Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

(Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam đã được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 18, in ngày chủ nhật 26/07/1936 tại Hà Nội)

Mùa hè năm nay, Tâm và vợ chàng về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê. Khi người bạn mời thì Tâm nhận lời ngay, vì chàng tính được chỗ nghỉ mát suốt một tháng hè không phải mất tiền, vả lại tiện hơn nữa, chàng có dịp về thăm nhà cũng ở gần đó.

Hôm ấy trời nắng mà có gió. Buổi sáng, ăn điểm tâm xong, hai vợ chồng Tâm bắc ghế ngồi ngoài hiên hưởng gió mát. Người bạn Tâm vì có việc phải ra tỉnh từ sớm. Tâm sực nhớ đến việc về thăm nhà, mà từ khi về nghỉ đến giờ, chàng cứ để lần lữa mãi. Chàng nói với vợ:

– Hôm nay thế nào tôi cũng phải về thăm nhà mới được.

Vợ đáp:

– Thế còn tôi, tôi làm gì cho hết ngày hôm nay? Ngồi đây mãi thì chán chết.

– Độ năm giờ chiều tôi đã về đây rồi.

Vợ Tâm nũng nịu:

– Thế thành ra suốt một ngày tôi ở đây một mình à? Cậu ích kỷ lắm, chỉ biết nghỉ đến công việc của cậu, mà không nghĩ đến tôi cả.

Tâm ngẫm nghĩ. Muốn chiều vợ chàng bàn:

– Hay là thế này thì tiện nhất. Mợ cùng đi với tôi. Đến ga, chúng ta rẽ vào cao lâu ăn cơm sáng. Rồi mợ đợi tôi ở đấy, tôi về thăm nhà độ một giờ, rồi tôi lại ra ngay.

Vợ chàng bằng lòng. Hai người đánh xe ô tô nhà đi đến nhà ga xe hỏa cách đấy độ một chục cây số. Đến nơi, hai người dạo chơi phố, rồi vào hàng cơm nghỉ.

Tâm bảo:

– Bây giờ mợ đợi tôi ở đây, tôi về thăm bà cụ.

– Phải đấy, nhưng đừng có ở lâu nhé. Cậu chớ quên rằng tôi đợi cậu ở đây đấy.

Tâm mặc áo đi ra, để vợ ngồi trong căn phòng mát mẻ ở hàng cơm. Chàng đi theo một con đường đất đỏ, hai bên toàn cây dâm bụt lá xanh thẳm.

Có đến năm, sáu năm nay, tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế riễu mình, khi còn nhỏ, đã có cái đời ở thôn quê là giản dị, và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bạch dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười.

Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải vượt qua để có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết! Có khi chàng nghĩ giận bà mẹ, vì bà mà chàng phải giấu diếm như thế.

thumbnail

Tuy vậy, khi đến gần đầu làng, Tâm trong lòng cũng thấy cảm động. Hai bên cánh đồng lúa xanh gió đưa như nổi sóng. Trên đường giải đá, mặt đất khô rắn lại và nứt nẻ nhiều chỗ. Tâm nhớ lại cái đất ấy đã làm đau đớn bàn chân non nớt của chàng khi còn nhỏ ngày ngày cắp sách đi học.

Một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai: Tâm ngửng đầu lên nhìn, chàng vừa đi vừa bước vào dưới vòm lá tre xanh trong ngõ. Mấy đứa trẻ nhà quê trần truồng và đen sạm đương chơi khăng ở vệ đường. Khi thấy chàng đi qua, chúng đưa những cặp mắt bẩn thỉu nhấp nháy nhìn, và chùi tay giây bùn vào bắp chân. Nghĩ đến thuở nhỏ, chàng cũng chỉ là một đứa bẩn thỉu như những đứa trẻ này, Tâm tự phụ vì mình bây giờ đã vượt hẳn được cái bực nghèo hèn ấy.

Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân đồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiến gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.

Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:

– Con đã về đấy ư?

– Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? – Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được, vì Tâm thấy cái lãnh đạm của mình.

– Bà ở đây một mình thôi à?

Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:

– Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.

– Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng. Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.

Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:

– Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. – Bà cụ yên lặng một lát. – Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.

Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.

Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:

– Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?

Tâm nhìn ra ngoài đáp:

– Như thường rồi. – Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:

– Ở làng có việc gì lạ không?

Bà cụ trả lời:

– Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm.

Có tiếng người đi ở ngoài vườn. Bà cụ ngừng lại: Có lẽ nó về đấy. Rồi bà cụ cất tiếng gọi:

– Trinh đấy phải không con? Vào đây, có cậu Tâm vừa về chơi.

Một thiếu nữ lách cửa liếp bước vào. Tâm trông ra thấy một cô gái quê ăn mặc giản dị, nhưng sạch sẽ. Đôi mắt Tâm gặp đôi mắt cô ta, đen láy, mở to nhìn chàng:

– Cậu Tâm đấy, con không nhớ ư?

Cô Trinh mỉm cười:

– Thưa, có ạ, ai chứ cậu Tâm thì quên thế nào được.

Hình như lỡ lời, cô thiếu nữ cúi mặt, hơi e lệ. Cái cử chỉ ấy, và lời nói đã không làm cho Tâm cảm động, lại làm cho chàng hơi ghét. Cô gái quê mùa tưởng chàng để ý đến chắc? Vì vậy, Tâm cất tiếng hỏi hơi sẵng:

– Thế nào, cô Trinh còn đợi gì mà không lấy chồng đi cho tôi ăn mừng.

Thấy thiếu nữ không trả lời, Tâm để ý nhìn. Chàng thấy cô ta không thay đổi, tuy có nhớn lên mà vẫn là cái cô bé chơi đùa với chàng thuở còn nhỏ. Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không thay đổi mấy, và tính tình vẫn giữ được y nguyên. Nhưng chàng, thì chàng thay đổi khác hẳn rồi. Những kỷ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa chàng và cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cái đời tối tăm nghèo khổ.

Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả.

Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.

Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy. Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:

– Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.

– Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm.

Tâm lại an ủi:

– Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.

Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:

– Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho.

Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.

Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra:

– Thôi, bà ở lại. Chào cô Trinh nhé. Bảo tôi có nhời hỏi thăm tất cả họ hàng.

Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận.

Khi Tâm bước vào hàng cơm, vợ chàng vui mừng lộ ra nét mặt, vì không ngờ chàng chóng thế. Trời hãy còn sớm. Hai vợ chồng rủ nhau đi ngắm cảnh, đợi đến chiều mát sẽ đi ô-tô về hứng gió.

Hai người đi quanh quẩn trong phố, nhìn những cửa hàng nước tiều tụy của ta và những hiệu lớn của người Khách. Mặt trời xế ngang chiếu ánh nắng lóe vào mắt, và giải vàng lên trên những mái nhà tranh. Chợ đã vãn: những người đàn bà gồng gánh sắp ra về, trên mặt đất đầy những rác bẩn, những vỏ dưa, những lá gói: một cái mùi âm ấm bốc lên, cái mùi đặc biệt, hình như lẫn mùi đất, mùi ẩm, và mùi rác đốt. Tâm nhớ lại rõ rệt những ngày trẻ.

Bỗng nhiên, Tâm giật lùi lại: Một bà cụ già khom lưng dựa bên một cô con gái, đi ra phía ga. Tâm nhận ra bà mẹ. Có lẽ bà cụ muốn được trông thấy con một lần nữa. Chắc bà tưởng Tâm đi xe hỏa. Chàng lộ vẻ khó chịu. Bà cụ còn ra đây làm gì? Tâm sợ lúc bà cụ lại khóc lóc, để cố giữ chàng lại. Hay nắm lấy áo chàng mà kể lể giữa chốn đông người. Chàng tưởng nghe thấy những câu bình phẩm to nhỏ, và trông thấy những cái mỉm cười chế riễu của mọi người. Vợ chàng sẽ nói thế nào?

– Thôi, chúng ta về ngay đi.

Tâm nói như người sốt ruột, giật cánh tay vợ rảo bước mau.

Đợi bà cụ đi khuất đầu phố, Tâm và vợ trở lại nhà hàng trả tiền, rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm ru bắt đầu lướt trên đất.

Khi đến chỗ quặt quá ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô con gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây, Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn mình.

Tâm không ngoảnh lại, chàng nghĩ đến bà mẹ, đến cô Trinh vẫn chơi đùa với chàng thuở nhỏ. Song những hình ảnh ấy như xa xăm lắm, và Tâm vẫn thấy dửng dưng không bận tâm trí. Giữa những kỷ niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản: xe ô tô, vợ chàng, cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ.

Phong cảnh đồng ruộng hai bên đường vùn vụt trốn lại sau như càng làm xa cách chàng với cảnh thôn quê cũ.

Thạch Lam

Advertisements

Tặng Phẩm Cho Em. Truyện ngắn Nhật Tuấn


Nhật Tuấn

(Nhà Văn Nhật Tuấn sinh năm 1942, mất ngày 06 tháng 10 năm 2015)

TÁC PHẨM CHÍNH:

-Trang 17 (tập truyện, 1978)
-Con chim biết chọn hạt (tập truyện, 1981)
-Bận rộn (tiểu thuyết, 1985)
-Mô hình và thực thể (tiểu thuyết, 1986)
-Lửa lạnh (tiểu thuyết, 1987)
-Biển bờ (tiểu thuyết, 1987)
-Tín hiệu của con người (tiểu thuyết, 1987)
-Đi về nơi hoang dã (tiểu thuyết, 1988)
-Niềm vui trần thế (tiểu thuyết, 1989)
-Những mảnh tình đã vỡ (tiểu thuyết, 1990)
-Quê nhà Quê người (chung với Nhật Tiến, 1994)
-Tặng phẩm cho em (tập truyện, 1995)
-Một cái chết thong thả (tập truyện, 1995)

***

Tặng Phẩm Cho Em

Truyện ngắn Nhật Tuấn

Người đàn ông ngồi cuối xe khóc lặng lẽ. Không ai nhìn thấy những giọt nước mắt đang làm nhòa cặp kính đen to tướng. Chiếc xe buýt chạy rất chậm. Con đường dọc theo những ngôi nhà nhiều tầng đang xây. Buổi chiều thu muộn trong veo làm rõ những đường gờ đỉnh núi lãng đãng mây trắng. Trên đó là vệt mòn chân thú chạy ngoằn ngoèo qua tầng lá mục. Những cây đại thụ cổ kính. Chú sóc nào đó nhởn nhơ và vô tư trên sợi dây leo đu đưa. Trên đó nữa là…bầu trời.

“Nó mới nói cuối năm hai đứa sẽ làm đám cưới”.

Cô gái nói bâng quơ bên tai người đàn ông mang kính đen. Trong xe, những người ngồi và những người đứng vẫn im lìm. Tiếng máy rù rì chảy dài trên đường. Bắt đầu lên dốc, người lái gạt cần chuyển số và bất ngờ lên tiếng:

“Chiếc xe này lẽ ra sáng nay chở khách về Hà Nội. Hôm trước nó mới xin tôi cho nó đi nhờ. Nhà chồng nó ở phố Bà Triệu phải không?”.

Không ai trả lời. Xe vẫn chạy rất chậm và lên cao dần. Chiều thu muộn trải ra mênh mông trên dòng sông quanh co. Ven bờ, những máy san màu vàng đang gạt đất, lầm lũi như con dế trũi. Xa hơn nữa những cánh tay cần trục đang quay trên những hàng giáo nhọn hoắt.

“Năm ngoái đã có một người ngã từ giàn giáo tầng năm xuống đất, chết ngay…”.

“Tại sao không đeo dây phòng hộ? Tại sao an toàn viên không kiểm tra? Tại sao…”.

Giọng gay gắt của một người ngồi đầu xe chìm vào tiếng động cơ rầm rì. Không ai trả lời ông ta. Mắt mọi người dường như đang nhìn xuống.

Người đàn ông dừng khóc, đưa khăn tay lau kính. Cô gái ngồi bên nói rất khẽ:

“Ông ấy mới trên tổng công đoàn xuống. Ông ấy đã hỏi rất nhiều câu “tại sao” mà không ai trả lời được”.

“Rồi sẽ phải trả lời. Tại tôi, tại các anh hay tại nó?”.

“Ồ…không đâu. Đã có nhiều chuyện xảy ra không quy được tại ai cả”.

Cô gái nghĩ một điều gì đó, chợt trừng mắt:

“Nhưng rút cuộc, vẫn do một người nào đó chứ”.

“Tôi không biết. Tôi không được biết chuyện đó”.

“Nó hiền như đất ấy. Nó sợ tất cả mọi người. Bố chết, mẹ đi lấy chồng từ khi nó còn bé. Nó ở thuê cho người ta rồi lớn lên, đi công trường”.

Ngưòi đàn ông quay đi và lại khóc trong cặp kính. Xe buýt đi vào thung lũng, không còn nhà cao tầng, không còn cần trục, không còn giàn giáo. Phía trước, những nếp nhà sàn nằm nép mình trong lùm cây xanh tươi. Đường máng nước mảnh khảnh đổ xuống từ sườn núi. Chiếc cối cổ xưa nặng nhọc kéo cần và tự rơi buồn bã. Một con trâu đen bỗng nhô ra từ bụi rậm. Nó nhìn ngây ngô, chớp chớp đôi mắt ướt nhoèn và nhảy quàng lên đồi. Tiếng lục lạc trên cổ lóc cóc điểm vào không gian ngưng đọng.

Sau đó, người đàn ông ngồi cuối xe không còn nhìn thấy gì nữa, ngọai trừ cặp mắt kính đen nhòa nước.

Cô gái ngồi bên nhìn thấy những gương mặt căng thẳng. Tất cả mọi người đều đang nghĩ. Trong giây phút này, không ai là không nghĩ một điều gì đó.

Nguời có tuổi đứng giữa xe nghĩ về trách nhiệm của mình. “Tôi đã đôn đốc thực hiện mọi quy tắc. Tất nhiên, là giám đốc tôi không thể đi lay từng cái cột giáo xem có chắc chắn hay là không”.

Chàng kỹ sư ngồi đầu xe nghĩ về cái “ngày hôm ấy. Thật là may, ngay từ đầu giờ, mình đã đến giao việc tỉ mỉ, đầy đủ cho bà đội trưởng”.

Bà đội trưởng đang âm thầm ngồi ở gần cửa xe. Hai hôm nay, bà luôn luôn cảm thấy bị nhìn bằng những con mắt kết tội.

“Các đồng chí kết tội tôi sao được? Tôi không thể chờ phòng vật tư cấp cho tôi gỗ tốt hơn để làn giàn giáo. Ai cho phép tôi chờ? Tiến độ là cái cao hơn hết thảy. Thành tích của chúng tôi ở đó. Trong hàng trăm cây gỗ, làm sao biết đuợc cây nào đã mục ruỗng ở bên trong? Không ai có thể biết được. Năm nay, đội tôi mất danh hiệu đội lao động xã hội chủ nghĩa là cái chắc. Nhưng cái đó đâu phải tại tôi…”.

Vậy ai là người phải chịu trách nhiệm về nó trong tất cả những gương mặt căng thẳng kia? Ông giám đốc,anh kỹ sư hay bà đội trưởng? Không, không ai cả. Thế còn ông thư ký công đoàn đang trầm tư và ông trưởng phòng tổ chức đang nhìn xuống cuốn sổ ghi chép kia? Cũng không phải nốt. Thôi thì …tại trời.

Nhưng ông trời cũng đã chết từ lâu rồi, chết trong từng mỗi nguời. Trong chuyến xe này, không có ai còn tin cái điều nhảm nhí nói rằng có một ông trời ở trên cao và ở cả trong từng mỗi con nguời. Đó là một bày đặt nhảm nhí, mê tín, dị đoan. Tít trên cao kia có con tàu vũ trụ và sâu mãi trong ta chỉ có ta mà thôi. Và những “cái ta” ấy đều đã sắp sẵn một cung cách tự bào chữa một khi bị hỏi tới trách nhiệm về nó.

Riêng người lái xe, từ nãy vẫn chăm chú nhìn con đường, nghĩ về những chiếc ổ gà sẽ phải tránh, chợt quay lại hỏi to:

“Cái thằng chồng sắp cưới của nó có lên kịp không hả các ông?”.

“Có biết đâu mà lên”.

“Tại sao ông không điện cho người ta?”.

“Nó chưa xin giấy chứng nhận để làm giá thú. Trong lý lịch, nó cũng chưa khai tình trạng hôn nhân. Vậy hà cớ gì phải đánh điện?”.

Rồi ông trưởng phòng tổ chức nói thật to cho mọi người đều nghe thấy:

“Trong mục “Khi cần báo tin cho ai” nó cũng không khai ai cả”.

Người lái xe lại hỏi tiếp:

“Vậy ai sẽ lĩnh tiền tuất? Tài sản của nó sẽ thuộc về ai?”.

Bà tài vụ ngồi ghế trên cùng trả lời rành rọt:

“Không ai được lĩnh tiền tuất cả. Tài sản của nó sẽ bán hóa giá nhập công quỹ. Ngay sau cái lúc đó, chúng tôi đã cử người phối hợp với công đoàn làm bản kiểm kê. Một cái hòm gỗ, hai bộ quần áo, một chăn bông vỏ hoa, một cái gương con và một cái chậu thau”.

Bà tài vụ quay xuống nhìn ông giám đốc và yên tâm về câu trả lời của mình, bà trở lại vẻ mặt rầu rĩ cần thiết.

Trong buổi chiều thu êm đềm chiếc xe buýt chạy rất chậm. Nó đã đi hết đọan đường lớn trải nhựa chạy qua công trường. Nó đã leo đường dốc sang bên kia dãy núi. Nó đang đi vào thung sâu để đến một nơi mà mọi người đều nóng lòng muốn đến: nghĩa trang.

Lẽ ra sáng nay nó chở cô ấy về phố Bà Triệu gặp chồng sắp cưới. Bây giờ nó đang chạy rất chậm theo sau chiếc xe tải chở cô ấy. Đó là đọan đường đi xe cuối cùng của một cô gái công trường. Nhưng lần này, cô không mang theo chiếc hòm gỗ tùy thân chứa đựng tất cả gia tài góp nhóp được sau bao chuyến đi qua các công trường.

Trong chuyến di chuyển này, cô chỉ mang theo chiếc hòm gỗ dài, chứa đựng hình hài của chính cô.

***

Cô nằm trong đó, chiếc quan tài màu đỏ xung quanh đặt những vòng hoa rừng sặc sỡ. Hoa bằng lăng tím ngát, hoa mò o đỏ tươi, hoa tóc tiên vàng dịu. Không tìm được đâu ra bông hoa màu trắng để biểu thị sự trinh nguyên của cô…

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình – đó là lỗi tự thiên nhiên.

Chiếc xe tải đi rất chậm rất chậm cũng không sao tránh hết được những lồi lõm mặt đường. Mỗi lần ổ gà, chiếc quan tài giật nảy, gõ vào thùng xe, gõ vào đầu anh lái, gõ vào chiều thu mênh mông. Con đường, con đường – xin đừng gồ ghề cho cô được nằm yên để đi cho hết đọan cuối cùng. Phađin… Cam Đuờng… Trái Hút…

Những chặng đường cầm mòn cán cuốc, người con gái công trường không bao giờ còn vần chiếc hòm gỗ lên những chuyến xe di chuyển, không bao giờ còn thức dậy trong tiếng kẻng thúc vào giấc ngủ chập chờn, không bao giờ còn bịt khăn vuông kín mặt chống che nắng gió. Màu da cô, thân xác cô sắp được ấp ủ trong lòng đất kín.

Chiếc xe tải đi rất chậm, rất chậm. Đã nhìn thấy màu đất đỏ bãi san sườn núi dùng làm nghĩa địa.

”Ngát ơi..Ngát ơi…”.

Tiếng kêu than níu kéo thảng thốt chấn động trời chiều. Một cô gái ngồi trên xe tải chợt ôm cứng lấy chiếc quan tài đỏ. Đó là người duy nhất phá bỏ tập tục, chít vành khăn đại tang để trở bạn. Suốt dọc đường, cô ngồi bên thùng xe như hóa đá. Đôi mắt cạn khô và vô tri. Dường như cô không còn nhìn cái gì nữa. Cô chỉ thấy ở bên trong cô “cái Ngát”. Nó đấy. Miệng cười mơ hồ, ánh mắt xa xăm, thân quen lắm và cũng xa lạ nhiều.

“Ngát ơi, có đau lắm không?”.

“Không đau đâu, chỉ thấy tối sầm lại rồi có còn biết gì nữa đâu…”.

“Tại cái xô đấy. Lúc giàn gíáo đổ xuống, cái xô úp lên đầu Ngát, hai trăm viên gạch đè lên người Ngát. Rồi thì… thôi, đừng nhắc lại chuyện ấy nữa. Không có cái chuyện ấy đâu. Ngát không chui xuống giàn giáo để gánh nước đâu, cái xô vẫn treo ở đầu hồi đấy. Ngát về Hà Nội với anh Uyên rồi. Vài ba hôm nữa Ngát lại lên, đúng không?”.

“Không đúng đâu…”.

“Đúng đấy, hôm nào Ngát lên, mình phải đi dỡ sắn đấy. Tháng này mỗi người phải trừ một cân gạo tiết kiệm. Cả năm phải cắt đi một tháng đấy. Mình chẳng sợ Ngát nhỉ. Mình đã thái và phơi đuợc ngót một yến sắn khô rồi. Chẳng đói đuợc đâu mà lo. Mình lại còn vạt khoai lang đằng sau nhà kho nữa à… Ngát này, con gà mái tơ sáng nay nó đẻ đấy. Trứng to lắm. Tớ đã cất vào thùng gạo rồi. Chả mấy chốc mà đủ một chục. Dành cả cho Ngát bồi dưỡng anh Uyên đấy. Phấn khởi nhé. Dậy đi…”.

“Không dậy được đâu…”.

“Tháng hai này hai đứa có bảy công tăng ca đấy. Dành cả tiền cho Ngát để mua lụa cung cấp nhé. Về Hà Nội đi chơi với người yêu mà cứ diện mãi quần ta tăng cũ chẳng sợ người ta cười cho. Còn tiền bán đỗ xanh thì để cuối năm Ngát làm đám cưới nhé. Lo cho cô đến vậy, mai kia cô mải chồng quên tôi, mất chị mất em thì đừng có trách. Dậy đi, anh Uyên anh ấy ở Hà Nội về kìa…”.

“ ….”

“Giời ơi… Ngát đâu rồi. Ngát đi đâu thế này. Đêm nay Ngát ngủ đâu. Ngày mai, ngày kia… Ối Ngát ơi là Ngát ơi…”.

Cô gái òa khóc và kể lể. Chiếc quan tài giật nảy trong vòng tay cô khi chiếc xe tải dừng sững lại. Xe buýt cũng vừa tới nơi. Nghĩa trang là một vạt đất do xe ủi san bằng ven sườn núi. Màu đất đỏ, ráng chiều đỏ. Những hàng cây trang nghiêm. Những con bướm trắng bay chập chờn. Tất cả mọi người đều đã xuống xe và vây quanh chiếc áo quan đang được buộc dây.

Ông giám đốc ra lệnh khẽ:

“Nhanh tay lên…”.

Đám ma đi trong sương chiều, tiếng khóc và những bước chân bấm trên mặt đất trơn lầy. Huyệt mộ đã được đào sẵn. Những búi cỏ giập nát đã chớm héo vàng. Người đàn ông mang kính đen đứng lẫn vào đám người xung quanh huyệt. Hai sợi dây ni lông trắng chầm chậm đưa xuống chiếc quan tài đỏ. Từ đâu đó, anh cán bộ nhân sự bước ra cầm mảnh giấy đọc những lời điếu viết sẵn. Trong im lặng nặng trĩu, giọng anh khê nặc và trầm bổng.

“Cô Phạm Thị Ngát sinh năm 1960, bố chết, từ nhỏ ở với mẹ, năm mười lăm tuổi theo tiếng gọi của đoàn và của đảng, cô xung phong đi làm công nhân công trường…”.

Người đàn ông khóc nức lên sau cặp kính. Cổ ông tắc nghẹn trong lúc chính ông muốn ông phải nói: “Không đúng, không đúng đâu. Bố “nó” không chết. Bố “nó” còn sống đấy. Tôi đã im lặng từ hai mươi năm nay và cho tới bây giờ tôi vẫn còn im lặng”. Ông ta chới với níu cong xuống một cành cây gần đó.

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình, đó là lỗi tự con người.

“Hãy biến đau thương thành hành động. Hãy ra sức thi đua hoàn thành kế họach của tổng công ty giao cho. Phút mặc niệm bắt đầu…”.

Cô ấy sắp đi hẳn rồi. Đi về đâu em ơi? Về những nếp nhà sàn có chiếc cối nước rơi buồn bã. Về ngôi nhà đang xây với cánh tay cần trục quay tròn trên hàng giáo nhọn hoắt. Đi về đâu em ơi? Về đỉnh núi có chú sóc nhỏ vô tư hay về bầu trời mây trắng lãng đãng. Không ai biết, không ai có thể biết được. Cái điều huyền bí ấy là của riêng em, là tặng phẩm duy nhất em mang theo được cho một đời nỗ lực.

Những hòn đất đỏ đã rơi xuống rồi. Ngôi mộ đầy lên và sau cùng người ta đặt lên đó một bát cơm và một quả trứng bửa đôi. Gió đưa khói hương bốc lên cao và tan đi mất.

Một cánh bướm chập chọang trong nhá nhem tối. Hai chiếc ô tô nổ máy trở về công trường.

Người đàn ông mang kính đen ngồi bên ngôi mộ mới. Ông còn ngồi lại làm gì? Người con gái do chính ông sinh ra và ông đã chối từ cho tới tận lúc nó chết chỉ vì sự bình yên cho chức quyền của riêng ông, đâu còn nói được những lời tha thứ nữa…

Và ông cầu xin ai?

Nhật Tuấn

(Nguồn: Khai Phóng)

Chuyện Phố Tôi. Nhật Tiến


Nhật Tiến

Sau khi duyệt xét kỹ lưỡng lý lịch của tất cả các chủ hộ, Phường uỷ quyết định chọn dì Năm làm tổ phó an ninh. Quyết định này được thông báo đến lão Phú, Tổ trưởng tổ 3, Phường 15, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Lão phát biểu:

– Tôi hoàn toàn nhất trí với “trên” về việc lựa chọn này. Chị Năm xuất thân từ thành phần cơ bản, công tác tích cực, tư tưởng chuyển biến tốt…

Lão nói đến đó thì kịp thời ngừng lại. Đáng lẽ, lão còn thêm  : “ Hiềm vì văn hoá dì Năm còn rất hạn chế”. Nói nôm na là dì Năm mù chữ. Nhưng lão ý thức được ngay sự nguy hiểm nếu phát biểu ra trọn vẹn ý nghĩa ấy. Trong Phường còn thiếu gì kẻ dốt, kể cả đồng chí Sáu Đăng người xuất thân từ chân thợ nề, theo Cộng sản, nằm vùng được hơn hai năm thì bị bắt và đày đi Côn Đảo tới hơn bốn năm mới được giải phóng. Về Sài Gòn, đồng chí Sáu Đăng ra mắt bà con lần đầu ở trường tiểu học, đồng chí đánh vần mãi mới xong bài phát biểu dĩ nhiên là được viết trước. Về văn hoá thì vậy, nhưng so thành tích cách mạng thì cả Phường này chẳng có ai hơn. Ở thời buổi này, cái danh hiệu người về từ Côn Đảo vẫn luôn luôn là cái gì sáng lóa để chẳng có ai dám thắc mắc, nhỏ to điều gì. Dĩ nhiên bên cạnh đồng chí Phường uỷ phải có nhiều phụ tá. Thân cận nhất là Liễu, gái Sài Gòn, gọi ông Sáu Đăng bằng cậu ruột. Những ngày đầu tiên sau 30 tháng 4 năm 1975, Liễu đã có mặt đều đặn trong các buổi sinh hoạt ở trụ sở Thành đoàn Thanh niên đường Duy Tân. Nàng đã theo học ở đó một khoá cấp tốc về chính trị. Rồi được kết nạp đối tượng Đoàn. Đồng chí Văn ở ban Tuyên Huấn đã dặn dò :

– Thời gian xuống sinh hoạt ở Chi đoàn Thanh niên các khóm, Phường là một việc để các đồng chí phấn đấu tiến lên một bước nữa trên con đường cách mạng. Nếu các đồng chí chuyển biến tốt, khắc phục bản thân tốt, hoàn tất công tác tốt thì các đồng chí sẽ được kết nạp Đoàn. Đoàn viên Thanh niên là cánh tay mặt của Đảng, các đồng chí nhớ kỹ như thế để thấy rõ vai trò mũi nhọn xung kích tiền phong của mình…

Liễu nhận nhiệm vụ lệnh về trình diện ngay ông cậu ruột của mình. Nàng mè nheo ngay:

– Có cái tiệm điện lạnh hai tầng lầu ở ngay kế bên chợ đó cậu, chủ nhà bỏ trốn ra nước ngoài, cậu cho chúng cháu làm trụ sở Chi Đoàn Thanh niên nhé.

Nhà cửa hồi đó không thiếu. Ông Sáu Đăng ký ngay một cái giấy cho Liễu tiếp thu căn nhà khang trang đẹp đẽ đó. Hai tuần lễ sau, nơi đó đã biến thành chỗ sinh hoạt nhộn nhịp. Liễu có văn phòng riêng, có đội trực gác, có ban thông tin văn hóa, có ban văn nghệ. Riêng ban văn nghệ được chiếm nguyên cả một tầng lầu để dượt nhạc với kèn, trống om sòm từ sáng đến đêm.

Liễu đã trút bỏ bộ áo dài cổ hữu để thay bằng một loạt áo cánh may bằng soie đen. Hôm gặp Liễu ở đầu phố, nhìn thân hình tròn lẳn của Liễu trong chiếc áo nịt chật cứng, dì Năm la lên:

– Chèn ơi con Liễu, mày đổi bộ này ngó coi ngộ quá ta !

Liễu thẹn đỏ cả mặt nhưng không khỏi bực mình. Nàng cằn nhằn:

– Dì Năm ăn nói gì bô lô, ba la ngoài phố nghe lỗ mãng quá vậy.

Dì Năm cười ngỏn ngoẻn:

– Ờ ! thì mày “ ngộ” tao nói “ngộ” chứ sao . Coi chừng mấy thằng thanh niên sinh hoạt với mày chết giấc hết.

Liễu nghiêm mặt lại :

– Dì nói năng phải giữ lời chứ. Bây giờ cách mạng về rồi, đâu còn có lối sống đồi trụy như xưa .

Thấy con nhỏ bắt đầu giận, dì Năm bỏ qua mé chợ. Nó với dì chẳng có họ hàng gì với nhau. Dì cũng chẳng có họ hàng gì với ai ráo trọi ở khu phố này. Nhưng dì đã sống ở đây mấy chục năm liền, ai dì cũng quen, nhà ai dì cũng biết, ngõ ngách nào trong khu phố này dì cũng thông thuộc. Tất cả bà con đều kêu dì bằng dì. Tiếng là dì vậy thôi, chứ năm nay răng dì cũng đã rụng hết ráo, gần 70 rồi đấy chớ. Được cái dì Năm vẫn mạnh. Đi đứng nhanh nhẩu. Tính tình hồn nhiên cởi mở, một đôi lúc chanh chua, cái chanh chua của một kẻ ỷ vào thế của tuổi già, và mặt khác cũng là ở cái tuổi đang lần hồi biến chuyển tâm lý trở thành con nít. Dì Năm ở thuê một căn phòng xép nhỏ của gia đình chú Lý đạp xích lô. Cái nhà này đông con dữ, vợ Lý sòn sòn năm một, hồi dì mới tới chỉ có hai, nay đã chòm chèn cả chục đứa. Lắm lúc dì cũng vui, nhưng lắm lúc dì muốn phát khùng vì chúng nó. Nhất là càng về sau này, đời sống khó khăn, chỉ nge mấy đứa khóc đòi ăn khoai, ăn mì là cũng đủ héo trời, héo đất.

Nhưng dì Năm ít khi ở nhà. Nghề của dì  là đi lang thang khắp các cửa tiệm tạp hoá, các tư gia để bỏ mối cho một hãng sản xuất hương vòng và nhang. Hồi trước dì còn bán cả vàng mã nữa. Nhưng cách mạnh về rồi, giấy vàng mã không thịnh thành như trước, lại khan hiếm giấy, nên chỉ còn có nhang và hương vòng. Dì gửi cả nhang và hương vòng ở cửa hàng Hợp tác xã nhờ bán giùm. Đồng chí quản lý ở đó dẫy nẩy lên:

– Chết mẹ tôi rồi. Thời buổi cách mạng thế này mà dì đòi khuân hương vòng vào cửa tiệm Hợp tác xã để bán có khác gì muốn đưa cả cơ quan đi học tập cải tạo mút mùa.

Dì Năm tác xác:

– Hương vòng thì có cái gì phản động. Tao làm nghề bỏ mối hương vòng này mấy chục năm nay, đâu có thiệt hại gì tới ai.

Bà quản lý, cũng là dân trong khu phố với nhau cả, cãi lý với dì không được, tức quá đến cầu cứu với Liễu. Liễu chào thua bà cụ vì làm thế nào có thể giảng được cho bà cụ nghe và hiểu về con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho nên nàng chỉ buông xuôi:

– Thôi kệ, cứ để từ từ rồi dì ấy sẽ chuyển biến nhận thức và tự giác ngộ.

Đồng chí quản lý hoan hỷ ra mặt. Ít ra là bà cũng trút được cái trách nhiệm đó cho Liễu. Liễu không là gì nhưng là cháu đồng chí Phường uỷ. Đồng chí Phường uỷ là nhân vật to nhất Phường. Vậy là khỏi băn khoăn. Hương thẻ, hương vòng của dì Năm nhờ thế vẫn chiếm một kệ kín đáo trên quầy hàng Hợp tác xã . Thật ra bày là chỉ để mà bày, chứ rõ ràng món hàng dì Năm gởi ở Hợp tác xã đã ế sưng ra. Có ma nào dại gì đút đầu vào Hợp tác xã, nơi đầy rẫy tai mắt cán bộ để hỏi mua nhang hay hương vòng. Cắp nhang hay hương vòng đi ngờ ngờ ở trụ sở Hợp tác xã thì có khác gì tự tố cáo bản thân là “ tôi hãy còn nhiều tàn dư phản động!” . Mọi người thừa trí khôn để không làm chuyện đó. Nhưng mọi người cũng lại thừa trí khôn để mua nhang lấy lòng dì Năm kể từ khi dì được phong chức tổ Phó an ninh. Nhất là những anh lười đi họp. Vắng mặt trong buổi họp hôm trước là hôm sau dì Năm đã tò tò tới nhà tác xác:

– Ê ! Hôm qua mày làm cái giống gì ở nhà mà không đi họp tổ dân phố hả ?

Kẻ trốn họp phải cười giả lả:

– Tội con quá dì Năm ơi! Hôm qua đứng nắng xếp hàng mua gạo, về lên một cơn trúng cảm những tưởng đã vô nhị tì Quãng đông rồi ấy chớ!

Hay là:

– Chèn ơi ! Thằng nhỏ lên kinh hôm qua tưởng phải vô nhà thương rồi ấy chớ. Bụng dạ nào bỏ nó ở nhà mà đi họp, dì Năm!

Và sau một câu kể khó, kể khổ là bao giờ đương sự cũng chuyển ngay qua đề tài khiến dì Năm rất dễ nghe:

– Nhà em hết nhang rồi đó dì Năm. Bữa nào xin dì Năm cho em thêm một gói hương vòng với một chục thẻ nhang.

Cơn giận của dì Năm tan xèo ngay trong giây lát. Dì vui vẻ kể chuyện Khóm, chuyện Phường, chuyện nhà nào sắp đi kinh tế mới, chuyện thằng Phường đội nào hôm qua say, chuyện ai bị phê bình phát ngôn bừa bãi…vân…vân… Rồi trước khi về, dì không quên nhiệm vụ của mình:

– Kỳ tới phải nhớ đi họp đó nghe. Đi họp là phát huy quyền làm chủ tập thể mà, bộ tụi bây không biết sao !

Có hôm, một chị ngứa mồm hỏi lại:

– Làm chủ tập thể là làm sao dì Năm há?

Dì Năm trả lời ngay, giọng trách móc ngụ ý sao tới bây giờ mà còn có đứa không biết:

– Làm chủ tập thể tức là cách mạng giải phóng chứ làm sao. Trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đàng sau có nhân dân làm chủ tập thể. Tụi bây trốn đi họp như ranh, làm sao mà hiểu rõ được chính sách mới của nhà nước.

Lời giải thích ấy không biết cách nào lại lọt vào tai Liễu. Nàng chờ một hôm rảnh rỗi, kéo dì Năm vô trụ sở thì thào:

– Bây giờ dì là người của đoàn thể. Dì không thể phát ngôn bừa bãi tự ý được.

Dì Năm trợn mắt lên:

– Tao nói cái gì sai trái mà gọi là bừa bãi?

– Dì phải học mới biết được cái gì là sai, cái gì là đúng.

Dì Năm nổi sùng lên:

– Xí! Tao già đầu thế này mà còn phải học à?

– Chớ sao! Ai mà không học. Không học thì không có cơ sở nhận thức. Từ chỗ không có cơ sở nhận thức sẽ đi đến sự suy nghĩ sai, lập luận sai, phát biểu sai, hành động sai…

Dì Năm nói dỗi:

– Phải rồi! Cái gì tôi cũng sai hết. Chỉ có cô là đúng thôi. Cô là cháu ông Phường uỷ mà!

Liễu dẫy nẩy lên:

–  Ấy chết! Đâu phải thế. Cháu là gì đi nữa mà không học tập thì cũng sai nữa. Dì cũng vậy.

– Ờ! Thế tôi sai chỗ nào, cô nói tôi nghe coi.

– Như hôm nọ dì nói trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đằng sau có nhân dân làm chủ tập thể là sai!

– Sao sai?

– Dì phải nói cơ chế tổ chức của xã hội ta là Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý và nhân dân làm chủ tập thể thì mới đúng. Chớ làm gì có chuyện ai ở trên, ai ở dưới, ai ở đằng sau lưng như dì nói.

Dì Năm cười khanh khách:

– Tưởng cái gì chớ mấy chữ nghĩa đó nhằm nhò gì. Tao thì tao cứ nghĩ mấy ông Đảng uỷ ở tuốt trên cao thì là ở trên, như trên Phường thì có Phường uỷ, dưới Phường uỷ là ông chủ tịch Phường, tức là ông Nhà Nước, rồi sau cùng mới tới mình. Thế thì mình chả ở sau lưng là gì?

Liễu vò đầu bứt tai:

– Thế nhưng mà không phải thế. Phường uỷ chỉ lãnh đạo thôi chớ không ở trên. Chủ tịch Phường chỉ quản lý thôi chớ không ở dưới. Còn ai nói nhân dân ở mé sau lưng hồi nào?

Câu chuyện đấu lý nhùng nhằng đó rút cục cũng chẳng đi đến đâu. Trình độ hiểu biết của bà Năm như thế thì có nhồi nhét lý luận cả đời dì cũng không thể vỡ lẽ được thế nào là lãnh đạo nhưng không phải là ngồi trên, quản lý lại không phải là ngồi dưới.

Tuy nhiên không phải lý do đó mà dì Năm bị giảm lòng tin cậy của Uỷ ban Nhân dân Phường. Cảm thông với người dốt nát, ít học bao giờ chẳng xuất phát từ tình cảm hữu ái giai cấp. Hơn nữa, dì Năm lại là người tuệch toạc, có gì nói nấy, ai cũng thấy rõ là không âm mưu. Cán bộ rất sợ những người âm mưu. Càng có học, càng dễ âm mưu, cho nên cần thì vẫn xài, nhưng hết cần thì vắt chanh xong bỏ vỏ. Vấn đề chính yếu là phải nắm chắc lấy chính quyền, bằng mọi cách, mọi giá, triệt để và không khoan nhượng!

Trong thời gian giữ chức vụ tổ Phó an ninh, dì Năm thường tự hào về thành tích đối phó được với lão già cứng đầu nhất trong tổ dân phố là lão Trương Sanh. Bà con lối xóm cũng rất hả hê được nhiều dịp chứng kiến cuộc đấu trí giữa hai nhân vật cùng già nua tuổi tác này. Sau ba mươi tháng tư, con cái của Trương Sanh di tản hết. Chẳng hiểu kẹt giỏ thế nào, chỉ có một mình ông cụ ở lại. Gần một năm sau thì cụ nối liên lạc được với gia đình. Lá thư đầu tiên gửi từ Pháp về, người con lớn của cụ căn dặn: “ Ba cứ yên tâm, con đang làm giấy tờ bão lãnh cho ba đi. Từ nay tới đó chưa biết bao lâu, nhưng trễ lắm thì cũng chỉ trong vòng một năm là cùng. Con đã nhờ người quen chuyển tiền về để ba xài. Có tin gì mới, con sẽ đánh điện cho ba biết gấp!”.  Thế là ông cụ tự xếp mình vào vị trí bên lề xã hội, mặc cho thiên hạ đảo điên, xoay vần chung quanh, cụ chỉ còn có việc tiêu dao ngày tháng chờ ngày có giấy tờ bảo lãnh để rời quê hương.

Ước nguyện này mới nghe thì nhỏ nhoi, nhưng trong thực tế không giản dị chút nào. Đã có lần Liễu giải thích với cụ:

– Thưa bác, dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, lợi ích của mỗi người gắn chặt và thống nhất với lợi ích của tập thể. Vì vậy không có ai là không có trách nhiệm đối với vận mệnh chung của xã hội, lại không quan tâm đến công việc chung của tập thể…

Ông cụ Trương Sanh cau mày:

– Thế thì làm sao?

Liễu cười ngỏn ngoẻn:

– Dạ, thưa bác thế thì xin bác lưu ý đi họp đều cho. Cháu nghe dì tổ trưởng nói bác không chịu đi họp tổ dân phố.

Cụ Trương Sanh vỗ cái quạt đến đốp vào mông mình rồi văng một câu trước khi lùi lũi bỏ đi:

– Đếch!

Liễu cáu lắm nhưng nể ông cụ tuổi già, không dám láo lếu nhiều hơn. Nhưng nàng lập tức đi tìm dì Năm tổ phó an ninh:

– Ông Trương Sanh là người ở ngay trong tổ dân phố của dì. Dì chịu để ông ấy buông tuồng được sao?

Dì Năm bực bội:

– Lão già dịch đó không chịu đi họp thì biết làm sao bây giờ?

– Đó là việc của dì. Trách nhiệm của tổ Phó an ninh mà!

Nói rồi Liễu bỏ đi, mặc cho dì Năm đứng chết trân lại, vừa giận con nhỏ đáo để, vừa tức lão già đầy bản chất lạc hậu, phản động. Đến kỳ họp tổ dân phố lần sau, đích thân dì Năm đến nhà ông Trương Sanh để thông báo ngày, giờ họp. Ông lão khôn hồn rút tuốt lên tận lầu hai, cửa sắt dưới nhà kéo kín mít, thêm một lớp cửa gỗ kín bưng ở bên trong. Dì Năm gõ đùng đùng lên cánh cửa:

– Ông Trương Sanh ơi! Đi họp!

Giọng của dì trước còn hùng dũng, mạnh bạo, nhưng chỉ gào độ mươi mười lăm phút sau là nó thất thanh hẳn đi.  Bà con lối xóm chỉ còn nghe mấy tiếng:

– Sanh…ơi…họp!…

Bà con cả phố có lẽ đều nghe tiếng gào của dì Năm, trừ ông cụ đang ngồi tình queo đâu đó trên lầu hai ngay đấy. Ai cũng đều phục lăn cái tính lì của ông cụ, và càng nghe dì Năm gào thét, càng bụm miệng cười. Cuối cùng dì thua cuộc bỏ đi sau khi đã xỉa xói trước cánh cửa gỗ:

– Rồi nhé! Biết nhé! Lần sau đừng hòng đi mua nhu yếu phẩm nữa nghe ông Trương Sanh! Không đi họp là không có được mua gì hết ráo!…

Nhưng ông Sanh chẳng cần. Ông sống một mình, tiền bạc lại dư dả, ông nghe thấy hết, nên sau này chỉ cười hề hề với bà con :

– Tôi đâu cần. Nhu  yếu phẩm nhằm nhò gì tới tôi.

Thế là cuộc đấu trí giữa dì Năm và ông Trương Sanh kết thúc ở giao đoạn một. Dì Năm tức điên lên, không phải vì buổi họp thiếu người mà vì cái chức tổ Phó an ninh của dì không ăn thua gì tới lão già dịch đó cả.

Bỗng một hôm dì nẩy ra được một sáng kiến đáng giá ngàn vàng. Dì chạy đi gặp lão tổ trưởng dân phố hớt hải:

– Anh Phú đi với tui. Tui sẽ moi lão Trương Sanh ra để anh cho lão một bài học. Nó sống ở đây mà làm như đang sống trên cung trăng, không biết ai vào với ai hết.

Lão tổ Trưởng dân phố nhăn nhó lắc đầu:

– Dì kêu cách mấy lão cũng không ra đâu. Vô ích mà!

– Thì theo tôi đi! Nhớ túm được nó thì cho nó một bài học nghe.

Hai người lót tót đến cửa nhà Trương Sanh. Dì Năm gõ thình thịch lên cánh cửa gỗ:

– Ông Trương Sanh ơi! Ra mà nhận điện tín ngoại quốc nè!…

Lão tổ Tưởng dân phố giật nẩy mình:

– Chết cha! Ẩu nào dì Năm!

Dì Năm ngoảnh ra nhìn lão, khoái chí cười khà. Rồi dì lại gõ tiếp:

– Điện tín nè! Ông Trương Sanh!…

Lão tổ Trưởng không còn bụng dạ nào giảng giải nghĩa vụ công dân trong xã hội mới nữa, vội vã lủi mất. Lủi còn nhanh hơn cả ông Trương Sanh đang cuống cuồng nhảy bổ từ lầu hai xuống, lính quýnh mở mấy lần cửa khoá, then cài. Lúc ông ló mặt ra , dì Năm cười hề hề:

– Còn trốn nữa hay thôi?

Lão Trương Sanh mỉm cười cầu tài:

– Trốn! Ai thèm trốn chi!

Rồi lão hỏi:

– Đâu? Điện tín đâu?

Dì Năm dẩu môi:

– Ham lắm! có điện tín của nhà nước thì có. Điện tín mời đi họp tổ dân phố nè!

Thấy bị lừa bịp quá trắng trợn, lão Trương Sanh la lên:

– Trời đánh mụ lắm đó nghe! Người đâu mà mặt sứa quá vậy!

Dì Năm chỉ rộ lên cười. Đến lúc Trương Sanh đùng đùng kéo cánh cửa sắt lại và đóng thêm cánh cửa gỗ kêu đánh rầm thì dì còn kêu to:

– Tối nay tám giờ nghe ông Trương Sanh. Đúng tám giờ khai mạc buổi họp đó!

Cái trò loan tin trắng trợn này dì Năm không chỉ áp dụng một lần. Nói cho ngay, cũng có hôm dì nài bằng được ông phát điện tín để cho dì trao tận tay Trương Sanh một kỳ.

Lần đó dì kêu ông Trương Sanh bằng giọng quả quyết hơn khiến cho ông bán tín bán nghi. Ông chỉ đứng thập thò mà không thèm mở cửa. Đến lúc dì Năm la lên:

– Không mở cửa ra tui trả cho bưu điện rán chịu à nghe.

Chừng đó Trương Sanh mới chịu kéo cánh cửa ra. Và lần này thì lão toại nguyện. Lão quên những cơn giận dữ lần trước. Lão vồ lấy cái điện tín và cảm ơn dì Năm rối rít. Nhưng trước sau thì cũng có mỗi một lần. Còn kỳ dư những bận khác, dì Năm cho lão leo cây cả. Lão tức điên người lên, nhưng chẳng lần nào lão có đủ kiên gan để mà bỏ ngoài tai câu réo ầm ĩ của dì Năm:

– Ông Trương Sanh ơi, có điện tín ngoại quốc nè!

Riết rồi ông phát bệnh lên vì cái trò trắng trợn ấy. Có lần ông tức quá đứng chết trân ở ngay ngưỡng cửa. Lúc dì Năm đi rồi, ông quị ngay xuống đó. Cơn tức khiến cho ông muốn ngộp thở. Nhưng cả tháng mòn mỏi chờ điện tín của thằng con, lúc nghe có điện, dẫu thế nào ông cũng mừng quýnh lên, mừng xong thì đến lượt bứt râu, đấm ngực thùm thụp “ già rồi mà vẫn còn dại với con mẹ trời đánh thánh vật đó!”.

Nói cho ngay, trong một hai năm  đầu, mọi thứ chưa ổn định ra đâu và đâu thì bầu không khí sinh hoạt trong Phường còn mang cái vẻ ỡm ờ kiểu đó. Vả chăng mọi người vẫn còn rủng rỉnh tiền bạc, đời sống có khó khăn nhưng còn có cái đem bán để mà ăn. Chừng hai năm sau, mọi sinh hoạt đều như ngả sang màu tái xám. Nhịp độ ồn ào chậm đi. Nụ cười của mọi người đã thấy gượng gạo, héo hắt. Nhìn mặt ai cũng thấy vêu vao, cặp mắt lờ đờ thiếu linh động, rõ ra là thiếu chất thịt trong dinh dưỡng hàng ngày. Guồng máy chính quyền cứ siết chặt lại. Trước tiên là đồng chí Sáu Đăng, Phường uỷ, được tổ chức sắp xếp đi học bổ túc văn hoá. Căn trụ sở chi đoàn thanh niên của Liễu cũng lập tức bị thu hồi. Liễu nghe “trên” giải thích:

– Địa bàn xung kích của thanh niên bây giờ là vùng kinh tế mới. Đồng chí hãy cố gắng vận động thanh niên trong Phường hăng hái tham gia nhiệm vụ đó. Vậy mới xứng đáng với danh hiệu “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Liễu thừa thông minh để hiểu được rằng viên Phường uỷ mới nhậm chức muốn mình nộp đơn xin xung phong đi vùng kinh tế mới. Nàng vụt thấy mọi sinh hoạt, cố gắng của mình trong hơn một năm qua chỉ là một thứ trò rỡn chơi.

Nàng đã có thể phát biểu như vẹt bất cứ vấn đề gì trong các tài liệu học tập, nhưng từ lý thuyết bước sang thực hành, nó là cả một sự biến chuyển sâu xa từ cội rễ. Trong hai năm qua, Liễu nói bằng mồm rất nhiều, nhưng nàng luôn luôn che  giấu trái tim của mình. Nay đã đến lúc nàng phải moi trái tim đen ra ngoài ánh sáng để biểu lộ sự tuyệt đối trung thành với xã hội mới. Cọng rơm ba mươi của nàng chỉ qua một lời phát biểu của viên Phường uỷ mới tới đã phút chốc cháy xèo. Liễu thấy đắng ở miệng và nàng lẳng lặng rút lui. Cô gái Sài Gòn trước sau gì cũng chỉ là cô gái Sài Gòn, mặc dù trước đó có thử đội lên đầu đủ thứ nón tai bèo, bộ đội hay xỏ vào chân đôi dép râu kệch cỡm. Liễu ghé qua nhà cậu Sáu Đăng để thông báo cho ông ta biết ý định của Phường uỷ là vận động một đợt thanh niên đi tham gia vùng kinh tế mới. Cậu Sáu Đăng phát biểu ngay:

– Cháu tới đó không được đâu. Chỗ người nhà cậu nói thiệt!

Liễu mỉm cười:

– Cháu biết. Cháu có nhiều người quen đã đi về đó. Họ kể nghe thấy mà ớn. Cán bộ giao cho căn nhà thì xiêu vẹo như đồ chơi trẻ con, cỏ trong nhà mọc cao tới đầu gối, lúc tiếp thu phải khua gậy khắp nơi để đuổi rắn ra khỏi nhà.

Rồi Liễu chép miệng:

– Vậy mà Phường của mình cũng có tới mấy trăm gia đình rỡ nhà đi vùng kinh tế mới rồi đó chứ.

Liễu nói với cậu mà như thốt ra lời thú tội với chính mình. Trong quá trình công tác, Liễu tham gia tích cực nhất trong công cuộc vận động bà con trở về vùng kinh tế mới. Rất may, ông Sáu Đăng đã giải tỏa cho nàng ít ra là một phần mặc cảm tội lỗi. Ông ấy nói:

– Chúng nó nói một đằng, làm một nẻo. Kế hoạch thì hay ho lắm, mà điều chỉ toàn trên giấy tờ. Mình nghỉ thôi, cháu ạ.

Nói xong ông Sáu Đăng lẵng lặng rút vào trong nhà, Liễu nô rỡn với mấy đứa em một lát rồi cũng về. Trên đường phố Liễu gặp dì Năm đang ôm một lẵng đựng đầy thóc những thẻ nhang và hương vòng. Hồi nầy trông dì cũng có vẻ già sọm đi. Công việc buôn bán của dì ngày càng tệ. Bây giờ ai cũng lo chạy gạo, tiền đâu ra mà mua hương cúng bái. Thôi thì tâm thành là chính, vái suông cũng đủ tâm động quỷ thần linh. Mặt của dì vêu vao thấy rõ. Có nhiều hôm dì không bán được lấy một thẻ nhang. Buổi tối trở về căn phòng xếp tối om, dì không buồn châm lên ngọn đèn dầu hay nhóm bếp để đun lấy ấm nước. Dì nằm lẳng lặng xuống tấm ván gỗ kê bên vách tường xoay trở trong tiếng muỗi vo ve nhức óc. Đói. Cái đói hành hạ làm dì trằn trọc. Ở phía bên kia vách tường, mấy đứa con của Lý cũng ti tỉ khóc. Tiếng khóc của lũ trẻ vì thiếu ăn, tiếng trăn trở của bà cụ già trên ván gỗ vì nhịn đói, đã xẩy ra hàng đêm, riết rồi cũng trở thành những âm thanh bình thường sau ngày Sài Gòn được giải phóng.

NHẬT TIẾN
Santa Ana 29.3.1983

Nhận Thư Con. Truyện Ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

Bà cụ Tám quẹt đến que diêm thứ ba rồi mà vẫn chưa châm được mồi lửa. Diêm quốc doanh hồi nầy tồi tệ quá, đầu que chỉ dính chút xíu thuốc mồi, lại mềm xèo, quẹt vô vỏ bao chỉ bở toẹt ra và bốc khói lên thôi. Cơn bực bội của cụ như có thêm được lý do để nổ bùng. Cụ ném văng hột quẹt xuống vệ đường và la lối:

– Tổ cha nhà nó, diêm quẹt thế nầy cũng bán cho người ta.

Rồi cụ lật thúng, lật rổ đùng đùng như thể kiếm xem trong gánh hàng của cụ còn sót lại bao diêm cũ kỹ nào không. Ngồi ngay bên cạnh, chị Bảy bán xôi bắp thấy sốt ruột phải kêu lên:

– Thôi đi ngoại ơi, vía van ở đâu ra mà đốt hoài! Từ sáng ngoại đốt đã hai lần rồi, cũng đến vậy thôi.

Bà cụ quay sang sẵng giọng:

– Có đốt có hơn, có kiêng có lành chớ. Mới mở mắt ra đã mấy đứa tới ám quẻ, làm gì không xui.

Chị Bẩy bật lên cười:

– Ai mà ám quẻ ngoại làm chi. Khoai của ngoại sùng, người ta mất tiền mua, người ta phải kêu nài chứ. Tội là tội mấy thằng trong ban điều hành Hợp tác xã kia kìa. Chúng nó ăn tay với bọn đi thu mua, đem về toàn đồ dỏm rồi bắt bà con tiêu thụ. Ngoại ham rẻ buôn lại mấy thứ nợ đó rồi có ngày hết vốn!

Lời phân giải của chị Bảy chẳng làm nguôi ngoai được bà cụ chút nào mà trái lại còn khiến bà cụ tức tối thêm. Cụ với tay chụp lấy cái vỉ đập ruồi khua loạn xạ lên mấy cái mẹt trước mặt khiến cho những con nhặng xanh, những con ruồi đen kịt đang bu trên mớ khoai lổn nhổn vụt bay lên tán loạn.

Một lát sau, cơn tức giận của cụ dịu xuống. Cụ bắt đầu chú ý nhìn ra chung quanh. Con hẻm chật chội lõng bõng bùn nước vì cơn mưa đêm qua, vào lúc này đã tấp nập người qua lại. Mấy đứa nhỏ còn có cơ hội đi học đang cắp sách đến trường, trên cổ đeo những chiếc khăn quàng màu đỏ chói mắt. Vài người trong xóm tay xách những chiếc bao tải, những cái giỏ không, bên nách kẹp cuốn sổ hộ khẩu và sổ thực phẩm đang đi đến trụ sở của Hợp tác xã Thương nghiệp. Ở trước căn nhà nhỏ được dùng làm trụ sở của Chi đoàn Thanh niên, một đám thanh niêm nam nữ đang tụ tập mỗi lúc một đông. Không biết hôm nay có công chuyện gì mà thấy lển nghển đủ thứ cờ quạt, khẩu hiệu và biểu ngữ. Xế cửa bên mé đó là trụ sở của một tổ hợp may cắt, vào lúc nầy cánh cửa cũng đã mở toang, bên trong thấy lố nhố nhiều người. Một cái xe vận tải nhỏ đậu chình ình ở đó ngay từ sáng sớm hiện đang bốc dỡ những xúc vải lớn để khuân ùn ùn vào bên trong nhà tổ hợp. Hồi nầy cách làm ăn bên đó có vẻ trúng mối. Nhà nước gởi tới may loạt sơ mi dài tay bằng vải trắng có chạy những đường kẻ sọc màu xanh hay nâu. Một lần bà cụ Tám đi ngang qua đó vào buổi chiều, có tiếng của Hảo, con gái ông Đông bên hàng xóm, gọi véo von:

– Ngoại ơi! Coi nè!

Bà cụ đứng khựng lại, ngó vô. Bà thấy cái Hảo đang xoè rộng cái áo sơ mi vừa được nó may xong và giơ lên cho cụ thấy. Ôi chao là dị kỳ. Nó dài, nó to, nó rộng, chỉ nội cái thân đã nuốt thòm lỏm hết cả từ đầu con bé xuống đến quá đầu gối rồi. Bà cụ kêu lên:

– Áo sơ mi nầy may lớn thế thì bán cho ai ?

Cái Hảo vừa cười ngặt nghẽo vừa trả lời:

– Đâu có bán cho ai. Cái này nhà nước xuất khẩu đi Liên Xô!

À ra thế. Hèn chi mà vải vóc cứ chở đến ùn ùn, công nhân ra vô tấp nập, đèn đóm ở đó sáng choang từ sáng đến tối. Hôm đó vui chân bà cụ Tám tạt ngay vô nhà và xoè tay bốc cái vạt áo sơ mi lên để xem cho tận mắt cái vải “xuất khẩu đi Liên Xô” nó ra làm sao. Bà cụ không tin ở mắt mình. Bà vê đi vê lại cái mặt vải trên mấy ngón tay. Rồi bà kêu lên:

– Cái này vải bông xí òm, giặt đi một nước thì nó nhão nhoẹt ra rồi nhăn túm lại chớ gì.

Cái Hảo mỉm cười:

– Thì thế! Hồi trước mình đâu có xài mấy thứ nầy để may áo sơ mi. Giỏi lắm thì cũng đến chỉ để may áo gối thôi.

Cụ Tám càng ngạc nhiên:

– Vậy chớ sao đem xuất khẩu đi Liên Xô?

Cái Hảo phá lên cười:

– Ngoại đi mà hỏi mấy ông nhà nước chớ cháu làm sao mà biết đường trả lời. Mà “Xô” thì “Xô” chớ cũng nghèo chết ra ấy chớ, có cái mà mặc cũng quí rồi.

Thế chẳng cần “đi hỏi mấy ông nhà nước”, Cụ Tám cũng đã hài lòng về cách giải thích của cái Hảo rồi. Cụ cười khà lên một tiếng rồi đi ra. Trong bụng cụ nghĩ vừa ấm ức, vừa tức cười. Tổ cha mấy thằng liếu láu bên ban Thông tin Văn hoá phường. Lúc nào cũng dẻo cái mồm “Liên Xô vĩ đại, Liên xô vĩ đại”, làm như chỉ cần nói cho lấy được, bất kể trắng đen. Tuy nhiên bà cụ Tám cũng chả bận tâm gì nhiều đến chuyện đó. Chúng nó nói gì thì nói. Nói riết rồi đâm nhàm, chả ai thèm để ý. Mối lo âu duy nhất của mọi người bây giờ là làm sao chạy ra cái ăn. Sự thiếu thốn cứ thế mỗi ngày một hiện ra rõ ràng trước mắt. Mặt ai cũng xanh xám, gò má vêu vao, mắt như đục đi, răng miệng như hô ra, nụ cười cứ mỗi lúc trở nên héo hắt.

Riêng cụ thì từ ngày thằng Quang đi học tập, cụ bám riết lấy mớ thúng mủng hàng ngày ra ngồi ở đầu hè. Hàng họ bầy bán ngày một sa sút đi. Trước đó còn có đôi quả xoài, dăm nải chuối, vài trái thơm và linh tinh bánh kẹo đủ thứ. Nay thì chỉ còn phần lớn là những củ khoai lang, khoai mì và mấy trái cóc, trái ổi đèn đẹt. So với những dãy hàng rong ngồi la liệt ở khu hẻm nầy, gánh hàng cụ Tám thiểu não nhất.

Ngay bên cạnh cụ, chị Bảy cũng còn có gánh xôi khá tươm tất. Một bên là cái thúng lớn, trong chia nhiều ngăn được được ủ kín bằng những tàu lá chuối có cả xôi bắp, xôi vò, xôi đậu xanh, đậu đen. Bên kia quang gánh là linh tinh bát đũa đủ thứ. Ai mua mang về được gói trong một mảnh giấy to bằng bàn tay được lót một mẫu lá rong. Ai ăn tại chỗ thì có bát đũa tươm tất. Tính chị Bảy vừa đàng hoàng, vừa rộng rãi. Chả bao giờ chị nỡ từ chối một bác xích lô xin thêm ít mỡ hành, hay một thằng nhỏ năn nỉ đòi thêm một thìa đường chẳng phải loại đường như trước mà là thứ đường cục được nghiền nát thành bột. Chị Bẩy may mắn hơn nhiều người là chồng chị không phải học tập cải tạo. Những ngày đầu có lệnh của Uỷ ban Quân quản bắt các cựu sĩ quan phải đi tập trung, hễ có ai hỏi thăm về trường hợp của anh Bảy, chị cười sung sướng, khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên:

– Ảnh mới có hạ sĩ thôi à! Hạ sĩ chỉ học có ba ngày rồi nhà nước cho “dìa”.

Chả bù với ngày xưa thấy bạn bè có chồng con nên chức nên phận, những lúc giận nhau với ảnh chị vẫn đay nghiến:

– Anh thì làm nên cái cơm cháo gì. Hơn mười năm ở lính vẫn lẹt đẹt cái “hạ sĩ”.

Nào ngờ, sau một cuộc đổi đời, lại có lúc chị nhắc nhở đến chức tước của anh như một thành tích vẻ vang, trong khi đó mấy đứa bạn cũ hồi còn đi học nay lấy chồng sĩ quan, đứa nào đứa nấy khóc sưng đỏ vù cả con mắt.

Sau ba ngày học tập ngay địa phương, anh Bẩy được trả quyền “công dân”. Thỉnh thoảng anh vẫn lầu bầu:

– Mẹ kiếp, công dân ở cái xứ nào không biết, chứ trong cái xã hội chủ nghĩa này thì số phận lúc nào cũng đen như mõm chó.

Chị Bẩy phải lừ mắt nhìn anh để nạt nộ và có lúc chị phải nói:

– Muốn học tập mút mùa hay sao mà cứ ngứa mồm nói năng ẩu tả. Nói cho anh hay, tụi nó bắt đầu thắc mắc cái nghề lái xe ôm của anh rồi đó.

Anh Bẩy nhìn chị tức tối:

– Lái xe ôm thì sao. Tui đâu có nhờ vả trông cậy gì được của tụi nó tí chút nhu yếu phẩm nào đâu.

– Mà điều anh không có lao động sản xuất. Thời buổi này không lao động sản xuất là ăn bám xã hội anh hiểu chưa.

Anh Bẩy kêu lên:

– Ái cha, cô đi sinh hoạt học lóm được đôi ba chữ chính trị bây giờ đem về dạy dỗ cả tui nữa há.

Chị Bẩy không tức vì anh không đồng quan điểm với mình, nhưng tức là vì anh đã gán cho chị hai chữ “học lóm”. Chị mà thèm học lóm đứa nào. Mấy cái tư tưởng lao động đó chúng nó ra rả tối ngày trong cái loa bên ban Thông tin Văn hoá Phường ai cũng nghe, ai cũng rõ chứ chị đâu thèm học lóm. Thế là hai người cãi nhau. Anh Bẩy tức tối xách cái xe máy ra đường đi biệt từ sáng tới tối. Lúc trở về, hỏi tiền kiếm được không thấy đưa ra, lại mang thêm bộ mặt đỏ ké, mồm miệng sặc sụa hơi rượu. Cuộc cãi nhau về đêm sau đó còn to hơn nữa.

Tuy nhiên những chuyện lỉnh kỉnh như vậy không xảy ra thường xuyên. Đời sống khó khăn, thiếu thốn đã khiến cho vợ chồng gần gũi thương yêu nhau hơn. Chỉ phú quý mới sinh lễ nghĩa mà, các cụ ngày xưa đã dạy thế. Cũng nhờ vậy, anh Bẩy đỡ đần chị khá nhiều khi mỗi ngày anh chịu xách xe ra cổng, đầu đội mũ tùm hụp, móc một bên túi áo trên ra lọ thuốc muỗi chứa đầy xăng mồi mồi một chút xíu cho cái máy rồi đạp cần số cho máy nổ. Cái xe máy chạy bằng dầu hôi nổ rầm rầm như cái xe hủ lô và tuôn khói mù mịt. Chị Bẩy cảm thấy khoan khoái khi được ngửi cái mùi khói quen thuộc ấy. Nó đem lại cho chị cái cảm giác dễ chịu đồng nghĩa với sự dễ chịu khi nghĩ tới buổi tối anh trở về là có tiền mua thêm chai nước mắm, hay vài bó củi, hay nửa ký đường hoặc những cái linh tinh vặt vãnh nào đó vừa hết soẳn ở trong nhà.

Còn chị thì vẫn cố thủ với gánh xôi. Chị cũng kiếm được đồng ra đồng vào nhưng thủ kỹ chẳng bao giờ nói ra với anh Bẩy là chị có lưng vốn bao nhiêu, mỗi ngày lời lãi bao nhiêu. Điều rõ nhất mà anh biết là hai đứa nhỏ nhà anh chưa đến nỗi nhịn đói, còn chị Bẩy thì tuy có sa sút nhưng cũng còn mát mẻ, phong độ lắm.

Mỗi buổi sáng vào giờ này, như sáng nay, là chị cũng đã tự bán cho mình một gói xôi nóng hổi rưới cả mỡ lẫn đường nhiều gấp đôi, gấp ba các khách hàng khác. Mùi xôi mỡ thơm phức bay sang lỗ mũi bà cụ Tám bên cạnh cứ mỗi lúc một làm cho cụ nôn nao. Cơn tức tối vì chuyện mấy đứa ám quẻ kêu nài khoai sùng, khoai thối đã nguôi ngoai trong lòng cụ. Bây giờ cụ chỉ thấy cơn đói đang râm ran chạy khắp cơ thể làm cho cụ cảm thấy hết sức khó chịu. Cái đầu cứ chòng chành. Cặp mắt nhìn đâu cũng thấy như mờ đi. Chân tay của cụ run rẩy. Trong ruột thì cái trống rỗng cứ mỗi lúc một làm cụ thấy buốt xót như có ai đang bào nạo. Đói. Đói từ chiều hôm qua. Cụ nhớ đến hũ gạo vét vơ đến hạt cuối cùng từ bốn năm ngày trước. Ngày hôm kia ra chợ định đong ít lon về nấu độn nhưng nó đòi mười đồng một ký gạo. Trong khi ấy thằng Quang hồi mấy tháng trước viết thư về chỉ xin một gói muối mè rang mè, một lọ dầu gió và mấy thẻ đường bổi. Hôm nhờ người ta đọc thư của nó lên cho bà cụ nghe, bà cụ ôm mặt khóc:

– Nó biết tôi nghèo, tội nghiệp, nó chẳng dám xin gì.

Với nhu cầu thiếu thốn của nó như thế đời nào cụ dám bỏ ra tới mười đồng để đong một ký gạo. Thế là cụ chọn giải pháp ăn bậy bạ cái gì cho qua cũng được. Cụ quyết tâm dành dụm để lo phần quà chu đáo cho thằng Quang trong lần thăm nuôi tới.

Tuy nhiên mùi hành mỡ quái ác từ mẹt xôi của chị Bẩy đưa sang cứ làm tất cả các tế bào khứu giác của cụ nhất loạt đứng hết cả dậy. Mới đầu thì cụ tránh để không nghĩ tới nó. Nhưng càng cố tránh mùi thơm càng đưa lên ngào ngạt. Nó bắt buộc cụ phải quay đầu lại phía những mẹt xôi và để cho hai lỗ phập phồng đón tiếp tự do cái mùi vị mà cả hai tháng nay cụ chưa hề thưởng thức tới. Rồi cụ sững người ra nhìn chị Bẫy nhai nhóp nhép tự lúc nào mà cụ không ý thức được, không kiểm soát được. Đã có lúc cụ định xuất ra đồng bạc để mua cho mình một gói xôi. Nhưng ý nghĩ dại dột ấy lập tức bị dập tắt ngay bởi hình ảnh gầy đét, ốm yếu xanh xao như một bộ xương khô của thằng con trai cụ. Cụ cố níu lấy cái hình ảnh đó để chống trả với những cuộc tấn công của mùi hành ngập mùi mỡ béo và cả mùi thơm phức của những hạt xôi dẻo quạch. Về một ý nghĩa nào đó, quả thực cụ cũng đang bị trải qua một cuộc tra tấn bằng cân não, đánh vào cái bao tử cồn cào, đánh vào hai lỗ mũi đầy thần kinh khứu giác, đánh cả vào bộ não bồng bềnh, phiêu dạt bởi những cảm giác đói run cứ diễn ra trong đầu óc.

Cuối cùng thì cụ đành phải đầu hàng cái cuộc tra tấn ấy bằng cách lượm lên một củ khoai. Củ khoai đẹt nhất, có nhiều dấu loang lổ xanh bầm của vết sùng, vết thối nhất. Cụ run rẩy bóc vỏ bằng mấy ngón tay. Rồi cụ cắt một khoanh nhỏ đưa lên miệng. Vị bùi của khoai không lấn át vị đắng nghét của vết sùng làm cho mặt cụ nhăn lại. Bây giờ thì cụ cảm thấy mấy đứa ám quẻ mua khoai rồi đem trả lại là có lý. Khoai hư thối thế này ai mà nuốt nổi. Cắt toang một củ ra, để chỉ có một phần ăn được, còn tới bốn phần hư. Thế thì trăm tội đổ lên đầu mấy thằng bên Hợp tác xã Thương nghiệp là đúng rồi. Cụ chém cái sống dao xuống mép một cái thúng rồi bật kêu lên:

– Tổ cha nó! Khoai thế này cũng bán cho người ta.

Chị Bẩy ngồi bên chợt rích lên cười:

– Thì đã biểu rồi mà. Ngoại ham rẻ buôn mấy thứ đó có ngày hết vốn.

Bà cụ định nói một câu gì đó nhưng miếng khoai chẹn trong cổ làm cụ nghẹn lại. Vị đắng nghét đứng sững ở đó, thấm vô nước miếng rồi loang ra. Bà cụ thấy rõ cái cảm giác khó chịu đó chui xuống tận bên trong cổ họng. Còn đang lúng búng với miếng khoai và những ý nghĩ rã rời, bỗng bà cụ Tám chợt giật nẩy người lên khi nghe từ đằng xa có ai réo gọi tên mình. Quả nhiên chỉ trong một thoáng sau đó mấy đứa nhỏ đã lốc nhốc chạy lại từ phía đầu hẻm, vừa chạy vừa la chói lói:

– Cụ Tám có thư! Cụ Tám có thư!

Những tiếng la có tác dụng làm cho người cụ chết sững lại. Cụ quên cả đói. Quên vị khoai đắng nghét còn chứa đầy trong miệng. Quên luôn cả sự hờn giận mấy đứa làm ăn bê bối bên Hợp tác xã Thương nghiệp. Trong đầu óc cụ bây giờ chỉ còn lùng bùng mấy tiếng “Cụ Tám có Thư. Cụ Tám có thư”. Cụ muốn nhỏm dậy nhưng toàn thân đã tê điếng. Củ khoai nham nhở còn nằm nguyên vẹn trong mấy ngón tay nhưng bây giờ ngó như tất cả đều đang run bắn lên. Cụ cũng cố cất lên một lời đáp lại tiếng la của lũ nhỏ nhưng giọng nói của cụ cũng như bị tắc lại. Cụ chỉ còn biết giương to cặp mắt nhìn về phía đầu ngõ. Mọi người ở đó đông đảo quá nên cụ chưa phân biệt được gì. Duy có một điều cụ biết chắc mình đang được thụ hưởng một biến cố. Cái biến cố ấy cụ chờ đợi đã từ lâu, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, đêm nào trước khi nhắm mắt đi ngủ cụ cũng hình dung ra thân hình xanh xao, còm cõi của thằng con với một sự băn khoăn tức tủi “đến hôm nay rồi sao nó chưa có thư?”.

Bây giờ thì cái thư ấy đã tới. Nó tới một cách bất ngờ, đột ngột. Tới trong một buổi sáng mà cụ không đợi chờ, không hy vọng, một buổi sáng mà cụ cho là xui xẻo nhất vì cụ đã phải đốt vía mấy lần để xua đuổi cái xui do mấy kẻ mua hàng đem lại. Chợt có tiếng của chị Bẩy nói to làm cụ choàng tỉnh cơn sững sờ của mình:

– Vậy là có thư của cậu Quang rồi.

Chị vừa nói dứt lời thì lũ nhỏ cũng đã chạy tới. Chúng nó bu lại quanh mẹt khoai của bà cụ. Đứa này nói, đứa kia nói. Vừa nói vừa thở, quang cảnh ồn ào, náo nhiệt hẳn lên. Sự nồng nhiệt của chúng nó làm cụ cảm động. Cụ thấy rõ tất cả mọi người, kể cả lũ trẻ lam lũ, vô tội này cũng đều chia sẻ với cụ nỗi lòng của người có thân nhân đi học tập cải tạo. Nếu chúng nó không quá đông, nếu những củ khoai của cụ không quá nhiều vết sùng, và nếu cụ đã cầm chắc được cái thư của thằng Quang trên tay rồi thì cụ dám hứng chí đưa cả mẹt khoai cho lũ trẻ phân phối với nhau. Nhưng ít ra cụ cũng còn đủ sáng suốt để nhớ lại cái vốn gần chục bạc bỏ ra buôn khoai chưa thu lại được một phần tư. Cụ cũng nhớ đến ước vọng của thằng Quang viết trong những thư trước: “Con biết mẹ già yếu chẳng làm ăn buôn bán được gì. Nếu xoay xoả được, xin mẹ gửi cho con một gói muối mè rang mặn…”. 

Chỉ mới nghĩ được đến thế thì nước mắt của cụ bà đã tuôn trào. Cụ khóc vì thương nó cũng có và vì mừng rỡ hôm nay được tin của nó cũng có.

Lúc này thì người phát thư cũng đã đi tới. Vai ông ta  đeo một túi vải đựng đầy nhóc những lá thư. Một tay ông giắt chiếc xe đạp bằng cách cầm ở một bên tay lái, còn tay kia thì ông giơ cao một bao bì màu trắng loại giấy được nấu lại nên đã ngả màu úa ngà. Vừa đi ông ta vừa nói to:

– Nguyễn Thị Dần là ai?

Bà cụ la lên, tưởng như không hét to thì ông ta không nghe thấy:

– Tôi…Dạ tôi đây!

Người phát thư ngừng lại ở ngay trước mặt cụ và hỏi tiếp:

– Cụ có thân nhân nào tên Võ Ngọc Quang không?

Bà cụ đột nhiên bị cơn xúc động làm cho miệng trở nên sệu mệu:

– Dạ, đó là con tôi. Nó đang học tập cải tạo…

Nói chưa dứt câu thì cụ oà lên khóc. Cơn khóc kéo đến quá bất ngờ, mau chóng như thể là kết tinh lại ở đầu bao nhiêu là nỗi niềm tủi nhục, oán hờn, bao nhiêu là đêm thao thức, trằng trọc, chờ đợi mong thư.

Thấy cụ khóc lên một cách quá dễ dàng, người phát thư hơi sững sờ một chút nhưng ông ta cất lên lời khuyên nhủ ngay:

– Thôi không sao đâu. Nó đi rồi nó lại về mà. Học tập cải tạo chớ có phải tù tội gì đâu.

Lời nói của ông lọt vào tai chị Bẩy làm chị thảng thốt. Chị quay phắt sang nhìn vào tận mặt bác đưa thư, và cơn giận bỗng ùa đến thật mau. Chị nói như phủi vào mặt:

– Giam con nhà người ta mấy năm liền mà nói có tù tội gì đâu. Ăn gì mà ngu quá vậy.

Người đàn ông tức tối vì bị dùng hai chữ “ăn gì”, lại nữa câu nói ấy lại được sử dụng ở ngay giữa đám đông, nếu không có lời cãi lại thì mất mặt quá. Cho nên bác ta đã quay lại phía chị Bẩy sừng sộ:

– Chị nói ai “ăn” gì?

– Tôi nói cái đứa nào ngu mà biểu học tập cải tạo chứ đâu phải đi tù, giỏi có ngon thì vô đó học đi!

Bác phát thư bật lên một tiếng cười khẩy:

– Hơ! Tôi việc gì mà phải vô đó nhỉ? Tôi đâu có nợ máu. Tôi đâu có phản cách mạng. Coi chừng những quân phản động ăn nói mất lập trường mới phải vô đó thôi nghe.

Chị Bẩy đang ngồi bỗng đứng phắt ngay dậy. Chị gạt cái mẹt đang vướng víu ở chân qua một bên rồi sấn xuống lòng đường. Lần này giọng của chị tác xác hơn:

– A! Ra bác chụp mũ tôi là phản động phải không. Tôi nói sự thật như thế đó mà kêu là phản động phải không. Đi mà trình báo đi. Con này cùi rồi đâu có sợ lở .

Màn đấu khẩu không đâu vào đâu thế mà trong khoảnh khắc có vẻ trở nên trầm trọng. Bà cụ Tám hốt hoảng nhất vì sợ mất lòng người đưa thư, lần này đã vậy, lần sau nó vất vô sọt rác thì kêu ai, cho nên bà cụ vội níu ngay lấy cánh tay của chị Bẩy kéo lại và nói:

– Thôi đi mà. Chuyện có gì đâu mà xé ra to.

Chị Bẩy phân bua:

– Thì có ngoại ở đây từ đầu ngoại thấy đó. Cháu có nói gì đâu, vậy mà bác ấy kêu cháu phản động. Cháu hỏi ngoại chớ thằng Quang đi cải tạo có phải là đi tù không? Ngoại nói thật đi.

Bà cụ nài nỉ:

Thôi mà, nhắc làm chi tới những chuyện đó. Tù hay cải tạo hay học tập gì cũng được tuốt. Chữ nghĩa mà ăn nhằm gì.

Chị Bẩy được lời nói của bà Tám nên reo lên:

– Đó! Thấy không? Hiền lành như bà cụ đây cũng thấy rõ chữ nghĩa mà ăn nhằm gì. Có xảo ngôn cách mấy thì tù vẫn là tù thôi, đâu có khác được.

Bà cụ tưởng mình ngỏ lời dàn hoà cho vui vẻ cả hai bên, đâu có ngờ chỉ mới thốt lên một câu đã khiến cho mọi người hiểu lầm và chị Bẩy túm được lấy nó xài xể thêm bác đưa thư. Điều đó khiến cho cụ mặt ngẩn ra và không biết phải sửa chữa lại cách nào.

Đã thế một thằng nhỏ, đứng ở ngoài bỗng ngứa mồm la lên:

– Để bác ấy vô rồi bác ấy biết…

Bác phát thư đang đuối lý, cũng chưa bết phản ứng cách nào, bỗng túm được thằng nhỏ cà chớn ở đâu xía mồm vào, bác liền trút ngay cơn giận dữ của mình lên đầu nó. Bác liền quay phắt người lại và chỉ vào mặt nó gằn giọng:

– Này, ranh con biết gì. Mày không câm mồm tao “ goắn” chết mẹ mày!

Thằng nhỏ chột dạ về thái độ quyết liệt của bác ta, vội vã lùi lại ra phía ngoài đám đông, rồi chợt nó vùng lên chạy, vừa chạy nó vừa la to:

– Goắn đi! Goắn đi!…Người lớn bắt nạt con nít.

Mấy đứa bạn của nó cũng a dua ùa lên chạy theo. Một đứa buột mồm kêu:  Ế! Ế !…Chị Bẩy được cả lũ hỗ trợ nên vẻ hài lòng hiện rõ trên nét mặt. Chị cảm thấy cuộc đấu khẩu coi như đã ngã ngũ và phần thắng đã ngả về phe chị. Do đó chị không cưỡng lại cử chỉ của bà cụ kéo chị trở về chỗ ngồi của mình.

Bác phát thư thấy cũng chẳng còn lý do để mà gây thêm phiền nhiễu ở cái con hẻm đầy dẫy những thành phần phức tạp này nên cũng vội vã ấn vào bàn tay của bà cụ phong thư màu vàng úa và vội vã leo lên xe đạp đạp đi. Bà cụ không còn bụng dạ nào để tâm tới bác ta nữa. Bà vồ lấy phong thư như một kẻ đi trong sa mạc  nóng bỏng nhiều ngày bỗng vớ được một ly nước lạnh. Nhưng bỗng nhiên chân tay của bà mềm nhũn hẳn ra. Bà cầm phong thư trước mặt mà không tin cặp mắt của mình. Đúng nó là phong thư được gửi đi từ trại cải tạo. Đúng nó là phong thư đề đích danh tên người nhận chính là bà. Nhưng nó không phải là phong thư do tay thằng Quang đã viết bằng nét chữ quen thuộc của nó. Đấy chính là lá thư của ban Quản trại. Mà một khi Ban Quản trại đã gửi thư đến nhà cho những thân nhân thì kể như tất cả mọi trường hợp đã từng xảy ra, nó chỉ mang đến cho mọi người một sự thật kinh hoàng. Sự thật ấy bây giờ choáng ngợp trong đầu óc của bà cụ. Nó làm cho bà đang đứng ở giữa phố mà chết sững như trời trồng. Chung quanh bà có một vũ trụ đang chan hoà ánh sáng bỗng nhiên như tối sầm lại và đổ sụp xuống. Mọi người ở gần đó chỉ được nghe tiếng ở miệng bà bỗng bật ra một tiếng la “ới con ơi!” não nùng, thảm thiết, tuy ngắn ngủi nhưng chất chứa biết bao nhiêu nỗi oán hờn, tủi nhục trước khi trông thấy bà đổ khuỵ xuống kéo theo những củ khoai đèo đẹt văn vương vãi trên mặt đường…

NHẬT TIẾN
Santa Ana ngày 19.10.82

Chân dung người nữ diễn viên Truyện NHẬT TIẾN


NHẬT TIẾN

img_3173

Hồi nhỏ, khi còn cắp sách đi học ở lớp nhất trường Hàng Vôi, ngày nào tôi cũng có dịp đi qua nhiều khu phố tráng lệ ở Hà Nội. Tôi học lớp chiều và hay đi học sớm vì có thói quen la cà chỗ này, chỗ kia.

Qua phố Hàng Trống, tôi hay đứng tại tòa báo Giang Sơn hay Liên Hiệp để đọc những tiểu thuyết in từng kỳ trên tờ báo ra trong ngày, được tòa soạn treo trước cửa ở khu chợ người qua lại xem tự do. Qua phố Hàng Khay, tôi hay đứng lại ở khu chợ Hoa ven bờ hồ ngắm nhìn những bông hồng, bông cúc hay glaïeul phô những mầu sắc rực rỡ trên những nền đá xanh biếc. Nhưng điều mà tôi ghi nhớ sâu xa nhất vẫn là bức hình chân dung được trưng bầy tại một tiệm ảnh có tên là Dung Photo ở ngay trên Phố Bờ Hồ.

Tôi không phải là loại người say mê nghệ thuật chụp ảnh. Tôi cũng không quan tâm đến những bức hình chụp phong cảnh hay tĩnh vật trưng bầy ở hai bên tủ kính lồng trong những khung cảnh đẹp đẽ mỹ thuật.

Tôi chỉ chú ý, hay nói đúng hơn bị thu hút bởi mỗi một tấm chân dung chụp hình một thiếu nữ. Nàng là ai, tên là gì, tôi chẳng đủ số tuổi mơ mộng để quan tâm nhưng thực sự tôi đã bị lôi cuốn bởi đôi mắt đó, vầng trán đó, mái tóc đó và nụ cười đó.

Người thiếu nữ trong hình còn rất trẻ, chỉ trạc khoảng mười lăm, hay mười sáu, cái số tuổi chưa làm cho đôi mắt trong veo kia vương vấn một nét buồn, cho nụ cười kia vẫn còn mang đầy vẻ hồn nhiên, vô tư và duyên dáng như những búp hồng mới nở ?

Hôm đầu tiên bức ảnh chân dung được bầy ra trong tủ kính, tôi đã chiêm ngưỡng một cách sững sờ. Rồi kể từ đó, không ngày nào đi qua mà tôi lại không đứng lại, nhìn, ngắm, ghi gói từng chân tóc, từng kẽ mày, từng những nốt đen lốm đốm trên giấy ảnh ở vành môi của nàng, ở khóe mắt của nàng, ở hàm răng trắng nuốt có một cái răng khểnh rất xinh, rất nghịch ngợm và đầy vẻ hồn nhiên, vô tư của nàng.

Thời gian si mê bức chân dung ấy kéo dài có đến trên bốn năm. Bốn năm trời trôi qua, bức ảnh ấy vẫn còn tồn tại ở đó, trong khung kính sáng lòa, ở vị trí chính giữa, thuận tiện cho khách qua lại bên đường ghé lại nhìn ngắm và hầu như chủ nhân của tiệm Dung Photo cũng đắc ý với tác phẩm của mình nên không chịu thay đổi đi mặc dầu những hình ảnh phong cảnh khác cứ vài tháng lại được thay đổi một lần.

Tôi thầm cám ơn ông ta lắm, vì như thế, tôi vẫn còn có dịp hàng ngày nhìn ngắm hình ảnh con người trong mộng của tôi. Rồi sau đó, tôi đã ngồi lên ghế nhà trường bậc trung học. Tôi đã đến số tuổi để mộng mơ. Và trong những phút giây lan man suy nghĩ về những cơn xao động mong manh trỗi dậy trong tâm hồn, tôi vẫn thấy thấp thoáng chân dung của nàng. Tôi đã đặt cho nàng cái tên giản dị nhưng đầy đủ ý nghĩa đối với tôi là “Dung Photo”, lấy ngay tên của tiệm ảnh đã sáng tạo ra bức chân dung của nàng.

Một năm trước ngày có hiệp định chia cắt, anh bạn cùng lớp với tôi bỗng một hôm nêu ra một phát giác hết sức động trời:
– Tớ biết địa chỉ ‘‘Dung Photo’’ của cậu rồi!
Tôi giật nẩy người lên như chưa bao giờ bị hứng chịu một cơn chấn động mạnh mẽ đến thế. Thấy mặt tôi hơi biến sắc, Hòa, người bạn của tôi vỗ vai cười:
– Bộ cậu yêu thật đấy à?
Tôi đỏ mặt lên, cố biện minh:
– Bậy nào! Người ta ít ra cũng hơn mình hai, ba tuổi. Mấy lại đã gặp nhau bao giờ mà yêu với đương.
Hòa thì thào tiết lộ:
– Năm nay cô ấy đúng mườỉ chín ! Sắp lên xe hoa về nhà chồng đấy! Cậu có muốn biết tên thật là gì không?
Tôi vội vã giơ tay cản lại, như muốn chối bỏ tất cả những điều gì do anh bạn đã tiết lộ.
– Khỏi cần! Khỏi cần! Với tôi bao giờ nàng cũng chỉ có một tên là “Dung Photo”.

Tôi nói mà thấy như giọng của mình nghẹn lại. Sự nghẹn ngào này không giấu nổi ánh mắt tinh tế của Hòa, cho nên anh ta biết ý xoay câu chuyện qua một đề tài khác. Tôi cho như vậy là hơn, vì thực sự ngay lúc đó, tôi không có đủ can đảm để nghe rõ hơn về những chi tiết quanh nàng. Còn có gì nữa đâu khi nàng sắp lên xe hoa về nhà chồng.

Một tuần lễ sau ngày tiết lộ của Hòa, tiệm Dung Photo cất bức ảnh chân dung đi, không trưng bầy ra nữa. Có thể nó đã được mua lại bởi người chồng chưa cưới của nàng. Mối tình si mê viển vông của tôi bị cắt đứt phũ phàng nhưng chính điều đó lại càng để lại trong lòng tôi những vết thương khó lành.

Cả khu phố Bờ Hồ như hoang sơ hẳn đi vì thiếu vắng bức chân dung của nàng. Tôi mất thói quen đạp xe nhàn tản trên đường phố lúc về chiều mà không lần nào lại không ghé qua Dung Photo để nhìn ngắm ánh mắt, nụ cười của người thiếu nữ ấy. Gọi là tôi thất tình thì không đúng vì tôi chưa bao giờ được gặp nàng, nhưng những phút nhớ nhung, xao động đã gậm nhấm, làm tôi đã thổ lộ tâm sự của mình trên hàng xấp nhật ký viết riêng cho mình đọc.

Tới tháng Bẩy năm 1954, trước khi giã từ Hà nội để vô Nam, tôi đến chào từ biệt Hòa tại nhà anh ta ở phố Đường Thành. Hòa tiếp tôi ở trên chiếc ghế xích đu đặt ở sân ngoài. Ngồi tại đó, tôi có thể nghe tiếng những âm thanh cười nói phát ra từ phòng khách phía trên, qua một khung cửa sổ mở rộng. Có giọng nói của đàn ông xen với tiếng trả lời ấm áp, rộn rã của thiếu nữ. Hòa chỉ tay về phía ấy và nháy mắt với tôi:
– Dung Photo đấy! Bà ấy sắp trở thành chị dâu của tôi.

A! Thêm một điều mới lạ nữa mà bây giờ tôi mới phát giác ra. Tôi đã từng biết Dung Photo sắp đi lấy chồng, nhưng tôi không thể ngờ được rằng nàng lại sắp lấy anh ruột người bạn cùng lớp của tôi. Chẳng phải Hòa giấu giếm gì nhưng một phần vì tôi không muốn hỏi tiếp tới sau câu chuyện bữa nọ đã xảy ra, phần khác, Hòa đã trông thấy phút nghẹn ngào của tôi qua ánh mắt, qua giọng trả lời đầy xúc động của tôi khi được tin Dung Photo sắp đi lấy chồng.

Nhưng bây giờ thì tôi không còn nhiều thời gian để quan tâm đến những chi tiết ấy nữa. Tôi sắp xa Hà nội. Tôi sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới với một viễn ảnh nhiều khích động, nôn nóng và dĩ nhiên là hoàn toàn mới lạ đi với tuổi trẻ ham bay nhẩy như tôi. Cho nên, tôi vẫn giữ được vẻ thản nhiên khi được Hòa cho biết Dung Photo sắp trở thành chị dâu của anh ta. Tôi biết rõ tôi đang chuẩn bị để dời xa thành phố này. Trả lại đây cơn mơ mộng viển vông của thời thơ ấu. Trả lại phố phường những ngày đạp xe đi dưới bóng mát của những lùm cây đầy ắp âm thanh xao động buổi sáng sớm cũng như lúc xế chiều. Tôi sắp xa tất cả, kể cả người đẹp mà tôi đã từng ấp ủ bóng dáng của nàng qua bức hình ở tiệm Dung Photo với những đêm trằn trọc thao thức, với những trang nhật ký kéo dài liên miên, bất tận hết tập vở này đến tập vở khác.

Lúc tôi sắp sửa ra về thì Dung Photo cũng từ phía nhà trên đi ra cổng. Ngồi ở trên ghế xích đu, qua những cành ngọc lan ngả là là xuống sân sỏi nhỏ, tôi thấy nàng nhí nhảnh đi bên cạnh người chồng chưa cưới, anh Hùng, mà tôi đã có nhiều lần gặp gỡ nói chuyện bâng quơ.

Nàng có mái tóc đẹp hơn cả trong hình, bởi ở tấm hình, tôi chỉ được nhìn thấy phía đàng trước, và tấm hình đen trắng chẳng thể diễn tả được cái vẻ bồng bềnh như mây khói của cả một làn tóc mây dài có màu đen như mun, có dáng óng ả như một mối tơ thả xuống hai bờ vai thon gọn ghẽ trong chiếc áo dài đơn sơ mầu tím Huế của nàng. Lúc nàng quay lại nói với Hòa, tim tôi thắt lại vì hình ảnh lộng lẫy của nàng. Dung Photo quả là có sắc đẹp trên cả những hình ảnh mà tôi vẫn từng ấp ủ.

Dù là lần đầu tiên tôi gặp nàng, nhưng hầu như tôi có cảm giác gặp lại một người thân quen. Tôi đã chẳng có bốn năm dài đằng đẵng mỗi ngày chiêm ngưỡng nàng trong bức ảnh chân dung là gì. Nhưng nàng chẳng thể biết được tôi là ai lúc đó. Nàng nhìn tôi với cặp mắt hững hờ. Tia nhìn chẳng kéo dài quá một giây đồng hồ mong manh. Làm sao nàng có thể hiểu được trên cõi đời này lại có một kẻ đã dành cho nàng bao nhiêu tâm tư và thì giờ đến như thế.

Sau bữa đó, là gần ba mươi năm dài chia xa. Tôi không còn được nghe tin tức gì về Hòa, về anh Hùng cũng như về đám cưới của nàng sắp được cử hành. Cuộc sống mới của tôi ở miền Nam có những lôi cuốn mãnh liệt. Hà Nội lùi xa dần trong trí nhớ của tôi.

Những hình bóng cũ, những kỷ niệm cũ, những tâm tình mơ mộng cũ lâu ngày đã bị chìm khuất sau lớp bụi mỗi lúc một dầy thêm của thời gian, của những va chạm trong cuộc sống, của những biến cố mà con người phải trực diện từng ngày trong một đất nước có chiến tranh.

Mãi tới đầu năm 1978, khi gặp lại Hòa, từ miền Bắc vô Sài Gòn, mọi thứ cũ càng trong quá khứ mới có dịp trỗi dậy. Chúng tôi, sau những phút e dè khởi đầu, đã có thể hàn huyên với nhau đủ thứ chuyện, dĩ nhiên câu chuyện về đời sống của người đẹp năm xưa không thể không đề cập đến. Sau dây là lời kể lại của Hòa:
– Sau khi cậu đi Nam rồi, những ngày đầu của sự tiếp thu Hà nội là những ngày sôi động nhất. Tuổi trẻ thành phố ùa xuống đường cuồng nhiệt như thác lũ đầu mùa. Với tất cả thiện chí và nhiệt thành, cộng thêm cả yếu tố ham vui, ham hoạt động, họ đã đón nhận thể chế mới như một cơ hội làm lại xứ sở sau những năm tháng dài ngủ quên dưới chế độ thuộc địa của Pháp. Chín mươi chín phần trăm đều không biết Cộng sản là gì ngoại trừ một thiểu số thanh niên nhậy cảm như anh Hùng. Điều này đã trở thành một cái hố ngăn cách khởi đầu giữa anh Hùng và chị ‘‘Dung Photo’’. Chị ấy đẹp lại có khiếu văn nghệ, hát hay, đàn giỏi, nên tham gia đủ loại chương trình trình diễn. Trong khi ấy, anh Hùng khép kín mình lại để làm thơ, viết văn mà không bao giờ đăng báo cả. Đám cưới đã dự tính của hai người trên căn bản đó đã bị đình hoãn, rồi mâu thuẩn sâu sắc ngày một gia tăng đến độ phải hủy bỏ. Một thời gian sau, anh Hùng tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đóng góp rất hăng hái cho tờ Nhân Vă n rồi tờ Đất Mới của sinh viên, trong khi ấy chị Dung Photo đã có người yêu mới, một cán bộ Văn công cao cấp, có Đảng tịch và dĩ nhiên là già hơn chị ấy ít ra là mười lăm tuổi.

Trước ngày lên xe hoa về nhà chồng, chị ấy có gặp anh Hùng một lần cuối. Cố gắng cuối cùng của chị là mong cứu vãn tình thế nguy hiểm của anh Hùng trước khi quá trễ. Chị tiết lộ cho anh Hùng hay rằng Đảng Ủy đang chuẩn bị đánh lớn, đánh quyết liệt vào đầu não cũng như những dây mơ rễ má của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ngoài lý do “không còn đường nào khác”, chị ấy còn cố lay chuyển tư tưởng của anh Hùng:
-Anh không thấy đất nước đã đổi mới rồi sao? Độc Lập là ước mơ của toàn thể mọi người. Bây giờ không còn là lúc để ngồi đặt vấn đề mà là thực sự bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước. Dĩ nhiên, một đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ thì ở lãnh vực nào không có sai sót. Chúng ta, nhân danh tuổi trẻ, sẽ nỗ lực sửa chữa những sai sót ấy. Tương lai, vận mệnh của quê hương này ở chúng ta. Thế thì còn có điều gì nữa mà anh ngần ngại?

Anh Hùng chỉ lẳng lặng ngồi nghe mà không phát biểu một lời nào. Thực sự lòng anh vô cùng chua xót khi nhìn thấy người yêu như một cánh chim hăm hở, muốn vụt cất cánh bay lên trời cao mà không biết, hay không muốn biết bầu trời đang vần vũ những cơn bão tố.

Dung Photo có lý tưởng của nàng. Ôi cái lý tưởng của tuổi trẻ bao giờ chẳng được vun đắp bằng những nhiệt tình sôi nổi nhiều hơn là những lý luận dài dòng.

Nửa năm sau đó, chị đi lấy chồng cùng lúc với biến cố anh Hùng bị bắt đem đi cải tạo tập trung.
Hôm công an ùa vào nhà khám xét, căn phòng của anh bị tìm bới tung tóe cả lên. Họ mang đi rất nhiều bản thảo, giấy tờ, và cả những tờ báo anh viết dầy đặc những lời ghi chú lên đó nữa.

Hòa kể đến đây thì chậm rãi rút ở túi ra một bức hình. Vừa thoáng nhìn, tôi đã la lên:
– Hình của Dung Photo.
Hòa gật đầu:
– Đúng rồi! Bản chính, tấm lớn lồng kính mà ngày xưa cậu đã từng chiêm ngưỡng bốn năm liền thì anh Hùng đã trả lại cho chị ấy từ ngày hai người hết liên hệ với nhau. Duy còn có tấm được rửa ra cỡ nhỏ này thì anh ấy không hiểu vô tình hay cố ý giữ lại trong ô kéo, mãi đến lúc công an lục lọi nó mới rơi ra và tôi đã giữ lại sau khi anh ấy bị dẫn giải đi. Không bao giờ anh tôi còn có dịp nhìn lại bức hình này bởi anh ấy đã chết trong lao tù ở Việt Bắc.

Kể đến đó, khuôn mặt xanh xao của Hòa chợt như dắn đanh lại. Tôi thấy ánh mắt của anh gợn lên những tia sáng đục ngầu và long lanh như ngấn lệ. Tôn trọng giây phút cảm xúc chợt đến trong tâm tình của người bạn cũ, tôi lẳng lặng cầm bức hình lên ngắm nghía.

Cả một dĩ vãng xa vời tưởng đã chìm khuất trong lớp bụi chồng chất của thời gian này đột nhiên sống dậy một cách vô cùng mãnh liệt. Tôi như thấy lại tâm tình của tôi năm mười bẩy tuổi. Tôi như vừa đã đứng ở đó, ngày hôm qua, tay còn dắt chiếc xe đạp cũ mầu xanh, đứng say mê nhìn ngắm bức chân dung lộng lẫy bầy trong tủ kính của tiệm Dung Photo ở trên đường phố Bờ Hồ.

Vậy mà hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua. Thời gian thì khoảnh khắc mà tang thương, dâu bể đã chồng chất biết bao nhiêu là nỗi niềm.

Đêm hôm ấy, Hòa lưu lại nhà tôi để còn tiếp tục tâm sự. Tôi thấy rõ những khoảng cách biệt, ngỡ ngàng giữa tôi và Hòa cứ ngày một thu ngắn lại. Thì ra dù đã được tôi luyện, nhào nặn dưới chế độ Cộng sản đến bao nhiêu năm, hầu như mỗi con người miền Bắc đều còn ấp ủ một mối tâm tình riêng biệt, đào rất sâu, chôn rất chặt, và nó chỉ bung ra một cách hiếm hoi khi có dịp.
Tôi được nghe Hòa kể tiếp:
– Chị Hồng….ấy quên, “Dung Photo” của cậu chứ, sau này trở thành một diễn viên nổi tiếng ở miền Bắc. Chị ấy chuyên thủ những vai trò có tính chất khích động tuổi trẻ, làm sống dậy trong tâm hồn tuổi trẻ cái ý thức phục vụ xây dựng trên căn bản nuôi dưỡng sự căm thù. Tôi hiểu rằng chị chỉ là một hòn bột nằm trong tay nhào nặn của người chồng làm văn công ở cấp cao. Chính ông ta viết kịch, hoặc dịch kịch bản từ Trung Quốc hay Liên Xô, rồi cũng chính ông ta đạo diễn cho chị để đặc tả những xen, cảnh mà tình huống mâu thuẫn lên cao nhất, căng nhất.

Sự thành công tột bực của chị đã phủ một hào quang đến nỗi làm cho chính chị bị chóa mắt. Chị ấy có ảo tưởng như mình là một biểu tượng của tuổi trẻ tiến bộ trong một xã hội cũ kỹ đang chuyển mình tiến lên một vận hội mới. Chị ấy say sưa đả phá những động lực làm trì trệ con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trước còn ở trên sân khấu, sau lan ra cả đến cuộc đời thực tế mà nạn nhân bị chĩa mũi dùi đầu tiên chính là người chồng già nua, nhiều tuổi Đảng của chị.

Ông ta đâu có phải là ông thánh. Chẳng có ai là thánh trên cõi đời này kể cả mấy ông trùm nằm trong Trung Ương Đảng. Nói cho rõ hơn, nhiều anh cắc ké cũng muốn hủ hóa nhưng làm gì có điều kiện. Phần lớn đã biến thành những mẫu người gan lì, chịu đựng, nhưng trong thâm tâm vẫn ẩn náu một niềm mơ ước được bung ra như một vẩy sét nằm trong những thanh thép đã được trui rèn. Các ông cán bộ cấp cao thì đời sống hẳn phải khác hơn người. Họ được chế độ đặc biệt ưu đãi. Họ có cái thẩm quyền xét đoán, phê phán người khác mà ngược lại, không ai có quyền thắc mắc gì về những hành vi, về đời sống thực của họ cả.

Quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa chỉ là một cái bánh vẽ trang trí cho bộ mặt của chế độ, trong khi ấy, kẻ làm chủ đích thực lại nằm trong tay một giai cấp mới đã hình thành, giai cấp có đảng tịch nắm quyền chi phối tư tưởng của mọi người. Chồng của chị Hồng là một thành viên của giai cấp ấy.

Ông ta, khi xuất hiện trước đám đông trước các kẻ cộng tác liên hệ đến nhiệm vụ, thì đã mang một bộ mặt hết sức lý tưởng. Và nhân danh cái lý tưởng ấy, ông thôi thúc giới trẻ lăn xả vào đóng góp. Nhưng ngược lại, ở đời sống riêng tư, rõ ràng là ông ấy đang thụ hưởng ngay chính trên những thành quả do mọi người đem lại. Hơn ai hết, trong cương vị của một người sống ngay kề cận, Hồng đã nhận thức được cái thực tế bẽ bàng và chua xót này.

Một lần, trong bữa cơm, vừa bưng bát lên ông ta đã buông xuống và chê gạo hẩm không ăn. Hồng nói rằng trong hoàn cảnh mọi người còn đang thiếu thốn, không ai có quyền đòi hỏi hưởng thụ nhiều hơn. Ông ta đã chỉ vào mặt của Hồng, tác sắc:
– Cô hãy lột cái vỏ diễn viên tuồng tích trên sân khấu ấy đi khi trở về sinh hoạt trong đời sống gia đình.

Hồng cảm thấy bị xúc phạm nặng nề sau câu nói trắng trợn ấy. Lần đầu tiên nàng thấy thấm thía sâu xa về vai trò con bù nhìn bị giật dây cho đóng trò của mình, trong khi ấy nàng vẫn tưởng mình đang ra sức phục vụ cho một lý tưởng tốt đẹp đáng tôn thờ.

Một lần khác, sau một mùa kịch thành công sôi nổi, Hồng đã nhận được rất nhiều thư từ của khán giả gửi về ngợi khen. Đặc biệt có một lá thư chỉ viết vỏn vẹn vài câu nhưng chứa đựng cả một sức nặng đủ khiến cho Hồng choáng váng. Lá thư được gởi từ một nữ công nhân trẻ:
– Chị trình diễn hay lắm. Tài năng của chị đã lôi cuốn cả một Thế hệ tuổi trẻ như tôi. Tôi tin chị đến độ lấy hình ảnh của chị làm mẫu mực, lấy lời nói của chị làm châm ngôn hành động. Và tôi đã lao đầu một cách mù quáng vào mọi công tác, mọi chiến dịch nhằm xây dựng xã hội, cái xã hội mà ở đó tôi đã bị bứng ra khỏi truyền thống gia đình, ra khỏi bàn tay thương yêu của cha mẹ. Rồi chị có biết số phận của những con thiêu thân như tôi hiện nay đang làm gì không? Thưa chị, tôi vừa đang là công nhân cho một hợp tác xã vừa phải đi làm một con điếm mới đủ nuôi thân!”

Hồng đã giấu lá thư không cho chồng biết, bởi nàng đã thấy rõ, cho đến lúc này, ông ta không còn là người có thể chia sẻ được với Hồng trong những cơn giông tố của tâm hồn bắt nguồn từ những nguyên nhân mà ông ta không thể nào cảm thông được.

Sau lần đó, Hồng thoát được ra khỏi cơn mơ chỉ sống trong hào quang của những nhân vật do chính nàng thủ diễn. Nàng khỏi sự quan tâm đến đời sống của mọi người chung quanh. Nàng hay lén đi lang thang trên những con đường quanh co, có khi là ở trong thành phố đông đúc chật hẹp, có khi là ở vùng ngoại ô với những mái nhà xiêu, vách nát. Nàng đã nhìn thấy những mảnh đời tối tăm, cực nhọc. Nàng đã thấy những khuôn mặt bạc nhược của những con người bị thiếu thốn đủ thứ nhưng lại bị những chiến dịch, tuyên truyền, những khẩu hiệu, những nghị quyết, những đợt học tập ngắn hạn, dài hạn thôi thúc tối đa. Những nhận thức mới này đã đánh một đòn nặng lên cân não của Hồng đến độ nó có ảnh hưởng mãnh liệt trên khả năng trình diễn của nàng.

Chồng nàng là người trước tiên nhìn ra cái nhược điểm đó. Ông ta mang đầy vẻ bồn chồn của một kẻ dồn hết vốn liếng vào việc nuôi dưỡng một con ngựa mà nay nó bắt đầu giở chứng không chịu dồn hết sức lực ra bốn vó trong mỗi cuộc đua. Điều này đã nhiều lần gây ra những xô xát, cãi cọ sau mỗi buổi trình diễn, trước thì còn ở nhà riêng, trong sinh hoạt gia đình riêng tư, sau nó bùng nổ ngay cả trên sân khấu.

Lần ấy là một buổi diễn tập cuối cùng trước khi vở kịch khai diễn trước quần chúng, có sự tham dự của nhiều cán bộ cao cấp của nhiều ban ngành thuộc bộ môn sân khấu. Vở kịch bị cắt ngang nhiều lần bởi những nhận xét của ông chồng đạo diễn:
– Chỗ này em chưa đặc tả hết phẩm chất của người nữ công nhân trong chế độ ta. Hãy nghĩ đến sự căm thù của một tầng lớp bị bóc lột tới tận xương tủy. Hãy dồn sự căm thù vào một câu nói. Câu nói ấy ngắn ngủi thôi nhưng nó là biểu tượng của một nhận thức đã chín mùi, đã tới bước nhẩy vọt, bùng vỡ….

Hồng nhẫn nại trong cơn mệt mỏi tận cùng của mình. Nàng nhắm mắt lại để tập trung ý chí và khêu gợi niềm hận thù. Nhưng vô ích! Như một sợi cao su đã bị căng ra nhiều lần, tới giây phút đó, sức đàn hồi chỉ còn là một cái gì nhão nhoẹt. Nàng thấy thấm thía về những nỗi xót xa, ê chề mà từ lâu nàng đã từng có cái cảm giác như nó đã hiện diện, gậm nhấm trong vùng sâu thẳm của tâm tư của mình. Nếu ngay phút này nàng được yên nghỉ, được nằm úp mặt vô trong tấm chăn để khóc vùi thì có lẽ nàng sẽ trấn át được cơn giao động đang làm cho óc nàng căng thẳng như muốn nổ tung ra.

Nhưng thực sự thì nàng đang đứng ở đây, trên bục gỗ sân khấu, dưới ánh sáng của những ngọn đèn chói lòa, trước cặp mắt soi mói của những diễn viên, những công nhân phục vụ sân khấu, những cán bộ văn hóa chỉ đạo và nhất là tiếng nói cứ mỗi lúc một gay gắt của chồng nàng vang dội bên tai:
– Tập trung….căm thù…..nhẩy vọt…..bùng vỡ!
Những âm thanh chát chúa ấy nhóm lên trong lòng nàng sức phản kháng cứ mỗi lúc một gia tăng. Nàng phẫn nộ nhìn xuống dưới sân khấu. Cái lũ ngồi bệ vệ, lom lom dòm ngó từng điệu bộ theo dõi từng cử chỉ, đôn đốc, phê bình, chỉ trích từng câu nói, từng cách lên giọng xuống giọng mà những bản mặt của họ, những bản mặt hưởng thụ, phè phỡn hoàn toàn mâu thuẫn với những điều họ bắt nàng làm, buộc nàng phải đặc tả, lại có thể đòi hỏi, yêu sách đối với những người như nàng ư!

Nàng mơ ước một xã hội công bằng thật đấy, nàng khích động tuổi trẻ xây dựng một tương lai đầy xán lạn mới thật đấy, nhưng nhất định không phải là đi chung một mục đích, một con đường như lũ người đầy quyền hành và ham hưởng thụ này. Trong cuộc đờì, nếu có những giây phút đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt thiêng liêng, đặc biệt mầu nhiệm có thể làm cho con người như sực tỉnh một cơn mơ, đầu óc tràn ngập ánh sáng của sự minh triết để có thể vụt nhận thức thấu suốt được cả một chặng dài mê lộ mà mình vừa trải qua thì đúng giây phút đó đã vừa xẩy đến với nàng.

Nó soi rọi cho nàng thấy hoàn cảnh của những con người lầm than cơ cực dưới xã hội mới. Nó chỉ rõ cho nàng thấy cái công trình ra sức đóng góp bằng tất cả tài năng và nhiệt tình của tuổi trẻ như nàng chỉ là những cố gắng vun đắp cho một đẳng cấp phong kiến mới. Giá trị của nàng do đó chỉ là một con bù nhìn bị giật dây cử động hay một hòn bột được nhào nặn tùy theo cung cách, ý muốn của những kẻ có quyền hành.

Thế là trong một giây phút bất ngờ nhất, nàng như có một động lực sâu thẳm, chất chứa, xúc tích từ bao nhiêu năm nay bật lên như sức bật của một cái lò so, khiến cho nàng có thừa đủ ý chí và sức mạnh để chật cái khăn quàng, (một y phục hóa trang của diễn viên) ra khỏi cổ và ném nó xuống đất. Rồi mắt nàng long lên với vẻ căm hờn nhìn chồng lúc đó đang đứng rất gần.

Phúc, tên chồng của nàng, thừa đủ bén nhậy để thấy sự bất thường đang xẩy đến trong tâm tư, tình cảm của vợ mình. Ông ta nhào lại phía Hồng vừa nói to để lấp liếm, nhưng dụng ý là để che giấu hình ảnh chống đối của Hồng trước đám cán bộ ngồi ngay ở hàng ghế đầu quan sát buổi diễn tập:
– Em cố gắng nhiều quá nên kiệt sức rồi. Thôi! Tôi đề nghị các đồng chí tạm nghỉ giải lao.

Vừa nói ông ta vừa dùng toàn lực để đẩy nàng về phía sau sân khấu. Hồng rợn lên vì cái cảm giác như bị xô bởi cái sức lực mang động cơ của sự hận thù. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi cơn bất kham chợt đến của Hồng có thể gây đổ vỡ trên nhiều mặt: Đoàn kịch nghệ, kịch bản, những buổi trình diễn đã dự liệu và trên tất cả là chính địa vị cũng như uy tín của chồng nàng.

Ngần ấy yếu tố đã đủ để Phúc xô Hồng dưới sức nặng của hai cánh tay và với sự căm ghét tận cùng. Hồng hơn ai hết cảm nhận rõ điều đó. Bởi nhiều năm qua, Phúc chưa bao giờ phản ứng quyết liệt đến như thế, và cũng bởi vì chưa bao giờ Hồng đã giở chứng một cách bất kham ngay trên sân khấu của buổi tập.

Phúc xô Hồng về phía cửa phòng hóa trang của diễn viên. Ông ta đẩy mạnh nàng vô trong, rồi đóng thật mạnh cánh cửa lại. Với hai bàn tay đầy móng sắc, ông ta bấu chặt lấy hai bờ vai của Hồng, trì nặng xuống bằng cả sức nặng của thân hình và bằng tia nhìn đỏ ngầu vì cơn xúc động, giận dữ. Rồi ông ta rít lên qua những kẽ răng nghiến chặt:
– Cô làm cái gì thế? Muốn phá hoại hả?
Hồng không đáp mà chỉ cố vùng vẫy. Hơn bao giờ hết, nàng thấy thực tế đang xẩy ra ứng đúng vào cuộc sống của một nữ diễn viên như nàng. Nghĩa là nàng đã bị bủa vây bởi hàng rào của bạo lực. Bạo lực không phải chỉ ở hôm nay, phút này mới có nhưng nó đã hiện diện từ lâu dưới hình thức bàn tay sắt được bọc nhung. Bao lâu nay nàng cảm thấy làn nhung êm ái, mềm mại là bởi vì nàng chỉ đã tuân phục một cách tuyệt đối. Tình thế đổi khác khi nàng nổi chứng bất kham. Và sự phản ứng của chế độ, mà đại diện gần gũi là chồng nàng cũng đổi khác một cách nhậm lẹ, phũ phàng.

Nghĩ đến những đòn thù mà chế độ trước đây đã đưa ra với biết bao nhiêu con người, Hồng thực sự hoảng sợ. Cơn hoảng sợ ùa đến nhanh chóng không kém, nó gây cho nàng cảm giác buốt nhói ở sống lưng. Nhưng chỉ ít giây sau nó cũng bị nàng nhận chìm xuống bằng những hình ảnh của xã hội lầm than cơ cực bên ngoài, bằng lá thư của người nữ khán giả vừa làm công nhân vừa làm điếm mới đủ nuôi thân.

Những thứ đó không phải hôm nay bây giờ mới có, mà thực sự nó đã âm thầm hiện diện trong tâm tưởng của nàng, giống như những cơn xoáy nước có sức âm thầm bền bỉ có thể làm sụp đổ cả một cây cầu.

Nàng vẫn thường tự nhủ rằng mình cố gắng đến tối đa trong mọi nhiệm vụ hàng ngày đâu phải để chỉ phục vụ cho một tầng lớp giai cấp mới đã thành hình và đang cấu kết với nhau một cách bền chặt. Nhưng rồi càng ngày thực tế càng cho thấy rõ ràng tuổi trẻ và lòng nhiệt thành đã bị lợi dụng một cách triệt để và tinh vi. Hồng không muốn tiếp tục để bị khai thác như những con bù nhìn chỉ biết cử động khi bị giật dây.
Nàng gằn giọng nói với Phúc:
– Anh buông tôi ra! Đối với tôi, từ nay là chấm dứt.
– Chấm dứt cái gì?
– Mọi nhân vật kịch cỡm và những ý đồ gian xảo của anh xây dựng trên những nhân vật ấy.
– Cô mất cảnh giác và sai lập trường một cách nghiêm trọng rồi.
– Thì đã sao!
– Cô không lường được hết mọi hậu quả về thái độ điên rồ của cô đâu !

Hồng vụt nổi giận. Nàng có cảm giác kinh tởm bộ mặt của Phúc đến cùng cực. Nàng hét to lên mà hẳn tất cả mọi người ở bên ngoài cũng đều nghe thấy:
– Anh đừng có dọa dẫm tôi. Tôi chấp nhận hết. Thà hậu quả xẩy ra thế nào thì cũng còn hơn là tôi tiếp tục con đường trình diễn nhớp nhúa này. Anh cút đi! Anh cút đi!

Phúc xô nàng ngã xuống nền gạch và đi ra như một con hổ dữ ! Ông ta đóng sầm cánh cửa phòng lại, mạnh đến nỗi mấy tấm gương treo trên tường bị xao động mạnh, và có một tấm bị rớt xuống sàn gieo lên tiếng vỡ loảng xoảng.

Mọi người đổ xô vào phòng, nhưng không ai lại gần Hồng cả. Họ thực sự e ngại trước vẻ mặt đầy tính chất khác thường của Hồng. Lúc nàng bước ra, cả bọn giạt ra cả hai bên. Hồng không nhìn ai nhưng có cảm giác như cả trăm con mắt đang dồn về phía mình. Khi bước qua dẫy ghế đầu, nàng nghe thấy giọng của Phúc cố gắng phân trần:
– Tôi xin lỗi các đồng chí! Dù cô ấy là ai, tôi cũng sẽ có biện pháp thích đáng.

Đột nhiên Hồng lấy lại được sự bình tĩnh đến độ chính nàng cũng không hiểu được sức mạnh nào đã đem lại cho nàng cái phẩm chất ấy. Có thể là sự khinh bỉ ! Có thể là cơn phẫn nộ, sự oán ghét, lòng căm thù, những tình cảm nàng đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ nhưng không phải để trút lên đầu những con người ưu tú như những người nữ công nhân, như Hùng, như những ngòi bút trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, mà chính là dành cho những cán bộ văn công cấp cao như lũ người trước đây vẫn còn có quyền phán xét và được nàng để cho phán xét.

Hồng quay lại đám người lố nhố để mỉm một nụ cười ngạo nghễ. Nàng không biết Phúc sẽ áp dụng những biện pháp thích nghi nào, nhưng điều đó có gì đáng quan tâm khi nàng đã tự giải phóng chính mình.

Đã từ lâu lắm, hôm nay nàng mới nhớ lại hình bóng của anh Hùng với tràn ngập nỗi xót xa như bị sát muối ở trong lòng.
***
Sau bữa đó, Hồng đã không trở về nhà mà đạp xe về tạm trú ở nhà mẹ của nàng ở mãi khu cư xá tập thể Giảng Võ. Những gì đã xẩy đến cho nàng, chính Hòa cũng không được biết. Hòa chỉ đã kể thêm:
– Lần cuối cùng tôi gặp lại chị Hồng là lần tôi đi công tác trên vùng những đồi trà ở Phú Thọ cách đây vừa đúng năm năm. Chị ấy đã lập gia đình với một bộ đội phục viên đã cụt một chân trong mặt trận chống Pháp ở Điện Biên Phủ. Hai người có vẻ hòa hợp với nhau. Anh ấy thản nhiên ngồi nghe chị kể lại cho tôi nghe tất cả những chi tiết mà tôi vừa thuật lại. Sau cùng, anh ấy chỉ nói thêm:
– Tôi bị loại ra khỏi vòng chiến từ sau năm 1954.Tôi không can dự gì vào với thời cuộc ngoài công tác phục vụ sản xuất những sọt trà. Thiên nhiên đem lại cho chúng tôi đôi chút hơi hướng của sự tự do, và điều này khiến cho chúng tôi bớt ngộp thở. Chú nghĩ mà coi, ở cái xã hội này, sân khấu đã lan ra cả đời sống. Còn có ai trong cái xã hội này mà không là một diễn viên đang thủ lấy vai trò của mình.

Nhật Tiến

Tháng 4,1985

https://nhavannhattien.wordpress.com/truyen-ngan-chan-dung-nguoi-nu-dien-vien/

Chém Treo Ngành – Truyện ngắn Nguyễn Tuân


Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.

Nguyễn Tuân

content_diem-sach_vang-bong-mot-thoi--nguyen-tuan

(Nguyễn Tuân – Vang Bóng Một Thời)

Phía tây thành B. trên một nền đất rộng đổ sát vào chân thành cho lầu gạch ngoài thành được thêm vững chãi, lũ cây chuối mật tha hồ mặc sức mà mọc. Nó um tùm, tàu lá rộng và không bị gió đánh rách, che kín cả bóng mặt trời. Trên áng cỏ bốn mùa ẩm ướt, loài nấm dại sinh nở hết sức bừa bộn.

Khoảng đất ấy ở phía sau kho lúa xây trong thành quanh năm không có vết chân người.

Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mấy con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ. Nhưng thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi lại bay qua ngọn thành. Vào tiết mưa dầm, những trận mưa Ngâu đổ lên vườn chuối một khúc nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu.

Vườn chuối phía tây thành sớm nay quang đãng khác mọi ngày. Trên mặt cỏ ngổn ngang những tàu lá, cuống còn tuôn rỉ ra những dòng nhựa thẫm màu. Nhựa ấy bị không khí làm se lại, kết nên thành những khối keo quyện chặt lấy búi cỏ gà.

Cùng một buổi chiều ấy, mấy người vợ lính cơ đứng trong luống bãi dâu trồng ở dưới chân thành, sát ngay với bờ hào được nghe tiếng người hát trên ngọn thành, ở trên đầu họ, đúng ngay chỗ vườn chuối im lìm của mọi ngày.

Tiếng người trên mặt ngọn thành cũ hát rằng:

“Trời nổi cơn lốc
Cảnh càng u sầu
Tiếng loa vừa dậy
Hồi chiêng mớm mau
Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau
Thừa chịu lệnh cả
Dám nghĩ thế nào
Người ngồi cho vững
Cho ngọt nhát đao
Hỡi hồn!
Hỡi quỷ không đầu!”

Người ở trên mặt thành hát đến đâu thì tiếng những thân cây chuối đổ xuống mặt đất tường thành lại kêu roạt roạt đến đấy. Bọn người đàn bà hái dâu ngừng tay bứt lá, nghiêng đầu lắng kỹ. Cái bài hát năm mươi tư chữ nghe như bài sai của thầy phù thủy, đã hát đi hát lại đến mấy lần. Cứ xong mỗi câu thì lại có một tiếng roạt. Chỉ có cây chuối bị chặt mạnh mình lìa hẳn gốc, đổ vật xuống mặt đất thì mới kêu roạt roạt như vậy thôi. Nhưng mà ai chặt chuối? Không phải hẳn là cấm địa, nhưng góc thành sau kho lúa kia cũng là một miếng đất cấm, ai dám vượt phép quan vào đấy mà hát, mà phá vườn. Có chăng là làm loạn.

Những người vợ lính cơ, quen sống trong không khí loạn lìa, chiều nay và đêm nay bàn tán mãi về cái tiếng hát trên vườn chuối mặt tường thành. Chồng họ cũng lấy làm lạ và tự nhủ ngày mai vào trại sẽ hỏi chuyện cho rõ.

Buổi sáng hôm sau, bọn vợ lính cơ, thêm được ít người tò mò nữa kéo đến vườn dâu ngoài thành, vẫn nghe rõ người ta chặt chuối trên mặt thành, với những câu hát rõ mồn một:

” Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau…”

Khi nghỉ ngơi, lúc họ mang chuyện đó về nhà thì những người lính cơ đều ra vẻ cảm động sợ hãi và cắt nghĩa:

– Ông Bát Lê sắp làm việc đấy.

– ? ? ?

– Ông lớn sắp đem mười mấy người ra chém. Và tiếng người hát trên mặt thành là tiếng ông Bát Lê đang tập múa thanh quất ở vườn chuối đấy.

– Múa thanh quất? Ở vườn chuối? Sao lại hát những câu gì thế? Và ông Bát Lê vốn chém người đã nổi tiếng, còn phải tập với tành gì nữa?

– U mày không hiểu. Lâu nay ông Bát không phải khai đao vì Ông Lớn thấy già yếu muốn cho nghỉ tay. Mỗi lần có án trảm, ông Bát chỉ phải ra pháp trường cho có mặt thôi. Còn công việc thì đã có người khác đỡ tay. Nhưng vẫn cứ được tiền thưởng. Ðã đến gần một năm nay, ông Bát không cầm đến thanh quất. Không hiểu tại sao, lần này Ông Lớn lại cho gọi ông Bát ra cho kỳ được và xem chừng như ngài săn sóc đến cái vụ xử trảm này nhiều lắm.

Lui vào tư thất, quan Tổng đốc sung chức Ðổng lý Quân vụ, nhác thấy lão Lê đang co tay úp lên mang tai nhìn vào đám vàng son lộng lẫy nhà riêng mình, ngài liền quở:

– Ít bữa nay, chú đi đâu? Ta cho thằng Cửu nó sang gọi mấy lần đều thấy đóng cửa.

– Bẩm lạy Ông lớn, ít lâu nay con về nhà quê. Giá như ngày trước, có khi nào con dám đi xa, sớm tối lúc nào con cũng phải ở trong nội thành, phòng những lúc Ông Lớn bất thần gọi đến. Nhưng từ hồi gần đây, Ông Lớn thương phận già nua cho con được nghỉ tay đao, con có mạn phép về thăm nhà. Ðược tin Ông Lớn cho đòi, con vội vã vào hầu, xin Ông Lớn tha tội. Con chờ lệnh Ông Lớn truyền xuống.

– Thôi, cho đứng dậy.

Quan Ðổng lý Quân vụ ngả mình trên ghế bành vàng và son, hất hàm hỏi tên bát phẩm đầy tớ già đang co ro người bên chiếc cột:

– Liệu bây giờ chém còn mát tay nữa không ?

– Dạ.

– Dạ sao ? Chú có biết ta sắp cho xuống cái lệnh chi không?

– Dạ.

– Có mười hai tên tử tù sắp phải hành hình. Quan Công sứ muốn được thị kiến lúc bọn hắn chịu án trảm. Ngươi chém thế nào cho gọn thì chém, hễ chém một đầu đến hai nhát thì không những ta truất tiền thưởng mà ngươi còn bị quở nữa. Chém cho thực ngọt.

– Dạ.

– Tiền thưởng này chính của Quan Công sứ cho. Ta muốn giữ phần cho ngươi nên ta cho gọi vào mà lĩnh lấy việc này, gọi là kiếm một chút bổng để dưỡng cái tuổi già. Chú phải biết khi nhận lấy mười hai tên tử tù là chú phải làm việc cho đầy đủ. Chớ để phiền đến ta. Ta đã trót khoe khoang cái tài chém “treo ngành” của chú với quan Công sứ. Chú nghĩ thế nào?

– Dạ, bẩm Ông Lớn đã thương đến phận tôi tớ chúng con xin hết sức tuân theo. Nhưng bây giờ con già yếu lắm, không biết có còn làm được việc như hồi xưa nữa không. Vả chăng gần một năm nay không cầm đến mã tấu con e có điều hơi lạc mất đường đao.

– Ta đã nghĩ đến chuyện đó rồi. Chú còn đủ thời giờ để tập lại lối chém treo ngành. Nếu cái nghề chém đặc biệt của chú không thể truyền lại cho một người nào được thì một lần cuối cùng này nữa, chú cũng nên cho một vị quan Tây ở đây thấy rõ cái cách chém của một người đầy tớ hầu cận ta là như thế nào.

– Dạ, bẩm Ông Lớn…

– Chú đừng nhiều lời. Ðây này, ta cho chú mượn thanh quất của ta mà làm việc. Sẵn có vườn chuối ở sau kho lúa, cho phép chú lên đó mà tập. Có ai ngăn cản, cứ đưa cái tín bài này ra cho họ nom rõ.

Quan Ðổng lý Quân vụ rút khỏi ống bút trên bàn một lá thẻ đỏ, viết mấy chữ thảo vào mặt thẻ sơn trắng, trao cho Bát Lê.

Thế là từ hôm ấy Bát Lê lĩnh thanh quất của quan Tổng đốc leo lên tường thành, xông xáo trong vườn chuối, hết sức tự do, hết sức tàn nhẫn, chém ngang thân loài thực vật, trước khi chém vào cổ mười hai tên tù đang nằm đợi ngày cuối cùng.

Vườn chuối trên mặt thành vốn mọc không có hàng lối nhất định. Ông Bát phẩm Lê phải chọn lựa mãi mới được mấy dẫy chuối mọc theo hàng lối thẳng thắn. Y soạc cẳng, lấy bước chân đo những quãng trống từ một gốc chuối này đến một gốc chuối khác. Tiến lên, lùi xuống, đo ngang, đo dọc tự cho là tàm tạm được, y bèn nhẹ nhàng phát hết những tàu lá chuối rườm rà. Ðấy là cái khu dọn dẹp sẵn để nhận lấy sự thí nghiệm sau hết của một thanh quất bị bỏ quên đã lâu ngày.

Trước khi hoa thanh quất trong mấy hàng chuối được chọn lựa kỹ càng kia, Bát Lê đã múa đao chém lia lịa vào thân mọi cây chuối khác, chém không tiếc tay, chém như một người hết sức tự vệ trong một cuộc huyết chiến để mở lấy một con đường máu lúc phá vòng vây. Một buổi sớm, y nhảy nhót trong vườn chuối, đưa lưỡi gươm qua bên phải lại múa lưỡi gươm qua bên trái, thanh gươm hai lưỡi đã gọn gàng, nhanh nhẹn phạt qua thân mấy trăm cây tươi còn nặng trĩu lớp sương đêm. Mảnh khăn vuông vải trắng bịt tóc Bát Lê đã đẫm ướt và nhựa chuối chát thấm vào đấy, gặp ánh nắng sớm, đã xuống màu dần dần.

Trên đống thân cây trơn ướt, Bát Lê vẫn làm việc, nhẩy nhót như một kẻ điên cuồng. Cứ mỗi một cây chuối gẫy gục xuống cỏ đánh roạt một cái thì Bát Lê lại cất tiếng hát:

“Sống không thù nhau
Chết không oán nhau

Câu hát được những tiếng cây chuối đổ chấm câu cho và đã vẳng từ trên mặt thành xuống mặt một bãi dâu ở chân thành…

Tập như thế cho thuần tay hết một buổi sớm và một buổi chiều, Bát Lê sớm ngày hôm sau lại trở lại vườn chuối đã rầu cả lá, đã khô cả vết thương. Y hồi hộp chống gươm xuống mặt đất ẩm ngổn ngang sự tàn phá, như một võ sinh sắp trổ tài ở võ trường với sự phân vân, lo ngại của phút biểu diễn. Rồi Bát Lê trịnh trọng tiến vào cái khu vườn chuối đã dọn từ hôm trước để nhận lấy lưỡi gươm thí nghiệm cuối cùng của một cuộc tập chém. Y đứng vào giữa hai dãy chuối, tay phải cầm ngang thanh quất.

Y lùi lại ba bước, lấy hơi thở cho đều, vừa hát to câu:

“Tiếng loa vừa dậy”

Vừa tiến mạnh lên, thuận tay chém vào cây chuối đầu tiên dãy bên phải. Ðà gươm mạnh từ cao soải xuống theo một chiều chếch, tưởng gặp đến gỗ cứng cũng lướt qua. Thế mà thanh quất chỉ ngập vào chiều sâu thân cây độ chín phần mười. Lưỡi thanh quất bị ngừng ở cái cữ ấy, rồi lại được lấy ra khỏi thân cây chảy mủ. Vừa giật lưỡi thanh quất khỏi thân cây đang từ từ gục xuống, vừa hát một câu nữa:

“Hồi chiêng mớm mau”

Bát Lê lại tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dãy bên trái, Bát Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quỳ chịu tội. Thế rồi vừa hát, vừa chém bên trái, vừa chém bên phải. Bát Lê đã hát hết mười bốn câu, và đánh gục mười bốn cây chuối. Bát Lê quay mình lại, ngắm các công trình phá hoại của mình. Thì ở mười bốn cây chuối chịu tội kia, thân trên bị chém vẫn còn dính vào phần gốc bởi một lần bẹ giập nát.

Bát Lê mỉm cười, gỡ cái khăn chùm trên đầu, lau lưỡi gươm vào đấy, vuông vải lại đẫm thêm chất nhựa xám.

Thế là xong một cuộc tập chém lối treo ngành. Và Bát Lê cũng vui vẻ trong lòng đợi ngày nhận tù. Ði từ bề cao nền cỏ xuống chân thành, qua những bậc cấp thúc vào lòng đất, Bát Lê chốc chốc lại dừng bước lại và ưỡn mình về phía sau, ngắm cánh tay khẳng kheo mình đang lăm lăm cầm lưỡi gươm.

Nội cỏ trước dinh quan Ðổng lý Quân vụ một buổi chiều thu quyết đã đổi màu. Mọi khi, ở đấy chỉ có bê, bò được thả lỏng cúi cổ ngốn áng cỏ tươi bên cạnh một tốp lính hiền lành, tay cầm lưỡi liềm cắt cỏ về cho ngựa quan ăn. Bây giờ ở đấy, người ta dựng lên một cái nhà rạp có tàn, có quạt, có cờ ngũ hành. Trước nhà rạp người ta chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh xuống toét cả đầu. Và đánh đai lấy khu nhà rạp rộng độ một mẫu, mấy trăm lính mặc áo có dấu, có nẹp đã tề chỉnh tuốt gươm trần để thị uy.

Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn là nền trời. Nền trời vẩn những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó màu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.

Mọi người chờ đợi một cái gì.

Từ phía nhà ngục, mười hai con người chậm chạp tiến tới giữa hai tốp lính áp giải. Bãi cỏ im lìm đến nỗi tiếng gông lũ tù giây va vào nhau theo một nhịp bước rụt dè nghe cứ rõ mồn một như tiếng sênh người chấp hiệu định liệu bước đi cho cỗ đòn đám.

Không biết từ đâu ra, ông Bát Lê đứng sẵn chỗ cọc tre và trong một lát đã buộc xong bọn người đợi chết vào cọc. Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quỳ gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quỳ phải để được gót chân ngửa đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế, tử tù sẽ phải rướn mình lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ. Trông xa, họ có cái cứng thản nhiên của những tượng đá tạc hình người Chiêm thành quỳ trước sân đền thờ vua Lý.

Tiếng nhạc bát âm thổi bài Lưu thủy trường gần mãi lại. Rồi trong một giây phút mọi người lắng rõ tiếng sênh tiền. Ai nấy nín thở. Trông ra cờ quạt kín cả nền trời và lính tráng kín cả mặt cỏ. Bụi cát bay mù như lúc có cuộc hành quân. Quan Công sứ mặc đồ binh phục trắng có ngù kim tuyến đi ngang hàng cùng quan Tổng đốc. Hai quan đầu tỉnh – một người đi ghệt, một người đi ủng – đều gò bước đi cho nó ăn nhập với cái long trọng của pháp trường. Những tên lính tỉnh gầy ốm che sát vào người hai Ông Lớn mọi thứ tàn vàng, tán tía, lọng xanh.

Cái đầu chúng không dám phạm thượng cúi gầm xuống mặt đất, nhìn cánh cỏ may chọc thủng ống quần mình.

Trong nhà rạp, các quan an vị. Ông thông ngôn người Nam kỳ đứng khoanh tay đằng sau quan Lưu trú Pháp. Quan Tổng đốc nói trước:

– Những người sắp bị hành hình kia là dư đảng giặc Bãi Sậy. Ty chức rất mong rằng đấy là những kẻ phiến loạn cuối cùng. Và nhờ hồng phúc của Quan Lớn, cuộc trị an ở xứ này chóng định.

Bát Lê cầm gươm tiến đến trước nhà rạp, vòng tay thu lưỡi gươm lại, vái một vái, cúi mặt đứng im. Quan Tổng đốc nhớm mình khỏi mặt ghế bành:

– Xin phép Quan Lớn cho ty chức được trình với Quan Lớn một tên đầy tớ trung thành. Hắn là đao phủ thủ tại pháp trường hôm nay.

– Có phải cái người mà Quan Lớn nói là có tài chém đầu người chỉ một nhát mà đầu vẫn dính vào cổ bằng lần da cổ đó không?

– Dạ. Mà hôm nay hắn hạ thủ trong một hơi những mười hai cái đầu. Bây giờ để xin ra lệnh khai đao.

Quan Công sứ gật. Viên giám trảm và Bát Lê đều lùi ra ngoài rất mau.

Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!

Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lớ rờn rợn. Quan Công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quỳ kia chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.

Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi chạy tuốt vào đứng trước nhà rạp. Bấy giờ quan Công sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không có một giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng đốc để nhớ lấy tên họ một người đao phủ có lối chém treo ngành rất ngọt. Ngài thưởng cho Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.

Lúc quan Lưu trú gần cầm mũ cáo từ về tòa Sứ, quan Tổng lý Quân vụ còn ân cần buộc ông thông ngôn Nam kỳ dịch cho đủ câu này:

– Bẩm Quan Lớn, chém treo ngành như thế này là phải lựa vào những lúc việc quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một chiều. Ðại để nó cũng như là cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc ngang như người ta róc mắt mía.

Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu lâu còn dính vào cổ người chết quỳ kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thi.

Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân.

Nguyễn Tuân

Chuyện Làng Báo. Nhật Tiến


Nhật Tiến

Vách Đá Cheo Leo

(Nhật Tiến Vách Đá Cheo Leo)

……..

Cũng có thể Cúc đã quên rồi, nhưng nếu như thế thì hẳn nàng sẽ vặn vẹo là chàng đã đi đâu, làm gì suốt cả chiều, tối lẫn đêm ngày hôm qua. Chỉ nghĩ sơ như thế là Tân đã mệt lại càng cảm thấy mệt hơn. Viên thư ký thấy chàng không biểu lộ đồng tình nên đã vội đổi giọng:

– À, ông chủ bút đang cần gặp cậu đấy. Vào ngay đi.

Tân uể oải tiến lại phía cánh cửa gỗ ngăn căn phòng rộng rãi ở bên ngoài với một cái buồng nhỏ ở bên trong. Chẳng cần gõ trước, chàng đẩy cửa bưóc vào. Chàng thấy Hoan, viên chủ bút lúc này đang lúi húi trước một chồng sách báo. Ông ta người to béo, dáng dấp bệ vệ, tóc thưa, trán hói, đôi mắt soi mói sau cặp kính to tướng gọng đồi mồi đeo trễ xuống tận sống mũi. Tuy không còn trẻ, nhưng ông ta cũng chưa có nhiều nét già, ngoại trừ vầng trán lan rộng cứ như muốn lấn chiếm hết chỗ mọc của mái tóc lưa thưa. Nhìn thấy Tân bước vào, ông ta ngẩng lên tươi cười:

– A! Cậu Tân! Có việc cho cậu đây. Thằng Sinh bữa nay vô bệnh viện rồi.

Tân giật mình:

– Ủa, Sinh đau bệnh gì vậy?

– Nó thì đã đủ bách bệnh rồi, nhưng lần này thì tại ruột dư.

Tân thở phào:

– Vậy cũng đỡ. Vô bệnh viện cắt một cái là xong ngay. Hai, ba hôm là lại trở về.

– Thì thế, chỉ hai ba hôm thôi. Nhưng có khỏe cách mấy thì nó cũng không viết được. Cái feuilleton của nó cũng đâu có tạm ngưng để chờ nó được.

Tân gật đầu:

– Đúng rồi. Cái tiểu thuyết Gái Gọi in từng kỳ của hắn trên báo mình….

Viên chủ bút tươi mặt hơn:

– Phải rồi. Cậu cũng theo dõi cái truyện tầm phơ ấy hả? Nhưng cũng hấp dẫn đấy chứ…

Tân ấp úng:

– Thú thật với anh, tôi chỉ đọc lõm bõm thôi.

Hoan nhìn chàng:

– Lõm bõm là sao? Tuy không đi vào chi tiết từng câu văn nhưng cậu cũng nắm được tình tiết câu chuyện chứ ?

– Cái đó thì ..thì..cũng chưa chắc lắm.

– Cũng chẳng sao. Cậu ngồi giở báo cũ ra “ngốn” một hơi là nắm vững mọi thứ ngay ấy mà. Vậy tôi nhờ cậu viết thế cho hắn vài ba kỳ nhé…

Tân ngớ người ra:

– Sao được! Hắn giận tôi chết!

Hoan cười phá lên:

– Cậu mới vô ngành báo nên còn lớ ngớ lắm. Giận cái nỗi gì ! Giá cậu viết thế cho hắn vài tuần để hắn được vù đi chơi xa thì hắn còn cám ơn rối rít nữa. Chuyện viết thay cho nhau thì trong làng báo xẩy ra hà rầm….

Tân cãi :

– Nhưng mà phải biết chủ ý của tác giả ra sao đã chứ. Khi không, cứ viết bừa, ngộ nhỡ sai lạc hết ý tưởng của người ta thì sao?

– Ơ ! Cậu cứ lo bò trắng răng! Vấn đề là độc giả ấy chứ. Cứ viết thế nào để cho người đọc không thấy là tác giả …đang đi vắng là được rồi. Còn hợp ý tác giả hay không thì kệ mẹ nó. Trám có vài kỳ, ăn thua gì!

Thấy Tân còn đang tần ngần, Hoan lại nói tiếp:

– Cậu không biết đấy chứ, nhiều khi thằng tác giả lạm dụng cái trò viết thay, cứ đi chơi phứa đi, làm thằng viết trám nổi giận, trong truyện hai nhân vật đang yêu nhau ra rít, nó bèn dựng một màn cãi nhau để cho hai đứa phải bỏ nhau, làm thằng tác giả chửi um thiên địa lên.

– Lại thế nữa kia?

– Ui, thế còn là nhẹ! Nó không dàn một cảnh cho nhân vật chính chết vì tai nạn xe ô tô còn là may lắm đó. Còn cái màn tác giả viết nhân vật chính mặc váy đầm đi chơi, lúc trở về nhà, thằng viết trám lại cho nàng…thay áo dài thì hà rầm! Đại loại cứ ông chẳng bà chuộc như thế có chết thằng Tây nào đâu. Mà như thế mới…. vui!

Tân nhăn mặt:

– Cách gì thì cũng có người đọc tinh ý nhận ra chứ. Người ta kêu chết!

– Ôi, ăn thua mẹ gì. Bất quá thì cũng một cú phôn gọi đến cằn nhằn, rồi cũng xong. Mai mốt, nếu thằng tác giả có đem in thành sách thì nó sẽ sửa lại. Mà nhiều khi nó cũng đếch thèm sửa nữa. Cứ trao nguyên cả sấp báo cho lái sách đem in rồi bầy bán xon ngay ngoài vỉa hè, có ai giảm kí mỡ nào đâu. Miễn là nó có thêm tí tiền còm đi du hí là được rồi.

Tân buột miệng:

– Thật là phi văn nghệ!

Hoan nhìn Tân thương hại:

– Cậu còn viễn mơ lắm. Trách gì mà rặn mãi cả năm không in được lấy một cuốn. Nhưng thôi, đó là chuyện của cậu. Bây giờ cậu làm ơn ngồi đọc lại cái truyện Gái Gọi của nó xem hôm qua đã tới đoạn nào, nhân vật đang đối thoại về những cái gì, rồi cậu cứ thế mà “kéo” tiếp.

Tân thở dài :

– Chuyện ấy tôi có thể làm được. Nhưng nếu khi Sinh nó về, nó có cằn nhằn thì ông chịu trách nhiệm đó nghe!

Viên chủ bút hoan hỉ:

– Được rồi. Được rồi. Cậu khỏi lo. Cứ bảo là lão Hoan nó yêu cầu là xong hết.

Thế là suốt buổi sáng hôm đó, Tân phải ngồi ở tòa soạn để đọc lại hàng chục kỳ báo cũ xem Sinh đã viết những gì trong cái feuilleton của hắn. Sau khi đã nắm vững tình tiết, nội dung câu chuyện đang diễn tiến rồi, Tân mới cầm bút lên để ngồi sáng tác tiếp.

Công việc không dễ dàng gì, vì trong đầu óc của chàng cứ luôn luôn bị lấn quấn bởi những câu hỏi, không biết mình dùng cái từ ngữ này, đưa câu chuyện vào cái chi tiết này, hay diễn tả cái cử chỉ này cho nhân vật thì Sinh có bằng lòng không? Tân nghĩ rằng, thà ngồi sáng tác cho riêng mình có lẽ còn dễ dàng, thoải mái hơn là ngồi viết trám cho kẻ khác.

Đã thế, trong lúc chàng ngồi viết thì một anh thợ xếp chữ cứ đứng chờ ở ngay bên cạnh nách. Hắn giục:

– Ông viết được đoạn nào thì cứ xé ra cho tôi đem xếp chữ trước.

Tân trợn mắt:

– Ý ! Phải để cho tôi viết xong rồi còn đọc lại cái đã chứ?

– Không kịp đâu! Ông cứ nhìn coi, mấy người kia cũng đều như thế cả. Đâu có ai cần đọc lại.

Tân gắt:

– Thì họ làm tin. Tin thì ngắn gọn, đâu có cần trau chuốt. Còn của tôi là trang tiểu thuyết nằm mà.

– Trang gì thì trang, mọi sự cũng đều đâu vào đó cả rồi, ông ơi. Nếu tụi tôi chờ ông thì đám làm bản vỗ cũng đang chờ tụi tôi. Rồi đám đổ chì lại cũng chờ đám làm bản vỗ. Báo mình đâu có độc quyền thuê họ. Còn báo khác nữa chứ. Cả một lò đúc chì mà chỉ trông vào có một tờ báo thì có mà chết.

Trước lời giải thích hợp lý của anh thợ xếp chữ, Tân đành xé nửa trang bản thảo giao cho anh ta để anh chạy qua dàn xếp chữ trao lại cho đám thợ đang làm việc lố nhố trước những kệ gỗ có những ô vuông trong đựng toàn những chữ lẻ đúc bằng chì. Tiếng động khi làm việc của họ nghe rào rào như tiếng những con tằm đang ăn lá dâu trong những nong lớn. Đó là những tiếng phát ra khi họ nhón từng con chữ trong hộc ra để bỏ vào một cái gờ gỗ cầm trên tay. Các con chữ bây giờ nằm theo thứ tự của từng chữ, từng câu đúng như trong mảnh giấy bản thảo đang gắn trước mặt mỗi người.

Sau một thời gian dài chật vật đến vã mồ hôi, cuối cùng thì Tân cũng viết được đến dòng cuối cùng của phần bài viết trám cho ngày hôm sau. Chẳng cần chờ xem lại bản vỗ coi mình đã viết những gì, Tân quẳng xấp giấy vào một góc bàn rồi đứng dậy, không chào ai, đi thẳng ra cửa.

Nhật Tiến

Trích “Vách Đá Cheo Leo” do Đông Phương ấn hành ở Sài Gòn năm 1965

Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/truyen-dai-vach-da-cheo-leo-2/

Quê Mẹ. Truyện Ngắn Thanh Tịnh


Thanh Tịnh

Chân dung, tác phẩm và thủ bút của Nhà văn Thanh Tịnh

(Chân dung, tác phẩm và thủ bút của Nhà văn Thanh Tịnh)

Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm Hương – thơ ở làng Mỹ-Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi Yếu-lược không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh ta cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.

Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng – hay nói cho đúng lương năm – của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết.

Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước.

Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác.

Chiều hôm ấy lúc thoáng thấy bóng chồng đi về đến cổng, cô Thảo liền vội vàng ẵm con ra sân để đón. Thấy anh Vận ra dáng mệt nhọc nên cô ta chưa dám hỏi gì hết. Vào tới sân, anh Vận liền đến ngồi trên cái chõng. Cô Thảo để con ngồi một bên chồng rồi đột ngột chỉ cây thanh-trà bên bờ hè nói khẽ:

– Cây thanh-trà mới đấy mà đã có trái rồi cậu ạ.

Anh Vận để con ngồi trên chân, rồi cúi đầu xuống nhìn mặt con dịu lời đáp:

– Thế à, cây thanh-trà ấy trông dáng khô khan không ngờ lại giống tốt.

Cô Thảo ghé ngồi một bên chồng nói tiếp:

– Cây thanh-trà ấy tôi đem từ bên nhà qua đây. Mới hai năm đã có trái ăn được kể cũng nhanh thật.

Anh Vận như sực nhớ một việc gì, nhìn vợ hỏi vội:

– Tôi nhớ ra rồi. Hôm ấy là ngày giỗ ông bên mợ. Mợ về làng ăn giỗ rồi đem cây thanh-trà ấy qua cho tôi. Tôi cũng quên lúc ấy mợ đã có thằng Lụn chưa?

– Rồi, nhưng nó mới được ba tháng.

– Mà tôi quên giỗ ông nhằm ngày mấy?

Cô Thảo nhìn chồng mỉm cười:

– Được vài ông rể quý như cậu thì ngày giỗ của nhà tôi cũng không khỏi hương tàn bàn lạnh. Giỗ ông nhằm một ngày dễ nhớ nhất mà cậu cũng quên.

Anh Vận như nhớ lại được, gật đầu lia lịa:

– Thôi tôi nhớ được rồi. Giỗ ông vào tiết Trung-thu phải không mợ?

– Không phải, ngày rằm tháng tám.

Anh Vận lớn tiếng cười vang làm cho thằng Lụn cũng phải ngẩng mặt lên nhìn ngơ ngác.

– Rõ ngớ ngẩn như đàn bà. Tiết Trung-thu hay rằm tháng tám có khác gì nhau. Có khác là người hay chữ họ thường gọi tiết Trung-thu, còn người … ít hay chữ thì gọi rằm tháng tám…

Cô Thảo nhìn chồng cười mỉm:

– Người hay chữ với lại người ít hay chữ! Thì cậu cứ nói người dốt với người thông có được không.

Thật ra thì anh Vận cũng có ý nói người hay chữ với người dốt, nhưng lại sợ làm mếch lòng vợ.

Anh Vận nhìn ra trước cổng yên lặng. Thằng Lụn cũng muốn tụt xuống đất đùa với đàn gà con đang đi qua gần đấy. Cô Thảo vào nhà thắp đèn rồi lại trở ra ngồi chỗ cũ. Mảnh trăng trong lúc ấy đã bắt đầu giọi ánh sáng dìu dịu qua hàng tre trước cổng.

Trông thấy ánh trăng anh Vận quay lại hỏi vợ:

– Hôm nay là mấy rồi mà trăng sáng quá?

– Ngày mười ba.

Anh Vận thả hai chân xuống chõng nhìn vợ ngơ ngác:

– Thế ngày mốt là ngày giỗ ông rồi à? Và ngày mai là ngày mợ phải về làng.

Cô Thảo cúi đầu nhìn xuống đất đáp khẽ.

– Phải.

Anh Vận đưa tay lên gãi đầu:

– Thật tôi vô tình quá. Ngày kỵ đã gần đến mà cũng quên.

Cô Thảo ngồi yên lặng không đáp. Thật ra tối hôm ấy cô muốn xin chồng về làng giỗ ông, nhưng cô không muốn nói thẳng. Cô tự nghĩ nhắc chồng ngày giỗ ở nhà mình là một việc chướng lắm. Thật tự nhiên để cho chồng nhớ lại thì tốt hơn. Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh-trà để nhắc xa xôi cho chồng nhớ.

Tối hôm ấy, cơm nước xong xuôi, anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ.

Bà Lại nhìn cô Thảo đang ẵm con đứng tựa bên cột bảo khẽ:

– Ừ về thì về. Nhưng bên nhà ngày mai giỗ ai mà tôi cũng quên phắt đi rồi.

– Thưa mẹ, giỗ ông con.

– Thế à.

Nghĩ một lát bà ta nói tiếp:

– Mai mợ chắc phải về làng sớm. Lúc ấy có lẽ tôi cũng chưa dậy. Vậy tối nay mợ ra ngoài vườn cắt một buồng chuối mật – buồng chuối gần bên cái giếng ấy – để về giỗ ông. Năm nay tôi bận việc nhà quá, chắc qua không được. Thôi nhờ trời năm khác.

Nói xong bà Lại lách bàn tay vào túi yếm lấy ra một hào xu rồi đưa cho cô Thảo.

– Thôi cho mợ một hào để đi đò. Và nhớ chớ để em nhìn xuống mặt nước.

Cô Thảo vội vàng đỡ con xuống, đưa hai tay nhận tiền tỏ ra vẻ sung sướng lắm.

Trước khi đi ngủ anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa.

Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.

Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ-Lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ-Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ.

Qua những con đường mòn chạy nắp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất.

Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng bằng như nhau hết.

Đi chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước.

Qua khỏi đầu làng Duyên-Hải thì cô Thảo gặp cô Đài, người bạn cùng làng thường chơi với cô ngày trước. Cô Thảo nhờ cô bạn gánh hộ buồng chuối mật và mấy gói bánh mua bên chơ. Kỳ-Lâm. Cô Đài vui vẻ nhận lời ngay. Vào quán nước ở gần đấy nghỉ một chốc, hai cô lại cùng nhau lên đường chuyện trò không ngớt.

Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tay vàng của cô.

Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết.

Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết.

Sung sướng nhất là cô con gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài.

Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói:

– Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua.

Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu, mới khẽ đáp:

– Dạ, nhà con mắc việc quan.

Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp:

– Thứ đồ làm Hương-thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.

Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má.

Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ-Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm.

Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở.

Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn.

Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận-Lão. Nhưng làng Quận-Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.

Thanh Tịnh

Tay Ngà. Truyện ngắn của Nhật Tiến.


Truyện ngắn của Nhật Tiến

Chân Dung Nhà Văn Nhật Tiến

(Chân dung Nhà văn Nhật Tiến)

Ở mỗi một loại tuổi tác, con người đều có một loại tâm lý tình cảm riêng biệt. Nó đánh dấu từng thời kỳ trong cả chuỗi thời gian của một đời người. Nó ghi sâu trong tâm não con người những hình ảnh, những ý nghĩ, những cảnh vật nhiều khi rất tầm thường và thoáng qua, nhưng đã để lại trong tâm hồn con người một ấn tượng thật dai dẳng, thật sâu sắc, tưởng dẫu cho đến chết cũng vẫn chẳng phai mờ.

Hồi ba mươi năm trước, Lữ chỉ là một cậu học trò mười bốn tuổi. Nhà Lữ ở cuối một con hẻm nhỏ ở Hà Nội. Đầu hẻm thông ra một đường phố lớn, con đường này chạy dọc theo ven một cái hồ chung quanh trồng toàn những cây liễu quanh năm rủ bóng xuống mặt hồ phẳng lặng. Về mùa hạ, sen dưới hồ mọc lan ra, che lấp bóng liễu, nhưng lại có nhiều bông sen màu hồng tía lô nhô giữa những lớp lá xanh ngắt. Mỗi buổi chiều, khi cắp sách đi học về, Lữ thường đứng ở một góc hồ, dựa lưng vào thân liễu để nhìn ra xa, phía có những chiếc thuyền thúng nhỏ len lách qua những tàu lá sen của những người chuyên làm nghề ướp trà. Hương sen ngào ngạt trong gió nhẹ buổi chiều.

Lữ thích bầu không khí của khu vực này vào lúc trời vừa tắt nắng, bốn bề êm ả lạ thuờng, cái âm thanh duy nhất mà Lữ đứng ở đó nghe được là tiếng mái chèo vọc xuống mặt nước và tiếng mạn thuyền cọ sát lên những tàu lá sen nghe thành những tiếng kêu sột soạt.

Mẹ Lữ thì bao giờ cũng cấm Lữ thọc chân xuống nước hồ. Lữ giữ đúng lời khuyên răn đó nhưng chả bao giờ bà biết được rằng đã nhiều lần Lữ đã được bác Nguyên cho leo lên thuyền thúng để ra mãi tít tận ngoài xa, ở đó con thuyền nhỏ xíu như chìm khuất sau những bông sen tỏa hương ngào ngạt. Bác Nguyên làm nghề ướp trà. Bác đã ngoài năm mươi nhưng rất vui tính. Dầu Lữ chỉ là cậu bé chưa đến tuổi mười lăm, nhưng bác chuyện trò với Lữ như một đồng hành. Bác thích nói hơn là nghe Lữ nói. Bác nói đủ thứ chuyện. Khi nào cao hứng bác còn ngâm Kiều và giảng Kiều cho Lữ nghe mặc dù trong đầu óc non nớt của Lữ, Lữ chỉ loáng thoáng hiểu rằng Kiều là một truyện bằng thơ, có nhiều người đọc, nhiều người khen và nhiều người thuộc lòng.

Một lần bác ngắt một cọng sen giơ lên cho Lữ thấy, rồi bác bẻ cọng sen làm đôi và kéo ra thật dài. Những sợi tơ mỏng manh óng ả từ bên trong ruột dính vào nhau, cứ kéo nhau tuôn ra giống những sợi tơ tằm dài tưởng như bất tận. Bác Nguyên cất giọng ngâm:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Cụ Nguyễn Du ví von thật tuyệt. Xa nhau rồi nhưng tình nghĩa suốt đời còn vương vấn. Như cái ngó sen này tuy tách rời nhau ra nhưng những sợi tơ hãy còn dính lại. Sự đời đâu có giản dị phải không?

Hình ảnh cái ngó sen còn vương những sợi tơ óng ả và hai câu thơ do bác Nguyên đọc đã trở thành một ấn tượng trong đầu Lữ suốt những năm lưu lạc sau này. Rồi cũng như bác Nguyên đã từng cao hứng, chính Lữ cũng đã nhiều lần ngâm lại hai câu bất hủ trong Kiều:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Sợi tơ vương đầu tiên trong tâm hồn của Lữ vào thuở mười bốn, mười lăm cũng là một chuyện hi hữu đáng nói.

Thuở ấy Lữ quen Ngọc trong một lớp luyện thi của thầy Nguyễn Vạn Tòng. Ngọc là một cô bé kém Lữ một tuổi. Xinh xắn. Ngây thơ. Ít hờn dỗi và hay nhường nhịn. Ngọc học chăm chỉ nhưng không xuất sắc. Ba tháng hè miệt mài với sách vở. Lữ đậu vào Chu Văn An. Ngọc rớt không được vô Trưng Vương nên ra học tư ở trường Thánh Mẫu. Tuy nhiên tình bạn không vì thế mà gián đoạn, một phần vì nhà Ngọc ở ngay con đường lớn nhìn ra mặt hồ, hôm nào Lữ cũng phải đi ngang qua cổng nhà Ngọc mới rẽ được vô con hẻm nhỏ để trở về nhà. Một phần khác, tính tình Ngọc dễ thương, hồn nhiên, hễ gặp Lữ là tíu tít nói đủ thứ chuyện, nhất là kể từ khi Ngọc xin được vô học ở trường Thánh Mẫu.

Ngọc khoe những tập sách mới, khoe bài ở trường, kể chuyện về các “ma soeur”, về các sinh hoạt đặc biệt ở trường, ở lớp, có nhiều hôm, Ngọc còn bắt Lữ gà giùm bài tập cả Toán, cả Luận văn của Ngọc nữa.

Căn nhà của Ngọc là một ngôi biệt thự nhỏ, chung quanh trồng toàn hoa lan. Vào mùa hạ, búp lan rụng trắng cả cái sân sỏi nhỏ dẫn lên những bậc thềm cao. Hương lan thoang thoảng ở khắp mọi chỗ. Nhất là khi Lữ ngồi coi sách vở hoặc giảng giải lại bài cho Ngọc ở căn phòng nhỏ nhìn ra vườn sau, mùi hoa lan tràn ngập căn phòng lát đá hoa trắng nuốt tạo nên một cảm giác vô cùng êm dịu và mát mẻ.

Nhưng điều mà Lữ ghi nhớ nhất về căn nhà của Ngọc không phải là mùi hoa lan, mà lại là âm thanh của tiếng đàn. Tiếng đàn ấy Lữ nghe được ngay từ khi bước qua cánh cổng sắt lớn ở ngoài đường. Mới đầu chỉ là những âm điệu bay thoảng qua trong gió nhẹ từ mặt hồ thổi vào, nhưng khi bước lên những bậc tam cấp để vào trong nhà thì tiếng đàn ấy trở nên tràn ngập ở mọi chỗ, nhẹ nhàng, thánh thót như đưa con người vào một thế giới khác khiến cho Lữ vụt quên cả cảnh tượng liễu rủ trên mặt hồ, quên những búp lan tỏa hương nằm rải rác trên sân sỏi nhỏ và quên luôn cả người bạn gái đang lăng xăng mở những cánh cửa sổ để cho gió mát lùa thêm vào căn phòng quét vôi màu xanh êm dịu. Mãi đến lúc Ngọc cất tiếng nhỏ nhẹ bên tai thì Lữ mới bừng tỉnh. Ngọc nói:

– Tiếng đàn của chị Thu đấy. Chị Thu tốt nghiệp ưu hạng về dương cầm của trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Vừa nói, Ngọc vừa kéo tay Lữ đi qua căn phòng khách rộng thênh thang. Bây giờ thì Lữ thấy chị Thu đang ngồi trước phím đàn. Chị bận chiếc áo lụa màu xanh hồ thủy. Mái tóc óng ả của chị có một màu đen như hạt huyền và được cột ngang bằng một sơi dây nơ màu đỏ thắm. Chị ngồi quay lưng về phía lối đi nên Lữ không nhìn rõ mặt chị. Nhưng chỉ cần đi qua phía sau, Lữ cũng đã nhìn thấy được đôi bàn tay của chị đang lướt nhẹ trên phím đàn. Từ thuở bé lớn lên, và mãi mãi sau này trong suốt cuộc đời trôi nổi, Lữ cũng không còn tìm thấy ở một người nào khác có đôi bàn tay đẹp hơn như thế. Trước hết là vẻ mềm mại, quí phái của nó. Nó như được sinh ra để dành cho những phím đàn. Những phím đàn dù đã được giữ gìn, lau chùi hết sức cẩn thận để còn giữ nguyên được màu trắng tinh khiết của lúc ban đầu thì mầu trắng ấy cũng vẫn bị lu mờ trước làn da óng ả, mịn màng như màu sữa trên những ngón tay thật thuôn và thật dài của chị. Những ngón tay mềm mại óng ả, tuy để mộc mạc đơn sơ nhưng rõ ra là một công trình trau truốt của tạo hóa. Âm thanh từ đó phát ra những tiếng thánh thót như mỗi lần đầu ngón tay của chị chạy tới đâu thì ở đó nở ra một bông hoa thần diệu đan kết lại thành một chuỗi lời thì thầm, lảnh lót như tiếng nước suối chẩy róc rách giữa một khu rừng đầy hoa thơm chưa từng có ai đặt chân tới.

Trong khi những ngón tay như những đốt ngọc di chuyển trên phím đàn thì hai cổ tay của chị lại có dáng vẻ như đang bất động. Một chiếc vòng huyền ở cổ tay bên trái ôm khít lấy làn da mịn màng của chị nó khiến cho người nhìn có cảm giác chiếc vòng và cổ tay đều rất tròn, rất khít như định mệnh gắn bó đều đã an bài cho cả hai thứ. Không thể còn chiếc cổ tay nào vừa vặn và thích hợp hơn với chiếc vòng đã lên nước sáng ngời đó.

Trong một khoảnh khắc vừa đủ bước chân qua phòng khách để đi vào căn phòng học xinh xắn của Ngọc ở kế bên đó, Lữ đã bị đôi tay ngà của chị thu hút. Lữ quên mất Ngọc đang nhí nhảnh ở bên mình. Lữ quên cả nhiệm vụ của mình hôm ấy là chuẩn bị cho Ngọc ôn bài trong kỳ thi lục cá nguyệt sắp tới. Lữ quên ngay cả chính mình. Chỉ còn đôi tay ngà và những âm thanh thánh thót. Đôi tay đã lởn vởn trong đầu óc của Lữ trên đường về, trong giấc ngủ, những giờ ở lớp, những buổi đứng dựa lưng ở góc liễu nhìn ra bờ hồ tràn ngập những bông sen màu hồng tía.

Đầu óc của Lữ từ hôm đó trở nên thẫn thờ một cách lãng mạn. Lữ chưa đến tuổi để có một tình yêu đúng nghĩa, nhưng Lữ đã có một hình ảnh để tôn thờ. Hình ảnh vỏn vẹn chỉ là đôi bàn tay trắng nuốt thoăn thoắt trên phím đàn. Có thể đó là một trạng thái kỳ cục, nhưng ở tuổi nào, con người chẳng có một loại tình cảm kỳ cục riêng biệt như thế. Cho nên Lữ đã bị mê hoặc hoàn toàn bởi hình ảnh đôi bàn tay chỉ vừa đột ngột hiện đến trước mắt nhưng đã ghi dấu ấn trong tâm hồn suốt cả một đời người. Lữ coi đôi tay của chị Thu như một biểu tượng cao quí. Lữ vui sướng với biểu tượng đó những khi Lữ làm được điều gì tốt đẹp và Lữ cảm thấy khổ sở, đau đớn với nó khi mình trót phạm phải lỗi lầm. Trong khi ấy, đối với chị Thu, Lữ luôn luôn giữ lòng tôn kính.

Một thời gian sau đó, Lữ đã trở thành người quen của cả gia đình. Lữ lui tới căn biệt thự xinh xắn đó như một người con, một người em bé nhỏ. Chị Thu, những khi không bận học hành trong phòng riêng, hoặc không ngồi chơi những bản nhạc cổ điển trước phím đàn thì chị cũng ra trước hàng hiên, ngồi dưới bóng những tàng cây ngọc lan đang tỏa hương thơm ngát để góp lời trò chuyện với Lữ, với Ngọc.

Có lần chị nắm cả bàn tay dịu mát của chị vào tay Lữ để biểu lộ một cảm tình thân thuộc. Nhưng chẳng bao giờ chị hiểu được rằng chính đôi bàn tay đó đã được tâm hồn của một thằng bé như Lữ hết sức tôn thờ.

Lữ chưa đạt đến đủ số tuổi để đánh giá sắc đẹp của chị. Lữ cũng chưa đủ số tuổi để quan tâm đến ngay chính vấn đề đó. Lữ chỉ biết rằng chị có một vành môi đỏ thắm như son và hai hàm răng đều đặn như những hạt lựu. Mắt chị thật to. Mỗi lần chị biểu lộ sự ngạc nhiên, Lữ nhìn thấy những hàng lông mi cong vút dựng lên qua khóe mắt đen mướt và mịn như nhung. Dĩ nhiên là chị Thu phải đẹp. Nhưng Lữ không quan tâm đến sắc đẹp của chị bằng đôi bàn tay trắng nuột với những ngón tay dài óng ả. Và dù chỉ như thế, nó vẫn là một thứ tình yêu, có nhớ nhung, có giận hờn, có ghen tức, nhất là khi Lữ thấy chị Thu nắm tay vị hôn phu của chị, anh Hoàng, đi trên con đường quanh hồ dưới bóng liễu rủ và trong những làn gió nhẹ thoang thoảng đưa vào bờ hương vị ngào ngạt của những bông sen đang ở vào thời kỳ nở rộ.

Hai người như một đôi chim nhỏ đem đến cho khung cảnh tĩnh mịch ở đây thêm hương vị đậm đà. Một người cao dong dỏng, mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ, vầng trán thông minh, cương nghị với tính tình hào sảng, nồng nhiệt và đam mê tột cùng. Còn một người thì nhỏ nhắn, dịu dàng, hiền hậu, tâm hồn vị tha, cao quí. Họ thật đẹp đôi, không còn gì xứng đáng với nhau hơn. Mọi sự tuyệt hảo trong ý nghĩ của Lữ, trừ hình ảnh bàn tay của chị Thu nằm gọn trong bàn tay của anh Hoàng làm Lữ cảm thấy bực bội, ghen tức vẩn vơ. Tuy nhiên điều đó không làm cho Lữ ghét bỏ anh Hoàng mà trái lại tính tình dễ mến, cởi mở của anh đã khiến cho Lữ gần gũi với anh hơn.

Hôm được tin anh bị gọi động viên, cả chị Thu lẫn Ngọc đều khóc. Còn Lữ thì cũng rưng rưng, không phải vì tình thương giữa Lữ và anh Hoàng nhưng chính sự đau khổ của chị Thu làm Lữ thổn thức. Khi anh đi rồi, chị Thu bỏ đánh đàn hàng mấy tuần lễ. Mãi đến lúc nhận được lá thư đầu tiên của anh gửi ra mang dấu bưu điện S.P (Secteur Postal, hồi đó còn xài tiếng Pháp tức Khu Bưu Chính hay KBC ) của trường Võ Bị Thủ Đức ở trong Nam, chị mới lấy lại được nụ cười tươi trẻ mọi ngày. Rồi chị lại ngồi trước phím đàn. Chị dạo đi dạo lại nhiều lần bản Tristesse của Chopin. Tiếng đàn nghe thê lương tha thiết, rã rượi.

Một năm sau đó thì đất nước chia đôi. Anh Hoàng chưa thấy trở về. Gia đình chị Thu quyết định ở lại. Còn Lữ theo gia đình xuống Hải Phòng, lên tàu há mồm xuôi Nam. Trước hôm khởi hành, Lữ đến chào chị Thu và từ giã Ngọc. Ngọc không nói một câu nào suốt từ lúc Lữ đến cho tới lúc Lữ ra về. Cho tới lúc đó, Lữ mới thấy tâm hồn già dặn của Ngọc. Cô bé biết chọn lựa cung cách không nói gì để nói lên tất cả, kể cả sự bất lực không xoay ngược lại được tình cảnh xa cách, chia lìa.

Còn Lữ cảm thấy bạo dạn hơn mọi ngày. Lữ yêu cầu chị Thu đánh đàn cho mình nghe lần cuối. Tình cờ chị Thu hôm đó lại mặc chiếc áo lụa màu xanh hồ thủy. Vẫn những búp tay thuôn dài. Vẫn chiếc vòng huyền sáng ngời ôm khít lấy cổ tay tròn trịa và trắng ngần. Chị ngồi ở đó, quay lưng về Lữ. Chị đánh bản Tristesse của Chopin. Bản nhạc làm Lữ nước mắt ròng ròng. Lúc quay lại thấy Lữ khóc, chị cũng khóc theo. Có thể chị nhớ tới anh Hoàng. Có thể chị xúc động vì giây phút vĩnh biệt với đứa em bé nhỏ mà chị biết sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại. Chị giơ bàn tay lên vuốt má Lữ. Những giọt nước mắt nóng hổi rơi thánh thót trên làn da mịn màng ấm áp của chị. Đó là hình ảnh cuối cùng mà Lữ ghi nhớ mãi mãi sau ngày rời Hà Nội.

Gần ba mươi năm trời lặng lẽ trôi qua. Đời sống bận rộn khỏa lấp dần những kỷ niệm cũ. Trong đầu óc của Lữ, hình ảnh chị Thu đã dần phai mờ, nhưng sự xúc động về đôi tay ngà của chị thì vẫn còn nguyên vẹn. Trong giao dịch hàng ngày, dù hàng mấy chục năm trời đã trôi qua, cứ mỗi lần bắt gặp một đôi bàn tay đẹp là Lữ vụt sống lại y nguyên cái cảm giác cũ, cảm giác ngây ngất đứng ở trong căn phòng quét vôi màu xanh, thoang thoảng hương lan, có chị Thu bận áo lụa hồ thủy ngồi trước những phím đàn với những ngón tay ngà.

Rồi bốn năm sau ngày miền Nam sụp đổ, Lữ có cơ hội trở về chốn cũ. Ngày đầu tiên đặt chân lên Hà Nội, Lữ đã lần mò trở lại ven hồ xưa. Căn biệt thự còn đó nhưng nay trở thành trụ sở của một cơ quan. Dáng liễu vẫn còn nhưng những tàn lá sen xanh mướt thì đã biến mất. Gió buổi chiều đưa lên mùi nồng nồng của làn nước trong xanh trên mặt hồ, hương sen thơm ngào ngạt nay không còn nữa. Lữ nhớ đến bác Nguyên và càng thấm thía giọng ngâm hai câu thơ Kiều của bác ngày nào:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Quả thực tình cảm của Lữ về cảnh cũ người xưa thì vẫn còn nguyên vẹn, như hai cọng sen ngày nào bị bác Nguyên ngắt rời mà vẫn còn dính kết bởi những sợi tơ vương.

Phải mất gần một tháng, sau những dò hỏi tìm kiếm, Lữ mới lần mò tới được căn nhà của chị Thu ở khu tập thể Kim Liên. Hai người đối diện nhau, nhìn nhau, cùng ngỡ ngàng, cùng xa lạ. Làm sao chị Thu có thể tìm lại hình ảnh một cậu bé học trò, tuổi mười lăm ở một người đàn ông đã trải nhiều phong sương và đổi thay của đời sống. Cũng như chị Thu trước mặt, nếu không được cho biết trước là chính chỗ ấy là nhà của chị, thì Lữ cũng không thể tin rằng mình đã tìm gặp lại được người xưa với mái tóc óng ả có dải lụa đỏ cột ngang đầu, đôi mắt đen mướt, mịn như nhung có những hàng mi cong vút. Ba mươi năm qua rồi. Thời gian tuy có tàn phá nhưng Lữ không thể tưởng tượng mức độ tàn phá lại ghê gớm đến thế.

Lữ nói bùi ngùi:

– Chị còn nhớ anh Hoàng không?

Khuôn mặt cằn cỗi của chị bỗng thoáng một vẻ xúc động.

Lữ tiếp:

– Anh ấy đã bị đưa ra Bắc học tập cải tạo. Nghe nói đang ở Lào Cai.

Lữ tưởng sẽ nói được với chị rất nhiều, nhưng mới chỉ có bấy nhiêu lời, Lữ đã cạn ý. Ba mươi năm chia lìa, hai người chỉ trao đổi được với nhau ngần ấy. Còn biết nói gì thêm trong hoàn cảnh đó. Họ như ở hai thế giới khác nhau, cách biệt cả về dĩ vãng, về kỷ niệm, về môi trường sống hàng ngày. Không còn gì để mà hàn huyên, tâm sự. Trong đầu óc của Lữ, mọi sự đều trống rỗng, chai lì. Chàng bối rối. Ngỡ ngàng. Và trong khoảnh khắc, bỗng Lữ như vẳng nghe thấy tiếng đàn, tiếng đàn năm xưa với những âm thanh thánh thót, rã rượi của bài Tristesse.

Chàng ấp úng, nhỏ nhẹ:

– Chị còn tiếp tục chơi đàn dương cầm nữa hay không?

Chị Thu chợt nở một nụ cười héo hắt. Chị xòe đôi bàn tay ra trước mặt Lữ. Hai bàn tay sần sùi, nhăn nhúm và mang một vẻ chai cứng, khô queo. Chị nói một hơi:

– Hai năm sau khi chú rời Hà Nội thì tôi bỏ dương cầm. Lý do: Chế độ mới cần đề cao tinh thần lao động trong mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những nghệ sĩ chơi đàn. Tôi không bị cấm đánh đàn nhưng tôi cũng bị bắt buộc phải lao động để kiếm sống bằng đủ cách, kể cả có khi phải cầm thêm cái cuốc. Cơn tàn phá đối với một bàn tay chỉ trong vòng một tháng là thấy rõ. Những ngón tay chai cứng lại. Nốt nhạc trở nên lạc lõng, xớn xác như tâm hồn lạc lõng, xớn xác của toàn thể con người. Tôi thấy rõ xã hội này không cần đến những bàn tay như bàn tay của tôi. Họ xếp nghệ thuật vào hàng thứ yếu.

Huyền thoại về đôi tay ngà, ám ảnh cuộc đời của Lữ trong suốt ba mươi năm trong khoảnh khắc sụp đổ kể từ giây phút đó.

Nhật Tiến
Santa Ana ngày 4 tháng 8 năm 1982

Bản Thảo Tay Ngà

(Bản thảo Tay Ngà)

Vĩnh Biệt Chim Én. Nhật Tuấn


Nhật Tuấn

nhat-tuan16118545

(Chân dung và tác phẩm Nhà Văn Nhật Tuấn 1942-2015)

Ông tỉnh giấc . Ngoài cửa sổ trời vẫn tối. Chắc mới qua nửa đêm. Ông hé mắt nhìn sang bên. Dưới ánh đèn mờ, bà vợ vẫn há miệng ngủ ngon lành trong cái dáng quen thuộc đến cũ kỹ. Ông nhẹ nhàng nằm xích ra ngoài mép giường tăng thêm chút ít khoảng cách dẫu chẳng được bao nhiêu.

Ông căng đầu nhớ lại giấc mơ ban nãy. Một cảm giác êm dịu khi yêu thời còn trẻ. Chiếc tàu điện sơn đỏ cổ xưa chạy từ Thanh Xuân về Hà Nội . Cô gái đứng trên tàu, gió bay lọn tóc dài, giơ tay vẫy vẫy:

” Nhanh lên…nhanh lên anh…”.

Chàng trai cố dấn thêm mấy bước và nhảy phóc lên tàu. Cô cười sung sướng nhe ra hàm răng nhỏ đều và trắng bóng. Con tàu vẫn chạy xịch xịch giữa đường phố dầy đặc xe đạp.

“ Mình lên thẳng Bờ Hồ đi anh”.

Cô mua một gói lạc luộc và đặt nó vào giữa hai người trên chiếc ghế đá ven hồ. Cô khoe:

“Hôm nay em làm được bài thơ mới , sướng quá cúp luôn giờ văn học hiện đại của thày Đức.”.

Anh mơ màng nhìn tháp Rùa cô độc dưới nền trời xám , tai lắng nghe cô đọc thơ:

”Từng giọt…từng giọt một…mưa rơi thầm trong cây…”.

Một vật nặng làm ông tỉnh giấc tàn nhẫn cắt ngang giấc mơ. Đó là đôi chân xương xẩu của bà vợ chẳng hiểu sao đã nằm xoay ngang và vắt nó nằm đè lên bụng ông. Ông giận dữ “vứt” nó sang bên, cố nhắm mắt nối lại giấc mơ vừa nãy mà không được, đành nằm lắng nghe tiếng dế ngoài vườn “cric…cric” hoà với vô vàn tiếng côn trùng làm thành bản nhạc quen thuộc trong những đêm trằn trọc.

Thế rồi nằm mãi chẳng ngủ được, ông mở cửa ra vườn lần mò tới chiếc ghế đá , khoan khoái ngả lưng ngước nhìn ông trăng mờ lấp ló sau những tàng cây tối. Gió từ xa mang tới cái lành lạnh của núi rừng . Tiếng chim “chót thì bóp” càng về sáng càng khắc khoải. Chao ôi, ước gì cứ được nằm thế này, nằm thế này mãi rồi tan loãng vào thinh không bỏ lại sau lưng tất cả mọi phiền tạp nơi trần thế.

Hơn một năm trước còn tại chức, ngồi một cái ghế khá cao, ông đã quá mệt mỏi với những cuộc họp nói năng khuôn phép và dối trá, những mưu toan đê tiện, những tính toán bẩn thỉu và và những dè chừng hèn nhát làm thần kinh căng thẳng lâu lâu phải thư giãn trong các cuộc vui lén lút do đám thủ hạ dẫn dắt. Từ ngày đó ông đã ngấm ngầm chuẩn bị “hạ cánh”. Ông buông bỏ dần những tranh chấp, khước từ những chia chác do quyền lực đem lại, nhượng bộ những đòi hỏi của đối thủ, rút lui từng bước khỏi các cuộc đấu đá nội bộ. Ông ngấm ngầm mua khu vườn này cách thành phố khá xa làm chỗ rút về tĩnh dưỡng tuổi già. Và rồi ông đã toại nguyện. Ông đã an toàn rút khỏi cái thế giới tràn ngập những giả dối, những bon chen, những luồn cúi để trở về cái thoáng đãng, hoang vắng , dân dã nơi rừng núi với ước vọng tiêu dao nốt những năm tháng cuối đời .

Vậy nhưng cuộc sống chẳng chịu diễn ra như ta sắp đặt.

Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa, thoát được những thắt buộc ở cơ quan ngờ đâu ông rơi vào một kìm kẹp khác kinh hoàng không kém. Bà vợ sau nhiều năm chịu đựng để ông chồng rong ruổi quan trường, nay trở về trong vòng tay của bà, bà phải truy thu cái quyền làm vợ và nhất quyết thiết lập nó một cách trọn vẹn và hà khắc nhất. Càng ngày ông càng như con ruồi giãy giụa trong màng lưới của bà.

Có tiếng động khẽ sau lưng. Bà vợ đứng ngay cạnh từ lúc nào. Ong điếng người như đang trên chín tầng mây rơi tõm xuống vực. Cái cũi khổng lồ hàng ngày vừa chốc lát thoát được nó bỗng dưng lại lù lù xuất hiện. Gương mặt bà lạnh lẽo như mặt cai ngục. Vẻ quyền uy lộ rõ trong cái cười nhếch miệng. Bà nhìn ông lom lom rồi bất chợt sẵng giọng :

“ Nửa đêm sương lạnh ra ngồi đây làm gì ? ”

Ông thở dài não nuột :

”Tôi …tôi ra đây ngồi cho thoáng…”

Bà vợ trợn tròn đôi tròng mắt :

“ Đang đêm ông mò dậy làm tôi mất giấc ngủ. Vào đi, không lát nữa ông làm tôi thức nữa .”

“ Không không…tôi không ngủ nữa. Tôi ngồi đây cho tới sáng …”

“ Không được…ông phải vào ngủ tiếp…đêm hôm tôi không cho ông ra ngồi đây…”

Ông lại thở dài, đành lặng lẽ theo bà không cãi nửa lời, bởi lẽ càng cãi bà càng xổ ra cơn bão ngôn từ than vãn, trách móc, oán giận trút xuống đầu ông. Chao ôi là lời lẽ người đàn bà hận thù. Thực ra hồi mới cưới, bà cũng còn đôi chút dịu dàng, nhân ái chứ đâu có nghiệt ngã, độc địa như ngày nay. Hai mươi năm đủ để một con cừu biến thành một con sói – ông thường buồn rầu nghĩ vậy mỗi khi bà lên cơn quát tháo, rủa xả, đay nghiến :

“ Ông lừa tôi, khi hỏi cưới tôi ông hứa hẹn đủ điều, nào sẽ lo toan cho tôi, nào sẽ mang lại hạnh phúc cho tôi. Vậy rồi sống với ông 20 năm tôi được cái gì ? Con cái chẳng có, hạnh phúc cũng không . Quanh năm ông cứ biền biệt trong công tác, có đoái hoài gì đến con đàn bà này, có yêu thương gì tôi, coi tôi khác nào kẻ ăn người làm. Tôi không chịu đựng nổi ông nữa. Ông buông tha cho tôi…”

Đó là bài ca muôn thủa sáng trưa chiều tối bà ra rả bên tai ông dẫu có quát tháo, van vỉ bà cũng chẳng chịu im miệng cho. Khi còn tại chức, mỗi lần ngự trên chiếc xe đời mới về nhà, nhìn vẻ mặt lạnh băng của vợ, ông chỉ muốn ly hôn phứt theo yêu cầu của bà cho nhẹ. Nhưng ở cương vị phải che chắn, hở ra chút có thằng chọc vào, nếu “đồng chí ly dị vợ “, thiên hạ sẽ xúm vào bàn tán, đơm đặt đủ điều và rồi cái xảy nảy cái ung, liệu còn ngồi yên trên cái ghế phải chầy chật đến bạc cả đầu mới giành được không?

Tuy nhiên ông thừa biết bà cứ nhằng nhẵng đòi giải thoát chỉ để hành hạ ông thôi, cho kẹo chẳng dám ký giấy đưa ông ra Toà. Họ hàng chẳng có, con cái cũng không, trơ ra mỗi cái thân già, dời ông ra bà bám víu vào đâu? Bởi thế về hưu rồi, ông chẳng cần giữ “uy tín” nữa, ông khuyến khích bà làm đơn ly hôn mà bà cứ ậm ừ, ngãng ra.

Cho đến bây giờ, dường như đã trở thành cơn nghiện, suốt ngày bà kè kè bên ông luôn miệng rỉa rói, móc máy, oán trách chẳng để ông yên, sáng sớm, chiều tối, lúc ngồi vào mâm cơm, lúc lên giường ngủ…bà cứ nhèo nhẽo bài ca muôn thủa khiến lắm lúc không chịu nổi, ông gào lên:

“ Vậy bà muốn gì ở tôi? Muốn gì tôi cũng chiều bà hết…”

Không, bà không muốn gì, bà chỉ muốn mỗi một điều là gây sự, chọc cho ông nổi giận cho dù điều đó có thể dẫn ông tới tai biến não bà cũng mặc, miễn sao bà hả hê, thoả mãn cơn nghiện hàng ngày. Nhiều khi vợ chồng có chút vui vẻ hiếm hoi trong ngày, ông đánh bạo hỏi bà:

“ Vì sao bà căm thù tôi dữ vậy ?”

Bà trả lời tỉnh bơ:

“ Ông đã chôn vùi tuổi xuân của tôi trong bốn bức tường để ông mưu cầu sự nghiệp. Bây giờ đã quá trễ để ông sửa sai nên tôi phải bắt ông trả giá…”

Nói xong bà lại mở cái bài ca quen thuộc “ ông lừa tôi, ông không yêu tôi, ông coi tôi như con ở…” khiến ông muốn phát điên , vùng vẫy như Tôn Ngộ Không bị Đường Tạm Tạng đọc thần chú khiến đầu óc nhức buốt mà bà vẫn không tha.

Đêm nay cũng vậy, lôi được ông vào giường rồi, bà bắt đầu lặp lại những lời trách móc, oán hận cũ rích làm ông phải bịt cả hai tai lại, cố lặn sâu vào giấc ngủ. Gần sáng mới thiếp đi được và lạ thay, ông lại nằm mơ thấy cô sinh viên đại học tổng hợp văn, mối tình đầu của ông ngày xưa.

“Anh ơi, mình sang bên kia sông đi…”.

Cô rủ rê anh mỗi khi hai người ngồi bên bờ sông Hồng vào mùa nước cạn. Gió thoang thoảng đưa lên mùi phù sa từ dưới mặt sông, thành phố sau lưng dường như đã chết hết, chỉ còn lại có hai người. Cô tựa đầu vào vai anh, chỉ cho anh coi những con chim én chao liệng trong bầu không khí trong vắt của buổi chiều. Anh thì thầm bên tai cô:

” Yến ơi, từ nay anh gọi em là “én” nhé. Một con én không làm nên mùa xuân nhưng chỉ một mình em cũng đã thành thiên đường cho anh rồi…”

“ Dậy…dậy…ông gọi tên con đĩ nào thế ? Lại nằm mơ hả ?”

Bà đập liên hồi vào người ông miệng la hét:

“ Yến với “én” là con nào? Trời ơi, ông lừa tôi, ông phản bội tôi, nằm với tôi mà ông vẫn nghĩ tới con nào ?”

Cơn bão ngôn từ lại ào ào kéo tới vùi dập ông với những lời lẽ chỉ có ở mấy mụ bán cá ngoài chợ. Ông cảm thấy như có bùn nhơ tới tấp ném vào mặt, rắn rết cuốn lấy tay chân. Rồi như sức chịu đựng của ông đã bị vượt qua, ông thét lên:

“ Câm ngay…mày câm ngay không tao giết mày…”

Cơn giận bùng lên như lửa đổ thêm dầu, ông bật dậy, nhảy xuống giường và vùng chạy ra ngoài vườn. Cái thoáng đãng của rừng núi buổi sớm mai không làm dịu được nỗi uất hận đang cháy đùng đùng trong lòng ông. Trời ơi, nó làm nhục mình, nó khạc nhổ vào tất cả những gì thiêng liêng, đẹp đẽ sót lại trong con người mình.

Có tiếng cười lạnh lẽo phía sau lưng. Bà vợ ông đã lù lù đứng đó với vẻ mặt đắc thắng và tràn đầy thoả mãn vì cái cách phản ứng điên dại của ông chồng.

Không được, tao không cho phép mày hành hạ tao mãi như vậy được. Ông hét lên và bỏ chạy khỏi nhà. Ông cứ chạy mãi, chạy mãi không biết chạy đi đâu chỉ biết làm sao thoát được cái cười hả hê của bà vợ phía sau lưng.

Vài ngày sau ông đã xuống sân bay Nội Bài và có mặt ở Hà Nội. Ông gọi điện cho cô:

“ Yến ơi…anh cần gặp em…anh cần gặp em ngay lập tức , dù chỉ một lần…”

Phía bên kia đầu dây có tiếng phụ nữ hốt hoảng :

“ Trời đất, anh ở đâu thế ? Anh có làm sao không ? Em đang bận họp , chiều mình gặp nhé ?”

Ông van vỉ:

“ Không không, anh muốn được gặp em ngay bây giờ, ngay lúc này, hẹn em ở ghế đá bờ hồ ngày xưa nơi em đọc cho anh bài thơ em làm “ Từng giọt, từng giọt một, mưa rơithầm trong cây nhé. ”

“ Trời đất ơi lâu vậy rồi mà anh vẫn còn nhớ hả ? Thôi được trưa nay mình gặp nhau vậy. Nhưng bờ hồ bây giờ lộn xộn lắm, ngồi đó chẳng trò chuyện được gì đâu. Em hẹn anh trong quán cà phê nhé…”

Ông thở dài đành chấp nhận hy sinh cái thú ngồi bên cô ăn lạc luộc, nghe cô trò chuyện và ngắm tháp Rùa trong sương sớm.

Trưa hôm đó ông tới quán cà phê bên bờ Hồ như cô đã hẹn với nỗi hồi hộp và bồi hồi của người đi xa về thăm quê. Một chiếc xe đời mới lộng lẫy ghé cửa quán, từ trên bước xuống một người đàn bà xinh đẹp và sang trọng. Nàng đó, Yến đó, con chim én của ông đó. Tất nhiên thời gian đã xoá đi những nét thơ trẻ ngày xưa nhưng ông vẫn nhận ra cô gái ngày xưa ngồi trên ghế nhà trường tổng hợp văn và thường cúp cua lẻn đi chơi với ông.

“ Anh khoẻ không ? Ra bao giờ mà không báo trước cho em ? Nghe đồn anh hạ cánh an toàn rồi phải không ? “

Ông nhìn người phụ nữ xinh đẹp ngồi trước mặt và chợt thấy ngỡ ngàng.

“ Nghe đồn anh có trang trại 200 héc ta cao su phải không ? Giá cao su đang “down” dữ lắm, anh tính sao ?”

Những lời lẽ, những câu chuyện ông thường nói hồi ông còn tại chức lại cuồn cuộn trở về qua miệng người phụ nữ xinh đẹp này. Bà vẫy cô hầu bàn:

“ Anh uống gì ? Thôi đừng uống cà phê nữa. Mình uống rượu đi…Em mang cho chị một chai Hennessy nhé…”

Bà rót rượu ra ly nâng lên mời ông rồi bất chợt sa sầm mặt:

“ Dở ẹc…rượu gì nhạt hoét toàn mùi cồn…”

Bà cáu kỉnh cho gọi bà chủ quán tới và một cuộc cãi nhau tay đôi về rượu thật rượu giả diễn ra ngay trước mặt ông. Ông lại buông một tiếng thở dài não nề y như lúc ở nhà bà vợ riếc móc ông. Một xui khiến nào đó làm ông lặng lẽ rời khỏi bàn và bước ra ngoài trong lúc hai người đàn bà vẫn còn giành giật nhau phần thắng. Ông lại lê gót quanh bờ Hồ qua chỗ ông và cô ngồi năm xưa nhưng chiếc ghế đá hồi đó không còn nữa. Ông lảm nhảm:

“ Vĩnh biệt…vĩnh biệt chim én…”

Nhật Tuấn
Tháng 9 – 2015

Hai Lần Từ Biệt Cha Già. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhân ngày Father’s Day 21/6 , đọc lại:

Hai Lần Từ Biệt Cha Già

Nhat Tien va Cu than sinh-Saigon 1978

Nhật Tiến

Tôi rời Hà nội di cư vào Nam năm 1954, năm tôi vừa tròn 18 tuổi.

Vào thời kỳ ấy, thú thực, tôi chưa biết Cộng sản là gì. Những chuyện đấu tố long trời lở đất ở hậu phương với số phận thảm thương của bà Cát Hanh Long, mẹ nuôi Bộ Đội đã vang vọng về tới Hà Nội nhưng chỉ là nghe phong thanh.

Trong ý nghĩ của tôi, hình ảnh của những anh bộ đội vẫn là những hình ảnh của các chàng trai thế hệ, từ bỏ sách vở, bỏ cuộc sống êm ấm gia đình để đi theo tiếng gọi của non sông. Trung đoàn Thủ Đô dược thành lập bởi những thanh niên hào hoa Hà Nội với những chiến công vang rộng kể từ ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp tháng 12-46, đối với tôi vẫn là một đơn vị hào hùng, đượm một ít huyền thoại có thể không có thật nhưng rất dễ được tin và loan truyền trong giới học sinh Hà Nội cùng lứa tuổi như tôi.

Những bài thơ của Hữu Loan, Hoàng Cầm, Quang Dũng được truyền tay nhau đọc, ngâm đi ngâm lại với tất cả sự rung động sâu xa và mến phục. Trong khi đó, hầu hết những văn nghệ sĩ nổi tiếng trong vùng Quốc Gia đều còn giữ quan niệm sáng tác những truyện tình cảm ướt át và không mấy nhậy cảm đối với những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc. Một Ngọc Giao với nhân vật Xã Bèo trong tác phẩm Đất cho độc giả nhìn thấy thân phận cơ cực của người nông dân Việt Nam ở thời kỳ độc lập phôi thai, nhưng lại làm thất vọng độc giả sau đó với Quán Gió qua hình ảnh của những người thành thị trên đường tản cư. Nhưng dầu sao nhà văn Ngọc Giao vẫn là một cây bút đem vào văn chương nhiều dấu tích của xã hội thực tế bên ngoài, mặc dầu chưa đủ giúp cho những lớp người trẻ như chúng tôi, vào thời kỳ ấy, có được cái nhìn toàn diện về những hoàn cảnh xã hội vây quanh.

Một vài cây bút lẫy lừng khác, có tác phẩm thuộc loại bán chạy nhất như Hoàng Công Khanh với Trại Tân Bồi, Mẹ tôi sớm biệt một chiều Thu, Mối tình đầu hoặc Nguyễn Minh Lang với nhiều tác phẩm tình cảm ướt át khác chỉ làm sống lại bầu không khí văn nghệ của những năm trước chiến tranh. Vấn đề Cộng Sản chưa trở thành mối ưu tư trĩu nặng trong tâm hồn tất cả mọi người như những năm sau này ở miền Nam, sau khi cuộc di cư khổng lồ 1954 đã chấm dứt.
Như vậy, tôi đã vào Nam, dù theo làn sóng di cư trốn chạy Cộng Sản, nhưng lại rất ít hiểu biết về thực chất của Cộng Sản. Tôi đi Nam vì máu giang hồ của tuổi trẻ. Ngày từ giã cha tôi để ra xe, tôi cười nói khơi khơi:

– Con chỉ đi hai năm rồi con về!

Tôi đã tin ở Hiệp Đinh Genève. Tôi tin ở cuộc bầu cử thống nhất đất nước. Đất nước thống nhất rồi, chuyện thực hành một chuyến viễn du Sài Gòn – Hà Nội hay ngược lại chỉ là vấn đề có phương tiện và thời gian. Hình như cha tôi cũng nghĩ như thế. Cụ là người khoáng đạt, giáo dục con cái chỉ bằng thực tế của đời sống, chủ trương cuộc đời của ai kẻ nấy lo, châm ngôn duy nhất mà cụ nhồi vào đầu con cái là “ở hiền gặp lành”, “gieo nhân nào hái quả nấy”, như một hành trang không thể thiếu trong giao tế với đời sống. Ngoài ra cứ tự do bay nhảy nếu có khả năng.

Nhưng tôi không ngờ chuyến từ biệt đơn giản ấy lại là một cuộc chia xa kéo dài gần một phần tư thế kỷ! Và một thoáng ngậm ngùi, nỗi ngậm ngùi chỉ vừa đủ làm cay đôi mắt còn trong veo và rực ngời tin tưởng của tôi vào thuở ấy, đã trở thành những đêm thao thức, dằn vặt, mất ngủ trong suốt hơn 20 năm sau này, khi tôi đã hoàn toàn hòa nhập vào đời sống trong xã hội Tự do ở miền Nam. Tôi đã mặc nhiên đứng vào hàng ngũ những người chống Cộng, dù rằng trong tâm tưởng tôi không bao giờ nguôi niềm nhớ thương cảnh Hà Nội cũ với Hồ Gươm xưa, ở đó vẫn còn có cha tôi mòn mỏi tàn úa hẳn cũng nhiều đêm thao thức nhớ đến đứa con lưu lạc ngày xưa.

Ba mươi tháng tư năm bẩy lăm, tôi không chạy kịp theo làn sóng di tản ra nước ngoài. Đành ở lại chấp nhận số mạng như hàng triệu anh em bạn bè, đồng bào khác đã không kịp ra đi. Đánh đổi lại, tôi đã may mắn có được một cuộc trùng phùng.

Theo lời hứa từ hơn hai mươi năm trước, đáng lẽ tôi sẽ phải là kẻ xách khăn gói trở về, và cha tôi sẽ rộng mở vòng tay đón tôi từ ngoài ngõ. Nhưng ngược lại, Người với bẩy mươi tư tuổi đời trên đôi vai còm cõi, mái tóc bạc trắng, thân hình gầy guộc, đã lặn lội 1.600 cây số xuôi Nam trên chiếc xe đò cũ nát, chật chội, chen lấn suốt ba ngày hai đêm để được gặp lại con trai, tại bến xe Ngã Sáu Sài Gòn, giữa một rừng người hỗn độn ngổn ngang những đống bàn ghế, đồ đạc, những thùng đồ, những túi xách, những tay nải và cả những đống khung xe đạp chất đống chờ tới chuyến để được bốc lên xe.

Tôi đã trùng phùng với cha tôi trong khung cảnh đó.

Lòng vừa mừng vô hạn, vừa đớn đau, chua xót vì cơn sụp đổ toàn diện của miền Nam còn đang tiếp diễn ở toàn bộ những khung cảnh sinh hoạt ở khắp mọi nơi, những pho tượng ở các công viên bị giật sập, những đường phố tràn ngập rác rưởi cũ, những căn nhà của người di tản bị tiếp thu, cửa long, vách bị đục, các cánh cửa sổ bị gỡ tả tơi, sập sệ và một rừng cờ, rừng biểu ngữ chói mắt, nhức tim tràn ngập khắp các đường phố, các cao ốc, các công sở, và còn ở những chiếc cổng chào mọc lên đầy đẫy ngay lối vào những con ngõ nhỏ hẹp.

Thêm vào đó là một rừng người hỗn độn, choáng ngợp màu xanh của quần áo cán bộ, bộ đội, những người ở Bắc vô, ở chiến khu về, những người nằm vùng ở trong thành phố bây giờ mới ló mặt. Một bầu không khí cuồng nhiệt, chiến thắng trong lam lũ, thiếu thốn, nghèo nàn, với những nụ cười tự mãn, những ngôn ngữ khinh miệt, hận thù, tất cả đã úp chụp lên người dân Sài Gòn như một mạng lưới khổng lồ, đi đâu cũng không thoát, ngồi đâu cũng không yên, người ta chạy nháo lên như những con kiến bò quanh miệng một cái chén đang đặt lên lò lửa. Hầu như ai cũng cảm thấy hớt hải, lo âu, tiếc nuối, và sợ hãi cho những ngày sắp đến. Tôi trùng phùng với cha tôi trong bầu không khí đó và với tâm trạng bất an đó. Tuy nhiên tôi vẫn còn đủ sáng suốt để tận hưởng những nỗi vui mừng của cuộc đoàn tụ cha con sau gần một phần tư thế kỷ.

Ban ngày tôi dẫn cụ đi thăm phố xá. Ra Sài gòn, đi trên đường Bonard, Nguyễn Huệ, bến tàu. Vào Chợ lớn đi xem khu vực Đồng Khánh, Khổng Tử, chợ trời Kim Biên, quay về Gia Định xem chùa Ngọc Hoàng, Lăng Ông Bà Chiểu, và ở bất cứ nơi nào tôi cũng lôi cụ về với dĩ vãng hơn hai mươi năm, để qua đó trình bầy với cụ về những sinh hoạt của tôi, bạn bè tôi, đồng bào tôi, những người không nằm trong quỹ đạo của xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

Buổi tối trở về chúng tôi quây quần bên những chung trà nhỏ. Tôi cố quên hết đời sống chung quanh, quên hết những cơn điên loạn đang gậm nhấm tâm hồn của một kẻ đã mất trắng gần như mọi thứ, mất đất đứng, mất cả dĩ vãng của mình khi cứ bị buộc phải rũ bỏ, để chỉ ngồi ôn lại với cha già những kỷ niệm hồi ấu thơ, lên sáu tuổi chạy bom Đồng Minh, mười một tuổi tản cư chạy bom Pháp, và cuộc chiến Quốc Cộng kéo dài trong mịt mù khói lửa ở cả hai miền Nam Bắc, tính ra nếu trừ một vài năm tạm yên, thì cả cái đất nước này đã vang rền tiếng súng không ngơi nghỉ trên ba mươi năm.

Tôi thấm thía nỗi chiu đựng của cha tôi trong suốt tiến trình khổ ải ấy. Để đến bây giờ, tóc Người đã bạc trắng, mắt đã mờ, chân đã chậm nhưng hằng ngày ông vẫn cứ phải đi từ tờ mờ sáng ra đón một cuốc xe điện từ Bờ Hồ xuống Bạch Mai, chen chúc đánh vật với đám đông, cố chen lấy một chỗ đứng và chịu trận cảnh ép bốn bề, xô tới xô lui như thế cả tiếng đồng hồ mới tới được chỗ làm của một chân coi kho cho một Hợp tác xã. Chiều về, cơ thể mệt rã rời, cũng lại chen chúc một lần như thế. Ngày này qua ngày khác. Tháng này qua tháng khác. Năm này qua năm khác. Nếu không đi làm, không đủ sống, mặc dù ông cụ cũng có lương hưu vài chục đồng. Tôi thốt rùng mình ghê sợ thay cho những trái tim sắt đá của tập đoàn lãnh đạo miền Bắc. Họ nhìn “thần dân” dưới bàn tay cai trị của họ không khác gì những công cụ vô tri. Họ vắt sức lao động của con người với tất cả sự tàn nhẫn, phi nhân và lạnh lùng. Mà không chỉ riêng số phận của cha tôi. Tôi đã thấy hầu hết nhân dân miền Bắc cực khổ, lam lũ, và khổ nhọc như thế hay hơn thế. Đó là những con cưng của chế độ, những thành phần vô sản chính cống mà họ luôn luôn đề cao trong tất cả sách vở, triết lý của họ. Đã một lần tôi được nghe một nữ cán bộ lớn tuổi ở miền Bắc nói với tôi rằng:
– Hồi Cách Mạng mới thành công, chúng tôi rất thiếu thốn. Những buổi sáng khi cúi xuống cài chiếc khuy áo cho đứa con gái nhỏ đi học, tôi tự nhủ, thôi thì đời mình có khổ, mình cũng chịu hy sinh để sau này cho con cái nó sung sướng.

Nhưng rồi năm này qua năm khác, đời sống không đi lên mà cứ đi xuống. Con gái tôi lớn lên, đi lấy chồng, sinh con. Bây giờ buổi sáng cúi xuống cài chiếc khuy áo cho đứa cháu ngoại đi học, tôi không còn tin tưởng điều gì nữa. Tôi đã khổ, con gái tôi đã khổ. Và rồi cháu ngoại của tôi, số phận chắc cũng sẽ chẳng hơn gì.

Người cán bộ nói với tôi bằng một giọng bình thản, và đôi mắt tràn ngập u sầu. Nỗi u sầu không phải chỉ lúc phát biểu ra câu nói đó mới có, nhưng là sự tích lũy sâu đậm từ bao nhiêu năm, nó làm cho mái tóc của bà ta bạc đi, khuôn mặt xanh xao cố hữu, nụ cười héo hắt ít nở trên vành môi khô, và đôi mắt sâu thẳm chẳng còn những tia sáng tinh nhanh qua cái nhìn mệt mỏi phản ảnh một tâm hồn suy sụp rã rời.

Sắp tới ngày hết hạn nghỉ phép, cha tôi từ biệt để trở về. Tôi không còn lại gì, không có khả năng hay phương tiện gì để giữ cụ lại. Lòng tôi tan nát vì sự bất lực của mình. Cuộc trùng phùng mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm đã kết thúc nhanh chóng trong bẽ bàng và tức tủi.

Lại bầu không khí ồn ào hỗn độn ở ngoài bến xe, lại chiếc xe đò cũ kỹ chật ních những người và chồng chất nghễu nghện trên mui đủ loại đồ. Ngồi ở băng ghế sau cùng, cha tôi thò bàn tay khẳng khiu và xương xẩu ra nắm lấy tay tôi. Mắt cụ mờ lệ. Tôi hiểu cơn tức tủi đang làm cụ nức nở trong lòng. Cụ cũng bất lực không thể giúp gì được cho tôi trong đoạn đường bất trắc của cuộc đời mà chính tôi sắp phải trải qua.

3777999954_f7489c5fd8_o

Bánh xe lăn dần, chiếc xe rời bến với những làn khói phun ở đằng sau tỏa mù mịt. Hình ảnh khốn khổ của cha tôi bị xóa nhòa trong màu đen của làn khói sặc sụa ấy. Tôi bỗng nhớ đến lần chia tay của hơn hai mươi năm trước. Khi đó, lòng tôi chỉ có một thoáng ngậm ngùi nhưng là cơn ngậm ngùi đã gậm nhấm suốt cuộc đời lăn lộn của tôi trong sinh hoạt xã hội ở miền Nam. Bây giờ, trong làn khói xe mù mịt, tôi tự hỏi hình ảnh của cuộc chia tay lần này với tất cả cơn xúc động sâu xa, tuyệt vọng, chán chường, xót xa, tủi nhục sẽ kéo dài tới bao lâu, khi cha tôi đã già, ngày vĩnh viễn rời khỏi cuộc đời khổ ải này chắc cũng chẳng còn bao xa, so với nếp sống thiếu thốn, cực nhọc mà cha tôi đang còn tiếp tục chiu đựng.

Cụ vẫn mòn mỏi tiêu hao sức lực cuối cùng của cuộc đời vào những buổi sáng dậy sớm khi còn sương mờ, tay xách một cái túi nhỏ trong có một lon cơm, một gói tép rang mặn hay vài miếng cà, và chiếc khăn mặt cũ kỹ, đi bộ tử cuối phố Hàng Bông ra Bờ Hồ. Ở đó, cụ đứng chờ xe điện để xuống Bạch Mai, những toa xe vẫn mầu sơn đỏ cố hữu, ì ạch, chậm rì và con người bu trên đó kín mít như những chùm sung. Sức khỏe của cha tôi tiêu mòn phần lớn vào nhưng cuộc chen lấn hằng ngày trên chuyến tàu đó. Đó là chưa kể những công việc làm ở Hợp tác xã Coi kho, ghi chép, kết toán sổ sách. Và những buổi học tập đường lối, chính sách của nhà nước theo từng nghị quyết mới ban hành.

Giữa năm 1979, trong một thư gửi ra thăm hỏi, tôi ám chỉ việc xin phép cụ cho tôi ra đi. Lý do, tôi không cần trình bày thì cụ đã biết, đã cảm thông. Như một con cá quen với đại dương bao la, tôi không thể sống nổi trong những ao tù chật hẹp. Năm năm qua, có biết bao nhiêu điều tôi đã thấy, đã nghe, đã trực tiếp tham dự, ở trong xã hội cơ cực này. Đối với tôi, ăn độn, xếp hàng cả ngày, bỏ bữa sáng, dẹp cà phê, nhịn thuốc lá, bụng đói, chân run, đạp xe đến trường giảng cho học sinh nghe về những tiến bộ của khoa học qua môn Vật Lý (mỉa mai thay, lớp học có mấy cái quạt máy từ hồi xưa, nay đã bị tháo gỡ đi hết), tất cả tôi chịu đựng được hết. Đất nước nào sau chiến tranh chẳng phải cơ cực.

Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó. Điều kinh khủng nhất trong cái xã hội này là sự độc tôn trong lãnh vực tư tưởng. Không ai được quyền có ý kiến riêng. Cũng không ai được quyền không có ý kiến. Thế nghĩa là phản đối không được, mà muốn mũ ni che tai, quay lưng vào cuộc sống cũng không được nốt. Phải trực diện với cuộc đời, phải nghĩ, phải làm, phải nói những điều mà mình không muốn nói, dù biết rằng có nói ra người nghe cũng không tin, không thích. Xã hội trở thành một sân khấu lớn, và ai cũng phải trở thành một diễn viên. Đóng kịch ở sở, ở xí nghiệp, ở các chỗ công cộng, ở ngoài dường phố, nhiều khi về nhà cũng còn phải đóng kịch vì niềm tin vào những người thân có khi đã sứt mẻ nặng nề. Đó là kể trong những gia đình được coi là bất hạnh, không giữ nổi truyền thống, để cho bàn tay của nhà nước xâm nhập vào. Đây là lý do chính yếu mà nhiều người bỏ nước ra đi, bên cạnh những lý do an ninh bản thân bị đe dọa khác.

Tôi nghĩ là ông cụ tôi đã cảm thông với hoàn cảnh của tôi và một lần nữa, tôi lập lại một hoàn cảnh giống y như hai mươi lăm năm về trước: từ biệt cụ thân sinh để lại ra đi. Điều mà tôi không ngờ tới là dù tuổi già sức yếu, biết được ý định của tôi, ông cụ đã lại lặn lội 1.600 cây số xuôi Nam để được nhìn thấy con cái thêm một lần cuối.

Tình máu mủ ruột thịt quả là đem lại cho con người những sức mạnh phi thường. Lần này tôi dẫn cha tôi ra tận Vũng Tàu, leo lên đỉnh cao của chỏm núi đá, nơi dựng Phật đài và chỉ cho cha tôi nhìn xuống biển bao la phía dưới. Vào một ngày sau cơn bão, mặt biển ngả màu xám xì. Chân mây đục lên một màu trắng sữa và lảng vảng nhiều đám mây đen. Phía dưới chúng tôi, những con thuyền nhỏ như từng chiếc lá tre hiện ra trên mặt sóng như những vệt đen nhấp nhô. Tôi chỉ về phía thật xa, khu vực bờ biển vùng Bà Rịa thăm thẳm giữa mây mù, mặt biển đen xám và nói:

– Con sẽ ra khơi ở chỗ đó. Trên một con thuyền nhỏ như con thuyền dưới kia.

Giọng tôi thản nhiên như đang nói về sự lựa chọn một chuyến xe đò đi về lục tỉnh. Tôi chợt nhớ lại giây phút thản nhiên đúng y như vậy, cách đây hai mươi lăm năm, tôi đã nói với cha tôi về một chuyến xe ca mà tôi sẽ rời Hà Nội để đi xuống Hải Phòng, xuôi Nam. Cũng vì thế, tôi chợt bắt gặp lại cái cảm giác ngậm ngùi trong cuộc chia tay lần trước, nỗi ngậm ngùi đã theo đuổi tôi những ngày, những tháng trong gần một phần tư thế kỷ.

Nhưng so với thời kỳ đó, tâm tư của tôi lúc này trĩu nặng hơn nhiều. Tôi đã mất nơi chốn mà tôi đã quen thuộc trong bao nhiêu năm, tôi lại còn sắp mất vĩnh viễn cha già tuổi hạc đã gần tám mươi.

Và còn chính tôi nữa, tôi sắp đem cả sinh mạng của mình ra thách đố với biển Đông mù khơi trước mặt, trong một chuyến đi mà nào ai biết được sẽ có những gì xảy ra bất trắc?

Santa Ana, tháng 6-1981
Nhật Tiến

Tha Thẩn Sân Trường, Truyện ngắn Nhật Tiến


H 1b

Nhật Tiến

Buổi sáng, trước khi đi học, bao giờ mẹ cũng dúi vào tay của Khoa một khúc bánh mì. Bà vuốt lại vài sợi tóc đang xòa trên trán của nó, sửa lại cái ve áo có khi bị dắt dưới cái cổ áo len. Bà ngắm lại cung cách ăn mặc của nó, xem trời bên ngoài nếu trở lạnh hơn thì đã đủ ấm chưa. Xong xuôi, với một vẻ mặt hài lòng, bà xua nó ra xe. Mọi bổn phận đối với nó, sau chừng ngần ấy động tác, bà hoàn toàn yên tâm và trở lại với những công việc bận rộn, hối hả hàng ngày.
Có nhiều lúc, Khoa muốn níu tay mẹ lại, trong lòng nó chưa nguôi ngoai nỗi niềm thổn thức đã làm nó trằn trọc từ lúc đi nằm của đêm hôm trước, và buổi sáng ra, lúc mở choàng mắt dậy, nó vẫn còn có cái cảm giác ấy hồi đêm. Tuy nhiên, chưa lần nào Khoa làm phiền mẹ trong những giờ phút khởi sự một ngày bận rộn của bà. Nó tự nghĩ, thà chẳng nói ra thì có lẽ tốt hơn, bởi vì, chưa chắc mẹ của nó hiểu được cái tâm tình mỏng manh, ngấm vào lòng nó thì ngấm rất sâu, nhưng diễn tả bằng lời nói có khi lại chẳng ra đâu vào đâu. Người lớn có những cung cách suy nghĩ của riêng họ. Tuy ở vào cái tuổi mười hai, muời ba, Khoa cũng đủ đầu óc nhận xét để thấy rõ điều đó.
Cho nên khi lủi thủi ra xe, Khoa vẫn ôm trong lòng một cảm giác nặng chĩu. Về một chuyện gì đó xẩy ra trong lớp học hôm trước.
Bố thường hay ra xe trước mẹ. Ông có nhiệm vụ phải làm cho máy nổ một thời gian cho động cơ được hâm nóng lên. Trong khi chờ đợi, một tay ông cầm ly cà phê, một tay mở rộng tờ báo trước tay lái và chăm chú đọc một tin tức sốt dẻo nào đó. Lúc thằng Khoa mở cửa sau để leo lên ngồi, ông cũng không quay lại. Hình như mọi công việc săn sóc đứa con trai độc nhất của hai người, ông khoán trắng cho người vợ đảm đang của mình. Trong gia đình, mỗi người có một bổn phận phải lo toan. Những bổn phận ấy, chưa bao giờ hai người phải ngồi lại để phân chia rạch ròi, nhưng mặc nhiên, ai cũng cảm nhận thấy những điều mình phải làm. Và trong cái gia đình nhỏ bé, hạnh phúc của ông từ hơn mười năm qua, lúc nào ông cũng cảm thấy mình chu toàn trách nhiệm làm bóng mát, làm tàn cây che chở cho những người thân yêu. Ngay cả hồi trước, khi còn ở Việt Nam, đời sống khó khăn, cực nhọc là thế, mà ông cũng đã cố gắng hết sức của mình để vợ con không bị thiếu thốn.
Thằng Khoa, nhờ vào những cố gắng đó, cũng đã được cắp sách đi học. Tuổi thơ của nó tràn ngập những kỷ niệm hồn nhiên. Buổi sáng trở dậy, trước khi đến trường, nó được mẹ dúi cho một nắm xôi nóng. Mẹ nó không cho ăn gì khác hơn, kể cả bánh mì kẹp thịt có một mớ đồ chua lổn nhổn ở bên trong. Bà nói ăn xôi lành. Hồi đó cắp sách đi học, đối với Khoa là cả một niềm vui. Một sự bay bổng từ căn nhà chật chội, nhỏ bé, tù túng của gia đình nó để đi đến một khoảng trời rộng rãi, khoảng khoát đầy ắp những nguồn vui và tiếng cười. Nó hay tha thẩn trên con đường khấp khểnh từ đường cái đi vào cổng trường. Hai bên đường có bụi cỏ mọc cao lên, buổi sáng sớm, nó nhìn ngắm hơi sương còn bay là là trên những cọng cỏ, thỉnh thoảng có những bông hoa me vàng chóe mọc chen chúc trong lớp lá cỏ mầu xanh rờn ở trên còn đọng lại những giọt sương đêm đang phản chiếu ánh sáng mặt trời trở nên có mầu sắc lóng lánh. Tâm hồn của Khoa phơi phới niềm vui. Một tay nó cắp một mớ tập có kẹp lỉnh kỉnh cái bút, cái thước ở bên trong, một tay nó thọc vào túi quần và cảm nhận thấy có những hòn sỏi nhẵn bóng, những cái nút phéng hay những sợi cao su còn nằm chen chúc lên nhau. Mỗi một món đồ vật đều có sự ràng buộc với một loại trò chơi cùng với hình ảnh của từng đứa bạn hiện ra lẫn lộn đủ loại khuôn mặt quen thuộc. Mỗi đứa là một thế giới riêng, nhưng tất cả đều hòa hợp với nhau một cách tự nhiên, rất thân ái đủ khiến cho thằng Khoa tìm thấy ở đó là thế giới của mình, là nơi chốn đã đan đầy những kỷ niệm không bao giờ có thể quên trong suốt quãng đời thơ ấu.

H 3

Qua đến đây, lần đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa choáng ngợp ngay về cái vẻ đồ sộ, qui củ, ngăn nắp của ngôi trường, dù đấy chỉ là một ngôi trường tiểu học. Nó cảm thấy xót xa, buồn bã khi nhận ra thế giới nhà trường ở đây chẳng giống một tí tẹo nào cái thế giới mà nó vẫn hình dung ra trong trí tưởng tượng. Trường gì chỗ nào cũng lát xi măng phẳng lì không có chỗ cho những mảnh đất loang lổ, sau những cơn mưa còn đọng lại từng vũng nước, ở đó thỉnh thoảng có những con dế bị ngộp thở phải bò lên, ngơ ngác giơ hai cọng râu ngoe nguẩy dưới ánh nắng đầu hôm xuyên qua những tàn cây che kín cả sân trường. Ở đây nó cũng không thấy có những lớp học san sát bên nhau, chung nhau một dãy hành lang chạy dài, vào lúc buổi học bắt đầu, học trò xếp hàng thành dẫy dài trước mỗi cửa lớp để chờ lệnh thầy cô tiến vào lớp học.

H3

Làm gì có chuyện xếp hàng vào lớp trong ngôi trường đầy rẫy những sự kiện xa lạ này. Vào buổi sáng, trước giờ vô lớp, cái hành lang rộng rãi đến độ có thể chạy được cả một chiếc xe hơi trên đó, học trò ồn ào nhốn nháo đi ngược đi xuôi nhộn nhịp. Tiếng cười có cất lên rộn rã nhưng nghe vẫn lạ tai. Ngôn ngữ thì ríu rít nhưng tự nhiên, mạnh dạn, không mang một đôi chút dáng vẻ nào là nhút nhát hay e dè. Tốc độ đi lại của mọi người thì nhanh đến chóng mặt. Rõ ràng là thằng Khoa nhận thấy cái cảm giác như mình là một thứ chim chích đang lạc vào một khu rừng to lớn, rậm rạp.
Nó cố gắng đi tìm một chỗ bấu víu để không cảm thấy rằng mình đang bị lạc lõng. May thay, Khoa cũng nhận ra được mấy đứa học trò đầu đen, cũng có mầu da và dáng vẻ Việt Nam như mình. Tuy nhiên, hầu hết chúng nó đều là những đứa đã đến trước. Chẳng rõ là bao lâu, nhưng coi bộ chúng đã có những cử chỉ quen thuộc, tự nhiên và dễ dàng hòa hợp được vào bầu không khí ồn ào, xa lạ ở đây.
Buổi học đầu tiên đã qua đi và để lại trong đầu của Khoa một cảm giác như mình vừa trải qua một cực hình. Nó chỉ mong cho mau chóng tới giờ tan học để thoát cho lẹ về căn nhà quen thuộc của mình. Ít ra, ở đó nó còn tìm thấy được sự yên ổn và bình thản trong lòng. Hồi trước còn ở quê nhà, chẳng bao giờ Khoa có nhu cầu kể lể với bố mẹ về những chuyện đã xảy ra ở trong nhà trường. Nhiều khi nó lại còn muốn giấu giếm thêm đi nữa là khác, vì nó nghĩ thế giới ở trường là thế giới của riêng nó, chẳng ăn nhập gì với những người lớn cả, trừ khi nó được hỏi đến và bó buộc phải trả lời. Nhưng ở đây, trong khung cảnh xa lạ này, Khoa muốn chia sẻ những nỗi lo lắng, bồn chồn bất ổn của mình với bố mẹ. Lúc leo lên chiếc xe của bố đi đón mình về, Khoa toan cất tiếng thì bố đã xoải tay vặn to hơn một bản nhạc trong cuốn băng vừa cất lên mà bố cảm thấy ưa thích. Tiếng hát của cô ca sĩ chợt ùa lên, tràn ngập trong lòng xe chật hẹp, giống như một bức tường đột nhiên sừng sững hiện ra ngăn cách Khoa và bố. Nó đành chán nản ngồi co mình lại, buồn bã nhìn ra cảnh bên đường phố đang vùn vụt trôi qua tấm cửa kính. Hai bố con vẫn giữ nguyên sự thầm lặng đó trên suốt đường về.
Khi vào nhà, mẹ đón hai bố con bằng một nụ cười rạng rỡ khi bà đứng trước cái bếp gas đang phừng phực những tia lửa xanh lét bao quanh những cái nồi bằng nhôm láng bóng. Lại một lần nữa, Khoa cảm thấy thất vọng khi mẹ không nhắc nhở gì đến buổi học đầu tiên của mình, mà bà chỉ nói với bố :
– Hôm nay em đã đi gặp chị Thu rồi. Anh chuẩn bị ăn cơm, rồi em sẽ thuật lại cho mà nghe.
Thế là trong suốt bữa cơm của buổi chiều hôm đó, hai người chỉ trao đổi công chuyện làm ăn gì đó với bác Thu, người chị họ của bố, đã qua đây từ bốn, năm năm về trước. Lần đầu tiên Khoa cảm thấy tủi thân về sự đã bị quên lãng của mình. Trái tim nhỏ bé của nó đã bị thương tổn đến độ nó thổn thức riêng trong lòng qua suốt cả bữa cơm. Ðêm hôm đó, lần đầu tiên đặt chân lên xứ Mỹ, Khoa nằm khóc một mình. Nó nhớ trường, nhớ bạn, nhớ thầy cô ở Việt Nam.
Trong suốt thời gian một tuần lễ đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa luôn luôn mang tâm trạng buồn bã đó. Cho đến khi nó tình cờ quen được một người bạn. Anh này, Khoa mới phát giác ra rằng ở Việt Nam, anh ta là dân con nhà lao động, tối ngày phải vật lộn với miếng ăn nên ít có dịp cắp sách đến trường. Trình độ của anh chỉ là biết viết, biết đọc. Vậy mà qua đây, vì to xác, lại lớn tuổi, nên anh bị nhét ngay vào lớp học cao hơn lớp của Khoa đến hai trình độ. Dĩ nhiên là anh ù ù cạc cạc chẳng biết ất giáp gì, suốt buổi ngồi thu ở một cái bàn nhỏ kê gần cuối lớp, mặt anh ta lúc nào cũng buồn thiu, buồn chẩy, còn cử chỉ thì lén lút, tránh né cứ như một anh ăn trộm vặt lo mình bị bắt quả tang.
Khoa gặp anh ta lần đầu ở nơi xếp hàng ăn bữa trưa. Sau khi lãnh xong phần của mình, Khoa định đi lại phía dẫy bàn ăn thì chợt bị anh ta níu lại và nói:
– Ăn…ăn…ăn… giùm…..!….
Ôi dà! Thì ra cái nhà anh này đã thế lại còn nói lắp ! Học hành ở cái xứ Mỹ này, đã đủ thứ khó khăn mà lại còn nói lắp nữa thì hết thuốc chữa. Chả trách, mọi người đã để yên cho anh cố thủ nơi cái bàn cuối phòng học và mặc để cho anh ta ngồi yên gậm nhấm“nỗi bất hạnh vì phải đi học” của mình.
Sự yếu kém về khả năng ngôn ngữ của anh làm Khoa dễ nẩy sinh tình cảm thân thương. Nó hỏi anh tại sao lại nhường phần ăn cho nó. Chừng đó, anh mới giải thích, bằng cung cách nói nghịu của mình. Thì ra hôm nay anh ta đau bụng, lại không nỡ vứt đồ ăn vào thùng rác. Khoa vặn lại:
– Nếu không ăn được thì anh xếp hàng lãnh phần làm gì ?
Anh ta trợn mắt:
– Đâu… đâu…. đâu… được! Mọi…..mọi…mọi người cùng….cùng xếp hàng mà!
Anh thật thà, đơn giản như thế đấy. Điều này khiến Khoa càng có cảm tình với anh hơn. Hai người trở nên thân thiết một cách dễ dàng mau chóng. Anh ta tên là Sửu. Đi Mỹ theo diện di dân, do bố là công dân Mỹ bảo lãnh. Hồi Sửu chưa qua đây, bố của anh vẫn gửi tiền về cấp dưỡng. Nhưng mẹ anh mê bài bạc nên cứ có đồng nào là đem nướng vào quân bài hết cả. Qua tới bên này, thấy anh thất học, hai vợ chồng đánh nhau một trận náo loạn cả làng xóm, một suýt nữa thì bố của anh phải đi ngồi tù.
Sau rồi mọi việc cũng được dàn xếp ổn thỏa và bố của anh nhất quyết bắt anh đến trường để giành lại những thời gian quí báu đã bỏ một cách uổng phí nơi quê nhà.
Trời sinh ra anh có khuyết tật về ngôn ngữ thì lại bù cho anh một khả nàng thiên phú khác. Đó là anh thổi khẩu cầm rất hay. Anh thường hay nhét cây kèn vào tận cùng lớp áo trong. Cây kèn nhỏ xíu bóng loáng vì đã được cầm nhẵn đi nhiều lần, do anh mang đi từ quê nhà. Vào những lúc buồn bã và nhà không có ai, anh hay leo lên cửa sổ ngồi thổi đủ mọi loạt bài. Những lúc như thế, Khoa thấy ở anh hiện ra một con người khác, đam mê, đắm đuối, nồng nhiệt, đúng là một hình ảnh của một nghệ sĩ có tài.
Nhưng chỉ ở những lúc đó thôi. Buông cây kèn ra, thả anh vào sân trường, anh lại trở về bản tính nhút nhát cố hữu của mình. Hình như mọi thứ ở cái xứ Mỹ này đối với anh cái gì cũng to lớn quá, ồn ào quá, nó khiến cho anh sợ hãi và cố tình thu nhỏ mình lại. Anh thổ lộ, chẳng bao giờ anh có thể hội nhập một cách bình thường như mọi người đang sống bình thường ở đây.
Khoa rất muốn đem chuyện của Sửu ra kể lại cho bố mẹ nghe. Nhưng chẳng bao giờ nó có cơ hội chen lấn được vào những câu chuyện làm ăn kéo dài tưởng như bất tận của hai người. Bố mẹ của Khoa có vẻ như đặt hết lòng tin tưởng vào sự hoàn hảo vô song của nhà trường Mỹ. Ông bà ấy tưởng như một khi đã gửi con vô trường rồi thì tự nó, nó có thể gặt hái được mọi sự thành công theo sự dạy dỗ của thầy cô Mỹ, cùng với chương trình giáo dục kiểu Mỹ. Vấn đề còn lại là làm sao kiếm ra thật nhiều tiền để có thể bảo đảm được nếp sống sung túc, tạo cơ hội cho con thường xuyên cắp sách đi học mà không phải đi làm thêm như những học trò khác. Riết rồi thằng Khoa không còn tìm thấy ở nơi bố mẹ mình một niềm an ủi, cảm thông mỗi khi nó gặp chuyện khó khăn nơi nhà trường. Như một lần, trong buổi xếp hàng lãnh phần ăn trưa, Khoa bị một thằng Mễ to con, huých vào mạng sườn một cái đau điếng. Rồi nó nhìn thằng Khoa với cặp mặt đầy vẻ khinh thị và nói :
– Go back to your country! (Cút về xứ mày đi!)
Thằng Khoa tức uất cả người lên, muốn chống trả mãnh liệt bằng bất cứ giá nào nhưng nhìn thằng Mễ Tây Cơ với vóc dáng hộ pháp, đứng cao hơn nó cả một đầu người, có gây gổ cũng thiệt thân, nên nó cắn răng chịu nhục và vùng vằng bỏ đi. Phía sau nó, cả một đám bạn bè thằng Mễ phá lên cười. Tiếng cười ngạo nghễ đó ám ảnh thằng Khoa trong suốt bao nhiêu ngày, thậm chí còn đi vào giấc ngủ trằn trọc của nó làm cho nó thao thức đến độ không cách nào nhắm mắt được cho đến khi ngủ thiếp đi.
Đến chuyện này thì Khoa không còn muốn giấu giếm bố mẹ nữa. Lần ấy, trong bữa cơm, Khoa chen vào ngang xương câu chuyện làm ăn của bố mẹ.
Lập tức, như một kẻ sẵn sàng chịu đựng mọi thiệt thòi khi đặt chân lên xứ sở này để khỏi gây phiền nhiễu, mẹ của Khoa vội trả lời ngay:
– Chuyện chẳng đáng gì, chúng nó nói gì mặc nó, mình cứ mũ ni che tai con ạ.
Khoa nhìn bố, hy vọng ông chia sẻ nỗi uất ức của mình. Nhưng trái lại, ông còn nhăn mặt nhìn nó trách móc:
– Ðừng có sinh sự rồi đâm ra rắc rối lắm chuyện. Hãy cứ lo học hành đi đã!
Lần đầu tiên, Khoa nhận thấy bố mẹ của mình có cung cách suy nghĩ sai lầm, mặc dù trong ngôn ngữ hàng ngày, ông vẫn tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam cùng với hơn bốn nghìn năm văn hiến vẻ vang, đầy kiêu hãnh. Tuy nhiên, vì là đứa con ngoan, nên Khoa không muốn đào sâu những sự suy nghĩ lệch lạc, làm cho mình trở nên bất kính đối với bố mẹ của mình. Nó chỉ mơ hồ cảm thấy lòng tin của mình đối với bố mẹ có phần giảm đi. Thật khó có thể tưởng tượng được rằng, đã có lúc nó không còn cảm thấy hai người vẫn còn là cái phao cho nó tìm đến bấu víu, để được che chở, bảo vệ hay chia sẻ những nỗi buồn vui, phiền muộn. Một cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình bắt đầu có dấu hiệu thành hình. Kể từ câu chuyện đó, Khoa bắt đầu đi tìm sự chia sẻ ở một nơi khác bên ngoài gia đình.
***
Trong trường học, ngoài các Thầy Cô Mỹ ra, còn có một vài chân trợ giáo. Cả thẩy năm người, trong đó có một người Lào, một người Miên và hai người Việt Nam. Trong hai thầy cô trợ giáo người Việt đó, Khoa có cảm tình với Cô Nguyệt nhiều hơn. Cô tuy không đẹp nhưng dáng vẻ hiền hậu, nhu mì. Có lẽ Khoa bị hấp dẫn về giọng nói của Cô nhiều hơn là cái bề ngoài trầm lặng, ít sôi nổi, sốt sắng với mọi người chung quanh.
Cô không bao giờ nổi bật trước đám đông. Có vẻ như Cô có tâm sự buồn bã, u uẩn nào đó đã khiến cho Cô trở nên trầm mặc và chìm khuất trước mọi người. Tuy nhiên. Cô đã làm đầy đủ bổn phận của mình. Mỗi lần đứng trước đám học trò Việt Nam để giảng lại bài học trong lớp hay giải đáp những thắc mắc của mọi người, giọng của Cô hiền hoà, thánh thót như tiếng của một con suối róc rách chẩy. Lũ học trò dù ngổ ngáo cách mấy thì cũng không dám bầy trò phá phách trong giờ giảng bài của Cô. Riêng thằng Khoa thì như được sống lại những giờ phút huy hoàng đầy dẫy những kỷ niệm yêu thương của nhà trường nơi quê nhà. Cô Nguyệt đã hiện ra ở đây, như một hình ảnh nó hằng mơ ước được sống lại trong những đêm nó chìm trong giấc ngủ chập chờn. Cô đã là hiện thân đúng nghĩa của một Cô giáo trong niềm ước mơ của nó. Vì vậy, thật là dễ hiểu khi thằng Khoa đã tìm đến Cô để thổ lộ những điều khiến cho nó băn khoăn, day dứt. Trái với bố mẹ của mình, Khoa đã thấy Cô không đưa ngay ra một lời giải đáp. Cô nắm tay nó và dẫn đi qua dẫy hành lang để tới một khu yên tĩnh, chung quanh có những bồn cây và thảm cỏ xanh rờn. Cô kéo nó ngồi xuống một thềm xi măng, và cất giọng nhỏ nhẹ:
– Khoa ạ! Cái chuyện kỳ thị chỉ là quan điểm của từng cá nhân mà không phải chủ trương của toàn thể nhà trường. Hơn nữa, những cái cá nhân đó rất là thiểu số. Chúng nó thường suy nghĩ là những hạng nhỏ nhoi, yếu kém như mình sẽ không xứng đáng hiện diện ở trong cái xã hội đầy đủ, giầu sang vốn khác biệt hẳn với những xứ sở nghèo khó mà chúng nó hình dung ra ở trong đầu. Như thế, kỳ thị đồng nghĩa với khinh miệt. Khoa có nghĩ rằng mình là hạng người đáng để cho nó khinh miệt không?
Khoa kêu lên:
– Không đời nào!
– Vậy thì hãy chứng tỏ đi! Chứng tỏ rằng mình không phải là loại người để cho nó khinh miệt được. Mà chứng tỏ bằng cách nào, Khoa có biết không?
Khoa suy nghĩ rồi trả lời:
– Con nghĩ rằng cung cách hay nhất là mình học hành khá hơn chúng nó, vượt trội chúng nó về mọi mặt.
Cô Nguyệt vụt tươi mặt lên. Cô nắm lấy tay nó xiết chặt và nhoẻn một nụ cười :
– Khoa giải đáp đúng vấn đề rồi đó. Vậy thì hãy tập trung vào việc học để chứng tỏ không ai có thể khinh miệt mình được.
Lời nói của cô như một tia sáng soi rọi vào tâm hồn u uất của nó.
Trong giờ học, Khoa cố gắng xoá bỏ những giây phút lan man suy nghĩ, hầu hết là những mộng tưởng quay về quá khứ với ngôi trường xinh xắn ở quê nhà. Những ngày trước đây, chuyện gì nó cũng có thể đem ra so sánh cái ngày xưa với cái bây giờ, và lúc nào nó cũng cảm thấy buồn bã vì mọi sự đều đã thay đổi hết. Chẳng hạn cái việc nhỏ nhoi là làm bài, viết bài, ở đây học trò toàn sử dụng bằng cây bút chì. Ở quê nhà hồi trước, chép bài mà dùng cây bút chì thì thể nào cũng bị cô khẻ vào tay và bắt chép lại. Phải dùng mực tím đàng hoàng. Ôi, cái bình mực tím tuy trông nhem nhuốc, sứt mẻ sao mà nó dễ thương thế. Nó nằm êm ả bình an trên bàn học trò ngay trước mặt, nhưng lại luôn luôn gắn bó với cây bút mà thằng Khoa vẫn xài. Cán bút thì bằng gỗ xấu xí, lem luốc. Ngòi bút thì luôn luôn gây trở ngại mỗi lần nó phải chép một bài dài lượt thượt cả một, hai trang giấy. Tuy nhiên Khoa vô cùng quen thuộc với động tác thò cây bút vào miệng bình mực để nghe thấy tiếng động của ngòi bút lúc chạm vô tới tận đáy bình. Những hôm bình cạn mực, Khoa phải nghiêng nó đi, ngoáy mãi vào trong miệng bình để vớt vát lấy một vài giọt có thể bám được vào thân ngòi bút. Có hôm nó lấy nước máy đổ thêm vào bình để đủ mực viết cho một buổi trước khi đem đi châm bình mới. Mầu mực tím loang ra bàn tay, dây lên cả vạt áo hay ống quần. Có thánh mà giặt sạch được những vết mực này, nhưng Khoa chẳng bao giờ quan tâm. Trái lại nó còn hãnh diện nữa là khác, bởi vì chân tay có dính mực là dấu hiệu của kẻ đang được cắp sách đến trường, điều mà có nhiều đứa cùng xóm, cùng ngõ trông thấy rất thèm thuồng. Có bao nhiêu là đứa cũng muốn đi học nhưng hoàn cảnh gia đình đâu có cho phép.
Cho nên Khoa phải khổ sở, vất vả lắm mới làm quen được với cung cách, suốt đời đi học, học trò chỉ sử dụng có cây viết chì. Tập vở cũng là điều trái ý với Khoa. Không có loại vở đóng sẵn, ngoài bìa có in hình cái xe gắn máy, hay xe cần trục như những tập vở nó dùng nơi quê nhà. Ở đây, ai cũng xài những tờ giấy rời có đục lỗ. Việc xé giấy liệng bỏ nguyên một tờ tuy mới chỉ viết có một hai chữ lên trên, là chuyện bình thường.
Quanh nhà trường, chỗ nào cũng có thùng rác, loại thùng rác vừa to, vừa cao, có lót bao rác bằng nhựa để tiện việc đem đổ. Chỉ việc túm lấy nguyên bao đem đi, rồi thay thế bằng một bao mới. Ngày nào bao rác cũng ngập ứ lên những giấy là giấy. Có đủ loại giấy nằm chen chúc nhau bên cạnh những chiếc vỏ chai, lon hộp và những gói đồ ăn dư thừa. Mức độ phí phạm ở đây đã khiến Khoa lắm lúc phải nhăn mặt. Đem so sánh cái cảnh phí phạm này với hoàn cảnh chắt chiu từng khoanh bánh, từng củ khoai, hay những lúc học trò phải ngồi cặm cụi mài lại cái ngòi bút cùn đã hoen gỉ, Khoa thấy lòng xót xa cho bạn bè cho thầy cô ngày trước rất nhiều. Có hôm nó đem điều này kể cho mẹ nghe thì bà đã cau mặt lộ vẻ không bằng lòng:
– Con học không lo học, lại cứ lẩn thẩn về những chuyện không đâu. Sao lại thế ?
Thật là chán chường, riết rồi đến độ Khoa chẳng còn muốn thổ lộ bất cứ điều gì đã xảy ra trong trường học. Sự bận rộn của bố mẹ đã đẩy nó vào vị trí phải phấn đấu cô đơn một mình trước bao nhiêu là điều thay đổi. Lại bị ngăn cấm không được nói ra. Vậy mà bố mẹ Khoa lại hay than thở về sự khác biệt giữa đời sống ở quê nhà với đời sống ở đây. Giá thuê nhà cao, tiền thuê đắt đỏ gấp mấy chục lần nơi quê nhà. Xe cộ di chuyển là một điều không thể thiếu, so với việc có thể cuốc bộ mà vẫn làm được đủ mọi thứ trong đời sống hồi trước. Rồi đủ mọi loại than phiền về sự khác biệt giữa hai nơi. Thì ra người lớn quả là có bất công đối với tâm hồn của những đứa trẻ thơ mới tới. Chúng nó cũng có những lý do để cho mình buồn tủi hay xót xa, mặc dù nguyên do của những mối tình cảm ấy chỉ là chuyện cỏn con xẩy ra dưới mái học đường.
May cho thằng Khoa ở chỗ là nó còn có cô Nguyệt. Cô chẳng có chồng con gì, nhưng sao Cô có thể kiên nhẫn với chúng nó đến thế. Chuyện gì của chúng nó, sau khi giải quyết xong, qua mấy hôm sau Cô vẫn còn nhắc lại và hỏi han thêm để tin chắc rằng vấn đề đã được ổn thỏa. Hình như, Cô đã tìm thấy sự thoải mái, an toàn trong công việc giúp đỡ bọn trẻ. Khi có đứa nào tìm đến Cô để bầy tỏ điều gì, Cô biểu lộ niềm vui trong cả nụ cười lẫn ánh mắt. Cô không mong gì hơn là được chúng nó khẳng định một cách gián tiếp là sự có mặt của Cô ở đây là điều cần thiết. Ðiều đó chứng tỏ là Cô cũng đã gặp quá nhiều khó khăn kể từ ngày khởi sự làm việc ở đây. Bọn học trò người Mỹ, hay Mễ, nhiều đứa đã có thái độ coi Cô chẳng ra cái gì. Chúng nó thường ngổ ngáo ngay trước mặt Cô. Tuy lối đi chật hẹp, gặp Cô đi ngược hướng, không bao giờ chúng nó nhường bước. Lại còn nhìn Cô trừng trừng như muốn nuốt tươi. Ngồi trong lớp thì bất chấp cả thầy lẫn cô, mồm miệng chúng vẫn nhóp nhép nhai kẹo cao su, chán thì ghếch lên ghế trước, còn người thì ngả lên thành ghế. Chúng nó có thể cười rúc rích với nhau ngay trong lúc thầy cô đang giảng bài. Lúc cần ra khỏi lớp giữa giờ học, chúng đứng dậy tự nhiên đi ra, khỏi cần xin phép ai, cứ y như là ở chỗ không người. Xứ sở này tự do, và người ta diễn dịch cái nghĩa tự do là như thế. Và cung cách này, nhiều học trò Việt Nam học lâu ở đây cũng bắt chước rất nhanh. Mấy cô nữ sinh, mặt non choẹt, vậy mà đi học cũng bôi môi son đỏ choét. Dáng dấp thì nghênh ngang, điệu bộ cố làm ra vẻ ta đây đã Mỹ hóa. Dĩ nhiên lũ này thân thiết với bọn học trò người ngoại quốc hơn là đối với những đồng hương. Đó là lý do Khoa chẳng ngạc nhiên khi thấy những đứa học trò Việt Nam tìm đến Cô Nguyệt để tâm sự hay giãi bầy chỉ là một thiểu số so với đám đông trong cả trường học. Nhưng dù ít, dù nhiều, thì chúng cũng vẫn đem lại nhiều an ủi cho tâm hồn dịu dàng, nhậy cảm của Cô. Trong số này, ngoài Khoa ra còn có thêm cả Sửu. Sửu đến với Cô là do Khoa lôi kéo chứ tuyệt nhiên Sửu không cảm thấy có vấn đề gì phải nhờ đến Cô giải đáp hay giúp đỡ ý kiến. Cái mặc cảm nói nghịu của nó làm cho nó luôn luôn nín thinh, dù gặp bất cứ sự gì thua thiệt.
Dĩ nhiên Cô Nguyệt nhận ra sự yếu kém này nên Cô đặc biệt chú ý đến nó. Lòng thương cảm của Cô càng tăng thêm khi một hôm cô bắt gặp nó ngồi ở một góc sân trường với hai cặp mắt đỏ hoe. Một thằng cao lớn tồng ngồng như nó, khóc trong sân trường là một sự kiện bất thường. Cô Nguyệt đã rút khăn tay lau nước mắt cho nó và kéo nó trở lại khu vực bên trong trường học. Tuyệt nhiên cô không hỏi han một lời nào, nhưng nhìn ánh mắt của cô, Sửu cảm thấy ngay một nguồn an ủi mà trước đây chưa một lần có ai ban phát cho nó. Trong giờ ra chơi kế tiếp, cô đi tìm Khoa và được Khoa giải thích:
– Bố mẹ của Sửu đã đem nhau ra tòa ly dị. Bà ta qua đến đây vẫn không chừa cái tật đánh bạc.
Có đủ mọi loại cờ bạc người ta có thể tham gia tại vùng đông đảo người Việt cư ngụ này. Dĩ nhiên là bất hợp pháp, vì luật lệ ở đây cấm đoán mọi trò chơi giải trí có tính cách ăn thua bằng tiền bạc. Nhưng chỉ cần biết mối dẫn dắt là người ta có thể lui tới những sòng bài nằm riêng lẻ trong khu dân cư, xì phé có, tứ sắc có, tổ tôm, tài bàn có, thậm chí có cả sòng xóc đĩa mà tiền bạc ném xuống chiếu như mưa vào những ngày cuối tuần. Mẹ thằng Sửu bị cuốn hút ngay vào những cuộc chơi mà bà ta tưởng qua đến Mỹ rồi thì không bao giờ còn gặp lại nữa. Người cha đau khổ của nó không thể nào chịu đựng hơn, nên đành phải chọn giải pháp chia tay. Tấm huy chương nào cũng có bề mặt trái của nó. Ở đằng sau cái dáng vẻ phồn vinh, sung túc và phát triển một cách rất mau chóng với một tốc độ chóng mặt của khu Bolsa Tiểu Sài Gòn này, đã có biết bao nhiêu là thảm kịch gia đình. Chưa ai có đủ khả năng làm một cuộc thống kê về tỷ lệ gia đình Việt Nam tan vỡ ở đây, nhưng chắc phải là con số không nhỏ. Thảm kịch gia đình kéo theo một loạt những tệ đoan khác trong bầy con cái tự nhiên bỗng bị xẩy nghé, tan đàn. Xì ke, ma túy, băng đảng và bỏ nhà đi hoang. Đây có lẽ là một cái giá phải trả của một cộng đồng còn quá non trẻ, phải đối phó với biết bao nhiêu vấn đề xã hội phức tạp khi bị bứng từ một vùng đất này để hồi sinh trên một vùng đất khác. Cho nên người ta chỉ săm soi vào những trường hợp thành công, tiến bộ để làm liều thuốc an ủi trước những mất mát, thua thiệt. Mà những trường hợp này kể ra cũng không thiếu, nhất là sự thành công của đám trẻ may mắn có được một căn bản gia đình vững chắc. Trẻ em Việt Nam học hành thông minh, luôn luôn đạt thành tích xuất sắc trong bất cứ lãnh vực học vấn nào. Chúng nó đang đi vào công cuộc xây dựng một thế hệ di dân thứ hai với những bước vững chãi. Thôi thì đó cũng là niềm an ủi cho những ông già, bà cả Việt Nam nơi xứ người.
Không lâu sau ngày đó, Cô Nguyệt, Sửu và Khoa đã trở thành bộ ba vô cùng quấn quít với nhau. Ngoài việc tận tình giúp Khoa dần dà vượt qua những trở ngại khi phải thích ứng với bài vở và sinh hoạt nơi trường học, Cô còn bàn với nó những phương cách làm cho thằng Sửu nói năng bớt ngọng nghịu. Cô nhẫn nại mỗi ngày soạn ra những câu nói thật ngắn, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt rồi bắt thằng Sửu chép đi chép lại. Vừa chép vừa nhẩm một mình. Ðến lúc gặp mặt hai người thì cô bắt nó nói to, nói dõng dạc.
Cô cũng hay tổ chức những cuộc đi chơi cuối tuần cho ba người, với sự đồng ý của bố mẹ Khoa và ba của Sửu. Cô đưa chúng nó vào những công viên rộng mênh mang, đầy cây to bóng mát, có cả những cái hồ phẳng lặng ở trên có những đàn vịt hoang nô rỡn, bơi lội rất bình an. Ba người thường chọn lựa một nơi yên tĩnh nhất để trải khăn lên ngồi. Cô hay kể nhiều về thời kỳ cô đi dạy học ở quê nhà. Thế giới học đường là cả một khung trời kỷ niệm đẹp đẽ mà Khoa cũng có dịp được ôn lại. Rồi cô đặt nhiều câu hỏi cho thằng Sửu trả lời. Bây giờ nó nói năng dễ dàng hơn trước rất nhiều. Mặc cảm trong lòng nó bớt đi, niềm tự tin lại được cô Nguyệt vun xới thêm. Chỉ cần nhìn vào ánh mắt rạng rỡ, sáng ngời mỗi lúc nó cất tiếng, cũng đủ biết nó đang trên đà thay đổi một cách sâu xa. Rồi cô Nguyệt yêu cầu nó đem chiếc khẩu cầm ra thổi. Tiếng kèn của nó vừa tha thiết, vừa sôi nổi. Cô bảo nó trình diễn rất có hồn, và Cô bầy tỏ dự kiến sẽ thu xếp để nó có thể góp phần vào chương trình văn nghệ nhà trường trong dịp cuối năm.
Mùa hè năm ấy là một mùa hè chia tay đầy nước mắt. Cô Nguyệt không còn được lưu giữ làm chân trợ giáo nữa vì ngân sách nhà trường bị cắt cắt giảm. Cô nói có thể Cô sẽ đi xa, mặc dầu trong suốt cả năm học Khoa không hề thấy Cô có một người bạn hay họ hàng thân thích nào.
Ngày mãn khóa học, nhà trường tổ chức một đêm họp mặt có sự tham dự của toàn thể phụ huynh. Bố mẹ của Khoa vẫn không tới vì càng ngày ông bà càng bù đầu vào công việc. Nhưng Ba của Sửu thì đưa nó đến rất sớm. Ông mang theo một bó hoa hồng tuyệt đẹp có bao giấy bóng kính và cột bằng một giải lụa dài. Ông trao tận tay Cô Nguyệt và nói bằng một giọng xúc động:
– Tôi không biết bầy tỏ thế nào về lòng nhớ ơn của tôi đối với sự tận tình chăm sóc của Cô dành cho cháu.
Cô Nguyệt cũng cảm động không kém. Cô đỡ lấy bó hoa hồng, cùng lúc kéo tay thằng Sửu lại sát gần mình. Cô nhìn Sửu với tất cả niềm hãnh diện chan hòa trong đôi mắt cũng nhòe những giọt lệ của Cô.
Sửu hôm nay trông rất bảnh. Nó bận quần tây, áo sơ mi trắng lại còn thắt cả một cái cà vạt người lớn. Trông rõ ra là một thanh niên chứ không còn là một anh học trò ngù ngờ như lúc trước. Điều quan trọng hơn nữa là bữa nay, Sửu có mười phút để tham gia phần trình diễn khẩu cầm của mình. Đó là công trình sắp xếp của Cô Nguyệt với ban giám đốc nhà trường. Trong mười phút ngắn ngủi ấy, Sửu có một phút để bầy tỏ lòng cám ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong trường. Mà lại nói bằng tiếng Anh nữa chứ! Ðây là một chuyện vĩ đại, không một thầy cô giáo nào có thể tưởng tượng được nổi. Có ai mà quên được hình ảnh một tên học trò lúc nào cũng ngồi ru rú ở một cái bàn cuối lớp, vẻ mặt thì ngơ ngác, buồn thiu không một chút gì gọi là hoạt bát sinh động.
Vậy mà hôm nay, dưới ánh sáng chói lòa của hàng trăm ngọn đèn chiếu sáng rực rỡ trên sân khấu, Sửu đã tỏ ra chững chạc và tự tin vô cùng. Giọng nói của nó mạnh mẽ và rõ ràng. Cái âm thanh nồng ấm của nó như được nhân lên bởi dàn máy khuếch âm cực kỳ hiện đại. Rồi tiếng kèn của nó cất lên chan hòa trong cả hội trường. Rộn ràng. Sôi nổi. Thiết tha. Nó đã lôi cuốn trọn vẹn sự theo dõi chăm chú của hàng mấy trăm con người ngồi kín mít trên tất cả mọi hàng ghế. Ðến khi bản nhạc chấm dứt, những tràng pháo tay vang lên như muốn nổ tung hội trường. Ngồi ở một ghế phía dưới, cô Nguyệt cứ để cho những giọt nước mắt trào ra, chan hòa hai bên má.
Sau buổi trình diễn, bố của Sửu ngỏ ý mời tất cả đi ăn cơm tối, nhưng cô Nguyệt từ chối. Ðối với Sửu, cô tự cho mình là đã hoàn tất nhiệm vụ. Cô không muốn bịn rịn tạo thêm kỷ niệm để khiến cho mọi người phải quyến luyến. Ngoài ra, cô cũng còn cả một tương lai đầy bất trắc trước mặt phải đối phó. Những ngày êm ả ở ngôi trường này qua đi như một giấc mơ. Hãy chỉ nên coi đó như một giấc mơ vì không có gì bền vững ở cái xứ sở luôn luôn sinh động và thường trực đổi thay này.
Lúc ra khu vực đậu xe, Cô ôm cả hai đứa trong vòng tay và thì thào:
– Chúc hai em may mắn. Nếu còn nhớ tới Cô thì hãy luôn luôn cố gắng học hành.
Thằng Khoa bật lên như mếu :
– Còn Cô, Cô sẽ đi đâu?
Cô Nguyệt chi xiết chặt thêm vòng tay của mình mà không trả lời, bởi vì chính Cô, Cô cũng chưa biết ngày mai mình sẽ đi đâu, về đâu. Một lát sau, Cô lủi thủi tiến lại phía đậu xe của mình. Hai bố con của Sửu và Khoa đứng ở bên lề đường chờ Cô lái xe đi qua. Cô thò đầu qua hẳn kính cửa, vừa cười vừa giơ tay vẫy. Nụ cười đầy vẻ gượng gạo vì Cô đang muốn nén cho mình khỏi phải bật lên khóc.
Đó là hình ảnh cuối cùng của Cô mà Khoa ghi nhận được. Nó có cảm giác như Cô là một nàng tiên, vừa chắp cánh baỵ đi sau khi đã đến với nó với tràn đầy niềm yêu thương trong một thời gian ngắn ngủi. Có lẽ thằng Sửu cũng cùng chia sẻ với nó cái cảm giác ấy. Mặt Sửu lúc này như một kẻ mất hồn. Nhưng không phải là một thứ vô hồn ngu ngơ như ngày nào đó còn ngồi thu nhỏ mình lại sau chiếc bàn kê ở cuối lớp. Bây giờ nó có vẻ cứng cỏi hơn trước rất nhiều. Trong ánh mắt như nhìn vào khoảng không vô định trước mặt, Khoa nhận thấy như nó đang đắm chìm vào một thế giới khác. Nào ai biết được nó đang suy nghĩ những gì ở phía sau nỗi niềm u uẩn đó.
Ba của Sửu thả Khoa xuống trước cửa nhà. Căn nhà nằm im trong bóng tối. Tất cả các căn phòng đều chưa được lên đèn. Ðiều đó có nghĩa là bố mẹ Khoa cũng chưa về. Có lẽ ông bà ấy đi dự tiệc tùng hay đang hiện diện ở một buổi dạ vũ nào đó. Những thời gian sau này, vắng mặt vào đêm cuối tuần đã trở thành thói quen của cả hai người. Ðiều này không còn là mối bận tâm của Khoa nữa. Nó cảm thấy rất dửng dưng mỗi lần thấy bố mẹ ăn diện thật đẹp đẽ đi ngang qua phòng khách để ra xe. Bao giờ mẹ của nó cũng nói một câu:
– Khoa ở nhà ngoan nhé.
Khoa không buồn quay lại để chào hai người. Cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình đã trở nên trầm trọng, mà duy chỉ có một mình nó cảm nhận được.
Bây giờ nó lủi thủi ngồi một mình ở bực thềm trước cửa. Tuy có chìa khóa, nhưng Khoa không muốn bước vô nhà. Nó cảm thấy chán chường khi nghĩ đến những căn phòng trống trải nằm im bất động dưới ánh đèn sáng. Thà là ngồi ở đây, dưới bóng tối của tàn cây hoa giấy che kín cả khoảng sân trước mặt. Bóng tối như đùm bọc lấy nó, che chở nó, gây cho nó một cảm giác yên ổn, riêng tư. Nó nhắm mắt lại và thấy mình tiếc nuối những ngày ở quê nhà một cách xót xa. Trường học. Thầy cô. Bạn bè. Và vòng tay yêu thương của bố mẹ. Bây giờ tất cả những thứ ấy đã bay xa. Bay đi rất xa…

Nhật Tiến
California, 13-3-1994

Một Chuyến Đi, Đỗ Phương Khanh


do-phuong-khanh-thieu-nhihinhbiatruoc2

(Chân dung và tác phẩm của Nữ Sĩ Đỗ Phương Khanh)

Đỗ Phương Khanh

Chiếc xe Jeep chồm lên rồi ngừng lại. Ân nhẩy xuống, tay xách va li của Hạnh:

– Tới rồi chị ạ. Đợi tôi một chút tôi trình giấy nhé.

Rồi Ân buông cái va li, đi vùn vụt. Hạnh leo xuống đất. Trời mới hơi hừng sáng. Sương phủ mờ mờ. Xa xa, từng dãy phi cơ nằm im lìm. Cách chỗ nàng đứng chừng hai chục thước là hai chiếc máy bay lớn mầu trắng bạc, thấp thoáng bóng người qua lại. Văng vẳng bên tai Hạnh có tiếng ồn ào, tiếng gọi nhau ơi ới. Một bà mẹ dắt đứa con đứng bên cạnh cửa máy bay cứ vẫy mãi ông chồng đứng dưới đất. Cạnh đó là một cặp vợ chồng coi bộ như mới cưới. Cô vợ trẻ đưa khăn lên lau nước mắt hoài. Còn anh chồng thì cứ nắm lấy bàn tay vợ mà vuốt. Chắc là anh chàng dỗ dành. Bất giác, Hạnh thở dài. Nàng tưởng tượng ra cái anh chàng ấy trong tương lai, sẽ sống trong một căn nhà chật hẹp, với một bầy con nghịch ngợm bẩn thỉu, anh chàng sẽ cau có, hết cả sự dịu dàng âu yếm như lúc này. Hạnh thấy chán nản cùng cực. Nàng chỉ muốn chóng được lên máy bay, chóng ra tới Huế.

Nàng tưởng tượng tới lúc nằm vào giường chị Dung, trong lòng chị mà nói, mà than thở cho vơi nỗi buồn bực. Nàng sẽ ở lại chơi với chị mãi cho tới bao giờ Khánh đi tìm nàng. Nếu Khánh không tìm, nàng sẽ đi luôn. Nàng chán quá rồi. Chán đời sống buồn tẻ, ngày nào cũng như ngày nào. Chán bộ mặt khó đăm đăm của Khánh. Chán sự cau có gắt gỏng. Nàng muốn đạp đổ tất cả. Tình yêu là như thế sao. Là sự nhàm chán, bình thản đến thế hay sao. Hạnh muốn đi thật mau, thật mau, để được nằm vào lòng chị cho vơi niềm u uất.

6887555230_3c1dd70e30_z

Nàng đã cầy cục cả ngày hôm qua để mua vé máy bay mà không được. Chiến tranh làm đường bộ trở nên gần như vô dụng. Sự di chuyển trông cả vào đường hàng không. Mua vé phải chen chúc như đi lĩnh chẩn. Hạnh đã tìm bao nhiêu người quen nhờ mua hộ mà đành chịu. Sau cùng may gặp Ân, chồng một người bạn cũ, làm phi công. Ân sốt sắng đề nghị sẽ xin cho Hạnh đi bằng máy bay quân sự.

Với Hạnh bây giờ thì tất cả phương tiện nào đưa nàng tới Huế đều tốt. Nàng thèm được nép vào lòng chị, nàng cần được bàn tay xinh xắn gầy gò có nốt ruồi nơi ngón cái của chị vuốt vào mái tóc. Nàng nhắm nghiền mắt lại cho hai hàng nước mắt lăn xuống. Sương lạnh thấm vào người Hạnh. Nàng rùng mình. Có tiếng Ân bên cạnh làm Hạnh mở choàng mắt. Ân chỉ vào cái máy bay gần nhất có người lên xuống tấp nập và nói:

– Tôi vừa cố dàn xếp cho chị đi cái này mà không thể được. Máy bay chở nặng rồi. Thôi chị đành đi chuyến sau vậy.

Hạnh hỏi :

– Chuyến sau thì bao giờ khởi hành hở anh ?

Ân chỉ tay qua phía bên kia trả lời ngập ngừng:

– Khởi hành thì cũng ngay bây giờ đây. Nhưng chỉ hiềm vì …

Vừa nói, Ân vừa xách va li lên. Hạnh bỡ ngỡ bước theo. Bỗng nhiên, nàng đứng sững lại. Trước mặt nàng là ba chiếc quan tài phủ cờ chung quanh có mấy người lính ôm súng ngồi la liệt. Ân dừng lại nhìn vào mắt nàng :

– Đó, tôi cũng hơi ngại chị sợ. Vậy nếu chị không muốn thì để tôi xin lại giấy phép cho chị đi ngày mai.

Thoáng nghĩ lại nỗi bực bội âm ỷ từ mấy tháng nay, nhớ lại nét mặt buồn tẻ của Khánh, Hạnh vội vã:

– Thôi, anh cho tôi đi ngay chuyến này.

Vừa lúc đó, một xe nhà binh chở tới mấy đứa trẻ con và bốn người đàn bà. Tất cả đều chít khăn tang trắng và có người mặc áo trắng nữa. Xe vừa ngừng thì một người đàn bà đã lao xuống đâm bổ vào chiếc quan tài nằm giữa gào lên :

– Anh ơi ! Anh nằm đây cả đêm có lạnh không? Nói đi anh, trả lời em đi. Nói với em một lời đi…

Tiếng khóc khàn khàn như đặc lại ai oán. Hạnh sững sờ cả người. Mấy đứa trẻ trên xe đã tụt cả xuống đất, đứng sau lưng bà ta. Bây giờ thì bà ta ôm lấy quan tài mà khóc. Mấy đứa bé cũng bật lên khóc.

Mé bên kia một người đàn bà ngồi ôm mặt bên chiếc quan tài ngoài cùng. Đầu bà ta gục xuống. Mái tóc loà xòa phủ lên lá cờ ngay cạnh chỗ tấm ảnh một người đàn ông mặc quân phục. Lẫn trong tiếng khóc, Hạnh nghe có tiếng “con ơi”. Tiếng khóc nghe não nuột như từ chốn xa xăm nào vọng về. Hạnh chợt nghĩ đến con mình, bé Nga. Con bé Nga với đôi má xệ, với cái bụng phệ, với bàn chân thô. Không biết lúc này nó đã dậy chưa. Chị vú có có pha sữa cho nó không? Nó có đái dầm ra quần không? Hạnh muốn quay về với nó. Nhưng nghĩ đến chồng, nàng lại bực. Thật ra thì nàng cũng không có cớ gì lớn lao để giận chồng. Chỉ là sự bực bội chán nản mà thôi. Nàng thèm được thay đổi không khí. Thèm được thấy lại mình xưa kia. Nàng nôn nóng nhìn về phía chiếc máy bay.

Những anh lính hồi nãy ngồi la liệt dưới đất đã đứng thành hai hàng dọc nối liền với cửa máy bay. Tất cả đều bồng súng chỉnh tề. Một tiếng hô vang, Hạnh thấy sáu người lính khác cúi xuống từ từ nâng chiếc áo quan ngoài cùng lên vai. Bây giờ Hạnh mới trông thấy người ngồi khóc là một bà cụ già, mái tóc đã bạc. Bà cụ ôm chặt bát hương trong tay, ôm trong đôi cánh tay mà ngày xưa đã dùng để ôm người con khi còn nhỏ. Hạnh nhắm mắt lại. Hình ảnh con bé Nga lại chập chờn ẩn hiện. Hạnh như còn thấy nó nhe răng cười, tay nó vẫy vẫy nàng mỗi khi nàng đi đâu về. Có tiếng người đàn bà thét :

– Ới anh ơi ! Nay anh về quê cha đất tổ. Ngày anh đi, anh hẹn nghỉ phép sẽ về sửa lại cái mái nhà dột, anh nói dối em, anh bỏ em lại, anh đi một mình…

Chiếc áo quan thứ nhì đang từ từ tiến vào lòng máy bay. Dưới sân chỉ còn lại một chiếc và người đàn bà gục đầu suốt từ lúc nãy vẫn như ngồi bất động.

Ánh nắng ban mai chiếu le lói vào thân máy bay. Hạnh nghĩ đến Khánh lúc này chắc đang sửa soạn đi làm. Hình ảnh Khánh hiện lên với nét mặt buồn buồn lúc nàng ra xe hẹn một tháng mới trở về. Khánh nghĩ gì? Hạnh không muốn tưởng tượng lan man thêm nữa.

Trên sân đã vắng. Ân xách chiếc va li dùm Hạnh tiến về phía máy bay. Rồi chàng đỡ Hạnh bước vào. Nàng đưa mắt nhìn. Ngay dưới về phía đuôi, mấy người lính ngồi ngổn ngang, súng dựa vào mấy chiếc ba lô. Có người đang tháo giầy bốt, có người đang moi móc tìm thuốc lá. Trên hai hàng ghế sát thành máy bay từ mé giữa trở xuống, người ngồi chật ních. Nhưng từ giữa máy bay trở về phía đầu chỉ có thưa thớt mấy người mặc đồ tang mà thôi. Giữa hai hàng ghế là ba chiếc quan tài nằm nối đuôi nhau. Rồi tới cái rương bằng thiếc mầu xanh để sát chiếc áo quan thứ ba, trên mặt cũng cắm mấy nén hương.

Hạnh đứng ngập ngừng. Chợt nàng có cảm tưởng như có người nhìn mình. Hạnh ngẩng lên vừa gặp ánh mắt người đàn bà xõa tóc hồi nãy. Ánh mắt thản nhiên lạnh lùng. Bụng bà ta lớn vượt mặt. Nàng cúi xuống xách va-li tiến lại phía bà ta. Cửa phi cơ đóng lại. Máy nổ ầm ỳ. Người đàn bà có bầu sửa lại cái bát hương trên mặt áo quan cho ngay ngắn. Đầu kia, sát phòng máy, bà cụ già giở tràng hạt lẩm bẩm tụng kinh.

Máy bay bò đi từ từ rồi dừng lại, rồi rú lên, phóng nhanh. Thảm cỏ xanh lao vun vút giật lùi. Ruột gan Hạnh nhẹ bỗng. Trước mặt Hạnh, ba đứa trẻ ôm chầm lấy mẹ. Đứa giữa là con gái cỡ năm tuổi, tai đeo đôi khuyên vàng, tóc nó uốn quăn tít giống mẹ. Mẹ nó mặc chiếc áo dài trắng. Tay bà ta đánh móng đỏ nhưng đã tróc loang lổ verni với những ngón thô kệch nổi gân. Trên miệng chiếc giỏ bên cạnh bà, Hạnh còn thấy một chiếc guốc cao gót mầu xanh lá cây.

Phi cơ đang bay lướt trong từng đợt mây. Hơi lạnh tỏa ra làm Hạnh rùng mình. Nàng mở va-li lấy chiếc khăn quàng. Thoang thoảng đâu đây có mùi ung ủng. Ngồi cạnh Hạnh về mé ngoài là một bà trạc bốn mươi. Người bà mập mạp và đẹp. Bà móc túi lấy lọ dầu ra bôi rồi trao cho Hạnh:

– Cô xoa đi. Quái, nghe như có mùi sầu riêng ấy. Cái giống này cứ lúc nào máy bay lên cao là tỏa mùi ra, úi dà, tệ lắm. Tôi đã bị một lần rồi. Của cô đấy hả?

Hạnh lắc đầu. Nàng cảm thấy choáng váng. Bà kia vội dí lọ dầu vào mũi Hạnh. Mắt Hạnh hoa lên. Trước mặt Hạnh, cái áo hoa của bà nhảy múa nhòe nhoẹt. Đôi môi mọng đỏ của bà như cười. Hơi dầu làm Hạnh tỉnh dần. Nàng cảm ơn bà bạn tốt bụng. Bà ta chuyển chai dầu cho Hạnh bảo đưa cho bà có bầu. Chiếc máy bay lắc mạnh. Chiếc bát hương trên quan tài giữa chao đi. Bà có ba đứa con chụp lấy ôm vào lòng rồi oà lên khóc:

– Ối anh ơi! Anh bảo anh nghỉ phép anh về với em. Anh bảo chúng mình sẽ về quê ngoại. Anh bảo em uốn tóc. Anh bảo em may áo giống bà thiếu úy San. Nay anh đi đâu bỏ em bơ vơ thế này.

Mọi người nhìn về phía bà. Tiếng bà gào át cả tiếng máy bay:

– Anh ơi ! Anh mua guốc cho em làm gì. Em có thích uốn tóc hồi nào đâu. Bây giờ anh ở đâu…

Mấy anh lính choàng dậy càu nhàu vu vơ. Mé đầu máy bay bà cụ già tụng kinh lớn hơn. Hạnh nghe loáng thoáng… “vạn kiếp nan tao ngộ… “. Khuôn mặt bà cụ nhăn nheo. Nước mắt bà cụ lăn chậm chạp trên hai gò má đen sạm. Bà cụ tụng kinh không ngừng. Ba đứa bé thì ngơ ngác nhìn tất cả mọi nơi, từ trần xuống sàn máy bay. Thỉnh thoảng thằng lớn nhất lại nhìn ra cửa. Hạnh đoán có lẽ chúng đi máy bay lần đầu. Con bé giữa mặc áo đầm nylon. Bà mẹ cúi xuống lục ở cái giỏ lấy ra hai quả xoài đặt lên lá cờ phủ áo quan rồi lại kể lể:

– Hôm anh đi em đã bảo anh ăn xoài. Anh kêu đau bụng không ăn để nhường cho con. Bây giờ anh ăn đi anh ơi! Anh thích ăn xoài mà.

Bỗng nhiên, bà có bầu ngồi canh Hạnh gục xuống. Hạnh vội đỡ bà ta lên. Mặt bà ta xanh xám. Bà mặc áo hoa ngồi bên trái Hạnh vội dốc lọ dầu vào đầu bà có bầu rồi phân trần:

– Đấy cái hơi độc thế đấy. Phải đổ dầu vào kẻo nguy.

Lúc này thì hầu như cả mọi người đều biết là không phải hơi sầu riêng. Nhưng không ai xác nhận rõ là mùi gì cả. Máy bay lượn làm chiếc áo quan ngoài cùng hơi nghiêng về phía Hạnh. Nàng hoảng hốt rút chân lên, e dè nhìn vào những vết loang lổ trên lá cờ.

Mé sau, cái rương xanh xô vào phía mấy người lính. Một anh đẩy cái rương lại chỗ cũ rồi chép miệng:

– Cái ông này thì còn được vài ký thịt, quá lắm là thêm bàn tay thôi chứ gì mà cũng chạy tới chạy lui.

Người bên cạnh cãi :

– Bậy nào, đâu đến nỗi.

Người thứ nhất trợn mắt:

– Cậu thì biết cái cóc gì. Hồi nãy, chính tớ rinh lên mà. Nhẹ hểu à.

Hạnh vỗ vỗ lưng bà bụng bầu. Bà ta đã tỉnh tỉnh. Đầu bà ngả vào vai Hạnh. Hạnh gục đầu vào cửa sổ nhìn xuống. Dưới kia là dòng sông uốn khúc, nhỏ như trong mô hình triển lãm với những thửa ruộng như ô bàn cờ. Những mái nhà nhỏ bé làm Hạnh liên tưởng đến những mái nhà, mái chùa mà dạo bé Hạnh vẫn loay hoay ngắm nghía ở trong bể non bộ của ông ngoại. Tất cả lướt qua phía dưới, thanh bình và êm đềm quá. Nhưng những mái nhà hiền lành kia liệu có bao bọc những cuộc đời êm đềm hạnh phúc, hay cũng đầy dẫy những trái tim tan nát như những gia đình này. Bất giác Hạnh gợn lên niềm nhớ thương chồng con. Nàng cũng có một mái nhà mà sao nàng lại bỏ đi. Đời sống bình thản và hiền lành. Nó không có gì ầm ỹ đặc sắc. Nhưng khi sự ầm ỹ đặc sắc xẩy đến, như sự chết, sự chia ly, thì trái tim đã tan nát rồi.

Máy bay đi trong đám mây. Hạnh nhìn thấy như từng quả núi nhỏ bằng mây trắng vây phủ quanh nàng. Nàng nhớ lại thuở bé cứ ước ao sau làm nữ hiệp để đằng vân đi cứu nhân độ thế. Nàng ngậm ngùi nghĩ đến chồng. Nàng lại tự trách mình sao hay đòi hỏi. Giá nàng biết tự quên mình thì có lẽ Khánh sung sướng hơn nhiều. Nàng chợt nhớ lại vẻ ngượng nghịu của Khánh lúc nàng bóng gió so sánh cảnh nghèo nàn của nàng với sự giầu sang của các bạn. Nàng thấy mình quá tàn nhẫn….

Vai Hạnh nhẹ bỗng hẳn đi. Bà có bầu đã ngồi dậy. Hạnh liếc bà ta. Mắt bà cứ nhìn đăm đăm về phía đầu quan tài. Có tiếng bà lẩm bẩm rất bình thản:

– Tôi đi tìm nhà tôi từ ngoài mặt trận. Tôi đi tìm khắp các nhà thương, nhà xác. Tôi lật từng cái xác để tìm nhà tôi đã mười hai ngày. Lật từng cái xác…

Mắt bà như bất động. Mặt bà cũng bất động, chỉ có miệng bà mấp máy :

– Từng cái xác, từng cái xác đã thối, đã xình…

Hạnh bỗng rợn cả người. Nàng kinh hoàng nhìn bà ta. Bà ta gầy gò xanh xao là thế, bụng chửa vượt mặt, lại yếu đuối như thế, sao bà có thể làm được công việc cực nhọc nhường ấy. Đôi mắt bà nhìn vào phía quan tài không chớp, vẻ quê mùa của bà làm cho Hạnh khó tìm thấy cái sức mạnh nào đã đẩy bà đi mười hai ngày trời để mà lật từng cái xác tìm chồng.

Phi cơ chao đi. Một quả xoài rơi xuống sàn, thằng bé út chộp lấy. Bên này, bà có bầu vội đỡ lấy bát hương vào lòng thì thầm:

– Anh ơi! Em còn làm gì cho anh, còn làm gì cho anh được nữa, anh ơi!

Hạnh xiết chặt tay bà. Bà mới đáng thương chứ không phải người nằm trong kia. Nằm đấy là yên nghỉ rồi. Vậy mà bà không nghĩ tới mình, chỉ nghĩ tới sự gì còn có thể làm được cho chồng. Chao ôi! Lòng người đàn bà này sao mà rộng rãi và đầy tình thương yêu đến thế.

Bỗng bà ngồi thẳng dậy đăm đăm nhìn áo quan. Hạnh tưởng như xuyên qua lớp gỗ, đôi mắt người chồng đang mở ra tha thiết nhìn vợ. Đôi mắt đầy yêu thương trìu mến. Đôi mắt của Khánh vẫn nhìn nàng. Hạnh phúc ở bên cạnh nàng như đôi tay đối với người lành mạnh. Đối với người lành mạnh, sự hiện hữu của đôi tay không có nghĩa gì cả. Nhưng nếu có một tai nạn xẩy đến thì sự mất mát đôi tay mới thật sự là một tai họa hãi hùng và đã quá trễ rồi.

Hạnh nhìn suốt một lượt từ bà cụ già tới bốn mẹ con, những người lính, lá cờ, tất cả đều mơ hồ nhòe nhọet một mầu mờ nhạt, hai hàng nườc mắt lăn dài. Nàng quay về phía cửa sổ máy bay nhìn xuống, dưới kia là Ngũ Hành Sơn xa lạ. Hạnh muốn chiếc máy bay quay trở lại. Nàng thấy tiếc những thời giờ phí phạm đang trôi. Nàng muốn chắt chiu níu giữ thời khắc của tình yêu như người biển lận xót những đồng tiền phung phí.

Nàng thiết tha muốn trở về để được xà ngay vào lòng Khánh. Và Khánh sẽ hôn lên tóc nàng. Rồi nàng sẽ ôm con đi tắm. Con bé Nga bé bỏng của nàng, với hai cái má xệ xệ, cái bụng phệ phệ và bàn chân mũm mĩm thô kệch.

Mơ hồ, Hạnh thoáng thấy chị Dung mỉm cười trìu mến.

Đỗ Phương Khanh

(Trong tập truyện ngắn Hương Thu)

Mưa Trong Vườn Nhà Cô Françoise, Truyện ngắn Nguyễn Nghiệp Nhượng


cc30a06a7dc43c54819459680239eb27-460f8

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Vòm kính nháng những tia chớp tím hay hơi nước bay tỏa đã nhuốm mặt nàng trong thứ ánh sáng thật dịu, từ mầu tím chuyển qua những mầu khác hoặc xanh trắng, pha hồng, liên tiếp nháng lên trong bầu trời đen mà chính những tia chớp đó đã làm cho rộng rinh. Hai dẫy cây ương có lá cong; chốc chốc, một cơn rung chuyển nào đó từ ngoài đưa tới, như thể từ phương xa, trong một chuỗi tinh hệ khác, xảy ra từ triệu năm trước mà lúc này ảnh tượng mới chuyển tới. Tôi đi rất nhẹ nhàng chung quanh vòng kính, ngang những cọng lá, những chậu sứ tráng men xanh, qua đầu nàng. Nhưng nàng không hề biết. Đó là một cái đầu nhỏ, tóc dài xuống lưng không buộc lại và có vẻ như ướt nước. Mùi thơm từ mái tóc đó tỏa ra khắp gian nhà lớn. Nàng bất động.

Nhưng chính như thể sự bất động đó của nàng trong gian nhà đầy ánh sáng thay đổi và những cơn rung chuyển xa vắng không tiếng động làm nàng có vẻ như đang trầm tư. Hơn nữa, lúc này, nàng đang với tay tới một cọng lá cong, một cánh tay để trần, trắng và dài. Điều này không chắn chắn mấy.

Nàng nói: “Con ngủ rồi .”

Từ cánh tay trần của nàng, ánh sáng chớp liên tiếp chói lòa như thể cánh tay đó có bôi mỡ và khi nàng thả cọng lá ra, nó bật lên, một vài giọt nước rơi xuống. Nàng cũng dùng cánh tay để trần này xoa nắn hai bả vai, xoa bụng và mạn sườn. Rồi đó, nàng cởi áo khoác thả xuống nền đất. Cái áo mỏng, dài như kiểu áo choàng ngủ, có những lỗ tròn cháy, bằng đồng xu nhỏ. Lớp da bụng của nàng hiện ra căng tròn về phía trước. Nàng thõng tay che một cách chậm chạp phần cuối cơ thể, bắp tay gần như ngáng trên bụng. Nàng mỉm cười và lại bất động.

Chính lúc đó, một người đàn ông hiện ra. Anh mở cánh cửa nào để vào tôi cũng không biết. Chỗ anh đứng, đằng sau là những ô kính vuông liền khít nhau đóng bằng nẹp gỗ. Nhưng một tay anh ngoái lại phía sau như động tác để khóa chốt; rồi đó, anh buông thõng tay xuống.

Tôi nói với nàng: “Có ai vào.”

Nàng nói, lơ đãng: “Ai đó.”

Nhưng hình như nàng mỉm cười mà không nói gì thì đúng hơn. Lúc này, nàng như cục sắt bị nam châm hút cứng xuống đất, không nhúc nhích, không thở, và nụ cười của nàng yên giữ như thế. Mắt nàng nhìn xuống, cũng bất động, ngay cả khi tôi ngó vào. Núm vú nàng đỏ hồng, quầng sưng mộng và nổi ốc.

Người đàn ông đã đứng bên cạnh nàng từ lúc nào. Anh đứng thẳng, mắt hướng về phía trước với một cái nhìn thật xa xăm như thể không thấy nàng.

Anh có những nét duỗi thẳng trên khuôn mặt, khiến cái đầu dài khác thường. Anh đeo một cái mũ rộng vành tô xanh đỏ gì đó bằng một cái quai nơi cổ, hai bên tai thừa ra hai đường cong của vành mũ. Anh thõng tay đứng yên, chỉ có đôi môi bập bập cái tẩu thuốc dài. Anh cao hơn người đàn bà nhiều.

Anh nói: “Mũ cói của Hector gởi tặng. Em thấy có đẹp không ?”

Anh bập bập mấy hơi thuốc, đưa một tay lên giữ ống điếu.

“Cả ống điếu. Bây giờ anh ta đang ở nhà hay đi chơi với bạn bè. Hector Louis Végas, mau thật. Hồi nãy trong khi đi xuống đây, mưa lớn quá anh tới ngồi dưới cái vòm chậu, tự nhiên có cảm tưởng như…như…”

Bây giờ, một tay nàng đặt lên vai anh, mái tóc dài che ra trước ngực. Một chuỗi cười thật dòn dã như ở trên nóc vòm kính đưa xuống rồi đột ngột ngưng hẳn. Nàng trở lại bất động nét mặt có một chút ủ rũ nào đó. Giọng người đàn ông mà lúc này đã đội cái mũ rộng vành lên thật trầm như khi anh đọc một đoạn thơ.

“Xin lỗi, xin lỗi em. Nhưng hễ cứ trời mưa là anh lại vậy.”

Nàng không nói gì, ánh mắt thật mơ màng.

“Thời kỳ này anh sống giật lùi thật xa. À, chỉ tại trời mưa.”

Anh đi tới một bước, hất cái mũ cói xuống ghé sát vào má của nàng và cọ cọ bộ râu vào đó. Anh nói trên gò má:

“Tại mùa mưa này làm anh hỏng.”

Nàng vẫn không nói, mắt nhìn xuống trong im lặng không biết tại sao. Lúc này thì mưa nhỏ hơn, nhưng chớp liên tiếp sáng chói ngòng ngoèo trên bầu trời đen, lâu lâu có những lằn chớp dài chạy nhỏ rức như chỉ trắng, nới rộng trời ra như một tấm màn kéo, và vòm kính chớp nhoáng những tia sáng đỏ. Một đôi khi, ánh sánh tím và nhạt nhạt như soi lên bụng nàng, một mầu nhẹ nhàng huyền hoặc kỳ lạ.

“Anh có kể cho em nghe chuyện trên núi chưa nhỉ? Trên núi, sống thật là tuyệt. Thời kỳ này anh gần với núi hơn. Mầu xanh của núi mát mẻ hơn cái gì khác, lâu lâu anh tưởng như hơn cả em nữa.”

Anh ngừng nói và hút thuốc. Anh cúi đầu đi loanh quanh. Hai tay chấp sau lưng. Trong một lúc nào đó, anh vẫn đi và tiếp tục nói:

“Nhưng mà, hồi nãy, anh nói khi đi xuống đây, khi đi xuống đây đó. Anh sợ sợ. Anh bê bối thật. Em thấy đó, hồi này anh sống như mất trí nhớ. Trí nhớ của anh lúc trước phi thường, hả? ”

Anh đứng lại và ngó ra ngoài. Lát sau, anh tiến tới tỳ trán vào một ô kính, hai tay làm như cái khung bấu vào nẹp gỗ và gần chạm vào thái dương. Cái mũ cói vẫn ở sau lưng.

“Giá mà anh nhớ được. Giá như hồi trước, em hả? Lúc này, anh quên thật nhiều thứ, không nhớ gì hết. Nhưng mà, làm như anh đã thanh toán xong cái của nợ đó chứ không phải anh bị chúng bỏ anh.”

Anh làm một cử chỉ vung tay, rồi cầm cái ống điếu vẫy vẫy.

“Anh nhẹ mình.”

Anh hút vài hơi thuốc và nhả khói:

“Tại anh sống trên núi đó.”

Bất chợt nàng nói:

“Anh sống trên núi với ai ?”

Câu hỏi như câu nói, không cao giọng, như thể là nàng không hỏi anh mà là hỏi một cái tượng gỗ nào đó. Tẩu thuốc lá đã hết, anh bập bập rồi gõ vào thành gỗ, gõ nhẹ vào mặt kính, nhưng không có tiếng động. Những cử chỉ giới hạn nào đó làm anh có vẻ như đang nghĩ ngợi.

“Có ai. Như vậy mới thật tuyệt. Nhưng mà, anh đã nói, hồi này anh sống khó khăn quá. Hừ, anh muốn nói gì với em đây? Cũng như…cũng như…à như là anh tạc nàng đó.”

Anh quay lại, một tay thọc vào túi, tay kia cầm ống điếu vẫy vẫy.

“Anh quên nàng. Khó khăn lắm anh mới nhớ hay nhận ra mặt nàng. Mà không biết anh định tạc nàng làm gì. Anh làm công việc vô ích thật, hả ?”

Tôi bước ra khỏi những chậu sứ tráng men xanh vừa đi vừa nhìn nàng và những cọng lá cong cong. Mưa vẫn đều đều, chớp liên tiếp. Không hiểu gian nhà này làm từ hồi nào nhưng nó có vẻ như sắp nứt đôi. Tiếng động ì ầm xa vắng có một lúc nào đó thốt nhiên rõ lớn trở lại như trước. Người đàn ông đã đi mất và lúc nãy chỉ còn tôi với nàng, với mùi thuốc phảng phất.

Nhưng nàng làm như không có tôi. Nàng cất tiếng hát nho nhỏ và nói:” Con đang ngủ ngon, phải không con ?”, và nàng bước chậm rãi quanh những chậu cây ương.

Những tia chớp xanh và tím vẫn liên tiếp nháng chiếu. Tôi bỗng nhớ tới một giấc mộng đã lâu lắm, trong đó, như ở một gian nhà có mái kính mầu, một đứa trẻ đang khóc và người mẹ bế nó vừa nựng nịu vừa ru. Anh sánh tím nhiều hơn cả chiếu rọi khắp nơi, chiếu lên đứa nhỏ và cánh tay cùng thân thể người mẹ.

“Con sắp ra đời mà anh không thèm để ý gì hết.”

Tôi muốn đi tới, nhưng thân thể tôi bỗng nhiên cứng nhắc.

“Anh xem. Nó quẫy dữ lắm. Đôi khi em thấy một cục cứng. Như cái đầu. Với lại, đôi khi nó quẫy cả hai bên như là….như là có hai đứa. Em sợ quá.”

Tôi cười lớn tiếng, nói:

“Sinh đôi. Như vậy càng nhiều chứ sao.”

Nàng bỗng tới và ghé vào tai tôi. Hơi thơ ấm khiến tôi tỉnh thức như tỉnh thức sau một giấc mơ dài. Trong hơi thở, tiếng nàng nói thật nhỏ:

“Có phải anh không?”

Cũng vẫn ghé sát như thế, nàng thì thầm:

“Ở trên núi của anh, lúc này chắc mưa lớn hơn, nhỉ? Em muốn lên ở đó, mình tìm một cái hang động trú mưa, lót lá ngồi cho tới sáng .”

Thốt nhiên nàng rời xa tôi, tới chỗ lúc nãy của nàng. Tôi bắt đầu cảm thấy nhẹ nhõm hơn, như vừa thoát khỏi một sức hút nào đó. Tôi chậm rãi ra khỏi gian nhà ương cây. Trong một góc tối giữa vườn lớn, người đàn ông đội mũ rộng vành đang đứng bên một mái cong giống như kột cái tàn lớn đúc bằng xi măng.

Mưa nhỏ. Trong những lối đi lót sỏi trắng, một vài vũng nước thỉnh thoảng lấp lánh. Người đàn ông đội cái mũ rộng vành rời cái mái cong đang đi trên những lối đó. Anh dừng lại trước một cây cảnh nào đó, giơ tay vuốt những chùm lá. Anh vẫn hút thuốc.

Anh đứng yên lặng trước bụi cây. Mưa đã ngớt hẳn, chỉ còn những bụi nước rơi cong cong như những sợi chỉ. Đêm yên tĩnh rõ hẳn những giọt nước rớt thánh thót. Đột nhiên, về phía ngôi nhà gạch lớn phía trong, một khung cửa sáng lên và tiếng nhạc thoát từ một loại nhạc khí nào đó, rời rã đưa đến. Anh có vẻ hơi quay lại phía cửa sổ, nhưng tay vẫn đặt trên một chùm lá. Lát sau, anh có vẻ như không chú ý đến tiếng nhạc nữa tuy nó vẫn nhẹ nhàng rời rạc thoát ra. Anh rời bụi cây đi loanh quanh trong vườn.

Người nào đó chơi đàn có lẽ để cho hết thời giờ. Những hợp âm đưa tới khiến tôi biết đó là tiếng Tây ban cầm. Tôi rời chỗ đứng đi lại gần cái cửa sổ sáng ngó vào nhưng không thấy ai. Có lẽ người chơi đàn ngồi khuất sau những tấm màn màu xanh nhạt, bằng nhung, óng ánh và có vẻ hơi buồn bã. Gian phòng không rộng lắm, nhưng cao và có trần. Tường quét vôi vàng nhạt, trong ánh đèn yếu ớt màu vàng nhạt đó tăng thêm một chút đen do những mảng bóng tối từ góc khuất phát ra. Chính giữa gian phòng, đối diện với cửa sổ là một bức chân dung lớn, có lẽ vẽ hơn là ảnh chụp. Người trong bức vẽ béo tốt, râu ria xồm xoàm mặc võ phục có nẹp đỏ, ngang lưng đeo một thanh kiếm chuôi tua chỉ vàng. Một mắt của ông ta đeo kính trắng thêm vẻ dữ tợn nghiêm nghị. Phía trước bức chân dung là một cái tủ kính, trong để các thứ trang trí mỹ thuật gì đó. Cửa ra vào thông với một phòng khác hé mở nhưng không thấy người. Tiếng nhạc có lẽ phát ra từ sau một cái chụp đèn tròn và lớn, gần khuất trong tấm màn nhung.

Tôi rời cái cửa sổ đi theo đường rãnh nước ven tường vào những lối mà người đàn ông đội mũ cói rộng vành lúc nãy đã đi qua. Không biết lúc này anh ở đâu, bốn bề vắng ngắt mờ tối, mưa vẫn rơi cong cong. Gian nhà kính ở về phía trái ngôi nhà lớn, bên này là vườn cây nhỏ và thưa. Có một cái nhà gỗ thấp trong những cây đó.

Có lẽ anh tới nhà kia chăng? Nhưng ở đó tối om, vắng ngắt và không có vẻ gì có người cả. Tôi đi quanh quẩn trong khu vườn thưa, những chiếc lá rớt xẹp xuống dưới chân. Ở đây có vẻ đọng nước, mưa cùng hơi ẩm thấp tạo thành một bầu không khí nằng nặng, ngưng đọng và không chuyển động. Tiếng đàn trong phòng sáng lúc này nghe tiếng được tiếng mất, như thể những âm thanh kia bị chận lại ngoài cửa vườn.

Dù sao tôi cũng đi tới cái nhà gỗ nhìn vào. Bên trong tối nhờ nhờ nhưng không tối đặc như tôi đã tưởng. Vô số những que gỗ, buộc với nhau thành hình này nọ bởi những sợi giây thép và những thanh gỗ đó thì dính đất hay một chất trắng cứng nào đó. Một số khác có hình thù hơn treo lủng lẳng trên những cái móc, trên những thanh gỗ bắc ngang hoặc dựng sát vào tường. Có một pho tượng cao và lớn hẳn so với những hình thù kia, giống như một người đàn ông; đầu và hai tay dài khác thường.

Bất chợt, một giọng nói sau lưng tôi.

“Ông bạn làm gì đó?”

Tôi lạnh toát, quay lại. Người đàn ông đã đứng sau lưng tôi tự lúc nào. Tôi ngạc nhiên vì giọng nói của anh không có gì tỏ vẻ khó chịu hết dù tôi đột nhập lén lút, hơn nữa điều khiến tôi ngạc nhiên hơn là anh trông không giống người đội mũ rộng vành chút nào. Anh có vẻ ốm yếu, mép để ria, hai mắt sâu và lớn, tóc hơi quăn.

“ Ông bạn đừng ngạc nhiên. Tôi thấy ông bạn từ lúc trời mưa.”

Tôi hỏi một câu ngô nghê:

“Ông là ai ?”

“Tôi hả? Hà, buồn thật. Không ai hiểu tôi hết.”

Anh im lặng một chốc, cúi nhìn tôi qua những sợi giây leo ở cửa. Anh nói trong lúc nhìn đó: “ Tôi buồn rầu quá. Tôi nhìn thấy sự buồn phiền.” Anh thò tay vào cửa lấy một cái mũ máng đâu trong vách và đội lên đầu. Anh nói:

“Phải không?”

Tôi nhìn sững người đàn ông, tôi không tìm ra được nét giống nhau nào giữa anh ta và kẻ ở trong nhà ương cây, trừ cái mũ cói rộng vành mà anh ta đang đội. Nhưng ai cũng có thể có một cái mũ cói rộng vành hết.

Người đàn ông vẫn nói bằng giọng đều đều lúc đầu:

“Tôi không biết làm gì bây giờ. Hơn nữa, tôi không biết nói với ai.”

Anh chợt thay đổi giọng nói: “Hà, bây giờ có ông bạn.” Sau đó anh lắc đầu tiếp:

“Có những chuyện không thể nói với đàn bà được.”

Tôi hỏi:

“Ông ở đây phải không?”

Tôi lại hỏi một câu ngô nghê nữa. Người đàn ông cười lớn:

“Tôi đâu ở đây được. Phải sống nơi khác. Ở đây, mùa mưa làm ai cũng thấy buồn cả. Mà mùa mưa thì kéo dài tới tám tháng.”

Anh ngừng nói bằng cả vẻ mặt. Anh có vẻ bồn chồn như đang chờ đợi cái gì đó. “ Tôi muốn nói chuyện, à, muốn kể chuyện với ông bạn…”, anh nói không nhìn tôi như đang chú tâm nghe ngóng đâu đó, “ Nhưng khoang đã, tôi cần tới đây một chút.” Anh vụt rảo bước vào khoảng cây và bóng tối mà lúc nãy anh tới. Anh đi như bóng ma và rất nhanh chóng. Hơn nữa, tôi cũng không để ý mấy. Tôi tiếp tục nhìn ngắm những thứ lủng cũng trong cái nhà gỗ.

260_149_1362582639_33_1362238147_426284_400894609925130_1056361736_n_large

Trời đang có vẻ tạnh bỗng lại mưa. Gió nổi rất lớn, rung ào ào trên đầu tôi. Tôi nép vào mái gỗ, nhưng mưa lớn quá, hai chân tôi bắt đầu ướt. Tôi tìm cửa vào nhưng không thấy, liền trèo cửa sổ. Mái nhà lợp bằng những tấm tôn mỏng, mưa xối ầm ĩ, tôi thu hình ngồi trên một cục gỗ khá lớn không biết dùng làm gì. Chung quanh tôi, những hình thù và các thanh gỗ ngang dọc trở thành đậm mầu hơn, lẫn với bóng tối, như thể chúng là cả một khối đang nổi rõ vài đường nét góc cạnh nào đó. Tôi nhớ người đàn bà trong nhà kính, hình dung sắc đẹp của nàng, hình dung những nét diễm lệ và nhất là vẻ im lặng quá mức của nàng. Ánh sáng tím nhạt cách quãng của những tia chớp, làn da bụng trắng của nàng, cánh tay dài và cọng lá cong cong, những thứ đó hợp thành một khung cảnh rung rinh như giấc mơ, hay chính là giấc mơ thật, nhưng dù sao, đó là một khung cảnh không thể tìm thấy ở đâu khác, huyền hoặc và thơm ngát.

Trận mưa kéo dài không biết bao lâu. Tôi cứ ngồi thu hình yên lặng và nhìn ngó trong bóng đêm những hình thể lờ mờ chung quanh và những hình thể dễ nhận biết khác, như những cụm mây, góc cây, cái bờ tường, cánh cửa sổ, những vũng nước, ở xa tít phía cuối vườn hay trong nhà ở, và những thứ đó càng lúc càng xa thêm, lờ mờ, chập chùng. Một đôi lúc tôi tự hỏi về lai lịch cái nhà và khu vườn này, hay những người sống ở đây, người đàn bà trong nhà kính, người đàn ông đội mũ rộng vành, tiếng đàn, bức chân dung vị võ quan…nhưng những tra vấn này hình như không làm bận tâm trí tôi nhiều. Chúng lướt qua, như thể không phải là lướt qua trí tôi nữa.

Khi mưa tạnh trở lại, tôi bắt đầu thấy mỏi mê cùng khắp. Tôi trèo qua cái cửa sổ đi ra bên ngoài. Tôi đạp lọc bọc trên những vũng nước và lá ướt, trở lại căn nhà ở. Đèn ở cái cửa sổ lúc nãy vẫn sáng, nhưng cửa đã đóng. Tôi đi chậm chậm trong những lối sỏi cũng ướt nước và tiến về cái nhà kính. Ở đây là một cái nền cao, xây bằng gạch miếng không tô vữa, những ô kính loáng thoáng vì ướt nước. Tôi trèo lên nền gạch, bước vô. Nhưng tôi chưa kịp trông thấy người đàn bà thì đụng phải một cô bé.

Cô bé ngẩng nhìn lùi lại như muốn la lớn. Tôi nói:

“Có gì thế ?”

Cô bé đứng tới ngực tôi, tóc gần chấm vai và hơi cong, mắt như vừa khóc. Tôi lập lại: “ Có gì thế ? Cô bé là ai thế ?”, cô bé nói:

“Ông tới đây làm gì ?”

Tôi lúng túng không biết trả lời sao. Sao cùng tôi nói:

“À, tôi đi chơi thôi. Tại sao em khóc ?”

“Ông không phải là bạn của cô Françoise sao ?”

“Cô françoise nào?”

Cô bé nhìn tôi, lau nước mắt bằng một cái khăn mỏng rất lớn và tiệp với mầu áo.

“Ông tới đây từ bao giờ thế?”

Tôi cười cười đáp:

“Hồi nãy.”

Đột nhiên, cô bé tỏ vẻ sợ hãi hỏi:

“Ông đã gặp cô Françoise chưa? Cô Françoise là chủ nhà.”

Tôi đáp: “Chưa. Tôi chưa gặp.”, và ngó chung quanh, “À, nhưng có lẽ tôi gặp rồi. Cô Françoise thật là đẹp phải không?”

“Đẹp.”

Tôi nhớ tới cái bụng trắng nõn và căng tròn của nàng, tôi hỏi cô bé:

“Chồng cô Françoise là ai thế? Cô sắp có con đấy, nhỉ? ”

“Ông nói lạ thật. Cô chưa có chồng.”

“Như vậy…như vậy….Em nói gì thế?”

Đột nhiên cô bé bỏ chạy. Tôi đuổi theo. Thật ra tôi có thể chụp nó dễ dàng nhưng tôi chạy lúp xúp coi sao. Cô bé chạy giữa những hàng chậu sứ, thỉnh thoảng kêu nho nhỏ: “Cô Françoise” như thể một nỗi sợ hãi nào đó làm miệng cứng không há được. Phía cuối góc gian nhà kính, người đàn bà trắng toát vẫn đứng yên, không nói gì, hình như nàng đang chăm chú nhìn tôi và cô bé đuổi nhau. Sau cùng cô bé không chạy giữa những chậu sứ nữa mà thoát ra ngoài thềm gạch. Tiếng kêu nhỏ vẫn gọi tên cô Françoise với nỗi sợ hãi gì đó. Tôi nói hơi lớn:

“Đừng chạy nữa, em nhỏ. Cô Françoise ở đây này”, và tôi hơi dừng lại để nhìn người đàn bà. Bóng cô bé thấp thoáng phía trước trong những lối sỏi, chạy hớt hải kỳ lạ. Tôi lớn bước đuổi theo. Dù sao, tôi vẫn không muốn gây tiếng động gì trong vườn này.

Cô bé đang chạy vào vườn cây, chỗ có cái nhà gỗ. Tôi đuổi kịp không khó khăn lắm. Khi vừa tới trước cái nhà gỗ, tôi nghe bịch một tiếng.

Cửa đã mở. Một cái cửa lớn và quá rộng ngay sát bên cửa sổ mà lúc nãy tôi không biết. Cô bé với quần áo trắng toát ngã sóng soài trên mặt đất. Tôi nói nhỏ: “ Có sao không?” và bước vào kéo tay cô bé. Đầu tôi đụng vào bức tượng cao lớn không biết ai mới treo lên, lủng lẳng, đen ngòm. Bức tượng yên lặng kỳ cuc. Có lẽ cô bé đã va vào đó nên ngã lăn.

Tôi cúi xuống ẵm ngang thân hình bé nhỏ đó lên, bước ra khỏi nhà và đi thẳng tới cái mái cong mà lúc nãy người đàn ông đội mũ rộng vành đứng trú mưa, Tôi đặt cô bé xuống. Nó đã ngất xỉu và lạnh. Tôi ngần ngừ một lát rồi làm loa tay kêu lớn:

“Cô Françoise, em bé ngã.”

Không chờ trả lời, tôi chạy thật nhanh thoát ra đường./.

(Trích Tuần báo Nghệ Thuật số 19. Phát hành ngày 19.2.1966. Và, đối chiếu lại trong tuyển tập truyện ngắn: Dạ Khúc do Hồng Đức xuất bản lần thứ nhất vào tháng 7 năm 1969.
Bản của Thư Ấn Quán)

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Không Còn Ai Trả Lời, Hoàng Ngọc Tuấn


imageschandunghnttrinhcongson-2

(Chân dung và tác phẩm của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn 1947 – 2005)

Hoàng Ngọc Tuấn

Sau một buổi sáng ngồi trong lớp học với sách vở, bút mực, và tiếng giảng bài của thầy giáo, buổi chiều đến với nàng thật thảnh thơi, hình như là quá dài.
Ngày nào cũng thế, nàng thức dậy sau giấc ngủ trưa, chiếc khăn ướt làm nàng tỉnh táo. Nếu nàng là con trai, có lẽ nàng sẽ hút một điếu thuốc lá cho đỡ buồn miệng, nhưng vì trái lại, nên nàng chỉ ăn một cây kẹo ngọt của mấy đứa em bỏ rơi trên sàn nhà. Ở nhà dưới, có tiếng chân chạy rầm rầm và nói cười ồn ào của lũ em đang đuổi bắt nhau, mẹ nàng la rầy một câu gì đó không nghe rõ. Trên lầu bây giờ chỉ có mình nàng, vài tập báo trẻ con, cái tủ áo với những chiếc áo dài trắng dành cho ngày đi học, vài áo lụa màu vàng, bàn học, chồng sách, một chiếc máy magnétophone, khi nàng bấm chiếc nút nhỏ, bài tình ca quen thuộc vang lên. Nàng nghe lơ đãng, nhìn bóng mình trong gương; mình đã được 19 tuổi rồi, tháng tới sẽ đến ngày sinh nhật, dầu bận rộn công việc đến đâu ba cũng sẽ đem đến một chiếc bánh ngọt có cắm 19 ngọn nến.

thu-gui-co-gai-dang-ngoi-dau-do-va-khoc-hom-nay-dbdf26e66d9d92002e10675d361c789491761ebb

Chiếc áo cánh ngắn tay của nàng màu vàng nhạt, da nàng trắng vì ít khi nàng dạo chơi ngoài đường phố. Phố phường không biết bây giờ có gì lạ, rạp chiếu bóng đã đổi phim mới chưa… Chiếc máy điện thoại đặt gần giường ngủ, nàng có thể vừa nằm ôm gối vừa nói chuyện được. Ngón tay nàng lướt trên những con số quen thuộc: 4..0..0..3..8.
– A lô, xin lỗi có phải số 40038 không ạ, cho tôi nói chuyện với ông …
– Tôi đây, sao chiều nay Thư gọi muộn thế.
– Ông…đấy hả?
Nàng giật mình vì giọng nói của chàng thanh niên đột ngột vang lên từ bên kia đầu dây. Anh chàng có vẻ suốt ngày ngồi thường trực bên máy điện thoại, chuông vừa reo chỉ một lần là có tiếng nhấc máy, và không bao giờ để nàng nói cho hết câu đầu tiên, đôi khi nàng vừa nói A lô, anh chàng cũng nhận ra nàng liền.
Nàng ngập ngừng trước ống nói vì không biết nói gì bây giờ. Tiếng nói của anh chàng chợt vang lên trong ống nghe, kèm theo vài tiếng cười khoái trá:
– A lô, này Thư, tôi biết nhà của Thư ở đâu rồi.
– Ấy chết, làm sao ông biết được?
– Khó gì đâu. Tôi tìm thấy trong một cuốn Niên Giám Điện Thoại.
Nàng giật mình lặng yên, nghĩ rằng mình thật dại dột khi cho gã thanh niên này biết số điện thoại của mình trong khi lại muốn giấu địa chỉ.
Cái trò đùa điện thoại này có vẻ bắt đầu tiến tới từng bước một. Vào tuần trước, trong một đêm vắng vẻ, ba nàng đi công tác xa, mẹ nàng và mấy đứa em đi ăn giỗ và nàng vừa học thuộc những đoạn sau cùng của bài vạn vật. Nàng cảm thấy trống không như một khoảng trời đêm nhìn thấy bên ngoài cửa sổ. Gia đình nàng mới dọn lên Sài-Gòn, từ khi ba nàng có một chức vụ quan trọng ở đây. Ba má ít khi cho nàng đi chơi đâu, thật ra nàng cũng không thích đi dạo chơi trong một thành phố quá lớn và ồn ào, đầy những người xa lạ đối với nàng. Ở lớp học, nàng chưa có cô bạn nào thân, bạn trai càng ít hơn và việc một anh chàng nào mời nàng đi chơi thật là một chuyện quan trọng và ít khi được phép của gia đình. Nàng ngồi lắng nghe từng tiếng gõ của chiếc đồng hồ treo trên tường, và chợt nhìn thấy ống điện thoại bên cạnh.
Nàng nghĩ một trò đùa tinh nghịch. Nàng nhấc ống nói, nhanh chóng quay 5 con số nào đó một cách vô tình, rồi hồi hộp chờ nghe một tiếng nói ở bên kia đầu dây. Lần đầu tiên: “A lô, đây là tiệm đóng hòm Vạn Phước, xin lỗi quý khách cần gì ạ…” Nàng cúp vội máy. Lần thứ hai là tiếng nói của một người Mỹ nào đó nghe léo nhéo nàng không hiểu gì hết, nàng nín thở nói nhanh một tiếng goodbye rồi cúp máy, bậm môi cười khi mường tượng đến khuôn mặt ngây ngô kinh ngạc của gã ngoại quốc. Nàng quay nhanh một hàng số khác, nghĩ rằng trò đùa của mình đến đây là lần cuối cùng, có lẽ nên chấm dứt. Có tiếng chuông reng từng hồi ngắn trong ống nói và tiếng nhấc máy. Một giọng nói đàn ông, hơi nặng và khó nghe, tiếng nói của những người miền Trung.
– Alô, tôi nghe đây. Xin lỗi, ai ở đầu dây đó ạ ?
Nàng đưa tay giữ ngực mình để nén cơn hồi hộp, nàng định cúp máy nhưng rồi cố gắng nói một câu, nàng nghĩ rằng mình nên nói một câu cho người lạ nào đó đang nói chuyện ngạc nhiên chút chơi.
– Xin lỗi ông, tôi… cũng muốn biết ai ở đầu dây ạ…
Tiếng nói của gã đàn ông gần như la lớn lên bực bội:
– Đây là số 40038. Cô có gọi nhầm số không?
– Dạ không, tôi gọi đúng số rồi…nhưng phiền ông cho biết…ông là ai được không ạ?
Yên lặng ở trong ống nói, nàng chờ đợi một tiếng cúp máy cộc lốc, nhưng sau một lát có tiếng nói của người lạ chậm chạp:
– Alô, được rồi. Tôi không biết cô định đùa nghịch kiểu gì, nhưng cô muốn gì cứ nói đi. Tôi nghe đây.
Nàng đã bình tĩnh trở lại. Nàng mỉm cười, dĩ nhiên là người lạ không thấy được nụ cười của nàng.
– Nhưng…ông là ai mới được chứ ? Ông tên gì…, cho tôi biết để tôi gọi cho tiện.
– Tôi tên là Văn. Nào, nói đi, nếu ở nhà cô có đồng hồ thì cô nên nhìn xem mấy giờ rồi.
– Tôi biết, gần mười hai giờ.
Giọng người lạ có vẻ thích thú vì được một lời mỉa mai:
– À, tốt lắm. Cô biết vào giờ này người ta thường làm gì rồi: Người ta đi ngủ. Dĩ nhiên là ngoại trừ những kẻ quấy rầy người khác và những kẻ bỗng dưng bị người ta quấy rầy như tôi chẳng hạn.
Nàng đỏ mặt, giận hờn:
– Ông có thể cúp máy đi, tôi xin lỗi đã làm phiền ông.
Trong ống nói lại im lặng, chỉ có tiếng vo vo nghe thật khó chịu. Nhưng người lạ không cúp máy. Nàng và người ở bên kia đầu dây cùng yên lặng trước ống nói nhưng không ai nói gì cả, có lẽ cả hai đều cố gắng tưởng tượng đến kẻ đang nói chuyện với mình. Nàng là ai, làm gì … Gã đó là ai, làm nghề ngỗng gì. Một lát sau…
– Alô…Cô gì đó, cô còn đấy không?
– Còn. Ông chưa ngủ à.
Tiếng nói của người lạ có vẻ hơi ngập ngừng.
– Tôi không thấy buồn ngủ. Tôi vừa uống một ly cà phê đậm nên hơi khó ngủ. Vả lại…
Nàng cười nhỏ. Nếu đêm nay gặp thời tiết tốt, những đường dây điện thoại liên lạc với nhau rõ ràng thì người lạ có thể nghe tiếng cười của nàng.
– Vả lại…sao ạ?
– Vả lại…cái giọng nói của cô, giọng con gái Bắc kỳ hơi pha lẫn tiếng Nam một chút nghe cũng…dễ chịu, dễ thương lắm.
Nàng cảm thấy thích thú. Bất cứ một người đàn ông nào, ngoại trừ ba nàng, khen nàng một điều gì cũng đều làm nàng sung sướng.
– Cảm ơn ông Văn. Tôi chỉ sợ làm ông bực mình.
Lần đầu tiên nàng nghe thấy tiếng cười của người lạ trong ống nói. Giọng nói của anh chàng bây giờ đã hết khó chịu, và có vẻ đang bắt đầu bày trò làm quen với nàng, gã con trai nào cũng bắt đầu như thế cả.
– Xin lỗi cô, tôi chưa biết tên cô…
– Ông biết để làm gì ?
– Để gọi cho tiện, chẳng lẽ cứ gọi bằng “cô” mãi, nghe cũng hơi xa lạ.
Nàng cười, người đối thoại với nàng bây giờ chắc đã hết buồn ngủ và gã có vẻ không muốn cúp máy chút nào.
– Thì tôi với ông xa lạ đấy chứ.
– Mình mới quen nhau rồi.
Nàng đùa nghịch:
– Bây giờ nếu muốn hết quen thật dễ dàng, tôi chỉ việc cúp máy và không bao giờ gọi ông nữa.
Tiếng nói người đàn ông hấp tấp vang lên:
– Ấy, đừng cúp máy… Cô không cho biết tên thì thôi.
Không hiểu sao nàng bỗng nói tên thật của nàng:
– Tôi tên là Thư.
– Chắc cô vừa tưởng tượng cái tên đó chứ gì.
Nàng giận dỗi:
– Ông bảo tôi nói dóc hả, tôi cúp máy cho mà xem.
– Đừng, cô Thư. Cô làm gì vội thế, bây giờ còn sớm mà.
Nàng bật cười, liếc nhìn cây kim đồng hồ trên tường, nàng giả giọng ra vẻ thật nghiêm trang:
– Hơn mười hai giờ rồi. Ông biết vào giờ này người ta làm gì không? Người ta đi ngủ. Dĩ nhiên là ngoại trừ những kẻ…
– Ồ, tôi xin lỗi. Trước khi cô gọi đến, tôi đang mệt, cáu sườn vì không ngủ được. Tôi đã tắt hết đèn và thề rằng sẽ ném chiếc gối vào bất cứ ai gõ cửa phòng tôi.
Nàng nhướng mắt, làm bộ sợ sệt, nhưng không ai nhìn thấy cử chỉ của nàng cả.
– Ghê thật ! Chắc ông Văn đi chơi khuya dữ lắm nên mới không ngủ được, hay là ông phải suy nghĩ về những vấn đề gì to tát lắm. Đàn ông thì luôn luôn có chuyện quan trọng.
– Vâng, kể ra thì cũng có một vài vấn đề làm tôi bận tâm. Chẳng hạn như tôi băn khoăn không biết sáng mai mình nên uống một ly cà phê đen hay cà phê sữa ?
Nàng bật cười. Nàng cười hơi lớn nên có lẽ người đàn ông nghe rõ. Giọng anh chàng khoan khoái:
– Cô Thư, tôi cam đoan 100% là cô đang cười.
– Cam đoan gì nữa, thì tôi đang cười đây.
– Giọng cười nghe như tiếng kim cương vỡ…
– Trời ơi! Ông đừng nhái theo tiểu thuyết chứ, hay ông là một văn sĩ ?
Nàng ngạc nhiên khi nghe giọng nói trịnh trọng xác nhận nghề nghiệp của người đàn ông:
– Cô đoán đúng. Tôi là một.. nhà văn đã viết nhiều cuốn truyện.
– Ồ ! Rất hân hạnh được quen với một văn sĩ. Hèn gì cái tên của ông giống như nghề của ông, ông là cái gì .. Văn?
Người đàn ông có vẻ lưỡng lự khi nghe nàng hỏi, bỗng nhiên anh chàng buột miệng nói:
– Hoàng Văn, tác giả của cuốn tiểu thuyết đang bày bán khắp các hiệu sách: ” Tình Yêu Hai Mươi”.
Nàng xuýt xoa khen ngợi:
– Chà ! Nghe cái nhan đề cũng thấy hay rồi. Chắc câu chuyện của ông hấp dẫn lắm?
– Hôm nào tôi sẽ gởi tặng cho cô một cuốn. Cô có thường vào các nhà sách?
– Không.
– May thật !
– Ông nói gì?
Giọng nói của người đàn ông có vẻ bối rối:
– Không… Tôi nói may là cô chưa mua cuốn sách đó, tôi gởi cho cô đọc chắc cô sẽ thích hơn. Tôi chỉ sợ là cô đọc cuốn đó rồi.
– Tôi làm biếng đọc sách lắm. Tôi chuyên môn đọc những tờ báo có hình vẽ của mấy đứa em. Tôi thích nhạc hơn ông ạ …
Nàng nhìn chiếc máy Magnétophone của nàng đang đều đặn vang lên những câu cuối cùng của một bài hát:
– Trước khi gọi ông, tôi đang nghe một cuộn băng nhạc tiền chiến.
– Nhạc tiền chiến, thật tuyệt. Chắc là một bài của Đoàn Chuẩn?
– Ông đoán tài quá. Bài ” Lá đổ muôn chiều”.
– Thật tuyệt. Alô.. Cô Thư, tôi nhắc lại: thật tuyệt.
– Alô. Tôi nghe rõ lắm rồi.
Nàng nhìn đồng hồ bây giờ đã khuya. Ngoài đường bỗng có tiếng chó sủa nhẹ vài tiếng. Mẹ nàng vừa mới về tới, nàng nghe rõ những bước chân của bà vang lên mồn một như đánh thức nàng, không phải khỏi giấc ngủ mà là khỏi trò vui này. Nàng nói nhanh:
– Alô. Ông Văn ơi, giờ tôi phải đi ngủ đây.
– Còn sớm quá.
– Sớm gì nữa, mai tôi còn phải dậy sớm đi học.
– Cô Thư học trường nào?
Nàng cười:
– Ông Văn bắt đầu tò mò rồi ! Thôi chúc Ông Văn ngủ ngon…
– Tôi chưa biết số điện thoại của cô…
– Ấy, không được. Nếu ông gọi lại, ông sẽ gặp ba má tôi nhiều hơn là gặp tôi. Hôm nay cả nhà đi vắng nên tôi mới gọi nói chuyện chơi đấy chứ… Alô, Ông Văn, chúc ông đêm nay ngủ ngon nhé.
Không hiểu sao nàng có cảm tưởng rằng ở bên kia đầu đây, người đàn ông đang mở mắt tỉnh táo như một con đom đóm. Giọng anh chàng hơi buồn một chút, và điều này làm nàng vui thích.
– Cảm ơn Cô Thư, tôi cũng chúc cô được như thế. Nhưng đêm nay tôi không ngủ ngon đâu. Tôi còn phải nghĩ nhiều về cô nữa , một cô gái có tiếng nói êm đềm…
Nàng kêu lên:
– Này thôi đi ông Văn. Nếu ông thích tán nhảm như thế, tôi sẽ không gọi lại cho ông nữa đâu. Alô… tôi cúp máy nhé.
– Alô, khoan đã… Alô…
Mẹ nàng đã gọi cửa và gọi tên nàng. Nàng nghe rõ tiếng nói của bà vọng lên, cho biết bà có đem về nhiều bánh và trái cây từ đám giỗ.
– Alô, ông Văn. Chào ông nhé, mẹ tôi vừa mới về.
Nàng gác ông điện thoại xuống, sau khi nghe loáng thoáng nhưng tiếng nói gì đó của người đàn ông. Cuộn băng nhạc trong chiếc máy thâu băng đã chạy hết.
Gần như tất cả mọi đêm trong tuần lễ sau, nàng và người thanh niên lạ mặt có cái tên là Văn đều nói chuyện qua điện thoại. Mỗi lần khoảng mười phút, khi về khuya, nàng đã học thuộc bài xong. Bài vở, thật dễ sợ, tâm lý học, đạo đức học này, tân đại số này… Trời ơi, vạn vật này… Ối giời ! Sao mà nàng lại chọn đi ban A thế không biết, cuốn sách dày cộm với đầy hình vẽ rối rắm và chữ nghĩa chằng chịt.
Cũng một phần tại cái anh chàng này nữa. Hắn bắt đầu làm nàng “chia trí”. Nàng cứ nghĩ ngợi lơ mơ hoài khi cầm cuốn sách, những chữ nhảy múa không nhìn thấy gì hết. Đồng hồ chỉ mười một giờ rưỡi. Nàng mỉm cười chắc anh chàng chưa đi ngủ vội đâu. Hắn còn đợi ngay ngáy bên ống điện thoại chờ nàng chứ, nói vẩn vơ đôi ba chuyện rồi mới thấy “thơ thới hân hoan” đi ngủ được.
Nàng thở dài, e mình cũng thế mất. Đêm nào có thằng em chúa tò mò và mách lẻo lên gác ngủ với nàng, nàng ngại không gọi cho anh chàng, cũng thấy băn khoăn như thiếu thốn một cái gì.
Nàng viết những chữ và hình vẽ vô nghĩa trên trang giấy. Chuông đồng hồ đánh “bong” một tiếng. Nàng nhấc ống điện thoại, năm con số đã thuộc lòng…
– Alô, xin lỗi cho tôi được nói chuyện với…
– Văn đây, tôi đây, tôi tưởng điện thoại của nhà Thư hôm nay hư rồi.
– Sao ông không nghĩa là tôi sẽ không gọi cho ông nữa, chắc thế nào cũng có ngày đó mà.
– Đâu được, cô Thư. Thư đâu làm thế được, phí phạm quá.
– Ơ kìa .. Tại sao lại phí phạm?
– Thế người ta phát minh ra máy điện thoại làm gì, nếu không phải là để cho thiên hạ nói chuyện với nhau?
– Nhưng nói chuyện công việc làm ăn, cần thiết thôi. Có lại cứ nói vẩn vơ dai dẳng như … chúng mình.
– A lô … “chúng mình”… cô làm ơn nhắc lại cái chữ dễ thương đó đi.
Nàng đỏ mặt lúng túng, phải im lặng một lát. Giọng nói của anh chàng bên kia lại ráo rức:
– Alô … Thư nói tiếp đi … “Chúng mình” thế nào ?
Nàng giận dỗi nói:
– Không thế nào cả, và cũng không phải là chúng mình chúng ta gì hết. Tôi nói nhầm chữ rồi.
– Không sao đâu Thư ạ. Đó là cái lầm đáng yêu nhất đời.
– Này ông Văn, nếu ông đùa quá đáng thì biết sẽ có chuyện gì không? Nhà tôi chắc sẽ phải nhường máy điện thoại cho một ông hàng xóm. Và tôi sẽ biến mất.
– Đừng … Thư. Thôi, tôi xin lỗi. Tôi hứa từ bây giờ sẽ nói chuyện rất đứng đắn.
Nàng cười nhỏ cho anh chàng nghe thấy.
– Rồi, nếu thế thì ông có thể bắt đầu được rồi.
– Biết bắt đầu nói chuyện gì bây giờ? Nói về tôi thì khó mà có chuyện đứng đắn. Hỏi về Thư thì có vẻ tò mò quá rồi Thư lại giận. Thôi, tôi sẽ nói chuyện bên… Tây, bên Mỹ là bảo đảm đứng đắn.
– Ông Văn đi ngoại quốc rồi sao ?
– Chưa bao giờ cả. Nơi mà tôi có thể đi xa nhất, giới hạn ở … Cầu Kiệu.
– Sao thế ?
– Thôi, không có gì cả. Tôi không nói về cầu cống gì nữa. Bây giờ tôi nói chuyện bên Mỹ đây. Ở Mỹ có một cô đào tên là Faye Dunaway…
– Tên nghe lạ quá. Có đẹp bằng Liz Taylor không?
– Ồ, Liz xưa rồi. Bây giờ Faye Dunaway là số một, nàng mới nổi nhưng thật tuyệt vời … Làm sao tôi có thể diễn tả được. Tóm lại nàng có vẻ đẹp vừa thánh thiện vừa lẳng lơ, vừa già dặn vừa ngây thơ … và vừa đủ thứ cả.
– Nghe ông ca tụng tôi cũng thấy mê nàng rồi. Nhưng cô đào ấy làm sao nữa …
– Mới có một phim do Dunaway đóng vừa chiếu ở Sài Gòn, một phim vĩ đại nhất trong năm, một chuyện tình tuyệt đẹp : Bonnie và Clyde, không thua gì Romeo và Juliette …
– Thế hả, nghe ông kể mê lắm, nhưng mà rồi sao nữa ông?
– À, bây giờ đến đoạn này mới thật là quan trọng … Cô Thư, chiều thứ bảy tới tôi mời Thư đi xem phim này nhé.
Nàng cắn môi bật cười. Gờm, cái anh chàng này vô đề dài dòng văn tự quá.
– Chà, bây giờ mới biết tài của ông Văn. Ông nói chuyện bên Tây bên Mỹ xa tít rồi khi không lại kéo về Sài Gòn.
– Thì rốt cuộc cũng phải trở về với “quê hương dân tộc” chứ. Thư đừng từ chối nhé.
– Ông đừng nói tôi là khách sáo ông Văn ạ. Nhưng nếu có phim hay như thế, thế nào con bạn của tôi nó cũng lại kéo tôi đi cho bằng được. Tôi với nó trót hứa sẽ đi xem chớp bóng chung với nhau hoài rồi.
Giọng nói của anh chàng có vẻ hơi buồn rầu và nản chí:
– Đi xem xi nê với bạn gái hoài, chán lắm Thư à.
– Có gì mà chán. Mình xem màn ảnh chứ có xem người bên cạnh đâu. Vả lại từ trước đến nay tôi chưa bao giờ đi xem chớp bóng với một người đàn ông nào khác, ngoại trừ ba tôi mỗi đầu tháng khi tôi được xếp hạng cao trong lớp.
– Xin lỗi, tôi tò mò một chút. Thư được mấy tuổi rồi ?
Nàng ngạc nhiên, ngần ngại một lát nhưng rồi cũng trả lời:
– 19. Mà ông hỏi làm gì thế ?
Giọng nói của anh chàng như bực tức hờn giận:
– Làm ơn nhắn với ba Thư rằng ông giữ độc quyền Thư trong 19 năm như thế là đủ rồi. Nhường cho người khác với chứ.
– Ông Văn lại nói đùa rồi. Thôi, ông đi xem một mình đi rồi thứ bảy tới kể lại cho tôi nghe cũng được.
Anh chàng gần như hét lớn:
– Xem cái gì nữa ? Tôi xem phim đó đã hai ba lần rồi, gần như thuộc lòng rồi.
– Trời ơi. Thế mà ông còn định rủ tôi đi xem nữa.
– Thì đi xem chớp bóng có phải chỉ là để xem không thôi đâu.
Anh chàng đột ngột ngừng lại, như biết mình lỡ lời. Nàng cũng im lặng bối rối … Bỗng có tiếng ba nàng gọi từ nhà dưới vẳng lên:
– Thư à, con gọi điện thoại cho chú Tư nhờ chú sáng mai lấy cho ba cái giấy máy bay đi Đà Lạt…
– Dạ.
Nàng vội vã nói nhỏ:
– Thôi ông Văn à, tôi phải cúp máy đi ngủ đây. Ba tôi sắp lên đây gọi điện thoại.
– Chết cha ! Gọi cho tôi hả ?
– Không phải đâu, chuyện công việc của ba tôi mà. Thôi chúc ông Văn ngủ ngon nhé. Đêm mai nhớ kể chuyện phim cho tôi nghe.
Nàng tần ngần nghe lời chúc ngủ ngon tương tự của anh chàng rồi khẽ ấn nút nhỏ cúp máy.
Nàng không còn nghe chuông đồng hồ vừa đánh thêm một tiếng ngân dài buồn tênh.
Tối hôm sau, lần này đến phiên anh chàng lại đề nghị thêm một chuyện mới lạ, sau vụ rủ đi xem chớp bóng bị thất bại.
– Thư à, chiều mai Thư có ở nhà không? Tôi đến nhà thăm Thư nhé.
– Ồ, không. Nói chuyện qua điện thoại là đủ rồi ông Văn ạ.
– Nhưng tôi muốn … biết mặt Thư. Đừng bắt tôi mỗi đêm cứ nằm nặn óc tưởng tượng chứ.
– Ai bảo ông tưởng tượng làm gì ? Biết mặt mà làm gì ông Văn?
– Thì … ít ra là mình cũng biết đã quen với một ai, người đó như thế nào chứ?
– Thư là thế .. đấy ấy . Nhưng thôi, nếu ông cứ đòi mãi chắc Thư phải xiêu lòng mất, nhưng sợ khi thấy mặt rồi, ông chê Thư “xí” mà không thèm nói chuyện nữa thôi.
– Đời nào có chuyện đó. Chiều mai tôi lại nhà Thư nhé.
– Không được đâu. Ông cho Thư biết địa chỉ đi.
Nàng ghi vội cái địa chỉ trên giấy rồi ngạc nhiên nói:
– Ủa. Thế là nhà ông nằm trên đường Thư đi đến trường đấy. Chiều mai 5 giờ Thư đi học về, ông cứ ra đứng đợi trước nhà là biết.
– Trời ơi. Làm sao biết ai là Thư được. Mỗi chiều có cả ngàn cô gái đi qua trên đường.
Nàng bật cười, mình ngốc thật, làm sao anh chàng nhận ra mình được. Nàng cắn môi suy nghĩ một chút rồi mỉm cười nói:
– Thôi được rồi. Chiều mai Thư sẽ đi bằng một chiếc Cady mầu nâu. Thư mặc áo tím dễ nhận ra lắm. Ông nhớ đấy nhé, một lần thôi đó. Ông có cận thị thì ráng chịu.
– Nhớ kỹ lắm rồi. Áo tím đẹp lắm.
– Thôi đi. Vì ông mà Thư phải mặc áo tím đó. Chứ trời Sài Gòn nóng như thế này, ai mà mặc màu đó bao giờ, quê quá. Nhưng … làm sao mà nhận ra ông ?
– Tôi sẽ ra đứng trước nhà. Thư biết nhà tôi rồi.
– Ông mặc một cái áo gì đặc biệt một chút đi.
– Tôi làm sao có áo tím. Thôi, tôi sẽ cầm một cuốn sách to tướng như cuốn tự điển. Buổi chiều xe cộ đầy đường mà Thư thấy ai đứng cầm sách chứ không đọc, mắt lại lò dò quan sát từng người đi qua. Chắc chắn là tôi đó.
– Chiều mai nhớ từ 5 giờ ông Văn nhé. Thôi bây giờ Thư phải cúp máy đây.
– Trời ơi, sao bữa nay nói chuyện ít vậy?
– Để bắt đền ông đó. Vì ông mà mai Thư phải lục cái áo tím ra này, phải đi học về đúng giờ kẻo ông chờ này, phải đi xe chầm chậm để ông nhìn cho kịp này … phải … đủ thứ cả.
– Phải … đánh một chút phấn hồng cho đẹp này.
– Thôi đi ông. Đi học mà phấn sáp gì. Thư cũng làm biếng sửa soạn lắm, có xấu cấm ông không được phê bình nha.
– Đâu dám. Nhưng mà …
– Thôi, bữa nay ngủ sớm đi ông Văn. Ông ngủ ngon nhé, và đừng uống cà phê ban đêm nữa.
Giọng anh chàng hối hả kêu lên ơi ới nhưng nàng vội cúp máy cho bỏ ghét, mình mới bằng lòng anh chàng một chuyện rồi, không nên để anh chàng khoái chí thấy thắng thế mà vòi vĩnh mãi.
Buổi chiều, khi tan học, nàng phải rủ thêm một con bạn cùng về. Nàng ngại đi một mình qua nhà anh chàng Văn, không hiểu sao nàng vừa thấy thích thú hồi hộp vừa sợ.
Nàng bắt con bạn phải lái chiếc xe Cady đèo nàng, còn nàng ôm cặp ngồi sau cho yên bụng. Con đường vẫn còn nhiều nắng, đầy những xe cộ chen chúc, và không hiểu tránh lách thế nào mà con bạn lại cho xe chạy sát trong lề, gần trước cổng nhà anh chàng.
Ngay lúc đó tim nàng đập thình thịch. Nàng vừa thấy một lũ đàn ông tụ năm tụ bảy trước công nhà khá lớn để đúng con số địa chỉ của anh chàng. Không biết trong đám đó ai là Văn. Nàng không dám nhìn kỹ. Nhưng nàng bỗng giật mình khi nhận ra một người tay cầm sách đứng ngó mông ra đường. Hắn mặc một chiếc sơ-mi ca rô đỏ chói thật khó chịu, đeo kính cận thị to tướng và lại đẫy đà to béo.
Nàng thấy thất vọng quá, người cầm sách đúng là Văn rồi, nhưng trái ngược hẳn sự tưởng tượng của nàng.
Bọn đàn ông bỗng chú mục đến hai cô gái đi xe Cady, họ chỉ trỏ cười cợt gì đó. Nàng nóng bừng mặt, thúc cùi chỏ vào lưng con bạn:
– Phóng nhanh lên mày.
– Sao vậy?
Con bạn tỏ vẻ ngạc nhiên vì nó không biết chuyện kết bạn “tâm giao điện thoại” này. Nhưng rồi chiếc xe cũng vọt đi bỏ mặc cổng nhà xa dần sau lưng. Tự nhiên nàng thấy hơi hối hận trong vụ gặp mặt chớp nhoáng này. Anh chàng Văn có giọng nói nghịch ngợm dễ thương, lại có thể béo phục phịch thế kia ư ? Áo đỏ cao bồi nữa, “quê” chết được.
Đêm đó nàng gọi điện thoại trễ hơn thường lệ. Khi giọng nói của Văn vang lên trong ống nghe, nàng lại thấy cái cảm giác ấm áp vui vẻ như mọi đêm, nỗi bực dọc vô cớ tiêu tan mất.
– Cô Thư, thế là tôi biết mặt cô rồi.
Không hiểu tại sao nàng vẫn không tin giọng nói thân thiết này là của người đàn ông áo đỏ hồi chiều.
– Thư cũng biết mặt ông rồi. Ông Văn có cái áo đỏ nổi quá nhỉ, lại đeo kính cận thị trong oai ra phết.
Giọng anh chàng ngạc nhiên:
– Thư nói sao? Tôi mặc áo đỏ bao giờ đâu? Tôi cũng đâu đeo kính cận thị.
Nàng ngạc nhiên không kém:
– Thì ban chiều trước cổng nhà ông đó. Cái ông mặc áo đỏ cầm sách chẳng phải là ông là gì ?
Anh chàng la lên một tiếng rồi hấp tấp nói:
– A lô, cô Thư. Thư nhìn lầm rồi, cũng vì lỗi tại tôi cả. Đang đứng chờ Thư thì lũ bạn kéo đến tán gẫu, cái thằng mặc áo đỏ ấy là bạn trên trường với tôi. Hắn thấy tay tôi đang cầm cuốn sách là giật ngay lấy, hắn là một thằng mọt sách…
Nàng à lên một tiếng, hiểu hết đầu đuôi. Tự dưng nàng thấy nhẹ người, anh chàng là ai cũng được nhưng ít nhứt không phải là gã có bộ mặt khờ khờ đó.
Nàng trách móc:
– Trời ơi. Đã dặn kỹ mà, thì Thư cứ đúng theo ám hiệu của ông, tìm người nào cầm sách thôi.
– Xui thật. Cái thằng quỷ quái ấy không hiểu sao lại giật cuốn sách đúng lúc Thư đi qua, tôi không kịp giải thích. Thế Thư có nhìn thấy tôi không, tôi đứng bên cạnh hắn đó.
Nàng nhíu mày cố tưởng tượng lại nhưng không tài nào nhớ được mặt mày của một bọn người đó. Lúc ấy nàng chỉ bối rối nhìn anh chàng cầm sách thoáng nhanh rồi quay mặt đi.
– Ông Văn ơi, làm sao Thư thấy ông được. Bạn ông đông quá làm Thư thấy khớp, đâu dám nhìn ai nữa.
– Thế thì uổng thật. Nhưng tôi hên hơn Thư rồi. Tôi thấy rõ mặt Thư rồi, cô gái lái xe Cady mặc áo tím.
Nàng bỗng phá ra cười ròn tan, tay nàng che lại ống nghe nhưng anh chàng vẫn nghe thấy. Nàng cố nín cười nhưng không được. Giọng của Văn vang lên, ngạc nhiên lẫn bực tức:
– Có gì mà Thư cười dữ vậy?
Nàng vẫn ôm bụng cười đến chảy nước mắt. Giọng anh chàng ngạc nhiên hỏi mãi. Một lát sau, nàng cắn môi cố nén cười, nói chậm rãi:
– Ông Văn, Thư nói này ông hứa đừng giận Thư mới dám nói.
– Thư nói đi. Có gì mà rào đón thế, tôi không giận đâu.
Khi nghĩ đến chuyện hồi chiều nàng lại muốn bật cười nữa. Nhưng nàng cố nghiêm giọng, nói sự thật, và sự tinh nghịch của nàng.
– Cô mặc áo tím ban chiều không phải là Thư đâu, bạn của Thư đấy. Thư phải xúi mãi nó mới lấy áo tím của Thư mặc, còn Thư mặc áo trắng ngồi đằng yên sau đó. Ông Văn không nhận ra được Thư sao?
Anh chàng lặng yên một lát, có vẻ ngạc nhiên và chắc là cũng như nàng đang cố nhớ lại buổi chiều gặp gỡ rắc rối đó. Nàng nói tiếp:
– Tự dưng Thư thấy sợ. Thư muốn ông Văn khoan biết mặt Thư đã, nên mới bày trò đổi áo “Lê Lai cứu chúa” ấy.
Anh chàng vẫn yên lặng giây lâu rồi giọng nói nhỏ vang lên có vẻ trầm ngâm và buồn:
– Tôi thì vô tình, nhưng Thư đúng là cố ý gạt tôi. Thư à, tự dưng tôi có cảm tưởng rằng Thư .. không phải là người thành thật. Tôi … hơi buồn.
Tiếng nói buồn bã giận dỗi ấy bỗng như làm nàng nhói đau nhè nhẹ, cảm giác mà nàng chưa hề có bao giờ, ngay cả khi giận lẫy với bạn bè. Nàng hối hận, vội vàng nói nhanh:
– Cho Thư xin lỗi. Ông Văn đừng giận Thư nữa, ông đã hứa trước là không giận rồi mà.
Bên kia đầu dây lặng thinh, chỉ có tiếng vo vo buồn tẻ trong ống nói. Nàng băn khoăn đợi một lúc lâu mới nghe có tiếng của anh chàng nặng nề vang lên:
– Thư không muốn cho biết mặt thì thôi, không muốn nói chuyện nữa cũng được. Tôi sẽ không đòi gì nữa.
Nàng cắn môi muốn bật khóc. Nàng cầm ống điện thoại đi về phía giường, và nàng ngã xuống, má tựa êm ái lên chiếc gối. Giọng nàng chợt mềm đi:
– Đừng giận Thư, anh …
Nàng vô tình thốt ra từ “anh” thật dễ dàng và không hối hận chút nào, dầu chưa hề biết mặt nhưng nàng nghĩ rằng chàng là một điều gì thân yêu nhất của nàng.
Mặt nàng bỗng đỏ hồng sung sướng khi vừa nghĩ đến ngày sinh nhật sắp tới của nàng, thông thường vào ngày đó ba má cho phép nàng tha hồ mời bạn bè lại nhà. Nàng mừng rỡ nói:
– Thôi để Thư nói cái này, anh sẽ không còn giận Thư nữa. Thứ ba tới là ngày sinh nhật của Thư. Thư có mời vài đứa bạn thân lại thôi. Mời anh Văn đến cho vui nhé.
Giọng anh chàng có vẻ tươi ngay:
– Trời ơi, tôi bay cả hai cánh đến liền ngay chứ.
Nàng bĩu môi chế giễu, nhưng ở VN chưa có điện thoại truyền hình nên dĩ nhiên anh chàng làm sao thấy được. Nàng nói bằng giọng tinh nghịch:
– Rồi anh sẽ hết tưởng tượng về Thư nữa. Anh tha hồ mà quan sát. Thư sẽ giới thiệu cô áo tím cho anh nữa.
– Sinh nhật… Tôi cảm ơn nhưng ngày sinh nhật. Thứ ba sinh nhật của Thư … Thế mà thứ tư đúng là ngày sinh nhật của tôi rồi. Tôi đến mừng Thư rồi Thư cũng phải đến nhà chia vui với tôi nhé.
– Thôi đi. Sao mà Thư nghi ngờ cái ngày sinh nhật của anh thế. Chuyện đó tính sau, bây giờ anh phải lo kiếm quà cho Thư là vừa.
– Dĩ nhiên rồi. Một món quà vĩ đại … Một con búp bê biết đánh đàn dương cầm và hát.
– Thôi. Thư có nhiều búp bê rồi, Thư cũng không thích đâu. Hay là anh đem cho Thư cuốn sách gì gì của anh viết đó.
– Trời ơi !
– Sao thế ? Anh Văn?
– Không … không có gì cả. Chỉ sợ tôi không còn cuốn nào, in lâu rồi … và nhà xuất bản đem đi phát hành hết.
– Thôi thế để Thư vào tiệm sách tìm cũng được. Cái nhan đề gì Thư quên rồi … Tình yêu … đôi mươi … hả anh ?
– “Hai mươi” nhưng đôi mươi hay hai mươi gì cũng được. Nhưng Thư đừng đi tìm mất công, để tôi đem đến cho.
– Anh nhớ đừng quên đấy nhé, và cũng đừng quên tối thứ ba tới, khoảng 8 giờ. Thư để dành bánh ngọt chờ anh đến mới ăn đó.
– Chắc chán tôi sẽ đến chứ. Dầu bất cứ điều gì xảy ra, ngoại trừ …
Nàng lo sợ hỏi:
– Ngoại trừ điều gì thế anh?
– Không … tôi nói đùa.
– Anh Văn? Anh có cái gì giấu Thư phải không?
Anh chàng trả lời nàng. Giọng anh chàng hấp tấp nói trong máy: “Đêm thứ ba, tôi sẽ đến”, và lần đầu tiên từ đêm hai người nói chuyện với nhau, anh chàng chúc nàng ngủ ngon trước và cúp máy.
Nàng cảm thấy thoáng buồn bâng khuâng. Trời đổ mưa giông lớn, giọt nước và gió bập bùng ngoài cửa kính.
Đêm nay sinh nhật, nàng buồn giận chết được. Đồng hồ đã chỉ 9 giờ vẫn không thấy Văn đâu cả. Địa chỉ nhà nàng đâu có khó mà tìm và anh chàng có lần nói là đã đi qua đi lại trước nhà nàng rồi mà.
Nàng không nghe gì hết tiếng cười đùa nói chuyện của lũ bạn đang xúm xít ngồi quanh bàn. Băng nhạc mới mua vang lên những âm thanh làm nàng nôn nao thêm.
Nàng chạy vội lên gác, gọi đến chàng nhưng giọng nói của một người lạ nào đó cho biết Văn đã đi đâu từ hồi gần 8 giờ rồi. Nàng cắn môi muốn khóc, thế mà dám hứa chắc với mình, chắc là anh chàng vô tâm ấy quên khuấy mất đêm này và đã đi chơi với bạn bè, hay là với một “cô” nào rồi. Nàng nói thầm trong đầu, mình ngu quá. Người ta là đàn ông, đàn ông thì quen nhiều người, có ai hơi đâu để ý đến một kẻ xa lạ không hề thấy mặt trong ống điện thoại này đâu. Người ta đời nào xem cái vụ chuyện trò lẩm cẩm này ra gì đâu.
Có tiếng kêu của con bạn nàng:
– Thư ơi, mau xuống thổi tắt nến rồi khai mạc đi. Thiên hạ đang ngồi chờ chia bánh đây.
Nàng lau vội giọt nước mắt, thẫn thờ bước xuống. Cảnh tượng như mơ hồ. Màu đèn đỏ và hoa giấy, những bộ mặt tươi cười, vui vẻ, ngọn nến lung linh cắm trên chiếc bánh có đề tên nàng.
Nàng gượng cười tiến lại. Khi nàng thổi tắt phụt những ánh nến trong tiếng vỗ tay reo mừng, nàng bỗng sợ hãi, có cảm giác như những ngọn lửa tắt đi là tắt luôn một hạnh phúc mới lạ êm đềm nào, là tan biến niềm vui, là một kẻ thân yêu biến mất trong bóng tối.
Một cái gì đã mất đi ánh sáng, đêm nay đổ vỡ tan tành trong tâm hồn nàng.
Nàng tự hứa sẽ không bao giờ nhớ đến những con số điện thoại của chàng nữa. Nhưng một tuần lễ đi qua, nàng bỗng thấy mình cầm lấy ống điện thoại. Nhưng bên kia đầu dây, chỉ có tiếng nổ lốp bốp đều đều, dấu hiệu cho biết điện thoại nhà chàng bị hỏng hoặc khu phố đó bị đứt đường dây điện rồi. Nàng bỏ mạnh ống nói xuống, cơn giận lâu ngày đã nguội phần nào và bây giờ chỉ thấy buồn bã.
Những chiều đi học về, nàng liếc vội vào nhà chàng. Một cư xá đông người ở, lố nhố bọn đàn ông đứng trước cổng nhưng biết ai là Văn hay chàng biết có đó không.
Vào tháng sau, trước khi theo ba má lên Đà Lạt nghỉ hè, nàng quyết định gọi cho chàng lần chót. Lần này có tiếng trả lời, nhưng là tiếng nói có vẻ của một lão già.
– Ông vui lòng cho tôi nói với ông Văn.
– Ông Văn hả … ông ấy không ở đây cả tháng nay rồi.
Nàng giật mình suýt kêu lên thành tiếng. Giọng lão già nặng nhọc cất lên:
– Alô… Cô gì đó … Cô còn đấy không?
– Dạ… còn, nhưng thôi cảm ơn bác. Ông Văn đã hết ở đó rồi thì thôi…
– Alô…cô khoan cúp máy đã. Tôi là quản lý cư xá này đây. Hôm qua tôi mới nhận được một lá thư của ông Văn không biết nhờ gởi cho ai đây … cô chờ một chút nhé.
– Dạ.
Tim nàng đập mạnh, nàng áp sát tai vào ống nghe, thầm mong đường dây điện thoại đừng bị đột ngột cắt đi. Giọng lão già vang lên:
– Alô. Thư của ông Văn nhờ gởi… không phải … nhờ đọc dùm cho … sao kỳ cục thế này … cho “Cô Thư, người sẽ gọi tôi mỗi đêm từ 11 giờ”.
Nàng kêu lên:
– Đúng rồi. Cháu tên Thư, nhờ bác đọc cho nghe một chút… có dài lắm không.
– Không, cũng ngắn. Cô chờ chút nhé … gớm, chữ gì khó đọc thế này … Alô, cô chờ chút nhé. Nhỏ ơi, lấy cho tao cặp kính.
– Sao bác?
– Không… Tôi không nói với cô … xong rồi, tôi bắt đầu đọc đây “Ngày…tháng…năm…Thư mến. Tôi đã nói dối với Thư nhiều điều. Tha lỗi cho tôi nhé vì dù sao thì tôi cũng chẳng bao giờ gặp Thư nữa…”
– Sao thế?
– Trời ơi, cô đừng ngắt lời. Làm sao tôi biết được. Alô…tôi không có nhiều thời giờ đâu, cô cứ yên mà nghe.
– Dạ… xin lỗi bác. Bác cứ đọc đi ạ.
– Được rồi, lúc nãy là “Chẳng bao giờ gặp Thư nữa …Bây giờ đến ” giờ đây tôi phải nói thật với Thư một lần cuối, tôi chẳng phải là một văn sĩ gì ráo. Thư có tìm khắp các tiệm sách cũng chẳng thấy được cuốn nào gọi là Tình Yêu Hai Mươi của tác giả Hoàng Văn cả. Trước đây tôi là một sinh viên, nhưng thi rớt vài lần, người ta gọi đi lính, tôi không đi và trở thành một kẻ trốn tránh. Cứ ở mãi trong nhà, chỉ có một công việc là chờ Thư gọi điện thoại mỗi tối. Tóm lại, tôi là một kẻ học hành dang dở, một văn sĩ quèn dang dở và từ khi biết Thư lại có thêm một tình cảm dang dở nữa …
Nàng bắt đầu cảm thấy mình khóc, những giọt nước mắt chảy dài trên mặt. Giọng của lão già vẫn đều đều:
– Tôi là một người không ra gì, cả mấy tháng nay không dám đi đâu xa. Tôi sợ mọi người, tưởng chừng ai cũng có thể là một gã cảnh sát hỏi giấy hợp lệ quân dịch…
Đêm tôi đi xa nhất là đêm sinh nhật của Thư, phải qua một cây cầu quái ác, và thế là tôi bị ốp nơi đó.
Giờ thì chắc Thư đã hiểu tại sao đêm đó tôi không đến được, phải không?
– Em đã hiểu… Em xin lỗi anh.
Lão già bực bội cằn nhằn:
– Cái cô này, đã bảo đừng ngắt lời… Người ta nói với cô chứ phải là tôi đâu mà trả lời.
– Dạ… xin lỗi bác, cháu sẽ không nói gì nữa.
– Nghe tiếp đây. “phải không” rồi gì nữa… À… đây này: Tôi cũng không dám hẹn Thư một ngày nào nữa. Bây giờ tôi đã ở một nơi xa lắm rồi, một nơi không có sinh nhật, không có quà tặng, không có tiếng cười, không có áo tím hay sách vở gì hết. Có lẽ khi ra trường, tôi sẽ bị đưa đến một đồn trại nào xa hơn nữa. Thư hãy quên tôi đi như tôi đã cố quên Thư rồi. Và hãy tìm một con số điện thoại khác, biết đâu…
Ký tên, chấm hết. Hết rồi đó cô.
Nàng nói nghẹn ngào:
– Anh ấy có cho địa chỉ lại không?
– Không, cũng không có dấu bưu điện. Thơ nhờ người nào đưa tay mà. À… còn nữa… may không tôi quen cái tái bút này. Cô nghe nhé.
– Dạ.
– Tôi không sống nổi. Thế giới này có quá nhiều cơ hội cho bọn phè phỡn ngồi trên đầu thiên hạ nhưng không có chỗ cho người chỉ muốn có một đời bình yên tầm thường, chỉ muốn làm những điều nhỏ mà hắn ao ước.
Tôi đã chết trong đám người ngợm ấy. Không còn dịp nào để cho tôi nói với Thư điều mà tôi ôm ấp, tưởng chừng hư ảo quá, nhưng càng ngày tôi càng biết điều đó có thật.
Nàng khóc:
– Anh nói đi, em nghe …
Lão già thở dài:
– Hết rồi, thơ viết ngang đó là chấm hết. Thôi, cô còn cần gì nữa không?
– Dạ… không. Cám ơn bác nhiều … chúc bác ngủ ngon… cháu cúp máy đây ạ.
– Chúc cô ngủ ngon, và đừng có khóc. Nãy giờ tuy không hiểu gì cả nhưng cũng đoán là chuyện buồn… Thôi chào cô nhỏ.
Từ đó nàng bỗng sợ hãi chiếc máy điện thoại, nó làm nàng đau đớn. Trong một đêm hoang vắng nào, nàng thẫn thờ nhấc ống nghe và tay quay một cách máy móc hàng số quen thuộc.
Nhưng bên kia đầu dây, không còn ai trả lời.

Hoàng Ngọc Tuấn

Viết Giữa Mênh Mông, Truyện ngắn Nguyên Nhung


10653497_588524887925731_414623437957661785_nVGMM

( Chân dung và tựa đề truyện ngắn của nhà văn Nguyên Nhung)

Cả khu chung cư này gọi hắn là gã khùng, thằng điên hay là ông dở người, hắn chỉ mỉm cười tha thứ. Đối với họ hắn chỉ biết cười ngô nghê như trẻ con, chứ riêng hắn, hắn mới biết mình độ lượng đến đâu, lòng thương hại, nỗi trắc ẩn ấy chỉ mình hắn hiểu khi bọn người lớn mặc kệ lũ trẻ con giễu cợt hắn. Hắn đã thấy nhiều người gầm lên khi cho là mình bị ai xúc phạm, dù người ấy đã được đọc nhiều sách vở nói về cái “ta” của một thực thể, chỉ là hạt bụi vô thường giữa sắc sắc, không không. Dưới mắt hắn, lũ người bảo hắn khùng điên ấy cũng đã từng điên khùng, quanh quẩn trong cái khổ của họ mà họ chưa có can đảm bộc lộ ra bên ngoài cái vỏ của một con người, là vì họ đã khéo léo che đậy được, chứ mở được lòng nhau ra, chưa biết ai điên ai tỉnh.

Hắn là một người điên chữ. Hắn mê sách vở hơn tất cả mọi thứ sinh thú của cuộc đời, cũng chính vì đọc nhiều quá mà hắn đâm rối loạn, mê tỉnh với những điều hắn đọc được. Hắn đọc đủ loại, có những tác phẩm hay, có những tác phẩm dở, mỗi một tác phẩm lại bơm vào đầu hắn một ít suy nghĩ trăn trở, đủ cả hỉ nộ ái ố, đủ cả diễm tình, thù hận, vô luân khiến hắn bị “tẩu hỏa nhập ma”. Vô tình, những tác phẩm của nhiều tác giả đã dàn thành một mặt trận ẩu đả lẫn nhau trong óc hắn, không biết có nên kết tội cho văn chương đã làm băng hoại tâm hồn hắn, hắn không chết được để cứ thế ngẩn ngơ.

Một ngày kia hắn bỗng ngơ ngẩn thật, đi lên đi xuống mấy con đường trong khu chung cư, rồi hắn đi ra biển để hàng giờ cứ lòng vòng trong khu nghĩa trang. Hắn không nhìn ai, lúc nhìn trời, cười, lúc lẩm bẩm câu gì đó trong mồm, cả ngày hắn chỉ thích nói vu vơ với những nhân vật không có thực rồi lại cười một mình. Vợ hắn cho là hắn bị ma ám, còn người đời lại bảo hắn khùng. Hắn đã có một kho tự vị trong đầu, khùng, điên, man man, cám hấp, dở hơi, rồ, tưng tửng, không bình thường đều có nghĩa ám chỉ một người như hắn.

Trước tiên là hắn quên ngay cái việc phải đi làm để kiếm sống. Hắn làm nhiều quá rồi, từ thuở vào đời hắn đã được học để chuẩn bị làm việc, khi ra đời hắn phải lăn xả vào để kiếm miếng cơm nuôi thân, không được ỷ lại vào người khác. Lúc lấy vợ rồi có con, hắn phải làm việc bằng hai, chỉ vì người ta bảo hắn là trụ cột của gia đình. Hắn cứ bị cột chặt vào những vòng luẩn quẩn liên hệ của gia đình và xã hội, đời chả mấy khi vui. Từ lúc điên, hắn quên khuấy ngay cái người đàn bà sống chung với hắn, và cả những đứa con thì hình như không có vẻ dính dáng đến hắn cả. Mỗi ngày, họ bày biện ra đấy cho hắn một phần cơm, hắn lặng lẽ ngồi vào ăn khi bụng đói, hắn lặng lẽ dọn dẹp, lặng lẽ ngồi một mình ngoài hiên đọc sách, ngắm nhìn thế giới loài người bằng ánh mắt xa lạ.

Hắn là một người điên hiền lành không làm phiền cho ai, nhưng người ta vẫn không để hắn yên. Vợ hắn lôi hắn đi nhà thương, hỏi gì thì hắn cũng chỉ cười, nghe rào rào như các nhân vật đang độc thoại trong một tác phẩm. Hắn thú vị thấy anh bác sĩ tâm thần giơ hai tay lên trời, chịu thua không khám phá nổi con người của hắn, bởi vì anh ta hỏi gì thì hắn cũng chỉ cười, nụ cười an nhiên tự tại mà hắn nhìn thấy được trên bức tượng Phật ở ngôi chùa miền quê, hồi còn nhỏ hắn theo mẹ đi chùa, đã có lúc bắt chước nhắm mắt mỉm cười như Phật. Anh ta hỏi gì hắn cũng chỉ cười, như cười vào mũi những kẻ chẳng ra gì mà cứ hay dí mõm vào cuộc đời của người khác, anh ta cỡ nào mà soi thủng nổi tâm hồn của một con người kỳ dị như hắn.

Hắn được cho uống thuốc, uống nhiều, ngủ nhiều, thức dậy thì cuộc đời vẫn vậy, không thay đổi, không đẹp hơn hay xấu đi. Bỗng dưng hắn thấy mình phải viết, cần phải trang trải những suy tư về cuộc đời lên giấy. Hắn thấy không có thứ bút mực nào đủ sức chuyên chở những điều hắn cảm nhận được bằng cái bình mực đầy ắp trong tâm hồn hắn, đơn giản nhất là cứ chấm ngón tay vào ngực, nơi có trái tim, nơi bình mực có sẵn trong người rồi viết lên khoảng không những gì hắn muốn viết. Thứ giấy của trời sao đẹp thế, trong suốt vô ngần, có khi bàng bạc một màu xanh, có khi ửng hồng như má môi người thiếu nữ, lại nõn nà như tơ, không phải bật đèn khi trời tối, không gửi gấm, đăng tải đó đây để mọi người bình phẩm lôi thôi.

Hắn thích viết vào những buổi sáng khi mặt trời vừa lên, chiếu ánh sáng vào cõi đời tối tăm chật chội này, đời lại thêm một ngày đáng ghét. Có thể là buổi chiều khi hoàng hôn xuống, lũ chim chóc đã gọi nhau về tổ, hắn ngồi đấy ngắm nghía ông đi qua bà đi lại, nghe cây cỏ rì rào, than thở. Trong hắn như dục dã hắn phải viết, cứ thế chấm ngón tay vào ngực, viết nhoay nhoáy vào khoảng không , đó là lúc hắn đang viết truyện đấy.

Truyện của hắn nhiều lắm, không ai đọc được nên không ai biết hắn viết gì, chứ hắn thì nhớ từng tác phẩm. Khi viết xong, hắn viết một chữ HẾT thật to, rồi mỉm cười nhẹ nhõm. Có lúc hắn cười hoài với một câu chuyện dí dỏm, có lúc cũng xúc động ứa nước mắt với những tác phẩm buồn. Hắn đã viết xong câu chuyện của một cặp vợ chồng già, sống hẩm hiu với nhau trong khu chung cư, con cháu họ thành đạt cả nhưng không ai chịu sống chung với cha mẹ. Có lẽ tại các cụ khó tính. Có lẽ tại xứ này người ta quan niệm hai chữ Tự Do cao cả hơn đạo lý con người, cho nên mặc nhiên xem đấy là điều phải chấp nhận, không có nghĩa là bất hiếu theo quan niệm Á Đông, không có gì đi ngược với nền văn minh của khoa học và kỹ thuật hiện đại.

Hai cụ già dạo còn khỏe mạnh, cụ bà ngồi xe lăn vì chứng đau đầu gối, cụ ông cũng ngót nghét tám mươi, nhẫn nại ì ạch đẩy chiếc xe lăn cho cụ bà đi chợ, đổ rác. . . Hai cái mồm móm mém, bốn con mắt nhăn nheo, hấp háy cùng cười với hắn mỗi lần gặp, chào hắn tử tế dù biết hắn được gọi là người khùng của khu chung cư. Hắn tưởng tượng năm, sáu mươi năm trước, khi cụ bà là một cô gái xuân mặn mà, cụ ông là một thanh niên hùng dũng, trẻ trung, họ có thể là một cặp uyên ương lý tưởng mà bao người phải thèm thuồng, mơ ước. Mấy mươi năm trôi qua để đâu biết rằng đời có lúc lại hẩm hiu đến thế. Hắn đặt tên cho tác phẩm là “Hai chiếc bóng” trên một nền trời mênh mông màu tím ngắt, như một bức phông đẹp và buồn cho ăn nhịp với cái buồn bã của cuộc đời, sau chữ THE END to tướng, là hình ảnh hai cụ già lủi thủi đẩy xe đi loanh quanh trên con đường đầy lá vàng khô, mỗi lúc lôi ra đọc bằng sự hồi tưởng hắn lại ngậm ngùi ứa ra mấy giọt lệ.

Đấy là một tác phẩm buồn, còn có lúc hắn cũng viết được những truyện vui, trào lộng, qua hình ảnh ông hàng xóm to béo hay chọc ghẹo, trò chuyện với hắn những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Ông ta đã được hắn cho vào tác phẩm “Người hàng xóm” với lối viết trào lộng, chỉ có hắn với trời mới biết được. Ông ta hay hỏi hắn với lối xách mé của một bậc đàn anh hay bỡn cợt, tưởng như hắn là con chó, con mèo đùa chơi cho đỡ buồn:

“ Sao chú mày? Cơm nước gì chưa?”

Ông cười hề hề, vô duyên không ngửi được. Hắn cũng yên lặng cười, mắt nhìn trời, không nói năng. Ông ta tiếp:

“ Suốt ngày nhìn trời, ở đấy có gì mà nhìn mãi thế?”

Mặc ông ta nói, hắn chỉ cười. Hắn có cái bình tĩnh, dịu dàng mà những người tỉnh táo hiếm khi có được, cái im lặng như một câu trả lời ông hàng xóm to béo lúc nào cũng bô lô, ba la, vậy mà khi mụ vợ quát lên, ông nem nép như rắn mùng năm. Không biết ông ta làm gì, thỉnh thoảng thấy ông ta diện đẹp, đi với một đám người cũng ồn ào như ông ta, mụ vợ bĩu môi, nhìn theo với một cái nhìn rẻ rúng. Họ cãi nhau hoài, những lúc ấy chỉ nghe tiếng mụ vợ ong óng rủa sả, còn ông ta ngậm câm như hến. Một buổi chiều ăn cơm xong, hắn ra sân nhìn trời, xỉa răng, ông to béo chỉ trần xì cái quần cụt, áo thung ra sân tưới cây, hôm ấy hắn mới nghe ông ấy nói một câu chí lý:

“ Lắm lúc tao cũng muốn điên như chú mày mà không điên được. Đời chán bỏ mẹ”..

À, có thế chứ! Hôm đó hắn mới biết ông hàng xóm đã nói một câu chân thật nhất, chí lý nhất, câu nói phát xuất tự đáy lòng của một con tim chân chính, hóa ra có lúc con người đã cả đời phải dấu diếm nỗi đau khổ. Thì ra có người cũng ao ước cái điên của một thằng điên. Hê, hê! Có bị đời cột chặt vào những gông xiềng của trăm thứ bổn phận, mới thấy cái Tự do khi rũ ra được những thứ của nợ đó. Hóa ra ông to béo cũng chán đời, chán cái không khí nặng nề trong gia đình, chán vợ, chán con, cái mà người ta ngó vào lại cho là ông ta đang hạnh phúc.

Hắn lại viết, vẫn lối chấm tay vào ngực viết lên trời, tác phẩm “Ông Hàng Xóm” được tả rất tỉ mỉ từng tiếng tru tréo và nét mặt hậm hực của người vợ mỗi khi cãi nhau, bước chân nặng nề của người chồng, cánh cửa xập thật mạnh làm rung rinh nhà hàng xóm. Khi viết xong, chữ HẾT lại được viết nắn nót trên một nền trời xám xịt, đang ngả sang màu đen, với những tia chớp ngoằn nghoèo báo hiệu một cơn giông tố.

* * *

Những ngày không có gì để viết hắn lang thang ra bờ biển, cách khu chung cư mấy con đường đi tìm ý. Bên kia là biển xanh, bên này trên triền đồi thoai thoải là một khu nghĩa trang, những ngôi mộ sơn trắng toát bằng nhau nằm im lặng trong một thế giới không còn màng đến nhà cao cửa rộng, không còn tranh đua cao thấp như xã hội loài người. Ở phía ngoài là một cái nhà quàn bằng đá xám, cũng im lặng nốt. Hôm nào có người mới hắn thấy xe đậu đầy ngoài sân, ánh đèn hắt lên từ cánh cửa đóng im ỉm, u ám như một ngôi mộ lớn. Đi ra đi vào là những khuôn mặt ảm đạm của người sống, quần áo kịt một màu đen, những lúc ấy dường như con người mới thấm thía tận cùng nghĩa “vô thường” của cõi nhân gian.

Chỉ hôm nào đến khu nghĩa trang, hắn mới có cảm giác đi vào một khu toàn những người lịch sự, thích sự yên tĩnh và biết tôn trọng tư duy của người khác. Bỏ lại sau lưng khu chung cư đủ mọi hạng người, đủ mọi âm thanh, đầy mùi vị, mỗi lần đến đây hắn lại có cảm giác được trở về nhà, một thôn xóm bình thường, nhà ai nấy ở, họ có cái yên tĩnh của những trang giấy trắng đầy chữ, yên lặng mà lại nói biết bao nhiêu.

Con đường này hắn đi qua mộ của cụ Mary, cứ xem qua cách trình bày trên bia mộ thì cụ Mary người ở vùng Arizona, nơi ấy chỉ có núi đá và sa mạc, đồi trơ trụi, cây thưa thớt, khí hậu nóng và khô. Chắc cụ lấy chồng rồi trôi giạt sang đây, và khi chết gửi nắm xương tàn trong khu nghĩa trang ven eo biển vắng. Hắn về nhà nghiên cứu cuốn địa lý và thổ nhưỡng nước Mỹ, biết ở đấy chỉ có xương rồng và loại cây thấp, lá nhỏ như lá me keo là sống được. Mấy lần hắn đều tạt vào thăm cụ, lại trồng cho cụ một cây xương rồng có hoa vàng hắn xin được của một nhà trong xóm. Hắn biết nếu còn sống, cụ bà Mary chắc hẳn rất hài lòng trước tấm lòng của hắn, khi nhìn thấy cây xương rồng biểu tượng cho vùng quê hương cằn cỗi, nóng khô người nơi cụ chào đời đã mọc lên ở đây. Ấy là tự hắn “suy bụng ta ra bụng người”, khi đi đâu, bất ngờ nhìn thấy một khóm chuối, một bụi trúc hắn lại thấy lòng dấy lên nỗi nhớ quê kỳ dị. Ngõ vào nhà hắn năm xưa có một bụi trúc mát rượi, có mái nhà tranh, có bà mẹ già, có bụi chuối xiêm bên hè, khoảng sân đất nóng ran bàn chân mỗi trưa hè, vậy mà sao vẫn nhớ, vẫn thương đến thế.

Cạnh nhà cụ Mary là nhà anh David, hắn cứ gọi là nhà cho tiện, vì người sống có nhà, người chết có mồ mà lại. Anh ta là một chiến sĩ Không Quân, chết trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. David chết trẻ lắm, mới hai mươi bốn tuổi, sao anh ta lại lạc lõng ở nơi này trong khi hàng ngàn, hàng ngàn bạn bè anh chen vai thích cánh trong những nghĩa trang Quân Đội rộng lớn. Chắc nơi đây là chốn quê nhà, chim có tổ, người có tông, cha mẹ anh đã mang con về đây cho gần gũi, hai cái thân già một năm đôi ba lần ghé vào để chua sót, ngậm ngùi, thương tiếc đứa con bạc phước.

Cái cảnh này không lạ gì đối với hắn. Ngày xưa, thuở hắn còn trẻ, thời chiến tranh Nam Bắc đang hồi khốc liệt, bạn bè hắn khối người đã ra đi như thế, mới buổi sáng còn giơ tay chào nhau, buổi chiều đã ra người thiên cổ. Hắn sợ nhất phải nghe tiếng khóc nức nở của người còn ở lại, sợ những đôi mắt ngây dại nhìn đăm đắm vào khoảng không để tìm lại những ảnh hình của người thân đã mất. . .

Đã nhiều lần hắn ngồi bệt xuống ngôi mộ của David để trò chuyện với anh ta như một người bạn, vì dù sao anh ta đã từng đổ những giọt máu cuối cùng trên quê hương hắn. Dưới bóng cây phong, hắn nhìn ra mé biển phía bên kia, ở đấy suốt ngày sóng vỗ vào ghềnh đá, ì oạp, xói mòn vào bờ tạo nên những hõm tối âm u. Ngoài xa là biển xanh vẫn rì rào sóng vỗ, một đôi chim hải âu chao lượn trên sóng nước, như hình ảnh hai chiếc phi cơ đang bay theo đội hình, bất chợt chúi xuống mặt đất để thả bom vào mục tiêu của chiến trận. Không hiểu David có bao giờ nhìn ra hình ảnh ấy, như hắn đã nhìn thấy những trận đánh kinh hồn nơi quê hương của mình. Ngày sinh và tháng sinh của David đã gợi cho hắn nhớ về dĩ vãng, cũng hắn những ngày tháng đó, cũng những lần vào sinh ra tử để rồi có một ngày bật khóc khi không biết mình là ai. Cuộc chiến ấy đã nuốt chửng đi hàng triệu sinh linh, hầu hết là những người vô tội, cuối cùng thì hắn tơi tả như chiếc mền rách, còn David lại về nằm ở nơi đây, khi linh hồn đã bay về nẻo hư không.

Hắn cứ tò mò muốn biết anh ta đã nghĩ gì về Việt Nam, đã bỏ gì ở Việt Nam, chắc chắn là có, những giọt máu của anh ta đã đổ xuống trên một chỗ nào nơi vùng đất xa xăm bên kia bờ đại dương, vì lý tưởng cho hai chữ Tự do mà anh ta nghĩ là ai cũng phải hưởng đồng đều như nhau. (…)

Hắn thì thầm nói chuyện với người lính Mỹ chết trận năm xưa, rồi múa may viết lên trời câu chuyện “Người lính Mỹ chết ở Việt Nam”. Công nhận David đẹp trai, nét mặt hiền, dưới chiếc calô đội lệch, anh ta lúc nào cũng cười, đôi mắt anh mơ mộng như khói sóng, lúc nào cũng như muốn bảo hắn rằng:

“Thôi đi anh bạn tội nghiệp, đời như một chỗ tạm, ghé qua rồi lại về, hơi sức đâu mà ngậm ngùi, tiếc nuối.”

Cũng phải thôi, một ngày nào đó hắn cũng sẽ trở về với đất như David, hắn ao ước cái thân xác này được thiêu ra thành tro bụi, được hòa tan theo sóng biển, để linh hồn hắn được lặn ngụp trong cái mát mẻ của đại dương. Về đâu bây giờ? Chỗ nào cũng có loài người hiện diện, một sinh vật siêu đẳng chuyên môn tìm cách làm khổ lẫn nhau, nhân danh đủ thứ chuyện để bắt con người vào cái vòng “kim cô” oan nghiệt không lối thoát. Có lẽ phải hỏi David chuyện này, vì chỉ có anh ta mới có câu trả lời trung thực nhất, như người hàng xóm to béo đã có lúc buột mồm ao ước điên khùng để được yên thân. Nhưng David cũng chỉ im lặng, nhìn hắn cười như hắn cũng chỉ im lặng nhìn trời cười một mình.

Câu chuyện của David hắn đã viết xong, hai chữ THE END trên nền trời nửa sáng nửa tối, giữa cõi bên này và cõi bên kia chỉ đi bằng một bước chân. Hắn vẽ thêm hình ảnh một chiếc trực thăng đang là là đáp xuống một bãi cỏ trống nửa vàng, nửa xanh, lố nhố những chiếc nón sắt, lòa nhòa hình ảnh vài thân cây cháy đen vì bom đạn.

* * *

Nhiều tác phẩm của hắn đã được viết bằng mực của hắn và giấy của trời, mỗi bố cục của truyện có lồng vào một bối cảnh thật của cuộc đời muôn mặt. Hắn đã lặng đi, miên man với tác phẩm của mình, trong những buổi chiều ngồi trước sân nhà sau bữa cơm, hay những lúc lang thang trong khu nghĩa trang bên eo biển vắng. Hắn là một người điên hiền lành, một chứng nhân của cuộc đời ít là ở một khoảnh khắc nào đó, là một nhà văn không tên tuổi nhưng lại viết rất nhiều những gì hắn cảm nhận được.

Ngày đến rồi ngày đi, sáng cũng như chiều, hắn lặng lẽ sống, lặng lẽ đi, lặng lẽ về, hắn nhìn đời dửng dưng và đi tìm hoài cái mênh mông trong vô tận. Thỉnh thoảng hắn lại viết, chấm ngón tay vào ngực, rồi nhoay nhoáy viết lên trời, dường như chỉ có trời mới đủ rộng để chất chứa tất cả những suy nghĩ buồn vui, hóm hỉnh của hắn, cho những tác phẩm viết lên khoảng không gian mênh mông vô tận ấy.

Nguyên Nhung

(Nguồn: https://sites.google.com/site/giadinhkqvnch/trang-truyen-nguyen-nhung)

Dấu Chân Bãi Cát, Truyện ngắn Nguyễn Thị Hoàng


91 1 vongtayhoctronguyenthihoangBongLaHonHoa

(Tác phẩm và chân dung nhà văn Nguyễn Thị Hoàng)

Nguyễn Thị Hoàng

Cảm giác chìm nổi bồng bềnh trong dòng sông đen đặc quánh, Hiệp bàng hoàng đọc lại không biết lần thứ mấy khoản tin tức bất ngờ trên báo, trong khi buổi chiều đâu đó đã chập choạng buông màn xuống vùng không gian im vắng mê man. Niềm xót xa lâng lâng lúc đầu dần dần biến thành một đau đớn gậm nhấm nhức nhối trong tâm hồn, xô đẩy Hiệp vào giữa vùng bất định giằng co của ý muốn đi thăm Nga, xin cho Nga trở về với mình, hay mặc Nga với màng lưới đen tăm tối đã phủ xuống đời sống nàng đang bình yên, vĩnh viễn. Hiệp nghĩ mỗi người chỉ có thể tự cứu lấy mình, trong bất cứ trường hợp nào, nhất là khi rắc rối vì một lý do tinh thần hay tình cảm. Nhưng với người đàn bà thì không thể tự cứu lấy mình. Nhất là người đàn bà đã liên hệ sâu xa với mình, dù một năm một tháng một ngày nào đó gối chăn. Cho nên Hiệp phân vân. Phân vân và khổ sở giữa hai ý muốn đồng thời và đối lập là đi tìm Nga, đưa nàng về hay làm ngơ, bỏ mặc. Cho đáng kiếp. Có lẽ là Nga sẽ khóc. Nhưng nước mắt đàn bà chỉ là những hạt nước mưa trên ngọn lá môn. Rồi Nga sẽ tủi nhục một thời gian, và sau đó, quên hết để bắt đầu một trường hợp khác, tương tự, thản nhiên như ra chợ chọn một xấp hàng may áo. Một cái áo. Rồi những cái áo. Nhưng mà không thể như thế được. Vì Nga đã là của Hiệp. Của Hiệp trong đời sống, trong những ý nghĩ thiên thần trong sáng về một người con gái ngày xưa. Bây giờ Nga đến thế. Tại sao? Có phải vì chàng? Vì những nguyên nhân không ngăn ngừa đề phòng, và Nga bây giờ như thế. Với một người đàn ông nào Hiệp chưa từng biết, cùng bị bắt, ở một căn phòng trên cao thành phố, nhờ sự tố cáo của một người đàn bà khác. Hiệp chết điếng với bài báo đó. Phản bội có nghĩa là mất mát. Cho nên niềm tức giận cũng là nỗi xót xa. Và đến khi mất rồi, Hiệp mới khám phá ra giá trị của một báu vật. Nga và tình yêu cho chàng. Những ngày với nhau quên trời đất. Vùng không gian diễm ảo không bóng hình kẻ thứ ba. Bây giờ đã hết. Và có tìm đưa Nga về cũng chỉ như lần đầu tiên cuối cùng khâm liệm một phần đời sống mình thôi. Nhưng Hiệp không thể không đi. Bài báo mô tả đời sống bẩn thỉu nhục nhằn của nhà giam bọn đàn bà con gái nhơ nhuốc đó. Nga đã bị lầm tưởng, đã bị đưa vào đó, và bây giờ, cúi mặt xuống vùng bóng tối, Nga đang mong mỏi tuyệt vọng chàng tìm đến, như một biện minh với cuộc đời và tình yêu còn rơi rớt lại trong tận cùng đáy lòng đã héo hon tủi nhục buồn phiền.

Hiệp mặc áo và ra đường. Đêm đã xuống. Con đường lập loà ánh đèn và bóng lá trôi dần vào miền tối tăm vắng ngắt phía trước. Bóng Hiệp đổ dài trên mặt nhựa đen, chàng đã tan biến trong một cơn gió lạ lùng nào, chỉ còn chiếc bóng này lang thang trôi dạt về cuối đường thăm thẳm. Chàng chờ và gọi một chiếc xe hơi đến vùng trại giam bọn đàn bà bất hạnh. Không một xe nào bằng lòng đưa chàng đi. Chàng trả với bất cứ giá nào, tất cả đều từ chối. Ý muốn đi tìm Nga bây giờ mãnh liệt nung nấu trong lòng chàng, nhưng Hiệp không thể nào đi bộ trong đêm, hàng chục cây số. Đột nhiên, ở mỗi gốc cây bên đường, Hiệp choáng váng nhìn thấy một bóng đàn bà tha thướt, người đàn bà cười khanh khách với người đàn ông. Những cặp tình nhân đều giống nhau. Vì họ là Nga, với người đàn ông lạ. Hiệp sững sờ vùng chạy. Những cặp tình nhân dời gốc cây lên xe. Mũi xe hướng về phía chàng. Ánh đèn pha sáng rực gần mãi, gần mãi lại. Hiệp té sấp xuống đường. Chiếc xe lao lên mình Hiệp, nhưng chàng bỗng có cảm giác êm ái khối nặng của chiếc xe tưởng đã nghiền nát thân thể chàng thành một đống thịt bầy nhầy lao vút qua khỏi người chàng, và Hiệp vùng tỉnh dậy. Có tiếng la hoảng hốt của một thằng bé con. Hiệp quờ tay lên vớ được chân thằng bé. Nó vùng vằng cầu cứu một người nào ở đàng xa.
“Mày làm cái gì đấy?”
“Tôi… không có làm cái gì đâu”.
“Thế mày rình gì tao?” Hiệp vặn xoắn tay thằng bé.
“Tôi đổ nước”.
Hiệp sờ tay lên cổ rồi nhổm người lên tát cái bốp vào mặt thằng bé:
“Ơ, thế mày đổ nước lên đầu lên cổ tao đấy”.
Đứa bé ấp úng muốn khóc:
“Tôi có đổ nước lên ông đâu, vào bụi ấy mà, tại ông nằm trong bụi, không nhúc nhích, trời tối, tôi có nhìn thấy ông đâu”.
Hiệp buông thõng tay thằng bé. Có tiếng chân nhẹ nhàng rón rén đi đến sau Hiệp, rồi tiếng đàn bà trong vắt:
“Gì đó, con?”
“Ông này khi không tát tai con”.
Hiệp gắt; không nhìn người đàn bà vừa đi đến:
“Nó đổ nước lên người ta, còn bảo khi không sao được?”
Người đàn bà kéo tay thằng bé ra rồi cúi xuống phía Hiệp:
“Ấy chết, cháu nó lỡ ra, tôi xin lỗi ông”.
Giọng nói bây giờ bỗng trầm xuống, như lời dỗ dành dịu dàng, lôi cuốn Hiệp vào một hồi tưởng đột ngột, và chàng bỗng cảm thấy âm thanh quen thuộc này như tiếng gọi của một quãng đời chìm ngập đã xa mờ trong ký ức và thời gian. Ánh đèn đường bỗng dạt qua một tàn lá dừa xao động gió đêm và Hiệp nhận ra, trong vùng tranh tối tranh sáng của bờ biển, khuôn mặt mơ màng của Diễm Châu một ngày nồng nàn tháng hạ năm nào.
“Trời ơi, anh đấy ư?”
“Phải, anh chứ không một người nào khác, thằng con em nó đã chọn đúng chỗ để đổ nước”.
“Em đã xin lỗi anh. Và cũng tại anh nằm trong chỗ khuất thế này này”.
“Nhưng nếu bố nó nằm cũng chỗ này thì nó chắc chắn không làm vậy đâu”.
“Anh Hiệp, anh giận em điều gì sao?”
“Châu dẫn thằng bé ra với bố nó đi, để cho tôi yên”.
“Không có bố thằng bé ở đây. Mà sao phải ra với bố nó?”
Hiệp ngờ ngợ, Châu đã cười khúc khích:
“Nó không phải con em đâu, em chưa lấy chồng”.
“Thế người đàn ông trên máy bay hôm nọ với em?”
“Vâng, em đi với hắn, nhưng không phải là chồng. Mình vào trong kia nói chuyện dài hơn, nghe anh”.
“Vào đâu?”
“Trong khách sạn”.
“Em ở một mình trong khách sạn sao?”
“Vâng, còn biết thế nào hơn”.
Giọng Châu chán chường buông xuôi nhói lên trong lòng Hiệp chút bùi ngùi thương cảm.
Ngày mai hay ngày kia anh sẽ đến thăm Châu. Ngọn lửa đêm xưa đã tắt trong lòng người đàn ông, Châu nghĩ giọng nói ơ hờ và thái độ chừng mực của Hiệp, và mình níu kéo vô ích. Mỗi ngọn lửa chỉ cháy một lần. Và sau đó chỉ là những ánh hồng le lói gượng gạo không còn đủ sưởi ấm một đêm dài băng giá.
“Hình như anh cần một mình, hôm khác chúng mình lại gặp nhau, em không xin anh, nhưng tưởng tượng nếu chúng mình gặp lại nhau một lần, chỉ một lần thôi”.
Bước chân Châu đi im lìm không âm vang trên bãi cát. Trong bóng đêm, Hiệp nhìn thấy lờ mờ trên dải cát mênh mông từng dấu chân nhỏ của người đàn bà rẽ đường vào hiu quạnh.

chay-tren-bien-1

° ° °
Lên hết cầu thang xoắn ốc, Hiệp tần ngần dừng lại. Thật ra Hiệp không hề muốn đến. Không có một cảm giác hay ý nghĩ nào đủ lôi cuốn chàng tới vùng bóng tối đèn mờ trên kia. Nhưng Hiệp đã ra đường, đã đi đến, và phút này đến nơi, Hiệp bỗng muốn trở về tức khắc, để giữ lại kịp trước khi đánh vỡ thêm lần nữa cảm tưởng bình yên thanh thoát về những ngày hiện tại. Hiệp không muốn xao động, không muốn thay đổi, không muốn làm gì hơn hay kém cho cuộc đời mình đã như thế. Mấy hôm trước Hiệp nghĩ điều đó chỉ vì mình. Nhưng bây giờ đứng trên tận cùng thang lầu xoắn ốc của một khách sạn xa lạ, Hiệp chợt nghĩ đến Nga, nghĩ đến Nga và muốn trở về. Ích gì một phút giây lạc loài trên vùng đèn mờ ảo đó. Chàng sẽ không cảm thấy gì hết. Với Châu hay bất cứ một người nào khác. Tất cả thật đã nguội lạnh từ lúc có Nga, và với sự hiện diện thường trực của Nga trong đời. Hiệp chịu đựng thường xuyên một niềm ray rứt về thân phận và cuộc đời Nga. Hiệp đã cố gắng nghĩ là đời Nga kể như bắt đầu từ khi có Hiệp. Nhưng đời sống là một chuỗi dài quá khứ hiện tại tương lai, không thể tách rời, không thể cắt bỏ một phần thời gian đổ nát ném khỏi thực tại của đời sống. Những nỗi ray rứt lâu ngày dựng lên trong tình yêu cho Nga một vạn lý trường thành cách ngăn điệp điệp trùng trùng. Mà bây giờ, trong một lung linh nhớ nhung, tất cả bỗng sụp đổ xuống, và Hiệp hối hận đã rời bỏ vùng bóng đêm thanh bình dưới đó để lên đây với một người đã vô tri trong kỷ niệm và cuộc đời chàng vĩnh viễn.
Cửa phòng mở nhẹ nhàng và khuôn mặt Châu diễm ảo trong đèn hồng nồng nàn. Hiệp đi vào và Châu khép cửa lại. Hiệp ngồi xuống ghế trong lúc Châu đứng im bên khung cửa sổ mở lên vòm trời sao lờ mờ. Một lúc, Hiệp nghe có tiếng rào rào dưới vườn cây.
“Gì thế Châu?”
“Hình như trời sắp mưa lớn”.
“Anh phải về trước cơn mưa”.
Châu đóng chặt cửa kính:
“Anh ngồi lại cho qua cơn mưa, ít ra, anh hãy cứu vớt em một lần. Chỉ một lần này”.
“Có gì là cứu vớt?”
“Anh đến, và ngồi như thế. Cho em cảm tưởng mình hãy còn như xưa”.
“Đáng lẽ anh phải an ủi Châu. Nhưng anh chẳng còn lời lẽ để tự nói với mình. Đêm rồi qua đi, ích gì khi tìm kiếm chút ảo tưởng mong manh trong bóng tối này. Ngày sẽ soi rõ tất cả và sẽ xô đẩy mình vào nỗi đắng cay thường trực”.
Gió phả cơn mưa bất ngờ dữ dội xuống vườn cây. Châu kéo kín các màn cửa và đặt trước mặt Hiệp cốc rượu nồng. Hiệp nâng ly rượu lên rồi để xuống.
“Rồi một ngày, bỗng dưng anh không còn đến với em nữa”.
“Anh đã gặp lại Châu nhiều lần, nhưng lơ đi. Không làm gì được cho Châu, thà như vậy là hơn”.
“Em không đòi hỏi gì hơn là thỉnh thoảng được nhìn thấy anh một lần, để níu kéo chút liên hệ cuối cùng và độc nhất giữa em với cuộc đời. Nhưng rồi nỗi mong ước đó cũng tan hoang”.
“Em ở đây một mình?”
“Vâng, chỉ ghé qua đây vài hôm rồi đi”.
“Đi đâu?”
“Em không biết”.
Lòng Hiệp chùng xuống một thoáng xót xa lắt lay. Dù sao có một ngày nào xưa, với Châu chàng đã qua một lần đằm thắm nồng nàn. Bây giờ người con gái làm củi rêu lênh đênh trên nước lũ. Và Hiệp chỉ là người trên đường hờ hững đi qua, như Hiệp đã hờ hững đi qua trên cuộc đời và thân phận chính mình, không còn một nỗ lực nhỏ nhoi nào để níu lại sự thăng bằng cho tâm hồn, cho sự sống tàn héo dần dần trong công việc, hành vi ngôn ngữ ý nghĩ lặp lại hằng ngày một điệp khúc bình yên.
Hiệp nâng ly rượu lên môi uống cạn. Một lúc cảm giác cồn cào xoáy xuống ruột gan, mí mắt căng căng niềm mỏi mệt bơ phờ, hai tay buông xuôi trong tay Châu, chàng nằm xuống nệm giường như thả trôi xuống dòng nước chảy. Trong mắt Hiệp nóng bừng khép kín, ánh đèn hồng bỗng như lu mờ hẳn lại, và tiếng Châu lẫn vào trong tiếng mưa chìm chìm rơi.
Một lúc Hiệp tỉnh dậy và lạnh toát người với ý nghĩ đi đến chỉ là bước lên những dấu chân vừa để lại đàng sau, đi hết vòng tròn đời sống chỉ là trở về thời điểm và mỗi một người không thể thanh toán dứt khoát với quá khứ mình để thản nhiên buổi chiều lại cuộc đời nên thường xuyên nặng trĩu trên vai hành trang khô héo của những tháng năm nào không còn nữa. Ngày mai mỗi người vẫn ở nguyên vị trí mình hôm nay, không xê dịch khỏi vòng vây mệnh số, và mong chờ tuyệt vọng một đổi thay tốt đẹp không bao giờ tới. Cho nên đi xa hơn trong tình cảm và không gian chỉ để làm rõ cảm giác lạc loài. Như Châu rồi sẽ cô đơn bên cạnh những người xa lạ mới. Như Hiệp bây giờ phiêu du giờ phút với Châu, bỗng chênh vênh nỗi nhớ về nguồn là Nga chờ đợi ở nhà thầm lặng.
Hiệp đứng lên, không nhìn Nga, không nói một lời, cúi đầu đi xuống cầu thang trong cơn mưa vừa dứt dưới vườn cây ngủ. Bãi cát ướt dưới lưng, vòm trời đen như một cái nắp tròn trên mặt, Hiệp nằm nhìn mông lung ra khơi. Trên những hòn đảo xa, đèn của quân đội Mỹ chiếm đóng kết từng vành tròn thoai thoải cong xuống gần mặt biển đưa mơ mộng Hiệp đến những vành lược óng ả trên mái tóc đàn bà Nhật Bản. Tiếng sóng mỗi lúc một gần dưới chân, như tiếng rào rào mơ hồ của một bánh xe khổng lồ sắp nghiến lên thân thể Hiệp. Chàng có cảm tưởng sắp bị vùi chồng, và hoảng hốt muốn níu lấy bàn tay Nga đã buông rời theo năm tháng.

° ° °
Giấc ngủ như còn chập chờn trên rèm mi cong loáng thoáng chiêm bao, Nga thong thả đi ngang qua vùng nhà thờ, với ý nghĩ mơ hồ là mong mỏi một nhân chứng vô hình thiêng liêng nào đón tiếp những phút giây thênh thang của chuỗi ngày cô quạnh lại bắt đầu. Sáng Chủ nhật. Nắng hé dải một lụa vàng hanh phơn phớt trên hàng cây còn ngây ngất hương mưa đêm. Tiếng chuông lễ sớm trong giáo đường thánh thót. Những tà áo màu rực rỡ trong không khí phảng phất mùi thơm của gió sớm và lá cây. Tiếng guốc reo vui trên khoảng lề đường sạch bóng. Còi xe gởi tiếng cười gặp gỡ hồn nhiên xuống ngả tư đường nao nức. Và cuồn cuộn như nước chảy, những bánh xe lăn rào rào trên mặt nhựa ngọt ngào nhẵn bóng của buổi sáng cuối tuần rộn ràng thường lệ của Sài Gòn. Một bóng con gái áo trắng đi ngược chiều thoảng lại mùi thơm dìu dịu của những tràng hoa nhài vừa nở. Mùi hương và hình ảnh ứa trào trong lòng Nga kỷ niệm xót xa của một thời con gái bình minh. Bây giờ buổi chiều cuộc đời đã xuống trong buổi mai huy hoàng thành phố, và tôi không còn chút liên hệ nào, chút quyền hạn nào với sự sống vời vợi dâng như thủy triều xung quanh. Cho ốc đảo đìu hiu ngậm ngùi thân phận lạc loài. Tôi đã tự ý tách rời, từ khước đám đông cũng có nghĩa một phần nào là lảng tránh. Tôi không có quyền cũng vì thế đồng nghĩa với tôi không chấp nhận xung quanh, để không còn một tương quan nào nữa giữa tôi và ngày qua, giữa tôi và khung cảnh bao giờ cũng nhắc nhở cũng vang rền hình ảnh thanh âm tôi không còn muốn nhớ. Bởi như vậy là hết. Tôi từ bỏ tất cả chỉ được Hiệp. Và bây giờ Hiệp cũng không còn thuộc về tôi, hay, đúng hơn là Hiệp vẫn mãi mãi là của tôi nhưng trong sâu xa của tình yêu tôi linh cảm thấy điều gì không ổn, và bây giờ Hiệp cũng bỏ đi rồi, không nói rõ lý do hoặc không có một lý do xác đáng nào để nói. Cho nên tôi lơ lửng không trông cậy vào đâu và không thuộc về đâu cả. Buổi sáng Chủ nhật gọi Nga ra khỏi nhà bằng khung cửa sổ chắn một vuông trời trong vắt. Trong khung trời vuông xanh nhạt sợi mây dài như tóc thu đã bềnh bồng trôi qua khoé mắt Nga khép hờ thao thức. Một ngày nào đó những ấn tượng bồi hồi của mỗi người cưu mang nuôi nấng rồi cũng lê thê và đứt quãng như dải mây trôi. Và Nga đã mặc chiếc áo màu buồn buông xuôi thể xác tâm hồn xuống phố.
Nhìn và không thấy gì trên hè phố bây giờ bắt đầu tấp nập, Nga mê man đi hết quãng đường, đẩy cửa kính dày của một nhà hàng ăn uống giải khát, bước vào ngẩn ngơ, ngồi xuống một chiếc ghế gần cửa kính, e dè như sợ động vỡ. Thoáng hình ảnh xao xuyến bỗng nhói lên trong lòng khi đi qua khung cửa, Nga thoáng thấy bóng mình trong gương soi. Cái thoáng hình ảnh như cơn gió lạnh đầu mùa đánh thức trong lòng người con gái những cơn rùng mình ớn lạnh cho một quãng thời gian đánh mất suốt đời, cùng với những cơ hội nao nức, những ước hẹn mông lung, những đợi chờ vô vọng, những dang dở ngậm ngùi, và những lời thề nguyền trên trang thư xanh màu thương nhớ xa khơi.
Cô dùng gì, người bồi hỏi từ thế giới của người đời xa lạ. Cho một trà đường. Có bánh ngọt không. Có, cho hai cái, Nga nói lửng lơ với nhánh lá xanh vươn lên trên mặt cửa kính trong suốt. Người bồi mang bình nước đến, với một cái chén, một cái muỗng, rồi một cái đĩa, và khay bánh. Không, dọn hai phần kia mà, sao lại chỉ có một đĩa, Nga hỏi. À, hai người, người bồi ngạc nhiên trả lời và đi lấy thêm một phần chén đĩa.
Đối diện với tách trà vương khói của người vắng mặt bên kia, Nga nâng chén trà mình uống từng ngụm nhỏ tiếng nhạc trầm trầm xoáy lên từ góc phòng. Anh, Nga gọi thầm, cho tiếng nhạc bây giờ đắng chát. Đã mười năm rồi có phải không anh. Mười năm em đã quên, không nhớ lại, không nghĩ đến một lần nào. Mà bỗng trong chiêm bao anh về lãng đãng đêm qua. Khi tôi nhận ra mình đi lạc đường, bóng chiều đã xuống thấp. Con đường dài sâu trũng ngoằn ngoèo giữa hai bờ cây cỏ hoang vu dần dần sẫm màu, và bóng tối như một vầng khói đen khổng lồ từ trời cao xoáy lốc ào ạt đổ xuống, lượn vòng từ đàng xa, xô dạt mỗi lúc một nhiều và một nhanh về phía tôi. Bốn bề vắng ngắt, không một mái nhà, không một bóng người, không dấu vết nhỏ nhoi nào của đời sống. Khối bóng tối bây giờ đã sụp xuống trên đầu tôi, nhưng tôi không cảm thấy gì ngoài ý nghĩ tuyệt vọng là từ giây phút này, vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy vòm trời trong suốt bao la ngoài kia nữa. Một lúc, cái màn tối tăm đen đặc bỗng mỏng đi, và tôi nhìn thấy, như từ trời cao đổ xuống, dòng thác trắng cuồn cuộn đổ xuôi xuống một vườn núi tím. Loáng thoáng bên kia, xa tít tắp, hình ảnh nhạt mờ của một chòi lá chênh vênh bên chiếc cầu ván nhỏ. Rồi giữa những màu sắc âm u của buổi chiều xám ngắt đó, tôi tìm thấy vết áo trắng hiện hiện chìm chìm, bồng bềnh như một cánh chim trên sườn tôi, gần chiếc cầu nhỏ. Tôi đi vương mắc trong màn bóng tối đến bên kia bờ đất hoang, hai chân nâng bổng với cảm giác bàng hoàng nao nức. Cảnh vật bỗng quay tít một vòng, vòm trời chợt sáng lên một giây, và tôi bay ở bên một bờ suối, với tiếng cười đùa ríu rít của con gái con trai, tiếng đổ rào rào của thác nước, và giữa những âm thanh lạ hoắc nổi trôi, tôi bỗng nhận ra tiếng nói của Hoài. Tiếng nói quen thuộc của Hoài một ngày mùa hè ấu thơ xa lắc. Tôi đi vòng qua một vòm cây. Và Hoài đó. Hoài đứng với một người đàn bà. Tôi muốn kêu lên cho lời mình vọng vang qua suốt thời gian mười năm trôi mê mải. Nhưng Hoài nhìn tôi như nhìn một kẻ không quen, trong khi người đàn bà xa lạ mỉm cười giới thiệu người đàn ông là chồng. Hoài mỉm cười, nửa ngờ vực, nửa châm biếm xót xa. Tôi nói với người đàn bà chị làm ơn chỉ hộ tôi đường về miền biển. Người đàn bà nói chị cứ đi dọc theo bờ suối, qua bên kia cái thác, đến một vùng đất cao hoang vu, đi xuống một sườn đồi thoai thoải, qua chuyến đò, đi về miền nam là đến nơi. Tôi lạc đường xa quá rồi, tôi nói. Rất tiếc là chúng tôi đi ngược đường với chị, nếu không, chúng mình cùng đi, nàng tươi cười. Tôi bảo, cùng đi thế nào được, chị đi thì tôi không đi và chị không đi thì tôi đi, chúng mình không thể đi chung một con đường. Chị đi đúng đường, còn tôi thì sai lạc từ đầu nhưng không biết. Hay là nhà tôi đưa chị sang bên kia thác rồi trở về đây đón tôi, nàng hỏi. Không được đâu, tôi đi một mình còn hơn đi vì lòng tử tế, chị phải đứng một mình, tôi nói với chính mình và nhìn lên vùng bóng tối lan dài trên đỉnh núi. Ngọn thác trắng đã chìm trong bóng tối, chỉ còn nghe tiếng chảy rì rào triền miên, điệp khúc không nguôi ngoai của tháng ngày. Chị đi một mình qua núi nên mặc thêm áo ấm, tôi lấy áo tôi cho chị mượn, người đàn bà nói và đi thoăn thoắt qua bên kia bờ cây. Trên đầu hai người, vòm lá lao xao reo bay. Tôi nghe mơ hồ tiếng thở dài u uất của Hoài trong hơi gió núi chiều hôm.
“Mười năm nay, anh vẫn nghĩ đến em, em biết không Nga?” Tôi đứng cách xa Hoài thêm một bước.
“Vâng, nghĩ đến một người và sống với một người khác”.
“Ngày mai em về biển phải không?” Hoài hỏi bùi ngùi.
Tôi bỗng dưng muốn khóc cho những tờ thư xanh Hoài gửi đến không bao giờ được hồi âm một mùa hè mười năm trước:
“Vâng, em từ biển mà đi, giờ em lại trở về với biển”.
“Nếu ngày xưa Nga trả lời thư anh, cuộc đời mình bây giờ đã khác thế này”.
“Vâng, và em đêm nay sẽ không phải một mình băng vời qua bên kia núi”.
Hoài tiến lên một bước. Áo Hoài chạm vào vai tôi mơ hồ như chỉ là một ảo tưởng. Lòng tôi bỗng rưng rức đớn đau.
“Cho đến khi em bỗng muốn trả lời thư anh thì mọi chuyện đã lỡ làng rồi”. Tôi nói câu cuối cùng với Hoài và bỏ chạy trước khi người đàn bà mang áo đến.
Trong đáy nước lung linh, giọt nước mắt Nga âm thầm nhỏ xuống, nàng pha trà vào tách, một muỗng đường quậy nhẹ cho tan tành trong đáy nước những hình ảnh cuối cùng của giấc chiêm bao đêm qua. Vị trà bây giờ ngọt lịm trên môi, Nga đứng lên, tiến về phía máy điện thoại. Nàng quay số, thật chậm rãi, muộn màng…
“Tôi không ngờ, không bao giờ có thể ngờ người đến lại là Nga”.
“Cũng như tôi không ngờ người tôi tìm đến hôm nay lại là anh”.
“Nga đã nghĩ thế từ mười năm về trước”.
“Van anh, thôi đừng nhắc ngày xưa đó”.
“Nga chết vì ngày xưa nhưng tôi chỉ sống vì ngày xưa”.
“Lẽ ra tôi phải biết sống nhờ ngày xưa đó. Nhưng tôi dại khờ, lạc lối cho đến bây giờ, và đôi khi tự hỏi vì sao ngày đó không một lần trả lời thư anh”.
“Nga còn nhớ những bức thư tôi ngày cũ đó sao?”
“Trong mười năm, thật ra không bao giờ em nghĩ đến. Nhưng đêm qua…”
“Thế nào, việc gì đã đến trong đêm qua?”
“Giấc chiêm bao”.
“Giấc chiêm bao thì nhắc nhở được gì đến những ngày hoang đường xa lắc đó?”
“Vâng, có nghĩa lý gì giấc chiêm bao. Nhưng trong giấc chiêm bao, tôi bỗng thấy mình bé bỏng lại như mười năm về trước, như ngày đầu tiên anh đến thăm và lạ lùng là tôi bỗng cảm thấy yêu, yêu và tiếc xót xa… Thôi tôi đi về. Tôi đến đột ngột, liều lĩnh thế này chắc anh sẽ khinh, anh tha lỗi cho. Tôi chỉ cầu mong tìm thấy anh lại một lần; để biết anh là người thật hay chỉ là hình ảnh chiêm bao, và mười năm xưa đã đến, hay chỉ là ảo tưởng lu mờ”.
“Sao Nga biết số điện thoại tôi?”
“Biết chứ, như biết nơi anh làm việc, con đường anh ở và mỗi lần đi mỗi lần về của anh. Nhưng anh đừng lầm tưởng, những điều đẹp nhất chỉ là ảo tưởng và chiêm bao. Ngoài đời sống thật thì chẳng có gì. Tôi biết chỉ vì tò mò, không gì khác hơn. Tâm hồn tôi bây giờ nhẵn bóng, trơn tru một hòn cuội trắng. Nhưng đêm qua giấc chiêm bao đánh lừa tôi. Tôi đến anh vì muốn biết chiêm bao phỉnh phờ mình hay là…”
“Bây giờ xin em ngồi lại, giây lát thôi, uống với tôi tách trà buổi tối, và hãy kể cho tôi nghe giấc chiêm bao đêm qua”.
“Không được”.
“Vì sao vậy?”
“Anh có thấy, những đám bèo đang trôi?”
Hoài ra đứng bên cửa sổ nhìn xuống. Con nước lừ đừ loang loáng bóng chiều sẫm màu dâng đầy trên sông, cuốn theo những đám bèo bồng bềnh, và thỉnh thoảng giữa những đám lá đen bỗng vươn lên như một cánh tay giã từ nhỏ bé, bông hoa bèo tím nhạt lênh đênh. Mỗi ngày bèo vẫn trôi lênh đênh trên sông từ cửa sổ phòng chàng mà Hoài chưa một lần nhìn thấy, và bây giờ thì bông hoa tím nhạt đã khuất xa dưới kia chân cầu tràn ngập bóng đêm…
“Vâng, bèo trôi…”
“Thôi bây giờ Nga đi về”.
“Nga ở một mình?”
“Không, cũng như anh vậy, nhưng không bằng anh, hoặc là hơn anh. Không có đời sống nào bằng nhau và giống nhau”.
“Hãy ngồi lại uống tách trà với anh, từ lúc đến Nga chưa ngồi xuống, như kẻ đi đòi nợ”.
“Đúng là đòi nợ, hãy trả cho em tách trà mười năm về trước đã pha cho anh. Rồi giữa chúng mình như thế là nhẹ lòng”.
Nga chớp mau mắt nhìn ra khung cửa sổ tìm một cánh bèo nhưng bóng tối đã xoá nhoà con sông tội nghiệp. Rồi nàng ngồi xuống chiếc ghế da màu cặn rượu đối diện Hoài. Hai người yên lặng nhìn nhau một giây. Người làm bưng khay trà lên rón rén đặt trước mặt mỗi người một tách trà thơm ngát. Nâng chén lên môi, hai người bàng hoàng nhìn nhau nhấp một ngụm trà. Đột nhiên, Nga bỗng mong mỏi thiết tha, thành khẩn là Hoài sẽ nói một câu gì, phác một cử chỉ nào liều lĩnh với mình để chắp nối lại, dù giây phút, dù mong manh thời gian hiện tại với ngày nào mười năm về trước. Hiệp bỗng đứng lên. Chàng đi vòng sang chỗ Nga ngồi, và dừng lại, trầm ngâm với chén trà trên tay. Trong một thoáng, Ngà bỗng sợ hãi chính điều mong muốn vừa rồi, sợ hãi đến xót xa ngây ngất với niềm đau đớn lâng lâng.
Hoài đưa Nga ra khỏi phòng khách, xuống lầu, qua sân. Khi Hoài đưa tay mở cổng, Nga đứng lùi lại dưới cánh tay nhấc cao của Hoài. Nàng ngẩn ngơ không tìm thấy nổi xúc động dạt dào của đêm qua khi đứng bên Hoài trong giấc chiêm bao.

° ° °
Trời nóng bức khô khan nao nức đợi chờ cơn mưa cuối cùng của buổi chiều. Tiếng sấm động mơ hồ trong chân mây. Không gian thu nhỏ cho hai người gặp nhau trong gian phòng âm u kín cửa. Hiệp hỏi làm thế nào lúc nãy em vào đón anh tận trong phi trường. Nga cười cho hương hơi quen thuộc phả xuống tóc môi Hiệp cảm giác buồn buồn rưng rức, em mua hẳn một vé máy bay, và đi theo xe hành khách. Buổi chiều, căn phòng, khuôn mặt người đối diện, hơi thở nồng nàn và cánh tay ôm quanh lưng, tất cả bỗng mới mẻ, và dịu dàng như lần đầu tiên họ đến với nhau. Tiếng sấm càng lúc càng rõ và gần bên ngoài. Không gian bỗng lắng xuống mát dịu với hơi gió bắt đầu ẩm ướt. Em cảm tưởng không phải là anh mà chính em vừa đi đâu xa về, và từ đây không bao giờ đi nữa, Nga thoáng ăn năn. Hiệp dúi cái tàn thuốc đang cháy dở trên bàn, chúng mình đã trở về. Cơn mưa rào rào chạy nhanh trên những mái nhà cằn khô và cuối cùng dừng lại giăng màn mờ mờ trong mắt Nga hình ảnh căn phòng quay tít, dâng cao và cảm giác bay bổng nhẹ tênh xoá mờ trong tiềm thức tối tăm những mảnh vụn chiêm bao cuối cùng. Em nghĩ gì đó Nga. Không, không có gì cả. Trời đã mưa và chúng mình đã trở về.

Nguyễn Thị Hoàng

Tác giả:

Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11-12-1939 tại Huế. Theo học trường Đồng Khánh, 1957 vào Nha Trang, 1960 vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật; bỏ dở, đi làm, dạy học ở Đà Lạt (cuốn tiểu thuyết gây chấn động dư luận miền Nam Vòng Tay Học Trò được sáng tác trong khoảng thời gian này); bỏ Đà Lạt về Sài Gòn, cộng tác với các tạp chí Bách khoa, Văn… và một số báo khác. Sau Vòng Tay Học Trò còn xuất bản trên 30 tiểu thuyết trước 1975. 1990 xuất bản Nhật Ký Của Im Lặng. Cùng lúc Là người yêu của Đấng Trời (và nhiều cuốn khác) chưa xuất bản. Từ đó im lặng.

Tác phẩm:

Vòng Tay Học Trò (truyện dài, Kim Anh,1966)
Tuổi Sàigòn (truyện dài, Kim Anh, 1967)
Ngày Qua Bóng Tối (truyện dài, Văn, 1967)
Trên thiên đường ký ức (tập truyện, Hoàng Đông Phương, 1967)
Vào nơi gió cát (truyện dài, Hoàng Đông Phương,1967)
Mảnh trời cuối cùng (truyện ngắn, Hoàng Đông Phương,1968)
Cho Những Mùa Xuân Phai (tập truyện, Văn Uyển, 1968)
Về trong sương mù (truyện dài, Thái Phương, 1968)
Cho đến khi chiều xuống (truyện dài, Gió, 1969)
Đất hứa (truyện dài, Hoàng Đông Phương, 1969)
Tiếng chuông gọi người tình trở về (truyện dài, Sống Mới, 1969)
Vực nước mắt (truyện dài, Gió, 1969)
Vết sương trên ghế đá hồng (truyện dài, Hoàng Đông Phương,1970)
Tiếng hát lên trời (truyện dài, Xuân Hương, 1970)
Trời xanh trên mái cao (truyện dài, Tân Văn, 1970)
Bóng người thiên thu (truyện dài, Hoàng Đông Phương,1971)
Bóng tối cuối cùng (truyện dài, Giao Điểm, 1971)
Tình yêu, địa ngục (truyện dài, Nguyễn Đình Vượng, 1971)
Định mệnh còn gõ cửa (truyện dài, Đồng Nai, 1972)
Bây giờ và mãi mãi (truyện dài, Đời Mới, 1973)
Bóng Lá Hồn Hoa (truyện dài, Văn, 1973)
Năm tháng dìu hiu (truyện dài, Đời Mới, 1973)
Trời xanh không còn nữa (truyện dài, Đời Mới, 1973)
Tuần trăng mật màu xanh (truyện dài, Đồng Nai, 1973)
Buồn như đời người (truyện dài, Đời Mới, 1974)
Chút tình xin lãng quên (truyện dài, Trương Vĩnh Ký, 1974)
Cuộc Tình Trong Ngục Thất (truyện dài, Nguyễn Đình Vượng, 1974)
Dưới vầng hoa trắng (tập truyện, Sống Mới, 197?)
Nhật ký của im lặng (Đồng Nai, 1990)

Tiếng Hát Hoang Đường, Truyện ngắn Hoàng Ngọc Tuấn


trinhcongson-2chandunghntimages

Tác phẩm và chân dung nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (1947-2005)

Hoàng Ngọc Tuấn – 1971

“… khi nàng hát bài “Tình ca của người mất trí”. Bài hát ấy là trái tim đau đớn của những người thiếu nữ xinh đẹp trẻ trung, đã sớm biết nỗi buồn của người góa phụ, khi người yêu của họ bất chợt ngã gục trên một chiến trường nào đó, ở Pleime, ở Đồng Xoài, ở Chiến Khu D hay ở ngoài Hà Nội. Nàng cũng có một người yêu tử trận trên miền núi, bây giờ nàng kêu khóc đau xót cho nàng và cho cả biết bao cô gái khác. Dưới ánh đèn, giọt lệ không bao giờ rơi trên mắt nàng, nhưng trong tâm hồn đã rơi đầy tiếng khóc hiu quạnh…”

Co-mot-kho-tang-tranh-Trinh-Cong-Son_Tin180.com_001

(Tranh sơn dầu trên giấy của Trịnh Công Sơn –  năm 1963)

“Tiếng hát của chị thật hoang đường, trong âm thanh đục mờ như một màn sương, có những nhựa cây ma túy. Nó làm đầu óc tôi lãng đãng nhưng không mệt mỏi, trái lại người tôi lúc nghe chị hát, tỉnh táo ghê gớm lắm, những lời ca như những hạt mưa giông nặng trĩu, và tôi lắng nghe rõ ràng từng tiếng vang động của giọt âm thanh lóng lánh ấy như tiếng chuông rền trong trái tim, đôi khi nó làm tôi hạnh phúc, đôi khi làm tôi đau đớn.”

Nàng cười: “anh nói mơ hồ và dài dòng quá, tôi không hiểu được hết”. Người thanh niên nói: “có hề gì đâu, tôi cũng không nhớ được hết những lời tôi vừa nói, tôi chỉ cảm thấy bất chợt như thế, chỉ có điều này làm tôi nhớ mãi, là tiếng hát của chị cần cho tôi như cơm áo, thuốc lá, như tiếng mẹ ru thời còn bé, và tôi sẽ chết được nếu mai sau rủi có việc gì xảy ra làm tôi không còn được nghe chị hát nữa”. Nàng cười sung sướng. Đôi mắt nàng khi vui tươi vẫn tối tăm hơn đêm tối. Nụ cười của nàng khi hạnh phúc vẫn không được toàn vẹn, vẫn nặng trĩu trong một màn lướt dĩ vãng dày đặc nào đó.

Người thanh niên bỏ đi sau khi nói những lời cuối cùng với nàng. Nàng tìm một điếu thuốc nhưng bao thuốc của nàng đã trống không, bị vò nát trong bàn tay nàng. Nàng nghĩ rằng mình thôi không hút thêm một điếu thuốc nào nữa, đêm nay nàng đã hút hết một bao rồi, nhưng chất cà phê còn thấm trong lưỡi khiến nàng thèm một hơi thuốc lá, một ít khói nóng cay cho miệng bớt nhạt nhẽo. Người thanh niên trở lại với bao thuốc lá trong túi áo, anh châm cho nàng một điếu thuốc, và nhờ ánh lửa của que diêm cháy trong phút chốc, nàng nhìn thấy tóc anh đã dài và anh mặc một chiếc áo sơ mi màu xanh da trời. Người thanh niên nói anh sẽ đưa nàng về nhà bây giờ nếu nàng thích về và đã buồn ngủ. Nàng gật đầu đồng ý, về nhà bây giờ chắc sẽ buồn nhưng nàng nhớ hai đứa con của nàng giờ đang ôm gối ngủ say.

Bây giờ là đêm nhưng chiếc áo dài màu lục diệp của nàng còn đen hơn đêm tối. Trong đêm khuya hoang lạnh, không còn âm thanh gì cả ngoài tiếng bánh xe lăn rào rạo trên mặt đường, nàng thì thầm hát một đoạn nhạc nhưng tiếng hát nhỏ quá khiến nàng cũng không nghe gì cả. Tiếng hát dư thừa còn lại trong đêm khuya, nghe yếu đuối như hạt bong bóng nước.

Như thế là một đêm của nàng đã hết. Đêm bắt đầu khi ngọn đèn thắp lên ánh sáng, và đáng lẽ kéo dài đến sáng, nhưng vì bây giờ giới nghiêm lúc mười hai giờ, những người bạn của nàng và nàng phải về nhà nên đến giờ đó xem như đêm của nàng đã hết. Những giờ về sáng còn lại là ngủ mê man trong một cơn mơ tươi thắm và chờ đợi ngày khác bắt đầu.

***

Nếu người điên không nghe, nàng vẫn nói một mình cho nàng: Tôi có cái tên của một loài hoa mùa xuân nhưng đời tôi không trong sáng như mùa xuân. Ở tuổi mười tám tôi là một nữ sinh nhưng rồi đã bỏ trường học vào năm đó. Thành phố này có những đêm lộng lẫy ở phòng trà ca nhạc, những cặp tình nhân ăn mặc sang trọng như tài tử, những người bồi mặc áo trắng thắt nơ đen thật đẹp cung kính cầm chai sâm banh rót vào ly. Không khí mê hoặc của bóng tối trong căn phòng gắn máy lạnh, hình ảnh rực rỡ cúa những cô ca sĩ dưới ánh đèn màu, âm thanh sôi nổi của tiếng đàn, trống kèn. Tôi đã yêu những thứ đó quá sớm, và khi tôi yêu điều gì, tôi không thể nào trốn tránh nó được, tôi lao đầu chạy theo như một dòng thác nước đổ ào xuống thung lũng.

Tôi tập tành hát hỏng, mang những giấc mộng huy hoàng nhưng rồi chỉ là một cô ca sĩ vô danh trong cái thành phố quá khó khăn cho những ai muốn bắt đầu điều gì. Sài Gòn có thật nhiều thần tượng, mà người ta đã thi nhau nhào nặn rồi dựng nên, những thần tượng phần nào giả tạo nhưng vững chắc trước đám đông người dễ dãi. Tôi bỏ nhà, bỏ Sài Gòn, lên một tỉnh cao nguyên, tìm được một chân khiêm nhường trong phòng trà nhỏ. Mỗi đêm đứng trước ánh đèn chiếu vào người, mặc một bộ đồ da đen bóng cóp nhặt theo những ca sĩ ngoại quốc, hát vài bài nhạc thời thượng do khách yêu cầu rồi nghe một tràng pháo tay nhỏ nhoi. Cứ như thế mãi.

Trời Đà Lạt lạnh và cô đơn, tôi cần hơi ấm của một người tình. Tôi yêu dễ dàng một người đàn ông trẻ tuổi có khá tiền, và trở thành vợ của người đó thật đơn giản. Một đứa bé gái và một đứa bé trai ra đời, tôi trở thành đàn bà nhưng trong tôi có một tâm hồn trẻ con vẫn sống mãi. Tôi yêu nhiều điều, say mê nhiều thứ và chạy theo luôn những điều tôi yêu. Người chồng và hai con mang lại cho tôi hạnh phúc, nhưng tôi vẫn thèm khác những điều khác nữa, những điều không phải là hạnh phúc, đôi khi đồng nghĩa với khổ đau, trôi nổi. Tôi có thêm một hai nhân tình sang giàu và thế lực, công khai nép mình trong vòng tay của họ, tình yêu tôi đối với một vài người khá lâu dài, một vài người ngắn ngủi. Người chồng ghen tuông đau đớn, cãi vã giận dữ rồi bỏ đi, rồi lại trở về. Đời sống chúng tôi không còn yên bình, sự yên bình mà người khác có thể tìm thấy dễ dàng, nhưng tôi quá chán sự bình. Người chồng tìm quên ở những người đàn bà khác, chúng tôi yêu nhau nhưng đôi lúc thù ghét nhau và cả hai đứa cứ tiếp tục bị vây khốn trong một xích sắt siết chặt, cùng tìm lấy nhau vào nỗi khổ.

Tôi vẫn hát ở phòng trà nhỏ cao nguyên để kiếm một số lương đủ sống. Tôi không suy nghĩ nhiều về âm nhạc. Tôi chỉ muốn được trở thành một ca sĩ ăn khách nhất, được nhiều người hâm mộ, tiền thù lao thật cao để tôi ăn xài thỏa thích, mua sắm những bộ y phục đắt tiền, tôi hát như một cái máy, tiếng hát tôi sẽ tự động phát ra, chạy đều đều cho đến hết bài, như một bổn phận đối với tiền bạc.

***

Một đêm khi phòng trà vừa đóng cửa, người nhạc sĩ nhìn thấy nàng đang đứng dưới mái hiên bên ngoài mưa rơi từng vệt óng ánh trong bầu trời đen, nàng vừa hát xong, đứng một mình ngần ngại nhìn trời mưa, rồi lặng lẽ bước ra ngoài đường, thân hình nàng gầy nhỏ co ro trong chiếc áo đi mưa, mái tóc đen láng nước. Nàng dừng lại ở sạp bán thuốc, mua một bao thuốc lá rồi tiếp tục đi. Trong bóng đêm có những ngụm khói xanh mỏng manh, đôi mắt nàng nhìn xuống mặt đường lạnh lùng như một người xa lạ trong thành phố. Người nhạc sĩ lần đầu tiên vừa nghe nàng hát trong phòng trà. Giữa đám đông khách đang bận rộn trò chuyện và nhậu nhẹt, tiếng hát nàng thật yếu ớt và lẻ loi. Nhưng người nhạc sĩ lặng yên nghe nàng hát, tiếng ca non dại như một loài chim nhỏ chưa vỡ tiếng, con chim chưa thoát xác để trở thành loài họa mi mơ ước. Trong giây lát, nhìn dáng dấp cô đơn của nàng thật mơ hồ trên con đường đêm, người nhạc sĩ đột nhiên nghĩ rằng những bài hát của anh là dành riêng cho nàng, cho dù những bài hát ấy thật khó khăn, đòi hỏi một giọng ca điêu luyện, cho dù tiếng hát của nàng còn non yếu. Nhưng khuôn mặt nàng với nếp nhăn đến sớm trên một vầng trán trẻ, đôi mắt mơ hồ buồn như màu suối nhưng đôi khi lóe lên những ngọn lửa tham vọng quyết liệt. Hình ảnh ấy cứ bám chặt lấy tâm trí người nhạc sĩ, anh biết những bài hát của anh lâu nay vẫn chờ đợi một tiếng hát đàn bà thật lạ thường, bây giờ đã trao hết cho người anh mới gặp đầu tiên này, trao tặng như một món quà sinh nhật làm sung sướng cả hai người.

Anh gọi tên nàng. Những bước chân nàng ngạc nhiên dừng lại, và như thế là nàng cũng chấm dứt luôn đời sống nhàm chán vô ích, kéo dài lê thê trong phòng trà đêm đêm, ở một tỉnh lỵ lạnh lùng. Nàng vứt điếu thuốc xuống vũng nước mưa, thắp lên môi một điếu thuốc mới. Ánh lửa rực rỡ sáng một đám hồng hào trong đêm tối tăm, nàng bắt đầu hút một điếu thuốc mới. Môt quãng đời vui mới, một trái tim nồng mới và một hạnh phúc êm ái mới.

Căn phòng của người nhạc sĩ có cánh cửa sổ nhìn sang khu rừng, từ bên trong tiếng hát của nàng ào ạt vỡ tung bay ra theo khung cửa, chen lẫn với tiếng đàn. Ròng rã nhiều ngày, người nhạc sĩ tập cho nàng hát những bài của anh, hát trong bầu không khí hoàn toàn mới mẻ, không còn bận tâm với bọn thực khách xung quanh, không nghĩ đến những lời hò hét yêu cầu của bọn say rượu, không cần phải liếc mắt cười tình với khán giả, không nghĩ đến số tiền lương mỗi tháng. Đến một lúc nào đó, tự do tuôn trào ra từ lồng ngực, dễ dàng như hơi thở, âm thanh vỡ tung hoang dại như loài dã thú. Dã thú lâu nay vẫn nằm bệnh hoạn trong cũi sắt, mòn mỏi hết những sở trường. Bao lâu nay dã thú không có rừng xanh, tiếng suối, cây già, không có không khí trong sạch của trời cao, dã thú tầm thường như một loài da súc. Bây giờ cánh cửa lồng đã mở, dã thú có được tất cả những gì nó thèm khát. Tiếng hát nàng mới lạ như nàng mới nghe lần đầu tiên, và nàng cương quyết sẽ bám chặt lấy nó suốt đời.

Người nhạc sĩ cũng tập cho nàng biết yêu những bài hát, biết yêu những nốt lên cao vút như ước mơ, những nốt thấp trùng xuống như phận người. Anh nói: người ta không thể hát thật hay một bài hát nếu không yêu, nếu không cảm thấy những lời ca chính là những điều mình bao lâu nay ôm ấp chưa thành tiếng nói. Nàng đùa cợt.

– Như thế muốn hát hay hơn nữa, có cần phải yêu người làm ra bài hát không?

Người nhạc sĩ cười không nói gì, anh dừng đàn:

– Ngày mai anh sẽ về Sài Gòn. Dưới đó có một quán văn nghệ của sinh viên mở, họ mời anh về hát, ở đó nhiều người chờ anh hát cho họ nghe.

– Em cũng về Sài Gòn theo.

– Em phải suy nghĩ kỹ lại. Ở đây hát phòng trà em kiếm được vài chục ngàn mỗi tháng. Xuống dưới đó, hát cho đám đông nghe, chỉ uống nước đá lạnh mà đôi khi còn bị ăn cà chua nữa.

– Em suy nghĩ nhanh lắm. Quyết định rồi, em về. Em không cần tiền nữa, bây giờ chỉ cần có người hiểu mình, thành thật thích nghe mình, họ thèm nghe cũng như em thèm hát.

Tự dưng nàng nghĩ đến mây trời. Một đám mây cứ nằm mãi trên trời cao thật vô ích và buồn chán biết bao, sao không biến thành những cơn mưa ngọt ngào rơi tràn ngập trên những cánh đồng lúa khô cạn.

Nàng bật cười, cười với người nhạc sĩ: bây giờ em mới đúng là “con chim đến từ núi lạ, ngửa cổ hát chơi…”

***

Đêm đầu tiên trình diễn bằng tiếng hát đích thực của mình. Sân khấu là hai két bia xếp cạnh nhau đặt giữa sân cỏ, một ngọn đèn vàng treo trên nhánh cây trước mặt. Máy vi âm đang bỏ không, chờ đợi nàng. Chung quanh là đám người ồn ào vây kín, chuyển động không yên, cả một khu rừng làm bằng những mái tóc lòa xòa bên cạnh nhau, những khuôn mặt trẻ tuổi ngước lên háo hức chờ đợi. Tiếng la hét hối thúc nổi vang thêm lên và cáo một vài tiếng kêu bực dọc của một anh chàng nào đó ngồi gần bục gỗ. Nàng lo lắng nhìn người nhạc sĩ: đông quá, em sợ. Thoáng chốc người ca sĩ chuyên nghiệp trong nàng đã chết, nàng cảm thấy sợ hãi trước những đôi mắt sáng thẳng thắn đang chờ đợi nàng. Đám người trẻ tuổi này không tốn một đồng để nghe nhạc nhưng lại có quyền khen chê khắc nghiệt nhất, tiếng vỗ tay nồng nhiệt hay những lời ó dữ dội sẽ thốt lên từ những đôi môi hồng nông nổi.

Nàng đứng run rẩy như một cô nữ sinh lần đầu tiên ra trước ánh đèn sân khấu.

Những người sinh viên phụ trách quán cà phê tất tả chạy lui chạy tới lo đủ thứ công việc, sửa dây điện, thử lại máy phóng thanh, gắn đường dây máy thâu băng vào chiếc máy ghi âm để thâu tiếng hát của nàng. Người sinh viên chủ quán đưa mắt nhìn người nhạc sĩ, anh gật đầu và thử lại sợi dây đàn. Anh sinh viên ra trước máy vi âm, giới thiệu chương trình nhạc do người nhạc sĩ quen thuộc và một tiếng hát mới lạ là nàng trình diễn.

Nàng ra đứng trước cái bục gỗ rất bấp bênh vì hai két bia đặt không đều bằng nhau. Không có ánh đèn xanh đỏ chiếu vào người như ở phòng trà, nhưng cách xa nàng một khoảng ngắn có một ngọn đèn màu hồng mờ nhạt làm khuôn mặt nàng thật huyền ảo và lạ lùng trong đêm tối.

Nàng cố gắng không nhìn ai, gần như có cả một rừng đôi mắt sáng rực rỡ chiếu thẳng vào mặt nàng. Tiếng đàn của người nhạc sĩ vang lên bên tai, rồi dần dần chậm rãi chờ đợi, nàng bắt đầu cất tiếng hát.

Dần dần những hình người chung quanh nàng đều mờ nhạt, tan biến vào trong bóng đêm, nàng không còn nhìn thấy một ai. Tất cả cảnh tượng vây phủ quanh nàng như một sa mạc hoang vắng, một sa mạc không có cát trắng nhưng là dày đặt màu đen. Lát nữa đây, tràng pháo tay sẽ làm cơn mưa qúy giá rơi trên cát nóng bỏng, hay những lời xua đuổi sẽ là cơn bão dìm chết kẻ lữ hành. Nàng nhắm mắt lại, hay chỉ nhìn mơ hồ trên trời cao. Tiếng hát bay vào đêm tối như một tiếng gọi xa xăm nghe vừa thật hoang đường vừa thật gần gũi. Âm thanh phiền muộn lãng đãng trôi về một nơi không bến bờ, như một cái gì không bao giờ trọn vẹn. Những khúc lên cao chưa đến tột đỉnh bỗng đứt nghẹn rã rời, dấu vết đau đớn đầy tràn trong tiếng hát, những đoạn xuống thấp nặng buồn như một thảm kịch.

Trong một khoảng thời gian, đêm ngừng lại trên mái tóc nàng, tiếng hát ngây ngất thoát ra từ một đôi môi mê đắm, một đôi môi không có nụ cười, đã làm rung động kỳ diệu tâm hồn của những người trẻ tuổi. Khán giả đứng im như tượng đá, họ bàng hoàng đón nhận một thứ hạnh phúc lạ lùng chưa hề có bỗng dưng trong một đêm tầm thường này, họ đã may mắn bắt gặp.

Lời ca cuối vút dài như một lằn roi quật lên da người rồi ngưng bặt. Bài hát đã hết. Bóng tối rực sáng tiếng reo hò cuồng nhiệt, những tràng pháo tay vang dội và những đôi mắt trong thêm rực rỡ. Bây giờ sa mạc đã có cơn mưa mong ước, nàng cười tươi tắn như một cô bé thơ, sung sướng nhìn đám đông đang reo hò gọi tên nàng. Người nhạc sĩ nói nhỏ: em thành công rồi đó. Nàng đưa tay vịn vào vai người nhạc sĩ nghỉ mệt, những giọt mồ hôi sung sướng thấm ướt lưng áo nàng.

Bài hát thứ hai tiếp tục. Bây giờ nàng có thể nhìn những người ngồi trước mặt bằng ánh sáng thân yêu như một người bạn chân tình. Bây giờ đã có những người yêu thương tiếng hát của nàng và chờ đợi nghe nàng mãi. Những khuôn mặt xanh gầy của tuổi trẻ hiện rõ trước mặt nàng và nàng biết nàng đã hát lên những điều họ ôm ấp từ lâu trong tâm khảm, họ nghe nàng hát như nghe tiếng nói âm thầm trong trí não họ.

Nàng biết nàng đang nói giùm cho những thiếu nữ mơ mộng trong tay người tình, khi nàng hát bài “Tình ca của người mất trí” . Bài hát ấy là trái tim đau đớn của những người thiếu nữ xinh đẹp trẻ trung, đã sớm biết nỗi buồn của người góa phụ, khi người yêu của họ bất chợt ngã gục trên một chiến trường nào đó, ở Pleime, ở Đồng Xoài, ở Chiến Khu D hay ở ngoài Hà Nội. Nàng cũng có một người yêu tử trận trên miền núi, bây giờ nàng kêu khóc đau xót cho nàng và cho cả biết bao cô gái khác. Dưới ánh đèn, giọt lệ không bao giờ rơi trên mắt nàng, nhưng trong tâm hồn đã rơi đầy tiếng khóc hiu quạnh.

Tiếng vỗ tay lại vang đầy và nàng tiếp tục những bài khác. Khi bài hát “Mẹ ru con”, hình ảnh đứa con trai đang nghịch ngợm với khẩu súng nhựa hiện lên làm nàng sợ hãi. Bài hát là hai lần ru con của người mẹ trong thời đại này. Lần thứ nhất khi con thơ khóc chào đời, lần thứ hai trên xác người con đã hai mươi tuổi vừa bỏ mình vì bom đạn. Nàng thầm mong cho đứa con của nàng không bao giờ lớn thêm tuổi, nàng kinh sợ biết bao phải ru con một lần thứ hai thật đau đớn trong đời. Nàng nhìn thấy những đôi mắt buồn bã, làn da mặt khô khan tái xanh của những người ở tuổi hai mươi đang đứng trước mặt nàng. Những người ấy, một mai đây có thể sẽ chôn vùi thân xác trong một nấm mồ, đôi mắt xa xác vẫn còn mở lớn thương tiếc cuộc đời tươi đẹp.

Những bài hát tiếp theo mê hoặc lòng người như một thiên đàng ước hẹn. Trong những bản tình ca giọng hát của nàng thảnh thơi ngây ngất, đượm đầy nét tình tứ nũng nịu như một tình yêu trong vắt. Những người yêu nhau đêm nay đã được nếm ly rượu nồng nàn làm mạch máu căng hồng trong cơ thể.

Tiếng hát chói lọi tuôn trào theo toàn thân nàng rung động, những sợi tóc mai thấm ướt mồ hôi, đôi mắt mê man nhắm nghiền, đầu ngẩng lên cao ngất và những ngón chân bám chặt trên sàn gỗ. Người nhạc sĩ yên lặng đàn nhưng những ngón tay anh bấm đau nhói trên sợi dây đàn, và sợi dây bền bỉ rung động mãnh liệt tưởng chừng như sắp đứt đoạn.

Người nhạc sĩ cũng lắng nghe tiếng nói của mình hôm nay vang động lên thật yêu dấu từ một người khác. Anh nghĩ rằng phải là một người đàn bà như nàng mới có thể hòa hợp tuyệt diệu với những bài hát của anh. Những lời lẽ, nhạc điệu sầu thảm của anh không phải dành cho những cô trinh nữ bình yên trong gia đình. Những kẻ trong trắng chưa hề va chạm với đời hay những người nhạc máy trong phòng trà, chỉ là nàng, tiếng hát mơ mộng và đượm một chút giang hồ mệt mỏi, cũng như đời sống đã nếm mùi vị hoan lạc lẫn đau đớn của nàng, chỉ có nàng mới xứng đáng để hát những bài ca ấy.

Tiếng hát của nàng chan hòa với lời ca, là giấc mộng của một đời người thiếu thốn mơ đến ngày mai trong sáng. Đêm đã khuya, tiếng hát tàn. Nàng ngợp người trong nguồn suối hạnh phúc của những lời khen ngợi chân thành, cảm tình chân thật của những người bạn mới. Nàng biết rằng mình đã lìa bỏ thật rồi bộ mặt của một cô ca sĩ chỉ làm thứ rượu khai vị cho khách chơi sang trọng. Tiếng hát của nàng giờ đây đã tìm được những tình nhân, tiếng hát không bỏ sót một ai, tiếng hát có mãnh lực không cho ai lơ đãng, bắt mọi người dừng lại những cử động, bắt họ lắng nghe từng lời. Tiếng hát không ru ngủ ai mà trái lại, làm cho mọi người thức giấc. Không giúp cho ai lãng quên đời sống, trái lại giúp con người cảm nhận thấm thía những nỗi đau cũng như những niềm vui của đời sống.

Từ đó, những ca khúc của người nhạc sĩ soạn ra cho nàng hát, trở thành những ca khúc đời chân thực.

***

Đã lâu người thanh niên mặc áo xanh không gặp nàng và cũng không nghe nàng hát như ngày xưa. Bây giờ thỉnh thoảng sang nhà hàng xóm đế xem nhờ Tivi, anh bắt gặp khuôn mặt mờ nhạt của nàng trên khung ảnh nhỏ chao động.

Một hôm, tình cờ anh nghe tiếng hát của nàng vang lên trong chiếc ra-dô nhỏ chạy rè rè, tiếng hát đã nuôi sống tâm hồn anh một thuở nào bây giờ sao quá lạnh lùng, dửng dưng như một người chết. Trong căn phòng nhỏ của anh bỗng nhiên tràn ngập hình ảnh tươi đẹp và sống động của nàng ngày xưa. Anh tắt vội máy, cảm thấy sợ hãi và buồn bã lạ thường.

Từ lúc mùa xuân đem chiến tranh vào tận trung tâm thành phố, quán cà phê bị dẹp bỏ, bạn bè mỗi người một nơi. Trận xung đột cuối cùng nào đó giữa nàng và người chồng, hai người ly dị nhau, nàng giữ lấy cô bé gái với hai bàn tay trắng. Những nhu cầu, đòi hỏi của thành thị thúc giục sau lưng nàng, nàng không còn là con chim ngửa cổ hát chơi nữa, bây giờ nàng hát ra từng xấp giấy bạc. Phòng ghi âm của đài phát thanh, những hãng đĩa, ống kính vô tuyến truyền hình, những hộp đêm sang trọng. Bây giờ nàng đã trở thành một cô ca sĩ nổi danh và ăn khách nhất. Nhiều người khác vây quanh lấy nàng, những khách chơi giàu sang và một người nhân tình mới.

Người thanh niên hồi đó có làm một bài thơ dành tặng cho nàng, nhưng sẽ không bao giờ anh có dịp đọc cho nàng nghe nữa, bây giờ anh chỉ nhớ một đoạn ngắn.

…”Chỉ ao ước nàng hóa thân vành khuyên bé bỏng

Mỗi đêm tóc xõa môi phai

Bàn chân trần mướt xanh trên cát

Hơi thở mẩu thuốc tàn

Mà giọt lệ không bao giờ rơi

Âm thanh như đêm

Xóa nhòa linh hồn cũ …”

Anh không dám trách nàng một điều gì. Anh cũng ao ước trở thành một thi sĩ nhưng không bao giờ anh trở thành thi sĩ được cả. Anh phải chạy gạo kiếm cơm, muôn ngàn lo âu của đời sống đè nặng người anh như một phiến đá làm anh nghẹt thở. Cuộc đời không phải là một bài thơ cho anh.

Cuộc đời cũng không là một bài hát cho nàng. Bây giờ, giấc mơ danh vọng ngày xưa đã đến với nàng. Nhưng nàng còn hát được những đời thật tuyệt vời hay không?

Hoàng Ngọc Tuấn

Đàn Kiến Lửa, Truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ


KhungReu-contentThuyVu_CaoLinh-content-content104 1 Giai phẩm Văn

(Tác phẩm và chân dung nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ)

Nguyễn Thị Thụy Vũ

Trường Hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ

Năm 1963, trên tạp chí Bách Khoa, xuất bản tại Saigòn, bắt đầu xuất hiện một số truyện ngắn của một cây bút nữ lạ huơ lạ hoắc. Sự huơ, hoắc này không chỉ mang ý nghĩa một tên tuổi mới, mà, nó còn huơ hoắc ở cả phương diện nội dung nữa. Đó là những truyện ngắn ký tên Nguyễn Thị Thụy Vũ.

Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện trên văn đàn miền Nam khi Nhã Ca đã có một chỗ đứng riêng biệt vững vàng cả về thơ lẫn truyện; khi Túy Hồng đã định hình lấy cho mình bằng một lối văn chanh ớt, rất địa phương, rất Huế; khi Trùng Dương được nhìn ngắm như kẻ đang cầm ngọn cờ đầu trong nỗ lực đuổi theo phong trào văn chương hiện sinh; và, khi Nguyễn Thị Hoàng vừa chính ngọ với tác phẩm “Vòng Tay Học Trò,” như một táo tợn bất ngờ hiếm thấy của với văn chương Việt Nam ở thời kỳ còn quá nhiều rào cản.

Tuy xuất hiện có phần muộn màng so với những cây bút nữ vừa kể, nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng đã có lấy cho mình một tư thế, một móng vuốt riêng.

Tư thế xuất hiện mang tên Nguyễn Thị Thụy Vũ kia, là sự trần trụi của những chuyện kể mang nhiều tính tự sự về phần đời khuất lấp của cô. Đó là mặt thật của một người phụ nữ làm nghề dậy Anh văn cho những cô gái bán “bar,” cho những vũ nữ, những cô me mới tỉnh lẻ. Đó là thời điểm những người lính Mỹ ngơ ngáo, hùng hục xuất hiện trên phần đất miền Nam Việt Nam. Những truyện ngắn có cốt truyện, lớp lang đâu ra đấy, đã hấp dẫn số đông, lớp độc giả chỉ thích đọc những truyện có có cốt chuyện và câu truyện đáp ứng được tính tò mò.

Móng vuốt mang tên Nguyễn Thị Thụy Vũ kia, là những mô tả thật thà, mộc mạc với những suy nghĩ và đối thoại rất đường phố, rất gần gụi với bản năng cùng dục tính.

Không kể Nhã Ca và Túy Hồng, có một hướng đi khác; trước Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương và Nguyễn Thị Hoàng cũng khai thác thể tài tình dục, hoặc ẩn ức tâm sinh lý như cốt lõi hình thành tác phẩm. Nhưng trước một Trùng Dương còn cố tình mặc khoác cho tình dục chiếc áo ngủ triết lý và trí thức, trước một Nguyễn Thị Hoàng còn nỗ lực son phấn, chồng chéo nhiều mẫu mã thời trang diêm dúa cho tình dục thì, Nguyễn Thị Thụy Vũ lại giữ nguyên trạng, giữ nguyên cái trần trụi, cái thô tháp rất bản năng, rất con người của tình dục. Sự trần trụi, thô tháp này, khiến không ít những người nhân danh đạo đức, nhân danh truyền thống, một thời, đã phải nhăn mặt, lên án… Và, đấy cũng là mặt thành công của hành trình vào văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ vậy.

Tên thật là Nguyễn Băng Lĩnh, Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh năm 1939 tại Vĩnh Long. Cô làm nghề gõ đầu trẻ tại tỉnh lỵ này cho tới năm 1961 thì dời lên Saigòn.

(từ Du Tử Lê)

1393642472-anh-dong-vat3

Châu dẫn Biểu, người đánh xe thổ mộ đến trình diện bà Tư. Mọi việc đều thỏa thuận êm xuôi. Biểu đem một cặp vịt xiêm, hai chai rượu nếp than, một lít rượu đế xuống nhà bà mẹ nuôi để làm lễ ra mắt họ hàng bên vợ. Hôm đó, ông anh bà con của Biểu từ miệt Củ Chi cũng xuống chứng đám. Thế là Châu, hăm hở lên ngã Ba Cây Quéo để coi sóc nhà cửa cho chồng.

Bà Tư vẫn cờ bạc đều đều, vẫn chửi lộn hà rầm với hàng xóm. Cuộc đời không tiến mà cũng không lùi. Một hôm bà đang ngồi trên bộ ngựa gõ têm trầu thì Châu gánh một gánh rau bước vô, nét mặt lo lắng. Chị ta lột chiếc khăn rằn bịt trên đầu, lau mồ hôi, hổn hển nói:

– Má nên lo gã chồng cho con Ngọc đi. Nó đang có chửa với thằng Chơn ở mướn cho thiếm Bảy Bụng.

Bà Tư sững sờ, chết điếng:

– Ai nói mày vậy?

– Không tin thì má thử hỏi đầu trên xóm dưới đi. Ở trong nhà chẳng ai hay mà người ngoài biết ráo trọi rồi.

Bà Tư hét:

– Sao hồi đó tới giờ mày không nói cho tao biết?

– Tui thấy cũng chưa có chuyện gì. Nhưng bây giờ, nó thú thật với tui là nó có thai được hai tháng.

Bà Tư trợn mắt:

– Thiệt vậy hả? Chắc phen này tao phải đội quần hết thảy bàng dân thiên hạ xóm này còn gì.

Châu nói nhỏ:

– Thủng thỉnh rồi tính. Má làm inh ỏi lên thì người ngoài hay hết trọi bây giờ.

– Mày nghĩ coi, còn non nước gì nữa mà giấu, vài ba tháng nữa là cái bụng nó thè lè ra. Bộ mày tưởng lấy thúng úp miệng voi được à?

– Mình phải o bế thằng Chơn để nó làm đám thú phạt với con Ngọc. Có vậy mới vớt vát mặt mũi mẹ con mình.

Bà Tư ra lệnh:

– Mày đi tầm con Ngọc, kéo đầu nó về đây cho tao.

Châu bước lẹ ra khỏi cửa. Bà Tư nhai nát miếng trầu, nhưng cớ sao miệng bà lạt nhách. Càng nghĩ bà càng tức âm ách. Ngọc không bằng một phần ngàn của bà thuở trước. Trong cuộc hôn nhân, bà luôn lèo lái một con ngựa ngoan hiền. Mỗi tiếng ho, mỗi cái ngáp của bà cũng đủ làm cho họ mất vía. Vừa mãn tang người chồng thứ nhất, bà nghĩ ra ý định chiêu phu. Điều kiện rất dễ dàng: nuôi bà ngày hai bữa cơm và cho tiền bà đậu vài chếnh bài tứ sắc mỗi ngày. Bà không cần bông vàng, trầu rượu, heo gà gì hết.

Từ khi ý định chiêu phu của bà được phổ biến trong xóm thì biết bao nhiêu gã si tình đến quán cơm của bà chầu chực. Sau hết, một tay anh chị Lăng Tô lọt vào mắt xanh của bà, nhưng trớ trêu một nỗi là gã đã có vợ. Bà vợ lớn tìm tới khóc lóc, năn nỉ bà Tư. Nhưng bà Tư thản nhiên:

– Ai mà thèm giữ chồng chị? Nó lủi đầu vô ở với tui, chớ phải tui rủ quyến gì nó đâu.

Người vợ bất hạnh từng nghe đồn bà Tư là tay đâm thuê, chém mướn nên chịu lép một bề. Bà cùng người con trai chở bàn thờ cha mẹ chồng xuống giao cho bà Tư thờ phụng giỗ quẩy.

Trong đời tình ái của bà Tư, đàn ông chỉ là thứ Thiên Lôi để bà sai đâu đánh đó. Đằng này Ngọc khờ khạo quá, bị người tình cướp trên tay đời con gái mà không dám mở miệng buộc hắn làm đám cưới. Được rồi, bà nhất quyết ra tay trừng trị thằng tiểu yêu đã làm bại hoại gia phong nhà bà. Bà đi xuống bếp, lấy con dao xắt chuối, cất dưới gầm giường.

Ngọc đã về, rón rén sau lưng bà như một con mèo hoang, không dám hó hé gì cả. Châu lên tiếng:

– Nó về đó má.

Bà Tư quay lại:

– Nè con đĩ chó, mày cặp xách với thằng Chơn đằng nhà bà Bảy Bụng phải không?

Ngọc thổn thức gật đầu, nói:

– Dạ con dại có bầu với ảnh…

Bà Tư nổi xung, túm lấy tóc Ngọc:

– Mày ngựa quá mà. Bây giờ nó tính sao với mày đây?

Ngọc khóc ấm ức. Bà Tư bạt tai nàng xiểng niểng vì cái tội ngu, chứ không phải vì tội làm điếm nhục gia phong. Ngọc ấp úng:

– Tuần sau ảnh đi quân dịch rồi nên ảnh hẹn lúc nào về phép sẽ mời ba má ảnh lên để nói chuyện với má.

Bà Tư rít lên:

– Mày là đồ uống máu dơ. Đợi đến lúc nó về phép thì cái bụng mày chình ình rồi. Nếu nó thiệt bụng thương mày thì đâu có hẹn lần, hẹn lữa…

Bà Tư ngó qua Châu:

– Mày qua mời bà Bảy Bụng với thằng Chơn nhín chút thời giờ lại đây cho tao hỏi thăm vài câu chuyện… quan hệ. Đừng có lộn xộn phanh phui về chuyện con Ngọc nghe chưa?

Một lát sau, Châu trở về với hai người khác. Một bà tuổi xồn xồn, bụng phệ, mặt mày sần sượng vì giấc ngủ trưa bị lủng đoạn. Gã con trai mặc quần xám, áo sơ mi trắng, chợt lộ vẻ lo lắng khi thấy Ngọc ngồi củ rủ ở mép giường.

Bà Bảy Bụng hỏi:

– Có đủ “tay xòe” chưa chị Tư?

– Ối, hôm nay không có cờ bạc gì hết. Tui mời chị lại nói chuyện đời cho đở buồn vậy thôi.

Bà Tư quay qua Chơn, chỉ chiếc ghế đẩu:

– Em ngồi đây chơi.

Chơn khép nép sợ sệt. Ngọc cúi mặt nhìn xuống đất. Bà Tư đứng dậy khóa trái cửa lại, giữ chìa khóa trong túi áo, rồi thong thả nhả xác trầu vào ống nhổ và hớp nước trà súc miệng:

– Chắc cậu em cũng đoán biết tại sao qua mời cậu em qua đây? Bà gằn giọng – và gài kín cửa như vầy?

Chơn ấp úng:

– Dạ… dì Tư có điều chi dạy cháu?

Bà Tư cười lạt, nói với bà Bảy Bụng:

– Nó là thằng làm công cho chị, tui coi như là chị thay mặt cho cha mẹ nó.

Bà Bảy Bụng hơi ngạc nhiên, ngó Chơn rồi day qua bà Tư:

– Gì vậy chị Tư?

– Còn chuyện gì nữa? Thằng Chơn rủ quyến con Ngọc cho tới mang bầu rồi làm lơ chị biết hôn?

Bà Bảy ré lên:

– Trời đấy quỉ thần thiên địa ơi, ai mà dè.

Bà Tư ngó Chơn không chớp mắt, rồi thò tay lấy con dao xắt chuối bén ngọt lạnh lùng đặt trước mặt Chơn làm Chơn xanh mặt:

– Nè, cậu em. Tui hỏi cậu điều này, nếu cậu trả lời suông thì thôi. Còn ngược lại, tui sẽ chém cậu từng lóng tay, nghe chưa. Cậu thử hỏi chị Bảy đây coi con già này hồi xưa như thế nào. Tui coi việc tù tội như đi hứng mát Ô Cấp vậy.

Bà Bảy Bụng hạ thấp giọng:

– Chị cứ dạy cháu. Bao giờ nó không nghe thì trừng trị nó sau.

Bà Tư nhếch mép cười:

– Cậu có dám nhận là cậu đã lấy con Ngọc nhà tui cho tới nó mang bầu không?

– Dạ hai đứa con lỡ dại… thương nhau.

– Rồi cậu tính làm ngơ chuyện cưới hỏi phải không?

Chơn sợ sệt, ấp úng:

– Dạ con đã nói với con Ngọc, đợi lúc con về phép thăm nhà rồi sẽ…

Bà Tư quắc mắt:

– Trời đất! Từ đây tới ba tháng nữa cậu mới tính tới chuyện cưới hỏi thì con nhỏ tui có nước đội quần thiên hạ. Bộ cậu muốn rút êm hả?

Rồi bà gằn giọng, dữ tợn:

– Tui nói cho cậu biết. Nội trong ngày mai nếu cậu không về mời ba má cậu lên đây thì tôi quyết liều sống chết với cậu, nói có chị Bảy đây làm chứng.

Chơn cúi mặt buồn xo:

– Ba má cháu nghèo lắm. Dì Tư rán huởn cho con vài tháng nữa. Cần phải có vài chục ngàn mới làm đám cưới không đến nổi xập xệ.

Bà Tư lắc đầu lia lịa:

– Tui chỉ cần một lời nói phải quấy của tía má cậu thôi. Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm. Tui không đòi hỏi giết heo mổ gà gì cả.

Chơn lặng thinh. Ngọc vẫn khóc rấm rức. Bà Bảy Bụng chen vào:

– Chuyện đâu còn có đó. Để tui lảnh phần làm mai cho.

Bà Tư nhai trầu ngấu nghiến:

– Cậu phải tính cho xong trước khi cậu đi lính. Nếu không, tui sẽ chém cậu ra làm ba khúc rồi sau đó có ra sao thì ra. Nếu cậu trổ mòi đoản hậu, tôi nói thiệt, dẫu có chạy lên trời cũng không thoát khỏi tay tôi đâu.

Bà Tư chụp lấy con dao hoa lên vài đường trông ớn lạnh, rồi đặt mạnh xuống bàn:

– Bây giờ tui tu rồi đó. Nếu chuyện này mà xảy ra vào cái thuở tôi còn mạnh tay khỏe chân thì không được êm thắm như vầy đâu.

Chơn đã giẫm phải ổ kiến lửa rồi. Không phải gã định đánh trống bỏ dùi, nhưng gã cần phải chờ hốt vài chân hụi để sắm một đôi bông búp bằng vàng làm sính lễ, cùng heo gà để bày tiệc đãi đằng. Bây giờ bà Tư ví gã vào thế kẹt quá. Khạc chẳng ra, nuốt chẳng vào. Nếu bà đừng buộc gã làm con rễ gì trơn thì gã đâu có lúng túng khổ sở như vậy?

Bà Tư nghiến răng:

– Cậu hứa trước mặt chị Bảy là cậu sẽ đi cưới con Ngọc đàng hoàng trong nội tuần này đi.

– Dạ… con xin phép dì Tư cho ngày mốt con mới rảnh rang công việc.

– Đâu có được. Cậu phải gật đầu liền bây giờ hè. Cậu cưới vợ cho cậu chớ đâu có phải cho tía cậu. Nếu cậu không có tiền sắm nổi đôi bông cho nó thì tui cũng phải bù đắp, bao chi hết. Tui muốn vớt vát chút ít danh dự cho nhà tui, chớ tui đâu dám thèm tiền bạc của cậu. Con gái tôi tuy buôn gánh bán bưng chớ vòng vàng đeo đỏ tay, có thua gì con gái ông Phủ, ông Huyện đâu mà.

Bà Bảy can:

– Chị cứ tin lời nó. Kiến trong miệng chén có bò đi đâu

– Ờ đúng vậy đó. Đừng ai giởn mặt với con già này mà chuốc họa vào thân nghe.

Khi khách ra về rồi, bà Tư lấy cái tô đá múc nước mưa, uống ừng ực. Nước tới đâu mát tới đó. Ngọc cầm khăn mù xoa quẹt nước mắt. Cử chỉ đó làm xốn mắt bà mẹ nuôi. Bà têm trầu, quát:

– Thấy con đĩ ngu si này khóc mà sao tao ứa gan? Mày lấy bậy cho sướng thây mày để cho tao phải mỏi miệng, rát nước miếng.

° °

Đám cưới của Ngọc thật đơn sơ. Bữa nhóm họ, bà Tư mời miệng chòm xóm đến nhà bà để dùng tiệc trà. Chính bà đích thân đến từng nhà trong xóm, nên khó ai từ chối.

Nguyệt thắc mắc, không biết phải mua quà như thế nào để mừng Ngọc.

Ngỡi thành thạo:

– Ở đây không ai ưa nhận quà đâu. Mình đi tiền là tiện nhứt.

Nguyệt rủ:

– Chiều nay, tui đi làm về xong, tụi mình cùng đi một lượt. Chị tính đi bao nhiêu coi cho được?

Ngỡi nói không cần suy nghĩ:

– Qua bên đó, tụi mình chỉ hớp được ly nước ngọt. Đi nhiều uổng tiền. Tiền nhiều để dành cho ăn mày còn được phước hơn.

Thấy Nguyệt chưa kịp hiểu lời. Ngỡi giải thích:

– Nhà đó là chúa tham. Để rồi chị coi, qua cái đám thú phạt này là họ cải nhau giành phần chia chác. Họ ó ré, sâu xé rùm xóm, chịu đời không thấu.

Ngỡi nhìn ra cửa sổ:

– Lại nữa, đi ăn cưới thì không sao. Đi ăn đám thú phạt xui lắm. Tưởng họ mổ gà, vật heo gì đó. Hên lắm mình được ăn bánh mua trong tiệm Khách Trú.

Nguyệt hỏi:

– Mình nên đi chải tóc, phun keo và làm móng tay coi cho được mắt một chút. Để u trệ người ta quở.

– Ồ, hơi nào! Uổng tiền lắm. Bộ chị tưởng bên đó dập dìu tài tử giai nhân gì sao mà phải bỏ công chải chuốc tóc tai?

Đến chiều, Nguyệt và Ngỡi mặc áo đồng một màu xanh ve chai, không son phấn bước qua nhà bà Tư. Ngoài hàng ba, ánh đèn “măng sông” trong vắt quét một vệt ánh sáng vào bên trong. Tiếng radio mở ồn ào hòa lẫn tiếng ó ré của mấy người bà ngoài hẻm tưởng chừng ở đây có một đám giặc. Các bợm nhậu kéo giọng nhừa nhựa, nói những câu đầu Ngô mình Sở, không ai chịu nổi.

Bà Tư hớn hở kéo ghế mời Nguyệt và Ngỡi ngồi. Nguyệt liếc vào phía trong. Chiếc màn ni-lông trắng chen hồng lay động. Ngọc bẻn lẻn bước ra. Chiếc áo dài màu gạch thêu kim tuyến trắng bó sát lấy tấm thân bụ bẫm của cô ta, và đố kỵ nước da đen mốc của cô ta. Ngọc nghiêng đầu chào hai người, Ngỡi đứng dậy, cầm bao thư đựng tiền mừng trao cho Ngọc. Cô ả lí nhí cám ơn khi Nguyệt chúc cho cô được trăm năm hạnh phúc.

Bà Tư lật phong thư không dán kín, lôi món tiền ra trước mặt Nguyệt, giọng thản nhiên:

– Châu biên vào sổ đi… Cô Nguyệt đi năm trăm đồng, còn cô Ngỡi ba trăm.

Châu khom người xuống tập giấy, nắn nót từng chữ một. Nguyệt ngượng chín người. Ngỡi nheo mắt nhìn qua Nguyệt, cười tinh quái.

Bà Tư mời Nguyệt:

– Mời cô Hai dùng chút nước ngọt mừng cho em đi.

Tuyệt nhiên, bà không đá động tới Ngỡi. Ngọc lẹ miệng mời thay:

– Mời chị Ngỡi ăn chút bánh lấy thảo.

Nguyệt hớp ngụm xá xị rồi đứng dậy kiếu từ. Khi bước ra ngoài sân. Ngỡi nói nhỏ:

– Cái bọn họ tiếp khách tùy theo món tiền của người đi mừng. Phải dè, tôi không thèm bỏ tiền vào bao thư làm chi cho mắc công.

Nguyệt cười ngất:

– Từ cha sanh mẹ đẻ cho tới bây giờ, tôi chưa thấy cái đám cưới nào thâu tiền bừa bãi, kỳ quái như vầy. Thiệt, mấy người đó thấy tiền còn hơn thấy Phật.

Bỗng có tiếng ú ớ của người đàn bà vang đột ngột giữa lúc đám cưới bớt ồn ào, Nguyệt đã gặp bà này một vài lần ở bên nhà bà Tư. Hôm nay, bà mặc áo dài màu hường tươi, màu áo chửi rủa tuổi tác năm mươi ngoài của bà. Bà là mẹ đẻ của Châu và Ngọc. Ít khi bà đến nhà bà Tư, trừ những ngày giỗ chạp, tết nhứt, hoặc những dịp Châu sanh nở. Bà ở miệt Hòa Hưng, suốt ngày chỉ tới các chùa lân cận, làm công quả để kiếm chác hai bữa cơm chay. Bà mê Phật còn hơn mê nhân tình. Tuy không thể đọc được kinh, không rành lần chuỗi hột, nhưng không ngày nào bà không đến chánh điện để chiêm ngưỡng dung nhan Đức Thích Ca Mâu Ni.

Nguyệt lủi vào nhà, kéo Ngỡi theo. Cả hai châu đầu ngó qua cửa sổ. Nguyệt chắc lưỡi:

– Bả già ngắt mà ăn bận lòe loẹt, hực hỡ giống như ma bóng quá.

– Tuy vừa câm vừa điếc mà bả ngựa giàn trời. Bả không có chồng mà vẫn sanh con mệ Châu và con Ngọc như thường.

Nguyệt tò mò:

– Ai lấy bả vậy chị?

– Ai mà biết. Bà Tư chưa tìm ra thủ phạm thay.

Nguyệt tinh quái:

– Không lẽ Hộ Pháp trong chùa nửa đêm tuột xuống bàn thờ để lấy bả?

– Nghe nói hồi xưa, lúc hai mươi tuổi bà Cam coi cũng ngọt mắt, sắc lẻm lắm chớ. Bả đi nấu cơm cho một tiệm sắt nguội trong Chợ Lớn. Tối, trời nực bả kê ghế bố ngoài hàng ba hóng mát. Bọn du thủ du thực nửa đêm đi coi hát về, làm bậy vài phát là bả ôm trống chầu, đẻ ra con mẹ Châu.

– Còn trường hợp của Ngọc?

– Ối, ai mà biết. Bả đâu có nói được mà tố cáo ai? Đã vậy lại không biết chữ nữa.

Nguyệt ngậm ngùi:

– Tội nghiệp quá!

Ngỡi trề môi:

– Xí, biết đâu bả sướng thứ điều bay tới chín từng mây. Tôi hỏi chị, có ai nở gièm siểm, bắt bẻ một người vừa câm, vừa điếc không?

Bỗng Nguyệt kêu khẽ:

– Ủa, bà Năm Út tới kìa.

Năm Út hôm nay tô son, trét phấn, đeo cẩm thạch, xách bóp đầm. Chiếc áo màu xanh thẫm điểm bông lớn bằng cái trứng gà không hợp với màu phấn tô mặt của mụ.

Ngỡi nói:

– Ý cha! Bả nịt bụng hay sao mà có co, có eo, coi được quá chớ?

Nguyệt thường trầm trồ đôi bàn tay mềm mụp, mát rượi của mụ. Ngón tay mụ suông đuột, phao móng tay hình hột hạnh nhân, trời nóng cũng như trời lạnh đều ửng hồng. Bàn tay đó không hề làm bếp hay giặt giũ quần áo, chỉ biết xòe những lá bài tứ sắc suốt ngày.

Trước kia Năm Út có nhiều tiền và cất mấy dãy phố lầu nhờ nghề cho vay đặt nợ ở mấy gánh hát để cho muớn. Thỉnh thoảng, mụ ta cũng nổi máu nghệ sĩ tính, xin soạn giả cải lương , đóng mấy vai con tỳ nữ giễu cợt với bọn hề mặt mốc, hoặc biểu diễn những màn chưng bươm bướm trước khi đoàn hát diễn tuồng nồng cốt. Sau đó, mụ ta bị mẹ ép gả cho ông Năm Út. Thua buồn hoặc bất mãn về tình duyên nào đó, mụ đâm ra bài bạc, bán đứt mấy dãy phố lầu rồi dọn về đây. Ông chồng thì bán cà phê, nước giải khát. Còn mụ vẫn đỏ đen lu bù, lâu lâu bày ra bán cháo trắng thịt phá lấu hoặc cơm tấm bì.

Năm Út chợt thấy bà Cam mặc áo hường, đúng bên bình bông huệ, liền ứng khẩu hát lảnh lót:

“ Người ngọc bên hoa, hoa ửng sáng,

Hoa cười bên ngọc, ngọc thêm trong”.

Mọi người cười ồ ồ. Bà Cam tuy không hiểu trọn câu nói của bà bạn hàng xóm, cũng cười bẻn lẻn, tình tứ như công chúa bị hoàng tử ve vãn trong phim Ấn Độ.

Bà Tư mừng rỡ:

– Thiệt tao bằng bụng lắm, Năm Út à. Mày tới đây chia vui với em út, quí biết chừng nào.

Năm Út ung dung ngồi xuống ghế, lấy phong thư, liếc liếc bà Tư rồi ỏn ẻn nói:

– Thôi đi bà nội. Để tui nói chuyện phải quấy với vợ chồng con Ngọc một chút. Đâu, cô dâu chú rể lại chị Năm coi.

Chơn và Ngọc bẻn lẻn, bước lại. Mụ nhìn Ngọc từ trên xuống dưới khen:

– Con Ngọc hôm nay sao đẹp mê ly quá xá. Tuy nó đen đúa, nhưng mà đen theo điệu xôi nếp than, càng ăn càng bùi miệng.

Ngọc cúi xuống cằn nhằn:

– Chị Năm… nói kỳ quá hé.

Năm Út làm bộ tỉnh khô, khẽ lấy tay nhịp xuống bàn ca mấy câu vọng cổ đã thâu thanh vào đĩa hát Asia qua giọng ca của cô Tư Sạng hồi hai mươi năm về trước:

Con ôi! Tháng Chạp tới đây là ngày tên con sẽ ghi vào cuốn sổ nhơn duyên, cung đàn bấm phím tơ loan cho trăm năm được bề chắc ơ… ơ… ơ…

Một người đàn ông ngồi đối diện la lên:

– Đ.m… bà này ca bản xưa mùi tận mạng.

Năm Út tra gân cổ lên chót chét ca nữa. Bà Tư háy dài một cái:

– Thì mừng cho em út đi. Ca lý hoài làm tụi nó nóng ruột.

– Bất nhơn dữ không? Mà tụi nó nóng ruột… để làm gì vậy a bà Tư?

– Con nhỏ coi bộ muốn điên.

Năm Út trao phong thư cho Ngọc rồi lên giọng dạy đời:

– Nè Ngọc, chị khuyên em một câu: hể con gái thì xuất giá thì tùng phu… Ông bà mình thường dạy như vậy…

Rồi mụ quay qua Chơn:

– Con Ngọc thì lo bề xuất giá tùng phu, còn mày cứ việc chổng khu… đẩy ghe vô ụ.

Cả đám cưới cười ồ ồ. Bên này Ngỡi nằm lăn ra “đi-văng” cười muốn hụt hơi. Nguyệt cũng cười đến nỗi đau cuống họng, nặng cả ngực và muốn tróc mỡ sa.

Bên kia, Năm Út uống nước cam rồi bóc chiếc bánh ú nhai lách chách. Mụ õng ẹo chê bai:

– Nè bà Tư, đi ăn đám cưới như vầy hoài chắc tôi bớt mập, có thể leo lên sân khấu vũ “xét-xi” ngon lành một cây.

Bên này, Ngỡi xầm xì với Nguyệt:

– Con mẹ Năm Út chì lắm. Một khi con mẻ xì ra, ba làng bụm họng y thị cũng không kịp.

Năm Út xách bóp đứng dậy kiếu gia chủ, liếc Chơn một cái thật lẳng, rồi núng ninh ngoáy cặp mông tròn vo ra cửa:

– Chị biết hai em cũng chẳng vui sướng nhiều bằng cặp vợ chồng mới cưới khác. Đêm nay, bất quá…

Bà Tư trợn mắt, tức mình:

– Con đĩ heo nái, ăn nói vô duyên.

Năm Út hát lảnh lót:

“Đêm nay dầy sướng mỏi mê

Đường đi nước bước đi về từ lâu”

Năm Út vừa bước ra hẻm, chợt thấy Ngỡi và Nguyệt thập thò ở khung cửa sổ vàng rực ánh đèn liền bước vào. Nguyệt niềm nở mời mụ ta ngồi và đưa cái quạt phất giấy cho mụ quạt.

Ngỡi cười:

– Bà này ưa soi bói chuyện của người ta hoài. Nhè chỗ nhột của người ta mà cù lét chớ.

Năm Út liếc qua bên nhà bà Tư:

– Con Ngọc muớn tiệm may nào may áo không biết mà khi ngó vào là thấy cái bụng nó nổi tròn vo, ngứa mắt quá chừng.

Ngỡi hăm he:

– Xong đám cưới, bà Tư sẽ đào mồ cuốc mả ông bà, ông vải chị đa.

Năm Út cười tỏn tẻn:

– Sức mấy. Bả là anh hùng một cõi, còn tao đây là đồ xả rác hay sao? Hồi xưa tao cũng cầm đầu một toán đánh ghen tập thể, ở miệt Lăng Tô, Tân Thuận, thử hỏi ai mà không biết?

Ngỡi bật cười:

– Chị bảnh quá he? Vậy thì chết thiên hạ còn gì?

Năm Út trề môi:

– Chẳng bảnh, chẳng bao giờ hết. Nhưng ai bảnh hơn con này chắc là khó sống.

Đám cưới tản mác dần. Trời tối mịt ở ngoài cửa sổ. Nguyệt sửa soạn khăn mặt, đi tắm. Đồng đi chơi cũng vừa về. Cả hai qua nhà Ngỡi dùng cơm không chờ Đăng vì Đăng đã dặn trước là tối nay chàng đi coi hát bóng tới muời giờ mới về.

Cơm nước xong xuôi, Đồng đi ngủ sớm. Nguyệt bưng hộp đồ thêu ra, tẳn mẳn thêu thùa cho qua một buổi tối. Ngỡi sau khi gội đầu xong, bước qua nói chuyện khào.

Con nít xúm lại la ó rùm beng ở dưới mái hiên nhà bà Tư. Chúng xúm quanh bàn bầu cua cá cọp, sát phạt nhau từng đồng bạc nhỏ, nhưng không kém hào hứng.

Năm Út bước lại thùng chứa rác, bỏ vào đó xác vỏ quít, ngứa miệng:

– Tụi bây, đừng có làm om xòm. Để chị Ngọc bây ngủ cho khỏe để nó kiếm con.

Khi bọn tiểu yêu tản mác thì Năm Út lẫn Tư Búp bước vào nhà Nguyệt. Tư Búp nói nhỏ:

– Có con trong bụng rồi mà còn kiếm nổi gì? Chắc là thằng Chơn chỉ có nước tráng men cho đứa nhỏ…

Năm Út nói:

– Có chửa rồi nên kiêng cữ ăn nằm với chồng họa may con cái sau này thông minh, học giỏi.

Đèn bên nhà bà Tư, không hiểu sao, tắt lịm. Bà loay quay lo thắp đèn dầu, và bắt đầu cằn nhằn, trách móc Tư Búp giễu cợt tầm ruồng, ăn nói xô bồ xô bộn.

– Tui lóng rày sức tàn vóc mỏi rồi. Hồi trước, con vợ thằng Út mà nói giọng đó, tôi xé nó tét háng.

Ngỡi xuí bậy:

– Bả chửi chị kìa. Ăn thua đủ với bả cho tụi này xem chơi.

Năm Út cười:

– Ối, hơi nào, bả nói lén mà ai thèm chấp nhứt.

Bà Tư bước ra hiên nhổ xác trầu, liếc sang nhà Nguyệt, nét mặt cùng hung cực ác. Khuôn mặt bà nhiều thịt hum húp như bị chứng phù thủng không thể làm giảm ánh mắt sắc sảo và cặp mày xếch ngược, đầy uy quyền.

Bà nói với bà Bảy Bụng:

– Chi Bảy nghĩ coi. Con cháu tui tuy là nghèo hèn vậy chớ cũng được một lần cưới hỏi rỡ ràng. Mấy con đĩ chung quanh đây ganh ghét, xầm xì nói hành nói tỏi. Mà nói cho cùng, nếu lấy trước cưới sau, nó cũng chỉ lấy có một thằng. Còn cái thứ đàn bà dâm đãng nay cụp thằng này, mốt cụp thằng nọ. Đã vậy, mà mấy con đĩ trời đánh thánh đâm đó không biết vinh, biết nhục, cứ xáp lại nói xóc óc mẹ con tui.

Bà Bảy cười hềnh hệch:

– Ối, hơi nào chị để ý chuyện tẹp nhẹp đó? Họ nói gì mặc họ. Mình tử tế, đàng hoàng thì mình biết.

Năm Út, Tư Búp, lẫn Ngỡi bị một câu “bứt mây động rừng” ấy, nhột nhạt, xốn xang. Tư Búp trề môi:

– Tưởng bả tử tế gì đó. Cái thứ đoạt chồng thiên hạ, ác đức, tội lỗi dẫu tắm nguyên con sông Đồng Nai cũng chưa rửa hết tội.

Năm Út nhún vai:

– Nghe nói hồi xưa bả dựng bảng kén chồng. Trời ơi! Đĩ ngựa một cây đó.

Không khí hai bên bắt đầu căng thẳng. Nguyệt muốn tìm chỗ trốn để khỏi nghe hai bên chửi bới lẫn nhau. Nàng miễn cưỡng ngồi tiếp khách, lòng hồi hộp. Ngỡi đứng dậy, Tư Búp trề môi, nói khích:

– Mày chạy mặt bà Dạ Xoa đó rồi hả?

Ngỡi ngoảnh lại:

– Có muốn sanh sự với bả thì làm ơn ra khỏi nhà chị Nguyệt, kẻo chỉ mắc họa lây.

Năm Út đứng dậy:

– Mày làm bộ biết điều, còn tụi tao là hạng ăn ở bội thiên nghịch địa vậy.

Tư Búp mỉm cười rồi ngáp ồn ào, nhìn qua bà Tư giọng châm biếm:

– Làm gì mà mình lúc nào cũng buồn ngủ y như là đàn bà có chửa vậy cà?

Năm Út cười:

– Tại mang tiếng đ… bậy nên có chửa chớ sao.

Nguyễn Thị Thụy Vũ

Hương Vị Ngày Xưa, Truyện ngắn Nhật Tiến


e09fd-ky12a4503afdc3ae84695becda492fa4ae393Ky 1a

Nhật Tiến

Hồi ông bà Tâm quyết định dọn ra ở riêng, đối với ba anh em Hùng, Hương, Hạnh là cả một biến cố. Họ họp mặt nhau trong một buổi gặp gỡ riêng để bàn cãi sôi nổi. Hạnh, cô em gái út lên tiếng trách móc:
– Anh chị đối xử thế nào để đến nỗi bố mẹ phải ra ở riêng?
Hùng vò đầu bứt tai:
– Tao có làm gì đâu. Suốt ngày đi làm, chuyện gì xẩy ra ở nhà tao đâu có biết.
Hương nhìn anh bằng cặp mắt vừa buồn vừa giận:
– Làm gì mà anh chẳng thể biết. Có điều tại anh mũ ni che tai, không muốn biết đấy thôi.
Hùng đáp lại bằng một giọng yếu sìu:
– Ừ, thì cũng chỉ toàn là chuyện đụng độ vặt vãnh trong nhà với chị ấy, chứ có cái gì lớn lao đâu.
Hạnh chộp ngay lấy, mở to đôi mắt nhìn về phía anh và nói lớn:
– Vấn đề là ở chỗ ấy. Tính khí của bố mẹ thế nào, anh không biết sao. Lẽ ra, anh phải để tâm tới và phải có lời khuyên nhủ chị ấy về cung cách cư xử với bố mẹ. Ðằng này anh cứ ngậm tăm không nói, như thể anh cũng đồng ý về những điều chị ấy làm, hèn gì mà chị ấy chẳng làm tới.
Hùng bắt đầu nổi cáu:
– Mày ngon sao không mời bố mẹ về ở đi. Nói như thánh phán. Ðến lúc đụng độ với chồng, với con rồi mới thấy hoàn cảnh khó khăn của tao.
Hương thở dài:
– Hoàn cảnh của tụi em, anh đã thấy rồi. Cái Hạnh thì lấy chồng nghèo, chúng nó chui rúc trong một căn apartment, làm sao mời bố mẹ ở chung được. Còn em thì ở chung với gia đình nhà chồng. Mời bố mẹ về sao tiện. Chỉ có anh nhà cao cửa rộng, lại vợ chồng son, bố mẹ không ở với anh chị thì ở với ai?
Hùng đáp:
– Thì tao vẫn năn nỉ mời bố mẹ ở chung chớ có ý kiến gì đâu. Chuyện ra ở riêng là ý muốn của bố mẹ thôi.
Hạnh không muốn nói gì thêm nữa. Nàng chỉ nhìn anh bằng đôi mắt trách móc. Trong khi ấy, Hương cũng nhún vai, lẳng lặng quay đi chỗ khác, lòng tràn ngập những nỗi buồn phiền. Ðiều này khiến cho Hùng càng cảm thấy nhột nhạt và tìm lời biện bạch:
– Chúng mày không ở hoàn cảnh của tao nên không thông cảm được. Này nhé, nhà mới, thảm mới, màn cửa, cái nào cái ấy trắng tinh khôi. Ngày nào chị ấy cũng phải dành rất nhiều thì giờ để chăm sóc từng ly từng tí. Thế mà bố cứ hút thuốc, phun khói như ống bễ lò rèn thì làm gì nhà không bị ám khói, đượm mùi. Nếu tụi bay ở địa vị của chị ấy thì tụi bay tính sao?
Hương không trả lời trực tiếp câu hỏi của anh, nhưng lại tố thêm:
– Em còn nghe nói chị ấy đòi giới hạn khu vực đi lại trong nhà để thảm trắng khỏi bị dơ. Có đúng không?
Hùng đáp:
– Cũng lại là một nỗi khổ tâm của tao nữa! Ai cũng biết mẹ là người ham xốc vác, làm lụng, suốt ngày cụ bì bõm ở vườn sau cuốc đất trồng rau, làm gì chân tay không dính đầy bùn. Với bộ thảm nhung trắng như tuyết đó, và với chân tay đó, làm sao không có chuyện đụng độ. Mà tao ở giữa tao làm gì được?

sai gon xua

Câu chuyện đi tới chỗ hoàn toàn bế tắc, chẳng ai nhìn ra được phương cách gì để giải quyết, nên cả ba chỉ ngồi thừ người ra, vẻ mặt của ai cũng đều rầu rĩ. Người nào cũng cảm thấy trong lòng buồn bã, xót xa và cùng nhớ lại thời kỳ tràn đầy hạnh phúc ngày xưa.
Chỉ hơn năm năm trước đây thôi, khi chưa có ai lập gia đình và tất cả còn cắp sách đến trường thì bố mẹ con cái quây quần sống với nhau thật là vui vẻ. Ông Tân hồi đó còn nhiều sức khỏe, lại cũng có công ăn việc làm tốt đẹp nên vẫn coi như cột trụ của gia đình. Bọn anh em Hùng, sống đời sinh viên, vừa đi học, vừa đi làm, tiền bạc góp chung lại thuê một căn nhà để mọi người cùng quây quần với nhau. Bà Tâm thì ở nhà lo hết mọi chuyện kể cả giặt giũ, nấu ăn cho cả nhà. Bầu không khí ấm cúng ngày xưa ở quê nhà lại được phục hồi trọn vẹn trong vòng tay yêu thương của tất cả mọi người.
Vui nhất là những bữa ăn do bà Tâm nấu nướng. Nhờ vật dụng, rau cỏ ở đây thức gì cũng có nên bà đã nấu những món quen thuộc của gia đình, với hương vị như gói trọn cả một thời thơ ấu của mấy anh em. Món canh dưa mà Hạnh luôn tấm tắc “tuyệt cú mèo”, món cà ri mà Hương nhận định “chỉ có mẹ nấu mới đặc biệt như vậy, ăn vào là biết ngay”. Còn nhiều món khác nữa, cũng đã đi vào khẩu vị của gia đình như làm sống lại cả một thời yên ấm đã qua.
Thế rồi ngày vui qua mau. Hương lấy chồng trước tiên. Rồi đến Hạnh. Anh Hùng kiên trì thêm vài năm nữa, tốt nghiệp đại học, làm lương cao, tậu nhà mới, rồi lấy vợ. Bầu không khí đoàn tụ, thương yêu cứ như những làn sương mỏng tan dần theo ánh nắng của mặt trời đang lên.
Buổi gặp gỡ bàn thảo chẳng đi đến một kết quả gì. Thôi thì đành buông xuôi và mỗi người đành che giấu trong lòng một niềm chua xót riêng tư.
Ông bà Tâm từ ngày ấy dọn ra ở riêng tại một khu chung cư nghèo nàn. Tuy ở vào tuổi sấp sỉ sáu mươi, nhưng ông cũng còn lái được xe chạy đây, chạy đó. Bạn bè của ông giúp đỡ tận tình, người mách việc này, kẻ giới thiệu việc kia nhưng không việc nào được lâu bền. Có người thấy tình cảnh khó khăn của ông bà, đã cất lời khuyên giải:
– Mỗi thời, mỗi nơi có một phong tục, một cách sống. Ông bà giận con cái làm gì cho mệt thân.
Ông Tâm chỉ mỉm cười:
– Tôi đã nói với các ông nhiều lần rồi mà vẫn không chịu tin. Chúng tôi tự ý ra ở riêng chính là vì quan tâm đến chúng nó. Ở xứ này, tự do cá nhân là điều quan trọng hàng đầu. Mình không muốn làm cho đời sống riêng tư của chúng nó bị xáo trộn.
Cái ông vừa mới trước đây cất lời khuyên giải bỗng đã nổi sùng một cách mau chóng hơn ai hết. Ông ta vặc lên ngay:
– Tự do gì bằng bố mẹ của mình.Tôi lấy làm lạ cho cái xứ sở gọi là tuyệt đỉnh văn minh này.
Ông Tâm cười:
– Mỗi thời, mỗi nơi một phong tục. Ngẫm nghĩ ra, ông còn dễ nổi nóng hơn tôi. Nhưng mà ông ơi, phải tự biết mình và phải cảm thông thôi.
Rồi ông giảng giải:
– Theo tôi thấy, phong tục ta ngày xưa, các bậc làm cha mẹ tự đặt cái tôi của mình lên quá cao. Trong quan hệ bố mẹ con cái, chỉ có bố mẹ là uy quyền tuyệt đối, con cái không có chỗ để len chân vào.
Ông bạn kia nhún vai:
– Cái đó thì cũng đúng thôi. Ðã làm con thì phải biết công lao dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ chứ.
– Ðành rằng thế. Nhưng nhìn vấn đề như vậy vẫn chỉ có tính cách kể công mà không xem trọng cái quan hệ giữa người với người. Tôi cho rằng cái quan niệm đề cao tuyệt đối một con người, lại dẹp bỏ dứt khoát một con người khác, là quan niệm kể công, hẹp hòi. Cái đó phải sửa!
Ông bạn cười khẩy:
– Ái chà! Ông lại còn đòi sửa sai cả phong tục, tập quán của tổ tiên, ông bà cơ đấy. Tôi không ngờ ông lại còn tự do hơn cả Mỹ nữa.
Ông Tâm vẫn mỉm cười, giọng tiếp tục nhỏ nhẹ:
– Ông bà của mình cũng có nhiều cái sai phải sửa lại chứ. Ông thử tính coi, hầu hết các vị làm bố, đều nhìn con cái như một lũ nô lệ dưới quyền. Hơi một chút là phật lòng. Hơi một chút là tự ái nổi lên đùng đùng. Thậm chí nhiều người còn sẵn sàng lôi con cái ra xỉ vả, đánh đập để thỏa cơn giận dữ của mình. Làm như chỉ mỗi một mình mình là có nhân vị, không đứa nào được đụng đến, trong khi nhân vị của chúng nó thì mình cứ coi như không.
Ông bạn mỉa mai:
– Thế là, theo ông, bố mẹ bây giờ, ở đây chẳng có quyền hành gì hết cả à?
– Có chứ sao không! Nhưng sống là thỏa hiệp chứ không phải trấn áp. Thỏa hiệp không xong thì tự mình tách ra, cho khỏe cả hai bên. Chúng nó cũng có những hạnh phúc riêng phải duy trì, có những vấn đề riêng mình không thể lấy quyền làm cha mẹ mà tước đoạt đi được.
Dĩ nhiên, vấn đề còn phải được bàn cãi rất nhiều, nhưng ông Tâm coi như đã lựa chọn cho mình một quan niệm sống, và điều này, ông lại được bà hoàn toàn chia xẻ. Chính vì thế, cả hai ông bà không thấy khổ tâm khi phải tách rời khỏi cuộc sống chung đụng với con cái. Ðời sống ở đây, có quá nhiều điều phải bận tâm nhất là về mặt ổn định kinh tế. Cả hai ông bà đã lăn lưng ra bương trải để có thể tồn tại trong tư thế độc lập. Có thời gian, ông đi cắt cỏ, làm vườn. Rồi đổi qua nghề gác dan, lái xe giao hàng. Còn bà thì vẫn ở nhà nấu nướng, coi sóc nhà cửa và kiếm phụ thêm bằng nghề xâu dây cườm cho một cửa tiệm bán đồ nữ trang, trang trí. Mỗi sợi dây cườm có khoảng hai trăm hột, cứ xâu năm hột mầu này lại đổi sang năm hột mầu khác. Xâu xong phải kiểm lại không được hột nào thiếu, hay là dư. Xâu tới xâu lui, lại mò mẫm đếm đếm, kiểm kiểm, cũng phải mất nửa giờ mới xong một sợi và được trả công hai mươi lăm xu. Mỗi ngày ngồi cặm cụi như thế, bà cũng kiếm thêm được vài đồng tiền chợ. Những đồng tiền ít ỏi nhưng đem lại cho bà nguồn vui và niềm tự hào.
Những ngày gần đây, đột nhiên ông thông báo:
– Tôi đã nhận đi bỏ báo hàng ngày. Có mệt hơn một chút nhưng tiền bạc khá hơn.
Bà Tâm nghe xong dẫy nẩy lên:
– Làm sao ông gánh vác nổi chuyện đó. Ông có biết rằng mỗi tờ báo ở đây nặng bao nhiêu không. Từ kí rưỡi đến hai kí đó ông. Sức của ông làm sao ông liệng nổi.
Ông Tâm co ruỗi cánh tay của mình như ướm thử rồi nói:
– Báo kí rưỡi, hai kí là báo ra ngày Chủ nhật thôi. Còn ngày thường thì đâu đến thế.
Nhưng bà vẫn cương quyết:
– Nhưng ngày gì thì gì, cũng không hợp với sức khỏe của ông. Tôi đã biết nhiều người đi bỏ báo, họ lái xe trên đường phố, vẫn ngồi ở đó mà liệng tờ báo băng qua lề đường vào đến tận cửa. Khoảng cách xa thật là xa. Không có sức khỏe không thể làm được.
Thấy ông tần ngần, bà đề nghị:
– Hay là để tôi đi với ông. Ông chỉ việc lái xe, còn tôi cầm báo chạy vô đặt tại chỗ. Thế là khỏi phải ném, phải liệng.
Ông Tâm dẫy nẩy lên:
– Thôi bà đừng có vẽ chuyện. Bà phải biết, muốn có báo giao, phải đi từ một, hai giờ sáng để xếp hàng, lãnh báo, rồi cột dây. Hôm trời mưa còn phải thuồn báo vô bao ny lông cho khỏi ướt. Ba, bốn giờ sáng mới có đủ báo đem giao. Làm việc như thế sức nào bà kham.
Bà Tâm mỉm cười:
– Thì tôi chỉ phụ với ông ở phần giao báo thôi. Ông lãnh xong đâu đấy, tạt qua nhà đón tôi lên xe. Tôi sẽ đi để báo tại chỗ cho ông. Có gì đâu mà mệt.
Ông Tâm không có cách nào từ chối, đành ưng thuận. Thế là mỗi buổi sáng, cả hai ông bà ngồi trên chiếc xe cũ kỹ, chạy khắp các đường phố. Tới mỗi nhà, bà lanh lẹ mở cửa xe, đem tờ báo chạy tọt qua lề đường và đặt ở ngay trên ngưỡng cửa. Ông vẫn để xe nổ máy, ngừng chờ, mắt theo dõi bước chân thoăn thoắt của bà chạy trên nền xi măng. Trong đầu của ông, bà luôn luôn hiện ra hình ảnh một người bạn đường tuyệt vời, chia xẻ với ông mọi điều, lúc vui vẻ cũng như khi buồn rầu, khi sung túc cũng như trong nghèo khó, lúc ốm đau cũng như khi khỏe mạnh. Trong những trạng huống ấy, bà đã thực hiện một cách triền miên và cụ thể lời rao giảng của cha xứ ngày nào cách đây hơn ba chục năm trong lễ hôn phối của hai ông bà. Ông luôn luôn tự nhủ, ông là một người may mắn. Hôn nhân chẳng phải là một điều dựa trên sự may rủi hay sao? Ông nhận thấy, hồi này, trong tâm tưởng, ông thường hay ôn lại những tháng ngày của thời kỳ hai người còn son trẻ. Hình ảnh của bà hiện ra trong ý nghĩ của ông bao giờ cũng là một người khả ái, dịu dàng, lúc nào cũng tận tụy, gắn bó, chia xẻ với ông trong bất kỳ tình huống nào. Lòng ông cảm thấy xúc động, bồi hồi xen lẫn với cảm giác yên ổn, mãn nguyện như nhận thấy mình đã đi qua gần hết mọi quãng đường đời mà không thấy có điều gì phải tiếc nuối cả. Ðiều này khiến cho ông gìn giữ được niềm lạc quan trong đời sống cho dù rất vất vả, cực nhọc. Hơn thế nữa, ông còn cố gắng che giấu hoàn cảnh cực nhọc của mình để các con của ông khỏi buồn lòng. Cái Hương, cái Hạnh thường xuyên điện thoại hỏi thăm bố mẹ. Bao giờ ông cũng trấn an chúng nó bằng những tiếng cười ròn rã:
– Bố mẹ lúc nào cũng thấy vui vẻ, thoải mái, đừng có lo!
Cũng có nhiều lần cả hai chạy đến dấm dúi cho mẹ những tờ giấy bạc. Nhưng bao giờ bà cũng dẫy nẩy lên:
– Thôi cứ giữ lấy mà lo cho chồng cho con. Chừng nào cần, tao hỏi.
Sự quả quyết của bà khiến cho cả hai cùng cảm thấy yên lòng. Trong thực tế, họ cũng không biết rõ bố mẹ đã làm những gì để sinh sống ngoài ý niệm mơ hồ rằng bố quen thuộc nhiều bạn bè, nên có nhiều cơ hội để sẵn sàng có đủ mọi loại công việc, trong khi ấy, mẹ thì cặm cụi ngồi xâu chuỗi cườm kiếm thêm, kể ra cũng nhàn nhã, không lấy gì làm vất vả.
Cho đến một hôm, ông Tâm cảm thấy mình khó nhỏm dậy được vào lúc một giờ sáng. Nằm ở giường bên kia, bà Tâm đã lên tiếng nhắc chồng đến hai ba lần:
– Một giờ rồi đấy ông.
Bà thấy ông cựa quậy, giở mình, nhưng rồi vẫn êm ru. Trong cơn nửa thức, nửa ngủ bà nghĩ ngợi lơ mơ, nhưng rồi bà chợt choàng dậy vì một cơn hốt hoảng từ đâu chợt ùa đến xâm chiếm trọn vẹn đầu óc của bà. Bà nghĩ đến ông, đến tuổi tác của ông, đến sức khỏe của ông có nhiều sút giảm thấy rõ sau những ngày tháng mò mẫm dậy từ lúc nửa khuya về sáng. Hôm nay ông không trở dậy đúng giờ là một điều bất bình thường. Bà bỗng thấy xương sống của mình lạnh buốt. Bà vội nhào qua bên giường của ông, cất giọng thất thanh:
– Ông làm sao thế?
Lại có tiếng của ông Tâm cựa mình. Bây giờ thì ông có vẻ tỉnh táo hơn. Ông nghển đầu lên, vừa thò tay bật nút đèn vừa cố nhoẻn một nụ cười trấn an:
– Có gì đâu! Có gì đâu!
Bàn tay của bà quờ quạng nắm được cánh tay của ông. Bà nhìn thẳng vào mắt ông như vận dụng bao nhiêu năm kinh nghiệm sống chung của mình để tìm hiểu xem thực sự chuyện gì đã xẩy ra cho ông. Ông Tâm lại nói:
– Tôi chỉ hơi mệt mệt một tị. Bà đừng có lo.
Rồi ông cố gắng ngồi dậy. Chân tay của ông cử động được dễ dàng, nhưng sao trái tim của ông thắt lại. Một cơ bắp nào đó đang co rút khiến cho một vẻ đau đớn thảng thốt vụt hiện ra trên nét mặt rúm ró của ông. Ông lại nằm vật xuống và bây giờ thì bà không còn giữ được bình tĩnh nữa rồi. Bà hối hả ngồi xuống,vực ông dậy, lòng tràn ngập lo âu, tiếng nói của bà đã ríu lại:
– Ông làm sao thế? Ông cảm thấy thế nào?
Ông Tâm yên lặng không trả lời. Ông còn đang bận tâm nghe ngóng xem cái cơ bắp trong tim mình vận hành ra sao. Nó đã rút lại khiến cho ngực của ông nóng ran lên, và đem lại cho ông cái cảm giác cực kỳ đau đớn. Ông nhắm nghiền mắt lại, vận dụng khả năng chống trả của mình, để ráng chịu đựng cơn đau. Ông nghĩ chuyện gì tới rồi nó cũng sẽ tới. Ông không có điều gì phải tiếc nuối cho cuộc đời đã có quá nhiều đắng cay vất vả của ông. Một lúc sau, bỗng ông cảm thấy như cơn đau đã giảm cường độ. Hình như có đường gân nào đó đang giãn trở ra. Nó giãn đến đâu, ông cảm thấy dễ chịu đến đó và lồng ngực của ông trở lại ấm áp như bình thường. Một cảm giác dễ chịu chạy lan từ thân mình xuống tới tận các đầu ngón chân. Ông vui vẻ nhe răng cười:
– Có gì đâu! Tôi thấy dễ chịu rồi.
Vừa nói ông vừa ngồi thẳng dậy. Cử chỉ của ông nhanh nhẹn như bình thường. Ông gỡ cánh tay của bà ra và nhẩy xuống khỏi giường. Mắt ông liếc qua chiếc đồng hồ để trên mặt bàn. Hai chiếc kim đã chỉ gần một giờ ba mươi. Vậy là ông đã bị chậm trễ mất hơn mười lăm phút. Cũng không hề hấn gì. Chỉ đóng gói các tờ báo lẹ chân, lẹ tay hơn một chút là đâu lại vào đó. Rồi ông lại sửa soạn như thường lệ và rồ xe ra đi.
Ông không thể biết rằng sau khi ông đi thì bà cũng không ngủ lại được nữa. Trong thâm tâm của bà đã lộ ra một ý nghĩ quyết liệt: phải chấm dứt cái nghề bỏ báo vất vả này cho ông càng sớm càng tốt. Áo cơm là vấn đề thiết thân thật, nhưng cũng không thể vì nó hy sinh toàn bộ sức khỏe của mình trong khi vẫn còn những đường lối khác để cứu vãn.
Bà đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, bỏ thì giờ chạy đôn chạy đáo để thăm dò trong đám bạn bè quen thuộc. Rồi vài ngày sau, bà báo tin với ông là bà đã tìm ra được một công việc mới. Ði coi nhà, nấu nướng và giữ em cho gia đình một cặp vợ chồng trẻ. Lương lậu không đủ chi trả tất cả mọi chi tiêu, nhưng cũng bù đắp được lỗ hổng một khi ông bỏ việc. Và bà yêu cầu chấm dứt việc đi giao báo hàng ngày. Ông giơ tay lên ôm đầu, giọng đầy xót xa:
– Ðã đến nỗi nào mà bà đã phải làm như thế.
Bà nghiêm khắc nhìn ông như bà đang nắm giữ trong tay tất cả mọi uy quyền. Cái quyền được bảo vệ sức khỏe cho ông. Giọng của bà chắc nịch:
– Không còn đường nào khác! Ông phải nghe lời tôi. Vả chăng ông đã chẳng thường nói chẳng có nghề nào lương thiện mà mình không thể làm. Giữ em cho người ta chứ có gì đâu mà ông phải băn khoăn.
Biết tính của bà mỗi khi ứng xử tùy theo từng hoàn cảnh, ông đành nhún vai buông xuôi.
Thế là từ hôm ấy, bà để ông lái xe đưa bà đi làm lúc gần tám giờ, buổi chiều ông tới đón vào lúc bẩy giờ. Một tuần sáu ngày, trừ ngày Chủ nhật. Bọn cái Hương, cái Hạnh có gọi điện thoại đến hỏi thăm, bà dặn ông trả lời:
– Mẹ đi làm ở xưởng may. Lương bổng khá mà cũng không vất vả gì nhiều.
Mà quả thực, coi vậy chứ bà cũng không đến nỗi phải lao lực trong khi làm việc. Ðôi vợ chồng trẻ cùng có công ăn việc làm. Họ giao cho bà trông đứa bé mới vừa tròn ba tháng. Thằng bé ngoan ngoãn, tới giờ là bú sữa bình, bú xong thì nằm chơi trên chiếc giường đu đưa có gắn loại máy phát ra những bản nhạc êm dịu, nhẹ nhàng. Bản nhạc bao giờ cũng ru đứa bé vào giấc ngủ say sưa. Nhờ thế bà có dư thì giờ để dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị bữa cơm chiều. Khi đôi vợ chồng trẻ trở về thì mọi sự đã gọn gàng đâu vào đấy. Cơm nước cũng sẵn sàng. Món ăn rất vừa miệng khiến nhiều lần cô vợ buột miệng khen ngon. Ðến nỗi có lần nàng đề nghị với bà:
– Cháu thỉnh thoảng có mời bạn bè ăn uống vào tối thứ bẩy. Những bữa đó, nhờ bác nấu nướng thêm đũa thêm bát giùm cho.
Rồi như sợ bà cảm thấy công việc trở nên vất vả hơn, nàng giải thích tiếp:
– Nấu cơm thường thôi chứ không bầy vẽ gì cả. Bởi nếu bầy vẽ thì cháu đã mời họ đi ăn tiệm. Ðằng này, chúng cháu chỉ gặp nhau hàn huyên trong không khí gia đình.
Bà Tâm vui vẻ nhận lời ngay:
– Thế thì được. Không phải tôi ngại vất vả, nhưng tổ chức tiệc tùng thì tôi nấu nướng không rành, sợ dở không ăn được. Chứ còn cơm thường thì đâu có sao.
Rồi bà kê ra một loạt những món ăn hàng ngày để tùy nghi lựa chọn.
Một ngày thứ Bẩy sau đó, bà bầy biện tươm tất một bàn ăn có tới tám người. Hai bát canh dưa nghi ngút khói đặt giữa những đĩa rau xà lách xanh tươi xen lẫn với những đĩa thịt kho nhừ, và thịt bò xào lẫn với những miếng khóm vàng tươi.
Người chủ nhà tiễn bà ra cửa lúc giờ về, đã nắm lấy tay bà cất giọng đầy cảm kích:
– Bác sửa soạn cho cháu thế này là chu đáo quá rồi. Tối nay chúng cháu tha hồ được vui.
Bà nhìn người vợ trẻ với ánh mắt đầy hân hoan. Bao giờ bà cũng tìm thấy niềm vui trong việc làm hài lòng người khác. Lúc ngồi trong xe trên đường về nhà, bà vui vẻ kể chuyện cho chồng nghe về công việc trong ngày của mình.
Cả buổi tối thứ Bẩy hôm đó, bà luôn luôn thấy lòng nhẹ nhõm, thanh thản. Bà có cảm giác như mình vừa hoàn thành một công việc trọng đại: cất được cái gánh nặng nề vất vả để gìn giữ sức khỏe cho chồng.
Duy có điều, nếu bà hình dung được những gì đã xẩy ra trong buổi tối hôm đó thì chắc niềm vui của bà không được trọn vẹn như thế. Bởi vì, trong đám bạn bè của đôi vợ chồng trẻ tụ tập hôm đó, lại có cả sự hiện diện của Hạnh và Hương.
Lúc ngồi vào bàn ăn, mùi canh dưa bốc khói tỏa lên, làm cả hai xuýt xoa vừa nói với nhau, vừa nói với tất cả mọi người:
– Trời ơi! Tuyệt cú mèo! Ðã lâu lắm không được ngửi thấy mùi canh dưa.
Rồi Hạnh múc một muỗng nhỏ đưa lên môi nếm thử. Hương vị của muỗng canh làm đầu lưỡi của nàng tê đi và đồng thời làm thức dậy trong ý nghĩ của nàng những cảm giác xôn xao, quen thuộc. Hình như chứa ở sau cái vị bùi bùi, ngậy ngậy, chua chua là hình ảnh của khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của mẹ nàng thấp thoáng sau nồi canh đang nghi ngút bốc khói. Rồi đâu đây, rộn rã vẳng lên những tiếng cười, không phải là tiếng cười của Hùng, của Hạnh, của Hương bây giờ mà là của cả ba người trong quãng thời thơ ấu ngày xưa, sau một ngày chạy nhẩy rông rài đầu làng cuối xóm, lòng dạ đói meo, tất cả cùng kéo nhau về tìm mẹ ở trong bếp để ríu rít đòi ăn. Mùi canh dưa y hệt như thế này, đã tỏa lan trong căn bếp chật chội, có mái thấp và những sợi mồ hóng rủ xuống từ những cái đà bằng tre nứa bắc ngang. Mẹ như một bà tiên hiền hậu, hai mắt long lanh, hai má của mẹ đỏ hồng. Mẹ cười như nắng tỏa lúc ban mai:
– Các con đi rửa tay chân rồi ăn cơm. Mọi thứ sẵn sàng hết cả rồi.
Lũ nhỏ chạy túa đi, như một bầy chim nhỏ vui tươi, ríu rít vì được che chở, được yêu thương, chăm sóc.
Trong khoảnh khắc, lòng Hạnh chùng xuống và nàng cảm thấy mùi canh dưa bây giờ đang tỏa ngát chẳng những ở bầu không khí chung quanh mà còn tràn ngập cả trong tâm hồn của nàng. Nàng liếc sang phía chị Hương và nhận ra ngay chị ấy hình như cũng đang trải qua một cơn xúc động. Nhưng rồi bất chợt, có tiếng của Hằng, cô bạn chủ nhà trẻ tuổi vang lên, đầy vẻ mãn nguyện:
– Các bồ đã thấy canh dưa tuyệt cú mèo không. Của bà Tâm, người làm mà chúng tôi mới mượn được đấy! Bà này nấu ăn phải nói là số một!
Tai của Hạnh ù lên. Nàng không còn nghe thấy được tiếng xôn xao của các bạn bè khác đang thi nhau phát biểu ý kiến về những món ăn trên bàn. Nàng có cảm giác như bất chợt có một bàn tay lạnh lùng, tàn nhẫn nào xoè ra, nắm lấy trái tim của mình rồi xiết lại. Cơn đau ùa đến bất chợt làm Hạnh thót người lại, những nét nhăn nhúm chợt hiện ra trên khuôn mặt xanh xao và yếu đuối của nàng, và bỗng nhiên những giọt nước mắt chợt trào ra, chan hòa trên bờ mi làm khung cảnh sáng rỡ ở chung quanh bỗng nhiên trở nên nhòe nhoẹt. Ngồi chết sững ở đó, Hạnh không cất lên được một lời nào, nàng cũng không thể suy nghĩ thêm được một ý nghĩ nào khác ngoài sự nhận thức mơ hồ rằng chị Hương cũng đang đứng dậy. Một tay chị ấy xô cái ghế để lấy lối ra. Một tay giơ chiếc khăn ăn lên che kín gần cả khuôn mặt.
Hình như chị ấy đang hối hả đi tìm chỗ có phòng rửa mặt.

Nhật Tiến

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: