Chân dung người nữ diễn viên Truyện NHẬT TIẾN


NHẬT TIẾN

img_3173

Hồi nhỏ, khi còn cắp sách đi học ở lớp nhất trường Hàng Vôi, ngày nào tôi cũng có dịp đi qua nhiều khu phố tráng lệ ở Hà Nội. Tôi học lớp chiều và hay đi học sớm vì có thói quen la cà chỗ này, chỗ kia.

Qua phố Hàng Trống, tôi hay đứng tại tòa báo Giang Sơn hay Liên Hiệp để đọc những tiểu thuyết in từng kỳ trên tờ báo ra trong ngày, được tòa soạn treo trước cửa ở khu chợ người qua lại xem tự do. Qua phố Hàng Khay, tôi hay đứng lại ở khu chợ Hoa ven bờ hồ ngắm nhìn những bông hồng, bông cúc hay glaïeul phô những mầu sắc rực rỡ trên những nền đá xanh biếc. Nhưng điều mà tôi ghi nhớ sâu xa nhất vẫn là bức hình chân dung được trưng bầy tại một tiệm ảnh có tên là Dung Photo ở ngay trên Phố Bờ Hồ.

Tôi không phải là loại người say mê nghệ thuật chụp ảnh. Tôi cũng không quan tâm đến những bức hình chụp phong cảnh hay tĩnh vật trưng bầy ở hai bên tủ kính lồng trong những khung cảnh đẹp đẽ mỹ thuật.

Tôi chỉ chú ý, hay nói đúng hơn bị thu hút bởi mỗi một tấm chân dung chụp hình một thiếu nữ. Nàng là ai, tên là gì, tôi chẳng đủ số tuổi mơ mộng để quan tâm nhưng thực sự tôi đã bị lôi cuốn bởi đôi mắt đó, vầng trán đó, mái tóc đó và nụ cười đó.

Người thiếu nữ trong hình còn rất trẻ, chỉ trạc khoảng mười lăm, hay mười sáu, cái số tuổi chưa làm cho đôi mắt trong veo kia vương vấn một nét buồn, cho nụ cười kia vẫn còn mang đầy vẻ hồn nhiên, vô tư và duyên dáng như những búp hồng mới nở ?

Hôm đầu tiên bức ảnh chân dung được bầy ra trong tủ kính, tôi đã chiêm ngưỡng một cách sững sờ. Rồi kể từ đó, không ngày nào đi qua mà tôi lại không đứng lại, nhìn, ngắm, ghi gói từng chân tóc, từng kẽ mày, từng những nốt đen lốm đốm trên giấy ảnh ở vành môi của nàng, ở khóe mắt của nàng, ở hàm răng trắng nuốt có một cái răng khểnh rất xinh, rất nghịch ngợm và đầy vẻ hồn nhiên, vô tư của nàng.

Thời gian si mê bức chân dung ấy kéo dài có đến trên bốn năm. Bốn năm trời trôi qua, bức ảnh ấy vẫn còn tồn tại ở đó, trong khung kính sáng lòa, ở vị trí chính giữa, thuận tiện cho khách qua lại bên đường ghé lại nhìn ngắm và hầu như chủ nhân của tiệm Dung Photo cũng đắc ý với tác phẩm của mình nên không chịu thay đổi đi mặc dầu những hình ảnh phong cảnh khác cứ vài tháng lại được thay đổi một lần.

Tôi thầm cám ơn ông ta lắm, vì như thế, tôi vẫn còn có dịp hàng ngày nhìn ngắm hình ảnh con người trong mộng của tôi. Rồi sau đó, tôi đã ngồi lên ghế nhà trường bậc trung học. Tôi đã đến số tuổi để mộng mơ. Và trong những phút giây lan man suy nghĩ về những cơn xao động mong manh trỗi dậy trong tâm hồn, tôi vẫn thấy thấp thoáng chân dung của nàng. Tôi đã đặt cho nàng cái tên giản dị nhưng đầy đủ ý nghĩa đối với tôi là “Dung Photo”, lấy ngay tên của tiệm ảnh đã sáng tạo ra bức chân dung của nàng.

Một năm trước ngày có hiệp định chia cắt, anh bạn cùng lớp với tôi bỗng một hôm nêu ra một phát giác hết sức động trời:
– Tớ biết địa chỉ ‘‘Dung Photo’’ của cậu rồi!
Tôi giật nẩy người lên như chưa bao giờ bị hứng chịu một cơn chấn động mạnh mẽ đến thế. Thấy mặt tôi hơi biến sắc, Hòa, người bạn của tôi vỗ vai cười:
– Bộ cậu yêu thật đấy à?
Tôi đỏ mặt lên, cố biện minh:
– Bậy nào! Người ta ít ra cũng hơn mình hai, ba tuổi. Mấy lại đã gặp nhau bao giờ mà yêu với đương.
Hòa thì thào tiết lộ:
– Năm nay cô ấy đúng mườỉ chín ! Sắp lên xe hoa về nhà chồng đấy! Cậu có muốn biết tên thật là gì không?
Tôi vội vã giơ tay cản lại, như muốn chối bỏ tất cả những điều gì do anh bạn đã tiết lộ.
– Khỏi cần! Khỏi cần! Với tôi bao giờ nàng cũng chỉ có một tên là “Dung Photo”.

Tôi nói mà thấy như giọng của mình nghẹn lại. Sự nghẹn ngào này không giấu nổi ánh mắt tinh tế của Hòa, cho nên anh ta biết ý xoay câu chuyện qua một đề tài khác. Tôi cho như vậy là hơn, vì thực sự ngay lúc đó, tôi không có đủ can đảm để nghe rõ hơn về những chi tiết quanh nàng. Còn có gì nữa đâu khi nàng sắp lên xe hoa về nhà chồng.

Một tuần lễ sau ngày tiết lộ của Hòa, tiệm Dung Photo cất bức ảnh chân dung đi, không trưng bầy ra nữa. Có thể nó đã được mua lại bởi người chồng chưa cưới của nàng. Mối tình si mê viển vông của tôi bị cắt đứt phũ phàng nhưng chính điều đó lại càng để lại trong lòng tôi những vết thương khó lành.

Cả khu phố Bờ Hồ như hoang sơ hẳn đi vì thiếu vắng bức chân dung của nàng. Tôi mất thói quen đạp xe nhàn tản trên đường phố lúc về chiều mà không lần nào lại không ghé qua Dung Photo để nhìn ngắm ánh mắt, nụ cười của người thiếu nữ ấy. Gọi là tôi thất tình thì không đúng vì tôi chưa bao giờ được gặp nàng, nhưng những phút nhớ nhung, xao động đã gậm nhấm, làm tôi đã thổ lộ tâm sự của mình trên hàng xấp nhật ký viết riêng cho mình đọc.

Tới tháng Bẩy năm 1954, trước khi giã từ Hà nội để vô Nam, tôi đến chào từ biệt Hòa tại nhà anh ta ở phố Đường Thành. Hòa tiếp tôi ở trên chiếc ghế xích đu đặt ở sân ngoài. Ngồi tại đó, tôi có thể nghe tiếng những âm thanh cười nói phát ra từ phòng khách phía trên, qua một khung cửa sổ mở rộng. Có giọng nói của đàn ông xen với tiếng trả lời ấm áp, rộn rã của thiếu nữ. Hòa chỉ tay về phía ấy và nháy mắt với tôi:
– Dung Photo đấy! Bà ấy sắp trở thành chị dâu của tôi.

A! Thêm một điều mới lạ nữa mà bây giờ tôi mới phát giác ra. Tôi đã từng biết Dung Photo sắp đi lấy chồng, nhưng tôi không thể ngờ được rằng nàng lại sắp lấy anh ruột người bạn cùng lớp của tôi. Chẳng phải Hòa giấu giếm gì nhưng một phần vì tôi không muốn hỏi tiếp tới sau câu chuyện bữa nọ đã xảy ra, phần khác, Hòa đã trông thấy phút nghẹn ngào của tôi qua ánh mắt, qua giọng trả lời đầy xúc động của tôi khi được tin Dung Photo sắp đi lấy chồng.

Nhưng bây giờ thì tôi không còn nhiều thời gian để quan tâm đến những chi tiết ấy nữa. Tôi sắp xa Hà nội. Tôi sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới với một viễn ảnh nhiều khích động, nôn nóng và dĩ nhiên là hoàn toàn mới lạ đi với tuổi trẻ ham bay nhẩy như tôi. Cho nên, tôi vẫn giữ được vẻ thản nhiên khi được Hòa cho biết Dung Photo sắp trở thành chị dâu của anh ta. Tôi biết rõ tôi đang chuẩn bị để dời xa thành phố này. Trả lại đây cơn mơ mộng viển vông của thời thơ ấu. Trả lại phố phường những ngày đạp xe đi dưới bóng mát của những lùm cây đầy ắp âm thanh xao động buổi sáng sớm cũng như lúc xế chiều. Tôi sắp xa tất cả, kể cả người đẹp mà tôi đã từng ấp ủ bóng dáng của nàng qua bức hình ở tiệm Dung Photo với những đêm trằn trọc thao thức, với những trang nhật ký kéo dài liên miên, bất tận hết tập vở này đến tập vở khác.

Lúc tôi sắp sửa ra về thì Dung Photo cũng từ phía nhà trên đi ra cổng. Ngồi ở trên ghế xích đu, qua những cành ngọc lan ngả là là xuống sân sỏi nhỏ, tôi thấy nàng nhí nhảnh đi bên cạnh người chồng chưa cưới, anh Hùng, mà tôi đã có nhiều lần gặp gỡ nói chuyện bâng quơ.

Nàng có mái tóc đẹp hơn cả trong hình, bởi ở tấm hình, tôi chỉ được nhìn thấy phía đàng trước, và tấm hình đen trắng chẳng thể diễn tả được cái vẻ bồng bềnh như mây khói của cả một làn tóc mây dài có màu đen như mun, có dáng óng ả như một mối tơ thả xuống hai bờ vai thon gọn ghẽ trong chiếc áo dài đơn sơ mầu tím Huế của nàng. Lúc nàng quay lại nói với Hòa, tim tôi thắt lại vì hình ảnh lộng lẫy của nàng. Dung Photo quả là có sắc đẹp trên cả những hình ảnh mà tôi vẫn từng ấp ủ.

Dù là lần đầu tiên tôi gặp nàng, nhưng hầu như tôi có cảm giác gặp lại một người thân quen. Tôi đã chẳng có bốn năm dài đằng đẵng mỗi ngày chiêm ngưỡng nàng trong bức ảnh chân dung là gì. Nhưng nàng chẳng thể biết được tôi là ai lúc đó. Nàng nhìn tôi với cặp mắt hững hờ. Tia nhìn chẳng kéo dài quá một giây đồng hồ mong manh. Làm sao nàng có thể hiểu được trên cõi đời này lại có một kẻ đã dành cho nàng bao nhiêu tâm tư và thì giờ đến như thế.

Sau bữa đó, là gần ba mươi năm dài chia xa. Tôi không còn được nghe tin tức gì về Hòa, về anh Hùng cũng như về đám cưới của nàng sắp được cử hành. Cuộc sống mới của tôi ở miền Nam có những lôi cuốn mãnh liệt. Hà Nội lùi xa dần trong trí nhớ của tôi.

Những hình bóng cũ, những kỷ niệm cũ, những tâm tình mơ mộng cũ lâu ngày đã bị chìm khuất sau lớp bụi mỗi lúc một dầy thêm của thời gian, của những va chạm trong cuộc sống, của những biến cố mà con người phải trực diện từng ngày trong một đất nước có chiến tranh.

Mãi tới đầu năm 1978, khi gặp lại Hòa, từ miền Bắc vô Sài Gòn, mọi thứ cũ càng trong quá khứ mới có dịp trỗi dậy. Chúng tôi, sau những phút e dè khởi đầu, đã có thể hàn huyên với nhau đủ thứ chuyện, dĩ nhiên câu chuyện về đời sống của người đẹp năm xưa không thể không đề cập đến. Sau dây là lời kể lại của Hòa:
– Sau khi cậu đi Nam rồi, những ngày đầu của sự tiếp thu Hà nội là những ngày sôi động nhất. Tuổi trẻ thành phố ùa xuống đường cuồng nhiệt như thác lũ đầu mùa. Với tất cả thiện chí và nhiệt thành, cộng thêm cả yếu tố ham vui, ham hoạt động, họ đã đón nhận thể chế mới như một cơ hội làm lại xứ sở sau những năm tháng dài ngủ quên dưới chế độ thuộc địa của Pháp. Chín mươi chín phần trăm đều không biết Cộng sản là gì ngoại trừ một thiểu số thanh niên nhậy cảm như anh Hùng. Điều này đã trở thành một cái hố ngăn cách khởi đầu giữa anh Hùng và chị ‘‘Dung Photo’’. Chị ấy đẹp lại có khiếu văn nghệ, hát hay, đàn giỏi, nên tham gia đủ loại chương trình trình diễn. Trong khi ấy, anh Hùng khép kín mình lại để làm thơ, viết văn mà không bao giờ đăng báo cả. Đám cưới đã dự tính của hai người trên căn bản đó đã bị đình hoãn, rồi mâu thuẩn sâu sắc ngày một gia tăng đến độ phải hủy bỏ. Một thời gian sau, anh Hùng tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đóng góp rất hăng hái cho tờ Nhân Vă n rồi tờ Đất Mới của sinh viên, trong khi ấy chị Dung Photo đã có người yêu mới, một cán bộ Văn công cao cấp, có Đảng tịch và dĩ nhiên là già hơn chị ấy ít ra là mười lăm tuổi.

Trước ngày lên xe hoa về nhà chồng, chị ấy có gặp anh Hùng một lần cuối. Cố gắng cuối cùng của chị là mong cứu vãn tình thế nguy hiểm của anh Hùng trước khi quá trễ. Chị tiết lộ cho anh Hùng hay rằng Đảng Ủy đang chuẩn bị đánh lớn, đánh quyết liệt vào đầu não cũng như những dây mơ rễ má của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ngoài lý do “không còn đường nào khác”, chị ấy còn cố lay chuyển tư tưởng của anh Hùng:
-Anh không thấy đất nước đã đổi mới rồi sao? Độc Lập là ước mơ của toàn thể mọi người. Bây giờ không còn là lúc để ngồi đặt vấn đề mà là thực sự bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước. Dĩ nhiên, một đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ thì ở lãnh vực nào không có sai sót. Chúng ta, nhân danh tuổi trẻ, sẽ nỗ lực sửa chữa những sai sót ấy. Tương lai, vận mệnh của quê hương này ở chúng ta. Thế thì còn có điều gì nữa mà anh ngần ngại?

Anh Hùng chỉ lẳng lặng ngồi nghe mà không phát biểu một lời nào. Thực sự lòng anh vô cùng chua xót khi nhìn thấy người yêu như một cánh chim hăm hở, muốn vụt cất cánh bay lên trời cao mà không biết, hay không muốn biết bầu trời đang vần vũ những cơn bão tố.

Dung Photo có lý tưởng của nàng. Ôi cái lý tưởng của tuổi trẻ bao giờ chẳng được vun đắp bằng những nhiệt tình sôi nổi nhiều hơn là những lý luận dài dòng.

Nửa năm sau đó, chị đi lấy chồng cùng lúc với biến cố anh Hùng bị bắt đem đi cải tạo tập trung.
Hôm công an ùa vào nhà khám xét, căn phòng của anh bị tìm bới tung tóe cả lên. Họ mang đi rất nhiều bản thảo, giấy tờ, và cả những tờ báo anh viết dầy đặc những lời ghi chú lên đó nữa.

Hòa kể đến đây thì chậm rãi rút ở túi ra một bức hình. Vừa thoáng nhìn, tôi đã la lên:
– Hình của Dung Photo.
Hòa gật đầu:
– Đúng rồi! Bản chính, tấm lớn lồng kính mà ngày xưa cậu đã từng chiêm ngưỡng bốn năm liền thì anh Hùng đã trả lại cho chị ấy từ ngày hai người hết liên hệ với nhau. Duy còn có tấm được rửa ra cỡ nhỏ này thì anh ấy không hiểu vô tình hay cố ý giữ lại trong ô kéo, mãi đến lúc công an lục lọi nó mới rơi ra và tôi đã giữ lại sau khi anh ấy bị dẫn giải đi. Không bao giờ anh tôi còn có dịp nhìn lại bức hình này bởi anh ấy đã chết trong lao tù ở Việt Bắc.

Kể đến đó, khuôn mặt xanh xao của Hòa chợt như dắn đanh lại. Tôi thấy ánh mắt của anh gợn lên những tia sáng đục ngầu và long lanh như ngấn lệ. Tôn trọng giây phút cảm xúc chợt đến trong tâm tình của người bạn cũ, tôi lẳng lặng cầm bức hình lên ngắm nghía.

Cả một dĩ vãng xa vời tưởng đã chìm khuất trong lớp bụi chồng chất của thời gian này đột nhiên sống dậy một cách vô cùng mãnh liệt. Tôi như thấy lại tâm tình của tôi năm mười bẩy tuổi. Tôi như vừa đã đứng ở đó, ngày hôm qua, tay còn dắt chiếc xe đạp cũ mầu xanh, đứng say mê nhìn ngắm bức chân dung lộng lẫy bầy trong tủ kính của tiệm Dung Photo ở trên đường phố Bờ Hồ.

Vậy mà hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua. Thời gian thì khoảnh khắc mà tang thương, dâu bể đã chồng chất biết bao nhiêu là nỗi niềm.

Đêm hôm ấy, Hòa lưu lại nhà tôi để còn tiếp tục tâm sự. Tôi thấy rõ những khoảng cách biệt, ngỡ ngàng giữa tôi và Hòa cứ ngày một thu ngắn lại. Thì ra dù đã được tôi luyện, nhào nặn dưới chế độ Cộng sản đến bao nhiêu năm, hầu như mỗi con người miền Bắc đều còn ấp ủ một mối tâm tình riêng biệt, đào rất sâu, chôn rất chặt, và nó chỉ bung ra một cách hiếm hoi khi có dịp.
Tôi được nghe Hòa kể tiếp:
– Chị Hồng….ấy quên, “Dung Photo” của cậu chứ, sau này trở thành một diễn viên nổi tiếng ở miền Bắc. Chị ấy chuyên thủ những vai trò có tính chất khích động tuổi trẻ, làm sống dậy trong tâm hồn tuổi trẻ cái ý thức phục vụ xây dựng trên căn bản nuôi dưỡng sự căm thù. Tôi hiểu rằng chị chỉ là một hòn bột nằm trong tay nhào nặn của người chồng làm văn công ở cấp cao. Chính ông ta viết kịch, hoặc dịch kịch bản từ Trung Quốc hay Liên Xô, rồi cũng chính ông ta đạo diễn cho chị để đặc tả những xen, cảnh mà tình huống mâu thuẫn lên cao nhất, căng nhất.

Sự thành công tột bực của chị đã phủ một hào quang đến nỗi làm cho chính chị bị chóa mắt. Chị ấy có ảo tưởng như mình là một biểu tượng của tuổi trẻ tiến bộ trong một xã hội cũ kỹ đang chuyển mình tiến lên một vận hội mới. Chị ấy say sưa đả phá những động lực làm trì trệ con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trước còn ở trên sân khấu, sau lan ra cả đến cuộc đời thực tế mà nạn nhân bị chĩa mũi dùi đầu tiên chính là người chồng già nua, nhiều tuổi Đảng của chị.

Ông ta đâu có phải là ông thánh. Chẳng có ai là thánh trên cõi đời này kể cả mấy ông trùm nằm trong Trung Ương Đảng. Nói cho rõ hơn, nhiều anh cắc ké cũng muốn hủ hóa nhưng làm gì có điều kiện. Phần lớn đã biến thành những mẫu người gan lì, chịu đựng, nhưng trong thâm tâm vẫn ẩn náu một niềm mơ ước được bung ra như một vẩy sét nằm trong những thanh thép đã được trui rèn. Các ông cán bộ cấp cao thì đời sống hẳn phải khác hơn người. Họ được chế độ đặc biệt ưu đãi. Họ có cái thẩm quyền xét đoán, phê phán người khác mà ngược lại, không ai có quyền thắc mắc gì về những hành vi, về đời sống thực của họ cả.

Quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa chỉ là một cái bánh vẽ trang trí cho bộ mặt của chế độ, trong khi ấy, kẻ làm chủ đích thực lại nằm trong tay một giai cấp mới đã hình thành, giai cấp có đảng tịch nắm quyền chi phối tư tưởng của mọi người. Chồng của chị Hồng là một thành viên của giai cấp ấy.

Ông ta, khi xuất hiện trước đám đông trước các kẻ cộng tác liên hệ đến nhiệm vụ, thì đã mang một bộ mặt hết sức lý tưởng. Và nhân danh cái lý tưởng ấy, ông thôi thúc giới trẻ lăn xả vào đóng góp. Nhưng ngược lại, ở đời sống riêng tư, rõ ràng là ông ấy đang thụ hưởng ngay chính trên những thành quả do mọi người đem lại. Hơn ai hết, trong cương vị của một người sống ngay kề cận, Hồng đã nhận thức được cái thực tế bẽ bàng và chua xót này.

Một lần, trong bữa cơm, vừa bưng bát lên ông ta đã buông xuống và chê gạo hẩm không ăn. Hồng nói rằng trong hoàn cảnh mọi người còn đang thiếu thốn, không ai có quyền đòi hỏi hưởng thụ nhiều hơn. Ông ta đã chỉ vào mặt của Hồng, tác sắc:
– Cô hãy lột cái vỏ diễn viên tuồng tích trên sân khấu ấy đi khi trở về sinh hoạt trong đời sống gia đình.

Hồng cảm thấy bị xúc phạm nặng nề sau câu nói trắng trợn ấy. Lần đầu tiên nàng thấy thấm thía sâu xa về vai trò con bù nhìn bị giật dây cho đóng trò của mình, trong khi ấy nàng vẫn tưởng mình đang ra sức phục vụ cho một lý tưởng tốt đẹp đáng tôn thờ.

Một lần khác, sau một mùa kịch thành công sôi nổi, Hồng đã nhận được rất nhiều thư từ của khán giả gửi về ngợi khen. Đặc biệt có một lá thư chỉ viết vỏn vẹn vài câu nhưng chứa đựng cả một sức nặng đủ khiến cho Hồng choáng váng. Lá thư được gởi từ một nữ công nhân trẻ:
– Chị trình diễn hay lắm. Tài năng của chị đã lôi cuốn cả một Thế hệ tuổi trẻ như tôi. Tôi tin chị đến độ lấy hình ảnh của chị làm mẫu mực, lấy lời nói của chị làm châm ngôn hành động. Và tôi đã lao đầu một cách mù quáng vào mọi công tác, mọi chiến dịch nhằm xây dựng xã hội, cái xã hội mà ở đó tôi đã bị bứng ra khỏi truyền thống gia đình, ra khỏi bàn tay thương yêu của cha mẹ. Rồi chị có biết số phận của những con thiêu thân như tôi hiện nay đang làm gì không? Thưa chị, tôi vừa đang là công nhân cho một hợp tác xã vừa phải đi làm một con điếm mới đủ nuôi thân!”

Hồng đã giấu lá thư không cho chồng biết, bởi nàng đã thấy rõ, cho đến lúc này, ông ta không còn là người có thể chia sẻ được với Hồng trong những cơn giông tố của tâm hồn bắt nguồn từ những nguyên nhân mà ông ta không thể nào cảm thông được.

Sau lần đó, Hồng thoát được ra khỏi cơn mơ chỉ sống trong hào quang của những nhân vật do chính nàng thủ diễn. Nàng khỏi sự quan tâm đến đời sống của mọi người chung quanh. Nàng hay lén đi lang thang trên những con đường quanh co, có khi là ở trong thành phố đông đúc chật hẹp, có khi là ở vùng ngoại ô với những mái nhà xiêu, vách nát. Nàng đã nhìn thấy những mảnh đời tối tăm, cực nhọc. Nàng đã thấy những khuôn mặt bạc nhược của những con người bị thiếu thốn đủ thứ nhưng lại bị những chiến dịch, tuyên truyền, những khẩu hiệu, những nghị quyết, những đợt học tập ngắn hạn, dài hạn thôi thúc tối đa. Những nhận thức mới này đã đánh một đòn nặng lên cân não của Hồng đến độ nó có ảnh hưởng mãnh liệt trên khả năng trình diễn của nàng.

Chồng nàng là người trước tiên nhìn ra cái nhược điểm đó. Ông ta mang đầy vẻ bồn chồn của một kẻ dồn hết vốn liếng vào việc nuôi dưỡng một con ngựa mà nay nó bắt đầu giở chứng không chịu dồn hết sức lực ra bốn vó trong mỗi cuộc đua. Điều này đã nhiều lần gây ra những xô xát, cãi cọ sau mỗi buổi trình diễn, trước thì còn ở nhà riêng, trong sinh hoạt gia đình riêng tư, sau nó bùng nổ ngay cả trên sân khấu.

Lần ấy là một buổi diễn tập cuối cùng trước khi vở kịch khai diễn trước quần chúng, có sự tham dự của nhiều cán bộ cao cấp của nhiều ban ngành thuộc bộ môn sân khấu. Vở kịch bị cắt ngang nhiều lần bởi những nhận xét của ông chồng đạo diễn:
– Chỗ này em chưa đặc tả hết phẩm chất của người nữ công nhân trong chế độ ta. Hãy nghĩ đến sự căm thù của một tầng lớp bị bóc lột tới tận xương tủy. Hãy dồn sự căm thù vào một câu nói. Câu nói ấy ngắn ngủi thôi nhưng nó là biểu tượng của một nhận thức đã chín mùi, đã tới bước nhẩy vọt, bùng vỡ….

Hồng nhẫn nại trong cơn mệt mỏi tận cùng của mình. Nàng nhắm mắt lại để tập trung ý chí và khêu gợi niềm hận thù. Nhưng vô ích! Như một sợi cao su đã bị căng ra nhiều lần, tới giây phút đó, sức đàn hồi chỉ còn là một cái gì nhão nhoẹt. Nàng thấy thấm thía về những nỗi xót xa, ê chề mà từ lâu nàng đã từng có cái cảm giác như nó đã hiện diện, gậm nhấm trong vùng sâu thẳm của tâm tư của mình. Nếu ngay phút này nàng được yên nghỉ, được nằm úp mặt vô trong tấm chăn để khóc vùi thì có lẽ nàng sẽ trấn át được cơn giao động đang làm cho óc nàng căng thẳng như muốn nổ tung ra.

Nhưng thực sự thì nàng đang đứng ở đây, trên bục gỗ sân khấu, dưới ánh sáng của những ngọn đèn chói lòa, trước cặp mắt soi mói của những diễn viên, những công nhân phục vụ sân khấu, những cán bộ văn hóa chỉ đạo và nhất là tiếng nói cứ mỗi lúc một gay gắt của chồng nàng vang dội bên tai:
– Tập trung….căm thù…..nhẩy vọt…..bùng vỡ!
Những âm thanh chát chúa ấy nhóm lên trong lòng nàng sức phản kháng cứ mỗi lúc một gia tăng. Nàng phẫn nộ nhìn xuống dưới sân khấu. Cái lũ ngồi bệ vệ, lom lom dòm ngó từng điệu bộ theo dõi từng cử chỉ, đôn đốc, phê bình, chỉ trích từng câu nói, từng cách lên giọng xuống giọng mà những bản mặt của họ, những bản mặt hưởng thụ, phè phỡn hoàn toàn mâu thuẫn với những điều họ bắt nàng làm, buộc nàng phải đặc tả, lại có thể đòi hỏi, yêu sách đối với những người như nàng ư!

Nàng mơ ước một xã hội công bằng thật đấy, nàng khích động tuổi trẻ xây dựng một tương lai đầy xán lạn mới thật đấy, nhưng nhất định không phải là đi chung một mục đích, một con đường như lũ người đầy quyền hành và ham hưởng thụ này. Trong cuộc đờì, nếu có những giây phút đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt thiêng liêng, đặc biệt mầu nhiệm có thể làm cho con người như sực tỉnh một cơn mơ, đầu óc tràn ngập ánh sáng của sự minh triết để có thể vụt nhận thức thấu suốt được cả một chặng dài mê lộ mà mình vừa trải qua thì đúng giây phút đó đã vừa xẩy đến với nàng.

Nó soi rọi cho nàng thấy hoàn cảnh của những con người lầm than cơ cực dưới xã hội mới. Nó chỉ rõ cho nàng thấy cái công trình ra sức đóng góp bằng tất cả tài năng và nhiệt tình của tuổi trẻ như nàng chỉ là những cố gắng vun đắp cho một đẳng cấp phong kiến mới. Giá trị của nàng do đó chỉ là một con bù nhìn bị giật dây cử động hay một hòn bột được nhào nặn tùy theo cung cách, ý muốn của những kẻ có quyền hành.

Thế là trong một giây phút bất ngờ nhất, nàng như có một động lực sâu thẳm, chất chứa, xúc tích từ bao nhiêu năm nay bật lên như sức bật của một cái lò so, khiến cho nàng có thừa đủ ý chí và sức mạnh để chật cái khăn quàng, (một y phục hóa trang của diễn viên) ra khỏi cổ và ném nó xuống đất. Rồi mắt nàng long lên với vẻ căm hờn nhìn chồng lúc đó đang đứng rất gần.

Phúc, tên chồng của nàng, thừa đủ bén nhậy để thấy sự bất thường đang xẩy đến trong tâm tư, tình cảm của vợ mình. Ông ta nhào lại phía Hồng vừa nói to để lấp liếm, nhưng dụng ý là để che giấu hình ảnh chống đối của Hồng trước đám cán bộ ngồi ngay ở hàng ghế đầu quan sát buổi diễn tập:
– Em cố gắng nhiều quá nên kiệt sức rồi. Thôi! Tôi đề nghị các đồng chí tạm nghỉ giải lao.

Vừa nói ông ta vừa dùng toàn lực để đẩy nàng về phía sau sân khấu. Hồng rợn lên vì cái cảm giác như bị xô bởi cái sức lực mang động cơ của sự hận thù. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi cơn bất kham chợt đến của Hồng có thể gây đổ vỡ trên nhiều mặt: Đoàn kịch nghệ, kịch bản, những buổi trình diễn đã dự liệu và trên tất cả là chính địa vị cũng như uy tín của chồng nàng.

Ngần ấy yếu tố đã đủ để Phúc xô Hồng dưới sức nặng của hai cánh tay và với sự căm ghét tận cùng. Hồng hơn ai hết cảm nhận rõ điều đó. Bởi nhiều năm qua, Phúc chưa bao giờ phản ứng quyết liệt đến như thế, và cũng bởi vì chưa bao giờ Hồng đã giở chứng một cách bất kham ngay trên sân khấu của buổi tập.

Phúc xô Hồng về phía cửa phòng hóa trang của diễn viên. Ông ta đẩy mạnh nàng vô trong, rồi đóng thật mạnh cánh cửa lại. Với hai bàn tay đầy móng sắc, ông ta bấu chặt lấy hai bờ vai của Hồng, trì nặng xuống bằng cả sức nặng của thân hình và bằng tia nhìn đỏ ngầu vì cơn xúc động, giận dữ. Rồi ông ta rít lên qua những kẽ răng nghiến chặt:
– Cô làm cái gì thế? Muốn phá hoại hả?
Hồng không đáp mà chỉ cố vùng vẫy. Hơn bao giờ hết, nàng thấy thực tế đang xẩy ra ứng đúng vào cuộc sống của một nữ diễn viên như nàng. Nghĩa là nàng đã bị bủa vây bởi hàng rào của bạo lực. Bạo lực không phải chỉ ở hôm nay, phút này mới có nhưng nó đã hiện diện từ lâu dưới hình thức bàn tay sắt được bọc nhung. Bao lâu nay nàng cảm thấy làn nhung êm ái, mềm mại là bởi vì nàng chỉ đã tuân phục một cách tuyệt đối. Tình thế đổi khác khi nàng nổi chứng bất kham. Và sự phản ứng của chế độ, mà đại diện gần gũi là chồng nàng cũng đổi khác một cách nhậm lẹ, phũ phàng.

Nghĩ đến những đòn thù mà chế độ trước đây đã đưa ra với biết bao nhiêu con người, Hồng thực sự hoảng sợ. Cơn hoảng sợ ùa đến nhanh chóng không kém, nó gây cho nàng cảm giác buốt nhói ở sống lưng. Nhưng chỉ ít giây sau nó cũng bị nàng nhận chìm xuống bằng những hình ảnh của xã hội lầm than cơ cực bên ngoài, bằng lá thư của người nữ khán giả vừa làm công nhân vừa làm điếm mới đủ nuôi thân.

Những thứ đó không phải hôm nay bây giờ mới có, mà thực sự nó đã âm thầm hiện diện trong tâm tưởng của nàng, giống như những cơn xoáy nước có sức âm thầm bền bỉ có thể làm sụp đổ cả một cây cầu.

Nàng vẫn thường tự nhủ rằng mình cố gắng đến tối đa trong mọi nhiệm vụ hàng ngày đâu phải để chỉ phục vụ cho một tầng lớp giai cấp mới đã thành hình và đang cấu kết với nhau một cách bền chặt. Nhưng rồi càng ngày thực tế càng cho thấy rõ ràng tuổi trẻ và lòng nhiệt thành đã bị lợi dụng một cách triệt để và tinh vi. Hồng không muốn tiếp tục để bị khai thác như những con bù nhìn chỉ biết cử động khi bị giật dây.
Nàng gằn giọng nói với Phúc:
– Anh buông tôi ra! Đối với tôi, từ nay là chấm dứt.
– Chấm dứt cái gì?
– Mọi nhân vật kịch cỡm và những ý đồ gian xảo của anh xây dựng trên những nhân vật ấy.
– Cô mất cảnh giác và sai lập trường một cách nghiêm trọng rồi.
– Thì đã sao!
– Cô không lường được hết mọi hậu quả về thái độ điên rồ của cô đâu !

Hồng vụt nổi giận. Nàng có cảm giác kinh tởm bộ mặt của Phúc đến cùng cực. Nàng hét to lên mà hẳn tất cả mọi người ở bên ngoài cũng đều nghe thấy:
– Anh đừng có dọa dẫm tôi. Tôi chấp nhận hết. Thà hậu quả xẩy ra thế nào thì cũng còn hơn là tôi tiếp tục con đường trình diễn nhớp nhúa này. Anh cút đi! Anh cút đi!

Phúc xô nàng ngã xuống nền gạch và đi ra như một con hổ dữ ! Ông ta đóng sầm cánh cửa phòng lại, mạnh đến nỗi mấy tấm gương treo trên tường bị xao động mạnh, và có một tấm bị rớt xuống sàn gieo lên tiếng vỡ loảng xoảng.

Mọi người đổ xô vào phòng, nhưng không ai lại gần Hồng cả. Họ thực sự e ngại trước vẻ mặt đầy tính chất khác thường của Hồng. Lúc nàng bước ra, cả bọn giạt ra cả hai bên. Hồng không nhìn ai nhưng có cảm giác như cả trăm con mắt đang dồn về phía mình. Khi bước qua dẫy ghế đầu, nàng nghe thấy giọng của Phúc cố gắng phân trần:
– Tôi xin lỗi các đồng chí! Dù cô ấy là ai, tôi cũng sẽ có biện pháp thích đáng.

Đột nhiên Hồng lấy lại được sự bình tĩnh đến độ chính nàng cũng không hiểu được sức mạnh nào đã đem lại cho nàng cái phẩm chất ấy. Có thể là sự khinh bỉ ! Có thể là cơn phẫn nộ, sự oán ghét, lòng căm thù, những tình cảm nàng đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ nhưng không phải để trút lên đầu những con người ưu tú như những người nữ công nhân, như Hùng, như những ngòi bút trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, mà chính là dành cho những cán bộ văn công cấp cao như lũ người trước đây vẫn còn có quyền phán xét và được nàng để cho phán xét.

Hồng quay lại đám người lố nhố để mỉm một nụ cười ngạo nghễ. Nàng không biết Phúc sẽ áp dụng những biện pháp thích nghi nào, nhưng điều đó có gì đáng quan tâm khi nàng đã tự giải phóng chính mình.

Đã từ lâu lắm, hôm nay nàng mới nhớ lại hình bóng của anh Hùng với tràn ngập nỗi xót xa như bị sát muối ở trong lòng.
***
Sau bữa đó, Hồng đã không trở về nhà mà đạp xe về tạm trú ở nhà mẹ của nàng ở mãi khu cư xá tập thể Giảng Võ. Những gì đã xẩy đến cho nàng, chính Hòa cũng không được biết. Hòa chỉ đã kể thêm:
– Lần cuối cùng tôi gặp lại chị Hồng là lần tôi đi công tác trên vùng những đồi trà ở Phú Thọ cách đây vừa đúng năm năm. Chị ấy đã lập gia đình với một bộ đội phục viên đã cụt một chân trong mặt trận chống Pháp ở Điện Biên Phủ. Hai người có vẻ hòa hợp với nhau. Anh ấy thản nhiên ngồi nghe chị kể lại cho tôi nghe tất cả những chi tiết mà tôi vừa thuật lại. Sau cùng, anh ấy chỉ nói thêm:
– Tôi bị loại ra khỏi vòng chiến từ sau năm 1954.Tôi không can dự gì vào với thời cuộc ngoài công tác phục vụ sản xuất những sọt trà. Thiên nhiên đem lại cho chúng tôi đôi chút hơi hướng của sự tự do, và điều này khiến cho chúng tôi bớt ngộp thở. Chú nghĩ mà coi, ở cái xã hội này, sân khấu đã lan ra cả đời sống. Còn có ai trong cái xã hội này mà không là một diễn viên đang thủ lấy vai trò của mình.

Nhật Tiến

Tháng 4,1985

https://nhavannhattien.wordpress.com/truyen-ngan-chan-dung-nguoi-nu-dien-vien/

Tình Nhân Ơi, Đã Tới Cuối Đường Cùng …. Thơ Hư Vô


tinh-nhan-oi-da-toi-cuoi-duong-cung

Anh thầm ước kim đồng hồ quay ngược
Cho nụ hôn còn được kéo dài thêm
Sân ga nhỏ, hắt hiu, buồn man dại
Từng chuyến tàu đang chạy tới vô biên.

Còn trong nhau, mà đã là kỷ niệm
Môi tìm môi lạnh ngắt lối muôn trùng
Tiếng còi đêm hú vang lời tiễn biệt
Tình nhân ơi, đã tới cuối đường cùng…

Tay anh ngắn, vuốt chưa dài sợi tóc
Níu cả đời không giáp một mùi hương
Em hãy khóc cho đầy thêm quá khứ
Cho tim vỡ tan từ những hoang đường.

Anh chết đứng giữa vòng tay hấp hối
Hơi thở còn nồng quanh nỗi đam mê
Tàu chở bể dâu, biết đâu bờ bến
Đường trăm năm đã mất lối quay về…

Hư Vô

Một Thời Đang Qua, tập truyện Nhật Tiến. Lời giới thiệu của Nguyễn Ngọc Bích


Nguyễn Ngọc Bích

mot-thoi-dang-qua

(Tập truyện Một Thời Đang Qua sắp được nhà xuất bản Huyền Trân tái bản năm 2017)

Lời giới thiệu

(trong ấn bản in năm 1985)

Ở ngoài đời, tôi chưa bao giờ gặp Nhật Tiến. Điều này, nếu đối vớí cá nhân tôi có thể được xem là một sự thiệt thòi thì trái lại, đối vớí tác phẩm có khi lại là một điều hay: tôi không có cách nào khác hơn là đến với anh qua tác phẩm.

Tuy chưa được gặp anh song Nhật Tiến trong Văn Học Việt Nam thì không phải là một ai xa lạ. Sau khi bước vào văn đàn với truyện dài Những người áo trắng (1959) và nhất là Những vì sao lạc (1960) nói về những trẻ “bụi đời” có cả mười mấy, hai chục năm trước khi có từ ngữ sau này, anh đã, ở tuổi 25, đạt tới được một vinh dự không nhỏ là được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc cho hai năm 1961-1962 vì truyện Thềm Hoang do nhà xuất bản Đời Nay của Nhất Linh in ra năm 1961. Là người yêu văn học, từ đó không ai là không để ý đến những tác phẩm gần như năm nào Nhật Tiến cũng có mặt để đóng góp vào văn học miền Nam tự do.

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VĂN HỌC CỦA NHẬT TIẾN

Người ta để ý đến anh không phải vì anh viết nhằm vào cái sôi nổi, như Chu Tử với những Loạn, Ghen, Yêu của ít năm sau đó hay Hoàng Đông Phương (tức Nguyễn Thị Hoàng) của Vòng tay học trò hoặc Lệ Hằng của những năm 70. Người ta cũng lại không để ý đến anh vì anh đi tìm cái mới như Thanh Tâm Tuyền hay thử nghiệm nhiều như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư trong thơ. Người ta tìm đọc Nhật Tiến vì anh rất “cổ điển”, cổ điển không thua gì những bậc đàn anh (và cả đàn chị) như Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh, những người đầu tiên đã nhìn ra văn tài của anh và khuyến khích anh trên con đường sự nghiệp.

Ở anh nổi bật lên những đức tính như một lòng thương xót bao la dành cho những kẻ xấu số trong xã hội, một con mắt thật tinh đời nhưng không ác ý, một trái tim ôn hòa nhưng không phải không biết phẫn nộ, một con ngườỉ thuần túy dành cho giáo dục (kể cả giáo dục có bề ngoài hình thức như ở trong học đường lẫn giáo dục tưởng như không có hình thức như báo chí, tiểu thuyết, truyền thanh, truyền hình… ).

Người ta, do đó, tìm ở Nhật Tiến một cái gì chân thật, một lương tâm xã hội đôi khi có thể xem là hơi lý tưởng quá nhưng lúc nào cũng đầy một lòng trìu mến đối vớỉ tuổi thơ (như trong Chim hót trong lồng, Chuyện bé Phượng, hay Tay Ngọc), đối với những người dân lành bị kẹt vào trong một cuộc chiến thảm khốc mà họ không có đủ trí tuệ hay hiểu biết để tách bạch, phân tích các vấn đề (điển hình như những truyện dài Giấc ngủ chập chờn hay Quê nhà yêu dấu, viết vào trong những giờ phút khốc liệt ngay theo sau trận Mậu Thân). Ở trong một khung cảnh chiến tranh mà nhiều khi ta cảm thấy như bị bẫy, không trách có người cảm thầy mình điên lên được, không trách có người điên thực sự như trong truyện ngắn “Tặng phẩm của dòng sông”, một trong những truyện ngắn hay nhất của anh và được lựa chọn vào trong tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương do nhà xuất bản Sống in ra ở Saigon năm 1973.

Ở Nhật Tiến có nhiều con người xa lạ, tưởng không bao giờ có thể gặp nhau trong một người. Từ ngày trưởng thành, là một sinh viên di cư vào Nam, anh trong căn bản là một nhà giáo. Ra đời, anh đi dạy tư ở Mỹ Tho, nơi đây anh gặp Truơng Cam Vĩnh. Đời sống tỉnh lẻ, anh không biết làm gì hơn là ngồi viết văn – trước hết là cho mình, chưa dám nói là cho ai khác vội. Rồi một cơ may (qua sự giới thiệu của anh Trương Cam Vĩnh) anh đã đến với Nhất Linh, và từ đó anh trở thành một tác giả có sách xuất bản. Hỏi anh có làm gì về văn chương trong khung cảnh học đường không? “Thưa không, tôi dạy Toán, Lý, Hóa….”

Cho đến tận những năm cuối cùng trước khi miền Nam sụp đổ, anh vẫn làm nghề ‘‘gõ đầu trẻ” và trong đám “trẻ” này đôi khi cũng có cả những ông bà trung niên được anh luyện thi mà nhiều người không hề bao giờ biết là anh viết văn. “Tôi không bao giờ nói về văn chương ở trong lớp cả”, anh tuyên bố.

Anh dạy từ khi mới vào đời, anh dạy từ trong thời gian dài làm báo, viết văn, anh dạy tư thêm trong lúc bị động viện, ở trong quân đội, anh dạy cả sau khi Cộng sản vào thành. Nói tóm lại, ở trong anh từ trước đến sau là một nhà giáo. Nhưng là vì anh dạy tư suốt đời nên khi Cộng sản vào, anh cũng không phải đi học tập gì nhiều. Anh chỉ phải theo có một đợt học tập ngắn ngày dành cho diện các văn nghệ sĩ (lần đó anh đi có cả Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Lệ Hằng, Nguyên Thị Hoàng v…v… bị gọi đi cùng). Và cũng vì người ta, cả xã hội chung quanh anh nhìn anh là một “ông thầy” dậy trẻ nên không ai nỡ tâm khai anh đã từng là giảng viên trong quân đội, Cục Chính Huấn. (Có ai ở trong hoàn cảnh này mới rõ được lòng yêu mến, tình bao bọc của đồng bào là quý đến chừng nào !)

Mãi đến năm 78 anh mới thôi dạy học vì trong một xã hội Cộng sản, dạy học dầu là Toán, Lý, Hóa….mà không được dạy theo ý mình, phải theo giáo án, phải theo chỉ thị, phải theo yêu cầu chính trị của Nhà nước và Đảng thì quả là hơn một cực hình. Anh chị Nhật Tiến quay ra mở quán cà phê. Ta hãy nghe Mai Thảo nói về anh trong giai đoạn này:

“Một buổi chiều Saigon, ít ngày sau khi 30 tháng tư 1975, ngồi sau chiếc xe gắn máy của Duyên Anh, cũng tác giả Ngựa Chứng Trong Sân Trường dạo quanh một vòng trên những phố phường tan hoang của thành phố vừa đổi chủ, tôi bổng nhìn thấy Nguyễn Thụy Long trên một khúc vì hè ở khu đại học Duy Tân. Long ngồi sau một cái quán lộ thiên mọc lên như nấm ở Saigon lúc đó. Tác giả Loan Mắt Nhung đang nhậu, mặt mày đỏ sậm, kính trắng dầy cộm. Và cạnh đó, là một quán hàng khác, với Nhật Tiến, Nhật Tiến không nhậu, không nhậu bao giờ, đang lụi hụi với một chậu nước và một chồng bát đũa nhớp cạnh một gốc cây.

Cái cảnh tượng đập vào mắt tôi lúc đó, về hai cái quán liền sát, cũng ở trước một vi tường thấp chạy dài, là cái cảnh tượng của một đối nghịch hoàn toàn. Mang chung sự thất thế của văn nghệ gác bút ra đường bán quán trước hoàn cảnh mới, cái quán của Nguyễn Thụy Long với những xị đế ngổn ngang trên mặt bàn và mấy người khách hàng trẻ tuổi cũng ngất ngưởng như Long, hiện rõ vẻ bụi đời anh chị. Cái quán của Nhật Tiến khác hẳn. Nó lành mạnh hơn và cũng gia đình hơn gấp bội, với những đĩa rau muống chẻ nhỏ đặt ngay ngắn, bên cạnh là một chảo mỡ sôi bắn khói bốc xanh um, chị Nhật Tiến má hồng củi lửa chiên những cái bánh tôm vàng ngậy và đứa cháu lớn, nơ cài mái tóc, váy xếp chững chạc đang phụ một tay với ông bố nhà văn.

Nhìn Long một bên, Tiến một bên, cũng đã lăn cả ra với sương nắng thời thế với gió bụi hè đường, cũng đã trở thành hai ông chủ quán tài tử bất đắc dĩ mà quán bạn là quán bạn, quán tôi là quán tôi, bạn anh chị bụi đời, tôi gia đình nghiêm chỉnh, tôi đã nhìn thấy một lần nữa, và lần đó là lần cuối cùng, điều tôi yêu thích và tự hào nhất cho văn nghệ miền Nam 20 năm, là cái trạng thái đa diện và đa dạng không bao giờ đồng dáng và đồng tính. Đó là cái thế giới văn nghệ của mỗi người một trời mình, mỗi kẻ một biển mình. Đó là vùng đất đai văn nghệ của mỗi người một non sông, mỗi người một sông núi. Cái không đồng dáng, không đồng phục nơi mỗi người trước bàn viết cũng như trong đời sống ấy, lại là điều văn nghệ miền Bắc đổ khuôn và con số thù ghét nhất. Và bởi vì thù ghét nhất nên muốn triệt hủy nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân của đại nạn đã tới với mọi ngành văn học nghệ thuật muôn nghìn hình vẻ của ta. Và đương nhiên là đại nạn ấy cũng đã đến với Nguyễn Thụy Long và Nhật Tiến.

Nhớ hôm đó, tôi và Duyên Anh đã ngưng xe lại. Đã vào ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp. Đã lên tiếng ca ngợi cái tinh thần quả cảm của gia đình Nhật Tiến, hàng ngày từ thật xa cổng xe lửa số sáu xuống, vui vẻ nhập được tức khắc vào nếp sinh hoạt mới ở quanh mình. Nhớ lời hôm đó, chúng tôi đã ăn ủng hộ Thềm Hoang Quán mỗi người một đĩa bánh tôm, rất ngon, và tôi đã hỏi đùa Nhật Tiến:

– Rửa bát thạo ngay. Giỏi nhỉ?

Và Nhật Tiến đã cười nụ cười bình thường, chừng mực, nụ cười hơi già trước tuổi một chút của một nhà giáo. Nhật Tiến bao giờ cũng trước hết xác nhận mình là một nhà giáo:

– Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây

(Trích Văn số 6, tháng 12,1982)

TỪ VĂN CHƯƠNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG

“Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây”. Đúng là Nhật Tiến, một trăm phần trăm. Nếu anh đã không để cho việc viết văn của anh ảnh hưởng đến việc dạy học của anh trước kia thì giờ này, anh cũng lại không để cho sự thất thế của anh ảnh hưởng chút gì đến việc làm của anh – một việc làm hoàn toàn lương thiện.

Cuộc chiến trong những năm đầu 70 ngày càng vượt xa sự hiểu biết của người dân thường, ngày càng đi quá khả năng chịu đựng của ngay cả những người ý thức nhất. Nhưng trong khủng hoảng tinh thần, trong “bế tắc” đó (chữ của anh), Nhật Tiến vẫn không bỏ cuộc. Anh quay ra làm báo thiêú nhi, một việc làm mà anh đã có ít nhiều kinh nghiệm trước đó khi làm tổng thư ký tờ Đông Phương của Nguyễn Thị Vinh. Tờ báo Thiếu Nhi do nhà sách Khai Trí bảo trợ đã trở thành mối bận tâm chính của anh trong những năm từ 1971 đến khi mất miền Nam. Trong thời gian này, anh đã chuyển hướng sáng tác, đi từ truyện viết về thiếu nhi (như Chim hót trong lồng, Tay ngọc, một số truyện trong Ánh sáng công viên) hay thanh thiếu niên (Những vì sao lạc, v…v…) sang thành truyện viết cho và của thiếu nhi. Đây là những chuyện như Lá chúc thư (truyện dài, in năm 1969, trong tủ sách Vàng), Đường lên núi Thiên Mã, hay cả Thưở mơ làm văn sĩ (tuy viết dưới hình thức hồi ký).

Đều đặn, đều đặn anh sáng tác để thành một văn nghiệp khá đồ sộ: Trước 75, như vậy là anh đã có gần như mỗi năm một tác phẩm, mà nói chung, tác phẩm nào cũng viết một cách cẩn trọng. Giá như anh có ngưng ở đó thì chúng ta cũng đã có một văn nghiệp gồm 11 truyện dài, 4 tập truyện ngắn, 1 truyện thiếu nhi, 1 tập viết dưới hình thức hồi ký, 1 tập viết dưới hình thức nhật ký, và một tiểu thuyết kịch (Người kéo màn in ra năm 1962 do nhà xuất bản Huyền Trân), tức 19 tác phẩm tất cả trong một đời sáng tác là 17 năm (1959 đến 1975). Đó là chưa kể những viết lách lặt vặt bên cạnh nữa, những đóng góp trên mặt báo, những bài diễn thuyết, những khẳng định lập trường, những bài giảng dạy về chiến tranh tâm lý v…v… Tóm lại, đây không thể coi là một văn nghiệp mà ta có thể khinh thường được ở một người mà tháng 4,1975 chưa đầy 39 tuổi.

Nhưng điều làm cho ngườì ta để ý đến Nhật Tiến sau này, trong những năm gần đây lại không nhất thiết là sự nghiệp văn chương của anh. Vì trong gần 5 năm ở với Cộng sản, dĩ nhiên là anh phải “gác bút” rồi trừ khi là anh bằng lòng đi làm tay sai cho chúng –  một điều chúng ta không thể nghĩ được về Nhật Tiến. Nhưng chỉ cần anh đặt chân lên đất Thái sau khi vượt biên bằng đường thủy là ta đã thấy ngòi bút của anh phục hoạt liền.

Những truyện ngắn của anh sáng tác ở trong trại sau này được tập hợp lại trong tập Tiếng Kèn (do nhà xuất bản Văn Học in năm 1982 ở Cali) vẽ lên một bức tranh vô cùng sống động về cuộc đổi đời lớn nhất của người dân Việt Nam (chứ không riêng gì của người dân miền Nam) có lẽ từ hơn một trăm năm nay. Thời Tây sang, với tất cả những cái va chạm, xung đột văn hóa giở khóc giở cười của nó, cũng không thể so sánh được với cái ngô nghê, cái ồ ạt và cái dã man của mấy chú mán ở rừng về như bộ đôi và cán bộ miền Bắc vào xâm chiếm miền Nam.

Song Nhật Tiến không để cho cái hận thù đó làm mờ đi cái đau thương trước mắt là nạn hải tặc hoành hành trong vịnh Thái Lan trong những ngày tháng anh ở trại. Với sự tiếp tay can đảm của hai nhà văn Dương Phục và Vũ Thanh Thúy, Nhật Tiến đã lên tiếng tố cáo nạn hải tặc ngay trên đất Thái, làm thành một cuộc vận động toàn thế giới (do sự tiếp sức của các báo chí Việt ngữ và cộng đồng người Việt ở hải ngoại) mà quốc tế phải để ý tới, mà Liên Hiệp Quốc phải họp hội nghị để giải quyết, buộc ngay cả chính quyền Thái phải lùng bắt một số hải tặc và đem chúng ra trước vành móng ngựa.

Tháng 9-80, sang đến Mỹ, Nhật Tiến vẫn không bỏ cuộc. Nhờ sự hiện diện của anh và của hai anh chị Dương Phục – Vũ Thanh Thủy ở miền Nam Cali, giờ này có thể đứng ra làm chứng nhân hay nhân chứng sống, phong trào chống hải tặc lên cao độ với Ủy ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (do giáo sư Nguyễn Hữu Xương cầm đầu) vận động khắp nơi trong báo chí, trên quốc hội, với lập pháp và hành pháp Mỹ, với Liên Hiệp Quốc. Những bài tố cáo của ba nhân chứng được gom lại thành một tập tài liệu mang tên Hải tặc trong vịnh Thái Lan do Ủy Ban Báo Nguy in ra năm 1981. Ngay sau đó, James Banerian đã dịch toàn tập sang tiếng Anh mang tựa  đề là Pirates on the Gulf of Siam.

Việc làm này của Nhật Tiến, Dương Phục và Vũ Thanh Thủy được đến cả Coleman McCarthy trên tờ Washington Post công nhận là một công việc đầy ý nghĩa. Một số các bài xã luận đăng trên mặt các báo chí Hoa Kỳ và quốc tế cũng đã dựa phần nào vào những tiết lộ như ở trong Pirates on the Gulf of Siam.

KINH NGHIỆM Ở MỸ

Sang đến Hoa Kỳ, Nhật Tiến chấp nhận ngay cái thực tế của xứ này: Nhà văn Việt Nam không có (hay ít nhất cũng chưa có) chân đứng trong cái xã hội này. Anh vì thế nên cũng chấp nhận ngay cuộc chơi mới, lăn lộn từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, nhận đủ mọi thứ việc thượng vàng hạ cám, gì cũng làm tuốt, làm đêm làm ngày mệt nghỉ, và rồi đi học để kiếm một cái chuyên môn mà xứ này dùng được. Thế mà rồi anh vẫn viết, viết hăng say hơn bao giờ hết. Truyện của anh đăng đủ trên các mặt báo Việt ngữ ở hải ngoại, từ Ngày Nay ở Kansas City đến Đất Mới, Seattle, Washington, từ Khai Phóng và Nội San Cựu Giáo Chức ở Cali đến Chuông Saigon ở Úc Châu, từ Lửa Việt ở Canada đến Độc Lập ở Tây Đức và Quê Mẹ ở Pháp.

Mặc dầu phần lớn làm “chùa” anh vẫn không hề lấy đó làm buồn. Anh hăng say trong mọi việc, lại còn lấy đó làm như một niềm vui, một thú giải khuây cho những năm tháng âu sấu, buồn bã. Tập truyện Một thời đang qua hiện trong tay bạn đọc chính là một ghi chép trung thực của nhưng ngày tháng ấy, đặc biệt ở phần I. Sự đổi đời trong cuộc sống của người Việt hải ngoại, nhất là trong những năm đầu làm quen vớí xứ người, nó ghê quá, nó làm cho ta đôi khỉ tưởng như đến mất nhân bản tính tới độ ta chỉ còn có mộng tưởng là xem được là thật thôi (“Người làm ca đêm”).

Trong “Một ngày của nhiều người” gần như không còn ai là của riêng mình nữa. Một người sáng dậy, vừa chồm ra khỏi giường đã thấy mình trở thành một bộ phận của guồng máy xã hội; không hơn không kém một con ốc mà vì máy đã bắt đầu chạy nên mình phải theo. Thôi thì đủ thứ tính toán, “rất may là chỉ phải “để” có hai lần nhưng ngần ấy việc cũng đã tiêu đi mất của anh thời gian một phút rồi. Nếu chậm thêm 4 phút nữa thôi anh sẽ bị kẹt xe ở lối vào xa lộ…(trang 10). Thế mà trong óc lúc nào cũng còn lởn vởn những cái “bill” hàng tháng, “tiền điện thoại, tiền gas, tiền nước, tiền Tivi, tiền dàn âm thanh và những gói quà 2 pounds gửi cho gia đình ở Sài Gòn…” để rổi “đầu anh như bị xiết lại. Anh muốn ngộp thở về những ý nghĩ ấy trong đầu diễn ra rất nhanh như một dòng điện từ xẹt qua óc” (trang 11). Rồi câu chuyện đi sang những tình huống của một số người khác những tình huống không còn phân biệt được đây là câu chuyện của nhiều người khác nhau: Hải, Toản, Bình, Sảnh, Dũng…..Tại sao? Tại vì trong cái guồng máy khổng lồ đó, ta đã gần như mất hết cá tính.

Chẳng thế mà trong “Những mẩu dây leo” con người đã gần như điên, không còn biết mình điên hay người điên nữa! Ai lại ngày nào Vũ (nhân vật chính làm nhân viên an ninh trong một tòa lầu) cũng leo lên 3 tầng lầu “một ngày tám tiếng, mỗi tuần năm ngày… như con sên leo lên vách tường đã rổi bi tụt xuống. Tụt rồi lại leo lên nữa” (trang 43) để làm một công việc duy nhất là “thọc 25 cái chìa khóa khác nhau treo ở 25 nơi khác nhau vào cái hộp đen, xoay một vòng để nó in hàng ám số lên cuộn bằng giấy nằm bên trong” (trang 38). Riết rồi một hôm anh ngây người ra làm những công việc mà người ta có thể ngỡ là đã có tính cách bất bình thường, để rồi ông giám đốc phải gọi anh lên khiển trách. Anh về nhà, nằm mơ thấy một giấc mơ hãi hùng là anh đã bị sa thải vì bệnh “Mental Health” (“rối loạn thần kinh” bị), do thất nghiệp, anh không còn tiền gởi về cho gia đình, ngay cả đến một gói quà 2 pounds.

Sau đó, những chuỗi tư tưởng lớp lang bình thường vẫn “xuôi dòng” nay trở nên “lộn phèo” và “tình trạng này trước còn xảy ra thưa thớt, dần dà Vũ phát hiện được ra rằng nó đến với mình có vẻ thường xuyên hơn.” Chàng tự nhủ: “Mình phải chống trả lại chúng nó chứ. Phải chống bằng bất cứ giá nào để chứng minh với tất cẩ mọi người rằng tôi là một kẻ bình thường chứ.” (trang 46)

Song “bình thường” gì mà đến quên cả cái nheo nhóc của vợ con ở quê nhà.(quên cả những đoạn thư con gái út viết cho anh từ Sài gòn: “Hôm qua mẹ nhận được gói quà bố gửi. Hôm nay mẹ bỏ tiền mua xương phở cho cả nhà được gặm. Ngon quá bố. Lâu rồi con không được ăn thịt.”) để dám chạy thẳng lên văn phòng lão “manager” chỉ vào mặt hắn và mắng : “Tôi ghét sự nói láo của những kẻ làm việc dưới quyền của ông. Tôi ghét luôn cả những loại cây giả tạo mà ông cho trưng bầy ở mọi chỗ trong cơ quan này. Chúng nó chẳng có gì xứng đáng để khiến cho tôi phải đứng thừ người, chiêm ngưỡng so với những cây cỏ tươi tốt, đẹp đẽ ở trên quê hương của tôi. Vậy thì, những kẻ nào tố cáo tôi như vậy, chính nó mới là đứa có bệnh “mental health” đó thưa ông!” (trang 46).

Tả người mất trí đến như thế phải kể là hết cở. Nhưng hiện thực chiến tranh, những thảm họa của sự đổi đời trên quê huơng và trên quê người đã được Nhật Tiến mô tả một cách linh động, lôi cuốn đến độ khi buông sách ra ta đã phải thở phào mà thấy là mình may mắn đã không phải là người trong truyện.

Bên cạnh những truyện như vậy, ta cũng lại có một Nhật Tiến nhẹ nhàng hơn như trong truyện “Những mảnh trăng thu”, môt câu truyện khá cảm động. Tác giả tả cuộc sống của những đứa trẻ kiểu “bụi đời” ở trong trại tỵ nạn, tuy nghèo khổ nhưng vẫn còn có nhau, một tình huống khá tương phản với những trẻ em Việt Nam ở ngoại quốc, đầy đủ hơn nhưng tiếng nói thì đã chọ chọe, văn hóa thì đã xa vời với quê hương đất tổ: “Trăng thu năm đó chỉ còn hắt hiu trong trí nhớ của các em bé còn vất vưởng ở đâu đó trong các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á.” (trang 7)

Sự va chạm văn hóa còn được Nhật Tiến đem ra làm đề tài trong mấy truyện khác như ‘‘Mùa xuân của nàng” và nhất là “Bông hồng nào cho Mẹ”. Đây không phải là những đề tài chỉ có một mình Nhật Tiến nhìn ra, song phần anh bao giờ cũng có cái đậm đà, thâm trầm của riêng anh – một thứ trầm buồn mà nhiều người trong chúng ta cũng chia xẻ đứng trước những vấn đề đó. Thành ra, với Nhật Tiến, ta lại có thêm được một cách nhìn, một tiếng nói Việt Nam bên cạnh những Võ Phiến trong tiểu luận (Thư gửi bạn, Lại thư gửi bạn), những Trần Phong Vũ (xem truyện Hạt Cát trong tuyển tập Quê hương còn đó), Trần Diệu Hằng (Vũ điệu của loài công), Lê Thị Huệ (trong Bụi hồng), Nguyễn Ngọc Ngạn (trong Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn) trong tiều thuyết như một thể bao trùm cả truyện ngắn, những Cao Tần, Nguyễn Bá Trạc, Trần Mộng Tú trong thơ để bàn đến một loại đề tài tưởng như bất tận.

  PHẦN “QUÊ NHÀ”

Sang phần 2 (phần “Quê nhà” đối với “Quê người” của phần 1) thì ta thấy tiếp nối một số truyện mang cái hơi còn sung sức của tập Tiếng Kèn. Thật vậy, sự thành công của tập Tiếng kèn được tiếp nối (đây bằng nhưng truyện có kịch tính cao độ như truyện” “Người tù cuối năm” “Chặng đường cuối” và nhất là “Những vết chân trâu.” Qua tất cả những thảm kịch đổi đời ở quê nhà từ ngày Cộng sản đến như một tai họa (chữ của Nguyễn Chí Thiện), Nhật Tiến như muốn nói với chúng ta là cứu cánh vẫn chỉ có thể là con người. Chính con người trong một tên thủ trưởng công an tưỡng như khát máu đã giúp hắn nhìn ra ân nhân của hắn để nói:

“Ông Định, hơn ba mươi năm rồi, bây giờ tôi mới có dịp nói lên lời cám ơn ông.” (trang 78).

Cũng lại chính con người, một con người rất bình thường khi nó đã tước bỏ được hết những huyền thoại nhảm nhí về nó, đã làm cho tên đại úy trong “Chặng đường cuối”, xem như bị hủ hóa. Thì ra cả một huyền thoại về cách mạng đẹp đẽ có thể bi sụp đổ như một cái nhà bằng giấy đứng trước một xã hội thực tế, lột trần như một xã hội kẻ cắp, con buôn ở một vài đô thị miền Nam. Thì ra cái “đạo đức cách mạng” của “con người mới xã hội chủ nghĩa” xem ra cũng mỏng thôi!

Còn như truyện “Những vết chân trâu” một chuyên phải nghĩ đã xảy ra ở một hợp tác xã miền Bắc, cũng như truyện “Một chuyến đi”, mô tả tất cả cái trần ai của việc xin giấy đi một chuyến tàu ra Bắc, đều nói lên cả cái bế tắc của xã hội Việt Nam ở trong tay Cộng Sản. Xin xong giấy tờ, Quý, vai chính trong “Một chuyến đi đã chợt mỉm cười tự mãn.” Để rồi Nhật Tiến phải hạ môt câu: “Có lẽ ở trên đời này chỉ có Quý là kẻ duy nhất đã có thể cười được khi nhận được tin mẹ mình đang thực sự hấp hối!” (trang 91). Đó cuộc sống nó đã đảo điên tới mức đó thì không cần phải tác giả dùng lời trực tiếp lên án chế độ nữa, những truyện của Nhất Tiến có sức thuyết phục hơn chính vì chúng chỉ tìm cách tả sự thật: sự lên án chế độ đã trở thành một kết luận đương nhiên của cuộc sống.

Hai truyện “Tay ngà” và “Chân dung người nữ diễn viên” nói về sự sa sút của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ Cộng sản. Ở đây, Nhật Tiến chỉ làm một việc là tiếp nối, mang cái nhìn sâu sắc của mình vào hoàn cảnh người đàn bà, một việc Nguyễn Du trước kia đã đặc biệt lưu ý, một việc Phạm Duy gần đây cũng làm trong nhạc của ông. Huyền thoại “Tay ngà” của Lữ về chị Thu đã bị sụp đổ sau 30 năm khi chị đưa tay ra, “hai bàn tay sần sùi nhăn nhúm và mang một vẻ chai cứng, khô queo” và giải thích: “Chế độ mới cần đề cao tinh thần lao động trong mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những nghệ sĩ chơi đàn. Tôi không bị cấm đánh đàn nhưng tôi cũng bị bắt buộc phải cầm thêm cái cuốc. Cơn tàn phá đối với một bàn tay chỉ trong vòng một tháng là thấy rõ ….”(trang 66).

Trong “Chân dung người nữ diễn viên”, tuy là hoàn cảnh của người phụ nữ, song cứu cánh vẫn lại là con người. Ngày nay, chị Hồng hết được xem là minh tinh và chỉ sống bằng nghề cầy ruộng bên cạnh một anh chồng thương phế binh, song chị đã thoải mái biết bao khi bỏ được tất cả sự giả dối bao trùm đời chị khi chỉ còn phục vụ chế độ trong ngành kịch nghệ.

Trường tồn trong tất cả cuộc sống bi đát ở quê hương, nơi đó mỗi cuộc sống là một thảm kịch, chỉ có bà mẹ Việt Nam, bà mẹ muôn thưở mà ta thấy trong truyện “Cái túi bùa”.

Xem thế đủ thấy cả cái phong phú của Nhật Tiến trong Một thời đang qua.

CON ĐƯỜNG ĐÃ VẠCH

Trả lời một cuộc phỏng vấn mới đây thực hiện trên tạp chí Xác Định về cách nào anh phân biệt gỉữa con người của hành động và con người nhà văn trong anh, Nhật Tiến cho biết là theo anh, viết văn là một thứ thiên chức. Nhưng một thứ thiên chức đòi hỏi nhiều bền bỉ. Tuy anh không nói ra song ta phải hiểu là nếu không kiên trì thì thiên chức này cũng có thể mai một, cùn mòn. Do đó, nên giữa hành động và viết, anh không quên hành động (mà khi hành động anh còn hăng say hơn ai hết) nhưng đặc biệt, anh không bao giờ quên viết – chỉ trừ những trường hợp bất khả kháng như nhưng năm anh bị kẹt ở lại với Cộng sản.

Ra được đất tự do, ngay khi hãy còn một mình ở trại (Chị Nhật Tiến, tức nhà văn Đỗ Phương Khanh, và các cháu đi sau nhưng ngay từ lúc còn ở nhà đã nói với anh là “anh ra làm được gì cứ làm, cần phải nói cái gì cứ nói” đừng bận tâm về những hậu quả có thể xảy ra cho chị ở nhà) anh đã bắt ngay trở lại cái nghiệp viết văn của anh để tiếp nối cái thiên chức kia. Ở trong nhiều điều kiện vật chất có thể nói là vô cùng bất thuận lợi và bất ổn định, anh vẫn tiếp tục “ra quân”. Cứ xem những ngày tháng của các truyện đề” trong Tiếng Kèn, ta sẽ thấy rõ: tháng 12,1979 (“Buổi sáng của bé”), tháng 1, 1980 (“Tiếng kèn”, “Nồi cháo thịt”) ở trạỉ Songkhla Thái Lan, tháng 12-80 ở Portland, Oregon (“Điểm hẹn”, “Một thoáng xuân về” và “Ước vọng của bà Năm”), tháng 8,1981 (“Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ”) và tháng 12, 1981 (“Chuyến tàu cuối năm”) ở Santa Ana, California. Ta có cảm tưởng anh đang di chuyển mà cái bút, tập giấy vẫn không rời tay anh, và anh viết liên miên, viết bất chấp những điều kiện hay ngoại cảnh chung quanh.

Làm việc như vậy, chắc chắn Nhật Tìến đã phải có một niềm tin sắt đá. Bốn năm ở lại với Cộng sản, trong trường hợp Nhật Tiến, đã không phải là bốn năm sống thừa. Tuy không sáng tác, bốn năm đã thành bốn năm tích lũy ở trong nhà văn nơi anh. Nhờ đó, ngày nay ta có ở Nhật Tiến một tác giả dồi dào chất liệu cộng thêm với một ý thức chính trị thật sắc bén. Hai tập Tiếng Kèn và Một thời đang qua hay không phải vì tính cách chống cộng của chúng vì thiếu gì tác phẩm chống Cộng mà chẳng hay tí nào – nhưng là vì tính cách chân thật của chúng trong đó cái chất sống sờ sờ ra đó.

Nhật Tiến đã chứng kiến, mắt được thấy, tai được nghe, hay chính mình đã sống những kinh nghiệm đó, lại thêm được một nghệ thuật già dặn nên tập truyện tự nhiên đã trở thành một bản án chế độ Cộng sản mà khó có ngòi bút nào vượt qua được. Có thể nói, nếu Đại học máu của Hà Thúc Sinh là một bản án đanh thép nhất đối với chế độ lao tù “học tập, cải tạo” của Cộng sản thì Tiếng kèn và Một thời đang qua của Nhật Tiến là một bản án đanh thép không kém, mô tả chế độ bên ngoài lao tù ở quê nhà.

Nguyễn Ngọc Bích

Springfield, mồng 6 tháng 9, 1985

Đọc tiếp: Tập truyện Một Thời Đang Qua – Nhật Tiến

Chân Dung Nhà Thơ Bùi Giáng. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

img_3053

(Chân Dung Nhà Thơ Bùi Giáng)

Có rất nhiều tác giả viết về nhà thơ Bùi Giáng. Không biết bài viết của tôi có thừa không? Nhiều nhà phê bình văn học đã phác họa một chân dung văn học với cách nhìn ngắm nhận định tuy chủ quan nhưng có khi lại đóng vai khách quan. Riêng tôi, từ một vai trò của một người đọc thơ, tôi cố gắng đi tìm cảm giác của một người nhận hiểu những điều mà mình thắc mắc từ nhiều câu hỏi.

Nhiều người nhận xét là ít có bài viết phê bình về văn hay thơ của Bùi Giáng mà có rất nhiều bài viết đầy những giai thoại có tính ca tụng, dù chân dung văn học của ông đã được nhìn ngắm với nhiều khía cạnh khác nhau. Có điên có tỉnh, có lúc thơ là những ý nghĩ độc đáo trong sáng nhưng cũng có lúc là những câu nói lái dung tục, là chất chứa của những ẩn ức không lối thoát. Riêng tôi, khởi đọc từ những bài thơ từ thuở Mưa Nguồn đến sau này, tôi thấy trên con dường suy tư của ông, những ý nghĩ độc đáo, những hình ảnh gợi nhiều liên tưởng gợi ra một cuộc rong chơi của một thế gian khác, hơi giống thời hiện taị nhưng lại có nhiều nét cổ xưa hoang dại đầy ắp những nỗi niềm.

Hình như không có một điều gì ngăn cấm giới hạn trong tác phẩm của ông. Trong khi viết khảo luận, ông viết chống báng lại chính mình là thường. Hứng khởi tạo cho ông một cực đoan. Không có một nhân vật của văn chương, của triết học nào mà ông đế cập đến không có những chi tiết bất ngờ lạ lùng của những khám phá đến tận cùng. Riêng với thi ca, ông đọc thơ, bình thơ và làm thơ chỉ chung một tâm cảm, của những tín đồ cuồng tín nhất. Có nhiều khi ông khen ngợi quá lời, thành ra những nhận định ở trong vòng tùy hứng. Ai cũng có thể thành thi thánh, thi thần, nhưng ở chỗ khác lại bị chê bai thậm tệ… Nhưng tại sao, Bùi Giáng vẫn được nhiều người như nhà văn Mai Thảo coi là tài thơ trác tuyệt, là ngôn ngữ ảo diệu không tiền khoáng hậu, là vì có ông thơ ca mới đích thực có biển có trời…

Ai tỉnh? Ai điên? Ai viết văn cuồng? Ai viết thơ ngông? Bùi Giáng đã nhận diện vóc dáng chính mình trong cuốn sổ tay của Thầy Thích Nguyên Tạng chùa Pháp Vân, Gia Ðịnh trong một buổi trưa ngày 10/11/ 1993:

“- 1926- được bà mẹ đẻ ra đời
– 1928- khi té bể trán, vết sẹo còn nguyên kỷ niệm, hai năm trời chết đi sống lại

– 1933- bắt đầu đi học a,b,c trường làng tại Thanh Châu với thầy Cù Ðình Quý

– 1936- học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn

– 1939- ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Ðình Ðàn, Hoài Thanh Nguyễn Ðức Nguyên, Dào Duy Anh vân vân

– 1940- về Quảng Nam chăn bò.

– 1942– trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế. Nhập ngũ, bộ đội công binh hai năm sau giải ngũ

– 1952- vào Sài Gòn 1955 khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm Tân Việt xuất bản.

– 1957 Tân Việt xuất bản giảng luận về Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, giảng luận về Chu Mạnh Trinh, về Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị

– 1969 bắt đầu điên rực rỡ

– 1970

Lang Thang Du Hành Lục Tỉnh (khách sạn Long Xuyên Bà chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)
Gái Châu Ðốc Thương yêu và Gái Long Xuyên yêu dấu

Gái Chợ Lớn Khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)

– 1971-75-93

Ðiên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang
Rong chơi như hài nhi (con nít)

Ðược gia đình ông Phó chủ tịch (482) Lê Quang Ðĩnh, Hội đồng thành phố đối xử thơ mộng thênh thang.

Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa đôi lời rốt cuộc

Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cô Nương, và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)

Do đâu mà được như thế?

Ðáp. Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao chùa chiền miền nam nước Việt không biết nói sao cho hết”

img_3051

Bùi Giáng đã viết về “ông điên” một chân dung tự vẽ chính mình: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là Mẫu Thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên thì trước hết phải đáp vào câu hỏi. Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà? đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy?”

Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Bách Khoa, một bệnh nhân tâm thần của Bịnh Viện Biên Hòa, nhà văn Nguiễn Ngu Í cũng đã phỏng vấn một bệnh nhân đồng viện đồng bệnh Bùi Giáng. Thế mà, câu trả lời lại hết sức tỉnh táo, bình thường hơn cả những người bình thường nhất:

“Anh Ngu Í, xin gửi anh vài kinh nghiệm và ý nghĩ riêng. Viết cũng như sống – cần chút trật tự, điều hòa: ăn ít, ngủ nhiều. Ðừng để những bực bội phá giấc ngủ. Thỉnh thoảng đi về Lục Tỉnh (con đường từ Long Xuyên xuống Châu Ðốc đẹp lạ lùng).
Không hút thuốc lá nặng khói. Nên uống la de (bia), uống vừa phải.

Tôi xin trở lại với giấc ngủ vì xem đó là cái tốt nhất trong đời. Nếu có thể nên ngủ thật sớm (lúc 7, 8 giờ tối) để có thể thức giấc lúc 4, 5 giờ sáng, ra đường đi dạo, lai rai vài tua, hít thở nhịp nhàng, rồi trở về ngồi viết hoặc nằm viết.

Ðừng nên ngủ chung giường với một người nào. Hơi thở của họ sẽ chi phối nhịp thở của ta…”

Thế mà, theo Võ Ðắc Danh, đọc hồ sơ lưu trữ tại nhà thương điên Biên Hòa ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977, thời gian này Nguyễn Ngu í vẫn còn sống trong bệnh viện, hai người cùng ở khu 3. Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi: “Bệnh tái phát từ tháng 4 năm 1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị văn hóa trọng đại có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3 năm 1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn.”

Trong tác phẩm “ Ði Vào Cõi Thơ”, Bùi Giáng viết về chính Bùi Giáng:

“Những bài thơ “chuồn chuồn châu chấu” của ông quả thực là có ý nghĩa. Nó bay nhẹ vi vu quả có đúng như là phận mỏng cánh chuồn. Vào những buổi sáng mùa đông lạnh lạnh ở Trung Việt, vào những buổi chiều mùa thu ở Bắc Hà, hình bóng những con chuồn chuồn bay lượn cuối ngõ đầu xuân quả thật là tha thướt. Ðôi phen mất cái tiết điệu riêng biệt ấy cũng còn tái hiện trong đôi vần phồn hoa không bao giờ có chuồn chuồn bay vòng múa lượn…

Tuy nhiên Bùi Giáng là chỗ quen biết với tôi nên không tiện bàn luận chi nhiều Chê thì mất lòng nhau. Mà khen thì mang tiếng “mẹ hát, con vỗ tay”

Dù sao bài nay cũng nên trích thêm vào tập:

Bóng dương buồn ngủ qua chiều
Qua sông tại hạ toan liều tấm thân
Ðường sông bóng để cơ trần
Gẫm chông gai ấy ai từng đạp qua
Ghì môi con mộng la đà
Tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng
Nửa vời trăng mộng mông lung
Ðường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”

Viết về thơ, Bùi Giáng hình như trong một hành trình tự hủy, làm kẻ lạc lõng trong cuộc nhân sinh và tìm kiếm sự sáng suốt trong tận cùng cuồng si. Với ngôn ngữ riêng ông, pha trộn những ngôn từ bác học và dung tục, chuyên chở những ý tưởng lạ lùng, có lúc như những mật ngữ phù chú khó hiểu nhưng có lúc lại bình thường của một người tỉnh táo hết mình.

“Thơ tôi làm trong mấy cuốn thơ của tôi chỉ là cách dìu ba đào về chân trời khác.

Ði vào giữa trung tâm bão dông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phà vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên cánh tay mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm bay về Sương Hy Lạp ghé Calvaire viếng thăm một linh hồn bát ngát, rồi quay về đồng rộng, làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng, khoai sắn, thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao…”

Bùi Giáng điên trong cái tỉnh và thơ của ông cũng bất định theo cái nhịp mê cuồng:

“Hãy để yên cho tôi điên tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có bàn đến thơ tôi. Tôi không dám si mê, cũng không dám hoài vọng. Một mai tôi chết. Nghĩa là tôi không còn sống. Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống…Người yêu đừng bén mảng đến, bạn bè hãy đi xa. Ðể tôi một mình tha hồ tôi điên tôi dại. Ai có đến gần thì hãy thử điên dại cho như tôi…”

Một cách nhìn khá đặc biệt, của một thi sĩ ngắm nhìn chân dung một thi sĩ, Thanh Tâm Tuyền trong “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn” viết:

“Ðối với đa số, Bùi Giáng là một nhà thơ điên. Không nhắc đến bọn tục, bọn tỉnh, bọn khôn suốt cả đời chẳng một giây nào thèm “ thơ” đến tuyệt vọng, nói ngay những người quí ông – nhìn được ông như một thiên tài – thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại nhiều khi cũng né tránh, chẳng dám bước hẳn vào cõi thơ ông, hoặc có bước vào thì cũng theo cái lối “chân trong chân ngoài”, “mắt trước mắt sau”, cười cợt vui đùa hay nghiêm trang lố bịch, tưởng như thế là làm thuận lý, vui lòng nhà thơ – người bầy trận nghiêm trọng và ta nên chiều người.

Chính thái độ của những kẻ yêu ông – những kẻ ghét ông chẳng đáng nói – càng khiến ông phát “bẳn”, càng khiến ông phát “điên” (điên tiết), càng khiến nhà thơ thêm lạc lõng “một mình một cõi” càng đẩy ông tới chốn hoang vu bờ bãi, chơi với mọi, với beo, với gấu, châu chấu, chuồn chuồn.

Không, Bùi Giáng không điên. Ông là một nhà thơ sáng suốt, cực kỳ. Ông là một nhà thơ “ngộ”. Ðừng hiểu chữ ngộ trong cái nghĩa đơn giản của đạo giáo, Bùi Giáng sẽ nhăn mặt nổi quạu, ông có thể sẽ tông cửa chạy tuốt xuống Biên Hòa ngay lập tức. Hãy để cho tiếng ấy “phiêu bồng” từ Nam chí Bắc qua mọi nghĩa có thể có (ngộ dại, giả ngộ, ngộ quá ta, ngồ ngộ, ngộ không, ngộ nhận, ngộ độc…)”

Có lẽ, trong thơ văn và trong đời sống, chữ “ngộ” với nhiều nghĩa, từ bác học đến đời thường, đều có vẻ thích hợp, theo ý riêng của tôi. Ngộ dại? Có thể. Ngộ nhận? Giả ngộ? Ngộ độc? Ngộ không?… Mỗi thứ một nghĩa nhưng đều gợi ý đến một thi sĩ ngộ chữ? (Hình như ông Thanh Tâm Tuyền cũng tinh nghịch muốn bắt chước trò chơi chữ nghĩa?)

Ở một vị trí của người đọc, tôi khó lòng định hướng được suy nghĩ của mình. Có lúc tôi thấy sao ông có nhiều bài thơ mà tôi không thích nó ngang ngang kỳ kỳ không giống ai. Nhưng có lúc, ở trong một giây phút nào đó, tôi lại thấy những câu cú tuyệt vời trong thơ ông. Ðọc từ Mưa Nguồn, thi tập đầu tay, đến những tập thơ sau, Lá Hoa Cồn, Sa Mạc Trường Ca, … suốt nửa thế kỷ sau đến những Thơ Bùi Giáng, Chớp Biển,… tôi thấy được một trường thi bát ngát, mà sự thay đổi của ý từ, chuyển biến của cấu trúc ngôn ngữ, cũng chỉ là những vấn đề nhỏ. Mà, cái chính yếu vẫn là cái đang đi tìm và chưa tới đích. Nếu ông có phê phán chê bai, một tác giả, nếu ông có giận dữ nổi khùng vì một vài hiện tượng, thì cũng chỉ là sự bối rối của một người muốn nói nhưng chưa phát biểu hết, chưa biểu hiện đủ. Thơ có lúc như nhóm quặng nguyên sinh nóng hổi nhưng có lúc lại lưu lạc vào một nơi chốn hoang vu riêng biệt tít mù và cái hiểu và không hiểu cứ rập rình vấn đáp. Có nét của tâm kinh Phật giáo nhưng cũng có triết học của Cổ Hy La, có triết hiện sinh nhưng cũng có tư tưởng Lão Trang trộn lẫn, cũng có tôi điên lẫn lộn cùng tôi tỉnh, cũng có lúc phẫn nộ nhưng có lúc hiền từ, Và tình yêu, tình ái với ông chỉ có trong tâm tưởng và mãi mãi vẫn là niềm tôn kính cái đẹp dù qua bất cứ hình ảnh của mỹ nhân nào. Kim Cương Nương Tử hay Mẫu Thân Phùng Khánh cũng chỉ là biểu tượng tuy có thực ngoài đời nhưng lại mơ màng trong chữ nghĩa. Cũng vì sự trân trọng, mà những cử chỉ phát tiết điên cuồng, những lời tỏ tình của một tâm tư mê đắm nhưng không cuồng si, nên những giai thoại có thực của ông không phải là những chuyện tào lao khùng điên ở chợ…

Có nhiều người bắt chước ông làm thơ, cũng xử dụng những ngôn từ Bùi Giáng, nào dạ thưa, nào tồn sinh, nào liên tồn… rồi cũng na ná theo nhịp điệu lục bát, rồi cũng gắng đem những biểu tượng không bình thường. Nhưng kết cuộc là của giả. Có một người đã ví von thơ Bùi Giáng hay vì ông “điên” thật. Còn những kẻ giả vờ điên, bắt chước theo thì làm sao thuyết phục người yêu thơ cho được.

Có người cho rằng Bùi Giáng tránh né không muốn đề cập đến thời sự chính trị. Nhưng trong “Con Ðường Ngả ba, Bước đi của tư tưởng”, thì người đọc thỉnh thoảng vẫn tìm được những dòng bàng bạc. Con Ðường Ngả Ba mà Thụy Khuê đã cho rằng “không phải là một cuốn sách bàn về triết học hoặc đưa ra một hệ thống mạch lạc mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần chú, nhại triết học, nhạo người đọc.” Bùi Giáng viết về Trương Tửu / Nguyễn Bách Khoa và duy vật biện chứng pháp:

“… Ấy là điệu Nguyễn Bách Khoa đại diện cho bọn “đạo thính đồ thuyết” đầy rẫy khắp sử xanh Việt nam và Ðông nam Á Châu chỉ trừ Ai Lao, Cao miên và Xiêm la Miến Ðiện. Ai lao, Cao miên và Xiêm la Miến Ðiện là những dân tộc thơ ngây mênh mông thuần phác, tinh hoa thăm thẳm của Ðông Phương. Nơi những dân tộc ấy không thể nào phát sinh được bọn người đạo thính đồ thuyết, là sản vật ly kỳ của những xã hội tục gọi là văn minh, tự cho mình có tới ba ngàn hoặc ba ngàn rưỡi văn hiến. Văn hiến của nó là một loại văn hiến phát sinh từ một thứ thông minh của con người khôn vặt, con người mạt hậu của mặt đất vốn dĩ đã hiện hoạt trên địa cầu từ một thuở ngàn thu nào của vô lượng na tha a tăng kỳ kiếp…”

Hay: “Ðạo thính đồ thuyết (nghe ngoài đường và nói ngoài đường) là hoạt tinh thể của con người mạt hậu. Nó thông minh một cách thô thiển, nó vểnh tai ở ngoài đường và bi bô ăn nói ở ngoài đường để tàn phá mọi ngả ba đường của bước chân đi từ nội tâm nội mật. Nguyễn Bách Khoa là lãnh tụ bọn chúng. Phó lãnh tụ là Ðặng Thái Mai. Tổng thư ký là Vũ Ngọc Phan. Chúng xua quân chiếm đóng mọi bờ bến suy tư chận đứng mọi Ngả Ba – Ðường của thi ca tư tưởng gây truyền nhiễm cho những kẻ có chân tài như Nhượng Tống, Nguyễn Sỹ Tế về sau. Sức tác quái của chúng chính là nguyên nhân đã xui khiến tư tưởng đổ rụng tàn rơi lục tục giai tằng ngàn thu rớt hột từ Thệ Ða Rừng Tía đổ xuống Ấn Ðộ Dương, từ Nghi Thủy Vũ Vu trút xuống Bắc Minh Nam Hải từ Cổ Hy Lạp Homerè nhào xuống Ðại TâyDương…”

Thơ Bùi Giáng từ trước đến sau, từ thuở mưa Nguồn đến khi Chớp Biển hay Thơ Bùi Giáng in lúc gần cuối đời, có những ám ảnh khôn nguôi. Nguyễn Du và Truyện Kiều với những nhân dáng của Thúy Kiều, của Mã Giám Sinh, của Từ Hải, luôn luôn hiện diên trong thơ, trong khảo luận và trong tất cả những điều diễn tả. Một tác gỉa khác là Martin Heidegger cũng là bóng dáng lẩn khuất bàng bạc trong chữ nghĩa và biểu tượng của ông. Trong cuốn Tư Tưởng Hiện Ðại dù ông có đề cập đến tư tưởng và nhân vật như Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone Weil, André Malraux, Jean Paul Satre, Saint Exupery,… nhưng cũng trình bày về thơ Tản Ðà, Thơ Kiều nguyên thủy và thơ giả Kiều của chính ông sáng tác. Nguyễn Du, Hồng Sơn Liệp Hộ, ông đề cập đến không phải để bàn về đời sống với khen chê thị phi của một nhân vật lịch sử và văn chương tầm cỡ mà chính là muốn nêu ra một biểu tượng của nỗi đau khổ của con người trường cửu trong kiếp nhân sinh. Dù có lúc, ông có vẻ bỡn cợt với tác giả Truyện Kiều nhưng trong cái chia sẻ tận cùng ấy nồng nàn những nỗi niềm gửi theo, những lẩn khuất trong đời một người không muốn theo dòng đời chảy. Với Heiddeger, Bùi Giáng có giọng nghiêm trang hơn và ít khi có sự buông thả đùa dỡn.

Thơ Bùi Giáng, hình như không phải để cho kiểu bình thơ thường hằng. Như tại sao dùng những ý, những hình, những ngôn ngữ lập đi lập lại để dù đặc sắc nhưng thành sáo ngữ. Hay sao láy thơ, rồi điệp thơ, làm rối tung vần điệu, làm tối tăm cảm xúc. Có lẽ thơ Bùi Giáng không hạp với cách lối đọc thơ chúi mũi vào phần vỏ mà không chủ ý đến phần trong, phần trụ cốt chủ yếu. Bởi thơ ông, cũng rong chơi như những câu thơ chào một cõi thi ca lồng lộng màu biếc thắm của Nguyên Xuân:

“Hỏi rằng: người ở quê dâu
Thưa rằng: Tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: Từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.”

Nguyễn Mạnh Trinh

Tơ Mưa. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca Sĩ Hữu Duy, Hòa Âm Đỗ Hải


to-mua

Tặng Phẩm Mùa Xuân. Thơ Hư Vô


tang-pham-mua-xuan

Anh về trải mộng vào thơ
Tặng em chiếc nón che hờ chiêm bao
Để nghe hoa trái ngọt ngào
Vườn em non nả bước vào tầm xuân

Tóc tơ thả xuống lưng chừng
Nương theo bóng nắng chiều rưng rức vàng
Tặng em hết một trần gian
Gom về gìn giữ để ràng buộc nhau.

Hoa xuân chưa kịp úa nhầu
Em đi bỏ lại lời chào trống không
Tặng em bóng nguyệt tơ hồng
Đếm từng chiếc lá gói lòng người dưng.

Tay anh vướng vấp ngập ngừng
Níu chưa tới sợi tơ chùng mong manh
Tặng em một tiếng dỗ dành
Để trăm năm còn biết hành tình nhau…

Hư Vô

Nụ Ca Dao. Thơ Hư Vô, Nhạc Phùng Việt Dũng, Ca Sĩ Cao Huy Thế, Hòa Âm Đỗ Hải, PPS Thảo Nguyên Sydney.


0001-1-20001-2Hư Vô - Phùng Việt Dũng      Cao Huy Thế

Hư Vô               Phùng Việt Dũng                              Cao Huy Thế

Đâu Phải Mùa Xuân Nào Cũng Tết. Thơ Hư Vô


dau-co-mua-xuan-nao-cung-tet

(Viết cho một em bé mồ côi mà tôi đã gặp
trên đường hoa Nguyễn Huệ vào chiều 30 Tết…)

Bé thơ ơi, đợi ai em ngồi khóc?
Phố đông người, không có một người quen
Em dụi mắt chờ mùa xuân vào Tết
Cho ngọt ngào vừa đủ mặn môi em.

Cỏ cây còn nôn nao thay áo mới
Thì em cũng biết mơ ước, đua đòi
Tay so đo vạt áo sờn hai phía
Che buồn chưa kín một góc lẻ loi!

Đâu có ai hẹn hò mà em đợi
Áo mới, bánh quà nào phải của em
Đám đông hối hả giục nhau chào Tết
Em biết chào ai phố xá không quen?

Mùa xuân tượng hình trên cành lộc biếc
Những chồi non khoe nhan sắc diệu kỳ
Em đếm tuổi em trên từng chiếc lá
Còn xanh mà đâu có bóng xuân thì…

Hư Vô

Lời Cỏ. Thơ Hư Vô, Nhạc Nhã Thanh, Ca Sĩ Thúy An, Hòa Âm Đỗ Hải.


loi-co

Thư ngỏ gửi toàn thể các Văn Hữu quanh chuyện Trung Tâm Văn Bút (1957-1975) – Nhật Tiến


Nhật Tiến

 

Gần cuối năm 2016, tôi có biên soạn và cho ấn hành cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1957-1975” nhằm mục đích lưu trữ lại cho các thế hệ sau những hoạt động văn hóa của các bậc tiền bối như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu,Vũ Hoàng Chương, Vương Hồng Sển, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường, Tam Lang Vũ đình Chí, LM Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền …cùng hàng trăm hội viên Văn Bút khác.<!>Trong khi đi tìm tài liệu cho cuốn sách này tôi phát hiện là ông Viên Linh đã tiết lộ hai chuyện động trời trong bài viết của ông, in trong cuốn “Chiêu Niệm Văn Chương- Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ” do báo Khởi Hành ấn hành năm 2000”. Hai chuyện ấy là:

1) Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.

2) GS Phạm Việt Tuyền, Tổng Thư Ký Văn Bút sau 1975 bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu đói không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp.

Để bảo vệ danh dự cho hai thành viên nòng cốt của Văn Bút cùng đã quá cố và nhất là không muốn các thế hệ sau có cái nhìn lầm lạc về một tổ chức văn hóa vốn quy tụ hầu hết các nhà làm văn hóa lão thành đã tổn hao nhiều công sức đóng góp cho nền văn hóa miền Nam VN trong gần 20 năm trời ròng rã (1957-1975), tôi đã yêu cầu ông Viên Linh, chủ nhiệm báo Khởi Hành hãy trưng bằng cớ cụ thể.

Cho đến nay Viên Linh đã không trả lời được về những điều do ông cáo buộc kể trên.

Đã thế ông còn cho đàn em là Nguyễn Tà Cúc sử dụng tờ Khởi Hành để viết lách lung tung, rối rắm, lu loa những lời lẽ hỗn xược, nhỏ nhen, xuyên tạc nhằm lấp liếm cái tội vu khống của đàn anh Viên Linh, rồi mới đây trên các trang mạng cô ta lại còn vu cho tôi cái tội “Tấn công vô bằng một nhà thơ/nhà văn/nhà báo kiệt hiệt của Miền Nam” (sic) tức là đàn anh Viên Linh của cô ta.

Thưa quý văn hữu,

Tôi chỉ “chất vấn” ông Viên Linh chứ đâu có “tấn công” ông ta như cô Cúc viết. Rồi 2 câu chất vấn nêu ở trên cũng rất rõ ràng chứ đâu phải “vô bằng” như luận điệu xuyên tạc của cô ta.

Cái tâm địa nhỏ nhen, ác độc, vo tròn bóp méo sự kiện để vu khống nhằm bôi nhọ người khác là bản chất của Nguyễn Tà Cúc vốn đã lộ ra trong những bài viết của cô ta gần đây, ai đọc hẳn cũng đã rõ.

Tôi chỉ xin nêu một ví dụ mới xẩy ra gần đây nhất, khi cô ta post lên Net những lời như sau:

Theo Nhật Tiến, Trung Tâm Văn bút Việt Nam đã làm giấy chứng nhận với tên “Hội Văn Bút Giải Phóng” từ ngày 1 tháng 5. 1975 ngay tại Trụ sở Trung Tâm với sự có mặt của CT Thanh Lãng, TTK Phạm Việt Tuyền và Phó CT Nhật Tiến”

Đấy là sự kiện tôi đã nêu ra trong phần cuối cuốn sách của tôi, tả lại những ngày cuối cùng ở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, bao gồm những chi tiết như sau:

1) Ngày 1-5-75, Ban Thường Vụ đang dọn dẹp giấy tờ thì thi sĩ Nguyễn Đức Sơn (hiện cư ngụ tại Bảo Lộc VN) đạp xe tới. Ông nói oang oang cho tất cả mọi người nghe : “Tôi chẳng có bất cứ một thứ giấy tờ nào để tuỳ thân. Văn Bút cấp cho tôi một cái!”

2) GS Phạm Việt Tuyền chép miệng : “Cậu đùa sao? Miền Nam mất rồi, Văn Bút còn tư cách gì để cấp giấy chứng nhận cho ai !”

3) Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn cười ngỏn ngoẻn :“Cứ đề mẹ nó là Văn Bút Giải Phóng, tôi đem về tỉnh, có thằng ma nào biết ai vào với ai.”

4) Trước tình cảnh liên hệ tới sự sống còn của anh em văn nghệ, và lại ở vào những giây phút cực kỳ rối bời và hấp hối ấy, chúng tôi tự thấy nếu có thể làm được bất cứ điều gì giúp được hội viên qua cơn nguy cấp thập tử nhất sinh thì cứ vượt qua nguyên tắc mà làm. Vì thế mới có cái giấy chứng nhận – duy nhất dưới từ ngữ Văn Bút Giải Phóng – cấp cho thi sĩ Nguyễn đức Sơn để ông làm giấy tùy thân giữa vòng vây nghiệt ngã của CS.

5) Mãi bốn năm sau, vào khoảng giữa năm 1979, một hôm Nguyễn Đức Sơn đột ngột xuất hiện ở cửa nhà tôi ở đường Bùi Viện Sài Gòn. Quần áo của ông rách rưới, ông ngồi trên chiếc xe đạp mà từ tay lái tới khung xe, tới cái porte-bagages phía đàng sau, lủng lẳng, treo buộc hộp không, chai lọ và đủ thứ đồ.

Tôi thực sự vui mừng chỉ thiếu điều ôm lấy ông vì thấy ông vẫn bình an, mạnh khoẻ, cất cho tôi cái điều băn khoăn vẫn canh cánh bên lòng là ông có được an toàn không khi ông mang cái giấy chứng nhận dỏm kia trong người. Nhắc lại chuyện đó, ông cười ha hả :

– Ôi giời ơi ! Cứu tinh của tớ đấy. Ngay sau hôm đó, tớ chuồn tuốt lên Bảo Lộc và nhờ có cái giấy thổ tả này, tớ đi đâu cũng lọt. Nhưng tớ đã dẫn tuốt vợ con vô rừng, kiếm củi trồng khoai mà sống với nhau. Không có đứa nào làm phiền hết!!

(trong cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1957-1975”, chương cuối)

Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/1chuong-vi-ngay-cuoi-o-tru-so-trung-tam-van-but/

Chuyện chỉ có thế. Không thể tưởng tượng được là Nguyễn Tà Cúc có thể khinh thường khả năng nhận xét, trí phán đoán của độc giả để lái câu chuyện nhằm bôi nhọ Trung Tâm Văn Bút VN đến như thế.

Tức là sau 30-4-1975 chẳng có cái Hội nào gọi là Hội Văn Bút Giải Phóng hết, ai đọc phần đó trong sách của tôi cũng đều hiểu như thế. (xin coi link ở trên).

Vậy mà Nguyễn Tà Cúc đem rêu rao trên Net với dụng ý lươn lẹo, chụp cho Trung Tâm Văn Bút Việt Nam cái tội sau 30- 4-75 đã biến thành Hội Văn Bút Giải Phóng.

Thật là một hành vi đốn mạt sử dụng giọng lưỡi điêu ngoa, xảo quyệt, và ác độc đến thế là cùng.

Vậy thử hỏi những điều khác về Văn Học Miền Nam do y thị viết ra có còn đáng tin cậy nữa hay không?

Đây là lần đầu tiên tôi phải gửi tới quý văn hữu lời biện minh này về những luận điệu xuyên tạc của Nguyễn tà Cúc. Và cũng sẽ là lần cuối tôi nhắc đến thứ ngòi bút đê hạ này để khỏi làm mất thì giờ của chính tôi cũng như làm bận tâm thêm cho quý vị.

Nhật Tiến

14-1-2017

http://nhinrabonphuong.blogspot.com.au/2017/01/thu-ngo-gui-toan-cac-van-huu-quanh.html

Chiều Qua Đồi Lá Mục. Thơ Hư Vô


chieu-tren-doi-da-muc

(Tranh sơn dầu trên plastic của Đinh Cường)

Chiều qua đồi lá mục
Hụt hẫng bước chân tôi
Giữa trời cùng đất lụn
Không thấy một bóng người.

Dấu tích em bỏ lại
Bụi đã bám mịt mù
Chiếc lá vàng rơi chậm
Thầm lặng chạm mùa thu.

Chỗ em từng ở trọ
Trên vai tôi một thời
Tóc buông dài ngủ muộn
Ngang hạnh phúc tả tơi!

Bên dốc đời mê lộ
Gọi nhau đã khô môi
Đường chia năm bảy lối
Chỉ còn mỗi mình tôi.

Đá ôm lòng chờ đợi
Hồn mọc quanh cỏ cây
Chiều tan vào đáy vực
Em như còn đâu đây!

Cho tim tôi động đậy
Bàng bạc tiếng thở dài
Từ thiên thu vọng lại
Đã thấu tới trần ai…

Hư Vô

Tự Tình Tan. Thơ Hư Vô


tu-tinh-tan

Vịn buồn uống cạn dòng sông
Nghe trong nhịp thở còn nồng hương em
Nửa chừng tôi bỗng hụt chân
Từ khi em bước nghênh ngang vào đời.

Giọt lệ còn biết có đôi
Nhỏ xuống lăn lóc trên môi người tình
Hồn tôi chưa kịp hồi sinh
Em đã hoá đá tượng hình người dưng.

Tại tôi chậm chạp lừng khừng
Đuổi theo không tới đường cùng tận em
Cầu cao bắc nhịp chông chênh
Bóng treo ngược dốc bồng bềnh mộng du.

Vắt sầu uống cạn mùa thu
Bọt rượu tan giữa mịt mù dáng em
Từ trong hơi thở còn quen
Mùi hương xưa bỗng lên men lạ lùng…

Hư Vô

Báo Thiếu Nhi Sài Gòn Trong Ký Ức. Lê Minh Quốc


Lê Minh Quốc

blob

Qua những trang báo dành cho độc giả thiếu nhi như Tuổi Xanh, Tuổi Hoa, Thiếu Nhi, Thằng Bờm… thế hệ tôi, những cậu học trò ở Đà Nẵng cũng đã ít nhiều hình dung ra Sài Gòn từ năm tháng ấy.

Những tờ báo gắn liền với tuổi thơ

Khoảng thập niên 1960, khi đang học tiểu học, ở nhà tôi có mua thường kỳ tờ báo Tuổi Xanh, tòa soạn trong Chợ Lớn; Chủ nhiệm Trần Quang Khải, Thư ký tòa soạn Bảo Vân, ban biên tập còn có các nhà giáo quen thuộc như Hà Mai Anh, Bùi Văn Bảo, Nguyễn Khắc Lộc…

Đến lúc lên trung học, tôi mới thật sự “gắn bó” với Sài Gòn. Nói như thế vì năm học lớp 8, lần đầu tiên tôi được in thơ trên báo Thiếu Nhi. Có lẽ suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên “159 Thiệu Trị, Phú Nhuận, Sài Gòn, ĐT: 42152”. Đó là địa chỉ tòa soạn của tờ báo mà ông chủ Nhà sách Khai Trí Nguyễn Hùng Trương là chủ nhiệm, nhà văn Nhật Tiến làm chủ bút. Địa chỉ ấy, tôi đã nhiều lần nắn nót ghi trên bì thư khi gửi thơ, văn cộng tác. Rồi thỉnh thoảng có đôi lần được đăng. Sướng đứt đuôi con nòng nọc.

Nhân đây nói luôn, các “mầm non văn nghệ” mà bây giờ đã “thành danh”, thời đó thường ký bút danh rất “oách”, như Nguyễn Nhật Ánh ký Hoài Mộng Diễm Thư, Nguyễn Thái Dương ký Nguyễn Mặt Trời, Phạm Sỹ Sáu ký Ngy Xuân Sơn, Nguyễn Văn Nhân ký Bạc Hà, Phan Vân Sơn ký Mừng Hoang Vu, còn tôi ký Thiên Bất Hủ… Nhà thơ Đoàn Vị Thượng lại ký tên thật Trần Quang Đoàn, còn nhà văn Khôi Vũ, ngay từ hồi đó đã “ngon lành” lắm rồi, vì anh phụ trách chuyên mục Khu vườn hạnh phúc trên báo Tuổi Hoa với tên thật Nguyễn Thái Hải. Nhắc lại để thấy, có nhiều thế hệ viết lách ở miền Trung đã tạo dựng “cơ nghiệp” ban đầu là từ các báo ấn hành tại Sài Gòn.

Một trong những điều khiến chúng tôi một thời say mê, là sự xuất hiện của nhiều cây bút nặng lòng với giáo dục, mà khi nhìn thấy tên của họ là các bậc phụ huynh yên tâm. Đến nay, thỉnh thoảng tôi vẫn đọc lại Thư chủ nhiệm do ông Nguyễn Hùng Trương in trên mỗi kỳ báo Thiếu Nhi. Đó là các bài viết về sống đẹp, ý thức công dân, kỹ năng sống… thông qua những câu chuyện triết lý nhẹ nhàng, tương tự như loại sách Hạt giống tâm hồn hiện nay. Rồi lại náo nức với tiểu thuyết phơi-dơ-tông (feuilleton) đăng từng kỳ như Tiếng hú trên đỉnh non Chà Hóc (Vũ Hạnh), Khi ông cậu quý bị đắm tàu (Minh Quân)… và nhất là Thuở mơ làm văn sĩ (Nhật Tiến). Chính các tác phẩm này đã dẫn dắt thế hệ tôi thêm sự quyết liệt khi… “dấn thân vào văn chương”. Bên cạnh đó, còn là các chuyên mục như Tay ngọc bên bếp hồng, Ảo thuật, Khéo tay, Thủ công, Sáng tác của em, Cuộc thi sáng tác, Vui cười…

Phải nói thêm sự yêu thích ấy còn là vì tranh bìa in ốp sét (offset) rất đẹp. Thời đó, họa sĩ Vi Vi “làm mưa làm gió” trên nhiều trang bìa của các báo thiếu nhi. Sức lao động của ông thật khủng khiếp. Tuần nào cũng có tranh bìa mới. Và thêm nữa là họa sĩ Nguyễn Tài cũng “hớp hồn” bọn tôi qua các truyện tranh dài kỳ như Mười ngày trên đảo Rồng, Cùng đi với tử thần, Tí Ti qua ống kính bác Sáu Râu… Riêng tờ báo Tuổi Hoa còn thực hiện tủ sách với 3 loại truyện dài theo chủ đề: Hoa Đỏ (phiêu lưu mạo hiểm, trinh thám), Hoa Xanh (tình cảm nhẹ nhàng về gia đình, bạn bè), Hoa Tím (dành cho lứa tuổi 16 – 18). Các cây bút thường hay viết cho tủ sách này là Hoàng Đăng Cấp, Thùy An, Quyên Di, Mỹ Lan, Nguyễn Thái Hải, Nguyễn Trường Sơn…

Sách bán “xon” ở sài gòn

Còn nhớ, những tờ báo như Thằng Bờm, Thiếu Nhi đều thành lập những Thi văn đoàn, Bút nhóm nhằm quy tụ độc giả nhí tại các tỉnh, thành nơi đó cùng sinh hoạt chung. Ở Đà Nẵng, chúng tôi họp mặt vào mỗi sáng chủ nhật hằng tuần tại Nghĩa Trủng. Đồng phục đi sinh hoạt là quần xanh, áo trắng có phù hiệu trường, lớp đang theo học. Đôi lúc, các anh phụ trách tổ chức đi cắm trại nơi xa, đốt lửa trại, chơi mật mã… Sinh hoạt cộng đồng này diễn ra đều đặn, có quy củ. Phải nói thế hệ trẻ con chúng tôi trưởng thành và yêu thơ văn là từ đấy.

Làm sao có thể quên lúc báo Thiếu Nhi tổ chức thì làm “bích báo” tức “báo tường” dành cho Gia đình Thiếu Nhi ở các địa phương cùng tham gia. Quà thưởng ngày ấy, từ Sài Gòn gửi về cho chúng tôi là các tác phẩm thuộc Tủ sách Tuổi Thơ do Nhà sách Khai Trí tài trợ. Nhờ đó, chúng tôi đã được đọc Dinh Thầy (Phan Du), Thần điểu và hoa hồng (Thẩm Thệ Hà), Cái quai chèo (Nguyễn Văn Xuân), Người bạn mới (Nhật Tiến), Trung thu của bác đèn xếp (Lê Tất Điều)… Loại sách này mỏng, giấy đẹp, chỉ vài chục trang in, tương tự như loại Tủ sách Vàng của NXB Kim Đồng hiện nay.

Đến năm 1974, tôi quyết liệt phải vào Sài Gòn cho bằng được. Các anh phụ trách Gia đình Thiếu Nhi ở Đà Nẵng lúc đó chỉ mới học lớp 12 đã mua vé của Hãng xe đò Phi Long – Tiến Lực dẫn các cậu nhóc chúng tôi “hành phương Nam”. Phải đi để thỏa mơ ước mãnh liệt vì thèm khát phải biết Sài Gòn, do ma lực, hấp dẫn của vùng đất này mà mình chỉ mới biết qua các trang báo.

Nhất là bấy giờ, trên báo Thiếu Nhi có in bài Một vòng thị trường sách bán xon trên vỉa hè Sài Gòn của Bách Khoa. Càng đọc càng xốn xang, càng thèm thuồng bởi cái đoạn này: “Trung tâm của thị trường sách xon là lề đường Công Lý, khúc ngã tư Lê Lợi đến gần ngã tư Hàm Nghi. Một rừng sách báo tràn ngập hai bên vỉa hè: sách bày la liệt dưới đất, sách nằm ngổn ngang trên sạp gỗ đóng sơ sài, sách dựng hai bên bờ tường, sách nằm trong thùng sữa, sách chất thành đống, cao thành ngọn dưới gốc cây, bên miệng cống, không mái che, không thảm lót, sách chen chúc với chỗ đậu xe hơi, lấn át nơi dựng xe máy, choán cả đường đi của mọi người chen chúc. Lạc vào đây, người ta ngợp mắt vì sách, lách qua sách mà đi, giẫm lên sách mà lấn tới, bò lổm ngổm trên từng đống sách để bới, để tìm, gặp những cuốn không vừa ý thì liệng đại xuống rồi lại bới nữa, tìm nữa… dưới ánh nắng gay gắt như đổ lửa hay dưới bầu trời vần vũ đe dọa của cơn mưa. Những ai thích sách, yêu sách, ít tiền mà vẫn muốn có sách cất giữ, không thể ghé một lần. Đối với dân mọt sách, đã từng bỏ ra cả ngàn bạc mua một quyển sách mỏng teo trong tiệm sách, hẳn thấy giá cả sách ở đây quả là một… thiên đường” (báo Thiếu Nhi số 96 ngày 1.7.1973).

Thật hạnh phúc, một cậu học trò tỉnh lẻ năm học lớp 9 là tôi đã được đặt chân đến “thiên đàng” ấy. Và vẫn còn giữ lại ký ức tươi đẹp từ năm tháng tuổi thơ trong trẻo và đáng yêu.

Lê Minh Quốc

Nhật Tiến, nhà văn của tuổi thơ. Trần Việt Hải- Los Angeles


te1baadp-san-thie1babfu-nhi

Lời giới thiệu: Sau khi nhà báo Kiều Phong công bố trên Internet bài “Thứ sách đê hạ”, nội dung trình bầy tư cách đê hạ của Viên Linh khi ông ta viết về nhà văn Nhật Tiến như sau:

“Tôi vốn không đọc Nhật Tiến, tác giả của những truyện về trẻ mồ côi, về các bà sơ có lòng nhân ái, những đề tài thích hợp với mấy cậu nhỏ thuở mơ làm văn sĩ, bước vào giai đoạn sáng tác thì nhân vật cốt truyện đề tài văn chương được bao lăm, đọc chi cho mất thì giờ.” (Viên Linh)

Hay:

“Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1905-1963), sinh ở Hải Dương, cuối thập niên ’60 xuất bản tạp chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài gòn, đăng bài vở của một nhóm vô danh mà tài năng của họ được Nhất Linh khuếch đại quá đáng, trong có Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Nhật Tiến, …” (Viên Linh)

Những luận điệu này của Viên Linh đã khiến cho nhiều người bất bình, thậm chí phẫn nộ. Như một ngòi bút trẻ, anh Việt Hải ở Los Angeles, vốn thuở trước đã từng là độc giả của nhà văn Nhật Tiến đã phải lên tiếng trên nhiều trang diễn đàn để vẽ lại chân dung của nhà văn này hầu trả lại sự thật cho trang sử Văn Học Miền Nam (trước 1975) vốn đã từng bị những ngòi bút thiếu lương tâm viết lách sai lạc để quấy hôi, bôi nhọ.

**************

Nhật Tiến, nhà văn của tuổi thơ. Trần Việt Hải- Los Angeles

Một thuở chập chững bước vào trung học ghé hiệu sách Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương, trên con lộ Lê Lợi quen thuộc, nhịn ăn quà sáng để dành tiền mẹ cho bê tác phẩm trên kệ mà lòng thấp thỏm thèm nhỏ dãi.

Ừ, hihi… nào, tiền trao cháo múc, khuân sách chữ nghĩa bề bề về nhai ngấu nghiến cho sướng tâm tư, cho no bộ não, cho thỏa con tim ngày cũ, chả “ke” đến dạ dày, bởi vì cái thuở xa xa ấy ta ở xa xa nhà thương, ta chả cần các vị toubib (chữ mà nhà văn Duyên Anh hay xài, chỉ các vị bác sĩ) thiên thần nào cả, chữ nghĩa của sách vở nuôi ta cho ta những lục phủ ngũ tạng vốn hoàn mỹ. L’état de santé est à zéro faute tout le temps, oui c’est vrai toujours,…

Ôi nhớ lại những ngày vui đã qua, những ngày mài đũng đáy quần trên ghế nhà trường. Chuyện ngày xa xưa ấy, tôi nhớ những tác phẩm của Lê Tất Điều quyến rũ túi bạc bữa lủng, bữa mong manh của tôi dán mắt cú vọ vào những truyện: Tình Bạn Của Đôi Guốc, Những Giọt Mực,… loạt tập sách Tuổi Hoa của nhà văn Quyên Di, hoa gì cũng đọc cả, rồi lớn hơn tí nữa với tác phẩm Doãn Quốc Sỹ như Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Ðịnh Mệnh, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều,… Nhưng lúc ở tuổi babylac xổ sữa, nhổ giò lên trung học, tôi mê thích hai tác phẩm Những Vì Sao Lạc và Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến, cốt truyện rất thích hợp với tâm trạng tuổi nhỏ, những quyển sách truyện thiếu nhi loại bông tím PG của nhà văn Quyên Di, đọc sách trong nỗi say sưa, mến mộ của tôi.

Rồi nay khi ngao du trên net lại bắt gặp câu nói bôi bác, trong thái độ kẻ viết như kẻ cả, xấc xược, ngạo mạn, thô lỗ chữ nghĩa, câu văn trắc nết của bạn đã được ném trả về cho chữ nghĩa của bạn vậy. Le style, c’est l’homme, “đọc chi cho mất thì giờ.”, phường tuồng nào nỡ buông những dòng vô tâm, vô đạo như thế này:

“Tôi vốn không đọc Nhật Tiến, tác giả của những truyện về trẻ mồ côi, về các bà sơ có lòng nhân ái, những đề tài thích hợp với mấy cậu nhỏ thuở mơ làm văn sĩ, bước vào giai đoạn sáng tác thì nhân vật cốt truyện đề tài văn chương được bao lăm, đọc chi cho mất thì giờ.”

Những ý tưởng khiêu khích, bôi bác trong khi tuổi đời, quỹ thời gian của bạn không còn bao nhiêu, bạn nhé. Êh mà bạn này, bạn không đọc thì kệ xác bạn, hà cớ gì bạn phải buông những lời lẽ cộc cằn, nặng nề khi nghe, chói tai nghịch thính nhĩ như thế nhỉ? Hãy nhìn quanh bạn đi nhé, “Dis-moi avec qui tu traînes, et je te dirai qui tu es” (proverbe espagnol), hay “Dites-moi qui est votre ami et je vous dirai qui vous êtes” (proverbe russe), rồi “Dites-moi ce que vous pensez que vous êtes et je vais vous dire ce que vous n’êtes pas.” (Henri Frédéric Amiel [1821-1881]), thêm “Dites-moi ce que vous faites attention et je vais vous dire qui vous êtes.” (José Ortega y Gasset [1883-1955]).

Bạn công kích văn chương Nhật Tiến, êh thử cho xem bạn để gì lại cho tuổi thơ, một quả trứng vịt to tổ bố ư ? Tôi gửi bạn những văn phong thanh cao khác hơn bạn, những cảm nhận thanh tao của những cái nhìn thoáng hơn bạn nhé:

1) “Với hơn 20 tác phẩm đã xuất bản, với nhiều thể loại, các tác phẩm chính của Nhật Tiến đều có liên hệ tới tuổi thơ. Nhật Tiến được mệnh danh là nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của khuynh hướng xã hội. Võ Phiến trong bài viết về Nhật Tiến trong bộ Văn Học Miền Nam đã đưa ra nhận xét: “Lúc bấy giờ ai cũng biết ở Miền Nam có nhiều tác giả tên tuổi viết về giới trẻ thơ. Mỗi vị một vẻ. Trẻ em trong truyện Duyên Anh thường là những trẻ đáo để. Đám trẻ của Lê Tất Điều hầu hết đều có nét tinh nghịch. Trong Nhật Tiến là trẻ bất hạnh”. [VHMN, truyện 2, tr.1270, Nxb Văn Nghệ 1999]”

(đọc Ngô Thế Vinh, “Nhật Tiến Thềm Hoang Vẫn Một Tráng Sinh Lên Đường”)

2) “Như đa số chúng ta đều biết, ông Nhật Tiến là một nhà văn, nhưng ít ai biết và nghĩ rằng chính ông Nhật Tiến còn là nhà giáo Bùi Nhật Tiến dạy toán, lý, hoá trung học. Theo tôi, chính tinh thần khoa học đã là cái khuôn hướng dẫn mọi sinh hoạt của ông, khiến ông làm được rất nhiều việc trong cùng một lúc. Mỗi tuần ông dạy từ 40 đến 50 giờ. Tinh thần kỷ luật và khoa học ấy còn được bao phủ bằng tinh thần Hướng Đạo, khiến những suy nghĩ và hành động của ông tràn ngập những suy tư về xã hội. Cuộc sống bận bịu như thế nhưng nhà văn Nhật Tiến, trong 20 năm ở Miền Nam, ông đã có gần 20 tác phẩm được xuất bản, mà hầu như tác phẩm nào cũng mang nặng tinh thần xã hội, như Những Người Áo Trắng, Chuyện Bé Phượng. Đặc biệt khi Miền Nam ổn định, năm 1961, giải Văn học Nghệ thuật tiếp tục được tổ chức, cuốn Thềm Hoang của nhà văn Nhật Tiến đã được trao tặng giải nhất, khi ấy ông mới có 25 tuổi. Nội dung cuốn sách nói về hoàn cảnh của những người nghèo khổ, khốn cùng của xã hội. Trong khi đó, đây cũng là lúc người ta có khuynh hướng ca tụng những tư tưởng hiện sinh đang ồn ào ở xã hội tây phương, ảnh hưởng khá khá mạnh vào sinh hoạt văn học Việt Nam. Cuốn sách của ông như một người độc hành trên con đường quê nghèo khổ. Biết thế, nhưng ông vẫn lặng lẽ đi một mình với những trang sách ngập tràn những thương yêu, những hàn gắn, an ủi những con người bất hạnh.”

(đọc “Phan Lạc Tiếp Viết Về Nhà Văn Nhật Tiến”)

3) “Nhật Tiến là một nhà văn tranh đấu, dùng văn chương để xoa dịu những bất công xã hội, những hận thù hờn oán trong con người. Ở Nhật Tiến, tuổi thơ khốn khổ, xã hội nghèo đói, quê hương chiến tranh và hòa hợp dân tộc là những đề tài chính.

Ngay từ những tác phẩm đầu tay Những người áo trắng, Những vì sao lạc, Nhật Tiến đã nghiêng mình xuống những số phận mồ côi, những đứa trẻ lạc loài. Khi chiến tranh lan rộng, ông viết về thảm cảnh của những đứa bé tàn tật, nạn nhân của bom đạn, về những gia đình ly tán, anh theo Mặt Trận, em đi lính Cộng Hòa… và sau này khi ra hải ngoại, ông tranh đấu cho con đường hòa hợp hòa giải dân tộc giữa người Việt trong và ngoài nước.

Nhật Tiến là một nhà văn hiện thực, hướng thượng. Cái đích mà ông muốn đạt tới là lòng nhân ái, tình tương trợ giữa người và người, ông muốn bào mòn những bất hạnh trong cuộc sống lầm than, xóa bỏ hận thù giữa hai chiến tuyến để tìm đến tình thương, tình người.”

(đọc “Nhật Tiến Qua Nhà Phê Bình Văn Học Thụy Khuê”).

4)”Viết về Nhật Tiến, Võ Phiến trong cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan đã đưa ra nhận xét là Nhật Tiến đã viết những cuốn truyện “đầy lòng nhân ái với lời văn trong sáng, giản dị”. Nhật Tiến vẫn xuất hiện với một ngòi bút nhân ái đó. Lòng nhân ái làm ông vẫn tin chắc là tình người còn mãi trong con người và sẽ phát hiện trong những giây phút của sự thật. Phải chăng lòng tin đó cũng là đặc tính của con người nhà văn có khuynh hướng luân lý mà Võ Phiến đã xếp Nhật Tiến?

Phát biểu về những truyện viết về Việt Nam, Nhật Tiến cho biết trong những năm đầu, ông viết để tố cáo những bất công, đàn áp của Cộng Sản. Trong giai đoạn sau, ông viết về những chuyển hóa nhận thức ngay từ chính những người đã tham dự vào xã hội Cộng Sản. Những điều đó, ông thực hiện được trong “ Một Thời Đang Qua”.

Trong một lần khác, Nhật Tiến đã nói về công việc sáng tác của ông như sau:

“ Viết là truyền thông với người đọc sự rung động của chính mình về một hoàn cảnh nào đó trong cuộc đời, để gợi lên trong mỗi người tinh thần liên đới của mỗi cá nhân với tập thể. Còn ngắn hay dài, đó chỉ là vần đề kỹ thuật.” …”

(đọc “Bảo Lâm Đọc Một Thời Đang Qua Của Nhật Tiến”).

5) “Nhà văn Nhật Tiến là nhà văn của tuổi thơ, của những bức xúc về một cuộc chiến tranh và là một người lưu lạc suy ngẫm về thân phận của mình và của chung một thế hệ phải trải qua những ngày chiến tranh và những ngày hậu chiến tranh mà những bi thảm, những bất toàn của xã hội lại còn đáng sợ hơn thời còn khói lửa. Ông viết với tâm cảm mà những ý nghĩ trung thực được biểu lộ không e ngại và là tiếng nói được lắng nghe từ công luận.

Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến : nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xã hội, nhà văn của lưu lạc xứ người mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng đếu có những thông điệp trao gửi theo….

Di cư vào Nam, ông xuống Bến Tre dạy học ở trường Quang Trung và cuối tuần ông không về Sài Gòn, ở lại trường nên có thời giờ sáng tác. Ông hoàn tất “Những người áo trắng” lấy không gian và thời gian của Hà Nội kể lại chuyện của một cô nữ tu trẻ nguyện tận hiến dâng đời cho Thiên Chúa. Một giáo sư cùng dạy học với ông là Trương Cam Vĩnh đọc và thích thú với tiểu thuyết này và mang về cho nhà văn Nhất Linh đọc và cho ý kiến. Văn hào Nhất Linh rất khen ngợi và khuyến khích ông nên xuất bản thành sách. Thế là năm 1959, nhà văn Nhật Tiến đã in tác phẩm đầu tay “Những người áo trắng“ và bắt đầu cho một hành trình văn chương kéo dài đến hơn nửa thế kỷ sau. Những tác phẩm tiếp theo là Những Vì Sao Lạc, Tay Ngọc, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng…”

(đọc Nguyễn Mạnh Trinh, “Nhà văn vẫn đứng ngoài nắng : Nhật Tiến”)

6) Hay những nhận xét của Nguyễn Vy Khanh trong “Thế-giới nhân-bản của Nhật Tiến”, xem link sau:

Văn học & Nghệ thuật Nguyễn Vy Khanh trong “Thế-giới nhân-bản của Nhật Tiến”

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19340

****

Trong sự sâu thẳm cùa cảm nghĩ riêng tôi, Trần Văn Tui, Búa Cẩu Xồm, thì nhà văn Nhật Tiến vung nét bút chân phương diễn tả những nghịch cảnh xã hội trong những tác phẩm của ông, ông tạo ra những nhân vật trong truyện được xây dựng, ông mô tả tâm lý những nhân vật đóng trọn vẹn vai trò của họ. Ví dụ như Lão Đối có người con trai theo CS, tức “thằng Đực” trong truyện “Giấc Ngủ Chập Chờn”. Tâm lý hai cha con được biểu lộ qua những mẩu đối thoại rất bình dị của người dân quê làng xã ở miền Nam.

Văn chương của Nhật Tiến đầy nét nhân ái, hiền hòa đối với trẻ thơ, như truyện “Chuyện Bé Phượng” sống trong trại mồ côi, hay truyện “Chim Hót Trong Lồng” với bé Hạnh bị bỏ trong nội trú ở với các soeurs, bà mẹ đi miết. Những bà mẹ của bé Hạnh, bé Phượng sống xa con mình, chuyện thương tâm trẻ thơ của những vết thương xã hội. Tác phẩm Nhật Tiến trang trải những tiếng lòng cô đơn của các em. Bé Hạnh trong truyện Chim Hót Trong Lồng cho thấy tâm lý trẻ thơ thèm thuồng cầu mong sao cho ngày dài kia sớm đến ngày Chủ Nhật để về với người mẹ.

Những truyện ngày xưa đó đã ảnh hưởng đến tôi nhiều, vì trẻ thơ cần phải được che chở, bảo vệ. Xin cám ơn nhà văn Nhật Tiến.

Trần Văn Tui, Búa Cẩu Xồm.
(aka Việt Hải Los Angeles).

Nguồn: Nhà Văn Nhật Tiến

Dấu Đinh. Thơ Hư Vô


dau-dinh

(Thiếu Nữ Bên Giáo Đường. Tranh sơn dầu của Đinh Cường)

Chúa đã chịu chết trên cây Thánh giá
Để cứu chuộc loài người khỏi hư hao
Anh đóng đinh em vào đời vàng đá
Cho trái tim chảy giọt máu ngọt ngào.

Em có chạy trời cũng không khỏi nắng
Bởi em là tặng phẩm Chúa cho anh
Cánh cửa thiên đàng không còn ổ khoá
Từ ngày Thánh Nữ bước xuống trần gian.

Sẽ không còn lạc nhau dù thất tán
Dấu đinh trên da thịt dễ gì tan
Anh lùa hết mây đan vào trong nắng
Ướp trầm hương cho áo cưới thêm vàng.

Để tên em tan vào anh hôn phối
Lần nầy đâu dễ chạy nổi khỏi anh
Đã đợi chờ nhau từ em tiền kiếp
Nụ hôn đầu vừa kịp Chúa giáng sinh….

Hư Vô

Đêm Uống Rượu Với Tình Nhân. Thơ Hư Vô


dem-uong-ruou-voi-tinh-nhan

Đêm uống rượu với tình nhân
Rót cho đầy ba mươi năm, một lần
Cụng ly ngang nỗi thăng trầm
Uống chung giọt lệ đã tràn môi quen.

Rót thêm ly nữa đi em
Uống một trận cho đã thèm đêm nay
Em sẽ thấy trong cơn say
Có tôi mải miết miệt mài yêu em.

Hồn tôi bỗng chốc lên men
Trái tim nhảy nhổm cuồng điên lạ kỳ
Thì em cũng đã u mê
Cơn say gào thét cho kề cận môi!

Một lần em biết hụt hơi
Nghe trong nhịp thở rã rời đêm hoang
Nhập hồn cạn chén tình nhân
Nửa đêm hết rượu, tôi nằm phơi thây…

Hư Vô

HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC. Một Định Chế Quốc Gia của VNCH


Nhật Tiến

ccf55485354c444cb50c13550c014fa2

HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC
Một Định Chế Quốc Gia của VNCH
(Phụ lục: Trường hợp đắc cử của nhà văn Nhật Tiến)

Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐ/VHGD) được thành hình ngày 2 tháng 5 năm 1969 do Tổng Thống VNCH ký trong Luật số 05/69 do chiếu điều 93, 94 của Hiến Pháp VNCH năm 1967 và đã được Quốc Hội thảo luận rồi biểu quyết đồng ý thành lập.

Nhiệm vụ của HĐ/VHGD là:

1) Cố vấn chính phủ trong việc hoạch định và thực thi chính sách Văn Hoá Giáo Dục.

2) Trình bầy sáng kiến và soạn thảo kế hoạch về các vấn đề Văn Hóa Giáo Dục.

3) Nghiên cứu việc thiết lập Hàn Lâm Viện.

Các thành viên của HĐ/VHGD gồm 45 Hội viên thực thụ và 15 Hội viên dự khuyết mà trong đó:

– 15 Hội viên Thực thụ và 5 Hội viên Dự khuyết do Tổng Thống chỉ định.

– 30 Hội viên Thực thụ và 10 Hội viên Dự khuyết thì do các tổ chức Văn hóa Giáo dục công, tư và các Hiệp hội Phụ huynh học sinh đề cử

– Các Hội viên nói trên sẽ được Tổng Thống bổ nhiệm bằng Sắc Lệnh.

– Nhiệm kỳ của Hội viên là 4 năm và có thể được tái tuyển.

– Chủ tịch của HĐ/VHGD là Phó Tổng Thống VNCH.

– Để giám sát cuộc đề cử các Hội viên do các tổ chức Văn hóa Giáo dục công, tư và các Hiệp Hội Phụ huynh học sinh thực hiện, một “Hội Đồng Đề Cử Trung Ương” được thành lập mà thành viên gồm có:

– Phó Tổng Thống hay đại diện.

– Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa hay đại diện.

– Tổng Trưởng Giáo Dục và Thanh Niên hay đại diện.

– Một Nghị sĩ thuộc Ủy ban Văn Hóa Giáo Dục
Thượng Nghị Viện.

– Một Dân Biểu thuộc Ủy ban Văn Hóa Giáo Dục
Hạ Nghị Viện.

– Tổng Quản Trị Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục:
thuyết trình viên.

– Một Giám Đốc Nha tại Bộ Giáo Dục và Thanh Niên :
Thư ký, không quyền biểu quyết.

Hội đồng này có nhiệm vụ:

– Giám sát các cuộc đề cử, giải quyết các tranh chấp (nếu có)

– Tuyên bố kết quả chính thức cuộc đề cử.

****

Trường hợp đắc cử của nhà văn Nhật Tiến.

Sở dĩ có thêm phần này là vì ông Viên Linh, Chủ nhiệm tạp chí Khởi Hành gần đây có loan tải trên Net một bài bịa đặt, vu khống trắng trợn có nội dung như sau:

Lời Viên Linh:
(trích)
“Bởi thế, hẳn ông còn nhớ một hôm đến nhà ông, tôi đã hỏi thẳng rằng:

“- Anh Nhật Tiến, hồi ở Sài gòn tôi lấy làm lạ tại sao anh lại được mời vào làm hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục? Lúc ấy là đâu như 1974, anh mới dưới 40 tuổi, chỉ là giáo sư Trung học dạy Lý Hóa; nhiều người cao tuổi 50, 60 lại sinh hoạt trong ngành văn hóa có tên tuổi sự nghiệp lâu dài hơn mà không được mời làm thành viên hội đồng, mà sao anh cả chục năm trước, hồi đâu 1963 đã làm Phó chủ tịch Hội Văn Bút, rồi sau này lại là hội viên văn hóa của Hội đồng VHGD, tôi lấy làm lạ đấy?”
Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
– “Tại ông Nhất Linh cả!” (3)

Ghi chú (3) cũng của Viên Linh:

3. Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1905-1963), sinh ở Hải Dương, cuối thập niên ’60 xuất bản tạp chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài gòn, đăng bài vở của một nhóm vô danh mà tài năng của họ được Nhất Linh khuếch đại quá đáng, trong có Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Nhật Tiến, …
(ngưng trích)

***

Nhật Tiến trả lời:

Việc tôi đắc cử Hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục năm 1974 và nhà văn Nhất Linh mất năm 1963 (tức là đã từ trần trước đó 11 năm), hai sự việc chẳng ăn nhập gì với nhau, thế mà Viên Linh cũng bịa chuyện, đặt vào miệng tôi câu trả lời ngô nghê:

Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
“Tại ông Nhất Linh cả!”

Thật điêu-ngoa ngoài sức tưởng tượng!!

Sự thật là:

Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục được thành lập năm 1969 thì năm 1970 đã hình thành Nhiệm kỳ I (1970-1974) mà Trung Tâm Văn Bút đã có một thành viên đắc cử Hội viên Thực Thụ, đó là LM. Thanh Lãng.

Qua Nhiệm kỳ II (1974-1978), tôi đại diện Trung Tâm Văn Bút tham gia Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục do sự đề cử của các văn hữu lão thành trong Văn Bút như Vũ Hoàng Chương, Vi Huyền Đắc, Đào Đăng Vỹ, Tam Lang Vũ đình Chí, Lê văn Hoàn, Nghiêm Xuân Việt, Hồ Hữu Tường..v..v…

Sau đó tôi lại phải trải qua một cuộc bầu phiếu giữa các Hiệp Hội Văn Hóa, Văn Nghệ khác nữa thì mới được trở thành Hội viên HĐ/VHGD nhiệm kỳ II (1974-1978) mà trong đó có GS. Phạm Cao Dương là một ứng viên đại diện cho ngành Giáo Dục ( GS Phạm Cao Dương hiện cư ngụ ở Quận Cam, Nam Cali).

Sự thể rõ ràng, minh bạch như thế, can cớ gì tôi phải ú ớ trả lời khi bị chất vấn như lời Viên Linh đã bịa đặt:

Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
“Tại ông Nhất Linh cả!”

Là Chủ Nhiệm tạp chí Khởi Hành, một tạp chí tự mệnh danh là “Tạp chí Văn Học –Lịch Sử”, ông Viên Linh đã bịa đặt và xuyên tạc Văn Học và Lịch Sử một cách trắng trợn như trên, khiến tôi phải đặt câu hỏi : Tư cách và Liêm sỉ ngòi bút của Viên Linh ở đâu mà đến nỗi viết lách một cách gian dối và bịa đặt thảm hại để bôi nhọ người đến như thế.

Chẳng trách khi xưa, ông đã đến nhà Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc (1944-2016) mượn bản thảo tập thơ của Nguyễn Chí Thiện rồi lén đem photocopy để in hớt tay trên của tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, kiếm lời, khiến Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc bị hàm oan trong nhiều năm sau đó.

Nhật Tiến
17-12-2016

***

Ghi chú: Tài liệu về Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục xuất xứ từ nguồn namkyluctinh.org

(http://khaiphong.org) HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC Một Định Chế Quốc Gia của VNCH

Độc Ẩm Cuối Năm. Thơ Hư Vô


ly-ruou-mau-do

(Ly Rượu Màu Đỏ. Tranh sơn dầu của Trịnh Công Sơn)

Cuối năm rót chung tình chung tội
Tôi ngồi độc ẩm với bóng tôi
Đâu có ai về mà chờ đợi
Cụng ly khua vỡ một góc trời.

Uống cho quằn quại đêm cùng tận
Đời còn mấy bận được thấy nhau?
Rót đầy thêm nữa chung vô lượng
(Tửu dạ quang bôi dục kiến sầu!)

Dằn ly dộng lòng khuya khoắt dậy
Thấy trong bọt rượu có linh hồn
Tôi hớp cạn cùng em cuối chạp
Thả buồn trôi dạt mộng mênh mông.

Mà cả đời em là ngọn sóng
Vỗ đắm thuyền tôi giữa vô ngàn
Chung rượu lăn vào đêm linh láng
Chỗ có lần em đã bước ngang…

Hư Vô

Bài Tội Tình Tháng Chạp. Thơ Hư Vô


toi-do

Nếu em không hiện thân Thánh Nữ
Thì tôi đâu khổ tới bây giờ
Hay tại số giang hồ lãng tử
Trời đày lên làm gã tội đồ?

Chân bước xô bồ qua mê lộ
Dấu đinh đóng kín lối nhân tình
Em tựa hình bên cây Thánh Giá
Tôi tần ngần lạ lẫm câu kinh.

Lời tôn vinh hay điềm bất trắc
Để em khóc con mắt bên nào?
Giọt đớn đau chảy vào một phía
Giọt còn ở lại với đời sau.

Tôi lau chưa ráo dòng nước mắt
Đã nghe nhan sắc ngủ trên tay
Tháng chạp dài thêm chương cựu ước
Dắt tôi bước tới một hình hài…

Hư Vô

Hành Trình Đến Tự Do – Nhà Văn Thuyền Nhân Mai Thảo. Ngô Thế Vinh


NGÔ THẾ VINH

Hình 1: Mai Thảo và ký họa của Tạ Tỵ.
Nguồn: E.E – Emprunct Empreinte

“Có lẽ một ngày nào đó Việt Nam sẽ tự do và tôi có thể trở về. Tôi đang hạnh phúc ở đây nhưng nội tâm thì rất buồn bã. Buồn cho dân tộc tôi. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn một tương lai. Xa rời quê hương, thật khó mà duy trì truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như bị đánh mất phần hồn.” Đã 36 năm kể từ ngày Mai Thảo trả lời cuộc phỏng vấn của Jane Katz 7.10.1980, hai năm sau ngày anh đặt chân tới Mỹ và cũng đã 18 năm kể từ ngày anh mất: Việt Nam vẫn chưa có tự do và thân xác anh thì nay đã vùi nông trên một lục địa mới rất xa với một nơi được gọi là quê nhà.

BÀN VIẾT LỮ THỨ MAI THẢO

Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của nhà văn Mai Thảo trên đất nước Mỹ. Chỉ là một căn phòng 209 rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau hẻm nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách. Mai Thảo có nhiều bạn nhưng đây có lẽ là tấm hình “đôi bạn” mà anh rất thích. Về tuổi tác, Vũ Hoàng Chương hơn Mai Thảo một con giáp, cũng vì vậy mà Nguyễn Xuân Hoàng hết đỗi ngạc nhiên khi thấy Mai Thảo gọi Vũ Hoàng Chương là “mày”.

h22

Hình 2: Mai Thảo và Vũ Hoàng Chương.
Nguồn: báo Văn, số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo tháng 2, 1998

Qua lời thuật của Nguyễn Hưng Quốc, hãy nghe Mai Thảo nói về Vũ Hoàng Chương bạn mình ra sao:

“Con người anh ấy lạ lắm. Đúng là một thi sĩ. Mặt mũi lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác như trẻ con. Mà nói chuyện về thơ thì hay vô cùng. Ai cũng là thằng hết. Lý Bạch là thằng. Nguyễn Du là thằng. Một người yêu thơ, thuộc thơ nhiều vô cùng tận.”

Nguyễn Đình Toàn sinh năm 1936, nhỏ hơn Mai Thảo 9 tuổi, cũng vẫn cứ mày tao với Mai Thảo. Để thấy trong sinh hoạt văn học, cùng một lứa bên trời lận đận, họ đã là những bạn văn không biết đếm tuổi.

Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là toà soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh. Mai Thảo giỏi tiếng Pháp, đọc nhiều sách Pháp; anh cũng tiếp cận với nền văn học Mỹ và rất thích các tác giả Mỹ như Henry Miller, Hemingway, John Steinbeck nhưng là qua những bản dịch Pháp ngữ.

Tôi chú ý tới một cuốn sách tiếng Anh khá nổi bật với bìa đỏ trên kệ sách: Artists in Exile, American Odyssey của Jane Katz. Trong cuốn sách ấy, nữ ký giả Jane Katz, đã phỏng vấn các văn nghệ sĩ thế giới tới tỵ nạn trên đất Mỹ. Họ đến từ nhiều quốc gia như Nga, Trung Quốc, Afghanistan, Nam Phi, Á Căn Đình, Việt Nam… Nhà văn Mai Thảo được Jane Katz phỏng vấn và giới thiệu như một “thuyền nhân”, tác giả của 42 cuốn sách tiếng Việt, tất cả đều lưu trữ trong thư viện Đại học Cornell. Cuộc phỏng vấn Mai Thảo, được thực hiện ngày 10 tháng 07, 1980, hai năm sau ngày anh đặt chân tới Mỹ qua thông dịch của anh Nguyễn Thanh Trang, tới từ San Diego, bạn nhà văn Mai Thảo. Tuy là một bài phỏng vấn nhưng không có xen kẽ vào những câu hỏi, nên nội dung như một “tự sự”của Mai Thảo. Jane Katz đã ghi lại cảm tưởng sau cuộc phỏng vấn nhà văn Mai Thảo:

“ Ông phát biểu với một nhân cách trầm tĩnh, và với cả sự kiềm chế sau những năm sống cách biệt – He speaks with quiet dignity, and with the restraint which years of privation have taught him.” (6)

b

Hình 3: Trái, Jacket design by Ted Berstein; Artists in Exile, Jane Katz; Stein & Day Publishers, New York 1983. Phải: chân dung Mai Thảo, photo by Kathryn Oneita, với dòng chữ:
“Khi biển đã lặng thì mọi người bắt đầu cất tiếng ca hát. The sea was calm, and the people began to sing.”

Hình 4: Thủ bút của Jane Katz trên ấn bản đặc biệt tặng nhà văn Mai Thảo

Tôi đã lấy xuống từ kệ sách và mượn anh Mai Thảo cuốn sách với thủ bút của Jane Katz. Tôi lược dịch bài phỏng vấn Mai Thảo và cho phổ biến trên các tạp chí Văn học, và sau này kể cả trên Văn số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo (1) với tên người dịch Tâm Bình. Sau đó, tôi đã đem cuốn sách trả lại trên kệ sách của anh.

Bài phỏng vấn của Jane Katz cũng sẽ đi cùng với bài viết này để tưởng niệm ngày Giỗ thứ 18 của Mai Thảo.

Khi giao tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng năm 1996, cũng là năm đánh dấu sức khoẻ của Mai Thảo bắt đầu suy yếu, anh đi lại khó khăn; tới mức, theo Khánh Trường kể lại, thì một buổi tối khuya về, anh không còn đủ sức leo lên một tầng thang lầu để trở về căn gác trọ thân thuộc trong bấy nhiêu năm. Sau đó Mai Thảo phải dọn xuống một căn phòng khác dưới tầng trệt. Ngay phía lầu trên là căn phòng của hoạ sĩ Khánh Trường. Sức khoẻ Khánh Trường thì cũng không khá gì nhưng đủ sức để chăm sóc anh Mai Thảo khi cần đến. Tín hiệu Mai Thảo gọi Khánh Trường không phải là điện thoại mà thường là một cây gậy gõ gõ lên trần nhà.

h5

Hình 5: Mai Thảo và hoạ sĩ vỉa hè New York, là biệt danh Mai Thảo gọi Khánh Trường.
Nguồn: tư liệu Khánh Trường

Một Khánh Trường giang hồ với Hợp Lưu, một Mai Thảo chính phái với Văn, rất khác nhau cả về tuổi tác và nếp sống nhưng họ lại là một đôi bạn chân tình. Hoạ sĩ Vỉa Hè New York là biệt danh Mai Thảo gọi Khánh Trường. Cũng như một Cao Xuân Huy lính tráng ban đầu rất “kình” với Mai Thảo nhưng sau đó gần anh, trở nên rất thân quý và thương anh Mai Thảo vô cùng. Trong cuốn sách Chân Dung 15 Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, do nhà sách Văn Khoa xuất bản ở hải ngoại [1985], Mai Thảo đã có những nét cực tả về các bạn văn của mình: một Nhật Tiến vẫn đứng ở ngoài nắng, một nhân cách Bình Nguyên Lộc, một Mặc Đỗ quy ẩn, con đường Dương Nghiễm Mậu, đường gươm Lê Tất Điều, Nhã Ca giữa cơn hồng thuỷ… (5)

TẠP CHÍ VĂN TRÊN ĐẤT MỸ

Tên tuổi Mai Thảo gắn liền với Tạp chí Sáng Tạo, cho dù Sáng Tạo có một đời sống tương đối ngắn ngủi.

Nhưng báo Văn thì đeo đuổi Mai Thảo lâu dài hơn, từ trong nước trước 1975, ra tới hải ngoại tới 1996.

Báo Văn khởi đầu từ 1964 với thư ký toà soạn Trần Phong Giao kéo dài được 8 năm. Năm 1972, Văn chuyển qua Nguyễn Xuân Hoàng thay Trần Phong Giao. Năm 1973, Mai Thảo về Văn cùng với Nguyễn Xuân Hoàng trông coi Văn. Năm 1974, Nguyễn Xuân Hoàng rời báo Văn, còn lại Mai Thảo làm tiếp đến 30.4.1975.

Sau hai năm đặt chân tới Mỹ, năm 1982 Mai Thảo cho tục bản tạp chí Văn và kéo dài được 14 năm. Khó có thể tưởng tượng được rằng một mình Mai Thảo trông tờ Văn, anh không lái xe, anh vẫn thuộc trường phái “viết tay” chỉ dùng cây viết chứ không hề đụng tới chiếc máy chữ hay máy điện toán. Kể cả trên mỗi chiếc phong bì gửi báo cho hàng trăm độc giả dài hạn, anh cũng vẫn cặm cụi viết tay. Có người bạn trẻ muốn giúp anh dùng computer in nhãn để không phí thời gian nhưng anh chối từ. Mai Thảo rất tình cảm, anh muốn có mối tương quan gần gũi với từng độc giả qua nét chữ của chính anh trên từng số báo. Mười bốn năm sống với và sống bằng tờ Văn, anh hào hứng mỗi khi khám phá ra một cây viết tài năng mới. Văn cũng là nơi quy tụ lại những cây viết cựu của miền Nam lưu vong ra hải ngoại. Như một Thảo Trường từng viết cho Sáng Tạo, sau 17 năm tù cộng sản rồi qua Mỹ, các sáng tác đầu tay của Thảo Trường viết ở Mỹ, đều gửi cho Mai Thảo đăng trên tạp chí Văn.

Khi nói tới tờ Văn, Mai Thảo tâm sự: “từ mấy năm nay làm lại tờ Văn ở Hoa Kỳ, đời sống lữ thứ hàng ngày thấy đỡ thất lạc, bởi lại được thả trôi trở lại với một không khí toà soạn không khí trị sự, tuy đã khác biệt nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó, trên một góc bàn viết, dưới một ánh đèn sáng, cái không khí đã bao năm tôi sống ở quê nhà, tâm trí tôi thường có nhiều hơn những hồi tưởng về báo quán cũ, là 38 Phạm Ngũ Lão Sài Gòn, ngày trước.” (5)

Đến năm 1996, sau số báo số 158 &159, do sức khoẻ sa sút, Mai Thảo ban đầu trao tạp chí Văn lại cho Du Tử Lê, sau một số báo 160, tờ Văn được Mai Thảo chính thức trao lại cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Nguyễn Xuân Hoàng tiếp tục ra tờ Văn từ số 161 cho đến số 163.

Hình 6: Người khách lữ thứ Mai Thảo Tháng Giêng 1996, bức hình chụp 2 năm trước ngày anh mất.
Photo by Nguyễn Bá Khanh

Đầu năm 1997, Nguyễn Xuân Hoàng ra tờ báo Văn số 1, bộ mới. Kéo dài được 12 năm. Tới năm 2008, tờ Văn số cuối cùng 125-129 cho ba tháng Giêng, Hai và Ba là số đặc biệt về hoạ sĩ Thái Tuấn với bài vở đã layout xong chuẩn bị đưa nhà in, nhưng rồi vì lý do tài chánh Nguyễn Xuân Hoàng đành cho đình bản tờ Văn, cho dù báo Văn vẫn bán được, tuy không đem lại lợi nhuận nhưng không thể để một món nợ lớn đến như vậy với nhà in Kim Select Graphics & Printing trên đường Euclid, mà sau này vợ chồng Nguyễn Xuân Hoàng phải gồng mình gánh trả.

Lý do sâu xa mà không ai muốn nói ra, khi tờ Văn của Nguyễn Xuân Hoàng đình bản, cũng như nhà xuất bản Văn Nghệ của anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết phải ngưng hoạt động vì sách báo thì vẫn bán được nhưng lại không được các nhà sách sốt sắng thánh toán tiền bạc.

Hình 7: từ trái, Mai Thảo, Kiều Loan (con gái Hoàng Cầm), Nguyễn Xuân Hoàng; 1996 cũng là năm Mai Thảo trao tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng.
Nguồn: tư liệu Nguyễn Xuân Hoàng

TẤM LÒNG TỪ BI MAI THẢO

Mai Thảo được mọi người biết tới như một nhà văn, một cây viết tuỳ bút nổi tiếng và sau này là một nhà thơ. Quen biết anh, người ta càng thấy mến con người Mai Thảo hơn. Tấm lòng của Mai Thảo với tha nhân thật đẹp. Anh tốt với mọi người và rất trực tính, nói thẳng trước mặt với người trái ý anh, kể cả lớn tiếng và giận dữ nhưng sau đó thì quên đi, anh không bao giờ để tâm. Trong suốt cuộc đời viết văn, chưa bao giờ Mai Thảo dùng ngòi bút để nói xấu hay chửi bới ai, cho dù không thiếu những bài viết chỉ trích anh nặng nề, có lẽ anh không đọc và cũng không bao giờ trả lời.

Nguyễn Đăng Khánh, người em ruột Mai Thảo viết về anh mình: “Nhiều lần đọc báo thấy người ta mạt sát anh thậm tệ, tôi nóng ruột tới hỏi anh: Tại sao người ta chỉ trích anh nặng nề như thế mà anh không lên tiếng? Anh nói: Sống với người, với đời, phải có lòng. Tấm lòng ở đây là la bonté. Con người không có la bonté là vứt đi. Phải sống thành thật với người, với đời. Vì thế nên tôi không bao giờ dùng ngòi bút của tôi để phê phán, chỉ trích hay nói một điều xấu về ai hoặc để trả lời lại những kẻ mạt sát tôi. Người ta muốn chỉ trích, muốn nói xấu tôi, cứ nói. Khánh thấy người ta chỉ trích tôi trên báo chí vì họ muốn độc giả thấy tên họ đứng trên cùng một trang báo với Mai Thảo. Họ thích như vậy, cứ để cho họ làm, tôi sẽ không bao giờ viết lại.” (3)

Trước đó khá lâu, năm 1989 Mai Thảo cũng có một phát biểu tương tự khi gặp Nguyễn Hưng Quốc ở Paris:

“Đời tôi có một nguyên tắc: không bao giờ dùng văn chương để làm bất cứ điều gì xấu xa. Đâu phải tôi không biết người nào tốt người nào xấu với mình, nhưng tốt hay xấu mặc họ. Người nào tốt, đến gần, uống rượu chơi. Người nào xấu, lánh ra thật xa, đừng thèm đụng tới. Nhưng đừng bao giờ mang những điều đó lên trang giấy để bôi bẩn nhau. Văn chương là cái đẹp, là thế giới của cái đẹp, ở thế giới ấy có thứ tiền tệ riêng của nó: anh phải dùng thứ tiền ấy, anh phải đàng hoàng, phải lương thiện. Thứ tiền tệ ấy chính là cái đẹp.” (4)

Trong bài báo đăng trên Saigon Times “Một Vài Kỷ Niệm với Nhà Văn Mai Thảo” viết vào khoảng cuối năm 1997, khi nhà thơ Thái Tú Hạp vào thăm Mai Thảo tại bệnh viện Fountain Valley. Thái Tú Hạp đã xúc động nhớ lại một câu nói tâm tình của Mai Thảo khi anh còn khoẻ và thường tới quán Doanh Doanh ở cuối con đường Sunset, một quán ăn gia đình rất văn nghệ của vợ chồng Thái Tú Hạp-Ái Cầm có nhạc cổ điển có treo cả một bức tranh sơn dầu lớn của Nguyên Khai:

“Tôi bảo với Hạp một điều, trong đời sống có thể chúng ta không yêu người này, không thích người kia, xỉ vả nhau thẳng thừng trực diện một trận rồi thôi. Bỏ! Đừng lôi nhau lên báo, kỳ lắm. Cõi văn chương hãy để cho nó trong sáng. Hãy xử dụng ngòi bút mình một cách ngay thẳng, tử tế đối với mọi người…”

Trong cuộc phỏng vấn ngày 5 tháng 6 năm 2008, mười năm sau khi Mai Thảo mất, câu hỏi cuối cùng của Thuỵ Khuê với Trần Vũ, “Anh muốn nói điều gì nữa về Mai Thảo? Trần Vũ nhớ lại: lúc sinh tiền, Mai Thảo thường nhắc: «Em không dụng chữ cho mục đích phi văn chương. Không chửi ai cả. Văn chương không phải là chỗ cho em bựa. Em không được quyền.» Những khi cáu, ông gắt um. Không phải một lần, mà nhiều lần, lời khuyên, mệnh lệnh. Bây giờ Mai Thảo mất rồi, tôi cũng không còn trẻ nữa, nhưng những khi nghĩ đến ông, tôi lại nhớ đến lời dặn này. Hôm qua, bây giờ, tôi vẫn giữ tròn lời hứa với trưởng thượng của mình.”

Cả một đời sống với chữ nghĩa, vẫn cứ mãi là một Mai Thảo nhất quán, luôn luôn là người bảo vệ sự trong sáng và thanh thoát của cõi văn chương. Không tu hành nhưng Mai Thảo sẵn có một tâm Phật.

Rồi chợt nhớ tới hai câu trong bài thơ Em Đã Hoang Đường Từ Cổ Đại trong tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền của Mai Thảo:

Tâm em là Bụt tâm anh Phật
trên mỗi tâm ngồi một nhánh hương

NHỮNG NGÀY THÁNG NẰM VIỆN

Trao lại tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng rồi, chẳng bao lâu sau đó, sức khỏe Mai Thảo mau chóng suy kiệt, có lúc anh đã không còn đủ sức ra khỏi căn buồng trong khu chung cư cho dù anh đã dọn xuống tầng trệt. Nỗi cô đơn và dấu hiệu bệnh tật thật sự đã có từ mấy năm trước khiến Mai Thảo đã làm bài thơ “Dỗ bệnh”:

Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng

Khi không còn “dỗ bệnh” được nữa, là tới lúc Mai Thảo phải rời chiếc bàn viết lữ thứ, rời căn phòng phía sau nhà hàng Song Long để luân phiên vào các bệnh viện Fountain Valley Orange County, Good Samaritan Los Angeles và rồi Barlow Hospital và anh đã chẳng có dịp trở lại chốn cũ.

Hình 8: khu chung cư cao niên Bolsa phía sau nhà hàng Song Long; căn phòng 209, địa chỉ báo Văn và bàn viết lữ thứ của Mai Thảo.
Photo by Ngô Thế Vinh.

Good Samaritan là bệnh viện tôi tới thăm anh. Nơi đây tôi gặp Nguyễn Phúc Vĩnh Khiêm, người bác sĩ trẻ chuyên khoa tim mạch đang trực tiếp chăm sóc anh. Khiêm từ bé học trường Pháp rồi lớn lên học y khoa ở Mỹ nên không biết gì về văn chương Mai Thảo, nhưng qua thân phụ, Khiêm được biết mình đang được chăm sóc một người bệnh tên Nguyễn Đăng Quý, là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng với bút danh Mai Thảo.

Cũng tại bệnh viện Good Samaritan này, Khiêm đã thông tim cho Thượng toạ Thích Mãn Giác tức thi sĩ Huyền Không, Khiêm cũng là thành viên trong toán mổ tim lần thứ hai cho nhà văn Võ Phiến. Vì cùng trong lãnh vực chuyên môn, tôi có nhiều dịp trao đổi với Khiêm về tình trạng sức khoẻ anh Mai Thảo. Về hô hấp anh cần dưỡng khí qua ống thở, về dinh dưỡng do không ăn được anh được nuôi bằng chất thực phẩm lỏng bơm qua một G-tube vào dạ dày. Thời gian này sự sống của anh phụ thuộc vào máy móc và toán chăm sóc đặc biệt. Sau một thời gian nằm qua các bệnh viện, sức khỏe Mai Thảo ổn định nhưng hồi phục thì rất chậm do tổng trạng quá yếu, hậu quả của nhiều năm uống rượu mà không ăn và hút thuốc nên bị suy dinh dưỡng trầm trọng và cả suy hô hấp.

h9

Hình 9: tập thơ thứ nhất Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền; hình bìa Trần Cao Lĩnh, Nxb Văn Khoa 1989; và thủ bút Mai Thảo.
Ảnh: tư liệu Ngô Thế Vinh

Nguyễn Mộng Giác khi cùng với hai chị Bùi Bích Hà và Trần thị Lai Hồng khi vào thăm Mai Thảo tại bệnh viện Barlow Los Angeles, bằng trực giác của một nhà văn anh đã có ý nghĩ: “dù không có kiến thức y khoa, chúng tôi đều cảm thấy anh Mai Thảo đang đi trên con đường một chiều, không có cơ may nào quay trở lại đời sống bình thường như trước.” (1)

Sau khi ra khỏi được ống thở, không còn cần thiết phải nằm trong một bệnh viện “acute care” Mai Thảo được chuyển về một khu chăm sóc Phục Hồi Quận Cam. Anh không mắc một căn bệnh nan y nào, dù uống rượu bấy nhiêu năm anh vẫn có một lá gan bằng sắt nhưng Mai Thảo thì cứ như một thân cây khô héo dần cho tới ngày 10 tháng Giêng năm 1998 thì anh mất.

Nhớ lại khi Mai Thảo vừa mất, Đỗ Ngọc Yến có ý tưởng lập ngay một giải văn chương Mai Thảo. Tôi nói với Yến, trước khi nói tới một giải văn chương mang tên Mai Thảo, việc nên làm ngay là giữ lại chiếc bàn viết lữ thứ của anh ấy, như một nét văn hoá của Little Saigon.

Sau khi anh mất, cả không gian sống của Mai Thảo, cuối cùng được người em trai là anh Nguyễn Đăng Khánh đến thu dọn, tất cả chỉ đủ xếp vào mấy chiếc thùng giấy. Và đã không còn đâu dấu vết chiếc bàn viết lữ thứ của một nhà văn “thuyền nhân” lưu vong có tên Mai Thảo.

Người Việt phiêu bạt từ khắp năm châu, khi hành hương tới thủ đô tỵ nạn không lẽ chỉ để thấy một khu Phước Lộc Thọ, chỉ có một tiệm sách Văn Khoa thì nay cũng không còn nữa. Một người bạn cùng gia đình và đàn con thế hệ thứ hai đến từ xứ tuyết Toronto, nhận định là tới Little Saigon không lẽ chỉ để dẫn chúng nó vào những tiệm phở, ngắm bảng hiệu mấy văn phòng bác sĩ hay luật sư. Anh ấy muốn nói tới một Công Viên Văn Hoá Việt Nam.

JANE KATZ PHỎNG VẤN MAI THẢO

Và sau đây là bản lược dịch của người viết từ nguyên bản tiếng Anh, “Những Nghệ sĩ Lưu vong, Hành trình tới Mỹ Quốc” trích từ cuốn sách Artists in Exile, American Odyssey của Jane Katz do Stein & Day Publishers, New York xuất bản 1983. (6)

Tôi sinh năm 1930* tại tỉnh Nam Định, Bắc Việt Nam. Cha tôi là một điền chủ thành đạt, ông được dân làng kính trọng. Ông là chủ gia đình, mẹ tôi thì ở nhà với những người giúp việc. Tôi và các anh em tôi đều rất tuân phục cha tôi.

Sau khi có người Tây phương xâm nhập, đã có tình trạng bất hòa giữa thế hệ trẻ và già. Nhưng những người ngoại quốc ấy đã không thể phá vỡ nền tảng gia đình của đất nước chúng tôi. Đó là một trật tự lâu đời không ai có thể hủy hoại.

Cha tôi quản lý các trang trại. Ông giàu có nên không để chúng tôi làm công việc đồng áng. Tôi phải tới trường đi học, nhưng sau lớp học thì tôi lại rong chơi ngoài đồng ruộng. Với những con trâu kéo cày trên những thửa ruộng nơi châu thổ sông Hồng. Đồng cỏ thì phì nhiêu và xanh tươi. Một số người trong làng thì làm công cho cha tôi, một số khác có ruộng đất riêng của họ.

Dân tộc tôi yêu đất đai, họ tin rằng có hương hồn tổ tiên trong đó. Mọi gia đình đều làm việc ngoài đồng áng, không có ai phải đói kém.

Khi tôi được 10 tuổi thì cha tôi bị mất hết ruộng vườn. Gia đình tôi phải rời về Hà Nội. Thật là khó khăn cho cha tôi phải rời bỏ đất đai của tổ tiên và làng mạc. Trong làng ông quen biết mọi người. Ông đã có một căn cước ở đó mà ông không thể tìm thấy lại nơi thành phố.

Ở Hà Nội, tôi được thấy thành quách và những ngôi chùa cổ qua các triều đại từ những thế kỷ thứ 8 và thứ 10. Một ngôi chùa có tên Ngọc Sơn, một ngôi đền khác có tên là Quan Thánh. Trung tâm thành phố là một hồ lớn, nơi mọi người gặp nhau sau một ngày dài làm việc. Vào mùa hè thì chúng tôi đi biển.

Cho dù sống ở đô thị, chúng tôi vẫn giữ các tập tục cổ truyền như kính trọng người già, tưởng niệm các ngày lễ theo truyền thống.

Tinh thần quốc gia là một phần của truyền thống Việt Nam. Trong một ngàn năm, người Việt bị người Tàu đô hộ, với ảnh hưởng trên nền giáo dục và tư tưởng nhưng người Việt chưa bao giờ bị hoàn toàn khuất phục. Rồi tới thế kỷ 19, khi người Pháp đánh chiếm nhiều tỉnh của Việt Nam, thiết lập nền hành chính đô hộ, mở trường học và các cơ sở dân sự điạ phương.

Năm 16 tuổi, tôi gia nhập phong trào kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi tổ chức những chương trình ca nhạc kịch trong các làng xóm để khích động lòng yêu nước. Chúng tôi viết những câu chuyện về lịch sử và khát vọng tự do. Tôi đã từ bỏ kháng chiến 4 năm sau đó khi biết được Cộng sản đã xử dụng phong trào kháng chiến để phá vỡ trật tự xã hội cổ truyền và cổ võ cho đấu tranh giai cấp.

Chiến tranh Việt Pháp chấm dứt năm 1954 và đất nước bị phân đôi. Gia đình chúng tôi di cư vào Sài Gòn. Đó là một hình thức phản kháng những người Cộng sản. Cha tôi không tin họ và họ cũng không tin cha tôi. Dưới thống trị của Cộng sản, dân chúng hết quan tâm về nghệ thuật. Làm sao có thể vẽ tranh khi mà thường ngày phải lo từng miếng ăn? Trí thức thì bị khống chế và thường bị cưỡng bức vào quân đội.

Từ năm 1958, khởi sự có đối đầu công khai giữa hai miền Việt Nam: miền Bắc là chế độ Cộng sản hậu thuẫn bởi Trung Cộng và Liên Xô và miền Nam không Cộng sản hậu thuẫn bởi Hoa Kỳ và các nước đồng minh.

Thường xuyên có chiến dịch tuyên truyền của cả đôi bên. Miền Bắc thì rêu rao là đang giải phóng miền Nam chống lại đế quốc Mỹ, còn chính phủ miền Nam thì đang chống lại sự thống trị của Trung Cộng và Liên Xô. Cộng sản thực hiện cuộc chiến du kích ẩn náu trong rừng sâu. Máy bay Mỹ thì rải chất độc khai quang để bắt địch quân phải lộ diện. Họ cũng đã gây nhiễm độc cho rừng núi, cây cối, xúc vật và nguồn thực phẩm.

Trí nhớ của tôi về những năm chiến tranh còn rất sống động. Tôi vẫn còn thấy được những căn nhà bị đánh bom, cây cối thì cháy lá và trơ cành, một ngôi đền cổ bị bốc cháy, những trẻ con bụng ỏng, mất mắt hay cụt chân, bà cụ già không nhà cửa thì đi lang thang như người mất hồn…

Tôi viết văn từ năm 1950. Ở xứ sở tôi, nhà văn nhà giáo rất được kính trọng. Sách của tôi được các công ty nhỏ tư nhân xuất bản ở miền nam Việt Nam, rất phổ biến, một số sách đã trở thành “best-sellers” nhưng để sống bằng nghề cầm bút rất khó. Tôi viết rất nhiều truyện và tiểu thuyết. Chúng tôi không có nhiều dịch giả, các sách của tôi không được dịch ra ngoại ngữ. Tôi cũng làm chủ bút một vài tờ báo và tập san văn chương.

Tôi có đọc các nhà văn Mỹ mà tôi rất thích như: Henry Miller, Hemingway, John Steinbeck – qua những bản dịch tiếng Pháp. Các tác giả này không ảnh hưởng tới văn phong của tôi. Nền văn học của chúng tôi rất khác. Chúng tôi có truyền thống văn học riêng từ ngàn năm. Nền văn học của chúng tôi rất quy cách, với mục đích: thăng tiến xã hội.

Có một truyện ngắn tôi đã viết và ưa thích có tựa đề là “Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời”. Một người đàn ông và một người đàn bà chung sống trong một căn nhà nhỏ bên suối. Người đàn bà thì không hiểu tại sao người đàn ông đã bỏ đi. Hành trình của người đàn ông là leo lên tới đỉnh cao nhất của một ngọn núi Phương Đông. Ông muốn biết ngọn núi ấy cao bao nhiêu; ông đi tìm kiếm một chân lý tuyệt đối và hạnh phúc. Khi tới được đỉnh cao nhất của ngọn núi thì ông ta tuyệt vọng vì ý thức được rằng chân lý tuyệt đối thì không bao giờ có thể đạt được. Người đàn bà đi tìm kiếm và thấy xác người đàn ông nằm bên bờ suối. Không ai biết người đàn ông đã chết như thế nào. Người đàn bà đưa xác người đàn ông về làng và tự hỏi tại sao người đàn ông chết. Và cuối cùng người đàn bà nghiệm ra rằng trên đường đi tìm chân lý, người đàn ông đã chọn cái chết.

Như một nhà văn, tôi đề cập tới vấn đề nhân sinh; tôi không có ý đi tìm một giải pháp. Đa số các sách và truyện của tôi dựa trên kinh nghiệm bản thân hay của những người mà tôi quen biết. Sự kiện ghi nhớ trộn lẫn với hư cấu. Văn phong – style, là điều quan trọng.

Người Mỹ rút khỏi Sài Gòn năm 1975. Do các bài viết chống cộng trước đó, tôi bị liệt kê trong sổ đen những nhà văn có nguy hại cho chế độ. Hầu hết các nhà văn có tên trong danh sách ấy đều bị bắt đi tù, nhiều người bị chết trong tù vì thiếu ăn, thiếu thuốc men.

Tôi thì may mắn hơn, được dân chúng chăm sóc và che chở. Không có tình thương yêu của họ tôi đã không thể sống còn ở Việt Nam.

Cộng sản ra thông báo là bất cứ ai tán trợ những nhà văn có tên trong sổ đen sẽ bị bắt giữ. Hệ thống an ninh của họ rất chu đáo. Họ chỉ định những người hàng xóm canh chừng nhau và báo cáo lên chính quyền địa phương. Nhưng vẫn có nhiều người liều mạng để che chở cho tôi. Họ che dấu tôi trong 8 căn nhà khác nhau trong vòng hai năm trời. Tôi sống trong hầm tối vì bất cứ ánh sáng hay sinh hoạt nào bị hàng xóm phát hiện sẽ gây hiểm nguy cho gia chủ. Phải là những căn nhà không có trẻ em vì các gia đình luôn luôn dạy con em không được nói dối. Cộng sản đã lục soát một số nhà nhưng không hiệu quả, và họ đã không tìm ra tôi.

Tôi sống như một con vật trong bóng tối, ẩn mình trong suốt hai năm. Có những đêm hoàn toàn mất ngủ, những ngày giống nhau buồn chán. Một người bạn đem đến cho tôi cỗ mạt chược và tôi chơi cùng một lúc ở cả hai phe. Đôi khi quá tuyệt vọng, tôi phải tìm cách ra ngoài, một cách bí mật trong bóng đêm. Đôi khi tôi không thể tưởng tượng rằng mình đã phải sống trong những điều kiện như vậy. Có lúc tôi cảm thấy tuyệt vọng, và tưởng tượng rằng sẽ có một giấc ngủ dài và không trở dậy nữa. Nhưng người Việt có thói quen chịu đựng và vượt qua. Tôi sâu sắc cảm thấy nhà văn là thuộc xã hội và quần chúng mà họ đang sống với. Với những người đã cùng nhau hợp tác cứu sống tôi, tôi thấy mình phải can đảm để xứng đáng với sự trợ giúp mà tôi đã nhận.

Tôi không phải là Phật tử cho dù gia đình tôi theo Phật giáo. Nhưng là một nhà văn và là một người suy tưởng, tôi phải nhìn lại đời sống mình và cố gắng tìm ra những ý nghĩa. Trong nhiều giờ mỗi ngày tôi đã tịnh tâm và suy niệm. Đặc biệt trong hoàn cảnh như vậy, người ta phải đi tìm sự thật và ý nghĩa của cuộc sống. Tôi đã có cơ hội đó. Tôi tin rằng mỗi chúng ta có một thượng đế trong chính mình. Một người có thể tự cứu rỗi đời sống chính mình qua những hành động và suy nghĩ. Sự tỉnh thức này luôn luôn có ở trong tôi.

Vào cuối năm 1977, có các tổ chức tư nhân giúp người vượt biên. Họ liên lạc với tôi và bảo tôi cứ chờ ở nơi đang ẩn lánh. Tôi hiểu rằng đào thoát là một dịch vụ tốn kém mà tôi thì không có một xu. Tôi không có cách nào liên lạc với gia đình mà không gây nguy hiểm cho họ. Tôi chờ đợi. Vào một đêm tối trời, một người mặc áo đen đi xe Honda, đậu dưới một gốc cây sau căn nhà, hướng dẫn tôi ngồi lên xe gắn máy và lặng lẽ chạy ra hướng bờ sông Sài Gòn, nơi có một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đang chờ. Tôi được bảo nên chèo ghe, giả bộ như một ngư dân. Sau 2 hoặc 3 giờ đồng hồ, tôi lại được chuyển sang một thuyền máy trên biển. Bây giờ thì người đàn bà chủ tàu bảo tôi có thể hút thuốc. Tôi nhìn một lần chót thành phố Sài Gòn và bật khóc vì hiểu rằng tôi chẳng còn bao giờ thấy lại nữa. Người dân miền Nam, hết sức gắn bó với một thành phố mang tên Sài Gòn. Tôi có cảm tưởng đã quay lưng lại với di sản của chính mình.

Trên biển cả, tôi có cảm giác được phóng thả. Tôi đã là một con người tự do.

Đó là một đêm tối đen không trăng. Chúng tôi ra được biển khơi nhưng nhưng lại có một cơn bão thổi tới từ Phi Luật Tân, vật vã con tàu nhỏ, bắt buộc chúng tôi phải trở lại bờ. Tôi trở lại nơi ẩn náu. Vài ngày sau đó, tôi được tin cha tôi chết ở tuổi 82. Đối với tập tục Á Đông, một đứa con phải về chịu tang lễ của bố mẹ hoặc mang trong tội bất hiếu. Nhưng các anh tôi khuyên tôi không nên về nhà vì đang bị theo dõi và tôi có thể bị bắt. May mắn là tôi đã bí mật tới thăm được mộ cha tôi, đọc lời cầu nguyện tỏ lòng tưởng nhớ và điều ấy đã làm dịu nỗi đau.

Rồi có chiếc xe gắn máy khác tới trong đêm tối. Chuyến đào thoát thứ hai nguy hiểm hơn lần trước. Chiếc thuyền đánh cá nhỏ đưa tôi tới một chiếc chòi, tôi phải núp ở đó suốt 2 ngày trong vùng xình lầy có cây che khuất. Cuối cùng thì một chiếc ghe tới đưa tôi ra khơi và trong đêm tối, tôi được chuyển qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn. Bất chợt, có một tín hiệu đèn và không tiếng động. Một toan tính kỹ lưỡng và cả nhiều may mắn. Tôi bước lên một con tàu sức chứa 20 người nhưng số người lên tàu là 58. Chúng tôi phải rất tiết kiệm nước và gạo vì không có chỗ chứa. Mọi người ăn uống rất ít và không có ai chết.

Hình 10: nhà văn thuyền nhân Mai Thảo đến bến bờ tự do Pulau Besar, Mã-lai 12.1977.
Nguồn: internet

Trên tàu gồm những người tỵ nạn chính trị, sinh viên học sinh, người già, các gia đình với trẻ thơ. Chúng tôi trải qua 6 ngày đêm. Mọi người đều đói và khát, một số ngã bệnh. Khi chúng tôi tới gần Mã Lai, biển lặng, trời trong, và mọi người bắt đầu cất tiếng hát. Họ yêu cầu tôi ngâm một bài thơ. Tôi đọc bài thơ của một người bạn nói về một người đàn ông rời nhà ra đi mà không có một ai tới nói lời giã từ.

Tới Mã Lai nhưng họ không muốn tiếp nhận chúng tôi. Các giới chức tỏ vẻ không thân thiện, do đã có quá nhiều tàu tỵ nạn tới đây. Là một quốc gia nghèo, họ không thể cưu mang tất cả. Mỗi lần chúng tôi cố cập bến, họ đẩy chúng tôi ra xa. Cuối cùng, một ngư phủ Mã Lai ra dấu cho chúng tôi; họ bảo cứ ủi tàu vào bãi, nếu tàu bị vỡ hư hại thì họ phải nhận chúng tôi. Chúng tôi đã làm như vậy và có hiệu quả. Con tàu chở chúng tôi bị vỡ. Chúng tôi giúp trẻ em, người già bệnh hoạn lên bờ. Viên chức cứu trợ Liên Hiệp Quốc tới gặp chúng tôi, tặng tiền để chúng tôi mua thực phẩm. Món hàng đầu tiên mà tôi mua là một bao thuốc lá. Họ đưa chúng tôi tới trại tỵ nạn. Trại rất đông nhưng có đủ thực phẩm và lều trú và chúng tôi thì tự do.

Chúng tôi không bị giam hãm trong trại. Tôi bắt đầu yêu mến người dân Mã Lai. Trong trại có đài phát thanh và tôi được yêu cầu viết bài và đọc cho chương trình. Tôi cũng giữ chức chủ tịch trại.

Tôi tới Mỹ vì đã có hai em tôi ở đó, và tôi cũng có quen biết với số nhà văn Việt Nam tới trước. Bây giờ tôi đang viết về kinh nghiệm của chính mình. Tôi hy vọng các tiểu thuyết của tôi được dịch sang tiếng Anh. Tôi cũng đang vận động trả tự do cho các văn nghệ sĩ còn bị cầm tù ở Việt Nam. Tôi e rằng nền văn học nghệ thuật của chúng tôi sẽ bị tiêu vong.

Tôi gửi tiền về cho mẹ tôi. Tôi mong bà sẽ sang đây nhưng bà thì không muốn là gánh nặng cho các con ở Mỹ. Và bà cũng không muốn chết ở một nơi xa quê nhà.

Tôi muốn nói với với thế giới rằng hai mươi năm chiến tranh đã tàn phá đất nước tôi. Nhà cửa đường xá có thể xây dựng lại, nhưng vẻ đẹp của đất đai và tâm hồn dân chúng thì không. Khi chúng ta đang nói chuyện nơi đây, sự hủy hoại vẫn tiếp diễn dưới chế độ Cộng sản.

Có lẽ một ngày nào đó Việt Nam sẽ tự do và tôi có thể trở về. Tôi đang hạnh phúc ở đây nhưng nội tâm thì rất buồn bã. Buồn cho dân tộc tôi. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn một tương lai. Xa rời quê hương, thật khó mà duy trì truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như bị đánh mất phần hồn.

Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey (6)

* Ghi chú của người viết: Mai Thảo sinh ngày 8 tháng 6 năm 1927, chi tiết Mai Thảo sinh năm 1930 trong bài phỏng vấn của Jane Katz có lẽ không chính xác.

h1125

Hình 11: Người muôn năm cũ, từ phải: Thanh Tâm Tuyền 2006, Đinh Cường 2016, Mai Thảo 1998, Ngọc Dũng 2000.
Nguồn: tư liệu Đinh Cường

TIỂU SỬ MAI THẢO VÀ TÁC PHẨM

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, sinh ngày 8/6/1927 tại chợ Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam định rồi Hà nội (học các trường Đỗ Hữu Vị, Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng Yên.

Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà Nội tản cư về quê chợ Cồn, sau đó Mai Thảo vào Thanh Hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên khu III, IV đến chiến khu Việt bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến về thành. 1954, di cư vào Nam.

Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương tạp chí Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông báo Văn.

Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển tới Pulau Besar, Mã lai. Đầu năm 1978, sang định cư tại Hoa-kỳ. Ban đầu cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam trên Seattle và một số báo khác tại hải ngoại.

Tháng 7/1982 anh cho tục bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ngày 10/1/1998 Mai Thảo mất tại Santa Ana, California, thọ 71 tuổi.

TÁC PHẨM

Nhà nghiên cứu và thư viện học Phạm Trọng Lệ, trên báo Văn số Tưởng mộ Mai Thảo tháng 2/1998 đã sưu tầm một thư mục Mai Thảo, trong đó có ghi số trương mục những tác phẩm được lưu trữ tại các thư viện ở Hoa Kỳ, và được Thuỵ Khuê bổ xung phân loại sau đó. (2)

Đoản thiên:

Đêm giã từ Hà-nội (Người Việt, 1955) Tháng giêng cỏ non (1956), Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963), Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965), Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966), Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967), Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968), Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969), Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969), Tùy bút (1970), Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà-nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970), Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987), Một đêm thứ bẩy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988) Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989), Chân bài thứ năm (Nam Á, Paris, 1990), Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990).

Truyện dài:

Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963), Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác), Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964). Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966). Đêm kỳ diệu. Cùng đi một đường (1967). Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968), Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968), Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969), Lối đi dưới lá (1969), Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969), Thời thượng (Côi Sơn, 1970), Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970), Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970), Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970), Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971), Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971), Một ngày của Nhã (1971), Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971), Sóng ngầm (Hoa biển, 1971), Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972), Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn đình Vượng, 1972), Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972), Gần mười bẩy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972), Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972), Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Tình yêu mầu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973), Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973), Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973), Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974), Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974), Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Nhận định, hồi ức:

Chân dung mười lăm nhà văn, nhà thơ Việt Nam (Văn Khoa, 1985)

Thơ:

Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989).

ĐI THĂM MAI THẢO

Buổi sáng ngày lập đông, nam California vẫn là một ngày nắng đẹp tuy hơi se lạnh. Chúng tôi, anh Từ Mẫn nguyên giám đốc Nxb Lá Bối rồi Văn Nghệ, anh Phạm Phú Minh nguyên chủ bút Thế Kỷ 21 rồi Diễn ĐànThế Kỷ, cùng hẹn nhau đi thăm mộ anh Mai Thảo. Riêng nhà thơ Thành Tôn, người có đầy đủ nhất các tư liệu về Mai Thảo vì bận bất ngờ không đi được.

h1210

Hình 12: Mộ chí Mai Thảo với 4 câu thơ trích từ tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền; trên bia mộ là tờ Văn số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo, tư liệu của Thành Tôn

h1310

Hình 13: anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết (phải) và anh Phạm Phú Minh thăm mộ Mai Thảo 04.12.2016
[photo by Ngô Thế Vinh]

Mộ Mai Thảo trong khu vườn Vĩnh Cửu, gần nhà Thuỷ Tạ. Cô nhân viên của Peek Family nhận biết ngay tên nhà văn Mai Thảo, và cho biết thường chỉ có khách phương xa tới thăm. Quanh mộ Mai Thảo cỏ mọc xanh non, riêng tấm bia mộ bằng đá đen trải qua 18 năm vẫn nguyên vẹn với chân dung Mai Thảo và phía dưới có trạm khắc 4 câu thơ từ tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền:

Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi

Đặt mấy nhánh hồng trên mộ chí anh Mai Thảo, cùng với số báo Văn đặc biệt Tưởng Mộ anh, thắp mấy nén nhang với khói hương trầm toả khắp. Thăm anh Mai Thảo và nhớ tới anh với câu thơ Nguyễn Du: Thác là thể phách còn là tinh anh.

NGÔ THẾ VINH
California, 12.2016

______
Tham Khảo:

1/ Nguyễn Xuân Hoàng, Nhớ Mai Thảo; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

2/ Phạm Trọng Lệ, Bảng Thư Mục Tác Phẩm của Mai Thảo; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

3/ Nguyễn Đăng Khánh, Mai Thảo Anh Tôi; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

4/ Nguyễn Hưng Quốc, Vài ghi nhận về Mai Thảo; VOA 12.01.2011

_http://www.voatiengviet.com/a/ghi-nhan-ve-mai-thao-2-01-12-2011-113379499/892744.html

5/ Mai Thảo, Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam,

Nxb Văn Khoa 1985

6/ Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey; Stein & Day Publishers, NY 1983

(Nguồn:http://khaiphong.org/showthread.php?16722-H%C3%A0nh-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BA%BFn-t%E1%BB%B1-do-%E2%80%93-nh%C3%A0-v%C4%83n-thuy%E1%BB%81n-nh%C3%A2n-Mai-Th%E1%BA%A3o&s=53a04cfbb250a9819d06249dbd04b9a9)

 

Previous Older Entries Next Newer Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: