Sài Gòn Thủ Đô Văn Hoá Việt Nam. Mai Thảo


Mai Thảo

Sài gòn thủ đô văn hóa Việt Nam: Không phải là một danh từ, một câu nói xuông nhạt. Không phải là một ảnh hình trừu tượng. Không phải là một ảo tưởng mong manh còn nằm trong ngày tới xa thẳm. Không phải là một ý niệm khát khao đợi chờ. Đã là một thực thể được minh định : Văn Hóa Việt Nam thực hiện hôm nay và sẽ được kiện toàn trong ngày tới đã có được một trung tâm xuất phát và sinh thành: Thủ đô Sài Gòn.

Thực thể lòa chói này được biểu tỏ rõ rệt xâu đậm, ngày lại ngày.

Ánh sáng của Văn Hóa cháy lên hôm nay từ giữa lòng đời sống lớn rộng của dân tộc là một giòng máu bừng bừng mãnh liệt luân lưu trong một cơ thể chứa đựng cái vô hạn của những năng lực sáng tạo trẻ mạnh phong phú. Giòng máu bắt nguồn từ trái tim. Sài Gòn xuất hiện trên những kinh rạch tăm tối ngày nào, đã đổi thay để có thêm một hình thể tinh thần nữa: hình thể của một trái tim đập mạnh, với những đường máu, những lối ánh sáng đan chen nhau, tỏa đi trên toàn thể, toàn diện.

Không còn là chân tay, Sài Gòn đã là một trái tim. Những biến cố trọng đại của lịch sử đất nước từ một ngày nào đã chuyển đổi trọng tâm sinh hoạt dân tộc, và Sài Gòn đang phát triển, thay thế cho một Hà Nội đã tàn lụi, đã nghiễm nhiên biến thành một thứ cứ điểm chính yếu quy tụ mọi thiện chí xây dựng và mọi nỗ lực đóng góp của những hoạt động văn-hóa hiện hữu, trên mọi ngành mọi mặt.

Từ người du khách ngoại quốc đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, đến những chuyến tầu vượt đại dương vào hạ neo trên mặt nước phẳng lặng của thương khẩu thành phố, đến những con người xa cách không biết bao nhiêu trùng dương, lúc mở nút điện nghe một tiếng nói, một giọng hát, một bản nhạc truyền thanh qua không gian, hoặc đọc một cột báo tường thuật ghi chép những chứng tích của Văn Hóa – nghĩ đến Việt Nam – đều mang trong tâm hồn hình ảnh đằm thắm của thành phố lớn rộng đã trở nên trung tâm sinh hoạt và phát huy của tất cả mọi lực lượng tinh thần đất nước giữa mùa kiến tạo.
Thành phố đổi khác. Thêm một tấm áo của Văn-Hóa khoác lên mình tấm áo của thiên nhiên. Nắng nhiệt đới chói chang vàng diệp bừng cháy thêm một thứ ánh sáng văn hóa càng ngày càng thắm thiết rực rỡ.

Không phải chỉ là những công trình kiến trúc với những đại lộ rộng thẳng, những ngã tư trùng điệp xe cộ, những công viên xanh mướt mầu cỏ bóng lá, những xưởng may vang vọng nhịp điệu sản xuất, những trường học, chợ búa sinh hoạt thường xuyên. Không phải chỉ là một khoảng không gian tập hợp một dân số đông đảo có chung một gốc nguồn, một lịch sử, một tương lai. Không phải chỉ là một thương cảng lớn đón nhận và gửi đi những kiện hàng những chuyến tầu.
Sài Gòn còn là thủ đô Văn-Hóa Việt Nam.
*
Từ một điểm son bé nhỏ vô nghĩa ghi trên tấm bản đồ hình thể xứ sở, đến những công trình xây dựng bề mặt, thành phố dựng lên theo chiều cao đang tỏa đi theo chiều rộng và thấm lắng xuống chiều sâu, để từ một đô thị miền Nam biến thành một thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước.

Sài Gòn đã đứng vào vị trí. Đã nhận nhiệm vụ mình. Sau khi Hà Nội đã từ bỏ vị trí nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa vượt vĩ-tuyến đã sáng lên ở đây, hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ mạnh sẵn có, Thành phố hòn ngọc của Á Châu tinh hoa của đất nước đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt nhất của một mùa văn hóa mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ, hệ thống.
Những công trình nghệ thuật đang được thể hiện song song với những công trình khoa học, kỹ-thuật. Thành phố từ một mảnh đất mầu mỡ trở nên một kho tàng. Đời sống đang đóng góp cho kho tàng này. Sự đóng góp về từ khắp nơi. Nhìn thấy ánh sáng văn hóa phát xuất trên bờ Cửu Long, chảy qua đại dương, băng qua lục địa, những con người văn hóa Việt Nam trên toàn thể thế giới đã ý thức được sự chuyển đổi trọng tâm, đã xuống một chuyến tầu biển, lên một chuyến máy bay vượt không gian về đặt chân xuống Thủ Đô Mới, hiến dâng phần kiến thức chuyên môn của mình vào cuộc dựng xây văn hóa. Người vẫn ở đây, người về từ hải ngoại, người đến qua vĩ tuyến, chung lưng trong sự nghiệp xây dựng toàn thể. Những chứng tích mới. Những phát minh mới. Kho tàng văn hóa đầy dần.

Thủ Đô lộng lẫy về hình thức, càng thêm rực rỡ tinh anh. Ánh sáng văn hóa hồng cháy, tỏa rộng, bốc lên, lan đi xa rộng. Ánh sáng của nghệ thuật, của khoa học, ánh sáng của đời sống, của con người là ánh sáng của thủ đô hôm nay. Ngọn lửa mới của văn hóa có một sức tác động lấn át cả thứ ánh sáng cố hữu của thiên nhiên trong xanh giữa mùa nắng lớn.

Từ hải ngoại, từ nội địa, ở khắp mọi miền núi rừng đồng nội, trên khắp các khu vực của đất nước, những xu hướng và khả năng tỉnh thần đều nghiêng xuôi về thủ đô miền Nam trở nên thủ đô toàn quốc, như những giòng suối chảy về một hội trùng dương. Những đoàn ghe thuyền ngược giòng những nhánh sông đầy của Tiền Giang Lục Tỉnh ăm ắp thóc lúa khoai sắn của những bàn tay cần lao của những miền đất đai phì nhiêu, ngày đêm suôi về những bến xá nằm trong phạm vi trung tâm văn hóa. Những ngả đường từ cao nguyên đổ xuống, những ngả đường từ duyên hải đi lên, đều mang hình ảnh của những giòng máu chảy về trái tim, những giây thần kinh chảy về đầu óc.

Trái tim, đầu óc là thành phố. Là trung tâm văn hóa. Là Sài Gòn. Sài Gòn sáng tạo và suy tưởng.
*
Người trở về từ hải ngoại giữa mùa mưa 56. Tôi đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất từ mùa nắng 54. Những người bạn đường đã sinh trưởng ở đây kể từ ngày thành phố xuất hiện trên những kinh rạch ẩm ướt đen tối. Những người bạn đường còn ở rải rác trên những đô thị thế giới, bên kia muôn ngàn trùng dương. Tất cả đời sống chúng ta, kể cả phần tâm tưởng thầm kín đến phần sinh hoạt thường nhật, đều hướng về Sài Gòn. Như những nhành hoa hướng dương nở về một phía bình minh. Như những bước chân đi về trạm hẹn. Mang trong lòng ít nhiều thiện chí xây dựng, rất nhiều tin tưởng, qua một ý niệm chân thành ở tiền đồ văn hóa đất nước, chúng ta đang lăn mình vào sinh hoạt văn hóa. Mỗi người, mỗi chỗ đứng là một vị trí nhỏ trong trung tâm văn hóa rộng lớn.

Chúng ta đến với một số mặc cảm. Trong tin tưởng có hoài nghi. Ý chí xây dựng cương quyết mà tâm hồn thì còn nhiều thắc mắc. Sự giao động này là một lẽ tất nhiên. Dĩ vãng buồn đau còn gửi về hình ảnh một thủ đô cũ, một trung tâm cũ. Niềm đắng cay của một thiện chí dựng xây nào đổ vỡ hoặc không thành. Anh còn nhớ đến cái ánh sáng lòa chói của những thủ đô văn hóa thế giới. Chúng ta đặt những bước chân bỡ ngỡ vào thành phố đã trở nên trung tâm, nên quê hương. Hiện tượng mới đột ngột. Thủ Đô văn hóa vừa được chọn ở đây. Nhưng rồi lăn mình vào sinh hoạt, đứng lại giữa vị-trí, những hoài nghi tan biến dưới những tin tưởng vững mạnh lên hình. Như sương mù tan đi trong ánh sáng. Như những tảng bóng tối dầy đặc rụng đổ lả tả giữa biển ngày trong veo.

Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam! Từ một hiện tượng đến một thực thể. Nền văn hóa dân tộc đặt định những nền tảng ở đây, đang phát huy ở đây bằng những nỗ lực sáng tạo của chúng ta – những con người hiện có mặt ở đây. Bằng những nỗ lực sáng tạo của những người bạn đường thế giới. Bằng những hành động đóng góp tương trợ của những dân tộc huynh đệ, những xu hướng văn hóa bằng hữu của thế giới.

Sài Gòn khác biệt với bất cứ một thủ đô nào của thế giới. Nhưng Sài Gòn cũng là một trong những thủ đô văn hỏa thế giới. Trên bản đồ đất nước, chúng ta ghi tên Sài Gòn: thủ đô văn hóa dân tộc hôm nay và ngày mai.

Mai Thảo
Sáng Tạo số 1 tháng 10/1956

Em Tan Vào Người Lạ. Thơ Hư Vô


Em tan vào người lạ
Nhịp guốc còn xôn xao
Có về đâu cũng đã
Cỏ mọc đầy chiêm bao.

Bước chân em quýnh quáng
Nhón qua đường dốc cao
Áo che mù góc nắng
Biết em đi lối nào!

Tôi lao vào mây trắng
Níu chiếc bóng muôn trùng
Em bỏ đi thì cũng
Còn chút buồn ở chung.

Để những lần em khóc
Sẽ không thấy lẻ loi
Trong mỗi giọt nước mắt
Nhỏ xuống tượng hình tôi.

Như mây chiều dáng núi
Phất phơ giữa cuộc người
Có bước qua bóng nắng
Cũng hoang phế tả tơi.

Còn nghe tiếng em gọi
Giữa trời đất lao xao
Dậy mùi hương dị ảo
Tan vào người lạ nhau…

Hư Vô

Mục Lục 44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại. Luân Hoán


Luân Hoán

(Hình tập 1 và 2 trong 7 tập: “44 Năm Văn-Học Việt-Nam Hải-ngoại (1975-2019)”

Tuyển tập 44 Năm Văn Học Việt-Nam Hải Ngoại (1975-2019) do nhà văn/họa sĩ Khánh Trường, nhà thơ Luân Hoán và nhà biên khảo Nguyễn Vy Khanh thực hiện, vừa được nhà Mở Nguồn / Nhân Ảnh (Hoa-Kỳ) xuất-bản, được thực hiện với mục-đích ghi dấu lịch sử và những thăng trầm, biến đổi của dòng văn học Việt-Nam vì hoàn cảnh đã phải thiên cư ra khỏi nước. Dòng văn-học này với nội dung cá biệt và những nhân tố rõ rệt, đã góp phần gìn giữ văn hóa Việt Nam.

Hơn 300 nhà văn nhà thơ và phê-bình, biên-khảo văn-học góp mặt là những người đã từng hoặc đang sinh hoạt văn học nghệ thuật ở hải ngoại và gần 50 vị sinh sống ở trong nước nhưng đã cộng tác, đăng bài hoặc xuất bản tác phẩm ở ngoài nước. Chúng tôi cũng cố gắng giới thiệu một số các tác-giả đã quá cố. Có những nhà văn thơ không có mặt trong tuyển tập hoặc do chúng tôi không liên lạc được hoặc vì một lý do nào đó đã không tham gia. Riêng các tác giả từng có mặt trong tuyển tập 20 Năm Văn Học Việt-Nam Hải Ngoại 1975-1995 do nhà Đại Nam xuất-bản năm 1995, chúng tôi giữ nguyên phần giới thiệu nếu như không thể liên lạc được và nhận cập nhật.

Cộng đồng Việt Nam hải-ngoại hình thành đã được 44 năm! Thời gian đủ dài để một lớp người, do hoàn cảnh lịch sử, phải bỏ nước ra đi và dần dà tạo được một cộng đồng không ngừng phát triển, lớn mạnh, từ non trẻ đến trưởng thành về nhiều mặt, trong đó không thể không nói đến văn học. Khối óc và trái tim của cộng đồng. Cũng do hoàn cảnh lịch sử, người Việt ngụ cư khắp nơi trên thế giới, lớp sau tiếp nối lớp trước, rồi thế hệ thứ 2, thứ 3,… làm nên một nền văn-học viết bằng tiếng Việt ở hải-ngoại rất đỗi phong phú , đa dạng, đa văn hóa, và nhất là dân chủ, tự do, khai phóng!

Trước ngày 30 tháng Tư 1975, văn học miền Nam từng phát triển và hiện đại hóa không ngừng, đã được những người ra đi mang theo, để rồi trải dài hơn bốn thập kỷ, cho đến hôm nay. Chúng ta hãy nhìn lại quá trình hình thành nền văn học này. 44 năm, đã có nhiều giai đoạn: di tản, lưu vong (phôi thai, 1975-1979), trở nên tị nạn chính trị (hình thành, 1980-86), rồi thời hy-vọng và hợp lưu (trưởng thành, 1987-1991), kế tiếp là hoài niệm (1992-2000) và sau cùng là lão hóa và chuyển động thế kỷ (2001-2019).

Trân trọng giới thiệu với quý độc giả bộ tuyển tập văn-học gồm 7 tập, mỗi tập trên dưới 700 trang.

TÁC GIẢ GÓP MẶT TRONG TUYỂN TẬP 44 NĂM VĂN HỌC VIỆT-NAM HẢI NGOẠI (1975-2019)

MỤC LỤC 

Tập 1: Vần A, B, C, D

*Lời cảm ơn – Khánh Trường7
*Danh sách tác giả8
*Lời tựa11
1.Ái Cầm27
2.Bạt Xứ35
3.Bắc Phong39
4.Bùi Bảo Trúc49
5.Bùi Bích Hà65
6.Bùi Vĩnh Phúc79
7.Cái Trọng Ty105
8.Cao Bình Minh115
9.Cao Đông Khánh151
10.Cao Mỵ Nhân162
11.Cao Nguyên168
12.Cao Tần (Lê Tất Điều)173
13.Cao Xuân Huy196
14.Chân Phương209
15.Chim Hải213
16.Chu Vương Miện219
17.Cung Tích Biền226
18.Cung Trầm Tưởng253
19.Cung Vũ258
20.Diên Nghị275
21.Doãn Quốc Sỹ282
22.Du Tử Lê312
23.Duyên Anh347
24.Dư Mỹ361
25.Dương Kiền366
26.Dương Như Nguyện405
27.Dương Thu Hương410
28.Đặng Hiền426
29.Đặng Mai Lan434
30.Đặng Phú Phong449
31.Đặng Phùng Quân457
32.Đặng Thơ Thơ476
33.Đặng Tiến503
34.Đinh Cường524
35.Đinh Huyền Dương536
36.Đoàn Nhã Văn543
37.Đoàn Nhật575
38.Đoàn Thêm579
39.Đoàn Xuân Kiên595
40.Đỗ Hoàng Diệu616
41.Đỗ Kh.644
42.Đỗ Quí Toàn665
43.Đỗ Quyên672
44.Đỗ Trường693
45.Đông Duy704
46.Đức Phổ743

MỤC LỤC
Tập 2: Vần G, H, K, L

1. Giang Hữu Tuyên 13
2. Hà Huyền Chi 20
3. Hà Kỳ Lam 25
4. Hà Nguyên Du 44
5. Hà Thúc Sinh 55
6. Hà Thượng Nhân 69
7. Hạ Quốc Huy 78
8. Hạ Uyên 97
9. Hàn Song Tường 101
10. Hoa Văn 111
11. Hoài Ziang Duy 117
12. Hoàng Anh Tuấn 124
13. Hoàng Chính 131
14. Hoàng Du Thụy 137
15. Hoàng Khởi Phong 153
16. Hoàng Lộc 176
17. Hoàng Mai Đạt 181
18. Hoàng Nga 205
19. Hoàng Ngọc Tuấn 215
20. Hoàng Phủ Cương 225
21. Hoàng Quân 229
22. Hoàng Thị Bích Ti 243
23. Hoàng Xuân Sơn 260
24. Hồ Đình Nghiêm 267
25. Hồ Minh Dũng 275
26. Hồ Phú Bông 288
27. Hồ Trường An 298
28. Huy Trâm 319
29. Huy Tưởng 322
30. Huỳnh Hữu Ủy 327
31. Huỳnh Liễu Ngạn 337
32. Hư Vô 341
33. Khánh Trường 345
34. Khế Iêm 375
35. Kiệt Tấn 388
36. Kiều Diễm Phượng 401
37. Kinh Dương Vương 411
38. Lâm Chương 437
39. Lâm Hảo Dũng 467
40. Lãm Thúy 479
41. Lâm Vĩnh Thế 485
42. Lê An Thế (Lê Bi) 521
43. Lê Cần Thơ 527
44. Lê Đại Lãng 547
45. Lê Giang Trần 563
46. Lê Hân 570
47. Lê Lạc Giao 580
48. Lê Mai Lĩnh 601
49. Lê Minh Hà 613
50. Lê Nguyên Tịnh 638
51. Lê Phương Nguyên 642
52. Lê Thị Huệ 651
53. Lê Thị Nhị 662
54. Lê Thị Thấm Vân 675
55. Lê Thị Ý 687
56. Lê Uyên Phương 691
57. Lê Văn Tài 698
58. Lệ Hằng 704
59. Liễu Trương 718
60. Linh Vang 732
61. Luân Hoán 742
62. Lương Thư Trung 763
63. Lưu Diệu Vân 773
64. Lưu Nguyễn 777
65. Lữ Quỳnh 783

MỤC LỤC
Tập 3: Vần M, N (1)

1.M.H. Hoài Linh Phương 13
2.Mai Khắc Ứng18
3.Mai Ninh33
4.Mai Thảo60
5.Mai Trung Tĩnh66
6.Miêng73
7.Minh Đức Hoài Trinh 87
8.Nam Dao104
9.Nghiêu Đề137
10.Ngọc (Ngọc Nguyễn) 144
11.Ngọc Khôi152
12.Ngô Du Trung192
13.Ngô Nguyên Dũng211
14.Ngô Thế Vinh227
15.Ngu Yên237
16.Nguyên Lương247
17.Nguyên Nghĩa251
18.Nguyên Sa256
19.Nguyên Vũ267
20.Nguyễn Âu Hồng277
21.Nguyễn Bá Trạc306
22.Nguyễn Chí Kham325
23.Nguyễn Đăng Thường 358
24.Nguyễn Đăng Trúc 375
25.Nguyễn Đăng Tuấn 497
26.Nguyễn Đình Toàn 401
27.Nguyễn Đông Giang 416
28.Nguyễn Đông Ngạc 420
29.Nguyễn Đức Bạt Ngàn 435
30.Nguyễn Đức Lập446
31.Nguyễn Hải Hà464
32.Nguyễn Hàn Chung 468
33.Nguyễn Hoàng Nam 475
34.Nguyễn Hoàng Văn 487
35.Nguyễn Hưng Quốc 504
36.Nguyễn Hương513
37.Nguyễn Hữu Nhật537
38.Nguyễn Lương Vỵ552
39.Nguyễn Mạnh An Dân 564
40.Nguyễn Mạnh Trinh 617
41.Nguyễn Minh Nữu623
42.Nguyễn Minh Phương 639
43.Nguyễn Mộng Giác 655
44.Nguyễn Nam An693
45.Nguyễn Ngọc Ngạn 707
46.Nguyễn Phước Nguyên 725
47.Nguyễn Sao Mai733
48.Nguyễn Tấn Hưng737
49.Nguyễn Tất Nhiên748
50.Nguyễn Thanh Châu 752

MỤC LỤC
Tập 4: Vần N(2), P

1. Nguyễn Thị Hải Hà 13
2. Nguyễn Thị Hoàng Bắc 29
3. Nguyễn Thị Minh Ngọc 46
4. Nguyễn Thị Ngọc Lan 54
5. Nguyễn Thị Ngọc Nhung 80
6. Nguyễn Thị Thanh Bình 103
7. Nguyễn Thị Vinh 109
8. Nguyễn Tiến 120
9. Nguyễn Trung Hối 123
10. Nguyễn Vạn Lý 133
11. Nguyễn Văn Sâm 152
12. Nguyễn Văn Trung 161
13. Nguyễn Vy Khanh 191
14. Nguyễn Xuân Hoàng 210
15. Nguyễn Xuân Quang 218
16. Nguyễn Xuân Thiệp 261
17. Nguyễn Xuân Tường Vy 271
18. Nguyễn Ý Thuần 287
19. Nhã Ca 299
20. Nhật Tiến 316
21. Như Quỳnh de Prelle 334
22. Phạm Cao Hoàng 344
23. Phạm Chi Lan 354
24. Phạm Công Thiện 368
25. Phạm Hải Anh 376
26. Phạm Hồng Ân 393
27. Phạm Miên Tưởng 399
28. Phạm Ngũ Yên 402
29. Phạm Nhã Dự 422
30. Phạm Quốc Bảo 428
31. Phạm Thăng 441
32. Phạm Thị Hoài 463
33. Phạm Thị Ngọc 473
34. Phạm Trần Anh 495
35. Phạm Văn Nhàn 507
36. Phạm Việt Cường 517
37. Phan Huy Đường 524
38. Phan Lạc Tiếp 548
39. Phan Nguyên 565
40. Phan Nhật Nam 578
41. Phan Nhiên Hạo 597
42. Phan Ni Tấn 608
43. Phan Quỳnh Trâm 613
44. Phan Tấn Hải 618
45. Phan Tấn Uẩn 632
46. Phan Thị Trọng Tuyến 647
47. Phan Việt Thủy 692
48. Phan Xuân Sinh 705
49. Phùng Nguyễn 711
50. Phương Tấn 729
51. Phương Triều 734

MỤC LỤC
Tập 5: Vần Q, S, T(1)

1. Quan Dương 13
2. Quyên Di 19
3. Quỳnh Thi 37
4. Sĩ Trung 49
5. Song Hồ 65
6. Song Nhị 68
7. Song Thao 77
8. Song Vinh 95
9. Sương Mai 100
10. Sỹ Liêm 107
11. Tạ Tỵ 126
12. Tâm Thanh 140
13. Thái Tú Hạp 150
14. Thái Tuấn 156
15. Thanh Nam 161
16. Thanh Tâm Tuyền 168
17. Thành Tôn 174
18. Thảo Trường 187
19. Thận Nhiên 207
20. Thế Giang 217
21. Thế Uyên 242
22. Thi Vũ 264
23. Thu Nga 270
24.Thu Thuyền 285
25. Thụy Khuê 303
26. Thường Quán 347
27. Tiểu Thu 354
28. Tiểu Tử 367
29. Tô Thùy Yên 377
30. Tôn Nữ Thu Dung 389
31. Trạch Gầm 393
32. Trang Châu 398
33. Trầm Phục Khắc 412
34. Trân Sa 417
35. Trần Dạ Từ 432
36. Trần Diệu Hằng 458
37. Trần Doãn Nho 472
38. Trần Đại Sỹ 499
39. Trần Hạ Vi 527
40. Trần Hoài Thư 534
41. Trần Hồng Châu 538
42. Trần Hồng Hà 544
43. Trần Long Hồ 577
44. Trần Mộng Tú 594
45. Trần Phù Thế 606
46. Trần Thị Diệu Tâm 611
47. Trần Thị Hương Cau 621

MỤC LỤC
Tập 6: Vần T(2), U, V, X, Y

1.Trần Thị Kim Lan13
2.Trần Thị Lai Hồng33
3.Trần Thu Miên46
4.Trần Trúc Giang59
5.Trần Trung Đạo68
6.Trần Văn Nam75
7.Trần Văn Sơn96
8.Trần Vũ104
9.Trần Yên Hòa121
10.Triều Hoa Đại130
11.Triệu Châu134
12.Trịnh Gia Mỹ154
13.Trịnh Khắc Hồng162
14.Trịnh Thanh Thủy169
15.Trịnh Y Thư175
16.Trung Hậu181
17.Trùng Dương187
18.Trương Anh Thụy219
19.Trương Văn Dân237
20.Trương Vũ253
21.Túy Hồng265
22.Tường Vũ Anh Thy 281
23.Tưởng Năng Tiến290
24.Uyên Nguyên297
25.Vi Khuê313
26.Vĩnh Hảo327
27.Võ Đình345
28.Võ Hoàng360
29.Võ Kỳ Điền371
30.Võ Phiến385
31.Võ Phú410
32.Võ Phước Hiếu425
33.Võ Quốc Linh464
34.Võ Thị Điềm Đạm474
35.Vũ Huy Quang488
36.Vũ Kiện495
37.Vũ Quỳnh Hương502
38.Vũ Quỳnh N.H.537
39.Vũ Thị Thanh Mai550
40.Vũ Thùy Hạnh575
41.Vũ Thư Hiên582
42.Vũ Trà My605
43.Vũ Uyên Giang610
44.Vương Đức Lệ635
45.Vương Trùng Dương 640
46.Xuân Vũ660
47.Xuyên Trà679
48.Y Chi685
49.Yên Sơn711

MỤC LỤC
Tập 7: Quốc Nội

1.Bùi Chát13
2.Bùi Ngọc Tấn19
3.Bùi Thanh Minh53
4.Cao Thoại Châu67
5.Dung Thị Vân74
6.Dương Nghiễm Mậu 80
7.Đặng Châu Long108
8.Đoàn Văn Khánh118
9.Hoàng Hưng127
10.Khoa Hữu137
11.Khuất Đầu143
12.Lê Văn Trung150
13.Lê Vĩnh Thọ164
14.Nguyên Cẩn175
15.Nguyên Minh186
16.Nguyễn An Bình208
17.Nguyễn Dương Quang 221
18.Nguyễn Hiến Lê225
19.Nguyễn Hữu Hồng Minh 292
20.Nguyễn Huy Thiệp 304
21.Nguyễn Lệ Uyên340
22.Nguyễn Thành357
23.Nguyễn Thụy Long 366
24.Nguyễn Tôn Nhan387
25.Nguyễn Văn Gia397
26.Nguyễn Viện404
27.Như Không421
28.NP Phan436
29.Phạm Hiền Mây441
30.Phạm Ngọc Lư450
31.Phan Huyền Thư458
32.Phùng Cung464
33.Thiếu Khanh497
34.Tiêu Dao Bảo Cự507
35.Trần Dzạ Lữ532
36.Trần Mạnh Hảo549
37.Trần Thị Ng.H.576
38.Trần Vạn Giã600
39.Trần Vàng Sao607
40.Văn Quang618
41.Vy Thượng Ngã649
42.Xuân Thao670

Luân Hoán

(Nguồn: FB Luân Hoán)


Nguyễn Đình Toàn – Nước Mắt Cho Sài Gòn. Tùy bút Trần Yên Hoà


Trần Yên Hòa

(Chân dung văn thi sĩ Nguyễn Đình Toàn)

Năm 1966, tôi đang học đại học ở Sài Gòn thì cha tôi ở quê viết thư vào bảo: “Quê mình mất an ninh rồi, cha mẹ phải bỏ quê mà tản cư xuống quận lỵ tỵ nạn. Trong một đêm, địch về làng bắn giết, đốt phá nhà cửa của cán bộ làm việc bên phe quốc gia nhiều lắm, cha mẹ sợ quá nên phải tản cư xuống quận lỵ tạm trú, chứ ở quê không yên. Con cố gắng tự túc đi học nghe con.” Tôi đọc thư mà nghe buồn bã quá. Tìm đọc trên mục rao vặt trên các báo Chính Luận, Công Luận, tôi đi dạy kèm, đi giặt đồ cho một công ty thầu giặt đồ cho lính Mỹ, mà lương lậu chẳng đâu vào đâu. Tôi học không vô nữa, bèn nộp đơn xin đi dạy theo một thông cáo tuyển lựa giáo sư tư nhân dạy giờ của Bộ Giáo Dục. Sau đó mấy tháng, tôi được giấy của bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy ở trường trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Với nỗi buồn vui lẫn lộn. Buồn vì phải bỏ giảng đường đại học mới tập tểnh bước vào mấy năm. Vui vì mình sắp bước vào con đường mới, con đường dạy học. Đó cũng là mộng ước của tôi thời niên thiếu. Với lại, Quảng Ngãi tôi chưa biết đến bao giờ. Và cả Mộ Đức, một quận lỵ, vẫn nghe đồn rằng, đó là vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm “giải phóng”. Nhưng tôi lại nghĩ, mình chỉ là thầy giáo quèn, gỏ đầu trẻ, có gì đâu mà sợ, nên tôi cũng vững tâm đến đó.

Mộ Đức là một quận lỵ buồn, không có phố xá, chỉ có con đường quốc lộ một chạy qua. Bộ chỉ huy chi khu và văn phòng quận hành chánh đóng chung bên kia đường, đối diện trường trung học, do một trung úy bộ binh làm quận trưởng kiêm luôn chi khu trưởng.

Tôi đã dạy học ở đó với những em học sinh tóc cháy vàng vì nắng gió và nhờ đó mà tôi vui.

Những buổi chiều quận lỵ thật buồn. Chênh chếch phía bên kia đường có một loa phóng thanh của chi thông tin bắt trên ngọn cây, hàng ngày thường mở đài Sài Gòn hay đài Quảng Ngãi cho dân chúng nghe tin tức. Một buổi chiều, cũng như mọi buổi chiều khác, tôi được nghe từ loa phóng thanh, một bài hát có tên Tình Khúc Thứ Nhất được xướng ngôn viên giới thiệu tác giả là Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn, bản nhạc này, nhạc đã hay mà lời cũng quá hay:

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi

Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế

Lúc này, Vũ Thành An và Nguyễn Đình Toàn chứa nổi, tác giả chỉ là cái tên, nhưng bản nhạc quá hay nên có tôi cảm tình với tác giả ngay, nhất là tác giả viết lời. Lúc đó, tôi cứ nghĩ Vũ Thành An đã phổ từ một bài thơ nào đó của Nguyễn Đình Toàn. Nhưng sau này, khi tôi đọc trên một tờ báo nào đó, mới biết là nhạc phẩm này của Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn viết lời.

Chúng ta hãy đọc lại mấy câu, ông dùng ngôn ngữ rất lạ mà rất thơ:

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy…
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Bản nhạc này, tôi nghe (sau đó được nghe lại mấy lần) và tự nhiên thuộc lời, rồi tôi đã đem lời nhạc này đọc cho học sinh trong lớp tôi dạy (vì tôi dạy môn Việt văn nên tôi tha hồ mà bình luận, bốc phét, thêm nhưn nhị vào bài thơ, những ý tưởng mà có lẽ tác giả cũng không nghĩ ra). Có thể nhờ bản nhạc này mà tôi có một (vài) mối tình rất thơ với một (vài) cô gái Mộ Đức, một cô gái có tên là Nề, mà sau này tôi có viết trong một truyện ngắn, truyện Nề xưa. Bây giờ tất cả đã xa lắc lơ, chỉ còn là kỷ niệm. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn.

Sau này, cũng thời gian năm 66 hay 67 gì đó, tôi có đọc một bài thơ của Nguyễn Đình Toàn ở đâu đó, và rất mê. Nhưng lâu rồi cũng quên nhan đề, sau khi tìm kiếm, lục lọi, mới biết đó là bài Khi Em Về. Tôi xin ghi lại như sau:

Khi em về

Quê mẹ đấy ưu phiền nhiều quá lắm
Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo
Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng
Đi qua dần khi nước mắt buông theo

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá

Khi em về bước chân chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã lắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim

Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che

Nguyễn Đình Toàn còn có bài thơ Khúc Ca Phạm Thái cũng rất nổi tiếng. Bài thơ ghi lại hình ảnh chàng tráng sĩ Phạm Thái yêu Trương Quỳnh Như, em ruột của người bạn thân là Trương Quang Ngọc, mối tình đó đã trở thành tình sử trong văn học Việt Nam mà Khái Hưng đã viết thành tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Bài thơ với ngôn ngữ mang mang hào sảng, nói lên chí khí của người tráng sĩ mang gươm đi cứu nước, nhưng thất bại, phải dẹp bỏ cuộc tình riêng, giọng thơ hào khí ngất trời. (hơi thơ giống bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác). Cho nên trong những cuộc vui chơi với bằng hữu, những người thích thơ, biết làm thơ hay cảm thơ, mỗi khi ngồi uống rượu với nhau thường ngâm bài thơ này:

Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề, sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Chí nhỏ lòng kiêu, đổ thưà vận rủi,
Tài sơ sức mỏi, trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ,
Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng.

Em ơi tám hướng sông hồ,
Mười năm ngang dọc, bây giờ là đây ..
Sự đời chừ đã trắng tay,
Ngủ vùi một giấc, cho đầy gối tham .
Ta say hay ta tỉnh?
Nàng buồn hay nàng vui?
Ngọc châu pha vỡ tiếng cười ,
Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau .

Từ lâu, nghĩa là từ trước năm bảy lăm, tôi nghĩ là Nguyễn Đình Toàn chỉ làm thơ và viết văn thôi, nếu cùng lắm thì ông đặt lời cho nhạc như bài Tình Khúc Thứ Nhất. Nhưng sau này tôi biết ông còn sáng tác nhạc, ông viết rất nhiều ca khúc. Trong những ca khúc của ông tôi thích đâu 3, 4 bài, như bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, mà nhiều người biết đến, sau đây:

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên – như dòng sông nước quẩn quanh buồn – như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không…
Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao – trong niềm vui tiếng hỏi câu chào – sáng đời tươi thắm vạn sắc màu – còn gì đâu…”

Theo tôi, bản nhạc này là bản nhạc hay nhất của nhạc Việt Nam viết về Sài Gòn sau khi mất nước và lúc Sài Gòn đã thay đổi tên. 2 bản đứng thứ nhì đồng hạng là bài Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng và bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Du Tử Lê. Sau rót mới đến bản Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc. Bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt được mọi người biết đến nhiều có lẽ nhạc phẩm này ra đời sớm, khoảng đâu sau bảy lăm một hai năm, trong lúc đó, lòng người Việt Nam, nhất là những người di tản từ ba mươi tháng tư bảy lăm, luôn luôn khắc khoải trong lòng nổi nhớ quê hương, mà Sài Gòn là biểu tượng một quê hương trong lòng mọi người, nên mất đi Sài Gòn, rời xa Sài Gòn, ai cũng tưởng tiếc, cũng nhớ về. Kể cả những người đi ở tù cộng sản như chúng tôi, khi nghe bản Vĩnh Biệt Sài Gòn (được đưa chui vào trại tù), chúng tôi nghe cũng thật bùi ngùi, cảm động (lúc đó tôi ở Long Khánh, có tin truyền miệng nhạc phẩm Vĩnh Biệt Sài Gòn là của một sĩ quan sư đoàn 5 bộ binh sáng tác). Đến khi qua Mỹ, tôi mới biết tác giả là Nam Lộc. Và theo tôi đánh giá về nghệ thuật, bản nhạc này lời rất giản dị, bình thường, ca từ không có gì mới lạ, có nhiều câu, suy cho kỹ thì phản ý của người di tản hay người vượt biên, ví dụ như câu “bây giờ tôi như con thú hoang lạc đàn”, sao lại là “con thú hoang”? Nếu như vậy thì đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước bảy lăm và những người sống trong đất nước đó là đàn thú hoang sao?. Và sau đó có những câu như “Sài Gòn ơi ta xin hứa là ta sẽ về.” Sao đã vĩnh biệt rồi, như theo đề tựa, vĩnh biệt là không bao giờ gặp lại, mà sao hứa sẽ trở về? Cho nên, bản nhạc này được nhiều người nghe là do tâm trạng thương nhớ Sài Gòn có sẳn trong lòng, chứ không phải là bản nhạc hay.

Nguyễn Đình Toàn sáng tác nhạc rất nhiều, sau khi ra hải ngoại ông đã cho ra mắt 2 CD, đó là: Hiên Cúc Vàng với chỉ một giọng ca Khánh Ly, và Tình Ca Việt Nam với Duy Trác, Khánh Ly, Sĩ Phú, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.
Nhạc Nguyễn Đình Toàn mang hơi hám của một người lưu vong luôn luôn nhớ về những kỷ niệm cũ, một hoài niệm không rời với hồi ức, thường buồn hơn vui, đã đưa người nghe vào một không gian âm thanh sâu lắng, không sôi nỗi xáo động, nó trầm lắng, dịu dàng, nên lớp người cũ đã sống trước bảy lăm ở miền Nam rất thích nghe.

Từ Giờ Ra Chơi đến Áo Mơ Phai

Truyện Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1970. Tôi mua quyển truyện này tại một tiệm sách ở khu Hòa Bình trong một chủ nhât đi phép. Đời SVSQ/CTCT ngày phép thường ra bát phố Đà Lạt, sau khi đã vào tiệm tắm nước nóng tắm để rũ sạch bụi đỏ quân trường, sau đó đi ăn phở Bằng hay vào quán Tùng uống cà phê hay ra bờ Hồ Xuân Hương vào Thủy Tạ ăn kem. Nhưng tôi thì hay đi loanh quanh mấy tiệm sách để tìm mua những tác phẩm mới xuất bản của các nhà văn mình yêu thích. Thời điểm đó, truyện dài Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn mới phát hành nên tôi nhìn thấy là chộp mua ngay.

Giờ Ra Chơi kể lại mối tình của cô gái học trò Đà Lạt tên Thục và tình yêu của tuổi mới lớn của Thục. Truyện nhẹ nhàng êm dịu, thơ mộng như trời mây non nước xứ Đà Lạt. Lúc này tôi có một người bạn gái là một cô học trò trường Hồng Đức, Đà Nẵng, tôi liền mua thêm một cuốn gởi về tặng cô gái và tả tình tả cảnh Đà Lạt, cũng như mối tình đẹp của cô học trò tên Thục trong truyện. Tôi cố rũ người bạn gái lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh để được gần tôi, cuối cùng cô gái nghe lời “dụ dỗ” của tôi mà lên Đà Lạt theo học. Rất tiếc là khi cô lên Đà Lạt thì tôi cũng xong hai năm thụ huấn. Tôi đổi đi xa nên mối tình cũng bay theo sương khói.

Áo Mơ Phai, tập truyện dài của Nguyễn Đình Toàn đăng “phơidơtông” ở Nhật Báo Tiền Tuyến, được nhiều người đón nhận, theo dõi say mê từng ngày. Sau này in thành sách và được giải văn chương toàn quốc năm 1972.

Truyện Áo Mơ Phai kể lại những mối tình thơ mông ở Hà Nội trước ngày di cư năm 1954, khi Hà Nội còn là ngàn năm văn vật đất Thăng Long, cùng với một Hà Nội thơ mộng trữ tình là sự dùng dằng, ra đi hay ở lại của những người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử năm 1954, chia đôi đất nước.

Chúng hãy đọc một đoạn ngắn trong Áo Mơ Phai khi tác giả tả những cái đáng yêu của Hà Nội:

“Những tiếng động nhỏ ấy, những hương vị mờ nhạt ngửi thấy, cây cối trong mùa mưa, phấn hương của người quen thuộc, những món ăn, thức uống, những câu thơ, những bài hát, Hà Nội giống như một cái chuông và những tiếng kêu ấy là những cách khua động, người ta tự gõ vào trí tưởng mình, tự xé lòng mình, để nhẹ bớt nỗi nhớ mong, ám ảnh của Hà Nội, Hà Nội đã biến thành khuôn mặt người tình đầu tiên, khi người ta ghé môi hôn thì cũng là lúc cái hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm khảm. Những khu phố dịu dàng dưới sương đêm, sáng cái ánh sáng của vầng trăng lúc nào cũng giống như, trăng khi còn thơ ấu, và những cơn gió nhẹ thổi trên các lối đi, thổi lên các cành cây, chẳng khác những hơi thở nồng nàn tình ái, người ta không thể biết rõ cái vẻ dịu dàng của Hà Nội được tẩm đẫm nhan sắc, dáng vẻ của những người đàn bà, những cô gái Hà Nội, hay chính những người này thừa hưởng cái không khí êm đềm đó, những trận gió mang đầy hơi phù sa của sông Hồng, mùi cỏ của con đê Yên Phụ, mùi rượu ngang, rêu phong của những mái nhà cũ kỹ, của những bức tường thành của ngày Hà Nội bị xâm chiếm xa xưa, của các xưởng máy, của hoa đào, hoa sấu, sắc đỏ của những bông gạo vừa tàn rụng hết trong ngày hè với muôn ngàn tiếng chim kêu hót…”

Nguyễn Đình Toàn đã hiến cho đời những tác phẩm hay, với riêng với tôi, tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn đã theo bước chân thời gian của cuộc đời đeo đuổi tôi, qua những cuộc tình học trò, sinh viên, thơ mộng, dịu êm. Còn ngoài đời, tôi chỉ gặp ông đâu có hai, ba lần gì đó, cũng chẳng được dịp nói chuyện lâu, nhưng trong lòng tôi, lúc nào cũng mến mộ Nguyễn Đình Toàn.

Rất cảm ơn nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Trần Yên Hoà

Quán Thơ Hư Vô 333


ĐIỆP KHÚC CHIỀU THÁNG BA

Sài gòn chiều mưa thời xanh tóc
Vỉa hè cỏ mọc dấu chân em
Đường Duy Tân hay Trần Quý Cáp
Chỗ nào cũng thấy rất còn quen.

Em đã không về nơi ấy nữa
Phố xá chờ nhau lạnh bóng chiều
Áo phai chưa hết đời lãng tử
Mà hồn tôi đầy vết rong rêu.

Cà phê sóng sánh ngang đáy tách
Nguyễn Du buồn nhớ mắt Thuý Vân
Điệp khúc của ngày tình con gái
Còn khua vang nhịp guốc thật gần.

Của những lần Sài gòn mưa tới
Chiều xanh xao góc phố Brodard
Giọt cà phê chờ ai buông chậm
Cho buồn về kịp giữa tháng ba…

Hư Vô

TRĂN TRỞ

Ngày… quay cuồng nhịp sống
Đêm …nỗi nhớ tượng hình
Đời dài như cơn mộng
Trăn trở đợi bình minh…

Nắng hạ về len lén
Soi nhan sắc úa tàn
Đời bao lần lỡ hẹn
Cuộc tương phùng nhân gian…

Tháng hai đi qua vội
Hoa sứ rụng sân nhà
Tình xa không tạ lỗi
Buồn dài đến tháng ba …

Em về trang điểm lại
Rạng rỡ mắt môi cười
Dấu tình yêu mãi mãi
Cất giử cho một người …

Mực Trắng LT

QUÁ GIANG

Những trái bơ không còn chín nữa
Cây thông già bỗng trút lá, chung thân
Con mắt thiên văn con mắt lửa
Đốt người hóa thạch tự ngàn năm.

Những chùm nho chín đầy tay áo
Người mang đi không hẹn lúc quay về
Biển đã chết và im lìm giông bão
Ta ngồi đây mơ mãi cuộc chia ly.

Thì cứ vẽ từng đường hương sắc
Của bốn mùa lũ lượt sang trang
Của ánh mắt hoang vu mù bạc
Xin quá giang một chuyến phai tàn.

Ta đã thấy những mùa lúa chín
Chẳng một ai gồng gánh mang về
Bầy cá chết trên dòng sông rộng
Và mỗi ngày chết một bình minh.

Lý Thừa Nghiệp

LỤC BÁT MÙA XUÂN

Giang tay ta đón mùa xuân,
Như là hạnh phúc một lần ước mơ.
Lá xuân đan một bài thơ,
Gió xuân thổi đến sợi tơ nguyệt hồng.

Tóc em bồ kết thơm nồng,
Em – mùa xuân đến – để lòng tôi say.
Tình xuân e ấp đôi tay,
Thẹn thùng má đỏ, ơ hay anh này…

Thì thầm xuân mới cầu may,
Thơ xuân lục bát vui ngày đầu năm…
Cho nhau lời hứa trăm năm,
Tim bao nhiêu nhịp, đầy ngăn xuân cười.

Mây xuân tình tự lả lơi,
Với tay gom hết góc trời riêng ta.
Xuân em áo lụa mượt mà,
Xuân anh một giải ngân hà đêm nay…

trầnthịminhchâu

PHÓNG SINH THƠ

Khi mặt đất bốc mùi quái lạ
Cường quốc mơ thả rác mộng lên trời
Ta phóng sinh những bài thơ cánh cụt
Không đường bay rụng xuống phai phôi

Lạc phương hướng trong tầm nhìn vô cảm
Hỏa mù che mờ mịt dấu âm hồn
Vẫn lấp lánh giữa khoảng không thầm lặng
Những vì sao đơn độc giữ thiên lương

Nhấp nhô bám niềm đau trên biển động
Những câu thơ xé sóng quặn yên bình
Những khát vọng mãi xanh màu hy vọng
Từng đêm dài trăng thanh tẩy tâm linh

Bẻ đôi cánh hảo huyền chôn huyễn mộng
Thân hạt tiêu chen chúc dưới đời thường
Cố lắng đọng từng giờ sau vọng động
Ôm cội tình nâng niu trái yêu thương

Ru tĩnh mịch ngủ trong mùa huyên náo
Cỡi ưu phiền rong ruổi với nhân gian
Phóng sinh thơ khỏi phận người lơ láo
Trò điêu ngoa phong thánh phong thần…

Lưu Xông Pha

VỀ QUA SÔNG HẬU

Tháng giêng ta về qua sông Hậu
Khói sóng có làm cay mắt em
Trên cầu chỉ thấy mây vô định
Buồn rơi theo từng tiếng vạc đêm.

Bạn ơi đừng hỏi sao ta nhớ
Nửa thế kỷ buồn hơn chiêm bao
Thời gian trôi bóng chiều trong gió
Nghiêng ngả bên nào cũng đớn đau.

Có nghe tiếng dế ngày thơ ấu
In dấu hài xanh của thuở nào
Có nghe vị ngọt từ hương bưởi
Đôi bờ ai có nhớ thương nhau?

Vắt kiệt phù sa theo sóng nước
Nông sâu nào biết bến không bờ
Em xa từ thuở trăng mười sáu
Nên tình chia nhánh tự ngàn xưa.

Tháng giêng ta về qua sông Hậu
Có thấy hoàng hôn trong mắt sâu
Có thấy cánh chim vờn trên sóng
Tơ trời em giữ lại đời nhau?

Nguyễn An Bình

EM MANG THEO MÙA THU

Thung lung buồn đâu phải bởi sương mù
Tìm không ra đâu phải bởi mùa thu
Nắng đã không về trên đó nữa
Ai nhắc dùm tôi tháng mấy rồi?

Con đường quanh hồ đâu có xa
Thông cứ đứng, đứng dài như chờ đợi
Còn tôi cứ đi, đi hoài mà không tới
Gặp lại mùa thu em đã mang theo.

Một mùa thu không có lá vàng rơi
Che bước chân em quay đi rất vội
Bỏ lại cuộc tình rơi trong đêm tối
Đường Quang Cư dài vời vợi nỗi đau!

Tháng tám về rồi, mùa thu ở đâu
Nước vẫn xanh dưới mặt hồ Than Thở
Lặng lẽ gót giầy dẫm lên từng nỗi nhớ
Đà Lạt bây giờ buồn giăng như sương

Bao mùa thu qua theo năm tháng dặm trường
Hình như giữa cái lạnh cao nguyên có một mùa thu dừng lại
Biết là tôi không bao giờ nhìn thấy
Sao vẫn tìm đâu đó một mùa thu!

Nguyễn Trung Thành

Lá Diêu Bông. Tùy bút Đỗ Thái Nhiên


Đỗ Thái Nhiên

Xã hội là môi trường sống của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giúp con người giao lưu với xã hội. Sống đồng nghĩa với đối thoại. Tuy nhiên ngôn ngữ là ngôn ngữ chung. Sử dụng ngôn ngữ chung để diễn tả tâm tình riêng vốn là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp. Dưới chế độ độc tài hà khắc, người cầm bút đã phải vừa vận dụng ngòi bút với tất cả khó khăn của ngôn ngữ chung, vừa tinh vi lách tránh công an văn hóa bằng kỹ thuật: dùng cái hư làm nổi bật cái thực, nhắc đến cái thực với ẩn ý đẩy sự suy nghĩ hướng về cái hư. Đó là lý do giải thích tại sao trong lòng của chế độ CSVN đã xuất hiện một số các tác phẩm văn học nghệ thuật mang nội dung kỳ bí gần như huyễn hoặc. Không khí kỳ bí và huyễn hoặc kia là cả một lời mời gọi, thiết tha bao nhiêu, xoáy tim óc bấy nhiêu. Trên đỉnh cao nhất của thế giới thiết tha nhưng xoáy tim óc này, chúng ta tìm thấy bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm.

Lá Diêu Bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thờ đi tìm

Đồng chiều

Cuống rạ…

Chị bảo:

Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng.

Hai ngày,

Em tìm thấy lá

Chị châu mày:

– Đâu phải lá Diêu Bông.

Mùa đông sau,

Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu.

Trông nắng vãn ven sông

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!

Hoàng Cầm (1959)

 (Chân dung nhà thơ Hoàng Cầm)

Chúng ta hãy khảo sát bài thơ Lá Diêu Bông trên cả ba mặt: bản thể nhận thức và phương pháp.

BẢN THỂ của Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Hình ảnh vào đề bài thơ là hình ảnh lạnh lùng của chiều đông,

trên cánh đồng ngổn ngang “cuống rạ”, người chị tâm sự với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng”

“Hai ngày sau”, “mùa đông sau” người em khoe với chị:

“Em tìm thấy lá”

Mỗi lần em khoe “tìm thấy lá”, chị lại lắc đầu:

“Đâu phải lá Diêu Bông”

Thời gian trôi qua mà chẳng có “đứa nào tìm được lá Diêu Bông”, người chị đành phải đi lấy chồng:

“Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim”

Có một lần, sau khi chị đã lấy chồng, người em lại khoe:

“Em tìm thấy lá”

Lần này, người chị phủ định một cách dứt khoát:

“Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn”

Mặc cho người chị dứt khoát không tin ở sự xuất hiện của lá Diêu Bông, người em vẫn miệt mài đi tìm Diêu bông… Thế rồi, đời sống thật là thảm sầu:

“Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!”

Đi tìm bản thể của bài thơ Lá Diêu Bông tức là đi tìm ẩn ý nằm đàng sau các câu hỏi: Chị là ai? Em là ai? Tại sao Lá Diêu Bông lai là một loài lá chỉ có trong mộng tưởng? Phần nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông sẽ cho chúng ta đáp số đối với các câu hỏi vừa nêu.

NHẬN THỨC về Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông tức là nhận thức về mối liên hệ giữa tác giả và nội dung của tác phẩm. Đồng thời cũng là nhận thức về thái độ đón nhận tác phẩm từ phía người đọc. Trước hết, chúng ta hãy ghi nhận hai chi tiết sau đây của bài thơ:

– Chi Tiết Một: Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh gợi nhớ một chiều đông, trên cánh đồng trơ “cuống rạ”. Câu chuyện trong thơ là câu chuyện diễn ra trong nhiều năm: mùa đông này rồi lại đến “mùa đông sau”.

– Chi Tiết Hai: Bài thơ được sáng tác vào năm 1959. Trong liên hệ giữa mùa này với mùa kia: mùa Đông đến sau mùa Thu. Trong liên hệ giữa năm này với năm kia: năm 1959 đến sau năm 1945.

Mang hai chi tiết nêu trên đặt cạnh nhau, chúng ta thấy ngay rằng Lá Diêu Bông là bài thơ có chủ ý diễn tả những cảm nghĩ của tác giả về một sự việc đã thực sự xảy ra và thực sự có những yếu tố hiển nhiên để đánh giá. Sự việc đã xảy ra là sự việc gì? Đối với Hoàng Cầm, một nhân vật trọng yếu của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, sự việc đã xảy ra chẳng thể là gì khác hơn cái gọi là: Cách mạng mùa thu 1945. Mùa thu là mùa của “cách mạng” thì mùa đông là mùa nhân dân bắt đầu thắc mắc về “cách mạng”. Điều này cho chúng ta thấy không phải vô tình mà vấn đề Lá Diêu Bông được đặt ra vào mùa đông. CSVN đã trả lời hoài nghi của nhân dân đối với cách mạng bằng hai biến cố: Cải Cách Ruộng Đất và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1956).

Hoàng Cầm đã tài tình dùng hình ảnh chị và em để nói lên mối liên hệ giữa thế hệ này và các thế hệ sau. Chị là biểu tượng của thế hệ này: thế hệ của những người Việt Nam đã thực sự đau khổ dưới ách Cộng Sản, có kinh nghiệm về Cộng Sản. Em là biểu tượng của các thế hệ sau. Các thế hệ sau bao gồm những người vẫn còn tin tưởng ở một lúc nào đó, tại một nơi nào đó “các em” sẽ tìm được lá Diêu Bông.

Bây giờ chúng ta hãy trở về với nhân vật người chị. Đối với một thiếu nữ: ước mơ tha thiết nhất, ước mơ trang trọng nhất là ước mơ gặp được một người chồng tâm đầu ý hợp. Ước mơ này đồng dạng với ước mơ của nhân dân có được một chánh quyền thực tâm phục vụ tự do dân chủ. Ý niệm về tự do dân chủ đơn giản và rõ ràng như hình ảnh một chiếc lá. Thế nhưng đối với “ngụy quyền kiểu CSVN” thì tự do dân chủ phải là một loại lá không có thật: Lá Diêu Bông. Biết được thực chất phản dân chủ của CSVN, chị nói với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng”.

Chữ “đứa” ở đây rõ ràng là cách xưng hô của chị đối với em. Văn hóa Việt Nam không cho phép vợ gọi chồng bằng “đứa”. Do đó, câu thơ vừa trích dẫn ở trên không thể bị hiểu rằng: đứa nào tìm được lá Diêu Bông, từ nay ta gọi đứa đó là chồng. Vậy thì người chồng mà người chị để ý tìm kiếm là ai? Thưa rằng: như đã trình bày ở trên, người chồng chỉ là hình ảnh biểu tượng cho nhà cầm quyền. Câu nói của người chị nên được hiểu như sau: người nào chứng minh được nhà cầm quyền CSVN thực sự tôn trọng tự do dân chủ (có được lá Diêu Bông), từ nay “ta” gọi nhà cầm quyền đó là chính quyền. Và dĩ nhiên, “ta” chấp nhận làm người dân ngoan ngoãn của chính quyền. Thái độ của “ta” chẳng khác nào thái độ của bà vợ hiền bên cạnh ông chồng mẫu mực.

Ngay sau “Cách mạng mùa thu”, guồng máy tuyên truyền của CSVN làm việc rất tích cực và ồn ào. Mỗi thắc mắc của quần chúng về tự do dân chủ (Lá Diêu Bông) đều được cán bộ Cộng Sản nhanh nhẩu giải đáp. Tuy nhiên:

Hai ngày

Em tìm thấy lá

Chị chau mày

Đâu phải lá Diêu Bông”

Thế rồi với thời gian, thực chất phản dân chủ của CSVN càng ngày càng phơi bày trắng trợn. Và, cũng với thời gian, người dân (người chị là biểu tượng) đành phải bó tay trước bạo lực của “ngụy quyền CSVN”, đành phải miễn cưỡng chấp nhận mối quan hệ “quan chức” và nhân dân. Quan hệ này được ẩn náu dưới quan hệ vợ chồng. Trong tình huống đó, nhóm chữ “tự do, dân chủ” chỉ có ý nghĩa của một mỉa mai:

“Ngày cưới chị,

Em tìm thấy lá

Chị cười

Se chỉ ấm trôn kim”

Điều đau đớn nhất nằm ở sự thể rằng: không riêng gì chị, mà con cháu chị, các thế hệ sau chị vẫn phải sống, phải tiếp tục âm thầm và nhọc nhằn bước trên con đường tuyệt đối không tự do dân chủ:

“Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt,

Chị không nhìn”

“Chị không nhìn” có nghĩa là chị đã hoàn toàn nhìn ra: tất cả những gì mà CSVN gọi là tự-do dân-chủ chỉ là chiêu bài. Thế nhưng thật là xót xa cho các thế hệ đàn em. Họ vẫn miệt mài đi tìm Lá Diêu Bông. Lá Diêu Bông sẽ không bao giờ có. Có chăng chỉ là muôn vạn sinh linh trong Cải Cách Ruộng Đất đang quyện vào “gió quê” để tạo thành lời than vãn bi thiết về một tự-do dân-chủ chỉ có trong mộng tưởng:

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

– Diêu Bông hời…

Ới Diêu-bông…!

Bằng bài thơ Lá Diêu Bông, thi sĩ Hoàng Cầm có chủ ý nói với thế hệ chúng ta và các thế hệ mai hậu: đi tìm tự-do dân-chủ dưới chế độ Cộng Sản, chắc hẳn chúng ta sẽ đi đến kết quả: “Em đi trăm núi, ngàn sông, nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ!” (nhạc và lời Phạm Duy).

PHƯƠNG PHÁP LUẬN của bài thơ LÁ DIÊU BÔNG

Theo lời của tác giả Lý Kiệt Luân, có một lần Hoàng Cầm đã tâm sự với thân hữu: “Cái cuộc đời của tôi, ngẫm nghĩ cái gì cũng thế… nó cứ bị trói gom lại như… như… cái lá Diêu Bông! Nếu có ai bắt nguồn với tôi, dù chỉ là quen biết sơ khai ban đầu thì nó cũng từ cái lá Diêu Bông mà ra… Cho nên phải nói: nó là cái lá Định Mệnh của tôi hơn là gọi nó như là tên của một bài thơ” (Việt Nam News – Xuân Ất Hợi – trang 85).

Lời phát biểu kể trên của thi sĩ Hoàng Cầm chỉ là một kiểu nói khiêm tốn. Trong thực tế, Hoàng Cầm đã ban cho Lá Diêu Bông một sinh mệnh, chứ Lá Diêu Bông không hề tạo được định mệnh cho Hoàng Cầm. Bằng phương pháp nào Hoàng Cầm đã mang sinh mệnh đến với Lá Diêu Bông? Sinh mệnh của thi phẩm chính là sức sống của thi phẩm đó trong lòng người. Nói đến lòng người tức là nói đến sự thuận hợp với Lịch Sử quan. Cách nay hơn bốn thập niên, mặc dù bị chế độ Cộng Sản bưng mắt bịt tai, Hoàng Cầm vẫn nhìn ra Sử Quan con người: lấy tự-do dân-chủ làm hướng tiến của lịch sử. Lá Diêu Bông chuyên chở ba chủ ý:

– Tố cáo chế độ CSVN phản dân chủ, nhân quyền.

– Nói lên nỗi đau khổ của người dân bị “ép duyên” phải sống với chế độ độc tài.

-Trình bày những di hại của chế độ phản dân chủ qua nhiều thế hệ.

Điều quan trọng không là tác giả đã nghĩ gì khi sáng tác ra bài thơ. Mà điều quan trọng chính là những cảm nghĩ của người đọc trải dọc theo chiều dài sinh mệnh của bài thơ. Người nghệ sĩ không thể và không cần tiên liệu mọi phản ứng của người đọc đối với tác phẩm của mình sau một thời gian dài tác phẩm đó đã đi vào dòng đời. Người nghệ sĩ bao giờ cũng sáng tác trên lập luận rằng: bên cạnh tiêu chuẩn về nghệ thuật, phương pháp xây dựng sinh mệnh cho tác phẩm đòi hỏi tác giả phải có khả năng tạo điều kiện cho tác phẩm sống thuận chiều với lịch sử. Nói cách khác, tác giả cần có lịch sử quan thích nghi.

Tóm lại, bản thể của Lá Diêu Bông là ước vọng tự do dân chủ được gói ghém bên trong một câu chuyện thiết tha, trữ tình và duyên dáng. Nhận thức của Lá Diêu Bông là những nhận thức đạt mức quân bình hữu lý giữa hai nhu cầu. Bên này là nhu cầu an toàn của người cầm bút. Bên kia là nhu cầu chuyển gửi một cách trung thực những cảm nghĩ sâu sắc của tác giả đến với người đọc. Phương pháp của Lá Diêu Bông là phương pháp vận dụng lịch sử quan con người, lịch sử quan của tự-do dân-chủ nhân-quyền nhằm gầy dựng sức sống bền bĩ và hấp dẫn cho tác phẩm. Trên cả ba mặt bản thể, nhận thức và phương pháp, Hoàng Cầm quả thực là tác giả tuyệt hảo của Lá Diêu Bông.

Đỗ Thái Nhiên

Nguồn: http://vietluan.com.au/la-dieu-bong/

Tấu Khúc Biển. Thơ Hư Vô


Mùi biển còn thơm đêm tóc rối
Trên vai tôi đã biết hoang đàng
Em về giũ áo phơi nhan sắc
Cho còn lãng đãng thoáng mây tan.

Làm sao em biết tôi thao thức
Đá xanh đâu dễ đã bạc tình
Hồn tôi như thể con nước lớn
Chờ em động bóng để hồi sinh!

Biển tấu âm ba lời sóng biếc
Tiếng đêm tan tác giữa muôn trùng
Tôi bơi đắm đuối trong lòng mắt
Nghe còn đẫm lệ dấu tình chung.

Dẫu qua mấy biển em vẫn thấy
Theo từng ngọn sóng cuốn nhau đi
Đêm có dài thêm hương tóc rối
Thì em cũng đã mới xuân thì…

Hư Vô

Nhà văn Dương Hà và Bên Dòng Sông Trẹm. Tuỳ bút Nguyễn Thị Hàm Anh


Nguyễn Thị Hàm Anh

Lời giới thiệu: Nhà văn, nhà báo Dương Hà vừa qua đời vào hôm thứ Hai 20.8.2018 tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi. Tên thật Dương Văn Chánh, sinh ngày 25-2-1934 tại Bạc Liêu và sống ở Sài Gòn. Ông là một nhà báo, nhà văn nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975, từng cộng tác với nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn và là tác giả của gần 60 tác phẩm, trong đó cuốn “Bên Dòng Sông Trẹm” được nhắc đến nhiều nhất. Bài viết dưới đây của tác giả Nguyễn Thị Hàm Anh viết cách đây vài năm và xin đăng lại để tưởng nhớ một trong những nhà văn hóa có tiếng ở Miền Nam trước 1975.

(Việt Luận – The Vietnamese Herald)

(Chân dung nhà văn Dương Hà)

Tôi qua phà Thủ Thiêm. Nhìn sông Saigon rộng lớn vỗ sóng bên mạn phà, tôi liên tưởng đến tên một con sông của cuốn truyện vừa mới xem. Sông Trèm Trẹm ở Cà Mau chia vùng U Minh thành hai miền U Minh Thượng và U Minh Hạ. Dòng sông chảy qua huyện An Minh (Kiên Giang) và Thới Bình (Cà Mau) đã trở thành nổi tiếng khi nó được đặt tựa cho một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Dương Hà: Bên Dòng Sông Trẹm.

Tôi đang trên đường đến thăm nhà văn. Trước kia ông ở đường Cao Thắng- quận 3, nay dọn về Thủ Thiêm- quận 2 ở cùng với một người con gái. Con đi làm suốt ngày. Thủ Thiêm còn vắng vẻ, ít hàng quán, chợ búa nên thỉnh thoảng ông phải vào nội thành mua thức ăn về dự trữ. Một mình trong căn nhà rộng rãi, buồn quá nên ông ra quán nước gần đó. Điểm tâm xong, với ly bia trước mặt, ông thường ngồi đấy luôn từ sáng đến chiều tối mới về. Ngày nào cũng đều đặn, giống nhau như vậy.

Mặc dù bữa rượu hôm trước còn ngầy ngật nhưng ông vẫn nhất định kéo mọi người ra ngoài. Ông cười nói: Ngồi quán mới khí thế…

Nhà văn Dương Hà tên thật Dương Văn Chánh, sinh năm 1934 tại Bạc Liêu, đáng lẽ học ở Cần Thơ, ông bỏ quê lên Saigon sống. Ông là bạn đồng môn với nhà văn Ngọc Linh, Hoàng Hải Thủy, Phượng Hải ở trường Tân Thanh. Lúc bấy giờ Tân Thanh có hai chi nhánh. Một trường nằm trên đường Phạm Hồng Thái do kỹ sư Phan Út làm hiệu trưởng, trường kia nằm ở cư xá Đô Thành do ông Thái Sanh Khương đứng đầu nơi nhà thơ Trần Tuấn Kiệt theo học.

Ở thành phố một thời gian ngắn, ông bắt đầu thử sức vào nghiệp văn rất sớm. Từ năm mới mười mấy tuổi, ông đã gửi truyện ngắn cho báo Tin Điển của Nguyễn Dân.

Sau đó vào năm 1952, ông làm thư ký toà soạn cho tờ Mạch Sống, Nhân Loại. Rồi chuyển qua thử viết phóng sự gửi cho tờ Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc.

Khoảng 53, 54, ông chuyển qua cộng tác với Saigon Mới. Bắt đầu công việc của một phóng viên quèn, ông chạy lui tới bệnh viện, tòa án, cò bót… để lượm lặt đủ loại tin cung cấp cho mục Từ Thành Ra Tỉnh. Tuy nhiên bà Bút Trà rất biết nhìn người, sau này bà không giao cho ông chạy phóng sự nữa mà chỉ chuyên viết tiểu thuyết hàng ngày thôi. Ông rất hợp với cái “e” của bà Bút Trà. Dần dần, giã từ luôn công việc phóng viên chuyên đi lấy tin vặt, nhà văn Dương Hà chỉ chuyên tâm vào lãnh vực tiểu thuyết. Mọi việc trở nên dễ dàng với ông. Khoảng 1955, 57, cùng lúc làm các phụ trang Điện Ảnh, Tân Nhạc, Kịch Trường, Sân Khấu…, ông viết feuilleton đầu tiên cho báo Saigon Mới, sau đó cùng lúc viết cho các tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Thẩm Mỹ…

Truyện hàng ngày hấp dẫn, phù hợp với độc giả phụ nữ của báo. Loại tiểu thuyết này lôi kéo lượng độc giả tăng hẳn lên, nhờ thế báo bán rất chạy. Ông bắt đầu nổi tiếng nhà văn viết feuilleton ăn khách. Cứ vừa đăng hết truyện trên báo là ông cho ra sách ngay. Truyện đã lôi cuốn trên nhật báo nên khi in thành sách tiêu thụ rất nhanh. Những cuốn này về sau đều được tái bản nhiều lần.

Làm phóng viên phải chạy lấy tin nhưng viết tiểu thuyết chỉ cần nằm nhà. Ông thuê phòng ở khách sạn Đại Nam, ngồi viết miệt mài suốt ngày. Đến giờ, thợ sắp chữ các báo đến tận khách sạn lấy bản thảo của ông.

Sau thời kỳ Hồ Biểu Chánh là Lê Minh Hoàng Thái Sơn… Ngọc Sơn rồi đến giai đoạn tung hoành của thể loại tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội feuilleton mà tiêu biểu là nhà văn Dương Hà, Trọng Nguyên, bà Tùng Long, bà Lan Phương…

Với giọng văn rặt Nam bộ, tiểu thuyết của ông rất được ưa thích. Ông lồng những câu chuyện tình yêu muôn đời vào bối cảnh thực tế. Khung cảnh, địa danh trong truyện đều có thật, ai cũng biết. Đó là màu đỏ quạch đặc biệt của nước sông Trèm Trẹm vào mùa mưa, hàng dừa nước ven kênh rạch, chiếc tam bản thương hồ ngược xuôi trên kinh Xã Thoàn, kinh Phó Sinh… Ngoài ra còn cảnh giã gạo, xay lúa, chèo thuyền… là những sinh hoạt ngày thường quen thuộc.

Vì thế khi đọc truyện, độc giả cảm thấy do địa danh có thực, trong bối cảnh với tình tiết thật mà ai nấy từng nghe đến, đi qua, thậm chí ở ngay đó. Những ngang trái, éo le, vì thế trở nên gần gũi, đời thường hơn. Câu truyện hư cấu dường như cũng biến thành chuyện thật xảy ra quanh quất. Tới nỗi ngay cả độc giả cũng có người tin nó từng xảy ra ở địa phương của mình.

Theo như cách viết tiểu thuyết bấy giờ, giống như Hồ Biểu Chánh, Lê văn Trương… nội dung truyện Dương Hà bao giờ cũng là những mối tình trắc trở, trong chiến tranh ác liệt, đạo lý cổ xưa vẫn được giữ gìn. Kẻ ác bị đền tội, người hiền lành nếu không nhận một kết cục có hậu thì đổi lại cũng được sự thông cảm, yêu mến của độc giả do nhân nghĩa luôn được đề cao.

Khi ấy thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết Dương Hà. Lúc đó, ông kết bạn thân với Hoàng Hải Thủy, Thanh Nam, Hoàng Anh Tuấn… Chủ nghĩa hiện sinh chỉ sau này mới xuất hiện với các nhân vật nổi loạn nằm trong một dòng văn học mới mẻ mang tên một loạt các tác giả mới.

Tác phẩm đầu tiên ra đời của ông là tập truyện ngắn có tên Bên Song Cửa. Sau này ông in sách ồ ạt. Tổng số đầu sách có đến năm, sáu chục quyển: Anh Ơi Đừng Yêu Em, Đứa Con Rơi, Em Vẫn Chờ Đợi Anh… Theo thời gian, sách bị mất, thất lạc, bị đốt cháy… nay chỉ còn sót giữ được độ bốn, năm quyển. May mắn trong đó có Bên Dòng Sông Trẹm.

Thật ra, đây không phải là cuốn tiểu thuyết ông thích nhất nhưng lại được độc giả ưa chuộng nhất. Khi nhắc đến tên Dương Hà là phải nhắc đến tác phẩm này. Đến nỗi rất nhiều người biết tiếng cuốn truyện dù chưa từng đọc qua.

Bên Dòng Sông Trẹm kể về mối tình trắc trở nhưng đẹp đẽ, đầy hy sinh cao quý giữa hai nhân vật chính là chàng điền chủ trẻ tuổi Triệu Vỹ và cô thôn nữ Mỹ Lan. Cuốn truyện phổ biến tới nỗi nhiều lần được đưa lên sân khấu kịch và cải lương. Hiện có hãng phim cũng đang muốn chuyển thể kịch bản dựng thành phim sau thành công của một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

Song song với việc viết feuilleton, ông còn ra báo. Đó là các tờ Miền Nam, Sống Mới, Diễn Đàn… nhất là nhật báo Dân và tuần báo Phụ Nữ Đẹp rất ăn khách. Vừa nhà xuất bản, vừa nhà in Đẹp, ông làm không xuể, lại cho ra nhà xuất bản Kim Lệ in sách của Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Nguyên Vũ… Nhà văn bản tính xuề xòa, công việc điều hành báo chí và nhà xuất bản chủ yếu do vợ ông trông nom. Bà quản lý giỏi nên nhà xuất bản phát triển mạnh mẽ. Vì thế ngoài lúc viết lách, ông dành thời gian chỉ rong chơi cùng bạn bè.

Vừa uống ngụm bia, ông lại nhấp ly rượu. Một vại bia và một ly rượu để trước mặt, ông uống xen kẽ tới lúc cả hai cùng cạn. Nhà tận ngoại ô, khó gặp bạn bè. Một bữa điểm tâm ngoài quán, một bữa tối sơ sài ở nhà, ông cứ mỗi ngày một mình đóng đô ngoài quán. Nhìn mông lung ra đằng trước quán, đám rau muống xanh biếc phủ dày mặt ao, ngoài xa xe cộ qua lại thưa thớt, ông than thở bạn già người mất hết, kẻ đi xa chẳng còn ai, độc ẩm mãi thật chán. Khi tôi hỏi còn viết tiểu thuyết nữa không, ông lắc đầu cười xòa:

– Tiểu thuyết gì nữa. Gác bút rồi. Bây giờ chỉ muốn viết hồi ký thôi.

Quả là ngay từ sát năm 75, ông đã bớt viết truyện mà chỉ in lại các tác phẩm cũ. Ông sống quá nhiều, kinh nghiệm, hiểu biết quá dày cho một cuốn hồi ký có thể ra đời. Nhưng rồi ông chỉ vào ly rượu trước mặt, lắc đầu nói ngay:

– Muốn viết lắm nhưng mắc cái này làm sao viết nổi!

Không phải bây giờ mới uống. Từ xưa vốn là người thích la cà, ông có thể ngồi uống với bạn bè cả ngày, cả buổi được. Một cuốn hồi ký chắc chắn rất hấp dẫn nhưng thật khó để thực hiện khi tuổi già đã nhấm nháp nỗi cô đơn vào men rượu.

Chỉ còn cuốn Bên Dòng Sông Trẹm mới tái bản nằm trước mặt ông. Đứa con yêu quý của đời văn sẽ còn lại mãi mãi với đời…

Nguyễn thị Hàm Anh

Quán Thơ Hư Vô 332


BÀI THƠ TÌNH THỨ 101

Bài thơ tình thứ một trăm lẻ một
Tôi lần mò viết đủ số cho em
Là bài thơ của những đêm không ngủ
Màu mắt em hoang dã giữa lòng trăng.

Soi thấu tim tôi ngang hàng nến lụn
Vòng tay cùng tận níu bóng nhau về
Khúc Chopin cuồng quay đêm nguyệt thực
Lùa tôi tan vào vực thẳm u mê.

Tôi viết cho em bài thơ tình kỳ quặc
Trong cơn say thảng thốt một hơi người
Mà cả đời mùi hương còn dậy mộng
Bỏ lại tôi chết đứng chỗ không tôi!

Dấu tình nhân còn in trên lưng nguyệt
Em mang đi khập khiễng gối chăn nhàu
Một trăm lẻ một khúc tình tuyệt tự
Nảy sinh từ giọt máu đã xanh xao…

Hư Vô

MÀU NẮNG THÁNG GIÊNG

Vẫn còn đó hàng cây xanh lá mới
Xanh màu trời trong mắt nắng tháng giêng
Nghe từng ngày mang mùa qua rất vội
Còn bên đời tôi một nỗi chung chiêng…

Im một chỗ tôi ngồi bên góc phố
Sớm mai nhìn một ngày mới đang lên
Hồng chút nắng tháng giêng trên lối nhỏ
Thấy quanh mình chìm khuất những thân quen

Có khi nắng trở vàng trong chiều muộn
Là trong tôi đã thấy bóng xuân tàn
Mùa cũng trôi theo năm dài tháng rộng
Trôi qua tôi thêm tuổi đã bao lần

Tháng giêng về ngày vẫn thơm màu nắng
Còn chiều tôi nghe gió tạt qua đời
Nắng trưa xanh, nắng mai hồng buổi sáng
Chút nắng vàng còn lại với chiều tôi !…

Sông Trẹm

EM VỀ TẾT CẢ GIÊNG HAI

Tưởng rằng xuân đã cạn ngày
Rượu còn đôi chén hiên mai úa vàng
Xuân qua rồi sẽ phai tàn
Nắng rơi rớt giọt khẽ khàng mong manh

Thế rồi em đến cùng anh
Mưa chan nỗi nhớ tình xanh nụ hồng
Xôn xao hoa cỏ thơm nồng
Mùa xuân khẽ hát bềnh bồng tiếng chim

Ô hay đã hết rằm giêng
Mà hoa vẫn nở mà đêm vẫn dài
Em về tết cả giêng hai
Hoa kia hôn bướm đắm say trên cành

Hay vì đậu giữa đời anh
Môi em thanh khiết ngọt lành lâng lâng
Từ đêm huyền diệu thơm ngần
Hôn em cùng với mùa xuân tràn về …

nguyễn minh phúc

SỰ THẬT

mây xám nghĩa là đang trọng đông
rét căm căm. rét tự trong lòng
nhớ sao nhớ lạ lùng không biết
trách lửa ngồi hơ thuở mẹ còn…

bây chừ gió máy không chừng đỗi
mới ấm khi trưa. tối rét rồi
nhà anh xang gió mùa đông bắc
ai chắn che giùm lúc lẻ đôi.

nhớ dạo quay về thăm cố quận
bờ tre gầy ốm chẳng ai canh
con chó buồn thiu ngồi ngáp vặt
bất cần thế sự ở chung quanh.

nhìn ra phố xá vui như tết
nhậu nhẹt hát ca thật vui vầy
tội nghiệp dân tình vô tư quá
chẳng hiểu cơ đồ rách đó đây.

anh cũng ham vui nhưng chẳng thể
say sưa như kẻ bất cần đời
cũng may còn được cô hàng xóm
đốt lửa nhen lòng chuyện bể khơi.

Đức Phổ

THƠ CHO TÓC DÀI

Tóc dài kia quấn chặt lấy hồn anh
Gần suốt đời mà nào em đâu biết?
Đêm tình mộng ru những lời tha thiết
Chỉ có tim mình là biết rung chuông…

Em vô tình đâu biết những yêu thương
Anh cuộn tròn cô đơn nơi chăn chiếu?
Mùa xuân lò rất nhanh qua cửa sổ
Như mắt em hun hút thoáng mơ hồ!

Rưng rức hoài khuya tận mé hiên thơ
Giá như gặp được em ngày ấy nhỉ?
Anh sẽ bưng trái tim làm quà hoan hỉ
Tặng tóc dài thay sính lễ cầu hôn…

Sa vào ăn năn . anh nghiêng ngả bồn chồn
“Em có chồng” thế là tiêu đời lãng tử!
Bao nhiêu năm lăn vòng vòng do dự
Sợ nói ra sẽ trúng mũi tên buồn…

Chừ lặng lẽ ôm kỷ niệm đem chôn
Một nơi chỉ có riêng mình anh biết
Nơi ngàn trùng, hình như trời sắp Tết
Chỉ xin em một sợi tóc ăn mừng…

Trần Dzạ Lữ

TÌNH VỘI THÁNG HAI

Lòng tôi vừa tháng Chạp
Tình em vội giêng hai
Vàng hoa tôi hàm tiếu
Nụ hồng em mãn khai

Lòng vườn tôi cửa mở
Gió reo ngoài hiên khuya
Tưởng em về như thuở
Tôi giao thừa cơn mơ

Bàn tay nào thả nhẹ
Từng giọt – sương – tôi buồn
Bàn tay nào chạm khẻ
Vào nỗi nhớ mênh mông

Dòng sông em muôn kiếp
Chảy buốt lời chia xa
Tôi ngồi trên bến vắng
Đếm từng mùa xuân qua.

lê văn trung

CŨNG ĐÃ PHÙ DU

mưa ở Huế mà mưa còn tạnh
huống chi mưa như mưa bóng mây
ta với em tình kia đã cạn
đúng sai chi cũng tội cho đời

chỉ có trăng buồn hơn một chút
quay về đầu núi ngủ trong sương
em với ta lòng nhau đã bạc
cúi đầu xin từ tạ muôn trùng

cũng chẳng có gì ta để lại
câu thơ bát ngát phía sau trời
chẳng có gì khi em muốn gửi
chút lỡ làng ngắn ngắn phù du

để thuở làm người thôi tiếc nhớ
bấy ơn nhau cũng đã không còn
ta cúi lượm coi ngày rất cũ
chiếc lá từng thao thức vì em…

Hoàng Lộc

KHÚC MÊ CA & TÔI

Xin đêm hỡi ,dài thêm chút nữa
Để nhung êm lau bớt ưu phiền
Nơi nguồn suối dường như đã cạn
Có loài sâu hóa kén trong đêm

Sương cứ rót lệ hồng vào cốc
Uống đi em say khướt môi mềm
Mai mốt khi rừng thẳm gọi tên
Vơi cơn khát đường xa khúc khuỷu

Gió đong đưa ủ ê cành liểu
Nửa chừng xuân vội héo màu xanh
Quắt quay hồn xót yến thương oanh
Mờ mờ bóng chênh vênh dốc núi

Phía bên kia mây che từng búi
Nhạt cánh đào trắng bụi tuyết hoa
Bên này mai rớt lụn chiều tà
Chim than khóc mùa tàn ảo mộng

Trên bến vắng vạt tà áo rộng
Xin chén quên sông nước Vọng Xuyên
Xin cuộc đời một cõi an yên
Đốt ngọn nến tuổi buồn ấm lại

Thiên Di

NẾU CÒN NGÀY MAI…

Em ở lại sân ga
Đèn khuya vàng hiu hắt.
Chị xuôi tàu về xa
Nghe lòng buồn quặn thắt.

Ba mươi năm dằng dặc
Gặp nhau nói vài câu.
Chị hối hả lên tàu
Nhìn em chưa kịp rõ.

Thời gian nhanh như gió
Vút qua… hết một đời.
Ngoảnh trông về lối cũ
Nắng vãn rồi bên sông.

Chị sắp qua mùa đông
Lá vàng rồi rụng hết.
Ngày nào đôi mi khép
Là một đời hư không…

Gió lạnh thổi từ sông
Tàu sắp qua ga lẻ.
Hẹn mai này em nhé!
Nếu chị còn…ngày mai…

Phan Mạnh Thu

Đêm Giã Từ Sài Gòn. Thơ Hư Vô


Hồn tôi đang lăn chậm
Theo nhịp thở Sài Gòn
Đêm giã từ quán trọ
Còn quấn quít mùi hương.

Ngọn đèn vàng đứng đợi
Bàn tay em nôn nao
Bám vào tôi thật chặt
Rồi cũng vuột mất nhau!

Đêm Sài Gòn mưa nhẹ
Vừa đủ ướt mi em
Vậy mà hồn tôi đã
Trôi bồng bềnh lênh đênh.

Bỏ lại nhau ngày tháng
Những đắm cuồng mê man
Một thời tình lãng đãng
Còn dấu tích hoang đàng.

Chỗ tim em vụn vỡ
Chất đầy nỗi mong manh
Xanh xao tựa chiếc lá
Vụt hối hả lìa cành.

Sài Gòn như con gái
Đêm đánh thức mùi hương
Cho ngang tàng tóc rối
Phất phơ em dọc đường.

Đứng chờ chuyến tàu cuối
Chở buồn đầy sân ga
Tôi là gã lữ khách
Đâu có phố, có nhà.

Đến, đi như chiếc bóng
Rồi đời cũng hư không
Chỉ còn giọt nước mắt
Em bỏ lại sau cùng…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 331


ĐÊM ĐÁNH THỨC SÀI GÒN

Em về như gió chướng
Đêm đánh thức Sài Gòn
Cho tôi được cuồng đắm
Trong tận cùng mê man.

Còn bàng hoàng hấp hối
Lần chết đuối trên môi
Như loài chim Thorn Birds
Lao thẳng xuống vực đời!

Chỗ hạnh phúc thảng thốt
Nhói tựa dấu gai đâm
Ngón tay em bén ngót
Bấu vào nỗi thăng trầm.

Em về đêm mưa lớn
Tạt cho đầy chiêm bao
Tôi bềnh bồng lảo đảo
Đau đã tới ngọt ngào!

Hồn lơ mơ lạ lẫm
Đêm lăn lóc Sài Gòn
Không trăm năm thì cũng
Còn một lần tình nhân…

Hư Vô

XIN EM TRẢ HẾT DẠI KHỜ CHO TÔI

Cuối cùng tay cũng rời tay
Người đi từ buổi mưa bay ngập trời
Điếng hồn sương khói chơi vơi
Bóng tôi về với mây trôi cuối chiều

Cũng đành đắng một lời yêu
Tình phai từ độ hắt hiu môi cười
Ngỡ ngàng úa lá thu rơi
Tôi ngồi chết lặng một trời tương tư

Chiều tàn níu mộng phù hư
Thả vào đâu cũng ngất ngư bão lòng
Đưa người lạc lối bờ sông
Mà nghe sóng vỗ bềnh bồng mang theo

Còn đây mưa rớt hiên chiều
Tôi ngơ ngác níu cô liêu đợi chờ
Hỡi đời bạc kiếp bơ vơ
Xin em trả hết dại khờ cho tôi…

Nguyễn Minh Phúc

ĐỜI KHÔNG CÒN GÌ

thôi rồi em đã của ai
buồn chi – em cũng một thời của anh
gió qua, lá rớt sân đình
làng xưa lo nỗi bồng bênh phận người

em xa thì đã xa rồi
ngàn sau cố quận đâu lời cố nhân?
anh về ngó lại hiên sân
trời xưa thì đã lắm lần mây xưa

trái tim từng nhịp cuối mùa
nổi trôi củi mục cũng vừa mấy sông
ơn em một bữa theo chồng
để anh kịp biết đời không còn gì!

Hoàng Lộc

CHIỀU CUỐI NĂM

biết trải bao lần chiều cuối năm
trời tây sương khói đã khuất rằm
sống lê như kẻ chờ tắt bóng
chiều vội rơi. sầu chảy âm thầm.

rồi một sớm mai nào thức dậy
đời chưa sắm kịp buổi sum vầy
ngẫm chuyện trăm năm chừng ngắn ngủi
sáng. trưa chớp mắt đã tan ngày.

chiều cuối năm ai người nhúm lửa
sưởi hồn che đỡ ngọn bấc đưa
nhà ba gian chật lòng trung hiếu
cội mai già kịp trổ bông chưa!(?)…

thân đơn. hồn lẻ. tình xa ngái
chiều xuống gần thêm phần ái ngại
sống nữa sẽ thừa thêm chút nữa
cuối năm nào lòng cũng u hoài.

chiều cuối năm xin đừng qua vội
phút tàn mùa buồn lắm tuổi tôi
đã sống một đời như tuồng tích
múa may gì cũng thế mà thôi!…

Đức Phổ

CÕI TÌNH XA….

Chiêm bao về người áo mỏng
Bay trắng nửa đời ta mong
Vi vu mối sầu thoáng động
Cõi tình xa ấy như không

Lênh đênh một dòng tóc thả
Ngậm hai bờ nắng môi son
Mắt em soi ngàn bóng lá
Ủ tình trên nhánh vai ngoan..

Em có về qua mùa gió
Có thương một trời mưa sa
Cuối miền hư hao còn đó
Sửng sờ nỗi nhớ nguy nga..

Áo bay một thời trắng quá
Trắng rồi mấy ngả chia tan
Ngồi trông nỗi buồn óng ả
Tháng ngày gù nặng vai mang..

Chợ đời không dung chí cả
Em còn dung nữa tình ta
Tình yêu một thời trao..trả
Còn gì… Ta lại thương ta….

Trung Chinh Ho

XUÂN ĐẾN

Chiều êm rung động tiếng tơ đồng
Nắng nhẹ đong đưa tiễn gió đông
Bờ liểu tóc xanh soi nước biếc
Nhạn bay lẻ bạn xuyến xao lòng

Người ấy đi rồi con phố vắng
Đường xa hiu quạnh gót phiêu bồng
Thương ai áo bạc mầu sương gió
Nhìn khói lam chiều chạnh nhớ mong

Xuân đến hiên nhà chim ríu rít
Ra vườn em hái mấy cành bông
Má hồng e ấp, mơ thầm kín
Song cửa tựa vai mãi ngóng trông

Chiều nay bướm trắng đậu cành hồng
Ngớ ngẩn làm rơi giọt sương trong
Buồn quá vì ai quên lối hẹn
Để mây tím sẫm cả hoàng hôn

Thiên Di

MỘNG CŨ

Mùa trôi giấc mộng
Hồn vờn mây xưa
Tình không hóa bướm
Sao thành cơn mưa?

Áo vàng dải lụa
Ửng đỏ tà dương
Chiều buông tiếng ngựa
Hí dài trong sương.

Đá in bóng núi
Tím thẩm đồi nương
Vẳng trong tiếng suối
Khúc hát thiên đường.

Tình treo quán trọ
Kiếp người đa đoan
Ngủ yên phận cỏ
Điệu kèn bát âm.

Môi thơm mùi táo
Ngọt đóa quỳnh hương
Tôi về nương náu
Giấc mơ vô thường.

Từng viên đá cuội
Lăn trầm ăn năn
Cánh chim hấp hối
Mộng người trăm năm?

Nguyễn An Bình

TÌNH XUÂN

Lòng đã chạp, vàng hoa tôi vội nở
Mà mùa xuân còn ở cuối phương người
Lòng chưa tết mà đất trời ươm nỗi nhớ
Rượu lòng ai còn ủ mật phía đời vui

Chiều đã chạp, chiều xanh, chiều biếc ngọc
Con én tình rối rít gọi tình ơi
Ai gõ nhẹ vào đàn tôi suối nhạc
Rừng xôn xao gió hát gọi mây trời

Lòng đã chạp, lòng xanh tôi trổ lộc
Mà xuân em còn bến cũ neo thuyền
Tôi – sóng – vỗ vào bờ em thao thiết
Lòng xuân chưa? Tình đã nở vô biên

Áo hoa nở hay lòng hoa nở tết
Vàng hoa tôi nhuộm thắm giấc mơ người
Xin về nở giữa lòng tôi tháng chạp
Tô lên chiều màu đỏ thắm son môi.

Lê Văn Trung

BÀI THƠ THÁNG CHẠP

Nửa đêm thức giấc thương mình
Đời trơ gốc rạ khi tình gặt xong…
Em đi hơn hớn bên chồng
Để ai gặm nhấm tàn đông thẫn thờ?

Nửa đêm thức giấc nghe mưa
Quặn trong tiếng nhớ Huế vừa chiêm bao…
Đồng tiền rớt đáy sông sâu
Đau tôi lặn hụp xót cau xa trầu!

Trùng trùng sóng vỗ ngàn dâu
Nụ hôn sửng lại…môi đầu hàng môi!
Tay thôi níu mộng bên người
Hai hàng nến thắp ngậm ngùi sao em?

Chưa bình minh đã mòn đêm
Gắp thương nhớ để nốc thêm lượng sầu
Mùa xuân chỉ ở lầu cao
Vói chi con mắt đã nhàu nát thương?

Trần Dzạ Lữ

Bài Thơ Tình Thứ 101. Thơ Hư Vô


Bài thơ tình thứ một trăm lẻ một
Tôi lần mò viết đủ số cho em
Là bài thơ của những đêm không ngủ
Màu mắt em hoang dã giữa lòng trăng.

Soi thấu tim tôi ngang hàng nến lụn
Vòng tay cùng tận níu bóng nhau về
Khúc Chopin cuồng quay đêm nguyệt thực
Lùa tôi tan vào vực thẳm u mê.

Tôi viết cho em bài thơ tình kỳ quặc
Trong cơn say thảng thốt một hơi người
Mà cả đời mùi hương còn dậy mộng
Bỏ lại tôi chết đứng chỗ không tôi!

Dấu tình nhân còn in trên lưng nguyệt
Em mang đi khập khiễng gối chăn nhàu
Một trăm lẻ một khúc tình tuyệt tự
Nảy sinh từ giọt máu đã xanh xao…

Hư Vô

Mưa Tháng Chạp. Thơ Hư Vô


Mưa ngang chiều tháng chạp
Ướt tóc người rưng rưng
Đường trơn em bước vội
Cho dài thêm dấu chân.

Là lần em bỏ lại
Trên ngọn cỏ bạc đầu
Giọt mưa như dao nhọn
Cứa đứt lìa đời nhau.

Vết thương còn rịn máu
Bên hiên người quạnh hiu
Tôi như gã lữ khách
Lê thân theo bóng chiều.

Níu mùa xuân vào Tết
Mà buồn đã ra giêng
Còn thấy em khập khiễng
Giữa lối người chông chênh.

Gập ghềnh trong đôi mắt
Có hạt bụi lăn ngang
Tháng chạp đang hấp hối
Bước qua nỗi muộn màng.

Cho hồn tôi lãng đãng
Chạm vào nụ xuân không
Trên môi em một thuở
Đã hoang tàn rêu phong…

Hư Vô

Dã Cúc Xuân Thì. Thơ Hư Vô


Dã Cúc Xuân Thì

Từ em trổ dáng xuân thì
Hương dã cúc bỗng kiêu kỳ thơ tôi
Áo nhăn một phía em ngồi
Bỏ tôi chết đứng giữa chồi gai non.

Em chưa lần biết phấn son
Mà như viên kẹo vẫn còn trên môi
Cho tôi ngây ngất cả đời
Hương 16, của một thời tình si.

Còn nghe hoa cỏ thầm thì
Mùa xuân như thể đang ghì chân tôi
Bước chưa tới chỗ em ngồi
Đã nghe nhịp thở hụt hơi cùng đường.

Đẩy tôi vấp xuống mùi hương
Vàng em dã cúc rắc vườn xuân phai
Phất phơ lụa biếc tơ dài
Bóng em tuột khỏi hình hài, đó em…

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 310


BẾN CŨ

Sông chở tôi về ngang bến cũ
Mênh mang dạt sóng đã xa bờ
Bóng em như thể thuyền bơi chậm
Cả đời còn lãng đãng trong mơ.

Ngày đi chưa kịp lời hò hẹn
Bến nước đò đưa tiếng thở dài
Trường giang xanh tóc em một thuở
Giờ đã mịt mù vai áo xưa!

Tôi về tựa thoáng mây trong tóc
Thả xuống sông xa nhánh bạc đầu
Chỗ có em ngồi phơi dáng nắng
Cho chiều tan chậm đáy sông sâu!

Để thấy bóng em còn bỏ lại
Mùi hương xưa như có linh hồn
Níu tôi vào bến cùng bãi tận
Nghe sóng thì thầm tiếng vô ngôn…

Hư Vô

VỚI NHỮNG CHIỀU BUỒN

Quanh quẩn mãi một lối về hiu quạnh
Mây thì xa và sương cứ chập chùng
Nghe vụn vỡ những niềm vui nhặt nhạnh
Chiều lại chiều tôi ngồi với hoàng hôn

Có chút nhớ một quãng đời đã mất
Em xa xôi và hương cũ qua rồi
Sợi tóc nhỏ làm sao mà ủ ấp
Một cuộc đời đầy những vết thương tôi…

Ngồi hiu hắt nhớ em tà áo mộng
Bay trong tôi thuở ấy thắp mưa hồng
Ôi đẹp quá cõi trần gian viễn mộng
Một lần rồi chìm khuất giữa hư không..

Khi về lại nhìn chiều vàng đã tắt
Rơi giữa hồn cây lá trổ hoang vu
Sao đắm đuối một thời tôi lỡ mất
Hai tay ôm tràn tuyệt vọng xa mù…

Nguyễn Minh Phúc

CHẲNG TIỄN ĐƯA NHAU

Chẳng tiễn đưa, thôi nhé, người về
Ôi lòng tôi là một sân ga
Người về một bóng, tôi một bóng
Mỗi toa buồn một cõi chia xa

Chẳng tiễn đưa, thôi nhé, muộn màng
Tôi đếm từng chiếc lá mùa đông
Gió mùa se lạnh như câu hát
Câu hát tình ru đến bạc lòng

Chẳng tiễn đưa, thôi nhé, người đi
Sương bạc màu trên nhánh sầu lay
Tóc buổi hoàng hôn từng sợi rối
Người xa người, tay nhớ bàn tay

Chẳng tiễn đưa, thôi chẳng hẹn hò
Tôi thắp đèn vàng, lòng như sân ga
Tiếng còi tàu hú lời chia biệt
Bánh sắt lăn bầm nỗi xót xa.

Lê Văn Trung

CUNG NHẠC BUỒN

Cuộc đời nhẹ như cung nhạc
Thời gian là một vần thơ
Nhạc buồn nhạc vui có khác
Thơ êm hay gắt khó ngờ.

Cuối năm quay nhìn trở lại
Bao nhiêu hạnh phúc tuyệt vời
Năm tàn quay nhìn trở lại
Bao nhiêu cay đắng ngậm ngùi.

Những tình thân vừa mới đến
Những tình thân đã qua đi
Đến, đi đều không lời hẹn
Chỉ như một chớp hàng mi.

Cứ cho chìm vào quá khứ
Nỗi buồn lữ khách không nhà
Hay vui như lòng thiếu nữ
Đều là một cánh sao sa.

Nhìn vào tương lai năm mới
Lại thêm những chuyện buồn vui
Những hân hoan và vun xới
Những bi thương của kiếp người.

Cung nhạc đời vừa đổi khúc
Bài thơ đời đã sang câu
Nhạc nghe như là tiếng khóc
Thơ như một tiếng kinh cầu.

Cúi xin hoàn toàn phó thác
Hôm nay và cả mai sau
Nguyện cầu Ơn Trên phù giúp
Bây giờ và mãi bền lâu.

Quyên Di

Ở HAI BỜ NỖI NHỚ

Người xa xứ còn chút gì để nhớ
Một con đò – một bến nước chiều xưa
Trăng thành nội nhuốm một màu cháy đỏ
Lăng tẩm đền đài lặng giữa cơn mưa.

Chìm đáy nước điệu nam ai khắc khoải
Thuyền lênh đênh theo ánh bạc dòng Hương
Đêm ca Huế sao đậm tình nhân thế
Qua Trường Tiền – người lỡ bước trong sương.

Ngày cuối năm thèm nghe câu mái đẩy
Lơi mái chèo xuôi về hướng Đông Ba
Tiếng sênh phách – thời vàng son khép lại
Cát bụi đời người bao cuộc chia xa.

Bước chân em có về qua đại nội
Hỏi lòng nhau còn nhớ chuyện trầu cau
Nhìn ánh mắt đã qua thời nông nổi
Ngồi bên nhau kể hết những bể dâu.

Thả lòng đêm vào hương cau Vỹ Dạ
Đò có về neo bến Phú Văn Lâu
Hoa sứ trắng cuối mùa còn thơm mãi
Người đôi bờ biết gởi nhớ về đâu?

Nguyễn An Bình

ĐÔI BỜ….

lơ mơ giữa khoắt khuya . mềm
trăng rơi ngoài ngõ nghe đêm khẽ khàng
tôi nghe tôi . thủy triều lên
vỗ lao xao . những giọng rền trăm năm

tôi chia tay tôi đôi lần
đã hoang vu lằm một trần gian im
đêm tiễn ngày . ngày đuổi đêm
mòng mòng cút bắt triền miên bấy chày…

thangtram

TÔI NẰM XUỐNG CỎ ĐỒI XANH

Tôi nằm xuống cỏ đồi xanh
Cùng hoa nắng thắp cùng cành gió ru
Tôi nằm mặt đất hoang vu
Cỏ mênh mang cỏ xanh bờ tử sinh!

Đi đâu rồi cũng loanh quanh
Ngày vui bay mất tóc xanh không còn!
Tôi ôm vũ trụ càn khôn
Kiểng chân vào tận đỉnh hồn nhân gian

Trăm năm – khoảnh khắc vô ngần
Nầy xương máu hỡi của trần gian vui
Mai xa mép cỏ ngậm ngùi
Mùa xuân hương sắc chôn vùi lãng quên!

Trần Thoại Nguyên

CUỐI NĂM NƠI CÙNG CỐC

Ngươi ở nơi cùng cốc
Hoa vẫn nở mỗi ngày
Trời vẫn xanh trong mắt
Đất độ lượng an bày…

Chim chóc vẫn về đây
Chia tình bằng giọng hót
Tre pheo cũng thưa thốt
Lời vàng đá chưa phai.

Ta thua người rồi đây
Chí lớn lọt qua tay
Sợ mình như sợ hủi
Trôi sông nào đâu hay?

Cũng là dân cùng cốc
Heo héo trái tim gầy
Ta hồ nghi gương lược
Soi bản mặt lưu đày…

Còn một chiều mưa bay
Thả tâm vào Cựu Ước
Mỗi bàn chân lê bước
Một thương Mẹ thêm đầy!

Cùng cốc nên mắt cay
Cuộc tình xa đến tội
Giờ sầu xưa như ngói
Lặng lẽ ta phương này…

Trần Dzạ Lữ

THƠ TÌNH TƯỞNG TƯỢNG

Em lệnh viết thơ tình cho em đọc
Làm sao anh hư cấu được thơ tình
Ngọn nến nhỏ trong tim thừa hiu hắt
Rung động đầu không vọng chút dư âm

Rơi đâu đó nắm tàn yêu lạnh rũ
Vướng hoàng hôn vạt nắng vuột vòng ôm
Mưa thời đại che đường về góc nhớ
Gai đời ghim nhoi nhói khắp tâm hồn

Cố tưởng tượng thời trai từng say đắm
Yêu mùa xuân tóc ngắn chớm đôi mươi
Đôi mắt sáng nói những lời xanh thẳm
Thả vào anh tiếng hát lộng mây trời

Trong canh bạc vào đời anh thua cuộc
Để phồn hoa xao xác cuốn thu mơ
Khi mê muội yêu người đâu ai nỡ
Giăng câu thơ rào kín lối sương mờ

Lặng lẽ ôm một mối tình tưởng tượng
Lặng lẽ bơi trong cảm xúc hoang đường
Nụ thơ héo rụng lên chiều nhạt nắng
Nhánh hồn gầy không cõng nổi làn hương!

Lưu Xông Pha

Áo Khuya. Thơ Hư Vô



Áo khuya phơi giữa lưng chừng
Hương đêm động thức trên lưng người tình
Mà nghe hồn vía phiêu linh
Tôi ôm chiếc bóng trở mình còn đau.

Một đời mấy bận tìm nhau
Để thương vạt áo xanh xao lỡ làng
Em về phơi thoáng dung nhan
Hồn tôi ở trọ cho tàn cuộc khuya.

Mai kia dẫu có chia lìa
Lời vàng đá còn khắc bia tượng hình
Chờ em trong bận tái sinh
Đời sau trở lại làm tình tội nhau.

Phận người như cuộc bể dâu
Ghềnh khơi cát lỡ đã nhầu bóng tôi
Em về giũ áo ra phơi
Trong hoang phế còn một đời người dưng..

Hư Vô

Tháng Chạp Không Em. Thơ Hư Vô


Trên tầng cao chót vót
Đêm ngó xuống Sài Gòn
Tháng chạp còn thao thức
Chờ em về khai xuân.

Giọt Shiraz đã rót
Chỗ em ngồi bỏ không
Cụng ly cùng chiếc bóng
Rượu quen hơi còn nồng.

Hương tan vào đáy tách
Tôi hớp cùng cạn tôi
Giọt khuya vụt lăn lóc
Trên môi xưa rã rời.

Cho đêm còn tóc rối
Em thả xuống xuân thì
Mà nghe hồn nhỏ lệ
Buồn bỏ lại trên mi.

Tôi quơ quào lảo đảo
Vào tháng chạp không em
Toà tháp cao như cũng
Quằn xuống dòng Thủ Thiêm!

Nơi có lần em đã
Đắm đuối giữa vô cùng
Còn nghe trong nhịp thở
Đang tượng hình hài chung.

Hư Vô

e92305f9-650a-4aaa-a399-af4da0d87768


Chuyến Xe Về Giữa Mùa Xuân. Truyện Ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

chuyến xe về giữa mùa xuân

Theo lời bác tài thì chuyến xe này là chuyến chót. Chuyến cuối cùng của một năm sắp đi qua. Ba mươi Tết rồi còn gì.

Trời xẩm tối rồi. Hành khách thở phào như vừa được ban một ân huệ may mắn. Không may sao được, khi chuyến xe chạy qua cả một đoạn đường gồ ghề, lắt léo mang đầy vết tích của những cuộc giao tranh mà không va phải một trái mìn nào!

Tất cả có bốn mạng ngồi rộng tuyênh toang trên hai hàng ghế. Một người đàn bà chít khăn tang. Một bà cụ mái tóc như sương tuyết. Một cái lồng gà trong nhốt một con chó nhỏ. Và một gã đàn ông thương tật vừa được giải ngũ. Như thế, kể cả bác tài thì chuyến xe có năm mạng sống: bốn người và một con chó nhỏ. Con chó lông đen tuyền, mắt đen tuyền, mõm cũng đen tuyền, cả thân hình của nó là một khối đen cục mịch, lũn chũn, lâu lâu lại thấy phát ra những tiếng rít lên ư ử. Tiếng rít của nó bị át đi bởi tiếng động cơ nổ ồn ào của chiếc xe lam cũ kỹ. Đường nhiều ổ gà. Chiếc xe lồng lên. Lắc bên này. Ngả bên kia. Chồm tới. Giật lui. Đảo lên từng vòng.

Bà cụ có vẻ mệt. Thiếu phụ cũng ngả đầu lim dim lên vách gỗ. Chỉ có gã đàn ông là ngồi lầm lì. Gã mơ màng nhìn ra hai bên đồng lầy. Lúa đang mọc nhưng lưa thưa. Nhiều thửa ruộng xám đen, còn ghi rõ những nét toác nứt nẻ. Một màu xám ảm đạm chạy dài hun hút tới chân trời. Trên cao, mây đục như màu chì đang ngả màu tím thẫm. Gió lồng lộng thổi lùa qua khung cửa hẹp. Chiếc xe vẫn lắc lư. Hai bắp tay của bác tài xế vồng lên. Những đường gân nổi lên cuồn cuộn để chế ngự chiếc xe vật vã.

Vội lắm rồi! Bây giờ là chiều Ba mươi. Chuyến xe này là chuyến chót….Tốc độ xe chợt vọt lên chút nữa theo sự hứng khởi của bác tài. Kim đồng hồ chỉ tốc lực tới tám cây số giờ. Đường sóc như vậy kể là nhanh. Đây là hố mìn chưa lấp. Nọ là di tích của của những chướng ngại vật. Cái xác xe đò cháy rụi hôm nào còn nằm tênh hênh bên lề đường. Rồi những chiếc xe bò vụn nát không còn nhận ra hình thù. Còn có cả những đám tàn than chất đen thui thành từng đụn nhỏ: Xác người, xác trâu bò hay chỉ là dấu tích của những kiện hàng?

……

Bỗng cái xe chợt hãm bớt đà và từ từ chậm lại. Trước mũi xe là một cái hố lớn. Dưới lòng hố là một cái thùng xe đã han gỉ. Sau cái khung xe có bóng một người bận áo đen. Bóng người áo đen bị che lấp chỉ còn một bàn tay gầy guộc giơ lên vẫy. Bác tài xế chùn tay ga, giọng sững sờ sau khi thoáng thấy có cả một họng súng đen ngòm:

– Thôi chết….mình tới số rồi!!

Bóng đen bây giờ đứng hẳn lên. Một khuôn mặt trắng bệch hiện ra sau mớ tóc bù xù. Khuôn mặt rất trẻ, chưa quá hai mươi, đáng gọi là cậu hơn là anh, là chú hay bác. Cậu ta là người “bên kia”. Khẩu súng nói lên điều đó, nhưng nói một cách hiền từ chứ không dữ dằn như bất cứ lúc nào nhào lên xung kích.

Mọi người đổ dồn cả về phía đó. Sự ước lượng bây giờ chính xác hơn. Nhất định cậu này chỉ tới mười lăm. Cậu giơ khẩu súng lên ngang đầu bằng cả hai cánh tay gầy guộc. Vẻ mặt không giấu được sự lo âu, bối rối, cậu ta ấp úng:

– Em…em…hồ…ồi… ch..á..ánh ! Nhờ các bác dẫn về đồn ….

Bác tài trở nên bình tĩnh hơn. Bác đáp lại bằng giọng nửa như giễu cợt, nửa như phân trần:

– Lộn rồi chú ơi! Ở đây đâu có ai là lính. Muốn trở về, chú phải lên tuốt mé trển kìa!

Cậu nhỏ vẫn giữ nguyên cái thế để súng lên ngang đầu, từ tốn bước lên khỏi miệng hố. Rồi như không thấy bóng dáng bộ đồ lính treillis nào, cậu buông khẩu súng xuống, tiến lại gần bác tài :

– Thế thì chỗ nào có lính Quốc Gia, bác chở tôi tới!

Bác tài lắc đầu lia lịa:

– Trễ quá rồi. Tôi đâu có quay lại mé trển. Mà chỉ ở trển mới có lính đóng thôi.

– Xa không?

– Năm bẩy cây số lận!

– Vậy miệt dưới không có ai hết cả sao?

– Không có ai hết! Qua Giêng chắc mới có lính mở đường tới đó.

– Vậy cho tôi theo bác để rồi nằm chờ được không?

– Ý! Làm sao được. Tui có gia đình, tội nghiệp tui!

– Thì bác giữ cây súng này làm bằng. Có khi còn lãnh thưởng!

– Tui hổng ham. Tui không dính vô chuyện gì hết. Tui làm ăn chất phác mà.

Cậu nhỏ sẵng giọng:

– Bác không cho tôi theo thì bác ở đây với tôi luôn!

Bác tài dẫy nẩy lên:

– Ý! Cha Nội! Chơi cửa cha con nhà người ta đó sao! Vậy là tác phong Việt Cộng, chớ hồi chánh nỗi gì!!!

Gã thương binh ngồi ở sau xe, từ nẫy vẫn theo dõi câu chuyện bây giờ mới lên tiếng:

– Theo tôi về được không? Mai mốt tôi dẫn lên đồn.

Bác tài múa hai tay lên:

– Ui da! Vậy là ngon quá cỡ rồi còn gì.

Cậu cán binh rời chỗ đứng, tiến lại phía sau xe. Cậu giương cặp mắt bạc nhược lên nhìn gã đàn ông. Gã nói tiếp:

– Cậu đưa súng cho tôi.

– Bác biết xài hả?

– Mấy thứ này nhằm nhò gì! Lính Quốc gia thu được dài dài..

Cậu cán binh thở phào:

– Vậy mà tôi cứ ngỡ….

– Ngỡ gì?

– Ngỡ bác là người của Mặt Trận.

– Thì sao?

– Thì tôi phải bắn bác trước kẻo bác bắn tôi.

Gã đàn ông mỉm cười :

– Ui ! Đồng chí với nhau cả, sao nỡ tay thế!

Cậu nhỏ ấp úng:

– Tại tôi “quay”. Ở trỏng, tội quay đáng bắn bỏ!

Bác tài xế chờ đợi thấy lâu, vội nói:

– Thôi mời lên xe đi. Trễ rồi.

Chiếc xe lại bắt đầu chuyển động. Nó bò qua một mô cao rồi lũn cũn men theo một lối đi được in dấu bởi chiếc xe mười bánh băng qua những chướng ngại vật.

Cái cảnh len lỏi theo lốt bánh xe này không ai lấy làm lạ. Chuyện ấy bình thuờng. Như một chuyến xe bình thường trở về giữa mùa Xuân trên một giải đất vẫn đang còn triền miên trong khói lửa.

Nhật Tiến

Chải Tóc. Nhạc Anh Bằng – Thơ Hư Vô – Tiếng hát Tôn Thất Mạnh Tuấn – Video Vọng Ngày Xanh


Đêm Đánh Thức Sài Gòn. Thơ Hư Vô


00E55A18-6CE0-4A2C-BA37-BE32B3E0C783

Em về như gió chướng
Đêm đánh thức Sài Gòn
Cho tôi được cuồng đắm
Trong tận cùng mê man.

Còn bàng hoàng hấp hối
Lần chết đuối trên môi
Như loài chim Thorn Birds
Lao thẳng xuống vực đời!

Chỗ hạnh phúc thảng thốt
Nhói tựa dấu gai đâm
Ngón tay em bén ngót
Bấu vào nỗi thăng trầm.

Em về đêm mưa lớn
Tạt cho đầy chiêm bao
Tôi bềnh bồng lảo đảo
Đau đã tới ngọt ngào!

Hồn lơ mơ lạ lẫm
Đêm lăn lóc Sài Gòn
Không trăm năm thì cũng
Còn một lần tình nhân…

Previous Older Entries Next Newer Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: