Thao Thức. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca Sĩ Quốc Duy, Hòa Âm Đỗ Hải.


nha-thanh-quoc-duy-hu-vothao-thuc

Di Ngôn Của Đá. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca sĩ Quốc Duy, Hòa âm Đỗ Hải.


di-ngon-cua-da

Anh Đã Đời Em Từ Tiền Kiếp. Thơ Hư Vô


img_2678

Anh đã đời em từ tiền kiếp
Nên kiếp này vẫn nợ nần nhau
Cuộc trầm luân trắng tay dài tóc
Chờ anh trả dứt nợ đời sau.

Em bước vào lao đao nhịp guốc
Vẫn chưa ra khỏi giấc chiêm bao
Hãy giẫm đời nhau cho hoang phế
Cho một lần em biết đớn đau.

Anh đã trót hư hao, lãng phí
Nửa đời sau còn được bao lâu?
Đâu có tình nào không biết khóc
Một cõi trần ai đã bạc đầu.

Bước tới cho vừa cơn hấp hối
Đường trăm năm không có lối vào
Trả lại em nửa đời hư mất
Dẫu hoang đàng cũng đã đời nhau…

Hư Vô

Dòng Sông Mùa Thu. Thơ Hư Vô, Nhạc Phạm Quang Ngọc, Ca sĩ Mai Thiên Vân, PPS Vân Phong.


dong-song-mua-thu-1dong-song-mua-thu-2

Nhan Sắc Mùa Thu. Thơ Hư Vô


nhan-sac-mua-thu

(Thiếu Nữ và Hoa. Tranh sơn dầu Đinh Cường)

Câu lục bát tròn theo môi con gái
Khúc thăng trầm dào dạt nụ ca dao
Tôi gọi tên em, mùa thu nhan sắc
Bên giọt cà phê đắm đuối ngọt ngào

Em là hạt đường tan vào quá khứ
Cho thơ tôi còn được chút kiêu kỳ
Chùm phượng vỹ đã rụng đầy sân trước
Cánh hoa vàng đang chìm xuống đáy ly!

Sydney chờ ai đêm thay áo mới
Trong mắt em lấp lánh cả mùa thu
Cơn mưa rộn ràng dội qua phố xá
Thả câu thơ trôi nổi tới mịt mù.

Tôi vấp xuống giữa mùa thu nhan sắc
Đường không chân đâu còn lối quay về
Tiếng em gọi ngang vực đời sóng biếc
Âm vang còn biền biệt cuối cơn mê…

Hư Vô

VIÊN LINH ĐÃ LÓ MẶT…vẫn tiếp tục luận điệu trí trá. Nhật Tiến


Nhật Tiến

vienlinh

(Nhà văn Viên Linh)

Cuốn sách viết về Trung Tâm Văn Bút VN (TTVB/VN) thời kỳ trước tháng 4-1975 được xuất bản cách đây cũng trên 3 tháng rồi.

Trong cuốn này, vì để bảo vệ danh dự cho TTVB/VN (Trung Tâm Văn Bút Việt Nam) cũng như cho hai vị Chủ Tịch, Tổng Thư Ký Văn Bút là LM Thanh Lãng và GS Phạm Việt Tuyền trước sự vu cáo của ông Viên Linh trên báo Khởi Hành rằng:

1) Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.

2) Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu đói không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp. “…

…, tôi đã chất vấn ông Viên Linh:

1) Hãy trưng những bằng cớ chứng tỏ do bàn tay các vị Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền mà TTVB/VN đã trở thành công cụ do Việt Cộng điều hành.

2) GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và hãy nêu vài tên tuổi của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Hơn ba tháng trời trôi qua, ông Viên Linh đã giấu mặt không trả lời và chỉ để cho tay em xông ra viết lách lung tung, luận điệu lùm loạp, trí trá mà không mang lại đôi chút ánh sáng gì cho hai thắc mắc đã nêu ở trên của tôi.

Tất nhiên tôi vẫn trông chờ sự ngay thẳng, minh bạch và liêm sỉ trong ngòi bút của ông Viên Linh, trước sự ông bôi nhọ cả một tập thể cầm bút bao gồm gần 200 hội viên của TTVB/VN trước năm 1975.

Còn với loại cầm bút như cô Tà Cúc thì tôi không còn gì để nói, sau khi tôi đã trả lời nhà báo Kiều Phong khi ông nêu thắc mắc về nhân vật này. Cả thư nêu thắc mắc lẫn thư trả lời đã được ông Kiều Phong công bố rộng rãi trên internet. Xin trích lại nguyên văn như sau:

Thư KP gửi cụ Nhật Tiến:

Kính gửi cụ Nhật Tiến,
Xưa nay, nhiều người, cả già lẫn trẻ, cả trong và ngoài văn giới, cũng như Kiều mỗ, coi chuyện được quen biết cụ là điều hân hạnh. Nay có đứa tuổi đời còn non trẻ, rêu rao ầm ỹ là nó “xấu hổ vì quen biết nhà văn Nhật Tiến”, xin cụ cho biết thực hư thế nào?
Đa tạ,
Kiều Phong

Thư phúc đáp của Nhật Tiến:

Kính bác Kiều Phong,
Cái câu nói lố lăng càn rỡ đó tôi cũng đã đọc. Tôi nghĩ rằng nếu là người tử tế thì hẳn cô ta đang phải tự xấu hổ vì trong một phút thiếu suy nghĩ đã đưa những lời đó lên mặt báo Khởi Hành của ông Viên Linh

Về phần tôi, tôi chẳng thấy phải bận tâm gì về những lời lẽ đó cả. Bởi vì trong suốt hai năm cô ta lui tới nhà tôi – cô ta tới nhà tôi chứ tôi chẳng hề tới nhà cô ta, cho tới nay tôi vẫn chưa biết nhà cô ta ở đâu -, tôi đã ứng xử thân tình nhưng trong sáng và nghiêm túc. Tôi đã cung ứng phương tiện in ấn cho cô ta, lại dùng nhiều thì giờ dạy cô ta học cách xài software Quart Xpress để cô ta có thể tự lay out lấy sách của mình. Thế mà đã không ơn nghĩa thì thôi, chứ sao lại có thể nói rằng đã xấu hổ vì quen biết tôi ?
Rất cám ơn sự quan tâm của bác.

Nhật Tiến

***

Những tưởng ông Viên Linh sẽ im miệng luôn thì tôi cho là mọi sự rồi cũng sẽ qua vì khi không trả lời được có nghĩa là những lời lẽ của ông như thế cũng chỉ là những lời vu khống, mạ lỵ chứ vốn chẳng có sự thật để mà trưng ra được.

Nhưng gần đây, Viên Linh đột nhiên ló mặt, không phải là để trả lời những thắc mắc của tôi (và hẳn cũng là của hầu hết văn giới) mà là để viết “châpeau” cho một bài lung tung, ý tưởng loạn xạ chả ra đâu vào đâu của cô Tà Cúc.

Viết lời giới thiệu cho bài của đàn em thì cũng được đi, chả ai cấm đoán. Nhưng Viên Linh lợi dụng chuyện này với tâm địa trí trá, đã lại tung ra những luận điệu vu khống hòng gỡ chút danh dự vì đã không trả lời được những thắc mắc kể trên.

Tôi nói trí trá và vu khống vì ông Viên Linh đã đưa ra những lời lẽ nguyên văn như sau:

…”…1) Năm 2000 sách Vũ Hoàng Chương của tôi in ra, mãi 17 năm sau ông Nhật Tiến mới phản ứng về một hai câu trong đó, lại cắt xén cho hợp ý mình, chuyện hẳn có vấn đề ẩn khuất ố tạp quanh giấy mực thời gian và nhân sự.
2) Nhật Tiến nhắn nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc đến nhà lấy cuốn sách mới ông tặng, cô đã từ chối và giải thích lý do trong một lá thư riêng. Tác giả Nhật Tiến, người từng tuyên bố với người trong nước (đạo diễn Trần Văn Thủy): ―ở hải ngoại không có tự do viết, lại không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc;
3)Tuy nhiên còn trẻ, cô chưa biết rõ ông Nhật Tiến, tác giả cuốn ―Giấc Ngủ Chập Chờn,‖ người của tranh tối tranh sáng, của chiêu bài hòa hợp hòa giải, do đó ông không có mặt trong Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học VN (1975-1995) do Văn Bút VN Hải Ngoại lúc tôi làm chủ tịch chủ trương – chẳng hạn….”

***
Tôi xin trả lời từng điểm một về sự trí trá ở trên của ông Viên Linh :

1) Ông nói tôi: lại cắt xén (bài của VL viết về Vũ Hoàng Chương) cho hợp ý mình, chuyện hẳn có vấn đề ẩn khuất ố tạp quanh giấy mực thời gian và nhân sự.

Xin hỏi ông Viên Linh tôi cắt xén bài của ông ở chỗ nào ? Câu văn nào của ông bị thiếu hụt do bị tôi cắt xén mà ra ? Hãy nêu rõ ra đi, đừng có giở thói lập lờ, trí trá.

Còn cái “vấn đề ẩn khuất ố tạp quanh giấy mực thời gian và nhân sự” do ông nêu ra là cái vấn đề gì ? Cái gì “ố tạp” liên quan tới tôi ? Và thời gian là thời gian nào ?

Nhân sự ấy gồm những ai ? Hãy kể ra cho rõ, đừng mập mờ !

2) Ông Viên Linh cho là tôi “ nhắn nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc đến nhà lấy cuốn sách mới do tôi tặng, nhưng bị cô từ chối”

Sự thể là khi còn coi cô ta là người quen biết, khi ra sách mới, tôi có hỏi địa chỉ của cô để gửi sách tặng qua bưu điện. Nhưng cô ta nói thôi đừng gửi tốn tiền, chờ khi bớt bệnh cô sẽ ghé nhà tôi lấy.

Chuyện chỉ có thế mà hóa ra “ tôi nhắn cô đến nhà lấy sách nhưng bị cô từ chối ”. Với cái thói gian xảo này chẳng trách chi ngày trước ông đã toa rập cùng em ruột của mình lấy lén tập thơ của Nguyễn Chí Thiện ở nhà của Ký mục gia Bùi Bảo Trúc để đem in hớt tay trên ông Nguyễn Thanh Hoàng, báo Văn Nghệ Tiền Phong.
(nguồn: http://www.chinhkhiviet.net/2015/02/tran-thi-bong-giay-va-tran-nghi-hoang.html)

Rồi ông lại còn lại còn vẽ vời thêm:

…”…“Tác giả Nhật Tiến, người từng tuyên bố với người trong nước (đạo diễn Trần Văn Thủy): ―ở hải ngoại không có tự do viết, lại không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc…”…

Nhật Tiến trả lời:


Ở hải ngoại, thời điểm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, người cầm bút có tự do hay không thì hãy cứ nhìn cái cảnh cuốn “ Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương”, một công trình tim óc của 27 tác giả ngoài nước viết về 79 tác giả trong nước bị giàng dây kéo lê trên đường Bolsa thì đủ biết. Mà đáng lẽ nó còn bị đốt ngay giữa chốn đông người nữa kìa, nhưng sau bị cảnh sát ngăn cấm nên mới bầy ra cái trò kéo lê cuốn sách trên đường phố. Thế thì tôi hỏi ông Viên Linh “ có tự do cầm bút ở chỗ nào ?” mà ông dùng luận điệu xuyên tạc ấy nhằm kích động tâm lý của người Việt chống Cộng, cho rằng tôi phỉ báng cộng đồng khi nói chung rằng ở hải ngoại không hề có tự do cầm bút. Hơn nữa cuốn sách này đâu có thiên Cộng, cho tới nay ai đã đọc qua đều thấy rõ giá trị của nó trong sự góp phần đáng kể vào công cuộc đấu tranh cho tự do cầm bút ở quê nhà.

Ông Viên Linh lại còn bịa đặt xưng xưng một cách hàm hồ rằng tôi “không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc”.

Ô hay ! Bộ ông quen thói đối xử với cô Tà Cúc như là một thứ nô lệ hay sao mà lại nói tôi không muốn cô Tà Cúc tự do chọn sách đọc ?? Cái này thì tôi không thể tự trả lời.

3) Ông Viên Linh viết về cô Tà Cúc như sau:

“Tuy nhiên còn trẻ, cô chưa biết rõ ông Nhật Tiến, tác giả cuốn ―Giấc Ngủ Chập Chờn, người của tranh tối tranh sáng, của chiêu bài hòa hợp hòa giải, do đó ông không có mặt trong Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học VN (1975-1995) do Văn Bút VN Hải Ngoại lúc tôi làm chủ tịch chủ trương – chẳng hạn.”

Nhật Tiến trả lời:

a) Với một người mà chính ông phong cho là “nhà phê bình văn học”, lại cũng là Thư Ký Tòa Soạn của báo Khởi Hành, mà ông lại đổ cho là còn trẻ chưa biết rõ ông Nhật Tiến, tác giả cuốn ―Giấc Ngủ Chập Chờn, người của tranh tối tranh sáng, của chiêu bài hòa hợp hòa giải, thì quả là ông đã hạ bệ tay em của ông một cách phũ phàng đấy. Vì với loại kiến thức “còn trẻ chưa biết rõ” như thế thì mang danh là “nhà phê bình văn học” cái nỗi gì!


b) Mà thế nào là người của tranh tối tranh sáng hả ông Viên Linh? Tôi nghĩ mãi không ra ông định ám chỉ cái gì? Hay là ông muốn gán cho tôi cái tội ở thời điểm tôi in cuốn sách đó (1969) tôi có lập trường nửa Quốc Gia, nửa Cộng Sản? Nếu vậy thì ông trưng bằng cớ ra đi!

Còn về phần tôi, năm 1969 cho đến 1975, trong cương vị giảng viên của Cục Chính Huấn QL/VNCH, tôi đã tham gia công tác huấn luyện cho hơn 20 khóa Sĩ Quan Đại Đội Phó Chiến Tranh Chính Trị, tổng cộng có đến vài ngàn sĩ quan khóa sinh, chưa hề có một ai than phiền là tôi tuyên truyền cho CS trên bục giảng. Tôi có thể viện dẫn vài nhân chứng như Đại Úy Võ Hoành, Liên đoàn Trưởng Khóa sinh hiện cư ngụ ở Texas, Trung Úy Vương Nghiêm Khối Huấn Luyện hiện ở Washington DC, Trung Úy Lê Xuân Nho Khối Huấn Luyện hiện ở California, Trung Úy Trần Ngọc Kính Khối Huấn Luyện hiện ở California..v..v..

Còn cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn in năm 1969 mà là chiêu bài hòa hợp hòa giải ư ?

Rõ ra là ông không hề đọc cuốn này mà chỉ vừa ăn ốc nói mò vừa quen thói bôi nhọ người khác.

Như tôi đã trình bầy nhiều lần trên mặt báo cũng như trả lời trên Radio hay TV là sau 1975, tôi đã bị khốn đốn với CS vì cuốn này. Nguyên do là qua nội dung của nó, tôi đã vạch trần vai trò của Mặt Trận Giải Phóng trong cuộc chiến ở Miền Nam. Tức là ở miền Nam không có vấn đề “quần chúng nổi dậy chống Mỹ cứu nước” mà đó chỉ là một thứ quân bài do CS nặn ra để lừa bịp dư luận thế giới mà thôi. Vậy nó mang tính chất hòa hợp hòa giải ở chỗ nào đây,ông Viên Linh ??

c) Ông cũng viết rằng : do đó tôi, Nhật Tiến, không có mặt trong Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học VN (1975-1995) do Văn Bút VN Hải Ngoại lúc ông làm chủ tịch chủ trương – chẳng hạn.

À, thế ra ông chụp cho tác phẩm Giấc Ngủ Chập Chờn của tôi cái mũ hòa hợp hòa giải là cốt để biện minh cho thái độ của ông khi ông còn làm Chủ tịch Văn Bút hải ngoại, ông đã loại tác phẩm của tôi không cho in vào cuốn Tuyển tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995!

Xin hãy nghe tiếng nói của người trong cuộc, nhà văn nữ Ngọc Anh viết về công cuộc thực hiện cuốn sách này và cô đã cho in trong tác phẩm Thương Tiếc của mình vào năm 2001, ở trang 330 như sau:

. “Nhân viết đến đoạn này tôi cũng muốn nhắc đến một chuyện không làm tôi tức giận nhưng là kinh nghiệm để đời. Chuyện đó xảy ra cách nay đã năm, sáu năm, lúc tôi và chị Cao Mỵ Nhân họp nhau để thực hiện Tuyển Tập Truyện Ngắn Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995 cốt ý lấy lại thanh danh cho Văn Bút Nam Cali .
………………….
…”…Nhà văn Mai Thảo đã vui vẻ đưa bài, chưa kể còn khuyến khích khi biết chúng tôi làm với mục đích tốt đẹp, vì lý do đó khi ông mất, tôi đã thật sự thương tiếc, đưa tiễn ông đến tận nghĩa trang và đợi cho đến giờ lấp huyệt.

Riêng nhà văn Nhật Tiến cũng thế, phải nói rằng ngoài vấn đề không đồng quan điểm chính trị, thì ông là một người có tâm tính rất tốt, tương tự như nhà văn Mai Thảo, ông đã vui vẻ tìm một bài không có màu sắc chính trị để đưa tôi; còn những lời khuyến khích thì thật nhiệt tình.

Sau khi tôi layout tất cả các bài viết kể cả bài viết không mang màu sắc chính trị của nhà văn Nhật Tiến với sự đồng ý lúc đầu của ông Viên Linh, và mặc dầu đã sẵn sàng để đưa đi in, thì ông Viên Linh ra điều kiện phải bỏ bài của nhà văn Nhật Tiến ra, nếu không thì tuyển tập này sẽ không được ra đời.

Trong khi cá nhân ông Viên Linh không hề có bất cứ công trình nào trong tuyển tập này, ngoại trừ đòi hỏi phải viết cho bằng dược bài Tổng Quan Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại. Sở dĩ tôi phải dùng chữ đòi hỏi vì tôi và chị Cao Mỵ Nhân có ý định nhờ người khác viết bài này.”
(ngưng trich)

Nhân danh Chủ tịch Văn Bút mà hành xử như thế, vừa độc đoán vừa tham lam. Độc đoán vì ông hăm dọa không cho in sách nếu không loại bỏ bài của tôi. Vậy thì toàn Ban Chấp Hành của ông đi đâu hết rồi mà không cho họ có ý kiến ? Tham lam vì ông lại muốn nhẩy vô ăn có đòi hỏi phải viết cho bằng được bài Tổng Quan Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại trong khi các nhà văn, nhà thơ Ngọc Anh và Cao Mỵ Nhân đã có ý định nhờ người khác viết bài này rồi.

Nói tóm lại là trước sau, ông Viên Linh đã không thể trả lời hai câu hỏi rất minh bạch của tôi:

1) Hãy trưng những bằng cớ chứng tỏ do bàn tay các vị Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền mà TTVB/VN đã trở thành công cụ do Việt Cộng điều hành.

2) GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và hãy nêu vài tên tuổi của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Đã không thể trả lời, mà trái lại, ông vẫn cùng đàn em của ông thi nhau toa rập tung ra những luận điệu trí trá, lùm loạp, bất lương trên trang báo Khởi Hành của ông cùng vài trang mạng toàn cầu qua Internet. Ông thử so sánh xem thành tích phá nát Văn Bút Hải Ngoại của ông để đến nỗi hai lần bị Văn Bút Quốc Tế treo giò, với thành tích dồi dào, phong phú của Trung Tâm Văn Bút VN trước 1975, đã khác nhau một trời một vực như thế nào.

Thế mà trên báo Khởi Hành, ông cùng đàn em của ông thi nhau nổ sảng: “Chúng ta đi mang theo Văn Học Miền Nam”.

Mang theo để làm gì? Để liên tục hùa nhau bôi nhọ Văn Học Miền Nam như đã bôi nhọ Trung Tâm Văn Bút Việt Nam chăng?

Nhật Tiến
XI/ 2016

 

Ông Nguyễn Hùng Trương và nhà sách Khai Trí. Nguyễn Ngọc Chính


Nguyễn Ngọc Chính

fab3a-1802nhc3a0sc3a1chkhaitrc3ad
Nhà sách Khai Trí

Khi đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Geneve (20/7/1954), nhà sách Khai Trí đã có mặt tại Sài Gòn từ hai năm trước đó. Tôi di cư sớm hơn, vào Ðà Lạt năm 1953 và trong những chuyến về chơi thủ đô, nhà sách Khai Trí là một trong những địa điểm tôi thường lui tới để thỏa mãn tính tò mò, tìm hiểu về thế giới sách vở tại đây.

Dạo đó, mỗi chiều cuối tuần người Sài Gòn thường rủ nhau đi “bát phố” Bonard, hết đi lên rồi lại đi xuống, suốt con đường từ Quốc Hội (sau này đổi là Nhà Hát Lớn) đến chợ Bến Thành. Kể từ thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, Bonard được đổi tên thành Lê Lợi. Ðặc biệt con đường này chỉ đông người phía bên phải theo hướng từ tòa nhà Quốc Hội đi đến cuối đường là chợ Bến Thành.


Ông “Khai Trí” Nguyễn Hùng Trương với kho sách của ông, ở những năm cuối đời.

Ðường Lê Lợi đông người “bát phố” vì trên suốt con đường có nhiều địa chỉ nổi tiếng… Nhà hàng Givral nằm ngay góc Catinat (đường Tự Do, sau 1975 đổi là Ðồng Khởi) và Bonard. Nơi này được mệnh danh là “Khu tứ giác Eden” gồm Passage Eden có rạp ciné Eden của gia đình họ Huỳnh Phú, đầu kia của tứ giác là nhà hàng Givral (góc Tự Do và Lê Lợi)…

Khu tứ giác này ngày nay đã biến mất hình dạng, để lại cho những người Sài Gòn xưa nhiều nuối tiếc. Kiến trúc “hiện đại” đã làm mất đi những đường nét cổ kính từ thời Pháp thuộc của Sài Gòn. Vẫn biết cuộc sống là luôn thay đổi nhưng ở một chừng mực nào đó thì vẫn còn đọng lại đâu đây những nuối tiếc, hoài cổ.

Rồi sau này, năm 1962, có rạp Rex, “rạp cinê đầu tiên có máy lạnh,”“thang cuốn” của tỷ phú Ưng Thi được khai trương theo mô hình rạp Rex tại Paris. Rex nằm ngay ngã tư Lê Lợi-Nguyễn Huệ lúc nào cũng dập dìu “tài tử giai nhân” đi xem phim hoặc không tiền thì đi… nhìn người ta xem phim!

Xuống đến ngã tư Lê Lợi-Pasteur có tiệm kem Mai Hương, ngày nay là kem Bạch Ðằng. Ðây là địa chỉ dừng chân của những người trung lưu, không đủ tiền ngồi Givral vốn dành cho giai cấp thượng lưu, “quý tộc,” kể cả những trai thanh gái lịch con nhà giàu.


Tiệm kem Mai Hương góc Lê Lợi-Pasteur

Ði thêm vài bước nữa là đến tiệm sách Khai Trí, giang sơn của giới “mọt sách” bình dân; vì nếu “trí thức” hơn, người ta ghé vào nhà sách Xuân Thu trên đường Catinat (Tự Do). Xuân Thu có gắn máy lạnh và chuyên bán sách báo nhập từ nước ngoài với giá cao, và dĩ nhiên chỉ dành cho giới “quý tộc.”

Lần đầu tiên nghe đến tên Khai Trí không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến Hội Khai Trí Tiến Ðức ngày xưa tại Hà Nội (1). Nhà sách ở Sài Gòn cũng như hội đoàn ngoài Hà Nội đã cùng một mục đích “khai tâm mở trí” cho người Việt thời Pháp thuộc cũng như thời VNCH.

Ðường Lê Lợi cũng có thể gọi tên là con đường “văn hóa” vì ngay cạnh Khai Trí (số 60-62 Lê Lợi), còn có nhiều nhà sách khác như Dân Trí, Thanh Tuân và Phúc Thành nằm chen vai thích cánh bên nhau. Tuy cùng cạnh tranh trên đường Lê Lợi nhưng Khai Trí vẫn nổi bật vì chiếm hẳn hai căn nhà bề thế; hơn nữa việc nổi tiếng còn do tài lèo lái và quản lý của người chủ. Ðó là ông Nguyễn Hùng Trương nhưng người ta ít biết đến tên ông mà chỉ gọi là: “Ông Khai Trí.”

Người ta nói ông Khai Trí khởi nghiệp buôn bán “sách vở” bằng 1 chiếc xe đẩy, hình như trước cổng trường Chasseloup Laubat đường Hồng Thập Tự, nay là trường Lê Quý Ðôn, đường Nguyễn Thị Minh Khai. Trong cuộc phỏng vấn của Phan Hoàng tại Sài Gòn được đăng trên báo Tiền Phong năm 2001 mang tựa đề “Vua sách Khai Trí trở lại TP Hồ Chí Minh,” ông Nguyễn Hùng Trương kể lại thời kỳ khởi nghiệp trên bước đường kinh doanh sách của mình: “Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã mê sách hơn mọi thứ khác. Càng lớn lên thì niềm đam mê sách càng tăng. Tôi nhớ một ngày nọ có mấy anh bạn đồng môn đến nhờ tôi mua giùm năm cuốn sách về văn học Pháp. Tôi cũng đang cần một cuốn để lưu, nên gởi thư cho nhà xuất bản xin mua sáu cuốn. Ông giám đốc nhà xuất bản gởi thư hồi âm rằng, nếu tôi mua từ mười cuốn trở lên thì sẽ được trừ 30% giá bìa. Nhẩm tính tôi thấy nếu mua luôn mười cuốn thì số tiền chẳng hơn sáu cuốn chưa chiết khấu là bao, nên mượn tiền gởi mua đủ. Nhận sách, tôi đưa mấy anh bạn năm cuốn, tôi lưu một cuốn, còn bốn cuốn đem ký gởi. Khoảng ba ngày sau tôi ra thăm chừng, không ngờ sách đã bán hết, ông chủ tiệm trả tiền và nói rằng nếu có sách gì cần bán thì cứ đem đến ký gởi… Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm các loại sách báo có giá trị, quý hiếm đặt mua ngay tại cơ sở rồi mang ra hiệu sách ký gởi. Rồi khi để dành được số tiền kha khá tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện mở nhà sách. Năm 1952, sau một thời gian chuẩn bị vốn liếng và mặt bằng, tôi đã khai trương nhà sách Khai Trí.”

Tài sản quý giá nhất của ông Khai Trí là sách báo. Sài Gòn khi đó có khoảng ba mươi tờ nhật báo, hàng chục tuần báo và nguyệt san, bán nguyệt san. Ông tìm mua hết và đóng bìa cứng để lưu trữ. Ðặc biệt hơn cả, ông sưu tập được bộ Paris Match của Pháp từ số 1 cho đến ngày 30 tháng 4, 1975, trong đó có nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá về cuộc chiến tranh của Pháp ở Ðông Dương.

Ngoài ra, kho lưu trữ của ông còn 4,000 trang bản thảo từ điển tiếng Việt và gần 300 bản thảo sách nằm trong kế hoạch in thì bị “nửa đường đứt gánh.” Theo lời ông, thật đáng tiếc là kho sách báo ấy hiện bị thất lạc gần hết. Ông nói, tại Mỹ, bộ tạp chí Paris Match nếu còn giữ được thì giá không dưới nửa triệu đô-la.

Cũng từ trong nước, nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long, tác giả cuốn tiểu thuyết Loan Mắt Nhung, đã viết về ông Nguyễn Hùng Trương như sau:

“Tiệm sách của ông tại đường Lê Lợi mang tên Khai Trí bị nhà nước quản lý, nay mang tên Phahasa của nhà nước. Thuở đó, sau khi các sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị đi cải tạo trước, đến lượt những văn nghệ sĩ bị bắt, tác phẩm thiêu đốt và họ đều bị coi là kẻ có tội, đương nhiên bị bôi nhọ, kết tội là Biệt Kích Văn Nghệ. Ông Khai Trí cũng bị coi là tội phạm, liệt vào hàng văn nghệ sĩ và bị bỏ tù, vì người chiến thắng cho ông là người kinh doanh và phát triển cái văn hóa đồi trụy. Những người đã từng sống ở miền Nam trước giải phóng, ai cũng biết đến ông. Gọi là ông Khai Trí mà quên cái tên cúng cơm của ông là Nguyễn Hùng Trương, ông làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, cả đời ông đam mê công việc ấy. Và ông quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam, kể cả những văn nghệ sĩ Bắc di cư 1954.

Nhiều vị học giả, nhiều nhà văn nhà thơ, tất cả đều quí mến ông. Có vị nói với tôi, “Ông Khai Trí không khen được thì thôi, chớ có gì đâu để mà nói xấu, để chê bai.” Ðúng vậy, ông Khai Trí là người làm sách, làm văn hóa, kinh doanh mặt hàng ấy, nhưng không thể coi ông là hàng “đầu nậu” xuất bản sách, trái lại rất trân trọng, vì tư cách của ông, con người vừa khiêm nhượng vừa tốt lành của ông.

Khai Trí là nhà sách bán lẻ nhưng cái tên Khai Trí còn xuất hiện như một nhà xuất bản, nhà phát hành và đồng thời là nhà xuất nhập cảng sách.Ngoài việc xuất bản sách,ông còn chủ trương in tuần báo Thiếu Nhi (Chủ nhiệm: Nguyễn Hùng Trương, Chủ biên: Nhật Tiến) rồi tập san Sử Ðịa (2) do Nguyễn Nhã làm Chủ biên. Ông tâm sự với Phan Hoàng: “Trong tất cả các loại sách, tôi đặc biệt nặng lòng với sách thiếu nhi.Từ năm 1971 tới 1975, tôi chọn lọc xuất bản 300 đầu sách trong bộ Tuổi thơ dành riêng cho các cháu nhỏ.Bên cạnh đó, tôi còn xuất bản tuần báo Thiếu nhi với sự cộng tác của nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo có uy tín và tâm huyết với trẻ em. Ðây là công việc mà tôi thích thú nhất!”


Nhà văn Nhật Tiến giới thiệu ông Nguyễn Hùng Trương
trong buổi ra mắt tuần báo Thiếu Nhi

Trên diễn đàn Talawas, tác giả Làng Ðậu bày tỏ lòng tri ân và thành kính với người đã góp công không nhỏ giáo dục và đào tạo một thế hệ thiếu nhi tại miền Nam với “tuần báo giải trí và giáo dục thiếu nhi” như đã ghi trên bìa mỗi số: “Về hình thức, trang bìa và trang cuối của tờ Thiếu Nhi lúc nào cũng được trình bày rất công phu, dùng kỹ thuật in offset, một kỹ thuật tiến bộ (và cũng đắt tiền) nhất thời bấy giờ.” Trang bìa thường in hình vẽ của họa sĩ Vi-Vi về các đề tài khác nhau. Có lẽ bức tranh tôi thích nhất là bức Ông đồ, bức tranh này sau đó cũng đã được lên khung trong một bộ tem dưới cái tên cúng cơm của họa sĩ Vi-Vi: Võ Hùng Kiệt.

Nếu như trang đầu của tờ báo là một sự trang trọng cần thiết thì trang cuối, ngược lại, đem lại cho độc giả vô vàn thú vị qua các câu chuyện bằng tranh màu nổi tiếng dịch lại từ tiếng nước ngoài, như truyện Tin-Tin, truyện Asterix Obelix, truyện của Walt Disney… Những truyện tranh này đã được chọn lọc rất kỹ trước khi đăng nên có chất lượng cao về nội dung giáo dục. Họa sĩ Vi-Vi cũng có góp phần vẽ minh họa một số truyện tranh Việt Nam.


Tuần báo Thiếu Nhi số ra mắt

Tờ Thiếu Nhi không bao giờ bị khô khan bởi vì nó luôn có các kỳ thi “đố vui có thưởng,” các chuyện cười do độc giả gửi tới cũng như các bài thơ, văn, nhạc, họa của nhiều tác giả, cả già lẫn trẻ. Mục “Truyện cổ tích” cũng thu hút người đọc bằng các truyện của Tô Hoài, Nhật Tiến và nhiều cây bút cừ khôi khác. Ðặc biệt thú vị là hai mục: “Trả lời thắc mắc”“Tay ngọc bên bếp hồng.”

Cũng xin nhắc lại vài câu thuộc loại “hoa thơm cỏ lạ” được giới thiệu trong vô vàn danh ngôn mà tờ Thiếu Nhi đã cho phổ biến trên mặt báo: “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan” (Ðức Phật), “Lấy chí nhân thay cường bạo, đem đại nghĩa thắng hung tàn” (Nguyễn Trãi) hay “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi”… Làng Ðậu, “độc giả nhí ngày đó,” viết: “Tiền lời của nhà sách khi bán các mặt sách khác đã được đem qua để bù lỗ cho tờ Thiếu Nhi. Có lẽ riêng đối với tôi, một thằng bé đen đủi không quen biết, ông đã hành sử ‘bù lỗ nhiều hơn’; khi tôi hỏi mua 3 tờ Thiếu Nhi vì không đủ tiền mua nhiều, thì đã được ông cho thêm mấy tờ mà tôi muốn.”


Bìa báo Thiếu Nhi với bức tranh Ông Đồ của họa sĩ Vi Vi
nhân kỷ niệm lễ Khổng Tử “Đặc biệt nhớ ơn thầy”

Ðối với độc giả người lớn, ông Khai Trí “bảo trợ” tập san Sử Ðịa của một nhóm giáo sư và sinh viên trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc năm 1966 và số cuối cùng năm 1975 mang chủ đề “Ðặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa,” một đề tài nóng bỏng sau sự kiện ngày 19 tháng 1, 1974, Hải Quân Trung Cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa (Paracells) khi ấy đang thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.


Tập san Sử Địa số đầu tiên

Tập san Sử Ðịa phát hành 3 tháng một kỳ, ra được tổng cộng 29 số báo cho đến ngày Sài Gòn thất thủ năm 1975. Ðây là nguồn tài liệu phong phú trong việc khảo cứu, sưu tầm về sử ký và địa lý Việt Nam. Tác giả những bài viết trên tập san Sử Ðịa là những nhân vật nổi tiếng của miền Nam như Hoàng Xuân Hãn, Phan Khoang, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu Í…


Tập san Sử Địa số cuối cùng

Khai Trí còn là một nhà xuất bản chuyên in tự điển của miền Nam. Nếu nhà xuất bản Thời Thế in cuốn Việt Nam Tân Từ Ðiển của Thanh Nghị dầy 1069 trang thì Khai Trí đã phát hành một loạt từ điển như Pháp Việt Tự Ðiển của Ðào Ðăng Vỹ với độ dầy lên đến 1276 trang; Anh Việt-Việt Anh Từ Ðiển của Nguyễn Văn Khôn…


Ông chủ nhà sách Khai Trí và nhà làm tự điển Nguyễn Văn Khôn

Thậm chí có những cuốn tự điển rất cần cho việc nghiên cứu nhưng lại khó tiêu thụ trên thị trường nhưng Khai Trí vẫn mạnh dạn xuất bản, chẳng hạn như bộ Hán Việt Từ Ðiển của Thiều Chửu hay Hán Việt Tân Từ Ðiển của Nguyễn Quốc Hùng.

Nguyên tắc của kinh doanh nói chung là nhắm vào tiền lãi thu về nhưng một nhà kinh doanh có “tâm” hay có “đạo đức kinh doanh” là biết dung hòa giữa một bên là “lợi nhuận” và phía bên kia là “lợi ích” của xã hội. Ông Nguyễn Hùng Trương là nhà kinh doanh biết kết hợp cả hai cái “lợi” để đóng góp cho nền văn hóa của miền Nam. Ông còn giúp đỡ nhiều anh em văn nghệ sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn bằng cách mua tác phẩm của họ, dù chưa in nhưng ông vẫn trả tiền đầy đủ theo kiểu “tiền trao cháo múc.” Ngoài ra, ông tài trợ cho nhiều tờ báo hồi đó ở Sài Gòn, chẳng hạn như tờ nhật báo Sống của Chu Tử.


Nhật báo Sống của Chu Tử

Theo Kaviti, ông Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Ðức, nhưng cũng có người nói ông sinh tại Biên Hòa. Thời thơ ấu của ông rất cơ cực, thường nhịn ăn sáng và dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên trung học ông vào trường Petrus Ký với một chiếc xe đạp cũ.

Báo Thanh Niên viết về ông Khai Trí: “Hết sức quảng bác nhưng ông lại rất ít nói về mình, nên ít người biết ông chính là tấm gương sống động: từ hai bàn tay trắng trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất và uy tín nhất miền Nam.”

Trong những ngày đầu Sài Gòn đổi chủ, có người thấy ông chủ Khai Trí trải tấm nylon lớn trên vỉa hè ngay trước cửa nhà sách Khai Trí để bán nốt các số báo Thiếu Nhi còn sót lại. Tờ Thiếu Nhi vốn là báo khổ to, nhưng đến gần 1975 thì nó đã co nhỏ và thu bé mình lại, chỉ còn như một cuốn sổ tay mỏng lét nhưng vẫn giữ nguyên tôn chỉ và mục đích.

Năm 1976, chính quyền mới mở đợt “cải tạo văn hóa” tiếp theo sau đợt cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền.” Nhà sách Khai Trí bị truất hữu và tịch thu, kho sách 60 tấn bị tiêu hủy. Chủ nhân Nguyễn Hùng Trương bị bắt trong chiến dịch tháng 4, 1976 và đưa đi cải tạo tại trại Z30C Hàm Tân vì tội “biệt kích văn nghệ.”

Một số nhân vật khác trong ngành phát hành sách báo như ông Nguyễn Văn Chà, chủ nhân nhà tổng phát hành Nam Cường, ông Tư Bôn (Paul) chủ nhân cơ sở phát hành Thống Nhất rồi ông chủ các nhà phát hành Ðồng Nai, Ðộc Lập cũng cùng chung số phận vì đã hoạt động trong lãnh vực sách báo “văn chương đồi trụy”…

Năm 1991, ông Khai Trí xuất cảnh sang Hoa Kỳ để đoàn tụ cùng gia đình. Theo nhà văn Nhật Tiến, ông Nguyễn Hùng Trương dự định mở lại nhà Khai Trí, nhưng điều trớ trêu là hầu hết các tác phẩm của Khai Trí đã “được” một số nhà xuất bản hải ngoại in lại mà không hề nghĩ đến chuyện… bản quyền!

Theo Phạm Phú Minh, một điểm khó khăn nữa là ông Khai Trí vừa thiếu vốn lại thiếu cả nhân lực để gây dựng lại nhà xuất bản tại Mỹ: “Ông Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ ở Nam California, đã tiếp xúc nhiều với ông Khai Trí thời gian ông mới qua Mỹ, cho biết rằng các con của ông Khai Trí nói thẳng rằng họ có thể góp ít vốn cho ông theo khả năng của họ, nhưng hoàn toàn không thể giúp được gì ông, vì ai cũng có công việc cả rồi, không thể nào bỏ việc để cùng cha phiêu lưu theo giấc mộng của ông.”

Hình như ông Khai Trí có gặp ông Nguyễn Tấn Ðời để bàn việc góp vốn cho chương trình văn hóa nhưng không đạt được kết quả. Ông Võ Thắng Tiết cho biết, trong số sách vở ông Khai Trí đã chuyển được sang Mỹ có nhiều thứ rất giá trị, như bộ sưu tập đầy đủ của báo Tri Tân và báo Nam Phong, tập san Sử Ðịa thời VNCH cũng không thiếu một số nào, tất cả sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học.

Sau năm năm sống tại Mỹ, ông Nguyễn Hùng Trương biết rõ là mình chẳng làm được những gì mong ước cho nên năm 1996 ông Khai Trí về lại Việt Nam để sống luôn tại đây. Nghe nói nhà nước Việt Nam có chủ trương trả lại nhà cửa đã tịch thu năm 1975, ông về nước với đề nghị nhà nước trả lại các cơ sở cho ông; và ông sẽ cùng nhà nước thực hiện các nhà sách tân tiến theo lối Mỹ, trong đó có gian uống cà phê xem sách, có gian thiếu nhi để các em thoải mái tìm tòi…

Nhưng những gì ông “nghe nói” đã không đúng với thực tế. Nhà sách Khai Trí của ông đã thành nhà sách quốc doanh Sài Gòn. Nhà khác của ông thì bị chia chác cho cán bộ đã 20 năm qua, họ bán đi bán lại nhiều lần, giá cả càng ngày càng cao. Cuối cùng người ta “cho lại” một phòng trong một căn nhà cũ của ông; và ông sống ở đó, cho đến ngày qua đời, với giấc mộng lớn không bao giờ thực hiện.

Con người có niềm đam mê mãnh liệt với sách báo ấy đã ra đi lúc 5 giờ 15 ngày 11 tháng 3, 2005, linh cữu quàn tại nhà riêng số 237 Ðiện biên Phủ (đường Phan Thanh Giản cũ). Nguyện vọng của gia đình là tiền phúng điếu sẽ tặng cho quỹ từ thiện thành phố.

Lúc còn sinh thời ông Nguyễn Hùng Trương đã có lần chán nản khi được hỏi bao giờ người ta trả lại nhà sách Khai Trí cho ông.Câu trả lời của ông là.. “năm 3000”! Chẳng khác nào khi diễn tả một chuyện không bao giờ có thể xảy ra, người Sài Gòn thường nói chờ đến… “Tết Congo”!

Nguyễn Ngọc Chính

 

Viên Linh: Một nhân cách lạ lùng. Kiều Phong


Kiều Phong

content_diem-sach_le-tat-dieu-nhung-giot-muc

(Tác giả Kiều Phong Lê Tất Điều và Những Giọt Mực)

Đọc xong cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút VN (1957-1975)” của nhà văn Nhật Tiến, rồi bài nhận định về giá trị tác phẩm này của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh… ngẩn ngơ cả ngày. Nhớ các bậc tiền bối có công tạo dựng và duy trì một nơi quy tụ đẹp đẽ của văn giới miền Nam. Nhớ những công trình lớn lao của hội đã góp phần làm phong phú cho nền văn chương của quê hương đất nước thân yêu thủa nào.

Và bồi hồi nhớ nhà văn Minh Đức Hoài Trinh cùng nhà báo Đạo Cù Trần Tam Tiệp.

Sau 75, Hội Văn Bút, như tất cả các hội đoàn khác, tự ý giải tán hoặc bị bức tử. Hội viên thì phần lớn như cá nằm trên thớt, chờ ngày chế độ mới ra tay bắt bớ, giam cầm. Tác phẩm của họ bị đốt, hoặc trưng bày trong những phòng triển lãm tội ác Mỹ Ngụy. Hội Văn Bút Quốc Tế cũng mặc nhiên coi hội Văn Bút Việt Nam đã chết theo miền đất tự do cuối cùng của nước Việt.

Người nhất định không chịu chấp nhận cái chết ấy là bà Minh Đức Hoài Trinh.

Trong một phiên họp của đại hội Văn Bút Quốc Tế, sau ngày mất nước, bà lên diễn đàn thỉnh cầu Hội chấp nhận là Hội Việt Nam còn sống nhăn, bằng cớ là có nhiều hội viên, cũng như bà, được tị nạn ở các nước tự do. Tất cả những hội viên may mắn này sẽ tiếp tục duy trì hội Văn Bút tạm đặt trụ sở ở Hải Ngoại, sinh hoạt bình thường.

Thế là hội viên những nước thiên tả, hoặc vốn thù ghét Việt Nam Cộng Hòa nhâu nhâu lên tấn công bà. Có tên khẳng định VNCH chết ngày 30 tháng tư bảy lăm, hội Văn Bút Việt Nam cũng tạ thế cùng ngày. Chỗ trống phải dành để chờ Hội Văn Bút Việt Cộng. Có đứa xỏ xiên: Đám nhà văn nhà thơ lưu vong ấy mai mốt sẽ thành công dân nước họ định cư, tha hồ gia nhập hội Văn Bút Tây, Mỹ, Canada, Úc… quên VN đi!

Chủ tịch và ban chấp hành của hội cũng xác định là xưa nay, hội chưa từng chấp nhận một hội Văn Bút nào có kèm hai chữ “hải ngoại”.

Tuy cũng có một số hội viên ủng hộ bà, nhưng không nhiều. Lúc bầu phiếu, phe chống có đa số áp đảo, bà thua, Văn Bút Việt Nam tiếp tục tắt thở.

Không sờn lòng, nản chí, cùng luật sư Trần Thanh Hiệp, nhà thơ Nguyên Sa, nhà báo Trần Tam Tiệp, bà Minh Đức Hoài Trinh bền bỉ tranh đấu.

Đại hội nào bà cũng dự, bài diễn văn nào của bà cũng nhấn mạnh vào truyền thống và chủ trương tốt đẹp của hội: bênh vực và bảo vệ quyền tự do tư tưởng của hội viên và những người cầm bút khắp thế giới. Hội Văn Bút Việt Nam, từ chủ tịch đến đa số hội viên hiện đang là nạn nhân của một chế độ độc tài, sắt máu. Tác phẩm của họ bị đốt, bản thân họ bị cầm tù. Họ không thể kêu cứu với hội quốc tế và tường trình về hoàn cảnh khốn cùng của họ vì liên lạc với nước ngoài là một trọng tội, bị ghép tội danh “làm gián điệp cho ngoại bang” có thể lãnh án tử hình. Chấp nhận “hội Văn Bút VN hải ngoại” là tạo một nhịp cầu. Hội hải ngoại sẽ có những cách riêng để liên lạc với hội viên trong nước và có bản tường trình về hoàn cảnh hiện tại của họ cho hội quốc tế lên tiếng, can thiệp, bênh vực.

Lời bà càng ngày càng thấm khi chính các hội viên thiên tả cũng nhìn thấy sự thật. Và năm1979, Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần 44 họp ở Rio de Janeiro, Brazil đã chấp nhận Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad PEN Centre) với số phiếu 25/12.

Minh Đức Hoài Trinh


Người phụ nữ Việt Nam chân yếu tay mềm ấy, năm này qua năm khác, đã giang tay chống đỡ căn nhà Văn Bút, không để cho trận Hồng Thủy cuốn phăng nó đi, như tất cả các kiến trúc chính trị, văn hóa thuộc về miền Nam xưa. Bà thành công. Và Văn Bút VN là hội đoàn duy nhất của miền Nam tự do còn giữ được tư cách pháp nhân quốc tế.

Từ ngày đó, Văn Bút VN tường trình đầy đủ cho Hội Quốc Tế về tình trạng bị tù đầy, đàn áp của các hội viên và giới cầm bút ở VN, đồng thời cũng đưa ra nhiều sáng kiến. Đại Hội nào cũng có ghế trống, chỗ ngồi tượng trưng dành cho những hội viên vắng mặt vì bị cầm tù.

Sau, không còn tượng trưng nữa, hội VN đề nghị Hội Quốc Tế nhận tất cả các hội viên đang bị đầy đọa ở quê nhà là Hội Viên Danh Dự.

Sáng kiến này được hưởng ứng, Hội Viên một số nước Âu Châu nhận luôn nhiều nhà văn, nhà thơ VN là Hội Viên danh dự của chính quốc gia họ. Và vì các quốc gia ấy rất tôn trọng văn giới cho nên họ gửi khi thì nhà báo, khi thì nhân viên ngoại giao tới Việt Nam, tìm đến thăm hỏi, phỏng vấn, và giúp đỡ các “Hội viên Văn Bút Danh Dự” của nước họ. Có nhà văn, nhà thơ đã được đón từ Việt Nam đến định cư tại quốc gia nhận các vị này là hội viên.

Tất cả những chuyện ấy đã không xảy ra nếu không có nhà văn Minh Đức Hoài Trinh, vị Chủ Tịch đầu tiên của Văn Bút VN Hải Ngoại. Và cũng có nhiều chuyện tốt đẹp đã không xảy ra nếu không có ông nhà báo Đạo Cù Trần Tam Tiệp, Tổng thư ký của hội.

Ông Tiệp là Trung Tá Không Quân, gia nhập làng viết phiếm luận với bút hiệu Đạo Cù. Ông không là hội viên trước 75. Nhận chức Tổng thư ký của Văn Bút VN Hải Ngoại, ông phải cáng đáng đủ chuyện thượng vàng hạ cám, vì ban chấp hành của hội trần xì có hai người sinh hoạt thường xuyên: Bà Chủ Tịch và ông Tổng Thư Ký.

Nhưng chu toàn nhiệm vụ Tổng Thư ký chỉ là chuyện nhỏ.

Đại bàng gẫy cánh rơi xuống Paris đành chọn nghề nghiệp mới. Ông Đạo Cù làm trưởng toán sĩ quan an ninh chuyên trách việc bảo vệ các hãng xưởng, các cơ sở thương mại. Sắc phục tề chỉnh, uy nghi, chức tước nghe kêu boong boong, nhưng ông Nguyên Sa lại diễn nôm, dịch huỵch toẹt sang tiếng Việt là “nghề gác dan”. Chủ nhân các cơ sở, hãng xưởng Tây chắc trả công dựa trên bản dịch của Nguyên Sa, nên lương ông Đạo không cao mấy.

Ông cư ngụ trong căn gác xép trên nóc một ngôi nhà cũ. Bề rộng của căn nhà – theo lời mô tả của ông Bồ Đại Kỳ – “Cũng to hơn cái chuồng chim bồ câu một tí. Chỉ tội mái thấp quá. Đến thăm nó, đi đứng mà quên lom khom là bươu đầu sứt trán như chơi!” Gác xép cũng có cửa sổ, là một khung gỗ với miếng gỗ che có gắn bản lề như cánh cửa. Khi cần thưởng thức trời xanh, mây trắng, nắng vàng… ông Đạo chỉ cần dùng một cây gậy đẩy miếng gỗ che lên, chống cho nó mở toang ra là có ngay khung trời thơ mộng. Thỉnh thoảng quên đóng “cửa sổ”, đi làm về thấy gió thu, lá thu và cả… mưa thu tràn vào đầy nhà, chiếu giường ướt nhẹp.

Ông chịu sống cần kiệm, khắc khổ như thế để có tiền gửi về giúp các bạn văn.

Bất cứ nhà văn, nhà thơ nào dù không là hội viên của Trung Tâm Văn Bút, mà ông liên lạc được, ông đều gửi quà. Hồi ấy, dịch vụ gửi quà chưa có. Ông Đạo phải tự mua từng món, tự đóng thùng rồi khuân vác, đáp mấy chuyến metro đưa tới nhà bưu điện.

Chính nhờ ông Tổng thư ký của hội chịu vất vả ngược xuôi trên đường phố Paris, vai vác những thùng quà to tướng mà nhiều nhà văn nhà thơ có thêm chút sinh lực, đồng thời níu được đường giây liên lạc để chuyển những tin tức, những tác phẩm viết chui ra hải ngoại. Và bà Chủ tịch luôn luôn có những bản tường trình phong phú, chính xác về tình trạng của văn giới ở quê nhà để trình cho Hội Văn Bút Quốc Tế.

Nhà báo Trần Tam Tiệp 1928 – 2009

Ông Đạo Cù xuôi ngược trên đất lạ, quê người, khi tay xách nách mang, khi khiêng trên vai những thùng quà nặng tình văn hữu, giữ liên lạc chặt chẽ, thăm hỏi, giúp đỡ bạn văn còn kẹt ở quê nhà với tất cả khả năng, sức lực của mình.

Bà Minh Đức Hoài Trinh phong thái tha thướt dịu dàng nhưng lời lẽ chém đinh chặt sắt, đăng đàn, phó hội hiên ngang đương đầu với đa số những hội viên đầy trí tuệ nặng lòng thù nghịch Việt Nam Cộng Hòa, ghét luôn văn giới miền Nam. Họ xô bà ngã trong nhiều năm, bà vẫn đứng dậy, cương quyết tiến tới và cuối cùng đã giành được một chỗ đứng trên văn đàn quốc tế cho tập thể người Việt lưu vong.

Mấy thập niên qua rồi, nhớ lại thủa ấy, vẫn thấy cần gửi đến bà nhà văn, ông nhà báo thêm một lời tri ơn.

Văn Bút VN Hải Ngoại vừa được chấp nhận là hoạt động tích cực, đưa ra nhiều sáng kiến vừa đẹp vừa thực tế như chọn những nhà văn nhà thơ đang bị đàn áp, cầm tù là “Hội Viên Danh Dự” để có danh chính ngôn thuận can thiệp, giúp đỡ… Hội ta được từ chủ tịch đến các hội viên quốc tế cảm phục và quý trọng ngay.

Khi nhà thơ Viên Linh được bầu làm Chủ tịch nhiệm kỳ 1993– 1995, sự quý trọng ấy vẫn còn.

Ông Viên Linh có tài tổ chức, nhiều sáng kiến lạ nên thời ông làm chủ tịch, VBVNHN coi bộ hoành tráng nhất, trông xôm tụ như một triều đình.

Nhiều quan chức lắm! Cô Tà Cúc cũng được cho làm Quan Lớn Văn Bút. Nhớ mang máng hình như cô được thụ phong chức Trưởng Ủy Ban Phụ nữ. Chả hiểu sao mà hội văn bút lại có một ban đặc trách chuyện quý bà, quý cô, mà tên ủy ban cũng mù mờ, lửng lơ, khó hiểu. Quan Trưởng ban Tà Cúc lãnh đạo phụ nữ của hội? ở quận Cam? hay cai trị toàn thể phụ nữ khắp ta bà thế giới?

Nhiều văn hữu chê “nhăng nhố, lố bịch quá” rồi cười lăn. Riêng tôi, bé đã mê phường chèo, hát bội, lớn lại nghiền thêm món cải lương, thích những chuyện diêm dúa, hoa hòe hoa sói, mũ áo xênh xang, cờ xí rợp trời, trống chiêng dậy đất… nên khoái cái triều đình văn bút này quá xá, quà xa. Ai nói gì thì nói, Kiều mỗ nhất định coi triều đại văn bút Viên Linh là thời kỳ cực thịnh, xôm tụ, mầu mè sặc sỡ bậc nhất trong lịch sử Hội Văn Bút nước nhà.

Chuyện rắc rối, bi thương chỉ xảy ra vào thời gian cuối nhiệm kỳ, khi Chủ Tịch Viên Linh quyết định không rời ngôi báu, muốn trị vì toàn dân Văn Bút thêm một vài nhiệm kỳ nữa.

Tôi tưởng chuyện ấy đối với ông dễ ợt. Ông là người có tài, lãnh đạo hội khéo léo, tái ứng cử là trúng liền một khi. Chẳng ngờ có nhiều đứa muốn hạ bệ ông. Số hội viên thân cận được hưởng ơn mưa móc cũng nhiều, nhưng vẫn là thiểu số. Đám hội viên phó thường dân đông hơn, bất mãn với tác phong lãnh đạo của Chủ Tịch, nhất định bắt Viên Linh đi chỗ khác chơi, nhường ghế cho người khác.

Cuộc chiến tranh giành ngôi báu khốc liệt của hội lập tức nổ ra, lan rộng, khói lửa ngập tràn đến cả những nhà văn, nhà thơ không là hội viên, chẳng dính dáng gì tới hội. Chúng tôi bị vạ lây!

Một hôm tôi nhận được thư Viên Linh, trong có một bản tuyên bố, tuyên cáo, hay nhận định gì đó, quên rồi. Nội dung tuyên cáo đại khái là:

Chúng tôi ký tên dưới đây là những người làm văn học, đồng lòng nhất trí quyết định rằng: Hội Văn Bút phải thuộc về văn giới, phải được một vị trong văn giới làm Chủ Tịch. Vai trò lãnh đạo một hội văn chương không thể để lọt vào tay một nhà buôn (hay nhà khỉ gì đó, cũng quên rồi.)

Hóa ra người tranh ngôi với Viên Linh đang thắng thế, gom được nhiều phiếu, có thể cướp ngôi của chàng tới nơi. Chàng đành hô hào văn thi hữu bốn phương, ra tuyên cáo phản công, uýnh lại địch bằng chiến thuật biển người, tấn công thẳng vào cái lý lịch “không phải là nhà văn” của đối thủ.

Tuyên cáo được soạn thảo rất văn chương và hùng hồn, đọc xong, đồng ý liền. Nhưng đến mục ký tên thì bà con khựng lại, thấy kỳ kỳ. Những người lờ đi không ký, bị Viên Linh thù lâu lắm.

Riêng tôi, may phước lại được ông gọi điện thoại đến tận nhà truy kích. Tôi thành thật thưa với ông rằng: Trước sau tôi vẫn thích thơ Viên Linh và quý trọng văn tài ông. Tôi cũng thật lòng tin rằng ông xứng đáng làm Chủ Tịch Hội Văn Bút thêm năm bảy nhiệm kỳ, hay làm suốt đời, muôn năm trường trị cũng chẳng sao. Nhưng ký kiến nghị, tuyên cáo để xúm xít ủng hộ ông, tấn công một địch thủ tầm thường nào đó thì tôi thấy hơi quá đáng.

Tưởng bị Viên Linh giận, nghỉ chơi. Không ngờ ông lại rộng lượng “ghi nhận thiện chí của bạn”, cho tôi vào danh sách những nhà văn nhà thơ (cỡ chín, mười người) tuy không ký tuyên cáo nhưng “ĐỒNG Ý QUA ĐIỆN THOẠI”.

Thế là thoát nạn. Tình văn hữu giữa chúng tôi vẫn bền vững, không sứt mẻ tí teo nào. Mừng ơi là mừng!

Nỗ lực bảo vệ ngôi báu đến mức đó là nhất. Thiên hạ khó ai bì. Nhưng than ôi! Mưu sự tại Viên Linh mà thành sự tại đám hội viên bầu bán linh tinh. Ông đành dẹp cuộc bầu cử, tự ý lưu nhiệm dài hạn, cho nó chắc ăn.

Các hội viên bị Chủ Tịch Viên Linh đàn áp, truất quyền ứng cử, bầu cử, thì ức quá. Tháng 2/1996, họ họp đại hội ở Houston, bầu nhà văn Sơn Tùng làm chủ tịch. Ông này đúng là nhà văn. Cái tuyên cáo hết thiêng. Nhưng ông Viên Linh cứ ngồi ỳ ra, nhất định không rời bỏ ngai vàng. Thế là Hội ta năm ấy được mùa, của ăn của để, có tới hai Chủ Tịch lận.

Tự lưu nhiệm thêm hai năm chưa thấy đã đời. Năm 1997, Viên Linh dàn xếp cho bù nhìn Đặng Văn Nhâm lên làm chủ tịch, để lui vào hậu trường tiếp tục cai trị thêm một nhiệm kỳ nữa. Như thế, trước sau, triều đại Viên Linh kéo dài 6 năm, gấp rưỡi một nhiệm kỳ của Tổng Thống Mỹ Quốc. Trong thời gian này những hội viên ghê tởm hành vi của Viên Linh xúm lại đả kích sự tham quyền cố vị, lỳ lợm, trâng tráo của ngài Chủ Tịch tự ý lưu nhiệm. Quân triều đình kháng cự rất dũng mãnh. Cuộc giao tranh kéo dài hàng năm. Đóng cửa choảng nhau trong nhà cứ bất phân thắng bại hoài, đôi bên sốt ruột làm đơn gửi hội Văn Bút Quốc Tế, kiện tụng, tố cáo tội ác của địch thủ lia chia.

Thế là hội Văn Bút Quốc tế phải thi hành một biện pháp chưa từng có trong lịch sử Văn Bút Thế Giới. Văn Bút Quốc Tế bắt Văn Bút Việt Nam há miệng, tống cho mấy viên thuốc ngủ, bắt ngủ say sưa – gọi là dormant – khỏi léo nhéo cãi nhau, kiện tụng lằng nhằng, làm phiền người lớn.

Tính đến hôm nay, Hội ta đã bị Hội Quốc Tế bồng lên, rót vào tai những lời ru êm ái “ngủ đi em mộng bình thường” hai lần!

Quyết tâm: đã lên chức Chủ Tịch rồi thì nhất định ngồi lì, tử thủ, của ông Viên Linh làm Văn Bút VN Hải Ngoại tan hoang, hội viên bẽ bàng, mắc cỡ. Hội Quốc tế nhìn hội ta nếu không nỡ khinh bỉ, thì cũng khó nín cười!

Tiếc công sức của bà Minh Đức Hoài Trinh, ông Trần Tam Tiệp đã phục sinh cho chúng ta một Hội Văn Bút được Hội Quốc Tế yêu quý, kính trọng.

Thương cho quý vị hội viên sau này phải hứng chịu một di sản quái dị của ông Chủ Tịch có nhân cách lạ lùng.

Kiều Phong

 Xem tiếp Phần 2
(Nguồn:https://nhavannhattien.wordpress.com/vien-linh-mot-nhan-cach-la-lung-phan-1/)

Đài TV Hồn Việt Tản Mạn Văn Học-Về Tác Phẩm Mới của Nhà Văn Nhật Tiến NXB Huyền Trân “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam” tháng 10/2016 do Nguyễn Mạnh Trinh và Nhã Lan thực hiện.


Trang Bia

Áo Người Trưng Vương. Thơ Hư Vô, Nhạc Phùng Việt Dũng, Ca sĩ Quốc Duy, Hòa âm Đỗ Hải, PPS Thảo Nguyên Sydney.


ao-nguoi-trung-vuong-1ao-nguoi-trung-vuong-2

Lời Cỏ. Thơ Hư Vô


loi-co

Đất ôm xanh lòng cỏ
Mọc cho đầy hoang vu
Tim tôi không cửa nẻo
Bụi bám đã mịt mù.

Em bước vào như thể
Mùa thu đang tượng hình
Chiếc lá vàng bịn rịn
Rơi xuống đời buồn tênh.

Còn nghe lời cỏ gọi
Từ một cõi tối tăm
Bên kia đời lận đận
Có giọt lệ lăn trầm.

Ngấm vào hồn lá mục
Chọc thủng một vực sầu
Vết thương còn động đậy
Chắc gì em không đau?

Gọi nhau lời cùng tận
Trời đất cũng bạc đầu
Núi cao chiều đã lụn
Trong lòng đá xanh xao.

Tôi lao đao lảo đảo
Như ngọn cỏ gió lùa
Ngang ghềnh xa cát lở
Một hồn trơ bóng mù…

Hư Vô

(Đã được phổ nhạc bởi Nhạc Sĩ Nhã Thanh)

Màu Áo Tết. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca sĩ Duy Thái, Hòa âm Đỗ Hải.


mau-ao-tet

Đọc “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam“. Tạp ghi văn nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.   

Trang Bia

Nhà văn Nhật Tiến vừa phát hành tác phẩm “ Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam “. Một tác giả tuổi vừa tám mươi đã in một tác phẩm viết về những kinh nghiệm của đời cầm bút của mình, có lẽ là một hiện tượng đẹp. Với cuộc sống thăng trầm nổi trôi theo từng biến cố của dân tộc, những nhận định được ghi chép lại chắc có những giá trị đáng kể. Nhất là , với những dữ kiện có liên quan đến chính trị, thời sự và văn học.

Với  cảm quan của một người đọc sách, coi trọng việc học hỏi từ sách vở, tôi đọc tác phẩm trên của nhà văn Nhật Tiến với sự trân trọng đặc biệt. Tôi tìm thấy nhiều chi tiết có thể làm sáng tỏ những điều mà tôi nghĩ còn mù mờ chưa chuẩn xác. Dĩ nhiên, đó là ý nghĩ của riêng tôi. Bài viết này như  một góp ý về một tác phẩm mà trong nhận xét của mình, là một tác phẩm có giá trị và nhiều chất tích cực.

Nhà văn Nhật Tiến chủ trương nhà xuất bản Huyền Trân trong  một thời gian khá dài  từ năm 1959 đến nay hơn nửa thế kỷ và tác phẩm Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là tác phẩm xuất bản mới nhất.

Tác phẩm này viết về một thời kỳ đặc biệt của hai mươi năm văn học miền Nam mà những sinh hoạt ấy đáng kể là những hoạt động của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Trong bối cảnh của một nền văn học tự do khai phóng,  một tổ chức Văn Bút được thành lập quy tụ nhiều thế hệ cầm bút gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, các nhạc sĩ, các họa sĩ, các nghệ sĩ trong ngành sân khấu, điện ảnh và các giới  chức trong ngành giáo dục. Từ ngày chính thức thành lập từ tháng 10 năm 1957 đến tháng tư năm 1975, Trung Tâm Văn Bút đã có nhiều cống hiến cho kho tàng văn hóa dân tộc  với những tác giả và tác phẩm có thể coi như điển hình cho những sinh hoạt văn học nghệ thuật tiêu biểu. Ghi chép lại những sinh hoạt ấy thành những tài liệu văn hóa có lẽ là một việc làm cần thiết, nhất là sau cuộc đốt sách giam tù văn nghệ sĩ miền Nam của chế độ Cộng sản. Vì nhiều lý do,  sự thực  đã  bị nhìn ngắm sai lạc, dẫn đến sự tam sao thất bản và dẫn đến tình trạng những lớp người trẻ sinh sau, lớn lên và trưởng thànhh đã có những  nhận định mù mờ không rõ ràng về những hiện trạng văn hóa của những thời kỳ trước.

Nhà văn Nhật Tiến viết:

“Được chính thức thành lập từ tháng 10 năm 1957 qua nghị đĩnh số 111 BNV/NA/P5 của Bộ Nội Vụ VNCH, Hội đã liên tục hoạt động không ngưng nghỉ cho tới tháng 4 năm 1975. Trải gần 20 năm ròng rã ấy đã có biết bao nhiêu sinh hoạt của Hội đóng góp vào công cuộc xây dựng và vun trồng nền băn hóa của Miền Nam Việt Nam mà nếu có thể ghi chép lại thì cũng gom được thành một tài liệu văn học hữu ích cho các thế hệ sau.

 Nhưng tiếc thay, cuộc phần thư năm 1975 do nhà cầm quyền Cộng Sản tiến hành đã thiêu hủy hết bao nhiêu là tài liệu sách báo quý giá kể cả những tài liệu liên quan đến Văn Bút Việt Nam

  Rồi thời gian qua đi, các vị làm văn hóa lão thành vốn đã từng tạo dựng nên hội Văn Bút và nắm giữ nhiều kỷ niệm quý giá về Hội này thì hầu hết đã qu tiên cả như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Bũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Đào Đăng Vỹ, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ Đình Chí, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, L.M.Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền… Cho nên nếu dù ai có quan tâm cách mấy về việc viết lại  các sinh hoạt cũa hội Văn Bút thì cũng thấy đều gần như bó tay vì số lượng tài liệu còn tìm thấy được lại quá ít oi.

Tuy nhiên một tổ chức văn hóa như thế mà không có tài liệu nào viết về nó dù chỉ một cách tương đối thì cũng thật là đáng tiếc. Vì vậy nhân danh một hội viên thuộc thế hệ hậu sinh đã có dịp gặp gỡ và làm việc chung với nhiều bậc tiền bối như Vi Huyền Đắc, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường, L.M.Thanh Lãng,… tôi tự thấy có bổn phận phải gom góp tài liệu dù rất ít ỏi để viết về những sinh hoạt của Văn Bút kể từ nhóm Bút Việt cho đến Trung Tâm Văn Bút qua cả một chặng đường dài từ 1957 cho đến 1975”

Tác phẩm gồm 6 chương sáchh với một bố cục  bao gồm từng thời điểm hoạt động với những sự kiện  văn học có tính xác thực rút từ văn bản, hay nói một cách giản đơn là nói có sách , mách có chứng.

Từ chương I, tiến trình thành lập & nội quy, đến chương II những sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút để mở ra những ngộ nhận về Văn Bút ở Chương III. Chương IV là những chân dung tác giả tiêu biểu của V ăn Bút qua những cuộc sinh hoạt hội họp. Qua đó, những phác họa chân dung, tiểu sử của nhà văn Đỗ Đức Thu, nhà văn hóa Vương Hồng Sển, nhà văn Phạm Việt Tuyền, kịch tác gia Vi Huyền Đắc, thi sĩ Vũ Hoang Chương, Linh mục Thanh Lãng, nhà văn Hồ Hữu Tường. Chuơng V là Văn Bút với đời sống xã hôi và chính trị qua công tác cứu trợ bão lụt,  cũng như những sự kiện về tên Việt  Gian Cộng Sản nằm vùng Vũ Hạnh  và Văn Bút với quyền tự do cầm bút. Chương sách sau cùng là một hồi ức của nhà văn Nhật Tiến về ngày cuối cùng ở trụ sở Trung tâm Văn Bút vẽ lại một cảnh tượng vỡ đàn xảy nghé của  đất nước Việt Nam.

Điều mà tôi thích thú nhất là đọc trong các phác họa chân dung của các nhà văn tiền bối của Văn Bút và khi gấp lại cuốn sách thì hình như những chân dung ấy hiện ra trong trí nhớ tôi dù tôi chưa gặp họ bao giờ. Truớn năm 1975, tôi chỉ là một người đọc bình thường và hay tưởng tượng ra các nét đáng yêu của những chân dung văn học mà mình thần tượng. Bây giờ đọc lại qua những trang sách của “ Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam” thì những chân dung ấy hiển hiện ra, không những là hình tượng của một cá nhân mà còn có những nét biểu hiện thời thế mà họ đã sống và đã viết.. Ở đó tôi tìm thấy được những mẫu nhân vật tiêu biểu cho văn học Việt Nam với nhiều cá tính đặc sắc qua nhận định chừng mực thẳng thắn của tác giả Nhật Tiến. Ông đã phối hợp từ văn bản các tài liệu và những kỳ niệm, những tiếp cận cá nhân để tạo thành những phác họa sống động cũa những tư liệu có giá trị.

Hình như có một chút đồng cảm với tôi từ tác giả “Từ Nhóm Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam”

Tôi  đọc nhà văn Nhật Tiến  khi ông viết về nhà văn hóa Hồ Hữu Tường :

“Phải thành thật mà nói tôi đã thấy mình bé nhỏ và bỡ ngỡ như một kẻ hậu sinh trước những bậc đại tiền bối khi được hân hạnh cùng đứng chung với Hồ Hữu Tường ở Ban Thường Vụ Văn Bút. Ông là một nhân vật khét tiếng ngay từ khi tôi còn chưa được sinh ra kìa!  Vì năm 1930 ông đã ở Pháp cộng tác với nhà cách mạng Phan Văn Hùm viết báo bằng tiếng Phap. Tờ La  Verité( Sự Thực) chống đối việc Pháp xử từ anh hùng Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ VNQDĐ. Ông cũng ở trong ban biên tập tò La Lutte( Tranh Đấu) xuất bản ở Sài Gòn năm 1934 cùng với các danh nhân nổi tiếng có tên trên bảng dường là nhà cách mạng Nguyễn An Ninh và Trần Văn Thạch. Tuy nhiên ông không mang một cái vẻ gì là một nhân vật kỳ bí oanh liệt như những tài liệu lịch sử viết về ông cả. Mặc dù đã vào tù ra khám nhiều lần kể cả đi tù Côn Đảo nhưng ông vẫn giữ được vóc dáng đẫy đà, vầng trán cao đôi lông mày rậm, bạc với nụ cười thoải mái phô bộ hàm răng hơi lớn quá khổ. Bình thường ông bận thường phục nhưng cũng có lần ông đến họp trong bộ áo nhà tu mầu vàng từ đầu tới chân. Hồi đó nhà thơ Phạm Thiên Thư cũng tới họp Văn Bút,  đầu cạo trọc  mặc áo thầy tu…”

Dù phần đông những người có quan tâm đến  Trung Tâm Văn Bút và  hai mươi năm văn học miền Nam đều có cùng chung những quan điểm và tâm cảm kể trên nhưng cũng có những ngộ nhận hoặc có những nhận xét vội vàng không có sở cứ lý luận vững chắc.  Hình như tác giả Nhật Tiến muốn làm rõ ràng những sự kiện tạo thành ngộ nhận ấy.

Ngay trong chương I, Tiến Trình Thành Lập Trung Tâm Văn Bút và Nội Quy có phần chất vấn nhà thơ  Viên Linh . Nhà văn Nhật Tiến  đề cập đến những nhận định của ông này về Trung Tâm Văn Bút .

Sự “chất vấn” bắt nguồn từ một nhận định của nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm  tạp chí Khởi hành và chủ tich Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại, trong đoạn văn trích từ cuốn  “Chiêu Niệm Văn Chương Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ”:

“Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại Hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957 lúc ông Phạm Trọng Nhân làm lãnh sự tại Nhật cuối cùng đã do Việt Cộng điều hành qua bàn tay của Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền”

Như vậy nhà thơ  Viên Linh đã cho rằng Trung Tâm Văn Bút Việt Nam được thành lập do nhu cầu Chống Cộng nhưng cuối cùng lại do  Việt Cộng điều hành. Một nhà văn  đã làm chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam ở hải ngoại mà viết như thế có phải là một sự kiện “động trời “ không  ?

Nhà văn Nhật Tiến đã “chất vấn “ nhà thơ Viên Linh:

“Đưa ra một chi tiết động trời như thế nhưng ông Viên Linh không hề nêu ra được một bằng chứng nào cho thấy” Trung tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng cho kịp thời với Đại Hội Văn bút ỏ Tolyo vào năm 1957”.

Ông Trần Kim Tuyến tài năng cỡ nào mà có thể khuynh loát được 19 nhà văn , nhà thơ, nhà biên khảo trong đó có cả những bậc lão thành như Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Tam Lang Vũ Đình Chí, Tchya Đái Đức Tuấn, Đào Đăng Vỹ, Lê Văn Siêu, Bùi Xuân Uyên…

Tôi chính thức yêu cầu ông Viên Linh  trưng bằng cớ về chuyện này”

Nhà văn Nhật Tiến còn nhận định về ý tưởng của nhà thơ Viên Linh cho rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập Văn Bút để chống Cộng.  Chẳng lẽ 19 nhà văn , nhà thơ , nhà biên khảo có mặt trong nhóm sáng lập Văn Bút không có ai chống Cộng hay sao mà lại phải nhờ ông Trần Kim Tuyến thúc đẩy. Và như vậy ai đã thúc đẩy họ  di cư từ Bắc vô Nam sau hiệp định Genève? Có phải cũng ông Trần Kim Tuyến chăng? Vả chăng việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng. Nhiều hội viên trong tổ chức Văn Bút Quốc Tế là những nước Cộng sản như Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư  thì họ chống Cộng ở chỗ nào? Hiến chương của Văn Bút Quốc Tế mà một người  từng làm Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại phải bắt buộc thông hiểu mà sao lại viết như thế?

Nhận định thứ hai của Viên Linh mới gây sửng sốt cho mọi người” Cuối cùng Trung Tâm Văn Bút đã do Việt Cộng điều hành qua bàn tay Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền”.

Nhà văn Nhật Tiến nhận định trong sự phẫn nộ:

“Xin hỏi ông Viên Linh” bàn tay Thanh Lãng Phạm Việt Tuyền lông lá cỡ nào mà khuynh loát được gần cả 200 hội viên để đến nỗi Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã trở thành công cụ cho Việt Cộng điều hành.

 Tất nhiên ông Viên Linh sẽ nêu bằng cớ là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã can thiệp cho cây bút nằm vùng Vũ Hạnh bị bắt được thả ra. Nhưng nếu chỉ có một chuyện đó thôi mà đã la lên là Văn Bút đã do Việt Cộng điều hành thì thái độ cầm bút đó là hết sức hàm hồ là vu cáo là thiếu sự ngay thẳng khi cầm bút. Sự bịa đặt lớn lối và vô trách nhiệm này đã ngồi xổm lên công luận trong nhiều năm ròng rã kể từ khi linh mục Thanh Lãng lên làm chủ tịch Văn Bút đồng thời sổ toẹt mọi công lao đóng góp cho nền  Văn Hóa Việt Nam của biết bao nhiêu Hội Viên Văn Bút trong thời gian này”

Viên Linh cũng trong bài viết trong Chiêu Niệm Văn Chương kể trên đã buộc tội :

“Ông (tức Linh Mục Thanh Lãng) đã được Hà Nội thu dụng làm việc tiếp ỏ Đại Học Văn Khoa. Và Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “ nhà văn ngụy” trước khi chịu nhục không nổi phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp”

Và nhà văn Nhật Tiến cũng cật vấn:

“ Xin ông Viên Linh cho biết GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các nhà văn Ngụy tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và xin nêu thêm vài tên tuổi nào  của những nhà văn Ngụy  đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS  Phạm Việt Tuyền??” .

Là một người đọc sách, tôi có ý nghĩ thế nào về sự chất vấn của nhà văn Nhật Tiến với nhà thơ Viên Linh?

Tôi chỉ muốn mình là một người học trò khi đọc những trang sách để thu góp cho mình một kiến thức khả dĩ chính xác. Và như thế những câu chất vấn kể trên không phải là của một cá nhân với một cá nhân mà nó đã thành một vấn đề của những người lưu tâm đến văn hóa văn nghệ.

Nhà văn Mai Thảo đã viết “ Nhật Tiến vẫn đứng ở ngoài nắng” Ông  nói về những cơn nắng chói chang dữ dằn đổ lửa “ của dân tôc Việt Nam. Những cái nắng của thế kỷ, bỏng cháy trên vai trần  của hàng triệu con người lầm than trên trái đất, của những con người bị mất quyền làm người, nạn nhân của thế lực tiền bạc và thế lực bạo lực. Những cái nắng nhễ nhại  trên bãi mìn  nơi Phan Nhật Nam  lê gót  tù nhân như đi trên thủy tinh vỡ. Những cái nắng  ngùn ngụt ở  Gia Trung, nơi những Doãn Quốc Sỹ, những Nguyện Sĩ Tế, mệt lả mồ hôi mang vác những thân cây nặng ne trong thân phận của người tù khổ sai.  Và những cái nắng của ngày vượt biên khát đắng và thiêu đốt con người. Hay cái nắng của đảo hoang Ko Kra , nơi những hải tặc hiện hình làm quỷ sứ. Những cơn nắng thiêu cháy con người  , những đỏ lửa hun đốt  cõi đời ,

Với cá tính như vậy, nhà văn Nhật Tiến viết tác phẩm  mới nhất của mình với tâm cảm thẳng thắn của một người tôn trọng sự thật. Với những ngộ nhận ông thẳng thắn đề cập đến không khoan nhương.

Trong chương III, Giải Tỏa  Những Ngộ Nhận về Nhóm Bút Việt , chúng ta  đã tìm được nhiều chi tiết để học hỏi thêm  và hiểu biết về văn học miền Nam nhưng chưa thấu đáo lắm.  Sự việc bắt đầu từ câu trả lời của nhà văn Mặc Đỗ trong bài phỏng vấn của nhà văn Lê Phương Chi. Nhà văn Mặc   Đỗ đã trả lời câu hỏi:“ anh nghĩ thế nào về nhóm Bút Việt? Nếu chúng tôi mời anh gia nhập nhóm Bút Việt có trở ngại gì cho cho cá nhân nhà văn Mặc Đỗ với nhóm Quan Điểm chăng? Bằng câu trả lời:

“câu hỏi gay go nhưng tôi xin nói sự thực Cho tới hôm nay tôi chưa hết khó chịu mỗi khi nghe nói tới PEN, tới những hoạt động của hội viên PEN nhân danh nhà văn Việt Nam. Chắc chưa ai quên PEN Việt Nam được hình thành như thế nào để kịp dư hội nghị Đông Kinh. Tôi buồn thấy một số nhà văn chúng ta ít kiêu hãnh quá. Giả thử hồi đó họ biết kiêu hãnh hơn, từ chối không bán rẻ tên tuổi lấy một chuyến đi, văn chương Việt Nam sẽ vinh hạnh hơn. Đừng nói nhận là hy sinh, vì văn chương Việt Nam không cần ai phải hy sinh hết. Mà hy sinh nỗi gì, hồ sơ PEN Đông Kinh còn đó để minh chứng kết quả sự có mặt của PEN Việt Nam. Chẳng qua có một số ít người nhân danh đám đông những người cầm bút Việt Nam để đi du lịch hoặc nếu có thể để quảng cáo tên tuổi cho riêng mình, văn chương và nhà văn Việt có lợi gì?

Từ vụ Đông Kinh đến nay, bao lần có hội viên PEN đi dự hội nghị ở ngoại quốc nhất nhất đều nhân danh các nhà văn Việt Nam nhưng thử hỏi họ đi về có ai biết tới, họ đã nhân danh nhà văn Việt Nam làm được những gì ở hội nghị.

Tôi lấy một ví dụ cụ thể vì gần nhất, là vụ nhà thơ Vũ Hoàng Chương nhân danh nhà văn Việt Nam đi dự hội nghị ở Nam Tư. Vấn đề đặt ra ở hội nghị hay đến như vậy, tất nhiên PEN Việy Nam phải được thông báo từ lâu  lắm, mà có ai được biết để thâu góp ý kiến thực sự của nhà văn Việt Nam. Kịp tới khi đi, hội thầm lặng cử người đi, người đi cũng im lìm ra đi, rồi lặng lẽ trở về, không kèn không trống. Nước chúng ta đang nghèo đói thông tín viên, một cây bút như Vũ Quân mà đi về không được lấy một bài báo- báo cáo đăng nơi công luận cho anh em ở nhà được biết. Tại sao. Vũ Quân không viết? Nếu viết thiếu gì báo đăng. Ít nhất cũng cần tỏ rằng mình có trách nhiệm chứ. Đằng này Vũ Quân kênh kiệu chờ một phóng viên của Tin Sách tới phỏng vấn mới kể lể qua loa vài chuyện vô trách nhiệm. Hội nghị bàn bạc ra sao đại diện các nhà văn Việt Nam can thiệp như thế nào vào cuộc thảo luận, ý kiến phát biểu ra sao phản ứng của hội nghị như thế nào? Chờ  hội nghị  in cuốn sách tổng kết rồi gửi qua và để riêng các ông hội viênPEN Việt Namđọc thì chán quá!

 Do sự có mặt của PEN Việt Nam, thế giới có biết đến văn chương Việt Nam hay không, cứ đọc qua những lời đối thoại của Vũ Quân với mấy phóng viên báo chí tại Bled đủ thấy thiên hạ nhìn chúng ta bằng con mắt tò mò vì chúng ta là của lạ hơn là họ bắt buộc phải biết đến chúng ta vì chúng ta đáng được đếm xỉa tới trên mặt đất này hay vì chúng ta có Nguyễn Du( Tại sao đi đâu cũng đưa mãi Nguyễn Du ra? Đã có những người ngoại quốc khi nói cuyện tới văn học Việt Nam đã phải dặn trước là miễn nói tới Nguyễn Du. Chúng ta tôn thờ Nguyễn Du, điều đó đúng nhưng lhông phải hết thẩy những người ngoại quốc chưa thấu hiểu được những đặc thù của tiếng Việt đều thú Nguyễn Du cả đâu và không phải cần  có Nguyễn Du rồi bây giờ khoanh tay kênh kiệu là đủ cho thế giới biết đến ta)

 Tôi buồn nghĩ đến chuyện đã qua và chuyện bây giò nên không hề nghĩ có dịp nào gia nhập PEN Việt Nam. Tôi tài sức đâu mà thay đổi được tổ chức hiện tại nhưng cứ ngồi đó mà nhìn những tàn tích của sự kém kiêu hãnh của ngòi bút thì càng buồn thêm! Tôi nghĩ rằng đóng góp tác phẩm vào với anh em cùng nghề đã tạm đủ( tuy đôi khi hoàn cảnh riêng khiến cho sự đóng góp không mãn ý)đóng góp bằng cá nhân mình hãy để chờ dịp thuận tiện và cần thiết”

Đọc trong  trang 88,  thấy:

“Để minh xác trước lời phê phán của nhà văn Mặc Đỗ” :

Từ vụ Đông Kinh tới nay, bao lần có hội viên PEN đi dự hội nghị ở ngoại quốc nhất nhất đều nhân danh các nhà văn Việt Nam nhưng thử hỏi họ đi về có ai biết tới, họ đã nhân danh nhà văn Việt Nam làm được những gì ở hội nghị xin phổ biến lại bài tường thuật của ký giả Lê Phương Chi “ Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế  lần thứ 33 tại Bled với Thi sĩ Vũ Hoàng Chương  Đại Biểu Trung Tâm Văn Bút Việt Nam”. nội dung của bài viết này đã phác họa lại một sinh hoạt văn học quốc tế mà nhà thơ Vũ Hoàng Chương đại diện cho các nhà văn Việt Nam đã được chú ý và  có nhiều cuộc phỏng vấn có ảnh hưởng khá rộng trên trường quốc tế. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã nói về sinh hoạt của Văn Bút Việt Nam trong thời điểm ấy, cũng như  những công trình dịch thuật từ Việt ngữ sang các ngôn ngữ thông dụng trên thế giới như Anh  hay Pháp ngữ. Ông cũng nhắc đến những bản dịch từ Nguyễn Du, Nhất Linh, sang Anh ngữ. Và Pháp ngữ cũng như đã dịch sang Việt ngữ các tác phẩm văn học Tây phương  như thơ của Lamartine, truyện của  Balzac, kịch của Shakespeare, Corneille, và văn xuôi của Ernest Hemingway, Williams Faulkner, Albert Camus. Vì Việt ngữ có vị trí khiêm tốn trên thế giới nên dù có nhiều văn tài nhưng khó có cơ hội để nổi danh như các nhà văn viết bằng các ngôn ngữ thông dụng trên thế giới.

Như vậy lúc trở về thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã có tường trình về hội nghị  và được phổ biến trên các phương tiện của Việt Tấn Xã, Đài Phát Thanh Sài gòn và nhiều nhật báo, tạp chí đã phổ biến rộng rãi. Và nhà văn Nhật Tiến  cho biết mỗi khi nhận được thư mời tham dự hội nghị quốc tấ Văn Bút, Ban Thường Vụ đều thông báo cho các hội viên và mở cuộc hội luận tại ngay trụ sở về đề tài của Văn bút Quốc Tế đưa ra cho năm đó. Một điểm tế nhị là nhà văn Mặc Đỗ không phải là hội viên nên dĩ nhiên Ban Thường Vụ không có bổn phận phải tường trình với ông mỗi khi cử người đi tham dự bất cứ Hội nghị Quốc tế cần xuất cảnh nào.  Và đi  tham dự hội nghị Vn Bút Quốc tế thì xưng danh Phái Đoàn Việt Nam là chính danh và sự kiện” chẳng qua một số ít người nhân danh đám đông những người cầm bút Việt Nam để đi du lịch , hoặc nếu có thể, để quảng cáo tên tuổi cho riêng mình, văn chương và nhà văn Việt nam có lợi gì?” không hiểu nhà văn Mặc Đỗ có biết  chính xác những trường hợp ấy không hay chỉ là võ đoán mà thôi.

Trong khi nhà thơ Viên Linh  đã viết không nương tay để hạ gục một cựu Tổng Thư Ký Văn Bút trước năm 1975  thì một  người khác, nhà thơ Du Tử Lê lại khen không tiếc lời đến nỗi xóa bỏ mọi công lao của những người khác cùng có trách nhiệm  điều hành chung. Trong bài viết “Phạm Việt Tuyền, người chọn vắng mặt” đăng trên nhật báo Người Việt có nhiều điều cần phải làm sáng tỏ và để mọi người hiểu rõ về  một sinh hoạt kéo dài suốt hai mươi năm văn học miền Nam.

Nhà văn Nhật Tiến trong đoạn văn : “Trung Tâm Văn Bút Việt Nam  Những Điều Cần Nói Rõ”  đã có những nhận định khá chính xác về sự kiện trên. Khi nhà thơ Du Tử Lê cho rằng không có sự tận tụy kiên nhẫn quên mình của  Phạm Việt Tuyền thì sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời đó không có gì đáng nói thì ông đã “xổ toẹt” tất cả công sức của những vị đã đóng góp bền bỉ tích cực của các tên tuổi Lẫy  lừng như Vũ Hoàng Chương, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ Đình Chí,Đông Hồ Lâm Tấn Phác,  Vi Huyền Đắc , Linh mục Thanh Lãng, Đỗ Đức Thu, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hồ Hữu Tường , Nghiêm Xuân Việt…

Trong bài viết, nhà thơ Du Tử Lê nhớ lại :

”Giữa thập niên 1960 để tạo sinh hoạt đều đặn cho hội, họ Phạm đưa ra sáng kiến mỗi tháng mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn học hay nghệ thuật do hội viên đó tự chọn. Nơi chốn ( luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Am Nhạc ở đường Nguyễn Du) cùng những nhu cầu khác như người phụ diễn, trợ huấn cụ, quảng bá tin tức, mời khách tham dự… đều do đích thân ông liên lạc, cung ứng. Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà không phải đưa ông duyệt trước…”

Nhà văn Nhật Tiến đã nêu ra những điểm không chính xác của đoạn văn này. Với tư cách một người sinh hoạt lâu năm trong TTVB VN, Ông khẳng định việc mỗi tháng mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn chương không phải là sáng kiến riêng của ông TTK Phạm Việt Tuyền mà là kết quả của sự bàn soạn cặn kẽ của Ban Thường Vụ. Cũng như việc điều hành tổ chức cũng phải có nhiều người tham gia và  ông TTK không thể nào  “đích thân “ lo toan đến cả những công việc đa đoan như nhu cầu người phụ diễn, trọ huấn cụ, quảng bá tin tức… còn địa điểm tổ chức những buổi thuyết trình văn học không phải luôn luôn là thính đường của  trường Quốc Gia Am Nhạc mà nhiều khi phải di chuyển đi các nơi khác thí dụ như hội trường của Đại học Văn Khoa chẳng hạn.  Còn sự kiện  diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà không phải đưa duyệt trước không phải là sự dễ dãi xuề xòa của ông Phạm Việt Tuyền mà là chủ trương tôn trọng tự do của người cầm bút theo Hiến chương Văn bút Quốc tế.

Năm 1965, nhà thơ Du Tử Lê được TTVB VN mời nói chuyện. Ông kể trong bài viết: “Trước khi nhận lời tôi hỏi ông, tại sao, một người tên tuổi uy tín như ông lại không phải là một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch? Ông đáp” thì các anh các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác lúc đó tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì…” Tôi hiểu ông trung thành với chủ trương “tránh mang tiếng”

Theo nhà văn Nhật Tiến thì nhà văn Phạm Việt Tuyền đã có hai buổi nói chuyện vào năm 1962 và 1963 thì vào năm 1965 nhà thơ Du Tử Lê mới tham dự tức là sự việc đã thành thông lệ rồi thì việc nhường nhịn trước sau có đặt thành vấn đề hay không? Vậy thì làm gì có chuyện Phạm Việt Tuyền trả lời Du Tử Lê :

” thì các anh các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác lúc đó tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì… Tôi hiểu ông trung thành với chủ trương “ tránh mang tiếng.”

Và nhà văn Nhật Tiến kết luận:

“Ô hay! Là Tổng Thư Ký của một Hội đứng ra tổ chức các buổi nói chuyện hnag tháng tha thiết mời người khác nói trong khi chính mình thì cũng đã nói tới hai buổi rồi thì tại sao lại có chuyện “ Tránh mang tiếng”

Hay là ông muốn nói rằng ông Tổng Thư ký tránh mang tiếng là tranh giành chỗ nói của người khác.. nhưng đó chỉ là sự suy diễn, chứ ý của Du Tử Lê trong bài biết thì đã quá rõ ràng. Vả lại chẳng bao giờ làm chuyện công vụ cho văn bút mà ông Phạm Việt Tuyền lại sợ mang tiếng”

Đọc chương sách cuối bài viết “Ngày cuối ở trụ sở Trung Tâm Văn Bút” sao tôi cảm thấy bùi ngùi quá. Có phải đó là một kỷ niệm buồn của nhà văn Nhật Tiến mà còn làm cho chúng ta  nhớ lại những ngày tháng tư năm 1975 ấy. Cho dù lúc ấy  có người còn con nít .Đối  với một đứa  trẻ chưa trưởng thành  mà sự hãi hùng vẫn còn mấy chục năm sau thì nỗi đau ấy với mọi người thì còn sâu đậm đến bực nào? Nhà văn Nguyễn Đức Sơn cũng có mặt ở Trung Tâm Văn Bút  lúc ấy và cũng chia sẻ với mọi người nỗi bùi ngùi của một người mất nước. Và trong cái  tính khí bất thường của mình…

Khi đọc đến những dòng chữ cuối của cuốn sách tôi thấy mình đã thêm một chút cẩn trọng khi cầm bút. Chữ nghĩa không phải là nói chơi, phải hiểu sự quan trọng khi phát biểu một vấn đề gì.

Từ những điều mà nhà văn Nhật Tiến đề cập đến, tôi hiểu rằng với sự thẳng thắn khi bầy tỏ, ông muốn  thế hệ sau hiểu biết rõ ràng hơn và minh bạch hơn về những sinh hoạt văn chương của một thời đại đầy biến động và vì nhiều lý do tạo ra vì chiến tranh nên cái nhìn để nhận định và quan sát không được trung thực. Những thế hệ  sinh trưởng  sau từ năm  1975 ở hải ngoại và cả ở trong nước làm sao hiểu biết được  sự thực nếu không đọc hoặc tìm hiểu một cách cặn kẽ thì làm sao biết được  cuộc sống của thế hệ cha anh với những trầm bổng thế sự  và những hệ lụy lịch sử dân tộc. Nói chuyện văn chương trung thực, có phải lúc nào cũng cần thiết?

Nguyễn Mạnh Trinh.    

 

 

Ca Dao Chiều. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca sĩ Quốc Duy, Hòa âm Đỗ Hải.


ca-dao-chieu

Ngày giỗ đầu Nhật Tuấn, đọc lại vài trang sách…Tạp ghi văn nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.

chan-dung-va-tac-pham-cua-nha-van-nhat-tuan

(Chân dung và tác phẩm của Nhà Văn Nhật Tuấn)

Ngày 6 tháng 10 năm nay là giỗ đầu của nhà văn Nhật Tuấn. Thời gian qua thật mau nhưng những tác phẩm  để lại dương gian của ông  vẫn còn hiện hữu, Đọc lại những trang sách để thấy và tìm đuọc  chân dung của một nhà văn có nhiều đóng góp cho văn chương Việt Nam.

Nhà văn Nhật Tuấn họ Bùi, sinh ở Hà Nội và sự nghiệp văn học của ông nổi bật với thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong nhiều năm sau này, khi là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông ở hải ngoại, ông lại là một nhà báo xuất sắc, nhạy bén với mọi sự kiện xã hội, chính trị ở trong nước và phô bầy những sự kiện hai mặt cho độc giả hải ngoại.

Đã có một nhận xét khá xác đáng: ”Nhà văn Nhật Tuấn thuộc nhóm trí thức đi từ Bắc vào Nam. đi từ nhận thức bị “ định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” đến sự thức tỉnh, rồi bất mãn và lên tiếng phẫn nộ, châm biếm, đả kích chế độ Cộng sản và nhà cầm quyền. Ở cả sáng tác văn học và báo chí của ông, chúng ta đều thấy tính phóng khoáng của người từng trải, Phải sống giữa “ thời đồ đểu”( chữ của ông); thấy cả giọng bất mãn của một người có lòng biết yêu thương con người; và thấy cả sự tức giận của một con người có chí khí, thẳng tay tố cáo những cái xấu đang diễn ra trong nước”

Tác phẩm của nhà văn Nhật Tuấn thì có “Đi Về Nơi Hoang Dã” là một tiểu thuyết nổi tiếng  được in ở trong nước nhưng lại bị tịch thu. Khi xuất bản ở hải ngoại và được độc giả đón nhận rất trân trọng nồng nhiệt. Ngoài  ra còn có hơn 20 tác phẩm trong đó có: Trang 17, Con Chim Biết Chọn Hạt, Bận Rộn, Mô Hình và Thực Thể Lửa Lạnh, Biển Bờ, Tín Hiệu của Con Người, Niềm Vui Trần Thế, Những Mảnh Tình Đã Vỡ, Tặng Phẩm Cho Em, Một Cái Chết Thong Thả,… Ông còn viết trên “ Thời 2 Đ. Blog” với những bài viết sâu sắc, của một tâm hồn tuy phóng khoáng nhưng vẫn tôn trọng sự thực và những giá trị đạo đức căn bản của con người.

Tác phẩm đầu tay của nhà văn Nhật Tuấn  có tên là “ Trang 17” in năm 1978 đoạt Giải Nhất Văn học  của Tổng Công Đoàn Việt Nam. Nhưng tác phẩm xuất sắc và nổi tiếng nhất là Đi Về Nơi Hoang Dã in năm 1988 nhưng bị nhà nước Cộng sản cấm ngay sau khi phát hành nhưng lại được in  và phổ biến  được đón nhận rất nồng nhiệt ở hải ngoại..

Nhan đề của tác phẩm này, Đi về Nơi Hoang Dã, hình như mang theo một ý nghĩa liên tưởng tới” Đi về Nơi Thiên Đường” mà thiên đường chínhlà nơi hoang dã, nơi của hoang tưởng không có dấu chân người. Thiên đường chỉ có trong không thực mà cuộc hành trình đi tìm kiếm đỉnh núi Hua Ca, một nơi chốn đã được tưởng tượng từ những gì tốt đẹp hạnh phúc nhất. Có người khi đề cập đến văn chương ám chỉ, đã cho rằng thiên đường ở đỉnh núi Hua Ca  chính là thiên đường Cộng sản, cũa những ý nghĩ hoang tưởng, của những nhân vật bị mê đắm vì những dụ dỗ mơ hồ…và đó chính là thâm ý và thông điệp gửi theo tác phẩm.

Nhân vật chính trong ĐI về Nơi Hoang Dã đã dược xuất hiện như thế nào và đã đóng vai trò gì trong cuộc hành trình đi tìm kiếm thiên đường?

Trong lời mở đầu Đi Về Nơi Hoang Dã, tác gỉả viết : ”Năm con người bị đẩy vào miền hoang dã với nhiệm vụ chính trị cao nhất là tìm một con đường trên núi cao được vạch sẵn do Ban chỉ huy nằm dưới đồng bằng và truyền lệnh hàng ngày qua cái máy vô tuyến điện. Cho du ngay trên đường đi vấp phải vách đá dài dằng dặc, con đường trên núi ngày càng tỏ ra được thiết kế sai toét tòe loe, nhưng mọi người vẫn phải tuyệt đối tin tưởng ở cấp trân, thực địa có thể khác với bản thiết kế con đường nhưng Ban chỉ huy không bao giờ sai… vậy nhưng rồi tới  cái ngày ngay ông toán trưởng là người lãnh đạo cái đoàn người đi trên núi này rồi cũng đã trắng mắt, cay đắng nhận ra rằng Ban chỉ huy đã sai trong chỉ đường vạch lối, vậy nhưng ông vẫn phải nhắm mắt tuân  theo mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp hành, nhiệm vụ chính trị cao nhất của chúng ta  trong lúc này là đi tới, đi tới… Nhưng mà đi tới… đâu, đi tới cái đỉnh Hua Ca chỉ có trong tưởng tượng bằng bất cứ giá nào. Vậy là đã thành một chân lý Ban chỉ huy không bao giờ sai, đừng có tranh cãi , triết luận hội thảo hội thiếc gì với cấp trên hết, nếu không sẽ thành thằng phản động. Anh dám nói cấp trên là mù quáng hả? Anh quên mất phải tin tưởng tuyệt đối ở ban chỉ huy hả? Anh đứng trên lập trường giai cấp nào mà phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật vậy? Một khi vấn đề đã được đặt ra theo kiểu vậy thì thua rồi, cho dù có tuyên ngôn hội thảo hiến chương kết nối gì cũng vô ích. Cả 5 người đi trong đoàn người thôi không còn tranh cãi, không còn dùng ngôn từ để nghị luận voiứ cấp trên nữa, họ im lặng, im lặng nhưng lhông buông xuôi, họ triết luận với các lý thuyết gia của con đường, với ban chỉ huy bằng chính cuộc đời thê thiết của họ”

Nhà Văn Nhật Tuấn đã viết về nhân vật của Đi Về Nơi Hoang Dã : ”Chúng tôi có 5 người, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà , đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng”

Tại sao  có 5 nhân vật? Nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy, một người bạn thiết của nhà văn Nhật Tuấn đã giải nghĩa. Tác giả đã tung ngũ hành vào hành trình đi tìm kiếm thiên đường. 5 nhân vật tượng trưng cho ngũ hành. Ông già, là người trưởng toán, là nhân vật trung tâm thuộc thổ. Nhân vật thằng Học Giả, tượng trưng cho trí, thuộc thủy. Nhân vật thằng Hộ Pháp, tượng trưng cho lễ( thành  tích, cơ bắp) thuộc  hỏa. Nhân vật thằng Cấp Dưỡng, tượng trưng cho nghĩa, thuộc kim. Và nhân vật xưng Tôi, thuộc hành mộc.  Ngũ hành cũng là 5 giai cấp chính trong xã hôi: công, nông, binh, trí, thương. Những nhân vật ấy, trong một hành trình tìm kiếm, có lúc tương sinh có lúc tương khắc nhưng vẫn bị  một vòng ràng buộc bắt buộc phải cùng nhau đi tới một đích đến mà tất cả ngầm hiểu là vô vọng.

Mỗi người mỗi ý,  riêng tôi khi đọc truyện dài này tôi lại nghĩ đến một câu chuyện rất quen thuộc với chúng ta. Đó là chuyện Tam Tạng thỉnh kinh với các đệ tử Tôn Hành Giả, Bát Giái và Sa Tăng. Qua nhiều trở ngại, đấu chiến với những yêu quái cản đường, những nhân vật tượng trưng cho Tham Sân Si ấy đã thỉnh được những trang kinh vô tự. Tuy nhiên, ở Đi Về Nơi Hoang Dã, năm thầy trò đã phải chiến đấu nhiều mặt. Với đói khát  với  thời tiết với trở ngại thiên nhiên cả đoàn còn phải chiến đấu lẫn nhau với cái kỷ luật quái ác ai cũng ghét mà vẫn phải tuân theo.

Có người nói Đi về Nơi Hoang Dã không có bố cục và là một loại truyện không có Chuyện. Nhưng thật ra, là chuyện kể về một toán năm  người theo lệnh của ông già toán trưởng phạt cây mở đường, ăn rau ăn cỏ ăn rắn ăn rết chịu đói khát đến khô mép khô môi, cắn răng chịu đựng gian khổ mà không dám than van, tuy chán chường trong bụng mà vẫn còn cố gắng hô khẩu hiệu tiến lên, để đến một điểm đến là đỉnh Hua Ca tượng trưng cho một thiên đường. Chỉ có một đường tuân lệnh, phải tiến lên không ngã lòng. Kẻ nào nghi ngờ mở miệng bàn ngang không chịu tiến lên, nghi hoặc là một đích đến xa vời thì sẽ bị trừng phạt ghê gớm bị xích xiềng  và kết thúc là  một cái chết nhơ bẩn làm hổ cha xấu mẹ ô danh quê hương cội nguồn.

Không có quyền nghĩ là một con đường không bao giớ đến đích, và nghi ngờ sự hiện hữu của đỉnh Hua Ca, dù đó chỉ là một nơi đầy sương mù và toàn nước đọng  ô nhiễm. Không có quyền nghi ngờ sự sai lầm lạc hướng của một quyền lực tối cao của một Ban Chỉ Huy vô hình nhưng cũng vô tích sự, ngu dốt và ngây thơ vì cái định kiến duy ý chí lạc hậu. Khẩu hiệu là tiến lên hay là chết? Ông già trưởng toán vì sức cùng lực kiệt đã gục  ngã ở ngưỡng cửa của thiên đường và được cả toán chôn cất trang trọng trên đỉnh Hua Ca một nơi mà suốt cả đời ông mong ước được đặt chân đến đó.

Nhà Văn Nhật Tuấn đã viết một câu văn kết của người nói ngọng ”Bốn người chẻ ( trẻ) còn nại ( lại) đều xống xót( sống sót).” Một câu văn nhiều khôi  hài tính, hình như có ẩn tàng chút sám hối của những người bị dẫn dắt vào những con đường sai lầm đến tuyệt lộ. Cả bốn người trẻ còn lại của toán, tuy đã đến đích nhưng sẽ xuống núi để tìm một đường mới.

Đoạn kết, như một thông điệp viết : “Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ.”

Sáng mai xuống núi, có phải là hành động của một quyết định của sửa chữa, một hành động làm lại từ cái sai lầm và khởi nguồn từ một tình thế không còn một cách thế nào khác hơn.  Nhật Tuấn viết: “Trong đêm cuối cùng trên đỉnh Hua Ca, chúng tôi đốt một đống lửa, ngồi quây quần như những ngày trước. Không ai hé răn một lời. Tất cả ngồi thẫn thờ trước ngọn lửa đang bốc cao kéo những tàn đỏ đuổi nhau và mất hút trong bóng đêm. Mọi việc giữa bọn tôi rồi cũng qua đi như thế. Sáng mai sẽ xuồng núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên , không vì thế con người không thực bụng yêu nhau”.

Như vậy  cả toán đã đến được thiên đường như là một thiên đường không có thực mà tác giả gọi là “ nơi hoang dã”. Một nơi chốn tưởng tượng của những bộ óc chỉ huy ngu dốt, của những  ngôn ngữ dẫn đạo sai lầm. Của những định hướng mù lòa nhưng độc đoán tàn bạo của một chế độ không nhân tính…

Tại sao có người trong giới phê bình trong nước cho rằng văn chương của Đi Về Nơi  Hoang Dã là văn chương ám chỉ. Muốn mượn những chuyện hư cấu để nói về chuyện hiện tại của một xã hội đang trên đường chệch hướng?

Tôi đọc trong truyện thấp thoáng thấy cái thiên đường vụn vỡ của giấc mơ thế giới đại đồng của chủ nghĩa Cộng  sản. Một thiên đường quái đản của những bộ óc không bình thường, của những giấc mơ không bao giờ thực hiện được. Một cách liên tưởng, thiên đường của Nhật Tuấn  hiện thực chỉ là những nơi chốn hoang vu dơ bẩn:

“ Tôi ngơ ngác nhìn quanh, nửa tin nửa ngờ, không lẽ tôi đã đi một vòng ngay trên đầu con quạ đấy ư? Vậy còn cái mỏ của nó phun ra dòng nước thần đâu? Chẳng lẽ cái vùng đất huyền diệu nàng Sao kể cho tôi nghe lại tầm thường toàn sulơng mù gai góc và đầy những vũng nước vàng ố  và bẩn thỉu thế kia  ư? Không thể như thế được, cái đỉnh Hua Ca thần thánh ấy chắc không phải nơi tôi đang đứng đây, nó phải ở đâu đó cao tít từng mây kia chứ. Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ. Tôi không thể bắt` chước thằng Học  Giả , không thà mang thứ nước vàng  đục kia và gọi nó là nước thần về cho nàng Sao. Tôi bước nhanh ra khỏi vũng lầy đầy những bọ gậy và lá mục…”

Kết cuộc  của Đi Về Nơi Hoang Dã  có khi nào chỉ có giá trị trong hư cấu trong lý thuyết  mà thôi?

Cũng Nhật Tuấn đã viết: “Cái kết cuộc của Đi về Nơi Hoang Dã không chỉ cho ta cái kết cục tất yếu ảo tưởng về một con đường đi tới được đĩnh Hua Ca. Hơn thế nữa cái đỉnh Hua Ca kia chỉ có trong huyền thoại và một khi huyền thoại không còn nữa thì tình yêu thương giữa con người với con người sẽ thay thế cái đẹp mà cứu chuộc thế gian này. Sự tồn tại và trưởng thành của dân tộc ta qua biết bao thăng trầm của lịch sử biết bao bão táp của chiến tranh và cách mạng phải chăng đã minh chứng điều đó. Và với thông điệp như vậy hẳn là Đi Về Nơi Hoang Dã sẽ còn được các thế hệ mai sau đón đọc.”

Ngày giỗ đầu của nhà văn Nhật Tuấn, có người đã nhắc đến những bài viết gây sóng gió một thời trong giới văn chương trong nước. Tác phẩm Chân Dung Nhà Văn của nhà thơ Xuân Sách đã gây ra nhiều phản ứng trong giới cầm bút và đụng cham rất nhiều đến những cây đa cây đề trong giới cầm chịch văn học trong nước. Nhà văn Nhật Tuấn đi xa hơn một bước và đã mượn lời thơ của Xuân Sách để khai triển một cái nhìn  xa hơn về thực trạng văn học Việt Nam ở trong nước. Với bản tính thẳng thắn nên những bài viết của ông cũng gây nhiều ảnh hưởng trong suy nghĩ và đời sống . Chân Dung Nhà Văn là một tác phẩm văn học đã gây ra nhiều dư luận không những trong giới cầm bút mà còn trở thành những giai thoại trong dân gian. Trong một xã hội bị bưng bít nghẹt thở về mọi mặt của chế độ xã hội chủ nghĩa, những chân dung nhà văn tượng trưng cho giai cấp kẻ sĩ được nhìn ngắm từ đời thường và tác phẩm đã lột tả được một thế thời điên đảo của một đất nước bị xiết chặt và kiểm soát của một hệ thống thư lại nhiều chất đàn áp con người đến mức vô cảm.

“ Chân Dung Nhà Văn” của nhà thơ Xuân Sách viết về 100 khuôn mặt văn chương của  văn học trong nước trước 1975 và hiện đại trong nước sau này với sự khắc họa từ tác phẩm và chính cuộc đời họ nhưng không nêu tên tác giả. Nhà văn Nhật Tuấn đã từ những phác họa bằng thơ của Xuân Sách để thành những bài viết nêu đích danh và  tiết lộ thêm những chi tiết khá thú vị về những khuôn mặt văn chương ấy?

Nhà văn Xuân Sách (1932-2008)  có một thời làm biên tập viên tạp chí  Văn Nghệ Quân Đội, có lúc làm Phó Giám đốc nhà xuất bản Hà Nội và sau cùng là Chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Xuân Sách đạt thành  tựu trong cả văn xuôi và thơ trữ tình nhưng nổi tiếng nhất với tập thơ Chân Dung Nhà Văn. Đây là 99 ký họa nhà văn  và cùng một bài tự họa của chính ông, đã lột tả thần thái của nhiều trong số những tác giả quan trọng của nền văn học Việt Nam trước 1975 ở miền Bắc và  sau 1975 ở trong nước. In xong thì cả nhà xuất bản và tác giả không ngờ đến dược phản ứng của những người được đề cập đến.Những nhà văn lớn,  có bản lĩnh, họ im lặng chịu đựng Nhưng những nhà văn tầm tầm thì lồng lộn gay gắt đòi Bộ Văn Hóa kiểm điểm tác giả và thu hồi tác phẩm.

Nhà văn Nhật Tuấn đã viết về Chân Dung Nhà Văn mà ông gọi là Chân Tướng Nhà Văn:

“ Chính với “ cảm hứng chủ đạo có phần thất vọng về phẩm chất nhà văn, tuy Xuân Sách  gọi là viết “chân dung” nhưng thực ra ông đã vạch những “ chân tướng nhà văn” vậy…

Đọc Xuân Sách trước tiên ta cảm phục sự dũng cảm của ông Văn học Việt Nam vào những năm” trời đất nổi cơn gió bụi”, những năm thập kỷ 1970 xã hội còn chìm đắm trong nền kinh tế bao cấp, văn hóa văn nghệ bị “ quản lý “ đến nghẹt thở vậy mà Xuân Sách cả gan vạch trần chân tướng của tất cả những văn thi sĩ đang cúc cung tận tụy hiến dâng tài năng và tâm huyết cho…Đảng, cho chủ nghĩa hiện thực xả hội chủ nghĩa. Đầu sổ là nhà thơ Tố Hữu, chủ soái của văn hóa nghệ thuật của Đảng, Xuân Sách vẫn không sợ vẫn xỏ xiên bằng những câu thơ phác họa rất chính xác chân tướng ông quan to nhà thơ này. Với nhà thơ Chế Lan Viên, thi sĩ “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ” Xuân Sách thẳng tay ra đòn không e ngại. Trước 1945, nhà phê bình Hoài Thanh nổi tiếng với cuộc tranh luận ”vị nghệ thuật vị nhân sinh?” từ sau cách mạng chỉ còn là một anh hề đồng “ca ngợi cấp trên” nên Xuân Sách hạ bút rất độc trong Chân Dung Nhà Văn.

Nhà văn Nguyễn Tuân trước cách mạng nổi đình đám với “Vang Bóng Một Thời” nhưng từ sau cách mạng ông tự tước bỏ gai góc xù xì để trở thành một nhà văn chỉ “ ngợi ca chế độ”. Nhà thơ Lưu Trong Lư” con nai vàng “ đã vờ ngơ ngác để leo lên tới chức vụ Vụ Trưởng Vụ Văn Nghệ, Nhà thơ Huy Cận ngày xưa với Lửa Thiêng từ sau khi đi theo cách mạng ông cũng ”nói dối”

Như vậy nhà thơ Xuân Sách đã “sờ gáy “ hầu như tất cả các quan to băn nghệ của văn học xã hôi chủ nghĩa rồi.

Chưa hết,  nhà văn Nhật Tuấn còn kể thêm nữa. Như nhà văn Nguyễn Đình Thi tuy làm  quan cách mạng nhưng vẫn viết “ Con Nai Đen” ngụ ý xỏ xiên. Nhà văn Tô Hoài chỉ được “ con dế mèn” từ thời trước cách mạng sau đó” tàn phai” trong những tác phẩm phục vụ cách mạng. Nhà văn Nguyên Hồng nổi tiếng với “ Bỉ Vỏ”, đi với cách mạng viết khá nhiều tiểu thuyết” đồ sộ” về số trang nhưng chẳng mấy giá trị. Nhà văn Nguyễn Công Hoan ngày xưa với” Kép Tư Bền”, từ sau cách mạngthì …hết lộc trời còn lại chỉ viết truyện lăng nhăng. Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh ngày xưa nổi tiếng làm thơ bí hiểm với câu thơ” nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm”. Than ôi từ ngày đi theo cách mạng ông “làm công tác Hội” hơn là làm thơ. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết mấy cuốn tiểu thuyết dày cộp cũng chỉ rặt một màu đỏ cách mạng. Cứ như vậy, không chừa một ai, từ những cây đại thụ trong rừng văn chương cách mạng cho tới những thế hệ sau, chỉ bằng một khổ thơ ngắn bằng những cái tựa sách, Xuân Sách đã tạc nên bức chân dung chân thực hơn bất cứ một luận đề tâng bốc của mấy anh phê bình văn học “ăn leo nói leo”…

Xuân Sách vẽ “ Chân Tướng Tố Hữu:

“ Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng

mắt trông về tám hướng phía trời xa

chân dép lốp bay vào vũ trụ

lúc trở về ta vẫn là ta!

Từ ấy trong tôi bừng tiếng hát

Trông về Việt Bắc tít mù mây

Nhà càng Lộng Gió thơ càng nhạt

Máu ở chiến trường Hoa ở đây.”

Nhà văn Nhật Tuấn giải mã và chỉ đích danh: nhà thơ Tố Hữu. Mở đầu thập kỷ 1960, thập kỷ của” sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, trống Bắc Lý , cờ Ba Nhất, thập kỷ” hồ hởi phấn khởi” sắn tay xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn miền Bắc, ông trùm thơ cách mạng Tố Hữu khoái trá hạ bút:

“Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng

… Đời trẻ lại. Tất cả đều cách mạng

rũ sạch cô đơn, riêng lẻ bần cùng”

Thi ca của ông này chỉ có mục đích phục vụ cho đường lối chính trị mà ông ta theo đuổi và bắt ép cả giới văn học nghệ thuật tuân theo. Ông làm thơ cổ võ ồn ào minh họa cho các chủ trương đường lối của Đảng, ca ngợi lãnh tụ quá đáng đến nỗi thờ phụng. Nếu xét về nghệ thuật thì chẳng có giá trị gì. Nhạc sĩ  Văn Cao đã nói thẳng vào mặt Tố Hữu đại ý thơ kiểu hò vè ca dao của Tố Hữu thì có giá trị gì mà đọc và chính vì câu nói  này mà bị hành hạ suốt cả đời.

Có nhiều người  đồng tình với thơ “vịnh” Tố Hữu và “ giải mã của  nhà văn Nhật Tuấn?

Thí dụ như nhà văn Lại Nguyên An :

“Thơ Tố Hữu có những vết  nhơ không thể tẩy  xóa, như đoạn thơ” yêu biết mấy nghe con tập nói/Tiếng đầu lòng con gọi “ Stalin”! Ý thơ ấy ngay tầm gần đã trái hẳn lẽ thường nhân loại, trẻ con tập nói thì  gọi “ mẹ chứ đâu đã biết ai xa lạ? Trẻ Việt làm sao tập nói được cái từ đa tiết xịt xoạt như thế kia?( Bài đăng tạp chí Văn Nghệ 1953 là “Tiếng đầu lòng nó gọi Ông Lin”, bản in vào sách Việt Bắc, 1955 sửa thành “Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”). Lại nữa, người đàn bà Việt dân quê làm sao có thể” Thương cha thương mẹ thương chồng/Thương mình thương một thương  Ông(Stalin) thương mười(!?!). Đây quả là một quái tượng trong thơ ca tiếng Việt và thơ ca thế giới, khi nhà thơ( thường được xem la kẻ chỉ biểu dương những gì nhân ái , lương thiện) lại  ngợi ca” công đức” một Bạo Chúa, một Hung Thần, một Độc Tài khét  tiếng, một Đao Phủ Thủ vĩ đại, và để làm cái việc ngợi ca trái lẽ ấy, người làm thơ đã hoàn toàn xé bỏ những giới hạn thông thường của tình cảm nhân loại…”

Nhưng có một nhà văn mà nhiều người gọi là nhà phê bình văn học lại có ý binh vực Tố Hữu.Người đó là nhà văn Đặng Tiến.

Có thể ôngnày  có phản ứng giống như cả một đội ngũ bồi bút trong nước  hiện đang ca tụng say sưa Tố Hữu trong những cuộc hội thảo được liên tiếp tổ chức? Và ông có nghĩ rằng Tố Hữu yêu dân tộc, tranh đấu cho tự do thoát vòng nô lệ lại tôn sùng những tên tội đồ của nhân loại như thế…

Về những câu mà Đặng Tiến cho là “vần vè tuyên truyền qúa khích” thì Lại  Nguyên Ân viết: ”Trên mạng internet bây giờ đôi khi còn thấy người ta cho rằng Tố Hữu là tác giả đoạn thơ khủng khiếp này:

Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt..”

Tôi thấy lạ với đoạn thơ này vì dường như chưa từng gặp nó trong các tập thơ Tố Hữu đã đọc. Vậy nhân đây đề xuất với giới nghiên cứu, nhất là các giáo sư đã từng “ ăn lộc” nhiều ở thơ  Tố Hữu( như Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử..) hãy tìm ra ngọn nguồn đoạn thơ này và thông tin lại cho bạn đọc, nếu nó không phải là thuộc ngòi bút Tố Hữu thì cũng là may cho ông, tuy vẫn thật buồn cho giới làm thơ của chúng ta. Lọt sàng xuống nia, nó vẫn là của một ngòi bút Việt Nam nào đó. Vượt ra ngoài chuyện xác định” tác quyền” cụ thể, đoạn thơ này thông báo rằng còn có cả một dòng thơ quần chúng sắt máu đầy hận thù giai cấp từng được Đảng khơi lên, từng được sáng tác và lưu truyền ra ngoài dân chúng,- đó là văn thơ có cả kịch chèo phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, xuất hiện vào khoảng năm 1951 và tự tắt đi vào khoảng năm 1956. Rất nhiều tên tuổi nhà thơ nhà văn quen thuộc có góp tác phẩm vào mảng thơ văn này kể cả Nguyễn Tuân, kể cả Nguyễn Bính , kể cả Hữu Loan… tất nhiên số đông hơn vẫn là những tác giả quần chúng ít tên tuổi.

Cho đến nay, về cải cách ruộng đất thì ít nhiều đã cónhững công trình, luận án sử học, nhưng mảng văn thơ cải cách ruộng đất thì vẫn chưa hề co một sưu tập, tuyển tập tác phẩm, cũng chưa có một công trình nghiên cứu, luận án hay luận văn nào đề cập tới. Cố tình hay vô ý của giới nghiên cứu văn học chính ngạch ta đây? Hãy chờ nghe trả lời từ những người đang phụ trách các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội của nhà nước. Nhưng dù sao thì cũng đừng nghĩ rằng hễ giới nghiên cứu làm bộ quên thì mảng văn thơ này sẽ dần dần biến mất; tốt hơn là nên tiếp cận bằng các sưu tập và công trình nghiên cứu, tức là nhắc lại nó như một kinh nghiệm đau xót của một nền văn học từng sa vào những giọng điệu và tinh thần phi nhân đáng hổ thẹn này..”

Nguyễn Mạnh Trinh.

Nụ Ca Dao. Thơ Hư Vô


vuon-xua

(Vườn Xưa. Tranh sơn dầu của Đinh Cường)

Em hiền như nụ ca dao
Nở ra từ đóa hoa cau dậy thì
Đường xa mấy bận em đi?
Cầu cao lắt lẻo đã ghì chân tôi.

Vực sâu đất lở sông bồi
Áo em hai vạt buồn tôi một dòng
Chào nhau quằn ngón tay không
Nắng đan nhánh tóc cho hồng nhan em.

Hoa cau rụng trắng bên thềm
Từ em má đỏ trầu têm môi gầy
Liếp cà tím cả chân ai
Trèo lên cây bưởi dấu gai chưa mòn.

Trên từng vết cắt da non
Vườn xưa hoa trái vẫn còn tầm xuân
Áo em lất phất ngập ngừng
Bay qua chỗ lạ người dưng đứng chờ…

Hư Vô

(Đã được phổ nhạc bởi Nhạc Sĩ Phùng Việt Dũng)

Bài Thơ Về Con Heo Đất. Thơ Hư Vô


bai-tho-ve-con-heo-dat

Xin hãy bỏ tôi vào con heo đất
Là em đang nuôi nấng trái tim mình
Cảm ơn em vì tôi mà luýnh quýnh
Vì tôi, con heo đất có linh hồn.

Tôi viết bài thơ cho em bỏ ống
Bỏ thơ ngây trên trang giấy học trò
Bỏ đam mê vào ngăn tim còn trống
Sẽ thấy tình tôi bỗng nặng bất ngờ.

Bỏ hết vào nhau từng đêm trăn trở
Chỗ không quen đâu đủ ấm hơi người
Thì em cũng có đôi lần mắc cỡ
Trong tay người mà thầm gọi tên tôi.

Bỏ hết hư vô vào con heo đất
Là em còn chút vốn liếng tình nhân
Có bóng trăm năm nằm chung chăn gối
Chờ tôi về đập ống để yêu em!!

Hư Vô

Chút Đời Còn Dư… Thơ Hư Vô


thieu-nu-voi-hoa-hong

(Thiếu Nữ Với Hoa Hồng. Tranh Đinh Cường)

Một ngày thì cũng đã xa
Để tôi được gọi em là cố nhân
Ba mươi năm cũng còn gần
Bước chân hối hả ân cần tìm nhau.

Thời gian lạnh tựa lưỡi dao
Phóng vào quá khứ vết đau ngọt ngào
Chắc gì đã có đời sau
Tôi còn lủi thủi bắc cầu em qua.

Nửa đời lãng phí tiêu pha
Chỉ là khoảnh khắc bước ra bước vào
Để làm hư mất đời nhau
Phấn son một thuở đã nhầu đáy gương.

Em về giấu sợi tơ vương
Bên người dưng chắc cũng buồn như tôi
Tìm quanh một phía em ngồi
Biết đâu cũng có chút đời còn dư…

Hư Vô

Chờ Nhau Cuối Đường. Thơ Hư Vô


cho-nhau-cuoi-duong

Dậm chân xuống bụi gai trần
Chờ em bật khóc giữa lần tái sinh
Đường đi lắt lẻo gập ghềnh
Biết đời sau có tượng hình hài chung!

Chỗ tôi đã tới đường cùng
Em còn quờ quạng ngập ngừng phía sau
Bước vào chưa tới chiêm bao
Bước ra lận đận lao đao cả đời.

Còn nhau mà đã lẻ loi
Đêm nghe biển khóc gọi người trăm năm
Xanh xao một góc tôi nằm
Ngọn cỏ lau đã âm thầm leo qua.

Bám vào vết xước thịt da
Để tôi còn được thở ra hơi người
Từ trong giọt máu đỏ tươi
Có bóng em lội qua đời nhấp nhô…

Hư Vô

Chải Tóc. Thơ Hư Vô – Nhạc Anh Bằng – Tiếng hát Mạnh Tuấn – PPS Thảo Nguyên Sydney


CXC

Này em, nghiêng thấp đôi vai
Cho anh chải sợi tóc bay ngược dòng
Này em, cúi xuống hư không
Chải luôn sợi nắng cầu vồng trên vai.

Này em, mái tóc xõa dài
Chải trăm năm một hình hài đời sau
Này em, bước tới bể dâu
Chải chung hai nhánh cùng đau một lần.

Tóc em sợi rối lưng trần
Buông theo nước mắt trao thân vào đời
Mất nhau chưa kịp quên hơi
Đáy gương nghiêng dáng chiều phơi lụa nhầu

Buồn ngang vết cắt da đau
Bóng em hóa hạt bụi đào ngây ngô
Này em, ôm sát hư vô
Chải vào hoang phế hương bồ kết xưa…

Hư Vô

chai-toc

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2016, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. ****** Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: