Quán Thơ Hư Vô 415



HẾT NỬA ĐỜI MỚI BIẾT ĐẮM SAY NHAU

Ta đã lãng phí đời nhau một nửa
Một nửa đời sau còn được bao lâu
Thì em hãy vì ta như đóm lửa
Đốt cháy cả trần ai để bạc đầu!

Cho em biết tình yêu là hung bạo
Là bão giông theo mỗi tiếng thở dài
Dù ta có tan vào đêm cùng tận
Em vẫn nồng nàn như đang sớm mai.

Chưa hết trăm năm để thành người lạ
Em nửa đời như thể mới hôm qua
Vẫn hừng hực nhịp tim trong lồng ngực
Vụt cháy bùng theo vạt áo lụa là.

Còn vẳng tiếng em từ cơn mê hoặc
Lời cuồng say tựa những đợt sóng gào
Ta đã có một thời tình thất lạc
Hết nửa đời mới biết đắm say nhau…

Hư Vô

ĐƯA VÕNG NGÀY XUÂN

Võng êm tình tự ngày Xuân,
Đong đưa hạnh phúc trăm lần yêu thương.
Rót lên từng sợi vấn vương,
Tuổi thơ ngà ngọc mùi hương dậy thì.

Thủy tinh nắng mới trên mi,
Nhởn nhơ chân bước, tình si ai chờ…
Đong đầy thêm những ước mơ,
Mùa Xuân má đỏ bên trời trong xanh.

Anh về gieo hạt mộng lành,
Nụ cười chúm chím trên vành môi thơm.
Yêu nhau từ buổi sớm hôm,
Một đời chẳng đủ tay ôm không vừa.

Xuân về, lại hỏi về chưa?
Tóc xanh bỗng chạm bạc mầu thời gian.
Ngày Xuân lắng đọng lòng trần,
Võng đưa ngày mới tâm thân an lành.

trầnthịminhchâu

NỒNG NÀN MƯỜI HAI

Gió se chiều muộn
rớt lạnh tàn năm
ngân dài nỗi nhớ
thả sầu thinh không.

Một thời đuổi bóng
phớt cuộc tình theo
én trùng dương sóng
xô đời dạt xiêu.

Mùa Đông choàng ấm
ngọt mềm môi thơm
giọt suy tư đắng
vết thương lăn tròn.

Phố chìm vào mộng
em niềm mơ hoang
sủng ân cõi thế
mười Hai nồng nàn!

Nguyễn Nguyên Phượng

THƯƠNG NHỚ TRẦU CAU

Sóng đôi như cá bạc đầu
Ai têm cánh phượng cau trầu kết đôi
Thắm duyên từ thuở yêu người
Bên núi lỡ – phía sông bồi ai hay.

Bến quê con nước vơi đầy
Bước chân phiêu dạt dấu giầy long đong
Đời người sóng bủa mênh mông
Trầu cay từ buổi lọt lòng mẹ cha.

Khi tình xếp lá ngây thơ
Tiếng ru đã vắng câu hò về đâu
Giàn xưa xanh ngát liếp trầu
Hương cau ngây ngất quyện màu khói sương.

Quê người có lúc chiều buông
Sáo qua sông tiếng kêu buồn lẻ loi
Tôi ơi từ buổi xa người
Trầu cau đã cạn hết lời nhớ thương.

Nguyễn An Bình

CHÚT ƠN TÌNH THÁNH NỮ

Từ cõi nào rất lạ
Đến hẹn giữa mùa nhau
Tôi đã đời lữ thứ
Em một thời tiểu thư

Ngỡ như mùa sắp cạn
Ngày vẫn đầy sắc hương
Nụ cười em biếc ngọc
Gói nỗi buồn mang đi

Tìm nhau trong mộng mị
Đêm dư thừa nhớ nhung
Em đã là thánh nữ
Giữa mùa tôi tục trần

Cõi diệu huyền em tới
Những nẻo đời biếc xanh
Tìm nhau trong ngõ tối
Lòng đã đầy bao dung

Chút ơn, tình thánh nữ
Giữa vô ngần bão dông
Bụi hồng tôi trước gió
Tình em hoài mênh mông.

Trung Chinh Ho

GIAO MÙA

Ta đứng bên trời ngong ngóng đợi
Mùa xuân lừng lững bước qua đời
Lá vàng rơi rụng thềm nhung nhớ
Khẽ nhặt tình ai lặng lẽ rơi

Em đến rồi đi sầu ở lại
Nỗi buồn hóa thạch phủ hồn thơ
Bến đời ai đứng chờ mê mải
Khoảng lặng vô hồn chôn giấc mơ

Ta trả cho em một nỗi buồn
Chín buồn còn lại hóa mười thương
Em về giữ cả mười thương đó
Để mãi lòng ta trọn vấn vương

Đêm bỗng thấy dài hơn tưởng tượng
Làm sao dỗ giấc mộng hoang đường
Nghĩ gì khi cạn dòng suy tưởng
Nhắm mắt quên đi những chán chường

Dẫu biết tình yêu luôn tuyệt diệu
Đời người chỉ tựa áng mây trôi
Ngắm trời lòng chợt rưng rưng hiểu
Giọt lệ ngày nào em đánh rơi

Ninh Tran

SƯƠNG CHIỀU CỐ QUẬN
(Gửi Thục Uyên)

Ta có những đêm sầu cố quận
Chong đèn ngồi nhớ buổi long đong
Hỡi ơi! con nước xa bờ ấy
Còn rớt ven sông mấy giọt buồn!

Muốn hỏi bên kia trời viễn xứ
Đường chiều lặng lẽ cuối chân mây
Xuân qua đã mấy mùa rong ruổi
Sao vẫn hồn vương gió ngập đầy…?

Nằm nghe tuyết phủ bên trời rộng
Bên này- lòng cũng giá băng thôi
Núi chẳng xanh cây, chim chẳng đậu
Còn sá chi đất Mẹ, quê người…

Há lẽ chúng mình như lữ khách
Có cố hương không một lối về
Lỡ một lần xa là vạn dặm
Mỏi mòn từng nỗi nhớ thương quê.

Đã bước chân đi vào mê lộ
Là biết đi vào cơn biển dâu
Bên sông chưa thấy hoa quỳ nở
Đã thấy sương pha bạc mái đầu…!

Châu Ly

CÙNG ANH UỐNG NGỤM GIAO THỪA

Cũng là tháng chạp tinh khôi
Và sương như áo mỏng ngồi trên cây
Chở nhau về trú đêm này
Nắng lên hắt một bụm mây. Ra đồng

Sắc trời đã hóa hư không
Hỏi cô én nhỏ phải lòng ai chưa?
Cùng anh uống ngụm giao thừa
Nhắc em kịp nhớ. Khi vừa vặn quên

Dịu dàng giấu một cái tên
Vào trong đôi mắt tháng giêng trong ngần
Nụ hồng ai để trước sân
Và xuân lấp ló về lân la ngồi

Mai Tuyết

YÊU NGƯỜI

Yêu người ta đã yêu người ấy
Yêu cả trăm năm cả nghìn năm
Vẫn chưa thấy đủ nên ta đã
Viết vào khuôn trăng một ánh rằm

Câu thơ ta viết trong như nước
Để đẹp nhân gian một nụ cười
Chẳng phải Hằng Nga chẳng Chức Nữ
Chỉ là em em của ta thôi

Em cũng như ta chỉ là cỏ
Là mây trôi là nước giang hồ
Trên đỉnh non cao vầng nguyệt quế
Ngó thiên đường chỉ thấy hư vô

Yêu người bằng trái tim thơ dại
Như người xưa yêu cả lối về
Yêu đến độ trái tim cháy lửa
Dẫu tro tàn chẳng hết si mê

Câu thơ ta viết xanh màu lá
Vào khuôn trăng em rất thiệt thà
Có nụ cười hiền ngoan của cỏ
Có một đời mưa nắng thiết tha

Yêu người ta chỉ yêu người ấy
Hơn cả trăm năm cả nghìn năm

Vương Phạm Tâm Ca

Em Có Là Mưa Nắng, Cũng Lạnh Tựa Nhát Dao. Thơ Hư Vô



Có khi trời còn nắng
Đã nghe mưa trong lòng
Có khi chiều rất vắng
Ta ngồi với bóng không.

Em thì như mưa nắng
Còn chưa biết hẹn hò
Để ta thành trang giấy
Chất đầy những câu thơ.

Tìm nhau trong tập vở
Có khi rất tình cờ
Như một giọt mực tím
Mà biếc cả giấc mơ.

Ta nương theo nhịp thở
Níu sợi tóc em dài
Bàn tay chưa vói tới
Hình hài em như mây.

Lơ lửng cùng mưa nắng
Cho đầy thêm mùa thu
Lá bay che kín lối
Đường em qua mịt mù.

Ta như người lữ khách
Đâu còn chốn nương thân
Bước chưa tới chiếc bóng
Đã chạm nỗi thăng trầm.

Làm tim ta rỉ máu
Vết thương đang dậy thì
Chỗ em đã dẫm xuống
Cả một thời tình si.

Êm ả mà nhói buốt
Từ nỗi đau ngọt ngào
Em có là mưa nắng
Cũng lạnh tựa nhát dao…

Hư Vô

Hết Nửa Đời Mới Biết Đắm Say Nhau. Thơ Hư Vô


Ta đã lãng phí đời nhau một nửa
Một nửa đời sau còn được bao lâu
Thì em hãy vì ta như đóm lửa
Đốt cháy cả trần ai để bạc đầu!

Cho em biết tình yêu là hung bạo
Là bão giông theo mỗi tiếng thở dài
Dù ta có tan vào đêm cùng tận
Em vẫn nồng nàn như đang sớm mai.

Chưa hết trăm năm để thành người lạ
Em nửa đời như thể mới hôm qua
Vẫn hừng hực nhịp tim trong lồng ngực
Vụt cháy bùng theo vạt áo lụa là.

Còn vẳng tiếng em từ cơn mê hoặc
Lời cuồng say tựa những đợt sóng gào
Ta đã có một thời tình thất lạc
Hết nửa đời mới biết đắm say nhau…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 414



DÃ QUỲ VÀO XUÂN

Cánh dã quỳ mong manh như lụa
Trên tóc em gầy vai áo xưa
Của những mùa xuân đang trở lại
Cho dài bóng lá biết tương tư.

Thềm cũ miên man hồn cuối chạp
Chập chờn theo mỗi bước chân tôi
Chỗ có em ngồi phơi dáng nắng
Như còn óng ánh dấu son môi!

Em suốt đời vẫn là chiếc bóng
Hoá thân vào một cõi dung nhan
Thì tôi cũng có lần quờ quạng
Trên môi em để biết hoang đàng.

Cho tóc còn thơm tho mùi Tết
Dã quỳ như thể mới tầm xuân
Mà em tựa hạt sương tan chậm
Không có trăm năm cũng một lần…

Hư Vô

MÙA XUÂN TRONG HY VỌNG

Xuân còn lãng đãng bên khung cửa,
Lòng đã vàng theo với hoa mai.
Có phải kiếp sau mình gặp lại?
Thì một đời gọi mãi tình nhân.

Đất trời gió bụi bao chuyển vận,
Mây xám buồn giăng với nhân gian.
Rót chén trà thơm xin cùng nhấp,
Để lại tình đời chữ bình an.

Xuân vẫn ở đây chẳng muốn tàn,
Chỗ ngồi còn ấm đợi sương tan,
Mặt trời thôi khóc, niềm hy vọng,
Ta gặp lại nhau ấm tình nồng.

trầnthịminhchâu

NẾU NHƯ…

Nếu mở mắt chỉ thấy toàn bóng tối
Thì khác chi ta một kẻ mù lòa
Nếu xuân về quay mãi guồng tơ rối
Thì khác chi đông lạnh lẽo mưa sa

Nếu câu hỏi không có lời đáp trả
Thà làm rêu ngồi trên đá lặng câm
Nếu yêu thương chỉ đầu môi chót lưỡi
Thà làm chim ca hát giữa cánh đồng

Phố, phố vắng như hành tinh hoang vắng
Người, người trôi xa lạ khuôn mặt người
Khi tay chạm đến kiệt cùng vực thẳm
Nơi đáy sâu thiếu hơi ấm tình đời

Những ký ức nhắc giấc mơ tan vỡ
Muôn kiếp dường sẽ mãi vậy mà thôi
Hết sớm tan, chiều đi, đêm đen tới
Mùa gối mùa, tháng gối tháng. Lặng trôi…

Nếu nụ cười, nước mắt là mộng cảnh
Nếu buồn, vui cũng chỉ thoáng phù vân
Sao lòng phải day dứt cùng khổ luỵ
Nhủ lòng mình sống trọn một ngày xanh

Thiên Di

XUÂN MUỘN

ơi em
ngày đã qua rằm
ơn trời
cho nụ tơ tằm đơm hoa.
hẹn thề trải mấy can qua
thương xuân trổ muộn mùa xa biệt mùa.

ơn đời
còn tiếng dạ thưa
ơn em
dành chút tình thua thiệt tình.
mai ngày cưỡi mộng về dinh
mời em cạn chén nhục vinh kiếp người.

anh về
sắm chiếc gương soi
mình chung đôi
với bóng đời xế tan…

Đức Phổ

NGÀY XUÂN QUÁ VỘI

Thế rồi xuân cũng vội
Trôi qua lòng hoàng hôn
Vàng hoa chiều tiếc nuối
Rơi như giọt lệ buồn

Hình như em cầm giữ
Mấy mươi mùa xuân tôi
Hình như em vừa thả
Tình xuân tôi bên trời

Tôi hóa thành chiếc lá
Vàng suốt một rừng xuân
Em ướm lòng hương cũ
Chưa nguôi niềm lãng quên

Ngày xuân qua quá vội
Lòng chưa kịp giao thừa
Có người thay áo mới
Thầm nhớ mùi hương xưa

Tình em vàng hoa cúc
Từ buổi nguyệt chưa rằm
Tôi một đời nở muộn
Nở muộn hoài trăm năm.

Lê Văn Trung

GIẤC MƠ NÀO MẶC CẢ ĐƯỢC HƯ VÔ

Là giọt lệ không đan thành nước mắt
Nụ trên môi mà nhụy khép trong hồn
Con sẻ nhỏ trên đường biên hiu quạnh
Ngó mây trời bằng đôi cánh hoàng hôn

Là hơi thở nép mình vào trôi giạt
Bước miên man còn vướng sợi tơ hoài
Âm huyết lạnh tự trầm trong khúc hát
Sonate chiều lơ lửng nhịp tàn phai

Ngọn cỏ úa nghiêng mình hôn mặt đất
Nghe bàn chân kể lể chuyện lưu đày
Đàn kiến mỏng đi về trong sương lạnh
Giữa điêu tàn hương rụng lá vàng bay

Từ cõi nọ đã bộn bề trống rỗng
Chén mênh mông đong từng giọt mơ hồ
Thì tôi hỡi giữa thiên đường hoa mộng
Giấc mơ nào mặc cả được hư vô

Bờ tịch mịch cổng huyền xưa khép mở
Nhánh lau gầy cõng gió với mông lung
Tiếng chim mọc phía bèo tan nước vỡ
Một âm rung thiêu cháy cả vô cùng…

Sơn Nguyễn

XUÂN VỀ

Khẽ thôi,
bước khẽ
thôi người

Nghe mùa
để dáng
bên đời sáng nay

Dịu dàng
tươi thắm
sắc mai

Muôn hoa rộ nét
mãn khai,
xuân về…

BT Áo Tím

NHỚ QUÊ

tôi ngồi với bóng tôi đây
ngọn đèn bạch lạp chảy nhầy nhụa đêm

lần tay đếm cả bao diêm
giao thừa tôi với mình ên. tôi và

nhớ chi là nhớ. chu choa!
nhớ mẹ nhớ bà. nhớ bố nhớ ông…

chắc con Trang cũng lấy chồng
mình đi biệt dục đã không tin gì

con chó mực biết giờ đây
mình về nó có nhớ này nữa không?

nhớ gì. nằm nhớ phông lông
nhớ tùm lum hết mà không nhớ gì

gần sáng rồi thôi ngủ đi
nhắc mình thế. lại nằm lì. thở ra

nhớ tháng chạp mấy luống hoa
dướng dương vạn thọ mồng gà trổ huê

tết nghèo nhưng ấm ám quê
mấy sắp nhỏ cứ đi khoe lì xì

trở mình nghe giấc thiên di
tết sum họp được mấy người tha hương?

tôi nằm/ngồi gác trọ vuông
ước gì ngủ giấc luông tuồng cho xong

vậy mà đêm não đi rong
ngược về quá khứ cho lòng nhểu ra

cây đèn bạch lạp thêu hoa
mắt người mắt phố nhòe ra vô cùng…

Trần Thanh Dũng

CẢM NHẬN CUỐI NĂM

Ô kìa,
những hạt mưa sa
bay qua
vẫn bay

Nỗi nhớ nào đang lay
trên từng xác hoa gầy

Ngày níu theo ngày
Đang bỏ ta
Với ta bà
Nhìn theo
những dấu chân xa..

Trung Chinh Ho

Dã Quỳ Vào Xuân. Thơ Hư Vô



Cánh dã quỳ mong manh như lụa
Trên tóc em gầy vai áo xưa
Của những mùa xuân đang trở lại
Cho dài bóng lá biết tương tư.

Thềm cũ miên man hồn cuối chạp
Chập chờn theo mỗi bước chân tôi
Chỗ có em ngồi phơi dáng nắng
Như còn óng ánh dấu son môi!

Em suốt đời vẫn là chiếc bóng
Hoá thân vào một cõi dung nhan
Thì tôi cũng có lần quờ quạng
Trên môi em để biết hoang đàng.

Cho tóc còn thơm tho mùi Tết
Dã quỳ như thể mới tầm xuân
Mà em tựa hạt sương tan chậm
Không có trăm năm cũng một lần…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 413



LẠC LỐI VỀ

Tôi về như thể hồn Lưu – Nguyễn
Lối xưa lạ lẫm tự bao giờ
Trăm năm chưa dài hơn nhịp thở
Thì làm sao đuổi kịp cơn mơ!

Mà em từ thuở quên hò hẹn
Chốn cũ hoang tàn những dấu chân
Của người lữ khách không chỗ trọ
Có lần bước vấp bóng tình nhân.

Núi còn không hay lời đá gọi
Em chắc gì đã biết tôi đau
Vết thương dẫu có liền da thịt
Trong tim vẫn rát buốt cồn cào.

Tôi về như thể người đi lạc
Vào cõi nhân gian chịu nhục hình
Chân trần dẫm xuống chùm gai nhọn
Còn nghe loạng choạng cuộc phù sinh…

Hư Vô

CƠN MÊ
Thân tặng Nhứt Lang

Tìm đâu một lối đi ra,
Quanh co cũng mãi lòng va nỗi sầu.
Môi son chợt bỗng nhạt mầu,
Cuối năm buồn hỏi Tết đâu chẳng về?

Thôi thì gió bụi cơn mê,
Tử sinh chia cắt lòng tê tái lòng.
Đêm khuya bên ngọn đèn chong,
Như người thấp thoáng, nhớ vòng tay ôm.

Chiều về nhìn ánh sao hôm,
Gió Xuân se lạnh còn thơm hương tình.
Khoác vào áo lụa hoa xinh,
Soi gương vẫn thấy bóng hình đôi ta.

Chuông vang tiếng nhạc lời ca,
Cuộc đời không thật như là trong mơ.
Bên này xin gởi bài thơ,
Bên kia đón đọc duyên tơ vẫn hồng…

trầnthịminhchâu

LỜI CUỐI NĂM

Em à sa mạc hoa đắt
dành dụm chút vì tương lai
mà em thường hay lãng mạn
ngó trời vạn đóa hoa mây

Đừng ngây người ra đứng thế
kẻo mà thừa thãi đôi tay
giẻ đây lau chùi nhà, bếp
giúp anh dọn dẹp nơi này

Thôi chả thêm quần áo mới
tết chỉ vài ngày loay hoay
môi em không cần son đỏ
đi đâu tô vẽ lông mày

Phiền em ngồi yên một chỗ
đừng viết thơ tình cho ai…

Diệp Hoàng

KHÚC CUỐI ĐÔNG

Một ngày ngọn gió di cư
Thổi ràn rạt xuống hồn từ đêm qua
Se lòng lá cuộn bâng quơ
Cây co ro lạnh ngọn khô phơi mình.

Một ngày ngọn gió vô tình
Tôi ơi thân phận tội tình gì không?
Em cùng tôi chạy long đong
Kiếp tằm có nhả tơ lòng ngày sau.

Một ngày ngọn gió hư hao
Về miền xa thẳm ai nào đón ai
Phiêu bồng ngọn cỏ chiều nay
Tình còn nán lại chút nầy đó thôi.

Một ngày ngọn gió mồ côi
Tráo bao thân phận mảnh đời phù hoa
Nhạn bay khắp cõi giang hà
Bỏ tôi ở lại bên bở tử sinh.

Một ngày ngọn gió trở mình
Cuối năm cứ ngỡ bóng hình người xa
Một cơn mưa muộn trôi qua
Cánh hoa đào rụng la đà riêng tôi.

Nguyễn An Bình

MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ – Đỗ Phủ

Nửa phía biển dạt trôi…miền vọng nhớ
Tan tác chiều chia biệt bởi vì đâu
Nắng Cali chập chờn tầng ngất phố
Những bông li rụng trắng dưới chân cầu.

Áo tình em cuốn mê đời phiêu bạt
Giảng đường xưa Cường Để giữ mà thương
Mộng bình nguyên bên trời chất ngất
Một nhành mơ phất gọi nấy nẻo đường!

Thơ ta đọc vỉa hè run rẩy gió
Nhà Tây Hồ đằm ngọt cọng rau tươi
Về Phú Nhuận ngã tư đời đứng ngó
Sóng ưu tư lên chờn chợn mặt người.

Em đừng hỏi tuổi xanh pha sợi bạc
Hỏi này sông thả lá đợi chờ Thu
Như thuở ngu ngơ cầm nhầm Thạch Thảo
Tìm thấy nhau cuối bến lạ sương mù?

Giọt thơm đắng Sài Gòn năm tháng tận
Bạn bè ta mây trắng lãng đãng trôi
Rưng hồn quê Cúc vàng thơ Đỗ Phủ
Mộng hoài hương da diết Sài Gòn ơi!

Nguyễn Nguyên Phương
Cuối Chạp, Canh Tý 2021

MÙI HƯƠNG VANI

Tôi đi ngang qua khu vườn lá non
Buổi sớm mai. Nghe tiếng chim thơm mùi cỏ biếc.
Nghe giọt sương vừa kể câu chuyện mùa xuân…

Nghe cánh gió đậu lại môi cười.
Tôi nhìn thấy. Nàng răng đen
Mắt một mí!

Tóc xoăn như chiếc bắp cải xanh
Đôi mắt như viên bi ngây thơ. Nàng trong hình hài cô lọ lem hiện đại
Tôi mãi mê ngắm nhìn. Tôi ước tôi cũng giống nàng.

Ước tôi được như nàng. Trong vắt
Ngoài kia những cụm khói như sóng
Tràn qua ký ức tôi. Rụng mùi hương vani!

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

HƯƠNG XUÂN

sáng nay thoáng một nụ hoa vàng
Sau chòm lá biếc sương chưa tan
Chú chim sẻ nhỏ reo thánh thót
Rót giọt nắng mềm… Ô! xuân sang

Xuân đến nhẹ nhàng như giấc mơ
Ta nghe ấm lại một hồn thơ
Đất trời đang độ mùa giao hưởng
Hoa lá cựa mình, đẹp mgẩn ngơ…

BT Áo Tím

TỰ NHIÊN

Tự nhiên thấy mình đã già
Thấy xuân trẻ quá sắp qua tết rồi
Tự nhiên mồ côi tiếng cười
Hiếm hoi như thể ba mươi trăng về

Tự nhiên thương lắm miền quê
Thương bờ lau trắng triền đê bồi hồi
Tự nhiên chỉ tự nhiên thôi
Mà nước mắt mặn trên môi nhớ thầm

Tự nhiên xinh một đóa rằm
Cài trên ngực thuở thanh tân xuân thì
Tự nhiên ai đó trồng si
Trổ cành vươn nhánh mỗi khi đông tàn

Tự nhiên nhớ bến đò ngang
Đưa người buổi ấy để ngàn chiều đau
Tự nhiên tóc lại đổi màu
Như là thương nhớ rối nhàu mây bay

Tự nhiên muốn nghe tim say
Tự nhiên ghét thế gian này ghét em

Vương Phạm Tâm Ca

ANH YÊU EM MÙA XUÂN

Anh yêu em mùa xuân
Hoa nắng hồng tình nhân
Áo xuân choàng hương sắc
Trải nhạc lừng bước chân.

Tay trong tay tình mơn
Gió dịu dàng môi thơm
Hoa bướm vờn giậu biếc
Yêu tha thiết trong hồn!

Mùa xuân cỏ non xanh
Lăn tròn em với anh
Cây hồng hào da thịt
Chim hót reo trên cành

Mùa xuân đẹp đường cong
Xanh núi rừng biển sông
Cuộc đời ly rượu mạnh
Mùa xuân chín say lòng!

Nầy cành mai vàng thắm
Nầy là cành đào yêu
Muôn hoa xuân sắc thắm
Anh yêu em! Anh yêu!

Mùa xuân! Anh yêu em
Đất trời lạ mà quen
Tình phút giây vĩnh cửu
Trong lòng Mẹ Thiên Nhiên!

Anh yêu em mùa xuân
Máu rạo rực trong thân
Dù đêm xuân trăng khuyết
Vẫn tình nồng ái ân…

Trần Thoại Nguyên

Nhớ Lần Thăm Nhà Văn Bình Nguyên Lộc. Giáo sư Phan Văn Giưỡng


G.S Phan Văn Giưỡng chuyển ngữ từ “Remembering a visit with Bình Nguyên Lộc” của John C. Schafer.


“Bình Nguyên Lộc là nhà văn miền Nam. Ông ấy có thể cho anh chị biết quan điểm của người miền Nam”, nhà văn Nguyễn Mộng Giác nói với chúng tôi như thế.

Chúng tôi rất mong được gặp Bình Nguyên Lộc, một người miền Nam, một cây bút viết truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng, đồng thời cũng là một học giả chuyên về ngôn ngữ học lịch sử và so sánh.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết tiếp: “Bình Nguyên Lộc qua Mỹ chỉ khoảng một năm nay thôi. Ông ấy đang sống ở vùng Rancho Cordova, gần Sacramento.”

Hôm qua, mở tạp chí Văn Học số tháng Tư, tôi biết tin là Bình Nguyên Lộc đã từ trần vào ngày 5 tháng Ba, thọ 72 tuổi.

……..

Ngày 5 tháng Giêng là một ngày đẹp trời. Từ Sacramento, nơi chúng tôi nghỉ lại đêm, chúng tôi lái xe đến Rancho Cordova. Hai đứa con trai của chúng tôi, một đứa 6 và một đứa 12 tuổi, cùng đi với chúng tôi. Loay hoay một lúc, chúng tôi mới tìm ra nhà Bình Nguyên Lộc, một căn phố nhỏ với giá rẻ trên đường Sierre Madre. Đón chúng tôi ở cửa, ông mặc chiếc áo khoác mùa đông màu nâu và choàng một chiếc khăn lông ở cổ. Ông cho biết thời tiết ở Rancho Cordova quá lạnh. Ông mời chúng tôi vào căn phòng bài trí đơn giản: một cái bàn nhỏ đầy sách báo được đặt ngay giữa phòng khách. Ông đã là một nhà văn và một học giả từ năm 1948 và trong sự cảm nhận của tôi, ông vẫn còn là một nhà văn và là một học giả.

Chúng tôi ngồi xuống chiếc trường kỷ trong lúc hai đứa con của chúng tôi chơi ở ngoài. Trông ông có vẻ yếu đuối khi cầm bình thuỷ rót trà cho chúng tôi. Vợ ông thì đang bị bệnh, nằm liệt giường trong một căn phòng khác. Chúng tôi biết là ông đến Mỹ trong ‘Chương trình Ra đi có Trật tự’ (O.D.P.) chủ yếu là nhằm tìm cách chữa bệnh cho bà vợ.

Chúng tôi bắt đầu hỏi ông về những cuốn tiểu thuyết đầu tiên mà ông đã đọc được lúc còn là một đứa bé lớn lên ở vùng châu thổ sống Cửu Long giữa hai trận thế chiến.

Ông nói: “Cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên tôi đọc là một cuốn sách mà thoạt đầu cha tôi cấm không cho đọc vì cho là dâm thư, đó là cuốn Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu. Cuốn này được xuất bản vào khoảng năm 1917, và tôi tin đó cũng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một câu chuyện tình xảy ra ở miền Nam, chẳng có gì là dâm ô cả. Cuốn tiểu thuyết kế tiếp tôi đọc được là cuốn Chăng Cà Mum của Nguyễn Chánh Sắt. Đây là câu chuyện về một cô gái Việt Nam sống gần biên giới Miên, bị bắt cóc đưa sang Miên một thời gian khá lâu trước khi được quay trở về Việt Nam, Cuốn tiểu thuyết này chưa được xuất bản nhưng đã được quảng bá rộng rãi trên tờ quảng cáo của một tiệm thuốc Bắc.

Tiểu thuyết gia kế tiếp mà tôi đọc là Hồ Biểu Chánh. Có thể tôi cũng đã đọc một số tác giả khác ngoài Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Chánh Sắt nhưng họ không nổi tiếng mấy và tôi cũng không nhớ được. Nếu tôi biết trước những gì ông bà định hỏi hôm nay thì tôi sẽ ghi lại những chi tiết này đầy đủ hơn.”

Nếu vào thập niên 20, khi còn là một đứa bé mới chín, mười tuổi lớn lên ở miền Nam Việt Nam, Bình Nguyên Lộc biết là vào năm 1987 ông sẽ ngồi ở một căn phố thuộc vùng Rancho Cordova, tiểu bang California, nói chuyện với một người Mỹ về Hà Hương phong nguyệt truyện và Chăng Cà Mum…, những lời phát biểu của ông sẽ mang tính chất châm biếm hơn là dự định.

Sau đó, khi đến thăm thư viện đại học Cornell, chúng tôi đã tìm ra Hà Hương phong nguyệt truyện – không phải in thành sách mà nằm rải rác trong các số báo Nông cổ min đàm, một tờ báo ở miền Nam. Những gì Bình Nguyên Lộc kể với chúng tôi đều được kiểm chứng từ những nguồn tài liệu khác. Trí nhớ của ông về con người, tên sách và sự kiện đều rõ ràng và chính xác.

Những cuốn sách giáo khoa và lịch sử văn học – như của Dương Quảng Hàm và của Vũ Ngọc Phan – đều do những người ở miền Bắc viết. Những cuốn sách này cho rằng những tiểu thuyết đầu tiên ra đời ở miền Bắc, đó là cuốn Tố tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925) và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật (1925). Mặc dù còn tuỳ thuộc vào cách hiểu thế nào là ‘tiểu thuyết’, công việc nghiên cứu của chúng tôi, ngược lại, đã chứng minh là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã được viết ở miền Nam, và có lẽ Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt hay Trần Chánh Chiếu xứng đáng hơn Hoàng Ngọc Phách hay Nguyễn Trọng Thuật trong danh hiệu cây bút viết tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam.

Tôi e rằng thành kiến địa phương đã dự phần vào việc thẩm định nên tôi muốn Bình Nguyên Lộc xác nhận sự nghi ngờ của tôi. Sau đó tôi nhận ra là tôi đã quá bồng bột khi chấp nhận một cách giải thích phiến diện cho một hoàn cảnh phức tạp. Bình Nguyên Lộc cho biết mặc dù một số người miền Bắc có thái độ tương tự người Trung Hoa, những kẻ tin rằng họ sống ở ‘trung quốc’ (Middle Kingdom) và chỉ có bọn man di mới sống ở phía Nam, có một số lý do khác cắt nghĩa tại sao các nhà phê bình miền Bắc không đề cập đến tác phẩm của các cây bút phía Nam. Ông nói: “Các học giả miền Bắc như Dương Quảng Hàm đã không nhắc nhở đến các nhà tiểu thuyết miền Nam vì họ không đọc được tác phẩm của những người này chứ không phải vì họ không thích người miền Nam. Tác phẩm của người miền Nam không được bày bán ở Hà Nội cho nên họ không biết chút gì về những tác phẩm đầu tiên đã được sáng tác ở miền Nam.”

Ngay cả khi chúng tôi nhắc đến cộng sản, Bình Nguyên Lộc cũng nói với sự buồn rầu hơn là giận dữ. “Thoạt đầu người ta thích cộng sản bởi vì họ tưởng là chúng sẽ lấy của cải của người giàu để cho người nghèo. Nhưng họ khám phá ra là của cải của cả người giàu lẫn người nghèo cũng bị lấy luôn… Sau năm 1975, tôi không viết được nữa. Ách kiểm duyệt quá nặng nề và chỉ có các đảng viên hay cảm tình đảng mới có thể được phép xuất bản. Họ có mời tôi viết nhưng tôi từ chối. Văn chương có thể được diễn dịch theo nhiều cách khác nhau. Lỡ có ai đó diễn dịch tác phẩm của tôi theo một chiều hướng khác thì tôi sẽ bị rắc rối ngay.”

Khi cuộc phỏng vấn chấm dứt và máy ghi âm đã tắt, hai đứa con của tôi nhào vào phòng. Bình Nguyên Lộc cúi xuống Văn, đứa con trai lên sáu của chúng tôi, hỏi nó bằng một giọng tiếng Anh rõ ràng nhưng không hoàn chỉnh: “Cháu có thấy ông già Noel chưa?” Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy là ở vào lứa tuổi 70, ông không nên đến đây, không nên học tiếng Anh, không nên khởi sự cuộc đời trở lại. Ông nên ở lại quê hương đầy nắng ấm của ông.

Tôi hình dung cảnh ông lê bước dọc quầy hàng trong một khu siêu thị sáng choang ở Rancho Cordova, khom lưng trên chiếc xe đẩy mua hàng, run rẩy trong chiếc áo khoác, cố gắng nói một vài câu tiếng Anh mới học được với một thâu ngân viên lơ đễnh và thiếu kiên nhẫn. Tôi không biết những người hàng xóm của Bình Nguyên Lộc tại Rancho Cordova nghĩ gì về ông. Có thể họ nghĩ ông cũng giống như bao nhiêu thuyền nhân khác, bao nhiêu người tị nạn khác. Có thể họ nghĩ ông – tác giả của trên 100 cuốn sách, trong đó có những công trình nghiên cứu uyên bác về nguồn gốc tiếng Việt – là một người mù chữ. Tôi nghĩ là ở Việt Nam, ngay cả một nước Việt Nam cộng sản, ông sẽ được quí trọng hơn. Nhưng tôi sực nhớ đến bàn viết đầy giấy tờ của ông. Tôi biết rằng từ ngày sang Mỹ, ông đã bắt đầu viết trở lại và xuất bản nhiều truyện ngắn và cảo luận trên các tạp chí văn học bằng Việt ngữ ở Hoa Kỳ và Canada. Ngoài ra, các ấn bản mới của tác phẩm của ông đã được in ở Los Angeles. Rõ ràng là nước Mỹ đã cho ông được một cái gì đó trong suốt một năm ông sống ở đây. Nó cho ông tự do để cầm bút trở lại. Đối với một nhà văn như Bình Nguyên Lôc, món quà ấy chắc chắn không phải nhỏ.

(GS Phan Văn Giưỡng chuyển ngữ từ bài “Remembering a visit with Bình Nguyên Lộc” của John C. Schafer, đăng trên The Vietnam Forum số 13/1990)

Quán Thơ Hư Vô 412



TRĂM NĂM ĐÁ CŨNG BẠC ĐẦU

Trăm năm đá cũng bạc đầu
Một thời xanh tóc có lâu lắc gì
Vậy mà em vẫn bỏ đi
Nhẹ nhàng như cánh thiên di lạc đàn.

Dẫu là thủy mặc phù vân
Thì tôi cũng đã một lần chiêm bao
Thấy em thổn thức xôn xao
Đêm chong đèn xõa tóc vào thiên thu.

Bóng em như thể mộng du
Phất phơ ngang cõi mịt mù trống không
Chỗ tôi lơ lửng bềnh bồng
Hồn treo ngược sóng giữa dòng nhân gian.

Tóc thề rũ xuống dung nhan
Đá trăm năm còn ngỡ ngàng đó em
Để nghe giọt lệ dài thêm
Nhỏ vào thương tích vết đêm chưa lành…

Hư Vô

TIẾNG CƯỜI ĐẦU NĂM

Cho đời một nụ cười tươi,
Bước chân lên dốc, mưa rơi- tiếng cười.
Gói thêm đây cả tình tôi,
Đôi chân xuống dốc có trôi buồn phiền?

Mệt nhoài đời sống triền miên,
Rũ đi cho nhẹ để lòng vô ưu.
Anh đong tuổi mới phù du,
Đêm say cuống quýt mây mù cũng tan.

Nhận thêm một tuổi bình an,
Tiếng cười vút tận trăng rằm đầu năm.
Nụ hoa ngày mới nảy mầm,
Thắp thêm hy vọng trong trầm hương thơm.

trầnthịminhchâu

THƯƠNG EM LÀN TÓC NGÃ THEO BÓNG CHIỀU

Cuối năm lật quyển sổ đời
Nợ sao là nợ ngút trời mây luôn
Nợ café quán bên đường
Nợ cô bán rượu cộng dồn mấy trăm

Nợ gần tới nợ xa xăm
Nợ tiền vay nóng ngân hàng lãi cao
Thưởng lương chẳng được là bao
Bàn thờ trống hoắc gió vào nhà không

Tết như có bão trong lòng
Túi to nhưng chỉ mấy đồng nhỏ nhoi
Siêu thị là để xem chơi
Em đòi mua váy thì thôi cười trừ

Bạc tiền như mớ phù hư
Nghèo trong tiền kiếp thiên thu vẫn nghèo
Gió đưa sóng đẩy dạt bèo
Thương em làn tóc ngã theo bóng chiều

Ghét ta cái gã chơi liều
Yêu em chỉ một yêu nhiều nhất thôi
Rượu nồng ta uống mềm môi
Nghèo chơi mút chỉ ai chơi hơn mình!

Hoàng Anh 79

CUỐI NĂM TRÒ CHUYỆN VỚI THÚY KIỀU

Mười lăm năm, phận đàn bà
Em như bèo bọt cứ va vấp tình
Tiền Đường sóng nước lênh đênh
May sao còn lại bóng hình cố nhân!

Hoa tan, ngọc nát bao lần
Trái tim vẫn đỏ, chưa phân hủy lòng…
Tài hoa chi rứa hóa công?
Một khúc bạc mệnh vận trong nghê thường!

Có đi qua nỗi đoạn trường
Mới tin tài sắc ấy thường đớn đau…
Cuối năm Qua đứng bên cầu
Nhặt điêu linh Bậu mà cau mặt buồn…

Ước gì đất hóa thiên đường
Em bay lên với chín thương, mười chờ
Lầu Ngưng Bích chỉ còn thơ
Mùa xuân én liệng, sầu xưa quy hàng…

Trần Dzạ Lữ

NỤ TÌNH NGUYÊN XUÂN

Tình nhau vừa tháng chạp
Lòng đã vội giao thừa
Nôn nao mùi áo mới
Xuân đã về hay chưa?

Mùa ơi đang hàm tiếu
Anh mơ tình mãn khai
Nở vào nhau em nhé
Vàng thắm nụ hoàng mai

Em? Hay là chim én
Bay vào anh. Trời xanh
Trăm năm còn hò hẹn
Một nụ tình nguyên xuân.

Lê Văn Trung

DẤU YÊU

Em hãy cứ là em như thế mãi
Cho tôi yêu từ buổi gặp đầu tiên
Đôi mắt đó hớp hồn ai mê dại
Đã in sâu vào trí nhớ muộn phiền

Hồn nhiên quá rụt rè lần em đến
Lòng ngẩn ngơ tình thoáng chút ngọt ngào
Vui rộn rã ánh nhìn ai trìu mến
Chợt hiểu mình lòng chớm biết …nhớ nhau

Chỉ cười mỉm thế thôi em đừng nói
Buồn trong tôi cũng đủ để bay trôi
Đường gập ghềnh quanh co bao nhiêu lối
Đâu thể nào lạc lối mối tình tôi

Em cứ thế tung tăng mà đếm bước
Đóa hoa hồng xinh xắn rất dễ thương
Tôi lặng ngắm dáng ngoan hiền tha thướt
Yêu mất rồi lòng thổn thức vấn vương

Trong sáng lắm khiến tim ai lỗi nhịp
Dấu chân em khẽ chạm trái tim côi
Chầm chậm nhé để tôi còn đuổi kịp
Đẹp gì hơn hai đứa bước chung đôi

Tôi vẫn thích muôn đời em vui thế
Để lòng luôn âu yếm dệt vần thơ
Em trót đến mặc dòng đời dâu bể
Hương nồng nàn lưu luyến chở ước mơ

Luôn khép nép như loài hoa mắc cỡ
Lòng tôi say tình chớm nụ mỹ miều
Hình như thể tơ hồng se duyên nợ
Ta kết đôi đời trọn vẹn dấu yêu

Ninh Tran

QUA PHỐ!

Những chiếc ô màu đỏ
Che ngang bầu trời xanh
Những nụ hoa đón gió
Nghe phố rơi long lanh
*
Ta nhớ màu nắng mật
Trên tay người mỏng manh
Nghe những điều rất thật
Phía trái tim an lành
*
Chìa bàn tay em vẫy
Phố xá màu thiên thanh
Những ngày xưa còn đó
Vàng lên triền lá xanh
*
Nghe như từng ô nắng
Nghe góc phố đầy mây
Nghe gót chân xa vắng
Vàng xưa in dấu hài
*
Ta về mơ áo lụa
Bay trắng mùa đông xa
Những chiếc xe đạp nhỏ
Chở em vàng mùa hoa
*
Phố hay người em gái
Tóc mây bồng bềnh trôi
Ta nhớ người nhớ mãi
Nụ môi son rạng ngời!

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

NHỮNG BỒI HỒI

Những mùa trụi lá
Những mùa trôi
Bao nhiêu nhung nhớ
Những bồi hồi

Sớm mai gió lạnh
Ừ Xuân đến
Ngày cứ qua nhanh
Vọng mãi phía xanh bờ

Tuổi hai mươi
Một lần và mãi mãi
Có và không
Chấm phá giữa cuộc đời

Xuân lại lên ngôi
Bao nhiêu ngày chia phôi
Vòng thiên lý
Trói buộc rồi.

Dụng Thị Vân

TINH KHÔI

Đêm vừa tan, gió thơm nồng vị biển
Ngày vừa lên trao vương miện mặt trời
Xa mênh mông, bóng buồm nâu lặng lẽ
Sóng dịu dàng hôn bờ cát khôn nguôi

Nhành rong dạt màu non non biêng biếc
Bụi xương rồng xao xuyến nụ hồng hoa
Muôn tia nắng lấp lánh vầng mây tuyết
Mảnh San hô phản chiếu mặt trời xa

Cứ như thể chưa bao giờ biển khóc
Và lòng sâu dấu mảnh vỡ thương sầu
Rặng liễu xanh chưa oằn đau cơn lốc
Biển tinh khôi, như tự thuở ban đầu

Kìa cơn gió thổi tung làn tóc ngủ
Cát lao xao ôm những vết chân trần
Tiếng biển gọi tình yêu trong hơi thở
Đón ban mai mở cánh cửa trời xanh

Thiên Di

Lạc Lối Về. Thơ Hư Vô



Tôi về như thể hồn Lưu – Nguyễn
Lối xưa lạ lẫm tự bao giờ
Trăm năm chưa dài hơn nhịp thở
Thì làm sao đuổi kịp cơn mơ!

Mà em từ thuở quên hò hẹn
Chốn cũ hoang tàn những dấu chân
Của người lữ khách không chỗ trọ
Có lần bước vấp bóng tình nhân.

Núi còn không hay lời đá gọi
Em chắc gì đã biết tôi đau
Vết thương dẫu có liền da thịt
Trong tim vẫn rát buốt cồn cào.

Tôi về như thể người đi lạc
Vào cõi nhân gian chịu nhục hình
Chân trần dẫm xuống chùm gai nhọn
Còn nghe loạng choạng cuộc phù sinh…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 411



MÔI XUÂN

Ngọt như đêm động hương quỳnh
Dáng em trổ mã dậy hình tượng xuân
Môi non chúm chím ngập ngừng
Bỏ tôi chết đứng nửa chừng chiêm bao.

Từ trong lụa gấm tơ đào
Chồi non lộc biếc còn lau lách buồn
Chỗ em đánh rớt mùi hương
Hoa cau vụt nở cùng đường tận tôi.

Áo bay kín một góc trời
Để em che giấu nét môi xuân thì
Theo từng mỗi bước tôi đi
Chân xiêu hồn lệch cũng vì yêu em.

Mùa xuân như thể dài thêm
Tóc em thả xuống chông chênh phố phường
Tôi còn một chỗ náu nương
Trên môi em đã hoang đường từ khi…

Hư Vô

SANG NGANG

Tôi chưa sang ngang
Sao anh con đò đã rẽ bước về thênh thang chiếc bóng
Gió trăng phai lòng
Hay chưa từng có sợi tóc bay vào riêng nhau

Tôi đâu sang ngang
Nụ cười ai vội vắt qua đôi mắt có chiếc lúm nồng nàn
Hồn anh về mơ màng
Giấc mộng đắp vào những tiếng nấc chia ly

Đã đi qua con nước lớn ròng chẳng còn đứng đợi một dòng sông
Đã đi qua chiếc cầu đâu bâng khuâng ngày về bến đợi
Con sáo có sổ lồng
Mà đoạn đường trời loang lổ mấy mùa trăng
Tôi gom góp thật thà
Đợi anh cất tiếng bậu đi ra

Ai đã gieo dọc ngang những mùa lớn ròng không hạn định
Để đêm chờ nghe gió bấc rêu chân
Ai đã dạm hỏi những lần sóng gọi
Lúc tạ từ dâng cả chuyến đa truân.

Lê Thị Tuyết Lan

QUÁ GIANG

Thương hồ tôi quá giang tôi
Bán mua ngọn gió mồ côi trên đồng
Níu thuyền xin hỏi dòng sông
Biết đâu vơi cạn sâu nông tim người

Mây trôi mà nước cũng trôi
Cánh chim như thể đang rơi xuống chiều
Em về gom hết thương yêu
Đốt thành tro bụi bao nhiêu chân tình

Có mùa đông vừa quyên sinh
Tự mình mưa gió khóc mình tang thương
Quá giang chiều nỗi đoạn trường
Thương vay khóc mướn bên đường mình tôi

Vương Phạm Tâm Ca

CUỐI NĂM VỀ QUA DÒNG SÔNG CŨ

Ta lại về mang nỗi nhớ một mùa đông
Mưa cuối năm chợt đan trên dòng sông cũ
Sóng trường giang dập dồn thành cơn bão lũ
Bão dậy trong lòng hay khuất tận khơi xa.

Khói chiều hôm ta nào thấy bóng quê nhà
Nhớ làm sao chuyến phà nhiều năm trước
Có con đò sang sông một ngày ngược nước
Áo trắng người bay không thấy nẻo quay về.

Đâu tiếng hát câu hò rộn rã một bến quê
Ừ có lẽ lòng mình còn phơi đầy trăng cũ
Sông vẫn hát khúc tình ca như lời nhắn nhủ
Men rượu cuối năm sóng sánh cả đời mình.

Chén hồ trường uống chưa kịp lúc bình minh.
Tuổi thanh xuân đã thoảng qua như giấc mộng
Bỏ lại sau lưng những nốt trầm thầm lặng
Bao bộn bề trong tiếng lạc ngựa long đong.

Bông cải cuối mùa có vàng dưới mắt em trong
Sao chất chứa ngày xưa kiếp người đầy dâu bể
Không níu được khi tình mất đi cội rể
Chén rượu rót tràn ta khóc một dòng sông.

Nguyễn An Bình

CÒN NHỮNG CÁNH MAI RỪNG

Hẹn mai kia xuống núi
Thôi không thèm làm thơ
Ngựa xe như mắc cửi
Ngày vui đâu hững hờ!.

Tìm quên con hươu lạc
Lá rơi chiều phong thu
Tìm quên ngày cố quận
Mây và sương xa mù.

Về nghe con sóng vỗ
Chuyện tình dài trăm năm
Về nghe đêm biển hát
Gió ru đời mặn nồng…

Nhủ lòng mai xuống núi
Sẽ không thèm làm thơ
Phố vui như ngày hội
Niềm riêng ai mà ngờ…

Núi đồi che bóng gió
Đất trời như vào xuân
Cánh vàng đua nhau nở
Sắc vàng ươm ven rừng…

…Câu thơ như sợi tóc
Rớt giữa rừng thu phong
Tay săm se sợi tóc
Bỗng dưng mà nao lòng…

Châu Ly

NẺO VỀ

Về hong lại bếp mùa đông
Sợ chiều sương ướp cõi lòng lạnh căm
Vòng tay nhớ một chỗ nằm
Lẻ loi chiếc bóng đêm rằm không trăng

Về ru lại chút tình Xuân
Cùng đi hết cõi phù vân đang chiều
Còn như hạt nắng trong veo
Vừa tan cơn mộng về treo bên đời

Xin thôi đêm trắng ngậm ngùi
Đan tay chung giấc ngủ vùi trong nhau
Còn trên sợi tóc bạc màu
Rưng rưng nhớ thuở ban đầu tìm nhau…

Nguyễn Sông Trẹm

CÕI THƠ

Bài thơ mở cõi vô cùng
Vô ngôn vô ngữ vào không dâng Người
Bài thơ se lạnh gió đời
Là trong ánh sáng đã ngời bóng đêm
Bài thơ chấm lửng tặng em
Là trong ly rượu bỏ thêm chút đường

Hương đời ẩn mật khói sương
Ngổn ngang đôi chút đoạn trường mà thôi

Riêng
bài thơ viết cho tôi
Nằm trong tiếng khóc chào đời…
kiếp sau.

Sơn Nguyễn

HỎI EM…

Chưa từng quen, em trách chân tình không.
Nặng lắm tuổi, đời nghiêng câu bóng xế…
Ta với em, ở hai bờ thế hệ.
Giữa dòng ngăn, cân nhắc một nghiệp cầu…
Chờ đến nhau, thì cũng đã bể dâu.
Mắt rõ thấy, tai đủ nghe dư luận…
Môi biến thái, sợ nụ cười dị ứng.
Chỉ mếu xuôi, sau những lúc pha trò…
Đẹp như mơ, như mơ gặp hẹn hò.
Khiến cõi thực bắt tim ta bối rối.
Đường, ong, bướm đi, về dìu dập lối,
Trách hờn chi nhau, lỡ cuộc phong lưu…
Bảo rằng đau, có sỏi đá rằng đau,
Bảo hạnh phúc, có cỏ hoa hạnh phúc…
Tìm được mối mở đầu qua kết thúc,
Hiểu dùm cho hậu quả của nguyên nhân…
Chuyện hợp ly, ly hợp, sẵn duyên phần.
Tâm muốn động, đất, trời nào muốn động…
Lúa quặn hạt, lúa sẻ chia sự sống,
Người quặn lòng, người níu khổ theo người..
Ta mấy mươi, và em sắp mấy mươi.
Yêu hay ghét, buồn hay vui trăng, gió…
Em giấy trắng, mà mực ta xanh, đỏ,
Viết gì lên, ảo tưởng xuất thần kỳ .
Vẽ gì lên, ảo ảnh lộ hiển vi…
Này ảo mộng, – Cửa Thiên đàng mở, khép!?.
Ta, dã thú rảo mòn thung lũng hẹp.
Chợt giật mình, quay nhớ khoảnh rừng quên
Em núi, đồi, sao chẳng thích gọi tên?!?!.

Đặng Triều

ƠI MĐRĂK

Phố Ban Mê ta về thăm Mđrăk
Ôi cung đường uốn cong
Trại Phong yêu thương, trên đường 26…
Đồi mì xanh nghiêng mình nghe thác đổ
Nhớ chàng Đam San chân trần đi bộ
Bắt Nữ Thần làm vợ cũng ngang đây
Đảo ngược vòng quay về ngay CưPrao
Xoài nhãn căng mình trên nương rẫy
Cây Knia tay ra chào
Đồi quít xanh trái mẩy ngọt lịm đường
Em gái Ê đê ngực căng tròn
Lóng mắt đen má đỏ môi hường
Mẹ con cõng vượt lên nương
Kèn Đinh Năm vọng tiếng Đại Ngàn
Mẹ dịu dàng phả hương núi sâu
Những em bé da nâu hứng nắng vàng
Điệu Xoang tình cờ nhánh ca vang
Bên nông trang, nhóm ong vàng thu hút mật
Color đất Ba Zan hương trái lành
Em có về … có về Mđrăk cùng anh không?!

Nguyễn Thị Tuyết Ba

Quán Thơ Hư Vô 410


MƯA THÁNG CHẠP

Mưa ngang chiều tháng chạp
Ướt tóc người rưng rưng
Đường trơn em bước vội
Cho dài thêm dấu chân.

Là lần em bỏ lại
Trên ngọn cỏ bạc đầu
Giọt mưa như dao nhọn
Cứa đứt lìa đời nhau.

Vết thương còn rịn máu
Bên hiên người quạnh hiu
Tôi như gã lữ khách
Lê thân theo bóng chiều.

Níu mùa xuân vào Tết
Mà buồn đã ra giêng
Còn thấy em khập khiễng
Giữa lối người chông chênh.

Gập ghềnh trong đôi mắt
Có hạt bụi lăn ngang
Tháng chạp đang hấp hối
Bước qua nỗi muộn màng.

Cho hồn tôi lãng đãng
Chạm vào nụ xuân không
Trên môi em một thuở
Đã hoang tàn rêu phong…

Hư Vô

HÀNH HƯƠNG QUA MÙA ĐÔNG

Hành hương qua mùa đông
Những tàng thông khô lạnh
Nắng và gió hanh hanh
Mây của trời rất xanh..

Vài con chim trốn tuyết
Ngủ vùi ngày lập đông
Ôm giấc mơ lặng lẽ
Ôm mộng thật bình thường
Giấc mộng đời..
Không gãy cánh uyên ương..

Hành hương trên đồi cao
Vì vu miền dã thảo
Bên ngàn lau rì rào
Ngọn gió mùa quất lạnh
Môi khô nào rát đau..

Hành hương qua tim người
Lao đao nhịp đập tôi
Máu tràn qua tâm thất
Vết ứa nhỏ xuống đời

Hành hương qua đời nhau
Đi qua những vết đau
Vết thương nào réo gọi
Tình chưa khép trong nhau..

Đêm hiển linh thắp sáng
Lời kinh nguyện thì thào
Chúa dang tay cứu rỗi
Bài thánh ca vút cao..

Thục Uyên

GIAI NHÂN CHÍN

như vầng trăng đã tròn hết chỗ tròn
như đóa hoa nửa chiều vừa đại đóa
em chín múp ngát trời hương thiếu phụ
cả hình hài và cả một hồn thơ

như trường giang chảy tận cuối trời xa
con mắt biển vang lên lời sóng biếc
như tiếng hót sau cùng rồi tuyệt tích
của phượng hoàng yên nghỉ cõi ngàn năm

anh một đời đã không đủ cơ duyên
để góp sức cho em thành thục nữ
ôi vô phúc cho cái tình tài tử
chịu thua dài ơn nghĩa của chồng em…

Hoàng Lộc

NGÀY CUỐI NĂM

Nắng giữ những nụ cười
Trốn vào sau lưng mây
Nhớ mùa thu đã khuất
Gió cuốn lá xoay xoay

Cuối năm lòng sao vắng
Dáng vạc buồn sương mai
Tóc sợi dài sợi ngắn
Sao buộc được tình ai

Chim cả ngày im tiếng
Đứng lặng trên cành khô
Không nhìn qua ô cửa
Hỏi ta – đâu người xưa

Thì thôi màu mắt biếc
Giữ lại nét đoan trang
Dù một đời cách biệt
Trách gì phận hồng nhan

Ngày đi dần vào tối
Trăng đầu non ngập ngừng
Vành môi cong nhạt lạnh
Nhớ nụ hôn rưng rưng

Buồn lên như sương khói
Thềm hoa mọc rêu phong
Cuối năm biết ai đợi
buồm trắng hút cuối dòng.

Thiên Di

QUAY VỀ

Nơi ra đi cũng là chốn quay về
mùa nhung nhớ nụ đầu cành xanh biếc
mây lang thang một mình em nhật nguyệt
nắng vỗ tình đôi cánh lụa là yêu.

Lời hờn ghen như bóng gã thủy triều
tràn lấp em rồi hồn nhiên rút chạy
bờ quạnh hiu dịu êm muôn đời ấy
thùy dương xanh xanh thắm lá đợi chờ

Tích sự gì – ngọng nghịu* mấy vần thơ
mà xé lụa vấn hồn em vàng nắng
mà cánh gió vờn má em thầm lặng
mà linh hồn đêm trắng đắm say hương.

Tiền kiếp ơi lồng lộng bóng ngàn phương
mây tình ái giăng tơ lòng đón đợi
đồi thạch thảo nở bừng hương diệu vợi
chút gió đông lay động trái tim gầy.

Chưa ra đi em đã vội về đây
nhóm trong tim ngọn lửa hồng ấm áp
dạo cho đời cung đàn xưa thánh thót
Đêm nguyện cầu rước thánh lễ Noel.

Nguyên Bình

VỀ NHỮNG CƠN MƠ

Tôi vẽ hồn tôi lên phiến lá
Cho vừa kịp buổi mùa đang xanh
Mai mốt em về trăng chớm hạ
Nở thắm hồn nhiên một đóa quỳnh

Tôi vẽ bàn tay thơm cỏ hoa
Bầy chim về hót dưới hiên nhà
Giọt nắng vàng rung trên tóc rối
Và tóc trôi dài như suối mơ

Tôi vẽ chiều rơi những sợi im
Trên môi hồng ướp một màu sen
Da thơm tình ái mềm như lụa
Nhẹ tỏa theo từng hương nguyệt tan

Tôi vẽ màu đông rắc phấn sương
Trăng em vừa hé nụ hoa rằm
Đôi tà mây trắng bay trong gió
Và gió thơm lừng hương ái ân

Tôi ngồi vẽ mãi những cơn mơ
Vẽ gió yêu thương mây hẹn hò
Vẽ những màu sương mù hư ảo
Vẽ mãi ngàn năm nỗi đợi chờ.

Lê Văn Trung

TRÊN ĐỈNH MÙA ĐÔNG

Sương đã muối, bên kia trời giá rét
Một rừng đông che khuất cả mây ngàn
Đường muôn dặm tìm nhau trong tầm mắt
Gửi về em một chút nắng phương nam

Sông vẫn chảy trên ngày con nước lớn
Cũng đau lòng biển cả buổi phân tranh
Em nơi ấy có còn thương đá núi
Trên dốc đời bụi cát đã tàn quanh

Thơ ta viết chở không vừa nỗi nhớ
Những toa tàu đành bỏ lại đường ray
Chắc nơi ấy em còn khêu bếp lửa
Để chiều nay còn ấm ở phương này

Ngày se lại trong cạn cùng hơi thở
Mùa vẫn xanh cây lá vội phai màu
Em đâu biết mai ta về cõi khác
Vẫn còn nguyên tri kỷ ở trong nhau.

Trung Chinh Ho

CẢ PHÊ SÁNG…

Ly cà phê buổi sáng
Giọt, từng giọt rơi rơi
Như hương vị cuộc đời
Trôi qua hồn trầm lắng.

Nghe môi mình đăng đắng
Pha lẫn chút ngọt ngào
Phố xá vẫn lao xao
Riêng ta ngồi tĩnh lặng.

Trời cũng thay màu nắng
Dìu dịu nhuốm hanh vàng
Hạt sương mù giăng trắng
Âm thầm bước mùa sang.

Giã biệt mười một nhé!
Mười hai đến rồi đây
Khẳng khiu những hàng cây
Bước đời chừng mệt lả.

Ngày xưa ơi! Xa quá!
Xin thắp nến mùa đông
Nhóm lại chút lửa lòng
Ấm một thời son trẻ….

BT Áo Tím

Mưa Không Ướt Đất. Trùng Dương


Trùng Dương


– Năm 1956 tôi vượt tuyến vào đây với hai bàn tay trắng. Nói là vượt tuyến thì không đúng. Thực ra tôi vào đây với sự thỏa thuận của ông Hồ, sau khi chịu thế chân bằng những sản nghiệp tôi có dạo ấy. Nếu tôi không trở về thì coi như mất cả sản nghiệp đó. Cố nhiên là tôi chẳng dại gì trở về. Tôi ở lại đây, vay tiền buôn bán làm ăn và tạo nên cơ nghiệp như ngày nay. Năm nay tôi ba-sáu tuổi đầu rồi mà vẫn chưa lập gia đình. Tôi không được may mắn như các anh các chị được học hành. Điều mà tôi ân hận là đã không làm sao mang được mẹ tôi vào để cùng hưởng với tôi…

Tiếng người đàn ông chủ nhà tan loãng vào trong bầu không khí cổ tích của buổi chiều nơi cư xá. Xa xa có tiếng trẻ con hát líu lo trong một cuộc rước đèn. Mặt trời đã lặn nhưng bóng tối chưa kịp buông xuống.

Thư dựa đầu vào thành ghế, lơ đãng nghe. Những âm thanh vội vã hấp tấp của người đàn ông có giọng nói đặc biệt của những người Bắc sinh sống trong các trại định cư, thỉnh thoảng có đá vào một đôi tiếng Nam với một pha trộn ngây ngô vụng về – những âm thanh ấy rơi xuống khô khan, không đủ khơi dậy một hào hứng nào. Thư xoãi chân trong một dáng ngồi thoải mái, đôi mắt khép hờ nhìn về phía Phấn, góp chuyện một cách uể oải:

– Chưa lập gia đình, chắc tại anh còn kén đấy chứ phải không ạ?

Người đàn ông đối diện với Thư, hơi có vẻ lúng túng. Duẩn quay nhìn Thư bắt gặp cái cười mỉm trên khuôn mặt trắng im lìm trong bóng chiều chạng vạng. Tự nhiên anh có cảm tưởng đó là khuôn mặt của một pho tượng. Cái ý nghĩ đó Duẩn có từ dạo quen biết Thư khi hai người còn học ở Dự Bị Văn khoa. Thuở ấy còn có cả Cương. Dạo ấy thật vui. Mỗi người đều như có điều gì muốn nói nhưng họ muốn nói lảng sang những chuyện khác để vui nhộn và quên đi những xao động mà chính họ không biết phải đặt tên cho chúng là gì. Duẩn, như tất cả những người đàn ông mập mạp khác, ưa giễu cợt, mặt luôn đỏ gay (có nhẽ vì cười nhiều?) và không có ác ý. Anh quen với Thư qua lời giới thiệu của Cương. Về sau anh được biết hai người yêu nhau. Nhưng anh không hiểu được vì sao họ có thể yêu nhau, vì theo Duẩn nhận xét, họ như hai thái cực. Cương yếu ớt, hơi giống con gái, mặc dù nhiều lúc anh tỏ ra là một người trầm tĩnh – thực ra, Cương thiếu tính chất nóng nảy của một người đàn ông thật sự và vì người anh quá mảnh khảnh. Thư, ngược lại tính nết cứng cỏi hơi lạnh nhạt, mặc dù vẻ dịu dàng của những đường nét trên khuôn mặt và thân hình. Rồi Cương du học, Duẩn mất tin Thư. Bây giờ gặp lại, bắt chợt cái vẻ im lìm cố hữu trên nét mặt người con gái, Duẩn tưởng mọi sự chả thay đổi bao nhiêu. Có nhẽ trông Thư trầm hơn, ở vẻ đẹp và lối nói chuyện. Ba năm rồi còn gì.

– Tôi đã gặp nhiều cô, nhưng họ làm tôi thất vọng. Tôi mong lấy được một người vợ – làm cô giáo, làm cô giáo thì hẳn là biết dạy con hơn…

Duẩn cười trong cổ, vẻ ngơ ngẩn:

– Thật hả anh?

Phấn, người chủ nhà, cười hờ hờ. Thư tự hỏi không biết Phấn có biết là Duẩn đùa anh ta không. Thư có ý nghĩ mỗi lần gặp lại Duẩn, nàng thấy anh béo hơn và giễu hơn – phải chăng những người béo thường hay giễu? Thư không tin như vậy. Ông cụ nàng béo, nhưng ông chẳng giễu bao giờ. Lúc nào cũng lầm lì. Có nhẽ ông không giễu được vì tuổi già và cái chết đang chờ ông. Những lúc về sau này ông đánh bạc nhiều hơn và thua đậm hơn, lầm lì và buồn bã hơn. Thư sống trong gia đình với cái bóng của ông đè nặng trong tâm hồn. Nói như vậy không có nghĩa là Duẩn hay giễu vì Duẩn trẻ và cái chết còn ở xa tầm tay anh.

Vài đứa trẻ cầm lồng đèn đi qua, gọi nhau ríu rít, mắt nhìn bọn người ngồi bên trong hàng rào, vẻ tò mò. Thư nhìn quanh lơ đãng:

– Có nhẽ nên có vài cái đèn xếp treo lủng lẳng cho nó có vẻ…

Phấn bảo:

– Tôi quên mất vụ đó. Nhà có trẻ con thì tự nhiên mình nghĩ đến điều đó…

Giọng anh ta có vẻ bùi ngùi. Thư kiếm một cái cớ để đi ra ngoài. Nàng thấy thèm đi tung tăng – vẫn thèm đi tung tăng.

– Duẩn đi ra chợ Thủ Đức với tôi đi. Hình như nhà cũng không có đèn cầy phải không anh? Chả lẽ lại ăn và nhảy dưới ánh đèn tube trong bóng tối mò?

Duẩn:

– Định chơi “lumière” hay sao?

Tuy vậy anh cũng đứng dậy, bảo Khánh đưa chìa khóa xe và theo Thư ra ngoài. Một đôi người trong bọn ngồi hoặc đứng rải rác trên nền đất lẫn lộn gạch vụn và cát, hỏi Duẩn đi đâu đấy.

– Ra chợ mua đèn, Duẩn đáp.

Lúc hai người ra khỏi cư xá trời đã bắt đầu tối. Thư ngồi sát vào người Duẩn, Duẩn nhấn ga cho xe vọt đi. Con đường dẫn vào Thủ Đức cong cong. Những cây thánh giá trắng nhờ nhờ trong một nghĩa địa bên đường. Những ánh đèn dầu le lói trong một vài mái tranh. Tòa nhà cao của một trường Đạo đối diện với những bức tường dài của trại lính bên kia đường. Chợ Thủ Đức tưng bừng dưới những ngọn đèn sáng. Những buổi chiều tan học kéo nhau lên đây cả bọn bốn năm đứa duy có mình Thư là con gái. Tại sao thích tham dự vào những buổi họp mặt của bọn con trai hơn là gần gũi với các bạn gái mà Thư thường cảm thấy quá e dè ngại ngùng? Duẩn nhớ rằng mình vẫn chỉ coi Thư là một người bạn trai, dù Thư là người yêu của Cương. Cương vừa thích có Thư tham dự vào những cuộc họp mặt này vừa không. Ở người con trai ấy có nhiều điều u ẩn và hơi lãnh đạm. Từ ngày anh đi ngoại quốc, trong những lá thư gửi về, Thư chợt “nhận ra” Cương. Người ta yêu người khác không vì những tương đồng mà vì những điều có thể rất trái ngược. Thư sống như một con mèo hoang thì Cương khép mình trong khuôn khổ mực thước, hoàn toàn lệ thuộc gia đình. Cố nhiên chẳng phải vì người này hay người kia muốn thế, hay có muốn thì cũng chỉ một phần. Đứng trước Cương, Thư cảm thấy quá cô đơn nhưng không thể không yêu. Cương thương và yêu người con gái với một lý do gần giống thế.

– Thư nghĩ gì vậy?

Thư cười một tiếng ngắn:

– Ngày xưa dạo bọn mình thường kéo nhau lên đây ăn và bây giờ tôi thấy đói. Có nhẽ mình nên ăn một cái gì đi.

Duẩn tán thành. Hai người vào một quán ăn trong chợ.

– Duẩn còn nhớ anh chàng Vinh không nhỉ?

– Nhớ, nhớ quá ấy chứ. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp hắn ở phố.

– Còn sống với “ma đàm” kia không không biết?

– Hình như còn. Không thấy nói đến. Hắn vào biệt kích rồi.

– Tôi không thấy ghét anh ta một mảy may. Tôi phục tài hoạt bát của anh ta. Làm sao mà anh ta đóng kịch giỏi thế?

– Thư còn nhớ một hôm ngồi ở trên xe đi chơi suối Lồ ồ, anh ta giảng cho Thư nghe về danh từ “biên tế” không?

– Nhớ. Tôi chỉ thấy mơ hồ hơn sau khi nghe anh ta giảng – mơ hồ như… biên tế vậy! Nhưng tôi lại nghĩ những người học cao thường có một lối định nghĩa tối tăm nên tôi vẫn tin được. Đâu ngờ anh ta chỉ là một thứ mật vụ quá tài tình! Chính vì cái tài tình đó tôi lại thấy quí anh ta mới lạ chứ! Tôi còn nhớ một hôm anh ta cho tôi xem lá thư tình của một cô mà anh ta bảo là fiancée, cùng học lớp với bọn mình. Anh ta bảo cho tôi cô gái ấy. Tôi cũng có dịp đứng ở xa nhìn thấy anh đi cặp kè và nói chuyện với cô nàng. Cô ta là một cô gái e lệ, tóc thề buông xõa vai, lúc nào cũng ngậm góc khăn tay, ở xa nhìn vào, làm gì mà không tin là nàng đang e thẹn trước vị hôn phu. Nghĩ cũng buồn cười. Tôi thấy thương bọn mình dạo ấy lạ, thương cái quá khứ hồn nhiên đến thơ ngây, thuở đó. Sau vụ phát giác đó, tôi thấy như có một mối nghi kỵ rơi xuống giữa bọn mình… Không biết Duẩn ra sao, tôi thấy Cương có vẻ buồn thành thật. Anh ta vốn sẵn tính đăm chiêu…

Những kỷ niệm kéo về chập chùng chập chùng và ô hợp. Giọng Duẩn trầm hẳn xuống:

– Cũng may hắn chưa khai thác gì được ở bọn mình. Mà nói cho ngay mình có hoạt động gì đâu mà khai thác? Toàn một bọn chỉ đấu láo phất phơ…

Ừ tại sao mình chưa hề một lần tham dự? Mình sống như một kẻ đi dạo vậy, một kẻ đi dạo không mấy chút hăng hái hay thảnh thơi. Làm như thể sinh ra thì phải sống, sống cho hết cuộc sống, để chết, và sống trở thành một bổn phận. Một bổn phận? Phải chăng tôi khất lần việc lấy Thục cũng chỉ vì sợ không dám chuốc thêm một thứ bổn phận nào khác? Tại sao không đủ can đảm hủy bỏ lễ đính hôn để cho Thục đi lấy chồng? Tôi không yêu nàng, không hề yêu nàng. Tôi không hủy bỏ lễ đính hôn vì có lẽ tôi chẳng đủ can đảm để cố gắng làm một việc như vậy. Tôi có hèn nhát lắm không? Tôi có bi quan không? Bạn bè thấy tôi cười nhiều – mặt tôi lúc nào cũng đỏ gay, hiện tượng của một người nhiều sinh lực? Buồn cười thật thôi! – chúng nó tưởng tôi không lo âu. Thực ra, tôi ngao ngán quá đấy thôi, ngao ngán hơn cả là mỗi bữa cơm tối về nhà, thấy mâm cơm úp lồng bàn phần tôi trên bàn và mẹ tôi đi với một-trăm-lẻ-hai-quân, thằng em mười-bốn tuổi bỏ đi lang thang. Chẳng có gì giữ tôi ở trong gia đình cả. Tôi cũng thiếu một cái điều mà tôi cho là đẹp và đáng theo đuổi ở ngoài đời. Tôi đi dạy như một cái máy, mê học trò con gái (một cách thầm kín cố nhiên vì bắt buộc thế) như một cái máy và không thấy điều đó là quan hệ, lê la các tiệm cà phê quen tán dóc với tụi bạn như một cái máy, và đây chính là điều tôi cần.

Duẩn nốc cạn ly ba-ba, nhìn người con gái đối diện, đôi mắt cận thị không đeo kính. – (Duẩn kỵ đeo kính cận) – hồn buồn bã…

*

Duẩn bước ra hiên, mở banh khuy áo ngực và thở ra: Một ly “sec” làm anh chuếnh choáng. Thư ngồi bó chân trên bậc thềm, ngẩng lên, thấy anh, mỉm cười. Không biết có phải rượu làm Duẩn thấy Thư đẹp lạ thường hay vì khuôn mặt trắng của Thư hiện trong bóng mờ mờ trông đẹp như một pho tượng. Duẩn có cái cảm giác như một người sống ở ngoài thời gian. Mọi sự vật như ngưng đọng lại, ngưng đọng lại trên khuôn mặt im lìm của Thư. Anh hỏi mà như không nghe tiếng mình hỏi:

– Ngồi ở đây à?

– Trong ấy ngột ngạt quá.

– Có lẽ vì thế mà vừa nhảy với tôi cô Thủy vừa quạt… Cũng có lẽ cô ấy quạt hơi rượu.

Thư cười nhẹ, ngồi nhích sang một bên khi thấy Duẩn ngất ngưởng bước xuống khỏi thềm nhà. Tự nhiên Duẩn có cái ý thích ngồi dưới chân Thư. Điều đó gây cho anh một cảm giác vỗ về. Điều đó làm cho Thư cảm thấy dịu vợi.

– Còn nói được như vậy à?

Duẩn ngơ ngẩn một lúc, rồi bật cười:

– Thư tưởng tôi say à?

Thực sự là Duẩn chuếnh choáng. Mấy lần trong khi ôm Thủy, anh dẫm phải chân nàng. Duẩn tưởng tượng lại lúc ôm Thủy trong vòng tay. Ở Thủy có một vẻ mộc mạc của một cô gái miền Nam. Nàng không tỏ vẻ bực bội mỗi lần Duẩn dẫm phải chân, cũng như Duẩn coi việc nàng phe phẩy chiếc quạt trên tay là một điều thú vị. Ý nghĩ đó làm cho Duẩn bật cười một mình.

Bên ngoài, tiếng hát của bọn trẻ rước đèn quanh cư xá đã ngưng từ hồi nào. Trăng đã lên cao. Ánh sáng như có màu xanh. Trước giậu, vài ba cái đèn xếp bị cháy xém còn treo lủng lẳng.

– Trông Thư có vẻ buồn?

Duẩn rút điếu thuốc xòe lửa châm hút. Anh đưa bao thuốc mời Thư. Nàng mỉm cười lắc đầu :

– Tôi bỏ thuốc từ gần mấy tháng nay vì tự nhiên sợ mùi khói thuốc.

– Tôi hút có phiền không?

– Không, không …

Thư nói như cố không nói ra một điều mà trong thân tâm nàng muốn nói, muốn khoe, với tất cả sự hân hoan. Duẩn cất bao thuốc vào túi áo, thở ra từng vòng tròn khói nhìn theo chúng uốn éo dưới ánh trăng thành từng sợi mỏng dài và tan loãng. Một sự im lặng bao quanh hai người. Tiếng một bản nhạc có tên “Adieu Tristesse” từ trong phòng vẳng ra hòa lẫn tiếng giày đi trên sàn nhà của những người đang khiêu vũ. Máy hát cũ quá. Tiếng kèn nghe rè rè.

– Bao giờ thì mình có thể “Adieu tristesse” được?

Thư lên tiếng. Duẩn quay lại, anh có giọng nói hơi cao, như có một cái gì vừa gay gắt vừa giễu cợt ở trong đó:

– Hết buồn thì còn vui thế quái nào được!

– Nói là nói vậy thôi… Nỗi buồn thực ra tô điểm cho cuộc sống…

– Tối nay Thư vui chứ?

– Vui. Và thanh thản nữa … Mặc dù bữa tiệc có phần nào luộm thuộm. Tôi tưởng Duẩn quen với anh Phấn.

– Quen gì. Tôi mới biết ông ta sáng nay.

– Nhân vật ấy cũng hay hay.

– Bây giờ ông ta chỉ thiếu có một cái, là một cô vợ có học thức một chút để cho ông ta có cái cảm giác là mình cũng có dính dáng tí chút trí thức.

Thư cười một tiếng ngắn:

– Kể ra việc đó đâu khó gì, đối với một người có của như ông ta. Nghĩ cũng buồn cười. Không biết ông ta nghĩ sao… Theo tôi, báu gì cái trí thức, nhất lại là một người đàn bà trí thức.

Duẩn quay nhìn Thư:

– Sao có vẻ chửi bới ghê thế?

– Nhiều khi tôi có ý nghĩ giá đừng học, đừng đọc nhiều, mình lại sống dễ hơn. Suy nghĩ lắm đầu óc đâm trì trệ. Lỡ rồi, đành chịu. Tôi có con, sẽ để nó sống hồn nhiên, như cây cỏ… Nói vậy, cũng khó làm như mình muốn. Có thể, rồi thế hệ con mình sẽ khác, không như bọn mình. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng thế hệ bọn mình sinh ra để chịu một cuộc thí nghiệm…

– Thư nói như thể là Thư sắp có con rồi ấy!

Thư bỗng im, xúc động. Một lát nàng cười nhẹ.

– Tôi sắp có con thật, chẳng phải “như thể” đâu.

Duẩn không tin. Thư cảm thấy không thể không bộc lộ niềm vui lẫn lo âu của mình với Duẩn.

– Không tin tôi nói thật à? Hai tháng rồi…

Thư nói giọng run, nhưng vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh. Duẩn nhìn Thư, vẻ ngạc nhiên pha lẫn nét vui mừng trên khuôn mặt. Anh đặt tay lên bụng Thư giản dị, tự nhiên như Thư là người yêu của anh, và dường như đó là điều anh mong đợi.

– Thế.. sao trông Thư… tỉnh thế?

Hỏi xong, Duẩn mới thấy mình có vẻ ngây ngô. Giọng Thư ráo hoảnh thật nhỏ:

– Không tỉnh, thì say à?

Duẩn rút tay về, nói như nói một mình:

– Vui nhỉ?

Trong phút giây, Duẩn có cái ao ước được úp mặt vào lòng Thư và được Thư lùa những ngón tay vào trong tóc anh, cái cử chỉ những người yêu nhau thường làm. Nhiều lúc Duẩn cảm thấy quá thiếu thốn, Duẩn cần một thứ tình yêu pha lẫn tình bạn trong đó. Điều đó nghe thật giản dị. Nhưng sao trong thực tế thật hiếm.

Duẩn nghĩ đến Thục. Mặc dù đã đính hôn với nhau, Duẩn vẫn nghĩ đây là một việc làm trái với ý muốn của anh. Tại sao Thư không là Thục nhỉ? Và tại sao Duẩn không là người đàn ông đã cho Thư đứa con nhỉ? Duẩn lần thần tự hỏi. Tiếng Thư nghe xa vắng:

– Tôi giữ đứa nhỏ lại, dù tôi biết mình sẽ phải trả một giá rất đắt. Tôi nghĩ biết đâu sự có mặt của nó sẽ thay đổi cuộc sống và những suy nghĩ của mình phần nào chăng? Có thể nó sẽ là sợi giây ràng buộc tôi vào với cuộc sống mà nhiều lúc tôi thấy quá chán ngán?…

Thư cảm thấy bị lôi cuốn bởi chính những điều nàng vừa nói ra. Mình có đang ngụy biện? Nàng thầm hỏi. Thực sự Thư không biết những gì đang chờ đón nàng cuối cùng chặng đường này. Mặc, nàng cứ dấn bước.

Duẩn cảm thấy bất cứ câu hỏi nào đặt ra bây giờ cũng là thừa. Anh hút hơi thuốc cuối cùng, khum hai ngón tay cái và ngón giữa, búng điếu thuốc văng ra xa sang bên kia hàng rào, điếu thuốc đụng phải bức tường của ngôi nhà trước mặt, những tia lửa tóe vỡ như một quả pháo bông tí hon, và rơi xuống trong đám cỏ dưới chân tường. Anh đứng dậy:

– Thư vào nhảy với tôi bản này đi.

– Không. Tôi muốn ngồi nghỉ. Tôi muốn yên tĩnh, Duẩn vào nhảy đi.

Duẩn tần ngần một lát, rồi quyết định đi vào nhà:

– Tôi đi kiếm rượu uống… Thư uống một li nhé!

Tiếng Duẩn ngập đi trong tiếng nhạc dồn dập ồn ào…

*

Chiếc xe rời đường Võ Di Nguy rẽ qua đường Chi Lăng. Trời về khuya, đường phố xe cộ thưa thớt. Thư tưởng tượng cách đây vài tiếng, từng bầy trẻ náo nức cầm lồng đèn đi tung tăng trên các đường phố, và trên những sân thượng, từng mâm cỗ trông trăng được bày ra với bưởi, cam, hồng, bánh nướng bánh dẻo, và những con giống xinh xắn đủ màu. Xa rồi những ngày rằm cùng anh chị em náo nức mua sắm. Thư nhớ lại mùa Trung Thu dạo nào, mấy bố con xúm lại làm một cái đèn kéo quân. Thư có bổn phận vẽ và cắt những hình người – những hình người vẽ lại những mẩu chuyện cóp nhặt trong thần thoại cổ tích. Ông Lư và Thức vót tre làm đèn và dán giấy. Đèn đốt lên, ba vòng tròn đầy những hình người quay tròn quay tròn. Bố con cùng ngắm tác phẩm hoàn thành và đang sinh hoạt. Cô bé Lọ Lem đuổi theo nàng Bạch Tuyết và những chú Lùn nối đuôi cô bé quàng khăn đỏ, xen vào đó, là những nàng công chúa Thủy cung nửa người nửa cá, những Hoàng tử cưỡi ngựa uy nghi… Cả một thế giới thần thoại được dựng lên, đúc kết, sống động. Bây giờ là những buổi tối trống rỗng cần sưởi ấm bởi một ngọn lửa từ bên ngoài, từ những người bạn, từ một vòng tay của người khác phái. Nhưng những tìm kiếm đó chỉ khơi thêm lỗ hổng cô đơn. Vẫn mặc. Như bị lôi cuốn bởi cơn thác lũ, Thư vẫn tiếp tục lao đầu vào, với một đam mê cuồng nhiệt không tên. Bất giác Thư đặt tay lên bụng. Giọt máu này cũng giống như cơn đam mê kia. Nó chưa có hình dạng, chưa có giống, chưa có tên gọi và chưa được nhìn nhận bởi một ai ngoài người mang nó. Và Thư nhìn nhận nó với một nỗi ngây ngất kỳ diệu. Phải chăng đó chính là cái bản năng đầy nữ tính? Cử chỉ của Thư làm Duẩn thôi nhìn về phía trước quay nhìn theo bàn tay của Thư rồi nhìn Thư, mỉm cười. Thư tìm đọc trong nụ cười đó một ý nghĩa. Nàng chỉ thấy trong đó một sự bao dung có pha lẫn vẻ lạ lùng.

– Nó… đạp chưa?

Duẩn hỏi nhỏ vừa đủ cho Thư nghe. Thư lắc đầu, cười nhẹ:

– Làm gì mà mau thế?

Phấn im lặng lái xe không nghe những lời đối thoại giữa hai người. Với hắn, buổi họp mặt vừa rồi coi như lui vào dĩ vãng. Hắn không đạt được điều mà hắn mong muốn, là tìm được một cô vừa ý hắn. Có nhẽ hắn thích Thư. Khuôn mặt có vẻ trong sáng. Cái nhìn khôn ngoan lanh lợi. Lối nói chuyện chứng tỏ người có học. Tính nết thâm trầm. Nhưng từ lúc Thư nhận lời đi với Duẩn, hắn tự ý loại nốt Thư khỏi đầu óc.

Thư cảm thấy bàn tay Duẩn vỗ vỗ nhẹ lên vai nàng. Và chiếc xe rẽ vào một ngõ hẻm đường Chi-Lăng. Đường hẻm vẽ một hình cong, vắng ngắt, không một ánh đèn. Lờ mờ một vài bóng cây màu đen sậm. Chiếc xe quẹo thêm một lần nữa về tay trái và nằm lọt giữa hai dãy nhà có những bức tường cao, vôi loang lổ, ít những khung cửa sổ. Hẻm có vẻ một nơi gồm những xưởng – xưởng gì Thư không rõ – nhưng Thư có cảm tưởng như vậy. Vành trăng hiện ra trên bờ một bức tường cao đổ xuống lòng hẻm một ánh vàng nhạt mờ mờ. Thư có cảm giác đang đi vào một thế giới xa lạ không tên gọi. Điều đó gây cho Thư một thích thú như người tham dự vào một cuộc phiêu lưu. Thư có thể hỏi Phấn và sẽ được giải thích. Nhưng nàng im lặng để giữ cho mình cái cảnh giác lúc ban đầu. Thư cũng có thể bảo với Phấn và Duẩn nàng muốn về nhà và nàng sẽ trở về nhà, sẽ dùng chìa khóa riêng mở cửa, sẽ bỏ giầy leo lên căn gác nhỏ bé thiếu khí trời, sẽ thay quần áo trong im lặng, sẽ nằm sấp trên chiếc giường sắt một người của nàng và sẽ tiếp tục nghe ngóng cái sự sống nhỏ bé đang nảy mầm trong thân thể nàng với một niềm lo-âu-pha-lẫn-thích-thú-riêng-tư-không-chia-sẻ, không-thể-chia-sẻ. Nhưng một sức lôi kéo làm Thư vẫn tiếp tục im lặng. Bất giác Thư tự hỏi mà mình mong đợi gì ở họ, ở Duẩn chứ? Thư biết rằng nếu nàng cứ tiếp tục im lặng, như thế có nghĩa là ngày mai trở về nhà, nàng phải chịu đựng cái nhìn trách móc và dò hỏi của bà Lư. Tại sao từ bao giờ đến giờ hai mẹ con vẫn vô cùng cách biệt? và dường như bà Lư cũng chẳng tỏ vẻ buồn bã, hay ít ra, ý thức về sự cách biệt này. Bà chỉ có một mối bận tâm: đi nhà thờ và cầu nguyện, cầu nguyện như một cái máy cho bà và cho phần hồn của cả gia đình đang dần dần phân tán, mỗi người một ngả. Từ đó Thư có ý tưởng cầu nguyện là một chứng tỏ của sự bất lực. Và Thư khước từ sự bất lực đó. Thư muốn được tin tưởng ở tương lai, tương lai của cuộc sống này, chẳng phải cuộc sống ở bên kia cõi sống phân cách bằng sự chết.

Phấn cho xe dừng lại trước một khung cửa sắt. Ánh đèn từ bên trong hắt ra đổ dài trên mặt hẻm thành một vệt sáng mờ. Một con chó bẹc-dê từ bên trong nhảy xô ra sủa vang. Âm thanh chát chúa như chợt đánh thức Thư dậy cùng với tiếng máy xe vừa tắt ngấm. Không gian tĩnh mịch của con hẻm bị xé toang, kéo theo vài tiếng sủa khác lập lại từ xa. Phấn mở cửa xe xuống, quát khẽ:

– Ky Ky! Im nào! Đi vào trong nhà!

Con chó nghe tiếng chủ, im bặt, nhưng vẫn còn gầm gừ trước hai người khách lạ lúc ấy cũng vừa bước xuống xe. Tiếng giày đi, lết trên sàn xi măng. Phấn loay hoay mở cửa sắt. Tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa và đoạn xích sắt đập vào cửa vang lên những tiếng động khô khan. Con chó quýnh quít đập đuôi phía bên trong. Nhưng cửa vừa mở nó thoát ngay ra ngoài. Phấn quát gọi:

– Ky Ky! Đi đâu? Vào nhà mau!

Con chó không nghe, làm một vòng quanh chiếc xe đậu trước cửa rồi cuối cùng theo ba người vào nhà, lúc quấn bên chân chủ, lúc theo đánh hơi hai người khách. Thư bước chậm chạp, nhìn những khung gỗ la liệt trong ánh đèn vàng kệch hắt tại từ một ngọn đèn tù mù treo lủng lẳng cuối xưởng. Nàng đoán chừng đây là một xưởng dệt. Đồ đạc lộn xộn chật chội. Phấn bước vội vào phía trong bật thêm một ngọn đèn nữa rồi trở ra loay hoay tra chìa khóa vào ổ khóa một cái cửa ăn thông sang căn bên mặt. Thư đứng lại trong bóng tối. Bây giờ nàng mới cảm thấy mỏi rã rời, chỉ muốn được ngả lưng xuống một cái giường nệm nào đó. Nàng ngó Duẩn lúc ấy đang nhìn quanh dáo dác, vẻ chán chường. Tuy nhiên Duẩn đã có vẻ tỉnh táo hơn lúc ngồi ở tiệm cà phê. Anh thọc tay vào túi tìm diêm quẹt lửa châm điếu thuốc. Bàn tay run run. Ánh sáng rung động hắt lên khuôn mặt nhiều thịt, lúc nào cũng đỏ gay của anh và mái tóc bơ phờ. Các bạn thường gọi đùa Duẩn là “Tây Say”. Duẩn nhận biệt hiệu đó không phản kháng, không buồn phiền một cách dễ dãi như anh đã dễ dãi chấp nhận nhiều sự việc khác, như việc đính hôn với Thục, chẳng hạn. Tất cả chỉ là một lô những sự tình cờ đến nỗi đôi khi làm Duẩn ngơ ngác mỗi lần nghĩ lại. Duẩn còn nhớ những lý lẽ người ta đưa ra để buộc anh phải làm lễ đính hôn với Thục. Giá Duẩn đừng ra thăm Thục khi nhận được điện tín của nàng báo tin mẹ nàng chết… Thật ra mùa hè đó Duẩn cũng muốn có một lý do để rời Saigon. Những người như Duẩn có thể làm bất cứ việc gì, đi bất cứ nơi nào không cần có lý do. Nhưng đôi lúc để thi-vị hóa cho một chuyến đi, Duẩn mong có một cái cớ. Và không có cái cớ nào lại thi vị cho bằng ra thăm người yêu và chia sẻ với người yêu nỗi buồn mất mẹ. Sự hiện diện của Duẩn trong đám tang đó ngày hôm sau được truyền đi khắp cái thành phố nhỏ bé nơi ông cụ thân sinh ra Thục giữ một chức vụ quan trọng, để rồi tiếp đó là một cuộc lễ đính hôn giữa Duẩn và người con gái hơn anh đến ba tuổi. Vì thể diện của gia đình Thục và cá nhân Thục, Duẩn về Saigon với chiếc nhẫn đính hôn trên ngón tay mà bà cụ Duẩn đã nghiêm trang đeo vào tay anh, chiếc nhẫn cưới của bà. Bà mẹ anh lại quí Thục vì tính nết hiền lành, ngoan ngoãn. Duẩn chỉ ý thức một điều là anh không hề yêu Thục và ngược lại anh không thể làm trái ngược với ý muốn của mẹ anh. Anh thường ngơ ngẩn mỗi khi nhắc lại cuộc đính hôn bất đắc dĩ này. Duẩn chỉ còn một cách là kéo dài thời kỳ đính hôn để có thể tự do sống với mấy người bạn trai mà anh thương hơn bất cứ ai, ngoài mẹ anh, ở trên đời, kể cả những người con gái mà anh đón nhận bằng một đam mê cuồng nhiệt nhưng chỉ trong một thời gian ngắn ngủi vài ba tháng để rồi lại nguội lạnh. Mặc dù Duẩn ý thức mình sống không đam mê một hình bóng, nhưng đồng thời không thể sống mãi với một đam mê, Duẩn nghĩ mình là một người tình nhân không chung thủy song không thể không yêu đương. Cái gì đã thúc đẩy Duẩn muốn đổi mới mãi? Có lẽ vì mỗi ngày anh mỗi phải tiếp xúc với bầy học trò con gái lúc nào cũng nao nức trong lứa tuổi dậy thì, những người con gái mang đầy sức sống, những người con gái chứa đựng trong họ sự tươi mát mà cuộc sống nhàm chán và tù túng đang tước đi dần ở người con trai hai nhăm là anh, là những người bạn đồng nghiệp còn trẻ của anh. Chỉ ở họ, ở những người con gái mới lớn, nhiều mơ mộng ấy còn mang cái nguyên vẹn, không âu lo về thời cuộc về trận chiến đang cướp đi dần của anh những người bạn, những người bạn hôm nay còn cười nói trong một kỳ nghỉ phép, ngày mai ngày mốt đã nghe tin chết hay bị cụt tay, cụt chân trong một trận đánh nào đó trong trăm ngàn những trận đánh đang diễn ra mỗi ngày. Tuy nhiên Duẩn cũng tự hào là anh chưa để khổ cho một người con gái nào. Bởi tình yêu của anh dành cho họ đến mau rồi cũng rụng mau, trước khi nó đưa đến những liên hệ sâu xa. Điều mà anh quan tâm, mà anh tha thiết, vẫn là những người bạn trai, cái đám bạn trai còn sót lại, đi học, đi dậy, tụ họp, đấu hót, giễu cợt – nhất là giễu cợt và càng giễu cợt mỗi khi cuộc sống dồn họ vào ngõ bí, khép họ vào những mặc cảm nặng nề, không lối thoát, hoặc có, thì cũng là một ngõ thoát để rồi lại rơi vào một bế tắc khác. Thỉnh thoảng, một đôi người trong bọn anh, như Cương, may mắn, có một lối thoát không phải là lên đường nhập ngũ, mà là du học. Và trong những lá thư họ gửi về, Duẩn đọc thấy một chán nản khác mọc rễ, một thứ mặc cảm khác nẩy sinh. Trong bọn, có người, như Quảng, đi xây dựng lại một mớ giá trị đã bị vuột mất, đã bị giễu-cợt-hóa bằng cách đi xa, nhận việc huấn luyện những lớp người từ các nông thôn về theo học các lớp đào tạo một căn bản chính trị, tại Vũng Tàu. Quảng đã thành công một phần nào trong việc đi tìm lại những giá trị cần thiết đó. Nhưng phải nhận là Quảng trước đó, vẫn còn ít nhiều quan niệm đứng đắn trong đầu, nhờ giáo dục của ông bố. Duẩn bỗng nhớ đến cái nhìn tha thiết của Quảng lúc anh quyết định lên xe với Thư về đây và nhờ Quảng sáng mai đến trường xin phép hộ. Duẩn, mày về tao ngủ đi sáng mai mọi sự sẽ bình thường lại, hoặc mày sẽ đi dạy, hoặc mày sẽ nghỉ và ở chơi với tao. Duẩn nói như gắt, sáng mai nếu tao chưa về kịp mày cứ đến trường bảo là tao ốm tao chán lắm mai phải nhìn mặt tụi học trò, vì thực sự tao cũng đang chán tao chán nữa đây này. Khi Duẩn nói điều đó Duẩn nghĩ là đêm nay sẽ được nằm trong vòng tay Thư, có thể chỉ nằm trong vòng tay Thư hoặc anh sẽ ôm Thư vào vòng tay vuốt tóc nàng, an ủi nàng để nghe như chính mình an ủi mình. Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây. Duẩn cảm tưởng từ mấy năm nay quen biết với Thư, lần đầu tiên anh biết nàng. Lúc ấy Thư im lặng trong xe nhìn Duẩn và Quảng dằng co nhau trên hè đường sau khi cả bọn ra khỏi tiệm cà-phê. Cuối cùng, Duẩn lên xe, đóng cửa lại, bảo Phấn anh cứ lái đi. Phấn cho xe chạy đi. Tiếng Quảng gọi với theo Duẩn và mất hút ở phía sau. Có lẽ chính Quảng cũng đang cần sự có mặt của Duẩn. Qua tấm kính chiếu hậu, Duẩn thấy Quảng lầm lũi băng qua đường. Tự nhiên Duẩn thấy thương Quảng xót xa.

Phấn xô cánh cửa mở rộng. Duẩn bước theo Phấn vào phòng. Căn phòng bừa bãi những sổ sách và thư từ. Đằng cuối phòng có một khung cửa che rideau thông vào một căn buồng phía trong. Duẩn thả người xuống một chiếc ghế sa lông kiểu cũ không có nệm đặt ngay chỗ ra vào, thở ra, đôi mắt nhắm lại. Phấn bật đèn ở trong buồng trong rồi quay ra nói với Duẩn:

– Trong này có giường màn, anh với cô Thư có thể nằm nghỉ.

Duẩn ôm lấy đầu bắt đầu nặng chình chịch. Mỗi lần uống rượu vào, Duẩn thường bị nặng đầu khi cơn say bắt đầu nhạt. Biết vậy nhưng Duẩn vẫn không thể không uống.

– Anh nhức đầu à? Có thuốc đấy. Hồi nãy uống có nhiều không? Nhảm quá. Lẽ ra phải có soda. Tôi quên khuấy mất chỉ vác có chai whisky lên… Để tôi lấy thuốc cho anh uống.

Duẩn xua tay, nói và cảm thấy xa lạ với giọng mình:

– Không sao đâu. Anh cứ để bọn này tự nhiên. Làm phiền anh quá đi.

– Có gì mà phiền. Bây giờ tôi để hai người ở đây. Cần gì cứ tự tiện. Có nước lạnh ở phía sau.

Thư bước vào phòng ngồi xuống trên chỗ tì tay của chiếc ghế Duẩn đang ngồi bóp trán:

– Anh không ở lại với tụi này? Anh đi đâu bây giờ?

Giọng nàng bình thản, hơi mệt mỏi.

– Không, tôi phải trở về Thủ Đức.

– Bây giờ có thể đã tới giờ giới nghiêm, anh về tận Thủ Đức, làm sao kịp?

– Kịp mà. Mới có mười một giờ rưỡi. Cô đi ra phía sau với tôi, tôi chỉ cho một vài nơi cần thiết.

Thư rời chỗ Duẩn, đặt chiếc ví tay lên mặt bàn, bước ra sau với Phấn. Phía sau là một cái xưởng lớn hơn chiếm cả hai căn, nhưng trống hơn. Những khung cửì đặt ngổn ngang. Thư ngước nhìn mái nhà cao, xung quanh gần như không có gì che đậy từ mép tường cao hai thước là đến mái. Phấn trỏ tay về phía một khung cửa nhỏ nằm tận cuối xưởng:

– Nếu cô có cần đi ngoài, lại đó …

Thư nói cảm ơn anh. Thấy nàng nhìn cái máy điện đặt ở giữa xưởng, Phấn giải thích:

– Ở đây chúng tôi dùng điện để chạy máy.

Thư bắt gặp cái cảm giác lạc lõng giữa khung cảnh của một xưởng dệt vào lúc ngưng hoạt động. Nàng thấy mệt mỏi. Thoạt tiên là một bữa tiệc, rồi Duẩn say rượu và yêu cầu nàng ở lại với anh. Thư nhận lời với ý nghĩ là Duẩn đơn độc và cần sự có mặt và săn sóc của nàng. Thư đã từng có những lần say rượu nhưng lần say rượu làm Thư nhớ hơn cả là hôm đi ăn với Cương và Duẩn sau khi tan học ở Văn khoa. Lâu rồi. Hôm ấy Cương đã thức cả đêm với Duẩn, để săn sóc cho nàng. Trong cơn nửa say nửa tỉnh, Cương đã hỏi nàng nhiều lần lý do khiến nàng khóc sướt mướt trong khi say. Làm sao có thể nói được? Một nỗi cô đơn thình lình úp chụp xuống mà nàng bị mất hút trong đó, và cái thế giới vô thức trong phút chốc được cởi tung như một đoàn quân ô hợp kéo vây kín mọi ngả tâm hồn. Từ đó mở đầu cho một rạn nứt trong tình yêu giữa Cương và nàng. Tôi tưởng sự có mặt của mình có thể làm gì được cho Thư nhưng bây giờ tôi thấy rõ là mình chẳng làm được gì cả tôi bất lực hơn tôi tưởng. Thư cố níu kéo, anh nhầm rồi em không thể nói chẳng phải vì cố tình muốn giữ cho mình sự riêng tư, lỗi không ở anh, đừng nói như vậy. Nhưng dù muốn dù không, họ đã xa nhau. Một hôm, Cương đến cho Thư biết anh sắp đi Pháp. Họ trải qua với nhau một ngày trong dịp Cương có việc phải đi Kiến Hòa và đến rủ Thư đi cùng cho biết. Thư vẫn thích những chuyến đi xa gọi là giang hồ vặt như vậy. Thư nhớ lúc hai người ngồi ở bờ một cái hồ ở tỉnh Kiến hòa và tưởng tượng như đó là hồ Hoàn kiếm Hànội – cái kỷ niệm cuối cùng họ có với nhau trước khi Cương lên đường sang Pháp. Chúng mình đã cùng ngu xuẩn đâm đầu đi tìm cái tuyệt đối. Nhưng lạ là tôi chẳng hề hối tiếc. Mỗi một vấp ngã của tuổi trẻ là một kinh nghiệm, một kỷ niệm đáng yêu, nó giúp cho cuộc sống thêm sâu thêm phong phú có nhẽ một đôi khi tôi thèm cái tuổi trẻ bình thản của nhiều người con gái bình thản và an phận. Nhưng tôi cũng còn kiêu hãnh về cuộc sống nhiều gai góc của tôi hơn. Phải chăng vì điều đó làm tôi thấy tôi là “một-người-nào-đó” chẳng thuộc về cái số đông?

Thư quay lại:

– Xưởng này của anh?

– Vâng.

– Ở tuổi anh mà gây dựng được một cơ nghiệp như thế này, thật là giỏi. Bọn chúng tôi bị chữ nghĩa, sách vở làm mù đi và mất hẳn vẻ hoạt bát linh động cần thiết…

Phấn nói:

– Nhưng cô và các bạn cô có tuổi trẻ, có học thức…

Phấn có vẻ thành thực mến phục bọn Thư. Thư bật cười lên một tiếng ngắn, nói và biết là chẳng bao giờ Phấn nghĩ và thông cảm với điều nàng nói:

– Tuổi trẻ và học thức như bọn tôi, mà làm gì, hả anh? Ra đời, có thể còn thua những người tháo vát như anh.

Thư bắt gặp một nỗi chua chát. Hình như chính mình cũng còn thích làm ra vẻ chua chát như vậy nữa? Thật khôi hài. Mình có đang sống thực tại hay thật ra đây chỉ là một lớp kịch? và Thư cũng ý thức là tra hỏi xem mình có thực không, chỉ làm cho mình trở nên không thực, mơ hồ hơn.

Thư hỏi mượn Phấn khăn mặt. Gã đàn ông sốt sắng một cách không ẩn ý; chạy đi lấy khăn mặt và không quên mang ra cho Thư một bánh xà bông thơm.

Thư nói:

– Cám ơn anh. Thật phiền anh quá!

Rồi nàng nói luôn, không đợi Phấn lên tiếng:

– Có nhẽ Duẩn vẫn còn say. Duẩn là bạn thân với tôi từ dạo ở Văn khoa. Tôi không muốn để Duẩn nằm một mình đêm nay…

Thư ngừng lại, bỗng thấy sự lố bịch của mình. Việc gì phải phân trần với Phấn? Đêm nay mình sẽ trải qua một đêm ở đây với Duẩn, ngày mai rời đây, không tìm hiểu không cần tìm hiểu nơi này, và gã đàn ông này rồi sẽ chẳng bao giờ mình gặp lại, hắn không có gì để mình lưu luyến bận tâm, thì việc gì phải phân trần làm chi vô ích? Thư múc nước xấp tay cho ướt rồi sát xà bông và rửa tay. Nàng tưởng tượng khi vục nước lên rửa mặt, mùi thơm của xà bông còn vương lại trên hai bàn tay sạch sẽ sẽ tỏa ra ôm lấy khuôn mặt mệt mỏi của mình, và làm dịu đi những suy nghĩ day dứt đang xâm chiếm tâm tư nàng. Thư rửa sạch nước xà bông ở tay, múc một gáo nước khác và thực hiện ý nghĩ trên. Nước lạnh thấm vào da mặt, thấm vào đầu óc, thấm vào tâm hồn! Nàng nghe người nhẹ nhõm. Nàng muốn cứ tiếp tục vục nước lên mặt như vậy hoài hoài. Thư nhớ có một dạo nàng thích tắm buổi sáng, và ra phố với những hạt nước lấm tấm trên da thịt. Từ cái ý thích đó, ở nàng nảy sinh ra cái dầm mình dưới mưa cho nước mưa ngấm vào tận tâm tư. Nhưng từ hai tháng nay, Thư mất thói quen tắm sáng. Nàng đâm sợ nước.

Tiếng giày của Phấn đi lên đi xuống thu xếp một vài vật dụng. Có tiếng hắn bảo Duẩn đi rửa mặt cho mát. Tiếng Duẩn đáp lại vâng anh mặc tôi, phiền anh quá bây giờ anh lại về Thủ Đức à. Tiếng Phấn đáp thường tôi về trên ấy ngủ đêm, nhưng nhiều khi bận công việc tôi cũng ngủ lại dưới này, anh thấy bớt chưa. Dạ cũng khá ạ. Tiếng Phấn, chắc hồi nãy ở tiệm càphê anh ói ra hết. Duẩn nói vậy cũng nhờ ói ra hết với ly nước chanh nên mới khá thế này, không hiểu sao lần này tôi uống rượu tồi thế, bậy thật. Phấn nói may mà lúc nãy không gặp gió, anh có nóng cứ bật cái quạt này nó tự động, mà cứ chạy một giờ thì nó ngừng lại, tôi gắn thêm cái đồ tự động này để đề phòng đêm mình có ngủ quên đi cũng không sợ, à tôi dặn anh và cả cô Thư đừng đụng gì đến những lọ thuốc này của tôi. Duẩn hỏi sao thế anh. Phấn nói dặn là dặn phòng hờ vậy vì có thể nguy hiểm. Duẩn cười, được mà anh yên chí…

Thư đổ gáo nước xuống hai bàn chân trong khi dùng khăn mặt lau khô nước trên da mặt, và cọ hai chân vào với nhau gượng nhẹ, cố không gây tiếng động. Phấn trở xuống nhà:

– Tôi phải xem xét lại một vài thứ máy móc xem buổi chiều họ đã tắt đi chưa…

Tiếng giầy của Phấn đi về cuối xưởng. Thư chống tay lên miệng lu nước, một nửa người nghiêng về phía trước, nàng soi bóng mình trong nước. Mái tóc xõa về phía trước. Mặt nàng là một khoảng tối tăm. Trong cái khoảng tối tăm ấy, những ý nghĩ ngổn ngang. Mình đến đây trong đêm nay, làm gì nơi nầy. Nơi đây là sự xa lạ. Duẩn cũng trở thành một kẻ xa lạ. Thư nhớ lại ngày nào còn có cả Cương. Bây giờ hình ảnh đó không còn đủ sức gợi cho nàng dù một chút thương nhớ. Lâu quá rồi. Sau Cương đã có những khuôn mặt khác đến thay thế. Họ đến rồi đi như những cái bóng. Thư chấp nhận dễ dãi và cũng dễ dãi buông lỏng vòng tay khi thấy đã đến lúc không thể lưu giữ. Buồn chán ngập tràn. Tình yêu chẳng phải là một phép mầu. Nhưng mình vẫn cố sục sạo tìm kiếm ở mỗi một người đàn ông – tìm gì? một mảnh bản ngã chưa chịu tìm lấy đường về? Cũng phải có một thay đổi nào đó. Thư đã lựa chọn, dù biết rằng mình sẽ phải trả một giá rất mắc về sự hiện diện của đứa con trong tương lai. Vả lại, có gì đâu mà phải băn khoăn, kia chứ? Thư mơ hồ cảm thấy như chính nàng cũng muốn nhận một thử thách. Thư nhớ dạo còn ở bậc Trung Học, mỗi lần phải lựa một trong những đề tài giáo sư ra, Thư thường chọn những đề khó và phức tạp – Đôi khi phải bỏ dở và lựa một đề khác dễ hơn. Nhưng Thư biết lần này không thể bỏ cuộc. Thư đã đánh cuộc và nàng sẽ phải đi đến cùng. Phấn trở ra, móc túi đưa cho Thư mớ chìa khoá:

– Tôi đưa cho cô chìa khóa cổng sắt. Sáng mai khi rời đây cô mở cổng rồi để chìa khóa lên nóc cái hộp đựng công-tơ điện ở bên tay mặt – tôi sẽ chỉ cho cô thấy cái hộp đó – rồi cứ thế dập cửa vào. Nếu mấy người thợ của tôi lại, cô cứ để cho họ vào nhung nhớ là để chìa khóa nơi tôi dặn cô…

Thư gật đầu nói vâng vâng. Hai người cùng lên nhà. Thư có ý nghĩ giá hồi nãy cứ đóng kịch với Phấn và biết đâu…Nàng mỉm cười với ý nghĩ đó. Hắn có của nhưng hắn không phải là type người của mình và nhất là hắn có nhiều cái tinh ranh nhỏ nhặt và buồn cười. Vả lại, dẫu chưa có ý niệm gì về giọt máu trong người, Thư cũng cảm thấy không muốn đứa nhỏ sẽ có một ngộ nhận về người cha của nó. Mình đã đang và sẽ còn nhìn thẳng vào cuộc sống với đôi mắt mở lớn, không lý gì đứa con làm bằng xương bằng thịt bằng máu của mình lại có thể mang trong nó một sự sự ngộ nhận lớn lao như vậy về cái thân thế của nó. Hãy phán đoán tôi, hãy xa lánh, nếu cần. Nhưng xin cho tôi được sống chân thực. Thư cúi mặt nhìn xuống hai chân, nghe xót xa dâng lên. Phấn đi rồi, Thư dập và khóa cổng xong bước chầm chậm trở vào nhà. Duẩn đã bỏ ra sau rửa mặt. Tiếng nước rơi lã tã trên nền xi măng vỡ. Thư nghe cả tiếng súc miệng xục xục của Duẩn. Nàng kéo chiếc rideau che cửa thông vào buồng trong sang một bên và bước vào. Bên trong đồ đạc cũng gồm những sổ sách và chai lọ lộn xộn bừa bãi. Một chiếc tủ gương kê tại cuối phòng. Các bàn kê gần bên. Không có ghế. Nơi duy nhất có thể ngả lưng là một chiếc divan. Một đống chăn màn xếp tại góc divan. Không có chiếu. Thư ngó chiếc divan, nàng thất vọng vì đó không phải là một nơi nằm mà nàng mong muốn, vừa ngượng ngập. Thư vẫn thường có những ngượng ngập như vậy mỗi khi nhìn vào nơi nằm nghỉ của một người đàn ông. Thư chưa làm quen được với hình ảnh về nơi sinh hoạt thân thiết đó của người đàn ông, dù người đó là một người bạn thân hoặc có thể là một người tình. Thư cũng biết là nỗi ngượng ngập của mình có vẻ vô lý. Thư không xa lạ gì với người đàn ông cả. Nhưng nàng cũng không cố gắng bỏ sự ngượng ngập đó. Đối với nàng đó là sự nguyên vẹn duy nhất nàng còn giữ được. Thư bước lại đứng trước gương. Nàng nhìn vào đôi mắt mình rồi thả cái nhìn xuống thân thể đang nẩy nở hơn lúc bình thường. Thư đưa tay vuốt bụng. Nàng rời chỗ đứng lại divan ngồi khi nghe tiếng chấn Duẩn bước vào phòng. Duẩn vừa đi vừa lau mặt lau cổ bằng khăn mùi xoa riêng. Anh dừng lại nhìn quanh căn buồng rồi đến ngồi xuống bên Thư. Một bầu không khí im lặng bao phủ lên hai người. Duẩn úp hai bàn tay lên đầu gối. Một lát Thư lên tiếng:

– Duẩn thấy đỡ chưa?

– Còn mệt. Đầu nhức như búa bổ.

Anh ngó xung quanh, như chợt ngạc nhiên về sự có mặt của mình giữa một nơi hoàn toàn xa lạ này. Duẩn bật cười một tiếng ngắn, tiếng cười nhuốm vẻ chua chát thoát ra từ một bất lực. Những cố gắng để thoát ra khỏi cuộc sống chật chội tù túng chỉ làm cho con người một ngạt hơn và muốn phát điên. Chấp nhận không phải là một ổn định cho tất cả. Đó chỉ là một giải pháp tạm thời để rồi đến một lúc nào đó… Duẩn nắm lấy bàn tay Thư áp lên má. Những giọt nước lạnh còn lấm tấm nơi chân tóc anh. Tiếng Thư hỏi nhỏ:

– Cười gì vậy?

Duẩn lắc đầu từ chối trả lời. Anh khép đôi mắt lại trong giây lát, nghe sự êm ả thoát ra từ lòng bàn tay người con gái.

– Duẩn biết tôi đang nghĩ gì không?

Duẩn đáp không, vẻ chờ đợi, Thư nói, mắt ngó thẳng về phía trước, giọng mơ hồ:

– Tôi nghĩ giá mình đang sống ở miền biển lúc này đây tôi sẽ chạy ra bãi biển, sẽ bỏ dép chạy chân không trên nền cát ướt lạnh và đôi khi dừng lại lắng nghe tiếng sóng từ xa dội lại như những lời thì thầm đầy bí mật.

– Còn tôi, tôi tưởng như ngày mai mà phải thức dậy, phải vác bộ mặt mô phạm vào lớp, phải nhìn bọn học trò chắc tôi chịu không nổi. Nhiều buổi sáng thức dậy, chỉ còn mười lăm phút để rửa mặt đánh răng mặc quần áo và uống vào một ly cà phê pha vội, tôi thấy ngao ngán kinh khủng. Nhưng vẫn không đủ can đảm thay đổi lại cuộc sống. Cuộc sống mà tôi hiện đang sống tuy cũng đòi hỏi sự cố gắng, nhưng là những cố gắng thụ động. Có nhẽ tôi hèn nhát. Có nhẽ…

Duẩn chặc lưỡi, ngưng nói. Nét mặt anh đăm chiêu, buồn bã. Anh ngửa bàn tay trên đùi và nhìn vào đó, bất động.

– Độ nhỏ tôi có một giấc mơ, cho đến bây giờ mỗi lần nghĩ đến tôi vẫn còn tưởng như mới đêm qua mình nằm mơ vậy thôi. Tôi mơ thấy tôi trôi giạt vào một hòn đảo nhỏ xíu ở giữa biển sóng lớn nước mênh mông, ở giữa đảo là một cái cây trụi lá, lớn như một cây cổ thụ và rễ chiếm hết đảo. Tôi như không thấy mình đâu nữa. Và tôi mơ hồ lo sợ một lúc nào đó cái cây bị sóng biển đánh bật rễ và mình sẽ không còn nơi nào để bấu víu…

Duẩn im lặng nghe Thư kể. Anh cảm thấy một nỗi xúc động mãnh liệt đang xâm chiếm người con gái.

– Rồi ra sao?

– Chả ra sao cả. Những giấc mơ vẫn vậy. Duẩn tưởng tôi nghĩ đó là một cái điềm gì à? Không đâu. Tôi vẫn nghĩ và tin là cuộc sống của tôi do tôi tự tạo một phần lớn. Tôi kể lại giấc mơ đó vì thấy là đã lâu rồi mà cái hình ảnh đó vẫn có thể làm tôi thấy sởn gai ốc mỗi khi nghĩ đến.

Duẩn châm điếu thuốc, hút một hơi, rồi sực nhớ ra cơn nhức đầu của mình, anh dụi điếu thuốc, đứng dậy đi vòng quanh phòng nhìn vào đống chai lọ nhiều màu sắc lộn xộn trên các kệ đóng sát vào tường. Thư giải một tấm mền lên divan và ngả lưng nằm xuống, tâm hồn lãng đãng. Một tay nàng để sau đầu làm gối, tay kia đặt trên bụng. Mong con sẽ là con trai, làm con trai để chịu đựng, chịu đựng cuộc đời, và nhất là để thương mẹ. Đôi khi tôi cũng tự hỏi mình có đang bi thảm hoá cuộc sống? hay thực sự tự nó cuộc sống đã có cái vẻ bi thảm? Tôi băn khoăn và thường chọn thái độ dửng dưng. Chả ích gì. Tất cả chả ích gì. Tôi nhắm mắt lại và tôi tự nhủ với tôi tạm thời hãy quên đi hãy quên đi hết cả. Tôi cảm thấy Duẩn đang đến và ngồi xuống bên tôi, cúi nhìn tôi. Tự nhiên tôi muốn khóc la. Tôi lấy tay bưng lấy mặt và cười lên một tiếng ngắn, nghe khô và buồn, như tiếng một viên sỏi bị vất xuống lòng giếng cạn nước, mất hút trong bóng tối của đáy sâu.

*

Vào cái lúc người con gái chờ đợi nhất để sẵn sàng buông thả vào trong cơn sốt rạo rực của cơ thể, Duẩn bỗng ngừng lại, im lặng, đăm chiêu. Hơi thở anh bớt dồn dập hơn trong một cố gắng tự kìm hãm, Duẩn mím môi, thở một cách khó khăn như người bị nghẹt mũi, khoảng cách còn lại thật dễ dàng để vượt qua. Duẩn dừng lại, ngơ ngẩn, chợt nghe buồn bã. Anh khẽ buông tiếng thở dài, gục đầu xuống vai người con gái, mắt nhắm lại. Rất lâu, trong bóng tối, anh nghe tiếng người con gái cất lên, rụt rè:

– Sao thế?

Có một cái gì như hờn tủi và cũng thật ráo hoảnh trong giọng nói: “Tôi cũng không hiểu sao tôi lại ngừng lại. Tôi tự thấy mình không có quyền tiến xa hơn.” Duẩn đáp và cũng nghe giọng mình thật ráo hoảnh:

– Tại… không muốn…

Duẩn bỏ lửng câu nói một sự im lặng rơi xuống giữa hai người. Duẩn mơ hồ thấy mình khổ sở, day dứt: Trong phút giây tôi muốn được gọi Thư là “em” và xưng “anh” với em, Thư ạ. Em im lặng, có thể em đang hờn giận. Nhưng anh không muốn anh sẽ ân hận bởi anh bắt đầu cảm thấy yêu em yêu em. Điều đó có vẻ khôi hài. Nhưng điều đó làm anh xúc động. Cũng như anh vẫn khôi hài trong cuộc sinh hoạt của anh đồng thời cảm thấy một xúc động sâu xa. Hình như trong khi mình giễu cợt là lúc mình ý thức rõ hơn cả về cái thân phận của mình giữa cuộc sống ồ ạt xô bồ này, giữa cuộc sống mà cá nhân chẳng nghĩa lý gì và người ta bị cưỡng bức phải làm những việc mà mình không muốn. Và anh, anh muốn không làm cái việc mà anh rất đang thiết. Để mọi sự còn nguyên vẹn. Vả lại, cái giọt máu mà em đang mang trong người với anh đã là một cái gì, một con người mà anh tự thấy mình không được quyền xúc phạm. Cho anh được quý trọng. Đó là điều duy nhất anh muốn giữ lại, một cách tự nhiên, không cố gắng, như một thứ báu vật.

Thư trở mình, vuột khỏi tay anh, xoay lưng lại phía Duẩn. Duẩn cảm thấy có một sự vùng vằng: Lẽ ra anh phải kéo em lại, ôm chặt lấy em, vuốt ve và nếu cần giải thích. Nhưng anh sợ chính anh rồi sẽ không giữ nổi bởi thằng người phá phách trong anh đang trỗi dậy, đòi hỏi. Duẩn nằm yên lặng nhìn khoảng da thịt trắng hiện ra mờ mờ dưới mắt thành một vệt chảy dài bất động. Một nỗi nghẹn ngào chận ngang cổ. Tự nhiên anh thấy thèm vô cùng được gục vào chỗ trũng nơi chiếc gáy trắng mờ mờ kia, và nếu có thể, để khóc lặng lẽ…

Thư mở mắt. Phải một lúc nàng mới định thần và nhớ ra mình đang nằm ở đâu. Bên cạnh gã con trai đã thiếp ngủ, lưng trần lớn quay lại phía nàng trong một dáng nằm rút cong như con tôm hơi thở đều đều của một người say ngủ. Thư nghe cổ họng mình khô ran. Thư cảm thấy muốn ra sau vô cùng. Nhưng nàng nằm nán lại, ngần ngại khi nghĩ đến lối đi chật chội, lồ mồ và tối mò của xưởng dệt. Trong yên lặng có tiếng vó ngựa gõ lóc cóc và tiếng xe thổ mộ lăn uể oải qua trước nhà. Có nhẽ vào khoảng bốn năm giờ sáng gì đó. Thư cảm thấy rã rời và nghe cô đơn kỳ lạ. Hình ảnh những đêm thao thức bên người đàn ông thiếp ngủ một cách thoả mãn đến trong trí nhớ. Tại sao không bao giờ mình thấy thỏa mãn cả? Luôn luôn là một khoảng trống sau đó với những dày vò không nguyên do không đối tượng. Và với một biến đổi một mình mình biết một mình mình hay. Tôi bỗng cảm thấy tất cả cái cô đơn mênh mông của một Grégoire khi hóa thân thành con bọ để rồi chết khô trong sự đơn độc và bị ruồng bỏ. Tôi đã khủng khiếp khi đọc đến đoạn Grégoire tuyệt vọng nhìn xuống sự thay đổi của thân thể mình. Có nhẽ tôi tuyệt vọng và bàng hoàng, nhưng tôi còn cảm thấy một-cách-không-thể-tự-kềm-chế được một sự rung động kỳ lạ…

Tôi đang hoá thân để trở thành một người mẹ, một người đàn bà thực sự. Có nhẽ tôi đang tìm về tôi, cái TÔI thực sự…? Thư khóc lúc nào không hay.

Thư mở mắt lại vào lúc có những tiếng đổ xuống, thoạt tiên từ từ, đều đều rồi nhanh dần và nàng bỗng cảm thấy bị vây tỏa trong một thứ âm thanh dồn dập của một cơn mưa rào. Trời mưa! Thư nhẩm với mình. Căn phòng vẫn tối om. Thư nghe một cảm giác lành lạnh. Nàng kéo tấm mền lên ngang ngực, lần hồi nhớ lại những việc đã xảy ra. Thư thấy hai má mình khô. Nàng nhớ ra vào lúc gần sáng hình như nàng đã khóc. Cũng có thể mình khóc trong giấc mơ. Trời mưa…! Trời mưa làm Thư thấy nhẹ nhõm hay chính vì những giọt nước mắt trong đêm…? Thư chỉ thấy một sự thanh thản. Bên cạnh Duẩn vẫn thiếp ngủ. Vẫn dáng nằm cũ. Và một hơi thở đều đặn, mệt nhọc. Thư cảm thấy tức bụng. Nàng lần mò trở dậy vén màn bước ra, lấy chiếc sơ-mi của Duẩn vất trên bàn mặc vào rồi lặng lẽ vén rideau bước ra. Trời đã sáng rõ. Thư sững sờ nhìn qua lớp cửa sắt. Bên ngoài trời khô ráo. Thư chợt nhận rõ tiếng rào rào mà nàng nghe lúc còn nằm trong màn thực ra là tiếng của những chiếc khung cửi bắt đầu hoạt động ở xung quanh hàng xóm. Thư bước nhanh ra phía sau. Những khung gỗ nằm bất động. Lát nữa đây bọn thợ sẽ đến và bắt đầu làm việc một cách ồn ào… Thư bỗng cảm thấy bị tràn lấn bởi những tiếng động đều đều dồn dập xung quanh. Nàng súc miệng rửa mặt, rồi trở lên nhà. Duẩn vẫn còn ngủ. Thư mặc quần áo, chải đầu xong vén màn lay bạn dậy. Duẩn ú ớ một lúc rồi tỉnh hẳn. Sự mệt mỏi còn nặng trĩu trên đôi mắt đỏ ngầu. Anh ngáp dài, nhận ra Thư.

– Sáng rồi à ? Ủa… Trời mưa?!

Thư bật cười:

– Không phải đâu! Tiếng máy dệt đấy. Lúc nãy tôi cũng có cảm giác như Duẩn…

Duẩn nhỏm dậy, hai tay vòng lấy đầu gối, vẻ ngơ ngẩn, giọng anh đặc sệt:

– Thế à?

Thư nói

– Duẩn dậy sửa soạn đi. Bọn thợ sắp đến bây giờ. Mình nên rời đây trước khi họ đến.

Duẩn uể oải đứng dậy, bước ra sau. Khi Thư đang loay hoay thu dẹp chăn màn thì có tiếng gọi và đập vào cửa sắt. Tiếng Duẩn trả lời tôi ra đây. Thư đứng trong phòng ngó ra, Duẩn mình trần loay hoay mở cửa. Một tốp bốn, năm người đàn ông kéo vào, tiếng nói chuyện giọng ngái ngủ, đứt quãng.

Lúc Duẩn trở vào, Thư đang dở xem một tập hình trên bàn. Anh nhìn mái tóc nghiêng của Thư và cảm thấy một bông hoa nhỏ vừa hé nụ trong anh. Anh đứng lại bên khung cửa, bỡ ngỡ ngây ngất. Anh tự hỏi tại sao từ mấy năm nay, bây giờ anh mới cảm thấy thế, từ dạo quen Thư đến giờ? Người con gái có cảm giác bị nhìn. Nhưng nàng vẫn giữ nguyên thế đứng cũ, không nhìn thấy gì trong những tấm hình trên tay – như thể nàng biết là quay lại sẽ làm cho bông hoa e thẹn không nở nữa.

Sàigòn 13-10-66

Trùng Dương

Bạc Tình. Thơ Hư Vô


Tim tôi tình cờ nhức nhối
Viết lời tình cuối tặng em
Bàn tay loay hoay bối rối
Là đang giấu nỗi niềm riêng.

Cho em nửa đời hư mất
Mang về ấp ủ trong tim
Còn tôi nửa đời giấu giếm
Cho người tình lỡ trăm năm.

Mà em băn khoăn lóng ngóng
Biết khóc con mắt bên nào
Để thành dòng sông ngược sóng
Chở em về với đời sau.

Tim tôi chảy hai đường máu
Lòng em chỉ một ngã ba
Máu chảy cả đời chưa tới
Con đường em đã đi qua.

Còn in dấu chân trên đá
Như là chứng tích yêu thương
Để tôi nâng niu chiếc bóng
Cho em kịp lúc quay lưng…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô Giai Phẩm Xuân Tân Sửu 2021 – Year of the Ox


MƯỜNG TƯỢNG MỘT MÙI HƯƠNG

Em về phủi áo mơ phai
Mùa xuân ngủ muộn trên vai một thời
Bàn tay có chạm bóng tôi
Xin em giữ lại cho đời còn nhau.

Áo xưa dẫu có nhạt nhầu
Cũng là chỗ để vết đau cựa mình.
Hồn tôi hối hả phiêu linh
Còn nghe lãng đãng tội tình cưu mang.

Chỗ có di tích dã tràng
Em bỏ lại dấu chân hoang dọc đường
Tôi về nhặt lại mùi hương
Trong từng hơi thở còn mường tượng em.

Như có hạt sỏi trong tim
Âm thầm lăn lóc giữa triền vực sâu
Ngày em giũ áo qua cầu
Hoa cau rụng trắng bãi dâu, lối người…

Hư Vô

GÕ CỬA THÁNG GIÊNG


Tôi về gõ cửa tháng giêng
Hỏi ai giấu tuổi hồn nhiên đâu rồi?
Tháng giêng tôi mở cửa tôi
Tìm mong gặp lại một thời chân quê

Tháng giêng tôi đón tôi về
Áo vàng hoa với đường đê hoa vàng
Nghe hồn quê rộng thênh thang
Nghe tôi về giữa nồng nàn yêu thương!

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

SẮC NHỚ MÙA XUÂN


Ngày xuân áo lụa bay thành bướm
Thuở ấy tình yêu rất trẻ thơ
Con gái tiếng cười sao trong quá
Nửa con mắt liếc cũng nằm mơ.

Ngày xuân mưa bụi vương đầy tóc
Mầm cỏ xanh non rộn đất trời
Mấy ai hiểu được từ lòng đất
Sợi chỉ vương mang thuở yêu người.

Ngày xuân cánh én bay vô định
Đợi khúc hoan ca trổ nhiệm mầu
Mấy đóa tường vi tươi sắc đỏ
Môi hồng thuở ấy đã về đâu?

Ngày xuân anh nhớ từ lâu lắm
Có con chim nhỏ đã qua sông
Buổi ấy mưa giăng mù mịt sóng
Đôi bờ lau lách trắng như bông.

Ngày xuân hoa có vàng trước ngõ
Em đâu về hái lộc đầu năm?
Đàn chim di trú bay biệt xứ
Còn lại một trời hương cố nhân.

Nguyễn An Bình

CHỚM LÁ XUÂN RƠI


tôi cứ ngỡ mùa xuân là hoa cúc
nhẹ nhàng rơi theo màu nắng nghiêng chiều
nhưng khi hiểu một trời say hạnh phúc
lại là đầy giấc mộng của tình yêu…

em chợt đến giữa hoa vàng dạo ấy
hồn tôi tràn ngọn gió sớm thanh tân
khe khẽ nhé mùa ơi vừa thức dậy
mây vừa trôi trong nỗi nhớ ngại ngần

trời quá rộng cho em về hội ngộ
như tình tôi thơm ngát nụ hoa vàng
muộn mất rồi tim tôi không còn chỗ
vì bóng người đầy ắp giữa xuân sang

gửi người đó nụ hoa vàng nỗi nhớ
thênh thang bay hồn tôi đậu vai người
nghe mộng mị chút tình trôi cuối gió
hình như chiều vừa chớm lá xuân rơi…

nguyễn minh phúc

KHÚC CHỜ CUỐI NĂM

mây . giang hồ được . sao ta không?
đi đâu . cũng ngõ cụt đường cùng
ngồi . huơ tay níu mùa vô vọng
ngủ thiếp ngàn năm . một bến sông!
núi . im tịch mịch . già thiên kỷ
láp váp mình ta tới đoạn trường
rườm rà gió thổi quanh . han hỏi
chỉ có rừng cây nghe . nỉ non
trời đất lăm le thu lại . tất!
vụn vặt tài hoa đã sáo mòn
về thôi . ngày đã nhường đêm tới
một chút chiều than . thở hắt rồi

vẫy tay . vẫy tay . mùa vẫn trôi…

thangtram

XUÂN ẤM

Ngày Xuân anh hỏi có buồn không?
Khi thấy hoa xuân đã úa mầu?
Có nghe tiếng pháo còn vang vọng.
Của tuổi thanh xuân đợi chuyến tàu.

Một mảnh thơ Xuân còn nhớ mãi,
Thuở yêu người tuổi mới đôi mươi.
Mong đợi Tết về khoe áo mới.
Hương trầm thơm ngát, nụ hoa mai.

Hạt dưa cắn, đỏ môi con gái,
Ai nhìn ngơ ngẩn dáng em đi.
Ước muốn thời gian xin ngừng lại.
Cho tình còn đọng mãi bên nhau.

Soi gương sợi tóc đã đổi mầu,
Tay ngà móng chuốt có còn đâu.
Bốn mùa trời đất xoay quanh mãi.
Ngậm ngùi đếm lại mấy người quen.

Xuân nơi đất khách mời Xuân đến.
Hoa úa mầu đâu phải tại Xuân?
Ly trà ngày Tết, tay còn nóng,
Xin gởi người xa Tết ấm lòng.

trầnthịminhchâu


ĐOẠN KÝ ỨC

Em cất đoạn đời không vừa ý
Vào phần ký ức thật thẳm sâu
Nơi ấy bây giờ xuân hay hạ
Sóng xô cuối bãi hay giang đầu?

Em xếp tháng ngày vào ngăn kéo
Có quãng đường ta đã chung đôi
Bao nhiêu năm nước chảy qua cầu
Phố giạt gió buổi chiều hay buổi sớm

Em khẽ nhón bàn chân rời kỷ niệm
Nhủ lòng thôi, đừng nhớ thuở còn nhau
Dầu cuối tim có chút gì vướng víu…
Thời gian phai, ký ức vẫn vẹn mầu

Em quay gót, bước đi từng bước khẽ
Ngang qua vùng bóng tối chỉ riêng em
Mà lạ quá, tình vẫn về xao động
Giữa mênh mông. Và giữa những âm thầm.

Nên em nghĩ sẽ quên hay là sẽ
Ngồi thật im, đối diện với riêng tư
Chạm bàn tay khẽ khàng vào quá khứ
Gọi tên người. Lần nữa. Dấu yêu xưa…

Hoàng Nga

NGÀY CÓ NẮNG

Bỏ quên vạt nắng sau vườn
Nguyệt quế theo gió buôn hương nơi nào
Tội con bướm đậu bờ rào
Bay lên bay xuống nghẹn ngào chờ hoa.

Loan Nguyễn


VÔ ĐỀ

Chào nhau tháng tận, năm cùng
Chia tay tờ lịch, hẹn dùng dằng mai
Trước thềm ngấp nghé giêng hai
Nắng thơm rắc lối đào phai phai về…

Trần Hoàng Vy






Mường Tượng Một Mùi Hương. Thơ Hư Vô.



Em ngồi phủi áo mơ phai
Mùa xuân ngủ muộn trên vai một thời
Bàn tay có chạm bóng tôi
Xin em giữ lại cho đời còn nhau.

Áo xưa dẫu có nhạt nhầu
Cũng là chỗ để vết đau cựa mình.
Hồn tôi hối hả phiêu linh
Còn nghe lãng đãng tội tình cưu mang.

Chỗ có di tích dã tràng
Em bỏ quên dấu chân hoang dọc đường
Tôi về nhặt lại mùi hương
Trong từng hơi thở còn mường tượng em.

Như có hạt sỏi trong tim
Âm thầm lăn lóc giữa triền vực sâu
Ngày em giũ áo qua cầu
Hoa cau rụng trắng bãi dâu, lối người…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 409



DẤU ĐINH

Chúa đã chịu chết trên cây Thánh giá
Để cứu chuộc loài người khỏi hư hao
Anh đóng đinh em vào đời vàng đá
Cho trái tim chảy giọt máu ngọt ngào.

Em có chạy trời cũng không khỏi nắng
Bởi em là tặng phẩm Chúa cho anh
Cánh cửa thiên đàng không còn ổ khoá
Từ ngày Thánh Nữ bước xuống trần gian.

Sẽ không còn lạc nhau dù thất tán
Dấu đinh trên da thịt dễ gì tan
Anh lùa hết mây đan vào trong nắng
Ướp trầm hương cho áo cưới thêm vàng.

Để tên em tan vào anh hôn phối
Lần nầy đâu dễ chạy nổi khỏi anh
Đã đợi chờ nhau từ em tiền kiếp
Nụ hôn đầu vừa kịp Chúa giáng sinh….

Hư Vô

ĐÊM THÁNH

Ngàn sao lấp lánh muôn mầu,
Giáng sinh lại đến nhiệm mầu chuông vang.
Từ anh bước rất hoang đàng,
Lòng trần mê hoặc áo vàng anh yêu.

Theo em đi lễ mỗi chiều,
Chúa trên thập giá cũng xiêu lòng cười!
Yêu em từ độ đôi mươi,
Bàn tay anh nắm giữ lời thủy chung.

Đêm nay đêm thánh vô cùng,
Giáng sinh hạnh phúc tưng bừng đèn sao.
Thầm thì lời nguyện ngọt ngào,
Tay ngoan lần chuỗi, giữ hoài niềm tin.

Bình an dưới thế nguyện xin,
Muôn người tâm thiện, trái tim nhân hoà.
Đàn lên khúc nhạc thánh ca,
Bên nhau ta giữ đóa hoa cho đời.

trầnthịminhchâu

TIẾNG CHIM VƯỜN CŨ

tiếng chim vườn cũ reo trong gió
và nắng thu về vương bóng em
có nhớ hồn tôi xanh một thuở
bâng khuâng nghìn giọt nắng rơi thềm

xanh quá một trời xưa ước mơ
mây trôi và hạnh phúc đợi chờ
em về thả tóc trong trời rộng
để mãi một đời tôi ngẩn ngơ…

bể dâu phai dấu những chân trời
lạc mất đời nhau theo nắng rơi
em đi bỏ lại phương trời cũ
còn tôi và cơn mộng xa vời…

ơi những ngày xưa… những ngày xưa
nhớ ai mà mây trắng ngậm ngùi
tiếng chim ngày cũ còn vang vọng
thoảng bóng ai về theo gió đưa…

nguyễn minh phúc

CHÓC NGÓC DƯỚI CHÂN ĐÈO NGOẠN MỤC NGÓ LÊN

hè năm 73 Rừng Lá tắc đường
muốn Sài Gòn phải Đơn Dương vòng xuống
lần đầu tiên biết tên đèo Ngoạn Mục
càng yêu hơn gấm vóc một quê hương…

hên hay xui ngồi kế em áo trắng
Ngã Ba Thành lên Đà Lạt thăm ai
bính tóc ngoan thơm thơm mùi sách vở
chuyện vu vơ quên mỏi mệt đường dài…

trưa Sông Pha nắng Phan Rang bén gót
qua đỉnh đèo bỗng lạnh đến thun người
em ké né nép vai ta run rẩy
hai mắt nhắm nghiền giấu chút hổ ngươi…

hy sinh cánh tay mời em làm gối
cả tiếng đồng hồ mới tới Phi Nôm
dáo dác ngó cuối cùng em cũng xuống
xe chạy rồi có tiếc xí nào không…

đã bao đận xuống lên đèo Ngoạn Mục
vẫn nụ buồn xanh nõn lượn quanh co
rất có thể em hồ đồ chẳng biết
cánh tay ta tê từ đó đến giờ!…

Nguyễn Đăng Trình

TÓC THỀ NĂM CŨ

Còn bao năm nữa mình thương nhớ
Em có quay về nắng tháng tư
Thời gian bóng ngã phai màu áo
Biết có còn không dáng tiểu thư

Em có quay về theo cánh chim
Còn gì đâu nữa để ta tìm
Một đời rong ruổi cùng vinh nhục
Máu đã cạn rồi khô héo tim

Em có quay về theo áng mây
Lang thang quên mất tuổi ngày dài
Tàn chưa cơn ngủ đêm trăng bạc
Gởi ước mơ đời theo gió bay

Em có quay về đêm trắng sương
Để nhìn hoa đỏ chết bên đường
Để nghe lá rụng bên thềm vắng
Còn chút bụi lầm thương cố hương

Ở đây sông núi buồn muôn thuở
Em ở xứ người có tuyết rơi
Còn thương sợi tóc thề năm cũ
Dâu bể lạc nhau một phía trời!

Hoàng Anh 79

VÀM CỎ MÙA XUÂN

Không biết dòng sông bao nhiêu tuổi?
Qua sông như có sóng trong lòng
Chút bâng khuâng nhớ, nôn nao gặp
Sông phập phồng biêng biếc xanh trong!

Cứ tưởng mừng xuân, sông áo mới
Đôi bờ xanh sắc nắng mạ non
Nước xuôi miền hạ, con cá nhảy
Một cánh mai trôi tết vẫn còn?

Ta nhớ ngược sông thuở lên ngàn
Mẹ giờ trong khói sóng mênh mang
Dòng sông mùa khóc hoa mai… đỏ
Mấy chiến thuyền trong sóng nước tan?

Vàm Cỏ qua sông mùa bối rối
Mắt ngày xuân tím lục bình trôi
Thôi hãy khoan hò…nghe… gọi bạn
Chim có giống mình? Cũng có đôi…

Trần Hoàng Vy

MÙA ĐỎ

Nếu phủ lên mặt lớp sơn
Bạn sẽ thôi không bị thời gian oxi hoá?
Đánh đố những phản ứng ngược

Đôi khi tạo một vết nứt kỳ vĩ
Từ trong duy cảm
Tư tưởng và trái tim khai phóng

Tôi lắng nghe
Mùa đỏ
Lặng chín xanh cổ tháp linh hồn!

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

MAI VỀ

Mai về qua ngõ nhà tôi
Bên song gió vẫn hát lời tịch liêu?

Bâng khuâng bóng đổ hiên chiều
Em se con mộng ít nhiều hư hao
Bìm thưa, giậu mỏng quên rào
Để em bước thấp, bước cao… ngại ngùng!

Tôi còn gọi nắng trên bưng
So vai gánh nỗi phong trần áo hoa
Sương che lớp lớp giang hà
Câu tương hợp có mù xa- cũng đành!

Mai về vỗ giấc mong manh
Rằng mây trắng với trời xanh cùng về!

Châu Ly

KHÔNG BẮT ĐẦU KHÔNG KẾT THÚC

Không giây bắt đầu không giờ kết thúc
Tàng thức từ đâu xuyên thế giới tìm
Đêm tri ngộ phía không miền tối sáng
Hiện hữu đất trời tái lập một giấc mơ

Khi hoàng hôn vắng mặt gọi tên
Là lúc bình minh ngọt ngào dâng hiến
Khi tia nắng cuối ngày khánh kiệt
Là lúc đất cùng trời tận thế một bờ môi

Đêm đã cài then chặt búi tóc mây
Vó ngựa chinh phu xuyên thành phá cổng
Khi hai nhánh đời chảy vào sông rộng
Hoá một dòng chưa kịp đặt tên

Cầm chiều ra phơi khoảng nhớ không tên
Gói nụ hôn khuya giấu mùa trong gối
Phía trăng muộn hai bóng đời chìm nổi
Đất mở màu xin đợi buổi tàn tro.

thuyson

THÁNG GIÊNG VÀ BẠN CHÀI

Vẳng nghe mưa nắng ru hời
Vẳng nghe non nước nhủ lời đất đai
Chiến trường khuyết một thời trai
Sông đi cho khắp rộng dài sông đi

Đạn bom chắn cửa biên thùy
Bao thu rồi nguyệt cài khuy lặng thầm
Mười năm để lạnh trăm năm
Tình không nuôi lớn sắt cầm phôi phai

Đêm xa mờ tỏ đông đoài
Phong ba bão tố đứng ngoài dại khôn
Nổi chìm phận bé thuyền con
Rách lành đùm bọc mà nên nghĩa tình

Hẹn thề xin giữ làm tin
Áo khăn đến hẹn lại lên ngày về
Tóc huyền thả gió đê mê
Câu quan họ dắt nhau về bến xưa

Phan Thành Minh

Quán Thơ Hư Vô 408



CHUYẾN TÀU CUỐI

Sân ga nhỏ đâu còn em ở đó
Phố xá đông mà thiếu một người
Tàu chở em đi vào trạm cuối
Biết có quay về kịp thấy tôi.

Chỗ em ngồi còn thơm mùi tóc
Buông dài lăn lóc dấu tình nhân
Hàng cây in thấp ngang ô kính
Tiễn người cho lá biết bâng khuâng.

Tôi để vuột bóng em trong mắt
Đuổi theo đã trễ một chuyến tàu
Đâu còn thấy bến nào để ghé
Con tàu đang lướt tới đời sau.

Pennant Hills-Winyard-Town Hall-Chatswood
Platforms chi chít những trạm đời
Tiếng còi giục giã rung lồng ngực
Chở em vào giọt lệ lẻ loi…

Hư Vô

TÂN HÔN


Đợi nhau từ kiếp trước
Kiếp này mới tân hôn
Ba mươi năm,vẫn còn
nụ trinh nguyên em bước…

Bên anh,em biết trước
Một lần là trăm năm
Áo tầm xuân tha thướt
Em bay theo mùa xuân…

Anh biết nụ hôn gần
Cũng nao nao lòng đá
Một lần rồi bất khả,
tư nghì,vẫn chờ trăng…

Đâu cần phải nói năng
Hương yêu phà trên gối
Chim mộng về hồi hổi
Tân hôn ghì tân xuân…

Trần Dzạ Lữ

LỜI TỰ TÌNH CỦA DÒNG SÔNG


Một đời anh không đi hết dòng sông
Năm tháng vẫn nước ròng, nước lớn
Dẫu trăm năm suối nguồn đâu thể cạn
Bến bờ nào anh neo những mùa vui…

Anh một đời mê mải với dòng sông
Dòng sông nào cũng chảy xuôi về biển
Những ngọn sóng xô bờ không biết từ đâu đến
Chỉ thấy bóng trời quê tha thiết khôn cùng!

Anh xin làm những hạt phù sa
Gửi theo mùa trôi gieo chút tình của đất
Ngày triều dâng con nước đầy sóng bạc
Những ân tình cũng lấp lánh bóng thời gian…

Anh một đời không đi hết dòng sông
Như những cánh lục bình cứ trôi theo dòng nước
Nên lòng anh chắc là em biết được
Một dòng sông mang hình bóng quê nhà

Nguyễn Sông Trẹm

TÂM THƠ KINH


Tôi sống cùng nàng Thơ
Một Tình Yêu tôn thờ
Dẫu trần gian cát bụi
Đời vẫn đẹp như mơ!

Khi mặt trời thức giấc
Ban tặng nắng tinh khôi
Giọt sương mai mắt biếc
Lung linh đóa hồng môi

Lá cỏ xanh trải mộng
Miền núi đồi hoa hương
Tóc huyền mây soi bóng
Thơ tôi reo trên đường…

Biển xanh hát tình ca
Sóng nhạc lừng thơ hoa
Đất trời kia mộng ảo
Áo nàng thơ chiều tà!

Đêm vàng mâm trăng sao
Nàng Thơ yếm lụa đào
Tôi lặng hồn sụp lạy
Dương trần tựa chiêm bao!

Tôi cô độc hồn đơn
Liêu vắng đường linh hồn!
Cùng bóng mây tiền kiếp
Bay cuối trời hoàng hôn

Sớm mai phù dung nở
Trưa bóng xế hoa tàn!
Ôi Tình Yêu vĩnh cửu
Sầu đất trời mang mang…

Ôi nàng Thơ muôn thuở
Cứu vớt linh hồn đời
Tôi yêu Em hiền độ
Tâm kinh Thơ rạng ngời!

Trần Thoại Nguyên

HOA VÀNG MẤY ĐỘ

Về đi thôi em ơi
Hoa ven đồi đã nở
Màu hoa vàng mấy độ
Mà lòng nhau bâng khuâng.

Không là đóa phù dung
Sắc pha màu ly biệt
Hoa không nhiều da diết
Như phượng buồn rưng rưng…

Mà tình vương trên bưng
Mà tình giăng cuối rẫy
Bao đông rồi vẫn vậy
Sắc vàng sao mênh mông.

Như nước một dòng sông
Chở tình ra biển cả
Như hoài cây chen lá
Cho xanh một cụm rừng

Ôi sỏi đá vô cùng
Nuôi tình hoa bất diệt
Màu hoa vàng thao thiết
Như lòng người thuỷ chung.

Về đi thôi nghe em
Hoa lưng trời đã rộ
Tình nhau vàng mấy độ
Một lần là trăm năm…

Châu Ly

TỜ LỊCH CUỐI NĂM


Tờ lịch cuối chơ vơ,
Trên bức tường loang lỗ.
Tháng tận cùng của năm,
Mặt trời còn chiếu sáng.

Trần gian vẫn cưu mang,
Niềm đau và hạnh phúc,
Trút xuống đời náo động,
Phù du kiếp con người.

Tờ lịch chợt mỉm cười,
Hết rồi một năm đấy,
Cuốn lại tờ lịch cuối,
Ai nhớ chuyện năm qua?

Lòng ta sao rất lạ,
Ơ hờ bước chân xa,
Tháng ngày rồi cũng cũ,
Nhan sắc đang phai tàn.

Đây nhé chút bình an,
Ôm tờ lịch cuối năm,
Trú tình trong trang giấy,
Vẫn đợi người về đây.

trầnthịminhchâu

CHÀO THÁNG MƯỜI HAI


Có gì vui đợi tháng mười hai…
lá hát lao xao hoa nắng cài
áo lụa theo mây về cuối phố
trời xanh như ngọc mắt vương say…

dáng nhỏ vẫn buồn như thuở nao
phương Nam mưa nắng vẫn thanh tao
cả bốn mùa đi hoa vẫn nở
lòng ai vô tận ngát hương trời

mỗi năm ngồi đếm mười hai tháng
nhặt những hạt vui gieo nụ cười
viết tiếp từng chương trang sách mới
cảm hoài ý đẹp mãi không vơi

hồn thơ xanh thắm, lòng hoang dại
Tơ mỏng manh rung, ấy lệ khơi
Xin gió lướt qua , khe khẽ chạm
đừng làm đau nhé sợi tình tôi…

có chi đang đợi tháng mười hai
phố cũ bâng khuâng tiếng thở dài
trời nắng Sài Gòn tươi sáng quá
nở vườn mây trắng nụ đào phai

Thiên Di

ĐÊM VÔ ĐỊNH…

Em đi rồi, sắc tím lá bên sông
Xao xác thổi, bao chiều ta đứng đợi
Gió cũng buồn, rong ruổi suốt mùa đông
Chiều trăm năm nghe lòng mình vời vợi

Mây cố quận bay về đâu có biết?
Trôi lang thang cuối nẻo bến mơ hồ
“Sầu lữ thứ” tiếng thơ buồn da diết
Ngày đi xa ai hẹn buổi quay về?

Ta chợt thấy, trong ta về than thở
Em sang ngang, ta ngơ ngẩn đông tàn
Đêm chia ly nghe mưa về nức nở
Thấm hồn ta hiu quạnh, bóng thời gian

Trời vẫn thế, giữa chiều lên bất tận
Đêm mưa rơi ta mất lối em về
Chiều cô đơn, đêm vô định bao lần
Ta độc hành chênh chếch với mình ta!

Tran Nguyen











Quán Thơ Hư Vô 407



THÁNG CHẠP KHÔNG EM

Trên tầng cao chót vót
Đêm ngó xuống Sài Gòn
Tháng chạp còn thao thức
Chờ em về khai xuân.

Giọt Shiraz đã rót
Chỗ em ngồi bỏ không
Cụng ly cùng chiếc bóng
Rượu quen hơi còn nồng.

Hương tan vào đáy tách
Tôi hớp cùng cạn tôi
Giọt khuya vụt lăn lóc
Trên môi xưa rã rời.

Cho đêm còn tóc rối
Em thả xuống xuân thì
Mà nghe hồn nhỏ lệ
Buồn bỏ lại trên mi.

Tôi quơ quào lảo đảo
Vào tháng chạp không em
Toà tháp cao như cũng
Quằn xuống dòng Thủ Thiêm!

Nơi có lần em đã
Đắm đuối giữa vô cùng
Còn nghe trong nhịp thở
Đang tượng hình hài chung.

Hư Vô

HUYỀN VI


Nhắp thêm một giọt đắng
Chẳng buồn chẳng vui hơn
Chỉ thêm chút cô đơn
Chập chờn trong tĩnh mạch
Giọt lệ không còn xanh
Lau lách gì góc tối

Hít thêm một ngụm khói
Chẳng nói thêm điều gì
Ngoài một chút nghĩ suy
Ký sinh vào não bộ
Sự thật đã điên rồ
Mơ hồ chi chiếc bóng

Hớp thêm một ngụm nồng
Chẳng thể không là có
Chỉ là thêm chút gió
Cho đời bớt hanh hao
Trên sàn diễn thét gào
Vai diễn nào cũng đắt

Hạt bụi rời mặt đất
Phiêu hốt về vực sâu
Thấp thoáng ở trên đầu
Bóng người qua hố thẳm
Mất nhau từ biệt tăm
Gặp nhau từ biệt tích
Chờ nhau trong cô tịch
Rồi tan vào hư không…

Sơn Nguyễn

NẮNG

Nắng vàng dựa nhẹ ngọn cây,
Chiều thênh thang gọi, gót giầy cứa tim.
Lòng anh sóng động nổi chìm,
Bước em dẫm nát cõi tình tàn phai.

Tìm đâu một nụ cười ai,
Vàng lên màu lá mới hay chiều về.
Mặc ai đứng đợi bến mê,
Tuổi đời hoá đá vân vê nỗi buồn.

Nắng soi thấu suốt trong hồn,
Theo em, tiếc nhớ nụ hôn hôm nào.
Ngây ngô cành lá lao xao,
Em xa để lại nỗi cào cấu đau.

Xòe tay gom nắng vàng au,
Cho ta vẫn tưởng còn nhau trong đời.
Có người say nắng làm thơ,
Cho tình thêm nóng, tình chờ đợi ai.

trầnthịminhchâu

GIỮA MÙA CON GÁI


hai ngôi trường không cùng chung phố
nhưng đi – về đụng cái ngã ba
hai vỉa hè nắng mưa làm chứng
nụ tình lúc trốn lúc thò ra!…

khó đếm hết ngần kia mắt liếc
dễ chi xâu từng ấy môi chu
mà hễ song đôi là luống cuống
mặt đứa nào đứa nấy ngu ngu!…

lời trái tim thơ đi thư lại
theo thời gian cả xấp cả chồng
xong tú tài gã liều ấp úng
lời trăm năm… nhít lắc đầu… không!…

những tưởng nhít thi vào đại học
như một lần vẽ mộng y khoa
ai dè đâu thằng cha trung úy
ỷ gần nhà đùng cái… xe hoa!…

những giọt nắng cuối chiều hấp hối
làm đau chiếc lá phút xa cành
nhít đàn bà giữa mùa con gái
gã trùm gió lạnh ức tàn canh!…

Nguyễn Đăng Trình

CHỊ NGỒI VÁ NHỮNG GIẤC MƠ


Chị ngồi vá những nhớ, quên
hắt hiu trăng khuyết bên thềm
áo xưa mòn khuy vai bạc
mũi lên mũi xuống, buồn thêm

chị chiều ra đứng sông mưa
dòng sông nước chảy lơ thơ
bến cũ đò neo, rêu nhạt
tà dương nhân ảnh như mơ

bâng khuâng sợi chỉ thẩn thờ
vá hoài vẫn bạc đường tơ
áo người trao ngày ly biệt
thổn thức chị vá tâm tư

hoàng hôn xoã tóc chị ngồi
cành xanh chim đậu có đôi
lặng im chim ôi! đừng hót
mỉa mai chi buốt phận đời

chị tìm lối qua đường mộng
hồn bay hoa mưa rơi rơi
Trời xanh vô tận , vô tận
chị nhìn mây trắng ngang trời …

Thiên Di

MỘT SẮC HOA TRÊN BƯNG


Về đi thôi em ơi
Hoa lưng trời đã nở
Màu hoa vàng mấy độ
Mà thương nhau vô cùng

Không là đóa phù dung
Sắc buồn phai ly biệt
Cũng không dài tha thiết
Như phượng chiều rưng rưng…

Mà tình vương trên bưng
Mà tình giăng cuối rẫy
Mùa đông nào vẫn vậy
Một sắc vàng mênh mông.

Như nước một dòng sông
Chở tình ra biển cả
Như hoài cây chen lá
Cho xanh một khoảng rừng

Ôi sỏi đá vô cùng
Nuôi tình hoa bất diệt
Màu hoa vàng tha thiết
Như lòng người thuỷ chung.

Về đi thôi nghe em
Trên đồi hoa đã nở
Tình nhau vàng mấy độ
Một lần là trăm năm…

Châu Ly

VÔ THƯỜNG EM


chập chờn thu
chầm chậm qua
vàng thu rắc lối
ngập nẻo xa
sen hồng rũ nát
màu trăng uá
dòng trôi tan tác
dập dềnh hoa..

chập choạng đông
lặng lờ trôi
đám mây thiên cổ
vút qua đồi
cánh chim khắc khoải
ngàn năm vỗ
hồn theo cơn mộng
chập chùng khơi..

vô thường em
nguyệt tàn êm
chưa thấu tri âm
bằn bặt quên
diệt tuyệt em về
xao xác mộng
pháp thân
vượt thoát
giấc mơ đêm..

Thục Uyên

*MẶC NHIÊN

1-
Nếu đem lục bát ra phơi
Mặt trời sẽ đọc những lời điêu ngoa
Ngẫm ra đâu cõi ta bà
Chỉ là quán trọ người ta tựa đầu
2-
Sớm vò mấy khúc hà đâu
Thấy em hư thực khuyết cầu sương mai
Mặc nhiên áo gấm khuya cài
Mặc nhiên nhung lụa trang đài khóa then
*
Này em nâng cánh hồng sen.

Dung Thị Vân

Nhà Thơ Vũ Hữu Định: “May Mà Có Em Đời Còn Dễ Thương”. Trương Đình Tuấn


Trương Đình Tuấn

Thi sĩ Vũ Hữu Định làm bài thơ “Còn Chút Gì Để Nhớ” vào năm 1970 khi bị đày lên Pleiku để làm Lao công đào binh. Bài thơ sau đó được nhạc sĩ Phạm Duy – “ông vua” phổ nhạc của Việt Nam đã lấy nguyên bài thơ làm ca từ không bỏ hoặc thêm bớt một từ nào cả. Bản nhạc nhanh chóng được công chúng đón nhận:
phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thươngphố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuângem Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trongxin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên

Vũ Hữu Định đã tiết lộ với bạn bè là “em” trong bài thơ này chỉ là nhân vật mà anh đã… nhặt được trong tưởng tượng trong giây phút linh hiển nhất của mình là khi làm thơ. Khi Phạm Duy “chắp cánh” cho bài thơ bằng một bài hát bất tử, cả nhà thơ và nhạc sĩ đã đội vòng nguyệt quế cho Pleiku, một miền cao nguyên Trung phần quanh năm sương phủ núi đồi, một vùng thủ phủ của quân khu 2 nên lính đóng quân nhiều hơn thường dân ở.
Nếu không có bài thơ này thì ít ai biết đến một thành phố xa xôi “quanh năm mùa đông” và những người yêu thơ không thuộc nằm lòng câu: May mà có em đời còn dễ thương.Bài thơ gắn liền với tên tuổi của Vũ Hữu Định, nhắc đến tác giả là người ta nhớ Còn Chút Gì Để Nhớ và ngược lại. Thi sĩ Kim Tuấn là lính đóng quân gắn bó nhiều năm ở Pleiku, từng làm nhiều bài thơ cho phố núi sương mù này đã thốt lên về Vũ Hữu Định: “Mình từng ăn dầm ở dề ở đây mà chẳng làm được tích sự gì, vậy mà bỗng dưng một gã giang hồ từ đâu đó ghé chơi đã làm bài thơ nổi đình nổi đám cho Pleiku!” Như vậy mới biết là một địa danh nào đó để cho nhiều người biết đến phải nhờ đến âm nhạc và thi ca. Những cung bậc tài hoa của nghệ thuật đã gây cảm xúc và lưu lại “chút gì để nhớ” để thôi thúc độc giả một ngày nào đó sẽ làm du khách được ghé thăm. Bài thơ được đăng trong báo Khởi Hành năm 1970, được lọt vào mắt của Phạm Duy, và nhạc sĩ đã tìm lên đến Pleiku để gặp Vũ Hữu Định, người lính đào ngũ hai năm rồi bị bắt đày lên cao nguyên để phục dịch chiến trường. Trong một buổi chiều họp mặt nhiều văn nghệ sĩ của Pleiku, trong đó có tác giả của “Còn Chút Gì Để Nhớ” – Vũ Hữu Định. Anh mặc cái áo màu xám khắc sau lưng bốn chữ LCĐB (Lao công đào binh). Trong giới văn nghệ, người ta quí trọng tài năng của nhau chứ không phân biệt người đương thời quan cách và kẻ làm tội nhân. Phạm Duy đã rút giấy bút ra từ túi áo và kẻ rất nhanh những dòng nhạc, rồi hát thử cho mọi người nghe bài Còn Chút Gì Để Nhớ , và sau đó bài hát đã nổi tiếng ngay sau khi phát hành.
Thi sĩ Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung (1942- 1981), sinh tại Thừa Thiên. Đã từng sống nhiều nơi ở Cao nguyên và Đà Nẵng, anh sống nghèo túng trong khoảng đời ngắn ngủi của mình, có tật mê rượu và thường giang hồ lang bạt đi đây đi đó. Anh đã có nhiều thơ đang rải rác ở các báo với nhiều bút hiệu khác nhau và cuối cùng tên Vũ Hữu Định mới được nhiều người biết đến sau khi bản nhạc Còn Chút Gì Để Nhớ ra đời.“
“Giang hồ đâu cần ai phong ấn” Chỉ trong chuỗi ngày giang hồ của mình, Vũ Hữu Định để lại cho đời một bài thơ làm nhiều người biết và để ý đến phố núi Pleiku. Tác phẩm đôi khi do ghi lại tình tiết của đời tư của nghệ sĩ, và nghệ phẩm không phải xuất xứ từ salon, từ chăn êm nệm ấm, mà từ nỗi đày ải nhân gian mà tác giả đã trải qua.
Một địa danh vốn ở ngoài đời đã đẹp, khi đi vào thi ca và âm nhạc sẽ trở thành nên thơ hơn, làm du khách muốn đến thăm hơn. Như bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử và bài nhạc Ai Lên Xứ Hoa Đào của Hoàng Nguyên. Tôi đã có một đôi lần ghé lại Pleiku, từ con dốc cao đổ vào trung tâm, đã thấy “quanh năm mùa đông” ở trên từng màn sương ướt màu thông xứ sở cao nguyên. Không thể không nhớ đến một gã giang hồ làm thơ Vũ Hữu Định tài hoa bạc mệnh đã từ giã cuộc chơi trần thế vào năm 39 tuổi.
Tôi đi trong hoài tưởng về một Pleiku ngày ấy đã được Vũ Hữu Định khoác lên cho chiếc áo thi ca, đi loanh quanh hết mấy con đường không còn mù bụi đỏ như xưa để có đúng là “đi dăm phút đã về chốn cũ” không? “Xin cảm ơn một mái tóc mềm” nào đó của Vũ Hữu Định đã cho chúng ta những hình dung về một phố núi cao nguyên Pleiku ngoài đời và một miền sương mù bất tận trong thơ. Một mái tóc mềm dẫu không có thật ở ngoài đời cũng kệ, cũng đủ làm cho May Mà Có Em Đời Còn Dễ Thương.

Trương Đình Tuấn

Quán Thơ Hư Vô 406



BƯỚC CHÂN THÁNG 11

Em đi về bên ấy
Bỏ tôi ở bên này
Chiều gầy trơ góc nắng
Trên từng nhánh heo may.

Đâu chắc gì em thấy
Trời đất còn không hay
Bàn tay tôi lạnh cóng
Lọng cọng đếm tháng ngày.

Nghe mùa thu động đậy
Cho đầy dấu ăn năn
Em đi dù rất chậm
Nhịp guốc cũng thưa dần.

Theo chân tháng 11
Tôi lạc vào biệt tăm
Máu trong tim đã cạn
Còn nghe tiếng thì thầm.

Lời câm vang cùng tận
Lận đận một đời nhau
Em nhón gót ngoảnh lại
Cũng chưa tới đỉnh sầu…

Hư Vô

MÌNH TÔI


Mình tôi, tôi khóc biết không,
Nỗi buồn, buồn lắm cứ vòng quanh tôi.
Trời mưa,buồn chẳng buồn trôi,
Đầy thêm niềm nhớ còn tôi gọi người.

Xôn xao tiếng nói tiếng cười,
Mà lòng hiu quạnh nhìn trời thở than.
Khóc tôi tìm chút bình an,
Chỗ ngồi còn nóng với ngàn câu kinh.

Trốn vào một cõi lặng thinh,
Một mình đối diện với mình cho yên.
Ước làm con bướm hoa viên,
Bay xa cánh mỏi về miền vô ưu..

Tháng năm như giấc mộng du,
Biển mênh mông rộng,thả ru nỗi sầu.
Mình tôi sương tóc bạc mầu,
Khóc cùng nhân thế nhịp cầu chia phôi…

trầnthịminhchâu

ĐỢI CHỜ


Đợi chờ một cuộc gọi
Chơi cùng gió nguyên ngày
Mấy vòm cong ngực cát
Hõm nhỏ vài bụi cây

Đợi chờ một bài hát
Chẳng may ai quên lời
Những cánh chim viễn xứ
Chập chờn nhau bên trời

Mà đợi chờ chi nữa
Nắng nhạt nhòe mây trôi
buông tay ba hạt dẻ
lăn vào rừng tinh khôi…

Diệp Hoàng

KHI TA VỀ


Khi về trú dưới hiên mưa
Soi đèn bạch lạp đêm vừa sang canh
Dưới trăng nghe trống trường thành
Dặm xa ngựa mỏi cũng đành buông cương.

Khi về hồn gió muôn phương
Kèn vang lỗi nhịp loạn phường bát âm
Tử sinh vượt cửa phù trầm
Đời sau còn nợ kiếp tằm sầu riêng.

Khi về khai ấn đền thiêng
Bánh xe lịch sử cuốn nghiền nát thân
Đi qua gió lốc bụi trần
Áo phơi dấu cỏ ngại ngần biển dâu.

Khi về giấc ngủ hư hao
Bướm xưa vườn cũ cỏ nhàu vết đau
Chiều tàn bóng ngả ca dao
Nhớ ai cởi áo qua cầu nước xuôi.

Khi về biến dạng mặt người
Soi gương chợt nhớ mấy lời cổ thi
Gieo câu lục bát lỡ thì
Bước chân sỏi đá khắc ghi lời nguyền.

Khi về lạc dấu đào nguyên
Đầu non cửa động trót phiền nhân gian
Non cao suối biếc thông ngàn
Tìm đâu dã hạc bay ngang bụi lầm.

Khi về gieo hạt từ tâm
Hoa vô ưu nở hương trầm quẩn quanh
Tóc người thuở ấy còn xanh
Sông dài biển rộng thôi đành phai hương.

Khi về tóc nhuộm tà dương
Vàng câu kinh tự vô thường quán không
Sóng xô gò nổi bận lòng
Vô ngôn còn chút bụi hồng nhớ nhau.

Nguyễn An Bình

TÌM CON


Mẹ đi khắp từng kẽ gió mùa để trông một giọt con long lanh
Ngày vẫn chồng ngày và năm thì cứ dài cứ lạnh
Mẹ ở đây trong mênh mông hiu quạnh
Tìm con, con ơi đã thấy bóng mẹ chờ

Sóng đang vỗ ngoài những giấc mơ
Sương đang đông đặc theo từng nỗi chờ viễn vọng
Mẹ đi qua tuổi xuân cồng kềnh đáy mắt hư không
Mẹ đi qua núi sông vẫn bình thường một lần khát tiếng vọng
Mẹ ơi!

Mẹ ru đêm, chiếc lá, cánh diều và con mèo bằng tiếng ru dòng sông
Mẹ ôm gió, mây, bóng chiều và giọt lòng nơi đáy mắt chênh vênh
Mẹ đã đặt sẵn tên
Mẹ đã quên mình bao nhiêu tuổi

Tìm con nơi góc nào trầy trụi
Tìm con trong góc áo lầm lũi chưa về
Gốc kiểng vẫn chưa huê
Mẹ từ ngực trái xin về giấc con

Con ơi núi đã lần mòn
Con ơi đêm mẹ khóc tròn màu trăng.

Lê Tuyết Lan

NGỤ NGÔN…


Ta sắp nhạc, cho chim về ca hát…
Đây vườn yêu, hoa, trái ngọt tình thần.
Suối biến khúc, giải khan hồn sa mạc
Cây hoà âm, biểu cận đương thì Xuân…

Ta góp nhặt mây hoang, xây tổ ấm.
Thắp tình lên ngọn bấc, lúc tàn đông…
Mộng mới mẻ, thoát ly đời bụi bậm…
Mà đến Đào Nguyên, mà tới Non Bồng…

Giã biệt tuyết, bước qua hội ngộ nắng.
Cũng vòng xoay trái đất, cũng luân hồi…
Ta với em cách đêm, ngày mấy chặng,
Mấy chặng xa, gần ,mấy chặng buồn, vui?!?!

Tích hưng, phế đổi màu, ý vô niệm.
Mùi lợi, danh, hương, sắc ướp thân phàm…
Máu dương tính nghiện phấn, son trang điểm
Tâm ngủ ngơ, ngồi ngóng nụ Ưu Đàm…

Ta nín lặng, nghe tiếng hờn của gió.
Và để nghe tiếng khóc của cơn mưa…
Ta bỗng thấy, khi cõi lòng đã mở.
Một thế gian chật chội, sống không vừa../..

Đặng Triều

TRỞ GIÓ


Hình như trời trở gió
Thoảng một chút heo may
Đã cuối thu rồi đó
Nhè nhẹ chiếc lá bay.

Thời gian trôi, trôi mãi
Nhuộm vàng tuổi thanh xuân
Ta ngoái đầu nhìn lại
Nghe lòng mình bâng khuâng.

Ngậm ngùi qua chốn cũ
Cây già góc phố xưa
Chừng như xa lạ quá
Tìm đâu những chiều mưa.

Về ngang miền kí ức
Lành lạnh chớm vào đông
Thương sao thời son trẻ
Cháy đỏ ngọn lửa lòng.

Hồn giờ đây đã cỗi
Cạn nước rồi dòng sông
Nhịp đời luôn hối hả
Ôi! Buồn nào mênh mông…

BT Áo Tím

LAU TRẮNG BẾN SÔNG


Bóng đò chiều chưa về lại bến sông
Con nước bạc lớn ròng không định hướng
Bông lau trắng bồi hồi trong gió chướng
Tím lục bình lơ lửng một dòng trôi.

Cánh chim bằng bay mãi chốn xa xôi
Giọt nước mắt đẫm môi người ở lại
Những kỷ niệm úa vàng như hoa cải
Chẳng còn gì sót lại cuối mùa thương.

Lá tàn thu ngập ngụa mấy cung đường
Chút dư ảnh người dưng giờ khuất lấp
Hoàng hôn phủ lãnh cung buồn xây đắp
Bước chân trần va vấp nỗi đơn côi.

Ngược nẻo đời lối mộng cũng ngăn đôi
Lau trắng phủ khoảng trời đông hiu quạnh
Mi ướt lệ giọt sầu rơi sóng sánh
Trăng khuyết mờ buốt lạnh cả lòng đêm.

Diệp Ly


Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: