Bạn Bè Ta Giờ Còn Mấy Đứa? Thơ Hư Vô


(Hư Vô đứng cuối cùng phía tay phải)

Cả đời không gặp tụi bây nữa
Nhớ lắm, nhưng ta ghét bọn mày
Đứa bỏ nhau đi về địa ngục
Đứa còn ở lại với thiên tai.

Đã hết thời ngông nghênh ngang ngược
Chọc trời, khuấy nước chẳng màn chi
Quậy phá mềm môi vài ba xị
Say rồi ta thả cửa đập ly.

Một cõi buồn hiu nơi xứ lạ
Tìm đâu ra cô chủ quán xưa
La làng một tiếng cho đã khát
Rượu ngon đâu có bạn mà chừa!

Dẫu trách phiền nhau thì cũng mặc
Ta ngồi ta uống mình ta phê
Rót tràn ly, xị cay xị ngọt
Nhớ bạn bè quen tiếng chửi thề.

Những chuyện qua rồi không muốn kể
Của một thời nghèo rớt mồng tơi
Năm bảy thằng chuyền nhau điếu thuốc
Rít chung để thấm thía cuộc đời.

Đứa hỏng tú tài đi quân dịch
Đưa vào đại học, học chiến tranh
Còn lại mấy ngoe lia chia rụng
Mả mồ cỏ mọc đã rêu xanh!

Bạn bè ta giờ còn mấy đứa?
Biệt tăm từ một bữa tan hàng
Cuộc đổi đời cũng chưa dài lắm
Vậy mà như đã lạnh khói nhang…

Hư Vô

Tuệ Sỹ, Viễn Mộng Mấy Khung Trời. Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.

IMG_4172
(Thiền sư Tuệ Sỹ)

Có người yêu thơ và hay tập tành làm thơ, sau khi đọc một tác phẩm “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của một người làm thơ viết về một người làm thơ khác (Tuệ Sỹ viết về Tô Ðông Pha) đã cảm khái:

“nghe từ thiên cổ
lời ru mênh mang
bước vào cuộc Lữ
mấy chuyến đò ngang.
Tà dương có khóc
Nắng ngả ánh vàng
Mưa bay thoảng chốc
Thiên địa hoang tàn
Một người đọc thơ
Nhìn trăng vừa khuyết
Sinh tử đâu chờ
Vòng quay nhật nguyệt.
Ði vào đất trích
Quanh quẩn nhân gian
Cho tròn vai kịch
Giây phút muộn màng
Phương trời viễn mộng
Sẵn lúc chào đời
Bốn bề gió lộng
Người ơi, Thơ ơi!!”

IMG_4173

Viết về Tô Ðông Pha, mà nghe như viết cho chính mình. Tuệ Sỹ, trong cái quay cuồng của lịch sử, đã nhìn vào chặng lữ hành của lịch sử để tìm vào cõi sâu kín của vòng chuyển dịch. Ông, không phải trong vai trò thiền sư để đi tìm cái uyên áo mà, với thái độ mơ mộng lãng mạn đi tìm cho riêng mình một cõi thơ riêng. Ông viết:

“Thơ vẫn là một cuộc lịch nghiệm Riêng và Chung, của Thời Ðại và Lịch Sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo cánh của Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng Viễn, dẫn Lịch Sử Uyên Nguyên tụ hội với Thời Ðại. Hình như những sự này tôi nghe được từ nơi thơ của Tô Ðông Pha, nhưng có nghe lộn hay không thì không biết…”

Kinh Thi và Kinh Dịch là những trầm lắng suy tư của người xưa, theo Tuệ Sỹ là hai cánh chim lớn của con thần nhạn chuyên chở định mạng của dân tộc Trung Hoa bay lượn suốt mấy mươi thế kỷ trên vòm trời Viễn Ðông. Thi và Dịch, là suy ngẫm để tìm đến đích đến rốt ráo của Chân Lý. Và, cũng là những phiến gương soi để tìm lại những bóng hình vẫn còn hiện hữu dù đã xa xôi những không gian, thời gian muôn trùng…

Có những câu thơ, của thấp thoáng tình Riêng trong Ý chung. Thấp thoáng nỗi niềm của Tuệ Sỹ trong ngôn ngữ một thuở Thịnh Ðường. Dù thơ lục bát, của ngữ ngôn thuần túy Việt Nam, nhưng giấc mộng vẫn vút cao

“Ðồi mai ngơ ngác nụ cười
cánh hồng lả mộng của đời lưu ly
tồn sinh thấp thoáng nẻo về
dấu trơ bãi tuyết, ngoài tê cánh hồng
Sư già, tháp mới, hồn không
Tường rêu đổ xuống đâu đồng vọng Thơ
Gập ghềnh năm tháng, hay chưa?
Ðường dài người mỏi, gót lừa kêu đau…”

Ôi, những phương trời viễn mộng, của những kiếp nhân sinh trôi nổi theo dòng thời thế, của nỗi niềm người tha hương lưu lạc ngay trong chính đất nước mình. Những canh trường mộng, những lời nỉ non nghe vẳng lại từ hai bờ tịnh không của cảm xúc. Vẫn, vần lục bát, lời của Tuệ Sỹ, làm vẳng nhớ đến Tô Ðông Pha thuở nào xa xưa:

“Ðá mòn phơi nẻo tà dương
nằm nghe bước lũ khóc chừng Cuộc Chơi
nghìn năm vang một nỗi đời
gió đưa cuộc lữ lên lời Viễn phương
đan sa rũ mộng phi thường
đào tiên trụi lá bên đường Tử Sinh
đồng hoang mục tử chung tình
Ðăm chiêu dư ảnh nóc đình hạc khô”

Viết về bài thơ, viết về cái tâm tình của bờ biển lớn, của cõi hoang vu mà thiên nhiên là đại dương bí ảo để, ở đó những dấu chân tỏ mờ trong ngã về hoang lộ. Tuệ Sỹ viết:

“… Người đã lãng phí trọn vẹn tinh thể của người, để cho thiên nhiên tỏ bày ân tình trơ trọi, như viên sỏi bên đường lây lất với nắng và gió. Nắng lên cùng với dấu hiệu của hao mòn và sụp đổ. Gió lên cùng với những ước nguyện thiên thu phảng phất ra ngoài khung trời Hoằng viễn và Tịch nhiên. Mộng Phi Thường được ký thác trong đan sa trong dấu hiệu của trường sinh bất tử, nhưng đường Sinh tử đi trong cõi Hoằng viễn Tịch nhiên, ấy thế mà không bao giờ dừng bước cho Lữ Khách một lần ngụ cư ở đó. Sống và Chết vẫn còn như một nỗi đời hư huyễn, vẫn rầm rộ như một cuộc chơi. Giữa khoảng đồng rộng, đồng trống, đồng không mông quạnh. Mục tử đăm chiêu tư lự những chuyện đường đời. Và Lịch sử qua bóng dáng con Hạc gầy, rồi tự hỏi; Ðâu là Cõi Mộng Thiên Thu?..”

Ðọc “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của Tuệ Sỹ để thấy từ một người hậu sinh sau những thế kỷ dài đã chia sẻ với Người Thơ những nỗi niềm của những người tri kỷ. Thời thế có khác, đất nước có khác, nhưng chất Thơ vô cùng bát ngát của những phương trời mở ra mênh mông những cánh vỗ để đi vào cái tận cùng của ngữ ngôn, để bay vào cái vô tận của ý tưởng. Viết về thơ đã khó, giải thích thơ lại khó hơn nhưng tái tạo lại không gian thơ, lại khó bội phần. Thơ ở trong thơ, không chỉ là cái khám phá hời hợt bên ngoài, mà, Thơ có tham vọng đi sâu vào cõi vô thủy vô chung của những nốt lặng của một bản trường ca chưa hoàn tất. Chinh cái dở dang ấy, là thái độ của người thơ, dù trong hoàn cảnh lao lung cấm cố, bốn bề là những bức tường đá lạnh lùng, mà, hồn vẫn thoát đi, bay bổng, không có gì ngăn chắn được. Thơ, là thái độ sống, là sự thản nhiên của người hiểu biết được cái vô cùng nhỏ nhoi nhưng cũng vô cùng lớn lao của tâm thức con người…

IMG_4174

Một buổi tối, đọc lại tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn. Không dừng lại được, ngồi dậy bật máy, viết… Những tâm cảm đón nhận được từ những câu thơ. Như những làn sóng lan tỏa từ mặt nước yên tịnh. Ngoài trời chắc khuya lắm thì phải. Và những giọt mưa, mù mịt đất trời. Sắc không, còn mất, có lúc như hơi thở nhẹ. Lắng nghe từ vô thức, tôi đọc…

Có những điều, nói nhiều mà chẳng đủ. Cũng như có những việc, nói ít mà vẫn thừa. Chuyện thi ca, có khi chỉ một giây phút, hiểu rồi, sẽ bất khả tư nghị. Tôi không dám làm người vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng thêm cánh. Mà, tôi chỉ diễn tả cái tâm chân thực của mình. Ðọc rồi cảm, cái quá trình ấy phải chăng là lúc này, khi mọi lắng đọng đã theo giấc ngủ ngon vút mất. Thơ như cáinh tay lay động, thức tỉnh ngũ quan..

Ðóng lại tập thơ. Với bài thơ cuối. Những câu lục bát đơn sơ. Như một lời nhắn nhủ. Có thể với chính mình nhưng cũng có thể là một ai khác, cùng mang khắc khoải trong lòng. Một chút vỗ về, một chút xao động thoảng qua. Bước chân ai, đi về, biền biệt.

“Khói ơi, bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi Vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần ra hoa.”

Tại sao lại nhớ những lần cây nhỏ ra hoa? Có phải vì ý niệm thời gian? Tôi nghĩ là không phải. Mổi lần ra hoa, là một lần sự phát triển đến mức tuyệt đối. Trong hành trình của con người, có phải là đi tìm một cái gì tuyệt đối mà chẳng bao giờ nắm bắt được. Cõi vĩnh hằng, có khi là khói sương, là những mong manh vô định….

Giấc mơ Trường Sơn – Những bài thơ có man mác ý tình, của cái tâm như biển động lúc nào cũng trào khơi theo ngàn sóng vỗ. Không nói đến thời thế mà quê hương vẫn hiển hiện trong thơ. Những nhọc nhằn của một thời đại nhiều máu lệ. Những giấc mơ của những người tham dự vào lịch sử một cách bất đắc dĩ. Những người nhìn thấy Trường Sơn vòi vọi nhân chứng.

Quê hương, những bước chân đi của mười năm, những mốc thời gian đau đớn.

“Ngọn gió đưa anh đi mười năm phiêu lãng
Nhìn quê hương qua dấu tích điêu tàn
Triều Ðông Hải vẫn thầm thì cát trắng
Truyện tình người và nhịp thở Trường Sơn.
Mười năm nữa anh vẫn lầm lì phố thị
Yêu rừng sâu nên khóe mắt rưng rưng
Tay anh với trời cao chim chiều rủ rỉ
Ðời lênh đênh thu cánh nhỏ bên đường
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như lòng ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn
Mười năm đó anh quên mình sậy yếu
Ðôi vai gầy từ thuở dựng quê hương
Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Ðông phương
Và ngày ấy anh trở về phố cũ
Giữa con đường còn rợp khói tang thương
Trong mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ
Vẫn chân tình như mưa lũ biên cương”

Có phải đó là tự truyện của một người Việt Nam? Ở bên kia? hay bên này? Của chiến tuyến đã vạch sẵn từ bao nhiêu năm nay. Dường như đó là nỗi niềm chung mang của cả một thế hệ? Ở phố thị, lầm lì với những tâm tình khó ngỏ thành lời. Trời thì cao mà bàn tay thì khó với tới những ước nguyện và chim trời thì lênh đênh những cánh nhỏ ngơ ngác bên đường. Mười năm rồi tiếp mười năm, quê hương vẫn chỉ là những con sông huyết lệ. Ngày trở về phố cũ vẫn man mác nỗi hờn thiên cổ, của những người hình như mất mát một quê hương.

Thơ Tuệ Sỹ, trong ngôn ngữ bình dị có những suy tư thâm trầm. Xúc cảm hình như cố gắng để lắng đọng lại và ý tưởng cũng được trình bầy một cách gián tiếp để trong màn sương mờ ảo ấy, thấy được cái lẽ xoay vần của thời thế.

Thi sĩ cũng làm thơ tù. Cũng những ngày biệt giam, cũng những bức tường cao nhưng sao lồng lộng gió và đầy trăng sao. Cái thong dong của tâm thể đã vượt quá cái cùm gông của thân xác …

“…Vẫn khúc điệu tự ngàn xưa ám khói
Ép thời gian thành rượu máu trong xanh
Rượu không nhạt mà thiên tài thêm cát bụi
Thì ân tình ngây ngất cõi mong manh
Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỷ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy
Ðổi hình hài con mắt vẫn đầy Sao.”

Viết ở trại giam Phan Ðăng Lưu mà tưởng đến quán trọ của ngàn sao, có lẽ chỉ có một mình Tuệ Sỹ! Sự tưởng tượng ấy như cánh buồm đưa con thuyền ra khơi về chân trời nào mênh mông chỉ có được từ những hồn thơ trải theo muôn dặm bát ngát. Thơ, vô úy, thong dong. Thơ, như trèo qua được con dốc thực tại để đến một nơi, rộng khắp bao la

“Mắt em quán trọ của ngàn sao
Ngọt ngất hoang sơ ánh rượu đào
Pha loãng nắng tà dâng cát bụi
Ấm lòng khách lữ bước lao đao
Mắt huyền thăm thẳm mượt đêm nhung
Mưa hạt long lanh rọi nến hồng
Sương lạnh đưa người xanh khói biển
Bình minh quán trọ nắng rưng rưng.”

Có những vần thơ ngưng đọng, xót xa. Như những thề nguyền, hứa hẹn cho những bước chân lên đường. Những hùng tráng trộn lẫn với bi thương.

“… Ta đã hát những bài ca của suối
Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời
Gọi quỷ sứ từ âm ty kéo dậy
Ngập rừng xanh lấp lánh ma trơi
Ðêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ soi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời.”

Những câu thơ diễn tả tâm trạng của một người muốn làm chuyện đội đá vá trời. Ta đã hát những bài ca của suối. Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời… Lời suối thầm thỉ muôn năm. Hát bài ca đó, có phải là từ thiên thu vọng lại. Gã anh hùng? Ta? Hay kẻ khác? Bẻ vụn mặt trời, để đêm tối kéo về, để quỷ sứ từ âm ty kéo dậy, để hãi hùng rừng núi những ánh ma trơi…

Một bài thơ viết giữa những ngày tháng tư năm 75 ở Nha Trang, lúc tình trạng đất nước nghiêng ngửa thẳm đen. Bài thơ, như một mốc dấu tích cho những ngày tháng không thể xóa nhòa trong tâm khảm những người dân Việt.

“Phố trưa nắng đỏ cờ hồng
Người yêu cát bụi đời không tự tình
Sầu trên thế kỷ điêu linh
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa ráng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời đông
Trời ơi tóc trắng rủ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Ðêm đêm trông bóng Thiên Hà buồn tênh
Ðời không cát bụi chung tình
Người yêu cát bụi quê mình là đâu?”

Cát bụi, từ ngữ được nhắc đi nhắc lại một cách cố tâm. Người yêu cát bụi đời không tự tình. Rồi Ðời không cát bụi chung tình. Người yêu cát bụi quê mình là đâu? Cát bụi, hình ảnh của hỗn loạn, của những lênh đênh ngày tháng. Bài thơ diễn tả nỗi niềm của một người ngơ ngác giữa vần xoay của thời cuộc… Tháng tư năm 75, những ngày tháng chẳng thể nguôi quên. Dù là một thiền sư cố giữ lòng không vọng động. Mà sao vẫn ầm vang thác lũ nỗi niềm.

Thơ Tuệ Sỹ có lúc cô đọng đến chẳng thể ngắn gọn hơn. Như những hé mở, để ở đó tầm nhìn bị kích thích để trải dài tới sâu xa rộng khắp hơn. Không phải thơ haiku của những cây trồng ép mình trong chậu bonsai mà ở đây tự nhiên sống đời thảo mộc trong khổ hạnh chịu đựng náu thân vào ngôn ngữ.

“Bứt cọng cỏ
Ðo bóng thời gian
Dài mênh mang”

Hay:

“Gió cao bong bóng vỡ
Mây sương rải kín đồng
Thành phố không buồn ngủ
Khói vỗ bờ hư không”

Buổi sáng tập viết chữ thảo, có một chút mênh mang thời cũ nhưng cũng có những khắc khoải bây giờ. Ban mai là lúc tấm lòng mở ra, vô tận. Thơ, cũng phơi phới, an nhiên vô ngại:

“Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vuốt tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba”

Tụê Sỹ. Thiền sư khổ hạnh. Hay một nghệ sĩ phiêu bồng. Hay là chiến sĩ tranh đấu cho dân tộc cho đất nước với sự sắt son kim cương vô hoại. Thơ cũng trong những góc cạnh ấy để có một đời sâu sắc phong phu mà ngôn từ bình dị như thanh kiếm gỗ của Ðộc Cô Cầu Bại trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung sắc bén hơn vạn lần bảo kiếm. Thơ Tuệ Sỹ, ngôn ngữ đời thường để biểu hiện tấm lòng bồ tát…

Trong cuộc hành trình, đời sống mở ra những cảm xúc. Tuệ Sỹ làm thơ trong cái phơi phới của thiên nhiên, của núi cao mây trắng, của bến cũ neo thuyền, của mặt biển khơi xao động. Bài thơ “Một Bước Ðường”, không có phong vị của một bài hành nhưng sao nghe như có một điều gì bừng dậy của tâm tư, của những tâm can bừng bừng ngữ ngôn:

“Một bước đường thôi nhưng núi cao
trời ơi mây trắng đọng phương nào?
Ðò ngang neo bến chờ sương sớm
Cạn hết ân tình nước lạnh sao
Một bước đường xa xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra biển bình minh đó
Nhưng mấy ngàn năm tống biệt rồi
Cho hết đêm hè trong bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy ngàn sau ố nhạt nhòa
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạy lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu áo
Trên phím dương cầm hay máu xanh…”

Giấc mơ Trường Sơn, một tập thơ mỏng nhưng chứa đựng nhiều biển trời và đại dương như thi sĩ Bùi Giáng đã nhận xét khi đọc một bài thơ trong đó. Và tôi xin được trích dẫn lại thay cho lời kết bài viết này:

“… Thi nhân đã mấy phen ngồi ngắm trăng tàn. Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp với chân trời xa xôi đại hải?

Ðỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Ðỉnh đá quy tụ về mọi hướng màu trời mây rừng rú.Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Ðó là cái bất tận của tâm tình đứng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du. Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Ðường thi Trung Hoa đến siêu thực Tây phương…”

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn: https://sangtao.org/2017/05/09/tue-sy-vien-mong-may-khung-troi/#more-95685

Ba Mươi Năm Chưa Gặp. Thơ Hư Vô


Ba mươi năm chưa gặp
Tưởng chừng mới hôm qua
Tóc còn dài e ấp
Chải dòng sông quê nhà.

Mà có lần em đã
Bước lún một dấu chân
Vết bùn lem gót nhỏ
Cho nặng thêm nợ nần!

Gọi nhau lời tuyệt vận
Em bây giờ ở đâu?
Dòng sông xưa đã cạn
Tóc quen hơi, đã nhầu.

Ba mươi năm không gặp
Còn nghe tiếng thở dài
Từ nụ hôn ngây dại
Một thời tình mãn khai.

Có bước vào mê lộ
Cũng chỉ tới vực sầu
Chỗ anh về cỏ mọc
Đã mù mịt chiêm bao.

Sydney hay Newyork
Trời đất cũng bạc đầu
Vết thương còn rịn máu
Làm hoang phế đời nhau…

Hư Vô

Đường Lên Núi Thiên Mã. Truyện dài Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Bạn đọc vừa theo dõi xong một cuộc điều tra của ông Thanh tra Mạc Kính, nữ ký giả Thu Dung và Sơn bán báo.

Đây là một tác phẩm trong loạt truyện trinh thám phiêu lưu do tác giả viết riêng cho lứa tuổi Thiếu Nhi. Qua diễn biến của câu chuyện, tác giả đã du nhập một cách linh động những kiến thức khoa học phổ thông để dẫn giải các sự kiện xảy ra trong đời sống các nhân vật. Ở đây, những phương pháp suy luận theo tinh thần khoa học, những ứng dụng mới mẻ trong lãnh vực điều tra như những kỹ thuật theo dõi kẻ gian, kỹ thuật lấy dấu tay, kỹ thuật giảo nghiệm các tài liệu giả mạo, những ứng dụng mới của khoa học vào lãnh vực truy tầm nghiên cứu v.v… cùng các vấn đề phổ thông liên quan đến sử ký, địa lý, lịch sử địa chất Việt nam v.v… Tất cả sẽ là những bài học linh động vừa giải trí vừa bổ ích cho các em..

HUYỀN TRÂN XUẤT BẢN

Chương Một
BẢN TIN GIỜ CHÓT

Trong suốt một ngày, chỉ trừ lúc báo bắt đầu lên khuôn là tòa soạn mới trở nên yên tĩnh hẳn sau những giờ ồn ào, náo nhiệt.

Ban biên tập chủ lực sau khi thu xếp xong bài vở đã kéo nhau đi hết từ lúc bốn giờ.

Anh thư ký tòa soạn nán lại để cắt tin giờ chót cũng đã rời tòa soạn sau đó ít phút. Kíp thợ sắp chữ làm việc suốt từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều cũng đã về. Chỉ riêng có anh chef- typo (trưởng nhóm thợ xếp chữ) là còn có mặt để phòng hờ có sự thay đổi vào phút chót.

Rút cuộc, cả tòa báo ồn ào suốt từ sáng sớm đến xế chiều bây giờ chỉ còn toán thợ đúc chì. Toán lên khuôn chạy máy là bắt đầu vào việc.

Người thợ đúc chì đắp lên trang báo đã xếp thành chữ những tờ giấy dó mỏng và ướt (như những tờ giấy bản để viết chữ nho – nhúng ướt để giấy ăn sát vào bát chữ), rồi phết từng lớp bột lên mỗi lớp giấy, xong cho vào máy ép nóng, ép thành những khuôn chữ cứng. Sau đó những thanh chì được nấu chảy đem đổ lên cái khuôn này, rồi để nguội sẽ thành những bản chì đúc, khi ghép lại sẽ có nguyên một trang báo. Người thợ chạy máy chỉ việc đóng những bản chì đó lên mặt gỗ của máy in rồi cho máy chạy là từng tờ báo thơm phức được hoàn thành. Một đôi khi người thợ vội vã đóng không lút đinh, nên khi báo in ra có những chỗ còn hằn cả vệt đầu đinh lên trang giấy. Báo tuy ra 8 trang nhưng trang 2 /trang 7 và trang 4/trang 5 gồm những bài không cần theo sát thời sự đã được in từ ba ngày trước. Chỉ có trang 1/trang 8 hay trang 3/trang 6 là ấn hành sau để tòa soạn kịp loan những tin tức nóng hổi trong ngày.

Với cách làm việc ấy, độc giả ở Thủ Đô vào khoảng 6, 7 giờ chiều là đã có báo đọc của ngày hôm sau. Phần còn lại sẽ được in suốt đêm để sáng sớm hôm sau đem phát hành đi các tỉnh. Những khu vực làm việc của toán thợ làm đêm đều được dồn hết về phía dẫy nhà sau của tòa báo, ở đó phòng sắp chữ, lò đúc chì, bàn vỗ bản thảo, máy in…là chen chúc gần như kín mít, chỉ còn chừa có một lối đi hết sức chật hẹp. Phần đông các tòa báo Việt Nam đều nghèo như thế.

Căn phòng dành cho tòa soạn lại còn nghèo hơn, được đặt trên một cái gác xép, mái tôn thấp và nóng, bàn ghế dành cho ký giả thì ọp ẹp và tồi tàn, nhưng ai có thể biết rằng chính những tinh hoa của các bài nghị luận đanh thép, chính những tin tức sốt rẻo, bám sát thời cuộc, những truyện dài với tình tiết lâm ly, hấp dẫn đều hầu như được sáng tác ở đó.

Phần đẹp nhất của tòa báo là căn phòng ngoài cùng, nơi đặt bàn giấy của ty Quản Lý, chỗ tiếp xúc với độc giả thường xuyên vì thế khung cảnh có phần tươm tất hơn, việc sắp đặt được ngăn nắp hơn. Ở ngoài vào, ta sẽ thấy một cái quầy gỗ của nhân viên nhận đăng quảng cáo hay rao vặt, kế đó là bàn giấy của vị quản lý với vài nhân viên phụ tá. Đặc biệt chiếc điện thoại độc nhất của tòa soạn được để trên một chiếc kệ gỗ cho mọi phần hành xài chung, và một cô thư ký xinh như mộng phụ trách trực cái điện thoại đó trong suốt giờ làm việc để ghi nhận các tin tức của mọi nơi, những lời dặn dò của phóng viên đang len lỏi trong khắp mọi sinh hoạt của Thủ đô đã dùng dây nói từ xa gọi về.

Sinh hoạt của tòa báo từ sáng đến xế chiều thật là ồn ào. Và chỉ khi thành phố đã lên đèn, các em bán báo cổ động đã khuân đủ những chồng báo mới tinh còn lóng lánh màu mực mới đem phát hành khắp Thủ đô, thì chừng đó cánh cửa sắt mới được kéo lại, và người làm công già nua mới đem chổi ra quét dọn những tờ bản thảo rơi vương vãi, những tờ bài vỗ đã sửa xong vứt rải rác mỗi nơi một mảnh.

Hôm đó vào khoảng năm giờ chiều, ở tòa báo Ánh Sáng Thời Đàm mọi sự sắp đặt đã hoàn toàn xong xuôi. Bản đúc chì đầu tiên đã được đóng lên máy và người thợ đã lăn thử ấn bản đầu tiên trao cho anh Thư ký Tòa soạn kiểm soát lại. Tờ báo “mi” (Mise en pages=Dàn trang) thật đẹp, chữ vỗ thật sắc nét, mực in xuống đều, bản kẽm in hình thời sự lên thật rõ, mọi người đều mỉm cười hài lòng. Và đúng lúc ấy, chuông điện thoại reo vang. Tất cả mọi người có mặt đều nhìn về phía cô Bích Ngọc, nhân viên trực điện thoại lúc ấy vẫn còn hiện diện. Bàn tay tháp bút của Bích Ngọc nhanh nhẹ nhấc ống nói lên, nàng cất tiếng thỏ thẻ :

– A lô ! Nhật báo Ánh Sáng, chúng tôi nghe đây.

Im lặng choán chỗ trong một phút và cặp mắt dịu dàng của nàng bỗng nhếch lên biểu lộ một sự kinh ngạc làm mọi người quay lại chú ý nhìn. Một lát Bích Ngọc ra hiệu cho anh thư ký tòa soạn, rồi bịt ống nghe lại, nói nhanh :

– Đông Hưng vượt ngục rồi !…

Như bị một luồng điện giật, tất cả mọi người đều ồ lên một tiếng, và anh thư ký tòa soạn hỏi ngay :

– Thật không ? Ai cho tin ấy thế?

Bích Ngọc giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng, lắng nghe một lát nữa rồi cúp máy điện thoại và quay lại trả lời :

– Sở Cảnh Sát Thủ Đô, đích thân ông Thanh Tra Mạc Kính gọi lại. Ông ta báo tin lão Đông Hưng Chủ tịch Hội Phù Dung đã vượt ngục vào giữa buổi chiều hôm nay !

Dân chúng ở Thủ đô không còn ai lạ gì tổ chức Hoa Phù Dung của Đông Hưng. Đó là một tổ chức rất chặt chẽ, qui mô dùng mọi hình thức bất lương và phi pháp để kinh tài. Cầm đầu là một thương gia khả kính ở Chợ Lớn tên là Đông Hưng đã bị bắt sau cuộc âm mưu thanh toán ông già Nguyễn Quốc Viên để đoạt những tài liệu mật thiết đến chiến dịch Kim Cương “Những con đom đóm trời”. (Xin xem Lá Chúc Thư đã in thành sách). Vụ án này gây chấn động dư luận Thủ đô, mới trong vòng không đầy một năm trước đây. Và bây giờ khi đang thọ phạt bản án 10 năm cấm cố thì có tin Đông Hưng vượt ngục.

Anh Thư ký Tòa soạn vội vàng ra hiệu cho máy ngưng chạy và nhảy bổ đến chỗ đặt điện thoại, nhấc lên quay số thật nhanh. Mọi người hồi hộp chờ đợi. Trong vài giây sau, anh đã liên lạc với ông Mạc Kính ở đầu dây. Không biết ông Mạc Kính nói những gì, chỉ biết sau cuộc điện đàm này, anh ra lệnh cho tất cả vào việc. Thợ máy gỡ ngay khuôn báo vừa lên xong. Anh chef- typo sửa soạn xếp bản tin giờ chót, bản tin chắc chắn sẽ nóng hổi và nhanh chóng hơn bất cứ báo nào khác. Còn thợ đúc chì cũng phải sửa soạn để đúc lại bản tin mới. Một bài trên trang nhất không mấy quan trọng sẽ được đục bỏ để có chỗ thay thế. Tất nhiên báo có thể chậm hơn mọi ngày chừng một giờ. Nhưng để bù lại, nhật báo Ánh Sáng chắc chắn sẽ chạy như tôm tươi về một tin tức sẽ làm tất cả độc giả phải sững sờ. Sau đây là nguyên văn bản tin do anh thư ký tòa soạn đã cấp thời viết ngay sau khi phối kiểm tin tức một cách chính xác:

CHẤN ĐỘNG TRONG GIỚI AN NINH NHÀ NƯỚC:
ĐÔNG HƯNG, CHỦ TỊCH HỘI HOA PHÙ DUNG ĐÃ VƯỢT NGỤC

Tin giờ chót: Một nguồn tin từ giới thẩm quyền trong Sở An Ninh Quốc Gia đã cho biết Đông Hưng chủ tịch Hội Hoa Phù Dung đã vượt ngục ngay giữa thanh thiên bạch nhật, vào hồi ba giờ chiều hôm nay 4 tháng 4 khi đương sự đang được di chuyển từ khám đường Trung Ương ra Vũng Tàu để đi Côn Đảo. Tưởng cũng nên nhắc lại rằng trong những năm vừa qua, một tổ chức nguy hiểm cho nền an ninh xã hội mệnh danh là Hội Hoa Phù Dung đã hoạt động mạnh mẽ làm mất ăn mất ngủ nhiều thương gia giàu có và đã khiến giới cao cấp trong ngành an ninh phải điên đầu. Sau đó, nhờ kỳ công của ông Thanh Tra Mạc Kính, phối hợp với sự điều tra khéo léo tuyệt vời của bản báo phóng viên, nữ ký giả Thu Dung và em Sơn, một tài năng điều tra hiếm có chỉ giữ nghề nghiệp khiêm nhường là đi bán báo, toàn thể cơ sở đầu não của Hội Hoa Phù Dung đã bị phá vỡ. Chủ tịch Hội là Đông Hưng, một thương gia có uy thế trong giới tài phiệt đã bị bắt giam và tòa kết án 10 năm. Vào hồi ba giờ chiều hôm nay, tù nhân Đông Hưng dưới danh số A. 18279 đã vượt ngục một cách dễ dàng trên đường di chuyển từ khám đường Trung Ương ra Vũng Tàu để được đi Côn Đảo. Chắc chắn việc tổ chức vượt ngục này đã được nghiên cứu chu đáo kỹ lưỡng và có sự tiếp tay của nhiều đồng lõa. Cuộc điều tra của nhà chức trách đang tiến hành. Nữ bản báo phái viên Thu Dung đang theo dõi vụ này, chắc chắn sẽ cống hiến độc giả thân mến nhiều tình tiết ly kỳ và lý thú. Xin độc giả nhớ đón coi”.

Nhật Tiến

Xem tiếp Chương Hai

 

Tháng 5, Sinh Nhật Tình Nhân. Thơ Hư Vô


(Viết cho sinh nhật tôi, 15/ 05)

(Chipping Norton Park in autumn. Photo by Hạ Vàng) 

Tháng 5, sinh nhật tình nhân
Em về giũ áo dự phần mùa thu
Tiệc tình dọn xuống hư vô
Kề chung ngực thở cuồng xô sóng ngàn.

Tôi lăn vào giữa dung nhan
Tan trong da thịt tình nhân bất ngờ
Mùa thu đâu biết chần chờ
Để tôi quờ quạng trải thơ em nằm.

Một lần sinh nhật trăm năm
Có em trang điểm trái tim tội tình
Hối hả nhịp thở hồi sinh
Nhập hồn chung cuộc linh đình đời sau.

Em ơi, buồn mới bắt đầu
Biết đâu còn được nỗi đau muộn màng
Tháng 5, mù mịt lá vàng
Trong tim tôi đã hoang đàng, từ khi …

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 283


ĐỈNH LÁ MÙ

Bước ngang qua đỉnh lá mù
Hồn treo ngược bóng cõi thu chớm vàng
Quay lại phía bụi vông vang
Thấy em đứng giữa hai hàng gai khô.

Tôi như một gã tội đồ
Lần theo quá khứ mơ hồ gọi nhau
Đường trơn đâu có lối vào
Để tôi còn biết vết đau cựa mình.

Mùa thu đâu có tội tình
Chỉ là chiếc lá thình lình vướng chân
Bóng em ngả xuống thật gần
Chỗ trái tim đang dự phần cuộc chơi.

Mà em cũng có một thời
Theo tôi bén gót cho đời sắt son
Bước qua dấu tích chưa mòn
Tôi và em đã nhừ đòn như nhau…

Hư Vô

LẶNG LẼ TAM KỲ

lặng lẽ Tam Kỳ, lặng lẽ nhau
đi qua, không ghé, phố thương người?
chiếc xe đò thuở em còn trẻ
chở miết mùa xưa vĩnh biệt tôi

lặng lẽ Tam Kỳ, lặng lẽ em
một đời bụng dạ gửi chồng con
thì tôi có đứng trông đầu phố
cũng chịu tàn rơi một nỗi niềm

lặng lẽ Tam Kỳ, lặng lẽ tôi
thăm em, như đã được thăm rồi
chuyến xe đò chở nhau đi mất
bỏ lạc bài thơ thuở tặng người.
2017
Hoàng Lộc

TA GỌI EM LÀ O HUẾ .2
tặng TL.
Ta nợ em bài thơ về xứ Huế
Bài thơ buồn của những kẻ tha hương
Ta đến Huế- chưa biết nhiều về Huế
Đã yêu ngay hàng phượng vĩ bên đường

Chiều hối hả- mưa luồn về An Cựu
Một chút gì ướt đẫm cả hồn ta
Không phải đâu- sá gì dăm chén rượu
Huế đón ta – Ừ, những gã xa nhà

Em và Huế- trong ta là bí ẩn
Huế thâm nghiêm mà em lại dịu dàng
Em với Huế – trong ta là ngộ nhận
Nên yêu hoài những bước nhỏ lang thang

Ta nợ em bài thơ về xứ Huế
Nợ sông Hương – nợ cả chuyến đò ngang
Bởi núi Ngự không cây chim ngủ đất
Nên chuông chùa Thiên Mụ mãi ngân vang..

Ta vẫn thích gọi em là O huế
Có cái gì gần gũi lẫn âu lo
Ta yêu Huế chưa viết gì về Huế
Nợ lần nầy- mai mốt trả cho O…

Hochibuu

THƯƠNG QUÊ

hẹn em về, trưa thơm hương nắng
mạ ven đường mát rượi gót chân.
chuyện cũ vỡ òa. đêm tĩnh vật
buồn len theo giọng kể u trầm.

đâu phải chỉ vì đời xa xứ
mà thương quê như chuyện đã đành.
khi tuổi nhỏ thả diều hái sứ
đọng vào hồn những giấc mơ xanh.

đâu phải chỉ vì ta yêu em
để nhớ nhung dắt vào kỷ niệm.
ta muốn dắt ta về làng cũ
thăm lũy tre giếng nước miếu đền.

đâu phải chỉ vì đời lận đận
để nhớ nhà cho ấm nỗi buồn.
xa xứ. ta là tay ở ẩn
người đua chen. ta kẻ đứng bên đường.

những chiều nắng nhạt bên thềm vắng
thơ thẩn hon mơ ánh nguyệt tà.
mấy phen chìm nổi. không danh phận
đã thấm đòn đau. nỗi nhớ nhà.

Đức Phổ

BOLÉRO VÀ EM

Thả Boléro cùng em
Khóa sol nằm ở môi mềm giai nhân
Tình tiền kiếp cứ lần khân
Đến hôm nay hát cho vầng trăng nghiêng…

Anh hùng ráp với thuyền quyên
Tay anh gõ nhịp, mắt em chia lời
Chấp luôn chợ Nọ ca mùi (*)
Chim bay Bến Ngự tiếc hùi hụi xưa!

Đêm buồn, phố nhỏ trong mưa
Chợt thương khăn áo mình chưa vàng ròng
Boléro qua cầu cong
Lại tròn trái ấu trên dòng thời gian…

Trần Dzạ Lữ
(*) Boléro chợ Nọ Huế

ĐÔI KHI GIỮA KHUYA

Khuya nghe điệp khúc xuyên từ đất
điệp khúc cung buồn tiếng dế ca
đôi khi đâu đó như phảng phất
một nổi từ bi trách cứ ta

khuya nghe hiu quạnh trong hồn đá
cái lạnh thấm dần cơn ngủ mê
đôi khi chợt thấy mình như lá (*)
tìm ngõ năm xưa một lối về (**)

khuya nghe tiếng gió ru ngủ cỏ
lòng chợt buồn theo với tháng ngày
mai này thuở ấy là cố thổ
có nhận ra mình : đứa trắng tay

khuya nghe mặt đất đang chìm xuống
níu kéo thời gian chạy trở vào
ngõ cụt tâm hồn đường ướt nhũn
trơn trợt chân đời bước thấp cao

khuya nghe tiếng vọng âm rừng cũ
tôi vén màn sương, chạm mặt nhau
rũ cánh tôi về mong thắp lửa
ngọn nến hoang đường tắt đã lâu

đông hương
(*) thơ LanPhi
(*) ý thơ LanPhi

THÁNG NĂM HOA TÍM LẠI VỀ

Tháng năm bằng lăng lại nở
Con đường tím bước chân ai
Nắng ơi đem theo làn gió
Mùi hương một thuở thương hoài.
*
Tôi như chim hoang bỏ núi
Rong chơi giữa chốn đồng bằng
Bỗng đâu người dưng rất lạ
Vô tình chịu cảnh trói chân.
*
Từng chiều mưa sao dai quá
Đường xa chẳng thấy em về
Sợ gần em nghiêng mặt lại
Tỉnh tuồng giả bộ nhà quê.
*
Cuối mùa chồi non nẩy lộc
Từng chùm quả nỏn xanh tơ
Tình tôi sao không kết nụ
Người xa nên nỗi dại khờ.
*
Tháng năm nhớ tà áo trắng
Một thời trốn gió bâng khuâng
Ai thương đỏ màu phượng thắm
Riêng lòng tôi tím bằng lăng.

Nguyễn An Bình

NGÀY THÁNG MỆT NHOÀI

ngày qua tháng lại võ vàng
hồn tôi như ánh đèn vàng xước mưa
nghe tình dội những âm xưa
nghe tôi loáng thoáng đời vừa tàn phai

từng đêm ngồi nhớ sớm mai
biển khuya khoắt dội sóng dài qua tay
ru đời bằng những âm say
như tôi đã sống lạc loài cỏ cây

tạc vào trí nhớ một mai
là chênh chao những hình hài phù du
có ai về giữa sương mù
cho tôi đội bóng thiên thu cuối trời

mong manh sương khói gọi mời
buổi về chân mỏi rã rời đường bơi
chiều ngồi vớt sóng biển khơi
mới hay buồn đã mệt nhoài cõi tôi…

Nguyễn Minh Phúc

NHỚ
(Họa theo bài Nhớ của N T L)

Em đi thu vàng mấy độ
Cố hương mờ khuất chân trời
Chuyện xưa vùi sâu đáy mộ
Lặng thầm ngày tháng dần trôi.

Đã mấy lần thu thay lá
Quê xa còn có mong chờ?
Phố cũ dường như… xa lạ
Người về – quá đỗi bơ vơ …

Kỷ niệm một thời vẫy gọi
Khơi xa nhớ nước đầu nguồn
Sao nước xuôi dòng không đợi?
Bên cầu ô thước… mưa tuôn.

Ngày xưa chung đường bao bận
Bây giờ, trăng lạnh cùng em
Đâu thuở hoa vàng bướm dại?
Trở mình, gió rớt tàn đêm…

Phan Mạnh Thu
9/2011

FullSizeRender

Dòng Sông Mùa Thu. Thơ Hư Vô


Dòng sông anh xanh như màu áo
Chợt nắng về thay áo dòng sông
Em mùa thu tóc dài hai nhánh
Chia nỗi buồn thành đôi cánh mênh mông.

Để em tan vào anh, như nắng
Chở nhau về nơi rất bình an
Ở đó có vô vàn mây trắng
Và cây bàng đang khép nép khỏa thân.

Anh nín thở trên môi thu vừa áp
Em xôn xao giọt nước mắt vào đời
Lòng anh vẫn còn nguyên chăn gối
Trải lụa là lên mặt nước chơi vơi.

Rồi thu bỏ đi khi anh chợt thức
Nắng cũng vàng theo bóng cuối dòng
Trời ở xa còn gần hơn ngọn sóng
Mất nhau rồi, em nhớ một dòng sông??

Hư Vô

Đỉnh Lá Mù. Thơ Hư Vô


Bước ngang qua đỉnh lá mù
Hồn treo ngược bóng cõi thu chớm vàng
Quay lại phía bụi vông vang
Thấy em đứng giữa hai hàng gai khô.

Tôi như một gã tội đồ
Lần theo quá khứ mơ hồ gọi nhau
Đường trơn đâu có lối vào
Để tôi còn biết vết đau cựa mình.

Mùa thu đâu có tội tình
Chỉ là chiếc lá thình lình vướng chân
Bóng em ngả xuống thật gần
Chỗ trái tim đang dự phần cuộc chơi.

Mà em cũng có một thời
Theo tôi bén gót cho đời sắt son
Bước qua dấu tích chưa mòn
Tôi và em đã nhừ đòn như nhau…

Hư Vô 

Món Quà “Hòa Giải”. Huy Phương


                                           Huy Phương
 .
 Nhà văn Huy Phương
 

Trong buổi lễ trao giải thưởng văn học năm 2016 tại Việt Nam, ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Cộng Sản Việt Nam cho biết sẽ tổ chức một hội nghị, vào ngày Giỗ tổ Hùngg Vương 10 tháng 3 năm 2017 âm lịch, mời tất cả những nhà văn VN ở nước ngoài về dự, kể cả những nhà văn đó phục vụ chế độ cũ. Đây là một “hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học!”

Chúng ta cũng nên biết rằng, Hội Nhà văn Việt Nam lâu nay vẫn được xem là công cụ của đảng, và ông Hữu Thỉnh đã được đảng sắp xếp cho làm chủ tịch trong thời gian dài 15 năm (ba nhiệm kỳ.) Trong tình trạng chính Hội Nhà Văn VN cũng đang muốn tắt thở bị cắt ngân khoản xuống ½ và ngân khoản này hầu hết dùng để in báo phát không (free) cho con số hội viên không dưới 1,000 người, và ngay trong tình trạng khó khăn như vậy, Hội này lại dám đề xuất một hội nghị có tầm vóc, tốn kém trong một thời gian quá ngắn, hẳn là một việc làm cấp bách do cấp trên giao phó là khẩn trương “hòa hợp dân tộc.”

Trước hết trên danh nghĩa, ông Hữu Thỉnh đã dùng chữ “nhà văn phục vụ chế độ cũ” để nói đến những người như chúng tôi, hầu phân biệt với những nhà văn phục vụ chế độ của đảng ngày nay.

Thật ra, theo định nghĩa chung của nhà văn, nhà văn không phải là thứ “viết thuê vẽ mướn,” đồng nghĩa với “chém thuê giết mướn” trong cung cách văn nô, bồi bút theo lề lối của những nhà văn, nhà thơ sống trong chế độ Cộng Sản lâu nay, không “phục vụ” thì chỉ có cách chết đói hay đi tù như những nhà văn thuộc thế hệ Nhân Văn Giai Phẩm 1955. Không phục vụ chế độ như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm có nghĩa là “tình báo nước ngoài được cài cắm và làm gián điệp cho ngoại quốc” nhằm “phủ nhận sự lãnh đạo của đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo chính trị và nhà nước duy nhất của đảng Lao Động VN.” (lời lẽ kết án của đảng đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm.)

Nhà văn ở miền Nam trước đây không có ai nhận sự lãnh đạo chính trị của đảng nào hay chính phủ nào trong lĩnh vực văn hóa cả. Thiên chức của một nhà văn không phải sinh ra để phục vụ chế độ hầu để kiếm chén cơm, manh áo, chút tem phiếu hay một chức vụ của đảng ban cho. Ở miền Bắc, người ta đào tạo ta những nhà văn như thế, nhưng tận tụy phục vụ cho đảng, cuối cùng cũng chỉ nhận được sự xem thường, khinh miệt.

Có lần, hội nhà văn Cộng hòa Dân chủ Đức, qua Hội Nhà Văn Việt Nam gửi tặng cho các nhà văn Việt Nam mấy cái xe đạp Diamant, thời đó món quà này là một cả một gia tài lớn. Hội nhà văn làm danh sách, chia xe đạp cho một số nhà văn, trong đó có nhà văn Nguyên Hồng. Từ Bắc Giang, Nguyên Hồng lặn lội về Hà Nội nhận xe. Nhưng nhà văn phục vụ chế độ khốn khổ này, cuối cùng chỉ được chụp hình với cái xe, để người ta gửi báo cáo về Đông Đức, còn cái xe thì hội giữ lại để dâng cho bọn lãnh đạo. Nguyên Hồng cho rằng Hội Nhà Văn VN đối xử với hội viên của họ còn thua bọn đầu nậu, du thủ du thực trong Bỉ Vỏ (tác phẩm của Nguyên Hồng trước 1945.)

Còn thời nay, Nguyễn Hữu Thỉnh, người lãnh đạo Hội NVVN suốt 15 năm là một nhân vật như thế nào?

Hữu Thỉnh sinh năm 1942, 10 tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn lính Pháp. 12 tuổi mới được đi học. Nhập ngũ, làm lính Trung đoàn 202, tham gia các công việc như chăn bò, học lái xe tăng, Sau 1975, Hữu Thỉnh học Sơ cấp Thú Y. Đặt để một ông tốt nhiệp sơ cấp Thú Y, trưởng ban Chăn nuôi, biên tập của Tạp chí Thú Y, một ông Thừa Cung thời nay, làm Hội trường Nhà Văn VN, thật là đúng quy cách, đường lối của đảng đối với văn nghệ sĩ.

Hổ thẹn vì mang danh hội viên Hội Nhà Văn VN, ngày 11/5/2015, hơn 20 nhà văn, nhà thơ đã ký tên vào đơn tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam. Đó là Nguyên Ngọc, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Đình Trọng, Võ Thị Hảo, Bùi Minh Quốc, Đặng Văn Sinh, Hòang Minh Tường, Lê Hiền Phương, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Quang Thân, Thùy Linh, Vũ Thế Khôi, Ý Nhi, Dư Thị Hòan, Trịnh Hòai Giang, Dạ Ngân, Nguyễn Duy, và Trần Kỳ Trung. Trong số 20 người, có bốn người cũng đồng thời tuyên bố rời bỏ cả Văn đoàn độc lập: Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Nguyễn Duy và Trần Kỳ Trung.

Cái hội nhà văn do ông Hữu Thỉnh lãnh đạo là cái hội đã đem râu cụ Phan Thanh Giản cắm vào cằm ông Nguyễn Khuyến, lấy khăn vấn của ông Chu Văn An đội cho ông Cao Bá Quát, và cho rằng Hàn Mặc Tử và Yến Lan là một!

Nói về “hòa giải dân tộc,” thì những người có đầu óc suy nghĩ ở hải ngoại hẳn đã phải dị ứng nổi gai ốc, mỗi lần nghe đến mấy chữ này, vì 42 năm với những thù hận, kiêu ngạo, kỳ thị, ngu dốt của những người thắng trận, không còn gì để hòa hợp, hòa giải nữa! Ở trong nước, với người đã chết các ông cũng đào mồ cuốc mả, với người sống thì đàn áp tù đày. Liệu tổ chức được một thứ hội nghị “hòa giải dân tộc” như thế, số tiền hải ngoại gửi về có tăng lên chăng?

Nhưng quý ông trong nước cũng đừng quá bận tâm lo lắng. Không phải đến bây giờ, hải ngoại chưa chịu hòa hợp hòa giải với mấy ông. Cách đây mấy năm, cây cổ thụ âm nhạc như Phạm Duy cũng đã về xin hòa hợp rồi. Ca sĩ ở hải ngoại như Khánh Ly, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Chế Linh, Elvis Phương, Thái Châu, Phương Dung, Hương Lan, Trường Vũ, Phi Nhung, Quang Lê , Tóc Tiên, Đức Huy…về Việt Nam hát thường xuyên, đến đỗi lúc đầu nghe tin CSVN cho phép Khánh Ly về “hòa hợp”, Phạm Duy đã ca tụng đây là một dấu hiệu đáng mừng của “hòa hợp hòa giải!” Rồi Hoài Linh, Chí Tài, Kiều Oanh, Việt Hương cũng nối gót! Ca sĩ gốc “chiến khu” như Thu Phương, Trần Thu Hà, Bằng Kiều…đi ra rồi lại đi vào, đi ngược về xuôi, không còn biết đâu mà lần!

Gần đây một số nhà văn, nhà thơ của miền Nam thời cũ (tôi không dùng chữ phục vụ chế độ cũ,) mặc dầu họ đã là những cựu quân nhân, viên chức, thậm chí đã bị các ông cầm tù, đày ải trong các trại tập trung, cũng đã xin về hòa hợp hòa giải bằng cách “giao lưu” với những nhà văn trong nước, xuất bản, in sách, giới thiệu, ra mắt tác phẩm. Họ đình đám, ca tụng hòa giải với nhau, còn đem hình ảnh ra quảng bá, khoe khoang trên báo chí hải ngoại nữa, thì cần gì các ông phải nhọc lòng, tốn ngân khoản để tổ chức hội nghị này, hội nghị nọ cho nhọc lòng, thêm đề tài cho thiên hạ chửi nữa..

Cũng có thể rồi đây, các ông sẽ chiêu dụ được một đám lòng tong, cá chốt ở đây về dự tham dự hội nghị “hòa hợp dân tộc” nhân dịp giỗ Tổ Hùng Vương. Cũng còn nhiều anh lúc ra đi, trốn chui trốn nhũi, bây giờ về, muốn được xe công an hộ tống có còi hụ dẫn đường, và muốn nhảy cẫng, leo lên sân khấu cùng vỗ tay hát bài hát “Như Có Bác Hồ” của Phạm Tuyên, đứa con bất hiếu!

Tôi không nghĩ là ông Hữu Thỉnh “hoang tưởng” như nhà văn Nhật Tiến nhận định trong cuộc phỏng vấn của Văn Hoá, có thể Cộng Sản nghĩ đúng: mẻ lưới nào quăng ra mà không có cá! Không có cá thì cũng có cua, còng, rơm rác! Rồi căn cứ vào đó, theo thói quen được chăn dắt, báo chí truyền hình trong nước lại ca tụng: “hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học” đã thành công rực rỡ!

Thôi, “bỏ đi Tám!”

Huy Phương

Nguồn :http://thoibao.com/mon-qua-hoa-giai/

Quán Thơ Hư Vô 282


THÁNG TƯ, NGÀY TẬN THẾ

Sài gòn tháng tư ngày tận thế
Mẹ về chưa kịp phút lâm chung
Để thấy thằng con ria họng súng
Viên đạn đồng kết liễu anh em.

Bốn mươi năm còn nghe tiếng khóc
Ngổn ngang một chứng tích tương tàn
Có tự hào bên nào chiến thắng
Bàn thờ cũng đã lạnh khói nhang.

Dòng máu đỏ mang hồn tổ quốc
Tội tình gì mà phải giết nhau
Mẹ đẻ hoang đàn con mất giống
Trơ gan vùi dập xác đồng bào!

Bốn mươi năm Sài gòn đã chết
Kể từ ngày thành phố đổi tên
Cờ sao bay đỏ tròng con mắt
Đắng hồn giỗ muộn tháng tư đen…

Hư Vô

ĐEM TÌNH VỀ THẮP THÁNG TƯ

Tháng ba mang đi chiếc lá tội tình
Ô cửa lớp lạc vào vườn cổ tích
Tình yêu tôi rất thơm màu mực tím
Chưa kịp phai khi phượng trổ đầu cành.

Tiếng ve rền đâu đó giữa trời xanh
Sao xa ngái tiếng cười tan nắng vỡ
Tôi đứng lại nhìn thời gian ngược gió
Chợt nghe tim mình lỡ nhịp run lên.

Cũng đâu còn tiếng guốc mộc êm êm
Buổi sáng vừa lên nắng hồng đôi má
Màu mắt trong veo chao nghiêng sắc hạ
Bỏ mặc mình tôi nắng sớm chuyển mùa.

Tôi theo mưa về tìm tháng tư xưa
Trong nỗi nhớ vụng về thời mới lớn
Thương vạt nắng chông chênh vừa qua cổng
Đỏ một trời màu phượng của tôi ơi.

Nguyễn An Bình

ĐÔI MẮT THÁP MƯỜI

cớ chi môi miệng em cười
làm cho tôi nhớ Tháp Mười tràm chim
nắng vàng thả ngập chiều nghiêng
em chèo mà mắt đưa duyên ngập ngừng

trách con chim sáo lừng khừng
sao không nhắn gửi tôi đừng sang sông
Tháp Mười chiều xuống mênh mông
để tôi lạc giữa bềnh bồng mắt em…

êm êm sóng vỗ mạn thuyền
sen mùa nước nổi bình yên chim về
ngọt ngào tiếng hót đê mê
bâng khuâng chân bước lặng nghe hương tràm

Tháp Mười ơi nắng đừng tan
để tôi còn gặp mùa vàng tương tư
để tôi còn níu nụ cười
của người em gái Tháp Mười vướng chân…

Nguyễn Minh Phúc

HOA QUÊ

Lưng đèo hoa rụng nhặt thưa
Vườn xưa cau cũng già nua lắm rồi
Người về… nắng đã qua đồi
Bờ sương khói lạnh sông phơi bóng tà

Những mùa mưa bão quê xa
Đi qua… có để phù sa bãi bồi
Mà Mua vẫn tím ven đồi
Sắc màu da diết nửa đời xa quê.

Mây ngàn theo gió sơn khê
Người đi…đi mãi… lối quê mịt mờ
Hoa Mua cùng với tuổi thơ
Chỉ còn trong những giấc mơ nửa chừng

Rồi mai cát bụi về rừng
Xin làm ngọn cỏ lưng chừng đồi quê
Có hoa Mua tím bốn bề
Ru cho tròn giấc người về trăm năm

Bến chiều nằm nhớ xa xăm
Cội tre già cũng trầm ngâm mấy mùa
Ngậm ngùi nhặt cánh hoa Mua
Ngờ trong sắc tím… ngày xưa lại về.

Phan Mạnh Thu

LỤC BÁT TRONG TRĂNG.

Cúi hôn đất mặn vị gừng
Nghe hoa mai nở nửa chừng lại thôi.
*
Ngày về nhặt bóng trăng côi
Đem treo ngược giữa tay người lộ thiên
*
Quê nghèo sót chút hồn duyên
Vườn rau muống nhớ con thuyền neo xa
*
Tháng mười cải muộn nở hoa
Mái tranh vệt khói lạnh tà tà bay
*
Nỗi buồn hóa những vầng mây
Tha hương mỏi lối đọng đầy cố hương.
*
Em chưa khô giọt lệ hường
Mà hoa súng đã tím phương trời chiều
*
Mắt nhòa nhạt dấu sương yêu
Gió xa lắc động cánh diều ngủ say
*
Trời còn nắng đổ cuồng quay
Áo em ướt đẫm giọt ngày mồ hôi
Môi hường ngậm ánh xuân thôi
Duyên quê em khiến chiều tôi vỡ òa…

Lê Bảo

HẠ PHAI KỶ NIỆM

Nơi anh đã đi qua
Hôm nay em tìm đến
Mấy mươi năm bao xa
Tình cờ như ước hẹn…

Đâu rồi Mỏ Cày Nam
Không như xưa anh kể
Bao đại lộ thênh thang
Nuốt anh vào dâu bể

Giẫm chân vào dấu xưa
Ngậm ngùi chạm dang dở
Mới biết mình trẻ thơ
Tin thời gian thong thả

Phượng nở sớm cuối xuân
Không đỏ bằng lòng mắt
Còn gì để bâng khuâng?
Hụt hơi….chôn kỷ niệm!

Tương Giang

BUỔI NGƯỜI

Cái năm tôi đi ngược Dọc Đường Số 1(*)
Những trận mưa làm đất mốc lên buồn
Có tiếng súng lùng bùng trong họng súng
Có biến kinh chóp chép miệng người luôn

Dấu Binh Lửa(*) làm non sông xạm mặt
Mũi lưỡi lê hộc máu chảy tanh nồng
Người ngả xuống trên đèo cao dốc thẳm
Thiếu phụ cười giọt lệ nuốt vào trong

Những trận đánh diễn ra trên rừng núi
Mặt trời khuya treo trái sáng soi đêm
Súng đạn gì như thứ cô hồn sống
Bắn quê hương dụi xuống vũng tro mềm

Những trận đánh diễn ra trong thành phố
Nướng dân đen như ngói đến cong oằn
Cuộc chém giết ngày càng thêm khốc liệt
Ghê máu xương nhuộm đỏ mối thù hằn

Viên đạn đồng theo ngón tay vừa lẫy
Đạn bay ra mạnh như một quốc gia
Bị tách khỏi chia thành hai giới tuyến
Hiệp ước buồn trang giấy ẩm sương hoa

Mảnh nước non nhai hoài không đứt nỗi
Hàm răng mòn bệu bạo cạp ngả nghiêng
Cây súng gẫy buồn như viên đạn rỉ
Nằm ngu ngơ bên đám cỏ hoa hèn

Tôi đưa em băng qua vùng lửa cháy
Buổi điêu tàn không nỡ hẹn ngày sau
Khi trườn qua khổ đau và hạnh phúc
Có chút lòng rất khẽ gọi tên nhau

Phan Ni Tấn
(*) Tên tác phẩm của nhà văn Phan Nhật Nam

NHỮNG NGÀY NÀY

Những ngày này chợt thèm nghe
Bát theo câu lục em vê… tình về!
Ngoại ô lặng lẽ tư bề
Chỉ nghe nhịp đập đam mê tim mình

Những ngày này cách xa em
Vào đêm nguyệt bạch lại thèm áo xanh
Môi cười mươn mướt trâm anh
Ngày sau cũng rứa, mô đành quên nhau?

Nghiệp duyên chưa rã rời đâu
Vô thường tất hiểu, bể dâu tất rành…
Em về nhổ tóc riêng anh
Dú đi sợi bạc, long lanh sợi buồn…

Những ngày này bọc nhớ thương
Anh nung nấu mộng cho tường tận em
Xuân này là xuân đầu tiên
Anh không ngược nắng nên viên mãn lòng…

Trần Dzạ Lữ

VỀ SÀI GÒN, THÁNG TƯ

Tháng tư
về giữa Sài Gòn
Xơ rơ góc phố. Vai mòn lá me.

Rụng rời
năm tháng nhiêu khê
Hàng phượng chết sững. Cành tê dại cành.

Tìm đâu
xưa, nụ cười tình
Trơ em phố vắng. Buồn tênh cội hồng.

Trải lòng vấn ngọn hư không
Mượn người giọt nhớ, rơi trong nắng hè!…

Đức Phổ

Hành Tháng Tư. Thơ Hư Vô


Qua Sông. Tranh Đinh Cường

(Qua Sông. Tranh Đinh Cường)

Đường nhân gian lạ lẫm
Một ngày tháng tư đen
Xô đời em vấp ngả
Vào đám người chưa quen.

Đâu còn ai hò hẹn
Giữa trời đất ngổn ngang
Em xanh xao quờ quạng
Níu một cuộc tình tan.

Đã lỡ làng lỡ vận
Ở phía ngoài cơn mê
Tôi lạ nơi lạ chỗ
Đâu còn lối quay về.

Mà em như cọng cỏ
Mọc giữa trái tim tôi
Vết sầu đang mưng mủ
Tươm qua đời tả tơi.

Có bước vào quá khứ
Cũng chỉ tới đường cùng
Đâu còn ai ngoảnh lại
Được thấy lần khóc chung.

Ngày tháng tư quằn quại
Đau đã thấu hình hài
Tiếng gọi nhau khản giọng
Chưa qua khỏi trần ai.

Bốn mươi năm gộp lại
Như một tiếng thở dài
Để hồn tôi dị mộng
Thành giọt lệ mãn khai.

Lăn quanh em lận đận
Thời tình cuối tháng tư
Đã hoang tàn phế tận
Một khúc đời còn dư…

Hư Vô

Tháng Tư, Ngày Tận Thế. Thơ Hư Vô


Tháng Tư, Ngày Tận Thế

Sài gòn tháng tư ngày tận thế
Mẹ về chưa kịp phút lâm chung
Để thấy thằng con ria họng súng
Viên đạn đồng kết liễu anh em.

Bốn mươi năm còn nghe tiếng khóc
Ngổn ngang một chứng tích tương tàn
Có tự hào bên nào chiến thắng
Bàn thờ cũng đã lạnh khói nhang.

Dòng máu đỏ mang hồn tổ quốc
Tội tình gì mà phải giết nhau
Mẹ đẻ hoang đàn con mất giống
Trơ gan vùi dập xác đồng bào!

Bốn mươi năm Sài gòn đã chết
Kể từ ngày thành phố đổi tên
Cờ sao bay đỏ tròng con mắt
Đắng hồn giỗ muộn tháng tư đen…

Hư Vô

Sài Gòn Tháng Tư. Thơ Hư Vô


Một ngày tháng tư đang cơn hấp hối
Tôi lao vào lửa khói tới tìm em
Phố xá tan hoang mịt mù thuốc súng
Chiếc ghế ngồi chung chổng cẳng ngỡ ngàng.

Sài gòn thất thủ chưa lời trăng trối
Đám đông hối hả giục giã bỏ đi
Tôi tìm em trong đoàn người di tản
Viên đạn đồng bay đỏ cánh tường vi.

Con đường nhỏ có lần em qua đó
Dấu guốc tình nhân một thủa đâu còn
Vòng xích xe tăng lăn ngang thành phố
Sài gòn thân yêu đã mất linh hồn.

Chưa kịp thấy em trong lần thất tán
Bảng vẽ còn thấm mực dấu e- ke
Tôi đứng sửng giữa sân trường Kiến Trúc
Họng súng bạt tình ria nát tàng me.

Sài gòn ngổn ngang chất đầy chiến tích
Để người người quay mặt bỏ nhau đi
Giọt nước mắt cuốn em ra biển lớn
Xô hồn tôi chìm xuống cuối tháng tư …

Hư Vô

Bến Bờ. Thơ Hư Vô


IMG_1659

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!

Lời tình còn đọng trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 281


DẤU SON THỜI ÁO TRẮNG

Những hạt sỏi lăn qua đời hối hả
Vướng gót chân em thuở mới biết buồn
Tôi về như lữ khách không hò hẹn
Hàng lá me xưa đã lạ tên đường.

Đâu còn thấy dáng em chiều tan học
Bên hạt mưa bay lất phất sân trường
Bàn tay nhỏ che nghiêng nghiêng lồng ngực
Vô tình em đánh rớt một mùi hương!

Mà mãi cả đời tôi còn vương vấn
Nhặt sợi tơ mưa ướt ngón chân người
Có ngọn cỏ may mọc ngoài cửa lớp
Gió động cành xuyên thấu trái tim tôi.

Vết sẹo đã xanh um lòng phố cũ
Đời quanh co lạ lẫm dáng Sài Gòn
Tàng me cỗi chụm đầu nghe lá rụng
Chờ tôi về nhặt lại một dấu son…

Hư Vô

BÊN KHE NƯỚC NGỌC TUYỀN

Mộng dắt ta về lúc nửa đêm
Chờ tia nắng cũ rọi qua thềm
Có ai xô lệch hai vành gối
Vì lá còn rơi ta nhớ em

Ta chợt cười vang giữa cô miên
Ý thơ vừa động mảnh hoa tiên
Ngàn năm một đoá sen vàng cũ
Vẫn nở bên khe nước Ngọc Tuyền

Từ đó ta vào thăm đất lạ
Dạo chơi gần khắp cõi u minh
Và nghe tiếng hót bầy chim lạ
Nhởn nhơ trên bãi cát phù sinh

Khi ngọn đông phong chao ánh đèn
Tình cờ gặp lại giấc mơ quen
Đâu còn ai khóc trong tình sử
Vì giữa đời ta đã có em

Trần Yên Thảo

NGỒI ĐỢI CƠN MƯA

Còn ai ngồi đợi cơn mưa
Để tôi ngỡ chiếc lá vừa tương tư
Bỗng dưng nắng rớt, hình như
Em từ sỏi đá thiên thu lại về.

Biết em còn nhớ sông quê
Để chăn nhớ chiếu một thời có đôi
Áo xưa còn nhớ hơi người
Như cây nhớ lá đơm chồi hoa niên.

Thương em đứng trước cửa thiền
Nhìn Vô Ưu nở để phiền muộn tan
Lời tình ủ hạt từ tâm
Nghe trong kinh ánh đạo vàng hóa thân.

Cuối ngày chờ nhặt thời gian
Để tơ tóc phải ngỡ ngàng sớm trưa
Tìm đâu những chuyến phà xưa
Chỉ còn tôi đợi cơn mưa chưa về.

Nguyễn An Bình

TƯỢNG CHIỀU

Gã ngồi trên nền chiều
Xanh xanh màu lá mạ
Mắt như hoa mùa hạ
Lẫn trên hàng cây khô

Vẳng chuỗi ca mơ hồ
Tung mình con bươm bướm
Từng cánh vờn chao lượn
Quấn quít nhành tay đen

Gã ngồi trên nền trời
Hồng như hoa thược dược
Một vài con sóng nước
Gợn trên vòm trán cao

Tiếng ca nào xanh xao
Vắt ra từ ánh mắt
Từng hạt kinh lạnh ngắt
Lung linh tàu lá sen

Gã ngồi như thói quen
Qua chiều hồng, chiều tía
Nỗi sầu đem từng vỉa
Hiện trên từng nếp da

Đã tan những hạt ca
Trên viền môi con dế
Nền trời vằn sóng bể
Gã đảo buồn san hô

Phạm Thiên Thư

SẦU RỌI XUỐNG CHÂN ĐỜI

đêm chật chội gió luồn ngõ vách
rùng mình. da diết lạnh chen vai
bên sông đò hụt nằm trơ bãi
buồn tênh. con sóng liếm eo bờ.

ngõ vắng. đèn khuya chao chiếc bóng
lung linh. sầu rọi xuống chân đời
quyết mở then hồn. thôi cài giậu
thử người hò hẹn. dám sang không?

đường xa ải vắng kêu không thấu
khản cổ mòn hơi. lòng chẳng mòn
khuyết trăng chỉ ngại người sương tuyết
vai lệch xô nghiêng gánh. nửa đường.

mộng đứng chông chênh không đậu được
bến tình. bão dữ cuốn phăng neo
giữa khuya hồn dậy trăm con nước
về hùa. cơn lụt bỗng hùa theo.

có phải khóc không mà mắt ướt
khi đời ráo hoảnh bóng trăng soi
sầu chở đầy khoang. sầu dựng ngược
ngỡ ngàng. bờm giục ngựa về xuôi.

Đức Phổ

THỜI NHÀ SÀN

sống mọi cà lơ
du canh du cư vài năm rồi bỏ
vào tuốt rừng sâu chặt cây vạt cỏ
dựng túp nhà sàn ở tạm dăm năm
có khỉ dòm nhà có chó leo thang
trâu gõ mõ chim bắt cô trói cột
nương bắp nương khoai ăn bằng muối hột
hết mỡ mầu cuốn gói ra đi
bây giờ tắm xong cùng biệt cùng ly
duyên đã tận tình chia hai ngả
con thuyền ra khơi chả gì non nả

mừng cho nhau ngày hai đứa lâm hành

Chu Vương Miện

CÒN NHỚ KHÔNG NGƯỜI

ôm tê tái những buổi chiều cô quạnh
tôi ngồi nghe mưa đổ một hiên chiều
người đã đến trong đời tôi bất hạnh
để bây giờ bỏ lại bóng cô liêu

tôi biết sẽ một ngày ôm tiếc nhớ
phấn son kia hương nhạt mắt môi nhòa
hạnh phúc đó như đã từng dang dở
nên tôi ngồi thinh lặng giữa đời tôi

người rồi cũng như khói trời xa khuất
bóng mây che lạc lối mấy phương trời
tôi mê mải một đời đành đánh mất
cuộc tình nào cũng như gió mây trôi

ngồi đợi những tàn phai bên đời tận
mới hay rằng tình trót đã hư vô
chợt đắm đuối cơn mê chiều ngùi ngậm
qua đời tôi người còn nhớ không người…

Nguyễn Minh Phúc
……………………..

ĐÍNH CHÍNH

Trong Quán Thơ Hư Vô trên báo Việt Luận Úc Châu ngày thứ sáu 17/03/2017 ở trang 109 chúng tôi có phổ biến bài thơ KHÓC ĐI YÊU DẤU TÌNH TÔI, đã ghi nhầm tên tác giả là Nhà Thơ Ngô Nguyên Nghiễm.
Xin đính chính, tác giả bài thơ KHÓC ĐI YÊU DẤU TÌNH TÔI này chính là của Nhà Thơ Trần Kiêu Bạt (1948 – 2005).

Chúng tôi xin thành thật xin lỗi Nhà Thơ Ngô Nguyên Nghiễm về những sơ suất trên. Và cũng để tỏ lòng kính mến Nhà Thơ Trần Kiêu Bạt đã khuất, chúng tôi xin đăng lại bài thơ này như một nén nhang gởi đến ông nhân ngày giỗ lần thứ 12 của ông sắp đến.
Chúng tôi cũng xin lỗi tất cả độc giả về những điều đáng tiếc đáng lẽ không nên để xảy ra, rất dễ đưa đến ngộ nhận trong Văn Sử.

Hư Vô

……………………….

KHÓC ĐI YÊU DẤU TÌNH TÔI

Lâu lắm chân anh mới dạt về
Tưởng chừng đôi đứa đã sơn khê
Thăm em buồn lắm trời mưa xuống
Nhà nhỏ đèn lu lạnh bốn bề

Mẹ già tóc bạc hơn mùa trước
Thêm chị theo chồng thôi ở đây
Riêng em đời chẳng thêm gì khác
Chỉ một hồn xưa chết mỗi ngày

Giọng thầm em trách như là khóc
Sao chẳng bao giờ anh viết thư
Để em còn nghĩ là anh nhớ
Tình em vô vọng mấy năm dư

Lâu lắm rồi em anh chỉ sống
Chút mộng đêm tàn cơn gió rung
Nhắc làm chi nữa mà đau lắm
Nghe đang nhỏ máu xuống lòng anh

Em hiểu giùm cho không nói hết
Dao đời nhát mạnh chém hằn thêm
Thuyền chao buồm rách mà chưa nghỉ
Sương gió ngày mai biết nổi chìm

Lụn xuống đêm nay lời tuyệt vọng
Gởi em thôi nhé biệt nhau luôn
Thời gian, anh hiểu rồi chôn hết
Chuyện một tình yêu quá đỗi buồn.

Trần Kiêu Bạt

Đôi Nét Về Nhà Văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Đoàn Dự (ghi chép).


Đoàn Dự
(ghi chép)

(Chân dung Nhà Văn Nguyễn Thị Thụy Vũ)

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật là Nguyễn Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long. “Băng” là băng giá, băng tuyết; “lĩnh” là ngọn núi cao; “băng lĩnh” là ngọn núi cao quanh năm băng giá. Nhưng văn chương của chị Thụy Vũ thì chẳng băng giá một tí nào mà nó sinh động, hấp dẫn, hết sức tự nhiên, gần như… hơi can đảm vì dám nói thẳng ra những gì mình nghĩ, không sợ phái nữ phiền lòng.

Đây, chúng ta hãy coi thử những câu chị viết trong truyện ngắn “Lìa sông”:

Em lo lắng lắm, không muốn dạy ở đây lâu hơn. Lật bật rồi đây học trò cũ có cháu nội cháu ngoại, mình phải làm bà cố bà cốc thì còn gì là đời em nữa. Nước mắm càng để lâu càng ngon, con gái để lâu như hũ mắm treo đầu giường, mà lại treo bằng loại chỉ rút ở thân cây chuối bẹ thơm thì thảm ghê gớm lắm! Nhiều khi nghĩ ngợi xa xôi, em ngáp ồn ào, chán đời nhưng không có can đảm cắt tóc đi tu”.

Ngay đến phái nam chị cũng chẳng tha: “Vào một buổi sáng, ông Trưởng ty chợt nhớ tới trường tụi em đã lọt sổ nhiều năm nay. Ổng dùng xuồng máy cùng ông Thanh tra rẽ nước lướt sóng mấy giờ đồng hồ mới tới nơi. Còn cách trường chừng một trăm mét, ông Trưởng ty muốn gặp quả tang cách làm việc và tác phong của bọn thầy giáo, cô giáo ở xa Ty, bèn đề nghị ông Thanh tra tắt máy ho-bo, dùng dầm bơi vô để không gây tiếng động. Hai ông có dáng dấp khác nhau. Ông Trưởng ty ốm như cây tre miễu, ông Thanh tra có vẻ xổ sữa hơn. Hai ông cột ho-bo cách chừng mười thước, đổ bộ lên núp sau hè lớp giống như cặp hề, chú ốm chú mập, Laurel và Hardy trong phim chọc cười. Ông Hiệu trưởng vẫn thản nhiên nằm lim dim trên võng phơi bụng, thịt da chảy nhì nhùng. Mùi rượu đế nặc nồng tỏa một góc lớp. Hai ông nhìn nhau thì thầm điều gì không rõ. Ông Hiệu trưởng ngỡ là mấy đứa học trò lớp nào đi tiểu ngoài hè. Ông tằng hắng một tiếng cho hạ đàm rồi nhiếc: “Quân nào rình mò ngoài vách đó? Tao bận xà-rông chớ chưa ở truồng mà!”. Hai ông bèn qua lớp khác thì thầy giáo đã đi đánh bài đâu mất, bỏ lũ học trò nhốn nháo như đàn vịt. Thua buồn, hai ông xuống ho-bo ra về. May quá, hôm đó các ông tới muộn, em đã ăn sáng xong, lá tẩy em chưa bị lật!”. Thật, hết chỗ nói và… hơi tức cười!

Năm 28 tuổi, chán không muốn làm cô giáo làng và không chịu nổi không khí bí bách, ngột ngạt ở nơi tỉnh nhỏ, Thụy Vũ bỏ Vĩnh Long tìm lên Sài Gòn để sống và viết. Khởi nghiệp từ năm 1965, chị viết truyện ngắn gửi đăng trên các tạp chí văn nghệ và nhanh chóng được chú ý nhờ lối viết sắc sảo, mạnh bạo, có duyên, nhất là với các đề tài riêng biệt khác hẳn các cây viết nữ cùng thời lúc đó. Chị viết về giới bán phấn buôn hương, các cô gái “snack bar”, các me Mỹ và các chuyện phá thai, những giấc mơ bị cưỡng hiếp, những người đàn bà bán trôn nuôi miệng nhưng luôn luôn sợ hãi một ngày nào đó mông teo ngực nhão không còn kiếm ra tiền, đói nghèo sẽ tới, bệnh hoạn sẽ cướp đi cuộc sống. Những đề tài này không lạ đối với các tác giả phái nam nhưng lại do một cây bút phái nữ đề cập, đó là chuyện lạ. Tại Sài Gòn, chị thuê một căn nhà mái tôn, vách ván, nằm trong một xóm lao động nghèo ở phía đối diện với chợ Đũi, quận 3, gần Tòa đại sứ Miên ở chỗ ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng (nay là đường Cách Mạng Tháng 8 và Nguyễn Đình Chiểu, gần rạp ciné Nam Quang).

Cách Tòa Đại sứ Miên một khoảng có đình Phú Thạnh và phía sau ngôi đình ấy là “thế giới” của các cư dân nghèo, của những cảnh đời sa đọa, đầy rẫy đĩ điếm, ma cô, hút xách, rượu chè, cờ bạc, v.v… Thụy Vũ viết lách và làm thêm nghề dạy tiếng Anh cho các me Mỹ, các cô gái bán ba trong khu lao động đó. Cũng chính nhờ những sự tiếp xúc này, chị biết được nhiều chuyện do họ tỉ tê kể lại, làm chất liệu cho những tác phẩm cả truyện dài lẫn truyện ngắn chị viết về sau. Chúng ta thử xem chị mô tả một đoạn lúc đến dạy Anh văn cho mụ gái điếm đã gần tàn xuân sắc mang tên Mi-sen (Michèle). Từ thuở nhỏ Mi-sen chưa từng biết chữ, kể cả chữ Việt, nay vì nhu cầu giao dịch với ngoại kiều, bắt buộc nàng phải học. Cái tên Michèle do người khác đặt cho, nàng cũng không biết phải viết ra sao, mỗi lần lên quận làm giấy tờ, thay vì ký, Mi-sen đánh dấu chữ thập.

“… Hôm nay như thường lệ, tôi đến dạy Mi-sen vào những buổi trưa nắng gắt. Vào giờ này cánh cửa sắt trước nhà đã được chị Tư mở sẵn. Tôi cứ việc ung dung dẫn xe đạp vào và tự tay đóng cửa lại, không phải gọi chuông inh ỏi nữa. Đi ngang qua phòng khách tôi rẽ tấm màn quẹo qua buồng ngủ Mi-sen, rồi gõ nhẹ cửa.
“Cô giáo đó hả, vô đi.”
Tôi đẩy cửa bước vào, rồi bất chợt dừng lại. Mi-sen cười ngặt ngoẹo:
“Vào đi cưng. Chờ chị làm massage một chút nghen.”
Tôi tìm chiếc ghế ngồi cạnh giường, Mi-sen pha trò:
“Cô giáo hôm nay bắt gặp học trò trần truồng như nhộng. Chỗ đàn bà với nhau cả phải không cô.”
Bây giờ tôi được dịp quan sát Mi-sen kỹ hơn. Nàng nằm trên một chiếc khăn lông màu hồng trải trên tấm nệm mút phủ “ra” trắng. Bà làm massage quỳ hai gối xuống nệm, hai bàn tay thoăn thoắt trên các bắp thịt mông và lưng nàng. Mồ hôi rịn ướt trên đôi tay gân guốc của bà. Mắt Mi-sen lim dim, dáng điệu nàng như con mèo sưởi nắng một cách khoan khoái. Lúc nào nhìn người đàn bà khỏa thân tôi cũng có một cảm giác lạnh lẽo và tê tái như nhìn một bức tranh tĩnh vật với màu sắc hết sức ảm đạm. Riêng đối với Mi-sen, tôi nghĩ rằng tấm thân nõn nà, với làn da mịn màng đó, có cái gì mong manh. Tuổi già đã gần kề nàng. Chẳng bao lâu nữa, những bắp thịt thon đẹp kia sẽ nở bung ra, bụng sẽ nhão nhoẹt. Nghĩ tới giai đoạn đó, tôi cảm thấy buồn hơn là ganh tị…” (trích “Đợi chuyến đi xa”, trong tập truyện ngắn “Mèo đêm”)

Từ khi rời Vĩnh Long lên Sài Gòn cho tới 30/4/1975, Thụy Vũ đã viết được 10 tác phẩm, trong đó có 7 truyện dài và 3 tập truyện ngắn.

– 7 truyện dài gồm: Ngọn Pháo Bông, Thú Hoang, Khung Rêu (đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm, Cho Trận Gió Kinh Thiên.

– 3 tập truyện ngắn gồm: 1.Mèo Đêm (gồm 6 truyện: “Một Buổi Chiều”, “Đợi Chuyến Đi Xa”, “Mèo Đêm”, “Nắng Chiều Vàng”, “Bóng Mát Trên Đường” và “Miền Ngoại Ô Tình Lẻ”); 2.Lao Vào Lửa (gồm 3 truyện: “Chiếc Giường”, “Lao Vào Lửa”, “Đêm Nổi Lửa” – Truyện “Chiếc Giường” và truyện “Lao Vào Lửa” lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn. Còn truyện “Đêm Nổi Lửa” lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó thường gọi là Nhà Thương Bạc Hà); 3.Chiều Mênh Mông (gồm 6 truyện: “Chiều Mênh Mông”, “Tiếng Hát”, “Lìa Sông”, “Cây Độc Không Trái”, “Trôi Sông” và “Đêm Tối Bao La”).

(Những tác phẩm tiêu biểu của Nhà Văn Nguyễn Thị Thụy Vũ)

Chúng ta thử điểm qua các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã xuất bản.
Trước hết là 7 truyện dài của chị:

1. Thú Hoang: Mô tả thế giới nữ sinh trong một trường công lập tại tỉnh nhỏ. Ba nhân vật nữ chính, cô thứ ba bị tên nam sinh trường khác cưỡng dâm. Cô thứ hai dan díu với tên nam sinh sở khanh, có thai và phải đi phá thai. Còn cô thứ nhất xưng tôi, vì chán không khí tù túng nơi tỉnh lỵ cố hương nên bỏ nhà lên Sài Gòn với hy vọng có cuộc đời mới. Nhưng trên chuyến xe đò, cô gặp một tên nam sinh sở khanh và cảm thấy mềm lòng trước sự ve vãn của hắn. Tới đây tác giả chấm dứt câu chuyện, không ai biết sự đam mê sẽ đưa cô tới đâu.

2. Ngọn Pháo Bông: Mô tả tâm trạng của một cô gái buôn hương bán phấn về chiều nhưng vẫn còn hấp dẫn đối với mấy anh lính Mỹ trẻ trung. Cô kiếm ra tiền song lại thích bọn trai trong nước và bị chúng bòn rút, kiếm tiền của cô. Cuối cùng, cô bị đâm chết trong căn apartment mà nhà chức trách không sao tìm ra thủ phạm.

3. Như Thiên Đường Lạnh: Mô tả đời sống của cặp vợ chồng định cư trên cù lao sông Cổ Chiên gần chợ Vĩnh Long. Chồng là thầy giáo tiểu học, không hẳn là người ham thú vui tửu sắc nhưng chán cảnh sống vô vị ngày nào cũng lặp đi lặp lại không hề thay đổi. Vợ là người đàn bà nóng nảy, hỗn hào, tính hay ghen tuông nhưng rất mực đảm đang và một lòng một dạ thương yêu chồng. Người chồng chán sống, chán sự ngưng đọng ở nơi nửa quê nửa tỉnh song vì tinh thần yếu đuối, không có tài năng nên cuối cùng vẫn giữ nghề gõ đầu trẻ với sự uể oải không có niềm vui đó.

4. Nhang Tàn Thắp Khuya: Đây là câu chuyện về một người vợ mực thước, gánh vác giang sơn nhà chồng mà chồng là một “đại gia” thuộc hạng giàu có. Bất ngờ, một người bạn của chồng hiện diện. Y hiền lành, ít nói, tính tình thụ động, trái hẳn sự vững chắc, mạnh mẽ của chồng. Người vợ vốn rất bao dung và hay mềm lòng đối với kẻ yếu đuối. Nàng không ngờ từ sự thông cảm của mình, dần dần làm nàng lún sâu vào tình yêu. Người bạn của chồng và nàng đều thầm hiểu rằng họ đã yêu nhau, người bạn hăm hở tiến tới, còn người vợ vì lễ giáo nên chỉ đau khổ trốn vào bổn phận vợ hiền. Song song với tình yêu chồng, người vợ có một niềm bí mật ngàn lần lộng lẫy nàng vẫn cất giấu trong kho tàng kỷ niệm của riêng mình.

5. Chiều Xuống Êm Đềm: Truyện xảy ra vào thập niên cuối của thế kỷ 19. Cặp vợ chồng già trưởng giả ở làng Đạo Thạnh tỉnh Mỹ Tho, sống cô đơn, nương tựa vào nhau. Ngày xa xưa, khi còn nhỏ tuổi, người chồng đã từng chứng kiến người cô ruột của mình hãy còn là một xử nữ, trong chuyến hải trình từ Huế vào Nam Kỳ, đi thuyền, gặp sóng to gió lớn, chủ thuyền và bọn hành khách mê tín đã nhẫn tâm liệng người cô ấy xuống biển cho Long Vương làm vợ bé để cầu biển lặng sóng êm. Khi cậu bé lớn lên, cậu cưới một thiếu nữ thuộc họ hàng thân thích của Tả quân Lê Văn Duyệt.

Nhưng sau khi Tả quân qua đời, Lê Văn Khôi, con nuôi của Tả quân, làm loan nên bị triều đình tiêu diệt và cả họ hàng của Tả quân bị liên lụy, bị xử chém theo án tru di tam tộc. Người vợ họ Lê dùng bột tỳ sương tự vận để khỏi bị lôi ra pháp trường xử trảm. Thời gian trôi qua, ít lâu sau người chồng tục huyền với một thiếu nữ khác. Dù được người vợ sau yêu thương và tận tụy săn sóc, nhưng hai vết thương
lòng–cái chết của người cô ruột trên thuyền và người vợ cũ tự vận–không thể nào tàn phai trong tâm trí người chồng khốn khổ đó.

Người vợ sau chỉ sinh được hai cô con gái. Cả hai đều xinh đẹp, hiếu hạnh và lấy chồng có địa vị cao sang trong xã hội, làm vẻ vang cho cha mẹ. Rồi các cô lần lượt theo chồng. Dưới mái nhà âm u, cổ kính chỉ còn đôi vợ chồng già. Đây là lúc lão ông sống với dĩ vãng đau thương, còn lão bà thì lúc nào cũng lo sợ cái chết sẽ cướp đi một trong hai vợ chồng, người ở lại sẽ phải chịu cảnh lẻ loi trong buổi hoàng hôn của cuộc đời…

6. Cho Trận Gió Kinh Thiên: Đây là một xã hội thu nhỏ của xóm lao động ở gần chợ Đũi và bót cảnh sát Quận 3, cùng bên với Tòa Đại sứ Miên trước năm 1975 (nay là trụ sở UBND Quận 3). Ở đấy có đình Phú Thạnh. Khu phía sau đình là xóm có nhà chứa điếm, có quán nhậu, có sòng bài, có chỗ hút á phiện… Trong khung cảnh bệ rạc “tứ đổ tường” ấy, chỉ trừ hai nhân vật chính có ăn học là đôi tình nhân Đồng và Nguyệt, còn thì toàn là thứ đá cá lăn dưa, chằng ăn trăn quấn. Gặp thời buổi lính Mỹ đổ qua Việt Nam tham chiến, đàn bà con gái trong khu đua nhau lấy Mỹ, ngoại tình, bài bạc…

Thậm chí, một bà mẹ trong căn gác xép, ngồi niệm Phật thì cô con gái lợi dụng đêm tối, chỗ khuất cột đèn, đem tình nhân về hì hục làm tình ở ngoài bao lơn khiến bà than trời như bọng: “Mèn ơi, mỗi khi mình mở miệng niệm Phật thì ở ngoải tụi nó làm đùng đùng như cù dậy”. Lại có chuyện đôi vợ chồng già, chỉ còn sống chung với nhau vì nghĩa, hết còn vì tình. Ông chồng đau ốm dây dưa làm phiền bà vợ trong khi bà rất mê bài bạc. Lúc ông hấp hối, đứa cháu đến sòng tứ sắc báo tin, bà nhứt định đánh cho tới “đứt chến” mới về nhà lo ma chay. Bà già này có đứa em gái vừa câm vừa điếc, vậy mà không hiểu sao cũng có tên đàn ông nào đó “gieo giống” khiến y thị có thai, lần lượt đẻ hai đứa con cho chị mình nuôi. Đến khi y thị lăn đùng ra chết, bà già mê bài bạc vẫn tiếp tục đánh tứ sắc trong khi xác đứa em gái còn nằm trên gác chưa tẩn liệm…

7. Khung Rêu: Truyện này được Giải thưởng Văn học toàn quốc năm 1971, lấy thời điểm là khoảng năm 1945, từ thời Pháp thuộc chuyển sang thời kỳ “cách mạng” của Việt Minh. Gia đình ông Phủ – một vị quan lại quyền cao chức trọng dưới thời Pháp thuộc đã về hưu (không nói rõ ông Phủ tên gì) – rất nhiều ruộng đất và quyền lực đối với tá điền, nay đã khánh kiệt do tình thế nhiễu nhương, không thu được lúa ruộng nhưng vẫn giữ nếp sống phong kiến đầy rẫy bê bối của một gia đình giàu có, quan lại. Ông Phủ đã lớn tuổi, cưỡng dâm cô người hầu mơn mởn tên Ngà, khiến cô này có thai. Bà Phủ tức giận, dọn ra ở riêng và sống như người tu hành, không thèm nhìn mặt ông Phủ nữa.

Rồi Canh, gã trưởng nam ngỗ nghịch, chỉ muốn cha mình sớm chia gia tài cho mình để được ăn chơi phung phí. Rồi Thụ, người thứ nam tương đối có cá tính rõ rệt, rất hưởng ứng phong trào “cách mạng”, vào chiến khu theo Việt Minh nhưng chẳng làm nên trò trống gì. Rồi Tịnh, cô cháu gái gọi ông Phủ bằng cậu, yêu Hoàng – chàng nam sinh ở trọ ăn cơm tháng có tài chơi đàn. Hai người yêu nhau tha thiết nhưng bị ông Phủ cấm đoán, họ bỏ nhà, trốn đi xây dựng tổ ấm được ít lâu, sau đó vì nghèo túng, không biết làm gì để sống nên lại phải trở về.

Ông Phủ đuổi Hoàng không cho ở nữa. Tịnh nhớ người yêu, phát điên rồi chết trong Dưỡng trí viện Biên Hòa…, câu chuyện cứ thế tiếp diễn. Cuối cùng, ông Phủ mất về bệnh đau tim. Rồi bà Phủ cũng mất, cái “khung rêu” đó mục nát, ly tán, những người còn lại sống chẳng ra sao…

Có lẽ tác phẩm nói trên dựa vào phần lớn sự thực nên trong phần “Thay Lời Tựa”, tác giả trần tình:

“Từ hồi còn nhỏ tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. (Cái thịnh mãn của hạng điền chủ ở miền Nam trước đây). Nguyên nhân chánh của sự suy sụp bệ rạc này thì ai cũng biết: chiến tranh. Một cuộc chiến tranh dằng dai hai mươi lăm năm, khoảng thời gian gần bằng số tuổi của tôi.

Tôi sanh ra và lớn lên trong một dòng dõi đã đến hồi ly tán. Cái họ của tôi gồm hai chữ có gạch nối có thể sẽ gợi lên những cảnh sống huy hoàng, vương giả của một thành phần xã hội trong trí nhớ ao tù của những ông già bà lão, những cảnh sống mà tôi chỉ nghe kể lại như một chuyện hoang đường trong những lần giỗ chạp.

Bây giờ chỉ còn lại một ngôi nhà thừa tự, cột kèo chạm trổ tinh vi đã mục rệu, và chẳng bao giờ lành những vết thẹo của chiến tranh; những điền sản cò bay thẳng cánh chỉ biết đến qua một đống bằng khoán vô dụng mà giấy đã ố vàng và giòn tan, một đám bà con xa gần chi chít, nhỏ nhen ích kỷ như sò hến và hoàn toàn vô tích sự.

Tâm lý của hạng người này khá đặc biệt. Đó là những thằng chồng trôi dạt lềnh bềnh trên giòng sông hung tợn, một hạng người khư khư ôm lấy cái quá vãng vàng son (nát dậu cũng còn bờ tre), dở thầy dở thợ dở cu ly, bất lực trước sự biến đổi nhãn tiền của cảnh ngộ, bấu víu vào nhau mà sống sót. Trong ngôi nhà thừa tự đó, mỗi người là một hòn đảo của những thói hư tật xấu… Có phải con người một khi đã mất thăng bằng trong cuộc sống vật chất thường để lộ ra rõ rệt hơn bao giờ hết những xấu xa tàn tệ của mình? Và một giai cấp cũng vậy.

Khi khởi công quyển truyện này, tôi đặt trước cho tôi một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thời nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong.

Lẽ hiển nhiên, tôi không hề có ý định làm công việc của nhà xã hội học hay của nhà đạo đức học. Những công việc này vượt quá sức của tôi. Vả lại, chúng cũng chẳng lợi lộc gì cho tôi.

Tôi cũng không có ý định phân tích các nguyên nhân, và nhất là phê phán một ai hay một điều gì. Cho riêng tôi, tôi chỉ muốn dựng lại cái thế giới khốn đốn đã bao trùm tôi cho đến ngày nay. Tôi chỉ muốn mô tả một hiện tượng xã hội hoàn toàn thân thuộc mà thôi.

Tiểu thuyết là tưởng tượng, ai cũng biết vậy, nhưng có tưởng tượng nào không bắt nguồn từ một phần sự thật?

Sở dĩ tôi trình bày như vậy, là để xin những người thân thích của tôi, nếu có dịp tình cờ nào đọc quyển truyện này, hãy rộng lòng tha thứ cho tôi”.

Còn sau đây là 3 tập truyện ngắn của chị Thụy Vũ:

1. Tập Mèo Đêm: Khi tập truyện này do nhà Thời Mới của nhà văn Võ Phiến xuất bản thì chỉ có 4 truyện ngắn: hai truyện “Một Buổi Chiều”, “Đợi Chuyến Đi Xa” nói về tâm trạng ray rứt, thèm thuồng tình yêu lẫn tình dục của một cô gái già; hai truyện “Mèo Đêm” và “Nắng Chiều Vàng” nói về các cô bán bar dan díu với bọn lính Mỹ. Khi được nhà xuất bản Kim Anh tái bản thì có thêm 2 truyện “Bóng Mát Trên Đường” và “Miền Ngoại Ô Tình Lẻ”. Hai truyện này nói lên niềm cô đơn của tác giả được thể hiện qua hai nhân vật nữ, văn chương êm dịu, đôi lúc thơ mộng nhưng có khi lại le lói mầm mống nổi loạn.

2. Tập Lao Vào Lửa: Viết về nếp sinh hoạt của các cô gái điếm trá hình làm chiêu đãi viên trong các snack bar. Như phần bên trên đã nói, hai truyện “Chiếc Giường” và “Lao Vào Lửa” lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn, còn truyện “Đêm Nổi Lửa” lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó gọi là Nhà thương Bạc Hà. Nhân vật chính bị bắt đi “lục-xì” (look and see) tức đi khám bệnh xem có vi trùng giang mai hay không, và bị giam lỏng trong nhà thương đó. Muốn thoát ra khỏi nhà thương, đương sự thông đồng với mấy người đồng cảnh ngộ bị giam và người tình ở bên ngoài. Đợi tới đêm giáp Tết, cả bọn nổi lửa gây hỏa hoạn để thừa lúc hỗn loạn chạy ra ngoài. Các cô chạy thoát nhưng rách te tua do leo qua hàng rào, nhiều cô trầy sứt và chỉ còn chiếc quần xi-líp.

3. Tập Chiều Mênh Mông: Gồm truyện “Chiều Mênh Mông” (cùng tựa với tập truyện), mô tả tâm trạng của những nhân vật cô đơn. Truyện “Tiếng Hát” mô tả sự bỡ ngỡ của cô thiếu nữ lạc loài theo kiểu tha phương cầu thực. Tình cờ cô bước vào cái xã hội văn nghệ sĩ thời thượng và chịu ăn nằm với một chàng du ca mà không nghĩ sự dan díu đó sẽ đi tới đâu sau cuộc làm tình không mấy hào hứng. Truyện “Lìa Sông” là lời kể của một cô giáo làng mô tả về chuyện dạy dỗ và thân phận hẩm hiu của mình trong khi cô đủ cả công dung ngôn hạnh.

Cuối cùng, cô may mắn có được tấm chồng và sống hạnh phúc. Truyện “Cây Độc Không Trái” mô tả cô gái bán bar đi phá thai. Cách phá thai được tác giả trình bày chi tiết khiến người đọc rùng mình. Rồi tác giả mô tả luôn mặc cảm phạm tội của cô gái cùng cái ý tưởng lo sợ mai sau cô sẽ tuyệt tự. Truyện “Trôi Sông” và truyện “Đêm Tối Bao La” với bút pháp dữ dằn, cốt truyện phanh phui tàn nhẫn cái bản năng giông bão của những hạng cùng đinh trong xã hội.

Sau 1975, chị Thụy Vũ thôi không viết lách gì nữa, chỉ buôn bán lặt vặt, kể cả làm lơ xe đò để có tiền nuôi 3 đứa con nhỏ dại có với nhà thơ Tô Thùy Yên. Đời sống quá khổ cực, nhờ bà mẹ cho một khu đất rừng trồng cà phê ở Lộc Ninh, chị bán căn nhà ở Làng Báo Chí được mấy chỉ vàng, cộng với chút ít vốn liếng đã tích cóp được, lên Lộc Ninh dựng căn nhà chòi, mua được hai con bò và mấy con dê, trồng trọt rau cỏ, trông nom cà phê, đời sống hết sức khốn quẫn. Sau, có một nhà văn (tôi không nhớ rõ tên), từ bên Mỹ về, lên thăm, thấy chị khổ cực quá nên khi trở lại Mỹ, viết bài “Thụy Vũ chăn dê” (lấy tích Tô Vũ chăn dê trong truyện Chiêu Quan cống Hồ đời Tống bên Tàu), đăng lên các báo bên ấy. Các văn hữu và nhiều độc giả ở Mỹ biết tin, gom góp nhau gửi tiền về giúp đỡ. Được sự trợ giúp, chị bán dê, bán bò, mua được một miếng đất gần đường nhựa (từ phía Lộc Ninh đi xuống), xây được căn nhà cấp 4 nho nhỏ, mái lợp tôn, có giếng nước, đời sống cũng tạm ổn định.

Từ thời còn con gái, làm nghề viết văn và dạy học, chị Thụy Vũ chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên, sinh được 3 con, hai gái, một trai. Cháu lớn tên Khôi Hạnh. Cháu trai tên Khôi Hạo. Cháu gái nhỏ nhất tên Khôi Thụy (sinh năm 1973). Nhưng chẳng may, cháu Thụy lúc mới chưa đầy 2 tuổi, chị người làm không cẩn thận khiến cháu bị té ngửa từ trên giường xuống nền gạch, chấn thương sọ não rất nặng. Suốt bao nhiêu năm nay cháu sống đời sống thực vật, chỉ nằm một chỗ, u mơ không biết gì hết. Nhà văn Văn Quang cho biết, vào những năm tháng đầu sau biến cố tháng 4-1975, có một thời gian tác giả “Chiều xuống êm đềm” đã phải làm lơ xe đò, chạy đường Sài Gòn-Thủ Đức. Suốt ngày chị chỉ đứng một chân… Tới khi kiệt sức, không kham nổi nữa, chị đem con cái về Lộc Ninh. Chốn ở mới của chị là một nơi “không có điện, không có nước, Thụy Vũ và các con sống như người rừng!”

Sau đây là lời kể của nhà văn Văn Quang, để bạn đọc biết rõ thêm về tình mẫu tử của chị Thụy Vũ (trong lời kể có nhân vật tên “Ngân”, đó là chị Văn Quang):

“Suốt ngày hôm đó, cái hình ảnh cháu Khôi Thụy ám ảnh tôi không rời. Buổi trưa tôi ngồi với Ngân ngay trên sàn gạch nhà ngoài. Tôi nghe phòng bên văng vẳng tiếng cười rúc rích của Thụy Vũ, tiếng chị nựng nịu, tiếng nước chảy ào ào rửa nhà và tiếng hát ru của chị vẳng lên giữa núi rừng. Tôi có cảm tưởng như chị sống rất hồn nhiên, vui vẻ bên đứa con thơ hai ba tuổi. Càng nghe chị cười, chị thủ thỉ với con, tôi càng thấy nghẹn ngào. Đôi mắt Ngân chớp mau, cô nói như để che lấp nỗi lòng mình:
– “Anh thấy không, đó là nét đặc biệt nhất của Thụy Vũ. Chị luôn coi đứa con chị như khi còn hai tuổi và chị cứ hình dung cháu không hề bị bệnh, chị vẫn nựng nịu cháu, cười đùa hồn nhiên với cháu. Có miếng gì ngon chị cũng để phần cho cháu, dù chị biết rõ hơn ai hết rằng nó không hề phân biệt được cái gì là thức ăn chứ đừng nói đến ngon dở. Nhưng đó là tấm lòng bao la của người mẹ…”
– “Phải nói rằng đó là một người mẹ tuyệt vời và một tấm lòng can đảm vô bờ bến…”.

Vâng, đúng như thế, chị Thụy Vũ là một người trầm lặng, ít nói nhưng hết sức can đảm. Có một điều ít ai để ý rằng, tuy chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên khi anh đã có người vợ chính thức là cô giáo Huỳnh Diệu Bích và các con, thời gian chung sống chỉ 5-6 năm nhưng sau 1975, anh bị đi cải tạo 10 năm, được thả về rồi lại bị bắt lại, ở tù thêm 3 năm do có tập thơ “chống cộng” ai đó xuất bản ở bên Mỹ, từ đấy đến nay chị vẫn sống thầm lặng một cách hết sức khó khăn để lo cho các con, không “bước đi bước nữa” hoặc quen biết với ai khác. Tôi nghĩ tình yêu của chị đối với anh Tô Thùy Yên rất lớn và chị là người đàn bà chung thủy, tuy nghèo cùng cực nhưng lòng chị vững như đá núi.

Về phần Tô Thùy Yên, anh là một nhà thơ nổi tiếng trước năm 1975, tác giả bài thơ được Trần Thiện Thanh phổ nhạc Chiều Trên Phá Tam Giang.

Anh tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp. Cha là chuyên viên phòng thí nghiệm Viện Pasteur, sau về công tác ở Bệnh viện Chợ Rẫy.

Thuở nhỏ Tô Thùy Yên học trung học tại trường Petrus Ký, đậu xong tú tài, học Đại học Văn khoa Sài Gòn ban Văn chương Pháp, đang học thì bị động viên đi sĩ quan Thủ Đức, ra thiếu úy (lúc đó chưa có cấp bậc chuẩn úy) rồi được bổ về một đơn vị tác chiến thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Anh ăn nói giỏi, đọc nhiều, tư tưởng chính trị rất cao nên anh em vận động bốc thẳng anh từ Vùng IV Chiến Thuật về trung ương để làm trong ngành Tâm lý chiến (lúc đó chưa đổi tên thành Chiến tranh chính trị) và có phương tiện hoạt động văn nghệ.

Tô Thùy Yên bắt đầu có thơ đăng trên báo Đời Mới trước khi hiện diện và nổi tiếng trên tạp chí Sáng Tạo: Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những nhân vật nòng cốt trong nhóm Sáng Tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ Tự Do” trên văn đàn miền Nam vào khoảng thập niên 1960.

Sau 30/4/1975, với cấp bậc cuối cùng là Thiếu tá trưởng phòng Chiến tranh chính trị QĐVNCH, anh bị đi cải tạo 10 năm, được thả về rồi lại bị đi tù 3 năm, tổng cộng là gần 13 năm.

Cuối năm 1993, anh cùng người vợ chính thức là cô giáo Huỳnh Diệu Bích và các con sang Mỹ định cư theo diện HO, hiện nay đang ở Houston, tiểu bang Texas.

Nói chung, về tình trạng của chị Thụy Vũ hiện nay, chị có 3 người con thì cháu Khôi Hạnh lấy chồng ở Long An, đời sống êm ấm, hạnh phúc nhưng vì đông con nên cũng không giúp gì được cho mẹ. Cháu Khôi Hạo đã có gia đình, có một con trai, trước đây làm nghề nuôi cá cảnh để bán và viết văn theo cái “gien” của bố và mẹ, cũng kiếm được đồng tiền nhưng không hiểu sao tự nhiên cháu đi tu (Phật giáo), để vợ con cho mẹ lo. Còn cháu thứ ba, Khôi Thụy, thì vẫn sống đời sống thực vật, u mơ không biết gì hết như cũ. Năm nay chị Thụy Vũ đã 78 tuổi ta (chị sinh năm 1937), tất cả sự sống gia đình đều trông mong vào mấy con cá kiểng do vị “tu sĩ Phật giáo” truyền lại cho mẹ và mỗi tháng 100 đô-la do cháu Đinh Quỳnh Giao, bác sĩ bên Mỹ, con gái của anh chị Tô Thùy Yên gửi về giúp đỡ. Cháu Đinh Quỳnh Giao rất thương xót đứa em cùng cha khác mẹ tên Nguyễn Khôi Thụy đang nằm liệt giường. Mỗi tháng cứ đến khoảng 27, 28 là cháu gửi $100 về cho em. Ở cái xứ Lộc Ninh nghèo nàn ấy, có mấy người mua cá kiểng đâu, nếu mỗi tháng không có $100 của người chị, con gái anh Tô Thùy Yên từ bên Mỹ gửi về giúp đỡ, thì không biết cái gia đình của nhà văn nữ đã một thời nổi tiếng Nguyễn Thị Thụy Vũ – người đã từng đoạt giải Văn học toàn quốc năm 1971 – sẽ sống ra sao.

Đoàn Dự
(ghi chép)

Dấu Son Thời Áo Trắng. Thơ Hư Vô


Những hạt sỏi lăn qua đời hối hả
Vướng gót chân em thuở mới biết buồn
Tôi về như lữ khách không hò hẹn
Hàng lá me xưa đã lạ tên đường.

Đâu còn thấy dáng em chiều tan học
Bên hạt mưa bay lất phất sân trường
Bàn tay nhỏ che nghiêng nghiêng lồng ngực
Vô tình em đánh rớt một mùi hương!

Mà mãi cả đời tôi còn vương vấn
Nhặt sợi tơ mưa ướt ngón chân người
Có ngọn cỏ may mọc ngoài cửa lớp
Gió động cành xuyên thấu trái tim tôi.

Vết sẹo đã xanh um lòng phố cũ
Đời quanh co lạ lẫm dáng Sài Gòn
Tàng me cỗi chụm đầu nghe lá rụng
Chờ tôi về nhặt lại một dấu son….

Hư Vô

IMG_3772

Nguyễn Mạnh Trinh Đọc Thuở Mơ Làm Văn Sĩ Của Nhật Tiến.


Nguyễn Mạnh Trinh 

Thuở Mơ Làm Văn Sĩ

Mơ làm văn sĩ? Bất kỳ ai ở trong chúng ta mà không ­ước mơ trong thời niên thiếu. Có người mơ những giấc mộng lớn, làm người hùng với ­ước vọng đội đá vá trời thì cũng có những người mơ ­ước phiêu du vào trư­ờng văn trận bút.

Tôi giở những trang sách, nhớ lại một thời của mình. Thuở mơ làm văn sĩ. Những lúc tóc còn xanh. Những lúc hồn đang mơ “ngoài cửa lớp”. Tôi hay ai? Đang viết những bài thơ ngô nghê đầu tiên. Tôi hay ai? Đang viết để tạo ra, để kể lại những cuộc sống mình chưa trải qua nhưng sao lại bàng bạc từng ngày, từng giờ. Những ­ước mơ nào của ai? Sao gần gũi quá. Những trang giấy thuở nào, của tuổi học trò tinh khôi nhưng tưởng mình đã già tr­ước tuổi, đã hiểu qua những vị đắng của cuộc đời .

Tôi đọc “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ” để thấy mình tìm lại một phần nào bóng hình bản thân t­ương tự trong đó. Hình như­, nhân vật x­ưng “tôi”, giống tôi của một phân số cùng chung mẫu số và tử số. Không hiểu tại sao tôi nghĩ như­ vậy. Có một chút gì gần gũi liên quan….

Tác giả trong phần mở đầu cuốn sách, phát biểu đây là một Tiểu Thuyết Hồi Ký. Tôi cũng hơi ngạc nhiên về danh xư­ng này. Hồi ký mà viết dưới dạng tiể­u thuyết thì có được bao nhiêu phần trăm sự thực, bao nhiêu phần trăm hư cấu ? Nhưng qua diễn tả của tác giả, nhà văn Nhật Tiến thì:

” . . ­ước vọng của tôi là mong góp phần dù rất nhỏ bé vào công việc gửi đến các em những kinh nghiệm của người đi tr­ước, những điều các em nên tránh, những việc mà các em nên làm, với hy vọng các em có thể trau giồi được dễ dàng hơn khả năng sáng tạo của mình, ngoài thiện chí mầy mò một mình trong nỗ lực cô đơn.

Đáng lẽ những dữ kiện phải được trình bày dưới hình thức một tác phẩm biên khảo tương tự nh­ư tác phẩm ” Viết và Đọc Tiểu Thuyết ” của cố Văn hào Nhất Linh đã làm ( dưới một tầm mức đơn giản và cho một đối tượng giới hạn hơn). Nhưng để phù hợp với đ­ường lối linh động của tờ báo, tôi phải trình bày dưới hình thức một Tiểu Thuyết Hồi Ký vì dẫu sao đối với các em nó sẽ trở nên bớt khô khan, buồn nản hơn.

Đặt chữ Tiểu Thuyết bên cạnh chữ Hồi Ký là một dụng ý cần thiết. Điều đó chứng tỏ các em không cần đối chiếu những sự kiện có thực đã xảy ra trong quá khứ của người viết. Cái quá khứ ấy đã được tiểu thuyết hóa đi để tăng phần linh động và giảm phần nhàm chán vì bắt độc giả cứ phải nghe quá nhiều về một cái tôi bình thư­ờng của một cá nhân bình thường trong tập thể.

Vấn đề chính yếu là các em sẽ tìm thấy ở đây nhiều dữ kiện. Những dữ kiện rất gần gũi với các em, những dữ kiện có nhiều lợi ích thiết thực cho vấn đề sáng tác mà các em đang theo đuổi.

Bởi lý do rất dễ hiểu là nhân vật x­ưng tôi trong tác phẩm này, cũng như­ các em, tất cả đều đã gặp nhau ở một thuở có nhiều ­ước mơ vốn đầy thiết tha và dồi dào cảm hứng, đó là Thuở Mơ làm Văn Sĩ .”

Tuổi học trò từ tr­ước đến bây giờ đều giống nhau những nét rõ rệt. Cũng có những bút nhóm, cũng tụ tập với nhau thành thi văn đoàn và cũng tập tành làm “người lớn” trong khi còn con nít. Vào những trang mạng bây giờ, thấy tuổi trẻ viết cho nhau, trò chuyện với nhau, hỏi đáp với nhau, viết văn làm thơ cho nhau thì mới thấy, ở đâu và lúc nào, văn chư­ơng của thời mới lớn vẫn là nâng niu trân trọng nhất của suốt cuộc đời.

Cũng đã có nhiều cuộc khởi hành. Những cuộc phiêu l­ưu vào thơ văn, vào chữ nghĩa. Có người thành công, nhưng cũng rất nhiều người thất bại. Rồi cuộc sống đẩy đ­ưa trôi đi, thành kỷ niệm dễ thương nhưng khó quên. Nhà văn Nhật Tiến, trong khi viết Thuở Mơ Làm Văn Sĩ, chắc cũng nhớ lại những kỷ niệm của mình để viết và kể lại về nơi chốn, về người, về những chuyện đã xảy ra trong đời mình nên trong bút pháp chan chứa những tình cảm bồi hồi và gây cho độc giả những liên cảm khiến cho người đọc như­ sống trong hoàn cảnh ấy, nơi chốn ấy, thời thế ấy trong sự chia sẻ tột cùng.

Có người đọc đã nói “nhờ tác giả Nhật Tiến, tôi đã hình dung được cuộc sống ở thành phố Hà Nội thời gian ấy. Hà Nội là thành phố trong tâm tưởng của tôi và càng ngày càng rõ nét hơn, hiện thực hơn từ những tác phẩm như­ Thuở Mơ Làm Văn Sĩ. ”

Nhà văn Nhật Tiến viết về tuổi thơ của mình ngày còn mài lê đũng quần ở những lớp tiểu học ở trư­ờng Hàng Vôi tức trư­ờng Nam Tiểu Học Nguyễn Du Hà Nội. Đó là những năm của thập niên 40. Trong không gian của 36 phố ph­ường, quả những lớp từ tiểu học lên trung học, những cậu bé học trò đã tập tễnh làm thơ viết văn với sự đam mê vô hạn. Vì yêu văn chương nên việc học nhiều khi bê trễ và đôi khi việc học hành đã làm một gánh nặng đè lên những cậu học trò. Có nhiều cố gắng để v­ượt qua và chính những phấn đấu ấy đã tạo thành những kỷ niệm riêng mà sau này khi lớn rồi trư­ởng thành mỗi khi nhớ lại không sao tránh được sự bồi hồi. Những ông thầy dữ đòn, nghiêm khắc thuở nào bây giờ nhớ lại là những khuôn mặt đáng nhớ của một đời học trò. Họ đã yêu thương và đã tận tâm tận lực để tạo thành những người hữu dụng cho xã hội. Nhưng có một lúc, họ đã thành “hung thần” cho các tí hon “mơ làm văn sĩ”. . .

” …Quả nhiên thầy Huỳnh “túm” lên bảng cả tám đứa trong đó dĩ nhiên có cả tôi. Đó là những đứa không nộp bài. Thầy lại hạ lệnh đánh phủ đầu mỗi đứa ba gậy. Vâng, ba gậy chứ không phải ba roi. Gậy đây là cây th­ước gỗ to, dài, dầy ba bốn phân mà thầy vẫn dùng để kẻ những dòng trên bảng đen khi có bài tập viết. Nó làm bằng gỗ, thứ gỗ chắc nịch, rất nhiều gân, nhiều thớ nhưng lâu ngày nó đã phủ đầy bên ngoài bằng những lớp bụi phấn trắng. Cái “hình cụ” này mà phệt vào mông thì ôi thôi, cứ chỉ nghĩ tới cũng đủ rùng mình sởn gáy lên rồi. Ấy vậy mà mấy đứa bạn của tôi chịu hẳn ba gậy của thầy mà mặt cứ nhơn nhơn. Có đứa lại còn c­ười ngỏn ngoẻn lúc đi về chỗ ra cái điều “có quái gì đâu” mặc dù tôi biết cu cậu huếch miệng cư­ời là chỉ để chữa thẹn cho cái tội không nộp bài đó thôi.

Riêng phần tôi, ở gậy thứ nhất, mồ hôi lạnh đã đổ ra ư­ớt đẫm cả trán và lư­ng áo. Đến gậy thứ hai thì lớp học của tôi trở nên chòng chành như­ thuyền đi trên sóng, và thầy chư­a kịp thi hành nốt gậy thứ ba tôi đã khuỵu ngay x­uống nền gạch, cả lớp chợt nhao nhao lên. Thầy Huỳnh cũng xanh mặt. Thầy hạ lệnh bế tôi nằm lên ghế dài, tìm dầu Con Hổ xức lia trên trán, lên cả vào l­ưng, vào bụng rồi cả hai bàn chân nữa. Mười phút sau tôi mới tỉnh lại…

Những cảnh như ­thế, bây giờ chắc không xảy ra nữa. Như­ng vào thời của tôi, thì vẫn còn. Học trò vẫn nhìn ông thầy nh­ư một hung thần nhất là các anh học yếu và hay “mộng ngoài cửa lớp”. Không hiểu về sau, nếu trở thành người thành đạt có còn giữ cái nhận định như­ thế không?

“Gần tới kỳ thi, thầy Huỳnh bắt chúng tôi đi học sớm hơn thêm một giờ để chuyên luyện Toán và Luận. Hồi này thầy càng dữ đòn thêm đối với những đứa l­ười biếng. Nhưng giờ nghĩ lại tôi mới thấy lòng thầy đối với học trò thật bao la. Nhà thầy ở tuốt dưới khu Bạch Mai, coi như­ ngoại ô Hà Nội. Giữa trư­a nắng, thầy đạp xe đi dạy học từ hơn 12 giờ. Tới lớp, cả trư­ờng còn vắng hoe, chỉ riêng lớp của thầy là đã bắt đầu học. Thầy giảng bài rất tỉ mỉ và tận tâm. Thầy có tâm trạng lo lắng nh­ư một bà mẹ sắp sửa phải đẩy đàn con vào cuộc đời mà vẫn áy náy chúng nó chư­a đủ lông đủ cánh. Vì thế dù mệt mỏi, tốn sức bao nhiêu thầy cũng vẫn không quản ngại. Miễn sao lũ học trò ra khỏi tầm tay của thầy, đứa nào cũng có một căn bản vững vàng như­ thầy mong mỏi… ” .

Đọc những lời kể của nhà văn Nhật Tiến, tôi như­ m­ường tư­ợng ra một thời kỳ giáo dục và văn học lúc đó. Người thầy được sự kính trọng và biết ơn của học trò và cả gia đình. Ngày lễ thầy cũng là một ngày lễ trang trọng của đời học trò. Còn về văn học, ở tuổi tôi, Hà Nội đã là một thành phố của tưởng t­ượng nên người và cảnh như­ có phủ một lớp sư­ơng mù của trí nhớ.

Cảnh thì: “Hà Nội đối với tôi bao giờ cũng đẹp nhất vào lúc tàn thu. Bầu trời mầu chì nh­ư thấp xuống. Cành cây như­ v­ươn cao hơn vì lá đã rụng nhiều. Khung cảnh bốn bề không sáng quá dưới ánh nắng thoi thóp của mùa thu sắp hết. Mọi vật chung quanh từ những chiếc ghế đá im vắng đến những cánh lá úa vàng l­ượn xào xạc trên thảm cỏ và những hàng cây cao đã xẫm màu thêm ra, một màu nâu điểm những vết mốc lốm đốm bạc, tất cả như­ đang xao động nhẹ nhàng để đón lấy cái lạnh gây gây nhẹ nhàng của mùa đông đang lén tới. . . ”

Bạn văn nghệ thời tiểu học của tác giả là Hòa :

“…ngồi cạnh tôi là anh bạn tên Hòa. Hắn lớn hơn tôi một tuổi nhưng tầm vóc thì phải lớn hơn đến gấp r­ưỡi. Tôi với Hòa thân với nhau từ mấy ngày đầu. Và càng chơi với nhau lâu, chúng tôi càng khám phá ra rằng hai đứa rất giống nhau về sở thích. Giờ ra chơi, tôi với Hòa không chạy nhảy mà chỉ kéo nhau ra gốc bàng ngồi tán chuyện. . . tiểu thuyết.”

Tuy còn bé, nhưng cả hai đã tập tành viết văn với cả nỗ lực của thời thơ ấu. Oanh liệt hơn nữa là viết cả một tờ báo mang tên Bút Học Trò với cả các tiết mục của một cơ quan ngôn luận tí hon. Ra được 5 số thì học vấn của cả hai tụt thang một cách thảm hại dù cố gắng ngoi lên trong thứ hạng của lớp. Tưởng phải bỏ cuộc nhưng “tôi” tự ái và một mình làm tờ báo mang tên Bút Mới bằng cách dùng thạch bản và mực tím để in. Nhưng rồi cũng phải dẹp tiệm vì lúc đó công an, mật thám đang rình mò bắt bớ những tổ chức học sinh chống Pháp dùng thạch bản để in truyền đơn.

Thi đậu vào tru­ng học Chu Văn An, “tôi”, tức tác giả lại có một bạn văn chư­ơng mới, anh chàng cùng lớp có tấm danh thiếp thật “nổ” có mấy hàng chữ:

Trần Văn Tắc

Bút hiệu: Song Vũ

Journaliste.

“Journaliste thì là ký giả đứt đuôi đi rồi. Ôi chà! Mới mấy phút tr­ước, đối với tôi hắn chỉ là một thằng nhãi con, nhưng coi xong tôi thấy hắn trở nên to lớn trọng đại vô cùng. Giuốc-nan-lít! Giuốc-nan-lít! Ba cái tiếng đó nh­ư nổ lên đùng đùng nghe sao mà hấp dẫn và dòn dã đến thế! ”

Tắc, tức “nhà văn” Song Vũ, đã tạo cho tác giả ý định gửi bài viết để đăng trên báo và quả nhiên với những vở hài kịch đầu tay, “tôi” đã b­ước vào những tờ báo với đôi chân chập chững. Những bạn bè cùng trang lứa với “tôi” có : Nguyễn đình Toàn, Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm hay Hùng Phong Nguyễn đức Cầu:

“Vở kịch tung ra gây một trận c­ười vỡ bụng trong làng văn chư­ơng choai choai mới lớn. Tôi còn nhớ anh Toàn (bây giờ là nhà văn Nguyễn Đình Toàn) hồi đó nhà ở bên Gia Lâm cách Hà Nội khoảng vài ba cây số. Nhà Toàn ở rất đơn sơ. Mái tôn, vách gỗ, nhiều chỗ phô ra nhiều khe hở nên bà cụ mẹ Toàn lấy giấy báo trám vô những lỗ thủng. Chính trang báo Cải Tạo có đăng vở kịch của tôi lại cũng được đóng vai che chắn đó. Nó lại nằm ngay ở tr­ước bàn n­ước nơi xếp ly tách chai lọ, nên một hôm Toàn đứng rót n­ước uống vô tình để mắt lên trang báo. Tuy đã đọc từ tr­ước rồi, thế mà chợt nhìn lạ, Toàn cũng không nhịn được nên c­ười phá lên làm nước bắn tung tóe ra mọi người chung quanh. Giai thoại ấy Toàn đem kể lại cho bạn bè. . . ”

Và:

“trong các bạn bè tôi chỉ có một người gửi bài nào là dính bài đó. Lại dính ở một tờ

báo sáng giá nhất hồi đó là tờ Tia Sáng, ấn bản đặc biệt ngày chủ nhật. Đó là anh chàng Nguyễn Thanh Đạm tức nhà thơ Song Hồ bây giờ. . . Đạm làm nhiều thơ. Thơ của Đạm mới mẻ, tân kỳ. Anh lại có tài t­ưởng t­ượng rất phong phú. Chẳng hạn trong những ngày hè nóng chảy mỡ, Đạm chui xuống quầy hàng, chổng mông ra, cúi đầu vào, lụi hụi làm thơ trời lạnh có tuyết rơi và ở dưới không quên ghi chú Paris ngày . . . Tòa soạn Tia Sáng Chủ Nhật chọn đăng thơ của Đạm đều đều. Người ngoài không biết tưởng nhà thơ này đã đi Tây, đã yêu nhiều, đã thất tình và từng lang thang lê gót giang hồ tứ xứ. Ai có ngờ đâu, đó chỉ là một cậu học trò đang mài đũng quần ở bậc trung học đệ nhất cấp. ” .

Hay:

“Một nhân vật khác cũng có tài tưởng tư­ợng hết sức phong phú mà tôi còn nhớ được là anh bạn Nguyễn Đức Cầu tức ký giả Hùng Phong của giới báo chí Sài Gòn bây giờ. Tôi quen Cầu từ năm học lớp nhất trư­ờng Hàng Vôi. Nhà của Cầu ở phố Hàng Than gần chợ Đồng Xuân Hà Nội. Anh ta chuyên đi một chiếc xe đạp mà cái tay lái (guidon) không hiểu vì sao lại gẫy mất phần bên trái, chỉ còn một phần bên phải nên Cầu chỉ lái xe có một tay. Cầu chơi đàn banjo rất giỏi, tiếng đàn gọn lại chắc qua từng nốt nhạc và lúc “vê” cho âm thanh kéo dài ra thì nghe rất ròn rã, điệu nghệ. Đã thế, Cầu còn viết cả phóng sự được in hàng ngày trên tờ Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên nữa thì mới là “chúa” chứ….”

Những sinh hoạt văn ch­ương một thời mới lớn với bao nhiêu là mộng ­ước của “Tôi” sao giống quá với những người đang b­ước chân vào tr­ường văn trận bút. Sao mùi mực in quyến rũ đến thế! Sao chữ in trên giấy báo lại có tác dụng làm mê đắm người viết đến thế? Cũng là những hàng chữ, mà sao ở trang bản thảo thì tầm thư­ờng nhưng khi đăng trên báo lại có tác dụng lớn lao. Những ai gửi bài lai cảo, trông đứng trông ngồi, để chờ thấy những hàng chữ của mình và tên tuổi của mình xuất hiện. Ôi sao mà hạnh phúc quá đỗi! Nhà văn Nhật Tiến hình như­ viết say sư­a trong hồi cảm của mình. Nâng niu kỷ niệm, nhất là những kỷ niệm đẹp bằng văn ch­ương, theo ý tôi, một người đọc, đã làm thăng hoa hơn nhưng cảm giác và lôi cuốn được độc giả vào những không gian thời gian có lẽ là lâu lắm. Năm 1973, ông in tác phẩm này ở Sài Gòn về một thời ở Hà Nội. Cũng là một ngoái nhìn về kỷ niệm ngày xa xưa. Năm nay, 2013, ở Tiểu Sài Gòn, ông tái bản lại tác phẩm. Và cũng là tấm lòng trao gửi cho những người trẻ sau này một chút thiết tha, một chút trân trọng cho con đ­ường nghiệp dĩ sẽ mở ra cho những hạt mầm văn ch­ương chờ ngày nở rộ.

Bút pháp của Thuở Mơ Làm Văn Sĩ, từ tả tình, tả cảnh, đến tâm lý nhân vật hay đối thoại đều có chất lãng mạn và say s­ưa của một người cầm bút tìm kiếm lại được những kỷ niệm đẹp của đời mình. Tôi đọc truyện của nhà văn Nhật Tiến, từ Thềm Hoang đến Chuyện Bé Ph­ượng, hay từ Giấc Ngủ Chập Chờn đến Hành Trình Chữ Nghĩa, mỗi tác phẩm đều gợi cho tôi những không gian, thời gian quen thuộc của đời mình và có lúc tưởng như đang sống trong những hoàn cảnh ấy. Có lẽ đó là yếu tố làm tác phẩm vư­ợt qua được sự đãi lọc của thời gian. Dù đời sống có khác, tâm tình thời đại có khác, nhưng những mẫu nhân vật muôn thuở của văn ch­ương vẫn còn sống mãi dù qua năm tháng.

Viết với niềm đam mê, dù ở tuổi gần xấp xỉ bát tuần, nhà văn Nhật Tiến vẫn miệt mài trong nghiệp dĩ của mình:

“Tôi mở trang báo có in bài của tôi. Tôi đọc lại từng dòng, đọc một cách thoải mái, tự do không phải theo cái kiểu he hé coi cọp ở sạp bán báo mà người bán cứ đuổi quầy quậy. Tôi sung s­ướng thấy tên của mình ở đó. Cái tên ấy nằm một cách trịnh trọng trang nhã và dĩ nhiên hẳn là mang một ý nghĩa vinh dự, niềm vinh dự của một nhà. . . nghệ sĩ có tài sáng tác và tác phẩm của hắn ta đăng trên báo để gửi tới đọc giả bốn ph­ương.

Niềm vui xen lẫn sự hân hoan hãnh diện bỗng xua tan đi mọi nỗi bực dọc vừa qua. Tôi không thấy còn lý do nào có đủ vững chắc để khiến cho tôi bẻ bút, quăng báo xuống hồ, không chơi với văn nghệ nữa. Văn nghệ là lẽ sống của tôi. Văn nghệ vẫn là niềm vui của tôi. Văn nghệ vẫn là nhu cầu, là lý tưởng mà tôi sẽ còn phải theo đuổi.

Tôi nhìn ra mặt hồ. Mặt nước trong xanh chứa cả một bầu trời có nhiều mây xám ảm đạm. Gió thoảng nhẹ từ xa thổi vào mang theo cái giá lạnh của một ngày cuối đông đang bắt đầu hửng nắng. Tôi bỗng chợt thấy lòng dâng lên những cảm hứng dạt dào. Tôi nẩy ra được một đề tài mới hay ho cho một sáng tác mới. Tôi nghĩ ngay tới ánh sáng vàng úa của một ngọn đèn chong suốt đêm khuya chỉ có một mình tôi cặm cụi với trang giấy trắng muốt. Tôi sẽ viết. . . viết hoài. . . viết mãi.. ”

Có lẽ đó là lý giải đơn sơ nhưng rõ ràng nhất của hiện tư­ợng về một người cầm bút có bề dầy hơn 60 năm sáng tác, chỉ trong hơn một năm đã viết và in 6 tác phẩm. Sức làm việc ấy, có phải là từ nỗi đam mê văn chư­ơng đã khởi đi từ buổi ấu thời?

Viết Hoài… Viết Mãi… có phải văn học Việt Nam hải ngoại đã thành hình và phát triển từ những ý tưởng như vậy. Viết như một cách thế không thể nào không viết được, những ngọn đèn sẽ thắp lên suốt đêm trong cả một đời. Dù cô đơn nhưng những dòng chữ phăng phăng nỗi niềm của những người  l­ưu lạc tha hương vẫn làm đầy những trang giấy trắng tinh của mộng ­ước thuở nào…

Nguyễn Mạnh Trinh 

https://nhavannhattien.wordpress.com/nguyen-manh-trinh-doc-thuo-mo-lam-van-si/

Bài thơ Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư nhìn từ Văn Hóa Thiền. Hồ Tấn Nguyên Minh


Hồ Tấn Nguyên Minh

(Nhà Thơ Phạm Thiên Thư)

Trong nền văn học Việt Nam, văn học Phật giáo chiếm một vị trí khá lớn. Những thiền sư – thi sĩ như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Khuông Việt, Mãn Giác, Huyền Quang… đã tạo nên dòng thơ Thiền linh diệu suốt hai triều Lý – Trần. Một dòng thơ mà cho đến bây giờ và chắc chắn mãi về sau chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp minh triết và tinh thần nhân văn của nó. Đến thế kỷ XX, một thế kỷ nhiều vinh quang nhưng cũng quá nhiều cay đắng của người Việt, văn học lại chứng kiến sự xuất hiện của một nhà thơ Phật giáo: Phạm Thiên Thư – “người hiền sĩ ngồi bên lề cuộc sống ta bà, lặng yên thi hóa kinh phật”. Đọc thơ ông, ta tìm thấy những điều phong phú và mới lạ về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Giữa một thời đạn lửa, ông bình thản lập cho mình một cõi thi ca riêng: trong trẻo, trữ tình và đậm chất Thiền…

Bài thơ “Động Hoa Vàng” là một trong những thi phẩm nổi tiếng nhất trong cõi thơ Phạm Thiên Thư. Xuất hiện khoảng đầu thập niên 70 ở miền Nam, bài lục bát 400 câu này là một câu chuyện tình yêu trong sáng, cao khiết không nhuốm màu tục lụy. Tựa một viên ngọc lung linh huyền ảo, nó dẫn người đọc tìm về một thế giới tịch lặng, đơn sơ đẫm hương Thiền. Nơi ấy con người có thể tìm được con đường nuôi dưỡng chân tâm hầu mong một cuộc sống bình an, thanh thản. Hẳn không mấy khó khăn để nhận ra rằng văn hóa Thiền thấm đẫm trong từng câu, từng chữ và làm nên nét đẹp thâm trầm, ý nhị cho bài thơ.

1. “ Động Hoa Vàng” – Cõi thiền hay không gian thoát tục

Hương Thiền tỏa trong bài thơ “Động Hoa Vàng” của Phạm Thiên Thư trước hết ở không gian nghệ thuật. Từ câu chuyện “gã từ quan” coi thường danh lợi, chán ghét những thị phi, giành giật trong cõi đời mà tìm về nơi thông xanh suối biếc, nương náu chốn núi rừng, nhà thơ đưa ta đến không gian bát ngát của động hoa vàng. Động Hoa Vàng là đâu? Là một động Hoàng Hoa heo hút giữa biên thùy trong thơ “Chinh phụ ngâm”:

“ Xót người lần lữa ải xa
Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài”

Hay là một thung lũng hoa vàng nào đó trong thực tại. Chỉ biết đó là không gian mơ ước của những người quá mệt mỏi trước thời cuộc, muốn tìm về thiên nhiên để thanh lọc tâm hồn mình. Từ Động Hoa Vàng, nhà thơ nói đến rất nhiều những hình ảnh thuộc về không gian. Đó là: miền tuyết thơm, suối tơ huyền, suối hoa rừng, cội thu xanh, đồi dạ lan, miền cỏ hoa, bến hoa tươi, đường lặng im, non xanh, thềm trăng, lưng núi phượng… Tất cả những hình ảnh sang trọng, thanh thoát mà đơn sơ ấy thuộc về một không gian thoát tục. Không ồn ào náo động, không phù phiếm lòe loẹt, tất cả ở trong một trạng thái vắng lặng, thanh bình, nhẹ nhàng, trong sáng, trầm mặc. Đó là không gian của Văn Hóa Thiền – không gian tịch lặng, phảng phất nét sabi trong thơ Hai- cư Nhật Bản:

“Mái lều im
Một con chim gõ kiến
Gõ ngoài trụ hiên”
( Basô – Nhật Chiêu dịch)

Đặc biệt, không gian thoát tục ấy là một không gian được phủ đầy hoa, đầy trăng và tiếng chim. Có đến 38 lần Phạm Thiên Thư nhắc đến động hoa, thảm hoa, giàn hoa… 15 lần nhắc đến trăng và 32 lần sử dụng hình ảnh cánh chim, tiếng chim trong bài thơ “Động Hoa Vàng”. Đó là một đồi dạ lan trong miền u tĩnh:

“Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan”

là hương hoa trong ấm trà mùa đông:

“Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông”

hay cánh hoa dại ven đường:

“Bông hoa trắng rụng bên đường
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng”

Đó là ánh trăng in dấu giày:

“Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót hoa”

hay bóng trăng thanh bình nơi thôn dã:

“Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
Thành đàn nảy hạt tỳ bà quyện hương”

Cùng với trăng, hoa là tiếng chim, người đọc có cảm giác tiếng chim như ngập tràn không gian:

“Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương”

Đó là tiếng chim linh thiêng theo văn hóa Thiền và đời sống tâm linh người Việt, là bầy nhạn trắng mùa xuân:

“Mười con nhạn trắng về tha
Như lai thượng trụ trên tà áo xuân”

là con hạc nhuốm màu huyền thoại:

“Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần”

Trăng, hoa và tiếng chim, hương hoa thoang thoảng, ánh trăng nhẹ nhàng, tiếng chim trong vắt làm cho không gian trở nên tịch lặng, linh thiêng, thấm đẫm thiền vị. Đó là nơi con người có thể lắng lòng lại, thả hồn vào cõi thinh không để tìm sự bình an, thanh thản. Không gian “Động Hoa Vàng” trong thơ Phạm Thiên Thư có nét gì đó tựa cõi Bồng Lai nơi chàng Từ Thức gặp tiên, tựa suối hoa đào trong “Đào hoa nguyên ký”, tựa không gian trong thơ Hai-cư:

“Quán bên đường
Các du nữ ngủ
Trăng và đinh hương”
(Basô – Nhật Chiêu dịch)

2. “Mùa xuân” – Thời gian vĩnh cửu

Nếu không gian của bài thơ “Động Hoa Vàng” là một không gian vắng lặng, huyền diệu với ánh trăng, hương hoa và tiếng chim thì thời gian trong bài thơ là thời gian mùa xuân. Có đến 13 lần phạm Thiên thư nói đến mùa xuân trong bài thơ này, cũng có nghĩa là thời gian bài thơ chủ yếu xoay quanh mùa khởi đầu cho một năm, mùa của hạnh phúc và niềm vui. Đó là mùa xuân ở Động Hoa Vàng, nơi con người sống giữa thiên nhiên để tâm hồn thanh tịnh:

“Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa”

là mùa xuân ở đầu nguồn con suối, nơi chú cá nhỏ bất ngờ gặp bóng mây trôi trong nước:

“Có con cá mại bờ xanh
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
Giữa dòng cá gặp phù vân
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi”

Ngay cả khi hoài niệm về tình yêu thì thời gian hoài niệm vẫn là thời gian mùa xuân:

“Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Nhớ xưa có kẻ lên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa”

Thi ca xưa nay thường ưu ái mùa thu hơn bất cứ mùa nào trong năm. Với gió heo may, với tiết trời se lạnh, với lá vàng rơi, mùa thu dễ chạm vào những cảm xúc tinh tế nhất của thi nhân. Ấy thế mà suốt cả một bài lục bát 400 câu, Phạm Thiên Thư hầu như rất ít nói về mùa thu mà nói nhiều đến mùa xuân. Thiền tông quan niệm bậc trí giả khi đã đạt Đạo, hiểu được lẽ vận hành của tạo vật, thoát khỏi tham, sân, si thì tâm hồn sẽ đạt đến cảnh giới của mùa xuân an lạc, không còn buồn khổ sầu lo. Mùa xuân trong “Động Hoa Vàng” cũng là một mùa xuân như thế. Nó không chỉ là mùa xuân của ngoại giới mà còn là mùa xuân của tâm tưởng khi con người đã từ bỏ tất cả những giành giật, đua chen mà tìm tới cõi tịch diệt của Thiền tông. Đó có lẽ là mùa xuân vĩnh cửu mà Mãn Giác Thiền Sư đã nói đến trong bài kệ nổi tiếng của mình:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
(Cáo tật thị chúng)

3. “Gã từ quan” – Nhân vật trữ tình với sự hoà quyện giữa Đời và Đạo

Chuyện được kể trong “Động Hoa Vàng” là chuyện của gã từ quan – chủ thể và cũng là nhân vật trữ tình của tác phẩm. Đó là một chuyện tình yêu nhuốm Thiền vị khiến bài thơ trở nên đẫm hương Thiền. Thiền học và tình yêu, hai khái niệm tưởng chừng không thể dung hòa được bởi tình là khổ lụy còn thiền là giải thoát, tình là lưu luyến còn Thiền là cắt đứt nghiệp chướng. Ấy vậy mà nhân vật gã từ quan cứ vấn vít nửa đời, nửa Đạo, chơi vơi giữa tình yêu và Phật pháp.

Nội dung bài thơ là chuyện tình yêu, là những lời yêu Phạm Thiên Thư gửi đến người tình nhưng Thiền tính lại hiển hiện trong cái nhìn, trong ngôn ngữ, trong tâm thức nhà thơ:

“Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thì thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi”

Nhân vật trữ tình ngắm người yêu mà suy ngẫm, nào lúc nằm, nào lúc về, nào hình hài, nào dáng vẻ, nào môi ươm đào lý, nào gót dời hoa xuân. Thế nhưng tóc ấy chỉ là phù vân, lệ ấy, dáng ấy mong manh như sương khói. Em đẹp rạng ngời giữa cội thu xanh, giữa vàng phố mây trời nhưng chỉ là vô thường, là hư huyễn. Đó là nỗi sầu nhuốm vẻ Thiền khi nói đến người yêu.

Có lúc đang nói chuyện Thiền, chuyện “Gối tay nệm cỏ nằm say/ Gõ vào đá tụng một vài biển kinh” thì những kỷ niệm tinh khôi của tình yêu chợt ùa về trong tâm tưởng:

“Nhớ xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa”

Để rồi hình bóng người yêu hiện lên trong mắt nhân vật trữ tình với một vẻ đẹp thánh thiện tựa Quan Thế Âm:

“Áo em phất cõi di đà
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ”

Ta có cảm giác đây là một tu sĩ lãng mạn, một hiền giả tìm về cõi Phật vẫn mang theo mình hình bóng người yêu. Chính sự kết hợp diệu kỳ của tình yêu và Thiền học đã tạo nên vẻ đẹp vừa nồng nàn vừa linh thiêng chỉ có trong thơ Phạm Thiên Thư. Chính con vạc đậu bờ kinh cũng ghẹo nhà thơ – nhân vật trữ tình:

“Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng thưa bác Thiên Thư
Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ”

Tìm hiểu thi phẩm “Động Hoa Vàng” của Phạm Thiên Thư ở các góc độ: Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, nhân vật trữ tình… Sẽ nhìn thấy được vẻ đẹp vi diệu, linh thiêng ẩn trong từng câu, từng chữ. Nhìn từ văn hóa Thiền, “Động Hoa Vàng” tựa một loài hoa bình dị mà thoang thoảng một mùi hương dịu nhẹ, thanh tao làm say đắm lòng người. Đó là cõi Thiền tịch lặng, là ánh trăng thanh bình trong cõi phù sinh.

Hồ Tấn Nguyên Minh

http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-viet-nam/phe-binh/2880-bai-tho-dong-hoa-vang-cua-pham-thien-thu-nhin-tu-van-hoa-thien.html

Quán Thơ Hư Vô 280


Presentation2

LỤA TRẦN

Từ môi em biết hoang đàng
Hương đêm dậy mộng bàng hoàng thịt da
Em về nhón gót kiêu sa
Bỏ quên vạt áo luạ là bơ vơ.

Có đau chắc cũng tình cờ
Nửa đêm thổn thức giấc mơ rạt rào
Trở mình hồn vía lao đao
Tan theo từng lớp tế bào hóa thân.

Còn nhau trong dấu bụi trần
Chờ nghe di tích một lần tái sinh
Từ em nước mắt tượng hình
Giọt thiên thu rớt động tình đời sau.

Để tôi biết khóc lần đầu
Nghe trăm năm chảy qua cầu lạnh tanh
Buồn em nghiêng xuống dung nhan
Phơi tà áo lụa da trần, nhớ tôi…

Hư Vô

TỈNH NHỎ

Về trong một nỗi tình cờ
Mới hay bụi đỏ xóa mờ dấu chân
Tường rêu ngói cũ ngỡ ngàng
Thả trong nỗi nhớ cành bàng đỏ sân.

Bước em còn đó khẽ khàng
Thả quên hộc tủ ghế bàn ngẩn ngơ
Cánh diều bay mất tình thơ
Thả trên nhánh tóc sợi tơ hồng vàng.

Xôn xao chiếc lá muộn màng
Thả rơi mắt biếc lên trang sách hồng
Tìm trong chiếc lá trầu không
Thả hương cau quyện bến sông xa bờ.

Em giờ trong cõi sa mù
Tôi mang tình nhỏ thả thơ lên trời
Người quên tôi giữa cuộc chơi
Tôi quên người mất một đời bể dâu.

Nguyễn An Bình

ĐƠN DƯƠNG MỘT GÓC TRỜI BUỒN

nắng vẫn rơi trên đường về dốc bụi
Đơn Dương giờ ngơ ngác một mình tôi
nghe hiu hắt liêu xiêu vàng xóm núi
chợt buốt lòng ngày tháng đã xa xôi

người con gái cao nguyên chiều nắng trãi
còn nhớ không D’ran buổi xa người
không phải nắng, không phải mưa… không phải
sao tôi ngồi mơ mộng những chiều rơi

bao tiếc nuối dâng trào trong nỗi nhớ
Đơn Dương ơi buồn quá một góc trời
ngày xưa đó dù chỉ là dang dở
đủ tôi còn thương giọt nắng vừa phai

em ở đâu giữa vùng trời xanh biếc
có hay chăng tôi lặng lẽ đi tìm
Đơn Dương gió và mây trời biền biệt
nghe giữa hồn nỗi nhớ chật con tim…

Nguyễn Minh Phúc

KẺ SĨ LẠI NGỒI ÔM NGUYỆT KHUYẾT
RAO TRUYỀN GIỌNG LƯỠI VỚI GIANG SƠN!

Giữa núi, tà huy bật tiếng khóc
Chiều tàn biên giới lạnh trùng vây
Liềm nghiêng nguyệt cạn đau cương thổ
Âm huyết người xưa nhuộm cỏ cây

Tiếng chim sơn dã buồn chi lạ!
Rót xuống nhân gian tiền kiếp nào
Khiến đá bên hồn bỗng rạn vỡ
Đầm đìa xương cốt đến ngàn sau…

Dưới vách đền thiêng cây bạch lạp
Lẻ loi soi gót tượng quê thần
Núi sông kênh rạch thiên thu trước
Còn dấu Diên Hồng sát đất không?

Tội thay tiếng ngựa ngoài quan ải
Nhặt nửa vầng trăng rụng dặm trường
Kẻ sĩ lại ngồi ôm nguyệt khuyết
Rao truyền giọng lưỡi với giang sơn…

Núi nứt sông rời bản giốc cạn
Trường Sa mờ mịt lửa phương Đông
Trăm bầy cú đậu quanh sơn thủy
Gặm nát linh bài của tổ tiên!

Vận mệnh non sông như chỉ đứt
Huyết thư truyền hịch có truyền tâm?
Đau thay hồn phách bao vương tướng
Kiếp nạn dân đen, vạn cốt hoang…

Giở trang sử ký còn loang máu
Ngựa hí voi gầm nghiêng chiến trường
(Thần lực cố nhân đầy trận địa
Đất đai đã thọ khí âm dương)

Ngôi vị rành rành trời đã định
Ngàn năm cọc gỗ hóa linh hồn
Có người lữ khách ôm kinh sử
Đọc giữa biên thùy tế nước non

Hôm nay, giữa núi hoàng hôn rụng
Âm huyết nhân gian thấm nguyệt tà
Có kẻ nội thù ngồi xỏa tóc
Liềm nghiêng nguyệt cạn, hậu đình hoa!

Ngô Nguyên Nghiễm

TÌNH YÊU EM

đi đâu cũng ở cùng trời đất
thì ở cùng anh đi em ơi
trời dẫu thấy cao mà vẫn thấp
đất dẫu mênh mông vẫn hẹp hòi

từ dạo thương em thời con gái
rồi dắt em vào cuộc bể dâu
ở với anh đây em đừng ngại
cùng-trời-cuối-đất vẫn còn nha

ngày xưa với lại ngày hôm nay
có khác gì đâu chỉ một ngày
em vẫn như là ngày xưa vậy
và anh thì vẫn là anh đây

chỉ khác ngày xưa đầu đen mướt
bây giờ đà mặn muối cay tiêu
đôi mắt có đuôi rơi rụng hết
để nụ cười lạc mất cái duyên

nước non ngàn dặm rồi em ạ
tình dẫu mưa phai nắng dọi nhiều
mà em thấy đó đâu phai nhạt
còn đậm đà hơn thuở biết yêu…

Trần Huy Sao

ĐÈN KHUYA

Bên một cây đèn vàng
Khung cửa sao như nấm
Người lặng ngồi suy ngẫm
Tựa chiếc bàn đơn côi

Vẫn hạt đèn xanh thôi
Bao đêm dài thao thức
Bộ châm ngôn thơm nức
Ướp ngàn hoa phương Đông

Vầng trán người mênh mông
Đôi mắt đen thuyền mộ
Chở mảnh hồn thái cổ
Qua bốn nghìn năm dư

Quanh nụ đèn ưu tư
Nóc nhà mờ sao rụng
Ngâm thơ hoài rỗng bụng
Dốc vò nước thay cơm

Chiếc bàn viết trống trơn
Sách kinh tìm chợ họp
Riêng ngọn đèn chua xót
Le lói cùng sao khuya!

Phạm Thiên Thư

KÝ ỨC MỎ CÀY

Nơi em đến chính là nơi anh sống
Tháng năm xưa bạc phếch áo giang hồ
Ngày bầu bạn cùng cây bần, cây đước
Đêm bất an nên ẩn trú vào thơ…

Bom đạn vô tình đâu biết ước mơ
Chàng trai trẻ thèm lời ru của mẹ
Thèm nụ tình khi lội sình thất thế
Mắt môi ai ngọt mật đấy không ngờ!

Chi Uyên Chi Uyên sao chàng ngác ngơ?
Những lần đụng trận cắc cù, không chết!
Mỏ Cày ơi! Mỏ Cày ơi! có biết
Thân phận kia, thánh đọa xuống trần gian?

Bốn mươi năm qua, sau cuộc tan hàng
Trái tim nhân văn vẫn còn vô lượng
Con cá, con tôm nuôi người khôn lớn
Phí phách ngang tàng vẫn chảy cùng sông…

Nơi em đến, chiều chầm chậm cong cong
Hết chiến tranh sông Mỏ Cày trẻ lại
Nụ cười em vói trời xanh thơm ngái
Nắng Mỏ Cày không ngược lối thương mong.

Trần Dzạ Lữ

ĐƯA TIỄN

Thế rồi em cũng xa tôi
Ngày đưa tiễn hạt mưa rơi bên rào
Một lần thôi vẫy tay chào
Trong giây phút cuối… mưa ào ạt rơi
Người đi dạ có rối bời
Bàn tay níu chặt… cũng rời nhau thôi
Chiêm bao một giấc nửa vời
Nửa kia còn lại cuối trời theo em
Rồi đây những tiếng mưa đêm
Nửa chừng trở giấc, lòng thêm mối sầu
Em mười hai bến về đâu?
Làm sao dò được nông sâu cho vừa
Lặng nhìn nhau dưới màn mưa
Mắt em bóng nước cũng vừa tan ra
Còi tàu giục giã sân ga
Người đi – kẻ ở… càng xa xót lòng.

Tôi về… bỗng thấy trống không…
Còn đây một nỗi buồn mông mênh buồn.

Phan Mạnh Thu

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: