Quán Thơ Hư Vô 280


Presentation2

LỤA TRẦN

Từ môi em biết hoang đàng
Hương đêm dậy mộng bàng hoàng thịt da
Em về nhón gót kiêu sa
Bỏ quên vạt áo luạ là bơ vơ.

Có đau chắc cũng tình cờ
Nửa đêm thổn thức giấc mơ rạt rào
Trở mình hồn vía lao đao
Tan theo từng lớp tế bào hóa thân.

Còn nhau trong dấu bụi trần
Chờ nghe di tích một lần tái sinh
Từ em nước mắt tượng hình
Giọt thiên thu rớt động tình đời sau.

Để tôi biết khóc lần đầu
Nghe trăm năm chảy qua cầu lạnh tanh
Buồn em nghiêng xuống dung nhan
Phơi tà áo lụa da trần, nhớ tôi…

Hư Vô

TỈNH NHỎ

Về trong một nỗi tình cờ
Mới hay bụi đỏ xóa mờ dấu chân
Tường rêu ngói cũ ngỡ ngàng
Thả trong nỗi nhớ cành bàng đỏ sân.

Bước em còn đó khẽ khàng
Thả quên hộc tủ ghế bàn ngẩn ngơ
Cánh diều bay mất tình thơ
Thả trên nhánh tóc sợi tơ hồng vàng.

Xôn xao chiếc lá muộn màng
Thả rơi mắt biếc lên trang sách hồng
Tìm trong chiếc lá trầu không
Thả hương cau quyện bến sông xa bờ.

Em giờ trong cõi sa mù
Tôi mang tình nhỏ thả thơ lên trời
Người quên tôi giữa cuộc chơi
Tôi quên người mất một đời bể dâu.

Nguyễn An Bình

ĐƠN DƯƠNG MỘT GÓC TRỜI BUỒN

nắng vẫn rơi trên đường về dốc bụi
Đơn Dương giờ ngơ ngác một mình tôi
nghe hiu hắt liêu xiêu vàng xóm núi
chợt buốt lòng ngày tháng đã xa xôi

người con gái cao nguyên chiều nắng trãi
còn nhớ không D’ran buổi xa người
không phải nắng, không phải mưa… không phải
sao tôi ngồi mơ mộng những chiều rơi

bao tiếc nuối dâng trào trong nỗi nhớ
Đơn Dương ơi buồn quá một góc trời
ngày xưa đó dù chỉ là dang dở
đủ tôi còn thương giọt nắng vừa phai

em ở đâu giữa vùng trời xanh biếc
có hay chăng tôi lặng lẽ đi tìm
Đơn Dương gió và mây trời biền biệt
nghe giữa hồn nỗi nhớ chật con tim…

Nguyễn Minh Phúc

KẺ SĨ LẠI NGỒI ÔM NGUYỆT KHUYẾT
RAO TRUYỀN GIỌNG LƯỠI VỚI GIANG SƠN!

Giữa núi, tà huy bật tiếng khóc
Chiều tàn biên giới lạnh trùng vây
Liềm nghiêng nguyệt cạn đau cương thổ
Âm huyết người xưa nhuộm cỏ cây

Tiếng chim sơn dã buồn chi lạ!
Rót xuống nhân gian tiền kiếp nào
Khiến đá bên hồn bỗng rạn vỡ
Đầm đìa xương cốt đến ngàn sau…

Dưới vách đền thiêng cây bạch lạp
Lẻ loi soi gót tượng quê thần
Núi sông kênh rạch thiên thu trước
Còn dấu Diên Hồng sát đất không?

Tội thay tiếng ngựa ngoài quan ải
Nhặt nửa vầng trăng rụng dặm trường
Kẻ sĩ lại ngồi ôm nguyệt khuyết
Rao truyền giọng lưỡi với giang sơn…

Núi nứt sông rời bản giốc cạn
Trường Sa mờ mịt lửa phương Đông
Trăm bầy cú đậu quanh sơn thủy
Gặm nát linh bài của tổ tiên!

Vận mệnh non sông như chỉ đứt
Huyết thư truyền hịch có truyền tâm?
Đau thay hồn phách bao vương tướng
Kiếp nạn dân đen, vạn cốt hoang…

Giở trang sử ký còn loang máu
Ngựa hí voi gầm nghiêng chiến trường
(Thần lực cố nhân đầy trận địa
Đất đai đã thọ khí âm dương)

Ngôi vị rành rành trời đã định
Ngàn năm cọc gỗ hóa linh hồn
Có người lữ khách ôm kinh sử
Đọc giữa biên thùy tế nước non

Hôm nay, giữa núi hoàng hôn rụng
Âm huyết nhân gian thấm nguyệt tà
Có kẻ nội thù ngồi xỏa tóc
Liềm nghiêng nguyệt cạn, hậu đình hoa!

Ngô Nguyên Nghiễm

TÌNH YÊU EM

đi đâu cũng ở cùng trời đất
thì ở cùng anh đi em ơi
trời dẫu thấy cao mà vẫn thấp
đất dẫu mênh mông vẫn hẹp hòi

từ dạo thương em thời con gái
rồi dắt em vào cuộc bể dâu
ở với anh đây em đừng ngại
cùng-trời-cuối-đất vẫn còn nha

ngày xưa với lại ngày hôm nay
có khác gì đâu chỉ một ngày
em vẫn như là ngày xưa vậy
và anh thì vẫn là anh đây

chỉ khác ngày xưa đầu đen mướt
bây giờ đà mặn muối cay tiêu
đôi mắt có đuôi rơi rụng hết
để nụ cười lạc mất cái duyên

nước non ngàn dặm rồi em ạ
tình dẫu mưa phai nắng dọi nhiều
mà em thấy đó đâu phai nhạt
còn đậm đà hơn thuở biết yêu…

Trần Huy Sao

ĐÈN KHUYA

Bên một cây đèn vàng
Khung cửa sao như nấm
Người lặng ngồi suy ngẫm
Tựa chiếc bàn đơn côi

Vẫn hạt đèn xanh thôi
Bao đêm dài thao thức
Bộ châm ngôn thơm nức
Ướp ngàn hoa phương Đông

Vầng trán người mênh mông
Đôi mắt đen thuyền mộ
Chở mảnh hồn thái cổ
Qua bốn nghìn năm dư

Quanh nụ đèn ưu tư
Nóc nhà mờ sao rụng
Ngâm thơ hoài rỗng bụng
Dốc vò nước thay cơm

Chiếc bàn viết trống trơn
Sách kinh tìm chợ họp
Riêng ngọn đèn chua xót
Le lói cùng sao khuya!

Phạm Thiên Thư

KÝ ỨC MỎ CÀY

Nơi em đến chính là nơi anh sống
Tháng năm xưa bạc phếch áo giang hồ
Ngày bầu bạn cùng cây bần, cây đước
Đêm bất an nên ẩn trú vào thơ…

Bom đạn vô tình đâu biết ước mơ
Chàng trai trẻ thèm lời ru của mẹ
Thèm nụ tình khi lội sình thất thế
Mắt môi ai ngọt mật đấy không ngờ!

Chi Uyên Chi Uyên sao chàng ngác ngơ?
Những lần đụng trận cắc cù, không chết!
Mỏ Cày ơi! Mỏ Cày ơi! có biết
Thân phận kia, thánh đọa xuống trần gian?

Bốn mươi năm qua, sau cuộc tan hàng
Trái tim nhân văn vẫn còn vô lượng
Con cá, con tôm nuôi người khôn lớn
Phí phách ngang tàng vẫn chảy cùng sông…

Nơi em đến, chiều chầm chậm cong cong
Hết chiến tranh sông Mỏ Cày trẻ lại
Nụ cười em vói trời xanh thơm ngái
Nắng Mỏ Cày không ngược lối thương mong.

Trần Dzạ Lữ

ĐƯA TIỄN

Thế rồi em cũng xa tôi
Ngày đưa tiễn hạt mưa rơi bên rào
Một lần thôi vẫy tay chào
Trong giây phút cuối… mưa ào ạt rơi
Người đi dạ có rối bời
Bàn tay níu chặt… cũng rời nhau thôi
Chiêm bao một giấc nửa vời
Nửa kia còn lại cuối trời theo em
Rồi đây những tiếng mưa đêm
Nửa chừng trở giấc, lòng thêm mối sầu
Em mười hai bến về đâu?
Làm sao dò được nông sâu cho vừa
Lặng nhìn nhau dưới màn mưa
Mắt em bóng nước cũng vừa tan ra
Còi tàu giục giã sân ga
Người đi – kẻ ở… càng xa xót lòng.

Tôi về… bỗng thấy trống không…
Còn đây một nỗi buồn mông mênh buồn.

Phan Mạnh Thu

Đường Gian Nan Chạy Suốt Kiếp Người. Ngô Nguyên Nghiễm.


Ngô Nguyên Nghiễm

(Nhà Thơ Vũ Hữu Định)

Bóng dáng của Vũ Hữu Định như một con ngựa hoang, ngày tháng chất chồng trên vó ngược mà chính bản thân chủ nhân cũng không lường trước được phương hướng để định vị cuộc đời trước mặt. Đã là hóa thân loài ngựa hoang, sự thuần hóa là điều không tưởng, bước đi nhảy vọt không hai chắn mắt, vì vậy hướng tương lai như chiếc bóng phù ảo, cứ chạy đuổi miệt mài trong cái hư không vô cùng tận. Có lẽ định mệnh quy cách cho một số phận đầy nghiệt ngã, khiến Vũ Hữu Định cứ rong cương cất vó vô định hình trong không gian lưu trú, lãng bạt suốt bề dài tuổi thanh niên. Cũng có lẽ bao nhiêu bất trắc cứ đổ đầy trên số phận nhà thơ, đem tất cả phong trần thế gian phủ chụp cho nát nhàu kiếp số. Long đong và nghiệt ngã bám đầy trên vai áo Vũ Hữu Định không biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng khi anh gặp tôi tại Sài Gòn, hình như gió bụi cộng sinh đã là chiếc bóng gắn chặt vào cuộc đời, không tách rời khỏi được số phận và thơ Vũ Hữu Định. Chan hòa tan nát trong sự vần vũ của vũ trụ, bản thân như hạt cát lẻ loi giữa sa mạc, cái mất đi còn có hình thể gì đâu mà phải phân trần, nhưng cái còn lại của một tâm thức người thơ trụ lại được trong cái an nhiên, thì đó là cái khó được thử thách thật quyết liệt. Vũ Hữu Định biến hóa sự nghiệt ngã trở thành sự tịch tịnh hằng ngày trong hành xử với thế sự và chính bản thân, như một đóa sen hồng điềm đạm thanh khiết giữa tứ bề sương khói phủ vây. Trong đời tôi, giao tiếp thân tình với bằng hữu bốn phương, dĩ nhiên cũng gặp nhiều khuôn mẫu tuyệt vời trong cuộc sống. Nhiều nhân dáng chuyên chở từ tâm thức kỳ diệu gần như những đạo vị, được hóa thân tự tại, dù có quay cuồng trong nghiệt ngã… Vũ Hữu Định là một con ngựa bạch lãng bạt phiêu du dưới những giọt trăng vàng, đói hớp sương tạo dựng sự sung mãn cho khí thơ, hiện thành bất chợt luân lưu hòa nhập với từng đoạn đường trường sải vó qua truông.

Thản nhiên bước lên cuộc sống không giây phút bình yên, Vũ Hữu Định không bao giờ thiếu nụ cười cợt đùa với thế sự chung quanh. Thoạt đến thoạt di, là phương chăm hành sự khiến có lúc anh em quan tâm chờ đón cũng không định được phương hướng dừng chân của Vũ Hữu Định. Thật ra, hoàn cảnh bất hợp lệ khiến đời sống anh có một sự thay đổi lớn, luôn lăng ba vi bộ trước biến động trên lộ trình. Chính vậy, phần vì tế nhị với bạn bè, phần vì lãng bạt của tính nghê sĩ, Vũ Hữu Định di chuyển thường xuyên để khỏi phiền hà cho bằng hữu, hơn nữa sự ra đi cũng là những bước thơ rơi, giúp nhà thơ hóa hiện nhiều tác phẩm tuyệt cùng. Trong đời, có lẽ Vũ Hữu Định là một trong những nhà thơ viết dễ dàng và nhanh chóng trên bất cứ hoàn cảnh nào. Thơ Vũ Hữu Định bộc phát thật tự nhiên, như hoa phải nở, trăng phải soi và sương phải phủ mờ vạn vật. Bất chợt trên đường hoạn lộ, nhập tâm vào cuộc lữ hành và khiến thơ hóa hiện bằng những tinh túy vừa rơi rụng, làm nảy nở từng đóa hoa lung linh giữa trời đất…

(Tác Giả Ngô Nguyên Nghiễm qua góc nhìn của Họa Sĩ Rừng)

Năm 70 cách đây hơn 40 năm, thời loạn ly giữa bao nhiêu tin chiến sự làm cuồng rối cuộc sống của quê hương, anh em văn nghệ cật lực bày tỏ tiếng nói của tuổi trẻ bằng những tạp san, rải rác hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Mỗi tờ báo đều có quan điểm riêng, nhưng tụ chung vẫn là mặt trận phản đối chiến tranh diệt chủng. Sự gặp gỡ tên tuổi hằng ngày trên các báo chí văn nghệ, đã giúp trong lòng anh em hình thành một sự quen biết vô hình, nhưng trân trọng nhau một cách chân thành. Đến khi có dịp giáp mặt thăm viếng, thì đã như mối thâm tình giữa những cố nhân. Vũ Hữu Định lếch thếch bộ hành qua cây cầu chữ Y dài gần 700m, vào tìm tôi ngay buổi trưa ngày giáng sinh 1971, nhốt cả hồn thơ trong một vóc dáng thấp đậm người, mà nụ cười là điểm chính yếu luôn hiện diện trên môi anh. Phong phanh trong chiếc sơ mi bỏ ngoài, lẹp xẹp đôi dép Lào bước vào tệ xá. Người mà Vũ Hữu Định gặp đầu tiên là Nguyễn Thành Xuân và Trương Quang Vinh, lần lượt xưng tên rồi khoác vai nhau kéo vào hàn huyên. Bản tính Vũ Hữu Định xuề xòa, cởi mở mà sự thong dong của anh hình như thể hiện được cung cách tự nhiên trong đời sống. Tôi chưa hề nghe Vũ Hữu Định than thở, dù từ thời gian 1970 – 1974 anh đi – về với tôi tại thư trang Quang Hạnh hầu như thường xuyên. Mỗi lần xuất xử với chuyện đời, Vũ Hữu Định thường về kể tôi nghe những diễn biến mà anh lượm nhặt được từ bốn phương trời, quy cũ lại và đưa ra trò chuyện với nhau.

Những kỷ niệm của nhiều người bạn làm văn nghệ, mỗi người có cách xử thế riêng biệt, đậm tính khí của tâm hồn mỗi cá thể. Nét tiêu dao phong thái của một Trần Kiêu Bạt có tính cách giang hồ, đậm nét lãng bạt Nam bộ và hy sinh như phong thái của Lương Sơn Bạc. Cung cách của một Nguyễn Bắc Sơn, lại đăm chiêu giữa cái khí cốt phương Đông, gác kiếm ngay trên trận chiến rượu tàn, mà phá phách chơi ở mọi điếm lữ trần gian. Phạm Nhã Dự thì lãng đãng trong sương mù của 18 thôn vườn trầu, mọi khí hậu tinh sương đều được nhà thơ cung hiến hết cho bằng hữu tâm giao, mà đối với anh, mới cũ vẫn tứ hải giai huynh đệ. Một Hà Thúc Sinh thì nhẹ hẫng bước phong lưu với đồng điệu, đến nỗi: “ Hà Thúc phu nhân coi buồn lắm/ Sữa thiếu làm sao tiếp rượu chồng”…Hằng hà sa số bằng hữu văn nghệ, cái tâm của anh em nhiều khi ảnh hưởng cực kỳ với sáng tác. Hình như tất cả chân thật của cõi lòng, dù ở bất cứ hoàn cảnh phủ chụp nào, cũng là một hạnh ngộ để nhào nắn giữa khuôn đời. Tôi cảm nhận, Vũ Hữu Định có một chút lãng bạt của Trần Kiêu Bạt, sự tự tin nhẹ nhàng của Hà Thúc Sinh, hòa – hoa – nghĩa – khí- chân – thành với đời sống như Phạm Nhã Dự, chút nghiêm cẩn rộng mở cái tâm bát ngát bốn phương như trường hợp Nguyễn Lê La Sơn…Chính vậy, bôn ba trong cuộc đời đầy hệ lụy, nhưng Vũ Hữu Định vẫn giữ vững được bản sắc du hành tuyệt diệu cho thơ. Đến đâu thơ cũng tràn ngập trên thần trí, tràn ngập cả không khí vây quanh. Tôi không hiểu ở thời đại Thiền sư Basho, khi chống gậy dặm ngàn sương gió, phong vũ có dồn dập ảnh hưởng đến phong thái ông như thế nào. Mà ngàn bài Hai Ku kỳ diệu lắng động cả thiên thu. Chỉ có điều hình ảnh của Vũ Hữu Định cũng có dáng dấp lênh đênh, trôi nổi giữa trần gian, trong cái tâm còn quầy quả xáo trộn vô thường, khác hẳn điều hạnh phúc an nhiên thiền vị của Basho, trên bước thiền hành. Thơ Vũ Hữu Định vẫn gieo hoa giữa không gian, đầm đìa cả một trời nghiệp chướng của nhân sinh, mà những khúc trường ca lỡ vận là một hướng nhìn tan tác tội nghiệp của kiếp người: “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận/ Hát âm u trong đêm tối một mình”, mà nhiều lúc tàn canh uống từng giọt rượu cô đơn để chợt thấm đẫm trách nhiệm cương thường: “Ta đã hát khúc đời lỡ vận/Khúc hát buồn như một khúc sông con/ Khúc hát cay như những lần uống rượu/ Khúc hát chua như một đĩa cũ mòn/ Khúc hát đời cha nay đến đời con”. Chợt nhớ trong bao lần ngẩng bóng để lãng quên, nhưng làm sao được, ở quê xa vẫn chợt ẩn hiện man mác đến đau lòng: “Mười năm cha mẹ đau chân sỏi/Sớm lặn truông xa, chiều lội bãi cồn”.

Vũ Hữu Định có một sự cương nghị trong cuộc sống, dù phôi pha có phủ đầy trên số kiếp nhưng đời thường anh vẫn trầm tĩnh đến độ phớt lờ những khắc nghiệt đó. Hình như, trong những cuộc giao tiếp, thần thái Vũ Hữu Định hòa đồng trong nếp sống hồn nhiên của mọi người, nhưng những đêm dài lẻ loi, đầy vơi ý nghĩ trên chén rượu, làm sao không bừng cháy những ám ảnh riêng tư: “Thời đại thánh thần đi mất biệt/ Còn lại bơ vơ một giống sầu/ Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn/ Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau”, những câu hỏi thường đặt ra như một cách tự vấn: “Anh là một gã giang hồ tới/ Lòng hoang như con lộ không đèn/ Ngồi với hồn sầu ly rượu cạn/ Sao mới vài ly mà đã say?”

Thế là, Vũ Hữu Định lưu vong sống trong Thư trang Quang Hạnh của tôi, thấm thoát cũng gần 4 năm, bắt đầu từ cuối năm 1971-1974. Thời gian vật đổi sao dời, đối với con chim di Vũ Hữu Định như một cái cớ để xếp cánh tạm lắng trong không gian ân tình. Tôi thường xuyên chở Vũ Hữu Định trên xe Honda 67, lúc thăm viếng A.Khuê, lúc qua Phạm Duy, hẹn hò Phạm Chu Sa…Đi xe máy thật ra là một phương tiện để di chuyển nhanh gọn, tránh cho Vũ Hữu Định những cuộc tra xét bất chợt giữa lộ trình. Năm 1973, có hai chuyến di chuyển đầy kỷ niệm, khắc sâu thêm tình cảm của Định với đồng bằng miền Nam, mà anh thường cười nói, nghĩa khí bạt ngàn trên từng cọng lúa. Trưa hè 1973, tình cờ Phạm Trích Tiên có lời nhắn gởi mời về thị trấn Tân An (Long An) cách Sài Gòn hơn 50 cây số, mà Phạm Trích Tiên rào đón, ngày cuối tháng lương bổng dồi dào, để khỏi mất mặt với phương xa. Thật tình tôi ngại đường xa và túy tửu vô chừng, nhưng Vũ Hữu Định lại phấn khởi, đốc xúi tôi làm một chuyến di chuyển cho biết một tỉnh lỵ miền Tây gần gũi Sài Gòn nhất. Chiều ý, tôi cũng đèo Vũ Hữu Định trên chiếc hắc mã 67, về hội ngộ Phạm Trích Tiên sau gần 6 tháng không gặp mặt. Cái đến thì tự khắc sẽ đến, sự chờ đợi của Phạm Trích Tiên cũng được đáp ứng với hiện diện của hai gã phiêu linh. Tiệc tùng đầy rẫy, rượu tràn khóe môi, tửu phùng tri kỷ, ngàn ly cũng chưa đầy. Ông Phạm Trích Tiên thì như hủ chìm, ông Vũ Hữu Định thì như rồng gặp nước…thơ thẩn vun vẫy tứ phương, ca ngâm loạn nhịp nào ai hay ai biết, vì thần trí gởi cả cho gió ngàn bay. Trong tiệc rượu tới giai đoạn tung khai lý lịch, hai nhà thơ chợt hét lên ôm chầm nhau trong một phút cảm ngộ tuyệt vời. Tôi còn ngơ ngác nhìn tìm hiểu, thì Phạm Trích Tiên cho hay khi nhắc đến gia đình, thì ra Vũ Hữu Định lại là con nuôi của người cô ruột Phạm Trích Tiên khi anh lưu lạc vào miền Tây khoảng tuổi thiếu niên. Thì ra mọi sự thế đều được an bày, có tránh được định mệnh đâu, mà phải thở than? Như trên chuyến đò ngang, kẻ thất phu cũng hiểu rằng giữa dặm trường vẫn còn tiếng gió sương vương vãi: “Chạnh lòng ngó chuyến đò ngang/ Tiếng kêu sương gió dặm đường quạnh hiu”.

Bản tính của Vũ Hữu Định là cả vì anh em, nên tôi chưa bao giờ nghe anh than phiền một ai, dù rằng trong đời sống phiêu lãng anh cũng gặp nhiều chuyện trái ngang thế thái nhân tình. Nhưng chỉ có một lần duy nhất, không biết Nguyễn Đức Sơn có thái độ ngang trái gì với chàng thi nhân gió bụi phong trần này, mà trong đời tôi chưa hề thấy cơn giận dữ nào khiến phủ lấp đầy vơi trên khuôn mặt luôn luôn nở nụ cười của Vũ Hữu Định. Ngày 29/07/1973 tại tệ xá, Vũ Hữu Định nghiêm chỉnh bày tỏ thái độ với Nguyễn Đúc Sơn trên một bức tâm thư, đích danh tranh luận chính kiến với danh dự của một kẻ sĩ…Tôi cũng không lạ gì tính khí trái trời của các chàng thi sĩ đầy vẻ độc tôn, để dành giựt ngôi vị bắc đẩu. Một việc làm nghi kỵ khiến đời sống chao đảo, đưa đẩy vào cái hư vị phù du, mà danh vọng chỉ làm bận lòng cho thơ. Tình cảnh Vũ Hữu Định trong giai đoạn cùng cực của nẻo sống, nên chỉ có danh dự là sự tự trọng chân thành. Anh trao tôi xem bản văn ngỏ với Nguyễn Đức Sơn, khiến tôi cũng buồn lây cho sự thế xáo trộn, thiện ác huyễn hoặc ẩn hiện giữa lớp người. Định tâm, tôi khuyên giải Vũ Hữu Định suốt hai ngày ròng rã, mới lấy được bản văn ngỏ lưu lại với thiên thu. Vũ Hữu Định thản nhiên bỏ lại những phiền toái sau lưng, lững thững lướt vào gió bụi. Bây giờ, thị phi không còn đọng trên nếp áo, nhà thơ chỉ biết nghiêng tai lắng nghe trời đất, vạn vật, để ôm cả buổi chiều rơi rụng vào thơ: “Anh có nghe bên đường tiếng chim kêu/ Con chim chi buồn chết cả buổi chiều”, hoang vu cô độc nhớ nhung chất chồng trên cả đường đi lối về, với: “Những con đường núi sâu hun hút/ Những phố đìu hiu không nhớ tên” và :“Thấy gì không giữa bao la?/ Bỗng nghe tim động nỗi nhà quạnh hiu.”

Bóng dáng khiêm tốn khi đứng vươn vai so bì với thiên địa, bản chất hạo nhiên lại là chân khí tuyệt diệu của thi nhân. Vũ Hữu Định thản nhiên trước mọi cuồng rối vây phủ chung quanh. Trong tâm thức chắc chỉ còn cô đọng một khối oan khiên cho riêng mình, mà nhiều khi số phận đã khiến nhà thơ trải lòng cảm ngộ với những bóng hình phủ chiếu xuống thân ta: “Chiều khó thở ngồi bên quán xếp/ Một miếng khô, một xị rượu nồng/ Nhai là nói với đời lận đận/ Uống là nghe sầu cháy long đong……Ta là khách, còn cô hàng là chủ/ Cũng có trong lòng một hố sâu.”

Trường đời dàn trải đầy nghịch cảnh gai góc, khiến suốt quãng đường đi qua của Vũ Hữu Định quay quắt như con vụ cuồng xoay. Cái điêu linh không thoát thành lời, họa chăng chỉ có thơ gieo từng hạt lân tinh trên đường phiêu bạt, đã làm cháy xém đi những tang thương chất chồng trên suốt một kiếp người…

Ngô Nguyên Nghiễm

Chúng Mình Mất Hết, Chỉ Còn Nhau…Thơ Hư Vô, Nhạc Phạm Quang Ngọc, Ca sĩ Hòa Hiếu, PPS Vân Phong.


0001-2

Sài Gòn Một Thời Của Một Đời – Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

(Chân dung Nhà Thơ Nguyễn Mạnh Trinh)

Có nhiều bài thơ về Sài Gòn. Thành phố ấy, với nhiều người, là thánh địa của kỷ niệm. Với Nguyên Sa, là Tám Phố Sài Gòn, là “Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều”, là “Sài Gòn phóng solex rất nhanh” “Sài Gòn ngồi thư viện rất ngoan” là “Sài Gòn tối đi học một mình”, là “Sài Gòn cười đôi môi rất tròn”, là “Sài Gòn gối đầu trên cánh tay”.. Với Quách Thoại buổi sáng, là “sáng nay tôi bước ra giữa thị thành/để nghe phố nói nỗi niềm mới lạ/tiếng xe tiếng còi tôi nghe đường xá / cả âm thanh của cuộc sống mọi người/ một nụ cười chạy ẩn giữa môi tươi/trên tim nóng trong linh hồn tất cả /..” Với Trần Dạ Từ là buổi trưa, về Thị Nghè: “vẫn một mặt trời trên mỗi chúng ta/ và mỗi chúng ta trên một bóng hình/tôi vô giác như mặt đường nhựa ẩm/trũng nỗi sầu đau náo nức lưu thông/mùa hạ đi qua tựa hồ giấc mộng/ tôi chạy điên trong một bánh xe tròn / và đứa trẻ hít còi người đàn bà bước xuống/ ôi chiếc cầu , ôi sở thú. ôi giòng sông/..” Với Cung Trầm Tưởng, là mưa, là “mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn / mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi/ mưa hay trời cũng thế thôi/ đời nay biển lạnh mai bồi đất hoang/..” Với Luân Hoán, là ngồi quán, là “ngồi La Pagode ngắm người/thấy em nhức nhối nói cười lượn qua/mini-jupe trắng nõn nà/vàng thu gió lộng chiều sa gót giày/ ngẩn theo tóc, tuyệt vời bay/ hồn thơ thức mộng trọn ngày bình yên/” Với Đỗ Trung Quân, là ngày bãi trường mùa hạ “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng / em chở mùa hè của tôi đi đâu/ chùm phượng vĩ là tuổi tôi mười tám / tuổi thơ ngây khờ dại mối tình đầu..”..

Và với nhiều thi sĩ khác, Sài Gòn là phố cây xanh, là đêm cúp điện, là chiều mưa giọt, là trưa nắng đỏ. Ôi Sài Gòn, của cõi thơ không cùng, của những chân trời thi ca bao la, của những trái tim lúc nào cũng dồn dập nhịp thở của tháng ngày tuy náo động nhưng chẳng thể nào quên.

Đường Tư Do – Sài gòn trước 1975

Với riêng tôi, Sài Gòn là muôn vàn kỷ niệm. Là những con đường quen thân , nhắc lại một thuở ấu thời. Là ngôi trường Chu văn An, nơi tôi miệt mài suốt bảy năm trung học. Là trường Khoa Học, là trường Luật trước khi vào lính. Là cổng Phi Long vào phi trường Tân Sơm Nhứt khi vừa nhập ngũ. Là những mơ mộng tuổi trẻ, lúc vừa bước vào đời sống quân đội trong một đất nước đang trong tình trạng chiến tranh.

Phi trường Tân Sơn Nhất năm 1970

Buổi trưa, nằm dài trên sân cỏ mượt nhìn lên nóc nhà thờ Ngã Sáu, dưới bóng cây dầu cao vút, nghĩ về tương lai nhìn theo những sợi mây bay qua. Nghe xôn xao trong lòng những sợi nắng lung linh. Ôi, thuở còn đi học, mấy ai tiên đoán được số mệnh mình. Mây bay đi, như đời trôi qua.

“nằm trên cỏ nhìn trời cao
lung linh sợi nắng thuở nào phai phai
nhìn tượng Chúa dưới tàng cây
giơ vai chĩu nặng tháng ngày chiến tranh
mùa hạ mấy bước đi quanh
cổng trường đóng những đoạn đành thế thôi
ngày mai đi bốn phương trời
mây phiêu lãng chợt thương đời phù du..”

Sài Gòn những mùa thu. Có những con đường xôn xao áo lụa. Có những buổi tan học nhìn tà áo trắng mà mơ ước vu vơ. Để đêm về, trên trang vở học trò, vẽ bâng quơ đôi mắt ai, mái tóc ai:

“Thành phố ấy , xôn xao tà áo trắng
nắng hanh vàng trải lụa những mùa thu
guốc chân sáo để hồn ai ngơ ngẩn
bước mênh mang nghe quẩn sợi sương mù
mây vào áo lồng lộng bay chiều gió
lụa trắng trong e ấp buổi hẹn hò
sợi mi cong tưởng chập chờn ngực thở
tóc ai buông dài xõa những câu thơ.
Thành phố ấy, mấy ngã tư đèn đỏ
Ai chờ ai khi kẻng đánh tan trường
Bài thơ trao còn nguyên trong cuốn vở
Thuở ngại ngùng lần bước đến yêu thương..”

Sài Gòn của một thời mặc áo lính. Khi ở xứ biên trấn xa xôi, nhớ về thành phố với người thương, với phố quen, trên máy bay lượn vòng thành phố, nghe như mình đã trỡ về quê hương mình. Khi đổi về đơn vị ở phi trường Biên Hòa, mỗi buổi sáng tinh sương ghé phở Tàu Bay, ăn tô phở đầu ngày trong cái không khí trong veo buổi sớm, nay nhớ lại còn trong dư vị miếng ăn ngon của một thời tuổi trẻ.

Năm 1968, lệnh tổng động viên nên vào lính nhập khoá với những người cùng trang lứa. Lúc ấy, với hăng hái của người nhập cuộc, hiểu được bổn phận của một công dân thi hành nghĩa vụ quân sự với đất nước. Lúc ấy, mắt trong veo và tâm hồn như tờ giấy trắng:

“Bọn ta ba trăm thằng tuổi trẻ
Chọn không gian tổ quốc mênh mông
Mắt sáng môi tươi như tranh vẽ
Vào lửa binh không chút nao lòng
Chia sẻ với nhau thời bão gió
Đời muôn nhánh rẽ ngược xuôi nguồn
Cánh chim phiêu bạc ngàn cổ độ
Tử sinh ai luận chuyện mất còn?
Ngồi uống cùng nhau các hảo hán
Tưởng ngày xưa rượu tiễn lên đường
Sách vở giảng đường thành dĩ vãng
Những chàng trai dệt mộng muôn phương..”

Rồi, vận nước đến thời, gia đình ly tán, đi vào trại tù, nếm đủ những cay đắng của đời cải tạo. Khi trở về, Sài Gòn, cảnh vẫn cũ nhưng người xưa đã khác. Như Từ Thức về trần, cả một thế thời thay đổi. Người về, từ trại tù nhỏ sang qua nhà giam lớn, vẫn những con mắt công an cú vọ rập rình, vẫn những lý lịch trích dọc, trích ngang đeo đuổi. Tạm trú, tạm ngụ, ở chính ngôi nhà của mình. Nơi sẽ định cư của những người tù cải tạo, là những vùng kinh tế mới xa xăm, những nơi chốn đầy ải của ngày tuyệt lộ. Trở về xóm cũ, làm người lạ mặt:

“Đỏ bầm mặt nhựt cơn mê
lạnh tanh khuôn mắt người về dửng dưng
vào ra lối rẽ ngập ngừng
mấy năm sao lạ , nỗi mừng chợt xa
cầu thang quẩn dấu chân qua
đời như hạt nước mưa sa bóng chiều
từ rừng máu giọt gót xiêu
thảm thương phố cũ nắng thiêu mộng người
đỏ bầm ánh điện đường soi
cây nhân sinh chợt nẩy chồi cuồng điên
nhìn soi mói nụ cười đen
mắt hằn dấu đóng chao nghiêng một ngày.”

Về trình diện công an khu vực, nhìn nụ cười gằn vừa mỉa mai vừa soi mói, nhìn đôi mắt cú đóng dấu vào một ngày thất thế của người bại binh, ôi đau xót cho một đời ngã ngựa.

Ở Sài Gòn những ngày giặc chiếm, vẫn còn âm hưởng của một cuộc chiến chưa tàn. Trên chuyến xe bus nội ô, một người lính què dẫn dắt người lính mù hát những bài hát ngày xưa ngày còn chiến đấu dưới cờ. Quân lực VNCH là tập thể của những người lính tin tưởng vào công việc làm của mình. Dù thua trận nhưng họ không muốn làm hèn binh nhục tướng…

“trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Dắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời thơ nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa thuở xa xưa
khói mịt mù thời chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thuở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giày buồn còn vết giữa sình lầy
Nghe lời hát tưởng đến người gục ngã
Cả chuyến xe chia sẻ một nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn dù gỗ đá
Thức hồn người vào nhịp thở chưa quên
Ơi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói từ mắt thầm cầu nguyện
Cho lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây thịt xương còn sót lại một đời
Còn ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Dù rã rời nhưng vẫn thắm nụ cười
Ta nghe rực trong hồn trăm bó đuốc
Mặt trời lên xua tăm tối cho đời..”

Ở Sài Gòn năm 1980, là những ngày tôi cựa quậy trong nan lồng. Nghèo đói, bất công, đe dọa, bắt bớ, đủ thứ khổ nạn đổ lên đầu người dân nhất là những người được thả về từ trại tù. Mỗi ngày trình diện công an, rồi mỗi tuần, mỗi tháng nhưng áp lực thì càng ngày càng tăng. Tạm trú, từng tháng, từng ngày. Không có một chỗ nào ở thành phố cho các anh, người thua trận. Tôi, không có hộ khẩu, ở tạm trong nhà của mình. Rồi tham gia tổ chức vượt biên ở Bến Tre bị công an tỉnh này lên Sai Gòn tìm bắt. May là thoát được nên sau đó là phải sống lang thang đêm ngủ chỗ này tối ở chỗ khác. Những buổi tối trời mưa, đạp xe đi tìm chỗ tạm trú, mới thấy ngậm ngùi cho câu than thở trời đất bao la rộng lớn mà sao ta chẳng có chốn dung thân. Những buổi chiều nắng quái, đi trong thành phố, mới thấy cảm gíac của một kẻ cô đơn như con chuột đang cuống cuồng trong lồng giữa cơn mạt lộ. Thấy đi tới đâu cũng gặp những cặp mắt ngại ngùng của những người thân, từ chối thì không nỡ mà chứa chấp thì bị liên lụy nên tôi phải tìm một phương cách để cho qua đêm dài. Thuê phòng trọ hay khách sạn cực kỳ nguy hiểm, nên chỉ có một cách là trà trộn vào những người ngủ ngoài đường. Lúc ấy, ở Sài gòn đầy những người ngủ ở hè phố, Họ là những người từ kinh tế mới về chịu không kham sự khổ cực hay những người vượt biên hụt trở về nhà bị chiếm. Mà chỗ an toàn nhất là bến xe Ngã Bảy. Ở đây là đường ranh của nhiều phường nên chỉ có một quãng ngắn, ở chỗ này bố ráp thì chỗ kia vẫn bình thường như không có gì xảy ra. Tôi có xem một video của trung tâm Asia có ghi lại hình ảnh của nhạc sĩ Trúc Phương cũng hoàn cảnh phải ra xa cảng để ngủ qua đêm mà chạnh lòng. Thì ra, ở lúc ấy, có nhiều người chung cảnh ngộ, phải lang thang ngủ đầu đường xó chợ một cách bất đắc dĩ. Bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt, công an lộng hành, bắt người không cần lý do, kinh tế thì lụn bại, ngăn sông cấm chợ, cả nước nghèo đói không đủ gạo ăn, kỹ nghệ trì trệ không sản xuất được gì đáng kể. Rồi chính sách phân biệt đối xử, giáo dục thì nhồi sọ, hồng nhiều hơn chuyên, thi cử tuyển chọn theo lý lịch hơn là thực tài, y tế thì thiếu thuốc men phương tiện và y sĩ trình độ kém lại làm việc tắc trách. Thật là một thời tệ mạt nhất trong lịch sử dân tộc ta.

Ngủ ở bến xe Ngã Bảy, mướn cái chiếu 1 đồng, kiếm một chỗ qua đêm, tôi đã chứng kiến nhiều chuyện. Có những bà mẹ góp nhóp tiền bạc đi thăm con ở một trại tù nào đó, chờ xe ba bốn ngày, sống lang thang lếch thếch chờ đợi. Cũng có những người không nhà, nằm la liệt dưới mái hiên, sinh sống ăn ngủ và làm tình một cách thản nhiên như đang sống trong nhà mình. Cũng có những trai tứ chiếng, những gái giang hồ quanh quẩn kiếm ăn. Những anh lơ xe, những chị buôn hàng chuyến, những mối tình, hừng hực xác thịt cứ diễn ra hàng đêm. Rồi những đêm mưa gió, ướt át, những tiếng chửi than trời trách đất cứ dòn dã. Hình như, ở gần nỗi khổ, tâm hồn họ bị chai sạn đi. Công an từ phường này qua phường kia luôn luôn bố ráp nhưng như một trò chơi cút bằt. Áo vàng mũ cối đi qua, chỉ ít lâu sau là đâu vẫn đấy.

“ .. hè phố rác lạc loài hoa dại
nở buồn tênh phiến gạch ngậm ngùi
cỏ đớn hèn hạt sầu kết trái
ươm bao năm dầu dãi nụ cười
ngủ chợp mắt đèn khuya vụn vỡ
ho khan ai quằn quại phổi khô
tiếng còi hú nhát đinh vỡ sọ
nghiến xe lăn tim nhịp chày vồ
rưng não tủy bầu trời tháng chạp
cành cỏ khô héo mãi phận mình
ở vu vơ ngỡ ngàng tiếng khóc
đêm bến xe tưởng chốn u minh
đường bảy nhánh chỗ nào phải lối
ngủ nơi đâu còi rúc giới nghiêm
như tiếng cú rúc trong huyệt tối
người lao xao cõi tạm cuồng điên
gío nhọn hoắt ngon lành da thịt
mưa giọt soi mộng dữ chân người
ánh đèn pin mắt ai tội nghiệp
bờ đá xanh lạnh buốt chăn đời..”

Ở một đất nước vào thời kỳ mà cây cột đèn nếu đi được cũng muốn vượt biển, thì còn con đường nào khác hơn là thách đố với định mệnh.

Những lần sửa soạn ra đi, tự nhủ hãy đi một vòng thành phố thân yêu để rồi vĩnh biệt không còn gặp lại. Những khúc sông, những cây cầu, những dãy phố, mỗi mỗi đều nhắc đến kỷ niệm và khi sắp sửa ra đi như mất mát một phần đời sống mình. Có buổi tối, đi trong mưa, để tưởng nhớ lại lúc xa xưa, khi bềnh bồng trong cảm giác lãng mạn của một người đi tìm vần thơ.

Mai ta đi xa. Thôi giã từ thành phố. Lòng đau như cắt trong lúc giã từ “ta thắp nến đọc hoài trang sách kể
Chuyện người tù vượt ngục suốt một đời
Ta hùng hực cánh buồm chờ gió đẩy
Sống một ngày thêm thúc giục khôn nguôi
Đã đắp xóa bao lần cơn mộng biếc
đường phải đi cho đến lúc xuôi tay
sóng loạn cuồng con thuyền trôi biền biệt
giăng buồm lên phương viễn xứ một ngày
Ta cũng biết còn xa vùng đất hứa
Phải đi qua địa ngục chín mươi tầng
Đời hiện tại xích xiềng theu bão lửa
Nỗi niềm riêng còn khóe mắt thương thân
Đã thấm thía ngày qua ngày tù tội
Chim trong lồng mơ vùng vẫy trời cao
Cười khinh mạn những chão thừng buộc trói
Về phương đông nơi bến đỗ tay chào
Mộng ước mãi chiều nao vời cố quận
Chim sẻ ngoan còn ríu rít phố phường
Loài ác điểu vẫn gây căm tạo hận
Bẫy gai chông ngầm phục ở quê hương
Ta tin tưởng có quỉ thần dẫn lối
Dù giặc thù vây bủa cả không trung
Còn một chén nốc ngụm men vời vợi
Gió chuyển rồi thôi đến lúc lên đường
Chuyện sinh tử dỡn chơi thêm ván cuối
cạn láng rồi thử thách với phong ba
ngôi tinh đẩu dẫn ta về bến đợi
đường biển vẽ rối tay lái thẳng lối qua.”

Bây giờ, nhiều người trở lại nói thành phố đã đổi khác. Hết rồi, những con đường cũ, những ngõ hẻm xưa. Hết rồi, những tâm tình thuở nào, của một thời trong một đời người. Tôi, có lúc đọc những bài viết cũ, ngắm lại những hình ảnh xưa, lại nhói đau như vừa đánh mất một điều gì trân quí. Thôi vĩnh biệt Sài Gòn, tiếng kêu thảng thốt của người vừa đánh mất một phần đời sống mình…

Nguyễn Mạnh Trinh

https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2012/05/27/nguyen-manh-trinh-sai-gon-mot-thoi-cua-mot-doi/

Hồ Biểu Chánh và tiếng Phật. Phan Ni Tấn


Phan Ni Tấn

Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884–1958)

Hồi nhỏ tới giờ tôi vẫn ưa đọc sách, đọc đủ các thể loại truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, khoa học dã tưởng, dịch thuật… Về sau, nghiền ngẫm những tác phẩm của Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường, Vương Hồng Sễnh, đặc biệt là nhà văn Hồ Biểu Chánh, tôi như tìm về các ngõ ngách, ruộng đồng, kinh rạch, sông nước miền Tây quê nội tôi.

Đọc Hồ Biểu Chánh để thấy một tâm hồn mộc mạc, đơn thuần như những cuộc đất khẩn hoang với những con lạch muỗi mồng, âm u gợi lên từng địa danh xa vời. Hồ Biểu Chánh sở trường về văn xuôi ẩn chứa một triết lý nhân sinh góp phần bồi đắp nền văn học miền Nam qua hàng trăm tác phẩm giá trị. Người đọc tìm đến Hồ Biểu Chánh bởi nhân cách sống với phong độ nho gia đạm bạc và những trang viết giản dị, trong sáng, lấy bối cảnh miền Nam làm đề tài với những cảnh đời phức tạp, những thành kiến hủ bại của gia đình xã hội thời phong kiến. Phần lớn ông viết về đời sống phong phú của những người dân cần cù lao động làm nổi bậc truyền thống dũng cảm, sức chịu đựng, lòng nghĩa hiệp và tinh thần vượt qua mọi gian lao thử thách vào giai đoạn lịch sử dưới thời Pháp thuộc.

Đặc tính trong cách hành văn của Hồ Biểu Chánh là luôn luôn nhấn mạnh vào từng tiếng địa phương, từng chữ đơn sơ, từng nghĩa mộc mạc của ngôn ngữ miền đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi câu truyện của Hồ Biểu Chánh là một bức khắc họa có chiều sâu với những hình thể và màu sắc khác biệt. Nói đến Hồ Biểu Chánh là nói đến dòng thời gian xa thẳm, là tìm về miền ký ức mờ sương. Cho nên đọc Hồ Biểu Chánh, ta có cảm tưởng như đi ngược về dĩ vãng để tha thiết tìm lại hồn đời của từng nếp sống xa xưa.

Hồ Biểu Chánh viết văn giản dị như nói chuyện. Ông say sưa kể chuyện với cả tâm tình. Những câu chuyện về đồng áng, kinh rạch, sông ngòi, đất đai, nhà cửa…, về bà Hội đồng, ông Hương cả, thầy Tham bái, vị Cai tổng, Quan tham biện cho tới người ăn kẻ ở quê mùa, chất phác đều toát ra cái thần hồn thần tính của họ… Tất cả những cảnh đời nói trên đều được Hồ Biểu Chánh làm sống lại trong văn chương tả chân, phản ánh đúng lề lối sinh hoạt của người dân miền sông nước Cửu Long trong giai đoạn thực dân hóa.

Nhớ mùa hè năm 1969, tôi và một người bạn cùng quê đi Honda ngao du về miền Lục tỉnh Nam kỳ. Cuộc hành trình từ Sài Gòn qua Nhà Bè tới Cần Đước, theo những con đường lồi lõm, sỏi đá và bụi, băng qua những thửa ruộng, những bờ đê ghé về quê nội tôi là huyện Cần Giuộc; thuở ấy làng quê chỉ có những dẫy nhà tranh lụp xụp với con đường đất chạy xuyên qua đầm lau sậy âm u. Từ Cần Giuộc qua cầu Rạch Kiến cặp theo dòng sông Soài Rạp tới cửa Cần Giờ, rồi từ đó xuôi theo hướng Đông ghé vào chợ Dinh, Gò Công nhắm chút rượu chuối với cá khô đồng.

Ban đêm ngủ trong nhà người bà con nghèo khó mà tốt bụng của anh bạn đồng hành nghe tiếng vạc kêu sương, nghe giun dế nỉ non, nghe tiếng heo ụt ịt đòi ăn sau hè làm tôi bồi hồi nhớ tới những câu chuyện tiểu thuyết thời sự xa xưa của nhà văn lão thành Hồ Biểu Chánh.

Đêm hôm đó, nằm trên chiếc chõng tre ọp ẹp, tôi ngắm ánh trăng lặng lẽ luồn qua liếp cửa chảy xuống đọng thành những vũng sáng trên nền đất mà nhớ tới người. Tôi mơ hồ tưởng chừng như ông vẫn còn ở đâu đó trên mảnh đất Gò Công hiền hòa này. Hồ Biểu Chánh sanh trưởng tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công, nơi xưa kia là vùng đồi núi có nhiều chim công. Ông sinh ra để sống và viết. Lúc mất đi, ông để lại cho đời những áng văn chương bất hủ, góp phần bồi đắp cho nền văn học Việt Nam thêm phong phú.

Trong hàng trăm tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, cuốn tiểu thuyết Tại Tôi, khi đọc tôi cảm thấy tự đáy sâu lòng mình thường dâng lên từng đợt sóng u hoài.

Tại Tôi có những bối cảnh, những diễn biến cũng như những nhân vật đầy bi thảm. “Thằng Ba”, tức Lý Như Thạch, con thứ của bà Cả Kim và cô con dâu tên Nhung là những nạn nhân của chế độ gia đình thuở xưa. Sinh ra dưới thời phong kiến, Như Thạch chịu sự giáo huấn nghiêm khắc của bà mẹ đồng thời hấp thụ nền văn học Tây phương. Lý Như Thạch đi học xa nhà, cảm nhiễm phong hóa Âu Tây, cưới vợ mà không thưa với bà Cả là trái với gia pháp nên rốt cuộc cả cậu Thạch lẫn cô dâu đều bị bà Cả dứt tình đuổi ra khỏi nhà.

Đoạn thê thảm nhất trong tác phẩm Tại Tôi của Hồ Biểu Chánh là, tuy hai người trôi giạt về chốn xa xăm, thương yêu, đùm bọc nhau trong hoạn nạn, chịu đựng nỗi cơ cực, bần hàn, nhưng “họa vô đơn chi”. Lý Như Thạch đã hỏng về phương tộc, người bạn đường mà anh yêu quí hết lòng hết dạ, trời xui đất khiến lại bị bịnh tim mà đứt gánh giữa đường. Cô Nhung chết đi để lại người chồng bất đắc chí và “nhánh lá nhà họ Lý” là con Thanh Nguyên còn thơ dại. Vậy mà trời nào chịu buông tha, vẫn bắt số kiếp bi đát của Lý Như Thạch, trong mình mang sẵn bịnh lao, không có tiền chạy chữa thuốc than; cuộc sống quá đày ải lại gặp sự buồn rầu dồn dập, thân thể gầy mòn nên lần hồi ngắc ngoải lìa đời. Không có gì bất hạnh cho bằng con còn nhỏ mà phải trải qua nỗi đau mất cả mẹ lẫn cha.

Cái chết và sự sống qua những câu văn thật bình dị và vô cùng cảm động của Hồ Biểu Chánh khiến tâm hồn người đọc cũng theo ông nghiêng xuống nỗi đau của cuộc đời. Nhưng người chết đã đành, người sống thì sao? May mắn thay, trước khi chết Như Thạch đã để lại một tờ di ngôn cho người bạn chí cốt tên Tự Cường và nhờ bạn nuôi dưỡng giùm đứa con vô gia đình, vô thân tộc. Nhờ vậy, Thanh Nguyên lớn lên trong sự yêu thương hết lòng của người dưỡng phụ, tuy không phải là cha đẻ nhưng tình nghĩa đã gần như một bổn phận thiêng liêng đối với ông.

Tác phẩm Tại Tôi của Hồ Biểu Chánh là tiếng thở dài não nuột trước sự bạc bẽo của nhân tình thế thái. Vì lẽ đó, ở cuối chương tác gỉả đã ôn tồn đưa triết lý Phật giáo vào cốt truyện như muốn khơi lại tánh bổn thiện của những thói đời hệ lụy. Ngọn lửa từ bi là ánh sáng soi đường dẫn lối cho sinh linh thành khẩn chắp tay hướng Phật. Nhưng vì gia tài đồ sộ của dòng họ Lý đã che mờ lý trí của Lý Thị Phụng; con đầu lòng của bà Cả Kim, tự cô chọn vị trí đứng ngoài bóng mát của hạnh từ bi nên y thị không có duyên với nhà Phật, không hề nghe được tiếng Phật. Vì thiếu đức tin nên trong truyện cô Phụng đành đoạn giấu nhẹm lá thư cầu cứu của em mình đang trong cơn thập tử nhất sinh từ xa gởi về, không cho bà Cả hay. Giấu nhẹm thư tuyệt mệnh của em mình để làm gì, nếu không phải là lòng tham không đáy muốn chiếm trọn gia tài đồ sộ kia?

Sự kiện chua xót này được thể hiện bằng lời trách móc của thầy Hội đồng nhắm vào vợ chồng cô Phụng thật là đáng.

“Phụng, thiệt rõ ràng vợ chồng mầy hiệp nhau mà giết em mầỵ Ngày thằng Thạch dắt vợ nó về, chị Cả giận đuổi nó, vợ chồng mầy không có được một lời can gián. Khi nó gần chết, nó viết thư như vầy, mà vợ chồng mầy giấu biệt không cho chị Cả hay. Bây ăn ở như vầy thì khốn nạn quá. Tao hiểu hết. Bây muốn cho thằng Thạch chết mà lại tuyệt tộc nữa đặng bây muốn ăn gia tài cho trọn. Không được đâu, thái độ của bây như vậy trời không cho bây hưởng trọn giàu sang đâu…”

Nhừng mà trời Phật có bỏ ai dâu, chẳng qua người xấu gieo nhân xấu thì gặt quả xấu, đúng như nhà Phật có câu gieo nhân gặp quả, vậy thôi. Đó là sự công bằng, cũng là chuyện thường hằng của nhân thế.

Và rồi việc gì tới phải tới. Từ ngày vợ chồng Lý Như Thạch chết đi, con Thanh Nguyên, cháu nội bà Cả Kim lớn lên biết chuyện, không chịu nhận cội nguồn; còn thằng Hữu Nhơn, con của vợ chồng cô Phụng bạc nghĩa kia lại mắc phải chứng dở khùng dở điên. Cái cơ ngơi to lớn của bà Cả lúc nào cũng tràn đầy ánh nắng, sau cuộc tang thương đã trở nên lạnh lẽo khác thường. Cái gì làm cho ngôi nhà kia âm u, và thân tộc kia trở nên buồn bã? Cuộc bể dâu vỗ từng cơn sóng dữ vào lòng nhân thế là như thế. Cũng là chuyện thường tình.

Ta hãy nghe Hồ Biểu Chánh kết thúc câu chuyện đầy chua chát này:

Ông cai tổng Quyền lắc đầu rồi cười gằn: “Rõ ràng hễ làm dữ thì gặp dữ”.

Còn bà Cả Kim ngồi im lìm, mắt ngó sững ra ngoài sân một hồi lâu, bà thở một hơi dài thiệt dài rồi nói: “Tại tôi hết thảy!”.

Nhìn lại suốt quãng đời cầm bút của nhà văn lão thành Hồ Biểu Chánh, vì sự thôi thúc của bản năng và nỗi dằn vặt nội tâm khiến cho cuộc sống cổ sơ và các tác phẩm văn chương của ông đều toát ra vẻ hiền hòa, chân thực không những dành riêng cho mình mà con dành cho những con người miền Nam quê mùa, chất phác.

Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn có giá trị của miền Nam nước Việt nói chung và của miền đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

Phan Ni Tấn

Tiệc Tình. Thơ Hư Vô.


Tiệc tình dọn giữa dung nhan
Mời em tựa xuống hoang đàng cùng tôi
Rượu nồng còn đọng trên môi
Đã nghe son phấn rã rời hương đêm.

Đường em bước tới chông chênh
Để tôi nín thở đáp đền ơn em
Nhập hồn chung một nhịp tim
Nương theo ngọn sóng đắm chìm đời nhau.

Tiệc tình dọn giữa hư hao
Chắc gì đã có đời sau mà chờ
Trần gian cũng tựa giấc mơ
Tôi và em chỉ tình cờ bước qua.

Một lần cũng đủ xót xa
Có thành người lạ vẫn là của nhau
Mời em nghiêng xuống chiêm bao
Cho da thịt còn biết đau kiếp này….

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 279


IMG_1539

VƯỜN ĐÁ

Những phiến đá chất quằn kỷ niệm
Cho nặng thêm mỗi bước em về
Dáng xưa lấp lánh như mưa bụi
Pha buồn sóng sánh giọt cà phê.
Kề môi hớp cạn hơi cùng tận

Còn đắng trong nhau chút bụi trần
Này em nắm chặt bàn tay lại
Để còn giữ được bóng tình nhân.
Vườn đá xanh rêu đời lang bạt

Đã hoang tàn phế tích đời em
Thì tôi, bia khắc vào thiên địa
Ngàn đời sau đâu dễ gì quên.
Dẫu không chung bước thì cũng đã

Có một thời tình quá bể dâu
Làm tim em đôi lần rịn máu
Nhỏ vào hồn đá cuội xanh xao…

Hư Vô

KHÚC TỰ TÌNH PHÙ DU

thôi thì em mặc áo xanh
cho hồn ta ẩn bên nhành kết thơ
thôi thì em rủ tóc tơ
cho ta tựa gốc sương mờ tịnh tâm

thôi thì em nguyện lâm râm
cho ta ngửi nẫu môi trầm như lai
lỡ không cái gã địa tài
đắp chăn gã ngủ giấc dài trong tôi

mai một ta có luân hồi
tái sinh lại giữa khóe môi em hồng
ngâm mình tiếng nước suối trong
ta siêu theo cánh phượng hồng em bay

mốt mai ta có lưu đày
thì xin trọn ngục tóc mây yên nằm
hóa thành con chấy trăm năm
ta xin canh giữ rừng trầm nhân gian

Phạm Thiên Thư

THIÊN THU ĐÃ GỌI

Nghe rõ tiếng ai vừa gọi
Trần gian im tiếng những chiều
Đâu đây giọng người cười nói
Buốt từng ngọn gió cô liêu

Biết đau phận mình từ độ
Cõi đời vịn bóng phù hư
Có những chiều rưng rức nhớ
Mưa bay buồn rã kiếp người

Tôi gọi một trời tuyệt vọng
Chôn đời tôi với phai phôi
Trong mơ lạc loài tôi mộng
Thiên thu chìm dưới dốc đời

Nầy tôi và còn ai đó
Khuất chìm dần với hư vô
Nghe khuya từng hồi chuông đổ
Mưa đêm phủ kín quanh mồ…

Nguyễn Minh Phúc

 

THƯƠNG VẦNG KHÓI NHẠT

nặng quá tôi ơi lúc cuối đường
bên lề . tạm gỡ mớ hành trang
đốt lên điếu thuốc . nhâm nhi khói
chẳng ngờ . gió nổi . nát như tương!

là . tan tác cả bao vầng khói
xé rách chiều im . chạnh cả lòng
thương đốm lửa buồn như hốt hoảng
chạy hụt hơi về một cõi không

thangtram

QUA CHUYẾN PHÀ CUỐI TRÊN SÔNG HẬU

Tôi đứng đợi bên bờ sông gió thổi
Chờ phà sang rời bến bắc Bình Minh
Cây cầu mới chợt giật mình trở giấc
Sáng ánh đèn soi sóng nước lung linh.

Cô hàng rong nhìn tôi cười buồn bã
Phà không còn em mất chốn nương thân
Chú bánh mì bán hàng trên phố vắng
Khuya qua cầu đạp chắc rã đôi chân.

Phà trăm năm đưa bao người xa xứ
Có người thương không hẹn lúc quay về
Tôi ngơ ngẩn nhìn tháp tầng cầu mới
Chợt thấy mình lạ lẫm giữa sông quê.

Phà tách bến lẻ loi trong sương lạnh
Mai xa rồi trơ bến vắng còn đâu
Biết ai về nơi đầu sông góc biển
Nhớ mang theo chút nắng để qua cầu.

Chuyến phà đêm cuối cùng trên sông Hậu
Còn chờ ai đã mất hút lâu rồi
Em bỏ lại áo xưa thời mực tím
Theo chân người để lạc mất tình tôi.

Nguyễn An Bình

TÔI TÌM TÔI

Tôi cởi áo ngồi lại trên cầu
thức giấc mơ người xa lạ
làng tôi nước dâng lên từ thế kỷ
chiếc xe bò đâu rồi cho cái vẫy tay
con đường mòn mất hút cho lần trở lại
nụ cười trẻ nhỏ tắm ở chân cầu ngày ấy của tôi
nụ cười mẹ nhòe thiếu nữ ánh mắt mẹ thời xa bố

Tôi tìm tôi nơi gương sông mù mờ khuôn mặt
quả bóng ném từ sân phơi lúa tới chỗ tôi ngồi
va đôi chân trần lem lấm

Có kẻ ném đá lên những toa tàu
vang tới tiếng chuông từ giáo đường loang lổ
mất dấu ngôi nhà để nói lời ra đi
chuyển động giao mùa băng rất nhanh
ánh chớp lóa mắt nhìn ga lẻ

Tôi đang bước xuống chạm mặt mình đang bước lên.

Vũ Trọng Quang

LỤC BÁT TRẦN YÊN THẢO

1.

Lẫn trong vận hội xế tàn
tiếng hờn đứt nối như gần như xa
dọn đường về lại đất ta
ngàn năm ma cũ oán ma bây giờ.

2.

Long đong mấy bận nổi chìm
hết ham bước tới chẳng hiềm bước lui
đâu cần bôn tẩu ngược xuôi
ngồi đây chơi hết cuộc vui buồn buồn.

3.

Tình trần đâu dễ phân ly
ngại gì ánh mắt tiếc chi lời chào
không phụ ước, chẳng mong cầu
gương đâu giữ bóng, bóng nào tìm gương.

4.

Chập chờn đâu đó tiền thân
đường tơ kẽ tóc tuy gần hóa xa
thoạt ngờ viễn khách đi qua
hay đâu hoa trước là hoa bây giờ.

5.

Một thời phản bội máu xương
đem thân quán trọ làm vương quốc mình
mãi mê bắt bóng lộng hình
chợt khi tỉnh ngộ thấy mình như xưa.

Trần Yên Thảo

EM VÀ TÔI

Em ngụ trong tôi những nỗi buồn, niềm vui,
những hạnh phúc ngọt ngào và nỗi đau mất mát
Em ngụ trong tôi những vuông, tròn, cạnh, góc,
những đường ngang, nét dọc số phận con người
Em ngụ trong tôi sự nghiệt ngã cuộc đời,
phút thăng trầm trên con đường định mệnh
Em ngụ trong tôi bao sắc màu cuộc sống,
nét rực rỡ của mặt trời, sự tăm tối của bóng đêm
Em ngụ trong tôi sự cứng rắn yếu mềm của trái tim
đang nhịp cùng nguồn thông tin trí não
Em ngụ trong tôi những ánh nhìn ngơ ngác
của tuổi hồn nhiên và phiền muộn tuổi già.
Trước bao điều đang lặng lẽ trôi qua,
sự chuyển vận của thời gian khi trái đất đang xoay trong vũ trụ
Em và tôi, tôi và em tồn tại bên nhau không thể tách rời
Trong khoảng khắc, vĩnh hằng em vẫn lặng lẽ trong tôi

Phạm Thị Quý

Vườn Đá. Thơ Hư Vô


(Viết tại Quán Cà Phê Vườn Đá, 2017)

(Trắng Trời. Tranh sơn dầu Đinh Cường)

Những phiến đá chất quằn kỷ niệm
Cho nặng thêm mỗi bước em về
Dáng xưa lấp lánh như mưa bụi
Pha buồn sóng sánh giọt cà phê.

Kề môi hớp cạn hơi cùng tận
Còn đắng trong nhau chút bụi trần
Này em nắm chặt bàn tay lại
Để còn giữ được bóng tình nhân.

Vườn đá xanh rêu đời lang bạt
Đã hoang tàn phế tích đời em
Thì tôi, bia khắc vào thiên địa
Ngàn đời sau đâu dễ gì quên.

Dẫu không chung bước thì cũng đã
Có một thời tình quá bể dâu
Làm tim em đôi lần rịn máu
Nhỏ vào hồn đá cuội xanh xao…

Hư Vô

Ba lần đi tìm Hồ Dzếnh. Nguyễn Thị Ngọc Hải



Nguyễn Thị Ngọc Hải

(Chân dung Thi Sĩ Hồ Dzếnh)

1. GIỮA CHỢ ….KHÔNG AI HỎI?

Quái lạ, suốt bao nhiêu năm làm báo ở Hà Nội, bao nhiêu lần đạp xe qua phố Hòa Mã, mà sao mình không biết ở đó có nhà của thi sĩ Hồ Dzếnh?

Đó là câu hỏi có phần ngạc nhiên và ân hận, khi tôi xin được địa chỉ của nhà ông. Lúc này đã vào năm 1991 khi tôi đã chuyển vào Sài Gòn sống, lúc nào nghĩ về quê nhà xa xôi là liền nhớ về trên cái “gam“ nền những rung động buồn thương thuở thiếu thời ôm cuốn “Chân trời cũ”…

Mà chợt nhớ ra, những năm tháng sống ở Hà Nội ấy không biết mình từng đi qua cửa nhà Hồ Dzếnh cũng phải. Thời đó nắng to lên một cái là đạp xe như ma đuổi, chạy cho nhanh xa những phố phường gần nhà máy, trận địa cao xạ, Hay đơn giản là chẳng gần đâu cả, nhưng phố nắng người thưa đang trong hồi còi báo động. Nhà thi sĩ ở ngay “phố nhà rượu”, rất dễ là mục tiêu bắn phá của máy bay Mỹ.

Và cũng quanh quanh gần mấy phố này thôi, nhà thơ tài năng – Quang Dũng (Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn – Về ngắm Sài Sơn lúa chin vàng-….Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc- Sáo diều vi vút thổi đêm trăng – ông tả quê tôi đấy ) đã từng sống những ngày nghèo khó thiếu ăn. Như nhà văn Thanh Châu miêu tả, Quang Dũng thích ăn khoai lang hàng bà cụ phố Tuệ Tĩnh. Kẹo vừng ông lão chợ Hôm. Nước chè tươi, cơm đầu ghế… Tất cả đều gần gũi quanh đây, sao ngày đó tôi không tìm họ?…

Sau những năm bom đạn ấy, lại tiếp thời bao cấp đói nghèo Hà Nội. Vất vả nuôi con, thiếu thốn và mải miết với những xếp hàng mua gạo thịt tem phiếu. Với những chuyến đi. Với những rắc rối cơ quan nhà nước nào cũng có… Suốt ngày sấp mặt xuống đến nỗi sau này vào Sài Gòn hát nhạc Trịnh công Sơn tả Hồ Tây với “đàn sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời…” tôi cứ tự hỏi, quái lạ, mình sống ven Hồ Tây mà suốt đời có bao giờ nhìn thấy loài chim nào gọi tên Sâm Cầm đâu.

Cũng không biết ngay đầu phố mình, ven Hồ có nhà văn Phùng Quán sống bằng “cá câu trộm “ ở Hồ Tây, làm cái chòi ngay mép nước trường Chu văn An nơi con tôi học ở đó…

Cuộc sống vất vả nhất – cũng có thể là bị hủy hoại bởi nhiều thứ chán ghét nhất đó khiến tôi không thể tách mình ra mà hiểu hết được cái thời mình đang sống, để tìm gặp những người mình rất ngưỡng mộ sau này là những danh nhân chẳng thể nào gặp nữa.

Sao mình không phỏng vấn Võ Nguyên Giáp, Tôn Thất Tùng, Văn Cao, Trần Duy Hưng, Phạm Tiến Duật, Quang Dũng, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh ….? Thật là một khoảng trống không thể tha thứ đối với một người đã từng làm báo ở Hà Nội.

Với tất cả nỗi “day dứt Hà Nội “đó, vợ chồng tôi tìm đến phố Hòa Mã.

Năm 91- những năm đầu Việt Nam mở cửa, đã mấy năm bước vào Đổi Mới rồi, nhưng vẫn còn nghèo. Các ký giả phương Tây vào nhiều. Họ tả Việt Nam với lời khen ngợi nhưng vẫn là một Việt nam theo góc nhìn tường thuật riêng …” Nơi gặp gỡ lạ lẫm giữa Đông và tây “…” Xóm ổ chuột, phụ nữ chẻ tre, bán trái cây, làm ruột cá. Đàn ông thu gom sắt vụn, sửa nhà cửa …””

Chưa đến cái thời “giàu nhanh, mất định hướng và hỗn loạn “như sau này

***

Trời Hà Nội vừa nắng gắt đã chuyển mưa nên nhiều người bị cảm cúm thành dịch giữa mùa hè. Vợ nhà thơ cũng bị cúm nên quán sách của ông bà đóng cửa. Hồ Dzếnh đi vắng.

Bà Nguyễn thị Hồng Nhật, dù đang ốm nghe chúng tôi tự giới thiệu “Độc giả hâm mộ từ Sài Gòn ra” thì vội thay chồng tiếp khách.

Khi chúng tôi muốn bà phác họa trước vài nét tính cách cá tính của nhà văn, bà cười với vài lời ngắn gọn:

“Nghĩ đến ăn là sợ. Có lẽ một ngày bữa ăn quan trọng nhất của nhà tôi là sáng sớm, một bát phở hàng quen, cho rất ít bánh. Ông bị hen phế quản nên khó thở và yếu.. Đêm không ngủ được, cứ kêu thừa thì giờ phí quá, lại ngồi viết.”

Rồi bà như giải thích:

“Tính tình âm thầm trầm lặng ít phô phang, không bao giờ thích nói tâm tư mình. Có lẽ vì thế nó…. tích thành bệnh.”

Chúng tôi nhìn quanh nhà, trên tường có một tấm hình đề chụp 1957 ở sân bay Gia Lâm- Cụ Hồ đang nhận bó hoa từ tay một phụ nữ thay mặt đoàn người . Bà Hồng Nhật giải thích:

”Hồi đó tôi hoạt động công tác Mặt trận ra tiễn Cụ Hồ đi thăm các nước.”

Căn phòng ấm cúng trang trí giản dị theo lối gia đình Hà Nội gốc trong căn biệt thự Pháp hầu hết đã cũ kỹ.

Thế là chỉ bước qua quán sách nhỏ, ta bỏ lại sau lưng phố xá nhốn nháo thời “hiện đại “ hàng quán có cả trăm thứ chuyện bực mình để bước vào một thế giới dịu êm thuần khiết của “người Hà Nội xưa “. Những gì văn hóa, thanh nhã xa với tiền bạc vẫn đang sống kín đáo, trở nên một phong cách riêng mà trên phố xá ta nào thấy được.

Bà kể có lần, một người không rõ từ đâu đến đứng chọn mua sách rồi hỏi “Thưa có phải đây là nhà của thi sĩ Hồ Dzếnh không”. Sau khi nghe trả lời đúng rồi, anh ta hát lên: ”Trên đường về nhớ đầy….chiều chậm đưa chân ngày …” rồi cúi chào bước đi

Quán sách bán không chạy (đã vào cái thời …mấy ai đọc sách nữa..). Bà chọn những cuốn sách văn học có giá trị, bày vào cái tủ kính nhỏ. Đoạn gần Chợ Hôm mới nhiều người qua lại bán mua. Đoạn phố Hòa Mã này không phải nơi sầm uất, nên không mấy khách tìm tới. Thành ra chiếc tủ sách nhỏ phải lui vào im lặng bên trong, nhường chỗ cho hàng hóa khác treo la liệt ngoài cửa hiên nhà.

Nhà thơ cho thuê rẻ cái góc cửa nhỏ, giúp đỡ cho các thanh niên chưa có việc làm có chỗ bán hàng tạm.

Một lúc sau, thi sĩ Hồ Dzếnh về.

Dù đã tranh thủ “điều tra “ trước qua bà vợ ông, dù đã đọc nhiều bài viết về ông trên sách báo, chúng tôi vẫn ngạc nhiên và vui mừng được thấy ngay trước mắt mình một người thanh nhã, ý nhị và rất gần gũi, rất phù hợp với mối xúc cảm mà tất cả chúng ta từng được khơi dậy từ “Chân trời cũ “.

Khi nói chuyện, ông hay cười, càng khơi càng thân và tâm đắc.

Khi biết đây là khách “tận trong Sài Gòn “ ra thăm chỉ vì ái mộ, vợ chồng ông mời chúng tôi ở lại ăn cơm. Rất tiếc là thời gian eo hẹp quá nên ông tìm ra giải pháp mời chúng tôi đi ăn sáng vào hôm sau. Ăn sáng tốn ít thì giờ hơn, ra tiệm, khách khỏi áy náy sợ phiền “không ai phải nấu nướng cả “, nhất là ông có hàng phở quen, ngon lắm.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đến cổng, đã thấy ông đứng chờ ngay dưới gốc cây. Thật cảm động khi thấy” người thi sĩ trong mơ “ của mình, ăn mặc tề chỉnh giản dị, tóc chải mượt ra phía sau y như trong các tấm hình chúng ta thường thấy.

Hình như quán phở đường Lê văn Hưu? Không nhớ nữa. Chúng tôi cảm động quá,, ngồi ăn phở và uống café sữa. Ông rất vui, cho biết chúng tôi đến thăm vô tình đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 75 của ông.

Hôm ấy, ông kể chuyện mình đi vào Nam và đến chùa Pháp Hoa tìm thăm nhà văn Nguyễn minh Châu, nhưng không gặp. Đó là những năm cuối đời, Nguyễn minh Châu bệnh nặng, vào Chùa Pháp Hoa lúc đó đang nổi tiếng trị được trọng bệnh theo một thứ thuốc riêng. Cho mãi sau đến lúc gặp được nhau, đã là lúc Nguyễn minh Châu sắp mất.

“Những người mà mình yêu mến, hình như không bao giờ được gần”

Nhà văn nói khẽ, không biết có phải ông đang nhớ lại những ngày gặp Thạch Lam vào năm 1941 trên chuyến xe lửa Hải Dương-Hà Nội hay không. Trên chuyến tàu đó, Hồ Dzếnh ngồi xem lại tập bản thảo của mình thì một người ngồi bên cạnh hỏi mượn xem. Lúc đó ông đâu biết người ấy chính là Thạch Lam, nhà văn nổi tiếng của Tự Lực Văn Đoàn.

Sau lần ấy, Thạch Lam phát hiện, khuyên nhủ góp ý, giúp cho tập truyện được xuất bản. Chính Thạch Lam đã viết lời tựa đầu tiên cho tập “Chân trời cũ “ của Hố Dzếnh. Nhưng khi sách ra được, thì Thạch Lam đã mất.

“Với Nguyễn Minh Châu và Thạch Lam, nếu tính thời gian theo cả giây cả phút thì tôi cũng chỉ được gặp hai ông trong 3-4 tiếng đồng hồ là cùng.”

Nhìn vẻ mặt xúc động của ông, tôi chợt hỏi:

“Cả đối với bác nữa – thưa bác, cháu có một điều không rõ: Vì sao bác vẫn sống ngay giữa Hà Nội, vậy mà sự gặp gỡ cũng như tin tức về bác hầu như rất ít, rất mù mờ. Có người còn đồn rằng hình như bác ở mãi đâu bên Mỹ, Canada…”?

Hồ Dzếnh cười hiền:

“Tôi vẫn sống ở đây thôi. Bần cư trung thị vô nhân vấn. Nhà nghèo thì ở ngay giữa chợ cũng không ai hỏi đến. Vậy mà mình bần, hôm nay vẫn có các bạn đến hỏi đây này.”

Dù đã đọc nhiều, chúng tôi vẫn muốn nghe từ chính ông chuyện sáng tạo ra những vần thơ vì sao nó ở mãi trong lòng người. Ông sáng tác bài “Chiều “ có mối sầu vạn cổ chất vào trong một buổi chiều ấy như thế nào… Các nhân vật được ông viết trong “Chân trời cũ “ ám ảnh buồn thương da diết ấy là ai, có còn không…

Hồ Dzếnh kể rằng bài “Chiều” chỉ làm ngẫu hứng tại Lạng Sơn, khi đó ông là một chàng trai lên chơi với người anh làm hỏa xa.. Ở đó, chàng đứng một mình giữa rừng biên giới, lòng buồn vô hạn vì thấy quê cha Trung quốc, quê mẹ Việt nam. Hai quê hương mà không có nơi chốn nào để đến cả. Cả hai đất nước đều bị xâm chiếm. Mình đứng giữa thấy một nỗi buồn lạ lùng. Và bài thơ thả vào không gian nỗi buồn đó.

“Còn những nhân vật trong “Chân trời cũ “ có còn ai không ư, còn chị Đỏ Đương, giờ đã 80 tuổi rồi. Muốn về thăm cụ ấy….”

“Những người ấy, họ có biết họ được trở thành nhân vật làm thổn thức bao trái tim không ạ?”

Hồ Dzếnh:

” Không. Thí dụ như cụ Đỏ Đương 80 tuổi rồi ấy, mù chữ. Đâu có biết đến văn chương. Họ sống cuộc đời cho mình lấy làm tài liệu nhưng không bao giờ đọc.”

Ông nói chậm, nhẹ, ngậm ngùi. Tôi bỗng nhớ lại câu chuyện lúc nãy bà vợ ông kể cho chúng tôi về cái ngày họ vào Sài Gòn được dự một đám cưới người quen. Khi quan khách được nghe giới thiệu rằng có mặt nhà thơ Hồ Dzếnh, thì tất cả bỗng lặng đi, ngạc nhiên. Rồi lập tức mấy cậu trai trẻ nhảy lên sân khấu, cầm đàn hát ngay bài “Chiều “.

Nhớ chuyện ấy, tôi nghĩ mình cũng đang có một cơ hội ngồi trước mặt thi sĩ, tôi liền cũng hát cho ông nghe bài “Chiều “ đó. Tiếng buồn vang trong mây, tiếng buồn vang trong mây……

Âm điệu buồn thương giữa rừng cao biên giới ấy, mặc kệ, bây giờ giữa quán phở có màn hình tivi đang mở nhạc Rock ầm ỹ ấy, mặc kệ, nó vẫn vang lên trong các tâm hồn cảm động.

Đã đến lúc tôi có thể hỏi ông về nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học “phê bình “ rằng văn chương ông có chút yếu đuối.

Ông gật đầu:

“Yếu đuối và lãng mạn ư? Phải cần tới nó. Đó không phải là yếu đuối, mà là cái TÌNH luôn giữ được trong con người. Một góc nào đó, nó giúp con người kiên gan. Cháu thấy không, người mẹ chỉ có cái ruột tượng thắt bụng nuôi con, chẳng bao giờ hé răng kêu.”

Thật kỳ lạ. Chỉ bước ra khỏi quán sách im ắng của nhà ông thôi, ta lại đối mặt với cuộc sống ào ào, khá tàn bạo. Vậy mà bên trong ấy, vẫn có một dòng chảy khác, khá lãng mạn nâng đỡ tâm hồn con người.

Cảm ơn Hồ Dzếnh. Hình như ông vừa bước ra từ “Chân trời cũ “ để thả vào cuộc sống hôm nay một lời xao xuyến nhắc nhở về tình người

2. MÌNH VỪA LÀ CHỊ, LÀ EM….

Lần thứ hai tôi ra Hà Nội – khoảng năm 1992, tìm đến nhà, dù biết chẳng còn gặp Hồ Dzếnh được nữa. Ông đã mất ngày 13-8-1991.

Tôi đến để thắp hương.

Tôi hơi bàng hoàng vì sự thay đổi nhanh chóng, cứ như là người vừa đi là dấu vết mới đây thôi cũng đi theo.. Ngôi nhà không còn là quán sách và những người buôn bán vặt la liệt không còn ở đó nữa.

Bà Hồng Nhật tiếp tôi cũng không còn ở căn phòng ấm cúng lần trước kiểu Hà Nội xưa, mà là ở căn phòng lớn mặt tiền. Ở đó có một bàn thờ hiếm có:

Do bà bày tất cả sách, báo viết về ông lên đó và ngày ngày thắp hương, trò chuyện trong im lặng.

Bàn thờ độc đáo giống như một quầy sách khá lớn.

Bài báo nhỏ của tôi viết về cuộc gặp mới đây, đăng lên, ông chưa kịp đọc cũng nằm đó, lọt thỏm giữa các tác phẩm đồ sộ.

Bà chẳng nói được gì nhiều như lần gặp đầu tiên vui vẻ. Khách cũng khá run rẩy trong lòng nên buổi viếng đó chỉ dành để lướt qua những gì tha thiết nhất người ta viết về Hồ Dzếnh.

Cuộc đời ông hiện ra thật khổ đau qua lời Vũ Bằng:

…”Chiến tranh chạy về làng Neo Thọ Xuân Thanh Hóa – dọc bờ sông Nông Giang dạy học. Vợ bán sách cũ và thảm tình trong những ngày kháng chiến, vợ bị bệnh tả chết để lại đứa con trai mới 5-6 tháng:

“Lấy võng đưa xác vợ chạy đi chôn trong chiều tím ngắt tím hoa sim đúng như trong thơ Hữu Loan Màu tím hoa sim.”

Trong trí nhớ Vũ Bằng, …”mặc áo bành tô cứt ngựa, đi dép, địu con trên lưng, lúc thì đi vơ vẩn ở bãi bến đầu sông, lúc thì chui vào bờ bụi tránh máy bay. Hễ gặp người nào như thế, không ai nói ai nhưng ai cũng biết đó là Hồ Dzếnh. Không cách gì mà sai được. Là vì ở Khu 4, mà chắc chắn khắp cả trong nước không có một người đàn ông thứ hai nào nuôi con khổ cực đến như Hồ Dzếnh. Một mặt lo chạy loạn, một mặt lo ăn, một mặt nữa lo sao cho con có sữa sống qua ngày.”…

Tôi gập cuốn sách lại, liếc nhìn vẻ mặt bà Hồng Nhật dưới vành khăn để tang còn mới. nhưng trong khi tôi nước mắt lau trộm thì bà lặng lẽ, lật tìm những bài khác đưa cho tôi.

Bà bảo, ông địu con đi xin bú nhờ (gọi là bú thép. Thế nên mới hay nói câu: “Vợ góa nhà văn lấy nhà văn góa vợ – Con nuôi nước Việt, nhờ nước Việt nuôi con…)

Bà Hồng Nhật – như ta biết – là cô gái bán sách tiệm Bình Minh, đẹp nhất nhì Hà Nội một thời, là vợ góa của nhà thơ Trần trung Phương. Chồng mất, bà cũng nuôi đứa con trai nhỏ mới mấy tháng như Hồ Dzếnh và rồi hai người đã trở thành bạn đời.

Đây là lời Du Tử Lê: ”Hồ Dzếnh là người bạn thiết của những kẻ lang thang. Hồ Dzếnh đã đi vào đời tôi bằng một khung cửa buổi chiều. Hồ Dzếnh đã ở trong tôi không như một Huy Cận cao ngất khinh mạn, không như một Nguyễn Bính ngọt ngào mật đồng nội. Hồ Dzếnh đến và ở lại trong tôi như một chiếc bóng âm thầm. Muộn phiền và tơi tả “.

Còn Mai Thảo: – “Hồ Dzếnh “một người Tàu nghèo khổ bỏ một nước Tàu nghèo khổ. Đi qua Vân Nam. Đi từ Dương Tử đi tới Hồng Hà. Đi từ Trung Hoa đi tới Việt Nam.” Khi nói tới người mẹ Việt của Hồ Dzếnh, Mai Thảo dẫn ra tác phẩm “Quê ngoại – là chiếc khay vàng hiến dâng mẹ hiền một niềm biết ơn trang trọng.”….

Bà Hồng Nhật thắp thêm ngọn nến khác thay vào ngọn đã cháy hết. Chúng tôi cứ im lặng chẳng nói gì, chỉ lần giở qua những tác phẩm bày đầy một bàn, sửa sang cho ngay ngắn.

Chia tay bà, tôi nhớ câu của nhà văn Nguyễn Khải:

”Hiện nay, tầng dưới ngôi nhà phố Hòa Mã vẫn chỉ có hai vợ chồng. Ông luôn mỉm cười ngồi ở trên cao kia, còn bà mỗi ngày một mỏng đi.”

Cái dáng “mỗi ngày một mỏng đi “ ấy đưa tôi ra tận đầu đường mới chịu quay lại.

Tôi chợt nhớ bài thơ Hồ Dzếnh viết tặng vợ:

”Mình vừa là chị, là em
Tiếng lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới lúc chia phôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin là kẻ đi sau đỡ mình….”

Hồ Dzếnh ơi, vội ra đi trước, vậy là ông đã nuốt lời hứa rồi sao….?

3. GỌI TÊN VANG GÓC PHỐ

Vào năm 2000 tôi lại có dịp ra Hà Nội và không quên ghé phố Hòa Mã để thắp hương ông và thăm bà Hồ Dzếnh.

Dự định là Sẽ ngồi với bà thật lâu. Lần này sẽ hỏi bà nhiều chuyện tâm tình mà lần trước sát ngay những ngày đau thương, không thể tiện hỏi. Chuyện tình yêu, gia đình, chuyện Hồ Dzếnh bảo với chúng tôi trong lần gặp đầu, ông đang viết cuốn sách có tên “Chuyện viết lúc 5 giờ chiều “. Ông viết về người thân, bạn bè, theo một kiểu giống “Chân trời cũ “. Không rõ viết xong chưa, đã in chưa…

Tôi đến trước cổng nhà phía Ngô Thời Nhậm, nơi ngày đó Hồ Dzếnh ăn mặc chỉnh tề đầu chải mượt đứng chờ để đưa chúng tôi đi ăn phở. Giờ đây không có ông nữa rồi, không còn dáng ”Hồ Dzếnh thường đi lặng lẽ, lủi thủi một mình trên hè phố….như bóng dáng của nhân vật từ chân trời xa vắng….(Võ Văn Trực )

Cách cả chục năm rồi còn gì. Lúc đó, ngôi nhà 2 mặt tiền của ông có vẻ chưa có nhiều ý nghĩa kinh tế gì lắm. Cái thời mà nhà báo nước ngoài tả Hà Nội có những người đàn ông đội mũ nồi, áo vải nhăn chậm rãi đạp xe qua những hồ nước phẳng lặng. Thành phố toát lên bầu không khí trí thức tinh tế.

Bây giờ thì không đúng nữa rồi. Mặt tiền nhà phía Hòa Mã đã không còn như cũ. Một tiệm thời trang đã thuê để kinh doanh. Mấy cái Manocanh khiến ta giật mình như có ai đang chặn hỏi. Như nó mắng tôi, mắt để đâu, làm gì còn có ngày xưa….

Chiếc cửa phía Ngô Thời Nhiệm vẫn thế, có cái xích lớn vòng qua lỗ cửa và một chiếc khóa lớn đóng im ỉm.

Tôi bắt đầu đập mạnh vào cái dây xích, gọi cửa. Mãi mới có một thanh niên ra tiếp. Anh giới thiệu mình là Trần trung Cường, con trai của bà Hồng Nhật.

Anh hốt hoảng hỏi nãy giờ chị gọi tên ai. Rồi ngậm ngùi: Chị vừa kêu tên mẹ em vang khắp phố. Mẹ em mất rồi. Mất từ năm 1998 cơ.

….Câu chuyện hôm đó đưa chúng tôi trở lại quá khứ. Chuyện về bố của Cường. Ông là nhà thơ viết về thiếu nhi nổi tiếng Trần trung Phương, thường viết cho tờ Tin Mới dưới bút danh Tổng Nhĩ. Ông hoạt động Cách mạng, bị Pháp bắt và mất năm 1945, khi Cường mới 5 tháng. Mẹ Hồng Nhật nuôi con, mở tiệm sách Bình Minh và tham gia hoạt động yêu nước cách mạng. Rồi mẹ kết hôn với Hồ Dzếnh.

Thế còn câu chuyện mẹ anh là người phụ nữ đẹp nhất nhì Hà Nội thế nào?

Anh Cường:

”Không có thi cử như bây giờ. Không ai bầu. Nhưng Hà Nội lúc đó nhỏ, giới trí thức, trung lưu hay đồn nhau. Họ cho rằng mẹ em và vợ nhà nhiếp ảnh Lê Vượng cũng tên là Vượng- là hai người phụ nữ đẹp nhất Hà Nội. Em nhớ một chuyện, hồi chiến tranh chống máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc, phải đi sơ tán về Hương Canh Vĩnh Phú. Em đem theo cái đài bán dẫn ban đêm nghe. Một lần có buổi phát thanh từ Đô thị miền Nam, có bài viết Nhớ về Hà Nội. Họ tả phố xá, món ăn, nhớ cả hiệu sách Bình Minh có cô bán sách rất đẹp và lịch thiệp. Em vặn to lên cho mẹ em nằm bên cùng nghe”

Anh Cường giờ đây đã trở thành giảng viên của Nhạc viện Hà Nội. Anh Chính – người con trai xưa Hồ Dzếnh bế đi xin “bú thép “ nay cũng đã là một giáo viên dạy toán. Còn người đẹp Hà Thành năm xưa nay cũng đã mất ở tuổi 83.

“Khi mẹ đau ốm nặng, bạn bè chúng em vào thăm. Nói rằng khi đi tưởng tượng ra bà cụ 83 chắc là già lắm. Vậy mà đến nơi thấy bà còn đẹp quá. Đó là mẹ đã gầy đi còn một nửa và mẹ bảo cảm ơn các anh tôi đã sa sút nhiều lắm rồi đấy ạ.”

“Mẹ là một phụ nữ rất chỉn chu lo toan trong họ ngoài làng. Lại rất văn minh, lịch thiệp, có văn hóa. Em không ngờ khi tuổi cao gần mất, mẹ rất thuộc thơ văn.Thơ chồng đã đành. Còn biết rất nhiều điển tích, khi nói rất hay vận dụng, mà em nhiều khi không hiểu hết mẹ mình.

Mẹ đoan trang quý phái, nghĩ ngợi nhiều, ít giao tiếp bên ngoài. Ăn mặc nền nã, hay mặc áo màu chìm, áo dài đen. Phấn son nhẹ nhàng, tóc nhuộm không bao giờ để bạc.Tóc nhuộm lần cuối trước khi vào bệnh viện. Bàn tay búp măng đẹp lắm. Đây còn cái áo mẹ mậc khi vào Sài Gòn chơi, được tặng hoa ông Võ nguyên Giáp.

Gia đình em 2 dòng máu, mẹ cha đều yêu thương hai Tổ Quốc Cách mạng”

Trước lúc mất, dù là người cao tuổi nhất đoàn,”theo tour cho kịp là khó khăn”, bà vẫn gắng cùng bạn bè đi du lịch Trung Quốc một lần “cho biết quê chồng “, dù rằng chỉ biết quê ông ở Quảng Đông. Không còn dấu vết cũng như họ hàng thân thích nào. Bà đi theo một số địa danh có tên trong các bài thơ nhớ thương bàng bạc của chồng.

Chính vì gốc tích, quê hương mơ hồ mà nỗi thương nhớ của thi sỹ Hồ Dzếnh trong người vợ đến quê chồng ”Tô Châu lớp lớp phủ Kiều -Trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam – Rọc rời vó ngựa quá quan – Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa …”càng thêm da diết xót xa.

“Lúc từ bệnh viện về, mẹ đòi đưa tập hình ảnh chụp chuyến đi Trung Quốc để giữ bên mình trong túi áo. Mẹ muốn giữ kỷ niệm sâu sắc và niềm vui mãn nguyện cuối đời đã thay chồng về cho biết quê hương.”.

Tôi tạm biệt Cường với căn nhà mỗi lần đến là một lần thay đổi.

Những cảm xúc buồn thương ấy lạ quá, sao nó không mất đi được theo năm tháng.?

“Nát thân không nát nỗi buồn
Lẫn trong cái chết vẫn còn nỗi đau”

(Tưởng chuyện ngày sau- Hồ Dzếnh ).

Những giọt lệ khóc cố hương “có 1 chút buồn Tư Mã, 1 chút nhớ Chiêu Quân“ “ Một thế giới mang nặng nỗi buồn u kín của ngày xưa “(Vũ Bằng).

Bâng khuâng trăng sáng trời Viên Hán- Một giải Giang Nam nước rợn màu“

Nhưng, Quê hương thật sự trong ông chính là đất Việt, quê mẹ, nơi có gió đầu mùa xa xôi, có bãi dâu vẫn đợi dòng sông vẫn chờ.

Đó là quê hương “Hỡi nước Việt nam, tôi nghiêng lòng xuống Người trên những luống cày hương thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước và nói tiếng nói của Người. Vì tôi đã thề yêu Người trên bậc tuyệt vời của Tôn giáo. Trên dải đất xúc tích những tinh hoa của văn chương, những công trình lịch sử, tôi còn ghi cả những bóng dáng người xưa tôi thương yêu “

(Chị Yên – Chân trời cũ).

Người ta bảo thơ Hồ Dzếnh buồn bắt nguồn từ “Lòng sầu xứ cộng với nỗi đau khổ”. Khi nhớ quê hương biền biệt không bao giờ biết “Mây ơi có tạt về phương Bắc – Chầm chậm cho ta gửi mấy lời – Từ thuở ly hương ta vẫn nhớ – nhưng tình xa lắm gió mây ơi (Tư Hương ).

Nhưng quê Việt lại có một tình sâu nặng, có thật, không biết là nhớ thương nơi nào nặng lòng hơn nơi nào:

”Tôi yêu nhưng chính là say
Tình quê hương Việt-bàn tay dịu dàng
Thơ tôi đê thắm bướm vàng
Con sông be bé cái làng xa xa.”

(Lũy tre xanh ).

Tạm biệt Cường và căn nhà Hồ Dzếnh, tự nhiên tôi nhớ đến người mẹ đã khuất của tôi và tự hỏi: Ngày xưa mẹ nói đúng, còn tôi đã sai?

Thuở ấy tôi đang là sinh viên Văn khoa, đang dùi mài kinh sử với các lý luận văn học.Với các lý thuyết và chủ nghĩa về hiện thực và tranh đấu cao xa.

Về hè, mẹ ngồi khâu trong trưa vắng ở Hải phòng, cũng một phòng của căn biệt thự Pháp cũ phố Cát Dài.

Bà là trí thức do Pháp đào tạo và chỉ mê văn học Pháp. Có lần bà bảo tôi,- lâu ngày chỉ nhớ đại ý là,- nguồn gốc cái tình căn bản làm nên áng văn chương chính là tình mẫu tử. Văn chương còn lại lâu bền chính vì nỗi buồn …” Và tôi biết tất cả những tác phẩm bất hủ chỉ là những tiếng khóc.”

Tôi không nhớ mẹ đã trích dẫn từ ai. Nhưng hôm nay rời nhà Hồ Dzếnh, những lời của mẹ tôi sống dậy.

Vì sao “thơ có cùng mới hay “? Vì sao nỗi buồn của ông Hồ Dzếnh – như Thạch Lam viết trong lời giới thiệu tập “Chân trời cũ“ lại liên quan đến xúc cảm của tôi hôm nay?

Thạch Lam:

”Điều mà ta nhận thấy ở ông Hồ Dzếnh, cũng là một điều gần giống ở bà mẹ ông. Nghĩa là sức chịu đựng đau khổ.”

Sao đau khổ của ông Hồ Dzếnh, mắc mớ chi lại làm cho bao thế hệ, mãi mãi người sau rung động y chang nỗi buồn đó? Và dù đã “xếp ông ngồi một chiếu “ với Thạch Lam và Thanh Tịnh, các nhà nghiên cứu vẫn cứ tìm tòi đặt tên tuyệt vời cho “kiểu buồn“ của riêng ông không lẫn được với ai.

Đó là “”Buồn chiều, buồn Hồ Dzếnh. Nhanh hơn slow, chậm hơn Valse…Mỏng nhẹ như sương.”(Nhà nghiên cứu Thụy Khuê )…

Tạm biệt Cường và căn nhà Hồ Dzếnh không biết bao giờ trở lại, tôi tự hỏi về nỗi buồn thương của mình: sự truyền cảm tha thiết đó chẳng cần đi tìm lời giải thích gì nữa. Mẹ tôi đúng rồi và tôi đang nhớ Người bằng chính tình thương mẹ sầu thảm của Hồ Dzếnh.

Bất chấp mọi thứ chủ nghĩa, nó chính là tính trường tồn của Văn chương bất hủ

Nguyễn Thị Ngọc Hải
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 25-1-17
Nguồn: http://www.viet-studies.net/NTNgocHai_HoDzenh.htm

Cuối Đường Em Đi. Thơ Hư Vô


cuoi-duong-em-di

Có trèo qua dốc núi
Chưa chắc tới đỉnh sầu
Thì dầu gì đi nữa
Mình cũng nợ nần nhau.

Chỗ anh vào nương náu
Em cất giấu muộn phiền
Giữa trái tim khập khiễng
Là ngàn nỗi oan khiên.

Đất có dài hơn biển
Cũng đâu nối liền bờ
Anh lần mò mê mải
Vẫn ở ngoài bến mơ.

Lối anh đi không đến
Chỗ em về tai ương
Chưa qua khỏi nghiệp chướng
Biết còn nhau cuối đường?

Thêm một lần thất hứa
Để em biết bạc tình
Từ trái tim rướm máu
Còn ngọt ngào dấu đinh.

Đóng anh vào quá khứ
Cho đời em thênh thang
Bước ngang qua giọt lệ
Nhỏ xuống ngọn nến tàn…

Hư Vô

Giọt Nước Mắt Kiêu Kỳ. Thơ Hư Vô


giot-nuoc-mat-kieu-ky

Đâu phải một mình em biết khóc
Trái tim tôi cũng đã sụt sùi
Giá như được khóc chung con mắt
Thì trong buồn cũng có niềm vui.

Em vì tôi bên đời người lạ
Hoá thành tượng đá vẫn còn đau
Tôi đâu muốn làm người bội bạc
Đất trời còn chưa phụ tình nhau.

Nói làm sao cho em hiểu thấu
Nắng mưa cũng mơ chuyện vợ chồng
Bắc nhịp cầu vồng ngang Ô Thước
Bỏ lại tôi sợi ngũ sắc không.

Như chút hương thầm em đánh rớt
Nhẹ tênh theo gió cuốn xuân thì
Cảm ơn em, vì tôi biết khóc
Vì tôi, nước mắt bỗng kiêu kỳ…

Hư Vô

Tàn Tích Tháng Hai. Thơ Hư Vô.


tan-tich-thang-hai

Như có điều em không dám nói
Ẩn trong giọt lệ rất nhỏ nhoi
Dù chỉ là một lời gian dối
Cho tình yêu còn mặn trên môi.

Mà em đã bâng khuâng tự hỏi
Biết vì sao tôi vẫn yêu em?
Khi trái tim hãy còn nhức nhối
Thì cả đời đâu dễ lãng quên.

Đừng để bóng tôi trong lòng mắt
Tội người ở lại lắm em ơi
Hãy quay đi khi buồn đang tới
Giấu dùm tôi tiếng khóc vào đời.

Ngày sau còn chút gì để nhớ
Mở tờ lịch cũ giữa tháng hai
Phủi bụi bay mù theo bóng khói
Để thấy hồn tôi tượng hình hài…

Hư Vô

Chân dung người nữ diễn viên Truyện NHẬT TIẾN


NHẬT TIẾN

img_3173

Hồi nhỏ, khi còn cắp sách đi học ở lớp nhất trường Hàng Vôi, ngày nào tôi cũng có dịp đi qua nhiều khu phố tráng lệ ở Hà Nội. Tôi học lớp chiều và hay đi học sớm vì có thói quen la cà chỗ này, chỗ kia.

Qua phố Hàng Trống, tôi hay đứng tại tòa báo Giang Sơn hay Liên Hiệp để đọc những tiểu thuyết in từng kỳ trên tờ báo ra trong ngày, được tòa soạn treo trước cửa ở khu chợ người qua lại xem tự do. Qua phố Hàng Khay, tôi hay đứng lại ở khu chợ Hoa ven bờ hồ ngắm nhìn những bông hồng, bông cúc hay glaïeul phô những mầu sắc rực rỡ trên những nền đá xanh biếc. Nhưng điều mà tôi ghi nhớ sâu xa nhất vẫn là bức hình chân dung được trưng bầy tại một tiệm ảnh có tên là Dung Photo ở ngay trên Phố Bờ Hồ.

Tôi không phải là loại người say mê nghệ thuật chụp ảnh. Tôi cũng không quan tâm đến những bức hình chụp phong cảnh hay tĩnh vật trưng bầy ở hai bên tủ kính lồng trong những khung cảnh đẹp đẽ mỹ thuật.

Tôi chỉ chú ý, hay nói đúng hơn bị thu hút bởi mỗi một tấm chân dung chụp hình một thiếu nữ. Nàng là ai, tên là gì, tôi chẳng đủ số tuổi mơ mộng để quan tâm nhưng thực sự tôi đã bị lôi cuốn bởi đôi mắt đó, vầng trán đó, mái tóc đó và nụ cười đó.

Người thiếu nữ trong hình còn rất trẻ, chỉ trạc khoảng mười lăm, hay mười sáu, cái số tuổi chưa làm cho đôi mắt trong veo kia vương vấn một nét buồn, cho nụ cười kia vẫn còn mang đầy vẻ hồn nhiên, vô tư và duyên dáng như những búp hồng mới nở ?

Hôm đầu tiên bức ảnh chân dung được bầy ra trong tủ kính, tôi đã chiêm ngưỡng một cách sững sờ. Rồi kể từ đó, không ngày nào đi qua mà tôi lại không đứng lại, nhìn, ngắm, ghi gói từng chân tóc, từng kẽ mày, từng những nốt đen lốm đốm trên giấy ảnh ở vành môi của nàng, ở khóe mắt của nàng, ở hàm răng trắng nuốt có một cái răng khểnh rất xinh, rất nghịch ngợm và đầy vẻ hồn nhiên, vô tư của nàng.

Thời gian si mê bức chân dung ấy kéo dài có đến trên bốn năm. Bốn năm trời trôi qua, bức ảnh ấy vẫn còn tồn tại ở đó, trong khung kính sáng lòa, ở vị trí chính giữa, thuận tiện cho khách qua lại bên đường ghé lại nhìn ngắm và hầu như chủ nhân của tiệm Dung Photo cũng đắc ý với tác phẩm của mình nên không chịu thay đổi đi mặc dầu những hình ảnh phong cảnh khác cứ vài tháng lại được thay đổi một lần.

Tôi thầm cám ơn ông ta lắm, vì như thế, tôi vẫn còn có dịp hàng ngày nhìn ngắm hình ảnh con người trong mộng của tôi. Rồi sau đó, tôi đã ngồi lên ghế nhà trường bậc trung học. Tôi đã đến số tuổi để mộng mơ. Và trong những phút giây lan man suy nghĩ về những cơn xao động mong manh trỗi dậy trong tâm hồn, tôi vẫn thấy thấp thoáng chân dung của nàng. Tôi đã đặt cho nàng cái tên giản dị nhưng đầy đủ ý nghĩa đối với tôi là “Dung Photo”, lấy ngay tên của tiệm ảnh đã sáng tạo ra bức chân dung của nàng.

Một năm trước ngày có hiệp định chia cắt, anh bạn cùng lớp với tôi bỗng một hôm nêu ra một phát giác hết sức động trời:
– Tớ biết địa chỉ ‘‘Dung Photo’’ của cậu rồi!
Tôi giật nẩy người lên như chưa bao giờ bị hứng chịu một cơn chấn động mạnh mẽ đến thế. Thấy mặt tôi hơi biến sắc, Hòa, người bạn của tôi vỗ vai cười:
– Bộ cậu yêu thật đấy à?
Tôi đỏ mặt lên, cố biện minh:
– Bậy nào! Người ta ít ra cũng hơn mình hai, ba tuổi. Mấy lại đã gặp nhau bao giờ mà yêu với đương.
Hòa thì thào tiết lộ:
– Năm nay cô ấy đúng mườỉ chín ! Sắp lên xe hoa về nhà chồng đấy! Cậu có muốn biết tên thật là gì không?
Tôi vội vã giơ tay cản lại, như muốn chối bỏ tất cả những điều gì do anh bạn đã tiết lộ.
– Khỏi cần! Khỏi cần! Với tôi bao giờ nàng cũng chỉ có một tên là “Dung Photo”.

Tôi nói mà thấy như giọng của mình nghẹn lại. Sự nghẹn ngào này không giấu nổi ánh mắt tinh tế của Hòa, cho nên anh ta biết ý xoay câu chuyện qua một đề tài khác. Tôi cho như vậy là hơn, vì thực sự ngay lúc đó, tôi không có đủ can đảm để nghe rõ hơn về những chi tiết quanh nàng. Còn có gì nữa đâu khi nàng sắp lên xe hoa về nhà chồng.

Một tuần lễ sau ngày tiết lộ của Hòa, tiệm Dung Photo cất bức ảnh chân dung đi, không trưng bầy ra nữa. Có thể nó đã được mua lại bởi người chồng chưa cưới của nàng. Mối tình si mê viển vông của tôi bị cắt đứt phũ phàng nhưng chính điều đó lại càng để lại trong lòng tôi những vết thương khó lành.

Cả khu phố Bờ Hồ như hoang sơ hẳn đi vì thiếu vắng bức chân dung của nàng. Tôi mất thói quen đạp xe nhàn tản trên đường phố lúc về chiều mà không lần nào lại không ghé qua Dung Photo để nhìn ngắm ánh mắt, nụ cười của người thiếu nữ ấy. Gọi là tôi thất tình thì không đúng vì tôi chưa bao giờ được gặp nàng, nhưng những phút nhớ nhung, xao động đã gậm nhấm, làm tôi đã thổ lộ tâm sự của mình trên hàng xấp nhật ký viết riêng cho mình đọc.

Tới tháng Bẩy năm 1954, trước khi giã từ Hà nội để vô Nam, tôi đến chào từ biệt Hòa tại nhà anh ta ở phố Đường Thành. Hòa tiếp tôi ở trên chiếc ghế xích đu đặt ở sân ngoài. Ngồi tại đó, tôi có thể nghe tiếng những âm thanh cười nói phát ra từ phòng khách phía trên, qua một khung cửa sổ mở rộng. Có giọng nói của đàn ông xen với tiếng trả lời ấm áp, rộn rã của thiếu nữ. Hòa chỉ tay về phía ấy và nháy mắt với tôi:
– Dung Photo đấy! Bà ấy sắp trở thành chị dâu của tôi.

A! Thêm một điều mới lạ nữa mà bây giờ tôi mới phát giác ra. Tôi đã từng biết Dung Photo sắp đi lấy chồng, nhưng tôi không thể ngờ được rằng nàng lại sắp lấy anh ruột người bạn cùng lớp của tôi. Chẳng phải Hòa giấu giếm gì nhưng một phần vì tôi không muốn hỏi tiếp tới sau câu chuyện bữa nọ đã xảy ra, phần khác, Hòa đã trông thấy phút nghẹn ngào của tôi qua ánh mắt, qua giọng trả lời đầy xúc động của tôi khi được tin Dung Photo sắp đi lấy chồng.

Nhưng bây giờ thì tôi không còn nhiều thời gian để quan tâm đến những chi tiết ấy nữa. Tôi sắp xa Hà nội. Tôi sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới với một viễn ảnh nhiều khích động, nôn nóng và dĩ nhiên là hoàn toàn mới lạ đi với tuổi trẻ ham bay nhẩy như tôi. Cho nên, tôi vẫn giữ được vẻ thản nhiên khi được Hòa cho biết Dung Photo sắp trở thành chị dâu của anh ta. Tôi biết rõ tôi đang chuẩn bị để dời xa thành phố này. Trả lại đây cơn mơ mộng viển vông của thời thơ ấu. Trả lại phố phường những ngày đạp xe đi dưới bóng mát của những lùm cây đầy ắp âm thanh xao động buổi sáng sớm cũng như lúc xế chiều. Tôi sắp xa tất cả, kể cả người đẹp mà tôi đã từng ấp ủ bóng dáng của nàng qua bức hình ở tiệm Dung Photo với những đêm trằn trọc thao thức, với những trang nhật ký kéo dài liên miên, bất tận hết tập vở này đến tập vở khác.

Lúc tôi sắp sửa ra về thì Dung Photo cũng từ phía nhà trên đi ra cổng. Ngồi ở trên ghế xích đu, qua những cành ngọc lan ngả là là xuống sân sỏi nhỏ, tôi thấy nàng nhí nhảnh đi bên cạnh người chồng chưa cưới, anh Hùng, mà tôi đã có nhiều lần gặp gỡ nói chuyện bâng quơ.

Nàng có mái tóc đẹp hơn cả trong hình, bởi ở tấm hình, tôi chỉ được nhìn thấy phía đàng trước, và tấm hình đen trắng chẳng thể diễn tả được cái vẻ bồng bềnh như mây khói của cả một làn tóc mây dài có màu đen như mun, có dáng óng ả như một mối tơ thả xuống hai bờ vai thon gọn ghẽ trong chiếc áo dài đơn sơ mầu tím Huế của nàng. Lúc nàng quay lại nói với Hòa, tim tôi thắt lại vì hình ảnh lộng lẫy của nàng. Dung Photo quả là có sắc đẹp trên cả những hình ảnh mà tôi vẫn từng ấp ủ.

Dù là lần đầu tiên tôi gặp nàng, nhưng hầu như tôi có cảm giác gặp lại một người thân quen. Tôi đã chẳng có bốn năm dài đằng đẵng mỗi ngày chiêm ngưỡng nàng trong bức ảnh chân dung là gì. Nhưng nàng chẳng thể biết được tôi là ai lúc đó. Nàng nhìn tôi với cặp mắt hững hờ. Tia nhìn chẳng kéo dài quá một giây đồng hồ mong manh. Làm sao nàng có thể hiểu được trên cõi đời này lại có một kẻ đã dành cho nàng bao nhiêu tâm tư và thì giờ đến như thế.

Sau bữa đó, là gần ba mươi năm dài chia xa. Tôi không còn được nghe tin tức gì về Hòa, về anh Hùng cũng như về đám cưới của nàng sắp được cử hành. Cuộc sống mới của tôi ở miền Nam có những lôi cuốn mãnh liệt. Hà Nội lùi xa dần trong trí nhớ của tôi.

Những hình bóng cũ, những kỷ niệm cũ, những tâm tình mơ mộng cũ lâu ngày đã bị chìm khuất sau lớp bụi mỗi lúc một dầy thêm của thời gian, của những va chạm trong cuộc sống, của những biến cố mà con người phải trực diện từng ngày trong một đất nước có chiến tranh.

Mãi tới đầu năm 1978, khi gặp lại Hòa, từ miền Bắc vô Sài Gòn, mọi thứ cũ càng trong quá khứ mới có dịp trỗi dậy. Chúng tôi, sau những phút e dè khởi đầu, đã có thể hàn huyên với nhau đủ thứ chuyện, dĩ nhiên câu chuyện về đời sống của người đẹp năm xưa không thể không đề cập đến. Sau dây là lời kể lại của Hòa:
– Sau khi cậu đi Nam rồi, những ngày đầu của sự tiếp thu Hà nội là những ngày sôi động nhất. Tuổi trẻ thành phố ùa xuống đường cuồng nhiệt như thác lũ đầu mùa. Với tất cả thiện chí và nhiệt thành, cộng thêm cả yếu tố ham vui, ham hoạt động, họ đã đón nhận thể chế mới như một cơ hội làm lại xứ sở sau những năm tháng dài ngủ quên dưới chế độ thuộc địa của Pháp. Chín mươi chín phần trăm đều không biết Cộng sản là gì ngoại trừ một thiểu số thanh niên nhậy cảm như anh Hùng. Điều này đã trở thành một cái hố ngăn cách khởi đầu giữa anh Hùng và chị ‘‘Dung Photo’’. Chị ấy đẹp lại có khiếu văn nghệ, hát hay, đàn giỏi, nên tham gia đủ loại chương trình trình diễn. Trong khi ấy, anh Hùng khép kín mình lại để làm thơ, viết văn mà không bao giờ đăng báo cả. Đám cưới đã dự tính của hai người trên căn bản đó đã bị đình hoãn, rồi mâu thuẩn sâu sắc ngày một gia tăng đến độ phải hủy bỏ. Một thời gian sau, anh Hùng tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đóng góp rất hăng hái cho tờ Nhân Vă n rồi tờ Đất Mới của sinh viên, trong khi ấy chị Dung Photo đã có người yêu mới, một cán bộ Văn công cao cấp, có Đảng tịch và dĩ nhiên là già hơn chị ấy ít ra là mười lăm tuổi.

Trước ngày lên xe hoa về nhà chồng, chị ấy có gặp anh Hùng một lần cuối. Cố gắng cuối cùng của chị là mong cứu vãn tình thế nguy hiểm của anh Hùng trước khi quá trễ. Chị tiết lộ cho anh Hùng hay rằng Đảng Ủy đang chuẩn bị đánh lớn, đánh quyết liệt vào đầu não cũng như những dây mơ rễ má của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ngoài lý do “không còn đường nào khác”, chị ấy còn cố lay chuyển tư tưởng của anh Hùng:
-Anh không thấy đất nước đã đổi mới rồi sao? Độc Lập là ước mơ của toàn thể mọi người. Bây giờ không còn là lúc để ngồi đặt vấn đề mà là thực sự bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước. Dĩ nhiên, một đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ thì ở lãnh vực nào không có sai sót. Chúng ta, nhân danh tuổi trẻ, sẽ nỗ lực sửa chữa những sai sót ấy. Tương lai, vận mệnh của quê hương này ở chúng ta. Thế thì còn có điều gì nữa mà anh ngần ngại?

Anh Hùng chỉ lẳng lặng ngồi nghe mà không phát biểu một lời nào. Thực sự lòng anh vô cùng chua xót khi nhìn thấy người yêu như một cánh chim hăm hở, muốn vụt cất cánh bay lên trời cao mà không biết, hay không muốn biết bầu trời đang vần vũ những cơn bão tố.

Dung Photo có lý tưởng của nàng. Ôi cái lý tưởng của tuổi trẻ bao giờ chẳng được vun đắp bằng những nhiệt tình sôi nổi nhiều hơn là những lý luận dài dòng.

Nửa năm sau đó, chị đi lấy chồng cùng lúc với biến cố anh Hùng bị bắt đem đi cải tạo tập trung.
Hôm công an ùa vào nhà khám xét, căn phòng của anh bị tìm bới tung tóe cả lên. Họ mang đi rất nhiều bản thảo, giấy tờ, và cả những tờ báo anh viết dầy đặc những lời ghi chú lên đó nữa.

Hòa kể đến đây thì chậm rãi rút ở túi ra một bức hình. Vừa thoáng nhìn, tôi đã la lên:
– Hình của Dung Photo.
Hòa gật đầu:
– Đúng rồi! Bản chính, tấm lớn lồng kính mà ngày xưa cậu đã từng chiêm ngưỡng bốn năm liền thì anh Hùng đã trả lại cho chị ấy từ ngày hai người hết liên hệ với nhau. Duy còn có tấm được rửa ra cỡ nhỏ này thì anh ấy không hiểu vô tình hay cố ý giữ lại trong ô kéo, mãi đến lúc công an lục lọi nó mới rơi ra và tôi đã giữ lại sau khi anh ấy bị dẫn giải đi. Không bao giờ anh tôi còn có dịp nhìn lại bức hình này bởi anh ấy đã chết trong lao tù ở Việt Bắc.

Kể đến đó, khuôn mặt xanh xao của Hòa chợt như dắn đanh lại. Tôi thấy ánh mắt của anh gợn lên những tia sáng đục ngầu và long lanh như ngấn lệ. Tôn trọng giây phút cảm xúc chợt đến trong tâm tình của người bạn cũ, tôi lẳng lặng cầm bức hình lên ngắm nghía.

Cả một dĩ vãng xa vời tưởng đã chìm khuất trong lớp bụi chồng chất của thời gian này đột nhiên sống dậy một cách vô cùng mãnh liệt. Tôi như thấy lại tâm tình của tôi năm mười bẩy tuổi. Tôi như vừa đã đứng ở đó, ngày hôm qua, tay còn dắt chiếc xe đạp cũ mầu xanh, đứng say mê nhìn ngắm bức chân dung lộng lẫy bầy trong tủ kính của tiệm Dung Photo ở trên đường phố Bờ Hồ.

Vậy mà hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua. Thời gian thì khoảnh khắc mà tang thương, dâu bể đã chồng chất biết bao nhiêu là nỗi niềm.

Đêm hôm ấy, Hòa lưu lại nhà tôi để còn tiếp tục tâm sự. Tôi thấy rõ những khoảng cách biệt, ngỡ ngàng giữa tôi và Hòa cứ ngày một thu ngắn lại. Thì ra dù đã được tôi luyện, nhào nặn dưới chế độ Cộng sản đến bao nhiêu năm, hầu như mỗi con người miền Bắc đều còn ấp ủ một mối tâm tình riêng biệt, đào rất sâu, chôn rất chặt, và nó chỉ bung ra một cách hiếm hoi khi có dịp.
Tôi được nghe Hòa kể tiếp:
– Chị Hồng….ấy quên, “Dung Photo” của cậu chứ, sau này trở thành một diễn viên nổi tiếng ở miền Bắc. Chị ấy chuyên thủ những vai trò có tính chất khích động tuổi trẻ, làm sống dậy trong tâm hồn tuổi trẻ cái ý thức phục vụ xây dựng trên căn bản nuôi dưỡng sự căm thù. Tôi hiểu rằng chị chỉ là một hòn bột nằm trong tay nhào nặn của người chồng làm văn công ở cấp cao. Chính ông ta viết kịch, hoặc dịch kịch bản từ Trung Quốc hay Liên Xô, rồi cũng chính ông ta đạo diễn cho chị để đặc tả những xen, cảnh mà tình huống mâu thuẫn lên cao nhất, căng nhất.

Sự thành công tột bực của chị đã phủ một hào quang đến nỗi làm cho chính chị bị chóa mắt. Chị ấy có ảo tưởng như mình là một biểu tượng của tuổi trẻ tiến bộ trong một xã hội cũ kỹ đang chuyển mình tiến lên một vận hội mới. Chị ấy say sưa đả phá những động lực làm trì trệ con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trước còn ở trên sân khấu, sau lan ra cả đến cuộc đời thực tế mà nạn nhân bị chĩa mũi dùi đầu tiên chính là người chồng già nua, nhiều tuổi Đảng của chị.

Ông ta đâu có phải là ông thánh. Chẳng có ai là thánh trên cõi đời này kể cả mấy ông trùm nằm trong Trung Ương Đảng. Nói cho rõ hơn, nhiều anh cắc ké cũng muốn hủ hóa nhưng làm gì có điều kiện. Phần lớn đã biến thành những mẫu người gan lì, chịu đựng, nhưng trong thâm tâm vẫn ẩn náu một niềm mơ ước được bung ra như một vẩy sét nằm trong những thanh thép đã được trui rèn. Các ông cán bộ cấp cao thì đời sống hẳn phải khác hơn người. Họ được chế độ đặc biệt ưu đãi. Họ có cái thẩm quyền xét đoán, phê phán người khác mà ngược lại, không ai có quyền thắc mắc gì về những hành vi, về đời sống thực của họ cả.

Quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa chỉ là một cái bánh vẽ trang trí cho bộ mặt của chế độ, trong khi ấy, kẻ làm chủ đích thực lại nằm trong tay một giai cấp mới đã hình thành, giai cấp có đảng tịch nắm quyền chi phối tư tưởng của mọi người. Chồng của chị Hồng là một thành viên của giai cấp ấy.

Ông ta, khi xuất hiện trước đám đông trước các kẻ cộng tác liên hệ đến nhiệm vụ, thì đã mang một bộ mặt hết sức lý tưởng. Và nhân danh cái lý tưởng ấy, ông thôi thúc giới trẻ lăn xả vào đóng góp. Nhưng ngược lại, ở đời sống riêng tư, rõ ràng là ông ấy đang thụ hưởng ngay chính trên những thành quả do mọi người đem lại. Hơn ai hết, trong cương vị của một người sống ngay kề cận, Hồng đã nhận thức được cái thực tế bẽ bàng và chua xót này.

Một lần, trong bữa cơm, vừa bưng bát lên ông ta đã buông xuống và chê gạo hẩm không ăn. Hồng nói rằng trong hoàn cảnh mọi người còn đang thiếu thốn, không ai có quyền đòi hỏi hưởng thụ nhiều hơn. Ông ta đã chỉ vào mặt của Hồng, tác sắc:
– Cô hãy lột cái vỏ diễn viên tuồng tích trên sân khấu ấy đi khi trở về sinh hoạt trong đời sống gia đình.

Hồng cảm thấy bị xúc phạm nặng nề sau câu nói trắng trợn ấy. Lần đầu tiên nàng thấy thấm thía sâu xa về vai trò con bù nhìn bị giật dây cho đóng trò của mình, trong khi ấy nàng vẫn tưởng mình đang ra sức phục vụ cho một lý tưởng tốt đẹp đáng tôn thờ.

Một lần khác, sau một mùa kịch thành công sôi nổi, Hồng đã nhận được rất nhiều thư từ của khán giả gửi về ngợi khen. Đặc biệt có một lá thư chỉ viết vỏn vẹn vài câu nhưng chứa đựng cả một sức nặng đủ khiến cho Hồng choáng váng. Lá thư được gởi từ một nữ công nhân trẻ:
– Chị trình diễn hay lắm. Tài năng của chị đã lôi cuốn cả một Thế hệ tuổi trẻ như tôi. Tôi tin chị đến độ lấy hình ảnh của chị làm mẫu mực, lấy lời nói của chị làm châm ngôn hành động. Và tôi đã lao đầu một cách mù quáng vào mọi công tác, mọi chiến dịch nhằm xây dựng xã hội, cái xã hội mà ở đó tôi đã bị bứng ra khỏi truyền thống gia đình, ra khỏi bàn tay thương yêu của cha mẹ. Rồi chị có biết số phận của những con thiêu thân như tôi hiện nay đang làm gì không? Thưa chị, tôi vừa đang là công nhân cho một hợp tác xã vừa phải đi làm một con điếm mới đủ nuôi thân!”

Hồng đã giấu lá thư không cho chồng biết, bởi nàng đã thấy rõ, cho đến lúc này, ông ta không còn là người có thể chia sẻ được với Hồng trong những cơn giông tố của tâm hồn bắt nguồn từ những nguyên nhân mà ông ta không thể nào cảm thông được.

Sau lần đó, Hồng thoát được ra khỏi cơn mơ chỉ sống trong hào quang của những nhân vật do chính nàng thủ diễn. Nàng khỏi sự quan tâm đến đời sống của mọi người chung quanh. Nàng hay lén đi lang thang trên những con đường quanh co, có khi là ở trong thành phố đông đúc chật hẹp, có khi là ở vùng ngoại ô với những mái nhà xiêu, vách nát. Nàng đã nhìn thấy những mảnh đời tối tăm, cực nhọc. Nàng đã thấy những khuôn mặt bạc nhược của những con người bị thiếu thốn đủ thứ nhưng lại bị những chiến dịch, tuyên truyền, những khẩu hiệu, những nghị quyết, những đợt học tập ngắn hạn, dài hạn thôi thúc tối đa. Những nhận thức mới này đã đánh một đòn nặng lên cân não của Hồng đến độ nó có ảnh hưởng mãnh liệt trên khả năng trình diễn của nàng.

Chồng nàng là người trước tiên nhìn ra cái nhược điểm đó. Ông ta mang đầy vẻ bồn chồn của một kẻ dồn hết vốn liếng vào việc nuôi dưỡng một con ngựa mà nay nó bắt đầu giở chứng không chịu dồn hết sức lực ra bốn vó trong mỗi cuộc đua. Điều này đã nhiều lần gây ra những xô xát, cãi cọ sau mỗi buổi trình diễn, trước thì còn ở nhà riêng, trong sinh hoạt gia đình riêng tư, sau nó bùng nổ ngay cả trên sân khấu.

Lần ấy là một buổi diễn tập cuối cùng trước khi vở kịch khai diễn trước quần chúng, có sự tham dự của nhiều cán bộ cao cấp của nhiều ban ngành thuộc bộ môn sân khấu. Vở kịch bị cắt ngang nhiều lần bởi những nhận xét của ông chồng đạo diễn:
– Chỗ này em chưa đặc tả hết phẩm chất của người nữ công nhân trong chế độ ta. Hãy nghĩ đến sự căm thù của một tầng lớp bị bóc lột tới tận xương tủy. Hãy dồn sự căm thù vào một câu nói. Câu nói ấy ngắn ngủi thôi nhưng nó là biểu tượng của một nhận thức đã chín mùi, đã tới bước nhẩy vọt, bùng vỡ….

Hồng nhẫn nại trong cơn mệt mỏi tận cùng của mình. Nàng nhắm mắt lại để tập trung ý chí và khêu gợi niềm hận thù. Nhưng vô ích! Như một sợi cao su đã bị căng ra nhiều lần, tới giây phút đó, sức đàn hồi chỉ còn là một cái gì nhão nhoẹt. Nàng thấy thấm thía về những nỗi xót xa, ê chề mà từ lâu nàng đã từng có cái cảm giác như nó đã hiện diện, gậm nhấm trong vùng sâu thẳm của tâm tư của mình. Nếu ngay phút này nàng được yên nghỉ, được nằm úp mặt vô trong tấm chăn để khóc vùi thì có lẽ nàng sẽ trấn át được cơn giao động đang làm cho óc nàng căng thẳng như muốn nổ tung ra.

Nhưng thực sự thì nàng đang đứng ở đây, trên bục gỗ sân khấu, dưới ánh sáng của những ngọn đèn chói lòa, trước cặp mắt soi mói của những diễn viên, những công nhân phục vụ sân khấu, những cán bộ văn hóa chỉ đạo và nhất là tiếng nói cứ mỗi lúc một gay gắt của chồng nàng vang dội bên tai:
– Tập trung….căm thù…..nhẩy vọt…..bùng vỡ!
Những âm thanh chát chúa ấy nhóm lên trong lòng nàng sức phản kháng cứ mỗi lúc một gia tăng. Nàng phẫn nộ nhìn xuống dưới sân khấu. Cái lũ ngồi bệ vệ, lom lom dòm ngó từng điệu bộ theo dõi từng cử chỉ, đôn đốc, phê bình, chỉ trích từng câu nói, từng cách lên giọng xuống giọng mà những bản mặt của họ, những bản mặt hưởng thụ, phè phỡn hoàn toàn mâu thuẫn với những điều họ bắt nàng làm, buộc nàng phải đặc tả, lại có thể đòi hỏi, yêu sách đối với những người như nàng ư!

Nàng mơ ước một xã hội công bằng thật đấy, nàng khích động tuổi trẻ xây dựng một tương lai đầy xán lạn mới thật đấy, nhưng nhất định không phải là đi chung một mục đích, một con đường như lũ người đầy quyền hành và ham hưởng thụ này. Trong cuộc đờì, nếu có những giây phút đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt thiêng liêng, đặc biệt mầu nhiệm có thể làm cho con người như sực tỉnh một cơn mơ, đầu óc tràn ngập ánh sáng của sự minh triết để có thể vụt nhận thức thấu suốt được cả một chặng dài mê lộ mà mình vừa trải qua thì đúng giây phút đó đã vừa xẩy đến với nàng.

Nó soi rọi cho nàng thấy hoàn cảnh của những con người lầm than cơ cực dưới xã hội mới. Nó chỉ rõ cho nàng thấy cái công trình ra sức đóng góp bằng tất cả tài năng và nhiệt tình của tuổi trẻ như nàng chỉ là những cố gắng vun đắp cho một đẳng cấp phong kiến mới. Giá trị của nàng do đó chỉ là một con bù nhìn bị giật dây cử động hay một hòn bột được nhào nặn tùy theo cung cách, ý muốn của những kẻ có quyền hành.

Thế là trong một giây phút bất ngờ nhất, nàng như có một động lực sâu thẳm, chất chứa, xúc tích từ bao nhiêu năm nay bật lên như sức bật của một cái lò so, khiến cho nàng có thừa đủ ý chí và sức mạnh để chật cái khăn quàng, (một y phục hóa trang của diễn viên) ra khỏi cổ và ném nó xuống đất. Rồi mắt nàng long lên với vẻ căm hờn nhìn chồng lúc đó đang đứng rất gần.

Phúc, tên chồng của nàng, thừa đủ bén nhậy để thấy sự bất thường đang xẩy đến trong tâm tư, tình cảm của vợ mình. Ông ta nhào lại phía Hồng vừa nói to để lấp liếm, nhưng dụng ý là để che giấu hình ảnh chống đối của Hồng trước đám cán bộ ngồi ngay ở hàng ghế đầu quan sát buổi diễn tập:
– Em cố gắng nhiều quá nên kiệt sức rồi. Thôi! Tôi đề nghị các đồng chí tạm nghỉ giải lao.

Vừa nói ông ta vừa dùng toàn lực để đẩy nàng về phía sau sân khấu. Hồng rợn lên vì cái cảm giác như bị xô bởi cái sức lực mang động cơ của sự hận thù. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi cơn bất kham chợt đến của Hồng có thể gây đổ vỡ trên nhiều mặt: Đoàn kịch nghệ, kịch bản, những buổi trình diễn đã dự liệu và trên tất cả là chính địa vị cũng như uy tín của chồng nàng.

Ngần ấy yếu tố đã đủ để Phúc xô Hồng dưới sức nặng của hai cánh tay và với sự căm ghét tận cùng. Hồng hơn ai hết cảm nhận rõ điều đó. Bởi nhiều năm qua, Phúc chưa bao giờ phản ứng quyết liệt đến như thế, và cũng bởi vì chưa bao giờ Hồng đã giở chứng một cách bất kham ngay trên sân khấu của buổi tập.

Phúc xô Hồng về phía cửa phòng hóa trang của diễn viên. Ông ta đẩy mạnh nàng vô trong, rồi đóng thật mạnh cánh cửa lại. Với hai bàn tay đầy móng sắc, ông ta bấu chặt lấy hai bờ vai của Hồng, trì nặng xuống bằng cả sức nặng của thân hình và bằng tia nhìn đỏ ngầu vì cơn xúc động, giận dữ. Rồi ông ta rít lên qua những kẽ răng nghiến chặt:
– Cô làm cái gì thế? Muốn phá hoại hả?
Hồng không đáp mà chỉ cố vùng vẫy. Hơn bao giờ hết, nàng thấy thực tế đang xẩy ra ứng đúng vào cuộc sống của một nữ diễn viên như nàng. Nghĩa là nàng đã bị bủa vây bởi hàng rào của bạo lực. Bạo lực không phải chỉ ở hôm nay, phút này mới có nhưng nó đã hiện diện từ lâu dưới hình thức bàn tay sắt được bọc nhung. Bao lâu nay nàng cảm thấy làn nhung êm ái, mềm mại là bởi vì nàng chỉ đã tuân phục một cách tuyệt đối. Tình thế đổi khác khi nàng nổi chứng bất kham. Và sự phản ứng của chế độ, mà đại diện gần gũi là chồng nàng cũng đổi khác một cách nhậm lẹ, phũ phàng.

Nghĩ đến những đòn thù mà chế độ trước đây đã đưa ra với biết bao nhiêu con người, Hồng thực sự hoảng sợ. Cơn hoảng sợ ùa đến nhanh chóng không kém, nó gây cho nàng cảm giác buốt nhói ở sống lưng. Nhưng chỉ ít giây sau nó cũng bị nàng nhận chìm xuống bằng những hình ảnh của xã hội lầm than cơ cực bên ngoài, bằng lá thư của người nữ khán giả vừa làm công nhân vừa làm điếm mới đủ nuôi thân.

Những thứ đó không phải hôm nay bây giờ mới có, mà thực sự nó đã âm thầm hiện diện trong tâm tưởng của nàng, giống như những cơn xoáy nước có sức âm thầm bền bỉ có thể làm sụp đổ cả một cây cầu.

Nàng vẫn thường tự nhủ rằng mình cố gắng đến tối đa trong mọi nhiệm vụ hàng ngày đâu phải để chỉ phục vụ cho một tầng lớp giai cấp mới đã thành hình và đang cấu kết với nhau một cách bền chặt. Nhưng rồi càng ngày thực tế càng cho thấy rõ ràng tuổi trẻ và lòng nhiệt thành đã bị lợi dụng một cách triệt để và tinh vi. Hồng không muốn tiếp tục để bị khai thác như những con bù nhìn chỉ biết cử động khi bị giật dây.
Nàng gằn giọng nói với Phúc:
– Anh buông tôi ra! Đối với tôi, từ nay là chấm dứt.
– Chấm dứt cái gì?
– Mọi nhân vật kịch cỡm và những ý đồ gian xảo của anh xây dựng trên những nhân vật ấy.
– Cô mất cảnh giác và sai lập trường một cách nghiêm trọng rồi.
– Thì đã sao!
– Cô không lường được hết mọi hậu quả về thái độ điên rồ của cô đâu !

Hồng vụt nổi giận. Nàng có cảm giác kinh tởm bộ mặt của Phúc đến cùng cực. Nàng hét to lên mà hẳn tất cả mọi người ở bên ngoài cũng đều nghe thấy:
– Anh đừng có dọa dẫm tôi. Tôi chấp nhận hết. Thà hậu quả xẩy ra thế nào thì cũng còn hơn là tôi tiếp tục con đường trình diễn nhớp nhúa này. Anh cút đi! Anh cút đi!

Phúc xô nàng ngã xuống nền gạch và đi ra như một con hổ dữ ! Ông ta đóng sầm cánh cửa phòng lại, mạnh đến nỗi mấy tấm gương treo trên tường bị xao động mạnh, và có một tấm bị rớt xuống sàn gieo lên tiếng vỡ loảng xoảng.

Mọi người đổ xô vào phòng, nhưng không ai lại gần Hồng cả. Họ thực sự e ngại trước vẻ mặt đầy tính chất khác thường của Hồng. Lúc nàng bước ra, cả bọn giạt ra cả hai bên. Hồng không nhìn ai nhưng có cảm giác như cả trăm con mắt đang dồn về phía mình. Khi bước qua dẫy ghế đầu, nàng nghe thấy giọng của Phúc cố gắng phân trần:
– Tôi xin lỗi các đồng chí! Dù cô ấy là ai, tôi cũng sẽ có biện pháp thích đáng.

Đột nhiên Hồng lấy lại được sự bình tĩnh đến độ chính nàng cũng không hiểu được sức mạnh nào đã đem lại cho nàng cái phẩm chất ấy. Có thể là sự khinh bỉ ! Có thể là cơn phẫn nộ, sự oán ghét, lòng căm thù, những tình cảm nàng đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ nhưng không phải để trút lên đầu những con người ưu tú như những người nữ công nhân, như Hùng, như những ngòi bút trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, mà chính là dành cho những cán bộ văn công cấp cao như lũ người trước đây vẫn còn có quyền phán xét và được nàng để cho phán xét.

Hồng quay lại đám người lố nhố để mỉm một nụ cười ngạo nghễ. Nàng không biết Phúc sẽ áp dụng những biện pháp thích nghi nào, nhưng điều đó có gì đáng quan tâm khi nàng đã tự giải phóng chính mình.

Đã từ lâu lắm, hôm nay nàng mới nhớ lại hình bóng của anh Hùng với tràn ngập nỗi xót xa như bị sát muối ở trong lòng.
***
Sau bữa đó, Hồng đã không trở về nhà mà đạp xe về tạm trú ở nhà mẹ của nàng ở mãi khu cư xá tập thể Giảng Võ. Những gì đã xẩy đến cho nàng, chính Hòa cũng không được biết. Hòa chỉ đã kể thêm:
– Lần cuối cùng tôi gặp lại chị Hồng là lần tôi đi công tác trên vùng những đồi trà ở Phú Thọ cách đây vừa đúng năm năm. Chị ấy đã lập gia đình với một bộ đội phục viên đã cụt một chân trong mặt trận chống Pháp ở Điện Biên Phủ. Hai người có vẻ hòa hợp với nhau. Anh ấy thản nhiên ngồi nghe chị kể lại cho tôi nghe tất cả những chi tiết mà tôi vừa thuật lại. Sau cùng, anh ấy chỉ nói thêm:
– Tôi bị loại ra khỏi vòng chiến từ sau năm 1954.Tôi không can dự gì vào với thời cuộc ngoài công tác phục vụ sản xuất những sọt trà. Thiên nhiên đem lại cho chúng tôi đôi chút hơi hướng của sự tự do, và điều này khiến cho chúng tôi bớt ngộp thở. Chú nghĩ mà coi, ở cái xã hội này, sân khấu đã lan ra cả đời sống. Còn có ai trong cái xã hội này mà không là một diễn viên đang thủ lấy vai trò của mình.

Nhật Tiến

Tháng 4,1985

https://nhavannhattien.wordpress.com/truyen-ngan-chan-dung-nguoi-nu-dien-vien/

Tình Nhân Ơi, Đã Tới Cuối Đường Cùng …. Thơ Hư Vô


tinh-nhan-oi-da-toi-cuoi-duong-cung

Anh thầm ước kim đồng hồ quay ngược
Cho nụ hôn còn được kéo dài thêm
Sân ga nhỏ, hắt hiu, buồn man dại
Từng chuyến tàu đang chạy tới vô biên.

Còn trong nhau, mà đã là kỷ niệm
Môi tìm môi lạnh ngắt lối muôn trùng
Tiếng còi đêm hú vang lời tiễn biệt
Tình nhân ơi, đã tới cuối đường cùng…

Tay anh ngắn, vuốt chưa dài sợi tóc
Níu cả đời không giáp một mùi hương
Em hãy khóc cho đầy thêm quá khứ
Cho tim vỡ tan từ những hoang đường.

Anh chết đứng giữa vòng tay hấp hối
Hơi thở còn nồng quanh nỗi đam mê
Tàu chở bể dâu, biết đâu bờ bến
Đường trăm năm đã mất lối quay về…

Hư Vô

Một Thời Đang Qua, tập truyện Nhật Tiến. Lời giới thiệu của Nguyễn Ngọc Bích


Nguyễn Ngọc Bích

mot-thoi-dang-qua

(Tập truyện Một Thời Đang Qua sắp được nhà xuất bản Huyền Trân tái bản năm 2017)

Lời giới thiệu

(trong ấn bản in năm 1985)

Ở ngoài đời, tôi chưa bao giờ gặp Nhật Tiến. Điều này, nếu đối vớí cá nhân tôi có thể được xem là một sự thiệt thòi thì trái lại, đối vớí tác phẩm có khi lại là một điều hay: tôi không có cách nào khác hơn là đến với anh qua tác phẩm.

Tuy chưa được gặp anh song Nhật Tiến trong Văn Học Việt Nam thì không phải là một ai xa lạ. Sau khi bước vào văn đàn với truyện dài Những người áo trắng (1959) và nhất là Những vì sao lạc (1960) nói về những trẻ “bụi đời” có cả mười mấy, hai chục năm trước khi có từ ngữ sau này, anh đã, ở tuổi 25, đạt tới được một vinh dự không nhỏ là được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc cho hai năm 1961-1962 vì truyện Thềm Hoang do nhà xuất bản Đời Nay của Nhất Linh in ra năm 1961. Là người yêu văn học, từ đó không ai là không để ý đến những tác phẩm gần như năm nào Nhật Tiến cũng có mặt để đóng góp vào văn học miền Nam tự do.

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VĂN HỌC CỦA NHẬT TIẾN

Người ta để ý đến anh không phải vì anh viết nhằm vào cái sôi nổi, như Chu Tử với những Loạn, Ghen, Yêu của ít năm sau đó hay Hoàng Đông Phương (tức Nguyễn Thị Hoàng) của Vòng tay học trò hoặc Lệ Hằng của những năm 70. Người ta cũng lại không để ý đến anh vì anh đi tìm cái mới như Thanh Tâm Tuyền hay thử nghiệm nhiều như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư trong thơ. Người ta tìm đọc Nhật Tiến vì anh rất “cổ điển”, cổ điển không thua gì những bậc đàn anh (và cả đàn chị) như Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh, những người đầu tiên đã nhìn ra văn tài của anh và khuyến khích anh trên con đường sự nghiệp.

Ở anh nổi bật lên những đức tính như một lòng thương xót bao la dành cho những kẻ xấu số trong xã hội, một con mắt thật tinh đời nhưng không ác ý, một trái tim ôn hòa nhưng không phải không biết phẫn nộ, một con ngườỉ thuần túy dành cho giáo dục (kể cả giáo dục có bề ngoài hình thức như ở trong học đường lẫn giáo dục tưởng như không có hình thức như báo chí, tiểu thuyết, truyền thanh, truyền hình… ).

Người ta, do đó, tìm ở Nhật Tiến một cái gì chân thật, một lương tâm xã hội đôi khi có thể xem là hơi lý tưởng quá nhưng lúc nào cũng đầy một lòng trìu mến đối vớỉ tuổi thơ (như trong Chim hót trong lồng, Chuyện bé Phượng, hay Tay Ngọc), đối với những người dân lành bị kẹt vào trong một cuộc chiến thảm khốc mà họ không có đủ trí tuệ hay hiểu biết để tách bạch, phân tích các vấn đề (điển hình như những truyện dài Giấc ngủ chập chờn hay Quê nhà yêu dấu, viết vào trong những giờ phút khốc liệt ngay theo sau trận Mậu Thân). Ở trong một khung cảnh chiến tranh mà nhiều khi ta cảm thấy như bị bẫy, không trách có người cảm thầy mình điên lên được, không trách có người điên thực sự như trong truyện ngắn “Tặng phẩm của dòng sông”, một trong những truyện ngắn hay nhất của anh và được lựa chọn vào trong tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương do nhà xuất bản Sống in ra ở Saigon năm 1973.

Ở Nhật Tiến có nhiều con người xa lạ, tưởng không bao giờ có thể gặp nhau trong một người. Từ ngày trưởng thành, là một sinh viên di cư vào Nam, anh trong căn bản là một nhà giáo. Ra đời, anh đi dạy tư ở Mỹ Tho, nơi đây anh gặp Truơng Cam Vĩnh. Đời sống tỉnh lẻ, anh không biết làm gì hơn là ngồi viết văn – trước hết là cho mình, chưa dám nói là cho ai khác vội. Rồi một cơ may (qua sự giới thiệu của anh Trương Cam Vĩnh) anh đã đến với Nhất Linh, và từ đó anh trở thành một tác giả có sách xuất bản. Hỏi anh có làm gì về văn chương trong khung cảnh học đường không? “Thưa không, tôi dạy Toán, Lý, Hóa….”

Cho đến tận những năm cuối cùng trước khi miền Nam sụp đổ, anh vẫn làm nghề ‘‘gõ đầu trẻ” và trong đám “trẻ” này đôi khi cũng có cả những ông bà trung niên được anh luyện thi mà nhiều người không hề bao giờ biết là anh viết văn. “Tôi không bao giờ nói về văn chương ở trong lớp cả”, anh tuyên bố.

Anh dạy từ khi mới vào đời, anh dạy từ trong thời gian dài làm báo, viết văn, anh dạy tư thêm trong lúc bị động viện, ở trong quân đội, anh dạy cả sau khi Cộng sản vào thành. Nói tóm lại, ở trong anh từ trước đến sau là một nhà giáo. Nhưng là vì anh dạy tư suốt đời nên khi Cộng sản vào, anh cũng không phải đi học tập gì nhiều. Anh chỉ phải theo có một đợt học tập ngắn ngày dành cho diện các văn nghệ sĩ (lần đó anh đi có cả Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Lệ Hằng, Nguyên Thị Hoàng v…v… bị gọi đi cùng). Và cũng vì người ta, cả xã hội chung quanh anh nhìn anh là một “ông thầy” dậy trẻ nên không ai nỡ tâm khai anh đã từng là giảng viên trong quân đội, Cục Chính Huấn. (Có ai ở trong hoàn cảnh này mới rõ được lòng yêu mến, tình bao bọc của đồng bào là quý đến chừng nào !)

Mãi đến năm 78 anh mới thôi dạy học vì trong một xã hội Cộng sản, dạy học dầu là Toán, Lý, Hóa….mà không được dạy theo ý mình, phải theo giáo án, phải theo chỉ thị, phải theo yêu cầu chính trị của Nhà nước và Đảng thì quả là hơn một cực hình. Anh chị Nhật Tiến quay ra mở quán cà phê. Ta hãy nghe Mai Thảo nói về anh trong giai đoạn này:

“Một buổi chiều Saigon, ít ngày sau khi 30 tháng tư 1975, ngồi sau chiếc xe gắn máy của Duyên Anh, cũng tác giả Ngựa Chứng Trong Sân Trường dạo quanh một vòng trên những phố phường tan hoang của thành phố vừa đổi chủ, tôi bổng nhìn thấy Nguyễn Thụy Long trên một khúc vì hè ở khu đại học Duy Tân. Long ngồi sau một cái quán lộ thiên mọc lên như nấm ở Saigon lúc đó. Tác giả Loan Mắt Nhung đang nhậu, mặt mày đỏ sậm, kính trắng dầy cộm. Và cạnh đó, là một quán hàng khác, với Nhật Tiến, Nhật Tiến không nhậu, không nhậu bao giờ, đang lụi hụi với một chậu nước và một chồng bát đũa nhớp cạnh một gốc cây.

Cái cảnh tượng đập vào mắt tôi lúc đó, về hai cái quán liền sát, cũng ở trước một vi tường thấp chạy dài, là cái cảnh tượng của một đối nghịch hoàn toàn. Mang chung sự thất thế của văn nghệ gác bút ra đường bán quán trước hoàn cảnh mới, cái quán của Nguyễn Thụy Long với những xị đế ngổn ngang trên mặt bàn và mấy người khách hàng trẻ tuổi cũng ngất ngưởng như Long, hiện rõ vẻ bụi đời anh chị. Cái quán của Nhật Tiến khác hẳn. Nó lành mạnh hơn và cũng gia đình hơn gấp bội, với những đĩa rau muống chẻ nhỏ đặt ngay ngắn, bên cạnh là một chảo mỡ sôi bắn khói bốc xanh um, chị Nhật Tiến má hồng củi lửa chiên những cái bánh tôm vàng ngậy và đứa cháu lớn, nơ cài mái tóc, váy xếp chững chạc đang phụ một tay với ông bố nhà văn.

Nhìn Long một bên, Tiến một bên, cũng đã lăn cả ra với sương nắng thời thế với gió bụi hè đường, cũng đã trở thành hai ông chủ quán tài tử bất đắc dĩ mà quán bạn là quán bạn, quán tôi là quán tôi, bạn anh chị bụi đời, tôi gia đình nghiêm chỉnh, tôi đã nhìn thấy một lần nữa, và lần đó là lần cuối cùng, điều tôi yêu thích và tự hào nhất cho văn nghệ miền Nam 20 năm, là cái trạng thái đa diện và đa dạng không bao giờ đồng dáng và đồng tính. Đó là cái thế giới văn nghệ của mỗi người một trời mình, mỗi kẻ một biển mình. Đó là vùng đất đai văn nghệ của mỗi người một non sông, mỗi người một sông núi. Cái không đồng dáng, không đồng phục nơi mỗi người trước bàn viết cũng như trong đời sống ấy, lại là điều văn nghệ miền Bắc đổ khuôn và con số thù ghét nhất. Và bởi vì thù ghét nhất nên muốn triệt hủy nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân của đại nạn đã tới với mọi ngành văn học nghệ thuật muôn nghìn hình vẻ của ta. Và đương nhiên là đại nạn ấy cũng đã đến với Nguyễn Thụy Long và Nhật Tiến.

Nhớ hôm đó, tôi và Duyên Anh đã ngưng xe lại. Đã vào ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp. Đã lên tiếng ca ngợi cái tinh thần quả cảm của gia đình Nhật Tiến, hàng ngày từ thật xa cổng xe lửa số sáu xuống, vui vẻ nhập được tức khắc vào nếp sinh hoạt mới ở quanh mình. Nhớ lời hôm đó, chúng tôi đã ăn ủng hộ Thềm Hoang Quán mỗi người một đĩa bánh tôm, rất ngon, và tôi đã hỏi đùa Nhật Tiến:

– Rửa bát thạo ngay. Giỏi nhỉ?

Và Nhật Tiến đã cười nụ cười bình thường, chừng mực, nụ cười hơi già trước tuổi một chút của một nhà giáo. Nhật Tiến bao giờ cũng trước hết xác nhận mình là một nhà giáo:

– Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây

(Trích Văn số 6, tháng 12,1982)

TỪ VĂN CHƯƠNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG

“Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây”. Đúng là Nhật Tiến, một trăm phần trăm. Nếu anh đã không để cho việc viết văn của anh ảnh hưởng đến việc dạy học của anh trước kia thì giờ này, anh cũng lại không để cho sự thất thế của anh ảnh hưởng chút gì đến việc làm của anh – một việc làm hoàn toàn lương thiện.

Cuộc chiến trong những năm đầu 70 ngày càng vượt xa sự hiểu biết của người dân thường, ngày càng đi quá khả năng chịu đựng của ngay cả những người ý thức nhất. Nhưng trong khủng hoảng tinh thần, trong “bế tắc” đó (chữ của anh), Nhật Tiến vẫn không bỏ cuộc. Anh quay ra làm báo thiêú nhi, một việc làm mà anh đã có ít nhiều kinh nghiệm trước đó khi làm tổng thư ký tờ Đông Phương của Nguyễn Thị Vinh. Tờ báo Thiếu Nhi do nhà sách Khai Trí bảo trợ đã trở thành mối bận tâm chính của anh trong những năm từ 1971 đến khi mất miền Nam. Trong thời gian này, anh đã chuyển hướng sáng tác, đi từ truyện viết về thiếu nhi (như Chim hót trong lồng, Tay ngọc, một số truyện trong Ánh sáng công viên) hay thanh thiếu niên (Những vì sao lạc, v…v…) sang thành truyện viết cho và của thiếu nhi. Đây là những chuyện như Lá chúc thư (truyện dài, in năm 1969, trong tủ sách Vàng), Đường lên núi Thiên Mã, hay cả Thưở mơ làm văn sĩ (tuy viết dưới hình thức hồi ký).

Đều đặn, đều đặn anh sáng tác để thành một văn nghiệp khá đồ sộ: Trước 75, như vậy là anh đã có gần như mỗi năm một tác phẩm, mà nói chung, tác phẩm nào cũng viết một cách cẩn trọng. Giá như anh có ngưng ở đó thì chúng ta cũng đã có một văn nghiệp gồm 11 truyện dài, 4 tập truyện ngắn, 1 truyện thiếu nhi, 1 tập viết dưới hình thức hồi ký, 1 tập viết dưới hình thức nhật ký, và một tiểu thuyết kịch (Người kéo màn in ra năm 1962 do nhà xuất bản Huyền Trân), tức 19 tác phẩm tất cả trong một đời sáng tác là 17 năm (1959 đến 1975). Đó là chưa kể những viết lách lặt vặt bên cạnh nữa, những đóng góp trên mặt báo, những bài diễn thuyết, những khẳng định lập trường, những bài giảng dạy về chiến tranh tâm lý v…v… Tóm lại, đây không thể coi là một văn nghiệp mà ta có thể khinh thường được ở một người mà tháng 4,1975 chưa đầy 39 tuổi.

Nhưng điều làm cho ngườì ta để ý đến Nhật Tiến sau này, trong những năm gần đây lại không nhất thiết là sự nghiệp văn chương của anh. Vì trong gần 5 năm ở với Cộng sản, dĩ nhiên là anh phải “gác bút” rồi trừ khi là anh bằng lòng đi làm tay sai cho chúng –  một điều chúng ta không thể nghĩ được về Nhật Tiến. Nhưng chỉ cần anh đặt chân lên đất Thái sau khi vượt biên bằng đường thủy là ta đã thấy ngòi bút của anh phục hoạt liền.

Những truyện ngắn của anh sáng tác ở trong trại sau này được tập hợp lại trong tập Tiếng Kèn (do nhà xuất bản Văn Học in năm 1982 ở Cali) vẽ lên một bức tranh vô cùng sống động về cuộc đổi đời lớn nhất của người dân Việt Nam (chứ không riêng gì của người dân miền Nam) có lẽ từ hơn một trăm năm nay. Thời Tây sang, với tất cả những cái va chạm, xung đột văn hóa giở khóc giở cười của nó, cũng không thể so sánh được với cái ngô nghê, cái ồ ạt và cái dã man của mấy chú mán ở rừng về như bộ đôi và cán bộ miền Bắc vào xâm chiếm miền Nam.

Song Nhật Tiến không để cho cái hận thù đó làm mờ đi cái đau thương trước mắt là nạn hải tặc hoành hành trong vịnh Thái Lan trong những ngày tháng anh ở trại. Với sự tiếp tay can đảm của hai nhà văn Dương Phục và Vũ Thanh Thúy, Nhật Tiến đã lên tiếng tố cáo nạn hải tặc ngay trên đất Thái, làm thành một cuộc vận động toàn thế giới (do sự tiếp sức của các báo chí Việt ngữ và cộng đồng người Việt ở hải ngoại) mà quốc tế phải để ý tới, mà Liên Hiệp Quốc phải họp hội nghị để giải quyết, buộc ngay cả chính quyền Thái phải lùng bắt một số hải tặc và đem chúng ra trước vành móng ngựa.

Tháng 9-80, sang đến Mỹ, Nhật Tiến vẫn không bỏ cuộc. Nhờ sự hiện diện của anh và của hai anh chị Dương Phục – Vũ Thanh Thủy ở miền Nam Cali, giờ này có thể đứng ra làm chứng nhân hay nhân chứng sống, phong trào chống hải tặc lên cao độ với Ủy ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (do giáo sư Nguyễn Hữu Xương cầm đầu) vận động khắp nơi trong báo chí, trên quốc hội, với lập pháp và hành pháp Mỹ, với Liên Hiệp Quốc. Những bài tố cáo của ba nhân chứng được gom lại thành một tập tài liệu mang tên Hải tặc trong vịnh Thái Lan do Ủy Ban Báo Nguy in ra năm 1981. Ngay sau đó, James Banerian đã dịch toàn tập sang tiếng Anh mang tựa  đề là Pirates on the Gulf of Siam.

Việc làm này của Nhật Tiến, Dương Phục và Vũ Thanh Thủy được đến cả Coleman McCarthy trên tờ Washington Post công nhận là một công việc đầy ý nghĩa. Một số các bài xã luận đăng trên mặt các báo chí Hoa Kỳ và quốc tế cũng đã dựa phần nào vào những tiết lộ như ở trong Pirates on the Gulf of Siam.

KINH NGHIỆM Ở MỸ

Sang đến Hoa Kỳ, Nhật Tiến chấp nhận ngay cái thực tế của xứ này: Nhà văn Việt Nam không có (hay ít nhất cũng chưa có) chân đứng trong cái xã hội này. Anh vì thế nên cũng chấp nhận ngay cuộc chơi mới, lăn lộn từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, nhận đủ mọi thứ việc thượng vàng hạ cám, gì cũng làm tuốt, làm đêm làm ngày mệt nghỉ, và rồi đi học để kiếm một cái chuyên môn mà xứ này dùng được. Thế mà rồi anh vẫn viết, viết hăng say hơn bao giờ hết. Truyện của anh đăng đủ trên các mặt báo Việt ngữ ở hải ngoại, từ Ngày Nay ở Kansas City đến Đất Mới, Seattle, Washington, từ Khai Phóng và Nội San Cựu Giáo Chức ở Cali đến Chuông Saigon ở Úc Châu, từ Lửa Việt ở Canada đến Độc Lập ở Tây Đức và Quê Mẹ ở Pháp.

Mặc dầu phần lớn làm “chùa” anh vẫn không hề lấy đó làm buồn. Anh hăng say trong mọi việc, lại còn lấy đó làm như một niềm vui, một thú giải khuây cho những năm tháng âu sấu, buồn bã. Tập truyện Một thời đang qua hiện trong tay bạn đọc chính là một ghi chép trung thực của nhưng ngày tháng ấy, đặc biệt ở phần I. Sự đổi đời trong cuộc sống của người Việt hải ngoại, nhất là trong những năm đầu làm quen vớí xứ người, nó ghê quá, nó làm cho ta đôi khỉ tưởng như đến mất nhân bản tính tới độ ta chỉ còn có mộng tưởng là xem được là thật thôi (“Người làm ca đêm”).

Trong “Một ngày của nhiều người” gần như không còn ai là của riêng mình nữa. Một người sáng dậy, vừa chồm ra khỏi giường đã thấy mình trở thành một bộ phận của guồng máy xã hội; không hơn không kém một con ốc mà vì máy đã bắt đầu chạy nên mình phải theo. Thôi thì đủ thứ tính toán, “rất may là chỉ phải “để” có hai lần nhưng ngần ấy việc cũng đã tiêu đi mất của anh thời gian một phút rồi. Nếu chậm thêm 4 phút nữa thôi anh sẽ bị kẹt xe ở lối vào xa lộ…(trang 10). Thế mà trong óc lúc nào cũng còn lởn vởn những cái “bill” hàng tháng, “tiền điện thoại, tiền gas, tiền nước, tiền Tivi, tiền dàn âm thanh và những gói quà 2 pounds gửi cho gia đình ở Sài Gòn…” để rổi “đầu anh như bị xiết lại. Anh muốn ngộp thở về những ý nghĩ ấy trong đầu diễn ra rất nhanh như một dòng điện từ xẹt qua óc” (trang 11). Rồi câu chuyện đi sang những tình huống của một số người khác những tình huống không còn phân biệt được đây là câu chuyện của nhiều người khác nhau: Hải, Toản, Bình, Sảnh, Dũng…..Tại sao? Tại vì trong cái guồng máy khổng lồ đó, ta đã gần như mất hết cá tính.

Chẳng thế mà trong “Những mẩu dây leo” con người đã gần như điên, không còn biết mình điên hay người điên nữa! Ai lại ngày nào Vũ (nhân vật chính làm nhân viên an ninh trong một tòa lầu) cũng leo lên 3 tầng lầu “một ngày tám tiếng, mỗi tuần năm ngày… như con sên leo lên vách tường đã rổi bi tụt xuống. Tụt rồi lại leo lên nữa” (trang 43) để làm một công việc duy nhất là “thọc 25 cái chìa khóa khác nhau treo ở 25 nơi khác nhau vào cái hộp đen, xoay một vòng để nó in hàng ám số lên cuộn bằng giấy nằm bên trong” (trang 38). Riết rồi một hôm anh ngây người ra làm những công việc mà người ta có thể ngỡ là đã có tính cách bất bình thường, để rồi ông giám đốc phải gọi anh lên khiển trách. Anh về nhà, nằm mơ thấy một giấc mơ hãi hùng là anh đã bị sa thải vì bệnh “Mental Health” (“rối loạn thần kinh” bị), do thất nghiệp, anh không còn tiền gởi về cho gia đình, ngay cả đến một gói quà 2 pounds.

Sau đó, những chuỗi tư tưởng lớp lang bình thường vẫn “xuôi dòng” nay trở nên “lộn phèo” và “tình trạng này trước còn xảy ra thưa thớt, dần dà Vũ phát hiện được ra rằng nó đến với mình có vẻ thường xuyên hơn.” Chàng tự nhủ: “Mình phải chống trả lại chúng nó chứ. Phải chống bằng bất cứ giá nào để chứng minh với tất cẩ mọi người rằng tôi là một kẻ bình thường chứ.” (trang 46)

Song “bình thường” gì mà đến quên cả cái nheo nhóc của vợ con ở quê nhà.(quên cả những đoạn thư con gái út viết cho anh từ Sài gòn: “Hôm qua mẹ nhận được gói quà bố gửi. Hôm nay mẹ bỏ tiền mua xương phở cho cả nhà được gặm. Ngon quá bố. Lâu rồi con không được ăn thịt.”) để dám chạy thẳng lên văn phòng lão “manager” chỉ vào mặt hắn và mắng : “Tôi ghét sự nói láo của những kẻ làm việc dưới quyền của ông. Tôi ghét luôn cả những loại cây giả tạo mà ông cho trưng bầy ở mọi chỗ trong cơ quan này. Chúng nó chẳng có gì xứng đáng để khiến cho tôi phải đứng thừ người, chiêm ngưỡng so với những cây cỏ tươi tốt, đẹp đẽ ở trên quê hương của tôi. Vậy thì, những kẻ nào tố cáo tôi như vậy, chính nó mới là đứa có bệnh “mental health” đó thưa ông!” (trang 46).

Tả người mất trí đến như thế phải kể là hết cở. Nhưng hiện thực chiến tranh, những thảm họa của sự đổi đời trên quê huơng và trên quê người đã được Nhật Tiến mô tả một cách linh động, lôi cuốn đến độ khi buông sách ra ta đã phải thở phào mà thấy là mình may mắn đã không phải là người trong truyện.

Bên cạnh những truyện như vậy, ta cũng lại có một Nhật Tiến nhẹ nhàng hơn như trong truyện “Những mảnh trăng thu”, môt câu truyện khá cảm động. Tác giả tả cuộc sống của những đứa trẻ kiểu “bụi đời” ở trong trại tỵ nạn, tuy nghèo khổ nhưng vẫn còn có nhau, một tình huống khá tương phản với những trẻ em Việt Nam ở ngoại quốc, đầy đủ hơn nhưng tiếng nói thì đã chọ chọe, văn hóa thì đã xa vời với quê hương đất tổ: “Trăng thu năm đó chỉ còn hắt hiu trong trí nhớ của các em bé còn vất vưởng ở đâu đó trong các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á.” (trang 7)

Sự va chạm văn hóa còn được Nhật Tiến đem ra làm đề tài trong mấy truyện khác như ‘‘Mùa xuân của nàng” và nhất là “Bông hồng nào cho Mẹ”. Đây không phải là những đề tài chỉ có một mình Nhật Tiến nhìn ra, song phần anh bao giờ cũng có cái đậm đà, thâm trầm của riêng anh – một thứ trầm buồn mà nhiều người trong chúng ta cũng chia xẻ đứng trước những vấn đề đó. Thành ra, với Nhật Tiến, ta lại có thêm được một cách nhìn, một tiếng nói Việt Nam bên cạnh những Võ Phiến trong tiểu luận (Thư gửi bạn, Lại thư gửi bạn), những Trần Phong Vũ (xem truyện Hạt Cát trong tuyển tập Quê hương còn đó), Trần Diệu Hằng (Vũ điệu của loài công), Lê Thị Huệ (trong Bụi hồng), Nguyễn Ngọc Ngạn (trong Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn) trong tiều thuyết như một thể bao trùm cả truyện ngắn, những Cao Tần, Nguyễn Bá Trạc, Trần Mộng Tú trong thơ để bàn đến một loại đề tài tưởng như bất tận.

  PHẦN “QUÊ NHÀ”

Sang phần 2 (phần “Quê nhà” đối với “Quê người” của phần 1) thì ta thấy tiếp nối một số truyện mang cái hơi còn sung sức của tập Tiếng Kèn. Thật vậy, sự thành công của tập Tiếng kèn được tiếp nối (đây bằng nhưng truyện có kịch tính cao độ như truyện” “Người tù cuối năm” “Chặng đường cuối” và nhất là “Những vết chân trâu.” Qua tất cả những thảm kịch đổi đời ở quê nhà từ ngày Cộng sản đến như một tai họa (chữ của Nguyễn Chí Thiện), Nhật Tiến như muốn nói với chúng ta là cứu cánh vẫn chỉ có thể là con người. Chính con người trong một tên thủ trưởng công an tưỡng như khát máu đã giúp hắn nhìn ra ân nhân của hắn để nói:

“Ông Định, hơn ba mươi năm rồi, bây giờ tôi mới có dịp nói lên lời cám ơn ông.” (trang 78).

Cũng lại chính con người, một con người rất bình thường khi nó đã tước bỏ được hết những huyền thoại nhảm nhí về nó, đã làm cho tên đại úy trong “Chặng đường cuối”, xem như bị hủ hóa. Thì ra cả một huyền thoại về cách mạng đẹp đẽ có thể bi sụp đổ như một cái nhà bằng giấy đứng trước một xã hội thực tế, lột trần như một xã hội kẻ cắp, con buôn ở một vài đô thị miền Nam. Thì ra cái “đạo đức cách mạng” của “con người mới xã hội chủ nghĩa” xem ra cũng mỏng thôi!

Còn như truyện “Những vết chân trâu” một chuyên phải nghĩ đã xảy ra ở một hợp tác xã miền Bắc, cũng như truyện “Một chuyến đi”, mô tả tất cả cái trần ai của việc xin giấy đi một chuyến tàu ra Bắc, đều nói lên cả cái bế tắc của xã hội Việt Nam ở trong tay Cộng Sản. Xin xong giấy tờ, Quý, vai chính trong “Một chuyến đi đã chợt mỉm cười tự mãn.” Để rồi Nhật Tiến phải hạ môt câu: “Có lẽ ở trên đời này chỉ có Quý là kẻ duy nhất đã có thể cười được khi nhận được tin mẹ mình đang thực sự hấp hối!” (trang 91). Đó cuộc sống nó đã đảo điên tới mức đó thì không cần phải tác giả dùng lời trực tiếp lên án chế độ nữa, những truyện của Nhất Tiến có sức thuyết phục hơn chính vì chúng chỉ tìm cách tả sự thật: sự lên án chế độ đã trở thành một kết luận đương nhiên của cuộc sống.

Hai truyện “Tay ngà” và “Chân dung người nữ diễn viên” nói về sự sa sút của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ Cộng sản. Ở đây, Nhật Tiến chỉ làm một việc là tiếp nối, mang cái nhìn sâu sắc của mình vào hoàn cảnh người đàn bà, một việc Nguyễn Du trước kia đã đặc biệt lưu ý, một việc Phạm Duy gần đây cũng làm trong nhạc của ông. Huyền thoại “Tay ngà” của Lữ về chị Thu đã bị sụp đổ sau 30 năm khi chị đưa tay ra, “hai bàn tay sần sùi nhăn nhúm và mang một vẻ chai cứng, khô queo” và giải thích: “Chế độ mới cần đề cao tinh thần lao động trong mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những nghệ sĩ chơi đàn. Tôi không bị cấm đánh đàn nhưng tôi cũng bị bắt buộc phải cầm thêm cái cuốc. Cơn tàn phá đối với một bàn tay chỉ trong vòng một tháng là thấy rõ ….”(trang 66).

Trong “Chân dung người nữ diễn viên”, tuy là hoàn cảnh của người phụ nữ, song cứu cánh vẫn lại là con người. Ngày nay, chị Hồng hết được xem là minh tinh và chỉ sống bằng nghề cầy ruộng bên cạnh một anh chồng thương phế binh, song chị đã thoải mái biết bao khi bỏ được tất cả sự giả dối bao trùm đời chị khi chỉ còn phục vụ chế độ trong ngành kịch nghệ.

Trường tồn trong tất cả cuộc sống bi đát ở quê hương, nơi đó mỗi cuộc sống là một thảm kịch, chỉ có bà mẹ Việt Nam, bà mẹ muôn thưở mà ta thấy trong truyện “Cái túi bùa”.

Xem thế đủ thấy cả cái phong phú của Nhật Tiến trong Một thời đang qua.

CON ĐƯỜNG ĐÃ VẠCH

Trả lời một cuộc phỏng vấn mới đây thực hiện trên tạp chí Xác Định về cách nào anh phân biệt gỉữa con người của hành động và con người nhà văn trong anh, Nhật Tiến cho biết là theo anh, viết văn là một thứ thiên chức. Nhưng một thứ thiên chức đòi hỏi nhiều bền bỉ. Tuy anh không nói ra song ta phải hiểu là nếu không kiên trì thì thiên chức này cũng có thể mai một, cùn mòn. Do đó, nên giữa hành động và viết, anh không quên hành động (mà khi hành động anh còn hăng say hơn ai hết) nhưng đặc biệt, anh không bao giờ quên viết – chỉ trừ những trường hợp bất khả kháng như nhưng năm anh bị kẹt ở lại với Cộng sản.

Ra được đất tự do, ngay khi hãy còn một mình ở trại (Chị Nhật Tiến, tức nhà văn Đỗ Phương Khanh, và các cháu đi sau nhưng ngay từ lúc còn ở nhà đã nói với anh là “anh ra làm được gì cứ làm, cần phải nói cái gì cứ nói” đừng bận tâm về những hậu quả có thể xảy ra cho chị ở nhà) anh đã bắt ngay trở lại cái nghiệp viết văn của anh để tiếp nối cái thiên chức kia. Ở trong nhiều điều kiện vật chất có thể nói là vô cùng bất thuận lợi và bất ổn định, anh vẫn tiếp tục “ra quân”. Cứ xem những ngày tháng của các truyện đề” trong Tiếng Kèn, ta sẽ thấy rõ: tháng 12,1979 (“Buổi sáng của bé”), tháng 1, 1980 (“Tiếng kèn”, “Nồi cháo thịt”) ở trạỉ Songkhla Thái Lan, tháng 12-80 ở Portland, Oregon (“Điểm hẹn”, “Một thoáng xuân về” và “Ước vọng của bà Năm”), tháng 8,1981 (“Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ”) và tháng 12, 1981 (“Chuyến tàu cuối năm”) ở Santa Ana, California. Ta có cảm tưởng anh đang di chuyển mà cái bút, tập giấy vẫn không rời tay anh, và anh viết liên miên, viết bất chấp những điều kiện hay ngoại cảnh chung quanh.

Làm việc như vậy, chắc chắn Nhật Tìến đã phải có một niềm tin sắt đá. Bốn năm ở lại với Cộng sản, trong trường hợp Nhật Tiến, đã không phải là bốn năm sống thừa. Tuy không sáng tác, bốn năm đã thành bốn năm tích lũy ở trong nhà văn nơi anh. Nhờ đó, ngày nay ta có ở Nhật Tiến một tác giả dồi dào chất liệu cộng thêm với một ý thức chính trị thật sắc bén. Hai tập Tiếng Kèn và Một thời đang qua hay không phải vì tính cách chống cộng của chúng vì thiếu gì tác phẩm chống Cộng mà chẳng hay tí nào – nhưng là vì tính cách chân thật của chúng trong đó cái chất sống sờ sờ ra đó.

Nhật Tiến đã chứng kiến, mắt được thấy, tai được nghe, hay chính mình đã sống những kinh nghiệm đó, lại thêm được một nghệ thuật già dặn nên tập truyện tự nhiên đã trở thành một bản án chế độ Cộng sản mà khó có ngòi bút nào vượt qua được. Có thể nói, nếu Đại học máu của Hà Thúc Sinh là một bản án đanh thép nhất đối với chế độ lao tù “học tập, cải tạo” của Cộng sản thì Tiếng kèn và Một thời đang qua của Nhật Tiến là một bản án đanh thép không kém, mô tả chế độ bên ngoài lao tù ở quê nhà.

Nguyễn Ngọc Bích

Springfield, mồng 6 tháng 9, 1985

Đọc tiếp: Tập truyện Một Thời Đang Qua – Nhật Tiến

Chân Dung Nhà Thơ Bùi Giáng. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

img_3053

(Chân Dung Nhà Thơ Bùi Giáng)

Có rất nhiều tác giả viết về nhà thơ Bùi Giáng. Không biết bài viết của tôi có thừa không? Nhiều nhà phê bình văn học đã phác họa một chân dung văn học với cách nhìn ngắm nhận định tuy chủ quan nhưng có khi lại đóng vai khách quan. Riêng tôi, từ một vai trò của một người đọc thơ, tôi cố gắng đi tìm cảm giác của một người nhận hiểu những điều mà mình thắc mắc từ nhiều câu hỏi.

Nhiều người nhận xét là ít có bài viết phê bình về văn hay thơ của Bùi Giáng mà có rất nhiều bài viết đầy những giai thoại có tính ca tụng, dù chân dung văn học của ông đã được nhìn ngắm với nhiều khía cạnh khác nhau. Có điên có tỉnh, có lúc thơ là những ý nghĩ độc đáo trong sáng nhưng cũng có lúc là những câu nói lái dung tục, là chất chứa của những ẩn ức không lối thoát. Riêng tôi, khởi đọc từ những bài thơ từ thuở Mưa Nguồn đến sau này, tôi thấy trên con dường suy tư của ông, những ý nghĩ độc đáo, những hình ảnh gợi nhiều liên tưởng gợi ra một cuộc rong chơi của một thế gian khác, hơi giống thời hiện taị nhưng lại có nhiều nét cổ xưa hoang dại đầy ắp những nỗi niềm.

Hình như không có một điều gì ngăn cấm giới hạn trong tác phẩm của ông. Trong khi viết khảo luận, ông viết chống báng lại chính mình là thường. Hứng khởi tạo cho ông một cực đoan. Không có một nhân vật của văn chương, của triết học nào mà ông đế cập đến không có những chi tiết bất ngờ lạ lùng của những khám phá đến tận cùng. Riêng với thi ca, ông đọc thơ, bình thơ và làm thơ chỉ chung một tâm cảm, của những tín đồ cuồng tín nhất. Có nhiều khi ông khen ngợi quá lời, thành ra những nhận định ở trong vòng tùy hứng. Ai cũng có thể thành thi thánh, thi thần, nhưng ở chỗ khác lại bị chê bai thậm tệ… Nhưng tại sao, Bùi Giáng vẫn được nhiều người như nhà văn Mai Thảo coi là tài thơ trác tuyệt, là ngôn ngữ ảo diệu không tiền khoáng hậu, là vì có ông thơ ca mới đích thực có biển có trời…

Ai tỉnh? Ai điên? Ai viết văn cuồng? Ai viết thơ ngông? Bùi Giáng đã nhận diện vóc dáng chính mình trong cuốn sổ tay của Thầy Thích Nguyên Tạng chùa Pháp Vân, Gia Ðịnh trong một buổi trưa ngày 10/11/ 1993:

“- 1926- được bà mẹ đẻ ra đời
– 1928- khi té bể trán, vết sẹo còn nguyên kỷ niệm, hai năm trời chết đi sống lại

– 1933- bắt đầu đi học a,b,c trường làng tại Thanh Châu với thầy Cù Ðình Quý

– 1936- học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn

– 1939- ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Ðình Ðàn, Hoài Thanh Nguyễn Ðức Nguyên, Dào Duy Anh vân vân

– 1940- về Quảng Nam chăn bò.

– 1942– trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế. Nhập ngũ, bộ đội công binh hai năm sau giải ngũ

– 1952- vào Sài Gòn 1955 khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm Tân Việt xuất bản.

– 1957 Tân Việt xuất bản giảng luận về Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, giảng luận về Chu Mạnh Trinh, về Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị

– 1969 bắt đầu điên rực rỡ

– 1970

Lang Thang Du Hành Lục Tỉnh (khách sạn Long Xuyên Bà chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)
Gái Châu Ðốc Thương yêu và Gái Long Xuyên yêu dấu

Gái Chợ Lớn Khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)

– 1971-75-93

Ðiên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang
Rong chơi như hài nhi (con nít)

Ðược gia đình ông Phó chủ tịch (482) Lê Quang Ðĩnh, Hội đồng thành phố đối xử thơ mộng thênh thang.

Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa đôi lời rốt cuộc

Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cô Nương, và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)

Do đâu mà được như thế?

Ðáp. Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao chùa chiền miền nam nước Việt không biết nói sao cho hết”

img_3051

Bùi Giáng đã viết về “ông điên” một chân dung tự vẽ chính mình: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là Mẫu Thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên thì trước hết phải đáp vào câu hỏi. Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà? đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy?”

Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Bách Khoa, một bệnh nhân tâm thần của Bịnh Viện Biên Hòa, nhà văn Nguiễn Ngu Í cũng đã phỏng vấn một bệnh nhân đồng viện đồng bệnh Bùi Giáng. Thế mà, câu trả lời lại hết sức tỉnh táo, bình thường hơn cả những người bình thường nhất:

“Anh Ngu Í, xin gửi anh vài kinh nghiệm và ý nghĩ riêng. Viết cũng như sống – cần chút trật tự, điều hòa: ăn ít, ngủ nhiều. Ðừng để những bực bội phá giấc ngủ. Thỉnh thoảng đi về Lục Tỉnh (con đường từ Long Xuyên xuống Châu Ðốc đẹp lạ lùng).
Không hút thuốc lá nặng khói. Nên uống la de (bia), uống vừa phải.

Tôi xin trở lại với giấc ngủ vì xem đó là cái tốt nhất trong đời. Nếu có thể nên ngủ thật sớm (lúc 7, 8 giờ tối) để có thể thức giấc lúc 4, 5 giờ sáng, ra đường đi dạo, lai rai vài tua, hít thở nhịp nhàng, rồi trở về ngồi viết hoặc nằm viết.

Ðừng nên ngủ chung giường với một người nào. Hơi thở của họ sẽ chi phối nhịp thở của ta…”

Thế mà, theo Võ Ðắc Danh, đọc hồ sơ lưu trữ tại nhà thương điên Biên Hòa ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977, thời gian này Nguyễn Ngu í vẫn còn sống trong bệnh viện, hai người cùng ở khu 3. Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi: “Bệnh tái phát từ tháng 4 năm 1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị văn hóa trọng đại có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3 năm 1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn.”

Trong tác phẩm “ Ði Vào Cõi Thơ”, Bùi Giáng viết về chính Bùi Giáng:

“Những bài thơ “chuồn chuồn châu chấu” của ông quả thực là có ý nghĩa. Nó bay nhẹ vi vu quả có đúng như là phận mỏng cánh chuồn. Vào những buổi sáng mùa đông lạnh lạnh ở Trung Việt, vào những buổi chiều mùa thu ở Bắc Hà, hình bóng những con chuồn chuồn bay lượn cuối ngõ đầu xuân quả thật là tha thướt. Ðôi phen mất cái tiết điệu riêng biệt ấy cũng còn tái hiện trong đôi vần phồn hoa không bao giờ có chuồn chuồn bay vòng múa lượn…

Tuy nhiên Bùi Giáng là chỗ quen biết với tôi nên không tiện bàn luận chi nhiều Chê thì mất lòng nhau. Mà khen thì mang tiếng “mẹ hát, con vỗ tay”

Dù sao bài nay cũng nên trích thêm vào tập:

Bóng dương buồn ngủ qua chiều
Qua sông tại hạ toan liều tấm thân
Ðường sông bóng để cơ trần
Gẫm chông gai ấy ai từng đạp qua
Ghì môi con mộng la đà
Tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng
Nửa vời trăng mộng mông lung
Ðường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”

Viết về thơ, Bùi Giáng hình như trong một hành trình tự hủy, làm kẻ lạc lõng trong cuộc nhân sinh và tìm kiếm sự sáng suốt trong tận cùng cuồng si. Với ngôn ngữ riêng ông, pha trộn những ngôn từ bác học và dung tục, chuyên chở những ý tưởng lạ lùng, có lúc như những mật ngữ phù chú khó hiểu nhưng có lúc lại bình thường của một người tỉnh táo hết mình.

“Thơ tôi làm trong mấy cuốn thơ của tôi chỉ là cách dìu ba đào về chân trời khác.

Ði vào giữa trung tâm bão dông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phà vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên cánh tay mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm bay về Sương Hy Lạp ghé Calvaire viếng thăm một linh hồn bát ngát, rồi quay về đồng rộng, làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng, khoai sắn, thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao…”

Bùi Giáng điên trong cái tỉnh và thơ của ông cũng bất định theo cái nhịp mê cuồng:

“Hãy để yên cho tôi điên tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có bàn đến thơ tôi. Tôi không dám si mê, cũng không dám hoài vọng. Một mai tôi chết. Nghĩa là tôi không còn sống. Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống…Người yêu đừng bén mảng đến, bạn bè hãy đi xa. Ðể tôi một mình tha hồ tôi điên tôi dại. Ai có đến gần thì hãy thử điên dại cho như tôi…”

Một cách nhìn khá đặc biệt, của một thi sĩ ngắm nhìn chân dung một thi sĩ, Thanh Tâm Tuyền trong “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn” viết:

“Ðối với đa số, Bùi Giáng là một nhà thơ điên. Không nhắc đến bọn tục, bọn tỉnh, bọn khôn suốt cả đời chẳng một giây nào thèm “ thơ” đến tuyệt vọng, nói ngay những người quí ông – nhìn được ông như một thiên tài – thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại nhiều khi cũng né tránh, chẳng dám bước hẳn vào cõi thơ ông, hoặc có bước vào thì cũng theo cái lối “chân trong chân ngoài”, “mắt trước mắt sau”, cười cợt vui đùa hay nghiêm trang lố bịch, tưởng như thế là làm thuận lý, vui lòng nhà thơ – người bầy trận nghiêm trọng và ta nên chiều người.

Chính thái độ của những kẻ yêu ông – những kẻ ghét ông chẳng đáng nói – càng khiến ông phát “bẳn”, càng khiến ông phát “điên” (điên tiết), càng khiến nhà thơ thêm lạc lõng “một mình một cõi” càng đẩy ông tới chốn hoang vu bờ bãi, chơi với mọi, với beo, với gấu, châu chấu, chuồn chuồn.

Không, Bùi Giáng không điên. Ông là một nhà thơ sáng suốt, cực kỳ. Ông là một nhà thơ “ngộ”. Ðừng hiểu chữ ngộ trong cái nghĩa đơn giản của đạo giáo, Bùi Giáng sẽ nhăn mặt nổi quạu, ông có thể sẽ tông cửa chạy tuốt xuống Biên Hòa ngay lập tức. Hãy để cho tiếng ấy “phiêu bồng” từ Nam chí Bắc qua mọi nghĩa có thể có (ngộ dại, giả ngộ, ngộ quá ta, ngồ ngộ, ngộ không, ngộ nhận, ngộ độc…)”

Có lẽ, trong thơ văn và trong đời sống, chữ “ngộ” với nhiều nghĩa, từ bác học đến đời thường, đều có vẻ thích hợp, theo ý riêng của tôi. Ngộ dại? Có thể. Ngộ nhận? Giả ngộ? Ngộ độc? Ngộ không?… Mỗi thứ một nghĩa nhưng đều gợi ý đến một thi sĩ ngộ chữ? (Hình như ông Thanh Tâm Tuyền cũng tinh nghịch muốn bắt chước trò chơi chữ nghĩa?)

Ở một vị trí của người đọc, tôi khó lòng định hướng được suy nghĩ của mình. Có lúc tôi thấy sao ông có nhiều bài thơ mà tôi không thích nó ngang ngang kỳ kỳ không giống ai. Nhưng có lúc, ở trong một giây phút nào đó, tôi lại thấy những câu cú tuyệt vời trong thơ ông. Ðọc từ Mưa Nguồn, thi tập đầu tay, đến những tập thơ sau, Lá Hoa Cồn, Sa Mạc Trường Ca, … suốt nửa thế kỷ sau đến những Thơ Bùi Giáng, Chớp Biển,… tôi thấy được một trường thi bát ngát, mà sự thay đổi của ý từ, chuyển biến của cấu trúc ngôn ngữ, cũng chỉ là những vấn đề nhỏ. Mà, cái chính yếu vẫn là cái đang đi tìm và chưa tới đích. Nếu ông có phê phán chê bai, một tác giả, nếu ông có giận dữ nổi khùng vì một vài hiện tượng, thì cũng chỉ là sự bối rối của một người muốn nói nhưng chưa phát biểu hết, chưa biểu hiện đủ. Thơ có lúc như nhóm quặng nguyên sinh nóng hổi nhưng có lúc lại lưu lạc vào một nơi chốn hoang vu riêng biệt tít mù và cái hiểu và không hiểu cứ rập rình vấn đáp. Có nét của tâm kinh Phật giáo nhưng cũng có triết học của Cổ Hy La, có triết hiện sinh nhưng cũng có tư tưởng Lão Trang trộn lẫn, cũng có tôi điên lẫn lộn cùng tôi tỉnh, cũng có lúc phẫn nộ nhưng có lúc hiền từ, Và tình yêu, tình ái với ông chỉ có trong tâm tưởng và mãi mãi vẫn là niềm tôn kính cái đẹp dù qua bất cứ hình ảnh của mỹ nhân nào. Kim Cương Nương Tử hay Mẫu Thân Phùng Khánh cũng chỉ là biểu tượng tuy có thực ngoài đời nhưng lại mơ màng trong chữ nghĩa. Cũng vì sự trân trọng, mà những cử chỉ phát tiết điên cuồng, những lời tỏ tình của một tâm tư mê đắm nhưng không cuồng si, nên những giai thoại có thực của ông không phải là những chuyện tào lao khùng điên ở chợ…

Có nhiều người bắt chước ông làm thơ, cũng xử dụng những ngôn từ Bùi Giáng, nào dạ thưa, nào tồn sinh, nào liên tồn… rồi cũng na ná theo nhịp điệu lục bát, rồi cũng gắng đem những biểu tượng không bình thường. Nhưng kết cuộc là của giả. Có một người đã ví von thơ Bùi Giáng hay vì ông “điên” thật. Còn những kẻ giả vờ điên, bắt chước theo thì làm sao thuyết phục người yêu thơ cho được.

Có người cho rằng Bùi Giáng tránh né không muốn đề cập đến thời sự chính trị. Nhưng trong “Con Ðường Ngả ba, Bước đi của tư tưởng”, thì người đọc thỉnh thoảng vẫn tìm được những dòng bàng bạc. Con Ðường Ngả Ba mà Thụy Khuê đã cho rằng “không phải là một cuốn sách bàn về triết học hoặc đưa ra một hệ thống mạch lạc mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần chú, nhại triết học, nhạo người đọc.” Bùi Giáng viết về Trương Tửu / Nguyễn Bách Khoa và duy vật biện chứng pháp:

“… Ấy là điệu Nguyễn Bách Khoa đại diện cho bọn “đạo thính đồ thuyết” đầy rẫy khắp sử xanh Việt nam và Ðông nam Á Châu chỉ trừ Ai Lao, Cao miên và Xiêm la Miến Ðiện. Ai lao, Cao miên và Xiêm la Miến Ðiện là những dân tộc thơ ngây mênh mông thuần phác, tinh hoa thăm thẳm của Ðông Phương. Nơi những dân tộc ấy không thể nào phát sinh được bọn người đạo thính đồ thuyết, là sản vật ly kỳ của những xã hội tục gọi là văn minh, tự cho mình có tới ba ngàn hoặc ba ngàn rưỡi văn hiến. Văn hiến của nó là một loại văn hiến phát sinh từ một thứ thông minh của con người khôn vặt, con người mạt hậu của mặt đất vốn dĩ đã hiện hoạt trên địa cầu từ một thuở ngàn thu nào của vô lượng na tha a tăng kỳ kiếp…”

Hay: “Ðạo thính đồ thuyết (nghe ngoài đường và nói ngoài đường) là hoạt tinh thể của con người mạt hậu. Nó thông minh một cách thô thiển, nó vểnh tai ở ngoài đường và bi bô ăn nói ở ngoài đường để tàn phá mọi ngả ba đường của bước chân đi từ nội tâm nội mật. Nguyễn Bách Khoa là lãnh tụ bọn chúng. Phó lãnh tụ là Ðặng Thái Mai. Tổng thư ký là Vũ Ngọc Phan. Chúng xua quân chiếm đóng mọi bờ bến suy tư chận đứng mọi Ngả Ba – Ðường của thi ca tư tưởng gây truyền nhiễm cho những kẻ có chân tài như Nhượng Tống, Nguyễn Sỹ Tế về sau. Sức tác quái của chúng chính là nguyên nhân đã xui khiến tư tưởng đổ rụng tàn rơi lục tục giai tằng ngàn thu rớt hột từ Thệ Ða Rừng Tía đổ xuống Ấn Ðộ Dương, từ Nghi Thủy Vũ Vu trút xuống Bắc Minh Nam Hải từ Cổ Hy Lạp Homerè nhào xuống Ðại TâyDương…”

Thơ Bùi Giáng từ trước đến sau, từ thuở mưa Nguồn đến khi Chớp Biển hay Thơ Bùi Giáng in lúc gần cuối đời, có những ám ảnh khôn nguôi. Nguyễn Du và Truyện Kiều với những nhân dáng của Thúy Kiều, của Mã Giám Sinh, của Từ Hải, luôn luôn hiện diên trong thơ, trong khảo luận và trong tất cả những điều diễn tả. Một tác gỉa khác là Martin Heidegger cũng là bóng dáng lẩn khuất bàng bạc trong chữ nghĩa và biểu tượng của ông. Trong cuốn Tư Tưởng Hiện Ðại dù ông có đề cập đến tư tưởng và nhân vật như Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone Weil, André Malraux, Jean Paul Satre, Saint Exupery,… nhưng cũng trình bày về thơ Tản Ðà, Thơ Kiều nguyên thủy và thơ giả Kiều của chính ông sáng tác. Nguyễn Du, Hồng Sơn Liệp Hộ, ông đề cập đến không phải để bàn về đời sống với khen chê thị phi của một nhân vật lịch sử và văn chương tầm cỡ mà chính là muốn nêu ra một biểu tượng của nỗi đau khổ của con người trường cửu trong kiếp nhân sinh. Dù có lúc, ông có vẻ bỡn cợt với tác giả Truyện Kiều nhưng trong cái chia sẻ tận cùng ấy nồng nàn những nỗi niềm gửi theo, những lẩn khuất trong đời một người không muốn theo dòng đời chảy. Với Heiddeger, Bùi Giáng có giọng nghiêm trang hơn và ít khi có sự buông thả đùa dỡn.

Thơ Bùi Giáng, hình như không phải để cho kiểu bình thơ thường hằng. Như tại sao dùng những ý, những hình, những ngôn ngữ lập đi lập lại để dù đặc sắc nhưng thành sáo ngữ. Hay sao láy thơ, rồi điệp thơ, làm rối tung vần điệu, làm tối tăm cảm xúc. Có lẽ thơ Bùi Giáng không hạp với cách lối đọc thơ chúi mũi vào phần vỏ mà không chủ ý đến phần trong, phần trụ cốt chủ yếu. Bởi thơ ông, cũng rong chơi như những câu thơ chào một cõi thi ca lồng lộng màu biếc thắm của Nguyên Xuân:

“Hỏi rằng: người ở quê dâu
Thưa rằng: Tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: Từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.”

Nguyễn Mạnh Trinh

Tơ Mưa. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca Sĩ Hữu Duy, Hòa Âm Đỗ Hải


to-mua

Tặng Phẩm Mùa Xuân. Thơ Hư Vô


tang-pham-mua-xuan

Anh về trải mộng vào thơ
Tặng em chiếc nón che hờ chiêm bao
Để nghe hoa trái ngọt ngào
Vườn em non nả bước vào tầm xuân

Tóc tơ thả xuống lưng chừng
Nương theo bóng nắng chiều rưng rức vàng
Tặng em hết một trần gian
Gom về gìn giữ để ràng buộc nhau.

Hoa xuân chưa kịp úa nhầu
Em đi bỏ lại lời chào trống không
Tặng em bóng nguyệt tơ hồng
Đếm từng chiếc lá gói lòng người dưng.

Tay anh vướng vấp ngập ngừng
Níu chưa tới sợi tơ chùng mong manh
Tặng em một tiếng dỗ dành
Để trăm năm còn biết hành tình nhau…

Hư Vô

Nụ Ca Dao. Thơ Hư Vô, Nhạc Phùng Việt Dũng, Ca Sĩ Cao Huy Thế, Hòa Âm Đỗ Hải, PPS Thảo Nguyên Sydney.


0001-1-20001-2Hư Vô - Phùng Việt Dũng      Cao Huy Thế

Hư Vô               Phùng Việt Dũng                              Cao Huy Thế

Đâu Phải Mùa Xuân Nào Cũng Tết. Thơ Hư Vô


dau-co-mua-xuan-nao-cung-tet

(Viết cho một em bé mồ côi mà tôi đã gặp
trên đường hoa Nguyễn Huệ vào chiều 30 Tết…)

Bé thơ ơi, đợi ai em ngồi khóc?
Phố đông người, không có một người quen
Em dụi mắt chờ mùa xuân vào Tết
Cho ngọt ngào vừa đủ mặn môi em.

Cỏ cây còn nôn nao thay áo mới
Thì em cũng biết mơ ước, đua đòi
Tay so đo vạt áo sờn hai phía
Che buồn chưa kín một góc lẻ loi!

Đâu có ai hẹn hò mà em đợi
Áo mới, bánh quà nào phải của em
Đám đông hối hả giục nhau chào Tết
Em biết chào ai phố xá không quen?

Mùa xuân tượng hình trên cành lộc biếc
Những chồi non khoe nhan sắc diệu kỳ
Em đếm tuổi em trên từng chiếc lá
Còn xanh mà đâu có bóng xuân thì…

Hư Vô

Previous Older Entries Next Newer Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: