Những Văn Nghệ Sĩ Hy Sinh Khi Tuổi Đời Còn Trẻ. Phạm Văn Duyệt


Phạm Văn Duyệt

Từ 1954 đến 75, hằng vạn thanh niên miền Nam hăng hái lên đường tòng quân chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản cuồng tín phương Bắc.

Biết bao chàng trai ưu tú đã vĩnh viễn ra đi chẳng hẹn ngày về, kể cả giới làm thơ, viết văn và sáng tác âm nhạc. Do tuổi thọ ngắn ngủi, nên di sản văn chương của họ không được phong phú dồi dào. Mặc dù các tác phẩm để lại cho thấy tài năng đang nở rộ.

Bài viết này xin lược ghi lại cuộc đời của một số văn nghệ sĩ bạc mệnh đó, như là những dòng tưởng niệm và tri ân với lớp người đã cống hiến tuổi thanh xuân cho quê Mẹ Việt Nam.

1. NGHIÊM SĨ TUẤN (1937 – 68)

Theo Nghiêm Sĩ Tuấn Tuyển Tập (Chủ Biên: Ngô Thế Vinh và nhiều tác giả khác, hanhchauphuc xuất bản, 29.7.19):

“Ông sinh tại Nam Định trong một gia đình thanh bạch và đông anh em. Cắp sách tới trường muộn màng ở tuổi 14. Hoàn tất học trình Trung và Đại Học khoảng 14 năm. Thư ký Tòa soạn Báo Tình Thương của Sinh Viên Y Khoa Saigon. Là tác giả nhiều bài viết sâu sắc, mang nặng những suy tư về các vấn đề văn hóa, xã hội và vận mệnh đất nước. Tốt nghiệp Bác Sĩ năm 65. Không thuộc diện Quân Y Hiện Dịch, nhưng tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù, trở thành Y Sĩ tiền tuyến có mặt trên nhiều trận địa khắp 4 vùng chiến thuật. Hai lần bị thương tích, nhưng vẫn quyết chí ở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu.

“Rất giỏi chữ Hán, tiếng La Tinh. Có năng khiếu về ngoại ngữ Anh, Pháp, Đức. Cùng Bác Sĩ Trần Xuân Dũng dịch tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian. Có cá tính rõ rệt, đầy tài năng và lý tưởng. Một kẻ sĩ hiếm hoi. Là mẫu người quân tử Đông Phương thuần Việt còn vương sót ở hậu bán thế kỷ 20. Nghiêm Sĩ Tuấn chỉ để lại vài truyện ngắn, mấy bài thơ, cuốn nhật ký viết dở dang và có thể ở đâu đó là những trang bản thảo bị thất lạc. Chắc chắn anh còn hẹn hò khác, nhưng anh vội mang đi, chôn sâu dưới mãnh đất của một quê hương Việt Nam tự do mà anh hết lòng yêu mến và đã đem chính sinh mệnh của mình ra để bảo vệ. Giữa thập niên 1960s, là thời gian đầy biến động của đất nước. Ngoài tiền tuyến chiến tranh ngày càng khốc liệt với nhiều chết chóc, trong khi hậu phương lại xảy ra lắm cuộc biểu tình trên các đường phố, anh tỏ ra không đồng ý với mọi xáo trộn mà theo anh chỉ có lợi cho cộng sản. “Những Người Đi Tìm Mùa Xuân”

và “Para Bellum” (Chuẩn Bị Chiến Tranh) là hai tác phẩm mang nặng nỗi niềm suy tư về chiến tranh và hòa bình của anh. Anh đã viết: “…làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được”. 

Nghiêm Sĩ Tuấn là điển hình tính nhân bản của truyền thống y khoa, của một y sĩ sẵn sàng dấn thân để phục vụ con người khổ đau trong hoàn cảnh bất thường của đất nước.

Nhà thơ Trang Châu, tác giả Y Sĩ Tiền Tuyến (Giải Văn Học Nghệ Thuật 1969), bạn cùng lớp, có viết Một Bài Thơ Cho Tuấn:

…Tuấn ơi mầy không chấp nhận tầm thường 

Lẻ loi mà bất khuất 

Mầy lớn lao bằng im lặng 

Hiên ngang trong âm thầm 

Hỡi thằng y sĩ dù nhỏ bé của chúng tao ơi !

Đi chưa bao giờ biết mệt 

Chiến đấu chưa bao giờ biết nằm 

Đêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm 

Chiều Cao Lãnh đạn ghim sâu vào gối

Và Đakto mảnh sướt bờ vai

Sao mầy không về cùng anh em?

Sao mầy đi biền biệt ?

Để một sớm mai buồn 

Chúng tao thức dậy 

Lặng người đau đớn 

Nghe tin mầy hy sinh

Mọi người khóc mầy bằng nước mắt tiếc thương. 

Trong bài “Các Vị Bác Sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ” (Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y), Thiếu Tá Trần Đoàn, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 2/Quân Y Nhảy Dù ghi lại tin dữ từ mặt trận đưa về: Bác Sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn, học cùng lớp, là Bác Sĩ dân y trưng tập, cũng chỉ còn một tháng nữa là mãn hạn kỳ phục vụ ở Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, vừa tử trận tại Khe Sanh năm 1968 khi đang săn sóc thương binh. Bác Sĩ Mũ Xanh Trần Xuân Dũng không ngần ngại ca tụng “các Y Sĩ Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là Những Hiệp Sĩ của Thời Đại, Những Đường Sơn Đại Huynh trên Tiền Tuyến Lửa”.

2. DZŨNG CHINH (1941 – 69)


Trở nên nổi tiếng sau khi sáng tác nhạc phẩm Những Đồi Hoa Sim, phổ từ thơ Hữu Loan lúc đang học Đại Học Luật Khoa Saigon.

Theo Nhà Văn Phạm Tín An Ninh

qua bài viết “Nhạc Sĩ Dzũng Chinh – Tác Giả ‘Những Đồi Hoa Sim’ Chết Trên Đồi Hoa Sim”, chinhnghiavnch.com: Dzũng Chinh nhập ngũ năm 1965. Nhờ có năng khiếu âm nhạc nên được đưa về Khối Chiến Tranh Chính Trị Trung Đoàn, phụ trách ban văn nghệ. Nhưng với tính tình phóng khoáng, ít chịu khuôn khổ kỷ luật nhà binh, hay bỏ đơn vị về thành phố vui chơi cùng bạn bè nên bị trả lại đơn vị 

tác chiến. 

Vào đêm cuối tháng 2.69, Dzũng Chinh hy sinh tại chân núi Chà Bang (Ninh Thuận), nơi này là  một vùng bạt ngàn hoa sim tím.

Cái chết của Nhạc Sĩ được bạn bè trong đơn vị bàn tán khá nhiều quanh vài câu chuyện mà mọi người cho là điềm gỡ báo trước:

    • Thuở ấy lương lính thường không đủ xài, nên trước cuộc hành quân, Dzũng Chinh đến ban tài chánh xin ứng trước. Viên sĩ quan phát ngân do dự ngần ngừ, hỏi sao mượn sớm thế, hơi khó xử cho ông. Dzũng Chinh gãi đầu năn nỉ:

     – Thì Đại Úy coi như xuất trước tiền tử tuất cho tôi thôi mà! 

Người sĩ quan đồng ý cho mượn, nhưng rầy anh: 

     – Cậu chớ nói điều gỡ không nên ! 

   • Sau đó anh rủ hai người lính cùng về Phan Thiết chơi. Không hiểu đụng chạm thế nào với nhóm lính thuộc đơn vị khác.

Trước ngày đi hành quân, anh nhận giấy báo gọi trình diện của quân cảnh tư pháp. Anh kể cho đám bạn bè trong một buổi nhậu rồi nói:

     – Kỳ này tao đi luôn, xem thử lấy ai để trình diện ! 

Ai ngờ anh đi luôn thật ! 

* Tác giả Vũ Khuê kể lại “Chuyện 

Đi Tìm Một Nhánh Sim Rừng”, tuongtri.com, 5.10.17: sau mấy  ngày vất vã lặn lội quanh nhiều vùng đồi núi, hỏi thăm hằng chục người dân địa phương, có lúc tưởng chừng vô vọng. Nhưng rồi cuối cùng Ông cũng đến được di mộ Dzũng Chinh do người anh ruột phụng lập tại khu B1, Chùa Long Sơn, Nha Trang.

* Bài Hát Những Đồi Hoa Sim:

Những đồi hoa sim ôi những đồi  hoa sim tím chiều hoang biền biệt 

Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai

Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến ai hẹn được ngày về 

Rồi một chiều mây bay từ nơi chiến trường Đông Bắc đó 

Lần ghé về thăm chốn hoàng hôn tắt sau đồi.

Những chiều hành quân ôi những chiều hành quân tím chiều hoang biền biệt 

Một chiều rừng mưa được tin em gái mất chiếc thuyền như vỡ đôi 

Phút cuối không nghe được em nói, không nhìn được một lần 

Dù một lần đơn sơ để không chết người trai khói lửa 

Mà chết người em nhỏ hậu phương tuổi xuân thì.

Ôi ngày trở lại nhìn đồi sim nay vắng người em thơ

Ôi đồi sim tím chạy xa tít lan dần trong bóng tối 

Xưa xưa nói gì bên em một người đi chưa về mà đành lỡ ước tơ duyên 

Nói nói gì cho mây gió một rừng đầy hoa sim nên để chiều đi không hết.

Tím cả chiều hoang nay tím cả chiều hoang đến ngồi bên mộ nàng 

Từ dạo hợp hôn nàng không may áo cưới thoáng buồn trên nét mi

Khói thuốc bên hương tàn nghi ngút, bên mộ đầy cỏ vàng 

Mà đường về thênh thang, đồi  sim vẫn còn trong lối cũ 

Giờ thiếu người xưa ấy đồi hoang vẫn tiêu điều.

* Ca Khúc Đọc Tin Trên Báo:

Nhạc Sĩ Thanh Sơn là bạn tâm giao của Dzũng Chinh. Sau khi hay tin bằng hữu tử trận, Ông trằn trọc thâu đêm, nghẹn ngào nước mắt khóc bạn, sáng tác Đọc Tin Trên Báo với mấy lời ghi đầu bài hát: “Tưởng Niệm Thiếu Úy Nguyễn Bá Chính tự Dzũng Chinh đã yên giấc trên Những Đồi Hoa Sim ngày 1.3.69”:

Hôm qua tôi đọc báo

Thấy tin anh ngã gục 

Phía trang sau chia buồn.

Lòng mình bỗng lạnh căm 

Xúc động đến dị thường. 

Xui đôi giòng lệ tuôn.

Tình bạn anh và tôi nay cách xa nhau rồi 

Hai đứa hai phương trời

Những ngày vui tắt lịm 

Bầu trời loang màu tím 

Như tiễn đưa linh hồn 

Một người vừa ra đi ! 

Anh ngã đi như bao anh hùng 

Không gian buồn não nùng, 

Hận thù trên tay súng 

Từ miền xa, mấy thằng trong bọn mình cũng nhận được hung tin.

Anh mất đi non sông kiêu hùng 

Quê hương lửa ngút trời thì còn tôi đi tới 

Giọt lệ rơi nức nở thương cuộc tình hai đứa mình ngăn đôi.

Hôm nay tôi đọc báo thấy đăng tin thắng trận 

Toán quân anh đứng đầu 

Lòng buồn bỗng chợt vui

Những người trẻ sau này noi gương hùng tranh đấu.

Chập chờn qua từng đêm trong giấc mơ mang về 

Anh báo tin tôi rằng: những người đi lính trận 

Một lần đi còn thiếu nhưng nước non thanh bình thì dù là bao nhiêu?!

3. ANH THY (1944 -73)

Cùng gia đình di cư vào Nam năm 54. Tình nguyện theo binh chủng hải quân.

Trải qua những chuyến hải hành lênh đênh trên sóng nước, Ông sáng tác hàng chục bài hát về biển cả rất nổi tiếng, nhất là Hoa Biển, Lính Mà Em.

Tháng 4.73, chiếc xe dodge chở phái đoàn Tâm Lý Chiến thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân đi từ Cam Ranh ra Quy Nhơn gặp tai nạn khiến Anh Thy tử thương. Tro cốt hiện cải táng tại Chùa Hoằng Pháp, Hốc Môn.

* Nhà Báo Nhật Hà (“Những Ngày Cuối Cùng của Nhạc Sĩ Anh Thy”, dongnhacvang.com) ghi lại lời người em gái út của nhạc sĩ: Anh Thy là anh trai trưởng trong nhà, nhưng rất hiếu thảo. Làm lương bao nhiêu về đưa cho cha mẹ hết, kể cả tiền tác quyền âm nhạc của anh thời đó. Chính anh cũng đã xây nhà mới cho cha mẹ và chăm lo những đứa em nhỏ của mình ăn học. Khi anh qua đời đột ngột, hiền mẫu thất thần xỉu lên xỉu xuống một thời gian. Cả gia đình đều thương anh.

* Trong số mấy chục tác phẩm của Anh Thy, bài hát Đừng Gọi Anh Bằng Chú rất được giới trẻ ưa chuộng. Báo dantri.com, 12.4.17 thuật lại lời Bà Phạm Thị Nguyệt, em gái tác giả: Anh tôi viết ca khúc này lúc ngoài 20 tuổi. Tôi còn nhớ ngày đó anh nhận được rất nhiều thư ái mộ của các cô gái trẻ. Thậm chí còn ngồi trên ghế nhà trường. Thư gởi về nhiều quá, anh không thể trả lời hết, nhờ chị em tôi xem giúp. Khi ấy các cô cứ gọi anh bằng “chú” hay “đại nhạc sĩ”. Đọc chồng thư làm tôi cũng buồn cười. Cũng vì điều này mà anh sáng tác bài Đừng Gọi Anh Bằng Chú với những ca từ thật dễ thương.

Em ơi đừng gọi anh bằng Chú 

Khi em em chín thơm hoa mộng 

Chưa vấn vương gì em lúc xuân thì còn anh mới đôi mươi.

Đừng gọi anh bằng Chú sợ ngăn cách đôi ta

Em làm công chúa nhé anh tráng sĩ hiên ngang 

Tung hoành trên bốn biển khi tàu anh trở về 

Quà anh sẽ cho em.

Xin em đừng gọi anh bằng Chú 

Ô hay sao Chú hay mơ mộng 

Sao Chú hay nhìn sao Chú hay cười 

Làm con bé bâng khuâng.  

Họ hàng ta chẳng có, tại sao giấu con tim

Sao gọi anh Chú lính, cho anh thấy không vui

Bao lần anh đã bảo, anh chỉ yêu áo vàng 

Thì em nhé đừng quên. 

Ông Chú ơi cô cháu thẹn thùng đôi môi 

Thôi nhé mình làm anh em

Nhưng đừng quên rằng em anh hay khóc đấy 

Ghét anh ghê khéo nịnh em quá thôi 

Nói gì thêm nữa đi.

Anh muốn em, em hãy giã từ thơ ngây

Em sẽ làm nàng Tiên xinh

Khi tàu anh về, em đi ra bến đón 

Nhớ nghe em chẳng còn ông Chú đâu 

Sẽ là anh với em.

Em không còn gọi anh bằng Chú 

Nhưng sao anh vẫn nghe chưa vừa 

Ông Chú bây giờ không muốn em là 

Người em gái anh đâu. 

Nhìn trùng dương dậy sóng, lòng mơ ước em anh

Yêu tàu xuôi bến cũ 

Yêu áo trắng anh mang 

Yêu vài câu hát buồn trong bài ca Hoa Biển 

Và yêu chỉ mình em…!!!

4. Y UYÊN (1940 – 69)

Tên thật là Uy. Sinh quán tại Hà Nội. Di cư vào Nam 1954. Viết văn lúc mới 15 tuổi. Cọng tác với nhiều tạp chí văn học uy tín như Bách Khoa, Văn, Văn Uyển, Tân Văn…

Tốt nghiệp Sư Phạm Saigon. Dạy học ở Tuy Hòa. Theo lệnh động viên vào trường Võ Bị Thủ Đức.

Mất sớm nhưng để lại văn nghiệp tương đối phong phú gồm 6 tuyến tập truyện ngắn và một truyện dài.

* “Chiến Tranh Đi Qua Những Truyện Ngắn của Y Uyên”, Nguyễn Lệ Uyên, vanviet.info:

Hầu hết những truyện Y Uyên viết đều bắt nguồn từ khi anh dạy học ở Tuy Hòa, thị xã nhỏ bé của duyên hải miền Trung giữa lúc chiến tranh đổ ập xuống nửa phần đất nước một cách khốc liệt nhất. Cái thị xã tí xíu mà anh đang sống, chẳng phải là một khu phi quân sự, một vòng đai an toàn mà là một lò lửa. Đạn  luôn nổ, người chết, nhà cháy, đồng khô, dân quê bồng bế nhau chạy trốn đạn lạc tên bay. Ngày Quốc Gia, đêm Cộng sản giành giật…Cuộc chiến quái gở ấy không phải chỉ có tôi và anh đánh nhau, mà một bên là được sự trợ giúp công khai, một bên là lén lút nhận vũ khí, quân trang quân dụng để “giương cao ngọn cờ chính nghĩa” đã đẩy người dân vô tội xô dạt bên này hay bên kia.

* “Tháng Giêng, Nhớ Y Uyên”, Trần Hữu Thục, Văn số đặc biệt Thương Nhớ Y Uyên, nguoiviet.com:

“Y Uyên có phong cách viết rất riêng, điềm đạm, đôi khi như dửng dưng, nhưng đọc kỹ lại đậm đà chua xót”.

Lê Bá Lăng, bạn văn, chung khóa Thủ Đức và cùng chiến đấu đã nói: “Y Uyên! Y Uyên! Tôi viết những dòng này trên bãi chiến trường. Không phải bãi tập ở Đồi Tăng Nhơn Phú, nơi mà chúng ta chung sống ít tháng ngày ngắn ngủi. Ở đây là khu rừng thưa, lúc này là lúc thần kinh căng thẳng vì đợi chờ những viên đạn địch hung hãn, những tiếng reo hò man rợ. Lòng tôi trùng xuống. Tôi gọi tên anh và thầm hỏi: tôi còn mùa hoa nào chờ anh cưới vợ? Chờ anh lập nhà xuất bản? Chờ anh ra báo? Chờ anh cất tiếng gọi anh em? Có còn mùa hoa nào, hỡi Y Uyên…”

* Trần Phong Giao, Thư Ký Tòa Soạn Văn nói về cái trớ trêu trong số mạng của Y Uyên: “Lộ xỉ, lộ hầu, tướng đi không chắc bước…tay này chết yểu”, một nhà văn lão thành đã nói bâng quơ như thế, khi cụ nhìn theo Y Uyên vừa bước ra khỏi cửa tòa soạn. Nghe vị túc nho nọ nói mà tôi bỗng rùng mình. Lúc đó Y Uyên đang thụ huấn trong quân trường. Tôi có nói với vài chỗ quen biết nhờ lưu ý kéo cho hắn đi ngành và được trả lời là cứ yên chí (…). Ít lâu sau, chúng tôi hay tin là quân đội đã chiếu cố tới hắn. Một bưu điệp đã được  gởi ra tiểu khu nơi hắn trú đóng, cho hắn nộp đơn xin thuyên chuyển về Saigon. Chờ lâu chưa thấy hắn về, một nhà văn bạn lại xin với thượng cấp cho hắn đặc cách thuyên chuyển về thủ đô. Tôi được tin văn hữu nọ đã lo xong mọi thủ tục cần thiết (việc gọi Y Uyên về Saigon chỉ còn là thu xếp trong vòng vài ngày), ngay sau đó một cú điện thoại khác báo Y Uyên chết từ chiều hôm trước. “Trả lời người bạn văn tôi vẫn cố giữ lấy giọng bình tĩnh: Cảm ơn Anh. Có điều muộn mất rồi vì Y Uyên đã tử trận”. (…)

“Như mọi người, anh bạn không tin là Y Uyên đã chết. Anh chỉ tin điều đó vào sáng hôm sau, khi anh mặc quân phục vào, cùng với mấy quân nhân khác đặt tay qua sợi dây chão, từ từ thả chiếc quan tài bọc xác Uy xuống sâu trong lòng đất lạnh”.

Nhà Văn Nhị Linh cho rằng “cái chết của Y Uyên được nhiều người coi là rất đen đủi, vì ở thời điểm đó, gần như đã có quyết định thuyên chuyển anh về nơi “an toàn” hơn.

* “Nhớ Y Uyên”, Trần Phong Giao, vanviet.info:

Mãi cho tới hôm Uy mãn khóa, về chơi nhà tôi, ngật ngưỡng nốc cạn ly cognac, chậm rãi ngã lưng vào thành ghế bành, rồi mới khặc khừ, “em đi địa phương quân anh ạ”. Tôi bảo hắn, nếu được chọn, chọn ngay vùng I cho tôi nhờ. Ít bữa sau, hắn ghé báo quán, cho biết được đi Côn-lôn, nhưng lại tình nguyện xin về Bình Thuận. Tôi xô ghế đứng lên, nói như quát: “Cậu quên lời tôi dặn rồi à?”. Hắn nhìn tôi, ấp úng nói: “Tôi…tôi có duyên nợ với vùng duyên hải Trung Phần lắm mà anh…”

– Duyên nợ ? Hừ, duyên nợ cái mốc xì ! Dại gái, hầu hết nếu không muốn nói tất cả những thằng con trai mới lớn đều dại gái. Tôi đã nghĩ về Y Uyên như vậy khi nhìn theo hắn leo lên chiếc xe “lam” ngừng bên mé đường rước khách…

Kỷ niệm của tôi về Y Uyên thật ít (vài lần dẫn nhau đi ăn nhậu, đánh bài, du hí, vài lần hắn đi phép ghé nhà tôi “tắm một cái rồi thay đồ…vào trường cho  khỏe”…có đáng gọi chăng là kỷ niệm?). Nhưng tôi thật tình quý mến Y Uyên.

* “Núi Tà Dôn và Dấu Chân Uy”, Lê Văn Chính, vanviet.info:

Trung Úy Q, người chỉ huy trận đánh và cũng là đại đội trưởng của Uy cho biết: Uy chết ngay loạt đạn đầu tiên vì bị phục kích. Cả tiểu đoàn Việt Cộng đào hầm độn thổ từ trước. Với gia đình bè bạn, với văn học Việt Nam, anh chết đi là một mất mát lớn lao. Còn với đại đội 784 địa phương quân thì đây là một chiến thắng, địch để lại hơn 40 xác chết, bên ta chỉ có một chuẩn úy và một binh sĩ hy sinh.

Y Uyên sau khi chết rồi còn bị bắn bồi mấy phát súng ở mắt, tai, đâm thêm mấy nhát dao vào hai cánh tay và hai bên hông. Những người cộng sản Việt Nam đã làm lắm điều dã man như thế, khởi đi từ lòng thù hận và cuồng tín. Từ đó chúng ta có một nhận thức mới, họ mù quáng trong khi chiến đấu, họ không mảy may hiểu về những căn nguyên của cuộc chiến tương tàn này.

5. TRẦM KHA (1948 – 74)

Tên thật Nguyễn Văn Đồng. Khóa 25 Võ Bị Dalat.

* “Tiếc Nhớ Anh Trầm Kha”, HT Nguyễn, vietquoc.org, 17.1.76:

Sáng hôm ấy, đang tắm thì nghe tiếng Bà Nội từ ngoài cổng vào, vừa khóc vừa nói: ” Anh Đồng mi chết rồi”.

Bố chạy ra thì anh lính báo miệng nói rõ anh Đồng hy sinh hôm qua 19.1.74 ở Hoàng Sa, thi thể đưa về quàn tại Tổng Y Viện  Duy Tân. Gần trưa, Mẹ hay tin, vứt cả quang gánh, bỏ buổi chợ chạy về nhà khóc con. Hàng xóm ra vào thăm viếng chia buồn. Cả nhà buồn bã ngóng chờ.

Trưa hôm sau, 29 Tết, xe đưa  anh về nhà. Tiếng khóc vang.

Buổi tẩm liệm bắt đầu. Trung Tá Thông, Giang Đoàn Trưởng Giang Đoàn 32 đọc diễn từ truy điệu và thừa ủy nhiệm Tổng Thống gắn lon truy thăng Đại Úy, truy tặng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương và Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.

Hai bên quan tài có 6 người lính quân phục chỉnh tề đứng nghiêm trang.

Trung Úy Phú, bạn chiến đấu trên Hải Quân 5 kể lại: Lúc cuộc đụng độ nổ ra, Anh Đồng là Sĩ Quan Trưởng lớn nhất của tàu Hải Quân 5 Trần Bình Trọng. Anh chỉ huy bắn cháy tàu Trung Cọng, và cũng bị bắn trả dữ dội. Khoảng 11 giờ, chiến sự trở nên ác liệt, Anh hét to cho thuộc cấp nghe: “Đừng hoảng sợ. Có chết tao chết trước”. Vừa dứt lời thì một phát đạn trúng pháo tháp, Anh ngã xuống cùng người lính xạ thủ. Đến chiều tối tàu được lệnh quay về Đà Nẵng.

Đêm hôm đó mọi người có mặt đều không ngủ.

Sáng hôm sau, 30 Tết, lễ di quan đưa Anh về nơi an nghỉ cuối cùng.

Năm 1968, Anh là sinh viên Trường Luật, tham gia Thanh Niên Thiện Chí, có sáng tác thơ văn. Khi vào Võ Bị Dalat, Anh cũng là cây bút sung sức viết nhiều cho Tập San Đa Hiệu và các Tạp Chí văn nghệ khác với bút hiệu Trầm Kha. Anh đã chuẩn bị xong Tập Thơ Đông Phương nhưng chưa kịp in ấn để xuất bản. Sau năm 75 thì bản thảo bị thất lạc.

Xin trích dẫn một bài thơ của Anh: Khi Thanh Bình Trở Lại  

Có một sớm tôi mơ thanh bình trở lại,

Trên môi người tình bừng giọt nắng reo vui, 

Trong mắt Mẹ rỡ ràng đồng lúa mới,

Trĩu hạt vàng óng ánh giữa ban mai.

Tôi sẽ rút phăng gươm chém cổ chai rượu mạnh 

Mời bạn bè say uống mềm môi 

Tôi sẽ đốt những cánh đồng rơm khô đã ải 

Cháy bừng bừng trên khắp cõi miền Nam

Mời mọi người, mời tất cả anh em

Cùng hít thở khói quê hương ngào ngạt 

Trước khi xuôi chuyến tàu Nam Bắc 

Đem thanh bình tặng quyến thuộc ngoài kia. 

Tôi sẽ chẳng mang theo hành lý, Ngoài những bài thơ ca tụng tình người 

Cho bà mẹ khóc đón con trở lại 

Cho vợ hiền tức tưởi đợi chồng về 

Cho cô gái ngỡ ngàng vui duyên mới, 

Cho trẻ thơ mừng rỡ được gần cha

Tôi sẽ đến từng nhà chung vui ngày mở hội 

Tặng bà con những cái nắm tay nụ cười thân ái. 

Cùng mọi người ca hát vui say

Khúc hoan ca ngây ngất

Lời tự tình Việt Nam thống nhất 

Đang dạt dào trong núi đá rừng cây.

Tôi sẽ nhận người làm anh em

Đi xây những cây cầu đã sập

Những ngôi nhà đổ nát

Những thành quách điêu tàn.

Tôi sẽ mời anh tắm lại dòng sông

Không còn máu, không còn biên thùy ngăn cách 

Trước khi cùng anh đi thăm những người đã chết,

Thắp cho nhau nén hương lòng muôn đời không tắt

Tưởng nhớ bạn bè xấu số vội ra đi.

Sau hết từ giả mọi người 

Tôi về chung vui với người tình nhỏ 

Trong mái lá đơn sơ

Cùng người yêu mở một mùa hội mới 

Uống chén rượu đào đón xuân trở lại 

Tôi sẽ kể em nghe

Suốt quãng đời tôi mang tuổi chiến binh.

6. DOÃN DÂN (1938  – 72)

Bị pháo kích mất xác khi đang đi hành quân từ Quảng Trị vào Huế. Binh sĩ đồng đội chỉ nhặt được cái ví, cây bút, chiếc đồng hồ và mấy tờ bản thảo. 

Đã xuất bản 4 Tuyển Tập Truyện Ngắn: Cái Vòng, Chỗ của Huệ, Bàn Tay Cho Yến, Tiếng Gọi Thầm.

* Nhận Định của Nguyễn Vy Khanh: nói về tác phẩm của Doãn Dân, nhà biên khảo này nêu ý kiến: người đọc nhìn thấy nhiều độc thoại trong truyện của Ông cùng những nhớ lại, tưởng tiếc, hối hận. Ngôn từ của tác giả khiến người đọc rung động đến tận đáy tâm thức nguyên sơ, đượm nhiều chất thơ mà không gian truyện cũng đầy thi vị.

* Chỗ Nào Cho Doãn Dân”, dutule.com, 2.4.16:

Những người hiện diện hôm đó, tôi nghĩ chắc khó quên một Doãn Dân với khuôn mặt vuông, cằm bạnh, lưỡng quyền cao, trán lớn và bóng, với chồng sách còn ướt mực in trên tay. Anh nâng niu từng cuốn, tặng từng người. Anh say sưa với giọng đục và  (như) nằm ngang về những gian nan của cuốn sách. Về cái tình của chủ nhân Nhà Huyền Trân, người mà Doãn Dân coi như ân nhân của mình trong nổ lực để “Chỗ Của Huệ” ra đời đúng với ý nguyện tác giả.

* “Nhà Văn Doãn Dân, Phận Đời Nghiệt Ngã”, trachcamlo.blogspot, 10.1.21:

Sự ra đi của Đại Úy Trần Doãn Dân như cơn bão ập xuống gia đình, một mất mát quá lớn, gây hụt hẫng trống vắng trong lòng mọi người, nhất là 5 cô con gái còn rất nhỏ, cháu lớn nhất 11 tuổi và bé út mới lên 3 !!!

Mặc dù Nhà Văn không còn trên cõi đời này, nhưng các con Ông có cảm nhận sâu sắc về sự “truyền thông” từ hai phía. Ông luôn có mặt bên cạnh để giúp các con khi gặp những bất trắc hay vấn đề khó khăn. Chính Nhà Văn Trần Hoài Thư cũng xác nhận sự hiến linh này đã cứu ông thoát nạn khi chiếc xe quay vòng rồi đâm vào ụ tuyết trên đường đến thư viện Cornell để tìm bài viết “Bàn Tay Cho Yến”. Có thể Ông ra đi trùng giờ thiêng, nên thần thức rất linh, như Ông đã về báo mộng cho gia đình khi nằm xuống ở Đại Lộ Kinh Hoàng.

Trong “Bàn Tay Cho Yến”, Doãn Dân viết: “Ngày nay, sự sống, chết đâu có báo trước cho ai. Người ta chết, thình lình trong khi đang ngồi coi hát. Chết giữa lúc thong thả dạo chơi ngoài đường. Chết vô lý ngay cả trong khi đang ăn, đang ngủ…Vậy thì, nếu anh chết ngoài mặt trận tức là được chết trong một hoàn cảnh hợp thời, hợp lý, sao lại không thể xảy ra?”

Phạmq Văn Duyệt

Tượng Thu. Thơ Hư Vô


Nghiêng vai cõng nắng lên rừng 
Em như làn gió ngập ngừng lướt qua 
Hất tung vạt áo lụa là
Cuốn theo xác lá vàng pha bóng chiều.

Bước ngang triền dốc rong rêu
Bàn chân tôi bỗng nhẹ hều như mây
Khập khều cùng khói sương bay
Cõng em xuống biển cho đầy mùa thu.

Để xem sóng tạc hình thù
Em như chiếc bóng chợt vù vụt tan
Mang theo dấu vết dã tràng
Quằn vai tôi cõng chút tàn tích em.

Về phơi lụa mỏng bên thềm
Mùa thu thay áo vàng thêm góc chiều
Tôi còn lãng đãng liêu xiêu
Hồn khêu gợi mộng phù điêu dáng người…

Hư Vô

Dấu Chân Người Về. Truyện ngắn Hoàng Ngọc Tuấn


Hoàng Ngọc Tuấn


Chàng đứng trước cánh cửa sổ nối liền với hàng rào thép gai bao quanh sân nhà. Nếu chàng mở cánh cửa, một cử động thật ngắn ngủi và dễ dàng, là ngôi nhà của chàng đó. Ánh đèn điện sẽ bừng sáng, cánh cửa đóng kín trước nhà sẽ mở ào ra như một cơn gió, chàng sẽ tìm thấy lại một khuôn mặt kinh ngạc lẫn mừng rỡ của người mẹ chàng và mấy đứa em nhỏ. Nhưng chàng vẫn đứng im, bàn tay nắm chặt chiếc xắc tay nhẹ bổng với một vài bộ áo quần. Chàng nhìn mũi giày của chàng xoay nhè nhẹ trên cát, ở cái thành phố miền biển này, cát trải đầy dưới chân của mọi người khắp nơi và bây giờ, cát bám đầy một màu vàng mù mịt trên đôi giày của chàng.

Bây giờ đêm chưa khuya lắm nhưng ánh đèn đã tắt trong nhà chàng, nhà hàng xóm cũng thế. Xóm này có thói quen đi ngủ sớm, tất cả những cánh cửa đều đã khép kín, bóng tối từ những tàng lá rậm của cây keo tây làm cho khu xóm tối tăm thêm. Chàng mỉm cười nhớ lại ngày xưa chàng vẫn rất ghét cái thói quen đi ngủ sớm của xóm này. Chàng vẫn thường ra ngồi một mình trên tầng cấp trước nhà, nhìn bâng quơ khắp xóm để tìm một khung cửa nào đó còn có ánh đèn, nhưng chàng không bao giờ được hài lòng. Chàng thấy mình thèm một hơi thuốc lá, ánh lửa của que diêm soi mập mờ lên mặt kính đồng hồ cho chàng biết là chàng đã đứng ở đây khá lâu, đứng bất động như một tượng đá. Tay chàng đặt nhẹ lên cánh cửa gỗ, những tiếng kêu gọi nào như nói bên tai chàng, chỉ cần hất cái then cài cửa qua một bên và đi vào sân, chậm rãi bước lên những bậc thềm, gõ tay vào cánh cửa lớn trước nhà. Rồi lắng nghe những tiếng ồn ào xao động dần dần vang rõ từ bên trong, tiếng động của những bước chân chạy vội vã. Có lẽ chàng sẽ tìm thấy cảnh tượng của gia đình giống đúc như hồi chàng còn ở nhà. Người mẹ chàng với thân hình mập mạp sẽ tất tả chạy ra, đứa em gái của chàng có đôi mắt thật to và chiếc cổ dài như một con hươu cao cổ, đứa em trai út ốm tong teo với cặp giò dài như ống tre, vừa dụi mắt vừa la hét ầm ĩ.

Cánh cửa mở ra thật dễ dàng, một tiếng động thật nhỏ nhoi gần như mơ hồ trong đêm, nhưng sẽ mở ra biết bao nụ cười náo nhiệt. Chàng bồn chồn thầm nghĩ không biết gian phòng khách của căn nhà có còn bày biện như xưa không, cánh cửa sổ có còn được giăng bằng bức màn vải màu xanh, dưới tấm kính trong veo trên chiếc bàn có còn đặt tấm hình chụp chàng hồi nhỏ đang ngồi chễm chệ trên một con ngựa đá. Chàng cũng nhớ đến căn phòng nhỏ riêng tư của chàng, tối tăm và đầy những mạng nhện, sách báo vứt bừa bãi trong các xó xỉnh bây giờ chắc đã làm thức ăn cho bấy mối, trên tường tấm lịch xưa cũ màu đỏ có bức tranh một bầy ngựa bạch đang soãi vó trên cánh đồng xanh. Rồi căn phòng cuối cùng mái lợp tôn là nhà bếp, chàng vẫn thường xuống đó để nhìn cô em gái của chàng lúi húi vo gạo nấu cơm. Hồi nhỏ chàng thích ăn mặn có tiếng nên thường lén xuống bếp bỏ thêm muối hay nước mắm vào những món ăn đang sôi trên bếp lửa. Chàng nhớ nhiều nhất đến cánh cửa nhỏ sau cùng hết của căn nhà, ăn thông ra một con ngõ tối, cánh cửa mà chàng nắm hết những bí mật mở ra và đóng kín lại thật nhẹ nhàng để đêm đêm có ít tiền trong túi, chàng một mình mở cửa đi ra khỏi nhà, la cà ở những tiệm cà phê, những quán nước ngoài bãi biển, tiệm bi da cho đến gần sáng mới trở về mà trong nhà không ai hay biết.

Bây giờ nếu chàng muốn biết những điều đó có thay đổi gì không, chàng chỉ việc mở cánh cửa là tìm lại tất cả. Không khí nhỏ bé ấm áp của gia đình, những đồ vật thân thuộc gần như những người, khuôn mặt yêu dấu của người mẹ và bầy em. Tất cả. Tất cả từ một cử động nhỏ. Nhưng tiếng động ấy đã không vang lên một cách hồn nhiên, bàn tay đã lệ thuộc vào sự nghĩ ngợi của trí óc. Và những gì dính dấp đến trí óc thật là kinh khủng, chúng làm chàng phải chọn lựa. Chàng đứng bất động trong cảm giác băn khoăn do dự thật vô lý nhưng chàng không thể nào xua đuổi nổi.

*

Cách đây đã lâu chàng có về nhà một lần. Gia đình thật vui vẻ và náo nhiệt trong một vài ngày đầu. Những đứa em bao quanh lấy chàng và chàng cho chúng những món đồ lặt vặt như sách báo trẻ em, cặp da, một bộ sưu tập tem quốc tế cho đứa em trai và một xấp vải áo cho cô em gái. Người mẹ hỏi han chàng đôi chút về những ngày chàng ở xa đây, chuyện học hành sinh sống. Bà trách chàng về cái tật làm biếng viết thư về cho gia đình. Mỗi khi nghe thành phố chàng ở bị pháo kích hay khủng bố, bà phải vội vàng mua báo để dò tên chàng trong danh sách những nạn nhân, nhưng dĩ nhiên là không bao giờ có tên chàng cả. Bữa cơm đầu tiên dưới mái nhà thật ngon lành, món cá ngừ kho với nhiều ớt chín thơm phức, dĩa thịt bò tái có nhiều rau sống và nước tương, tô canh thơm cá hồng ngọt lịm, dĩa cà muối và rau muống luộc tươi xanh, ly bia mát lạnh trong miệng. Người mẹ hỏi chàng ăn uống ra sao khi xa nhà, chàng trả lời rằng chàng ăn sơ sài cho qua bữa, dĩa cơm gì đó với ly trà đá ở quán cóc bên đường. Người mẹ lắc đầu nói hèn gì trông chàng ngày càng ốm yếu hẳn đi, nhưng những đứa em nói rằng chúng rất khoái được ăn cơm ở những quán bên đường, chúng cũng đòi chàng kể cho chúng nghe về những chuyện ở thành phố đầy đặc xe hơi bóng loáng và nhà cửa đồ sộ.

Sau bữa cơm, cả nhà đều đi ngủ trưa ngoại trừ chàng. Chàng nằm dài trên chiếc ghế bành, mắt mở thao láo nhìn quanh khắp căn nhà, quan sát tò mò những đồ vật tầm thường nhất, như bàn ghế, chiếc bình hoa, chiếc vỏ ốc dùng để gạt tàn thuốc. Chàng hút một điếu thuốc lá có mùi là lạ, khác với thứ thuốc chàng hay hút. Người mẹ vừa đưa tiền cho đứa em chàng mua mười bao thuốc lá đủ hiệu, Winston, Montclair, Philip Morris, Chesterfield, Lucky gì đó cũng được, toàn là những thứ chàng ít thích hút nhưng bây giờ mùi vị lạ khác nhau của từng loại thuốc làm chàng thích thú.

Chàng nhấp nháp một ly rượu nhẹ, ngẫm nghĩ đến những ngày chàng ở xa đây, những ngày tháng toàn là rong chơi vui đùa, quay cuồng, no đói thất thường và đôi khi buồn chán đến chết được. Cứ thế chàng nằm duỗi dài người cho đến chiều tối, hay chập chờn trôi vào một giấc ngủ nửa tỉnh nửa mê. Trong căn phòng vắng lặng, chỉ có tiếng quạt máy quay nhè nhẹ, tiếng đàn dồn dập của một nhạc công tây ban cầm danh tiếng trong những nhạc điệu lãng mạn, từ chiếc máy hát nhỏ. Chàng cảm thấy mình lâng lâng sung sướng như một thi sĩ đầu bạc trắng đã gạt bỏ hết mọi chuyện đời.

Một vài ngày nhàn hạ tiếp theo, rồi không khí của gia đình không còn thanh thản như chàng mơ ước. Người mẹ bận rộn suốt ngày, tất tả đi qua đi lại nhà hàng xóm trong những vụ hụi hè, mượn tiền, cho vay. Nhà chàng tấp nập những con bạc đến vay nợ, trả tiền, đôi khi có người khênh cả tủ lạnh hay máy hát đến cầm thế. Phần đông con bạc là những cô gái lấy Mỹ ở trong xóm, những gã lính Mỹ thường bận công tác xa nhà nên các cô nàng có đủ thì giờ rộng rãi chui đầu vào sòng bạc suốt ngày đêm.

Chàng không muốn nhưng vẫn nhìn thấy hoạt cảnh quay cuồng xảy ra thường trực trong nhà. Người mẹ mặc cả kỳ kèo từng đồng bạc với khách, giận dữ la ó, cằn nhằn đủ chuyện mỗi khi có con bạc nào đó không trả nợ đúng kỳ hạn. Bữa cơm ngột ngạt không còn làm chàng ngon miệng, hai đứa em sợ hãi ăn từng miếng một, chàng ngồi lặng lẽ câm như miệng hến. Chàng biết người mẹ sẽ tìm đủ cớ để trách la mọi người cho hả giận. Bà mắng hai đứa em về những lý do mơ hồ nào đó, rồi cau có quay sang chàng:

“Tiền bạc càng ngày càng khó kiếm, không đủ chi tiêu trong gia đình. Con không lo học hành cho chóng xong, không tìm công việc gì làm kiếm tiền sống tự túc. Mẹ đã tốn kém biết bao vì con từ khi con nhỏ cho đến bây giờ”.

Chàng im lặng. Người mẹ bỏ chén cơm không buồn ăn, bà tiếp tục:

“Con trai lớn mà không giúp đỡ gì cho gia đình được cả, ở nhà thì cứ tiêu hoang, xa nhà đã lâu mà cũng không khá được gì. Con không noi gương tụi thằng Hai, thằng Dũng con bà Bảy, chúng đi làm sở Mỹ kiếm mỗi tháng cả mấy chục ngàn, chạy áp phe dư tiền nuôi cha mẹ, nuôi em. Con phải biết “liệu cơm gắp mắm” chứ, nhà đâu có đủ tiền cho con ăn học suốt đời, phải biết tùy thời mà xoay sở, học hành coi bộ sau này cũng không làm gì được thì phải lo kiếm nghề ngỗng làm có tiền nuôi thân và nuôi gia đình, mẹ đâu có đủ sức nuôi con mãi đâu…”

Chàng cảm thấy miếng cơm đắng nghét trong miệng, chàng hớp vội một miếng nước. Những đứa em chàng đã ăn xong vội vàng, chúng đang lo sửa soạn sách vở đi học. Người mẹ uống một ly bia, mặt bà đỏ gay và lấm tấm mồ hôi. Bà vẫn chưa chấm dứt bản điệp khúc của bà:

” Mẹ đã lớn tuổi rồi, sợ không đủ sức nuôi mấy em được nữa. Những người bằng tuổi mẹ đáng lẽ là nghỉ ngơi rồi, thế mà mẹ vẫn suốt ngày quần quật làm ăn. Hồi trước ai cũng trông đợi, đặt hy vọng vào nơi con cả, mong con sớm làm ăn nuôi gia đình. Bây giờ không thấy con lo lắng gì cho gia đình cả, con cứ sống lông bông ở đâu đó, thỉnh thoảng về nhà một lần rồi lại đi. Con không cần biết gì về gia đình cả…”

Người mẹ đưa tay lên chùi mắt:

“Con không biết thương ai cả. Hồi còn nhỏ mẹ khổ sở biết mấy vì con, giờ con càng ngày càng có vẻ thờ ơ, sống trong gia đình mà cứ như một khách lạ”.

Chàng rời khỏi bàn ăn. Không khí ngột ngạt khó thở làm chàng nóng nực, mồ hôi trong ngực áo và trên mặt chàng thấm ướt. Chàng muốn nốc hết một chai rượu mạnh để được ngủ vùi trong mồ hôi, hơi rượu và cơn mê mệt. Chàng ao ước được đứng trên bãi biển, nhảy ào xuống mặt nước xanh ngát bao la, để trôi thân thể trong dòng nước mát lạnh, không nghĩ ngợi không ưu phiền vì một điều gì cả. Chỉ man mác trong tâm hồn một ý nghĩ là trên đời chỉ còn chàng và biển.

Đối với đời sống hoang đàng của chàng, no đủ hay đói khổ thật vô nghĩa. Chàng chỉ sợ hãi những lời trách móc và đôi mắt phiền muộn của một ai nhìn chàng. Chàng cảm thấy lúng túng và xấu hổ khi có ai đó đặt nhiều hy vọng vào chàng, như mẹ chàng chẳng hạn.

Chàng trở về để tìm lại một ít không khí dễ chịu. Một ngọn đèn vàng trong đêm mưa, căn nhà nhỏ vang vang tiếng học bài của bầy em nhỏ, bàn tay đan chiếc áo ấm mùa đông và đôi mắt âu yếm nhìn các con của người mẹ. Chàng sẽ sung sướng biết bao khi được đắm mình trong thế giới nhỏ nhắn nhưng tươi đẹp như một trái dâu tươi ấy, nhìn thấy hạnh phúc của những người thân của mình và từ đó cảm thấy mỗi thời khắc đều đẹp đẽ tràn đầy như biển cả.

Và chàng lại ra đi vì những điều không nồng nàn, không tươi mát, không êm đềm, những điều trái ngược hẳn với biển cả yêu dấu của chàng.

*

Bây giờ chàng vẫn còn đứng trước cổng nhà, bàn tay đã thôi đặt trên cánh cửa, bàn tay kia nắm chặt lấy chiếc xắc tay. Đêm khuya dần, trời khuya như thế này hút thuốc ngon biết mất nhưng bao thuốc của chàng đã hết. Không khí mang theo nhiều cát và mùi vị mặn của gió biển.

Tiếng chó sủa bỗng vang lên khi có một đám người đàn bà lầm lũi đi ra từ trong một ngõ tối.

Chàng nhìn thấy loáng thoáng vài khuôn mặt tái nhợt, mặt mũi như những bóng ma và bắt gặp một mùi nước hoa rẻ tiền. Chàng biết họ vừa từ sòng bạc nhà bà Tư già chui ra, nhưng không hiểu sao đêm nay họ lại về nhà sớm thế, mọi khi những con bạc vẫn đánh cho đến sáng. Một người đàn bà bỗng dừng lại nhìn chàng chăm chú, nàng mặc chiếc áo ngủ màu hồng có nhiều nếp nhăn và mái tóc xô lệch. Chàng nhận ra một vài nét quen thuộc nhưng vẫn không biết là ai cho đến khi người đàn bà kêu lên kinh ngạc và gọi đúng tên chàng:

  • Trời ơi! Cậu về hồi nào vậy?
  • Chị Ngọc phải không?
  • Tôi đây chứ còn ai nữa, bộ tôi bây giờ già lắm hay sao mà cậu không nhận ra?
  • Đâu có, tại trời tối quá. Chị vẫn thường luôn chứ?

Người đàn bà uể oải gật đầu, nàng lấy bao thuốc lá từ trong ngực áo, gắn một điếu lên môi và mời chàng một điếu. Trong bóng tối bây giờ có một chút khói xanh.

  • Chị bữa nay cũng ghiền hút thuốc rồi, ông chồng chị không cấm sao?
  • Còn đâu nữa mà cấm. Anh ấy chết trận rồi.
  • Chết? sao vậy?
  • Chết là chết chứ biết tại sao. Mà không chết cũng vậy thôi. Tôi và anh ấy bỏ nhau lâu rồi… Hồi đó tôi đen quá, đánh đâu thua đấy, đồ đạc trong nhà đem đi bán sạch trơn, có được căn nhà cũng đem cầm. Cậu xem tôi có trẻ đẹp gì đâu, chẳng qua là có tiền mới giữ được anh ấy, chừng hết tiền rồi là anh ấy bỏ tôi lập tức…

Người đàn bà thở một hơi khói, đôi môi nàng khô ran khi chép miệng thở dài:

  • Anh ấy sống với một con khác được đâu chừng vài tháng rồi chết, đi hành quân bị phục kích ở gần cầu Bà Di đó cậu. Chết cũng đáng đời, nhưng đôi khi nhớ lại cũng thấy thương phải không cậu?

Chàng không nói gì. Người đàn bà nhìn chàng từ đầu đến chân rồi, nói:

  • Cậu về má cậu biết chưa? Trời ơi! Sao áo quần còn để đây, sao không chạy vào kêu cửa cho bà ấy biết? Bà thấy cậu về chắc bà mừng lắm.
  • Mấy bữa nay chị có thường gặp má tôi không?
  • Gặp hoài. Hồi trưa tôi mới đến bà chuộc mấy món đồ, bà có mời tôi ở lại ăn cơm. Bà lúc này làm ăn coi bộ kẹt cậu à, vài đứa con nợ trốn biệt tích. Bà có vẻ buồn, cậu về chắc bà vui lắm. Để tôi chạy vào kêu bà nghe.

Chàng hốt hoảng ngăn người đàn bà lại:

  • Đừng, chị Ngọc. Làm gì gấp vậy, đứng đây nói chuyện chơi một chút đã… Lâu nay chị có gặp Phượng không?

Người đàn bà nheo mắt nhìn chàng tỏ vẻ đùa cợt:

  • Chưa gì đã hỏi thăm “người xưa” rồi. Con Phượng lúc này bê bối lắm. Thằng Mỹ già bỏ nó rồi, cờ bạc, nghiện rượu quanh năm ai mà chịu được. Nó bây giờ bán ở cái bar gì đó ở bãi biển, nhưng coi bộ xác xơ lắm, tiền làm ra có được bao nhiêu mà tiêu như nước.

Người đàn bà nói nhỏ lại:

  • Con Phượng có kể cho tôi nghe về cậu…
  • Thôi dẹp chuyện ấy qua một bên đi. Chị còn thuốc lá không, tôi xin một điếu.

Người đàn bà châm lửa cho chàng. Khi đốm ánh sáng nhỏ lóe lên, người đàn bà nói sao độ này chàng xanh xao quá. Chàng lặng yên hút thuốc, không nói lời nào trong một khoảng thời gian lâu nên người đàn bà tỏ ý muốn chào chàng va ra về.

  • Chị Ngọc, tôi nhờ chị một điều này. Chị đừng nói cho má tôi biết tôi có về nhà nghe.
  • Sao kỳ cục vậy?
  • Chị đừng hỏi, tôi cũng không biết trả lời sao cả. Chị cứ hứa với tôi đi, sáng mai chị đừng cho ai biết đêm qua tôi có về, sáng mai là tôi đón xe đi thật sớm, thật xa đây rồi. Chị hứa với tôi một lần đi, chị Ngọc.

Người đàn bà ngơ ngác và hơi buồn rầu. Nàng vứt mẩu thuốc lá đi xa, nàng nói những lời gì đó với chàng nhưng chàng không nghe gì cả, tai chàng lùng bùng với những tiếng động khó chịu. Sau cùng người đàn bà cũng hứa sẽ giữ kín chuyện chàng trở về, nàng đưa cho chàng hết cả bao thuốc lá rồi bỏ đi, bóng nàng xa dần trong đêm tối. Tiếng chó sủa lại vang lên nghe rờn rợn rồi nhỏ lại, gầm gừ vài tiếng và mất hẳn.

Bỗng chàng nghe tiếng chó sủa dữ dội hơn, văng vẳng từ đàng xa tiếng rao hàng của một bà già bán hột vịt lộn. Chàng nắm chặt lấy chiếc xắc tay, quả quyết bỏ đi. Chàng nhớ lại mẹ chàng có thói quen ăn hàng đêm, dù ngủ say đến đâu mà chợt nghe tiếng rao hàng của những bà bán bún bò, hột vịt lộn là bà đánh thức cả nhà dậy để kêu ăn rồi mới ngủ lại.

Một ý tưởng thật buồn cười chợt đến với chàng. Chàng nhìn những dấu chân của chàng lún từng vết trên bãi cát lầy lội và nghĩ rằng sớm mai, những đứa em chàng khi mở cổng đi học, sẽ nhìn thấy những dấu chân và đoán được chàng có về nhà đêm qua. Ý tưởng thật trẻ con và vô lý nhưng chàng không xua đuổi nổi, chàng vội vàng dùng đế giày xóa tan những dấu chân, và cẩn thận đá văng tung tóe những mẩu tàn thuốc rơi đầy quanh chỗ chàng đứng. Chàng vội vã bỏ đi nhanh vào con ngõ hẻm ăn thông ra đường lớn. Tiếng chó của nhà hàng xóm hai bên ngõ hẹp sủa vang thật dễ sợ khi bóng chàng lầm lũi đi qua.

Khi đi được một quãng đã xa, chàng yên tâm quay đầu nhìn lại mái nhà mà suýt nữa bây giờ chàng đang yên ấm nằm bên trong. Ánh đèn vàng bùng lên trong căn nhà và một cánh cửa sổ mở ra cho thấy bóng dáng nhấp nhô của một vài người. Chàng cảm thấy tim mình nhói đau đến nỗi muốn quỵ xuống, nắm úp mặt mãi mãi trên bãi cát này. Chàng ước ao được trở thanh một cậu bé con lên năm để có thể khóc òa và giậm chân giận dỗi suốt đêm. Cát dưới chân chàng quấn quýt làm những bước đi chậm lại.

Một chiếc xích lô đạp dừng lại. Lão già đưa mắt nhìn chàng dò hỏi.

  • Bác có biết một phòng ngủ nào rả tiền chở tôi đến đó.

Lão già gật đầu. Chiếc xe lăn bánh chậm rãi trên con đường đêm không một ngọn đèn. Gió biển càng thổi mạnh và chàng nhìn thấy bãi biển và hàng dương liễu đàng xa dần dần tiến lại gần.

  • Bác định chở tôi đi đâu đó?
  • Ở bãi biển mới có một khách sạn mới cất, chắc bây giờ ở đó còn có phòng trống.

Chàng hốt hoảng ngăn lão già:

  • Bác quanh đầu xe trở lại đi. Kiếm cho tôi một khách sạn nào ở phố, càng xa bãi biển càng tốt, đắt rẻ gì cũng được.

Lão già ngơ ngác không hiểu gì cả rồi cũng quay đầu xe trở lại. Lão già làm sao hiểu được, chàng sợ hãi biết bao tiếng sóng biển. Những đêm buồn và cô độc như thế này nghe mãi bên tai tiếng sóng âm u buồn thảm không bao giờ dứt, chàng làm sao chịu nổi. Chàng ngồi dựa người trên nệm xe, nhắm mắt lại để tưởng tượng như nằm trên chiếc giường quen thuộc trong nhà. Nhưng chàng giật mình mở mắt ra, vì tiếng nhạc ồn ào và tiếng cười đùa của những gái giang hồ vang lên từ những quán rượu nằm sát bên nhau.

Chàng mỉm cười nhớ lại mình đã nhanh trí xóa dấu chân trên cát. Sớm mai, những đứa em của chàng sẽ vô tư đi học như thường lệ, mẹ chàng sẽ bận rộn với tiền bạc như thường lệ. Người đàn bà tên Ngọc có lẽ sẽ giữ lời hứa với chàng, và như thế là ở cái thành phố mà ngày xưa chàng vẫn gọi đùa là “thành phố thân yêu của tôi”, không ai biết chàng đã trở về đêm qua.

Chỉ có bãi cát là nhớ rõ những dấu chân chàng. Nhưng im lặng muôn đời là thói quen đáng yêu của những hạt cát.

1969
Hoàng Ngọc Tuấn

(Trích từ tập truyện ngắn Cô Bé Treo Mùng, nxb Trí Đăng 1972)

Nền Âm Nhạc của VNCH và Âm Nhạc dưới thời XHCN. Nhạc sĩ Lê Dinh


Nhạc sĩ Lê Dinh


Việt Nam hiện nay không có nền tân nhạc mà chỉ có “nhạc nói và nhạc chạy đua” nghĩa là “nhạc Việt Nam bây giờ toàn là những lời nói khi thì chậm, khi thì thật nhanh như chạy đua” chẳng có cung điệu trầm bổng du dương gì cả, và nhạc sĩ chỉ việc theo lời nói lên xuống hay mau chậm này mà viết nốt nhạc vào đấy là thành một bản nhạc, cho nên chẳng có một bản nhạc nào ra hồn cả, do dó không có ai thèm nhớ dù chỉ một câu.

Từ bao nhiêu năm nay Việt Nam không có một tình khúc nào làm cho người Việt hải ngoại cảm thông, nói huỵch toẹt ra là ngửi được cả. Sau khi Nhạc Sĩ Nguyễn Ánh 9 phê bình “gào sĩ” Đàm Vĩnh Hưng không biết diễn tả bài hát mà chỉ biết gào hét nhố nhăng để câu khách, nay thì Nhạc Sĩ Lê Dinh lên tiếng về hiện tình tân nhạc Việt Nam mời các bạn xem dưới đây.

Đừng có nói rằng vì người Việt hải ngoại ghét cộng sản mà cho rằng cái gì cũng xấu, mà thực tế là chế độ nào sinh ra con người đó, nhạc Việt dưới chế độ độc tài, gian xảo, bất nhân, bán nước thì làm gì có tính nhân bản và tình cảm như Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

Về âm nhạc, từ mấy chục năm nay, thành thật và công bình mà nói, chúng ta có thấy sự tiến triển nào trong bộ môn này không, hay là một sự tụt lùi tệ hại từ năm 1975 đến nay, hay nói một cách khác, bọn phỉ quyền Hà Nội đã giết chết âm nhạc Việt Nam.

Nhìn lại ngày khởi đầu của nền âm nhạc Việt Nam, từ những ca khúc đầu tiên mà những bậc tiên liệt của nền âm nhạc để lại – được gọi là nhạc cải cách – như Một kiếp hoa (Nguyễn văn Tuyên & Nguyễn văn Cổn), Khúc yêu đương (Thẩm Oánh) Bình minh (Nguyễn Xuân Khoát), Bản đàn xuân (Lê Thương), Tâm hồn anh tìm em (Dương Thiệu Tước), Bóng ai qua thềm (Văn Chung), Cùng nhau đi Hồng Binh (Đinh Nhu), Thu trên đảo Kinh Châu (Lê Thương)…, chúng ta thấy, dù đã ra đời hơn 80 năm nay, còn phôi thai, nhưng âm nhạc VN thuở đó nghe rất có hồn nhạc, lời lẽ tuy không trau chuốt văn chương, nhưng không khó nghe và lai căng như bây giờ.

Chẳng hạn như bài “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương, một bài âm hưởng nhạc Nhật thời đó, tuy được sọan sau, nhưng cũng được coi như là một trong những ca khúc đầu tiên của gia tài âm nhạc Việt Nam.

Nhắc lại để chúng ta thấy rằng tuy là những ca khúc đầu tiên, khởi thủy của nền âm nhạc Việt Nam, nhưng dù đã bao nhiêu năm qua, vẫn còn nghe được, hơn nhạc bây giờ ở trong một nước có tên là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chứng minh điều đó là gần một thế kỷ qua mà người ta còn nhớ ca khúc “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương.

Tiếp theo thời kỳ âm nhạc phôi thai, hay âm nhạc cải cách, đó là giai đọan nhạc được gọi là nhạc tiền chiến mà tôi nghĩ rằng vài trăm năm sau đi nữa, vẫn còn được nhắc nhở tới. Những tác giả như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn, Hoàng Quý, Nguyễn văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn văn Tý, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lê Thương… đã để lại cho chúng ta một gia sản âm nhạc đồ sộ, chỉ trong vòng có 20 năm ngắn ngủi. Nhắc lại những bài như:

“Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc lối đào nguyên…”

Suối mơ, bên rừng thu vắng

Giòng sông trôi lững lờ ngoài nắng…”

Hay:

“Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thoát rơi

Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi…”

Hoặc như:

“Biệt ly, nhớ nhung từ đây

Chiếc lá rơi theo heo may…”

Chúng ta nghe âm điệu sao mà du dương, uyển chuyển, tha thiết, thấm vào lòng người. Còn lời ca sao mà lãng mạn, yêu đương, tình tứ ngọt ngào đến như thế.

Rồi bước qua giai đoạn nhạc kháng chiến (nhạc cách mạng), một loại nhạc hừng hực lửa của thời toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân. Những tác giả tiêu biểu cho loại nhạc hùng tráng như đánh thẳng vào lòng người này có Phạm Duy, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Hoàng Quý, Lê Yên, Phạm Duy Nhượng, Phạm Đình Chương, Văn Giảng… Nhưng phải công nhận rằng Phạm Duy là người có tác phẩm âm nhạc cổ súy tinh thần tranh đấu bài thực nhiều nhất, hay nhất. Làm sao mà chúng ta quên được, dù ngàn năm sau, những âm điệu và lời ca như:

Ngày bao hùng binh tiến lên

Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến…”

Hoặc man mác căm hờn, như:

“Chiều qua, tôi đi qua vùng chiếm đóng

Không bóng trâu cày bên đồng

Vắng tiếng heo gà trên sân

Chiều qua, gánh nước cho Vệ Quốc Quân

Nghe tiếng o nghèo kể rằng:

Quân thù về đây đốt làng…”

Rồi 1954 ập đến, chia hai nền âm nhạc, một nửa phát triển mạnh mẽ ở xứ tự do, phóng khoáng và một nửa chôn vùi trong chốn ngục tù, sau bức màn tre. Một số đông nhạc sĩ sáng tác ở miền Bắc ngày trước đã tìm tự do nơi miền Nam – đất lành chim đậu – cùng chung với những nhạc sĩ sáng tác đã sống trước đây dưới chính thể Đệ Nhất Cộng Hòa, kết hợp thành một lực lượng sáng tác mạnh nhất, vững chãi nhất, nhân bản nhất và lãng mạn nhất. Thôi thì trăm hoa đua nở.

Ngay từ ngày đầu di cư, chúng ta có những Văn Phụng, Nguyễn Hiền, Y Vân, Hoàng Trọng, Đoàn Chuẩn, Huyền Linh, Phạm Đình Chương, Ngọc Bích, Đan Thọ, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Trọng Khương, Tuấn Khanh, Hoài Linh, Phó Quốc Thăng, Phó Quốc Lân, Canh Thân, Vũ Thành, Vũ Huyến, Hoài An, Thanh Bình, Lê Hoàng Long, Nhật Bằng…, cùng với những nhạc sĩ miền Nam nổi bật lúc đó, như Phạm Duy (đã có mặt ở Saigon từ 1951), Lam Phương, Trúc Phương, Châu Kỳ, Nhật Ngân, Trần Trịnh, Anh Việt Thu, Mạnh Phát, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn văn Đông, Hoàng Nguyên, Anh Việt, Phạm Mạnh Cương, Lê Mộng Bảo, Huỳnh Anh, Trần Thiện Thanh, Duy Khánh, Khánh Băng, Minh Kỳ, Anh Bằng, Lê Dinh… và một số nhạc sĩ trẻ của thời đó như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trầm Tử Thiêng, Trường Sa, Trường Hải, Đỗ Lễ, Nguyễn Ánh 9, Thanh Sơn, Bảo Tố, Song Ngọc, Dzũng Chinh, Hàn Châu, Mặc Thế Nhân, Hoàng Trang, Đinh Trầm Ca, Giao Tiên, Thăng Long, Đài Phương Trang… hợp thành một đội ngũ sáng tác dưới chính thể tự do của hai nền Cộng Hòa ở miền Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975.

Dù dưới hình thức nào, với bất cứ đề tài nào, nhạc sĩ của Miền Nam Tự Do cũng viết nên những tác phẩm giá trị, nhất là những tình khúc và những bài ca ngợi người Chiến Sĩ VNCH, còn tồn tại, vang dội cho đến ngày nay.

Trong khi đó, miền Bắc với chính sách bịt miệng và láo khoét, cho nên nhạc sĩ miền Bắc viết toàn những bài ca tụng ông Hồ (của họ) gàn dở, lố bịch, vô duyên, không thể nào lọt vào tai thính giả được. Chỉ một mình nhạc sĩ Thuận Yến thôi mà cũng có đến 26 bài nhảm nhí rẻ tiền ca ngợi ông Hồ. Ngoài ra còn có những Đỗ Nhuận, Phạm Tuyên, Vân An, Trần Hoàn, Lưu Cầu, Trọng Loan, Phong Nhã, Huy Thục, Lê Lôi, Chu Minh v.v…viết những bài nhạc tuyên truyền, đề cao CS một cách lố bịch.

Cả Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phan Huỳnh Điểu, Đỗ Nhuận… cũng bị lôi cuốn trong việc sáng tác loại nhạc bưng bô này, như Văn Cao với “Ca ngợi hồ chủ tịch”, Lưu Hữu Phước với “Tình bác sáng đời ta”, Phan Huỳnh Điểu với “Nhớ ơn bác”, Đỗ Nhuận với “Bé yêu bác hồ”… vì không viết để ca tụng, tung hô bác thì không có gạo mà ăn. Nội cái áo của bác và đôi dép của bác thôi mà cũng có đến 5 bài hát nói về áo và dép này. Chỉ còn thiếu cái áo lót của bác thì chưa có nhạc mà thôi.

(Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa – và luôn cả thời Đệ Nhị Cộng Hòa – Miền Nam VN chỉ vỏn vẹn có một bài hát duy nhất ca tụng cá nhân vị nguyên thủ quốc gia mà thôi. Đó là bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống của Ngọc Bích và Thanh Nam.

Đây không phải là chủ trương của chính phủ đề ra để bắt buộc văn nghệ sĩ sáng tác ca tụng lãnh tụ, mà đó là ý nghĩ riêng của hai tác giả, vì muốn mang ơn người đã khó khăn lắm mới đem đến sự an cư lạc nghiệp cho gần một triệu đồng bào di cư miền Bắc, trong đó có hai tác giả. Đây chỉ là một hành động để nói lên lòng biết ơn thôi.

Từ 1975 là một sự tuột dốc thê thảm, nhìn thấy và nghe thấy, không cần phải đắn đo suy nghĩ khi nói về nền âm nhạc ở nước CHXHCN Việt Nam bây giờ. Không phải nhìn từ bên ngoài rồi chúng ta nói thánh nói tướng, muốn nói gì thì nói, hay nói để… chống Cộng, nhưng phải nói rằng sự thật là như vậy. Thử hỏi có ai nghe được hết một câu lời ca trong một bài nhạc nào đó không? Có ai hiểu ca sĩ hát gì, nói gì trong bài hát đó không?

Còn nhạc thì nghe qua rồi – dù cho nghe 5 lần 7 lượt đi nữa – hỏi có ai nhớ âm điệu ra sao không, do-ré-mi-fa-sol-la-si thế nào không? Chúng tôi không nói quá lời đâu. Mở YouTube ra, bấm đại một bài nào đó ở VN ngày nay, quý vị sẽ thấy ngay lời nói của chúng tôi không mảy may quá đáng.

Bấm đại bài của Cẩm Ly hát đi, thí dụ bài “Chồng xa”, chúng ta sẽ nghe lời lẻ, văn chương quá buồn cười, trong một bài hát, nghe sao giống như lời đối thoại trong một vở tuồng cải lương hạng bét: “Dậy đi mua đồ nấu canh chua – Về cho ba mầy bữa cơm trưa…”

Về âm điệu, chúng tôi đố người Việt tự do ở hải ngoại nhớ một câu nhạc nào đó, trong một bài hát A, B, C nào đó ở VN bây giờ. Tại sao không nhớ được? Xin thưa vì đó không phải là âm điệu mà là những nốt nhạc khác nhau, bỏ chung vào một cái túi và rút ra 5, 6, 7 hoặc 8 nốt, rồi ráp lại cho thành một câu nhạc thôi. Trong khi đó, thử tình cờ lấy một bài nào đó của miền Nam, trước 1975, như:

”Xuyên lá cành trăng lên lều vải

Lòng đất ấm thương tình đôi mươi…”

Hay như:

“Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn…”

Hoặc:

“Thượng đế hỡi có thấu cho VN này,

Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài…”

Chúng ta nghe sao mà tha thiết quá, du dương quá và dễ nhớ, dễ thuộc, dễ thương quá, dù cho cả đời mình hay một trăm năm sau cũng khó quên được.

Và xin quý vị thử bấm vào tựa một bài hát nhảm nhí nào đó của CHXHCN Việt Nam ngày nay xem. Thí dụ như bài: “Xin anh đừng” (đừng cái gì mới được chứ?) Và vô số bài nữa, như Giấc mơ không phải của anh – Anh sẽ không níu kéo – Anh ba Khía – Ông xã bà xã – Khi cô đơn em nhớ ai – Anh sai rồi – Quen một ngày cho vui – Em có thể làm bạn gái anh không – Đừng buông tay anh…, nếu kể thêm, chắc chắn quý độc giả sẽ bị nhức đầu.

Tựa đề của một tác phẩm âm nhạc là như vậy đó sao? Chúng tôi nghĩ tác giả là những trẻ con, chưa biết nói tiếng Việt hoặc là người đã trưởng thành nhưng chưa biết viết tiếng Việt. Tựa đề của một bài hát cũng phải nghe cho được chứ? “Xin anh đừng” rồi thôi, hết.

Về lời ca, mời quý vị nghe ca khúc “Giá như chưa từng quen”. Mới nghe qua tên ca khúc, chúng ta liên tưởng ngay đến một bài hát khác của miền Nam trước 1975, bài “Nếu ta đừng quen nhau”. Cùng một ý, một nội dung, nhưng người nhạc sĩ miền Nam viết tựa là: “Nếu ta đừng quen nhau”. Bây giờ, chúng ta hãy xem qua lời ca:

Bài “Giá như chưa từng quen”:

“Giá như chưa từng quen, chưa quan tâm nhiều về nhau

Người yêu ơi, anh không thể nhớ mỗi lần cách xa…”

Còn bài “Nếu ta đừng quen nhau” có lời ca:

“Nếu ta đừng quen nhau, thì đời chưa vướng u sầu

Ngày xanh chưa nhuốm thương đau, màu hoa chưa úa phai màu…”

Chúng tôi để quý vị kết luận. Chúng tôi chỉ thấy “tội nghiệp” cho tác giả bài “Giá như chưa từng quen” mà thôi.

Nếu quý vị muốn nghe thêm nữa, thì đây:

“Vì ngày hôm qua anh đã thấy em ôm hôn một người…

Như muốn cào xé nát tan trái tim anh…”

Đây là lời ca của bài “Đừng làm anh đau” và xin nói thêm , chỉ có việc “anh đau” này thôi mà có tới ba bài nhạc khác nhau, của 3 tác giả khác nhau: “Đừng làm anh đau”, “Em khóc làm anh đau” và “Mưa làm anh đau”. Đó, âm nhạc XHCNVN là như thế đó.

Về phần ca sĩ trình bày, mà người bên đó gọi là “thể hiện”, phải nói một cách công bằng, vì là nơi đông dân số, gần 90 triệu người, thì làm sao không có ca sĩ hát hay. Nhưng tiếc thay, có một số đông chỉ biết la, biết hét, hét toáng lên, khiến người nghe không biết họ hát cái gì. Và còn nữa, họ hay uốn éo ở chữ cuối câu (fioritures), có người còn ẹo ở giữa câu, nghe rất khó chịu. Việc điểm fioritures này – tức là láy – người viết nhạc chỉ dùng khi nào thật cần thiết thôi.

Nếu tác giả không có để thêm nốt fioritures thì ca sĩ đừng có tự động láy, tự động uốn éo, tự động ỏng ẹo cho nó lả lướt, như vậy là lả lướt không đúng chỗ, nghe không thể nào chịu được. Người mình có tài hay bắt chước và bắt chước giỏi. Cái uốn éo này xuất xứ từ nhạc Âu Mỹ, nhưng mà với lời ca tiếng ngọai quốc, và cũng tùy thuộc chữ nào, ý nghĩa ra sao, thì nghe được, chứ cứ uốn éo tự do, uốn éo lung tung, bất kể quân thần thì không hợp với lời Việt chút nào.

Một phần việc ca sĩ VN trong nước bây giờ hát khó nghe, lý do cũng tại cách viết lời ca của đa số những nhạc sĩ “lớp ba trường làng”, “trẻ tuổi tài cao” của thời XHCN này: chỗ nốt cao thì để chữ dấu huyền hay dấu hỏi, còn chỗ nốt thấp thì để chữ dấu sắc, hay dấu ngã. Viết lời ca như thế thì chỉ có giết ca sĩ mà thôi, bởi ca sĩ không thể nào truyền đạt cho thính giả hiểu được mình hát cái gì. Hát mà người nghe không hiểu gì thì hát làm chi?

Từ năm 1975, một thời gian đủ dài để những “đỉnh cao trí tuệ” giết chết tất cả, từ chữ nghĩa văn chương cho đến âm nhạc. Riêng về âm nhạc, họ đã vùi dập bao nhiêu công lao của những người đi trước, trải qua bao thế hệ, từ thời kỳ âm nhạc cải cách, đến nhạc mới hay tân nhạc, rồi nhạc vàng (chữ của họ gọi để ám chỉ nhạc Miền Nam từ 1954 đến 1975 mà họ đã cố tiêu diệt nhưng không được) và nay là nhạc của thời XHCN, của thời nhảm nhí: “Dậy đi mua đồ nấu canh chua – Về cho ba mầy bữa cơm trưa”./

Lê Dinh

Nhịp Mưa. Thơ Hư Vô



Con đường ngập dấu chân xưa
Em đi bỏ lại giọt mưa lỡ thì 
Mịt mù trong cõi tình si
Có tôi ẩn nấp giữa tì vết nhau.

Lăn lóc ngang giấc chiêm bao
Dung nhan một thuở đã nhầu tóc xanh
Mà tôi như gã lữ hành
Bước qua là để lỡ làng đời em.

Đường đi khúc khuỷu gập ghềnh
Nhịp mưa dội xuống dập dềnh bóng tôi
Ngoảnh lại đã hết một đời
Em còn đợi nắng về phơi lưng chiều.

Lối xưa cỏ mọc liêu xiêu
Bước chân ai đang khập khều dưới mưa
Hồn tôi như khúc ruột thừa
Em cưu mang để day dưa dày vò..

Hư Vô


Con Đường Dương Nghiễm Mậu. Mai Thảo


Mai Thảo

Chân dung nhà văn Dương Nghiễm Mậu

Khoảng cuối thập niên 50 và bắc cầu sang đầu thập niên 60 – cây cầu đến nay còn soi bóng tuyệt đẹp trên dòng sông đất nước – những tấm lòng đồng chí với những phá vỡ và những làm mới của văn học và cho văn học, đã được liên tiếp chứng kiến gần như trong cùng một thời điểm, hai cuộc lên đường đi về những chân trời phía trước của một thế hệ những người cầm bút ở miền Nam.

Lên đường thứ nhất khởi sự từ Lên Đường Lớn: từ hiệp định chia đôi đất nước, từ Bến Hải và vĩ tuyến 17, theo những bước chân trùng trùng của di cư một triệu. Đội ngũ tiền phong của nó là Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn và Nguyên Sa, những người trước vào từ miền Bắc, bài thơ thứ nhất viết dưới những mái lều vải tạm trú của sinh viên, hai người sau “viễn phương” hơn, lên khỏi những hầm rượu tả mạn sông Seine, mới từ Pháp về. Những vì sao đầu này của một vòm trời văn chương vừa dựng thoạt đầu là những lấp lánh lẻ tẻ. Trên tờ Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, tờ Đời Mới của Nguyễn Đức Quỳnh, Trần Văn Ân, tờ Lửa Việt, Người Việt của sinh viên Hà Nội di cư. Rồi sau cùng đến với nhau thành một họp mặt chung trên tờ Sáng Tạo.

Lên đường thứ hai, đã thấp thoáng trong dấu chân lên đường thứ nhất, nên có thể coi như một đồng hành, làm một gờm thành đầy khí thế của những người viết trẻ, tất cả đều ở tuổi hai mươi, và diễn đàn chính của họ là tờ Văn Nghệ, chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột nhà thơ Quách Thoại. Họ là Viên Linh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Du Tử Lê, Đỗ Quý Toàn, Trần Đức Uyển, là Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng. Và một người viết mới, tuy cùng một lên đường với bằng hữu nhưng độc lập, tách biệt, như đi một mình trên con đường riêng. Đó là Dương Nghiễm Mậu.

Những người của hai lên đường làm mới văn học nói trên, đến nay tuy đã mấy chục năm, nhưng với phần lớn tôi đều giữ được những kỷ niệm về lần đầu gặp mặt. Kỷ niệm với mỗi người mỗi khác. Thanh Tâm Tuyền, căn gác xép ám khói ở toà soạn Dân Chủ, hắn hỏi xin một điếu thuốc và tôi tưởng hắn là thợ sắp chữ. Nguyên Sa, cái mũ trắng thầy giáo, lần đầu tới Sáng Tạo, gọi tôi vào phòng trong dậy một điệu nhảy swing. Cái áo thun cũ, cái quần xà lỏn của Doãn Quốc Sỹ, bữa ăn trưa đãi tôi ở Đại Học Xá. Cung Trầm Tưởng, cái cà-vạt đỏ chói, tóc đỏm dáng từng sợi. Viên Linh mặt mày cau có giận dữ vì đến đưa thơ tôi còn ngủ vùi, cửa toà báo treo tấm biển đi vắng. Trần Thanh Hiệp không nhìn lên, vùi đầu vào cuốn tự điển to gấp hai người Hiệp. Quách Thoại, cái anh chàng khả ố ngất ngưởng ở tiệm ăn Thanh Thế, lần gặp đầu đã tự nhận là vua thơ một thời. Nhưng kỷ niệm về lần thấy đầu, biết đầu với Dương Nghiễm Mậu là vô tình và lý thú nhất, sau này tôi kể chuyện lại, anh em còn cười lớn với nhau.

Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gởi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn tay tôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy dòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới. Đọc tiếp mấy trang nữa; tôi hỏi người bạn: “Bỏ đi tất cả đây à?” Người bạn không ngửng đầu lên: “Ừ, đã đọc rồi bỏ không đăng” “Moi lấy đi được không?” “Để làm gì vậy?” người bạn ngạc nhiên hỏi.”Mặc moi” tôi nói, và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở một diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm.

Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc lóng lánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồ côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình sông núi với em, để có được cùng em, dù một cách rất tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chững chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.

Sau này, ngắm nhìn một Dương Nghiễm Mậu đã nhanh chóng nổi tiếng, đã có hàng chục tác phẩm được in ra, có được thêm những nhận thức mới về cõi văn sáng rỡ một tâm thức thời đại vô chừng nghiêm chỉnh hiếm thấy ở một người viết trẻ, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến hai đứa bé mồ côi đắp hình sông núi quê hương trong sáng tác Rượu Chưa Đủ tôi lượm được trong sọt rác một tòa báo của Mậu. Một công viên vắng lặng. Công viên đó chính là hình ảnh con đường văn chương Mậu đã mở ra và đi trên đó, một mình. Những mô hình sông núi quê hương. Đứa nhỏ mồ côi nghiêm chỉnh, sớm hiểu biết, ý thức trong truyện cũng chính là Dương Nghiễm Mậu, đã đắp xong và rất hoàn chỉnh, những mô hình sông núi cho cõi văn, cõi viết của mình.

Tuần lễ trước đây, ở một lá thơ của một người bạn thân gởi sang từ Sàigòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nào cũng thư thái ung dung. Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu Chưa Đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hóm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh, Mậu nhắm mắt mỉm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rớt xuống.

Sau 1975, do đó đứt hết liên lạc bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả Địa Ngục Có Thật vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tùy thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện. Mậu cười nói với tôi: “Nhiều chuyện lạ lắm sắp xảy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy”. Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn cho đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi.

Ít lâu sau, quả nhiên Dương Nghiễm Mậu đã “phải đi”, cùng với anh em văn nghệ sĩ . Đi thẳng vào trại tập trung Phan Đăng Lưu. Một lần khác, gặp trên hè đường Tự Do, xế cửa nhà sách Xuân Thu. Mậu, một cây dù Tú Xương, tay kia xách một túi giấy, nói ở trong là một cái chăn len, đồ dùng quý nhất còn lại trong nhà, và Mậu đang trên đường ra chợ trời Tôn Thất Đạm bán lấy ít tiền đem về cho vợ mua gạo. Kể chuyện khốn quẫn mà cười thật vui, nét mặt sinh hoạt, ánh mắt riễu cợt. Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở bạn bè tôi một số bản lĩnh chói lòa. Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và trong sự trẻ trung đặc biệt, gần như không có tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.

Lần sau cùng gặp, thời gian này Mậu vừa được trả tự do, là chiếc dù đen hiền triết tôi nhìn thấy ở trước rạp chiếu bóng Trương Minh Giảng. Lần đó, kẻ bên này đường, kẻ bên kia, tôi đang bị truy lùng ráo riết, nên chỉ nhìn nhau gật đầu, vẫy tay chào không ai đứng lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng tôi nhớ vừa đi vừa còn nhìn lại, nhìn cây dù đen văn chương xa dần, lòng đầy quý mến.

Bạn hữu còn kể ít nhiều chuyện về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về cái thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt là với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nảy, Mậu vắn tắt khuyên: “Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ”, và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của anh “Dương Nghiễm Mậu”. Một chuyện ngộ nghĩnh về Phan Đăng Lưu: Buổi sáng hai anh em được trả tự do, Nhã Ca có người đến đón ở cửa trại, Mậu không có ai, Nhã Ca còn 5 đồng trong túi, Mậu không có một đồng nào. Nhã đưa cả 5 đồng cho bạn, để đi xe. Mậu cầm tiền cười lớn: “Anh là ông vua đi bộ ở Sàigòn, cần gì xe cộ nữa” và dùng 5 đồng của Nhã Ca ung dung vào quán uống cà phê. Chi tiết này đủ cho thấy bản lĩnh Dương Nghiễm Mậu trong nghịch cảnh.

Một chuyện ngộ nghĩnh khác, vẫn về Phan Đăng Lưu. Chẳng hiểu vì lý do nào cùng với Lê Xuyên, tác giả Chú Tư Cầu, Mậu là một trong hai tù nhân văn nghệ bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau, mới được gọi tên. Cuộc thẩm vấn tức cười không thể tả được:

  • Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.
  • Sao lại những hai tên?
  • Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.

Quản huấn lắc đầu, Mậu không có một hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:

  • Anh bị bắt vì tội gì?
  • Tôi không biết.
  • Vô lý. Phải có tội mới bị bắt. Anh làm nghề gì?

Mậu nửa đùa nửa thật:

  • Nghề văn nghệ sĩ.

Người quản huấn:

  • Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, anh nhớ kỹ nhé, tội anh là tội… văn nghệ sĩ.

Tội văn nghệ sĩ. Tếu thật. Nhưng cũng là sự thật. Tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, sau 1975, cũng bị đem ra trưng bày tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy. Nội dung những tác phẩm Dương Nghiễm Mậu cũng bị đem ra mổ xẻ và đả kích thậm tệ ở các lớp học, các buổi họp và trên đài phát thanh. Cái “tội văn nghệ sĩ” định cho Mậu ở buổi thẩm vấn Phan Đăng Lưu, tôi biết. Mậu công nhận và còn thầm công nhận mãi. Như một ở cùng cảnh ngộ với bằng hữu. Như một tin tưởng vĩnh viễn ở chính mình, và qua bản thân, ở văn chương. Văn chương với Dương Nghiễm Mậu, mang ý nghĩa tốt đẹp nhất và toàn vẹn nhất của một tự thành. Con đường đi vậy là trước sau thông suốt. Những bước chân đi trên con đường ấy vậy là đã tới. Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọt rác và đăng lên một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp hình sông nước quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hoàn tất. Nó cũng là cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy là tuyệt vời và đã hoàn tất, bằng văn chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương Nghiễm Mậu.

Tin nhà đưa sang cho biết hiện giờ nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã trở thành công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn gần như trên hết thảy đã ngừng viết và đã phải đổi nghề. Để sống. Để có lao động, để được yên thân. Nghe nói Nguyễn Thụy Long đi đạp xích lô. Nghe nói Trần Lê Nguyễn bán sách cũ. Nghe nói Nguyễn Đình Toàn nuôi thỏ nuôi gà ở làng Báo Chí cũ. Tất cả đều dãi dầu, tất cả đều sương nắng. Nghe những tin nhà về bạn bè, thấy lòng xót xa buồn rầu, nhìn thấy những khổ cực đang chồng chất lên những thân thể chữ nghĩa thất thế. Riêng nghe tin Dương Nghiễm Mậu bây giờ làm công nhân một xưởng sơn mài thành phố, không hiểu sao tôi lại thấy vui vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn.

Công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Cây dù đen Tú Xương. Đúng là cảnh “Sáng vác ô đi tối vác về” rồi nhé. Dương Nghiễm Mậu! Những tấm sơn mài. Cây dù bên cạnh. Tôi đang hình dung ra Dương Nghiễm Mậu ngồi một mình một góc trong một xưởng thợ, trước những tấm sơn mài ấy. Muốn hỏi Mậu ở Việt Nam nghìn dặm : “Những tấm sơn mài ấy có vẽ hình sông núi quê hương?” Chắc là có. Chắc là có. Không trên tranh thì trong tim, trong hồn, trong thức, trong ý. Và cái nền của sơn thì vẫn là một con đường. Con đường đi qua đời sống. Con đường đi qua văn chương. Con đường đẹp nhất, vì con đường thẳng tắp. Con đường đẹp nhất, vì là con đường một mình. Cuối cùng là đứa trẻ mồ côi trong truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu sự thực không bao giờ mồ côi. Mồ côi là những kẻ khác kia.

Mai Thảo

Mắt Biển. Thơ Hư Vô


Hồn tôi đang chết đuối
Trong đôi mắt em buồn 
Sóng tràn ra biển cả
Lời tự tình vô ngôn.

Tôi bơi hoài bơi mãi
Đâu ra khỏi chiêm bao
Em chưa kịp dụi mắt
Con nước đã bạc đầu.

Thì làm sao em thấy
Những dấu tích dã tràng
Lăn theo hồn của sóng
Một góc đời riêng mang.

Em có là biển khác
Lượn sóng vẫn tràn bờ
Vì tôi là giông gió
Tạt em vào cơn mơ.

Mang theo những hạt cát
Cho em biết xốn xang
Chỗ tôi đang chết đuối
Trong đôi mắt hoang đàng…

Hư Vô

Thơ Nhạc về Paris- Sydney- Sài Gòn. Phạm Văn Duyệt


Phạm Văn Duyệt


Sau những phút giờ vùi đầu với trăm công nghìn việc. Chắc ai ai cũng muốn có chút ít thời gian thư thả nghỉ ngơi để xả bớt mọi điều căng thẳng.

Hy vọng bài sưu tầm về thơ nhạc này sẽ góp phần nhỏ nhoi nào đó trong việc đem lại cho bạn đọc chút ít cảm giác dìu dịu yên bình.và vơi đi những khó khăn phiền muộn trong cuộc sống hằng ngày.

1. MÙA THU YÊU ĐƯƠNG 

Lam Phương có 3 người vợ và cả chục nhân tình. Với tâm hồn lãng mạn, Ông đã sáng tác hằng trăm bài ca tha thiết, vừa bi ai sầu thảm, nhớ nhung chất ngất, vừa hạnh phúc yêu đời, ngập tràn tiếng cười vui.

Từng hình bóng những người đi qua trong đời Ông để lại nhiều ca khúc tuyệt vời. Với Bạch Yến: Tình Bơ Vơ, Tình Chết Theo Mùa Đông, Tiễn Người Đi…, Minh Hiếu: Biển Tình, Biết Đến Bao Giờ, Em Là Tất Cả…, Hạnh Dung: Bọt Biển, Giọt Lệ Sầu, Thành Phố Buồn…, Cẩm Hường: Bài Tango Cho Em, Mùa Thu Yêu Đương, Thiên Đường Ái Ân…

* Theo Trần Quốc Bảo (Việt Tide, 26.9.14): “Lê Thị Cẩm Hường sinh năm 1950, kết hôn với nghệ sĩ Thành Được, sinh bé trai năm 1968. Vũ công Thùy Linh từng cho Bảo biết: “Hôm chị diễn ở Pháp cuối tháng 10.76 thì thấy một phụ nữ dáng quen quen đi vào tìm mình. Nhìn kỹ, mới nhận ra Cẩm Hường. Chị và cô ấy hết sức mừng rỡ khi gặp lại nhau. Trong ảnh chụp chung với 3 vũ công: Thùy  Linh, Mỹ Vân và Mỹ Hóa, thấy Cẩm  Hường sau nhiều năm vẫn còn đẹp lắm. Quả không hổ danh người đẹp của Saigon một thuở. Bảo không tin hỏi ca sĩ Diễm Hương sẽ rõ”.

Khi hỏi Diễm Hương, chị cho biết: “Đúng thế, nói đến Cẩm Hường là nói đến một phụ nữ sang trọng, lịch lãm. Ngoài cái đẹp, cô còn là một trong những người mặc quần áo, đeo nữ trang có tiếng nhất thời bấy giờ”.

Băng Châu cùng tuổi, cùng chung lớp trung học, cùng quê Cần Thơ. Tuy cũng là người đẹp Tây Đô từng làm ca nhạc sĩ Duy Khánh say mê, nhưng Băng Châu thú nhận mình còn thua xa Cẩm Hường. Cũng như Lam Phương, Duy Khánh có 3 đời vợ và một số nhân tình. Đáng kể nhất là với Băng Châu. Đây là lời thuật của nữ ca sĩ: “Năm 69, từ Cần Thơ lên Saigon tìm cơ hội gia nhập làng nhạc, Băng Châu gặp nhiều ca nhạc sĩ tiếng tăm của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, kể cả Duy Khánh.

Do không đạt thành ý nguyện, Băng Châu về lại quê nhà. Để khoảng trống vắng cho Duy Khánh. Anh đã viết bài hát Đêm Bơ Vơ:

XUÂN ơi XUÂN, XUÂN ơi XUÂN đã đi rồi 

Đành lòng sao em ra đi không nói một câu 

Đêm bơ vơ thương ai đêm đợi đêm chờ 

Anh xa em, xa em anh nhớ từng đêm

Anh xa em như chim xa biệt cây rừng,

MAI em về, MAI về MAI nhé em !

Duy Khánh muốn gởi nỗi niềm đợi chờ, cô đơn và mong gặp lại XUÂN MAI, là tên thật của Băng Châu.

Khoảng năm 80, sau khi chia tay Túy Hồng, Lam Phương muốn quên đi nỗi buồn tình duyên tan vỡ sau 20 năm gắn bó, Ông dọn sang Paris để sống. mà Ông gọi là đi tị nạn ái tình. Làm quản lý nhà hàng Như Ánh của cô em út. Đêm về còn tổ chức ca hát cho vơi bớt nỗi nhớ cây đàn và sân khấu. Ông vui được tái ngộ nhiều bạn bè, người hâm mộ. Trong đó, đáng nói nhất là cuộc gặp gỡ định mệnh với Cẩm Hường. Thế rồi tình cảm luyến lưu, gắn bó dạt dào, họ đi đến sống chung. Những ngày tháng vui say sau thời gian dài trầm uất đau thương ở  Mỹ, Lam Phương như người chết đi sống lại, yêu thương đắm đuối, sáng tác hàng chục ca khúc diễm tình hoa mộng với người bạn đời xinh đẹp. Mùa Thu Yêu Đương là một trong số đó: 

Anh muốn đôi ta mãi như người tình.

Vui đời hẹn hò 

Khi trên dòng suối 

Khi trên đồi nguồn. 

Nửa đêm thanh vắng dìu đến công viên. 

Đôi trẻ lạc loài trên xác lá vàng 

Mùa thu yêu đương 

Đường vào Paris

Có lắm nụ hồng 

Có tiếng thì thầm 

Nhưng anh chẳng cần 

Mình sống cho nhau. 

Vượt lòng đại dương 

Mình gặp lại đây sau cơn khát dài thương nhớ bao ngày 

Tình yêu trong tay

Mùa thu ơi 

Paris dệt mộng tình si

Khi nghe người đi vào đời 

Thấy lòng như bớt đơn côi 

Bờ môi em là nguồn tin yêu đắm đuối 

Ngày thuyền tình về bến mới 

Ta sẽ cho nhau niềm yêu tuyệt vời 

Anh ước mai sau cũng như ngày đầu 

Thương lời ngọt ngào 

Đưa anh vượt khỏi cơn đau ngày nào 

Mùa thu thay lá mùa nối tơ duyên 

Anh nguyện một đời tình ta mãi là 

Mùa thu yêu đương.

Ông thổ lộ: Hơn 10 năm sống với Cẩm Hường là những ngày tuyệt vời như thần tiên lên ngôi: 

Từ ngày có em về 

Nhà mình toàn ánh trăng thề

Dòng nhạc tình đang tắt lâu 

Tuôn trào ngọt ngào như dòng suối 

Nói về Cẩm Hường, Ông từng trả lời trong một lần phỏng vấn: Cổ đẹp, lại sống đôn hậu, chân thật, nghĩa tình, một nàng thơ đúng nghĩa, không hề ỷ cái nhan sắc đó để đòi hỏi nọ kia. Ngược lại, mình đang đầy mặc cảm, thất thế, mất niềm tin cả vào cái mà người đời cho mình có là tài năng, vậy mà cổ đã gầy lại mọi niềm tin cho mình, đúng là một cuộc “phục sinh”.

* Theo nhacxua.com, Lam Phương từng chia sẻ: 

“Dù xa cách cả 15 năm nay, nhưng hình bóng Paris vẫn còn trong tâm trí. Tôi xin cảm ơn một người đã cho tôi nhiều ước mơ để sống, và nhiều cảm hứng để viết dòng nhạc mà cuộc đời tôi khó quên. Và cảm ơn thành phố Paris đã cho tôi những đêm rất đẹp trong cuộc đời này tôi khó tìm lại được.

* Phóng viên Ngọc Lan thuật lại trong báo Người Việt Xuân Mậu Tuất: Nhạc Sĩ Lam Phương nói rằng: Đào hoa là do hoàn cảnh đưa tới.

Ông cho biết: “Cô Cẩm Hường đẹp lắm, đẹp số 1 đó, từng là hoa hậu bên Pháp mà. Chú viết cho “bà” đó mấy chục bài lận. “Từ Ngày Có Em Về”, ‘Anh muốn đôi ta mãi như người tình’ trong bài Mùa Thu Yêu Đương đó, ‘Bài Tango Cho Em’, nhiều lắm”.

Chú quen “bà” này mười năm ở Pháp, khi cổ đang có chồng, lúc chú từ Mỹ mới qua, gặp cải là cổ bỏ chồng luôn. Mà cổ đẹp lắm”.

Người em rễ ở bên cạnh chăm sóc Lam Phương , kể thêm: “Cô Cẩm Hường đẹp lắm, nói chuyện dễ thương lắm, chỉ nụ cười thôi là thấy chết rồi. Lúc đó cô Khánh Ly qua Pháp nhìn thấy cô này, chạy về “méc” cô Túy Hồng, cô Túy Hồng mua vé máy bay qua coi mặt liền”, người em rễ tiết lộ chuyện xưa. 

Nghe em kể, Lam Phương vội thêm vào: “Nhưng qua làm được gì nữa, vì lỗi bả trước, không phải lỗi chú. Mà lúc đó cũng thôi rồi”.

Trong suốt cuộc đời thăng trầm trôi nổi, Lam Phương có rất nhiều mối tình. Ông nói: “Đào hoa là do hoàn cảnh đưa tới thôi, chứ mình có muốn cũng không được. Trời cho mình tâm hồn như vây. Trời cho đào hoa quá và giờ cũng cho luôn chiếc xe lăn ngồi một mình”.

2. MAI TÔI ĐI

Mai tôi đi chắc Paris trời mưa 

Tôi chắc trời mưa mau

Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội 

Nhưng chậm thế nào cũng phải xa nhau…

Mai tôi đi chắc Paris sẽ buồn 

Paris sẽ nhìn theo

Nhưng nhìn thì nhìn đời trăm nghìn góc phố 

Con đường dài thẳng mãi có bao nhiêu 

Mai tôi đi dù hôm nay đang vào thu

Giòng sông Seine đang mặc áo sương mù 

Đang nhìn tôi mà khoe nước biếc

Khoe lá vàng lộng lẫy lối đi xưa

Dù hôm nay giữa một ngày tháng 7

Chiếc tháp ngà đang ướt rũ mưa ngâu

Sông Seine về chân đang bước xô nhau

Sẽ vịn ai cho đều giòng nước chảy.

(Bài Paris của Nguyên Sa)

Mai tôi đi, chắc trời giăng mưa lũ 

Mưa thì mưa, chắc tôi không bước vội 

Nhưng chậm thế nào thì cũng sẽ xa nhau 

Mình cũng sẽ xa nhau

Mai tôi đi, chắc rằng sông Seine khóc 

Nhưng lệ rơi sẽ khô theo tháng ngày 

Cho dù cách nào thì cũng sẽ xa nhau

Mình cũng sẽ xa nhau

Mai tôi đi xin đừng nhìn theo, xin đừng đợi chờ 

Đời trăm muôn góc phố con đường dài thật dài 

Thẳng mãi có bao nhiêu thẳng mãi có bao nhiêu 

Mai tôi đi, xin đừng gọi tên thêm nhiều muộn phiền 

Dù môi kêu đắm đuối hay một trời ngậm ngùi 

Cũng đành lòng xa thôi cũng đành lòng xa thôi 

Mai tôi đi, chắc rằng Paris nhớ 

Nhưng dù sao, nhớ nhung rồi sẽ mờ 

Muôn vạn ưu sầu rồi cũng sẽ xa nhau

Mình cũng sẽ xa nhau

(Anh Bằng phổ thơ Nguyên Sa)

Paris với những kỳ quan nổi tiếng: Tháp Eiffel, Viện Bảo Tàng Louvre, Nhà Thờ Đức Bà Notre-Dame, Dòng sông Seine, Vườn Luxembourg…từ lâu đã là chốn mơ ước của biết bao nhiêu người.

Với tâm hồn thi ca dạt dào lãng mạn, sau 7 năm dùi mài kinh sử ở đó, Nguyên Sa cũng yêu mến Paris tột cùng. Chính vì vậy mà trước khi từ biệt kinh thành ánh sáng, Ông đã làm 3 thi phẩm đầy nỗi niềm lưu luyến: Tiễn Biệt, Paris và Paris Có Gì Lạ Không Em.

Bài thơ được sáng tác năm 1954, trước khi Nguyên Sa giả từ Paris về lại quê hương, nhưng không phải là Hà Nội của thời niên thiếu, mà là Saigon như hơn một triệu đồng bào bỏ nhà bỏ cửa di cư vào Nam để cùng ghé bến Saigon, tìm kiếm vùng trời tự do. Trong bối cảnh đó, Ông không khỏi ngậm ngùi, ngập tràn cảm xúc khi sắp ly biệt Paris, nơi Ông và người yêu để lại biết bao kỷ niệm đong đầy. Đây là cuộc hồi hương với ước vọng đóng góp bàn tay dựng xây đất nước, coi như nghìn trùng xa cách, chẳng mong ngày gặp lại, cho nên Ông đau đớn võ vàng, xót xa khắc khoải. Dẫu trời Paris có giăng mây xám, ai đó níu kéo Ông cố nấn ná bước chậm, nhưng rồi cũng không được gì, không thể tránh khỏi, đành lòng xa thôi. Cho dù Paris có đổ mưa ngâu, u buồn vì tạ từ xa cách, dòng sông Seine có bịn rịn chia tay, tháp Eiffel có ủ rũ tiễn đưa, thì cũng không ngăn nỗi bước chinh nhân của nhà thơ yêu nước. 

* “Nguyên Sa: Lời Thơ Ý Nhạc”, Vương Trùng Dương:

“Những bài thơ của Nguyên Sa thay cho dòng thư, lời tự tình của giới trẻ và sau này được phổ thành nhiều ca khúc rất quen thuộc.

Thơ Nguyên Sa ấn hành vào năm 1957, được mọi người đón nhận, như món quà trân quý cho thời kỳ chuyển hướng trong thi ca. Hồn thơ Nguyên Sa xâm nhập vào cửa sổ, sân trường, cặp sách, trang vở học trò, là nỗi niềm tâm sự, là nhịp cầu nối kết thương yêu, là lời bày tỏ chất chứa khát khao, ước vọng của trái tim đang mong mỏi về hình ảnh muốn thổ lộ tình cảm cho nhau”

* Lời nhận định của nhà báo Mặc Lâm (RFA): “Thơ Nguyên Sa nhanh chóng tràn vào từng lớp học, nơi trái tim học trò đập những nhịp điệu đầu tiên của tình yêu. Nguyên Sa yêu và chia sẻ cách yêu của mình qua kinh nghiệm một chàng trai có những thời khắc tuyệt vời tại Pháp, thủ đô của tình yêu trai gái, thủ đô của những dòng thơ trác tuyệt từng một thời là bệ phóng cho hàng trăm thi tài thế giới.

Nguyên Sa đem cái hồn phách của châu Âu về Saigon và nhanh chóng chiếm trọn sự cổ vũ nồng nhiệt của sinh viên học sinh. Ông đem ánh đèn vàng Paris nơi có những nhà ga là nguồn cảm hứng vô tận cho những cuộc chia tay. Ông mang hơi hám của sông Seine về lại Saigon, nơi mà nhiều thế hệ thanh niên chịu ảnh hưởng nền văn hóa Pháp”.

* “Nguyên Sa và Tình Ca Ngô Thụy Miên”, 4.98:

Tác giả Mùa Thu Cho Em viết: Những năm 60, 70, bọn trẻ chúng tôi trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, có ai không mơ một ngày được đặt chân đến Paris, được cùng người yêu dạo chơi phố phường hay lang thang bên bờ sông Seine nhớ tới một cuộc tình. Paris như nơi chốn kêu gọi tìm về nẻo ý.

Ngô Thụy Miên kể lại: Năm 74, lần đầu tiên nói chuyện với Nguyên Sa, Nhà Thơ rất giản dị, dáng dấp xuề xòa. Ông rất vui khi biết tôi phổ thơ Ông. Trong những tháng ngày đầu ở Cali, mặc dù bận rộn với đời sống mới, tôi vẫn tiếp tục sáng tác, phổ cả bài thơ Paris của Nguyên Sa. Với tôi, Paris lúc đó chính là Saigon, Saigon của những nỗi nhớ muộn màng, những mất mát khôn nguôi. Tôi mượn thơ Ông để gởi gắm tâm sự mình. Tôi biết khi tôi đi Saigon đã buồn, và Saigon đã nhìn theo. 

Năm 81, sau khi về cư ngụ tại Seatle, trong nỗi nhớ những con đường, những hàng quán thân quen của Saigon ngày nào, cùng với ám ảnh thương yêu về Áo Lụa Hà Đông, về Paris của một thời, tôi đã viết bài Nắng Paris Nắng Saigon:

Tôi đi giữa Paris mà nhớ thương Saigon

Nắng Saigon hôm nao dìu bước chân em

Qua phố phường vào phố chợ thân quen

Năm 98, một người bạn gọi phone hỏi: “Ông có biết nhà thơ Nguyên Sa vừa qua đời chưa”? Nhạc Sĩ họ Ngô thẩn thờ, bàng hoàng rồi thầm nhủ với chính mình: “Thôi cái thời tuổi trẻ mộng mơ, yêu đương nồng nàn ngày nào đã thực sự không còn nữa, không còn nữa những lụa là mưa nắng Saigon, cũng không còn nữa Paris, người tình và giòng sông Seine với những vòng tay ôm, những môi hôn vội vã…Người đạo diễn đã bỏ cuộc chơi, bọn tài tử chúng tôi ở lại còn gì để bàn chuyện thu phong, còn gì để làm dáng với đời…

* Mai Thảo nhận định: Nguyên Sa hồi hương đã đi ngay vào thơ trên lối vào rực rỡ sinh động nhất của thơ lúc bấy giờ. Trong mấy chục năm rồi, cái anh chàng lệu bệu tròn hoay về từ Paris và ra sân với chúng tôi ngày nào đã là tay đua đường trường ngoại hạng: Đó là một Nguyên Sa marathon.

3. MÙA THU PARIS

Mùa thu Paris

Trời buốt ra đi 

Hẹn em quán nhỏ 

Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa

Phố cũ hè xưa 

Công trường lá đổ 

Ngóng em kiên khổ phút giờ 

Mùa thu âm thầm 

Bên vườn Lục Xâm 

Ngồi quen ghế đá 

Không em buốt giá từ tâm 

Mùa thu nơi đâu?

Người em mắt nâu 

Mắt vàng sợi nhỏ 

Mong em chín đỏ trái sầu 

Mùa thu Paris 

Tràn dâng đôi mi

Người em gác trọ 

Sang anh, gót nhỏ thầm thì 

Mùa thu không lời 

Son nhạt đôi môi 

Em buồn trở lại

Hờn quên, hối cải cuộc đời  

Mùa thu ! Mùa thu

Mây trời âm u 

Yêu người độ lượng 

Trông em, tâm tưởng giam tù 

Mùa thu !…Trời ơi ! Tình thu !

Cung Trầm Tưởng học Trường Kỹ Sư Không Quân ở Salon-de-Provenec (Pháp) từ 1952 – 57. 

1962: du học Hoa Kỳ, đậu Tiến Sĩ Khí Tượng Học 

Trở về Việt Nam phục vu binh chủng không quân.

Xuất bản gần 10 tác phẩm.

* “Lục Bát Cung Trầm Tưởng, một đóng góp lớn cho văn học”, Du Tử Lê:

Giữa thập niên 90, những buổi ra mắt sách ở quán cà phê Tao Nhân, đường Westminster, Cali, Nhà Văn Mai Thảo đã làm một so sánh chói gắt về sự xuất hiện của tác giả thi phẩm được giới thiệu trong đêm, vốn nổi tiếng rất sớm, trong sinh hoạt văn chương miền Nam. Ông nói rằng, vào những năm cuối thập niên 50, có 2 tiếng thơ đã tạo chấn động vang dội, ngay từ những bài thơ thứ nhất.

Đa số người khi nghe Cung Trầm Tưởng liền liên tưởng tới thơ bốn, năm chữ và lục bát của họ Cung.

Đó là thời điểm Cung Trầm Tưởng “đánh cắp” tất cả mọi ngọn đèn rực rỡ nhất của tiền trường sân khấu thi ca. Mọi ngợi khen cổ võ đổ dồn về ông, như nước chảy róc rách về chỗ trũng. Cùng lúc, hiện tượng hay phong trào khát khao có một lần được thấy “mùa thu Paris” trở thành cơn sốt trên 40°C trong tâm tưởng nhiều người trẻ.

Hay nguyện ước cuối cùng trước khi nhắm mắt, không chỉ của giới trẻ, mà của rất nhiều văn nghệ sĩ thời đó là một lần được đứng dưới những ngọn đèn vàng ở ga Lyon, được thấy sông Seine (thơ Nguyên Sa), hay được đặt chân vào một quán rượu Paris khi thành đô này qua thơ của nhị vị thi sĩ trở thành niềm mơ ước khôn cùng. Paris càng quyến rũ hơn nữa khi ca khúc Tiễn Em phổ cập quần chúng:

Lên xe tiễn em đi 

Chưa bao giờ buồn thế 

Trời mùa đông Paris 

Suốt đời làm chia ly 

Tiễn em về xứ mẹ 

Anh nói bằng tiếng hôn 

Không còn gi lâu hơn 

Một trăm ngày xa cách 

Ga Lyon đèn vàng 

Tuyết rơi buồn mênh mang 

Cầm tay anh muốn khóc

Nói chi cũng muộn màng 

Nhưng với giới văn học miền Nam thời đó, đỉnh điểm tài hoa qua thi ca Cung Trầm Tưởng vẫn là những bài thơ lục bát.

Mai Thảo từng nói: “Anh em sáng tạo thích lục bát Cung Trầm Tưởng lắm, dù nó chỉ làm được ít bài rồi thôi. Chúng tôi thích lục bát của nó óng ả, mượt mà như nhung lụa vậy”.

Quả thế, Du Tử Lê nghĩ: Lục bát Cung Trầm Tưởng đã đóng góp lớn cho văn học miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

* “Mùa Thu Paris – Cung Trầm Tưởng và Tiễn Em – Phạm Duy”, bacsiletrungngan.wordpress.com, 7.9.13

“Ngôn ngữ trong bài thơ không phải mới lạ hay phá cách để nổi tiếng, lại được giới trẻ đón nhận thich thú vì một chi tiết trước đó chưa hề xảy ra:

– Một chàng thanh niên Việt Nam du học bên Pháp có người yêu với tóc vàng mắt xanh…Tình cảm đậm đà, sum họp lẫn cách xa. Những cuộc chia tay trên ga vắng đã thi vị hóa câu chuyện để nó trở thành mode mới trong đời sống thanh niên thời bấy giờ.

Cung Trầm Tưởng chia sẻ kinh nghiệm về làm thơ:

“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là sự thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút. Tất cả tóc vàng mắt xanh đều có thật. Thời đó tôi học trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con. Đã thẩm nhuần ngôn ngữ và văn hóa Pháp trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm gì. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng đáng giá là những kỷ niệm đầu đời”.

Những sân ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp đã từng chứng kiến biết bao lần chia tay trước đó, lại một lần nữa nhìn ngắm mối tình giữa chàng trai đất nước bị trị và cô gái tóc vàng, đại diện cho văn hóa và nếp sống phương Tây. Từ đây trong hơi thở rẽ chia ấy, bắt đầu một thấm đượm khác nối liền hai bờ đại dương. Ước mơ vói ra ngoài, một trằn trọc mới đối với hàng triệu thanh niên Saigon thời bấy giờ.

* “Mùa Thu và Paris”, Xuân Phương, bienkhoi.com, số 40, 10.08

Hai nơi chốn mà du khách không thể bỏ qua khi tới Paris, đó là giòng sông Seine và vườn Luxembourg:

   –  Sông Seine: với một đoạn dài chừng 13 km chảy chầm chậm qua trung tâm Paris, giòng sông Seine như dải lụa trắng lấp lánh bạc, chia thành phố làm 2 phần: Hữu ngạn ở phía bắc là khu vực văn phòng làm việc, nhà máy, cửa hàng thời trang. Tả ngạn về phía nam, nhỏ hon, là trung tâm sinh hoạt của giới văn nghệ sĩ và sinh viên. Sông Seine như trái tim của Paris vì hầu hết các công trình kiến trúc trứ danh của thủ đô đều tập trung dọc hai bên bờ.

Sông Seine là giòng sông của đôi lứa. Những cặp tình nhân từ hằng trăm năm vẫn đến nơi đây. Mùa thu là thời gian lý tưởng để đi dạo dọc theo sông Seine, thưởng thức vẻ đẹp của mùa lá rụng.

   – Vườn Luxembourg: là địa điểm thu hút sinh viên, cư dân Pháp và luôn cả du khách. Nổi tiếng của vườn là con đường chính, hai bên sừng sững những cây hạt dẻ um tùm cao vút, tàn lá che mát. Đó là con đường của các thi nhân. Dưới bóng những hàng cây này, có không biết bao nhiêu thi sĩ của nhiều thế hệ đã đến đây tản bộ tìm ý, tìm vần…

Vườn Luxembourg mùa thu đẹp hơn bao giờ hết, nắng hanh nhè nhẹ xuyên qua những tàn lá đã ngã vàng, soi bóng xuống mặt nước hồ.

Kỷ niệm khó quên của họ Cung không chỉ là những lúc ngồi quen ghế đá trong vườn Luxembourg, không có em để lạnh buốt tâm can. Mà còn là những giờ ngồi đợi em kiên nhẫn đếm từng giây từng phút. Cũng có những dịp sang phòng trọ của anh đôi gót nhỏ thầm thì hay những khi hẹn nhau nơi quán nhỏ, để màu rượu chát đỏ rưng rưng, sóng sánh tràn ly.

Chỉ lúc về đêm mới lột tả hết vẻ đẹp Paris. Thành phố bừng lên với muôn vàn đèn xe rực rỡ di chuyển trên đường. Đèn của cửa tiệm, nhà hàng sáng trưng, lung linh như muôn vì sao lấp lánh giữa bầu trời.

* “Ngộ Không: Tác Giả Tác Phẩm – Cung Trầm Tưởng”, T.VẤN & Bạn Hữu, T.van.net

Cung Trầm Tưởng trả lời cuộc phỏng vấn của Viethome Magazine vào mùa Phục Sinh 2011:

Trong thời gian bị tù 10 năm vì bản thân là Trung Tá Không Quân và là nhà thơ lãng mạn của miền Nam, Cung Trầm Tưởng vẫn làm thơ phản kháng và chống phản kháng quyết liệt. Viethome hỏi nhà thơ: Thi Sĩ bất chấp hiểm nguy?

– Vâng. Sự thúc giục của nàng thơ và của lương tri đã lấn át được nỗi sơ hãi tiềm ẩn trong tôi. Nhờ vào sự bảo mật và cảnh giác tối đa của các bạn tù yêu thơ tôi và của chính bản thân mình, cọng thêm may mắn, tôi đã lọt qua được sự kiểm soát chặt chẽ của bọn cai tù cùng sự dòm ngó hiểu kỳ của lũ ăng ten. Nếu không, chắc tôi chỉ còn là một nắm xương khô nằm ở nơi đèo heo hút gió nào đó của Hoàng Liên Sơn. Hai trường hợp cưu mang thật cảm động:

   • Hiền thê một bạn tù khi đến thăm chồng đã cất giấu thơ tôi trong cuốn băng vệ sinh tùy thân của chị và mang nó an toàn ra khỏi trại giam để trao lại cho vợ con tôi.

   • Một bạn tù khác đã chong đèn suốt mấy đêm liền trước khi rời Việt Nam để học thuộc lòng trên 1.000 câu thơ của tôi, rồi ngồi chép lại khi tới được bến bờ tự do. Nếu không có sự giúp đỡ tự nguyện và chu đáo của bộ nhớ siêu việt ấy, tập tâm sử thi Bài Ca Níu Quan Tài của tôi đã không thể ra mắt ở hải ngoại dưới dạng vẹn toàn của nó được. 

4. EM QUÊN THÁNG 8 KHÚC SCHUBERT…


Ngày em đi hứa về tháng 8

Cùng tôi thăm Nhà Hát Con Sò

Mây giăng mù mịt Harbour Bridge

Che mất lối em đã hẹn hò 

Chiếc ghế hiên vườn Botanic

Hồn trơ phế tích chỗ em ngồi 

Lá hoang chen chúc đường mưa tới 

Trôi bềnh bồng theo bước chân tôi

Nụ môi còn đọng trong lòng đá 

Là giấu riêng tôi bóng một người 

Mà em quên nhớ về tháng 8

Thì buồn nào cũng giống nhau thôi 

Dù em có thêm lần thất hứa 

Tôi vẫn dài chân đứng đợi chờ 

Nhà Hát Con Sò còn biết nhớ 

Em quên tháng 8 khúc Schubert…

Hư Vô

Theo wiki, “Dạ khúc Serenade là nhạc khúc thứ tư trong quyển 1 bộ Bài Ca Thiên Nga của nhạc sĩ thiên tài người Áo Franz Schubert để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà Ông thầm yêu trộm nhớ. Ở Châu Âu ngay từ thời trung cổ các chàng trai thường tỏ tình bằng âm nhạc, ban đêm đứng dưới cửa lầu “người đẹp” tự đàn hát. Những bài nhạc lãng mạn này gọi là serenade.

Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ người bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng buổi biểu diễn độc đáo. Thế nhưng Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái đem lòng yêu chính chàng ca sĩ chứ không dành trái tim cho Schubert. 

Lời ca dịu dàng réo rắt, giúp người nghe quên hết mọi ưu phiền. “Dạ khúc” nhạc chiều với giai điệu buồn da diết đã khiến cả nhân loại thổn thức. Con người bình dị này đã miệt mài sáng tạo trong suốt cuộc đời ngắn ngủi, để lại kho tàng âm nhạc cổ điển đồ sộ cho thế giới. 

Bản dịch Dạ Khúc Serenade từ lời tiếng Đức: 

Đêm khuya vẳng tiếng anh hát thầm thì, dưới vòm cây tĩnh lặng. Đến đây hỡi người ! Gió đùa lá xào xạc dưới trăng; đừng sợ chi kẻ phản trắc rình rập đâu đó. Em nghe chăng tiếng họa mi vang rền. Chúng gọi em đấy, chúng chuyển lời của anh cho em, vì chúng hiểu nỗi khắc khoải con tim, nỗi đau tình si. Giọng hót vang của chúng làm mỗi trái tim nồng nàn bớt thổn thức. Người yêu hỡi, em hãy để cho tiếng chim ca trong tim…Anh đang run rẫy, bồi hồi chờ em nơi đây. Đến đây chúc mừng anh !

Phạm Duy soạn ra lời Việt:

Đợi chờ em, trong màn đêm quạnh văng 

Muôn tiếng thanh âm cung đàn ngân… 

Mượn làn gió, mang về bên lầu vắng…Nơi xa réo rắt câu tình ta 

Hòa trong tiếng chim muông đang thầm thì…

Chim còn ríu rít đê mê 

Như lời anh nói thầm thì 

Và bên ấy…Vang trong đêm vọng về bao lời đắm đuối say mê 

Của người tha thiết tình si

Xào xạc tiếng gió lùa trên cành lá. Gió hát như tim anh rộn vang

Thì xin làn gió nhân gởi tâm sự đến nơi xa

Em hay chăng tình ta?

Và khi vẳng nghe chim muông rộn ràng, nghe lời gió hát mênh mang 

Đấy lời anh tiếng than van

Đừng e ấp, nói với nhau bao lời…Tim nồng chan chứa hân hoan 

Yêu người mãi với thời gian 

Lòng này muôn kiếp sẽ yêu người 

Thề nguyền mãi không rời…

Nhé…khi đã yêu ai rồi yêu suốt đời…

Nơi này anh mãi mong chờ…Mong chờ em mãi, người ơi. 

Qua bài thơ, thi sĩ Hư Vô như muốn mượn dạ khúc Schubert để nhắn với người tình khi nàng bỏ quên lời ước hẹn gặp lại nhau vào tháng 8 ở Nhà Hát Con Sò, chốn thiên đường cho những cặp tình nhân của vùng trời Sydney thơ mộng. Trong tận cõi tình si độ lượng khoan dung, nhà thơ vẫn hiền từ như Schubert, dùng lời lẽ năn nỉ chân thành tự con tim, không một chút oán trách giận hờn, cho dù bị lỡ làng thất hứa, chàng vẫn ngày đêm khắc khoải đợi chờ…một ngày tái ngộ.

Hư Vô là tên tuổi có tiếng tăm trong giới thi ca vùng nam bán cầu. Tuy hành nghề kiến trúc sư, nhưng Anh lại đam mê nàng thơ từ thuở mới vào Trung học. 18 tuổi đã ra mắt tập thơ đầu tại Saigon trước 1975. Sau đó còn xuất bản thi phẩm khác và đứng tên chung trong vài tuyển tập với các nhà thơ hàng đầu Úc châu.

Từng phụ trách trang thơ Báo Việt Luận suốt hơn mười năm. Sáng tắc 400 bài, trong đó được phổ nhạc gần cả 100 ca khúc qua tiếng hát của nhiều ca sĩ nổi tiếng ở hải ngoại. 

Chủ Biên website Hành Trình Văn Học Nghệ Thuật với những tiết mục thơ văn chọn lọc, đáng được bạn đọc tham khảo.

5. SYDNEY VỀ ĐÊM 

Sydney có dân số chừng 5 triệu rưỡi người. Là một trong những thành phố đẹp tuyệt vời và đáng sống nhất của thế giới.

Cũng như Little Saigon của Cali, Cabramatta được mệnh danh là thủ đô của người Việt tại Úc châu với hơn 4 vạn cư dân Việt Nam đang sinh sống tại đây. Chính vì vậy mà báo chị Úc còn gọi nơi này là Saigonmatta hay Vietnamatta. Thủ phủ của người Việt tị nạn này được ca ngợi về sự thành công thương mại của người Việt trong xã hội đa văn hóa Úc châu.

Tới Sydney, không thể bỏ quên Nhà Hát Con Sò (Opera House) và chiếc Cầu Cảng Sydney.

* Nhà Hát Opera Sydney là công trình nhà hát tại thành phố Sydney, với kiến trúc độc đáo hình con sò hay những cánh buồm no gió ra khơi của thuyền trưởng James Cook thuở xưa, bên trong là nhiều nhà hát và kịch nghệ. Đây là kỳ quan độc nhất vô nhị của thế giới, do kiến trúc sư Jorn Utzon thiết kể. Khánh thành năm 1973. địa điểm du lịch hàng đầu của Úc, hằng năm thu hút hơn 8 triệu khách viếng thăm. 

Theo BBC (Vietnamese.com), Chủ Tịch Quỹ Nhà Hát Con Sò Kim Williams: “Ông Jorn Utzon là tài năng về kiến trúc và sáng tạo, người đã mang lại món quà tuyệt vời cho nước Úc và thế giới”.

Nhà Hát Con Sò là biểu tượng của bản sắc văn hóa quốc gia, là niềm tự hào lớn lao cho tất cả người dân Úc.

Năm 2003, Utzon được giải thưởng  Pritzker (Nobel của ngành kiến trúc), để tôn vinh cho công trình Nhà Hát Con Sò.

* Cầu Sydney Harbour (Cầu Cảng Sydney); bắc qua cảng Sydney. Cũng như Nhà Hát Con Sò, Cầu Cảng Sydney là hình ảnh biểu tượng cho Sydney và nước Úc, do kiến trúc vòm cao nhất thế giới, 134 m, từ đỉnh cầu xuống mực nước sông. Cầu dài 1149 m, rộng 49 m.

Du khách có thể mạo hiểm leo cầu để trải nghiệm cảm giác hồi hộp và hào hứng. Lên đến đỉnh họ có thế nhìn bao quát khung cảnh thành phố  với những tòa nhà vươn cao, Nhà Hát Con Sò xinh đẹp quyến rũ, biển xanh êm ả yên bình.

Một đêm trăng thượng tuần, bầu trời Sydney tỏa sáng vằng vặc, nhiều lữ khách nhàn du quanh Darling Harbour. Dường như họ muốn tới chốn này hít thở không khí trong lành của khung cảnh ấm áp đầu mùa hạ. Gió mát rười rượi từ cửa biển thổi vào. Biết bao cặp tình nhân hay vợ chồng tay trong tay lượn lờ trên bến nước

Những hình ảnh quyến rũ thơ mộng làm sao. Nào có thua chi chốn bồng lai tiên cảnh của Lưu Thần Nguyễn Triệu thuở xưa.

Dọc theo những con đường từ ngõ vào Harbour đến tận Nhà Hát Con Sò có nhiều dãy ghế đá công viên. Hằng chục đôi nam thanh nữ tú cận kề bên nhau tâm sự vơi đầy. Văng vẳng giọng ngâm nga tha thiết đậm đà của một người thơ với bài Sydney Về Đêm. Quanh chỗ đó, thấy nhiều viễn khách đứng lại lắng nghe. Có thể đây là lần đầu tiên họ được thưởng thức thơ về Sydney trong màn đêm thanh tịnh:

Cầu Sydney Harbour

Ngồi nghe em đọc thơ

Tưởng chừng như trẻ lại 

Yêu đến độ dại khờ 

Trời Sydney về đêm

Càng ngắm càng thích thêm

Đẹp cho đời tình ái 

Nghe lòng thật ấm êm

Thuyền ai nhè nhẹ trôi

Xa xa mấy dãy đồi 

Sao trên trời lấp lánh 

Chia mừng chuyện lứa đôi 

Kia Nhà Hát Con Sò 

Ước gì ai dẫn cho

Hai đứa mình đến đó 

Chung vui cuộc hẹn hò 

Nhìn tàu chạy trên cao

Mà lòng thấy xôn xao 

Những vẫy chào đưa tiễn 

Cảnh ly biệt nghẹn ngào 

Bao nhiêu dãy nhà lầu 

Chẳng màng chuyện bể dâu

Vẫn kiêu kỳ lộng lẫy 

Như tình ta thâm sâu 

Lâu rồi mới lên đây

Ngồi ngắm nhìn trời mây 

Nửa vầng trăng mờ ảo 

Ru hồn trong đắm say

Đêm về ở Sydney 

Đứng bên nhau thầm thì 

Như lạc vào tiên cảnh 

Đời dễ có mấy khi

Phạm Văn Duyệt 

Đang say sưa với vần thơ lai láng giữa đêm trăng. Người con gái nhẹ nhàng cầm tay tình quân chỉ về hướng sân ga có chiếc tàu vừa đổ khách. Gợi nhớ cảnh đưa tiễn ở những sân ga hoang vắng quạnh hiu thuở nào. Rồi cao hứng, nàng đọc bài Những Bóng Người Trên Sân Ga. Giọng ngọt ngào trầm bỗng càng lôi cuốn thêm người thưởng ngoạn.

Những cuộc chia lìa khởi sự đây

Cây đàn sum họp đứt từng dây 

Những đời phiêu bạc thân đơn chiếc 

Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày 

Có lần tôi thấy hai cô bé 

Sát má vào nhau khóc sụt sùi 

Hai bóng chung lưng thành một bóng 

Đường về nhà chị chắc xa xôi 

Có lần tôi thấy một người yêu

Tiễn một người yêu một buổi chiều 

Ở một ga nào xa vắng lắm 

Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu 

Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau

Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu

Họ giục nhau về ba bốn bận 

Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu 

Có lần tôi thấy vợ chồng ai

Thèn thẹn đưa tay bóng chạy dài

Chị mở khăn trầu anh thắt lại

“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi !”

Có lần tôi thấy một bà già 

Đưa tiễn con đi trấn ải xa

Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng 

Lưng còng đổ xuống bóng sân ga

Có lần tôi thấy một người đi

Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì

Chân bước hững hờ theo bóng lẽ 

Một mình làm cả cuộc phân ly

Những chiếc khăn màu thổn thức bay

Những bàn tay vẫy những bàn tay

Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt 

Buồn ở đâu hơn ở chốn này 

Tôi đã từng chờ những chuyến xe

Đã từng đưa đón kẻ đi về 

Sao nhà ga ấy sân ga ấy

Chỉ để cho lòng giấu biệt ly

Nguyễn Bính 

Không để trống thì giờ, chàng thanh niên kể cho người bạn đường vài chuyện buồn vui của thi nhân. Đáng thương nhất là hoàn cảnh nghèo nàn túng quẩn của Thi Sĩ Tản Đà, người một thời từng được mệnh danh là chủ súy làng thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Ông để lại câu chuyện bi hài: Phụ trách trang thơ Báo Thần Chung của Luật Sư Diệp Văn Kỳ, Nhà Thơ núi Tản sông Đà phải nộp bài mỗi tuần. Nhưng một dạo nọ, do say sưa túy lúy, Ông quên mất nhiệm vụ này. Đã quá trể, Chủ Báo cho người tới nhắc nhở thì Ông nổi nóng quát tháo: “làm thơ chứ đâu dễ như bữa củi mà đòi phải có liền”. 

Tới đây cũng gần 10 giờ đêm. Còn phải sánh bước chung đôi một vòng hướng về Opera House với muôn ánh đèn màu nhấp nhánh lung linh, họ đành từ giả khách thơ qua một lần tình cờ gặp gỡ. Không có đủ thời gian chuyện trò thêm về thi ca với những người hâm mộ đang ngoạn cảnh Sydney về đêm.

6. ĐÊM, NHỚ TRĂNG SAIGON


Du Tử Lê (1942 – 2019): 77 năm cuộc đời, 77 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, tùy bút, trường ca.  Thành công nhất là thi ca. Một số đại học Mỹ đưa vào giảng dạy cho sinh viên. Hai nhật báo lớn ở Mỹ là New York Times và Los Angeles Times cũng từng đăng thơ ông. Khoảng 300 nhạc phẩm được phổ hay lấy ý từ thơ Du Tử Lê. Ông thường chắt lọc về từ ngữ và sử dụng những dấu chấm (.), phết (,) hay gạch chéo  (/) như muốn thể hiện cách tân về thi ca. Điều này đưa thơ ông gần với giới trí thức hơn là tầng lớp bình dân.

Nhà Văn Đỗ Trường nhận xét: “thơ họ Lê hay lạm dụng thủ pháp kỹ thuật, dường như bài nào cũng chuẩn bị sẵn cho một ca khúc, thành ra không thoát khỏi sự gò ý, từ ngữ và câu thơ trở nên tối nghĩa, làm mất đi cái cảm xúc ban đầu của tác giả”.

Về điểm này, trong lần phỏng vấn của nhà văn Cổ Ngư, Du Tử Lê đã trả lời:

– Cổ Ngư: Vì thấy thơ Du Tử Lê được phổ nhạc nhiều, nên không ít người đã đặt câu hỏi: khi sáng tác một bài thơ, thi sĩ có “chuẩn bị” âm, vần, nhịp điệu…để bài thơ có thể biến thành ca khúc trong tương lai không?

– Du Tử Lê: Chắc chắn là không ! Vì nếu tôi có sự chuẩn bị, tôi đã không bị giết nhiều lần như thế (ý nhà thơ muốn nói bên cạnh những nhạc sĩ giúp chắp thêm đôi cánh cho bài thơ đến với độc giả, còn có một số nhạc sĩ vô tình giết chết hồn thơ qua cung cách phố nhạc của mình).

Trong cả ngàn bài thơ của Du Tử Lê, “Đêm, Nhớ Trăng Saigon” với lời nhạc của Phạm Đình Chương là được nhắc nhở khá nhiều.

Theo họ Lê, ” Trăng quê người khiến tôi nhớ và sống lại những mùa trăng quê hương. Sống lại này, ở thời điểm đó, với tôi là sống lại quá khứ, kỷ niệm, không một chút hy vọng mong mang tái diễn.

Trong năm 1978, sau khi xong việc ca 2, đêm đêm ông thường cô độc lái xe từ hãng về, ngang qua những con lộ hoang vắng, đèn đường mờ ảo, ông phải nhờ ánh trăng soi sáng cho rõ hướng đi. Bên trời viễn xứ tha hương, Du Tử Lê, và có thể nhiều người khác, chợt rùng mình khắc khoải bâng khuâng nhớ vầng trăng Saigon thuở nào, mà giờ này cảm thấy vời vợi cách xa.

Lúc đó Ông nhớ Saigon với Xa Lộ thênh thang chạy dài từ cầu Xa Cảng tới Hàng Xanh, khu Thị Nghè với mưa buồn giăng mắc, với ngôi chợ nằm cạnh bờ sông, nơi cửa ngõ đi vào Quận 1, đường Trương Minh Giảng nắng chói chang trải dài từ Trần Quý Cáp tới nhà thờ Vườn Xoài, hay những trưa hè dạo phố Tự Do đầy lá rụng. Rồi dọc Xa Lộ qua Thủ Đức ai mà không nhớ bức tượng Tiếc Thương buồn hiu đang ngồi gác súng mơ tưởng bạn bè đã biền biệt ra đi.  Nhớ để rồi buồn man mác khi thành phố đổi tên. Nếu quanh quẩn một vòng chẳng còn gì hoa lệ, mà chỉ thấy “mưa sa trên màu cờ đỏ”.

Thôi thì đọc bài thơ của Du Tử Lê cho quên nỗi sầu viễn xứ vậy:

Đêm về theo vết xe lăn 

Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng 

Tìm tôi đèn thắp hai hàng 

Lạc nhau cuối phố sương quàng cổ  cây 

Ngỡ hồn tu xứ mưa bay

Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa

Đêm về theo bánh xe qua

Nhớ tôi xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh

Nhớ em kim chỉ khíu tình 

Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre

Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè 

Nắng Trương Minh Giảng trưa hè Tự Do

Nhớ nghĩa trang quê bạn bè 

Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường 

Đêm về theo vết xe lăn 

Tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?

7. ĐÊM NHỚ VỀ SAIGON

Trước 75, Trầm Tử Thiêng làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến. Với bản tính không muốn nhờ vã gây rắc rối phiền hà cho người khác. Cho nên ông bị kẹt lại ở Saigon.

Theo nhà văn Vương Trùng Dương (“Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng & Những Dòng Chia Sẻ”, Việt Báo, 22.7.21): 

“Từ 1970, Trầm Tử Thiêng sống chung như vợ chồng với chị Đỗ Thị Tần. Đến cuối tháng 4.75, thân sinh Chị đồng ý cho anh cùng di tản qua Mỹ. Nhưng vì nhạc gia quá giàu có, vừa là giám đốc mỏ than Nông Sơn, lại kiêm chủ nhân tiệm kim hoàn. Sự cách biệt lớn lao đó làm anh tự ái thân phận nhà nghèo nên từ chối không đi theo chị. Viện lẽ còn phải ở lại chăm sóc mẹ già. Anh lặng lẽ tiễn chân chị, chịu biền biệt chia phôi. Cuộc tình của Anh rơi vào ngõ cụt, nhớ nhung dày vò, đau đớn tột cùng. Có lần anh thú nhận quá sai lầm khi để chị ra đi một mình”.

Vượt biên bị bắt giam nhiều lần. Cuối cùng cũng thoát được. Tới Mỹ năm 87. Gặp lại người xưa. Oái oăm ngang trái, chị Tần đã sang ngang. Nhạc Sĩ Nhật Ngân cho biết khi thấy chị tới thăm Trầm Tử Thiêng đang ở chung nhà thuê, ông liền mau lẹ tránh đi cho hai anh chị dễ chuyện trò tâm sự sau hơn mười năm xa cách. Lúc trở về thấy hộp giấy tissue mới mở đã lưng còn một nửa. Ông liền liên tưởng chắc chị đã buồn thương nức nở cho cuộc tình ly tan như Đỗ Lễ ngày nào:

Thôi nín đi em lệ đẩm vai rồi buồn thêm nữa sao

Anh hỡi đôi mình mộng nay đã tan tình đã dở dang 

Thôi khóc lâm gì đã lỡ duyên thề thương nhau làm chi…

Chua xót đắng cay cho tình đôi lứa, Trầm Tử Thiêng để lại bài hát Mười Năm Yêu Em vốn được rất nhiều người ưa thích.

Sống trên đất Mỹ, sau khi biết người tình duy nhất đã không còn chờ đợi mình, Trầm Tử Thiêng hay ngồi cô đơn suy nghĩ vẫn vơ. Nhiều đêm ông mộng mị tưởng nhớ chốn xưa, để rồi sáng tác nhạc phẩm Đêm Nhớ Về Saigon:

Đêm nhớ về Saigon 

Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi 

Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi 

Đường im nghe quá khứ trong sâu 

Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau

Tình lẽ loi canh thâu 

Đêm nhớ về Saigon

Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa 

Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa 

Ai sầu trong quán úa  

Bóng mẹ hiền mờ mờ bên song

Mắt người tình một trời mênh mông 

Gợi bao nhiêu cho cùng 

Yêu me một khối tình quê

Yêu em từng bước tình si

Đêm đêm mộng thấy đường đi, đường về 

Ta như cậu bé mồ côi

Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi

Cố quên ngày tháng lẻ loi để lớn 

Để đêm đêm nhớ về Saigon

Thấy mình vừa trở lại quê hương

Để gặp người một trời yêu thương 

Cho lòng thêm chút ấm 

Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau

Nhắc chuyện người, chuyện đời thương đau 

Tình chia trong đêm sầu 

Nhạc Sĩ Trần Chí Phúc cho biết cảm xúc qua bài: “Đêm Nhớ Về Saigon – Những Nỗi Sầu Nghệ Thuật của Trầm Tử Thiêng”, sbtn tv, 25.4.15:

“Ca khúc gợi cho người nghe nỗi nhớ Saigon, nhớ về những cơn đường, những quán nhỏ đèn vàng vắng khách trong đêm, nhớ mẹ già, người tình và thèm được ngồi cùng bạn bè tâm sự vơi đầy.

” Trong ký ức Trầm Tử Thiêng là hình ảnh thành phố Saigon đìu hiu, tang thương của những năm sau 75, những mảng màu u tối chan chứa nỗi sầu chia cách của người tị nạn bên này nhớ bên kia quê nhà. Vẫn nhớ người nhạc sĩ mái tóc bạc phơ, ngồi một mình suy tư trong quán cà phê ở Little Saigon năm nào, dáng vẻ cô đơn là nét đặc biệt của Trầm Tử Thiêng”.

Nhạc Sĩ mang theo bên kia bờ đại dương những hoài niệm về một thành phố đã xa. Trong giấc mơ ông thấy mình trở lại quê hương, nơi chốn tình tự thuở nào. Nhớ Saigon, Trầm Tử Thiêng hoài niệm khung cảnh  phố phường buồn bã ngay sau chuỗi ngày tang chế, ông tưởng tượng bao con đường thèm khát và mong mỏi chờ đợi những bước chân song hành  hớn hở vui cười trong phút giờ đoàn viên hạnh ngộ. Dù chia ly đôi ngã, lẻ  loi canh thâu nhưng lúc nào cũng mong ngóng tin nhau. Lắm lúc nghe nhạc vàng là vọng về tiếng người xưa, để rồi một mình ôm đầu gục mặt sầu trong quán vắng. Thê thiết nhất là nhớ bóng mẹ hiền bên song cửa và đôi mắt vời vợi xa xăm của người tình một thời si mê đắm đuối.

Rồi ông miên man mộng mị thấy cả đường đi lối về. Lúc ấy chắc ông đa sầu đa cảm biết dường nào.

Trong chuỗi ngày cuối đời, ông vẫn thui thủi một mình, không vợ con nơi căn gác vắng. Nhiều lúc cảm thấy buồn. Ông nói với nhạc sĩ Xuân Điềm: “Tôi bệnh lâu không ra ngoài được nên nhớ phố xá, nhớ cảnh sinh hoạt nhộn nhịp, nhớ bạn bè. Tôi thường trùm kín chăn ngồi sau xe nhờ ca sĩ Quốc Việt chở dạo một vòng phố chợ rồi về mới ngủ được”.

Nhà Văn Hoàng Hải Thủy cũng rất nhớ Saigon. Ông nói: 

“là Công Tử Hà Đông bên hông Hà Nội, Bắc Kỳ chính cống Bà Lang Trọc nhưng tôi yêu Saigon hơn tôi yêu Hà Nội – dù tôi có sống với Saigon lâu đến chừng nào đi nữa, khi phải xa Saigon tôi vẫn nhớ Saigon, nhớ thương vỡ tim, xé gan, cháy lòng, đứt ruột như nhớ thương người đàn bà mình yêu, người đàn bà đa tình yêu mình cực kỳ, cho mình hưởng tất cả, mình từng sống hạnh phúc bên nàng mà mình phải xa nàng”. 

Trong tùy bút Đêm Nhớ Về Saigon, Giáo Sư Huỳnh Công Ân (ngoquyen.org, 15.4.22) chia sẻ tâm sự:

* “Đêm nay nằm ở miền Bắc lục địa Mỹ vào tháng tư buồn lạnh lẽo, tôi thao thức nhớ về Saigon của miền Nam trước 75 chứ không phải Saigon bây giờ, vì ngày nay đã mất tên và không giống như xưa nữa: 

“Saigon ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời 

Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời 

Giờ còn đây, những kỷ niêm sống trong tôi 

Những nụ cười nát trên môi

Những giọt lệ ôi sầu đắng 

Saigon ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường 

Đường ngày xưa, mưa có ướt ngập lối đường về 

Rồi mùa thu, lá có còn đổ xuống công viên 

Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng 

Hay đã khóc thương cho người yêu.

(Saigon Ơi Vĩnh Biệt, Nam Lộc)

* Còn đâu những giây phút chờ đợi người yêu:

Anh hẹn em cuối tuần chờ nhau nơi cuối phố 

Biết anh thích màu trời em đã bồi hồi chọn màu áo xanh

(!Bảy Ngày Đợi Mong, Trần Thiện Thanh)

* Tôi đã mất con đường tình học trò:

Trả lại em yêu, khung trời đại học 

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát 

(Phạm Duy)

* Tôi cũng mất những đêm Noel cùng người yêu đến Nhà Thờ Đức Bà chờ thánh lễ nửa đêm:

Mùa Noel đó chúng ta quen bên giáo đường 

Mùa Noel đó anh dắt em vào tình yêu

(Hai Mùa Noel, Đài Phương Trang)

Giáo Sư Ân kể tiếp:

Tôi đã về lại Saigon để thăm gia đình, bạn bè, người thân nhưng không tìm được Saigon ngày xưa. Tôi ước mơ  sống lại ở  Saigon, Hòn Ngọc Viễn Đông trước 75.

8. SAIGON 

Saigon là tựa đề bài hát của Y Vân được sáng tác năm 65 mà nhiều người vẫn hay gọi “Saigon Đẹp Lắm”, được xem là ca khúc hay nhất về Saigon:

Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai

Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay

Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này 

Saigon đẹp lắm Saigon ơi 

Ngưa xe như nước trên đường vẫn qua mau 

Người ra thăm bến câu chào nói xôn xao 

Phố xá thênh thang đón chân tôi đến chung vui

Saigon đẹp lắm Saigon ơi 

Lá la la lá la 

Lá la la lá la 

Tiếng cười cùng gió chan hòa niềm vui say sưa 

Lá la la lá la 

Lá la la lá la 

Ôi đời đẹp quá tràn bao ý thơ 

Một tình yêu mến ghi lời hát câu ca 

Để lòng thương nhớ bao ngày vắng nơi xa

Sống mãi trong tôi bóng hôm nay sẽ không phai 

Saigon đẹp lắm Saigon ơi Saigon ơi 

Theo wiki, ca khúc này ra đời trong giai đoạn trào lưu nhạc trẻ bắt đầu du nhập vào miền Nam mạnh mẽ, với các giai điệu rộn rã của twist, cha cha cha, disco…tràn ngập khắp các vũ trường. Nhiều nhạc sĩ sáng tác một số bài hát loại này và được đón nhận nồng nhiệt, hình thành “dòng nhạc kích động”, trong đó Y Vân đi tiên phong với các bài Saigon, 60 năm, 20 – 40

Nhạc phẩm Saigon có nội dung ca ngợi nếp sống và con người cùng vẻ đẹp của Saigon, với giai điệu và ca từ rất vui tươi. 

RFA ghi lại cảm nhận: Tác phẩm vẻ nên những nét say sưa náo nức của người đất Bắc vừa giả từ Hà Nội với bao khói lửa chiến tranh để vào thủ đô của miền Nam nắng ấm thanh bình chan chứa tình người rộn rã nơi nơi.

Saigon là thành phố đông vui, trẻ trung, xô bồ. Người tứ xứ tụ về nên có cuộc sống hối hả, đua chen, nhộn nhịp, sôi động, không yên tĩnh cả ngày lẫn đêm, ngựa xe rộn rịp, tiếng cười nói ồn ào khắp phố thị, đời sống cuống cuồng, vội vã.

Ca khúc với giai điệu cha cha cha rộn ràng như hoạt cảnh của Saigon, âm điệu vui tươi, dễ hát dễ nghe.

Người Saigon niềm nở, phóng khoáng, độ lượng, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón chào mọi người như năm 54 đã tiếp rước cả triệu đồng bào miền Bắc di cư.

Trong bài hát, Y Vân có nhắc cảnh “người ra thăm bến câu chào nói xôn xao”. Bến đây là Bến Bạch Đằng. Trước 75, đó là con đường dọc bờ sông Saigon, đoan từ nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương. Những năm cuối 1950 đến 60 , đây là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi nhân tình. Khi hoàng hôn buông xuống, họ đưa nhau ra hàng quán dọc bờ sông ngồi ăn bò bía, uống nước mía hay ăn kem, vừa tâm tình, vừa ngắm dòng sông nước chảy hiền hòa. Hoặc đêm đêm tản bộ dọc theo bờ sông hóng mát, đứng bên này hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm, nhìn những chuyến phà chầm chậm lướt sóng đón đưa người qua lại. 

Nhà Văn Phan Lạc Tiếp viết trong “Saigon Thoáng Nhớ” (dongsongcu. wordpress.com, 24.2.22): 

“Sau khi Tổng Thống Diệm bị thảm sát, chính trường miền Nam ngày càng rối ren. Những trận đánh lớn quy mô diễn ra khắp nơi. Vùng quê mất an ninh, dân chúng kéo nhau về Saigon, thành phố càng thêm đông đúc xô bồ. Tiếng súng và hoả châu  hàng đêm tỏa sáng quanh Thủ Đô. Mỹ bắt đầu đổ quân ồ ạt vào miền Nam, bờ sông Saigon trở nên nhộn nhịp. Các chiến hạm đủ loại mang cờ Việt Nam Cọng Hòa, Mỹ, Đại Hàn đậu đầy bến. Khu bờ sông trước cửa Bộ Tư Lệnh Hải Quân được rào lại bằng lưới thép, không còn là nơi hò hẹn của trai thanh gái lịch nữa”.

Y Vân để lại chừng 200 nhạc phẩm. Trong đó có bài “60 Năm Cuộc Đời” như vận vào số mệnh của ông khi phải giả từ nhân thế đúng ngay lứa tuổi này:

Em ơi có bao nhiêu, 60 năm cuộc đời 

Hai mươi năm đầu sung sướng không bao lâu 

Hai mươi năm sau sầu vương cao vời vợi 

Hai mươi năm cuối là bao

Ngoài ra, “Anh Về Thủ Đô” được Y Vân viết để chào mừng các chiến binh Cọng Hòa khi họ trở lại thành phố thân yêu:

Anh về Thủ Đô nước Nam tự do

Chút quà mừng anh chiến binh đường xa

Là muôn tiếng lòng thương yêu các anh

Đã hy sinh vì giống nòi 

Anh về Thủ Đô biết bao là vui

Đã để lại đây mến thương đầy vơi 

Người dân nước Việt thương yêu đón anh

Đón anh trai hùng bước qua

Ơ này anh ! 

Áo xanh chiến trường bạc màu 

Mến anh mến từ thuở nào 

Người trai tranh đấu

Ơ này anh !

Đã mang đến tình mặn mà 

Mến anh những lời thật thà

Lòng dân mong chờ 

Anh về Thủ Đô chúng tôi chờ mong

Mong chờ ngày mai nước non bình yên

Toàn dân nước Việt ghi ơn các anh 

Các anh trai hùng nước Nam

Bên cạnh Y Vân, Nhạc Sĩ Văn Phụng và Huyền Linh cùng làm tăng thêm nét hấp dẫn của Saigon với Ghé Bến Saigon:

Cùng nhau đi tới Saigon 

Cùng nhau đi tới Saigon 

Thủ Đô yêu dấu nước Nam tự do

Dừng chân trên bến Cọng Hòa 

Người Trung Nam Bắc một nhà 

Về đây chung sống hát khúc hoan ca

Ngựa xe như nước rộn ràng 

Ngập muôn sức sống tiềm tàng 

Đèn đêm tung ánh sáng như hào quang

Lòng vui chân bước dật dờ

Đường đi quanh khúc Bàn Cờ 

Cùng nhau vui sống ấm say tình thơ 

Cùng nhau đi tới Saigon 

Là nơi du khách dập dồn 

Từ năm châu tới viếng thăm Thủ Đô 

Dòng sông chen chúc tàu đò

Ngựa xe buôn bán hẹn hò 

Người dân no ấm sống đời tự do…

Phạm Văn Duyệt

Rượu Phạt. Thơ Hư Vô



Rượu chưa mời mọc đã say
Em trăng tẩm mật rót đầy ly không
Như có ngọn sóng trong lòng
Nương theo nhịp thở bềnh bồng môi nhau.

Nhấp chưa vơi nỗi khát khao
Tôi đã lảo đảo quơ quào bóng em
Bàn tay chạm cõi hương đêm
Vuột ly đổ rượu chồng chềnh dáng khuya.

Hồn tôi cũng đã lặc lìa
Bỏ lại thân xác làm bia tượng hình
Cho rồi một cuộc phù sinh
Như chung rượu phạt làm tình tội nhau.

Mà em thì mới bắt đầu
Biết yêu là đã biết đau muộn màng
Vết sẹo ẩn dưới dung nhan 
Là dấu tích tôi hoang đàng, say sưa…

Hư Vô 

Đứa Con Đầu Lòng. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam



Tân nhớ lại một cách rõ ràng những giờ chàng chờ đợi trong căn phòng ở hộ sinh viện. Thì giờ lúc ấy sao hình như đi chậm thế! Tân tưởng cái buổi ấy kéo dài ra mãi không bao giờ hết. Chàng nóng ruột như lửa đốt, đi đi lại lại trong phòng, ngồi xuống chiếc ghế ở bên tường một lát rồi lại đứng dậy. Chàng đưa mắt nhìn qua những bàn ghế giản dị và sơn trắng, xếp đặt một cách gọn ghẽ. Rồi chàng chăm chú nhìn cái cánh cửa đóng ở góc phòng. Bên kia cánh cửa, vợ chàng đang chờ đợi cái bí mật lạ lùng của sự sinh nở. Thỉnh thoảng cửa phòng hé mở, một cô đỡ mặc áo trắng rón rén bước ra. Tân thoáng nghe thấy những tiếng kêu khẽ và đau đớn. Chàng để ý dò xét nét mặt của cô đỡ nhưng vẫn thấy cô ta bình tĩnh như thường, nhẹ nhàng đi ra ngoài lấy chai nước hay cái khăn mặt.

Rồi cuộc chờ đợi khó chịu ấy hết. Tân nghe thấy mấy tiếng kêu thét trong phòng bên đưa sang, tiếp đến tiếng trẻ con khóc. Một lát, cánh cửa phòng mở rộng, một cô đỡ ghé đầu ra ngoài mỉm cười:

  • Mời ông vào. Xong cả rồi.

Tân theo cô ta bước vào trong phòng. Chàng thấy mấy cô đỡ xúm xít chung quanh cái nôi mây và thoáng nhìn thấy giữa đống vải trắng một vật gì đỏ nõn đang động đậy. Tân đến gần bên giường. Vợ chàng nằm ngả đầu trên gối trắng, nét mặt xanh xao và mệt nhọc. Nhưng hai con mắt sáng lên như vui mừng khi nhận thấy chàng.

Trong gian phòng yên lặng vẫn phảng phất cái không khí của một sự bí mật gì quan trọng. Các cô đỡ nói với nhau khe khẽ. Tân ngồi xuống cái ghế đầu giường, cầm lấy tay vợ. Chàng thấy bàn tay lạnh và ướt đẫm mồ hôi.

Bà đỡ chính đã lót xong tã cho đứa bé, đưa đến trước mặt Tân, vui vẻ nói :

  • Ông xem cô bé có khỏe không? Được hơn ba cân rưỡi đấy.

Trong khi vợ chàng giơ tay ra đón lấy đứa con một cách âu yếm và nâng niu, Tân tò mò ngắm nhìn cái đầu con phủ tóc đen và mượt. Chàng thấy một cảm tưởng lạ, không rõ rệt, nẩy nở trong lòng. Nhưng cái rúm thịt động đậy, cái mầm sống nhỏ mọn và yếu ớt kia hình như không có một chút liên lạc gì với chàng cả. Tân không thấy cảm động như chàng tưởng, và cũng không thấy có một cảm tình gì đối với đứa con mới đẻ.

*

Một tuần lễ sau ở nhà, Tân thấy vợ và vú em bận rộn rối rít như mỗi khi sắp đến ngày giỗ. Hai người suốt cả buổi chỉ ngồi cắt và khâu những cái áo con con, đan những đôi tất xinh xinh và sửa soạn cái nôi mây. Những công việc đó, Tân thấy hay hay, nhưng chàng không để ý đến. Thỉnh thoảng chàng mới thoáng để ý một chút đến đứa bé mà chàng thấy lúc nào cũng quấn kín trong miếng vải trắng và nhắm mắt ngủ kỹ.

Một buổi sáng, khi sắp sửa đi làm, Tân thấy vợ gọi:

  • Này cậu, lại mà xem, hay quá.

Tân cúi xuống giường vợ chàng đương ngồi, và hai tay giữ chân đứa bé đặt nằm trước mặt. Hai bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé đang cọ quậy, giơ lên giơ xuống, hai con mắt bé lờ đờ, như hơi ngạc nhiên nhìn chàng.

Vợ chàng sung sướng hỏi:

  • Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?

Nàng giơ ngón tay cho đứa bé nắm rồi tiếp:

  • Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!

Tân cũng cầm lấy tay đứa bé, đáp:

  • Ừ…Nhưng sao cái đầu nó dài thế nhỉ. Tôi trông nó thế nào ấy.
  • Nó còn bé thì nó thế chứ sao.
  • Mà hình như một mắt to, một mắt nhỏ.

Vợ Tân ra ý không bằng lòng, cãi lại:

  • Không, hai mắt nó bằng nhau đấy chứ. Cậu chỉ hay chê nó thôi.

Rồi nàng bế đứa con lên lòng, âu yếm cho bú.

Dần dần Tân cũng quen với đứa trẻ lặng lẽ sống bên mình. Mỗi lần đi về, Tân lại đến cạnh cái nôi, vén tấm màn trắng lên và nhìn một lát đứa bé nằm trong đó vẫn hai tay cọ quậy và con mắt lờ đờ nhìn mọi vật. Tuy vậy, Tân không nhận thấy rõ rệt cái liên lạc gì với đứa trẻ. Vả lại chàng cũng không nghĩ sâu xa gì về sự đó, chỉ thoáng qua trong trí mà thôi.

Một lần, chàng đang ngồi làm việc ở bàn giấy thì nghe tiếng vợ tắm cho đứa bé ở trong buồng. Vợ chàng gọi:

  • Cậu vào đây hộ tôi một tý.

Tân ngó cổ vào buồng, đáp:

  • Con sen đâu, sao không gọi nó?
  • Nó còn bận giặt ngoài kia. Thì cậu vào hộ tôi một tí có làm sao. Giữ hộ tôi cái đầu để tôi tắm cho nó thôi mà.

Tân ngần ngại bỏ dở công việc:

  • Nào thì vào!

Rồi chàng vào trong buồng ngồi xuống bên cái chậu, hai tay giữ lấy đầu đứa bé. Vợ chàng nói lấy lòng:

  • Cậu chỉ cầm một tý thôi. Tôi tắm cho nó xong ngay bây giờ đây.

Tân nhìn đứa bé, không thích một chút nào. Cái thân hình ngắn ngủn và chân tay ngẳng nghiu của nó làm chàng khó chịu không muốn để ý đến. Chàng càu nhàu mắng đứa bé:

  • Nằm im! Mày cứ cọ quậy bắn cả nước lên tao đây này.

Cái đầu đứa bé đầy xà phòng nên càng trơn khó giữ. Tân đã thấy mỏi tay. Chàng bảo vợ:

  • Thôi, giữ lấy nó, tôi mỏi tay lắm rồi.

Vợ chàng hơi gắt:

  • Hãy giữ một chút nữa. Mới có một tí thế đã kêu mỏi!

Cái giọng nói ấy làm cho Tân không bằng lòng. Chàng buông đứa trẻ, đứng dậy trả lời xẵng:

  • Không phải công việc của tôi. Với lại tôi trông nó khó chịu lắm.

Tân không nhận thấy nét mặt ngạc nhiên và buồn rầu của vợ, bước ra ngoài. Một chút hối hận, đến cửa, làm chàng quay mặt lại: vợ chàng đang ôm đầu đứa bé trong lòng khóc nức nở.

Ra ngoài, Tân mới nhận thấy cái cử chỉ vô lý của mình. Một tình thương nảy nở trong lòng chàng. Tân muốn trở vào an ủi vợ, xin lỗi nàng vì đã làm nàng phải buồn rầu. Nhưng không biết cái gì vẫn giữ chàng lại. Tân đến ngồi bên bàn, nghĩ ngợi.

Từ khi hai vợ chồng lấy nhau, những cuộc cãi cọ nhỏ mọn, không có nghĩa lý gì, vẫn thường xảy ra luôn. Vì một câu nói, vì một cớ không đâu, hai vợ chồng lại giận nhau. Mà cũng như lần này, Tân cảm thấy chỉ nói một lời nói dịu ngọt, êm ái, là đủ cho hai bên hòa hợp lại như cũ. Nhưng những câu ấy tan đi trên miệng trước khi nói ra lời. Một ý nghĩ xấu khiến chàng yên lặng, và như xui chàng giận dữ thêm lên để lấy phần phải về mình.

Khi Tân trở lại phòng, chàng thấy vợ đang ngồi cho con bú. Đứa bé chải rửa sạch sẽ trông hồng hào như đánh phấn. Cái bàn tay mập mạp xinh xắn của nó nắm chặt lấy tay mẹ như để cầu sự âu yếm và che chở. Thỉnh thoảng nó ậm ừ trong miệng như rất bằng lòng.

Tân lại gần cúi nhìn đứa bé. Chàng thấy trong lòng một mối cảm động êm đềm và phiền phức. Nhìn đứa trẻ ngây thơ nằm trong lòng mẹ, Tân cảm thấy lần đầu cái thiêng liêng sâu xa của sự sống, và nhận thấy những cái bé nhỏ, hèn mọn hàng ngày nó phá hoại cuộc đời.

*

Từ đấy, đứa bé như cái dây giữ sự hòa hợp trong hai vợ chồng. Tân và vợ chàng không cãi nhau nữa. Mà nếu có xảy ra cuộc hờn giận, hai người chỉ cùng trông đứa trẻ càng ngày càng mũm mĩm là lại vui vẻ như cũ.

Thỉnh thoảng vợ chàng bồng con đưa đến trước mặt Tân, chỉ cho chàng biết những cái thay đổi trong đứa bé.

  • Này cậu trông, cái thóp bây giờ đã nhỏ đi rồi đấy.

Tân cũng chăm chú xem, rồi nói chuyện với đứa bé. Lúc chàng ngửng lên nhìn, chàng thấy vợ ngượng nghịu muốn giấu sự vui mừng làm ửng hồng đôi gò má. Tân cũng thấy trong tâm can một sự vui vẻ khác thường.

Buổi sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân hỏi vợ:

  • Em đâu?
  • Nó ngủ, cái gì thế?
  • Tôi có cái này hay lắm.

Tân giơ lên cho vợ xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng bước lại bên cạnh cái nôi rủ màn trắng sạch sẽ.

Vợ chàng vội nói:

  • Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong.

Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn, nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn trong vải trắng. Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười.

Rồi Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy.

Thạch-Lam

(Ngày Nay. Số 31, ngày 25/10/1936)


Thơ Nhạc về Miền Trung. Phạm Văn Duyệt


Phạm Văn Duyệt


Thi ca và âm nhạc Việt Nam là cả một kho tàng đồ sộ. Thơ nhạc về miền Trung cũng vậy, mấy ai có đủ thì giờ hay tài năng để luận bàn cho tận tường thấu đáo.

Trong tâm trạng đó, người viết bài xin mượn lời nhạc sĩ Duy Khánh qua ca khúc Gởi Về Em Gái Thành Đô: 

Làm sao tôi nói hết trong trang thư 

Tình yêu gởi về em

Mười năm dài chưa mỏi 

Đời trai còn trôi nổi 

Vì nghe lời khắc khoải 

Quê mình đau xót em ơi 

như là cái cớ “làm sao nói hết” khi chỉ trích dẫn một số ít thơ nhạc về vùng đất mà Phạm Đinh Chương thở than trong Tiếng Sông Hương:

Quê hương em nghèo lắm ai ơi 

Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn 

1. ĐÂY THÔN VỸ DẠ 


Sao anh không về chơi thôn Vỹ 

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên 

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc 

Lá trúc che ngang mặt chữ điền 

Gió theo lối gió mây đường mây 

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó 

Có chở trăng về kịp tối nay 

Mơ khách đường xa khách 

đường xa 

Áo em trắng quá nhìn không ra 

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh 

Ai biết tình ai có đậm đà 

Hàn Mặc Tử (1912 – 40) tên thật Nguyễn Trọng Trí, là bậc thiên tài. Nổi danh rất sớm. Mới 15 tuổi đã đăng thơ trên nhiều tờ báo. Cụ Phan Bội Châu rất mến mộ, cảm kích, ca ngợi và họa thơ.

Một hôm Trí đi khám bệnh. Gặp bác sĩ thích trò chuyện văn chương. Ông cho biết rất mê thơ P.T., nhưng thăm hỏi, tìm tòi mãi vẫn không biết là ai. 

Lúc đó Trí mới dám mạnh dạn tiết lộ:

– Dạ thưa bác sĩ, P.T. là Phong Trần, mà Phong Trần chính là em đây!

Quan Đốc ngỡ ngàng, nửa tin nửa ngờ. Sao một thư sinh trẻ trung như vậy mà làm được những bài thơ đầy tình cảm da diết khiến bao người say mê ấp ủ. Năm 1930, Trí đoạt phần thưởng hạng nhất giải thơ do thi xã ở Quy Nhơn tổ chức. Chúng ta thử đọc qua một bài trong số đó:

Vội Vàng Chi Lắm 

Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây 

Chầm chậm cho mình giữ mối giây 

Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đã 

Ghé miền Gia Hội tỏ tình ngay

Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi 

Chỉ một lòng son muốn tỏ bày 

Này nhạn ta còn quên chút nữa 

Con tim non nớt tặng nàng đây 

Vỹ Dạ là làng cổ trầm mặc. Phía hữu ngạn Hương giang, bên kia Đập Đá. Với sông nước hữu tình, thuyền bè hay qua lại, những mảnh vườn tươi mát, nhà cửa gọn gàng tươm tất. Nơi cư trú của lớp vương hầu hoàng tộc và gia đình quyền quý.

Hàn sáng tác bài nầy năm 1938, lúc đã biết mình mắc chứng phong cùi. Từng ý từng lời quá hay, nhưng hiểu được tất cả ý nghĩa sâu xa không phải dễ, vì Hàn làm thẹo thể tượng trưng, siêu thực, dùng nhiều hình ảnh và từ ngữ đa nghĩa (sông trăng, mặt chữ điền, lá trúc, buồn thiu, kịp tối nay, trắng quá, nhân ảnh…).

Trong thời gian lưu lạc nhiều nơi để trị bệnh, cái thuở mà mối tình si với Mộng Cầm đã “chết từ muôn trăng thế kỷ”, Hàn cảm thấy cuộc đời hiu quạnh, bơ vơ, cô đơn trống vắng. Bất ngờ nhận tấm bưu thiếp của Hoàng Cúc, như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Hàn mừng rỡ lắm, mới tưởng tượng cô bạn gái ở Huế đang nhớ nhung mình tha thiết, rồi ru hồn vào cõi mộng, làm nên bài thơ bất tử, đến nay gần ngót thế kỷ mà vẫn được nhiều người ngâm nga lưu truyền.

Tấm bưu ảnh ấy có cảnh sông nước đêm trăng, thuyền đậu trên bến, cây cau, khóm trúc, mảnh vườn…và lời thăm hỏi của Hoàng Cúc. 

Trải qua cuộc đời ngắn ngủi, Hàn từng yêu trong mộng ảo. Sau Hoàng Cúc, chàng còn thầm yêu trộm nhớ cô gái chưa hề gặp mặt là cháu của bạn mình (Trần Thanh Địch). Để rồi viết ra hai vở kịch Quần Tiên Hội và Cẩm Châu Duyên. Trong đó có bài Nỗi Buồn Vô Duyên tràn đầy bi thiết não nùng:

Sầu lên cho tới ngàn khơi

Ai đâu ráo lệ, chưa lời nói ra

Chiều nay tàn tạ hồn hoa

Nhớ Thương Thương quá, xót xa tâm bào 

Tiếng buồn đem trộn tiêu tao

Bóng em chờn chợn trong bao nhiêu màu 

Nghe ai xé lụa mà đau 

Gió than niềm gió biết đâu hẹn hò 

Đừng ai nói để thương cho

Lỡ ra lạnh nhạt đền bù sao cam

Chiều nay chẳng có mưa dầm 

Mình sao nước mắt lại đầm đìa luôn

Ồ ra lụy ngọc nôn nôn 

Biết bao giờ hết nỗi buồn vô duyên 

Theo tư liệu gia đình, trong thư gởi  Quách Tấn ngày 15.4.71, Hoàng Cúc viết: “Thưa ông, bức ảnh đó chỉ là phong cảnh hoàng hôn mua ở phố. Trong đó không có người con gái nào khác ngoài cô lái đò. Ngoại trừ bức ảnh và bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ, thì Tử và tôi không thư từ gì cho nhau nữa cả”.

Năm 1987, Hoàng Cúc gởi tới Ông Nguyễn Bá Tín, em ruột Hàn một lá thư: “Vào đầu năm 36, Tử tới gặp tôi hai lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần sau, mạnh dạn hơn trong dáng điệu ngập ngừng, lắp bắp vài lời tỏ tình, đưa tặng tôi tập thơ Bâng Khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư.

Gần cuối năm 36, Tử về Huế dự Hội Chợ, mang theo xấp Gái Quê vừa in xong. Trao anh em tôi mỗi người một tập, không đưa cho tôi mà chỉ yên lặng nhìn. Mấy hôm sau em họ tôi là Hoàng Tùng Ngâm (bạn Tử) cho biết Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà không vào, chỉ đứng ngoài ngõ nhìn vô. Từ đó, chúng tôi không còn gặp lại nhau, không thư từ thăm viếng, mỗi người mỗi ngã”.

Hàn đã dẫn nhập 2 câu đầu thật tài tình, gây cho người đọc niềm háo hức có dịp về thăm một nơi chốn thanh bình của Huế: 

“Sao anh không về chơi thôn Vỹ 

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”, nhắc tới khu vườn nhà ai chan hòa ánh nắng ban mai. Cũng trong khung cảnh ấm áp đó, thi sĩ Lưu Trọng Lư để lại bài thơ Nắng Mới với nhiều nỗi nhớ quay quắt hình ảnh Mẹ hiền đang phơi áo ngày nào:

Mỗi lần nắng mới hắt bên song 

Xao xác gà trưa gáy não nùng 

Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng 

Chập chờn sống lại những ngày không 

Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời 

Lúc người còn sống tôi lên mười 

Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội 

Áo đỏ người đưa trước giậu phơi 

Hình dáng me tôi chửa xóa mờ 

Hãy còn mường tượng lúc vào ra:

Nét cười đen nhánh sau tay áo 

Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.

Người sống ở miền Nam tự do có cái may mắn được thưởng thức những tác phẩm văn chương tuyệt vời. Không bị ngăn cấm như đồng bào miền Bắc suốt một thời gian dài. Đó là ý kiến của tác giả Ban Mai (voatiengviet.com, 7.5.2011) qua bài “Sao Anh Không Về Chơi Thôn Vỹ?”:

“Văn chương, cũng như cuộc đời, mang thăng trầm của giông bão, chịu những định kiến từ quan điểm giai cấp hay phê phán hữu khuynh, từ sau 1945 đến 1986, dòng văn chương lãng mạn đã không được chấp nhận.

Tài liệu giảng dạy văn học lớp 12 từng ghi: “về nội dung, đây là dòng văn học bạc nhược, suy đồi, tiêu cực, mang tính chất phản động, tuy có ít  nhiều yếu tố tích cực. Chúng ta cũng cần khuyên học sinh không nên đọc sách báo lãng mạn. Với quan điểm trên, thi ca Hàn Mặc Tử càng bị bài xích vì tư tưởng siêu thực, thoát ly cuộc sống. Chính cách đánh giá lạc hậu này từ một nền thẩm mỹ đóng khung, đã làm cho bao thế hệ học trò bị thiệt thòi trong việc tiếp cận những áng văn thơ tuyệt tác của đất nước”.

2. MƯA TRÊN PHỐ HUẾ 


Chiều nay mưa trên phố Huế 

Kiếp giang hồ không bến đợi 

Mà mưa sao cứ rơi rơi hoài cho lòng nhớ ai

Ngày chia tay hôm nao còn đây

Nước trên sông Hương còn đầy 

Tình đã xa, gió mưa u hoài mắt lệ ngắn dài 

Chiều mưa trên Kinh Đô Huế 

Tiếng mưa còn vương kỷ niệm

Ngày quen nhau dưới chân Thiên Mụ anh còn nhớ không? 

Chợ Đông Ba khi mình qua

Lá me bay bay là đà 

Chiều thiết tha có anh bên mình mà ngỡ hôm qua 

Hò ơi! Ơi hò!

Chiều mưa phố buồn 

Chiều mưa phố xưa u buồn 

Có ai mong đợi một người biền biệt nơi mô 

Để nhớ với thương một người 

Chiều nay mưa trên phố Huế 

Biết ai đã quên ai rồi 

Hạt mưa rơi vẫn rơi rơi đều cho lòng u hoài 

Ngày xưa mưa rơi thì sao?

Bây chừ nghe mưa lại buồn 

Vì tiếng mưa, tiếng mưa trong lòng làm mình cô đơn.

Bài hát do Minh Kỳ và Tôn Nữ Thụy Khương sáng tác năm 1973.

Theo ca sĩ Hoàng Oanh, Tôn Nữ Thụy Khương là bút danh nhạc sĩ Lê Dinh.

“Hoàng Oanh nhớ chú Minh Kỳ, sau khi đưa bài hát cho Hoàng Oanh, dặn dò đôi câu về bài mới, rồi thôi ! Chú rất nghiêm trang và ít nói. Hoàng Oanh nhớ chú có cặp mắt rất to và tròn. Mỗi lần gặp, chú chỉ cười, nụ cười hiền hòa”.

Nói về mưa thì không đâu giống Huế. Mưa lâm râm dầm dề ngày này qua ngày nọ, có khi sụt sùi cả hai tuần chưa dứt.

Một dịp vào thăm Huế, gặp những bữa trời mưa, Nguyễn Bính đã buộc miệng thở than:

Giời mưa ở Huế sao buồn thế 

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày 

Đã mưa mà còn buốt giá trong cái lạnh cắt da. Nhiều bà mẹ tần tảo làm thân cò lặn lội gồng gánh buôn thúng bán bưng kiếm miếng cơm manh áo cho đàn con đắp đổi qua ngày:

Sang đây rồi thấy nhớ chiếc áo tơi 

Mẹ hay mặc những chiều mưa tầm tã 

Nuôi con xuôi ngược một đời vất vã 

Dãi nắng dầm mưa quên cả thân mình 

Mưa mãi mưa hoài, mưa ngày mưa đêm làm cho đường sá lầy lội. Cô cậu học trò vùng quê không thể nào đạp xe trên đường cái quan vì ngập ngụa bùn lầy. Đành phải luồn lách qua những mảnh vườn khắp thôn xóm để tìm cách tới Huế.

Tội nghiệp đám nữ sinh Đồng Khánh sắc phục áo quần màu trắng khi tới trường chẳng còn được như Hàn nói: Áo em trắng quá nhìn không ra.

* “Mưa Trên Phố Huế – Bài Hát Hay Nhất về Huế”, Nguyễn Đình San, cuulongreal.com

Nhạc sĩ Nguyễn Đình San nhận định: “Đây là bài hát hay nhất, rõ chất Huế nhất. Những điệu hò mái nhì, mái đẩy được tác giả vận dụng vô cùng nhuần nhuyễn mà không dễ người sáng tác nào cũng có thể đạt được.

Sau 30.4.75, nhân dịp ở Huế 2 tuần, rất nhớ Hà Nội, tôi nảy ra ý làm bài hát nói đến cái mưa xứ Huế để gởi nỗi niềm về đất Bắc. Đang loay hoay với những nốt nhạc đầu thì chợt đâu đây văng vẳng ca khúc Mưa Trên Phố Huế từ máy cassette ở phòng bên. Nghe đi nghe lại cả chục lần vẫn không chán, bởi giai điệu rất đậm đà, hình tượng ngọt ngào và sống động, ca từ giản dị, dễ hiểu, đầy chất thơ.

Thế là tôi quyết định buông bút, không sáng tác nữa, vì bài hát quá rực rỡ. Tôi tự nhủ mình có cố gắng mấy cũng chẳng tài nào viết được ca khúc hay hơn về mưa Huế, tôi thầm bái phục nhạc sĩ Minh Kỳ, người mà tôi chưa hề nghe tên. Mới nghe lần đầu đã thấy hay, càng nghe càng thú vị hơn. Giai điệu gây cho ta cảm xúc mưa liên miên, không to, nặng hạt, nhưng rả rích, giăng mắc, không chừa một chỗ nào 

Bài hát tả cơn mưa ở Huế với cái nhìn của cô gái giang hồ trải qua cuộc sống ủ ê, não nề như những trận mưa dai dẳng trên Cố Đô vậy.

Tôi nhớ mãi câu chuyện năm 92, trong hội diễn văn nghệ quần chúng ở Hà Nội, có diễn viên hát Mưa Trên Phố Huế. Giọng cô hay không thua gì ca sĩ chuyên nghiệp, tôi cho điểm 10/10. Những giám khảo khác chỉ cho đến 8. Cuối cùng cô chỉ đoạt huy chương bạc. Lý do vì có vị nói rằng cô hát “nhạc vàng” của miền Nam.

Thời ấy, và hầu như gần đây vẫn còn như vậy. Những kỳ hội diễn văn nghệ đặc biệt quan trọng là luôn có một luật thành văn: khuyến khích diễn viên hát ca khúc về Tổ quốc, Đảng, bác Hồ. Tôi nói với ban giám khảo là khuyến khích các đề tài trên không có nghĩa vô hiệu hóa những bài khác và vẫn thượng tôn tính nghệ thuật, thẩm mỹ. Vả lại, bài Mưa Trên Phố Huế nằm trong hạng mục được phép hát mọi nơi.

Hồi đó, tuy đã bước sang thời kỳ thay đổi được mấy năm nhưng định kiến từ giai đoạn duy ý chí cũ vẫn còn nặng nề.

Lần đầu tôi vào Huế là khoảng tháng 7.75. Quá thích bài hát, tôi định bụng đến khi vào Saigon phải tìm cách gặp bằng được tác giả mình hằng ngưỡng mộ. Nhưng chưa kịp thực hiện thì nghe tin Minh Kỳ qua đời lúc mới 45 tuổi, hãy còn quá trẻ khi sức sáng tạo đang ở vào thời kỳ sung mãn nhất.

Giờ đây, có dịp tới Huế, ghé bất kỳ tiệm cà phê hay khách sạn nào, bạn sẽ được nghe Mưa Trên Phố Huế. Nếu giữa những ngày mưa, bạn sẽ càng cảm nhận hết sự mê hoặc của bài hát này”.

3. NHỚ HUẾ  (Phạm Văn Duyệt)


Sang đây rồi nhớ hương trầm xứ Huế 

Nhớ Cầu Trường Tiền, nhớ Đế Đô xưa

Nhớ những mùa đông trời cứ đổ mưa 

Thương cho Huế khổ chi mà dữ rứa 

Sang đây rồi nhớ Kinh Thành lắm cửa 

Một thời mình hay vào đó rong chơi

Buồn vấn vương chuyện thế sự đổi  dời

Lại xa xót những cảnh đời dâu bể 

Sang đây rồi nhớ mùa xuân tang chế 

Trời Phu Vân Lâu nhòa lệ đau thương 

Nhớ những khi Nữ Đồng Khánh tan trường 

Ôi trắng xóa suốt dọc đường Lê Lợi 

Lúc nớ cõi lòng rộn ràng phơi phới 

Hồn thi nhân sẽ trổi dậy ngâm thơ:

– “Sông Hương nước chảy lững lờ 

Ơi người thục nữ cô chờ đợi ai ?”

Sang đây rồi nhớ Phú Lộc, Cầu Hai

Nhớ Chợ An Cựu, Phú Bài, Dạ Lê 

Nhớ nón bài thơ, nhớ mái tóc thề 

Lâu quá không thấy nhớ ghê lắm rồi 

Nhớ Dốc Nam Giao, nhớ Độn Thành Lồi

Nhớ Đồi Long Thọ, nhớ vôi Nguyệt Biều 

Nhớ Chùa Thiên Mụ cô quạnh đìu hiu

Nhớ ơi là nhớ những chiều tắm sông

Vì ham bơi để Mẹ phải đợi trông 

Cứ lặn hụp hoài mà không biết chán 

Tội nghiệp Mẹ thương chìu con chẳng cản 

Cho trọn mùa hè thanh thản nghỉ ngơi 

Sang đây rồi thấy nhớ chiếc áo tơi

Mẹ hay mặc những chiều mưa tầm tã 

Nuôi con xuôi ngược một đời vất vã 

Dãi nắng dầm mưa quên cả thân mình 

Sang đây rồi nhớ Tây Lộc, Bao Vinh 

Đông Ba, Gia Hội, Ngự Bình, Kim Long

Đây Thôn Vỹ Dạ vẫn thuộc nằm lòng 

Vườn cau Lại Thế trông mong ngày về 

Dẫu đi mô cũng nhớ mãi tình quê

Nhớ làng Văn Xá, Vân Thê, Mậu Tài 

Nhớ Chè Cồn, nhớ Chợ Nọ, Chợ Mai

Nhớ Khu Đại Học, nhớ Đài Phát Thanh 

Nhớ rất nhiều cả hằng vạn địa danh 

Tha hương càng nhớ bức tranh Huế mình 

Phú Xuân, Thừa Thiên, Thuận Hóa, Thần Kinh

Gởi về tất cả tâm tình Huế ơi!

Đây là lần đầu tiên bài này được đăng trên diễn đàn online. Lời thơ nói lên tâm trạng một người xa quê vẫn luôn vấn vương về miền đất Mẹ, với nỗi nhớ cảnh cũ người xưa, những kỷ niệm buồn vui thời tuổi trẻ. Xin kính tặng đồng hương, quý thân hữu và bạn đọc đã có dịp tới Huế hoặc từng nghe qua Huế, để cùng nhau chia sẻ chút tình với chốn Kinh Đô cuối cùng của đất nước.

Trong bài nhắc nhở đến gần 30 địa danh thân quen hay những phố chợ thôn làng bao quanh Huế. Tuy vậy vẫn không sao nói hết về Cố Đô. Nơi đây chỉ xin ghi lại vài nét về địa dư, lịch sử của cái tên Độn Thành Lồi mà nhiều người chưa hay biết, cùng Hổ Quyền, Điện Voi Ré thuộc địa bàn các phường Thủy Biều, Thủy Xuân và Phường Đúc. Nhưng trước tiên là khám phá nét đẹp nên thơ của Huế, kiêu sa diệu kỳ có một không hai, đó là hình ảnh người con gái với chiếc nón bài thơ và mái tóc thề thư thả bay lượn dọc đường Lê Lợi trong những buổi tan trường qua bài hát Cô Nữ Sinh Đồng Khánh của nhạc sĩ Thu Hồ: 

Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi 

Cô đi về đâu tan buổi học rồi 

Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao

Cô về Vỹ Dạ hay về Đông Ba 

Cô về Gia Hội hay ngược Kim Long 

Khi gió mới lên làn tóc tung tăng 

Xỏa ngang bờ vai khi tuổi dậy thì 

Đôi môi hồng thắm duyên là nên duyên 

Mắt tròn như mộng xây đời xinh xinh

Cô là tất cả trời đất xứ Kinh

Ai ra xứ Huê không ít nhiều mộng mơ

Khi nhìn thấy bên bờ Hương Giang nên thơ 

Cô gái nữ sinh Đồng Khánh ra về 

Mà lòng không thấy xuyến xao

Mà lòng chẳng thấy dạt dào 

Một chút nhớ bâng khuâng 

Với tình yêu Cố Đô 

Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi 

Cô đi về đâu tan buổi học rồi 

Tôi mơ một bóng khi về đơn côi 

Áo dài dáng đẹp tóc còn buông lơi 

Ghi một kỷ niệm cuộc đời trong tôi 

* Độn Thành Lồi: Tham khảo wiki, người xưa kể lại câu chuyện xảy ra vào khoảng thế kỷ thứ V, theo đó cả hai dân tộc Việt Chiêm cùng tranh chấp chủ quyền vùng đất Thuận Hóa. Đôi bên không muốn gây chiến trận binh đao, mà đi đến giao ước, trong một thời gian ấn định, hể bên nào tạo lập được thành lũy cao hơn thì bên thua cuộc phải chịu dời đi.

Người Chiêm vốn tính thật thà, họ tuyến mộ dân phu trai tráng khỏe mạnh, ngày đêm hì hục ra sức xây dựng lâu đài nguy nga tráng lệ. Còn một ngày nữa là tới thời hạn chót, nhìn sang đối phương, chẳng trông thấy công trình gì đáng kể, họ hân hoan hồ hỡi, nắm chắc phần thắng lợi, liền tổ chức liên hoan tiệc tùng, ca múa thâu đêm. Có ngờ đâu phía người Việt vẫn âm thầm tương kế tựu kế, nhanh chóng trong vài giờ đã thấy sừng sững một tòa nhà cao vời vợi, che khuất lâu đài đối diện.

Hôm sau, những tưởng là ngày mừng vui chiến thắng, vua quan thần dân nước Chiêm cờ xí lộng lẫy, chiên trống inh ỏi khua vang, dắt nhau đến địa điểm thi đua. Họ mới ngỡ ngàng biết mình thua cuộc. Đâu có hiểu mưu lược thần kỳ của người Việt, chỉ trưng lên tòa nhà bằng giấy. Thế rồi bên thua tự động rút lui, để lại dấu tích được gọi là Thành Lồi, cách trung tâm Huế chừng 5 km về hướng tây 

Sau hằng trăm năm hoang phế, mưa nắng dãi dầu, nơi này chỉ còn lại 3 mô đất rộng, kích thước mỗi mô  chừng 20 x 30 m. 

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi rằng: Thành Lồi là thành cũ Chiêm Thành ở thôn Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy. Tương truyền Vua Chiêm từng một thời đóng đô nơi đây, tên gọi là Thành Phật Thệ, được xây dựng trên vùng Đồi Long Thọ.

Thời nay ai đi ngang qua đây đều không tránh khỏi nỗi cám cảnh ngậm ngùi như Bà Huyện Thanh Quang thuở trước qua bài Thăng Long Thành Hoài Cổ:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường 

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương 

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo 

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương 

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt 

Nước còn cau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ Cảnh đấy người đây luống đoạn trường 

Sát cạnh Thành Lồi, còn có Hổ Quyền và Điện Voi Ré. Cả 3 di tích cho thấy khu vực này nằm ở vị trí tâm linh quan trọng trong lịch sử của Champa và Việt Nam.

* Hổ Quyền:

Nơi đây là đấu trường tử chiến giữa voi – hổ nhằm tế thần trong ngày hội lớn, đồng thời phục vụ nhu cầu giải trí cho vua, quan cùng dân chúng.

Trước khi Hổ Quyền được xây dựng,  Cồn Dã Viên, tọa lạc trên dòng sông Hương là nơi diễn ra các cuộc thư hùng ác liệt này. Năm 1750, Chúa Nguyễn Phúc Khoát cùng triều thần đi trên 12 chiếc thuyền đến đây để xem trận đấu được coi là khủng khiếp và đẩm máu nhất lịch sử, vì từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc, 40 con voi đã tàn sát không thương tiếc 18 mãnh hổ.

Vào giai đoạn chưa có chỗ tỉ thí đảm bảo an toàn cho người xem, đã xảy ra vài sự cố hiểm nghèo. Như thời Vua Gia Long, trong lần thi đấu tổ chức tại Kinh Thành, một con hổ đã nhảy lên tát viên quản tượng té nhào xuống đất, rồi ông bị chính con voi của mình dẫm chết.

Thời Minh Mạng, vào năm 1829, vua ngự thuyền rồng xem trận đấu bên bờ bắc Hương Giang. Đang lúc giao tranh quyết liệt, thình lình chú hổ lao ra, bơi về hướng thuyền rồng. May mà Vua nhanh tay dùng cây sào đẩy lùi hổ. Lập tức quan quân chèo thuyền đến đâm chết ác thú, cứu Vua kịp thời.

Để tránh nguy cơ này tái diễn, Nhà Vua cho xây Hổ Quyền vào năm sau.

Thoạt đầu, các lễ hội nhằm rèn luyện kỹ năng chiến đấu cho voi, về sau biến thành trò tiêu khiển. Trong ngày đó, dân chúng và hương chức quanh vùng đặt hương án, bày biện lễ vật trên lộ trình Vua đi qua. Một toán lính mặc áo đỏ đội nón sơn, cầm khí giới nghiêm trang cung kính đứng hai bên đường suốt từ đấu trường tới bến bãi đậu thuyền Vua. Trận cuối cùng diễn ra vào năm 1904, dưới thời Vua Thành Thái.

Hổ Quyền thiết kế theo hình vành khăn với 2 vòng tường thành. Vòng trong cao 5.9 m, vòng ngoài 4.75 m.

Có một thực tế là tất cả các cuộc giao chiến, voi luôn luôn là kẻ chiến thắng. Kết quả này phát xuất từ quan niệm của các Đấng Quân Vương, loài voi đại diện cho cái thiện, còn cọp thì ngược lại, tiêu biểu cho cái ác. Quý Ngài nghĩ rằng Thiện phải thắng ác. Chính vì vậy mà người ta làm mọi cách hổ trợ voi. Trước mỗi trận, hổ bị cắt nanh, bẻ vuốt, không cho ăn uống đầy đủ như voi

* Điện Voi Ré:

Cách Hổ Quyền vài trăm mét, là chứng tích một thời của đội kinh tượng. Công trình hoàn tất năm 1817, nhằm suy tôn lòng trung thành của loài voi từng tham gia vào các trận đánh.

Theo truyền thuyết, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, khi giao chiến với quân đội Đàng Ngoài, một tướng sĩ Đàng Trong chẳng may hy sinh giữa trận tiền. Quá u buồn trước cái chết của chủ, con voi đã chạy vượt qua chặng đường dài hằng trăm dặm về tận Phú Xuân, đến địa điểm phía đông Đồi Thọ Cương, nó rống lên mấy tiếng long trời lỡ đất, như bày tỏ niềm phẩn uất đau thương, rồi phủ xuống trút hơi thở cuối cùng. Cảm động trước nghĩa cử trung thành của con vật, cư dân địa phương đứng ra làm lễ an táng, xây mộ đường hoàng. Người ta đặt cho cái tên là Mộ Voi Ré.

Sau khi Vua Gia Long lên ngôi, Ngài cho xây dựng bên cạnh Mộ này ngôi điện để thờ các vị thần bảo vệ và 4 con voi dũng cảm nhất trong các chiến trận triều Nguyễn. Điện Voi Ré rộng 2.000 m², kiến trúc theo thuật phong thủy. Vận dụng Thành Lồi làm bình phong. Phía trước là hồ trồng sen rộng 1.000 m², sâu 3 m, mùa hè sen nở màu hồng rực rỡ, ngào ngạt hương thơm. Voi thường ra đây tắm mát và uống nước trước khi tới Hổ Quyền thi đấu. 

4. BIỂN MẶN 


Một trong hơn 200 nhạc phẩm được ưa chuộng của Trần Thiện Thanh. Khi ca hát, lấy tên Nhật Trường. Ông tâm sự: hồi nhỏ tôi thích ca hát lắm nhưng bố mẹ không cho. Thế là phải chờ đến ban đêm đợi ông bà đi ngủ rồi mới dám hát. Nhiều khi ban ngày rất thèm hát mà phải đợi tới tối, thấy ngày sao dài quá nên tôi chọn tên Nhật Trường, có nghĩa là ngày dài.

Nổi tiếng về sáng tác cũng như ca hát. Cả hai lãnh vực đều rất thành công, được hằng triệu người hâm mộ.

* Nhà Văn Nguyễn Đình Toàn nhận xét: “Giọng ca ngọt ngào, trau chuốt và vừa đủ lãng mạn để hát những tình khúc của ông, những tình khúc luôn có một vẻ gì đó nửa thật, nửa mộng, dỗ dành, năn nỉ”.

* Hoàn cảnh sáng tác Biển Mặn:

Vào thập niên 60, Trung Chỉnh thường theo Nhật Trường lưu diễn ở các tiền đồn. Ca sĩ kể lại trên chương trình Asia 51: có hôm hai người đi chung chuyến phi cơ ra Quy Nhơn. Khi bay ngang Phan Thiết, anh nhìn xuống biển xanh với nét mặt tư lự, rồi lấy sổ tay viết vội vài dòng. Sau đó hoàn thành ca khúc Biển Mặn vào năm 1967, nói lên suy tư của người lính, về một vùng quê đã nuôi lớn mình bằng muối biển mặn.

Cao ngất Trường Sơn ôm ấp tình thương nước xuôi ra nguồn 

Tìm về Biển Đông, tình yêu thành sóng Thái Bình Dương 

Rồi từng đêm sương, sóng vỗ về ru giấc quê hương 

Nhưng quê hương chưa ngủ khi bom đạn tơi bời còn nhục nhằn dưới ruộng trên nương 

Tôi thức từng đêm thơ ấu, mà nghe muối pha trong lòng 

Mẹ là Mẹ Trùng Dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau

Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi 

Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai

Người yêu tôi, tôi mới quen mà thôi 

Khi dừng quân trên vùng vừa tiếp thu

Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài 

Gió lên từng chiều vàng nàng xỏa tóc trên biển xanh

Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa 

Lúc màu xanh biển mặn đục sắc mây 

Bảo yêu anh em muốn chuyện đôi mình 

Trong ngày xanh biển tình như màu trời xinh rất xinh

Tôi đến lại đi, xa vắng đời tôi chiến chinh lâu dài 

Miệt mài đời trai, vượt truông dài che khuất biển xanh

Đẹp tựa trong tranh, gót bùn lầy cho lúa thêm xanh

Trong bao lần quân hành, tôi qua vùng khô cằn 

Mồ hôi thành biển mặn trên môi 

* “Vài Nét về Bài Hát Biển Mặn”, Duy Khiêm, 25.2.06

“Tác giả diễn tả tâm trạng người lính trẻ sinh ra và lớn lên tại vùng duyên hải miền Trung. Trần Thiện Thanh gởi gắm tâm sự của mình vì Ông sinh ra ở Phan Thiết. Ông kể về những đêm ấu thơ chợt thức giấc, nằm nghe sóng biển rì rào để ru từng giấc ngủ. Nhưng quê hương đất nước hình như không ngủ được vì bom đạn vẫn còn cày nát ruộng đồng. 

Tuổi thơ lớn theo nhịp chảy của dòng suối, con sông từ trên cao Trường Sơn luân lưu tràn ra biển cả. Nơi vùng biển đó, tình yêu quê hương của chàng trai sẽ biến thành những đợt sóng cuốn trôi ra tận Thái Bình Dương mênh mông, bao la bát ngát.

Ngày tháng dần qua, ngoài gạo cơm của mẹ cha, thì những cơn gió biển mặn cũng nuôi anh khôn lớn. Rồi một hôm đẹp trời, theo tiếng gọi non sông, anh giả từ gia đình, tình nguyện tòng quân vào quân đội Cọng Hòa. Mãi tới 3 năm sau, lúc 24 tuổi, anh mới kể lại tâm sự này.

Dạo ấy chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt, người lính thường hành quân qua những làng mạc ven biển hoặc mật khu hẻo lánh xa xôi. Có vùng bị địch chiếm đóng một thời gian, rồi được ta lấy lại. Anh liền theo đoàn quân tới tiếp thu vùng vừa tái chiếm, giữ gìn an bình cho bà con thôn xóm. Chính tại nơi này, anh lính rơi vào tình yêu với cô gái trẻ ở vùng hoang vu rợp bóng dừa chạy theo bờ cát dài. Nàng hay ngồi mơ mộng, buông xỏa mái tóc huyền trong những buổi chiều vàng, và lại thầm khóc một mình lo cho duyên tình mỗi khi trời đổ mưa. Nhưng đang yêu là đầy mơ ước, nàng mong sao cho chuyện tình đượm màu trời xinh rất xinh.

Thời gian trôi mau. Anh lính phải theo đơn vị di chuyển về vùng khác, đành  rời xa người tình bé nhỏ. Bao lần hành quân sau đó, anh đi qua những vùng khô cằn sỏi đá, dưới cơn nóng nung người, những giọt mồ hôi nhỏ xuống trên má trên môi, lưỡi nghe mằn mặn, làm anh chợt nhớ xóm nghèo ven biển của mình, để rồi hát nghêu ngao bài ca Biển Mặn”. 

Trần Thiện Thanh còn sáng tác Tâm Sự Người Lính Trẻ, trong đó có những lời lẽ hẹn hò khi xa cách người yêu nghe thật tình tứ dễ thương:

Tàn đêm anh chưa ngủ 

Lều sương hoen bóng trăng gầy 

Từ khi ta cách trở 

Kỷ niệm chưa xóa bao giờ 

Người ơi, nếu hay rằng vì yêu

Vai áo tôi bạc màu để yên vui lối xưa

Tình kia vừa nhen tim đôi lứa 

Xin hẹn một lời dù chỉ một lời thôi.

* Đời tư: Nhật Trường trải qua nhiều mối tình. Có 4 người con với Bà Trần Thị Liên, vợ đầu, ly dị trước 75. Sau đó kết hôn cùng ca sĩ Hạnh Dung. Rồi qua Mỹ sống chung với Mỹ Lan, cả hai đều sinh hạ 1 con trai.

Ca Sĩ Mỹ Lan nói rằng: Trần Thiện Thanh là người chồng tốt, rất thương yêu vợ con, biết lo cho gia đình, khéo léo và tỉ mỉ, cáng đáng mọi việc trong nhà.

Năm 2000, Ông cùng một số thân hữu tổ chức buổi hát rong tại Westminster, gây quỹ xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ. Ông bày tỏ: Đây là hành động tự nguyện, xuất phát từ tấm lòng yêu mến, kính trọng và tưởng niệm người lính miền Nam trong tâm hồn và trái tim tôi. Tôi cảm thấy mình cần làm cái gì đó để góp công cho việc xây dựng tượng đài chiến sĩ Cọng Hòa đầu tiên trên đất Mỹ nói riêng và hải ngoại nói chung. Trong lúc sau 75, những tượng đài đó ở trong nước đã không còn – kể cả tượng mang tính chất nghệ thuật là “Tiếc Thương” cũng bị bàn tay Cộng sản hủy diệt.

Nhật Trường mất năm 2005 vì lâm  bệnh nặng.

5. CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ  


Pleiku là thành phố tương đối nhỏ về diện tích và dân số, nằm trên vùng Tây Nguyên. Do vị trí chiến lược quan trọng, tỉnh lỵ này được chọn làm nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2.

Tuy là thành phố nhưng là nơi lính nhiều hơn dân. Đủ cả sắc màu chiến y: nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, không quân, bộ binh, cảnh sát…

Trong muôn ngàn chiến sĩ đang ngày đêm xông pha ngoài trận tuyến thuở đó, có anh lính dáng dấp trông thật bình thường, chẳng chút gì đặc biệt về thân thế, cấp bậc hay chức vụ. Vậy mà vào một buổi chiều ghé thăm người bạn gái, bách bộ lang thang, đi lên đi xuống con dốc nơi phố thị, anh đã để hồn lắng đọng, làm nên bài thơ đầy xúc cảm, đưa hình ảnh Phố Núi trở thành địa danh sáng ngời trong thi ca cũng như âm nhạc. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua mà tên Vũ Hữu Định vẫn mãi còn được nhắc nhở mỗi khi người ta nói đến Pleiku. Đây là bài thơ nổi tiếng ấy:

Phố núi cao phố núi đầy sương

Phố núi cây xanh trời thấp thật gần 

Anh khách lạ đi lên đi xuống 

May mà có em đời còn dễ thương 

Phố núi cao phố núi trời gần 

Phố xá không xa nên phố tình thân 

Đi dăm phút đã về chốn cũ 

Một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng 

Em Pleiku má đỏ môi hồng 

Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông 

Nên mắt em ướt và tóc em ướt 

Da em mềm như mây chiều trong

Xin cảm ơn thành phố có em

Xin cảm ơn một mái tóc mềm 

Mai xa lắc bên đồn biên giới 

Còn một chút gì để nhớ để quên.

Theo hồi ký Phạm Duy: “Năm 1972, tôi gặp vài nhà thơ trẻ đang đóng quân tại miền biên giới Tây Nguyên. Lúc đó, tỉnh lỵ Pleiku còn nhỏ hẹp, Vũ Hữu Định mô tả cái thành phố đi dăm

phút đã về chốn cũ trong bài thơ rất dễ thương. Tôi quá ưa thích và lập tức phổ thành bài ca mà không thêm bớt một chữ nào”.

* “Phạm Duy và Bạn Thơ: Chút Gì Để Nhớ”, Kim Anh sưu tầm, sites.google.com:

“Người yêu thơ nói nhờ Họ Vũ mà Pleiku thành danh Phố Núi, còn Phạm Duy đã giúp Pleiku được nhiều người biết đến qua việc phổ nhạc bài thơ. Cả hai đã góp công đội vương  miện cho thành phố vốn xa xôi hiu quạnh này. Người ta nghe trong đó có tiếng gió, tiếng suối, tiếng đá, tiếng cây rừng…âm thanh trong trẻo và phóng túng của đại ngàn tràn ngập qua một bài hát, mà lạ lùng thay, ca từ lại mềm mại như sương. Bài thơ kết hợp với những nốt nhạc tài hoa của Phạm Duy, đã biến khu phố nhỏ vùng cao buồn tênh thành một địa danh lãng mạn trong thi ca Việt Nam!”

Vũ Hữu Định sinh năm 1942, từng  phục vụ ở chiến trường cao nguyên. Sau 75 bị bắt “học tập” 1 tháng. Cả đời nghèo, mê rượu, sống lang bạc kỳ hồ. Kiếp phù sinh quá ngắn ngủi. Nằm 81, sau chầu nhậu với bạn bè ở Đà Nẵng, Ông bị té lầu rồi đi vào thiên thu, giả biệt cuộc chơi.

Về đám tang nhà thơ, tác giả Trần Tuấn tường thuật trong bài “Vũ Hữu Định, Rượu Thơ Trần Thế”  (vanchuongviet.org, 9.10.07): “Chị Vân, vợ anh Định cho hay, Anh chết, không đủ tiền mua quan tài, bạn bè xúm nhau góp nhặt được $600, tôi vơ vét thêm một ít, trong khi cái rẻ nhất cũng $1.200. Cả nhà đang ngồi chết điếng, không biết tính sao, thì bà chị anh đi làm ăn xa bất chợt trở về. Chị bảo không biết sao mấy hôm cứ như lửa đốt, bèn đem một số tiền lớn về Đà Nẵng, cũng chưa tính để dùng vào việc gì. Ai ngờ lại làm đám tang cho em…Mẹ con, chị em ôm nhau mà khóc. Đám tang ảnh đông lắm, gia đình, bà con, bạn bè, hàng xóm, người đi xe máy hoặc xe đạp, kẻ lóc cóc chạy bộ theo sau…

* “Thi Sĩ Vũ Hữu Định và bài thơ Còn Chút Gì Để Nhớ”,

nhacvangbolero.com

“Trong Thơ Vũ, Phố Núi hiện ra đầy thơ mộng, khuất sau làn sương mờ lãng đãng, ở đó ngoài cây xanh, trời thấp, còn có người con gái mỏng manh như mây chiều, mái tóc mềm buông lơi trong những ngày đông gió lộng làm cho lữ khách bâng khuâng, ngây ngất. 

Vũ Hữu Định đã vẽ lên chân dung đặc thù của Pleiku, bao gồm những hình ảnh rất nhẹ nhàng, tinh tế, từ con người đến cảnh vật. Ông khéo léo đưa thành phố nhỏ từ vùng núi rừng trở thành nơi nhuốm màu huyền thoại, pha chút bi tráng”

Thi sĩ Kim Tuấn là lính đóng quân lâu  năm ở đây, làm khá nhiều thơ cho phố núi sương mù, đã phải thốt lên: “Mình từng ăn dầm nằm dề tại chốn đất đỏ này mà chẳng làm nên tích sự gì. Bỗng dưng một gã giang hồ từ  đâu đó ghé chơi, đã viết bài thơ nỗi đình nỗi đám cho Pleiku”.

Thêm 3 nhà thơ khác nói về Vũ Hữu Định:

* Du Tử Lê: “Khoảng đầu thập niên 70 là thời gian Nguyễn Tất Nhiên tha người về nhà tôi nhiều nhất, trong đó có Vũ Hữu Định. Một hôm Nhiên cười toe toét: – Em Pleiku má đỏ môi hồng đó anh!

Lúc này, ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ đang trở nên thịnh hành. Tôi nghĩ, phải thành thật ghi nhận rằng, trước khi có bài hát này, gần như không ai biết tới Định. Điều tôi thích nhất nơi Định là anh không bao giờ thảo luận văn chương và rất họa hoằn mới bắt tôi phải nghe thơ của anh (điểm này trái ngược với Nhiên). Anh cũng không màu mè, không lên gân, không tác điệu cho ra vẻ của một người làm thơ. Cần gì, anh nói thẳng thành lời, không quanh co rào đón. Bên cạnh dáng dấp hơi ngơ ngác, cục mịch, trong ghi nhận của tôi, Định là người rất ý tứ”. 

* Luân Hoán: “Với chiều cao 1.6 m nhưng có bề ngang, cọng với dáng đi chữ bát, và lối ăn vận lè phè, Định trông hơi thấp. Không mấy đẹp trai nhưng coi cũng bắt mắt. Nụ cười xuề xòa luôn đi trước giọng nói dí dỏm bộc trực đã thắp sáng khuôn mặt màu nâu sậm của anh.

Tôi gặp và quen Định năm 70, lúc đó hình như đang mặc áo Xây Dựng Nông Thôn, làm việc lòng vòng quanh ven rìa thành phố Đà Nẵng như Thanh Khê, Hà Khê, An Hải, Sơn Trà…Anh chợt đi chợt đến, lúc nào cũng có vẻ thong dong, giàu có thì giờ phất phơ phố xá. Đời sống vật chất không mấy khả quan, quen biết nhau khá lâu nhưng anh từ chối cho tôi đến nhà chơi.

* Đinh Trầm Ca: “Một hôm khoảng  năm 72, Định cầm băng cassette do chính tay Phạm Duy ký tặng đi vào nhà tôi mở nghe. Lại một phen rôm rả ồn ào. Vì ở chung với tôi còn có đám học sinh rất yêu thơ nhạc và sính chuyện làng văn. Họ mượn về sang và hát theo. Định cũng biết đàn guitar và giọng ca ngọt ngào. Thời gian này hình như anh làm việc ở Đà Nẵng nên hay ghé tôi. Mỗi lần đến là một chương trình “thế giới đó đây”. Anh luôn sôi động, có cái mới để kể. Chính anh đã nhen nhóm trong tôi chút lửa văn nghệ để rồi viết lại khá nhiều trong những năm 73 – 75 , mặc dù chẳng còn gì sau 30.4.75″.

Bài thơ hay, gợi nhớ một thời tao loạn. Tiếc là ngày nay, Pleiku đổi khác hơn xưa, mất hẳn bản sắc thơ mộng dễ thương thuở nào. Cái “hồn phố núi” và “hồn thơ” không còn.

Những người muôn năm cũ 

Hồn ở đâu bây giờ?

(Vũ Đình Liên)

6. NHA TRANG NGÀY VỀ 


Theo hồi ký Phạm Duy: Năm 1944, tại Phan Thiết, Ông làm quen với góa phụ rất trẻ có hai dòng máu Việt – Anh, nhũ danh Helene. Từ đó đôi bên nảy sinh mối tình nhẹ nhàng, say sưa và trong sạch. Tuy lòng quý mến nhau nhưng không ai dám bày tỏ yêu đương. Suốt tháng trời, cặp giai nhân thường dạo chơi quanh phố xá đông người hoặc trên bãi cát vắng vẻ nhưng không hề nắm tay nhau.

Sau khi giả từ đế theo gánh hát tiếp bước giang hồ, Phạm Duy nhận nhiều thư và thơ của Helene.

Hơn 10 năm sau, một hôm đang lang thang trước Chợ Bến Thành, đột nhiên Helene hiện ra. Mừng mừng tủi tủi. Theo chân Helene về nhà nàng trên đường Trần Hưng Đạo. Bất ngờ, con gái là Alice, 16 tuổi, chạy ra quấn quít nắm tay Phạm Duy như người quen biết lâu ngày.

Đang còn chấn thương vì thảm kịch sau vụ ái tình với Khánh Ngọc, Phạm Duy đi tìm an ủi ở người bạn cũ. Nhất là với cô con gái giống mẹ như đúc.

Thế rồi hằng tuần Phạm Duy lái xe hơi đưa Alice đi chơi, nghe Nàng trút bầu tâm sự của cô gái tuổi dậy thì. Dần dà cũng không thoát khỏi lưới tình, nhưng vẫn là tình cao thượng, kéo dài cả 10 năm. Alice gởi tặng Phạm Duy 300 bài thơ, Ông cũng viết nhiều ca khúc tặng nàng. 

Theo Thời Báo Media (“Nha Trang..Ngày Về”, 06.01.22): Trước khi đi lấy chồng, Alice gởi Phạm Duy bức thư: “Mười năm quá đủ cho một mối tình đẹp và một đời người ngắn ngủi. Từ đây đến ngày cưới có thể L. sẽ xin gặp chú 1, 2 lần nữa. Chẳng để làm gì cả. L. chắc chú cũng nghĩ như L. Chẳng có gì bi thảm, chẳng có gì tiếc hận. Mối tình đẹp kết thúc một cách êm ái”.

* Nhạc Sĩ Phạm Duy và Nha Trang Ngày Về  – Dã Tràng Ơi Sao Lấp Cho Vơi Sầu Này”, Niệm Quân, nhacxua.vn, 26.12.20:

“Trong đời nghệ sĩ bôn ba lưu lạc, Phạm Duy trải qua nhiều mối tình. Nhưng có lẽ sâu đậm nhất là chuyện tình thơ-nhạc với người thơ Alice (Lệ Lan). Ông kể lại: “Vì chênh lệch tuổi tác, cũng như không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ đầu rằng đây chỉ là mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Làm nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không mong  chiếm đoạt người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi chẳng có ràng buộc nhau. Mỗi cuối tuần gặp gỡ. Thế là quá đủ”.

Năm 1970, sau khi Alice lấy chồng, Phạm Duy quay quắt nhớ về ngày tháng cũ. Ông bắt đầu viết chùm ca khúc “Tình ca một mình”, trong đó có bài Nha Trang Ngày Về đầy những oán tha, bi thương, sầu muộn giữa đêm khuya mịt mùng nơi biển vắng, khóc thương cuộc tình đã vuột mất.

Khi xưa, cũng tại bãi biển này, hai người từng hẹn hò tình tự. Nhưng đêm nay người xưa chẳng còn, biền biệt cách xa. Người nhạc sĩ chợt thấy nỗi niềm cô độc thấm vào tận buồng tim, rồi hụt hẫng, đau thương, không ngăn được dòng nước mắt tức tưởi. Cuối cùng, Ông tự nhủ thầm:

“Ân tình trong lúc đôi mươi 

Bao giờ cũng vẫn mau phai”

và đành chấp nhận “chít khăn tang” cho cuộc tình ảo mộng. Xin hãy  nghe Ông tâm sự:

Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya

Tôi đi vào thương nhớ, tôi đi tìm cơn gió, tôi xây lại mộng mơ năm nào 

Bờ biển sâu, hai đứa tôi gần nhau

Đêm xưa biển này, người yêu trong cánh tay

Đêm nay còn cát trắng, đêm nay còn tiếng sóng 

Đêm nay còn trăng soi, nhưng rồi chỉ còn tôi trên bãi đêm khóc người tình 

Cát trắng thơm tho lùa vào trong nắm tay

Nào ngờ cát úa tuôn ra dần dà đâu có hay

Ân tình trong lúc đôi mươi

Bao giờ cũng sẽ mau phai

Cho ngàn thông réo tên ai, từ đó

Lớp sóng mơn man thịt mềm, da ngát hương

Nào ngờ sóng cuốn trôi đi lầu vàng trên bãi hoang

Khi tình tôi chít khăn tang 

Ai gào ai réo đêm trăng 

Cho từng lớp sóng kêu than 

Nha Trang ngày về, ngồi đây tôi lắng nghe

Đê mê lòng tôi khóc, như oan hồn trách móc 

Ôi trăng vàng lẻ loi Ôi đời! 

Trời biển ơi ! không cố nuôi tình tôi 

Nha Trang biển đầy tình yêu không có đây 

Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát 

Chui sâu vào thân xác lưu đầy 

Dã tràng ơi ! Sao lấp cho vơi sầu này?

7. MIMOSA THÔI NỞ 


Từ 1959 – 63, ba tập thơ Truyện Chúng Mình của Nhất Tuấn ra đời. Là thi sĩ gốc quân nhân với những bài thơ tình ướt át, mặn mà, thiết tha. Ông đã đáp ứng ước mơ của lứa tuổi học trò đang bước vào giai đoan mộng mơ. Họ chuyền tay nhau chép những lời thầm thì đôi lứa, những hẹn hò đón đưa, những buổi đi lễ nhà thờ, những nhớ nhung xa cách, những giận hờn trách móc…Bên cạnh một số nhà thơ tiếng tăm thuở ấy như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyên Sa…, thì Nhất Tuấn cũng được giới thanh niên nam nữ vô cùng ái mộ. Nhiều người thuộc nằm lòng thơ Ông vì lắm chỗ phản ánh đúng tâm trạng của chính mình trong đó.

Do thụ huấn ở Quân Trường Võ Bị Đà Lạt, nên Ông hay nhắc nhở về loài hoa mimosa nở vàng rực rỡ vào độ thu đông khắp thành phố sương mù này qua một số bài thơ, cả lúc buồn cũng như lúc vui.  

Lại một Noel nữa 

Mấy mùa Giáng Sinh rồi 

Anh ở đồn biên giới 

Thương về một khung trời 

Chắc Đà Lạt vui lắm 

Mimosa nở vàng 

Anh đào khoe sắc thắm 

Hương ngào ngạt không gian

(Bài Niềm Tin)

Hoặc:

Một đi vĩnh biệt cao nguyên

Mimosa trả…cho miền núi non

Làm gì có chuyện sắc son

Thì thôi…đừng dại mỏi mòn mắt  trông 

(Truyện Cây Hoa Mimosa)

Và đặc biệt là bài Mimosa Thôi Nở:

Noel xưa anh nhớ 

Khi hãy còn yêu nhau

Nhà thờ nơi cuối phố 

Thấp thoáng sau ngàn dâu 

Anh chờ em đi lễ 

Chung dâng lời nguyện cầu 

Mimosa…bừng nở 

Đẹp như tình ban đầu 

Đà Lạt mờ trăng lạnh 

Đường về ta bước mau

Rồi anh hỏi khẽ em

Đã xin gì với Chúa 

Trong đêm lễ Noel

Em lắc đầu chả nhớ 

Nhưng hồng lên đôi má 

Nắm tay anh đợi chờ 

Trông em sao xinh quá 

Và ngoan như nàng thơ

Mới bốn mùa thu qua

Mimosa…vẫn nở 

Sao mối tình đôi ta

Ai làm cho dang dở?

Đêm nay Noel đây

Chuông nhà thờ khắc khoải 

Gió đồi lang thang bay

Mưa buồn giăng ngõ tối 

Anh quỳ bên tượng Chúa 

Cúi đầu chắp hai tay

Lạy Chúa con chờ đợi 

Người ngày xưa về đây

Nhưng em không về nữa 

Đường khuya mưa bay bay

Mimosa…thôi nở 

Trong hồn anh đêm nay 

Truyện Chúng Mình bao gồm một số thơ tâm tình, chúng ta bắt gặp chàng thanh niên đôi mươi, yêu đương mơ mộng.

Khung cảnh thần tiên anh nhớ mãi 

Chiều mưa hai đứa rủ đi xa

Đến gian quán nhỏ dìu nhau lại 

Trời đất này riêng…một chúng ta

Hai đứa sánh vai đi bẽn lẽn

Người xoắn tay, kẻ cắn khăn thêu 

Sợ thiên hạ thấy nên thèn thẹn 

Ngơ ngẩn làm sao lúc mới yêu.

Thuở ấy, những năm đầu thập niên 60, chuyện yêu đương trai gái hãy còn đầy ngại ngùng che dấu, không dám bộc lộ công khai. Bởi vì lỡ để cho người ta thấy nắm tay nhau hoặc những cử chỉ liếc mắt đưa tình, thì hôm sau không tránh khỏi lời đồn đãi bàn tán của đám người xung quanh, bà con, bạn bè, xóm giềng, gây ra niềm băn khoăn, khắc khoải lo âu cho đôi nhân tình. Đó cũng là tâm sự thầm kín của nhiều thanh niên nam nữ:

Làm sao có lại em ơi!

Những nụ hôn chứa chất đầy tình ái 

Những buổi chiều đi bên nhau ái ngại 

Em sợ bà con và ngại bạn bè 

Bởi họ là những người hay bàn tán quá 

Thấy mình đi chung đã vội xì xào…

(Làm Sao Có Lại Em Ơi, Phạm Văn Duyệt)

Nhất Tuấn (Phạm Hậu) là thi sĩ được phổ nhạc nhiều nhất, với 40 bài hát. Xin cùng đọc Tiếng Hát Đồi Sim (Thơ Nhất Tuấn, nhạc Hoàng Lan):

Đà Lạt mờ sương khói 

Một mình anh lặng im

Nghe hồn mình nức nở 

Nghe hồn lắng trong tim

Giá mình đừng gặp nhau 

Trên núi đồi Đà Lạt 

Vì tình yêu ban đầu 

Đã tàn theo sóng nhạc 

Người xưa…người xưa đâu?

Để…lòng anh tan nát 

Đời bãi bể nương dâu 

Cũng buồn như tiếng hát 

Trên Tạp Chí Cỏ Thơm có phần biên khảo của Phạm Anh Dũng: “Nhớ về Nhà Thơ Nhất Tuấn”. Dưới đây là 3 bài trong đó:

* Nhớ Người Đi (Hồng Thủy)

Những năm cuối đời, nhà thơ bị chứng mất trí nhớ (alzheimer) không còn biết gì. Hồng Thủy ghi lại tâm sự nát lòng từ người bạn đời của nhà thơ, cựu nữ sinh Trưng Vương, Bạch Thị Hoàng Oanh: “Oanh vẫn hiểu dạo sau này anh Hậu sống như một cái bóng trong nhà, chỉ thấy hình hài của Anh, dù không còn biết cảm xúc hoặc trò chuyện được nữa, nhưng cái bóng ấy vẫn làm cho Oanh cảm thấy ấm lòng, cảm thấy mình không cô đơn, cảm thấy mình còn chỗ dựa. Bây giờ bỗng dưng mất hết, cái bóng thân yêu ấp ủ mình đã bỏ đi, biến mất rồi Thủy ơi, hụt hẫng và cô đơn quá”.

Chuyện gì đến sẽ đến. Ai rồi cuối cùng cũng phải đến lúc chia tay, giả từ nhân thế. Đó là nỗi niềm của Nhất Tuấn trong bài Thôi Trang Đời Đã Khép:

Và những chiều Đà Lạt 

Một mình trên đồi thông 

Mưa nhạt nhòa trong mắt 

Gởi sầu…vào mênh mông.

* Khi Thi Sĩ Khóc (Trần Mộng Tủ)

Đã lâu rồi anh không nhớ tên mình 

Anh không nhớ tên xóm tên làng 

Anh không biết sáng biết chiều…

Anh chỉ nhớ có một người duy nhất…

Anh chỉ tay vào nàng, gọi…Oanh ơi !

Bạn đọc thơ cho anh nghe

Có nhớ thơ của ai không 

Anh lắc đầu từ tốn ăn miếng bánh 

Nhưng ô kìa,

Hình như Anh đang khóc 

Hình như có người đang đọc thơ Nhất Tuấn 

Nước mắt giàn giụa trên mặt anh

Nước mắt giàn giụa trên thi sĩ 

Khi nghe đọc thơ mình.

* Lại Trình Diện Phủ Tổng Thống (Phạm Hậu)

Một hôm, Phủ Tổng Thống mời 10 người thuộc Đài Phát Thanh Quân Đội và Phòng Báo Chí vào Dinh Độc Lập. Tới giờ hẹn, Ông Hoàng Đức Nhã, Bí Thư kiêm Tham Vụ Báo Chí Tổng Thống cho biết:

Hôm nay ngày đẹp trời, Tổng Thống cho mới các anh em tới nói chuyện và ở lại ăn cơm chiều với Tổng Thống. Tổng Thống được Trung Tướng Trung trình lên và có nghe radio, đọc báo thường xuyên, biết các anh em làm việc vất vã, lâu lâu cũng muốn anh em thoải mái một chút. Rồi Tổng Thống đi ra, bắt tay từng người, ngồi xuống nói chuyện với Ông Nhã và chúng tôi thật là vui. Bữa cơm chiều từ nhà hàng đem tới khá ngon.

Phạm Văn Duyệt

Chỗ Có Hạt Bụi Lăn Qua. Thơ Hư Vô



Chỗ có hạt bụi lăn qua
Trong mắt em bỗng kiêu sa lạ lùng
Một ngày không được ở chung
Cũng làm đóm lửa cháy bùng đời nhau.

Tôi như ngọn khói bạc đầu
Tan vào em, chỗ vết đau dị kỳ
Chút buồn sót lại trên mi
Em về ngủ muộn li bì giấc tôi.

Mùa thu mấy bận luân hồi
Mà nghe chiếc lá ngậm ngùi dưới chân
Bước qua một khúc đường trần 
Ngoảnh lại còn thấy tình nhân đứng chờ.

Hợp tan đâu phải tình cờ
Hạt bụi còn biết hẹn hò đó em
Tôi có lạc tới vô biên
Hồn thành mây trắng cũng triền miên nhau…

Hư Vô

Ngôn-Ngữ của Tiểu-Thuyết Hồ Biểu-Chánh. Nguyễn Vy- Khanh


Nguyễn Vy-Khanh


Trong bài nầy, chúng tôi thử tìm hiểu ngôn-ngữ người Nam-kỳ lục-tỉnh như đã được tác-giả Hồ Biểu-Chánh đưa vào trong tiểu-thuyết, từ đó hiểu tại sao tiểu-thuyết của ông được người đương thời yêu thích và người hôm nay tìm đọc lại. Tác phẩm là một toàn bộ cấu trúc ngôn ngữ và qua toàn bộ hàm xúc này, tác giả dựng nên một ý nghĩa, một tổ chức. Nhà phê bình làm công việc nối kết ẩn dụ với hiện thực, tâm lý, ý nghĩa thật, qua ngôn ngữ của tác phẩm. Qua ngôn từ và cách dùng văn, nhà văn bày tỏ cách thế sống của mình, cho thấy những mối liên hệ giữa tác-giả với thế giới. Nhà nghiên cứu phê bình qua phân tích sẽ xác định lại những liên hệ và cách thế của tác giả.

Trước hết, ai cũng biết ngôn-ngữ là một hiện tượng xã-hội, một phương tiện giao-tiếp mà ý nghĩa cũng như sự sử-dụng có lịch-sử cũng như nguyên do. Ngôn-ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người, nên khi đưa vào tiểu-thuyết, ngôn-ngữ ấy cho thấy tương quan xã-hội! Nói ngôn-ngữ có tính xã-hội là nói rằng tiếng nói đó có biến hóa theo địa-lý và thời gian – chúng tôi nói biến-hóa mà không nói là tiến-hóa, vì nghiên cứu ngôn-ngữ là tìm hiểu nguồn gốc, trạng thái, biến hóa, ảnh-hưởng, v.v. hơn là cho rằng đúng hay sai, cao hay thấp! Chúng tôi không xét về giá-trị của ngôn-ngữ sử-dụng, không đánh giá đúng sai, mà chỉ xét về mặt văn-hóa và văn-học của ngôn-ngữ sử-dụng trong tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh. Hồ Biểu-Chánh là tác-giả khởi đầu sự nghiệp văn hồi đầu thế kỷ XX và là một trong những nhà văn mà tác-phẩm đã góp phần làm vững mạnh nền móng sơ khởi cho nền văn-học chữ quốc-ngữ. Ông được xem là nhà văn sở trường đưa vào trong trong tiểu thuyết tiếng nói thường ngày – còn được gọi là bạch thoại và khẩu ngữ, của người Nam-kỳ. Một lựa chọn có ý-thức, vì ông theo truyền thống viết như nói, nói như thật nói, nói xuôi, tức không kiểu cách.

Ngôn-ngữ là một sản-phẩm có tính xã-hội, từ ngôn-ngữ và qua tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh, người đọc và nghiên cứu sẽ nhận ra một xã hội Nam-kỳ buổi giao-thời đất nước mất chủ quyền; với những kẻ tai mắt hoặc có quyền hành mới, xã-hội của những điền chủ, quan quyền, hội đồng ở thôn quê, của ông Phủ, ông Phán, ông đốc-tờ, thầy Thông, cô Ký ở chốn thành thị, bên cạnh những kẻ bán hàng rong, tài-xế, những kẻ làm công, cu-li, lục lộ, làm công-nhật các công xưởng, bàn giấy, cũng như giới điếm-đàng, bụi đời, v.v. Với phương tiện ngôn-ngữ, Hồ Biểu-Chánh ghi lại cái đẹp, cái hay cũng như phơi bày mặt trái của xã-hội trưởng giả, những lường gạt, phung phí, những chuyện loạn luân, giết người, cướp của, đoạt gia sản, v.v. bên cạnh những nhân quả, rủi may, chuyện con cái những kẻ sang giàu phải chịu nhiều nỗi gian truân, như những Cẩm Vân trong Vì Nghĩa Vì Tình, Phi Phụng trong Nhơn Tình Ấm Lạnh, Thu Hà trong Khóc Thầm, Bạch Tuyết trong Ai Làm Ðược… Người nghèo cuộc sống thật đáng thương như Trần Văn Sửu trong Cha Con Nghĩa Nặng, hương hào Ðiều trong Khóc Thầm, Phục trong Nợ Ðời, v.v.

Vậy, bối cảnh của gần toàn bộ tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh là các vùng đất thôn quê và thành thị, những nơi chốn khác nhau của miền lục-tỉnh. Ngôn-ngữ, nhân-vật, tâm lý cũng là của con người sống chết với miền đất mới! Bối cảnh tiểu thuyết của Hồ Biểu-Chánh cũng là những nơi ông đã sống và làm việc, do đó một mặt tác-giả có nhiều ấn tượng, cảm hứng để viết, mặt khác có những nhận xét, hiểu biết thực tế; vì thế nên khi tả cảnh tả người ông đã ghi nhận được những nét tinh tế, linh động và đặc-thù địa-phương! Ngay từ tiểu-thuyết văn xuôi đầu tay Ai Làm Ðược, khởi thảo từ 1912 (được sửa và in năm 1922), ông đã chọn Cà Mau, là nhiệm-sở làm việc, làm bối-ảnh cho tiểu-thuyết. Một chi tiết khác tuy nhỏ nhưng không kém phần đặc biệt là ông đã ghi lại ở cuối tất cả các tiểu-thuyết nơi và thời điểm sáng tác.

  1. Cá-tính ngôn-ngữ địa-phương

Ngôn-ngữ là tín-hiệu, nghĩa là có những nét đặc-thù, được dùng để nói ra và nói lên điều gì, trong một môi-trường, ngữ-cảnh (context). Tiếng láy, tiếng dùng ngắt câu hay cuối câu, v.v. đều là những phương-tiện và nằm trong diễn trình biểu-hiện, trình bày, … cũng như những tiếng kiêng kị (thí dụ ánh / yến: yến sáng, yến mặt trời). Hồ Biểu-Chánh đã sử dụng ngôn ngữ bình dân, giản dị nhưng không kém phần độc đáo của riêng ông vừa tượng hình, tượng thanh, vừa diễn tả được tâm trạng, tình cảm của nhân vật. Xin ghi lại một số chữ dùng trong tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh: buồn nghiến, huỡn bước, lóng nầy, lẹo chẹo, thẳng búng, nằm dàu dàu, nằm không cục cựa, chau-vau, ngồi ngó cững, ngồi chồm hỗm, ngồi xo ro, bươn bả, đi riết, đi nhầu, bươn bả đi tuốt, đi lầm lũi, đứng xớ rớ, đứng dụ dự một hồi, nói mờ ơ, dụ dự không muốn nói, nói bứt, ngó chừng xăn văn xéo véo, ngủ nhầu, nước mắt nước mũi chàm ngoàm, rụt rịt bên chơn, ngộ, hai bàng tang, ngó chằng-chằng, v.v.

Văn giản dị được bổ xung bởi những từ láy, những từ ngữ tiếp âm đơn hoặc ghép, riêng nhưng đầy lí thú của Nam Bộ, gây sống động và đồng thời gợi hình qua âm thanh, hình ảnh: mày mạy, sơ sịa, sâu sia, quanh quứt, tàm làm, nhụt nhụt, râu lún-thún, nhảy xoi-xói, v.v.

Ngôn-ngữ của con người Nam-kỳ là một phương ngữ phản ảnh chân dung, hình ảnh địa phương đồng thời phản ánh quá trình lịch-sử của sự phát triển một vùng đất, của tiến trình Nam tiến. So với miền Bắc, phương ngữ Nam không có nhiều ngữ âm địa phương, nghĩa là khá thống nhất. Trong tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh, nếu ngôn-ngữ có khác biệt là do không gian thị tứ hoặc thôn quê. Toàn bộ tác-phẩm của ông cung cấp khá nhiều và đa dạng phương ngữ của Nam-kỳ. Ngôn-ngữ thường nhật và sinh động: ba láp, bãi buôi, hà rầm, nói phang ngang, hỏi phăng, giằn thúc, lượt bượt, láng cháng, lẹo chẹo, mày mạy, trót giờ, gió máy, v.v.

Tiếng nói của thôn quê, rẫy ruộng khá nhiều trong tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh: Nợ Ðời, Lòng Dạ Ðàn Bà, Cha Con Nghĩa Nặng, Con Nhà Nghèo, Lời Thề Trước Miễu, … Cảnh nghèo bi thương được tả trong Chút Phận Linh Đinh (1928): Thu Vân nghèo đói quá, phải dấu tông tích tìm đến nhà ông Hội Đồng là ba của Chí Ðại là người yêu nhưng không được cưới nàng vì con nhà nghèo, xin việc. Không được đành xin làm gạch sống qua ngày:
” … – Mẹ con tôi nghèo khổ không có chỗ làm ăn, nghe nói ông Hội Đồng giàu có mà lại nhơn đức, nên đến đây xin làm công việc cho ông mà nhờ hột cơm tư. Không biết có ông Hội Đồng ở nhà hôn chú? (…) Chú làm ơn cho tôi vô, tôi lạy ông, tôi ở ông bắt làm việc chi cũng được miễn là mẹ con tôi có cơm ăn một ngày hai bữa thì thôi.

  • Không có được. Hễ tôi nói không được là không được. Chị đừng có cãi mà.
    (…)
  • Tôi muốn làm gạch quá, không biết họ mướn không bà há?
    Bà già ấy day lại ngó nàng rồi đáp:
  • Mướn, chớ sao lại không mướn.
  • Không biết họ mướn một ngày bao nhiêu hở bà?
  • Thuở nay có lò gạch nào mướn làm ngày bao giờ. Mình làm trăm làm thiên rồi tính tiền chớ.
  • Làm một trăm là bao nhiêu?
  • Một trăm gạch là một cắc, đại tiểu gì cũng vậy. Còn ngói một trăm thì tính một cắc hai.
  • Một ngày bà làm được mấy trăm?
  • Không có chừng, ôm đất, nhồi đất thì lâu, chớ in mà bao lâu. Nếu trời nắng, một ngày làm tới hai, ba trăm.
  • Không biết mấy người làm đây họ ăn ngủ ở đâu bà há?
  • Ai có nhà nấy chớ.
  • Còn mấy người ở xa, không có nhà tại đây họ làm sao?
  • Kia kìa, có mấy cái chòi đó, vô đó mà ở. (…)
    Nàng dòm coi trong chòi trống trơn; phía tay mặt thấy có một cái chõng mà cái chõng lại khác hơn cái chõng của người ta: sáu cây nạng đóng xuống đất làm chơn, trên gác ba cây ngang rồi phủ vạt tre thưa thưa. Có một chiếc đệm cuốn bỏ trên chõng chớ không thấy mền mùng chi hết. Phía trong có dụm ba cục gạch làm ông táo. Gần đó có để một cái nồi, hai cái ơ, với vài cái chén, vài cái dĩa đá. Tài vật trong chòi chỉ có bao nhiêu đó mà thôi.
    Thu Vân thấy quang cảnh như vậy thì nàng đau đớn trong lòng, song nàng chúm chím cười. Vì nàng nghe con nhỏ hồi nãy kêu bà già ấy là “Bà Sáu” nên nàng dắt chước kêu mà nói rằng:
  • Cha chả, chòi nhỏ quá như vầy mẹ con tôi ở đây thì cực cho bà lắm, bà Sáu há?
    Bà Sáu day lại cười mà đáp rằng:
  • Cực giống gì, ăn nhiều chớ ở mà hết bao nhiêu.
  • Tối chỗ đâu mà ngủ?
  • Có một cái chõng đó chi! Lo dữ hôn.
  • Cái chõng nhỏ quá ngủ sao đủ?
  • Ngại gì. Như có chật thì tôi để cho hai mẹ con ngủ đó tôi ngủ dưới đất cũng được mà.
  • Ai mà nỡ để cho bà ngủ dưới đất…”

Dưới thời thuộc Pháp, thôn quê là nơi bị giao-động và thay-đổi nhiều nhất, từ nếp sống đến công việc làm và cả đời sống gia-đình. Nơi thị tứ, tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh đã ghi lại ngôn-ngữ thành thị của đủ giới người, cả giới giang hồ, anh chị bến xe, nhà ga, v.v. cũng như cuộc sống lam lũ nơi các xóm lao động v.v. , trong Nợ Ðời, Ông Cử, Lạc Ðường, ..

Giới trí thức có tân-học hoặc chí-khí, có lòng với dân với đất nước, được tác-giả trình bày trong Ý Và Tình, Một Ðời Tài Sắc, Tân Phong Nữ-Sĩ, Bức Thư Hối Hận, … Hãy nghe một tranh luận về đường lối khai hóa xã-hội giữa Vĩnh Thái, một trí thức du học Pháp về, và Lê Hưng Nhơn, đại diện những thức-giả nơi thủ đô Nam-kỳ, trong Khóc Thầm (1929):
“… – Tôi mới hiệp với mấy ông bạn đồng chí mà lập tờ Quốc Dân báo. Vì tôn chỉ tờ báo chúng tôi là khai thông trí thức bảo thủ lợi quyền kết giải đồng tâm chấn chỉnh phong hóa cho quốc dân (…).
Vĩnh Thái ngồi chim bỉm mà nghe, chừng Lê Hưng Nhơn nói dứt rồi, chàng đáp rằng:

  • Ông nói nghe hay lắm, mà theo sở kiến của tôi, thì nhựt trình quốc ngữ in uổng giấy mực, đọc mất ngày giờ chớ không có ích chi hết. (…). Từ hồi nào cho đến bây giờ tôi nhứt định không thèm đọc nhựt trình quốc ngữ. Ðọc đã thất công, mà còn phát giận nữa, để thì giờ lo làm việc khác có ích hơn nhiều.
  • Cậu lo làm việc gì mà gọi là có ích hơn? Trong thời kỳ này người Việt Nam ai có chút tâm huyết, ai có chút học thức, cũng đều chăm nom khai hóa nước nhà. Cậu thuộc trong bực thanh niên tân học mà sao cậu không để ý vào việc công ích chút nào hết vậy?
  • Ông đừng có nói những tiếng khai hóa và công ích. Tôi đi du học bên Pháp tôi về, mà tôi chưa dám nói khai hóa, tôi quyết chí hy sinh tánh mạng tôi cho xã hội, mà tôi chưa dám nói công ích. Tôi tưởng phải lo làm là tốt hơn chọn lời mà nói. Nói không được thì nói làm chi.
  • Té ra cậu đi học bên Pháp mới về sao?
  • Phải.
  • Tưởng là cậu học lôi thôi, nên cậu không biết lo khai hóa nước nhà, chớ cậu đã có xuất dương du học, thì cái trách nhiệm của cậu đối với xã hội còn nặng hơn của anh em chúng tôi nhiều lắm. Cậu chẳng nên công kích báo quốc âm, cậu phải giúp với chúng tôi, cậu phải đấu cật đâu lưng với chúng tôi mà dìu dắt đồng bào lên con đường tấn hóa…”

Trong Tân Phong Nữ-Sĩ, cô Tân Phong, nhân vật chính, tổng lý báo “Tân Phụ Nữ”, đã từ chối lời cầu hôn tuyệt vọng của Vĩnh Xuân, một trí thức tân học:
“…- Ông yêu em, mà ông biết trọng em, thiệt em cảm tình lắm. Phải người có học thức cao mới có thái độ cao như vậy. Em không dám lấy thái độ thấp mà đối với ông, nghĩa là em không dám phỉnh phờ gạt gẫm ông. Đã vậy mà em lại là gái tân thời, hễ nghĩ thế nào thì cứ nói ngay ra, chớ không ưa nói quanh quẹo. Ông hỏi như vậy, em xin trả lời rằng: “Em cảm tình ông lắm, nhưng mà em không thể làm vợ ông được ”.
(…)

  • Ông là một nhà bác học, không lẽ em dám cãi việc đời với ông. Nhưng mà theo trí mọn của em con người có nhiều mục đích, chớ không phải hễ làm trai chỉ biết lo cưới vợ hễ làm gái chỉ biết lo lấy chồng đặng lập gia thất rồi sanh con đẻ cháu mà nối dòng, tuy em thuộc trong hạng gái tân thời nhưng em chưa có cái tư tưởng quá khích đến nỗi đạp đổ cả gia đình là cái gốc của xã hội. Song em nghĩ mình đi đường hễ gặp khúc chông gai, thì mình tránh mà kiếm ngã khác bằng thẳng mà đi. Ông đi học thành danh rồi, ông tính cưới vợ để hưởng hạnh phúc. Nếu ngã đường ấy không làm cho ông thấy hạnh phúc được, thì ông bỏ mà đi ngã khác, chớ sao ông lại ngã lòng thối chí, ông lại tính tự vận mà làm uổng cái công phu ăn học của ông, và làm cho cha mẹ buồn rầu thương tiếc…”.

Nơi thành thị, bên cạnh là giới trung lưu hoặc buôn bán (Những Điều Nghe Thấy, Tiền Bạc Bạc Tiền, …) hoặc thầy thông thầy ký làm việc với chính quyền thuộc-địa Pháp (Nhơn Tình Ấm Lạnh, Tơ Hồng Vương Vấn,…). Trong Thầy Thông Ngôn (1926), thầy thông Trần Văn Phong quịt tình ái gái quê, cô Sáu Lý:
“… – Té ra thầy nhứt định bỏ tôi mà đi hay sao? Vậy mà hôm trước thề thốt dữ chớ!

  • Hôm trước tôi có dè cha mẹ cản trở như vậy đâu.
  • Vậy mà dám xưng là trượng phu, xưng là quân tử. Vậy mà dám nói rằng hễ vắng mặt tôi thì buồn rầu chắc phải chết. Trượng phu quân tử gì mà gạt gẫm đàn bà con gái như vậy. Thầy bỏ tôi mà đi Long-xuyên thầy không sợ buồn rầu rồi chết sao?
    Thầy thông Phong hổ thẹn không biết sao mà trả lời nên ngồi gục mặt mà chịu. Cô Sáu Lý đứng dậy mà nói rằng:
  • Thầy thúi lắm. Làm trai như vậy nên lắt cái mặt mà quăng đi. Tôi biết rồi, thầy gạt tôi, sợ ở đây tôi chửi, nên xin đổi đặng trốn tôi chớ gì. Tôi nói cho thầy biết, thầy gạt tôi không dễ gì đâu.
    Cô nói dứt lời liền quày quả đi vô buồng giở rương lấy cái khăn với phong thơ của thầy đưa hôm nọ mà liệng trúng ngay mặt thầy và mắng rằng:
  • Đồ khốn nạn! Trả khăn với thơ cho mầy đó. Đi đâu thì đi cho mau. Đừng ngồi đó nữa. Thứ vầy mà cũng xưng là thầy thông! Thông gì! Thông khoan.
    Thầy hổ thẹn, mặt mày tái xanh, không nói được một tiếng, thò tay lượm cái khăn với phong thơ, rồi riu ríu ra về. Thầy ra tới ngoài đường rồi, mà cũng còn nghe có tiếng lầm bầm mắng nhiếc…”.

Ngữ khí, một nét đặc biệt của khẩu ngữ, được Hồ Biểu-Chánh dùng ở cuối câu hoặc để nhấn mạnh “nà, giống, hôn”: mắc giống gì, sợ giống gì, làm giống gì?, sướng giống gì?, còn ức nỗi gì?, bất nhân hôn, dữ hôn, v.v. Dùng để tả số lượng: đa đa, lắm đa, lung lắm, lung lắm đa, v.v. Việc lập lại một từ như mỗi căn ông mỗi dòm vô, và may và hỏi rằng, v.v. cũng trong cùng mục đích để nhấn mạnh.

Khi đối đầu với những từ mới biểu tả những sự vật mới thì Hồ Biểu-Chánh theo khuynh-hướng miền Nam thường Việt hóa như “bao thơ, nhà giây thép, nhà thơ, bót, nhà đèn, …”. Ông ít dùng chữ Hán dù ông đã để ra ba năm học các sách Tứ Thư và dịch truyện Tàu từ hai tập Tình Sử và Kim Cổ Kỳ Quan (1) trước khi khởi sự viết văn. Dù ít nhưng Hồ Biểu-Chánh vẫn dùng chữ Hán được Việt hóa theo cách của ông. Thật vậy, tản mác trong các tiểu-thuyết, Hồ Biểu-Chánh đã dùng những từ Hán: tỵ trần, bài sanh ý (môn bài), đà công (lái ghe), khắc kỳ (định kỳ), phiền-ba (phồn-hoa) đô hội, tư lương (suy tính), đương-môn hộ-đối (trong ALÐ) hoặc đương-môn đối-hộ (trong ÐHT), lộ đồ, lịch duyệt nhân tình, gái trâm-anh phiệt-duyệt, động dung, v.v. Tác-giả Hồ Biểu-Chánh còn dùng tiếng bình dân gốc từ tiếng Triều-châu như tía (cha), khị (nó, ông ấy), v.v.

Trong tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh nhiều từ xuất phát từ tiếng Pháp là điều không thể tránh được: bu rô, sa lon, áo bành tô, bon, phắt tơ, ba-ton, súp lê, nô te, sô-de, síp-lê, ê-sạt, cu-ly, đít-cua, xẹt, sa-bô-chê, măng sông, săn-đá, cà-ra-hoách, náp, lơ, … được thực-sự sử-dụng nhiều vào thời ông. Xin mở ngoặc để ghi nhận là miền Nam thời 1954-1975 đã Việt hóa những từ đó, hoặc dùng từ Hán-Việt từ Bắc đưa vào với cuộc di cư 1954 (điểm, diễn văn, chưởng khế, bưu-điện, …), hoặc Việt hóa hẳn (bàn giấy, người đưa thư, …). Trong khi đó, người miền Bắc vẫn giữ thói quen phiên-âm tiếng nước ngoài (thường là vì chưa có tiếng Trung quốc tương đương), gần như trở lại thời của cụ Hồ Biểu-Chánh: bốt (poste), com lê (complet), ga tô (gateau), măng tô (manteau), công tơ (compteur), mô típ (motif), li xen sơ (lisence), v.v.

  1. Ngôn-ngữ một thời

Tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh đã ghi lại ngôn-ngữ Nam-kỳ của một thời cố-cựu và đã góp phần tái dựng nên bức tranh xã-hội của thời điểm đó. Ngôn-ngữ đó được phát xuất từ những con người mộc mạc, thẳng ruột ngựa nhưng tế-nhị, thừa biết ăn ở cho phải đạo! Ngôn-ngữ ở đây nói chung có tính lạc quan, tính chân thật và ít phức tạp. Chân thật trong cách phát âm theo phương-ngữ, dùng từ láy và ngay cả khi phát âm hay viết sai vì phải biến-chế theo hoàn-cảnh biến. Tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh đã ghi lại nhiều dấu vết có ý nghĩa về diện mạo ngôn ngữ ở một vùng đất và xuyên qua toàn bộ tiểu-thuyết của tác-giả, đã đánh dâu các chặng đường phát triển của tiếng nói dân tộc nơi đó. Trong số có những chữ tiếng hay cách nói ít gặp hoặc nay hết được dùng: lộn chồng, òn ý, từ mớ, từng khạo (cai), áo củn, chiết báng, dui dụt, ô-dề, mái chính, chạy tờ, giằn thúc, nôm vợ (lấy người đã có chửa làm vợ), hốt tốc (hấp tấp), bam bù, má đụng (=lấy) cậu, nóc giận (nuốt giận, hết giận), xạc lơ (xuội lơ), cượng (chống), v.v.

Trích một cuộc đối thoại trong Đóa Hoa Tàn (1936):
… Ông Bình ngồi uống nước. Bà kéo ghế ngồi ngang đó mà hỏi rằng: “Bữa nay thầy nó đi hầu việc gì vậy?”. Ông Bình cười. Ông uống hết bốn chén nước rồi mới đáp rằng:

  • Quan Chánh kêu tôi lên mà quở tôi.
  • Có chuyện gì mà quở?
  • Ngài nói theo tờ của quan Chủ quận thì mấy tháng nay tôi cứ lo việc nhà, không lo thuế vụ nên trễ nải.
  • Quan chủ quận chạy tờ hay sao? Có lẽ nào ngài làm như vậy!
  • Có thiệt chớ, chạy tờ kín.
  • Ngài mới lên ăn cơm với mình hôm chúa nhựt đây mà.
  • Ăn cơm thì ăn, còn chạy tờ thì chạy, hai việc đó khác nhau.
  • Quan Chủ quận chạy tờ như vậy, rồi quan lớn Chánh nói sao?
  • Quan Chánh nói ngài biết tôi có nợ nần nhiều, nên tự nhiên tôi mắc lo nợ mà phải bê trễ công việc. Vì vậy nên ngài không trách gì; song nếu tôi mắc bận việc nhà, không kham chức Cai tổng nữa, vậy thì tôi nên từ chức Cai tổng đi, đặng rảnh rang mà lo việc nhà.
  • Ngài nói như vậy, nghĩa là ngài muốn xô đuổi mình chớ gì. Không biết ý thầy nó thế nào, chớ theo tôi thì cũng nên thôi phứt cho rồi, đặng khỏi tiếng nặng nề giằn thúc.
  • Bà nó hiệp ý với tôi lắm. Quan lớn Chánh khuyên tôi như vậy thì tôi trả lời tôi cám ơn ngài, rồi tôi ra bàn bếp hầu tôi viết một lá đơn xin từ chức mà đưa cho ngài liền. …”

Trích một đoạn trong Con Nhà Giàu (1931) về chuyện hỏi vợ cho con:
“… – Má thấy con đó hay chưa?

  • Mà(á) nghe họ nói chớ chưa ngó thấy. Họ nói con nhỏ đó giỏi lắm khéo léo lắm.
  • Không được đâu má. Con gái vườn quê mùa khó chịu lắm. Tôi muốn má nói con ông Phán Hương má cưới cho tôi. Cô ấy ngộ mà dễ thương lắm …”.

Ngoài ra, tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh có những câu văn cổ-kính do truyền thừa Nho-học, cũng như xen lẫn một số lối nói bóng bẩy và có vần có đối của thời ông. Ðây là lời tâm sự của một cô gái, Bạch Tuyết, với người bạn Chí Ðại lâu ngày gặp lại:
“Con gái người ta có cha yêu, mẹ mến, từ mới biết đi biết nói cho tới chừng khôn lớn nên người, trong nhà sẵn có mẹ dạy dỗ, cha răn nghiêm, tự nhiên quen thói tục cao sang, tự nhiên nhiễm gia phong thuần hậu. Ông ngoại tôi, thì trìu mến yêu thương, mà một vài tháng mới gần gũi được một lần, hễ gặp mặt thì ông ngoại tôi khóc hoài, nên cũng không dạy dỗ chi được…” (Ai Làm Ðược).

  1. Cách dùng chữ

Hồ Biểu-Chánh có những hình dung từ đặc biệt kết hợp với thể trạng-từ đã làm đậm sắc thái của nghệ thuật dùng chữ bình dân trong tiểu-thuyết của ông: sáng hoắc, bầu trời xanh lét, đơm bông vàng khè, đỏ trõm lơ, đen thui, đen nhùn nhục, đỏ hực hỡ, chau vau, dục dặc; hoặc có những phối hợp giữa danh từ và hình dung từ để nhấn mạnh một hình ảnh độc đáo hay một tình trạng éo le nào đó: mặt chừ bự, đầu chơm bơm, đầu cổ chờm bờm, lỗ tai lùng bùng, cặp mắt cháng váng, trong lòng xốn xang, nước da mởn, xũ xọp, ké né, v.v. Chữ dùng màu mè một cách giản đơn, nhưng vừa hài thanh vừa tượng hình bằng kỹ thuật dùng những tiếng đôi, tiếng tư điệp âm, như trong Cha Con Nghĩa Nặng (1929): áo đen nhùng nhục, gò má nó tròn vìn, (Thị Lựu) tánh bồng chành, bốc chách, trâu đi dưới ruộng ní na, ní nần, mấy đứa chăn cỡi trên lưng hát rấm ra rấm rít, v.v.

Bình dân trong cách đặt tên cho nhân-vật: Thằng Ðược, Thằng Cu, Con Lựu, Lê Văn Ðó, Lê Văn Ðây, v.v. hoặc tên theo vai vế thường dùng trong Nam: Ba Ðiệp, Sáu Lý, Hai Liền, … – bên cạnh cách tác-giả đặt tên theo phẩm-tính, đạo-đức như Trần Bá Vạn, Hiếu Liêm, Chánh Tâm, Thủ Nghĩa, Châu Tất Ðắc, Võ Lộ, Nguyễn Tự Cao, …

Hồ Biểu-Chánh đặc biệt trong việc sử-dụng tiếng xưng hô bằng từ biến thể trong trạng thái hợp âm: thẩy (thầy ấy), cổ (cô ấy), cỏn (con ấy, HBC chỉ dùng để gọi vợ của em trai hay vợ của con trai), thẳng (thằng ấy, cũng như cỏn, chỉ dùng để gọi chồng em gái hay chồng con gái), bây (ngôi hai, số nhiều và ít), v.v. hay những tiếng thường dùng trong Nam: tía, má nó, sắp nhỏ, má sắp nhỏ, qua (ngôi thứ nhất), hay trong giới theo Tây, xưng gọi là toa, mỏa, ma femme (ngôi thứ ba), v.v. Một bà Phủ kêu con làm hội đồng: “Hội đồng, thức dậy nào. Có anh Cai với cỏn qua với tao đây nè!”(Tỉnh Mộng); hay một bà mẹ khác là Kế Hiền, bình dân hỏi con trai Thượng Tứ: “Không có cỏn về hay sao?”(Con Nhà Giàu); hay một hỏi thăm khác: “Này, còn chuyện của sắp nhỏ, chú thím liệu sao?”(Một Ðời Tài Sắc), v.v.

Ngôn-ngữ rõ là chân-phương và giàu hình ảnh cụ thể, trực tiếp, cả để diễn-tả những tình cảm, tư tưởng (buốn nghiến), v.v. Chân-phương để phản ánh đúng cách nói của người Nam Kỳ mà Hồ Biểu Chánh đã dùng thật nhiều từ chuyển hóa như phiền ba (phồn hoa) hiệp ý (hợp ý) xao xiến (xao xuyến), chính chiên (chính chuyên) hoặc dùng từ đọc trại vì sự kiêng kỵ hay do ảnh hưởng của phương ngữ: yên (an), hường (hồng), nhơn (nhân) tình, đờn (đàn), … Ðối với người vùng khác thì nghĩ đấy là những chữ viết sai!

  1. Ngôn-ngữ và kỹ-thuật tiểu-thuyết

Hồ Biểu-Chánh dùng chất liệu tiếng nói của dân chúng hằng ngày sử dụng ở nhiều vùng đất rộng lớn để xây dựng ngôn ngữ tiểu-thuyết với phương-tiện kỹ thuật tiểu-thuyết và cách hành văn trong sáng của Tây phương, từ đó sáng tạo nên ngôn-ngữ của nghệ-thuật làm khác ngôn-ngữ của cuộc-sống. Hơn nữa Hồ Biểu-Chánh đã khéo léo lồng ngôn-ngữ, lời nói, lối nói của các nhân-vật trong một khung cảnh tiểu-thuyết, phân bố cục chặt chẽ chứ không trống trơn, bỏ rơi theo lối kể chuyện. Như vậy nói ngôn-ngữ bình dân, dễ hiểu cũng có nghĩa là văn nếu trau chuốt quá độ sẽ thành giả tạo, xa hiện thực cuộc sống – như văn Mai Thảo thời Sáng tạo hay văn thơ hũ nút hoặc dùng nhiều điển tích không ăn nhập gì đến thực tại được nói đến!

Ngôn-ngữ và kỹ-thuật diễn-tả tình-yêu. Một cảnh tình tứ sau cơn giông bão ghen tương trong Ái Tình Miếu (1941):
“… Phúc thấy vợ đương ngồi bình tịnh, sắc mặt buồn hiu, cặp mắt ướt rượt, thì kéo ghế ngồi khít một bên, rồi nắm tay vợ mà nói: “Qua xin em tha lỗi cho qua. Vì qua thương em quá nên nổi ghen, rồi nghi bậy làm phạm đến danh giá trong sạch tiết tháo cao thượng của em. Từ rày anh sẽ thương em bội phần, thương dư như vậy đặng đền bồi cái lợt lạt của qua mấy tuần nay. Em sẵn lòng tha thứ cho qua hay không?
Cô Lý nhích miệng cười chúm chím, sắc mặt sáng lòa. Cô đưa bức thơ của Phúc lên mà ngó rồi xếp lại, thủng thẳng xé to xé nhỏ mà quăng trước mặt. Phúc thấy cử chỉ ấy thì biết vợ đã hết phiền mình, nên hớn hở nói:

  • Phải, em xé bức thơ khốn nạn của qua mà bỏ đi, để làm gì. Bức thơ của em mới đáng dể dành. Qua để trong túi áo đây. Qua sẽ cất kỹ để làm bùa trừ chứng bịnh cũ của qua và để kỷ niệm sự tái sanh ái tình của vợ chồng ta.”
    Cô Lý thơ thới trong lòng nên dựa đầu vào vai chồng. Phúc lấy khăn mu xoa mà lau nước mắt vợ…”.
    Còn đây là ngôn-ngữ của kẻ cướp lộng hành nơi thôn dã, trích Ngọn Cỏ Gió Ðùa (1926):
    “- Có con nhà ai ngộ quá bây; áp bắt nó đem về trại. May dữ hôn, tao chưa có vợ, vậy để tao bắt con nầy làm vợ chơi (…) Tha cái gì? Ta bắt về làm vợ, chớ ai chém giết gì hay sao mà biểu tha. (…)”

Thật vậy, chính ngôn-ngữ sử-dụng đã giúp Hồ Biểu-Chánh khám phá con người cùng tâm-lý, tư tưởng. Cùng với ngôn-ngữ, các cử chỉ, diện mạo, thái độ, hành động, v.v. của nhân-vật đã giúp tác-giả diễn tả nội tâm và lột trần được tâm lý các nhân-vật – điển hình trong Ngọn Cỏ Gió Ðùa, Nợ Ðời, Tiền Bạc Bạc Tiền, Chút Phận Linh Ðinh, v.v. dù tỏ ra chưa đủ bề sâu trong một số ít tiểu-thuyết khác. Tình tiết thường thật-thà, nhẹ nhàng và cá-tính nhân-vật đơn điệu – có thể vì con người thời tác-giả như vậy, chưa phức tạp, rối rắm hàng hai hàng ba hay muôn mặt như sau này? Trong trường hợp Hồ Biểu-Chánh, rõ ràng là ngôn-ngữ của nhân-vật đã ảnh-hưởng đến lời văn diễn-tả của tác-giả, đến kỹ thuật dựng truyện. Lời văn thiệt thà như tiếng nói của người dân thời đó nhất là ở những chốn thôn quê và miệt vườn, và kỹ thuật của một tác-giả có lòng nhân ái! Ngôn-ngữ thực là cách tả chân khéo nhất, hình thức có đơn sơ thì cũng vì con người đơn sơ! Thực vậy, Hồ Biểu-Chánh không chú trọng làm văn-chương thuần túy. Lấy Ai Làm Ðược làm thí dụ, ông gọi đó là “tiểu-thuyết tả chân”, trong khung cảnh đất Cà-Mau, một thử nghiệm đầu tiên sau khi đọc Thầy Lazarô Phiền, Phan Yên Ngoại Sử và Hoàng Tố Oanh Hàm Oan như chính ông đã kể lại trong hồi ký (2). Thật vậy, trong tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh, văn chương giản dị, tác-giả kể chuyện hơn là tả chuyện, làm văn hoặc khai thác tình tiết rối rắm. Không rối rắm lắm vì ở ông, tình tiết, diễn tiến thường được thuận theo lý-giải hoặc lẽ Trời, lẽ đương nhiên, nhân quả, thiện thắng ác dù trễ tràng và tình gia-đình, tình người luôn thắng thế. Thời gian diễn tiến thường theo chiều thuận. Nói chung, kết có hậu và thường tác-giả không quên “thưởng phạt” các nhân-vật! Truyền thống “thiện ác đáo đầu chung hữu báo” khiến lúc nào cũng có hai phe phía thiện-ác được thể hiện qua ngôn-ngữ cũng như hành động của nhân-vật. Hai loại nhân-vật lẫn trong tập thể các nhân-vật thuộc nhiều giai-tầng xã-hội, tức trong đơn điệu (lưỡng đầu) vẫn có đa dạng, nhờ cách dùng chữ và ngôn-ngữ đã làm phong-phú tình tiết, diễn-tiến và nội-dung.

Từ Trương Vĩnh-Ký, Hồ Biểu-Chánh đã tiến thêm một bước, tự nhiên hơn, trơn tuột hơn. Trong các đối thoại đã có dàn dựng, có kịch tính; bàn tay tác-giả đã phong phú hóa ngôn-ngữ và tương-đối đã văn-chương hơn, bớt luộm thuộm, bớt Tàu quá! So với Nguyễn Trọng Thuật (Quả Dưa Ðỏ, 1925) và Hoàng Ngọc Phách (Tố Tâm, 1925) hoa mỹ, cầu kỳ, trừu tượng và cả thi vị ra sao thì Hồ Biểu-Chánh tự-nhiên và giản dị bình dân bấy nhiêu. Ngôn-ngữ tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh sẽ được những Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, … tiếp nối đến gần tiếng Việt thống-nhất của cả nước, theo đó, những tiếng dùng cuối câu dần biến mất. Thật vậy, ngôn-ngữ văn-chương Việt Nam được Tây phương hóa rồi hiện đại hóa, từ Phan Khôi, Tự-Lực văn-đoàn đã đi đến nhóm Sáng-Tạo rồi trở về căn bản Việt Nam đồng thời liên tục tiếp tục đón nhận những trào-lưu văn-chương mới. Vậy, phải chăng tự nhiên, giản dị là thấp kém và văn-chương hoa mỹ cao quý hơn? Hồ Biểu-Chánh tự nhiên và giản đơn của con người có văn-hóa thời đại của ông chứ không phải là thô-thiển, hạ cấp! Các nhân-vật thấp hèn trong tiểu-thuyết của ông có người ác-độc hay cộc cằn ở một hoàn cảnh nào đó nhưng không thô lỗ và mục đích của tác-giả không ở chỗ gợi dục vọng và đề cao cái ác!

  1. Truyền-thống hành văn như lời nói và tiếng Việt ròng

Như đã nói, văn Hồ Biểu-Chánh thuộc truyền-thống hành văn trơn tuột như lời nói. Lối viết trơn tuột này thể hiện trong ngôn-ngữ đối thoại của các nhân vật đã đành, mà còn cả trong văn truyện và mô tả cảnh tình, tả tâm lý. Truyền thống “nói thơ Vân Tiên” đặc-thù của miền Nam, rồi các truyện thơ và vè bình dân như Thơ Thầy Thông Chánh, Thơ Cậu Hai Miêng, v.v. tức những văn nói và trình diễn, với đám đông. Văn phong của Hồ Biểu Chánh là từ truyền-thống đó, căn bản trên tiếng nói mà dân chúng phía Nam thường dùng hàng ngày. Dù lúc đầu và thỉnh thoảng trong tác-phẩm ông dùng lối văn biền ngẫu, như trong Ai Làm Ðược (1912), Nhơn Tình Ấm Lạnh (1925), v.v. và đã khởi nghiệp văn với truyện thơ lục bát, U Tình Lục (1909, xuất-bản 1913) và Vậy Mới Phải (1913)!

Trích Ai Làm Ðược, tiểu-thuyết văn xuôi đầu tay viết năm 1912, để thấy rõ đặc tính:
“- Thưa bác, lời bác nói rất phải, tuy vậy cháu là kẻ hèn hạ, lại tuổi đáng con cháu, nên cháu đâu dám đồng bàn với bác.

  • Ối ! Còn luận tuổi tác mà làm gì! Tôi mời thì trò em cứ việc ngồi, cung kính bất như phụng mạng.
    Cậu trai ấy ké né kéo ghế ngồi sụp phía sau, Khiếu Nhàn không cho, một hai cứ biểu ngồi ngang mà thôi.”
    Một đoạn khác trong cùng tiểu-thuyết:
    “Ông (Quan Phủ) vừa đánh vừa nói rằng:
  • Mầy lấy thằng Chí Ðại làm nhục nhã tao, tội ấy tao chưa nói, bây giờ tao định gã(ả) mầy cho mầy khỏi mang tiếng xấu, mầy lại làm hơi khôn lanh, muốn chống cự với tao nữa à.”

So sánh với những đối đáp trong Con Nhà Giàu (1931), giữa bà Kế Hiền xúi con trai là Thượng Tứ lấy vợ giàu hơn:
“- Tôi nghèo cực gì mà phải chui đầu theo bên vợ đặng ăn chực? Tôi không thèm đâu.
-Con đừng có nói dại. Con giàu mà được vợ giàu nữa thì càng quí chớ”
(…)
“- Cơm nước rồi, thôi con sửa soạn đi về bển đi. Con đi từ hồi hôm cho đến bây giờ, anh chị không biết con đi đâu, chắc là anh chị trông lắm.
-Trông thì trông, có hại gì mà má lo.
-Văy chớ hồi hôm con đi, con có nói con về bên nây hay không?
-Không.
-Con không nói cho người ta hay, con đi biệt như vầy, người ta lo chớ.
-Họ lo giữ tiền, chớ có biết lo giống gì.
-Con nói sao vậy! Dầu mà họ có lo giữ tiền đi nữa, ấy là cái phước của con, chớ sao con lại trách người ta. Cần cho họ giữ đặng ngày sau có mà để lại cho vợ chồng con chớ.
-Má cứ ham tiền hoài! Tại má ham tiền nên tôi mới mắc một con vợ như vậy đó!
-Vợ sao? Cha chả! Vợ như vậy, con còn chê nỗi gì! Phải, nó đen đúa thiệt, nhưng mà coi mặn mòi, chớ không phải xấu xa gì đó.
-Tốt với má chớ tốt với ai. Ði ra thấy người rồi dòm lại nó mà mắc cở…”.

Ðây là khuynh-hướng khởi từ những nhà tiền phong khởi xướng nền văn-học chữ quốc-ngữ: Trương Vĩnh Ký với Chuyện Ðời Xưa (1866), Nguyễn Trọng Quản (Thầy Lazarô Phiền, 1887, “dụng lấy tiếng thường mọi người hằng nói”), Trần Thiên Trung (Hoàng Tố Oanh Hàm Oan, 1910, “dùng tiếng tầm thường cho mọi người dễ hiểu đặng”), v.v. – nếu chỉ xét văn bản có tính văn-chương như truyện và tiểu-thuyết thời tiền phong này. Trương Vĩnh-Ký bước đi bước đầu khi chủ trương viết tiếng “An Nam ròng” áp dụng trong tập Chuyện Ðời Xưa với ngôn-ngữ ngoài đời, với những đối thoại và cách ngắt câu! Tiếng “An Nam ròng” này, chúng tôi đã có lần chứng minh không phải là tiếng “nhà Chung” như có người vẫn hiểu lầm(3)! Nói như linh-mục Thanh Lãng, “Chủ trương của Trương Vĩnh Ký cũng là chủ trương của các văn gia miền Nam: chống đối văn đài-các miền Bắc …)”(4).

Nam tiến và hội-nhập đã khiến tiếng nói lưu dân nơi vùng đất mới đã phải cập nhật theo hoàn cảnh sinh hoạt và môi trường địa lý mới và khác. Những “hội nhập” này khiến chữ viết Nôm trong Nam đã có những biến hóa, cấu trúc khác đi theo phát âm, lối viết và phương ngữ Nam-kỳ, ngay cả chữ Hán cũng bị Hoa-hóa và Nam-hóa. Từ đó như tạo thành một “thứ” tiếng Việt của miền Nam lưu dân mà từ lâu nay vẫn bị xem là bên lề, chưa chuẩn, không chính thức! Mặt khác, cùng trường hợp với văn học Việt Nam trước khi có chữ quốc ngữ đã có hai dòng bình dân và bác học “nói chữ”, nếu tiếng Việt trước 1920 đơn giản, bình dị thế nào thì tiếng Việt canh tân sau 1920 trừu tượng hơn nhiều, dù từ những thế kỷ XVII đã có nhu cầu sáng chế nhiều từ Hán Việt và từ Tây phương hóa (phiên âm theo tiếng Tây phương) để theo kịp đà tiến hóa và tiếp xúc với Tây phương. Nhưng với Nam Phong tạp chí và Phạm Quỳnh thì trừu tượng đến làm tối tiếng Việt, cũng như khuynh-hướng dùng chữ của Trung quốc ở trong nước từ nhiều thập niên qua!

Nghiên cứu ngôn-ngữ tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh đã vô tình làm công việc ngôn-ngữ học lịch-sử và nghiên cứu về con người lục-tỉnh. Ngôn-ngữ được tác-giả dùng để viết tiểu-thuyết, để tiểu-thuyết hóa một tình huống, để kể lại cái gì, nhắm điều gì. Sự việc nói ra, cách nói, phát ngôn, trong một văn-cảnh mà thành câu chuyện, tiểu-thuyết, tức trở thành văn-bản. Ngôn-ngữ còn là một cấu-trúc tinh thần vì là biểu-hiệu hiện-thực của một hệ-thống ký-hiệu, não-trạng, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là bề mặt của một nội dung, bề sâu! Ngôn-ngữ ở đây được nghiên cứu như một tổng-hợp có ý-nghĩa. Ngôn-ngữ là một hệ thống xuất phát từ nhiều yếu tố siêu hình và thực tại. Tất cả khiến cho tiếng nói có những đặc điểm riêng và chung. Áp-dụng cách phân tích đó vào tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh đã là một thích hợp đáng kể!

Ngôn-ngữ tiểu-thuyết ghi chép lại lời nói và sinh-hoạt của con người ở một hoàn cảnh và địa lý! Ngôn-ngữ có cái giá trị văn-hóa, vì ý nghĩa thay đổi tùy vùng, tùy sự sử-dụng. Do đó có khác biệt về mục đích cũng như hiệu quả tùy theo người viết hay nói và cũng từ đó mới có phân biệt những loại văn bản hay tiếng nói dùng nhiều tiếng cổ, tiếng Hán-Việt, tiếng nôm na, hoặc tiếng phường tuồng, cải lương, giới anh chị, nhà quê, thượng lưu quí phái, lai-căn, v.v. Ngôn-ngữ là phương tiện giao tiếp, làm văn-hóa với người đồng thời, cả với người trước và sau, các thời đại trước sau! Lời nói ra nếu không thành ngôn-ngữ tiểu-thuyết hoặc một hình thức sao chép, nghệ thuật hóa khác, như tục ngữ, ca dao chẳng hạn, thì đã biến mất với thời gian và đã không ảnh-hưởng gì đến xã-hội cũng như tiến-hóa văn-học!

Ngôn-ngữ như vậy rõ là dấu ấn của con người, địa phương, xã-hội cũng như quốc-gia ! Ngôn-ngữ là sản phẩm của quá-khứ để lại, nên hôm nay nếu người đọc thưởng thức tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh, họ sẽ tìm thấy một thời đại đã qua với con người cũng như văn-hóa, tâm lý, cư xử, … của con người thời đó! Một số tiểu-thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu-Chánh gần đây cũng đã được diễn thành phim bộ như Ngọn Cỏ Gió Ðùa, Con Nhà Nghèo, Nợ Ðời, Chúa Tàu Kim Quy, … trong đó các nhà làm phim đã cố gắng sử-dụng ngôn-ngữ của tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh. Các cách phát âm đặc-thù như rung lưỡi, những âm V (W), DZ (J), những phát âm sai, lẫn (nếu so với tiếng Việt nguyên thủy hoặc từ Ðàng Ngoài) đã được diễn viên cố tình duy trì, đã tạo nên nét đặc thù của miền đất. Ngôn-ngữ xưa mà vẫn thu hút người đọc (và người xem) như tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh, phải chăng do ở những cái đã mất mà thân thương, đã cũ nhưng dấu ấn và vết tích hãy còn có thể nhận ra, phát-hiện lại, hay phải chăng do phong-vị hãy vương vấn đâu đó, như ngôn-ngữ trong các tiểu-thuyết đó?

Nếu văn hóa là nền tảng của tinh thần thì ngôn-ngữ là biểu hiện của cái nền tảng đó. Chất Việt Nam ở tinh thần đạo lý chuyển tải, ở mục đích giáo dục quần chúng, dạy điều đại nghĩa, điều nhân, điều phải và tốt! Ngôn-ngữ của tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh đã có những tác-động văn-hóa ở thời của ông mà cả ngày nay với hiện tượng trở về, tìm về tiểu-thuyết của ông.

Chữ Hán ở Việt Nam từ nhiều thế kỷ đã là ngôn-ngữ văn-hóa và văn-học gần như duy nhất, đến khi người Pháp chiếm nước ta bắt đầu từ miền Nam đã muốn phân-biệt, kỳ thị hai thứ chữ: một bên chữ Hán được xem là ngôn-ngữ của văn-hóa và văn-học, là gia tài văn-hóa, đạo lý chung của Á-châu và Việt Nam, bên kia là chữ quốc-ngữ bị xem là chữ bình dân thông dụng (đọc công văn!). Nhưng điều đã xảy ra, đó là Hồ Biểu-Chánh tiếp nối các vị đi trước như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trần Thiên Trung, v.v. và đã thành công biến thứ chữ “thấp kém” đó thành chữ của văn-hóa và văn-học qua các công trình báo chí, biên khảo và sáng-tác. Ngoài ra, khuynh-hướng giáo dục quần chúng do đó đã lộ rõ trong nhiều tác phẩm của thời khởi đầu này. Hồ Biểu Chánh kể trong “Ðời của tôi về văn nghệ” rằng ông viết tiểu thuyết với ý muốn cảm hóa quần chúng theo con đường chính trực (5). Giáo dục quần chúng, đề cao những giá trị truyền thống của dân tộc như lễ nghĩa, nhân đạo, thuyết nhân quả. Ðối với Hồ Biểu Chánh và một số nhà văn tiền phong miền Nam, tác phẩm được viết không cốt yếu để đưa ra những lý thuyết cao siêu trừu tượng, những diễn văn dao to búa lớn rỗng nội dung, mà như chỉ để chứng minh những truyền thống, tư tưởng luân lý ngàn đời hãy còn sống động và có giá trị, cũng như để vẽ chân dung những nếp cũ phong hóa đặt trong môi trường giao-động, giả-chân của một thời buổi phải tiếp-xúc đối đầu vớ văn-minh Tây-phương trong vị-thế yếu .

Vậy một mặt không thể cho rằng tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh là những áng văn-chương toàn mỹ cho người viết và đọc thời nay, nhưng mặt khác phải nhìn nhận tiểu-thuyết của ông vẫn hấp-dẫn một phần người đọc hôm nay vì tác-giả đã thành công phản ánh thời đại của ông, vì ông đã vẽ lại, đã bỏ vô bộ nhớ của lịch-sử, những con người và nhân-vật Nam-kỳ thời đầu thế kỷ XX. Hơn nữa, có thể xem như Hồ Biểu-Chánh đã đóng góp tích cực cho diễn trình bảo tồn và phát huy văn-hóa dân-tộc, đem ngôn-ngữ nói thường ngày vào văn-chương. Khi viết tiểu-thuyết, Hồ Biểu-Chánh đã tự hào truyền thống văn-hóa đồng thời chủ-ý canh tân; bình dân dễ hiểu nhưng đặt trong khung cảnh văn-học, tiểu-thuyết! Ngôn-ngữ tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh có tính cách hệ thống nhưng tự nhiên, đã đáp ứng lòng mong đợi của độc giả thời ông mà còn cả cho sau này. Từ ngôn-ngữ tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh, người đọc hôm nay có thể nhận diện ra được con người của một thời đại.

Như vậy, tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh rõ là có mục đích văn-hóa, giáo-dục chứ không phải là văn-chương tiêu thụ. Hồ Biểu-Chánh viết cho đồng bào Nam-kỳ của ông, họ cần cả văn và đạo (trong khi Hồ Biểu-Chánh làm báo và viết nghị luận là nhắm đồng bào khắp Nam-Bắc!). Tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh có thể xem là một bộ lịch-sử phong tục về một miền Nam-kỳ lục-tỉnh thời của ông vì qua đó ngoài những phản ánh đạo đức luân lý, truyền thống tập quán, người đọc đời sau còn hiểu được quá trình quan hệ với nước ngoài qua bình diện ngôn ngữ, tức là qua những từ ngữ ngoại lai mượn từ Hán tự, Hoa ngữ truyền khẩu và Pháp ngữ phiên âm. Cái làm nên phong-cách tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh đó là ngôn-ngữ sử-dụng, câu văn viết, từ ngữ riêng và phương-ngữ và ở lối tả chân và tự nhiên! Tất cả đã góp phần tạo nên ngôn-ngữ tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh! Nếu Trương Vĩnh-Ký, Huỳnh Tịnh Paulus Của chập chững dò dẫm bước đi với những văn-bản quốc-ngữ đầu tiên, phôi thai, đơn sơ, nếu Nguyễn Trọng Quản tây-phương nhanh hơn con người thời đại, thì Hồ Biểu-Chánh đã vững bước hơn, vừa tây hóa kỹ thuật, vừa bảo-tồn sắc-thái dân-tộc cũng như địa phương, vừa mô phỏng (những tiểu-thuyết phỏng dịch) vừa sáng-tạo, chính là nhờ ngôn-ngữ sử-dụng trong tiểu-thuyết của ông vậy! Do đó, muốn hiểu con người và văn-hóa miền Nam, không thể bỏ qua tác-phẩm của Hồ Biểu-Chánh!

Nguyễn Vy-Khanh

Chú thích:

1- Sau xuất-bản với tựa Tân Soạn Cổ Tích (1910) cùng Giáo Sỏi Ðỗ Thanh Phong.Nguyễn Khuê.

2- Chân Dung Hồ Biểu Chánh (Sài Gòn: Lửa Thiêng, 1974), tr. 32.

3- Nguyễn Vy-Khanh. “Tiếng Việt qua một số tác-phẩm”. Văn-Học Và Thời Gian (Westminster CA: Văn-Nghệ, 2000), tr. 62-91.

4- Thanh Lãng. “Hồ Biểu Chánh”. Văn (Sài Gòn), 80, 15-4-1967, tr. 16.

5- Nguyễn Khuê. Sđd. Tr. 33.
Nguyễn Vy-Khanh, 2-2005

Chủ Nhật Không Em.Thơ Hư Vô


Ghế đá không em chiều chủ nhật 
Cỏ đã xanh xao một chỗ ngồi
Hồn tôi đóng bụi chờ em tới
Để rắc vào nhau chút tả tơi!

Mà em như thể là chiếc lá
Bay đi bàng bạc cả mùa thu
Bỏ tôi chết đuối trong đôi mắt
Ngóng theo trời đất cũng mịt mù.

Vườn cũ hoang tàn như cổ tích
Một lần thất lạc giữa cơn mơ
Còn nghe lãng đãng hương con gái
Thả xuống vai tôi rất tình cờ.

Của thuở em chưa thành người lớn
Mưa chiều chủ nhật ướt môi nhau
Nụ hôn còn vướng quanh sợi tóc 
Ghế đá chờ em đã bạc đầu…

Hư Vô

Cha Ơi, Con Đã Về. Thơ Hư Vô



Con quì bên bệ Chúa 
Để khóc lớn cùng Cha 
Nửa đời con hư mất 
Xin được lần thứ tha. 

Đường trần chia trăm ngả
Đâu biết đi hướng nào 
Chân con đang chảy máu 
Đường nào cũng bể dâu! 

Cha ơi con đau quá 
Cha xức dầu cho con 
Từ dấu đinh tay Chúa 
Dắt con khỏi roi đòn. 

Cha nhân từ chí ái 
Cha vô lượng vô biên 
Chờ đứa con lạc lối 
Về để Cha yêu thương. 

Tắm con dòng nước Thánh 
Rửa sạch bụi trần gian 
Mặc vào chiếc áo mới 
Trong lần con tái sanh. 

Con đi trong phước hạnh 
Cha thêm sức thêm hơi 
Đường Cha là lẽ thật 
Để bước tới đời đời… 

Hư Vô

Những Tình Khúc Buồn Trong Thơ Nhạc Miền Nam. Phạm Văn Duyệt


Phạm Văn Duyệt

Tình yêu lứa đôi, hôn nhân vợ chồng là những phạm trù triết học vô cùng mầu nhiệm. Thật khó để giải thích cho tận tường thấu đáo.

Hạnh phúc – khổ đau, Hòa thuận – xung khắc, Sum họp – chia lìa…Nhiều người thành công viên mãn, lắm kẻ thất bại ê chề.

Giới văn nghệ sĩ cũng không tránh khỏi những trường hợp buồn bã ly tan khi mà hai tâm hồn thiếu sự đồng điệu cảm thông, không chấp nhận tương nhượng đi chung về một hướng, khiến cho lực hướng tâm phải nhường bước lực ly tâm. Chỉ có điều an ủi là chính nhờ những chuyện tình buồn mà nền thi ca âm nhạc đã sản sinh biết bao tuyệt tác để đời.

Chúng ta hãy cùng thưởng thức một số tác phẩm nói về chuyện tình buồn của giới thi nhân và nhạc sĩ miền Nam mà cuộc đời họ không may mắn gặp trắc trở tình duyên.

1. PHẠM VĂN BÌNH (1940  – 2008)

* “Nhà Thơ Phạm Văn Bình và Mối Tình Khắc Khoải trong Ca Khúc Chuyện Tình Buồn”, (nhạc xưa blog, 18.6.19):

Đậu Tú Tài 2 năm 62. Dạy Việt Văn trường Trung Học Bán Công Đông Hà từ 63. Nhập ngũ năm 66. Sĩ quan Tâm Lý Chiến Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Là bạn thân với người anh cô Nguyễn Thị Túy, nữ sinh cùng lối xóm nên hay qua lại. Dần dà tình cảm thăng hoa. Tiếc thay không thành duyên nợ. Chỉ vì khác biệt tín ngưỡng. Túy về làm vợ chàng sĩ quan Quân Y, cùng đạo Thiên Chúa. Chẳng may sau mấy năm thì chồng tử trận, để lại 4 con thơ. Còn Bình cũng kết hôn với cô học trò trẻ đẹp khác.

Tuy đôi bên đều lập gia đình riêng, nhưng mỗi khi có dịp về lại Đông Hà, Bình vẫn không quên ghé thăm người tình cũ, lúc nào Ông cũng tỏ ra thân thiết đậm đà với các con cô.

Tới 75, mang cấp Đại Úy, Ông bị tù đày nhiều năm. Khi về thì nghe tin vợ hết còn chờ đợi, đã sớm dẫn dắt đàn con qua Mỹ.

* “Góp phần Dựng Tiểu sử Nhà Thơ Phạm Văn Bình”, Hoàng Đằng, havuvhp.blogspot.com, 4.8.18

Cô Túy, sinh 45, dáng người bắt mắt, biết ăn diện, sắc đẹp, duyên dáng, học thức. Bình đã nhiều lần tới nhà người tình, chuyện trò thân thiết với cả Mẹ cô. Lắm lúc tưởng chừng như sẽ thành đạt chung đôi. Thế mà rồi không tròn mộng ước. Trong cơn đau tột cùng, dòng máu thi nhân trổi dậy, Ông để con tim thổn thức qua Chuyện Tình Buồn:

Năm năm rồi không gặp

Từ khi em lấy chồng

Anh dặm trường mê mãi 

Đời chia như nhánh sông 

Phong thư tình ngây dại 

Và vai môi ướt mềm 

Những hẹn hò cuống quýt 

Trên lối xưa thiên đàng 

Ngày nhà em pháo nổ 

Anh cuộn mình trong chăn

Như con sâu làm tổ 

Trong trái vải cô đơn 

Ngày nhà em pháo nổ 

Tâm hồn anh nhuốm máu 

Ôi nhát chém hư vô 

Ôi nhát chém hư vô 

Năm năm rồi đi biệt 

Đường xưa chưa lối về 

Trong đìu hiu gió cuốn 

Nằm chơ vơ gác chuông 

Năm năm rồi cách biệt

Cỏ hoang sân giáo đường 

Chúa buồn trên thánh giá 

Mắt nhạt nhòa mưa qua 

Ngồi bâng khuâng nhớ biển 

Bên bãi đời quạnh hiu

Anh mang lòng thủy thủ 

Cùng năm tháng phiêu du 

Anh một đời rong ruổi 

Em tay bế tay bồng 

Chiều hắt hiu xóm đạo

Hồi chuông giáo đường vang

Năm năm rồi không gặp 

Từ khi em lấy chồng 

Bao kỷ niệm chôn kín 

Dường như đã lãng quên 

Năm năm rồi trở lại 

Một màu tang ngút trời 

Thương người em năm cũ 

Thương góa phụ bên song 

Ra tù, Ông thành trắng tay, nhà cửa vợ con không còn, bơ vơ lạc lõng. Cô đơn, buồn bã lang thang, thần trí mất tính lạc quan, chẳng thiết tha làm việc gì, chỉ thích chuyện trò tâm sự suốt ngày với những người bạn trẻ quen biết tình cờ ở quán cà phê, vui chơi với họ, say sưa triền miên. Tâm trạng sầu bi áo não không thua chi Thi Sĩ Hà Liên Tử trong bài thơ Đến Đây Là Chỗ Rẽ Lòng, nhạc sĩ Anh Sơn phổ thành ca khúc Nhà Anh Nhà Em:

Nhà anh nhà em

Cách hai đoạn đường dài 

Tuy xa mà gần 

Tuy gần mà xa

Rồi còn xa mấy nữa 

Khi em đã lấy chồng 

Một chiều thu úa lá 

Một con đò sang sông 

Một cõi lòng băng giá 

Một thoáng buồn mênh mông 

Anh đến mừng em trong tiệc cưới

Ra về men rượu ngấm buồng tim

Gió khuya lạnh thấy hồn đơn lẽ 

Một ánh sao rơi chìm trong đêm 

Anh ướp hồn anh men rượu đắng 

Nghe chừng men rượu đắng niềm yêu 

Bóng em chợt thoáng mờ hư ảo 

Đẹp giấc mơ tan sầu bao nhiêu

Nhà anh nhà em 

Cách hai đoạn đường dài 

Tuy xa mà gần

Tuy gần mà xa

Từ đây xa mấy nữa 

Khi em đã có chồng 

Dù tình còn đậm đà 

Dù lòng còn thiết tha

Dù buồn xa cách biệt 

Thôi em đừng nhắc chuyện đôi ta.

Trước ngày qua Mỹ, lắm phụ nữ tìm tới để xin ăn theo, nhưng Ông đã quá chán ngán tình đời đen bạc, nên chỉ ra đi một mình, cõi lòng trở thành băng giá sau cuộc tình đầu dang dỡ, rồi người vợ trẻ sớm rủ áo ra đi.

Ở chốn tạm dung, Ông tiếp tục sống đời phất phơ, chẳng màng đua chen danh lợi. Sống trong sự bảo bọc của mấy người con cho đến ngày giả từ nhân thế.

Còn cô Túy cũng tới được vùng đất hứa. Hiện nay đang định cư tại Hoa Kỳ.

2. PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG (1929 – 91)

Một phần cuộc đời Phạm Đình Chương gắn liền với người vợ đầu.

* Theo tintuconline.com.vn, 1.4.22: “Không chỉ nổi tiếng trên sân khấu, Khánh Ngọc còn được chú ý ở cả mặt diễn xuất, nổi tiếng nhờ giọng hát lẫn nhan sắc. Bà sở hữu thân hình bốc lửa, sexy, cùng lối thời trang táo bạo so với thuở bấy giờ. Gương mặt kiều diễm, kiêu sa, cùng nụ cười tỏa sáng, ánh mắt hút hồn, được mệnh danh là “ca sĩ ngọn núi lửa”, khiến bao người đê mê”. 

Kết hôn với năm 1953. Thuở đầu vô cùng hạnh phúc, lũy tiến theo đà danh vọng đang lên của cả hai vợ chồng. Sinh một con trai.

Khánh Ngọc gia nhập ban hợp ca Thăng Long bao gồm Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng, Phạm Duy. Chính môi trường gia đình nổi tiếng này đã phát sinh nghịch cảnh éo le, xảy ra quan hệ tình ái không  mấy tốt đẹp giữa anh rể em dâu.

Sau nhiều ngày nghe phong thanh về tin đồn thiếu chung tình của vợ, Phạm Đình Chương cùng bạn ráo riết theo dõi rồi bắt gặp cuộc hẹn hò giữa Khánh Ngọc và Phạm Duy tại quán chè Nhà Bè. Báo chí Saigon làm rùm beng một dạo. Thời điểm ấy trời đất như sụp đổ trên chân nhạc sĩ họ Phạm. May có người bạn dắt dìu, Ông mới gắng gượng ra về với cõi lòng tan nát. Quá buồn đau và uất hận, Ông đệ đơn ly dị.

Một đêm mưa tầm tả, Ông nghe văng vẳng lời thơ Lệ Đá Xanh của Thanh Tâm Tuyền:

Đôi khi anh muốn tin

Ôi những người khóc lẻ loi một mình 

Để rồi chỉ trong vài giờ đã viết xong: NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU 

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa 

Cho tôi về đường cũ nên thơ

Cho tôi gặp người xưa ước mơ 

Hay chỉ là giấc mơ thôi 

Nghe tình đang chết trong tôi 

Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời 

Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau 

Ôi sao nghìn trùng mãi xa nhau

Hay là còn hẹn nhau kiếp nào 

Anh ở đâu? em ở đâu?

Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu 

Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt 

Chỉ thấy là nhớ nhung chất ngất 

Và tiếng hát và nước mắt 

Đôi khi em muốn tin

Đôi khi em muốn tin

Ôi những người, ôi những người 

Khóc lẻ loi một mình 

Khóc lẻ loi một mình.

* Ca sĩ Ý Lan cảm nhận về Bác Ruột Phạm Đình Chương: “Bác ấy là người hiền lành, tử tế. Dù là nghệ sĩ lớn nhưng Bác sống đơn giản, thân mật  với gia đình và mọi người. Bữa cơm chỉ cần bát canh, dĩa cà mắm, chút thịt thái hạt lựu là Bác đã hài lòng. Điều đặc biệt là phải có cốc rượu đi kèm.

* Ca sĩ Phương Dung cũng đồng quan điểm: Anh Chương vô cùng dễ thương, hiền từ, luôn cư xử dễ chịu với bè bạn và quần chúng xung quanh.

Bà tiết lộ từng bật khóc theo lời ca khi nghe họ Phạm hát Nửa Hồn Thương Đau, vì thông cảm cho cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa. Bà còn cho biết Huỳnh Anh và Phạm Đình Chương là đôi bạn tâm giao vì cùng hoàn cảnh, đổ vỡ hôn nhân, bị vợ phụ tình.

* “Nửa Hồn Thương Đau và Bi Kịch của một Gia Đình”, truongvankhoa.blogspot.com, 25.4.13:

Cuộc chia tay bất ngờ, oan trái giữa ông và Khánh Ngọc đã xảy ra. Thảm kịch gia đình dập tắt mọi tiếng cười, khép lại mọi nẻo đường của gia đình tiếng tăm. Ban Hợp ca Thăng Long gần như bị “chôn sống” sau cơn địa chấn rung động của tình ái. Phạm Đình Chương trải  qua chuỗi ngày cô đơn, gần như cắt đứt mọi liên lạc với xã hội. Chỉ tiếp xúc giới hạn một số bằng hữu thân thiết. Ông lột xác thành kẻ khác. Không màng để ý ăn mặc, trở nên kiệm lời. Nhắc khoảng thời gian đó, Mai Thảo nói: “Nhiều khi cả ngày Hoài Bắc không mở miệng, nhưng số anh em thân vẫn lui tới, không bảo nhau, chúng tôi tôn trọng sự im lặng của bạn, tìm mọi cách, nghĩ mọi chuyện cốt làm sao cho bạn vui.

Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ cho ta thấy mối đau thương tột cùng của Phạm Đình Chương.

* “Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Một Thời Đã Qua”, Quỳnh Giao, posted on 22.8.20, FB Nguyễn xuân Nghĩa:

Hoài Bắc là linh hồn của ban hợp ca một thời lừng lẫy từ Saigon ra Hà Nội, tới cả hải ngoại. Mấy chục năm qua, sau bao thay đổi về nơi chốn và nhân sự, thính giả khắp nơi vẫn nghe Thăng Long. Vắng Thái Hằng và Khánh Ngọc, vẫn còn Thăng Long. Không Thái Thanh, thay thế bằng Mai Hương, vẫn là Thăng Long. Ban nhạc chỉ thật sự mất khi không còn Hoài Bắc. Vì Thăng Long là Hoài Bắc, là hòa âm Phạm Đình Chương, là tinh thần yêu mến nghệ thuật ca hát của Phạm Đình Chương.

Hoài Bắc mất đi, hẳn là các tác phẩm của Ông sẽ còn được nâng niu mãi mãi. Người ái mộ không bao giờ quên những thanh âm tình tứ, ngọt ngào và thật gần gũi của Ông, nhắc họ nhớ cánh đồng, ruộng lúa, cây đa, con sông, ngọn núi, quê cha, đất mẹ, mùa xuân, ngày Tết, hạnh phúc, khổ đau, tình yêu, chia ly, đêm trăng, thành phố…

Bạn hữu của Ông rất đông, họ thấy rõ một thời đã qua. Sơn Tây, Ba Vì, Hà Nội, Saigon, Đêm Màu Hồng, Pasadena, quận Cam…cùng với Hoài Bắc, tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Điều họ quý nhất ở Ông, ngoài những tác phẩm lớn cho nghệ thuật tân nhạc Việt Nam, còn là tính tình nhũn nhặn, thân ái, hòa nhã. Ông giao thiệp nhiều, đủ mọi giới mọi ngành mà không mất lòng ai. Ông là tụ điểm cho nhiều sinh hoạt của giới nghệ sĩ trong suốt mấy chục năm qua. Ông mất đi, ngôi nhà cũ như tắt đèn đóng cửa, bạn hữu cảm thấy trống vắng quạnh hiu.

3. VŨ HOÀNG CHƯƠNG (1916 – 76)


“Thiên Tình Sử của Vũ Hoàng  Chương”, Phạm Thị Nhung, tongphuochiep.com:

Một buổi chiều, Vũ Hoàng Chương tới thăm Ngãi, người bạn đang làm trợ giáo, dạy thêm cho các con Bà Tư, lớn nhứt là Trần Tố Uyển, 14 tuổi.

Vừa được vị nể, lại thêm tiếp đón ân cần, Hoàng cảm thấy đời vui như mở hội, nên hay lui tới mỗi tuần. Rồi nhận chỉ dẫn hai chị em môn tiếng Anh. Chẳng bao lâu trở nên thân thiết như người nhà. Nhiều hôm được giữ lại ăn cơm. Tình cảm quyến luyến giữa Hoàng và Tố dần dà nẩy nở một cách hồn nhiên, cả gia đinh chẳng ai để ý.

Hoàng thuật lại trong thơ:

Nhà đông người vui nhộn 

Chẳng ai còn nhớ ra

Nơi này anh có mặt

Vì đâu tự bao giờ 

Có thời gian bận học, Hoàng ít ghé chơi. Bỗng dưng thấy lòng nhớ nhung vời vợi. Rồi chợt nhận ra vì đâu chàng năng lui tới:

Kèm cho cả nhà học

Đã có thầy giáo riêng 

Anh qua lại khuya sớm 

Chỉ vì anh yêu em

Tình yêu nẩy sinh từ lòng cảm mến, hòa họp tâm hồn giữa đôi trai gái vừa mới lớn lên. Hoàng kể lại những buổi đón đưa:

Em biết anh chờ em ngã ba

Trường Thi, Ngõ Huyện vắng người qua

Đi chung một quãng, chiều tan học 

Chẳng nói yêu, mà yêu thiết tha 

Hay những lúc trao thư:

Em biết anh chờ em ngã tư

Hàng Khay, Hàng Trống để trao thư 

Lời yêu chẳng viết, nhưng trong ý 

Hai đứa cùng chia một động từ 

Hoặc tả về mấy hàng chữ của người yêu:

Mười hàng chữ đơn sơ, ồ ngượng ngập

E dè sao mười hàng chữ đơn sơ 

Màu mực tươi xanh ngát ý mong chờ 

Tình hé nụ bừng thơm trong nếp giấy 

Thời gian êm trôi cho đến chuỗi ngày Tố sửa soạn kỳ thi trung học. Mỗi chúa nhật, thầy Ngãi soạn đề thi thử  về toán và Pháp văn, còn Hoàng tất bật lo đề thi Anh Văn cho hai chị em. Nhiều hôm chàng nấn ná ở lại tới khuya để giảng giải thêm:

Mùa thi rối gương lược 

Anh sửa soạn cho em

Ngay từ nửa tháng trước 

Ngồi khuya đêm lại đêm

Những lúc ấy Hoàng cảm thấy đời vui:

Thời gian rất hạnh phúc

Bao nhiêu đêm ngồi kề 

Bấy nhiêu vòng khăng khít

Buộc đôi hồn si mê 

Ngày đi xem bảng, thấy tên nàng, Hoàng tưởng chừng hoa mắt, vui mừng khôn xiết, vội phóng về nhà. Vừa thấy Bà Tư đứng tựa cửa, chưa kịp gác xe vào vỉa hè, chàng vội vã rối rít báo tin vui: – Tố đỗ rồi ! Tố đỗ rồi !

Reo to đến cả xóm đều nghe.

Đó là giữa năm 1939, Tố vừa tròn 18, cái tuổi thanh xuân mơn mởn đào tơ của người con gái. Lúc này Hà Thành nở rộ phong trào kén chồng theo quan điểm: “phi cao đẳng bất thành phu phụ” của các cô gái xinh đẹp, học thức, gia thế giàu sang. Tố được nhiều chàng trai danh giá rắp tâm để ý. Bà Tư vô cùng hãnh diện về con mình.

Nhưng vì từ lâu vốn có thiện cảm với Hoàng, lại thấu rõ ân tình của đôi trẻ, nên Bà dự tính gả con cho chàng. Đã đến lúc Hoàng về thưa chuyện với thân sinh, xin đem trầu cau đến dạm hỏi. Thì hỡi ơi bị cha mẹ từ khước. Các Cụ chỉ muốn kết thông gia với quan bố chánh, viện lẽ Bà Tư mới 38 tuổi, lại làm chủ cửa hàng bách hóa, không xứng môn đăng hộ đối với Ông Bà Tri Huyện.

Trời đất quay cuồng sụp đổ, đau đớn tột cùng. Hoàng lánh mặt, biệt tăm, không dám bén mảng tới nhà Tố nữa. Chẳng tha thiết học hành, chàng tìm quên trong men rượu:

Ta say, trời đất cũng say

Ta buồn, ta chán sự đời 

Vì đời bạc bẽo như vôi 

(Say, Lam Phương)

Bà Tư thắc mắc sao đã nửa năm không thấy Hoàng trở lại. Một cô em họ chàng, cũng là bạn học của Tố ghé chơi, kể cho nghe tự sự: Bà Tư tuy tự ái giận bố mẹ Hoàng xúc phạm coi thường, lại buồn nghe tin Hoàng bỏ học, đi làm Phó Kiểm soát viên Sở Hỏa xa Đông Dương, nhưng vẫn rủ lòng thương khi thi thoảng Hoàng chợt hiện về, tuy không ở lại lâu như ngày nào, cho nên bà còn nấn ná, chưa dứt khoát chuyện duyên tình của con. Dù thời gian này Tố và Hoàng không còn dịp nào gần nhau như trước nữa. 

Một bữa, Bà gọi Hoàng ra nói chuyện, cho biết thuận lòng gả Tố nếu bố mẹ chàng chịu hỏi cưới đường hoàng.

Thế mà cả hai năm Ông Bà Tri Huyện vẫn bặt tăm hơi. Còn Hoàng làm việc tận Cao Bằng chẳng mấy khi trở về. Tố đã 20, Ông Bà Tư không thể chờ đợi nữa. Bà khuyên lơn Tố lấy chồng cho yên bề gia thất. Gia đình Bà không phải là hạng người “Tham đó bỏ đăng, thấy lê quên lựu thấy trăng quên đèn”.

Nghe lời thủ thỉ của Mẹ, riết rồi Tố cũng xiêu lòng. Tuy không hề yêu thương quen biết, Nàng cũng nhận lời cầu hôn của ông Đào bá Cương, tiến sĩ luật khoa ở Pháp vừa về nước.

Một tháng sau thì bất ngờ Mẹ Hoàng khăn gói tới thăm nhà Bà Tư, nhưng hỡi ơi đã quá muộn màng.

Ba đồng một mớ trầu cay

Sao anh không hỏi những ngày còn không

Bây giờ em đã có chồng 

Như chim vào lồng, như cá cắn câu

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

Chim vào lồng biết thuở nào ra

Hay tin Tố nhận trầu cau của người khác, Hoàng rả rời tuyệt vọng, bao năm trời vun đắp tình ái, bây giờ đành chịu vỡ tan.

Tiếc công anh đào ao nuôi cá 

Ba bốn năm trường người lạ đến câu 

Từ đó mà ngày 12 tháng 6, Tố lên xe hoa về nhà chồng, trở thành nhan đề cho bài thơ bất tử. Nỗi đau tựa nhát dao sắc bén chém vào tim, khiến vết thương khắc thành mộ bia. Niềm chua cay bi phẩn làm cho chàng như cuồng như say, đến độ cao hứng gõ vào bia rồi ca “Khúc Cổ Bồn”, học đòi Trang Tử thuở nào sau khi biết vợ bội phản, kết liễu đời mình vì xấu hổ. Ông gõ vào chậu đồng mà ca, than trách tình đời cay đắng, đốt hết cơ nghiệp rồi bỏ đi xa. Hoàng cũng đang mang tâm trạng khắc khoải u hoài đó qua bài thơ:

Mười Hai Tháng Sáu

Trăng của nhà ai trăng một phương 

Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường 

Ồ ! Đêm tháng sáu mười hai nhỉ 

Tố của Hoàng ơi ! hỡi nhớ thương !

Là thế, là thôi, là thế đó,

Mười năm thôi thế mộng tan tành 

Mười năm trăng cũ ai nguyền ước 

Tố của Hoàng ơi ! Tố của Anh

Tháng sáu mười hai từ đấy nhé 

Chung đôi từ đấy nhé lìa đôi 

Em xa lạ quá đâu còn phải 

Tố của Hoàng xưa, Tố của Tôi 

Men khói đêm nay sầu dựng mộ 

Bia đề tháng sáu ghi mười hai

Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc

Tố của Hoàng, nay Tố của Ai

Tay gõ vào bia mười ngón rập 

Mười năm theo máu hận trào rơi

Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp

Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi

Kiều Thu hề Tố em ơi !

Ta đang lửa đốt tơi bời Mái Tây,

Hàm Ca nhịp gõ khói bay

Hồ Xừ Xang Xế bàn tay điên cuồng 

Kiều Thu hề trọn kiếp thương 

Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô

Xừ Xang Xế Xự Xang Hồ 

Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên 

Kiều Thu hề Tố hỡi em !

Nghiêng chân bốn bể mà xem lửa bùng 

Xế Xừ Xang khói mờ rung

Nhịp vươn sầu tỏa năm cung ngút ngàn 

4. LAM PHƯƠNG (1937 – 2020)


Sự nghiệp âm nhạc của Lam Phương được nhắc nhở rất nhiều. Bài này xin ghi nhận một số ý kiến tiêu biểu. 

   * “Lam Phương và Những Sáng Tác Để Đời”, (vangson.info): 

Mới 10 tuổi, Lam Phương giả từ mái tranh nghèo xơ xác nơi miền quê Rạch Giá, tấp tểnh tới Saigon ở nhờ nhà bà Dì vùng Tân Định. Vừa học vừa làm sống qua ngày. Một thời gian sau đưa Mẹ và 5 em lên sống chung trong căn gác tồi tàn khu Đakao lầy lội. Bắt đầu sáng tác năm 15 tuổi, với nhạc phẩm đầu tay: Chiều Thu Ấy. Hai ba năm sau thêm Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Trăng Thanh Bình, Nắng Đẹp Miền Nam, Khúc Ca Ngày Mùa…Các hãng đĩa nhạc đua nhau ký hợp đồng với tác giả để thu âm. Ông để lại gia tài đồ sộ, với chừng 200 bài hát, hầu hết rất được ưa thích.

   * Sách về Lam Phương, “Thoát Nghèo nhờ Kiếp Nghèo”, Nguyễn Thanh Nhã, vnexpress.net, 1.12.19:

“Giữa năm 54, những cơn mưa tầm tã phủ kín phố phường Saigon. Vùng Đakao ngập úng nặng nề. Một buổi xế chiều, Lam Phương phờ phạc đạp xe về xóm trọ. Thấy trên hiên nhà Mẹ đang loay hoay hứng từng chậu nước. Căn gác ọp ẹp hiện ra trước mắt người nhạc sĩ trẻ tuổi như một cảnh sống tối tăm của những phận đời mong manh, trôi nổi. Ngậm ngùi sầu muộn, Ông viết Kiếp Nghèo:

Thương cho số kiếp tha hương thân gầy gò gởi cho gió sương 

Đôi khi muốn nói yêu ai nhưng ngại ngùng đành lãng phai

Đêm nay giấy trắng tâm tư gởi về người chốn mịt mùng 

Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung.

Lam Phương hồi tưởng: Tôi viết Kiếp Nghèo trong tình cảnh thực sự của tôi lúc đó, viết trên những dòng nước mắt. Sau khi bán được bài Trăng Thanh Bình năm 53, tôi mua chiếc xe đạp để đi học. Mỗi chiều, muốn về khu Đakao phải vòng qua đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Ngang trường Gia Long chẳng có một căn nhà nào. Đêm đó gặp trận mưa to, không chỗ ẩn trú, đành phải đi dưới mưa để về nhà. Quên cả thay quần áo, ôm cây đàn và cứ thế viết bài Kiếp Nghèo, nói về phận bạc của con người. Ông tâm sự chỉ với bài này mà mua được ngôi nhà khang trang cho mẹ với giá 40 lượng vàng.

   * Đôi Điều về “Thành Phố Buồn” – Ca khúc đưa Lam Phương thành triệu phú:

Lam Phương và Hạnh Dung cùng thuộc Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Năm 1970, Nhạc Sĩ thân thương của chúng ta đi công tác trên cao nguyên Dalat. Ngồi ngắm đồi thông vi vu gió lộng, không có Hạnh Dung chung đôi như ngày nào. Trong nỗi ray rứt nhớ người yêu dâng trào, Ông làm nên bài hát mà vừa phát hành một vài hôm là hết sạch. Tái bản nhiều lần vẫn không đủ cung cấp cho lượng người hâm mộ đông đảo. Tên tuổi nổi như cồn. Đâu đâu cũng nghe thoang thoảng “Thành phố buồn nhớ không em, nơi chúng mình tìm phút êm đềm”…Điều không ai ngờ là nhạc sĩ thu về số tiền chưa nhạc sĩ nào có được: 12 triệu đồng, tương đương nửa triệu Mỹ kim.

   * Về Ca khúc “Lầm”:

Ngày 28.4.75, Hạnh Dung năn nỉ Lam Phương cùng đi lánh nạn cộng sản, nhưng Ông đành đoạn chối từ. 

“Hai hôm sau, chen chân với dòng người hối hả, Ông cùng vợ con vội vã chạy ra khu Khánh Hội tìm đường thoát thân theo tàu Trường Xuân. Bất chấp nhà cửa, tiền bạc gởi ngân hàng hơn 30 triệu chưa kịp lấy ra. Bỏ cả xe hơi trên bến cảng.

Như phần đông đồng bào tị nạn, tới Mỹ bước đầu bỡ ngỡ, chưa thể hội nhập vào cuộc sống mới, Ông phải làm đủ mọi chuyện, toàn là việc bằng chân tay: lau nhà, thợ tiện, thợ mài, tiệm tạp hóa, dọn dẹp, khiêng đồ, chất hàng…Đêm về còn đi đánh đàn mà cũng không dư giả gì. Hai vợ chồng thuê một nhà hàng mở phòng trà ca nhạc để đồng hương có chỗ gặp nhau, cùng giúp Lam Phương và  Túy Hồng đỡ nhớ sân khấu. Công việc này không sinh lợi bao nhiêu mà oái oăm thay, chỉ sau thời gian ngắn, Lam Phương khám phá người bạn đời không còn chung thủy. Ông biết thân phận mình mất hết hấp lực, đâu còn phong lưu giàu sang như hồi ở Saigon một thuở huy hoàng vương giả. Đời sống quá vất vã khó khăn, tâm hồn người vợ cũng dễ bị lung lay.

Cuối cùng là đổ vỡ, xẻ nghé tan đàn.

Với tâm hồn đa sầu đa cảm, Ông chua xót đắng cay sáng tác ca khúc Lầm mà một dạo, khắp hang cùng ngõ hẽm đâu đâu cũng nghe oang oang: 

Anh đã lầm đưa em sang đây 

Để đêm trường nghe tiếng thở dài 

Thà cuộc đời yên trong lòng đất 

Được trở về tiếng khóc ban sơ

Hơn là mang kiếp mong chờ…

Anh đã lầm đưa em về đây 

Cho tâm hồn tan nát từng ngày 

Cùng điệu nhạc lâm ly huyền bí 

Dìu lòng người sang chốn đam mê 

Đưa anh vào khổ lụy hôm nay…

Lời yêu thương nồng cháy 

Của hai mươi năm đầy 

Ngày yên vui hạnh phúc 

Ước vọng đến tương lai 

Đã vùi trong giấc ngủ say

Cơn đau và vũng lầy 

Để anh đi, để anh viết, bằng yêu thương, bằng nước mắt, bằng con tim đọa đày, tìm quên trong miệt mài để quên nỗi buồn còn đây…

Con tim nào không hay đổi thay

Cuộc tình nào không lắm hận sầu 

Ngọn đèn vàng lung linh hè phố 

Điệu nhạc buồn văng vẳng đâu đây 

Chỉ thêm làm giá lạnh đêm nay…

Lam Phương than thở: “Trên đời này ai cũng có ít nhất một lần lầm lẫn, người lầm nhỏ, kẻ lầm lớn, nhưng tôi lại không may mắc phải cái lầm rất lớn trong cuộc đời mình”. Chẳng biết có khi nào Ông cảm thấy tiếc nuối vì  không chịu nghe lời nài nỉ của Hạnh Dung, người mà về sau kết hôn với ca sĩ Nhật Trường, sống chung được mấy năm.

   *”Lam Phương, Người Nghệ Sĩ của Khăn Tay và Nước Mắt”, Trịnh Thanh Thủy, hungviet.org, 15.1.16:

Lam Phương đã chinh phục được số đông người mến mộ. Nhạc Ông dễ nghe, dễ hát. Ca từ giản dị, dễ hiểu, chân phương, mộc mạc. Thính giả cảm được tiếng lòng thổn thức, nhất là khi họ bị rơi vào hoàn cảnh trùng hợp bài hát. Hầu hết lời ca, chuyện kể trong các nhạc khúc của Ông đều diễn đạt những cách ngăn, hoài cảm, tiếc nuối kỷ niệm xưa của tình yêu đôi lứa, những buổi chia ly, sân ga, bến đò, vẫy biệt, khăn tay và nước mắt.

5. ĐỖ LỄ  (1941 – 97)

* “Tiếng Hát Ngày Xưa Cũ: Lệ Thanh với Sang Ngang và Chuyện Tình Không Suy Tư”, (Lê Quang Chác, kontumquetoi, 12.4.19):

Hằng đêm Đỗ Lễ thường hay đến các phòng trà Saigon để nghe tiếng hát Lệ Thanh. Giọng ca chan chứa nỗi  lòng tan tát bởi chia ly của nữ ca sĩ đã thôi miên Đỗ Lễ đi vào bến mê.

* Theo nhà báo Lâm Tường Dũ, “Với tâm hồn đa cảm và bén nhạy yêu thương, Đỗ Lễ để hết lòng mình mở rộng đón tiếng hát Lệ Thanh đi sâu vào cõi thầm kín nhất của tình si. Yêu giọng ca, yêu cả con người. Thực sự lúc ấy, tầm vóc của Lệ Thanh, nói về tài nghệ và danh phận thì Đỗ Lễ chỉ là một bóng mờ”.

* Nhà Văn Hồ Trường An cho rằng: Lệ Thanh hát như một người đang bị nghẹt mũi nhưng giọng vẫn vang lộng và làm mê hoặc tâm hồn khán giả. Còn báo giới và công chúng thì nhận xét: Lệ Thanh rất ngoan hiền, khiêm tốn, thuỳ mị, giàu lòng tự trọng.

* Lê Quang Chác nói thêm: Đỗ Lễ sáng tác nhiều ca khúc than thở cho thân phận người muốn leo cây bưởi, khi mà cành quá xa, hoa lung linh khêu gợi, nhưng bàn tay nhà nghệ sĩ ngắn quá, không sao với tới.

Năm 1965, Lệ Thanh lên xe hoa cùng chàng bác sĩ, giả từ sân khấu và ánh đèn màu. Đỗ Lễ nghe tin này như sét đánh ngang tai:

Trèo lên cây bưởi hái hoa 

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân 

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng anh tiếc lắm thay 

Không hơn gì nhiều người khác khi bị phụ tình, Đỗ Lễ cũng uống rượu tiêu sầu. Trong niềm đau lai láng, Ông gục đầu rên xiết, rồi gởi gắm tâm sự  qua tình khúc xót xa tràn đầy nước mắt: Sang Ngang.

Thôi nín đi em, lệ đẩm vai rồi, buồn thương nhớ ơi !

Anh hỡi đôi mình, mộng nay đã tan, tình đã dở dang

Anh khóc những chiều, em xót xa nhiều, thương cho tình yêu

Nỗi buồn chua cay, khi lòng đổi thay, thôi hết sum vầy 

Nếu biết rằng tình là dây oan. Nếu biết rằng hợp rồi sẽ tan. Nếu biết rằng yêu là đau khổ. Thà dương gian đừng có chúng mình 

Lau mắt đi em, gần hết đêm rồi, buồn thêm nữa sao

Mai bước sang ngang, lòng thêm nát tan, tình đã dở dang 

Thôi khóc làm gì, đã lỡ duyên thề, thương nhau làm chi?

Nỗi buồn ai hay, khi mình chia tay, xa cách nhau rồi 

Năm tháng trôi qua, nay bỗng nhớ lại, chuyện tình đắng cay

Anh nén thương đau, nhìn tình dở dang, lòng thêm khóc than

Ôi xót xa nhiều, lệ bỗng tuôn trào, thương cho tình côi 

Trách thầm người yêu, nỡ phụ tình tôi, không nói nên lời 

Nếu biết rằng cuộc đời ngang trái, Nếu biết rằng tình này chóng phai

Cho chúng mình mang nhiều đau khổ, thì yêu đương đành cố chôn vùi 

Thôi nhé em ơi, tình đã lỡ rồi, buồn cũng thế thôi

Anh nén chua cay, nhìn em khóc than, tình duyên bẽ bàng 

Thôi nhắc làm gì, cho xót xa nhiều 

bao nhiêu hận căm 

Mối tình ngày xưa, xóa dần trong mơ, chôn xuống tuyền đài.

Theo Trần Nhật Vy, “Những Bức Thư Tuyệt Mệnh của Tác Giả Sang Ngang”, zingnews.com, 1.12.16: khoảng cuối 64, Hoài Xuân là người đầu tiên trình bày nhạc phẩm này tại phòng trà nhỏ vùng Đakao. Với vóc dáng mảnh mai xinh xắn, đôi mắt buồn não nuột, cất giọng ca thê lương băng giá giữa màn đêm, giới thưởng ngoạn ngợi khen hết mình. Hôm đó, Đỗ Lễ cũng có mặt. Hai tâm hồn, một hoàn cảnh, cùng chung mối sầu. Từ đó, Đỗ Lễ vẫn đến các phòng trà nơi Hoài Xuân trình diễn, đưa đón như cặp tình nhân. Thế rồi họ kết hôn.

Trần Nhật Vy cũng cho biết:

 “Tính tình Đỗ Lễ hiền lành, quảng giao. Nói chuyện với anh không sợ bị bắt bẻ lôi thôi. Đó là gã đàn ông trạc 50, đầy tự tin, ăn mặc chải chuốt, cao 1.60 m, dáng dấp không mấy đẹp trai.

“Bạn tôi kể cuối thập niên 80, khi đi bưu điện lãnh quà nước ngoài, cô cùng nhiều phụ nữ khác chen nhau coi mặt Đỗ Lễ. Những ca khúc đầy nước mắt của anh khiến họ liên tưởng tác giả là “người đàn ông tuyệt vời”. Nhưng sau khi thấy rõ “thần tượng”, tất cả đều thốt lên: “ổng vậy thì bị sang ngang là phải rồi”.

1994, Đỗ Lễ qua Mỹ đoàn tụ với con. Vài năm sau trở về rồi uống thuốc tự vẫn.

6. HUỲNH ANH (1932 – 2013)

Viết chừng 20 bài rất được mến chuộng. Nhạc của Ông nói nhiều về mưa, mưa hiu hắt, mưa rơi sầu nhân thế… Suốt chặng đường dài 20 năm, Huỳnh Anh là tay trống cự phách khắp các sân khấu vũ trường và phòng trà ca nhạc Saigon. Có lẽ vì quá bận rộn với nghề nhạc công mà Ông không còn thì giờ sáng tác.

Trước 75, Huỳnh Anh kết hôn với Thanh Hằng, vừa đẹp vừa giàu sang. lắm đàn ông vây quanh. Theo suy đoán của ca sĩ Phương Dung, chính những nét phong lưu quý phái đó của bạn đời làm anh hay ghen tuông, cuối cùng sinh ra đổ vỡ, phải đi đến ly hôn. Từ đó trở nên mất phương hướng, hay uống rượu giải sầu, buông xuôi cho số kiếp.

“Lạnh Trọn Đêm Mưa” bộc lộ nỗi niềm đau thương của người nghệ sĩ hết lòng với tình yêu nhưng bị trả lại toàn cay đắng trái ngang.

Mưa buồn ơi thôi ngừng tiếng 

Mưa cho phố nhỏ càng buồn thêm 

Mưa rơi gác xưa thêm lạnh vắng 

Phòng côi lắng tiêu điều

Đường khuya vắng đìu hiu 

Đêm sầu đi trong tủi nhớ 

Bao thương nhớ chỉ là mộng mơ 

Đêm nay tiếng mưa rơi buồn quá 

Mưa đem sầu riêng ai

Buồn ơi đến bao giờ 

Mưa ơi! Mưa ơi! Mưa gieo sầu nhân thế, mưa nhớ ai?

Biết người thương có còn nhớ hay quên. 

Riêng ta vẫn u hoài 

Đêm, đêm tiếp đêm nhớ mong người 

đã cách xa

Mưa buồn rơi rơi ngoài phố 

Nghe như tiếng nhạc buồn triền miên

Đêm nao chốn đây ta dìu nhau

Trao muôn ngàn lời thơ

Chờ mong đến kiếp nào?

Mưa trọn đêm

Mưa trọn đêm

Mưa trọn đêm 

* Nhạc Sĩ Trần Chí Phúc (Việt Báo.com, 19.12.13) cho biết: “Huỳnh Anh cư trú tại San Francisco, thỉnh thoảng về San Jose tham dự những chương trình văn nghệ cộng đồng, lúc đàn, lúc hát, giọng ca của Ông thật truyền cảm, diễn tả phong cách người nhạc sĩ lão luyện từng ở trong ban nhạc trình diễn cải lương, phòng trà lừng lẫy một thời”…

Ngoài sáng tác, năm 1981, Huỳnh Anh còn điêu luyện phổ thơ Hoàng Ngọc Ẩn thành ca khúc cùng tên: Rừng Lá Thay Chưa, khiến ai nghe mà không khỏi xao xuyến bồi hồi:

Anh đi, rừng chưa thay lá 

Anh về, rừng lá thay chưa 

Phố cũ bây chừ xa lạ 

Hắt hiu đợi gió giao mùa 

Xuân xưa mình chung đôi bóng 

Xuân này mình ngóng trông nhau

Hun hút phương trời vô vọng 

Nhớ thương bạc trắng mái đầu 

Em có về qua phố cũ ?

Phố phường giờ đã đổi thay

Thương em nửa đời hoang phế 

Thương ta chịu kiếp lưu đày 

Xuân nay mình em lẻ bóng 

Có còn tiếc nhớ xuân xưa ?

Dài tay đếm từng nhung nhớ 

Em ơi ! đợi gió giao mùa…

Là người xã giao rộng rãi, bạn bè thương mến, nhiều thân hữu ghi lại những cảm nghĩ về Ông trong Tạp Chí Cỏ Thơm (sinh hoạt và đời sống.blogspot.com):

* “Huỳnh Anh và Thuở Ấy Có Em”, Lý Minh Hào: đối với Huỳnh Anh, rượu gần như môi giới, trung gian giữa âm nhạc và tình yêu, giữa viết nhạc và ca hát. Có người ví tình yêu mông lung như sợi tơ, và rượu mông lung như cơn mộng mị. Hai thứ đó không có gì xung khắc mà nhiều khi còn tương hợp nữa. Tình yêu, thơ, nhạc và rượu lắm khi quyện vào nhau như hình bóng, như ánh sáng và bóng tối, tương phùng rồi ly biệt, yêu nhau rồi xa nhau.

Người thất tình hứng chịu nỗi đau buốt từ con tim trống vắng khi “cõi lòng anh thiếu em”, như cảnh “mái lầu kia thiếu trăng”. Với giọng không quá khàn đục, vì không còn cất thành tiếng được nữa, cũng chẳng nhiều thống thiết nghẹn ngào, Huỳnh Anh diễn đạt phần điệp khúc trong bài Thuở Ấy Có Em rất chua xót, như tiếng nấc bi ai của người đau khổ không nói nên lời. Phải vươn tới những lúc đủ độ men say để buông khúc hát túy ca, Huỳnh Anh mới xuất thần hát hay thực sự.

* “Huỳnh Anh: “Người Độc Hành trong Kỷ Niệm qua Nhạc, Thơ, Sân khấu và Điện ảnh”, Nguyễn Vĩnh Thanh Vân, Calitoday, 22.10.04:

Huỳnh Anh vốn không nhiều lời, nhưng lại rất giàu tình cảm. Cho nên càng giàu tình cảm bao nhiêu lại càng thiếu thốn về vật chất bấy nhiêu. Tuy không sáng tác nhiều, nhưng chỉ cần “Mưa Rừng” mà thôi, Huỳnh Anh cũng dư sức thành triệu phú cả chục lần vào những năm 60, nhất là sau khi tuồng cải lương được đưa lên màn ảnh. Thế mà Anh chưa  lần nào là triệu phú. Ôm ấp cây đàn muôn điệu, anh đã sống một đời nghiệt ngã, chứng kiến và kinh qua những cuộc tình thơ mộng, có khi lọc lừa, những lần chia tay đẩm lệ, những chiều mây giăng kín khung trời, những nhớ nhung về quê hương mờ mịt…Đó là tâm trạng của người nghệ sĩ trong ca khúc: Mùa Thu Không Còn Nữa

Tôi đi giữa mùa thu

Mùa thu Cali buồn 

Buồn như cuộc đời mình 

Từ khi hai đứa hai nơi 

Mùa thu như không còn nữa  

Năm tháng hững hờ trôi

Từ khi em đi rồi 

Còn nghe lòng chạnh buồn

Buồn cho số kiếp đơn côi 

Những chiều buồn lạnh giá tim tôi. 

* “Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Huỳnh Anh”, Trần Quốc Bảo, sucmanhcongdong.net:

Ngày 6.12.13, Phương Hồng Quế gọi điện thoại tới nhạc sĩ Huỳnh Anh: “Anh Ba ơi ! tình hình sức khỏe Anh giờ thế nào. Tụi em dưới này nghe tin Chị Trúc Mai bảo lo quá”. Anh trả lời rất yếu: “Mệt lắm em ơi ! Bác sĩ sẽ cho biết rõ ràng 2 ngày nữa”. Quế tiếp: “Anh rán khỏe lại, rồi xuống đây nhé. Mấy anh chị Ngọc Chánh, Thanh Thúy, Trung Nghĩa…muốn làm một đêm Huỳnh Anh vào tháng giêng tới đây. Hôm đó Anh phải bay xuống nhé”. Anh thều thào những câu nói rất nhỏ: “Cảm ơn mọi người ủng hộ anh. Phải coi sao đã, chứ anh mệt lắm rồi”…

Một tuần sau, Jimmy Tòng báo hung tin Anh ra đi lúc 3 giờ chiều, ai ai cũng hết sức bàng hoàng xúc động. Vĩnh biệt Anh, tay trống và giòng nhạc tài hoa. Vĩnh biệt nụ cười đôn hậu khoan dung.

Nhiều ca nhạc sĩ trong ngoài nước chân thành gởi lời chia buồn cùng toàn thế tang quyến và cầu mong hương linh Anh sớm được về cõi Phật.  

7. BẢO THU (1944 – …)


Theo wiki, Bảo Thu thuở đầu sống bằng nghề ảo thuật gia. Do có năng khiếu âm nhạc, nên những khi chờ đợi xuất diễn, Ông thích đàn hát và sáng tác cho qua thì giờ. Nhờ vậy mà Ước Vọng Tương Phùng ra đời năm  20 tuổi, thắng giải thưởng của Đài Phát Thanh Saigon.

Qua 21 tuổi, Ông phụ giúp nhạc sĩ Nguyễn Đức tập dợt cho nhóm trẻ Việt Nhi, gồm những cô gái dậy thì 14, 15 tuổi, trong đó Phương Hoài Tâm với má lúm đồng tiền, cặp mắt long lanh, mái tóc uốn cong như vầng trăng khuyết từng làm ông xao xuyến bâng khuâng. Tâm là mỹ nhân của cả thế hệ học trò thập niên 60…

Bảo Thu mở lớp nhạc ở đường Trần Hưng Đạo. Hai nhà không quá cách xa, Ông hay tới chỉ dẫn Tâm ca hát, cùng giới thiệu cô trình diễn tại một số phòng trà. 

Rồi đến lúc Tâm rời ban Việt Nhi để hát đơn ca, trở thành nổi tiếng. Do hay mặc áo dài trắng nên được khán giả và báo chí mệnh danh là “tiếng hát học trò”.

16 tuổi, Tâm thừa biết và thấu hiểu tình cảm Bảo Thu dành cho Nàng. Xuất thân là con nhà gia giáo, Tâm luôn ý tứ giữ khoảng cách chừng mực với nhạc sĩ. Một hôm cô hỏi Bảo Thu có hề nghĩ đến chuyện lập gia đình chưa? Thu lúng túng trả lời vì còn nhỏ tuổi, chẳng có công danh sự nghiệp nên chưa tính chuyện vợ con. Rồi Tâm ngập ngừng thổ lộ là ba mẹ đã trót hứa hôn cho một người khác. 

Nghe xong, Thu như kẻ mất hồn. Bắt chước Hàn Mặc Tử mà thở vắn than dài:

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ 

Thế là Thu tuôn trào bài hát:  Đừng Hỏi Vì Sao Tôi Buồn: 

Lòng buồn nhìn theo xác pháo tiễn người yêu bước ra đi. Lòng tôi lạnh lẽo cô đơn, chớ hỏi vì sao tôi buồn.  

Từ đó, Bảo Thu chẳng còn tập nhạc cho Tâm nữa. Sầu dâng lai láng. Nhớ những ngày thơ mộng đàn hát bên  người yêu bé nhỏ, ông ray rứt gởi lời hỏi han hình bóng cũ qua bài Giọng Ca Dĩ Vãng:

Ngày xưa mỗi lần em buông tiếng hát

Thì anh tay phím nắn nót cung đàn 

Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ 

Nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc 

Và rồi hờn yêu em khi nào em hát sai

Em nũng nịu cười, nói: Sai là tại anh

Nhưng em nuôi mộng ước về tương lai 

Hoa mai giăng ngập nẻo đường em đi 

Rồi em đành chối tiếng giao hòa 

Từ ly là tiếng thét đau lòng sầu đơn lối 

Ai đang xây mộng cát vàng cao sang

Ai đem cung nhạc tiếng đàn gieo hoang?

Lời ca ngày đó đã xa rồi 

Mà ai còn chuốt mãi cung đàn vọng  về tim

Giờ đây mỗi lần em buông tiếng hát 

Thì ai thay thế nắn phím cung đàn 

Từng nhịp nhặt khoan ai sẽ dìu theo tiếng em

Và lời hờn yêu em nay còn như ngày trước 

Và rồi tại ai trong mỗi lần em hát sai 

Cung lỡ dây chùng mấy ai đàn đừng sai

Bảo Thu tâm sự: sau khi viết xong nhạc phẩm này, ông đưa cho một số bạn bè và người quen để nghe ý kiến của họ. Có người cho rằng thầy dạy học trò hát rồi nấy sinh tình cảm là chuyện thường tình, ai cũng biết, chẳng có gì mới lạ, cho nên nếu xuất bản thì chắc khó thành công. Một số khác nghĩ rằng tuy chuyện tình khá quen thuộc đâu đây, nhưng chưa ai viết ra, họ tin là sẽ có nhiều người ưa thích nỗi niềm xót xa của tác giả.

Quả đúng như nhóm bạn sau vừa nhận xét. Trong buổi phỏng vấn trên Jimmy Show, Ông kể lại: Ngày trước, khi tới thương thảo với các nhà phát hành Diên Hồng và Tinh Hoa, không ngờ bên nào cũng tranh giành độc quyền ký hợp đồng in Giọng Ca Dĩ Vãng và chấp nhận trả một số tiền bản quyền trước cho tác giả. Chỉ chưa đầy 10 năm mà họ in tới một triệu tờ nhạc, đem về cho Bảo Thu số tiền tương đương 1.000 lượng vàng. 

Tuy mộng tình không tròn ước nguyện, nhưng lúc nào Bảo Thu cũng nói rằng nhờ tình yêu đơn phương với Phương Hoài Tâm mà ông trở thành nổi tiếng trong sự nghiệp âm nhạc.

Mãi hai mươi năm sau kể từ ngày ly biệt, Bảo Thu vẫn trông ngóng người xưa. Chính vì vậy mà Ông sáng tác Giọng Ca Dĩ Vãng 2 (Đàn Xưa Ngóng  Đợi):

Ngày xưa mỗi lần em hát thì có anh đàn 

Hai mươi năm rồi đàn anh vẫn thiếu em

Nên đàn sầu bụi bám nhện giăng 

Dây chùng phím lạc nằm chơ vơ trên vách gỗ lạnh lùng 

Mãi đợi chờ tiếng hát năm xưa 

Đàn ơi đàn ơi hãy thương giùm tôi 

Trời cao đất rộng biết tìm em nơi nao 

Biết tìm em nơi nao 

Người ơi người ơi người đang ở đâu 

Đàn xưa ngóng đợi bước người về hoang ca

Cho đàn trôi tâm ca

Giờ đây mỗi lần em hát lòng tái tê lòng 

Cung thương nhạt nhòa người thương đã vắng xa

Thương chiều tà phủ kín hồn ta phương trời cách biệt 

Giờ em ca ai kết thúc trao lời 

Mà đàn tình này lại nín phím im hơi 

Đàn ơi đàn ơi người ơi người ơi 

Đàn ơi người hỡi. 

8. CHÂU KỲ (1923  – 2008)


Thành danh rất sớm. Sáng tác cả mấy trăm nhạc phẩm được nhiều người ưa thích. Năm 1964, nghe ca sĩ Thanh Thúy lập gia đình, ông viết bài Được Tin Em Lấy Chồng, gây thành tiếng vang lớn và thu về thù lao đáng kể, mua cả chiếc xe hơi.

Khoảng 1940, lúc còn học phổ thông ở Huế, Ông biết một thiếu nữ xinh đẹp con quan thượng thư, Công Tằng Tôn Nữ Kim Anh.

Thoáng thấy tiểu thơ quyền quý ngồi đan áo trên ban công tư dinh lầu son gác tía. Chàng học sinh bên dưới vừa ngước nhìn lên vừa đánh đàn tỏ tình. Chợt cô ngó xuống, buông câu phủ phàng: “Đồ xướng ca vô loài”, rồi lặng lẽ bỏ đi.

Về sau, cô lấy chồng sĩ quan người Pháp. Hiệp định Geneve, ông ta trở về cố hương, bỏ lại cô lạc lõng bơ vơ giữa Saigon hoa lệ. Năm 1970, một hôm ngồi trong quán nước bên đường Nguyễn Trãi, thấy hình bóng quen thuộc rảo bước ngang qua, ông vội vã chạy đến thì nhận ra người đẹp năm xưa sau 30 năm xa cách, giờ tàn tạ rách rưới tả tơi. Hỏi thăm mới biết hoàn cảnh đáng thương tâm, đang ở đậu nhà bạn miệt Gia Định, trong túi chỉ còn 5 đồng đủ mua bát cháo.

Xót xa số phận bi thảm, ông lấy hết 300 đồng trao cho cô, rồi ngỏ ý chở về nhà. Cô ái ngại cầm tiền, ngậm ngùi bật khóc. Sau lần tái ngộ bất ngờ đó, Ông dào dạt cảm hứng, sáng tác Giọt Lệ Đài Trang. 

Ngày xưa ai lá ngọc cành vàng 

Ngày xưa ai quyền quý cao sang

Em chính em ngày xưa đó 

Ước xây đời lên tột đỉnh nhân gian

Ngày xưa ai mến nhạc yêu đàn 

Ngày xưa ai nghệ sĩ lang thang

Tôi chính tôi ngày xưa đó 

Cũng đèo bồng mơ người đẹp lầu quan

Rồi một hôm tôi gặp nàng 

Đem tiếng hát cung đàn 

Với niềm yêu lai láng 

Nhưng than ôi quá bẽ bàng

Bao tiếng hát cung đàn 

Người chẳng màng còn chê chán 

Nhìn đời thấy lắm phủ phàng 

Mượn tiếng hát cung đàn 

Quên niềm đau dĩ vãng 

Hay đâu giông tố lan tràn 

Lên gác tía huy hoàng 

Xiêu đổ theo nước mắt nàng 

Còn đâu đâu lá ngọc cành vàng 

Còn đâu đâu quyền quý cao sang

Em hỡi em ngày xưa đó 

Đến bây giờ phiêu dạt giữa trần gian

Gặp tôi vẫn tiếng nhạc cung đàn 

Đời tôi vẫn nghệ sĩ thênh thang 

Em em nhớ xưa rồi em khóc 

Tôi thoáng buồn thương giòng lệ đài trang.

   * Nhạc Sĩ Châu Kỳ Ra Hải Ngoại”, Ngân Khánh, Việt Báo, 30.6.05: Sau 75, cũng như số phận của các văn nghệ sĩ kẹt lại, Châu Kỳ phải tập trung học tập một thời gian dài. Rồi không còn được tự do sáng tác như xưa. Để kiếm sống qua ngày, trong những năm đầu mới ra tù, ông gia nhập một số đoàn hát chui đi trình diễn nhiều địa phương xa thành phố. Nhưng dần dần sân khấu bị kiểm soát chặt chẽ nên ông không thoát khỏi tình cảnh thiếu thốn chật vật. Phải bán căn nhà ở quận 3 để chuyển ra vùng ngoai ô Nhà Bè hẻo lánh. Ông thường đùa vui khi có người hỏi địa chỉ mới: Tôi hiện ở đường không tên, nhà không số, phố không đèn. Nơi chốn xa xôi vắng vẽ ấy, ông cảm tác Bỏ Phố Lên Rừng:

Người phụ tôi rồi có phải không

Cớ sao lại bỏ phố lên rừng 

Một đi không nửa câu hò hẹn 

Người giả từ mà ánh mắt rưng rưng 

Người phụ tôi rồi có phải không 

Cớ sao lại bỏ phố lên rừng 

Bỗng dưng làm kiếp chim xa lạ 

Biệt núi sầu người có thấy nhớ nhung 

   * “Little Saigon: 65 Năm Dòng Nhạc Châu Kỳ – Dấu Ấn Không Bao Giờ Phai”, Văn Lan, nguoiviet.com:

Trong đêm nhạc hội này, một số người chia sẻ:

     – Ca sĩ Hương Thơ: nhạc Châu Kỳ như khoác đủ sắc màu của nhiều chiếc áo khác nhau, từ nhạc sang đến nhạc buồn, bolero, đến cả những âm hưởng Tây phương. Nên có thể nói nhạc ông rất đa dạng, hát được cũng không dễ vì mình phải biết chọn lựa bài nào hợp với chất giọng của mình.

     – Ông Phạm Hải Đông: Nhiều lúc tôi nghĩ một bài nhạc với những giai điệu đẹp, đi vào lòng khán giả qua bao năm tháng, đôi khi chỉ nghe mà thích có lẽ cũng đủ rồi, chắc tác giả chẳng bận tâm người ta biết tên mình, họ có bài hát lưu lại cho đời là thấy niềm vui. Như tôi “đón xuân này nhớ xuân xưa”, hồi năm 69, ngày Tết đóng quân ở tiền đồn Xa Mát, Tây Ninh, nghe qua radio mà nhớ nhà da diết 

     – Ông Văn Thế Nguyên: Cỡ tuổi tôi thì nói Châu Kỳ chắc ai cũng biết, riêng tôi thú thật hồi đó đi xe đò về quê, qua Bắc Cần Thơ nghe mấy ông mù đánh đàn, hát bài “Khuya Nay Anh Đi Rồi”, mình cho tiền giúp người ta, nghe hay quá mà cũng không tìm hiểu tác giả tên gì, hôm nay được giới thiệu mới biết là Châu Kỳ.

     – Bà Châu Quyên: tụi tôi đọc báo thấy có chương trình nhạc Châu Kỳ, háo hức từ mấy ngày nay rồi. Người ta thường nói nhạc Ông là nhạc “sến”. Tôi thấy không đúng. Không thể nào xếp loại như vậy. Bởi vì nghệ thuật âm nhạc không phải phân biệt đẳng cấp sang hèn, chỉ có người nghe thích hợp với loại nhạc nào mà thôi. Dân ngoại quốc có bao giờ cho bolero là nhạc sến đâu, chỉ do người mình tự đặt ra. Đêm nhạc hôm nay quá hay, chọn bài cũng tuyệt vời, ca sĩ “yếu” sẽ không diễn tá nỗi những bài này đâu.

  * Theo nhà báo Thu Hương (phapluatplus.vn): trưởng nữ nhạc sĩ Châu Kỳ, Châu Huyền Khanh cho biết tuy cha cô rất thành công trong cương vị nhạc sĩ lẫn bầu show, kiếm được nhiều tiền nhưng vì mang “tính nghệ sĩ” mà ông ít chăm lo kinh tế cho gia đình. Cứ mãi vui chơi, bỏ hết ruột gan với bạn bè. Hể có tiền rủng rỉnh là lại nhậu nhẹt, bù khú với bạn. Bởi vậy mẹ cô phải cục khổ lo cho cả nhà.

  * “Cuộc Trò Chuyện với Vợ Nhạc Sĩ Châu Kỳ Nhân Đầu Năm Đinh Hợi”, Nguyễn Thiện, báo Phụ Nữ Tân Niên:

Bà Kha Thị Đàng thổ lộ: thực sự tôi cũng quá khổ sở với ông. Tôi đã buồn cho số phận. Vì dù sao tôi cũng là người đàn bà còn quá trẻ. Thậm chí, nhiều khi tôi cảm thấy hạnh phúc của mình quá ư mong manh. Có lúc tôi từng tuyên bố: “Tôi không ràng buộc gì anh, chấp nhận dang dở. Anh có thể ra đi, miễn là con để lại tôi nuôi”.

Có thời điểm tôi đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ đổ vỡ gia đình.  Bản năng hưởng thụ ngày càng thể  hiện rõ nơi con người ông ấy. Những canh rượu, bạn thơ, bạn nhạc nối tiếp nhau suốt ngày đêm. Xài tiền như nước. Ông càng huy hoàng, tôi càng thu mình lại để lo cho hai con. Bề ngoài, tôi luôn thể hiện nghị lực của một người “có học”, nên những bóng hồng lãng vãng quanh ông ấy không đáng để mình bận tâm, nhưng tận sâu thẳm tâm hồn, tôi vẫn là người đàn bà với nỗi buồn ray rứt thâu đêm. Tôi quyết định tự thân vận động, xin vào làm nhà máy giấy cogivina, tiền ông ấy mặc sức ông xài, chỉ về nhà để ăn khuya và ngủ. Nhưng được một điều, dù về khuya thế nào, bao giờ ông cũng mang về món ăn ngon cho vợ con.

   * “Đám Tang Nghèo của Nhạc Sĩ Châu Kỳ”, Lê Ngọc Dương Cầm, Một Thế Giới, 4.10.15:

Khi mất, nhạc sĩ họ Châu có một đám tang lặng lẽ. Trưa 6.1.08, ca sĩ Giao Linh gọi cho phóng viên Một Thế Giới: “Con ơi!  Chú Châu Kỳ mất khuya nay rồi, con tìm địa chỉ gấp. Cô chú đi viếng ngay. Thương quá, mới thấy đó mà mất rồi”.

Hỏi thăm đường, cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra chỗ cư trú của nhạc sĩ ở Thủ Đức. Đó là căn nhà nhỏ nằm trong xóm lao động. Khách viếng thưa thớt, không thấy nhân vật nổi tiếng nào.

Chiếc quan tài nằm giữa gian chính, chật cả lối đi. Đám tang hiu quạnh, vắng vẽ. Theo ý nguyện người quá cố, trong đám tang mở những ca khúc do ông sáng tác, thay cho tiếng đờn cò, gõ mõ não nùng.

Bà Đàng lặng lẽ ngồi một góc riêng, nâng niu sách nhạc hơn 300 bài hát của chồng, đó là tài sản quý báu duy nhất ông để lại cho vợ sau chuỗi ngày rong chơi giữa cuộc đời.

Bà cho biết: ông có cuộc sống nhẹ nhàng, không màng danh lợi, bạc tiền. Phải nằm liệt giường hai tháng, không phải ca sĩ nào từng hát nhạc ông cũng tìm đến thăm. Những ca sĩ lớn tuổi thành danh nhờ vào ca khúc của ông đa phần sống ở hải ngoại, họa hoằn mới có người về Việt Nam ghé lại thăm. Nhiều ca sĩ hát và thu âm nhạc ông, bán đĩa thu lợi nhuận, ai có lòng thì tìm đến gởi chút tiền tác quyền, còn không ông cũng chẳng bận tâm.

Mỗi độ xuân về, người Việt lại nhớ đến ông. Mọi đường sá ngõ ngách khắp đất nước lại vang lên lời hát: “Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa. Một chiều xuân em đã hẹn hò. Như ươm tình trong cánh hoa mơ, đưa hương theo làn gió. Em nói rằng em viết thành thơ”…

Phạm Văn Duyệt

Ơn Thơ…Thơ Hư Vô



Đêm thơm sợi tóc bềnh bồng
Tiệc tình chưa dọn đã nồng nàn say
Hồn tôi ở trọ trên vai
Em còn ngủ muộn cho dài giấc mơ.

Lăn qua vạt áo tình cờ
Trên dung nhan em thuở thơ tượng hình
Bàng hoàng như mới phục sinh
Tôi trăm năm tuổi còn tình tội em.

Tan vào một cõi hương đêm
Nghe hơi thở đang dập dềnh đời nhau
Từ trong lụa mỏng tơ nhầu 
Dáng em lạ lẫm tựa câu thơ tình.

Lãng đãng giữa cuộc phù sinh
Cùng em tạc tượng chung hình hài tôi
Một mai tận đất cùng trời
Cũng còn di tích một thời nghênh ngang…

Hư Vô 

Phạm Quỳnh – Nhà Phê Bình Bách Khoa, Khai Sáng Với Thân Phận Thuộc Địa. Trần Đình Sử


Trần Đình Sử


Phạm Quỳnh (1892-1945), biệt hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, quê ở xã Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông trước hết là một nhà hoạt động văn hóa văn học nhiều mặt, có công giới thiệu, dịch thuật học thuật, tư tưởng, lịch sử, văn học Pháp vào Việt Nam trong buổi đầu hội nhập Á – Âu. Nhưng khác với Hồ Thích ở Trung Quốc độc lập xuất hiện như một nhà cách mạng văn hoá, đứng trong chiến tuyến văn hoá mới, Phạm Quỳnh ở Việt Nam lúc ấy chỉ là một người dân thuộc địa, làm chủ bút cho tờ tạp chí do thực dân Pháp tài trợ, chỉ đạo, cho nên sự nghiệp văn học của ông trải qua một quá trình đánh giá từ không nhất trí đến dần dần nhận chân. Nếu ta đọc vào văn của ông thì sẽ thấy tấm lòng yêu nước kín đáo và xem ảnh hưởng của ông đối với văn học hiện đại thì sẽ thấy ông là nhân vật không thể thiếu trong bức tranh văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Ông là hậu duệ của một dòng họ nhiều đời nhà nho, thuở nhỏ mồ côi cha mẹ, nhà nghèo, được bà nội nuôi nấng, chăm học. 16 tuổi ông đỗ thủ khoa bằng Cao đẳng tiểu học trường Bưởi, và trường thông ngôn, tự học Hán học, được nhận vào làm việc ở trường Viễn đông Bác cổ, nơi có đủ các sách để cho ông tự học thành tài. Năm 20 tuổi ông đã viết bài cho Đông Dương tạp chí, năm 24 tuổi nhận làm chủ bút tạp chí Nam Phong (1917-1934). Hoạt động văn học của ông chủ yếu thực hiện trên tờ tạp chí này. Từ năm 1932 ông rút khỏi tạp chí để sang làm chính trị, lúc đầu là Bộ trưởng Bộ Học, sau sang Bộ Lại, rồi làm Ngự tiền văn phòng cho vua Bảo Đại. Khi phụ trách tờ Nam Phong, ông đã viết một khối lượng lớn tác phẩm, sau in vào Nam Phong tùng thư (1929) và Thượng Chi văn tập (gồm 5 tập, 1943, tái bản 1962). Hầu hết tác phẩm của ông ngày nay đã được in lại[1].

Nhìn chung hoạt động của ông gồm hai phương diện: giới thiệu dịch thuật văn minh Pháp, văn minh phương Đông và góp phần gây dựng nền quốc văn mới. Văn của ông gồm dịch thuật, giới thiệu, khảo cứu, sáng tác, phê bình, tiểu luận, chính luận viết bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Ông dịch sách Phương pháp luận của Descartes, truyện của Maupassant, tản văn của Pascal, cách ngôn của Marc Aurèle, cách ngôn của Epictète, kịch Le Cid và Horace của Corneille… Ông giới thiệu nhà văn Anatole France, Pierre Loti. Ông giới thiệu về triết học nhập môn, triết học Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Auguste Comte. Ông khảo về đạo Phật, giới thiệu về Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử. Ông khảo về văn hóa, văn minh, lịch sử Đông Tây. Người ta thấy hầu như lĩnh vực nào ông cũng có để mắt đến. Qua khảo cứu, người ta thấy được tinh thần Pháp mang nội dung nhân đạo và tự do, sự quan tâm đến con người bình thường, và vì thế tư tưởng Pháp rất phù hợp với nhân loại. Ông là nhà dịch thuật thông thái, là học giả uyên bác, là nhà văn viết tản văn, du kí nổi tiếng, ông cũng là một nhà nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học đầu tiên của nền văn học hiện đại.

Riêng đối với văn học Việt Nam, Phạm Quỳnh là người nhiệt thành cổ vũ cho quốc văn, hô hào văn quốc ngữ mới, tự rèn luyện mình để trở thành một cây bút văn xuôi tinh tế, nhuần nhị. Ông thấy rõ ý nghĩa của công cuộc xây dựng một nền quốc văn mới bằng chữ quốc ngữ. Ông viết: “Văn quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, mối tư tưởng mới mở mang được, quốc dân ta mới thoát được kiếp đi học mướn viết nhờ từ xưa đến nay vậy.” (Văn quốc ngữ – Nam Phong, số 2, 1917)[2]. Ông phản đối chủ trương lấy chữ Pháp mà thay cho chữ quốc ngữ. Ông chủ trương không cắt đứt với nền học cũ, bảo lưu nho học và chữ nho, chủ trương sử dụng từ Hán Việt trong việc phiên dịch và cấu tạo từ ngữ mới (Chữ nho với văn quốc ngữ – Nam Phong, số 20, 1918).

Ông đã nhận ra thực trạng sự thiếu vắng một nền quốc học ở ta, vì nước ta tuy có tiếng ham học, “nhưng cả nước chỉ như một cái trường lớn, mà thầy trò chỉ học mấy quyển sách giáo khoa cũ, già đời vẫn không thoát khỏi cái tư cách học trò”, “chưa hề thấy thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng. Không những thế, lại cũng thường không lọt ra ngoài vòng giáo khoa mà bước lên tới cõi học thuật nữa” (Bàn về quốc học – Nam Phong, số 163, 1931). Nhận xét này thật sâu sắc, bởi các cụ ta do đắm mình vào Hán học quá sâu và lâu, không hề có ý phân biệt ta với Hán, cho “chữ Hán là quốc ngữ”, “Hán học tức là quốc học” (Bàn về chánh học cùng tà thuyết). Đây là điều ta thua đứt Hàn Quốc và Nhật Bản.

Phạm Quỳnh cũng thấy từ xưa ta “tuyệt nhiên chưa có văn học vấn.” Văn Nôm thì dùng để đạo tình, dùng về lối văn lí thuyết thì hầu như không từng thấy bao giờ (Quốc học với quốc văn – Nam Phong, số 164, 1931) và đề xướng lối văn ấy để nâng cao địa vị học thuật nước nhà. Trong bài báo nói trên, ông cũng dè chừng, học Tây mà “đồng hóa theo Tây” thì “rút cục lại cũng chỉ thành một bản phóng mờ của nước Pháp”. Ngày nay đọc lại phải thấy nhận thức như vậy là đúng, vì nước ta chưa có ai lập thuyết gì, chưa có truyền thống tư duy lí thuyết. Ngày nay nhiều học giả vẫn cho rằng ta chỉ có nho giáo, chưa có nho học. Chúng ta chưa có nhà lí luận phê bình văn học nào khả dĩ được thế giới công nhận như người Nhật hay người Triều Tiên.

Chính vì nhận thấy những chỗ yếu ấy mà hoạt động của ông nhằm vào việc bổ sung, lấp đầy và hô hào gây dựng nền quốc văn mới, học thuật mới. Ông phiên dịch, giới thiệu tư tưởng triết học Pháp, giới thiệu văn học Pháp, biên khảo về thể loại tiểu thuyết, như một thể loại mà văn học còn chưa được ý thức. Bàn về tiểu thuyết, ông bước đầu nói tới các yếu tố của nó như cốt truyện, nhân vật, hư cấu và cả điển hình mà ông gọi là “mô dạng” (types). Ông giới thiệu văn học Pháp, bởi một số nhà nho Việt không tin là Pháp có văn chương. Ông cũng giới thiệu và phê bình một số tiểu thuyết Pháp. Ông giới thiệu lối diễn kịch Pháp và phiên dịch kịch Pháp, trình bày các đặc điểm, các thể loại bi kịch và hài kịch (mà ông gọi là “hí kịch”). Ông nghiên cứu thơ, giới thiệu nhà văn tả thực Maupassant, giới thiệu thơ tượng trưng của Baudelaire. Ông giới thiệu cả triết học, mĩ học, dịch triết học và trình bày cả nghệ thuật diễn thuyết của phương Tây, một điều còn lạ lẫm với người Việt. Có thể nói so với văn hóa Việt Nam, nhìn vào văn hóa Pháp, cái gì ông thấy mới mẻ mà có ích cho người Việt ông đều muốn giới thiệu với người Việt. Ông cũng quan tâm đến các vấn đề của ngôn ngữ học, của Hán Nôm học. Điều đáng quý là ông nghiên cứu cẩn thận, không cẩu thả và trình bày gãy gọn, sáng rõ. Ông lại có công cổ động cho lối viết truyện ngắn, đoản thiên tiểu thuyết, vừa giới thiệu, vừa cổ võ, vừa đăng bài, vừa tổ chức thi sáng tác. Tất nhiên sự giới thiệu ấy chưa thể sâu sắc như sau này, nhưng có thể nói hoạt động giới thiệu, phiên dịch của ông có tính chất bách khoa và tính chất khai sáng. Điều quan trọng là cùng với Nam Phong Phạm Quỳnh đã tập hợp được một đội ngũ đông đảo các nhà trí thức có tài năng và tên tuổi lúc bấy giờ cùng đóng góp cho tạp chí, tạo cho nó một thanh thế.

Đối với văn học nước nhà ông chủ trương tồn cổ, phản đối phế bỏ Nho học, đề cao các tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều, sưu tập ca dao, tục ngữ Việt Nam, phê bình một số tác phẩm, tác giả Việt Nam đương thời như Tản Đà, Đoàn Như Khuê, Nguyễn Trọng Thuật.

Về phê bình văn học, công lao của ông là đã khởi xướng, tổ chức phong trào nghiên cứu Truyện Kiều và bản thân ông đã viết công trình khảo cứu, phê bình đầu tiên. Trong bài Truyện Kiều (Nam Phong, số 30, 1919) dài 40 trang ông đã trình bày khá toàn diện về Truyện Kiều. Theo tóm tắt của Thanh Lãng, Phạm Quỳnh đã đề cao tác phẩm của Nguyễn Du ở sáu điểm sau: 1. Kiều là cuốn sách được tôn sùng hơn hết; 2. Kiều là cuốn sách cao thượng hơn hết; 3. Tác giả đáng được tôn thờ; 4. Tác giả và tác phẩm sẽ bất diệt; 5. Văn chương Truyện Kiều tài tình, kiệt tác nhất; 6. Nhân vật trong truyện sinh động như thật. Ngày nay ta thấy sáu điểm ấy, tuy có chỗ nói quá, song nói chung chẳng có gì sai. Phạm Quỳnh đã đưa vào phê bình văn học bốn phạm trù mới đối với phê bình văn học nước ta, vốn chỉ quen phê bình thơ – cội rễ tác phẩm, lịch sử tác giả, tâm lý nhân vật và văn chương tác phẩm. Về cội rễ, trước hết ông thuật lại cốt truyện Truyện Kiều. Ông chưa biết Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân, mà chỉ nghe nói một Thanh tâm tài nhân lụcnào đó. Ông lại so sánh Truyện Kiều với truyện của Dư Hoài trong Ngu sơ tân chí, cho nên có phần lạc đề, chưa hề thấy được sự khác biệt giữa truyện của Nguyễn Du và truyện của Tàu. Ông tìm hiểu tác giả qua tiểu sử ghi trong chính sử để tìm căn cứ mà cắt nghĩa tác phẩm. Ta hiểu tâm sự, tính cách và xem tác phẩm như là biểu hiện cho tâm sự đoạn trường đó. Đó là nguyên tắc phê bình thịnh hành từ Sainte-Beuve và Gustave Lanson. Về văn chương Truyện Kiều, Phạm Quỳnh chú ý tới lời và ý, sự khéo léo, điêu luyện. Phạm Quỳnh là người phát hiện ra yếu tố tả thực trong Truyện Kiều: “Văn chương ta vẫn có tiếng là không biết tả thực, hay chuộng những cảnh hoang đường huyền diệu. Văn chương Truyện Kiều thì không thế, chỗ nào nên tả thực rõ ra nét bút tả thực”. Ông lại dùng phạm trù tâm lý để xác nhận tính cách của nhân vật. Tâm lí đó gồm trong bốn chữ “phong tình mà tiết nghĩa”. Ông chỉ ra cô Kiều là “người đa tình, nhưng không đắm đuối vì tình, biết lấy nghĩa mà chế tình tức là trúng với lí tưởng của đạo Nho (ai nhi bất dâm, chỉ hồ lễ nghĩa). Tính cách là tính cách Nho mà tinh thần là tinh thần Phật”. Cô là người “thích trung,” trung dung, là “người không để kháng lại [tức là không phản kháng] số phận như truyện Tây”, mà biết “cam lòng mà chịu”, “phải chăng đến điều.”

Qua một số điểm như thế ta thấy phương pháp phê bình thì hiện đại, nhưng nội dung phân tích chỉ thấy các nội dung tiêu cực, tầm thường. Chính vì nội dung tầm thường như vậy, cho nên khi bị Ngô Đức Kế công kích về nội dung Truyện Kiều, Phạm Quỳnh không thể trả lời được.

Đáng chú ý là trong bài này Phạm Quỳnh đã đảo lộn thứ tự tam bất hủ của cổ nhân: Lập đức, lập công, lập ngôn, mà Viên Mai trong Tùy viên thi thoại đã nói một câu được Phan Bội Châu rất tâm đắc: “Lập thân tối hạ thị văn chương”, xem lập ngôn là tầm thường nhất. Nhưng ở đây Phạm Quỳnh đã nói ngược lại, lập ngôn là có giá trị nhất: “Cứ lịch sử đời xưa đời nay mà chứng, thời có lẽ cái trật tự ấy đảo ngược lại mới là phải, và ở đời này có lẽ lập ngôn là cái kế bất hủ hơn cả. Lập ngôn là gì, là đem cái lí tưởng rất cao của mình, cái cảm tình rất thiết tha của mình, đem cả tâm hồn tính tình mà chung đúc vào tiếng nói của nước mình, tiếng nói ấy phải kinh qua bao nhiêu đời mới thành, tất cũng phải di truyền bao nhiêu đời không mất, vậy thời tiếng nước còn là hồn mình còn, mà hồn mình còn là tiếng không mất, như thế thời lập ngôn chẳng là cái kế trường sinh bất diệt ở đời đó dư?”. Ông có vẻ như không coi lập đức và lập công là việc có ý nghĩa quan trọng của đời người.

Trong bài diễn thuyết bằng quốc văn về Nguyễn Du, năm 1924, ông đề cao giá trị lập ngôn, thực chất là giá trị ngôn ngữ tiếng Việt của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, coi đó là cái hương hỏa quan trọng nhất, coi Truyện Kiều là quốc hồn, quốc hoa, quốc túy, Phúc âm, thánh thư của người Việt, hô to “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”, đem sự tồn tại của tiếng nói mà thay thế cho sự độc lập của nước. Chính các tư tưởng của ông đã gây nên cuộc tranh luận văn học đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Người tranh luận với ông không chỉ là các cụ Ngô Đức Kế, Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng đương thời, mà còn kéo dài tới các nhà nghiên cứu sau này những năm 50, 60 với rất nhiều ý kiến tranh luận như một “vụ án” của văn học sử. Đó là chưa kể việc so sánh Truyện Kiều với các danh tác Trung Hoa ở chỗ “kết cấu”, chứng tỏ ông chưa hiểu văn học Trung Hoa. Không thể nghiên cứu sâu vào Phạm Quỳnh mà bỏ qua cuộc tranh luận này.

Tuy có nhiều lệch lạc và sai lầm, nhưng cái đề xuất chăm lo cho quốc ngữ, quốc văn, gìn giữ tiếng nói của nòi giống lúc ấy cũng phù hợp với tâm lí của một lớp trí thức trong điều kiện thực tế bất đắc dĩ, là Pháp đã đặt xong nền đô hộ. Phạm Quỳnh cũng thể hiện một tấm lòng yêu nước, nhưng tiêu cực, cam chịu trong vòng thuộc Pháp. Phạm Quỳnh là người đánh thức và truyền cảm hứng nghiên cứu Truyện Kiều, yêu tiếng Việt cho cả một thế hệ nhà văn, khiến cho tác phẩm này được sự chú ý nghiên cứu suốt từ năm 1919 cho đến năm 1924, kéo dài mãi cho đến hôm nay, mặc dù nói cho đúng, Phạm Quỳnh đã hiểu Truyện Kiều theo quan niệm vừa mới vừa cũ.

Ngoài ra, Phạm Quỳnh còn là người đầu tiên thực hành nghiên cứu văn học so sánh khi ông bàn về “Thơ ta và thơ Tây”, “Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây.” Nói về Phạm Quỳnh còn phải nói về nội dung tạp chí mà ông phụ trách, ngoài các bài ông viết, còn là nơi sưu tập thơ văn cổ điển, đăng các thi thoại, đăng tác phẩm của các tác giả mới với các hình thức mới như thơ ca, truyện ngắn, du kí, phê bình, triết luận, học thuật có nội dung học vấn. Điểm khác biệt nhất của Nam Phong là đăng tải “văn học vấn”. Có thể nói Phạm Quỳnh là một nhà văn, nhà biên tập khởi đầu quan trọng của văn học hiện đại. Và với vai trò đó ông xứng đáng được tôn vinh là một người mở đường về quốc văn với khuynh hướng học vấn.

Phạm Quỳnh rõ ràng không tránh khỏi những chỗ giản đơn và sơ lược. Ông là người nhận thức được giá trị văn chương của Truyện Kiều, nhưng ông lại nâng Truyện Kiều lên mức quốc hồn, quốc hoa, quốc túy, lên Phúc âm, Thánh thư; nâng địa vị Truyện Kiều lên mức “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” khiến các vị chi sĩ phản ứng. Vẫn biết đó là thuật hùng biện, cách nói hùng hồn của người diễn thuyết, nhưng cũng có phần quá lời, mà sau này, trong sách Hoa Đường tùy bút ông tự nhận thấy mình “đã lãng mạn cho đến đem cả chủ nghĩa quốc gia căn cứ vào Truyện Kiều! Cho tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia.”[3](Cô Kiều với tôi). Ông yêu Truyện Kiều vì tự nhận mình là người “cùng hội cùng thuyền với cô Kiều”, có ngụ ý một chút tâm sự, ông làm việc cho Tây, nhưng tấm lòng vẫn luôn hướng về dân tộc như Kiều tuy ở lầu xanh mà lòng luôn hướng về Kim Trọng[4]. Khi bàn về quốc văn, ông đã đánh giá thấp văn Nôm. Phạm Quỳnh tất nhiên cũng có nhiều bất cập, mâu thuẫn khác. Một mặt ông đề cao Truyện Kiều như bằng chứng của tiếng Việt tuyệt vời, sâu sắc; nhưng mặt khác, ông lại coi tiếng Việt chỉ là “đứa anh hài” (trẻ con). Ông tỏ ra cấp tiến một số mặt, nhưng ông tỏ ra thủ cựu khi không chấp nhận được sức tưởng tượng phóng túng của Tản Đà, và nhất là sự biểu hiện cái tôi thành thực của nhà thơ. Ông viết : “Người ta, phi người cuồng, không ai trần truồng mà đi ngoài phố. Nhà làm sách cũng vậy, không ai đem cái thân thế mình mà làm chuyện cho người đời xem” (Mộng hay mị, Nam Phong, số 7, 1918). Điều này rất lạ, vì ông là người Tây học mà lại không biết nhu cầu biểu hiện của cá nhân, chủ nghĩa cá nhân, không thích chủ nghĩa lãng mạn. Những vấn đề này sẽ là chủ đề của thơ Mới và văn chương Tự lực văn đoàn sau này. Trong rất nhiều bài phát biểu, ông giới thiệu thơ ca và tiểu thuyết, đề cao Truyện Kiều lên hàng quốc hoa, quốc túy, thánh thư, nhưng so với văn học vấn, ông lại cho rằng văn thơ, tiểu thuyết chỉ là “văn chơi”, theo Phạm Duy Tốn thì “không đáng một đồng kẽm”, có ý hạ thấp giá trị của văn học, gây nên sự phản ứng của Thiếu Sơn trên Tiểu thuyết thứ bảy. Điều này cũng lạ, vì ông đã biết thế nào là mĩ học, tiểu thuyết, thi ca và giới thiệu lí thuyết về chúng. Ông muốn lưu giữ chữ nho, đạo nho phải chăng vì về chính trị ông còn có ý muốn tham chính, muốn chế dộ quân chủ lập hiến. Một mặt ông chủ trương dùng chữ nho trong quốc văn mới, nhưng không nên lạm dụng, nhưng mặt khác văn ông và đồng nghiệp Nam Phong dùng quá nhiều chữ Hán Việt, nhiều tổ hợp chữ Hán nặng nề khiến độc giả Nam Bộ phản ứng kịch liệt mà Thanh Lãng gọi là “vụ án” chữ Hán[5].

Tôi nghĩ các mâu thuẫn nêu trên phản ánh đúng một giai đoạn mở đầu còn ngổn ngang của nền văn hóa hiện đại và cũng phản ánh quan điểm thế giới quan của Phạm Quỳnh còn nhiều giới hạn, và cũng do chủ trương hòa hợp Đông Tây của ông tạo nên. Cái gì nên bỏ, cái gì nên giữ ở ông đang còn chưa rõ. Trên tạp chí Nam Phong có mục “văn học”, nhưng chỉ đăng các bài phi văn học, như triết học, kinh tế, sử học; trong khi đó mục “văn học bình luận” thì đúng là đăng bài phê bình văn học; mục “văn uyển” thì chỉ đăng văn thơ cổ, chứng tỏ lúc này các khái niệm văn học còn mới cũ lẫn lộn. Các chỗ khiếm khuyết này không nhỏ, nhưng khó tránh và cũng không thể xóa đi giá trị và vai trò của ông ở buổi đầu văn học và học thuật nước nhà.

Tạp chí Nam Phong là công cụ văn hóa do thực dân Pháp lập ra để thực hiện mục tiêu thống trị của chúng, Phạm Quỳnh được mời làm chủ bút phần quốc ngữ và phần tiếng Pháp, phần chữ Nho do Nguyễn Bá Trác làm chủ bút. Do đó hoạt động của Phạm Quỳnh ở đây thực chất là thi triển cái văn hóa chính trị, cái quyền lực mềm của Pháp. Nhưng cuộc tranh luận chung quanh ngôn luận của ông chủ tạp chí Nam Phong chứng tỏ văn hóa không hề là lĩnh vực trung lập, bình lặng, thanh cao, phi chính trị, mà thấm nhuần tính chính trị. Mặt khác, trong giới nghiên cứu Phạm Quỳnh và Nam Phong cũng chia rẽ. Những người đánh giá từ góc nhìn văn hóa như Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng là một phía, còn phía kia là các nhà lí thuyết mác xít một thời và Nguyễn Văn Trung, nhìn theo góc độ chính trị, văn hóa chính trị. Nhìn từ quan hệ chính trị là rất đúng, không có gì thoát li chính trị trong thời hiện đại. Quan niệm phê bình của Nguyễn Văn Trung đúng đắn và sâu sắc, tư liệu ông tìm được có thể nói đầy đủ nhất, đáng tin cậy nhất, nhưng nếu tìm ra “chủ đích của Nam Phong” rồi từ đó mà kết luận mọi hoạt động của tạp chí đều là phản động, là vô giá trị thì liệu có rơi vào tuyệt đối hóa quá không?[6]. Đó là chưa kể các tài liệu mà Nguyễn Văn Trung tìm được chỉ giới hạn trong năm 1917, là năm mà tạp chí mới thành lập. Mà cho dù ông có tìm được thêm các tư liệu khác nữa thì cũng đều là loại tư liệu ngoại tại.

Vấn đề là xem văn bản mà ông chủ trương nói lên điều gì? Thực dân Pháp sau khi chinh phục, “sứ mệnh khai hóa” lúc này đã có thay đổi. Theo Jules Harmand (1845-1921), chúng thực hiện “hai mô hình đồng hóa và hợp tác trong công cuộc chinh phục con tim dân bản xứ”. Đồng hóa, theo Albert Sarraut (1872-1962) là “nặn đắp nên, một cách kiên trì, diện mạo của một giống người mới” trong “thứ đất sét vô dạng của vô vàn những nhân tố nguyên thủy” , còn hợp tác là “Thay vì san phẳng truyền thống, văn hóa hay ngôn ngữ bản địa, kẻ chinh phục phải tôn trọng nền văn minh lâu đời “độc đáo và khá phát triển” của các dân tộc Đông Dương, và chỉ nên giáo dục họ đủ để họ thoát ra khỏi tình trạng “trì trệ”[7]. Từ đây mà có “Pháp Việt đề huề”, có việc các học giả, chính khách Pháp say mê văn học Việt Nam và dịch, giới thiệu chúng sang Pháp. Theo cách làm của Nam Phong ta thấy ở đây là mô hình “hợp tác”.

Sự hợp tác này thực tế có mâu thuẫn với mục đích thống trị. Lợi dụng mô hình “hợp tác” này, Phạm Quỳnh đã đề cao nền văn minh bản địa, đồng thời với việc gia tăng tiếp xúc với văn minh Pháp, góp phần nhất định vào việc tồn cổ và hiện đại hóa quan niệm văn học. Giá trị quyền lực mềm của Nam Phong là thể hiện một thế giới quan tư sản của đế quốc Pháp. Đó là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, là văn minh châu Âu, triết học duy lí, phương pháp khoa học, sự phát triển của các thể loại văn học mới, phong cách biểu đạt mới. Những điều ấy quả đã thể hiện sức mạnh và sức hấp dẫn của nước Pháp. Nhưng mặt khác đó cũng là cái đích hiện đại hóa của văn hóa Việt Nam. Chúng ta đồng tình sâu sắc với tư tưởng yêu nước chính trực của cụ Ngô Đức Kế, nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ giữ mãi cách nhìn nhận Truyện Kiều như cụ[8]? Theo như cụ thì phải vứt bỏ Truyện Kiều? Một sản phẩm văn hóa sẽ có rất nhiều ý nghĩa, phục vụ cho nhiều đối tượng, giống như cầu Long Biên, Nhà hát lớn, các trường đại học, trường mĩ thuật, trường trung cấp sư phạm và trung cấp canh nông đương thời. Giá trị khách quan của các sản phẩm văn hóa ấy không chỉ giới hạn trong mục đích của kẻ chủ trương. Và thực tế chúng đã góp phần đào tạo ra một thế hệ trí thức tinh hoa bản xứ của người Việt, và nhiều người trong số đó đã đứng lên tham gia hoạt động chống lại ách đô hộ của Pháp. Có thể Nam Phong đã phục vụ mục đích của người Pháp, nhưng nó cũng phục vụ đắc lực cho thế hệ trí thức mới. Vũ Ngọc Phan nhận định: “Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khuyết điểm của mình. Thậm chí có người đã lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây”[9]. (Nhà văn hiện đại, quyển 1). Nam Phong đã giới thiệu nhiều về văn học nghệ thuật, mà thông điệp chủ yếu của nghệ thuật, theo Herbert Marcuse (1898-1979) bao giờ cũng là truyền đạt thể nghiệm của con người, trong đó có phần phê phán đời sống và phần khát vọng hướng về viễn cảnh giải phóng. Không có nghệ thuật dạy con người làm nô lệ. Phần lớn truyện, tiểu thuyết của ông đăng trên Nam Phong là truyện lãng mạn kiểu cũ, kể theo ngôi thứ nhất, dùng thể nhật kí (Tuyết hồng lệ sử), là thứ ít có trong văn học truyền thống, có tác động đến tiểu thuyết kể theo ngôi thứ nhất đương thời. Truyện hiện thực thể hiện xung đột cũ mới, tố cáo bất công, đạo đức suy đồi.

Theo lí thuyết diễn ngôn hiện đại, ai chỉ đạo và ai trả tiền là yếu tố bên ngoài. Vấn đề cần tìm hiểu là tiếng nói của Phạm Quỳnh lúc ấy là tiếng nói của ai? Ai là người có thể nói lên tiếng nói của người dân thuộc địa? Chống giặc bằng bạo lực chỉ là một tiếng nói. Gayatri C. Spivak trong bài Người dưới đáy có thể lên tiếng được không? đã viết, dưới chế độ nam quyền, chỉ có người đàn ông nói về phụ nữ, hình tượng nữ do đàn ông kiến tạo; trong lịch sử văn hóa của nước thuộc địa, cũng là do nước thực dân viết với tư cách là kẻ khác. Như vậy thì dưới chế độ thực dân Pháp, dân ta biết nói như thế nào? Ai là người kiến tạo văn hóa dân tộc trong tiến trình hiện đại hóa lúc này? Ngoài các tiếng nói cách mạng bí mật, tiếng nói công khai cũng rất có giá trị. Nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí cũng là một tiếng nói. Hiện đại hóa văn hóa, sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân tộc, đề cao chủ nghĩa dân tộc cũng là một tiếng nói. Tiếng nói tư sản tiến bộ như của cụ Phan Châu Trinh có ý nghĩa quan trọng. Phạm Quỳnh giới thiệu tư tưởng Pháp, tuy ông không dám đề cao các tư tưởng tự do, dân chủ của phương Tây, không giới thiệu chủ nghĩa lãng mạn, cho nên gọi là khuynh hướng cải lương cũng đúng. Các cụ nghè yêu nước nhưng mang thế giới quan nho giáo cũ, đánh giá tài sản văn hóa dân tộc như Truyện Kiều theo nhãn quan cũ, xem Hán văn là quốc văn, xem chữ Hán là quốc ngữ là một điều đi ngược lại nhu cầu hiện đại hóa của văn hóa dân tộc. Đọc thêm các tiểu luận bằng tiếng Pháp của ông càng củng cố thêm các nhận thức đó[10]. Dù trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa, tiếng nói của Phạm Quỳnh và Nam Phong vẫn là một tiếng nói tiến bộ, hiện đại nhất định.

Năm 1932 Phạm Quỳnh rút khỏi tạp chí Nam Phong và hai năm sau tạp chí này đóng cửa là rất đúng lúc, bởi vì một giai đoạn văn học mới của dân tộc 1932-1945 đã bắt đầu, vai trò của Phạm Quỳnh và Nam Phong đã kết thúc. Ông trở thành nhà “cựu học” và đối tượng phê bình của báo Phong Hóa thuộc Tự lực văn đoàn.

Trần Đình Sử

2-2-2022.


[1] Phạm Quỳnh. Thượng Chi văn tập, Nxb Hội Nhà văn – Nhã Nam, Hà Nội, 2018; Phạm Quỳnh, Luận giải văn học và triết học, Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn, Nxb Văn học, Trung tâm Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2003; Phạm Quỳnh, Hoa Đường tùy bút, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011; Phạm Quỳnh, Mười ngày ở Huế, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001; Phạm Quỳnh, Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, nhiều người dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2007.

[2] Các trích dẫn ý kiến Phạm Quỳnh đều lấy ở các sách sau: Thượng Chi văn tập, 1-5 tập, Nxb Bộ Quốc gia Giáo dục, 1962, Sài Gòn, tái bản lần thứ nhất; Phạm Quỳnh, Luận giải văn học và triết học, Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn, Nxb Văn học, Trung tâm Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2003; Nguyễn Đức Thuận biên soạn, Văn phê bình, nghiên cứu, lí luận ngữ văn trên tạp chí Nam Phong, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2020. Chúng tôi không ghi chú cụ thể.

[3] Phạm Quỳnh, Hoa Đường tùy bút, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011, tr. 66.

[4] Có thể tham khảo ý trong thư Phạm Quỳnh gửi cho Louis Marty, Giám đốc Chính trị vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương ngày 30/12/1933 theo tài liệu của gia đình: “Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tội tôi, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng! Là thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!”. Pháp du hành trình nhật kí, Ý Việt xuất bản tại Paris, 1997, tr. 7.

[5] Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Nxb Trình Bầy, Sài Gòn, 1966, tập 2, tr. 354.

[6] Nguyễn Văn Trung, Chủ đích Nam Phong, Phê bình một quan điểm phê bình. Tài liệu dành riêng cho sinh viên ban văn Đại học Văn khoa Sư phạm, Sài Gòn, Trí Đăng, 1975; Nguyễn Văn Trung, Vụ án Truyện Kiều, tài liệu tham khảo cho sinh viên Văn khoa Sư phạm lớp Lí luận văn học, Sài Gòn, 1972.

[7] Nguyễn Thụy Phương, Nguồn gốc luận thuyết của “sứ mệnh khai hóa”, tạp chí Tia sáng, 2019.

[8] Theo tóm tắt của Thanh Lãng, theo Ngô Đức Kế Truyện Kiều có các khuyết điểm sau: 1. Tên sách vớ vẩn; 2. Sự tích tầm thường; 3. Tính tà dâm; 4. Đã bị cha ông lên án; 5. Kiều không thể là quốc hồn, quốc túy được.

[9] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, quyển nhất, Các nhà văn đi tiên phong. Trong Vũ Ngọc Phan tuyển tập, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, tr. 115.

[10] Phạm Quỳnh, Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, nhiều người dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2007.

(Nguồn: vanviet.info)


Phạm Quỳnh (chữ Hán: 范瓊; 17 tháng 12 năm 1892 – 6 tháng 9[1] năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi (尚之), bút danh: Hoa Đường (華堂), Hồng Nhân.

Phạm Quỳnh được coi là người đi tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để viết lý luận. Dương Quảng Hàm đánh giá các công trình của ông là đã “luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới”.

Trước đây, cũng có nhiều người cho rằng ông gắn bó với các chủ trương chính trị của thực dân Pháp. Ông bị coi là “ru ngủ” thanh niên trí thức trong cái “hồn nước” mơ hồ, khiến họ đi chệch khỏi chí hướng làm cách mạng chống Pháp. Trong một thời gian dài, quan điểm chính thống của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gọi ông là tay sai đắc lực của Pháp.[6]

Kể từ năm 2000, nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được xuất bản tại Việt Nam:

Mười ngày ở Huế, Nhà xuất bản Văn học – 2001

Luận giải Văn học và Triết học, Nhà xuất bản Thông tin, 2003

Pháp du hành trình nhật ký, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2004

Thượng Chi văn tập, Nhà xuất bản Văn học, 2007

Du ký Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 2007

Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, Nhà xuất bản Tri thức, 2007 (gồm những bài diễn thuyết, bài báo ông viết bằng tiếng Pháp từ 1922 đến 1932)

Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên – con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức rằng: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng”.

Ngày 28 tháng 5 năm 2016, hội đồng họ Phạm Việt Nam phối hợp cùng gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên tổ chức lễ khánh thành công trình trùng tu mộ phần và dựng tượng Phạm Quỳnh tại Thành phố Huế. Bức tượng bán thân Phạm Quỳnh do chính người cháu ngoại của ông là kiến trúc sư Tôn Thất Đại thiết kế với chiều cao 60 cm, bề ngang 50 cm, được đặt ở bục cao gần 2 m nằm ngay sau ngôi mộ ông ở trước chùa Vạn Phước (phường Trường An, Thành phố Huế). Phía trước bia mộ được ốp tấm bia đá đen khắc ghi câu nói nổi tiếng của ông: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn”.

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/)

Bụi Trần. Thơ Hư Vô


Nhân sinh tự cổ vô thường
Bước qua nhau một khúc đường, vậy thôi!
Chắc gì còn thấy bóng tôi
Để em cất giữ một thời tình nhân.

Đưa tay phủi lớp bụi trần 
Mênh mang tựa thoáng phù vân khói chiều
Hồn tôi cũng đã liêu xiêu
Lạc vào mê lộ khập khều gót chân.

Trăm năm chưa dứt nợ nần
Xin làm tượng đá để chần chờ nhau
Tóc em bao sợi bạc đầu
Là bấy nhiêu ngọn sầu đâu lỡ làng.

Bước vào một khúc tình tan
Còn nghe nhịp guốc ngang tàn tích em
Bụi trần vùi dập dấu chân
Chỗ tôi đã có một lần ghé qua…

Hư Vô

Anh Phải Sống. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng


Trên đê Yên Phụ, một buổi chiều mùa hạ.

Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi.

Theo dòng nước đỏ lờ lờ, những thân cây, những cành khô trôi từ rừng về, nổi lềnh bềnh, như một dẫy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến.

Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ra ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:

  • Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân giời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ!

Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng đứng dừng lại, hỏi vợ:

  • Mình đã thổi cơm chưa?

Vợ buồn rầu đáp:

  • Đã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.

Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau… Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông: Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ.

Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ:

  • Liều!

Vợ lắc đầu, không nói. Chồng hỏi:

  • Mình đã đến nhà bà Ký chưa?
  • Đã.
  • Thế nào?
  • Không ăn thua. Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước.
  • Thế à?

Hai chữ “thế à” rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên bức tường đương xây. Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ:

  • Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò.
  • Đã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi.
  • Nhưng mình về thì vẫn hơn. Cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó.
  • Vậy thì tôi về… Nhưng mình cũng về, chứ đứng đây làm gì?
  • Được, cứ về trước đi, tôi về sau.

Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ.

ooOoo
Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng dừng lại ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng.

Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đương cùng khóc lóc gọi bu. Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng.

Cái Nhớn dỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé:

  • Mày đi tìm bu về để cho em nó bú.

Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chửi vừa kêu.

Chị phó Thức chạy vội lại ẵm con, nói nựng:

  • Nao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc.

Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước.

Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng:

  • Nao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú!

Một lúc, thằng bé vì mệt quá lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ.

Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã qua. Bộ óc chất phác của chị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ một cách rành mạch, là chưa bao giờ được thư nhàn, được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có.

Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm…

Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau.

Năm năm ròng, trong gian nhà lụp xụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép về hai cái đời trống rỗng của hai người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con.

Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chằn vặt suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con.

Bỗng mùa nước năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thãi.

Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to.

Thì hôm qua, cái ăn, trời đã bắt đầu đưa đến cho gia đình nhà bác.

Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì.

ooOoo
Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu.

Gió vẫn to, vù vù, gầm hét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy nhanh như thác. Lạc ngước mắt nhìn trời: da trời một màu đen sẫm.

Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu bành bạch như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông.

Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan. Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại các nút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền, hỏi:

  • Mình định đi đâu?

Thức trừng trừng nhìn vợ, cất tiếng gắt:

  • Sao không ở nhà với con?

Lạc sợ hãi ấp úng:

  • Con … nó ngủ.
  • Nhưng mày ra đây làm gì?
  • Nhưng mình định đem thuyền đi đâu?
  • Mày hỏi làm gì?… Đi về!

Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động:

  • Sao mình khóc?
  • Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi.

Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ:

  • Mình không đi được… Nguy hiểm lắm!

Lạc cười:

  • Nguy hiểm thời nguy hiểm cả… Nhưng không sợ, em biết bơi.
  • Được!

Tiếng “được” lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời một lúc một đen. Thức hỏi:

  • Mình sợ?
  • Không.

ooOoo
Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại với sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô khi chìm, khi ẩn khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son.

Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi.

Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ, thì trời đổ mưa… Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở.

Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu. Hai người cố bơi, nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi…

Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:

  • Giời ôi!

Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp…

Chồng hỏi vợ:

  • Mình liệu bơi được đến bờ không?

Vợ quả quyết:

  • Được!
  • Theo dòng nước mà bơi… Gối lên sóng!
  • Được! Mặc em!

Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi:

  • Thế nào?
  • Được! Mặc em!

Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh nàng lại mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ, một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:

  • Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa.

Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời. Vợ khẽ hỏi:

  • Có bơi được nữa không?
  • Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
  • Em buông ra cho mình vào nhé?

Chồng cười:

  • Không! Cùng chết cả.

Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi:

  • Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không?
  • Không!… Sao?
  • Không. Thôi đành chết cả đôi.

Bỗng Lạc run run khẽ nói:

  • Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!… Không!… Anh phải sống!

Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.

ooOoo

Đèn điện sáng rực suốt bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con.

Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng.

Khái Hưng

(Trích từ tập truyện ngắn ANH PHẢI SỐNG, Nxb An Nam, Hà Nội, 1934)

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: