Quán Thơ Hư Vô 346


LỜI TỎ TÌNH THÁNG SÁU

Tháng sáu mưa buông dài ngọn tóc
Theo bóng em gầy vai áo xưa
Của thuở hồn nhiên như lá biếc
Rụng đầy trên mỗi bước tương tư.

Mà cả đời tôi còn cất giữ
Nụ môi non ấp ủ hơi người
Cho áo em còn mùi hoa sữa
Giấu vào cùng tận giấc thơ tôi!

Rồi sẽ có lần em chợt hiểu
Mỗi hạt mưa cũng có linh hồn
Chạm vào nhan sắc em êm ả
Lời tỏ tình từ những vô ngôn.

Mà tôi còn nợ em một thuở
Ngập ngừng để lỡ dở đời nhau
Mưa tháng sáu đã mù dấu cỏ
Đường trăm năm đâu có lối vào…

Hư Vô

DẤU CHIM THÁNG SÁU

Tháng sáu em đi hoa phượng nở
Cánh hoa tàn rụng kín hồn tôi
Đời mấy nẻo đường chim cách trở
Em cũng là một dấu chim thôi

Tháng sáu nắng tràn qua cửa sổ
Em không về để kéo rèm che
Tay ngậm ngùi nhặt từng hoa đỏ
Phố rộn ràng sao chẳng tiếng ve…

Loan Nguyễn

XIN CHÀO HẠT BỤI

sớm muộn gì hạt bụi
cũng lăn trên phận người
có nhiều lần tôi hỏi
bao giờ đến lượt tôi?

mệt nhoài chưa thân phận
đời rồi như bóng mây
sông chia buồn mấy nhánh
trôi giạt nốt hình hài

có một đêm nằm mộng
tôi thấy là lá khô
phiến sầu trôi rất mỏng
chôn vùi ngày hư vô

nhang trầm bay cuối gió
nhắc tôi đời trầm luân
nhịp buồn khua chân gõ
chiều đổ bóng muôn trùng

sớm muộn gì cũng đến
hạt bụi buồn chao nghiêng
đêm khẽ khàng đưa tiễn
một phận người mong manh

trong tận cùng trí nhớ
tôi xóa mờ bóng tôi
nghe đời mình vụn vỡ
như bụi vừa chìm trôi…

nguyễn minh phúc

NỖI NIỀM MƯA THÁNG SÁU

Giọt tủi vương đầy trên mái tóc
Nghe lòng nặng trĩu bóng hình xưa
Sầu tư đẫm ướt làn mi ngọc
Ảo ảnh phai mờ giữa gió mưa.
.
Tiếng hẹn lời thương còn cất giữ
Bờ môi dịu ngọt thuở ban đầu
Vòng tay xóa dịu bao niềm nhớ
Nguyện ước hôm này tựa bóng câu.
.
Một thoáng xa người ta mới hiểu
Rằng mưa thật sự có linh hồn
Âm thầm xóa hết miền kỷ niệm
Cho tình khuất lấp buổi hoàng hôn.
.
Tháng sáu mùa xa lòng vương nợ
Mưa về khắc khoải những thanh âm
Niềm tin tựa đóa phù dung nở
Lạc lối tình ơi đoản khúc trầm.

Diệp Ly

TIỄN THƠ

Một ngọn cờ thơ treo rũ
Một vầng mây trắng ngừng bay
Bao nhiêu lòng buồn cho đủ
Mơ màng quê quán ôm thây

Biển đời lao xao tham vọng
Sầu người bặt tiếng im hơi
Câu thơ hờn căm dậy sóng
Đẩy hồn lên chới với chơi

Vắt mình trăm năm quặn thắt
Vùi mình xơ xác cô đơn
Cặm cụi từ không đến có
Hắt hiu bồng có ngược dòng

Bứt chuỗi luân hồi đếm hạt
Kết hạt bụi mơ tương phùng
Khóc đời chưa khô nước mắt
Đời xô nước mắt vào tròng

Chướng tai rợ người vô đạo
Đắng lòng giọt lệ vàng da
Chạnh lòng trấu đun hạt gạo
Tan đàn xẻ nghé trôi xa

Đường trần lao xao chỉ rối
Về đâu, đâu cũng ta bà
Sóng bạc đầu thơ ngưng vỗ
Sông hồ dậy tiếng yêu ma!

Lưu Xông Pha

THƠ GỬI SÀI GÒN

ở Sài Gòn như sắp hết mùa mưa
và em cũng như không còn biết khóc
đã lâu lắm, tôi quên lời dỗ ngọt
đò Thủ Thiêm đứng đợi biết bao chiều

tôi không về nghe kịp tiếng ve kêu
và không chắc con đường nào phượng đỏ
nhiều thứ lắm cho lòng tôi rất nhớ
nên cũng buồn khi biết thứ mình quên

ở Sài Gòn ai hất hủi em không?
bè bạn cũ đã lâu rồi chưa gặp
chiều bữa ấy hẹn hò thương xá Tax
còn trong tôi đôi mắt ngó theo, và…

tôi không về kịp tiễn bước em xa
nên có thể mưa Sài Gòn đã tạnh
đâu cần nữa những than dài thở vắn
khi đôi đời không tránh nổi hư hao…

Hoàng Lộc

ĐOAN NGỌ, NHỚ VỀ…

Nắm lá, Mẹ dắt con đi hái
bên bìa rừng giờ ngọ tháng năm.
Sao khử thổ, sắc ba chén/ tám phân
uống, tiêu trừ bá bệnh.
Và Mẹ dặn đúng vào giờ ngọ
ngước mặt ngó trời nổ đom đóm
mắt không bị nhậm suốt năm…
***
Ba mươi năm sau giờ ngọ tháng năm
nổi trôi con đầu đường cuối chợ
con vẫn nhớ quê nhà. Đoan ngọ
chắc Mẹ lo con có bị nhậm mắt không(?)

Vườn sau nhà năm ấy tốt rau răm
Mẹ nhắc mãi thằng con ưa gà bóp gỏi.
Vườn kê đã chín rồi. Không hái
để dành con về Đoan ngọ tháng năm.

Sào ruộng cạn cười khoe nhánh nếp
nỗi hân hoan tiếp bãi dâng đồng.
Dĩa xôi thơm mỹ vị sánh không bằng
đừng nói chi bánh mì thịt nguội.

Con hư hỏng một đời không gượng nổi
một lần về Đoan ngọ bên quê.
Khi Mẹ trở trời gió máy nhiêu khê
con đành đoạn nuốt ngược dòng nước mắt.

Cứ hẹn lần hẹn lữa thăm quê
vẫn nhớ điên lòng nắm lá sao khử thổ.
Ngặt, xứ người nắng mưa lỗ chỗ
là thoi, con quay tít mấy trăm bề!…

Đức Phổ

CẠN NGUỒN

Hình như thơ đã cạn nguồn
Thôi thì chắp cánh cho buồn bay xa
Hãy quên đi chuyện ngày qua
Trăng xưa đã vỡ, xót xa lòng mình

Tìm về trong cõi lặng thinh
Ngồi nghe lá rụng giữa thinh không chiều
Trở mùa gió cũng hắt hiu
Lối thu ngày cũ chắc nhiều rêu phong

Nhớ làm chi, một dòng sông
Trôi về xa thẳm mênh mông đất trời
Kỷ niệm ơi! Khép bên đời
Vô thường rồi cũng kiếp người hư không …

BT Áo Tím

ÔM HOÀI CHƯA HẾT MỘT CƠN MƠ

Nắng cũng vàng ươm từ buổi ấy
Mưa cũng vàng hương áo lụa mềm
Em qua lối biếc hay vườn thắm
Để dấu chân tình vương cỏ thơm

Thơ tôi tóc rối bời cơn mộng
Sóng vàng ôi mắt sóng vàng thu
Vòng tay run rẫy chùng trong gió
Ôm hoài chưa hết một cơn mơ

Em qua sớm gió hay chiều sương
Tôi trải thơ lên lối cỏ hồng
Nhẹ quá lên hồn tôi rất nhẹ
Cho từng bước nhẹ cũng thơm hương

Ôi tóc trầm hương môi nguyệt nồng
Hương người hay hương nhụy hoàng lan
Xin tình ôm hết vòng thu biếc
Cho đóa thơ tôi cũng nở vàng.

Lê Văn Trung

Chuyến Xe Bus Và Khúc Hát Người Lính Mù. Tuỳ bút Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh

Sài gòn, năm 1980. Lúc đó, cuộc “cách” cái “mạng” ngày 30 tháng tư đã năm năm. Nhưng xem ra không khí chiến tranh vẫn còn bao phủ. Đời sống càng ngày càng đi vào bế tắc. Hè đường đầy những người đi kinh tề mới trở về hoặc vượt biên mất nhà sinh sống. Họ trở thành những người không nhà không hộ khẩu sống lây lất trong một thành phố đầy đe dọa. Những trại giam đầy áp người tù, tù chính trị và tù hình sự. Đêm đêm là thời gian của kiểm tra hộ khẩu, của bắt người, của đe dọa chập chờn ngoài cánh cửa. Với người dân thường còn như vậy. Huống chi những người tù bị gọi là “cải tạo” trở về. Đời sống lại càng bị đe dọa hơn biết bao nhiều. Tôi cũng bị ảnh hưởng trong thời thế ấy. Sống bất hợp pháp trong nhà của mình và trong đầu óc lúc nào cũng chờ đợi một chuyến vượt biển ra đi. Cột đèn mà cũng muốn xuất ngoại, huống chi…

Lúc ấy, phương tiện giao thông đi lại hầu như chỉ có xe buýt ở trong thành phố và xe đò đi xa ngoài thành phố. Ở bến xe, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Như ở Xa Cảng Miền Tây lúc nào cũng đầy người mà số đông là những người chờ đợi một chuyến xe. Có người phải ngủ đêm chầu chực nhiều ngày. Nhưng nếu có tiền mua vé chợ đen, thì được đi ngay. Bao nhiêu con buôn đi hàng ngày mà còn chở theo hàng hóa cồng kềnh mà đâu có chờ đợi gì đâu. Còn xe buýt, thì là chỗ hỗn tạp. Đi xe luôn phải coi chừng, ăn cắp móc túi như ranh. Chỉ một loáng thôi, dù đã giữ gìn nhưng bị mất mát ngay một cách nhãn tiền. Thời mạt pháp, ai có thân thì giữ…

Trên một chuyến xe, có hai người lính cũ, một mù một què, dắt díu nhau đi hát để kiếm miếng ăn độ nhật. Người què thì dẫn đường cho người mù không có mắt để đi lần theo từng hàng ghế. Họ mặc bộ quần áo trận đã rách te tua bạc phếch nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó hình ảnh của người lính thời xưa. Trên tay người lính mù là chiếc đàn mandoline cũ kỹ và anh hát những bản nhạc lính của cuộc chiến ngày cũ đã tàn nhưng còn nhiều hậu quả nhức nhối. Những bản nhạc đã vinh danh những anh hùng như “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” hoặc “Người Ở Lại Charlie”. Khi hát tôi thấy dường như trong đôi mắt đen đục của người lính mù có chút nước mắt. Đi lần qua những hàng ghế, cũng có những người cho tiền, mặc dù họ không phải là những người khá giả trong xã hội này. Và nếu có một vài chú bộ đội phê bình nào là nhạc phản động, nào là nhạc vàng bị cấm thì họ lại bào chữa bảo vệ “Người ta tàn tật đi kiếm ăn mà còn làm khó!”…

Trong không khí đe dọa, họ vẫn cất tiếng hát. Hình như, họ đang chiến đấu với tiếng hát của mình. Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu… Hay : Anh không chết đâu anh người anh hùng mũ đỏ tên Đương… Hay Anh Quốc ơi từ nay trong gió ra khơi từ nay trên cánh mây trôi có hồn anh trong cõi lòng tôi. Ơi những tiếng hát nhắc lại một thời binh lửa mà những người bây giờ đang hát đã hiến dâng cho đất nước những phần thân thể của mình. Tự nhiên, tôi cảm thấy mình xúc động quá. Những người lính thời trước chịu bao nhiêu điều thua thiệt mà bây giờ vẫn còn cất tiếng hát bất chấp đe dọa bất chấp công an để vẳng lên tâm sự của mình. Và qua từng chuyến xe này qua chuyến xe khác, họ vẫn hát dù có khi bị bò vàng bắt hoặc đánh chửi. Những lời hát vẫn cất lên, mặc kệ bạo lực mặc kệ ngục tù.

Có một bài thơ, đã được viết từ cảm xúc đó. Bài thơ “Chuyến Xe Bus và Khúc Hát Người Lính Mù”

Trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi

Ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng

Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến

Người trở về từ cuộc chiến lãng quên

Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác

Đắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời

Người thua trận phần thịt xương bỏ lại

Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời

Chuyến xe vang lời ca nào năm cũ

Nhắc chặng đường binh lửa lúc xa xưa

Khói mịt mù đường chiến tranh bụi phủ

Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa

Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc

Thưở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay

Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược

Dấu giầy buồn còn vết giữa sình lầy

Ôi tiếng hát nhớ những người gục ngã

Ngồi chuyến xe sao vang vọng nỗi niềm

Âm thanh cao xoáy tròn tim gỗ đá

Thúc hồn người theo nhịp thở chưa quên

Ôi tiếng hát vinh danh đời lính chiến

Cho máu xương không uổng phí ngày mai

Có sương khói trong mắt đời cầu nguyện

Để lỡ làng không chĩu nặng bờ vai

Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ

Đây tàn hơi còn sót lại một đời

Đây ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ

Vẳng không gian chợt héo một nụ cười

Ta nghe rực cuối hồn trăm bó đuốc

Một đời hoài tìm kiếm ánh đèn soi…”

Bài thơ đó tôi viết ở Sài Gòn năm 1980. Bây giờ năm 2010, như vậy đã ba chục năm. Tôi đã rời thành phố thân yêu và cũng đã định cư ở Hoa Kỳ 30 năm. Hôm nay ngồi đọc tin về Đại Nhạc Hội tổ chức ở ngoài trời “Cám Ơn Anh” để gây quỹ cứu giúp thương phế binh của QLVNCH còn kẹt lại ở quê nhà bỗng dưng sinh ra nhiều hồi tưởng. Bài thơ dắt tôi trở về những ngày tháng năm năm 1975, khi Cộng sản đã chiếm được đất nước đã thẳng tay dã man đuổi tất cả thương bệnh binh trong quân y viện ra ngoài bất kể tình trạng nguy hiểm hay không. Nạn nhân nặng nề nhất ngay lập tức chịu ảnh hưởng thua trận chính là những người thương binh. Biết bao nhiêu là thảm cảnh xảy ra. Không hiểu họ đã xoay sở thế nào để sống còn trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát ấy.

Chính Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, trước khi quyết định tự sát đã đến thăm thương binh ở quân y viện Cần Thơ lần cuối vì ông biết số phận đáng thương của những người lính này. Trước khi tự sát, ông đã đến từng giường bệnh để an ủi những người lính đang điều trị tại đây. Ông đã não lòng khi trả lời một câu nói của người lính đang nằm viện : “Thiếu Tướng đừng bỏ chúng em !”. “Không, Thiếu Tướng không bỏ đâu”. Phải, mặc dù đã đến lúc cờ tàn, ông không còn giúp đỡ gì được những anh hùng nhưng là nạn nhân của cuộc chiến nhưng tấm lòng nhân hậu của ông đã là gương sáng cho đời sau.

Gần đây tôi có đọc một lá thư từ Việt Nam, của một người lính bị tàn phế gửi cho một người bạn . Bức thư có nhiều đoạn làm tôi suy nghĩ:

“… Các anh ạ! Bây giờ thì buồn quá! Các anh – những sĩ quan QLVNCH, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của ngày nào một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường… các anh đã có một thời quang vinh và một thời nhục nhã, giờ đây sau 30 năm vẫn lặng lẽ, các anh cũng nhòa đi hình ảnh của ngày xưa?

Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc quyền của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng quên những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ. Xin cảm ơn các anh về những đồng đô la mà các anh gửi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên nỗi nhục nhã mất nước! Chúng tôi cần ở các anh những chuyện khác, các anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không? Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân lệnh những Đại Bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc. Họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gửi vào tận chốn tù đày thăm các anh. Họ đã từng uống với các anh chung rượu ân tình ngày đưa các anh lên phi cơ về vùng đất mới. Họ từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng ngày về vinh quang của QLVNCH.

Nhưng chính các anh đã làm họ oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi giữa nhà hàng khách sạn năm sao tung tiền ra để tỏ rõ một Việt Kiều yêu nước. Các anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính VNCH đang lê lết ở ngoài cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các anh với ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội! Không biết khi tôi kết tội các anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các anh hãy tự suy nghĩ một chút sẽ thấy rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các anh đã biến thái thành những tên Việt gian nhưng sự trở về như các anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ Quốc và rõ ràng nhất các anh đã phản bội lại chúng tôi…”

Đọc lá thư ấy, lòng tôi như chùng xuống. Mỗi một người đếu có hoàn cảnh cũng như cách chọn lựa riêng nhưng tôi không ngờ rằng trong sâu thẳm của những người lính cũ còn có những nỗi niềm như thế. Sự phân cách quá sâu đậm, những con sông chia cách vẫn chưa thể lấp bằng được. Ngẫm suy lại, từ một khía cạnh nhìn ngắm khác nhau, đã có những khác biệt cho từng hành động…

Tới bây giờ, với những người ở hải ngoại đã không quên các anh, những thương phế binh VNCH. Dù có một số ít vô ý thức trở về nước vui chơi trên nỗi nhọc nhằn của dân tộc nhưng phần đông đều hiểu và tri ân những người lính đã mang xương máu và thân thễ hiến dâng cho đất nước. Ở đại nhạc hôi “Cám Ơn Anh”, hàng chục ngàn khán gỉa đi xem không phải chỉ là đơn thuần mua vui mà là biểu lộ tinh thần biết ơn đối với người lính VNCH. Dù số tiền thu được lên tới cả triệu đô-la nhưng cũng không đủ cho nhu cầu của hàng chục ngàn người lính tàn phế cần giúp đỡ. Nhưng của ít tình nhiều, điều đó mới là đáng quý. Cũng như, với sự tham dự của cả hơn một trăm ca nhạc nghệ sỹ, cùng với cả trăm người thiện nguyện bỏ công sức và cả tiền của cá nhân, thì đó phải hiểu là một thành quả to lớn ở hải ngoại của những người dân luôn luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Cám ơn anh! Những thương phế binh đã hiến dâng đời mình cho đất nước…

Nguyễn Mạnh Trinh

Quán Thơ Hư Vô 345


BÀI DỊ NGÔN MÙA ĐÔNG

Như đàn chim bay lạc
Giũ cánh tận cuối ngàn
Tôi, lữ hành cô độc
Bước vào cuộc nhân gian.

Thân mang đầy thương tích
Giữa cõi người ngổn ngang
Tìm em trong mê lộ
Để còn biết hoang đàng!

Đường trần ai xa lắc
Không có một người quen
Nhịp cầu Harbour Bridge
Đã mù mịt chông chênh.

Dấu chân em bụi bám
Bỏ lại cả trăm năm
Hồn tôi tựa mây thấp
Đang chạm nỗi thăng trầm.

Còn nghe từ vực thẳm
Tiếng em gọi thất thanh
Mùa đông đang cuồng nộ
Theo ngọn sóng bạt tình.

Như loài chim di trú
Lao vào bụi mận gai
Tôi mang đời rét mướt
Đông đá một hình hài.

Kiếp này không gặp lại
Em cũng đã một lần
Bước qua đường trần trụi
Để được làm tình nhân.

Thì trong đám người lạ
Cũng còn có bóng em
Mênh mông như vạt lụa
Cuốn tôi vào oan khiên…

Hư Vô

HẠT NẮNG THÔI MIÊN

Phù vân lạc đỉnh núi mơ
Phía trăm năm cổng khép hờ ngõ duyên
Từ say hạt nắng thôi miên
Rừng nguyên sinh bỗng một huyền hão rơi

Giấu ngày trong vạt áo phơi
Nhốt trăng khuya sợ hương rơi cỏ đùa
Mưa xưa mắc cạn hiên chùa
Liệm con sếu nhỏ chết mùa tiêu tao

Ngân hà gội tóc bên ao
Gối câu kinh ngủ chiêm bao tật nguyền
Mưa tâm dột ướt cội thiền
Mượn con sào nhỏ qua miền Kim Cang

Phù điêu diện bích đêm tàn
Còn không máng cỏ trên ngàn ngủ quên
Đường về quên tuổi quên tên
Trả không về sắc trả thênh thang chiều …

Đêm nay trăng xuống ngủ lều
Bán trần gian đổi cánh diều thả chơi

Thụy Sơn

PHÚ KHƯƠNG

Bốn mươi bốn năm trước mù khói lửa
Mười sáu ngực non lật đật lấy chồng
Ta mặc chiến y nồng mùi thuốc súng
Em soiree hồng leo lên xe bông

Ta phía bên này Phú Khương đứng ngóng
Phía bên kia xe lăn bánh bụi mờ
Pháo cưới nổ giòn tan đường hoa đỏ
Gã lính ngang tàng đứng đó buồn xo

Ta muốn cầm đôi bàn tay xinh nhỏ
Mai em về nhà khác mất mẹ rồi
Chân mang giày saut ta không nhấc nỗi
Dù chỉ là bước khẽ nhẹ nhàng thôi

Em về nhà khác ta về đơn vị
Ta với em ngàn dặm bến sông đời
Sông đời hai nhánh chia hai ngã rẽ
Ta nhánh sầu đời – em nhánh sông vui

Đánh trận xuôi quân bốn vùng chiến thuật
Mơ thấy em chiều Hiếu Thiện theo ta
Đêm ngắm hỏa châu rơi Gò Dầu Hạ
Cứ nhớ Phú Khương gần mà thật xa

Em ở góc trời nào em lẫn khuất
Ta thân sơ thất sở lúc tan hàng
Thua cuộc tương lai cũng đành mất trắng
Bốn mươi bốn năm góa phụ còn son

Ngày ra đi – em mắt phượng mày ngài
Khi trở lại – em mày ngài mắt phượng
Gặp nhau giờ dấu chân chim nứt rạn
Ta vẫn yêu người đôi mắt xa xăm

Ta vẫn yêu người mang hồn phương đông
Tháng tư mưa sa – thương má em hồng
Thương tóc em bay thơm trời lụa mỏng
Thương nắng hạ vàng đỏ lựng môi hôn

Linh Phương

BUỔI SÁNG NGHE TIN TÔ THUỲ YÊN…

Sáng hay tin dữ từ phương ấy
Người đã đi rồi, đi rất xa
Tôi đứng bên hiên nghe gió dậy
Mà lòng không thốt được lời ra.

Vẫn biết không đâu là miên viễn
Đời người như nước giữa dòng trôi
Chỉ tiếc trang thơ còn viết dở
Người đã xuôi tay, vĩnh biệt rồi.

Gió sáng đưa thơ đi khắp chốn
Mà hồn như rụng một màu hoa
Người “đi như lạc trong trời đất”
Kẻ ở mênh mang lạc nỗi nhà.

Mười năm, đâu phải mười năm nhỉ?
Ước vọng mỏi mòn như rất lâu
Chiếc áo quê hương còn chùm đụp
Ai người hôm sớm vá khâu đâu?

Mười năm, Người “đau mềm phế phủ”
Một cõi “Ta về” có ấm tay?
Sắp hết trăm năm, tàn cuộc lữ
Hắt hiu trăm nỗi bể dâu này!

Người đi “khai giải bùa thiêng yểm”
Quê Mẹ vẫn hoài sương trắng rơi
Đóm lửa nhân quần chưa kịp ấm
Oan khiên mờ mịt bốn phương trời.

Người đi, há lẽ người đi thật
Về “cõi hoang đường trắng lãng quên”?
Tôi gọi, lòng cay trên khoé mắt
Tên người rời rụng – TÔ THUỲ YÊN…!

Châu Ly

TRỞ VỀ

Tháng năm về theo tà áo trắng
Cổng trường ơi, hoa nắng đầy sân
Tóc dài xưa nhuốm bụi bao lần
Cây phượng vĩ già nua đứng lặng

Trở về đây bước chân nằng nặng
Nhớ quá chừng kỷ niệm thời xa
Lặng lẽ buồn ta gặp lại ta
Thuở vụng dại mới làm cô giáo

Trời vào thu pha vàng sắc áo
Bụi phấn rơi, ôi! đẹp diệu kỳ
Tim rung theo nhịp trống mùa thi
Thương, thương quá đàn em ngơ ngáo

Giờ tan lớp tung tăng chân sáo
Nắng vàng ươm đậu tóc em bay
Lúc lòng ta ngà ngọc đắm say
Đêm thao thức bên trang giáo án

Thời gian trôi và trôi đi mãi
Trường xưa ơi! Xám góc tường rêu
Ta về đây tìm lại dấu yêu
Nghe nức nở tiếng ve mùa cũ…

BT Áo Tím

MÙ SƯƠNG TÔI

Dốc sương buông tiếng thở dài
Núi cao lũng thấp níu hoài mê cung
Đầm đìa nhau giữa muôn trùng
Trăng nghìn năm ngộ đắm chùng hồn đêm

Lời quê chân cứng đá mềm
Mười năm nhớ mười năm quên dại khờ
Vàng quỳ đẹp đến bơ vơ
Những con dốc dựng bài thơ ngã vần

Mù sương bạt gió căm căm
Ấm bàn tay những tri âm nhu mì
Hiểu ra từ thuở xuân thì
Yêu quá hóa sợ nên đi không về

Lỗi lòng xin tạ cùng quê
Sương mù giăng kín lối về mù sương
Thất tình xin tạ người thương
Mù sương từ ấy đã sương mù lòng…

Nguyễn Liên Châu

MƯA VỀ THEO THÁNG SÁU

Cơn mưa ghé phố chiều nay
Gió lay lay giàn hoa tím
Tay gầy lá vươn dây vịn
Níu vài tia nắng mong manh

Hong chút tình muộn còn xanh
Mà trời giăng mây xám ngăt
Mưa nghiêng xiên lá xiên cành
Như trăm như ngàn vết xước

Chiều qua giọt buồn da diết
Chiều thả cơn gió rủ đi hoang
Chiều nay lòng ta như thể
Cuốn theo cuốn theo lá vàng

Hỡi này người tình yêu dấu
Tháng sáu mưa đổ miên man
Trái sầu bây chừ chín nẫu
Cổ thành xanh vết rêu loang

Ta đợi người nơi bến hạ
Mưa gió thuyền mãi chẳng về
Thôi ta làm người khách lạ
Quán buồn – nghe buốt tái tê.

Thiên Di

Quán Thơ Hư Vô 344


CHỈ LÀ GIỌT MƯA TAN.

Chỗ em đang bước tới
Trời đất đã mịt mù
Mưa dài theo ngọn tóc
Cho đầy thêm mùa thu.

Còn long lanh giọt lệ
Trên chiếc lá không chân
Lăn qua đời lận đận
Bóng tôi giữa đường trần.

Nơi có lần em đã
Hối hả làm tình nhân
Không trăm năm duyên phận
Cũng một ngày chung thân!

Cho hồn tôi lãng đãng
Giữa hơi người mê man
Hoá thân thành hạt bụi
Còn nặng nợ đá vàng.

Tạc hình em vào bóng
Thấp thoáng giữa bể dâu
Hạt mưa chưa trắng tóc
Ngọn sóng đã bạc đầu!

Tôi rơi vào vực thẳm
Bơi theo dòng mắt em
Có xốn xang gạt lệ
Chỉ là giọt mưa tan…

Hư Vô

ANH VỀ
Bái biệt nhà thơ TÔ THUỲ YÊN (1938-2019)

Tin từ thành phố Đông Nam ấy
Anh đã lên đường bước viễn du
Lần này là chuyến đi xa thật
Bỏ hẳn gian trần chốn tạm cư.

Đã bước vào đời và thanh thản
Dạo trong cõi tạm tám mươi năm
Đã khóc đã cười cùng cuộc thế
Thì nay viên mãn tựa trăng rằm.

Một thuở cùng bạn bè Sáng Tạo
Mực thơm giấy thắm ý tinh khôi
Chắc hẳn từ ngày son trẻ ấy
Anh đã trầm ngâm trước cuộc đời.

Rong ruổi khắp mọi miền đất nước
Không hành một buổi phá Tam Giang
Anh đã ngậm ngùi cầm bút viết
Bài thơ thương cảm chuyện nhân gian.

Bài hành Trường Sa Anh sáng tác
Là lúc gần tan một cuộc cờ
“Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn,
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.”

“Ta Về,” Anh có hơi kinh ngạc
Không khỏi thoáng qua chút chau mày
Dấu hỏi to dần: sao có thể
Giải oan cho cuộc biển dâu này?”

Hôm nay Anh đã về Nhà Thật
Như đứa con đi hết nẻo đời
Như kẻ lãng du nay trở gót
Tìm về nhà mẹ ở luôn thôi.

Một chén rượu hồng xin đưa tiễn
Ngậm ngùi mà có chút mừng vui
Buồn vì một ngôi sao vừa tắt
Vui vì Anh đã trọn cuộc chơi.

Quyên Di

PHÁ TAM GIANG BÂY GIỜ ĐÃ CẠN

Chiều trên Phá Tam Giang, đã chiều.
Ánh lửa nào nháng qua tim, anh vụt quên
Ngoài khơi đen đâu là Trường Sa đảo
Anh phải về trước lúc đêm tàn…
Dập dềnh chếnh choáng là mặt nước
Đảo côi đón bước
Anh ôm đảo gầy xem lại khúc phim Tráng Sĩ
Vó ngựa nâu tung bạt cánh đồng xanh
Rượt đuổi con tàu gió
Gió. Gió. Gió.
Qua. Qua. Qua.
Ngựa thắng ngã xoài trên đồng rạ
Tàu điên hờ hững trôi
Rồi anh nhớ ra tên em
Đóa hoa đã vì anh nở trong vạn kiếp
Hạt khô rơi hoài suốt trăm năm
Anh nhắm mắt bập bềnh trong giấc ngủ
Mai sẽ về lại Phá Tam Giang
Đợi em
Cùng đón những cánh chim nằng nặng buồn buồn
Cùng chờ những con nước cũ
Chẳng hẹn mà sao vẫn đợi nhau
Nước xưa về tận chốn giang đầu
Trăm năm rồi lại trăm năm khác
Phá Tam Giang rồi có cạn
Ta vẫn oan hồn ngóng đợi ma
Anh với em rồi sẽ vỡ òa
Như bong bóng nước
Không mảy ướt chuyến tàu điên
Thôi em
Phá Tam Giang giờ đã cạn
Chiều đã chiều trên Phá Tam Giang

Lưu Na

NHỚ TÔ THÙY YÊN

gã du hành về gian nhà cỏ
tàu vượt đồng, ngựa cất cổ cao
trăm năm phế phủ mùa kinh động
ta về, trả lại váng xanh xao

người đi, vô lượng thơ hằng ở
bóng lớn che ngang những mọn đời
đãng tử đâu cần câu từ giã
du khoái mình ta một cuộc chơi

Vũ Hoàng Thư

SÀI GÒN NHỚ… SÀI GÒN QUÊN…

ở sài gòn nhớ… sài gòn
nhớ ác chiến thuở em còn là em
dẫu nhan sắc ấy lọ lem
trái tim bồ tát ngày đêm nhịp đều…

bốn mùa xanh nụ tin yêu
quanh năm cỏ dệt hoa thêu tranh đời
ngoại thành rằm biếc trăng khơi
nội đô chiều xuống phố ngời biển sao…

cơn củi quế cuộc gạo châu
vẫn đâu đến nỗi nghèo giàu lệch pha
cũng hiến binh cũng mã tà
dân đen mấy thuở kêu ca rùm trời…

giá đừng khỉ đột đười ươi
đám cõng rắn đám rước voi phá nhà
giá đừng ăn giỗ thờ ma
viễn đông hòn ngọc hào hoa những ngày…

chỗ này dựng chỗ kia xây
đã không hổ lốn trúa trây thụt thòng
có đâu phố biến thành sông
xe cộ kẹt cứng rắn rồng nối đuôi…

thôi… nhớ chừng đó đủ rồi
xưa nay một vực một trời trắng đen
dù ai đánh tráo họ tên
rằng quên chỉ giả bộ quên… sài gòn!…

Nguyễn Đăng Trình

EM VÀ NẮNG SÀI GÒN

Nắng Sài Gòn trốn đâu rồi em nhỉ
Khi tôi về chỉ thấy giọt mưa xanh
Rơi trên áo ướt đôi lời mộng mị
Vương mắt em buồn từng giọt long lanh.

Tôi là kẻ mãi đi tìm giọt nắng
Nhớ cái nắng hanh lá gọi chim về
Thương cái nắng hồng tươi làn má thắm
Ngọt cái nắng vàng trên tóc em nghe.

Tình tôi gầy như cây khô tróc vỏ
Chút nhựa thơm run rẩy mắt môi người
Đời rất buồn ai sẻ chia hơi thở
Tiếng chim hoang mất giọng hót lâu rồi.

Rồi cũng lạc ở ngã năm ngã bảy
Ngã nào – tôi – thấy nắng mênh mông
Chợt dừng chân trước đèn xanh đèn đỏ
Nhấp nháy hoài ai đứng lại mà trông?

Cà phê đắng – ai còn ngồi trốn nắng
Quán không tên không địa chỉ hẹn hò
Thì đành vậy, ghế vẫn là ghế trống
Chổ tôi ngồi – khuyết một dấu chấm thôi.

Màu nắng cũ tôi tìm hoài không thấy
Thuở yêu nhau ngực ấm vẫn chưa lìa
Đã biệt tăm một khoảng trời ngút gió
Đâu bóng em về thành vệt nắng khuya.

Nguyễn An Bình

Bài Dị Ngôn Mùa Đông. Thơ Hư Vô


Như đàn chim bay lạc
Giũ cánh tận cuối ngàn
Tôi, lữ hành cô độc
Bước vào cuộc nhân gian.

Thân mang đầy thương tích
Giữa cõi người ngổn ngang
Tìm em trong mê lộ
Để còn biết hoang đàng!

Đường trần ai xa lắc
Không có một người quen
Nhịp cầu Harbour Bridge
Đã mù mịt chông chênh.

Dấu chân em bụi bám
Bỏ lại cả trăm năm
Hồn tôi tựa mây thấp
Đang chạm nỗi thăng trầm.

Còn nghe từ vực thẳm
Tiếng em gọi thất thanh
Mùa đông đang cuồng nộ
Theo ngọn sóng bạc tình.

Như loài chim di trú
Lao vào bụi mận gai
Tôi mang đời rét mướt
Đông đá một hình hài.

Kiếp này không gặp lại
Em cũng đã một lần
Bước qua đường trần trụi
Để được làm tình nhân.

Thì trong đám người lạ
Cũng còn có bóng em
Mênh mông như vạt lụa
Cuốn tôi vào oan khiên…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 343


MAN MÁC BÓNG THU PHAI.

Chiều đang chạm trên từng chiếc lá
Mà hồn tôi như một tàng cây
Chơ vơ đứng đợi lần em tới
Để thấy mùa thu đã rụng đầy!

Xoè tay che nắng len vào mắt
Đếm những vàng phai nỗi nhớ người
Còn nghe trong thoáng heo may gọi
Như có em về chung bóng tôi!

Rắc hương cho gió phơi mùi tóc
Trên áo vai xưa đã bạc màu
Chỗ em cũng có lần nương náu
Giấu buồn vào giọt lệ xanh xao.

Mà cả đời tôi còn lảo đảo
Lăn theo những phiến lá mịt mù
Thì nắng có vàng thêm lối cũ
Cũng chỉ làm man mác mùa thu…

Hư Vô

LỜI KINH BUỒN…

Cánh cửa nhà ai mười năm khép chặt
Nhốt nỗi buồn trăng gió vỡ đầy sân
Ngõ trúc vườn ai mười năm kín cổng
Đóa tường vy ngơ ngác trước hiên nhà

Tiếng ai từ sương khói cõi mù sa
Khóc rêu cỏ lang thang hồn du mục
Bước ai về xích xiềng từ địa ngục
Giữa trần gian đi khất thực tự do

Cánh cửa nhà ai niềm đau mở ngõ
Câu kinh chiều vô tự tiếng Nam Mô
Trong lồng ngực trái tim đòi phóng thích
Tư tưởng sục tìm ngôn ngữ lưu vong

Vườn trúc nhà ai sáng nay mở cổng
Giọt buồn về nội trú cả hư không
Khóm tường vy cuối sân vườn bật khóc
Khúc sông quê nhà vừa mới lâm chung .

Thụy Sơn

BỜ XA

Chỉ là vết mực lem tà áo
Ngần ấy năm rồi sao chẳng phai???
Đò chở đời qua bao giông bão
Vọng bến bờ xưa trông ngóng ai?

Chỉ là một chút tình thơ dại
Ngần ấy năm rồi chưa đủ quên
Đò muốn chèo lui dòng nước ngược
vẫn dấu trong lòng một cái tên…

Bởi một lần đi sao vội vã
Trái tim bỏ lại ở bờ xa
Đò đã neo vào nơi bến lạ
Góp nhặt hương xưa gửi lại nhà

Người đã cho ta là Dĩ Vãng
Thả xuống dòng sông tấm áo trôi…
Chiều xế tàn phai trên bến vắng
Ta thả đò xuôi đến biển rồi…

Mực Trắng (LT)

GÓC PHỐ

Góc phố
đêm dài tự hỏi
Mùa yêu
lạc mất phương nào
Đường mây ai còn rong ruổi
Chim bằng cánh mỏi… nghiêng chao.

Góc phố
sương nhòa… ly, hợp
So vai
gió tạt qua hồn
Tìm đâu
hương thầm dạ lý
Ngậm tình thuở ấy
môi hôn…
Góc phố
vầng trăng huyền hoặc
Hồ Ly
thấp thoáng hiên người
Trang kinh
úa màu u mặc
Nghe chừng
cổ tích tàn phai…
Góc phố
nhuốm buồn thiên cổ
Hồn hoa
lãng đãng qua đời
Đêm rơi
mịt mù khói nhớ
Vô ngôn
còn vọng
bên trời …

Tôn Nữ Thu Dung

MỖI CHIỀU NẮNG ÚA

Biển thấy như vơi mỗi buổi chiều
trường sơn như cũng mỗi ngày xiêu?
chim bay mỏi cánh theo bờ bãi
một chút buồn nghe đủ quạnh hiu!

Một chút buồn . Tôi nói với tôi
với em, tôi biết đã xa rồi
như chim … bay miết trên bờ bãi
bay tới nơi nào gặp biển khơi?

Tôi vọc mà chơi chữ bạt ngàn
xây từng núi cát tưởng quan san
ngựa hồng từ khuất vào mây khói
thì biển mờ thôi những đảo hoang…

Đời lính ai không vào gió cát
ai không nằm mộng thấy thây ma?
em ơi nón sắt treo đầu súng
lúc đó tình yêu một đóa hoa!

Tôi sống chi thời sông núi rã
chi thời biển hoá giọt mù sương
chiều tôi nhìn biển, tôi nhìn núi
nhìn cánh chim bay … ngó lại buồn!

Em biết thừa tôi đã hoá thân
thành đây bụi cát tủi muôn phần
cái trong tơ tóc mà vô lượng
và biển, trời, em, sao dửng dưng?

Tôi, phải chi tôi thành nón sắt
và em, ngọn súng, thách thời gian
khi yêu, có cả tình sông núi
rồi núi sông mờ … mộng cũng tan

Ôi biển chiều nay hẹp thế à
và trường sơn hỡi lớp sương sa…
câu thơ, tôi muốn đừng thêm nữa
(sợ nối thêm nhiều những ngả ba!)

Trần Vấn Lệ

BA MƯƠI NĂM, NHỮNG LẦN TRÀNG TRỄ
1*
Hai mươi năm trước sao không chăn gối
Để bây giờ mây bế, trăng mang
Gã đào hoa lãng tử xếp áo quy hàng
Đưa tay em vịn tìm đường hoa nổi
2*
Hai mươi năm sau anh trở thành già cỗi
Vẫy vùng giữa đời toan tính mưu mô
Kẻ sĩ tay không, vạch đất dựng cơ đồ
Thành hay bại. Luận chi quãng đời dâu bể
3*
Nhớ buổi hồn nhiên anh vui miệng kể
Thánh Gióng, xong giặc, bỏ ngựa Sóc Sơn
Chợt nhìn ve áo đã rách thêm sờn
Muốn hổ thẹn. Sợ lòng đau. Tủi thân hàn sĩ
4*
Hai mươi năm đó, trên dòng quỷ mỵ
Anh tận tình rúng rẻ giai nhân
Nỗi đau xưa chưa trở thành ân hận
Mím môi. Lòng còn lấn cấn bi ai
5*
Hai mươi năm. Có bao giờ em nhìn lại
Đứa mất tình lủi thủi ngó em vui
Ba mươi năm cát bụi vẫn ngậm ngùi
Trên mái tóc, thời gian đi còn đọng mãi
6*
Xong cuộc chiến. Anh, tù binh khổ ải
Đủ tàn đời khi sông núi thua đau
Trong gian truân, gạt không hết bi sầu
Trong mê sảng, tình em hằn dấu ấn
7*
Anh không hỏi những lời anh muốn hỏi
Mình lại chia tay, đêm ướt, sương về
Ba mươi năm cho những lần tràng trễ
Hăm chín năm em tê tái vây quanh
8*
Nầy thiếu phụ. Khăn đây. Chặm giùm anh ngấn lệ
Mỗi phần đời. Định mệnh đã phân lô
Trang ký ức lật lại không phải để nghẹn ngào
Mà để nói. Anh không còn trách em nữa

Hạ Quốc Huy

MỘT THOÁNG SÀI GÒN…

Đi suốt mùa xanh biếc lá
Lòng tôi đã chạm Sài Gòn
Hạ miết vàng thêm phố xá
Chênh vênh một góc trời buồn..

Nắng gió đầy vai Gò Vấp
Bụi đường ngợp tiếng xe trưa
Chua kịp cầm tay Thủ Đức
Lòng tôi mấy nẻo Bàn Cờ..

Chia tay, lời chưa dám hẹn
Khói mù một thoáng Kinh Đô
Em có về qua Chợ Đệm
Đắp giùm xác một vần thơ..

Tôi đứng bên này Xóm Chiếu
Mà nghe mưa đã Tân Bình
Một chút buồn tôi cất cánh
Bay vào nỗi nhớ rêu xanh..

Nhớ lắm rừng xưa trụi lá
Mà thương một góc Tao Đàn
Dẫu biết chia tay mùa hạ
Ngùi mơ áo trắng Trưng Vương..

Sài Gòn ơi, xa mấy nỗi
Bến Thành in dấu chân nhau
Em có về qua ngõ tối
Mà thương mấy bước tình đau..

Sài Gòn còn trong nhịp thở
Mà ta lạc mất hôm nào…

Trung Chinh Ho

Hiên Nắng Sài Gòn. Thơ Hư Vô


Hiên Nắng Sài Gòn

Vạt nắng chạm vai Sài Gòn
Còn thơm hương tóc dọc đường em qua
Duy Tân – Nguyễn Huệ đâu xa
Vậy mà tôi níu vuột tà áo bay!

Mới hay ngọn tóc em dài
Ngày mênh mông phố như mây ngược chiều
Tựa vào vách nắng rong rêu
Hồn tôi tan giữa hiên chiều, bóng không!

Chỗ em bước tới đám đông
Vỉa hè cỏ mọc đã phồng gót chân
Biết đau một thoáng da trần
Đâu còn tôi để em bâng quơ buồn.

Mà thương cho dáng Sài Gòn
Lối xưa đã mất linh hồn từ khi
Em quay mặt bỏ nhau đi
Đường quen lạ phố chiều Duy Tân người…

Hư Vô


Chỉ Là Giọt Mưa Tan. Thơ Hư Vô


Chỗ em đang bước tới
Trời đất đã mịt mù
Mưa dài theo ngọn tóc
Cho đầy thêm mùa thu.

Còn long lanh giọt lệ
Trên chiếc lá không chân
Lăn qua đời lận đận
Bóng tôi giữa đường trần.

Nơi có lần em đã
Hối hả làm tình nhân
Không trăm năm duyên phận
Cũng một ngày chung thân!

Cho hồn tôi lãng đãng
Giữa hơi người mê man
Hoá thân thành hạt bụi
Còn nặng nợ đá vàng.

Tạc hình em vào bóng
Thấp thoáng giữa bể dâu
Hạt mưa chưa trắng tóc
Ngọn sóng đã bạc đầu!

Tôi rơi vào vực thẳm
Bơi theo dòng mắt em
Có xốn xang gạt lệ
Chỉ là giọt mưa tan…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 342


NGÀY KHAI SINH MÙA THU
(Viết tặng sinh nhật tôi – Autumn 2019)

Bỗng dưng trời đất mịt mù
Hồn tôi chạm đáy mùa thu tội tình
Còn nghe trong cõi khai sinh
Từ tiền kiếp em tượng hình hài tôi.

Lăn theo hạt bụi vào đời
Vướng ngang sợi tóc tơ trời mong manh
Em như chiếc lá động cành
Rắc hương cho đẫm cuộc hành tình nhau.

Để trong mỗi thoáng chiêm bao
Tôi còn quờ quạng bước vào trần ai
Không trăm năm cũng một ngày
Cùng em hối hả đầu thai làm người.

Dắt nhau vào tiếng khóc cười
Chỗ em níu bóng về phơi hương trần
Nương vào vạt nắng không chân
Trải mùa thu xuống ngày tình tận tôi…

Hư Vô

CÒN MÃI TIẾNG KÊU

ngày xưa em đã ra về
đưa tay vén sợi tóc thề qua vai
khi ta ngó xuống ngậm ngùi
tiếng con gì cũng vừa kêu nước ròng

thế rồi bèo bọt trên sông
ta trôi heo hút không cùng thời gian
nhớ em trắng áo sân trường
có đôi cánh phượng trong hồn rụng rơi

ta trôi gần hết một đời
tiếng con gì vẫn kêu hoài dưới sông

Hoàng Lộc

CHIỀU Ở LÀNG CHÀI HÀM NINH

Em gái ơi sao nhìn ta tha thiết
Chắc em trông thuyền cá vẫn chưa về
Đời hạ bạc lênh đênh cùng sóng nước
Kể chuyện nhà nào biết kể ai nghe.

Gặp bạn cũ giữa xứ người xa lạ
Chén rượu mừng chưa cạn đã chân bon
Lòng chợt cay theo chập chùng khói núi
Khói lam chiều hay khói sóng chiều hôm?

Đời gỗ mục bập bềnh cùng bến nước
Lặng lẽ trôi phiêu lãng bước giang hồ
Bên đây núi, rừng bên kia xanh thẩm
Vẳng tiếng chim kêu nghe quá mơ hồ.

Mù sương tím chiều khơi hồn hiu quạnh
Một mình ta giữa trời biển mênh mông
Hòn Nghê xám mờ trong làn sóng lạnh
Suốt trăm năm trầm mặc đến nao lòng.

Con nước ròng in dấu chân trên cát
Em có cùng ta ngồi đợi trăng lên
Một quầng sáng giữa đất trời rực rỡ
Tiếng hát yêu người – em nhớ hay quên?

Nguyễn An Bình
Phú Quốc, 4-5-2019

NẮNG SÀI GÒN

Không có mùa thu vàng phai áo lụa
Em cũng vàng ươm nắng thắm Sài Gòn
Từng giọt nắng theo em vào quán nhỏ
Nghe tiếng cười em trong nắng giòn tan

Tôi náo nức bay theo từng sợi nắng
Nắng mượt mà trên tóc chảy vào thơ
Nghe thao thiết hồn tôi chìm trong nắng
Em có nhìn thấy nắng ướp trong mơ

Xin gửi tình tôi thơm từng giọt nắng
Em về ươm ngà ngọc nắng Sài Gòn
Mai mốt em đi toa tàu chở nặng
Giọt nắng tình phai trên những dặm buồn

Không có mùa thu hồng môi mật ngọt
Tình cũng vàng ươm nắng lụa Sai Gòn
Em về. Xa vắng. Quên hay nhớ
Nắng tình tôi từng sợi úa chon von.

Lê Văn Trung

CÒN MỘT CHỖ TÔI VỀ…

Cũng may – còn một chỗ tôi về!
Trăm nẻo đường đời, một nẻo quê
Nghiêng vai rủ hết sầu lữ thứ
Bên sông chiều vọng tiếng tàu ghe…

Cũng may – còn một mảnh vườn xưa
Tôi về nghe kể chuyện nắng mưa
Để thương nhớ lắm ngày xưa ấy
Để thẫn thờ bên mộ mẹ cha

Tôi về nghe nhớ khói đốt đồng
Nhớ mùa lúa chín mới gặt xong
Hồn nhiên theo cánh diều no gió
Mây trắng giăng giăng chiều mênh mông…

Tôi về như vừa một giấc mơ
Đâu biết còn ai để đợi chờ
Dòng sông chở bao mùa mưa nắng
Những hạt phù sa thắm đôi bờ

Cũng may – tôi còn cuộc tương phùng
Ngày xưa chìm khuất giữa hư không
Tôi về lạc giữa miền ký ức
Một nẻo quê nhà, một dòng sông …

Sông Trẹm

MÙA LỆ

Tím hạt mưa chiều vướng nét môi
Lòng em hiu hắt chạm lòng tôi
Thời gian hì hục trèo qua dốc
Hai đứa cách nhau một quả đời

Đời bệnh cần kê toa đúng thuốc
Nỡ nào cho uống ngụm mây trôi
Bọn mình chưa chín nhưng đà rục
Nhắm thẳng vào nhau lả tả rơi

Người giỏi quay lưng không ngoảnh lại
Bất tài vơ vét để lo lui
Những tên liều mạng vô phương thoát
Cùng lũ yêu ma mới thức thời

Em hỏi sao còn dư nước mắt
Xin thưa mùa lệ ngập chơi vơi
Bao xuồng oan nghiệt chìm tan tác
Phóng tiếng gào chưa thủng tiếng cười

Khổ quá biết rồi còn nói mãi
Nói hoài nghe mãi sẽ quen hơi
Như mình để vuột nhau ngày ấy
Sao cứ trơ gan chẳng đổi dời?

Lưu Xông Pha

CÒN DẤU CHÂN NGƯỜI

người đi rơi lại tiếng cười
môi thơm ngần ngại đêm mời mọc môi
bước thầm với một tôi thôi
loanh quanh nỗi nhớ mồ côi trong chiều

đêm buồn đổ bóng tịch liêu
phố im lời vắng liêu xiêu gót giày
còn đây trăng cũ lạc loài
ngọn đèn khuya thắp trời đầy hoang vu

bên kia dốc núi sương mù
người mang theo những lời ru cuối chiều
có hay con phố tiêu điều
không em bóng đổ buồn hiu một người

nghe miên man tiếng ai cười
và nghìn nỗi nhớ ngậm ngùi bước qua
xin em nhẹ bước chân ngà
để tôi ôm cả chiều tà… rưng rưng…

nguyễn minh phúc

THĂM LẠI CHÙA VĨNH TRÀNG

Giữa chùa lòng tục đa đoan
bốn bề lặng tiếng trăng non đã già
đôi mình giờ của người ta
đôi mình giờ đã bước qua đôi mình

Cũ càng tiếng kệ lời kinh
ta xin niệm mãi chữ tình vào tim
tọa thiền Phật tượng lim dim
ta thiền em đứng lặng yên nơi lòng

Niết-bàn đâu nữa mà mong
vô minh lỡ bẻ gãy vòng trầm luân
nén hương yêu cháy bập bùng
khói si mê quyện chín từng Như-Lai

Vô thường níu chặt vào tay
con thuyển Bát-Nhã neo hoài bến xưa
thất tình lục dục chớp mưa
giận xe thân nghiệp rước đưa lộn người

Mỉa mai Di-Lặc ngồi cười
biết Ba-la-mật của đời là đâu?!
Vĩnh Tràng chuông một tiếng sâu
ta nghe nỗi nhớ bạc đầu hư không

Trăm năm duyên đã nâu sòng
Bồ-Đề lần hạt bưởi bòng tiếc nhau…

Trần Minh Tạo

ĐÊM

Nửa đêm đổ rượu lên đêm
Rót đêm vào rượu mời đêm tự tình

Rượu trong đêm không lung linh
Như hồi uống với bạn mình dưới trăng
Nửa đêm còn tới bao năm
Rượu cay khóe mắt, buồn dâng ngấn mờ.

Bày ra một cuộc đợi chờ
Nhìn đâu cũng thấy bơ vơ chất chồng
Ước gì điên đại vài lần
Để quên đi một tấm thân rã rời.

Đâu còn ai nữa mà mời
Tôi say, tôi tỉnh bên trời đắng cay
Đêm này rồi lại đêm mai
Ly cầm giữa những ngàn tay lạnh lùng.

Một hơi uống cạn nhớ nhung
Rượu vào mà lại không cùng lời ra
Nửa đêm say thấy ngà ngà
Ngày mai tỉnh dậy biết là trần gian…

Nguyễn Trung Thành

Man Mác Bóng Thu Phai. Thơ Hư Vô


Man Mác Bóng Thu Phai. Thơ Hư Vô

Chiều đang chạm trên từng xác lá
Mà hồn tôi như một tàng cây
Chơ vơ đứng đợi lần em tới
Để thấy mùa thu đã rụng đầy!

Xoè tay che nắng len vào mắt
Đếm những vàng phai nỗi nhớ người
Còn nghe trong thoáng heo may gọi
Như có em về chung bóng tôi!

Rắc hương cho gió thơm mùi tóc
Trên áo vai xưa đã bạc màu
Chỗ em cũng có lần nương náu
Giấu buồn vào giọt lệ xanh xao.

Mà cả đời tôi còn lảo đảo
Lăn theo những phiến lá mịt mù
Thì nắng có vàng thêm lối cũ
Cũng chỉ làm man mác mùa thu…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 341


TÔI CHỞ MÂY VỀ EM THÁNG 5

Mùa thu thay áo khuya vàng võ
Tôi chở mây về em tháng 5
Hồn phơi tiền tích ngàn dâu bể
Một đời chưa ráo lệ tình nhân.

Những ân cần em còn gìn giữ
Không có đời sau cũng nợ nần
Buồn chung thuở tóc dài lận đận
Thả đêm che khuất dấu môi gần.

Phủi lớp bụi đường thời lang bạt
Trên áo vai xưa chút nhọc nhằn
Tôi về mưa rắc hương đầy mắt
Giữa mùa lá ngập bước chân hoang.

Hàng cây đứng đợi em vườn cũ
Ru khúc thu buồn tôi tháng 5
Chỗ còn di tích mà em đã
Cùng tôi bày biện nỗi thăng trầm…

Hư Vô

EM VỀ NGÀ NGỌC GIẤC MƠ TÔI

Mai kia mốt nọ tôi trở về
Vườn cũ vàng ươm thơm nắng mai
Có đôi chim nhỏ trên cành biếc
Tiếng hót mềm như hương tóc bay

Đường hoa, ai lót mùa thu cũ
Để lá vàng tôi trải xuống chiều
Để gió hồn tôi tan nhè nhẹ
Lên màu son phấn của tình yêu

Tôi qua vườn cũ chợt dừng chân
Thấy đóa hoa xưa nở trắng ngần
Ô hay! Em của mùa xanh vắng
Trở về nhung lụa gót thanh tân

Em về ngà ngọc giấc mơ tôi
Hoa của tình xưa nở trắng trời
Em nở trong hồn tôi vạn đóa
Cho ngàn sợi máu cũng reo vui.

Lê Văn Trung

THƯƠNG BẦY SẺ CŨ

bầy sẻ nhỏ bên đời nhau buổi ấy
nắng thênh thang đậu xuống bước chân người
bâng khuâng gió thương chút tình tôi đấy
nên ngập ngừng một vạt nắng chiều rơi

chim đã hót bên hiên đời quạnh quẽ
góc trời xưa đan những ngón tay buồn
ôm yêu dấu quanh mình tôi gọi khẽ
môi mắt người trong giấc mộng mù sương

chân trời úa như vòng đời tiều tụy
rơi xuống trần ôm một trái tim đau
tình dang dở cho đời tôi mộng mị
buổi xa người tim buốt tận nghìn sau

bầy sẻ đó bây giờ đâu còn nữa
người đã xa và chim cũng quên về
tôi ngồi nhớ chút tình xưa lệ ứa
gọi tên người chập choạng giữa cơn mê…

nguyễn minh phúc

BUỒN RỚT XUỐNG ĐỜI NHAU

Gió biết đâu từ thuở
Nắng chết khô bên trời
Để anh thương anh nhớ
Em về trong giấc mơ

Rằng nụ hôn đã khác
Môi hương nồng đã phai
Mùa ngâu ơi! Đừng khóc
Áo lụa chiều bướm bay

Anh bây giờ mỏi mệt
Buồn rớt xuống đời nhau
Ngày xanh xưa mắt biếc
Vời vợi mối tình sâu

Em bây giờ xa khuất
Vầng trăng lạc nơi nào
Phấn thu vàng ai rắc
Vào trái tim anh đau

Gió biết đâu từ thuở
Tay em nắm tay người
Anh hóa thành sương khói
Sầu giăng hoài chưa nguôi

Linh Phương

THƠ CHO TÓC DÀI

Tóc dài kia quấn chặt lấy hồn anh
Gần suốt đời mà nào em đâu biết?
Đêm tình mộng ru những lời tha thiết
Chỉ có tim mình là biết rung chuông…

Em vô tình đâu biết những yêu thương
Anh cuộn tròn cô đơn nơi chăn chiếu?
Mùa xuân lò rất nhanh qua cửa sổ
Như mắt em hun hút thoáng mơ hồ!

Rưng rức hoài khuya tận mé hiên thơ
Giá như gặp được em ngày ấy nhỉ?
Anh sẽ bưng trái tim làm quà hoan hỉ
Tặng tóc dài thay sính lễ cầu hôn…

Sa vào ăn năn . anh nghiêng ngả bồn chồn
“Em có chồng” thế là tiêu đời lãng tử!
Bao nhiêu năm lăn vòng vòng do dự
Sợ nói ra sẽ trúng mũi tên buồn…

Chừ lặng lẽ ôm kỷ niệm đem chôn
Một nơi chỉ có riêng mình anh biết
Nơi ngàn trùng, hình như trời sắp Tết
Chỉ xin em một sợi tóc ăn mừng…

Trần Dzạ Lữ

THẤT TRẬN

ngựa lạc đồi hoang mờ ngọn ải
chiều lu cung kiếm lệch vai người
ta đây danh tướng ngày bôn tẩu
chưa hướng tràng an trăng đã rơi

một thuở chinh yên đời biết mặt
bài ca bách chiến gửi ba quân
em nâng chén rượu hoàng hoa ấy
với áo hồ cừu xin tiễn chân

đã vắng đầu lâu treo cổ ngựa
mất em, cũng lạnh ý sa trường
khi về tình rã theo tay mỏi
nhìn bóng tàn quân rũ khói sương

mai lúc ngày đưa tin chiến bại
kinh thành ta sẽ bó đôi tay
hồn nghiêng gặp áo khinh cừu trắng
sự nghiệp buồn tênh em có hay?

Hoàng Lộc

PHẤN NHỤY THẤM ĐỜI SAU

Vết đạn cài xuyên tâm năm ấy
nay vẫn chưa lành chưa thể đơm da.
Thời gian bôi thuốc như thoa mỡ
lên những mạch đời đã rách toang.

Thì vá vào nhau từng tạm bợ
những ngày sống chết thiết thân ơi!
Mắt mở trừng như không thể chết
bởi bốn phương huynh đệ thật gần.

Buổi loạn ly hề, xương phơi máu đổ
bừng cơn phẩn nộ nhìn ra nhau.
(Anh em mấy đứa không què quặt
thì cũng tang thương nửa phận người!)

Chỗ đất Mẹ sinh ngày cắt rốn
đến khi đời rụng chỉ mong yên!
(Mấy kẻ đầu truông người cuối chợ
đường về xuôi nặng gánh ưu phiền!)

Thử vạch đường trăng tìm thử mộng
chia nhau phấn nhụy thấm đời sau.
Chút tương lai mỏng như sợi chỉ
hãy nương tay giữ chút mơ mòng!

Giữa biển lắm khi còn êm sóng
đường thế gian con tạo gập ghềnh.
Mới thấy biển lòng còn cay mặn
hơn trăm con nước đổi thay màu!

Qua đèo thấy núi thấp bằng đất
há dễ leo cao là thấy đời!
Thử rủ nhau leo trèo tuổi nhỏ
hái chùm thơ dại sắm trò chơi!

Như bữa gió về không định được
phương hướng mịt mùng hồn chơi vơi.
Vẫn biết đất trời đâu cũng vậy
mà với người lâu thế vẫn chưa thân.

Buổi gặp đây lòng giấy đã rách toang
khi hồn giấy còn không chữ viết.
Trang sử cũ hiện về như sự thật
giữa bao tình chung đụng với hoang mang!

Hãy vá giùm nhau điều loang vỡ
bao vết cài bom đạn sẽ đơm da.
Có khi mắt nhắm hồn bất tử
là lúc đời thương buổi hẹn về!

Đức Phổ

MIỀN SÔNG TÔI

Có một dòng sông chảy qua đời
Chảy qua ngày tháng tuổi thơ tôi
Bao năm sông là miền thương nhớ
Vời vợi hồn tôi buổi xa người…

Mấy bận tôi về trên bến sông
Thả buồn theo con nước lớn ròng
Nghe hồn sông phủ đầy trên sóng
Nghe tiếng ngàn năm vọng xa xăm

Sông chở mùa đi giữa đôi bờ
Một màu hoa súng tím lơ thơ
Và xanh màu lá im bóng nước
Phủ giữa hồn tôi chút mộng mơ..

Tôi mang tình sông nước quê nhà
Mòn lối quê người muôn nẽo xa
Lời thơ tôi viết trên thơm màu nắng
Thấm đẫm miền sông nước phù sa

Dòng sông vẫn chảy qua đời tôi
Soi bóng thời gian để ngậm ngùi
Một mai tôi về miền sông ấy
Hạt bụi nào hòa nước sông trôi…

Nguyễn Sông Trẹm

Ngày Khai Sinh Mùa Thu. Thơ Hư Vô


Viết cho sinh nhật tôi 15/05.
Ngày Khai Sinh Mùa Thu – Autumn 2019

4A7A39B3-7864-4115-9700-59428BDAB2C3.jpeg

Bỗng dưng trời đất mịt mù
Hồn tôi chạm đáy mùa thu tội tình
Còn nghe trong cõi khai sinh
Từ tiền kiếp em tượng hình hài tôi.

Lăn theo hạt bụi vào đời
Vướng ngang sợi tóc tơ trời mong manh
Em như chiếc lá động cành
Rắc hương cho đẫm cuộc hành tình nhau.

Để trong mỗi thoáng chiêm bao
Tôi còn quờ quạng bước vào trần ai
Không trăm năm cũng một ngày
Cùng em hối hả đầu thai làm người.

Dắt nhau vào tiếng khóc cười
Chỗ em níu bóng về phơi hương trần
Nương vào vạt nắng không chân
Trải mùa thu xuống ngày tình tận tôi…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 340


HÀNH TÌNH THÁNG 5

Lên núi hái đoá dã quỳ
Thả hồn tôi xuống chỗ di tích buồn
Hoa vàng nhầu nát đáy gương
Em đâu kịp thấy giọt sương mãn phần.

Chắc gì gặp lại tình nhân
Một lần cũng đã nợ nần quằn vai
Chạy đâu ra khỏi đời này
Đường xa người lạ có ai đợi chờ.

Bước ngang ghềnh đá chơ vơ
Hụt chân tuột xuống cuối bờ nhân gian
Rắc hương mù phấn hoa vàng
Ngày sau nở vội chút tàn tích em.

Để nghe chân ướt đá mềm
Mùa thu lạ lẫm còn trên gót giày
Có lần tôi đã qua đây
Tháng 5 bỏ lại một ngày khai sinh…

Hư Vô

MÂY THÁNG TƯ

Muốn đi hết một đời chẳng thể
Đời hư hao tình đã ê chề
Anh từng kẻ vô tình buông thả
Tháng này buồn vẫn rớt lê thê.

Thời gian trôi tưởng chừng quên hết
Chuyện em thường mát ngực trần vai
Em vẫn mấy chiêu trò dụ khị
Có chắc gì đời bớt oan sai.

Anh nhìn miết đâm nhàm điệu cũ
Mây tháng tư cù rũ bên trời
Những muốn lòng vui cùng đời mới
Mà tai nghe ai oán cả thiên thu.

Có phải em mây hùa theo gió
Nên tung hê những ước lệ mù
Anh vẫn bên trời thương chốn cũ
Bao năm rồi mây ám. Chưa tan!…

Đức Phổ

NIỆM KHÚC CHO MỘT NGÀY.

Hãy thức dậy đưa em về cuối phố
Viết bài thơ trên chiếc lá khô vàng
Hồn đá sỏi phơi buồn lên mắt Mẹ
Dấu nhọc nhằn rời rụng cõi trăm năm.

Hãy thức dậy nghe hồn thiêng sông núi
Gọi oan khiên lên khắp cuộc hồng trần
Em quay quắt giữa tinh cầu mòn mỏi
Ngày muộn màng trên niệm khúc xa xăm.

Hãy thức dậy cùng em nghe biển hát
Sóng muôn đời vỗ mãi những âm đau
Ngày tuyệt lộ biết ai còn, ai mất
Đời mong manh, con sóng vẫn bạc đầu..!

Hãy cầm chắc trong tay người bổi hổi
Bàn tay em năm ngón lạnh ưu phiền
Sương khói cũ mà tình giăng quá đỗi
Chuyện một ngày. Buồn đến nửa trăm năm..!

Châu Ly

HỒN PHƯỢNG

Hồn phượng nằm trong thơ
Đỏ dòng sông lưu bút
Ủ tháng năm học trò
Còn tinh khôi nét mực.

Người con gái dễ thương
Tiếng cười như ngọc vỡ
Làn môi hồng yêu đương
Chìm bụi lầm cát lở.

Trưa nắng lạ quắt quay
Trốn lời ve sám hối
Mang nhật tụng trên vai
Gió vô tình không hỏi

Mình đã từng yêu chưa
Sao nhiều năm chất ngất
Mình đã từng hôn chưa
Sao môi người tươm mật.

Hãy đi hết con đường
Mới thương đời chìm nổi
Hãy yêu hết nỗi buồn
Để ngày sau chín bói.

Chiền chiện của ta ơi
Hót thay lời tình nhỏ
Giữ cho ta chân người
Hồn phượng tươi máu đỏ.

Nguyễn An Bình

BẤT CHỢT..

Ta cúi xuống
giữa đời nhau
một thuở

Ba mươi năm
gom lại
một câu chờ

Cánh Thiên nga
bay mù vào cõi nhớ

Chút hương đời
bất chợt
hiện trong mơ…

Trung Chinh Ho

NẮNG CUỐI NGÀY

Từng hồi chuông ngân phố nhỏ
Bầy chim hình cánh cung bay
Chiều phai nắng rơi triền cỏ
Gợi lòng nỗi nhớ khôn khuây

Cung đàn đâu đây trầm lắng
Loang trong sương trắng hoàng hôn
Chiều ơi, khoan vội tắt nắng
Chờ trăng về tắm đêm thơm

Nhớ người, một mối tơ vương
Ngày vui dư hương mãi còn
Yêu người dù em vẫn biết
Lối về phong kín yêu thương

Gió ơi, bay qua thật nhẹ
Đừng làm xao động chiều êm
Lặng nghe chồi non cựa khẽ
Cây thay một phiến lá buồn

Ôm lòng tâm tư sâu kín
Ta về góc nhỏ đợi trăng
Chút nắng trong tim cất giữ
Sưởi ấm đêm vắng… từng đêm.

Thiên Di

TÔI VỀ NHƯ MỘT KẺ VÔ DANH

Người đã quên
Phố cũng phụ tình
Hỏi con đường cũ
Đường thay tên
Hàng cây năm trước chừng thay lá?
Rụng giữa hồn ta giọt lệ vàng

Cơn gió mùa xưa chừng cũng lạ
Thổi buốt vào ta những muộn phiền
Quán trọ!
Ta chỉ là khách lữ
Một tách trà thiu
Uống một mình!

Này cô chủ quán cho ta hỏi
– Năm mươi năm trước đây là đâu?
Chẳng lẽ đất trời tàn dâu bể
Lòng người đâu dễ còn bể dâu?

Này cô chủ quán cho ta hỏi
– Thuyền xưa còn đậu bến giang đầu
Tóc xưa giờ nhuộm màu thương hải
Thơ ta bèo giạt trôi phương nào?

Người đã quên!
Đành!
Thôi lãng quên!
Hỡi ơi sao phố cũng vong tình
Có thấy hồn ta nghìn năm cũ
Trở về như một kẻ vô danh?

Lê Văn Trung

MỘT ĐỜI LỠ BƯỚC

bảy hôm rồi đấy nhỏ
không nói cũng không rằng
bỏ đi là đi tuốt!…

gã chiến binh bại trận
thất lạc giữa rừng già
không tìm ra điểm đứng!…

núi một màu âm u
đông tây và nam bắc
mưng mưng vũng sương mù!…

tiểu hùng tinh – thập tự
bắc đẩu – đại hùng tinh
mìn mịt ngoài vũ trụ!…

nhỏ – mặt trời duy nhất
mất dấu trên bản đồ
ngày im lặng vô tuyến!…

đói và khát muốn khùng
đêm rà không tần số
còn viên đạn cuối cùng!…

bảy hôm rồi đấy nhỏ
chiến địa và tình trường
gã một đời lỡ bước!…

Nguyễn Đăng Trình

THÁNG TƯ

…tháng Tư hộc máu . quay cuồng gió
trời đất tanh ngòm cả tứ phương
lịch sử chết rồi . chưa kịp táng
dòm nhau an ủi . điệu kèn tang

cười cợt . nhe răng bầy dã thú
quây quỷ quần ma chễm chệ ngồi
có một tháng Tư . tờ lịch cũ
gỡ rồi . dán lại . phất phơ bay…

thangtram

Tôi Chở Mây Về Em Tháng 5. Thơ Hư Vô


Ngôn Ngữ

Mùa thu thay áo khuya vàng võ
Tôi chở mây về em tháng 5
Hồn phơi tàn tích ngàn dâu bể
Một đời chưa ráo lệ tình nhân.

Những ân cần em còn gìn giữ
Không có đời sau cũng nợ nần
Buồn chung thuở tóc dài lận đận
Tựa nhau rưng rức nụ môi trần.

Phủi lớp bụi đường thời lang bạt
Trên áo vai xưa chút nhọc nhằn
Tôi về mưa rắc hương đầy mắt
Giữa mùa lá ngập bước chân hoang.

Hàng cây đứng đợi em vườn cũ
Ru khúc thu buồn tôi tháng 5
Chỗ còn di tích mà em đã
Cùng tôi bày biện nỗi thăng trầm…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 339


KHÚC TƠ CHIỀU

Chiều thơm một thoáng hơi người
Lối em đi nắng còn phơi lưng trần
Hồn tôi sợi khói không chân
Nương theo làn gió cho gần bóng em.

Để nghe ngọn tóc dài thêm
Quấn tôi vào cõi mông mênh lạ thường
Tựa như nét lược lòng gương
Còn quen hương tóc dọc đường tôi qua.

Em từ thủy mặc bước ra
Buồn pha dáng nắng nghiêng tà áo bay
Bỏ lại tôi một hình hài
Hồn xanh bóng lá chiều phai lụa nhầu

Tôi bước lạc giữa chiêm bao
Theo câu lục bát trọ vào tim em
Dẫu đời không có trăm năm
Cũng còn sợi tóc tơ trầm luân nhau..

Hư Vô

TAM GIANG NGÀY VỀ

Chiều trên sóng nước Tam Giang
Thuyền trôi lấp lánh trăng vàng nghiêng vai
Ngược dòng ngọn tóc em bay
Thủy triều lên xuống từng ngày nhớ không?

Chim về cuối bãi mênh mông
Lao xao tiếng sóng nặng dòng Ô Lâu
Bến đò Ca Cút tìm đâu
Một thời xuôi ngược đầm sâu cũng buồn.

Thèm sao chén rượu làng Chuồn
Giăng chài buông lưới cá tôm vơi đầy
Lênh đênh mây nước Cầu Hai
Yêu câu mái đẩy – thương vay Nam Bình.

Bữa cơm đạm bạc nặng tình
Người về lại nhớ một hình bóng ai
Đêm neo sương trắng bên trời
Em qua Cồn Tộc nắng rơi bạt ngàn.

Tôi về trên phá Tam Giang
Tìm đâu ánh mắt ngỡ ngàng đã trôi
Một dòng nước bạc chơi vơi
Chiều nay mưa lại đầy trời bên sông.

Nguyễn An Bình

KHOẢNG TRỐNG

Thôi cứ thế, buồn vui đời cõi tạm
Tiếc nhau chi chỉ một nửa nụ cười
Trao tặng hết nhỡ mai này ân hận
Vì kiếp người khó trọn vẹn rong chơi

Em trót đến xin nán lòng ở lại
Trú tim tôi sưởi ấm cả mùa đông
Đời giông bão hoa hồng thành hoa dại
Tắt nến rồi bóng tối phủ mênh mông

Tìm đâu nữa khoảng trời xanh sớm mất
Mộng mơ xưa theo gió cuốn qua cầu
Tôi đã đến bên em lòng chân thật
Sao nỡ đành chôn chặt mối tình sâu

ninh tran

GỬI LẠI THÁNG TƯ

xin gửi lại một chút buồn trong mắt
biển chẳng vui từ thuở vắng chân người
trăng son rỗi nằm nghe đời tất bật
tiếng hát ai xanh mướt điệu u hoài

xin gửi lại một hoàng hôn thấm mệt
chút lòng đau dâu bể vô thường
tháng tư vội và bông hoa nở vội
lời hẹn hò đã thấp thoáng mù sương

xin gửi lại một mùa vàng đã lỡ
cho trăm năm vẫn nước chảy qua cầu
đường dẫu vắng, xin em đừng ngả nón
cho ta đợi chờ một chút mưa mau

xin gửi lại một dòng sông hiền hậu
chẳng còn đâu bên lở với bên bồi
không hiểu nữa, chút nắng vàng da diết
đã về đâu hay khi tóc đã phai rồi

xin gửi lại tháng tư mùa hoa nắng
đừng nhắc làm chi lời trách muộn màng
xin gửi lại những buồn vui rất thật
cho tháng tư về trời đất thênh thang

NP phan

GIỌNG NGƯỜI THỎ THẺ

Lâu lắm rồi mới nghe giọng của em
Giọng thỏ thẻ của người con gái Huế
Tôi xa xứ nên bồn chồn như thể
Gặp Hòang Thành trong tiếng nói sông Hương…

Bao nhiêu năm tôi uống nước xa nguồn
Nhưng vẫn nhớ hòai mô-tê-răng-rứa
Vẫn thương mạ với câu hò nghiêng ngửa
Đêm Kim Long đứt ruột khúc Nam Bình!

Và Vỹ Dạ ngày xưa em nghiêng nón
Cho ai về lẽo đẽo mộng thu phai?
Tiếng như chim em nhả nhạc bên đời
Người du tử cũng hồn xiêu phách lạc!

Đến SàiGòn-phố phồn hoa đài các
Mà sao em thỏ thẻ vẫn ân cần?
Chờ anh hí! Đã làm tôi rơi nón
Lúc qua cầu ngơ ngẩn một vầng trăng…

Thêm điệu hát chầu văn em ngẫu hứng
Càng khiến tôi da diết đến se lòng
Ôi giọng Huế khi-mô-rồi-cũng-rứa
Bên tai người thánh thót tiếng yêu thương…

Trần Dzạ Lữ

MƯA MÙA HẠ

Nửa chiều bất chợt mưa tuôn
vạt đất cày ngày xưa đã vỡ
có con dế lửa dế than chui ra từ nỗi nhớ
mài cánh gáy vang vang gọi lá úa rơi nhiều

Mưa đổ nhớ thương về ôi trắng xóa biết bao nhiêu
cây cầu khỉ chông chênh đâu còn nữa
xuồng neo bến ông trăng cười trước cửa
xanh biếc đất trời hoa sậy vẫy tay nhau

Mưa mùa hạ đi ra từ hương cau
hun hút sông trôi ngậm ngùi bãi vắng
ngôi nhà lá trống trơn cúi mặt ngồi lẳng lặng
dấu chân xưa mất hút tự bao giờ

Mưa mùa hạ trở về sủi bong bóng tuổi thơ
từng bong bóng vẫn tìm nhau hối hả
mới đó thôi mà bóng chim tăm cá
bạc cả hồn rồi mưa mùa hạ của ta ơi…

Trần Minh Tạo

DƯỚI CHÂN ĐÈO VẠN TƯỢNG
Để nhớ chuyến chạy bộ vượt đèo tháng 3. 1975

Ta ngồi kể trăm lần câu chuyện cũ
Mà trăm lần nghe như mới hôm qua
Người vợ trẻ bên mộ chồng cỏ úa
Xé khăn tang thay tạm một lá cờ
Ôi bé thơ nghĩ cha mình nằm đó
Cha sẽ về với bé trong cơn mơ

Anh ở lại dưới chân đèo Vạn Tượng
Vài chiếc lá khô thay nhang khói tiêu điều
Đồng đội anh đưa tay chào vĩnh biệt
Cũng cạn rồi nước mắt tiễn anh đi

Bom đạn vẫn xé ngang trời Tổ Quốc
Ai hoan ca? Ai đứt ruột tội tình
Người vợ trẻ bỗng nhiên thành góa phụ
Con mồ côi, chồng chất nỗi oan khiên

Chiều tháng ba dưới chân đèo Vạn Tượng
Gió Trường Sơn, mùi tử khí xông lềnh
Người hoảng loạn trên bước đường di tản
Di tản về đâu ôi đất nước quê hương?

lê văn trung

NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN

Có con sẻ nâu ngơ ngác
Trên đám lá khô phân vân
Tiếc mùa xuân dần rơi rụng
Níu vài giọt nắng nhạt dần

Tháng tư nỗi buồn để ngỏ
Nhắc lòng những chuyện muốn quên
Ngang trời rực mầu phượng đỏ
Thầm thì gọi một cái tên.

Trời nghiêng nắng vàng lịm tắt
Người cất hy vọng trong tim
Điều chi giấu sau khoé mắt?
Thời gian lớp sóng nhận chìm…

Ai đi để sầu kẻ ở
Cuốc kêu da diết cuối thôn
Nửa hồn chôn sâu đáy nước
Nửa mảnh trăng hờn trong sương

Thiên Di

GẶP BẠN, NHỚ CHUYỆN XƯA
gửi Phan Xuân Sinh, Luân Hoán và các bạn cùng thời chinh chiến…

bạn hẹn đến thăm ta dăm bữa
trời tháng tư nhắc nhớ chuyện xưa.
vết thương cũ đã lành. còn sẹo
trở giấc đau mỗi bận thay mùa.

bước bạn đi vóc hình chấm phẩy
bởi chiến tranh cướp mất bàn chân.
ta ước được phép thần thanh tẩy
sạch bụi trần. bạn bước ung dung.

mỗi gặp nhau chuyện mới tần ngần
khi chuyện cũ vô ngần cởi mở.
(dĩ vãng + tuổi già = đôi tình nhân
chẳng thề nguyền chi vẫn gắn bó.)

thời trai trẻ chỉ nhìn phía trước
mà tương lai đứt gánh giữa đường.
ngồi ngẫm lại đau từng khúc ruột
ngựa già còn muốn hí đầu non.

vẫn mãi dặn lòng quen cái mới
mãi cành xưa mời gọi nhau về.
để mỗi năm canh sầu nhức nhối
nghe buồng tim nghèn nghẹn câu thề!…

Đức Phổ

thumbnail_IMG_2224

Những Bài Thơ Khắc Trên Mộ Bia. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên qua nét vẽ Đinh Cường

Cuối năm, tảo mộ. Thời tiết lạnh lạnh của những cơn gió thổi qua nhắc đến những ý tưởng nào tưởng đã xa xôi nhưng có lúc lại gần gũi. Câu thơ “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ” như nhắc lại một thời văn chương đã qua, những chân dung văn học đã vắng bóng. Buổi trưa, vào thăm từng ngôi mộ cũa những nhà văn nhà thơ vừa đi khuất, đọc những vần thơ ghi khắc trên bia mộ, chột thấy lòng bâng khuâng. Hình ảnh còn đây, ngôn ngữ còn đây. Nhưng người thì đã đi vào cõi vô thủy vô chung. Cái còn để lại, là những tác phẩm để đời, là những câu thơ vẫn cứ hoài trong trí nhớ của những người yêu mến.

Nghĩa trang cuối đường Bolsa là nơi an nghỉ của nhiều tác giả của văn học Việt Nam. Phía đông con đường thì ồn ào nhịp sống trong khi phía tây con đường thì tĩnh mịch lặng lẽ. Hình như cái tương phản giữa cõi của người sống và cõi của người chết chỉ một dặm đường như gọi lại bao nhiêu sắc thái của người tị nạn. Vòm cây xanh ngát của nghĩa trang, màu xanh thẳm của cỏ, màu xanh lam của nắng và màu xanh nhớ ngút ngàn của gió, làm sự phân chia của sống và chết chỉ trong thế giới mơ hồ…

Đến mộ thi sĩ Nguyên Sa, dường như nghe thấy thầm thầm một câu hỏi dù câu thơ ấy đã được ghi khắc trên ngôi mộ một thi sĩ lớn:

Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau?
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?

Vâng, biết đâu! Phải biết đâu chuyện ba trăm năm sau khi tấc lòng thi sĩ vẫn còn mãi mãi qua thăm thẳm thời gian những kiếp người?

Lúc còn sinh tiền, thi sĩ cũng đã có lúc làm thơ để nghĩ về chuyến ra đi của mình. Bài thơ “Lúc Chết”:

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất
sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng
mười ngón tay sờ saong giữa hư không
đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh
ở trên ấy mây mùa thu có lạnh
anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời
em có ngồi mà nghe gió thu phai
và em có thắp hương bằng mắt sáng
lúc ra đi hai chân anh đằng trước
mắt đi sau còn vướng vất cuộc đời
hai mươi năm, buồn ở đấy, trên vai
thân thể nặng đóng đinh bằng tội lỗi
đôi mắt ấy đột nhiên buồn không nói
đột nhiên buồn chaỵ đến đứng trên mi
anh chợt nghe mưa gió ở trên kia
thân thể lạnh thu mình trong gỗ mục
anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc
anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya
trên tay dài giun dế rủ nhau đi
anh lặng yên một mình nghe tóc ướt
nằm ở đây hai bàn tay thấm mệt
ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài
những bài thơ anh đã viết trên môi
lửa trái đất sẽ nung thành ảo ảnh”

Có một đoạn thơ, đã được khắc trên bia mộ một nhà thơ, thi sĩ Long Ân:

Nay ta trở lại dòng sông cũ
Rượu đã nhạt trong chai nhẹ không
Ta thấy sông im nằm say ngủ
Còn chính ta là sông mênh mông.

Sông là người. Sông là ta. Ta với người, người với ta chia sẻ cùng nhau những nỗi niềm của một thời đại lịch sử đầy biến động. Dòng sông cũ chảy về biển lớn như bước trở lại cội nguồn. Câu thơ, như một kiếp người trôi đi từ lưu lạc, của một tiền kiếp hoang sơ trong số phận Việt Nam nào…

Một bài thơ của người viết phiếm “Bỉnh Chúc Dạ Du” trên các báo Việt Nam Hải Ngoại và Thời Luận, của “nắng xế cõi chiều”, của “chưa khuất vết xe”, của “bên lề vẫy tay”, của “hồn vướng sợi mây”, của “bia mộ khắc tên” để nhớ về một người bạn đã “xa bóng trăng khơi” giữa mênh mông cuộc đời:
Một người “bỉnh chúc dạ du”

Gửi vào thiên cổ mịt mù nhân gian
Trăm năm đã vội dặm ngàn
Thoảng cười nụ tưởng hoa vàng còn mơ
Tháng giêng, bước lạ bến bờ
Con sông chảy thuở tình cờ gọi ai
Người rằng “ Thiên hà ngôn tai”
Nhắc riêng đành một cõi ngoài quanh hiu
Tháng giêng, nắng xế cõi chiều
Bạc phai tóc lộng chân xiêu nẻo về
Người đi, chưa khuất vết xe
Ngã tư ngỡ đứng bên lề vẫy tay
Nhớ ai, hồn vướng sợi mây
Vọng đôi mắt của tháng ngày chưa quên
Vẫy tay, bia mộ khắc tên
Chắt giọt rượu giữa vô biên một thời.

Người xa, còn bóng trăng khơi
Còn câu thơ giữa một đời mênh mông…
(Nguyễn Mạnh Trinh)


Nhà thơ Mai Thảo qua nét vẽ Đinh Cường.

Thuở sinh thời, nhà văn Mai Thảo viết Tháng Giêng Cỏ Non. Từ ngày 10 tháng giêng năm 1998, là ngày ông từ trần, tới nay là mười lăm năm. Cỏ non bây giờ đã phủ đầy mộ chí…

Có một người làm thơ, đã khắc trên bia mộ của mình bài thơ tứ tuyệt:

Thế giới có triệu điều không hiểu
càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

Bài thơ nhan đề “Không hiểu”. Mở ra với cái hữu hạn của con người và đóng lại với cái vô hạn của cuộc sống. Có mấy ai thông kim bác cổ hiểu được tất cả sự việc? Dù, cả khi cuối đời, khi đã trải đủ ngọt bùi đắng cay của kiếp nhân sinh? Chỉ, khi đã nằm trong ba tấc đất, nhìn ngôi sao sáng để đọc được cái lẽ huyền vi của đất trời. Chữ “chẳng sao” trong câu thơ, ý lạnh lùng, nghĩa thản nhiên, có một chút mặc kệ, biểu lộ cái tâm cảm an nhiên của một người sẽ phải đáp chuyến đi vào vô tận. Cuộc hành trình vô tận ấy, có khi xa xăm như ngôi tinh đẩu kia nhưng lại đôi lúc gũi gần như cái chết dần trước mặt. Thơ như trải ra nỗi niềm của một người thấy được cái hư vô của đời người. Thơ không đóng lại mà mở ra cõi tâm linh của một người có đôi mắt luôn vọng về một cõi xa, của tâm thức muôn đời vời vợi..

Khi còn sống, nhà văn Mai Thảo cũng đã nghĩ đến ngày nằm xuống ba tấc đất cuả mình. Bài thơ “Nghe Đất” trong buổi trưa hôm nay chợt đến để thấy cái tâm của một người thoáng rộng ở giữa cõi tử sinh. Người nằm trong đất còn thoảng nghe tiếng “đời sau thở dài”:

Nằm đây dưới bóng cây xanh
Nhìn qua lá biếc lại xanh sắc trời
Mát thơm đất trải bên người
Nghe trong ấm lạnh da người cũng thơm
Đất lên hương thấm qua hồn
Nghe vui thoảng đến với buồn thoảng di
Giữa giờ trưa nắng uy nghi
Bóng vây vây nhẹ hàng mi cúi đầu
Người nằm nghe đất bao lâu
Tai nương nhẹ tiếng đời sau thở dài
Lung linh sóng nắng đan cài
Cõi Trong điệp điệp Cõi Ngoài mang mang
Chợt đâu rụng tiếng phai tàn
Rơi ngưng nửa ráng nắng chiều trôi qua
Lonh hồn thiếp giữa triều hoa
Bóng hình thôi đã nhạt nhòa quanh thân.

Những câu thơ tiền định ghi khắc trên bia mộ của Nguyễn Tất Nhiên như báo trước một đời tài hoa nhưng chết trẻ:

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
phải đau theo từng hớp rượu tàn
phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định
(vì Thượng Đế từ lâu hiện hữu
cầm trong tay sinh tử của muôn loài
tình ta vừa gánh nặng thấu xương vai
thì em hỡi ngai trời ta đạp xuống)


Nhà thơ Nguyên Sa qua nét vẽ Nguyên Khai.

Những câu thơ ấy cũng như những câu thơ khác được khắc trên bia mộ của các nhà văn Mai Thảo, Nguyên Sa, Long An,… là một chứng tích của thế hệ lưu vong hôm nay để lại cho đời sau. Nhiều người ở xa khi đến thăm little Sài Gòn, đã thường đến nghĩa trang ở cuối đường Bolsa để chiêm ngưỡng những câu thơ đặc biệt ấy…

Có bài thơ viết để tưởng niệm Nguyễn Tất Nhiên sau một ngày thi sĩ qua đời. Buổi trưa hôm nay, khi nhìn di ảnh và đoạn thơ trên mộ, tự nhiên những bài thơ kỷ niệm của riêng tôi thoáng qua trong trí nhớ. “Thà như giọt mưa/vỡ trên tượng đá”. Vỡ tan, vỡ tan…

Ngày hôm qua thi sĩ đã chết
Nắng mùa hạ lửa đốt trong đầu
Mồ hôi đọng long lanh lệ khóc
Mặt thủy mờ kính cuộn nỗi đau
Một mình cơn mộng du không dứt
Xa lộ đông bỗng chẳng còn ai
Mặt nhựa xám đen thẳm ý mực
Vỡ tan tành nghiên bút loay hoay
Ngày hôm qua thơ tình đã hết
“thà giọt mưa trên đá” vỡ tan
cành “trúc đào” nở hoa oan nghiệt
rất yêu em dù nỗi muộn màng
đào mấy tầng tinh tuyền chất quặng
ngôn ngữ ròng cùng tận trái tim
gánh nhân gian đôi vai còn nặng
“Cũng cần cho hạnh phúc” cách riêng
Ngày hôm qua chuyến xe khuất biệt
Hạt bụi nào hành trang đi xa
Này “cô gái Bắc kỳ” mắt biếc
Nước mắt đành giọt nhỏ vỡ òa?
Hát lên đi bản nhạc xưa cũ
Như chiếc lá phơi nền cỏ nâu
Dáng mắt buồn đêm trắng ẩn dụ
Lửa vô minh khói ngút bờ lau
Ngày hôm qua trái đất đứng sững
Chân lao đao thế giới lạ lùng
Tiếng gió bật cuồng điên ngựa chứng
Vài câu thơ đọc giữa muôn trùng.
Sống là chịu vai trò thất ý
Mộng ngàn năm, mơ cũng vạn năm
Đáy tâm cảm loài hoa kỳ dị
Mọc rễ trong da thịt ăn năn
Ngày hôm qua thi sĩ đã chết
Gót chân trần dẫm cõi hư không
Bài thơ tình chẳng có đoạn kết
Ngôn ngữ rơi theo sóng bềnh bồng
Ai đã hỏi thơ bao nhiêu tuổi?
Ba trăm năm, ý nhớ tình quên
Thơ, thiên thu vẫn là tiếng gọi
Dìu dắt ai lạc chốn vô biên!

Nguyễn Mạnh Trinh

Quán Thơ Hư Vô 338


BÀI ƠN EM THÁNG TƯ

Tháng tư rạch tim anh như dao nhọn
Cảm ơn em những vết cắt ngọt ngào
Để anh biết tình yêu là giông bão
Hạnh phúc nào mà không có lao đao!

Chỗ vết thương còn chưa khô giọt máu
Cho tim anh thổn thức giấc mơ đầu
Cảm ơn em một thời tình che giấu
Để còn làm chứng tích nửa đời sau.

Thì cũng đã nợ nần nhau một kiếp
Những ân cần rồi vẫn phải buông tay
Anh có nấn níu cho dài quá khứ
Bóng em cũng buồn như sương khói bay!

Mà đường trần ai chỉ là quán trọ
Đến và đi như thể cuộc hành tình
Cảm ơn em tháng tư còn bỏ lại
Tiếng thở dài từ thuở biết yêu anh…

Hư Vô

PHÙ VÂN

Khi về với là muôn chiều hư tưởng
Là hoang vu chìm cuối mộng hoang đường
Là bát ngát một hồn sương gió lộng
Là tịch liêu vời vợi khói hoàng hôn

Khi về với là về muôn nẻo biệt
Nẻo chia lìa tàn cháy mộng trùng lai
Khi về với là mộ sầu đã khép
Là thiên thu lạc giữa cõi lưu đày

Trăng viễn mộng trên vực bờ mê hoặc
Hồn Đông Phương cháy rực lửa điêu tàn
Ta về giữa trần gian bưng mặt khóc
Con đường nào không nhỏ lệ đau thương

Khi về với là vòng xoay kiếp kiếp
Là luân- hồi – là – sinh – diệt – tồn – vong
Là không – có là tương phùng – chia biệt
Sợi tóc nào bay trắng xóa cõi phù vân.

Lê Văn Trung

DẪU CÓ XA NGƯỜI

mốt mai dẫu có xa người
tôi còn đây mãi nụ cười tinh khôi
còn trong tôi ấm làn môi
trao nhau buổi ấy bên đời mộng mơ

mốt mai dù có tình cờ
gặp nhau trong những giấc mơ hão huyền
tôi còn giữ lại niềm riêng
bên em giây phút thần tiên nồng nàn

dẫu tình yêu đã lỡ làng
tôi còn đây cõi thiên đàng thuở nao
ngọt vòng tay ấm em trao
phút giây ân ái ngọt ngào yêu thương

và mai tình có đôi đường
trong tôi còn lại hồn vương môi người
tiếng yêu vẫn mãi xanh ngời
dẫu chìm trong tận cùng lời trối trăng…

nguyễn minh phúc

THÁNG TƯ GỌI MƯA

Tháng tư nắng gọi cơn mưa
Ngang trời phượng đỏ cũng vừa trổ bông

Ve buồn thổn thức nỗi lòng
Cỏ xanh nhớ thuở lặng dừng bên nhau
Lênh đênh nào biết ngày sau
Lên đồi mua tím, trái sầu ai mua

cánh chim bay vội sang mùa
Theo chân nắng hạ gió lùa mây qua
Thiên hương còn giữ nét hoa
Dù mai kỷ niệm nhạt nhòa về đâu

Tháng tư nắng gọi mưa đầu
Tiếng quyên thưa nhặt, bắc cầu hạ sang
Mây chiều nặng nỗi niềm tan
Để buồn xõa tóc theo làn nước trôi

Thiên Di

PHẢN ĐÒN

Cứ tưởng em là báu vật của đời anh
Ở nơi trăm năm không hề suy suyển
Chỉ có em,vầng trăng không hề khuyết
Trong tim anh, tháng mộng, năm lành…

Anh a vào cõi nhớ mông mênh
Thắp ngọn lửa tình yêu vĩnh cữu
Anh tuyệt đối với em-nàng Út
Của câu thơ tròn điệu, nên vần…

Nghĩ suốt đời ta không thể phân thân
Bên suối mơ rất ngọt ngào giòng chảy
Có ai ngờ em phản đòn đến vậy?
Thương tích này anh chỉ kịp…trân trân!

Danh tướng hề! sa vào mắt mỹ nhân
Là chết chắc! huống anh người khờ khạo?
Võ vẽ chi tình để đau giông bão
Cứ lùa về một phía-trái tim anh!

Anh giờ đây, giống bại tướng mất thành
Sửng sốt té bên chiều hối lỗi
Khiêng giáp chi đở tình không nổi
Cú phản đòn, thôi hết thấy trời xanh…

Trần Dzạ Lữ

NGÀY CHỊ HAI MƯƠI TUỔI

Chị bước xuống thuyền, chị bỏ quê hương
Chị bỏ quê hương một ngày bão nổi
Định mệnh trớ trêu nắm quyền sinh tử
Đời lênh đênh trôi dạt giữa muôn trùng.

Chị đi thật rồi, chị bỏ sau lưng
Bỏ dải đất ”mấy ngàn năm văn hiến”
Con tim nhỏ thóp thoi ngoài mặt biển
Mắt cuồng dâng huyết lệ khóc quê nhà.

Chị khóc cuộc tình hun hút mờ xa
Hai mươi tuổi bỗng dưng tình goá bụa
Anh nằm xuống giữa mùa hè đỏ lửa
Phút phân ly đâu dám hẹn ngày về.

Chiếc khăn quàng trên tay chị vân vê
Chị nhận lại khi người yêu đã chết
Ôi năm tháng sinh ly và tử biệt
Ngày và đêm, xương máu trải thành đồng!

Chiếc khăn tình – giờ thành chiếc khăn tang
Chị vấn mãi nỗi buồn hai mươi tuối
Ôi cuộc chiến rách toang trăm nghìn nỗi
Vá làm sao cho hết những đoạn trường.

Chị bước xuống thuyền. Lòng mờ mịt đau thương.!

Châu Ly

THÁNG TƯ NGỒI GỞ TỜ LỊCH CŨ

Tháng tư gió rích qua kẻ lá…
Đời sống xa nhà nhớ quê hương!
Ngôi làng Lộc Thuận tôi khôn lớn
Mấy chục năm rồi cũng không nguôi…

Tháng tư mới biết đời tỵ nạn!
Một lần đi là mất đất liền…
Chiếc ghe chong mũi trong đêm tối!
Chẳng biết đi đâu – sẽ tới đâu…

Mười lăm ngày trôi trên mặt biển…
Giữa chốn cuồng phong sóng bủa vây!
Sanh mạng con người như chiếc lá…
Tàu buôn vớt gởi xứ Nam Hàn

Có vượt biển Đông vào cửa tử!
Mới thấy trùng dương vẫn thét gào…
Bao nhiêu người sống – bao người chết!
Thống kê nào cho hết niềm đau…

Tháng tư tôi thức trong đêm tối!
Nghe gió cuồng phong cuốn lá vàng…
Sáng ra hốt sạch đem đi đốt
Như đốt đời mình đã bao năm!

Chân giờ đã mỏi đi đâu nữa!
Một đời tỵ nạn đã mòn hơi…
Mai kia cũng giống như con cá!
Nằm chết trong ao bởi nước phèn…/-

Phùng Nhân

BÀI THƠ TÌNH. VIẾT MUỘN

Trong biển người. Bao la
Đường biên dài – vô hạn
Xuống cõi trần. Khai hoa
Hạt mầm nào – thức dậy?

Bàn tay. Hứng mưa sa
Đầy lòng khô – suối cạn
Một ngày. Thêm ngày qua
Núi. Ngàn năm hiu quạnh.

Vời vợi. Mắt em khuya
Bên song – còn thắp sáng
Ký ức – chẳng đoạn lìa
Nên tình sầu. Vô tận.

Từng sợi tóc. Hoa lau
Chờ đến ngày – gẩy ngọn
Chôn đi – tự kiếp nào
Đất mỡ màu. Phân bón.

Tôi. Mang kiếp dã tràng
Miệt mài – se lầu cát
Em. Ngọn sóng ngút ngàn
Cuốn tình tôi – chất ngất.

Ăn mòn. Từng tuổi tên
Tôi chẳng còn – tôi nữa
Chờ đêm dài – sầu lên
Cháy bùng lên. Ngọn lửa.

Từ đâu – đến nơi nầy
Em. Muôn trùng duyên khởi
Mộng vỡ – đầy trên tay
Tình thành mây. Thành khói.

Chờ người. Chờ trong sương
Bài thơ tình. Viết muộn
Nửa thế kỷ. Thật buồn
Khúc tình ca – lỡ vận.

Nguyễn An Bình

thumbnail_IMG_2144

Hồ Hữu Tường, Người độc hành trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Nhà văn Hồ Hữu Tường tạ thế ngày 26 tháng 6 năm 1980. Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu trong một bài tưởng niệm đã viết: “… Chánh quyền Cộng Sản đã bắt ông Hồ Hữu Tường vào năm 1977. Sau bao nhiêu năm giam cầm ở Sài Gòn các bạn tù đều cho biết là sức khỏe của ông khá tốt. Lúc nào ông cũng ngậm một lát gừng tươi trong miệng mà theo ông các thức ăn có chất cay nhất là thảo mộc ngoài nhiệt năng hiện được đo lường bằng đơn vị calories có thể còn chứa chấp loại năng lượng về sức sống mà khoa học hiện tại chưa làm được cách thức dò xét. Các bạn tù của ông Tường còn cho biết thêm là mỗi đêm khuya ông thường đánh cờ một mình, tay trái đi cờ đối thủ với tay mặt. Ngoài ra chắc thế nào ông cũng viết trong đầu “tiểu thuyết ngẫm” mà tiếc thay ông đã đem theo ông ngaỳ 26 tháng 6 năm 1980 khi ông từ giã để qua một thế giới khác. Bốn năm sau, cuối mùa đông 1984, tác phẩm cuối cùng của ông “41 năm làm báo, Hồi ký” được xuất bản ở Paris”. (Thực ra, tác giả Trần Ngươn Phiêu nhầm lẫn. Hồi ký “41 năm làm báo” Trí Ðăng xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn).

Một người đã có nhiều kinh nghiệm, biết cách giữ gìn sức khỏe và tinh thần qua bao nhiêu năm tháng ròng rã trong các lao tù thế mà chỉ trong vòng hai tháng bị đưa đi giam ở Hàm Tân lại bị lần lần kiệt sức và chỉ được đưa về để gục chết trước thềm nhà mình là một việc lạ cần được các sử gia nghiên cứu trong tương lai. Tưởng cũng nên ghi lại là đã có một lần xe chở Hồ Hữu Tường chuyển trại đã bị tai nạn (?) dọc đường và ông đã được đưa trở về Sài Gòn chữa trị. Dưới một chế độ nắm toàn quyền sinh sát trong tay với một ngành công an có nhiều kinh nghiệm học hỏi ở Nga Sô và các kỹ thuật tinh xảo âm thầm giết người thì việc thủ tiêu một đối phương đang bị tù không có gì là khó khăn. Nhưng cũng nên hy vọng là bởi những cải tiến không ngừng của nền khoa học hiện đại nhiều âm mưu ám hại tưởng là bí mật rồi cũng có ngày bị phát giác…

Hồ Hữu Tuờng là một nhà văn nhà báo vào hàng tiền bối của văn chương hiện đại Việt Nam. Ông cũng là một chính trị gia khi sang Pháp du học, kết bạn với Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, gia nhập Ðệ Tứ Quốc Tế Cộng sản rồi sau lại tuyên bố từ bỏ lý thuyết Mác vì cho là biện chứng pháp không thực tế và không thích hợp với dân tộc Việt Nam. Hơn thế nữa ông còn là một nhà tư tưởng lớn đề ra nhiều lý thuyết về chính trị, kinh tế, triết học.

Viết về Hồ Hữu Tường, có lẽ một bài không đủ. Bởi có quá nhiều chi tiết về chân dung con người ấy. Nguyên cuộc đời của ông, đã là một đề tài lớn. Những ngày tù tội, từ khám tối của thực dân Pháp, đến khám tử hình của chế độ Ngô Ðình Diệm rồi khám Chí Hòa của Cộng sản và chết trong tù ngục đỏ. Thời gian bị cầm giữ với ông lại là những ngày để suy tư và tâm thức luôn bay bổng vượt qua những rào cản để tới những viễn kiến cho những phương trời rộng mở. Rồi ông là một học giả, một chính trị gia, một nhà văn, và cũng là người theo Cộng sản Ðệ Tứ rồi rời bỏ, đi làm cố vấn cho Bảy Viễn nên bị chế độ Ngô Ðình Diệm kết án tử hình, rồi lập thuyết, tìm một “minh đạo” cho văn hóa Việt Nam. Sang thời kỳ đệ nhị của chính thể VNCH, ông trở thành dân biểu, và viết “Người Mỹ ưu tư”, gửi thư cho John Steinbeck, người đoạt giải Nobel văn chương và hậu thuẫn cho sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Với tôi, tôi đã đọc truyện Hồ Hữu Tường từ khi bắt đầu vào trung học khi tìm thấy sách của ông ở những tiệm cho mướn sách. Tôi đọc truyện kiếm hiệp say mê cũng song song với đọc Hồ Hữu Tường. Tôi đọc bộ sách “Gái Nước Nam làm gì?” với Thu Hương, Chị Tập, cũng như đọc bộ “Ngàn Năm Một thuở” với Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Bỡn Nga, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ. Những nhân vật như thằng mõ Cổ Nhuế, thằng mõ Phù Ninh… đã làm cho tôi hồi đó chỉ thấy được cái nét châm biếm, như một chuyện tiếu lâm mà không để ý đến những điều sâu xa hơn từ cách thế trào lộng. Với một đứa bé hơn mười tuổi, đọc để mà đọc nhưng đã vô tình tạo một tâm thức trong trí óc non nớt của tôi lúc ấy. Tôi đọc Thu Hương, Chị Tập, để biết những người kháng chiến chống Pháp thời đó ra sao và có một chút ngưỡng mộ với những anh thư ấy…

Nhân vật chính của bộ truyện này là hai người phụ nữ tiêu biểu cho hai thành phần trong xã hội cùng tham gia trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Thu Hương thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản sống ở thành thị trong khi chị Tập thuộc thành phần lao động ít học. Thu Hương là nữ sinh viên trường Y Khoa Hà Nội, đảng viên của một đảng cách mạng bí mật, là một cô gái kiên cường có bản lãnh, đã thi hành những công tác nguy hiểm như tổ chức cướp sân khấu để tuyên truyền, ám sát bọn chó săn cũng như viên chức Pháp giửa thành phố… Còn chị Tập là một người thuộc giới cùng đinh, bị cha mẹ bán lấy tiền, trải qua nhiều nỗi khổ đau, bị tù tội, đầy ải sống chung với những người cách mạng và cả những tên đầu trộm đuôi cướp. Khi được tha khỏi trại giam, chị Tập trở thành một đảng viên nồng cốt tham gia những việc như làm thổ phỉ, buôn lậu, tổ chức cướp vũ khí của quân Nhật, xây dựng căn cứ địa để đánh Pháp… Bộ truyện này có nhiều diễn tiến mạnh, tạo được những hình ảnh của những người phụ nữ, không kể lao động hay trí thức, hết mình hy sinh cho đất nước…

Còn ở bộ “Ngàn Năm Một Thuở”, với Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ, Tiểu Phi Lạc Náo Sài Gòn, Diễm Hồng Xuất Giá. Tôi tìm thấy những nét trào phúng từ nhân vật Phi Lạc. Một người đậm nét của xã hội bình dân Việt Nam, dốt nát nhưng lại hay khoe khoang chữ nghĩa rất tự cao tự đại nhưng lại xun xoe nịnh hót những người có quyền thế để thủ lợi, cũng như đầy đủ những cá tính tiểu sảo vặt. Những cá tính thời đại này không phải chỉ có tiêng ở nhân vật Phi Lạc mà còn thấy nhan nhản những con người như thế ở chung quanh trong xã hội. Từ thằng mõ đến ông tiên chỉ, rồi đến các nhà bác học, những vị anh hùng… tất cả từ đời trước đến đời sau, như trong một tấn tuồng bi hài mà ở đó sự hữu lý và vô lý như bàn tay lúc ngược lúc úp, thay đổi dễ dàng như trong một hài kịch có khi bi thảm, có lúc nực cười…

Trong Phi Lạc Sang Tàu, câu chuyện về nguồn cội của nhân vật bắt đầu cho một tấn tuồng ảo hóa. Vai chính là thằng mõ làng Phù Ninh, vô học nhưng đầy khóe lường gạt lại mồm mép giả danh là hậu duệ họ Hồ của tông tộc Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Lại có một tên lừa bịp khác là thằng mõ làng Cổ Nhuế, muốn phá đám tên mõ làng Phù Ninh nên bán đứt cho một vị sư từ Tàu qua tên là sư Hồng Hạc. Ông này là một vị chân tu có sứ mạng là qua Việt Nam tìm đến “thảo lư” tìm kiếm một vị vạn đại quân sư như Khổng Minh đời Tam Quốc xưa để thành một thánh sư đời nay để trong mưu vọng phục quốc phản Thanh phục Minh… Những nhân vật này được xếp đặt trong những cục diện, những tình thế tròng tréo, viết theo kiểu truyện Tàu với những hồi, với những chương nối tiếp nhau. Truyện thâm ý bài xích cái tinh thần vọng ngoại và cái tập tục ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Từ chữ nghĩa, tới tên địa danh, tên nhân vật, đều là những biểu tượng có hai nghĩa, có hàm ý mỉa mai, và ở trong những điều kiện ràng buộc với nhau như trong một bố cục liên hệ. Những câu hỏi liên tiếp nhau. Tại sao sư Hồng Hạc lại đi kiếm thánh sư ở phương Nam? Tại sao lại đến làng Phù Ninh? Tại sao lại liên lạc với mõ làng Cổ Nhuế? Tác giả đã nối các chi tiết với nhau. Sư Hồng Hạc qua Việt Nam vì sấm truyền của Minh Thái Tổ để lại và đến làng Phù Ninh bởi vì làng này là nơi sinh trưởng của công chúa Ngọc Hân thì chắc là phải có hậu duệ của Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Và liên hệ với làng Cổ Nhuế bởi vì làng này nổi tiếng là buôn phân người nhưng đồng thời cũng là làng có nhiều nhân tài và nhiều người đỗ đạt nhất. Những chi tiết ấy trộn lẫn với nhau, rối nùi trong cái mê đồ để khiến người đọc nghĩ đến những trò đành hanh của con tạo, của những bất ngờ, những cái duyên có khi tình cờ có khi là hậu quả của nhửng trò đùa của cuộc đời. Trong đó, cái hóm hỉnh của truyện Trạng Quỳnh, cùng cái chửi đời châm biếm của Ba Giai, Tú Xuất, làm nổi bật lên chủ đích của tác giả. Hầu như mọi giá trị đêu bị đảo lộn, những câu khoác lác, những trò lừa bịp lại có ảnh hưởng rộng lớn, và bao nhiêu người tài giỏi trên đời này nhiều khi lại thua mưu kém trí những tên vô học bới những trò tiểu sảo tầm thường. Những lý thuyết nhiều khi trống rỗng và các danh nhân nhiều khi chỉ là cái bóng mờ nhạt… Ðọc tới đoạn thằng mõ, thuộc giai cấp mạt hạng trong xã hội mà lại luận đàm thuyết lý, nói chuyện tế thế an dân với những Khổng Minh, những Hồ Thích, có phải là một hài kịch được dàn dựng để trong đó gờn gợn những ý tưởng phản kháng xã hội và xét lại tất cả những gì được gọi là khuôn vàng thước ngọc của xã hội…

Lớn lên một chút, tôi đọc “Tương lai văn hóa Việt Nam”, một tác phẩm mà tôi nghĩ là những suy tư khởi đầu của ông để từ văn hóa bước sang những phạm vi khác như chính trị, tôn giáo, xã hội… để thành một người lập thuyết. Hồi nhỏ thì không ảnh hưởng lắm nhưng bây giờ đọc lại, tôi thấy có những suy nghĩ tới bây giờ vẫn còn giá trị. Trước hết, đây là những tâm huyết của một người muốn nói những điều mà biết rằng sẽ có ít âm vọng nếu không nói là tiếng kêu trong sa mạc.

“Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt…”.

Câu văn biền ngẫu, ý hướng tha thiết, tác giả Hồ Hữu Tường còn muốn vạch ra một con đường văn hóa, thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc và Tây phương. Theo ông, “Văn trong nghĩa căn nguyên của nó là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ là hung bạo. Hóa trong nghĩa căn nguyên của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện, xấu xa) hóa ra Người (cao quý, đẹp đẽ)…”

Ông cho rằng mọi ý thức hệ chỉ có tác dụng trong một thời điểm mà thôi trong ý nghĩa tích cực của nó. Nhưng khi không còn thích hợp với cuộc sống thì nếu không bị triệt tiêu đi mà còn tồn tại sẽ thành những chướng ngại vật chống cản lại chiều hướng phát triển và ở trong một ý nghĩa tiêu cực sẽ thành một hiểm họa cho nhân loại. Như vậy, chúng ta phải xây đắp một nền văn hóa dân tộc, luôn luôn thay đổi theo chiều hướng phát triển của cuộc nhân sinh và thoát ra được sự kềm hãm và chi phối của các ý thức hệ lỗi thời. Con đường ấy, không bị chi phối bởi Ðông hay Tây phương, nhưng kết nạp và thu liễm những tinh túy của người để biến thành của mình. Con đường ấy mệnh danh là con đường văn hóa, và nâng cao trình độ và vị thế của con người.

Tác giả còn cho rằng Tây phương chưa có văn hóa mà chỉ có quái hóa. Quái hóa ấy có thể tạo thành ở hình thức văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học… nhưng ở nội dung thì chỉ là những phương tiện để đi chinh phục. “Chính quái hóa này đã biến đổi những tư tưởng đẹp đẽ như tự do, bình đẳng, bác ái, thành phương tiện, thành khí giới để chinh phục. Quái hóa đã xui khoa học chế ra đại bác, chiến xa, tàu chiến, phi cơ, hơi ngạt, vi trùng, bom nguyên tử để giết người, để chinh phục kẻ yếu, để đè nén áp bức chúng ta…”

Và ông kết luận: “Văn hóa làm cho con người trở nên Người. Quái hóa biến văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học thành phương tiện. Bởi nó không theo con đường nhân bản. Còn mượn Ðạo học của Ðông phương ư? Nhưng ở Ðông phương chỉ có thuật tu dưỡng, chớ đã có văn hóa bao giờ?”

Cái độc đáo và cũng là đầu đề tranh cãi khi ông cho rằng cả Ðông lẫn Tây phương không có văn hóa. Ông tạo ra con người có khuynh hướng “mở” biết thay đổi để có một tiến trình nhân bản đến chân thiện mỹ. Văn hóa luôn ở trong trạng thái động, là một thái độ, một phong cách luôn luôn suy tưởng kiếm tìm.

Cuộc đời văn học của Hồ Hữu Tường có nhiều giai đoạn sáng tác khác nhau. Mới đầu, ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản Mác theo khuynh hướng Đệ Tứ và thời gian này ông coi như là những năm tháng ô nhục của thời gian lầm đường lạc lối. Ông không để lại một chút gì dấu vết lưu lại bởi vì ông chối bỏ lối lập luận kiểu duy vật biện chứng. Sau khi từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản, ông bị Pháp bắt giam đầy đi Côn Ðảo lần thứ nhất và ông suy nghĩ đến một hệ thống tư tưởng mới độc lập với các hệ tư tưởng ngoại lai như Pháp, Tàu, Nga, Mỹ… mà ông gọi là chủ nghĩa dân tộc. Rồi tiếp theo là thời kỳ ông nghiên cứu để viết lên những suy tư mới về xã hôi, kinh tế, chính trị, dân tộc. Thời kỳ này ông viết Tương Lai Văn Hóa Việt Nam. Ông có cách nghiên cứu tìm tòi của một học giả và sự luôn luôn khao khát với cái mới đã thúc đẩy ông trong việc thiết lập một hệ tư tưởng riêng biệt của dân tộc.

Sau khi bị chế độ Ngô Ðình Diệm kết án tử hình và đầy đi Côn Ðảo lần thứ ba, ông viết rất nhiều và sau này in lại như Kế Thế, Hồn Bướm Mơ Hoa, Thuốc Trường Sanh, Trầm Tư của Một Tên Tội Tử Hình…

Sau năm 1963, ông tiếp tục sáng tác với những tiểu thuyết như Chuyện con thằn lằn chọn nghiệp, Thằng Thuộc con nhà nông… và Hồi ký 41 năm làm báo.

Có một tác phẩm khá đặc biệt là Người Mỹ Ưu Tư, một cuốn sách được in với ấn bản viết bằng tay của tác giả. Mới đầu được in hàng ngày trên nhật báo Sống và sau có một phong trào xin chữ ký giới thiệu để đề cử vào giải Nobel văn chương. Theo bác sĩ Trần Ngươn Phiêu là người khởi xướng công việc này thì đã có tới hơn mười ngàn chữ ký để đề cử. Ông viết về một đề tài lúc đó tới giờ hơn bốn chục năm mà vẫn còn chất sống động của thời thế. Vấn đề con lai mà về sau này chính quyền Mỹ đã phải giải quyết để có hàng chục ngàn con lai được định cư ở Hoa Kỳ nơi quê nội của họ.

Trong 5 bức thư gửi cho John Steinbeck, giải Nobel văn chương, coi như lời nói đầu của bộ truyện, Hồ Hữu Tường đã viết:

“Ở xứ tôi những nhà văn không tên tuổi thường dùng một cái thuật để tiến thân như sau đây hễ thấy một áng văn chương được nhiều người hoan nghinh thì họ bèn viết nối theo áng văn chương nọ, với đầy đủ những nhân vật của áng nọ, và nếu cần thì có những con, những cháu thêm vào. Thuật ấy gọi là cái thuật viết “hậu”. Trên văn đàn quốc tế tôi không có tên tuổi. Tôi bèn dùng cái thuật viết “hậu” ấy mà tháp tác phẩm của tôi vào tiểu thuyết của Graham Greene, mà gá thân một chút xíu gì của những vấn đề của tôi, nhưng vẫn để cho độc giả nào đã đọc The Quiet American cũng bị cám dỗ bởi cái nhan đề “hậu” The Unquiet American.

Tuy nhiên nhân vật chánh của sáng tác của tôi phải là Pyle, phải là Phượng (hay phải là con của họ nếu cần), phải là tất cả những nhân vật đã sống trong tiểu thuyết của Graham Greene. Có gì hay bằng điển hình một nhân vật Amerasien bằng một đứa con chung của Pyle và Phượng? Ðứa con ấy, tôi đặt tên cho là Loan, một đứa con gái năm ấy được mười lăm tuổi!”

Với cách nói và diễn tả của Hồ Hữu Tường, lòng vòng, thường xử dụng ngôn ngữ gián tiếp, những câu chuyện kể trở thành những chuyện ngụ ngôn nhiều ẩn ý. Ông mượn những chuyện đời xưa tới đời nay, từ chuyện dương gian đến chuyện âm phủ, để thành những nối tiếp của những suy tư nhiều khi không liên hệ với nhau nhưng lại là những gợi ý để khơi mở sang những ẩn dụ, những hình tượng khác…

Ông viết cho Steinbeck:

“Người phương Tây của ông ít khi bận rộn về những suy tư, tôi không dám nói là siêu hình mà tôi xin nói là “ngoại hình” như vậy. Người Việt chúng tôi, mấy nghìn năm trước ở vào vùng ảnh hưởng của Ấn Ðộ trước khi bị ảnh hưởng của Trung Hoa từ miền Bắc tràn xuống. Nên chi tâm tư của chúng tôi ngày nay không ít thì nhiều phảng phất những nét ngoại hình như vậy. Mà những nét ấy coi chẳng ra sao lại cứ ám ảnh chúng tôi mãi…

Pyle chỉ là một oan hồn phiêu bạt, làm sao mà sống được một đoạn lịch sử vô cùng sôi động của đất nước chúng tôi. Ðể rồi chứng kiến sự nổi loạn của Phượng và Loan và để bưng chén mật tương thân mà uống khi chứng kiến Loan xuống tóc mà làm một ni cô, một ni cô mang một bào thai Amerasian mà chính nàng cũng là một Ameriasian nữa.

Thế giới ngày nay là một thế giới “bốn biển một nhà, năm châu một chợ”. Sự lai chủng tộc là một sự hiển nhiên, không sao tránh được. Cũng như rất hiển nhiên là chúng ta đang sống trong thời nguyên tử.

Tinh lực nguyên tử mà ta cho nổ thì nó tàn sát biết bao nhiêu người? Tinh lực nguyên tử mà ta áp dụng để phụng sự hòa bình thì kết quả tốt đẹp là bao? Sự lai chủng tộc mà ta cho nổ thì nó gây ra bao nhiêu rắc rối cho nhân loại? Sự lai chủng tộc đã cho nổ rồi mà ta lại thêm nuôi các đương sự bằng những “chùm nho uất hận” thì ta có thể đo lường nổi sự tai hại của nó chăng?

Tôi nói rằng Pyle là người Hoa Kỳ ưu tư. Mà chính tôi cũng là người ư tư. Và tôi muốn rằng sự ưu tư của tôi được truyền nhiễm đến ông, đến tất cả những người Hoa Kỳ là “bên nội”của đám Amerisian này. Vấn đề Amerisain là một vấn đề quốc tế của thời “bốn biển một nhà, năm châu một chợ”. Tôi cảm thấy rằng đem những “chùm nho uất hận” mà giải quyết vấn đề này chỉ đem thêm hận thù mà chồng chất lên bất công. Vì lẽ đó mà tôi kính tặng loạt thơ thay lời tựa này cho tác giả của “Chùm Nho Uất Hận””.

Tiểu thuyết “Người Mỹ Ưu Tư” quả là “hậu” The Quiet American, tiểu thuyết của Graham Greene, cũng với những nhân vật ấy. Và, Fowler, nhân vật ký giả người Anh lại đóng vai người kể truyện. Thêm một nhân vật, là Loan, đứa con lai của Pyle (người Mỹ bị giết chết trong The Quiet American) và Phượng. Câu chuyện bắt đầu như một truyện ma quái. Fowler gặp hồn ma của Vigot, một viên chức mật thám Pháp lai để được dẫn đến một cái cốc hoang vắng gặp một hồn ma thông thái đã đậu bằng tiến sĩ văn chương ở Pháp với một luận án về Pascal. Và sau cuộc gặp gỡ này Fowler ngủ li bì một giấc đúng 15 ngày mới tỉnh dậy. Dù là cơn mê gặp gỡ những người âm nhưng anh vẫn còn giữ được hộp trà có bốn hình tiên nữ với 4 câu thơ chữ Hán bắt đầu bằng bốn tiết: Thanh minh, Tiểu thử, Hàn lộ, Tiểu hàn. Sự việc quái dị ấy và những câu chuyện luận đàm thế sự, triết lý cuộc sống đã gieo vào đầu óc chai sạn của Fowler những ý nghĩ siêu hình của phương Ðông. Còn Vigot, thì bị chết đuối ở Vũng Tàu, chỉ 5 phút sau khi từ trần đã dẫn Fowler đến cái cốc hoang vắng như đã kể ở trên. Một sự kiện quái dị khác là khi Vigot sống lại thì bị linh hồn Pyle nhập vào. Thành ra Pyle là Vigot và ngược lại Vigot là Pyle, một mà hai, hai mà một. Pyle và Loan, thành một cặp vợ chồng và sống ở Việt Nam, trôi nổi theo thời sự thăng trầm đầy biến cố ở đây. Pyle thực ra là cha ruột của Loan, một mối tình loạn luân kỳ lạ vì Phượng dù nhận lời làm vợ Fowler nhưng lại có con với Pyle. Và, tác gỉa kết cuộc: Loan cắt tóc coi như đi tu nhưng trong bụng lại mang giọt máu của Pyle.

Tiểu thuyết của Hồ Hữu Tường rất đặc biệt kiểu … Hồ Hữu Tường. Luôn luôn trong cốt truyện hoặc trong những câu đối thoại ông cố tình mang vào những kiến thức để tạo ra những gợi ý khác nhiều khi không ăn nhập gì đến diễn tiến câu chuyện. Nếu dùng luận lý thông thường thì tiểu thuyết của ông có nhiều điều vô lý không tưởng, nhưng, đi sâu hơn một chút, thấy được sự độc đáo và cái cảm giác khi đọc là sẽ nhiều bỡ ngỡ với lối kết cấu bừa bộn những suy tưởng và bị dẫn đi trên những con đường mà trong vô lý thấy sự hữu lý..

Trong bài phỏng vấn của Nguyễn Ngu Ý, Hồ Hữu Tường đã nhận xét về tác phẩm của mình như sau:

“Tác phẩm mà tôi mong được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh… và xuất bản ở Âu Mỹ để làm bức thư cảm ơn chung cho những ai ở ngoại quốc và ở trong nước đã ký tên để xin ân xá cho tôi. Là bộ “Thuốc Trường Sanh”. Tôi viết nó ở tù Côn Ðảo, tháng tư và tháng năm. Ðó là một quyển khảo cứu về triết học trình bày dưới hình thức tiểu thuyết có tính thời đại. Nó khảo cứu về thuyết nhân quả, về hành động, về đức tin. Các nhà văn Âu Châu tả sự cô đơn của cá nhân, trong Thuốc Trường Sanh tôi tả sự cô đơn của tập thể, sự cô đơn của nhóm Tuyết Lê, trong thế giới hai phe đang chống đối nhau kịch liệt bằng máu lửa, mà không theo một bên nào được, nên đuổi theo mộng “lấp cái hố của đấu tranh, của hận thù”. Và nhân vật chánh của tiểu thuyết tượng trưng này, tôi dành cho loài cọp, mà tôi thấy hơn loài người, cọp giết người vì bản tính tự nhiên còn người giết người lắm khi vì một cớ không đâu…”

Hồ hữu Tường cũng tự nhận xét về tác phẩm “Thằng Thuộc con nhà nông”:

“Tôi viết tự truyện “Thằng Thuộc con nhà nông” là để tôi tìm hiểu lại tôi, cái tôi thật ẩn náu tận đáy lòng, ở trong tiềm thức sau này tô lên một lớp sơn dày. Mà “Thằng Thuộc con nhà nông” là quyển đầu của bộ “Một Kinh Nghiệm Sống”. Quyển kế sẽ là “Căm Hờn”, tả nỗi lòng của tôi tự kỷ ý thức được thân phận của mình, thân phận của một con nhà nông nghèo bị đè đầu, bị hiếp đáp, bóc lột, phải phục thù, tôi chụp lấy cái khí giới Mác Lê. Quyển ba là “Mê Ly Ðồ” người tín đồ cuồng tín của chủ nghĩa Mác Lê là tôi đã hành động, rồi băn khoăn để tỉnh ngộ ra sao, đó là đại ý quyển này…”

Và, có khi như tự trách mình khi làm việc ôm đồm và thường xuyên bỏ dở nhiều công việc:

“Nhiều anh em – trong đó có anh- trách nhẹ tôi hay bỏ mứa trong công việc viết… Bỏ dở dang những công trình đã khởi sự. Như dịch Tam Quốc Chí, thì dịch có quyển đầu. Viết Lịch Sử Văn Chương Việt Nam thì chỉ cho ra quyển một. Có biết đâu, viết, viết văn cũng như viết báo, đối với tôi là việc nhỏ, việc phụ.

-Thế việc lớn, việc chánh của anh là…

– Là Sống. Khi mà cái tiểu tiết là viết, là gì gì khác mà không hợp với đại thể là tôi gạt qua bên…”

Thực ra khó mà định hình được chân dung Hồ Hữu Tường. Ông là một chính trị gia thất bại, ở tù nhiều lần, và coi thời gian ở tù như thời gian để chiêm nghiệm để suy tư. Và cuối cùng ông chấm dứt cuộc sống ở tù ngục Cộng Sản. Ðọc những trang sách của ông, cái phong cách độc đáo, không giống bất cứ một tác giả nào khác và đôi khi cũng khác với cả những điều ông viết từ trước. Tôi không được đọc hết các tác phẩm của ông, nhưng, tôi vẫn có cảm giác rằng ông là một người luôn đi kiếm tìm một con đường để thực sự Sống, không phải cho riêng ông mà cho cả dân tộc Việt Nam nữa.

Nguyễn Mạnh Trinh.

Đêm Ngồi Quán Starbucks Sài Gòn. Thơ Hư Vô


Uống ly Starbucks Sài Gòn
Hồn xanh xao phố đêm cùng tận tôi
Giọt tình lăn lóc trên môi
Còn nghe đắm đuối một thời Trưng Vương.

Uống ly Starbucks không đường
Ngọt như hương sắc thuở hường nhan em
Tôi ngồi nhấp cạn cùng đêm
Buồn nghiêng bóng tách cuối thềm rêu phai.

Chỗ em bỏ lại hình hài
Đêm buông dáng tóc áo bay lưng trần
Một lần được gọi tình nhân
Nghe trong ngực thở đã trầm luân em.

Uống đêm nguyệt động Sài Gòn
Lối trăng ngày cũ có còn mênh mông
Thì em cũng đã ngược dòng
Hồn tôi chạm đáy ly không phố người…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 337


THÁNG TƯ –  NGÀY TẬN THẾ

Sài gòn tháng tư ngày tận thế
Mẹ về chưa kịp phút lâm chung
Để thấy thằng con ria họng súng
Viên đạn đồng kết liễu anh em.

Bốn mươi năm còn nghe tiếng khóc
Ngổn ngang một chứng tích tương tàn
Có tự hào bên nào chiến thắng
Bàn thờ cũng đã lạnh khói nhang.

Dòng máu đỏ mang hồn tổ quốc
Tội tình gì mà phải giết nhau
Mẹ đẻ hoang đàn con mất giống
Trơ gan vùi dập xác đồng bào!

Bốn mươi năm Sài gòn đã chết
Kể từ ngày thành phố đổi tên
Cờ sao bay đỏ tròng con mắt
Đắng hồn giỗ muộn tháng tư đen…

Hư Vô

VƯỢT BIỂN

thuở khai thiên sóng đã bạc đầu
lớp xô lớp vỗ đến mênh mông
từ trăm sông đổ về biển mộng
mộng cả tan từ cuộc bể dâu.

người từ đất khốn tuôn ra biển
chẳng thiết cơ ngơi dựng một đời
dốc hết sức tàn tìm đất mới
trùng dương vốn chẳng thấy oan khiên.

người đi. kẻ sống kẻ mất xác
có kẻ vào tù tan cửa nhà
vậy mà người người chấp nhận hết
muốn đổi thay đời phải chia xa.

ra đi đâu phải là tuyệt tích
tâm khảm hằn sâu kỷ niệm sầu
con chim cành gãy không muốn đậu
thì người vượt khó sẽ nên khôn.

Đức Phổ

KHÁC BUỔI ĐẦU TIÊN

không thể cùng gặp lại buổi đầu tiên
khi anh nói anh yêu em và anh hỏi
trong nơi chốn vô cùng em cũng nói
một điều chi nghe cũng rất vô cùng

làm sao về dù rất muốn về chung
nơi em có tấm lòng em thơ dại
khi cành đã trổ hoa và kết trái
và tình anh có lẽ đã không còn?

có những gì phải héo trước hoàng hôn
cơn nắng cũ phai dần trên sắc cỏ?
anh sẽ bước qua một lần nỗi nhớ
để mơ hồ nơi ấy vẫn còn em

không thể hoài như ở buổi đầu tiên
đôi cánh mỏng của thời gian – rất mỏng
mà đã vù bay bao nhiêu ước vọng
của hai người một thuở nghĩ về nhau…

Hoàng Lộc

VỢ LÍNH

Vợ lính đi qua cuộc chiến tranh
Bốn mươi bốn năm chưa vơi mùi thuốc súng
Bốn mươi bốn năm như ân sủng
Nằm trong ngực “bên thua cuộc“ tan hàng

Khóc đi hỡi những oan hồn
Bốn mươi bốn năm vất vưởng
Khóc đi hỡi anh thương phế binh còn sống
Đêm từng đêm đau nhức vết thương xưa

Vợ lính đi qua dâu bể một thời
Một thời đội khăn tang theo chồng ra trận
Xương máu Việt Nam chảy dài con đường di tản
Bốn mươi bốn năm rồi chưa khô

Bốn mươi bốn năm những nấm mồ
Lạnh tanh không nhang khói
Tấm thẻ bài nhìn đôi giày saut đau khổ
Nón sắt buồn ứa lệ khóc rưng rưng

Vợ lính đi qua cuộc chiến tranh
Vành khăn tang còn đó
Vợ lính năm nào còn đó
Nước mắt chảy ngược vào trong

Đứa con của Ngụy lớn lên đã biết mình mất quê hương
Từ tháng tư người lính Sài Gòn bị bức tử
Từ tháng tư thủ đô treo cờ rũ
Tưởng niệm anh hùng ”vị quốc vong thân”

Sau một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Vợ lính năm nào ôm lá cờ xưa bật khóc
Bốn mươi bốn năm chưa cạn dòng nước mắt
Dù chiến tranh đã đi vào quá khứ xa xăm

Linh Phương

DI-CHÚC TÔI!!!

Quán cà-phê đã vắng người
Lao lung tiếng hát bên trời dấu xưa
Từ em một lối đi về
Con đường đã cũ khuất che đoạn tình
Tôi cầm lên núi u-minh
Đốt quanh ký-ức đi tìm tuổi tôi

Mai sau dù đã xa người
Cũng xin giữ lấy nổi trôi dặm lòng
Tôi giờ một khúc hư-không
Dang tay nằm chết giữa thung lũng buồn
Nỗi đau chôn lấp nghĩa-trang
Mộ tôi thắp nến hai hàng lệ rơi…

Huy Uyên

NỤ CƯỜI EM MÃI TRONG TÔI

trăm con sông về biển cả
em về ngày tháng tinh khôi
hàng cây bên đường xanh lá
chim bay rợp bốn phương trời

nhẹ đôi gót mềm em nhé
ngoài kia hạ đã kịp về
màu hoa cúc vàng e lệ
giấu chiều vào những cơn mê

môi em hồng lên như nắng
chân thênh thang bước gọi mời
mây trời cao trôi thinh lặng
lạc hiên trời gió chơi vơi

khẽ thôi mùa qua đừng vội
cho tôi hôn bước chân người
nhỡ mai cuối đời giông bão
nụ cười em mãi trong tôi…

nguyễn minh phúc

THÔI KHÓC CƯỜI CHI CUỘC TỬ SINH

Ta về níu gọi cơn mơ cũ
Nghe tiếng chim kêu hạ cuối vườn
Mảnh gương ngày ấy vùi trong đất
Cùng ta soi lại dấu tang thương

Ta về tay vịn rêu bờ giếng
Thấy bóng mây mù trong đáy sâu
Bay mãi còn ta sầu đứng ngóng
Ôi mây ngày cũ bay về đâu?

Ta về. Câu hát người quên, sót
Bỏ lại bên thềm xưa úa phai
Con dế vô tình đem câu hát
Ru thành bi khúc khóc thiên tai

Ta về đi lại con đường cũ
Tìm dấu chân người trên lối xưa
Chợt thấy lòng mình như cỏ dại
Đìu hiu vàng úa lạnh đôi bờ

Ta về khi bóng chiều đang xuống
Hãy thức cùng ta giun dế ơi
Bí tích hồi sinh từng giọt máu
Bí tích nào rữa sạch thương đau

Ta về đánh thức niềm quên lãng
Hãy khóc lên nào sỏi đá ơi
Nhân thế mịt mù cơn nhiễu loạn
Giọt lệ khô bầm trong mắt ai

Ta về chơi cuộc cờ thương hải
Xé lụa phù hoa vá cuộc tình
Ta về vẽ bức tranh vân cẩu
Thôi khóc cười chi cuộc tử sinh.

Lê Văn Trung

….. TÂM KHÚC ….
….71….
Ai đem bước Ngộ qua thềm
Ngày đi lạc trú..chiều nghiêm bóng tà
Gió cuồng rớt nụ kiêu sa
Phấn hương còn đợi..ngọc ngà mấy khi..
….72….
Vuốt ve nỗi nhớ vô nghì
Hồn hoang mạc gọi từ bi bất ngờ
Vỡ câu thề..nát câu thơ
Đất trời lỡ hẹn..nằm chờ tái sinh..
….73….
Mõn chân về tựa mé đình
Lắng trong câu kệ in hình vô nhiên
Mấy lần trả mộng cho đêm
Trả mê đắm lại môi mềm.. mặn môi..
….74….
Mệt nhoài..ta kéo ta lui
Ngoài kia tâm bão đã vùi dập mưa
Lỗi lầm đã cạn thốt thưa
Hẹn mai phục hiện lại giờ giải oan…

Trung Chinh Ho

GIỌT NẮNG MAI XUÂN QUÊ CÕI TỊNH

Sáng xuân quê cõi tịnh
Bên hiên giọt nắng mai
Lòng vui theo khói trắng
Chập chờn cánh hoa lay…

Vườn xanh con bướm tóc
Trĩu nặng gánh trần gian
Tôi không còn cô độc
Trong linh thánh bụi vàng.

Ồ. Hồn mộng. Không nói
Từng khoảnh khắc…vô biên
Tôi đốt thuốc nhìn khói
Nghe lòng mình tịnh nhiên.

Trần Thoại Nguyên

thumbnail_IMG_2095

Previous Older Entries Next Newer Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: