Chải Tóc. Thơ Hư Vô – Nhạc Anh Bằng – Tiếng hát Mạnh Tuấn – PPS Thảo Nguyên Sydney


CXC

Này em, nghiêng thấp đôi vai
Cho anh chải sợi tóc bay ngược dòng
Này em, cúi xuống hư không
Chải luôn sợi nắng cầu vồng trên vai.

Này em, mái tóc xõa dài
Chải trăm năm một hình hài đời sau
Này em, bước tới bể dâu
Chải chung hai nhánh cùng đau một lần.

Tóc em sợi rối lưng trần
Buông theo nước mắt trao thân vào đời
Mất nhau chưa kịp quên hơi
Đáy gương nghiêng dáng chiều phơi lụa nhầu

Buồn ngang vết cắt da đau
Bóng em hóa hạt bụi đào ngây ngô
Này em, ôm sát hư vô
Chải vào hoang phế hương bồ kết xưa…

Hư Vô

chai-toc

Lưng Nguyệt. Thơ Hư Vô


BÌA TRƯỚC LƯNG NGUYỆT.

Nửa đêm pha rượu vào nhan sắc
Vườn khuya đã động khúc nguyệt cầm
Mùa thu như thoáng chiêm bao tới
Theo bước em qua lối thăng trầm.

Hơi người còn ấm quanh chăn gối
Tôi ôm cái bóng lạnh chỗ nằm
Trở mình hồn vướng ngang sợi tóc
Em đi, bỏ lại cả trăm năm.

Thì tôi cũng có đêm cùng tận
Để giấu buồn riêng nỗi nhớ người.
Tay lùa bóng tối vào lưng nguyệt
Lấp cho đầy vực khuyết tim tôi.

Em về soi lại dung nhan cũ
Thấy có còn tôi giữa muôn trùng?
Từ đêm rượu ướt đôi môi đỏ
Nhỏ xuống hư vô dấu nguyệt trần…

Hư Vô

 

 

 

 

 

 

 

Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác. Truyện dài Nhật Tiến


Nhật Tiến

nha_giao_mot_thoi_nhech_nhac__nhat_tien

Lời Nói Đầu
(Hồi ký của một nhà giáo sau 30-4-1975)

Trước khi mời độc giả khởi sự đọc cuốn sách nhỏ bé này, tôi xin có một vài lời muốn bầy tỏ.Cứ theo lẽ thông thường, thì khi bước qua tuổi 70 để chuẩn bị đi vào cõi 80, con người ta dẫu có khỏe mạnh cách nào thì năng lực hoạt động cũng bị sút giảm đi rất nhiều, nhất lại là công việc của một người sáng tác.

Cũng thuộc lớp tuổi nói trên, về phần tôi trong mấy năm trở lại đây ( năm nay là 2011), tôi đã tự cho phép mình ngưng việc viết lách. Bởi viết thêm nữa làm gì, khi mà điều mình muốn viết, muốn nói thì cũng đã có nhiều cây viết ở cả trong lẫn ngoài nước viết ra, nói ra rồi, mà có khi những bài viết ấy lại còn chuyên chở đầy đủ hơn những điều mình suy nghĩ.Thế thì một cách đương nhiên, từ vị trí người của viết, tôi đã chuyển sang vị trí người đọc. Tôi đã đọc chăm chỉ, đọc miệt mài những gì tôi thích hay cần đọc, với một lòng biết ơn các tác giả, những người đã cho tôi được thưởng ngoạn các công trình tim óc của họ.

Tôi vẫn nghĩ, con người ta khi ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời mà  đầu óc còn minh mẫn để còn có thể đọc được, rồi lại còn đủ cả nhiệt tâm để thấy tâm tình trỗi dậy, biết cảm thông và chia sẻ với những điều mà tác giả đã phơi bầy trên trang giấy, như thế thì cũng đã là đầy đủ, không còn gì phải tiếc nuối nữa.

Chính từ những ý nghĩ đó mà gần đây, tôi không còn có dự tính làm thêm điều gì trong lãnh vực văn chương chữ nghĩa của mình nữa.

***

Nhưng nào tôi có ngờ đâu rằng trong nếp sống nhàn nhã với thứ tâm trạng bình an ấy, thỉnh thoảng tôi lại cứ thấy trỗi lên trong lòng mình một nỗi niềm thao thức.

Sự thao thức không bắt nguồn từ thói quen viết lách qua nhiều chục năm, bây giờ nó giục giã khiến cho mình  không được phép nghỉ ngơi.

Mà cũng không phải vì tôi  được nghe bạn bè thân quen thỉnh thoảng vẫn khuyến khích việc sáng tác,  riết rồi tôi lại tự hối thúc mình tiếp tục làm việc .

Và nhất là, càng không phải chuyện cứ thấy người khác vẫn thay nhau tiếp tục cho in tác phẩm mới, thì mình đâm ra cũng háo hức muốn đua theo.

Tất cả những nguyên do kể trên đều không giúp tôi giải tỏa được nỗi băn khoăn lâu lâu cứ trỗi dậy, dằn vặt tâm trí của mình.

Sau cùng, kỳ lạ thay, tôi bỗng phát hiện ra rằng nỗi niềm thao thức kể trên lại xuất phát từ một lãnh vực khác, cái lãnh vực mà tôi đã không còn dính líu gì tới trong nhiều năm qua.

Đó là nghề gõ đầu trẻ, cái nghề chỉ chuyên gắn bó với phấn trắng, bảng đen và những đám học trò mà tâm hồn còn trong veo của lứa tuổi đang vô tư trước ngưỡng cửa vào đời.

Rồi những ai đã từng đi dạy học thì không thể không biết tới thế nào là lương tâm và tinh thần trách nhiệm của một nhà giáo ! Vậy thì đích thị những thứ hành trang của nhà giáo mà tôi đã gác bỏ từ bao nhiêu năm qua,  nay đã bất ngờ trở lại để dằn vặt tâm hồn tôi trong nhiều đêm dài mất ngủ.

Đúng vậy, trước khi được gọi là nhà văn thì tôi đã là một nhà giáo. Trong suốt cuộc đời dạy học, tôi đã trải qua nhiều ngôi trường, ở tại nhiều địa phương và giảng dạy cho nhiều thế hệ học trò. Rồi khi  ngành giáo dục mà tôi theo đuổi, do vận nước mà bị nổi trôi theo thời cuộc thì tôi cũng vẫn còn đeo đẳng để rồi lại cũng nổi trôi theo.

Điều đó có nghĩa là khi thời thế thay đổi, nhất lại là sự thay đổi từ ý thức hệ này qua ý thức hệ khác thì hầu như mọi vốn liếng tinh thần của nhà giáo, tưởng sẽ tồn tại lâu dài với những chuẩn mực vốn đã trở thành truyền thống lâu đời, thì nay đã hoàn toàn bị đảo lộn, bị tróc gốc, đến độ như tôi đã có cảm giác rằng mình đang kiêm nhiệm cùng một lúc cả hai vai trò : vừa là thầy giảng dạy, vừa là tên học trò cứ bị nhà trường uốn nắn thường xuyên từ tác phong, cử chỉ cho đến lời ăn tiếng nói.

Nói cho đúng ra, trong suốt cả một đời người, dù bôn ba, bận bịu cách nào thì ai cũng vẫn có cơ hội để học. Cho nên tôi sẽ không buồn phiền gì về cái sự đã làm thầy giáo rồi mà vẫn cứ bị đè cổ ra để bắt học tiếp. Miễn là việc học ấy không bắt tôi phải chối bỏ chính mình, và thực sự đem lại cho tôi những kiến thức tốt đẹp để tôi có thể truyền đạt lại cho học sinh trong vai trò của một nhà giáo.

Nhưng trải gần 4 năm trầy trợt trong một mái nhà trường XHCN, tôi phát giác ra rằng ở đấy người ta không cho phép các thầy cô được làm trọn vẹn trách nhiệm của một nhà giáo lương thiện, đúng nghĩa. Bởi vì, một nhà giáo lương thiện, đúng nghĩa thì không dối trá với học trò ngay trên bục giảng hay ngay trong bài giảng của mình. Nhà giáo cũng không thể tiếp tay với nhà trường để xô đẩy học sinh vào những vùng trời mê muội;  lôi kéo, dụ dỗ, nhồi nhét vào đầu óc non nớt của chúng những thứ không nhằm phục vụ cho tương lai của chúng cũng như của đất nước  mà chỉ cho những ý đồ đen tối của một guồng máy cai trị phi nhân bản.

Nói một cách cụ thể, nếu coi tâm hồn của những trẻ thơ như là một tờ giấy trắng, thì chính lũ nhà giáo chúng tôi đã có một thời bôi tro trát trấu lên những tờ giấy đó bằng thái độ ươn hèn, câm nín, tiếp tay, a dua, bợ đỡ của mình.

Riêng trường hợp của tôi, cái giai đoạn hãi hùng phải kinh qua nhiều nỗi chuân chuyên ấy tuy chỉ kéo dài khoảng bốn năm, nhưng thật sự đã để lại trong tôi quá nhiều ấn tượng.

Đến nỗi trong nhiều năm sau này, đã có nhiều đêm choàng tỉnh dậy, tôi thảng thốt thấy như mình vẫn còn đang dẫn dắt một đám học trò lếch thếch đi khuân từng bó trúc mua ở các hợp tác xã đem về trường để cả thầy lẫn trò đều miệt mài biểu diễn việc sản xuất mành mành trúc trong những giờ học chính thức, được gọi là  giờ lao động sản xuất.

Và cũng có nhiều hôm tôi choàng tỉnh sau một cơn mơ thấy mình đang ngồi chen chúc với các đồng nghiệp khác trong một hội trường chật chội, nóng bức vào mùa hè để nghe những lời giảng dạy của thuyết trình viên mà chúng tôi đều biết rằng ngay cả chính anh ta cũng đang nghĩ là mình đang nói dối. Người nói, người nghe cùng có khả năng nhận biết đó là những màn kịch giả trá, nhưng chẳng ai dám nói ra. Nói sao được, khi chúng tôi đã bị coi như những đứa học trò lúc nào cũng bị rình rập, dòm ngó, nghi ngờ. Và cứ sểnh ra là sẽ bị báo cáo, rồi khiển trách, rồi kỷ luật, dám có thể đi tù.

Cùng trải nghiệm như thế, chắc cũng có nhiều giáo chức đã một thời cùng với tôi lui tới, sinh hoạt dưới những mái nhà trường XHCN ngay sau khi miền Nam đổi chủ. Tôi hy vọng sẽ có nhiều vị còn lưu giữ được những kỷ niệm, còn ghi gói được những kinh nghiệm sống, và còn thấy xót xa cho thân phận của nhiều nhà giáo trong quãng thời gian ấy, để rồi sẽ đưa tất cả vào tác phẩm hồi ký của mình.

Nhưng cho đến nay, số người viết về những điều ấy xét ra không nhiều. Hầu hết nếu có thì cũng chỉ là những bài viết ngắn, được thu gọn trong một vài vụ việc đáng ghi nhớ mà tác giả viết ra để đóng góp cho một tờ báo vào một dịp đặc biệt nào đó trong năm.

Như thế, chúng ta chưa có một cuốn hồi ký nào của một nhà giáo viết về sinh hoạt của Thầy trò sau tháng 4-1975, dưới mái nhà trường XHCN .

Mà có thực sự cần thiết để viết lại những điều như thế hay không ?

Theo tôi nghĩ thì rất cần.

Bởi nó là cội nguồn của những sự tróc gốc đạo đức sẽ diễn ra trong xã hội VN trong nhiều năm sau đó.

Bởi nó xây dựng nền tảng giáo dục các thế hệ đi sau trên những điều giả trá, trên những mưu toan ngoài giáo dục, và bằng những đầu óc thiển cận, hẹp hòi, đầy tự kiêu, tự mãn.

Tất cả những sự kiện như thế, ngày nay không còn thể coi là những lời nói mơ hồ nữa. Bởi vì nó đã trổ hoa, kết trái,  tiết ra nhiều độc tố sau nhiều chục năm được vun trồng.

Bởi chính nó, tức cái thành quả giáo dục ấy, đã tạo nên tình trạng đạo lý suy đồi ở cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội ngày nay. Nó cũng đã thể hiện chính xác câu nói của Lénine về “ quan hệ giữa người với người là cho sói”.  Các trang tin tức quốc nội bây giờ đã đăng lên không thiếu gì những câu chuyện khó tin mà có thật với nhan nhản những con người không còn mang tính người. Mấy chữ “mác-kê-nô” tức “mặc kệ nó” nghe tưởng vô thưởng vô phạt nhưng đã hàm chứa một triết lý sống cực kỳ tồi tệ và bi đát của một xã hội vô cảm mà hàng ngàn năm qua ta chưa bao giờ thấy hiện diện trên đất nước.

Và cũng bởi chính nó mà những điều kiện an toàn của xã hội đã bị đảo lộn, như luật pháp không còn nghiêm minh, tiền bạc mua được công lý, chức quyền có thể đổi trắng thay đen, tiếng kêu của dân oan từ nhiều năm qua vẫn còn vang lên từ khắp mọi miền đất nước ..v..v…

Nói tóm lại, cái thành quả giáo dục trong hơn nửa thế kỷ qua dưới mái nhà trường XHCN cộng với sự tiếp tay của rất nhiều thế hệ những ngòi bút vô lương tâm, chỉ biết tô son điểm phấn cho những sai lầm to tát của chế độ nên đã đem lại cho đất nước triền miên những mùa hoa trái ung thối, nhiễm độc kể từ khi có những vụ Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm…và cho đến tận ngày nay vẫn còn xẩy ra những chuyện lạ lùng như bầy tỏ lòng yêu nước thì bị cấm đoán, triệt hạ, những người yêu nước thì  lại bị bắt giữ, cầm tù.

Thành quả giáo dục đen tối như thế, chất chứa những nguyên nhân còn gây tác họa lâu dài như thế, vậy tại sao không ghi gói lại để các thế hệ sau tìm đến như tìm những vết xe đổ cần tránh xa, để không lập lại ?

Vì những lý do đó, và mặc dù có thể khả năng viết lách nay không còn được như xưa, nhưng tôi cũng cố gắng trong cái sức của mình để viết lên những trang sách này.

Tôi gọi đây là hồi ký của “một nhà giáo”, hiểu theo nghĩa chung chung là của một người đã từng cầm phấn và đứng trước bảng đen. Đấy không phải hoàn toàn là những kinh nghiệm riêng tư của một mình tôi. Bởi nếu chỉ viết riêng có chuyện mình thì bức tranh toàn cục có thể sẽ thiếu sót nhiều mặt, nhiều chi tiết. Chi bằng đặt dưới danh nghĩa “một nhà giáo”, tác phẩm sẽ gom góp được kinh nghiệm sống của nhiều người hơn và việc thể hiện trên trang giấy cũng dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, dù có cố gắng cách nào thì thành quả nếu có cũng sẽ chỉ là nhỏ nhoi trong muôn một.

Ước vọng của người viết là mong mỏi rồi ra còn có nhiều đồng nghiệp đã từng kinh qua những thời gian đó, sẽ ngồi viết lại những trang sách cùng loại, để bức tranh khắc họa về ngành Giáo Dục VN sẽ mang một nội dung phong phú hơn, những sai lầm gây tổn hại lớn lao cho đất nước do những đầu óc thiển cận hẹp hòi trong quá khứ sẽ được nói lên rõ ràng hơn, và những thông điệp gửi gấm lại cho thế hệ đi sau sẽ mang được nhiều tâm huyết hơn.

Được như vậy hẳn chúng ta sẽ vô cùng hoan hỉ vì đã cùng nhau hoàn tất trách nhiệm cuối cùng của những nhà giáo trước khi buông xuôi hai tay về chốn vĩnh hằng.

Nhật Tiến

Tháng 11-2011

Xem Tiếp Chương 1

Buồn vui thời điêu linh: Thời Đốt Sách! Nguyen Ngoc Chinh


Nguyen Ngoc Chinh

dot-sach

Xuống đường Bài trừ Văn hóa “Đồi trụy & Phản động” trong thời điêu linh

“Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch. Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu:

“Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt. Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966 cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975 chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc:

“Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm…

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê…. Phê bình văn học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh…

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy. Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để hỏa thiêu.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên, những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt.

Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt sách năm 1975:

“Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong. Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với danh ngôn: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, người được giới văn học đánh giá là một trong những cây bút đầu tiên viết truyện ngắn hiện đại bằng chữ quốc ngữ trong văn học Việt Nam. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.

Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó có Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề là “Con sáo của em tôi” đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn, truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.

Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản…

Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’…”

Trong vụ án được mệnh danh là Nhũng tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miềnNam nhưng bất thành vì áp lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20 năm), Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn (12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và Khuất Duy Trác cùng Trần Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất hăng ở Rừng Phong (Virginia) trên blog của HHT

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo ra hàng ngày.

 

Nhật báo Tiền Tuyến và Tiếng Chuông

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học. Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo). Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng 12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/60)

sang-tao71-4-bachkhoa_1962

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ Châu.

Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi. Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc…. Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

71-5-tap-chi-van

Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến 1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc… Văn đặc biệt quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong, Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964. Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.

Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.

Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy…). Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang…

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức…”

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch… Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung, phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam… đều sống bằng ngòi bút một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo… cũng đều có những số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long… Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.

Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài’ văn học’ (!?), Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…

Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề’…

71-7-cntnguyenthithuyvu71-8-cnttuyhong71-9-cntnguyenthihoang08-1-chu-tu

Chân dung một số văn nghệ sĩ Miền Nam

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’ nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần

Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước 1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise Sagan…

Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng thì chưa”.

Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation (Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” và “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.

Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces (dày khoảng 3000 trang in lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes,Hamlet của William Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von Goethe,The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre Gide, Remembrance of Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul Sartre…

71-10-dscf0016

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mớicũng được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng…Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở
Không thấy sách báo xưa
Ngọn lửa nào năm cũ
Lạc về đâu bây giờ?

Nguyen Ngoc Chinh (Hồi ức một đời người)

(Nguồn: http://khaiphong.org/showthread.php?1497-Bu%26%237891%3Bn-vui-th%26%237901%3Bi-%26%23273%3Bi%EAu-linh-Th%26%237901%3Bi-%26%23272%3B%26%237889%3Bt-S%E1ch-)

Ngày Tình. Thơ Hư Vô


Hư Vô

Là những hồn nhiên vừa đánh mất
Trong mắt em thuở mới biết buồn
Sài gòn những chiều mưa xanh tóc
Đường áo bay mù lá sân trường.

Giảng đường còn tôi ngồi vẽ bóng
Dáng em nhan sắc mới xuân thì
Nét cọ run tay vì lá biếc
Khép từng giọt lệ ở trên mi.

Hiên thấp che nghiêng vườn con gái
Hạt mưa lăn ướt ngọn lưng chiều
Chứng tích ngày tình còn nương náu
Trên từng chấm cỏ đã rong rêu.

Mà cả đời tôi chưa kịp hiểu
Chỗ em qua mưa đã cùng đường
Cà phê pha đậm môi người lạ
Còn nghe giọt đá đọng lòng gương…

Hư Vô

Chém Treo Ngành – Truyện ngắn Nguyễn Tuân


Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.

Nguyễn Tuân

content_diem-sach_vang-bong-mot-thoi--nguyen-tuan

(Nguyễn Tuân – Vang Bóng Một Thời)

Phía tây thành B. trên một nền đất rộng đổ sát vào chân thành cho lầu gạch ngoài thành được thêm vững chãi, lũ cây chuối mật tha hồ mặc sức mà mọc. Nó um tùm, tàu lá rộng và không bị gió đánh rách, che kín cả bóng mặt trời. Trên áng cỏ bốn mùa ẩm ướt, loài nấm dại sinh nở hết sức bừa bộn.

Khoảng đất ấy ở phía sau kho lúa xây trong thành quanh năm không có vết chân người.

Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mấy con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ. Nhưng thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi lại bay qua ngọn thành. Vào tiết mưa dầm, những trận mưa Ngâu đổ lên vườn chuối một khúc nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu.

Vườn chuối phía tây thành sớm nay quang đãng khác mọi ngày. Trên mặt cỏ ngổn ngang những tàu lá, cuống còn tuôn rỉ ra những dòng nhựa thẫm màu. Nhựa ấy bị không khí làm se lại, kết nên thành những khối keo quyện chặt lấy búi cỏ gà.

Cùng một buổi chiều ấy, mấy người vợ lính cơ đứng trong luống bãi dâu trồng ở dưới chân thành, sát ngay với bờ hào được nghe tiếng người hát trên ngọn thành, ở trên đầu họ, đúng ngay chỗ vườn chuối im lìm của mọi ngày.

Tiếng người trên mặt ngọn thành cũ hát rằng:

“Trời nổi cơn lốc
Cảnh càng u sầu
Tiếng loa vừa dậy
Hồi chiêng mớm mau
Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau
Thừa chịu lệnh cả
Dám nghĩ thế nào
Người ngồi cho vững
Cho ngọt nhát đao
Hỡi hồn!
Hỡi quỷ không đầu!”

Người ở trên mặt thành hát đến đâu thì tiếng những thân cây chuối đổ xuống mặt đất tường thành lại kêu roạt roạt đến đấy. Bọn người đàn bà hái dâu ngừng tay bứt lá, nghiêng đầu lắng kỹ. Cái bài hát năm mươi tư chữ nghe như bài sai của thầy phù thủy, đã hát đi hát lại đến mấy lần. Cứ xong mỗi câu thì lại có một tiếng roạt. Chỉ có cây chuối bị chặt mạnh mình lìa hẳn gốc, đổ vật xuống mặt đất thì mới kêu roạt roạt như vậy thôi. Nhưng mà ai chặt chuối? Không phải hẳn là cấm địa, nhưng góc thành sau kho lúa kia cũng là một miếng đất cấm, ai dám vượt phép quan vào đấy mà hát, mà phá vườn. Có chăng là làm loạn.

Những người vợ lính cơ, quen sống trong không khí loạn lìa, chiều nay và đêm nay bàn tán mãi về cái tiếng hát trên vườn chuối mặt tường thành. Chồng họ cũng lấy làm lạ và tự nhủ ngày mai vào trại sẽ hỏi chuyện cho rõ.

Buổi sáng hôm sau, bọn vợ lính cơ, thêm được ít người tò mò nữa kéo đến vườn dâu ngoài thành, vẫn nghe rõ người ta chặt chuối trên mặt thành, với những câu hát rõ mồn một:

” Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau…”

Khi nghỉ ngơi, lúc họ mang chuyện đó về nhà thì những người lính cơ đều ra vẻ cảm động sợ hãi và cắt nghĩa:

– Ông Bát Lê sắp làm việc đấy.

– ? ? ?

– Ông lớn sắp đem mười mấy người ra chém. Và tiếng người hát trên mặt thành là tiếng ông Bát Lê đang tập múa thanh quất ở vườn chuối đấy.

– Múa thanh quất? Ở vườn chuối? Sao lại hát những câu gì thế? Và ông Bát Lê vốn chém người đã nổi tiếng, còn phải tập với tành gì nữa?

– U mày không hiểu. Lâu nay ông Bát không phải khai đao vì Ông Lớn thấy già yếu muốn cho nghỉ tay. Mỗi lần có án trảm, ông Bát chỉ phải ra pháp trường cho có mặt thôi. Còn công việc thì đã có người khác đỡ tay. Nhưng vẫn cứ được tiền thưởng. Ðã đến gần một năm nay, ông Bát không cầm đến thanh quất. Không hiểu tại sao, lần này Ông Lớn lại cho gọi ông Bát ra cho kỳ được và xem chừng như ngài săn sóc đến cái vụ xử trảm này nhiều lắm.

Lui vào tư thất, quan Tổng đốc sung chức Ðổng lý Quân vụ, nhác thấy lão Lê đang co tay úp lên mang tai nhìn vào đám vàng son lộng lẫy nhà riêng mình, ngài liền quở:

– Ít bữa nay, chú đi đâu? Ta cho thằng Cửu nó sang gọi mấy lần đều thấy đóng cửa.

– Bẩm lạy Ông lớn, ít lâu nay con về nhà quê. Giá như ngày trước, có khi nào con dám đi xa, sớm tối lúc nào con cũng phải ở trong nội thành, phòng những lúc Ông Lớn bất thần gọi đến. Nhưng từ hồi gần đây, Ông Lớn thương phận già nua cho con được nghỉ tay đao, con có mạn phép về thăm nhà. Ðược tin Ông Lớn cho đòi, con vội vã vào hầu, xin Ông Lớn tha tội. Con chờ lệnh Ông Lớn truyền xuống.

– Thôi, cho đứng dậy.

Quan Ðổng lý Quân vụ ngả mình trên ghế bành vàng và son, hất hàm hỏi tên bát phẩm đầy tớ già đang co ro người bên chiếc cột:

– Liệu bây giờ chém còn mát tay nữa không ?

– Dạ.

– Dạ sao ? Chú có biết ta sắp cho xuống cái lệnh chi không?

– Dạ.

– Có mười hai tên tử tù sắp phải hành hình. Quan Công sứ muốn được thị kiến lúc bọn hắn chịu án trảm. Ngươi chém thế nào cho gọn thì chém, hễ chém một đầu đến hai nhát thì không những ta truất tiền thưởng mà ngươi còn bị quở nữa. Chém cho thực ngọt.

– Dạ.

– Tiền thưởng này chính của Quan Công sứ cho. Ta muốn giữ phần cho ngươi nên ta cho gọi vào mà lĩnh lấy việc này, gọi là kiếm một chút bổng để dưỡng cái tuổi già. Chú phải biết khi nhận lấy mười hai tên tử tù là chú phải làm việc cho đầy đủ. Chớ để phiền đến ta. Ta đã trót khoe khoang cái tài chém “treo ngành” của chú với quan Công sứ. Chú nghĩ thế nào?

– Dạ, bẩm Ông Lớn đã thương đến phận tôi tớ chúng con xin hết sức tuân theo. Nhưng bây giờ con già yếu lắm, không biết có còn làm được việc như hồi xưa nữa không. Vả chăng gần một năm nay không cầm đến mã tấu con e có điều hơi lạc mất đường đao.

– Ta đã nghĩ đến chuyện đó rồi. Chú còn đủ thời giờ để tập lại lối chém treo ngành. Nếu cái nghề chém đặc biệt của chú không thể truyền lại cho một người nào được thì một lần cuối cùng này nữa, chú cũng nên cho một vị quan Tây ở đây thấy rõ cái cách chém của một người đầy tớ hầu cận ta là như thế nào.

– Dạ, bẩm Ông Lớn…

– Chú đừng nhiều lời. Ðây này, ta cho chú mượn thanh quất của ta mà làm việc. Sẵn có vườn chuối ở sau kho lúa, cho phép chú lên đó mà tập. Có ai ngăn cản, cứ đưa cái tín bài này ra cho họ nom rõ.

Quan Ðổng lý Quân vụ rút khỏi ống bút trên bàn một lá thẻ đỏ, viết mấy chữ thảo vào mặt thẻ sơn trắng, trao cho Bát Lê.

Thế là từ hôm ấy Bát Lê lĩnh thanh quất của quan Tổng đốc leo lên tường thành, xông xáo trong vườn chuối, hết sức tự do, hết sức tàn nhẫn, chém ngang thân loài thực vật, trước khi chém vào cổ mười hai tên tù đang nằm đợi ngày cuối cùng.

Vườn chuối trên mặt thành vốn mọc không có hàng lối nhất định. Ông Bát phẩm Lê phải chọn lựa mãi mới được mấy dẫy chuối mọc theo hàng lối thẳng thắn. Y soạc cẳng, lấy bước chân đo những quãng trống từ một gốc chuối này đến một gốc chuối khác. Tiến lên, lùi xuống, đo ngang, đo dọc tự cho là tàm tạm được, y bèn nhẹ nhàng phát hết những tàu lá chuối rườm rà. Ðấy là cái khu dọn dẹp sẵn để nhận lấy sự thí nghiệm sau hết của một thanh quất bị bỏ quên đã lâu ngày.

Trước khi hoa thanh quất trong mấy hàng chuối được chọn lựa kỹ càng kia, Bát Lê đã múa đao chém lia lịa vào thân mọi cây chuối khác, chém không tiếc tay, chém như một người hết sức tự vệ trong một cuộc huyết chiến để mở lấy một con đường máu lúc phá vòng vây. Một buổi sớm, y nhảy nhót trong vườn chuối, đưa lưỡi gươm qua bên phải lại múa lưỡi gươm qua bên trái, thanh gươm hai lưỡi đã gọn gàng, nhanh nhẹn phạt qua thân mấy trăm cây tươi còn nặng trĩu lớp sương đêm. Mảnh khăn vuông vải trắng bịt tóc Bát Lê đã đẫm ướt và nhựa chuối chát thấm vào đấy, gặp ánh nắng sớm, đã xuống màu dần dần.

Trên đống thân cây trơn ướt, Bát Lê vẫn làm việc, nhẩy nhót như một kẻ điên cuồng. Cứ mỗi một cây chuối gẫy gục xuống cỏ đánh roạt một cái thì Bát Lê lại cất tiếng hát:

“Sống không thù nhau
Chết không oán nhau

Câu hát được những tiếng cây chuối đổ chấm câu cho và đã vẳng từ trên mặt thành xuống mặt một bãi dâu ở chân thành…

Tập như thế cho thuần tay hết một buổi sớm và một buổi chiều, Bát Lê sớm ngày hôm sau lại trở lại vườn chuối đã rầu cả lá, đã khô cả vết thương. Y hồi hộp chống gươm xuống mặt đất ẩm ngổn ngang sự tàn phá, như một võ sinh sắp trổ tài ở võ trường với sự phân vân, lo ngại của phút biểu diễn. Rồi Bát Lê trịnh trọng tiến vào cái khu vườn chuối đã dọn từ hôm trước để nhận lấy lưỡi gươm thí nghiệm cuối cùng của một cuộc tập chém. Y đứng vào giữa hai dãy chuối, tay phải cầm ngang thanh quất.

Y lùi lại ba bước, lấy hơi thở cho đều, vừa hát to câu:

“Tiếng loa vừa dậy”

Vừa tiến mạnh lên, thuận tay chém vào cây chuối đầu tiên dãy bên phải. Ðà gươm mạnh từ cao soải xuống theo một chiều chếch, tưởng gặp đến gỗ cứng cũng lướt qua. Thế mà thanh quất chỉ ngập vào chiều sâu thân cây độ chín phần mười. Lưỡi thanh quất bị ngừng ở cái cữ ấy, rồi lại được lấy ra khỏi thân cây chảy mủ. Vừa giật lưỡi thanh quất khỏi thân cây đang từ từ gục xuống, vừa hát một câu nữa:

“Hồi chiêng mớm mau”

Bát Lê lại tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dãy bên trái, Bát Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quỳ chịu tội. Thế rồi vừa hát, vừa chém bên trái, vừa chém bên phải. Bát Lê đã hát hết mười bốn câu, và đánh gục mười bốn cây chuối. Bát Lê quay mình lại, ngắm các công trình phá hoại của mình. Thì ở mười bốn cây chuối chịu tội kia, thân trên bị chém vẫn còn dính vào phần gốc bởi một lần bẹ giập nát.

Bát Lê mỉm cười, gỡ cái khăn chùm trên đầu, lau lưỡi gươm vào đấy, vuông vải lại đẫm thêm chất nhựa xám.

Thế là xong một cuộc tập chém lối treo ngành. Và Bát Lê cũng vui vẻ trong lòng đợi ngày nhận tù. Ði từ bề cao nền cỏ xuống chân thành, qua những bậc cấp thúc vào lòng đất, Bát Lê chốc chốc lại dừng bước lại và ưỡn mình về phía sau, ngắm cánh tay khẳng kheo mình đang lăm lăm cầm lưỡi gươm.

Nội cỏ trước dinh quan Ðổng lý Quân vụ một buổi chiều thu quyết đã đổi màu. Mọi khi, ở đấy chỉ có bê, bò được thả lỏng cúi cổ ngốn áng cỏ tươi bên cạnh một tốp lính hiền lành, tay cầm lưỡi liềm cắt cỏ về cho ngựa quan ăn. Bây giờ ở đấy, người ta dựng lên một cái nhà rạp có tàn, có quạt, có cờ ngũ hành. Trước nhà rạp người ta chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh xuống toét cả đầu. Và đánh đai lấy khu nhà rạp rộng độ một mẫu, mấy trăm lính mặc áo có dấu, có nẹp đã tề chỉnh tuốt gươm trần để thị uy.

Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn là nền trời. Nền trời vẩn những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó màu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.

Mọi người chờ đợi một cái gì.

Từ phía nhà ngục, mười hai con người chậm chạp tiến tới giữa hai tốp lính áp giải. Bãi cỏ im lìm đến nỗi tiếng gông lũ tù giây va vào nhau theo một nhịp bước rụt dè nghe cứ rõ mồn một như tiếng sênh người chấp hiệu định liệu bước đi cho cỗ đòn đám.

Không biết từ đâu ra, ông Bát Lê đứng sẵn chỗ cọc tre và trong một lát đã buộc xong bọn người đợi chết vào cọc. Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quỳ gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quỳ phải để được gót chân ngửa đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế, tử tù sẽ phải rướn mình lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ. Trông xa, họ có cái cứng thản nhiên của những tượng đá tạc hình người Chiêm thành quỳ trước sân đền thờ vua Lý.

Tiếng nhạc bát âm thổi bài Lưu thủy trường gần mãi lại. Rồi trong một giây phút mọi người lắng rõ tiếng sênh tiền. Ai nấy nín thở. Trông ra cờ quạt kín cả nền trời và lính tráng kín cả mặt cỏ. Bụi cát bay mù như lúc có cuộc hành quân. Quan Công sứ mặc đồ binh phục trắng có ngù kim tuyến đi ngang hàng cùng quan Tổng đốc. Hai quan đầu tỉnh – một người đi ghệt, một người đi ủng – đều gò bước đi cho nó ăn nhập với cái long trọng của pháp trường. Những tên lính tỉnh gầy ốm che sát vào người hai Ông Lớn mọi thứ tàn vàng, tán tía, lọng xanh.

Cái đầu chúng không dám phạm thượng cúi gầm xuống mặt đất, nhìn cánh cỏ may chọc thủng ống quần mình.

Trong nhà rạp, các quan an vị. Ông thông ngôn người Nam kỳ đứng khoanh tay đằng sau quan Lưu trú Pháp. Quan Tổng đốc nói trước:

– Những người sắp bị hành hình kia là dư đảng giặc Bãi Sậy. Ty chức rất mong rằng đấy là những kẻ phiến loạn cuối cùng. Và nhờ hồng phúc của Quan Lớn, cuộc trị an ở xứ này chóng định.

Bát Lê cầm gươm tiến đến trước nhà rạp, vòng tay thu lưỡi gươm lại, vái một vái, cúi mặt đứng im. Quan Tổng đốc nhớm mình khỏi mặt ghế bành:

– Xin phép Quan Lớn cho ty chức được trình với Quan Lớn một tên đầy tớ trung thành. Hắn là đao phủ thủ tại pháp trường hôm nay.

– Có phải cái người mà Quan Lớn nói là có tài chém đầu người chỉ một nhát mà đầu vẫn dính vào cổ bằng lần da cổ đó không?

– Dạ. Mà hôm nay hắn hạ thủ trong một hơi những mười hai cái đầu. Bây giờ để xin ra lệnh khai đao.

Quan Công sứ gật. Viên giám trảm và Bát Lê đều lùi ra ngoài rất mau.

Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!

Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lớ rờn rợn. Quan Công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quỳ kia chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.

Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi chạy tuốt vào đứng trước nhà rạp. Bấy giờ quan Công sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không có một giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng đốc để nhớ lấy tên họ một người đao phủ có lối chém treo ngành rất ngọt. Ngài thưởng cho Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.

Lúc quan Lưu trú gần cầm mũ cáo từ về tòa Sứ, quan Tổng lý Quân vụ còn ân cần buộc ông thông ngôn Nam kỳ dịch cho đủ câu này:

– Bẩm Quan Lớn, chém treo ngành như thế này là phải lựa vào những lúc việc quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một chiều. Ðại để nó cũng như là cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc ngang như người ta róc mắt mía.

Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu lâu còn dính vào cổ người chết quỳ kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thi.

Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân.

Nguyễn Tuân

Vài vấn đề xoay quanh cuốn Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút VN (1957-1975) của Nhật Tiến


Trang Bia

Sau khi cuốn sách mới ra của tôi “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút VN (1957-1975)”, do nhà Huyền Trân phát hành ngày 15-8-2016 (và post lên online), tôi nhận được một lá thư của cô Nguyễn Tà Cúc, Tổng thư ký báo Khởi Hành do ông Viên Linh làm Chủ nhiệm, trong đó cô phản bác lại những ý kiến của tôi về việc ông Viên Linh bịa đặt sự kiện để nhục mạ hai vị tiền nhiệm rất có công với  Trung Tâm Văn Bút trước 1975 là GS Phạm Việt Tuyền và LM Thanh Lãng.

Trong thư nói trên, cô Tà Cúc viết cho tôi rằng: “.. nhân thể báo rằng sẽ là lá thư cuối Tà Cúc gửi cho anh. Phần anh, anh cũng khỏi gửi cuốn sách đó hay thư từ cho Tà cúc nữa…” Vậy thì để cô có thể đọc được những câu trả lời của tôi về những điều mà cô nêu ra trong thư, tôi không có cách nào khác là nhờ phương tiện của Internet.

Mặt khác, vì  đây là những vấn đề liên hệ đến nhiều người, nhiều vị đã khuất, và nhất là đến danh dự của Trung Tâm Văn Bút VN, lại nữa những lời xuyên tạc của ông Viên Linh được trích dẫn từ cuốn sách của chính ông đã xuất bản rồi, như vậy chuyện phản bác qua lại không còn nằm trong lãnh vực cá nhân nữa mà  đã trở thành vấn đề chung của những ai vốn hằng lưu tâm đến Trung Tâm Văn Bút V.N.  nói riêng và Văn hóa miền Nam nói chung.

Vì thế mới có bài viết này của tôi. Gồm 2 phần:

1) Nguyên văn lá thư Cô Nguyễn Tà Cúc  gửi cho Nhật Tiến.

2) Phần trả lời của tôi.

  1. Nguyên văn lá thư Cô Nguyễn Tà Cúc gửi cho Nhật Tiến.

(những chỗ in đậm và gạch dưới là của chính người viết, cô Tà Cúc )

Ngày 21. 8 . 2016

Anh Nhật Tiến,

Tà Cúc vừa được một bạn gửi cho xem một đoạn anh viết về anh Viên Linh trong cuốn sách mới của anh. Đây là những điều Tà Cúc nghĩ và nhân thể báo rằng sẽ là lá thư cuối Tà Cúc gửi cho anh. Phần anh, anh cũng khỏi gửi cuốn sách đó hay thư từ cho Tà cúc nữa vì, cứ đọc một chương này, Tà Cúc đủ thấy nó không cần thiết cho sự nghiên cứu của Tà Cúc. Nay Tà Cúc nói đến phần anh viết về anh Viên Linh khiến dẫn đến quyết định chấm dứt của Tà Cúc:

-Anh đã không trích dẫn đầy đủ bài của anh Viên Linh, khiến gây cho người đọc cảm tưởng sai lầm rằng anh ấy VÔ CỚ tấn công Phạm Việt Tuyền và Thanh Lãng. [Không, Tà cúc không tin anh Viên Linh phải trả lời nếu có bao giờ đọc đến vì anh đã mất quyền được trả lời khi không trích dẫn đầy đủ.] Lẽ ra anh phải trích cho đấy đủ đoạn anh Viên Linh viết vì cốt tủy của đoạn này là sự im lặng của Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền về sự bị cầm tù rồi qua đời của Chủ tịch tiền nhiệm Vũ Hoàng Chương sau khi họ đã tranh đấu rất ồn ào và hiệu quả cho người Cộng sản nằm vùng Vũ Hạnh; nghĩa là họ cũng đã GÓP PHẦN VÀO SỰ LƯU TRUYỀN NHỮNG TIN TỨC XẤU XA VÔ BẰNG VỀ Miền Nam

– “Anh Chương là Chủ tịch Văn bút Việt Nam, bậc tiền nhiệm của chủ tịch Thanh Lãng. Khi nhà văn Vũ Hạnh bị chính phủ quốc gia bắt giữ vì tình nghi là Việt cộng – mà đúng là Việt cộng thật – Linh mục Thanh Lãng và Tổng thư ký Văn Bút Phạm Việt Tuyền đã nỗ lực vận động Văn Bút Quốc Tế và Hội Ân Xá Quốc Tế can thiệp phóng thích. Chính phủ Quốc gia đã phải phóng thích, vì tôn trọng trò chơi Dân chủ, tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc tôn trọng tự do phát biểu. Đến khi bậc tiền nhiệm của mình bị bắt, bị bắt về vấn đề tự do tư tưởng, tự do phát biểu, như Vũ Hạnh, nhưng ông Thanh Lãng đã im lặng. Ông đã được Hà Nội thu dụng làm việc tiếp ở Đại học Văn khoa; và Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt côn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu đói không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Strasbourg, Pháp.Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957, lúc ông Phạm Trọng Nhân làm lãnh sự tại Nhật, cuối cùng đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền. Hơn ai hết, Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, trước cảnh tù ngục của bậc tiền nhiệm, phải quan niệm in lặng không phải là sự nhục nhã….” [Viên Linh, sđd, trang 73-75-Anh không trích những câu in ngả và gạch dưới.]

Như các bạn đã chỉ ra và như Tà Cúc nhận thấy ngay lập tức, anh đã cắt bỏ 8 câu và để lại chỉ có gần 6 câu trong đoạn trên hầu không đề cập đến hai vấn đề tối quan trọng của Văn Bút trước 1975 mà anh có trách nhiệm trực tiếp. Trước hết, đó là sự trà trộn và lộng hành của cộng sản nằm vùng Vũ Hạnh với sự tiếp tay rất đắc lực của Chủ tịch Thanh Lãng cùng những câu vu khống vô cùng sai sự thực về Miền Nam. Sau nữa, chúng ta sẽ giải nghĩa ra sao về sự im lặng của Chủ tịch Thanh Lãng và đồng- sáng -lập-viên kiêm đồng- tạo-dựng-viên Phạm Việt Tuyền khi các sự bắt bớ tù đày này xẩy ra cho rất nhiều hội viên hay không-hội-viên Văn Bút và cho ngay chính cựu Chủ tịch Vũ Hoàng Chương sau 1975 [như Viên Linh đặt vấn đề] khiến người ta phải thắc mắc về sự có mặt của Đảng Cộng sản bên trong? Tại sao Vũ Hạnh lại có bài trên tạp chí của VBVN [nếu Tà Cúc không nhầm] để củng cố địa vị của hắn trong lúc có khi có người ngoài hội như Viên Linh phải đối phó với hắn công khai bằng một bài viết phản bác hắn trên Nghệ Thuật?

Hơn thế nữa, là một hội được nâng đỡ, trợ cấp tài chính, cung cấp phương tiện và còn lại được chính phủ Miền Nam cho phép tham dự một cơ cấu quốc gia để phát biểu, anh không nên kể lể công ơn cho Phạm Việt Tuyền hay bất cứ ai ở đây. Đó là bổn phận của các anh, của hội viên. Hay cố tình kéo ra ngoài vấn đề: Bất cứ ai cũng sẽ có quyền đặt câu hỏi về sự thành lập Văn bút Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh lạnh đó hay tại sao có mặt Vũ Hạnh hay tại sao có một ông Chủ tịch NHÂN DANH CẢ HỘI ngang nhiên tuyên bố những câu vu khống ngay giữa thủ đô Miền Nam mà hội viên xem ra im lặng? Bởi thế, một câu trả lời hữu hiệu trong hoàn cảnh này không phải là một sự chụp mũ người khác hay nhân danh các hội viên khác để chụp mũ mà nên lợi dụng các thắc mắc ấy để trình bày VỚI BẰNG CHỨNG. Vâng, để cho công bằng, anh rất cần áp dụng Tuyên ngôn của VBQT cho cả Chủ tịch Thanh Lãng và cũng nên hỏi tư cách như thế mà được cử làm Chủ Tịch Văn bút Việt Nam– có cả trăm hội viên với nhiều thành tích văn hóa như anh đã kể– thì đúng là loạn quá.

Bởi vậy, nếu dùng chữ “chất vấn”, thì cũng chính anh sẽ bị chất vấn trước ai hết thảy và ngay lập tức về những hoạt động vu khống Miền Nam của Thanh Lãng  và hoạt động của Vũ Hạnh. Anh biết gì về Thanh Lãng?! Về Vũ Hạnh? LÚC ĐÓ và SAU NÀY? Anh và Phạm Việt Tuyền ở đâu khi Thanh Lãng nhân danh Trung Tâm Văn bút Việt Nam tuyên bố trên tạp chí của Nguyên Sa vào đầu năm 1975, như sau:

-“NHÀ VĂN: Tết năm nay, linh mục chủ tịch và các văn hữu trong quý trung tâm ăn Tết như thế nào?

-“THANH LÃNG: Tết năm nay, đối với Trung tâm Văn bút Việt Nam là một cái tết “tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong “một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân. [Thanh Lãng, số Mùa Xuân, tháng 2. 1975, trang 115]

Nếu anh không biết một chuyện “búa tạ” như thế, nếu anh không biết chính anh đang “sống trong một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân” theo sự tuyên bố của chính ông Chủ tịch của anh, có lẽ anh đã mất tư cách “chất vấn” thiên hạ. Người bạn Tà Cúc có nói anh cũng cho in lại ý kiến của anh Mặc Đỗ và phần giải thích của Văn Bút Việt Nam trong cuốn sách mới này. Nếu đúng thế, Tà Cúc thành thực hy vọng anh cũng cho đăng lại lời tuyên bố của Chủ tịch Thanh Lãng vào năm 1975 kèm phản ứng –hoan nghênh hay bất đồng ý kiến–của anh nếu có, dù quá muộn, để khỏi mang tiếng thiên vị bạn đồng hội của anh đến nỗi có thể bị hiểu lầm là che dấu sự thực. Và cũng để người khác được quyền tự do đặt dấu hỏi về một hội nhà văn tuy được Chính phủ Việt Nam Cộng hòa bảo trợ nhưng lại có ngôn ngữ của một thứ tuyên truyền đậm chất Cộng sản. [Không, không nên chụp mũ Tà Cúc là động chạm đến cả Trung tâm VBVN vì người đụng chạm đến Trung tâm này cùng các văn hữu nhân dân Miền Nam chính là Thanh Lãng.]

          Cho nên, cũng không, không chỉ một vấn đề Vũ Hạnh mà còn ông Chủ Tịch Thanh Lãng với sự im lặng của hội viên NHƯ ANH khi ông ta tuyên bố thượng dẫn. Và càng không, không chỉ sự kiện Trung Tâm VBVN tranh đấu cho Vũ Hạnh ra khỏi tù mà còn là một cuộc tỷ thí giữa nhà văn Quốc gia và nhà văn Cộng sản ngay trong một tổ chức chính thức của các anh. Nếu sau 40 năm nhìn lại, anh chỉ thấy quá đơn giản như anh đã viết là quyền của anh, nhưng cần có chứng cớ thuyết phục. Nếu không, anh sẽ rơi ngay vào luận điệu đã dùng để nguyền rủa người khác, mà đồng thời, rõ ra, không chịu nhận trách nhiệm của một hội viên. Nhất là khi anh lại giữ chức vụ quan trọng trong VBVN và không có cớ mà sai lầm về nội tình như người ngoài được.

Đó, đó mới là những vấn đề mà các thế hệ đi sau cần biết khi khảo cứu về Văn Bút: Hoàn cảnh thành lập của nó với thêm nhân chứng hay thêm văn bản và sự đối phó với hội viên CS nằm vùng như Vũ Hạnh hay một ông Chủ tịch Thanh Lãng. Cho tới khi anh đưa được văn bản hay nhiều nhân chứng để giúp chứng minh, hãy nên coi những nguồn tin đó là một thí dụ để đem lại công lý giản dị chỉ vì, cho tới khi có văn bản và nhân chứng khác, ý kiến của anh chỉ được coi là MỘT ý kiến, không hơn không kém. Nhất là sau khi anh đã không trích đầy đủ phần phát biểu của Viên Linh; hay ngoài ra, những phát biểu của anh về các hội viên Cộng sản trong Văn Bút Quốc tế cũng cần được xét lại [trước khi anh áp dụng loại tin tức này vào lý luận của anh], như các nước CS đều tham dự VBQT vv Trên thực tế Nga Xô chỉ gia nhập vào giữa thập niên 1980, không cùng khoảng thời gian với Trung Tâm Việt Nam, mà trước đó lại còn đóng xập Trung tâm của quốc gia Latvia khi chiếm đóng nước này vào năm 1940 vv…

Anh cũng cần nên nhớ rằng, hễ đã hoạt động công khai thì khi người khác có ý kiến, dù thế nào, cũng không nên nổi nóng. Đọc kỹ lại bài Mặc Đỗ, Tà Cúc nhận thấy vẫn còn những ý kiến anh ấy đưa ra chưa có trả lời thỏa đáng từ các anh. Nội cái việc anh ấy than phiền là không có sự góp ý của các nhà văn khác trước khi các anh đi tham dự hội nghị Văn Bút mà cứ “nhân danh nhà văn Việt Nam” [và hình như còn than van là các anh phải “hy sinh” khiến anh ấy khó chịu?], Tà Cúc chưa thấy các anh trả lời. Rồi các anh kể thành tích Trung tâm đã đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi nhưng cũng không nói rõ là các sáng tác đó được chọn trong vòng tất cả nhà văn hay chỉ trong vòng hội viên vv…[mà chắc lại nhân danh nhà văn Việt Nam?] thì cũng chưa đáp được một thắc mắc rất rõ ràng của anh ấy. 41 năm sau, phản bác Viên Linh, anh lại lôi Hiến Chương Văn Bút Quốc Tế ra dài dòng như đã làm với Mặc Đỗ. Để làm gì vậy? Hiến chương VBQT có giải thích được cái vụ các anh “nhất nhất đều nhân danh nhà văn Việt Nam” như Mặc Đỗ nêu câu hỏi nhiều lần hồi đó hay vụ Thanh Lãng & Vũ Hạnh như Viên Linh đặt vấn đề bây giờ không?

-Ngoài ra, với Tà Cúc, còn một yếu tố quan trọng nữa khiến Tà Cúc thấy nên chấm dứt: Anh vẫn đôi khi gặp anh Viên Linh mà không thấy anh hỏi anh ấy những chuyện này, cho anh ấy một cơ hội để giải thích hay suy ngẫm. Nay xuất kỳ bất ý tung ra một mảnh viết không đẹp về anh ấy, mà tung ra ngay trên một website từng gọi các anh là “nhà văn đô thị” khiến anh và anh ấy đã phải ra sức chống đỡ. Tà Cúc thì khác. Tà Cúc quan niệm rằng trừ phi biết chắc chắn có ác ý [như trường hợp Ngô Thế Vinh], Tà Cúc luôn tìm một giải đáp nếu có thể từ chính người đó. Tà Cúc đã không ngại hỏi Dương Nghiễm Mậu, anh, Đỗ Quý Toàn vv khi Tà Cúc thấy cần phải hỏi. Chúng ta đang có quá nhiều vấn đề với người Cộng sản, nếu thanh toán được thắc mắc nào với những người còn có thể coi là bạn thì cứ giải quyết trước. Không ai trong chúng ta là không lầm lỗi. Thanh Lãng–một người tự căn bản không ác độc lại rất tài hoa– đã phải học một bài học đau đớn, trả một cái giá cho sự xẩy bước của mình đến nỗi cuối đời phải viết 40 trang sám hối, xin Chúa và anh em tha tội cho mình. Người như thế đáng thương dù chúng ta vẫn phải nhắc tới cái giá này vì nó liên quan đến lịch sử của chúng ta. Thế nên, nếu có cơ hội nói chuyện với nhau lại bật ra những chuyện khác soi sáng cho mình thêm, giúp mình tránh thêm lỗi lầm. Khi nào không giải quyết với nhau được, sẽ cứ thẳng tay trên con đường tìm thấy công lý cũng chưa muộn.

Thế nên, với quan điểm ấy,  Tà Cúc không muốn dính dáng gì đến những nhân sự chỉ làm Tà Cúc thấy cuộc đời buồn nản, sân si thêm. Cách giải quyết của Tà Cúc là cắt đứt cái nguồn buồn nản sân si ấy để dành sức lực mà làm việc của mình và vui với những người bạn đồng ý hướng với mình/.

Nguyễn Tà Cúc


  1. Phần trả lời của Nhật Tiến

          Tôi xin trả lời từng luận điểm một, nêu trong lá thư kể trên của cô Nguyễn Tà Cúc và tô đậm hay gạch dưới những chỗ cần thiết :

          1) Tôi đã không trích dẫn đầy đủ câu của Viên Linh, khiến gây cho người đọc cảm tưởng sai lầm rằng ông ấy VÔ CỚ tấn công Phạm Việt Tuyền và Thanh Lãng. Mà theo cô Nguyễn Tà Cúc thì “ cốt tủy của đoạn này là sự im lặng của Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền về sự bị cầm tù rồi qua đời của Chủ tịch tiền nhiệm Vũ Hoàng Chương sau khi họ đã tranh đấu rất ồn ào và hiệu quả cho người Cộng sản nằm vùng Vũ Hạnh”.

Nguyên văn đoạn ấy của Viên Linh như sau:

Anh Chương là Chủ tịch Văn bút Việt Nam, bậc tiền nhiệm của chủ tịch Thanh Lãng. Khi nhà văn Vũ Hạnh bị chính phủ quốc gia bắt giữ vì tình nghi là Việt cộng – mà đúng là Việt cộng thật – Linh mục Thanh Lãng và Tổng thư ký Văn Bút Phạm Việt Tuyền đã nỗ lực vận động Văn Bút Quốc Tế và Hội Ân Sá Quốc Tế can thiệp phóng thích. Chính phủ Quốc gia đã phải phóng thích, vì tôn trọng trò chơi Dân chủ, tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc tôn trọng tự do phát biểu. Đến khi bậc tiền nhiệm của mình bị bắt, bị bắt về vấn đề tự do tư tưởng, tự do phát biểu, như Vũ Hạnh, nhưng ông Thanh Lãng đã im lặng.”

Tại sao tôi không trích đoạn này vào sách của tôi?

Xin trả lời rằng vì tôi không muốn phô cho độc giả nhìn thấy cái ác tâm của ông Viên Linh qua đoạn văn  này. Nó vừa có tính chất quá ấu trĩ về kiến thức đối với C.S vừa mang dấu tích của một thứ thủ đoạn “lập lờ đánh lận con đen” nhằm gây lạc hướng cho người đọc:

          1) Tôi nói ấu trĩ là vì: ông Viên Linh đi từ năm 1975, nay ngồi ở California viết báo Khởi Hành, vừa tích cực chống Cộng, vừa dũng cảm bênh vực Vũ Hoàng Chương đã bị CS bắt giữ v.v…. Còn hai vị Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, cũng như tất cả các văn thi sĩ kẹt lại sau 1975 thì không ai có thể can trường lên tiếng  như ông Viên Linh đòi hỏi được.

Vào thời gian sau 1975 ấy, ở Sài Gòn khét lẹt bầu không khí khủng bố. Nhà văn, nhà thơ, ký giả, văn nghệ sĩ, người nào cũng hồi hộp chờ ngày bị Công an đến nhà còng tay lôi đi, thân mình còn như cá nằm trên thớt thì đòi lên tiếng cái nỗi gì? Và lên ở đâu? Gửi bài phản kháng cho báo “Nhân Dân” hay  báo ‘Sài Gòn Giải Phóng” để đòi C.S thả Vũ Hoàng Chương chăng? Rồi phản kháng xong thì hy vọng CS cũng thả Vũ Hoàng Chương như ngày trước chính phủ V.N.C.H thả Vũ Hạnh chăng? Trình độ nhận thức ấu trĩ như thế mà cô Tà Cúc cứ nằng nặc “đòi đăng lại”  thì quả là tinh thần đồng đội của cô quả có đáng kính nể thật.

2) Tôi nói : còn mang dấu tích của một thủ đoạn lập lờ đánh lận con đen là vì ông Viên Linh che giấu tư cách Chủ tịch Văn Bút của LM Thanh Lãng trước và sau 1975.

– Trước 1975, LM Thanh Lãng còn ở cương vị Chủ tịch Văn Bút nên ông có bổn phận phải lên tiếng khi Hội viên của mình bị bắt giữ. Lại nữa, trước 1975,  VNCH là một chính thể tự do – dân chủ, việc đòi thả người là chuyện có thể xẩy ra và người đòi cũng chẳng ai hề hấn gì.  Nhưng sau 1975, TT Văn Bút đã bị giải tán, LM. Thanh Lãng đâu còn tư cách Chủ tịch mà ông Viên Linh đòi LM. phải lên tiếng.

Cho nên, cô Nguyễn Tà Cúc đòi tôi phải trích nguyên câu của Viên Linh:

“ -Anh đã không trích dẫn đầy đủ câu của anh Viên Linh, khiến gây cho người đọc cảm tưởng sai lầm rằng anh ấy VÔ CỚ tấn công Phạm Việt Tuyền và Thanh Lãng. [Không, Tà Cúc không tin anh Viên Linh phải trả lời nếu có bao giờ đọc đến vì anh đã mất quyền được trả lời khi không trích dẫn đầy đủ]. ”

Thì bây giờ, qua thư của cô Tà Cúc,Viên Linh đã được trích dẫn đầy đủ rồi đó.

Vậy xin ông Viên Linh hãy trả lời câu hỏi của tôi đã in trong sách (trang 23) rằng: “Xin ông Viên Linh cho biết GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và xin nêu vài tên tuổi nào của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Như thế để cho cô Nguyễn Tà Cúc khỏi phải kêu ca giùm ông rằng: “Tà Cúc không tin anh Viên Linh phải trả lời nếu có bao giờ đọc đến vì anh đã mất quyền được trả lời khi không trích dẫn đầy đủ.”

***

2) Cô Tà Cúc bảo tôi không nên “kể công” trong đoạn cô viết : “… là một hội được nâng đỡ, trợ cấp tài chính, cung cấp phương tiện và còn lại được chính phủ Miền Nam cho phép tham dự một cơ cấu quốc gia để phát biểu, anh không nên kể lể công ơn cho Phạm Việt Tuyền hay bất cứ ai ở đây. Đó là bổn phận của các anh, của hội viên…”

          Vâng, thưa cô Tà Cúc, một khi đã nhận nhiệm vụ thi hành một công việc dù là việc thiện nguyện (tất cả hội viên Văn Bút đều làm việc thiện nguyện, trừ cụ thư ký hành chánh không phải là hội viên) thì ai mà chẳng coi là bổn phận phải làm, cô khỏi cần nhắc nhở. Nhưng cô nói là chúng tôi kể lể công ơn thì sai hoàn toàn. Chúng tôi chỉ liệt kê những công việc đã làm để về sau nếu có ai nghiên cứu về Văn Bút sẽ có tài liệu mà tham khảo. Cũng như bên quân đội, các chiến sĩ VNCH thuật lại những chiến công là để ghi vào lịch sử, chẳng lẽ cô cũng cho là các vị ấy không nên kể lể công ơn hay sao?

3) Cô Nguyễn Tà Cúc hỏi Tôi (Nhật Tiến) và Phạm Việt Tuyền ở đâu khi Thanh Lãng nhân danh Trung Tâm Văn bút Việt Nam tuyên bố trên tạp chí của Nguyên Sa vào đầu năm 1975, như sau:

Tết năm nay, đối với Trung tâm Văn bút Việt Nam là một cái tết “tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong “một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân.

           Nếu anh không biết một chuyện “búa tạ” như thế, nếu anh không biết chính anh đang “sống trong một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân” theo sự tuyên bố của chính ông Chủ tịch của anh, có lẽ anh đã mất tư cách “chất vấn” thiên hạ.

Và cũng cô Tà Cúc viết:

          “Tà Cúc thành thực hy vọng anh cũng cho đăng lại lời tuyên bố của Chủ tịch Thanh Lãng vào năm 1975 kèm phản ứng –hoan nghênh hay bất đồng ý kiến–của anh nếu có, dù quá muộn, để khỏi mang tiếng thiên vị bạn đồng hội của anh đến nỗi có thể bị hiểu lầm là che dấu sự thực.”

          Xin trả lời ngay rằng tôi đâu có thiên vị bạn đồng hội để “che giấu sự thực” tức là giấu biến đi lời tuyên bố của LM. Thanh Lãng in trên báo của nhà thơ Nguyên Sa.

Nếu cô Tà Cúc trước khi hạ bút phê phán hãy chịu khó mở trang 184-185 trong cuốn sách của tôi thì sẽ thấy lời tuyên bố như trên của LM Thanh Lãng còn được tôi trích dẫn rành rành ra đó. Xin trích lại như sau:

“ Tôi tin rằng nếu những con người miền Nam khi  đó có được ý chí chống Cộng sâu sắc và quyết liệt như bây giờ thì đã chẳng có những cuộc xuống đường biểu tình, xin thả những người như Vũ Hạnh, và do đó cũng chẳng nên lấy cái kinh nghiệm bây giờ để phê phán những con người ở thời điểm trước.

Cũng như vậy, hẳn LM Thanh Lãng đã chẳng phát biểu với phóng viên tạp chí  Nhà Văn trong cuộc phỏng vấn nhân dịp đầu năm Ất Mão 1975 như sau:

NHÀ VĂN: Tết năm nay Linh mục Chủ tịch và các văn hữu trong quý Trung Tâm ăn Tết như thế nào?

THANH LÃNG: Tết năm nay, đối với Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là một cái Tết tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong một nhà tù lớn, một chốn ly thân trong thân phận vong thân. .

(tạp chí  Nhà Văn, số Xuân Ất Mão, trang 115-   Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc)  

          “nhà văn Việt Nam đang sống trong một nhà tù lớn”, đây là một lời “thậm ngôn” được phát biểu trong một tâm trạng bực bội, bất mãn không phản ảnh đúng với thực tế VN trước 1975. Và tuy là một lời nói hồ đồ, đáng trách nhưng cũng chỉ vì ý thức về hiểm họa CS khi đó còn hời hợt chứ không ai trong các Hội viên Văn Bút vì thế mà quy tội cho LM.Thanh Lãng là Cộng Sản cả!

                         (ngưng trích- Từ Nhóm Bút Việt đến TTVB trang 184-185)

Phản ứng bất đồng ý kiến của tôi là như thế đó. Đâu có quá muộn và đâu có  thiên vị bạn đồng hội của tôi để đến nỗi có thể bị hiểu lầm là che giấu sự thực như cô Nguyễn Tà Cúc mạnh miệng kết án khơi khơi như ở trên!

4) Về phần nói về các hội viên Văn Bút Quốc Tế, trong có cả các hội viên là quốc gia Cộng Sản, tôi viết:

“ Vả chăng việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng. Nhiều hội viên trong tổ chức Văn Bút Quốc Tế  lại chính là các nước Cộng Sản như Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư….thì chống Cộng ở cái chỗ nào?”

(Sách đã dẫntrang 21)

Cô Nguyễn  Tà Cúc phản bác:

          “Trên thực tế Nga Xô chỉ gia nhập vào giữa thập niên 1980, không cùng khoảng thời gian với Trung Tâm Việt Nam, mà trước đó lại còn đóng xập Trung tâm của quốc gia Latvia khi chiếm đóng nước này vào năm 1940.. vv…”

Đúng! Nga Sô chỉ mới gia nhập Văn Bút Quốc Tế từ năm 1988, nhưng những năm trước đó đâu có phải Văn Bút Quốc Tế vì chống Cộng mà không cho Nga Sô gia nhập!

Nguyên nhân chỉ là vì cái Hiến Chương của Văn Bút Quốc Tế do đã tôn trọng tự do cầm bút mà nhà nước Nga Sô không cho thành lập Hội Văn Bút trong nước này, cũng giống như nhà nước CSVN bây giờ, sau 1975, ở Việt Nam làm gì có Hội  Văn Bút.

Hơn thế nữa, chính nhà văn Arthur Miller, Chủ tịch Văn Bút Quốc Tế nhiệm kỳ 1966-1969 đã qua cả Nga Sô để vận động Nga vào Văn Bút mà cũng không có kết quả gì.

Trong trang nhà của P.E.N. International  (http://www.pen-international.org/our-history/    có đoạn nói về vụ này:

“Arthur Miller also travelled to the USSR to meet with the Union of Soviet Writers, and was told bluntly that Soviet writers wanted to join PEN but for one major obstacle: the Charter”.

(Arthur Miller cũng đã du hành qua Nga Sô để gặp gỡ Hiệp hội các nhà văn Xô-Viết, và ông được nói thẳng thừng cho biết rằng các nhà văn Xô Viết muốn gia nhập Văn Bút nhưng có một trở ngại chính yếu, đó là Hiến Chương của Văn Bút.)

Như vậy, tôi khẳng định: việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng.

5) Cô Tà Cúc viết:

Đọc kỹ lại bài Mặc Đỗ, Tà Cúc nhận thấy vẫn còn những ý kiến anh ấy đưa ra chưa có trả lời thỏa đáng từ các anh. Nội cái việc anh ấy than phiền là không có sự góp ý của các nhà văn khác trước khi các anh đi tham dự hội nghị Văn Bút mà cứ “nhân danh nhà văn Việt Nam” [và hình như còn than van là các anh phải “hy sinh” khiến anh ấy khó chịu?], Tà Cúc chưa thấy các anh trả lời. Rồi các anh kể thành tích Trung tâm đã đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi nhưng cũng không nói rõ là các sáng tác đó được chọn trong vòng tất cả nhà văn hay chỉ trong vòng hội viên vv…[mà chắc lại nhân danh nhà văn Việt Nam?] thì cũng chưa đáp được một thắc mắc rất rõ ràng của anh ấy.”

Xin trả lời:

  1. a) Mỗi khi nhận được thư mời tham dự Hội Nghị Quốc Tế Văn Bút, Ban Thường Vụ đều thông báo cho các hội viên, và mở cuộc hội luận tại ngay trụ sở về đề tài của Văn Bút Quốc Tế đưa ra cho năm đó để Hội viên tham dự trao đổi ý kiến (và gọi là những cuộc hội thoại). Một thí dụ:

Ngày 16-7-1969: GS Phạm Việt Tuyền hội thoại nêu vấn đề  “Văn chương ở thời đại nhàn rỗi”  là đề tài sẽ hội thảo ở Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần 36 ở Pháp.

Ngày 26-10-1969: Thanh Lãng-Thanh Vân-Bàng Bá Lân-Phạm Việt Tuyền: Văn chương ở thời đại nhàn rỗi (đề tài đã thảo luận ở Văn  Bút Quốc Tế lần 36 ngày 21-9-69  tại Menton- Pháp).

 (trong sách đã dẫn-trang 50)

Nhà văn Mặc Đỗ không phải là Hội viên Văn Bút nên Ban Thường Vụ dĩ nhiên không hề có bổn phận phải tường trình với ông mỗi khi đi dự bất cứ Hội nghị Quốc Tế nào.

  1. b) Phái đoàn Văn Bút Việt Nam đến dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế thì xưng danh là “Phái đoàn Việt Nam” chứ còn danh từ nào khác? Chẳng lẽ phải xưng lên rằng “Phái đoàn Văn Bút trụ sở ở số 36/59 đường cô Bắc Sài Gòn” thì mới làm nhà văn Mặc Đỗ và cô Tà Cúc vừa lòng hay sao ?
  2. c) Cô Tà Cúc viết: “Rồi các anh kể thành tích Trung tâm đã đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi nhưng cũng không nói rõ là các sáng tác đó được chọn trong vòng tất cả nhà văn hay chỉ trong vòng hội viên vv… …[mà chắc lại nhân danh nhà văn Việt Nam?]”

Đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi là một trong nhiều sinh hoạt nội bộ của Văn Bút. Vì thế nếu có dịch truyện của Hội viên rồi gửi đi dự thi thì đó là quyền của Hội, có điều gì sai trái đâu mà cô Tà Cúc  chê trách? Mà đôi khi Hội cũng không chỉ chọn toàn tác phẩm của Hội viên. Có các nhà văn không phải Hội viên Văn Bút mà vẫn được tuyển chọn, như Chữ viết của người tử tù của Nguyễn Tuân, Ma Đậu của Bùi Hiển, Nhà mẹ Lê của Thạch Lam.

Với những nhà văn ấy chẳng nhân danh  nhà văn Việt Nam thì biết gọi là “nhà gì” (??) bây giờ, thưa cô Tà Cúc.

6) Cô Tà Cúc viết:  “Anh vẫn đôi khi gặp anh Viên Linh mà không thấy anh hỏi anh ấy những chuyện này, cho anh ấy một cơ hội để giải thích hay suy ngẫm…”

Chuyện này giống y hệt như chuyện Nguyễn Hữu Nhật ngày xưa, đả kích tôi ròng rã trong nhiều năm trên trang báo Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa. Vậy mà tôi không hay biết vì tôi rất kỵ tìm đọc những trang báo của phường bất chính.

Riêng Viên Linh cũng vậy. Tôi đã không là độc giả dài hạn của tạp chí Khởi Hành trong ròng rã nhiều năm. Chuyện Viên Linh hạ nhục GS Phạm Việt Tuyền, L.M Thanh Lãng và cả Hội Văn Bút trước 1975 tôi hoàn toàn không hay biết. Cho tới tháng 6-2016 nhân lục tìm tài liệu để viết cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút” tôi mới phát hiện ra chuyện động trời này nhờ những trang nhà trên Internet.

Cô Tà Cúc muốn tôi : “cho anh ấy một cơ hội để giải thích hay suy ngẫm…”

Thưa cô, tôi đâu có quyền cho hay không cho ông Viên Linh giải thích hay suy ngẫm, về bất cứ chuyện gì của ông ấy.

Bài viết của ông ấy đã in thành sách và post trên nhiều trang mạng toàn cầu. Những ai đã đọc đến hẳn sẽ nghĩ trong đầu rằng những lời tố cáo của ông Viên Linh là đúng đắn và vì thế hẳn đã nẩy sinh sự khinh miệt đối với những người mà ông Viên Linh tố cáo. Nay tôi phản bác lại những luận điệu bịa đặt ấy của ông Viên Linh thì việc giải thích hay suy ngẫm là việc của ông ấy chứ. Ông ấy làm lúc nào mà chẳng được, nếu ông ấy muốn. Cô khỏi cần lên tiếng đòi hỏi.

Còn việc của tôi chỉ là nhân danh một Hội viên đã từng gắn bó lâu năm với Văn Bút lại biết rõ sự thực bên trong của Hội, nên trước những gì sai trái tôi phải  lên tiếng để bảo vệ uy tín Hội cũng như trả lại danh dự cho những vị đã khuất núi, không còn cơ hội để thanh minh cho chính mình nữa.

7). Nguyễn Tà Cúc viết: Không ai trong chúng ta là không lầm lỗi. Thanh Lãng–một người tự căn bản không ác độc lại rất tài hoa– đã phải học một bài học đau đớn, trả một cái giá cho sự xẩy bước của mình đến nỗi cuối đời phải viết 40 trang sám hối, xin Chúa và anh em tha tội cho mình. Người như thế đáng thương dù chúng ta vẫn phải nhắc tới cái giá này vì nó liên quan đến lịch sử của chúng ta.

Phải nói rằng tôi rất phẫn nộ khi đọc tới đoạn nảy. Bởi vì:

Một là nó chẳng liên hệ gì tới chuyện Văn Bút để “đến nỗi cuối đời LM. Thanh Lãng phải viết 40 trang sám hối, xin Chúa và anh em tha tội cho mình”!

Hai là sự hiểm độc của đoạn văn muốn dẫn dắt người đọc đi tới ý nghĩ rằng  LM. Thanh Lãng đã làm nhiều điều xằng bậy ở Văn Bút để đến nỗi cuối đời ông phải sám hối. Chữ “anh em tha tội cho mình” không ám chỉ bất cứ văn hữu nào trong Hội Văn Bút hết mà chỉ là những người đồng Đạo với LM. Thanh Lãng thôi.

Như thế, chuyện sám hối của LM. Thanh Lãng hoàn toàn nằm trong lãnh vực tôn giáo, không phải văn chương,  qua đó vì trung thành với ý nguyện ban đầu của Vatican mà ông chống đối Đức Giám Mục Nguyễn văn Thuận nhưng về sau chính ông lại hối tiếc về chuyện này nên đã cất lời sám hối.

Vụ việc xẩy ra từ năm 1974, khi Tổng Thống  Nguyễn Văn Thiệu đã vận động với Tòa Thánh La Mã để bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Thuận về làm Tổng Giám Mục Sài Gòn.

Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận là một người chống Cộng quyết liệt, nhưng lập trường của Vatican khi đó lại rất rõ ràng: thông qua Đức Giáo Hoàng Phao-lồ Đệ Lục, Vatican  kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, gián tiếp chống lại quan điểm của người Mỹ và chính quyền VNCH.

Nhưng tới đầu tháng Tư 1975 thì tình thế có thay đổi.

Trong bài viết “Vụ giáo sĩ làm mật vụ”, ở đoạn “Nhìn về Việt Nam”, nhà báo Lữ Giang đã viết:
(trích theo nguồn  www.honnho.org/20080827/1157)

“Chúng tôi nhớ lại, vào tháng 4 năm 1975, khi đoán biết miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, ngày 23.4.1975 Tòa Thánh đã cử ĐGM Nguyễn Văn Thuận làm TGM Phó Tổng Giáo Phận Saigon với hy vọng sự khôn ngoan của ngài có thể đưa Giáo Hội Việt Nam vượt qua những cơn khó khăn sắp đến.

Nghe tin này, ngày 8.5.1975, một nhóm Linh mục đã gởi đến Đức TGM Nguyễn Văn Bình một kiến nghị yêu cầu hoãn bổ nhiệm ĐGM Nguyễn Văn Thuận làm TGM Phụ Tá. Kiến nghị này do các Linh mục sau đây ký tên: Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm, Hoàng Kim, Huỳnh Công Minh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Đinh Bình Định, Nguyễn Thiện Toàn, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Nghị.

Mặc dầu có sự phản đối nói trên, ngày 12.5.1975 Tòa Giám Mục Saigon vẫn thông báo cho các giáo xứ trong Giáo Phận biết ĐGM Nguyễn Văn Thuận đã được Tòa Thánh bổ nhiệm làm TGM Phó Giáo Phận Saigon. Ngay lập tức, các Linh mục Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm và Hoàng Kim đã đến Chủng Viện Thánh Giuse ở đường Cường Để Sài Gòn, chất vấn Đức TGM Nguyễn Văn Bình và yêu cầu Đức Phó TGM Nguyễn Văn Thuận từ chức.

Ngày 15.8.1975, Công an đến bắt Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đưa ra giam ở xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

(ngưng trích)

Số phận của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận từ đó trở nên bi đát. Ngày 1-12-1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam được C.S đưa xuống tầu Trường Xuân để chuyển ra Bắc. Tại miền Bắc, ngài đã bị biệt giam trong 9 năm ở nhiều trại tù khác nhau, và bị quản chế 3 năm. Mãi tới  năm 1988, ngài mới được trả tự do và chỉ định nơi cư trú là Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Chính sự tù đầy cực kỳ gian khổ này của Ngài mà L.M Thanh Lãng đã tỏ ra ăn năn và viết lời sám hối.

Nguyên văn lời sám hối của LM. Thanh Lãng là như sau:

Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội thánh Toàn cầu và Việt Nam.

Lạy Chúa xin tha thứ cho con mọi lầm lẫn và ban cho con lòng tin, lòng trông cậy và ơn tha thứ.

Tôi xin công khai sám hối xin lỗi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa giữ gìn và trả công cho Đức cha.

Tôi xin công khai sám hối xin lỗi tất cả và tình anh em linh mục mà tôi vô tình hay cố ý, làm mất lòng.

Tôi xin công khai và xin lỗi toàn thể dân Chúa mà tôi hối tiếc là chưa được phục vụ trong Mục vụ.

Tôi xin mọi người tha tội cho tôi để Hội Thánh và Chúa tha tội cho tôi”.

Ngày 28-11-1988,

 Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lãng

(DCVOnline.net). http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/BachDienTS/BatSVVietCong.htm

Non một tháng sau khi viết lời sám hối này, LM. Thanh Lãng qua đời vào ngày 17.12.1988.

Một thái độ rất trí thức đầy can đảm và chân thành như thế đã không khiến cho cô Tà Cúc ngưỡng mộ hay mủi lòng mà cô lại còn dùng nó như một võ khí hiểm độc đánh vào danh dự của người đã khuất.

Mà việc Sám hối đâu chỉ có riêng một mình LM. Thanh Lãng đã thể hiện.

Trên bia mộ Đức Giám Mục Jean De Cassaigne (1895-1973) – một vị Giám Mục vĩ nhân của những người Cùi ở vùng Tây Nguyên VN – có khắc hai dòng chữ sau đây:

Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi không giúp đỡ được gì, hãy tha lỗi cho tôi.”

 “Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi đã nêu gương xấu, hãy tha lỗi cho tôi”

Đấy cũng là những lời sám hối của một tâm hồn cao cả trước khi nhắm mắt lìa đời.

Là một kẻ hậu sinh quá non trẻ so với các bậc tiền bối, cô Nguyễn Tà Cúc hãy biết ngước nhìn lên để thấy có nhiều điều cao thượng hơn cô tưởng và do đó cô không thể cứ nhẫn tâm chắp nối  sự kiện này vào sự kiện kia để dễ dàng hủy hoại danh dự của người đã khuất.

Nhật Tiến

8/2016

Nhật Tiến: CHẤT VẤN ÔNG VIÊN LINH


Nhật Tiến

Trang Bia

Trụ sở ở số 157 Đường Phan Đình Phùng Sài Gòn.

(Trích trong: Từ Nhóm Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (1957-1975) của Nhà Văn Nhật Tiến)

LỜI NÓI ĐẦU

Miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975 nói về mặt sinh hoạt văn hóa thì đó là một thời kỳ rực rỡ được vun trồng bởi nhiệt huyết của một số lượng nhân sự lớn lao bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, các nhạc sĩ, họa sĩ, các nghệ sĩ trong mọi ngành sân khấu, điện ảnh và cả các giới chức trong toàn ngành giáo dục. Nhiều thế hệ qua đó đã được đào tạo, vừa nhằm mục đích gây dựng một nền tảng đạo đức xã hội song song với việc duy trì truyển thống văn hóa tốt đẹp của Cha Ông và cũng vừa làm nẩy nở và phát triển thêm về những tư tưởng khai phóng, dân chủ qua các trào lưu văn hóa mới trên thế giới.

Trong bối cảnh tự do trăm hoa đua nở đó, tổ chức Văn Bút là một Hội duy nhất được dành cho giới cầm bút, bao gồm các nhà văn, nhà thơ, các soạn giả, kịch tác gia, các chủ bút và ký giả báo chí cùng các nhà khảo cứu, bình luận gia về mọi ngành thuộc về văn học nghệ thuật.

Được chính thức thành lập từ tháng 10 năm 1957 qua Nghị định số 111-BNV/NA/P5 của Bộ Nội Vụ VNCH, Hội đã liên tục hoạt động không ngưng nghỉ cho tới tháng 4-1975. Trải gần 20 năm ròng rã ấy, đã có biết bao nhiêu sinh hoạt của Hội đóng góp vào công cuộc xây dựng và vun trồng nền văn hóa của Miền Nam Việt Nam mà nếu có thể ghi chép lại thì cũng gom được thành một tài liệu văn học hữu ích cho các thế hệ sau.

Nhưng tiếc thay, cuộc phần thư năm 1975 do nhà cầm quyền CS tiến hành đã thiêu hủy biết bao nhiêu là tài liệu, sách báo quý giá kể cả những tài liệu liên quan đến Văn Bút VN.

Rồi thời gian qua đi, các vị làm văn hóa lão thành vốn đã từng tạo dựng nên hội Văn Bút và nắm giữ nhiều kỷ niệm quý giá về Hội này thì hầu hết đã quy tiên cả như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Đào Đăng Vỹ, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ Đình Chí, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, LM. Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền v.v… Cho nên nếu ai có quan tâm cách mấy về việc viết lại các sinh hoạt của hội Văn Bút thì cũng thẩy đều gần như bó tay vì số lượng tài liệu còn tìm thấy được lại quá ít ỏi.

Tuy nhiên một tổ chức văn hóa như thế mà không có tài liệu nào viết về nó dù chỉ là một cách tương đối thì cũng thật là đáng tiếc. Vì vậy, nhân danh một Hội viên thuộc thế hệ hậu sinh, đã có dịp gặp gỡ và làm việc chung với nhiều bậc tiền bối như Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường, LM. Thanh Lãng… tôi tự thấy có bổn phận phải gom góp tài liệu dù rất ít ỏi để viết về những sinh hoạt của Văn Bút kể từ Nhóm Bút Việt cho đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam qua cả một chặng đường dài từ 1957 cho đến 1975.

Những dữ kiện về Văn Bút trong cuốn này sẽ mặc nhiên phủ chính lại một vài dữ kiện khác biệt đã có trong những bài viết trước đây của tôi về Văn Bút vì lý do khi đó tôi chưa có đủ tài liệu để đối chiếu.

Dù đã hết sức cố gắng nhưng lực bất tòng tâm, tôi vẫn hy vọng sau này sẽ có nhiều cây bút khác với sự kiên nhẫn tìm tòi và nghiên cứu kỹ lưỡng tại các thư viện trong và ngoài nước hẳn sẽ có thể viết lại lịch sử Văn Bút một cách đầy đủ hơn và như thế sẽ còn bổ sung hay phủ chính lại những sai sót nếu có của tôi trong cuốn tài liệu nhỏ bé này. Và đó là điều tôi hết lòng mong mỏi.

Garden Grove, California ngày 6-7-2016

Nhật Tiến

________

CHƯƠNG I

Tiến trình Thành Lập

Sau một thời gian tìm hiểu về Hội Văn Bút Quốc Tế (P.E.N International), ngày 17-8-1957, một số văn nghệ sĩ lão thành ở Sài Gòn đã quyết định thành lập một tổ chức có tên là “Nhóm Bút Việt”.

Họ bao gồm 19 nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà biên khảo, kịch tác gia và cả họa sĩ mà danh tính theo tờ Thế Giới Tự Do Tập VII, số 9, năm 1957 thì như sau: Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên, Lê Ngọc Trụ, Phạm Việt Tuyền, Như Phong Lê văn Tiến, Tchya Đái Đức Tuấn, Thạch Trung Giả, Triều Đẩu, Xuân Nhã, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, Mai Xuyên, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Phạm Tăng, Thuần Phong, Hoàng Đình Lượng.

Khi thành lập, Nhóm Bút Việt tuyên bố :

“ Nhóm không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có chủ trương cương lĩnh hoặc đường lối nhất định nào hết. Nó không phải là một văn đoàn, văn phái. Cũng không phải là một hội ái hữu. Bút Việt chỉ là một câu lạc bộ của các nhà cầm bút muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến về sáng tác, về công phu tìm hiểu cũng như công phu giới thiệu”. (In trong kỷ yếu mà sau này Văn Hóa Ngày Nay Tập I của Nhất Linh có in lại)

Như vậy trong buổi khởi đầu, Nhóm Bút Việt đã hình thành trong một ý niệm hết sức rộng rãi và tự do. Các thành viên của Bút Việt sinh hoạt như một Câu lạc bộ.

Điều đáng chú ý là theo danh sách ở trên, ta không thấy có tên nhà văn Nhất Linh, một tên tuổi lão thành mà nhiều người vẫn thường nghĩ ông là một trong những vị đứng ra sáng lập tổ chức Văn Bút.

Tuy nhiên nếu so sánh ngày tháng và nơi cư trú của Nhất Linh vào thời điểm ấy thì ta thấy :

– Ông từ Hương Cảng trở về Hà Nội khoảng cuối năm 1950 (theo quý nam của ông là Nguyễn Tường Thiết ghi lại trong bài Nhất Linh, Cha tôi.)

– Đầu tháng 4 năm 1951, ông dời Hà Nội vào Nam.

– Năm 1954, khoảng tháng 7, ông qua Pháp để chữa bệnh. Thời gian này gia đình ông cũng di cư vào Nam sau Hiệp định Genève, và cư ngụ ở khu chợ An Đông, Sài Gòn.

– Năm 1955, ông lên Đà Lạt với quyết định ở luôn trên ấy.

– Năm 1957 ông mua một lô đất ở ven quốc lộ 20 Sài Gòn – Đà Lạt, ở phía nam của làng Fim-Nôm và dự tính xây một căn nhà cho chính ông. Thời gian này ông sáng tác tác phẩm Xóm Cầu Mới.

– Năm 1958, sau một cơn bão ở Đà Lạt phá sập nguyên căn nhà mà ông đang cư ngụ nên ông đã dời về Sài Gòn để từ đó bắt đầu chuẩn bị cho tờ Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay với số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, một ngày mà theo nhà báo Hiếu Chân thì ông đã cố ý lựa chọn vì 17-6-1930 là ngày liệt sĩ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Thực dân Pháp đưa lên đoạn đầu đài xử trảm tại Yên Bái.

Như thế, khi các văn nghệ sĩ chủ chốt chuẩn bị thành lập Nhóm Bút Việt từ năm 1957, thì nhà văn Nhất Linh đã không có mặt ở Sài Gòn để tham gia. Mãi tới tháng 12-1957, Nhóm mới mời ông làm Cố vấn và Hội viên Danh dự. Và tới niên khóa 1961-1962 thì ông được bầu làm Chủ tịch Văn Bút với hai vị Phó Chủ tịch là LM. Thanh Lãng và Vi Huyền Đắc.

****

Trở lại từ năm 1957, các văn nghệ sĩ đã nêu trong danh sách kể trên không chỉ ngừng lại ở ý niệm một Câu Lạc Bộ cầm bút mà còn muốn đi xa hơn, tức nhắm vào mục đích xin gia nhập tổ chức Văn Bút Quốc Tế để mở rộng tầm mức sinh hoạt hơn. Bởi vì trong bối cảnh của một đất nước vừa bị chia đôi sau Hiệp Định Genève 20-7-1954 và trước một cuộc sống đầy dẫy những vấn đề của công cuộc hình thành một miền Nam Tự Do đối đầu với miền Bắc Cộng Sản, hẳn nhiều nhà làm văn hóa trong số các vị kể trên cũng đã thao thức với thời cuộc về những bổn phận và trách nhiệm của mình. Họ đã nghĩ tới việc tiếp cận Tổ chức Văn Bút Quốc Tế để mong tiến tới một tổ chức qui tụ các người cầm bút ở ngay trong nước. Họ đã gặp gỡ, bàn thảo công việc chuẩn bị, kể cả những lần tiếp xúc với các văn gia quốc tế đặc biệt là với ông David Carver, Tổng Thư Ký Hội Văn Bút Quốc Tế hồi đó để thăm dò hoặc tham khảo ý kiến về việc thành lập một chi nhánh Văn Bút Quốc Tế tại VN.

Tổ chức Văn Bút Quốc Tế vốn đã được thành lập từ năm 1921 ở Anh Quốc. Tổ chức này lấy tên là P.E.N International bao gồm các Nhà thơ (Poets), Kịch tác gia (Playwright), Bình luận gia (Essayist), Chủ bút và ký giả (Editors), Tiểu thuyết gia (Novelist).

Theo Hiến chương của tổ chức này thì :

* Các thành viên của PEN phải luôn luôn sử dụng những ảnh hưởng của mình để thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, xua tan những hận thù chủng tộc, giai cấp, hận thù quốc gia và đấu tranh cho lý tưởng một nhân loại sống trong hòa bình trên thế giới.

* PEN ủng hộ nguyên tắc tự do truyền bá tư tưởng trong mỗi quốc gia và trong mọi dân tộc. Các thành viên của PEN tự cam kết phản đối mọi hình thức đàn áp tự do ngôn luận trong nước hay trong cộng đồng của mình.

* PEN tuyên bố tán thành một nền báo chí tự do và phản đối việc kiểm duyệt độc đoán trong thời bình.

* PEN tin rằng sự tiến bộ của thế giới hướng tới một trật tự chính trị và kinh tế có tổ chức cao hơn sẽ làm cho việc tự do phê bình chính phủ, chính quyền, và các tổ chức là điều rất quan trọng. Và vì sự tự do có bao hàm ý nghĩa hạn chế tự nguyện, nên các hội viên PEN tự cam kết chống lại các tệ nạn như : xuyên tạc ý nghĩa của tự do xuất bản báo chí, cố ý lừa dối, và bóp méo các sự kiện nhằm những mục đích chính trị và cá nhân…

Khi nhận thấy tình hình đã có nhiều thuận lợi, Nhóm đã quyết định mở phiên họp chính thức vào ngày 17-8-1957 kể trên để quyết định lập Ban Vận Động và xúc tiến các thủ tục hành chính. Danh sách Ban Vận Động gồm có:

Chủ tịch: Đỗ Đức Thu.

Phó Chủ tịch: Vương Hồng Sển, Tchya Đái Đức Tuấn.

Tổng Thư Ký: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Cố vấn: Vũ Hoàng Chương, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội.

Vì đã có sự vận động với quốc tế từ trước, nên Ban Vận Động Bút Việt đã được mời tham dự ngay Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29 họp tại Đông Kinh, Nhật Bản, từ ngày 1 đến 9 tháng 9-1957.

Phái đoàn Việt Nam gồm có Đỗ Đức Thu, Đái Đức Tuấn, Phạm Việt Tuyền, Hoàng Định Lượng và Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tham dự Hội nghị này có 350 nhà văn, nhà thơ, ký giả đại diện cho 27 quốc gia trên thế giới. Số người của riêngVăn Bút Nhật Bản tới dự cũng đông gần con số 350.

Trong phiên họp ngày 2 tháng 9 năm 1957 tại Đông Kinh, Đại Hội Văn Bút Quốc Tế đã chính thức thu nhận hai Hội viên mới: Nhóm Bút Việt của Việt Nam Cộng Hòa và Nhóm Văn Bút của Băng Đảo (Cộng Hòa Iceland). Như thế, tổng số hội viên của Văn Bút Quốc Tế là 50 Hội viên tính tới tháng 9-1957.

Khi ở Đông Kinh về, các đại biểu đã triệu tập một phiên họp vào cuối tháng 10-1957 để tường trình công việc.

Qua tháng 11-1957, tại trụ sở tạm thời của Nhóm ở số 69 đường Cao Thắng Sài Gòn, Ban Vận Động từ chức vì xong nhiệm vụ. Một Ban Chấp Hành Lâm Thời được bầu ra gồm 5 vị: :

Chủ tịch: Đỗ Đức Thu.

Phó Chủ tịch: Vương Hồng Sển và Vi Huyền Đắc.

Tổng Thư Ký: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Thủ Quỹ: Bùi Xuân Uyên.

Tới ngày 29-5-1958, Ban Chấp Hành Lâm Thời bổ sung thêm 2 vị Thư Ký: Nguyễn Khang và Lê văn Siêu.

Nhiệm vụ của Ban Chấp Hành Lâm Thời là thiết lập trụ sở, tổ chức văn phòng thường trực, xúc tiến thủ tục hành chánh xin thành lập Nhóm, thiết lập Thư viện, phát triển Hội viên, chuẩn bị cho Đại Hội toàn quốc và xuất bản tờ Kỷ Yếu.

Ngày 21 tháng 10 năm 1957 Nhóm được cấp giấy phép hoạt động ở trụ sở số 25 Võ Tánh Sài Gòn (đây chỉ là địa chỉ mượn của báo Tự Do để làm giấy tờ mà thôi), do 3 vị đứng tên là Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển và Nguyễn Hoạt và do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Nguyễn Hữu Châu ký trên Nghị Định số 111-BNV-/NA/P5 có nội dung chính như sau:

“Nhóm Bút Việt, danh hiệu quốc tế P.E.N Việt Nam, trụ sở đặt tại số 25 đường Võ Tánh Sài Gòn, được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam đúng với bản Điều Lệ của Hội đã được duyệt y (đính theo Nghị định này) và trong phạm vi của Dụ số 10 ngày 6-8-50 ấn định quy chế các Hiệp Hội.”

Như thế, Nhóm Bút Việt đã được hình thành từ ngày 2-9-1957 trên phương diện quốc tế và ngày 21-10-1957 là trên phương diện hành chánh ở trong nước.

Khoảng giữa năm 1957, Nhóm Bút Việt dời về trụ sở mới ở số 157 đường Phan đình Phùng Sài Gòn (xin coi hình chụp của Mạnh Đan trên tờ Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7,năm 1957).

Tới mùa Thu năm 1959 Nhóm lại dời về trụ sở số 36/59 Cô Bắc Sài Gòn và ở đây cho tới năm 1971 mới lại dọn về số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn.

Cũng từ trụ sở này, Nhóm Bút Việt đã tiếp các nhà văn quốc tế qua VN như nhà văn Mỹ Mac Anley, hai nhà báo và nhà văn Pháp Suzanne Normal, Paul Acker, nhà báo Thụy Điển Charles Asndré Nicole và nhà văn Đan Mạch Lindermann.

untitled

Từ trái qua: các văn hữu Bùi Phương Thể, Nguyễn Duy Miễn, Đỗ Đức Thu, nhà văn Đan Mạch Kelvin Lindermann, Nguyễn Hoạt, Vi Huyền Đắc, Phạm Trọng Nhân. (Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957)

Tháng Tư-1958, Nhóm xuất bản một tập kỷ yếu viết bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp lấy tên là Kỷ Yếu Bút Việt đồng thời cũng lựa dịch một số truyện ngắn Việt Nam ra tiếng Anh để gửi dự thi các truyện dịch do tạp chí văn chương Encounter của Anh quốc tổ chức. Nhóm cũng góp phần dịch truyện ngắn Việt Nam ra Anh ngữ để nhà xuất bản Western Printing and Lithographing Company ấn hành.

Khi số Hội viên đã lên tới 50 người, Nhóm đã thành lập một đoàn Chèo Cổ do Vũ Huy Chấn, Nhất Linh và Trần Tuấn Khải phụ trách.

Một ban Kịch cũng được thành lập do hai Kịch tác gia Vi Huyền Đắc và Vũ Khắc Khoan cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương đảm trách.

Đã có các hoạt động kể trên tất phải đặt ra nhu cầu tài chánh, nhưng Cơ quan Văn Hóa Á Châu đã nhận lời yểm trợ.

Ngày 29-5-1958, Nhóm đã triệu tập phiên họp Đại Hội Đồng để bầu cử Ban Chấp Hành mới. Nhưng Đại Hội đã biểu quyết lưu nhiệm Ban Chấp Hành cũ ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa.

pix3

Quang cảnh phiên họp tại Trụ sở Bút Việt ngày 29-5-1958. (Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957)

*****
CHẤT VẤN ÔNG VIÊN LINH!

Phần trình bầy về ngày thành lập của nhóm Bút Việt đáng lẽ đến đây là chấm dứt, nếu không có lời nhận định sau đây của nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm tạp chí Khởi Hành xuất bản ở Nam Cali :

“Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957, lúc ông Phạm Trọng Nhân làm lãnh sự tại Nhật, cuối cùng đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.”

Đoạn văn trên trích từ cuốn “Chiêu Niệm Văn Chương- Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ.”, tác giả Viên Linh. Nhà Xuất Bản Khởi Hành ấn hành năm 2000”, có thể tìm thấy ở nguồn: http://www.tanvien.net/Tribute_1/vhc_by_vienlinh.html

Đưa ra một chi tiết động trời như thế, nhưng ông Viên Linh không hề nêu được một bằng chứng nào cho thấy “Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957”

Ông Trần Kim Tuyến tài năng cỡ nào mà có thể khuynh loát được 19 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo trong đó có cả những bậc lão thành như : Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Tam Lang Vũ đình Chí, Tchya Đái Đức Tuấn, Đào Đăng Vỹ, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên (bút hiệu Hi Di, chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ ở Hà Nội trước 1954) ..v..v..

Tôi chính thức yêu cầu ông Viên Linh trưng bằng cớ về chuyện này.

Ông còn nêu cái ý rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng.

Xin hỏi, chẳng lẽ 19 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo có mặt trong nhóm sáng lập Văn Bút không có ai chống Cộng hay sao mà lại phải nhờ ông Trần Kim Tuyến “thúc đẩy”! Vậy ai đã thúc đẩy họ chạy từ Bắc vô Nam sau Hiệp định Genève? Lại cũng ông Trần Kim Tuyến chăng?

Vả chăng việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng. Nhiều hội viên trong tổ chức Văn Bút Quốc Tế lại chính là các nước Cộng Sản như Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư….thì chống Cộng ở cái chỗ nào ? Đã từng là Chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại, hẳn ông Viên Linh phải hiểu rõ Hiến Chương của Văn Bút. Tôi nhắc lại, đó là:

“Các thành viên của PEN phải luôn luôn sử dụng những ảnh hưởng của mình để thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, xua tan những hận thù chủng tộc, giai cấp, hận thù quốc gia và đấu tranh cho lý tưởng một nhân loại sống trong hòa bình trên thế giới.

PEN ủng hộ nguyên tắc tự do truyền bá tư tưởng trong mỗi quốc gia và trong mọi dân tộc. Các thành viên của PEN tự cam kết phản đối mọi hình thức đàn áp tự do ngôn luận trong nước hay trong cộng đồng của mình.

….v..v…

Chính những lý tưởng cao quý này của Văn Bút Quốc Tế mà các văn gia miền Nam mới tụ họp nhau bàn thảo để xin gia nhập chứ chẳng phải vì có mỗi một mục đích “chống Cộng’ như Viên Linh nói, mặc dù chỉ với những lý tưởng cao đẹp như thế thì cũng đã đương nhiên là “chống Cộng” rồi.

Viết lách như thế mà cũng đã có thời ông Viên Linh làm Chủ tịch Văn Bút Hải Ngoại thì kể cũng lạ!

Rồi lại còn kinh khủng hơn nữa khi ông giáng một đòn búa tạ nặng nề lên tổ chức Văn Bút VN bằng một câu ngắn gọn : “…cuối cùng [Trung Tâm Văn Bút Việt Nam] đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.”

Thật là chuyện động trời!

Có thực Việt Cộng đã điều hành Trung Tâm Văn Bút VN trước 1975 qua bàn tay của LM Thanh Lãng và GS Phạm Việt Tuyền hay không?

Tính cho đến năm 1975, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã có gần 200 hội viên mà danh sách sẽ in trong phần sau, tuy chưa đầy đủ.

Xin hỏi ông Viên Linh, “bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền” lông lá cỡ nào mà khuynh loát được cả gần 200 hội viên để đến nỗi Trung Tâm Văn Bút đã trở thành công cụ cho Việt Cộng điều hành.

Tất nhiên ông Viên Linh sẽ nêu bằng cớ là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã can thiệp cho cây bút nằm vùng Vũ Hạnh bị bắt được thả ra. Nhưng nếu chỉ có một chuyện đó thôi mà đã la lên là Văn Bút đã do Việt Cộng điều hành thì thái độ cầm bút đó là hết sức hàm hồ, là vu cáo, là thiếu sự ngay thẳng khi cầm bút. Sự bịa đặt lớn lối và đầy vô trách nhiệm này đã ngồi xổm lên công luận trong nhiều năm ròng rã kể từ khi LM. Thanh Lãng lên làm Chủ tịch Văn Bút đồng thời sổ toẹt mọi công lao đóng góp cho nền Văn Hóa Miền Nam của biết bao nhiêu Hội viên Văn Bút trong thời gian ấy.

Về chuyện Văn Bút can thiệp cho Vũ Hạnh tôi sẽ phân tích thêm ở phần sau, nhưng tôi lại chính thức yêu cầu ông Viên Linh trưng thêm bằng cớ về sự buộc tội của ông rằng : “…cuối cùng [Trung Tâm Văn Bút Việt Nam] đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.”

Và một câu cũng trích ra từ bài nói trên của ông Viên Linh:

“Ông (tức LM.Thanh Lãng) đã được Hà Nội thu dụng làm việc tiếp ở Đại học Văn khoa; và Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu nhục không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp.

Xin ông Viên Linh cho biết GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và xin nêu vài tên tuổi nào của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Nếu không trả lời được những câu hỏi này tức là ông đã xuống tay độc ác với chính đồng nghiệp của mình bằng sự bịa đặt và do đó không biết chính ai sẽ là người chịu nhục đây?

Một cựu Chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại viết không nương tay, vô bằng cớ để hạ gục một cựu Tổng Thư Ký Văn Bút trước 1975 vốn đã dầy công lao đóng góp cho Văn Bút thời đương nhiệm thì không biết vì lý do gì nếu không phải đó chỉ là sản phẩm của một ngòi bút có lúc đã thiếu lương tâm của người cầm bút.

Nhưng dù là với lý do nào thì khi phê phán cũng phải dựa trên sự thực. Sự phê phán hay tố cáo mà không dựa trên sự thực thì chỉ là vu cáo. Người đời thường mà đặt chuyện vu cáo thì cũng đã là tệ lắm rồi, huống hồ lại ở trong văn giới và trong cùng một tổ chức cầm bút với nhau.

Nhiều người chủ quan cứ tưởng rằng khi hạ bút xong thì rồi sẽ có thể phủi tay. Phủi tay thì dễ nhưng giấy mực còn đó. Và làm sao xóa được những tài liệu vu khống hay gian dối khi chúng sẽ còn tồn tại mãi trong các thế hệ về sau.

Nhật Tiến

(Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/1chuong-i-tien-trinh-thanh-lap-v-noi-quy/)

Chuyện Giữa Hai Người. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

cropped-bia-cho-blog072820161

(Chân dung và tác phẩm của Nhà Văn Nhật Tiến)

Căn phòng quét vôi màu hồng. Thảm màu da cam mịn mướt. Bộ sa lông bọc đệm màu đỏ sẫm kê chung quanh chiếc bàn kính bóng lộn. Hưng ngồi ở đó, trầm lặng, câm nín dưới ánh đèn tỏa ra từ những cái chụp tô vẽ những bông hoa sặc sỡ. Trời vào hạ. Không gian bên ngoài êm ả dưới bầu trời đã ngả màu tím sẫm có những vì sao long lanh ướt. Chẳng có tiếng động tĩnh gì ngoài âm thanh của một bản nhạc nhẹ như tỏa lan ra khắp căn phòng, len lỏi vào những ý nghĩ của Hưng vốn lúc nào cũng rời rạc, mệt mỏi, đứt quãng. Sức khỏe của chàng, sau bẩy năm học tập cải tạo suy yếu đã đành, nhưng còn nhiều yếu tố khác nó làm cho chàng suy yếu hơn. Như rượu. Như thuốc lá. Như cà phê. Và nhất là tâm trạng hụt hẫng của chàng khi được nhấc từ một hoàn cảnh tối tăm, tuyệt vọng sang một nếp sống mới hoàn toàn khác biệt: sung túc, đầy đủ, choáng lộn nhưng hoàn toàn trống rỗng.

Ngày nhận được giấy tờ đoàn tụ, Hưng tưởng như mình vừa mọc được đôi cánh có thể bay được khỏi địa ngục để lên thiên đàng. Bây giờ thiên đàng ấy đang ở đây, trong căn phòng quét vôi mầu hồng, thảm màu da cam, có bộ salon bọc nệm đỏ bầy chung quanh mặt bàn kính ngổn ngang những vỏ bia và những chai rượu mạnh. Mới buổi chiều, Hưng vừa từ cuộc họp mặt do một nhóm ái hữu tổ chức để nghe chàng thuyết trình. Chàng đã nói, bằng một giọng mệt nhọc, bằng những tư tưởng đứt quãng, lộn xộn mà chàng thấy rõ mình không làm chủ được cả một mớ ý nghĩ lộn xộn, giữa quá khứ với hiện tại, giữa hoàn cảnh tù đày và nếp sống đầy đủ đang có, giữa bạn bè, người còn ở trại cải tạo, kẻ đã ra đi.

Chàng biết rằng mình cũng không đem lại được điều gì mới mẻ cho nội dung câu chuyện. Vẫn chỉ là kềm kẹp, là đói khổ, là lao động vất vả cực nhọc, là ốm đau bệnh tật và những lời chửi rủa của bọn công an mặt còn non choẹt. Chàng lại còn đủ bén nhậy để cảm thấy rằng đám đông lố nhố ngồi nghe ở dưới cũng đã biết rõ những điều đó.

Thế là cơn mệt mỏi cứ uà đến. Nó làm chàng kiệt sức mau chóng, như một con quay đang hết đà, sắp sửa đổ xuống. Bài nói chuyện kết thúc trong nhạt nhẽo, gượng gạo nhưng rất may đã được kéo lại bằng những tiếng cười nói ồn ào về chuyện nhà cửa, chuyện tin tức bạn bè, chuyện job ở sở làm, chuyện cờ bạc ở Las Vegas giữa những vỏ chai bia được khui ra la liệt.

Rồi Hưng trở về trong căn phòng êm ả này. Chàng ngồi rũ liệt như một cái xác bất động, giống hệt như ngày nào chàng cũng đã ngồi như thế ở trại cải tạo Long Giao sau một ngày lao động cực kỳ khổ nhọc.

Hình ảnh này của chàng đã khiến cho Hương tuyệt vọng ghê gớm lắm. Không chỉ một lần mà nhiều lần. Không chỉ một tháng, hai tháng mà đã kéo dài cả năm. Làm sao nàng có thể làm cho chồng hiểu được rằng muốn sống sót ở cái xã hội này, con người phải có can đảm đứng dậy, sốc tới, che giấu tâm sự thầm kín ở bên trong để chỉ phô bầy nổi lạc quan ra bên ngoài. Tươi tắn. Hoạt bát. Vui vẻ. Đó là những điều kiện tối thiểu để làm lại từ lúc khởi đầu.

Từ ngày bảo lãnh được chồng qua, Hương không tìm thấy được ở nơi chồng một sự chia sẻ nào, ngay cả trong lãnh vực tình cảm. Đi làm mệt mỏi về, Hương mong đợi một nụ cười tươi, một lời thăm hỏi nồng nàn, một sự đỡ đần những dịch vụ lặt vặt (không tên nhưng rất nhiều), nhưng ngược lại nàng chỉ cảm thấy trong nhà ngột ngạt hơn, nặng nề hơn vì những vỏ lon bia ngổn ngang, vì vẻ mặt rầu rầu nặng trĩu tâm trạng ưu tư, u sầu, còn nụ cười thì hầu như gượng gạo chỉ khiến cho vẻ mặt của chàng đã rúm ró lại rúm ró thêm.

Tình thế ấy trước sau gì thì cũng có lúc bùng nổ, vì bất cứ lý do gì, dẫu nhỏ nhặt. Ly nước đã đầy tràn, chỉ còn chờ thêm môt giọt cuối cùng.

Giọt nước ấy đã đến vào hôm nay, trong lúc Hưng đang chập chờn trong tiếng nhạc êm dịu và những ý nghĩ miên man, rã rời. Hương đẩy cửa bước vào, theo sau là thằng Dũng, đứa con trai duy nhất của hai người, Hương nói:

– Đi tắm rửa thay đồ rồi ăn cơm. Mà chào bố đi. Mẹ đã dặn bao nhiêu lần là đi phải thưa, về phải chào cơ mà.

Thằng Dũng nhìn về phía bố nó, nói bằng giọng hờ hững:

– Hi, Dad!

Chính cái giọng hờ hững ấy đã khiến cho Hưng nổi sùng bất tử. Chàng ngồi bật dậy và cất tiếng sẵng ngay:

– Mày không mở mồm được một câu tiếng Việt sao, Dũng!

Rồi chàng nhìn nó bằng một cặp mắt hung tợn. Điều này khiến thằng Dũng sợ hãi, thụt lùi một bước và nhìn bố với vẻ mặt ngỡ ngàng. Nó chưa bao giờ từng thấy bố nó hung dữ đến như thế.

Sau đó nó cũng cố chữa lại:

– Thưa bố, con về.

Nói xong ngần ấy câu, nó quay phắt người lại và chạy thẳng lên cầu thang. Bước chân của nó giẫm lên thảm nhung, nghe không mạnh mẽ gì nhưng cũng đủ để cho Hưng thấy nó đang giẫm thô bạo lên lòng tự ái của chàng.

Đầu óc chàng bùng lên những câu hỏi: Nó khinh gì mình mà nó quay đi, nó hỗn quá đáng đến độ giẫm thình thịch lên mặt sàn để trả đũa cái vụ chàng hạch hỏi nó phải nói tiếng Việt, và đau đớn hơn hết là chàng thấy rõ nó với chàng đã trở nên quá xa, xa đến độ hai người chẳng còn bao giờ có thể dính líu gì tới nhau, dù đang ở chung trong một mái nhà.

Hưng muốn ném một cái vỏ chai bia về phía nó. Nhưng những ý nghĩ ngần ngại, thiếu dứt khoát đã làm cho ý định của chàng trở nên chậm trễ. Bao giờ thì chàng cũng bị cái thiếu dứt khoát đó làm chậm trễ đủ mọi công việc. Thằng Dũng đã mất biến sau bức vách tường ở trên cầu thang. Nó bỏ lại đằng sau một bầu không khí nặng nề, đặt sệt khiến cho cả hai người đều như sững lại, ngỡ ngàng, bực bội, não nề.

Một lát sau, Hương ngồi xuống chiếc ghế ở phía đối diện chồng và nói bằng một giọng cố gắng giữ cho được sự dịu dàng:

– Anh Hưng ạ, có lẽ mình phải nói chuyện thẳng với nhau, một lần cho tất cả.

– Cô muốn cái gì thì cứ nói.

– Trước hết anh phải hiểu rằng dù sao thì em vẫn còn yêu anh, quý trọng anh. Bởi có như thế em mới chịu khó làm lụng vất vả, vừa nuôi con, vừa cố bảo lãnh cho anh qua.

– Cô khỏi cần phải kể công.

Hương kiên nhẫn:

– Anh đừng tầm thường như thế. Giữa chúng mình đừng nói bao giờ nói chuyện công lao.

– Cô nói ra điều đó thì được. Tôi thì không.

– Tại sao lại thế? Có cái gì khác giữa anh và em đâu.

– Khác chứ! Khác nhiều chứ. Cô là người đang có tất cả. Còn tôi thì đang mất tất cả.

Đến lúc này thì Hương không còn giữ nổi sự bình tĩnh mà nàng tự nhủ phải có thái độ ấy ngay từ phút khởi đầu. Nàng sẵng giọng:

-Anh ám chỉ cái gì mà nói em đang có tất cả. Bộ ngần ấy nỗ lực của em dành cho anh, cho con vẫn không làm vừa lòng anh sao?

– Cô làm như tôi là người luôn luôn đòi hỏi và không bao giờ vừa lòng. Nhưng cô thấy đó, từ ngày đến đây, tôi câm nín, chịu đựng và có mở mồm đòi hỏi ở cô điều gì đâu.

– Thà rằng anh nói ra. Thà rằng anh bầy tỏ rõ rệt ý muốn của anh. Chứ sự câm lặng, lầm lì của anh mới là điều ghê gớm, không thể chịu đựng nổi.

Vẻ mặt của Hưng hằn xuống, đôi môi của chàng mím chặt, hai bên hàm bạnh thêm ra. Trông chàng lúc này đầy một vẻ vừa khắc khổ, vừa thiểu não. Điều này khiến cho Hương mủi lòng. Nàng nguôi ngay cơn bực bội, vội vàng tiến lại ngồi xuống bên cạnh Hưng, nắm lấy tay chàng và nói:

– Anh Hưng ạ. Anh là người thấy rõ từ gần một năm nay, cả hai chúng mình đều cũng không thấy hạnh phúc gì. Mà đó là điều vô lý, phải không. Cả anh cũng như em đều đã trải qua bao nhiêu là ngày tháng đau khổ chịu đựng kể từ ngày em ra đi và anh còn kẹt lại ở VN. Biết bao nhiêu đêm, ngày em cầu nguyện cho anh đi được, cho gia đình mình có thể đoàn tụ được với nhau. Thế mà đến lúc gặp lại nhau, cả hai đều không có hạnh phúc. Điều đó thật là vô lý quá, phải không?

Thấy Hưng im lặng không trả lời, Hương nói tiếp:

– Anh phải hiểu được rằng chính em là người muốn cứu vãn tình thế chứ không phải buông xuôi để tới một ngày đi đến đổ vỡ. Em thấy rõ mình phải làm một cái gì để thay đổi cái bầu không khí ngột ngạt này, nếu không muốn mất tất cả. Nhất là như anh thấy, giữa anh và thằng Dũng, hai người cứ mỗi ngày một xa thêm nhau hơn.

– Nó Mỹ hóa quá rồi, và tôi không thể chạy theo nó để cầu xin một chút tình thương.

– Nó còn bé quá để đủ tế nhị biết phải nên làm cái này hoặc không nên làm cái kia. Điều cốt yếu là mình phải mở rộng vòng tay với nó.

– Vậy là cô trách cứ tôi không có tình thương yêu đối với nó.

– Không phải vậy. Nhưng cung cách biểu lộ tình yêu thương của anh không thích hợp với nó, do đó nó không cảm nhận được. Và vì thế, khoảng cách giữa hai người càng ngày càng xa hơn.

– Phải rồi, tôi biết rõ là tôi đã lạc hậu ở cái xứ này rồi.

-Anh biết rồi mà anh không sửa, cái đó mới kỳ!

Hưng bất giác nổi sùng :

– Tôi bằng này tuổi đầu rồi mà còn sửa với chữa nỗi gì. Mà tại sao tôi lại phải sửa cơ chứ. Tôi là tôi, Tôi không bao giờ muốn trở thành một kẻ khác.

– Anh tưởng như thế chứ, anh không còn là anh ngày xưa nữa. Anh đã có quá nhiều đổi thay mà anh không biết đấy.

– Cô nói cái gì, tôi không hiểu.

– Đấy là tại anh cố tình không hiểu. Anh trốn tránh mọi sự thực. Anh cố chui rúc vào cái vỏ đậy của anh từ bao nhiêu năm nay. Anh sợ đối phó. Anh ngại đổi thay dù là sự đổi thay thiết thân đến cả đời sống của anh. Nói tóm lại là anh đầy mặc cảm và anh không dám đương đầu đến phá vỡ cái mặc cảm ấy.

– Xin lỗi cô! Tôi chả có gì phải mặc cảm với ai hết. Cô đánh giá như thế là cô hạ thấp giá trị con người của tôi quá.

Hương biết mình đang bị du vào tình thế không thể lùi được nữa, bởi nếu không mổ xẻ toạc móng heo một lần, thì sự hiểu lầm có thể sẽ làm cho mối liên hệ giữa hai người tổn thương nhiều hơn. Nàng dằn giọng:

– Em biết là em có thể dại dột khi đụng đến những tâm tư thầm kín của anh. Nhưng chính vì không muốn mất anh nên em phải nói một lần cho tất cả. Bây giờ anh hãy ngồi nhớ lại đi, những ngày còn gian khổ trong tù, anh mong gì và ước muốn được làm gì. Chắc chắn không phải là anh chỉ mong suốt ngày ngồi gậm nhấm nỗi khắc khoải của mình bằng những ly rượu, những lon bia. Bạn bè còn trong tù ngục của anh nếu biết như vậy chắc họ cũng xấu hổ thay cho anh đấy chứ nhỉ.

– Tôi có thể làm gì được khác hơn ở giữa cái xã hội xa lạ và đầy hưởng thụ này.Từ ngày tới đây, tôi cũng đã đi hội họp, đi thuyết trình, hội thảo và nói lên những điều cần phải nói….

Hương cướp lời:

– Và sau những lần như thế anh buồn rũ rượi hơn ra có phải không?

– Làm sao cô biết được!

– Có gì mà không biết! Lòng anh thì kỳ vọng, sốt sắng quá nhiều mà thực tế chẳng đáp ứng lại bao nhiêu.

Càng thuyết trình, càng hội thảo anh lại càng thấy trống rỗng, vô vị. Bởi vì hầu hết chỉ đánh trống xong bỏ dùi, lúc tan cuộc, ai cũng chỉ mua được cái cảm giác an toàn là đã làm tròn bổn phận của một kẻ lưu vong nhưng thực chất công việc thì chẳng có cái gì đi đến đâu. Anh không có can đảm nhìn thẳng vào sự thực đó sao?

– Thà như thế còn hơn không. Không lẽ cô lại muốn tôi buông xuôi, bỏ cuộc.

– Ai bảo anh rằng em muốn anh bỏ cuộc. Điều mà em muốn là anh hãy loại bỏ bớt những cái gì phù phiếm, bề ngoài vô ích để tập trung vào những cái cần làm, đang làm. Mà điều cần làm, đáng làm trước hết là anh phải nhìn lại chính bản thân của anh trước đã. Bản thân của anh chưa vững, chưa biết mình muốn gì, làm gì, chưa giải tỏa cho mình những nỗi phiền muộn nhỏ nhặt hàng ngày, chưa khuất phục được những giây phút gậm nhấm bên lon bia, ly rượu, thì đừng mong làm được bất cứ điều gì, chứ đừng nói chuyện lớn lao, đại sự.

Ngưng một giây để chờ phản ứng của chồng, thấy Hưng không nói gì, Hương liền tiếp:

– Nói tóm lại là anh hãy phải tự vực anh dậy trước đã. Anh vẫn thường tỏ ra buồn khổ và than rằng mình đã mất hết, không còn gì. Điều đó đúng, những chả lẽ cứ ngồi than hoài mãi sao? Rồi cũng phải tới một lúc anh phải đứng dậy, giẫm chân lên trên tất cả những cái đổ vỡ mất mát ấy mà biết lạc quan để làm lại từ lúc khởi đầu chứ. Bởi không có cái khởi đầu thì không bao giờ có cái kế tiếp, cho dù điểm khởi đầu của anh chỉ là một hạt cát, một hoàn cảnh thấp kém đến tận cùng đi chăng nữa. Điều cốt yếu là anh muốn từ đó đi lên, chứ không phải đắm chìm mãi mãi trong tiếc nuối mà không bao giờ tính chuyện thoát ra cả.

Hưng ngước lên nhìn nàng như dò hỏi, rồi chàng cất tiếng:

– Thế thì cô muốn tính toán, đề nghị tôi làm cái gì đây?

– Anh hãy suy nghĩ về những điều mà em nói đi đã. Khi nào tới lúc anh thấy rằng em có lý thì người đề nghị chính là anh chứ không phải là em.

Nói xong, Hương đứng dậy và đi thẳng lên lầu. Sau một lúc cố gắng hết mình để nói ra những điều mà nàng suy nghĩ, Hương bỗng thấy mệt mỏi đến tận cùng. Nàng muốn chui vào cái vỏ riêng tư của mình. Trong căn buồng biệt lập mà không biết từ bao lâu rồi, Hưng không có quyền bén mảng tới. Căn nhà có cả thẩy ba phòng, thì hai phòng ở trên lầu dành cho hai mẹ con. Hưng ở từng dưới, lủi thủi như một cái bóng mờ. Cái bóng ấy nhiều hôm đối diện với chai rượu thâu đêm, đến sáng ra, lúc tỉnh dậy thì cả Hương và thằng Dũng đã đi học, đi làm từ bao lâu rồi. Quả thực Hương đã nói đúng, không có phút khởi đầu thì không bao giờ có cái kế tiếp. Vậy mà Hưng vẫn tự cho rằng mình đang đi đến chỗ cuối của chặng đường khổ nhọc, không còn lối nào mà thoát ra nữa chứ. Điều này làm chàng nhớ lại một lần ở trong tù, chàng đã có dịp đối thoại với một kẻ cũng mang cái tâm trạng đang ở chỗ cuối của chặng đường mà hắn đang đi.

Vũ, người bạn tù vẫn luôn luôn than thở với chàng là anh ta hết chịu đựng với nỗi dầy vò cả thể xác lẫn tinh thần trong những ngày bị giam hãm đằng đẵng, không có ánh sáng hy vọng của ngày về. Vũ nói:

– Chả có lý do gì mà mình cứ phải giam hãm mãi ở đây. Ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Ở chỗ tận cùng của tuyệt lộ, mình còn có gì để trông đợi nữa đâu.

Hưng an ủi:

– Không có cái gì ở trên đời này gọi là bất biến cả. Vậy đừng bao giờ nghĩ rằng mình đang ở chặng đường tuyệt lộ. Hai chữ tuyệt lộ nghe ghê gớm quá. Mình còn nhiều điều phải làm, do đó phải cố gắng ráng giữ cho mình còn tồn tại.

Vũ nhìn Hưng mỉa mai:

– Cậu còn lạc quan đến thế cơ à. Với tôi thì tất cả đã hết rồi. Vợ đi lấy chồng. Con cái lạc lõng vất vưởng đứa đi chiến trường Kampuchia, đứa lang thang đầu đường xó chợ. Còn thân mình ở đây, đày đọa không còn ai ngó tới, biết tới. Chuyện thay đổi chỉ là chuyện mơ ước hão huyền, làm gì có tướng này, tá kia đang lập chiến khu để tính chuyện lật ngược thế cờ. Bẩy năm mòn mỏi trong hy vọng, bây giờ thì tôi không còn tin tưởng ở điều gì nữa rồi.

– Đành là như vậy, nhưng sống trong tù mà không có lấy một chút niềm tin, niềm hy vọng thì rất dễ dàng suy sụp, và mình tự hủy diệt chính mình.

Vũ cướp lời:

– Nhưng tồn tại thì để làm gì cơ chứ. Ở cái chặng cuối đọa đầy này, càng giải thoát sớm bao nhiêu, càng khỏe bấy nhiêu.

Trước sau thì Hưng cũng chỉ nghĩ rằng đó chỉ là lời than thở. Chàng không thể ngờ được rằng chỉ sau đó ít lâu, Vũ đã tìm phương cách giải thoát cho chính anh ta thực. Một hôm vào khoảng chập tối, sau khi đi lao động về, Vũ đã ngang nhiên chạy thẳng một mạch qua khu vòng rào và lao ra khỏi cổng trại. Lính trên chòi canh chĩa súng vào phía lưng của anh ta mà tuôn đạn xối xả. Thật là dễ dàng, nhanh chóng và giản dị nhưng vẫn khiến cho biết bao nhiêu người ngơ ngẩn, ngỡ ngàng. Người ngơ ngẩn nhất có lẽ là Hưng, bởi sau đó chàng cứ lởn vởn mãi trong đầu câu nói thầm thì với Vũ:

– Sao lại như thế hả Vũ. Mình còn bao nhiêu chuyện phải làm.

Nhưng chuyện phải làm đó, những chuyện mà Hưng ước mơ có thể làm được một khi tháo cũi sổ lồng, thì khi qua đến đây, nó tan xèo như một cánh bướm trước mồi lửa. Có lẽ Hương đã nói đúng, việc đáng làm trước hết là phải nhìn lại chính bản thân mình. Mình chưa vững, chưa biết mình thực sự phải làm gì, chưa thấy rõ mình phải khởi sự từ đâu, mà chưa chi đã muốn ôm cả đại cuộc trong lòng để rồi chán nản, bất mãn, tuyệt vọng, thì việc dìm mình trong những ly rượu đâu có khác gì cung cách chọn lựa lao qua hàng rào như Vũ ngày xưa. Hai hoàn cảnh tuy có khác biệt, nhưng chung quy vẫn chỉ là một bản chất. Đó là sự đầu hàng quá sớm trước hoàn cảnh khắc nghiệt.

Hưng nhớ đến những người bạn tù, những bàn tay nắm chặt lấy nhau trong bóng tối, những nỗi niềm ước ao sẽ thực hiện khi có ngày được giải thoát, và cả những lời nhắn nhủ trước khi chàng lên đường ra đi. Bao nhiêu là gửi gấm. Bao nhiêu là cậy trông. Vậy mà chàng vẫn còn ngồi ở đây, trong căn phòng này, với những lon bia đầy nhu nhược và ỷ lại.

Trong lòng của Hưng bỗng trỗi dậy một niềm xôn xao mới. Ở cái xã hội này , không ai có thể ỷ lại vào ai, dù kẻ đó là vợ mình, con mình. Đó là điều kiện trước tiên để có được niềm tự hào. Và chỉ có sự tự hào thì con người mới có thể tự đứng dậy và đi tới. Bước đi có thể ngắn, chậm, nhưng vững chắc. Nó khiến cho chàng thấy rõ mình đang ở đâu, muốn làm gì và có thể làm được gì. Mọi thứ sẽ ở trong tầm tay với, một cách cụ thể chứ không mơ hồ, huyễn hoặc, tiêu hao thì giờ mà chẳng đem lại được điều gì ngoài sự tự ru ngủ chính mình.

Ngày hôm sau, lúc Hương đi làm về và đón con ở trường ra thì Hưng đã chờ nàng ở trên sân sỏi trước nhà. Chàng nói với Hương bằng một giọng cố hết sức giữ cho được tự nhiên:

– Hương ạ, bây giờ thì chính anh đề nghị với em.

Hương cảm thấy ngay có điều gì khác thường vừa xẩy đến với chàng. Nàng nhìn chồng dò hỏi:

– Đề nghị gì thế hả anh?

– Anh sẽ xa em và con một thời gian để khởi sự lại từ đầu, bằng chính những nỗ lực của anh chứ không phải của ai khác, kể cả em. Em nói đúng, muốn làm gì thì làm, phải cách mạng cái bản thân mình trước đã.

Hương trả lời, giọng đầy xúc động:

– Đó vẫn là điều mà em mơ ước. Không phải anh đã trở nên tồi tệ, xấu xa gì, nhưng thực sự em không muốn anh cứ chìm đắm mãi trong một lối mòn. Bao nhiêu năm sống ở đây, em đã chứng kiến quá nhiều lối mòn đã làm thui chột bao nhiêu con người, bao nhiêu công trình, bao nhiêu nỗ lực mà không đem lại được kết quả gì. Em muốn anh thấy rõ điều đó và vượt qua được điều đó.

– Em đừng kỳ vọng ở anh quá nhiều. Anh mới chỉ khởi sự từ đầu và chưa biết mình sẽ làm được gì.

– Cái khó là người ta biết khởi sự lại từ đầu, không bị ràng buộc bởi những tiếc nuối vì mất mát trong quá khứ. Bây giờ cũng đã quá trễ để biết nhìn về phía trước chứ không phải chỉ quay lại về phía sau lưng. Anh cứ yên tâm mà suy nghĩ về những việc cần làm. Em và con sẽ lại lui tới thăm anh, như ngày nào đã tới thăm nuôi khi em còn ở quê nhà.

Hưng mỉm cười:

– Lại một hình thức cải tạo nữa, phải không?

– Không đâu anh. Cải tạo ở Việt Nam không hy vọng có ngày về. Còn ở đây, hoàn toàn tùy thuộc ở chính mình. Bao giờ anh cảm thấy thoải mái, tự tin, lòng đầy nhiệt thành mà không vướng víu bởi một chút nào tự ti mặc cảm nào, ngày đó anh cứ việc xách va-li trở về. Em sẽ vui mừng mở rộng cửa chào đón anh. Em nghĩ rằng đó là cung cách tốt nhất để cứu vãn hạnh phúc của chúng mình, và cho luôn cả những điều mà anh muốn làm khi anh còn ấp ủ trong vòng rào kẽm gai của một trại tù.

Nhật Tiến
Tháng 6- 1987

Một buổi diễn kịch. Truyện kịch của Nhật Tiến


Nhật Tiến

img_2189-2

(Một buổi diễn kịch. Truyện kịch của Nhật Tiến được trích trong tập truyện Cánh Cửa, Thời Văn ấn hành năm 1990)

Ở NGOÀI CỬA RẠP HÁT, TRƯỚC GIỜ TRÌNH DIỄN

Đó là một rạp hát hạng trung nằm ở ngang cuối phố chợ. Trước cửa rạp là một hàng cây cao. Chen vào giữa những hàng cây là một trụ đèn xi măng, ở trên cao tít có một cái bóng đèn tỏa ra một thứ ánh sáng vàng bệch không đủ soi rõ quang cảnh của hè phố trước rạp. Tuy nhiên vào lúc hơn bảy giờ thì tổ Coi Xe cũng đã cho thắp lên bốn ngọn đèn chai treo ở trên những cái cọc gỗ dùng để chăng một sợi dây thừng trải dài bao bọc khu vực gửi xe.Những chiếc xe đạp của khán giả đến trước tiên đã được đặt ngay ngắn theo thứ tự từ lớp trong ra lớp ngoài. Người gửi xe được trao cho một miếng thẻ bằng bìa nhỏ. Khỏi cần ghi số ở trên. Ai có xe để ở chỗ nào, chốc nữa tan ra cứ lại chỗ đó mà chờ. Tổ gởi xe sẽ luồn qua khung xe một sợi thừng cớ lớn và buộc lại ở phía đầu nút. Nút buộc chỉ được cởi ra khi tan rạp. Do đó, tuần tự ai gởi sau sẽ được ra trước, cho đến người cuối cùng. Đó là một sáng kiến tuyệt hảo để tránh việc lấy lộn xe của nhau. Bởi xe của ai thì người đó đã đứng chờ sẵn tại chỗ rồi.

Duy chỉ có hai điều bất tiện: một là ai gởi xe trước thì phải ra sau, ít lắm cũng mất nửa giờ, và hai là không có cái vụ đang xem hát trong rạp, bỏ về nửa chừng. Muốn bỏ về nửa chừng thì rán cuốc bộ, lát nữa rạp tan, quay trở lại lấy xe. Tuy bất tiện một tí nhưng bảo đảm an toàn. Trong ba quý liền điều hành công tác, Tổ gửi xe không làm mất và phải đền cái xe nào. Điều nầy đã đem lại cho Tổ vô số là bằng khen với lời tuyên dương nhiệt liệt: phục vụ tốt, kết quả công tác tốt, góp phần tốt vào công cuộc xây dựng nếp sống mới con người mới Xã hội Chủ nghĩa.

Ở dưới những gốc cây gần kế với khu vực gửi xe là chỗ quây quần của những hàng quán bán cho khách đi coi ca kịch. Hầu hết là những người bán thuốc lá lẻ và kẹo bánh lặt vặt. Nhưng cũng có hàng bán nước mía, nước trái cây xay, bán chè xôi, và có cả hàng bán lõi thơm (hay lõi dứa). Quả dứa thơm ngon đã được đóng hộp xuất khẩu, cái lõi còn lại được xí nghiệp sản xuất phát huy sáng kiến gọt tỉa lại cho tròn trĩnh và bó lại thành từng bó rồi đem tiêu thụ ngoài quần chúng. Vừa rẻ, vừa mát, lại vừa túi tiền. Nó cũng đáp ứng khẩu vị của người dân đã lâu thèm và nhớ hương vị của mùi dứa. Buôn bán lõi dứa do đó cũng rất phát tài và lương thiện. Các đồng chí công an nếu có xuất hiện để xua đuổi việc chiếm lề đường làm mất vệ sinh và vẻ thẩm mỹ của thành phố thì cũng không nỡ tịch thâu những bó lõi dứa màu vàng óng xếp thành chồng cao trên những cái mẹt có lót lá chuối khô và được che lên bằng một tấm giấy nylon đã ngả màu nâu đục và mất hẳn tính trong suốt của loại nylon bình thường vì đã bị tái sinh nhiều lần.

Chỉ có đám bán thuốc lá lẻ là chạy chối chết. Bởi nếu hạch hỏi ra thì đủ thứ tội: Thuốc lá Sông Cầu, thuốc lá Hoa Mai, thuốc lá Phù Đổng, thuốc lá Trường Sơn… toàn là nhưng đồ phân phối của công nhân viên chức, bán ra ngoài là bất hợp pháp rồi, bất kể người được phân phối không biết hút thuốc và đã hoan hỉ nhượng lại. “Sang đi nhượng lại” là một hành vi phạm pháp, làm ngơ thì chả sao, nhưng hạch sách ra thì nó vẫn là một tội có thể viện dẫn ra để tịch thu. Quầy hàng thuốc lá vì thế đã được người bán bố trí rất đơn giản. Chỉ có một cái càng ba chân bằng que tre, trên để một cái thùng carton nhỏ. Bên trong hầu hết là những vỏ bao trống không hoặc chỉ để sẵn vài ba điếu. Nguồn hàng chính thức được giấu kín trong một cái túi xách và để ở đâu đó khó ai nhận biết được, ví dụ ở trong bọc áo một thằng bé ngồi thu lu ở vỉa hè xa xa chỗ mẹ nó, chị nó bán hàng, hay ví dụ như ở ngay dưới gầm ghế của một nữ đồng chí trong Tổ coi xe, ngồi nghiêm chỉnh ở khu vực đã được chỉ định sẵn, vừa quan sát khu vực để xe, vừa chăm chú đan thêm mảnh áo len kiếm thêm chút tiền đong gạo dưới ánh đèn lù mù của ngọn đèn chai.

Một vài hình ảnh như thế, nghĩ cho cùng, nó quả là rất tương phản với tấm biểu ngữ giăng ngang trước cửa rạp, nền trắng, chữ đỏ kẻ bằng sơn rất trịnh trọng:

Hôm nay long trọng trình diễn vở kịch:
NỀN SẢN XUẤT LỚN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
do đoàn kịch ĐỒNG THÁP đảm trách.

Trong nhân dân, đã được học tập rồi thì ai lại chả biết sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa phải đi đôi với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến của nền đại công nghiệp. Nói chuyện về đại công nghiệp ở nơi chốn lù mù những ánh đèn chai, nếu không là chuyện khôi hài thì cũng là những toan tính quá xa vời với thực tế.

Nhưng cũng chả sao. Có thiếu gì điều ở đây đã được học tập, đã được phát biểu, đã được in thành sách, soạn thành nhạc, viết thành kịch bản để trình diễn mà khi đem so với thực tế thì chả thấy có điều gì ăn nhập với nhau. Riết rồi cũng quen đi. Học một đằng, nghĩ một nẻo, khi nói ra miệng lại là một nẻo khác nữa. Ai cũng thấy thế, ai cũng đã từng làm như thế, cuối cùng sự trục trặc không ăn khớp ấy đã trở thành một thói quen, một quy luật để tồn tại, chỉ những kẻ nào tối dạ lắm thì mới dại dột nêu lên những nhận thức chân thực của mình.

Thế cho nên dù trong ánh đèn lù mù của ngọn lửa đỏ đòng đọc, đong đưa theo hướng động đậy của ngọn đèn chai chao đảo trước gió, người ta vẫn thấy xốn xang, rộn ràng khi nhìn lên tấm biểu ngữ nêu tên vở kịch sắp được trình diễn: NỀN SẢN XUẤT LỚN XÃ HỘICHỦ NGHĨA. Nói cho cùng thì chả cứ tên của vở kịch là cái gì, miễn rằng nó là một vở kịch, một buổi trình diễn, một duyên cớ để tụ tập nhau lại, dù trong một cái rạp chật ních nóng nẩy đến đổ mồ hôi, để được nghe đàn, nghe hát, gái trai đú đởn, đùa nghịch, thế là vui rồi. Đã lâu lắm ở đây có được cái gì để vui đâu !

Thế là thiên hạ ùn ùn kéo nhau vào rạp. Khu vực để xe đã chật ních. Đồng chí trong Tổ coi xe đã sử dụng gần hết cuộn dây thừng để luồn qua vô số là những cái khung xe. Hàng bán lõi dứa đã hết lõi dứa, hàng bán chè đã hết chè, hàng bán trái cây xay đã hết nước đá để xay. Chỉ còn lác đác vài cái thùng carton đựng thuốc lá lẻ đặt trên cái càng ba chân. Mấy thằng nhỏ ngồi ở xa xa trên vệ đường (bụng ôm một bọc toàn nguồn hàng thuốc lá) cũng vẫn còn ngồi ở đó nhưng bây giờ đã ngủ gục. Có còn cái thứ công việc nào chán ngán và dễ buồn ngủ hơn là việc cứ ôm khư khư bọc đựng thuốc lá như thế suốt buổi từ tối đến khuya, cấm di động, cấm chạy nhảy, cấm rời chỗ, tất nhiên là trừ ra những dịp rất bần cùng, chẳng hạn như có tiếng báo động từ xa truyền lại: “Công an tới! Công an tới!”.

À, nếu công an tới thì lại khác. Thằng nhỏ dù đang buồn ngủ rũ mắt thì cũng phải bật lên như một cái lò xo và ôm gói hàng chạy miết vô một ngõ tối. Ở đó, nó có thể thò đầu ra như một con chuột, ngó qua phía bên kia đường để thấy mẹ nó, hay chị nó hoặc là đang nài nỉ, hoặc là đang cãi vã, hoặc là đang bị đồng chí công an dẫn giải về đồn với lệnh tịch thu. Sự mất mát nếu có cũng chả nhằm nhò gì, bất quá thì cũng chỉ vài ba điếu thuốc Sông Cầu, vài cái vỏ bao trống không của thứ thuốc loại xịn và một ngọn đèn Huê Kỳ tù mù dùng để cho khách châm thuốc hút.

Tuy nhiên hôm nay tình hình có vẻ yên tĩnh lạ. Mấy đồng chí công an đã xuất hiện từ chiều ở cửa rạp, nhưng ngó lơ như không bao giờ bận tâm đến lũ hàng quán ngồi la liệt ở dưới gốc cây. Lý do là các đồng chí còn mải bận tâm đến một nhiệm vụ trọng đại hơn nhiều: bảo vệ an ninh cho buổi trình diễn ra mắt vở kịch NỀN SẢN XUẤT LỚN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. Điều đó có nghĩa là khách tới rạp chẳng phải thuần túy chỉ có nhân dân mua vé vào coi. Theo bản tiêu lệnh công tác bảo vệ an ninh thì có nhiều thành phần quan khách đặc biệt tới tham dự như đồng chí Quận ủy, đồng chí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận, đồng chí Ủy viên Thông tin Văn hóa, các đồng chí đại diện Công đoàn, đại diện hội Phụ nữ, đại diện hội Phụ lão, đại diện Quận đoàn Thanh niên, và rất nhiều đại diện các đoàn thể linh tinh khác. Đó là chưa kể các phái đoàn Công nhân Tiên tiến của nhiều xí nghiệp, nhiều hợp tác xã, nhiều trường học trong khu vực cũng được đặc biệt có giấy mời tham dự. Nói chung là buổi hôm nay có nhiều yếu tố quan trọng khiến bộ phận công an phải đặc biệt lưu tâm hơn là càn quét bọn buôn thúng bán mẹt vốn cũng sẵn dịp tổ chức nên bu lại để mong kiếm thêm chút lời.

Mới gần tám giờ tối, toàn thể các ghế trong rạp đã chật như nêm cối.

Ở TRONG RẠP

Đồng chí Bí thư Quận đoàn Thanh niên:
Kính chào đồng chí Quận ủy.

Quận ủy :
A! Chú Sáu! Chú cũng đi coi hả?

Đồng chí Bí thư Quận đoàn Thanh niên:
Dạ. Trình đồng chí, em đi coi để thêm nhận thức về nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa.

Quận ủy:
Phải đấy! Đây là một khâu trọng đại trong công cuộc xây dựng tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa. Các chú nên đào sâu trong lãnh vực nhận thức. Mà hình như tác giả là đồng chí ở tổ Biên kịch cấp Thành đấy có phải không?

Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa:
Dạ thưa phải! Vở kịch nầy là vở thứ hai của đồng chí ấy và đợt trình diễn nầy là đợt thao diễn để rút kinh nghiệm công tác. Sau đó sẽ đưa lên cấp Thành và có hy vọng trình diễn cả ở Trung ương nữa.

Quận ủy:
Cái đó tôi biết. Chính tôi đề nghị với đoàn ĐỒNG THÁP lấy quận ta làm thí điểm trình diễn.

Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa:
Dạ, trình đồng chí, đồng chí quyết định như vậy là sáng suốt lắm. Đề tài của vở kịch rất phù hợp với nghị quyết của Thành ủy liên quan tới công cuộc vận động nhân dân ta tiến mạnh, tiến mau, tiến vững chắc từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa. Trình đồng chí, theo chiều hướng nầy, và trong cương vị của một Ủy viên Thông tin Văn hóa, tôi cũng đang phát động chiến dịch Nếp Sống Văn Hóa Mới nhằm vận động nhân dân sống theo tác phong của nền công nghiệp, từng bước xóa bỏ tàn dư của nền sản xuất nhỏ, manh mún, tản mạn ngày xưa.

Quận ủy:
Cái đó cũng tốt thôi! Nhưng mà nầy, nhạc đâu mà chưa thấy đồng chí cho vặn lên. Đồng bào đã tới đông, trong khi chờ các diễn viên sửa soạn, phải có âm nhạc mới được chớ.

Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa:
Dạ có chớ, có chớ! Trình đồng chí, tôi đã chỉ thị đầy đủ cả, hiềm vì mấy cái loa đang gặp phải sự cố kỹ thuật. Tổ bảo trì đang phấn đấu sửa chữa, chắc chỉ ít phút nữa thôi. Để tôi đi coi lại (nói xong bỏ đi về phía cánh trái sân khấu).

TẠI CÁNH TRÁI CỦA SÂN KHẤU

Kỹ thuật viên 1:
Cái dàn ăm-li nầy chỉ có nước giục mẹ nó vô thùng rác chớ còn làm ăn được gì.

Kỹ thuật viên 2:
Nói nghe ngon không? Dàn nầy mới thay hồi đầu tháng mà, giục thùng rác sao được, cha?

Kỹ thuật viên 1:
Cậu banh mắt ra mà nhìn coi nó là dàn mới thay hay là cái dàn cũ xì từ hồỉ ông bành tổ đây nào. Thằng Ủy viên Thông tin Văn hóa nó đã đổi cha nó cái mới hồi tuần trước rồi mà cậu đâu có hay.

Kỹ thuật viên 2:
Ai cho phép nó đổi chớ?

Kỹ thuật viên 1:
Thì đi tìm nó mà hỏi. Ối chà, linh chửa, mới vừa nhắc mà nó đã thò mặt tới rồi (đổi giọng). Kính chào đồng chí Ủy viên Thông tin Văn hóa.

Đồng chí Thông tin Vãn hóa:
Các cậu làm ăn chả ra cái con mẹ gì hết. Sao giờ nầy chưa cho đĩa nhạc chạy lên?

Kỹ thuật vìên 1:
Trình đồng chí tại cái ăm-li nầy cũ quá. Hơi nóng một tí là nó rè.

Đồng chí Thông tin Vãn hóa:
Nó rè thì sửa chỗ rè…

Kỹ thuật viền 1:
Dạ, em đã sửa nó chán ra rồi, từ hồi nó còn ở nhà đồng chí, mà không hết bệnh.

Đồng chí Thông tin Văn hóa :
Ấy chớ! Cậu đừng nhắc chuyện cũ, bất tiện lắm. Bề gì thì cũng chỉ có tôi với tổ kỹ thuật biết với nhau thôi. Thôi được, rán khắc phục được đến đâu hay đến đó. Chắc cũng sắp sửa tới giờ trình diễn đến nơi, đâu có cần nhạc!!

Kỹ thuật viên 2:
Dạ, đúng đấy. Em thấy trong sân khấu đã kín mít những người là người, và em nghe thấy cả tiếng người ta đi gọi lão kéo màn để chuẩn bị kéo màn lên.

Ở CHỖ LÃO KÉO MÀN

Lão ngồi chồm hổm trên một cái thùng gỗ kê ngay sát một tấm cánh gà. Bên cạnh lão là một túm thuốc rê, cạnh túm thuốc rê là một chai nước ngọt, bên trong chai nước ngọt chẳng có nước ngọt mà là thứ rượu đế trắng nhờ cao đến ngót lưng chừng. Vậy là lão cũng đã tu khan hết ngót nửa xị rồi. Hèn chi đầu lão nóng rực. Mồ hôi đổ ra đầm đìa, đọng lấm tấm trên những cọng râu bạc. Lão thèm một cơn gió mát, nhưng bầu không khí trong hậu trường cứ mỗi lúc một ngột ngạt hơn. Người chạy qua chạy lại phía sau lưng lão rối ren như đèn cù. Thiên hạ hỏi nhau những món đồ hóa trang. Thiên hạ nhắc nhau về những đoạn cần nhấn mạnh trong vở kịch. Thiên hạ cũng cãi lộn với nhau về cả những chuyện chả ăn nhàm tới vở kịch, chả hạn như kỳ nhu yếu phẩm nầy có về hai cái vỏ xe đạp, ai lấy ai đừng, hoặc chuyện vay công mượn nợ eo xèo trả thiếu, trả trễ sao đó .Trong đám tiếng nói hỗn độn, ồn ào đó, bỗng lão nghe thấy mẩu đối thoại thì thầm ở ngay sát phía sau lưng mình:

Tiếng đàn ông:
Chết mẹ tôi rồi! Giờ nầy lão Bảy Đô chưa tới.

Tiếng đàn bà:
Không sao đâu. Chắc là lão hư xe phải đi bộ. Với lại mãi tới màn chót mới cần tới vai của lão mà.

Tiếng đàn ông:
Làm ăn cái kiểu giật gân nầy tôi đến rụng mẹ nó tim ra ngoài mất. Cô nhớ dùm tôi, hết màn đầu mà chưa thấy lão phải tức tốc cho người đi tìm ngay.

Tiếng đàn bà:
Yên trí đi. Em mới gặp lão chiều hôm qua. Lão hãy còn khỏe như voi. Chắc tại trễ đó thôi.

A! Cái lão Bảy Đô này thì lão kéo màn biết rõ. Thân nhau nữa là khác. Hai người ở xế nhà nhau, giải phóng về, cả hai ngán ngẩm nhân tình thế thái, cùng xoay ra uống rượu giải sầu. Rượu vào, lời ra, cả hai cùng đem chuyện Phường, chuyện Khóm, chuyện đoàn thể, chuyện học tập, chuyện kinh tế mới và đủ các loại chuyện khác ra than thở, chửi thề. Lão Bảy Đô bày tỏ cái mộng vượt biên vì lão có nhiều con, cháu lo được cái vụ nầy. Hồi tuần trước, Bảy Đô đã rỉ tai lão nói “tôi sắp đi! “Ờ nói là đi chứ chắc gì cứ đi là được Người ta đi hà rầm và bị bắt lại, bỏ vô tù cũng đông lển nghển”. Lão Bảy Đô biết vậy nên cũng chỉ nói vỏn vẹn có thế thôi. Lão chẳng vì chuyện ấy mà bỏ lơi công chưyện hàng ngày. Vẫn đi bới rác. Vẫn khuân những chai nước tương ở tổ hợp sản xuất đi bỏ mối lấy lời. Và mới đây, lão còn nhận lời cả với thằng cháu trong ban kịch ĐỒNG THÁP để sắm một vai phụ, chỉ cần nói đúng một câu:

Đời tao, tao hy sinh đâu phải cốt để tao hưởng, mà cốt để cho con cháu chúng nó kia kià!

Rõ ra một câu nói khẳng khái của một ông già có trình độ giác ngộ cách mạng cao, làm chết bỏ mà không hề thắc mắc, than phiền. Lão Bảy Đô nhận lời sắm vai đó cũng là có lý do. Một là nó dễ đóng, chả có gì phải nhớ nhiều. Hai là thằng cháu cách mạng sẽ phát cho lão một cái giấy chứng nhận là công nhân viên của ban kịch ĐỒNG THÁP. Thời buổi nầy, được làm công nhân viên không phải là chuyện giỡn chơi. Thằng công an khu vực có thấy cũng nể mặt. Thằng tổ trưởng An ninh tổ dân phố lại càng hết giở bộ mặt hạch xách, eo xèo, mà đến như mấy thằng bên Phường cũng không còn lấy cớ gì để đưa tên lão vào danh sách những kẻ bó buộc phải đi kinh tế mới.

Nhưng cái lợi cực kỳ hơn cả là nhờ cái giấy đó, lão có thể di chuyển dễ dàng mà không sợ bị chận xét bất tử khi đi đường. Nó đúng là bùa hộ mệnh cho lão để giúp lão vượt biên! Lão chỉ hơi ân hận là sao cái bọn tổ chức lại nhè đúng cái ngày lão phải ra sân khấu để ra hiệu cho lão lên đường. Cái nầy thì không phải do lão cố tình chơi khăm thằng cháu cách mạng. Lão có tiếc gì một câu nói:

Đời tao, tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng mà cốt để cho lũ con cháu chúng nó kia kìa!

Dễ ợt khi nói, mà cũng lãng xẹt khi nghe. Mẹ kiếp, cả nước nầy ai mà chẳng biết cứ cái kiểu cai trị thế nầy, thì con cháu, chút chít, mạt đời cũng chả bao giờ có ai được hưởng gì ngoại trừ giai cấp của lũ cầm quyền.

Buổi sáng hôm ra xe đi về lục tỉnh, lão Bảy Đô không khỏi mỉm cười khi nghĩ đến những khuôn mặt nhớn nhác của toàn thể nhân viên đoàn kịch ở phía sau hậu trường sân khấu.

PHÍA SAU HẬU TRƯỜNG SÂN KHẤU

Có hai diễn viên trẻ tuổi đứng ở cửa sổ nhìn ra khu phố chợ ồn ào. Một nam, một nữ.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
Chết chửa. Sao em thấy chóng mặt quá.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Chết! Có sao không ? Có cần bôi dầu nóng không? Chắc em trúng gió.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
Không phải đâu. Chắc là tại lúc đi, em chưa ăn gì.

Nam Diễn viên sắm vai Quý:
(trách) Đáng lẽ em phải pha một ly sữa để uống lấy sức.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
(mỉa mai) Hộp sữa bồi dưỡng em đã đổi ra thành mì sợi cho cả nhà rồi. Mà ngay cả mì sợi thì cũng đã hết nhẵn từ hôm qua!

Gã nam diễn viên sững sờ nhìn người bạn gái. Dưới ánh đèn vàng úa, khuôn mặt của nàng hiện ra vêu vao. Mặc dù nàng đã hóa trang xong nhưng lớp phấn trắng, vành môi đỏ không che giấu được vẻ xanh xao, mệt mỏi nó làm cho những bột phấn không ăn mịn vào làn da, lớp son càng đắp dầy càng hiện ra những vết nứt nẻ, rạn vỡ.

Lòng gã dâng lên một niềm xót xa vô hạn mặc dù chính gã cũng đang lao đao như nàng. Đói. Đói ở nhà. Đói ở sở làm. Đói ngay cả khi sửa soạn bước ra sân khấu. Bây giờ gã mới thấm thía cái điều mà các cơ quan tuyên truyền của nhà nước vẫn nhắc đi nhắc lạì một cách khoe khoang: “Bộ đội ta ăn no và đánh thắng”. Thì ra ưu điểm mà cái xã hội nầy mơ ước được đạt tới chỉ là được ăn no. Hơn ba mươi năm cầm quyền, hơn nửa dân số không bao giờ được ăn no. Vậy mà cũng gọi là đỉnh cao trí tuệ của loài người sao? Gã bỗng thấy nhói ở tim khi nhớ đến một lời đối thoại trong vở kịch sắp sửa trình diễn:

– Dưới sự sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đang ở trên đỉnh cao trí tuệ văn minh của loài người. Điều nầy không làm đồng chí cảm thấy hãnh diện sao?

Thật là một lời dối trá trắng trợn, bởi chính cái gã tác giả viết ra vở kịch nầy cũng chẳng tin gì điều mà hắn viết ra. Cứ nom cái vẻ mặt nhớn nhác của hắn, lúc nào cũng như tránh né tia nhìn của mọi người thì đủ rõ. Con người ấy thật xứng đáng dùng làm biểu tượng cho sự thiếu tự tin. Vậy mà hắn có gan viết kịch để xây dựng niềm tin cho mọi người. Thế là lại thêm một chuyện chéo cẳng ngỗng nữa!

Nhưng gã nam diễn viên không có nhiều thì giờ để bận tâm đến lý do làm nhói con tim gã. Cơn đói của người bạn gái trước giờ nàng phải bước ra sân khấu đã làm gã nhói tim hơn nhiều. Gã khoắng bàn tay khô khan của mình vào trong túi quần để đếm nhẩm mấy đồng bạc lẻ còn sót lại.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Anh còn mấy đồng lẻ. Để anh chạy ra cửa rạp mua cho em gói xôi.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
Thôi đi anh! Em còn rán chịu được. Mấy lại cũng hết còn ra ngoài được nữa rồi. Nghe đâu có vụ ông Bảy Đô sắm vai lão già công nhân tiên tiến cho tới giờ cũng chưa tới. Ông biên đạo (đạo diễn) đã cho lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập để ngăn chặn diễn viên chuồn ẩu ra ngoài.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Tù túng đến thế cơ à? Thôi để anh nhờ lão kéo màn, lão không là diễn viên, chắc ra được!

Ở CHỖ KÉO MÀN

Lão kéo màn vẫn còn ngồi y nguyên ở đó, duy có xị rượu đế thì đã vẹt hẳn đi, chỉ còn đâu non một đốt ngón tay. Mắt lão lim rim như đang ngủ nhưng tâm hồn của lão thì lâng lâng một cách tỉnh táo. Lão đang vận dụng trí tưởng tượng để theo dõi bước chân đi của người bạn già. Có thể bây giờ lão Bảy Đô đã xuống tới bến. Rồi từ bến lên thuyền đi ra cửa sông. Từ cửa sông đáp thuyền lớn để đi ra biển. Ôi chao! Biển cả mênh mông như chân trời tự do mênh mông mà lão sắp sửa đặt chân tới. Mới nghĩ như thế mà lão kéo màn đã hít hà, tưởng như chính mình cũng đang lênh đênh trên con thuyền trên đường vạch lau lách tiến ra biển cả.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Cụ kéo màn ơi! Cụ kéo màn ơi!

Lão kéo màn: (giật mình, mở choàng mắt ra)
Cái gì đấy! Tới giờ rồi hả?

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Chưa tới! Nhưng cháu nhờ cụ ra cửa mua giùm gói xôi. Tội nghiệp cô diễn viên, nhà hết gạo, lúc đi trình diễn chưa ăn gì, bây giờ lao đao quá !

Lão kéo màn:
Đi mua thì dễ, mà chỉ hiềm lúc bỏ đi, tới giờ kéo màn không có mặt thì lãnh búa hết!

Tiếng loa phóng thanh:
Đã tới giờ khai mạc! Xin mời toàn thể các đồng chí, đồng bào đứng dậy để làm lễ chào cờ !

Ông biên đạo: Kéo màn lên! Kéo màn lên !

Lão kéo màn vội vã đứng dậy, hai bàn tay sần sùi và thô kệch của lão túm lấy sợi dây thừng treo lủng lẳng ở phía trước mặt. Lão vận dụng hơi sức của mình để níu sợi dây xuống. Tấm màn nhung cũ kỹ có nhiều vết nứt rạn từ từ cuộn lên. Rồi có tiếng rọt rẹt của dàn âm thanh đặt ở bên cánh trái sân khấu. Chen vào giữa những tiếng rọt rẹt là những tiếng rít rít nghe nhức tai. Rồi bản Tiến Quân Ca được phóng ra bằng một giọng ồm ồm, có lúc khụt khịt như bị ngạt mũi, lại cũng có lúc chìm đi như muốn tắt tiếng. Sự kiện nầy làm cho đám khán giả tuy cố làm bộ điệu trang nghiêm lúc chào cờ nhưng không khỏi bụm miệng cười. Chỉ riêng ở hàng ghế đầu, nơi dành cho quan khách là có những ánh mắt giận dữ, tức tối.

TẠI HÀNG GHẾ ĐẦU

Đồng chí Quận ủy (thì thào):
Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa đâu?

Ủy viên Thông tin Vãn hóa:
Trình đồng chí. có em đây.

Quận ủy:
Ngày mai đồng chí đem hồ sơ lý lịch của mấy thằng trông coi Tổ kỹ thuật lên tôi để đích thân tôi coi lại. Chúng nó có ý đồ phá hoại!

Ủy viên thông tin văn hóa.
Dạ… dạ… xin tuân lệnh đồng chí.

Dù sao thì bản Tiến Quân Ca cũng đã được chơi xong. Mọi người ngồi xuống. Tiếng ồn ào bắt đầu nổi lên, nhất là phía hàng ghế khán giả.

TẠI HÀNG GHẾ KHÁN GIẢ

Nhiều tiếng nói cất lên, không phân biệt được ai với ai :

– Âm thanh kiểu này thì còn kịch với cọt cái gì nữa.

– Thôi đi mà người anh em, rán khắc phục cái lỗ tai giùm chút. Mình đang ở thời kỳ quá độ mà.

– Quá độ đâu ở cái dàn âm thanh cha nội! O ép nó quá thì nó phá bĩnh, có gì đâu!

-Nói đúng đó! O ép người ta thì được, o ép máy thì không xong. Không lẽ bắt cái máy đi học tập cải tạo!

Một tràng rộ lên cười làm cả một góc rạp ồn ào như vỡ chợ khiến cho tất cả mọi người đều quay lại nhìn. Ngay lúc đó, ở trên sân khấu, ông biên đạo hùng dũng bước ra. Một tay ông ấy cầm một xấp bản thảo vở kịch, ý chừng muốn chứng tỏ lúc nào ông cũng bận rộn, chăm sóc đến từng diễn viên, nhắc nhở từng điệu bộ, từng câu nói. Còn tay kia thì ông ấy cầm một cái micro chạy bằng pin. Cái máy đeo lủng lẳng trên một bên vai còm cõi, nó làm cho thân hình của ông lệch hẳn đi, nhưng cũng nhờ thế nó càng chứng tỏ vai trò quan trọng của ông trong những giờ phút trọng đại như thế này.

TRÊN SÂN KHẤU

Ông biên đạo:
Kính thưa đồng chí Quận ủy, kính thưa các đồng chí đại diện các Ban, Ngành, các Đoàn thể, kính thưa toàn thể nhân dân đồng bào… thay mặt ban tổ chức chúng tôi hết sức thành thật xin cáo lỗi về vụ âm thanh có sự cố kỹ thuật. Chúng tôi đang cố gắng khắc phục để đảm bảo tốt cho chương trình trình diễn… Bây giờ tôi xin trình bầy sơ lược về nội dung và ý nghĩa vở kịch…

Ở TRONG HẬU TRƯỜNG

Ông trưởng đoàn Đồng Tháp:
Ai thế? Ai đại diện ban tổ chức ra sân khấu mà nói thế?

Ông phó trưởng đoàn:
Trình đồng chí, đấy là tiếng của ông Biên đạo.

Ông trưởng đoàn:
Cái thằng lanh chanh hớt việc không phải chỗ! Nó đâu có quyền giẫm chân lên cương vị của người khác. Cáo lỗi về sự cố kỹ thuật của buổi trình diễn là phần hành của tôi, bởi vì tôi trách nhiệm toàn bộ buổi trình diễn này…

Ông phó trưởng đoàn:
Trình đồng chí, tôi nhất trí với ý kiến của đồng chí phát biểu. Sau đồng chí là đến tôi chứ đâu đã đến thứ nó.

Ông trưởng đoàn:
Tôi biết nó muốn lấy điểm với đồng chí Quận ủy. Tôi sẽ đem vụ nầy ra kiểm thảo. Chớ làm ăn theo kiểu manh mún, tản mạn này thì đâu còn là tác phong của nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa.

Đồng chí lao công:
Trình đồng chí thủ trưởng, dàn âm thanh mới đã tới.

Ông trưởng đoàn (reo lên):
Hay quá! Ở đâu ra thế? Ai cho mượn thế ?

Đồng chí lao công:
Dạ, của ông Ủy viên Thông tin Văn hóa.

Ông trưởng đoàn:
À ra thế! Phải có tinh thần một người vì mọi người như thế mới xứng đáng là con người mới Xã hội Chủ nghĩa chứ. Chả trách ông ấy được cấp trên giao phó đảm nhiệm chức vụ Thông tin Văn hóa. Còn thằng cha biên đạo, nó vẫn còn nói lảm nhảm cái gì trên sân khấu thế ?

TRÊN SÂN KHẤU

Ông biên đạo:
(vẫn thao thao) Vâng, thưa các đồng chí, con người mới Xã hội Chủ nghĩa là con người được hình thành và được phát triển thông qua ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, và cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng tư tưởng và văn hóa là then chốt. Trên cơ sở đó, ba cuộc cách mạng càng phát triển sâu rộng và thu được nhiều thành quả thì con người mới Xã hội Chủ nghĩa càng phát triển toàn diện, đồng thời tác động trở lại khiến cho ba cuộc cách mạng được thúc đẩy thêm, được phát triển thêm không ngừng…

Ông ta vừa nói vừa nhìn xuống phía hàng ghế khán giả, nói cho đúng hơn, nhìn xuống cái chỗ mà đồng chí Quận ủy đang ngồi. Có thể ông ta sẽ tiếp tục khai triển thêm về cái ý đang nói hơn nữa, nhưng bất ngờ, ông ta bắt gặp đồng chí Quận ủy giơ tay che miệng ngáp. Thế là như một nhân tố có khả năng rất nhạy bén về những tác động khách quan bên ngoài, ông biên đạo đổi ngay đề tài đang nói và sự đổi thay nầy hầu như làm cho cả rạp tỉnh hẳn ngủ.

Ông biên đạo:
Để nói lên được cái ý nghĩa vô cùng sâu xa đó, sau đây chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với các đồng chí, các đồng bào màn đầu của vở kịch nhan đề NỀN SẢN XUẤT LƠN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA do đoàn kịch ĐỒNG THÁP trình diễn, với thành phần diễn viên nòng cốt Thu Lan trong vai Hồng, Năm Bửu trong vai Quý, Mạnh Hoàng trong vai Huy…

Những tràng vỗ tay tán thưởng đồng loạt nổi lên làm át cả lời giới thiệu của ông ta đến nỗi cả một đoạn sau, chả còn ai nghe ông ta nói cái gì. Rõ ra là đồng bào hoan nghênh về sự kiện đã tới lúc chấm dứt phần nói chuyện vừa dài, vừa dai lại vừa dở của ông biên đạo. Ông ta có vẻ cụt hứng, lùi lũi đi vào hậu trường quên cả cúi đầu chào quan khách và khán giả.

TẠI HẬU TRƯỜNG

Ông phó trưởng đoàn đứng chặn ngang lối đi vào của ông biên đạo. Hai người đứng đối diện ngay ở bên cạnh lão kéo màn.

Ông phó trưởng đoàn:
Đồng chí nói thao thao nhưng đồng chí quên mất rằng đã giẫm chân lên cương vị của đồng chí trưởng đoàn.

Ông biên đạo:
Đó là lý do ngoài ý muốn. Lúc có sự cố kỹ thuật về âm thanh, khán giả nhao nhao lên, mà ông ấy biến đi đâu, đâu có mặt để giải quyết. Trong tình huống ấy, tôi phải tranh thủ thời gian để linh động chớ!

Ông phó trưởng đoàn:
Đồng chí ấy ở quanh đây chứ có đi đâu! Mà sau đồng chí trưởng đoàn còn có tôi chớ dâu đến lượt ông. Làm ăn lộn xộn theo kiểu cứt lộn lên đầu, đâu có được!

Ông biên đạo:
A! Đồng chí xỏ lá nhé. Đồng chí nói ai là cứt lộn lên đầu. Tôi sẽ lôi đồng chí ra hội đồng liên tịch để kiểm thảo.

Ông phó trưởng đoàn:
Tôi sẽ kiểm thảo nhà anh trước. Để sau buổi trình diễn này anh sẽ biết !

Ông trưởng đoàn (hớt hải chạy tới):
Chết chửa! Sao giờ này lão Bảy Đô vẫn chưa tới. Đã có ai cử người tới gọi lão ấy chưa?

Ông biên đạo:
Tôi đã cho người đi gọi rồi nhưng chưa thấy về. Đạp xe từ đây tới đấy ít lắm cũng nửa giờ.

Ông trưởng đoàn:
Sao lại đạp xe! Có xe gắn máy của cơ quan sao không lấy mà xài. Chuyện khẩn cấp!

Ông biên đạo:
Trình đồng chí, cái xe hết xăng, bên tiếp liệu chưa cấp phát.

Ông trưởng đoàn:
Sao mà hết xăng sớm thế. Mới xuất ra ba lít ngày hôm kia. Ô! Thế nầy thì tệ thật, tôi phải rà lại toàn bộ cung cách làm việc của các đồng chí. Làm ăn kiểu này thì đâu còn là tác phong của con người mới Xã hội Chủ Nghĩa.

Ông phó trưởng đoàn:
Nếu lão ấy không tới, mình tước bỏ một vai được không?

Ông biên đạo (la lên):
Ông nói chuyện giỡn chơi! Toàn bộ các diễn viên gắn bó hữu cơ với nhau, bỏ đi một vai là toàn bộ vở kịch sụp đổ hết, đâu có thể thế được.

Ông phó trưởng đoàn
:
Ông cứ quan trọng hóa vấn đề, chứ lão Bảy Đô chỉ sắm có mỗi một vai phụ.

Ông biên đạo:
Vai phụ có chức năng của vai phụ. Nếu vai phụ bỏ đi được thì còn ai dựng lên nhân vật ấy làm gì. Ơ kia kìa! Có ông tác giả đang tới. Ông hỏi ông ta bỏ đi một vai phụ có đặng không. Nếu đặng, tôi sẵn sàng đồng ý liền.

Ông phó trưởng đoàn:
Ấy là tôi góp ý để giải quyết vấn đề thôi. Nói cho ngay, phút chót mà lão Bảy Đô không tới thì ông có muốn giữ vai phụ cũng chả có ai mà giữ.

Ông biên đạo:
Đây này, ông tác giả! Ý kiến ông thế nào về việc tước bỏ đi một vai trong vở kịch của ông?

Ông tác giả (nhún vai):
Cái đó đâu thuộc thẩm quyền của tôi. Ông là biên đạo, ông chịu trách nhiệm hết.

Ông biên đạo (to tiếng):
Ơ hay! Sao lại tôi nhỉ. Nhân vật do ông đẻ ra thì ông phải biết bảo vệ nó chứ.

Đồng chí bảo vệ (ở đâu chạy tới, cố hạ giọng xì xào):
Suỵt! suỵt! Chuyện đẻ đái ai lại đem ra ở đây. Các đồng chí to tiếng làm mất trật tự hậu trường ảnh hưởng đến diễn viên ngoài sân khấu. Xin im lặng dùm đi !

NGOÀI SÂN KHẤU.

Vai Hồng:
Má bình tĩnh để con nói má nghe. Cái máy khâu khác với cái tủ lạnh. Cái tủ lạnh không làm ra của cải vật chất, còn cái máy khâu thì có thể làm ra sản phẩm. Vì thế cái máy khâu mới gọi là tư liệu sản xuất.

Vai má của IIồng:
Chả tư liệu tư lẹo gì hết ráo. Hồi nào tới giờ, tao vẫn để cái máy khâu ở nhà, có chết ai đâu.

Hồng:
Hồi xưa khác, hồi nay khác. Hồi xưa, chế độ tư bản bóc lột và bần cùng hóa nhân dân. Hồi nay, chế độ ta xóa bỏ bóc lột và các nguyên nhân sinh ra bóc lột để thỏa mãn nhu cầu ấm no hạnh phúc của nhân dân. Như má giữ làm của riêng cái máy may, một tư liệu sản xuất là một hình thức của nguyên nhân sinh ra bóc lột.

Má của Hồng:
Của tao, tao không giữ thì đem ném nó ra đường à?

Hồng:
Ai biểu má ném nó ra đường. Má đem nó vô tổ hợp để cùng quản lý chung, điều hành chung. Đó là ý niệm làm chủ tập thể Xã hội Chủ nghĩa.

Má của Hồng:
Cha chung chẳng ai khóc. Điều hành kiểu đó thì chỉ có đói rã họng ra thôi.

Câu nói “đói rã họng” của người đối diện khiến cho diễn viên sắm vai Hồng vụt quay về với cơn lao đao, cào xé của mình… Nàng cảm thấy chóng mặt và có những vân hoa nhảy múa trong cái nhìn của mình về phía trước. Nàng cố trấn tĩnh để giữ vững thế đứng của mình. Đáng lẽ ra sau câu nói “cha chung chẳng ai khóc. Điều hành kiểu đó thì chỉ có đói rã họng ra thôi” là nàng phải lớn tiếng biểu lộ sự phẫn nộ trước lời phát biểu đầy tính cách phản động, tiêu cực của người sắm vai má của Hồng. Nhưng nàng cố vận thêm hơi sức mà sinh lực của nàng cứ tiêu tán đi tận đâu. Đã nhiều hôm nàng nhịn đói, nhưng chưa bao giờ cơn đói lại vật vã nàng ghê gớm đến như lúc này.

Có lẽ nàng đã vận dụng quá sức trong những buổi tập dượt. Có lẽ cơn hồi hộp, xúc động trước giờ ra sân khấu đã càng khiến cho nàng thêm kiệt lực. Nàng như một con quay sấp hết đà. Nàng tự nhủ không cố thêm một tí nữa thì chắc chắn mình sẽ ngã quỵ, ngay ở đây, trên sân khấu và tại thời điểm nàng phải diễn xuất một câu nói mấu chốt:

Tư tưởng của má là tưởng manh mún, tản mạn, xuất phát từ sự bắt rễ lâu dài của nền sản xuất nhỏ trong chế độ thoát thai từ phong kiến, thực dân và tư bản bóc lột. Má phải thấy rằng Đảng đã mở ra cho nhân dân ta một chân trời mới, chân trời của nền đại công nghiệp Xã hội Chủ nghĩa dựa trên cơ sở điện khí hóa, hóa học hóa, từng bước tiến lên tự động hóa và có khả năng sử dụng mọi thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật hiện đại…

Một câu nói dài như thế đòi hỏi ở nàng rất nhiều sinh lực. Nàng cố trấn tĩnh cơn cào xé của nàng để tập trung hơi thở. Hai tay nàng bấu lấy mép bàn. Mồ hôi đang vã ra ở những chân tóc. Nàng thấy rõ hai chân của mình run rẩy. Sự chậm trễ của nàng gieo vào vở kịch một khoảng trống. Một khoảng trống tai hại sau câu nói tai hại của diễn viên sắm vai má của Hồng. Cả rạp nín thở chờ đợi phản ứng của nàng. Để càng lâu sẽ càng tệ hại. Một ý tưởng phản động phát ra từ miệng lưỡi một nhân vật, nếu không chặn lại kịp thời thì nó sẽ tác động như những mũi dao phóng vào tim khán giả.

Cha chung không ai khóc. Điều hành kiểu đó thì chỉ có đói rã họng ra thôi.

Gã nhắc vở tưởng nàng quên, vội vã đọc lên:

Tư tưởng của má là tư tưởng manh mún, tản mạn…

Nhưng gã chưa kịp nhắc thêm thì người nữ diễn viên sắm vai Hồng đã buột ra mồm một câu nói hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn đi ra ngoài phần đối thoại của vở kịch:

Má phản động lắm! Thôi con nhức đầu lắm, con không thèm nói với má nữa…

Nói rồi nàng sầm sầm chạy ra và ngã quỵ ngay ở dưới chân lão kéo màn.

CHỖ LÃO KÉO MÀN

Ông biên đạo (sầm sầm chạy lại):
Sao lạỉ thế ! Sao lại thế! Phát ngôn như thế là chết mẹ thằng tôi rồi!

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Cô ấy xỉu! Cô ấy xỉu !Không nói như thế thì làm sao mà rút ra khỏi sân khấu được!

Ông biên đạo:
Thằng diễn viên vai Bố của Hồng đâu! Đi ra! Đi ra tiếp nối vở kịch không thì chết mẹ cả lũ bây giờ.

Vừa nói ông ta vừa túm ngay được đúng người diễn viên đang đứng lớ quớ ở gần đó. Thế là ông ta đẩy phắt người này ra sân khấu, mặc dù anh ta chả biết ất giáp cái gì cả. Thôi thì đành cương một đoạn chứ biết làm sao!

NGOÀI SÂN KHẤU

Bố của Hồng:
Mẹ con bà này cãi nhau cái gì mà nó sầm sầm bỏ ra đến té xỉu như chết rồi thế?

Má của Hồng:
Ơ! Nào tôi có làm cái gì đâu. Nó đang nóì với tôi, chuyện chưa ra đâu vào đâu thì nó kêu nhức đầu.

Bố của Hồng:
A! thế ra là tại nó nhức đầu! Nhà có thuốc men gì cho nó uống không?

Má của Hồng:
Thuốc men còn khỉ gì nữa mà cho uống. Bảo nó chịu khó gượng dậy ra Y tế Phường từ sáng sớm mà xếp hàng…

Ở CHỖ NGƯỜI NHẮC VỞ

Người nhắc vở :
Vô đề trở lại đi! “Tôi muốn nói với bà về chuyện cái máy may…”

TRÊN SÂN KHẤU

Bố của Hồng:
Thôi chuyện y tế Phường hãy dẹp qua một bên đi. Xếp hàng cho cố vào thì cũng chỉ có một trái ổi với ba nhánh tỏi! Nó nhức đầu vài ba bữa thì cũng hết. Tôi muốn nói với bà về chuyện cái máy may.

Má của Hồng:
A! Ông về mà coi đấy. Nó đang dụ dỗ tôi đem cái máy may cúng vào tổ hợp. Ông có biết rằng mất cái máy may là chết đói cả nhà hay không!…

Ở CHỖ NGƯỜI KÉO MÀN

Ông biên đạo (thở phào):
Ôi chao! Nhờ ơn Bác, nhờ ơn Đảng, thế là chúng nó “nối” được với nhau rồi.

Ông trưởng đoàn:
Bên Phường ủy họ không tha cho ông đâu. Diễn viên của ông đụng chạm đến Y tế Phường.

Ông biên đạo:
Ô hay! Sao lại là lỗi của tôi mà nói chuyện tha hay không tha. Những cái gì liên quan đến vở kịch thì ông phải hỏi đến tác giả kia chớ!

Ông tác giả:
Sao lại là tôi nhỉ! Kịch bản của tôi đâu có cái vụ y tế Phường với y tế phèo ở chỗ nào đâu.

Ông phó trưởng đoàn (chen vào):
Thôi, xin quý vị hãy bớt tranh luận để lo chuyện trước mắt. Vai Hồng còn nguyên một màn nữa mà quị kiểu nầy chỉ có nước rã gánh. Mà ông biết làm sao không? Tại cô ấy đói!

Ông tác giả:
Làm sao ông biết?

Ông phó trưởng đoàn:
Anh chàng đóng vai Quý cho tôi hay điều đó. Tôi đang chờ ông Trưởng đoàn cho lệnh xuất ngân ra đằng trước cửa mua một tô mì cho cô ấy bồi dưỡng.

Ông trưởng đoàn:
Một tô mì chớ mười tô mì tôi cũng chịu nữa. Con khỉ! Có mỗi chuyện đó mà cũng phải chờ lệnh xuất ngân. Ai có tiền túi ứng giùm ra trước đi.

Ông phó trưởng đoàn:
Vâng! Vâng! Tôi sẽ đi ngay! Mười tô thì không đủ chớ năm tô thì tôi có!

Ông biên đạo:
Thế còn lão Bảy Đô đã tới chưa?

Một anh lao công:
Dạ thưa chưa! Chắc ông ta trốn biệt mất rồi.

Ông biên đạo:
Thế là chết cha tôi rồi. Bây giờ lấy ai mà thay thế được đây.

Ông trưởng đoàn:
Nhờ lão kéo màn được không?

Ông biên đạo:
Hay! Ý kiến hay đó. Này cụ kéo màn ơi. Tôi nhờ cụ ra phía phòng hóa trang tôi nhờ chút.

Lão kéo màn:
Rồi ai kéo màn cho tôi?

Ông trưởng đoàn:
Tôi! Tôi đích thân kéo!

TRONG PHÒNG HÓA TRANG

Ông biên đạo:
Như cụ thấy đó, lão Bảy Đô bỏ đi mất tiêu rồi!

Lão kéo màn (cười đắc ý):
Tôi cũng đồ chừng như vậy. Mà điều chưa chắc thì đừng đổ tiếng oan cho con nhà người ta.

Ông biên đạo:
Nhờ cụ thay thế được không?

Lão kéo màn:
Ới cha mẹ ơi! Ông nói cái gì nghe động trời vậy nè. Tôi mà thay thế lão ta để làm diễn viên.

Ông biên đạo:
Có gì đâu! Vai này chỉ nói có mỗi một câu thôi. Thế này này (ông đổi giọng sảng khoái) “ Đời tao tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng, mà cốt để con cháu chúng nó kia kìa!”

Lão kéo màn:
Nói một câu đó thì có gì là khó!

Ông biên đạo:
Thì thế! Cũng như là trò giỡn chơi. Ông rán tập sự đi. Biết đâu lại chẳng trở thành diễn viên thực thụ.

Lão kéo màn:
Thôi đi ông ơi, từ thuở nào tới giờ tôi vẫn chuyên nghề kéo màn.

Ông biên đạo:
Nhưng ông cũng vẫn nhận cho chứ! Ít ra là hôm nay.

Lão kéo màn:
Tôi nhận chứ sao không! Chả lẽ lão Bảy Đô làm được mà tôi không làm được.

Ông biên đạo nghe nói hớn hở bỏ đi ra. Trong khi đó lão kéo màn soi mặt mình ở trong gương. Mặt lão đỏ ké. Xị rượu lúc chập tối đã cạn queo và lão đang nhấp nhỏm muốn cưa thêm một xị nữa. Có ít tiền để dành dưỡng già, lão cứ bòn rút kiểu này chắc mai mốt nhăn răng ra mất. Nhưng bao giờ thì lão cũng tắc lưỡi buông một câu “Ôi thời buổi nầy ham hố cái gì mà sống tới già. Để nhường cơm lại cho lũ con cháu! “. Thế là lão lại rút một tờ giấy bạc để đổi lấy một chai cỡ chai xá xị con cọp. Hôm nay lại có thêm cớ sự để lão muốn uống say mềm ra hơn nữa. Bởi lão Bảy Đô đã ra đi. Giờ này hẳn lão đã ngồi đâu đó trên một con thuyền đang chòng chành ra khơi. Chung quanh là biển. Chân trời tự do chắc chắn ở phía trước mặt. Như thế thì câu nói của lão lúc nãy đã là sai. Có những điều Bảy Đô làm được, mà lão làm không được. Lão thấy buồn xót xa trong lòng. Lão bèn bỏ ra ngoài cửa rạp để mua lén thêm một xị nữa. Sau đó lão trở lại căn phòng hóa trang, ngồi xệp xuống mặt sàn, ngửa cổ tu ừng ực.

TRÊN SÂN KHẤU

Diễn viên lúc này đã xuất hiện hầu như đầy đủ các nhân vật. Cảnh bây giờ là quang cảnh của một khu vực trong Hợp tác xã. Cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ Hợp tác xã đã đến hồi kết thúc. Dĩ nhiên phần thắng nghiêng về phe Công đoàn cơ sở. Mọi tàn dư của nền sản xuất nhỏ thông qua những loại tư tưởng tiêu cực, manh mún, tản mạn đều bị đánh gục trước khí thế của những công nhân viên trẻ, những người chủ trương công cuộc cách mạng quan hệ sản xuất để làm bàn đạp đưa cả nước tiến lên nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa.

Ở một góc sân khấu, có hai chị công nhân đang giơ cao lá cờ tiên tiến trên một cái máy cày. Cái máy cày làm bằng carton, tuy có xô lệch méo mó nhưng cũng đầy đủ bộ phận chủ yếu: Có cần lái, có bánh xe, có cả một cái loa chạy bằng pin để thông tin, liên lạc. Riêng cái loa này thì là thứ thiệt, mượn của ông Biên đạo. Tác giả vở kịch, muốn đẩy bầu không khí phấn khởi thêm một mức nữa nên đã dàn dựng thêm một xen cuối cùng, trong đó lão công nhân tiên tiến xuất hiện với một cái xe cút kít có càng đẩy. Lão chở đầy một xe đá gạch. Lão giơ tay vẫy chào đoàn công nhân lái xe máy cày đi qua, một biểu tượng của tương lai nền Đại Công nghìệp Xã hội Chủ nghĩa. Và đó là lý do lão nêu câu phát biểu:

Đời tao, tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng, mà cốt để con cháu chúng nó kia kìa!

Bây giờ thì đã tới phiên lão kéo màn xuất hiện trong vai trò của mình. Lão ngật ngưỡng bước ra trong bộ quần áo cũ kỹ cố hữu. Một tay lão phì phèo điếu thuốc rê. Tay kia lão xách cái càng xe chất đầy một đống gỗ với gạch thẻ. Lão thấy vui vui với cái trò chơi bất ngờ lý thú nầy. Lão liếc mắt nhìn xuống sân khấu. Cả rạp tối om om, nhưng vẫn gây cho lão cái cảm giác có cả trăm, cả nghìn con mắt đổ dồn về phía lão. Trong đám bà con khán giả này, có ít lắm thì lão cũng biết được hoàn cảnh của năm bảy chục gia đình. Nhà này có thân nhân đi cải tạo. Nhà kia bị đuổi về kinh tế mới, sống không nổi lại tiếp tục mò về, mất nhà, mất cửa. Có đứa đang phải bán thân nuôi gia đình. Có những đứa khác đã lên đường đi Kăm-pu-chia. Nói chung là ai cũng mất mát chỉ trừ một thiểu số phè phỡn ở ngay kia, trên hàng ghế đầu, những tên Quận ủy, Phường ủy, những những chủ nhiệm Hợp tác xã, những thủ trưởng các cơ quan quản lý của nhà nước.

Lão bỗng nhác trông thấy người nữ diễn viên sắm vai Hồng. Bây giờ thì nàng đã có vẻ tỉnh táo hơn và đang đứng trên một bục cao, tay phất phơ cầm một lá cờ. Lão tự nghĩ nếu không có một tô mì, chắc hẳn nàng đã gục hẳn ngay từ giữa vở kịch. Thế mà mỉa mai thay, nàng vẫn phất ngọn cờ tiên tiến, vẫn gân cổ lên để động viên mọi người đi theo cái chế độ đã đem lại cho nàng những cơn đói triền miên ngay cả trước giờ tiến lên sân khấu. Thật là kịch cỡm! Mọi sự xảy ra ở đây thật đúng là chỉ xảy ra ở một vở kịch, ngoại trừ cơn đói của Hồng và sự ra đi của lão Bảy Đô là sự thật.

Nghĩ như thế, lão kéo màn thấy cơn giận bỗng ùa lên một cách nhanh chóng. Lão giận cái thằng tác giả ăn gian nói dối về những sự thực xẩy ra ở chung quanh mình. Là một đứa cầm bút, đáng lẽ nó phải viết lên những điều chân chính, ngay thẳng chứ? Đó là một điều đòi hỏi giản dị và rõ ràng nhất khi người ta vốn đặt những kẻ viết lách vào những chỗ trang trọng hơn bất cứ vị thế nào của xã hội ở trong lòng mọi người.

Nếu không đủ can đảm để nói ra sự thực, thì không ai bắt buộc nó phải cầm bút cả. Nó có thể đi bán rong, đi làm cu li hoặc đi kéo màn như lão. Như thế, ít ra sự lương thiện của nó cũng không làm cho những nỗi lầm than, khổ ải trong cuộc sống nầy bị che giấu bởi những lời tô vẽ viển vông. Và như thế, nó cũng không đến nỗi tồi tệ đến trở thành những phản động lực làm trì trệ xã hội, tạo thêm cơ hội cho những kẻ có quyền thế mặc sức hưởng thụ trên những nỗi đói khổ, cơ cực của tất cả mọi người.

Từ ý nghĩ này, lão chợt phát giác ra rằng những bài thơ, những bản nhạc, những cuốn tiểu thuyết, và ngay cả vở kịch đang được trình diễn trên sân khấu này, tất cả chẳng phải là một món giải trí cho qua đi những cơn phiền muộn, đau đớn hàng ngày. Nó chính là những duyên cớ của đau đớn, phiền muộn, hay ít ra cũng là những chỗ che giấu, đùm bọc, và nuôi dưỡng để cho những đau đớn ấy, những phiền muộn ấy có cơ hội kéo dài. Nó là đồng lõa của những bất công, những chèn ép, những bóc lột và những thủ đoạn bạo lực.

Trời ơi! Trời ơi! (Lão nghĩ tiếp) Thế thì ra tội ác không chỉ đơn phương phát xuất có mỗi một phía là ở ngay từ những kẻ gây ra tội ác, mà nó còn được nuôi dưỡng, tiếp tay và hỗ trợ từ những kẻ ăn gian nói dối, những đứa nịnh nọt, bợ đỡ, sẵn sàng chịu quỵ lụỵ phục vụ để cầu xin một chút quyền lợi cá nhân riêng tư. Chính từ những kẻ đó, chính từ những thái độ hèn hạ đó mà tội ác đã được tô son vẽ phấn để tiếp tục ngự trị lên đầu lên cổ tất cả mọi người.

Đầu óc lão kéo màn cứ ngùn ngụt những ý tưởng liên tiếp diễn ra ở trong đầu. Điều nầy khiến cho lão đứng khựng lại ở trên sân khấu. Lão như kẻ đang lần mò trong đêm tối bỗng chóa mắt vì những luồng ánh sáng vừa lóe ra ở cuối đường hầm. Lão nhận chân được ra rằng tâm hồn lão đang lảo đảo trong một cơn say, nhưng nhất thiết không phải lão đã say vì mấy cút rượu vừa qua. Lão ngẩng cao đầu để nhìn ngạo nghễ về phía khán giả lố nhố ở dưới. Bây giờ, rõ ràng nhất, lão chỉ thấy cái đám đông ấy chỉ toàn là những nạn nhân, mỗi người có một hoàn cảnh, mỗi kẻ mang một số phận bi thảm. Như vậy lão không thể đồng lõa với những kẻ nói dối. Lão ném ngay mẩu thuốc rê xuống sàn bằng một điệu bộ hách dịch để làm cường điệu thêm cho vẻ ngạo nghễ của mình.

Tiếng người nhắc vở :
Nói đi cha! “Đời tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng…”

Câu nói như một gợi ý làm cho lão chợt thấy hăng hái hẳn lên. Lão nhếch một nụ cười vì một ý tưởng chợt thoáng qua trong đầu. Rồi lão nhìn về phía Hồng, lại nhìn về phía khán giả. Rồi lão cất giọng rổn rảng:

Đời tao hy sinh tao đâu có được hưởng…đấy là chỉ để cho bè lũ chúng nó ở ngay chỗ kia kìa!

Cánh tay của lão hoa lên. Bàn tay của lão xỉa về phía hàng ghế đầu nơi có đông đủ tai to mặt lớn của chế độ. Thế là cả rạp chợt như muốn nổ tung lên vì tiếng vỗ tay, tiếng reo hò, tiếng hoan hô của đám khán giả.

Ở TRÊN SÂN KHẤU

Mọi sắp xếp theo thứ tự chỗ đứng cũng bỗng nháo nhác cả lên. Hầu như tất cả mọi người đều bàng hoàng như vừa bị nghe một tiếng sét nổ ngang đầu, ngay giữa lưng chừng trời. Ông trưởng đoàn tức tốc tự tay buông cái màn xuống. Ông biên đạo hò hét trong hội trường loạn xạ:

– Nhạc đâu? Nhạc đâu? Cho trỗi lên đi!

Nhưng hình như trong cơn hỗn loạn, chẳng còn ai nghe thấy lời hò hét của ông cả. Trong hội trường chỉ thấy vang lên những tiếng cười ròn rã. Có kẻ vỗ tay loạn xạ. Có kẻ huýt gió ầm ĩ. Cũng có những giọng quyền uy nói lạc cả tiếng giữa những âm thanh ồn ào:

– Công an đâu? Công an đâu? Làm việc! Làm việc!…

Chỉ riêng có ông tác giả là như một kẻ thất thần. Mặt ông ta nhược hẳn ra. Ông có điệu bộ như một kẻ làm trò ảo thuật nhưng do vụng về đã bị đám đông lột mặt nạ ngay trên sân khấu trình diễn. Trong một cử chỉ cố gắng cuối cùng, ông ném tập bản thảo xuống sàn gỗ và đi một cách thiểu não vào phòng hóa trang. Còn lão kéo màn cũng khật khưỡng rời bỏ chỗ đứng để đi vào hậu trường. Lão nhớ đến xị rượu còn để cạnh tủ gương trong phòng hóa trang. Hai người đụng đầu nhau ở đó một cách vô tình.

TRONG PHÒNG HÓA TRANG

Lão kéo màn:
A! Ông tác giả! Xin lỗi ông nhé. Cái vụ nầy không phải lỗi ông. Tôi tự biên tự diễn mà.

Tác giả:
Hay lắm! Hay lắm! Tuyệt!

Lão kéo màn (ngơ ngác):
Cái gì hay lắm? Cái gì tuyệt?

Tác giả:
Đoạn cuối của vở kịch đó! Hay nói cho đúng hơn, đoạn cuối của buổi diễn kịch ngày hôm nay đó. Cụ đã đem lại cho vở kịch một sự thật. Và rằng dù chỉ là một sự thật cỏn con, duy nhất, qua câu nói ngắn ngủi của cụ cũng đủ làm sụp đổ tan tành cả một công trình dối trá, giảo hoạt.

Lão kéo màn:
Đó là điều mà tôi phải xin lỗi ông. Ông đâu có viết sự thực. Ông chỉ viết kịch để mua vui thôi mà.

Tác giả:
Thì từ trước đến nay, tôi cũng có cùng một ý nghĩ đó như cụ. Nhưng hôm nay, chính cụ đã dạy cho tôi và những kẻ cầm bút như tôi một bài học. Đó là trò chơi mua vui không bao giờ đồng nghĩa với dối trá cả. Mua vui mà dối trá đó là một tội, viết lách mà dối trá còn là một tội to hơn.

Lão kéo màn (ngơ ngác):
Ông nghĩ như thế mà ông không sợ à?

Tác giả:
Ở trong cái xã hội tồi tệ này, muốn trở thành một con người đàng hoàng, người ta đều phải trả giá! Một kẻ cầm bút còn phải trả giá đắt hơn nếu muốn cầm bút trung thực.

Lão kéo màn (nhìn ra cửa sổ thấy lố nhốxuất hiện bóng dáng của những người công an, bất giác cười khà):
Như tôi chẳng hạn! Tôi bắt đầu phải trả giá đây!…

Tác giả (quay lại, nhìn sững ra phía cửa, rồi nắm vội lấy bàn tay sần sùi của lão kéo màn, nói ngậm ngùi):
Cụ kéo màn ơi! Muốn cho đất nước này qua khỏi cơn điêu tàn, ai cũng phải trả giá… ai cũng sẽ phải trả giá cả…

Santa Ana tháng 3/1986
NHẬT TIẾN

( trong tập truyện ngắn Cánh Cửa,
Thời Văn ấn hành năm 1990)

Mười Năm Đủ Làm Khó Đời Nhau. Thơ Hư Vô


image

Giữ làm chi những gì đã mất
Cho nợ nần làm khó đời nhau
Đêm nằm thao thức cùng chăn gối
Mười năm cũng đủ để bạc đầu.

Trái tim tôi sụt sùi rỉ máu
Tình đã tan vào hương khói bay
Thì những bài thơ đang viết dở
Có khác chi một chút di hài.

Làm kiếp dã tràng xe cát lở
Chất chưa đầy một nỗi quạnh hiu
Mà hồn vía mốc meo lảo đảo
Lăn vào chỗ hoang phế rong rêu.

Cũng có những điều em chưa hiểu
Dẫu đá xanh có tượng hình hài
Mười năm làm khó nhau đã đủ
Nhan sắc không hồn đâu biết say…

Hư Vô

Bài Tự Tình Tháng Tám. Thơ Hư Vô


Bài Tự Tình Tháng Tám

(Khăn Tím. Tranh sơn dầu Đinh Cường)

Nằm nghe chăn gối thì thầm
Mưa đêm tháng tám lời câm gọi về
Tiếng ai như thể rủ rê
Níu tôi vào cõi u mê mịt mù.

Bềnh bồng tựa thoáng mộng du
Dìu nhau tới chỗ thiên thu biệt ngàn
Em bỏ lại chút dung nhan
Một thời xanh tóc ngang tàng ngông nghênh.

Tôi lăn qua nỗi gập ghềnh
Mà nghe ngày tháng vặn mình mẩy đau
Bàn tay luồn giữa chiêm bao
Còn nghe quá khứ cồn cào xót xa.

Chỗ có giọt lệ chảy qua
Cho đôi mắt biết kiêu sa lạnh lùng
Để tôi bước tới đường cùng
Giọt mưa bén ngót chém vung nhát đời…

Hư Vô

Mẹ trong hồi ức Thi Ca Tôi. Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.

5415f1bd2f3ee63a9b8d1427113e82028974950e

Có những bài thơ, đọc lại là cả một sự hồi tưởng, đối với riêng tôi. Hơn thế nữa, nó còn là một phần đời sống.

Một trong những bài thơ vừa kể, tôi viết năm 1972. Lúc đó, tôi ở Pleiku và quá giang chuyến trực thăng ghé về thăm nhà ở lại một đêm rồi sáng trở lại đơn vị trong cùng một chuyến bay. Khi về nhà, lúc ấy buổi xẫm tối, tôi vội vàng lấy xe để đi chơi thì bất ngờ có một hình ảnh làm tôi khựng lại. Hình ảnh của mẹ tôi ngồi trước bàn thờ Phật với tiếng kinh trầm và mùi hương ngát. Tôi biết mẹ tôi đang cầu nguyện cho đứa con ở xa. Lúc ấy, chiến tranh đang khốc liệt với nhiều chết chóc. Ở xóm tôi, đã có nhiều chiếc xe GMC chở về quan tài phủ cờ của những người lính tử trận là những đứa bạn thuở ấu thời của tôi. Và tự nhiên tôi dắt xe vào nhà,…

“Góc hiên đôi mắt cuộn tròn
dong tay nắng cũng hoàng hôn bóng trời
mẹ ngồi chải tóc sợi rời
đậu vai áo một nụ cười thêu hoa
mây rơi rụng xuống mái nhà
màu lá biếc cũng nhạt nhòa cành vui
cổng gió cửa đóng ngùi ngùi
nghe sóng cuộn giữa ghềnh trôi óc thầm
mẹ ngồi bóng xế trăm năm
tay lần chuỗi tiếng kinh trầm trầm bay
khói sương ở đỉnh núi tây
nên xa xăm lắm tháng ngày mênh mông
đi về xuôi ngược bến sông
chiều như đang rụng xuống lòng phố quên
Mẹ ngồi như tạc nỗi niềm
Tóc phơ phất gọi tịnh yên trong hồn
Kinh đen con nước xuống ròng
Trơ gốc cọc để trống không mặt lầy
Đi về tôi vẫn loay hoay
Chợt nghe lạnh ngọn heo may cuối trời
Me ngồi một thuở ấu thời.”

Tôi nhớ lại lúc ấy trới mờ mờ tối. Tuy vội vàng vì có hẹn với cô bạn gái nhưng có điều gì giữ tôi lại. Không phải là tiếng kimh hay mùi nhang khói, cũng không phải là đôi mắt Phật Bà hiền từ trên bàn thờ. Mà, bởi vì cái vóc dáng của mẹ ngồi, trong không gian, thời gian vô cùng tĩnh lặng cầu nguyện cho mình. Thế mà, bỏ đi thì không đành lòng. Tối hôm ấy, tôi trằn trọc trong chỗ nằm của mình, với cảm giác bâng khuâng khó tả…

Tôi nghĩ mình không phải là một đứa con ngoan ngoãn. Tôi có tuổi nhỏ ngỗ nghịch và ở trong xóm là đứa đầu tiên cho những chuyện nghịch phá. Lớn lên, lại không cố gắng học đại học như anh tôi hoặc đứa em tôi mà lại đi lính. Trong khi mẹ tôi thì chủ trương dù nghèo thế nào chăng nữa các con bà cũng phải học cho đến khi không còn cố gắng được nữa dù bà là một người ít học. Năm mậu thân cha tôi mất, rồi nhà bị cháy, nhưng mẹ tôi vẫn cố gắng xây dựng lại với một nỗ lực vô biên.

Cuộc đời mẹ tôi, trải qua nhiều khó khăn nhiều lo toan khổ cực và với đàn con như một con gà mẹ luôn xòe cánh ra che chở và chống đỡ lại những nghiệt ngã của cuộc đời.

Mẹ hay kể lại những năm đói hay những cuộc chạy loạn trong cuộc đời mình. Bà vẫn nhớ những người đã cưu mang giúp đỡ đến nỗi mấy đứa con khi nghe một câu đầu đã tiếp theo ngay câu thứ hai, và bà cười nhưng vẫn tiếp tục cái câu chuyện đã quá quen thuộc ấy. Bà nhắc đến khi chạy loạn, ghé vào chùa của sư cô Khoa có cây khế đã thành thức ăn thanh đạm trong nhiều ngày cho cả gia đình hay những khi bố tôi phải vào rừng kiếm gỗ đẽo guốc để bán những lúc khó khăn. Thời gian lúc đó, với bà vẫn gần gũi quen thuộc như lúc hiện giờ, sáng sớm ra chợ mở cửa hàng buôn bán như một công việc đã kéo dài năm này qua tháng khác.

Tôi đi xa rồi lại về gần, khi làm việc ở phi trường Biên Hòa gần Sài Gòn nhưng bản tính lông bông nên ít khi ở nhà. Nhưng, bên cạnh tôi hình như lúc nào cũng có cái bóng của mẹ tôi, nương tựa thì không đúng hẳn nhưng vẫn là một điều gì giúp đỡ ân cần. Tôi tin chắc, khi có điều gì khó khăn, sẽ có sự chia sẻ của người thân yêu nhất của mình.

Năm 1975, những phi đoàn F5 dời về phi trường Tân Sơn Nhất lúc đầu tháng Tư. Và tháng chót trong đời quân ngũ của tôi là thời gian ở đây. Tình hình lúc này nặng nề với bao nhiêu biến chuyển của đất nước. Trong đơn vị, câu chuyện hàng ngày là tình hình và thời thế. Lúc gần như thời gian cuối, vẫn bao quanh câu hỏi đi hay ở. Còn ở gia đình, cũng câu hỏi tương tự. Mẹ tôi vẫn một câu nói. Đứa nào đi được thì cứ đi, đừng có lo cho người khác, nhất là những đứa có thể có những phương tiện. Bà nói, mẹ đã có nhiều thời gian sống với bọn “họ” rồi. Khổ sở lắm… Khi sửa soạn những túi xách để ra đi, bà cứ chép miệng. Qua Mỹ rồi, làm gì có trầu mà ăn! Những miếng trầu, là cái thú vui của bà cũng như xem và nghe các tuồng cải lương. Những miếng trầu, suốt mấy chục năm, đã thành một thói quen thân yêu không thể nào bỏ. Thế mà, vì nghĩ đến mấy đứa con, bà quên đi cái tập quán ấy, chấp nhận ra đi…

Rốt cuộc, gần như cả gia đình tôi di tản được năm 1975. Riêng tôi, còn nặng nợ nên kẹt lại, dù đã đi xuống phi trường Bình Thủy nhưng không thoát được phải trở về nhà. Cái giây phút phải leo vào nhà sao thê thảm. Cửa dưới bị niêm phong, nên phải leo lên lầu để vào nhà. Khi nhìn thấy vât dụng của những người thân trong nhà tôi thấy nghẹn ngào. Vật thì còn đây nhưng người thì đã đi xa. Tôi nhìn giường ngủ của mẹ, nhìn đôi dép nhung dưới sàn, nhìn ô trầu, nhìn cái áo vắt trên thành giường, tự nhiên tôi muốn òa khóc. Những lá trầu đã héo vàng, những miếng cau đã quăn queo, những vệt vôi têm đã khô bong ra, như biểu tỏ của nỗi niềm chia ly vĩnh viễn. Lúc đó tôi nghĩ chẳng bao giờ gặp lại được những người thân. Cái cảm giác tuyệt vọng làm tôi như muốn ngạt thở. Nhưng rồi vẫn phải nén cảm xúc và vẫn phải sống và thoát đi cái địa ngục đang dần hiện đến của số phần những người thua trận.

Đi tù rồi trở về Sài Gòn, chờ đợi những chuyến vượt biên, thỉnh thoảng tôi lại đi qua để nhìn vào căn nhà thời xưa của mình cũng như sạp bán vải trong chợ Bình Tiên của mẹ ngày xưa. Cảnh vật cũng thê lương ảm đạm như người lúc đó. Buôn bán khó khăn, phiên chợ mất đi cái náo nhiệt thời xưa và người mua kẻ bán tràn ùa ra lề đường với kiểu buôn bán tạm bợ chỉ biết ngày nay mà không thể mường tượng được sinh kế của ngày mai. Từ những người đàn bà buôn gánh bán bưng trên hè phố tôi lại nhớ đến mẹ tôi. Không biết bây giờ bà ra sao và đời sống thế nào? Sau này, khi nghe kể lại, khi tạm cư ở đảo Wake, mẹ tôi thường xuyên ra cầu tàu nhìn mông về phía biển và đợi một chuyến tàu ghé bến có đứa con của mình. Bà chờ đợi và chờ đợi…

Tôi vượt biển tới đảo Kuku rồi Galang năm 1980. Trong vài tháng chờ định cư, tôi đã sống những ngày tự do thật vui vẻ. Mấy đứa em gửi thư qua nói anh hãy xem thời gian hiện tại như là đi nghỉ hè, qua đây sẽ làm việc học hành đến không kịp thở.

Đến Mỹ, sau một thời gian ngắn tôi lao vào cuộc sống mới. Vừa học vừa làm, với cái tâm tư cố gắng bây giờ cho ngày mai. Mẹ tôi hàng ngày thúc đẩy. Ráng học cho có một cái nghề. Ở đây mà lông bông không nghề nghiệp không bằng cấp thì khổ lắm. Không phải với riêng tôi mà cả với mấy đứa cháu nội, cháu ngoại bà cũng khuyên nhủ như thế. Gia đình mình không có gia tài cha ông để lại, thì phải gắng học để có của cải cho riêng mình. Có lúc có mấy người bạn rủ tôi mở tiệm furniture, lúc ấy làm ăn rất dễ dàng mà vốn liếng chẳng bao nhiêu. Nhưng mẹ tôi cản, nói học phải là công việc chính để chừng nào xong sẽ tính sau.

Mỗi buổi sáng sớm mẹ tôi dậy sớm sửa soạn bữa ăn sáng cho tôi và mấy đứa cháu bới cơm mang đến trường. Trên bàn ăn là một dãy năm cạp lồng cơm để thứ tự và món ăn thay đổi ngon lành. Kết quả là bây giờ, mấy chú cháu, cậu cháu đều tốt nghiệp hậu đại hoc và đều có công ăn việc làm tốt. Và, như thế mẹ tôi hài lòng lắm.

Thời gian qua đi tôi lập gia đình và mẹ tôi già thêm và sức khỏe cũng dần giảm sút. Một điều không may là suốt trong hơn chục năm sau cùng mẹ tôi bị bệnh đau nhức hành hạ. Mà nguyên nhân thật vô duyên. Mẹ tôi bị bệnh mà người mình gọi là bệnh “dời leo”. Nếu chữa trị đàng hoàng thì có lẽ không bị hậu quả như thế. Đằng này ông bác sĩ gia đình mà cũng là một nhà văn có viết lách, lại khám bệnh cẩu thả và cho là bị phản ứng thuốc. Ông ta còn có những chuyện mà tôi gọi là vô trách nhiệm, khi mẹ tôi phải vào bệnh viện ban đêm, gọi ông ta thì ông bịt mũi cho khác giọng và trả lời không có nhà. Với một người có quen biết mà cư xử như thế thì thật là hết ý kiến…

Những lúc buồn suy nghĩ về mẹ tôi hay nghe nhạc bởi vì âm nhạc đã tạo cho tôi thật nhiều xúc động khi nghe những bản nhạc như Ơn Nghĩa Sinh Thành của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân, Bông Hồng Cài Áo của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ…

Bản Lòng Mẹ tôi đã nghe đi nghe lại ở một băng ghi âm còn sót lại sau những ngày ở Sài Gòn tháng 5 năm 75. Lúc ấy, gia đình tôi đã di tản nhưng chưa biết tin tức thế nào và tôi đã nghe bản nhạc có những câu như “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào.Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào. Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…” đã làm lòng tôi như mềm đi trong nỗi bồi hồi khôn xiết. Tôi nghe mãi đến nỗi băng ghi âm bị mòn đi thành những tiếng rè rè. Và tôi vẫn nghe, tưởng âm thanh rè rè đó là tiếng động của chuyến tàu đã đưa những người thân đi xa mất biệt…

Bản nhạc Ơn Nghĩa Sinh Thành làm tôi nhớ đến những ngày của biến cố Tết Mậu Thân. Lúc ấy cha tôi vừa mất ở nhà ông anh cả của tôi và đêm tôi ngồi cạnh bên quan tài của ông mà nghe bản nhạc ấy một mình với tâm tư rối bời và buồn thảm. Lạ một điều, nghe bản nhạc của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước tôi lại nghe như có một chút gì như muốn chia sẻ nỗi ngậm ngùi của riêng tôi. Từ câu học thuộc lòng thời nhỏ: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, để thành một dòng nhạc nhắc nhở đạo làm con. Mà tôi thì tự nhận xét mình là đứa con làm phiền lòng cha mẹ nhiều nhất…

Ca khúc “Bông Hồng Cài Áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ lấy ý và gợi cảm hứng từ một bài đoản văn cùng tên.

Bông Hồng Cài Áo là một đoản văn của Hòa thượng Nhất Hạnh viết năm 1962 ở một trại hè Camp Ockanikon tiểu bang New Jersey Hoa Kỳ và phổ biến trong nội bộ đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn bằng cách chép tay thành 300 bản làm quà tặng cho bạn bè. Mỗi bản chép tay đều gắn thêm một chiếc hoa màu hồng cho người còn mẹ hoặc màu trắng cho người mẹ đã qua đời. Rằm tháng Bảy năm 1962 tức lễ Vu Lan các sinh viên Phật tử tụ họp tại chùa Xá Lợi và cử hành Lễ Bông Hồng Cài Áo đầu tiên. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối của thầy Từ Mẫn in quyển Bông Hồng Cài Áo đầu tiên khổ nhỏ và dài có thể bỏ vào bì thư để gửi tặng bạn bè trong ngày lễ Vu Lan.

Bài viết gửi cả tấm lòng của một người đã xuất gia tặng Mẹ. Giọng văn thật thiết tha, ý nghĩa thật sâu sắc, biểu hiện của một phong thái rất Việt Nam, cô đọng trong từ ngữ nhưng lại mở ra nhiều ý tưởng độc đáo.

Mở đầu với một bài thơ mà ông nhớ từ thuở nhỏ vì nỗi đau mất mẹ:

“năm xưa tôi còn bé
mẹ tôi đã qua đời
lần đầu tiên tôi hiểu
thân phận trẻ mồ côi
quanh tôi ai cũng khóc
im lặng tôi sầu thôi
để dòng nước mắt chảy
là bớt khổ đi rồi
hoàng hôn phủ trên mộ
chuông chùa nhẹ rơi rơi
tôi thấy tôi mất mẹ
mất cả một bầu trời”

Ai đã từng làm cha mẹ mà không phải se lòng với những câu văn thiết tha, với những suy tư rất thực tế mà lại đầy triết lý. Nhất là đoạn cuối có lời nhẹ nhàng hướng dẫn, có ý sâu sắc ngỏ tình, đã mở ra những khung trời yêu thương.

Đoạn văn ấy đã làm rường cột cho bản nhạc của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ khi ông làm bản Bông Hồng Cài Áo:

“Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc khi đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên Mẹ. Sẽ bắt Mẹ dừng kim chỉ mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ anh sẽ hỏi một câu làm mẹ chú ý. Anh hỏi “mẹ ơi, mẹ có biết không? Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh vừa cười vừa hỏi” Biết gì? Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp” Mẹ có biết là con thương mẹ không? Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng sẽ hỏi một câu ấy. Bởi vì anh. Bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, anh sẽ không hối hận đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ. Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm vào trong vô tâm quên lãng. Đóa hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.”

Nghe bản nhạc của Phạm Thế Mỹ, hình như tất cả những điều tuyệt diệu của bài đoản văn đã được lột tả trong âm nhạc. Những thông điệp tình thương được gửi đi không những nguyên vẹn mà làm vỗ cánh bay đi xa hơn, làm xao động cao rộng hơn. Hòa thượng Nhất Hạnh đã nhận xét về bản nhạc như sau: “Phạm Thế Mỹ làm bài Bông Hồng Cài Áo rất dễ dàng như thở vào thở ra, tự nhiên như bước chân đi dạo, tự nhiên như khi nâng chén trà lên uống. Tôi không thấy tôi và nhạc sĩ là hai người khác nhau khi nghe ca khúc Bông Hồng Cài Áo, trước kia cũng vậy và bây giờ cũng vậy…”

Với riêng tôi, ca khúc Bông Hồng Cài Áo nhắc nhở ngày mẹ tôi từ trần. Bà mất vào ngày 3 tháng 5 năm 2003 trước Mother’s Day một tuần và đến lễ Vu Lan là ngày cúng 49 ngày của mẹ tôi. Năm nay, ngày giỗ đúng vào ngày lễ mẹ bởi vì ngày âm lịch và dương lịch chênh lệch nhau.

Hôm ấy, có một cô bé trong đoàn phật tử trong buổi lễ hỏi tôi. Chú cài bông hồng mầu gì? Và tôi trả lời. Mầu trắng. Và cô bé nói con sẽ hát bài Bông Hồng Cài Áo để tặng chú. Khi trả lời cô bé, tôi nhớ lại như một cách phản xạ. Nhớ lại vành khăn trắng, mùi nhang khói, đôi mắt nhắm lại của mẹ ngày nào, tất cả làm tôi như hụt hẫng. Đọc những câu kinh, nhìn lên bàn thờ Phật, để trấn tĩnh lại. Đôi mắt Đức Phật, như có chút gì xẻ chia,như có chút gì an ủi. Mẹ tôi đã đi xa. Bây giờ, hết rồi, không còn nụ cười móm mém mắt cũng cười theo khi nhìn con cháu. Bây giờ hết rồi không còn những chuyện kể ngày xưa lúc ở phố Lạng Sơn hay ở làng Phù Lưu. Bây giờ, mẹ đang nằm trong lòng đất xứ người. Và biết đâu, ở cõi âm phần đó mẹ trở về lại quê hương, để ghé thăm ngôi nhà cũ, ngõ làng xưa. Biết đâu…Và bản nhạc Bông Hồng Cài Áo có khi là một hối tiếc muộn màng của một đứa con nhiều lần làm mẹ buồn như tôi…

Buồi trưa trong nghĩa trang, hình như đầy những chậu hoa. Tôi chợt nghĩ trong đầu những câu thơ… Những suy tư rời rạc của những ngày tháng trôi qua lặng lẽ. Có những người đã ra đi. Vào một thế giới nào, xa vời. Có những bài thơ như một điệp khúc tưởng nhớ…

Bài đầu. Thơ cho ngày giỗ mẹ đầu tiên

1

Có những ngày như sáp nóng chảy
Giữa cơn mơ hừng hực trong đầu
Tháng năm và nụ hoa trắng
Nở vàng trong ký ức.

Khi cơn gió lay ngọn cỏ mơ hồ
Như gót chân một năm đi qua lặng lẽ.
Tôi tự nhủ thầm
Một mình
Trong váng vất dòng sông thao thiết

Một ngày đếm những nụ hoa
Đếm những hạnh phúc hiếm hoi
Đếm những dây vạn niên thanh
Giơ lên những nụ gai thời tuổi trẻ

Chợt nghĩ câu thơ Lưu Trọng Lư
Ngày xưa
Như câu hát ru em ru tôi
Đứt ruột.

Tôi sẽ in những hình bóng
Không bằng dương bản
Trong bộ nhớ tôi
Có câu kinh vời xa
Buổi chiều vàng mầu khói úa

Con chim sáo quen đã về
Màu đen hoang vu
Mổ những hạt cơm cúng khô rời
Cho một phần ăn hữu hạn

2

Tháng năm và nghĩa trang
Tôi giả vờ nghiêm nghị
Đóng vai người thuyết giảng
Cho hạt bụi rơi
Trong nỗi nhớ mơ hồ.

Có câu kinh nào cho tôi
Có câu kinh nào cho chúng ta
Khi
Chuyến xe đi đã chờ góc phố

Nơi đến
Một địa chỉ mơ hồ
Bảng chỉ đường không ánh đèn
Ngọn nến thoáng qua
Con mắt cú mèo trong huyền tích

Có những mộ bia
Viết bằng thời gian vô tận
Nét chữ loang trên bóng chiều
Một nụ cười thân yêu
Vời vợi

3

Một năm
Tôi như kẻ lang thang
Đi tìm giấc mơ
Của nội cỏ hoang vu
Mà vó ngựa phi như hạt bụi
Rơi trong mù mịt vô thường

Một năm
Tôi giấu trong hồn
Một nụ hồng
Màu đỏ đã héo khô
Mà chưa đủ trắng…

Nguyễn Mạnh Trinh.

Nguồn: http://www.vietluan.com.au/2016/05/tap-ghi-van-nghe-me-trong-hoi-uc-thi-ca-toi/

Tôi Vẫn Đứng Bên Lề Người Dưng. Thơ Hư Vô


Tôi Vẫn Đứng Bên Lề Người Dưng 

Dù có nói bao lời hò hẹn
Rồi một ngày em cũng sẽ quên
Nước mắt có chảy vào vô tận
Tôi vẫn ở bên lề đời em.

Cũng đâu cần phân trần lẩn quẩn
Em đi cho kịp chuyến tour đời
Chào nhau một tiếng cười khập khiễng
Quay lưng là đã mất nhau rồi!

Phủi chiếc bóng trong lòng gương cũ
Bụi mịt mù trên những ngón tay
Tôi lảo đảo như thuyền say sóng
Chở khẳm mùa thu tiếng thở dài.

Mười năm chưa đủ thành xa lạ
Cho trái tim tôi biết lạnh lùng
Mà dẫu có trăm năm thì cũng
Tôi vẫn đứng bên lề người dưng…

Hư Vô

Một Thời Vàng Son Chữ Nghĩa. Hồi ký của Nhật Tiến


Để tưởng nhớ nhà thơ Song Hồ

Nhật Tiến

Nhà thơ Song Hồ

(Chân dung và tác phẩm của Nhà thơ Song Hồ)

Cái thời ấy, chẳng phải giầu sang phú quý hay đời sống thanh bình yên ấm gì, nhưng tôi vẫn nghĩ đó là một thời vàng son của một đám bè bạn hãy còn cắp sách đến trường. Họ là những học trò chẳng ngoan gì mấy của Chu văn An, Nguyễn Trãi, của Khai Minh, Minh Tân, Văn Hóa ..v…v…những trường trung học công, tư nổi tiếng của Hà Nội vào giữa thế kỷ trước. Cái đám bạn bè ấy, ngoài những hương vị sảng khoái đầu đời của lứa tuổi đang sắp sửa bước vào ngưỡng cửa của sự thành niên, lại còn đam mê chuyện cầm bút mà trong đầu đứa nào cũng đều ôm mộng trở thành một văn sĩ, hoặc thi sĩ và ngay cả một kịch tác gia. Vì thế mới gọi là một thời vàng son chữ nghĩa. Thời của Hà Nội những năm 1950- 1954….mà nhạc sĩ Hoàng Dương đã diễn tả trong bài Hướng Về Hà Nội :

… Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi,
Nắng hè tô thắm lên môi,

Thanh bình tiếng guốc reo vui….
Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua,
Mái trường phượng vĩ dâng hoa
Dáng chiều rủ bóng tiên nga.
Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê,
Tóc thề thả gió lê thê,
Cứ tin ngày ấy anh về …..

Vào cái “thời điểm Hà Nội” ấy, lũ chúng tôi còn đang là độc giả trung thành của những cây bút nổi danh đương thời như Ngọc Giao với Quán Gió, Xã Bèo, Nhị Lang với Bèo Giạt, Hà Bỉnh Trung với Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình , Nguyễn Minh Lang với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, Hoàng Công Khanh với Trại Tân Bồi và nhất là Hồ Hữu Tường với Phi Lạc Sang Tầu, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ, Phi lạc Bỡn Nga..v.v…Đọc để rồi khen tấm tắc hay bình phẩm này nọ. Vậy mà trong đám độc giả học trò ấy cũng đã nhiều đứa có tác phẩm được đăng báo đấy. Hai nhân sự được liệt vào hàng lỗi lạc nhất của đám chúng tôi, phải kể đến Vũ Khắc Mai Anh, bút hiệu Vũ Mai Anh và Nguyễn Đức Cầu bút hiệu Hùng Phong. Vũ Mai Anh hồi đó ở phố hàng Đồng, đang học lớp Đệ Ngũ trường Chu văn An, tức lớp 8 bây giờ. Vậy mà trong cặp-táp của hắn chứa đầy nhóc bản thảo. Số trang bản thảo có lẽ phải dầy hơn gấp bội những trang vở ghi chép bài học. Một cuốn đã viết xong và đang được nhà xuất bản Chính Ký ở đường Sinh Từ chuẩn bị cho ra mắt độc giả là cuốn tiểu thuyết dài mang tên Phũ Phàng, còn một cuốn nữa có tên Duyên Kiếp thì đang được Vũ Mai Anh viết dở dang trên những trang lớn (loại khổ giấy hồi đó bán theo tệp), chữ nhỏ li ti và đang được đăng từng kỳ trên tuần báo Hồ Gươm do bác sĩ Bùi Cẩm Chương làm chủ nhiệm. Còn anh chàng Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu thì ở phố hàng Than, lúc đó cũng đang là một học sinh lớp Đệ Lục. Vậy mà hắn đã có cả một thiên phóng sự dài đăng từng kỳ trên nhật báo Liên Hiệp do ông Soubrier Văn Tuyên làm chủ nhiệm thì mới “thánh” chứ ! Thiên phóng sự mang tên “Con Cò Mày Đi Ăn Đêm” mô tả những hoạt động phiêu lưu và sôi nổi của những con người hoạt động trong những đường dây buôn lậu từ nội thành ra vùng Việt Minh kiểm soát hồi đó gọi là hậu phương hay vùng kháng chiến. Thực tình cho đến nay tôi cũng vẫn chưa hiểu tại sao và bằng cách nào mà cậu nhỏ Hùng Phong lại có nhiều tài liệu lạ lùng và hay ho đến thế. Còn kỹ thuật viết thì khỏi nói, chính tôi đã trông thấy những trang bản thảo của hắn với thứ chữ viết loằng ngoằng phóng túng, khi in ra rất được độc giả say mê theo dõi từng kỳ báo. Nhờ thiên phóng sự này mà Hùng Phong đã lẫm liệt bước vào hàng ngũ những ký giả phóng sự điều tra thứ thiệt. Khi hắn xòe ra cho tụi tôi coi cái cạc vi-dít in hàng chữ “Hùng Phong- Journalist” thì chúng tôi không có ai dám thắc mắc gì. Tất cả chỉ tròn xoe mắt ra nhìn một cách thán phục. Nếu cần phải nói thêm vài kỷ niệm về cái anh chàng người nhỏ thó nhưng dáng dấp nhanh nhẹn, vầng trán rất cao nom như sắp hói này thì tôi phải nói rằng Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu chơi đàn Banjo Alto rất giỏi. Hồi còn học chung với nhau ở lớp Nhất trường Hàng Vôi (sau đổi là Nguyễn Du do thầy giáo Quỳnh giảng dạy), cái tên Hùng Phong chưa xuất hiện. Cầu hay lui tới nhà tôi ở phố hàng Kèn bằng một cái xe đạp đầm hiệu Pegeot rất cũ kỹ mà tay lái (guidon) đã cụt mất hẳn một bên. Tôi chẳng hiểu Cầu xoay sở lái cái xe ấy cách nào nhưng hắn đã xài nó liên tiếp hết năm này qua năm khác để đi học, đi rong chơi tung tẩy khắp phố phường và thường mang theo cây đàn Banjo tới ngồi ở cửa sổ nhà tôi để gẩy lên nhiều bản nhạc nghe ròn rã mê người.

Ngoài hai nhân sự rất nổi kể trên, đám học trò sính văn nghệ chúng tôi còn nhiều tên tuổi khác, có thể kể Hiệp Nhân học sinh lớp đệ Tam (tức lớp 10 bây giờ) tự xoay tiền in lấy truyện dài Linh Hồn Ngọc được giáo sư quốc văn Nguyễn Uyển Diễm đem đi giới thiệu ở tất cả các trường, lớp nơi ông giảng dạy; rồi Lê Ninh đang mài đũng quần nơi nhà trường cũng hợp tác với bạn bè ra giai phẩm Lửa Lựu gây sôi nổi trong giới học sinh trung học Hà Nội thời bấy giờ. Qua lớp tuổi già dặn hơn một chút, tức khoảng trên dưới 20, thời đó cũng có nhiều cây bút góp phần làm cho sinh hoạt văn chương thêm rầm rộ, như Mọc Đình Nhân in Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra chung tập thơ Ươm Đẹp; đặc biệt Nguyễn Nam Tê, một nhà thơ độc đáo vừa làm nghề đạp xích lô, vừa sáng tác thơ để in tập Tin Về Đất Bắc. Bên cạnh đó là một loạt những ngòi bút trẻ chưa tới tuổi 20 như Song Hồ, Huy Sơn, Dương Vy Long, Kiều Liên Sơn, Giang Quân, Hồ My, Tạ Vũ ..v.v… Họ đều rải rác có văn, thơ in trên các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Cải Tạo, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên Hiệp, Chánh Đạo….ở Hà Nội hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại ở Sài Gòn.

Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm hồi cư về sinh sống ở Hà Nội vào khoảng 1952. Hình như trước đó, năm 1949, tuy mới 16, 17 chưa tới tuổi thành niên nhưng anh đã là một chiến sĩ tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Lăn lộn qua nhiều chiến trường, lòng “anh chiến sĩ” không nguôi nhớ về Hà Nội. Chẳng hiểu chàng nhớ tới ai mà ngay giữa rừng thông Thái Nguyên, vùng núi rừng Việt Bắc, Song Hồ đã viết bài thơ đầu tiên mang tên “Thư Gửi người Em Hà Nội” trong có những câu:

Anh viết lá thư về Hà Nội
Giữa lúc bóng chiều
Ngả mầu sắc tối
Lòng người chiến sĩ căm căm
Đã bao tháng năm ?
Chưa bức thư nào
Về thăm người em gái nhỏ
Không biết anh đi từ độ nọ
Người em còn nhớ tới không?
Hay ở nơi đây
Ánh sáng Kinh Thành
Em cười trên tay kẻ khác
Nhưng anh vẫn tin
Tình em còn mộc mạc
Như tình anh
Mối tình giữa buổi chiến tranh…..

Song Hồ (1949)

Sau này, khi trở về Hà Nội, Song Hồ tiếp tục đi học lại (trường Văn Hóa của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham) và tiếp tục làm thơ. Thơ của anh khi đó không còn vấn vương tình ái nữa mà mang nặng tính cảm hoài về thời cuộc, thế sự :

Đây Hà Nội trời mưa tuôn rả rích
Bê bết bùn lầy nước đọng nhớp nhơ
Đèn nê-ông tỏa ánh điện xanh lơ
Nhạc cuồng loạn, gót giầy lay lắc ván
Một rồi hai, trăm ngàn rồi đến vạn
Đèn nhạt đèn xanh đèn tím đèn vàng
Nhạc điên cuồng vẫn réo rắt reo vang
Mầu biến đổi là lòng người biến đổI
Hiện dần trong bóng tối
Có người con gái miền quê
Khăn yếm bỏ đi rồi
Làn tóc loăn xoăn
Đỏ mọng đôi môi
Chiều thứ bẩy
Giầy đinh vang hè phố…..

Song Hồ (1953)

Nói đúng ra, lứa tuổi thanh thiếu niên thuộc thế hệ chúng tôi không chỉ có toàn những thứ tình cảm lãng mạn. Đất nước vào thời kỳ đó vẫn còn đang chìm đắm trong chiến tranh, tuy sự tàn phá của nó so ra không bằng một góc của cuộc chiến Quốc Cộng Nam Bắc vừa qua. Súng nổ ở đâu không thấy chứ ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội thì đời sống vẫn mang vẻ thanh bình, nhộn nhịp. Chẳng thế mà nhạc sĩ Hoàng Dương đã ca ngợi Hà Nội với những lời như đã dẫn:

Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi,
Nắng hè tô thắm lên môi,
Thanh bình tiếng guốc reo vui

Nhưng huy chương nào thì cũng có bề trái của nó. Hà Nội mộng mơ, Hà Nội, thanh bình, Hà Nội đẹp xinh …thường chỉ qua nhãn quan của tầng lớp trung lưu. Nếu nhìn sâu xuống đáy xã hội thì vẫn có những hoàn cảnh sống lầm than, những cuộc đời bị đối xử bất công, bị chìm đắm trong sự cùng quẫn nghèo khó. Là những con người yêu văn thơ, khuynh hướng sáng tác của những người làm văn nghệ trẻ ở thời kỳ đó không hề có tính vô cảm. Cho nên ngoài sự ca ngợi tình yêu, quê hương, đất nước, sáng tác của họ cũng đã mang nhiều dấu tích xã hội. Nhẹ nhàng mang tính chất học trò nghèo khó thì có những câu thơ của Tạ Vũ viết năm 1952:

Bạn ơi

Trên trang giấy trắng,
Dòng mực chảy đều
Tai nóng bừng vì bài toán không ra
Có nhớ đến tôi
Bỏ trường – không học phí
Duyên thế hệ thôi từ nay cách biệt!

Tạ Vũ mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ bà dì, có lúc lại vào ngụ cư ở khu nuôi trẻ không nhà trong ngôi chùa Tầu gần phố Sinh Từ Hà Nội. Anh đã chen chúc với đám mồ côi cùng lứa tuổi để viết những dòng thơ như sau:

Ánh đèn không soi mái phố
Linh hồn dắt díu về đây
Chăn đâu cho đầy giấc ngủ!
Nôn nao cơm lưng dạ dầy!
Thao thức nằm nhìn bóng tối
Nghẹn ngào khóc dưới cửa ô
Đêm mơ thấy đời đổi mới
Sáng ra buồn hơn bao giờ ….

Năm 1954, Tạ Vũ không di cư vào Nam. Hơn năm mươi năm trời không gặp lại, nhưng tôi được biết sau này Tạ Vũ vẫn tiếp tục làm thơ, và anh đã có thời nổi tiếng ở miền Bắc là một thi sĩ của những công nhân trong ngành khuân vác.

Tưởng cũng nên nhắc thêm vài bài thơ của những ngòi bút, tuổi trên dưới 20 của Hà NộI hồi đầu thập niên 50 thế kỷ trước. Già dặn, sâu sắc thì có Song Nhất Nữ, bút hiệu của Đặng Bá Ngư, một chàng trai chính hiệu, người làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định lên Hà Nội học, với bài Cửa Ô đã được chúng tôi truyền tụng trong thời kỳ ấy :

Cửa Ô
(Gửi năm Cửa Ô Hà Nội)

Mầu sắc u huyền,
Đất trời nghiêng ngửa,
Đô thành bừng lửa.
Ngoại ô này lành lạnh sống trong đêm…
Ánh đèn le lói
Chìm đắm triền miên
Nơi đây son phấn,
Nơi đây kim tiền,
Nơi đây trụy lạc,
Nơi đây nghèo hèn
Đêm về những giấc mơ điên
Đêm về ngùn ngụt túi phiền lầm than
Đêm về vàng bệch đèn tàn
Đêm về điên loạn cung đàn xót xa
Cửa Ô xa…
Có nhiều bóng ma…
Đi trong bê tha…
Đi trong xênh phách
Đi trong đói rách
Đi trong lệ nhòa
Thất thểu… la cà…
Bóng ma… bóng ma…
Đâu đây vàng ngọc lụa là,
Cửa ô… ngõ hẻm… a ha! Cuộc đời!

Song Nhất Nữ
(Thi tập Ươm Đẹp – 1953)

Nhà thơ trẻ Nguyễn Quốc Trinh, đồng tác giả tập thơ Ươm Đẹp ngoài những vần thơ trữ tình:

Hoa bừng dưới gót em qua
Tôi cười dưới gót em xa
Bát ngát Thơ ngân tiếng guốc
Đường hương mở đón chân ngà…

chàng trai ấy cũng có khuynh hướng xã hội như bài thơ Dễ Hiểu sau đây dù sáng tác ở Hà Nội vào năm 1953 nhưng lạ thay, đã như những lời thơ tiên tri vẽ cảnh tầng đáy của Hà Nội ở thời điểm hơn 50 năm sau, bây giờ

Dễ Hiểu

Vì mãi gò lưng kéo
Cày cho kẻ khác no
Chiều về nhai cỏ héo
Chuồng hẹp nằm co ro

Vì sống như trâu bò
Kiếp này sang kiếp khác
Cha già cha phát ho
Mẹ già xương xộc xạc

Vì đời buồn xơ xác
U ám như đêm nghèo
Mồ hôi chua áo rách
Muối mặn quả cà meo

Hoa đẹp nở vườn nào
Thơ bầy trong tủ kính
Con choắt vợ xanh xao
Ngựa xe người đủng đỉnh

Vì tôi muốn anh muốn
Vì chúng ta cùng muốn
Đêm già: xô ngã xiên!
Ngày non: cười thẳng dướn!

NGUYỄN QUỐC TRINH
(Thi tập Ươm Đẹp-1953)

Một nhà thơ khác cũng rất nổi tiếng trong giới bạn bè non trẻ chúng tôi là Nguyễn Thị Hồ My (sau đổi thành Hồ My). Đó chẳng phải là một “nhà thơ nữ” mỹ miều nào mà chỉ là bút hiệu của một chàng thư sinh cũng đang mài đũng quần ở bậc trung học. Cái sự tuy là nam nhi mà lại ưa lấy bút hiệu phái nữ hình như là một cái mốt của đám sáng tác trẻ trung ở thời kỳ đó, như Song Nhất Nữ tức Đặng Bá Ngư kể trên hay Nguyễn Thị Yếm Thắm là bút hiệu của Nguyễn Yên Tri, một anh chàng học trò cùng lớp, cùng trường với tôi từ khi còn ở bậc tiểu học.

Xin nhắc lại một bài thơ của Hồ My sáng tác năm 1953:

Đi Đêm
Viết tặng người lầm than

Bên mái hàng hiên
Một bóng người thấp thoáng đi đêm
Gót mòn xiết tiếng rên rên,
Như khóc cuộc đời tăm tối.
Đêm nay dưới ánh đèn le lói
Bóng mẹ già, vợ dại, con thơ,
Đang bơ vơ
Đang thao thức
Đang rạo rực
Đang mong chờ
Nóng lòng mong kẻ bên bờ đường khuya.

Tiếng guốc kéo lê thê
lóc cóc
lách cách
Như nửa tỉnh nửa mê
Đau thương lên bước bên hè
Đêm dài, pÏhố vắng, đường khuya một mình

Bên hiên cố ý hay vô tình
Guốc lê mãi gieo buồn người mất ngủ
Mẹ già, con nhỏ.
Vợ dại ai nuôi!
Lang thang giữa lúc tối trời
Lệ trào mặn chát trên môi!
Vang hè phố vắng
Tiếng bước vọng xa xôi
Chập chờn chiếc bóng chơi vơi
Hỡi ôi! Thương lấy kiếp người đi đêm.

HỒ MY
Ngoại Ô Hà Nội 20-10-53
Báo Tia Sáng / tháng 10-1953

Rồi hiệp định Genève năm 1954 đã khiến đám cầm bút trẻ Hà Nội chúng tôi trở thành tan tác vì nhiều người ở lại mà cũng lắm kẻ vô Nam. Sau này chúng tôi không được tin tức gì của những Hồ My, Giang Quân, Yên Tri, Kiều Liên Sơn…ngoại trừ Tạ Vũ tiếp tục làm thơ, khá nổi tiếng dưới chế độ mới và làm nghề khuân vác gạch vữa trong nghề xây cất.

Đám di cư vào Sài Gòn thường hay tụ tập ở những túp lều cất trên nền cũ của khám lớn Sài Gòn thời Pháp thuộc, sau trở thành khuôn viên của Đại Học Văn Khoa rồi thành Thư Viện trung ương của thủ đô Sài Gòn do công trình của cụ Mai Thọ Truyền, người nắm chức vụ cao trong ngành Văn Hóa.

Nguyễn đình Toàn khi mới bước chân vào Nam đã soạn bản nhạc đầu tiên cũng như Mai Thảo viết Đêm Giã Từ Hà nội. Bản nhạc này không có tên và tuy không xuất bản, nhưng cả bọn chúng tôi đều hay nghêu ngao hát những khi rảnh rỗi. Tôi còn nhớ những lời nghe như thơ như sau :

Mây trắng bay về từ miền xa xôi
Lòng dâng thương nhớ biết giờ nào nguôi
Ai về Bến Hải dòng máu ngăn đôi
Hận thù chìm dưới oán hờn người ơi….

Tuy nhiên sở trường của Nguyễn đình Toàn là làm thơ và viết tiểu thuyết. Tác phẩm thơ của anh là cuốn Mật Đắng do nhà Huyền Trân in năm 1962, còn tiểu thuyết đầu tay là cuốn Chị Em Hải do cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do của giáo sư Phạm Việt Tuyền, Tổng thư ký Trung tâm Văn Bút hồi đó, ấn hành. Sau này, Toàn in thêm những cuốn như Giờ Ra chơi, Áo Mơ Phai. Cuốn Áo Mơ Phai đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1974 ở Sài Gòn. Rồi anh trở thành người sáng lập chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Quốc Gia tức Đài Tiếng Nói Nước VN, do chính anh viết và đọc lời dẫn giải. Mục Nhạc Chủ Đề này đã làm say mê thính giả trong suốt một thời gian dài.

Đã có một thời, Song Hồ, Nguyễn đình Toàn và chúng tôi (Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh) ở chung với nhau trong một căn nhà lụp xụp ở Xóm Gà gần ngã ba Bình Hòa bên Gia Định. Rồi bỗng nhiên Song Hồ biến mất. Hóa ra anh được đại tá Hồ Hán Sơn đón lên Tây Ninh gặp trung tướng Nguyễn Thành Phương và yết kiến Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ở đây, anh nhận chức cố vấn văn nghệ, báo chí và đảm trách tờ tuần báo Quyết Thắng cùng đài phát thanh Long Hoa của đạo Cao Đài. Khi thủ tướng Ngô Đình Diệm tiến hành chủ trương thống nhất quyền lực, Song Hồ bỏ Tây Ninh về Sài Gòn rồi làm việc tại Văn Hóa Vụ do Kiến trúc sư Võ Đức Diên sáng lập. Cuối năm 1958, Song Hồ cùng Dương Vy Long được cử qua Cao Miên làm công tác văn hóa cho tòa đại sứ VNCH, tại đây hai người lo chấn chỉnh lại tờ Hồn Việt vốn là một nhật báo dành cho Việt kiều ở Nam Vang, trong đó Song Hồ giữ vai trò chủ bút. Tuy nhiên, công việc này không lâu bền. Một năm sau, cả hai trở lại Sài Gòn. Song Hồ đi dạy học và tiếp tục làm thơ. Dương Vy Long nhập ngũ rồi sau trở thành Dân Biểu Quốc Hội Đệ Nhị Cộng Hòa.

Tác phẩm đầu tay của Song Hồ là cuốn Hai Cánh Hoa Tim do nhà Huyền Trân xuất bản năm 1960 và sau đó là cuốn Thơ Song Hồ do nhà Khai Trí ấn hành năm 1964. Anh còn 2 tác phẩm khác đã soạn xong trước năm 1975, một cuốn tên là Việt Nam Mãi Mãi, một tuyển tập Ca Dao, Thơ và Hình ảnh của 3 miền đất nước do anh sưu khảo, tuyển lựa có sự đóng góp của Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm về phần hình ảnh. Sách dầy 1,400 trang đã được nhà Khai Trí chuẩn bị cho in thì biến cố 1975 làm việc in không thành và bản thảo bị thất lạc. Cuốn thứ hai là một tập thơ mang tên Đám Cháy Trên Địa Cầu bao gồm 1,600 câu thơ nói về cuộc chiến ở Việt Nam. Tác phẩm này không được phép in năm 1973 và khi CS tiến chiếm Sài Gòn, bản thảo cũng bị thiêu hủy chung với số phận của nhiều tác phẩm khác của miền Nam. Trong thời gian kẹt lại ở Sài Gòn, sống dưới chế độ mới, Song Hồ vẫn âm thầm tiếp tục làm thơ. Như bài “Hỡi Em Nhỏ Cô Đơn” sau đây, do anh sáng tác năm 1981, in trong tác phẩm Đá và Hoa, ấn hành năm 1992:

HỠI EM NHỎ CÔ ĐƠN

Hỡi em nhỏ cô đơn!
Đang lang thang ngoài phố.
Em ơi đi đâu đó?
Cho ta hỏi đôi lời:

– Cha đâu? – Bị cải tạo!
– Mẹ đâu? – Buôn chợ trờI!
– Anh đâu? – Ở Cam Bốt !
– Chị đâu? – V­ượt biên rồi!
– Ông đâu? – Đấu tố chết!
– Bà đâu? – Buồn qua đời!
– Cô đâu? – Kinh tế mới!
– Bác đâu? – Tự tử rồi

Thôi ! thôi ! Không hỏi nữa!
Tim ta quá bồi hồi
Sao em còn nhỏ tuổi
Đã biết nhiều chuyện đời
Sao mảnh đất nhỏ bé
Xẩy nhiều chuyện rụng rời….

…….

(1981)
thosongho

(Thơ Song Hồ)

Mãi cuối năm 1987, Song Hồ mới đi định cư ở Texas. Nơi cư ngụ chính thức của anh là ở rẫy số 9000 Virgil Circle thành phố Austin, Texas. Đời sống của anh ở đây rất trầm lặng, ít giao dịch với bên ngoài, thân thể bệnh hoạn được sự chăm sóc tận tình của vợ anh, chị Nguyễn Thanh Đạm. Anh cũng ít làm thơ đăng báo, thật khác biệt rất xa với cuộc đời trôi nổi của anh kể từ buổi đầu đời. Nhưng anh cũng có 2 tác phẩm ấn hành ở hải ngoại. Cuốn Đá và Hoa do nhà Hướng Dương xuất bản năm 1992 và cuốn Rock and Flower do chính anh tuyển lựa thơ của mình và tự dịch ra Anh ngữ, xuất bản năm 2000.

*****

Bài này được viết sau khi tôi được tin Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm vừa qua đời vào ngày 20-5-2009 tại một bệnh viện ở Houston, Texas. Nghi lễ hỏa táng cũng được tiến hành cũng ở thành phố này vài ngày sau đó. Thân nhân còn lại của anh, ngoài chị Nguyễn Thanh Đạm và một cháu trai tên Nguyễn Bảo Hoàng (vượt biển, định cư ở Canada) còn có vợ chồng người chị ruột của anh, tức nhiếp ảnh gia Văn Vũ và phu nhân.

Lúc sinh thời, bạn bè văn nghệ xếp loại Song Hồ vào hàng ngũ những thi sĩ. Bản thân anh cũng tự coi mình như thế. Anh tha thiết với Thơ, cuối đời sống chìm đắm trong không khí Thơ, nghĩ về Thơ, luôn luôn đề cao vai trò của Thơ và trao cho Thơ những khả năng nhiệm mầu, những sứ mạng vô cùng cao cả.

Xin trích vài đoạn trong bài “ Nghĩ về Thơ” bao gồm 21 đoạn do anh viết năm 1989:

Thơ có một số người ghét vì quá nhiều người yêu Thơ
Kẻ ghét Thơ là những ông Vua không có văn hóa, những Tướng lãnh bất tài, những kẻ có quyền hành mà áp bức ngườI khác, bọn trọc phú và những người ngu dốt
Họ ghét Thơ vì Thơ đả động đến những thói xấu.
Họ sợ Thơ vì Thơ không ích Kỷ.

*

Thơ là sự Tuyệt Đối
Một Nhà Văn thành công cũng muốn viết dăm ba bài thơ, nhưng một Thi Sĩ thành công chẳng bao giờ muốn viết truyện dù rằng một cuốn.
Trong Thơ cũng có tranh, có nhạc, nên Thi Sĩ cũng chẳng bao giờ mơ ước trở thành Họa sĩ, Nhạc sĩ.
Trong cuộc sống đã cho thấy những ông Vua muốn trở thành Thi Sĩ, nhưng chẳng có một Thi Sĩ nào trở thành một ông Vua.
Có lẽ con đường mà ngườI Thi Sĩ lựa chọn là con đường bạc bẽo nhất, nhưng cũng có hoa thơm cỏ lạ và tuyệt vời nhất.
*
Thơ là Tai Họa. Thơ chống lại sự suy thoái về Chánh Trị, sự u mê về Tín Ngưỡng, sự sa đọa về Văn Hóa.
Người làm Thơ bị kết án, bị bỏ tù, bị giết chết. Tính mạng được treo giá.
Thi Phẩm bị cấm đoán, bị tịch thu, bị thiêu đốt.
Thơ khai chiến với Điều Xấu. Điều Xấu thắng : Thơ là Tự sát.

*

Thơ là Sự Can Đảm. Can Đảm đứng trước cái Chết
Can Đảm đứng giữa bờ Tử Sinh.
Từ bỏ cái Thực đi vào cái Mộng
Từ bỏ Giầu sang đi vào Nghèo Nàn.
Từ bỏ cái Vui để vào Buồn Phiền.
Từ bỏ Hạnh Phúc để vào Đớn Đau.
Từ bỏ cái Nguyên vẹn để vào cái Tan Vỡ.
Từ bỏ cái Có để vào cái Không.
Từ bỏ cái Nhất Thời để vào cái Vĩnh Viễn,
Hay đôi khi trái ngược lại.
Can Đảm của Thơ là yêu người mà người không yêu mình.
Yêu Đời mà Đời phụ mình. Và Thi Sĩ là một người sống trong một Thế Giới Treo Ngược.

SONG HỒ
( Trích Nghĩ Về Thơ -1989)

Vĩnh biệt Song Hồ, một nhà Thơ Việt Nam đích thực của những năm dài khổ đau vì chiến tranh, vì chia rẽ hận thù, vì đè nén, áp bức và cả vì những ngày dài lưu lạc trên xứ người.

Với tâm hồn thấm đẫm chất Thơ của anh, bạn bè đều tin tưởng anh sẽ tìm thấy được sự bình an nơi cõi vĩnh hằng.

NHẬT TIẾN
California tháng 6-2009

(Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/mot-thoi-vang-son-chu-nghia/)

Hốc Núi. Thơ Hư Vô, Nhạc Phùng Việt Dũng, Ca Sĩ Cao Huy Thế, Hòa Âm Đỗ Hải, PPS Thảo Nguyên Sydney.


0001 (2)0001-2 (2)Hư Vô - Phùng Việt Dũng - Cao Huy Thế

Những người từ Tuyệt Tình Cốc. Tùy bút Thế Uyên


the_uyen-dinh_cuong

(Nhà văn Thế Uyên (1935-2013) qua nét vẽ Đinh Cường)

Mùa hè năm đó tôi quyết định ra Huế. Một phần vì suốt đời tôi đã nghe nói nhiều về thành phố này, bạn bè xuất xứ nơi đây cũng đông, một phần vì tình hình chính trị và tôn giáo miền Trung đang bắt đầu sôi động dữ dội, có thể tác động tới tình hình chiến tranh Việt Nam. Hơn nữa, tôi được biết người bạn đồng môn cũ tại Đại học Sư Phạm và Văn Khoa Sài Gòn, là Hoàng Phủ Ngọc Tường đang là một trong những lãnh tụ sinh viên thanh niên ngoài đó. Chính Tường, qua một bạn chung, đã nhắn tôi ra chơi.

Tường và tôi quen nhau khi bắt đầu học ban Cử nhân Triết và ban Việt Hán năm thứ hai. Vóc người anh nhỏ nhắn, đầy sức sống, thích tranh luận và dĩ nhiên là tràn đầy lý tưởng, muốn đóng góp tối đa cho dân tộc. Con người là như thế, lại có nhiều tư tưởng đi ra ngoài đường mòn của khuôn sáo Đại học, anh thường bị các giáo sư không ưa…như tôi vậy. Hơn nữa, tôi bị giáo sư Nghiêm Toản kỵ bao nhiêu thì Tường cũng bị y như thế. Thầy Toản trụ trì cửa ải bắt buộc phải đi qua là chứng chỉ Văn chương Việt Nam tại Văn khoa. Không có chứng chỉ này, dù có đỗ tới đâu, cũng không được cấp bằng cử nhân. Tường và tôi cộng lại, hai đứa rớt tới xấp xỉ bảy kỳ thi mà không đứa nào lấy nổi chứng chỉ này. Quan điểm văn học của giáo sư Nghiêm Toản quá cổ điển, quá khuôn sáo đường mòn, có lẽ chỉ hợp với một thời thái bình thịnh trị. Làm sao hai đứa thanh niên như bọn tôi có thể ép mình vào khuôn sáo đó.

Các cụ xưa thường bảo ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Tôi với Tường sớm thân nhau cũng là lẽ tự nhiên. Nhưng hai đứa cũng lắm lúc bất đồng ý kiến hơi nhiều. Tôi đã bắt đầu viết văn, có lẽ vì thế nên nhìn cuộc đời và con người bao dung, nhân bản hơn Tường. Đương sự lúc nào cũng cực đoan, không đầu này thì đầu kia. Sau khi ra trường, Tường trở về Huế dạy học, còn tôi đi con đường riêng của mình, với nhiều sóng gió, và đã trở thành một người lính viết văn – hay là một nhà văn đi lính thì cũng thế. Nhưng dù là gì, đến mùa hè năm đó, tôi đã là một nhà văn thành danh, bắt đầu hơi ồn ào về một đường lối văn nghệ cũng như xã hội mới. Tôi biết Tường có đọc hết những bài văn của tôi, và vì thế, anh muốn tôi ra Huế để tranh luận, và nếu có thể, kéo tới gia nhập phong trào đấu tranh dữ dội sắp phát động tại miền này.

Tôi đi cùng hai người bạn. Một người là chủ bút tập san chính tôi đang hợp tác. Người thứ hai là một sĩ quan không quân đang giữ chức vụ chánh văn phòng tại Bộ Thanh Niên – với cái gốc lính tàu bay chính cống, anh bạn này bao sân tất cả việc đi về của bọn tôi bằng máy bay quân đội. Sau khi phi cơ nhỏ đáp xuống sân bay trong Thành Nội, anh bạn không quân đã tách ra đi lo việc của anh, quẳng cho tôi cái xe jeep cũ xì của Ty Thanh Niên địa phương.

Được báo trước ngày giờ, anh bạn chủ bút và tôi kiếm ra Tường không khó khăn gì. Kể từ ngày chia tay nhau ở sân trường lạo xạo đá ong đầy bóng mát của Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, đây là lần đầu tiên hai đứa mới gặp lại nhau. Không kịp hàn huyên gì cả vì Tường cho biết Tổng Hội Sinh Viên đã họp mặt đủ để đón tôi tại trụ sở. Tất cả leo lên cái jeep cũ. Tôi lái, Tường chỉ đường cùng giới thiệu những địa danh nổi tiếng của Huế. Điểm đặc biệt làm tôi chú ý là cách kiến trúc các nhà, nhất là trong khu Thành Nội. Cái gì cũng nho nhỏ nhưng đầy tách biệt với nhau trong một thứ trầm lặng đầy sóng ngầm. Những con đường cũng thế, nhỏ, êm vắng nhưng không thanh thản. Tất cả như toát ra một cái vẻ vừa trì kéo của quá khứ, vừa muốn vùng lên mà bung ra dữ dội. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao con gái xứ Huế có phong thái vừa khép nép giữ gìn, ngoan ơi là ngoan, lại vừa đam mê cuồng nhiệt khi đã lâm vào thế buông thả.

Buổi trao đổi ý kiến tại Tổng Hội Sinh Viên chưa chi đã đầy sóng gió của bất đồng. Nếu cá nhân tôi đồng ý dễ dàng với những người bạn trẻ xứ Huế về điểm để chính quyền tiếp tục trong tay các tướng lãnh quân đội, thì tương lai dân tộc khó khá nổi, thì bọn tôi lại không đồng ý với nhau về chính sách chống lại Đảng Cộng Sản Việt Nam đang tấn công miền Nam. Cùng là lớp trẻ nên dù thảo luận có gay go, cái bụng cũng thấy đói. Cả bọn đồng ý hoãn tới ngày hôm sau, để cùng nhau đi ăn ở một quán cơm khá bình dân, sinh viên hay lui tới gần giòng sông Hương.

Rồi sau đó là theo Tường đi thăm những người bạn xứ Huế có uy tín đấu tranh, hoặc có ít nhiều chất văn trong người. Tôi đã đến thăm nhà của Trần Quang Long, căn nhà nghèo nhưng có vườn cây chanh nho nhỏ đủ để tác giả đặt tên tập thơ của mình là Hoa Chanh. Tôi đã ngồi trong căn phòng học nhỏ xíu của Nguyễn Đắc Xuân nghe những bài tâm ca mới làm của Phạm Duy, thu vào tape đêm ông bạn già lênh đênh trên sông Hương cùng lớp trẻ này – đây là lần đầu tôi được nghe mười bài Tâm Ca, và đã thấy xúc động vô cùng khi nhìn xuống giòng sông nhỏ kề sát có bụi tre xơ xác buông rũ. Tôi đã được đưa đến một quán cà phê nhỏ xíu trong Thành Nội, ngay giữa lục bộ thời xưa của triều Nguyễn, đã vào điện Thái Hoà đứng cạnh ngai vàng để hiểu rằng các nhà lãnh đạo thời quân chủ của Việt Nam thường vô cùng khiêm tốn, tránh xa hoa, nếu so với các vị vương gia khác trên thế giới cùng thời. Tôi đã leo lên cửa Ngọ Môn uy nghi nhìn xuống quãng trường rộng phía dưới để hiểu rằng các vương triều thời xưa phải trọng võ đến mức nào. Làm người Việt Nam, lỏng tay cung kiếm là mất nước như không.

Tôi đã cùng Tường và các bạn khác nữa đã có lúc ngồi ở một quán cà phê do một đại gia suy sụp mở. Bàn kê ngay trên thềm hiên cạnh ngạch cửa của một ngôi nhà lớn cổ kính rêu phong và tôi có giương mắt lên quan sát, dù ở đây hay trên các con đường của Vĩ Dạ, ít khi thấy bóng dáng một giai nhân tha thướt ẩn hiện. Có lẽ tôi chỉ được nhìn thấy nhiều cô gái Huế trong quần áo trắng mỏng manh vừa mời mọc vừa thủ thế che dấu tại cầu Trường Tiền giờ tan học. Có lần tôi đã nửa đùa nửa thật hỏi Tường : Huế như thế này thì yêu đương làm sao đây ? Coi bộ muốn tán một cô thì phải lập kế hoạch ngũ niên chăng ? …Điều bất ngờ nhất là cả Tường và các bạn đi cùng đều xác nhận thời gian này là đúng. Họ đều biết nàng của mình, quen nàng từ lâu, rất lâu, trước khi có thể ôm lấy tấm thân mảnh dẻ với vòng eo nhỏ bậc nhất thế giới để mà hôn lên môi hay rước nàng về làm vợ. Sự khẳng định này làm tôi nhục chí thấy rõ, không còn mơ tưởng sẽ có một cô bạn gái hay người tình xứ Huế nữa.

Cuộc thảo luận sau đó cũng không dẫn tới đâu. Bất đồng quá sâu đậm giữa hai bên. Nhất là về sự tham chiến của quân đội Mỹ. Những người bạn xứ Huế của tôi ghét Mỹ một cách tổng quát, rất thể xác. Có thể nói ngửi thấy mùi Mỹ, trông thấy người Mỹ là họ nổi gai lên rồi – dù những người lính Mỹ thời kỳ này muốn đến thăm Huế đã phải mặc thường phục theo yêu cầu của thượng cấp để khỏi chọc giận thanh niên nơi này. Những người bạn Huế nhắc quá nhiều tới chuyện một cô gái điếm trẻ bị lính Mỹ hiếp chết quăng xác vào bãi rác, thậm chí một lần khi tổng cộng tám người cùng leo lên chiếc xe jeep cũ tôi lái, đã có bạn buông ra một câu : “Tám người mình đâu có nặng bằng bốn thằng Mỹ ha!”. Có thể nói họ có phong cách như các cụ xưa thời Minh Mạng Thiệu Trị và Tự Đức, coi người da trắng mắt xanh đều là bọn “Bạch quỷ”, hoặc tệ hơn, như Nguyễn Huệ đã có lần coi người Tây phương là những cái xác trắng bệch trôi từ biển Bắc xuống.

Về điểm nào chứ điểm này tôi bất đồng dữ dội. Tôi trình bày thẳng thắn là tôi và các bạn ở Sài Gòn cũng có chống Mỹ, nhưng là chống chính sách Mỹ đang áp đặt cho Việt Nam. Nói kiểu bây giờ, là chống cái policy của chính quyền Mỹ đang theo đuổi trong chiến tranh Việt Nam – thứ policy chắc chắn sẽ đưa miền Nam đến thảm bại trong tương lai. Cuộc chiến tranh này là của chúng ta mà, người Mỹ lúc này có mục tiêu tạm thời trùng hợp với Việt Nam Cộng Hoà, thì họ mang quân tới giúp. Ngày nào họ hoà được với Trung Quốc, ngày ấy họ sẽ rút khỏi phần đất Việt không vương vấn. Nước Mỹ nói chung, đâu có quyền lợi kinh tế và văn hoá nào đáng kể ở Việt Nam để vương vấn. Tôi trình bày thẳng thắn những ý nghĩ đó và nói thêm đối với tôi, sự hiện diện của quân đội Mỹ là cái mộc tốt, đỡ đòn cho ta để người Việt quốc gia có đủ thì giờ chấn chỉnh lại nội bộ một cách toàn diện, nghĩa là làm Một cuộc cách mạng không Cộng Sản, để sau đó mới có đủ sức giữ vững miền Nam. Đến đây thì Tường và các bạn Huế không có gì phản đối. Nhưng khi tôi nói rõ thêm rằng như thế quân đội Mỹ là một thứ bạn đồng minh thực sự, dù là giai đoạn, thì tất cả những bạn này phản đối. Tôi cũng chẳng chịu, tôi cũng trẻ như họ, hăng hái kém gì trong ngôn từ và tranh luận, nên đã tuyên bố đại khái:

“Tôi đã từng chiến đấu cạnh những quân nhân Mỹ, và trong tương lai nếu cần, tôi sẽ còn tiếp tục như thế !”

Đến đây cuộc thảo luận bế tắc. Chẳng ai chịu nhường ai điểm nào. Người bạn chủ bút liền đề nghị chấm dứt mọi thảo luận chính trị để khỏi bất hoà. Tường và tôi là bạn học cũ nhiều năm, không ai muốn tan vỡ tình thân hữu đó. Cả hai bên đồng ý kể từ nay chỉ gặp gỡ nhau trên bình diện thân hữu và văn nghệ mà thôi. Tường liền đề nghị một buổi gặp gỡ thuần tuý văn nghệ tại Tuyệt Tình Cốc đêm hôm sau.

Chân dung Trịnh Công Sơn, Túy Hồng và Thế Uyên

(Chân dung Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Nhà văn Túy Hồng và Nhà văn Thế Uyên)

Tuyệt Tình Cốc? Nội cái tên nghe cũng đã được rồi. Thời đó thế hệ thanh niên bọn tôi đều mê kiếm hiệp Kim Dung, đến độ ở Sài Gòn thiếu gì người cầm bút đã mượn tên các nhân vật của Kim Dung làm bút hiệu, và các bạn Huế của tôi sau này mở một quán cà phê nhỏ, cũng đặt tên là Doanh Doanh. Tối hôm sau, tôi lái cái jeep cũ một mình tới điểm hẹn đón Tường. Thành phố Huế còn xa lạ với tôi, Tường bảo quẹo đâu thì tôi quẹo đó để rồi ngừng ở một con đường u tĩnh – bây giờ bảo tôi nhớ tên hay kiếm lại, chắc không nổi. Đã thế, Tường dắt tôi đi bộ trên đường nhỏ len giữa các hàng rào cao.

Tuyệt Tình Cốc là một căn nhà tranh vách gỗ giản dị nằm sau một sân rộng. Cả ba gian nhà đã đầy người dưới các ánh nến chập chờn. Hầu hết là thanh niên, ngoại trừ ba người là nữ. Và người nữ lớn tuổi nhất nơi đây được Tường giới thiệu dưới cái tên Tuý Hồng. Tuý Hồng thì tôi biết vì mới đọc vài truyện ngắn đầu tiên của cô đăng trên Bách Khoa. Lối viết mạnh bạo, nhất là về địa hạt tình dục của cô gái này làm tôi thích thú – tôi vẫn nghĩ từ lâu tình yêu bao giờ cũng bao gồm cả tình cảm lẫn thân xác, viết văn mà chỉ lãng mạn nhìn nhau qua hoa lá cỏ cây thôi không đủ. Phải nhìn thấy và thèm muốn thân thể nhau nữa…

Tôi không có thì giờ để nói nhiều với Tuý Hồng đêm đó ngoài vài câu chào hỏi vì số người hiện diện khá đông. Là khách phương xa nên tôi được mời ngồi trên chiếu giữa trải ngay trên nền đất, và khỏi nói cũng có thể biết ly cà phê được pha thật ngon, đậm sánh. Dưới ánh nến mờ ảo khói thuốc bay mù mịt thân ái quyện vào nhau. Bọn tôi đã giao hẹn trước, đêm nay không một ai được nói đến chuyện chánh trị, cách mạng, xuống đường, đấu tranh chi hết.

Sau cùng đến mục văn nghệ. Tường giới thiệu với tôi người bạn trẻ nhỏ và gầy, đôi mắt dịu dàng sau làn kính cận, hầu như không nói gì từ lúc bắt đầu dù anh ngồi đối diện tôi. Đó là Trịnh Công Sơn.

Lúc ấy nhạc của anh chưa được in ra, ở miền Nam chưa ai biết tới anh, kể cả tôi. Từ hôm tới Huế, Tường đã vài lần nhắc tới Trịnh Công Sơn và khen rất nhiều tài năng của người nhạc sĩ trẻ này. Tôi đã chỉ ừ à cho phải phép. Nhưng đêm nay, ngay sau khi Sơn ôm đàn hát lên một bài của mình về một vết lăn trầm, tôi đã thấy ma lực của lời cũng như nhạc. Sơn càng hát thêm, tôi càng cảm thấy bị quyến rũ. Có lẽ đây mới là thứ nhạc của thế hệ trẻ chúng tôi, thế hệ lớn lên trong cuộc chiến khốc liệt kéo dài. Cuộc chiến do thế hệ cha chú phát động, nhưng bọn tôi phải cầm súng, chiến đấu và chết, dù chết như một nạn nhân vô danh trong một cuộc pháo kích tầm thường tăm tối. Tôi đã thành thực khen tài Trịnh Công Sơn đêm đó, anh vẫn chỉ cười nhẹ nhàng và hiền lành sau đôi kính cận. Có thể nói trong những bạn Huế của tôi thời đó cũng như sau này, không ai hiền lành, khiêm tốn bằng anh.

Khi rời Tuyệt Tình Cốc đêm đó, tôi với Tường tách ra đi riêng trong đường hẹp tăm tối. Với tư cách bạn cũ, tôi đã hết sức khuyên Tường đừng phát động cuộc đấu tranh dự trù, bởi vì dù có lật đổ được tướng lãnh này hay kia, đâu có thay đổi được tình hình. Tôi cũng e ngại rằng sau khi thất bại, Tường và các bạn sẽ không còn đường chạy nào khác là ra ngoài mật khu với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam…Những con người cộng sản Việt Nam trước sau cũng theo chủ nghĩa Mác Lê Nin tới cùng và đó chẳng phải là một giải pháp tối ưu – có thể nói thêm đó là một giải pháp chót, tệ nhất cho dân tộc Việt.

Tôi cũng nói đã thấy thấp thoáng cạnh Tường người của Mặt Trận cài vào. Tường năn nỉ chỉ giùm những người đó, dĩ nhiên tôi từ chối vì bản thân cũng không biết chính xác. Tôi cũng rán thuyết phục Tường đưa phong trào tách khỏi thầy Trí Quang bởi vì trong những vị sư lãnh đạo thời đó, tôi e dè thầy này nhất, vì ông tuy có uy tín, có tài lãnh đạo, nhưng lại không có một chính sách nào đáng kể và dài hạn cho miền Nam cả. Về điểm này, Tường cương quyết lắc đầu vì anh cho rằng không có thầy Trí Quang, anh và các bạn trẻ sẽ không đủ sức phát động cuộc đấu tranh mong muốn.

Những người muốn quá giang xe tôi, trong đó có Tuý Hồng, đã lên xe ngồi đợi nên hai đứa không thể nào kéo dài câu chuyện. Tôi đưa tay bắt Tường thật thân hữu, Tường đáp lại nồng nhiệt không kém, vì cùng ý thức được rằng cả hai sắp lao vào những cuộc chiến đấu lớn lao, phải trả giá bằng sự tự do và cả sinh mạng của chính mình. Mỗi người một con đường.

Tôi một lần nữa lái xe trong đêm khuya của thành phố cổ kính trầm lặng nhưng sôi sục ngấm ngầm. Ai bảo tôi quẹo đâu thì tội quẹo đó, bảo ngừng cho xuống thì tôi ngừng. Sau cùng chỉ còn Tuý Hồng ngồi cạnh tôi. Nàng đã nhỏ nhẹ chỉ đường cho tôi về nhà nàng, gần một con sông nhỏ xíu có một bến nổi danh từ lâu trong thi ca Việt Nam, nhất là trong những đêm trăng. Và đêm nay cũng có trăng, dù trăng hơi mờ. Khi tôi ngừng xe ven đường có con hẻm nhỏ dẫn vào nhà Tuý Hồng, trong một khoảnh khắc, cảnh đẹp nơi này đã làm người tôi ngẩn ngơ. Tôi im lặng và Tuý Hồng cũng thế. Nhà văn mới viết này rụt rè, ít lời trong giao tế – sau này nổi tiếng khắp nước với bút pháp độc đáo, lối sử dụng chữ nghĩa tiếng Việt khéo léo như phù thủy có ma thuật, cũng vẫn dịu dàng, rụt rè trong giao tế thường nhật như thế thôi.

Sau cùng tôi xuống xe, đi vòng sang phía bên kia đỡ cô gái xuống. Hai đứa từ giã nhau giản dị như hai người bạn cũ và tôi châm một điếu thuốc đợi Tuý Hồng đi khuất vào trong hẻm, dưới ánh trăng nhạt tràn đầy trên tất cả…Tôi cho xe chạy ra bờ sông. Một đêm như thế này, làm sao có thể ngủ được. Hai người bạn đồng hành từ Sài Gòn đã hẹn tôi ở một quán để cùng nhau ngủ đò trên sông Hương đêm nay. Tới Huế, dù có lang thang tới đâu, thăm đủ các lăng tẩm chùa chiền, nhưng nếu là nam nhi, chưa ngủ đò, thì kể như chưa trọn vẹn là đã tới Huế.

Bến đò ba đứa bọn tôi hẹn nhau có cảnh cũng tầm thường thôi, nhưng khi con thuyền đã tách bến, neo gần giữa giòng sông, thì cảnh thay đổi hẳn. Những ánh đèn bên trong bờ loé sáng thơ mộng hơn, không lấn át ánh trăng tỏa trên thuyền, trên giòng sông có nước hầu như không chảy. Ba đứa tôi bàn đủ thứ truyện, các đề tài sôi động của thời ấy, xen kẻ với những lúc gọi các hàng quà, gọi bia. Chưa nơi nào hàng rong thơ mộng như trên giòng sông này. Mỗi một hàng là một con thuyền nhỏ, dáng thon mảnh như lá tre, một ngọn đèn dầu nhỏ tỏa một vòng nhỏ ánh sáng cạnh một bếp đỏ than hồng. Món gì cũng nóng hổi, thơm lừng và dĩ nhiên cay xè. Ăn xong một tô bún bò nhỏ cay bỏng lưỡi để rồi sau đó tu một chai bia 33 ướp lạnh, không gì thú vị bằng.

Nhưng rồi cũng như bao cuộc ăn nhậu giữa các nam nhi xa nhà với nhau, đề tài cuối cùng được đưa ra vẫn là kiếm một bạn đồng sàn một đêm. Cái gì chứ cái đó trên sông Hương thì dễ có thôi…Nhưng các nàng kiều nữ xuất hiện cũng khác tại bất cứ nơi đâu : tất cả đi bằng những chiếc thuyền nhỏ thanh mảnh từ từ đậu sát vào chiếc thuyền lớn. Cô nào cũng mặc đồ bộ may bằng vải nylon mỏng nhất phủ ra ngoài những bộ đồ lót nhỏ xíu, mỗi người một màu sắc khác nhau. Bọn tôi đỡ các cô lên thuyền, đặt ngồi cạnh trên khoang phía trước, nhưng chưa ai thấy hứng thú dục tình. Cảnh trí đẹp, đề tài ba đứa đang thảo luận quá hào hứng, nên bọn tôi chỉ tháo gở hết toàn bộ áo quần hai cô gái rồi để nằm dài bên cạnh dưới ánh trăng. Ngay tôi cũng vậy, vừa uống bia vừa thảo luận, tay kia vuốt ve thân hình đầy đường cong êm ái của cô gái nằm cạnh, thấy cũng quá đủ thú vị, không cần phải có mục sau cùng. Nhưng các cô thì khác, thời gian với họ là tiền bạc. Mỗi đêm họ cần cho thuê thân xác tối đa…Bởi thế cô gái nằm cạnh tôi sau cùng đã nói nhỏ : Các anh đi đi cho tụi em còn về..

Đã được nhắc thì phải mang nhau vào khoang trong nhập cuộc mây mưa thôi, và quả thực đêm đó khoái cảm tôi thu nhập được thật nghèo nàn. Ra ngoài khoang trước tiếp tục uống bia hút thuốc ngắm trăng còn thú vị hơn nhiều.

Đêm thức khuya nhưng bọn tôi vẫn dậy sớm vì những tiếng cười nói nô giỡn của phái nữ ngay trong giòng sông. Tôi thò đầu ra ngoài đúng lúc mặt trời bắt đầu tỏa những ánh hồng đầu tiên trên những kiều nữ từ tất cả các thuyền có thuê thân xác các cô qua đêm. Họ cứ mặc nguyên bộ đồ mỏng như thế mà bơi trong nước, thỉnh thoảng lại leo lên một tảng đá ngầm, đứng thẳng người lên tắm gội. Cả ba đứa tôi cùng đột nhiên để ý tới một cô gái mặc đồ xanh đứng trên đá ngầm gần thuyền. Bộ đồ mỏng ướt nước đã bày lộ rõ một thân hình đẹp, chắc chắn nhưng mảnh mai của con gái thành thị – không ngắn và háng chắc quá to như các cô gái điếm thông dụng khác – người bạn tôi đưa tay vẫy, cô gái mĩm cười, bơi lại. Bọn tôi đưa tay kéo cô gái lên thuyền, đưa vào khoang trong. Sau một đêm nhậu nhẹt và một giấc ngủ ngon, lòng trai bây giờ mới nổi sóng dữ. Nhất là dưới ánh nắng đầu tiên chiếu qua cửa sổ khoang thuyền, thân hình cô gái tuyệt đẹp, trắng không một vết gợn. Cả ba đều giành nhau nhập cuộc trước nên tôi đề nghị rút thăm. Nghe lời đó, đột nhiên cô gái chua chát nói với tôi : “thân em đã đến như thế này mà anh còn nỡ đưa ra làm đồ vật để bắt thăm sao?”

Từ khi lớn lên, Tôi đã gặp gỡ thiếu gì gái điếm và chưa bao giờ tôi khinh bỉ họ. Đối với tôi, họ đáng thương và dù có làm điếm, cũng vẫn là một con người. Tôi thường bao giờ cũng dịu dàng và thân hữu với họ. Bởi thế, sau khi nghe câu trách của cô gái, tôi buông ngực nàng ra, ngỏ lời xin lỗi, rồi bỏ ra ngoài mũi thuyền, uống ly cà phê nóng đầu tiên của một ngày trên giòng nước đã chuyển sang màu xanh thẵm dưới ánh nắng của một ngày mới bắt đầu.

Bọn tôi rời chiếc thuyền và giòng sông đi Đà Nẵng, lên máy bay quân sự trở về Sài Gòn vào lúc đêm đã khuya. Từ đó chưa lần nào tôi gặp lại Tường nữa.

Cuộc chiến đấu của Tường và những thân hữu xứ Huế đã bùng ra sôi nổi vô cùng sau đó. Nhiều năm, rất nhiều năm về sau, nhà văn Nguyễn Mộng Giác ở Hoa Kỳ đã lấy nhân vật Hoàng Phủ Ngọc Tường này, thêm phần hư cấu tạo ra nhân vật Tường trong truyện dài Mùa Biển Động. Trên thực tế, đúng như tôi đã lo ngại, khi cuộc chiến đấu thất bại, đa số những người bạn này, kể cả Tường, chỉ còn con đường chạy ra ngoài khu với Việt Cộng. Sau 30 tháng tư 1975, Tường đã cùng một số bạn sống sót trở về trong hàng ngũ của kẻ chiến thắng và thống trị mới. Tôi không biết anh giữ những chức vụ gì ở ngoài Huế, chỉ thỉnh thoảng đọc một vài ký sự hay truyện ngắn anh đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tài văn chỉ đại khái thôi. Và dĩ nhiên anh chẳng bao giờ liên lạc hay tới thăm tôi nữa. Cái tệ của chủ nghĩa Mác Lê là ở chỗ đó. Đã không cùng một lý tưởng, thì cha mẹ anh em bạn bè cố tri cũng đều có thể coi như kẻ thù.

Trong những người từ Tuyệt Tình Cốc đêm đó đi ra, có hai người sau này danh tiếng lẫy lừng. Người thứ nhất là Tuý Hồng đã bỏ Huế vào Sài Gòn lập nghiệp, nhưng có một nếp sinh hoạt khác nên thỉnh thoảng tôi mới gặp lại ở các toà soạn báo Văn hay Bách Khoa. Người thứ hai là Trịnh Công Sơn. Sơn nổi tiếng nhanh không kém và danh tiếng phổ biến khắp quần chúng . Nhưng dù nổi tiếng như thế, tác phong anh vẫn giản dị như xưa. Tôi thỉnh thoảng gặp anh ở khu nhà tiền chế trong khuôn viên của trường Đại học Văn Khoa. Vẫn xềnh xoàng với chiếc áo sơ mi kaki hay trắng ngắn tay với chiếc quần không mấy khi thẳng. Sau này anh có thuê một căn gác nhỏ và khi tôi tới chơi đúng hôm trời mưa, thì mái dột tứ tung. Chủ và khách cứ việc thoải mái xê dịch sao mưa khỏi rơi trúng đầu là được. Tôi không biết các nhà xuất bản in nhạc anh, các nhà thu băng…có trả tác quyền anh khá không, chứ phần tôi, chưa bao giờ thấy anh có tiền nhiều một chút. Có thể nói anh không quan tâm đến tiền bạc, ngay chuyện tác quyền, anh cũng để các em đứng ra thay thế.

Vợ tôi, y hệt trăm ngàn phụ nữ khác của thế gian này từ thời khai thiên lập địa tới giờ, rất quan tâm tới việc xem ai là người tình của Trịnh Công Sơn. Và quả thực tôi đã không trả lời được. Tôi không thấy dấu vết đâu là người tình của Sơn. Tôi chưa bao giờ gặp anh đi thân thiết với một cô gái nào. Có thời kỳ tôi tưởng Khánh Ly có thể là ” người tình trong bóng tối ” của Sơn, vì Sơn hay nhắc tới cô du ca này với giọng trìu mến. Anh khen Khánh Ly có một thông minh tuyệt vời về âm thanh, dạy qua một vài lần là đã hiểu, nắm vững được bản nhạc cùng cách thế diễn tả. Nhưng tôi biết là không phải từ hôm đang đứng nói chuyện với Sơn ở thềm hiên Hội Hoạ Sĩ Trẻ Sài Gòn. Khánh Ly tới, cần hỏi anh điều gì gấp. Nhìn cách thế cô du ca này đặt tay lên cánh tay Sơn, nhất là nhìn ánh mắt nàng nhìn Sơn, tôi hiểu giữa hai người chưa bao giờ có chuyện ái ân. Phụ nữ, khi họ đã từng làm tình với một đàn ông nào trong yêu thương, ánh mắt họ nhìn người đàn ông ấy sẽ hơi có tính cách sở hữu thân thuộc khá dễ nhận ra. Nhiều năm về sau, trong một bài phỏng vấn ở Hoa Kỳ, nữ ca sĩ này cũng xác định là trước sau không có quan hệ thân xác nào với Sơn cả.

Vậy ai là đối tượng yêu đương để nhạc sĩ này làm ra những bản tình ca tuyệt vời như thế ? Tôi không biết và e rằng cũng chẳng còn cơ hội nào để biết.

Cùng ở Sài Gòn, nhưng tôi quá bận nên thỉnh thoảng mới gặp Sơn. Một lần nhóm Thái Độ tổ chức một buổi ra mắt sách tại quán Hầm Gió của Nam Lộc. Phạm Duy, Miên Đức Thắng và Trịnh Công Sơn đều đến tham dự. Khi men bia đã ngà ngà, một người đề nghị cả ba nhạc sĩ lên hát chung một bài. Đứng giữa Phạm Duy mập mạp và Miên Đức Thắng đẹp trai to khỏe, Sơn thật mảnh mai, thư sinh. Sơn đề nghị hát một bài của Phạm Duy, nhưng ông bạn già này tế nhị từ chối. Sau cùng cả ba cùng đàn và hát một bài của Sơn, trong lúc đó tôi ngồi ngay trên bục gỗ dưới chân, tay cầm một ly bia lớn. Tôi đã thích thú vô cùng vì bài nhạc được lựa là một trong những bài tôi ưa thích nhất thời đó.

Vài hôm sau 30 tháng tư 1975, tôi đang đạp xe tới trường thì gặp Sơn đang đứng ở vĩa hè gần ngã tư Phan Thanh Giản Lê Văn Duyệt. Hai đứa mừng rỡ bắt tay nhau. Sơn than với tôi là anh đến Quận 3 để xin về Huế thì bị ban Quân Quản ốp, đòi xuất trình giấy tờ chứng tỏ là ngụy quân ngụy quyền. Mấy bộ đội nơi đây lý luận rằng ở hạng tuổi Sơn, nếu không đi làm công chức thì chắc chắn phải đi lính. Sơn đã giải thích rằng anh đã trốn lính và lần này bị ốp nặng hơn. “Giấy chứng nhận trốn lính của anh đâu ?”. Nghe kể, tôi phì cười và hỏi ông bạn nhạc sĩ hiền lành đã kiếm ra cơ quan nào phụ trách cấp giấy tờ chứng nhận trốn lính hay chưa…Tôi có hỏi anh về vụ anh hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh những giờ đầu tiên miền Nam đổi chế độ, thì anh cho biết là bạn bè ngoài khu về kiếm ra anh ngay, kéo lên xe đưa đến đài phát thanh. Không kịp về nhà lấy đàn, nên anh phải hát tay không.

Sau khi tôi được tha khỏi trại cải tạo, tình hình phía Trịnh Công Sơn đã khá hơn. Trước hết anh không phải đi cải tạo – trong ba diện chính phải đi là sĩ quan, công chức từ cấp phổ thông trở lên và đảng phái cũ, thì anh đều không dính. Hơn nữa, anh đã được hội nhạc sĩ thành phố kết nạp làm hội viên. Trụ sở hội đặt tại một toà nhà nhỏ trong khuôn viên của Hội Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh đường Trương Minh Giảng. Mỗi lần tôi ghé câu lạc bộ nơi này thăm bạn bè như Sơn Nam hay Vũ Hạnh, tôi đều gặp anh.

Có lần được đọc một bài Sơn viết đăng trên một tạp chí của Đảng trong đó anh tuyên bố rằng trước tháng tư 75 anh đã đi trong bóng đêm và làm những lời than khóc, còn bây giờ anh đã được đi trong ánh sáng mặt trời…Nhưng đọc thì đọc thôi, tôi không có ý kiến gì bởi vì trong chế độ cộng sản, ai cũng có thể bị ép buộc để nói ra những lời không thật, lắm khi trái cả với ý nghĩ hay lập trường chân thật của mình. Ngay cả báo chí phỏng vấn cũng vậy. Bất cứ ai khi được phỏng vấn, đều được mớm sẵn câu trả lời cho đúng bài bổn. Giả thử ai có tuyên bố bất ngờ khác với bài bổn qui định, thì toà báo cũng không đăng. Chưa kể trong nhiều trường hợp, nhà báo còn ghép cho mình những câu không hề nói.

Bởi thế trong thời kỳ cắp sách đi học Văn và Sử tại trường Sư Phạm Bồi Dưỡng, khi giáo sư chủ nhiệm bấm cho biết hôm nay sẽ có nhật báo Sài Gòn Giải Phóng đến kiếm để phỏng vấn, tôi đã khá đau đầu để kiếm cách tránh né. Đang là sinh viên, đâu có cúp cua ở nhà dễ dàng được – nhất là khoá học này quan trọng đặc biệt cho toàn thể gia đình : tôi có học xong và được bổ nhiệm làm giáo sư trở lại thì cả nhà mới khỏi phải đi vùng kinh tế mới An Biên tít mãi miệt Rạch Giá sình lầy…Cứ nghĩ tới cảnh vợ tôi phải lội sình ngang lưng với đỉa như bánh canh, thì quả thật tôi không đùa với ban giám đốc trường đang học được. Sau cùng tôi đã phải dùng một kế rất trẻ con là giờ đầu kiểm danh, tôi có mặt đàng hoàng, nhưng đến giờ thứ hai thì tôi rủ một người bạn nữa phóng qua cổng chui vào quán cà phê túi gần đó núp. Giờ chót lại có mặt trong lớp. Giáo sư chủ nhiệm túm lấy tôi, than là đã phải để phóng viên trở về tay không vì không kiếm ra tôi…Tôi mượn vài lời nói khéo xin lỗi cho qua, còn hơn là để bị phỏng vấn rất tức cười. Tránh không được thì bà con Sài Gòn sẽ được đọc một bài Thế Uyên tuyên bố bí beng giống y chang một nhà văn chính cống từ miền Bắc mới vào. Ngay về sau Tin Sáng của Ngô Công Đức phỏng vấn cũng vậy, chỉ có một phần lời tuyên bố là của tôi, còn lại là nhà báo tự tiện thêm vô cho “đúng bài bổn”.

Tuy ở vị trí khá hơn tôi nhiều, nhưng về phương diện tác phẩm thì Sơn cũng chịu chung cùng một số phận. Toàn thể những bản nhạc anh sáng tác trước 30 tháng 4, 1975 đều bị xếp loại “văn hoá thực dân mới” (Đảng gọi toàn bộ văn hoá văn học của miền Nam bằng từ ngữ như vậy), bị cấm phổ biến, tàng trữ và lưu hành. Toàn bộ đây là tất cả, kể cả bài Sơn hát về Nối vòng tay lớn để cùng xây dựng lại đất nước.

Thật cũng kỳ lạ, nhiều năm về sau, sau khi định cư ở Hoa Kỳ, tôi lại thấy trên một số báo chí hải ngoại có những bài hô hào đừng nghe đừng hát nhạc Trịnh Công Sơn sáng tác trước tháng 4-75 nữa vì đương sự là cộng sản. Những người cộng sản khi phủ nhận nhạc Sơn, họ có một hệ thống kinh điển và bài bổn lập luận đàng hoàng. Còn những người cầm bút ở hải ngoại kia…

Nhưng như trên đã ghi, Sơn ở vị trí khá hơn, thoải mái hơn anh em văn nghệ sĩ miền Nam cũ. Anh bị xoá bỏ toàn bộ quá khứ, nhưng đảng cho anh tiếp tục tồn tại như một nhạc sĩ. Anh vẫn được ôm đàn đi hát những nơi anh được mời. Còn về sáng tác, anh vẫn được phép làm nhạc. Nhưng bài nào được phổ biến, bài nào bị vứt vào ngăn kéo, đó là quyền của đảng, không phải do Sơn. Tôi có theo dõi những bài Sơn mới làm, một số bài khá hay, được phổ biến từ Bắc tới Nam và thu vào tape cho cassette. Bước vào một quán cà phê nào có để nhạc, khách hàng cũng được nghe một vài bản của anh. Đề tài của nhạc Trịnh Công Sơn bây giờ thường là đề cao tình yêu thương giữa các người đồng loại, lòng say mê lao động tại các nông trường công trường xa.

Và đúng như lời Sơn tuyên bố, bây giờ anh không làm những lời than thở nữa. Nhạc anh mới làm, vui và hào hùng một cách nhẹ nhàng. Tôi ở lại với chế độ cộng sản hơn mười hai năm mới ra đi, trong suốt thời gian dài này, chưa bao giờ tôi thấy anh làm một bài nào ca tụng Hồ Chí Minh, ca tụng đảng cả.

Về nghệ thuật, bản thân tôi cũng như lớp trẻ mới lớn lên sau này, đều nhận thấy anh làm không hay bằng trước. Trước mười phần thì bây giờ chỉ còn chừng sáu bảy phần. Nhưng bấy nhiêu cũng quá đủ để nhạc anh tiếp tục được ưa chuộng, và lần này, suốt từ Nam ra Bắc.

Đó là nói về văn chương chính thống, được phổ biến công khai. Còn trên thực tế, dân chúng cả hai miền vẫn thích nhạc trước tháng 4-75 của Sơn. Đảng cấm gắt gao thì ta hát nho nhỏ, nghe thì thào. Từ những người bộ đội trẻ của miền Bắc tới cán bộ lớp trung niên trở xuống, đều mua lén những tape nhạc cũ của Sơn để nghe một cách say mê, say mê hơn cả những người miền Nam chính cống nữa. Khỏi nói khi nghe và nghe say sưa những bản nhạc vàng đầy tình người này, tâm hồn những con người tưởng đã sắt đá trong chủ nghĩa ấy đã bắt đầu thay đổi.

Phía tôi, càng ngày tôi càng lánh xa con đường chữ nghĩa văn chương. Tôi không thể tiếp tục viết nếu những bài văn tôi viết không phục vụ cho dân tộc tôi. Thậm chí có lần tôi đã chua chát trả lời đại diện một tờ báo đảng mời tôi viết rằng “Bây giờ tôi viết cho ai đây. Viết cho nhân dân thì các anh không cho. Còn viết để ca tụng đảng, ca tụng chế độ xã hội chủ nghĩa thì các anh đã có quá đông người. Tôi rất tiếc không thể chen chân vào hàng ngũ ấy…”

Vào thời đó, lối ăn nói kiểu này gây mất lòng mất bề kinh khủng. Bởi thế ngay đến Hội Văn Nghệ Thành Phố cũng không chịu cho tôi gia nhập, dù chỉ với tư cách dự khuyết. Theo cách tổ chức của chế độ cộng sản, không được kết nạp vào hội văn nghệ nào, kể như văn nghiệp bị xoá bỏ cho cả tương lai.

Kể từ đó tôi ít lui tới trụ sở hội văn nghệ ở đường Trương Minh Giảng, và nếu có theo bạn bè đến, chỉ để uống cà phê khá rẻ ngoài sân cỏ rộng đầy cây cao bóng mát. Một lần, Sơn đã tâm sự với tôi, giọng buồn rầu : “Đứa em chót của tôi vượt biên và đã tới Mỹ. Anh có biết nó viết thư cho tôi thế nào không, khi nó là đứa em gái tôi thương nhất. Nó bảo rằng anh Sơn ơi từ giờ khỏi lo nhé. Bọn em kiếm dư tiền gửi về nuôi anh no đủ để tha hồ mà sáng tác cho đảng !” Nghe lời than này, tôi chỉ cười vì không biết nói sao.

Nhiều năm nữa trôi qua tôi mới lại uống cà phê nơi trụ sở hội này. Không còn là nhà văn nữa, lui tới nhiều làm chi. Lần đó, tôi cũng gặp Sơn. Tình hình lúc đó đã thay đổi nhiều. Chủ nghĩa Mác Lê Nin đã tỏ ra thất bại trong việc mang lại tự do và cơm áo cho toàn dân, hàng ngũ đảng viên cán bộ đã thoái hoá nhiều, biến thành một thứ quan lại Bắc Kỳ tham ô hống hách. Đa số các đảng viên đã hết là con người cách mạng, mơ thực hiện một giấc mơ thiên đường hạ giới cho toàn dân.

Tôi hỏi đùa Sơn : “Trước 75 anh bảo là anh đi trong bóng đêm, sau 75 vài năm thì anh bảo anh đi dưới ánh sáng mặt trời, vậy thì bây giờ anh đang đi dưới ánh sáng gì ?”. Sơn nhìn tôi với đôi mắt vẫn hiền lành sau làn kính cận, không trả lời, quay lưng bỏ đi không một lời giã từ.

Đó là lần cuối cùng tôi gặp Sơn, một con người ra đi từ Tuyệt Tình Cốc năm xưa.

Đêm đầu tiên tại trại tị nạn bên xứ Phi, cả gia đình tôi dùng những đồng tiền cuối cùng mang theo ra quán cà phê do dân tị nạn mở trong trại. Xứ Phi cũng có mùa đông nên trời khá lạnh. Quán lại bày bàn ghế giữa trời nên bọn tôi mặc thêm áo lạnh và tape nhạc đầu tiên bọn tôi yêu cầu chủ quán để cho nghe là một tape nhạc cũ của Trịnh Công Sơn. Ở Việt Nam, mọi người vẫn đàn và hát nhạc Trịnh Công Sơn cũ, nhưng bao giờ cũng mắt trước mắt sau xem có công an hay cán bộ nào ở trong tầm của âm thanh hay không. Ngay lũ con tôi cũng vậy, thường tới đêm khuya, tôi đã ngà say với xị rượu, chúng mới mang đàn ngồi chiếc ghế đối diện đàn những bản nhạc cũ xưa cho tôi nghe…Bây giờ đến được vùng đất tự do, phải nghe cho lớn và công khai cho đã.

Sau khi đã định cư ở Mỹ, tôi mượn tất cả những tape nhạc cũ của Trịnh Công Sơn của các bạn bè đi trước, để vừa uống bia vừa nghe lại hết những âm điệu cũ trong mùa đông dài đầu tiên nơi quê hương mới còn đầy xa lạ. Nhưng dĩ nhiên cả nhà dần dà không còn thấy hay, rung động như thời ở quê hương cũ nữa.

Con người phải thay đổi để hội nhập vào xã hội mới. Chúng ta phải xa dần nếp sống ngày xưa với nền văn hoá cũ quen thuộc. Người Việt hải ngoại mỗi ngày một nghèo đi về di sản văn hoá mang theo. Bởi thế tôi không đồng ý với những người bạn cực đoan kia đang đòi hỏi xoá bỏ nhạc Trịnh Công Sơn khỏi gia tài văn hoá cũ. Là một giáo sư dạy Việt văn hơn hai mươi năm xuyên hai chế độ, đã soạn sách giáo khoa cho học sinh trung học, có bao giờ tôi thắc mắc về những tác phẩm của các nhà văn tiền chiến đâu.

Chúng ta đã giảng dạy trong bao nhiêu năm văn thơ của những Xuân Diệu, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng…trong khi những người này đã ở lại miền Bắc sau 1954. Chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã có lý vô cùng khi cho rằng những tác phẩm trước 1954 đã thuộc về gia tài văn hoá chung của người Việt Nam. Sau 1954, họ có theo đảng Cộng Sản thì là chuyện chọn lựa riêng của họ. Chúng ta chống Cộng thì con em sẽ không học những tác phẩm sáng tác sau 1954 .

Trong nhiều trường hợp, chúng ta còn mở rộng tới nền thi ca trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946-1954, nếu những tác phẩm đó hay và không đề cao Cộng Sản. Từ bao nhiêu năm trước 30 tháng 4-1975 có ai thắc mắc về việc phổ biến những bài thơ của Quang Dũng, Hoàng Cầm….Đến độ bài Màu tím hoa sim được phổ biến thành nhạc phổ thông khắp hang cùng ngõ hẻm cũng đâu gây ra một thắc mắc trở ngại văn học nào.

Bởi thế tôi nghĩ rằng sống ở hải ngoại trong tới bốn mươi quê hương rải rác trên trái đất này, chúng ta không nên khó khăn quá đối với di sản văn hoá cũ còn mang theo được. Tất cả những nhạc Trịnh Công Sơn trước tháng 4-75 hãy để chúng thuộc vào gia tài văn hoá của Việt Nam. Một mình đảng Cộng Sản Việt Nam phủ nhận, đốt bỏ, cũng là quá đủ rồi. Còn với những bản nhạc nhạc sĩ này sáng tác sau 75, nếu hay và đầy đủ tình người, thì chúng ta cứ nghe.

Nhưng là vì người đã nghe nhiều nhạc mới của Trịnh Công Sơn, tôi cũng thành thực ghi nhận rằng loại nhạc này chẳng có bao nhiêu hy vọng được ưa chuộng trong thế hệ sau của Việt Nam hải ngoại. Bản thân chúng ta đã thay đổi dần, con cháu chúng ta còn thay đổi hơn. Nếu còn một chút góc tai nào muốn lắng nghe âm thanh của Việt Nam, cũng còn là điều đáng mừng cho tất cả.

Trời miền Tây Bắc nơi tôi cư ngụ về mùa Thu mùa Đông nhiều khi rất buồn. U ám, mây bay, sương mù, mưa dầm, không khí giá lạnh. Nhiều buổi sáng, khi kéo cổ áo cho mưa bớt rơi vào cổ, ngậm điếu thuốc, tôi đi như chạy trên những con đường nhỏ trong khuôn viên trường Đại Học đang theo học cho kịp giờ học kế…những lúc ấy thật thấy nhớ nhà và thèm cái nắng ấm của Sài Gòn, của Việt Nam nhiệt đới. Tâm hồn bay bổng đôi lúc về quê hương cũ, về những người thân yêu còn ở lại, về dân tộc mình bên kia biển Thái Bình Dương rộng lớn, tôi đôi lúc thở dài.

Trịnh Công Sơn đã có lý khi anh chọn ở lại quê hương. Nơi này, anh có đất nước, có dân tộc và dĩ nhiên có cả quê hương đích thật. Anh vẫn được làm một nhạc sĩ, mặc dù mười bài làm ra thì quá nửa không được chính quyền cho phổ biến. Nhưng với những bản còn lại, nhạc điệu và lời ca đẹp như thơ của anh vẫn được vang lên khắp từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau đầy bùn lầy và phù sa. Anh được làm nhạc sĩ cho dân tộc hơn sáu mươi triệu của mình, trên quê hương mình. Anh chọn lựa ở lại là phải. Bởi vì ai danh tiếng cho bằng người bạn già Phạm Duy thân ái của tôi, nhưng hay đến mười bài Rong Ca thì cũng chỉ phổ biến trong có một triệu người xa quê phân tán trên khắp hành tinh trái đất này.

Trịnh Công Sơn ở lại là phải. Nhưng còn tôi, tôi ra đi cũng là phải. Tôi không thể ở lại để viết những bài trái với lương tâm mình, không phục vụ cho dân tộc mình. Ở lại, tôi trở thành một người già vô dụng, không giúp ích gì được cho bất cứ ai, và cũng chẳng còn là nhà văn tiếp tục. Ra đi, tôi có tự do và được làm nhà văn theo ý mình một lần nữa, dù chỉ là nhà văn cho có một triệu người.

Rốt cuộc mỗi người một hoàn cảnh. Chọn lựa nào cũng có cái lý của nó, và cũng có một nỗi buồn riêng. Một kết luận có vẻ nhiều bi quan. Có lẽ tại mùa Đông đang đến, tại buổi sáng sương mù, tại mưa rơi trên những con đường dẫn tới lớp học chăng ?

Tôi cũng không biết nữa.

Thế Uyên

Trích VĂN, Số 81, tháng 3-1989

(Nguồn:https://sangtao.org/2016/07/14/nhung-nguoi-tu-tuyet-tinh-coc/)

Chiều Bên Giáo Đường Fatima. Thơ Hư Vô


Đồi Xanh

(Đồi Xanh. Tranh sơn dầu Đinh Cường)

Có dòng sông chảy vào đáy mắt
Từ buổi chiều hiu hắt tiễn nhau
Tượng đá còn đau thời xanh tóc
Sóng xô trời đất cũng bạc đầu.

Em đâu quay về nơi ấy nữa
Để nghe lời thủ thỉ thật gần
Mà đã đôi lần tôi lạng quạng
Gọi nhau ngọng nghịu tiếng tình nhân.

Của thuở hàng cây chưa thay lá
Bước chân em đã quá đỉnh sầu
Soi bóng buồn chung con nước lớn
Dòng sông chảy ngược sóng về đâu!

Đưa em qua bến bờ xa lắc
Nhìn chưa rõ mặt chỗ đông người
Hồi chuông dóng ngang dòng cựu ước
Dội xuống đời tiếng khóc lẻ loi…

Hư Vô

40 Năm Hải Ngoại – Một Nén Hương – Một Bông Hồng Cho Những Nhà Văn – Nhà Thơ Đã Khuất Núi


 Nhà Văn Nhật Tiến (tổng hợp nhiều nguồn)

 

40 Năm Hải Ngoại- Một Nén Hương- Một Bông Hồng Cho Những Nhà văn- Nhà Thơ Đã Khuất Núi

(Chân dung những Nhà Văn – Nhà Thơ đã khuất núi)

Thời gian 40 năm chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử, nhưng tuy vậy cũng đủ để cho con người hoàn tất một sự nghiệp hay từ giã cõi đời.

Trong suốt 40 năm qua, kể từ khi miền Nam sụp đổ trước sự xâm lấn của CS miền Bắc, nhiều văn nghệ sĩ vốn đã tạo dựng nên một nền Văn Học rực rỡ của miền Nam cũng đã vượt thoát ra đi để mưu tìm một cuộc đời tự do đáng sống. Trên phần đất tự do thuộc nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh những nỗ lực để hội nhập vào xã hội mới, các nhà văn, nhà thơ gốc Việt vẫn tiếp tục miệt mài sáng tạo, duy trì và phát triển Văn Học Miền Nam trên đất tạm dung để có thể coi là đã có một nền văn chương VN hải ngoại. Và cũng ròng rã trong suốt 40 năm tận tụy với ngòi bút ấy, nhiều người đã lặng lẽ ra đi, bỏ lại phía sau những công trình có thể chưa hoàn tất nhưng cũng đã gieo nhiều nỗi ngậm ngùi, xót xa trong lòng của nhiều người ở lại.

Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm hội nhập, mặc dù không thể thu góp đầy đủ danh xưng của tất cả những nhà văn, nhà thơ đã khuất bóng, phần liệt kê dưới đây xin coi như một nén nhang, một bông hồng cho tất cả những nhà văn, nhà thơ đã mất ở hải ngoại mà trong suốt 40 năm qua đã góp phần cung ứng cho đời những tác phẩm quý giá để các thế hệ sau khi nhìn lại không thể không biết tới.

Danh sách dưới đây xếp theo thứ tự thời gian mà các vị đã khuất núi.

 

thanh-nam

THANH NAM
(1931-1985)

Nhà văn/nhà thơ Thanh Nam tên Trần Đại Việt, người làng Mỹ Trọng tỉnh Nam Định, thân phụ là Tổng Giám thị trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Nội ngày trước.

Năm 1946, mới 15 tuổi, Thanh Nam đã được tờ báo Thiếu Nhi tại Hà Nội đăng thơ và mời cộng tác, và viết một số Sách dành cho tuổi trẻ cho nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh.

Năm 1953 ông vào Sài Gòn, được mời làm Tổng Thư ký báo Thẩm Mỹ, viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ độc giả, phụ trách nhiều mục khác như Phụ nữ Gia Đình, Gỡ Rối Tơ Lòng … và còn ký nhiều bút hiệu như Sông Hương, Cô Hồng Ngọc, Bà Bách Lệ, Tôn nữ Đài Trang, Thợ Cạo. Năm 1960, ông hợp tác với nguyệt san Hiện Đại do Nguyên Sa và Thái Thủy chủ trương, và là Tổng Thư ký tuần báo Nghệ Thuật, cùng viết bài trên tuần báo Kịch Ảnh.

Di tản sang Hoa Kỳ năm 1975, ông tạm cư tại tiểu bang New Jersey rồi năm 1976 định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở đây ông cộng tác với tờ Đất Mới và một trong vài tờ báo Việt ngữ đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ. Ông mất vào ngày 02 tháng 06 năm 1985 do chứng ung thư thanh quản.

Tác phẩm đã xuất bản:

Hồng Ngọc (1957)
Người Nữ Danh ca (1957)
Buồn Ga Nhỏ (1962)
Giấc Ngủ Cô Đơn (1963)
Còn Một Đêm Nay (1963)
Cho Mượn Cuộc Đời, Bầy Ngựa Hoang (1965)
Giòng Lệ Thơ Ngây (1965)
Những Phố Không Đèn (1965)
Mấy Mùa Thương Đau (1968)
Gã Kéo Màn, ….
Đất Khách (1983)

vu-khac-khoan

VŨ KHẮC KHOAN
(1917-1986)

Ông sinh năm 1917 tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y Khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh Nông, tốt nghiệp kỹ sư sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Ông là tác giả những vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948), Thành Cát Tư Hãn, và Giao thừa (1949). Hai vở Giao thừa và Thằng Cuội đã được trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội vào những năm 1951 và 1952. Bài vở của ông cũng được đăng trên báo Phổ thông và Quan điểm.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam viết cho các báo Tự do, Quan điểm rồi làm chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ của Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn.

Ông tỵ nạn sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota và thành lập Hội Phật giáo Việt Nam tại đây. Ông mất ngày 12 tháng Chín, 1986.

dao-van-vi

ĐÀO ĐĂNG VỸ
(1908-1997)

Đào Đăng Vỹ là nhà văn, nhà văn hóa, nhà từ điển học rất nổi tiếng ở Huế từ những năm cuối của thập niên 40. Ông cũng là dịch giả có tiếng của Việt Nam. Riêng trong lãnh vực từ điển, ông đã biên soạn những cuốn như Pháp Việt Đại Từ điển (1949-52, 1963, 1970), Việt Pháp Đại Từ điển (1956, 1963, 1970), Pháp Việt Từ điển Phổ thông (1954-1956, 1960, 1963, 1965, 1970), Pháp Việt Tiểu Từ điển (1961, 1963, 1966, 1970), Việt Pháp Tiểu Từ điển (1962, 1964, 1966, 1970), Việt Nam Bách Khoa Từ điển (Cuốn I cuốn II, III…; 1959-1963).

Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1908 tại Huế, và mất ngày 07/04/1987 tại California – Mỹ.

binh-nguyen-loc

BÌNH NGUYÊN LỘC
(1914-1987)

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút hiệu khác như [Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…]

Ông đã sáng tác khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và bốn quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại độ 800 trang viết tay coi như bị thất lạc.

Ông cũng từng viết tiểu thuyết bằng thơ trường thiên như Thơ Ba Mén, Việt sử trường ca, Luận thuyết y học, Thơ thổ ngơi Đồng Nai, Ca dao… Ông còn có công sưu tầm được hàng nghìn câu ca dao kèm theo chú thích về đặc điểm của mỗi câu.

Tháng 10 năm 1985, ông được gia đình bảo lãnh sang Mỹ chữa bệnh. Ngày 07 tháng 03 năm 1987, ông từ trần tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì bệnh cao huyết áp, thọ 74 tuổi

hoai-diep-tu

HOÀI ĐIỆP TỬ
(1941-1987)

Tên thật Phạm Văn Tập. Sinh năm 1941 – Tân Tỵ – tại Bạc Liêu.

Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Điệp Yên Hà, Lê Thăng, Kép Độc, Kiều Linh Khanh. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 14 tuổi, chính thức viết văn vào năm 1958 với truyện dài đầu tiên “Mớ tóc gái Phù Sa” viết trên nhật báo Chuông Mai của ông Huỳnh Hoài Lạc.

Lần lượt cộng tác với các nhật báo, tuần san như Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, Dân Đen của Nguyễn Duy Hinh, Tiếng Dân, Tia Sáng của Nguyễn Trung Thành, Tiếng Nói Dân Tộc của Lý Quý Chung, Độc Lập của Hoàng Châu, Tin Sáng của Ngô Công Đức, Thách Đố của Đặng Văn Bé v.v…

– Năm 1966 ông sáng lập Nhà xuất bản Sông Hậu cùng với các thân hữu như Trương Đạm Thủy, Ngô Tỵ, Phan Yến Linh, Phương Triều, Tâm Đạm Dương Trữ La.

– Khi sang Mỹ từ năm 1981, nhà văn Hoài Điệp Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai (Nam California) từ năm 1982 đến 1987.

Ông bị sát hại tại tòa soạn nằm trên đường Westminster (Nam California) lúc 2 giờ 15 sáng chủ nhật ngày 09 tháng 08 năm 1987. Vụ án mạng này đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam : – Vũng Lầy (1964) – Trái Cấm – Tuổi Tình Yêu, nhà xuất bản Sống Mới phát hành, 1965. – 16 Phiên Buồn (1966) – Lửa Đạn Về Thành – Tình Biển (1968) – Đỉnh Núi Sương Mù – Còn Xanh Kỷ Niệm (1969) – Bến Đục – Giọt Máu Cho Cánh Đồng Mùa Hạ (1970) – Tặng Phẩm Của Đêm – Bụi Thành Phố (1971) – Mặt Trời Mọc Cho Ai – Hành Lang Đen (1972) – Cao Ốc Số 8 (1973) – Sóng Hoang, nhà xuất bản Sông Hậu phát hành (1974)…. và một số thơ cùng truyện ngắn.

Tác phẩm đã xuất bản tại Mỹ : – Truyện dài: Trên Đầu Sóng, nhà xuất bản Hải Ngoại phát hành, 1982.

nguyen-tat-nhien

NGUYỄN TẤT NHIÊN
(1952-1992)

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30-05-1952 tại xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà..

Ông là một thi sĩ bẩm sinh, tài hoa, suốt đời cuồng nhiệt, đam mê với thơ, đặc biệt là thơ tình. Biết làm thơ từ rất sớm: Mới 14 tuổi (1966,) đã có tập thơ đầu tay “Nàng Thơ Trong Mắt” và hai năm sau, 16 tuổi (1968,) viết tiếp tập thơ “Dấu Mưa Qua Đất” (cả hai tập thơ nầy đều ký bút danh Hoài Thi Yên Thi). Năm 1970, ông tự ấn hành tập thơ “Thiên Tai,” lần đầu tiên lấy bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Năm 1978, ông vượt biên và định cư tại Pháp. Tại đây, nhà xuất bản Sud-Asie đã ấn hành tập “Thơ Nguyễn Tất Nhiên” gồm những bài thơ sáng tác từ 1970 – 1980. Sau đó, ông sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tiếp tục sáng tác thơ, nhạc, cho ấn hành các tập thơ “Chuông Mơ” (NXB Văn Nghệ, 1987) “Tâm Dung” (NXB Người Việt, 1989) “Minh Khúc” (1990, đã hoàn tất bản thảo, phổ biến hạn chế.)

Ông mất ngày 03-08-1992 tại California.

duyen-anh

DUYÊN ANH
(1935-1997)

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ. Ông sinh ngày 16 tháng 08 năm 1935 tỉnh Thái Bình.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam (tháng 4, 1976). Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ôngvượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc.

Ngày 06 tháng 02 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

nguyen-sa

NGUYÊN SA
(1932-1998)

Nguyên Sa sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950 với những tác phẩm như “Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”, v.v.

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại (Mặc Lâm –RFA).

Ông đi Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời. Ông mất ngày 18 tháng 04 năm 1998.

mai-thao

MAI THẢO
(1927-1998)

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, ông sinh ngày 08/06/1927 tại huyện Hải-hậu, tỉnh Nam-định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam-định rồi Hà-nội (học trường Đỗ Hữu Vị, sau là Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng-yên. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà-nội tản cư về quê chợ Cồn, từ đó Mai Thảo rời nhà vào Thanh-hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên-khu-ba, Liên-khu-tư đến chiến khu Việt-bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến vào thành, đi buôn. 1954, di cư vào Nam. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương báo Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông nom báo Văn. Tham gia chương trình văn học nghệ thuật của các đài phát thanh tại Sài-gòn từ 1960 đến 1975. Ngày 04/12/1977, Mai Thảo vượt biển. và định cư ở Hoa-kỳ. Ít lâu sau ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 07/1982 ông tái bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ông mất tại Santa Ana, California ngày 10/01/1998.

Tác phẩm Mai Thảo đã xuất bản:

Đoản thiên
Đêm giã từ Hà Nội (Người Việt, 1955)
Tháng giêng cỏ non (1956)
Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963)
Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965)
Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966)
Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967)
Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968)
Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969)
Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969)

Tùy bút (1970)
Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà Nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970)
Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987)
Một đêm thứ bảy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988)
Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989)
Chân bài thứ năm (Nam Á,Paris, 1990)
Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990)…

Truyện dài:
Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963)
Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác)
Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964)
Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966)
Đêm kỳ diệu (?)
Cùng đi một đường (1967)
Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968)
Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968)
Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969)
Lối đi dưới lá (1969)
Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969)
Thời thượng (Côi Sơn, 1970),
Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970),
Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970),
Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970)
Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971)
Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971)
Một ngày của Nhã (1971)
Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971)
Sóng ngầm (Hoa biển, 1971)
Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972)
Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn Đình Vượng, 1972)
Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972)
Gần mười bảy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972)
Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972)
Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
Tình yêu màu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973)
Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973)
Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973)
Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974)
Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974)
Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Thơ:
Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989)

le-dinh-dieu

LÊ ĐÌNH ĐIỂU
(1939-1999)

Nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động xã hội Lê Đình Điểu, người bạn lớn của nhiều sinh hoạt văn hóa, giáo dục, truyền thông Việt Nam từ hơn 40 năm qua.

Ông sinh năm 1939 tại Ngọc Hà, ngoại thành Hà Nội. Ông làm thơ, viết văn từ thời niên thiếu với bút hiệu Y Dịch. Năm 1967, ông tốt nghiệp khóa Báo Chí học tại Viện Báo Chí Quốc Tế ở Kuala Lumpur, Mã Lai. Sau đó, ông làm đặc phái viên Việt Tấn Xã, và là Phụ Tá Học Vụ Ban Báo Chí học ở Đại Học Chính Trị Kinh Doanh, Đà Lạt. Năm 1972, ông đứng đầu ngành Thông Tin Quốc Nội trong phủ Tổng Ủy Dân Vận, sau đổi thành Bộ Dân Vận-Chiêu Hồi. Năm 1974 ông làm ở Phòng Báo Chí của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo.

Từ 1975 đến 1981 ông bị đi tù cải tạo. Năm 1985 gia đình ông qua Mỹ, và ông làm chủ bút nhật báo Người Việt, đến năm 1988 thì trở thành Tổng Giám Đốc Công Ty Người Việt. Năm 1991 ông là chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21. Ông cũng là chủ tịch trong nhiều năm Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA). Năm 1995, ông làm chủ tịch đài phát thanh VNCR mà ông là một sáng lập viên . Ông đã dịch các cuốn sách “Kỹ Thuật Tòa Soạn”, THN xuất bản ở Sài Gòn năm 1969, và “Ký Giả Chuyên Nghiệp”, Hiện Đại xuất bản năm 1974, Người Việt tái bản năm 1977. Gặp chứng bệnh nan y, ông đã từ trần ngày 24-05-1999.

nghiemxuanhong

NGHIÊM XUÂN HỒNG
(1920-2000)
Cư sĩ Tịnh Liên NGHIÊM XUÂN HỒNG sinh năm 1920 tại Hà Đông, Bắc Việt.
Năm 1953, hành nghề Luật Sư.
Năm 1954, đất nước chia đôi, di cư vào Nam.
Nguyên Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon, Cựu Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng năm 1965, thời Nguyễn Khánh.
Sáng lập viên nhóm Quan Điểm, Saigon.
Năm 1975, miền Nam Việt Nam mất, di cư sang Hoa Kỳ.
Trước năm 1975, viết sách về Chính Trị, Triết Học và Văn Chương.
Sau năm 1975, chuyên đọc Kinh Đại Thừa, tịnh tu, viết sách Phật và giảng dạy Phật Pháp tại chùa Trúc Lâm Yên Tử, Santa Ana và chùa Liên Hoa, Garden Grove, California.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN Ở VIỆT NAM:

01. Đi Tìm Một Căn Bản Tư Tưởng, 1957.
02. Lịch Trình Diễn Tiến của Phong Trào Quốc Gia Việt Nam, 1959.
03. Xây Dựng Nhân Sinh Quan, 1960.
04. Luyến Ái Quan qua Triết Thuyết và Tình Sử, 1961.
05. Cách Mạng và Hành Động, 1962.
06. Người Viễn Khách Thứ Muời, Kịch, 1963.
07. Từ Binh Pháp Tôn Ngô đến Chiến Lược Nguyên Tử, 1965.
08. Việt Nam, nơi Chiến Trường Trắc Nghiệm, 1966.
09. Biện Chứng Giải Thoát trong Tư Tưởng Ấn Độ, 1966.
10. Biện Chứng Giải Thoát trong Giáo Lý Trung Hoa, 1967.
11. Nguyên Tử Hiện Sinh và Hư Vô, 1969.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN Ở HOA KỲ:

01. Lăng Kính Đại Thừa, 1982. 02. Tánh Không và Kinh Kim Cang, 1983.
03. Lăng Nghiêm Ảnh Hiện, 1983.
04. Nguồn Thiền Như Huyễn, 1984.
05. Mật Tông và Kinh Đại Thừa, 1986.
06. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 1, 1988
07. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 2, 1989.
08. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 3, 1991.
09. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 4, 1992.
10. Ma Tâm và Ma Sự của người tu, 2001

Ông mất ngày 07 tháng 05 năm 2000 tại Orange County, California, Hoa Kỳ.

tran-hong-chau

TRẦN HỒNG CHÂU
(1921-2003)

Thi sĩ TRẦN HỒNG CHÂU tức Giáo sư NGUYỄN KHẮC HOẠCH, sinh năm 1921, tại Hưng Yên, mất năm 2003 tại California, Hoa Kỳ.

Học tại Trung Học Khải Định, Huế (1936-1943) rồi Trường Đại Học Luật Hà Nội cho tới năm 1945.

Xuất ngoại: Học Đại Học Sorbonne, Paris, đậu Cử nhân Văn Chương năm 1950, và Tiến Sĩ Văn Chương Quốc Gia (Doctorat d’Etat) năm 1955.

Tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Quốc Tế Học thuộc Đại Học Luật Khoa Paris (Institut des Hautes Études Internationales de la Faculté de Droit), Paris, 1952.

Tốt nghiệp Trung Tâm Âu Châu Học thuộc Đại Học Nancy (Centre D’Etude Européennes, Université de Nancy) Pháp quốc, 1957.

Về nước năm 1957, gia nhập ban giảng huấn Đại Học Văn Khoa Saigon, phụ trách các môn Văn chương Pháp và Văn chương Việt Nam. Đồng thời cũng giảng dậy tại Đại Học Sư Phạm Saigon, Học Viện Quốc Gia Hành chính và Viện Đại Học Huế.

Được bầu làm Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Saigon từ 1965 đến 1969.

Giáo sư biệt thỉnh về văn chương Pháp và văn chương, văn hoá Việt Nam tại Southern Illinois University trong thời gian 1970-1974.

Thành viên của Ủy Ban điển chế văn tự và Ủy Ban soạn thảo từ điển Bách khoa Việt Nam (1968-1970). Thành viên Hội Đồng Viện Đại Học Saigon từ 1958 đến 1970. Được tưởng thưởng Văn Hoá Giáo Dục Bội Tinh (1968).

Thành viên của các hiệp hội văn hoá giáo dục tại quốc ngoại và quốc nội: Modern Languages Association từ 1971, Association of American University Professors từ 1973, Association for Asian Studies từ 1971, American Oriental Society từ 1973, Societé des Etudes Indochinoises (1961-1970), Hội Việt Nam liên lạc Văn hoá Á châu (1958-1961).

Đã dự một số hội nghị về văn hoá giáo dục ở trong và ngoài nước: Nhật (Đại Học Keio, 1960), Ấn độ (New Delhi, 1965), Đài Loan (Đài bắc, Việt Trung Hoa học, 1969).

Tham quan một số Đại học Đại Hàn (1967) và Hoa Kỳ (1966 và 1968).Khai đường mở lối cho Viện Việt Học: Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đã được Hội Đồng Viện Việt Học mời vào Ban Cố Vấn từ ngày thành lập Viện, 26 tháng 2, năm 2000 và được mời làm Viện Trưởng Viện Việt Học (2001-2003), California.

Le Japon et le Traité de Paix (Nhật Bản và Hoà Ước), Paris, 1952.
Le Roman Vietnamien au 18e et 19e Siècle (Tiểu Thuyết Việt Nam Thế Kỷ 18 và 19), Paris, 1955.
Les Relations Américano-japonaises depuis 1951 (Quan hệ Nhật-Mỹ từ 1951), Paris, 1957.
Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hoá Giáo Dục, (biên khảo, phê bình), Lửa Thiêng, Saigon, 1970.
Thành Phố Trong Hồi Tưởng (tùy bút), An Tiêm, Los Angeles,1991.
Nửa Khuya Giấy Trắng (thơ), Thanh Văn, Los Angeles, 1992.
Nhớ Đất Thương Trời (thơ), Thế Kỷ, Los Angeles, 1995.
Hạnh Phúc Đến Từng Phút Giây (thơ) Văn Học, Los Angeles, 1999.
Dăm Ba Điều Nghĩ về Văn Học Nghệ Thuật (tiểu luận), Văn Nghệ, 2001.
Vietnam Culture Series (Series Editor), Việt-Học Publishing, 2001-2003
Để Tưởng Nhớ Nguyễn Du (thơ), Viện Việt Học, 2002
Suối Tím (thơ), Văn Nghệ, 2003
Tuyển tập Trần Hồng Châu (thơ, tùy bút, tiểu luận), Viện Việt Học, 2004

dang-tran-huan

ĐẶNG TRẦN HUÂN
(1929-2003)

Đặng Trần Huân sinh ngày 07-06 -1929, cựu Thiếu tá QLVNCH, làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến, ngành thông tin báo chí. Khởi viết năm 1953. Ông xuất thân sĩ quan Bảo chính đoàn từ Hànội trước 1954, (sau là Bảo An), từng là cấp chỉ huy của sĩ quan báo chí Lê Cự Phách (tức Du Tử Lê) – Ông chuyển sang làm báo chuyên ngành quân đội, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến – Quân Lực VNCH. Bị đi tù cải tạo ở miền Bắc, khi được trả tự do, Ông sang định cư tại Hoa kỳ, diện H.O năm 1992.

Ông là tác giả CHUYỆN CẤM ĐÀN BÀ (tập 1 và 2) , HẢI ĐẢO THẦN TIÊN (dịch), THÀNH PHỐ BUỒN THIU (bút ký). Sang Hoa Kỳ, tự xuất bản HÀNH TRÌNH MỘT HÁT-Ô (Văn Mới 1995) NHỮNG NGƯỜI THÍCH DẤU HUYỀN (1998) CHỮ NGHĨA BỀ BỀ (2000). Ông qua đời ở Hoa Kỳ ngày 21 tháng 03 năm 2003.

do-ngoc-yen

ĐỖ NGỌC YẾN
(1941-2006)

Ông là người sáng lập và cũng là chủ nhiệm đầu tiên của Nhật báo Người Việt, tờ báo lâu đời nhất và cũng lớn nhất tại hải ngoại. Ông cũng là một trong những người góp phần tạo lập ra khu Little Saigon tại Quận Cam, California.

Ông bắt đầu viết báo khi còn đi học và là chủ bút tờ báo ở trường Trương Vĩnh Ký. Khi vào đại học Văn khoa, ông trở thành một đại diện trong ban Chấp hành Sinh viên và đã tổ chức những cuộc xuống đường đòi lật đổ tướng Nguyễn Khánh năm 1964. Năm sau ông bắt đầu làm việc với International Voluntary Service (IVS), một hội thiện nguyện Hoa Kỳ, vận động và tổ chức thanh niên sinh viên giúp tổ chức này phân phối thực phẩm cho đồng bào bị nạn bão lụt ở miền Trung.

Từ năm 1964 ông Ðỗ Ngọc Yến viết bài cho các nhật báo Sống, Sóng Thần, Ðại Dân Tộc, tạp chí Văn Nghệ, tuần báo Ðời, và nhiều tờ báo khác. Bắt đầu từ thập niên 1970 ông cộng tác với nhiều phóng viên các báo ngoại quốc hoạt động tại Việt Nam. Ngày 26-04-1975, ông và vợ cùng 3 con rời Việt Nam và định cư ở Hoa Kỳ.

Ông thành lập tờ báo Người Việt (vào cuối năm 1978 ban đầu là tuần báo, tới 1985 thì trở thành nhật báo). Ông cũng đứng vai trò trung gian chuyển đạt quan điểm người Việt tị nạn đến với người Mỹ qua báo chí Mỹ. Ông mất ngày 17 tháng 8- 2006 tại bệnh viện Fountain Valley, miền Nam California.

thanh-tam-tuyen

THANH TÂM TUYỀN
(1936-2006)

Nhà thơ, nhà văn Thanh Tâm Tuyền, tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13-03-1936, tại Vinh, Nghệ An. Từ 16 tuổi đã đi dạy học tại Hà Đông, viết truyện đăng trên báo Thanh Niên tại Hà Nội. Từ 1954 ông hoạt động trong Tổng Hội Sinh viên Hà Nội, chủ trương nguyệt san Lửa Việt, rồi vào Nam. Tại Sài Gòn, ông làm cho các báo Dân Chủ, Người Việt và tham gia ban biên tập tạp chí Sáng Tạo (1956-1960) do Mai Thảo đứng tên, có ảnh hưởng lớn trên văn học Việt Nam suốt một thập niên.

Do động viên năm 1962, Ông hoạt động trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, công tác huấn luyện văn hóa, cấp bực cuối cùng là đại úy. Từ 1975 bị đi học tập nhiều năm tại nhiều trại cải tạo miền Bắc. Sau đó sang định cư tại Hoa Kỳ.

Đã xuất bản khoảng mười tác phẩm. Ba tập thơ: Tôi không còn cô độc (1956), Liên – Đêm – Mặt trời tìm thấy (1964, Sài Gòn), Thơ ở đâu xa (1990, Mỹ). Ba truyện: Bếp Lửa (1957) ; Khuôn Mặt (1964), Dọc đường (1967). Ba tiểu thuyết : Cát lầy(1966), Mù Khơi (1970), Tiếng động (1970). Một vở kịch ngắn : Ba Chị Em (1965). Một phiếm luận (1970). Ông còn nhiều tác phẩm chưa xuất bản, như tiểu thuyết Ung Thư đăng nhiều kỳ trên báo Văn, Sài Gòn.

Ông qua đời lúc 11 giờ 30 ngày 22-03-2006 tại thành phố St Paul, Minnesota, Hoa Kỳ, nơi ông cư ngụ, hưởng thọ 70 tuổi.

hoang-anh-tuan

HOÀNG ANH TUẤN
(1932 – 2006)

Hoàng Anh Tuấn là một nhà đạo diễn và nhà văn sinh năm 1932 tại Hà Nội. Năm 17 tuổi ông du học sang Pháp đến năm 1958 thì về lại Việt Nam sau khi tốt nghiệp trường điện ảnh IDHEC (L’Institut des hautes études cinématographiques) ở Paris.

Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo chí ở Sài Gòn. Năm 1965 ông được bổ nhiệm làm Quản đốc Đài Phát thanh Đà Lạt. Tên tuổi của của ông gắn liền với ngành điện ảnh trong vai trò đạo diễn. Bốn cuốn phim có sự đóng góp của ông là:

Ngàn năm mây bay (1963), dựa theo tiểu thuyết của Văn Quang, hãng Thái Lai sản xuất với các diễn viên Lê Quỳnh, Bích Sơn, Bích Thủy, Phạm Huấn

Hai chuyến xe hoa (1961) dựa trên tiểu thuyết Hai chuyến xe hoa của Nguyễn Bính Thinh và tuồng cải lương của Thái Thụy Phong; hai diễn viên chính trong phim làThanh Nga và Thành Được

Nước mắt đêm xuân với các diễn viên Mai Trường, Nguyễn Long, Lệ Quyên và Khánh Ly.

Xa lộ không đèn (1972) với các diễn viên Thanh Nga, Hoài Trung, Trang Thanh Lan, Năm Châu

Sau năm 1975 ông bị đi tù cải tạo đến năm 1979 thì xuất cảnh sang Pháp. Năm 1981 ông sang định cư ở Hoa Kỳ rồi mất năm 2006 ở San Jose, California.

Tác phẩm của Hoàng Anh Tuấn :

Ly nước lọc– kịch
Hà Nội 48– kịch
Về Provence– tập thơ
Yêu em, Hà Nội– tập thơ
“Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội” – nhạc soạn cùng với Phạm Đình Chương.

pham-viet-tuyen

PHẠM VIỆT TUYỀN
(1926-2009)

Nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà báo Phạm Việt Tuyền, bút hiệu Thanh Tuyền, sinh ngày 15 tháng Tám, năm 1926. Ông từng là Chủ nhiệm nhật báo Tự Do kiêm Giám đốc Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do. Ông cũng là Tổng Thư Ký của Trung Tâm Văn Bút VN trong nhiều nhiệm kỳ. Tác phẩm của ông gồm những cuốn “Trên Ðường Phụng Sự,” (Kịch, Xb năm 1947) “Nghệ Thuật Viết Văn,” (Biên khảo, Xb năm 1952) “Phá Lao Lung,” (Thơ, Xb năm 1956) “Quan Ðiểm Về mấy Vấn Ðề Văn Hóa,” (Biên khảo, Xb năm 1953) hay “Phương Pháp Nghị Luận, Phân Tích và Phê Bình Văn Chương,” (Biên khảo, Xb năm 1969).. vân vân…

Trong lãnh vực giáo dục, ông là giáo sư dạy chứng chỉ dự bị ban Việt Hán, ở Ðại Học Văn Khoa, Sài gòn; hay chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, cho năm thứ nhất ở Ðại Học Văn Khoa, Huế. Ðầu thập niên 1980, ông chọn định cư tại thành phố Strasbourg, Pháp. Ông mất ngày 16 Tháng Hai, năm 2009.

cao-xuan-huy

CAO XUÂN HUY
(1947-2010)

Cao Xuân Huy sinh tháng 9 năm 1947, quê nội ở Bắc Ninh, quê ngoại ở Hà Nam. Sau hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, gia đình ông cũng bị chia ly. Thân phụ ông theo kháng chiến, trở về Hà Nội, chị ông không vô Nam, ở lại với bố. Còn Ông thì theo mẹ di cư vào Nam.

Ông nhập ngũ năm 1968, là cựu Trung Úy Ðại Ðội Phó ÐÐ 4 thuộc Tiểu Ðoàn 4 Thủy quân Lục chiến. Tại mặt trận Quảng Trị vào tháng 03, 1975, ông bị bắt làm tù binh và bị cầm tù 5 năm.

Năm 1982 ông vượt biên và đến Mỹ một năm sau đó.

Năm 1985, ông in cuốn hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng”, là cuốn hồi ký được viết năm 1985, ghi chép lại những diễn biến của mặt trận Thừa Thiên- Huế cho đến khi tác giả bị bắt làm tù binh. Cuốn sách đã được tái bản đến 10 lần và có mặt trên 58 thư viện lớn trên toàn thế giới.

Năm 2005, nhà văn Cao Xuân Huy làm chủ biên tạp chí Văn Học (kế tục vai trò của nhà văn Nguyễn Mộng Giác) đến tháng 04 năm 2008 Văn Học phát hành số 236 thì đình bản vì lý do ông bị ung thư mắt, sức khỏe suy yếu nên không thể chăm lo cho tờ báo. Ngày 12-11-2010 nhà văn Cao Xuân Huy từ trần sau một thời gian dài bệnh nặng. Bốn tháng trước khi qua đời, ông cho ra mắt cuốn “Vài mẩu chuyện” do tạp chí Văn Học xuất bản.

thao-truong

THẢO TRƯỜNG
(1936-2010)

Nhà văn Thảo Trường tên thật Trần Duy Hinh, sinh ngày 25-12-1936 (giấy tờ ghi 1938) tại Nam Định trong một gia đình đông con, ông là người thứ chín. Thân phụ ông mất sớm, năm 1954 ông di cư vào Nam để lại mẹ và người chị ở quê nhà lo phụng dưỡng ông nội và coi sóc mồ mả tổ tiên. Nhưng sau đó, mẹ ông bị đấu tố, bị tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn, phải ra ở ngoài gò đất giữa cánh đồng nước mênh mông. Vào Nam, nhà văn Thảo Trường gia nhập quân đội theo học khóa 6 Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, và chính thức viết văn.

Truyện ngắn “Hương gió lướt đi” là tác phẩm đầu tiên của ông đăng trên tạp chí Sáng Tạo do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút. Nhà văn Thảo Trường tham dự chiến tranh Việt Nam suốt 17 năm. Ngày 30/04/1975 ông đi tù gần 17 năm, trải qua 18 nơi giam giữ. Sau khi ra tù một năm, ông sang Mỹ đoàn tụ với vợ con. Ông đã qua đời tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ, ngày 26-08-2010 vì bệnh ung thư gan, thọ 74 tuổi

Các tác phẩm đã xuất bản gồm:

Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp (1966), Vuốt Mắt (1969), Chung Cuộc (1969, xuất-bản chung với Du Tử Lê), Th. Trâm (1969), Bên Trong (1969), Ngọn Đèn (1970), Mé Nước (1971), Cánh Đồng Đã Mất (1971), Bên Đường Rầy Xe Lửa (1971), Người Khách Lạ Trên Quê Hương (1972), Lá Xanh (1972), Hà-nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng (1973) , Cát (1974), Đá Mục (1998), Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả (1999), Mây Trôi (2002) , Miểng (2005), Những miểng vụn của tiểu thuyết (2008).

pham-cong-thien

PHẠM CÔNG THIỆN
(1941-2011)

Phạm Công Thiện sinh ngày 01 tháng 06 năm 1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Thiên Chúa Giáo. Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, và Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh ngữ tinh âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo và tạp chí như Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn. Năm 1960, ông khởi sự viết cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học khi chưa được 19 tuổi.

Ðầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc “khủng hoảng tinh thần.” Tại đây ông quy y ở chùa Hải Ðức, lấy pháp danh Nguyên Tánh. Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.

Từ năm 1966-1968, ông là giám đốc soạn thảo chương trình giảng dạy cho tất cả các phân khoa của Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1968-1970, giữ chức trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện đại học này. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Ðức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông lập gia đình và sau đó làm giáo sư triết học Tây phương của Viện Ðại học Toulouse. Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, làm giáo sư ở College of Buddhist Studies. Từ khoảng năm 2005, ông sang cư ngụ tại Houston, tiểu bang Texas cho đến lúc qua đời ngày 08 tháng 03 năm 2011.

nguyen-chi-thien

NGUYỄN CHÍ THIỆN
(1939-2012)

Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 02, 1939 là một nhà thơ phản kháng chính thể CSVN. Ông đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản bắt giam tổng cộng 27 năm tù vì tội “phản động”.

Sinh trưởng tại Hà Nội, ông có một thời dạy học. Trong một bài giảng môn Sử năm 1960 do giảng bài không theo quan điểm nhà Nước nên ông bị bắt vì tội “phản tuyên truyền”.

Ông được thả năm 1964. Đến năm 1966 ông lại bị bắt giam vì làm thơ đả phá chế độ. Lần này ông bị giam đến năm 1977.

Năm 1979 Nguyễn Chí Thiện tìm cách chuyển tập thơ do ông sáng tác cho nhân viên sứ quán Anh tại Hà Nội. Vì lý do trên ông lại bị bắt. Đến ngày 28 tháng 10 năm 1991 ông được ra tù.

Năm 1994 ông được tổ chức Theo dõi Nhân quyền trao giải thưởng Hellman/Hammett.

Tháng 01 năm 1995 ông được xuất cảnh sang Hoa Kỳ qua sự vận động của Đại tá Không quân Hoa Kỳ Noboru Masuoka. Nhưng số phận nghiệt ngã, tên tuổi của ông lại bị những ý đồ đen tối vùi giập một thời gian dài cho đến khi ông qua đời ngày 2 tháng 10 năm 2012 tại Santa Ana, quận Cam, California, Hoa Kỳ. Sau đây là lời nhận định của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:

“Nguyễn Chí Thiện, trong sâu thẳm của thi ca, hình hài, và ngôn ngữ, trong tác phong, trong cách diễn đạt, là một nhân cách thật, một con người thật. Chỉ vì nói thật mà mắc vòng tù tội. Một con người ngây thơ, thành thật, ngơ ngác, vấp ngã trước bao giả trá, tàn ác của chế độ độc tài. Tính thật ấy toát ra trong lời nói, trong câu văn, không hoa mỹ, không vòng vo. Chất thật ấy bao trùm không gian, bọc lấy người nghe, như một điệu buồn, như một hồn ma không đất đậu trên quê hương mà gian dối đã thở thành sự thật.”

tuan-huy

TUẤN HUY
(1933-2012)

Nhà văn Tuấn Huy tên thật là Nguyễn Năng Toàn sinh năm 1933 tại Hà Nội. Về sự nghiệp văn chương, Tuấn Huy được ghi nhận là thành công rất sớm. Trong 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, ông có một số tiểu thuyết vẫn được nhiều người nhắc đến như: Nỗi Buồn Tuổi Trẻ, Ngày Vui Qua Mau, Yêu trong bóng tối, Hương Cỏ May, Vòng tay Chờ Ðợi, ..v…v…

Vượt biển tìm tự do, trong thời gian tạm trú tại trại tỵ nạn, Tuấn Huy viết truyện dài “Bến Lỡ.” Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, ông đã xuất bản thêm nhiều tác phẩm mới như “Dòng Sông Trong Giọt Nước,” “Thềm Sương Mù” (tiểu thuyết). “Xuôi Dòng Trầm Cảm” (tâm cảm) và, “Những Sợi Mưa Hư Ảo,” tiểu thuyết. Tác phẩm này tuy đã được in thành sách, nhưng ông chú thích “Ấn phẩm đặc biệt này dành riêng cho tác giả không bán.” Ngay nơi trang đầu của tiểu thuyết (có thể coi là sau cùng), nhà văn Tuấn Huy ghi “Thương nhớ Uyển Hương và gửi các con…” Tưởng cũng nên nói thêm, Uyển Hương là khuê danh người bạn đời của tác giả “Vòng Tay Chờ Ðợi.” Bà mất trong chuyến vượt biên hồi tháng 07 năm 1981 ở Biển Ðông.

Ông qua đời ngày 24 tháng 02 năm 2012, tại miền Nam California.

nguyen-mong-giac

NGUYỄN MỘNG GIÁC
(1940-2012)

Ông sinh ngày 04 tháng 01 năm 1940 tại tỉnh Bình Định, miền Trung Việt Nam.

Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tiếp tục học tại trường Cường Để (Quy Nhơn), trường Võ Tánh (Nha Trang), rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An (Sài Gòn).

Sau khi học một năm ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông ra Huế học Đại học Sư phạm ban Việt-Hán. Năm 1963, ông tốt nghiệp thủ khoa, khóa Nguyễn Du. Ngay năm ấy, ông được điều đến giảng dạy tại trường Đồng Khánh ở Huế. Năm 1965, ông được đổi vào Quy Nhơn làm Hiệu trưởng trường Cường Để.

Năm 1973, ông được thăng làm Chánh sở Học Chánh tỉnh Bình Định. Năm 1974, ông chuyển vào Sài Gòn làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục thuộc Bộ Giáo Dục cho đến 1975.

Về sự nghiệp văn chương, ông bắt đầu viết văn từ năm 1971, đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. Năm 1974, truyện dài Đường Một Chiều của ông được giải thưởng Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Tháng 11 năm 1981, sau khi vừa viết xong trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ, ông cùng con trai vượt biển, đến được đảo Kuku của Indonesia. Trong mấy tháng ở đây, ông đã viết một số truyện ngắn mà sau này xuất bản thành cuốn Ngựa Nản Chân Bon, và tập I của bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Động.

Tháng 11 năm 1982, ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, cộng tác với các báo: Đồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật.

Từ năm 1986, ông làm Chủ bút tạp chí Văn Học ở California, Hoa Kỳ. Đến tháng 08 năm 2004, ông phải ngưng công việc làm báo vì phát hiện bị ung thư gan.

Ông đã qua đời ngày 02 tháng 07 năm 2012 tại tư gia ở thành phố Westminster (Orange County, California, Hoa Kỳ), thọ 72 tuổi.

the-uyen

THẾ UYÊN
(1935-2013)

Nhà văn Thế Uyên tên thực là Nguyễn Kim Dũng, sinh năm 1935 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông là em ruột các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, và là chị nhà văn Thạch Lam.

Cùng với người anh ruột là nhà văn Duy Lam, Thế Uyên khi vừa qua tuổi 20, tên tuổi đã hiện diện trong làng báo. Ông là người sáng lập tạp chí Thái Độ, như là một điểm khởi hành mới trong hành trình chữ nghĩa của chính bản thân ông. Ông là tác giả các tác phẩm nổi tiếng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, như Mười Ngày Phép của một người lính, Tiền Đồn

Nhà văn Thế Uyên tốt nghiệp Trung học Chu Văn An, theo học tại Đại học Văn Khoa và Sư Phạm, trở thành giáo sư Việt văn, dạy tại nhiều trường trung học công lập ở miền Nam, rồi thuyên chuyển lên dạy ở Ban Mê Thuột trước khi được động viên vào khoá 14 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trước năm 1975 ông đã xuất bản 21 cuốn sách, kể cả dịch cuốn Exodus của Leon Uris qua tiếng Việt là tác phẩm Về Miền Đất Hứa rất nổi tiếng được nhiều người tìm đọc

Sau 1975 ông bị đi tù cải tạo rồi đi định cư tại tiểu bang Washington Hoa Kỳ vào năm 1987. Ở đây ông vừa viết văn vừa đi học rồi đi làm. Ông đã có thêm mười tác phẩm được xuất bản: Sài Gòn sau mười hai năm, Con đường qua mùa Đông, Nghĩ trong mùa Xuân, Tuyển tập truyện ngắn Thế Uyên, Tuyển tập dâm tình của các nhà văn nữ Hoa Kỳ, Khu vườn mùa mưa, Nhà văn già và cô bé gù, Không một vòng hoa cho người chiến bại, Những người Mỹ chung quanh chúng ta.

Nhà văn Thế Uyên đã qua đời ngày 11 tháng 06, 2013 tại tư gia ở Bothell, tiểu bang Washington thọ 78 tuổi.

nguyen-xuan-hoang

NGUYỄN XUÂN HOÀNG
(1940-2014)

Nguyễn Xuân Hoàng sinh ngày 7 tháng 7 năm 1940 tại Nha Trang (Khánh Hòa).

Thời niên thiếu, ông học ở trường Võ Tánh (Nha Trang), trường Petrus Ký (Sài Gòn).

Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Văn Khoa (Triết học), Viện Đại học Đà Lạt (1958-1961), rồi giảng dạy môn Triết tại trường trung học Ngô Quyền ở Biên Hoà (1961-1962), tại trường Pétrus Ký ở Sài Gòn (1962-1975). Ngoài ra, ông còn làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn (1972-1974).

Năm 1985, ông đến Hoa Kỳ và định cư tại San Jose.

Năm 1986-1997, ông làm tổng thư ký báo Người Việt Daily News California).

Năm 1989- 1994, ông còn là tổng thư ký tạp chí Thế kỷ 21 (California) thuộc công ty Người Việt.

Năm 1994, ông ở trong ban chủ biên tạp chí Văn Học. Tháng 9 năm 1996, ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn, đồng thời ông làm tổng thư ký cho báo Việt Mercury trực thuộc nhật báo San Jose Mercury News của Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 11 năm 2005. Sau đó ông chủ trương báo Việt Tribune.

Ông cũng từng là giảng viên (lecturer) giảng dạy môn Văn học Việt Nam đương đại tại Đại học California-Berkeley. Sau một thời gian định cư tại San Jose (Bắc California), ông qua đời tại đây vào ngày 13 tháng 09 năm 2014.

Tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng đã xuất bản gồm:

Tập truyện ngắn
Mù sương (1966)
Sinh nhật (1968)

Truyện dài:
Bụi và rác (1996)
Khu rừng hực lửa (1972)
Kẻ tà đạo (1973)
Người đi trên mây (1987)
Sa mạc (1989)

Các thể loại khác
Ý nghĩ trên cỏ (tiểu luận, 1971)
Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu (tùy bút, 1974)
Căn nhà ngói đỏ (tạp ghi, 1989)…

Nhà Văn Nhật Tiến (tổng hợp nhiều nguồn)

Chú Tư Cầu của Lê Xuyên, một kho tàng ngôn ngữ của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Hồ Trường An.


Hồ Trường An

Lê Xuyên

(Chân dung và tác phẩm của nhà văn Lê Xuyên)

Troyes ngày, 19 tháng 08 năm 2007

Bạn hiền thân mến,

Trong một bức thư, bạn có bảo tôi rằng bạn đang thèm nghe một ngôn ngữ miệt vườn trên dải đất Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta mà phải là một giọng rặc ròng thổ ngữ từ miền Bình Định vào tận miền Nam trước năm 1975, tức là vào thời kỳ khởi đầu cơn gió bụi trên dải đất Đông Dương.

Hôm nay, tôi có dịp tâm sự với bạn đây.

Khi viết xong quyển bút khảo Quê Nam Một Cõi thì tôi cũng vừa nhận được một ấn bản của quyển Chú Tư Cầu của Lê Xuyên do chị Dư Thị Diễm Buồn từ Sacramento gửi tặng. Quyển sách do nhà xuất bản Tiếng Vang tái bản, in trên giấy quý màu vàng tái của hoa kim liên. Tôi sẽ không nhận xét chi ly tỉ mỉ quyển này trong cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi của chúng ta đâu. Tôi phải để dành nó cho một cuốn bút khảo khác vào một vào dịp khác, cũng vẫn viết về văn chương của các cây bút gốc Nam Kỳ.

Tôi nhớ mang máng vào năm 1964 1965 gì đó, các làn sóng dư luận xôn xao về các cuốn tiểu thuyết của các nhà văn Chu Tử, Văn Quang, Thanh Nam, Tuấn Huy và những cuốn võ hiệp tiểu thuyết của Kim Dung chưa lắng dịu hẳn. Thì đùng một cái, những truyện dài đăng từng kỳ của Lê Xuyên đăng trên các nhật báo nổi tiếng ở Thủ Đô Sài Gòn bắt đầu gây một tiếng vang dữ dội. Cho nên trong cuộc viếng thăm nhà văn Võ Phiến, tôi được nghe họ Võ bảo:

– Viết đối thoại rặc tiếng Nam Kỳ có ai bằng Lê Xuyên đâu.

Ông Lê Châu, chủ bút kiêm chủ nhiệm tạp san Bách Khoa đã tấm tắc với Thụy Vũ và tôi trong dip tôi theo chị tôi đến tòa soạn Bách Khoa lấy tiền nhuận bút:

– Lê Xuyên viết đối thoại quyến rũ nhất. Eo ơi, hễ đọc tác phẩm của ông ấy là như gặp lời ăn tiếng nói mọi tầng lớp người Nam Kỳ.

Quyển tiểu thuyết của Lê Xuyên mà tôi đọc trước nhất là Vợ Thầy Hương, sau đó mới tới quyển Chú Tư Cầu, và sau hết là quyển Rặng Trâm Bầu. Không khí trong 3 quyển đó căng thẳng, khí hậu ngột ngạt. Nếu không nhờ lối viết đối thoại tinh tế tuyệt vời thì các tác phẩm của anh tuy đạt được phẩm chất nghệ thuật cao nhưng chỉ quyến rũ độc giả một cách chừng mực mà thôi.

Vào năm 1966, tôi tháp tùng chị Thụy Vũ tôi và ký giả Lê Phương Chi đi xi-nê tại rạp Rex để xem phim gì mà tôi quên tựa mất rồi. Hôm đó Lê Xuyên đi chung với cặp Nhã Ca & Trần Da Từ. Từ khi quyển Mèo Đêm của chị tôi trình làng thì cặp Từ Nhã và chị tôi là chỗ đồng nghiệp quen thân. Lê Xuyên có vóc dáng nho phong, khuôn mặt dịu dàng của một nhà mô phạm, nụ cười hiền lành, nhưng ánh mắt thật linh hoạt. Anh ăn mặc quá đơn giản: quần màu vỏ trái ô-liu đậm, áo sơ mi cụt tay trắng, đôi giày màu sô-cô-la, cườm tay trái đeo đồng hồ. Con người mát lành ngọt dịu như vậy mà văn chương lại cuồng phong bạo vũ đầy dao súng, máu me, ác mộng và tinh khí. Luôn tiện chị Nhã giới thiệu cho chị em tôi biết nhà văn Lê Xuyên. Để tỏ ra thân mật, chị tôi gọi anh bằng chú Tư Cầu. Còn anh gọi chị tôi bằng Mèo Đêm. Trong Mèo Đêm, Thuỵ Vũ có hai truyện ngắn viết vê các cô gái buông hương bán phấn hoặc gái gọi (call girls) trá hình các cô chiêu đãi viên trong các snack-bar ở Sài Gòn. Và chị ban cho họ cái hổn danh ”mèo đêm”, tức là những kẻ săn tình vào lúc đêm về. Hôm đó, chị tôi vẫn cười nói vui vẻ với Lê Xuyên:

– Chú Tư, hẹn hôm khác mình gặp nhau, nói chuyện nhiều hơn. Phim sắp chiếu rồi. May quá, hôm nay tình cờ Thụy Vũ mới gặp một chú Tư Cầu bằng xương bằng thịt.

Anh Lê Xuyên vui vẻ:

– Hôm khác nghen cô Mèo Đêm.

Khi xem phim xong, tôi bảo Lê Phương Chi:

– Ông Lê Xuyên có vẻ hiền lành mà viết văn dữ dằn. Đây là thứ nước trà màu vàng lợt mà là thứ trà quạu… Uống nó vào là chúng ta sẽ mất ngủ vì nó sẽ trở thành trà Thái Đức làm ẩm khách thức đái suốt đêm.

Trong cuốn 3 của bộ Văn Học Miền Nam, Võ Phiến nhận xét tổng quát về văn chương như sau:

Trong thời kỳ 1954-1975, các nhà văn gốc Nam khi nói đến chiến tranh trên đất nước thường chỉ nói về cuộc chiến chống Pháp mà tránh cuộc chiến chống cộng. Viết truyện như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, viết ký như Vũ Bình, đều thế. Đến lượt Lê Xuyên, ông cũng thế. Mặt khác, các vị gốc Bắc thì chuyên về cuộc sống và con người đô thị, còn các vị gốc Nam thường viết về nông dân nông thôn. Lê Xuyên cũng thế.

Chuyện ấy dễ hiểu. Người Nam chưa biết qua chế độ cộng sản thì không mặn nồng với việc chống cộng; người Bắc di cư, bao nhiêu văn nhân, nghệ sĩ trí thức vào Nam đều sống ở đô thị nên chỉ biết viết về đô thị.

Như vậy cốt truyện Lê Xuyên, thường xảy ra trong kháng chiến trước Genève, thường diễn ra ở miền quê, nhân vật thường là những nam nữ nông dân chất phác, ít học.

Lê Xuyên đặt các chuyện trong khung cảnh kháng chiến không phải là để nói về kháng chiến. Không có vậy đâu. Ông không hợp với các vấn đề chính trị. Trong khung cảnh thời đánh nhau với Pháp ông nói chuyện nam nữ yêu nhau thôi. Trong chuyện yêu nhau ông không chú trọng tới lòng thầm kín giấu giếm trong các ngóc ngách của quả tim, như các ông Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng khi viết Tố Tâm, Hồn bướm mơ tiên. Lê Xuyên, ông ấy chủ về phía tình yêu xác thịt theo cung cách hồn nhiên nhất (nhân vật nông dân mà).

Về chuyện xác thịt, ông không chủ trương những phô bày bạo tợn như D.H. Lawrence, Henry Miller… Lê Xuyên không làm mích lòng sở Kiểm duyệt. Ông chú trọng nhất là ở những màn biểu diễn bằng mồm. Đừng nên lẩn lộn ông Lê với chuyện giữa Clinton và Monica Lewinsky; cái yêu đương bằng mồm của ông Lê tức là những trang đối thoại dài dằng dặc xung quanh mục tiêu chính của ái tình. Khi nam nữ đã dàn binh bố trận xong thì tác giả lánh mặt. Trong những Chú Tư Cầu, Vợ thầy Hương, Rặng Trâm Bầu v.v…, sự tình rộn ràng ríu rít, đầy lời như thế.

Vậy Lê Xuyên viết truyện có chiến tranh mà không phải truyện chién tranh, có nông dân lầm than mà không phải truyện xã hội, có ái tình mà không phải truyện tình cảm. Chẳng qua là chuyện ”gay cấn” để độc giả đọc chơi lúc buồn tình, đọc cho nóng máy trong chốc lát rồi bỏ qua thôi chứ gì.

(Chương Lê Xuyên, các trang 843, 844)

Chú Tư Cầu là tác phẩm đầu tay của Lê Xuyên. Chàng viết về cuộc đời tình ái của một chàng nông dân ngây thơ, nhân hậu, có số đào hoa, không ve vãn gái mà gái vẫn chạy theo quyến rũ chàng rần rần. Trước hết là cô Phấn, bạn gái cùng quê của chàng ở Rạch Chiếc (gần quận lỵ Trà Ôn). Cô vốn táo bạo, dám hiến thân cho chàng không cần lịnh mẹ, rồi rủ chàng lên Sài Gòn để xây tổ uyên ương, cốt tránh cuộc hôn nhân cưỡng ép do mẹ cô sắp đặt khi bà chưa qua đời. Nhưng khi tới Cần Thơ, cô bị tên Khách Trú trẻ tuổi tên Lâm Sanh quyến rũ. Hắn bàn điều hơn lẽ thiệt cho cô nghe vì chốn thị thành không phải làm chốn dung thân của một kẻ đôn hậu, quê mùa như Tư Cầu. Cho nên vì tương lai của Tư Cầu, Phấn dùng kế gạt chàng xuống tàu để trở về quê. Dè đâu, chàng đi lộn tàu lên Nam Vang. Còn Phấn không còn mặt mũi nào để trở về quê nên đành theo làm vợ người Khách Trú kia. Thật ra, trước phong vận thanh tân của kẻ thị thành như tên ngoại kiều kia, Phấn cũng xiêu lòng làm vợ hắn.

Dọc đường, Tư Cầu gặp một ông khách đồng hành đứng tuổi xưng là chú Bảy. Chú ta cám cảnh thương tình Tư Cầu nên khi tới Nam Vang chú giới thiệu chàng giúp việc cho tiệm cơm người chị ruột chú là cô Năm. Tại Nam Vang, Tư Cầu có nhiều dịp tiếp xúc với phường trộm cắp, phường dao búa, và được lòng cô Ba Xá Lỵ một gái nặc nô xinh đẹp, uy trấn một góc xã hội du côn nho nhỏ trên đất Chùa Tháp này. Cô ta mê chàng vì tấm lòng nhân hậu và hào hiệp của chàng, tìm mọi cách để quyến rũ chàng. Rồi cả hai tằng tịu say mê nhau. Nhưng sau một thời gian sống hạnh phúc trên đất Chùa Tháp, vì nhớ quê, Tư Cầu xin trở về quê; chàng có rủ cô Ba theo, nhưng cô ta biết rằng chốn ruộng đồng không phải là chốn môi sinh thích thú của mình nên từ chối.

Tư Cầu về quê, được mẹ chàng cho chàng biết Phấn lấy chồng Khách Trú giàu, có về đây vài lần và lần nào cũng đến thăm hỏi chàng. Cô ta giúp đỡ gia đình chàng trong cơn ngặt nghèo nên bà rất cảm kích cô ta lắm. Rồi cha mẹ chàng buộc chàng phải cưới cô Thơm làm vợ. Cô này vốn là gái Việt gốc Miên rất được chàng yêu thương quý trọng. Cuộc sống lứa đôi của chàng tạm bình yên hạnh phúc.

Nhưng cơn gió bụi bắt đầu xảy ra trên đất nước. Sài Gòn bị dội bom. Phấn về quê để gặp Tư Cầu, rủ chàng đến chỗ khác xây dựng lại cuộc sống lứa đôi đã từng dang dở. Cô cũng cho chàng biết đứa con trai của cô vốn là con ruột của chàng. Cô Thơm bắt gặp quả tang cả hai lén lút tâm sự nhau nên ghen lồng lộn. Rốt cuộc Phấn phải trở về Sài Gòn, tiếp tục sống với người chồng ngoại kiều của mình như cũ.

Rồi đó, trong các Sóc Thổ, người Miên nổi dậy phong trào ”cáp duồng” (với mục đích giết sạch người Việt). Cô Thơm dù vốn là gốc Miên nhưng đã từng được cha mẹ Việt Nam nuôi từ thở ấu thơ, rồi khi lớn lên lấy chồng Việt Nam nên cũng bị người Miên cho là thứ Miên gian. Trong một chuyến về quê thăm cha mẹ nuôi, cô bị bọn miên hãm hiếp và bị chúng hạ sát. Tư Cầu điên tiết giết chúng để báo thù cho vợ.

Rồi Tư Cầu nghe theo lời Ba Kiên gia nhập vào nhóm du kích kháng chiến, bị bắt giải lên Sài Gòn, rồi được chuyển qua dinh cơ của một trung úy người Pháp có phận sự canh giữ các tù nhân trước khi giải họ đi Côn Đảo. Không ngờ viên sĩ quan này là chồng hờ của cô Ba Xá Lỵ. Tình cũ gặp nhau, cô Ba Xá Lỵ hết lòng giúp đỡ Tư Cầu để được gần gũi ân ái với chàng. Chàng chỉ làm tạp dịch nhẹ nhàng thôi. Nhưng rồi một hôm nọ, Tư Cầu theo nhóm tù nhân đến tiệm bán cây mà viên trung úy đã đặt tiền mua để chất cây lên đoàn vận tải quân xa đem về nhà hắn. Tình cờ Tư Cầu gặp Phấn, vợ tên Khách trú Lâm Sanh, bây giờ hắn ta trở thành chủ nhân tiệm bán cây ấy. Phấn gạn hỏi nguồn cơn người yêu cũ của mình, rồi hiệp cùng cô Ba Xá Lỵ giúp đỡ Tư Cầu vượt vòng phong tỏa của viên trung úy chồng hờ của cô Ba. Tại nhà riêng do Phấn thuê, Tư Cầu bị lính tuần tiễu bố ráp nên bị bắt đưa về bót cảnh sát Catinat để cho bọn bao bố nhìn mặt. Những tên chỉ điểm đội bao bố kia (để khỏi bị ai biết mặt) vì không biết chàng có dính dáng với bọn Việt Minh công tác ở thành phố hay không nên không thể xác nhận chàng là Việt Minh nội thành và cho nên chàng được tha.

Tư Cầu lại về quê. Tình hình ở đây căng thẳng nên chàng nhập vào toán du kích kháng chiến địa phương. Trong cuộc tấn công quân xa của lính Tây, Tư Cầu cùng đồng bọn hạ sát được tên chồng sĩ quan hờ của cô Ba Xá Lỵ. Nhưng chàng không cứu được cô. Tên chánh trị viên giết cô ta. Tư Cầu toan báo thù cho người yêu của mình nhưng hắn đã kịp thời cao bay xa chạy mất rồi.

Nhớ lời dặn chú Bảy trên chuyến tàu đi Nam Vang năm xưa, Tư Cầu lên Châu Đốc tìm chú và làm vườn cho chú. Chàng chiếm được trái tim cô Thắm, và được chú Bảy gả con gái cưng của chú cho chàng. Nhưng rồi chàng đi theo lực lượng kháng chiến để rồi chết trong trận đánh Tây theo chiến thuật du kích. Trong khi đó ở quê nhà, cô Phấn mang thai. Rồi đứa con trai của chàng chào đời. Nhưng dù sao chàng cũng đuợc an ủi vì trong lúc lâm chung, thằng em vợ của chàng đọc cho chàng nghe bức thư báo tin mừng của vợ.

Như bạn biết: theo truyền thống các cây bút Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta, Lê Xuyên dù không có khuynh hướng tải đạo, nhưng anh thường cho các nhân vật chánh của anh ăn ở theo đạo nghĩa, phô bày tấm lòng nhân hậu, bao dung một cách hồn nhiên, không cố gắng. Trên đất Nam Vang, Tư Cầu chống cự với kẻ mạnh độc dữ để binh vực kẻ yếu hiền lành. Chàng bao dung kẻ thù toan hãm hại chàng làm cho kẻ thù hồi tâm kính mến chàng. Tư Cầu vốn dốt nát, chỉ biết đọc quọt quẹt năm ba chữ quốc ngữ, nào có biết nhân, nghĩa, lễ, trí tín hay tam cang ngũ thường do ông Khổng Tử bày ra đâu. Anh không đọc kinh Phật bao giờ, nhưng anh không làm ác, không lấy oán trả oán. Vợ anh bị bọn Miên cưỡng hiếp và hạ sát, nhưng khi thấy cô gái Miên bị Ba Kiên, anh trai của chàng toan bề cưỡng dâm chàng phản kháng ngay, không muốn anh mình gây ác nghiệp. Cho nên Ba Kiên phải buông tha cô thiếu nữ Miên. Trong thời kỳ Nhật đảo chánh, có hai tên lính Tây bị chìm tàu tắp vào Rạch Chiếc, Ba Kiên toan đi báo cho nhà chức trách, nhưng Tư Cầu hợp cùng nhóm người nhân từ đòi phóng thích lính Tây. Khi được Cô Ba Xá Lỵ giúp chàng vượt ngục, chàng nằng nặc đòi cô giúp luôn chú Tám, người bạn tù đã cùng cùng đồng cam cộng khổ với chàng.

Tư Cầu theo toán du kích kháng chiến chống Tây là cảm thấy mình phải làm theo thiên lương soi sáng mình một cách hồn nhiên, không nghĩ xa, không nghĩ gần, cũng không được ai huấn luyện lòng ái quốc thương dân. Do đó, chàng gần ông Thích Ca Cồ Đàm cùng ông LãoTử và ông Trang Tử hơn ông Khổng Tử. Chàng lạc loài với các ông chuộng trí thức Tây Phương cùng dân khoa bản. Chàng cũng không thể là thần tượng huy hoàng cho các cô ôm lý tưởng môn đăng hộ đối và có thói ưa chuộng phi cao đẳng bất thành phu phụ. Chàng là người tình lý tưởng của các cô gái táo tợn, liều lĩnh, nhưng có thiên lương trong sáng, biết nắm bắt được cái giá trị chân thật của con người, không cần tính toán chi ly, không cần so sánh dài dòng. Hồ Biểu Chánh khi viết văn theo kiểu văn dĩ tải đạo còn dựa theo khuôn nếp, nguyên tắc, lời khuyên răn dạy bảo của các bậc thánh hiền. Lê Xuyên không theo ông hiền triết nào, không nương tựa rêu rao theo khuynh hướng đạo nghĩa nào. Anh viết khơi khơi mà vẫn làm cho độc giả xúc động, yêu mến lớp dân quê hiền lành, lòng ngay dạy thẳng, không có chút ý nghĩ quanh co đo đắn trước những công việc phải làm.

Lê Xuyên không viết văn dài dòng: không cần tả cảnh, tả người, tả vật, tả tâm tâm trạng, tức là không tả những cái mà giới bình dân cho là lòng vòng không hợp với khiếu thưởng ngoạn của lớp độc giả với lòng dạ rổng rang, suông thẳng nhưng ống nứa ống tre. Anh thích kể chuyện, ưa cho các nhân vật của mình chuyện trò vòng vo Tam quốc, cằn nhằn dai dẳng, cà khịa rỉ rả, cãi lẫy tưng bừng, có khi chửi bới huyên náo. Anh không cần viết văn đâu. Anh cũng thích kể chuyện lắm đâu. Anh chỉ thích cho các nhân vật của mình có nhiều dịp đối thoại tuồn tuột, ngon ơ. Lời nói của các nhân vật biểu lộ cá tính của các đương sự luôn cả chân dung của họ cùng bối cảnh chung quanh họ hiện mập mờ vài nét tạo hình khái quát, nhưng cũng đủ chạm khắc vào ấn tượng độc giả sành điệu. Trong Chú Tư Cầu, Lê Xuyên dùng ngôn ngữ Nam Kỳ Lục Tinh vào thuở tiền chiến, không pha ngôn ngữ của thời Đệ nhất Cộng Hòa hay vào thời Đệ nhị Cộng Hòa. Thí dụ: rắc rối không biết đâu mà rờ (tức là không thể đoán trúng được), làm cho xất bất xang bang (tức làm cho khổ sở điêu đứng), đụng đâu xâu đó (tức là hễ gặp dịp là nắm lấy ngay không cần biết tốt xấu, lợi hại), mấy con nập nợn (tức là mấy cô thiếu nữ dâm đảng lẳng lơ), anh làm cái điệu đó thì mụ nội em cũng lìa (tức là làm cho em điêu đùng, gặp cảnh gia đình ly tán) … Anh không pha thêm những tiếng lóng ( les patois) mà người Bắc di cư và người Nam bản xứ pha trộn nhau như: sức mấy, bỏ qua đi Tám, lấy le, thằng cà chớn, oan ôi ông Địa, lạng quạng, mút mùa lệ thủy, đi ăn chè ở nhà Bè (tức là lén lút đi ngoại tình, cụm tư này lấy sự tích nhạc sĩ Phạm Duy cùng nữ ca sĩ Khánh Ngọc đi Nhà Bè để ngoại tình; nhưng khi bi lính kiểm tục và thừa phát lại bắt đuợc, cả hai khai rằng họ đi Nhà Bè để ăn chè) …

Ngôn ngữ miền Nam chánh gốc, thuần túy hay ngôn ngữ phối hợp của người Bắc di cư và của người Nam bổn xứ đều quyến rũ như nhau: sống động và gợi cảm gấp đôi ngôn ngữ kiều diễm cao sang trong các tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn vì chúng dễ đi sâu vào tâm hồn dân tộc ở mọi cấp bậc và mọi thành phần trong xã hội. Hồ Biểu Chánh viết văn mà không hề lộn ngôn ngữ Bắc Kỳ. Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam cũng vậy. Nhưng hai anh Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam chỉ thành công về phương diện kỹ thuật viết văn, ở sự diễn tả tình tiết, nhưng ngôn ngữ và cách đối thoại trong văn chương họ không có linh hồn sống động, không có sức hấp dẫn bằng ngôn ngữ trong văn chương và cách đối thoại của Lê Xuyên. Họ Lê chịu khó lắng tai nghe ngôn ngữ trong dân gian, nhất là nơi sinh hoạt của lớp bình dân, lớp người ở cấp bậc thấp nhất trong giới hạ lưu của xã hội. Cái thành công của anh nhất định là phải có. Trong giới điện ảnh của nước Pháp, người viết đối thoại tài hoa lỗi lạc nhất là Michel Audiard. Ông này chị khó đi tìm ngôn ngữ trong dân gian nên mới chiếm một địa vị cao chót vót trong ngành viết đối thoại như thế.

Ở Miền Nam Việt Nam của chúng ta, trước năm 1975, những cây viết gốc Nam Kỳ như Ngọc Linh, Sĩ Trung không viết thuần túy văn chương Nam Kỳ. Những đoạn đối thoại dài ngoằng của họ càng làm độc giả bực mình, cho nên tên tuổi họ chỉ đứng bên lề văn học sử. Duy người Bắc như Thanh Tâm Tuyền trong truyện dài Cát Lầy, Viên Linh trong truyện dài Mã Lộ đều viết đối thoại bằng ngôn ngữ Nam Kỳ, đều thành công khả quan. Nhà văn Võ Phiến gán cho các nhân vật người Nam trong truyện dài Đàn Ông và trong truyện dài Một Mình cái ngôn ngữ Nam Kỳ cực kỳ quyến rũ. Giờ đây, ở hải ngoại, dù là cha Quảng Ngãi (nhà chí sĩ Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy), mẹ Quảng Nam (nữ sĩ Tùng Long), nhưng được sinh trưởng ở Sài Gòn nên nhà văn Nguyễn Đức Lập viết giọng điệu Nam Kỳ cực kỳ duyên dáng bỏ xa các cây bút gốc Nam Kỳ khác. Tuy nhiên, tất cả những nhà văn này làm sao tìm lai cái ngôn ngữ Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh như Lê Xuyên với các ngôn ngữ mà giới phu phen ở đô thị, giới nông dân ở thôn quê, giới thương hồ trên sông nước phù sa thường dùng như: nằm chàng hảng chê hê, chữ nghĩa quọt quẹt, nói tiếng Tây ba xí ba tú, làm chuyện gì cũng ba trật bốn vuột, ai ai cũng hít hà chắt lưỡi khen hay, ăn ở bầy hầy như chồn hôi chó vật…

Thôi thì, nhưng kẻ sanh sau đẻ muộn như chúng ta, đã trưởng thành vào 5 năm cuối của thập niên 50, chúng ta có thể chắc mót, lượm lặt ngôn ngữ Nam Kỳ của chúng ta vào thời biển lặng sông trong xa xưa được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Có còn hơn không, phải không bạn?

Cổ Nguyệt Đường, hè năm Đinh Hợi (2007),
Tiết thịnh hạ
Hồ Trường An
(trích Quê Nam Một Cõi)

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2016, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. ****** Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: