Đâu Phải Mùa Xuân Nào Cũng Tết. Thơ Hư Vô


dau-co-mua-xuan-nao-cung-tet

(Viết cho một em bé mồ côi mà tôi đã gặp
trên đường hoa Nguyễn Huệ vào chiều 30 Tết…)

Bé thơ ơi, đợi ai em ngồi khóc?
Phố đông người, không có một người quen
Em dụi mắt chờ mùa xuân vào Tết
Cho ngọt ngào vừa đủ mặn môi em.

Cỏ cây còn nôn nao thay áo mới
Thì em cũng biết mơ ước, đua đòi
Tay so đo vạt áo sờn hai phía
Che buồn chưa kín một góc lẻ loi!

Đâu có ai hẹn hò mà em đợi
Áo mới, bánh quà nào phải của em
Đám đông hối hả giục nhau chào Tết
Em biết chào ai phố xá không quen?

Mùa xuân tượng hình trên cành lộc biếc
Những chồi non khoe nhan sắc diệu kỳ
Em đếm tuổi em trên từng chiếc lá
Còn xanh mà đâu có bóng xuân thì…

Hư Vô

Lời Cỏ. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca Sĩ Thúy An, Hòa Âm Đỗ Hải.


loi-co

Thư ngỏ gửi toàn thể các Văn Hữu quanh chuyện Trung Tâm Văn Bút (1957-1975) – Nhật Tiến


Nhật Tiến

 

Gần cuối năm 2016, tôi có biên soạn và cho ấn hành cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1957-1975” nhằm mục đích lưu trữ lại cho các thế hệ sau những hoạt động văn hóa của các bậc tiền bối như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu,Vũ Hoàng Chương, Vương Hồng Sển, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường, Tam Lang Vũ đình Chí, LM Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền …cùng hàng trăm hội viên Văn Bút khác.<!>Trong khi đi tìm tài liệu cho cuốn sách này tôi phát hiện là ông Viên Linh đã tiết lộ hai chuyện động trời trong bài viết của ông, in trong cuốn “Chiêu Niệm Văn Chương- Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ” do báo Khởi Hành ấn hành năm 2000”. Hai chuyện ấy là:

1) Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.

2) GS Phạm Việt Tuyền, Tổng Thư Ký Văn Bút sau 1975 bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu đói không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp.

Để bảo vệ danh dự cho hai thành viên nòng cốt của Văn Bút cùng đã quá cố và nhất là không muốn các thế hệ sau có cái nhìn lầm lạc về một tổ chức văn hóa vốn quy tụ hầu hết các nhà làm văn hóa lão thành đã tổn hao nhiều công sức đóng góp cho nền văn hóa miền Nam VN trong gần 20 năm trời ròng rã (1957-1975), tôi đã yêu cầu ông Viên Linh, chủ nhiệm báo Khởi Hành hãy trưng bằng cớ cụ thể.

Cho đến nay Viên Linh đã không trả lời được về những điều do ông cáo buộc kể trên.

Đã thế ông còn cho đàn em là Nguyễn Tà Cúc sử dụng tờ Khởi Hành để viết lách lung tung, rối rắm, lu loa những lời lẽ hỗn xược, nhỏ nhen, xuyên tạc nhằm lấp liếm cái tội vu khống của đàn anh Viên Linh, rồi mới đây trên các trang mạng cô ta lại còn vu cho tôi cái tội “Tấn công vô bằng một nhà thơ/nhà văn/nhà báo kiệt hiệt của Miền Nam” (sic) tức là đàn anh Viên Linh của cô ta.

Thưa quý văn hữu,

Tôi chỉ “chất vấn” ông Viên Linh chứ đâu có “tấn công” ông ta như cô Cúc viết. Rồi 2 câu chất vấn nêu ở trên cũng rất rõ ràng chứ đâu phải “vô bằng” như luận điệu xuyên tạc của cô ta.

Cái tâm địa nhỏ nhen, ác độc, vo tròn bóp méo sự kiện để vu khống nhằm bôi nhọ người khác là bản chất của Nguyễn Tà Cúc vốn đã lộ ra trong những bài viết của cô ta gần đây, ai đọc hẳn cũng đã rõ.

Tôi chỉ xin nêu một ví dụ mới xẩy ra gần đây nhất, khi cô ta post lên Net những lời như sau:

Theo Nhật Tiến, Trung Tâm Văn bút Việt Nam đã làm giấy chứng nhận với tên “Hội Văn Bút Giải Phóng” từ ngày 1 tháng 5. 1975 ngay tại Trụ sở Trung Tâm với sự có mặt của CT Thanh Lãng, TTK Phạm Việt Tuyền và Phó CT Nhật Tiến”

Đấy là sự kiện tôi đã nêu ra trong phần cuối cuốn sách của tôi, tả lại những ngày cuối cùng ở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, bao gồm những chi tiết như sau:

1) Ngày 1-5-75, Ban Thường Vụ đang dọn dẹp giấy tờ thì thi sĩ Nguyễn Đức Sơn (hiện cư ngụ tại Bảo Lộc VN) đạp xe tới. Ông nói oang oang cho tất cả mọi người nghe : “Tôi chẳng có bất cứ một thứ giấy tờ nào để tuỳ thân. Văn Bút cấp cho tôi một cái!”

2) GS Phạm Việt Tuyền chép miệng : “Cậu đùa sao? Miền Nam mất rồi, Văn Bút còn tư cách gì để cấp giấy chứng nhận cho ai !”

3) Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn cười ngỏn ngoẻn :“Cứ đề mẹ nó là Văn Bút Giải Phóng, tôi đem về tỉnh, có thằng ma nào biết ai vào với ai.”

4) Trước tình cảnh liên hệ tới sự sống còn của anh em văn nghệ, và lại ở vào những giây phút cực kỳ rối bời và hấp hối ấy, chúng tôi tự thấy nếu có thể làm được bất cứ điều gì giúp được hội viên qua cơn nguy cấp thập tử nhất sinh thì cứ vượt qua nguyên tắc mà làm. Vì thế mới có cái giấy chứng nhận – duy nhất dưới từ ngữ Văn Bút Giải Phóng – cấp cho thi sĩ Nguyễn đức Sơn để ông làm giấy tùy thân giữa vòng vây nghiệt ngã của CS.

5) Mãi bốn năm sau, vào khoảng giữa năm 1979, một hôm Nguyễn Đức Sơn đột ngột xuất hiện ở cửa nhà tôi ở đường Bùi Viện Sài Gòn. Quần áo của ông rách rưới, ông ngồi trên chiếc xe đạp mà từ tay lái tới khung xe, tới cái porte-bagages phía đàng sau, lủng lẳng, treo buộc hộp không, chai lọ và đủ thứ đồ.

Tôi thực sự vui mừng chỉ thiếu điều ôm lấy ông vì thấy ông vẫn bình an, mạnh khoẻ, cất cho tôi cái điều băn khoăn vẫn canh cánh bên lòng là ông có được an toàn không khi ông mang cái giấy chứng nhận dỏm kia trong người. Nhắc lại chuyện đó, ông cười ha hả :

– Ôi giời ơi ! Cứu tinh của tớ đấy. Ngay sau hôm đó, tớ chuồn tuốt lên Bảo Lộc và nhờ có cái giấy thổ tả này, tớ đi đâu cũng lọt. Nhưng tớ đã dẫn tuốt vợ con vô rừng, kiếm củi trồng khoai mà sống với nhau. Không có đứa nào làm phiền hết!!

(trong cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1957-1975”, chương cuối)

Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/1chuong-vi-ngay-cuoi-o-tru-so-trung-tam-van-but/

Chuyện chỉ có thế. Không thể tưởng tượng được là Nguyễn Tà Cúc có thể khinh thường khả năng nhận xét, trí phán đoán của độc giả để lái câu chuyện nhằm bôi nhọ Trung Tâm Văn Bút VN đến như thế.

Tức là sau 30-4-1975 chẳng có cái Hội nào gọi là Hội Văn Bút Giải Phóng hết, ai đọc phần đó trong sách của tôi cũng đều hiểu như thế. (xin coi link ở trên).

Vậy mà Nguyễn Tà Cúc đem rêu rao trên Net với dụng ý lươn lẹo, chụp cho Trung Tâm Văn Bút Việt Nam cái tội sau 30- 4-75 đã biến thành Hội Văn Bút Giải Phóng.

Thật là một hành vi đốn mạt sử dụng giọng lưỡi điêu ngoa, xảo quyệt, và ác độc đến thế là cùng.

Vậy thử hỏi những điều khác về Văn Học Miền Nam do y thị viết ra có còn đáng tin cậy nữa hay không?

Đây là lần đầu tiên tôi phải gửi tới quý văn hữu lời biện minh này về những luận điệu xuyên tạc của Nguyễn tà Cúc. Và cũng sẽ là lần cuối tôi nhắc đến thứ ngòi bút đê hạ này để khỏi làm mất thì giờ của chính tôi cũng như làm bận tâm thêm cho quý vị.

Nhật Tiến

14-1-2017

http://nhinrabonphuong.blogspot.com.au/2017/01/thu-ngo-gui-toan-cac-van-huu-quanh.html

Chiều Qua Đồi Lá Mục. Thơ Hư Vô


chieu-tren-doi-da-muc

(Tranh sơn dầu trên plastic của Đinh Cường)

Chiều qua đồi lá mục
Hụt hẫng bước chân tôi
Giữa trời cùng đất lụn
Không thấy một bóng người.

Dấu tích em bỏ lại
Bụi đã bám mịt mù
Chiếc lá vàng rơi chậm
Thầm lặng chạm mùa thu.

Chỗ em từng ở trọ
Trên vai tôi một thời
Tóc buông dài ngủ muộn
Ngang hạnh phúc tả tơi!

Bên dốc đời mê lộ
Gọi nhau đã khô môi
Đường chia năm bảy lối
Chỉ còn mỗi mình tôi.

Đá ôm lòng chờ đợi
Hồn mọc quanh cỏ cây
Chiều tan vào đáy vực
Em như còn đâu đây!

Cho tim tôi động đậy
Bàng bạc tiếng thở dài
Từ thiên thu vọng lại
Đã thấu tới trần ai…

Hư Vô

Tự Tình Tan. Thơ Hư Vô


tu-tinh-tan

Vịn buồn uống cạn dòng sông
Nghe trong nhịp thở còn nồng hương em
Nửa chừng tôi bỗng hụt chân
Từ khi em bước nghênh ngang vào đời.

Giọt lệ còn biết có đôi
Nhỏ xuống lăn lóc trên môi người tình
Hồn tôi chưa kịp hồi sinh
Em đã hoá đá tượng hình người dưng.

Tại tôi chậm chạp lừng khừng
Đuổi theo không tới đường cùng tận em
Cầu cao bắc nhịp chông chênh
Bóng treo ngược dốc bồng bềnh mộng du.

Vắt sầu uống cạn mùa thu
Bọt rượu tan giữa mịt mù dáng em
Từ trong hơi thở còn quen
Mùi hương xưa bỗng lên men lạ lùng…

Hư Vô

Báo Thiếu Nhi Sài Gòn Trong Ký Ức. Lê Minh Quốc


Lê Minh Quốc

blob

Qua những trang báo dành cho độc giả thiếu nhi như Tuổi Xanh, Tuổi Hoa, Thiếu Nhi, Thằng Bờm… thế hệ tôi, những cậu học trò ở Đà Nẵng cũng đã ít nhiều hình dung ra Sài Gòn từ năm tháng ấy.

Những tờ báo gắn liền với tuổi thơ

Khoảng thập niên 1960, khi đang học tiểu học, ở nhà tôi có mua thường kỳ tờ báo Tuổi Xanh, tòa soạn trong Chợ Lớn; Chủ nhiệm Trần Quang Khải, Thư ký tòa soạn Bảo Vân, ban biên tập còn có các nhà giáo quen thuộc như Hà Mai Anh, Bùi Văn Bảo, Nguyễn Khắc Lộc…

Đến lúc lên trung học, tôi mới thật sự “gắn bó” với Sài Gòn. Nói như thế vì năm học lớp 8, lần đầu tiên tôi được in thơ trên báo Thiếu Nhi. Có lẽ suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên “159 Thiệu Trị, Phú Nhuận, Sài Gòn, ĐT: 42152”. Đó là địa chỉ tòa soạn của tờ báo mà ông chủ Nhà sách Khai Trí Nguyễn Hùng Trương là chủ nhiệm, nhà văn Nhật Tiến làm chủ bút. Địa chỉ ấy, tôi đã nhiều lần nắn nót ghi trên bì thư khi gửi thơ, văn cộng tác. Rồi thỉnh thoảng có đôi lần được đăng. Sướng đứt đuôi con nòng nọc.

Nhân đây nói luôn, các “mầm non văn nghệ” mà bây giờ đã “thành danh”, thời đó thường ký bút danh rất “oách”, như Nguyễn Nhật Ánh ký Hoài Mộng Diễm Thư, Nguyễn Thái Dương ký Nguyễn Mặt Trời, Phạm Sỹ Sáu ký Ngy Xuân Sơn, Nguyễn Văn Nhân ký Bạc Hà, Phan Vân Sơn ký Mừng Hoang Vu, còn tôi ký Thiên Bất Hủ… Nhà thơ Đoàn Vị Thượng lại ký tên thật Trần Quang Đoàn, còn nhà văn Khôi Vũ, ngay từ hồi đó đã “ngon lành” lắm rồi, vì anh phụ trách chuyên mục Khu vườn hạnh phúc trên báo Tuổi Hoa với tên thật Nguyễn Thái Hải. Nhắc lại để thấy, có nhiều thế hệ viết lách ở miền Trung đã tạo dựng “cơ nghiệp” ban đầu là từ các báo ấn hành tại Sài Gòn.

Một trong những điều khiến chúng tôi một thời say mê, là sự xuất hiện của nhiều cây bút nặng lòng với giáo dục, mà khi nhìn thấy tên của họ là các bậc phụ huynh yên tâm. Đến nay, thỉnh thoảng tôi vẫn đọc lại Thư chủ nhiệm do ông Nguyễn Hùng Trương in trên mỗi kỳ báo Thiếu Nhi. Đó là các bài viết về sống đẹp, ý thức công dân, kỹ năng sống… thông qua những câu chuyện triết lý nhẹ nhàng, tương tự như loại sách Hạt giống tâm hồn hiện nay. Rồi lại náo nức với tiểu thuyết phơi-dơ-tông (feuilleton) đăng từng kỳ như Tiếng hú trên đỉnh non Chà Hóc (Vũ Hạnh), Khi ông cậu quý bị đắm tàu (Minh Quân)… và nhất là Thuở mơ làm văn sĩ (Nhật Tiến). Chính các tác phẩm này đã dẫn dắt thế hệ tôi thêm sự quyết liệt khi… “dấn thân vào văn chương”. Bên cạnh đó, còn là các chuyên mục như Tay ngọc bên bếp hồng, Ảo thuật, Khéo tay, Thủ công, Sáng tác của em, Cuộc thi sáng tác, Vui cười…

Phải nói thêm sự yêu thích ấy còn là vì tranh bìa in ốp sét (offset) rất đẹp. Thời đó, họa sĩ Vi Vi “làm mưa làm gió” trên nhiều trang bìa của các báo thiếu nhi. Sức lao động của ông thật khủng khiếp. Tuần nào cũng có tranh bìa mới. Và thêm nữa là họa sĩ Nguyễn Tài cũng “hớp hồn” bọn tôi qua các truyện tranh dài kỳ như Mười ngày trên đảo Rồng, Cùng đi với tử thần, Tí Ti qua ống kính bác Sáu Râu… Riêng tờ báo Tuổi Hoa còn thực hiện tủ sách với 3 loại truyện dài theo chủ đề: Hoa Đỏ (phiêu lưu mạo hiểm, trinh thám), Hoa Xanh (tình cảm nhẹ nhàng về gia đình, bạn bè), Hoa Tím (dành cho lứa tuổi 16 – 18). Các cây bút thường hay viết cho tủ sách này là Hoàng Đăng Cấp, Thùy An, Quyên Di, Mỹ Lan, Nguyễn Thái Hải, Nguyễn Trường Sơn…

Sách bán “xon” ở sài gòn

Còn nhớ, những tờ báo như Thằng Bờm, Thiếu Nhi đều thành lập những Thi văn đoàn, Bút nhóm nhằm quy tụ độc giả nhí tại các tỉnh, thành nơi đó cùng sinh hoạt chung. Ở Đà Nẵng, chúng tôi họp mặt vào mỗi sáng chủ nhật hằng tuần tại Nghĩa Trủng. Đồng phục đi sinh hoạt là quần xanh, áo trắng có phù hiệu trường, lớp đang theo học. Đôi lúc, các anh phụ trách tổ chức đi cắm trại nơi xa, đốt lửa trại, chơi mật mã… Sinh hoạt cộng đồng này diễn ra đều đặn, có quy củ. Phải nói thế hệ trẻ con chúng tôi trưởng thành và yêu thơ văn là từ đấy.

Làm sao có thể quên lúc báo Thiếu Nhi tổ chức thì làm “bích báo” tức “báo tường” dành cho Gia đình Thiếu Nhi ở các địa phương cùng tham gia. Quà thưởng ngày ấy, từ Sài Gòn gửi về cho chúng tôi là các tác phẩm thuộc Tủ sách Tuổi Thơ do Nhà sách Khai Trí tài trợ. Nhờ đó, chúng tôi đã được đọc Dinh Thầy (Phan Du), Thần điểu và hoa hồng (Thẩm Thệ Hà), Cái quai chèo (Nguyễn Văn Xuân), Người bạn mới (Nhật Tiến), Trung thu của bác đèn xếp (Lê Tất Điều)… Loại sách này mỏng, giấy đẹp, chỉ vài chục trang in, tương tự như loại Tủ sách Vàng của NXB Kim Đồng hiện nay.

Đến năm 1974, tôi quyết liệt phải vào Sài Gòn cho bằng được. Các anh phụ trách Gia đình Thiếu Nhi ở Đà Nẵng lúc đó chỉ mới học lớp 12 đã mua vé của Hãng xe đò Phi Long – Tiến Lực dẫn các cậu nhóc chúng tôi “hành phương Nam”. Phải đi để thỏa mơ ước mãnh liệt vì thèm khát phải biết Sài Gòn, do ma lực, hấp dẫn của vùng đất này mà mình chỉ mới biết qua các trang báo.

Nhất là bấy giờ, trên báo Thiếu Nhi có in bài Một vòng thị trường sách bán xon trên vỉa hè Sài Gòn của Bách Khoa. Càng đọc càng xốn xang, càng thèm thuồng bởi cái đoạn này: “Trung tâm của thị trường sách xon là lề đường Công Lý, khúc ngã tư Lê Lợi đến gần ngã tư Hàm Nghi. Một rừng sách báo tràn ngập hai bên vỉa hè: sách bày la liệt dưới đất, sách nằm ngổn ngang trên sạp gỗ đóng sơ sài, sách dựng hai bên bờ tường, sách nằm trong thùng sữa, sách chất thành đống, cao thành ngọn dưới gốc cây, bên miệng cống, không mái che, không thảm lót, sách chen chúc với chỗ đậu xe hơi, lấn át nơi dựng xe máy, choán cả đường đi của mọi người chen chúc. Lạc vào đây, người ta ngợp mắt vì sách, lách qua sách mà đi, giẫm lên sách mà lấn tới, bò lổm ngổm trên từng đống sách để bới, để tìm, gặp những cuốn không vừa ý thì liệng đại xuống rồi lại bới nữa, tìm nữa… dưới ánh nắng gay gắt như đổ lửa hay dưới bầu trời vần vũ đe dọa của cơn mưa. Những ai thích sách, yêu sách, ít tiền mà vẫn muốn có sách cất giữ, không thể ghé một lần. Đối với dân mọt sách, đã từng bỏ ra cả ngàn bạc mua một quyển sách mỏng teo trong tiệm sách, hẳn thấy giá cả sách ở đây quả là một… thiên đường” (báo Thiếu Nhi số 96 ngày 1.7.1973).

Thật hạnh phúc, một cậu học trò tỉnh lẻ năm học lớp 9 là tôi đã được đặt chân đến “thiên đàng” ấy. Và vẫn còn giữ lại ký ức tươi đẹp từ năm tháng tuổi thơ trong trẻo và đáng yêu.

Lê Minh Quốc

Nhật Tiến, nhà văn của tuổi thơ. Trần Việt Hải- Los Angeles


te1baadp-san-thie1babfu-nhi

Lời giới thiệu: Sau khi nhà báo Kiều Phong công bố trên Internet bài “Thứ sách đê hạ”, nội dung trình bầy tư cách đê hạ của Viên Linh khi ông ta viết về nhà văn Nhật Tiến như sau:

“Tôi vốn không đọc Nhật Tiến, tác giả của những truyện về trẻ mồ côi, về các bà sơ có lòng nhân ái, những đề tài thích hợp với mấy cậu nhỏ thuở mơ làm văn sĩ, bước vào giai đoạn sáng tác thì nhân vật cốt truyện đề tài văn chương được bao lăm, đọc chi cho mất thì giờ.” (Viên Linh)

Hay:

“Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1905-1963), sinh ở Hải Dương, cuối thập niên ’60 xuất bản tạp chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài gòn, đăng bài vở của một nhóm vô danh mà tài năng của họ được Nhất Linh khuếch đại quá đáng, trong có Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Nhật Tiến, …” (Viên Linh)

Những luận điệu này của Viên Linh đã khiến cho nhiều người bất bình, thậm chí phẫn nộ. Như một ngòi bút trẻ, anh Việt Hải ở Los Angeles, vốn thuở trước đã từng là độc giả của nhà văn Nhật Tiến đã phải lên tiếng trên nhiều trang diễn đàn để vẽ lại chân dung của nhà văn này hầu trả lại sự thật cho trang sử Văn Học Miền Nam (trước 1975) vốn đã từng bị những ngòi bút thiếu lương tâm viết lách sai lạc để quấy hôi, bôi nhọ.

**************

Nhật Tiến, nhà văn của tuổi thơ. Trần Việt Hải- Los Angeles

Một thuở chập chững bước vào trung học ghé hiệu sách Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương, trên con lộ Lê Lợi quen thuộc, nhịn ăn quà sáng để dành tiền mẹ cho bê tác phẩm trên kệ mà lòng thấp thỏm thèm nhỏ dãi.

Ừ, hihi… nào, tiền trao cháo múc, khuân sách chữ nghĩa bề bề về nhai ngấu nghiến cho sướng tâm tư, cho no bộ não, cho thỏa con tim ngày cũ, chả “ke” đến dạ dày, bởi vì cái thuở xa xa ấy ta ở xa xa nhà thương, ta chả cần các vị toubib (chữ mà nhà văn Duyên Anh hay xài, chỉ các vị bác sĩ) thiên thần nào cả, chữ nghĩa của sách vở nuôi ta cho ta những lục phủ ngũ tạng vốn hoàn mỹ. L’état de santé est à zéro faute tout le temps, oui c’est vrai toujours,…

Ôi nhớ lại những ngày vui đã qua, những ngày mài đũng đáy quần trên ghế nhà trường. Chuyện ngày xa xưa ấy, tôi nhớ những tác phẩm của Lê Tất Điều quyến rũ túi bạc bữa lủng, bữa mong manh của tôi dán mắt cú vọ vào những truyện: Tình Bạn Của Đôi Guốc, Những Giọt Mực,… loạt tập sách Tuổi Hoa của nhà văn Quyên Di, hoa gì cũng đọc cả, rồi lớn hơn tí nữa với tác phẩm Doãn Quốc Sỹ như Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Ðịnh Mệnh, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều,… Nhưng lúc ở tuổi babylac xổ sữa, nhổ giò lên trung học, tôi mê thích hai tác phẩm Những Vì Sao Lạc và Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến, cốt truyện rất thích hợp với tâm trạng tuổi nhỏ, những quyển sách truyện thiếu nhi loại bông tím PG của nhà văn Quyên Di, đọc sách trong nỗi say sưa, mến mộ của tôi.

Rồi nay khi ngao du trên net lại bắt gặp câu nói bôi bác, trong thái độ kẻ viết như kẻ cả, xấc xược, ngạo mạn, thô lỗ chữ nghĩa, câu văn trắc nết của bạn đã được ném trả về cho chữ nghĩa của bạn vậy. Le style, c’est l’homme, “đọc chi cho mất thì giờ.”, phường tuồng nào nỡ buông những dòng vô tâm, vô đạo như thế này:

“Tôi vốn không đọc Nhật Tiến, tác giả của những truyện về trẻ mồ côi, về các bà sơ có lòng nhân ái, những đề tài thích hợp với mấy cậu nhỏ thuở mơ làm văn sĩ, bước vào giai đoạn sáng tác thì nhân vật cốt truyện đề tài văn chương được bao lăm, đọc chi cho mất thì giờ.”

Những ý tưởng khiêu khích, bôi bác trong khi tuổi đời, quỹ thời gian của bạn không còn bao nhiêu, bạn nhé. Êh mà bạn này, bạn không đọc thì kệ xác bạn, hà cớ gì bạn phải buông những lời lẽ cộc cằn, nặng nề khi nghe, chói tai nghịch thính nhĩ như thế nhỉ? Hãy nhìn quanh bạn đi nhé, “Dis-moi avec qui tu traînes, et je te dirai qui tu es” (proverbe espagnol), hay “Dites-moi qui est votre ami et je vous dirai qui vous êtes” (proverbe russe), rồi “Dites-moi ce que vous pensez que vous êtes et je vais vous dire ce que vous n’êtes pas.” (Henri Frédéric Amiel [1821-1881]), thêm “Dites-moi ce que vous faites attention et je vais vous dire qui vous êtes.” (José Ortega y Gasset [1883-1955]).

Bạn công kích văn chương Nhật Tiến, êh thử cho xem bạn để gì lại cho tuổi thơ, một quả trứng vịt to tổ bố ư ? Tôi gửi bạn những văn phong thanh cao khác hơn bạn, những cảm nhận thanh tao của những cái nhìn thoáng hơn bạn nhé:

1) “Với hơn 20 tác phẩm đã xuất bản, với nhiều thể loại, các tác phẩm chính của Nhật Tiến đều có liên hệ tới tuổi thơ. Nhật Tiến được mệnh danh là nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của khuynh hướng xã hội. Võ Phiến trong bài viết về Nhật Tiến trong bộ Văn Học Miền Nam đã đưa ra nhận xét: “Lúc bấy giờ ai cũng biết ở Miền Nam có nhiều tác giả tên tuổi viết về giới trẻ thơ. Mỗi vị một vẻ. Trẻ em trong truyện Duyên Anh thường là những trẻ đáo để. Đám trẻ của Lê Tất Điều hầu hết đều có nét tinh nghịch. Trong Nhật Tiến là trẻ bất hạnh”. [VHMN, truyện 2, tr.1270, Nxb Văn Nghệ 1999]”

(đọc Ngô Thế Vinh, “Nhật Tiến Thềm Hoang Vẫn Một Tráng Sinh Lên Đường”)

2) “Như đa số chúng ta đều biết, ông Nhật Tiến là một nhà văn, nhưng ít ai biết và nghĩ rằng chính ông Nhật Tiến còn là nhà giáo Bùi Nhật Tiến dạy toán, lý, hoá trung học. Theo tôi, chính tinh thần khoa học đã là cái khuôn hướng dẫn mọi sinh hoạt của ông, khiến ông làm được rất nhiều việc trong cùng một lúc. Mỗi tuần ông dạy từ 40 đến 50 giờ. Tinh thần kỷ luật và khoa học ấy còn được bao phủ bằng tinh thần Hướng Đạo, khiến những suy nghĩ và hành động của ông tràn ngập những suy tư về xã hội. Cuộc sống bận bịu như thế nhưng nhà văn Nhật Tiến, trong 20 năm ở Miền Nam, ông đã có gần 20 tác phẩm được xuất bản, mà hầu như tác phẩm nào cũng mang nặng tinh thần xã hội, như Những Người Áo Trắng, Chuyện Bé Phượng. Đặc biệt khi Miền Nam ổn định, năm 1961, giải Văn học Nghệ thuật tiếp tục được tổ chức, cuốn Thềm Hoang của nhà văn Nhật Tiến đã được trao tặng giải nhất, khi ấy ông mới có 25 tuổi. Nội dung cuốn sách nói về hoàn cảnh của những người nghèo khổ, khốn cùng của xã hội. Trong khi đó, đây cũng là lúc người ta có khuynh hướng ca tụng những tư tưởng hiện sinh đang ồn ào ở xã hội tây phương, ảnh hưởng khá khá mạnh vào sinh hoạt văn học Việt Nam. Cuốn sách của ông như một người độc hành trên con đường quê nghèo khổ. Biết thế, nhưng ông vẫn lặng lẽ đi một mình với những trang sách ngập tràn những thương yêu, những hàn gắn, an ủi những con người bất hạnh.”

(đọc “Phan Lạc Tiếp Viết Về Nhà Văn Nhật Tiến”)

3) “Nhật Tiến là một nhà văn tranh đấu, dùng văn chương để xoa dịu những bất công xã hội, những hận thù hờn oán trong con người. Ở Nhật Tiến, tuổi thơ khốn khổ, xã hội nghèo đói, quê hương chiến tranh và hòa hợp dân tộc là những đề tài chính.

Ngay từ những tác phẩm đầu tay Những người áo trắng, Những vì sao lạc, Nhật Tiến đã nghiêng mình xuống những số phận mồ côi, những đứa trẻ lạc loài. Khi chiến tranh lan rộng, ông viết về thảm cảnh của những đứa bé tàn tật, nạn nhân của bom đạn, về những gia đình ly tán, anh theo Mặt Trận, em đi lính Cộng Hòa… và sau này khi ra hải ngoại, ông tranh đấu cho con đường hòa hợp hòa giải dân tộc giữa người Việt trong và ngoài nước.

Nhật Tiến là một nhà văn hiện thực, hướng thượng. Cái đích mà ông muốn đạt tới là lòng nhân ái, tình tương trợ giữa người và người, ông muốn bào mòn những bất hạnh trong cuộc sống lầm than, xóa bỏ hận thù giữa hai chiến tuyến để tìm đến tình thương, tình người.”

(đọc “Nhật Tiến Qua Nhà Phê Bình Văn Học Thụy Khuê”).

4)”Viết về Nhật Tiến, Võ Phiến trong cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan đã đưa ra nhận xét là Nhật Tiến đã viết những cuốn truyện “đầy lòng nhân ái với lời văn trong sáng, giản dị”. Nhật Tiến vẫn xuất hiện với một ngòi bút nhân ái đó. Lòng nhân ái làm ông vẫn tin chắc là tình người còn mãi trong con người và sẽ phát hiện trong những giây phút của sự thật. Phải chăng lòng tin đó cũng là đặc tính của con người nhà văn có khuynh hướng luân lý mà Võ Phiến đã xếp Nhật Tiến?

Phát biểu về những truyện viết về Việt Nam, Nhật Tiến cho biết trong những năm đầu, ông viết để tố cáo những bất công, đàn áp của Cộng Sản. Trong giai đoạn sau, ông viết về những chuyển hóa nhận thức ngay từ chính những người đã tham dự vào xã hội Cộng Sản. Những điều đó, ông thực hiện được trong “ Một Thời Đang Qua”.

Trong một lần khác, Nhật Tiến đã nói về công việc sáng tác của ông như sau:

“ Viết là truyền thông với người đọc sự rung động của chính mình về một hoàn cảnh nào đó trong cuộc đời, để gợi lên trong mỗi người tinh thần liên đới của mỗi cá nhân với tập thể. Còn ngắn hay dài, đó chỉ là vần đề kỹ thuật.” …”

(đọc “Bảo Lâm Đọc Một Thời Đang Qua Của Nhật Tiến”).

5) “Nhà văn Nhật Tiến là nhà văn của tuổi thơ, của những bức xúc về một cuộc chiến tranh và là một người lưu lạc suy ngẫm về thân phận của mình và của chung một thế hệ phải trải qua những ngày chiến tranh và những ngày hậu chiến tranh mà những bi thảm, những bất toàn của xã hội lại còn đáng sợ hơn thời còn khói lửa. Ông viết với tâm cảm mà những ý nghĩ trung thực được biểu lộ không e ngại và là tiếng nói được lắng nghe từ công luận.

Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến : nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xã hội, nhà văn của lưu lạc xứ người mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng đếu có những thông điệp trao gửi theo….

Di cư vào Nam, ông xuống Bến Tre dạy học ở trường Quang Trung và cuối tuần ông không về Sài Gòn, ở lại trường nên có thời giờ sáng tác. Ông hoàn tất “Những người áo trắng” lấy không gian và thời gian của Hà Nội kể lại chuyện của một cô nữ tu trẻ nguyện tận hiến dâng đời cho Thiên Chúa. Một giáo sư cùng dạy học với ông là Trương Cam Vĩnh đọc và thích thú với tiểu thuyết này và mang về cho nhà văn Nhất Linh đọc và cho ý kiến. Văn hào Nhất Linh rất khen ngợi và khuyến khích ông nên xuất bản thành sách. Thế là năm 1959, nhà văn Nhật Tiến đã in tác phẩm đầu tay “Những người áo trắng“ và bắt đầu cho một hành trình văn chương kéo dài đến hơn nửa thế kỷ sau. Những tác phẩm tiếp theo là Những Vì Sao Lạc, Tay Ngọc, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng…”

(đọc Nguyễn Mạnh Trinh, “Nhà văn vẫn đứng ngoài nắng : Nhật Tiến”)

6) Hay những nhận xét của Nguyễn Vy Khanh trong “Thế-giới nhân-bản của Nhật Tiến”, xem link sau:

Văn học & Nghệ thuật Nguyễn Vy Khanh trong “Thế-giới nhân-bản của Nhật Tiến”

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19340

****

Trong sự sâu thẳm cùa cảm nghĩ riêng tôi, Trần Văn Tui, Búa Cẩu Xồm, thì nhà văn Nhật Tiến vung nét bút chân phương diễn tả những nghịch cảnh xã hội trong những tác phẩm của ông, ông tạo ra những nhân vật trong truyện được xây dựng, ông mô tả tâm lý những nhân vật đóng trọn vẹn vai trò của họ. Ví dụ như Lão Đối có người con trai theo CS, tức “thằng Đực” trong truyện “Giấc Ngủ Chập Chờn”. Tâm lý hai cha con được biểu lộ qua những mẩu đối thoại rất bình dị của người dân quê làng xã ở miền Nam.

Văn chương của Nhật Tiến đầy nét nhân ái, hiền hòa đối với trẻ thơ, như truyện “Chuyện Bé Phượng” sống trong trại mồ côi, hay truyện “Chim Hót Trong Lồng” với bé Hạnh bị bỏ trong nội trú ở với các soeurs, bà mẹ đi miết. Những bà mẹ của bé Hạnh, bé Phượng sống xa con mình, chuyện thương tâm trẻ thơ của những vết thương xã hội. Tác phẩm Nhật Tiến trang trải những tiếng lòng cô đơn của các em. Bé Hạnh trong truyện Chim Hót Trong Lồng cho thấy tâm lý trẻ thơ thèm thuồng cầu mong sao cho ngày dài kia sớm đến ngày Chủ Nhật để về với người mẹ.

Những truyện ngày xưa đó đã ảnh hưởng đến tôi nhiều, vì trẻ thơ cần phải được che chở, bảo vệ. Xin cám ơn nhà văn Nhật Tiến.

Trần Văn Tui, Búa Cẩu Xồm.
(aka Việt Hải Los Angeles).

Nguồn: Nhà Văn Nhật Tiến

Dấu Đinh. Thơ Hư Vô


dau-dinh

(Thiếu Nữ Bên Giáo Đường. Tranh sơn dầu của Đinh Cường)

Chúa đã chịu chết trên cây Thánh giá
Để cứu chuộc loài người khỏi hư hao
Anh đóng đinh em vào đời vàng đá
Cho trái tim chảy giọt máu ngọt ngào.

Em có chạy trời cũng không khỏi nắng
Bởi em là tặng phẩm Chúa cho anh
Cánh cửa thiên đàng không còn ổ khoá
Từ ngày Thánh Nữ bước xuống trần gian.

Sẽ không còn lạc nhau dù thất tán
Dấu đinh trên da thịt dễ gì tan
Anh lùa hết mây đan vào trong nắng
Ướp trầm hương cho áo cưới thêm vàng.

Để tên em tan vào anh hôn phối
Lần nầy đâu dễ chạy nổi khỏi anh
Đã đợi chờ nhau từ em tiền kiếp
Nụ hôn đầu vừa kịp Chúa giáng sinh….

Hư Vô

Đêm Uống Rượu Với Tình Nhân. Thơ Hư Vô


dem-uong-ruou-voi-tinh-nhan

Đêm uống rượu với tình nhân
Rót cho đầy ba mươi năm, một lần
Cụng ly ngang nỗi thăng trầm
Uống chung giọt lệ đã tràn môi quen.

Rót thêm ly nữa đi em
Uống một trận cho đã thèm đêm nay
Em sẽ thấy trong cơn say
Có tôi mải miết miệt mài yêu em.

Hồn tôi bỗng chốc lên men
Trái tim nhảy nhổm cuồng điên lạ kỳ
Thì em cũng đã u mê
Cơn say gào thét cho kề cận môi!

Một lần em biết hụt hơi
Nghe trong nhịp thở rã rời đêm hoang
Nhập hồn cạn chén tình nhân
Nửa đêm hết rượu, tôi nằm phơi thây…

Hư Vô

HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC. Một Định Chế Quốc Gia của VNCH


Nhật Tiến

ccf55485354c444cb50c13550c014fa2

HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC
Một Định Chế Quốc Gia của VNCH
(Phụ lục: Trường hợp đắc cử của nhà văn Nhật Tiến)

Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐ/VHGD) được thành hình ngày 2 tháng 5 năm 1969 do Tổng Thống VNCH ký trong Luật số 05/69 do chiếu điều 93, 94 của Hiến Pháp VNCH năm 1967 và đã được Quốc Hội thảo luận rồi biểu quyết đồng ý thành lập.

Nhiệm vụ của HĐ/VHGD là:

1) Cố vấn chính phủ trong việc hoạch định và thực thi chính sách Văn Hoá Giáo Dục.

2) Trình bầy sáng kiến và soạn thảo kế hoạch về các vấn đề Văn Hóa Giáo Dục.

3) Nghiên cứu việc thiết lập Hàn Lâm Viện.

Các thành viên của HĐ/VHGD gồm 45 Hội viên thực thụ và 15 Hội viên dự khuyết mà trong đó:

– 15 Hội viên Thực thụ và 5 Hội viên Dự khuyết do Tổng Thống chỉ định.

– 30 Hội viên Thực thụ và 10 Hội viên Dự khuyết thì do các tổ chức Văn hóa Giáo dục công, tư và các Hiệp hội Phụ huynh học sinh đề cử

– Các Hội viên nói trên sẽ được Tổng Thống bổ nhiệm bằng Sắc Lệnh.

– Nhiệm kỳ của Hội viên là 4 năm và có thể được tái tuyển.

– Chủ tịch của HĐ/VHGD là Phó Tổng Thống VNCH.

– Để giám sát cuộc đề cử các Hội viên do các tổ chức Văn hóa Giáo dục công, tư và các Hiệp Hội Phụ huynh học sinh thực hiện, một “Hội Đồng Đề Cử Trung Ương” được thành lập mà thành viên gồm có:

– Phó Tổng Thống hay đại diện.

– Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa hay đại diện.

– Tổng Trưởng Giáo Dục và Thanh Niên hay đại diện.

– Một Nghị sĩ thuộc Ủy ban Văn Hóa Giáo Dục
Thượng Nghị Viện.

– Một Dân Biểu thuộc Ủy ban Văn Hóa Giáo Dục
Hạ Nghị Viện.

– Tổng Quản Trị Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục:
thuyết trình viên.

– Một Giám Đốc Nha tại Bộ Giáo Dục và Thanh Niên :
Thư ký, không quyền biểu quyết.

Hội đồng này có nhiệm vụ:

– Giám sát các cuộc đề cử, giải quyết các tranh chấp (nếu có)

– Tuyên bố kết quả chính thức cuộc đề cử.

****

Trường hợp đắc cử của nhà văn Nhật Tiến.

Sở dĩ có thêm phần này là vì ông Viên Linh, Chủ nhiệm tạp chí Khởi Hành gần đây có loan tải trên Net một bài bịa đặt, vu khống trắng trợn có nội dung như sau:

Lời Viên Linh:
(trích)
“Bởi thế, hẳn ông còn nhớ một hôm đến nhà ông, tôi đã hỏi thẳng rằng:

“- Anh Nhật Tiến, hồi ở Sài gòn tôi lấy làm lạ tại sao anh lại được mời vào làm hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục? Lúc ấy là đâu như 1974, anh mới dưới 40 tuổi, chỉ là giáo sư Trung học dạy Lý Hóa; nhiều người cao tuổi 50, 60 lại sinh hoạt trong ngành văn hóa có tên tuổi sự nghiệp lâu dài hơn mà không được mời làm thành viên hội đồng, mà sao anh cả chục năm trước, hồi đâu 1963 đã làm Phó chủ tịch Hội Văn Bút, rồi sau này lại là hội viên văn hóa của Hội đồng VHGD, tôi lấy làm lạ đấy?”
Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
– “Tại ông Nhất Linh cả!” (3)

Ghi chú (3) cũng của Viên Linh:

3. Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1905-1963), sinh ở Hải Dương, cuối thập niên ’60 xuất bản tạp chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài gòn, đăng bài vở của một nhóm vô danh mà tài năng của họ được Nhất Linh khuếch đại quá đáng, trong có Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Nhật Tiến, …
(ngưng trích)

***

Nhật Tiến trả lời:

Việc tôi đắc cử Hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục năm 1974 và nhà văn Nhất Linh mất năm 1963 (tức là đã từ trần trước đó 11 năm), hai sự việc chẳng ăn nhập gì với nhau, thế mà Viên Linh cũng bịa chuyện, đặt vào miệng tôi câu trả lời ngô nghê:

Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
“Tại ông Nhất Linh cả!”

Thật điêu-ngoa ngoài sức tưởng tượng!!

Sự thật là:

Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục được thành lập năm 1969 thì năm 1970 đã hình thành Nhiệm kỳ I (1970-1974) mà Trung Tâm Văn Bút đã có một thành viên đắc cử Hội viên Thực Thụ, đó là LM. Thanh Lãng.

Qua Nhiệm kỳ II (1974-1978), tôi đại diện Trung Tâm Văn Bút tham gia Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục do sự đề cử của các văn hữu lão thành trong Văn Bút như Vũ Hoàng Chương, Vi Huyền Đắc, Đào Đăng Vỹ, Tam Lang Vũ đình Chí, Lê văn Hoàn, Nghiêm Xuân Việt, Hồ Hữu Tường..v..v…

Sau đó tôi lại phải trải qua một cuộc bầu phiếu giữa các Hiệp Hội Văn Hóa, Văn Nghệ khác nữa thì mới được trở thành Hội viên HĐ/VHGD nhiệm kỳ II (1974-1978) mà trong đó có GS. Phạm Cao Dương là một ứng viên đại diện cho ngành Giáo Dục ( GS Phạm Cao Dương hiện cư ngụ ở Quận Cam, Nam Cali).

Sự thể rõ ràng, minh bạch như thế, can cớ gì tôi phải ú ớ trả lời khi bị chất vấn như lời Viên Linh đã bịa đặt:

Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
“Tại ông Nhất Linh cả!”

Là Chủ Nhiệm tạp chí Khởi Hành, một tạp chí tự mệnh danh là “Tạp chí Văn Học –Lịch Sử”, ông Viên Linh đã bịa đặt và xuyên tạc Văn Học và Lịch Sử một cách trắng trợn như trên, khiến tôi phải đặt câu hỏi : Tư cách và Liêm sỉ ngòi bút của Viên Linh ở đâu mà đến nỗi viết lách một cách gian dối và bịa đặt thảm hại để bôi nhọ người đến như thế.

Chẳng trách khi xưa, ông đã đến nhà Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc (1944-2016) mượn bản thảo tập thơ của Nguyễn Chí Thiện rồi lén đem photocopy để in hớt tay trên của tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, kiếm lời, khiến Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc bị hàm oan trong nhiều năm sau đó.

Nhật Tiến
17-12-2016

***

Ghi chú: Tài liệu về Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục xuất xứ từ nguồn namkyluctinh.org

(http://khaiphong.org) HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC Một Định Chế Quốc Gia của VNCH

Độc Ẩm Cuối Năm. Thơ Hư Vô


ly-ruou-mau-do

(Ly Rượu Màu Đỏ. Tranh sơn dầu của Trịnh Công Sơn)

Cuối năm rót chung tình chung tội
Tôi ngồi độc ẩm với bóng tôi
Đâu có ai về mà chờ đợi
Cụng ly khua vỡ một góc trời.

Uống cho quằn quại đêm cùng tận
Đời còn mấy bận được thấy nhau?
Rót đầy thêm nữa chung vô lượng
(Tửu dạ quang bôi dục kiến sầu!)

Dằn ly dộng lòng khuya khoắt dậy
Thấy trong bọt rượu có linh hồn
Tôi hớp cạn cùng em cuối chạp
Thả buồn trôi dạt mộng mênh mông.

Mà cả đời em là ngọn sóng
Vỗ đắm thuyền tôi giữa vô ngàn
Chung rượu lăn vào đêm linh láng
Chỗ có lần em đã bước ngang…

Hư Vô

Bài Tội Tình Tháng Chạp. Thơ Hư Vô


toi-do

Nếu em không hiện thân Thánh Nữ
Thì tôi đâu khổ tới bây giờ
Hay tại số giang hồ lãng tử
Trời đày lên làm gã tội đồ?

Chân bước xô bồ qua mê lộ
Dấu đinh đóng kín lối nhân tình
Em tựa hình bên cây Thánh Giá
Tôi tần ngần lạ lẫm câu kinh.

Lời tôn vinh hay điềm bất trắc
Để em khóc con mắt bên nào?
Giọt đớn đau chảy vào một phía
Giọt còn ở lại với đời sau.

Tôi lau chưa ráo dòng nước mắt
Đã nghe nhan sắc ngủ trên tay
Tháng chạp dài thêm chương cựu ước
Dắt tôi bước tới một hình hài…

Hư Vô

Hành Trình Đến Tự Do – Nhà Văn Thuyền Nhân Mai Thảo. Ngô Thế Vinh


NGÔ THẾ VINH

Hình 1: Mai Thảo và ký họa của Tạ Tỵ.
Nguồn: E.E – Emprunct Empreinte

“Có lẽ một ngày nào đó Việt Nam sẽ tự do và tôi có thể trở về. Tôi đang hạnh phúc ở đây nhưng nội tâm thì rất buồn bã. Buồn cho dân tộc tôi. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn một tương lai. Xa rời quê hương, thật khó mà duy trì truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như bị đánh mất phần hồn.” Đã 36 năm kể từ ngày Mai Thảo trả lời cuộc phỏng vấn của Jane Katz 7.10.1980, hai năm sau ngày anh đặt chân tới Mỹ và cũng đã 18 năm kể từ ngày anh mất: Việt Nam vẫn chưa có tự do và thân xác anh thì nay đã vùi nông trên một lục địa mới rất xa với một nơi được gọi là quê nhà.

BÀN VIẾT LỮ THỨ MAI THẢO

Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của nhà văn Mai Thảo trên đất nước Mỹ. Chỉ là một căn phòng 209 rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau hẻm nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách. Mai Thảo có nhiều bạn nhưng đây có lẽ là tấm hình “đôi bạn” mà anh rất thích. Về tuổi tác, Vũ Hoàng Chương hơn Mai Thảo một con giáp, cũng vì vậy mà Nguyễn Xuân Hoàng hết đỗi ngạc nhiên khi thấy Mai Thảo gọi Vũ Hoàng Chương là “mày”.

h22

Hình 2: Mai Thảo và Vũ Hoàng Chương.
Nguồn: báo Văn, số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo tháng 2, 1998

Qua lời thuật của Nguyễn Hưng Quốc, hãy nghe Mai Thảo nói về Vũ Hoàng Chương bạn mình ra sao:

“Con người anh ấy lạ lắm. Đúng là một thi sĩ. Mặt mũi lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác như trẻ con. Mà nói chuyện về thơ thì hay vô cùng. Ai cũng là thằng hết. Lý Bạch là thằng. Nguyễn Du là thằng. Một người yêu thơ, thuộc thơ nhiều vô cùng tận.”

Nguyễn Đình Toàn sinh năm 1936, nhỏ hơn Mai Thảo 9 tuổi, cũng vẫn cứ mày tao với Mai Thảo. Để thấy trong sinh hoạt văn học, cùng một lứa bên trời lận đận, họ đã là những bạn văn không biết đếm tuổi.

Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là toà soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh. Mai Thảo giỏi tiếng Pháp, đọc nhiều sách Pháp; anh cũng tiếp cận với nền văn học Mỹ và rất thích các tác giả Mỹ như Henry Miller, Hemingway, John Steinbeck nhưng là qua những bản dịch Pháp ngữ.

Tôi chú ý tới một cuốn sách tiếng Anh khá nổi bật với bìa đỏ trên kệ sách: Artists in Exile, American Odyssey của Jane Katz. Trong cuốn sách ấy, nữ ký giả Jane Katz, đã phỏng vấn các văn nghệ sĩ thế giới tới tỵ nạn trên đất Mỹ. Họ đến từ nhiều quốc gia như Nga, Trung Quốc, Afghanistan, Nam Phi, Á Căn Đình, Việt Nam… Nhà văn Mai Thảo được Jane Katz phỏng vấn và giới thiệu như một “thuyền nhân”, tác giả của 42 cuốn sách tiếng Việt, tất cả đều lưu trữ trong thư viện Đại học Cornell. Cuộc phỏng vấn Mai Thảo, được thực hiện ngày 10 tháng 07, 1980, hai năm sau ngày anh đặt chân tới Mỹ qua thông dịch của anh Nguyễn Thanh Trang, tới từ San Diego, bạn nhà văn Mai Thảo. Tuy là một bài phỏng vấn nhưng không có xen kẽ vào những câu hỏi, nên nội dung như một “tự sự”của Mai Thảo. Jane Katz đã ghi lại cảm tưởng sau cuộc phỏng vấn nhà văn Mai Thảo:

“ Ông phát biểu với một nhân cách trầm tĩnh, và với cả sự kiềm chế sau những năm sống cách biệt – He speaks with quiet dignity, and with the restraint which years of privation have taught him.” (6)

b

Hình 3: Trái, Jacket design by Ted Berstein; Artists in Exile, Jane Katz; Stein & Day Publishers, New York 1983. Phải: chân dung Mai Thảo, photo by Kathryn Oneita, với dòng chữ:
“Khi biển đã lặng thì mọi người bắt đầu cất tiếng ca hát. The sea was calm, and the people began to sing.”

Hình 4: Thủ bút của Jane Katz trên ấn bản đặc biệt tặng nhà văn Mai Thảo

Tôi đã lấy xuống từ kệ sách và mượn anh Mai Thảo cuốn sách với thủ bút của Jane Katz. Tôi lược dịch bài phỏng vấn Mai Thảo và cho phổ biến trên các tạp chí Văn học, và sau này kể cả trên Văn số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo (1) với tên người dịch Tâm Bình. Sau đó, tôi đã đem cuốn sách trả lại trên kệ sách của anh.

Bài phỏng vấn của Jane Katz cũng sẽ đi cùng với bài viết này để tưởng niệm ngày Giỗ thứ 18 của Mai Thảo.

Khi giao tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng năm 1996, cũng là năm đánh dấu sức khoẻ của Mai Thảo bắt đầu suy yếu, anh đi lại khó khăn; tới mức, theo Khánh Trường kể lại, thì một buổi tối khuya về, anh không còn đủ sức leo lên một tầng thang lầu để trở về căn gác trọ thân thuộc trong bấy nhiêu năm. Sau đó Mai Thảo phải dọn xuống một căn phòng khác dưới tầng trệt. Ngay phía lầu trên là căn phòng của hoạ sĩ Khánh Trường. Sức khoẻ Khánh Trường thì cũng không khá gì nhưng đủ sức để chăm sóc anh Mai Thảo khi cần đến. Tín hiệu Mai Thảo gọi Khánh Trường không phải là điện thoại mà thường là một cây gậy gõ gõ lên trần nhà.

h5

Hình 5: Mai Thảo và hoạ sĩ vỉa hè New York, là biệt danh Mai Thảo gọi Khánh Trường.
Nguồn: tư liệu Khánh Trường

Một Khánh Trường giang hồ với Hợp Lưu, một Mai Thảo chính phái với Văn, rất khác nhau cả về tuổi tác và nếp sống nhưng họ lại là một đôi bạn chân tình. Hoạ sĩ Vỉa Hè New York là biệt danh Mai Thảo gọi Khánh Trường. Cũng như một Cao Xuân Huy lính tráng ban đầu rất “kình” với Mai Thảo nhưng sau đó gần anh, trở nên rất thân quý và thương anh Mai Thảo vô cùng. Trong cuốn sách Chân Dung 15 Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, do nhà sách Văn Khoa xuất bản ở hải ngoại [1985], Mai Thảo đã có những nét cực tả về các bạn văn của mình: một Nhật Tiến vẫn đứng ở ngoài nắng, một nhân cách Bình Nguyên Lộc, một Mặc Đỗ quy ẩn, con đường Dương Nghiễm Mậu, đường gươm Lê Tất Điều, Nhã Ca giữa cơn hồng thuỷ… (5)

TẠP CHÍ VĂN TRÊN ĐẤT MỸ

Tên tuổi Mai Thảo gắn liền với Tạp chí Sáng Tạo, cho dù Sáng Tạo có một đời sống tương đối ngắn ngủi.

Nhưng báo Văn thì đeo đuổi Mai Thảo lâu dài hơn, từ trong nước trước 1975, ra tới hải ngoại tới 1996.

Báo Văn khởi đầu từ 1964 với thư ký toà soạn Trần Phong Giao kéo dài được 8 năm. Năm 1972, Văn chuyển qua Nguyễn Xuân Hoàng thay Trần Phong Giao. Năm 1973, Mai Thảo về Văn cùng với Nguyễn Xuân Hoàng trông coi Văn. Năm 1974, Nguyễn Xuân Hoàng rời báo Văn, còn lại Mai Thảo làm tiếp đến 30.4.1975.

Sau hai năm đặt chân tới Mỹ, năm 1982 Mai Thảo cho tục bản tạp chí Văn và kéo dài được 14 năm. Khó có thể tưởng tượng được rằng một mình Mai Thảo trông tờ Văn, anh không lái xe, anh vẫn thuộc trường phái “viết tay” chỉ dùng cây viết chứ không hề đụng tới chiếc máy chữ hay máy điện toán. Kể cả trên mỗi chiếc phong bì gửi báo cho hàng trăm độc giả dài hạn, anh cũng vẫn cặm cụi viết tay. Có người bạn trẻ muốn giúp anh dùng computer in nhãn để không phí thời gian nhưng anh chối từ. Mai Thảo rất tình cảm, anh muốn có mối tương quan gần gũi với từng độc giả qua nét chữ của chính anh trên từng số báo. Mười bốn năm sống với và sống bằng tờ Văn, anh hào hứng mỗi khi khám phá ra một cây viết tài năng mới. Văn cũng là nơi quy tụ lại những cây viết cựu của miền Nam lưu vong ra hải ngoại. Như một Thảo Trường từng viết cho Sáng Tạo, sau 17 năm tù cộng sản rồi qua Mỹ, các sáng tác đầu tay của Thảo Trường viết ở Mỹ, đều gửi cho Mai Thảo đăng trên tạp chí Văn.

Khi nói tới tờ Văn, Mai Thảo tâm sự: “từ mấy năm nay làm lại tờ Văn ở Hoa Kỳ, đời sống lữ thứ hàng ngày thấy đỡ thất lạc, bởi lại được thả trôi trở lại với một không khí toà soạn không khí trị sự, tuy đã khác biệt nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó, trên một góc bàn viết, dưới một ánh đèn sáng, cái không khí đã bao năm tôi sống ở quê nhà, tâm trí tôi thường có nhiều hơn những hồi tưởng về báo quán cũ, là 38 Phạm Ngũ Lão Sài Gòn, ngày trước.” (5)

Đến năm 1996, sau số báo số 158 &159, do sức khoẻ sa sút, Mai Thảo ban đầu trao tạp chí Văn lại cho Du Tử Lê, sau một số báo 160, tờ Văn được Mai Thảo chính thức trao lại cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Nguyễn Xuân Hoàng tiếp tục ra tờ Văn từ số 161 cho đến số 163.

Hình 6: Người khách lữ thứ Mai Thảo Tháng Giêng 1996, bức hình chụp 2 năm trước ngày anh mất.
Photo by Nguyễn Bá Khanh

Đầu năm 1997, Nguyễn Xuân Hoàng ra tờ báo Văn số 1, bộ mới. Kéo dài được 12 năm. Tới năm 2008, tờ Văn số cuối cùng 125-129 cho ba tháng Giêng, Hai và Ba là số đặc biệt về hoạ sĩ Thái Tuấn với bài vở đã layout xong chuẩn bị đưa nhà in, nhưng rồi vì lý do tài chánh Nguyễn Xuân Hoàng đành cho đình bản tờ Văn, cho dù báo Văn vẫn bán được, tuy không đem lại lợi nhuận nhưng không thể để một món nợ lớn đến như vậy với nhà in Kim Select Graphics & Printing trên đường Euclid, mà sau này vợ chồng Nguyễn Xuân Hoàng phải gồng mình gánh trả.

Lý do sâu xa mà không ai muốn nói ra, khi tờ Văn của Nguyễn Xuân Hoàng đình bản, cũng như nhà xuất bản Văn Nghệ của anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết phải ngưng hoạt động vì sách báo thì vẫn bán được nhưng lại không được các nhà sách sốt sắng thánh toán tiền bạc.

Hình 7: từ trái, Mai Thảo, Kiều Loan (con gái Hoàng Cầm), Nguyễn Xuân Hoàng; 1996 cũng là năm Mai Thảo trao tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng.
Nguồn: tư liệu Nguyễn Xuân Hoàng

TẤM LÒNG TỪ BI MAI THẢO

Mai Thảo được mọi người biết tới như một nhà văn, một cây viết tuỳ bút nổi tiếng và sau này là một nhà thơ. Quen biết anh, người ta càng thấy mến con người Mai Thảo hơn. Tấm lòng của Mai Thảo với tha nhân thật đẹp. Anh tốt với mọi người và rất trực tính, nói thẳng trước mặt với người trái ý anh, kể cả lớn tiếng và giận dữ nhưng sau đó thì quên đi, anh không bao giờ để tâm. Trong suốt cuộc đời viết văn, chưa bao giờ Mai Thảo dùng ngòi bút để nói xấu hay chửi bới ai, cho dù không thiếu những bài viết chỉ trích anh nặng nề, có lẽ anh không đọc và cũng không bao giờ trả lời.

Nguyễn Đăng Khánh, người em ruột Mai Thảo viết về anh mình: “Nhiều lần đọc báo thấy người ta mạt sát anh thậm tệ, tôi nóng ruột tới hỏi anh: Tại sao người ta chỉ trích anh nặng nề như thế mà anh không lên tiếng? Anh nói: Sống với người, với đời, phải có lòng. Tấm lòng ở đây là la bonté. Con người không có la bonté là vứt đi. Phải sống thành thật với người, với đời. Vì thế nên tôi không bao giờ dùng ngòi bút của tôi để phê phán, chỉ trích hay nói một điều xấu về ai hoặc để trả lời lại những kẻ mạt sát tôi. Người ta muốn chỉ trích, muốn nói xấu tôi, cứ nói. Khánh thấy người ta chỉ trích tôi trên báo chí vì họ muốn độc giả thấy tên họ đứng trên cùng một trang báo với Mai Thảo. Họ thích như vậy, cứ để cho họ làm, tôi sẽ không bao giờ viết lại.” (3)

Trước đó khá lâu, năm 1989 Mai Thảo cũng có một phát biểu tương tự khi gặp Nguyễn Hưng Quốc ở Paris:

“Đời tôi có một nguyên tắc: không bao giờ dùng văn chương để làm bất cứ điều gì xấu xa. Đâu phải tôi không biết người nào tốt người nào xấu với mình, nhưng tốt hay xấu mặc họ. Người nào tốt, đến gần, uống rượu chơi. Người nào xấu, lánh ra thật xa, đừng thèm đụng tới. Nhưng đừng bao giờ mang những điều đó lên trang giấy để bôi bẩn nhau. Văn chương là cái đẹp, là thế giới của cái đẹp, ở thế giới ấy có thứ tiền tệ riêng của nó: anh phải dùng thứ tiền ấy, anh phải đàng hoàng, phải lương thiện. Thứ tiền tệ ấy chính là cái đẹp.” (4)

Trong bài báo đăng trên Saigon Times “Một Vài Kỷ Niệm với Nhà Văn Mai Thảo” viết vào khoảng cuối năm 1997, khi nhà thơ Thái Tú Hạp vào thăm Mai Thảo tại bệnh viện Fountain Valley. Thái Tú Hạp đã xúc động nhớ lại một câu nói tâm tình của Mai Thảo khi anh còn khoẻ và thường tới quán Doanh Doanh ở cuối con đường Sunset, một quán ăn gia đình rất văn nghệ của vợ chồng Thái Tú Hạp-Ái Cầm có nhạc cổ điển có treo cả một bức tranh sơn dầu lớn của Nguyên Khai:

“Tôi bảo với Hạp một điều, trong đời sống có thể chúng ta không yêu người này, không thích người kia, xỉ vả nhau thẳng thừng trực diện một trận rồi thôi. Bỏ! Đừng lôi nhau lên báo, kỳ lắm. Cõi văn chương hãy để cho nó trong sáng. Hãy xử dụng ngòi bút mình một cách ngay thẳng, tử tế đối với mọi người…”

Trong cuộc phỏng vấn ngày 5 tháng 6 năm 2008, mười năm sau khi Mai Thảo mất, câu hỏi cuối cùng của Thuỵ Khuê với Trần Vũ, “Anh muốn nói điều gì nữa về Mai Thảo? Trần Vũ nhớ lại: lúc sinh tiền, Mai Thảo thường nhắc: «Em không dụng chữ cho mục đích phi văn chương. Không chửi ai cả. Văn chương không phải là chỗ cho em bựa. Em không được quyền.» Những khi cáu, ông gắt um. Không phải một lần, mà nhiều lần, lời khuyên, mệnh lệnh. Bây giờ Mai Thảo mất rồi, tôi cũng không còn trẻ nữa, nhưng những khi nghĩ đến ông, tôi lại nhớ đến lời dặn này. Hôm qua, bây giờ, tôi vẫn giữ tròn lời hứa với trưởng thượng của mình.”

Cả một đời sống với chữ nghĩa, vẫn cứ mãi là một Mai Thảo nhất quán, luôn luôn là người bảo vệ sự trong sáng và thanh thoát của cõi văn chương. Không tu hành nhưng Mai Thảo sẵn có một tâm Phật.

Rồi chợt nhớ tới hai câu trong bài thơ Em Đã Hoang Đường Từ Cổ Đại trong tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền của Mai Thảo:

Tâm em là Bụt tâm anh Phật
trên mỗi tâm ngồi một nhánh hương

NHỮNG NGÀY THÁNG NẰM VIỆN

Trao lại tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng rồi, chẳng bao lâu sau đó, sức khỏe Mai Thảo mau chóng suy kiệt, có lúc anh đã không còn đủ sức ra khỏi căn buồng trong khu chung cư cho dù anh đã dọn xuống tầng trệt. Nỗi cô đơn và dấu hiệu bệnh tật thật sự đã có từ mấy năm trước khiến Mai Thảo đã làm bài thơ “Dỗ bệnh”:

Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng

Khi không còn “dỗ bệnh” được nữa, là tới lúc Mai Thảo phải rời chiếc bàn viết lữ thứ, rời căn phòng phía sau nhà hàng Song Long để luân phiên vào các bệnh viện Fountain Valley Orange County, Good Samaritan Los Angeles và rồi Barlow Hospital và anh đã chẳng có dịp trở lại chốn cũ.

Hình 8: khu chung cư cao niên Bolsa phía sau nhà hàng Song Long; căn phòng 209, địa chỉ báo Văn và bàn viết lữ thứ của Mai Thảo.
Photo by Ngô Thế Vinh.

Good Samaritan là bệnh viện tôi tới thăm anh. Nơi đây tôi gặp Nguyễn Phúc Vĩnh Khiêm, người bác sĩ trẻ chuyên khoa tim mạch đang trực tiếp chăm sóc anh. Khiêm từ bé học trường Pháp rồi lớn lên học y khoa ở Mỹ nên không biết gì về văn chương Mai Thảo, nhưng qua thân phụ, Khiêm được biết mình đang được chăm sóc một người bệnh tên Nguyễn Đăng Quý, là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng với bút danh Mai Thảo.

Cũng tại bệnh viện Good Samaritan này, Khiêm đã thông tim cho Thượng toạ Thích Mãn Giác tức thi sĩ Huyền Không, Khiêm cũng là thành viên trong toán mổ tim lần thứ hai cho nhà văn Võ Phiến. Vì cùng trong lãnh vực chuyên môn, tôi có nhiều dịp trao đổi với Khiêm về tình trạng sức khoẻ anh Mai Thảo. Về hô hấp anh cần dưỡng khí qua ống thở, về dinh dưỡng do không ăn được anh được nuôi bằng chất thực phẩm lỏng bơm qua một G-tube vào dạ dày. Thời gian này sự sống của anh phụ thuộc vào máy móc và toán chăm sóc đặc biệt. Sau một thời gian nằm qua các bệnh viện, sức khỏe Mai Thảo ổn định nhưng hồi phục thì rất chậm do tổng trạng quá yếu, hậu quả của nhiều năm uống rượu mà không ăn và hút thuốc nên bị suy dinh dưỡng trầm trọng và cả suy hô hấp.

h9

Hình 9: tập thơ thứ nhất Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền; hình bìa Trần Cao Lĩnh, Nxb Văn Khoa 1989; và thủ bút Mai Thảo.
Ảnh: tư liệu Ngô Thế Vinh

Nguyễn Mộng Giác khi cùng với hai chị Bùi Bích Hà và Trần thị Lai Hồng khi vào thăm Mai Thảo tại bệnh viện Barlow Los Angeles, bằng trực giác của một nhà văn anh đã có ý nghĩ: “dù không có kiến thức y khoa, chúng tôi đều cảm thấy anh Mai Thảo đang đi trên con đường một chiều, không có cơ may nào quay trở lại đời sống bình thường như trước.” (1)

Sau khi ra khỏi được ống thở, không còn cần thiết phải nằm trong một bệnh viện “acute care” Mai Thảo được chuyển về một khu chăm sóc Phục Hồi Quận Cam. Anh không mắc một căn bệnh nan y nào, dù uống rượu bấy nhiêu năm anh vẫn có một lá gan bằng sắt nhưng Mai Thảo thì cứ như một thân cây khô héo dần cho tới ngày 10 tháng Giêng năm 1998 thì anh mất.

Nhớ lại khi Mai Thảo vừa mất, Đỗ Ngọc Yến có ý tưởng lập ngay một giải văn chương Mai Thảo. Tôi nói với Yến, trước khi nói tới một giải văn chương mang tên Mai Thảo, việc nên làm ngay là giữ lại chiếc bàn viết lữ thứ của anh ấy, như một nét văn hoá của Little Saigon.

Sau khi anh mất, cả không gian sống của Mai Thảo, cuối cùng được người em trai là anh Nguyễn Đăng Khánh đến thu dọn, tất cả chỉ đủ xếp vào mấy chiếc thùng giấy. Và đã không còn đâu dấu vết chiếc bàn viết lữ thứ của một nhà văn “thuyền nhân” lưu vong có tên Mai Thảo.

Người Việt phiêu bạt từ khắp năm châu, khi hành hương tới thủ đô tỵ nạn không lẽ chỉ để thấy một khu Phước Lộc Thọ, chỉ có một tiệm sách Văn Khoa thì nay cũng không còn nữa. Một người bạn cùng gia đình và đàn con thế hệ thứ hai đến từ xứ tuyết Toronto, nhận định là tới Little Saigon không lẽ chỉ để dẫn chúng nó vào những tiệm phở, ngắm bảng hiệu mấy văn phòng bác sĩ hay luật sư. Anh ấy muốn nói tới một Công Viên Văn Hoá Việt Nam.

JANE KATZ PHỎNG VẤN MAI THẢO

Và sau đây là bản lược dịch của người viết từ nguyên bản tiếng Anh, “Những Nghệ sĩ Lưu vong, Hành trình tới Mỹ Quốc” trích từ cuốn sách Artists in Exile, American Odyssey của Jane Katz do Stein & Day Publishers, New York xuất bản 1983. (6)

Tôi sinh năm 1930* tại tỉnh Nam Định, Bắc Việt Nam. Cha tôi là một điền chủ thành đạt, ông được dân làng kính trọng. Ông là chủ gia đình, mẹ tôi thì ở nhà với những người giúp việc. Tôi và các anh em tôi đều rất tuân phục cha tôi.

Sau khi có người Tây phương xâm nhập, đã có tình trạng bất hòa giữa thế hệ trẻ và già. Nhưng những người ngoại quốc ấy đã không thể phá vỡ nền tảng gia đình của đất nước chúng tôi. Đó là một trật tự lâu đời không ai có thể hủy hoại.

Cha tôi quản lý các trang trại. Ông giàu có nên không để chúng tôi làm công việc đồng áng. Tôi phải tới trường đi học, nhưng sau lớp học thì tôi lại rong chơi ngoài đồng ruộng. Với những con trâu kéo cày trên những thửa ruộng nơi châu thổ sông Hồng. Đồng cỏ thì phì nhiêu và xanh tươi. Một số người trong làng thì làm công cho cha tôi, một số khác có ruộng đất riêng của họ.

Dân tộc tôi yêu đất đai, họ tin rằng có hương hồn tổ tiên trong đó. Mọi gia đình đều làm việc ngoài đồng áng, không có ai phải đói kém.

Khi tôi được 10 tuổi thì cha tôi bị mất hết ruộng vườn. Gia đình tôi phải rời về Hà Nội. Thật là khó khăn cho cha tôi phải rời bỏ đất đai của tổ tiên và làng mạc. Trong làng ông quen biết mọi người. Ông đã có một căn cước ở đó mà ông không thể tìm thấy lại nơi thành phố.

Ở Hà Nội, tôi được thấy thành quách và những ngôi chùa cổ qua các triều đại từ những thế kỷ thứ 8 và thứ 10. Một ngôi chùa có tên Ngọc Sơn, một ngôi đền khác có tên là Quan Thánh. Trung tâm thành phố là một hồ lớn, nơi mọi người gặp nhau sau một ngày dài làm việc. Vào mùa hè thì chúng tôi đi biển.

Cho dù sống ở đô thị, chúng tôi vẫn giữ các tập tục cổ truyền như kính trọng người già, tưởng niệm các ngày lễ theo truyền thống.

Tinh thần quốc gia là một phần của truyền thống Việt Nam. Trong một ngàn năm, người Việt bị người Tàu đô hộ, với ảnh hưởng trên nền giáo dục và tư tưởng nhưng người Việt chưa bao giờ bị hoàn toàn khuất phục. Rồi tới thế kỷ 19, khi người Pháp đánh chiếm nhiều tỉnh của Việt Nam, thiết lập nền hành chính đô hộ, mở trường học và các cơ sở dân sự điạ phương.

Năm 16 tuổi, tôi gia nhập phong trào kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi tổ chức những chương trình ca nhạc kịch trong các làng xóm để khích động lòng yêu nước. Chúng tôi viết những câu chuyện về lịch sử và khát vọng tự do. Tôi đã từ bỏ kháng chiến 4 năm sau đó khi biết được Cộng sản đã xử dụng phong trào kháng chiến để phá vỡ trật tự xã hội cổ truyền và cổ võ cho đấu tranh giai cấp.

Chiến tranh Việt Pháp chấm dứt năm 1954 và đất nước bị phân đôi. Gia đình chúng tôi di cư vào Sài Gòn. Đó là một hình thức phản kháng những người Cộng sản. Cha tôi không tin họ và họ cũng không tin cha tôi. Dưới thống trị của Cộng sản, dân chúng hết quan tâm về nghệ thuật. Làm sao có thể vẽ tranh khi mà thường ngày phải lo từng miếng ăn? Trí thức thì bị khống chế và thường bị cưỡng bức vào quân đội.

Từ năm 1958, khởi sự có đối đầu công khai giữa hai miền Việt Nam: miền Bắc là chế độ Cộng sản hậu thuẫn bởi Trung Cộng và Liên Xô và miền Nam không Cộng sản hậu thuẫn bởi Hoa Kỳ và các nước đồng minh.

Thường xuyên có chiến dịch tuyên truyền của cả đôi bên. Miền Bắc thì rêu rao là đang giải phóng miền Nam chống lại đế quốc Mỹ, còn chính phủ miền Nam thì đang chống lại sự thống trị của Trung Cộng và Liên Xô. Cộng sản thực hiện cuộc chiến du kích ẩn náu trong rừng sâu. Máy bay Mỹ thì rải chất độc khai quang để bắt địch quân phải lộ diện. Họ cũng đã gây nhiễm độc cho rừng núi, cây cối, xúc vật và nguồn thực phẩm.

Trí nhớ của tôi về những năm chiến tranh còn rất sống động. Tôi vẫn còn thấy được những căn nhà bị đánh bom, cây cối thì cháy lá và trơ cành, một ngôi đền cổ bị bốc cháy, những trẻ con bụng ỏng, mất mắt hay cụt chân, bà cụ già không nhà cửa thì đi lang thang như người mất hồn…

Tôi viết văn từ năm 1950. Ở xứ sở tôi, nhà văn nhà giáo rất được kính trọng. Sách của tôi được các công ty nhỏ tư nhân xuất bản ở miền nam Việt Nam, rất phổ biến, một số sách đã trở thành “best-sellers” nhưng để sống bằng nghề cầm bút rất khó. Tôi viết rất nhiều truyện và tiểu thuyết. Chúng tôi không có nhiều dịch giả, các sách của tôi không được dịch ra ngoại ngữ. Tôi cũng làm chủ bút một vài tờ báo và tập san văn chương.

Tôi có đọc các nhà văn Mỹ mà tôi rất thích như: Henry Miller, Hemingway, John Steinbeck – qua những bản dịch tiếng Pháp. Các tác giả này không ảnh hưởng tới văn phong của tôi. Nền văn học của chúng tôi rất khác. Chúng tôi có truyền thống văn học riêng từ ngàn năm. Nền văn học của chúng tôi rất quy cách, với mục đích: thăng tiến xã hội.

Có một truyện ngắn tôi đã viết và ưa thích có tựa đề là “Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời”. Một người đàn ông và một người đàn bà chung sống trong một căn nhà nhỏ bên suối. Người đàn bà thì không hiểu tại sao người đàn ông đã bỏ đi. Hành trình của người đàn ông là leo lên tới đỉnh cao nhất của một ngọn núi Phương Đông. Ông muốn biết ngọn núi ấy cao bao nhiêu; ông đi tìm kiếm một chân lý tuyệt đối và hạnh phúc. Khi tới được đỉnh cao nhất của ngọn núi thì ông ta tuyệt vọng vì ý thức được rằng chân lý tuyệt đối thì không bao giờ có thể đạt được. Người đàn bà đi tìm kiếm và thấy xác người đàn ông nằm bên bờ suối. Không ai biết người đàn ông đã chết như thế nào. Người đàn bà đưa xác người đàn ông về làng và tự hỏi tại sao người đàn ông chết. Và cuối cùng người đàn bà nghiệm ra rằng trên đường đi tìm chân lý, người đàn ông đã chọn cái chết.

Như một nhà văn, tôi đề cập tới vấn đề nhân sinh; tôi không có ý đi tìm một giải pháp. Đa số các sách và truyện của tôi dựa trên kinh nghiệm bản thân hay của những người mà tôi quen biết. Sự kiện ghi nhớ trộn lẫn với hư cấu. Văn phong – style, là điều quan trọng.

Người Mỹ rút khỏi Sài Gòn năm 1975. Do các bài viết chống cộng trước đó, tôi bị liệt kê trong sổ đen những nhà văn có nguy hại cho chế độ. Hầu hết các nhà văn có tên trong danh sách ấy đều bị bắt đi tù, nhiều người bị chết trong tù vì thiếu ăn, thiếu thuốc men.

Tôi thì may mắn hơn, được dân chúng chăm sóc và che chở. Không có tình thương yêu của họ tôi đã không thể sống còn ở Việt Nam.

Cộng sản ra thông báo là bất cứ ai tán trợ những nhà văn có tên trong sổ đen sẽ bị bắt giữ. Hệ thống an ninh của họ rất chu đáo. Họ chỉ định những người hàng xóm canh chừng nhau và báo cáo lên chính quyền địa phương. Nhưng vẫn có nhiều người liều mạng để che chở cho tôi. Họ che dấu tôi trong 8 căn nhà khác nhau trong vòng hai năm trời. Tôi sống trong hầm tối vì bất cứ ánh sáng hay sinh hoạt nào bị hàng xóm phát hiện sẽ gây hiểm nguy cho gia chủ. Phải là những căn nhà không có trẻ em vì các gia đình luôn luôn dạy con em không được nói dối. Cộng sản đã lục soát một số nhà nhưng không hiệu quả, và họ đã không tìm ra tôi.

Tôi sống như một con vật trong bóng tối, ẩn mình trong suốt hai năm. Có những đêm hoàn toàn mất ngủ, những ngày giống nhau buồn chán. Một người bạn đem đến cho tôi cỗ mạt chược và tôi chơi cùng một lúc ở cả hai phe. Đôi khi quá tuyệt vọng, tôi phải tìm cách ra ngoài, một cách bí mật trong bóng đêm. Đôi khi tôi không thể tưởng tượng rằng mình đã phải sống trong những điều kiện như vậy. Có lúc tôi cảm thấy tuyệt vọng, và tưởng tượng rằng sẽ có một giấc ngủ dài và không trở dậy nữa. Nhưng người Việt có thói quen chịu đựng và vượt qua. Tôi sâu sắc cảm thấy nhà văn là thuộc xã hội và quần chúng mà họ đang sống với. Với những người đã cùng nhau hợp tác cứu sống tôi, tôi thấy mình phải can đảm để xứng đáng với sự trợ giúp mà tôi đã nhận.

Tôi không phải là Phật tử cho dù gia đình tôi theo Phật giáo. Nhưng là một nhà văn và là một người suy tưởng, tôi phải nhìn lại đời sống mình và cố gắng tìm ra những ý nghĩa. Trong nhiều giờ mỗi ngày tôi đã tịnh tâm và suy niệm. Đặc biệt trong hoàn cảnh như vậy, người ta phải đi tìm sự thật và ý nghĩa của cuộc sống. Tôi đã có cơ hội đó. Tôi tin rằng mỗi chúng ta có một thượng đế trong chính mình. Một người có thể tự cứu rỗi đời sống chính mình qua những hành động và suy nghĩ. Sự tỉnh thức này luôn luôn có ở trong tôi.

Vào cuối năm 1977, có các tổ chức tư nhân giúp người vượt biên. Họ liên lạc với tôi và bảo tôi cứ chờ ở nơi đang ẩn lánh. Tôi hiểu rằng đào thoát là một dịch vụ tốn kém mà tôi thì không có một xu. Tôi không có cách nào liên lạc với gia đình mà không gây nguy hiểm cho họ. Tôi chờ đợi. Vào một đêm tối trời, một người mặc áo đen đi xe Honda, đậu dưới một gốc cây sau căn nhà, hướng dẫn tôi ngồi lên xe gắn máy và lặng lẽ chạy ra hướng bờ sông Sài Gòn, nơi có một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đang chờ. Tôi được bảo nên chèo ghe, giả bộ như một ngư dân. Sau 2 hoặc 3 giờ đồng hồ, tôi lại được chuyển sang một thuyền máy trên biển. Bây giờ thì người đàn bà chủ tàu bảo tôi có thể hút thuốc. Tôi nhìn một lần chót thành phố Sài Gòn và bật khóc vì hiểu rằng tôi chẳng còn bao giờ thấy lại nữa. Người dân miền Nam, hết sức gắn bó với một thành phố mang tên Sài Gòn. Tôi có cảm tưởng đã quay lưng lại với di sản của chính mình.

Trên biển cả, tôi có cảm giác được phóng thả. Tôi đã là một con người tự do.

Đó là một đêm tối đen không trăng. Chúng tôi ra được biển khơi nhưng nhưng lại có một cơn bão thổi tới từ Phi Luật Tân, vật vã con tàu nhỏ, bắt buộc chúng tôi phải trở lại bờ. Tôi trở lại nơi ẩn náu. Vài ngày sau đó, tôi được tin cha tôi chết ở tuổi 82. Đối với tập tục Á Đông, một đứa con phải về chịu tang lễ của bố mẹ hoặc mang trong tội bất hiếu. Nhưng các anh tôi khuyên tôi không nên về nhà vì đang bị theo dõi và tôi có thể bị bắt. May mắn là tôi đã bí mật tới thăm được mộ cha tôi, đọc lời cầu nguyện tỏ lòng tưởng nhớ và điều ấy đã làm dịu nỗi đau.

Rồi có chiếc xe gắn máy khác tới trong đêm tối. Chuyến đào thoát thứ hai nguy hiểm hơn lần trước. Chiếc thuyền đánh cá nhỏ đưa tôi tới một chiếc chòi, tôi phải núp ở đó suốt 2 ngày trong vùng xình lầy có cây che khuất. Cuối cùng thì một chiếc ghe tới đưa tôi ra khơi và trong đêm tối, tôi được chuyển qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn. Bất chợt, có một tín hiệu đèn và không tiếng động. Một toan tính kỹ lưỡng và cả nhiều may mắn. Tôi bước lên một con tàu sức chứa 20 người nhưng số người lên tàu là 58. Chúng tôi phải rất tiết kiệm nước và gạo vì không có chỗ chứa. Mọi người ăn uống rất ít và không có ai chết.

Hình 10: nhà văn thuyền nhân Mai Thảo đến bến bờ tự do Pulau Besar, Mã-lai 12.1977.
Nguồn: internet

Trên tàu gồm những người tỵ nạn chính trị, sinh viên học sinh, người già, các gia đình với trẻ thơ. Chúng tôi trải qua 6 ngày đêm. Mọi người đều đói và khát, một số ngã bệnh. Khi chúng tôi tới gần Mã Lai, biển lặng, trời trong, và mọi người bắt đầu cất tiếng hát. Họ yêu cầu tôi ngâm một bài thơ. Tôi đọc bài thơ của một người bạn nói về một người đàn ông rời nhà ra đi mà không có một ai tới nói lời giã từ.

Tới Mã Lai nhưng họ không muốn tiếp nhận chúng tôi. Các giới chức tỏ vẻ không thân thiện, do đã có quá nhiều tàu tỵ nạn tới đây. Là một quốc gia nghèo, họ không thể cưu mang tất cả. Mỗi lần chúng tôi cố cập bến, họ đẩy chúng tôi ra xa. Cuối cùng, một ngư phủ Mã Lai ra dấu cho chúng tôi; họ bảo cứ ủi tàu vào bãi, nếu tàu bị vỡ hư hại thì họ phải nhận chúng tôi. Chúng tôi đã làm như vậy và có hiệu quả. Con tàu chở chúng tôi bị vỡ. Chúng tôi giúp trẻ em, người già bệnh hoạn lên bờ. Viên chức cứu trợ Liên Hiệp Quốc tới gặp chúng tôi, tặng tiền để chúng tôi mua thực phẩm. Món hàng đầu tiên mà tôi mua là một bao thuốc lá. Họ đưa chúng tôi tới trại tỵ nạn. Trại rất đông nhưng có đủ thực phẩm và lều trú và chúng tôi thì tự do.

Chúng tôi không bị giam hãm trong trại. Tôi bắt đầu yêu mến người dân Mã Lai. Trong trại có đài phát thanh và tôi được yêu cầu viết bài và đọc cho chương trình. Tôi cũng giữ chức chủ tịch trại.

Tôi tới Mỹ vì đã có hai em tôi ở đó, và tôi cũng có quen biết với số nhà văn Việt Nam tới trước. Bây giờ tôi đang viết về kinh nghiệm của chính mình. Tôi hy vọng các tiểu thuyết của tôi được dịch sang tiếng Anh. Tôi cũng đang vận động trả tự do cho các văn nghệ sĩ còn bị cầm tù ở Việt Nam. Tôi e rằng nền văn học nghệ thuật của chúng tôi sẽ bị tiêu vong.

Tôi gửi tiền về cho mẹ tôi. Tôi mong bà sẽ sang đây nhưng bà thì không muốn là gánh nặng cho các con ở Mỹ. Và bà cũng không muốn chết ở một nơi xa quê nhà.

Tôi muốn nói với với thế giới rằng hai mươi năm chiến tranh đã tàn phá đất nước tôi. Nhà cửa đường xá có thể xây dựng lại, nhưng vẻ đẹp của đất đai và tâm hồn dân chúng thì không. Khi chúng ta đang nói chuyện nơi đây, sự hủy hoại vẫn tiếp diễn dưới chế độ Cộng sản.

Có lẽ một ngày nào đó Việt Nam sẽ tự do và tôi có thể trở về. Tôi đang hạnh phúc ở đây nhưng nội tâm thì rất buồn bã. Buồn cho dân tộc tôi. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn một tương lai. Xa rời quê hương, thật khó mà duy trì truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như bị đánh mất phần hồn.

Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey (6)

* Ghi chú của người viết: Mai Thảo sinh ngày 8 tháng 6 năm 1927, chi tiết Mai Thảo sinh năm 1930 trong bài phỏng vấn của Jane Katz có lẽ không chính xác.

h1125

Hình 11: Người muôn năm cũ, từ phải: Thanh Tâm Tuyền 2006, Đinh Cường 2016, Mai Thảo 1998, Ngọc Dũng 2000.
Nguồn: tư liệu Đinh Cường

TIỂU SỬ MAI THẢO VÀ TÁC PHẨM

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, sinh ngày 8/6/1927 tại chợ Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam định rồi Hà nội (học các trường Đỗ Hữu Vị, Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng Yên.

Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà Nội tản cư về quê chợ Cồn, sau đó Mai Thảo vào Thanh Hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên khu III, IV đến chiến khu Việt bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến về thành. 1954, di cư vào Nam.

Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương tạp chí Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông báo Văn.

Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển tới Pulau Besar, Mã lai. Đầu năm 1978, sang định cư tại Hoa-kỳ. Ban đầu cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam trên Seattle và một số báo khác tại hải ngoại.

Tháng 7/1982 anh cho tục bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ngày 10/1/1998 Mai Thảo mất tại Santa Ana, California, thọ 71 tuổi.

TÁC PHẨM

Nhà nghiên cứu và thư viện học Phạm Trọng Lệ, trên báo Văn số Tưởng mộ Mai Thảo tháng 2/1998 đã sưu tầm một thư mục Mai Thảo, trong đó có ghi số trương mục những tác phẩm được lưu trữ tại các thư viện ở Hoa Kỳ, và được Thuỵ Khuê bổ xung phân loại sau đó. (2)

Đoản thiên:

Đêm giã từ Hà-nội (Người Việt, 1955) Tháng giêng cỏ non (1956), Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963), Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965), Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966), Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967), Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968), Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969), Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969), Tùy bút (1970), Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà-nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970), Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987), Một đêm thứ bẩy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988) Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989), Chân bài thứ năm (Nam Á, Paris, 1990), Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990).

Truyện dài:

Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963), Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác), Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964). Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966). Đêm kỳ diệu. Cùng đi một đường (1967). Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968), Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968), Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969), Lối đi dưới lá (1969), Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969), Thời thượng (Côi Sơn, 1970), Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970), Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970), Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970), Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971), Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971), Một ngày của Nhã (1971), Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971), Sóng ngầm (Hoa biển, 1971), Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972), Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn đình Vượng, 1972), Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972), Gần mười bẩy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972), Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972), Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Tình yêu mầu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973), Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973), Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973), Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974), Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974), Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Nhận định, hồi ức:

Chân dung mười lăm nhà văn, nhà thơ Việt Nam (Văn Khoa, 1985)

Thơ:

Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989).

ĐI THĂM MAI THẢO

Buổi sáng ngày lập đông, nam California vẫn là một ngày nắng đẹp tuy hơi se lạnh. Chúng tôi, anh Từ Mẫn nguyên giám đốc Nxb Lá Bối rồi Văn Nghệ, anh Phạm Phú Minh nguyên chủ bút Thế Kỷ 21 rồi Diễn ĐànThế Kỷ, cùng hẹn nhau đi thăm mộ anh Mai Thảo. Riêng nhà thơ Thành Tôn, người có đầy đủ nhất các tư liệu về Mai Thảo vì bận bất ngờ không đi được.

h1210

Hình 12: Mộ chí Mai Thảo với 4 câu thơ trích từ tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền; trên bia mộ là tờ Văn số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo, tư liệu của Thành Tôn

h1310

Hình 13: anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết (phải) và anh Phạm Phú Minh thăm mộ Mai Thảo 04.12.2016
[photo by Ngô Thế Vinh]

Mộ Mai Thảo trong khu vườn Vĩnh Cửu, gần nhà Thuỷ Tạ. Cô nhân viên của Peek Family nhận biết ngay tên nhà văn Mai Thảo, và cho biết thường chỉ có khách phương xa tới thăm. Quanh mộ Mai Thảo cỏ mọc xanh non, riêng tấm bia mộ bằng đá đen trải qua 18 năm vẫn nguyên vẹn với chân dung Mai Thảo và phía dưới có trạm khắc 4 câu thơ từ tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền:

Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi

Đặt mấy nhánh hồng trên mộ chí anh Mai Thảo, cùng với số báo Văn đặc biệt Tưởng Mộ anh, thắp mấy nén nhang với khói hương trầm toả khắp. Thăm anh Mai Thảo và nhớ tới anh với câu thơ Nguyễn Du: Thác là thể phách còn là tinh anh.

NGÔ THẾ VINH
California, 12.2016

______
Tham Khảo:

1/ Nguyễn Xuân Hoàng, Nhớ Mai Thảo; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

2/ Phạm Trọng Lệ, Bảng Thư Mục Tác Phẩm của Mai Thảo; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

3/ Nguyễn Đăng Khánh, Mai Thảo Anh Tôi; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

4/ Nguyễn Hưng Quốc, Vài ghi nhận về Mai Thảo; VOA 12.01.2011

_http://www.voatiengviet.com/a/ghi-nhan-ve-mai-thao-2-01-12-2011-113379499/892744.html

5/ Mai Thảo, Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam,

Nxb Văn Khoa 1985

6/ Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey; Stein & Day Publishers, NY 1983

(Nguồn:http://khaiphong.org/showthread.php?16722-H%C3%A0nh-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BA%BFn-t%E1%BB%B1-do-%E2%80%93-nh%C3%A0-v%C4%83n-thuy%E1%BB%81n-nh%C3%A2n-Mai-Th%E1%BA%A3o&s=53a04cfbb250a9819d06249dbd04b9a9)

 

Nhật Tiến thưa chuyện với nhà thơ Viên Linh


Nhật Tiến 

nhe1baadt-tie1babfn
(Chân dung Nhà Văn Nhật Tiến)

Ngày 1-12—2016 vừa qua, ông có gửi Nguyễn Thiếu Nhẫn 1 lá thư (công bố luôn cả trên mạng), có phần mở đầu như sau:

Thư Viên Linh gửi Nguyễn Thiếu Nhẫn 
– Viên Linh – 

Anh Nguyễn Thiếu Nhẫn,

Bây giờ là 12:01 phút trưa thứ Năm, 1 tháng 12, 2016, tôi vừa đọc xong bài anh.
Có anh đứng cùng chiến tuyến, tôi rất vui. Cảm ơn anh.
Tôi xin kể anh chuyện này: “Khoảng năm 1990, Nhật Tiến làm chủ tịch và tôi làm phó cho Trung tâm Văn Bút Nam Cali. Một hôm tôi nghe tin Văn Bút Nam Cali đã họp và ủy thác bạch khế (carte blanche) toàn quyền cho chủ tịch Nhật Tiến chủ trương trông coi việc thu thập bài vở làm cuốn tuyển tập hòa hợp hòa giải nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương. Lập tức tôi liên lạc với Ban chấp hành, phản đối quyết định trên, nhất là họp mà tôi là phó chủ tịch lại không được biết có buổi họp. Dĩ nhiên một buổi họp cấp tốc được triệu tập, Nhật Tiến không đến dự, nhưng chúng tôi có lý do chính đáng: một chủ đề như thế không thể trao cho một cá nhân đại diện cho toàn thể Văn Bút Nam Cali, lấy cái gì bảo đảm cho thanh danh của Hội Văn Bút một khi cá nhân đó nhân danh Văn Bút để kêu gọi nạn nhân hòa hợp hòa giải với thủ phạm?”Việc mà Nhật Tiến đang làm. Thế là phiên họp do tôi chủ tọa đã bỏ phiếu đa số tuyệt đối hủy bỏ cái bạch khế (carte blanche) nguy hiểm kia.
(hết phần mở đầu)

Trong phần ấy, có mấy điểm mấu chốt như sau:

1) Khoảng năm 1990, Nhật Tiến làm chủ tịch và Viên Linh làm phó cho Trung tâm Văn Bút Nam Cali.

2) Một hôm Viên Linh nghe tin Văn Bút Nam Cali đã họp và ủy thác bạch khế (carte blanche) toàn quyền cho chủ tịch Nhật Tiến chủ trương trông coi việc thu thập bài vở làm cuốn tuyển tập hòa hợp hòa giải nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương.

3) Lập tức Viên Linh liên lạc với Ban chấp hành, phản đối quyết định trên, nhất là họp mà VL là phó chủ tịch lại không được biết có buổi họp. Dĩ nhiên một buổi họp cấp tốc được triệu tập, Nhật Tiến không đến dự,

4) Thế là phiên họp do Viên Linh chủ tọa đã bỏ phiếu đa số tuyệt đối hủy bỏ cái bạch khế (carte blanche) nguy hiểm kia.

Tôi, Nhật Tiến xin trả lời ông Viên Linh và cũng là để làm sáng tỏ vấn đề trước công luận:

1) Năm 1990, thời gian thực hiện cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương, tôi không còn sinh hoạt gì với Văn Bút Nam Cali nữa, chứ đừng nói là tôi vẫn còn là Chủ Tịch, Viên Linh làm Phó.

2) Người chủ trương trông coi việc thu thập bài vở làm cuốn tuyển tập Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương không phải là tôi mà là ông Trần Vịnh, khi đó ở San Diego, và ông lấy tên nhà xuất bản cho cuốn này là Lê Trần.

3) Tôi chỉ là Chủ Tịch Ban Chấp Hành Lâm Thời Nam Cali, nhiệm kỳ có đúng một năm (1988-1989), lại không có Ban Chấp Hành mà chỉ có Ban Thường Vụ gồm: Chủ Tịch Nhật Tiến, Phó Chủ Tịch Viên Linh, Tổng Thư Ký Lê Đình Điểu (đã mất), Thư Ký Vũ Thùy Hạnh (hiện ở tỉnh Orange , Nam Cali). (Xin coi hình ở phần cuối).

4) Nhiệm kỳ của chúng tôi chỉ có 1 năm vì mang danh nghĩa “Lâm Thời”, với nhiệm vụ soạn thảo Nội Quy và tổ chức bầu cử Ban Chấp Hành Chính Thức. 

5) Thời gian 1 năm sau, vì bận rộn công tác vận động cho Thuyền Nhân nên tôi không ra ứng cử tiếp, do đó năm 1989 ông Viên Linh được bầu làm Chủ Tịch Ban Chấp Hành Chính Thức Văn Bút Nam Cali, rồi năm 1991 được Đại hội Văn Bút VN Hải ngoại họp ở San Jose bầu làm chủ tịch Văn bút VNHN sau đó hai năm được tái nhiệm, và tại chức hai nhiệm kỳ.

6) Vậy ở thời điểm 1989-1990, khi có việc thực hiện cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương, tôi không còn trong Văn Bút và ông Viên Linh đã giữ chức Chủ tịch Văn Bút, vậy thì làm gì có chuyện hoang đường như ông nói: Một hôm tôi nghe tin Văn Bút Nam Cali đã họp và ủy thác bạch khế (carte blanche) toàn quyền cho chủ tịch Nhật Tiến chủ trương trông coi việc thu thập bài vở làm cuốn tuyển tập hòa hợp hòa giải nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương. Lập tức tôi liên lạc với Ban chấp hành, phản đối quyết định trên, nhất là họp mà tôi là phó chủ tịch lại không được biết có buổi họp. Dĩ nhiên một buổi họp cấp tốc được triệu tập, Nhật Tiến không đến dự…

Mặt khác, đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy chữ “Bạch Khế” (carte blanche) xuất hiện trong sinh hoạt Văn Bút, chứ kể từ thuở đầu đời 1957 cho đến về sau, tôi chưa từng thấy nó xuất hiện trong Văn Bút. Nó chỉ là sản phẩm vu cáo của Viên Linh mà thôi.

Thưa ông Viên Linh, 

Hơn 10 năm trước ông đã bịa chuyện bôi nhọ GS Phạm Việt Tuyền, Tổng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút trước 1975 mà khi tôi chất vấn, ông đã không thể trả lời được.

Nay ông lại bịa chuyện Văn Bút Nam Cali (mà ông gian dối không nêu rõ là Văn Bút Lâm Thời Nam Cali) để hòng bôi nhọ tôi. Ông trả lời ra sao trước những điểm tôi nêu ở trên. Tôi lại xin chờ ông trả lời để vấn đề được sáng tỏ trước công luận .

Nhật Tiến
2-XII-2016

Hình ảnh minh chứng: 

c4f05d0e64b24d17a6f1dd7f1dcd3bee

Và:

37927f0fe5b94e418ba5a632c82524af

Nguồn: nhavannhattien.wordpress.com

Thao Thức. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca Sĩ Quốc Duy, Hòa Âm Đỗ Hải.


nha-thanh-quoc-duy-hu-vothao-thuc

Di Ngôn Của Đá. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca sĩ Quốc Duy, Hòa âm Đỗ Hải.


di-ngon-cua-da

Anh Đã Đời Em Từ Tiền Kiếp. Thơ Hư Vô


img_2678

Anh đã đời em từ tiền kiếp
Nên kiếp này vẫn nợ nần nhau
Cuộc trầm luân trắng tay dài tóc
Chờ anh trả dứt nợ đời sau.

Em bước vào lao đao nhịp guốc
Vẫn chưa ra khỏi giấc chiêm bao
Hãy giẫm đời nhau cho hoang phế
Cho một lần em biết đớn đau.

Anh đã trót hư hao, lãng phí
Nửa đời sau còn được bao lâu?
Đâu có tình nào không biết khóc
Một cõi trần ai đã bạc đầu.

Bước tới cho vừa cơn hấp hối
Đường trăm năm không có lối vào
Trả lại em nửa đời hư mất
Dẫu hoang đàng cũng đã đời nhau…

Hư Vô

Dòng Sông Mùa Thu. Thơ Hư Vô, Nhạc Phạm Quang Ngọc, Ca sĩ Mai Thiên Vân, PPS Vân Phong.


dong-song-mua-thu-1dong-song-mua-thu-2

Nhan Sắc Mùa Thu. Thơ Hư Vô


nhan-sac-mua-thu

(Thiếu Nữ và Hoa. Tranh sơn dầu Đinh Cường)

Câu lục bát tròn theo môi con gái
Khúc thăng trầm dào dạt nụ ca dao
Tôi gọi tên em, mùa thu nhan sắc
Bên giọt cà phê đắm đuối ngọt ngào

Em là hạt đường tan vào quá khứ
Cho thơ tôi còn được chút kiêu kỳ
Chùm phượng vỹ đã rụng đầy sân trước
Cánh hoa vàng đang chìm xuống đáy ly!

Sydney chờ ai đêm thay áo mới
Trong mắt em lấp lánh cả mùa thu
Cơn mưa rộn ràng dội qua phố xá
Thả câu thơ trôi nổi tới mịt mù.

Tôi vấp xuống giữa mùa thu nhan sắc
Đường không chân đâu còn lối quay về
Tiếng em gọi ngang vực đời sóng biếc
Âm vang còn biền biệt cuối cơn mê…

Hư Vô

VIÊN LINH ĐÃ LÓ MẶT…vẫn tiếp tục luận điệu trí trá. Nhật Tiến


Nhật Tiến

vienlinh

(Nhà văn Viên Linh)

Cuốn sách viết về Trung Tâm Văn Bút VN (TTVB/VN) thời kỳ trước tháng 4-1975 được xuất bản cách đây cũng trên 3 tháng rồi.

Trong cuốn này, vì để bảo vệ danh dự cho TTVB/VN (Trung Tâm Văn Bút Việt Nam) cũng như cho hai vị Chủ Tịch, Tổng Thư Ký Văn Bút là LM Thanh Lãng và GS Phạm Việt Tuyền trước sự vu cáo của ông Viên Linh trên báo Khởi Hành rằng:

1) Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.

2) Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu đói không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp. “…

…, tôi đã chất vấn ông Viên Linh:

1) Hãy trưng những bằng cớ chứng tỏ do bàn tay các vị Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền mà TTVB/VN đã trở thành công cụ do Việt Cộng điều hành.

2) GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và hãy nêu vài tên tuổi của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Hơn ba tháng trời trôi qua, ông Viên Linh đã giấu mặt không trả lời và chỉ để cho tay em xông ra viết lách lung tung, luận điệu lùm loạp, trí trá mà không mang lại đôi chút ánh sáng gì cho hai thắc mắc đã nêu ở trên của tôi.

Tất nhiên tôi vẫn trông chờ sự ngay thẳng, minh bạch và liêm sỉ trong ngòi bút của ông Viên Linh, trước sự ông bôi nhọ cả một tập thể cầm bút bao gồm gần 200 hội viên của TTVB/VN trước năm 1975.

Còn với loại cầm bút như cô Tà Cúc thì tôi không còn gì để nói, sau khi tôi đã trả lời nhà báo Kiều Phong khi ông nêu thắc mắc về nhân vật này. Cả thư nêu thắc mắc lẫn thư trả lời đã được ông Kiều Phong công bố rộng rãi trên internet. Xin trích lại nguyên văn như sau:

Thư KP gửi cụ Nhật Tiến:

Kính gửi cụ Nhật Tiến,
Xưa nay, nhiều người, cả già lẫn trẻ, cả trong và ngoài văn giới, cũng như Kiều mỗ, coi chuyện được quen biết cụ là điều hân hạnh. Nay có đứa tuổi đời còn non trẻ, rêu rao ầm ỹ là nó “xấu hổ vì quen biết nhà văn Nhật Tiến”, xin cụ cho biết thực hư thế nào?
Đa tạ,
Kiều Phong

Thư phúc đáp của Nhật Tiến:

Kính bác Kiều Phong,
Cái câu nói lố lăng càn rỡ đó tôi cũng đã đọc. Tôi nghĩ rằng nếu là người tử tế thì hẳn cô ta đang phải tự xấu hổ vì trong một phút thiếu suy nghĩ đã đưa những lời đó lên mặt báo Khởi Hành của ông Viên Linh

Về phần tôi, tôi chẳng thấy phải bận tâm gì về những lời lẽ đó cả. Bởi vì trong suốt hai năm cô ta lui tới nhà tôi – cô ta tới nhà tôi chứ tôi chẳng hề tới nhà cô ta, cho tới nay tôi vẫn chưa biết nhà cô ta ở đâu -, tôi đã ứng xử thân tình nhưng trong sáng và nghiêm túc. Tôi đã cung ứng phương tiện in ấn cho cô ta, lại dùng nhiều thì giờ dạy cô ta học cách xài software Quart Xpress để cô ta có thể tự lay out lấy sách của mình. Thế mà đã không ơn nghĩa thì thôi, chứ sao lại có thể nói rằng đã xấu hổ vì quen biết tôi ?
Rất cám ơn sự quan tâm của bác.

Nhật Tiến

***

Những tưởng ông Viên Linh sẽ im miệng luôn thì tôi cho là mọi sự rồi cũng sẽ qua vì khi không trả lời được có nghĩa là những lời lẽ của ông như thế cũng chỉ là những lời vu khống, mạ lỵ chứ vốn chẳng có sự thật để mà trưng ra được.

Nhưng gần đây, Viên Linh đột nhiên ló mặt, không phải là để trả lời những thắc mắc của tôi (và hẳn cũng là của hầu hết văn giới) mà là để viết “châpeau” cho một bài lung tung, ý tưởng loạn xạ chả ra đâu vào đâu của cô Tà Cúc.

Viết lời giới thiệu cho bài của đàn em thì cũng được đi, chả ai cấm đoán. Nhưng Viên Linh lợi dụng chuyện này với tâm địa trí trá, đã lại tung ra những luận điệu vu khống hòng gỡ chút danh dự vì đã không trả lời được những thắc mắc kể trên.

Tôi nói trí trá và vu khống vì ông Viên Linh đã đưa ra những lời lẽ nguyên văn như sau:

…”…1) Năm 2000 sách Vũ Hoàng Chương của tôi in ra, mãi 17 năm sau ông Nhật Tiến mới phản ứng về một hai câu trong đó, lại cắt xén cho hợp ý mình, chuyện hẳn có vấn đề ẩn khuất ố tạp quanh giấy mực thời gian và nhân sự.
2) Nhật Tiến nhắn nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc đến nhà lấy cuốn sách mới ông tặng, cô đã từ chối và giải thích lý do trong một lá thư riêng. Tác giả Nhật Tiến, người từng tuyên bố với người trong nước (đạo diễn Trần Văn Thủy): ―ở hải ngoại không có tự do viết, lại không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc;
3)Tuy nhiên còn trẻ, cô chưa biết rõ ông Nhật Tiến, tác giả cuốn ―Giấc Ngủ Chập Chờn,‖ người của tranh tối tranh sáng, của chiêu bài hòa hợp hòa giải, do đó ông không có mặt trong Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học VN (1975-1995) do Văn Bút VN Hải Ngoại lúc tôi làm chủ tịch chủ trương – chẳng hạn….”

***
Tôi xin trả lời từng điểm một về sự trí trá ở trên của ông Viên Linh :

1) Ông nói tôi: lại cắt xén (bài của VL viết về Vũ Hoàng Chương) cho hợp ý mình, chuyện hẳn có vấn đề ẩn khuất ố tạp quanh giấy mực thời gian và nhân sự.

Xin hỏi ông Viên Linh tôi cắt xén bài của ông ở chỗ nào ? Câu văn nào của ông bị thiếu hụt do bị tôi cắt xén mà ra ? Hãy nêu rõ ra đi, đừng có giở thói lập lờ, trí trá.

Còn cái “vấn đề ẩn khuất ố tạp quanh giấy mực thời gian và nhân sự” do ông nêu ra là cái vấn đề gì ? Cái gì “ố tạp” liên quan tới tôi ? Và thời gian là thời gian nào ?

Nhân sự ấy gồm những ai ? Hãy kể ra cho rõ, đừng mập mờ !

2) Ông Viên Linh cho là tôi “ nhắn nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc đến nhà lấy cuốn sách mới do tôi tặng, nhưng bị cô từ chối”

Sự thể là khi còn coi cô ta là người quen biết, khi ra sách mới, tôi có hỏi địa chỉ của cô để gửi sách tặng qua bưu điện. Nhưng cô ta nói thôi đừng gửi tốn tiền, chờ khi bớt bệnh cô sẽ ghé nhà tôi lấy.

Chuyện chỉ có thế mà hóa ra “ tôi nhắn cô đến nhà lấy sách nhưng bị cô từ chối ”. Với cái thói gian xảo này chẳng trách chi ngày trước ông đã toa rập cùng em ruột của mình lấy lén tập thơ của Nguyễn Chí Thiện ở nhà của Ký mục gia Bùi Bảo Trúc để đem in hớt tay trên ông Nguyễn Thanh Hoàng, báo Văn Nghệ Tiền Phong.
(nguồn: http://www.chinhkhiviet.net/2015/02/tran-thi-bong-giay-va-tran-nghi-hoang.html)

Rồi ông lại còn lại còn vẽ vời thêm:

…”…“Tác giả Nhật Tiến, người từng tuyên bố với người trong nước (đạo diễn Trần Văn Thủy): ―ở hải ngoại không có tự do viết, lại không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc…”…

Nhật Tiến trả lời:


Ở hải ngoại, thời điểm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, người cầm bút có tự do hay không thì hãy cứ nhìn cái cảnh cuốn “ Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương”, một công trình tim óc của 27 tác giả ngoài nước viết về 79 tác giả trong nước bị giàng dây kéo lê trên đường Bolsa thì đủ biết. Mà đáng lẽ nó còn bị đốt ngay giữa chốn đông người nữa kìa, nhưng sau bị cảnh sát ngăn cấm nên mới bầy ra cái trò kéo lê cuốn sách trên đường phố. Thế thì tôi hỏi ông Viên Linh “ có tự do cầm bút ở chỗ nào ?” mà ông dùng luận điệu xuyên tạc ấy nhằm kích động tâm lý của người Việt chống Cộng, cho rằng tôi phỉ báng cộng đồng khi nói chung rằng ở hải ngoại không hề có tự do cầm bút. Hơn nữa cuốn sách này đâu có thiên Cộng, cho tới nay ai đã đọc qua đều thấy rõ giá trị của nó trong sự góp phần đáng kể vào công cuộc đấu tranh cho tự do cầm bút ở quê nhà.

Ông Viên Linh lại còn bịa đặt xưng xưng một cách hàm hồ rằng tôi “không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc”.

Ô hay ! Bộ ông quen thói đối xử với cô Tà Cúc như là một thứ nô lệ hay sao mà lại nói tôi không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc ?? Cái này thì tôi không thể tự trả lời.

3) Ông Viên Linh viết về cô Tà Cúc như sau:

“Tuy nhiên còn trẻ, cô chưa biết rõ ông Nhật Tiến, tác giả cuốn ―Giấc Ngủ Chập Chờn, người của tranh tối tranh sáng, của chiêu bài hòa hợp hòa giải, do đó ông không có mặt trong Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học VN (1975-1995) do Văn Bút VN Hải Ngoại lúc tôi làm chủ tịch chủ trương – chẳng hạn.”

Nhật Tiến trả lời:

a) Với một người mà chính ông phong cho là “nhà phê bình văn học”, lại cũng là Thư Ký Tòa Soạn của báo Khởi Hành, mà ông lại đổ cho là còn trẻ chưa biết rõ ông Nhật Tiến, tác giả cuốn ―Giấc Ngủ Chập Chờn, người của tranh tối tranh sáng, của chiêu bài hòa hợp hòa giải, thì quả là ông đã hạ bệ tay em của ông một cách phũ phàng đấy. Vì với loại kiến thức “còn trẻ chưa biết rõ” như thế thì mang danh là “nhà phê bình văn học” cái nỗi gì!


b) Mà thế nào là người của tranh tối tranh sáng hả ông Viên Linh? Tôi nghĩ mãi không ra ông định ám chỉ cái gì? Hay là ông muốn gán cho tôi cái tội ở thời điểm tôi in cuốn sách đó (1969) tôi có lập trường nửa Quốc Gia, nửa Cộng Sản? Nếu vậy thì ông trưng bằng cớ ra đi!

Còn về phần tôi, năm 1969 cho đến 1975, trong cương vị giảng viên của Cục Chính Huấn QL/VNCH, tôi đã tham gia công tác huấn luyện cho hơn 20 khóa Sĩ Quan Đại Đội Phó Chiến Tranh Chính Trị, tổng cộng có đến vài ngàn sĩ quan khóa sinh, chưa hề có một ai than phiền là tôi tuyên truyền cho CS trên bục giảng. Tôi có thể viện dẫn vài nhân chứng như Đại Úy Võ Hoành, Liên đoàn Trưởng Khóa sinh hiện cư ngụ ở Texas, Trung Úy Vương Nghiêm Khối Huấn Luyện hiện ở Washington DC, Trung Úy Lê Xuân Nho Khối Huấn Luyện hiện ở California, Trung Úy Trần Ngọc Kính Khối Huấn Luyện hiện ở California..v..v..

Còn cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn in năm 1969 mà là chiêu bài hòa hợp hòa giải ư ?

Rõ ra là ông không hề đọc cuốn này mà chỉ vừa ăn ốc nói mò vừa quen thói bôi nhọ người khác.

Như tôi đã trình bầy nhiều lần trên mặt báo cũng như trả lời trên Radio hay TV là sau 1975, tôi đã bị khốn đốn với CS vì cuốn này. Nguyên do là qua nội dung của nó, tôi đã vạch trần vai trò của Mặt Trận Giải Phóng trong cuộc chiến ở Miền Nam. Tức là ở miền Nam không có vấn đề “quần chúng nổi dậy chống Mỹ cứu nước” mà đó chỉ là một thứ quân bài do CS nặn ra để lừa bịp dư luận thế giới mà thôi. Vậy nó mang tính chất hòa hợp hòa giải ở chỗ nào đây,ông Viên Linh ??

c) Ông cũng viết rằng : do đó tôi, Nhật Tiến, không có mặt trong Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học VN (1975-1995) do Văn Bút VN Hải Ngoại lúc ông làm chủ tịch chủ trương – chẳng hạn.

À, thế ra ông chụp cho tác phẩm Giấc Ngủ Chập Chờn của tôi cái mũ hòa hợp hòa giải là cốt để biện minh cho thái độ của ông khi ông còn làm Chủ tịch Văn Bút hải ngoại, ông đã loại tác phẩm của tôi không cho in vào cuốn Tuyển tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995!

Xin hãy nghe tiếng nói của người trong cuộc, nhà văn nữ Ngọc Anh viết về công cuộc thực hiện cuốn sách này và cô đã cho in trong tác phẩm Thương Tiếc của mình vào năm 2001, ở trang 330 như sau:

. “Nhân viết đến đoạn này tôi cũng muốn nhắc đến một chuyện không làm tôi tức giận nhưng là kinh nghiệm để đời. Chuyện đó xảy ra cách nay đã năm, sáu năm, lúc tôi và chị Cao Mỵ Nhân họp nhau để thực hiện Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995 cốt ý lấy lại thanh danh cho Văn Bút Nam Cali .
………………….
…”…Nhà văn Mai Thảo đã vui vẻ đưa bài, chưa kể còn khuyến khích khi biết chúng tôi làm với mục đích tốt đẹp, vì lý do đó khi ông mất, tôi đã thật sự thương tiếc, đưa tiễn ông đến tận nghĩa trang và đợi cho đến giờ lấp huyệt.

Riêng nhà văn Nhật Tiến cũng thế, phải nói rằng ngoài vấn đề không đồng quan điểm chính trị, thì ông là một người có tâm tính rất tốt, tương tự như nhà văn Mai Thảo, ông đã vui vẻ tìm một bài không có màu sắc chính trị để đưa tôi; còn những lời khuyến khích thì thật nhiệt tình.

Sau khi tôi layout tất cả các bài viết kể cả bài viết không mang màu sắc chính trị của nhà văn Nhật Tiến với sự đồng ý lúc đầu của ông Viên Linh, và mặc dầu đã sẵn sàng để đưa đi in, thì ông Viên Linh ra điều kiện phải bỏ bài của nhà văn Nhật Tiến ra, nếu không thì tuyển tập này sẽ không được ra đời.

Trong khi cá nhân ông Viên Linh không hề có bất cứ công trình nào trong tuyển tập này, ngoại trừ đòi hỏi phải viết cho bằng dược bài Tổng Quan Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại. Sở dĩ tôi phải dùng chữ đòi hỏi vì tôi và chị Cao Mỵ Nhân có ý định nhờ người khác viết bài này.”
(ngưng trich)

Nhân danh Chủ tịch Văn Bút mà hành xử như thế, vừa độc đoán vừa tham lam. Độc đoán vì ông hăm dọa không cho in sách nếu không loại bỏ bài của tôi. Vậy thì toàn Ban Chấp Hành của ông đi đâu hết rồi mà không cho họ có ý kiến ? Tham lam vì ông lại muốn nhẩy vô ăn có đòi hỏi phải viết cho bằng được bài Tổng Quan Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại trong khi các nhà văn, nhà thơ Ngọc Anh và Cao Mỵ Nhân đã có ý định nhờ người khác viết bài này rồi.

Nói tóm lại là trước sau, ông Viên Linh đã không thể trả lời hai câu hỏi rất minh bạch của tôi:

1) Hãy trưng những bằng cớ chứng tỏ do bàn tay các vị Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền mà TTVB/VN đã trở thành công cụ do Việt Cộng điều hành.

2) GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và hãy nêu vài tên tuổi của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Đã không thể trả lời, mà trái lại, ông vẫn cùng đàn em của ông thi nhau toa rập tung ra những luận điệu trí trá, lùm loạp, bất lương trên trang báo Khởi Hành của ông cùng vài trang mạng toàn cầu qua Internet. Ông thử so sánh xem thành tích phá nát Văn Bút Hải Ngoại của ông để đến nỗi hai lần bị Văn Bút Quốc Tế treo giò, với thành tích dồi dào, phong phú của Trung Tâm Văn Bút VN trước 1975, đã khác nhau một trời một vực như thế nào.

Thế mà trên báo Khởi Hành, ông cùng đàn em của ông thi nhau nổ sảng: “Chúng ta đi mang theo Văn Học Miền Nam”.

Mang theo để làm gì? Để liên tục hùa nhau bôi nhọ Văn Học Miền Nam như đã bôi nhọ Trung Tâm Văn Bút Việt Nam chăng?

Nhật Tiến
XI/ 2016

 

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: