Bến Bờ Hư Vô. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Bến Bờ

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!

Lời tình còn đọng trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…

(Hư Vô)

0265F89B-B8CE-418B-A10E-0E3E3D3B30A9

Một buổi trưa không biết ở thời nào
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
(Đi Giữa Đường Thơm – Huy Cận)

Có lẽ như nhà thơ Huy Cận đã viết: “Ca dao luôn sống mãi trong bao tâm hồn Việt. Nó chính là dòng sữa ngọt ngào nuôi lớn đời ta“. Đối với người xa quê, ca dao dường như đã trở thành quê hương, thành xương thịt,  là dòng tâm  tưởng tràn trề, lai láng. Nó gợi nhớ tình quê, gợi những kỷ niệm một thời xa vắng. Chọn thể thơ lục bát của ca dao, Hư Vô đã làm ta sống lại những cảm xúc đã dồn nén bao lâu bỗng tuôn trào, lai láng. Đọc Bến Bờ của thi sĩ ta không chỉ  cảm nhận đang về lại quê hương với dòng sông, con đò, bến đợi và bên tai vẫn cứ văng vẳng những làm điệu dân ca, ca dao về những tình yêu không trọn vẹn mà chính là ta đang sống trong một thế  giới của âm nhạc, của cảm xúc, suy tưởng.
Con đò, dòng sông là mô típ thường thấy trong ca dao. Ca dao thường mượn hình ảnh con đò, bến nước, cây đa để thể hiện tình yêu thủy chung hay ly biệt, nhớ  thương:

– Con đò với gốc cây đa
Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò.

– Cây đa bậc cũ lỡ rồi
Đò đưa bến khác bạn ngồi chờ ai.

– Gọi đò chẳng thấy đò sang
Phải chăng bến cũ phụ phàng khách xưa.

“Thuyền đi để bến đợi chờ,
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau,
Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền”

Chọn một hình ảnh thường xuất hiện trong đời sống, trong ca dao, nhà thơ dễ dàng truyền đến người đọc sự đồng cảm ngay từ phút giây đầu.

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!
(Hư Vô)

Đoạn thơ xuất hiện  hình ảnh dòng sông, bến đợi, con  đò và khách sang sông. Nhưng tất cả đều thể hiện sự trễ muộn. Đò đã sang sông, em ngược dòng nhân gian. Câu chữ không theo quy luật, hình ảnh cũng ngược chiều. Tất cả đều oái oăm, ngang trái. Tình tan, mộng dở dang. Lời gọi đò, gọi em, gọi nhau chỉ còn là những âm thanh buồn bã, tắt lịm. Dòng sông vẫn trôi, đò vẫn cứ sang sông không đợi khách bộ hành. Em không chờ tôi về đã đi xa, lạc hướng mịt mờ bóng chim tăm cá. Tình tan, em- người yêu thương thành người dưng, kẻ lạ. Tôi mất  em – nỗi đau ngút ngàn, tôi bỏ đời, tôi hoang đàng, tôi rong chơi, thơ như tôi cũng hoang đàng trong em.

Gọi lập ba lần, đò lập hai lần, em- người dưng đã vừa lập vừa nhấn, câu cuối những dấu phẩy cắt câu bát thành bốn theo nhịp 1/3/2/2 diễn tả một sự rối loạn của cảm xúc. Thảng thốt, đau đớn, rã rời để rồi buông trôi, buông xuôi. Một nỗi đau định hình, sự thất vọng não nề hiện lên từng câu chữ. Có một chút gì cay trong mắt, có một chút gì nhói trong tim. Có lẽ là nỗi đau từ khúc tình tan của khách sang sông. Cấu trúc câu thơ với nhiều thanh bằng nhưng dường như không tạo được cảm giác nhẹ nhõm mà nhân rộng, tỏa rộng nỗi đau bởi vần “an”. Ngôn từ, cảm xúc của thi sĩ gợi tôi nhớ đến Lời thề cỏ may của Phạm Công Trứ:

Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê.
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…

Phạm Công Trứ gỡ bỏ lời thề cỏ may, Hư Vô khác xưa, hoang đàng cuộc đời, hoang đàng thơ. Chữ tình hư ảo sao làm tan nát bao cuộc đời, bao con người và có đôi khi sự tổn thương đã khép lại hoàn toàn trái tim yêu. Có lẽ điều này đúng với những người vốn có trái tim đa sầu, đa cảm như  chàng trai đa tình trong thi phẩm. “Hoang đàng” có lẽ là câu chữ của  thi sĩ thể hiện một sự thay đổi của nhân vật trữ tình, con người bình thường xưa đã không còn nữa, sự thay đổi quả thật đau lòng. Có lẽ chàng trai không thể chấp nhận được tình tan. Xưa nay tôi vẫn cho rằng tình là vô thưởng bởi nó đến rồi đi không hề báo trước, chính vi vậy khi tình yêu tan vỡ có những người không thể vượt qua có lẽ với một người bản lĩnh cách hành xử trên có phần nào yếu đuối, tiêu cực nhưng chưa hẳn như vậy bởi điều mình đặt hết tâm huyết vào nếu mất đi không thể xem là chuyện bình thường, bởi vậy mà  “khúc tình tan” của thi sĩ bắt đầu lên tiếng:

Lời tình còn động trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Tình yêu trong Hư Vô thường là nỗi đau, thường là chia ly. Thi sĩ không nói rõ vì sao mà ly tan nhưng đôi khi chính người trong cuộc cũng không hiểu vì sao? Chỉ biết khi tình lỡ nỗi đau dường như làm ta tuyệt vọng. Nhưng có một điều tôi nhận ra nỗi đau tình trong thơ Hư Vô không quằn quại của những rên xiết, thét gào mà thật da diết đến đớn đau của những vết cắt sâu để rồi thành những đóa hoa sầu, những giọt lệ thầm trong đêm sâu khi chỉ một mình trong thăm thẳm của bóng đêm để rồi  thảng thốt chợt nhận ra mình đã không còn như ngày xưa:

Gọi nhau một khúc tình tan
… Trái tim tôi đã tơi bời, xanh xao.

“Tơi bời” câu chữ đơn sơ, giản dị gần như là một khẩu ngữ tạo một định hình cho nỗi đau rất thực. Tơi bời là kết quả của một không gian vừa trải qua một cơn lũ tràn, một cơn bão lớn. Tất cả tan hoang, vỡ nát, rời rã, tang thương. Cơn bão tình làm giông tố phá nát hồn anh, đời anh. Cơn bão đi qua, sự sống rồi sẽ hồi sinh nhưng cơn bão tình thì mãi mãi thổi, linh hồn thành hoang mạc, nỗi sầu tạo thành quách trong tim. Cơn bão tình- cõi vô vọng đang hòa vào nhau tạo thành khúc tình tan . Có lẽ nỗi đau của khúc tình tan sẽ mãi theo chàng thi sĩ suốt những tháng ngày còn lại.  Khi tôi đọc đến câu thơ này tôi liên tưởng đến bài thơ Bão của Tế Hanh:

Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi.
(Tế Hanh- Bão)

Để rồi tôi cảm nhận ra cơn bão lòng tôi vẫn còn thổi mãi một niềm đau quá khứ có lẽ vì vậy mà tôi hiểu “trái tim xanh xao” của chàng trai, lại một câu chữ biến hóa trong tay của thi sĩ, lấy nét vẽ ngoại hình “xanh xao” để miêu tả thế giới nội tâm của riêng mình, một sự nhiễu loạn về màu sắc đỏ thành xanh, sự sống đã lìa bỏ, đã cạn nguồn khi em rời xa tôi. Nhẹ mà thấm, mà đau, câu chữ của Hư Vô vốn là vậy. Tim thay màu, không gian cũng thay màu:

Sông sâu có khúc bạc đầu
(Hư Vô)

Sông bạc đầu hay màu sông cũng đổi thay dường như là lời tự vấn của thi sĩ. Em bạc lòng, sông cũng bạc lòng, thiên nhiên vốn ít khi thay đổi mà vẫn đổi thay huống chi là con người. Em thay lòng, em làm tan nát cuộc đời tôi lời nhẹ trách mà thương nhiều. Trái tim nhà thơ vốn vậy luôn bao dung, luôn đầy đạm. Lời trách cứ thành âm vang trôi xuôi theo dòng sông:

Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Em đi rồi khó quay trở lại. Nhưng cho dù có trở lại nhưng tất cả đã lỡ làng, đã kết thúc, câu thơ vang lên một âm thanh buồn bã của sự đợi chờ vô vọng “biết đâu mà chờ!”. Thời gian không đợi, người không hẹn quay về chỉ còn lại dòng sông và tâm trạng nỗi sầu của người đợi đò. Câu thơ gợi nhớ những câu ca dao với những nỗi buồn sông nước:

-Nước sông lững đững lờ đờ
Thương người nói vậy biết chờ hay không.

-Sông sâu cá lội ngù ngờ
Biết em có đợi mà chờ uổng công

-Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.

-Sông sâu biết bắc mấy cầu
Khi thương thì anh thương vội
Khi sầu anh để lại cho em

Gì buồn hơn giữa những dòng sông đỏ nước phù sa, con thuyền không thấy quay về. Dòng sông buồn thấm vào ca dao, chảy tràn qua thơ Hư Vô để thi sĩ ngẩn ngơ, nuối tiếc, xót xa, hụt hẫng và rồi chỉ biết buông xuôi:

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!
(Hư Vô)

Ở khổ thơ thứ hai, “Khi xưa” không và chưa bao giờ mất đi trong lòng thi sĩ; nó luôn song hành cùng thực tại “Bây giờ” đó là ranh giới của tình yêu: Anh vẫn không đổi  thay. Không gian xưa hẹp chỉ là một bến sông, mà anh luôn đợi dù biết đợi chờ cũng chỉ để ngậm ngùi “Đi lên đi xuống” tôi thích chữ “ vòng vo” mà thi sĩ dùng. Đẹp, lạ và mang hơi hướm của ca dao tạo sự chân thực trong từng câu chữ. Vòng vo là trạng thái đi không định hướng, câu chữ gợi tôi nhớ đến chàng trai trong bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” với động tác trèo lên/ bước xuống dường như vô thức để diễn tả sự mất phương hướng khi lỡ duyên. Và thi sĩ của chúng ta lại chọn bến sông để “đi lên đi xuống vòng vo” để diễn tả một cảm xúc buồn khi tình yêu đã hết. Vòng vo của bước chân lên xuống vô định kia làm trái tim người đọc cũng như lây nhiễm nỗi đau tình. Hư Vô đang đánh thức điệu hồn ca dao dậy để nỗi ngậm ngùi như sâu, như rộng, như dài hơn dường như để bắt kịp không gian. Ngày xưa là một không gian hẹp “bến sông” bây giờ là một không gian rộng “cách mấy đại dương”.  Xưa chỉ một không gian hẹp mà đã lạc nhau một đời, giờ là không gian rộng thì làm sao mà tìm! “Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!”. Câu thơ dường như phá cách trong kỹ thuật hài thanh, câu chữ dường như không xuôi chiều, dường như có sự chống đối lại nhau. Tôi nghĩ câu thơ có thể viết thành “Muốn thăm em, biết đường nào mà đi!” nhưng thi sĩ không viết vậy bởi vì anh muốn dùng “biết đâu” ở khổ thơ trên thành “đâu biết” ở khổ thơ này như một cách nhấn. Biết đâu là một phủ định, đâu biết cũng là một phủ định, một khẩu ngữ dù có đảo cách nào đi chăng nữa cũng để thể hiện một nỗi niềm sự bế tắc, mịt mờ phương hướng của những kiếm tìm. Tôi nghe như lời tình vô vọng đang vang lên để rồi đọng lại thành nỗi buồn sông nước. Bến chờ, bến đợi trong ca dao chỉ còn trong tâm tưởng, bến sông xưa đã ngăn cách mấy đại dương nên bến tình buồn hiu hắt. Tôi thương những dòng sông đợi đò trong chiều vắng ngắt chỉ có gió lạnh đi qua không nói năng gì, tôi thương lữ hành đợi người nơi bến vắng chiều mưa để bao nhiêu hơi buốt giá thấm vào hồn:

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…
(Hư Vô)

Chiều xuống, chiều đang rơi, chiều tàn… Đó là cách mà ta thường dùng khi nói về hoàng hôn, Hư Vô viết “chiều phơi cuối ngọn xuân thì ” cách viết vừa lạ, vừa hình tượng. Tôi tưởng tượng buổi chiều như đang phơi trần trước ta, dấu vết cuối ngày đã buồn lại càng buồn hơn khi hình ảnh người con gái ngồi phơi cuối ngọn xuân thì. Cái đẹp dường như đã tàn, đã kết thúc tạo nỗi ngậm ngùi dài và rồi nhân vật trữ tình cũng rời bỏ nỗi muộn phiền của đời mình trong một nồi niềm day dứt:

Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
(Hư Vô)

Yêu là để chờ trong muộn màng, nuối tiếc; yêu là để trĩu nặng niềm ray rứt không nguôi, yêu là những bâng khuâng, nhung nhớ… Tình yêu là hạnh phúc trong nỗi thương đau, lặng im để tưởng niệm một thời tình đã qua… Phải chăng trong thi sĩ, trong tôi và chúng ta những người từng có một thời yêu có phải đã từng cho rằng: Yêu là được nhớ nhung, giữ gìn một ai đó trong tim dù có trải qua bao dâu biển đổi dời tình ấy không mất đi mà vẫn luôn nguyên vẹn.Tình yêu không đợi có nhau trong cuộc đời mà nó sẽ là một hình bóng luôn vẹn nguyên trong tâm hồn ta, nó là động lực giúp ta đứng lên khi bị cuộc đời xô ngã. “Phủi tay” có nghĩa là buông bỏ, là không còn nghĩ đến để vui hay để buồn nhưng chỉ là cái động tác ngoại hình bởì trong tâm hồn ông chữ tình vẫn chất chứa không nguôi “biết có còn gì cho nhau” một cụm từ phủ định nhưng lại mang ý nghĩa khẳng định của sự dâng hiến đầy yêu thương. Câu thơ buồn trong từng câu chữ nhưng lại trĩu nặng những “dấu tích trần ai”. Và trong tận cùng của quá khứ hình ảnh con đò lại quay  trở về:

Chuyến đò chở khẳm bể dâu
(Hư Vô)

Khổ thơ đầu là “đò”, khổ thơ tiếp là “đò em” và hai khổ còn lại thi sĩ viết “chuyến đò” như một trình tự tăng tiến đò chở khách qua sông, em là chiếc thuyền tách bến sang sông một mình và cuối cùng là chuyến đò cuộc đời. Trễ đò, khách tiếc nhớ, mong đợi. Đò em sang sông, anh hụt hẫng đau thương. Đò đời chở nặng giông tố, biển dâu chỉ mình anh nhận thì quả thật là chua xót.

Hai câu thơ cuối khoanh tròn kiếp người, kiếp tình thành nỗi buồn phơi trên ngọn xuân thì. Phủi, bỏ, ở lại.. một loạt từ diễn tả những trạng thái ngược nhau là những suy ngẫm về cuộc đời, về tình yêu. Đời là biển dâu, chàng trai đã nhận trong khoảng đời phiêu bạt, có những nỗi buồn, nỗi nhớ không thể tỏ bày và tình yêu cũng mất chỉ còn lại thi sĩ và vực sầu lạnh tanh. Lạnh tanh nghĩa là rất lạnh. Tình lạnh, đời lạnh chồng lên nhau, nỗi đau của tình lỡ, nỗi đau của bể dâu cuộc đời chỉ mình “tôi” mang không người chia sẻ. Tại sao không là “để tôi” mà lại là “bỏ tôi” . Chữ bỏ đã nói lên tất cả. Bỏ mặc, không đếm xỉa, không đoái hoài là sự từ bỏ, bỏ rơi nó là kết quả của tình yêu một thời tươi đẹp. “Bỏ tôi” đã làm tăng cao nỗi cô đơn, bẽ bàng của thi sĩ, nó dồn ép cảm xúc là một sự cam chịu đầy cay đắng, tôi thương sự cô đơn của thi sĩ trong cuộc đời, tôi cảm nhận được vực sầu lạnh tanh mà anh viết. Hai vần ”anh” liền kề tạo một âm vang, âm vang từ đáy vực nên thăm thẳm mất hút trong không gian nên cuối cùng âm thanh cũng im bặt chỉ còn lại khoảng trắng lặng im càng tô đậm dáng vẻ cô đơn của nhân vật trữ tình. “Lạnh tanh” tôi rằng nó là cụm từ đắc địa thể hiện trọn vẹn cảm xúc của bài thơ. Lạnh của yêu thương, lạnh của nhân tình, cái lạnh đã trùm suốt bài thơ nhưng càng về cuối cái lạnh càng lạnh hơn nữa thành một chuỗi âm vang không lời thể hiện cái lạnh  lẽo, trơ trọi của một nỗi đau tình khi chỉ còn mình “anh” đi trên con đường tình, đường đời  bơ vơ.

Khúc tình tan của Hư Vô đã cho tôi một khoảng lặng của ngậm ngùi, của xót xa khi tình yêu tan vỡ.  Nếu Xuân Diệu đã từng làm xúc động bao trái tim người yêu thơ với “Cung Nguyệt Lạnh” thì Hư Vô đã đem đến cho người đọc mê lộ cùng đường của “Khúc Tình Tan”. Trong khúc ca tan vỡ kia tôi thấy thấp thoáng bóng của ca dao hiện về với giọng hò thê thiết trên sông nước mênh mông với những khúc ca não lòng của  tình yêu tan vỡ. Tôi tìm thấy trong khúc tình tan của Hư Vô nỗi chạnh lòng, nỗi thương thân trong kiếp tình buồn, trong cuộc đời dâu biển đa đoan và khi bài thơ khép lại thì cái giọt “lạnh tanh” kia chính là giọt sầu, giọt đời thi sĩ, tôi, bạn đang uống từng ngày và ngày vẫn cứ trôi trong tiếng vọng của ngàn xưa với khúc tình tan của chàng thi sĩ có tên gọi HƯ VÔ.

August, 2018
Trần Sương Lam

Bóng Núi. Thơ Hư Vô


Bóng Núi

Có trèo lên đỉnh núi
Cũng chưa tới bóng em
Trăm năm nằm xõa tóc
Giữa thác ghềnh chông chênh.

Hồn em như mây trắng
Tạc vào cõi hư không
Một hình hài lạnh cóng
Cỏ mọc đầy rêu phong.

Tôi lần qua vách núi
Cho tóc em dài thêm
Chải mưa đan vào nắng
Chải hồn tôi vào em!

Để nghe tim đồng vọng
Từ những nỗi khát khao
Núi trăm năm chưa ngủ
Sợi tóc đã bạc đầu!

Phất phơ như màu khói
Trong đôi mắt vọng phu
Em nằm quay lưng biển
Cho sóng tạc hình thù!

Rạch lên đời cô phụ
Một dấu tích oan khiên
Bên tượng người dáng núi
Còn trần trụi bóng em…

Hư Vô

Quê Hương Tôi… Đồng Bào Tôi… Hồi ký Đỗ Phương Khanh


Đỗ Phương Khanh

Bách Khoa

(Đã đăng trên Báo Bách Khoa, số 267, Tân Niên 1968, số đặc biệt về biến cố Mậu Thân)

Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn.

Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc T.C.S. để mà thấy thêm yêu chuộng hòa bình.

Nhưng thật ra là dân đô thị, tôi cũng chưa thấu rõ được chiến tranh là thế nào. Đó đây trong trí nhớ của tôi chỉ thoảng qua một vài hình ảnh người đàn bà đi buôn hàng chuyến dọc đường bị mìn, cả khuôn mặt nát bấy còn lại vài cái hốc và những mảng thịt bầy nhầy di động cố thì thào:

– Con tôi, các con ơi…

Hoặc bà mẹ trẻ bế con mới sinh chạy hớt hải, tới khi nhìn xuống tay thì chỉ còn lại mớ tã lót bọc trong cái chăn, con đã lọt đi từ lúc nào, bà ta chạy nguợc lại thì ra dòng người chen chúc xô đẩy đã vô tình dẫm nát đứa nhỏ. Chỉ vài ba hình ảnh vụn vặt với cái tầm kiến thức về hiểm họa chiến tranh rất nghèo nàn của tôi như thế cũng đã đủ làm tôi rùng mình ghê sợ không muốn nhớ tới nữa. Và, như những người thích thanh bần, tôi cũng không muốn hiểu biết dồi dào thêm về mặt này.

Nhưng với chiến tranh, tôi không còn có quyền muốn hay không. Nó tàn nhẫn dạy dỗ, nhồi nhét cho tôi được hiểu biết. Tôi đã biết. Và tất cả dân đô thị đều đã biết, biết rõ ràng những đau đớn, thống khổ, tang tóc do chiến tranh gây ra. Biết vào đúng lúc lòng đang phơi phới mừng Xuân mới, biết vào lúc đang tung tăng trên đường đến Chùa, đến Nhà Thờ, lúc đang điểm trang, đang nhận tiền lì xì và các cô cậu bé biết cả vào lúc đang nhí nhảnh trước gương làm điệu hiệp sĩ….

Họ đã đổi lấy sự hiểu biết này bằng nhà tan cửa nát, bằng sinh mạng, bằng cánh tay, bằng cẳng chân, bằng máu, bằng bơ vơ xó chợ đầu đường ngay giữa ngày Xuân.

mauthanhue19681

Đây chiếc xe lam chở người đàn bà và đàn trẻ mặt mũi nhọ nhem, trong đó có một đứa mặt xanh ngắt, máu đỏ thẫm đã ngả đen bê bết trên chiếc áo sơ mi mới tinh, một cánh tay còn nát bấy lèo nhèo thịt lẫn với vải rách. Bà mẹ mặt mày ngơ ngác kinh hoàng nhìn tai nạn chụp vào đứa con yêu quí, chỉ còn biết giữ chặt lấy cánh tay chết của con như ước mong có phép mầu gắn lại. Kia, một ông mặc complet vừa chạy vừa đẩy chiếc xe Scooter mồm la hét inh ỏi, ông ta quá sợ không dám dừng lại để đạp cho xe nổ máy.

Tất cả đều kinh hoảng tột độ. Họ chết, bị thương vào những giây phút bất ngờ nhất. Họ đã được yên tâm, được ru ngủ bằng lời hứa hẹn “hưu chiến đầu năm”. Họ đã được mời dự một bữa tiệc thịnh soạn, thiệp mời in long trọng trên giấy kim nhũ, yêu cầu thực khách mặc lễ phục, để được thết bằng những món ăn tẩm thuốc độc.

Suốt những ngày khói lửa, tôi vô dụng đối với đồng bào. Tôi không giúp được gì khi được tin chồng chị bạn tôi chết giữa ngày Mồng Hai Tết, sau khi từ biệt chị để vào trại chiến đấu cùng đồng đội. Chị mếu máo:

– Hôm qua tụi em hẹn nhau tối nay đến mừng tuổi anh chị. Thế mà anh ấy bỏ em rồi. Anh ấy mới còn ngáp đây mà đã chết rồi.

Tôi không làm được gì cho chị giúp việc cũ của tôi. Nhà chị bị pháo kích cháy, chị cuống cuồng cắp hai đứa con ba và hai tuổi ra đường, chạy được vào định bế nốt con bé ba tháng thì mái nhà sập xuống. Chị tức tưởi:

– Cháu còn thấy nó dẫy trên võng. Tại đạn bắn rát quá nên mãi lúc cháy to cháu mới liều chạy ra. Cô ơi! Tội nghiệp nó quá, người nó teo lại bằng con gà quay mà bụng còn nguyên máu đỏ.

Tôi không thể làm vơi nỗi đau khổ của họ. Những lời an ủi đều vô nghĩa. Một mớ quần áo cũ, chút tiền cứu trợ có nghĩa gì với nỗi đau đớn tột cùng kia. Tất cả chỉ để cho họ được an tâm phần nào trong khi sự đau khổ đang xé nát trái tim họ.

Nhưng cũng có những hành động đẹp như bát nước mưa mát rượi tưới vào những cõi lòng héo hắt. Đó là những cụ già tóc bạc còn lặn lội đi hiến máu, những giọt máu của người già thật quí đối với họ, nó giữ gìn chút hơi tàn cuối đời mà cũng cố san sẻ để giúp nhân loại. Những cô cậu học sinh mò mẫm đi các trung tâm cứu trợ để giúp đỡ cho đồng bào tị nạn, các anh lái xe taxi, xe lam, xe honda, xe gắn máy ngược xuôi đi chở giúp những người bị nạn dời ra xa chốn bom đạn để tới những trạm tiếp cứu và những anh lính chiến len lỏi mò mẫm tìm đủ mọi cách tới được đơn vị, để chống giữ và đẩy lui những tang tóc đau thương đang tràn vào chụp thêm lên đầu dân chúng.

Trong những ngày dài dặc lo âu và xúc động, tôi thường nhìn những đứa nhỏ trong trại tị nạn đã mất cả cha mẹ một sớm một chiều – những đứa trẻ chẳng hiểu tang tóc đã đến, còn nhe răng cười khi thấy thằng bạn trượt chân – nhìn bà mẹ mất con mà phải dẹp đau đớn trong lòng, chen lấn để giành cho những đứa còn lại một chỗ nằm kín gió, nhìn ông già ngồi cạnh miệng cống đăm chiêu quấn điếu thuốc sâu kèn, để mà tự hỏi:

“Liệu tôi có nghĩ đúng khi cho rằng chỉ cần buông súng xuống là có hòa bình hay không ? Và còn có đời sống tự do hay không? Hay sẽ là những cuộc thanh trừng tàn sát còn đẫm máu hơn nữa”.

Tôi nghĩ…, tôi nghĩ…

***

Tôi không còn muốn nghĩ gì nữa. Từ thuở bé, tôi được ân huệ trời dành một nguồn hạnh phúc vô tận, là hằng đêm thường mơ thấy những giấc mộng đẹp. Tối lại, tôi đi ngủ với hy vọng gặp những giấc mộng. Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng gặp ác mộng. Đại khái là một bà già hình dung cổ quái nhe răng nhìn tôi, rồi cánh tay bà vươn ra muốn chụp lấy tôi. Tôi cố chạy mà không thể được. Những cơn ác mộng của tôi thường được kết liễu bằng sự cố chạy mà không được, tôi sẽ tỉnh lại bằng tiếng la của chính tôi.

Cơn ác mộng đã đến với tất cả các đô thị, đã đến với đồng bào tôi…. đến trong mùa Xuân … trong tiếng pháo nổ tưng bừng…. Không ai có thể la hét lên để mong tỉnh lại. Chỉ còn ao ước ác mộng chóng qua và những ngày thanh bình êm đềm cũ lại trở về.

Đỗ Phương Khanh
Sài Gòn -1968

Nguồn: http://khaiphong.net/showthread.php?18756-Tuy&%237875;n-t&%237853;p-&%23272;&%237895;-Ph&%23432;&%23417;ng-Khanh

 

Quán Thơ Hư Vô 292


EM NHƯ CHÙM HOA SỨ

Em như chùm hoa sứ
Nở giữa vườn không tôi
Đêm thả hương đầy tóc
Giấu riêng cho một người.

Chỗ em nghiêng xuống thấp
Quờ quạng thoáng chiêm bao
Mưa còn chưa ướt áo
Một thời tình qua mau.

Thì dù sao đi nữa
Cũng có lần cho nhau
Nụ hôn đầu bỡ ngỡ
Bên chùm sứ ngọt ngào.

Chân tôi còn lảo đảo
Bước vào cuộc bể dâu
Giữa trần ai huyên náo
Còn chút tình mang theo.

Giữ cho đời thơm ngát
Những dấu tích thăng trầm
Trong nụ hoa nở chậm
Có bóng người trăm năm…

Hư Vô

LÁ VÀNG THU CŨ

sao nhớ quá chiếc lá vàng thu cũ
buổi người đi màu nắng cũng phai dần
trong ký ức một cõi buồn trú ngụ
chợt vỡ òa trong nỗi nhớ bâng khuâng

có phải không từ mùa thu đã chết
đã theo nhau đi suốt cả cuộc đời
để còn tiếc chút hương tình tha thiết
vẫn đậu hoài trong nỗi nhớ chơi vơi

màu lá vẫn còn nằm trong hoài niệm
dẫu úa vàng theo năm tháng xa xôi
em có nhớ chút tình tôi lưu luyến
mãi theo nhau về phía cuối chân trời

tôi giữ lại những mùa vàng xưa cũ
chiếc lá nằm nguyên vẹn giữa tim đau
nghe chợt nhớ mối tình giờ yên ngủ
đã dần phai trong màu nắng thu nhàu…

nguyễn minh phúc

MỘT LẦN ĐI

rồi ta cũng một lần đi, vĩnh viễn
khi khăn tang thầm lặng đội lên đầu
em mới hiểu nghĩa tử là nghĩa tận
và những gì cần tha thứ cho nhau

em sẽ khóc – có khi không khóc được
chút hoàng hôn còn trống trải lòng em
em sẽ tiếc một lần không nói hết
để ta nghe không hết một êm đềm

đến như thế là đời em phải thế
phải đầy hơn những chia biệt trong đời
sông cứ chảy mù xa, và cứ chảy
nên vô tình em chẳng biết sông trôi?

Hoàng Lộc

CUỘC VỀ

Người về một nắng hai sương
Da chia, thịt xẻ, thiên đường vỡ tan
Lưng khom, áo lạnh, tay dàn
Thương em, nhớ mẹ cung đàn vỡ đôi

Người về chân thọt, tình phai
Nương cau, vườn chuối ngọt bùi với ai?
Chiều xuân chống gậy nhìn trời
Lòng nghe mưa bụi hết thời thanh niên

Người về mặt đất nhá nhem
Đồng không mông quạnh sầu điên trong hồn…

Trần Dzạ Lữ

MƯA BÊN NẦY NHỚ NẮNG BÊN KIA.

Người chối từ chia sớt buồn vui
Sương giăng in mép lá ngậm ngùi
Hồn treo đá tảng từ muôn kiếp
Giấu nỗi oan khiên lẫn ngọt bùi.

Gió tẩy trần thơm một ngón tay
Trăng non tiếc nuối dấu lưu đày
Che tôi khôn hết màu mây khói
Cuối một phương trời lạnh phút giây.

Vó đã chồn chân kiếp ngựa người
Em còn son trẻ đỏ bờ môi
Tội mưa và nắng chia hai hướng
Người một mình ngược bóng đêm trôi.

Em như nắng sớm nét tinh khôi
Tôi hóa mưa chiều rơi lẻ loi
Mai kia tóc nhớ thèm xanh lại
Đuổi kịp dòng đời đã mù khơi?

Đón nhau về thắp ngọn nắng khuya
Thèm hôn ánh mắt vội chia lìa
Ừ thôi tình mỏng hơn voan lụa
Mưa bên nầy nhớ nắng bên kia.

Nguyễn An Bình

CÒN PHẢI ĐI QUA NGÀY THÁNG ẤY..

Đi qua ngày tháng vụn
Gom không hết nỗi buồn
Niềm vui như gió thoảng
Thổi qua mùa vô lương..

Đi qua thời khắc cạn
Thuyền đắm dưới bãi bờ
Con còng bươi nỗi nhớ
Lăn giữa chiều ốm o..

Đi qua vùng ngộ nạn
Ta tiển ta về nguồn
Bên kia đời hẹn lại
Vạt cỏ mềm hơi sương..

Đi qua thời thổ tả
Thân nhiễm bùn ô man
Tình trối lời tuẫn tiết
Trên vũng lầy nhân gian..

Đi qua vòng hữu hạn
Soi lại mình sau đêm
Giọt rượu nào đã gội
Một mảnh hồn lấm lem..

Đi qua miền cổ sự
Đất gọi lạ tên mình
Về đâu, dông đã tới
Vây phận đời mong manh…

Trung Chinh Ho

CHIỀU ĐẬM HƠN XƯA

Thân đứng thẳng giữa cõi đời nghiệt ngã
Hồn liêu xiêu theo gió quật trăm chiều
Bàn tay lạnh ngoi lên từ cơn lũ
Vẫy phương nào nghe tiếng vọng mùa yêu

Kìa phương em vạt nắng chiều thoi thóp
Kìa phương người sương khói phủ ngàn lau
Khi gặp gỡ có khi là ly biệt
Dây đàn chùng đọng vũng những niềm đau

Ngày giá rét môi có làm khăn ấm
Mắt có làm tia lửa sáng long lanh
Đời đã phất bao nhiêu tà áo giấy
Áo lụa sầu loang lổ vệt rêu xanh

Ấp giả định nở ra đầy quán tính
Dăm tấm lòng mòn mỏi góp tàn hơi
Đá vô cảm phũ phàng khoe nét tĩnh

Lũ đười ươi lấp liếm những con người
Vẫn lặng lẽ độc hành vào vô ngã
Quay trở về tìm những dấu chân đi
Buồn tù đọng trong tâm hồn vi cảm
Nghiêng bên nào để trút sạch u mê?

Lưu Xông Pha

NẾU CÓ MỘT NGÀY

Nếu tháng giêng khi xuân vừa mở cửa
Tôi quay về… tìm hoa dại đường xưa
Có cánh bướm một thời tôi vương vấn
Biết còn không? sao cứ nhớ bâng khuâng.

Nếu tôi về mùa rộn tiếng ve ngân
Sắc hoa phượng cháy đỏ trời thương tiếc
Vạt áo trắng bay bên đường ngày ấy
Xa lắm rồi… kỷ niệm cũng mù khơi.

Nếu chớm thu tôi về không ai đợi!
Biết tìm đâu một thuở dấu chân người?
Thắp ngọn nến – đón mùa sang lặng lẽ
Tuổi thêm đầy – càng vợi bớt ngày xanh.

Nếu mùa đông tôi về bên giếng lạnh
Khua tiếng gàu tìm kiếm một vầng trăng
Mặt nước kia đã lâu rồi phẳng lặng
Tìm được không dư ảnh của một thời?

Đã bao lần tôi đếm lá vàng rơi
Mới chớp mắt mười năm đi qua cửa
Nếu một mai – tôi không quay về nữa
Mọi ưu phiền gió hãy cuốn dùm tôi…

Phan Mạnh Thu

THƠ TẶNG NGƯỜI BẠN NHỎ

Mùa hạ cũng sắp đi qua rồi đó
Ve thôi ngân khúc ly biệt trên cành
Và thu cũng chở mây về theo gió
Lối quen còn im một khoảng trời xanh

Lòng nôn nao chờ vào năm học mới
Vàng thu chiều nắng nhạt ở trên cao
Sân trường nhớ một mùa vui vẫy gọi
Tuổi hồn nhiên năm tháng vẫn đợi chờ

Bỏ sau lưng những ngày hè qua vội
Những chuyến ngoạn du xuống biển lên rừng
Ngày sẽ lại vui cùng trang vở mới
Với bạn bè và trường lớp đợi mong …

Xin dang tay đón mùa thu trở lại
Hàng phượng già thay lá mới non tơ
Và cứ thế, tuổi thơ qua chầm chậm
Để mai này đôi lúc nhớ ngẩn ngơ!

Sông Trẹm

Quán Thơ Hư Vô 292

Quán Thơ Hư Vô 291


Quán Thơ Hư Vô 291

CÀ PHÊ VỈA HÈ

Tôi chạy tới khúc đường cùng tận
Đuổi giọt mưa bay ướt áo người
Chân dẫm nát lên chồi gai nhọn
Còn nghe thương tích chạm tim tôi!

Ngày đi không một lời hò hẹn
Quán vỉa hè đã vắng bóng em
Giọt cà phê chờ nhau rơi chậm
Trên từng nốt nhạc vẫn còn quen.

Góc phố Nguyễn Du chiều chủ nhật
Muỗng khua đáy tách gọi em về
Dáng ai hiu hắt như giọt lệ
Pha buồn sóng sánh khói cà phê.

Để em quay mặt vào người lạ
Dấu son còn bỏ lại trên môi
Tôi hớp giọt tình chung cùng cạn
Quán không mà thiếu một chỗ ngồi…

Hư Vô

PHỐ VÀ EM

Một hôm
ngồi với mỹ nhơn
Uống bia
uống cả Sài Gòn không say
Chỉ là
cách một gang tay

em
anh
thấy như dài hụt hơi
Chiều nghiêng
nắng ngã lưng trời
Anh nghiêng mặt
hôn môi người trăm năm
Hồ Con Rùa
nước lặng câm
Sững sờ
phố bỗng xanh ngần
Phố ơi!

Linh Phương

CHỚM THU

Nàng thu vừa gõ cửa
Chân rón rén qua thềm
Đêm qua hồn hoa cúc
Cựa mình tạ từ sen.

Trăng non nhô tóc mây
Vườn khuya thoảng hơi may
Mùa rưng rưng cảm giác
Thu vừa đến nơi nầy…

Khuôn mặt buồn tinh khôi
Nàng chớm thu lên ngôi
Đất trời im không nói
Em choáng ngợp hồn tôi!

Sáng ra bờ giậu biếc
Cánh bướm non thẩn thơ
Ồ nàng thu trong lá
Máu buồn rười rượi thu!

Trần Thoại Nguyên

MÂY MÙ TỎA

Ta sẽ đi và người sẽ xa
Sẽ buồn sẽ nhớ cơn mưa hạ
Sẽ thương vó ngựa đời thiên mã
Thép đã xanh lên mộng hải hà.

Phiêu linh, phiêu linh đường lên dốc
Nhớ Mẹ chiều hôm lệ bỗng sa
Biên cương, biên cương hề! cô độc
Ta nhớ mùa thu nhớ chiến trường.

Đường xa mây cuốn mây mù tỏa
Ai nấu trà thơm ở cuối sông
Bao nhiêu cánh hạc còn phiêu bạt
Ta ở ven trời mơ nước lên.

Gió bụi vẫy tay cùng mưa nắng
Lãng tử hề! con mắt đẫm mù sương
Kề môi khẻ chạm vào thinh lặng
Lần sau cùng từ biệt cả thân tâm.

Lý Thừa Nghiệp

GIẬN ĐÃ NƯ CHƯA?

O giận đã nư chưa?
Lần ni tui khôn dỗ…
Đi mút mùa luôn đó
Thói ương ương cho chừa!

Biết Huế trời hay mưa
O qua cầu lạnh lẽo…
Vôi chưa têm trầu héo
Tình nớ không ai đưa…

O giận đã nư chưa?
Chiều căm về lối cũ
Tui sẽ ngưng làm thơ
Cho tim ai thúc thủ!

Nhặt nỗi buồn đã cũ
Đưa lên môi hôn bừa
Ghét rồi O Tôn Nữ
Trong cấm thành khi xưa…

Trần Dzạ Lữ

LỤC BÁT TUỔI HAI MƯƠI

Thu về gợi nhớ thu xưa
Ngày rời cố xứ trời thưa nắng vàng
Ra đi khuất mấy dặm ngàn
Thềm xưa đành để trăng vàng lạnh rơi.

Sớm nay thu nhạt sắc trời
Ngoài hiên chiếc lá buồn phơi ngậm ngùi
Ta vừa sang tuổi hai mươi
Đêm mơ cố xứ tàu xuôi quê nhà.

Mơ thời áo trắng đã xa
Chút hương mùa cũ hẳn đà nhạt phai
Tóc dài đã cắt ngang vai
Lấy gì để hẹn một mai quay về.

Quê người mờ mấy sơn khê
Sắc hương giữ đến ngày về được không
Sợ mai nhạt mất má hồng
Tìm trong cổ kính chẳng còn bóng xưa!

Nến tàn bỏng lệ – buồn chưa!
Vừa hai mươi tuổi đã thưa tiếng cười.
Lược gương cũng vắng tay người
Cung đàn rơi lạnh ngậm ngùi vì đâu!?
……
Ngoài sân ướt đẫm hạt ngâu
Mưa chi mưa mãi… để sầu riêng ai.

Phan Mạnh Thu

RÓT RƯỢU TRẦN GIAN

“Mưa từ cõi cũ mênh mang
Rượu trần gian lạnh nên lòng hoang vu”
Thơ Hạ Quốc Huy
1*
Thiền sư ôm rượu xuống đời
Hồ trường lệ tửu hâm mời giai nhân
Say đi để nhớ một lần
Sá gì thiên hạ, đâu cần nhân gian
2*
Rượu ta pha với bạt ngàn
Có ngâm sim tím, tẩm hàng lệ đau
Có cung kiếm lạnh trăng sầu
Có đời bảo táp dãi dầu quan san

Rượu ta nấu bởi ngang tàng
Rót ra, gió hú, thơm ngàn gian nan
3*
Rượu xưa, ủ đá cơ hàn
Nhạt môi trinh nữ. Lỡ làng thương đau
Ta từ cỏ úa sông sầu
Kêu con nước cạn biển dâu gọi nàng

Mưa từ cõi cũ mênh mang
Rượu trần gian lạnh nên lòng hoang vu
4*
Hồ trường rót hận thiên thu
Một trời hảo hán bụi mù chưa qua
Máu tươi đẫm nửa sơn hà
Thấm vào mạch đất, phù sa tài bồi
5*
Chung nầy tặng cuộc đổi dời
Mai đi, hồn núi vẽ đời ngàn sau
Em về, hát khúc tình sâu
Đợi lòng phai nhạt qua cầu nước trôi
6*
Rượu chừ ướt ngực áo lơi
Thoảng hương thiếu phụ thơm trời nổi trôi
Rượu say anh nhớ em cười
Em say. Cứ ngủ. Ta ngồi quạt cho

Hạ Quốc Huy
Wildomar, Riverside, California, USA

LỜI NGUYỆN CẦU TRONG MƯA.

Xin mưa cho qua những lời nguyện cầu
Xin tay cho ôm những nụ hôn đầu.
Đời người hôm nay gặp nhau bao lâu
Để rồi mai thôi giận dỗi u sầu.

Xin mưa trôi đi những hòn sỏi nhỏ
Những lá rụng buồn xoay tít mương sâu
Cơn gió vô tâm xô ngày rúm lại
Người cầm nụ cười nhân gian về đâu.

Mưa cuốn trôi đi linh hồn đá sỏi
Đồng ruộng sặc cười cỏ rác u ơ
Tôi muốn nghe chim kinh cầu nhật tụng
Trong hốc u buồn sâu mọt tìm nhau.

Người trên ngôi sang ngai vàng chói lọi
Có biết tận cùng giun dế kêu than
Có biết cao xa chúa thần vẫy gọi
Có biết nhân gian xói lấp non ngàn.

Lòng người mưa trôi mưa trôi triền miên
Đồng hoang nhớ ánh mặt trời cuồng điên
Em ở trong ta vô cùng tuyệt vọng
Nước mắt em tràn sông suối vô biên.

Ngày em về mưa xin mưa ngừng lại
Cho tóc em gầy xanh nốt ngày xanh
Đồng hoang ta đi chưa cày cấy lại
Hạt giống chung tình khô dại mong manh…

Lê Bảo

Quán Thơ Hư Vô 291..

Em Như Chùm Hoa Sứ. Thơ Hư Vô


Em như chùm hoa sứ
Nở giữa vườn không tôi
Đêm thả hương đầy tóc
Giấu riêng cho một người.

Chỗ em nghiêng xuống thấp
Quờ quạng thoáng chiêm bao
Mưa còn chưa ướt áo
Một thời tình qua mau.

Thì dù sao đi nữa
Cũng có lần cho nhau
Nụ hôn đầu bỡ ngỡ
Bên chùm sứ ngọt ngào.

Chân tôi còn lảo đảo
Bước vào cuộc bể dâu
Giữa trần ai huyên náo
Còn chút tình mang theo.

Giữ cho đời thơm ngát
Những dấu tích thăng trầm
Trong nụ hoa nở chậm
Có bóng người trăm năm…

Hư Vô

0624A256-C156-4D61-86A7-0D6C5999F7C5

Thi Sĩ Hư Vô – Như Loài Chim Thorn Birds. Tùy bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Như Loài Chim Thorn Birds

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…

Hư Vô

Như Loài Chim Thorn Birds

Hình ảnh chim, cánh chim không lạ trong văn chương Việt Nam xưa cũng như nay. Ta có thể bắt gặp trong văn chương trung đại cánh chim mang cả buổi chiều trong đôi cánh nhỏ, chao nghiêng; cánh chim bơ vơ, lạc loài cuối chân trời tìm về chốn bình yên; cánh chim với giọng hót nức nở của nỗi thương nhà, nhớ nước… Nối tiếp dòng văn thơ cổ, nhiều thi phẩm hiện đại vẫn thấp thoáng những cánh chim bay:

“Chim trời thả bóng vào mây
Ngẩn ngơ thả nhớ vào ngày xa em”
(Hoàng Đình Quang –Chiêm Bao)

Ngày mai nhạn sẽ hợp đôi
Ngày mai tôi sẽ ngỏ lời yêu em (Ngày mai)

Nhưng tội nghiệp, trên trời đôi nhạn lạc,
Cứ yêu nhau đừng tưởng đến ngày mai..
(Lòng anh – Hàn Mặc Tử)

Những cánh chim trong thi đàn hiện đại Việt Nam thường là cánh chim chuyển tải những cảm xúc của con người trong tình yêu với khúc hoan ca lẫn bi ca về tình yêu. Hư Vô cũng hòa vào chương khúc tình yêu của Việt Nam, của nhân loại lời hát tình yêu “Như Loài Chim Thorn Birds”.

Trong truyền thuyết có một loài chim là Thorn Birds. “Loài chim ấy chỉ hót một lần trong đời nhưng là tiếng hót hay nhất thế gian. Có một lần nó rời tổ bay đi tìm cho bằng được một bụi mận gai. Giữa đám cành gai gốc, nó cất tiếng và hát bài ca của mình rồi lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Nó không biết sức mạnh nào đã buộc nó lao vào mũi nhọn đến chết mà vẫn hót. Lúc mũi gai xuyên qua tim, nó không nghĩ rằng mình sắp chết, nó chỉ hót cho đến lúc mất tiếng đứt hơi”…và thi sĩ Hư Vô đã mượn loài chim Thorn Birds để gửi vào đó khúc tình buồn của mình.

Khúc tình buồn ấy bắt đầu bằng câu chuyện thuở mới quen nhau:

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.
(Hư Vô)

Hai câu thơ đầu tôi cảm nhận lạnh, lạnh tanh. Trần gian lạc lõng, chơi vơi. Trần gian đơn điệu chỉ có tiếng khóc, tiếng cười. Trần gian không có gì để gắn bó nên chẳng thiết tha. Lạnh, nhạt, câu chữ hằn một nỗi chán chường đến mệt mỏi. Nhưng chàng thi sĩ không đi một mình, vô tình nhận ra “em” cũng bước vào cõi tạm với sự “lân la, chen chúc” hai từ này trong văn nói thường mang nghĩa “chê” (nghĩa âm tính), nhưng khi ngôn ngữ đã thành thơ sẽ trở nên sống động, tượng hình lạ lùng. Còn từ “hóa thân” lại là một từ đẹp. Tôi cho rằng “em” ở đây có một cái gì không như trước, không giống như xưa và khi hai người yêu thương nhau không cảm nhận sự gần gũi thì sao có thể gắn bó. “em hoá thân thành người lạ” dường như là lời báo trước của thi sĩ về cuộc tình tan. Kiếp trước hẹn hò gặp nhau kiếp sau. Nhưng kiếp sau lại có một cái gì chênh giữa hai con người ấy. Tôi cảm nhận hình như giữa hai con người ấy “lạc” mất nhau rồi. Nhớ lời thề nguyền, tìm dấu tình yêu, tìm chốn ước hẹn chờ người:

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
(Hư Vô)

Lãng tử tìm thấy dấu chân thuở trước như một di tích luân hồi. Nhẽ ra dấu vết ấy nên dùng chứng tích hay dấu tích nhưng nhà thơ lại chọn di tích luân hồi. Một nghệ thuật cường điệu để dấu tích trần ai bình thường thành di tích luân hồi đặc biệt. Đặc biệt vì khối tình ấy như khối ngọc lưu ly không tan, luân hồi theo kiếp người. Tình đẹp, thi sĩ nặng tình. Câu thơ ấm áp, tỏa rạng, cảm xúc thăng hoa. Nhưng cái gì đẹp lại không ở với ta lâu, tình như chiếc bóng vừa thấy đã tan biến. Sự chóng vánh tạo giọng điệu xót xa:

Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!
(Hư Vô)

“Cựa mình” câu chữ chạm đến sự mong manh. Tình sao mong manh thoáng qua trong tia nhìn rồi hun hút trôi đi. Hụt hẫng, bàng hoàng, tiếc nuối. Trái tim nặng tình đau xót không nguôi. Ý thơ làm tôi nhớ đến một câu ca dao:

“Xốn xang như muối xát gừng,
Phải chi hồi trước ai đừng biết ai!” (Ca dao)

Người tình trong ca dao hối tiếc vì biết duyên không thành thì thà đừng quen nhau. Lãng tử không hối tiếc mà đau xót vì không giữ được tình đã đợi chờ nhau bao kiếp.

Tình yêu đã hết thì không thể quay lại được nữa, cho dù tâm còn động, cho dù không thể quên. Điều này đến bây giờ tôi mới cảm nhận được: Người ta rời bỏ nhau không phải vì hết yêu nhau mà vì không còn có thể ở cùng nhau được nữa. Có lẽ vì vậy mà câu thơ “Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!” đã trở thành nỗi ngậm ngùi dài.

Vì sao mà chia tay có lẽ chỉ mình lãng tử hiểu và đã là niềm riêng thì sao có thể sẻ chia chính vì cứ mang nên nỗi sầu cứ nhân lên nhiều dần cho đến một lúc phải vỡ tung, phải kết thúc, phải dừng lại. Khổ thơ tiếp tôi cho rằng nó là khổ thơ nặng chất kịch tính đẩy cảm xúc của thi sĩ lên cao trào:

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.
(Hư Vô)

“Tôi” xốn xang, lảo đảo, thất thanh, thảng thốt… một loạt từ láy diễn tả nhiều cung bậc của tâm trạng tràn ngập những âu lo, thảng thốt, hãi hùng. Âm thanh, cảm xúc, hành động được khuấy động lên như một cơn giông bão mịt mù. Động lực cuối cùng để tồn tại cũng không còn. Tình bao kiếp cũng tan vỡ, sức chịu đựng hoàn toàn sụp đổ thương quá hình hài của chàng trai “phiêu lãng mang hồn đi ở trọ” âm thanh thảng thốt cuối cùng cất lên là khúc hát về tình yêu bất tử trỗi dậy trước khi nhận chùm gai nhọn xuyên thấu qua trái tim mình. Dòng máu chim Thorn Birds đang tuôn chảy, dòng máu của chàng trai đang tuôn chảy cuốn theo dòng nước mắt của tôi – người đã chứng kiến mối tình giẫy chết. Hóa thân của tình yêu sao quá đắt, gục xuống trên chùm gai nhọn vẫn là kiếp cô đơn và trong tận cùng sâu thẳm của linh hồn yêu vẫn khắc khoải một điều da diết: mong giọt nước mắt em rơi trước chân tình của tôi. “Đâu chắc gì” vẫn là giọng buồn thương da diết ẩn chứa một nỗi niềm một hoài vọng, mong ngóng. Không có dịp để làm người tình chung nhưng không thể thì mong được một lần “khóc chung”. Ước muốn đơn giản nhưng vẫn không thành hiện thực. Lời thơ chất chứa những đắng cay.

Sự ruồng bỏ đã thành hình nhưng trái tim tình yêu vẫn không ngừng khắc khoải một ước mơ: chàng trai phiêu lãng gửi lại cho đời khúc tình yêu bất tử, một tặng vật tình yêu quý giá cho những tình nhân đang tha thiết yêu nhau:

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…
(Hư Vô)

Một hồi ức về tình yêu đã qua. Vẫn là cái nhìn bao dung, nhân hậu của thứ tha. Em cũng đã từng yêu tôi, từng hy sinh cho một tình yêu vĩnh cửu cũng từng bị gai cào nát thịt da. Dấu tích tình yêu, sự tận hiến của em cho tình vẫn còn ghi dấu, cho dù hôm nay em đã quên, đã không còn yêu thương tôi vẫn không trách hờn, tôi vẫn muốn để lại cho em một khúc hát của tình yêu bất tử, món quà tôi tặng ghi dấu những hoan lạc của tình yêu cùng những ngọt ngào, cay đắng. Đó là “dấu tích trần ai” Nếu chỉ là dấu chân hoang qua cõi tình nhiều kiếp chỉ là một “di tích luân hồi” nhưng đã là sự hiến dâng thì lại là một kết thúc luân hồi để tình yêu chuyển sang một cung bậc mới “dấu tích trần ai”. Tình yêu định hình trở thành những vết cắt đớn đau “Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn” nhưng rồi nó “ghim” thành một một dấu tích ngọt ngào. Điều rất sâu trong cảm nhận của thi sĩ là nỗi đau đớn của kiếp tình sẽ thăng hoa trở thành một bông hoa, bài nhạc khi nó được trui rèn trong sóng gió, trong sự tha thứ, bao dung, trong sự tận hiến của con người như Meggie Cleary – người phụ nữ trong tiểu thuyết “Tiếng Chim Hót Trong  Bụi Mận Gai” được Colleen Mc Culough xây dựng lên chính là hiện thân của loài chim Thorn Birds. Meggie biết tình yêu không phải chỉ là vị ngọt, nó có cả vị mặn chát, chua, cay của nước mắt, của ghen tuông, của hiểu lầm, của chia ly… mà nhiều khi, cái vị ngọt ngào của hạnh phúc, trong cả cuộc yêu mình chỉ nếm được một lần. Nhưng cái gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi người ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại. Bởi vậy nên cô cứ lao ngực vào bụi mận gai, vắt kiệt sức mình vì tình yêu, dù biết nó có thể vô cùng đau đớn.

Bụi mận gai không lạ với những tình yêu mãnh liệt. Ở đó, những tình nhân đã từng nếm nhiều hương vị của tình yêu ngọt ngào, chua cay lẫn đớn đau. Mỗi lần đớn đau là thương tích toàn thân, nỗi đau như máu tim chảy tràn. Lời thơ làm tôi nhớ đến lời của một bài nhạc “Speak Softly Love” của Nino Rota do Larry Kusik viết ca từ và Trường Kỳ dịch lời Việt: “Có biết đau thương mới như là tình / Say đắm trong đời thì mới là yêu. / Tình như đớn đau tình xé lòng nhau / Muôn đời không lành.” (Thú Yêu Thương)

Chết cho tình yêu, cái chết ngọt ngào tuy đớn đau nhưng khẳng định cái quý giá của tình yêu. Nếu cuộc sống trần gian không còn chỗ cho tình yêu tồn tại thì nơi ấy đã tận thế.

Đọc bài thơ tôi tự hỏi: Tình yêu không phải lúc nào cũng là khúc ca hoan lạc mà có khi còn là khúc bi ai. Phạm Thái vì tình mà vỡ tan giấc mộng anh hùng, Honoré de Balzac chờ đợi hơn hai mươi năm để đến với tình yêu muộn của mình và còn bao nhiêu cặp tình nhân đã như loài chim Thorn Birds kia chấp nhận cái chết để dâng tặng cuộc đời một khúc ca tuyệt vời, như Meggie Cleary hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho “người tình trăm năm” mà không hề hối tiếc. Vị đắng của tình yêu càng nhiều thì vị ngọt ngào càng có ý nghĩa hay nói một cách khác tình chỉ đẹp, mãi mãi tồn tại nếu ta biết dâng hiến, chấp nhận mọi nỗi đau chỉ cho riêng mình.

Trần Sương Lam

Tài liệu tham khảo:

Trang Tho Hư Vô

https://evan.vn- : Hạ Miên

Quán Thơ Hư Vô 290


Người Tinh Hư Vô...

NGƯỜI TÌNH HƯ VÔ

Tại em bước vội qua cầu
Đâu hay ngọn tóc vướng vào vai anh
Giật mình chiếc lá rơi nhanh
Heo may gãy đọt trên cành nguyên trinh.

Ghềnh khơi con nước động tình
Mùa thu cởi áo phơi hình hài em
Tơ vàng trải lối chưa quen
Ngại em dốc lạ đường trơn khó vào.

Anh về bước chậm, cầu cao
Gai ngang vết cắt nát nhầu dấu chân
Có qua hết đoạn đường trần
Xin em chăn giữ mộ phần, riêng anh.

Nhỏ xuống giọt lệ tàn canh
Thao thức cùng ngọn cỏ xanh trở mình
Mà nghe hồn vía phiêu linh
Từ em cát bụi tượng hình hư vô…

Hư Vô

TRỞ LẠI

Tôi trở lại Duy Xuyên rồi đó bạn!
Bến sông xưa bông hoa gạo không còn
Trời Mỹ Sơn nắng ngả vàng hiu hắt
Dọc đường về hoa tím trải mênh mông.

Xóm nhà nhỏ – một thời tôi đã sống
Cỏ lên xanh khuất lấp dấu xưa rồi
Kể từ độ lửa binh mờ Xuyên Phú
Nước mắt mình rơi ướt buổi chia phôi.

Bạn bây giờ phương trời xa vời vợi
Có khi nao chạnh nhớ tuổi ấu thời
Nhớ ngôi trường ta học hồi bé dại
Cây phượng già kết trái mỗi mùa thu?

Bốn mươi năm, tôi quay về chốn cũ
Đứng bên sông thèm nghe tiếng gọi đò
Ôi tuổi thơ – đồi mơ – thung lũng nhỏ
Quay quắt lòng, nhớ quá những ngày xưa.

Phan Mạnh Thu

XIN GIỮ LẠI CÂU THƠ

trời sinh chi nhiều hồng nhan cho mệt
chỉ em đây đủ giết một đời người
ta bị giết (và ta từng chịu chết)
trên ngọn tình còn đắm đuối, trăng soi

cầm câu thơ ta, em đi bát phố
uy nghi buổi chiều môi mắt thanh tân
có khi câu thơ động lòng thiên hạ
nghe ra lồng lộng tiếng thơ buồn?

em thiếu phụ bỗng hóa thành thiếu nữ
chồng con – (một lần vắng mặt chồng con)
em cất câu thơ ngập ngừng e sợ
để cứ đi về một phía tình nhân

phía tình nhân – ta đã từng chết ngọt
trái tim năm xưa chưa hết dại khờ
ta quên mất ta có lần bị giết
đưa tay gầy xin giữ lại câu thơ…

Hoàng Lộc

ĐÊM CUỐI, CÙNG THẾ KỶ

Ta về qua ngõ vắng
đêm tối lửa tắt đèn
ví xưa đừng hẹn ước
đâu bận lòng nhớ mong.

Ngõ quen giờ bỗng lạ
người gần giờ bỗng xa
rót tràn chung tiễn biệt
uống tràn nỗi can qua.

Mai rồi ta mạt kiếp
hồn còn vương vấn sầu
đêm cuối, cùng thế kỷ
lệ biết chảy về đâu?

Thắp đầu môi ngọn thuốc
đốt mãi tình không già
sao nghe hồn giá buốt
thương trái tim không nhà.

Đêm nay trọ quán vắng
men buồn thấm ướt mi
cố nuốt cơn mộng đắng
ôi còn đâu! Xuân thì?

Ta về qua ngõ hẹp
hồn miên man buồn
đêm cuối, cùng thế kỷ
bỗng dưng thèm: Cố nhân!

Đức Phổ

ĐỨNG BÊN ĐỜI, ĐỢI GIÓ

Cánh cửa nào em mở ra hong tóc
gió sẽ lọt vào từng sơị chi li
tóc bồng bềnh em, ngàn sợi nhỏ
phả giữa đời anh một thuở tình si

gió sẽ về bên em, biển lộng
như giấc mơ ngoan tha thiết gọi mời
em sẽ đếm trăm ngàn lời gió thổi
bay qua tình anh mắt liếc, môi cười

gió sẽ tung áo em bay ngược
cho anh được nhìn tơ nỏn lông măng
thân thể em hiện nguyên hình, áo mỏng
bờ ngực vun cao như cát, hằng hằng

cũng có thể biển làm em ngây ngất
biển vờn quanh phủ dụ tình em
em sẽ thấm những mệt nhoài cát lấp
phù sinh là một cõi mê man

anh sẽ đứng ở bên đời, hú gọi
gió hãy về quấn chặt lấy thân em
lời ước hẹn sẽ vơ cùng dịu ngọt
tình trăm năm trong một phút ngọt mềm.

Trần Yên Thảo

TRĂNG XƯA VỪA RỤNG

Thơ ngây mắt rực ánh cười
bạc đầu gặm lấy cõi đời buồn tênh
ngủ vùi tìm ngõ lãng quên
mới hay nỗi nhớ kê trên đầu nằm

Dang tay ôm ánh trăng rằm
trăng xưa vừa rụng xuống gầm tóc em
nhặt rừng núi cũ lên xem
nụ cười ngày ấy trời đêm nuốt rồi

Biết ai đâu để mà đòi
võng giăng hai chiếc tôi ngồi mình ên

Trần Minh Tạo

NƠI ĐẤT LÀNG

Những mùa thu đã bay đi
Nước sông, nước giếng phân bì trời cao…
Nắng thôi soi biếc dây trầu
Từ em quá vội tô màu son môi!

Đất làng còn lại mình tôi
Nghe lời ru mẹ bồi hồi thương quê
Vắng con chim nhạn bay về
Chiều rưng rưng rét lời thề hẹn xưa!

Nỗi niềm cũng chợt ngu ngơ
Đêm soi trăng lẻ, phụng thờ chiêm bao…
Đèn mờ bởi dĩa dầu hao
Trái tim mối mọt bởi mau dại khờ!

Bây giờ? Rồi đến bao giờ?
Chạm câu chung thủy thành thơ hở người?

Trần Dzạ Lữ

KHI QUA ĐỒI CHARLIE

Tôi nghe lá trên rừng đang chuyển cơn mưa
Khi xe qua đồi Charlie Đắc Tô Tân Cảnh
Màu xanh ngút không giấu đi niềm cô quạnh
Vẫn rợn người hồn tử sĩ lạnh quanh đây.

Súng bên trời có tiếng hát tiễn đưa ai
Người ở lại Charlie trong cơn bão lửa
Pháo tầm nhiệt chớp lòe qua từng khe cửa
Cày xới tung từng thớ đất đỏ máu người.

Quá khứ đi qua niềm đau mãi không rời
Tiếng pháo rền vẫn nổ vang trên đồi máu
Dưới giao thông hào chắc anh thèm phút giây tỉnh táo
Ngước nhìn trời mơ một khoảng trời xanh.

Chẳng ai ngờ thoáng chốc mấy mươi năm
Màu nương rẩy cao su bạt ngàn trong gió
Tôi vẫn nghe tiếng anh cười vang rất rõ
Trước khi hồn hóa thành làn mây trắng bay.

Chim lìa đàn mù mịt một màu nắng phai
Dòng Pô Kô vẫn uốn mình tưới xanh cây trái
Đất ba dan muôn đời đỏ tươi mãi mãi
Xin hãy giữ gìn từng tất đất dau thương.

Nhắc ta một thời chiến sử đẩm máu xương
Tiếng gà gáy trên đồi Charlie buốn đến thế
Người lính già hai bên tìm về nghe gió kể
Có nhìn nhau bằng đuôi mắt của tình thâm?

Nguyễn An Bình

NẦY EM TÔI NỢ

yêu em tôi nợ bờ vai
chông chênh nỗi nhớ bàn tay ngại ngần
tôi còn nợ mắt lá răm
trăng chao bóng khuyết đợi rằm tương tư

hay là nợ gió mùa thu
đậu trăm thương nhớ ngày ru em buồn
và còn nợ cánh tay thuôn
hơi em đằm thắm đượm nguồn ái ân

mắt môi buổi ấy ân cần
tôi còn nợ lại một lần hôn em
nầy em tôi nợ gì thêm
nghìn câu say đắm ngọt mềm yêu nhau

hay tôi nợ nét thu ngài
yêu em một thưở thương hoài nghìn sau
trần gian đổi sắc thay màu
tôi còn nợ lại cõi ngày rong chơi

yêu em tôi nợ cả đời
làm sao trả hết một thời yêu nhau…

nguyễn minh phúc

Quán Thơ Hư Vô

 

Cà Phê Vỉa Hè. Thơ Hư Vô


Nhà Thơ Hư Vô

(Chân dung Hư Vô)

Tôi chạy tới khúc đường cùng tận
Đuổi giọt mưa bay ướt áo người
Chân dẫm nát lên chồi gai nhọn
Còn nghe thương tích chạm tim tôi!

Ngày đi không một lời hò hẹn
Quán vỉa hè đã vắng bóng em
Giọt cà phê chờ nhau rơi chậm
Trên từng nốt nhạc vẫn còn quen.

Góc phố Nguyễn Du chiều chủ nhật
Muỗng khua đáy tách gọi em về
Dáng ai hiu hắt như giọt lệ
Pha buồn sóng sánh khói cà phê.

Để em quay mặt vào người lạ
Dấu son còn bỏ lại trên môi
Tôi hớp giọt tình chung cùng cạn
Quán không mà thiếu một chỗ ngồi…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 289


THÊM MỘT LẦN THÁNG BẢY

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…

Hư Vô

LỜI XIN LỖI GỞI HẬU DUỆ V.N.C.H

Mặc chiến y ta buồn vời vợi
Bốn mươi hai năm biệt sa trường
Bốn mươi hai năm đau đáu nhớ
Quê nhà xa khuất bóng núi sông

Ta cười – ta cười chảy nước mắt
Sớm mai nào rời bỏ kinh thành
Sớm mai nào khăn tang trắng cột
Trên đầu ta tóc hãy còn xanh

Trên đầu ta tóc giờ điểm bạc
Bốn mươi hai năm già lắm rồi
Xưa thủ đô lọt vào tay giặc
Lỗi cha ông không giữ được cơ đồ

Nhắn nhủ cháu con mai ta chết
Trăn trối sau cùng phút lâm chung
Những hậu duệ kiên cường bất khuất
Những chàng trai – cô gái Việt Nam

Tha thứ cho cha ông ngày trước
Mười tám – hai mươi cầm súng lên đường
Mười tám – hai mươi vốn dòng hào kiệt
Thì tiếc gì xương máu với máu xương

Vậy mà. Trời ơi! Đành bất lực
Sớm mai nào tạ tội đồng bào
Quỳ dưới lá quốc kỳ bật khóc
Cả đoàn quân chẳng biết về đâu?

Về đâu – về đâu Sài Gòn thất thủ
Kẻ chốn lao tù – kẻ lưu vong
Bốn mươi hai năm chưa yên giấc ngủ
Gởi cháu con lời xin lỗi muộn màng

Linh Phương
2017

CÓ TUỔI NÀO KHÔNG CẦN?

Có tuổi nào không cần bầu bạn
Để sẻ chia ấm lạnh đời mình?
Con chim lẻ…bầu trời tắt nắng
Là mưa mù, kỷ niệm buồn tênh…

Gió thông thốc vào hồn của em
Đừng nói là hóa đá trái tim
Gã lang bạt chùng lòng, chẳng lạ
Giấu sao đành nỗi nhớ vô biên?

Có tuổi nào không cần gõ cửa
Cuối đêm sâu đợi bóng thương hình?
Sống đất Trích cũng chờ cạn kiếp
Con mắt tình biết nói…thưa em!

Tuổi nào rồi cũng sẽ rất điên
Khi trắng tay canh bạc đời mình?
Khôn ngoan ư? Chỉ lần sơ sẩy
Là chính ta thành kẻ đốt đền…

Trần Dzạ Lữ

YÊU NGƯỜI NGÓNG NÚI

Ngồi bên nhau em nhé
Cùng ngắm ngọn thông già
Lắng nghe lời gió kể
Tuổi trẻ mình đã xa.

Nhớ mùi hoa thạch thảo
Theo gió xưa bay về
Sao lòng đầy dông bão
Em có còn lắng nghe.

Ta yêu người ngóng núi
Yêu mây xám lưng đồi
Thương cánh chim lầm lũi
Trong bóng chiều vừa rơi.

Trong bàn tay định mệnh
Buồn vui một kiếp người
Biết bao làn chỉ rối
Lạc mất cuộc tình trôi.

Dòng sông nhiều sương trắng
Ai chia cắt đôi bờ
Nghe mênh mông tiếng sóng
Chia tay hoài ngẩn ngơ.

Ta yêu người ngóng núi
Yêu sương tím ven hồ
Con sông buồn tiếc nuối
Một cuộc tình vừa xa.

Nguyễn An Bình

THƠ NỬA ĐÊM

từ bữa về lòng cứ mùa đông
rượu say, thê thiết chuyện hoang đường
ta mấy lần qua cầu đứt ruột
hỏi em rồi có dám qua không?

ngọn nến tình đâu cháy tới khuya
mà đêm trăn trở gió ngoài kia
ta đây đâu phải là Kim Trọng
bút rứt phòng văn cái nỗi chi?

em giữ hoài thôi chút bụng gần
rằng ta thất lạc hết tình nhân
kể như ở cuối đời – du tử
đau đớn nằm nghe những bước chân

trăm sự rồi – thương nhớ cũng rồi
lòng ta, hơn nữa, có trăng soi
ơi em rất mực là khuê các
trở giấc – làm ơn nghĩ lại coi!

Hoàng Lộc

HẠ XƯA

Về trường xưa, nhớ bóng ai…
Rưng rưng phượng đỏ rơi đầy tuổi thơ.
Tiếng ve lừng sáng giấc mơ
Tóc xanh vuốt cái: Trắng phơ mái đầu!

Quỳ hôn thoảng gió hương màu
Bỗng nghe vọng tiếng chuông sầu thời gian!
Bao nhiêu mộng ước phai tàn
Tình hoa mộng chết cho vàng đá đau.

Thầy xưa bạn cũ giờ đâu
Tường loan sử lịch rách nhàu quê hương
Chiến tranh qua, lệ phai hồng
Hoa xưa nở giữa bão giông thêm sầu!

Hàng cây long não cúi đầu
Trường xưa bạn cũ mấy màu khói sương
Về đây vỗ khúc vô thường
Mình tôi với nắng phượng buồn hạ xưa!

Trần Thoại Nguyên

KHUNG CỬA

Tôi vẫn đến mặc nhà em kín cửa
Khẽ nghiêng lòng hái trộm mấy câu thơ
Đâu dám trách người hững hờ đóng mở
Một niềm vui như sóng vỗ xa bờ

Bâng khuâng thả tiếng tim vào trong gió
Lời trên mây đâu dễ cột chân tình
Đường hun hút bước chân mòn nhịp lẻ
Nhún vai chiều so bóng lệch xa xăm

Khi cánh cửa im lìm quên năm tháng
Khi lòng người thăm thẳm vịn chân mây
Ai đó vẫn ôm đời ru giấy trắng
Ngày lật qua đêm xóa mất dấu giày

Cửa khép lại mơ màng chờ tiếng gõ
Sao câu thơ gõ mãi vẫn im lìm
Khói vô tình quện cùng sương hư ảo
Từng năm dài tuổi dại rót vào tên

Nỗi nhớ về gọi hoàng hôn điểm mặt
Từng ngày qua ai gõ cửa chân trời
Người xa lạ từ khi môi khép chặt
Thơ ngậm sầu hiu hắt gõ chơi vơi!

Lưu Xông Pha

RƯỢU ĐỜI

Còn chút yêu thương mùa rụng hết dại khờ
tơ giăng ngập mắt buồn lên tóc xõa
vòng tay ấm len nắng chiều qua ngõ
lặng chết thơ ngây mi khép ngửa môi mềm

Ngà ngọc căng tròn thăm thẳm nở tràn đêm
sông thẳng tắp đôi bờ phơi bãi đợi
sương phủ lạnh càng đi càng không tới
cùng bước đời ta lại gặp ta thôi

Bên nhau nằm cứ sợ phút chia phôi
mai ly biệt không còn tìm thấy nữa
chợ sắp vãn đất trời thôi khép cửa
lá biếc trĩu cành hoa trái ngọt dâng nhau

Gối nệm nhăn nhàu môi ngước mắt chìm trao
lòng quấn quýt tan thành muôn tiếng gấp
nào biết chắc kiếp sau còn lại gặp
tóc rối chân dài dốc cạn một đêm say

Chăn chiếu bạc đầu môi mắt ngã màu phai
nghe giá buốt hư không chờ chực gọi
hình như sắp rã hồn vào sương khói
rượu đã cạn rồi bình vại vẫn chưa vơi…

Trần Minh Tạo

90A6E2B9-3C9D-413B-8B5C-1D6AEFB7AE6B

Thêm Một Lần Tháng Bảy. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

613B8335-7106-47E7-B368-9124C26CDF62

K niệm đối với tôi đó là những gì thật sự trân quý. Có thể đó là một k niệm vui cũng có khi là k niệm buồn. Nhưng cho dù vui hay buồn nó vẫn luôn hiện diện trong tâm hồn tôi, ru ngủ tôi trong những tất bật của cuộc sống. Tôi thường gọi đó là những hoài niệm khó quên. Nhất là những hoài niệm về những mối tình đã đi qua trong lứa tuổi học trò đẹp như những bông hoa phượng vĩ trên cành chỉ rực rỡ mỗi độ hè về. 

Nhà thơ Hư Vô cũng đi qua tuổi học trò với những mối tình sầu mãi mãi còn trong bao thăng trầm của đời sống. Thêm một mùa thu qua, thêm một tuổi thì nỗi nhớ dường như càng nồng nàn, say đắm hơn vì mối tình ấy chưa đi đến cuối đường đã vội vàng rẽ nhánh để lại sau lưng những đau khổ, nuối tiếc khôn nguôi như bài thơ “Thêm Mt Ln Tháng Bảy“ của thi sĩ Hư Vô

Tôi không nhớ Sài gòn trước đây tháng by thế nào? Vì tháng bảy là tháng nghỉ hè. Tôi thuở nhỏ lại là con mọt sách hình như chữ “chơi” với tôi là một khái niệm mơ hồ. Nhưng khi đọc bài thơ thì trong tôi mùa mưa Sài gòn, mùa thu Sài gòn như đang hiển hiện trước mắt bềnh bồng, mơ hồ, xa xăm… Một Sài gòn chưa đi đã nhớ, càng ở càng thương. Tôi nhớ những con đường cây xanh bóng mát ngày hai buổi đi về. Con đường Đoàn Thị Điểm, Ngô Thời Nhiệm, Phan Thanh Giản, Bà Huyện Thanh Quan … sao mà thương đến thế. Thế giới tôi chỉ đơn giản là con đường đến trường với những tàng cây rợp mát, hoa Ngọc Lan thơm ngát con đường mưa. Nhưng đối với Hư Vô lại là con đường của hẹn hò, của tình yêu tuổỉ học trò thơm ngát. Mưa, tà áo dài, mái tóc thề ngang lưng ngày ấy có lẽ đã trở thành một hình ảnh quen thuộc của thơ ca trước đây:

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!
(Hư Vô)

Mưa thơm. Mưa không màu, không mùi vào trong thơ thành mưa thơm. Mưa thơm vì mưa thấm em, thấm mùi hương áo em, tuổi thanh xuân, mùi thơm thật khó quên, mùi thơm làm bao nhiêu trái tim phải bối rối ngăn cảm xúc đang tuôn chảy thành dòng. Có một thời tôi rất yêu “Một Chút Mưa Thơm” của Mường Mán nhà thơ của Sinh viên Sài Gòn những năm 70.

Mưa thân ái trên tay
Tay mỏi rời trong tóc
Tóc nhớ ai mọc dài
Mắt nhớ ai muốn khóc
Tay của em
Tóc của em, và
Mắt của em
Của mưa của mưa, ừ
Của mưa
Tay em tay mưa
Tóc em tóc mưa
Mắt em mắt mưa…
(Mường Mán)

Để rồi cũng cơn mưa thơm ấy vào tôi cũng trở thành ám ảnh chẳng nguôi ngoai:

Cho em chút mưa thơm
Rơi trên tay ngọt ngào
Mưa ơi em quên hết
Giọt sầu môi run run
(Mường Mán)

Mở đầu không gian tình yêu của Hư Vô là không gian của khứu giác: tưởng nhớ một mùi hương. Không hiểu sao khi tôi đọc “Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóctôi lại nhớ đến một tình Kim Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du  với câu thơ thật lãng mạn Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” mùi hương “xộc” vào tâm hồn ta; mưa và mái tóc dài ngang lưng  thật ấn tượng. Người lãng mạn ai mà không yêu mưa. Những cơn mưa thấm đất, thấm vào lòng người, thấm vào cuộc tình nỗi nhớ miên man:

Ở đầu kia nỗi nhớ
Nằm đếm tiếng mưa rơi
Đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ
(Trần Đình Chính)

Để rồi những hạt mưa thấm đẫm mái tóc em ướt bờ vai con gái thành một ám ảnh không phai. Tháng by mưa. Mưa suốt cả ngày, cả chiều và cả đêm. Những hàng cây rũ rượi trong mưa. Những mái hiên che dọc đường Tự Do, thương xá Tax thành chỗ trú mưa, thành chốn em qua. Những con đường em đến và đi trong cuộc tình đã trở thành con đường mang tên em.

Chỗ nào cũng có bóng em qua!
(Hư Vô)

Tôi thích ngôn ngữ thơ của Hư Vô đơn sơ nhưng gợi. “Chỗ nào” thì hình như đã là tất cả, nghĩa là thế giới của anh, em đã chiếm lĩnh tất cả nhưng buồn ở chỗ nó không phải “dáng em” mà là “bóng em” nghĩa là nó đã trở thành mơ hồ, sương khói, chỉ là bóng không còn là hình, chỉ còn là hư ảo với bao nhớ tiếc khôn nguôi.

Bốn câu thơ đầu, Hư Vô để chút hương gây mùi nhớ, để cơn mưa làm tan biến cái hữu hình và bức chân dung tình yêu trải rộng một nỗi nhớ “hư hao”.

Phố mưa- mái  tóc- con đường cuộn tròn lại thành nỗi nhớ, thành nụ hôn đầu của em mười sáu tuổi:

Thanh xuân lại chìm ngập không gian yêu. Thời gian quay lại thanh xuân. Hư Vô quay lại với nụ hôn đầu mê đắm:

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.
(Hư Vô)

Nụ hôn vội vàng, cuống quýt, lơ ngơ sao mà dễ thương chi lạ. Nụ hôn mà bao năm rồi vẫn cứ làm ta ngơ ngẩn, ngẩn ngơ. Nụ hôn mà Trần Dạ Từ từng say đắm đến dại khờ:

Lần đầu ta ghé môi hôn
Trăm con ve nhỏ hết hồn kêu vang.
(Trần Dạ Từ)

Nụ  hôn “hết hồn” trăm con ve  nhỏ, hết hồn chàng thi sĩ đa tình và “em” cũng ngẩn ngơ theo. Nụ hôn của Hư Vô với tình nhân là “thảng thốt”. Cả hai thi sĩ đều có một cảm giác bất ngờ, bàng hoàng đến ngẩn ngơ với nụ hôn đầu đời và có lẽ thế giới đang chuyển động phải dừng lại nhiều giây chờ nụ hôn đầu. Câu thơ gợi lại trong ta- những người đã từng có nụ hôn đầu” một cảm xúc khó diễn tả thành lời. Nụ hôn là kết đọng của cảm xúc, của tình yêu, của những thăng hoa. Nụ hôn đầu của Hư Vô làm sống lại những gì già cỗi trở lại thanh xuân và cũng từ đây cõi riêng của anh và em” bắt đầu những nợ nần, quấn quít đời nhau. Giọng thơ mê man, chìm đắm trong cõi riêng, ta cảm nhận hình như đã đủ đầy hạnh phúc, đủ đầy yêu thương.

Tình yêu đẹp như một giấc chiêm bao. Câu thơ dường như là chiêm nghiệm của thi sĩ: Cái gì đẹp thường không ở với người ta lâu. Mưa tháng by và giấc mơ dường như đã báo trước sự tan rã của đôi tình nhân:

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.
(Hư Vô)

Tôi đã từng đầu trần trong mưa lang thang bao nhiêu con đường những lúc cô đơn và tôi hiểu mưa là mở ra một thế giới tâm trạng với bao uẩn khúc. Hư Vô đã đưa tình yêu của mình vào thế giới mưa- thế giới của bao nỗi ngậm ngùi. Mưa vuốt ve ướt môi trần tình nhân. Những giọt mưa ve vuốt em, cái lạnh cũng theo về. Mưa tháng bảy dường như đã đưa ta vào thế giới lạnh lẽo với “những hạt mưa lăn”, mưa không rơi mà lăn như tô son lên môi tình nhân. Môi như mềm hơn nhưng lại ướt trong lạnh lẽo.Tôi cảm nhận sự chia ly đã bắt đầu từ đây, từ những giọt mưa lăn trên đôi môi người con gái.

Để rồi cái ngày chia ly cũng đến, cũng chạm vào cuộc tình thơ mộng thuở đầu đời:

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.
(Hư Vô)

Nhà thơ đã tượng hình một không gian ảo trên cái nền hiện thực Sài gòn- Sydney- Los Angeles nơi Hư Vô đã từng đặt dấu chân qua: Sài gòn chỉ còn là miền ký ức, tình yêu anh đã để lại nơi này, để lại em với “dòng nước mắt” cùng nỗi nhớ tình nhân. Em biết khóc đôi lần có phải Hư Vô tham lam muốn người ở lại cả đời cứ nhớ, cứ thương một người mù khơi hay nhà thơ đang hỏi lại mình. Có bình yên nơi xa xôi không? Hay vẫn cứ canh cánh một nỗi niềm ray rứt không nguôi. Tình buồn và nỗi nhớ khó nguôi ngoai. Tôi không còn bên em, không gian chúng mình thật diệu vợi, lạc nhau, mất  nhau rồi nỗi buồn như nhân đôi “Dù Sydney hay Los Angeles/ Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.”

Thể thơ thất ngôn phù hợp với biểu hiện cảm xúc tâm trạng, cả câu thơ chỉ duy nhất một  thanh bằng tạo một cảm giác lạc lõng, chơi vơi không định hướng để rồi chìm đắm trong cõi sầu bát ngát. Dòng tiếp theo lại có đến 5 thanh bằng để rồi kết thúc bằng âm vang thôi”. Thôi là kết thúc, là chấm dứt là không còn gì. Chữ nghĩa dường như nhòe đi trong sự se xót. Buồn, em ở lại, tôi đi, sự chia cắt rạch ròi cả hai không còn chung lối, tình lỡ, nỗi buồn như ngân vang thành tiếng thơ đến xé  lòng.

Tháng bảy mùa ngâu, mưa như trút nước. Mưa gợi nhớ bao nhiêu điều; có điều mọi người ai cũng hiểu nhưng có điều chỉ có mình nhà thơ hiểu:

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
(Hư Vô)

Con đường tình yêu không còn chung một lối. Tôi và em ngược hướng nhau rồi. Sự dõi tìm là vô vọng. Chiều đã xuống, sương phủ nhạt nhòa và lá bay khi mùa thu tới. Tất cả đã chìm khuất, mịt mờ. Trong sương khói của mưa, của mùa thu bóng em vẫn hiện ra thật đậm, thật rõ ràng với những bước chân thật dài, bước chân đuổi theo tình yêu đã mất dần dấu vết:

Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…
(Hư Vô)

Tôi chạnh thương người con gái với tình đầu dang dở, có thể đối với một ai đó nó chỉ là một thoáng phôi pha nhưng có thể với ai đó thì ngàn năm vẫn không quên.

Tình yêu chỉ mang đến cho ta thoáng ngậm ngùi, nỗi khổ đau nhất là đối với những tình yêu không trọn vẹn.

Thêm một lần tháng bảy là thêm khoảng cách của chia ly, thêm một lần nhói buốt trái tim yêu, thêm một nỗi niềm thống khổ của hai con người yêu mà không thể ở gần nhau. Đã là mưa thì ở đâu cũng thế. Cũng buồn như nhau. Đã là ly tan thì ở đâu cũng đau. Mùa mưa vẫn cứ về như một quy luật tuần hoàn của thời gian nhưng tình yêu thì không có quy luật, đến và đi là lẽ vô thường. Vì vô thường nên ta cứ đau mãi không nguôi, nên vẫn cứ cúi xuống khóc cho những mối tình dang dở

Trần Sương Lam
July, 2018

Thêm Một Lần Tháng Bảy.

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 288


NÉT CỌ

Tìm em nơi đâu, giữa dòng người lạ?
Ngã tư Phú Nhuận, phố đã quen tên
Hay ngược Chi Lăng dài thêm Gia Định
Đợi chờ nhau Quán Nhớ để không quên.

Nơi tách cà phê khuấy hoài vẫn đắng
Cho nụ hôn đầu ngọt giáp dung nhan
Một sợi tóc rớt vào anh, côi cút
Anh mang vào đời còn có chút em.

Rồi xa nhau cũng từ con phố đó
Dáng em nhỏ dần tan giữa đám đông
Trả lại anh giảng đường chiều trơ trống
Họa thất nghiêng theo ngọn nắng bên song.

Bóng trải ngang vai đường cong dốc ngược
Nét son buồn lãnh cảm giữa môi em
Vạt áo bay qua hiên đời gió lộng
Anh pha mầu cho mỏng lụa là thêm.

Bỏ bảng vẽ, nghe buồn riêng nét cọ
Anh trở về tìm lại dấu chân quen
Mới biết em bỏ bờ sang bến lạ
Cả đời anh không vẽ nổi hình em…

Hư Vô

TỰ KHÚC
I.
Từ trên đỉnh dốc đá cao
Buông mình rớt xuống vực sâu rã rời
Thôi người đừng khóc thương tôi
Chút tàn hương giữ lại đời cho nhau.
II.
Vươn dài những ngón tay đau
Nhặt lại từng mảnh tình sầu rớt rơi
Về ôm nỗi nhớ bên trời
Khép đôi mắt ướt giũ lời phai phôi.
III.
Trăm năm rồi cũng vô thường
Sao còn đầy nỗi vấn vương ngậm ngùi
Ngày hiu hắt bặt tiếng cười
Đêm tràn bóng chiếc ủ vời vợi trăng.

Biển Cát

PHỐ DÀI

Lục bình từ đâu tới
Mà sông mải miết trôi
Hai bên sông là phố
Hai bên đường sưa bay

Mùa vàng đã chín rụng
Hoa như mưa rơi rơi
Giăng ngập trong đáy mắt
Cầm chổi quét thềm ngày

Trời gom từng lọn mây
Nước gom từng làn sóng
Nắm tay anh tay em
Cửa Hàn hôn nhè nhẹ

Nàng Tiên Sa ở đâu
Đi mãi không hết phố
Những hòn cuội lặn sâu
Cánh cửa, ai, đang mở…

Phan Nam

5 NĂM NGÀY GIỖ VỢ (2013-2018)

Lụi đụi rồi cũng tới
Giỗ vợ lần thứ 5
Bàn thờ đầy nhang khói
Hương tình lại xa xăm…

Em khuất nẻo trần gian
Bỏ anh chừ côi cút
“Con chăm cha mô bằng
Bà chăm ông…từng chút?”

Nhớ ngày xưa cất bước
Về quê chồng mà thương
Cô sinh viên thậm thụt
Bưng rổ bánh ra đường…

Vậy mà thấy mé sông
Hoa lục bình tim tím
Ngắt một bông bịn rịn
Lãng mạn đầy mắt trong!

Thời nớ rất long đong
Em chẳng hề than thở
Anh xót xa một thuở
Dắt em về cố hương…

Lụi đụi…nay 5 năm
Một mình anh ở lại
Căn nhà sầu…xơi tái
Nỗi lòng người độc thân!

Canh bạc đời hư không
Vận may không còn nữa
Rứa mà anh cứ ngỡ
Em về treo nhớ mong…

Trần Dzạ Lữ

KHÚC UYÊN ƯƠNG

Ôm tình cúi xuống ngực thơm
Đôi môi khép lại hương trầm dội vang
Ca xang thiên khúc mây ngàn
Là em trổ nhụy tơ vàng đã gieo

Tình thiên cổ vẫn thuyền neo
Thiên thu tình đợi giữa heo hút đời
Đôi ta nguyệt bạch mù khơi
Giấc hương quan cũng tơi bời ngổn ngang

Em qua bến bắc dò đường
Mùi hương tạc đá vô lường nửa khuya
Ta ôm tình nhỏ dấu hài
Em ôm vọng cổ một mai, khuya về

Trần Yên Hòa

KHÔNG GIỮ ĐƯỢC NGƯỜI

thì thôi vậy đành ngồi mà tiếc nhớ
em xa xưa hun hút một phương trời
tôi khờ dại vụng về nên đánh lỡ
đem một đời đuổi chiếc bóng mù khơi

em là khói mà tình tôi giăng lưới
em là sông mà tôi lội ngược dòng
trái tim ấy cũng đôi lần tức tưởi
bởi yêu người nên máu cũng long đong

tôi cũng có những đêm dài không ngủ
tìm bóng mình xem thử lạ quen không
trong mộng mị hình như tôi tự thú
vì yêu em nên đánh mất linh hồn

làm sao tôi đuổi được hình bắt bóng
nên loanh quanh dẵm đạp chính tim mình
nghe tàn tạ một trời mù con sóng
buổi quay về ngơ ngác cõi u minh…

Nguyễn Minh Phúc

THƠ VIẾT TỪ BỆNH VIỆN ĐA KHOA

Bạn vào bệnh viện ghé thăm mình
Hai thằng nhìn nhau rớt nước mắt
Bốn mươi ba năm quên sao được
Mùa loạn ly – binh lửa mê mê

Cứ tiếc hồi mình còn trai trẻ
Giả bộ cười bảo bạn đừng lo
Chín mươi chín tuổi – dư sức thọ
Sống trả nợ người – nợ áo cơm

Bạn chửi: – Đù má! Thằng bạt mạng
Mang gươm thiêng xẻ dọc đất trời
Giang hồ hiểm ác đếch thèm sợ
Rượu uống trăm bồ bên mỹ nhơn

Hào khí anh hùng nuôi chí lớn
Thành-bại-tử-sinh – một ván cờ
Phù vân tựa thể như mây khói
Bạo phát – bạo tàn – giấc ngủ trưa

Biết bạn vì mình nên mới nói
Dăm ba câu trách móc đau lòng
“Nhiều khi mình cũng hơi giao động
Sợ mai này chết chẳng chỗ chôn“

Mai này có lỡ mình đứt bóng
Bạn nhắn dùm Quảng Trị quê cha
Mưa dầm dề Hải Lăng – Cửa Việt
Thương Triệu Phong – Ái Tử – Đông Hà

Thương Gio Linh buồn hiu – buồn hắt
Bốn mươi ba năm biệt không về
Bốn mươi ba năm chưa hạnh phúc
Ngày kinh kỳ Linh Phương ra đi

Xin tạ lỗi bao lần em khóc
Hận đời ta – chia cắt lâu rồi
Sài Gòn xưa bây giờ đã mất
Hòn Ngọc Viễn Đông đẹp muôn đời

Biết mình nghèo – hai bàn tay trắng
Bạn ghé thăm gởi lại chút quà
Cầm tay mà rưng rưng giọt lệ
Nhớ hoài thời chinh chiến thật xa

Bịn rịn giã từ chiều bệnh viện
Nắng tắt bên kia dãy phố nghèo
Hội ngộ – chia ly đừng bi lụy
Dẫu đong đầy hình bóng trông theo

Linh Phương

TÌNH NHÂN TỤNG

biết trước đời ta phải cô quạnh
nên em đã ghé suốt miền xưa
áo trắng bay đầu đời mộng mị
tình nhân hề – tình nhân tiểu thơ

cũng chắc đời ta thêm đơn chiếc
khi không em mê sảng theo người
để có một lần em ngoái lại
tình nhân hề thiếu phụ – tình ơi.

em tiểu thơ rồi em thiếu phụ
mà ta đành khép mắt tình nhân
có tiếng chim gù như tiếng phượng
vang trong nhau xé cuộc phong trần

em, Quỳnh Như mơ trời Phạm Thái
em, Văn Quân đứt ruột – xa lìa
trước ngọn đèn lu, ta cúi tụng
câu kinh buồn lả chả đời khuya…

Hoàng Lộc

QUÁN THƠ HƯ VÔ 288

Thêm Một Lần Tháng Bảy. Thơ Hư Vô


Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 287


NHÁT ROI NHỤC HÌNH

Từ em lăn lóc vào đời
Trăm năm như thể một hơi thở dài
Chỗ có dấu tích trần ai
Bước chân bỏ lại tàn phai lối người.

Ta còn có nửa ta thôi
Xin em vung thẳng nhát roi tuyệt tình
Cho hồn ta biết phiêu linh
Trong thương tích đã tượng hình hài em.

Lằn roi chạm buốt vào tim
Ứa chung giọt máu tưới mềm môi nhau
Lăn theo phấn nhạt son nhầu
Căng da xẻ thịt nỗi đau muộn màng.

Mà em tựa thoáng hương tan
Rắc vào hoang phế cho vàng mùa thu
Còn nghe trong xác lá mù
Nhát roi lao tới vết thù chung thân…

Hư Vô

MƯA TẠT ĐỜI NHAU

nhiều đêm gối nỗi sầu tê dại
chỉ thấy niềm đau vương ngất ngây
mưa khuya nát mặt buồn chăn chiếu
đau những làn đinh dưới gót giày

em đã là mây trôi mấy phương
dối gian thôi cũng đã vô thường
tôi một đời nghe con sóng nhớ
vỗ tràn hư ảo những chiều sương

ôm vết thương tôi giờ rớm máu
giấu những niềm đau chực ứa trào
em vung roi vút trời cao ngạo
nhấn nốt tim mình một lưỡi dao

cõi tôi cơn mộng chìm hư ảo
nhặt bóng phai tàn đến nghìn sau
em có hay không chiều giông bão
mưa tình đã tạt buốt đời nhau…

Nguyễn Minh Phúc

ĐÂU RỒI TUỔI ẤU THƠ TÔI?

Đâu rồi tuổi ấu thơ tôi
Bá vai cha cõng về soi giếng làng?
Lung linh thấy một thiên đàng
Đất bao dung với Trời đang mở lòng…

Hàng Ngâu trước ngõ đưa hương
Thơm sao ý mẹ biết nhường nhịn cha…
Trái tim rất Huế ni là
Cơm lành canh ngọt mặn mà đũa đôi!

Đâu rồi tuổi ấu thơ tôi
Bơi qua dâu bể, nghẹn lời hèn nhân?
Bây chừ con mắt phong trần
Nhớ làng, thương xóm để trân trân buồn…

Tản Đà hẹn nước thề non
Để câu lục bát chưa tròn chí trai
Còn tôi vai rộng lưng dài
Soi gương mắc cỡ với người xưa đây!

Trần Dzạ Lữ

GỌI TÊN MÙA HẠ CŨ

Hẹn nhau về em nhé
Gặp lại một dòng sông
Con đường đầy nắng cũ
Vàng tươi đến nao lòng.

Ai nỡ đem tiếng ve
Giấu trong ngăn ký ức
Hãy để gió cuốn đi
Lời tình xưa rã mục.

Tình yêu thành chiếc lá
Nhẹ rơi theo dốc đời
Mắt long lanh đến lạ
Khóc giọt tình vừa rơi.

Hẹn nhau về em nhé
Áo xưa đã phai rồi
Chiều mưa buồn khôn kể
Hạnh phúc theo mùa trôi.

Thương màu nắng tháng năm
Theo người không trở lại
Hương tóc giờ xa xăm
Giữa mùa hoa rực lửa.

Rụng xuống đời trái cấm
Địa đàng nào chia xa
Ủ trong lồng ngực ấm
Tình yêu mãi không già.

Nguyễn An Bình

LƯU ĐÀY

là thằng ở lại hồn lầm than
giương mắt ngó quê hương điêu tàn
nghe tiếng cha ông đồng vọng hận
Đêm đen u ẩn lũy tre làng

những dòng sông cạn nước nguồn đâu
những đứa con xa đứt ruột đau
mây bốn phương trời trôi lận đận
chiều quê tóc mẹ trắng lòng sầu

thương ai đất mẹ mà lưu đày
trút phận người trong chén rượu say
uống mắt em buồn màu quốc hận
câu thơ như máu ứa lòng đây!

thì biết đời người là ngắn ngủi
nhưng yêu con trẻ chẳng tương lai!
hỡi ôi! đất nước mùa quỷ ám
chén rượu lưu đày nuốt đắng cay!

Trần Thoại Nguyên

KHÔNG CẦN NGÓ LẠI

bè bạn ta lần hồi đi xa hết
những đứa còn vất vưởng đó đây
mùa trở gió và biển cứ động
ta còn ta với mấy cơn say

mới biết uống một mình hay quá chén
bởi hình như ta muốn uống giùm
cho thằng bên trời, cho thằng cuối biển
thằng nào cũng già, rót cạn đời không

người tình ta lần hồi đi mô mất
người nay rồi cũng không khác người xưa
ai cũng chồng con yêu vờ yêu vật
tình như chơi, ta ra thải ra thừa

ta vẫn ước phải chi còn sức rượu
uống cùng em một bữa tận lòng
hai đứa ngất ngư, phủi đít đứng dậy
mà không cần ngó lại cõi trăm năm

Hoàng Lộc

NGHÊU NGAO TUỐT KIẾM

Đèn hấp hối dòm bút cùn mực cạn
Chữ nghẹn ngào rên xiết dưới chân đêm
Gió trơ tráo ném tung hồn siêu mỏng
Từng câu thơ thoi thóp mộng ươn hèn

Sau cánh cửa chút yên bình nhấp nhổm
Tiếng thở dài ẩn núp giữa hư vô
Ta đốt sạch những hò hẹn ngây ngô
những thề nguyền hoang tưởng
Rung động bạc đầu giẫy chết dưới tàn tro

Sông đổi bến lá chơi vơi hồi ức
Đường ngược chiều hiu hắt gót vàng son
Chim gì ơi đâu cũng là đất trích
Đậu vong thân bay chập choạng vong hồn

Mịt mù sau lệ hòa mù mịt trước
Biết lấy gì chuộc lại tiếng sơn ca
Chữ há miệng bùng nhùng không kêu được
Nghĩa cam tâm nuốt nghiệp chướng lưng tròng

Thời gian mải xoáy sâu vào tử huyệt
Lạnh trăm chiều thần thánh nhún vai sương
Quỉ tham vọng dồn ta kề miệng vực
Có nghêu ngao tuốt kiếm vẫn đường cùng!

Lưu Xông Pha

MỘT NỬA VÒNG TAY

Bàn tay hờn dỗi bàn tay
Sao không nắm giữ tình ai buổi đầu?
Giờ xa ngàn dặm vó câu
Còn lại đây tiếng kinh cầu ngày xưa

Bàn tay lạnh giữa đời mưa
Cô đơn tay nắm tay chưa cạn buồn
Thôi đừng nhớ, cũng đừng thương
Mùa đông ở lại bên đường em qua

Một vòng tay dậy phong ba
Mong manh áo mỏng cho da thịt trần
Nụ cười, ánh mắt phân vân
Biết làm sao để hương Xuân gọi mời!

Nửa vòng tay chỉ thế thôi
Nửa cho nhau một góc trời bao dung
Vạc đêm lạc nẽo vô cùng
Lửa hương chưa đủ nên vòng tay lơi

Tay nào níu giữ đời tôi
Tay nào mộng hái sao trời tìm vui
Thả tình về chốn xa xôi
Hoa còn hương sắc, nụ cười trao duyên

Vũ Trầm Tư

BÃI VẮNG

Cuộn cuối trời những sợi khói quanh co
dòng sông vắt qua nụ cười áo lụa
em chải tóc bên thềm xưa nắng úa
từng cọng chiều mọc trên lối đi quen

Mắc áo đời treo lên nỗi lãng quên
bầy chim ngủ trên cành buồn xếp lá
mỗi ngày đến thêm một người khách lạ
quay gót đi nghiêng nắng lại phía sau vườn

Khói mơ màng tỏa lụa mắt người thương
con bướm cũ không còn ai đuổi nữa
trăng vẫn xõa tóc ngồi sau khung cửa
hoa trước thềm nở trắng mấy chùm đêm

Một mình ngồi se sợi lặng im
buộc nỗi nhớ thả bay vào ký ức
sóng trở giấc giữa đôi bờ thao thức
vỗ thì thầm bãi vắng phía không em…

Trần Minh Tạo

Quán Thơ Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 286


LỜI TỎ TÌNH THÁNG SÁU

Tháng sáu mưa buông dài ngọn tóc
Theo bóng em gầy vai áo xưa
Của thuở hồn nhiên như lá biếc
Rụng đầy trên mỗi bước tương tư.

Mà cả đời tôi còn cất giữ
Nụ môi non ấp ủ hơi người
Cho áo em còn mùi hoa sữa
Giấu vào cùng tận giấc thơ tôi!

Rồi sẽ có lần em chợt hiểu
Mỗi hạt mưa cũng có linh hồn
Chạm vào nhan sắc em êm ả
Lời tỏ tình từ những vô ngôn.

Mà tôi còn nợ em một thuở
Ngập ngừng để lỡ dở đời nhau
Mưa tháng sáu đã mù dấu cỏ
Đường trăm năm đâu có lối vào…

Hư Vô

LY KHÁCH

là đứa ra đi mà đứt ruột
ngó con sông chảy cuối chân trời
ngó bóng cha buồn sau bóng mẹ
tay rời em – tay bạn cũng rời

để những con chiều đau góc phố
ngồi ôm gối, ngó sững màu mây
đọc thơ Thôi Hiệu thơ Đỗ Phủ
câu ngàn xưa ghé giữa cơn say

say, nghe không hết bài ly khách
mà tấm thân lê lết chẳng vừa
mới nhớ quê thơm lừng trái ngọt
em từng bao trải nắng và mưa

mới biết ra đi là thất thổ
là không giữ nổi một hiên nhà
cho dẫu bên trời xin đứng lại
cũng không cùng mỗi dặm đường xa

Hoàng Lộc

TRONG MƯA

Chỉ là cơn mưa qua nhanh
Mình về không kịp nên đành ướt mưa
Bao nhiêu nước trút cho vừa
Những dòng sông nhỏ chảy lùa phố quen

Nhập nhoà trong những ánh đèn
Từng tia sấm chớp đan xen giữa trời
Tay nào hứng giọt mưa rơi
Tay nào che mắt dõi trông bóng người

Gió đùa nỗi nhớ khôn nguôi
Bỗng dưng muốn khóc cho vơi nỗi niềm
Trong mưa nước mắt im lìm
Ngậm ngùi chảy xuống lịm từng cơn đau

Nghe chừng gió lướt qua mau
Rung chòm lá cho nước rào rào tuôn
Ướt đôi vai đã trĩu buồn
… Mình về không kịp khi trời tuôn mưa…

Biển cát

MỘT NỬA VÒNG TAY

Bàn tay hờn dỗi bàn tay
Sao không nắm giữ tình ai buổi đầu?
Giờ xa ngàn dặm vó câu
Còn lại đây tiếng kinh cầu ngày xưa

Bàn tay lạnh giữa đời mưa
Cô đơn tay nắm tay chưa cạn buồn
Thôi đừng nhớ, cũng đừng thương
Mùa đông ở lại bên đường em qua

Một vòng tay dậy phong ba
Mong manh áo mỏng cho da thịt trần
Nụ cười, ánh mắt phân vân
Biết làm sao để hương Xuân gọi mời!

Nửa vòng tay chỉ thế thôi
Nửa cho nhau một góc trời bao dung
Vạc đêm lạc nẽo vô cùng
Lửa hương chưa đủ nên vòng tay lơi

Tay nào níu giữ đời tôi
Tay nào mộng hái sao trời tìm vui
Thả tình về chốn xa xôi
Hoa còn hương sắc, nụ cười trao duyên

Vũ Trầm Tư

NHỊP VÕNG CA DAO

Từ khi dựng núi khai sông
câu ru lục bát nằm lòng dân tôi
lìa nguồn rẽ nhánh về xuôi
mặn tình Đông hải ngọt bùi trung châu.
Mấy ngàn năm mấy nhịp cầu
theo dòng lục bát về sâu ruộng đồng.

Vói tay hái nụ tình nồng
từ khi vừa ửng má hồng yêu anh
em về dệt nét đan-thanh
thêu câu lục bát viềng quanh yếm đào.

Mấy ngàn năm mấy bể dâu
càng cao chí lớn càng sâu hẹn hò.
Bao phen giặc lấn cõi bờ
đánh nam dẹp bắc có nhờ cậy ai
và xuôi đường tới tương lai
vẫn câu lục bát vì ai chung tình.

Ngàn năm bóng chẳng lìa hình
Ta đi dựng núi có mình chung tay.
Tới khi đóng nắp quan tài
còn nghe lục bát dài dài ngàn sau.

Trần Yên Thảo

EM ĐI QUA MÙA THU CŨ

Vương trong nắng dấu mùa thu cũ
Khẽ khàng rơi trong vắt tiếng cười
Còn nguyên đó, sắc màu quyến rũ
Dẫu muộn màng của tuổi năm mươi

Bao say đắm, ngày xưa òa vỡ
Cứ thẩn thờ, chiều biếc, giá như …
Lay trong gió điều gì gợi mở
Lời hẹn, mờ xoay, đêm giã từ

“Em trở lại, mùa thu trở lại”
Đánh rơi tình hư ảo, ngày xưa
Chầm chậm bước, qua thời con gái
Sẽ sàng buông nếp gấp nhặt thưa

Hoa cúc cuối mùa, bừng nở rốt
Mướt bến đời, nắng mật vờn qua
Trôi đâu hết vết hằn mai một
Rạng rỡ chiều – Bối rối đường xa…

Lê Thanh Hùng

CÁM ƠN CHA

Con vẫn biết bóng cha như bóng núi
Lặng lẽ nuôi con, lặng lẽ đau đời…
Ơn dưỡng dục làm sao mà quên nổi
Dù bây giờ con ngoài tuổi sáu mươi?

Vì cơm áo, cha lặng lẽ lên đồi
Nơi phố núi rất mù sương Đà Lạt
Ngày mẹ mất, cha không sao về kịp
Chỉ có con vuốt mắt mẹ mình thôi!

Khi trở lại, làm gà trống trong đời
Nuôi chúng con bằng tình cha lao khổ
Là nho sĩ ,nên không đành thất thố
Với ơn sâu nghĩa nặng chốn quê nhà…

Đâu ngờ rằng , một mùa xuân nở hoa
Cha âm thầm ra đi, không trăn trối
Con chợt mồ côi cả cha lẫn mẹ
Ai chia lìa mình như rứa hở cha?

Mất cha rồi, sầu ngày tiếp tháng qua
Sự nghiệp, công danh con đành bỏ dở
Phương –Nam-Hành! Kẻ giang hồ lìa xứ
Chiều ba mươi gõ nón hát cuồng ca…

Ngoài sáu mươi, mới làm thơ cho cha
Con không khóc nhưng tim mình lệ ứa
Tìm đâu được người kính yêu xưa nữa
Bóng núi tình, cha che chở đời con?

Trần Dzạ Lữ

SƯƠNG TÍM BÊN HỒ

Chiều rơi tím biếc mặt hồ
Thuyền neo cầu vắng trăng mờ ngát hương
Em ngồi đón hạt mưa sương
Thả câu lục bát ta buồn mênh mang.

Thông reo vách núi Phụng Hoàng
Mây treo lũng thấp sương ngàn thâu đêm
Lạc tìm ốc đảo bình yên
Núi Voi em đợi Đá Tiên ai chờ.

Tiếng chim mõi vọng đôi bờ
Còn thương bến đổ con đò lẻ loi
Bên hồ mây xám chơi vơi
Bốn mùa tĩnh lặng đợi người qua sông.

Ta theo Từ Thức về trần
Giày rơm nón cỏ khôn cầm ăn năn
Vẫy chào sương khói tuyền Lâm
Em như bóng cá biệt tăm sông hồ.

Nguyễn An Bình

Quán Thơ Hư Vô 286

Còn Có Chút Em (Nét Cọ). Thơ Hư Vô


(Nét Cọ. Thơ Hư Vô, Nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với tựa đề:
“CÒN CÓ CHÚT EM”. Tiếng hát Tony Tôn Thất Mạnh Tuấn)

NÉT CỌ

Tìm em nơi đâu, giữa dòng người lạ?
Ngã tư Phú Nhuận, phố đã quen tên
Hay ngược Chi Lăng dài thêm Gia Định
Đợi chờ nhau Quán Nhớ để không quên.

Nơi tách cà phê khuấy hoài vẫn đắng
Cho nụ hôn đầu ngọt giáp dung nhan
Một sợi tóc rớt vào anh, côi cút
Anh mang vào đời còn có chút em.

Rồi xa nhau cũng từ con phố đó
Dáng em nhỏ dần tan giữa đám đông
Trả lại anh giảng đường chiều trơ trống
Họa thất nghiêng theo ngọn nắng bên song.

Bóng trải ngang vai đường cong dốc ngược
Nét son buồn lãnh cảm giữa môi em
Vạt áo bay qua hiên đời gió lộng
Anh pha mầu cho mỏng lụa là thêm.

Bỏ bảng vẽ, nghe buồn riêng nét cọ
Anh trở về tìm lại dấu chân quen
Mới biết em bỏ bờ sang bến lạ
Cả đời anh không vẽ nổi hình em…

Hư Vô

 

 

Quán Thơ Hư Vô 285


Quán Thơ Hư Vô

MỘT ĐỜI Ở RIÊNG

Tôi ngồi ngoảnh cổ trông tôi
Áo khuya cài muộn một đời chưa yên
Như còn thấp thoáng hơi quen
Heo may chở lá vàng đêm mưa về.

Em còn lăn giữa cơn mê
Mùa thu rối ngọn tóc thề hẹn xưa
Buồn chia hai nhánh đong đưa
Mà nghe ngày tháng cũng vừa chấm vai.

Tôi ngồi đếm ngọn tàn phai
Thắp đêm trăng khuyết cho đầy mắt em
Lối người héo hắt chông chênh
Tựa chung chiếc bóng buồn riêng lẻ hình.

Lần theo sợi tóc bạc tình
Đêm khuya khoắt bỗng trở mình mẩy đau
Một đời mấy bận tìm nhau
Đường xa người lạ qua cầu biệt tăm…

Hư Vô

CHẢ NHẼ

Chả nhẽ ngồi nghe lòng mối mọt
Khi chiều treo cổ bến hoàng hoa?
Phong trần cạn kiếp, chưa nguôi nhớ
Chén rượu ngang mày nâng xót xa…

Uống rượu bao giờ cho đủ ấm
Giang hồ trong mắt cố nhân đây?
Chả nhẽ khoanh tay chờ mối nhện
Tơ lòng cuộn chỉ rối trong tay?

Cứ như kẻ lạ sầu ngơ ngác
Qua đường ném vội một ngày quên
Có không, không có thôi đành bước
Ngựa gầy cũng giục vó qua đêm…

Mỹ nữ xưa nay làm bại tướng
Chả nhẽ ta giam mộng hải hồ?
Ra đi, dẫu có mòn quan tái
Cũng cười khinh bạc với trăng xưa…

Trần Dzạ Lữ

BÃI CHIỀU TRONG PHỐ BIỂN

Góc phố cong cong, mòn sợi nắng
Đưa chiều trong, giăng mắc tình em
Treo lơi lả mười năm đằng đẵng
Một vụng tình buông đẫm bên thềm …

Chiều trôi êm êm, ngày thơ dại
Tuổi rong chơi, ngã bảy, ngã ba
Đưa em qua đầu bờ, cuối bãi
Phố biển xưa, đậm nhạt, mờ xa …

Anh, con cá thòi lòi bên phố
Thao láu nhìn từng bước em qua
Ngúc ngoác bãi triều rơi lổ chổ
Giọt đời chìm, trôi nổi phù hoa

Thôi buông thả tháng ngày xanh mướt
Kỷ niệm xưa đằm thắm trong chiều
Đâu hình bóng mi cong cổ mượt
Quẩn nơi này cả một đời yêu …

Lê Thanh Hùng

ĐẤT NƯỚC ĐỨNG LÊN

Hoa xinh khép nhụy hờn vong quốc
Gửi chút lòng trinh với núi sông
Gai kia phục sẵn đâm tay giặc.
Triệu triệu anh thư… Triệu đoá hồng

Ta xoá bài thơ tình dang dở.
Chôn vầng trăng cũ đáy huyệt sâu.
Nghe trong gió thu tanh mùi máu.
Lớp lớp thây phơi ngập tuyến đầu.

Con tim ta treo nơi đầu súng.
Nén lòng gác lại chuyện lứa đôi.
Tóc dài, tóc ngắn cùng giết giặc.
Một dải gian sang lửa đỏ trời.

Vân Đồn mồ chôn quân cướp nước.
Căm thù sùng sục Bắc Vân Phong
Xương giặc vun cao hòn Phú Quốc.
Thơ rung bần bật… Máu tanh nồng.

Ngàn ngàn tử sĩ vào cuộc chiến.
Đánh từ đời thực, đánh tâm linh.
Người chết phò trợ cho người sống
Có chiến tranh mới có hoà bình.

Câu thơ viết ra lời hiệu triệu
Hịch tướng sĩ, Nam Quốc sơn hà,
Bình Ngô đại cáo lời dõng dạc…
Việt Nam anh hùng… Khúc tráng ca.

Bùi Nguyên Phong

GẶP MỘT LÍNH CŨ Ở CONWAY

từ thuở tan hàng, nay mới gặp
hơn bốn mươi năm, nhìn không ra
ông của xưa là tên lính quậy
đã hóa thành một lão hiền khô

hai đứa cầm tay – ứa nước mắt
phải đâu thương tiếc chuyện sa trường
mà đau không thể ngừng ly biệt
với những gì kia ở cố hương

ta với ông từng quan với lính
lá lon chi sánh nổi thâm tình
cho nên trung úy hay trung sĩ
cũng là những thứ của phù vân

hỏi ông thường có về sông Hậu
bảo vẫn – rồi thôi – rồi phải đi
hảo hán cần quên bao chuyện cũ
phải quên luôn – nên sẽ không về

như trần gian chỉ còn hai đứa
hiên nhà ông, góc phố quê người
ngồi với nhau rót cùng chút rượu
nói những điều sắp sửa tàn phai…

Hoàng Lộc

GÀ GÁY SÁNG

Mấy mươi năm chẳng thức sớm bao giờ
say rượu tối qua chưa rạng ngày đã thức
gà gáy sáng gọi lửa trào nơi ngực
thêm một ngày một ngày nữa chẳng ra sao

Chui lại vô mùng nằm đắp kín niềm đau
nghe văng vẳng chuông nhà thờ giục bước
xao xác ngoài hè tiếng chân người xuôi ngược
âm thanh buồn muôn thưở quẩn quanh ta

Gà gáy vang vang từ cõi nhập nhòa
những tĩnh lặng thinh không dần khép lại
giữa chăn chiếu co người mong ngủ mãi
quá nửa đời chưa dậy nỗi để mà đi…

Trần Minh Tạo

LINH CẢM

ngày nào tôi yêu em
bướm hoa reo tình tự
từng giọt nắng rơi thềm
lung linh tràn giấc ngủ

bên tròi chim ca hát
rộn rã lời yêu thương
gió thơm lừng nhã nhạc
trôi mê giấc vô thường

tình yêu như giấc mộng
thênh thang ngời bước ai
ngàn trăng sao lồng lộng
bay trong ánh đêm dài

đâu biết đời sống đó
là một trời chia xa
lá bay chiều cuối gió
cơn mưa đổ nhạt nhòa

cho tôi hoài linh cảm
sẽ một ngày không nhau
cuộc tình như cõi tạm
khi tay rời đôi tay

nhưng tình yêu lên tiếng
tôi tin vào tình em
tôi tin vào định mệnh
vào dấu ái ngọt mềm

bây giờ tôi linh cảm
sẽ muôn đời bên em
dù trần gian cõi tạm
như giọt nắng rơi thếm

mốt mai đời chia biệt
ai cũng sẽ một lần
nhưng cõi tình tôi biết
sẽ muôn đời vọng ngân…

nguyễn minh phúc

Quán Thơ Hư Vô 285

Đọc “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác” của Nhật Tiến. Tùy bút Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Presentation1

Nhà văn vẫn đứng ngoài nắng. Nhà văn Mai Thảo đã nhận định về một chân dung đã có tới hơn 60 năm cầm bút là nhà văn Nhật Tiến như vậy. Trước năm 1975, ông là một khuôn mặt văn học tiêu biểu của 20 năm văn học miền Nam và đã đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961. Ông là nhà văn của tuổi thơ, của những bức xúc về một cuộc chiến tranh và là một người lưu lạc suy ngẫm về thân phận của mình và của chung một thế hệ phải trải qua những ngày chiến tranh và những ngày hậu chiến tranh mà những bi thảm, những bất toàn của xã hôi lại còn đáng sợ hơn thời còn khói lửa. Ông viết với tâm cảm mà những ý nghĩ trung thực được biểu lộ không e ngại và là tiếng nói được lắng nghe từ công luận. Sau năm 1975, ông lại là chứng nhân của những cuộc đổi thay nghiệt nghã và văn chương ông ghi chép lại những thực tế đáng buồn của một thời đại đảo điên bi thảm của dân tộc Việt Nam.

Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến: nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xã hôi, nhà văn của lưu lạc xứ người…Mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng đếu có những thông điệp trao gửi theo.. Trong con người của nhà văn Nhật Tiến, cá tính của hướng đạo sinh và đặc tính của một nhà giáo dục trộn lẫn để thành một tâm thức hướng thượng và nhiều lý tưởng. Những tác phẩm của ông biểu lộ điều đó từ lúc ở trong nước hay ra hải ngoại.

Là một nhà giáo dục, ông chú trọng nhiều đến tuổi học trò.Trong một cuộc phỏng vấn, nhà văn Nhật Tiến đã phát biểu rằng công việc ra một tờ báo dành cho thiếu nhi (trong khoảng từ 10 đến 15, 16 tuổi hay trình độ từ cuối bậc tiểu học đến hết bậc trung học phổ thông) là mơ ước của ông. Nhất là trong hoàn cảnh của đất nước chúng ta khi xã hôi có nhiều hiện tượng băng hoại do văn hóa ngoại lai xâm nhập và cũng do ảnh hưởng chiến tranh. Mãi đến năm 1971 ông mới được sự tài trợ của nhà sách Khai Trí và ra mắt tờ tuần báo Thiếu Nhi vào ngày 15 tháng 8 năm 1971 và đều đặn hàng tuần đến ngày 30 tháng tư năm 1975 thì chấm dứt. Ngoài ra ông còn tổ chức nhiều sinh hoạt khác như tổ chức thư viện cho các em mượn sách về nhà đọc, tổ chức các Gia Đình Thiếu Nhi ở các tỉnh và các đô thị lớn có những buổi sinh hoạt tập thể ngoài trời, hay tổ chức các cuộc thi viết văn làm thơ cho thiếu nhi và có giải thưởng khá lớn. Nói chung là phối hợp giửa giải trí và giáo dục để các em có những sinh hoạt vui tươi và bổ ích.

Sau khi vượt biển sống ở hải ngoại, nhà văn Nhật Tiến cũng làm chủ bút tờ Tuổi Hoa của nhà văn Quyên Di một thời gian và lúc nào cũng chú tâm đến lớp tuổi măng non ở hải ngoại…

Là một nhà văn mà tính cách của lý tưởng hướng đạo sinh biêu lộ rõ ràng trong phong cách sống như những câu văn của tác giả Mai Thảo diễn tả:

“Những trong nắng và những ngoài nắng ấy, Nhật Tiến đã thấy đã trải qua, đã viết ra, đã thuật lại. Gọi đó là nắng cáo trạng, nắng bạch thư, gọi đó là nắng Ko Kra, nắng Nhật Tiến. Trước cái khuynh hướng muôn thuở của con người là sự kiếm tìm những tàn cây đầy bóng mát cho tâm hồn và đời sống văn chương bây giờ của Nhật Tiến, những vận động, những lên tiếng không ngừng của Nhật Tiến cho thấy ông vẫn lựa chọn đứng ở đó. Ngoài nắng. Giữa nắng. Thái độ ấy có thể bị nhìn là khô cứng quá khích. Hoặc với những tâm hồn bóng rợp là một đọa đầy vô ích.Tôi chỉ nhìn thấy tự nhiên và bình thường nơi người nhà văn lưu đày ở Nhật Tiến một ý muốn. Cái ý muốn được đứng cùng, đứng mãi với vượt biển thê thảm như đứng với quê nhà, với Việt Nam”

Ngay lúc bây giò, ở tuổi đã cao, ông đã vừa xuất bản hai tác phẩm và vẫn mang dấu ấn vừa kể.

Một là tác phẩm “Hành Trình Chữ Nghĩa”, viết như một thôi thúc của một đời trôi nổi theo thời thế và buộc chặt với chữ nghĩa. 60 năm tuy dài đối với một đời người nhưng chỉ là một tích tắc của lịch sử hay văn học. Và mỗi tác giả nếu tạo được những dấu ấn sẽ không bao giờ mờ phai theo thời gian. Với tác giả Nhật Tiến, ông đã viết trong lời mở đầu:

“… Thông thường những dấu ấn trên đường đi ta vốn chỉ nên coi là những kỷ niệm. Mà kỷ niệm nào trong quá khứ dù vui hay buồn thì cũng chỉ nên ghi gói trong lòng. Cuộc hí trường trong đời một con người bất quá cũng chỉ kéo dài trong giới hạn dăm bảy chục năm, nhiều lắm là trăm năm. Rồi hai tay buông xuôi. Mọi thứ trên hình hài sẽ trở về với cát bụi.

Nhưng hình hài thì trở về với cát bụi còn những dấu ấn để lại trong phạm vi tinh thần thì có sẽ phai mờ trong lớp bụi thời gian hay không?

Tôi nghĩ là không. Vì nếu nó phai mờ trong trí nhớ để không còn được ai nhắc nhở thì lịch sử đâu còn lý do gì mà tồn tại? Cho nên trong sinh hoạt chữ nghĩa, đừng tưởng cứ hạ bút xuống rồi là phủi tay hết trách nhiệm. Rất có thể một vài năm sau có khi cả chục năm sau hay lâu lắc hơn nữa, ở những thế hệ kế tiếp cũng vẫn có người lần mò vào thư viện tìm đọc lại những trang sách báo cũ để tìm hiểu về các lớp cha anh với những gì họ đã làm, đã đóng góp cho lịch sử và ngay cả về phương thức xử thế đạo đức nhân cách của họ nữa…”

Với cá tính và tinh thần của một người hướng đạo, nhà vănNhật Tiến đã viết và không ngại những vấn đề tế nhị và nhạy cảm để nêu ra những vấn đế mà ông nghĩ rằng cần thiết để làm sáng tỏ trong mục đích phục vụ nhân sinh. Tác phẩm “Hành Trình Chữ Nghĩa” đã được viết với mục đích đó, ở một thời điểm gần như cuối đời nhìn lại một thời đã qua…

Hai là tác phẩm “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác”, ghi chép của một nhà giáo dưới mái nhà trường XHCN sau ngày 30 tháng tư năm 1975. Con người mô phạm đã có một dấu ấn rõ nét trong con người nhà văn bởi vì trước khi là nhà văn ông đã là một nhà giaó va hầu như suốt cuộc đời ở Việt Nam ông đã giảng dạy nhiều thế hệ học trò. Ngay cả việc ông chủ trương tuần báo Thiếu Nhi cũng với cung cách của một nhà giáo dục ý thức được rằng tuổi trẻ là tương lai của dân tộc.

Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam tưởng là một truyền thống bất diệt nhưng đến thời kỳ Cộng sản thì không còn nữa và sự phá sản giáo dục đã nhìn thấy rõ suốt hơn ba chục năm Cộng sản chiếm đoạt được cả nước và điều hành đất nước theo một chủ nghĩa không tưởng lai căng Mác – Lênin.

Nhà văn Nhật Tiến viết về thực trạng giáo dục khi ông còn ở Việt Nam và là một chứng nhân. Đó chỉ là khởi đầu của thảm trạng và đến nay có nhiều sự kiện thực tế không thể tưởng tượng nổi đã xảy ra. Vong bản, ảnh hưởng của Cộng sản Trung Hoa khi soạn chương trình học về lịch sử và ngôn ngữ. Thi cử thì gian lận có tổ chức. Bằng cấp giả mạo tràn lan. Đạo đức học đường bị suy vi trầm trọng, thầy mất tư cách, học trò hỗn láo như những trường hợp kể lại tràn lan trên báo chí. Thời Cộng sản là một thời đại tệ hại nhất của lịch sử Việt Nam. Ông viết:

“.. Khi thời thế thay đổi, nhất lại là sự thay đổi ý thức hệ này qua ý thức hệ khác, thì hầu như mọi vốn liếng tinh thần của nhà giáo tưởng sẽ tồn tại lâu dài với những chuẩn mực vốn đã trở thành truyền thống lâu đời, thì nay đã hoàn toàn đảo lộn, bị tróc gốc đến độ như tôi đã có cảm giác rằng mình kiêm nhiệm cùng một lúc cả hai vai trò: vừa là thầy giảng dạy, vừa là tên học trò cứ bị nhà trường uốn nắn thường xuyên từ tác phong, cử chỉ cho đến lời ăn tiếng nói…

Nhưng trải qua 4 năm trời trầy trật dưới một mái nhà trường XHCN tôi phát giác ra rằng ở đây người ta không những không trang bị điều gì tốt đẹp thêm cho cho nhận thức của nhà giáo mà tệ hơn lại còn không cho phép các thầy cô được làm trọn vẹn vai trò của một nhà giáo đúng nghĩa.

Bởi vì, một nhà giáo đúng nghĩa thì không dối trá với học trò ngay trên bục giảng hay ngay trong bài giảng của mình. Nhà giáo đúng nghĩa cũng không thể tiếp tay với nhà trường để xô đẩy học sinh vào những vùng trời mê muội như lôi kéo, dụ dỗ, nhồi nhét vào đầu óc non nớt của chúng những thứ không nhằm phục vụ cho tương lai của chúng cũng như tương lai đất nước mà chỉ nhằm phục vụ cho những ý đồ đen tối của guồng máy đang cai trị.

Nói một cách cụ thể nếu coi tâm hồn của những trẻ thơ như là một tờ giấy trắng thì cũng đã có một số người trong đám nhà giáo chúng tôi sau 30-4-1975 cũng đã từng bôi đen lên những tờ giấy trắng đó bằng những bài giảng phải tuân theo sát sạt những “pháp lệnh” của nhà nước…”

Mặc dù là một nhà văn nhưng ông là một nhà giáo dạy môn vật lý là một môn học thuộc khoa học tự nhiên nên cũng ít bị để ý soi mói hơn là những thầy cô dạy những môn học như triết, văn hoặc sinh ngữ… Bài giảng dạy học trò phải bị bắt buộc soạn sẵn thành một hồ sơ gọi là ” Giáo án” và đây chính là một dây cương tròng cổ mọi nhà giaó thời Cộng sản. Mỗi giáo viên đều phải có một cuốn sổ gọi là sổ giáo án để soạn bài và những bài soạn này phải được Ban Giám Hiệu kiểm tra đóng dấu rồi mới được đem dùng. Đã thế trong giờ học cuốn sổ này phải đặt ở bàn cuối lớp sát hành lang để bất chợt Hiệu Trưởng hay Hiệu Phó đi kiểm tra xem thầy cô có dạy đúng như trong giáo án không. Bất cứ môn học nào, giáo án cũng được soạn theo một khuôn mẫu ấn định sẵn mà ở đó mục đích về chính trị bao giờ cũng quan trong hơn hết và sự kiểm soát tư tưởng suy nghĩ của cả thầy cô và học trò cũng là phần hệ trọng. Chính vì thế, người giáo viên khi soạn giáo án phải lồng vào trong bài học những chủ đích của chế độ. Những môn học như toán, như vật lý, hóa học,… cũng phải cố gắng nhồi nhát vào những tư tưởng tuyên truyền cho chế độ Cộng sản và nêu ra những tính mà những người cầm quyền gọi là ưu việt. Và giáo án còn phải nêu ra những quan hệ bản thân và đó chính là một cách kiểm tra tư tưởng khiến cho cả thầy trò trong trường học của chế độ Cộng sản bị dắt đi vào những con đường định sẵn mà chính trị là mục tiêu chính của giáo dục XHCN.

Từ trường học với thầy cô, với đám học trò, tác giả Nhật Tiến ghi chép lại rộng rãi hơn đến những môi trường lầm than của xã hội mà trong đó người dân bị lừa dối bởi những người cầm quyền vừa ngu dốt vừa hãnh tiến chủ trương tuyên truyền dối gạt để cai trị. Tất cả đều được ngụy trang bằng những chiêu bài thật tốt đẹp thật lý tưởng nhưng thực chất chỉ là cái bánh vẽ không tưởng. Ông kể lại những sự thực đã trải qua, đã chứng kiến tận mắt. Giá trị của trường học tự nhiên bị hạ thấp một cách khó tưởng tượng. Thầy giáo cô giáo không được nể trọng như xưa nữa mà bị dòm ngó kiểm soát có khi còn hơn là những đứa học trò của mình nữa. Sống trong hoàn cảnh ấy, làm sao còn tâm trí để chú tâm vào công việc giảng dạy. Xã hội như vậy, giáo dục như vậy đã tạo thành những con người của XHCN chỉ biết chạy theo lợi nhuận với mục đích làm giàu mà quên đi những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc.

Chân dung nhà giáo của một thời nhếch nhác ấy được phác họa từ những người trong ban giám hiệu đến những thày cô với những nét đặc biệt. Như hình ảnh của một hiệu trưởng:

“Còn ông hiệu trưởng mới đổi về này không cần giới thiệu chúng tôi cũng biết ông ta là gốc bộ đội vừa được chuyển ngành. Bởi trong cương vị một Hiệu Trưởng một trường trung học ông ta vẫn bận bộ quần áo bộ đội tới trường để điều hành công việc. Hơn thế nữa bên hông ông ta lúc nào cũng kè kè một khẩu súng lục không biết để làm gì ngoài chuyện thị uy với đám giáo viên trong vùng mới “giải phóng”. Ấy vậy mà ông ta vẫn gọi chúng tôi là các “đồng chí”.

– Các đồng chí cũng nên nhớ rằng nhà nước chuyên chính vô sản sẵn sàng đập tan mọi âm mưu bạo loạn của bọn phản động tàn dư của bọn tay sai nước ngoài để bảo vệ vững chắc nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta dân chủ với mọi đồng chí nhưng dứt khoát là phải chuyên chính với mọi tàn dư phản động.

– Các đồng chí nên nhớ dạy theo đúng sách giáo khoa với giáo án đi kèm chính là một Pháp lệnh. Ai không tuân theo Pháp lệnh là chống đối nhà nước là phản động là bán nước.

Nói xong câu này ông ta còn đưa tay xốc cái thắt lưng quần khiến cho khẩu súng lục cứ bị đẩy lên chìa ra trước mặt mọi người…”

Trong hoàn cảnh ấy, nhà văn cũng nhìn lại chính chân dung mình trong đời sống đã thay đổi đến rùng mình đó. Ví dụ như một trường hợp đang giảng bài trong lớp thì nghe gọi tên mình trên loa phóng thanh lên văn phòng nhận nhu yếu phẩm. Mà nhu yếu phẩm là niềm vui hiếm hoi của thầy cô với đồng lương eo hẹp và cũng là một phần thưởng của chế độ cho công nhân viên chức. Một cô giáo cùng tổ đã mang phần cá được chia vào trong lớp học để trao cho ông một cách thật bình thường. Tự nhiên ông cảm thấy buồn và suy tư:

“Loay hoay với những ý nghĩ trong đầu rồi cuối cùng toi cũng đành phải bước ra nhận xâu cá và cất lên một lời cám ơn cô, nghe rất nhạt nhẽo. Chắc cô cũng đã thấy vẻ mặt khó đăm đăm của tôi lúc đó nên thẩy xâu cá vào lòng bàn tay của tôi xong là cô quay ngoắt đi thẳng không bình luận thêm một lời về công khó của mình nữa.

Khi cô giáo đi khỏi rồi tôi mệt mỏi tay cầm xâu cá chân bước lên bục giảng. Đột nhiên cả lũ học trò cùng phá lên cười, xen vào đó tôi còn nghe thấy cả những tiếng vỗ tay nữa. Tôi đột nhiên biến thành một thứ diễn viên hề đang ra mắt khán giả trên sân khấu. Vào cái giây phút này bài giảng Quang học về Thấu kính chẳng có liên hệ gì tới xâu cá tôi cầm trên tay. Tôi có cảm giác như mình vừa bị đẩy tuột từ vai trò một thầy giáo nghiêm chỉnh xuống vai trò của anh đứng bán xâu cá ngay ở giữa chợ trời! Còn bọn học trò thì chắc chẳng nghĩ ngợi gì xâu xa hay dè bỉu gì về cái chuyện ấy đâu. Chắc chúng nó chỉ thấy vui vui khi thấy ông Thầy đang đứng trên bục mà tay lại cầm xâu cá, một hình ảnh trái khoáy so với dáng vẻ nghiêm chỉnh của thầy mọi ngày. Có lẽ trong cả cuộc đời lấm lem cùng bụi phấn cả Thầy lẫn trò chúng tôi chưa bao giờ lại bị nhập vai trong một pha như thế này trên bục giảng và trong lớp học. Thế rồi ” Niềm vui” của lũ học trò bỗng đem lại cho tôi một ý nghĩ bất cần. Tôi chẳng còn ngần ngại hay giữ gìn ý tứ gì nữa. Cầm xâu cá trên tay tôi cũng giơ lên cao cho cả lớp nhìn thấy. Bây giờ thì tôi nhận ra đó là một xâu độ 4,5 con cá bạc má có vẻ còn tươi vì máu cá còn dính đỏ trên sợi lạt buộc. Qua sợi lạt buộc tôi cũng thấy cả gần trăm con mắt của lũ học trò đang đổ dồn vào xâu cá. Một đứa lên tiếng: “Cá còn tươi đó a thầy!” Một đứa khác ngồi ở cái bàn gần xế chỗ tôi đứng cũng lên tiếng: “Xâu cá này đem chiên giòn với mỡ thì phải biết! Hết cỡ!”

Đọc lại những trang sách của “Nhà Giaó Một Thời Nhếch Nhác” tôi như mường tượng lại một thời đã qua với những nét bôi đen lem luốc của lịch sử dân tộc. Đã hơn ba chục năm, và hình như ít nhà văn hay tác giả nào nhắc lại những chuyện thật xảy ra dưới mái trường được gọi là XHCN đó. Nhưng tấn thảm kịch của đất nước phải được nhìn lại để những kinh nghiệm sống như thế sẽ giúp ích cho những đời người sau. Thử tưởng tượng, mấy chục năm sau, những lớp hậu sinh sẽ giở lại những trang sách và họ sẽ hiểu được những nhọc nhằn của một thời kỳ mà tất cả đều phục vụ cho mục tiêu chính trị kể cả giáo dục.

Với những người tạm gọi là chứng nhân của một thời kỳ suy đồi nhất sau năm 1975, khi hồi tưởng lại là những cơn ác mộng. Lúc đó, mọi người trong xã hội phải bắt buộc diễn một vở kịch của giả trá, vẫn phải nói dối trong khi lương tâm dằn vặt vì sự bắt buộc ấy. Sự thực không ai dám nói ra và tất cả hình như ở trong trạng thái lo sợ bị rình rập theo dõi. Chế độ công an trị làm mọi người không ai tin ai, và lúc nào cũng có cảm tưởng có những tên điềm chỉ sẵn sàng báo cáo tất cả những sinh hoạt cá nhân của mình. Ngay cả vấn đề tư tưởng, cũng bị theo dõi, uốn nắn, trừng phạt nếu có những suy tư đi ngược lại khuôn mẫu của chế độ đặt ra. Nền giáo dục của chế độ độc tài như vậy có ảnh hưởng rất lâu dài cho đến tận tương lai sau bởi vì những hệ quả của nó.

Viết một cuốn hồi ký ghi chép lại những sinh hoạt giữa thầy và trò sau tháng 4 năm 1975 dưới mái trường XHCN có thực sự cần thiết không?

Nhà văn Nhật Tiến trả lời thực sự rất cần. Ông viết:

“Bởi nó là cội nguồn cho những sự tróc gốc đạo đức sẽ diễn ra trong xã hội Việt Nam trong nhiều năm sau đó. Khi nền tảng của chính sách giáo dục dựa trên những điều giả trá, những mưu toan ngoài giáo dục, lại được điều hành bởi những đầu óc thiển cận hẹp hòi đầy tự kiêu tự mãn thì thành quả của giáo dục nó sẽ ra sao ai cũng có thể thấy trước. Thấy mà chẳng ai dám nói ra có khi còn góp phần phụ họa làm cho bộ mặt giáo dục ấy càng ngày càng thêm thảm hại mà chứng cớ cụ thể là sự tuột dốc về đạo đức xã hội ngày nay đã hiện ra rõ rành rành. Bởi vì nó đã trổ hoa kết trái và tiết ra nhiều độc tố hơn là hương thơm sau nhiều chục năm được vun trồng.

Bởi chính nó, cái thành quả giáo dục ấy đã tạo nên tình trạng đạo lý suy đồi ở cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội ngày nay. Các trang tin tức quốc nội bây giờ đã đăng lên không thiếu gì những câu chuyện khó tin mà có thật với nhan nhản những con người không còn mang tính người. Mấy chữ” mac ke no” tức “mặc kệ nó” nghe tưởng vô thưởng vô phạt nhưng đã hàm chứa một triết lý sống cực kỳ tồi tệ và bi đát của một xã hội vô cảm mà hàng ngàn năm qua ta chưa bao giờ thấy hiện diện một cách lan tràn trên đất nước. Và cũng bởi chính nó tức cái thành quả giáo dục ấy mà những điều kiện an toàn của xã hội đã bị đảo lộn như luật pháp không còn nghiêm minh, tiền bạc mua được công lý chức quyền có thể đổi trắng thay đen, tiếng kêu của dân oan từ nhiều năm qua vẫn còn vang lên từ khắp mọi miền đất nước…”

Và, dù tuổi đã già, và trí nhớ một phần nào giảm sút, nhà văn Nhật Tiến vẫn viết để hoàn thành một tâm nguyện gần như cuối đời là tác phẩm ”Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác” một ghi chép chân thực về một thời đại đặc biệt của dân tộc gửi cho những thế hệ sau…

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn:https://nhavannhattien.wordpress.com/doc-nha-giao-mot-thoi-nhech-nhac-cua-nha-van-nhat-tien/

Nhát Roi Nhục Hình. Thơ Hư Vô


Vết Roi Nhục Hình

Từ em lăn lóc vào đời
Trăm năm như thể một hơi thở dài
Chỗ có dấu tích trần ai
Bước chân bỏ lại tàn phai lối người.

Ta còn có nửa ta thôi
Xin em vung thẳng nhát roi tuyệt tình
Cho hồn ta biết phiêu linh
Trong thương tích đã tượng hình hài em.

Lằn roi chạm buốt vào tim
Ứa chung giọt máu tưới mềm môi nhau
Lăn theo phấn nhạt son nhầu
Căng da xẻ thịt nỗi đau muộn màng.

Mà em tựa thoáng hương tan
Rắc vào hoang phế cho vàng mùa thu
Còn nghe trong xác lá mù
Nhát roi lao tới vết thù chung thân…

Hư Vô

Nguyệt Tận. Thơ Hư Vô- Nhạc Hồ Trung Hậu- Tiếng hát JB Thanh Hưng- Hòa âm Duy Cường.


0001 (2)0002-1 (2)

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: