Lụa Tím. Thơ Hư Vô


Áo em tím lịm hiên chiều
Hồn tôi vấp giữa thềm rêu bóng người
Chạm vào nhan sắc chơi vơi
Chỗ em giũ tóc về phơi lụa là.

Vạt nắng còn biết kiêu sa
Bỏ tôi lơ lửng giữa tà áo bay
Thềm cao mấy bậc u hoài
Bước theo dáng phố cho dài dấu chân.

Mà em cũng có đôi lần
Ngoảnh lại vụt thấy tần ngần bóng tôi
Như tượng đá dựng giữa trời
Khắc vào quá khứ những lời tình si.

Để em còn biết kiêu kỳ
Chọn màu áo tím chỉ vì yêu tôi
Phấn son có lạ hơi người
Thì em cũng đã một thời của nhau…

Hư Vô

Bài Sinh Nhật Tháng 5. Thơ Hư Vô


(Viết cho sinh nhật tôi mùa thu 15/05)

Khi không trời đất chuyển mình
Trong thiên tai bỗng tượng hình hư vô
Bước ngang mê lộ xô bồ
Em còn luýnh quýnh xưng hô tội tình.

Hồn tôi lãng đãng phiêu linh
Mùa thu bày biện linh đình, đó em
Tiệc tình dọn giữa dung nhan
Một lần cũng đã hoang đàng đời nhau.

Lăn qua sợi tóc tơ nhàu
Để em còn được biết đau kiếp này
Từ khi tôi tượng hình hài
Tựa mây bay thấp cho dài bóng không.

Nghe ngọn gió hú trong lòng
Nửa đêm thao thức còn đồng vọng nhau
Mà tôi như giấc chiêm bao
Bước ra từ chỗ em vào hư vô…

Hư Vô

Cảm Ơn Em, Người Tình Cuối. Thơ Hư Vô


Cảm ơn em,
là chiếc bóng
Để tôi che giấu cuộc đời
Cảm ơn đêm,
còn tăm tối
Làm sao tôi biết quên người!

Trái tim thì thầm nhức nhối
Một đời hối hả tìm nhau
Cảm ơn em,
người tình cuối
Cho tôi biết yêu lần đầu.

Em là đêm,
tôi nương náu
Vết đau như đã ngọt ngào
Em là dao,
tôi rướm máu
Còn nguyên nhát chém đời sau!

Cho em một phần di tích
Chia đều nửa góc hình tôi
Những người tình,
còn đang khóc
Chia nhau giọt lệ,
lẻ loi…

Hư Vô

Thank You, Dear,
Last Lover

Thank you, dear,
for being the shadow
in which I might hide all my life.
Thank you, night.
Though yet in darkness,
how could I ever forget you?

Heart whispering,
piercing ache,
a life spent urgently seeking each other.
Thank you , dear,
my last lover,
for letting me know first love.

You are the night
in which I find sanctuary.
There the wound seems to have healed.
You are the knife.
I ooze blood.
Even now the cut remains intact.

That you may have a apart
in the remnants,
I give you an even share of me.
All the lovers I’ve known
still weep,
sharing tears they shed,
lonely….

Translated by James Banerian
Original Title Cảm Ơn Em, Người Tình Cuối

“Văn Hóa Không Tên” tạo nên linh hồn của Sài Gòn xưa. Hồi ức Văn Quang


Văn Quang

Buổi sáng thứ sáu tuần vừa qua, tôi được một ông bạn điện thoại đến rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral nằm trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó ở Sài Gòn này, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt. Mỗi lần đi ngang qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia của chúng tôi. Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy cái gọi là “trại cải tạo”. Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn còn ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bị tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Gival đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hỏa thiêu, không bao giờ gặp lại.

Đường Tự Do.

Ông bạn thấy tôi khựng lại, bèn giải thích: “Nó mở lại Givral hôm qua (10-10-2012) ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.” Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay. Dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhớ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy. Nói đến Gival là nhớ đến La Pagode, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này. Đây là một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking”, tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi – Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường. Givral, La Pagode, Brodard đã trở thành một cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn.

Nhà hàng Givral trong thương xá Eden

Sau năm 1975, Givral vẫn còn sống sót cho đến khi khu này bị “giải tỏa”, nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ”.

Givral ngày ấy bây giờ

Trong khi ông bạn tôi tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Gival mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi – Đồng Khởi, mấy cái cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng Givral nằm trong thương xá Edencó thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong. Điếu đáng tiếc nhất là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.

Givral (bên trái cùng) trước khi bị đập bỏ.

Chúng tôi bước vào nhà hàng với một vẻ lạ lẫm. Những chiếc bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang dáng vẻ sang trọng như bất cứ một nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở những thành phố lớn. Khoảng 9 giờ sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai. Cái không khí ấy khiến tôi không thể quên những ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai. Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy ông dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa đang say sưa bàn về những “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp… Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là cái linh hồn của Givral trước 1975. Bây giờ không tìm lại được nữa.

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là Givral nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Carvelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard. Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau.. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

Nhà hàng La Pagode.

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi. Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó. Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress. Còn Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây. Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này. Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi! Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Nhà hàng Bodard

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn. Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam

Không thể tìm lại dĩ vãng

Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn thông tin đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa thành phố Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên Việt Nam. Nó sẽ chỉ còn thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua thành phố này. Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.

Văn Quang

Ta Mất Nhau Mùa Hạ. Thơ Hư Vô


Ta mất nhau mùa hạ
Nắng thôi vàng sân ga
Chiều tương tư bóng lá
Thấp thoáng một quê nhà.

Mà em đã bỏ lại
Màu mắt biếc kiêu sa
Một thời tình ngây dại
Còn vướng vấp lụa là.

Tóc thề chia hai ngả
Chắc gì đã phôi pha
Nhánh buồn em gom giữ
Cho hương đừng bay xa.

Ta mất em mùa hạ
Ta mất ta đời nhau
Mai có thành người lạ
Còn thương tóc em nhầu…

Hư Vô

30/04/1975 Nhìn Lại. Hồi ký Michael Bùi


Michael Bùi

Thế là đã 45 năm trôi qua. Còn nhớ trưa ngày 30/4/1975 dưới bầu trời u ám như muốn đổ lệ, tôi đứng ngay cổng xe lửa số 6 trên đường Trương Minh Giảng – Phú Nhuận.

Lúc đó lính Cộng Hòa đã trút bỏ quần áo đi bộ từng đoàn thất thểu, Súng Ống – Ba Lô – Quân Phục họ vất đầy lề đường. Xe Tank và các binh đoàn Motolova của CS đã tràn vào Thủ Đô Sài Gòn, chạy rầm rầm hướng về Bộ Tổng Tham Mưu. Chung quanh ai cũng hốt hoảng lo tìm đường chạy về nhà, giờ này đi di tản kể như đã quá trễ.

Lâu lâu lại thấy một vài đứa khốn nạn Cách Mạng 30/4 đeo băng đỏ ngồi trên xe Jeep cầm súng chĩa lên trời, chúng bắn từng tràng đạn chào mừng ngày Giải Phóng. Rồi nghe Radio đâu đó vọng lại bản “Nối Vòng Tay Lớn” do tên nằm vùng Trịnh Công Sơn dẫn Việt Cộng vào tiếp quản Đài Phát Thanh Sài Gòn.

Nhìn Miền Nam trong giờ phút lâm chung mà uất hận thay cho một chính thể Tự Do – Công Bình – Bác Ái đang bị bức tử quá tức tưởi…

30/4 là ngày vui của nhân loại vì ngày ấy Adolf Hitler và Eva Braun đã phải tự sát khi quân đội Đồng Minh đang tiến vào Thủ Đô Berlin chấm dứt thế chiến thứ 2 tại Âu Châu, nhưng 30/4 cũng lại là ngày đau buồn cho cả dân tộc Việt đến mãi ngàn sau.

Sau ngày 30/4 vào khoảng tháng 5 – 6 khi có chiến dịch “Bài Trừ Văn Hóa Đồi Trụy Mỹ Ngụy”

Có một vụ chấn động SG là vụ nổ ở 1 tiệm cho mướn Sách cũ. Chủ tiệm lùa hết bọn đeo băng đỏ vào trong rồi mở kíp lựu đạn tự sát cho dính trùm. Nghe đâu chết vài mống Cách Mạng 30/4 kể cả ông chủ. Tiệm này nằm trong Phường 10 – Quận Phú Nhuận (chung Phường với nhà mình bên đường Thiệu Trị – Nguyễn Huỳnh Đức).

Một vụ khác nữa là vào khoảng năm 1976, có một gia đình bên khu đường Rầy Xe Lửa hướng đi ra Cống Bà Xếp. Gia đình này có 2 vợ chồng và 8 đứa con. Vì căm phẩn chế độ CS, họ đã tìm ra đường thoát. Hôm đó họ nấu một nồi cháo Vịt , bỏ thuốc giết Chuột vô, cả nhà cùng ăn chung bữa cuối rồi nắm tay nhau cùng chết.. Khi họ khiêng xác từng người ra mà thấy kinh hoàng cũng vì cái họa CS, vụ này gây chấn động vùng Phú Nhuận một thời.

Còn tiệm cho mướn Sách kia, ông chủ cũng tìm đường thoát vì uất ức. Nằm gần trường TH St.Thomas & Nhà Thờ 3 Chuông, tiệm chuyên cho mướn sách được giới HS ưa chuộng vì..rẻ.

Mướn ngày hình như thời đó có 5-10$/ngày tiền VNCH (giá vé ciné 200-300$; đóng giầy Sapot khoảng 1,000$ mấy, may quần tây ống loe vải xịn Gabardine khoảng 6-7,000$, xe Honda Dame 50cc – 100,000$)

Tiệm cho mướn thượng vàng hạ cám từ chưởng, kiếm hiệp Lệnh Hồ Xung, Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, qua trinh thám Z-28- Dr. No, Bố Già..v…v…

Tới tiểu thuyết Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca , Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Thị Hoàng, Nhật Tiến..v…v…

Đến Tuổi Hoa: Xanh, Đỏ, Tím,..kể cả báo Thiếu Nhi, Yết Kiêu, Ngàn Thông, hay truyện tranh Chú Thòong, Con Quỷ 1 Giò, Lucky Luke, Lữ Hân Phi Lục, Xì Trum ..v…v… cho HS nghèo ghiền đọc truyện – đọc báo.

Mướn ngày họ ghi ngay sau bìa, đến ngày trả thì họ nhìn vào ngày mướn mà thâu tiền. Vì hết đường sống nên ông chủ ấy cũng đã tìm đến cái chết bi thảm như vậy.

Lệnh tịch thu cấm Sách Báo Miền Nam đã được đọc vào ngày 1 tháng 5,1975 bởi Ủy Ban Quân Quản nên bắt đầu qua tháng 5, họ đã đi lùng kiếm gõ cửa từng nhà. Bắt phải nộp lên Phường tất cả những Sách Báo của chế độ cũ.

Riêng về Tòa Soạn Báo Thiếu thì bị đánh làm 2 đợt:

Đợt 1:

Vào một buổi sáng “Khăn Quàng Đỏ” ập vào, bà cụ mình cuống cuồng gọi phone cho nhà văn Minh Quân cầu cứu, sau đó nhà văn Minh Quân có gọi cho nhà văn Sơn Nam nhờ giữ lại những Sách Báo trong sáng, vì đây là Tòa Soạn Báo Thiếu Nhi vốn là Báo lành mạnh của tuổi trẻ, lúc đó nhà văn Sơn Nam rất có uy tín với chế độ mới vì là thứ nằm vùng.

Hắn trả lời: “Sách Báo nhà Nhật Tiến thì toàn đồ phản động chứ gì”, và ông ta không chịu giúp.

Thế lá các bé Thiếu Nhi “Khăn Quàng Đỏ” vô tư tịch thu lấy tất cả Sách Báo ngoài phòng khách, từng là Thư Viện của Tòa Soạn Báo Thiếu Nhi.

Đợt 2:

Một đêm kia sau đó, chúng lại vào nhà cô văn sĩ Lệ Hằng lục soát, vì cổ đã từng bị lục rồi, nên cô ta mới tức mình phản đối:

-Nhà tôi thấm gì mà lục hoài, nhà ông Nhật Tiến mới nhiều kìa.

Thế là chúng lại ùa đến Tòa Soạn Báo Thiếu Nhi (tư gia của nhà văn Nhật Tiến), ngay trong đêm đó, chúng xộc tuốt vào nhiều buồng trong là những phòng làm việc của các bác, các chú trong Ban Biên Tập, chứa toàn Sách nghiên cứu và Tự Điển, thấy thế bà cụ mình phản đối:

-Đây không phải “Sách Báo phản động” mà là Sách học làm người của các tác giả danh tiếng như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần…v..v…và Tự Điển kiến thức để làm báo.

Chúng gân cổ cãi:

– “Học làm người Ngụy”, không phải học làm người Cách Mạng, Tự Điển là Sách của đế quốc Mỹ, đem đi đốt hết.

Thế là chúng xông vào hốt sạch lần 2

Sau này những bộ “Encyclopaedia Britannica” có đóng dấu “Thư Viện Thiếu Nhi” được bầy bán tại những quầy sách cũ ngoài đường …

Nhìn lại dĩ vãng ở những tháng ngày đen tối nhất của Miền Nam mà thấy ngậm ngùi..

Michael Bùi
Apr 25th,2020


Dáng Phố. Thơ Hư Vô


Như một lần qua phố
Chen chúc giữa đám đông
Hạt bụi bay vào mắt
Đã ran rát trong lòng.

Tôi lơ ngơ lóng ngóng
Phố xá bỗng mịt mù
Bóng em như chiếc lá
Rụng cho đầy mùa thu.

Phiêu du cùng nhan sắc
Thất lạc giữa chiêm bao
Nơi hồn tôi trầm tích
Cỏ mọc xanh lối vào.

Mà em như dáng phố
Bước chân về lẻ loi
Của một thời xõa tóc
Ngang lụa biếc hương người.

Tựa làn mây bóng khói
Còn trôi dạt bềnh bồng
Chỗ mà tôi đứng ngóng
Đau đã tới chân không…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 384


HÀNH THÁNG TƯ

Đường nhân gian lạ lẫm
Một ngày tháng tư đen
Xô đời em vấp ngả
Vào đám người chưa quen.

Đâu còn ai hò hẹn
Giữa trời đất ngổn ngang
Em xanh xao quờ quạng
Níu một cuộc tình tan.

Đã lỡ làng lỡ vận
Ở phía ngoài cơn mê
Tôi lạ nơi lạ chỗ
Đâu còn lối quay về.

Mà em như cọng cỏ
Mọc giữa trái tim tôi
Vết sầu đang mưng mủ
Tươm qua đời tả tơi.

Có bước vào quá khứ
Cũng chỉ tới đường cùng
Đâu còn ai ngoảnh lại
Được thấy lần khóc chung.

Ngày tháng tư quằn quại
Đau đã thấu hình hài
Tiếng gọi nhau khản giọng
Chưa qua khỏi trần ai.

Bốn mươi năm gộp lại
Như một tiếng thở dài
Để hồn tôi dị mộng
Thành giọt lệ mãn khai.

Lăn vào em lận đận
Thời tình cuối tháng tư
Đã hoang tàn phế tận
Một khúc đời còn dư…

Hư Vô

NGUYỆN CẦU


Chiêm bao một giấc mộng lành,
Xin con vi khuẩn thôi hành hạ em.
Mồ hôi sốt nóng từng đêm,
Cách ly bịnh viện cho thêm nỗi sầu.

Không gian lắng đọng lo âu,
Chúng con quỳ lạy, nguyện cầu Bình An,
Phận người thấp bé thế gian,
Hôm nay chợt tỉnh, chứa chan tình người.

Quên đi gian xảo cuộc đời,
Quên đi đố kỵ những lời cay chua.
Lặng nghe thổn thức giữa trưa,
Bao nhiêu ca nhiễm, người vừa ra đi..

Lặng nghe tiếng nói Cô Vi,
Tàn hơi lá phổi, bước đi rã rời…
Xin làm nhân chứng giữa trời,
Chúa thương nhân loại xin Người thứ tha…

trầnthịminhchâu

MÊ KHÚC

Ta về, nghe nắng phai màu đất
Hiu quạnh ùn trên vạn nỗi đau
Thiên hạ nhìn nhau mà ngơ ngác
Tử, sinh, chia biệt… khắp tinh cầu.

Cuộc chiến năm xưa say thuốc súng
Anh em ngoảnh mặt, lệ lưng tròng
Mẹ gói xác con trong tấm áo
Lặng nhìn sông núi buồn mênh mông.

Cuộc chiến âm âm, mùa thảm khốc
Bút mực nào ghi câu oán than
Nhân loại vùi trong cơn thao thức
Xương da queo quắt nỗi tương tàn

Một bóng ma đen hay bóng giặc?
Muôn người rồi cũng chỉ bằng không
Một cuộc đối đầu không cân sức
Súng gươm sao sánh với vô cùng?

Thế giới như chìm trong mê lộ
Trần gian đuổi bắt- cái – vô – hình
Muôn đoá hoa đời chưa kịp nở
Nụ tàn từ buổi mới khai sinh

Người sống nhìn nhau mà vô vọng
Người chết buồn như mây khói bay
Sống đã không mong giờ hoan lạc
Chết chẳng thân nhân để giải bày!

Ta về, như chẳng bao giờ nữa
Mộng đã tàn phai trên áo hoa
Chân bước hai lần qua cuộc chiến
Vết lòng đau buốt tận xương da…

Gửi lại ngàn sau vuông lụa trắng
Mà nghe mây trắng vỡ bên trời
Một giải khăn sô cho thế kỷ
Hai ngàn năm lẻ của hai mươi…

Châu Ly

VÙNG CÁCH LY…


Người ta sợ nhiễm dịch nên phải cách ly
Ta với người không nhiễm nhưng sao không gần nhau được
Hay tại chúng ta chưa một lần hẹn ước
Kẻ chân trời người góc biển – bơ vơ

Ta phương nầy – buồn – lấy chữ làm thơ
Nhiều tâm sự sau những lần gãy cánh
Thời Covid mọi người đều xa lánh
Thu mình vào góc nhỏ của an nguy

Thơ ta còn nằm trên đỉnh tình si
Chưa biết thơ dương tính hay là âm tính
Nhưng nó chứa cả nghìn điều câm nín
Của kiếp nầy và cả kiếp lai sinh

Thơ của ta là một thứ thơ tình
Tình trai gái – tình quê hương – sông núi
Thơ bật khóc khi cờ vàng cháy rụi
Thơ nghẹn ngào đi di tản xa xăm

Những bước chân sao lặng lẽ âm thầm
Chôn kỷ niệm vào nơi ta hằng sống
Đem thân mình đùa với trời cao biển rộng
Để ngậm ngùi níu kéo một hào quang

Thơ của ta như những chiếc lá vàng
Sẽ bùng cháy khi có tia lửa nhỏ
Là đại thụ hay sẽ là lá cỏ
Cái vụ nầy ta phải hỏi Covid…

Hochibuu

CHẲNG CÓ ĐÊM NÀO


Chẳng có đêm nào không nhớ em
Nhỏ ơi! Nỗi nhớ đã thắp đèn
Anh đi tìm hết mùa Cô Vít
Chỉ thấy trong mơ một bóng hình…

Em ạ, sao đời chẳng bình yên
Ra, vô thấp thỏm trái tim mình
Thế giới đau đầu cơn địa chấn
Em có đêm nào quên nhớ anh?

Chẳng có đêm nào anh ngủ yên
Bàn tay muốn nắm chút êm đềm…
Bởi vì , xách cách bao nhiêu tháng
Sợ gió muôn trùng điên đảo điên!

Chẳng có đêm nào không nhắc tên
Nhỏ ơi! Thôi ném hết ưu phiền
Có anh chờ đợi cho tàn kiếp
Hưng hứng yêu thương một cuộc tình…

Trần Dzạ Lữ

HOA TÍM


Con chim thôi hót trên cành biếc
ngọn cỏ thôi xanh lối ta về
đồng xanh hoa dại rưng rưng nắng
mây trắng trên đầu thôi nghiêng che…

Ta tiếc nụ hôn ngày hò hẹn
chơi vơi ảo ảnh lá ngập đường
thanh âm tiếng cười ai trong trẻo
tro than rồi, còn vọng chút hương

Say men lạc bước trên đồi gió
hoa tím sắc xưa đã phai tàn
“ta ngắt đi… cụm hoa thạch thảo”
cắm vào hoang phế đợi mùa sang…

Hoa tím đồi hồng em bỏ lại
ta nhặt mang về trong giấc mơ
dựng phiến đá sầu ngàn năm cũ
phơi lòng băng giá với trang thơ..

Nguyễn Bình

NGÀY IM ẮNG QUÁ


Ngày sao im ắng quá!
Bên đời – em với tôi
Buồn treo trên mắt lá
Mùa lặng thầm vẫn trôi…

Ngày sao im ắng quá!
Nắng vàng lên ngoài kia
Phố bỗng dưng xa lạ
Đường thưa bóng người qua…

Ngày bỗng dưng tĩnh lặng
Người bỗng dưng ngại ngần
Có nơi nào trống vắng
Như nỗi lòng tôi không?

Ngày sao im ắng quá
Thấy mình như lẻ loi
Đi vòng quanh quán xá
Chỉ còn tôi với tôi

Mơ hồn nhiên chim sẻ
Hót trên cành sớm mai
Thời gian trôi rất khẽ
Qua từng phiến u hoài

Ta cùng nhau mong ước
Mau đến ngày bình yên
Xin em cầm gương lược
Chải trôi những muộn phiền

Nguyễn Sông Trẹm

Quán Thơ Hư Vô 383


GIẤC THU

Từ nay em khóc một mình
Đâu còn ai để làm tình tội nhau
Giọt lệ lạnh tựa lưỡi dao
Lao vào quá khứ vết đau diệu kỳ.

Mùa thu chưa kịp bỏ đi
Mà em như thể mãn thì heo may
Gối chăn có biết đêm dài
Cũng là chiếc bóng cho đầy giấc mơ!

Từ đêm trăng khuyết tình cờ
Trong mắt tôi bỗng bất ngờ đổ mưa
Ướt cành liễu rũ vườn xưa
Thả câu lục bát cho vừa thu phai.

Chờ nghe tiếng lá thở dài
Chỗ em lăn lóc hình hài bóng không
Hồn tôi lơ lửng bềnh bồng
Như mây lãng đãng còn đồng vọng em…

Hư Vô

THÁNG TƯ


Núi cao bờ đá chênh vênh,
Bóng em xiêu đổ đường thênh thang chờ.
Cuộc đời vô định ơ hờ,
Đôi chân gần gũi ai ngờ lạc nhau.

Tháng tư cuối phố chờ nhau,
Đoàn người di tản lòng đau thắt lòng.
Thân gầy tay gánh tay gồng,
Biển mù khơi tối người trông người chờ.

Em về gom hết ước mơ,
Đốt từng trang vở mắt mờ lệ tuôn.
Tháng tư bao nấm mồ chôn,
Vội vàng hương khói vong hồn anh linh.

Chân đi tủi phận một mình,
Xin trời giữ hộ mối tình chúng ta.
Tháng tư ngắt vội cành hoa,
Nhớ người nằm xuống nụ hoa không tàn…

trầnthịminhchâu

CHIỀU MỘT MÌNH


Chiều nay trời buồn chi
Mà cơn mưa cũng lạ
Như những lời từ tạ
Âm thầm tiễn ngày đi

Gió cuốn lời biệt ly
Dứt cánh hoa trắng rụng
Chút tình thơ, dại vụng
Đọng ướt sương bờ mi

Mây về thấp.. xõa tung
Che hết vòm trời nắng
Xám khung trời buồn lặng
Rặng cây ướt run run…

Chiều vụn vỡ buồn tênh
Đến cơn mưa cũng lạ
Hồn ta như phiến lá
Chao gió …nhẹ… bay…đi..

Thiên Di

HỎI ĐÁ HỎI NƯỚC


Nước bao nhiêu tuổi nước xanh thế
Đợi lúc già nua sóng bạc đầu?
Mãi ngắm bóng mây lồng bóng nước
Một vòng tay? Mây trôi về đâu?

Hỏi đá trăm năm nước chảy mòn
Dấu rêu mùa cũ lưng chừng non
Đá nước bên nhau chừng xa cách?
Lạnh trong tim. Môi một vết son!

Chợt hỏi ta giữa cõi ta bà
Ngắm nhìn đá nước một… sát na
Để hiểu vì sao đời xê dịch
Nước chảy đá mòn. Ta… lão gia!

Trần Hoàng Vy

NGƯỜI CHẲNG BAO GIỜ HIỂU HẾT ĐÂU…


Đời như sương khói tan rồi tựu
Đâu nẻo phù hư dấu bụi hồng
Trao nhau mật ngữ còn chưa đủ
Ai biết ai còn thương nhớ không?

Chiều ra quán cóc ngồi nhâm rượu
Quán vắng – mình ta ngắm đất trời
Mới hay thiên hạ còn mê ngủ
Một mình ta lạc bước chơi vơi

Người đi đi biệt chân trời lạ
Ta ở ta về ta với ta
Sắp hết mùa xuân rồi mùa hạ
Mà khách độc hành xa vẫn xa

Uống thêm ly nữa nghe hồn rụng
Biết đến khi nao hết nỗi sầu
Buồn như tiếng mõ hồi kinh tụng
Người chẳng bao giờ hiểu hết đâu..?

Hochibuu

CHỜ ĐẤY CHỨ..!.


Chờ đấy chứ! Mai ta về ngang phố.
Đoạn hành xa, bỏ mặc bụi đường qua.
Chào nắng mới, quày ngọn gươm phong độ.
Vạch mốc biên cương, giật lại Sơn hà…

Chờ đấy chứ! Máu xưa hoen thành lũy.
Những hồn oan thất thểu bước trong sương.
Xác, sọ trắng đống, gò, đòi mộ chí.
Của anh, em, bè bạn, của căm hờn…

Chờ đấy chứ! Lời thề đêm quốc nạn.
Lũ ‘’trở cờ đón gió‘’ đám ‘’ba mươi ‘’…
Ta vẫn khóc bằng nỗi buồn thất tán.
Ta vẫn đeo đằng đẳng hận trên người…

Chờ đấy chứ! Cha, mẹ già khắc khoải.
Nhớ đàn con luân lạc tận phương nào.
Bóng đã khuất, vì tháng, ngày mòn mỏi.
Hay tuổi đời thầm lặng chất lên cao…

Chờ đấy chứ! Tình yêu em nhỏ bé.
Đành chưa quên hai má lúm đồng tiền.
Đôi mắt đẹp, là bài thơ trăm nghĩa.
Một thời Xuân, miêu tả mấy truân chuyên…

Ta sẽ đến, quỳ bên ngôi Thánh giá.
Tụng tràng kinh, hiến lạy Chúa KiTo
Ta sẽ viếng Phật đài, dâng bái tạ.
Nghe chuông chùa, thong thả tiếng Nam Mô

Ta sẽ ghé Điện thờ Đấng Trung Chánh.
Ta sẽ thăm Lăng tẩm Bậc Hiền nhân.
Ta sẽ thấy cội nguồn niềm kiêu hãnh.
Ta sẽ không quên liệt sĩ, công thần..!…

Đặng Triều

GHI LÊN ĐÁ


Ghi lên đá một thuở áo sờn vai
Vác thập ác quảy tiêu điều âm vọng
Nợ máu xương, nợ người lận đận
Của một thời vàng tím trẻ trai

Ngó lên núi thấy thân mình hắt bóng
Nỗi cực cùng vò xé những mầm xanh
Treo lơ lửng đầu cành ngày nóng bỏng
Mộng ban đầu tiêu tán, mong manh

Ngó xuống biển loài san hô bạch tuột
Ngoi đầu lên hớp hắc khí nặng nề
Mưa thấm đất rắc đôi bờ nhật nguyệt
Cùng sương mờ che khuất bãi sơn khê

Tháng tư về nhớ tháng tư hung hãn
Hàng hàng người như kiến giữa chảo rang
Lặn ngụp giữa trùng trùng vây khốn
Núi non nào ghi khắc đá giải oan

Ghi lên đá ngày năm xưa vật vã
Để đời sau nhớ mãi tháng tư nào
Cái ảo vọng của lợi danh lắng xuống
Còn lại mình tịnh độ giữa lao xao

Trần Yên Hoà

SANTA BARBARA


Mây đang ùn phía Tây
chắc là mưa ngoài biển
không biết đàn chim én
về chưa Barbara?

Ở đây nắng. Nở hoa
dù là chưa nhiều lắm
nhưng bướm vàng bướm trắng
bay như là hoa bay…

Bỗng thấy hoa vàng bên cánh cửa
Bỗng thấy thèm hôn một ngón tay
Cũng ước vuốt ai làn tóc nắng
Nói thầm với gió, gió bay đi!

Em ơi thức dậy anh hôn nhé
Hôn nụ hoa hồng riêng của anh!

Trần Vấn Lệ

EM NHƯ GIÓ THỔI QUA ĐỜI


Gởi về em cơn mưa nhuần nắng gội
Cuộc tang điền thương hải đã mòn hơi
Bàn chân bước trên niềm đau thoáng hiện
Nẻo thương chờ còn in dấu chia phôi.

Tan tác mộng và sầu lên như sóng
Vỗ quanh đời từng âm sắc phong ba
Buồn đã nhuộm vào mùa xưa đã úa
Những cung đường mơ tưởng đã tàn hoa.

Thăm thẳm gió ngày đi về cuối hạ
Chiều lạc đường đổ bóng xuống hoàng hôn
Bên góc phố chênh vênh mùi hương cũ
Bay vào lòng.từng hạt nhớ tha phương.

Về úp mặt vào sông. dòng thơ ấu
Ơi. vầng trăng thiếu phụ mấy vơi đầy
Con nước lớn thầm thương em gội tóc
Sợi nào còn cột lấy nhớ thương ai.

Ngàn mây xám đội chiều đi vào tối
Lòng còn nhau. ngút mắt tưởng tơ người
Em như gió. thổi qua đời xiêu vẹo
Những buồn ta ngàn chiếc lá đang rơi..

Trung Chinh Ho

Người Kéo Màn của Nhật Tiến, một hiện tượng văn học


Liễu Trương
Tiến sĩ Văn học đối chiếu, Đại học Paris III, Sorbonne Nouvelle.

Nhật Tiến là một nhà văn cầm bút rất sớm. Năm 1951, mới 15 tuổi ông đã viết một truyện ngắn được đăng trên báo Giang Sơn, truyện Chiếc nhẫn mặt ngọc. Năm 1954, khi di cư vào Nam, ông sống ở Đà Lạt và viết kịch cho Đài phát thanh Ngự Lâm Quân. Về sau sống ở Sài Gòn, thỉnh thoảng ông cũng sáng tác kịch, ông có những vở kịch mang tên: Cơn Giông, Bên Bờ Vực, Ngọn Cờ Núi Lam. Nhật Tiến giải thích sở dĩ ông sáng tác kịch là vì theo thói quen của thời ông còn là một hướng đạo sinh – ông đã từng là một tráng sinh, tráng đoàn phó Tráng Đoàn Bạch Đằng – quanh một lửa trại đêm, hướng đạo sinh thường trình diễn văn nghệ, đóng kịch vui chơi, và từ đấy Nhật Tiến có sở thích viết kịch. Nhưng sáng tạo của Nhật Tiến không chỉ ở trong lĩnh vực kịch nghệ. Trước 1975, ông đã có khoảng 9 truyện dài mà truyện đầu tay là Những Người Áo Trắng (1959), 2 tập truyện ngắn, 3 tập truyện thiếu nhi và những văn bản thuộc những thể loại khác: nhật ký, bút ký…

Năm 1962, khi tác phẩm Người Kéo Màn của Nhật Tiến ra mắt độc giả, không ít người bỡ ngỡ trước một hình thức lạ lùng, chưa từng thấy, mà tác giả gọi là tiểu thuyết kịch. Cho nên nếu có những phản ứng đây đó thì không có gì đáng ngạc nhiên.

I Phản ứng về tác phẩm Người Kéo Màn

Theo Nhật Tiến, kịch tác gia lão thành Vi Huyền Đắc, người đã có công đặt nền móng cho môn thoại kịch, khuyên Nhật Tiến nên gọi tác phẩm Người Kéo Màn là một tiểu thuyết đối thoại. Nhưng tiểu thuyết nào mà chẳng có đối thoại?

Và trong khi các nhà văn như Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Bùi Đình… tiếp nhận tác phẩm Người Kéo Màn với một thái độ tán thành, thì phía đại học, giáo sư Nguyễn Văn Trung tỏ ý ngờ vực hình thức mới này. Trong cuốn Lược Khảo Văn Học, tập II, chương Ngôn ngữ kịch, ông Nguyễn Văn Trung, sau khi nhắc đến cuộc tranh luận ở Tây phương về vấn đề: kịch là văn chương hay trình diễn? Và sau khi phân tích những yếu tố tạo nên kịch, đưa ra 2 điểm:

1/ Kịch là một bộ môn nghệ thuật được thực hiện bằng trình diễn và trình diễn do nhiều người đảm nhận.
2/ Kịch thiết yếu đòi hỏi một quần chúng xem kịch.

Vậy kịch là một bộ môn nghệ thuật cần có một tập thể để diễn xuất và một tập thể để thưởng thức. Nói chung, phải có tập thể thì mới có kịch. Điều này không ai phủ nhận.

Theo Nguyễn Văn Trung, đặt vấn đề: kịch là văn chương hay trình diễn không thể đưa đến những giải đáp ổn thỏa vì cuộc tranh luận trở thành tranh luận về vai trò của tác giả kịch hay vai trò của nhà dàn cảnh. Cho tác giả một vai trò chủ yếu hay cho nhà dàn cảnh một vai trò chủ yếu, không bên nào hoàn toàn sai cả, vậy không đi đến đâu, vì đặt vấn đề như thế là trong ý thức hệ cá nhân. Phải đặt vấn đề trong một tinh thần khác : tinh thần tập thể. Nếu tất cả (tác giả, nhà dàn cảnh, diễn viên…) đều coi đó là công trình tập thể (…) trong một tinh thần trách nhiệm chung và với một ý định phục vụ quần chúng, nghệ thuật, thì không còn vấn đề ai trọng ai khinh nữa.

Thiển nghĩ vấn đề tranh luận ở Tây phương, tức vấn đề kịch là văn chương hay trình diễn, đơn giản là vấn đề định nghĩa bộ môn kịch. Người ta đặt câu hỏi: kịch là để đọc (văn chương) hay để xem (trình diễn), chứ không phải tách rời sự trình diễn để đặt ra vấn đề cá nhân hay tập thể, trọng hay khinh một cá nhân (tác giả hay nhà dàn cảnh), không phải vấn đề ý thức hệ cá nhân.

Sau khi phân tích kịch truyền thanh, truyền hình và nhắc đến truyện phim mà có người gọi là tiểu thuyết phim, ông Nguyễn văn Trung bàn đến Người Kéo Màn của Nhật Tiến. Ông đoán khi Nhật Tiến viết tác phẩm này chắc Nhật Tiến không biết đến cuộc tranh luận trên, nhưng một cách vô tình Nhật Tiến đã coi kịch là một thứ văn chương để đọc, là một thứ tiểu thuyết được bổ sung bằng một vài đặc điểm của kịch. (tr. 134)

Trong một lá thư trả lời của Nhật Tiến mà ông Nguyễn Văn Trung cho đăng, tiếp theo lời bình luận trên, Nhật Tiến giải thích vì sao đã dùng một hình thức gồm 3 kỹ thuật: tiểu thuyết, kịch và điện ảnh. Đại khái Nhật Tiến muốn dùng ưu điểm của ba bộ môn: tiểu thuyết cho phép miêu tả, trình bày tâm lý nhân vật và đi vào nội tâm, kịch với những đối thoại làm cho cốt truyện có tính linh động, và kỹ thuật điện ảnh cho thấy liên tiếp những hình ảnh mới.

Nhưng giải thích của Nhật Tiến không thuyết phục được ông Nguyễn Văn Trung, ông cho rằng không thể vượt qua ranh giới giữa tiểu thuyết và kịch, nếu xóa đi ranh giới thì các bộ môn sẽ mất đi đặc tính của chúng.

Lập trường của tác giả và người phê bình là thế, đã đến lúc chúng ta đi vào tác phẩm Người Kéo Màn, tác phẩm kể chuyện gì? Và như thế nào?

II Nội dung Người Kéo Màn

Cần nói ngay Người Kéo Màn không phải là một vở kịch đúng theo nghĩa của nó, tức có thể được trình diễn trên sân khấu, cũng không hẳn là một tiểu thuyết mà độc giả có thể đọc trong một tinh thần thư thái, vì ở đây trí tưởng tượng của độc giả bị dồn dập thúc đẩy, phải theo dõi một không gian luôn biến đổi.

Tác giả Nhật Tiến dẫn độc giả vào cái thế giới của kịch nghệ, đằng sau sân khấu với đủ hạng người vội vàng, căng thẳng. Để hiểu nghệ thuật viết của Nhật Tiến, chúng ta cần theo dõi những tình tiết trong truyện.

Truyện khởi đầu bằng một ngoại cảnh: trước cửa hí viện, khán giả bắt đầu tụ tập, một đứa bé tàn tật đang ăn xin, nó ngơ ngác nhìn quang cảnh. Bỗng có tiếng một người đàn bà đang tìm nó, gọi nó là Cưng, bà ta chửi bới, đánh đập nó vì nó không xin được tiền. Gần hí viện, trong một công viên, có một cặp vợ chồng, người vợ được gọi là thiếu phụ áo đỏ, người chồng là tác giả vở kịch sắp được trình diễn trong hí viện. Tác giả ở trong một tâm trạng bứt rứt, dằn vặt, không hài lòng về đoạn kết của vở kịch, và hối tiếc đã giao vở kịch cho người ta trình diễn. Người vợ trái lại rất mãn nguyện về cách diễn tiến của sự việc, và trách chồng là không bao giờ vừa ý, bà ta hoàn toàn không hiểu được chồng, cuối cùng bà ta thổ lộ rằng nhờ bà ta mà vở kịch mới tiến hành tốt đẹp như thế. Người chồng đâm nghi ngờ vợ đã có gì với «nó» để «nó» bỏ tiền ra thực hiện vở kịch. Cuộc cãi cọ mỗi lúc một găng, rồi người chồng bỏ đi, không thèm vào hí viện xem trình diễn vở kịch của mình.

Bên trong hí viện, ở hậu trường những nhân vật chính xuất hiện từng cặp: ông lão kéo màn, mặt mày hốc hác, sặc sụa mùi rượu, và thằng bé bóp nắm xôi trong bàn tay cáu bẩn của nó. Ông lão nói cho thằng bé biết bố nó đã bỏ gánh hát, mẹ nó đẻ nó xong cũng chuồn đi, bỏ nó lại cho ông. Cặp thứ hai là diễn viên đóng vai Nga và diễn viên đóng vai Nghĩa. Người nữ diễn viên tỏ vẻ lo lắng vì đây là lần đầu tiên cô diễn kịch, người nam diễn viên trấn an cô. Cặp thứ ba là nhà Đạo diễn và nhà Mạnh Thường Quân. Nhà Đạo diễn chỉ trích cặp diễn viên khi họ đang diễn thử một mẩu đối thoại, ông ta không vừa ý, bỏ đi và tự hỏi tại sao mình phải quỵ lụy lão Mạnh Thường Quân. Nhà Mạnh Thường Quân hút xì gà, la rầy, ra lệnh cho người này người nọ, tập đọc bài diễn văn và từ chối gặp người thiếu phụ áo đỏ vì bận.

Ở ngoại cảnh, trong một quán rượu, hắn, tức tác giả, uống nhiều rượu, say khướt, lẫn lộn thực với ảo. Thấy một ca sĩ lên hát được nhiều người vỗ tay, hắn tưởng mình đang ở trong hí viện, và vở kịch của hắn đang được khán giả vỗ tay, hắn bèn loạng choạng bước lên bục gỗ để nói đôi lời với khán giả, nhưng liền bị tống ra khỏi quán. Hắn leo lên một chiếc xích lô.

Trở lại hậu trường để thấy sự căng thẳng giữa nhà Đạo diễn và nhà Mạnh Thường Quân. Đạo diễn không bằng lòng diễn viên nam đã quên mấy câu của kịch bản. Mạnh Thường Quân trái lại nhận thấy điều đó không quan trọng. Mạnh Thường Quân càng tỏ vẻ dễ dãi chừng nào thì Đạo diễn càng khó tính chừng đó và cứ dựa vào cái mẫu của các nhà đạo diễn ngoại quốc. Đạo diễn lại không bằng lòng nữ diễn viên trong khi Mạnh Thường Quân khen nịnh diễn viên này vì có hậu ý.

Ở ngoại cảnh, người phu xích lô đưa tác giả đến một nhà chứa, tác giả đã tỉnh rượu, gặp bà chủ chứa, bà này cho hay tác giả đã có một đứa con với một phụ nữ tên Hằng, Hằng đã đem cho người ta đứa con tên Nguyễn Văn Cưng. Tác giả bị thằng bé ám ảnh, cảm thấy đau xót.

Trong hậu trường, nữ diễn viên Nga độc thoại, cô nhớ lại sự cãi vã với người yêu, anh chàng thổi kèn clarinette, anh này tuy là một nghệ sĩ nhưng không muốn cô đi vào con đường văn nghệ. Cô tự nhủ sẽ làm lành với anh ta. Nhà Mạnh Thường Quân tiếp tục đeo đuổi cô, nhưng cô tỏ ra lạnh nhạt. Nhà Đạo diễn cho nhà Mạnh Thường Quân biết khán giả đòi tác giả ra trình diện, nếu không có tác giả thì Mạnh Thường Quân phải đại diện tác giả, hai bên trút cho nhau cái phận sự làm đại diện. Nhà Đạo diễn hậm hực bỏ đi, khi đi ngang qua phòng xép tình cờ nghe diễn viên đóng vai Nghĩa tình tự với diễn viên đóng vai tình nhân của cha của Nghĩa, và nghe hai người chê đạo diễn là ngu, chê diễn viên đóng vai Nga diễn xuất dở.

Ở chỗ cánh gà, đứa bé khoe với lão kéo màn nó có nhặt được cái bóp ở phòng hóa trang, nó đề nghị lão lấy số tiền trong bóp, lão từ chối và bảo thằng bé đem trả lại cái bóp.

Ở phía cánh gà bên phải có chuyện rắc rối: người nhận cho mướn một đứa bé không thấy đến, thiếu đứa bé vở kịch không thể được tiếp tục trình diễn. Nhà Đạo diễn và nhà Mạnh Thường Quân lại một dịp cãi nhau, người nào cũng từ chối trách nhiệm về chuyện này. Đạo diễn có vẻ khinh thường Mạnh Thường Quân, cho rằng ông ta chỉ biết đồng tiền, Mạnh Thường Quân chế nhạo Đạo diễn chỉ biết mơ tưởng đến ngoại quốc. Cuối cùng chính một người lao công có sáng kiến mướn đứa trẻ của cặp vợ chồng ở nhà dưới. Nhưng việc mướn đứa bé không dễ, vì người vợ không chịu cho mướn, người chồng thì ham tiền bằng lòng ngay, vợ chồng cãi nhau dữ dội và đi đến cảnh xô xát.

Trong hậu trường tác giả xuất hiện, gặp lão kéo màn và đứa bé, tác giả mời lão kéo màn cùng uống rượu với mình và cho đứa bé gói thuốc đang hút dở.

Trong khi trên sân khấu hai nhân vật Nga Nghĩa đang dùng dằng vì đứa con, cuối cùng đôi bên làm lành, và đứa bé có được người cha, thì trong hậu trường có sự trao đổi giữa đạo diễn và tác giả. Đạo diễn lý tưởng hóa vai trò của tác giả, cho rằng chuyện đứa con trên sân khấu là một vấn đề xã hội mà tác giả vì thiên chức của mình đã đem ra trình bày với khán giả. Tác giả thì phủ nhận điều đó, nói rằng không phải viết cái gì ra thì tôn trọng cái đó, và tố cáo những người cầm bút để viết những cái giả dối. Rồi tác giả đưa ra quan niệm của mình về một tác phẩm lớn. Hai bên không hiểu nhau, đạo diễn tức giận bỏ đi.

Tác giả vẫn ở trong hậu trường, đối thoại với lão kéo màn về chuyện trong kịch. Lão kéo màn nhìn nhận kịch với ngoài đời khác nhau, tác giả liền khen lão nhận xét đúng. Lão kéo màn khen tác giả viết hay nếu không tại sao thiên hạ lại vỗ tay, tác giả bật lên tiếng cười. Mạnh Thường Quân chạy vào la lên kịch đang hồi bi thảm sao lại phát ra tiếng cười. Tác giả và Mạnh Thường Quân cãi nhau. Mạnh Thường Quân tự xưng mình là người hiểu biết văn nghệ, nếu không sao lại bỏ tiền ra… và ông ta lo tác giả biết chuyện của mình với thiếu phụ áo đỏ. Tác giả lại rú lên cười khiến khán giả cũng cười lây. Mạnh Thường Quân chụp micro để xin lỗi vì có một tên điên.

Trên sân khấu vở kịch đến phần kết thúc, hai nhân vật Nga và Nghĩa làm hòa, bế đứa con ra giữa sân khấu, đứa bé vụt khóc khiến nhiều người cảm động lau nước mắt. Khi khán giả ra về, Hằng ở hàng ghế cuối khóc, không còn oán trách tác giả nữa, muốn đi tìm đứa con tên Cưng, nhưng người bạn bên cạnh khuyên nên đưa giấy khai sinh đứa con cho tác giả để tác giả tự đi tìm nó.

Trong hậu trường diễn viên đóng vai Nga phản đối kịch liệt về việc có người cười ầm trong khi cô ta đang diễn một bi kịch, cô lo lắng cho tương lai nghệ thuật của mình. Mạnh Thường Quân an ủi cô, hứa sẽ dành cho cô một tương lai rực rỡ. Nhưng người nữ diễn viên tỏ ra lạnh lùng và ghê tởm tên Mạnh Thường Quân. Trong khi đó gã thổi kèn clarinette đến tìm cô, nhưng khi trông thấy cô ở trong phòng với Mạnh Thường Quân, gã hiểu lầm và đau khổ bỏ đi.

Ở dưới hầm xảy ra một chuyện bất ngờ giữa người nữ diễn viên đóng vai tình nhân của cha Nghĩa và diễn viên đóng vai Nghĩa, người phụ nữ nhặt được cái bóp mà đứa bé đem trả lại, thấy có hình và khám phá diễn viên đóng vai Nghĩa đã có vợ con và đã nói dối. Người phụ nữ tức giận tột độ và tỏ ra dứt khoát.

Đạo diễn đi tìm Mạnh Thường Quân ở phòng hóa trang nữ, bất ngờ gặp diễn viên đóng vai Nga vừa chạy ra vừa mắng nhiếc thậm tệ Mạnh Thường Quân, gã này xấu hổ, tìm cách vớt vát với Đạo diễn và hứa sẽ bỏ tiền để giúp Đạo diễn dựng một vở kịch lớn. Đạo diễn tỏ ra dửng dưng.

Trong rạp hát, diễn viên đóng vai Nga đi tìm người thổi kèn clarinette, nhưng nhận được mẩu giấy với lời từ biệt của người này.

Trong hậu trường, Hằng đi tìm tác giả, nhưng khi trông thấy người đàn ông say rượu, áo quần xốc xếch, nằm sóng sượt, thì Hằng vỡ mộng nhét cái giấy khai sinh trong túi tác giả và bỏ đi.

Vào phần cuối tác phẩm Người Kéo Màn, tất cả các nhân vật đều biến mất, chỉ còn lại tác giả độc thoại trong hậu trường và sau đó độc diễn trên sân khấu. Hắn khinh bỉ người thiếu phụ áo đỏ và tự khinh mình, tự cảm thấy cô đơn, rồi nghĩ đến mẹ con Hằng. Hắn lại nghĩ đến đoạn kết của vở kịch, nhận thấy không thể trình bày như thế được, vì ngoài đời chuyện đâu có tốt đẹp như trong kịch. Hắn nghĩ bấy lâu vinh quang hắn mơ ước hoặc đạt được toàn là giả dối, và cảm thấy mình đang thay đổi, vì trong thâm tâm hắn vẫn đi tìm sự thật. Hắn ra trước sân khấu, với cái giọng lè nhè vì say rượu, hắn phân trần với khán giả vô hình, rồi ngã nhào xuống. Lão kéo màn khen kịch độc diễn hay.

III Ba kỹ thuật làm rõ nét những con người trong xã hội

Giới kịch nghệ được trình bày trong Người Kéo Màn tượng trưng cho xã hội trong đó có đủ hạng người.

Tác giả Nhật Tiến đã nói, ông dùng ưu điểm của ba kỹ thuật : tiểu thuyết, kịch và điện ảnh, để xây dựng tác phẩm Người Kéo Màn.

Ống kính của máy quay phim đưa độc giả đi từ ngoại cảnh nơi có công viên, quán rượu, nhà chứa vào hậu trường của hí viện có cánh gà, phòng hóa trang, phòng xép, dưới hầm, nhà dưới… để thấy cảnh sinh hoạt của mọi người.

Kỹ thuật tiểu thuyết đưa vào những đoạn miêu tả nơi chốn, như cảnh ngoài đường ban đêm, công viên, hậu trường, miêu tả các nhân vật như gã Mạnh Thường Quân với điếu xì gà và cách cư xử với mọi người, cô gái kiều diễm tặng hoa vì yêu nghệ thuật, thằng bé trong hậu trường hút thuốc như người lớn, v.v… ; kỹ thuật tiểu thuyết cũng cho phép trình bày tâm trạng của nhân vật và đi vào độc thoại nội tâm, như độc thoại nội tâm của diễn viên đóng vai Nga, của thiếu phụ áo đỏ hay của tác giả.

Còn ưu điểm của kịch là đối thoại, đối thoại nêu lên cá tính của mỗi nhân vật, làm sáng tỏ những sự kiện gay cấn, những cuộc xung đột, cãi vã, khiến thế giới kịch trở nên sống động. Đối thoại làm nổi bật những hạng người trong giới kịch nghệ. Nhân vật Mạnh Thường Quân là một con người thời thượng, tự xưng mình là nhà văn nghệ, nhưng thật ra không hiểu biết gì, chỉ dựa vào đồng tiền để lợi dụng, mua chuộc kẻ khác. Nhân vật Đạo diễn luôn luôn bất mãn, coi thường mọi người và chỉ biết hướng về cái mẫu đạo diễn xa xôi ở ngoại quốc. Hai nhân vật Mạnh Thường Quân và Đạo diễn luôn mâu thuẫn nhau, cãi vã nhau, tự tâng bốc mình và hạ thấp địch thủ:

Nhà Đạo diễn: Nhưng tôi xin nói cho ông biết, quan trọng hay không quan trọng là ở những người dưới quyền của đạo diễn với nhiệm vụ mà họ được giao phó. Ông phải biết, đối với những nhà đạo diễn ngoại quốc thì một lệnh là một lệnh!

Nhà Mạnh Thường Quân: Hừ ngoại quốc! Ngoại quốc! Lúc nào ông cũng đem cái ngoại quốc của ông ra hù dọa tôi. Ông phải biết là ông đang ở đâu chứ. Ngày nào cũng húp nước mắm mà cứ tơ tưởng đang uống sâm banh ở Paris.

Nhà Đạo diễn: Nếu ở địa vị ông thì tôi chỉ biết nhắm mắt bỏ tiền ra và thu tiền vào. Như thế sẽ dễ chịu cho ông hơn.

Nhà Mạnh Thường Quân: Vậy ra ý ông muốn ám chỉ rằng tôi không am hiểu gì về văn nghệ hết phải không. Thật tôi chưa hề gặp một ai kiêu căn và thiển cận đến như ông cả.

Trong cái thế giới ồn ào, vô trật tự đó, hiện lên một nhân vật tầm thường, lẫn khuất sau cánh gà, không được người ta chú ý đến, đó là lão kéo màn. Thế nhưng lão kéo màn lại là một nhân vật trụ cột của tác phẩm, lão ở một vị trí thấy được tất cả đám người xôn xao qua lại trong hậu trường, trên sân khấu và cả khán giả trong rạp hát, cả một tấn trò đời diễn ra trước mắt lão, khiến lão trở thành một chứng nhân của thế thái nhân tình. Cuối cùng lão trực diện với tác giả của vở kịch, lão là khán giả duy nhất của một diễn viên duy nhất là tác giả. Lão kéo màn biểu tượng cho lớp khán giả bình dân. Về nghệ thuật xây dựng tác phẩm, nhân vật lão kéo màn làm nên tính nhất quán của cốt truyện.

Như đã nói, những nhân vật trong Người Kéo Màn tượng trưng cho những con người ngoài xã hội, một xã hội được nhìn từ khía cạnh tiêu cực, với kẻ háo danh, háo sắc (Mạnh Thường Quân), kẻ có tự tôn mặc cảm (Đạo diễn), kẻ giả dối ngoại tình (diễn viên đóng vai Nghĩa), kẻ dùng mỹ nhân kế để đạt được cái mình muốn (thiếu phụ áo đỏ), kẻ coi thường phụ nữ và vũ phu (nhân vật người chồng cho thuê đứa con), nhưng xã hội cũng có một khía cạnh lạc quan với kẻ đi tìm sự thật qua sáng tạo văn nghệ (tác giả). Trong cái thế giới đó tình cảm con người có phần bế tắc, giữa người và người thiếu tình đồng nghiệp, tình huynh đệ, và rồi tình vợ chồng, tình yêu nam nữ đều đổ vỡ. Đối thoại cũng làm sáng tỏ một vấn đề hệ trọng trong xã hội, đó là hoàn cảnh của những trẻ thơ bất hạnh như hai đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi, một đứa ở bên ngoài hí viện, tàn tật đi ăn xin và bị hành hạ, đập đánh, đứa kia trong hậu trường được may mắn hơn nhưng tương lai vẫn đen tối.

IV Một chủ đề lớn : sáng tạo của người cầm bút

Tác phẩm Người Kéo Màn thật ra gồm hai vở kịch. Tác phẩm khởi đầu và kết thúc bằng sự hiện diện của tác giả, có thể xem đây là một vở kịch mà chính tác giả là diễn viên, tạm gọi là kịch 1. Vở kịch 2 là vở kịch diễn ra trong hậu trường và trên sân khấu với nhiều nhận vật, tạm gọi là kịch 2. Kịch 2 được lồng vào kịch 1. Kịch 2 của giới kịch nghệ chỉ là cái cớ để đi đến kịch 1 của tác giả, bao gồm quan niệm sáng tạo của người cầm bút. Đi từ kịch 2 đến kịch 1 là đi từ thế giới đa âm đến thế giới độc âm, đi từ sự ồn ào xung quanh một sáng tạo chưa tới đích đến nguồn sáng tạo thật sự.

Ngay từ đầu, độc giả thấy rõ sự hiện diện của nhân vật tác giả, được gọi là hắn. Trong khi khán giả tấp nập đến xem kịch thì hắn sống trong tâm trạng dằn vặt, không hài lòng về sự sáng tạo của mình, hắn có cảm tưởng chưa tìm ra sự thật, chưa tìm ra con đường của mình. Cho nên hắn uống rượu quá nhiều, mất hết ý thức về thực tế, áo quần lôi thôi, đi đứng chệnh choạng, ăn nói như nằm mơ. Cơn say rượu đó bề ngoài đối với mọi người là một trò cười, một trò đáng khinh bỉ, hạ thấp phẩm giá của một nhà văn, khiến phụ nữ như Hằng, người yêu cũ của hắn, thất vọng, như cô gái tặng hoa thích lý tưởng hóa tác giả vở kịch, bèn đâm ra sợ hãi, ghê tởm. Nhưng ý nghĩa cơn say rượu không ở bề mặt mà ở bề sâu. Cơn say rượu là một tẩy xóa những bợn nhơ trong tâm hồn hắn, là một cuộc độc hành xuyên qua sa mạc để quên hết và trong sạch hóa con người hắn. Hắn lần lần thấy rõ sự lầm lẫn của mình trước kia, và nhận thức một điều tối hệ trọng, đó là sự thật về sáng tạo và về cách sáng tạo. Hắn mãnh liệt chống lại sự giả dối của hạng người cầm bút. Tiếng cười rú lên trong hậu trường biểu tượng sự phủ nhận việc sáng tác của hắn trong quá khứ. Và khi độc diễn trên sân khấu, cử chỉ lấy xấp giấy trong túi ra đốt cũng là biểu tượng ý muốn từ bỏ lối sáng tạo trong quá khứ. Trong một rạp hát vắng người, nhưng đối với hắn, trước mắt là toàn thể những khán giả đang có mặt. Hắn tuyên bố:

Quý vị biết không… Giả tạo là kẻ thù của sáng tạo. Sự sáng tạo cũng không chấp nhận luôn cả thói nhai lại cái dư thừa của người khác. Mà đời sống hừng hực những chất liệu thì can cớ gì phải giả tạo hay đi làm loài nhai lại cơ chứ.

V Một hiện tượng trong văn học Việt Nam

Trở lại vấn đề tác phẩm Người Kéo Màn được Nhật Tiến gọi là tiểu thuyết kịch mà giáo sư Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức này có nguy cơ xóa ranh giới giữa hai thể loại: tiểu thuyết và kịch, và làm mất đi đặc tính của mỗi thể loại. Đứng về quan điểm bảo thủ, tôn trọng những thứ tự, quy củ, đã có từ xưa, thì đương nhiên phải bênh vực sự phân loại của truyền thống.

Nhưng những quy tắc đã được đặt ra đôi khi quá ràng buộc, quá khô cứng, cản trở người nghệ sĩ giàu tưởng tượng, mong muốn đi tìm cái đẹp, mà cái đẹp thì không có giới hạn. Cho nên cần tiếp nhận Người Kéo Màn của Nhật Tiến như một tìm tòi cái đẹp, một thử nghiệm về sáng tạo. Vào thời đó, Nhật Tiến có biết đến tình hình văn học ở Tây phương và có chịu ít nhiều ảnh hưởng của Tây phương không? Hay là ông đã sáng tác với một thứ trực giác của người nghệ sĩ ? Dù sao đi nữa Người Kéo Màn cũng là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ, một hiện tượng trong văn học Việt Nam. Để đo lường hiện tượng này, cần tìm hiểu sự tiến hóa của vấn đề sáng tạo văn chương ở Tây phương.

Sự xúc phạm ranh giới giữa các thể loại đã có từ lâu ở Tây phương. Trong quá khứ, giới cầm bút rất tôn trọng sự phân loại văn chương theo truyền thống, phân loại này bắt nguồn từ Thi Pháp của Aristote căn cứ vào ba thể loại: sử thi, thơ trữ tình và kịch. Với thời gian, ba thể loại này đã sinh sản ra nhiều thể loại khác. Theo nhà lý thuyết văn học Nga Mikhaïl Bakhtine, tác giả cuốn Esthétique et théorie du roman (Mỹ học và lý thuyết về tiểu thuyết), thì tiểu thuyết đã có rất sớm, từ lúc mà sử thi cố định hóa truyện kể lại quá khứ trong một hình thức không bao giờ thay đổi, thì một hình thức kể truyện khác tách rời để cho thấy con người trong cái thế tiến triển không ngừng. Thế nên ngay từ thời cổ đại, với nhà thơ sử thi nổi tiếng Homère, người ta đã thấy thấp thoáng một thể loại mới: trong khi thi phẩm Iliade của ông là một sử thi thì thi phẩm thứ hai Odyssée đã bắt đầu giống như một tiểu thuyết. Còn thể loại thơ vốn đã có từ đầu cũng đã biến dạng nhiều. Với chủ nghĩa lãng mạn, thơ không còn lẫn lộn với câu thơ, do đó cái lâu đài phân biệt các thể loại bị rung rinh. Việc làm cho câu thơ được mềm dẽo hơn kể từ văn hào Victor Hugo, và nhất là sự xuất hiện của thơ tự do, khoảng năm 1870, bắt buộc độc giả phải xem lại những tiêu chuẩn của thể loại thơ. Ý niệm «thơ» không ngừng mở rộng và tách rời khỏi câu thơ để lấy lại cái nghĩa từ nguyên của nó là «sáng tạo» (Poésie).

Nói tóm lại, cái quan niệm lập ra những quy tắc về các thể loại ngày nay vẫn còn được tôn trọng, nhưng dường như nó không thích hợp để trình bày văn học đương đại, không diễn tả được những tác phẩm lớn. En attedant Godot (Trong khi chờ đợi Godot) của Samuel Beckett là một bi kịch hay một hài kịch ? À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust là một tiểu thuyết theo định nghĩa của truyền thống? Lời đáp những câu hỏi này phải tinh vi, vì đặc tính các thể loại không còn «thuần khiết» nữa.

Ở thế kỷ 20, các thể loại văn chương càng tiến hóa nhiều, ranh giới để phân biệt đôi khi mập mờ, mong manh hoặc biến mất. Nguyên do là các nhà văn Tây phương muốn tự cho mình sự tự do chẳng những qua lại từ thể loại này đến thể loại khác, mà còn đưa vào văn chương những nghệ thuật tạo hình như hội họa, điện ảnh. Kết quả là có những tác phẩm hỗn hợp không có quy chế định rõ. Sự kiện này là do những dời chuyển của các nghệ thuật mà các nhà văn tiên phong ở thế kỷ 20 đã thử nghiệm. Xin đơn cử trường hợp của hai nhà văn: Alain Robbe–Grillet và Marguerite Duras.

Trong những năm 1950-1960, với sự xuất hiện của Tiểu Thuyết Mới ở Pháp, kỹ thuật của tiểu thuyết và kỹ thuật của điện ảnh xích lại gần nhau. Trong các tác phẩm Le Voyeur (1955) và La Jalousie (1957) của Alain Robbe –Grillet, thủ lĩnh của Tiểu Thuyết Mới, người kể truyện đồng hóa với cái nhìn. Sau đó A. Robbe–Grillet không phân biệt sáng tác tiểu thuyết với sáng tác phim như với tác phẩm L’année dernière à Marienbad. Đặc biệt trong tiểu thuyết La Maison de rendez-vous (1965) có nhiều người kể truyện dồn dập lên tiếng, cốt truyện được trình bày như thể có máy quay phim điều khiển, những kỹ thuật điện ảnh cần được đọc như những yếu tố của một truyện viết, vì việc dựa vào một nghệ thuật để xem (điện ảnh) là để làm nổi bật sự chóng mặt trước cái ảo mà mọi tác phẩm tưởng tượng gây nên. A. Robbe-Grillet đã tạo ra một tổng hợp giữa hai nghệ thuật.

Marguerite Duras cũng ghép văn chương với điện ảnh. Bà đã thực hiện những tiểu thuyết-phim nổi tiếng, như India SongHiroshima mon amour. Đặc biệt cuốn Hiroshima mon amour được viết để nhà đạo diễn A. Resnais quay thành phim. Cuốn sách bắt đầu bằng một sơ lược truyện phim, rồi đến phần đối thoại như trong kịch và cuối cùng là phần giải thích tỉ mỉ mỗi phân cảnh. Marguerite Duras cũng có những tác phẩm vượt ranh giới những thể loại, với những biến đổi trong cách viết, những văn bản dao động giữa những sơ lược truyện phim, kịch bản, truyện hoặc truyện ngắn, như trong các tác phẩm: Navire Night, Aurélia Steiner và L’Amant de la Chine du Nord.

Việc vượt qua ranh giới các thể loại đã làm lung lay những sắp xếp của truyền thống, và đưa vào ý thức thử nghiệm và lật đổ trong cách xây dựng thẩm mỹ, đến nỗi đã tạo ra những tác phẩm mới lạ mà truyền thống khó lòng phân loại. Tuy nhiên việc chuyển dời không những tạo nên sự hỗn hợp giữa các kỹ thuật, nó còn gây sự chông chênh, sự lạ lùng, làm mờ đi những quan hệ giữa lý thuyết và hư cấu, hư cấu cũng được huy động để phá hủy ranh giới.

Đi một vòng qua Tây phương để trở về với Người Kéo Màn của Nhật Tiến. Trong văn học Việt Nam chưa từng có một tác phẩm với một hình thức hỗn hợp như thế. Như đã nói, đây là một hiện tượng văn học. Lần đầu tiên tác giả chẳng những vượt ranh giới giữa tiểu thuyết và kịch mà còn đưa vào nghệ thuật điện ảnh, trong Người Kéo Màn ống kính của máy quay phim dời chuyển khoảng 33 lần, để cho thấy sự thay đổi của không gian với những nhân vật kế tiếp nhau, cho phép độc giả dần dần khám phá cốt truyện. Nhật Tiến liên kết ba kỹ thuật để làm nổi bật chủ đề sáng tạo. Sáng tạo mà giới kịch nghệ nâng niu trong hậu trường, trên sân khấu, và được khán giả hoan nghênh vỗ tay, chưa phải là một sáng tạo làm toại nguyện, người sáng tạo phải trăn trở, thao thức để đi xa hơn.

Khi sáng tác Người Kéo Màn, có lẽ nhà văn Nhật Tiến đã linh cảm điều André Malraux đã từng nhận xét: “Mọi sáng tạo khởi nguyên là một cuộc đánh vật của một hình thức tiềm năng chống lại một hình thức bắt chước (1)”. Hình thức tiềm năng đã thắng, và tác phẩm Người Kéo Màn đã đi vào văn học với tính hiện đại, cách tân của nó.

[*]Toute création est à l’origine la lutte d’une forme en puissance contre une forme imitée. André Malraux, Psychologie de l’artla création artistique, Nxb Skira, 1949.

Liễu Trương
31-3-2020

Giấc Thu. Thơ Hư Vô


Từ nay em khóc một mình
Đâu còn ai để làm tình tội nhau
Giọt lệ lạnh tựa lưỡi dao
Lao vào quá khứ vết đau diệu kỳ.

Mùa thu chưa kịp bỏ đi
Mà em như đã mãn thì heo may
Gối chăn có biết đêm dài
Cũng là chiếc bóng cho đầy giấc mơ.

Từ đêm trăng khuyết tình cờ
Trong mắt tôi bỗng bất ngờ đổ mưa
Ướt cành liễu rũ vườn xưa
Thả câu lục bát cho vừa thu phai.

Còn nghe tiếng lá thở dài
Chỗ em lăn lóc hình hài bóng không
Hồn tôi lơ lửng bềnh bồng
Như mây lãng đãng còn đồng vọng em…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 382


LUÂN HỒI

Từ em bước tới bể dâu
Biển khuya cũng đã bạc đầu trần ai
Hồn tôi lãng đãng như mây
Còn nghe tiền kiếp hoài thai tội tình.

Dài thêm một cuộc phiêu linh
Cho đêm động bóng chút hình hài xưa
Bàn tay lạnh tựa cơn mưa
Nương theo vạt lụa che hờ dung nhan.

Chỗ có di tích dã tràng
Biển xa sóng vỗ hoang đàng bóng tôi
Em còn mấy bận luân hồi
Cũng là một chuyến thuyền trôi giữa dòng!

Mà tôi có phủi tay không
Hạt bụi vẫn bám trong lồng mắt em
Thì đâu chắc dễ gì quên
Đầu thai lần nữa đáp đền ơn nhau…

Hư Vô

THIÊN ĐƯỜNG KHÔNG DẤU CHÂN TÔI…


Xưa cứ uống thời gian mà khôn lớn
Giờ lai rai ký ức qua ngày
Hồn thuở ấy non tơ màu da nõn
Thất lạc tình mực lấm lét hoa tay

Em khéo vẽ đường cong sau nếp áo
Tóc dài bay rối cả bước hoa niên
Trống điểm danh dại khờ bên khung cửa
Có mặt tôi trong ánh mắt thật hiền

Quãng đường ngắn môi tình ca hôn gió
Đêm đêm về trải nhịp guốc lên thơ
Con đường dài lòng chưa nhau đã lỡ
Cố quận ru buồn viễn xứ không bờ

Hái lãng mạn ướp đầy trong cặp sách
Bảng đen treo chờ phấn trắng trả lời
Từng con chữ bỗng chìm trong tiếng sóng
Mênh mông đời gió gọi phía xa khơi

Tà áo trắng bay lên thành mây trắng
Chuyện ngày xưa ai giấu tận chân trời
Nghe vẳng tiếng chiều hoang ru vời vợi
Thiên đường em xóa dấu chân tôi…

Lưu Xông Pha

CÒN ĐÓ, CUỘC TỪ LY.


Tôi gùi tôi qua dốc thiên tai
Mà nghe bên núi lạnh chân ngày
Mà nghe trong gió lời Covid
Gọi đến muôn trùng. cuộc trả vay.

Tôi bỏ tôi vào trong hộp đen
Trầm tư. hơi thở nặng ưu phiền
Lênh đênh với nỗi buồn thương tật
Chìm dưới mơ hồ một tuổi tên.

Ngoài kia sấm dậy trong lòng mắt
Che nỗi u hoài với cỏ cây
Yêu thương đã sẵn lời san sẻ
Mà cuộc từ ly sớm dọn bày…

Trung Chinh Ho

ƯU TƯ


Trời đất miên man một nỗi sầu,
Lòng người chất ngất vạn ưu tư.
Nhìn nhau ngần ngại lùi vài bước,
Tay vẫy chào nhau giữa khoảng không!

Mây xanh gợn xám chẳng còn trong.
Gió đứng buồn hiu khóc cuộc đời.
Thắt lòng đau đớn ai cùng nấc,
Vợ gọi chồng phút cuối hôm nay…

Thế giới ngẩn ngơ nỗi sợ này,
Vì sao lây bịnh đến từ đâu?
Con nhìn cha mà rơi nước mắt,
Bám víu đời, hơi thở chơi vơi..

Phố xá hôm nay vắng bóng người,
Thầm thì ta gọi mọi người ơi!
Nguyện cầu đại dịch mau qua khỏi,
Thế giới vui mừng tay nắm tay …

trầnthịminhchâu

SAIGON, NHỮNG NGÀY NÀY…


Saigon thin thít rồi cưng
Ra, vô chạm phải rưng rưng nỗi buồn
Phố đìu hiu, xá cô đơn
Ngại con virus hết hồn…đó đây!

Saigon ơi! Những ngày này
Sầu qua phi cảng, người gầy chiêm bao
Thương mà ta, bậu xa nhau
Cách ly cả nụ hôn mầu nhiệm kia…

Đất -lành-chim-đậu, mấy khi
Nỗi lo cơm áo lại ghì lưng ong
Bó chân lãng tử phiêu bồng
Chỉ chừa con mắt ngó mông quạnh chiều…

Bạn bè đã gánh đăm chiêu
Về nơi quê quán, còn nhiêu thân tình?
Cà phê sao chỉ riêng mình
Câu thơ mắc cạn, hồn chìm đáy sông!

Lạy Trời mau hết tai ương
Để SaiGon cứ yêu thương ngời ngời…
Không nơi đâu? Tất nhiên rồi!
Rất hào hiệp trái tim người phương Nam…

Trần Dzạ Lữ

TÌNH MÙA ĐẠI DỊCH


ngày xuân đi ngược dấu anh về
khi con dịch tràn qua bốn bể
thương lắm thương mà tình khó thể
níu tay người vui hết trăm năm.

em bên trời xót dạ sầu vay
nắm nhớ đong đưa nụ nửa vành
môi cười như thể không cười được
nhiễu sự làm đau thế hệ này!

bây giờ bó gối trông ra cửa
nhạn biếng tin đưa ngại nhiễm sầu
huống em hương sắc đương thời vụ
nhẫn tâm con dịch có chừa đâu.

đành thôi phường phố trơ quan tái
tưởng chiến tranh chẳng thảm thế này
thiên hạ đứng tim chờ tắt thở
khi chung quanh thần chết chực chờ.

thì sá chi tình đương đại dịch
đứng ngồi chỉ biết thở ra thôi
mai may còn sót mà được sống
nào khác chim bầy đã lạc đôi!…

Đức Phổ

TÓC MAI EM GỬI VỀ NGƯỜI

Gửi H.D.

Giờ tóc mai đã âm thầm sợi bạc
Tưởng sẽ thôi không còn nhớ về nhau
Em đâu nghĩ có ngày buồn đến vậy
Nhìn nắng qua đồi bỗng buốt tim đau

Giờ thì tóc chẳng thơm mùi cỏ dại
Lá hương nhu bồ kết cũng phai rồi
Ngày và tháng không còn quay quắt nữa
Mà tiếng buồn vẫn nặng ở trên môi

Giờ người đã cùng em thành kẻ lạ
Chẳng hiểu gì nhau. Như vẫn. Ngày xưa
Em đâu biết cuộc đời thường như vậy
Sóng dạt trôi chẳng trở lại bao giờ

Buổi chiều đi thật buồn và rất chậm
Lòng em đau như thể có kim châm
Nên muốn gửi về người dăm sợi tóc
Dẫu không hương vẫn là sợi trăm năm?

Trời đang xanh. Nhưng chiều qua rất lạnh.
Em lướt đi trên vạt cỏ âu sầu
Tự hỏi lòng sao em buồn vậy nhỉ
Tóc phai hương và sợi đã úa nhầu?

Hay chỉ bởi nỗi lòng em xao xác
Nhớ bài thơ người xin sợi tóc mai…

Hoàng Nga

NGHE EM HÁT RU ĐỜI


Con đường nhớ vu vơ
Nồng nàn hương ngày cũ
Quán xưa chiều cuối phố
Nghe em hát ru đời

Bao nhiêu năm qua rồi
Làm sao anh quên được
Nẻo tường hoa xa khuất
Lối đi – về mùa sang

Nghe như từng bước chân
Em nhẹ nhàng nhịp guốc
Dẫm tim anh đau buốt
Suốt một thời gian nan

Vai em – đôi bờ mộng
Cho anh tựa gối đầu
Mai kia dù lận đận
Mình vẫn còn có nhau

Linh Phương

HÃY ĐẮP GIÙM TÔI MỘT LÁ CỜ


Hãy đắp giùm tôi một lá cờ
Nấm mộ vùi nông chiều tháng tư
Anh chết bên đường không tên tuổi
Mặt đất còn đen giọt máu khô

Hãy đắp giùm tôi một lá cờ
Anh chết bình yên không hận thù
Anh chết sững sờ,
Như cái chết
Chỉ là thảng thốt giữa cơn mơ

Hãy đắp giùm tôi một lá cờ
Xé áo trận làm chiếc khăn sô
Giọt lệ xót thay lời tri biệt
(Không biết hồn anh có nhớ nhà?)

Hãy đắp giùm tôi một lá cờ
Nấm mồ lịch sử tự ngàn xưa
Bao nhiêu xương máu vô danh ấy
Hãy đắp giùm tôi một lá cờ.

Lê Văn Trung


Luân Hồi. Thơ Hư Vô


Từ em bước tới bể dâu
Biển khuya cũng đã bạc đầu trần ai
Hồn tôi lãng đãng như mây
Còn nghe tiền kiếp hoài thai tội tình.

Dài thêm một cuộc phiêu linh
Cho đêm động bóng chút hình hài xưa
Bàn tay lạnh tựa cơn mưa
Nương theo vạt lụa che hờ dung nhan.

Chỗ có di tích dã tràng
Biển xa sóng vỗ hoang đàng bóng tôi
Em còn mấy bận luân hồi
Cũng là một chuyến thuyền trôi giữa dòng!

Mà tôi có phủi tay không
Hạt bụi vẫn bám trong lồng mắt em
Thì đâu chắc dễ gì quên
Đầu thai lần nữa đáp đền ơn nhau…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 381


ĐOÁ DÃ QUỲ MƯỜI SÁU

Ngày tôi vào đại học
Em vừa tới lớp 10
Hành lang dài trơ trọi
Đâu còn thấy bóng tôi!

Đường xa bao cây số
Đời mấy ngả chưa quen?
Dài như dấu gạch – nối
Giữa tên tôi và em.

Chiều nghiêng theo chiếc lá
Em bước vào lẻ loi
Tôi ngồi bên hoạ thất
Vẽ mùa thu lớp 10!

Nét cọ còn bối rối
Theo từng lối em đi
Áo bay màu phấn trắng
Che nhan sắc dậy thì.

Đoá dã quỳ mưởi sáu
Ngọt chưa giáp môi không
Cổng trường vang tiếng trống
Tiễn em bước theo chồng…

Tôi đuổi theo chiếc bóng
Lòng vòng muốn hụt hơi
Chân dẫm chồi gai lạ
Đau đã hết một đời…

Hư Vô

MUÔN TRÙNG


Xin hãy lắng. nghe môi chiều động đậy
Hàng cây xanh đang chở khúc giao mùa
Kìa! bạn hỡi… chiếc lá vàng run rẩy
Phút giây này chứa đựng cả nghìn thu

Bước đi em. đốm hồng vừa bật cháy
Lửa trăm năm không nằm phía sao trời
Hãy cứ mặc sợi nắng vàng đưa đẩy
Hiến dâng này là nguồn cội sinh sôi

Xanh lên nhé cho niềm yêu ngây ngất
Con sơn ca đang rót mật bên đồi
Dòng suối nhỏ du dương lời tuôn chảy
Nhịp đất trời lộng lẫy cả trùng khơi

Hát lên đi cho niềm đau lấp lánh
Bóng điêu tàn là ngấn lệ đêm khuya
Bầy hạc núi vùi mình trong sương lạnh
Tiếng ngàn năm còn buốt giọng chia lìa

Là hạt bụi lách mình qua kẽ gió
Nghe vi vu hò hẹn với mây ngàn
Người khách trọ trong chiều mưa lá đổ
Ngắt cho mình một nhánh cỏ trần gian

Chúm mây trắng trên mặt hồ yên lặng
Khẽ rung lên chiếc lá động cuối mùa
Những gợn sóng lăn tăn về muôn dặm
Khúc muôn trùng thăm thẳm bóng chiều xưa…

Sơn Nguyễn

ĐẠP XE LÊN CON DỐC


Con dốc thật cao như núi thẳm
Đường xa chân lạ, gió lạnh vai
Tháng ba trái tiết, trời hanh nắng
Không làm ấm nóng nửa bàn tay

Đạp lên con dốc, thở mệt nghỉ
Chợt thấy như đời, chạy mòn hơi
Bôn ba xuôi ngược, dốc chon vót
Rớt tiếng thở sâu, ở cuối đời

Hoa mận ven đường chừng trổ sớm
Lắt lay đôi cánh tựa trêu ngươi
Ngực thở phập phồng như cũng muốn
Đau lòng một tiếng gọi, tôi ơi!!!

Hoàng Nga

NẮNG HOÀNG HÔN


Tôi về tìm lại tôi ngày cũ
Để thấy bóng mình một thuở xa
Ô hay! Cây đã thay màu lá
Ngày tháng âm thầm nhẹ lướt qua

Một thời tuổi trẻ trôi đi mãi
Còn chút xuân tàn rụng cánh mai
Theo vầng trăng khuyết mòn mơ ước
Lặng lẽ mây buồn vẫn cứ bay

Gió bụi thời gian phai màu tóc
Đầy những rêu phong nẻo đường xưa
Thôi đành lạc mất tôi ngày ấy
Dường như trời đất chuyển giao mùa

Làm chuyến hành hương thăm quá khứ
Chợt nghe kỷ niệm kín trong hồn
Bâng khuâng chạm khẽ miền ký ức
Chỉ còn sót lại nắng hoàng hôn …

BT Áo Tím

VỊ MẶN


Vị mặn có mùi khai nồng
là mồ hôi
thấm trên lưng áo của cha
qua bao mùa dãi dầu mưa nắng
trên đồng ruộng
năm xưa

Vị mặn
là những giọt nước mắt
của mẹ năm nào
lặng lẽ
khóc đứa con trai
vừa bước qua tuổi mười tám
đã ngã xuống trong một chiều chiến trận
máu loang trên cánh đồng
lúa đang thì con gái

Vị mặn
của dòng sông tháng ba
gieo cơn khát
vây quanh mỗi nhà
lan ra từng thửa ruộng
cánh đồng chỉ còn trơ những vết nứt tổ ong
và những trà lúa phơi mình khô cháy

Mùa hạn mặn quê tôi
nghe như có cả vị mặn từ ngày xưa
đọng lại
vị mặn của những nhọc nhằn
lẫn nỗi niềm khắc khoải
trên mảnh đất quê
những phận người nhỏ bé
đang oằn mình giữa mùa nắng cháy
tháng ba

Nguyễn Sông Trẹm

ĐI GIỮA MÙA GIÊNG


giêng hai vừa nhẹ gót hài
tóc em thả gió làm phai nắng chiều
chân trần đẵm nhẹ hương yêu
và bàn tay ngọc yêu kiều tinh khôi

ơi em tình thắp một đời
mùa xuân qua ngõ trao lời yêu nhau
ngoài vườn hương cúc hương cau
ru hồn lãng đãng cơn say đầu mùa

tầm xuân nở ấm môi đùa
gió miên man gió nhẹ lùa qua sông
em nghe tình của tôi không
nhẹ nâng gót ngọc môi hồng sang xuân

nghe hồn vừa chớm bâng khuâng
giêng hai trải bước chân trần mộng mơ
hay chăng tôi vẫn đợi chờ
em và mùa cũ bài thơ ngọt ngào…

Nguyễn minh phúc

CHÚT TÌNH XUÂN BÊN TRỜI


Ta buồn như giọt rượu
Chảy vào đời vô biên
Bến sông trăng đã cạn
Ta ru em ưu phiền

Em hương xuân mật ngọt
Ướp hồn ta nắng vàng
Nghe chim đêm thảng thốt
Chiêm bao tình ly tan

Ta thành trăng tàn úa
Treo ngọn cỏ cầu sương
Loài hoa nào ủ nhụy
Rơi rơi những sợi buồn

Buồn như đêm nguyệt tận
Soi đời ta điêu linh
Đi qua tình lận đận
Em ơi rượu một mình

Cánh thiên di biền biệt
Về ốc đảo xa xôi
Còn không em nuối tiếc
Chút tình xuân bên trời?

Hoàng Anh 79

YÊU NHAU TRONG MÙA ĐẠI DỊCH
1
… như tiếng chim buổi sáng
lập thể trong mờ sương
mắt hàng cây ấn tượng
bốc hơi trên con đường
2
không cần phải khuyếch đại
không cần nghĩ thêm chương
lời của huê cỏ dại
xức mùi hương ven đường
3
buổi sớm mai thức dậy
tách trà nức mùi thơm
không phải hương từ gió
mùi ngọt ngào từ tâm
4
tôi yêu buổi sáng sớm
như mùi hương êm đềm
yêu cuộc đời nhỏ nhỏ
từ nhịp đập con tim
5
yêu nhau như mật ngọt
lên men trong cuộc đời
như là tiếng chim hót
trong buổi sáng tinh khôi…

Trần Thanh Dũng

Đóa Dã Quỳ Mười Sáu. Thơ Hư Vô



Ngày tôi vào đại học
Em vừa tới lớp 10
Hành lang dài trơ trọi
Đâu còn thấy bóng tôi!

Đường xa bao cây số
Đời mấy ngả chưa quen
Cũng là dấu gạch – nối
Giữa tên tôi và em!

Chiều nghiêng theo dáng nắng
Em bước vào lẻ loi
Tôi ngồi bên hoạ thất
Vẽ mùa thu lớp 10!

Nét cọ còn bối rối
Theo từng lối em đi
Áo bay màu phấn trắng
Che nhan sắc dậy thì.

Đoá dã quỳ mưởi sáu
Ngọt chưa giáp môi không
Cổng trường vang tiếng trống
Tiễn em bước theo chồng…

Tôi đuổi theo chiếc bóng
Lòng vòng muốn hụt hơi
Hồn phơi trên xác lá
Đau đã hết một đời…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 380


CỘI NGUỒN

Từ đêm trời đất động tình
Trăng khuya vọng nguyệt trở mình mẩy đau
Em về ngủ với chiêm bao
Hoá thân tiền kiếp tượng bào trăm con.

Một đời quẳng gánh đa đoan
Chân hoang phế đã gầy mòn hư hao
Chờ ta bước tới bể dâu
Lên núi xuống biển bắc cầu em qua.

Đường trần mấy bận phong ba
Cũng là chỗ để hồn ta tượng hình
Bao giờ trời đất tái sinh
Ôm đời khóc lớn xuống tình tội xưa.

Tóc em dài đủ buồn chưa?
Để đan thành sợi khói lùa dòng trăng
Biển xa con nước cạn dần
Tìm em, ta gặp tần ngần bóng ta…

Hư Vô

THU VÀNG


Thu về vàng lá trên tay,
Ta gom lá đổ cho đầy ước mơ,
Em cười như chuyện bâng quơ,
Chân em đạp lá – lòng ơi vụn sầu…

Cho em chiếc lá rất nhầu,
Của mùa thu cũ tình đầu của ta…
Gọi em ở chốn thật xa,
Trăng vàng đáy giếng gọi là tình thu.

Ai về khơi ngọn đèn lu,
Vàng thêm màu lá bớt u uẩn buồn.
Suối xưa nước vẫn chảy tuôn,
Nắng mùa thu mới nắng hồn nhiên vàng

Gió thu quê ngoại trường làng,
Trải lòng trên lá thênh thang đắng lòng..
Bao năm cổ thụ lưng còng,
Viết thêm cổ tích một vòng nhân sinh!

trầnthịminhchâu

CÓ AI NGHE?


Có ai nghe? tiếng rít từng canh trường
Trong lòng đêm rên xiết quá thê lương
Tiếng khóc than oằn đau trên triền đất
Giữa muôn trùng ngàn vạn nỗi xót thương!

Có ai nghe? tiếng nức nở loài người
Trong thâm u thêm xao xác tả tơi
Tiếng lệ rơi nhoà trong màu hương khói
Tiếng thở than vọng không thấu đất trời!

Là bất an, là lầm than, là tuyệt vọng
Đẩy muôn loài chìm trong nỗi hoang mang
Là chiến tranh, là thiên tai, là dịch hoạ
Bởi lòng người đầy tham vọng, mưu toan!

Có ai nghe? tiếng bước chân thưa dần
Tìm bình an,khó lắm, cõi nhân gian
Ôi niềm tin, vàng như màu lá úa
Giữa hoang tàn, thèm một tiếng chuông ngân!

Phạm Thuỳ Dung

NẮNG THÁP CHÀM


Cây xuơng rồng nở hoa trên cát
Vậy mà em biền biệt phuơng nào
Giọt hoàng hôn rụng phai màu tóc
Dâu bể đời như giấc chiêm bao

Mây trắng bay qua miền cố xứ
Xác lá rơi quên mất đuờng nghiêng
Anh tìm lại dấu yêu ngày cũ
Đến bao giờ tình mới ngủ yên

Biển ngàn năm xanh màu thuơng nhớ
Như thuở đầu mình mới yêu nhau
Phải chăng nụ hôn tình chưa lớn
Để sau nầy em vội quên mau

Mai mốt em về nghe tiếng suối
Để thấy đời còn chút yêu thuơng
Đèo Sông Pha những chiều suơng phủ
Bình yên nghe chim hót bên rừng

Hai muơi năm xa thời con gái
Em có mang theo nắng Tháp Chàm
Bụi đỏ áo xưa mù mịt quá
Nên tình mắc cạn một mùa trăng!

Hoàng Anh 79

NGƯỜI CÓ VỀ LỐI XƯA


người có về lối xưa
nhớ tình tôi một thuở
thương những chiều thu mưa
ngập hồn tôi trăm lối..

mùa thu vàng ngày nọ
hoa dại tràn dốc mơ
cầm tay người bở ngỡ
mây đậu xuống vai chờ

nhặt mùa thu đến vội
sao nghe lòng bâng khuâng
chiếc lá vàng mê mải
thương tình tôi hiến dâng

nụ hôn nào đọng lại
giữa môi người thanh tân
đến bây giờ còn mãi
trong giấc mộng bao lần..

giờ chắc người còn nhớ
mấy phương trời mây bay
mùa thu vàng dang dở
hoa rụng xác rơi đầy..

…tôi về qua lối cũ
nhặt từng cành hoa rơi
nghe tình xưa yên ngủ
tìm đâu …
người xưa đây…

nguyễn minh phúc

TIẾNG GÀ KHUYA…


Ta thức cả canh rồi gà mới gáy
Tiếng gà khuya lảnh lót dưới hiên nhà
Những tiếng gáy xé tan trời tĩnh lặng
Rất lạnh lùng – trên gác một mình ta

Đêm lặng lẽ – ta một mình đối bóng
Trăng thượng tuần – trăng cũng rất cô đơn
Những kỷ niệm cứ trôi về đồng vọng
Tiếng ru ai đan xé cả giận hờn

Ta vẫn thế – đứng bên đời ngạo nghễ
Nhịp song hành vẫn là cốc rượu cay
Yêu em lắm – nhưng chắc là không thể
Xa mịt mù – khuất hẳn một tầm tay…

hochibuu

GIẤC BIỂN


Biển hay người tình mà sóng mắt xôn xao
Em có nghe hải âu gọi mềm cánh gió
Em có nghe anh đang ở đó
Dang vòng tay như biển
Chờ đợi em!

Tháng ba
Nghe ghềnh đá ngủ quên
Trăm năm vỗ về giấc biển
Thanh âm trong lời khấn nguyện
Mơ hồ một thoáng yêu em!

Anh nghìn năm say.
Nghe con sóng gọi tên
Gọi em cồn cào nỗi nhớ
Khôn nguôi tiếng thở
Nồng nàn khoảnh khắc ta yêu!

Chiều nay biển ơi
Bờ cát trắng mềm nhung nhớ
Con sóng!
Dội xanh lòng phố
Mênh mang gọi chiều em đi..

Bên trời một đóa tình si
Nở trắng một thời hoài niệm
Anh nghe chiều trôi quyến luyến
Anh nghe giấc biển
Trên từng lớp sóng đam mê!

Quỳnh Nga

NGẪU HỨNG SÁNG MAI XANH


Một sớm mai hoa nắng
Xuân lòng em sắc hương
Đóa hồn em trinh trắng
Thơm ngọn gió thiên đường.

Long lanh cườm sương biếc
Hoa cười nắng thủy tinh
Vườn lòng em tinh khiết
Đất trời mở trang kinh.

Ồ. Muôn hoa diệu pháp
Hồn tạo vật soi gương
Sớm mai xanh nắng thắp
Lung linh đóa vô thường.

Nắng vườn xuân mầu nhiệm
Tôi đứng lặng cúi đầu
Khoảnh khắc thiên thu niệm
Tạ ơn đời có nhau!

Trần Thoại Nguyên

CHIỀU RÂY MƯA BỤI


Ai đem sầu rắc lên mây
Cho chiều mưa bụi về rây ngang vườn
Cỏ Xuân lá kết ngọc sương
Mắt xanh liễu yếu khép buồn nhớ ai

Hàng cây không gió thở dài
Chiều không ráng nắng, chiều phai nhạt dần
Không ai vẫn nhớ loanh quanh
Không ai lòng vẫn mọc nhành tương tư

Bầy chim di trú về chưa
Biết chờ biết đợi mấy mùa đoàn viên
Sầu đông giăng tím tình em
Biết mô ta gởi nỗi niềm phấn hương

Chiều rây mưa bụi mờ thôn
Nỡ làm ướt cánh chuồn chuồn dậu hoa

Thiên Di

Bức Tường Xanh. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)

Căn phòng vỏn vẹn có ba thước bề dài và hai thước bề ngang. Chung quanh là những tấm mắt cáo đóng bằng gỗ nẹp. Nắng đã xế qua lớp mái tôn của dẫy nhà bên kia sân, nên những khoảng đốm sáng trên sàn gạch bây giờ bò dần lên vách gỗ. Mặt gạch còn hấp đầy hơi nóng. Cái nóng nung nấu từ buổi trưa đã làm mảng lưng của Thiện như muốn rộp lên. Trong lúc ngủ, mồ hôi ở lưng áo đổ ra ướt đẫm sàn gạch rồi bốc hơi mau chóng. Bây giờ đã bắt đầu có gió hiu hiu thổi. Gió lùa qua khe gỗ đưa vào hơi mát xen lẫn mùi nồng nồng của những cái hôi hám hỗn tạp. Đám rãi rớt của tên áo xanh nằm ở góc phòng còn nguyên sau cơn nôn ọe buổi trưa. Vết loét lở ở ống chân của tên cởi trần đã bị sút băng, bông để lộ ra một vết sâu hoắm, lốm đốm những con ruồi đen đang bám chặt. Hơi thở nặng nề trong giấc ngủ mệt nhọc của sáu, bẩy tên khác nằm ngổn ngang khắp căn phòng. Hai, ba tên khác chập chờn trong tình trạng nửa ngủ, nửa thức vẫn rên rỉ từ mấy tiếng đồng hồ qua.

Thiện thấy miệng mình khô đắng lại. Cảm giác buồn nôn chờn vờn trong cổ họng. Hắn cố nhịn để đám rãi trong miệng khỏi ùa ra. Rồi hắn nuốt đánh ực. Hắn cảm thấy dạ dầy nôn nao khiến đầu hắn chòng chành. Hắn chống tay ngồi dậy. Ánh sáng chói lọi ở lớp mái tôn của dẫy nhà bên kia làm mắt hắn tối sầm. Hắn nhè nhẹ xoay lưng lại rồi cố lết về phía vách gỗ. Giấc ngủ vừa qua không làm hắn dễ chịu hơn. Đầu hắn nặng như búa bổ. Vành mắt như dầy cộm lên. Tròng con ngươi cứng đơ lại. Hai bên vành môi thưỡn ra không thể mấp máy. Nước rãi lại ứa ra ở chân răng, nhễu xuống mép và chỉ đến lúc thấy mát ở xương quai cằm, hắn mới nhận thấy và giơ tay lên quệt ngang.

Hắn mệt nhọc nhìn quanh một lần nữa khung cảnh buồn chán trước mặt. Những đốm sáng hình ô vuông lên cao hơn nữa trên vách gỗ. Vài mảng màng nhện rách rưới đu đưa trong gió nhẹ. Mái tôn nóng hổi như đang cựa mình lách cách. Thằng áo xanh vẫn nằm ngoẹo đầu ngủ li bì. Đám rãi rớt xen lẫn những hạt lấm tấm trắng lúc ọe ra bây giờ như đã se mặt. Những con ruồi vẫn bám riết lấy đám mủ bầy nhầy vừa xanh, vừa vàng trên vết thương sâu hoắm. Một vài tiếng ú ớ vang lên. Tiếng ngáy khò khè vẫn như một điệu nhạc buồn nản kéo dài từ trưa. Mùi hôi nồng thoảng trong gió ùa vào đầy ắp tới cổ họng của hắn. Hắn lại nuốt ừng ực để chăn cơn nôn ọe vẫn đang rập rình trồi lên từ đáy dạ dầy.

Thiện đổi thế ngồi một lần nữa để dựa một bên vai vào vách gỗ. Qua các lỗ ô vuông của tấm mắt cáo, khoảng sân đất hiện ra chói lòa ánh nắng. Ở dẫy nhà bên kia đã thấy lác đác có bóng người qua lại. Toán trực nhật lo cơm chiều bắt đầu khiêng những thùng nhôm đi xuống bếp. Khu bếp núc trông thẳng được ra dẫy hàng rào ngoài cổng trại, nhưng ngồi ở đấy, Thiện chỉ thấy dẫy bể nước thấp lè tè bằng xi măng có những khóa đồng sáng bóng. Hắn thèm được thấy con lộ đầy bóng mát chạy ven theo hàng rào. Con lộ thẳng tắp, hai bên là cây cao. Qua lùm cây xanh, phía bên kia là con sông êm đềm với tiếng sóng vỗ róc rách.

Đã hai tuần nay rồi Thiện chưa được trông thấy con sông, cũng chưa được thấy cả con lộ thẳng tắp chạy men theo hàng rào. Lộ trình một ngày của hắn chỉ là bước qua khu sân đất để sang dẫy nhà tôn ở mé đằng sau. Một ngày ba lần. Hai lần cho bữa cơm và một lần ở phòng thuốc. Giọng nói ngọt ngào quen thuộc của viên y tá già còn vẳng bên tai:

– Ráng đi con. Chỉ cực mấy ngày đầu. Rồi sẽ êm hết. Sẽ êm hết thiệt đó mà…

Thiện đã từng đón những viên thuốc mầu hạt dẻ như một cái máy vô tri. Mầu xanh của khói thuốc như đang dựng trước mắt hắn một bức tường xanh. Bức tường cao vòi vọi, cuồn cuộn nung nấu, sôi sục rồi bủa ra, vây quanh che mờ lấy mắt Thiện. Nó thấm vào từng lỗ chân lông, bám riết lấy từng sợi máu, ùa vào lục phủ ngũ tạng biến thành những con sâu gậm, nhấm, đục, khoét. Thiện rú lên như con vật bị chọc tiết. Hắn quờ tay về phía trước. Đầu hắn chúi xuống. Hắn muốn với tới bức tường xanh. Nhưng hai tay hắn đã bị kìm cứng lại. Tiếng khóa sắt lách cách hình như xen lẫn với chính tiếng hắn gào. Hắn gào thật to như trút tất cả sức lực vào cổ họng. Rồi hắn rũ xuống. Hắn thấy bức tường đổi sang sắc đỏ, rồi sắc tím, rồi tất cả tối đen lại. Hình như có nhiều tiếng người lao xao. Hình như vòng xích đang cột sát hắn vào vách tường. Hình như những đứa khác cũng đang kêu gào. Hắn mệt quá. Hắn muốn níu lấy một cái gì có thể bấu víu.

Hắn nghĩ đến mẹ và em gái. Hình ảnh cằn cỗi của mẹ hắn hiện ra chập chờn. Căn nhà cũ. Căn phòng cũ. Tiếng khóc nỉ non của đứa em gái ở đầu thềm. Tiếng con heo đất rơi vỡ tan tành trên sàn gạch. Tất cả những cái đó đã xẩy ra. Như mới xẩy ra. Hắn còn giữ nguyên cái cảm giác lúc hồi hộp rón rén đem con heo đất từ đầu giường mẹ (lấy dưới lớp giẻ rách bùi nhùi) để đi ra cửa phòng. Rồi hắn vấp phải chiếc ghế. Con heo vỡ tan tành. Hắn đứng chết trân ở đó, trước những đồng bạc cắc vừa chạy, vừa reo trên kháp mọi ngõ ngách trong căn buồng chật hẹp. Mẹ choàng dậy. Tiếng khóc bắt đầu cất lên kéo theo tiếng khóc của đứa em gái. Hắn nổi giận với tất cả mọi người, mọi vật chung quanh. Hắn xô cái ghế báo hại nằm giữa lối ra vào. Hắn muốn gầm lên để bịt lỗ miệng đứa em gái. Nó có quyền gì. Nó là cái thá gì chứ. Hắn trút nỗi giận vào đám ly tách sứt mẻ, cáu ghét trên mặt bàn. Có tiếng thủy tinh vỡ. Hắn nghe như sự đổ vỡ của chính lòng mình.


Hắn vội vã quơ mớ tiền giấy nằm ngổn ngang trên mặt đất rồi vùng lên như chạy trốn. Tiếng khóc còn như đuổi theo sau. Nhất là khuôn mặt của mẹ. Khuôn mặt khô cằn, hốc hác với đôi mắt lõm sâu bám riết lấy hắn. Hắn thấy tức thở. Đầu óc như bị bó chặt lại. Hắn vùng vẫy để thoát khỏi cơn ám ảnh của khung cảnh kinh hoàng vừa xẩy đến. Cảm giác ngỡ ngàng lúc con heo rớt xuống đất như đóng đinh trên mặt hắn, không rời. Hắn nghĩ đến những điếu thuốc. Hai ngày rồi hắn chưa nhìn thấy khói mầu xanh. Mầu xanh như thôi thúc, hối dục. Hắn chạy mau hơn, và không biết bằng cách nào, hắn đã giải quyết được nhu cầu của hắn như trong một cơn mơ. Lúc tỉnh táo hẳn lại, hắn thấy mình ngồi bên bờ tường của một căn nhà đổ nát. Bức tường xanh tan biến thành những cảm giác đê mê đưa hắn lên cao bồng bềnh. Hắn nhớ đến những chuyện đã xẩy ra.


Hắn bưng mặt lên khóc.


Và bây giờ thì hắn đã ở đây. Một tổ chức tư nhân dậy dỗ trẻ bất trị, kể cả việc trị bệnh ghiền ma túy tiếp hắn khi hắn tình nguyện đến. Hắn đã đánh đổi tất cả để được cầm tay mẹ. Bàn tay run rẩy già nua đã lâu lắm mới vuốt lên mái tóc bù xù của hắn một lần. Ánh mắt tha thiết của đứa em gái rạng ngời lên niềm tin. Hắn đã đưa tiễn và nhìn theo hai người khốn khổ ấy cho đến khi họ khuất sau rặng cây xanh. Gió ở sông đưa lên làm phổi hắn căng phồng. Hắn như còn lẩm bẩm nhắc lại câu nói mà hắn đã nói nhiều lần “Con hứa với mẹ. Con hứa với mẹ”. Rồi sau đó là cả một chuỗi ngày phấn đấu. Bức tường xanh. Những con sâu đục khoét. Những cơn vật vã nôn ọe. Hắn không có gì để tự vệ ngoài làn da tay chai cứng của mẹ còn vương vất trên mái tóc. Bàn tay mẹ yếu đuối run rẩy trong tay hắn… Mắt mẹ như ẩn nụ cười, dù cay đắng, dù chịu đựng nhưng chan chứa tình thương.


Đến giờ phát thuốc buổi chiều, cả bọn bị dựng hết dậy và lùa ra. Một vài đứa cứng đầu cự nự trước cái roi mây kè kè trên mỗi tay của ba người giám thị. Thiện nhớ đến những khẩu hiệu sơn lên từng tấm gỗ bằng mầu sơn lòe loẹt la liệt khắp nơi, từ ngoài văn phòng đến hành lang các tiểu trại: “Tình cảm trước – Roi vọt sau” “Roi vọt là biện pháp cuối cùng của dậy dỗ” – “Đã phải trừng trị thì sẽ trừng trị nghiêm khắc đến cùng”. Vừa vuốt ve. Vừa đe dọa. Đó là chủ trương của Ban Giám Đốc điều hành.


Sau một hồi quát tháo, nạt nộ, những đứa hiền lành đã xếp hàng sẵn ở cửa. Thằng bị thương ở chân không chịu đứng dậy, lết vào một góc giả bộ ôm chân nhăn nhó. Hai người giám thị tiến lại xốc nó lên. Nó chùn lại. Nhưng rồi nó cũng bị xách ra khỏi buồng như người ta xách một con gà. Riêng thằng áo xanh thì rũ liệt hoàn toàn. Nó không giả vờ. Nó đói thuốc từ sáng. Và nó nằm lì lại, nhất định không nhúc nhích. Theo sự hiểu biết của Thiện thì nó là một dân trùm ở bên ngoài. Nhà nó khá giả, nhưng vì đua đòi nên cuộc đời đã dẫn nó xuống hố thẳm. Gia đình đã áp dụng đủ mọi biện pháp để lôi kéo nó trở lại tuổi trẻ hồn nhiên. Việc gửi nó tới Trung Tâm này là biện pháp cuối cùng. Nếu thất bại, cuộc đời của nó coi như bỏ đi hoàn toàn. Nó mới được gửi tới trong vòng không đầy bốn ngày. Và nó bị nhốt riêng trước khi hòa đồng với tập thể ở dẫy tiểu trại bên kia sân đất. Như Thiện. Như thằng bị loét ở chân. Như những đứa khác lúc này đang lục tục xếp thành hàng đôi trước cửa phòng.


Mấy người giám thị chào thua thằng áo xanh. Cũng như ngày hôm qua, sẽ có y tá xuống tận nơi chích thuốc cho nó. Ít ra làm như vậy còn đỡ vất vả hơn là phải khiêng nó đi qua ba bốn khu tiểu trại để xuống tới phòng thuốc. Thiện đi theo toán người xếp hàng đôi, trí óc bồng bềnh như trong cơn mơ. Hắn bắt đầu thấy cảm giác buồn buồn hiện ra ở những đầu ngón tay. Hắn còn đủ sáng suốt để nghĩ rằng lại sắp sửa phải qua một cơn phấn đấu kịch liệt. Ruột gan lộn phèo, rãi rớt đầy ứ ở miệng, những con trùng vô hình bò đi khắp châu thân, đến từng mạch máu, tế bào.


Thiện cố nghĩ đến hình ảnh khác. Mẹ bây giờ ở đâu, làm gì nhỉ. Thành phố sắp lên đèn, chắc là bữa cơm tối đang diễn ra trong bầu không khí tẻ nhạt dưới ánh sáng đục ngầu của ngọn đèn thắp bằng điện yếu. Hồi trước, Thiện rất sợ phải ngồi tham dự những bữa cơm tẻ nhạt như thế. Hắn sợ thứ ánh sáng chỉ đủ làm sáng đôi mắt sâu thẳm của mẹ và hai con ngươi lóng lánh như hai hòn ngọc của đứa em gái. Cơ hồ tất cả tinh túy của hai người chỉ còn dồn lên đôi mắt. Những đôi mắt linh hoạt, biết dò xét, biết phán đoán và hầu như biết đọc tất cả những ý nghĩ đang xoay chuyển trong đầu óc của Thiện. Bữa cơm nào cũng vì thế mà Thiện buông đũa trước khi no. Hắn không chịu được cái nhìn của mẹ và em, không chịu được cả bầu không khí vắng lặng, âm thầm chỉ còn vang lên tiếng bát, đũa va chạm lách cách và tiếng nhai nhóp nhép của từng người. Bây giờ trong khung cảnh tranh tối, tranh sáng của một ngày đang tàn lụi, Thiện bỗng thấy tiếc nuối vô cùng khung cảnh xum họp đã qua. Mẹ bây giờ ở đâu, đang làm gì?


Những ý nghĩ của Thiện bị cắt ngang khi toán xếp hàng đứng khựng lại ở trước một hành lang hẹp. Tiếng người ồn ào. Đèn sáng choang. Mùi thuốc, mùi alcool tràn ngập.

Thiện hoàn tất thủ tục thường ngày hai mươi phút sau đó. Bây giờ hắn buồn nản đứng dựa lưng vào vách tường chờ đợi các bạn đồng hành. Hắn đứng không được bao lâu thì có bàn tay lôi hắn tách ra khỏi hàng và kéo vào một góc tối. Hắn không thấy mặt kẻ đối diện nhưng nghe rõ lời thì thào bên tai:
– Anh Tư hôm nay không xuống phải không?

À bây giờ hắn mới biết tên thằng áo xanh còn nằm ở phòng là anh Tư. Hắn cố nhìn cho rõ mặt kẻ đối diện, nhưng bóng tối thật lờ mờ. Hắn gật đầu, không lên tiếng đáp. Hắn thấy kẻ lạ dúi vào tay hắn một gói nhỏ rồi căn dặn, giọng nói bây giờ sắc và gọn đến rợn người:

– Trao cho anh Tư giùm nhé Thiện!

Hắn chưa kịp ruỗi ra thì kẻ lạ đã rời bóng tối đi ra. Nó to lớn, cao hơn Thiện đến một đầu. Bước chân vững vàng, chắc nịch. Thiện tự hỏi Tư đã có tài cán gì mà thu phục được những đàn em sức lực đến như thế. Nhưng sự lo ngại ùa đến thật nhanh làm hắn thấy ớn lạnh ở xương sống. Nội một điều kẻ lạ gọi tên hắn một cách ngon lành cũng đủ khiến cho Thiện rùng mình. Hắn thấy rõ ràng là mình mới bị giao phó một trọng trách. Hắn biết hậu quả sẽ thế nào nếu trọng trách không được thi hành nghiêm chỉnh. Hắn khẽ đưa cái gói nhỏ ra mé có ánh sáng. Hắn nhận biết thật nhanh ở bên trong có gì. Đó là một lưỡi cưa nhỏ sáng quắc màu thép xanh và mấy điếu thuốc có ma túy.

Thiện thủ thật nhanh cái gói nhỏ vào bụng quần. Đã hơn mười ngày nay, Thiện chưa được trông thấy điếu thuốc. Mầu khói xanh lơ chợt hiện ra chập chờn như đánh thức tất cả tế bào của hắn sống dậy. Hắn muốn bỏ đi thật nhanh. Kiếm một cớ gì đó để vô nhà cầu. Hắn sẽ tan thành khói để bay bổng lên tận cùng của bức tường xanh cao vòi vọi. Chỉ một điếu thôi. Một điếu cho đã thèm rồi trả hết cho anh Tư, thằng áo xanh còn nằm lết bết ở trong phòng. Mất mát gì đâu. Chẳng ai biết. Mà anh Tư không chừng còn thưởng cho công lao của hắn thêm một điếu nữa. Khuôn mặt bạc nhược vêu vao của anh Tư bỗng hiện trước mắt chập chờn. Rồi cái vêu vao của nó bỗng trở thành hình dáng vêu vao trên khuôn mặt của mẹ hôm chia tay. Mẹ không nói gì nhiều nhưng cặp mắt hàm chưa biết bao nỗi lòng cần bầy tỏ. Bàn tay của mẹ như còn hơi hướng ấm áp, run rẩy trong tay hắn. Thiện có cảm giác như bị giằng xé. Hắn muốn đầu hàng. Nhưng rồi hắn lại muốn cưỡng lại. Cái bọc nhỏ vẫn còn cộm ở thắt lưng quần. Ở trong có một lưỡi cưa và có mấy điếu thuốc.

Bây giờ thì cả toán đã được khám bệnh và phát thuốc xong. Mấy người giám thị đang lùa cả bọn vào hàng ngũ. Nhiều đứa đang bắt đầu lên cơn nên có điệu bộ rũ rượi như những con gà bị cắt tiết. Có đứa ói mửa ngay trên sàn gạch. Một vài đứa khác khỏe mạnh hơn, giữ bộ mặt thản nhiên. Mọi người đã đi qua một khu tiểu trại. Còn hai tiểu trại nữa là về đến căn phòng chật hẹp. Thiện bối rối cùng cực. Giọng nói lạnh lẽo của kẻ lạ như còn văng vẳng bên tai:

– Trao cho anh Tư giùm nhé. Thiện!

Thiện! Thiện! Thiện! Tên của hắn dội lên chát chúa như lời điểm danh của định mệnh. Hắn tự hỏi tại sao bọn thằng Tư lại chọn đúng hắn để giao phó nhiệm vụ ấy chứ. Hắn muốn bình thản như hôm qua, hôm kia, như mười ngày đã trôi qua, như một cơn mộng dữ sắp phai tàn. Hắn muốn được trông thấy mẹ ngay bây giờ. Mẹ là nguồn an ủi độc nhất có thể giúp hắn trong cơn khó khăn này. Hắn thầm kêu lên: Mẹ ơi! Mẹ ơi! Gió ở sông đưa theo mùi nước đọng vừa mát, vừa nồng thoảng qua trong bầu không khí tĩnh mịch. Hắn bỗng nhớ đến không khí tĩnh mịch của buổi trưa hôm được mẹ dẫn vào nhập trại. Không gian êm ả. Tiếng sóng vỗ róc rách. Mùi tanh nồng tỏa trong gió mát. Và bàn tay run rẩy, yếu đuối của mẹ trong tay hắn. Tất cả vụt bừng dậy mãnh liệt khiến Thiện thấy rõ việc của mình sẽ phải làm. Hắn quyết định thật nhanh, như nếu chỉ chậm lại một chút là sẽ đổi ý. Mầu khói xanh lơ vẫn chập chờn cám dỗ hắn ở đâu đó trong ý nghĩ.

Thiện chọn ngay thằng bị thương ở chân không biết từ lúc nào, đã được ghép vào hàng ngũ đi bên cạnh hắn. Bây giờ chân hắn được băng bó cẩn thận hơn. Mầu bông băng sáng lên theo nhịp chân đi khập khiễng của nó. Thiện chép miệng nói:

– Mẹ kiếp, chân có ròi như thế, tối nay tránh xa tao ra đó, nghe con!

Thằng đau chân đang đi lặng lẽ bỗng choàng dậy như một con thú vừa bị chọc giận lúc đang ngủ. Nó quay ngay sang nhìn Thiện, cặp mắt bốc lửa. Thiện nhìn nó, mỉm cười ngạo nghễ rồi bồi thêm một câu nữa điếng người:

– Đồ hôi thối, nghe rõ tao nói không?

Thiện chẳng cần khiêu khích thêm và chờ đợi lâu hơn nữa. Thằng đau ở chân đã dùng tất cả sức lực của nó đề đánh vào mặt Thiện một quả đấm dữ dội. Tuy nhiên, cẳng chân đau làm nó mất đi rất nhiều sự nhặm lẹ. Thiện tránh thoát được quả đấm dễ dàng. Hắn liền xô tới, nhè ngay bên cẳng đau của địch thủ mà khều một cái nhẹ. Lập tức cái thân bồ tượng của gã ta ngã bổ nhoài ngay xuống sân cỏ. Nó gầm lên như một con thú dữ. Thiện cũng cất mồm la lối theo. Hàng ngũ của cả bọn bỗng náo loạn hẳn lên. Lập tức cả một đoàn sáu bẩy viên giám thị cùng ùa tới. Tiếng roi mây quật vun vút. Thiện thấy rát phỏng ở lưng như vừa bị dội lên những dòng nước sôi. Rồi hai bên cánh tay của hắn bị ghì cứng lại bởi hai viên giám thị lực lưỡng.

Họ lôi hắn ra khỏi đám đông. Hắn cố ngoái đầu về phía thằng đau chân chửi bới thêm nữa, chửi thật to như cố ý để cho đồng bọn, lũ đàn em của anh Tư nghe thấy. Nếu coi như sự việc vừa xẩy ra là một màn kịch thì Thiện đã sắm vai trò của mình thật là tuyệt diệu. Hắn sẽ bị cô lập ở một phòng riêng. Hắn sẽ bị khám xét. Người ta sẽ phanh phui ở lưng quần của hắn có một lưỡi cưa và mấy điếu thuốc. Hắn sẽ bị trừng trị nặng nề. Nhưng để đánh đổi sự chịu đựng ấy, hắn sẽ thoát được khỏi vòng kiềm tỏa của bọn anh Tư. Bất quá, bọn chúng chỉ coi như hắn vụng về mà làm hỏng việc chứ không bị liệt vào hạng phản bội hay cứng đầu không chịu tuân phục. Hình phạt của bọn chúng hẳn sẽ ghê gớm hơn nhiều. Trong bóng tối, Thiện khẽ nhếch một nụ cười mãn nguyện. Hắn nghĩ đến mẹ và em gái. Hắn thấy như mình đang lớn lên, lòng tràn ngập niềm kiêu hãnh, một cảm giác mà từ bao nhiêu năm nay, bây giờ hắn mới tìm thấy…

NHẬT TIẾN
Saigon ngày 24-1-1973

Quán Hơ Hư Vô 379


CON ĐƯỜNG LÁ BIẾC

Hàng cây chụm bóng em về
Còn phơi lá biếc xum xuê dáng chiều
Hồn tôi tựa nhánh rong rêu
Đường trơn dốc trũng cũng liều bước qua

Chân đất vướng vấp lụa là
Tôi mang thương tích trên tà áo em
Chưa biết là nợ hay duyên
Mà trong tiềm thức đã tiền kiếp nhau.

Em có nhón gót bên nào
Vẫn là một chỗ để vào tim tôi
Mong manh như sợi tơ trời
Nhưng quấn đã giáp một thời tình si

Trên từng mỗi bước tôi đi
Hàng cây quằn xuống cũng vì yêu em
Vạt áo như thể dài thêm
Con đường ngập lá còn thơm bóng người…

Hư Vô

NHÁNH SÔNG BUỒN.


cơn mưa tháng ba về rất vội
mây xám mờ che mặt núi đồi
đứng bên triền dốc nghe mưa đổ
chuyển rung những vỡ vụn trong tôi.

con nước đầu non cuồn cuộn xoáy
mang dòng trôi đến tận nẻo xa
tôi hụt hẫng bên bờ xa lạ
như ân tình phút chốc bỗng phôi pha

sông nào một nhánh âm thầm chảy
nhánh lẻ loi nào một nhánh tôi
phũ phàng như giòng cuồng lưu vỡ
để lại trong nhau những lở bồi ..

sông cứ trôi những ngày cạn kiệt
người bên người lạnh nhạt lướt qua nhau
sóng vẫn ân cần tha thiết vỗ
vỗ hoài vô tận một niềm đau..

Thục Uyên

CÓ AI NGHE?


Có ai nghe? tiếng rít từng canh trường
Trong lòng đêm rên xiết quá thê lương
Tiếng khóc than oằn đau trên triền đất
Giữa muôn trùng ngàn vạn nỗi xót thương!

Có ai nghe? tiếng nức nở loài người
Trong thâm u thêm xao xác tả tơi
Tiếng lệ rơi nhoà trong màu hương khói
Tiếng thở than vọng không thấu đất trời!

Là bất an, là lầm than, là tuyệt vọng
Đẩy muôn loài chìm trong nỗi hoang mang
Là chiến tranh, là thiên tai, là dịch hoạ
Bởi lòng người đầy tham vọng, mưu toan!

Có ai nghe? tiếng bước chân thưa dần
Tìm bình an, khó lắm, cõi nhân gian
Ôi niềm tin, vàng như màu lá úa
Giữa hoang tàn, thèm một tiếng chuông ngân!

Phạm Thuỳ Dung

CHIÊM BAO


Nắng rực rỡ nắng cười trêu ghẹo,
Lá cuốn mình quyện với mây xanh.
Một ngày mới sao lòng ta cũ,
Ta biết rồi trời đã vào thu …

Em đâu đây thoáng bụi sương mù,
Hư ảo lắm gọi hoài không thấy,
Một thuở mắt cười em yêu dấu,
Bây giờ ngơ ngác bóng em đâu?

Nến lung linh hình hài ta xấu,
Thắp cuộc đời thắp suốt đêm thâu.
Ta với em một lần gặp gỡ,
Để ngàn đời chứng tích chiêm bao.

trầnthịminhchâu

XIN VĨNH TẬN NGÀN SAU

Em đợi anh
Nơi hôn vàng đi
Có bao giờ hốt lại

Em chờ anh
Đêm về
Đầm ướt đôi vai

Ta chẳng hẹn nhau
Lời kinh nguyện cầu
Cho ngày mai không biết

Ta chẳng đợi nhau
Sao thắp rối
Những dòng tin

Đời lệch kiếp
Có gì đâu anh nhỉ
Lời cho nhau xin vĩnh tận ngàn sau

Đêm giấc trở
Anh ơi
Bàn tay lạnh.

Dung Thị Vân

TỰ THÚ 2


Ta hiền như cục đất
Thiên hạ tưởng là ngầu
Làm thơ thì đầy rượu
Thực tế có gì đâu?

Áo cơm cùng kẻ chợ
Cứ tưởng ta giang hồ
Lòng trong đâu có đục
Mắt buồn cõi phù hư…

Hồ nghi ta sát gái
Đâu biết ta thất tình?
Có khi ứa nước mắt
Vì con sáo sang sông!

Mười năm lỡ áo rách
Nơi xứ lạ quê người
Hồ nghi ta kẻ cắp
Thật tình thèm rong chơi…

Ta hiền nên chẳng vui
Giữa bon chen chợ đời
Ôm đàn mà hát hỏng
Lang thang bóng bên trời!

Mùa xuân lại về ngồi
Hiên xưa mà nhớ mẹ
Nhiều năm con đi biệt
Chữ hiếu quăng đâu rồi?

Trần Dzạ Lữ

SỢ ĐAU ĐÁ VÀNG

1*
Nay về bến nước sương lan
Trầm mình quá khứ trôi ngàn nhớ quên

Người đi mây trắng bồng bềnh
Có chàng lãng tử vừa quên tên mình
2*
Hỏi thăm hạt bụi linh đinh
Qua vườn dâu úa thấy tình nàng không

Ngày em bước xuống đò sông
Thả bay
lụa trắng
khăn hồng
quên xưa

Anh về vườn đã sương khuya
Đào chôn phế tích cho vừa lòng nhau
3*
Ngày mai cắn bút hỏi sầu
Sợ dòng mực tím kêu đau đá vàng

Sợ người chải tóc đa mang
Giăng trên thuyền dọc, vương sang đôi bờ

Sợ tình mê muội ngây thơ
Hoa chìm bến đục, vật vờ bến trong

Sợ ngày tóc rối long đong
Sợ anh
ăn ở hai lòng…
quên em.

Hạ Quốc Huy

KHÚC DẠ TỪ..


Tôi chất thời gian vào lãng quên
mà vẫn chưa đầy một-tiếng-em
Nỗi nhớ rêu phong.ngày đã khép
Buồn níu chân vào lăng tẩm đêm..

Hẹn với mây ngàn.bờ đá xám
Lần về.bỏ lại nỗi niềm riêng
Bất giác.nghe mưa đằm cây cỏ
mà thương một thuở xác thân mềm..

Rồi mai chân bước.
không về lại
cũng đủ lòng nhau. một cõi riêng…

Trung Chinh Ho

TÀN CUỘC

Về thôi! chiều lạnh hơi sương
Lòng ta với phố cũng buồn như nhau
Đèn đêm cùng bóng cúi đầu
Soi nhau qua mấy lối sầu lạ quen

Về thôi! chiều đã vàng đêm
Trăng sao giăng kín nỗi niềm, ai hay?
Mùa phai ngọn tóc xưa bay
Nhuộm ta cũng đã trắng ngày bão giông

Về thôi! một cõi hư không
Cuộc người chìm khuất giữa mông mênh buồn
Ta về lạc giữa phố phường
Nào hay chiều đã hoàng hôn bao giờ!

Về thôi! hồn gửi vào thơ
Qua đêm độc ẩm, ngày hờ hững trôi…

Nguyễn Sông Trẹm

Con Đường Lá Biếc. Thơ Hư Vô


Hàng cây chụm bóng em về
Còn phơi lá biếc xum xuê dáng chiều
Hồn tôi tựa nhánh rong rêu
Đường trơn dốc trũng cũng liều bước qua

Chân đất vướng vấp lụa là
Tôi mang thương tích trên tà áo em
Chưa biết là nợ hay duyên
Mà trong tiềm thức đã tiền kiếp nhau.

Em nhón gót phía bên nào
Vẫn là một chỗ để vào tim tôi
Mong manh như sợi tơ trời
Vậy mà đã buộc cả thời tình si.

Trên từng mỗi bước tôi đi
Hàng cây quằn xuống cũng vì yêu em
Vạt áo như bỗng dài thêm
Con đường ngập lá còn thơm bóng người…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 378


HƯƠNG NẮNG

Thà phụ tình nhau còn đỡ nhớ
Con đường áo trắng đã thành thơ
Dáng em e ấp theo chiều nắng
Lối về chung vẫn thấy bơ vơ.

Hay tại anh ngu ngơ bỡ ngỡ
Ngập ngừng chờ ngọn nắng tàn phai
Một lời thôi còn chưa dám ngỏ
Sợ lá vàng trên tóc em bay..

Ngày tháng quằn vai thành quá khứ
Bước qua cầu còn gọi tên nhau
Hỏi em, ngày xưa sao không nói?
Anh ngây khờ để nắng vút cao.

Về đâu, chân trần đang rướm máu
Dốc cầu nghiêng động bóng em qua
Bỏ lại anh vòm cây trụi lá
Còn phất phơ vạt áo lụa là…

Hư Vô

…TÂM KHÚC..


Gió về miền thức.tịnh yên
Thổi ta.hạt bụi lấm phiền muộn.bay
Hồn phơi.nhuộm khói sương dày
Mộng hoang liêu.đắm nỗi này.niềm kia..

Nồng say ủ giấc trầm mê
Dài cơn mộng huyễn nằm kề hoang vu
Đường trần định phận thiên thư
Cơ duyên khép lại ánh từ quang soi

Cầm bằng.ngõ hạnh phân đôi
Bước thiên lý.ngộ.gọi mời vô căn
Tìm cầu phúc lạc che tâm
Cõi vô ưu hẹn lại lần tái sinh

Ngọn nguồn.một luống cỏ xanh
Sáng ôm tay nắng, chiều quàng chân mưa
Đợi người về.thắp trăng xưa
Thay hương khói quyện đôi bờ tịch nhiên…

Trung Chinh Ho

TRĂM NĂM TÔI GỌI TÔI VỀ


Từ khi mẹ sinh tôi ra
Trần gian!
Tôi đã khóc òa! Trần gian!
Mười năm, rồi năm mươi năm
Tôi đi chưa hết gian nan phận người
Và tôi trên những ga đời
Con tàu vô định vẫn rời rã đi

Trăm năm tôi gọi tôi về
Màu mây thiên cổ còn bay mịt mùng
Biết đâu là cõi vô cùng
Biết đâu là trạm dừng chân đời đời

Từ khi mẹ sinh ra tôi
Trần gian!
Tôi đã khóc cười cùng ai
Em cầm giọt lệ trên tay
Thấy trong giọt lệ đã đầy bụi tro.

Lê Văn Trung

BỖNG DƯNG


Bỗng dưng ngồi khóc một mình,
Hỏi đời sao thế lặng thinh dòng đời.
Bỗng dưng nắng chói xuống chơi,
Cành thưa xuyên bóng, đầy vơi tay trần.

Bỗng dưng ta đứng tần ngần,
Hình như áo lụa có lần ngang đây.
Bỗng dưng mây phủ tầng mây,
Bụi mờ nhân ảnh vẫn đầy yêu thương.

Bỗng dưng phố núi mù sương,
Giọt cà phê đắng nhớ hương tóc người.
Bỗng dưng người cứ nhớ người,
Chiêm bao tỉnh giấc hỡi ơi tình sầu.

Bỗng dưng có tiếng kinh cầu,
Nghe lòng thật lặng ta khâu nỗi buồn.
Bỗng dưng kim chỉ tay luôn,
Vá đời bớt rách, vá hồn bớt rêu …

Bỗng dưng ai đó cười trêu,
Ta người xa xứ, chim kêu lạc đàn…

Trầnthịminhchâu

RU TRÊN TÀ ÁO XANH


Em như con sóng nghê thường
Vút lên một chuỗi dỗi hờn trắng bay
Tung trời hoa giữa ngàn mây
Nghe muôn khơi vỗ vào ngày rất xưa

Ta về bỗng hoá hạt mưa
Ru em ru sóng như vừa ru ta
Mắt chiều đỏ vạt phù sa
Em nghiêng thơ trổ đôi tà áo xanh

Quỳnh Nga

VẠT NẮNG NGẬM NGÙI


Dường như trời trở lạnh
Dù không phải lập đông
Có điều gì man mác
Nhè nhẹ len vào lòng

Hồn lạc qua miền nhớ
Thấp thoáng bóng ngày xa
Mùa thu vàng đã cũ
Rồi tình xưa phôi pha

Cuối chiều hoàng hôn tím
Mai đời buồn hay vui?
Ta về đây lặng lẽ
Vạt nắng cũng ngậm ngùi…

BT Áo Tím

… LÀ CHIỀU


tiếng chim dắt ngày đi ngủ
bông chuối chờ trăng sau hè
hoa lau bắt đầu cọ vẽ
là chiều rớt xuống đồng quê…

khói bay hay chiều hút thuốc
trầm ngâm chái bếp gió lùa
tiếng cười giòn bông so đũa
gắp ngang no gió xóm chùa

mặt trời nốt ruồi son đỏ
ẩn duyên sau nét tre vàng
cò ghép bài thơ cánh phấn
lưng trời tấm bảng bâng khuâng

khuất mình cánh đồng thanh đạm
cuốc kêu như gõ vào hồn
gió chằng một manh mây xám
gom chiều đậy điệm hoàng hôn…

Nguyễn Thanh Hải

KHÁCH TRỌ


Người khách trọ gác đàn lên đỉnh thác
Quán hoàng hôn. sương khói lượn bên trời
Vườn âm nhạc. cổng cài then cỏ úa
Đã muôn vàn là ngấn lệ hồng rơi!…

Từng nhịp gió. nghê thường qua kẽ lá
Vữa trong hồn. sỏi đá với lòng đêm
Bầy tiên nữ dập dìu cung phím lạ
Chén tình nhân chưa cạn đã say mèm

Từng nhịp sóng. bạc đầu qua trống rỗng
Chùm âm ba da diết dệt trong hồn
Là biển động dội về hay tâm động?
Tiếng trong lòng mà cổ họng buồn nôn…

Hỡi cỏ nội, sương trời, tia nắng nhỏ…
Những cô dâu trong hôn lễ cuộc đời
Xiêm áo ấy. xin trầm hương món nợ
Nợ đất trời, hay nợ cõi hồn tôi?!

Con sẻ nhỏ bên thềm sương hiu hắt
Nhón chân lên. trả tiếng hót cho mình
Từng đốm lửa trên ngõ về băng lạnh
Vút lên trời… bằng đôi cánh lung linh!

Sơn Nguyễn

SÀI GÒN CÓ MỘT MÙA HOA


Nầy em vừa chớm tháng ba
Sài Gòn bỗng ửng mùa hoa ngọc ngà
Vô tình người bước đi qua
Đâu hay hoa chợt phơi tà nhụy bay.

Thảo thơm một dáng hoa gầy
Bỗng bừng sắc phố một ngày có em
Chắc là nhớ khúc đường quen
Mà hoa kèn nở hồng thêm má người

Nầy em sợi nắng vàng tươi
Nghe reo trong gió tiếng cười rất xanh
Cánh hoa nghiêng xuống thật lành
Xoay mình nép vạt cỏ xanh hẹn hò.

Biết người mắt biếc ngây thơ
Yêu hoa nên nán đợi chờ chưa phai
Xao lòng sợi tóc em bay
Ngỡ ngàng khuất dấu chân ai một đời.

Nầy em hoa nhớ môi người
Vẫn nghe ngọt lịm mấy lời dối gian
Kèn hồng rực nở phương nam
Để tương tư rụng dịu dàng xuống vai.

Có qua phố nhỏ đường dài
Mới thương chiếc bóng một thời rất xa
Sài Gòn thêm một mùa hoa
Là thêm nỗi nhớ ngẩn ngơ quay về.

Nguyễnn An Bình

DỐC TÌNH SI…


Ta đang trên dốc tình thiên cổ
Ngoảnh mặt xa nhìn mưa phía Tây
Chừng như muốn gởi về phương ấy
Chút nắng vàng hanh của chốn nầy

Thì thôi – cũng chỉ là mơ ước
Đâu biết mây trời bay đến đâu
Làm sao ta biết mình có được
Tình cuối mà như mối tình đầu

Tình nào thì cũng xa vời vợi
Bởi áng mây trời bay cứ bay
Tự nhiên trút hết niềm tâm sự
Cho nhẹ lòng khi..cốc rượu đầy…

hochibuu

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: