bóng đêm u tịch, nghe sau mình tiếng vọng đuổi theo; tiếng vọng của những quá khứ đã chết, những tháng ngày bay vèo theo xác lá khô. Đâu đó, nghe ngân dài: Ôi tình yêu! Ôi vĩnh cửu?

Tiếng ngân ấy, rung lên giai điệu nhẹ nhàng, thướt tha, và cũng tha thiết. Tiếng thơ của ai? Hay của con người, chỉ một con người, đứng ôm mặt trời nóng bỏng trên đỉnh Trường Sơn. Thế rồi, thiên địa bất nhân, coi vạn vật như chó rơm, cho sinh thêm một con người nữa, để có thể hỏi: Thơ là gì, là tình yêu hay tội lỗi? Thêm một người nữa, để cho ta biết yêu, biết hận, và biết làm thơ. Ta biết làm thơ, vì ta đã phụ bạc, đã ruồng rẫy; chôn tình người xuống hố sâu tội lỗi; dựng lời thơ thành cung điện huy hoàng. Đêm đêm rừng sao mênh mông tuôn xuống lớp lớp cơn mưa châu ngọc. Giữa cơn mê sảng của giàu sang, ảo ảnh hiện hình làm quỷ sứ, gọi nhà thơ dậy, hỏi dồn và thách thức: Đâu tình yêu? Đâu vĩnh cửu? Nhà thơ nhìn lại trong lòng tay; chỉ còn một hạt cát. Trong cơn mê sảng, nó thét lên:

Hột
Thì le

Vì người đã sống, và đã đi suốt chiều dài tiến hóa; nên Thơ đã chết. Chỉ còn giai điệu lăn lóc của sỏi và cát:

Hột
Thì le

Vô nghĩa, và vô ngôn. Chỉ có sự sống trần truồng, vật vã trong nắng bức và gió rát của sa mạc. Của đam mê và hủy diệt. Của tình yêu và phản bội. Của vĩnh cửu và hư vô.

Hai mươi lăm năm rồi, từ khi tôi biết yêu; từ khi nhìn thấy ngọn cỏ gầy gục đầu dưới lớp bụi nặng trĩu ven đường, mà bỗng thấy rạo rực với những ảo ảnh chập chờn, nghe đâu đó có tiếng thì thầm: Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.

Khi chợt tỉnh, chung quanh khói lửa ngập trời. Rồi mặt trời đỏ rực màu máu. Rồi Thái Bình Dương dậy sóng. Đi đâu hết rồi, những người tôi yêu và những người yêu tôi? Trong bóng tối của tử tù, từng khoảnh khắc tôi nghe đồng vọng tình yêu trên cao. Tình yêu đến gần, đang tô điểm phấn son, chờ phút giây hội ngộ trong yến tiệc linh đình của pháp trường cát. Tình yêu phía trước, ngân vang giai điệu prélude chậm buồn trong tay những xạ thủ:

Mai sau tắt lửa mặt trời

Tình yêu để lại phía sau, dãy hành lang hun hút, dồn đập tiết tấu Rhapsody:
Chuyện linh hồn với luân hồi có không

Rồi lật sang chương ba của bản hòa tấu, Marche funèbre:

Thái hư chừng sắp chuyển vòng
Đại dương tràn kéo núi đồng tan đi
Chúng ta giờ ước mong gì
Văn minh gởi cát bụi về mai kia…

….
2.
Sa mạc lớn dần… Thượng đế đã chết… Bởi vì con người đã chết. Một thế hệ được sinh ra, được nuôi lớn, để làm chứng cho sự sụp đổ, hoang tàn. Thần linh bỗng nhiên biến mất.

Và hình ảnh mầu nhiệm, kết tinh từ Thánh thể, cũng biến mất. Sự sụp đổ của một nền văn minh, và hoàng hôn của những thần tượng. Tôi đi tìm đâu đó hoài niệm về một quá khứ mà mình chưa từng có mặt. Bóng ma của cái quá khứ vô tri, xa lạ ấy, đã một thời ám ảnh.

Sa mạc lớn dần… Thượng đế đã chết… Từ lâu, tôi không còn nghe những âm hưởng một thời xao xuyến ấy. Không chỉ là xao xuyến, mà là sóng gió, là giông bão. Đó là những âm hưởng rung động, chấn động đầu đời. Tôi chẳng hiểu tại sao thế. Quả thật, còn nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu. Tôi muốn nói những ẩn ngữ của thơ. Cũng như tôi không hiểu tất cả sự huyền bí, mầu nhiệm, sự hiện hữu của một quả nho. Nhưng tôi đã từng nếm vị ngọt của nó. Nói cho thật nghịch lý, tôi chưa bao giờ biết, chưa bao giờ hiểu tôi là ai.
Nhưng tôi vẫn là tôi. Một nghịch lý không thể tránh; một nghịch lý ám ảnh không cùng, là tôi vẫn luôn tự hỏi, mỗi khi đối diện với anh: Sơn là ai nhỉ? Con người này là ai?

Anh là ai? Là một nhà thơ hiện sinh, nổi loạn, “quậy phá”?

Dưới ngòi bút phê bình, anh không thể khác đi được: hiện sinh, nổi loạn, quậy phá, du côn. Tôi cũng không nghĩ khác hơn những ảnh tượng, và những ấn tượng, mà ngòi bút có thể vẽ, có thể miêu tả. Một gã du côn, một tên phạm thánh. Và còn nhiều từ khác nữa. Nhưng làm sao có thể biết được, và cũng khó mà làm quen được, một người không đến với ta từ con đường trước mặt, hay bằng tiếng gọi từ sau lưng, mà là một cái gì đó, ở đâu đó, bỗng nhiên rơi xuống đó:

Tôi đang rơi xuống kêu cái bịch
Trên rong rêu tịch mịch
Từ muôn đời nay

Cái đó không phải là một hiện sinh; không phải là một hữu thể hay thực thể, bị ném vào đời một cách phi lý, vô nghĩa. Nó đến như là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng có phải vì vậy mà nó phi lý, nó làm cho buồn nôn? Tuy thế, cái ngòi bút phê bình quả là cái gậy thần. Gõ vào những trang sách dày cộm của Sartre, những từ ngữ triết học bí hiểm nhưng lại mang nhiều ưu tư khắc khoải của Heidegger, từ những cơn thịnh nộ bốc đồng của Nietzsche; gõ vào đó và làm cho xuất hiện một hiện sinh, một con người hiện sinh biết làm thơ. Rồi người ta cảm thấy buồn nôn vì cái hiện sinh phi lý ấy, hay vì cái ngòi bút đầy quyền uy siêu nhiên ấy? Dù sao, thì một thời, người ta nói, Sơn vẫn là nhà thơ hiện sinh. Người ta nói như thế. Cũng như người ta nói “Chú Sỹ hiện sinh”. Bởi vì chú thích leo cửa sổ vào buồng ngủ của Thầy hơn là đi vào bằng ngõ chính. Có điều, chú không

… rơi xuống kêu cái bịch
Trên rong rêu tịch mịch.

Anh là ai? Lần đầu tiên tôi gặp anh. Đó là sao trên rừng. Tôi không cảm thấy ba chữ này phải viết hoa. Trông có vẻ một thư sinh. Cũng hiền lành như những thư sinh khác. Hiền lành, nhưng cũng rất quậy. Một thứ quậy phá của học trò. Anh nói thơ, theo kiểu nói “sùi bọt mép”. Anh cãi lý Phật pháp với sư huynh tôi, học chung một lớp. Anh cãi rất hỗn. Nhưng không hiểu sao, cho tới bây giờ, sư huynh tôi vẫn quý anh. Hình như ông không biết đến một “Sơn quậy”, ông đã không đọc đoạn giữa của bài thơ, mà chỉ nhìn thấy câu đầu và mấy câu cuối:

Nhờ hồng phúc…
Tôi vẫn đang ngủ trên am mây
Với những bậc thầy

Muôn thuở trước Đoạn giữa, là một đoạn đời, hay một cuộc đời “hiện sinh” mà nay

Mà nay Mặc dù đã có gia đình bậy bạ rồi

Rồi 35 năm sau, vật đổi sao dời; tôi từ trong bóng tối tử tù bước ra, anh từ trên núi lăn xuống. Gặp nhau giữa đống rác Sàigòn chết. Không thấy gì khác lạ. Tất nhiên là có nhiều thay đổi. Trời đất còn phải đổi thay, non sông còn phải đổi chủ, huống gì là một con người, một gã du sỹ. Cái đổi thay này thì thật là kinh khiếp. Hàng vạn tấn bom không làm cho Thái Bình Dương dậy sóng. Nhưng những bài thơ cóc ngâm, ca tụng thiên đường hạ giới, đã gây những cơn địa chấn làm sập đáy biển, đã nhuộm đỏ biển Đông, đã làm cho cây rừng gục ngã, đã làm cho mồ hôi, nước mắt tuôn ào ạt thành những cơn lũ kinh hoàng. Tôi tìm đâu một trời thơ, sau những ngày tháng đong đưa trên vực thẳm sống chết?

Ta còn giỡn nữa hay thôi
Khói bay mờ tỏa luân hồi vòng vo

Gửi về đâu một chút tro
Kèn vang lộn mửa tiếng ò í e

3.
Một cuộc đời mà ta biết; một con người mà ta quen, thủy chung, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng khi người ấy làm thơ, thì khi ấy, con người thơ, và cõi mộng của thơ, là ẩn ngữ huyền nhiệm. Tôi biết, và cũng có thể chỉ là biết một cách tưởng tượng, rất nhiều người, những người làm thơ, đọc thơ, và cả những người nguyền rủa thơ; có rất nhiều người nhìn anh với cái nhìn ngạc nhiên, tò mò, như đang nhìn một vật thể lạ, rất lạ, quái lạ. Tôi nhìn anh cũng thấy rất lạ. Nhưng không lạ hơn khi tôi nhìn chính khuôn mặt mình. Cho nên, tôi thấy mình quen biết anh nhiều hơn là quen biết chính mình. Người ta hỏi tôi, Sơn là ai? Làm sao tôi trả lời được. Tôi vẫn chưa biết mình là ai. Bất quá, tôi mượn những ý tưởng có sẵn trong kho ngữ vựng triết học đông tây kim cổ, để tự giới thiệu và tự mô tả. Những ý ấy, và lời ấy, tôi biết thật sự là vô nghĩa. Dù sao, cũng vẫn cần một câu trả lời, để khẳng định hiện hữu của mình giữa cái thế giới lầm lì, hiu quạnh này. Thử hỏi: Ta là ai?

Thì ra
Ta vốn là ma

Vẽ ma dễ hơn vẽ người. Mỗi người tuy là mỗi cá thể độc lập, biệt lập; không ai giống ai. Nhưng tất cả loài người, bất kể da vàng da trắng, đều có chung những quy ước phổ quát. Không tuân thủ những quy ước, không làm sao vẽ được một hình người mà mọi người đều nhận ra đó là người. Dù vẽ theo ấn tượng, hay siêu thực, hay lập thể; vẫn có những quy ước phổ quát. Ngoài đó ra, là vẽ hình ma quái. Ấy thế, cái người mà mọi người cho là quái dị, kỳ cục; nhưng ai cũng cảm thấy mình có thể vẽ được con người ấy; vì nó là ma.

Người ta nói nó là ma. Cái bóng ma ấy chập chờn trên sa mạc. Quả vậy, tôi đang đi trên sa mạc. Đang quờ quạng trong bóng đêm rét buốt của sa mạc. Mới ban ngày đây thôi, mặt trời nóng cháy. Vì loài người đang thù ghét nhau. Thù nhau từ những phương trời mộng tưởng; đến đây để thanh toán nhau những món nợ oan cừu lịch sử gì đó. Bạn bè tôi, lớp lớp ra đi; theo nhịp bước lịch sử oai hùng. Nhưng thảy đều đi mất biệt. Không có trời đông, hay trời tây, để cho sao mọc hay sao lặn. Thế thì, sao trên rừng là cái quái gì? Cho nên, đại bác và hỏa châu rượt đuổi anh hàng ngày. Anh trốn trong hũ gạo. Trốn xuống gầm xe. Trốn vào nhà chùa. Anh chạy trốn, tất nhiên vì anh muốn sống. Ai lại chẳng muốn sống? Sống như bóng ma của thời đại trong cái huyễn mộng phù sinh; trong cái chập chờn ma quái; đôi khi lồ lộ một con người chân thật; một hình ảnh con người chưa từng sống, mà cũng như chưa từng chết. Xuyên bức màn trăng, mênh mông vô hình, ta nghe một con người đang than thở:

Ô hồn ta
Sao quá mỏng
Ngoài vườn trăng

Trong sa mạc đêm lạnh lẽo này, trong cái bóng tối uy hiếp của bốn vách đá của bức màn sắt rờn rợn này, trong đây không dễ gì tìm ra một con ma nào đang thở. Nhưng ngoài kia, ngoài vườn trăng kia, một hồn người sung mãn. Hồn người chứ không thể là hồn ma được. Đó là hồn người, cho nên nó biết khóc khi nhìn trong lòng tay, những giọt trăng đang đông lại thành những giọt máu. Máu của những oan hồn đang đòi quyền sống. Có muộn quá đi chăng?

Trong những đêm trăng
Có một nỗi gì thấy quá muộn màng
Làm ta muôn đời muốn khóc

Sớm hay muộn, nơi đó vẫn có một nắm đất nhân từ, có bóng tối thân thương:

Hỡi U Minh Giáo Chủ
Trăm năm mần chi đủ
Con hát hoài không thôi
Lướt trên mồ cỏ phủ

Đọc những câu thơ như thế, tôi muốn chui xuống mộ mà nằm, để còn được nghe tiếng hát.
4.
Ôi trăng ngàn
Vừa tan

Còn lại đó, một khoảng không tịch mặc của trời thơ. Và những lời không nói.

Ngàn sau. Phơ phất gò bông lau…

Tuệ Sỹ

trích Tuệ Sỹ Văn Tuyển 3

Bóng Không. Thơ Hư Vô


Tôi nằm co quắp bàn tay lại
Mùi hương hoang dại vẫn còn nguyên
Căn phòng rộng/ tối om/ tĩnh lặng
Quay một vòng hồn vía đảo điên.

Mưa khóc ai giọt dài giọt vắn
Đêm dùng dằng nghiêng lệch gối chăn
Nợ nần em, làm sao trả hết
Đời sau chắc gì nhớ để quên!

Tôi lần mò bấu vào hoang phế
Cả đời chưa giáp ngón tay không
Bóng em đè xuống còn thảng thốt
Trái tim đang giẫy giụa trong lòng.

Mà hình hài có thành tượng đá
Cũng chờ em bước tới trăm năm
Để nghe nhịp thở mà em đã
Đêm đêm dậy thức chỗ tôi nằm….

Hư Vô

Hai Hiện Tượng Văn Học Mỹ – Một Bối Cảnh Kỳ Thị Chủng Tộc. Trùng Dương


Trùng Dương

Trong văn học sử Hoa Kỳ có hai hiện tượng nổi bật với nhiều điểm giống nhau, đó là nữ văn sĩ Margaret Michell với cuốn “Gone With The Wind” (1936) và nữ văn sĩ Harper Lee, tác giả “To Kill A Mockingbird” (1960). Cả hai cuốn tiểu thuyết cùng có bối cảnh là miền Nam Hoa Kỳ, cùng khai thác đề tài xung đột chủng tộc (da trắng và da đen), cùng bán được mỗi cuốn hàng ba, bốn chục triệu ấn bản. Cả hai tác phẩm lại cùng được giải Pulitzer danh giá, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, và dựng thành phim rất thành công, chiếm được nhiều giải Oscar.

Song, có lẽ đặc biệt hơn, là sự kiện cả hai nữ văn sĩ gốc da trắng này cùng chỉ có một tác phẩm duy nhất, mặc dù nhà xuất bản thúc hối, giới truyền thông trông chờ và độc giả khắp nơi khao khát đọc họ thêm. Đặc biệt ở trường hợp GWTW, độc giả muốn biết cái gì sẽ xẩy ra cho hai nhân vật Scarlett O’Hara và Rhett Butler. Liệu họ có trở lại với nhau sau khi Rhett tuyên bố một câu bất hủ, “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần), rồi bỏ ra đi mặc Scarlett nước mắt đầm đìa, thề sẽ tìm mọi cách lấy lại tình yêu mà Rhett đã dành cho nàng bấy lâu nhưng nàng mải đeo đuổi người khác? Sự khao khát đó đã đưa đến hai cuốn kế (sequels) với sự cho phép của cơ sở trách nhiệm tác quyền Mitchell, đó là “Scarlett” (1991, do Alexandra Ripley viết), và “Rhett Butler’s People” (2007, do Donald McCaig viết). Đấy là chưa kể cuốn “The Wind Done Gone” của Alice Randall viết từ nhãn quan của một người nô lệ tại đồn điền Tara của gia đình Scarlett, do Houghton Mifflin xuất bản năm 2001, sau khi nhà xuất bản này giàn xếp xong vụ kiện do công ty Mitchell khởi tố.

Trong khi đó, để trả lời cho yêu cầu của những người hâm mộ, tác giả “To Kill a Mockingbird” chỉ có sự im lặng đáp lại suốt mấy chục năm trong thời gian bà còn sống. Khác với bà Mitchell bị tử nạn mất sớm khi bà mới 49 tuổi, bà Lee sống tới 90 tuổi và mới qua đời năm 2016.

Tại sao sau sự thành công lẫy lừng đó cả hai nhà văn cùng không sản xuất thêm được tác phẩm nào khác? Ngay cả như trong trường hợp Harper Lee, có người cho rằng có lẽ chính bà không phải là người đã thực sự viết “Mockingbird,” mà là Truman Capote, tác giả “In Cold Blood,” là người bạn từ thuở thơ ấu với bà, mà bà vẫn làm thinh không cải chính. Cũng có thể đấy là một khiêu khích để bà tái xuất giang hồ cho ra đời tác phẩm kế tiếp như một biện minh hoặc lên tiếng cải chính, vì bà nổi tiếng là ẩn nhân từ giữa thập niên 1960, không nhận cho bất cứ ai phỏng vấn mình nữa, từ đó tạo nên một không khí huyền bí vây quanh bà.

Margaret Mitchell và ‘Gone With the Wind’

Margaret Mitchell sinh ngày 8 tháng 11, 1900 tại Atlanta, Georgia, trong một gia đình khá giả, cha là luật sư Eugene Muse Mitchell, và mẹ, một phụ nữ có học vấn tên May Belle Stephens và là một nhà tranh đấu cho quyền phụ nữ đầu phiếu (phụ nữ Mỹ chỉ mới được quyền bỏ phiếu vào năm 1920 sau nhiều tranh đấu cam go kéo dài nhiều thập niên và gặp nhiều đàn áp tàn bạo). Margaret còn có hai người em trai, nhưng một đã chết lúc còn nhỏ. Margaret ra đời đúng 35 năm sau khi cuộc Nội Chiến Nam Bắc (1861-1865) chấm dứt. Bà bị lôi cuốn bởi cuộc chiến này và những gì xẩy sau đó cho miền Nam Hoa Kỳ do hồi nhỏ đi thăm họ hàng nghe họ kể chuyện về những hoài niệm còn sống động của những người đã tham gia hoặc sống qua cuộc chiến cũng như thời hậu cuộc chiến đó. “Những chiều chủ nhật theo gia đình đi thăm bà con họ hàng thuộc thế hệ trước,” bà kể, “tôi thường ngồi trên những đầu gối gầy guộc của các cựu chiến binh [Confederate, phe đòi ly khai khỏi hệ thống liên bang] và những cái lòng mập mạp trơn trượt của các bà cô nghe họ kể chuyện” về các trận đánh cùng những phấn đấu đề sống còn sau khi miền Nam bị bại trận. Những câu chuyện này đã để lại trong bà nhiều ấn tượng sâu đậm.

Lớn lên bà thích nghề báo, nhưng phải bỏ dở học vấn sau có một năm đại học vì mẹ chết, bà phải về để phụ trông coi việc gia đình với cha. Bà viết ký sự cho tờ The Atlanta Journal Sunday Magazine, rồi được nhận vô làm phóng viên mặc dù không có kinh nghiệm về báo chí. Trong thời gian này, bà nghiên cứu về cuộc Nội Chiến với một đam mê đặc biệt, và bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết từ năm 1926 trong thời kỳ dưỡng thương sau một tai nạn xe cộ. Cuốn tiểu thuyết mà sau này trở thành “Gone With the Wind,” vẽ lại bức tranh xã hội của Miền Nam thời kỳ trước và sau cuộc Nội Chiến, với những dữ kiện lịch sử khá chính xác. Harold Latham của nhà xuất bản Macmillan khám phá ra bản thảo này qua một người bạn của Margaret, nhân một dịp đến Atlanta truy tìm tài năng mới và một cuốn truyện có thể trở thành bestseller.

Margaret Mitchell (1900-1949): Tại bàn làm việc trước cái máy chữ Remington bà dùng để viết “Gone With The Wind,” chụp năm 1936, và trái, với cuốn tiểu thuyết đã đưa bà lên tột đỉnh danh vọng mà nhà văn nào cũng ao ước có được, chụp năm 1948. (Ảnh Google/Image)

Nếu không nhờ tài kể chuyện, cách cấu tạo nhân vật rất chi tiết, sống động, lối hành văn lưu loát phong phú và các dữ kiện lịch sử chính xác, bên cạnh chủ đề có tính cách hoàn vũ (universal) – đó là quyết tâm sống còn của nhân vật bất kể nghịch cảnh — có lẽ cuốn GWTW đã, tôi nghĩ, không lôi cuốn được người đọc được như vậy vì người kể chuyện có cái nhãn quan hoàn toàn nghiêng về một phía, phía của những người da trắng kỳ thị chủng tộc, không chấp nhận chính sách của chính phủ liên bang bãi bỏ chế độ nô lệ, và không quên được thời hoàng kim trưởng giả của họ với những đồn điền cò bay thẳng cánh và đoàn nô lệ đông đảo sống dưới quyền sinh sát của các chủ nhân. Tôi đọc đâu đó là ít người Mỹ da đen đã đọc GWTW, coi đó là một cuốn truyện đượm mầu sắc kỳ thị chủng tộc.(*)

Cũng như Haper Lee sau này với sự thành công của cuốn “To Kill a Mockingbird,” Margaret Mitchell không tin là cuốn tiểu thuyết có thể thành công vượt bực như vậy. Chưa đầy một năm mà nhà xuất bản Macmillan đã bán được trên 1.3 triệu ấn bản GWTW. Rồi giải thưởng danh giá Pulitzer, tiếp theo là việc Hollywood dựng thành phim với tài tử Clark Gable danh tiếng bên cạnh một Vivien Leigh đẹp sắc sảo, tuy mới góp mặt với điện ảnh song đã hoàn toàn chinh phục khán giả với tài năng làm Scarlett sống động như thật. Cuốn sách đã được dịch ra trên 30 thứ tiếng, bán trên 30 triệu ấn bản. Tại Việt Nam, bản dịch GWTW ra đời vào năm 1951, tái bản tới lần thứ 12 và bán cả thẩy 100,000 ấn bản, một kỷ lục ở Việt Nam. Riêng tại Nga, chỉ mãi tới sau khi chế độ cộng sản Liên Sô xụp đổ và vào năm 2001 dân Nga mới được đọc GWTW bằng tiếng Nga.

Ngân phiếu cho tiền tác quyền bay về như bướm bướm, cùng với thư của những người hâm mộ tác giả, đòi bà viết thêm một sequel cho GWTW, bên cạnh những chuyến đi để quảng cáo, tiệc tùng, cho cả sách lẫn phim, những cuộc phỏng vấn liên tu bất tận, khiến có lúc Margaret phải chạy trốn khỏi Atlanta, mặc chồng là John Marsh ở nhà đối phó với nhưng cú phôn, khách viếng và cả núi thư từ. Phần lớn thời giờ, sau khi sách và phim phát hành, Margaret dùng vào việc viết thư trả lời độc giả và tâm sự về sự thành công bất ngờ và ảnh hưởng trên bà và gia đình.

Có lúc Margaret không khỏi ngạc nhiên tại sao người ta lại thích GWTW, “Mặc dù chiều dài lê thê và đầy các chi tiết, [cuốn tiểu thuyết] thực ra chỉ là chuyện kể về những người rất đơn giản,” bà viết thư tâm sự với một người bạn, được tác giả Anne Edwards ghi lại trong cuốn tiều sử rất sống động, “Road to Tara: The Life of Margaret Mitchell” (1983). “Không có văn chương văn chiếc gì hết trơn trong đó, không cả những tư tưởng lớn, không có một ý nghĩa tiềm ẩn nào, không biểu tượng, không có gì là giật gân hết – không có gì hết, không có gì cả như những cái đã làm những cuốn sách bán chạy nhất trở thành sách bán chạy nhất. Vậy thì làm sao giải thích được sự lôi cuốn của nó đối với người từ 5 tuổi tới 90 tuổi đây? Tôi không thể hiểu được.”

Mười ba năm sau khi GWTW đưa bà lên tuyệt đỉnh của danh vọng và tiền bạc, Margaret bị tử nạn trong một tai nạn xe cộ vào ngày 11 tháng 8, 1949, để lại cho đời nhiều luyến tiếc. Song trên một khía cạnh nào đó, bà không còn phải đối diện với sự mong chờ, thôi thúc của những người hâm mộ bà về một tác phẩm kế. Như Harper Lee đã, có lẽ, khắc khoải tới mấy thập niên sau khi “To Kill a Mockingbird” chào đời và cất cánh bay bổng lên chín tầng mây.

Harper Lee và ‘To Kill A Mockingbird’

Khác với Margaret Mitchell, sau thành công vượt bực của “To Kill a Mockingbird,” Harper Lee đã dự thảo trước sau hai dự án tiểu thuyết, với một cuốn đã viết được tới nửa và một cuốn đang được sưu tầm, đã có tựa, đó là “The Reverend,” để rồi cuối cùng bà bỏ cuộc, và rút vào im lặng, sống đời ẩn nhân.

Sinh ngày 28 tháng 4, 1926 và lớn lên tại Monroeville, một tỉnh nhỏ ở tiểu bang Alabama, bà tên thực là Nelle Harper Lee (bà bỏ chữ Nelle, phát âm như “Nail”, vì không thích người ta đọc chại ra Nellie). Nelle xuất thân từ một gia đình có cha là luật sư Amasa Coleman Lee, một thời làm dân biểu tiểu bang và chủ một tờ báo địa phương, và là một nhân sĩ được kính trọng trong tỉnh. Ông Lee có một dạo biện hộ cho hai người da đen, cả hai bị kết án tử hình và bị treo cổ sau đó, nên ông bỏ nghề biện hộ để xoay ra chuyên về luật ngân hàng. Mẹ bà, Frances, không có bao nhiêu ảnh hưởng đối với con cái vì bà bị bệnh tâm thần, hầu như không tự tay chăm sóc và giáo dục các con. Là con út trong một gia đình bốn anh em, Nelle có bà chị lớn, Alice, cũng làm luật sư và là người về sau này quản lý sổ sách và công việc giao tế cho bà sau khi “Mockingbird” ra đời và trở thành một hiện tượng văn học.

Nelle cũng theo học luật, nhưng bỏ dở chừng. Bà bỏ đi New York vào năm 23 tuổi để vừa đi làm vừa viết văn. Một phần cũng vì người bạn thời thơ ấu của bà là Truman Capote, đang sống đời văn sĩ tại đó sau khi có một đôi cuốn sách xuất bản và tạo được một tên tuổi, khuyến khích bà lên New York, cái nôi của văn học nghệ thuật thời đó. Cả hai khi còn nhỏ thường hay đàn đúm với nhau viết truyện trên một cái máy chữ cũ ông Lee mua cho con gái. Nelle, với bản chất giống con trai (tomboy), cao và khoẻ, thường còn là người bảo bọc cho Truman vì ông tính như con gái, thấp bé yếu ớt, thường bị tụi trẻ bắt nạt. Thời còn ở đại học, Nelle cũng đã cộng tác với tờ báo của trường, và càng lúc càng thấy không muốn làm gì khác ngoài viết văn. Cha bà rất buồn trước quyết định bỏ học luật của con gái, nhưng không cản bà đi New York, nghĩ rằng bà trước sau rồi sẽ tỉnh ngộ và về lại với gia đình để giúp ông thực hiện giấc mộng có một văn phòng luật dưới bảng hiệu “A.C. Lee & Daughters.”

Nelle đi làm nghề bán vé máy bay cho hai hãng hàng không để có tiền sinh sống, cũng chỉ đủ trả tiền thuê nhà và mua đồ ăn, sống rất khiêm tốn. Song ngược lại, bà có dịp làm quen với một số bạn, trong đó có nhà viết lời cho nhạc kịch Broadway tên Michael Brown và vợ là Joy, và trở nên thân thiết với gia đình này. Bà cũng hoàn tất được một số truyện ngắn và vừa tìm được người đại diện (literary agent) để giúp giao dịch với các nhà xuất bản. Giáng sinh năm 1956, sau sáu năm ở New York, Nelle nhận được một món quà đặc biệt của vợ chồng Brown nhân dịp ông vừa nhận được tiền bản quyền của một bộ nhạc kịch: đó là một món tiền trị giá lương một năm của Nelle, với một ghi chú ngắn: “Cô có một năm không phải đi làm để viết bất cứ gì cô thích. Merry Christmas.”

Nelle bỏ việc, ngồi nhà viết văn. Trong vòng một năm, trong sự cô độc và niềm nhớ nhà và khung cảnh thân thuộc của quê nhà ở miền Nam nước Mỹ, bà viết xong bản thảo đầu cuốn sách về sau này được đặt tựa là “To Kill a Mockingbird,”(**) mang nhiều chi tiết rút ra từ đời sống ở Monroeville. Nelle sau đó trải qua hơn một năm làm việc với chủ bút Tay Hohoff của nhà xuất bản J.B. Lippincott & Co., viết tới viết lui, sắp xếp lại thứ tự các chương, thay chỗ này cắt chỗ kia thêm chỗ nọ. Trong thời gian làm việc này, có lúc Nelle khổ sở chán nản tới độ một bữa trời đang tuyết, bà mở tung cửa sổ và tung hê đống bản thảo trong tuyết, rồi bốc điện thoại gọi bà chủ bút tuyên bố bỏ cuộc. Bà Hohoff bình tĩnh bảo bà mặc đồ ấm vào rồi xuống đường lượm những tờ bản thảo đó lên. Và Nelle đã làm như bà dặn, vừa nhặt các trang giấy sũng tuyết vừa khóc.

Nelle cuối cùng hoàn tất cuốn tiểu thuyết đầu tay vào mùa hè năm 1959. Cũng vào cuối năm đó, Truman cần Nelle tháp tùng giúp ông thu thập chất liệu cho một loạt phóng sự cho tạp chí The New Yorker về vụ án mạng toàn gia đình bốn người của nông gia khá giả tên Herbert Clutter, ở một tỉnh lẻ tên Holcomb, Kansas. Chính nhờ sự giúp đỡ đắc lực và rất hữu hiệu này của Nelle mà Truman đã cuối cùng có nhiều hơn là đủ chất liệu để thực hiện cuốn tiểu thuyết phóng sự nổi tiếng “In Cold Blood” (1966).(***)

Xuất bản vào ngày 11 tháng 7, 1960, “To Kill a Mockingbird” trong chỉ một sớm một chiều trở thành bestseller, được trao giải Pulitzer Prize for Fiction năm 1961, được dịch ra trên 40 thứ tiếng và trước sau bán ra trên 30 triệu ấn bản. “Mockingbird” được dựng thành phim vào năm 1962 do Robert Mulligan đạo diễn, với tài tử danh tiếng Gregory Peck thủ vai chính, luật sư Atticus Finch, và đã được nhiều giải thưởng Oscar. Năm 1999, Library Journal, qua một cuộc thăm dò ý kiến, bầu “Mockingbird” là “Best Novel of the Century”, qua mặt cả “Gone With the Wind.”


Harper Lee (1926-2015): Trái, Harper Lee, lúc 34 tuổi, và tác phẩm “To Kill A Mockingbird,” xuất bản năm 1960. (Ảnh Google/Image) Phải, với Tổng thống Georges W. Bush tại tòa Bạch Ốc năm 2007, khi bà, ở tuổi 81, được trao giải Presidential Medal of Freedom nhờ ảnh hưởng sâu xa của cuốn “To Kill A Mockingbird” đối với phong trào tranh đấu cho quyền công dân tại Mỹ vào thập niên 1960 và sau đó. “Mockingbird” hiện được giảng dậy tại phần lớn các trường trung học công lập tại Mỹ. (Ảnh Wikipedia Commons)

“To Kill a Mockingbird” đặt bối cảnh tại một tỉnh nhỏ miền Nam có tên là Maycomb, Alabama, trong thời kỳ Khủng hoảng Kinh tế vào đầu thập niên 1930. Câu chuyện được một nhân vật nữ kể lại về thời thơ ấu của mình qua cô bé Scout, với người anh, Jem, và cha, Atticus Finch, luật sư và là một người đàn ông goá vợ ở vậy nuôi các con. Câu chuyện bắt đầu lúc cô bé Scout chưa bắt đầu năm học đầu tiên, và kéo dài ba năm. Cô đeo theo người anh và một cậu bé hàng xóm tên Dill, mỗi hè về ở với người cô ở Maycomb. Cả ba chơi những trò chơi đơn sơ của trẻ con. Một trong những trò chơi đó là rình rập một căn nhà bí ẩn trong xóm, nơi trú ngụ của một người mà ai cũng né tránh coi thường, tên là Boo Radley. Ba đứa trẻ quyết tìm xem Boo mặt mũi thế nào. Dần dà bộ bốn dần trở nên bạn.

Trong khi đó trong tỉnh xẩy ra vụ một người da đen, Tom Robinson, bị cáo buộc là đã hãm hiếp một phụ nữ da trắng, Maybelle Ewell, con gái của một nông dân da trắng có tật say sưa và hung bạo, hay đánh đập la mắng cô. Lũ nhỏ không để ý tới chuyện này cho tới khi Atticus được cử biện hộ cho Tom. Khi Atticus ngồi án ngữ trước nhà ngục vào một đêm khuya để ngăn không cho đám người quá khích vào lôi Tom ra để hành quyết (lynching), cả ba đứa trẻ chạy tới góp mặt. Scout nhận ra trong đám người hung hãn ấy có một nông dân mà Atticus đã giúp đỡ trong một vụ pháp lý nhưng không có tiền trả và Atticus đã đồng ý nhận những gói hạnh nhân lâu lâu ông ta mang lại thay cho tiền, và ông này lại là cha của một cậu bé mà chính Scout đã nhẩy vào can thiệp khi cậu ta bị các bạn uy hiếp. Cô bé gợi chuyện với người đàn ông đó, khiến ông ta bối rối, hết còn hung hăng, và đám đông cũng dịu theo, rồi họ theo nhau giải tán. Mặc dù bị Atticus cấm không được theo giõi vụ án, nhưng Jem, Scout và Dill vẫn lén lên ban công nơi dành riêng cho người da đen mở xuống phòng xử dành riêng cho người da trắng bên dưới, để theo dõi vụ xử án. Vụ án diễn ra cho thấy công lý bị thành kiến và óc kỳ thị lấn át. Mặc dù Atticus đã đưa ra những lý luận hợp lý hợp tình, Tom vẫn bị một bồi thẩm đoàn toàn da trắng kết án. Khi đi theo Tom bị dẫn giải ra khỏi phòng xử, Atticus nói với theo Tom là ông sẽ kháng án, trước ánh mắt oán hận và tuyệt vọng của Tom. Biết trước sau gì cũng chết, Tom vượt ngục, nhưng bị bắn chết.

“To Kill a Mockingbird” ra đời đúng lúc phong trào đòi quyền công dân của người da đen lên cao vào thập niên 1960, bị các chính quyền địa phương ở miền Nam đối phó bằng bạo động, mặc dù phong trào được chính phủ liên bang công nhận và hỗ trợ. Độc giả da đen thấy họ phản ảnh trong “Mockingbird.” Độc giả da trắng vẫn hỗ trợ phong trào đòi quyền công dân, dù thầm lặng, nhìn thấy nơi luật sư Atticus Finch hình ảnh của họ. Giới trẻ trong khi theo giõi bộ ba Scout-Jem-Dill và chia sẻ những tràng cười với các nhân vật trước các trò chơi trẻ con ngây thơ, để rồi bị cuốn hút vào chuyện người lớn lúc nào không hay, như Scout, Jem và Dill. Có lẽ đó là một trong những lý do “Mockingbird” được đón nhận nồng nhiệt vì đã ra đời đúng lúc, mặc dù tác giả của nó không hề có dự tính đó.

Cũng như Margaret Mitchell, sự thành công bất ngờ của “Mockingbird” đã làm Nelle đi từ ngạc nhiên, tới choáng ngợp – choáng ngợp vì danh vọng chợt đến trong khi bà, vốn bản chất khiêm tốn và riêng tư, không hề chuẩn bị tinh thần vì vốn không tin là cuốn truyện về đời sống tại một tỉnh lẻ và những mảnh đời bình thường lại có thể trở thành ăn khách như thế.

“Tôi không hề mong đợi bất cứ một thành công nào với ‘Mockingbird.’ Tôi đã hy vọng sẽ lãnh một cái chết nhanh chóng và nhân từ từ tay các nhà phê bình, song đồng thời tôi cũng hy vọng ai đó sẽ thích [cuốn sách] vừa đủ để khuyến khích tôi,” Nelle trả lời cuộc phỏng vấn vào năm 1964 với Roy Newtquist, cuộc phỏng vấn cuối cùng mà sau đó bà đã từ chối không trả lời bất cứ câu hỏi gì liên quan tới “Mockingbird” nữa. “Tôi chỉ hy vọng một chút thôi, như tôi đã nói, song tôi đã nhận được quá nhiều, và trên một khía cạnh nào đó, điều này cũng hãi hùng như cái chết nhanh chóng và nhân từ mà tôi đã chờ đợi vậy.”

Ngay sau khi “Mockingbird” trở thành một hiện tượng văn học, nhà xuất bản Lippincott đã bắt đầu hỏi bà cuốn sách kế tới đâu rồi, vì không muốn bị mất cái đà mà “Mockingbird” đem lại. Phần bận rộn với việc quảng cáo cho cả sách lẫn phim suốt ba năm sau khi cuốn sách ra đời, phần khác có thể là do thận trọng vì biết từ đây tác phẩm nào dưới tên Harper Lee cũng sẽ không tránh khỏi bị đo bằng cái thước “Mockingbird,” Nelle lần lữa, khất lần. Một, hai, rồi ba năm trôi qua.

Và kể từ sau cuộc phỏng vấn với Roy Newtquist vào năm 1964, thì bà rút vào im lặng, mặc thiên hạ đoán già đoán non lý do tại sao bà ngưng hẳn sáng tác, kể cả không lên tiếng khi có người nêu lên giả thuyết là có thể Truman Capote là người giúp bà viết “Mockingbird.” Bà không lên tiếng cải chính, mà Truman thì lấp lửng trong chuyện này. Là một người có tính kiêu ngạo và khoe khoang, Truman vẫn cay cú với người bạn từ ấu thời ở chỗ mặc dù cũng là sách bán chạy nhất, nhưng “In Cold Blood” đã không nhận được những danh dự như của “Mockingbird,” nhất là đã không được giải Pulitzer danh giá. Tình bạn của họ do đấy cũng bị sứt mẻ dần, cộng thêm với những tuyên bố này khác của Truman về lý do tại sao Nelle không sáng tác được nữa. Và hai người bạn từ thuở ấu thời, đã từng giúp đỡ nương tựa lẫn nhau trên bước đường văn học, hầu như không gặp nhau nhiều năm trước khi Truman qua đời vì rượu chè và bệnh hoạn, vào năm 1984.

Theo Charles J. Shields, tác giả cuốn “Mockingbird – A Portrait of Harper Lee” (2006) — kết quả của một cuộc sưu tầm khá công phu, với 600 cuộc phỏng vấn những người quen biết Nelle trừ… Nelle, vì bà từ chối thư xin phép phỏng vấn của ông — thì vào giữa thập niên 1980, Nelle cũng bắt đầu sưu tập tài liệu cho một dự án tiểu thuyết thuộc loại như In Cold Blood. Cuốn sách, đã có tựa là “The Reverend,” dự định khai thác một vụ án có thật liên quan đến một mục sư bị kết án giết năm người trong đó có vợ ông để lĩnh tiền bảo hiểm nhân thọ, và lần cuối cùng thì viên luật sư vẫn biện hộ cho ông từ chối không biện hộ cho ông ta nữa vì nghi có điều mờ ám. Song ông luật sư này lại nhận biện hộ cho người đàn ông (thân nhân của một trong những nạn nhân của ông mục sư) đã bắn chết ông mục sư này ngay trong nhà thờ trước 300 nhân chứng vì bấy lâu ông ta tin chính ông mục sư đã giết người thân của ông ta. Shields đã viết về dự án sách không thành này dựa vào cuộc phỏng vấn với chính viên luật sư trong cuộc, Tom Radney, là người đã đưa tòan bộ hồ sơ vụ án cho Nelle mượn để nghiên cứu.

Năm ngoái, một cuốn sách khác đặt trọng tâm vào cuốn tiểu thuyết bỏ dở chừng “The Reverend” này, tựa là “Furious Hours – Murder, Fraud, and the Last Trial of Harper Lee,” của nữ ký giả chuyên về điều tra Casey Cep, do nhà xuất bản Alfred A. Knopf ấn hành, 2019. Dựa vào vô số tài liệu, hình ảnh thâu thập được và phỏng vấn những người liên hệ, Cep mô tả rất chi tiết hành trình thu thập tài liệu của bà Lee về các vụ án liên quan đến viên mục sư nhân vật chính, và nguyên nhân tại sao bà đã không hoàn tất cuốn truyện.

Ngoài hai cuốn sách trên của Shields và Cep, một cuốn khác cũng cho thấy thắc mắc lớn của nhiều người về sự im lặng của tác giả “Mockingbird,” đó là cuốn “The Mockingbird Next Door: Life with Harper Lee,” của nữ ký giả Marja Mills, xuất bản năm 2014. Với sự đồng ý của hai chị em bà Lee, Mills dọn đến căn nhà bên cạnh nhà của chị em bà Lee và ở đó suốt một năm, lý do là để dưỡng bệnh, và qua lại bầu bạn với hai bà già Alice và Nelle, và được hai chị em chia sẻ nhiều kỷ niệm. Nhưng khi cuốn “The Mockingbird Next Door” ra đời, bà Lee không bằng lòng, công khai tuyên bố là bà không hề tham dự vào hay cho phép sự hình thành của cuốn sách của Mills.

Dù vậy, thỉnh thoảng, đó đây, tác giả “Mockingbird” cũng hé lộ cho biết tại sao bà ngưng sáng tác. Câu trả lời mà tôi thích nhất, đó là khi một người em họ hỏi bà khi nào thì bà sẽ cho xuất bản cuốn sách kế, và bà đã trả lời: “Richard, khi cậu đã lên tới tột đỉnh thì chỉ còn có một con đường đi thôi.” (“Richard, when you’re at the top, there’s only one way to go.”)

Ngưng không sáng tác nữa là một việc Nelle chắc đã phải phấn đấu không ngừng để tự hoà giải đồng thời tìm sự an bình cần thiết cho tâm hồn. Bởi vì bà rất yêu viết văn. Trong cuộc phỏng vấn năm 1964 với Roy Newtquist, bà tâm sự: “Tôi thích viết. Đôi khi tôi sợ là tôi thích nó quá đi vì thường khi tôi bắt đầu tôi không muốn ngừng. Do đấy mà tôi có thể viết ngày này qua ngày khác không ra khỏi nhà hay nơi nào đó mà tôi đang ngồi viết. Tôi sẽ chỉ ra khỏi nhà vừa đủ thời giờ mua giấy và ít đồ ăn và chỉ có vậy. Cũng lạ, thay vì ghét viết [như nhiều văn sĩ một khi trở thành chuyên nghiệp] tôi lại yêu nó quá sức.”

Harper Lee sống với người chị, Alice, một luật sư ngoài lớn tuổi song vẫn còn sáng suốt và quản trị việc sổ sách giấy tờ cho em gái, mỗi khi bà về Monroeville, Alabama vào mùa đông. Ngoài ra, bà giữ một căn chung cư ở New York để đi về. Cả hai chị em cùng độc thân. Alice qua đời vào cuối năm 2014, ở tuổi 103, hơn một năm trước sự ra đi của em gái, ở tuổi 90.

Hiện có tới 75% trường trung học công lập dùng “Mockingbird” trong chương trình giảng dậy. Hàng năm cuốn truyện 300 trang này vẫn bán ra cả triệu ấn bản. Nhiều người đã phân tích những lý do đưa tới sự thành công của “Mockingbird.” Ngoài giá trị văn chương và chủ đề xung đột chủng tộc — một đỉểm nhức nhối của nước Mỹ, kể cả lúc này, giữa năm 2020 sau cái chết vào tay bạo lực của cảnh sát của người đàn ông da đen George Floyd và nhiều người trước đó — cuốn tiểu thuyết còn dậy cho các thế hệ trẻ tại Mỹ lòng bao dung và khả năng đồng cảm.

Và bài học ấy được gói trọn trong câu nói của vị luật sư nhân vật chính, Atticus Finch, qua diễn viên Gregory Peck — biết khó thắng nhưng vẫn đứng ra biện hộ hết mình cho kẻ bị hàm oan — trong một cuộc trao đổi với con gái, Scout: “Con sẽ không bao giờ thực sự hiểu thấu một người cho tới khi nào con nhìn mọi sự qua nhãn quan của người đó… Tới khi nào con lẩn được vào bên dưới làn da của người đó và đi đó đây trong làn da đó.” (“You never really understand a person until you consider things from his point of view… Until you climb inside of his skin and walk around in it.”)

Trùng Dương
[02/2012, 06/2020]

[Bài này có tựa là “Nhà văn một-tác-phẩm: Margarette Mitchell và Harper Lee” khi phổ biến lần đầu vào năm 2012.]

Chú thích:

(*) Theo bản tin Associated Press ngày 10 tháng 6, 2020, thì hãng HBO Max vừa tạm thời gỡ phim “Gone With the Wind” xuống khỏi thư viện phim của hãng để thêm bối cảnh lịch sử vào cuốn phim thực hiện 84 năm về trước và lâu nay vẫn bị chỉ trích là đã thơ mộng hóa thể chế nô lệ và đời sống của miền Nam thời Nội chiến. Quyết định gỡ phim xuống được đưa ra sau những cuộc biểu tình liên tiếp tại các thành phố ở Mỹ và nhiều nước khác nhằm chống bạo lực của cảnh sát và kỳ thị chủng tộc sau cái chết thảm của người đàn ông da den George Floyd dưới đầu gối của viên cảnh sát da trắng ở Minneapolis ngày 25 tháng 5, 2020. “Những mô tả đầy kỳ thị chủng tộc hồi ấy và cả bây giờ là sai lầm, và chúng tôi cảm thấy tiếp tục chiếu phim này mà không có kèm theo một lời giải thích và phản đối những mô tả đó nói lên tinh thần vô trách nhiệm,” phát ngôn viên của HBO Max tuyên bố qua một bản thông cáo.

(**) Thực ra thì sau khi nạp bản thảo đầu cho nhà xuất bản, Harper Lee được đề nghị viết lại dưới cái nhìn của một cô bé, và bản viết lại này trở thành cuốn sách bán chạy nhất, “To Kill A Mockingbird.” Thay vì hủy bỏ bản thảo đầu, bà Lee cất giữ rồi có lẽ quên. Khi bà trở thành mất trí và sống trong một viện dưỡng lão, luật sư coi tài sản cho bà tìm thấy bản thảo này. Do chỗ biết độc giả vẫn khao khát đọc thêm sách của tác già “Mockingbird,” nên cho xuất bản dưới tựa “Go Set a Watchman,” quảng cáo là sequel, song thực ra là prequel của “Mockingbird.” Cuốn sách không mấy được đón nhận, nếu không nói là đã làm nhiều người thất vọng. Xem thêm về trường hợp ra đời của cuốn “Go Set a Watchman,” tại https://damau.org/36121/mot-cuon-sach-chua-xuat-ban-nhung-da-gay-song-gio-tren-van-dan-my-du-luan-tac-gia-harper-lee-88-tuoi-bi-luat-su-khai-thac

(***) Về hoàn cảnh sáng tác “In Cold Blood,” mời đọc bản dịch bài phỏng vấn tác giả Truman Capot: “George Plimpton: Câu Chuyện Đằng Sau Một Cuốn Phóng Sự Tiểu Thuyết,” https://hopluu.net/a444/george-plimpton-cau-chuyen-dang-sau-mot-cuon-phong-su-tieu-thuyet

Vỉa Hè Tuổi Thơ. Thơ Hư Vô


(Viết cho Cộng đoàn Thánh Tâm trong buổi tiệc từ thiện lần thứ 11)

Em đứng khóc giữa mưa dầm ướt áo
Phố đông người em biết đợi chờ ai
Trời đã tối hay đèn đêm chưa thắp
Đường em qua sao mà lắm chông gai?

Tuổi thơ em là vỉa hè, góc phố
Lớn lên từ những ánh mắt hững hờ
Em có khóc cũng đâu ai ngó tới
Người lạ người đang ngoảnh mặt làm ngơ.

Một chén cơm thừa cho lòng đỡ đói
Chầu chực cả ngày được chút cặn dư
Có những thứ mà người ta vứt bỏ
Là cả một đời em vẫn ước mơ.

Xin hãy nối rộng vòng tay thương mến
Hỡi những người còn may mắn hơn em
Thế giới này sẽ không còn tiếng khóc
Khi lòng người biết mở cửa từ tâm…

Hư Vô

Sợi Tóc. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

Đôi nét về tiểu sử nhà văn Thạch Lam

Nhà văn Thạch Lam, tên thật là Nguyễn Tường Vinh (1910 – 1942), sau đó đổi tên thành Nguyễn Tường Lân và lấy bút danh là Thạch Lam. Nguyên quán của ông là tại Hà Nội, ông sống trong một gia đình công chức gốc quan lại trong giai đoạn đất nước sa sút.

Cha của ông là Nguyễn Tường Nhu, sinh năm 1881, là một người thông thạo cả chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông Phán Tòa Sứ. Mẹ của Thạch Lam là bà Lê Thị Sâm, con gái cả của Lê Quang Thuật, người gốc Huế, đã 3 đời làm quan võ cùng thời với Huyện Giám (tức ông nội Thạch Lam).

Ông bà Nhu sinh cả thể được 7 người con, trong đó có 6 người con trai và 1 người con gái. Trong 7 người con thì ngoài người con trai tên Tường Thụy làm công chức, tất cả những người con lại ít nhiều đều tham gia và con đường sự nghiệp văn chương. Trong số đó nổi bất nhất có Tường Tam, Tường Long và Tường Vinh (nhà văn Thạch Lam).

Vào năm 1918, ông Nguyễn Tường Nhu cha của nhà văn Thạch Lam mắc bạo bệnh và qua đời. Kể từ đó, một mình mẹ phải mua bán tần tảo để nuôi một người mẹ chồng và 7 đứa con.

Ở Cẩm Giàng, Thạch Lam học tại trường tiểu học Hải Dương, nay là trường tiểu học Tô Hiệu. Cho đến khi người anh cả là Nguyễn Tường Thụy đã học xong ra trường và về dạy học ở Thái Bình, mẹ ông quyết định đưa cả nhà về Thái Bình sinh sống.

Nhưng sống ở đây được 1 năm, làm vẫn không nuôi đủ mấy miệng ăn, mẹ ông lại quyết định dẫn các con về Hà Nội ở nhà thuê và sinh sống ở đây.

Nhiều năm sau đó, Thạch Lam thi đỗ vào trường Cao Đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng sau đó một thời gian ông chuyển vào trường trung học Sarraut để học thi Tú tài.

Sự nghiệp văn chương của nhà văn Thạch Lam

Sau khi đã đỗ Tú Tài lần thứ nhất, Thạch Lam thôi học để chuyển về làm báo với 2 người anh trai. Những buổi đầu, nhà văn Thạch Lam tham gia vào Tự Lực văn đoàn do người anh trai là Nguyễn Tường Tam sáng lập và được phân công biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của văn đoàn này. Đến năm 1935, ông được giao làm chủ bút của tờ Ngày nay.

Khoảng năm 1935, khác với các anh trai là đều lấy vợ qua mai mối và được bố mẹ chấp nhận mới cưới, còn Thạch Lam lấy vợ hoàn toàn do sự lựa chọn của cá nhân. Năm 1935 ông lấy vợ và được người chị là Nguyễn Thị Thế nhường lại cho căn nhà nhỏ ở tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây.

Nhà văn Thạch Lam được biết đến là một cây bút thiên về tình cảm, hay viết lại chính những cảm xúc của mình trước những số phận hẩm hiu, nghèo khổ của người nghèo, nhất là phụ nữ trong xã hội cũ nát, sống vất vả, chịu đựng, thầm lặng và trong đó có cả sự hy sinh (trong tác phẩm Cô hàng xén).

Có truyện ông viết với sự cảm thông sâu sắc về một gia đình đông con, sống một cuộc sống cơ cực trong xóm chợ (trong tác phẩm Nhà mẹ Lê). Ngoài ra ông còn viết tiểu luận kiểu tùy bút, ghi lại những gì mà ông suy nghĩ về nghệ thuật. Cuốn Hà Nội ba sáu phố phường được nhà văn Thạch Lam miêu tả lại có trong đó hương vị đậm đà của quê hương, nhưng cũng vô cùng gợi cảm.

Ngày 27/06/1942, nhà văn Thạch Lam ra đi khi mới ở độ tuổi 32 vì mắc phải căn bệnh lao phổi. Ông ra đi, để lại người vợ trẻ và 3 người con trong gia cảnh nghèo khó.

Những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Thạch Lam

Hầu hết những tác phẩm của nhà thơ Thạch Làm đều được đăng báo trước khi in thành sách, một số những tác phẩm nổi tiếng của ông phải kể đến như:

• Tác phẩm Gió lạnh đầu mùa – Tập truyện ngắn (NXB Đời nay, 1937);
• Tác phẩm Nắng trong vườn – Tập truyện ngắn (NXB Đời nay, 1938);
• Tác phẩm Ngày mới – Tập truyện dài (NXB Đời nay, 1939);
• Tác phẩm Theo giòng – Bình luận văn học (NXB Đời nay, 1941);
• Tác phẩm Sợi tóc – Tập truyện ngắn (NXB Đời nay, 1942);
• Tác phẩm Hà Nội ba sáu phố phường – Tùy bút (NXB Đời nay, 1943);
• Tác phẩm Quyển sách và Hạt ngọc – Truyện viết cho thiếu nhi (NXB Đời nay, 1940);

Những tác phẩm của nhà văn Thạch Lam có rất nhiều những yếu tố hiện thực. Tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao, hay cuộc đời tăm tối không lối thoát như Chị Dậu của Ngô Tất Tố,… Nét riêng, độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, đó chính là lòng nhân ái và những vẻ đẹp tâm hồn trong mọi tác phẩm của ông.

Những nhân vật trong các tác phẩm của ông dù ở bất cứ hoàn cảnh nào đi chăng nữa nhưng trong tâm hồn của hộ vẫn ánh lên cái chất lòng nhân ái của con người Việt Nam. Đọc truyện ngắn Thạch Lam ta thấy được sự yêu thương và quý trong con người với nhau hơn và cũng chính từ đó tác cảm thấy được sự thương cảm trong mỗi một con người.

Nhà văn Thạch Lam – Một cây bút giàu xúc cảm, qua những dòng thông tin trên, hy vọng bạn đã có cái nhìn rõ ràng hơn về tiểu sử, cuộc đời sự nghiệp, cũng như những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn này.


Truyện ngắn: SỢI TÓC
Thạch Lam

Anh Thành nhỏm dậy, nghiêng mình chống khuỷu tay xuống giường rồi bắt đầu nói với một giọng trầm và thong thả khiến người nghe hiểu được hết các ý tứ của câu chuyện:

Tôi có một người anh họ rất giầu và rất ngốc (có lẽ mình cho anh ta là ngốc, bởi vì hắn không xử sự như mình, không có những quan niệm về cuộc đời như mình; nhưng thật ra biết đâu cách ăn ở của anh ta lại không khôn ngoan hơn, bởi vì anh ta đã giầu và sung sướng?). Tên anh ta là Bản, Bản rất phục tôi, coi tôi là một người sành sỏi, thạo đời và nhất là thạo các ngón ăn chơi. Bởi vậy, động có việc gì, hoặc là muốn mua bán cái gì, anh ta đều không quên đến hỏi tôi trước.

Hôm ấy, Bân đến rủ tôi cùng đi mua một cái đồng hồ. Anh ta muốn mua hạng thật tốt, và nhờ tôi xem hộ. Hai chúng tôi đến hiệu Chabot ở phố Tràng Tiền. Đồng hồ ở hãng này thì không còn phải nói gì nữa: Thật là những đồng hồ các hiệu có tiếng, có bảo hành chắc chắn và cố nhiên là giá đắt. Tôi chọn cho hắn ta cái đồng hồ đeo tay hiệu Movado, xuống nước hay vùi cát cũng không hề gì. Chiếc đồng hồ trông rất đẹp. Tôi thấy anh ta mân mê cầm lên ngắm nghía, xem chừng cũng muốn mua lắm. Nhưng cái tính hà tiện của anh ta lại thắng cái thích, nên rồi lưỡng lự một lát, anh ta trả lại nhà hàng, kéo tôi đi ra và bảo:

– Đẹp thì đẹp thật, nhưng mà đắt quá, anh ạ. Thôi, chúng ta lại các hiệu khách mà mua thì hơn.

Tôi yên lặng gật đầu, và theo đi, cũng chả muốn nói gì. Trong bụng nghĩ anh chàng này thật là ngốc, có tiền mà không biết chơi đồng hồ tốt. Lại kiệt nữa. Không biết hắn để tiền làm cái gì?

Vào một hiệu ở Hàng Ngang, sau khi mặc cả ráo riết từng hào, anh ta bằng lòng mua một cái đồng hồ hiệu không mấy ai biết tiếng. Hắn có hỏi ý kiến tôi, song tôi cũng ừ hữ bảo dùng được cho xong chuyện, vì hắn có mua được thứ tốt hay không, bấy giờ tôi thực không thấy quan hệ mấy.

Lúc trả tiền, tôi thấy hắn giở ra một cái ví da lớn, phồng chặt. Hắn đếm giấy bạc thong thả và cẩn thận. Thoáng nhìn qua, tôi cũng biết trong ví nhiều tiền lắm: ngoài số tiền bạc lẻ hắn mang ra trả, tôi còn thấy gấp ở ngăn trên đến năm, sáu cái giấy bạc một trăm nữa, những giấy bạc mới, màu còn tươi nguyên – “Quái, thằng cha này làm gì mà lắm tiền thế? Mình thì chả bao giờ có đến được một trăm bạc bỏ túi!” Tôi nghĩ thầm và so sánh thế.

Mua xong đồng hồ. Bân rủ tôi đi ăn:

– Ta lên hiệu chén, rồi lát nữa làm một chầu chứ, – hắn vỗ vào túi – tôi có đủ tiền đây!

Chúng tôi vào hiệu. Bân ăn vui vẻ lắm, có lẽ hắn vừa ý vì cái đồng hồ mua rẻ. Tôi thì trong óc cứ vơ vẩn cái ý nghĩ sao một thằng ngốc như hắn – tôi thấy hắn càng ngốc – lại có lắm tiền thế, còn mình…

Tuy vậy, ý nghĩ cũng không làm tôi ăn mất ngon. Tôi tỏ mặt sành, gọi những thức ăn quý và đắt tiền, và hai chúng tôi uống rượu say sưa.

Cơm xong, Bân đưa tôi xuống Vạn Thái, vào nhà một người nhân tình của hắn. Hình như đã lâu không được đi hát, nên hắn có vẻ tha thiết và sung sướng đến đáng ghét. Về phần tôi, không thấy hứng lắm, – đi chơi với một anh có nhiều tiền mà mình lại khinh là ngốc, không có thú vị mấy – nhưng chẳng lẽ lại bỏ hắn nửa chừng. Tôi định bụng ở chơi qua quýt đến nửa đêm thì về.

Nhà hát, ngoài cô nhân tình của Bân, các con em khác trông cũng khá. Tôi nằm bên bàn đèn nói vài câu chuyện tầm phơ. Còn Bân, hắn không nghe hát hiếc gì cả. Ngồi nói chuyện với tôi một lát lấy lệ, rồi hắn cùng với cô nhân tình vào buồng trong đi nằm một chỗ. Hắn không quên – tính cẩn thận của anh kiệt! – đem cả cái áo tây trong có ví tiền vào chỗ nằm, vất trên thành đầu giường.

Một mình tôi ở ngoài đâm chán. Nằm một lát rồi tôi cũng đứng dậy sửa soạn ra về; Bân vẫn ở trong màn, nói vọng ra giữ lại:

– Anh hãy ở chơi đã, về làm gì vội. Ngày mai chủ nhật cơ mà.

– Thôi, tôi phải về. Sáng mai còn có việc.

Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên có cái gì chuyển mạnh qua tim: tay tôi yên hẳn lại; tôi vừa mới nhận ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là áo của tôi. Thì ra lúc mang áo vào giường nằm, Bân đã mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lẫn lắm. Tôi ghé nhìn vào phía trong áo thấy cái ví tiền ở túi thò ra ngoài một ít. Cái ví tiền… mấy tờ giấy bạc…

– Ở chơi đã anh. Ở chơi sáng sớm mai về với tôi một thể.

– Ờ… ờ…

Tôi điềm nhiên treo cái áo vào chỗ cũ, quay ra. Mấy chị em cũng phụ họa vào lời mời của Bân, nài nỉ:

– Tội gì mà về bây giờ anh, khuya và lạnh chết.

Tôi chỉ thoáng nghe thấy, trong trí như còn bận sự gì. Bâng khuâng tôi lại gần giường; một chị nâng chén mời:

– Anh uống chén nước nóng. Rồi nằm xuống đây có hơn không?

– Ờ thì hẵng nằm một lát đã.

Tiếng Bân trong màn đưa ra:

– Phải đấy, đến mai hẵng về. Tôi bảo chị Lan phải làm thế nào giữ anh ấy lại thì làm…

– Không… thể nào tôi cũng phải về, anh ạ…

Những lời đối đáp ấy cứ tự nhiên buột miệng ra, tôi không để ý đến. Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví, hiện ra rất rõ rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ – tại sao lại hai? Tôi không biết – thật dễ dàng quá. Tôi cứ việc điềm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ, rồi khoác áo ở trên vai, ra ý sắp sửa về. Rồi chọn lúc mọi người vô ý – mà dẫu có ý cũng không ai biết được – tôi đổi lấy áo của tôi vắt ở đầu giường Bân… Thế là xong, và gọn. Mai dậy Bân biết mất chắc chẳng bao giờ dám nghi ngờ cho tôi. Mà nghi ngờ thế nào được?

Tôi về từ đêm cơ mà! Vả lại cái áo đựng tiền hắn đã cẩn thận mang vào giường ngay từ chập tối, vậy nếu có người lấy, thì chỉ có người nhà cô đầu mà thôi. Mà người nhà thì cũng khó lòng đến đấy lấy được, họa chăng có ngay cô nằm với Bân. ừ, có lẽ Bân sẽ nghi cho nhân tình của hắn lấy… Chắc thế. Tôi mỉm cười: Bân sẽ không dám nói gì đâu; biết nhân tình lấy, hắn sẽ im lặng, sợ làm cho nhân tình xấu hổ, và sợ làm tai tiếng chủ nhà. Hắn vốn tính nhát, với lại hai trăm đối với hắn chắc chả là bao.

Tất cả những cách xếp đặt ấy diễn qua rất nhanh trong trí tôi. Chỉ một thoáng thôi, tôi đủ tưởng trước được các việc xảy ra như thế, êm thấm và yên lặng, và trôi chảy… dễ dàng quá, mà không còn sợ cái gì cả…

– Mời anh xơi thuốc.

Tôi giật mình đỡ lấy dọc tẩu. Cô Lan đã tiêm xong điếu thuốc từ bao giờ, quay dọc sang mời. Mắt cô nhìn tôi âu yếm. Tôi đưa mắt nhìn xuống, cầm lấy dọc hút. Điếu thuốc kêu vo vo, tiếng như ở đâu đưa lại. Qua làn khói trắng tỏa ra, tôi tưởng nhìn thấy tập giấy bạc một trăm, còn mới nguyên gấp trong ngăn ví. Hắn làm gì mà có lắm tiền thế? Lại mang để trong ví làm gì? Rõ anh chàng ngốc không biết dùng đồng tiền, tiền ở trong tay hắn cũng uổng. Ngộ có đứa lấy đi thì sao? Để thế có bữa mất thật…

– Anh nghĩ gì mà thần người ra thế? Say thuốc có phải không?

Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi. Tôi giả vờ cười không đáp, rồi xoay nằm ngửa, nhìn lên trần nhà. Trong người bứt rứt không yên… Lắng nghe thấy tiếng Bân thì thào và tiếng cười khúc khích của nhân tình hắn trong màn. Chiếc áo vắt ở đầu giường – chiếc áo của tôi – chắc vẫn còn y nguyên ở đấy.

Tôi tưởng tượng khi có hai trăm trong túi rồi, lên xe về điềm tĩnh đi nằm ngủ. Sớm mai mất tiền, thế nào hắn chả về qua nhà mình. Hắn gọi cửa vào, đánh thức mình dậy và bơ phờ bảo:

– Tôi mất hai trăm bạc tối hôm qua rồi, anh ạ…

Tôi thấy trước bộ mặt ngạc nhiên của tôi lúc bấy giờ – một vẻ mặt rất tự nhiên, – và tôi hỏi: “Chết chửa, mất bao giờ? Ở đâu?” – Hắn sẽ thuật lại buổi tối hôm nay, lúc mang áo vào giường, đến lúc thấy mất: “Chỉ có con nhân tình tôi nó lấy thôi, anh ạ. Chả còn ai vào đấy nữa…”

– Thế giấy bạc của anh có biên số không?

Nếu hắn không biên số thì mình cứ việc tiêu tự nhiên! Vạn nhất hắn có biên số rồi, thì bảo hắn đi trình cẩm. Nhưng mình sẽ tiêu ngay hôm ấy… Một người như mình cầm tờ giấy trăm vào Gô Đa mua hàng, ai dám nghi ngờ?…

Tôi nhớ lúc ấy tuy vẫn nói chuyện với mấy cô em, tôi xếp đặt đâu vào đấy rất chu đáo, phòng ngừa đủ mọi việc xảy ra. Chỉ còn việc lấy, và đổi áo nữa là xong. Rất dễ.

– Ấy kìa, anh đi đâu đấy?

– Tôi đi về đây, mai có việc bận, không thể ở lại được.

Tôi đã nhổm dậy đến bên mắc, với áo, chiếc áo của Bân. Qua lần vải tôi thấy chiếc ví kềnh kệnh răn rắn. Khoác áo lên một bên vai, tôi đi lại trong nhà, bồn chồn nóng ruột. Một cô đầu lê guốc ra hé cửa, nhìn ra ngoài trời:

– Tối lắm. Phải vạ gì mà đi bây giờ anh ạ.

– Đâu xem nào…

Tôi cũng đến bên cửa nghiêng nhìn ra ngoài. Tay tôi đưa vào trong áo, luồn vào khe ví, sờ vào mấy tấm giấy bạc. Tôi rùng mình. Mấy ngón tay mân mê đầu tấm giấy, một cái, hai cái…

– Thôi, vào không gió, anh ạ. Vào nằm cho ấm…

Tôi bỏ tay ra – thong thả, không vội gì, – theo vào, cái áo vẫn đè trĩu trên vai. Tôi ngồi ghé xuống cạnh giường, cầm chén nước lên nhấp, rồi lại đặt xuống.

Tiếng Bân trong nhà cất lên:

– Ông ấy về rồi à?

Tôi đáp:

– Không, đã về đâu. Tí nữa.

Bân nói câu gì sau, tôi cũng không nghe thấy. Tâm hồn tôi lúc bấy giờ thế nào, tôi không biết rõ. Tôi đứng lên, ngồi xuống, như một cái máy. Tôi chỉ băn khoăn, bứt rứt, và thời giờ qua… tôi cảm thấy đi qua tâm hồn tôi từ bên này sang bên kia… như thế không biết trong bao nhiêu lâu… Tôi khẽ thở dài, đứng lên lần này thì nhất định.

– Về thôi. Không mai đi sớm lại nhọc chết.

Bân hỏi vọng ra:

– Ồ, anh về à? Mấy giờ rồi đấy nhỉ?

– Gần một giờ rồi. Anh cứ ở đây. Cả mấy cô này nữa, đi ngủ đi cho béo mắt. Bận sau tôi ở lâu nhé.

Tôi đưa tay vuốt mái tóc một cô sán đến gần, hai tay để lên vai tôi, mắt nhìn ra vẻ âu yếm. Hai cô khác ngồi yên trên giường, cũng đưa mắt nhìn tôi như chờ đợi.

– Thôi đi ngủ đi.

Tôi gạt tay cô ấy ra, gấp cái áo tây trên cánh tay, rồi đi vào phía giường Bân nằm. Tôi cúi xuống, tì vào thành giường – cố ý tì vào chỗ vắt cái áo – nhìn vào trong, qua màn.

– Anh ở lại nhé – tôi mỉm cười – tri kỷ hết đêm nay cho nó sướng…

Cô nhân tình khúc khích trong chăn. Và Bân ngửa đầu trông lên, tay với vào tấm màn:

– Mai nhé.

– Oui, à demain.

Nhưng tôi chưa quay ra. Tôi vẫn cứ tì mình trên thành giường, lưỡng lự, một lát bấy giờ sao lâu thế. Rồi, không biết tại sao, bỗng nhiên:

– Áo anh đây này, đây là áo của tôi.

Và nói thêm bằng tiếng Pháp:

– Anh đếm lại tiền đi. Và để cẩn thận vào trong ấy.

Bân nhỏm nửa người dậy, cầm lấy áo:

– Merci, được rồi.

Tôi bước một bước lùi ra. Thế là hết. Bây giờ thì không sao đụng đến ví được nữa. Tôi bần thần ngơ ngẩn, mặc lấy chiếc áo của tôi, và đội mũ… Vừa gài khuy, tôi vừa nói mấy câu bông đùa vô vị với cô ả đứng ở chân giường sắp tiễn tôi về. Tôi trùng trình uống nước và hút thuốc, muốn cái thời khắc này cứ kéo dài ra mãi.

Đến khi ngồi trên xe về qua những phố khuya vắng vẻ, tâm trí tôi mới dần bình tĩnh lại. Gió lạnh thổi mát trên vừng trán nóng, và cái cảm giác mát ấy khiến tôi dễ chịu. Tôi nghĩ lại đến những cử chỉ và dự định của tôi lúc nãy, thật vừa như một người khôn khéo lại như một người mất hồn. Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ. Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc.

Sáng hôm sau tỉnh dậy ở nhà, tôi ngẩn ngơ nghĩ lại các việc tối hôm trước, y như trong một giấc mộng, chứ không phải việc đã xảy ra… Tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình hãy còn là người lương thiện, không phải là kẻ ăn cắp. Mà tôi thú thực rằng nếu bấy giờ tôi đã là kẻ ăn cắp, cái đó cũng không khiến tôi lấy làm ngạc nhiên hơn. Mà còn là người lương thiện, tôi tự thấy cũng chẳng có gì là đáng khen. Tôi nhớ rõ lúc đó không có một ý nghĩ nào về danh dự, về điều phải, điều trái ngăn cản tôi, và khiến tôi đi vào con đường ngay, như người ta vẫn nói. Không, không có một chút gì như thế. Cái gì đã giữ tôi lại? Tôi không biết… Có lẽ chỉ một lời nói không đâu, một cử chỉ nào đấy, về phía này hay phía kia, đã khiến tôi có ăn cắp hay không ăn cắp. Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên… Tôi có tiếc đã không lấy hay không, hay bằng lòng mình vì đã chống giữ lại cái ý xấu? Tôi cũng không tìm biết rõ hơn. Hình như ý nghĩ ham muốn hay trù trừ tối ấy không phải là của tôi, hình như của ai ấy, của một người nào khác lạ, khác với cái người thường của tôi bây giờ…

Chúng tôi đều yên lặng. Anh Thành nói xong, với cái điếu hút một hơi thuốc lào rất kêu. Rồi anh thở ra thong thả, mắt lờ mờ nhìn dõi theo làn khói đi.

Thạch Lam


Lụa Tím. Thơ Hư Vô


Áo em tím lịm hiên chiều
Hồn tôi vấp giữa thềm rêu bóng người
Chạm vào nhan sắc chơi vơi
Chỗ em giũ tóc về phơi lụa là.

Vạt nắng còn biết kiêu sa
Bỏ tôi lơ lửng giữa tà áo bay
Thềm cao mấy bậc u hoài
Bước theo dáng phố cho dài dấu chân.

Mà em cũng có đôi lần
Ngoảnh lại vụt thấy tần ngần bóng tôi
Như tượng đá dựng giữa trời
Khắc vào quá khứ những lời tình si.

Để em còn biết kiêu kỳ
Chọn màu áo tím chỉ vì yêu tôi
Phấn son có lạ hơi người
Thì em cũng đã một thời của nhau…

Hư Vô

Bài Sinh Nhật Tháng 5. Thơ Hư Vô


Khi không trời đất chuyển mình
Trong thiên tai bỗng tượng hình hư vô
Bước ngang mê lộ xô bồ
Em còn luýnh quýnh xưng hô tội tình.

Hồn tôi lãng đãng phiêu linh
Mùa thu bày biện linh đình, đó em
Tiệc tình dọn giữa dung nhan
Một lần cũng đã hoang đàng đời nhau.

Lăn qua sợi tóc tơ nhàu
Để em còn được biết đau kiếp này
Từ khi tôi tượng hình hài
Tựa mây bay thấp cho dài bóng không.

Nghe ngọn gió hú trong lòng
Nửa đêm thao thức còn đồng vọng nhau
Mà tôi như giấc chiêm bao
Bước ra từ chỗ em vào hư vô…

Hư Vô

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: