Nhật Tiến- Còn Đứng Giữa Thềm Hoang. Thơ Hư Vô.


(Kính tặng sinh nhật nhà văn Nhật Tiến 24/08 – Một ngòi bút Nhân Bản của nền Văn Học Miền Nam)

Như Tặng Phẩm Của Dòng Sông
Đời đời còn chảy trong lòng nhân gian
Như cây thông đứng trên ngàn
Trổ ra hoa lá thênh thang giữa trời.

Cảm ơn Người bước tới đời
Hành Trình Chữ Nghĩa vun bồi tha nhân
Mồ Hôi Của Đá ân cần
Nhỏ xuống óng ả nhân văn cội nguồn.

Tay Ngọc gióng một hồi chuông
Đã đồng vọng tận khúc đường trần ai
Để Những Vì Sao Lạc loài
Gọi nhau tỉnh thức cùng quay lại gần.

Cảm ơn Người đã dấn thân
Tưới Thềm Hoang giọt Mưa Xuân diệu kỳ
Nở vàng rực lối tường vi
Mở ra Cánh Cửa Thiếu Nhi rạng ngời.

Quê Nhà Yêu Dấu xa xôi
Còn lại di sản Một Thời Đang Qua
Giấy mực dẫu có phôi pha
Nhưng hồn ngôn ngữ đâu già, đâu phai!

Như thức dậy mỗi sớm mai
Nghe Chim Hót Trong Lồng ngày khai sinh
Mà văn sử đã tạc hình
Một thời chữ nghĩa còn in bóng Người…

Hư Vô

Những chữ viết hoa là tựa sách của nhà văn Nhật Tiến.

Quán Thơ Hư Vô 354


EM QUÊN THÁNG TÁM KHÚC SCHUBERT

Ngày em đi hứa về tháng tám
Cùng tôi thăm Nhà Hát Con Sò
Mây giăng mù mịt Harbour Bridge
Che mất lần em đã hẹn hò.

Chiếc ghế hiên vườn Botanic
Hồn trơ phế tích chỗ em ngồi
Lá hoang chen chúc đường mưa tới
Trôi bềnh bồng theo bước chân tôi.

Nụ môi còn đọng trong lòng đá
Là giấu riêng tôi bóng một người
Để em quên nhớ về tháng tám
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi!

Dù em có thêm lần thất hứa
Tôi vẫn dài chân đứng đợi chờ
Nhà Hát Con Sò còn biết nhớ
Em quên tháng tám khúc Schubert…

Hư Vô

TỰ TÌNH

Tàn phai vạt nắng rời đi
Bóng râm ở lại nhớ gì mây qua…
Hồng hoa giấy trước hiên nhà
Ngỡ như xác pháo mùa xa bay về

Trở mình ôm lấy cơn mê
Loay hoay cất giữ bộn bề giấc mơ
Ta ngồi đọc lại bài thơ
Hắt hiu nỗi nhớ..thẩn thờ tình si

Người về như chẳng rời đi
Vòng tay ôm lấy xuân thì chưa qua
Cơn mưa đọng lại sân nhà
Soi vào dấu tích đã xa thuở nào …

Tình tàn giữ mãi ,quên lâu…
Đợi chờ ô thước bắc cầu mưa ngâu???
Ngày xưa thương vội yêu mau
Bây giờ hai đứa hai đầu nhớ nhau…

Mực Trắng (LT)

MỘT MÌNH

Lặng lẽ ta về ôm nỗi nhớ
Cô đơn chầm chậm tiễn chân người
Giọt mưa tí tách buồn than thở
Tha thiết nhớ ai hé nụ cười

Có phải tại mưa trời trở lạnh
Sáng nay thiếu vắng một vòng tay
Ly cà phê ấm lòng hiu quạnh
Gọi giấc mơ về mãi đắm say

Giang hồ mỏi cánh chưa dừng bước
Thương tiếc tro tàn giấc mộng xưa
Tháng tám xa dần lời hẹn ước
Hẹn hò đã lỡ chuyến đò đưa

Đôi khi chợt thấy mình ngơ ngác
Ngần ấy tuổi xuân trôi mất rồi
Ta như một kẻ thua bài bạc
Trắng tay mới hiểu rõ tình đời

Ninh Trần

ĐÊM NGUYỆT BẠCH

Chàng hỡi hãy cùng em đêm nguyệt bạch
Ta cùng nhau hoá chén quỳnh hương
Hãy biến hồn em thành nàng tiên cổ tích
Tình yêu chàng dâng trọn thiếp đêm nay

Đắng cay chàng hãy cùng em tận
Dù mai kia bão tố có cuồng quay
Đêm nay ta sẽ cùng vũ điệu
Kẻo ngày mai chàng với thiếp đoạn ly

Đêm nguyệt bạch chàng hãy là hoàng thượng
Còn thiếp đây hoàng hậu phục bên chàng
Ta khoác áo tình nhân một đêm đầy ngũ sắc
Một đêm thôi rồi sám hối đến thiên tiên

Dung Thị Vân

TƯƠNG PHÙNG.

Em ngồi đây, ngắm trời mây,
Bóng chim ưng xoãi cánh xa bay.
Mỏi mòn trông, cũng bằng không
Bước anh xa vạn lý, muôn trùng

Tóc còn xanh, mắt còn xanh.
Dáng như tranh đẹp nét đan thanh.
Mơ người mơ, nối đừơng tơ
Biết khi nao dừng bước giang hồ?

Như là hoa, tháng ngày qua.
Sắc hương xưa màu úa, phôi pha.
Mơ ngồi mơ, ghép vần thơ.
Bến sông xưa thuyền vẫn mong chờ.

Mây chiều trôi, lá vàng rơi
Ta tìm đến bên nhau, cuộc sống yên vui.
Quên niềm đau, mãi còn nhau
Đắp xây mau mộng ước ban đầu.

Em ngồi bên, ánh đèn đêm
Xóa tan đi sầu đắng không tên
Khúc nhạc em, tiếng đàn anh.
Thíết tha thay lời hát êm đềm

Vai kề vai, bước còn vương.
Trót trao nhau lời nói yêu thương.
Đêm mờ sương, tiếng nhạc buông.
Gió trăng lên hoà khúc nghê thưòng…

Tuấn-Lĩnh

NHỚ CON

Hỡi con yêu
Trong nỗi nhớ dịu dàng
Con về trong giấc mơ
Đậu trên má mẹ
Mùi thơm nồng nàn
Từ da thịt và mái tóc
Óng ả như ong
Nhả mật trên gối thơm.

Mẹ nhớ những đêm
Goodnight của con
Một nụ hôn và lời ngọt ngào “yêu mẹ”
Đủ cho mẹ ngất ngây!
Đi vào giấc ngủ

Mắt con như sao đêm
Rọi sáng trần gian
Nơi trầm khổ …miên man…
Bừng sáng yêu thương
Hương Thảo dịu êm…
Ngan ngát lòng mẹ
Yêu con
Sydney 28-11-2017
Thạch Thảo

NHỮNG SỢI BUỒN.

Nắng tháng bảy nắng như huyền thoại
Nắng vỗ về đốt cháy thịt da
Nắng hy vọng nắng bốc hơi nhân loại
Nắng êm đềm khô cạn những bờ xa

Ngày nắng về gió Lào hiu hắt thổi
Sông khô nguồn soi bóng thực hư
Nhánh xương rồng gục đầu sa mạc
Chờ bao năm nở được đóa tương tư?

Em đợi mưa về mưa tháng bảy
Bớt héo khô những ngọn cỏ lưu đày
Lũ chim biệt xứ thôi nhớ tổ
Dấu hạ buồn trên những cánh bay

Em đợi mưa về, mưa trên lá
Mộng nổi chìm trên từng phiến đá trôi
Giọt bơ vơ lăn qua biển rộng
Kết ngàn năm thành lệ mới tinh khôi

Hoàng hôn hắt bóng từ cơn gió
Thổi muôn trùng màu tóc viễn phương
Sợi quấn quýt sợi lạc loài thương nhớ
Những sợi buồn trôi về phía quê hương.

Thục Uyên.

THU

Nắng về
hôn đám mưa tan
Mây về
nhuộm tím dịu dàng sắc thu
Người về
thắp lại lời ru
Ta …
Diều say gió vi vu bên trời .

Thụy Sơn

HỒI TƯỞNG…

Nhắc chuyện quê hương,nhớ quê nhà.
Nhớ làng quê mẹ, xóm quê cha.
Nhớ mâm cơm nghèo bên bếp lửa.
Có đĩa dưa chua, chén mắm cà…

Nhớ những dòng sông, những chuyến đò.
Ân cần, đưa đón khách ngây thơ…
Những con đườmg đất, tràn mưa, nắng.
Lấm bụi màu, thơm áo học trò…

Đôi gốc xoài nghiêng, chẳng thể quên.
Vài dây bầu, bí cố leo lên.
Đám gà lục đục, sau mương lán.
Bầy vịt om sòm, dưới bãi kênh…

Nước mắt còn rơi xuống giọt sầu.
Đi đâu, là biết để về đâu…
Nhưng hồn như trái cau đang chín.
Đành tiếc đời cho thiếu đọt trầu…

Giây, phút hồ đồ, đổi tháng,năm…
Cải trời đem sánh hạng rau răm.
Thủy chung càng khó, càng chung thủy.
Thì nghĩa nào hơn nghĩa tơ tằm…

Mà bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Một lần đeo đuổi, mấy lần mong.
Anh hùng, sao chỉ anh hùng bẩn.
Cắt thịt sơn hà, lén bán rong…

Đen, trắng, chờ xem vận hội này.
Ván cờ, sắp lại cuộc so tay.
Vinh quang gì thứ trò gian trá.
Xấu hổ anh em, nhục mặt mày../…

Đặng Triều

Mắt Đá Xanh. Thơ Hư Vô


Đêm còn nghe biển khóc
Giọt đá xa gọi về
Thì thầm lời hoang phế
Từ một cõi u mê.

Giữa sóng cùng biển cạn
Giọt nước mắt đã già
Chảy qua đời người lạ
Để còn biết xót xa.

Hồn tôi thành đá mục
Bám cho đầy rong rêu
Trầm ngâm ngang đáy vực
Cùng cát biển cồn dâu.

Đêm tối tăm mù mịt
Đã mất dấu muôn trùng
Chờ em về nguyệt thực
Cho kịp lần khóc chung…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 353


LỜI TỰ TÌNH THÁNG TÁM

Nằm nghe chăn gối thì thầm
Mưa đêm tháng tám lời câm gọi về
Tiếng ai như thể rủ rê
Níu tôi vào cõi u mê mịt mù.

Bềnh bồng tựa thoáng mộng du
Dìu nhau tới chỗ thiên thu biệt ngàn
Em bỏ lại chút dung nhan
Một thời xanh tóc ngang tàng ngông nghênh.

Tôi lăn qua nỗi gập ghềnh
Mà nghe ngày tháng vặn mình mẩy đau
Bàn tay luồn giữa chiêm bao
Còn nghe quá khứ cồn cào xót xa.

Chỗ có giọt lệ chảy qua
Cho đôi mắt biết kiêu sa lạnh lùng
Để tôi bước tới đường cùng
Giọt mưa bén ngót chém vung nhát đời…

Hư Vô

BÊN SƠN LỘ QUÊ XƯA, NGHE TIẾNG
CHIM KÊU CHỢT ĐAU LÒNG VIỄN XỨ

Bao năm bóng dáng sân nhà cũ
Cửa khép vàng bay bụi phủ đầy
Nhang khói từ đường màn nhện phủ
Hồn hoang tổ phụ lạc chân mây

Ngày đi, núi chất đầy vai rộng
Nhốt tiếng chim gù góc phố xưa
Biên giới lạnh lùng lời tiễn biệt
Rằng, trăm năm hẹn một ngày về…

Quê xưa, ngày tháng mờ sương gió
Ngõ cũ tàn phai lối cố hương
Phong vũ phủ đầy trên mái tóc
Tàn đêm, bóng núi vỡ quanh hồn!

Chớp mắt, đầu xanh giờ chớm bạc
Chưa tròn mộng lớn tuổi thanh xuân
Mươi năm chưa viết xong trang sử
Đèn sách nằm im gác bóng đêm…

Quanh đây, lối cũ mờ nhân ảnh
Lớp lớp người xưa thoáng hiện về
Sỏi đá bỗng len hồn cát bụi
Chập chờn biên giới khói hoang sơ

Cầm bằng như tiếng ai vừa gọi
Sơn lộ âm âm dưới ráng chiều
Khách chợt hiểu rằng ngày tiễn biệt
Đời người, lạc giữa tiếng chim kêu!

Bên góc biên thùy, nhà gác mái
Tổ đình im ắng ngói âm dương
Ngày về, bông gáo vàng bên ngõ
Rụng khắp vườn xưa thật não nùng…

Cứ nghĩ, sẽ xoay quanh nhật nguyệt
Trùng trùng âm Giốc hóa cung thương
Ôm theo hồn núi đêm xa xứ
Ấm lạnh buồn riêng, khách viễn phương…

Ngô Nguyên Nghiễm

CHÉN RƯỢU CHIỀU PHỐ NÚI

Gặp nhau ngỡ chừng là bạn thiết
Nhiều năm không gặp tưởng rằng quên
Chẳng biết gió phương nào vụt tới
Thì ra ta bạn nhớ hơi men.

Ly rượu bên nhau chiều phố núi
Lạ chi bình thủy lại tương phùng
Thời của nhiễu nhương đành gác lại
Ta với người lạc chốn lao lung.

Bạn kể đoạn trường ngày mới đến
Ta buồn “thất thập cổ lai hy”
Chung mâm nào kể đen hay bạc
Uống cạn niềm vui có sá gì.

Mưa phùn nào nhớ ai ấm lạnh
Múa kiếm mài gươm chợt thất kinh
Chẳng biết ngoài trời sương vây kín
Khách nhậu đôi khi chỉ một mình.

Chén rượu giang hồ ai đưa tiễn
Tạ lòng tri ngộ lúc chiều buông
Chợ đời quen thói tình đen bạc
Mai về còn lại mảnh trăng suông.

Nguyễn An Bình

VỀ LẠI NGÃ BA SÔNG

Tôi muốn về thăm lại ngã ba sông
Tìm dáng em xưa chèo xuồng ba lá
Thời gian xa kỷ niệm xưa vàng úa
Một thưở nào bên bến chợ hừng đông…

Mùa mưa về con nước lớn mênh mông
Mặt trời lên em vừa tan buổi chợ
Nước rừng U Minh đổ về sắc đỏ
Cứ lững lờ ngang vàm xáng Chắc Băng!

Xuồng em chèo về qua ngã ba sông
Nơi dòng nước hòa nhau xuôi ra biển
Tôi chờ hoài một lời em hò hẹn
Để dòng sông làm chứng một chuyện tình…

Tôi vẫn ngồi quán vắng đợi ngày lên
Ngọn gió Tây – Nam dập dềnh con sóng
Bao mùa qua còn đi tìm chiếc bóng
Và tiếng mái chèo khua nước sớm mai

Xa ngàn trùng tà áo lụa ai bay
Ngã ba sông vẫn từng mùa mưa nắng
Con nước xuôi về qua vàm kêng xáng
Sớm mai có còn nghe tiếng chèo khua?

Nguyễn Sông Trẹm

MƠ HỒ TRĂNG VÀ EM.

Như tiếng nhạc rơi qua hồ tĩnh lặng
Nhớ em cười trong chớp mắt trăng say
Tay lạnh khỏa nhạt nhòe lung ánh nguyệt
Đêm vô cùng xa thẳm vệt sao bay…

Ôi nỗi nhớ kéo dài trăm thế kỷ
Lẫn theo trăng dằn vặt suốt đêm vàng
Trăng có lẽ vô cùng xa ái ngại
Nên thu nào cũng gió rất mênh mang…

Trăng với gió từng đêm rung lá ngọc
Cỏ non tơ rạo rực nuốt linh hồn
Ôi tiếng dế xé trời trăm vạn mảnh
Em chưa về ta dở dại dở khôn…

Như tiếng nấc rơi qua hồ tĩnh lặng
Chuyện ngàn năm lấp lửng giữa tim người
Nhắm mắt khẽ nghe hồn mình thở dại
Từng hơi dồn sóng gọi cố nhân ơi!…

Lê Bảo

XA MÃI TRÊN ĐƯỜNG LẠC NHAU

Hảo hán ngồi uống giải sầu
Rượu chiều nắng cháy
như màu quan san

Rượu đêm se sắt đông hàn
Bạn ta ghìm súng
cười khan dưới hào

Rượu khuya nước mắt muốn trào
Đau ngày rã cuộc
binh đao, ngục tù

Hình như chân bước vào thu
Rừng phong khép lại cho dù lá bay

Hình như có gió truông mây
Ai nghe tiếng gọi đâu đây chiến trường

Hình như trăm vạn nẻo đường
Ta , em xa mãi
trên đường lạc nhau

Hạ Quốc Huy

CÓ NỖI BUỒN, BUỒN SUỐT CUỘC TRĂM NĂM

Có nỗi buồn đọng lại cuối mùa thu
Để chiếc lá vàng thêm màu rêu úa
Để đôi mắt như nghìn dòng sương vỡ
Chảy qua đời suốt cuộc trăm năm

Có nỗi buồn chảy mãi như dòng sông
Bến cũ đìu hiu bờ xưa hoang vắng
Tôi mãi hoàng hôn bạc đầu ngọn sóng
Cứ lao xao vỗ mãi cuộc tình người

Có nỗi buồn như một bóng mây trôi
Trôi lảng đảng trôi xa ngoài vô tận
Tôi mãi trôi cuối phương người quên lãng
Chẳng còn ai nhớ nổi một phương về

Có nỗi buồn như một tiếng thở dài
Của con dế tàn đêm buồn dưới cỏ
Tiếng gáy nghẹn như gọi nghìn nỗi nhớ
Tiếng gọi âm thầm chìm khuất lãng quên

Có nỗi buồn, buồn suốt cuộc trăm năm.

Lê Văn Trung

LÒNG ĐÊM MƯA ĐỔ

Hương mùa cũ từ độ người xa vắng
Bỗng quay về nhẹ siết lấy hồn ta
Thoáng xanh xao kỷ niệm đẹp đã xa
Niềm nuốt tiếc dâng đầy trong đêm lắng

Trăng soi bóng, trên mặt gương phẳng lặng
Những mảnh vàng rơi tận đáy hồ xanh
Trăng như ta, ngỡ giữ được tình trần
Phút lung linh cũng chỉ là hư ảo

Có những lúc quay cuồng đầy giông bão
Có những khi biển đắng vỗ bờ đau
Có những ngày gió hát vọng ngàn lau
Lời buồn thả loang đầu ghềnh cuối bãi

Hỏi dương thế có gì là mãi mãi
Mặt trời vàng lịm chết buổi hoàng hôn
Lời nguyện cầu ướt đẫm bóng trăng sương
Bao niềm tin thời gian dần vỡ nát

Con dã tràng xây lâu đài trên cát
Tiếng chim buồn day dứt vọng trời khuya
Cứa tim đau muôn hoài niệm cũ xưa
Lòng đêm vắng, nghe nghiêng trời mưa đổ…

Thiên Di

Dường Như Đã Chông Chênh. Thơ Hư Vô. Nhạc Lê Phú. Ca sĩ Diệu Hiền.


Trần Khúc. Thơ Hư Vô


5C128F38-FF92-4B42-A85A-DD08C00B9883

Từ em trần khúc xanh xao
Trong cơn mê lộ còn đau kiếp này
Chỗ hư vô tượng hình hài
Mà em đã biết hoài thai tội tình.

Để nghe trời đất khai sinh
Đêm thắp ngọn nến chông chênh đợi chờ
Em về ở trọ câu thơ
Hồn tôi lục bát che hờ nhân gian.

Dẫu là một khúc tình tan
Cũng còn được chút hương tàn đóm khuya
Lăn qua những nỗi chia lìa
Cỏ leo chân đá hồn bia tạc hình.

Cho dài dấu tích điêu linh
Chỗ mà em đã thình lình vướng chân
Thì tôi cũng có một lần
Bước theo em khúc đường trần trụi nhau…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 352


THÁNG BẢY TÔI VỀ

Tháng bảy tôi về ngang lối cũ
Áo khuya chưa đủ ấm hơi người
Còn nguyên dấu tích thời phiêu lãng
Bàng hoàng theo mỗi bước chân tôi.

Nhịp đêm dội xuống hồn khuya khoắt
Chập chờn như thể giấc chiêm bao
Tháng bảy mưa dài thêm sợi tóc
Chờ em ngồi thắp ngọn bạc đầu.

Con đường thao thức ngang lòng đá
Dốc liễu ngày xưa cũng đã già
Dáng em thấp thoáng hiên mưa tới
Lá buồn che ướt lối tôi qua.

Một lần hôn phối hồn tháng bảy
Quảy gánh trăm năm cõi đi về
Để nghe mùi hương đêm lạ lẫm
Như còn trầm uất giữa cơn mê…

Hư Vô

THÔI CŨNG ĐÀNH CHIA TAY THÁNG BẢY..

Nắng chửa vàng thu, tháng bảy non
Mà mưa đã chín sợi cô đơn
Một góc chiều buông mây dưới phố
Ghế đá còn xanh một thoáng hương..

Đã hết xuân thì trăng nhuốm bạc
Em bỏ vườn xưa hoa cũng phai
Tắt lửa hương rồi đêm đã mộng
Còn ấm thềm rêu một dấu hài..

Năm năm, thôi nhé, hoài công đợi
Tháng bảy theo về những bão dông
Mưa chi cho ướt buồn hôm trước
Dột mấy tầng đêm nỗi nhớ mong..

Chờ nhau, mưa lụn giấc mòn khuya
Rách mướp thời gian lỗi hẹn thề
Thôi, cũng đành, chia tay tháng bảy
Xanh cỏ mù sương một lối về…

Trung Chinh Ho

GÓC TỊNH

Sáng nay chân nhẹ bước
Thênh thang giữa đất trời
Nắng ươm vàng hoa cúc
Yêu quá cuộc người ơi!

Lòng ta xanh như lá
Rộn rã tiếng chim kêu
Mây pha màu rất lạ
Đời đẹp biết bao nhiêu

Đường qua tươi sắc nắng
Dịu dàng chút an nhiên
Một không gian tĩnh lặng
Chẳng vướng bận ưu phiền

Ta tìm về góc tịnh
Trú tháng bảy mưa ngâu
Mong giọt buồn tan hết
Hồn lành những vết đau

BT Áo Tím

CÓ TÔI BUỒN VỚI CÙNG EM
Tặng nhà thơ Đinh Thị Thu Vân.

Có tôi buồn với cùng em,
Không gian một cõi ngồi xem nỗi buồn.
Tình xưa ai đã đem chôn,
Khều tay khơi dậy cho hồn đớn đau.

Tôi ôm dài lắm đêm thâu,
Dường như ân ái đã lâu không về.
Mây trời che đủ bến mê?
Nỗi buồn phong kín đi về với em …

Có tôi buồn với cùng em,
Đời thừa chua ngọt đời mềm đắng cay.
Này buồn, em có cho vay,
Cho đi một nửa, trên tay nửa buồn!

trầnthịminhchâu

TRỐN VÀO MẸ

Đêm chiến tranh mẹ sinh con trong tiếng gầm đại bác
Sông Hồng đau đẻ quặn phù sa
Sông Đáy bị tiếng súng trường xé rách
Chợt lặng im trăng nõn mọc sau nhà

Mẹ trút cả đời mình ra đứa bé
Khóc chào đời như bị đánh đòn đau
Chưa biết nói lời chào thương xót mẹ
Khóc như buồn, như tủi bắt đền nhau

Nghe con khóc chú cún con cũng khóc
Nấc lên như tháng bảy cúng cô hồn
Chưa nghe được tiếng nghiến răng con cóc
Báo vỡ trời mưa ngập lút làng thôn

Mẹ tỉnh lại sau lần đầu thoát chết
Con đấy à, thằng bé của bùn non
Con cứ khóc cho muộn phiền tan hết
Sướng khổ ơi, sướng khổ méo hay tròn?

Con đã đến cuộc đời này bằng cơn bão
Bằng chiến tranh ta – địch chặt bêu đầu
Sao cha mẹ đặt tên con là Hảo
Đất nước mình người tốt trốn vào đâu?

Trốn vào mẹ, con trốn vào Nước Việt
Cả cuộc đời chạy trốn để tồn sinh
Súng vẫn nổ ngoài đầu làng khốc liệt
Đẻ con ra là mẹ hiến thân mình…

Sài Gòn ngày 20-7-2019
Trần Mạnh Hảo

MÌNH ĐÂU VÔ CẢM, THƯA EM?

Mình đâu vô cảm thưa em?
Dẫu là hạt bụi giữa đêm xô bồ
Câu thơ gạ gẫm giang hồ
Cũng không lấp liếm cuộc cờ thế kia!

Trần gian chằng chịt phân chia
Nên ca dao mẹ đầm đìa nỗi đau
Lơ ngơ phận mỏng bên cầu
Thương về cố quận mà hao hụt chiều…

Vô tâm sao được những điều
Tuy là vô ảnh mà liêu xiêu buồn
Ru tình đấy là cội nguồn
Thả vào mộng dữ đâu lường trước, sau?

Anh về đấm ngực chiêm bao
Tứ phương băng giá câu chào nhân sinh
Soi gương mình lại gặp mình
Lạc loài thế kỷ, thất kinh địa đàng!

Trần Dzạ Lữ

MÙA THU QUA CỬA SỔ

tôi như loài sâu nhỏ
đo quanh nỗi buồn mình
mùa thu qua cửa sổ
tôi đứng nhìn lặng thinh

em buông trời thương nhớ
bên mấy lối thu về
vọng nỗi buồn vụn vỡ
trong ngút sầu cơn mê

mênh mang vàng lá thấp
trên những ngọn tình buồn
bóng thu vàng rơi ngập
khói sương nhòa mưa tuôn

đâu như là thu ngủ
chiều mây tràn nắng phai
dốc chiều in bóng núi
cho đỉnh nhớ mưa dài

tôi ngồi im giấc tối
chờ thu về trong mưa
nghe nỗi buồn đẵm lối
mùa thu về hay chưa…

nguyễn minh phúc

HÚ GIỮA HƯ KHÔNG

Ôm bình bát, chân lang thang
Thiền sư thơ thẩn đếm vàng lá thu

Đường xưa sỏi đá sương mù
Tình nàng
mất biệt
thiên thu kiếp nào

Dòng sông con nước đảo chao
Thả tôi tơ tóc chìm vào vực sâu

Gấm phai chỉ cũng bạc màu
Vải thêu tuyệt vọng
quỵ sau hai tà

Thiền sư thiền định. Lệ sa
Lệ rơi. Lệ ứa. Lệ nhòa mưa đông

Quăng gươm hú giữa hư không
Tiếng tôi vọng lại: má hồng oan gia

Một ngày lạc bến phôi pha
Tóc mây thiếu phụ đã ra phong trần

Hạ Quốc Huy

NGÔ ĐỒNG ƠI

Em về hái nhánh ngô đồng
Bỏ tôi ở lại theo chồng đành sao
À ơi mai chẳng còn nhau
Ru vàng bông bí bên rào giậu thưa

Tay nào em hái vạt mưa
Thả vào tôi buốt một mùa rất ngâu
Ơi à chim sáo về đâu
Rụng bông bần tím chân cầu nước trôi

Ngô đồng ơi ngô đồng ơi
Sao em đành bỏ lại tôi một mình
Trăng non rụng phía sân đình
Tôi về nhặt ngỡ nụ tình em rơi

Hỏi trăng sao nghiêng xuống tôi
Hỏi em sao mãi cứ vời vợi xa
Hỏi chiều tím biếc mầu hoa
Hỏi hoàng hôn rụng nhạt nhòa bóng tôi!

Quỳnh Nga

Thời Tình Đá Mục. Thơ Hư Vô


Phủi tay chưa hết nợ đời
Em đi bỏ lại cùng trời đất tôi
Nói gì thì cũng vậy thôi
Đâu còn nghe dù một lời tiễn nhau.

Em đi mùa lá xanh xao
Đường mưa trổ nhánh thay màu áo xưa
Tôi ngồi đếm những giọt mưa
Trong con mắt có giọt chưa tượng hình.

Vậy mà buồn đã tái sinh
Nghe trăm nhát cắt nhục hình lớn khôn
Vết đau bỗng có linh hồn
Bên đồi đá mục còn thơm dáng người.

Từ trong mỗi nhịp tim tôi
Cũng đã rịn máu một thời tình si
Em cứ bỏ mặc tôi đi
Bước tới chỗ chưa có di tích người…

Quán Thơ Hư Vô 351


BÀI THƠ CON ỐC

Em là con ốc nhỏ
Giữa hoang đảo lẻ loi
Đợi nghe tiếng anh gọi
Cho vang một góc trời.

Bao giờ anh sẽ tới
Trăm năm em cũng chờ
Cuộn mình trong vỏ ốc
Khóc cho đầy mộng mơ.

Đếm buồn theo nhịp thở
Anh mấy lần nhớ em
Đường trần bao nhiêu ngả
Có ngả nào để quên!

Em nửa đời trôi nổi
Lối về còn chông chênh
Bên kia đời anh vẫn
Quạnh quẽ tựa miếu đền!

Em nằm nghe sóng vỗ
Ngỡ anh đang tới gần
Ốc mượn hồn phiêu lãng
Bóng anh vẫn biệt tăm!

Chờ nhau trong vô vọng
Từ một cõi trống trơn
Chợt nghe tiếng anh gọi
Tháng bảy sinh nhật em…

Hư Vô

MƯA PHÙN PARIS

Paris chợt xõa mưa phùn
Mắt em vạt cỏ mối đùn tình anh
Sông Seine vật vã tìm xanh
Anh như con kiến bò quanh chảo tình

Paris đâu phải của mình
Và em đâu phải bóng hình thiên thu
Hồn anh em nỡ cầm tù
Paris em bụi mưa mù mắt anh…

Trần Mạnh Hảo.

MÙA HẠ NỒNG NÀN

Em đốt nén hương trầm thoang thoảng nhẹ
Mở cánh cửa phòng gửi gió bay đi
Mùa hạ nồng nàn khóm hoa nguyệt quế
Những chú ve sầu đã gọi biệt ly

Trời xanh lắm, mấy cành hoa phượng đỏ
Đầy chiếc giỏ xe thương nhớ chở về
Những nụ cười trên đôi môi bạn nhỏ
Để lại sân trường mùa hạ vắng hoe

Ngồi lại, nhìn lòng em, cũng lạ
Dẫu trải nắng mưa, chẳng bớt thêm gì
Vầng trăng ấy có khi tròn khi khuyết
Đêm đêm vẫn còn tiếng vọng từ quy

Khép cánh cửa phòng, nghe mưa rơi chậm
Buồn hay vui, mùa hạ cũng ra đi
Em thắp ngọn đèn, nhìn trang vở mới
Muốn gửi nhớ thương, chẳng biết viết gì…

Hồ Ngạc Ngữ

NHỮNG VỤN ĐỜI TẢ TƠI

người với người đẹp quá
những dịu lành dâng trao
người với người đượm quá
sao mắt ta sững sờ?

mắt ta vừa ươn ướt
giấu không tròn bơ vơ
mắt ta vừa sạm tối
thiêm thiếp rồi đáy xưa!

cạn sâu đều dang dở
buông níu gì cũng rơi
ta chôn ta cùng với
những vụn đời tả tơi!

ta ôm ta lần cuối
lẻ loi tràn lẻ loi
nghe nuối mình quá đỗi
không cách nào đắm say!

chẳng cách nào lay hỏi
gáo nước tạt đâu ngờ
với ta người không bạc
thì còn ai bây giờ?

Đinh Thị Thu Vân

KHI CÒN CHƯA MUỘN

lòng bao la biển cả
hồn muôn trùng đại dương
mở ra hay khép lại
sân hận và yêu thương!…

chuyện lớn thành chuyện nhỏ
chuyện nhỏ coi như không
môi cười hay mặt xụ
sáng xuân và chiều đông!…

buồn vui gì cũng đã
cột tim nhau sợi tình
dùn bền hay thẳng bở
ngốc nghếch và thông minh!…

lẽ nào nhỏ không thấy
gã đáng yêu nhường nào
vô tâm hay cố ý
bầu bí và trăng sao!…

Nguyễn Đăng Trình

GIỌT GHI -TA

Có một hôm anh mơ làm tượng đá
Được yêu em bằng một khối hình hài
Trong vô thức em như loài chim hạc
Cứ dịu dàng sãi cánh mộng mà bay

Có một hôm anh mơ làm chú cuội
Bên gốc đa ngàn năm đợi em về
Nghe tiếng gió buốt đêm trời hoài vọng
Ngôi sao nào vừa dứt một cuộc rơi

Có một hôm anh mơ làm nắng hạ
Tuổi hai mươi về thắp mộng đầy tay
Anh bỗng dưng chợt thấy mình trẻ quá
Nghe nồng nàn chạm những cánh mây bay

Có nỗi nhớ xa nghìn trùng vời vợi
Bình minh em thắp buổi sáng lụa là
Em chợt hoá chiều hoàng hôn mắt đợi
Rụng xuống anh tím biếc một mầu hoa

Đêm với phố một mình anh lặng lẽ
Đêm trầm nâu sóng sánh giọt cà phê
Mưa cứ rót rơi qua vai thật nhẹ
Ghi-ta nào vừa rung phím đam mê!

Quỳnh Nga

EVERYDAY EVERYTHING

Hoa của nhà em vẫn nở
Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông
Sen, mai, cúc, huệ, soan, hồng
…chỉ thiếu hoa lòng, không thấy…

Mà sao em thấy được nhỉ
trong khi em mặc áo laine?
Đà Lạt vẫn lạnh sương suơng
…cõi đời, Đà Lạt duy nhất!

Chỉ khi nào em úp mặt
tự nhiên hoa lòng nở ra!
Mà em đâu có nhớ ta?
…cái bóng nhòa trong mưa gió!

Hoa lòng vẫn nở trong cỏ
Hoa lòng vẫn nở trên non
là những cái nốt tàn nhang
lấm chấm trên ngực con gái…

Ta đi rất mong trở lại
bởi vì Đà Lạt Quê Hương
bởi vì ta có người thương
là em mà em không biết!

Em nghĩ ta người Phan Thiết
tạt ngang Đà Lạt, đi chơi…
Ta nói với em lâu rồi:
“Anh là một chàng lãng tử!”

Em cứ dạo vườn hoa nở
soan, hồng, huệ, cúc, mai, mơ…
mỗi ngày em có bài thơ
“Gửi người tôi hằng yêu quý!”

Trần Vấn Lệ

ĐÊM MƠ ĐÀ LẠT

Đêm qua gió hú đồi thông
Tôi mơ Đà Lạt trăng bồng bềnh sương
Ồ. Con bướm hiện dị thường
Khoanh tròn trong đại lư hương trước chùa
Linh Sơn hội Phật rằm thu
Tôi qua ngõ Hạnh hoa mùa đau điên!
Chắp tay tôi lạy liên thiên
Ô hô! Chó cắn trăng triền đồi hoang
Trần Nhơn phiêu hốt bàng hoàng
Hai thằng rực lửa Phượng Hoàng bay đi!
Giật mình thức dậy sầu bi
Trên bàn một nhánh dã quỳ vàng khô.

Trần Thoại Nguyên

CHỜ…!

Ta đợi chờ ai giữa phố buồn
Cô đơn nhìn ngắm giọt mưa tuôn
Mây ơi nhắn nhủ gì ai đó
Lịm tắt hoàng hôn giấu tủi hờn

Em về nơi ấy xa xôi quá
Ta ở phương này ngong ngóng trông
Trời đất mênh mông thay đổi lạ
Buồn rơi sải cánh chốn hư không

Trót bước qua nhau người có nhớ
Khi tim thổn thức vết hằn sâu
Em chim hoàng yến xinh xinh nhỏ
Khẽ hót ru ta bạc mái đầu

Dẫu phải chờ nhau đến cuối đời
Cơ trời khéo tạo trớ trêu thôi
Năm mươi năm chẵn đâu sờn dạ
Ta sẽ đợi em suốt kiếp người

Ninh Tran

Quán Thơ Hư Vô 350


BÀI DƯ NGÔN THÁNG BẢY

Tháng bảy em về như mưa bụi
Phố xưa đã mù lối hoa vàng
Bàn tay tôi lờ quờ lạng quạng
Làm sao nhặt hết giọt mưa tan!

Mà trong mỗi hạt mong manh đó
Như có em đang tượng hình hài
Về khoe nhan sắc cùng tháng bảy
Cho tôi còn ở trọ trên vai.

Từ em ngọn tóc mây buông lỡ
Chạm xuống hồn tôi để hoang đàng
Thì trong những chập chờn mê sảng
Là hương dị ảo của nhân gian.

Đã tan vào đời nhau lãng đãng
Ngày khai sinh một thuở tình nhân
Còn văng vẳng dư ngôn tháng bảy
Em bày ra từ nỗi thăng trầm…

Hư Vô

ĐÂU CÒN MƯA NGÂU

Màu nắng hạ đẫm từng sợi tóc
Nghe trùng khơi tiếng sóng gợn sầu
Lòng cứ ngỡ Chức Ngưu than khóc
Giọt lệ buồn chảy giữa dòng sâu.

Sông Ngân lạnh hóa thành cổ tích
Để riêng người lưu giữ ngàn sau
Mảnh trăng khuyết đêm trường cô tịch
Hay thuyền ai bến vắng buông sào…

Từ thuở ấy bạc màu sỏi đá
Trăm năm dài hồn đã rêu phong
Tàn khuya dõi mộng tình xa quá
Niềm tương tư năm tháng chất chồng.

Chiều mưa cũ hóa miền ký ức
Bóng đàn ô lạc mãi giang đầu
Chỉ còn lại mong manh tiềm thức
Tháng bảy về chẳng có mùa Ngâu.

Diệp Ly

MAI PHỤC

Dành một đời để mai phục em
Làm sao gỗ trắc cũng đâm mềm
Tuyên ngôn của gã tình si ấy
Có sỉa vào trong đáy mắt em?

Đường nhân sinh lạ lạ quen quen
Riêng ta quay quắt đứng bên thềm
Quơ tay tìm bóng mùa thương cũ
Ngơ ngẩn vàng hoa áo lụa mềm…

Dành thời gian nung nấu niềm tin
Phải dã tràng xe cát biển đêm?
Lỡ kiếp này tim lên tiếng gọi
Cũng đành khâu vá nỗi buồn riêng…

Biết một đời mai phục là điên
Bởi trăng đâu rụng chốn ưu phiền
Mỹ nhân xưa nay làm bại tướng
Huống hồ ta, lữ khách đi đêm?

Trần Dzạ Lữ

MÂY TRẮNG

Chung quanh mây trắng thần tiên,
Hồn ta thanh thản trên triền đồi cao.
Ta trên mây, bỗng khát khao,
Gặp cô tiên nữ như sao trên trời.

Tiên ơi, quên nhé chuyện đời,
Vô tư mà sống, xa vời nỗi đau…
Nàng tiên má thắm hồng au,
Cho ta nằm mộng chuyến tàu không gian,

Một vầng mây trắng bình an,
Vươn tay ta nắm mây chan nắng hồng,
Từng tầng mây trắng như bông,
Mây bay lơ lửng mênh mông an hoà …

Tiên xinh như một cành hoa,
Hoa thơm nở giữa tiếng loa kiêu hùng …
Nàng tiên cũng biết thẹn thùng,
Trốn vào mây trắng một vùng trầm hương …

Bao năm vẫn nhớ cố hương,
Tháng tư ngày ấy đau thương suốt đời .
Cờ thiêng cuốn lại lệ rơi,
Tim ta rỉ máu mây trời buồn thêm …

trầnthịminhchâu

CÓ AI BUỒN VỚI TÔI KHÔNG

có ai buồn với tôi không
hắt hiu ngàn gió thổi mông lung chiều
rạc rời hương sắc thương yêu
dường như nhung nhớ thoáng rêu phong rồi

dường như người chớm quên người
dường như đêm bớt đầy vơi đẫm lòng
có ai buồn với tôi không
tàn tro lạc mất, còn mong mỏi gì!

này ai, buồn với tôi đi
lẻ loi đã đợi ôm ghì rỗng không
hắt hiu ngàn gió mông lung
có ai buồn với tôi trong kiếp này?

Đinh Thị Thu Vân

TA VỀ CHO TRỌN NGHĨA TANG THƯƠNG

Thôi cứ về đi, dù lỗi hẹn
Hề chi đá nát với vàng phai
Chút bụi thời gian đâu dễ nhuộm
Chiếc áo tình xưa có nhạt nhàu

Ta về như thể, lòng không nỡ
Phụ rẫy đời nhau, dẫu xót xa
Ta về như thể lòng ta đã
Khắc cốt ghi tâm chuyện ước thề

Ta về như để ta nhìn lại
Một bóng đời in lên vách rêu
Một thoáng mù sương mờ nhân ảnh
Ta gọi tên mình: hỡi cố nhân!

Thôi cứ về đi, dù chẳng thể
Sông vắng đò ngang, gãy nhịp cầu
Cứ thả trôi theo dòng nước bạc
Mới biết niềm đau của bể dâu

Thôi cứ về đi, dù chẳng thể
Người quên kẻ nhớ có nhìn nhau?
Ta cầm tay mình mà thương tiếc
Ngón tay ngà ngọc thuở yêu đầu

Thôi về đi nhé! Về đi nhé!
Đón chuyến tàu khuya dẫu muộn màng
Dẫu biết chẳng còn ai đứng đợi
Ta về, cho trọn nghĩa tang thương.

Lê Văn Trung

TÌNH CÂM

Em giấu u tình trong kẽ tóc
mỗi lần chải rụng một câu thơ
câu thơ đã thành bài bất tận
mà tình hoài chẳng chạm chân tơ.

Anh như núi không còn xanh tóc
còn mơ chi một phút xanh đời
muốn đứng lặng giữa trời quạnh quẽ
gió vô tình mải miết trêu ngươi.

Em là đất anh cây mọc ngược
tuổi xa trời tim trổ lộc non
lộc vẫn biếc tình không xanh được
thôi đành. Cố níu cũng mây tan.

Rồi anh sẽ trở về bụi cát
vo nỗi sầu thành lọn tóc thơm
mỗi lần chải mỗi lần mất mát
sợi tơ tình rụng giữa hư không…

Đức Phổ

NỖI NHỚ VÔ HÌNH

Buổi em về bước vòng quanh nỗi nhớ
Môi ngậm chùm phượng vĩ đỏ như mơ
Tà áo trắng ngác ngơ nhìn khắp phố
Chắc tìm ta đòi lại nửa ngày xưa

Ai nhặt được ngày xưa trên lối mộng
Thời lao xao lo ngụp lặn giữa dòng
Cả cái tuổi cái tên còn quên biệt
Em đừng tìm đừng gạn hỏi hoài công

Kìa thực tại nối dài theo chân bước
Đường nối người người nối với mưu toan
Lúc đi xuôi dè chừng va chạm ngược
Ai nhường đường cho kỷ niệm lang thang

Cứ mải miết đừng bâng khuâng ngoảnh lại
Dù sau lưng có kẻ dõi theo mình
Quên đi thuở hồn nhiên vô số tội
Mặc thơ tình trôi lãng đãng vào tim

Ta lặng lẽ chìm sâu vào mưa nắng
Dấu chân in trên nỗi nhớ vô hình
Trò đuổi bắt của mối tình lãng mạn
Giáp mặt chiều nhìn sương khói lênh đênh!

Lưu Xông Pha

TIẾNG ĐÀN KÌM TRÊN SÔNG

Khúc nguyệt cầm thả vào đêm thao thức
Trăng cù lao sũng nước tự bao giờ
Sợi tơ lòng thăng trầm trôi âm vực
Thắp tình người sóng sánh giữa cơn mơ.

Tiếng đàn lướt qua sông thành đóm lửa
Nhen vào lòng thương khách nỗi hoài hương
Người châu thổ cố mời nhau chén rượu
Nghe ấm lòng người giữa chốn nhiễu nhương.

Khúc nam xuân chảy tràn đêm nguyệt bạch
Nước sông hồ có gạn đục khơi trong
Ai nhả chữ gieo câu hò bát ngát
Để dạt dào điệu lưu thủy hành vân.

Tiếng đàn trôi trong nỗi buồn xa xứ
Khơi niềm đau chốn thủy tận sơn cùng
Nhịp song loan như khắc sâu vào đá
Quyện vào nhau lời hẹn ước thủy chung.

Câu vọng cổ mang mang tình đất nước
Ngược vào tim trăn trở một kiếp người
Chiều phương Nam khói cơm cay nước mắt
Ai nỡ phụ tình để nước cuốn hoa trôi.

Nguyễn An Bình

Bài Thơ Con Ốc. Thơ Hư Vô


Em là con ốc nhỏ
Giữa hoang đảo lẻ loi
Đợi nghe tiếng anh gọi
Cho vang một góc trời.

Bao giờ anh sẽ tới
Trăm năm em cũng chờ
Cuộn mình trong vỏ ốc
Khóc cho đầy mộng mơ.

Đếm buồn theo nhịp thở
Anh mấy lần nhớ em
Đường trần bao nhiêu ngả
Có ngả nào để quên!

Em nửa đời trôi nổi
Lối về còn chông chênh
Bên kia đời anh vẫn
Quạnh quẽ tựa miếu đền!

Em nằm nghe sóng vỗ
Ngỡ anh đang tới gần
Ốc mượn hồn phiêu lãng
Bóng anh vẫn biệt tăm!

Chờ nhau trong vô vọng
Từ một cõi trống trơn
Chợt nghe tiếng anh gọi
Tháng bảy sinh nhật em…

Hư Vô

Xin mờ thưởng thức nhạc phẩm Em Vẫn Chờ, nhạc sĩ Như Ngọc Hoa phổ từ Bài Thơ Con Ốc của Hư Vô với tiếng hát Vy Thảo…

Quán Thơ Hư Vô 349


THÁNG BẢY ĐÂU CÒN THẤY MƯA NGÂU

Buồn đến nổi thèm nghe em khóc
Cho tận cùng dấu tích quạnh hiu
Tôi như tháng bảy chờ mưa tới
Dòng tóc em chạm ướt lưng chiều.

Để nghe mưa chạm vào nhan sắc
Đôi mắt buồn ai biết lẻ loi
Giọt lệ ngày xưa còn đắm đuối 
Lăn vào tan tác giấc mơ tôi.

Tựa ngọn sóng dội trong lòng đá
Biển cả nào mà không bấp bênh
Em như vạt lụa đang bay thấp
Bắc ngang qua những nỗi gập ghềnh.

Nhưng đã gãy nhịp cầu Ô -Thước
Tháng bảy đâu còn thấy mưa Ngâu
Bên kia biển làm sao em biết
Hồn đá xanh xao đã bạc đầu!

Hư Vô

MƯA CHIỀU THÁNG BẢY

Cơn mưa vội, lướt qua chiều tháng bảy
Quán không tên, bàn ghế nhớ hơi người
Tôi ngồi xuống, một mình thôi, khẽ gọi
Ai qua đường, không ngoái lại, nhìn tôi

“Cho tôi xin một ly vừa đủ ấm
Cô hàng ơi, đôi mắt ướt, xa xôi
Cô thấy gì trong dòng mưa lướt chậm
Chảy về đâu mà lạnh cả một phương người

“Cho tôi xin, hơi thở chiều tan nhẹ
Cho nỗi buồn tan nhẹ giữa lòng nhau
Cô có thấy hạt mưa chiều tháng bảy
Người ta bảo thầm ôi tháng bảy mưa Ngâu

“Cho tôi xin sợi tóc chiều mưa gội
Trói lòng tôi trong góc quán buồn tênh
Cô có nghe tiếng mùa xanh réo gọi
Con thuyền nào lạc mất bến trăm năm”

Cơn mưa vội, như tình em rất vội
Mưa ngày xưa không đủ ướt đôi lòng
Nên vạn kiếp những chiều mưa tháng bảy
Mưa của đất trời ướt cả cõi mênh mông.

Lê Văn Trung

DUYÊN TẬN

dẫu chắc không còn em-bữa-trước
ta cũng về bữa trước tìm em
gió hư hao thổi tàn sa mạc
bước lạc đà thêm những dặm buồn

để cuối đời xin đôi mắt nhắm
tưởng càn bữa trước là hôm sau
phiêu du cả trái tim phiền muộn
mà cứ trầm luân mãi với nhau

có lẽ duyên hai người tận tuyệt
để con sông chảy lạc đôi dòng
ta có gào kêu cho tới chết
cõi đời cũng biệt dấu hồng nhan

Hoàng Lộc

XA MÃI TRÊN ĐƯỜNG LẠC NHAU

Hảo hán ngồi uống giải sầu
Rượu chiều nắng cháy
như màu quan san

Rượu đêm se sắt đông hàn
Bạn ta ghìm súng
cười khan dưới hào

Rượu khuya nước mắt muốn trào
Đau ngày rã cuộc
binh đao, ngục tù

Hình như chân bước vào thu
Rừng phong khép lại cho dù lá bay

Hình như có gió truông mây
Ai nghe tiếng gọi đâu đây chiến trường

Hình như trăm vạn nẻo đường
Ta, em xa mãi
trên đường lạc nhau

Hạ Quốc Huy

NẾU CHẾT RỒI LẠI ĐƯỢC SINH RA

Nếu chết rồi lại được sinh ra
Cho con làm con mẹ
Dưới ngôi nhà như lợp bằng khói
Đêm vỡ ra bởi tiếng khóc nhỏ nhoi

Con chào mùi rơm rạ
Con chào mùi sữa hoi
Ngọn lửa còm cõi quá
Chui lên từ mùa đông

Da thịt con mẹ ạ
Như còn gửi ngoài đồng
Trong từng con tôm con tép
Trong từng tiếng súng tiếng gươm

Là con vẫn là con đấy
Là giọt máu trên tay mẹ chảy
Mẹ ngồi ôm con
Rạ rơm nằm ôm mẹ

Trần Mạnh Hảo

CHỜ BÓNG THU XƯA

Tôi đang chờ một chút nắng vàng thu
Mưa vẫn còn rơi trong chiều cuối hạ
Đôi chim sẻ ngủ quên trên vòm lá
Sợ thời gian làm ướt hạt vô tình!

Ngọn tóc nào thơm hương bưởi hương chanh
Đã vương vấn chút tình tôi thuở ấy
Nên thu qua còn buồn tôi ở lại
Nghe trong chiều một chút nắng mênh mông …

Mùa thu nào xao xác lá vườn không
Ai rắc hạt gieo lên ngày hiu quạnh
Bao mùa đi cơn mưa đời đã tạnh
Mà trời thu rớt lại nỗi ngậm ngùi

Gió ngang chiều hong sợi tóc nào vui
Tôi lặng lẽ đợi chờ mùa thu tới
Tìm trong nắng bóng thu xa vời vợi
Chút tàn tro đã lạnh tự bao giờ!

Gói lại trời thu cũ gửi vào thơ
Chiều nghiêng nắng cho vườn xưa khép lá
Và mùa thu có về ngang qua cửa
Để tôi chờ một chiếc bóng thu xưa …

Nguyễn Sông Trẹm

GỬI CÔ MÁ LÚM ĐỒNG TIỀN

Giữa đường chợt thấy nụ cười
Muốn đem đổi cả cuộc đời bấy lâu
Đồng tiền ai khoét mà sâu
Đựng dùm tôi một vài câu thơ tình

Đồng tiền ai tạo mà xinh
Tiếc tôi không nước không thành để nghiêng
Chỉ là tên tỵ nạn quèn
Tương tư má lúm đồng tiền của Em

Đồng tiền sao thật là duyên
Thơ tôi gãy cánh đậu lên má hồng
Mai đây em có theo chồng
Cho tôi gửi lại chút lòng ngẩn ngơ

Nguyễn Bình Thường

LẶNG LẼ BÌNH LONG..

Ngược nắng qua chiều hạ lửa
Bụi bay mờ phía Chơn Thành
Tiếng ai gọi thầm An Lộc
Dặm mòn mất dấu chân anh..

Lộc Ninh xanh mùa hoa trái
Nghe trong lặng lẽ Bàu Bàng
Ơi, rừng cao su đỏ lá
Đất nồng với máu xương chan..

Rưng rức chiều hoang mẹ đợi
Nghe dòng Sông Bé ru đưa
Quê hương mù xa bóng khói
Bình Long còn có tôi chờ..

Tìm em giữa mùa cổ tích
Trăng lên Dầu Tiếng chưa rằm
Chia tay. đã đành Hớn Quảng
Buồn như thấu cả trăm năm..

Đau thương phủ dày thớ đất
Người xưa ở lại đồn điền
Có một mùa hoa đang nở
Khắc vào nỗi nhớ thân quen..

Gió bước qua chiều rất khẽ
Chạm mùa hoa trái thơm lâu
Lòng tôi đã đầy Sông Bé
Mai về. còn có thương nhau..

Trung Chinh Ho

CHẠM CÁNH HẠC VÀNG

Chờ thu rót dăm vần thi mộng
Tự cõi hồn em ngào ngạt dâng
Ngày nao tay ấp, hương lửa đượm
Vội tan theo giọt nắng rưng rưng

Nhẹ nhẹ lá vàng bay theo gió
Bao mùa hoài vọng dáng người thương
Ai pha hoàng hôn trong mắt nhớ
Ai thả tình vương lưới tơ buồn

Bên song hoa tím rơi hờ hững
Len lén vào tim gọi sầu riêng
Giấc mơ biền biệt miền hư ảo
Gom những mùa hương ủ tình mềm

Đêm sương gối chiếc mơ ngày cũ
Lạnh nửa hồn hoang cõi mộng du
Bâng khuâng nụ hoa tim còn nở
Mi liễu bình yên khép đợi chờ

Bao chuyến đò xuân qua bến hạ
Đêm trắng, ngậm ngùi vọng quyên ca
Thôi tình nhân nhé, ngàn trùng cách
Chạm cõi trần gian, hạc vàng xa

Thiên Di

Bài Dư Ngôn Tháng Bảy. Thơ Hư Vô


(Viết cho ngày khai sinh Người Tình Hư Vô 07/07)

Tháng bảy em về như mưa bụi
Phố xưa đã mù lối hoa vàng
Bàn tay tôi lờ quờ lạng quạng
Làm sao nhặt hết giọt mưa tan!

Mà trong mỗi hạt mong manh đó
Như có em đang tượng hình hài
Về khoe nhan sắc cùng tháng bảy
Cho tôi còn ở trọ trên vai.

Từ em ngọn tóc mây buông lỡ
Chạm xuống hồn tôi để hoang đàng
Thì trong những chập chờn mê sảng
Là hương dị ảo của nhân gian.

Đã tan vào đời nhau lãng đãng
Ngày khai sinh một thuở tình nhân
Còn văng vẳng dư ngôn tháng bảy
Em bày ra từ nỗi thăng trầm…

Hư Vô

Tô Thùy Yên, Chân Dung Muôn Đời Thi Sĩ. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

(Chân dung và thủ bút của thi sĩ Tô Thùy Yên)

Tháng 2, 1987, ở xứ người, đọc Anh Hùng Tận, đọc Qua Sông. Có một liên tưởng nào của một người lính trẻ lái xe xuôi ngược trên freeway Nam Bắc, nhìn mông về rặng núi thẫm xanh trước mặt gờn gợn trong lòng những cơn mưa ngày xưa. Của một thời trận mạc. Của nỗi niềm quẩn quanh một thời hào sảng. Nhớ thi sĩ. Tô Thùy Yên đang mịt mù trong tù ngục quân thù ở quê nhà. Đọc thơ, tưởng gặp người hào sĩ ở ngã ba sông, xuồng ba lá đậu kế chân bàn. Ôi cái thuở xưa chiến chinh, trời đất làm nhà, bằng hữu muôn phương là anh em. Ôi cái thời tuổi trẻ. “Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn/nên gặp nhau không dấu nỗi mừng/ta gạn dăm ba lời tặng bạn/dẫu từ lâu bỏ việc văn chương/thiệt tình tên bạn ta không nhớ/nhưng mà trông mặt thấy quen quen/ hề chi ta uống cho say đã/nào có ra gì một cái tên/ tới đây toàn những tay hào sĩ/ sống chết không làm thắt ruôt gan/ cũng không ai nhắc gì thân thế/ có vợ con mà như độc thân/bạn hỏi thăm ta cho có lệ/ cuộc đời binh nghiệp Ta cười bung/ còn mươi tháng nữa lên trung úy/ có thể ngày mai chửa biết chừng…”

Và, ở chiều mưa Los Angeles, viết và tưởng tới Tô Thùy Yên, một chân dung muôn đời thi sĩ. Chiều mưa đất khách, đọc Tô Thùy Yên:

Một thằng lính trận đang ngồi nhớ

Chiều mốc hôi xưa mấy dáng cò

Chừng nghe con nước đang lần giở

Qua sông, mưa dột những câu thơ

Cây súng đôi vai dường quá nặng

Dựng vách lá xiêu mấy mảng trời

Hào sảng cười ai còn văng vẳng

Rượu đế cùng say chắc đã đời

Đỉnh dốc thiên thu nào hiển hiện

Mưa giọt giọt thầm góc quán xưa

Anh hùng tận, tìm đâu chỗ đến

Lục bình hoa tím chuyến đò đưa

Cởi đôi giầy trận, ngả nón sắt

Thiếu úy trẻ quên những ý cuồng

Lỡ lên trung úy mai về đất

Có sao? Ngày cũng phải tà dương

Chắt ly rượu hết, nghe bất chợt

Xiết vào cò súng bắn lên trời

Loạn tâm lạc giữa mây ngợp ngợp

Binh lửa? ừ thôi tiếng cả cười

Khơi khơi quán cóc bờ sát nước

Chỗ này ta đã đến rồi sao?

Xuồng ai đi đến chèo xuôi ngược

Cào ta tủy nhớ vết thương sâu

Mường tượng phận thân trời sẵn định

Dông bão giục ta chiến sĩ hành

Dễ chi thân thế vài năm lính

Chiến trường quên mất tuổi xuân xanh

Tiếng chân vang vọng ngàn năm trước

Theo giọt mưa xiên đã trở về

Thơ cổ có câu nào chẳng thuộc

Lời ai túy ngọa giữa chiều mê?

Tháng 8 năm 1995. Nói chuyện với Tô Thùy Yên. Phỏng vấn trên Hợp Lưu số 24. Thưc hiện sau khi thi sĩ đến Mỹ định cư vài năm. Như một tìm hiểu chân dung một thi sĩ vừa bắt đầu cuộc sống mới. Xin ghi chép lại như một tư liệu cho mai sau (mong mỏi như thế!):

Nguyễn Mạnh Trinh: Xin anh cho một vài dòng về tiểu sử của mình?

Tô Thùy Yên: Tôi tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, cha mẹ và mấy đời ông bà nội ngoại đều ở tại đất này. Tôi theo học tiểu học ở Trường Tỉnh Gia Định, trung học ở trường Petrus Ký, đại học ở trường Văn Khoa Sài Gòn. Lúc mới vào đời, trong mấy năm, tôi dạy học và làm báo. Cuối năm 1963, tôi bị động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và tôi đã phục vụ trong quân đội cho đến những giờ phút cuối cùng của chế độ Miền Nam, phần lớn thời gian trong nghành Chiến Tranh Chính Trị. Cấp bực cuối cùng là Thiếu Tá và chức vụ cuối cùng là Trưởng Phòng Văn Nghệ/ Cục Tâm Lý Chiến. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi bị đưa đi cải tạo hơn 10 năm, trong đó có hơn 6 năm lưu đầy ở Miền Bắc và chịu quản chế 3 năm sau đó. Khoảng cuối năm 1988, tôi bị cầm tù hết mấy tháng vì một chuyến vượt biên thất bại. Trong tù lần này, khi ở biệt giam tôi đã cắt đứt động mạch nơi cườm tay tự tử nhưng rồi được cứu sống vào những hơi thở tưởng là cuối cùng của tôi. Rồi đến năm 1991, tôi lại bị bắt, lần này tại nhà với những tội danh lần lượt gán ghép: sáng tác thơ văn chống chế độ xã hô chủ nghĩa, hoạt động gián điệp, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân. Tổng cộng cả 3 lần, tôi đã ở tù gần 13 năm. Cuối năm 1993, tôi cùng gia đình được đưa ra khỏi nước, theo diện cưu tù nhân chính trị, và tái định cư từ đó đến nay tại Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ.

NMT: Anh bắt đầu cầm bút từ lúc nào? Anh viết những tác phẩm đầu tay trong trường hợp nào? Có kỷ niệm nào đặc biệt không?

TTY: Tôi say mê chữ nghĩa từ hồi còn nhỏ, rất nhỏ, 13, 14 tuổi gì đó. Và tôi cũng đã rón rén tập tành làm văn, làm thơ từ cái tuổi đó, mặc dù lúc bấy giờ cũng như mãi về sau rất lâu, tôi hoàn toàn không có ý thức và càng không có ý muốn sẽ ăn ở một đời sống chết với văn chương. Đầu hè 1954, sau mùa thi tôi lãnh một căn bệnh thập tử nhất sinh, nằm liệt mấy tháng liền và cứ mỗi lần tỉnh sốt, tôi lại ngấu nghiến sách vở, lúc nhìn ra bãi cỏ trước sân nhà xanh rỡ sau những cơn mưa. Lúc đó, tôi thèm một cách thảm khốc được sống, được đi được trở lại căn nhà lá nhỏ lẫn khuất giữa khu vườn cây ăn trái, có những lối đi cỏ mát chân trần mà tôi đã ở qua cùng mẹ và các em tôi chạy loạn ngoài chiến khu chống Pháp. Và lúc đó tôi thấy cần làm thơ, cần hơn tất cả mọi thứ cần khác. Một trong những bài thơ làm lúc đó, tôi gửi cho Tạp chí Đời Mới do nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương biên tập. Bài thơ đó đã được chọn đăng với lời nhắn của ông Nguyễn Đức Quỳnh muốn tôi đến gặp ông. Lúc đó tôi mới vừa 16 tuổi và tôi chợt lờ mờ hiểu rằng dường như giữa tôi và văn chương đã manh nha một ràng buộc định mệnh chờn rờn nào đó, một ràng buộc mà về sau có nhiều lần tôi muốn tháo bỏ mà tôi vẫn không tháo bỏ được. Tuy rằng bài thơ đầu tiên đăng báo đó chắc chắn không phải là một bài thơ hay và ngày nay tôi chẳng còn nhớ nó như thế nào nữa.

NMT: Anh đã sinh hoạt với nhóm Sáng Tạo khá lâu, vậy anh có thể kể lại để phác họa một thời kỳ rất đặc sắc của văn học miền Nam 1954-1975?

TTY: Thơ tôi lần lượt xuất hiện trên những số đầu tiên của tạp chí Sáng Tạo bộ cũ do Mai Thảo chủ trương. Lúc đó tôi vừa 17 tuổi. Tuổi của Rimbaud Le bateau Ivre khi chàng bỏ trốn gia đình lang thang dưới bầu trời chì quặn thắt gió xấu. On n’est pas se1rieux quand on a dix sept ans… Một số những tác giả hợp tác với tạp chí Sáng Tạo mấy năm sau quây quần thành ban biên tập chính thức trong đó có tôi của tạp chí Sáng Tạo Bộ mới, sau một thời gian ngắn đình bản để chỉnh đốn hàng ngũ và chủ trương, những tác giả đó đều lớn tuổi, kể cả Thanh Tâm Tuyền cũng lớn hơn tôi 2 tuổi. Đương nhiên tôi là đứa em út trong đám, le benjamin de la troupe. Đó là thời kỳ hoang tưởng nhưng cũng là thời kỳ định hình của riêng tôi. Còn về phần cả nhóm thì có lẽ không cần phải nhìn kỹ cho lắm, người ta cũng có thể nhận ra ngay rằng chúng tôi hoàn toàn khác biệt nhau, mỗi người một bộ vị riêng tư và chúng tôi chỉ thuần nhất với nhau ở mỗi một sắc thái: muốn làm mới văn học nghệ thuật, cải đổi nhận thức thẩm mỹ. Trong những năm tháng đều tiên, những năm tháng thuyết phục, nhóm Sáng Tạo, đặc biệt là Thanh Tâm Tuyền tứ bề thọ địch mặc dù tap chí Sáng Tạo được độc giả, chủ yếu là độc giả trẻ đón nhận nồng nhiệt, càng lúc càng nồng nhiệt, người viết khí thế bừng bừng đã đành mà cả người đọc cũng vậy. Tiện đây tôi xin mở ngoặc không thể trông mong có được một nền văn học nghệ thuật đổi mới nếu như không có một lớp quần chúng sôi nổi lúc khởi đầu. Tất nhiên chẳng phải lúc nào lịch sử cũng sẵn sàng một cơ hội hào hứng. Và cái cơ hội hào hứng mà may mắn chúng tôi có được đã chẳng kéo dài bao lâu. Chiến tranh gia tăng cường độ, nới rộng địa bàn, chính tình càng lúc càng rối ren mờ mịt. Thanh Tâm Tuyền vào lính, ít lâu sau đến lượt tôi vào lính. Quần chúng lông lốc đảo điên trong cơn bão lốc mỗi ngày một hung hãn, khốc liệt. Riêng tạp chí Sáng Tạo tồn tại cho đến năm 1962 thì đình bản vĩnh viễn. Nhưng tình bạn thắm thiết giữa chúng tôi, những người đã kết hợp thành nhóm Sáng Tạo, đã chẳng chấm dứt tại đó, giấc mơ chung nối kết chúng tôi chẳng tan biến tại đó. Chắc chắn mãi mãi chúng tôi còn muốn mình là những kẻ tiền phong đi cùng những lớp người tiên phong trẻ mới. Liệu rồi trong quãng đời còn lại của chúng tôi, lịch sử có còn kịp một cơ hội hào hứng nào nữa hay không?

NMT: Anh cầm bút có chủ đích nào không? Nếu có, chủ đích đó có thay đổi tùy theo thời kỳ mà anh đã sống không?

TTY: Tất nhiên là có chủ đích. Tôi thiết nghĩ ai cầm bút cũng phải có chủ đích. Viết, theo tôi là một hành vi chung hậu khi không còn một hành vi khả thi nào khác nữa, chung hậu đến độ có thể coi như đó là mưu toan tột cùng của vô vọng cũng đúng. Vậy chủ đích của tôi là gì ư? Chủ đích của tôi cực kỳ đơn giản. Rõ rệt: nỗ lực thể hiện đến mức tối đa mà tôi có thể, bằng phương tiện chữ nghĩa tất cả những gì tôi nghe thấy được về đời sống ở nơi tôi. Và ngoài chủ đích đó ra, tôi hoàn toàn không có một vọng động một lung ảo nào khác về việc cầm bút. Thành thử chủ đích của tôi trong thể loại hành vi này trước sau vẫn không hề thay đổi dù đời sống của tôi có thay đổi, thay đổi đén cỡ nào đi nữa cũng vậy. Cũng theo chỗ tôi thiển nghĩ, tất cả việc làm của người cầm but trong tư cách nghệ sĩ chỉ là đặt, và thường khi là đặt lại những vấn đề nào đó, chớ người cầm bút không có trách vụ cũng như khả năng đưa ra những giải pháp này nọ. Nghệ thuật phát sinh từ những vấn đề trôi nổi và tự sát ở những giải pháp hình thành. Hơn nữa, điều rõ ràng ai cũng nhận thấy là ngôn ngữ như mọi hình thức nghệ thuật nào khác, vốn chỉ là một phương tiện có giới hạn, rất giới hạn. Cái nói lên của nghệ thuật không giống như cái nói lên của một logic bình thường, do đó không thể nào tường tận khúc chiết được. Nhìn chung, nghệ thuật vẫn là một thách đố nào đó giữa người làm nghệ thuật và người thưởng ngoạn nghệ thuật trong bối cảnh hằng có của một thách đố lớn lao hơn, do đó cũng hùng vĩ hơn giữa một bên là nghệ thuật và một bên là đời sống.

NMT: Anh có coi công việc làm thơ là một thiên chức cao quý hay cũng chỉ là một công việc bình thường của đời sống mỗi người?

TTY: Tôi coi công việc làm thơ là một công việc bình thường trong đời sống của tôi. Chỉ sau khi bài thơ đã thành hình là một bài thơ được đưa đến người đọc rồi lúc đó bài thơ tự nó có một thiên chức nào hay không, là hoàn toàn do chính nó, tác giả thôi không còn dính dáng gì nữa, không có quyền hạn gì nữa. Nói cách khác, thơ có thiên chức nhưng thi sĩ thì không. Đơn giản thi sĩ chỉ là người ráng làm cho được những bài thơ, những bài thơ hay.

NMT: Theo anh, thế nào là một bài thơ hay?

TTY: Giải thích thế nào là một bài thơ hay quả là một điều không thể nào làm được dù rằng người đọc có năng khiếu thưởng lãm thơ, nhận biết dễ dàng bài thơ nào là một bài thơ hay. Phù, thi chi, nan ngôn dã. Ôi thơ là điều khó nói vậy. Chắc chắn Cao Bá Quát không phải là người đầu tiên hay là người cuối cùng kêu lên như vậy. Bởi lẽ tôi nghĩ không thể có một khuôn mẫu nhất định, bất biến nào cho thơ nói chung. Thơ hay, hay theo từng bài, mỗi bài hay một cách, không bài nào giống bài nào. Do đó nếu tìm một quy định thơ hay phải như thế này, hoặc như thế kia thì một quy định như vậy, cứ tạm cho là tìm được đi, đương nhiên sẽ khiếm khuyết què quặt một cách thảm hại, sẽ khoanh vùng hạn chế một cách ngu đần phạm vi hiểu biết và thưởng lãm thơ. Trong khi đó cõi bay lượn của thơ thì vô cùng vô định. Nên cái khó khăn duy nhất, đầu tiên và cũng là cuối cùng của người đọc, đó là chính người đọc phải cố gắng thi triển trọn vẹn đôi khi vượt quá khả năng bình sinh của mình bay đuổi kịp theo cái hay thiên hình vạn trạng biến ảo khôn lường của thơ như một kỳ công phóng lượn vô song, tuyệt vời của hồn người chưa từng khứng chịu giam hãm vùi dập. Bài thơ hay không đứng đợi những người đọc nặng nhọc, bài thơ nào đứng đợi như vậy chắc chắn chẳng phải là một bài thơ hay, chẳng phải là thơ. Phần tôi nếu như có người bạn nào cứ một mực khăng khăng đòi tôi giải thích cho kỳ được thế nào là một bài thơ hay có lẽ tôi phải tạm bằng lòng với ý nghĩ rằng một bài thơ hay là bài thơ mà sau khi đã được đọc thấy rồi, bài thơ đó một cách vô thức mặc nhiên trở thành một phần hồn của người đọc. Thơ hay, thơ có hồn, và cái hồn đó của thơ không thể chỉ tồn tại ở bài thơ mà nó phải đáo nhập vào hồn của người đọc, biểu lộ trọn vẹn sinh kiếp ở nơi đó và chỉ nơi đó mà thôi. Tôi xin lỗi không thể nói được rõ ràng hơn. Khôn ngoan một chút, nói về thơ, bao giờ cũng nên xin lỗi trước.

NMT: Điều gì xảy ra để anh làm thơ, cảm hứng tức thời hay là những nung nấu lâu ngày trong tâm tưởng? Có phải thơ cũng như rượu, càng ủ lâu càng ngon…?

TTY: Làm thơ, cũng như là bất cứ thể loại nghệ thuật nào khác đương nhiên đòi hỏi trước tiên phải có cảm hứng, tia sét thần khải đánh vở khối đá câm đặc ôm giấu trong lòng viên ngọc ẩn. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, cảm hứng đó do đâu mà phát sinh, nếu chẳng phải là từ những nung nấu trường kỳ đến mức đã trở thành những ám ảnh một đời của tác giả. Bản thân tôi không tin là có thể có những cảm hứng ngẫu sinh. Dĩ nhiên bài thơ thành hình không chỉ thuần với cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó. Từ cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó đến cuối bà thơ được hoàn thành, với tôi, luôn luôn là một con đường xa vợi nhọc nhằn lắm khi tuyệt vọng ê chề vì lực bất tòng tâm. Tôi thọ nhận lời dạy của Paul Valery “Nàng thơ ban cho thi sĩ một câu thơ đầu, còn những câu thơ sau, thi sĩ phải tự tìm kiếm lấy”. Thành quả nào cũng phải là thành quả của cơ duyên, tu luyện và lao động. Một nghệ sĩ hoàn chỉnh nào cũng phải là một nghệ nhân hoàn chỉnh trước đã. Hiển nhiên quan niệm này chẳng phải là quan niệm riêng biệt của Paul Valery. Ông chỉ lặp lại một quan niệm đã có từ trước, trước cả thời của những Malherbe hay Boileau, nhằm nhắc nhở….

Tôi cũng tâm niệm lời hứa của Đỗ Phủ: “ngữ bất kinh nhân, tử bất an”. Nói không làm người sợ, chết không yên. Dường như chẳng bao giờ tôi ngừng nghỉ kiếm tìm cho dù có khổ công đến đâu một chữ đắc, cái chữ độc nhất mà không một chữ nào khác cho là tương đương hòng thay thế được. Nói cách khác tôi chỉ chịu đi qua một câu thơ, một đoạn thơ khi nào tôi hoàn toàn kiệt quệ khả năng thể hiện hay hơn, gần hơn, sống hơn điều tôi ao ước thể hiện. Nhân đây tôi cũng muốn góp phần soi sáng một điều thoạt đầu nghe có vẻ rất nghịch lý là làm việc nhọc nhằn với chữ nghĩa tuyệt nhiên không có nghĩa là kiếm tìm điên đảo những cái cầu kỳ quái dị mịt mờ biến chữ nghĩa thành diêm dúa, hợm hĩnh giảo ngụy. Bậc võ công thượng thừa không để cho thấy chỗ tuyệt tử công phu của mình. Tôi nhại lời của Lão Trang: mức cao nhất của chỗ tuyệt tử công phu xem ra chẳng khác gì với cái thoải mái hồn nhiên của kẻ chưa từng biết thế nào là thao luyện. Câu thơ hay nhất mà thi sĩ nào cũng mong mỏi làm được có lẽ là câu thơ gần gũi nhất với lời nói thông thường mà mới thoạt nghe ai cũng nhận ra ngay là thơ, không giải thích được, không diễn dịch được.

NMT: Có phải như Bạch Cư Dị đã luận:Thơm tình là gốc, chữ là ngọn, âm thanh là hoa, nghĩa là quả. Và như thế, phần nào là quan yếu nhất?

TTY: Theo tôi, nói chung, phần nào cũng quan yếu hết. Còn phân lượng, gia giảm như thế nào tùy ở mỗi bài thơ. Lời bàn ví von bóng bảy của Bạch Cư Dị nghe ra chẳng khác nào một bài giảng cách trí đầu mình chân tay về thơ. Liệu người nghe có hiểu biết thêm một chút gì về thơ không? Phần tôi thì không. Bởi đó vốn là những điều ai ai cũng biết cà rồi. Khổ quá…

Tôi có cảm tưởng là Bạch Cư Dị đứng giữa nhà xác thơ, nói về những cơ phận của tử thi thơ. Mà thơ thì nhất định không phải là một cái xác. Thơ đã chết không phải là thơ nữa. Tôi không muốn nói trái ý Bạch Cư Dị, ờ, thơ như một cái cây và tôi chỉ cảm nhận nó nguyên vẹn là một cái cây, một cái cây có sự sống của cây ở nơi tôi mà thôi.

NMT: Làm thơ có người chú trọng đến ngôn ngữ, có người lại để ý đến hình ảnh hoặc âm điệu… Phần anh, anh để ý đến điều gì nhất?

TTY: Tôi không quen phân tích như vậy. Theo tôi, câu thơ đạt, bài thơ đạt phải là một toàn khối gắn bó hữu cơ. Chữ mà dùng tới đương nhiên hội ập đông đủ, mật thiết tất cà các điều mãnh liệt tối yếu đó. Thơ nương náu chờ đợi trong ngôn ngữ, nó chính là phần huyền nhiệm của ngôn ngữ. Và thơ xuất hiện hân hoan từ cơ may mãi mãi trước sau chỉ xảy ra mỗi một lần đó thôi của những chữ tiếng hằng thất lạc nhau trong mịt mùng hoài vọng, chợt tương phùng phối kết nhau, mừng tủi điếng lặng…

NMT: Làm mới thi ca có phải là niềm băn khoăn thường hằng của thi sĩ?

TTY: Không thể nào còn được thi ca, còn được nghệ thuật nếu như không có sự làm mới thi ca, làm mới nghệ thuật. Vấn đề cần đặt ra là làm mới và làm mới như thế nào. Nghệ thuật là bóng dáng của đời sống. Đời sống biến thiên, nghệ thuật cũng biến thiên theo. Tôi thiển nghĩ nghệ thuật đạt là nghệ thuật biểu lộ được đến mức tối đa cái tưởng tính mà người làm nghệ thuật nhìn thấy được của đời sống. Và đạt được đến mức đó đương nhiên cũng là đạt được đến sự làm mới chính đáng của nghệ thuật. Người làm nghệ thuật nhìn ngắm đời sống mà tìm thấy nghệ thuật, chớ không phải nhìn ngắm nghệ thuật mà tìm thấy nghệ thuật. Tôi không tin là trong nghệ thuật lại có một phân lìa có thể nhận thức được của hình thức và nội dung. Nội dung nào có cái hình thức tương ứng đó và ngược lại, hình thức nào có cái nội dung tương ứng đó, không sai chạy đi đâu được.

NMT: Jan Skacel viết: “Thi sĩ không sáng tạo thi ca. Thi ca là một chốn nào đó ở đằng sau. Đã ở đó từ thời gian dài thật dài. Mà thi sĩ mãi miệt mài tìm kiếm. Như vậy thơ chỉ là tìm kiếm những cái đã có sẵn chứ không có tính sáng tạo”. Theo anh, có kết luận nào không? Và đó có phải là một quan niệm để làm mới thi ca không?

TTY: Dường như tôi hiểu lời của tác giả anh vừa trích đọc đó khác anh. Tôi cũng vừa nói qua là thơ nương náu chờ đợi trong ngôn ngữ. Trạng thái thơ là một trạng thái có sẵn trong tâm khảm của loài người. Vậy tại sao cuộc miệt mài tìm kiếm thơ của thi sĩ lại chẳng phải là một sự sáng tạo, một sự làm mới thi ca? Thử hỏi sự tìm kiếm nào lại chẳng là một sự sáng tạo. Hơn nữa, trong bản chất sự sáng tạo nghệ thuật là gì, nếu chẳng phải là sự tái tạo, sự dựng lại một cách chủ quan bằng những phương tiện riêng khác những cái vốn đã có sẵn trong ký ức tồn đọng từ muôn nghìn năm rồi bây giờ chợt tìm thấy lại trong đời sống?

NMT: Milan Kundura đã thắc mắc trong việc phân biệt âm điệu và vần điệu trong thơ văn xuôi và tản văn. Theo anh có khi nào một bài tản văn hoặc tùy bút lại rất giống với một bài thơ văn xuôi?

TTY: Tôi thật không hiểu là có những áng tản văn nào đó bàng bạc chất thơ, do đó nên được coi là những bài thơ văn xuôi chăng? Nếu vậy tôi sẽ không đồng ý với ông ta. Theo tôi một áng tản văn dù có chan chứa chất thơ đến đâu cũng không thể đồng hóa với một bài thơ văn xuôi được. Một bài tản văn còn có thể được diễn dịch ra trong cùng ngôn ngữ đó theo một cách thức khác mà vẫn không xuy xuyển gì giá trị của nó, nhưng với một bài thơ dù là thơ văn xuôi thì nhất định chẳng thể làm như vậy được. Bài thơ khi được diễn dịch ra tức khắc sẽ tan biến không còn là bài thơ, chính bài thơ đó nữa. Bởi lẽ một bài thơ được hình thành bằng những chữ không thể đổi khác được, nó là một toàn khối khắng khít đá vàng của những chữ hội ngộ hân hoan. Người ta cần đọc thuộc bài thơ nhưng không cần đọc thuộc áng tản văn. Cũng vì lý do đó, riêng tôi, khi đọc thơ nước ngoài qua một chuyển ngữ nào đó, tôi vẫn thích bản dịch sít sao từng chữ, từng dòng hơn là đọc một bản dịch bằng thơ cho dù bản dịch thơ dịch đó có tài tình đến đâu chăng nữa. Bài thơ dịch Phong Kiều Dạ Bạc của Tản Đà chẳng hạn, không ai không nhận là tuyệt vời, nhưng đối với tôi, dường như đó là một bài thơ riêng của Tản Đà chớ không phải là bài thơ của chính Trương Kế. Trường hợp bản chuyển kiệt tác bằng thơ Anh của Edward Fitzerald những bài thơ Rubaiyat của Omar Khayyam cũng vậy.

NMT: Triết học và thi ca là những phạm trù khác nhau. Nhưng có nhiều người làm thơ triết học. Theo anh có biên giới nào giữa thi ca và triết học không?

TTY: Có một loại thơ gọi là thơ triết học sao?

NMT: Anh theo học chương trình Pháp từ trung học. Và chắc quen thuộc với những nhà thơ Tây Phương. Như vậy tự nhìn ngắm mình anh thấy có những ảnh hưởng nào?

TTY: Tôi đẽ học hỏi được rất nhiều thứ nơi những nhà thơ Tây Phương thuộc mọi trường phái, khuynh hướng kể cả những nhà thơ mà vì những duyên do nào đó khác nhau tôi đã chẳng thâm nhập được. Tôi không đặc biệt yêu mến một nhà thơ nào nhất định bởi lẽ ở một giai đoạn của đời tôi, tôi lại phát hiện, yêu mến một hay những nhà thơ nào đó. Có rất nhiều nhà thơ tôi đã trở lại nhiều lần và mỗi lần trở lại, tôi đều khám phá thêm những điều mới lạ ở nơi họ và cả ở nơi tôi. Tôi nghĩ một tác giả lớn là một tác giả mà người đọc sau bao nhiêu biến thiên của đời mình vẫn bị réo gọi phải trở lại và sẽ chẳng bao giờ múc cạn được tác giả đó. Một tác giả lớn bao giờ cũng vô hạn. Nói chung tôi đã chịu nhiều ảnh hưởng của thi ca Tây Phương. Nhưng ảnh hưởng như thế nào, đến mức nào thì quả tình tôi chẳng thể nhận biết thấu đáo được. Có lẽ tôi nên mượn câu hỏi này của anh mà đặt lại với anh, nhờ anh giải đáp giúp. Cùng lắm tôi cũng chỉ có thể nói là kinh nghiệm thi ca Tây Phương phần nào đã củng cố cho tôi niềm tin trong nỗ lực tăng cường khả năng chuyển vận của thi ca, cái khả năng mà tôi cảm thấy là còn bị hạn chế rất nhiều nơi thi ca Việt Nam nói riêng và Đông Phương nói chung

NMT: Anh có đọc Đường Thi và Tống Thi không? ảnh hưởng của hai thời kỳ thi ca này đối với anh như thế nào?

TTY: Có một thời gian khá dài, tôi đã mày mò tự học chữ Hán để đọc thơ Trung Hoa. Chẳng những tôi ngưỡng mộ một số đông đảo những thi sĩ đời Đường cùng một số ít hơn những thi sĩ đời Tống, Tô Đông Pha, Vương An Thạch, Lục Du, Tần Khí Tật,… mà còn ngưỡng mộ cả những thi sĩ vô danh của Kinh Thi và xây xẩm kinh hoàng trước Khuất Nguyên. Tôi cũng có lúc yêu thích Ái Thanh, có lẽ là khuôn mặt lớn gần như duy nhất của thi ca Trung Hoa trong thế kỷ này, một nền thi ca dường như càng lúc càng khan hiếm tài năng vì tính chất tiểu xảo đè nén cầm hãm lẩn quẩn muôn đời của nó. Nhìn toàn cảnh, thi ca Trung Hoa là một thế gới rất ư diệu kỳ và cũng rất ư cách biệt. Từ những thời kỳ xa xôi, thi ca Trung Hoa tự nó đã hoàn thiện chung quyết những biên cương nghiêm nặt của nó để rồi không làm sao vượt thoát được chính nó nữa. Phải, sau những thời kỳ hoàn thiện cực kỳ rạng rỡ đó rồi, thi ca Trung Hoa hoàn toàn chẳng có được một thời kỳ hưng phấn kế tiếp nào nữa. Riêng đối với tôi, bất kỳ ở giai đoạn nào của tôi, bao giờ thi ca Trung Hoa cũng vừa quen thuộc vừa lạ lẫm và tuy tôi đã trở lại gần như thường xuyên với nó nhưng không lần nào ở lại lâu dài được với nó. Tất nhiên qua cái gia sản thi ca Việt Nam mà tôi đã thọ lãnh từ lúc còn nằm nôi, ảnh hưởng của thi ca Trung Hoa đối với tôi chắc chắn là không nhỏ. Tuy nhiên, tôi ước lượng, hay đúng hơn là tôi mong mỏi, rằng những ảnh hưởng đó đối với tôi cuối cùng cũng tương tự như những ảnh huổng nào đó của nó đối với Saint John Perse và Ezra Pound chẳng hạn.

NMT: Chiến tranh đã hiện diện trong đời sống cá nhân và thi ca của anh như thế nào? Trước năm 1975 anh là một người lính và là sĩ quan Tâm Lý Chiến. Vậy anh có tin tưởng nào về một chiến thắng không? Hay chỉ là một thái độ hoài nghi như trong thơ anh đã bàng bạc có?

TTY: Chiến tranh đã tiêu thụ gần như cả cuộc đời tôi. Cho đến những nông nỗi tù rạc, lưu vong sau này hẳn nhiên cũng là do chiến tranh mà ra. Trong gần 12 năm của tuổi trẻ, tôi đã làm một người lính, một người lính động viên nhưng không hẳn là bất đắc dĩ. Bởi khi chấp nhận vào lính, tôi chỉ tự nhủ một điều là tôi phải chia sẻ số phận của dân tộc tôi và tôi mong mỏi rằng lịch sử sẽ sang trang khi tôi vừa đi mòn một hay hai đôi giày trận. Tôi nghĩ một cách tự nhiên rằng không có lý do nào chính đáng biện minh được cho một cá nhân tìm cách thoát thân lấy một mình khỏi cái đại họa đang trùm phủ xuống tập thể mà mình trục thuộc. Nhất là khi cá nhân đó lại là người cầm bút. Do đó rất nhiều khi tôi đã tự nguyện lao mình đi giữa chiến tranh chỉ vì tôi muốn nghe thấy trên làn da và tâm khảm của mình niềm rát phỏng của đám cháy quê hương. Thật tình ngay trong cả thời kỳ đó, tôi cũng chẳng tin tưởng gì vào một chiến thắng, tôi chỉ dám hoài vọng vào một trì hoãn một sursis khả hữu nào đó cho miền Nam trong khi chờ đợi một giải pháp chính trị toàn bộ. Nhưng tâm trạng đó cũng đã không hề ngăn trở tôi thường xuyên mong mỏi như Andre1 Malraux từng mong mỏi khi tham gia vào cuộc chiến tranh chống Đức Quốc Xã: Cầu cho chiến thắng sẽ đến với những ai tham gia chiến tranh mà không hề yêu thích nó. Tôi có làm vài bài thơ về chiến tranh và những bài thơ đó thật sự chẳng nói được bao nhiêu so với những điều tôi đã thấy và muốn nói

NMT: Khi bị đối phương cầm tù, tâm trạng thực của anh ra sao? Có giống như trong những bài thơ mà sau này anh đã viết ra không?

TTY: Tôi nghĩ lại là đại để trong tù và tâm trạng trong thơ của tôi không khác nhau. Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 khi đã vào tù rồi, tôi luôn luôn tự nhắc nhở mỗi một điều là hãy coi mình như đã chết và đây chính là phần posthumor life của mình Đời ta sáng mượn ánh tàn dư/ đến từ một hành tinh đã tắt nghỉ… Tất cả mọi nỗ lực nhiều khi vượt sức bình sinh của mình trong thế giới đày đọa đó là phải làm thế nào gìn vàng giữ ngọc, đương đầu với mọi kỹ thuật thâm độc nhằm hủy diệt nhân cách như là cái phần duy nhất còn lại của những người bại trận. Kẻ có liêm sỉ không vỗ ngực mình là người anh hùng trong một hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy mà chỉ có thể hài lòng là mình đã chẳng gục mặt trước bạo quyền để phải nhục nhã về sau với bạn hữu.

NMT: Anh đã sống một thời gian khá dài ở trong nước sau 1975. Vậy anh có thể nào nói và mô tả xã hội mà anh phải sống với và những nỗi niềm ray rứt đã có trong thời gian ấy?

TTY: Nói ngắn gọn, đó không phải là một xã hội dành cho con người. Ray rứt bức xúc ghê gớm nhất là sống trong xã hội đó, liệu mình còn là con người cho đến lúc nào đây…

NMT: Nhìn lại nửa thế kỷ vừa qua, anh có nghĩ chiến tuyến Quốc Cộng vẫn còn giữa những người Việt Nam? Hay nghĩ rằng đó là chuyện quá khứ và bây giờ là hiện tại và tương lai?

TTY: Trong thâm tâm chúng ta, những con người Việt Nam, thật sự chúng ta có chút nào hài lòng về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua không? Nếu không thì tại sao chúng ta cứ phải duy trì và duy trì cho đến bao giờ cái điều mà chính chúng ta không hài lòng đó. Nghĩ như vậy không có nghĩa là chúng ta nhắm mắt làm ngơ cho bất kỳ thế lực tối tăm ngu muội nào muốn làm gì thì làm trên đất ước chúng ta. Từ hai mươi năm qua, những người Cộng sản đã toàn thắng nhưng chính sự toàn thắng đó đã hàm chứa cái mầm móng đương nhiên của sự thất bại hiện giờ và vĩnh viễn của họ. Điều tiên quyết hết sức đơn giản là chúng ta phải tách ra khỏi, trong cái nhìn của chúng ta một bên là dân tộc Việt Nam dù ở miền Bắc hay ở miền Nam, dù ở trong nước hay ngoài hải ngoại, một dân tộc từ lâu mòn mỏi kêu cầu được xót thương nhau, vỗ về nhau, tha thứ nhau, với một bên là tập đoàn Cộng sản thống trị ngăn trở. Từ đó, có thể chúng ta sẽ tìm ra được cái cách thức hữu hiệu nhất, nhẹ nhàng nhất nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ Cộng sản. Tôi đặt một hy vọng lớn lao vào những tiếng nói văn hóa.

NMT: Anh có tham vọng diễn tả nỗi niềm chung mang của thế hệ chúng ta qua những bài thơ anh viết? Như Đỗ Phủ vẽ lại một xã hội và thời thế tan nát ngày xưa?

TTY: Có. Một cách chung chung đó là tham vọng đương nhiên của bất kỳ ai cầm bút. Đỗ Phủ là nhà thơ mà tôi thường tưởng nghĩ tới.

NMT: Anh có mơ ước sẽ chen chân trên văn đàn thế giới quốc tế để nói lên nỗi niềm của con người Việt Nam không?

TTY: Hiển nhiên là có. Điều bao giờ tôi cũng muốn làm là cố gắng, qua tác phẩm của mình, biểu hiện được tâm hồn dân tộc Việt Nam, biểu hiện đến tối đa mà tôi có thể biểu hiện được. Thường tôi tự dầy vò với câu hỏi là tại sao mãi chúng ta vẫn chưa có được những tác phẩm đậm đà bề thế nói lên được những gì mà dân tộc ta phải gánh chịu cũng như những gì mà nhờ đó, dân tộc ta đã trường tồn và còn trường tồn. Bởi lẽ đứng trên bình diện văn học nghệ thuật mà xét thì một thời kỳ đại họa của một dân tộc bao giờ cũng tiên đoán một thời kỳ được mùa văn học nghệ thuật của dân tộc đó. Nên chẳng lúc nào trong lòng tôi tắt đi niềm mong ước ngày đêm đó. Và nếu như tôi chỉ còn được một niềm tin tưởng nào thì đó phải là niềm tin tưởng vào dân tộc Việt Nam.

NMT: Có người chê bai và đánh giá thấp những thi sĩ mang chính đời sống mình ra mà giải bày tâm sự. Theo anh, sự phê phán này có chính xác không?

TTY: Ai mà chê bai kỳ vậy? Cái cao thấp của một tác phẩm không ở cái đề tài được xử dụng mà là ở cái cách thức diễn đạt cùng những tình ý được diễn đạt chung quanh hay đằng sau cái đề tài đó. Hơn nữa, nghệ thuật xuất phát từ cái riêng lẻ. Nói đến nghệ thuật tức là nói đến cái chủ quan. Tại sao cứ phải áp đặt một cách nghiệt ngã như vậy những thể loại đề tài?

NMT: Trong thơ anh có tình yêu không?

TTY: Anh thấy có không?

NMT: Khuôn dáng người nữ khá mờ nhạt trong thơ anh. Tại sao vậy?

TTY: Tôi không rõ là tại sao. Có thể là trong những bài thơ mà tôi đã làm, tôi không chủ vào việc mô tả khuôn dáng người nữ.

NMT: Khi làm một bài thơ anh có chọn lựa thể loại lục bát, bảy chữ, tám chữ hay thơ tự do không? Hay tùy hứng không chủ đích trước?

TTY: Thuờng tôi không có chủ đích trước. Sự chọn lựa của tôi về thể thơ chủ yếu được quy định bởi tính chất của những tình ý mà tôi muốn diễn đạt.

NMT: Anh có nhận xét nào về văn học trong nước, văn học ngoài nước? Có thể có sự so sánh nào không?

TTY: Nhìn toàn cảnh, từ mấy năm nay, văn học trong nước có phần nào đổi khác; ít ra không còn bị khuôn bó trong một số những đề tài nào đó được ấn định sau này người đọc còn muốn đọc qua. Cảm tưởng chung của tôi là phần lớn những tác giả trong nước dường như có vẻ gì đó vội vội vàng vàng của những người không muốn bị trễ muộn hơn nữa cho một chuyến xe, đồng thời cũng có điều gì đó còn ấp úng, không được mạnh dạn, thoải mái cho lắm đối với chính mình. Vài ba khuôn mặt nổi lên trong những ánh đèn chính trị chiếu từ nhiều phía hơn là do chính sức sáng tự có của tài năng văn chương. Còn văn học hải ngoại thì dường như cũng có chung cái sắc mặt mất ngủ dã dượi bần thần của nỗi hồi niệm câm hãm. Tôi có cảm tưởng những tác giả hải ngoại chưa quyết định xong cho mình về một chuyến xe cần phải chọn. Số lượng phong phú sách báo văn học xuất bản tự nhiều tụ điểm văn hóa lưu vong cho thấy một chen chúc nở rộ của rất nhiều tác giả cũ có, mới có nhưng thẳng thắn mà nói, chưa có tài năng nào hay tác phẩm nào có đủ từ lực khiến cho người đọc còn đang trông chờ phải tìm kiếm đến. Giữa hai trạng thái văn học trong nước và hải ngoại, tôi nghĩ không cần và cũng không thể có sự so sánh.

NMT: Anh nghĩ thế nào về gioa lưu văn hóa giữa trong nước và hải ngoại.? Vào thời điểm bây giờ? Và trong tương lai?

TTY: Lý ra ta không cần phải đặt ra vấn đề giao lưu văn hóa bởi lẽ chuyện văn hóa giao lưu nhau vốn là chuyện đương nhiên phải như vậy. Ngăn sông cấm chợ văn hóa là một việc làm bỉ ổi của những quyền lực sợ hãi dù rằng nó có nhân danh một thứ gì cho là cao quý đến mấy đi nữa. Ờ, tại sao người Việt Nam trong nước lại không được đọc tác phẩm của những tác giả Việt Nam ở hải ngoại?

NMT: Những dự trù văn chương của anh?

TTY: Viết, viết, viết và viết…

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn: Báo Việt Luận Úc Châu – http://vietluan.com.au/to-thuy-yen-chan-dung-muon-doi-thi-si/

Tháng Bảy Đâu Còn Thấy Mưa Ngâu. Thơ Hư Vô


Buồn đến nổi thèm nghe em khóc
Cho tận cùng dấu tích quạnh hiu
Tôi như tháng bảy chờ mưa tới
Dòng tóc em buông ướt lưng chiều.

Để nghe mưa chạm vào nhan sắc
Đôi mắt buồn ai biết lẻ loi
Giọt lệ ngày xưa còn đắm đuối
Lăn vào tan tác giấc mơ tôi.

Tựa ngọn sóng dội trong lòng đá
Biển cả nào mà không bấp bênh
Em như vạt lụa đang bay thấp
Bắc ngang qua những nỗi gập ghềnh.

Nhưng đã gãy nhịp cầu Ô-Thước
Tháng bảy đâu còn thấy mưa Ngâu
Bên kia biển làm sao em biết
Hồn đá xanh xao đã bạc đầu!

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 348


BÊN ĐỜI EM CÒN CÓ ANH

Dù là đời này hay đời nữa
Bên em vẫn còn có bóng anh
Lặng nghe cho hết lời to nhỏ
Anh thì thầm trong giấc tàn canh.

Có xa mấy biển thì cũng đã
Làm sao chạy ra khỏi nợ nần
Kiếp trước chắc gì không lận đận
Đời này mới được gọi tình nhân.

Em hãy ân cần mà cất giữ
Những lần say đắm rất riêng tư
Thì em có buồn đêm lạ chỗ
Sẽ thấy anh về trong giấc mơ.

Để nối lại khúc đời lỡ dở
Lệ chực chờ nhỏ xuống môi em
Cho mặn thêm những ngày tình cũ
Dù chỉ là một giấc ngủ quên…

Hư Vô

TÔI MANG HỒ GƯƠM ĐI

Sao Hồ Gươm biết tôi chia xa?
Mà run cho mọi bóng cây nhòa
Mà im im hết nghìn tăm cá
Mà thở chiều lên khắp cỏ hoa?

Gió níu hoàng hôn xuống đáy tranh
Lá rụng, trời xao động cổ thành
Đổi dòng, sông gửi hồn ngưng đọng
Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh

Tôi muốn mang hồ đi trú đông
Mà không khiêng vác được sông Hồng
Mà không gói nổi heo may rét
Đành để hồ cho gió bấc trông!

Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây?
Mà thương ôm bóng kẻ lưu đầy
Mà lau đôi mắt tôi bằng sóng
Mà cả trời kia xuống hết cây…

Trần Mạnh Hảo

SAY TRĂNG

Chìm trong đáy cốc trăng in dấu
Nửa mảnh lụi tàn vùi bóng đêm
Người ở nơi đâu nhìn có thấu
Nỗi sầu vời vợi cố tìm quên

Rót rượu mời trăng , trăng uống cạn
Say ư! trăng cũng gật gù say
Chở bao nhiêu rượu đời thêm nặng
Ta nốc ly đầy nuốt đắng cay

Đêm say cũng muốn làm thi sĩ
Thao thức tiếng lòng gọi ước mơ
Trời đất ngả nghiêng hương rượu quý
Uống đi chớ vội thả vần thơ

Đêm nay nào biết ai tri kỷ
Cùng uống để vơi men rượu tình
Ta gánh vui buồn say bí tỉ
Thương mình trôi giạt kiếp phù sinh

Ninh Tran

KHÓI SƯƠNG

Người đến bên em chiều hôm ấy,
Ánh mắt buồn, điếu thuốc trên tay ..
Đâu phải vô tình không hò hẹn,
Khói sương nào làm mắt em cay?

Bao tờ lịch, đêm dài nhớ mãi,
Dọc ngang đen đỏ cứa tim đau.
Một đời anh – đi mãi nơi nào?
Cho cả đời em mãi lao đao..

Chiều Khoa Học hàng cây ngơ ngác,
Anh nói rằng kiếp trước gặp em.
Không còn nợ, kiếp này tay trắng,
Như vầng trăng, khuyết mãi hồn em …

Tình đã khô, mực chẳng còn lem,
Chút ân cần gói ghém tình đau,
Như vết cắt ngàn năm dang dở,
Khói sương này nhớ thuở bên nhau ..

trầnthịminhchâu

ĐÀ LẠT MƯA CHIỀU DIỄM XƯA

Nhìn em đứng ngoài hiên mưa
Dáng liễu gầy buồn diễm xưa
Đà Lạt mưa phùn phố núi
Yêu Em biết mấy cho vừa!

Thuở ấy tóc xanh sầu mộng
Hồn anh trong trắng yêu Em
Giọt mưa lung linh hình bóng
Dáng Em khép nếp…tóc huyền…

Vàng Son … Khung trời Đại Học
Mưa bay trong nắng hoa lay
Hồn anh tựa mưa len tóc
Giọt thương giọt nhớ bàn tay…

Chiều nay! Mưa chiều diễm xưa
Nhìn em đứng ngoài hiên mưa
Anh giờ mùa thu tóc trắng
Yêu em cho đến bao giờ!

Anh yêu Em như rừng thông
Vòng tay ôm mưa vào lòng
Tình yêu anh như thác lũ
Như cỏ hoa hương thơm nồng.

Ôi! Yêu Em cả một đời
Cầm bằng như giọt mưa rơi
Em ơi! Đà Lạt phố núi
Yêu Em cho đến muôn đời!

Trần Thoại Nguyên

TIỄN ĐƯA

Ta về qua chốn đó
Vàng rụng lá mùa xưa
Ngập ngừng chân bước khẽ
Buồn nào hơn tiễn đưa

Hồn chìm trong khoảng lặng
Đánh rơi kỷ niệm buồn
Vầng trăng giờ cô quạnh
Vườn cũ cũng mờ sương

Mây bay hoài viễn xứ
Biền biệt một nhánh sông
Mùa đi không trở lại
Con nước mãi xuôi dòng

Buông tay cơn huyễn mộng
Ta nép bên dốc đời
Cuộc người là hư ảo
Ngày xưa … Ngày xưa ơi!

BT Áo Tím

ĐỨNG LẶNG TRONG MÂY MỘT CÁNH DIỀU

Đứng lặng trong mây một cánh diều
Câu này, ai nói hở em yêu?
Chiều nay, trời lặng, êm ru gió
Ai thả kìa em, một cánh diều…

Em ngước nhìn anh. Em lặng lẽ
Làm sao em biết nhỉ thơ ai?
Câu thơ mộc mạc như tre núi
Sao tự dưng anh muốn nối dài!

Anh muốn giấu em niềm thổn thức
Khi không mà nhớ lại thơ xưa!
Nhớ hồi còn nhỏ, Thầy la mắng:
Không thuộc bài không phải học trò!

Em ạ…hồi xưa học thuộc lòng
Thơ dài như thể một con sông
Anh không bơi hết con sông được
Chỉ đọc bâng quơ, nhớ một dòng…

Đứng lặng trong mây một cánh diều
Đó là, gặp lúc anh buồn hiu
Nhớ cơm Mẹ đợi con tan học
Mới được tung tăng giỡn hết chiều…

Bây giờ, câu đó…trong tiềm thức
Là cả Quê Hương hiển hiện về
Đất Nước đã yên, đời tản lạc
Diều trôi nước mắt kẻ xa quê!

Đứng lặng, chiều nay, nói với em
Một thời thơ ấu, nhớ-không-quên
Để em lẳng lặng, rồi ngơ ngác
Thương quá, lúc nhìn em ngước lên…

Là thôi, nước mắt em không chảy
Anh chỉ se lòng một chút thôi!
Bàng Bá Lân ơi, ông thức dậy
Đọc thơ tôi, chắc mỉm môi cười?

Trần Vấn Lệ

THẤT LẠC

anh lạc mất em từ dạo
mưa chưa gặp nắng lỡ làng
mù sương lạc chiều mây ảo
gió cuồng lạc núi mê hoang

quẩn quanh bến đời giông bão
tình yêu như cuộc trốn tìm
trắng tay giữa đời cơm áo
tình nhòa úa cuộc phù sinh

theo chân đời nhau bất hạnh
anh ngồi mơ một vầng trăng
chỉ mù sương mờ bãi vắng
rừng thưa lá rụng lìa cành

thất lạc cả nghìn mơ ước
anh giờ ngồi với mây trôi
có khi một đời xuôi ngược
chỉ mong vớt ánh sao trời

bóng đêm cuộn dần ký ức
anh về với những chiều phai
nỗi buồn nhiều khi rất thực
bủa vây trong giấc mơ dài

thì anh cả đời thất lạc
cả em cũng mất nhau rồi
nhiều khi bên đời ngơ ngác
anh quờ tìm bóng anh thôi…..

nguyễn minh phúc

Cũng Còn Chỗ Nương Thân. Thơ Hư Vô.


Vuốt cho dài sợi tóc
Cột chặt nhau nợ nần
Có lao đao lận đận
Cũng còn chỗ nương thân.

Chạy đâu qua khỏi nắng
Sống chết cũng ở gần
Tôi có phần có phước
Được em làm tình nhân.

Biển mênh mông mà ngắn
Cho dòng tóc em dài
Tôi bơi hoài bơi mãi
Chưa ra khỏi trần ai.

Mà dẫu có đời nữa
Cũng một chỗ đi về
Tim tôi là cửa nẻo
Mở em vào bến mê.

Nếu không là định số
Đâu gặp nhau kiếp này
Thì phong ba bão tố
Tôi cũng còn ở đây.

Nối cho dài sợi tóc
Cột mối gút sau cùng
Tựa nhau vào trời đất
Về kịp lần đi chung…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 347


QUÁN KHÔNG

Những giọt cà phê em pha đắng
Đêm nay lại thức trắng nữa rồi
Thêm một hạt đường em còn tiếc
Để tôi biết ngọt giữa môi người!

Em ngồi che bóng trăng vào tóc
Khuấy cho sóng sánh nét xuân thì
Uống đêm chưa cạn hương 16
Mà buồn như đã tới đáy ly.

Một đóa dã quỳ ai đánh rớt
Nằm phơi lăn lóc lối tình nhân
Tôi biết ngày mai em sẽ khóc
Cho người khách lạ tưởng chưa thân.

Em có quay lưng vào hướng khác
Cũng đâu giấu nổi một mùi hương
Tôi nhấp cạn cùng em chiếc bóng
Hồn còn lãng đãng giữa quán không…

Hư Vô

NGÀY CỦA MỘT NGƯỜI HƯU TRÍ

Suốt ngày ở nhà như một quản gia
Quản gia chỉ là kẻ trông nhà
Mà nhà chẳng có gì để mất
Chỉ sợ mất mình như kẻ vong gia.

Cứ việc trông nhà nên ngày cứ dài ra
Mà trí tuệ mỗi ngày một vắn
Có đôi việc muốn làm không làm được
Mới hiểu rằng lực bất tòng tâm.

Thế mà bên đời vẫn đó là em
Vẫn nhắc nhở trái tim đừng ngưng nhịp
Khi về hưu là hiểu mình sức kiệt
Là muôn chiều lá rụng rắc đầy hiên.

Khi một mình ngồi xuống đứng lên
Nghe đó đây có chút gì thừa, thiếu…
Nhân ngãi đã một đời không thể hiểu
Thì nhân tình chỉ mỗi mình em.

Đức Phổ

MƯA THÁNG SÁU

Xin gửi về đây mưa tháng sáu
Cho chiều nhạt nắng phủ màu mây
Bầy chim xoải cánh tìm nương náu
Gọi thức rừng cây lá rụng đầy

Chạnh nhớ mùa xưa -mưa tháng sáu
Nồng nàn hơi ấm một vòng tay
Bình yên…mặc đất trời giông bão
Đêm đã dài thêm, mộng thật đầy …

Tháng sáu nơi này trời rét mướt
Ôm vào cái giá lạnh mùa đông
Chẳng có mưa rơi-môi vẫn ướt
Giọt lệ lòng thả xuống hư không

Tháng sáu mùa đông buồn hiu hắt
Cành cây khô héo nhớ mùa xanh
Một thoáng mưa về rơi khóe mắt
Một thoáng se lòng, một thoáng …Anh

Mực Trắng

BÀI THƠ TẶNG MẸ

Mẹ ơi yêu dấu vô vàn,
Hôm nay còn mẹ như ngàn hồng ân,
Bao nhiêu đôi dép mòn chân,
Mẹ tôi vất vả nuôi đàn con thơ.

Vòng tay ấp ủ mẹ ơi,
Bao la tình mẹ cả đời cho con.
Mẹ tôi tóc rụng răng long,
Con nhìn mắt mẹ đầy lòng thương yêu.

Chúng con hạnh phúc thật nhiều,
Còn nghe tiếng mẹ như chiều ngày xưa.
Mẹ ru con ngủ buổi trưa,
Bây giờ ru mẹ,nghe mưa trong hồn..

18/06/2019
trầnthịminhchâu

QUÊ MẠ

Lăng lắc rồi…nhớ làm sao quê mạ
Hoa mướp vàng lóng lánh nắng mật ong
Con bướm đậu vào hồn thơ ấu cũ
Hương bưởi thơm rưng rức tuổi yêu đầu…

Giờ đi xa, thức kỷ niệm xôn xao
Để rưng rưng tiếc cái thời mới lớn
Chơi Bịt Mắt…trong đống rơm hơn hớn
Anh té vào cứ ngỡ thuộc về nhau…

Trăng đầu làng vằng vặc đến nôn nao
Hương bồ kết ai gội đầu thơm lựng
Đấy ,chính là hương thời gian vô lượng
Cứ theo người ngai ngái ở bên sông…

Khói lam chiều vương mắt chị thương mong
Dấu chân người tình đầu non ngậm ngải
Lời ru mạ đi qua thời giông bão
Vân Thê ơi! Còn ngon ngọt se lòng!

Đi đâu rồi tôi vẫn cứ thèm hong
Chút hương xưa, để quên đời du thủ…
Và quê cha, chưa về là đắc tội
Trăm lần, mình đâu phải đứa con hoang?

Trần Dzạ Lữ

THẦN KINH THƯƠNG NHỚ..

Một lần trầm tư với Huế
Mà thương nhớ đất Thần Kinh
Phế tích rêu mờ Cửu Đỉnh
Lòng tôi trên ấy nguyên xanh..

Áo tím theo ngày biền biệt
Nhớ nhau mấy nhịp Trường Tiền
Em gửi lên chiều Thiên Mụ
Hồi chuông đọng chút tình riêng..

Khâm Thiên Giám Đường lối cũ
Đường qua Đại Nội chia xa
Biết có còn nhau.tiển biệt
Buồn tôi ký gửi Đông Ba..

Tôi cất vào đêm nỗi Huế
Dòng Hương vẳng tiếng gọi đò
Điệu Lý mười thương tơ lụa
Quàng vào ký ức thơm tho..

Trăng vẫn còn thương tiếc nguyệt
Soi vàng góc phố.đêm xưa
Vân Lâu gác sầu qua bến
Người về gửi gió cho mưa..

Lạc bước qua miền lá cỏ
Thầm thương mắt Huế trông theo
May có còn em để nhớ
Ngàn thu áo tím. Tôi chờ..

Trung Chinh Ho

CHIỀU SƯƠNG KHÓI TOẢ

Với người, tôi nghĩ là hoa
với hoa, tôi nghĩ người là núi sông!
Quê Hương! Ôi đẹp vô cùng
câu thơ cẩm tú tôi lồng trong tranh…

Với người tôi thấy Xuân xanh
với Xuân, tôi thấy người hình bóng xưa
bao giờ tôi hết mộng mơ
khi người hiển lộng từng tờ Hoa Tiên?

Với người tôi dễ chi quên
Quê Hương cũng vậy, là niềm mến yêu
một mai tôi bắc phù kiều
nối Non Nước cũ tôi dìu người đi…

Với người không muốn chia ly
mà chia ly, nghĩ tới thì buồn thôi
Quê Hương chìm mất đâu rồi?
chiều sương khói toả, ôi người khói sương!

Trần Vấn Lệ

MÀU TRĂNG

Trăng lại về treo trên mái phố
Treo ngang đêm quạnh một nỗi buồn
Từng mùa trăng qua theo tiếng vó
Dấu ngựa đường xưa đẫm hơi sương!

Em biết là trăng đâu có tuổi
Nên ngàn năm đâu thấy trăng già
Chỉ có màu trăng là thay đổi
Thời gian vời vợi chảy qua ta!

Bàng bạc một màu trăng mười sáu
Giữa trời vành vạnh bóng trăng treo
Ta mong tìm lại màu trăng cũ
Hồn ta và trời đất trong veo!

Thôi đã qua mùa trăng diễm tuyệt
Sương thu giờ nhuộm mái đầu nhau
Mười sáu trăng đầy rồi trăng khuyết
Vầng trăng ngày cũ cũng phai màu!

Nguyễn Sông Trẹm

BÓNG NÚI

Chị đứng tựa lưng vào vách núi
Thương em xa mấy độ hoa vàng
Những sớm thu về mây trắng gội
Quê nhà ăm ắp nỗi chờ mong.

Thương con chim nhỏ trên đồi vắng
Khản giọng vì chiu chít gọi bầy
Một hôm cánh mỏng sa chiều lạnh
Chim đã tuyệt mù không đến đây.

Thương con suối chảy bên triền dốc
Lặng thầm mang nước đổ về xuôi
Róc rách theo sông về với biển
Chẳng sá trăm năm chuyện lở bồi.

Chị thương sắc tím loài hoa dại
Sắc buồn phơn phớt nỗi từ ly
Bao năm oan khuất vì mưa nắng
Vẫn đứng kiên gan giữa đất trời.

Thương em đã mấy mùa dâu bể
Hiu hắt tàn đêm nỗi nhớ nhà
Chị thương thân chị nơi đầu gió
Chong đèn ngồi đợi buổi can qua.

Thì thôi đất khách đời phiêu bạt
Còn tiếc thân chi nỗi mất còn
Chị vẫn tựa lưng bên vách núi
Bời bời một nỗi giữa càn khôn.

Châu Ly

Đọc Lại Thơ Tuệ Sĩ. Nguyễn Mộng Giác


Nguyễn Mộng Giác

Hòa thượng Thích Tuệ Sĩ

Cuối năm 1988, khi tin hai vị tu sĩ Phật giáo Trí Siêu (Lê Mạnh Thát) và Tuệ Sỹ bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam kêu án tử hình truyền ra hải ngoại, nhiều người mới tò mò tìm đọc những gì hai vị này đã viết. Họ tìm thấy những bài khảo cứu văn sử học của Lê Mạnh Thát, và những tùy bút đầy chất thơ phiêu bồng của Tuệ Sỹ.

Rất nhiều người đã ngạc nhiên. Dường như không có gì gần gũi giữa những bài khảo cứu khô khan, những bài thơ “viễn mộng” với những hoạt động chính trị nhằm lật đổ một chế độ chuyên chế, chưa nói tới những hoạt động nguy hiểm đến độ chính quyền phải lập tòa án đặc biệt và kêu án tử hình.

Hồi đó, báo chí đã cho đăng tải một số thơ cũ và mới của Tuệ Sỹ.

Bài “Tôi Vẫn Đợi” dưới đây là bài Tuệ Sỹ mới làm sau này, có lẽ lúc đang bị giam chờ ngày ra tòa:

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái bình dương
Người ở lại với bàn tay bạo Chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Thú thật đọc xong bài thơ này, cảm tưởng ban đầu của tôi là hơi hụt hẫng, thất vọng.

Thơ của một người tử tù đây ư? Không nói ra, nhưng lâu nay tôi vẫn giữ một định kiến hoặc một ước lệ về thể loại thơ tù.

Ước lệ về khung cảnh thơ:
song sắt, vách ngục, máu tra tấn, thân còm cõi…

Ước lệ về không khí thơ:
u uất, phẫn nộ, khinh mạn, oán hờn…

Định kiến về nhân cách người thơ:
cao ngạo, bất khuất, quắc mắt mà nhìn kẻ đưa mình ra pháp trường, uy vũ kềm kẹp không làm cho run sợ.

Và định kiến về dự phóng cho tương lai:
ngục tù không ngăn được diễn tiến tất yếu của lịch sử, thân tù đơn độc nhỏ nhoi dù bị hủy diệt cũng không ngăn được những con người bất khuất khác noi gương tiếp nối…

Thơ người tử tù phải là một sứ điệp rõ ràng làm cương lĩnh cho hành động. Đem bao nhiêu cái khuôn thước có sẵn trên đây mà so với bài thơ Tuệ Sỹ, tôi bị hụt hẫng hoang mang là phải!

Tôi đã dựa vào những khuôn thước trí tuệ thông tục mà đọc bài thơ, và cố tìm hiểu sứ điệp ẩn giấu sau mười sáu câu thơ tám chữ.

Trước hết là khuôn thước thời gian. Nếu căn cứ vào tiêu chuẩn này, bài thơ được phân làm hai phần: phần dự phóng tương lai của ba đoạn thơ đầu, bắt đầu bằng các chữ Tôi vẫn đợi: phần trở lại thực tại tù tội ở bốn câu cuối bắt đầu bằng ba chữ Rồi trước mắt.

Nếu chia bài thơ ra hai phần như vậy, thì ý nghĩa của bài thơ tù đượm chất bi quan, như con hổ bị giam trong cũi sắt nhớ tiếc và mơ tưởng núi rừng thung lũng mênh mông của những ngày tự do.

Ba đoạn thơ đầu là những dấu hỏi dành cho tương lai, mở ra những khả thể để đến đoạn cuối là một dấu than đột ngột tàn nhẫn, như một giọt lệ rỏ lên mọi hy vọng, chấm dứt mọi khả thể.

Một số bài thơ của Cao Bá Quát (cũng là một tử tù) được làm theo dạng này, gần gũi nhất là bài Quá Dục Thúy Sơn (Qua núi Dục Thúy) dưới đây:

Thiên địa hữu tư sơn
Vạn cổ hữu tư tự
Phong cảnh dĩ kỳ tuyệt
Nhi ngã diệc lai thử
Ngã dục đăng cao sầm
Hạo ca ký vân thủy
Hữu ước nải vi tư
Phàm sự đại đô nhĩ

Trời đất có núi ấy .
Muôn thuở có chùa này
Phong cảnh đã kỳ tuyệt
Lại thêm ta đến đây
Ta muốn lên đỉnh núi
Hát vang gửi nước mây
Ao ước mà không được
Việc đời thường như vầy.

(Ngô Lập Chi dịch)

Tuệ Sỹ từ ô cửa ngục gửi ra cho nhân gian những tiếng thở dài hay sao?

Tôi đã kiểm chứng cách hiểu ban đầu của mình bằng cách đọc lại lần nữa toàn bài thơ, và bớt chú tâm đến những mốc thời gian mở đầu các tiểu đoạn.

Tôi không tìm thấy những tiếng thở dài. Không có cả những lời than van. Thoang thoảng đâu đó, khi rõ rệt, khi mơ hồ, tôi có cảm tưởng đang nghe một tiếng võng đưa, hoặc những lời mẹ ru con dìu dặt, mơn trớn, vỗ về. Có cái gì rộng rinh không thể gói trọn bằng ngôn ngữ hoặc ý niệm cụ thể.

Tôi bắt đầu ngờ vực cách phân định thời gian rành mạch ban đầu, và thử tìm đọc bài Tôi Vẫn Đợi theo một cách khác.

Chẳng hạn thử tìm hiểu ý nghĩa của màu sắc và âm thanh.

Nếu như vậy, mỗi đoạn thơ bốn câu tự nó đã mang đủ một sứ điệp trọn vẹn, không còn cần đến cả bài.

Xin đọc lại đoạn thơ đầu:

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng.

Đúng là một tập hợp của những thi ảnh phức tạp (đôi khi mâu thuẫn nhau) với những nối kết lỏng lẻo, mờ nhạt, nhưng vẫn lập thành một khối thống nhất nhờ liên hệ văn phạm và vần điệu hợp nhất một cách bình thường.
Câu thứ nhất nói đến màu xanh của đêm, câu thứ hai giải thích thêm một ẩn ngữ (màu xanh trong tiếng khóc ven rừng).

Ẩn ngữ này tưởng lại được giải thích trong câu thứ ba (màu xanh trong tiếng khóc, trong bóng tối hận thù) nhưng không, đó chỉ là một liên hệ giả. Những thi ảnh của hai câu thơ đầu được lặp lại ở hai câu sau (khắc khoải ố tha thiết, tiếng khóc ố rưng rưng), thêm vào đó, chữ trong khiến chúng ta có cảm tưởng như hai câu sau là phụ ý chuyển của hai câu trước.

Thật sự không phải vậy. Hai câu sau bay bổng lên một vũ trụ khác, cất cánh khỏi những hệ lụy nhân gian, những ti tiện của tranh chấp và thù hận, để đạt đến một cõi sáng láng hơn, cao cả hơn, mà biểu trưng là một ánh sao, một nụ cười. Bốn câu thơ di chuyển theo chiều cao, từ bậc thấp của những tranh chấp ti tiện đớn đau đến bậc cao của thức tỉnh giác ngộ.

Đoạn thơ thứ nhì:

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Được thừa hưởng tinh chất của đoạn thứ nhất nên sự chuyển hóa đơn giản hơn, không quá rối rắm mâu thuẫn hoặc quằn quại vươn mình lên như ý thơ của đoạn thứ nhất.

Thơ đoạn này di chuyển theo chiều rộng và cũng bắt đầu bằng một màu sắc:
màu đêm đen.

Bố trí văn phạm của đoạn thơ thứ nhì cũng giống y như đoạn thơ trước, câu sau luôn giữ nhiệm vụ giải thích một chữ quan trọng của câu trước (đêm đen trong câu 5 và màu đen của câu 6, ánh mắt của câu 6 và nhìn hun hút của câu 7, dài thêm lịch sử của câu 7 và dài con sông của câu.

Từ màu đêm đen, Tuệ Sỹ không gợi nhớ màu đêm u tối của sinh lão bệnh tử mà gợi ra màu đen của một ánh mắt. Phải rồi, tất cả cuộc đời bắt đầu bằng một cái nhìn, một lối nhìn. Có những cái nhìn chìm đắm chết đuối vào sắc tướng, có những cái nhìn thấu suốt được chân lý của cuộc sinh hóa. Thơ di chuyển theo chiều rộng của thời gian, thơ nhìn ra được diễn tiến của cuộc đời tự ngàn xưa, nhìn ra được cốt tủy mọi biến động của lịch sử cũng như thấu hiểu do đâu có cảnh núi xương sông máu trên quê hương thân yêu. Ánh mắt người tử tù không dừng lại ở những phẫn nộ oán hờn tầm thường và ước vọng dung tục. Ánh mắt đó vượt ra ngoài, vượt lên trên mọi thứ song sắt, vách ngục, kể cả song sắt vách ngục của mê chấp.

Sức chuyển biến của thơ, sức thăng hoa của ý đến cuối Câu thơ thứ tám như vậy là đã đến đỉnh chót của nó, đáng lý sau câu thứ tám, Tuệ Sỹ có thể dừng lại, không cần phải viết thêm gì nữa. Trong ngục tối, nhà thơ sống với màu xanh xao của chút ánh sáng lọt qua cửa ngục và màu đen mênh mông, từ đó làm chất liệu khởi thủy của sáng tạo và suy tưởng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng người tử tù còn cảm nhận được sự sống của thế giới bằng những tiếng động bên ngoài. Hai đoạn thơ sau của Tuệ Sỹ là một hành trình khác, khởi đầu không bằng màu sắc mà bằng âm thanh.

Xin đọc lại cả hai đoạn cuối:

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái bình dương
Người ở lại với bàn tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Tôi vừa viết xuống hai chữ khởi đầu. Thật ra, viết như vậy chưa đúng lắm, vì Tuệ Sỹ không làm một bài thơ khác mà chỉ chuyển hóa lối sử dụng hình ảnh cho thơ. Do đó, bố cục văn phạm của đoạn thơ thứ ba vẫn giữ y như lối bố cục của hai đoạn thơ trước, còn ý thơ thì cũng tiếp nhận sức thăng hoa của phần trên để nói lên một ước vọng mà mới đọc qua, chúng ta tưởng là nghịch lý. Ước vọng được quên, quên hết.

Quên những tiếng sóng vỗ của cảnh đời bão nổi ngoài kia, những đợt sóng tàn bạo khiến nhà thơ phải xắn tay áo nâu lên thử giăng một cánh buồm, từ đó đưa đến cảnh tù tội gông cùm hiện tại. Quên thân phận bèo bọt của hàng triệu người phải đành đoạn liều chết vượt biển tìm tự do. Quên cả những cọng lau gầy oằn vai chịu đựng những bạo tàn từ tay bạo chúa của hơn bảy mươi triệu người ở lại.

Tất cả những điều tưởng là nghịch lý ấy được Tuệ Sỹ giải thích ở đoạn thơ cuối bằng một hình ảnh, bằng một âm thanh hết sức biểu trưng : tiếng gõ nhẹ của ngón tay lên tường rêu lạnh của ngục tối.

Nó biểu trưng vì đó là một thứ âm thanh lặng lẽ, hoàn toàn trái ngược với tiếng sóng vỗ cuồng nộ ồn ào bên kia vách ngục.

Ngón tay ốm o yếu ớt của một tử tù thân bé bỏng lại gõ vào một vách ngục rêu bám, thì chắc chắn không tạo ra được tiếng dội nào lớn lao. Cho những bạn tù cùng khu biệt giam. Cho những tên cai ngục. Huống gì là cho những người không ở vào cảnh tù tội.

Đó không phải là loại âm thanh dành cho thính giác, mà là âm thanh dành cho tri giác, tuệ giác. Âm thanh đó, tiếng gõ nhịp đó không phải do sức mạnh của bắp thịt, của bạo động nhằm xô ngã tường rêu phá đổ nhà ngục, nhưng lại có một sức mạnh tinh thần lớn lao để đưa con người vượt lên trên mọi thứ ngục tù: sức mạnh của giác ngộ, của tỉnh thức.

Hai câu thơ cuối khép lại một thế giới huyễn mộng mê chấp, và mở ra một thế giới mới:

Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Vẫn còn một câu hỏi lớn:

Ý thức được cái sương mai, cái bóng chớp của nhân sinh đã đủ để ngăn bàn tay bạo chúa và làm cho dòng sông quê cha thôi tràn máu lệ hay chưa?

Đây là câu hỏi nhức nhối thường xuyên ám ảnh Phật tử mỗi lần họ phải đối diện những đàn áp bất công của xã hội họ đang sống. Mỗi lần như vậy, Phật tử vẫn thường nhắc tới khuôn mẫu sống hài hòa giữa đạo và đời của các tu sĩ Phật giáo thời Lý, Trần, dù biết cách tổ chức xã hội thời xa xưa đó khác với bây giờ.

Bài thơ của Tuệ Sỹ nhắc tôi nhớ tới câu hỏi nhức nhối này, vì Tuệ Sỹ là một tu sĩ Phật giáo “đi vào cuộc đời”, một Phật tử hành động. Chắc chắn Tuệ Sỹ đã ưu tư đi tìm lời đáp trước khi quyết định hành động chống lại chế độ Cộng sản. Và suốt thời gian bị giam cầm, Tuệ Sỹ còn có nhiều thì giờ và điều kiện hơn để suy nghĩ về câu trả lời. Vậy mà sứ điệp Tuệ Sỹ gửi ra ngoài cửa ngục dường như thiếu hẳn chất thực tế. Bài thơ không hề là một lời tố cáo đầy phẫn nộ, lại không phải là một bài hịch. Không phải là một tiếng sấm.

Ngược lại, như tôi đã so sánh ở trên, đây là những lời ru hiền hòa, lời vỗ về của mẹ, lời thì thầm của lá, của hoa, của cây cỏ.

Không phải là mũi nhọn công phá vào vách khám mà là một làn hương tỏa lên trên, len qua kẽ ngục và tỏa rộng lên trời cao.
Vì sao vậy?

Tôi cho rằng ngay từ cốt tủy của Phật pháp, khả năng hoàn thiện con người và cuộc sống không nằm ở sức mạnh của tổ chức mà nằm ở sức giác ngộ của cá nhân. Đạo Phật không chấp nhận Cái Duy Nhất, Cái Tuyệt Đối, Cái Vĩnh Cửu, Cái Sáng Lòa soi đường cho hằng hà sa số đời sống trước sau. Ai cũng có thể trở thành Phật.

Mỗi người tự đốt đuốc lên và chọn con đường sáng láng cho mình, khỏi cần cẩn thận rón rén đi theo dấu chân của người đi trước. Mỗi người chịu trách nhiệm lấy chính số phận mình.

Mỗi người không cần phải khép nép sợ hãi trước bất cứ Thần lực thiêng liêng nào, vì nếu tỉnh thức, mỗi người chính là Thần lực thiêng liêng ấy.

Người còn vướng mắc vào những giới hạn, những chấn song của mê chấp thì thường núp vào đám đông, mong che chở của tập thể. Nhưng lúc đã thấy được chân tướng của những sương mai, bóng chớp, thì mỗi người đều có một thần lực riêng. Điều đó giải thích được tại sao vào những giai đoạn bi đát nhất của lịch sử dân tộc, Phật giáo không suy yếu theo mà ngược lại, trở thành chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ góp phần đưa dân tộc qua mọi gian truân thử thách.

Nguyễn Mộng Giác

Bên Đời Em Còn Có Anh. Thơ Hư Vô


Dù là đời này hay đời nữa
Bên em vẫn còn có bóng anh
Lặng nghe cho hết lời to nhỏ
Anh thì thầm trong giấc tàn canh.

Có xa mấy biển thì em cũng
Làm sao chạy ra khỏi nợ nần
Kiếp trước chắc gì không lận đận
Đời này mới được gặp tình nhân.

Em hãy ân cần mà cất giữ
Những lần say đắm rất riêng tư
Thì em có buồn đêm lạ chỗ
Sẽ thấy anh về trong giấc mơ.

Để nối lại khúc đời lỡ dở
Lệ chực chờ nhỏ xuống môi em
Cho mặn thêm những ngày tình cũ
Dù chỉ là một giấc ngủ quên…

Hư Vô

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: