Quán Thơ Hư Vô 310


BẾN CŨ

Sông chở tôi về ngang bến cũ
Mênh mang dạt sóng đã xa bờ
Bóng em như thể thuyền bơi chậm
Cả đời còn lãng đãng trong mơ.

Ngày đi chưa kịp lời hò hẹn
Bến nước đò đưa tiếng thở dài
Trường giang xanh tóc em một thuở
Giờ đã mịt mù vai áo xưa!

Tôi về tựa thoáng mây trong tóc
Thả xuống sông xa nhánh bạc đầu
Chỗ có em ngồi phơi dáng nắng
Cho chiều tan chậm đáy sông sâu!

Để thấy bóng em còn bỏ lại
Mùi hương xưa như có linh hồn
Níu tôi vào bến cùng bãi tận
Nghe sóng thì thầm tiếng vô ngôn…

Hư Vô

VỚI NHỮNG CHIỀU BUỒN

Quanh quẩn mãi một lối về hiu quạnh
Mây thì xa và sương cứ chập chùng
Nghe vụn vỡ những niềm vui nhặt nhạnh
Chiều lại chiều tôi ngồi với hoàng hôn

Có chút nhớ một quãng đời đã mất
Em xa xôi và hương cũ qua rồi
Sợi tóc nhỏ làm sao mà ủ ấp
Một cuộc đời đầy những vết thương tôi…

Ngồi hiu hắt nhớ em tà áo mộng
Bay trong tôi thuở ấy thắp mưa hồng
Ôi đẹp quá cõi trần gian viễn mộng
Một lần rồi chìm khuất giữa hư không..

Khi về lại nhìn chiều vàng đã tắt
Rơi giữa hồn cây lá trổ hoang vu
Sao đắm đuối một thời tôi lỡ mất
Hai tay ôm tràn tuyệt vọng xa mù…

Nguyễn Minh Phúc

CHẲNG TIỄN ĐƯA NHAU

Chẳng tiễn đưa, thôi nhé, người về
Ôi lòng tôi là một sân ga
Người về một bóng, tôi một bóng
Mỗi toa buồn một cõi chia xa

Chẳng tiễn đưa, thôi nhé, muộn màng
Tôi đếm từng chiếc lá mùa đông
Gió mùa se lạnh như câu hát
Câu hát tình ru đến bạc lòng

Chẳng tiễn đưa, thôi nhé, người đi
Sương bạc màu trên nhánh sầu lay
Tóc buổi hoàng hôn từng sợi rối
Người xa người, tay nhớ bàn tay

Chẳng tiễn đưa, thôi chẳng hẹn hò
Tôi thắp đèn vàng, lòng như sân ga
Tiếng còi tàu hú lời chia biệt
Bánh sắt lăn bầm nỗi xót xa.

Lê Văn Trung

CUNG NHẠC BUỒN

Cuộc đời nhẹ như cung nhạc
Thời gian là một vần thơ
Nhạc buồn nhạc vui có khác
Thơ êm hay gắt khó ngờ.

Cuối năm quay nhìn trở lại
Bao nhiêu hạnh phúc tuyệt vời
Năm tàn quay nhìn trở lại
Bao nhiêu cay đắng ngậm ngùi.

Những tình thân vừa mới đến
Những tình thân đã qua đi
Đến, đi đều không lời hẹn
Chỉ như một chớp hàng mi.

Cứ cho chìm vào quá khứ
Nỗi buồn lữ khách không nhà
Hay vui như lòng thiếu nữ
Đều là một cánh sao sa.

Nhìn vào tương lai năm mới
Lại thêm những chuyện buồn vui
Những hân hoan và vun xới
Những bi thương của kiếp người.

Cung nhạc đời vừa đổi khúc
Bài thơ đời đã sang câu
Nhạc nghe như là tiếng khóc
Thơ như một tiếng kinh cầu.

Cúi xin hoàn toàn phó thác
Hôm nay và cả mai sau
Nguyện cầu Ơn Trên phù giúp
Bây giờ và mãi bền lâu.

Quyên Di

Ở HAI BỜ NỖI NHỚ

Người xa xứ còn chút gì để nhớ
Một con đò – một bến nước chiều xưa
Trăng thành nội nhuốm một màu cháy đỏ
Lăng tẩm đền đài lặng giữa cơn mưa.

Chìm đáy nước điệu nam ai khắc khoải
Thuyền lênh đênh theo ánh bạc dòng Hương
Đêm ca Huế sao đậm tình nhân thế
Qua Trường Tiền – người lỡ bước trong sương.

Ngày cuối năm thèm nghe câu mái đẩy
Lơi mái chèo xuôi về hướng Đông Ba
Tiếng sênh phách – thời vàng son khép lại
Cát bụi đời người bao cuộc chia xa.

Bước chân em có về qua đại nội
Hỏi lòng nhau còn nhớ chuyện trầu cau
Nhìn ánh mắt đã qua thời nông nổi
Ngồi bên nhau kể hết những bể dâu.

Thả lòng đêm vào hương cau Vỹ Dạ
Đò có về neo bến Phú Văn Lâu
Hoa sứ trắng cuối mùa còn thơm mãi
Người đôi bờ biết gởi nhớ về đâu?

Nguyễn An Bình

ĐÔI BỜ….

lơ mơ giữa khoắt khuya . mềm
trăng rơi ngoài ngõ nghe đêm khẽ khàng
tôi nghe tôi . thủy triều lên
vỗ lao xao . những giọng rền trăm năm

tôi chia tay tôi đôi lần
đã hoang vu lằm một trần gian im
đêm tiễn ngày . ngày đuổi đêm
mòng mòng cút bắt triền miên bấy chày…

thangtram

TÔI NẰM XUỐNG CỎ ĐỒI XANH

Tôi nằm xuống cỏ đồi xanh
Cùng hoa nắng thắp cùng cành gió ru
Tôi nằm mặt đất hoang vu
Cỏ mênh mang cỏ xanh bờ tử sinh!

Đi đâu rồi cũng loanh quanh
Ngày vui bay mất tóc xanh không còn!
Tôi ôm vũ trụ càn khôn
Kiểng chân vào tận đỉnh hồn nhân gian

Trăm năm – khoảnh khắc vô ngần
Nầy xương máu hỡi của trần gian vui
Mai xa mép cỏ ngậm ngùi
Mùa xuân hương sắc chôn vùi lãng quên!

Trần Thoại Nguyên

CUỐI NĂM NƠI CÙNG CỐC

Ngươi ở nơi cùng cốc
Hoa vẫn nở mỗi ngày
Trời vẫn xanh trong mắt
Đất độ lượng an bày…

Chim chóc vẫn về đây
Chia tình bằng giọng hót
Tre pheo cũng thưa thốt
Lời vàng đá chưa phai.

Ta thua người rồi đây
Chí lớn lọt qua tay
Sợ mình như sợ hủi
Trôi sông nào đâu hay?

Cũng là dân cùng cốc
Heo héo trái tim gầy
Ta hồ nghi gương lược
Soi bản mặt lưu đày…

Còn một chiều mưa bay
Thả tâm vào Cựu Ước
Mỗi bàn chân lê bước
Một thương Mẹ thêm đầy!

Cùng cốc nên mắt cay
Cuộc tình xa đến tội
Giờ sầu xưa như ngói
Lặng lẽ ta phương này…

Trần Dzạ Lữ

THƠ TÌNH TƯỞNG TƯỢNG

Em lệnh viết thơ tình cho em đọc
Làm sao anh hư cấu được thơ tình
Ngọn nến nhỏ trong tim thừa hiu hắt
Rung động đầu không vọng chút dư âm

Rơi đâu đó nắm tàn yêu lạnh rũ
Vướng hoàng hôn vạt nắng vuột vòng ôm
Mưa thời đại che đường về góc nhớ
Gai đời ghim nhoi nhói khắp tâm hồn

Cố tưởng tượng thời trai từng say đắm
Yêu mùa xuân tóc ngắn chớm đôi mươi
Đôi mắt sáng nói những lời xanh thẳm
Thả vào anh tiếng hát lộng mây trời

Trong canh bạc vào đời anh thua cuộc
Để phồn hoa xao xác cuốn thu mơ
Khi mê muội yêu người đâu ai nỡ
Giăng câu thơ rào kín lối sương mờ

Lặng lẽ ôm một mối tình tưởng tượng
Lặng lẽ bơi trong cảm xúc hoang đường
Nụ thơ héo rụng lên chiều nhạt nắng
Nhánh hồn gầy không cõng nổi làn hương!

Lưu Xông Pha

Áo Khuya. Thơ Hư Vô



Áo khuya phơi giữa lưng chừng
Hương đêm động thức trên lưng người tình
Mà nghe hồn vía phiêu linh
Tôi ôm chiếc bóng trở mình còn đau.

Một đời mấy bận tìm nhau
Để thương vạt áo xanh xao lỡ làng
Em về phơi thoáng dung nhan
Hồn tôi ở trọ cho tàn cuộc khuya.

Mai kia dẫu có chia lìa
Lời vàng đá còn khắc bia tượng hình
Chờ em trong bận tái sinh
Đời sau trở lại làm tình tội nhau.

Phận người như cuộc bể dâu
Ghềnh khơi cát lỡ đã nhầu bóng tôi
Em về giũ áo ra phơi
Trong hoang phế còn một đời người dưng..

Hư Vô

Tháng Chạp Không Em. Thơ Hư Vô


Tháng Chạp Không Em…

Trên tầng cao chót vót
Đêm ngó xuống Sài Gòn
Tháng chạp còn thao thức
Chờ em về khai xuân.

Giọt Shiraz đã rót
Chỗ em ngồi bỏ không
Cụng ly cùng chiếc bóng
Rượu quen hơi còn nồng.

Hương tan vào đáy tách
Tôi hớp cùng cạn tôi
Giọt khuya vụt lăn lóc
Trên môi xưa rã rời.

Cho đêm còn tóc rối
Em thả xuống xuân thì
Mà nghe hồn nhỏ lệ
Buồn bỏ lại trên mi.

Tôi quơ quào lảo đảo
Vào tháng chạp không em
Toà tháp cao như cũng
Quằn xuống dòng Thủ Thiêm!

Nơi có lần em đã
Đắm đuối giữa vô cùng
Còn nghe trong nhịp thở
Đang tượng hình hài chung…

Hư Vô

e92305f9-650a-4aaa-a399-af4da0d87768


Chuyến Xe Về Giữa Mùa Xuân. Truyện Ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

chuyến xe về giữa mùa xuân

Theo lời bác tài thì chuyến xe này là chuyến chót. Chuyến cuối cùng của một năm sắp đi qua. Ba mươi Tết rồi còn gì.

Trời xẩm tối rồi. Hành khách thở phào như vừa được ban một ân huệ may mắn. Không may sao được, khi chuyến xe chạy qua cả một đoạn đường gồ ghề, lắt léo mang đầy vết tích của những cuộc giao tranh mà không va phải một trái mìn nào!

Tất cả có bốn mạng ngồi rộng tuyênh toang trên hai hàng ghế. Một người đàn bà chít khăn tang. Một bà cụ mái tóc như sương tuyết. Một cái lồng gà trong nhốt một con chó nhỏ. Và một gã đàn ông thương tật vừa được giải ngũ. Như thế, kể cả bác tài thì chuyến xe có năm mạng sống: bốn người và một con chó nhỏ. Con chó lông đen tuyền, mắt đen tuyền, mõm cũng đen tuyền, cả thân hình của nó là một khối đen cục mịch, lũn chũn, lâu lâu lại thấy phát ra những tiếng rít lên ư ử. Tiếng rít của nó bị át đi bởi tiếng động cơ nổ ồn ào của chiếc xe lam cũ kỹ. Đường nhiều ổ gà. Chiếc xe lồng lên. Lắc bên này. Ngả bên kia. Chồm tới. Giật lui. Đảo lên từng vòng.

Bà cụ có vẻ mệt. Thiếu phụ cũng ngả đầu lim dim lên vách gỗ. Chỉ có gã đàn ông là ngồi lầm lì. Gã mơ màng nhìn ra hai bên đồng lầy. Lúa đang mọc nhưng lưa thưa. Nhiều thửa ruộng xám đen, còn ghi rõ những nét toác nứt nẻ. Một màu xám ảm đạm chạy dài hun hút tới chân trời. Trên cao, mây đục như màu chì đang ngả màu tím thẫm. Gió lồng lộng thổi lùa qua khung cửa hẹp. Chiếc xe vẫn lắc lư. Hai bắp tay của bác tài xế vồng lên. Những đường gân nổi lên cuồn cuộn để chế ngự chiếc xe vật vã.

Vội lắm rồi! Bây giờ là chiều Ba mươi. Chuyến xe này là chuyến chót….Tốc độ xe chợt vọt lên chút nữa theo sự hứng khởi của bác tài. Kim đồng hồ chỉ tốc lực tới tám cây số giờ. Đường sóc như vậy kể là nhanh. Đây là hố mìn chưa lấp. Nọ là di tích của của những chướng ngại vật. Cái xác xe đò cháy rụi hôm nào còn nằm tênh hênh bên lề đường. Rồi những chiếc xe bò vụn nát không còn nhận ra hình thù. Còn có cả những đám tàn than chất đen thui thành từng đụn nhỏ: Xác người, xác trâu bò hay chỉ là dấu tích của những kiện hàng?

……

Bỗng cái xe chợt hãm bớt đà và từ từ chậm lại. Trước mũi xe là một cái hố lớn. Dưới lòng hố là một cái thùng xe đã han gỉ. Sau cái khung xe có bóng một người bận áo đen. Bóng người áo đen bị che lấp chỉ còn một bàn tay gầy guộc giơ lên vẫy. Bác tài xế chùn tay ga, giọng sững sờ sau khi thoáng thấy có cả một họng súng đen ngòm:

– Thôi chết….mình tới số rồi!!

Bóng đen bây giờ đứng hẳn lên. Một khuôn mặt trắng bệch hiện ra sau mớ tóc bù xù. Khuôn mặt rất trẻ, chưa quá hai mươi, đáng gọi là cậu hơn là anh, là chú hay bác. Cậu ta là người “bên kia”. Khẩu súng nói lên điều đó, nhưng nói một cách hiền từ chứ không dữ dằn như bất cứ lúc nào nhào lên xung kích.

Mọi người đổ dồn cả về phía đó. Sự ước lượng bây giờ chính xác hơn. Nhất định cậu này chỉ tới mười lăm. Cậu giơ khẩu súng lên ngang đầu bằng cả hai cánh tay gầy guộc. Vẻ mặt không giấu được sự lo âu, bối rối, cậu ta ấp úng:

– Em…em…hồ…ồi… ch..á..ánh ! Nhờ các bác dẫn về đồn ….

Bác tài trở nên bình tĩnh hơn. Bác đáp lại bằng giọng nửa như giễu cợt, nửa như phân trần:

– Lộn rồi chú ơi! Ở đây đâu có ai là lính. Muốn trở về, chú phải lên tuốt mé trển kìa!

Cậu nhỏ vẫn giữ nguyên cái thế để súng lên ngang đầu, từ tốn bước lên khỏi miệng hố. Rồi như không thấy bóng dáng bộ đồ lính treillis nào, cậu buông khẩu súng xuống, tiến lại gần bác tài :

– Thế thì chỗ nào có lính Quốc Gia, bác chở tôi tới!

Bác tài lắc đầu lia lịa:

– Trễ quá rồi. Tôi đâu có quay lại mé trển. Mà chỉ ở trển mới có lính đóng thôi.

– Xa không?

– Năm bẩy cây số lận!

– Vậy miệt dưới không có ai hết cả sao?

– Không có ai hết! Qua Giêng chắc mới có lính mở đường tới đó.

– Vậy cho tôi theo bác để rồi nằm chờ được không?

– Ý! Làm sao được. Tui có gia đình, tội nghiệp tui!

– Thì bác giữ cây súng này làm bằng. Có khi còn lãnh thưởng!

– Tui hổng ham. Tui không dính vô chuyện gì hết. Tui làm ăn chất phác mà.

Cậu nhỏ sẵng giọng:

– Bác không cho tôi theo thì bác ở đây với tôi luôn!

Bác tài dẫy nẩy lên:

– Ý! Cha Nội! Chơi cửa cha con nhà người ta đó sao! Vậy là tác phong Việt Cộng, chớ hồi chánh nỗi gì!!!

Gã thương binh ngồi ở sau xe, từ nẫy vẫn theo dõi câu chuyện bây giờ mới lên tiếng:

– Theo tôi về được không? Mai mốt tôi dẫn lên đồn.

Bác tài múa hai tay lên:

– Ui da! Vậy là ngon quá cỡ rồi còn gì.

Cậu cán binh rời chỗ đứng, tiến lại phía sau xe. Cậu giương cặp mắt bạc nhược lên nhìn gã đàn ông. Gã nói tiếp:

– Cậu đưa súng cho tôi.

– Bác biết xài hả?

– Mấy thứ này nhằm nhò gì! Lính Quốc gia thu được dài dài..

Cậu cán binh thở phào:

– Vậy mà tôi cứ ngỡ….

– Ngỡ gì?

– Ngỡ bác là người của Mặt Trận.

– Thì sao?

– Thì tôi phải bắn bác trước kẻo bác bắn tôi.

Gã đàn ông mỉm cười :

– Ui ! Đồng chí với nhau cả, sao nỡ tay thế!

Cậu nhỏ ấp úng:

– Tại tôi “quay”. Ở trỏng, tội quay đáng bắn bỏ!

Bác tài xế chờ đợi thấy lâu, vội nói:

– Thôi mời lên xe đi. Trễ rồi.

Chiếc xe lại bắt đầu chuyển động. Nó bò qua một mô cao rồi lũn cũn men theo một lối đi được in dấu bởi chiếc xe mười bánh băng qua những chướng ngại vật.

Cái cảnh len lỏi theo lốt bánh xe này không ai lấy làm lạ. Chuyện ấy bình thuờng. Như một chuyến xe bình thường trở về giữa mùa Xuân trên một giải đất vẫn đang còn triền miên trong khói lửa.

Nhật Tiến

Chải Tóc. Nhạc Anh Bằng – Thơ Hư Vô – Tiếng hát Tôn Thất Mạnh Tuấn – Video Vọng Ngày Xanh


Đêm Đánh Thức Sài Gòn. Thơ Hư Vô


00E55A18-6CE0-4A2C-BA37-BE32B3E0C783

Em về như gió chướng
Đêm đánh thức Sài Gòn
Cho tôi được cuồng đắm
Trong tận cùng mê man.

Còn bàng hoàng hấp hối
Lần chết đuối trên môi
Như loài chim Thorn Birds
Lao thẳng xuống vực đời!

Chỗ hạnh phúc thảng thốt
Nhói tựa dấu gai đâm
Ngón tay em bén ngót
Bấu vào nỗi thăng trầm.

Em về đêm mưa lớn
Tạt cho đầy chiêm bao
Tôi bềnh bồng lảo đảo
Đau đã tới ngọt ngào!

Hồn lơ mơ lạ lẫm
Đêm lăn lóc Sài Gòn
Không trăm năm thì cũng
Còn một lần tình nhân…

Phạm Thiên Thư. Bài viết của Võ Phiến


Võ Phiến

Nhà thơ Phạm Tiên Thư vah Hư Vô

(Nhà thơ Phạm Thiên Thư và Hư Vô)

Nguyễn Du có Đoạn trường tân thanh, ông có Đoạn trường vô thanh; Nguyễn Du có thơ Chiêu hồn, ông cũng có Chiêu hồn ca. Mặt khác, Phật có kinh Kim Cương, kinh Hiền Ngu, ông cũng phỏng soạn Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ v.v… Rồi sau tháng 5-1975 nghe nói có một độ ông toan vung bút làm sáng tỏ cách mạng giải phóng. Đời ông từng bị thu hút ngược xuôi nhiều hướng. Nhưng Phạm Thiên Thư làm văn nô không thành văn nô, làm sư cũng không hẳn ra sư. Con vạc bờ kinh nó ghẹo ông:

“Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ.”
(Động Hoa Vàng)

Phạm Thiên Thư chỉ đóng trọn vai tuồng xuất sắc khi ông trở về với chính mình, tức một tu sĩ đa tình. Và trong vai tuồng ấy ông thật tuyệt vời, đáng yêu hết sức.

Thử tưởng tượng: Nếu Phạm Thiên Thư sớm tối miệt mài kinh kệ, một bước không ra khỏi cổng chùa, không biết tới chuyện hẹn hò, không hề lẽo đẽo đưa em này đi rước em nọ về v.v… thì nền thi ca của chúng ta thiệt thòi biết bao. Lại thử tưởng tượng Phạm Thiên Thư quanh năm suốt tháng chỉ những em này em nọ dập dìu, nhớ thương ra rít, mà không màng tới kinh Hiền kinh Ngọc, không biết chuông biết mõ gì ráo, thì trong kho thi ca tình ái của ta cũng mất hẳn đi một sắc thái đặc biệt chứ.

Cho nên ông cứ ỡm ờ thế lại hay. Có tu mà cũng có tình. Cái tình của một người tu nó khác cái tình của người không tu, nó có nét đẹp riêng. Thật thế, khi yêu đương có lần ông kêu than vì một dáng hình mất hút:

“dáng em nho nhỏ
trong cõi xa vời”
(Ngày Xưa Hoàng Thị…)

“Dáng em nho nhỏ” là hình ảnh quen thuộc của phần đông các cô gái trong thơ ca, là chỗ gặp gỡ chung của mọi thi nhân đa cảm. Nhưng “trong cõi xa vời” là khung cảnh riêng của Phạm Thiên Thư, là cái không khí yêu đương riêng biệt của ông. Tu sĩ đa tình, ông làm cho thế giới yêu đương phong phú hẳn lên.

Xưa nay có ai mê gái mà kêu “tình ơi tình ơi”? Họa chăng chỉ có Phạm đại đức. Ông thù thì thủ thỉ, ông kêu khe khẽ những lời ân tình tha thiết không chịu được. Tình yêu của ông thật tội nghiệp. Không phải nó tội nghiệp nó đáng thương vì ông bị hất hủi, bị bạc tình, bội phản, vì ông gặp cảnh tuyệt vọng v.v… Không phải thế. Tội nghiệp là vì bên cạnh các mối tình vời vợi của ông lúc nào cũng thấp thoáng cái ám ảnh của kiếp sống mong manh, của cuộc thế vô thường, của cảnh đời hư ảo. “Dáng em nho nhỏ” cứ như lúc nào cũng chập chờn “trong cõi xa vời”, đáng thương là thế.

Nhớ thuở nào lá vàng rơi trên áo người yêu phơi trước gió thu, bây giờ người yêu không còn nữa:

“nay áo đã cuốn về thiên cổ
lá vàng bay lạnh nỗi niềm không.”
(Áo Thu)

Nhớ thuở nào người yêu đan áo tặng mình, áo chưa đan xong thì bỗng:

“rồi bỏ đó em vào thiên cổ
anh một đời ngóng áo thiên thanh.”
(Đan Áo)

Trong trường hợp tình nhân mất tình nhân, kẻ khác vật vã đau đớn, thì Phạm Thiên Thư lặng đi trước Không Hư. Ở đây không chỉ mất đi một người tình, một mối tình; ở đây là tan biến hết thảy, sự tan biến nó làm cho ta không buồn vật vã nữa mà thấy hụt hẫng, ngẩn ngơ.

Vả lại không phải chờ đến một cái chết mới đối diện Hư Vô, ngay cả khi đôi trẻ hãy còn đủ trên đời ông vẫn ý thức rõ ràng cái nhỏ bé chơi vơi của tình yêu:

“Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay.”

Đáng thương biết mấy cái cảnh:

“Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm.”
(Vết Chim Bay)

Không phải chỉ thương vì tìm chim biền biệt vốn khó; chính thương nhất là vì tình sầu vô lượng chẳng qua chỉ như một vết chim bay mà thôi. Ngay khi nói chuyện yêu đương đã nghe “lạnh nỗi niềm không”! Cái biệt sắc của tu sĩ đa tình nó hay là thế.

Vừa rồi trót buột ra mấy chữ “ân tình”, “tha thiết”, có thể gây sự hiểu lầm. Nói thế không phải có ý bảo ông Phạm có tài tán tỉnh giỏi giang hay ho. Ông không sở trường về khoa ấy. Tóm tắt, có lẽ ông không sở trường về khoa ái tình nào cả: nói năng, tí toáy, mánh lới quyến rũ mê hoặc v.v… đều không. Trông ông lành lắm, cổ điển lắm. Ông không có phát kiến nào trong lãnh vực yêu đương. Xuất hiện trước ông một thập niên kỷ, Nguyên Sa tỏ ra “mới mẻ” hơn nhiều: từ lời ăn tiếng nói khóe mắt đầu mày cho tới hoạt động tay chân bên cạnh người yêu đều linh hoạt tân kỳ.

Còn người tình lớp trẻ, lớp đàn em, là Phạm Thiên Thư lại hiền khô. Trong mối tình nổi tiếng nhất người ấy chỉ lẽo đẽo “gót giày thầm lặng” đi theo sau người yêu vậy thôi, trong bụng cũng muốn “tìm lời mở nói” nhưng mà cứ ngập ngừng cứ ngại ngần hoài. Mãi mới dám “trao vội chùm hoa”, thế rồi là… hết!

“trao vội chùm hoa
ép vào cuối vở.”
(Ngày Xưa Hoàng Thị…)

là tuyệt đích cuối cùng. Rồi trong những mối tình đậm đà táo bạo sau này cũng chỉ đến chỗ “dan díu bàn tay” mà thôi.

Đã có ai bắt gặp cái hôn nào trong tình yêu của Phạm Thiên Thư chưa nhỉ. Ái tình ở đây cơ hồ không nhằm mưu cầu hạnh phúc. Yêu nhau như thể không vì hoan lạc mà chỉ để cùng thấm thía cái tính cách bọt bèo của kiếp người. Ái tình không đưa tới hạnh phúc, cũng không đưa tới những quằn quại, ghen tuông, khổ đau, sầu não v.v… Nó chỉ đưa tới sự ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ trước mênh mông, vắng lặng. Trước Phạm Thiên Thư lâu rồi, vào thời kỳ văn học lãng mạn, nghĩa là thời kỳ của tình cảm dạt dào cao khiết, khi yêu đương Xuân Diệu liền bám sát: “sát đôi đầu, kề đôi ngực, trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài”, rồi “quấn riết đôi vai”, rồi “gắn chặt đôi môi” v.v… Vậy mà ông cứ kêu “Thế vẫn còn xa lắm”. Trong tiếng thơ tưởng nghe được cả hơi thở hổn hển. Nhà thơ cắn vào món ăn trần gian (nourriture terrestre), cắn mạnh dữ đa!

Sau này về già, Xuân Diệu trầm tư chín chắn, vẫn giữ một lập trường về thân xác:

“Không nền, sao dựng lầu thơ?
Không thân thể, chỉ bâng quơ cái hồn.”
(Thân Em)

Về già, Vũ Hoàng Chương gặp lại giai nhân trong giấc mơ cũng nằn nì:

“Em nhé!…, chiều anh, gần chút nữa
Cho anh tìm thấy chính em xưa.”

Khi em đã gần và anh đã tìm thấy, anh liền lính quýnh:

“Ớ, Chính em mà! Tất cả em
Đã về… Ôi trận gió nào đem!”
(Giấc Mơ Tái Tạo)

Tất cả em, tức là đủ cả nền thơ lẫn lầu thơ đấy, tức là không bâng quơ đâu. Các lão thi nhân không chịu cái bâng quơ nhé, ngay cả trong giấc mơ.

Nhưng trước nữa, trước xa, cách chúng ta hơn nghìn năm, ngót mười hai thế kỷ, tại quê hương đức Khổng, thì một vị tiến sĩ phong nhã như ông Bạch Cư Dị coi kỹ cũng khiếp lắm, không sao? Lúc thất thế sa cơ ông tư mã Giang Châu mặc áo xanh đêm khuya nghe đàn vẫn cốt cách ra gì, còn khi đắc ý ông làm thượng thư tại triều thì áo mũ cân đai, đường đường chính chính, uy nghi biết mấy. Vua trên trông xuống, muôn dân trông vào. Thế mà nói đến gái họ Dương, ông không ngại nói luôn tới cái lúc người ta đang tắm rửa kỳ cọ:

“Xuân hàn tứ dục Hoa Thanh trì
Ôn tuyền thủy hoạt tẩy ngưng chi”

Ông nói đến cả chuyện da thịt người ta trắng thế này thế nọ. Đứa xấu nết đọc tới dám bấn lên lắm.

Những bậc đàn anh, những bậc tiền bối và cổ tiền bối ấy, giá họ có dịp xem qua thơ tình của chàng thanh niên thời nguyên tử, thời hiện sinh, cái thời từng bị vu là sa đọa! Thơ tình của chàng là thứ thơ tình không có nụ hôn. Người tình của chàng là thứ người tình không da thịt. Đố thiên hạ tìm ra trong thơ chàng một nụ hôn, tìm ra những cặp môi mọng như quả nho, gò má ửng hồng như trái đào, những sóng mắt đắm đuối, ngực tròn phập phồng v.v…, đố như thế là đố khó quá. Thường thường chỉ có nón bài thơ, có hoa cài đầu, có áo hồng áo xanh v.v… Kẻ hăm hở xông tới cũng có thể bắt gặp môi, tóc và một bàn tay chẳng hạn. Bàn tay (cái phần rất ít thân xác trong thân xác), bàn tay vậy thôi, cũng như tóc như tai vậy thôi. Không mọng đỏ, không no tròn, không phập phồng, không đắm đuối, không long lanh v.v… Ồ, những chữ nghĩa ấy hàm ý thưởng thức, cái ý quá sỗ sàng đối với chàng. Thành thử em Ngọ, em Tí, gái gác chuông, gái giàn hoa, gái lều thơ, gái chong đèn v.v…, tất cả chỉ là một cái tên hay một bóng dáng. Tuyệt nhiên không thịt da. A! Gái nguyên tử này với trai hiện sinh nọ, xứng chưa!

Thân xác ư? Chẳng qua những tấm thân mảnh dẻ, mong manh, như liễu, như tơ, như sương. Những thân xác như thế không chịu được sự cận kề. Gái như thế họ chập chờn xa xa , họ ở chỗ “xa vời”, họ thường mất hút hoặc trong quá khứ, trong thời gian mịt mù, hoặc trong không gian diệu vợi, hoặc trong hư vô, trong “niềm không” buốt lạnh…

Mới vừa rồi lại trót nói Phạm Thiên Thư không xuất sắc về kỹ thuật ái tình nào, nói ái tình ở đây không có hôn hít, người tình ở đây không có xác thân háo hức v.v…, nói vậy lại e có sự hiểu lầm khác nữa. Như vậy hoặc có thiếu nữ nào đó ngờ rằng Phạm lang có phần lạnh nhạt hờ hững chăng? Không đâu. Trái lại. Con chim con thú không lời nói, chúng vẫn có linh tính để phân biệt kẻ dữ người lành, để biết rõ ai là kẻ thương yêu nó. Người tình họ Phạm không tỏ ra bạo dạn nồng nàn, nhưng nghe giọng thủ thỉ của ông chúng ta tin ngay là ông yêu đương chân thành. Chân thành chắc chắn không kém lòng ông mến đạo. Những mối tình chay tịnh của ông chẳng những là tình chân thành lại còn là tình tha thiết. Mà tình càng tha thiết thì cái chới với của nó trong kiếp phù du chỉ càng thấm thía.

Ðáp lời tạp chí Bách Khoa trong một cuộc phỏng vấn, Phạm Thiên Thư bảo ông cần có ba thứ trợ hứng cần thiết: thiên nhiên, sự yên lặng, và những quán cà-phê (Bách Khoa, số ra ngày 18-5-1974). Một cách thức trợ hứng vất vả: thiên nhiên phải đi với các quán cà-phê, sự yên lặng cũng phải đi đôi với các quán cà-phê, không khó khăn quá sao?

Nhưng khi đã có đủ ba trợ hứng cần thiết rồi thì ta thấy nhà thơ tha hồ phóng bút làm thơ liên hồi về ba (lại ba) đề tài: tôn giáo, tình yêu, thiên nhiên. Đó là những đề tài chính yếu của thơ Phạm Thiên Thư. Đáng tiếc, tôi không có sự hiểu biết để nói về tôn giáo. Đáng tiếc hết sức, vì nó rất là quan trọng. Tôn giáo tỏa ảnh hưởng lên tình yêu, lên thiên nhiên, trong thơ Phạm Thiên Thư. Tôn giáo tạo cho thi sĩ một phong cách yêu đương riêng, và một phong cách riêng trước thiên nhiên.

Nếu khi tôn giáo cặp với ái tình nó có làm cho người đời ngỡ ngàng đôi chút, thì khi tôn giáo đi với thiên nhiên, cái thế hòa hợp thật là thoải mái. Mà chắc chắn trong trường hợp này chính Phạm Thiên Thư cũng thấy thoải mái nữa. Cho nên ông nói đến cái sức trợ hứng của thiên nhiên mà không đề cập đến sức trợ hứng của ái tình, mặc dầu sức ấy đâu phải không đáng kể.

Thiên nhiên trong thơ họ Phạm thật đẹp. Khi sảng khoái nhà thơ lên nương, và:

“Cắp theo cái nậm khô bầu
Ta ra múc nước bên cầu suối xanh
Vào bầu mây cũng xô nhanh
Ngẩn ngơ cảm thấy không đành bước đi.”
(Nhớ Trang Trại Hồng)

Khi ngậm ngùi, ông trông ra một cảnh chợ xưa:

“Đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc
Tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu.”
(Đom Đóm)

Trang trại hồng đẹp mà động hoa vàng cũng đẹp, mây chảy vào bầu đẹp mà đom đóm tụ về nền chợ cũ cũng lại đẹp nữa. Có con mắt nhìn ra cảnh đẹp đã quí, mắt Phạm Thiên Thư trông cảnh chẳng những thấy đẹp lại còn thấy ra đạo. Thế rồi trong cảnh chẳng những “trông” thấy đạo, ông lại “nghe” thấy đạo. Ngày thì:

“Trang kinh mây nổi trước hiên nhà.”
(Kinh Mây)

Tối đến lại:

“Đêm nghe lau lách thầm thì
Họp nhau từng khúc kinh gì nửa khuya.”
(Nhớ Trang Trại Hồng)

Nhưng cứ đi nhặt nhạnh chỗ này chỗ kia những câu nói về kinh kệ, về tiếng chuông tiếng mõ v.v… để cho rằng thiên nhiên trong thơ ông nhuốm mùi đạo thì dễ dãi quá. Những câu những chữ như thế chỉ là cái để phô ra; ông Phạm không cần phô ra: đạo nó đã thấm vào tâm hồn ông, nhập vào từng cảnh vật thiên nhiên quanh ông. Tôi đã gặp ở ông những bài ngũ ngôn tứ tuyệt cực hay, kể chuyện tang thương dâu bể chuyện nghìn đời đau thương, trong những khung cảnh hoang phế điêu tàn, mà lời lẽ vắn tắt, ý tình kín đáo, không hề quá độ bi thảm. Tôi cũng gặp ở ông những buổi mai sáng lạn diễn bằng lời nhẹ nhàng khoan thai. Ở đây niềm vui không cuống quít, nỗi buồn không não nề.

Giữa một thời ác liệt đầy âm thanh và cuồng nộ, ông giữ được quân bình an lạc trong tâm hồn: Do đạo đấy chăng? Như thế hà tất dõi theo tiếng chuông tiếng mõ trong thơ ông làm chi.

Thành thử Phạm Thiên Thư có tu lại có tình, nhưng không phải tí ti l’amour tí ti la foi. Không phải thế. Ở đây tình yêu thì tha thiết, niềm tin thì chí thành. Không tí ti.

Phạm Thiên Thư xuất hiện muộn ngưng bút sớm, mà sự nghiệp thi ca của ông vẫn đồ sộ. Năm 1975, mới ba mươi lăm tuổi ông đã có ngót chục vạn câu thơ. Phong phú là một đặc điểm của thế hệ văn nghệ sĩ bấy giờ. Riêng ông Phạm, ông từng dùng đến những tiếng: vơi óc, ốm người, mửa máu v.v… để nói về sự cố gắng của mình (Tạp chí Bách Khoa, số vừa dẫn); tuy nhiên người ta thấy có những trường hợp không có lý do để cố gắng ông vẫn làm thơ rất nhiều rất nhanh. Cuốn Kinh Hiền mười hai nghìn câu ông viết trong một năm rưỡi: việc đạo phải nỗ toàn lực nên thế. Còn cuốn Quyên từ độ bỏ thôn đoài gồm 111 bài thơ ông cũng chỉ làm xong trong vòng hăm ba ngày. Mỗi ngày năm bài thơ, đều đều. Lý do gì vậy?

Không ai đi trách một người… làm quá nhiều thơ. Duy không biết có phải cái lượng đã hại cái phẩm chăng. Vì trong cái lượng đồ sộ nọ số dở khá nhiều. Trong lắm bài có những câu thật hay lạc vào giữa các câu dở làm ta tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Võ Phiến
11 – 1986
(Võ Phiến, Văn học Miền Nam, nxb. Văn Nghệ, California 1999)

Bến Cũ, Thơ Hư Vô


Giot Biển

Sông chở tôi về ngang bến cũ
Mênh mang dạt sóng đã xa bờ
Bóng em như thể thuyền bơi chậm
Cả đời còn lãng đãng trong mơ.

Ngày đi chưa kịp lời hò hẹn
Bến nước đò đưa tiếng thở dài
Trường giang xanh tóc em một thuở
Giờ đã mịt mù vai áo xưa!

Tôi về tựa thoáng mây trong tóc
Thả xuống sông xa nhánh bạc đầu
Chỗ có em ngồi phơi dáng nắng
Cho chiều tan chậm đáy sông sâu!

Để thấy bóng em còn ở lại
Mùi hương xưa như có linh hồn
Níu tôi vào bến cùng bãi tận
Nghe sóng thì thầm tiếng vô ngôn…

Hư Vô

Ngày Cưới. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

961F5B3B-6C7E-4952-88C7-5607C3478B56

– Nào…nào tỉnh dậy kẻo trễ rồi…con gái của mẹ…

Tiếng gọi ngọt ngào vẳng qua tai Thu xa rồi thật gần. Bàn tay quen thuộc vuốt từ trán Thu xuống má. Bây giờ thì mẹ không còn cù vào cổ Thu như những năm còn bé nhưng mơn nhẹ ở chỗ má lúm đồng tiền. Thế cũng đủ nhột lắm rồi và vì thế Thu đã thức giấc.

Nhưng Thu chưa mở mắt ra vội. Có một cái gì mù mờ chen lấn, xô đẩy trong đầu óc của Thu. Cả người Thu như đang trôi bồng bềnh. Phía dưới là vực thẳm sâu hun hút mà hình như Thu đã ngã xuống đấy và đã kêu gào thảm thiết. Phải rồi, Thu đã gào thảm thiết. Cảm giác nức nở còn như vướng lấy cổ họng, còn như đọng trên bờ mi, còn như làm run rẩy vành môi khô héo. Nhưng thực sự cái gì đã xẩy ra vậy kìa. Thu cố níu lấy một phần nào ý nghĩ để mong chụp bắt được những mảnh sống thực và mộng đã rã rời như sự rã rời mệt mỏi cũng cực đã khiến Thu không thể mở mắt ra, không thể nhấc nổi cánh tay trở dậy. À! Hình như có một biến cố nào vô cũng quan trọng xẩy ra đâu đó trong cuộc đời hai mươi năm làm con gái của Thu. Giọng mẹ vẫn thì thào như luồng gió ấm thổi qua tai:

– Trễ rồi…trễ rồi…con gái của mẹ…

Óc Thu vụt sáng rỡ như bầu trời tăm tối vụt được rọi một luồng hào quang. Thôi khỏi cần thắc mắc nữa rồi. Khỏi cần tỉnh dậy. Khỏi cần mở mắt ra Thu có thể nằm yên đó nhắm mắt thật kỹ cũng biết được cái gì đang xẩy ra ở quanh đó. Hẳn nhiên mẹ đang mỉm cười ánh mắt trìu mến.

Căn phòng quét vôi màu xanh tràn ngập ánh sáng. Ở góc kia một tấm gương chói lòa. Tấm gương của chiếc tủ phấn do anh chị Thúy mua tặng vào dịp cưới của Thu này đây. Tấm gương cao vừa đúng đầu người, đúng đầu của Thu thì phải hơn. Thu đã soi mình vào đấy. Áo cô dâu rực rỡ như cánh bướm đầu xuân. Chiếc voan choàng đầu mềm như suối tơ, nhẹ như cánh hồng dìu được tâm hồn của Thu bay bổng lên trời cao. Vòm trời chan hòa hạnh phúc. Có Thu có anh Sơn. Anh Sơn vững chãi như một cây thông giữa trời mà Thu chỉ ví mình như một cánh bướm nhỏ xíu bám trong vòng tay của anh. Đám cưới xẩy ra như một giấc mơ. Tất cả mọi người thấp thoáng ẩn hiện như đoàn người trong mộng tưởng. Không thể nhớ được. Không thể phân biệt được chuyện gì xẩy ra trước, chuyện gì xẩy ra sau. Kể cả cái hố sâu thẳm mà Thu đã té xuống rồi kêu gào. Nhưng tội gì mà nhớ cho đầy đủ. Hãy chỉ níu lấy giây phút làm Thu sung sướng nhất. Giây phút tưng bừng ở nhà thờ, có cha Thành trang nghiêm đọc những lời cầu chúc cho đôi lứa. Rồi anh Sơn…Ôi! Anh Sơn của em. Có phải anh đã đeo vào ngón tay em , ngón áp út chiếc nhẫn cưới xinh xắn nhất trên đời. Chiếc nhẫn ràng buộc đời em với đời anh. Chiếc nhẫn sẽ theo em suốt đời và em cũng sẽ đi theo anh suốt cuộc đời khổ nhọc mà anh đang mang đi. Phải…em sẽ theo anh cho đến suốt cuộc đời. Khởi sự từ giây phút này đây. Giây phút mẹ kêu em ở đầu giường. Bàn tay của mẹ mơn man trên má. Chỗ có lúm đồng tiền. Hì. Đến thánh cũng không thể nhịn cười được vì nhột nhạt. Mình sẽ mở mắt ra và sẽ thấy mẹ cười. Căn phòng sáng rạng rỡ. Ở góc phòng là một tấm gương gắn trước tủ phấn. Đấy là tủ phấn của cô dâu. Dậy…con gái của mẹ…bao nhiêu là việc phải làm mà cô ngủ ưỡn ra thế này thì hỏng hết. Ngủ dậy trễ, sau chồng nó chê đó!

Thế là Thu mở bừng mắt ra. Mỉm cười một nụ cười. Cơn nấc như còn vướng nghẽn trong cổ họng. Sức nặng nào vẫn còn làm nặng trĩu riềm mi. Vành môi khô héo. Nhưng việc đầu tiên là Thu nhìn vào góc phòng. Hai chiếc tủ phấn cô dâu còn đó. Tấm gương chói lòa. Những hộp son, phấn, bàn chải, lược còn nguyên ở đó. Mình sẽ trang điểm cho kỹ càng. Bao nhiêu người ngó chớ ít sao. Bộ áo trắng cô dâu rực rỡ như cánh bướm. Chiếc voan choàng đầu mềm như suối tơ. Ta cùng Sơn bay bổng lên trời cao. Thu lại mỉm cười nhìn mẹ. Cặp mắt long lanh sáng. Sáng hơn bất cứ vì sao nào sáng nhất trên bầu trời. Mẹ nhìn Thu bỗng nước mắt ràn rụa. Mẹ quay đi thật nhanh. Ồ! Anh Sơn không có gia đình. Anh Sơn chịu ở rể mà, sao mẹ còn buồn. Mẹ vui lên đi cho ngày cưới của con được trọn vẹn. Áo của con đâu. Chiếc áo mà suốt đời người phụ nữ nào cũng mơ ước được mặc một lần.

Mẹ nhoài tay lên rút xuống chiếc áo trắng. Có cả tấm voan, Thu nhẩy bổ lại trước gương. Vừa mặc vừa ngắm nghía. Thu vui sướng quên bẵng ngay mẹ mình vừa chạy vụt ra khỏi phòng đóng cửa lại. Ở phía tường bên kia, có tiếng mẹ khóc vẳng lại. Mẹ thật buồn cười. Con đi lấy chồng. Nhưng chồng con đi hành quân xa thỉnh thoảng mới về. Con vẫn ở với mẹ mà, sao mẹ buồn.

Chiếc áo này có vừa không. Nó rộng và dài. Nhưng nó là áo cô dâu. Mình là cô dâu, choàng khăn này. Còn phải đi hài nữa chứ ! Thu lăng xăng đi tìm đôi hài. Đôi hài đâu nhỉ. Thu nhớ mình dã xài và đã cất kỹ đâu đó trong một ngăn tủ. Thu lại mở tủ. Những bộ quần áo của anh Sơn xếp ngay ngắn bên cạnh những bộ quần áo của Thu. Ôi, anh Son. Anh mới đi không đầy năm ngày mà sao em nhớ anh quá đỗi. Hơi hướng của anh còn phảng phất đâu đây. Nhất là mùi thuốc lá đã từng ướp lên tóc của em. Mùi quen thuộc không thể quên đươc.

Thu ngẩn ngơ với đám quần áo, mãi rồi mới nhớ ra rằng mình đang đi tìm hài. Nàng thu được đôi hài ở góc tủ, trong một chiếc hộp còn thơm mùi giấy mới. Thu đi hài. Thu lại ngắm mình trong gương. Thật đủ bộ cho một cô dâu. Áo voan trắng, đầu trùm voan trắng, chân đi hài. Bộ quần áo hơi thô nhưng miễn mình là cô dâu. Suốt ngày hôm nay mình sẽ là cô dâu. Bao nhiêu người sẽ ngắm, bao nhiêu người sẽ trầm trồ khi mình xuất hiện. Thu lắng tai nghe. Quả nhiên ở nhà dưới đang ồn ào. Đông thật. Mẹ đâu rồi. Mẹ dẫn con xuống không thì con ngượng chết. Mẹ hiện ra ở cửa phòng. Mẹ ôm chầm lấy Thu khóc nức nở, Thu cũng sung sướng chẩy cả nước mắt. Nhưng rồi Thu cười ngay. Lấy anh Sơn chứ lấy ai mà sợ. Chắc anh chàng đang sốt ruột lắm phải không. Em xuống với anh đây. Thu mở cửa phòng. Đôi mắt rực lửa. Miệng Thu mỉm cười. Thu cố gắng lấy vẻ duyên dáng.

Nàng tự nhủ mình phải đi thật thẳng. Bước thật chậm. Bao nhiêu là người nhìn kìa. Khi bước xuống bậc cầu thang, quả nhiên tiếng ồn ào đông đảo bỗng dưng tắt ngúm. Tất cả mọi người đều nhìn lên. Thu muốn xốc lại chiếc áo, nhưng làm thế kỳ quá mặc dù Thu thấy mình luộm thuộm.

Chỉ có chiếc voan trên đầu là sửa được. Nó sụp xuống mắt. Thu thò tay ra mé sau, kín đáo kéo cái giải xuống thêm một chút. Chiếc voan nhích qua vầng trán rịn mồ hôi. Thu lại nhìn rõ mọi người. Tất cả là người quen thuộc đây, nhưng Thu không thể phân biệt ai với ai, đông lắm. Người nối người. Cả ngần ấy khuôn mặt đều hướng về phía Thu. Mắt Thu càng thêm sáng. Thu bước thật chậm. Ồ! Mình sẽ đi tới đâu kìa. Bạn phù dâu tệ thế, không biết chạy cả đi đâu. Anh Sơn đâu ? Anh Sơn đứng chỗ nào nhỉ?

Thu quay lại tìm mẹ. Bao giờ thì mẹ cũng gỡ cho Thu qua khỏi cơn bối rối. Quả nhiên mẹ đã năm lấy tay Thu. Bàn tay già nua, run rẩy, Thu thấy yên tâm hn đi. Tất cả mọi người đều đi ra. Thu đi theo họ, Thu hỏi:

– Mình đi đâu hả me.

Mẹ ấn Thu vào một chiếc xe hơi rồi thì thào:

– Lên nhà thờ con ạ.

A! Nhà thờ của cha Thành. Anh Sơn sẽ đeo cho mình chiếc nhẫn thật là xinh.

Thu lần tay xuống ngón áp út. Chiếc nhẫn còn nguyên ở đó. Nó làm cho Thu lại nhớ đến anh Sơn. Anh Sơn ngồi xe nào kìa. Nhưng không hề gì. Ta sẽ gặp nhau lại trong nhà thờ. Dưới tượng Chúa. Trước mặt cha Thành. Mình sẽ nguyện cầu hai đứa suốt đời không xa nhau. Nhà thờ đây rồi. Cha Thành đứng trang nghiêm như tất cả mọi lần. Quyển sách nhỏ mở sẵn cha cầm trên tay. Cha bảo Thu quì xuống. Nhưng Thu hỏi còn anh Sơn. Anh Sơn đâu rồi. Chồng con đâu rồi. Thưa Cha. Cha không đáp, nhìn Thu đăm đăm. Thu nhớn nhác nhìn quanh nơi làm lễ. Vẫn đám đông quì gối ngoan ngoãn. Vẫn tiếng cầu kinh rì rào. Khung cảnh y hệt như cách đó vài hôm, đúng ra là một tuần lễ, khi Sơn đeo cho Thu chiếc nhẫn này. Bây giờ Sơn đâu. Thu muốn kêu to lên để gọi cho Sơn nghe thấy. Nhưng đây là nhà thờ. Có cả cha Thành. Hãy hỏi cha. Thưa cha, chồng con đâu. Mấy hôm trước chồng con còn đứng đây. Sao cha không nói. Sao cha không trả lời. Còn mẹ Thu đâu. Bà đã khóc ngất đi ở chiếc quan tài. Trên có phủ quốc kỳ. Có cả những vòng hoa cườm. Thu nhẩy bổ lại. Thu hét lên. Thì ra cái vực thẳm chập chờn trong giấc ngủ hôm qua ấy là đây. Nó hiện ra trong khoảnh khắc. Thật phủ phàng. Thu như được rọi thêm đôi chút ánh sáng vào đầu óc mù mịt bồng bềnh của mình. Nàng nhìn lại tấm áo cưới. Nàng nhìn lại tấm khăn choàng cô dâu. Thu hét lên điên cuồng. Nàng quên cả là mình đang đứng trong nhà thờ. Quên cả cha Thành đang đứng trước mặt. Chỉ còn một vật vô tri mà nàng phải cấu xé. Nàng đã cấu xé gào thét. Anh Sơn Anh Sơn. Chiếc áo đại tang và vành khăn xô đang xụp xuống đôi mắt rực lửa của nàng đã rách bươm ra tơi tả.                                                                           

Nhật Tiến

Quán Thơ Hư Vô 309


Quán Thơ Hư Vô

BẠN BÈ TA GIỜ CÒN MẤY ĐỨA?
(Như một nén nhang lòng đưa tiễn Bạn Hiền Lê Qưới Xuân)

Cả đời không gặp tụi bây nữa
Nhớ lắm, nhưng đâu gặp bọn mày
Đứa bỏ nhau đi về địa ngục
Đứa còn ở lại với thiên tai.

Đã hết thời ngông nghênh ngang ngược
Chọc trời, khuấy nước chẳng màn chi
Quậy phá mềm môi vài ba xị
Say rồi ta thả cửa đập ly.

Một cõi buồn hiu nơi xứ lạ
Tìm đâu ra cô chủ quán xưa
La làng một tiếng cho đã khát
Rượu ngon đâu có bạn mà chừa!

Dẫu trách phiền nhau thì cũng mặc
Ta ngồi ta uống mình ta phê
Rót tràn ly, xị cay xị ngọt
Nhớ bạn bè quen tiếng chửi thề.

Những chuyện qua rồi không muốn kể
Của một thời nghèo rớt mồng tơi
Năm bảy thằng chuyền nhau điếu thuốc
Rít chung để thấm thía cuộc đời.

Đứa hỏng tú tài đi quân dịch
Đưa vào đại học, học chiến tranh
Còn lại mấy ngoe lia chia rụng
Mả mồ cỏ mọc đã rêu xanh!

Bạn bè ta giờ còn mấy đứa?
Biệt tăm từ một bữa tan hàng
Cuộc đổi đời cũng chưa dài lắm
Vậy mà như đã lạnh khói nhang…

Hư Vô

ĐIẾU VĂN GỬI BẠN LÊ QUỚI XUÂN

Du ca rộn rã thuở nào
Trường An Xuyên ấy biết bao ân tình
Giọng ca trầm ấm phiêu linh
Đêm tàn rượu cạn bọn mình chưa say
Dũng đàn Xuân cứ hát hoài
Dù cho đàn đứt dây rồi vẫn chơi
Lấy tay bỏ nhịp, tuôn lời
Tiếng ca lao vút đêm dài miên man

Ôi bao kỷ niệm chứa chan
Người đi, kẻ ở lệ tràn xót xa
Đường về âm cảnh mờ xa
Cho tôi gửi vạn lời ca tiễn người
Xuân ơi ! Xuân ra đi
Bạn bè Xuân mất người tri kỷ
Vợ con Xuân mất mối ân tình
Thân tộc gia đình mất người hiểu nghĩa
Anh chị em mất núm ruột của mình

Thôi rồi một kiếp phù sinh
Có không, không có, một mình Xuân đi

Vĩnh biệt Xuân, nghìn thu xin vĩnh biệt!!!….

Trần Thanh Thông

BẾP LỬA

Tro tàn ủ khói – mùa sang
Sớm mù sương vẫn nồng nàn rạ rơm
Chắt chiu từng hạt cơm thơm
Chắt chiu khoai sắn – thuở còn gieo neo.

Quê nhà – nhớ mảnh trăng treo
Chân con mãi bước cheo leo đường về
Tinh người neo đậu bến quê
Đón hương bếp lửa – ngày về cuối năm.

Nguyễn An Bình

GIÓ THỔI EM ĐI
1*
Hảo hán lỡ độ đường
Bó chân ngồi hậm hực
Ai bày rừng tủi nhục
Bắt đá dựng oan khiên
2*
Tôi đổ dốc triền miên
Lau mồ hôi ná thở
Nhớ em như món nợ
Của tiền kiếp môi hôn
Luân hồi chưa giáp tròn
Đụng mùa thu ly biệt
3*
Tôi ngược ngàn xanh biếc
Em về chốn thảo hoa
Ai cay đắng chan hòa
Trong hơi thở mùa Hạ
4*
Tôi xuôi vùng đất lạ
Đếm dãi dầu hắt hiu
Qua nhật nguyệt tiêu điều
Em dừng trên cánh Bắc
5*
Nghe gió lùa se sắt
Chiều lạnh buốt mùa đông
Nước mắt và máu hồng
Hoen mờ trang giấy trắng
Câu thơ và ước hẹn
Chìm ngập mảnh hoa tiên
6*
Tôi tạc tượng oan khiên
Níu mây trời phủ kín
Biểu gió đừng bịn rịn
Thổi mãi và em đi

Hạ Quốc Huy

CHỈ SAY RỒI QUÊN THÔI

Ai cất dùm chiếc lá
Rụng từ hồi tôi say
Cất dùm luôn cơn gió
Luẫn quẫn quanh chốn nầy.

Nơi tay lùa tóc rụng
Nơi môi mím miệng ly
Cắn răng vào nỗi nhớ
Ai cất dùm tôi đi.

Gói đau vào hòn sỏi
Ném về phía đắng cay
Nén yêu thương và nhớ
Nuôi giấc mơ sum vầy.

Hà hơi hâm đáy cốc
Rượu dốc chai nhìn đời
Mỏi mắt chờ lá rụng
Ép chồng lên đơn côi.

Ai cất dùm tôi nữa
Một cơn đau giữa trời
Ai cất dùm tôi hứa
Chỉ say rồi quên thôi!

Nguyễn Trung Thành

EM SÀI GÒN ANH VỀ THƯƠNG CHỢ LỚN

Mùi riêng anh xin gởi cho người
Tay níu vội khoảng trời xanh vời vợi
Mắt em buồn sầu vương mây khói
Tóc em thơm mây khói Sài Gòn

Bàn chân hồng in dấu nụ hôn
Anh mê chết mười ngón sen ngai ngái
Vẫn là em của thời trẻ dại
Tháng mười hai e ấp buổi ban đầu

Hết đời người mình mới gặp nhau
Hội ngộ rồi em ơi đừng khóc
Ôm thật chặt – vòng ôm thêm chật
Hơi hướm nào xao xuyến không tan

Mùi anh xin gởi lại Sài Gòn
Hương Chợ Lớn nghìn trùng xa cách
Trao cho em mối tình duy nhất
Anh giấu hoài trong trái tim thơ

Giữ nhé em giấc ngủ đợi chờ
Chảy nước mắt chiêm bao thành chồng vợ
Giữ nhé em mắt sầu vương mây khói
Để tóc em thơm mây khói Sài Gòn

Giữ nhé em Hòn Ngọc Viễn Đông
Thương Chợ Lớn anh về tìm lại
Quán cà phê – môi em thơm mãi
Ngày yêu nhau dụ dỗ nhau yêu

Giữ nhé em bầy chim sẻ buổi chiều
Con đường xưa nắng vàng rơi xuống phố
Dẫu mai này mùa nhan sắc cũ
Tàn phai theo năm tháng thời gian

Giữ nhé em màu lụa áo Sài Gòn
Thương Chợ Lớn anh về tìm Chợ Lớn
Gã lãng tử bại binh cà chớn
Mất quê hương tưng tửng sống giang hồ

Giữ nhé em lời đã hẹn hò
Tay níu vội vầng trăng thề thốt…

Linh Phương

HỒI XUÂN

Chạm mặt rồi chưa thấy dấu chân chim
Da thịt em cứ bừng bừng như sóng
Đuôi con mắt thắp ngọn đèn mơ mộng
Đưa anh về hồn vía tuổi mười lăm…

Bàn tay em …những ngón vuốt ân cần
Bên ngực trái anh phập phù …chi lạ!
Có phải em chính là Nàng Tiên Cá
Nhấn chìm anh trong bể ái bâng khuâng?

Tuổi hồi xuân nghe thơm lựng như trầm
Chút môi hôn cũng làm anh nghiêng ngửa
Bên hàng hiên, mùi quỳnh hương chia lửa
Để em thành công chúa của lòng anh…

Gió ve vãn nụ cười em an lành
Khi bất cẩn quên cài then cửa sổ
Anh luống cuống hờn ghen …dấm dớ
Chằm hăm yêu lên chiếc gáy người tình..

Chấm dứt rồi những ngày tháng lênh đênh
Làm “Xà Ích” ngẩn ngơ hồi chuông nguyện
Nắng ngoại ô rực vàng lúc anh đến
Thuận nước rồi mình cứ đẩy thuyền lên…

Mùa xuân này đã có anh bên em
Ta cứ tha hồ xe chỉ luồn kim
Mặc nhân gian trộm nhìn, mình đâu sợ
Em hồi xuân trời đất cũng đang xuân!

Trần Dzạ Lữ

Nhân Cách Bình Nguyên Lộc. Tùy bút Mai Thảo


Mai Thảo

Nhà văn Bình Nguyên Lộc và Mai Thảo

(Chân dung nhà văn Bình Nguyên Lộc và Mai Thảo)

Thời gian đầu, sau khi cộng sản đã lấy nốt được miền Nam là thời gian còn được để yên, chưa bị kết tội, chưa bị lùng bắt, tôi thường sáng sáng một mình đạp xe đạp qua một Sài Gòn tan nát tới thăm một nhà thơ và một nhà văn, ngưởi trước Bắc, người sau Nam, cả hai đều thuộc thế hệ trước tôi, cả hai đều đã tên tuổi lẫy lừng từ thời tiền chiến.

Những thăm viếng thường xuyên này của tôi, giữa Sài Gòn và trong đổi đời lúc đó được đọc bởi hai điều. Một, hai khuôn mặt lớn ấy của văn học Miền Nam, từ quốc nạn 1975, đã đóng kín địa chỉ, dựng cao lũy hoa, cắt đứt với đời, không ra khỏi nhà, muốn gặp họ tôi phải tìm tới. Hai, giữa cái thể chế chuyên chính đã trùm kín, chưa bao giờ trong đời tôi lại cảm thấy sự cần thiết lớn lao phải giữ chặt lấy một số thân tình bền vững tôi hằng mến yêu và kính trọng. Và hai cái đối tượng của thăm viếng thường xuyên thì với tôi lại là hai niềm mến yêu và kính trọng vô cùng. Nhà thơ miền Bắc tôi vừa nói tới là Vũ Hoàng Chương. Và nhà văn miền Nam, Bình Nguyên Lộc.

Vũ Hoàng Chương thời gian đó ở khá xa, mãi bên vùng Khánh Hội, trong một ngõ hẻm khuất khúc giữa phường Cây Bàng, trên căn Gác Bút lừng tiếng, nơi thi sĩ bị công an cộng sản tới bắt đem giam nhốt vào khám Chí Hòa rồi trở về trong hấp hối lâm chung và lìa đời ở đó. Bình Nguyên Lộc ở gần hơn. Thăm viếng do vậy cũng ngắn đường hơn, trong cuối đáy một con ngõ yên tĩnh một thời Vũ Hoàng Chương đã ở, khu Cô Giang Cô Bắc, đầu ngõ là con đường Huỳnh Quang Tiên, khúc từ con ngõ nhìn ra có những vì tường xám của hãng thuốc lá MIC chạy dài trước mặt.

Tới ngõ, tôi xuống xe dắt bộ đi vào, và ngừng lại trước một căn nhà một tầng cổ cũ, căn nhà này là của gia đình Bình Nguyên Lộc, nhà văn chỉ mới dọn về ở một thời gian từ sau cái chết của người con trai lớn là Bác sĩ Giám Đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, để sống gần với người chị ruột ở căn nhà kế cận.

Mở cánh cổng thấp, dựa xe vào thành tường, bên cạnh hai chậu vạn niên thanh trấn môn xanh ngắt, một màu xanh muôn thuở, tôi gõ nhẹ tay vào thành cửa đóng kín. Nhớ lần nào tôi cũng phải đứng chờ ít phút, nhưng không lần nào phải trở về. Căn nhà yên lặng hoàn toàn. Tiếng gõ cửa ngân vào thật sâu thật xa ở bên trong, rồi là tiếng chân người đi ra. Rồi là cánh cửa hé mở từ từ và cái thân hình nhỏ bé, bộ đồ ngủ lùng thùng và cái mái tóc rẽ giữa duy nhất của văn học miền Nam, cái mái tóc rẽ giữa của Bình Nguyên Lộc.

Bao nhiêu lần như bao nhiêu lần, và cảm giác này càng rõ rệt những buổi sáng tới bạn sau vực thẳm 1975, lần nào nhìn thấy Bình Nguyên Lộc, tao nhã, gầy guộc, trên cái nền mờ tối của căn nhà đóng kín, tôi cũng có được tức khắc, ở trong tôi, như một mầu nhiệm êm đềm, một ấm áp và một yên tâm không thể nào tả được. Ấm áp như cái thế giới tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc, không siêu hình, không gió bão, cái thế giới đã bốn mươi năm văn học ở trong đời sống và làm cho đời sống muôn vàn tươi thắm. Yên tâm như cái văn phong, cái nhân cách Bình Nguyên Lộc, dung dị mà bác học, đơn giản mà trí thức, Bình Nguyên Lộc con người và Bình Nguyên Lộc tác phẩm chính là niềm yên tâm lớn nhất một thời của văn học chúng ta.

Thấy anh, lần nào tôi cũng nói, cảm động thành thực:
– Còn được tới thăm anh.
Lần nào anh cũng cười:
– Còn được gặp anh. Vào đây.

Anh bảo tôi đưa xe vào nhà, kẻo xe mất “hết đường tới thăm bạn”. Đoạn đóng cửa lại, bật ngọn đèn đầu giường và đi về phía sau đun một ấm nước.

Giữa đám sách vở, tài liệu bề bộn, cạnh một chỗ nằm cũng là chỗ ngồi làm việc của ông, trước một khay trà, thật bình dân, không cầu kỳ như khay trà Vũ Hoàng Chương và những điếu thuốc đen ông đốt theo một nhịp điệu đều đặn, tôi thường ở rất lâu với Bình Nguyên Lộc. Tới trưa. Tới sau trưa. Tới cái gạt tàn có ngọn. Tới bình trà nguội tiếp thêm một bình trà. Một vài lần còn tới giữa bữa cơm ông ấy lấy thêm bát đĩa ép tôi cùng ăn, bữa ăn cực kỳ thanh đạm, chỉ một soong cơm và một con cá khô hấp nóng. Phải, nhớ lần nào tôi cũng ở lại thật lâu. Với cái mái tóc rẽ giữa. Với những cử chỉ chậm rãi. Với cặp mắt thông minh sau làn khói. Với những đứng ngồi lên xuống từ tốn. Trong cái thế giới rất riêng tây, cách biệt của Bình Nguyên Lộc, càng riêng tây, càng cách biệt từ cộng sản đã vào tới Sài Gòn.

Những lần tới thăm Bình Nguyên Lộc như vậy, ông thường nói ít lời như một tạ lỗi, nhờ tôi nói lại với anh em, với mọi người. Rằng từ ngày người con trai lớn mất, ông đã chẳng muốn đi đâu. Rằng chứng áp huyết nặng tối kỵ chững di chuyển, những họp mặt. Rằng “họ” đã vào tới rồi, thành phố là của “họ”, đời sống chẳng còn gì đáng thấy, đóng cửa trong nhà thôi.

Lập luận về một thái độ sống thu vào im lặng và ẩn dật, thoạt nghe ở Bình Nguyên Lộc tưởng thật dễ dàng. Sự thật, nó chẳng dễ dàng chút nào, với Bình Nguyên Lộc, với chế độ mới và Bình Nguyên Lộc, suốt thời gian ở đó. Và cái lý do giản dị chỉ là ông chẳng phải là một người viết văn như bất cứ một người viết văn nào mà là nhà văn hàng đầu, nhà văn lớn nhất miền Nam.

Bây giờ, đó là thời gian từ 30 tháng tư 75, tới đầu 76, Trung Ương Đảng Cộng Sản ở Hà Nội, tuy chưa phát động đàn áp và cầm tù văn nghệ sĩ, đã cho thi hành ở Sài Gòn một chính sách lũng đoạn hàng ngũ văn nghệ cực kỳ hiểm độc. Chính sách đó nhằm tạo kỳ thị, gây chia rẽ, giữa những nhà văn miền Bắc vào Nam trong đợt di cư 1954 với những nhà văn sinh trưởng ở Nam Phần. Suốt ba mươi năm văn học, Nam Bắc đã một nhà, Bắc Nam đã bằng hữu. Cộng sản muốn chấm dứt cái tình trạng hòa đồng tốt đẹp đó. Và người chúng đã dành hết mọi nỗ lực khuynh đảo là Bình Nguyên Lộc. Thoạt đầu là đám văn nghệ nằm vùng. Như Sơn Nam, Vũ Hạnh. Kế đó, đến nhóm văn nghệ của Mặt Trận Giải Phóng về thành, tạm thời được nắm giữ những địa vị quan trọng như Trần Bạch Đằng, Giang Nam, Anh Đức, nhiều kẻ đã quen biết Bình Nguyên Lộc từ xưa. Cuối cùng là đám nhà văn, nhà thơ công thần của chế độ và vào từ Hà Nội như Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận. Tất cả, trên từng địa vị khác biệt, đã viết thư, điện thoại ân cần thăm hỏi tác giả Đò Dọc, về sức khỏe, về đời sống của ông, nói thân thế ông mãi an toàn, sinh kế vẫn bảo đảm, sự nghiệp không chôn vùi, ông vẫn nhà văn lớn. Tất cả đã lần lượt đến khu Cô Giang Cô Bắc, tươi cười, nhã nhặn gõ cửa xin gặp người trong ngôi nhà có hai chậu vạn niên thanh. Bình Nguyên Lộc tiếp hết, từ tốn, chững chạc vậy thôi. Duy có một lần, không sao được, ông phải tới dự đại hội văn nghệ thống nhất lần thứ nhất ở Bộ Thông Tin cũ đường Phan Đình Phùng. Kỳ họp này, Vũ Hạnh, Thanh Nghị báo cáo kể công, Sơn Nam đóng trò nhiệt tình khóc lóc, riêng Bình Nguyên Lộc ngồi im lặng từ đầu đến cuối, không chịu phát biểu một lời nào.

Đó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng. Của tiếp xúc Bình Nguyên Lộc với chế độ mới. Cố nhân quen biết tương đối thân thiết nhất với anh là Giang Nam, được Thế Lữ ca ngợi là tiếng thơ cách mạng lớn nhất miền Nam, về Sài Gòn giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng, mặc dù đã viết cho Bình Nguyên Lộc một lá thư thật dài, thật tình cảm, cũng thất bại. Thư mời Bình Nguyên Lộc tới trụ sở Hội. Mời sinh hoạt. Mời hội họp. Mời viết lại. Và Bình Nguyên Lộc đã nhã nhặn viết một lá thư trả lời. Nói ông rất đau yếu. Nói bị chứng áp huyết. Nói chẳng còn làm được gì. Nói chẳng thể đi đâu. Nói xin được yên thân. Cuối cùng rồi mọi ve vuốt, mọi khuynh loát đều chịu thua, đều lùi bước trước sự nhã nhặn khuớc từ, trước cái nhân cách và sự tự trọng chói lọi của Bình Nguyên Lộc. Hò đành để cho Bình Nguyên Lộc được cách biệt, được một mình, được vẫn mãi mãi là Bình Nguyên Lộc trong căn nhà đóng kín.

Nhân cách trí thức độc lập ấy của Bình Nguyên Lộc, thái độ tuyệt vời của người nhà văn miền Nam ở Bình Nguyên Lộc, không một lần nào, ông phô trương mà chúng tôi đều biết, cả miền Nam đều biết và sung sướng vô cùng và quý mến rất mực.

Nhớ Bình Nguyên Lộc ở xa, tin tức quê nhà đã lâu không nhận được, chẳng biết vẫn còn hay đã mất, những lần sau cùng tới khu Cô Giang Cô Bắc, hình ảnh hai chậu vạn niên đại xanh ngắt một màu xanh muôn thuở trước ngôi nhà văn học đóng kín, lại trở về, xanh ngắt trong tôi.

Bình Nguyên Lộc. Cái mái tóc rẽ giữa, hai miền trung dung phân định như tấm lòng người quân tử một đường ngôi đời thẳng tắp. Bình Nguyên Lộc, bộ đồ lụa trắng, rất thông phán tòa sứ, rất trăng nước miền Nam, trên chiếc cyclo đạp chậm đưa ông tới gặp các tòa soạn Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề chúng tôi làm, phần lớn là anh em nhà văn miền Bắc. Không có Nam Bắc với Bình Nguyên Lộc, chỉ có văn chương, chỉ có hợp tác, chỉ có bằng hữu. Tôi làm biếng lắm, ít khi đi đâu, đến chơi tôi nhé. Thân tình, hòa nhã. Cái truyện ngắn này dục tôi viết gấp, thì phải viết gấp, không được tốt lắm, thôi dùng tạm vậy. Nhũn nhặn, bình dị. Một năm trong bốn năm liền cùng ở chung trong Hội Đồng Giám Khảo giải thưởng Văn Chương toàn quốc, ông từ chối nói chứng áp huyết không còn leo nổi những bực thềm cao của Dinh Độc Lập, cặp mắt đã yếu chẳng thể nào đọc hết được những tác phẩm dự thi. Nài mãi mới nhận. Nhưng cười, giao hẹn: “Vậy phải đọc hết giùm tôi, rồi đưa cho tôi đọc mười cuốn khá nhất.” Nghiêm chỉnh. Ngay thẳng. Năm đó, ông không vào Dinh Độc Lập được thật. Những bực thềm cao quá cho tài viết hàng đầu.

Rồi là cái công trình Văn Học cuối đời của Bình Nguyên Lộc. Cuốn Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam đã phác thảo, đã in thành sách, trọn năm năm trời, tìm kiếm, sưu tập, thu thập thêm một kho tàng tài liệu mới, đã hoàn tất thành một biên khảo vĩ đại hơn một ngàn trang. Cộng Sản vào Nam. Thiên biên khảo kỳ công vẫn còn là bản thảo. Một lần tới thăm, tôi hỏi Bình Nguyên Lộc về công trình văn học đó. Và đó cũng là lần thứ nhất tôi thấy Bình Nguyên Lộc buồn phiền và thất vọng. Trèo qua cái giường ngủ, ông lấy từ một giá sách cao xuống một tập bản thảo nặng chĩu, trao nó cho tôi.

Giọng ông trào lộng mà nụ cười thật buồn:
– Nó đây.
Và chỉ tay lên cái giá sách bụi bậm:
– Kia là mồ chôn nó.

Kế đó, ông thuật cho tôi hay về số phận của thiên biên khảo lịch sử, mà nguồn gốc dân tộc Việt, theo sử quan và chứng minh Bình Nguyên Lộc, không từ miền Bắc xuống mà từ biển ngoài vào. Một nhóm những người cao cấp về biên khảo lịch sử của nhà nước Cộng Sản từ Hà Nội vào, được nghe nói về công trình biên khảo này của Bình Nguyên Lộc. Họ tới. Tỏ lòng ngưỡng mộ, rồi xin được mượn tập bản thảo về đọc, nói sẽ có nhận xét, sẽ có thảo luận. Mấy tuần sau, tập bản thảo được gửi trả lại với một lá thư ngắn nói quan điểm lịch sử nói chung và nguồn gốc dân tộc nói riêng của Bình Nguyên Lộc hoàn toàn thoái hóa và sai lầm đối với quan điểm biện chứng duy vật lịch sử cách mạng, khoa học và tiến bộ.

Thuật lại xong, ông lắc đầu, sự thất vọng hiện rõ nhưng giọng nói vẫn từ tốn:
– Thế là gạt bỏ, thế là phủ nhận. Nói là để đối chiếu, để thảo luận, mà không có gì ráo trọi.

Tôi buồn vì cái công trình của mình, nhưng buồn hơn cả là cái sự gạt bỏ của miền Bắc đồi với sách tôi không phải là một thái độ văn học, không hề được đặt trên căn bản văn học. Nói đến văn học, tuyệt đối không thể nói đến một lập luận, một giá trị độc tôn nào. Phải nhiều lập luận khác biệt, phải nhiều khái niệm đối nghịch, một vấn đề văn học, một nghi vấn lịch sử mới được chiếu sáng. Khoa học lịch sử thiết yếu phải có được yếu tính và tinh thần đó. Tôi buồn nhất là ở cái sự không có tranh luận, không có đối thoại ấy mà thôi. Chứ không hoàn toàn vì sách tôi không bao giờ còn hy vọng được in ra.

Tập bản thảo nghìn trang, mồ chôn là cái giá sách bụi bậm. Hai chậu vạn niên thanh xanh ngắt một màu xanh muôn thuở. Trí thức dựng cao lũy hoa. Một nhân cách chói lòa trong tự trọng một đời, đã tám năm im lặng trong ngôi nhà đóng kín. Chẳng bao giờ tôi còn được sàng sáng tới thăm Bình Nguyên Lộc nữa và Vũ Hoàng Chương đã mất. Nhưng ở thật xa và cách thật lâu rồi mà rõ thì vẫn thật rõ. Về Bình Nguyên Lộc, nhà văn miền Nam hàng đầu của văn học ta rõ bởi cái ánh sáng ấy, cái ánh sáng của một nhân cách rực rỡ, tôi đã nhìn thấy không ngừng, sau đổi đời và giữa cộng sản, sáng sáng đạp xe qua một Sài Gòn đổi chủ ngừng xe lại trước nhà có hai chậu vạn niên thanh.

Mai Thảo

Quán Thơ Hư Vô Xuân Kỷ Hợi 2019. Year of the Pig


Presentation1

DÃ CÚC XUÂN THÌ

Từ em trổ dáng xuân thì
Hương dã cúc bỗng kiêu kỳ thơ tôi
Áo nhăn một phía em ngồi
Bỏ tôi chết đứng giữa chồi gai non.

Em chưa lần biết phấn son
Mà như viên kẹo vẫn còn trên môi
Cho tôi ngây ngất cả đời
Hương 16, của một thời tình si.

Còn nghe hoa cỏ thầm thì
Mùa xuân như thể đang ghì chân tôi
Bước chưa tới chỗ em ngồi
Đã nghe nhịp thở hụt hơi cùng đường.

Lùa tôi vấp xuống mùi hương
Vàng em dã cúc rắc vườn xuân phai
Phất phơ lụa biếc tơ dài
Bóng em tuột khỏi hình hài, đó em…

Hư Vô

MỘT NGÀY XUÂN QUA..

Xuân lại qua thềm…rất vội
Nghe khua một tiếng chuông lòng
Đất trời sao mênh mông thế
Hòa cùng nỗi nhớ xanh trong..

Chân bước…rơi từng khoảnh khắc
Chút tình đợi tiếng hồi âm
Bụi cát hẹn cùng gió trở
Về theo cỏ lá bên sông..

Thôi nhé..đường đi vô hạn
Thoáng qua..đã mịt mù đời
Vẫn nghe lời ai gọi bạn
Dần dà cho hết cuộc chơi…

Trung Chinh Ho

VÀNG THƠM CẢ THÁNG GIÊNG

Lũ én bay qua mùa thơ lục bát
Gọi nhau về tháng chạp hạt thóc chín quê hương
Đất bình nguyên ngang dọc những dòng sông
Mùa nước mặn phèn vàng chân con gái.

Vàng thơm cả tháng giêng dạm hỏi
Những cây cầu lắc lẻo trăm năm
Ngoài vàm sông đợi lúc trăng rằm
Con nước lớn chảy tràn lan như biển.

Sáng sớm qua sông hái bông điên điển
Áo sẽ thơm mùi cỏ dại hoa đồng
Khi đêm về lòng nhớ mênh mông
Tâm xanh biếc cả khung trời cao rộng.

Ta vẫn đợi những mùa gió lộng
Thả cánh diều cho lướt thướt tung bay
Lòng sẽ hiền như nhánh cỏ may
Nghe thơm thảo những mùa xuân thơ ấu.

Lý Thừa Nghiệp

HOA XUÂN

Hoa vàng thắm như lời nhắn gởi,
Ở quê nhà có đón xuân không?
Hoa đèn đường vẫn màu rực rỡ?
Mà có người đang vỡ giấc mơ.

Đêm trừ tịch -đêm như ngừng thở,
Nén hương trầm nhớ mẹ nhớ cha,
Tiếng pháo xưa, cành mai vừa nở.
Tuổi thần tiên một thuở yêu người …

Gom hết hoa xuân giữa đất trời,
Tặng người ở lại với yêu thương.
Tình tôi nguyên thủy như đất cũ,
Sông dài ,biển rộng của quê hương …

Em nhé ,hoa xuân chẳng tầm thường,
Hoa còn sống mãi dưới đêm sương.
Cho ta ngóng đợi ngày hội ngộ,
Hoa vàng đất mẹ, mới là xuân!

trầnthịminhchâu
Xuân Kỷ Hợi 2019

MÙA XUÂN LÁ KHÔ

Thèm nghe tiếng pháo tết
Ngày xuân một thuở nào
Môi hồng thơm son mới
Một thời ta có nhau.

Sóng chòng chành mắt biếc
Nắng giòn phơi lá khô
Vàng thêm ngõ lụa cũ
Khúc giao mùa ngây thơ.

Gió len vào hơi thở
Nhẹ rung cánh hoa đào
Bước chân em ngày nọ
Xuân hồng có xôn xao.

Tiếng chim gọi mùa đi
Nẩy bao chồi lộc mới
Mơn mởn tuổi xuân thì
Tình-xanh rêu mái ngói.

Em – mùa trăng mười sáu
Rong chơi chẳng bãi bờ
Tôi – mùa xuân nương náu
Thả tình trên lá khô.

Nguyễn An Bình

HỒN XUÂN SAY

Sau những giờ chúc tụng
Sống ồ ạt triều dâng
Tôi lặng hồn hiu hắt
Nghe ơ hờ mùa xuân!

Ngồi một mình với bóng
Nhìn khói thuốc trắng bay
Nhớ trời mây lồng lộng
Thèm cỏ hoa núi đồi.

Tôi ra ngồi bờ sông
Nhìn sóng nước mênh mông
Xõa tóc bay cùng gió
Nghe thanh thản trải lòng.

Ngày Xuân hoa cánh bay
Hương tình xanh cỏ cây
Tôi hôn giọt nắng mới
Bất chợt hồn Xuân say.

Trần Thoại Nguyên

TRONG KHI CHỜ THANH XUÂN

thanh xuân đậu ở ngọn ngành
con oanh đậu ở trên nhành líu lo
câu thơ đậu trong điệu hò
hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi

trăng soi như xóa bụi ơi
bụi theo con nước bụi đời trôi đi
cho thơ thơm giấy đương thì
không vương dấu bụi trần vì buồn ai

buổi người góp tiếng phôi phai
soi chung miếng sáng trăng cài phất phơ
soi tôi trăng cũng bơ phờ
thời gian xột xoạt trong tờ thanh xuân.

Phan Ni Tấn

GỬI CHÚT NẮNG XUÂN VỀ BÊN ẤY

Tôi về nhặt nắng trên thềm cũ
Gửi người sưởi ấm những ngày đông
Bên ấy giăng giăng chiều sương phủ
Bên này trời đất đã vào xuân

Tay nâng những nụ mai vừa nở
Vàng xuân đã mấy độ xa người
Áo ai khoe màu chiều trên phố
Khoe cả mùa xuân với đất trời

Người đi chắc nhớ trời cố xứ
Nhớ cả dòng sông, con phố xưa
Tôi bới thời gian tìm quá khứ
Thấy khoảng trời xanh thuở hẹn hò

Bên ấy, bên này xa xôi lắm
Nên mùa chia biệt ở hai nơi
Lối cũ còn đây hoa và nắng
Còn cả mùa xuân vẫn đợi người

Gửi chút nắng xuân về bên ấy
Gửi cả tình tôi chốn quê nhà
Bước chân viễn xứ người mê mải
Vời vợi mùa đi trong cách xa …

Sông Trẹm

THƠ TÌNH CUỐI NĂM

Tháng chạp về cong dấu hỏi vào tim
Anh tuốt lá cành thơ chờ hoa vàng trở lại
Từng phiến buồn lạc mùa run rẩy
Đợi chiều cuối năm em sẽ quét khỏi lòng

Xuân vai kề em sương khói bâng khuâng
Gương lược ngóng ai sửa đường ngôi lệch
Cây tình yêu bão giông đào tận gốc
Đất cằn khô anh hái trái nơi nào

Mảnh hồn gầy mang hội chứng trăng sao
Giấc mộng nhỏ như hòn bi lăn lóc
Theo vòng đời cuồng quay nhiều lần hoa mắt tết
Cúi mặt khâu chân trời ngẩng mặt vá đường bay

Chia tay ngày đêm không nhận phần sai
Cứ đổ vấy mênh mông nhiều ngã rẽ
Giờ thấy tội con bướm vàng ưa kể lể
Nên hoa tươi khép nép giấu hương thầm

Xuân từ tâm ru em kịp hồi tâm
Gương lược đợi chung đường ngôi hạnh phúc
Thời gian xuôi có mang tình về ngược
Ngày đi và….
Rêu lại ghé thềm rêu!

Lưu Xông Pha

C393677F-1FDC-4DE1-955D-C8BB45C62626

Quán Thơ Hư Vô 308


Quán Thơ Hư Vô

NGỒI QUÁN WINDOW’S

Một chút nắng còn bên ô cửa
Chỗ em ngồi chiều đã trên vai
Giọt cappiccino chờ ai tan chậm
Vào tim tôi một tiếng thở dài.

Mà nghe vạt khói cay lòng mắt
Giật mình như thể mới hôm qua
Góc phố Bankstown ngày em đến
Đường lá bay thơm dáng lụa là.

Như giọt cà phê màu cánh gián
Dậy hương sóng sánh bóng tình nhân
Tôi khuấy hồn tôi chìm đáy tách
Hạt đường còn ở lại môi em!

Để thoáng ngọt ngào tan vào nắng
Pha buồn cho đắm đuối dung nhan
Ly chiều em nhấp môi cùng cạn
Còn nghe lăn lóc giọt đá vàng…

Hư Vô

GỌI TÊN BỐN MÙA

Lá vàng Thu trải thảm bước em qua
Màu kỷ niệm chợt về trên cánh gió
Thuở quấn quít tim sầu chưa khép ngõ
Bàn tay mềm từng ngón nhỏ phân vân

Gọi tên nhau chưa đắm luỵ tình trần
Hơi thở khói thổi mùa Đông qua hết
Và Xuân đến tràn hoa thơm cỏ biếc
Khu vườn thơ ngào ngạt mãi không thôi

Rồi mộng mơ rơi rụng suốt nẽo đời
Hồn tan vỡ dấu địa đàng cũng úa
Lời hư ảo còn âm vang chi nữa
Lớp bụi mù đã cuộn lấp hương yêu

Đoạn đường trăng mờ bóng đổ tịch liêu
Ve than oán cánh phượng tàn cuối Hạ
Một lần nhé người ơi xin đa tạ
Suốt bốn mùa dội lại tiếng chia xa….

Song Yên

MẶT ĐẤT TRỔ HOA TÌNH YÊU ẤY

Mũi Cà Mau tới rồi cuối đất
Tận cùng trời hết chỗ bước đi
Dừng thôi ngồi lại bên cửa biển
Nhìn sóng trôi chẳng còn nghĩ ngợi gì

Đi là sống theo dòng sinh động
Nhập hân hoan sáng tạo giữa cuộc đời
Nụ cười giọt lệ hòa trong máu
Chảy thành thơ và nhạc hát reo vui

Vui như những cánh cò chao lượn
Trắng phương chiều phiêu hốt lặng hồn hoang
Bạn bè đây đó mời ly rượu
Rất xôn xao giao cảm chạm cung đàn

Đàn ngân rung dưới vầng nguyệt bạch
Rúng lòng ta qua vạn bến cầu
Mặt đất trổ hoa tình yêu ấy
Ngay bây giờ chứ chẳng ở nơi đâu

Tâm Nhiên

TÌNH LỠ
Tặng Hoàng

Tình trong ánh mắt nụ cười,
Đời hư vô mãi ai người than van,
Yêu em sao mãi gian nan,
Yêu anh ảo mộng trên ngàn gió đưa…

Thôi về cũng buổi chiều mưa,
Xe lăn xuống dốc có thừa đớn đau?
Vỗ về lời ngọt cho nhau,
Ru vào giấc mộng ngàn sau nhớ hoài..

Tỉnh ra tiếng khóc bi ai,
Buông tay thôi nhé đã phai gót hài,
Đường này đã lỡ chia hai,
Nửa đời còn lại người ai oán người…

Sợi tơ sao cứ rối bời,
Tháo ra chẳng đứt ơ hờ chữ yêu!
Lạ chưa đời vẫn cô liêu,
Loanh quanh góc phố buổi chiều nhớ ai …

trầnthịminhchâu

NHỊP VÕNG CA DAO

Từ khi dựng núi khai sông
câu ru lục bát nằm lòng dân tôi
lìa nguồn rẽ nhánh về xuôi
mặn tình Đông hải ngọt bùi trung châu.
Mấy ngàn năm mấy nhịp cầu
theo dòng lục bát về sâu ruộng đồng.

Vói tay hái nụ tình nồng
từ khi vừa ửng má hồng yêu anh
em về dệt nét đan-thanh
thêu câu lục bát viềng quanh yếm đào.

Mấy ngàn năm mấy bể dâu
càng cao chí lớn càng sâu hẹn hò.
Bao phen giặc lấn cõi bờ
đánh nam dẹp bắc có nhờ cậy ai
và xuôi đường tới tương lai
vẫn câu lục bát vì ai chung tình.

Ngàn năm bóng chẳng lìa hình
Ta đi dựng núi có mình chung tay.
Tới khi đóng nắp quan tài
còn nghe lục bát dài dài ngàn sau.

Trần Yên Thảo

TRŨNG ĐÊM

Còn một chút gì đọng lại không em?
Hay đã chìm trôi, quẩn trong quên lãng
Sao ký ức, giăng mờ chiều chạng vạng
Bốn mươi năm, lòng anh vẫn chưa yên

Cứ mơ hồ, điều gì đó xa xôi
Bên góc phố, đứng đắn đo chờ đợi
Lá me đổ, xạc xào như nhắn gởi
Lời thì thầm ngắt ngứ, khép cung môi

Nắng nhạt vàng, dai dẳng một chiều xuân
Treo lơ lững trên đầu tràn tóc bạc
Sao lây lất một chiều xuân nào khác
Ngoảnh lại bến bờ, chao chát trầm luân

Anh lang thang trên phố mới sáng đèn
Lấp lóa sắc màu, đông vui rực rỡ
Qua góc phố, bỗng day lòng chợt nhớ
Con đường xưa, sao lạ lẫm chân quen

Còn một chút gì đọng lại không em?
Gió cuốn mùa đi, buông chiều vương vãi
Sao không có, một lời nào nhắn lại
Để tan chiều, trong khắc khoải trũng đêm

Lê Thanh Hùng

NGÀY SINH CỦA GIÓ

Buổi chiều mùa đông ngày chưa kịp tắt
Nắng bay trên cây lấp lánh ánh vàng
Đón chút người về hẹn nhau cuối nẻo
Những ngả tư lòng thắp ngọn hoa đăng

Thả chiếc thu rơi vàng phai sắc lá
Miệng giếng trời cao nhả bóng đêm về
Vẻ đẹp mùa này hạt mưa nghiêng thắm
Ướt một chùm em ngọn tóc hương quê

Buổi chiều mùa đông ngày chưa kịp tối
Trời gánh đêm đi xuống phố nhịp nhàng
Phố của bao người mừng nhau khấp khởi
Gặp lại bờ môi lớn tiếng hỏi han

Chênh vênh trên môi làn hơi nhau thở
Người thở ra người tôi thở ra tôi
Trời rộng đất dài trang kinh Phật mở
Mới thấy đời mình bèo giạt mây trôi

Cọng nhang ai thắp mà tay thơm khói
Thương áo nâu non đẫm giọt vô thường
Sóng soãi trong cơm mùi hương chay tịnh
Ngậm miếng trăng phai Phật cũng nhảy tường

Đêm nay tôi nghe trời cao đẻ gió
Đẻ một bàn tay chắp búp thiện tâm
Có chút bạn bè ngồi quanh câu hát
Có cánh sen hương lót bóng Phật nằm

Thả cái thơ bay thỏng tay vào chợ
Tỉm lại con đò trên bến ngày xưa
Gói thành quà tặng ngày sinh của bạn
Bằng hữu chi giao biết mấy cho vừa

Ê hê ngoài trời vừa tạnh cơn mưa…

Phan Ni Tấn

MỘT NGÀY BIẾT NHAU
Kính tặng huynh NK

Ta gặp huynh người khách đường xa
Tóc bạc phong sương áo vương khói trận
Rượu giao bôi ngồi với nhau dăm bận
Giữa nắng Sài Gòn
Đặc quánh chất miền trung

Chưa ngày làm quan cũng chẳng anh hùng
Nhảy núi, nằm rừng bao phen sinh tử
Đoạn trường đi qua
Cũng đãi bôi nhau nhiều thứ
Nhưng nghiệt ngã tình đời
Nếu không đắng thì cay

Rồi chiều nay
Ta với huynh ly rượu chia hai
Như cuộc hẹn của tiền nhân từng lỡ hẹn
Của ngàn xưa tiếp bước đến ngàn nay
Dẫu không nói nhưng sao nghe cay đắng
Lắm trái ngang bao nhân ngãi điêu tàn

Lại chiều nay
Ngồi đọc bài thơ huynh viết cho ai
Mà nghe xót xa đến lạ
“Đời lỡ vận cần chi đâu hối hả
Bạch đầu nhân hề… Sóng bạc chân non”

Mặc kệ đi…
Huynh đệ vẫn còn
Rượu này chưa cạn
Dễ gì ta say…
Cạn cùng ta chén rượu đầy
Giữa đời
Tri kỷ
Một ngày biết nhau!

Tuấn Nguyễn

thumbnail_IMG_0334

Theo Gót Chân Thu. Thơ Hư Vô


Theo Gót Chân Thu. Thơ Hư Vô

Những dấu chân em còn bỏ lại
Trên lối về ngập lá thu phai
Nơi tôi đã có thời ngây dại
Bên em như mới tượng hình hài.

Để tôi biết trong từng nhịp thở
Là ẩn hương một thuở hơi người
Cho giấc trăm năm còn dậy mộng
Một lần được chết đuối trên môi.

Thì đời sau có thành người lạ
Đâu chắc gì đã dễ quên nhau
Theo gót chân em vào cùng tận
Lún xuống tim tôi một vực sầu.

Còn nghe buốt thấu trong lồng ngực
Tiếng đời lỡ vận khúc tình tan
Hồn tôi như thể mây bay chậm
Chạm bóng mùa thu, lá đã vàng…

Hư Vô

1CA25776-7576-462A-A181-0507C226981F

Còn Có Chút Em. Nhạc Anh Bằng – Thơ Hư Vô – Ca sĩ Diệu Hiền – Video Vọng Ngày Xanh


Nhà Văn Mai Thảo viết về danh ca Thái Thanh, năm 1971.


Mai Thảo

25CC34D5-A31B-43B8-B5A0-D0CF1840FC80.jpeg

(Chân dung danh ca Thái Thanh)

Bao nhiêu năm nay, mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh, từ một ca khúc tiền chiến như hơi thở tuyệt vời duy nhất còn lại của một thời đã mất, đến những bài hát mới, phản ảnh sinh động cái hơi thở trăm lần đầm ấm hơn của âm nhạc bây giờ, tôi không khám phá mà chỉ thấy trở lại trong tâm hồn và thẩm âm của mình một số rung động và liên tưởng cố định.

Những rung động ấy đã có từ lâu, những liên tưởng ấy từ đầu đã có. Chúng có từ Thái Thanh với bài hát thứ nhất, và nguyên vẹn như thế cho đến bây giờ. Chẳng phải vì con người thưởng ngoạn âm nhạc trong tôi không có những thay đổi. Cũng chẳng phải vì tiếng hát Thái Thanh là một thực thể âm nhạc bất biến và bất động, không có những thay đổi.

Đã hai mươi năm Thái Thanh hát. Lịch sử âm nhạc ta đã được đánh dấu bằng cái hiện tượng khác thường, duy nhất, là Thái Thanh tiếng hát hai mươi năm. Nếu mỗi con người, mỗi vật thể đều được thực chứng như một biến thái thường hằng trước va chạm khốc liệt dữ dội với đời sống mỗi ngày là một khuôn mặt mới, một tiếng hát, dẫu vượt thời gian như tiếng hát Thái Thanh cũng vậy. Bằng chứng là Thái Thanh của những năm bảy mươi, Thái Thanh của bây giờ không thể và không còn là Thái Thanh của những năm tháng khởi đầu.

Mọi người dễ dàng nhận thấy như tôi là, chuyển lưu không ngừng qua nhiều vùng trời âm điệu khác biệt, hòa nhập không thôi vào mọi không khí, trào lưu âm nhạc và trình diễn thay đổi từng năm, từng mùa như mưa nắng, chính tâm hồn và ý thức người hát, trong mối liên hệ mật thiết một đời với nhạc, thế tất có những biến chuyển. Tiếng hát vì thế cũng đổi thay theo. Nói Thái Thanh hát bao giờ cũng vậy là sai. Lấy một bài hát bây giờ, một bài hát trong mười bốn ca khúc của băng nhạc Tơ Vàng chẳng hạn, cùng nghe với một bài hát cũ, ta thấy ngay, trên cái tiến trình và thành tựu rực rỡ của hai mươi năm đi tới không ngừng, tiếng hát Thái Thanh đang đích thực được lồng đựng trong một kích thước, một tinh thần mới. Sự thay đổi đó không ngẫu nhiên, chẳng tình cờ. Nó biểu hiện cho cái nỗ lực chính yếu của người hát tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngủ yên trên những thành công đã có.

Hát với Thái Thanh là một tình yêu muốn cháy đỏ một đời, phải được làm mới từng ngày. Lối hát, cách hát, từ kỹ thuật trình bầy một ca khúc đến cái khó nhận thức hơn, vì ở bên trong, nhưng không phải là không thấy được, là trạng thái tâm hồn Thái Thanh gửi cho âm nhạc, cái phải có và phải thế nào cho tiếng hát của mình bây giờ, trước trưởng thành vượt bậc của âm nhạc và thưởng ngoạn hiện tại, thảy đều dẫn tới một minh chứng: Thái Thanh của những năm bảy mươi đã bỏ lại thật xa ở sau lưng và trong quá khứ, Thái Thanh của thời kỳ khởi nghiệp. Không nhận thấy nỗ lực thay đổi, làm mới này, đó chỉ là vì những người yêu nhạc đã nghe Thái Thanh đều đặn, không đứt quãng, suốt hai mươi năm. Nhìn thấy hoài một khuôn mặt quen thuộc, giản đơn là ta khó thấy những thay đổi của khuôn mặt ấy.

Điểm đặc biệt đáng nói, theo ý tôi, là nếu một mặt, tiếng hát Thái Thanh đã và đang còn vươn phóng rực rỡ tới bắt gặp những chân trời âm điệu mới, phía thưởng ngoạn và tiếp nhận ở rất nhiều người, trong đó có tôi, lại bất biến, từ đầu, không thay đổi. Hai mươi năm, chúng ta vẫn chỉ thấy có một Thái Thanh. Sự ngạc nhiên lại chính là cái hiện tượng muôn vàn quen thuộc. Tại sao như vậy? Tìm hiểu tiếng hát Thái Thanh, cái bởi đâu khiến cho tiếng hát hàng đầu này tồn tại suốt hai mươi năm, trong khi những tiếng hát khác đã tiếp nối nhau lặn chìm và tàn tạ. Cái tại sao, khiến cho sau hai mươi năm, khối lượng cảm tình của khán giả yêu nhạc cả nước dành cho Thái Thanh vẫn đầy ắp như một bát nước đầy, tìm hiểu đó phải được khởi đi từ cái hiện tượng khác thường của thưởng ngoạn tôi vừa nói tới. Nó giải thích được cho cái trường hợp thành tựu duy nhất trong âm nhạc ta. Của một tiếng hát.

Ở một bài giới thiệu ngắn trong một chương trình Nhạc Chủ Đề thực hiện trước đây trên làn sóng điện đài Saigon, nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã nhận định về tiếng hát Thái Thanh như một giọng ca không có tuổi. Táng láng, hồng tươi, không quá khứ. Nhận định này chỉ nói đến một sự thực hiển nhiên. Tốt tươi và phơi phới, bay bổng và cao vút, tiếng hát Thái Thanh hai mươi năm nay là một hơi thở bình minh, ở đó không có một dấu vết nhỏ của tháng năm và quá khứ đè nặng. Đã là một giòng sông đầy, nó vẫn còn là cái thánh thót, cái trong vắt của một giòng suối, nước reo thủy tinh, sỏi lăn trắng muốt. Như một bông hoa không nở và tàn trong một buổi sáng, mà hoa đã mãn khai, vẻ hàm tiếu vẫn còn. Tiếng hát trẻ trung vĩnh viễn, không tuổi, không quá khứ là vì nó tạo mãi được cho người nghe cái cảm giác mát tươi đầu mùa như vậy. Cái não nùng, cái thê thiết rũ rượi là những cái làm già. Thái Thanh không hát cái chết bao giờ, trong cả những ca khúc nói về cái chết. Tiếng hát không bao giờ là một tiếng khóc, nó là đời sống, tiếng cười, và mặt trời. Những cái đen, những cái tối, gì là vũng lầy, gì là vực thẳm, ở ngoài tiếng hát Thái Thanh. Ở ngoài. Không đột nhập.

Nhưng nếu chỉ nói đến cái hiện tượng không có tuổi nằm trong một phía duy nhất là tiếng hát, không đủ. Không có tuổi còn ở phía đối diện, phía người nghe. Nghe Thái Thanh lúc nào cũng vậy, phút rất vui cũng như phút thật buồn. Nghe Thái Thanh ở một nơi chốn nào cũng thế, tiếng hát hàm chứa và phát hiện trong nó một hiệu lực đồng hóa, khiến cho tình yêu của hàng trăm ngàn người gửi cho tiếng hát Thái Thanh có thể thâu tóm toàn vẹn trong một người, trở thành cái có một. Trên dàn nhạc một phòng trà kín bưng mịt mùng khói thuốc, trên thảm cỏ một chương trình từ thiện ngoài trời, ngày nào dưới cái vòm cao vút của Nhà Hát Lớn Hà Nội, bây giờ dưới những đêm sao rực rỡ miền Nam, trên băng nhạc 1800 “phít” hay trên dĩa nhựa 45 vòng, tiếng hát gửi đến, gián tiếp, hay người hát đối diện trực tiếp với đám đông, bằng nhạc Văn Cao, Phạm Duy hay nhạc Hoài Bắc, Cung Tiến, hiệu năng đồng hóa và hiệu lực dẫn độ của tiếng hát Thái Thanh, vĩnh viễn phát xuất từ một khởi điểm tình cảm cố định. Nó dẫn dắt rung động người nghe hát tới những xúc cảm, những liên tưởng cố định. Không một người nào “lỡ” tiếng hát Thái Thanh. Đã gặp một lần là trùng phùng mãi mãi. Chẳng phải vì Thái Thanh đã hát hai mươi năm, còn hát, chỉ đơn giản là chúng ta đã nghe bằng cái trạng thái thuần túy, trong suốt nhất của thưởng ngoạn, nghe bằng cái không tuổi thênh thang phơi phới của mình. Tôi gọi vùng cảm xúc và liên tưởng cố định ấy là quê hương tiếng hát Thái Thanh. Như cây kim trong địa bàn chỉ xoay về hướng bắc, người nghe nào cũng gặp lại, bằng và với tiếng hát Thái Thanh, một thứ quê hương tình cảm muôn thuở trong mình. Chúng ta nói tiếng hát này gợi lại kỷ niệm, đánh thức trí nhớ, đâu phải vì tiếng hát Thái Thanh chỉ hát những bài hướng về kỷ niệm. Chúng ta nói tiếng hát Thái Thanh thân ái, tình nhân, bằng hữu, chỉ là người nghe đã thân ái, bằng hữu, tình nhân với chính mình, từ tiếng hát. Tôi nghĩ đó là nguyên nhân xâu xa đích thực nhất giải thích chu đáo cho khối lượng cảm tình đằm thắm, vững bền, không lạt phai, không lay chuyển, mà quần chúng yêu nhạc ba miền đã dành cho Thái Thanh từ hai mươi năm nay.

Đặt vào tiến trình và hình thành của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tiến trình đó nhất định phải đưa tới một đoạn tuyệt hoàn toàn với những giòng nhạc cũ, hình thành đó tất yếu sẽ nâng đẩy âm nhạc tới những biểu hiện sinh động bay múa nghìn lần hơn cõi nhạc quá khứ, tiếng hát Thái Thanh, hơn mọi tiếng hát khác ở điểm này, hội đủ điều kiện cho một thăng hoa và một hòa nhập lý tưởng. Bởi sau hai mươi năm, nó vẫn là một ra khơi, một lên đường, của những năm bảy mươi và cho những năm bảy mươi, âm nhạc đang được định nghĩa lại, từ phía sáng tác, trình diễn, đến phía thưởng ngoạn. Trước đòi hỏi của một lớp người yêu nhạc càng ngày càng vươn tới những vùng nghệ thuật đích thực, những bước tiến lớn lao ghi nhận được về nghệ thuật hoà tấu, kỹ thuật hoà âm chúng ta thấy thể hiện trong một băng nhạc bây giờ, là những dấu hiệu mở đầu cho một trưởng thành toàn diện.

Tiếng hát Thái Thanh là một đồng nghĩa toàn vẹn với hiện tượng trưởng thành này. Không phải là trong quá khứ, mà bây giờ mới vẹn toàn tiếng hát Thái Thanh. Trên tinh thần này, và trước viễn tượng sáng tươi của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tôi không nghĩ Thái Thanh đã tới, mà nói Thái Thanh mới bắt đầu.

Đừng đặt câu hỏi là sau hai mươi năm, bao giờ Thái Thanh vĩnh viễn giã từ âm nhạc. Mùa nhạc này, chúng ta mới chỉ đang nghe những bài hát thứ nhất của Thái Thanh, những bài hát đánh dấu cho một khởi hành mới, những bài hát mở đầu cho một sự nghiệp thứ hai. Những người yêu mến tiếng hát Thái Thanh từ hai mươi năm nay, chắc đều nhận thấy với tôi như vậy.

Mai Thảo
(Lời tựa cho băng nhạc Tơ Vàng 4 – tiếng hát Thái Thanh)

Quán Thơ Hư Vô 307


Quán Thơ Hư Vô 307

NGỌN THU KHÔNG

Cũng có lúc em giật mình ngoảnh lại
Nắng còn vàng chỉ man mác mùa thu
Mà trời đất chắc gì không lỗi hẹn
Cho trái tim tôi tan tác mịt mù.

Như chiếc lá mang hồn đi ở trọ
Vướng trên tóc em dấu tích hoang đàng
Có phủi xuống thế nào tay cũng chạm
Chút hồn tôi còn ngủ giữa dung nhan.

Mà tôi đã có thời tình lãng mạn
Cuốn đời nhau vào một ngọn thu không
Để thấy mắt em long lanh giọt lệ
Nhỏ xuống tôi tiếng khóc ở trong lòng!

Thì em đã có một lần bỏ lại
Nhịp guốc thưa dần trên lối heo may
Là lần em bước qua thời lỡ vận
Chỗ bóng tôi chưa kịp tượng hình hài…

Hư Vô

U HOÀI

Từ tôi một chút u hoài,
Buồn trong đôi mắt trên vai gầy gò.
Đời sao vẫn cứ lần mò,
Tìm nhau chẳng thấy tay vò khoảng không…

Từ tôi đèn thắp chờ mong,
Ai người viễn xứ mà lòng chẳng đau?
Sương khuya trên ngọn mía lau,
Tiếng cười ngày ấy mất nhau bây giờ.

Từ tôi vẫn cố giả vờ,
Quên đi – để nhớ – ướt mờ mắt môi …
U hoài một cõi trong tôi,
Đời đong đưa mãi tình trôi bến nào?!

trầnthịminhchâu

GOÁ PHỤ BÊN ĐỒI

Tôi đã thấy từ phía sau ánh mắt
Có một điều rất thật ở vành môi
Là khô héo. là ngậm ngùi. se thắt
Hạt sương tan còn vướng lại bên đồi

Em ngồi đó cong bóng chiều thế kỷ
Vói trời cao không níu nổi mây ngàn
Thì cơn gió chỉ trang hoàng mộng mị
Hạt mưa nào chan ướt được lìa tan

Người goá phụ giữa đồi hoang bát ngát
Một đoá quỳnh lãng mạn với sương thâu
Dòng hư ảo đã triền nghiêng dốc cạn
Mây trên cao mà bông nở trên đầu

Là tượng đá đã xanh màu bí ẩn
Là rong rêu bất tận cõi hoang đường
Là cúi xuống chạm môi vào tịch lặng
Để một lần nghe mặt đất xông hương

Rèm mi đó. cầu xin em hãy khóc
Lệ trên môi là nước mắt trong lòng
Em có thấy một vì sao mới mọc?
Hạt bụi nào vừa đậu xuống hư không….

Sơn Nguyễn

MƯA PHÙN

Bước chân khe khẽ của đêm
Đem theo những hạt mưa mềm hoàng hôn
Song thưa gối tựa lòng buồn
Sợi bay theo gió sợi luồn nhớ nhung

Tơ đan dệt tấm tình chung
Mà người xa mãi chập chùng núi non
Môi cong một mảnh trăng hờn
Nồng nàn một thuở nay còn đắm say?

Ru ta, ru giấc mộng đầy
Mai về thắp lại những ngày yêu thương
Ruợu hồng chung mộng uyên ương..
Để mình khép lại đoạn trường buồn tênh

Đêm đông…hạt hạt … giăng mành.

Thiên Di

CHO MỘT LẦN VỀ…

Về thôi…tàn cuộc phiêu linh
Áo cơm nặng nợ, chữ tình nặng mang…

Về thôi…giông tố đã tràn
Giấc mơ keo rã hồ tan phận người..

Về thôi…con nước chia đôi
Sóng còn vỗ bến bờ tôi dập dồn…

Về thôi…gối mõi chân mòn
Nắng chia cuối bãi, mưa dồn đầu sông…

Về thôi…mẹ vẫn chờ trông
Đau thương đã chín, lỗi lầm còn xanh..

Về thôi…nỗi nhớ thật gần
Về thôi…dù chỉ một lần…
về thôi…

Trung Chinh Ho

KHI TRỞ LẠI CẦN THƠ

Mênh mông trời nước
về Cần-thơ với những đoạn rạch buồn
chim bay rồi biển trước
cá lội chiều sau sông.

Tôi tìm em hoài dưới ánh trăng xanh
bên đường quán nghèo cóc mít ổi
ai che nón khi chiều chưa kịp tới
nụ cười xinh hai mắt ướt đa tình.

Tôi lang thang một qua cầu Cần-thơ ngút mắt
đêm Chúa về hình như em đang đọc kinh
lạy Chúa của hai đứa mình
trôi theo sông mái chèo sớm khuất
(đã vây quanh người theo chuông ngân).

Gió qua bến Ninh-kiều hiu quạnh
mắt ai tím sáng trời đêm
rượu tình người mời chưa uống
bên sông ngơ ngẫn cuộc tình.

Em trăm vạn nẽo đường
để tôi đợi mà lòng bổng sững
nhớ ai nước mắt rưng rưng.
tình ngái xa về Cái-Răng, Mỹ-Thuận,

Xe xa người về Cần-thơ chở gió
tôi mang mây che kín dặm trời
sao nỡ em ơi
rót chi sầu vào thơ tôi từ độ ấy
mưa nhỏ từng giọt lấp tim tôi/ xa người .

Tình của em mấy đoạn chao nghiêng
về Cần-thơ mà để tình ở lại.

Huy Uyên

HẮT HIU PHỐ CŨ NGÀY MÂY TRẮNG

Con cánh cam bay vào quá khứ
Tuổi thơ anh trốn biệt nơi nào
Mùa thu chuồn chuồn kim có đậu
Vạt cỏ quê nhà xa lắc lơ?

Viễn xứ . Bao năm trời viễn xứ
Đường thơm ngai ngái lá thu vàng
Vuông lớp anh về thăm mấy bận
Tìm bóng người thả tóc thề xưa

Từ đó thu buồn hơn thế nữa
Lòng anh man mác lúc thu sang
Áo em giờ cũng phai màu nắng
Nhạt mất màu môi thuở lấy chồng

Từ đó thu đi vào cõi mộng
Tình như sương khói quyện trong hồn
Hắt hiu phố cũ ngày mây trắng
Che khuất đời nhau lúc ly tan

Linh Phương

NGÀN MÂY

Em như mây trắng trời quê mẹ
Rơm khói, chiều lam buổi quay về
Chén cơm ngô sắn, mùa dâu bể
Còn nhớ không em? bụi đường quê!

Em như vạt nắng bên thềm vắng
Kẽo kẹt trưa hè nhẹ võng đưa
Tóc đen nhánh xõa hương đồng nội
Áo tím phơi bay, dưới bóng dừa

Em như cơn gió mùa thu trước
Réo rắt về theo lá bàng khô
Cuốn bay từng lớp nghe xào xạc
Chìm lá vàng rơi dưới đáy hồ

Ta đây, chiếc lá giờ đã mục
Dưới đáy hồ xưa thấy sao rơi
Đông về – chênh chếch, đêm nguyệt lạnh
Thấm cả ngàn mây đến rã rời

Thu Hoài

VỀ ĐI EM ƠI!

Về đâu em hỡi?
Chiều nay mưa rơi
Bên hiên nhà vắng
Chỉ còn mình tôi

Phố đã lên đèn
Vọng bước chân quen
Nghe chừng xa lạ
Chờ mỗi bước em

Mưa hay hồn lạnh
Lòng chợt cô đơn
Chút sầu hiu quạnh
Thương tiếng dỗi hờn

Về thôi em ơi
Sao đã đầy trời
Mãi còn rong ruổi
Đêm buồn chơi vơi

Cửa đời đã khép
Cửa nhà ngóng trông
Chờ em trở gót
Mong đợi ngập lòng

Về đi… em ơi
Một mình một cõi
Thương nhớ ngậm ngùi
Về đi… em ơi!..

ninh trần

thumbnail_IMG_0300

Ngồi Quán Window’s. Thơ Hư Vô


3722194D-6B91-45F6-B5E9-3E1B5D274713

Một chút nắng còn bên ô cửa
Chỗ em ngồi chiều đã trên vai
Giọt cappuccino chờ ai tan chậm
Vào tim tôi một tiếng thở dài.

Mà nghe vệt khói cay lòng mắt
Giật mình như thể mới hôm qua
Góc phố Bankstown ngày em đến
Đường lá bay thơm dáng lụa là.

Như giọt cà phê màu cánh gián
Dậy hương sóng sánh bóng tình nhân
Tôi khuấy hồn tôi chìm đáy tách
Hạt đường còn ở lại môi em!

Để thoáng ngọt ngào tan vào nắng
Pha buồn cho đắm đuối dung nhan
Ly chiều em nhấp môi cùng cạn
Còn nghe lăn lóc giọt đá vàng…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 306


Quán Thơ Hư Vô 306

GIỎ PENSEE ĐÃ XA

Giỏ pense chờ ai một thuở
Đường em hoa tím đã nở đầy
Còn chút xuân thì nghiêng dốc nắng
Cho buồn trĩu xuống nặng quằn vai.

Màu hoa lụa biếc em đánh rớt
Bên góc vườn xưa chỗ hẹn thề
Em đi chân vướng quanh sợi tóc
Gót hồng dẫm nát cánh pense.

Tôi về vuốt bóng em trong mắt
Chào nhau tím ngắt cả bàn tay
Thì cũng một thời tình con gái
Quay lưng còn nghe tiếng thở dài.

Mà tôi đã một lần trễ nải
Lỡ tay đánh mất tuổi ngọc ngà
Phiến đá lăn qua đời lãng tử
Giỏ pense giờ đã quá xa….

Hư Vô

CỔ TRẤN THÀNH

Ta khoác ba lô đi Cổ Trấn
Thành phố không xa Vạn Lý Trường Thành
Ta được ngắm mùa đông phương Bắc
Chút sương chiều trên dải núi mờ xanh.

Khí hậu ở đây sao quá trong lành
Giọt sương cũng xanh màu ngọc bích
Nắng chầm chầm sợ ngày đi sẽ hết
Thị trấn bảy trăm năm như một vệt son dài.

Ngày đầu đông vàng rực tự ban mai
Cây lá đỏ ngập tràn thị trấn
Đền đài xưa không lạnh màu u tịch
Cũng hồng lên trong thời khắc giao mùa.

Cổ Trấn thành không còn ở trong mơ
Ta lặng ngắm hàng giờ không biết chán
Chỉ thiếu em khi nắng chiều sắp cạn
Đẹp nao lòng lai láng lúc mùa sang.

Hà Thiên Sơn

VỀ NGHE CỎ HÁT

Bao mùa hạt cỏ bay đi
Có ươm lại kiếp xuân thì cho nhau
Đất cằn, khô dấu, mai sau
Vết chân chim, rụng, kiếp nào đã quên.

Chia nhau mấy nhánh cỏ buồn
Ép trong thư cũ còn thơm suốt mùa
Thuở người xóa cả nắng mưa
Giấu lòng nhau để người xưa quên đường.

Tình thành cỏ dại phơi sương
Vàng phai mùi nhớ còn hương nồng nàn
Vô tình bóng cỏ phân vân
Ngậm rơi số phận xuống trầm luân thân.

Về nghe cỏ hát dưới chân
Vẫn xanh như kiếp tình nhân thuở nào
Tóc người thơm mãi ngàn sau
Một thời nhẫn cỏ hằn đau da người.

Nguyễn An Bình

MỘNG CHIỀU XANH

Tôi vẽ trong chiều một chút mây
Tôi vẽ vào hồn một thoáng say
Em ơi! Về nhé! Về đây nhé!
Về rót hoàng hôn trong mắt đầy

Xin nạm vào thơ giọt lệ nồng
Tan vào tôi nhé một màu sương
Ôi mắt thần tiên chiều tan học
Có thấy tôi một góc phố buồn

Có thấy tôi chăng từng chiếc lá
Rơi thầm trên tóc rối vàng thu
Em cầm chiếc lá mà ngơ ngẩn
Chiếc lá tình như một nỗi đau

Ai ướp vào trong màu áo lụa
Chút hương tình ái buổi chiều xanh
Tôi sẽ vì hương mà vẽ lại
Một màu thương nhớ đã rêu in

Tôi sẽ nạm vào đôi mắt ấy
Những lời nhung gấm sáng long lanh
Em hãy về đây! Về đây nhé!
Về nghe vàng thắm mộng chiều xanh.

Lê Văn Trung

BIỂN ĐI QUA BIỂN

Nhìn từ đỉnh hú gió
hai phần ba địa cầu
tóc Hát bay gọi nhớ
sa bẫy hương đêm thâu

Tay gõ cửa chia nhau
mưa rơi vào giấc ngủ
bão rớt vào chiêm bao
ướt tràn căn phòng cũ

Thuyền bỏ rơi chiếc phao
lênh đênh lời ấp ủ
mênh mông trôi chiếc phao
hụt hơi câu bày tỏ

Biển đi qua đời Biển
tạo sóng bao mùa sau
từ nụ cười răng mỉm
gìn giữ buốt răng sâu.

Vũ Trọng Quang

HOA MƯỜI GIỜ

Em thích hoa mỗi ngày mỗi nở
Sao lại không trồng hoa mười giờ?
Lung linh gió, ướm màu mắc cỡ
Mỏng manh rung, tím biếc ngẩn ngơ

Trong nắng khét, vàng hoe tóc rối
Cánh đỏ tươi thắm tuổi thơ ta
Rong chơi qua ba đồng bảy đổi
Quay mắt nhìn, bừng nở sắc hoa

Cô hàng xóm, bên vườn đang ngắm
Khẻ nhoẻn cười ta đứng tần ngần
Chợt quay ngoắt điêu ngoa lẫm bẫm
Một điều gì, bỗng dưng rung ngân

Cánh hoa nở, suốt thời thiếu nữ
Đã theo ta từ đó đến giờ
Đời phiêu bạt, áo cơm tứ xứ
Vẫn âm thầm đẽo gọt giấc mơ …

Em thích hoa mỗi ngày mỗi nở
Sao lại không trồng hoa mười giờ?
Tự dưng nói mà buồn vô cớ
Mãnh vườn xưa trống hoắc trống huơ

Lê Thanh Hùng

MÙA GỌI TÊN NHAU

Em trở về để kịp nhặt hồn Thu
Vừa rớt xuống sau tháng ngày trăn trở
Nỗi buồn nào hằn trong đôi mắt nhớ
Nơi ngực gầy vừa vặn một cơn đau

Em trở về nghe mùa gọi tên nhau
Giữa bốn mùa có một mùa ly biệt
Màu Thạch Thảo tím một màu biêng biếc
Hoàng hôn loang như khói thuốc người tình

Môi ngoan vừa run rẩy gọi tên anh
Trong tóc rối còn thơm hương tình cũ
Em yêu anh một nửa đời chưa đủ
Nên nửa đời còn mải miết tìm quên

Anh có về để gọi lại tên em
Cho yêu thương ủ vàng lên sắc nắng?
Anh không về! Chiều nghiêng chiều thầm lặng
Em bâng khâng cúi nhặt mảnh hồn mình

Xin cho mùa giữ lại một cái tên

Hạnh Trần

NUỐI

Những năm dài thật dài hởi em
Chiếc nôi xinh hạnh phúc chúng mình
Gói ghém em và anh trong đó
Tình lên xanh đời sống lên xanh

Hạnh phúc là gì khi ta gần nhau
Không biết, nhìn chung quanh không thấy
Chỉ thấy mình lâng lâng sướng mãi
Cỏ cây hoa lá ngập trong hồn

Có tiếng chim sâu riú rít hoàng hôn
Có tiếng sơn ca ca vang buổi sáng
Là mình cùng nhau đón bình minh rạng
Giấc mơ nào cũng thấy đôi ta

Hạnh phúc như chim, hạnh phúc như mây
Bay lang thang la đà khắp chốn
Anh muốn tung hô yêu em vạn thuở
Yêu em đến góc biển chân trời

Người con gái bỗng nhiên quay mặt
Hất anh ra phân nửa cuộc đời
Mùi tình xưa trở nên đắng nghét
Giấc mơ ngày cũ có còn không?

Giấc mơ em quay ngoắc một vòng
Anh đứng bên bờ sông hú gọi
Nước dâng lên, nước lũ trùng trùng
Anh ngợp nước lềnh bềnh, trôi mãi

Trần Yên Hòa

HÀNG HOA TRƯỚC NGÕ

Cả ngày cả tháng rồi cả năm
hết năm này lại sang năm khác
ở không mãi nghĩ đời như rượu lạt
xới đất trồng hoa trước ngõ để bớt sầu

Bao trăng buồn thức giấc giữa đêm thâu
một mình đợi xem từng cánh hoa nở nhẹ
không có gió mà hoa lay khe khẽ
mới hay là nhựa sống vẫn sinh sôi

Ngồi một mình và cứ mãi một mình thôi
hoa nhiều quá người thương đâu để tặng?
hương nồng quá
ngập bốn bề vắng lặng
tưởng bớt sầu
hoa nở chợt sầu thêm…

Trần Minh Tạo

IMG_0279

Chúng Mình Mất Hết, Chỉ Còn Nhau. Thơ Hư Vô – Nhạc Phạm Quang Ngọc – Ca sĩ Hòa Hiếu – Video Vọng Ngày Xanh


 

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: