Tuý Hồng Giữa Chúng Tôi. Tuỳ bút Mai Thảo


Mai Thảo

(Chân dung nhà văn Túy Hồng và Mai Thảo)

Nhà văn nữ Túy Hồng ngoài đời là người trăm năm của nhà văn Thanh Nam, tôi gặp mặt lần đầu, bấy giờ là khoảng cuối năm 1960. Chị vừa chia tay ngọn núi Ngự, từ biệt giòng sông Hương vào sống với gia đình trong một căn nhà nhỏ giữa khu Nguyễn Cư Trinh náo nhiệt. Người Huế đi tới chân trời góc biển nào cũng mang Huế, tận cùng theo mình tới đó. Nhất là người Huế lại là một phụ nữ Huế, biểu tượng rực rỡ của Huế bên cạnh nam phái Huế thường có khuynh hướng che dấu phần nào gốc gác mình, không có những tỏ hiện rõ ràng và ngỗ ngược về Huế bằng mái tóc thề và nón bài thơ Đông Ba, Thành Nội.

Túy Hồng cũng vậy. Một biểu tượng rực rỡ của người đàn bà Huế. Huế từ vóc dáng đến phục sức, từ cái lối đưa tay lên che miệng cười, từ cái lối cầm dù đi trên hè phố Sài Gòn một chiều mưa lớn, đến cái lối đứng tránh đón bạn vào nhà, đến cái lối sôn sao tiễn bạn ra đầu ngõ. Biểu tượng. Trộn vào muôn vàn cũng không sao lẫn được. Biểu tượng, hiểu tới tột đỉnh của biểu tượng, trong muôn nghìn kết thành ở một, với đầy đủ những đặc thù riêng tây và đậm đà nhất, với Túy Hồng sẵn đã Huế nói theo cách nói của kép hát Hùng Cường: “một chăm phần chăm”. Túy Hồng còn là một nhà văn. Và nhà văn nữ lỗi lạc sinh trưởng ở quê hương của mè xửng và của bún bò cay nhức óc này lại viết về Huế rất nhiều, chỉ viết về Huế, cái thế giới văn chương của bà ném đi xa rộng tới đâu cũng từ một tâm thức Huế, cũng ở trong những chân trời Huế.

Lần gặp đầu ấy, cái cảm tưởng thứ nhất của của tôi về đám chị em Túy Hồng rất đông, là giữa khu Nguyễn Cư Trinh vẫn cầu Tràng Tiền, cái dốc Nam Giao đâu đó, Phú Bài ngoài đầu ngõ, Vọng Cảnh ngay hông nhà, tôi vừa lọt vào xanh biếc tĩnh Tâm, tôi vừa rơi vào sương chiều Linh Mụ, giữa một bầy thiếu nữ Huế ríu rít tiếng chim, mà chim Huế một bầy ríu rít thì Nam Bắc đờ người ra, chim nói làm sao người hiểu được. Cảm tưởng thứ hai, và riêng về Túy Hồng thôi, là vị nhà văn nữ miền Trung, nổi danh từ tập truyện đầu, thật lạc lõng với Sài Gòn. Có vẻ như Sài Gòn làm Túy Hồng bối rối và kinh hoảng, trong những điều Sài Gòn thật sự làm bối rối, cả trong những điều Sài Gòn chẳng làm kinh hoảng gì người. Biển náo động kia làm xao xuyến hồ này trầm lặng, phải vậy chăng? Cái khối người bốn triệu vây bọc, tràn lấn là một dội đập bàng hoàng với người chỉ quen soi bóng mình trên yên tĩnh Hương Giang? Hay Sài Gòn của ban đêm, của tới sáng, của quán xá hội chợ, nhịp sống cơn lốc, đà sống thủy triều làm chấn động người nữ sinh Đại Nội, trong dậy thì chỉ biết cái ánh nắng dịu dàng của thôn Vĩ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử, sự lắng đọng nghìn đời của tịch mịch những lăng tẩm vua xưa?

Sự thể không rõ rệt lắm. Rõ rệt chỉ chính Túy Hồng viết được ra. Tạm giải thích là Túy Hồng có một tâm hồn và một bản thể địa phương rất mực. Cái sự địa phương tính đã tới mức linh hồn và tủy não, như trái quýt trong Cổ Học Tinh Hoa mới là nó khi được trồng trên đất nó Giang Nam và lạc thể ở bất cứ một đất vườn nào khác. Sự rõ ràng nếu thấy nằm ở phản ứng. Thân thế và cung cách sống ngoài Huế và xa Huế ở Túy Hồng vĩnh viễn là một phản chống tiên thiên không hòa nhập không đồng hóa. Không thể. Không thể. Đã bao nhiêu năm bà vẫn ở Huế, như là Huế từ đầu. Bản thân lưu lạc, nhưng bản thể vẫn ở bên kia ngọn đèo Hải Vân, thời còn con gái. Gia đình đã yên ấm, người thiếu nữ Huế đã êm đềm sang sông, mà chiều chiều vẫn cặp mắt trong thơ Nguyễn Bính hướng về mịt mùng quê ngoại. Văn chương và tiểu thuyết Túy Hồng, từ ngữ trong tạp văn, hình ảnh trong truyện ngắn đều đậm đà cách nói, cách viết Huế, những trang xưa như những trang mới bây giờ.

Thành ra câu trả lời sau cùng có lẽ là Túy Hồng như vậy, không một chút thay đổi ở bản chất sâu thẳm, không một chút biến tướng dầu ở tình huống nào, và chính bởi vậy bà mới là nhà văn, đã sống đã viết như tới bây giờ đang sống và viết, dựng nổi được một cõi ngôn ngữ không thấy ở một người viết nữ nào khác.

Huế không thực hiện được những giấc mộng cho người. Phải đi khỏi bóng cổ thành, những dấu tích dĩ vãng. Những trận mưa hàng tháng hàng tuần của Huế không cầm chân được lòng người muốn bay đi. Cuối cùng là đành phụ Huế, xa Huế, không thể đồng hóa vĩnh viễn định mệnh mình và định mệnh Huế. Phương trình chia lìa này là nền tảng cõi văn Túy Hồng, cũng như ở cõi thơ của một người viết nữ Huế khác, của Nhã Ca:

Từ độ xa chuông khôn lớn giữa đời

Thế nhưng tiếng chuông Linh Mụ ấy, Nhã Ca đêm nào cũng nghe “văng vẳng tiếng chuông reo”, và nhịp cầu Tràng Tiền ấy Túy Hồng tuổi nào cũng thấy nó bắc dài qua trí nhớ. Trước sau Huế vẫn là ngọn đỉnh, là trọng tâm, là đường kính tâm hồn. Thành ra có thể nói, bằng cái sự ở hay không ở của tấm lòng mà định ý nghĩa và trọng lượng của nơi chốn, thì Túy Hồng vào Nam với gia đình, Túy Hồng vượt biển từ Phú Quốc, mùa tuyết trước ở New Jersey, mùa tuyết này ở Seattle, đã chồng Bắc, bạn Bắc, đã phở, đã cà cuống, mà cây cầu bà đi vẫn là cây cầu Tràng Tiền, “bàn tay che thời tiết” như tựa đề một truyện dài của bà vẫn là thời tiết Đông Ba, trước sau nhà văn nữ này chưa từng một ngày rời xa Huế. Điều này, vẫn là cứ đọc Túy Hồng là thấy. Những cái khác Huế, ngoài Huế, bà đều thuật tả được sắc sảo, sinh động. Nhưng trên những cái tả cái thuật đó, chỉ thấy cái thấy, không có cái yêu, chỉ thấy cái thân tình mà không thấy cái gắn bó. Đôi khi còn là cái khô của phân tích, cái lạnh của giải phẫu, những phê phán nhức nhối, những nhận xét nghiệt ngã. Chỉ viết về Huế, Huế trong túi nhớ, Huế trong thói quen, Huế trong tấm lòng là Túy Hồng viết khác hẳn, cái xấu của Huế cũng biến thành cái đẹp, Huế phẳng lặng vậy mà tuyệt diệu, tâm tình người Huế hay nhất hoàn cầu, miếng ngon của Huế ngon nhất thế giới. Huế, và riêng về Huế, viết không bằng trí óc nữa. Mà bằng trái tim. Huế, và riêng về Huế là không khoảng cách, không nhìn vào, mà Huế ở trong tôi chính là tôi, muôn vàn thương yêu, muôn vàn tưởng nhớ.

Tập truyện ngắn thứ nhất của Túy Hồng, tập Thở Dài, truyện đã in ra nhưng tác giả bấy giờ còn ở Huế, tôi tình cờ thấy và đọc hết nó một buổi trưa trên căn phòng nhỏ chật của Thanh Nam ở khách sạn Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, căn phòng đêm đêm trong khói thuốc dày đặc, bọn Phan Nghị, Vũ Đức Duy cùng mấy em vũ nữ tan vũ trường về đánh bạc tới sáng, cũng là căn phòng, sau thành hôn của Túy Hồng, bọn quỉ sứ này phải cuốn gói bước hết, Túy Hồng sống những ngày thứ nhất cuộc đời thiếu phụ của mình. Thở Dài hay tuyệt. Tôi đọc một mạch. Một bất ngờ lớn. Hỏi Thanh Nam ai mà từ ngữ giàu có, bút pháp khác thường như vậy, Thanh Nam rung đùi, cười hề hề: “Một nhỏ Huế, chúng mày chưa ai biết”. Trước 60. Khách sạn Cửu Long. Rượu rồi cờ bạc. Cờ bạc rồi rượu. Thuốc phiện nữa. Đủ. Thanh Nam bấy giờ quá trời trong đời sống độc thân. Ngày cơm tiệm, đêm khách sạn. Chiều chiều theo bọn Hoài Bắc, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Anh Ngọc chúng tôi la cà khắp vùng Chợ Lớn, Chợ Cũ, hộp đêm, vũ trường, quầy rượu, không thiếu mặt một chiều nào. Đêm say ngất ngủ ở bùng binh Ngã Bảy. Ngày còn say, đã đóng cửa phòng ra đi. Và tập Thở Dài tôi đọc lần đầu, cạnh một kệ sách khách sạn, Túy Hồng thời gian đó còn là một “con nhỏ Huế” xa lạ thật. Rồi bà vào Sài Gòn, tôi gặp ở Nguyễn Cư Trinh. Rồi cơm tối ở nhà Trần Thanh Hiệp, điểm tâm với Phan Lạc Phúc, Thanh Tâm Tuyền. Cứ thế, trong cái dáng vẻ e dè bối rối, vẫn cứ thấy đông người là chùn lại, Túy Hồng đi dần vào những sinh hoạt hoang toàng hồi đó của bọn viết chữ chúng tôi. Rồi những người bạn mới đồng phái với bà, Trùng Dương, Thụy Vũ, với họ bà viết liên tiếp và đều tay những tác phẩm mới sau Thở Dài, mau chóng trở thành một nhà văn nữ toàn phần. Và với Trùng Dương, Thụy Vũ, thêm Lệ Hằng, Nhã Ca, Nguyễn thị Hoàng nữa, trở thành một thành viên hàng đầu của hàng tiền đạo văn chương nữ phái, hiện tượng đặc biệt và đáng ghi nhận nhất của văn học Miền Nam hai thập niên 60 và 70.

Đám cưới Thanh Nam, như chương sách của một chuyển đoạn lớn lao nhất trong tự truyện Túy Hồng, được anh em văn nghệ cùng nhà gái nhà trai tổ chức thật đông vui ở nhà hàng Đồng Khánh. Nhớ hôm đó, cô giáo Túy Hồng trông lạ hẳn với mái tóc cắt ngắn rất Shirley MacLaine, mái tóc chắc là công phu hơn mọi lần, mái tóc trong đời, khiến cô dâu Huế tới muộn và bối rối xin lỗi. Tối đó, Thụy Vũ say ngất và Thanh Nam vĩnh viễn giã từ cuộc đời và nếp sống độc thân. Tôi cứ nhớ mãi cái Đêm Màu Hồng ấy của Đất Khách với Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, của chàng sông Hồng lấy vợ như một giai thoại đầy bất ngờ kỳ lạ, và của nàng sông Hương lên xe hoa cũng vậy. Đám cưới của bạn với bạn, nhưng đặc biệt nhớ, bởi vì trên tinh thần, còn là đám cưới của Túy Hồng với toàn thể gia đình văn nghệ miền Nam, với mấy tờ Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề, trên hết thảy mọi diễn đàn thân hữu này từ đó văn chương Túy Hồng là một có mặt thường xuyên và Túy Hồng, một người viết chủ lực.

Hôn nhân với Thanh Nam một đời. Hôn nhân với văn chương đến nay chưa biết thế nào. Chưa một nhà văn nào trên cái đất này tuyên bố sống tới hơi thở cuối cùng với bút giấy. Nhưng nhìn lại thời gian từ đổ đèo Hải Vân vào Sài Gòn tới đêm Phú Quốc vượt biển, mười mấy năm văn học miền Nam của Túy Hồng đã đích thực là mười mấy năm xanh tươi, đầy ắp. Những trang bản thảo chữ viết xô chen, dập dập xóa xóa, đã tới số nghìn, nhiều nghìn. Sách đã một dãy ở Nam Cường. Sách đã một hàng ở Khai Trí. Cảnh tượng chữ nghĩa rực rỡ được mùa này ở Túy Hồng cũng giống như ở Nhã Ca. Người nữ Huế từ vòm trời tuổi nhỏ tới kinh thành không phải chỉ để chiều thứ bảy đi dạo trên hè đường Tự Do, may những chiếc áo dài mới trong thương xá Tax. Cái đích của đời sống cũng không chỉ ngừng lại với tấm thiệp báo hỷ, cái chỗ đứng trước bảng đen trường tiểu học Phú Lâm. Mà lộ trình còn mang trọn vẹn ý nghĩa một tiến tới nhọn hoắt, mộng tưởng văn chương cái đinh lóng lánh trên đầu mũi kiếm nữ hiệp xuống núi và từ xuống núi, thế kiếm Nga My cứ thế mà liên hoàn phóng tới, khiến cho cái quãng trường chữ nghĩa trọn một thập niên 60 chỉ còn là ầm ầm chỉ còn là náo động cái trận thế Nga My.

Người, là mái tóc dài lồng lộng thành mây, gót chân son vùn vụt thành gió, Huế không còn khép nép che nửa mặt hoa, Huế không còn âm thầm mưa đêm Thành Nội, mà là con suối nhỏ vào đời đã đi lên thành biển, nàng Bovary trong tiểu thuyết Flaubert đã mở toang cánh cửa của giới hạn ước lệ giam nhốt, đi thẳng ra với ngã tư đời sống mênh mông. Túy Hồng trở thành cây bút chuyên nghiệp. Túy Hồng trở thành nhà văn toàn phần. Thanh Nam ham vui, bạn ới đi là đi ngay hàng quán. Túy Hồng ở nhà, trên cái mặt bàn có một góc bàn viết, ý truyện thành hình đêm trước thức ru con, truyện đã viết xong trưa sau đặt nồi cơm lên bếp. Viết không còn là đôi lúc, cái phụ lục. Viết đã trở thành cái hàng ngày, cái chính cung. Nguyên Đán chưa tới nhưng mỗi năm, tháng mười, tháng một đã năm bảy cái đoản thiên viết sẵn cho hàng chục số Xuân chắc chắn tới đưa tiền. Bài phải ghim sẵn, cho các chú tùy phái Tia Sáng đúng giờ gõ cửa. Bút phải cầm tới, bởi đã hứa cái truyện dài cho Sóng Thần tuần sau. Chẳng bao lâu mà đã sống hẳn, ở hẳn với sinh hoạt với báo chí. Với những tách nước trà tòa soạn, với những bì thư tiền trị sự. Hiểu rõ được tạp chí Bắc kia, như thế nào phải viết. Thấy rành được nhật báo Nam này muốn gì ở cái viết ta. Rồi năm đó, đoạt Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc, cầm ly khai vị đứng trò chuyện với phu nhân Tổng thống trong dinh Độc Lập. Rồi năm nọ ngồi tươi cười giữa kỷ niệm Chu Niên Văn.

Bằng sinh hoạt văn chương, Túy Hồng Sài Gòn hóa dần dần. Thế sống vững chãi hơn. Đời sống trên cả cái mặt áp đảo biến nghịch của nó, cũng không còn làm bà bàng hoàng kinh dị nữa. Tiểu thuyết mỗi ngày một làm chủ ngòi bút, vấn đề mỗi ngày một đặt ra đàng hoàng, bút pháp mỗi ngày một thao túng, bay múa, người viết nữ đã cứng rắn không còn “tôi nhìn tôi trên vách”, mà chuyển hẳn lại thế ngồi, đối diện với toàn bộ, với chung quanh.

Tôi không nói Túy Hồng mở đường cho ngọn triều tiểu thuyết nữ phái một thời. Cùng lúc đã có những Trưng, Triệu văn nghệ khác. Không phải một cá nhân tiền phong nào mà cùng Túy Hồng đã một hiện tượng viết nữ, một tập thể viết nữ tạo mưa nắng làm giông bão, gây thành cái sự thể lấn lướt nam phái chưa từng thấy trong văn chương cận đại và hiện đại ta. Nhưng phải có Túy Hồng hiện tượng mới toàn phần, ngọn triều mới tới đỉnh. Ai ngờ được Huế vào Sài Gòn mà làm dữ vậy? Có lẽ tới bây giờ nhớ lại, chính Huế cũng không ngờ Sài Gòn anh tài, Sài Gòn tứ xứ tưởng chẳng có đất chen chân mà lại có chỗ đứng dưới mặt trời, mà lại là một dàn phóng ngon lành đến thế cho người từ Huế tới.

Viết về Túy Hồng, tôi chợt liên tưởng tới một người bạn thân khác, đã mất: nữ nghệ sĩ sân khấu Bích Hợp. Một thời chúng tôi thường cùng Phạm Mạnh Cương chồng của Bích Hợp tới sân khấu Kim Chung, Tổng Đốc Phương đón Bích Hợp vào Chợ Lớn ăn đêm. Hoặc trưa chủ nhật, tới nhà người nữ nghệ sĩ khả ái này ăn những bữa cơm gia đình do chính tay Bích Hợp củi lửa. Trên sân khấu, Bích Hợp là một đào thương, đào độc, lối diễn tan nát, khốc liệt, giọng ca bi thảm não nùng. Ngoài đời, Bích Hợp khác hẳn. Không thể dịu dàng không thể khép nép hơn, ở tiệm, trong xe, bao giờ cũng ngồi từ tốn một góc, có hỏi mới lễ phép mới vâng dạ trả lời. Bạn bè đến nhà, thật thân rồi mà bữa ăn dọn ra vẫn chắp tay thưa được để ăn sau, rồi xin phép lui vào phòng trong ngồi nói chuyện với mẹ.

Bích Hợp khác, Túy Hồng khác. Nhưng điểm tương đồng ở họ là sự khác biệt hoàn toàn giữa người nghệ sĩ với người đàn bà ngoài đời và trong gia đình. Cõi văn Túy Hồng bạo tợn, lối viết ngạo ngược phá phách. Ở trong cái hằng ngày của bà lại không thấy một dấu vết nào như vậy. Bà không bừa bãi như Thụy Vũ, rượu như Nguyễn Thị Hoàng, thuốc lá như Trùng Dương, bụi đời như Hoàng Hương Trang. Cũng không hội họp, lập đảng như Tuệ Mai, Nguyễn Thị Vinh. Chỉ ở nhà, chỉ chồng con, chỉ nội trợ. Hết độc thân rồi, Thanh Nam vẫn lu bù với chúng tôi, một mình. Bạn bè kéo đến trước ở Bùi Chu, sau ở Lý Thái Tổ, Túy Hồng dọn bữa nhậu cho đảng, rồi ở trong bếp hoặc lên trên lầu rất ít tham dự. Đem đối chiếu với văn viết, phô diễn, mạnh mẽ, thế sống ngược nghịch ở cái mờ nhạt, cái lùi khuất. Chừng như Túy Hồng hiển lộng với cuộc đời bằng văn chương mình là đủ, cái tiếng nói muốn nói giữa đồng thời đã nói ở nghìn trang tiểu thuyết là xong, sáng sáng xuống đời cây viết trên tay, chiều chiều lại trở về hang động mình không còn ai thấy mặt. Đã bao nhiêu năm như vậy, không một chút thay đổi. Vẫn Huế trong hồn, Tĩnh Tâm trong da, lặng lẽ, thu nhỏ. Thời tiết che nghiêng, mỏng manh cái nón bài thơ. Vùng an toàn tột đỉnh, vẫn cái vỏ ốc khép kín. Cái vẻ an phận cũng nhiều bằng cái dáng thỏa hiệp. Đã bao nhiêu năm như thế, thấy văn chương mà không thấy người. Cảnh tượng văn chương, một cảnh tượng riêng. Cảnh tượng đời sống, một cảnh tượng khác.

Bây giờ lại càng yên càng khuất nữa. Yên ở Tây Bắc. Sau tấm màn mưa, sau cánh cửa thông. Khuất ở Seattle, hồ vịnh một cõi. Mấy năm trước, một chỗ ngồi im lặng trên xe bus, xuống phố làm việc, cặp mắt Huế ngó thẳng con đường hàng ngày. Bây giờ ở nhà, ngôi nhà Othello đằng sau một cánh cổng thấp, lúc nào cũng như bên trong mọi người đi vắng hết. Những buổi trưa đi chợ, chiếc xe lái từ từ, tránh những ngả đèo dốc. Những buổi sáng dậy sớm, sửa soạn cho con đi học, con ăn cereals mẹ cũng một trái bưởi. Trật tự Mỹ. Đời sống Mỹ. Cái chung quanh Mỹ. Bữa điểm tâm Mỹ. Nhận như vậy, cái năm nay. Nhận như thế cái năm sau. Sự thỏa thuận dịu dàng như cái cử chỉ mỗi buổi sáng thắp một nén hương lên bàn thờ Phật.

Duy có ngòi bút, mỗi lần vẫn một thức động. Duy có cách viết, mỗi lần vẫn một nhọn hoắt. Duy có tâm thể, vẫn câu thơ bất hủ của Tản Đà. Seattle mưa là mưa bay đi. Nhưng trong nghìn triệu giọt mưa Tây Bắc, vẫn một giọt mưa Huế. Mưa có bay ra biển, mưa vẫn trở về nguồn. Tâm sự tha hương, trong kín thầm vẫn nguyên vẹn. Phòng khách Othello. Bầy con cãi lộn bằng tiếng Mỹ. Người mẹ ngồi ở giữa, tiếng Mỹ đầy trong đầu. Bữa điểm tâm bằng một trái bưởi nhưng Othello vẫn gió mưa một phiến trời Huế, vẫn xanh ngắt một tâm cảnh Huế. Vẫn là cả Huế mang theo. Vẫn không xa Huế một ngày.

Thành ra những thân tình lâu ngày không gặp, muốn thăm Túy Hồng ở Seattle bây giờ, nếu thấy ngôi nhà Othello dựng trên đất Mỹ mà vẫn có giòng sông Hương chảy qua phía trước, ngọn Ngự Bình in hình phía sau, một hông nhà vẫn lối vào Đông Ba, hông bên kia vẫn vòm cổng Thượng Tứ, thì những thân tình cũng đừng nên ngạc nhiên.

Mai Thảo
(Chân Dung Mười Lăm Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, Văn Khoa 1985)

Vàng Son Ngày Tháng Cũ. Tuỳ bút Đinh Hùng


Đinh Hùng

Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ… Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng Cung nữ thời xưa và trong vườn nhà ai thấp thoáng, hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn trẻ?

Nắng ở đây vẫn là nắng vàng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự thay đổi, vì lại thấy mình đi trên con đường này, thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá. Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và nay cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn lại nhiều rồi, nhưng chỉ buồn như năm trước. Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng.

Tôi nhớ một người lữ khách nào xưa, ra đi từ một mùa thu… Thế rồi cũng một mùa thu trở lại những bước đầu tiên trên con đường bạn, mắt buồn như nước, mảng tìm hồn mình hiu hắt trong hồn thu mới… Thu đã về đây, tôi làm lữ khách đi hết sông này, sông khác, cả núi, cả đèo và lại cả rừng cả suối, bây giờ tôi cũng về đây để buồn thêm một ít, nhớ thêm một ít và yêu thêm rất nhiều.

… Từ hôm rời chân ở bến sông vàng.

Từ biệt con thuyền phiêu bạt, tôi đã hết nhớ dãy núi xanh phơn phớt đằng xa và bâng khuâng trở lại con đường quê thân mật.

Đi trên đất đó, giữa hai ruộng ngô thơm nghe ngào ngạt… Hương này có phải hương xưa? Ôi ! Những dây đậu vẫn còn non mà luống khoai lang đã xanh tươi rồi nhỉ? Đi trên đất đỏ, bên những luống rau cải cúc và dẫm lên cỏ may vàng. Đây là những con bướm cũ, những cánh hoa xưa và này đây tất cả Ngày xưa: từng cơn gió nhỏ, từng sợi dây buồn…

Thôi! Thôi! Tôi không còn trẻ thơ nữa để say sưa đuổi bắt bướm đồng, và chẳng ngắm gió sầu mây, chỉ hoa lòng nở cũng nhiều bông trắng!

Thương nhớ vì sao! Tôi sớm giã từ hồn niên thiếu, hôm nay đi giữa cánh đồng lại thấy tuổi nhỏ của mình tản mạn trên từng cánh bướm, sắc hoa, và chân bước đi những bước ngậm ngùi, bởi chưng lòng tưởng con đường tan tác cánh hương của đóa xuân hồng thuở cũ.

Đinh Hùng

Sơn Núi. Tùy bút Tuệ Sỹ


Tuệ Sỹ

1.
Sinh ra để làm thơ, đó là Định mệnh? Hay Lịch sử? Hay cái gì nữa? Có bao nhiêu câu hỏi tương tợ như vậy, nghĩa và vô nghĩa, để chắp cánh cho ta đi tìm một bóng dáng huyền thoại của một nhà thơ, và chỉ một mà thôi? Không; không có câu hỏi nào cả. Neti, neti, Tat tvam asi. Không có gì cả.

Chỉ có tiếng hú, và huyền thoại của tiếng hú, trong cơn lốc quằn quại của con vượn biết mình đang tan vào lượn sóng, chồm lên hung hãn đòi hỏi phẩm chất làm người. Sóng gào thét với gió ngàn bạt đỉnh, nhận chìm tiếng hú xuống dòng xoáy của hư vô. Từ đó, loài người xuất hiện, lầm lũi bước đi trong bóng đêm u tịch, nghe sau mình tiếng vọng đuổi theo; tiếng vọng của những quá khứ đã chết, những tháng ngày bay vèo theo xác lá khô. Đâu đó, nghe ngân dài: Ôi tình yêu! Ôi vĩnh cửu?

Tiếng ngân ấy, rung lên giai điệu nhẹ nhàng, thướt tha, và cũng tha thiết. Tiếng thơ của ai? Hay của con người, chỉ một con người, đứng ôm mặt trời nóng bỏng trên đỉnh Trường Sơn. Thế rồi, thiên địa bất nhân, coi vạn vật như chó rơm, cho sinh thêm một con người nữa, để có thể hỏi: Thơ là gì, là tình yêu hay tội lỗi? Thêm một người nữa, để cho ta biết yêu, biết hận, và biết làm thơ. Ta biết làm thơ, vì ta đã phụ bạc, đã ruồng rẫy; chôn tình người xuống hố sâu tội lỗi; dựng lời thơ thành cung điện huy hoàng. Đêm đêm rừng sao mênh mông tuôn xuống lớp lớp cơn mưa châu ngọc. Giữa cơn mê sảng của giàu sang, ảo ảnh hiện hình làm quỷ sứ, gọi nhà thơ dậy, hỏi dồn và thách thức: Đâu tình yêu? Đâu vĩnh cửu? Nhà thơ nhìn lại trong lòng tay; chỉ còn một hạt cát. Trong cơn mê sảng, nó thét lên:

Hột
Thì le

Vì người đã sống, và đã đi suốt chiều dài tiến hóa; nên Thơ đã chết. Chỉ còn giai điệu lăn lóc của sỏi và cát:

Hột
Thì le

Vô nghĩa, và vô ngôn. Chỉ có sự sống trần truồng, vật vã trong nắng bức và gió rát của sa mạc. Của đam mê và hủy diệt. Của tình yêu và phản bội. Của vĩnh cửu và hư vô.

Hai mươi lăm năm rồi, từ khi tôi biết yêu; từ khi nhìn thấy ngọn cỏ gầy gục đầu dưới lớp bụi nặng trĩu ven đường, mà bỗng thấy rạo rực với những ảo ảnh chập chờn, nghe đâu đó có tiếng thì thầm: Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.

Khi chợt tỉnh, chung quanh khói lửa ngập trời. Rồi mặt trời đỏ rực màu máu. Rồi Thái Bình Dương dậy sóng. Đi đâu hết rồi, những người tôi yêu và những người yêu tôi? Trong bóng tối của tử tù, từng khoảnh khắc tôi nghe đồng vọng tình yêu trên cao. Tình yêu đến gần, đang tô điểm phấn son, chờ phút giây hội ngộ trong yến tiệc linh đình của pháp trường cát. Tình yêu phía trước, ngân vang giai điệu prélude chậm buồn trong tay những xạ thủ:

Mai sau tắt lửa mặt trời

Tình yêu để lại phía sau, dãy hành lang hun hút, dồn đập tiết tấu Rhapsody:
Chuyện linh hồn với luân hồi có không

Rồi lật sang chương ba của bản hòa tấu, Marche funèbre:

Thái hư chừng sắp chuyển vòng
Đại dương tràn kéo núi đồng tan đi
Chúng ta giờ ước mong gì
Văn minh gởi cát bụi về mai kia…

….
2.
Sa mạc lớn dần… Thượng đế đã chết… Bởi vì con người đã chết. Một thế hệ được sinh ra, được nuôi lớn, để làm chứng cho sự sụp đổ, hoang tàn. Thần linh bỗng nhiên biến mất.

Và hình ảnh mầu nhiệm, kết tinh từ Thánh thể, cũng biến mất. Sự sụp đổ của một nền văn minh, và hoàng hôn của những thần tượng. Tôi đi tìm đâu đó hoài niệm về một quá khứ mà mình chưa từng có mặt. Bóng ma của cái quá khứ vô tri, xa lạ ấy, đã một thời ám ảnh.

Sa mạc lớn dần… Thượng đế đã chết… Từ lâu, tôi không còn nghe những âm hưởng một thời xao xuyến ấy. Không chỉ là xao xuyến, mà là sóng gió, là giông bão. Đó là những âm hưởng rung động, chấn động đầu đời. Tôi chẳng hiểu tại sao thế. Quả thật, còn nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu. Tôi muốn nói những ẩn ngữ của thơ. Cũng như tôi không hiểu tất cả sự huyền bí, mầu nhiệm, sự hiện hữu của một quả nho. Nhưng tôi đã từng nếm vị ngọt của nó. Nói cho thật nghịch lý, tôi chưa bao giờ biết, chưa bao giờ hiểu tôi là ai.
Nhưng tôi vẫn là tôi. Một nghịch lý không thể tránh; một nghịch lý ám ảnh không cùng, là tôi vẫn luôn tự hỏi, mỗi khi đối diện với anh: Sơn là ai nhỉ? Con người này là ai?

Anh là ai? Là một nhà thơ hiện sinh, nổi loạn, “quậy phá”?

Dưới ngòi bút phê bình, anh không thể khác đi được: hiện sinh, nổi loạn, quậy phá, du côn. Tôi cũng không nghĩ khác hơn những ảnh tượng, và những ấn tượng, mà ngòi bút có thể vẽ, có thể miêu tả. Một gã du côn, một tên phạm thánh. Và còn nhiều từ khác nữa. Nhưng làm sao có thể biết được, và cũng khó mà làm quen được, một người không đến với ta từ con đường trước mặt, hay bằng tiếng gọi từ sau lưng, mà là một cái gì đó, ở đâu đó, bỗng nhiên rơi xuống đó:

Tôi đang rơi xuống kêu cái bịch
Trên rong rêu tịch mịch
Từ muôn đời nay

Cái đó không phải là một hiện sinh; không phải là một hữu thể hay thực thể, bị ném vào đời một cách phi lý, vô nghĩa. Nó đến như là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng có phải vì vậy mà nó phi lý, nó làm cho buồn nôn? Tuy thế, cái ngòi bút phê bình quả là cái gậy thần. Gõ vào những trang sách dày cộm của Sartre, những từ ngữ triết học bí hiểm nhưng lại mang nhiều ưu tư khắc khoải của Heidegger, từ những cơn thịnh nộ bốc đồng của Nietzsche; gõ vào đó và làm cho xuất hiện một hiện sinh, một con người hiện sinh biết làm thơ. Rồi người ta cảm thấy buồn nôn vì cái hiện sinh phi lý ấy, hay vì cái ngòi bút đầy quyền uy siêu nhiên ấy? Dù sao, thì một thời, người ta nói, Sơn vẫn là nhà thơ hiện sinh. Người ta nói như thế. Cũng như người ta nói “Chú Sỹ hiện sinh”. Bởi vì chú thích leo cửa sổ vào buồng ngủ của Thầy hơn là đi vào bằng ngõ chính. Có điều, chú không

… rơi xuống kêu cái bịch
Trên rong rêu tịch mịch.

Anh là ai? Lần đầu tiên tôi gặp anh. Đó là sao trên rừng. Tôi không cảm thấy ba chữ này phải viết hoa. Trông có vẻ một thư sinh. Cũng hiền lành như những thư sinh khác. Hiền lành, nhưng cũng rất quậy. Một thứ quậy phá của học trò. Anh nói thơ, theo kiểu nói “sùi bọt mép”. Anh cãi lý Phật pháp với sư huynh tôi, học chung một lớp. Anh cãi rất hỗn. Nhưng không hiểu sao, cho tới bây giờ, sư huynh tôi vẫn quý anh. Hình như ông không biết đến một “Sơn quậy”, ông đã không đọc đoạn giữa của bài thơ, mà chỉ nhìn thấy câu đầu và mấy câu cuối:

Nhờ hồng phúc…
Tôi vẫn đang ngủ trên am mây
Với những bậc thầy

Muôn thuở trước Đoạn giữa, là một đoạn đời, hay một cuộc đời “hiện sinh” mà nay

Mà nay Mặc dù đã có gia đình bậy bạ rồi

Rồi 35 năm sau, vật đổi sao dời; tôi từ trong bóng tối tử tù bước ra, anh từ trên núi lăn xuống. Gặp nhau giữa đống rác Sàigòn chết. Không thấy gì khác lạ. Tất nhiên là có nhiều thay đổi. Trời đất còn phải đổi thay, non sông còn phải đổi chủ, huống gì là một con người, một gã du sỹ. Cái đổi thay này thì thật là kinh khiếp. Hàng vạn tấn bom không làm cho Thái Bình Dương dậy sóng. Nhưng những bài thơ cóc ngâm, ca tụng thiên đường hạ giới, đã gây những cơn địa chấn làm sập đáy biển, đã nhuộm đỏ biển Đông, đã làm cho cây rừng gục ngã, đã làm cho mồ hôi, nước mắt tuôn ào ạt thành những cơn lũ kinh hoàng. Tôi tìm đâu một trời thơ, sau những ngày tháng đong đưa trên vực thẳm sống chết?

Ta còn giỡn nữa hay thôi
Khói bay mờ tỏa luân hồi vòng vo

Gửi về đâu một chút tro
Kèn vang lộn mửa tiếng ò í e

3.
Một cuộc đời mà ta biết; một con người mà ta quen, thủy chung, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng khi người ấy làm thơ, thì khi ấy, con người thơ, và cõi mộng của thơ, là ẩn ngữ huyền nhiệm. Tôi biết, và cũng có thể chỉ là biết một cách tưởng tượng, rất nhiều người, những người làm thơ, đọc thơ, và cả những người nguyền rủa thơ; có rất nhiều người nhìn anh với cái nhìn ngạc nhiên, tò mò, như đang nhìn một vật thể lạ, rất lạ, quái lạ. Tôi nhìn anh cũng thấy rất lạ. Nhưng không lạ hơn khi tôi nhìn chính khuôn mặt mình. Cho nên, tôi thấy mình quen biết anh nhiều hơn là quen biết chính mình. Người ta hỏi tôi, Sơn là ai? Làm sao tôi trả lời được. Tôi vẫn chưa biết mình là ai. Bất quá, tôi mượn những ý tưởng có sẵn trong kho ngữ vựng triết học đông tây kim cổ, để tự giới thiệu và tự mô tả. Những ý ấy, và lời ấy, tôi biết thật sự là vô nghĩa. Dù sao, cũng vẫn cần một câu trả lời, để khẳng định hiện hữu của mình giữa cái thế giới lầm lì, hiu quạnh này. Thử hỏi: Ta là ai?

Thì ra
Ta vốn là ma

Vẽ ma dễ hơn vẽ người. Mỗi người tuy là mỗi cá thể độc lập, biệt lập; không ai giống ai. Nhưng tất cả loài người, bất kể da vàng da trắng, đều có chung những quy ước phổ quát. Không tuân thủ những quy ước, không làm sao vẽ được một hình người mà mọi người đều nhận ra đó là người. Dù vẽ theo ấn tượng, hay siêu thực, hay lập thể; vẫn có những quy ước phổ quát. Ngoài đó ra, là vẽ hình ma quái. Ấy thế, cái người mà mọi người cho là quái dị, kỳ cục; nhưng ai cũng cảm thấy mình có thể vẽ được con người ấy; vì nó là ma.

Người ta nói nó là ma. Cái bóng ma ấy chập chờn trên sa mạc. Quả vậy, tôi đang đi trên sa mạc. Đang quờ quạng trong bóng đêm rét buốt của sa mạc. Mới ban ngày đây thôi, mặt trời nóng cháy. Vì loài người đang thù ghét nhau. Thù nhau từ những phương trời mộng tưởng; đến đây để thanh toán nhau những món nợ oan cừu lịch sử gì đó. Bạn bè tôi, lớp lớp ra đi; theo nhịp bước lịch sử oai hùng. Nhưng thảy đều đi mất biệt. Không có trời đông, hay trời tây, để cho sao mọc hay sao lặn. Thế thì, sao trên rừng là cái quái gì? Cho nên, đại bác và hỏa châu rượt đuổi anh hàng ngày. Anh trốn trong hũ gạo. Trốn xuống gầm xe. Trốn vào nhà chùa. Anh chạy trốn, tất nhiên vì anh muốn sống. Ai lại chẳng muốn sống? Sống như bóng ma của thời đại trong cái huyễn mộng phù sinh; trong cái chập chờn ma quái; đôi khi lồ lộ một con người chân thật; một hình ảnh con người chưa từng sống, mà cũng như chưa từng chết. Xuyên bức màn trăng, mênh mông vô hình, ta nghe một con người đang than thở:

Ô hồn ta
Sao quá mỏng
Ngoài vườn trăng

Trong sa mạc đêm lạnh lẽo này, trong cái bóng tối uy hiếp của bốn vách đá của bức màn sắt rờn rợn này, trong đây không dễ gì tìm ra một con ma nào đang thở. Nhưng ngoài kia, ngoài vườn trăng kia, một hồn người sung mãn. Hồn người chứ không thể là hồn ma được. Đó là hồn người, cho nên nó biết khóc khi nhìn trong lòng tay, những giọt trăng đang đông lại thành những giọt máu. Máu của những oan hồn đang đòi quyền sống. Có muộn quá đi chăng?

Trong những đêm trăng
Có một nỗi gì thấy quá muộn màng
Làm ta muôn đời muốn khóc

Sớm hay muộn, nơi đó vẫn có một nắm đất nhân từ, có bóng tối thân thương:

Hỡi U Minh Giáo Chủ
Trăm năm mần chi đủ
Con hát hoài không thôi
Lướt trên mồ cỏ phủ

Đọc những câu thơ như thế, tôi muốn chui xuống mộ mà nằm, để còn được nghe tiếng hát.
4.
Ôi trăng ngàn
Vừa tan

Còn lại đó, một khoảng không tịch mặc của trời thơ. Và những lời không nói.

Ngàn sau. Phơ phất gò bông lau…

Tuệ Sỹ

trích Tuệ Sỹ Văn Tuyển 3

Gót Xuân Sài Gòn Trong Thơ Hư Vô. Tùy Bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

A65E35BD-B35B-4C65-A178-E4FB07774894

Xuân hạ thu đông là vòng xoay của vũ trụ như vòng tuần hoàn khép kín bất biến, hết xuân thì đến hạ, hết hạ thì sang thu…một cách đều đặn theo định luật của thiên nhiên đã bày sẵn.

Nhưng tâm hồn con người thì không có một quy luật nào mang tính bất biến cả. Cảm xúc có khi đến bất chợt làm rung động lòng người bởi sự chuyển mình của trời đất. Như Nguyễn Đình Toàn, đến thăm em đêm 30 Tết thì trái tim ông mới chạm vào mùa xuân “Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?”, lòng mình đang Tết nghĩa là đang rực như mùa xuân mở hội cho cảm xúc dâng trào…

Hư Vô cũng vậy, dù đang ở một đất nước xa xôi nhưng lòng vẫn xôn xao đón Tết Sài Gòn- Sài Gòn của một thời mộng mơ với mối tình còn thơm tho mùi áo trắng và thi phẩm “Gót Xuân Sài Gòn” đến cùng bạn đọc như một mùi hương chạm khẽ qua đời ta, như làn gió bâng khuâng gợi nhớ mùa xuân, gợi nhớ tình đầu tinh khôi như màu nắng mới:

Gót Xuân Sài Gòn

Bước theo nhịp guốc Sài Gòn
Còn thơm dáng tóc dọc đường em qua
Phấn hương quấn quít lụa là
Bỏ tôi chết đứng giữa tà áo bay.

Hiên chiều phố đã như say
Để em nhón gót cho dài bóng không
Tôi vấp ngang bụi gai hồng
Hồn phiêu dạt mộng bềnh bồng, đó em!

Như ngọn sóng cuốn vào tim
Giọt cà phê bỗng lung linh Sài Gòn
Từ em áp nụ môi non
Vành ly bỏ lại vẫn còn thơm tho.

Cũng đâu chắc phải tình cờ
Hồn em thất lạc vào thơ tôi rồi
Trái tim động đậy đâm chồi
Giấu trong lụa biếc một thời tình si.

Mùa xuân vừa mới dậy thì
Dung nhan em đã kiêu kỳ mê man
Để thơ tôi biết hoang đàng
Theo em cho phố còn vang gót người…

Hư Vô

61777039-E5E8-4987-9D1D-77D196ADAEB2

Tôi yêu Sài Gòn. Đây là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Nơi đã gắn bó với tôi gần hết cuộc đời với những buồn vui, khổ đau, hoan lạc của đời người. Sài Gòn như một phần thân thể để tôi yêu từng con phố; yêu những cơn mưa rào, yêu những đợt nắng hạ chói chang oi ả nhưng cũng thật hiền hòa. Yêu những tà áo dài đủ sắc màu đang khoe khoang vào Tết.

Sài Gòn bình yên nhưng không tẻ nhạt và đơn điệu bởi đó là đặc trưng của thành phố phương Nam. Sài Gòn trong lòng người xa xứ là hoài niệm về một cái gì đó rất xưa cùng nhịp sống chậm rãi, thân thương với những con phố vang bước chân tình yêu, những niềm vui, nỗi buồn của một thời đã qua… Sài Gòn bây giờ nhiều thay đổi. Ồn ào, đông đúc, xa hoa, tiện nghi mà cũng nhiều ô nhiễm… Người chính gốc Sài Gòn chẳng còn bao nhiêu nên hoài niệm về nơi đây thật quý. Nó như một cuốn phim quay chậm để nhớ, để trầm tư, để yêu những gì đã cũ nhưng không thể quên. Hư Vô xa Sài Gòn đã lâu nhưng trong tâm hồn chàng lãng tử vẫn một nỗi nhớ miên man. Nỗi nhớ Sài Gòn như nỗi nhớ tình nhân đã hoài thai nên một dáng hình con gái:

Bước theo nhịp guốc Sài Gòn
Còn thơm dáng tóc dọc đường em qua
Phấn hương quấn quít lụa là
Bỏ tôi chết đứng giữa tà áo bay.

Đoạn thơ mở đầu đầy hương sắc, âm thanh. Tiếng guốc nhịp trên phố của em, có anh đi theo cùng. Gió thổi cả không gian thơm mùi tóc, thơm mùi áo lụa làm trái tim anh chàng si tình ngất ngây “chết đứng”. Chữ nghĩa tạc thành dấu tích tình yêu, cái chết đứng mới dễ thương làm sao! Cái chết đứng của tình yêu đắm say, ngây ngất. Không gian tình yêu êm đềm, thơ mộng, nhẹ nhàng mong manh quấn quít hồn người… Tôi ấn tượng bởi tiếng guốc của người tình thi sĩ. Nữ sinh ngày xưa, trường Việt chỉ mặc áo dài, đa phần các cô gái thì lại chuộng mang guốc đi học.. Âm vang tiếng guốc trên phố như đã chạm vào trái tim tôi. Câu thơ làm dậy trong tôi âm thanh của chuỗi ngày xưa hiện về, của một thời Sài Gòn “Hòn Ngọc Viễn Đông”, soi mình bên giòng Thủ Thiêm hiền hoà, óng ả.

Sài gòn hôm nay, thành phố bộn bề, đông dân nhập cư, Sài Gòn hôm nay, thành phố năng động, bước chân công nghiệp làm con người sống nhanh, làm nhanh đến bước chân cũng nhanh hơn. Cái lặng lẽ ngày nào cũng dần mất đi, nhiều người thích đến Sài Gòn để lập nghiệp vì ở đây đông vui, náo nhiệt gần như cả ngày lẫn đêm. Không biết điều này nên vui hay nên buồn…

Ngày ấy, tôi chưa đủ lớn để cảm nhận thật đầy đủ “chất Sài Gòn” nhưng với tôi vùng đất ấy vẫn đẫm chất huyền thoại đầy mê hoặc. Nhạc sĩ Phạm Duy đã đẩy chất ma mị của Sài Gòn lên cực điểm: dưới góc sân trường Luật, Văn Khoa xưa bao mối tình đẹp như tiểu thuyết đã chắp cánh cho tình yêu tuổi học trò thăng hoa. Từ con đường tình ta đi, đến quán nước ven đường cũng ngọt lịm chất Sài Gòn “uống ly chanh đường uống môi em ngọt” đến chia ly cũng đẹp “Ta hỏng tú tài, ta ta hụt tình yêu… thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi”

Sài gòn ngày ấy của tôi, của Hư Vô có một góc rất đẹp để tình yêu thăng hoa. Góc ấy là sân trường, những con đường cây dài bóng mát, những quán vỉa hè, những câu lạc bộ sinh viên. Những hẹn hò, chờ đợi, ngóng trông mà Hư Vô đã “chết đứng” giữa tà áo bay cùng nhịp guốc của giai nhân. Guốc cao làm tà áo dài như mềm mại hơn, bước chân kiêu sa, lộng lẫy cuống quít rộn ràng. Áo quấn bước chân em, quấn hồn thi nhân vào những câu thơ tình mong manh như vạt lụa.

Nguyên Sa đã từng một thời đắm đuối chiếc áo dài trắng của người tình trung học:

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay? (Nguyên Sa)

Hư Vô yêu chiếc áo dài, yêu tiếng guốc, có lẽ vì thế, và cũng chỉ đôi điều ấy đã vẽ nên bức chân dung tình yêu của thi sĩ. Chân dung người tình thanh thoát, rạng rỡ. Câu thơ chỉ phác họa dáng tóc, lụa là quấn quít mùi hương, vậy mà đã làm chàng thi sĩ mê man. Dáng con gái nhón gót cho chông chênh tà áo, yểu điệu chút duyên, cái duyên thầm đó ẩn hiện trong sự nũng nịu sao mà đáng yêu đến thế! Âm thanh tiếng guốc vang vang, nó khuấy động tất cả con đường, góc phố, khuấy động đến mỗi câu thơ của thi sĩ, tiếng guốc làm nhịp tim xốn xang, bồi hồi. Các nhà thơ thường dùng âm thanh để tả động, tả sự nhộn nhịp, Hư Vô dùng âm thanh để khởi động sắc xuân, khơi dậy tình yêu. Đoạn thơ đã làm dậy lên nhiều điều trong tôi. Như tiếng động gọi hồn tôi trở về với chính chiếc bóng của mình.

Trần Quang Lộc trong sáng tác “Về Đây Nghe Em” đã viết:

Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới (Trần Quang Lộc)

Đôi guốc mộc, chiếc áo the, bài ca dao, hạt lúa mới ở bài nhạc đã làm sống lại một không gian cổ xưa thanh bình, yên ả. Hư Vô cũng đưa ta về cõi xưa cũng bằng chiếc áo dài, đôi guốc mộc, mái tóc thề thơm lừng hương thiếu nữ. Chất đa tình của chàng trai Sài Gòn thuở ấy hiện rõ dần:

Bỏ tôi chết đứng giữa tà áo bay.

Hình ảnh chàng thi sĩ chết đứng gợi tôi nhớ đến mối tình Từ Hải – Thúy Kiều gợi nhớ đến chất tình si của họ Từ quá khứ. Chất duyên bén từ quá khứ phủ đến hiện tại gom lại trong một từ “gợi” tạo thành duyên thầm khó quên của thơ Hư Vô. Nếu thi ca thiếu tính “gợi” thì có lẽ bao nhiêu người đã quay lưng với chữ nghĩa với thơ văn, đâu còn cảnh đêm đêm ai đó chong đèn ngồi đọc những áng thơ tình.

Em mang hồn tôi trên đôi guốc mộc giữa phố đông người. Hồn tôi say, phố say, tôi vào cõi mơ chỉ còn em và tôi. Sài Gòn chiều xuống. Vạt nắng phai dần, bóng em đổ dài trên phố, lung linh, phố nghiêng ngả như say, thi sĩ cũng say theo hiên phố chiều. Luýnh quýnh trượt chân, vấp bụi gai hồng để hồn phiêu dạt bồng bềnh.

Hiên chiều phố đã như say
Để em nhón gót cho dài bóng không
Tôi vấp ngang bụi gai hồng
Hồn phiêu dạt mộng bềnh bồng, đó em!

Đoạn thơ có sự biến chuyển của nhịp điệu từ nhịp ổn định ở 6 câu đầu (2/4, 4/4) ở 2 câu cuối chuyển thành (3/3, 3/3/2) cùng dấu chấm cảm(!) tạo thành những động thái mạnh: vấp bụi gai nhưng không đau đớn mà bước vào cõi mộng, mà phiêu dạt. Cái phiêu dạt ấy sao mà đáng yêu, sao mà đẹp đến ngẩn ngơ! Không phải là trôi dạt trong cuộc đời thường, mà là phiêu dạt trong hương thơm của cõi tình bát ngát. Dường như tình ấy truyền cho thi sĩ động lực để bước tiếp trong con đường tình. Lời độc thoại trở thành lời đối thoại với “em” của quyến luyến, yêu đương hàm ẩn cả một tiếng lòng.

Cõi tình thênh thang, tâm hồn say đắm, chất lãng tử dường như dâng cao, theo gót chân người thiếu nữ, tiếng guốc làm nhịp tim bỗng rung lên những nhịp điệu mê man để âm thanh khai mở thần thức, tình đẹp như tranh vẽ, như cõi mộng, như cung đàn huyền diệu đang tấu khúc thanh xuân cho trái tim tình si của chàng thi sĩ phiêu lãng vang lên âm bậc yêu đương dạt dào. Câu thơ dường nhuốm màu tục lụy, dường nhuốm màu hư ảo đủ tạo độ chếnh choáng cho men tình, cho thơ. Tình nồng, thơ nồng như có, như không. Em nhón gót cho dài bóng không, thơ thêm chút bóng cho thành hư không. Thật không dễ để hiểu tình ý của nhà thơ khi pha lẫn giữa thực và ảo. Thơ Hư Vô thường hòa quyện giữa hai điều này nên khi đọc thơ anh, tôi hay say cái thực thoáng sầu, cái ảo đắm mê bàng bạt.

Tình say như ngọn sóng dội vào trái tim làm tất cả sắc màu, hình ảnh, âm thanh như thực, như ảo “bỗng lung linh” và tượng hình nên một câu thơ rất lạ:

Như ngọn sóng dội vào tim
Giọt cà phê bỗng lung linh Sài Gòn

Sự hợp nhất đang tương giao, không gian, khoảng cách đang bị phá bỏ, thời gian chảy ngược, giọt cà phê bỗng lung linh Sài Gòn, sắc màu của cà phê làm hồng thêm môi con gái. Gọi là một câu thơ hiện đại cũng không phải là thậm xưng. Giọt cà phê của bài thơ làm chất Sài Gòn mê hoặc hơn. Sài Gòn hiện về trong đáy tách. Quá khứ chưa bao giờ mất đi, mà ngược lại đã hồi sinh thành hiện tại. “Lung linh Sài Gòn” và cũng là em với tôi là bàng hoàng một nỗi nhớ, một mối tình không quên của một thuở Sài Gòn hương vị xuân vẫn thoáng chút ngậm ngùi của một quá khứ sắt son mà lớp người như tôi (có lẽ cũng là thi sĩ) mãi nhớ về một thời ngây dại.

Giọt tình chưa uống đã say, môi chưa chạm khẽ hương hoài chưa tan. Hương thanh xuân ngây ngất, hương tình yêu đắm say, hương mùa xuân ngạt ngào. Vần thơ bay bổng tỏa sắc, tỏa hương không gian mê đắm khiến thi sĩ đắm đuối trong thế giới đầy hương và sắc ấy:

Từ em áp nụ môi non
Vành ly bỏ lại vẫn còn thơm tho.

Câu thơ đẹp, tươi phơi phới “môi non- thơm tho” Tôi cảm nhận niềm hạnh phúc như khúc hoan ca trên những thăng trầm của đời người. Tình yêu thật đủ đầy, thỏa mãn những khát khao. Chỉ một lần em áp môi lên vành ly cà phê đã làm trái tim thi sĩ hé mở thiên đường. Tình yêu thuấn khiết, thánh thiện ấy đẹp như một dòng lệ trong, dòng lệ nảy sinh từ hạnh phúc tột cùng. Tôi yêu cái khoảnh khắc tình tinh khôi, rụt rè, e ngại, bối rối của mối tình đầu thơ dại ấy. Mối tình đã biến bao người bình thường trở thành thi sĩ, nhạc sĩ viết lên những bài thơ, bài nhạc ca ngợi tình yêu. Tôi đã từng đọc, từng yêu bài thơ “Nụ Hôn Đầu” của Trần Dạ Từ và hôm nay “Nụ Môi Non” của chàng thi sĩ Hư Vô càng làm tôi xúc động mà sống lại một thời với mối tình học trò hiền như hương chanh, hương bưởi, cất giấu mãi trong tim tôi mùi hương quá khứ dù đã bao năm trôi qua mà vẫn nguyên vẹn, ngọt ngào. Hình như ở Hư Vô, tôi cũng cảm nhận được điều này:

Cũng đâu chắc phải tình cờ
Hồn em thất lạc vào thơ tôi rồi
Trái tim động đậy đâm chồi
Giấu trong lụa biếc một thời tình si.

“Cũng đâu chắc phải tình cờ” một câu thơ phủ định gói chặt lời thú tội chân thành: tôi yêu em và em cũng yêu tôi. Không phải tình cờ mà là sự ẩn ý, nên từ đó em luôn trong tôi, là chân dung tình yêu của tôi. Tôi phiêu dạt trong cõi bềnh bồng, em thất lạc trong thơ tôi, ý thơ đẹp ở sự tương hợp, tương phùng. Hình như thi sĩ đang nói với chính mình: em là cõi mộng của tôi, em là hồn mà thơ tôi là dáng. Em khơi trong tôi tình yêu, khao khát, ước mơ, là nguồn thơ bất tận chảy thì thầm trong trái tim tôi. Tình yêu của thi sĩ thật dầy, thật sâu ở độ nồng nàn, say đắm, câu chữ không trau chuốt, không cầu kỳ nhưng phóng túng nên sống động, ngộ nghĩnh tấu thành khúc hoan ca. Mối tình ấy như nhung lụa trân quý biết bao!

Chữ nghĩa trong tay thi sĩ tượng hình dần ẩn chứa bao ngụ ý làm thành câu thơ duyên dáng đó là chất men của tuổi trẻ, của tình mới lớn tạo nên khúc xuân tươi.

Hàn Mặc Tử hay ví xuân như thiếu nữ, Hư Vô thì dùng mùa xuân để ca ngợi nhan sắc người tình:

Mùa xuân vừa mới dậy thì

Xuân và em thật tương xứng. Đầu xuân và đầu đời:

Dung nhan em đã kiêu kỳ mê man
Để thơ tôi biết hoang đàng
Theo em cho phố còn vang gót người…

“Xuân dậy thì” một tứ thơ lạ. Một câu thơ nhân hóa sống động, dễ thương của cảm xúc làm ý thơ thăng hoa và làm dậy lên trong tôi khát khao muốn ôm ghì lấy “xuân dậy thì” và làm tôi liên tưởng đến ý thơ Xuân Diệu:

“Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua”(Xuân Diệu)

Em như mùa xuân đang căng trào nhựa sống, gặp em như gặp mùa xuân, em lộng lẫy, kiêu kỳ như xuân. Ý thơ sang trọng, hồn thơ căng tràn mạch sống, câu thơ duyên và ngọt. Em khơi sáng tâm hồn, em cho tôi biết yêu thương, em cho tôi trở thành thi sĩ…

Quà tặng của em thật vô giá. Dường như nhà thơ đã được tái sinh lần nữa. Em là người tình chưa bao giờ mất đi, vẫn tồn tại và đồng hành cùng thi nhân trên những chặng đường đầy hoa xuân rực nở.

Cái lạ của thơ Hư Vô chính là chữ nghĩa, có lúc quá chỉnh chu, trang nhã; có lúc lại phóng túng đến tuềnh toàng. Theo tôi đó mới chính là cái chất của người nghệ sĩ- sự phá cách để bộc lộ cái tôi –để không thể lẫn vào một ai khác. “Kiêu kỳ- mê man- hoang đàng” đã thể hiện đậm nét chất tình si của chàng nghệ sĩ lấy thi ca làm hành trang cho suốt cuộc đời mình. Mở không gian là âm thanh tiếng guốc, khép lại không gian vẫn là tiếng guốc. Tiếng guốc dội lên những âm thanh giòn giã làm bừng thức trái tim yêu của chàng thi sĩ, tiếng guốc khép lại bài thơ âm thanh vẫn vang cho phố rộn ràng sắc xuân, cho hồn thơ thi sĩ mãi mãi non tơ đượm hương sắc nồng nàn của xuân tươi.

Câu thơ cuối theo tôi là một câu thơ đẹp. Xuân dậy thì ngập ngừng rón rén bước chân về phố. Mùa đông ủ rũ đi, phố sống lại, người thơ xuống phố để lại những âm vang, con phố bừng thức nhận ra mùa xuân đang chúm chím nụ cười. Câu thơ mang lại âm thanh của sự sống, của niềm yêu nhẹ nhàng mà lưu dấu, cái động thay cho cái tĩnh tạo khúc xuân tình nhẹ nhàng mà đầy say đắm, luyến lưu.

Tôi vừa qua cõi mộng, qua cõi tình xưa, tôi nghe hình như mùa xuân đang chạm vào môi những giọt xuân dịu ngọt. Hư Vô đã cho tôi vào thế giới của tình yêu tưởng đã lặng mà vụt bừng dậy bởi men tình ngất ngây của chàng thi sĩ. Sài Gòn trong thơ anh đầy ma mị, đầy mê hoặc, cuốn hút để ta trở lại tuổi hai mươi, để ta trở lại quá khứ bằng tất cả hoài niệm của một Sài Gòn đang hối hả vào xuân…

Trần Sương Lam

Cõi Tạm. Mai Thảo


Mai Thảo

Nghỉ hè, nghỉ phép, ta thường đi chơi xa, trú ngụ tạm tại khách sạn. Dăm ba bữa nửa tháng, lại trở về nhà. Thường khi về nhà, lọt vào khung cảnh cũ, ngả mình trên chiếc giường quen thuộc, ta luôn luôn cảm thấy thoải mái, thú vị. Khách sạn là cõi tạm, nhà là cõi thực. Cuộc đời này là một cõi tạm. Hầu như mọi người đều nghĩ như vậy. Nhưng cái cõi tạm này, chúng ta tạm trú hơi lâu, quen hơi quen tiếng, nên khó rời. Biết là tạm mà vẫn cứ thích ở… khách sạn!

Ông bạn da đen của tôi, rất tha thiết được chầu Chúa, đạo Cơ Đốc thuần thành, Chủ Nhật nào cũng đi nhà thờ, trong túi không bao giờ quên tờ giấy hai chục đô cúng dường, cuốn Thánh Kinh luôn luôn đeo theo người, nói câu nào cũng mời Chúa về góp tiếng cho chắc ăn. Một bữa, thấy ông vất vả với công việc, tôi giỡn.

“Này, Gabriel, cuộc sống coi bộ nhiều mồ hôi quá nhỉ?”

Bạn tôi cười nhe hàm răng trắng lạnh.

“Đời mà! Chúa đã phán “Con phải đổ mồ hôi trán lấy bát cơm ăn”. Mình cứ phải theo ý Chúa vậy chứ sao.”

Tôi làm bộ tỉnh phán theo.

“Tôi thấy cậu là con cưng của Chúa, sao không xin Chúa cất về ngồi bên chân Chúa cho nhàn hạ cái thân!”

Gabriel lắc đầu quầy quậy.

“Còn sớm quá! Tôi còn mấy đứa con nhỏ phải nuôi, chắc Chúa cũng hoãn cho một thời gian nữa chứ!”

Bạn tôi không nói rõ một thời gian là bao lâu, nhưng bằng vào cái lắc đầu hung hãn như vậy, tôi dè chừng chắc là phải lâu lắm!

Một ông bạn khác, ung thư thời kỳ cuối, con cái đã chồng vợ đâu vào đấy, đời chẳng còn gì phải lo lắng, cuộc sống rất thoải mái về vật chất, nhưng cái đau đớn của tật bệnh thật khôn lường, chép miệng than thở khi tôi tới chơi.

“Mình cũng tới tuổi rồi. Nhưng nếu Trời cho ít năm nữa thì quý hóa quá!”

Sống có vất vả, đau đớn đến thế nào chăng nữa, vẫn cứ thích bám vào cõi tạm. Sao vậy? Bởi vì cái cõi mà người ta gọi là vĩnh hằng, miên viễn, vô ưu… ta chưa hề biết tới chăng? Hay là bởi vì từ cõi tạm bước qua cõi thật đó, người ta phải xuôi tay nằm dưới ba tấc đất hoặc uốn người trong ngọn lửa thiêu? Toàn những trò khó chơi cả.

Nhà sinh học Susanne Wiigh-Maesak, người Thụy Điển, vừa phát minh ra một trò mới. Trò này coi bộ dễ chịu hơn. Thi hài người chết sẽ được làm lạnh cực nhanh đến -18 độ C và sau đó nhúng vào nitơ lỏng có nhiệt độ -196 độ. Thi hài, sau khi được lấy ra khỏi dung dịch siêu lạnh, trở nên giòn tan như kính và vỡ vụn thành một hợp chất dạng bột. Tất cả số nước còn lại được hút vào một khoang chân không, trước khi cho chạy qua một màn kim loại để lọc bỏ tất cả những vật thể còn sót lại (những thứ cấy ghép trong thân thể) chưa phân hủy. Bột thi hài, sau đó, có thể được thiêu đốt, hoặc được chôn trong một quách làm bằng tinh bột bắp, đặt trong hố nông khoảng 30 phân. Sau khoảng một năm, oxy và vi khuẩn sẽ phá hủy chúng hoàn toàn, biến thi hài trở thành cát bụi. Bà Wiigh-Maesak cho biết bà đã đăng ký bản quyền phương pháp này ở 35 quốc gia. Phương pháp này giúp tránh làm vẩn đục môi trường như hai phương pháp thông dụng hiện nay là hỏa thiêu và chôn dưới đất quá sâu làm trì trệ quá trình phân hủy.

Không phải là các nhà sinh học, mấy ông bạn tôi cũng bầy ra nhiều cách… vượt biên từ cõi sống qua cõi chết vui lắm. Như ông Du Tử Lê chẳng hạn.

khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà

Ông Luân Hoán còn cãi cọ với… thinh không.

không từ đất sao phải về với đất
thịt xương này không thể mất khơi khơi
khi tôi chết xin đem giùm thi thể
chia cho thù lẫn bạn nhậu chơi

Ông Lưu Nguyễn cứ thiên thai lơ lửng.

mai này ta sẽ ra đi
người ơi có nhớ có gì nhắn không
trăm năm mây trắng bềnh bồng
về nơi đã đến mà lòng thảnh thơi

Dặn dò rối rít xong các ông ấy đi… uống cà phê. Bởi vì cái chết vẫn chưa trong tầm mắt. Cõi tạm này mới đích thực trong tầm tay. Tạm lâu ngày dễ có ảo tưởng đây mới là cõi thật.

Đời người được bao lâu? Trăm năm trong cõi người ta. Trăm năm? Mấy người được trăm năm? Bà cụ 114 tuổi của kỷ lục Guinness vừa qui tiên, nhà cầm quyền Việt Nam đang vận động cho một cụ bà Việt nam, cũng 114 tuổi, được ghi vào thay thế. Lóng rày, coi bộ Việt Nam ham giữ kỷ lục thế giới dữ. Hết bánh dầy, bánh chưng, bánh tét lớn nhất thế giới (có ở đâu khác làm thứ bánh này không nhỉ?), nay muốn đầu tư vào kỷ lục tới sự sống của con người (bệnh kỷ lục có phải là một biến tấu thời mở cửa của bệnh thành tích ngày cũ chăng?). Kỷ lục là thứ xịn. Thường thường bực trung khó với tới. Ông anh tôi bảo cứ sáu chục cái xuân già là gỡ đủ sở hụi rồi. Thêm được năm nào là bonus của trời đất, cứ hân hoan mà cám ơn!

Trong cái thời gian sống chỉ là tích tắc so với đời sống của vũ trụ, con người quậy như điên. Đủ món ăn chơi. Kèn cựa, khích bác, tranh giành, lừa đảo, xô đẩy, chém giết… nhau. Mỗi người cố thu vén cho riêng mình. Nhà sang, xe xịn, lợi danh, tiền bạc… Mặc sức mà vung tay vung chân. Mặc sức mà lèn cho đầy túi tham. Nhiều người sống trong cái sân si tối tăm trong suốt cuộc sống. Trẻ, tiết vịt còn chảy rần rần trong người, hung hăng con bọ xít đã đành. Già, máu tưởng đã phải nhiễm lạnh mà vẫn cứ sân sân si si phát khiếp. Như Bà Margaret Ann Thomas-Irving, 58 tuổi, cư dân ở Hartford, Connecticut chẳng hạn. Từ tháng 10/2002 đến tháng 7/2003, trong vòng chưa đầy một năm, đã một mình cướp nhà băng tới 12 lần. Tổng cộng số tiền cướp được là 19 ngàn đô. Vũ khí của bà chỉ là khẩu súng đồ chơi con nít, hoặc ngon hơn, chẳng súng siếc gì cả chỉ dọa nhân viên ngân hàng là trong ví có súng là họ nộp tiền ngon ơ!

Cướp có nghệ thuật hơn là hai vợ chồng James Roland Clark, 71 tuổi, và Deloris Jane Clark, 66 tuổi, dân Florida. Ông chồng xách một bao cát vào ngân hàng dọa là chất nổ, bà vợ rồ sẵn máy xe chờ ở ngoài cửa. Cướp xong ông chạy ra phóng lên xe vù mất. Nhờ một gói thuốc nhuộm cho phát nổ sau đó cảnh sát mới tóm được hai ông bà già chịu chơi này.

Bà già Connie Parker, 74 tuổi, cư ngụ ở Nassau, tiểu bang Nữu Ước vừa trúng số độc đắc 25 triệu. Khi đi lãnh thì, sau khi trừ thuế má, bà cầm tay được 7,3 triệu. Bà ôm chặt lấy tiền, nhất định không chia cho ông chồng Kenneth Parker, 77 tuổi, đang bị ung thư phổi thời kỳ cuối. Ông chồng cho biết là ông đã đưa cho bà 20 đô để bà đi mua số nhưng bà cãi lại bà đã mua số bằng tiền riêng của bà. Ông chồng tức giận đâm hai đơn một lúc. Một đơn đòi chia tiền, một đơn xin ly dị sau 16 năm rưỡi chung sống. Rút cục, cụ đi đường cụ tôi đường tôi, và bà Connie phải thỏa thuận chia cho ông chồng một số tiền không rõ là bao nhiêu nhưng, theo tiết lộ không chính thức, là một phần ba số tiền bà lãnh.

Thất thập cổ lai hy. Hiếm có thiệt! Sống đã từng ấy tuổi tưởng tay chân đã làm biếng nhấc lên nhấc xuống, ai ngờ vẫn cứ chụp giật như máy. Để làm chi? Ôm về cõi viên mãn chăng? Cõi bình an đó có cần những thứ phù phiếm của cõi tạm này không?

Một cặp vợ chồng già đã trên 80 tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Họ ăn uống kiêng khem và tập thể dục hàng ngày. Không may hai cụ qua đời do một tai nạn xe buýt, họ lên thiên đàng và được thánh Phêrô đón tiếp nồng hậu. Thánh Phêrô đưa hai người đi coi nhà bếp khổng lồ, hồ bơi, phòng tắm hơi, sân chơi golf… Lóa mắt vì sự sang trọng của ngôi nhà, cụ ông hỏi thánh Phêrô.

“Chúng tôi có phải trả tiền cho những thứ này không?”

“Tất cả đều miễn phí, đây là thiên đàng mà!”

Đến giờ ăn, thánh Phêrô đưa hai cụ đến môt phòng ăn sang trọng, thức ăn ê hề. Cụ ông hỏi.

“Thưa Ngài, tất cả các món ăn này cũng miễn phí cả sao?”

“Tất nhiên!”

Cụ ông lại rụt rè hỏi tiếp.

“Chúng tôi có thể ăn tùy thích, không phải lo ngại dư mỡ, đường, cholesterol chứ ạ?”

“Không, tôi đã bảo là cụ đang ở trên thiên đường cơ mà! Cụ có thể ăn uống no say tùy thích mà không sợ bị mập phì, đái đường hay nhồi máu cơ tim gì cả.”

Bỗng nhiên mặt cụ ông trở nên đỏ gay, quay sang cụ bà quát to:

“Tất cả do lỗi của bà! Nếu bà không ép tôi phải ăn uống kiêng cữ và tập thể dục hàng ngày thì tôi đã lên đây sớm hơn mười năm rồi!”

Cái cõi mông lung đó đâu phải chỉ có thiên đường. Những nơi khác có vui như vậy không?

Hai bợm nhậu ngồi bên chai rượu đã cạn quá nửa. Một ông hỏi.

“Ông bạn nghĩ là có thế giới bên kia hay không?”

Ông bạn gục gặc đầu.

“Có chứ! Mà chắc ở bển cũng vui vẻ lắm, nhậu nhẹt lu bù.”

“Sao ông biết?”

“Thì ông thấy đấy. Mấy chả đi có cha nào thèm quay về đâu!”

Dương sao âm vậy. Dân gian vẫn cứ tin như thế. Cái cõi đầy bí ẩn đó được hiểu như là một nối dài của cõi tạm này, cũng có cuộc sống và những cung cách sống cụ thể như nhau. Vậy nên mới có dịch vụ gửi UPS không thiếu thứ gì qua cõi mờ ảo đó. Nhà cửa, xe cộ, quần áo, nồi niêu soong chảo, vàng bạc, tiền đô giấy lớn 100.000, và cả… điện thoại di động nữa! Mấy bà thương chồng cũng không quên gửi những nàng hầu trắng trẻo xinh đẹp xuống cho các ông chồng bớt cô đơn. Dĩ nhiên, trước khi hóa vàng, mấy bà không quên rạch mặt, chọc mù mắt hình nhân để thỏa cơn ghen kéo dài qua hai cõi!

Tin như thế bị coi là tin nhảm. Mê tín! Nhưng mâm cơm cúng ngày giỗ ngày tết chắc có ý nghĩa khác. Không ai nghĩ là người từ cõi kia về ăn như chúng ta ăn (cơm canh còn nguyên đó chứ có hụt đi chút nào đâu!) nhưng làn khói nhang ấm áp mời người quá cố về thụ lộc được hiểu như là một cách tưởng nhớ tới người thân đã bước sang cõi khác trước chúng ta. Tấm lòng thương tưởng của chúng ta thể hiện qua cách cúng những món ăn mà người thân quá cố ưa thích khi còn sinh tiền.

Trong nghĩa trang, một ông dọn cơm canh cúng trên mộ vợ. Một ông người bản xứ thành kính đặt bó hoa trên ngôi mộ bên cạnh. Lễ bái, cầu kinh xong, ông bản xứ hỏi ông Việt Nam.

“Bộ ông tin rằng vợ ông có thể về ăn được những thức ăn ông cúng như vậy chăng?”

Ông Việt Nam bình thản hỏi lại.

“Bộ ông cũng tin rằng vợ ông có thể về ngửi được bó hoa ông đặt trên mộ kia chăng?”

Chỉ một bước ngắn, chúng ta chuyển từ cõi này qua cõi khác. Ai cũng ngại ngần trước nhịp bước vô định này. Cõi tạm, cõi… khách sạn, chúng ta đã quen nếp sống. Cõi thực, cõi… nhà, chúng ta u u minh minh. Cái bước dùng dằng từ một chỗ đứng cân bằng trên mặt đất sang chỗ chênh vênh mây trời là cái bước mỗi con người phải trải qua. Cái điều chắc chắn sẽ xảy ra này chúng ta không muốn nghĩ tới. Càng thêm tuổi, chúng ta càng làm lơ không muốn nghĩ tới. Không nghĩ thì làm sao mà hiểu được.

Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

Mai Thảo
02/2004

Chuyến Xe Bus Và Khúc Hát Người Lính Mù. Tuỳ bút Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh

Sài gòn, năm 1980. Lúc đó, cuộc “cách” cái “mạng” ngày 30 tháng tư đã năm năm. Nhưng xem ra không khí chiến tranh vẫn còn bao phủ. Đời sống càng ngày càng đi vào bế tắc. Hè đường đầy những người đi kinh tề mới trở về hoặc vượt biên mất nhà sinh sống. Họ trở thành những người không nhà không hộ khẩu sống lây lất trong một thành phố đầy đe dọa. Những trại giam đầy áp người tù, tù chính trị và tù hình sự. Đêm đêm là thời gian của kiểm tra hộ khẩu, của bắt người, của đe dọa chập chờn ngoài cánh cửa. Với người dân thường còn như vậy. Huống chi những người tù bị gọi là “cải tạo” trở về. Đời sống lại càng bị đe dọa hơn biết bao nhiều. Tôi cũng bị ảnh hưởng trong thời thế ấy. Sống bất hợp pháp trong nhà của mình và trong đầu óc lúc nào cũng chờ đợi một chuyến vượt biển ra đi. Cột đèn mà cũng muốn xuất ngoại, huống chi…

Lúc ấy, phương tiện giao thông đi lại hầu như chỉ có xe buýt ở trong thành phố và xe đò đi xa ngoài thành phố. Ở bến xe, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Như ở Xa Cảng Miền Tây lúc nào cũng đầy người mà số đông là những người chờ đợi một chuyến xe. Có người phải ngủ đêm chầu chực nhiều ngày. Nhưng nếu có tiền mua vé chợ đen, thì được đi ngay. Bao nhiêu con buôn đi hàng ngày mà còn chở theo hàng hóa cồng kềnh mà đâu có chờ đợi gì đâu. Còn xe buýt, thì là chỗ hỗn tạp. Đi xe luôn phải coi chừng, ăn cắp móc túi như ranh. Chỉ một loáng thôi, dù đã giữ gìn nhưng bị mất mát ngay một cách nhãn tiền. Thời mạt pháp, ai có thân thì giữ…

Trên một chuyến xe, có hai người lính cũ, một mù một què, dắt díu nhau đi hát để kiếm miếng ăn độ nhật. Người què thì dẫn đường cho người mù không có mắt để đi lần theo từng hàng ghế. Họ mặc bộ quần áo trận đã rách te tua bạc phếch nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó hình ảnh của người lính thời xưa. Trên tay người lính mù là chiếc đàn mandoline cũ kỹ và anh hát những bản nhạc lính của cuộc chiến ngày cũ đã tàn nhưng còn nhiều hậu quả nhức nhối. Những bản nhạc đã vinh danh những anh hùng như “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” hoặc “Người Ở Lại Charlie”. Khi hát tôi thấy dường như trong đôi mắt đen đục của người lính mù có chút nước mắt. Đi lần qua những hàng ghế, cũng có những người cho tiền, mặc dù họ không phải là những người khá giả trong xã hội này. Và nếu có một vài chú bộ đội phê bình nào là nhạc phản động, nào là nhạc vàng bị cấm thì họ lại bào chữa bảo vệ “Người ta tàn tật đi kiếm ăn mà còn làm khó!”…

Trong không khí đe dọa, họ vẫn cất tiếng hát. Hình như, họ đang chiến đấu với tiếng hát của mình. Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu… Hay : Anh không chết đâu anh người anh hùng mũ đỏ tên Đương… Hay Anh Quốc ơi từ nay trong gió ra khơi từ nay trên cánh mây trôi có hồn anh trong cõi lòng tôi. Ơi những tiếng hát nhắc lại một thời binh lửa mà những người bây giờ đang hát đã hiến dâng cho đất nước những phần thân thể của mình. Tự nhiên, tôi cảm thấy mình xúc động quá. Những người lính thời trước chịu bao nhiêu điều thua thiệt mà bây giờ vẫn còn cất tiếng hát bất chấp đe dọa bất chấp công an để vẳng lên tâm sự của mình. Và qua từng chuyến xe này qua chuyến xe khác, họ vẫn hát dù có khi bị bò vàng bắt hoặc đánh chửi. Những lời hát vẫn cất lên, mặc kệ bạo lực mặc kệ ngục tù.

Có một bài thơ, đã được viết từ cảm xúc đó. Bài thơ “Chuyến Xe Bus và Khúc Hát Người Lính Mù”

Trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi

Ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng

Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến

Người trở về từ cuộc chiến lãng quên

Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác

Đắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời

Người thua trận phần thịt xương bỏ lại

Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời

Chuyến xe vang lời ca nào năm cũ

Nhắc chặng đường binh lửa lúc xa xưa

Khói mịt mù đường chiến tranh bụi phủ

Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa

Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc

Thưở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay

Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược

Dấu giầy buồn còn vết giữa sình lầy

Ôi tiếng hát nhớ những người gục ngã

Ngồi chuyến xe sao vang vọng nỗi niềm

Âm thanh cao xoáy tròn tim gỗ đá

Thúc hồn người theo nhịp thở chưa quên

Ôi tiếng hát vinh danh đời lính chiến

Cho máu xương không uổng phí ngày mai

Có sương khói trong mắt đời cầu nguyện

Để lỡ làng không chĩu nặng bờ vai

Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ

Đây tàn hơi còn sót lại một đời

Đây ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ

Vẳng không gian chợt héo một nụ cười

Ta nghe rực cuối hồn trăm bó đuốc

Một đời hoài tìm kiếm ánh đèn soi…”

Bài thơ đó tôi viết ở Sài Gòn năm 1980. Bây giờ năm 2010, như vậy đã ba chục năm. Tôi đã rời thành phố thân yêu và cũng đã định cư ở Hoa Kỳ 30 năm. Hôm nay ngồi đọc tin về Đại Nhạc Hội tổ chức ở ngoài trời “Cám Ơn Anh” để gây quỹ cứu giúp thương phế binh của QLVNCH còn kẹt lại ở quê nhà bỗng dưng sinh ra nhiều hồi tưởng. Bài thơ dắt tôi trở về những ngày tháng năm năm 1975, khi Cộng sản đã chiếm được đất nước đã thẳng tay dã man đuổi tất cả thương bệnh binh trong quân y viện ra ngoài bất kể tình trạng nguy hiểm hay không. Nạn nhân nặng nề nhất ngay lập tức chịu ảnh hưởng thua trận chính là những người thương binh. Biết bao nhiêu là thảm cảnh xảy ra. Không hiểu họ đã xoay sở thế nào để sống còn trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát ấy.

Chính Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, trước khi quyết định tự sát đã đến thăm thương binh ở quân y viện Cần Thơ lần cuối vì ông biết số phận đáng thương của những người lính này. Trước khi tự sát, ông đã đến từng giường bệnh để an ủi những người lính đang điều trị tại đây. Ông đã não lòng khi trả lời một câu nói của người lính đang nằm viện : “Thiếu Tướng đừng bỏ chúng em !”. “Không, Thiếu Tướng không bỏ đâu”. Phải, mặc dù đã đến lúc cờ tàn, ông không còn giúp đỡ gì được những anh hùng nhưng là nạn nhân của cuộc chiến nhưng tấm lòng nhân hậu của ông đã là gương sáng cho đời sau.

Gần đây tôi có đọc một lá thư từ Việt Nam, của một người lính bị tàn phế gửi cho một người bạn . Bức thư có nhiều đoạn làm tôi suy nghĩ:

“… Các anh ạ! Bây giờ thì buồn quá! Các anh – những sĩ quan QLVNCH, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của ngày nào một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường… các anh đã có một thời quang vinh và một thời nhục nhã, giờ đây sau 30 năm vẫn lặng lẽ, các anh cũng nhòa đi hình ảnh của ngày xưa?

Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc quyền của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng quên những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ. Xin cảm ơn các anh về những đồng đô la mà các anh gửi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên nỗi nhục nhã mất nước! Chúng tôi cần ở các anh những chuyện khác, các anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không? Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân lệnh những Đại Bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc. Họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gửi vào tận chốn tù đày thăm các anh. Họ đã từng uống với các anh chung rượu ân tình ngày đưa các anh lên phi cơ về vùng đất mới. Họ từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng ngày về vinh quang của QLVNCH.

Nhưng chính các anh đã làm họ oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi giữa nhà hàng khách sạn năm sao tung tiền ra để tỏ rõ một Việt Kiều yêu nước. Các anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính VNCH đang lê lết ở ngoài cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các anh với ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội! Không biết khi tôi kết tội các anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các anh hãy tự suy nghĩ một chút sẽ thấy rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các anh đã biến thái thành những tên Việt gian nhưng sự trở về như các anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ Quốc và rõ ràng nhất các anh đã phản bội lại chúng tôi…”

Đọc lá thư ấy, lòng tôi như chùng xuống. Mỗi một người đếu có hoàn cảnh cũng như cách chọn lựa riêng nhưng tôi không ngờ rằng trong sâu thẳm của những người lính cũ còn có những nỗi niềm như thế. Sự phân cách quá sâu đậm, những con sông chia cách vẫn chưa thể lấp bằng được. Ngẫm suy lại, từ một khía cạnh nhìn ngắm khác nhau, đã có những khác biệt cho từng hành động…

Tới bây giờ, với những người ở hải ngoại đã không quên các anh, những thương phế binh VNCH. Dù có một số ít vô ý thức trở về nước vui chơi trên nỗi nhọc nhằn của dân tộc nhưng phần đông đều hiểu và tri ân những người lính đã mang xương máu và thân thễ hiến dâng cho đất nước. Ở đại nhạc hôi “Cám Ơn Anh”, hàng chục ngàn khán gỉa đi xem không phải chỉ là đơn thuần mua vui mà là biểu lộ tinh thần biết ơn đối với người lính VNCH. Dù số tiền thu được lên tới cả triệu đô-la nhưng cũng không đủ cho nhu cầu của hàng chục ngàn người lính tàn phế cần giúp đỡ. Nhưng của ít tình nhiều, điều đó mới là đáng quý. Cũng như, với sự tham dự của cả hơn một trăm ca nhạc nghệ sỹ, cùng với cả trăm người thiện nguyện bỏ công sức và cả tiền của cá nhân, thì đó phải hiểu là một thành quả to lớn ở hải ngoại của những người dân luôn luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Cám ơn anh! Những thương phế binh đã hiến dâng đời mình cho đất nước…

Nguyễn Mạnh Trinh

Một Cảnh Tượng Kỳ Ảo. Tuỳ bút Mai Thảo


Mai Thảo

Mai Thảo

Anh Đinh Hùng, tôi nhớ năm ngoái cũng vào tháng này, để đánh dấu ngày giỗ đầu cái chết của anh, nhà xuất bản Văn ở số 38 đường Phạm Ngũ Lão Saigon, (chủ nhân là anh Nguyễn Đình Vượng, người đã mở đầu cho nhà xuất bản Văn bằng Người Đao Phủ Thành Đại La của anh) cho in lại Mê Hồn Ca. Tái bản mang ý nghĩa truy điệu thi sỹ này, đáng lẽ phải có, bằng văn tôi, một bài vào tập. Mê Hồn Ca được phát hành sau đó. Nhà Văn đành xin lỗi những người đọc thơ anh, bởi bài vào tập đã báo trước, cuối cùng không có. Tôi không viết được nó. Mặc dầu đã định. Đã muốn. Hết lòng. Không viết nổi vài hàng dẫn nhập cho một tập thơ đến nay tôi vẫn thành thực xem như một trong những đỉnh cao của thi ca tiền chiến, không nói được lời nào về một người, người đó là một nhà thơ sinh thời là bạn, là điều đến nay vẫn còn làm tôi hết sức ngạc nhiên. Không thực hiện được một bài viết tưởng đã có hàng trăm ý nghĩ trong đầu, tôi tìm hiểu nguyên nhân, chỉ có thể đi đến kết luận này: với tôi, Mê Hồn Ca vẫn đích thực là cái thế giới mê hồn kỳ lạ của riêng anh. Và nếu hiểu thơ của một người, cũng phải như hiểu một sự vật, một đời sống, nghĩa là thấu triệt được những quy luật cấu thành biện chứng của sự vật và đời sống, thì cái chân tướng của Mê Hồn Ca lung thoát, mơ hồ, tôi không nhìn thấy được cái từ đâu mà thành, bởi đâu mà có. Văn học sử Việt Nam sau này tất yếu sẽ phải làm thay tôi việc đó. Tôi nói tất yếu. Cõi thơ, tiếng thơ, một ngôn ngữ thơ mang tên Đinh Hùng, đích thực vẫn còn hay sẽ mất với những liên hệ chặt chẽ với thơ của cả một thời kỳ, một thời đại. Thơ anh là thơ của một người. Còn là thơ của một thời.

Thơ Việt Nam bây giờ chuyển lưu sang một trời thơ khác, chứng minh điều đó. Nhận cho thơ Đinh Hùng như một động lực đưa tới một hóa thân, một tiến trình mới của thơ, thì cũng cứ vẫn phải công nhận thêm một điều này: thơ anh nếu có khép đóng lại một giòng thơ thì cũng chính từ khép đóng này mà thơ đã mở đi những giòng thơ khác.

Anh Đinh Hùng, tôi kể lại anh nghe chuyện nhỏ này. Nghĩ nó, tuy cũng trà dư tửu hậu mà thôi, có chiếu sáng cho tôi phần nào về một vài bình diện thi sỹ. Một buổi chiều tuần trước, tôi cùng Thạch Chương và Thanh Tâm Tuyền đến chơi một người bạn. Ở đây, chúng tôi tình cờ gặp lại nhà thơ Bùi Giáng. Với tôi, cõi thơ Bùi Giáng là một trong những cõi thơ bát ngát nhất hiện nay của thơ ta. Thơ Bùi Giáng là một vực thẳm không cùng. Một cánh rừng dầy đặc.

Nó òa tới, làm nhạt nhòa Xuân Diệu. Nó vụt qua làm mất biến Xuân Xanh. Dẫm đạp lên mọi thể loại ngôn ngữ tĩnh tại, sáng hồng, đôn hậu, toàn vẹn, đã xong, thơ Bùi Giáng là cái tang trống kinh dị treo căng trên hai đầu cọc nhị trùng: từ một băng hoại tận cùng tới một thăng hoa chói lọi. Thơ nguy nga như thế mà con người bệnh quá. Mỏi nhọc, già yếu, Bùi Giáng ngồi đó, bóng chiều lãng đãng, như hình như bóng, mang trên hình hài âm u cái hiện tượng dị thường của một cõi ngôn ngữ khi bình lặng thì thiêm thiếp, hư không, khi dấy động là dấy động bàng hoàng một trời giông bão. Chừng như tôi điên, một năm vài tháng, Bùi Giáng nói. Thế nhưng khổ nhất cho Bùi Giáng lại là lúc tỉnh. Tỉnh thức, ra khỏi những quằn quại nghẹn ngào, những nhức nhối đốt lửa, Bùi Giáng mới biết là có thật nhiều điều, dầu biết phải nói, chẳng nên nói ra bằng giấy trắng mực đen. Nhưng rồi những cơn lốc kinh hoàng hệt như những cơn say sượng sần mê ngất chụp bắt lấy. Và khi đó thi sỹ lại nói hết. Nói hết những niềm quái dị, những nỗi hoang vu bất chợt sáng ngời, bằng một Ánh Sáng Lạ, trong tâm linh và tiềm thức. Tôi nhớ chiều hôm đó, Thanh Tâm Tuyền, yêu mến Bùi Giáng lắm, đã giải thích cái trạng thái bất bình thường nơi Bùi Giáng như một hòa nhập quá thể say đắm, quá thể trầm trọng với ngôn ngữ. Rằng đó là tại vì anh coi trọng ngôn ngữ quá. Rằng anh muốn phá tan ngôn ngữ còn muốn phá tan chính Cuốn Sách là cái biểu tượng cái thể tích thường hằng được chấp nhận cho ngôn ngữ, cho thơ.

Anh Đinh Hùng, cái “ca” đặc biệt của Bùi Giáng trở lại trong trí tưởng tôi lúc này tôi nói chuyện với anh về những cõi ngôn ngữ dị thường ấy là những cõi ngôn ngữ thi sỹ. Nếu Breton định nghĩa cái đẹp như một bàng hoàng, bàng hoàng đó đã sấm sét, đã địa chần bao nhiêu năm dưới trời siêu thực, và nếu ngôn ngữ ở Bùi Giáng là những lượng chất nổ thả dần bằng những ngón tay thơ rất đỗi dịu dàng vào cái tôi nhìn thấy rõ nhất ở Bùi Giáng là một cõi tâm linh mê ngất – chúng ta đã thấy nhưng không thể tan tành và toàn vẹn bằng, ở cõi thơ trái điên và mật đắng của Hàn Mặc Tử – tôi muốn nhìn thơ anh, như nỗ lực một đời của ước muốn đến với cái phía bên kia đã mất của thực tại. Đó là cái nỗ lực cài đính trang trọng lên một nền trời những vì sao đã rụng. Sự vật tất yếu nằm trong vận động của một sinh thành và một hủy diệt. Quy luật ấy, đích thực anh đã không chịu chấp nhận nó. Đã muốn phản chống lại bằng thơ. “Khi miếu đường kia phá đổ rồi. Ta đi về những hướng sao rơi.” Trời thơ anh nằm gọn trong mười bốn chữ đó. Giữa một thời đại ào ạt vươn tới những biển vàng chưa gặp. bây giờ người ta đã nghĩ đến những ngọn cỏ đường cho năm 2000, vẫn có những nhà bác học nghiêm túc phủi đi những bụi phấn trên một đồ vật chôn vùi cũ bằng đất nung. Cho sáng rỡ trở lại cái nghệ thuật tạo tác của một hơi lửa tiền sử. Anh là một trong những nhà bác học đó. Vần đề tưởng rằng lớn lao và ngột ngạt nhất của thi ca là ngôn ngữ không đặt ra với Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử tiên thiên tuy cũng là một nỗ lực biểu hiệu tới tận cùng một định mệnh ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ với Đinh Hùng đôn hậu, ngoan ngoãn. Nó chỉ là một phương tiện. Cái phương tiện dẫn đi. Cái phương tiện chở về.

Vào thơ anh trước hết tôi nhìn thấy một vũ trụ một thế giới không tiếng động, không ánh sáng. Nó là một cánh rừng chết. Im phắc. Rất đen và rất đêm. Rồi lửa thơ ngang đầu, thi sỹ đi tới. Thi sỹ vào. Đánh thức những bằn bặt. Lay tỉnh những thiêm thiếp. Gõ cửa những chôn vùi. Như một ngọn đèn pha trên một con đường tối, ánh sáng lướt. Những sự vật hiện. Nhặt những “sao rơi” anh đang cài đính từng chùm một, lên một nền trời đã nghìn triệu năm tắt nghỉ mọi cuộc đời tinh tú. Người ta bảo thơ Đinh Hùng là một thất bại trong ý hướng tạo dựng và làm sống lại một thế giới đã vĩnh viễn tịch mịch. Người ta nói Đinh Hùng không làm sao đón được đời sống vào vũ trụ mình giản đơn là bởi vì cái vũ trụ đó không có. Tôi muốn nghĩ khác.

Tôi muốn nghĩ khác. Tri thức và trầm tư cho một bản thể rực rỡ như Đinh Hùng, ít nhất cũng là đã mở được những cửa ngõ hòa nhập dư thừa vào hằng cữu và tạo vật, hiểu được thế nào là chân thân kia của một hạt cát sông Hằng, tri thức đó nhất định không đến nỗi rơi ngã vào ảo tưởng mù lòa về những cái đã chết, đã mất, phải làm cho sống lại. Bởi không thể. Cài đính trang trọng những nhành sao rụng lên một nền trời kia, ở Đinh Hùng chỉ là đốt lửa đêm cho cuộc đời nhìn thấy cái mặt sấp kia của một đồng tiền. Cái mặt không reo không nhẩy. Cái phía đã im phắc. Đã bất động. Đã thành tượng.

Thành tựu của thơ Đinh Hùng ở nơi anh được những vì sao rụng trên mặt cỏ hằng cữu. Và không, khi nào “miếu đường” không phá đổ được miếu đường còn đứng đó, cản ngăn đường ngưng về một hướng sao rơi. Thơ ở một phía khác thơ Đinh Hùng, thơ ngợi ca đời sống, thơ đầm ấm hơi thở, thơ tươi tắn máu hồng, thơ trái tim trên tay, thơ như một thâm nhập tràn đầy và dữ dội của ngôn ngữ, thơ trên mỗi tảng đá, mỗi ngọn cỏ, để lại cái dấu khắc đau đáu tươi mầu của hiện hữu và tri thức người, khác ở nơi nó không vấp phải một miếu đường nào. Sao cũng rơi trên chúng ta đấy chứ. Nhưng sao rơi gần. Với Đinh Hùng, đã cách một miếu đường thực tại, sao còn nghìn dặm.

Thả hòn đá xuống một lòng giếng thẳm, vang vọng mất biến. Ném ngôn ngữ đi quá xa tới những vùng trời biệt tích ngoài mình, ngôn ngữ biệt tích luôn. Mê Hồn Ca tuyệt nhiên không đắm say cái ý tưởng mù lòa làm sống lại những đồ vất đất nung được tạo tác ngày nào bằng hơi lửa tiền sử. Chỉ Đinh Hùng muốn dẫn chúng ta tới đó. Tới những cõi chôn vùi. Tới những trời hủy hoại. Tới một lối đi xưa. Tới một cửa đền cũ. Cái khác là chúng ta đã tới và đã trở về. Riêng Đinh Hùng ở lại.

Anh Đinh Hùng, bây giờ thì với anh miếu đường kia đã đích thực phá đổ. Tôi nhìn thấy trời thơ anh sáng dần. Thi sỹ đã tới. Trên một nền trời kia, từ một bàn tay ấy, những vì sao đang được khoan hòa và trang trọng đính cài lên. Cảnh tượng này đối với tôi và với thơ, đã dư thừa một cảnh tượng kỳ ảo.

Mai Thảo

(Khởi Hành số 17)

Bùi Giáng Một Bài Thơ Lạc Vận. Tuỳ bút Nguyễn Đình Toàn


Nguyễn Đình Toàn

(Chân dung nhà thơ Bùi Giáng)

Bùi Giáng đã được nói đến nhiều. Mỗi người đọc ông nói đến ông theo một cách. Người ta nói đến thơ ông, nói đến tư tưởng của ông, nói đến cách thế ông sống, tùy theo cách nhìn của mình.

Người ta nhìn thấy ở ông, rõ hơn, kiến thức của ông, tư tưởng của ông, như một hội tụ lớn của tư tưởng Đông Tây.

Người ta cũng nói đến ông như một người điên.

Nếu ai có dịp nhìn thấy ông mang trên mình đủ các thứ: nồi, niêu, xoong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi, vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không gì quá đáng.

Nhưng cũng người điên ấy, vai mang một tấm biển, đi rong qua các phố, trên tấm biển có những dòng chữ viết tay:

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhảy tưng lên trời

Thì nhiều người lại cho rằng đó là một người điên giả vờ. Một sự việc quan trọng như thế, một người Việt “đi dép lốp mà bay vào vũ trụ” như thế, mà nói tới một cách giễu cợt vậy sao?

Ông bị bắt giam.

Nhưng rồi sau đó người ta cũng thả ông ra, vì… ông điên! Và có lẽ vì điên nên ông không biết sợ, ông nói toáng lên những điều có người nghe rồi cười, có người không muốn nghe, cả những điều người ta không dám lập lại dù là để báo cáo đi nữa!

Người ta nhìn thấy ông, mặc bộ quần áo rằn ri của quân đội cũ, đứng trước cửa trường Đại Học Vạn Hạnh, nhìn các đám sinh viên nam nữ qua lại, mủm mỉm cười, bảo: “Lịch sử bức bách tụi bay quá!”

Có rất nhiều giai thoại liên quan tới Bùi Giáng, liên quan tới những cơn điên của ông.

Cũng vô lý như làn kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đất xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư vô

Đọc một lần, đọc hai lần những câu thơ ấy của Bùi Giáng, ai có thể cả quyết ông nói tới điều gì?

Cái mất, cái còn, cái cổ xưa, cái cận đại, Hồn nguyên tiêu/ Phượng Thành Hy Lạp úa/ Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa / điển tích và những câu nói cửa miệng xen lẫn, bờ trùng ngộ là gì mà cả một phen này phen nữa?

Đọc liền một bài thơ của Bùi Giáng, đọc một hơi mươi mười lăm câu thơ của ông, người ta có cảm tưởng ông đùa rỡn với một điều gì đó hết sức nghiêm trọng. Nhưng đã nghiêm trọng sao lại đùa? Đọc một hai câu thơ của ông thôi, có khi chúng ta lạnh mình, tựa hồ bị thổi tạt bởi cơn gió rét không biết tự phương nào lại.

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Đất khóc, trời khóc hay người khóc? Nhưng khóc cái gì mới được chứ? Đất trời có vĩnh biệt đã vĩnh biệt lâu rồi, không còn gì để khóc. Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu. Hãy tưởng tượng một sớm hay một chiều nào đó, ta trở về quê cũ, ngẩng mặt trông những hàng cây, gió thổi lùa sương từ cành này qua cành khác. Cành nói với lá. Lá nói với hư vô, nói với ta, hay chỉ vì gió lay nên cành động? Cố hương. Cố quận. Cố nhân tình. Mờ mờ, ảo ảo…

Cảnh cũng là người và người cũng là cảnh, lẫn lộn trong sương mù.

Ta cười cợt, ta nghiêm chỉnh, ta nhớ quên, ta làm bộ hay ta biết rõ, tất cả đều diễn ra cùng một lúc với cái chết. Cái chết như sương mù bôi xóa.

Nhưng nghĩ như thế cũng có thể là nghĩ sai về thơ Bùi Giáng.

Hãy nghe ông nói về thơ ông:

“Muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác”.

Ông còn bảo rằng:

“Kẻ nào tự xét mình từ trong tinh thể mà ra chẳng có chi là phiêu bồng tí chút thì chả nên cưỡng cầu tự ép uổng ghé vào thi ca thâm xứ mà chi”.

Như thế, Bùi Giáng vừa làm thơ vừa muốn đóng cửa thơ.

Nguyễn Vy Khanh, trong một bài viết về thơ Bùi Giáng cũng cho rằng “người ta đã viết nhiều về hành trạng Bùi Giáng hơn là thơ của ông”.

Những hành trạng sống của ông cũng là thơ ông.

Thơ ông làm để tặng chuồn chuồn châu chấu tại sao chúng ta lại lấy đọc rồi trách ông tư tưởng rời rạc, không có hệ thống?

Trữ tình chăng?

Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.

Hiện thực chăng?

Bây giờ em để quần đâu
Cỏ trên mình mẩy em buồn ra sao?

Cười cợt chăng?

Que diêm que lửa que lời
Cõi trăm năm cũng một đời ba que.

Hai câu thơ vừa rồi rút trong bài “que diêm” Bùi Giáng viết sau năm 1975.

Thơ Bùi Giáng như vậy.

Ông không khóc nhưng hình như thơ ông có nước mắt. Ông cười cợt khi nói lời nghiêm trang. Ông nói với chính mình nhiều hơn với người khác.

Về cái chết của mình ông để sẵn trong tập Mưa Nguồn cách ngày ông qua đời mười năm mấy câu này:

Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian này mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu

BÙI GIÁNG LÀ AI?

Một trung niên thi sĩ như ông vẫn tự gọi?

Một nhà thơ lớn của Việt Nam?

Hay giản dị: Ông chỉ là một gã điên?

Rất nhiều người, trong đó có cả những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học của chúng ta, đã thử trả lời câu hỏi ấy, nhưng hình như vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Mỗi người nhìn ông một khác.

Người ta viết, nói về Bùi Giáng như một cách tự giải đáp những thắc mắc của mình về Bùi Giáng nhiều hơn là thơ của ông.

Và khi nói về thơ của ông dường như người ta lại nói về các giai thoại quanh ông, những điều bàn tán về ông nhiều hơn.

Nhưng nếu người ta đã có lần đọc Bùi Giáng, yêu những bài thơ, những bài phiếm luận của ông liên quan tới thi ca, triết học, tôn giáo, chuyện tào lao dính tới Brigitte Bardot, Kim Cương hay Mẹ Phùng Khánh của ông, thì người ta sẽ vô cùng thích thú vì thấy tất cả những điều đàm luận kia chẳng khác những tấm gương phản chiếu nhiều khuôn mặt của Bùi Giáng: cười cợt, đau đớn, nghiêm chỉnh, điên rồ…

Người khen ông nhiều lắm: Huy Tưởng, Mai Thảo, Huỳnh Hữu Ủy, Cung Tích Biền… người ta không tiếc lời ca ngợi Bùi Giáng.

Nhưng cũng không thiếu những người nghĩ khác.
Chẳng hạn như Thụy Khê.
Thụy Khê viết:

“Trong gần nửa thế kỷ làm thơ. Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài thơ, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du ban đầu làm xao xuyến người đọc… Nhưng vì lập lại nhiều lần, chúng bị phá giá.”

Còn Trần Hữu Thục trong một bài nhận định của mình đã viết rằng:

“Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay, chưa hẳn là rất hay, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ của ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngay ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò.”

Xin trích mấy câu thơ lục bát của Bùi Giáng:

Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi

Có những câu ta thật sự không hiểu ông định nói gì:

Một hôm gầu guộc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm

Xen vào đấy là những câu có thể làm chúng ta sởn người khi đọc:

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Hoặc chỉ một câu thôi đủ làm chúng ta ngẩn ngơ:

Còn hai con mắt khóc người một con.

BÙI GIÁNG ĐIÊN THẬT CHĂNG?

Người ta kể lại rằng, một cán bộ nhà văn khi gặp Bùi Giáng đã nói, họ đánh giá cao những tác phẩm của ông, nhưng muốn rằng Bùi Giáng phải thay đổi cách suy nghĩ, phải tỏ ra tiến bộ mới có thể làm việc trở lại được, hiểu theo nghĩa mới được “phép” viết lách trở lại. Bùi Giáng đã đứng dậy chỉ vào mặt người này hỏi lại:

-Thế nào là tiến bộ? Trời đất có bắt núi non tiến bộ không? Nếu núi non tiến bộ mãi mày đi đâu mà ở?

Đó có phải là lời nói của một người điên chăng?
Đây là một giai thoại bịa đặt hay có thật?

Trở lại với thơ Bùi Giáng.

Hình như ông không làm thơ theo quan niệm, theo cái cách người ta thường nghĩ.

Ông rũ bỏ thơ ra khỏi mình như những bụi bặm, như một oan nghiệp.

Mai Thảo mất trước Bùi Giáng.
Trước khi chết Mai Thảo có để lại bốn câu thơ:

Và ở Sài Gòn vẫn còn Bùi Giáng
Tối tối về chùa, đêm làm thơ
Ngày ca múa, khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi

Hai người có gặp lại nhau chăng?
Nếu có, họ sẽ nói gì với nhau nhỉ?

Bùi Giáng đã nói về mình thế này:

Miệng anh còn đủ lưỡi môi
Mà răng rụng hết lấy gì nhe ra
Mím môi ôm mặt khóc òa
Hôn em một chút cho đỡ già nua thôi.

Tóm lại khó có một bức chân dung Bùi Giáng. Chỉ có một hình ảnh từa tựa. Ông là một bài thơ lạc vận và đôi khi thừa chữ.

Nguyễn Đình Toàn

Sài Gòn Thủ Đô Văn Hoá Việt Nam. Mai Thảo


Mai Thảo

Sài gòn thủ đô văn hóa Việt Nam: Không phải là một danh từ, một câu nói xuông nhạt. Không phải là một ảnh hình trừu tượng. Không phải là một ảo tưởng mong manh còn nằm trong ngày tới xa thẳm. Không phải là một ý niệm khát khao đợi chờ. Đã là một thực thể được minh định : Văn Hóa Việt Nam thực hiện hôm nay và sẽ được kiện toàn trong ngày tới đã có được một trung tâm xuất phát và sinh thành: Thủ đô Sài Gòn.

Thực thể lòa chói này được biểu tỏ rõ rệt xâu đậm, ngày lại ngày.

Ánh sáng của Văn Hóa cháy lên hôm nay từ giữa lòng đời sống lớn rộng của dân tộc là một giòng máu bừng bừng mãnh liệt luân lưu trong một cơ thể chứa đựng cái vô hạn của những năng lực sáng tạo trẻ mạnh phong phú. Giòng máu bắt nguồn từ trái tim. Sài Gòn xuất hiện trên những kinh rạch tăm tối ngày nào, đã đổi thay để có thêm một hình thể tinh thần nữa: hình thể của một trái tim đập mạnh, với những đường máu, những lối ánh sáng đan chen nhau, tỏa đi trên toàn thể, toàn diện.

Không còn là chân tay, Sài Gòn đã là một trái tim. Những biến cố trọng đại của lịch sử đất nước từ một ngày nào đã chuyển đổi trọng tâm sinh hoạt dân tộc, và Sài Gòn đang phát triển, thay thế cho một Hà Nội đã tàn lụi, đã nghiễm nhiên biến thành một thứ cứ điểm chính yếu quy tụ mọi thiện chí xây dựng và mọi nỗ lực đóng góp của những hoạt động văn-hóa hiện hữu, trên mọi ngành mọi mặt.

Từ người du khách ngoại quốc đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, đến những chuyến tầu vượt đại dương vào hạ neo trên mặt nước phẳng lặng của thương khẩu thành phố, đến những con người xa cách không biết bao nhiêu trùng dương, lúc mở nút điện nghe một tiếng nói, một giọng hát, một bản nhạc truyền thanh qua không gian, hoặc đọc một cột báo tường thuật ghi chép những chứng tích của Văn Hóa – nghĩ đến Việt Nam – đều mang trong tâm hồn hình ảnh đằm thắm của thành phố lớn rộng đã trở nên trung tâm sinh hoạt và phát huy của tất cả mọi lực lượng tinh thần đất nước giữa mùa kiến tạo.
Thành phố đổi khác. Thêm một tấm áo của Văn-Hóa khoác lên mình tấm áo của thiên nhiên. Nắng nhiệt đới chói chang vàng diệp bừng cháy thêm một thứ ánh sáng văn hóa càng ngày càng thắm thiết rực rỡ.

Không phải chỉ là những công trình kiến trúc với những đại lộ rộng thẳng, những ngã tư trùng điệp xe cộ, những công viên xanh mướt mầu cỏ bóng lá, những xưởng may vang vọng nhịp điệu sản xuất, những trường học, chợ búa sinh hoạt thường xuyên. Không phải chỉ là một khoảng không gian tập hợp một dân số đông đảo có chung một gốc nguồn, một lịch sử, một tương lai. Không phải chỉ là một thương cảng lớn đón nhận và gửi đi những kiện hàng những chuyến tầu.
Sài Gòn còn là thủ đô Văn-Hóa Việt Nam.
*
Từ một điểm son bé nhỏ vô nghĩa ghi trên tấm bản đồ hình thể xứ sở, đến những công trình xây dựng bề mặt, thành phố dựng lên theo chiều cao đang tỏa đi theo chiều rộng và thấm lắng xuống chiều sâu, để từ một đô thị miền Nam biến thành một thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước.

Sài Gòn đã đứng vào vị trí. Đã nhận nhiệm vụ mình. Sau khi Hà Nội đã từ bỏ vị trí nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa vượt vĩ-tuyến đã sáng lên ở đây, hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ mạnh sẵn có, Thành phố hòn ngọc của Á Châu tinh hoa của đất nước đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt nhất của một mùa văn hóa mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ, hệ thống.
Những công trình nghệ thuật đang được thể hiện song song với những công trình khoa học, kỹ-thuật. Thành phố từ một mảnh đất mầu mỡ trở nên một kho tàng. Đời sống đang đóng góp cho kho tàng này. Sự đóng góp về từ khắp nơi. Nhìn thấy ánh sáng văn hóa phát xuất trên bờ Cửu Long, chảy qua đại dương, băng qua lục địa, những con người văn hóa Việt Nam trên toàn thể thế giới đã ý thức được sự chuyển đổi trọng tâm, đã xuống một chuyến tầu biển, lên một chuyến máy bay vượt không gian về đặt chân xuống Thủ Đô Mới, hiến dâng phần kiến thức chuyên môn của mình vào cuộc dựng xây văn hóa. Người vẫn ở đây, người về từ hải ngoại, người đến qua vĩ tuyến, chung lưng trong sự nghiệp xây dựng toàn thể. Những chứng tích mới. Những phát minh mới. Kho tàng văn hóa đầy dần.

Thủ Đô lộng lẫy về hình thức, càng thêm rực rỡ tinh anh. Ánh sáng văn hóa hồng cháy, tỏa rộng, bốc lên, lan đi xa rộng. Ánh sáng của nghệ thuật, của khoa học, ánh sáng của đời sống, của con người là ánh sáng của thủ đô hôm nay. Ngọn lửa mới của văn hóa có một sức tác động lấn át cả thứ ánh sáng cố hữu của thiên nhiên trong xanh giữa mùa nắng lớn.

Từ hải ngoại, từ nội địa, ở khắp mọi miền núi rừng đồng nội, trên khắp các khu vực của đất nước, những xu hướng và khả năng tỉnh thần đều nghiêng xuôi về thủ đô miền Nam trở nên thủ đô toàn quốc, như những giòng suối chảy về một hội trùng dương. Những đoàn ghe thuyền ngược giòng những nhánh sông đầy của Tiền Giang Lục Tỉnh ăm ắp thóc lúa khoai sắn của những bàn tay cần lao của những miền đất đai phì nhiêu, ngày đêm suôi về những bến xá nằm trong phạm vi trung tâm văn hóa. Những ngả đường từ cao nguyên đổ xuống, những ngả đường từ duyên hải đi lên, đều mang hình ảnh của những giòng máu chảy về trái tim, những giây thần kinh chảy về đầu óc.

Trái tim, đầu óc là thành phố. Là trung tâm văn hóa. Là Sài Gòn. Sài Gòn sáng tạo và suy tưởng.
*
Người trở về từ hải ngoại giữa mùa mưa 56. Tôi đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất từ mùa nắng 54. Những người bạn đường đã sinh trưởng ở đây kể từ ngày thành phố xuất hiện trên những kinh rạch ẩm ướt đen tối. Những người bạn đường còn ở rải rác trên những đô thị thế giới, bên kia muôn ngàn trùng dương. Tất cả đời sống chúng ta, kể cả phần tâm tưởng thầm kín đến phần sinh hoạt thường nhật, đều hướng về Sài Gòn. Như những nhành hoa hướng dương nở về một phía bình minh. Như những bước chân đi về trạm hẹn. Mang trong lòng ít nhiều thiện chí xây dựng, rất nhiều tin tưởng, qua một ý niệm chân thành ở tiền đồ văn hóa đất nước, chúng ta đang lăn mình vào sinh hoạt văn hóa. Mỗi người, mỗi chỗ đứng là một vị trí nhỏ trong trung tâm văn hóa rộng lớn.

Chúng ta đến với một số mặc cảm. Trong tin tưởng có hoài nghi. Ý chí xây dựng cương quyết mà tâm hồn thì còn nhiều thắc mắc. Sự giao động này là một lẽ tất nhiên. Dĩ vãng buồn đau còn gửi về hình ảnh một thủ đô cũ, một trung tâm cũ. Niềm đắng cay của một thiện chí dựng xây nào đổ vỡ hoặc không thành. Anh còn nhớ đến cái ánh sáng lòa chói của những thủ đô văn hóa thế giới. Chúng ta đặt những bước chân bỡ ngỡ vào thành phố đã trở nên trung tâm, nên quê hương. Hiện tượng mới đột ngột. Thủ Đô văn hóa vừa được chọn ở đây. Nhưng rồi lăn mình vào sinh hoạt, đứng lại giữa vị-trí, những hoài nghi tan biến dưới những tin tưởng vững mạnh lên hình. Như sương mù tan đi trong ánh sáng. Như những tảng bóng tối dầy đặc rụng đổ lả tả giữa biển ngày trong veo.

Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam! Từ một hiện tượng đến một thực thể. Nền văn hóa dân tộc đặt định những nền tảng ở đây, đang phát huy ở đây bằng những nỗ lực sáng tạo của chúng ta – những con người hiện có mặt ở đây. Bằng những nỗ lực sáng tạo của những người bạn đường thế giới. Bằng những hành động đóng góp tương trợ của những dân tộc huynh đệ, những xu hướng văn hóa bằng hữu của thế giới.

Sài Gòn khác biệt với bất cứ một thủ đô nào của thế giới. Nhưng Sài Gòn cũng là một trong những thủ đô văn hỏa thế giới. Trên bản đồ đất nước, chúng ta ghi tên Sài Gòn: thủ đô văn hóa dân tộc hôm nay và ngày mai.

Mai Thảo
Sáng Tạo số 1 tháng 10/1956

Nguyễn Đình Toàn – Nước Mắt Cho Sài Gòn. Tùy bút Trần Yên Hoà


Trần Yên Hòa

(Chân dung văn thi sĩ Nguyễn Đình Toàn)

Năm 1966, tôi đang học đại học ở Sài Gòn thì cha tôi ở quê viết thư vào bảo: “Quê mình mất an ninh rồi, cha mẹ phải bỏ quê mà tản cư xuống quận lỵ tỵ nạn. Trong một đêm, địch về làng bắn giết, đốt phá nhà cửa của cán bộ làm việc bên phe quốc gia nhiều lắm, cha mẹ sợ quá nên phải tản cư xuống quận lỵ tạm trú, chứ ở quê không yên. Con cố gắng tự túc đi học nghe con.” Tôi đọc thư mà nghe buồn bã quá. Tìm đọc trên mục rao vặt trên các báo Chính Luận, Công Luận, tôi đi dạy kèm, đi giặt đồ cho một công ty thầu giặt đồ cho lính Mỹ, mà lương lậu chẳng đâu vào đâu. Tôi học không vô nữa, bèn nộp đơn xin đi dạy theo một thông cáo tuyển lựa giáo sư tư nhân dạy giờ của Bộ Giáo Dục. Sau đó mấy tháng, tôi được giấy của bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy ở trường trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Với nỗi buồn vui lẫn lộn. Buồn vì phải bỏ giảng đường đại học mới tập tểnh bước vào mấy năm. Vui vì mình sắp bước vào con đường mới, con đường dạy học. Đó cũng là mộng ước của tôi thời niên thiếu. Với lại, Quảng Ngãi tôi chưa biết đến bao giờ. Và cả Mộ Đức, một quận lỵ, vẫn nghe đồn rằng, đó là vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm “giải phóng”. Nhưng tôi lại nghĩ, mình chỉ là thầy giáo quèn, gỏ đầu trẻ, có gì đâu mà sợ, nên tôi cũng vững tâm đến đó.

Mộ Đức là một quận lỵ buồn, không có phố xá, chỉ có con đường quốc lộ một chạy qua. Bộ chỉ huy chi khu và văn phòng quận hành chánh đóng chung bên kia đường, đối diện trường trung học, do một trung úy bộ binh làm quận trưởng kiêm luôn chi khu trưởng.

Tôi đã dạy học ở đó với những em học sinh tóc cháy vàng vì nắng gió và nhờ đó mà tôi vui.

Những buổi chiều quận lỵ thật buồn. Chênh chếch phía bên kia đường có một loa phóng thanh của chi thông tin bắt trên ngọn cây, hàng ngày thường mở đài Sài Gòn hay đài Quảng Ngãi cho dân chúng nghe tin tức. Một buổi chiều, cũng như mọi buổi chiều khác, tôi được nghe từ loa phóng thanh, một bài hát có tên Tình Khúc Thứ Nhất được xướng ngôn viên giới thiệu tác giả là Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn, bản nhạc này, nhạc đã hay mà lời cũng quá hay:

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi

Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế

Lúc này, Vũ Thành An và Nguyễn Đình Toàn chứa nổi, tác giả chỉ là cái tên, nhưng bản nhạc quá hay nên có tôi cảm tình với tác giả ngay, nhất là tác giả viết lời. Lúc đó, tôi cứ nghĩ Vũ Thành An đã phổ từ một bài thơ nào đó của Nguyễn Đình Toàn. Nhưng sau này, khi tôi đọc trên một tờ báo nào đó, mới biết là nhạc phẩm này của Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn viết lời.

Chúng ta hãy đọc lại mấy câu, ông dùng ngôn ngữ rất lạ mà rất thơ:

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy…
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Bản nhạc này, tôi nghe (sau đó được nghe lại mấy lần) và tự nhiên thuộc lời, rồi tôi đã đem lời nhạc này đọc cho học sinh trong lớp tôi dạy (vì tôi dạy môn Việt văn nên tôi tha hồ mà bình luận, bốc phét, thêm nhưn nhị vào bài thơ, những ý tưởng mà có lẽ tác giả cũng không nghĩ ra). Có thể nhờ bản nhạc này mà tôi có một (vài) mối tình rất thơ với một (vài) cô gái Mộ Đức, một cô gái có tên là Nề, mà sau này tôi có viết trong một truyện ngắn, truyện Nề xưa. Bây giờ tất cả đã xa lắc lơ, chỉ còn là kỷ niệm. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn.

Sau này, cũng thời gian năm 66 hay 67 gì đó, tôi có đọc một bài thơ của Nguyễn Đình Toàn ở đâu đó, và rất mê. Nhưng lâu rồi cũng quên nhan đề, sau khi tìm kiếm, lục lọi, mới biết đó là bài Khi Em Về. Tôi xin ghi lại như sau:

Khi em về

Quê mẹ đấy ưu phiền nhiều quá lắm
Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo
Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng
Đi qua dần khi nước mắt buông theo

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá

Khi em về bước chân chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã lắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim

Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che

Nguyễn Đình Toàn còn có bài thơ Khúc Ca Phạm Thái cũng rất nổi tiếng. Bài thơ ghi lại hình ảnh chàng tráng sĩ Phạm Thái yêu Trương Quỳnh Như, em ruột của người bạn thân là Trương Quang Ngọc, mối tình đó đã trở thành tình sử trong văn học Việt Nam mà Khái Hưng đã viết thành tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Bài thơ với ngôn ngữ mang mang hào sảng, nói lên chí khí của người tráng sĩ mang gươm đi cứu nước, nhưng thất bại, phải dẹp bỏ cuộc tình riêng, giọng thơ hào khí ngất trời. (hơi thơ giống bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác). Cho nên trong những cuộc vui chơi với bằng hữu, những người thích thơ, biết làm thơ hay cảm thơ, mỗi khi ngồi uống rượu với nhau thường ngâm bài thơ này:

Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề, sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Chí nhỏ lòng kiêu, đổ thưà vận rủi,
Tài sơ sức mỏi, trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ,
Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng.

Em ơi tám hướng sông hồ,
Mười năm ngang dọc, bây giờ là đây ..
Sự đời chừ đã trắng tay,
Ngủ vùi một giấc, cho đầy gối tham .
Ta say hay ta tỉnh?
Nàng buồn hay nàng vui?
Ngọc châu pha vỡ tiếng cười ,
Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau .

Từ lâu, nghĩa là từ trước năm bảy lăm, tôi nghĩ là Nguyễn Đình Toàn chỉ làm thơ và viết văn thôi, nếu cùng lắm thì ông đặt lời cho nhạc như bài Tình Khúc Thứ Nhất. Nhưng sau này tôi biết ông còn sáng tác nhạc, ông viết rất nhiều ca khúc. Trong những ca khúc của ông tôi thích đâu 3, 4 bài, như bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, mà nhiều người biết đến, sau đây:

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên – như dòng sông nước quẩn quanh buồn – như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không…
Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao – trong niềm vui tiếng hỏi câu chào – sáng đời tươi thắm vạn sắc màu – còn gì đâu…”

Theo tôi, bản nhạc này là bản nhạc hay nhất của nhạc Việt Nam viết về Sài Gòn sau khi mất nước và lúc Sài Gòn đã thay đổi tên. 2 bản đứng thứ nhì đồng hạng là bài Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng và bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Du Tử Lê. Sau rót mới đến bản Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc. Bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt được mọi người biết đến nhiều có lẽ nhạc phẩm này ra đời sớm, khoảng đâu sau bảy lăm một hai năm, trong lúc đó, lòng người Việt Nam, nhất là những người di tản từ ba mươi tháng tư bảy lăm, luôn luôn khắc khoải trong lòng nổi nhớ quê hương, mà Sài Gòn là biểu tượng một quê hương trong lòng mọi người, nên mất đi Sài Gòn, rời xa Sài Gòn, ai cũng tưởng tiếc, cũng nhớ về. Kể cả những người đi ở tù cộng sản như chúng tôi, khi nghe bản Vĩnh Biệt Sài Gòn (được đưa chui vào trại tù), chúng tôi nghe cũng thật bùi ngùi, cảm động (lúc đó tôi ở Long Khánh, có tin truyền miệng nhạc phẩm Vĩnh Biệt Sài Gòn là của một sĩ quan sư đoàn 5 bộ binh sáng tác). Đến khi qua Mỹ, tôi mới biết tác giả là Nam Lộc. Và theo tôi đánh giá về nghệ thuật, bản nhạc này lời rất giản dị, bình thường, ca từ không có gì mới lạ, có nhiều câu, suy cho kỹ thì phản ý của người di tản hay người vượt biên, ví dụ như câu “bây giờ tôi như con thú hoang lạc đàn”, sao lại là “con thú hoang”? Nếu như vậy thì đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước bảy lăm và những người sống trong đất nước đó là đàn thú hoang sao?. Và sau đó có những câu như “Sài Gòn ơi ta xin hứa là ta sẽ về.” Sao đã vĩnh biệt rồi, như theo đề tựa, vĩnh biệt là không bao giờ gặp lại, mà sao hứa sẽ trở về? Cho nên, bản nhạc này được nhiều người nghe là do tâm trạng thương nhớ Sài Gòn có sẳn trong lòng, chứ không phải là bản nhạc hay.

Nguyễn Đình Toàn sáng tác nhạc rất nhiều, sau khi ra hải ngoại ông đã cho ra mắt 2 CD, đó là: Hiên Cúc Vàng với chỉ một giọng ca Khánh Ly, và Tình Ca Việt Nam với Duy Trác, Khánh Ly, Sĩ Phú, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.
Nhạc Nguyễn Đình Toàn mang hơi hám của một người lưu vong luôn luôn nhớ về những kỷ niệm cũ, một hoài niệm không rời với hồi ức, thường buồn hơn vui, đã đưa người nghe vào một không gian âm thanh sâu lắng, không sôi nỗi xáo động, nó trầm lắng, dịu dàng, nên lớp người cũ đã sống trước bảy lăm ở miền Nam rất thích nghe.

Từ Giờ Ra Chơi đến Áo Mơ Phai

Truyện Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1970. Tôi mua quyển truyện này tại một tiệm sách ở khu Hòa Bình trong một chủ nhât đi phép. Đời SVSQ/CTCT ngày phép thường ra bát phố Đà Lạt, sau khi đã vào tiệm tắm nước nóng tắm để rũ sạch bụi đỏ quân trường, sau đó đi ăn phở Bằng hay vào quán Tùng uống cà phê hay ra bờ Hồ Xuân Hương vào Thủy Tạ ăn kem. Nhưng tôi thì hay đi loanh quanh mấy tiệm sách để tìm mua những tác phẩm mới xuất bản của các nhà văn mình yêu thích. Thời điểm đó, truyện dài Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn mới phát hành nên tôi nhìn thấy là chộp mua ngay.

Giờ Ra Chơi kể lại mối tình của cô gái học trò Đà Lạt tên Thục và tình yêu của tuổi mới lớn của Thục. Truyện nhẹ nhàng êm dịu, thơ mộng như trời mây non nước xứ Đà Lạt. Lúc này tôi có một người bạn gái là một cô học trò trường Hồng Đức, Đà Nẵng, tôi liền mua thêm một cuốn gởi về tặng cô gái và tả tình tả cảnh Đà Lạt, cũng như mối tình đẹp của cô học trò tên Thục trong truyện. Tôi cố rũ người bạn gái lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh để được gần tôi, cuối cùng cô gái nghe lời “dụ dỗ” của tôi mà lên Đà Lạt theo học. Rất tiếc là khi cô lên Đà Lạt thì tôi cũng xong hai năm thụ huấn. Tôi đổi đi xa nên mối tình cũng bay theo sương khói.

Áo Mơ Phai, tập truyện dài của Nguyễn Đình Toàn đăng “phơidơtông” ở Nhật Báo Tiền Tuyến, được nhiều người đón nhận, theo dõi say mê từng ngày. Sau này in thành sách và được giải văn chương toàn quốc năm 1972.

Truyện Áo Mơ Phai kể lại những mối tình thơ mông ở Hà Nội trước ngày di cư năm 1954, khi Hà Nội còn là ngàn năm văn vật đất Thăng Long, cùng với một Hà Nội thơ mộng trữ tình là sự dùng dằng, ra đi hay ở lại của những người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử năm 1954, chia đôi đất nước.

Chúng hãy đọc một đoạn ngắn trong Áo Mơ Phai khi tác giả tả những cái đáng yêu của Hà Nội:

“Những tiếng động nhỏ ấy, những hương vị mờ nhạt ngửi thấy, cây cối trong mùa mưa, phấn hương của người quen thuộc, những món ăn, thức uống, những câu thơ, những bài hát, Hà Nội giống như một cái chuông và những tiếng kêu ấy là những cách khua động, người ta tự gõ vào trí tưởng mình, tự xé lòng mình, để nhẹ bớt nỗi nhớ mong, ám ảnh của Hà Nội, Hà Nội đã biến thành khuôn mặt người tình đầu tiên, khi người ta ghé môi hôn thì cũng là lúc cái hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm khảm. Những khu phố dịu dàng dưới sương đêm, sáng cái ánh sáng của vầng trăng lúc nào cũng giống như, trăng khi còn thơ ấu, và những cơn gió nhẹ thổi trên các lối đi, thổi lên các cành cây, chẳng khác những hơi thở nồng nàn tình ái, người ta không thể biết rõ cái vẻ dịu dàng của Hà Nội được tẩm đẫm nhan sắc, dáng vẻ của những người đàn bà, những cô gái Hà Nội, hay chính những người này thừa hưởng cái không khí êm đềm đó, những trận gió mang đầy hơi phù sa của sông Hồng, mùi cỏ của con đê Yên Phụ, mùi rượu ngang, rêu phong của những mái nhà cũ kỹ, của những bức tường thành của ngày Hà Nội bị xâm chiếm xa xưa, của các xưởng máy, của hoa đào, hoa sấu, sắc đỏ của những bông gạo vừa tàn rụng hết trong ngày hè với muôn ngàn tiếng chim kêu hót…”

Nguyễn Đình Toàn đã hiến cho đời những tác phẩm hay, với riêng với tôi, tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn đã theo bước chân thời gian của cuộc đời đeo đuổi tôi, qua những cuộc tình học trò, sinh viên, thơ mộng, dịu êm. Còn ngoài đời, tôi chỉ gặp ông đâu có hai, ba lần gì đó, cũng chẳng được dịp nói chuyện lâu, nhưng trong lòng tôi, lúc nào cũng mến mộ Nguyễn Đình Toàn.

Rất cảm ơn nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Trần Yên Hoà

Lá Diêu Bông. Tùy bút Đỗ Thái Nhiên


Đỗ Thái Nhiên

Xã hội là môi trường sống của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giúp con người giao lưu với xã hội. Sống đồng nghĩa với đối thoại. Tuy nhiên ngôn ngữ là ngôn ngữ chung. Sử dụng ngôn ngữ chung để diễn tả tâm tình riêng vốn là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp. Dưới chế độ độc tài hà khắc, người cầm bút đã phải vừa vận dụng ngòi bút với tất cả khó khăn của ngôn ngữ chung, vừa tinh vi lách tránh công an văn hóa bằng kỹ thuật: dùng cái hư làm nổi bật cái thực, nhắc đến cái thực với ẩn ý đẩy sự suy nghĩ hướng về cái hư. Đó là lý do giải thích tại sao trong lòng của chế độ CSVN đã xuất hiện một số các tác phẩm văn học nghệ thuật mang nội dung kỳ bí gần như huyễn hoặc. Không khí kỳ bí và huyễn hoặc kia là cả một lời mời gọi, thiết tha bao nhiêu, xoáy tim óc bấy nhiêu. Trên đỉnh cao nhất của thế giới thiết tha nhưng xoáy tim óc này, chúng ta tìm thấy bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm.

Lá Diêu Bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thờ đi tìm

Đồng chiều

Cuống rạ…

Chị bảo:

Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng.

Hai ngày,

Em tìm thấy lá

Chị châu mày:

– Đâu phải lá Diêu Bông.

Mùa đông sau,

Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu.

Trông nắng vãn ven sông

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!

Hoàng Cầm (1959)

 (Chân dung nhà thơ Hoàng Cầm)

Chúng ta hãy khảo sát bài thơ Lá Diêu Bông trên cả ba mặt: bản thể nhận thức và phương pháp.

BẢN THỂ của Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Hình ảnh vào đề bài thơ là hình ảnh lạnh lùng của chiều đông,

trên cánh đồng ngổn ngang “cuống rạ”, người chị tâm sự với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng”

“Hai ngày sau”, “mùa đông sau” người em khoe với chị:

“Em tìm thấy lá”

Mỗi lần em khoe “tìm thấy lá”, chị lại lắc đầu:

“Đâu phải lá Diêu Bông”

Thời gian trôi qua mà chẳng có “đứa nào tìm được lá Diêu Bông”, người chị đành phải đi lấy chồng:

“Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim”

Có một lần, sau khi chị đã lấy chồng, người em lại khoe:

“Em tìm thấy lá”

Lần này, người chị phủ định một cách dứt khoát:

“Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn”

Mặc cho người chị dứt khoát không tin ở sự xuất hiện của lá Diêu Bông, người em vẫn miệt mài đi tìm Diêu bông… Thế rồi, đời sống thật là thảm sầu:

“Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!”

Đi tìm bản thể của bài thơ Lá Diêu Bông tức là đi tìm ẩn ý nằm đàng sau các câu hỏi: Chị là ai? Em là ai? Tại sao Lá Diêu Bông lai là một loài lá chỉ có trong mộng tưởng? Phần nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông sẽ cho chúng ta đáp số đối với các câu hỏi vừa nêu.

NHẬN THỨC về Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông tức là nhận thức về mối liên hệ giữa tác giả và nội dung của tác phẩm. Đồng thời cũng là nhận thức về thái độ đón nhận tác phẩm từ phía người đọc. Trước hết, chúng ta hãy ghi nhận hai chi tiết sau đây của bài thơ:

– Chi Tiết Một: Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh gợi nhớ một chiều đông, trên cánh đồng trơ “cuống rạ”. Câu chuyện trong thơ là câu chuyện diễn ra trong nhiều năm: mùa đông này rồi lại đến “mùa đông sau”.

– Chi Tiết Hai: Bài thơ được sáng tác vào năm 1959. Trong liên hệ giữa mùa này với mùa kia: mùa Đông đến sau mùa Thu. Trong liên hệ giữa năm này với năm kia: năm 1959 đến sau năm 1945.

Mang hai chi tiết nêu trên đặt cạnh nhau, chúng ta thấy ngay rằng Lá Diêu Bông là bài thơ có chủ ý diễn tả những cảm nghĩ của tác giả về một sự việc đã thực sự xảy ra và thực sự có những yếu tố hiển nhiên để đánh giá. Sự việc đã xảy ra là sự việc gì? Đối với Hoàng Cầm, một nhân vật trọng yếu của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, sự việc đã xảy ra chẳng thể là gì khác hơn cái gọi là: Cách mạng mùa thu 1945. Mùa thu là mùa của “cách mạng” thì mùa đông là mùa nhân dân bắt đầu thắc mắc về “cách mạng”. Điều này cho chúng ta thấy không phải vô tình mà vấn đề Lá Diêu Bông được đặt ra vào mùa đông. CSVN đã trả lời hoài nghi của nhân dân đối với cách mạng bằng hai biến cố: Cải Cách Ruộng Đất và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1956).

Hoàng Cầm đã tài tình dùng hình ảnh chị và em để nói lên mối liên hệ giữa thế hệ này và các thế hệ sau. Chị là biểu tượng của thế hệ này: thế hệ của những người Việt Nam đã thực sự đau khổ dưới ách Cộng Sản, có kinh nghiệm về Cộng Sản. Em là biểu tượng của các thế hệ sau. Các thế hệ sau bao gồm những người vẫn còn tin tưởng ở một lúc nào đó, tại một nơi nào đó “các em” sẽ tìm được lá Diêu Bông.

Bây giờ chúng ta hãy trở về với nhân vật người chị. Đối với một thiếu nữ: ước mơ tha thiết nhất, ước mơ trang trọng nhất là ước mơ gặp được một người chồng tâm đầu ý hợp. Ước mơ này đồng dạng với ước mơ của nhân dân có được một chánh quyền thực tâm phục vụ tự do dân chủ. Ý niệm về tự do dân chủ đơn giản và rõ ràng như hình ảnh một chiếc lá. Thế nhưng đối với “ngụy quyền kiểu CSVN” thì tự do dân chủ phải là một loại lá không có thật: Lá Diêu Bông. Biết được thực chất phản dân chủ của CSVN, chị nói với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng”.

Chữ “đứa” ở đây rõ ràng là cách xưng hô của chị đối với em. Văn hóa Việt Nam không cho phép vợ gọi chồng bằng “đứa”. Do đó, câu thơ vừa trích dẫn ở trên không thể bị hiểu rằng: đứa nào tìm được lá Diêu Bông, từ nay ta gọi đứa đó là chồng. Vậy thì người chồng mà người chị để ý tìm kiếm là ai? Thưa rằng: như đã trình bày ở trên, người chồng chỉ là hình ảnh biểu tượng cho nhà cầm quyền. Câu nói của người chị nên được hiểu như sau: người nào chứng minh được nhà cầm quyền CSVN thực sự tôn trọng tự do dân chủ (có được lá Diêu Bông), từ nay “ta” gọi nhà cầm quyền đó là chính quyền. Và dĩ nhiên, “ta” chấp nhận làm người dân ngoan ngoãn của chính quyền. Thái độ của “ta” chẳng khác nào thái độ của bà vợ hiền bên cạnh ông chồng mẫu mực.

Ngay sau “Cách mạng mùa thu”, guồng máy tuyên truyền của CSVN làm việc rất tích cực và ồn ào. Mỗi thắc mắc của quần chúng về tự do dân chủ (Lá Diêu Bông) đều được cán bộ Cộng Sản nhanh nhẩu giải đáp. Tuy nhiên:

Hai ngày

Em tìm thấy lá

Chị chau mày

Đâu phải lá Diêu Bông”

Thế rồi với thời gian, thực chất phản dân chủ của CSVN càng ngày càng phơi bày trắng trợn. Và, cũng với thời gian, người dân (người chị là biểu tượng) đành phải bó tay trước bạo lực của “ngụy quyền CSVN”, đành phải miễn cưỡng chấp nhận mối quan hệ “quan chức” và nhân dân. Quan hệ này được ẩn náu dưới quan hệ vợ chồng. Trong tình huống đó, nhóm chữ “tự do, dân chủ” chỉ có ý nghĩa của một mỉa mai:

“Ngày cưới chị,

Em tìm thấy lá

Chị cười

Se chỉ ấm trôn kim”

Điều đau đớn nhất nằm ở sự thể rằng: không riêng gì chị, mà con cháu chị, các thế hệ sau chị vẫn phải sống, phải tiếp tục âm thầm và nhọc nhằn bước trên con đường tuyệt đối không tự do dân chủ:

“Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt,

Chị không nhìn”

“Chị không nhìn” có nghĩa là chị đã hoàn toàn nhìn ra: tất cả những gì mà CSVN gọi là tự-do dân-chủ chỉ là chiêu bài. Thế nhưng thật là xót xa cho các thế hệ đàn em. Họ vẫn miệt mài đi tìm Lá Diêu Bông. Lá Diêu Bông sẽ không bao giờ có. Có chăng chỉ là muôn vạn sinh linh trong Cải Cách Ruộng Đất đang quyện vào “gió quê” để tạo thành lời than vãn bi thiết về một tự-do dân-chủ chỉ có trong mộng tưởng:

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

– Diêu Bông hời…

Ới Diêu-bông…!

Bằng bài thơ Lá Diêu Bông, thi sĩ Hoàng Cầm có chủ ý nói với thế hệ chúng ta và các thế hệ mai hậu: đi tìm tự-do dân-chủ dưới chế độ Cộng Sản, chắc hẳn chúng ta sẽ đi đến kết quả: “Em đi trăm núi, ngàn sông, nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ!” (nhạc và lời Phạm Duy).

PHƯƠNG PHÁP LUẬN của bài thơ LÁ DIÊU BÔNG

Theo lời của tác giả Lý Kiệt Luân, có một lần Hoàng Cầm đã tâm sự với thân hữu: “Cái cuộc đời của tôi, ngẫm nghĩ cái gì cũng thế… nó cứ bị trói gom lại như… như… cái lá Diêu Bông! Nếu có ai bắt nguồn với tôi, dù chỉ là quen biết sơ khai ban đầu thì nó cũng từ cái lá Diêu Bông mà ra… Cho nên phải nói: nó là cái lá Định Mệnh của tôi hơn là gọi nó như là tên của một bài thơ” (Việt Nam News – Xuân Ất Hợi – trang 85).

Lời phát biểu kể trên của thi sĩ Hoàng Cầm chỉ là một kiểu nói khiêm tốn. Trong thực tế, Hoàng Cầm đã ban cho Lá Diêu Bông một sinh mệnh, chứ Lá Diêu Bông không hề tạo được định mệnh cho Hoàng Cầm. Bằng phương pháp nào Hoàng Cầm đã mang sinh mệnh đến với Lá Diêu Bông? Sinh mệnh của thi phẩm chính là sức sống của thi phẩm đó trong lòng người. Nói đến lòng người tức là nói đến sự thuận hợp với Lịch Sử quan. Cách nay hơn bốn thập niên, mặc dù bị chế độ Cộng Sản bưng mắt bịt tai, Hoàng Cầm vẫn nhìn ra Sử Quan con người: lấy tự-do dân-chủ làm hướng tiến của lịch sử. Lá Diêu Bông chuyên chở ba chủ ý:

– Tố cáo chế độ CSVN phản dân chủ, nhân quyền.

– Nói lên nỗi đau khổ của người dân bị “ép duyên” phải sống với chế độ độc tài.

-Trình bày những di hại của chế độ phản dân chủ qua nhiều thế hệ.

Điều quan trọng không là tác giả đã nghĩ gì khi sáng tác ra bài thơ. Mà điều quan trọng chính là những cảm nghĩ của người đọc trải dọc theo chiều dài sinh mệnh của bài thơ. Người nghệ sĩ không thể và không cần tiên liệu mọi phản ứng của người đọc đối với tác phẩm của mình sau một thời gian dài tác phẩm đó đã đi vào dòng đời. Người nghệ sĩ bao giờ cũng sáng tác trên lập luận rằng: bên cạnh tiêu chuẩn về nghệ thuật, phương pháp xây dựng sinh mệnh cho tác phẩm đòi hỏi tác giả phải có khả năng tạo điều kiện cho tác phẩm sống thuận chiều với lịch sử. Nói cách khác, tác giả cần có lịch sử quan thích nghi.

Tóm lại, bản thể của Lá Diêu Bông là ước vọng tự do dân chủ được gói ghém bên trong một câu chuyện thiết tha, trữ tình và duyên dáng. Nhận thức của Lá Diêu Bông là những nhận thức đạt mức quân bình hữu lý giữa hai nhu cầu. Bên này là nhu cầu an toàn của người cầm bút. Bên kia là nhu cầu chuyển gửi một cách trung thực những cảm nghĩ sâu sắc của tác giả đến với người đọc. Phương pháp của Lá Diêu Bông là phương pháp vận dụng lịch sử quan con người, lịch sử quan của tự-do dân-chủ nhân-quyền nhằm gầy dựng sức sống bền bĩ và hấp dẫn cho tác phẩm. Trên cả ba mặt bản thể, nhận thức và phương pháp, Hoàng Cầm quả thực là tác giả tuyệt hảo của Lá Diêu Bông.

Đỗ Thái Nhiên

Nguồn: http://vietluan.com.au/la-dieu-bong/

Nhà văn Dương Hà và Bên Dòng Sông Trẹm. Tuỳ bút Nguyễn Thị Hàm Anh


Nguyễn Thị Hàm Anh

Lời giới thiệu: Nhà văn, nhà báo Dương Hà vừa qua đời vào hôm thứ Hai 20.8.2018 tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi. Tên thật Dương Văn Chánh, sinh ngày 25-2-1934 tại Bạc Liêu và sống ở Sài Gòn. Ông là một nhà báo, nhà văn nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975, từng cộng tác với nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn và là tác giả của gần 60 tác phẩm, trong đó cuốn “Bên Dòng Sông Trẹm” được nhắc đến nhiều nhất. Bài viết dưới đây của tác giả Nguyễn Thị Hàm Anh viết cách đây vài năm và xin đăng lại để tưởng nhớ một trong những nhà văn hóa có tiếng ở Miền Nam trước 1975.

(Việt Luận – The Vietnamese Herald)

(Chân dung nhà văn Dương Hà)

Tôi qua phà Thủ Thiêm. Nhìn sông Saigon rộng lớn vỗ sóng bên mạn phà, tôi liên tưởng đến tên một con sông của cuốn truyện vừa mới xem. Sông Trèm Trẹm ở Cà Mau chia vùng U Minh thành hai miền U Minh Thượng và U Minh Hạ. Dòng sông chảy qua huyện An Minh (Kiên Giang) và Thới Bình (Cà Mau) đã trở thành nổi tiếng khi nó được đặt tựa cho một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Dương Hà: Bên Dòng Sông Trẹm.

Tôi đang trên đường đến thăm nhà văn. Trước kia ông ở đường Cao Thắng- quận 3, nay dọn về Thủ Thiêm- quận 2 ở cùng với một người con gái. Con đi làm suốt ngày. Thủ Thiêm còn vắng vẻ, ít hàng quán, chợ búa nên thỉnh thoảng ông phải vào nội thành mua thức ăn về dự trữ. Một mình trong căn nhà rộng rãi, buồn quá nên ông ra quán nước gần đó. Điểm tâm xong, với ly bia trước mặt, ông thường ngồi đấy luôn từ sáng đến chiều tối mới về. Ngày nào cũng đều đặn, giống nhau như vậy.

Mặc dù bữa rượu hôm trước còn ngầy ngật nhưng ông vẫn nhất định kéo mọi người ra ngoài. Ông cười nói: Ngồi quán mới khí thế…

Nhà văn Dương Hà tên thật Dương Văn Chánh, sinh năm 1934 tại Bạc Liêu, đáng lẽ học ở Cần Thơ, ông bỏ quê lên Saigon sống. Ông là bạn đồng môn với nhà văn Ngọc Linh, Hoàng Hải Thủy, Phượng Hải ở trường Tân Thanh. Lúc bấy giờ Tân Thanh có hai chi nhánh. Một trường nằm trên đường Phạm Hồng Thái do kỹ sư Phan Út làm hiệu trưởng, trường kia nằm ở cư xá Đô Thành do ông Thái Sanh Khương đứng đầu nơi nhà thơ Trần Tuấn Kiệt theo học.

Ở thành phố một thời gian ngắn, ông bắt đầu thử sức vào nghiệp văn rất sớm. Từ năm mới mười mấy tuổi, ông đã gửi truyện ngắn cho báo Tin Điển của Nguyễn Dân.

Sau đó vào năm 1952, ông làm thư ký toà soạn cho tờ Mạch Sống, Nhân Loại. Rồi chuyển qua thử viết phóng sự gửi cho tờ Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc.

Khoảng 53, 54, ông chuyển qua cộng tác với Saigon Mới. Bắt đầu công việc của một phóng viên quèn, ông chạy lui tới bệnh viện, tòa án, cò bót… để lượm lặt đủ loại tin cung cấp cho mục Từ Thành Ra Tỉnh. Tuy nhiên bà Bút Trà rất biết nhìn người, sau này bà không giao cho ông chạy phóng sự nữa mà chỉ chuyên viết tiểu thuyết hàng ngày thôi. Ông rất hợp với cái “e” của bà Bút Trà. Dần dần, giã từ luôn công việc phóng viên chuyên đi lấy tin vặt, nhà văn Dương Hà chỉ chuyên tâm vào lãnh vực tiểu thuyết. Mọi việc trở nên dễ dàng với ông. Khoảng 1955, 57, cùng lúc làm các phụ trang Điện Ảnh, Tân Nhạc, Kịch Trường, Sân Khấu…, ông viết feuilleton đầu tiên cho báo Saigon Mới, sau đó cùng lúc viết cho các tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Thẩm Mỹ…

Truyện hàng ngày hấp dẫn, phù hợp với độc giả phụ nữ của báo. Loại tiểu thuyết này lôi kéo lượng độc giả tăng hẳn lên, nhờ thế báo bán rất chạy. Ông bắt đầu nổi tiếng nhà văn viết feuilleton ăn khách. Cứ vừa đăng hết truyện trên báo là ông cho ra sách ngay. Truyện đã lôi cuốn trên nhật báo nên khi in thành sách tiêu thụ rất nhanh. Những cuốn này về sau đều được tái bản nhiều lần.

Làm phóng viên phải chạy lấy tin nhưng viết tiểu thuyết chỉ cần nằm nhà. Ông thuê phòng ở khách sạn Đại Nam, ngồi viết miệt mài suốt ngày. Đến giờ, thợ sắp chữ các báo đến tận khách sạn lấy bản thảo của ông.

Sau thời kỳ Hồ Biểu Chánh là Lê Minh Hoàng Thái Sơn… Ngọc Sơn rồi đến giai đoạn tung hoành của thể loại tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội feuilleton mà tiêu biểu là nhà văn Dương Hà, Trọng Nguyên, bà Tùng Long, bà Lan Phương…

Với giọng văn rặt Nam bộ, tiểu thuyết của ông rất được ưa thích. Ông lồng những câu chuyện tình yêu muôn đời vào bối cảnh thực tế. Khung cảnh, địa danh trong truyện đều có thật, ai cũng biết. Đó là màu đỏ quạch đặc biệt của nước sông Trèm Trẹm vào mùa mưa, hàng dừa nước ven kênh rạch, chiếc tam bản thương hồ ngược xuôi trên kinh Xã Thoàn, kinh Phó Sinh… Ngoài ra còn cảnh giã gạo, xay lúa, chèo thuyền… là những sinh hoạt ngày thường quen thuộc.

Vì thế khi đọc truyện, độc giả cảm thấy do địa danh có thực, trong bối cảnh với tình tiết thật mà ai nấy từng nghe đến, đi qua, thậm chí ở ngay đó. Những ngang trái, éo le, vì thế trở nên gần gũi, đời thường hơn. Câu truyện hư cấu dường như cũng biến thành chuyện thật xảy ra quanh quất. Tới nỗi ngay cả độc giả cũng có người tin nó từng xảy ra ở địa phương của mình.

Theo như cách viết tiểu thuyết bấy giờ, giống như Hồ Biểu Chánh, Lê văn Trương… nội dung truyện Dương Hà bao giờ cũng là những mối tình trắc trở, trong chiến tranh ác liệt, đạo lý cổ xưa vẫn được giữ gìn. Kẻ ác bị đền tội, người hiền lành nếu không nhận một kết cục có hậu thì đổi lại cũng được sự thông cảm, yêu mến của độc giả do nhân nghĩa luôn được đề cao.

Khi ấy thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết Dương Hà. Lúc đó, ông kết bạn thân với Hoàng Hải Thủy, Thanh Nam, Hoàng Anh Tuấn… Chủ nghĩa hiện sinh chỉ sau này mới xuất hiện với các nhân vật nổi loạn nằm trong một dòng văn học mới mẻ mang tên một loạt các tác giả mới.

Tác phẩm đầu tiên ra đời của ông là tập truyện ngắn có tên Bên Song Cửa. Sau này ông in sách ồ ạt. Tổng số đầu sách có đến năm, sáu chục quyển: Anh Ơi Đừng Yêu Em, Đứa Con Rơi, Em Vẫn Chờ Đợi Anh… Theo thời gian, sách bị mất, thất lạc, bị đốt cháy… nay chỉ còn sót giữ được độ bốn, năm quyển. May mắn trong đó có Bên Dòng Sông Trẹm.

Thật ra, đây không phải là cuốn tiểu thuyết ông thích nhất nhưng lại được độc giả ưa chuộng nhất. Khi nhắc đến tên Dương Hà là phải nhắc đến tác phẩm này. Đến nỗi rất nhiều người biết tiếng cuốn truyện dù chưa từng đọc qua.

Bên Dòng Sông Trẹm kể về mối tình trắc trở nhưng đẹp đẽ, đầy hy sinh cao quý giữa hai nhân vật chính là chàng điền chủ trẻ tuổi Triệu Vỹ và cô thôn nữ Mỹ Lan. Cuốn truyện phổ biến tới nỗi nhiều lần được đưa lên sân khấu kịch và cải lương. Hiện có hãng phim cũng đang muốn chuyển thể kịch bản dựng thành phim sau thành công của một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

Song song với việc viết feuilleton, ông còn ra báo. Đó là các tờ Miền Nam, Sống Mới, Diễn Đàn… nhất là nhật báo Dân và tuần báo Phụ Nữ Đẹp rất ăn khách. Vừa nhà xuất bản, vừa nhà in Đẹp, ông làm không xuể, lại cho ra nhà xuất bản Kim Lệ in sách của Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Nguyên Vũ… Nhà văn bản tính xuề xòa, công việc điều hành báo chí và nhà xuất bản chủ yếu do vợ ông trông nom. Bà quản lý giỏi nên nhà xuất bản phát triển mạnh mẽ. Vì thế ngoài lúc viết lách, ông dành thời gian chỉ rong chơi cùng bạn bè.

Vừa uống ngụm bia, ông lại nhấp ly rượu. Một vại bia và một ly rượu để trước mặt, ông uống xen kẽ tới lúc cả hai cùng cạn. Nhà tận ngoại ô, khó gặp bạn bè. Một bữa điểm tâm ngoài quán, một bữa tối sơ sài ở nhà, ông cứ mỗi ngày một mình đóng đô ngoài quán. Nhìn mông lung ra đằng trước quán, đám rau muống xanh biếc phủ dày mặt ao, ngoài xa xe cộ qua lại thưa thớt, ông than thở bạn già người mất hết, kẻ đi xa chẳng còn ai, độc ẩm mãi thật chán. Khi tôi hỏi còn viết tiểu thuyết nữa không, ông lắc đầu cười xòa:

– Tiểu thuyết gì nữa. Gác bút rồi. Bây giờ chỉ muốn viết hồi ký thôi.

Quả là ngay từ sát năm 75, ông đã bớt viết truyện mà chỉ in lại các tác phẩm cũ. Ông sống quá nhiều, kinh nghiệm, hiểu biết quá dày cho một cuốn hồi ký có thể ra đời. Nhưng rồi ông chỉ vào ly rượu trước mặt, lắc đầu nói ngay:

– Muốn viết lắm nhưng mắc cái này làm sao viết nổi!

Không phải bây giờ mới uống. Từ xưa vốn là người thích la cà, ông có thể ngồi uống với bạn bè cả ngày, cả buổi được. Một cuốn hồi ký chắc chắn rất hấp dẫn nhưng thật khó để thực hiện khi tuổi già đã nhấm nháp nỗi cô đơn vào men rượu.

Chỉ còn cuốn Bên Dòng Sông Trẹm mới tái bản nằm trước mặt ông. Đứa con yêu quý của đời văn sẽ còn lại mãi mãi với đời…

Nguyễn thị Hàm Anh

Nhân Cách Bình Nguyên Lộc. Tùy bút Mai Thảo


Mai Thảo

Nhà văn Bình Nguyên Lộc và Mai Thảo

(Chân dung nhà văn Bình Nguyên Lộc và Mai Thảo)

Thời gian đầu, sau khi cộng sản đã lấy nốt được miền Nam là thời gian còn được để yên, chưa bị kết tội, chưa bị lùng bắt, tôi thường sáng sáng một mình đạp xe đạp qua một Sài Gòn tan nát tới thăm một nhà thơ và một nhà văn, ngưởi trước Bắc, người sau Nam, cả hai đều thuộc thế hệ trước tôi, cả hai đều đã tên tuổi lẫy lừng từ thời tiền chiến.

Những thăm viếng thường xuyên này của tôi, giữa Sài Gòn và trong đổi đời lúc đó được đọc bởi hai điều. Một, hai khuôn mặt lớn ấy của văn học Miền Nam, từ quốc nạn 1975, đã đóng kín địa chỉ, dựng cao lũy hoa, cắt đứt với đời, không ra khỏi nhà, muốn gặp họ tôi phải tìm tới. Hai, giữa cái thể chế chuyên chính đã trùm kín, chưa bao giờ trong đời tôi lại cảm thấy sự cần thiết lớn lao phải giữ chặt lấy một số thân tình bền vững tôi hằng mến yêu và kính trọng. Và hai cái đối tượng của thăm viếng thường xuyên thì với tôi lại là hai niềm mến yêu và kính trọng vô cùng. Nhà thơ miền Bắc tôi vừa nói tới là Vũ Hoàng Chương. Và nhà văn miền Nam, Bình Nguyên Lộc.

Vũ Hoàng Chương thời gian đó ở khá xa, mãi bên vùng Khánh Hội, trong một ngõ hẻm khuất khúc giữa phường Cây Bàng, trên căn Gác Bút lừng tiếng, nơi thi sĩ bị công an cộng sản tới bắt đem giam nhốt vào khám Chí Hòa rồi trở về trong hấp hối lâm chung và lìa đời ở đó. Bình Nguyên Lộc ở gần hơn. Thăm viếng do vậy cũng ngắn đường hơn, trong cuối đáy một con ngõ yên tĩnh một thời Vũ Hoàng Chương đã ở, khu Cô Giang Cô Bắc, đầu ngõ là con đường Huỳnh Quang Tiên, khúc từ con ngõ nhìn ra có những vì tường xám của hãng thuốc lá MIC chạy dài trước mặt.

Tới ngõ, tôi xuống xe dắt bộ đi vào, và ngừng lại trước một căn nhà một tầng cổ cũ, căn nhà này là của gia đình Bình Nguyên Lộc, nhà văn chỉ mới dọn về ở một thời gian từ sau cái chết của người con trai lớn là Bác sĩ Giám Đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, để sống gần với người chị ruột ở căn nhà kế cận.

Mở cánh cổng thấp, dựa xe vào thành tường, bên cạnh hai chậu vạn niên thanh trấn môn xanh ngắt, một màu xanh muôn thuở, tôi gõ nhẹ tay vào thành cửa đóng kín. Nhớ lần nào tôi cũng phải đứng chờ ít phút, nhưng không lần nào phải trở về. Căn nhà yên lặng hoàn toàn. Tiếng gõ cửa ngân vào thật sâu thật xa ở bên trong, rồi là tiếng chân người đi ra. Rồi là cánh cửa hé mở từ từ và cái thân hình nhỏ bé, bộ đồ ngủ lùng thùng và cái mái tóc rẽ giữa duy nhất của văn học miền Nam, cái mái tóc rẽ giữa của Bình Nguyên Lộc.

Bao nhiêu lần như bao nhiêu lần, và cảm giác này càng rõ rệt những buổi sáng tới bạn sau vực thẳm 1975, lần nào nhìn thấy Bình Nguyên Lộc, tao nhã, gầy guộc, trên cái nền mờ tối của căn nhà đóng kín, tôi cũng có được tức khắc, ở trong tôi, như một mầu nhiệm êm đềm, một ấm áp và một yên tâm không thể nào tả được. Ấm áp như cái thế giới tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc, không siêu hình, không gió bão, cái thế giới đã bốn mươi năm văn học ở trong đời sống và làm cho đời sống muôn vàn tươi thắm. Yên tâm như cái văn phong, cái nhân cách Bình Nguyên Lộc, dung dị mà bác học, đơn giản mà trí thức, Bình Nguyên Lộc con người và Bình Nguyên Lộc tác phẩm chính là niềm yên tâm lớn nhất một thời của văn học chúng ta.

Thấy anh, lần nào tôi cũng nói, cảm động thành thực:
– Còn được tới thăm anh.
Lần nào anh cũng cười:
– Còn được gặp anh. Vào đây.

Anh bảo tôi đưa xe vào nhà, kẻo xe mất “hết đường tới thăm bạn”. Đoạn đóng cửa lại, bật ngọn đèn đầu giường và đi về phía sau đun một ấm nước.

Giữa đám sách vở, tài liệu bề bộn, cạnh một chỗ nằm cũng là chỗ ngồi làm việc của ông, trước một khay trà, thật bình dân, không cầu kỳ như khay trà Vũ Hoàng Chương và những điếu thuốc đen ông đốt theo một nhịp điệu đều đặn, tôi thường ở rất lâu với Bình Nguyên Lộc. Tới trưa. Tới sau trưa. Tới cái gạt tàn có ngọn. Tới bình trà nguội tiếp thêm một bình trà. Một vài lần còn tới giữa bữa cơm ông ấy lấy thêm bát đĩa ép tôi cùng ăn, bữa ăn cực kỳ thanh đạm, chỉ một soong cơm và một con cá khô hấp nóng. Phải, nhớ lần nào tôi cũng ở lại thật lâu. Với cái mái tóc rẽ giữa. Với những cử chỉ chậm rãi. Với cặp mắt thông minh sau làn khói. Với những đứng ngồi lên xuống từ tốn. Trong cái thế giới rất riêng tây, cách biệt của Bình Nguyên Lộc, càng riêng tây, càng cách biệt từ cộng sản đã vào tới Sài Gòn.

Những lần tới thăm Bình Nguyên Lộc như vậy, ông thường nói ít lời như một tạ lỗi, nhờ tôi nói lại với anh em, với mọi người. Rằng từ ngày người con trai lớn mất, ông đã chẳng muốn đi đâu. Rằng chứng áp huyết nặng tối kỵ chững di chuyển, những họp mặt. Rằng “họ” đã vào tới rồi, thành phố là của “họ”, đời sống chẳng còn gì đáng thấy, đóng cửa trong nhà thôi.

Lập luận về một thái độ sống thu vào im lặng và ẩn dật, thoạt nghe ở Bình Nguyên Lộc tưởng thật dễ dàng. Sự thật, nó chẳng dễ dàng chút nào, với Bình Nguyên Lộc, với chế độ mới và Bình Nguyên Lộc, suốt thời gian ở đó. Và cái lý do giản dị chỉ là ông chẳng phải là một người viết văn như bất cứ một người viết văn nào mà là nhà văn hàng đầu, nhà văn lớn nhất miền Nam.

Bây giờ, đó là thời gian từ 30 tháng tư 75, tới đầu 76, Trung Ương Đảng Cộng Sản ở Hà Nội, tuy chưa phát động đàn áp và cầm tù văn nghệ sĩ, đã cho thi hành ở Sài Gòn một chính sách lũng đoạn hàng ngũ văn nghệ cực kỳ hiểm độc. Chính sách đó nhằm tạo kỳ thị, gây chia rẽ, giữa những nhà văn miền Bắc vào Nam trong đợt di cư 1954 với những nhà văn sinh trưởng ở Nam Phần. Suốt ba mươi năm văn học, Nam Bắc đã một nhà, Bắc Nam đã bằng hữu. Cộng sản muốn chấm dứt cái tình trạng hòa đồng tốt đẹp đó. Và người chúng đã dành hết mọi nỗ lực khuynh đảo là Bình Nguyên Lộc. Thoạt đầu là đám văn nghệ nằm vùng. Như Sơn Nam, Vũ Hạnh. Kế đó, đến nhóm văn nghệ của Mặt Trận Giải Phóng về thành, tạm thời được nắm giữ những địa vị quan trọng như Trần Bạch Đằng, Giang Nam, Anh Đức, nhiều kẻ đã quen biết Bình Nguyên Lộc từ xưa. Cuối cùng là đám nhà văn, nhà thơ công thần của chế độ và vào từ Hà Nội như Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận. Tất cả, trên từng địa vị khác biệt, đã viết thư, điện thoại ân cần thăm hỏi tác giả Đò Dọc, về sức khỏe, về đời sống của ông, nói thân thế ông mãi an toàn, sinh kế vẫn bảo đảm, sự nghiệp không chôn vùi, ông vẫn nhà văn lớn. Tất cả đã lần lượt đến khu Cô Giang Cô Bắc, tươi cười, nhã nhặn gõ cửa xin gặp người trong ngôi nhà có hai chậu vạn niên thanh. Bình Nguyên Lộc tiếp hết, từ tốn, chững chạc vậy thôi. Duy có một lần, không sao được, ông phải tới dự đại hội văn nghệ thống nhất lần thứ nhất ở Bộ Thông Tin cũ đường Phan Đình Phùng. Kỳ họp này, Vũ Hạnh, Thanh Nghị báo cáo kể công, Sơn Nam đóng trò nhiệt tình khóc lóc, riêng Bình Nguyên Lộc ngồi im lặng từ đầu đến cuối, không chịu phát biểu một lời nào.

Đó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng. Của tiếp xúc Bình Nguyên Lộc với chế độ mới. Cố nhân quen biết tương đối thân thiết nhất với anh là Giang Nam, được Thế Lữ ca ngợi là tiếng thơ cách mạng lớn nhất miền Nam, về Sài Gòn giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng, mặc dù đã viết cho Bình Nguyên Lộc một lá thư thật dài, thật tình cảm, cũng thất bại. Thư mời Bình Nguyên Lộc tới trụ sở Hội. Mời sinh hoạt. Mời hội họp. Mời viết lại. Và Bình Nguyên Lộc đã nhã nhặn viết một lá thư trả lời. Nói ông rất đau yếu. Nói bị chứng áp huyết. Nói chẳng còn làm được gì. Nói chẳng thể đi đâu. Nói xin được yên thân. Cuối cùng rồi mọi ve vuốt, mọi khuynh loát đều chịu thua, đều lùi bước trước sự nhã nhặn khuớc từ, trước cái nhân cách và sự tự trọng chói lọi của Bình Nguyên Lộc. Hò đành để cho Bình Nguyên Lộc được cách biệt, được một mình, được vẫn mãi mãi là Bình Nguyên Lộc trong căn nhà đóng kín.

Nhân cách trí thức độc lập ấy của Bình Nguyên Lộc, thái độ tuyệt vời của người nhà văn miền Nam ở Bình Nguyên Lộc, không một lần nào, ông phô trương mà chúng tôi đều biết, cả miền Nam đều biết và sung sướng vô cùng và quý mến rất mực.

Nhớ Bình Nguyên Lộc ở xa, tin tức quê nhà đã lâu không nhận được, chẳng biết vẫn còn hay đã mất, những lần sau cùng tới khu Cô Giang Cô Bắc, hình ảnh hai chậu vạn niên đại xanh ngắt một màu xanh muôn thuở trước ngôi nhà văn học đóng kín, lại trở về, xanh ngắt trong tôi.

Bình Nguyên Lộc. Cái mái tóc rẽ giữa, hai miền trung dung phân định như tấm lòng người quân tử một đường ngôi đời thẳng tắp. Bình Nguyên Lộc, bộ đồ lụa trắng, rất thông phán tòa sứ, rất trăng nước miền Nam, trên chiếc cyclo đạp chậm đưa ông tới gặp các tòa soạn Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề chúng tôi làm, phần lớn là anh em nhà văn miền Bắc. Không có Nam Bắc với Bình Nguyên Lộc, chỉ có văn chương, chỉ có hợp tác, chỉ có bằng hữu. Tôi làm biếng lắm, ít khi đi đâu, đến chơi tôi nhé. Thân tình, hòa nhã. Cái truyện ngắn này dục tôi viết gấp, thì phải viết gấp, không được tốt lắm, thôi dùng tạm vậy. Nhũn nhặn, bình dị. Một năm trong bốn năm liền cùng ở chung trong Hội Đồng Giám Khảo giải thưởng Văn Chương toàn quốc, ông từ chối nói chứng áp huyết không còn leo nổi những bực thềm cao của Dinh Độc Lập, cặp mắt đã yếu chẳng thể nào đọc hết được những tác phẩm dự thi. Nài mãi mới nhận. Nhưng cười, giao hẹn: “Vậy phải đọc hết giùm tôi, rồi đưa cho tôi đọc mười cuốn khá nhất.” Nghiêm chỉnh. Ngay thẳng. Năm đó, ông không vào Dinh Độc Lập được thật. Những bực thềm cao quá cho tài viết hàng đầu.

Rồi là cái công trình Văn Học cuối đời của Bình Nguyên Lộc. Cuốn Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam đã phác thảo, đã in thành sách, trọn năm năm trời, tìm kiếm, sưu tập, thu thập thêm một kho tàng tài liệu mới, đã hoàn tất thành một biên khảo vĩ đại hơn một ngàn trang. Cộng Sản vào Nam. Thiên biên khảo kỳ công vẫn còn là bản thảo. Một lần tới thăm, tôi hỏi Bình Nguyên Lộc về công trình văn học đó. Và đó cũng là lần thứ nhất tôi thấy Bình Nguyên Lộc buồn phiền và thất vọng. Trèo qua cái giường ngủ, ông lấy từ một giá sách cao xuống một tập bản thảo nặng chĩu, trao nó cho tôi.

Giọng ông trào lộng mà nụ cười thật buồn:
– Nó đây.
Và chỉ tay lên cái giá sách bụi bậm:
– Kia là mồ chôn nó.

Kế đó, ông thuật cho tôi hay về số phận của thiên biên khảo lịch sử, mà nguồn gốc dân tộc Việt, theo sử quan và chứng minh Bình Nguyên Lộc, không từ miền Bắc xuống mà từ biển ngoài vào. Một nhóm những người cao cấp về biên khảo lịch sử của nhà nước Cộng Sản từ Hà Nội vào, được nghe nói về công trình biên khảo này của Bình Nguyên Lộc. Họ tới. Tỏ lòng ngưỡng mộ, rồi xin được mượn tập bản thảo về đọc, nói sẽ có nhận xét, sẽ có thảo luận. Mấy tuần sau, tập bản thảo được gửi trả lại với một lá thư ngắn nói quan điểm lịch sử nói chung và nguồn gốc dân tộc nói riêng của Bình Nguyên Lộc hoàn toàn thoái hóa và sai lầm đối với quan điểm biện chứng duy vật lịch sử cách mạng, khoa học và tiến bộ.

Thuật lại xong, ông lắc đầu, sự thất vọng hiện rõ nhưng giọng nói vẫn từ tốn:
– Thế là gạt bỏ, thế là phủ nhận. Nói là để đối chiếu, để thảo luận, mà không có gì ráo trọi.

Tôi buồn vì cái công trình của mình, nhưng buồn hơn cả là cái sự gạt bỏ của miền Bắc đồi với sách tôi không phải là một thái độ văn học, không hề được đặt trên căn bản văn học. Nói đến văn học, tuyệt đối không thể nói đến một lập luận, một giá trị độc tôn nào. Phải nhiều lập luận khác biệt, phải nhiều khái niệm đối nghịch, một vấn đề văn học, một nghi vấn lịch sử mới được chiếu sáng. Khoa học lịch sử thiết yếu phải có được yếu tính và tinh thần đó. Tôi buồn nhất là ở cái sự không có tranh luận, không có đối thoại ấy mà thôi. Chứ không hoàn toàn vì sách tôi không bao giờ còn hy vọng được in ra.

Tập bản thảo nghìn trang, mồ chôn là cái giá sách bụi bậm. Hai chậu vạn niên thanh xanh ngắt một màu xanh muôn thuở. Trí thức dựng cao lũy hoa. Một nhân cách chói lòa trong tự trọng một đời, đã tám năm im lặng trong ngôi nhà đóng kín. Chẳng bao giờ tôi còn được sàng sáng tới thăm Bình Nguyên Lộc nữa và Vũ Hoàng Chương đã mất. Nhưng ở thật xa và cách thật lâu rồi mà rõ thì vẫn thật rõ. Về Bình Nguyên Lộc, nhà văn miền Nam hàng đầu của văn học ta rõ bởi cái ánh sáng ấy, cái ánh sáng của một nhân cách rực rỡ, tôi đã nhìn thấy không ngừng, sau đổi đời và giữa cộng sản, sáng sáng đạp xe qua một Sài Gòn đổi chủ ngừng xe lại trước nhà có hai chậu vạn niên thanh.

Mai Thảo

Trong Hội Hoạ – Đinh Cường Là Thi Sĩ Của Hoài Niệm. Trịnh Công Sơn


Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn - Đinh Cường

(Chân dung Trịnh Công Sơn và Đinh Cường)

Đầu những năm 60, bóng dáng của Modigliani và của những bậc thầy các trường phái hội họa mới thấp thoáng đi về dưới những bức tường cổ rêu phong của Đại Nội. Ở đó có trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế và ở đó cũng có Đinh Cường.

Rất nhiều mùa màng đã đi qua những căn phòng trọ luôn dời đổi. Trong những căn phòng đó đã có một thời, thi ca và âm nhạc đã sống cùng với hội họa, và đã cùng hít thở đến quen thuộc cái bầu không khí hăng hắc mùi sơn dầu còn tươi từ những tấm toile (bố vẽ) mới phác thảo, đang tìm tòi.

Đó là cái thời của những tuổi hai mươi tìm gặp nhau trong một mối đồng cảm về nghệ thuật. Cái tuổi của lãng mạn, trữ tình và đầy chất hào hoa phong nhã.

Tôi đã gặp Đinh Cường vào thời điểm ấy. Trong những đêm mùa đông, băng qua khu vườn rộng ẩm ướt mưa ở Bao Vinh, trước khi gặp Cường bao giờ tôi cũng phải “diện kiến” với một con mắt đỏ lập lòe của ngọn đèn dầu trên am thờ. Đó chính là cái point riche (điểm tráng lệ) của đêm đen mà về sau này tôi vẫn thường bắt gặp trên tranh của Cường.

Với cái nền lãng mạn đầy tính chất thi ca, Đinh Cường đã say sưa “vọc” sơn dầu và nhồi nặn tâm hồn mình vào trong ấy. Thời gian ấy, tôi rất hiếm thấy những họa sĩ trẻ sử dụng sơn dầu nhuần nhuyễn như Đinh Cường. Và đó cũng là giai đoạn của những “khỏa thân xanh” (nu blue), “khỏa thân hồng” (nu rose) phảng phất đường nét của Modigliani, một trong những bậc thầy về chân dung mà anh rất ngưỡng mộ và yêu mến.

Sức làm việc của Đinh Cường trong những năm ấy đã gây cảm hứng rất nhiều cho bạn bè làm văn nghệ ở quanh anh. Tuy đang ở trong những năm đầu của nghề nghiệp nhưng anh đã biết tạo cho mình một vòm khí hậu riêng biệt. Đó là cái khí hậu đầy lôi cuốn mà người ta thường tìm thấy trong thế giới của những nghệ sĩ đã trưởng thành trong tác phẩm cũng như trong lối sống. Ở đó người ta chỉ bắt gặp sự sáng tạo, nỗi đam mê không bờ bến và những giấc mơ kỳ diệu.

Được sự cộng sinh của những trào lưu mới mẻ của văn học nghệ thuật thế giới lúc bấy giờ, Đinh Cường đã buông thả đôi cánh phóng khoáng của tâm hồn mình để có dịp mang thế giới màu sắc về những biên giới sáng tạo không hình thể. Theo thời gian, cùng với nỗi đắm đuối khôn cùng đối với chất liệu sơn dầu, anh đã biến những linh cảm của thế giới tinh thần trước đời sống và thiên nhiên thành những khối màu nói bằng thứ ngôn ngữ thầm lặng. Những khuôn mặt thiếu nữ, hoa, lá, núi, đồi… có lúc đã nhòe đi và hòa lẫn, tan biến vào nhau, để trở thành cái tinh khiết, cái thuần chất nhất, đó là cảm xúc, là sự rung động đã được lọc sạch trước thế giới bên ngoài.

Đinh Cường là con người sống để vẽ và đi. Đi với Đinh Cường đồng nghĩa với hạnh phúc. Một thời tuổi trẻ chúng tôi đã cùng đi và đã sống những mảng đời đầy thơ mộng. Đi và sống giữa cuộc đời mênh mông như những nhà thám hiểm cô đơn mà kẻ dìu dắt cũng chính là bản thân mình. Có khi về giữa một thị trấn, có khi ở trong lòng một thành phố nhỏ và cũng đã có nhiều tháng ngày về ẩn dật trong một căn nhà sàn nằm trơ trọi giữa rừng núi vùng Kađô.

Cái vốn liếng một đời người có được cũng từ những chuyến đi đó – Đi, để tạo một khoảng cách cần thiết đối với cuộc sống quen thuộc của mình, để ngẫm nghĩ về nó. Đó cũng là khoảng cách, bước lùi cần thiết cho một họa sĩ để có một cái nhìn quán xuyến hơn trước bức tranh mình đang vẽ. Đinh Cường vẽ tranh như người ta thở. Nhưng để đạt được sự dễ dàng đó không phải ai cũng làm được. Trong Đinh Cường, có sự phóng khoáng bềnh bồng của một người nghệ sĩ nhưng đồng thời cũng có sự cần mẫn, tinh tế của một người thợ.

Blues xanh

(Blues Xanh – Đinh Cường)

c491e1bb91m-le1bbada-mie1bb81n-c491e1bb93i-nc3bai

(Đốm Lửa Miền Đồi Núi – Đinh Cường)

Qua một phần tư thế kỷ, Đinh Cường đã mang đến cho những người yêu hội họa, qua những phòng tranh trong nước cũng như ở nước ngoài, hoặc trên sách báo, gần cả ngàn bức tranh lớn, nhỏ, và minh họa. Nhớ lại những phòng tranh cũ và được xem những bức tranh mới, tôi chợt nhận thấy rằng trong Đinh Cường luôn luôn có một sự trở về. Anh không có cái logic của người luyện kim từ một mẩu sắt thô biến thành một thanh kiếm đẹp. Anh như mang trong mình một nỗi nhớ không nguôi đối với kỷ niệm. Trong tranh của Đinh Cường không có bóng dáng của cái gọi là sự trở thành (le devenir). Anh có vẻ như đang còn mải đi tìm cái tuyệt đối trong sự tương đối được lặp đi lặp lại mãi của một đời người. Tìm đến thế giới tranh của Đinh Cường là tìm đến với sự yên tĩnh đẫm chất thơ mộng. Dưới nét bút của anh, không có hình bóng của sự bạo hành hoặc sự nồng nhiệt đầy cuồng nộ của những tâm hồn phương Tây. Cái màu xanh lạnh được chuyển qua nhiều sắc độ khác nhau cùng màu hồng nồng nàn trong những bức tranh xưa vẫn còn tìm thấy lại trên những tấm tranh mới. Rõ ràng Đinh Cường không muốn tìm kiếm hoặc chạy theo những trường phái mới nữa. Anh đang dừng lại trong những biên giới của chính mình để tìm kiếm qua hình thể, sắc màu, cái vẻ đẹp lung linh của một giấc mơ không nắm bắt được.

Nhìn những bức tranh mới đây, với khung cảnh quen thuộc của núi rừng Đà Lạt, Lâm Đồng, tôi như vẫn còn nghe thấy được chút nắng vàng rơi dưới thung lũng, đốm lửa bập bùng trên những đường đèo và cả tiếng lục lạc trên cổ con ngựa trắng kéo khoang xe chở Đinh Cường một mình từ quận Đơn Dương trở về căn nhà sàn gỗ ở Kađô trên tay cầm nải chuối và chai xăng để rửa cọ.

Đà Lạt, Huế cùng những màu đất đá rêu phong là nỗi ám ảnh và cũng là nỗi nhớ triền miên của Đinh Cường.

Trong hội họa, tôi gọi Đinh Cường là thi sĩ của hoài niệm.

Trịnh Công Sơn
(Tạp chí Sông Hương)

 

Dấu Tình Nhân Còn Trên Lưng Nguyệt. Tùy bút Trần Sương Lam.


Tuỳ bút Trần Sương Lam.

Lưng Nguyệt

Trăng là nguồn đề tài vô tận của bao thi sĩ. Với Nguyệt Cầm, Xuân Diệu đã đưa trăng thành tiếng đàn, ánh nhạc:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần,
(Xuân Diệu)

Với Hàn mặc Tử, ông mơ, say, ôm trăng mà ngủ:

Ta không nhấp rượu
Mà lòng ta say
Vì lòng nao nức muốn
Ghì lấy đám mây bay
Té ra ta vốn làm thi sĩ
Khát khao trăng gió mà không hay
(Hàn Mặc Tử)

Với riêng tôi, trăng là nguồn sáng vô tận, soi tỏ những đêm trời tối để hồn dật dờ giữa những nhớ quên, những nỗi đau, những hạnh phúc thoáng qua rồi lịm tắt. Trong ánh trăng vĩnh hằng của tạo hóa, tôi tìm thấy màu trăng thanh, màu tình yêu của thơ Hư Vô trong “Lưng nguyệt”:

Lưng Nguyệt

Nửa đêm pha rượu vào nhan sắc
Vườn khuya đã động khúc nguyệt cầm
Mùa thu như thoáng chiêm bao tới
Theo bước em qua lối thăng trầm.
 
Hơi người còn ấm quanh chăn gối
Tôi ôm cái bóng lạnh chỗ nằm
Trở mình hồn vướng ngang sợi tóc
Em đi, bỏ lại cả trăm năm.
 
Thì tôi cũng có đêm cùng tận
Để giấu buồn riêng nỗi nhớ người.
Tay lùa bóng tối vào lưng nguyệt
Lấp cho đầy vực khuyết tim tôi.
 
Em về soi lại dung nhan cũ
Thấy có còn tôi giữa muôn trùng?
Từ đêm rượu ướt đôi môi đỏ
Nhỏ xuống hư vô dấu nguyệt trần…
 
Hư Vô

Vừa đặt bút vào khổ thơ đầu, Hư Vô đã viết:

Nửa đêm pha rượu vào nhan sắc.
Vườn khuya đã động khúc nguyệt cầm
(Hư Vô)

Tác giả đã pha lẫn giữa thực và mộng. Quấn quýt, bâng khuâng, thấp thoáng, lay động, bàng hoàng, thảng thốt, như ngây, như say.

Đêm của bóng tối, của hồn mộng vốn đã ngập hương say, thi sĩ lại pha rượu vào nhan sắc. Rượu nhỏ xuống vầng trăng để say, để đắm, mà nhan sắc cũng dễ làm say đắm lòng người còn hơn cả rượu. Khổ thơ là sự cộng hưởng của cái đẹp nhan sắc, của men nồng rượu, của âm thanh tiếng nhạc. Không gian là sự mênh mông của thanh, hương, sắc. Cái đẹp đã lên ngôi lại bao trong đêm của đêm. Hoàn mỹ và toàn bích. Ta say đắm, lãng tử say đắm, ngất ngây. Câu thơ nghiêng ngả theo bước chân thi nhân. Cái đẹp tỏa hương từ bóng tối, huyền ảo, mộng, thực và hồn say. Thời gian đã ngủ, vườn khuya bỗng vang lên tiếng nhạc. Cõi đêm trở nên hoang dã lạ lùng. Cả không gian lung linh, dịu dặt với trăng thu với khúc nguyệt cầm. Bài thơ đẹp như nhan sắc, như khuôn mặt giai nhân. Ngôn ngữ đã thăng hoa trong thế giới ngọc ngà, long lanh, diễm ảo. Và kết lại hình tượng tuyệt mỹ của khổ thơ đọng mãi trong tâm trí tôi chính là khúc nguyệt cầm. Rượu giao bôi, đối ẩm của tình nhân mềm môi say, rượu thơm đánh thức nàng trăng dậy, trong bóng đêm kỳ diệu đang dạo khúc nguyệt cầm. Câu thơ cũng chấp cánh theo nỗi mơ màng, mênh mang, ẩn hiện đến bàng hoàng.

Khúc Nguyệt Cầm của Hư Vô gợi tôi nhớ đến bài thơ Nguyệt Cầm nổi tiếng của thi sĩ Xuân Diệu. Nguyệt Cầm của Xuân Diệu là sự giao duyên giữa trăng và nhạc tạo ra lối thơ tượng trưng đặc sắc.
 
“Bước vào Nguyệt Cầm là bước vào một thế giới linh lung. Nguyệt Cầm không bờ không bến. Tất cả đều diễm ảo, hư huyền, chơi vơi, vô định. Không còn cõi này, không còn cõi khác, không còn hiện tại, không còn quá khứ, không còn hữu thể, không còn vô thể”…(Chu Văn Sơn).

Khúc Nguyệt Cầm của Hư Vô, theo tôi, có lẽ là khúc đàn của tâm cảm, khúc đàn trăng vang lên đánh thức không gian khiến mọi sự vật bừng giấc. Bước đi của trăng dịu dàng, mơn man như tiếng đàn huyền hoặc dạo khúc mùa thu để nhân vật trữ tình giữa khung cảnh đêm thu xuất hiện thật lãng mạn, ngọt ngào, mê đắm trong ánh sáng, trong hương thơm, trong âm nhạc, trong trạng thái phiêu diêu. Phải chăng vì thế mà nhan sắc em trở thành hư ảo, mơ màng như giấc chiêm bao:

Mùa thu như thoáng chiêm bao tới
Theo bước em qua lối thăng trầm.
(Hư Vô)

Mùa thu là mùa được bao thi sĩ thi vị hóa. Sài gòn không có mùa thu chỉ có hai mùa mưa nắng nhưng tôi vẫn thích mùa thu vì lúc này tiết trời khá mát mẻ, nắng bớt gay gắt. Có lẽ vì thế, mùa thu đã thành mùa thương, mùa nhớ cho biết bao người, trở thành giấc mơ đẹp, thoáng chiêm bao mơ màng. Nhưng mùa thu của Hư Vô thì ngược lại, đã mon men theo em bước vào cõi nhân gian với những thăng trầm bàng bạc!

Khổ thơ là sự phối hợp trác tuyệt giữa ảo và thực, giữa đời và cõi vô biên. Vần bằng ôm hai câu chẵn tạo một cảm giác thâm trầm, thêm chất lạnh vào khổ thơ. Nhưng dù là cõi nào đi chăng nữa, cảm nhận của tôi khi bước vào vẫn là cảm giác lạnh. Lạnh, rất lạnh. Trăng lạnh, đàn lạnh, mùa thu lạnh. Có chăng một chút ấm áp tỏa ra từ chất men của rượu, của nhan sắc tạo cảm giác lâng lâng, say say nhưng không thực mà là mộng vì thi sĩ đã chìm đắm vào “thoáng chiêm bao” để dìu em qua “lối thăng trầm”. Chất đời bắt đầu lấn át chất mộng và trong thế giới ấy, có em và tôi:

Hơi người còn ấm quanh chăn gối
Tôi ôm cái bóng lạnh chỗ nằm
(Hư Vô)

Khuya lạnh, trăng lạnh, vườn lạnh, rượu ấm, tình nồng. Sự nối kết giữa hai sắc thái đối lập ở khổ thơ đầu dường như báo trước sự hiện diện của cái lạnh, chiếm lĩnh hết không gian và cả thời gian. Cái lạnh như mùa thu lãng đãng rơi xuống “chỗ tôi nằm” mà nghe hơi ấm còn quanh chăn gối, một trạng thái bềnh bồng, mơ hồ tựa bóng em đang lăn lóc giữa chiêm bao. Câu thơ dạt dào nỗi khắc khoải, như một vết cắt sâu không lành, để thi nhân còn mãi hoài trăn trở, lao đao!
 
Trở mình hồn vướng ngang sợi tóc
Em đi, bỏ lại cả trăm năm.
(Hư Vô)

“em đi bỏ lại cả trăm năm”, thì quả thật cái mong manh của thời giam đã làm da diết cả khổ thơ, còn nghe long đong một phận người. Nhân vật trữ tình đang giam mình trong không gian giá buốt ấy với nỗi sầu chất ngất. Tôi ôm cái bóng và sự “trở mình” là một sự vùng thoát khỏi ám ảnh của nỗi cô đơn, nhưng quá khứ không buông, hay chính giai nhân đã cố tình bỏ lại chút hương thừa để nhân vật tôi “vướng hồn ngang sợi tóc”. Một loạt nét vẽ gợi hình tạo nên cảm xúc của sự bất an, muốn chối bỏ thực tại nhưng hình như chỉ là sự cố gắng không kết quả. Sợi tóc đã níu thi nhân lại với khối tình, với bóng hình quá khứ để khúc nguyệt cầm vẫn vang vọng vào đêm với mảnh trăng sầu lê thê, bất tận trong bóng tối của hồn người, dáng nguyệt!

Không gian biến đổi từ “vườn khuya” mênh mông đến “chỗ nằm” thật hẹp. Hẹp nhưng không có nghĩa là ấm áp hơn mà ngược lại vì cái lạnh đã định hình, đã lạnh từ hơi người còn ấm, lạnh đến chiếc bóng lẻ loi, chữ nghĩa biến hóa đến tinh vi, thời gian dường như không theo kịp. Câu chữ làm ta hụt hẫng, lao đao mà giọng điệu lại ngất ngây, lừ đừ, chầm chậm, mang mang. Khổ thơ thể hiện đầy đủ ý niệm về cõi vô thường khiến người đọc suy ngẫm thoáng giật mình và riêng tôi nhận thức được hình như cả đời tôi (chắc cũng không ít người) luôn sống trong vọng tưởng. Bây giờ có lẽ tôi mới hiểu một câu thơ của Xuân Diệu:

Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
(Giục Giã, Xuân Diệu)

Tình là vô thường nên đến rồi đi nào ai biết vì không thể chiếm lĩnh nó nên khi mất với bao người là nỗi đau không tuổi. Và với nhân vật trữ tình, điều này có lẽ đúng bởi vì chính tình yêu đã là muôn đời không có tuổi!

Hư Vô có cách diễn đạt niềm nhớ, nỗi đau nhẹ mà thấm, mà sâu. Đẹp nhất của người con gái, theo tôi chính là mái tóc. Mái tóc là biểu tượng cho tuổi, cho tình, cho những ấp yêu, mong nhớ… Thi nhân lại chọn sợi tóc ngay chỗ nằm vừa tạo được hương, vừa tạo được hình, cái nhớ như vậy đã đủ đầy, trách sao mà cả đời không thương, không nhớ! Sợi tóc phải chăng vì thế tạo hình sắc, tạo thần thái cho khổ thơ để tôi cảm nhận tình yêu đã mất nhưng mùi hương, sợi nhớ vẫn còn vẫn mênh mang giữa đất trời. Sợi tóc hay sợi nhớ, sợi thương như một ám ảnh của khúc nguyệt cầm tiếp tục vang lên trong cõi nhớ: “Em đi, bỏ lại cả trăm năm”.
 
Câu thơ bảy chữ, có đến bốn thanh bằng nhưng không nhẹ nhàng, thanh thản mà buốt đau. “Đi, bỏ lại” câu chữ diễn tả một sự rời bỏ nhưng còn lại, còn lại nỗi ngậm ngùi, trơ trống “cả trăm năm”, trăm năm với con người là dài, dài lắm vậy mà em đã bỏ đi không tiếng hò hẹn, chẳng lời hứa tương phùng, thì quả thật là quá tê tái và đau thương. Câu thơ ngân dài nỗi tuyệt vọng, u uẩn và đó cũng là âm thanh từ cùng tận vang lên khúc tình tan. Tiếng nức nở của nguyệt cầm trong trăng càng tê tái lạnh, kiếp người cô đơn trong nỗi đau của tình tuyệt vọng tạo một ám ảnh, day dứt khôn nguôi. Khổ thơ làm tôi nhớ đến bài thơ của Du Tử Lê:

“ôi nhỏ có buồn như ta không
tuổi thơ nhang khói đã hoang tàn
hồn ta như miếu cô quạnh lắm
xa người như xa cả quê hương !”
(Như Xa Niềm Yên Vui, Du Tử Lê)

Hình như trong thi ca khi tình yêu bay đi, nỗi đau là chất ngất nhưng mỗi người có cách thể hiện khác nhau nhưng theo tôi, họ cũng đã từng sống trong khoảnh khắc của nỗi ngậm ngùi, của những đớn đau đến dật dờ thân xác và có lẽ vết thương lòng vẫn mãi hằn theo năm tháng để trở thành những giọt lệ trong thi ca. Tôi yêu kỷ niệm của thi sĩ chỉ là một sợi tóc mong manh, nhỏ nhoi (cái cuối cùng còn lại của thời yêu chỉ còn có thế) nhưng cái ám ảnh của sợi tóc cực lớn, nó vắt ngang cả trăm năm của đường tình chông chênh, lận đận.

Tôi đã từng có bao đêm không ngủ để mở nỗi buồn riêng, để rồi những dòng lệ cứ tuôn chảy trong nỗi nhớ khôn nguôi để rồi sau đó là lời tự vấn: vì sao cứ nhớ mãi? để buồn mãi, để nụ cười bỏ quên mình từ rất lâu nhưng tôi biết hỏi chỉ là hỏi vì trong lòng tôi câu trả lời mãi hiện diện: nỗi nhớ bây giờ chỉ còn nỗi ngậm ngùi của sự chia ly. Hư Vô cũng có những đêm thức với những trăn trở của riêng mình:

Thì tôi cũng có đêm cùng tận
Để giấu buồn riêng nỗi nhớ người.
(Hư Vô)

Đêm cùng tận là đêm cuối cùng kết thúc một năm hay đêm cùng tận của đời người hay đêm sau cuối của kiếp tình hiểu sao thì cũng cùng một ý nghĩa: Nỗi nhớ không bao giờ mất đi chỉ khác là nó không còn được phô bày mà đã trở thành nỗi buồn riêng của nhân vật tôi. Đã là riêng thì không thể chia sẻ vì thế mà câu thơ dậy lên một nỗi thê thiết, khắc khoải : kiếp tình bao giờ cho quên, khối u tình bao giờ cho tan, không gian ngoại cảnh, khoảng trống nội tâm giờ là vực sâu thăm thẳm sao lấp cho đầy, sao sầu cho vơi, cho nhạt… Bóng tối lại bủa vây, trăng không còn rõ mặt chỉ là khoảng không, là chỗ bắt đầu cho một chuyến khởi hành vào cõi đêm vô tận. “Em đi, mang theo nửa vầng trăng trên lưng như một dấu tích mà tình yêu đã hoài thai từ tiền kiếp, hoá thân vào áng mây cao vút của sự nuối tiếc ngút ngàn, để rồi bàng hoàng chìm xuống đáy biển đêm lạnh ngắt, mà nghe ngọn sóng còn giẫy giụa trong lòng. Thì vầng ấy có còn chăng cũng chỉ là một kỷ vật mà cả đời em mang theo như một dấu tích tình nhân còn in trên lưng nguyệt”. (Trích lời mở đầu của tập thơ Lưng Nguyệt – Hư Vô – Nhà xuất bản Ilu 2015).

Mà nguyệt là hồn của trăng, là nhan sắc của mùa thu, là men của rượu, là trái tim của người tình mà thi nhân không bao giờ muốn đánh mất:

Tay lùa bóng tối vào lưng nguyệt
Lấp cho đầy vực khuyết tim tôi.
(Hư Vô)

Nhưng trăng tàn, nguyệt khuyết, tình tan, trái tim hư hao, thì bóng tối nào lấp cho đầy vực khuyết trong tim… Có lùa bóng tối để tạo nhịp thơ nhanh hơn, cũng chỉ là một nỗ lực, một sự đào thoát quá khứ trái ngang, để mong con tim được lấp đầy hạnh phúc. Nhưng càng muốn lấp đầy thì nỗi sầu mỗi lúc như thể lớn thêm, tan tành thành một vực thẳm không chân!

Khúc nguyệt cầm có còn ngân vang chắc gì đã động thức nổi một vầng trăng để soi bóng thi nhân bước đi trong cõi tình mù mịt, ta đang lang thang trong ngả đời muôn nẻo có giống chăng là cùng trong cuộc tỉnh say. Tỉnh để quên và say để nhớ, chất men đời, men tình theo chén rượu lại đưa ta về, đưa thi sĩ về lối thăng trầm. Trong hư ảo của tiếng nguyệt cầm ma mị, trong men rượu ân tình kia, em hiện về lộng lẫy giữa thinh không đã tạo nên khổ thơ cuối đa sắc màu:

Em về soi lại dung nhan cũ
Thấy có còn tôi giữa muôn trùng?
Từ đêm rượu ướt đôi môi đỏ
Nhỏ xuống hư vô dấu nguyệt trần…
(Hư Vô)

Khổ thơ điểm một chút diện mạo của Đường Thi làm chân dung em bỗng mê hoặc, yểu điệu, liêu trai: “Em về soi lại dung nhan cũ” đã óng lên một dấu nguyệt trần lồng lộng, màu sắc cho khổ thơ thêm rực rỡ, chói lòa. Nhan sắc em vì thế càng kiêu sa, kỳ ảo lạ lùng! Trong không gian của men, của hương, của ánh sáng, âm nhạc (khúc nguyệt cầm) tôi và em là sự đối nghịch: có- không (em dung nhan/ -tôi- muôn trùng, hư vô). Ranh giới đã phân định rõ ràng. Em thuộc về ánh sáng, tôi thuộc về bóng tối, hư vô. Hai thế giới, hai con đường thẳng song song chỉ có thể được gặp nhau ở cõi vô cùng! Dường như cả khổ thơ không vần nhưng vẫn tạo ra hiệu quả nghệ thuật bởi cách viết tương phản, cách dùng một loạt từ Hán Việt làm ý thơ trang trọng, tao nhã, cổ kính, phảng phất nỗi buồn da diết vốn có của Đường Thi.

Sau những thăng trầm của đời sống, chàng lãng tử chỉ mơ một lần em quay về dĩ vãng. Trong hoài niệm ấy em có thấy tôi, có nhớ tôi?

Thấy có còn tôi giữa muôn trùng?
(Hư Vô)

Dấu chấm hỏi cũng lạc lõng như nhân vật trữ tình ngóng đợi câu trả lời “Thấy có còn tôi” Tại sao thi sĩ lại đặt mình lọt thỏm vào “giữa muôn trùng?” với một sự hoài nghi: em có còn thấy tôi. Hỏi nhưng chính lại là câu trả lời: vì tôi đã là muôn trùng, là Hư Vô (là không, dưới cả không, là không gì hết.) Thi sĩ đã cho mình lìa xa em, một sự lìa xa trọn vẹn. Nỗi đau đã hóa thân tôi. Em đi là hết rồi, không còn gì nữa rồi. Tôi lại cảm nhận âm thanh của khúc nguyệt cầm vẫn réo rắt không thôi, khúc đàn cất lên giữa muôn trùng, vọng từ cõi hư vô bàng bạc nỗi nhớ để gọi trăng về. Ảo khúc cất lên, hình sắc vụt quay lại:

Từ đêm rượu ướt đôi môi đỏ
Nhỏ xuống hư vô dấu nguyệt trần…
(Hư Vô)

Rượu lại rót, môi lại ướt. Màu đỏ của rượu, của môi non đã rực rỡ bức tranh tình yêu. Tố nữ vẫn nguyên vẹn dung nhan ngày cũ. Nhưng khác xưa. Rượu để say và cạn chén để quên em, quên tình xưa nhưng càng cố quên thì càng cháy bỏng những khát khao. Tôi cho rằng thi nhân đang quằn quại khát khao tình xưa, người xưa và mơ dấu môi yêu nhỏ giọt tình xuống cõi hư vô để ghi lại “dấu tích trần ai” của một thời tình đã cũ. Tình yêu lại tượng hình, lại lên ngôi, màu yêu lại dậy thức trong khúc nhạc trăng huyền diệu. Cõi yêu được thi sĩ chắp đôi cánh bay về nơi- một tôi- một rượu- một khúc trăng sầu. Dòng chảy của âm thanh bát ngát, thênh thang lối tình giữa tiếng nguyệt cầm còn lênh đênh, lận đận. Không gian trở thành đêm, hương xưa tan thành rượu, sắc màu của đôi môi đã đẳm ướt trên lưng nguyệt cũng bàng hoàng theo tiếng thét gào từ lồng ngực thật lạc lõng, mênh mông, mơ hồ trong cõi mộng, cõi nhớ của thi nhân làm ta tiếc nuối và hụt hẫng (cái đẹp luôn chóng phai tàn). Còn lại chăng chỉ là cái ảo thức giữa trăng và nguyệt. Nguyệt của hồn và Trăng của nhan sắc chơi vơi, huyền diệu để làm cho khúc đàn trăng thêm mơ màng, sương khói.

Thiên nhiên vô hạn nhưng hữu tình, con người hữu hạn nhưng lại vô tình, em đi không trở lại, em đi mang theo cả hồn tôi. Từ giã em, tôi chỉ còn là hư vô, chỉ tôi và tôi giữa muôn trùng. Từ đêm in dấu những cơn say long lanh như giọt rượu, mềm môi vẫn đắng cay, vẫn nhói lòng trong nỗi đau quá khứ. Nỗi đau đã định hình, để từng đêm vẫn nhỏ xuống tôi lận đận dấu tình sầu… Khi yêu, tiếng đàn thăng hoa thành khúc nguyệt cầm, khi tình yêu đã khắc ghi trên lưng nguyệt là khi vầng trăng cô độc đã in đậm lên cõi nhân gian một “dấu nguyệt trần” . Giữa cái không và có, Thi sĩ chiếm lĩnh cả không gian, cả khổ thơ để mọi hình sắc đều bị xóa nhòa để chỉ tồn tại duy nhất “hư vô”. Hư vô là kết thúc cuộc đời nhân vật trữ tình tôi, kết thúc một chuyện tình, kết thúc thi phẩm. Lấy cái giới hạn vô biên làm kết thúc, thi sĩ cho ta cảm nhận Lưng Nguyệt là bóng dáng của những ám ảnh về nỗi đau của kiếp tình, kiếp người với những được mất có gì vui?

Bài thơ đã kết thúc nhưng tôi còn chơi vơi, tôi đang nương theo trăng về lại cõi đời tìm chút ấm áp của hương tình yêu một thuở để cảm nhận ra một điều là yêu thật không dễ nhưng đã yêu mà phải quên thì quả thật là khổ đau. Tình là sợi dây oan nghiệt nhưng ta vẫn thích trói mình vào nên mãi mãi nỗi đau của tình yêu không bao giờ yên nghỉ. Hư Vô đã gửi đến người đọc một nỗi đau diễm tuyệt, cho người yêu thơ đi qua thi phẩm vẫn nhớ mãi sợi tóc vướng ngang lưng nguyệt, mà cả đời không có lối để bước ra..
 
Trần Sương Lam
August, 2018

C0AAE498-2D89-47C5-A00C-F251B2098D84.jpeg

Bến Bờ Hư Vô. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

70939577_1125303161013832_3449480405139324928_o

Bến Bờ

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!

Lời tình còn đọng trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…

(Hư Vô)

0265f89b-b8ce-418b-a10e-0e3e3d3b30a9

Một buổi trưa không biết ở thời nào
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
(Đi Giữa Đường Thơm – Huy Cận)

Có lẽ như nhà thơ Huy Cận đã viết: “Ca dao luôn sống mãi trong bao tâm hồn Việt. Nó chính là dòng sữa ngọt ngào nuôi lớn đời ta“. Đối với người xa quê, ca dao dường như đã trở thành quê hương, thành xương thịt,  là dòng tâm  tưởng tràn trề, lai láng. Nó gợi nhớ tình quê, gợi những kỷ niệm một thời xa vắng. Chọn thể thơ lục bát của ca dao, Hư Vô đã làm ta sống lại những cảm xúc đã dồn nén bao lâu bỗng tuôn trào, lai láng. Đọc Bến Bờ của thi sĩ ta không chỉ  cảm nhận đang về lại quê hương với dòng sông, con đò, bến đợi và bên tai vẫn cứ văng vẳng những làm điệu dân ca, ca dao về những tình yêu không trọn vẹn mà chính là ta đang sống trong một thế  giới của âm nhạc, của cảm xúc, suy tưởng.

Con đò, dòng sông là mô típ thường thấy trong ca dao. Ca dao thường mượn hình ảnh con đò, bến nước, cây đa để thể hiện tình yêu thủy chung hay ly biệt, nhớ  thương:

– Con đò với gốc cây đa
Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò.

– Cây đa bậc cũ lỡ rồi
Đò đưa bến khác bạn ngồi chờ ai.

– Gọi đò chẳng thấy đò sang
Phải chăng bến cũ phụ phàng khách xưa.

“Thuyền đi để bến đợi chờ,
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau,
Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền”

Chọn một hình ảnh thường xuất hiện trong đời sống, trong ca dao, nhà thơ dễ dàng truyền đến người đọc sự đồng cảm ngay từ phút giây đầu.

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!
(Hư Vô)

Đoạn thơ xuất hiện hình ảnh dòng sông, bến đợi, con  đò và khách sang sông. Nhưng tất cả đều thể hiện sự trễ muộn. Đò đã sang sông, em ngược dòng nhân gian. Câu chữ không theo quy luật, hình ảnh cũng ngược chiều. Tất cả đều oái oăm, ngang trái. Tình tan, mộng dở dang. Lời gọi đò, gọi em, gọi nhau chỉ còn là những âm thanh buồn bã, tắt lịm. Dòng sông vẫn trôi, đò vẫn cứ sang sông không đợi khách bộ hành. Em không chờ tôi về, đã vội vã bỏ đi, lạc hướng mịt mờ bóng chim tăm cá. Tình tan, em – muôn đời vẫn làm người dưng, hoang đàng theo mỗi bước thơ tôi.

“Gọi” lập lại ba lần, “đò” lập lại hai lần, em- người dưng đã vừa lập lại vừa nhấn, câu cuối những dấu phẩy cắt câu bát thành bốn theo nhịp 1/3/2/2 diễn tả một sự rối loạn của cảm xúc. Thảng thốt, đau đớn, rã rời để rồi buông trôi, buông xuôi. Một nỗi đau định hình, sự thất vọng não nề hiện lên từng câu chữ. Có một chút gì cay trong mắt, có một chút gì nhói trong tim. Có lẽ là nỗi đau từ khúc tình tan của khách sang sông. Cấu trúc câu thơ với nhiều thanh bằng nhưng dường như không tạo được cảm giác nhẹ nhõm mà nhân rộng, tỏa rộng nỗi đau bởi vần “an”. Ngôn từ, cảm xúc của thi sĩ gợi tôi nhớ đến Lời thề cỏ may của Phạm Công Trứ:

Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê.
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…

Phạm Công Trứ gỡ bỏ lời thề cỏ may, Hư Vô khác xưa, hoang đàng cuộc đời, hoang đàng thơ. Chữ tình hư ảo sao làm tan nát bao cuộc đời, bao con người và có đôi khi sự tổn thương đã khép lại hoàn toàn trái tim yêu. Có lẽ điều này đúng với những người vốn có trái tim đa sầu, đa cảm như  chàng trai đa tình trong thi phẩm. “Hoang đàng” có lẽ là câu chữ của  thi sĩ thể hiện một sự thay đổi của nhân vật trữ tình, con người bình thường xưa đã không còn nữa, sự thay đổi quả thật đau lòng. Có lẽ chàng trai không thể chấp nhận được tình tan. Xưa nay tôi vẫn cho rằng tình là vô thưởng bởi nó đến rồi đi không hề báo trước, chính vi vậy khi tình yêu tan vỡ có những người không thể vượt qua có lẽ với một người bản lĩnh cách hành xử trên có phần nào yếu đuối, tiêu cực nhưng chưa hẳn như vậy bởi điều mình đặt hết tâm huyết vào nếu mất đi không thể xem là chuyện bình thường, bởi vậy mà  “khúc tình tan” của thi sĩ bắt đầu lên tiếng:

Lời tình còn động trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Tình yêu trong Hư Vô thường là nỗi đau, thường là chia ly. Thi sĩ không nói rõ vì sao mà ly tan nhưng đôi khi chính người trong cuộc cũng không hiểu vì sao? Chỉ biết khi tình lỡ nỗi đau dường như làm ta tuyệt vọng. Nhưng có một điều tôi nhận ra nỗi đau tình trong thơ Hư Vô không quằn quại của những rên xiết, thét gào mà thật da diết đến đớn đau của những vết cắt sâu để rồi thành những đóa hoa sầu, những giọt lệ thầm trong đêm sâu khi chỉ một mình trong thăm thẳm của bóng đêm để rồi  thảng thốt chợt nhận ra mình đã không còn như ngày xưa:

Gọi nhau một khúc tình tan
… Trái tim tôi đã tơi bời, xanh xao.

“Tơi bời” câu chữ đơn sơ, giản dị gần như là một khẩu ngữ tạo một định hình cho nỗi đau rất thực. Tơi bời là kết quả của một không gian vừa trải qua một cơn lũ tràn, một cơn bão lớn. Tất cả tan hoang, vỡ nát, rời rã, tang thương. Cơn bão tình làm giông tố phá nát hồn anh, đời anh. Cơn bão đi qua, sự sống rồi sẽ hồi sinh nhưng cơn bão tình thì mãi mãi thổi, linh hồn thành hoang mạc, nỗi sầu tạo thành quách trong tim. Cơn bão tình- cõi vô vọng đang hòa vào nhau tạo thành khúc tình tan . Có lẽ nỗi đau của khúc tình tan sẽ mãi theo chàng thi sĩ suốt những tháng ngày còn lại.  Khi tôi đọc đến câu thơ này tôi liên tưởng đến bài thơ Bão của Tế Hanh:

Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi.
(Tế Hanh- Bão)

Để rồi tôi cảm nhận ra cơn bão lòng tôi vẫn còn thổi mãi một niềm đau quá khứ có lẽ vì vậy mà tôi hiểu “trái tim xanh xao” của chàng trai, lại một câu chữ biến hóa trong tay của thi sĩ, lấy nét vẽ ngoại hình “xanh xao” để miêu tả thế giới nội tâm của riêng mình, một sự nhiễu loạn về màu sắc đỏ thành xanh, sự sống đã lìa bỏ, đã cạn nguồn khi em rời xa tôi. Nhẹ mà thấm, mà đau, câu chữ của Hư Vô vốn là vậy. Tim thay màu, không gian cũng thay màu:

Sông sâu có khúc bạc đầu
(Hư Vô)

Sông bạc đầu hay màu sông cũng đổi thay dường như là lời tự vấn của thi sĩ. Em bạc lòng, sông cũng bạc đầu, thiên nhiên vốn ít khi thay đổi mà vẫn đổi thay huống chi là con người. Em đi, đã làm tan nát cuộc đời tôi lời nhẹ trách mà thương nhiều. Trái tim nhà thơ vốn vậy luôn bao dung, luôn đầy đạm. Lời trách cứ thành âm vang trôi xuôi theo dòng sông:

Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Em đi rồi biết có quay trở lại. Nhưng cho dù có trở lại nhưng tất cả đã lỡ làng, đã kết thúc, câu thơ vang lên một âm thanh buồn bã của sự đợi chờ vô vọng “biết đâu mà chờ!”. Thời gian không đợi, người không hẹn quay về chỉ còn lại dòng sông và tâm trạng nỗi sầu của người đợi đò. Câu thơ gợi nhớ những câu ca dao với những nỗi buồn sông nước:

-Nước sông lững đững lờ đờ
Thương người nói vậy biết chờ hay không.

-Sông sâu cá lội ngù ngờ
Biết em có đợi mà chờ uổng công

-Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.

-Sông sâu biết bắc mấy cầu
Khi thương thì anh thương vội
Khi sầu anh để lại cho em

Gì buồn hơn giữa những dòng sông đỏ nước phù sa, con thuyền không thấy quay về. Dòng sông buồn thấm vào ca dao, chảy tràn qua thơ Hư Vô để thi sĩ ngẩn ngơ, nuối tiếc, xót xa, hụt hẫng và rồi chỉ biết buông xuôi:

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!
(Hư Vô)

Ở khổ thơ thứ hai, “Khi xưa” không và chưa bao giờ mất đi trong lòng thi sĩ; nó luôn song hành cùng thực tại “Bây giờ” đó là ranh giới của tình yêu: Anh vẫn không đổi  thay. Không gian xưa hẹp chỉ là một bến sông, mà anh luôn đợi dù biết đợi chờ cũng chỉ để ngậm ngùi “Đi lên đi xuống” tôi thích chữ “ vòng vo” mà thi sĩ dùng. Đẹp, lạ và mang hơi hướm của ca dao tạo sự chân thực trong từng câu chữ. Vòng vo là trạng thái đi không định hướng, câu chữ gợi tôi nhớ đến chàng trai trong bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” với động tác trèo lên/ bước xuống dường như vô thức để diễn tả sự mất phương hướng khi lỡ duyên. Và thi sĩ của chúng ta lại chọn bến sông để “đi lên đi xuống vòng vo” để diễn tả một cảm xúc buồn khi tình yêu đã hết. Vòng vo của bước chân lên xuống vô định kia làm trái tim người đọc cũng như lây nhiễm nỗi đau tình. Hư Vô đang đánh thức điệu hồn ca dao dậy để nỗi ngậm ngùi như sâu, như rộng, như dài hơn dường như để bắt kịp không gian. Ngày xưa là một không gian hẹp “bến sông” bây giờ là một không gian rộng “cách mấy đại dương”.  Xưa chỉ một không gian hẹp mà đã lạc nhau một đời, giờ là không gian rộng thì làm sao mà tìm! “Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!”. Câu thơ dường như phá cách trong kỹ thuật hài thanh, câu chữ dường như không xuôi chiều, dường như có sự chống đối lại nhau. Tôi nghĩ câu thơ có thể viết thành “Muốn thăm em, biết đường nào mà đi!” nhưng thi sĩ không viết vậy bởi vì anh muốn dùng “biết đâu” ở khổ thơ trên thành “đâu biết” ở khổ thơ này như một cách nhấn. Biết đâu là một phủ định, đâu biết cũng là một phủ định, một khẩu ngữ dù có đảo cách nào đi chăng nữa cũng để thể hiện một nỗi niềm sự bế tắc, mịt mờ phương hướng của những kiếm tìm. Tôi nghe như lời tình vô vọng đang vang lên để rồi đọng lại thành nỗi buồn sông nước. Bến chờ, bến đợi trong ca dao chỉ còn trong tâm tưởng, bến sông xưa đã ngăn cách mấy đại dương nên bến tình buồn hiu hắt. Tôi thương những dòng sông đợi đò trong chiều vắng ngắt chỉ có gió lạnh đi qua không nói năng gì, tôi thương lữ hành đợi người nơi bến vắng chiều mưa để bao nhiêu hơi buốt giá thấm vào hồn:

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…
(Hư Vô)

Chiều xuống, chiều đang rơi, chiều tàn… Đó là cách mà ta thường dùng khi nói về hoàng hôn, Hư Vô viết “chiều phơi cuối ngọn xuân thì ” cách viết vừa lạ, vừa hình tượng. Tôi tưởng tượng buổi chiều như đang phơi trần trước ta, dấu vết cuối ngày đã buồn lại càng buồn hơn khi hình ảnh người con gái ngồi phơi cuối ngọn xuân thì. Cái đẹp dường như đã tàn, đã kết thúc tạo nỗi ngậm ngùi dài và rồi nhân vật trữ tình cũng rời bỏ nỗi muộn phiền của đời mình trong một nồi niềm day dứt:

Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
(Hư Vô)

Yêu là để chờ trong muộn màng, nuối tiếc; yêu là để trĩu nặng niềm ray rứt không nguôi, yêu là những bâng khuâng, nhung nhớ… Tình yêu là hạnh phúc trong nỗi thương đau, lặng im để tưởng niệm một thời tình đã qua… Phải chăng trong thi sĩ, trong tôi và chúng ta những người từng có một thời yêu có phải đã từng cho rằng: Yêu là được nhớ nhung, giữ gìn một ai đó trong tim dù có trải qua bao dâu biển đổi dời tình ấy không mất đi mà vẫn luôn nguyên vẹn.Tình yêu không đợi có nhau trong cuộc đời mà nó sẽ là một hình bóng luôn vẹn nguyên trong tâm hồn ta, nó là động lực giúp ta đứng lên khi bị cuộc đời xô ngã. “Phủi tay” có nghĩa là buông bỏ, là không còn nghĩ đến để vui hay để buồn nhưng chỉ là cái động tác ngoại hình bởì trong tâm hồn ông chữ tình vẫn chất chứa không nguôi “biết có còn gì cho nhau” một cụm từ phủ định nhưng lại mang ý nghĩa khẳng định của sự dâng hiến đầy yêu thương. Câu thơ buồn trong từng câu chữ nhưng lại trĩu nặng những “dấu tích trần ai”. Và trong tận cùng của quá khứ hình ảnh con đò lại quay  trở về:

Chuyến đò chở khẳm bể dâu
(Hư Vô)

Khổ thơ đầu là “đò”, khổ thơ tiếp là “đò em” và hai khổ còn lại thi sĩ viết “chuyến đò” như một trình tự tăng tiến đò chở khách qua sông, em là chiếc thuyền tách bến sang sông một mình và cuối cùng là chuyến đò cuộc đời. Trễ đò, khách tiếc nhớ, mong đợi. Đò em sang sông, anh hụt hẫng đau thương. Đò đời chở nặng giông tố, biển dâu chỉ mình anh nhận thì quả thật là chua xót.

Hai câu thơ cuối khoanh tròn kiếp người, kiếp tình thành nỗi buồn phơi trên ngọn xuân thì. Phủi, bỏ, ở lại.. một loạt từ diễn tả những trạng thái ngược nhau là những suy ngẫm về cuộc đời, về tình yêu. Đời là biển dâu, chàng trai đã nhận trong khoảng đời phiêu bạt, có những nỗi buồn, nỗi nhớ không thể tỏ bày và tình yêu cũng mất chỉ còn lại thi sĩ và vực sầu lạnh tanh. Lạnh tanh nghĩa là rất lạnh. Tình lạnh, đời lạnh chồng lên nhau, nỗi đau của tình lỡ, nỗi đau của bể dâu cuộc đời chỉ mình “tôi” mang không người chia sẻ. Tại sao không là “để tôi” mà lại là “bỏ tôi” . Chữ bỏ đã nói lên tất cả. Bỏ mặc, không đếm xỉa, không đoái hoài là sự từ bỏ, bỏ rơi nó là kết quả của tình yêu một thời tươi đẹp. “Bỏ tôi” đã làm tăng cao nỗi cô đơn, bẽ bàng của thi sĩ, nó dồn ép cảm xúc là một sự cam chịu đầy cay đắng, tôi thương sự cô đơn của thi sĩ trong cuộc đời, tôi cảm nhận được vực sầu lạnh tanh mà anh viết. Hai vần ”anh” liền kề tạo một âm vang, âm vang từ đáy vực nên thăm thẳm mất hút trong không gian nên cuối cùng âm thanh cũng im bặt chỉ còn lại khoảng trắng lặng im càng tô đậm dáng vẻ cô đơn của nhân vật trữ tình. “Lạnh tanh” tôi rằng nó là cụm từ đắc địa thể hiện trọn vẹn cảm xúc của bài thơ. Lạnh của yêu thương, lạnh của nhân tình, cái lạnh đã trùm suốt bài thơ nhưng càng về cuối cái lạnh càng lạnh hơn nữa thành một chuỗi âm vang không lời thể hiện cái lạnh  lẽo, trơ trọi của một nỗi đau tình khi chỉ còn mình “anh” đi trên con đường tình, đường đời  bơ vơ.

Khúc tình tan của Hư Vô đã cho tôi một khoảng lặng của ngậm ngùi, của xót xa khi tình yêu tan vỡ.  Nếu Xuân Diệu đã từng làm xúc động bao trái tim người yêu thơ với “Cung Nguyệt Lạnh” thì Hư Vô đã đem đến cho người đọc mê lộ cùng đường của “Khúc Tình Tan”. Trong khúc ca tan vỡ kia tôi thấy thấp thoáng bóng của ca dao hiện về với giọng hò thê thiết trên sông nước mênh mông với những khúc ca não lòng của  tình yêu tan vỡ. Tôi tìm thấy trong khúc tình tan của Hư Vô nỗi chạnh lòng, nỗi thương thân trong kiếp tình buồn, trong cuộc đời dâu biển đa đoan và khi bài thơ khép lại thì cái giọt “lạnh tanh” kia chính là giọt sầu, giọt đời thi sĩ, tôi, bạn đang uống từng ngày và ngày vẫn cứ trôi trong tiếng vọng của ngàn xưa với khúc tình tan của chàng thi sĩ có tên gọi HƯ VÔ.

August, 2018
Trần Sương Lam

Thi Sĩ Hư Vô – Như Loài Chim Thorn Birds. Tùy bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Như Loài Chim Thorn Birds

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…

Hư Vô

1C7736D2-2CE7-48D8-932C-7F61E2F5A2D2

Hình ảnh chim, cánh chim không lạ trong văn chương Việt Nam xưa cũng như nay. Ta có thể bắt gặp trong văn chương trung đại cánh chim mang cả buổi chiều trong đôi cánh nhỏ, chao nghiêng; cánh chim bơ vơ, lạc loài cuối chân trời tìm về chốn bình yên; cánh chim với giọng hót nức nở của nỗi thương nhà, nhớ nước… Nối tiếp dòng văn thơ cổ, nhiều thi phẩm hiện đại vẫn thấp thoáng những cánh chim bay:

“Chim trời thả bóng vào mây
Ngẩn ngơ thả nhớ vào ngày xa em”
(Hoàng Đình Quang –Chiêm Bao)

Ngày mai nhạn sẽ hợp đôi
Ngày mai tôi sẽ ngỏ lời yêu em (Ngày mai)

Nhưng tội nghiệp, trên trời đôi nhạn lạc,
Cứ yêu nhau đừng tưởng đến ngày mai..
(Lòng anh – Hàn Mặc Tử)

Những cánh chim trong thi đàn hiện đại Việt Nam thường là cánh chim chuyển tải những cảm xúc của con người trong tình yêu với khúc hoan ca lẫn bi ca về tình yêu. Hư Vô cũng hòa vào chương khúc tình yêu của Việt Nam, của nhân loại lời hát tình yêu “Như Loài Chim Thorn Birds”.

Trong truyền thuyết có một loài chim là Thorn Birds. “Loài chim ấy chỉ hót một lần trong đời nhưng là tiếng hót hay nhất thế gian. Có một lần nó rời tổ bay đi tìm cho bằng được một bụi mận gai. Giữa đám cành gai gốc, nó cất tiếng và hát bài ca của mình rồi lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Nó không biết sức mạnh nào đã buộc nó lao vào mũi nhọn đến chết mà vẫn hót. Lúc mũi gai xuyên qua tim, nó không nghĩ rằng mình sắp chết, nó chỉ hót cho đến lúc mất tiếng đứt hơi”…và thi sĩ Hư Vô đã mượn loài chim Thorn Birds để gửi vào đó khúc tình buồn của mình.

Khúc tình buồn ấy bắt đầu bằng câu chuyện thuở mới quen nhau:

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.
(Hư Vô)

Hai câu thơ đầu tôi cảm nhận lạnh, lạnh tanh. Trần gian lạc lõng, chơi vơi. Trần gian đơn điệu chỉ có tiếng khóc, tiếng cười. Trần gian không có gì để gắn bó nên chẳng thiết tha. Lạnh, nhạt, câu chữ hằn một nỗi chán chường đến mệt mỏi. Nhưng chàng thi sĩ không đi một mình, vô tình nhận ra “em” cũng bước vào cõi tạm với sự “lân la, chen chúc” hai từ này trong văn nói thường mang nghĩa “chê” (nghĩa âm tính), nhưng khi ngôn ngữ đã thành thơ sẽ trở nên sống động, tượng hình lạ lùng. Còn từ “hóa thân” lại là một từ đẹp. Tôi cho rằng “em” ở đây có một cái gì không như trước, không giống như xưa và khi hai người yêu thương nhau không cảm nhận sự gần gũi thì sao có thể gắn bó. “em hoá thân thành người lạ” dường như là lời báo trước của thi sĩ về cuộc tình tan. Kiếp trước hẹn hò gặp nhau kiếp sau. Nhưng kiếp sau lại có một cái gì chênh giữa hai con người ấy. Tôi cảm nhận hình như giữa hai con người ấy “lạc” mất nhau rồi. Nhớ lời thề nguyền, tìm dấu tình yêu, tìm chốn ước hẹn chờ người:

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
(Hư Vô)

Lãng tử tìm thấy dấu chân thuở trước như một di tích luân hồi. Nhẽ ra dấu vết ấy nên dùng chứng tích hay dấu tích nhưng nhà thơ lại chọn di tích luân hồi. Một nghệ thuật cường điệu để dấu tích trần ai bình thường thành di tích luân hồi đặc biệt. Đặc biệt vì khối tình ấy như khối ngọc lưu ly không tan, luân hồi theo kiếp người. Tình đẹp, thi sĩ nặng tình. Câu thơ ấm áp, tỏa rạng, cảm xúc thăng hoa. Nhưng cái gì đẹp lại không ở với ta lâu, tình như chiếc bóng vừa thấy đã tan biến. Sự chóng vánh tạo giọng điệu xót xa:

Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!
(Hư Vô)

“Cựa mình” câu chữ chạm đến sự mong manh. Tình sao mong manh thoáng qua trong tia nhìn rồi hun hút trôi đi. Hụt hẫng, bàng hoàng, tiếc nuối. Trái tim nặng tình đau xót không nguôi. Ý thơ làm tôi nhớ đến một câu ca dao:

“Xốn xang như muối xát gừng,
Phải chi hồi trước ai đừng biết ai!” (Ca dao)

Người tình trong ca dao hối tiếc vì biết duyên không thành thì thà đừng quen nhau. Lãng tử không hối tiếc mà đau xót vì không giữ được tình đã đợi chờ nhau bao kiếp.

Tình yêu đã hết thì không thể quay lại được nữa, cho dù tâm còn động, cho dù không thể quên. Điều này đến bây giờ tôi mới cảm nhận được: Người ta rời bỏ nhau không phải vì hết yêu nhau mà vì không còn có thể ở cùng nhau được nữa. Có lẽ vì vậy mà câu thơ “Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!” đã trở thành nỗi ngậm ngùi dài.

Vì sao mà chia tay có lẽ chỉ mình lãng tử hiểu và đã là niềm riêng thì sao có thể sẻ chia chính vì cứ mang nên nỗi sầu cứ nhân lên nhiều dần cho đến một lúc phải vỡ tung, phải kết thúc, phải dừng lại. Khổ thơ tiếp tôi cho rằng nó là khổ thơ nặng chất kịch tính đẩy cảm xúc của thi sĩ lên cao trào:

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.
(Hư Vô)

“Tôi” xốn xang, lảo đảo, thất thanh, thảng thốt… một loạt từ láy diễn tả nhiều cung bậc của tâm trạng tràn ngập những âu lo, thảng thốt, hãi hùng. Âm thanh, cảm xúc, hành động được khuấy động lên như một cơn giông bão mịt mù. Động lực cuối cùng để tồn tại cũng không còn. Tình bao kiếp cũng tan vỡ, sức chịu đựng hoàn toàn sụp đổ thương quá hình hài của chàng trai “phiêu lãng mang hồn đi ở trọ” âm thanh thảng thốt cuối cùng cất lên là khúc hát về tình yêu bất tử trỗi dậy trước khi nhận chùm gai nhọn xuyên thấu qua trái tim mình. Dòng máu chim Thorn Birds đang tuôn chảy, dòng máu của chàng trai đang tuôn chảy cuốn theo dòng nước mắt của tôi – người đã chứng kiến mối tình giẫy chết. Hóa thân của tình yêu sao quá đắt, gục xuống trên chùm gai nhọn vẫn là kiếp cô đơn và trong tận cùng sâu thẳm của linh hồn yêu vẫn khắc khoải một điều da diết: mong giọt nước mắt em rơi trước chân tình của tôi. “Đâu chắc gì” vẫn là giọng buồn thương da diết ẩn chứa một nỗi niềm một hoài vọng, mong ngóng. Không có dịp để làm người tình chung nhưng không thể thì mong được một lần “khóc chung”. Ước muốn đơn giản nhưng vẫn không thành hiện thực. Lời thơ chất chứa những đắng cay.

Sự ruồng bỏ đã thành hình nhưng trái tim tình yêu vẫn không ngừng khắc khoải một ước mơ: chàng trai phiêu lãng gửi lại cho đời khúc tình yêu bất tử, một tặng vật tình yêu quý giá cho những tình nhân đang tha thiết yêu nhau:

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…
(Hư Vô)

Một hồi ức về tình yêu đã qua. Vẫn là cái nhìn bao dung, nhân hậu của thứ tha. Em cũng đã từng yêu tôi, từng hy sinh cho một tình yêu vĩnh cửu cũng từng bị gai cào nát thịt da. Dấu tích tình yêu, sự tận hiến của em cho tình vẫn còn ghi dấu, cho dù hôm nay em đã quên, đã không còn yêu thương tôi vẫn không trách hờn, tôi vẫn muốn để lại cho em một khúc hát của tình yêu bất tử, món quà tôi tặng ghi dấu những hoan lạc của tình yêu cùng những ngọt ngào, cay đắng. Đó là “dấu tích trần ai” Nếu chỉ là dấu chân hoang qua cõi tình nhiều kiếp chỉ là một “di tích luân hồi” nhưng đã là sự hiến dâng thì lại là một kết thúc luân hồi để tình yêu chuyển sang một cung bậc mới “dấu tích trần ai”. Tình yêu định hình trở thành những vết cắt đớn đau “Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn” nhưng rồi nó “ghim” thành một một dấu tích ngọt ngào. Điều rất sâu trong cảm nhận của thi sĩ là nỗi đau đớn của kiếp tình sẽ thăng hoa trở thành một bông hoa, bài nhạc khi nó được trui rèn trong sóng gió, trong sự tha thứ, bao dung, trong sự tận hiến của con người như Meggie Cleary – người phụ nữ trong tiểu thuyết “Tiếng Chim Hót Trong  Bụi Mận Gai” được Colleen Mc Culough xây dựng lên chính là hiện thân của loài chim Thorn Birds. Meggie biết tình yêu không phải chỉ là vị ngọt, nó có cả vị mặn chát, chua, cay của nước mắt, của ghen tuông, của hiểu lầm, của chia ly… mà nhiều khi, cái vị ngọt ngào của hạnh phúc, trong cả cuộc yêu mình chỉ nếm được một lần. Nhưng cái gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi người ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại. Bởi vậy nên cô cứ lao ngực vào bụi mận gai, vắt kiệt sức mình vì tình yêu, dù biết nó có thể vô cùng đau đớn.

Bụi mận gai không lạ với những tình yêu mãnh liệt. Ở đó, những tình nhân đã từng nếm nhiều hương vị của tình yêu ngọt ngào, chua cay lẫn đớn đau. Mỗi lần đớn đau là thương tích toàn thân, nỗi đau như máu tim chảy tràn. Lời thơ làm tôi nhớ đến lời của một bài nhạc “Speak Softly Love” của Nino Rota do Larry Kusik viết ca từ và Trường Kỳ dịch lời Việt: “Có biết đau thương mới như là tình / Say đắm trong đời thì mới là yêu. / Tình như đớn đau tình xé lòng nhau / Muôn đời không lành.” (Thú Yêu Thương)

Chết cho tình yêu, cái chết ngọt ngào tuy đớn đau nhưng khẳng định cái quý giá của tình yêu. Nếu cuộc sống trần gian không còn chỗ cho tình yêu tồn tại thì nơi ấy đã tận thế.

Đọc bài thơ tôi tự hỏi: Tình yêu không phải lúc nào cũng là khúc ca hoan lạc mà có khi còn là khúc bi ai. Phạm Thái vì tình mà vỡ tan giấc mộng anh hùng, Honoré de Balzac chờ đợi hơn hai mươi năm để đến với tình yêu muộn của mình và còn bao nhiêu cặp tình nhân đã như loài chim Thorn Birds kia chấp nhận cái chết để dâng tặng cuộc đời một khúc ca tuyệt vời, như Meggie Cleary hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho “người tình trăm năm” mà không hề hối tiếc. Vị đắng của tình yêu càng nhiều thì vị ngọt ngào càng có ý nghĩa hay nói một cách khác tình chỉ đẹp, mãi mãi tồn tại nếu ta biết dâng hiến, chấp nhận mọi nỗi đau chỉ cho riêng mình.

Trần Sương Lam

Tài liệu tham khảo:

Trang Tho Hư Vô

https://evan.vn- : Hạ Miên

Thêm Một Lần Tháng Bảy. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

thang 7

K niệm đối với tôi đó là những gì thật sự trân quý. Có thể đó là một k niệm vui cũng có khi là k niệm buồn. Nhưng cho dù vui hay buồn nó vẫn luôn hiện diện trong tâm hồn tôi, ru ngủ tôi trong những tất bật của cuộc sống. Tôi thường gọi đó là những hoài niệm khó quên. Nhất là những hoài niệm về những mối tình đã đi qua trong lứa tuổi học trò đẹp như những bông hoa phượng vĩ trên cành chỉ rực rỡ mỗi độ hè về. 

Nhà thơ Hư Vô cũng đi qua tuổi học trò với những mối tình sầu mãi mãi còn trong bao thăng trầm của đời sống. Thêm một mùa thu qua, thêm một tuổi thì nỗi nhớ dường như càng nồng nàn, say đắm hơn vì mối tình ấy chưa đi đến cuối đường đã vội vàng rẽ nhánh để lại sau lưng những đau khổ, nuối tiếc khôn nguôi như bài thơ “Thêm Mt Ln Tháng Bảy“ của thi sĩ Hư Vô

Tôi không nhớ Sài gòn trước đây tháng by thế nào? Vì tháng bảy là tháng nghỉ hè. Tôi thuở nhỏ lại là con mọt sách hình như chữ “chơi” với tôi là một khái niệm mơ hồ. Nhưng khi đọc bài thơ thì trong tôi mùa mưa Sài gòn, mùa thu Sài gòn như đang hiển hiện trước mắt bềnh bồng, mơ hồ, xa xăm… Một Sài gòn chưa đi đã nhớ, càng ở càng thương. Tôi nhớ những con đường cây xanh bóng mát ngày hai buổi đi về. Con đường Đoàn Thị Điểm, Ngô Thời Nhiệm, Phan Thanh Giản, Bà Huyện Thanh Quan … sao mà thương đến thế. Thế giới tôi chỉ đơn giản là con đường đến trường với những tàng cây rợp mát, hoa Ngọc Lan thơm ngát con đường mưa. Nhưng đối với Hư Vô lại là con đường của hẹn hò, của tình yêu tuổỉ học trò thơm ngát. Mưa, tà áo dài, mái tóc thề ngang lưng ngày ấy có lẽ đã trở thành một hình ảnh quen thuộc của thơ ca trước đây:

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!
(Hư Vô)

Mưa thơm. Mưa không màu, không mùi vào trong thơ thành mưa thơm. Mưa thơm vì mưa thấm em, thấm mùi hương áo em, tuổi thanh xuân, mùi thơm thật khó quên, mùi thơm làm bao nhiêu trái tim phải bối rối ngăn cảm xúc đang tuôn chảy thành dòng. Có một thời tôi rất yêu “Một Chút Mưa Thơm” của Mường Mán nhà thơ của Sinh viên Sài Gòn những năm 70.

Mưa thân ái trên tay
Tay mỏi rời trong tóc
Tóc nhớ ai mọc dài
Mắt nhớ ai muốn khóc
Tay của em
Tóc của em, và
Mắt của em
Của mưa của mưa, ừ
Của mưa
Tay em tay mưa
Tóc em tóc mưa
Mắt em mắt mưa…
(Mường Mán)

Để rồi cũng cơn mưa thơm ấy vào tôi cũng trở thành ám ảnh chẳng nguôi ngoai:

Cho em chút mưa thơm
Rơi trên tay ngọt ngào
Mưa ơi em quên hết
Giọt sầu môi run run
(Mường Mán)

Mở đầu không gian tình yêu của Hư Vô là không gian của khứu giác: tưởng nhớ một mùi hương. Không hiểu sao khi tôi đọc “Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóctôi lại nhớ đến một tình Kim Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du  với câu thơ thật lãng mạn Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” mùi hương “xộc” vào tâm hồn ta; mưa và mái tóc dài ngang lưng  thật ấn tượng. Người lãng mạn ai mà không yêu mưa. Những cơn mưa thấm đất, thấm vào lòng người, thấm vào cuộc tình nỗi nhớ miên man:

Ở đầu kia nỗi nhớ
Nằm đếm tiếng mưa rơi
Đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ
(Trần Đình Chính)

Để rồi những hạt mưa thấm đẫm mái tóc em ướt bờ vai con gái thành một ám ảnh không phai. Tháng by mưa. Mưa suốt cả ngày, cả chiều và cả đêm. Những hàng cây rũ rượi trong mưa. Những mái hiên che dọc đường Tự Do, thương xá Tax thành chỗ trú mưa, thành chốn em qua. Những con đường em đến và đi trong cuộc tình đã trở thành con đường mang tên em.

Chỗ nào cũng có bóng em qua!
(Hư Vô)

Tôi thích ngôn ngữ thơ của Hư Vô đơn sơ nhưng gợi. “Chỗ nào” thì hình như đã là tất cả, nghĩa là thế giới của anh, em đã chiếm lĩnh tất cả nhưng buồn ở chỗ nó không phải “dáng em” mà là “bóng em” nghĩa là nó đã trở thành mơ hồ, sương khói, chỉ là bóng không còn là hình, chỉ còn là hư ảo với bao nhớ tiếc khôn nguôi.

Bốn câu thơ đầu, Hư Vô để chút hương gây mùi nhớ, để cơn mưa làm tan biến cái hữu hình và bức chân dung tình yêu trải rộng một nỗi nhớ “hư hao”.

Phố mưa- mái  tóc- con đường cuộn tròn lại thành nỗi nhớ, thành nụ hôn đầu của em mười sáu tuổi:

Thanh xuân lại chìm ngập không gian yêu. Thời gian quay lại thanh xuân. Hư Vô quay lại với nụ hôn đầu mê đắm:

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.
(Hư Vô)

Nụ hôn vội vàng, cuống quýt, lơ ngơ sao mà dễ thương chi lạ. Nụ hôn mà bao năm rồi vẫn cứ làm ta ngơ ngẩn, ngẩn ngơ. Nụ hôn mà Trần Dạ Từ từng say đắm đến dại khờ:

Lần đầu ta ghé môi hôn
Trăm con ve nhỏ hết hồn kêu vang.
(Trần Dạ Từ)

Nụ  hôn “hết hồn” trăm con ve  nhỏ, hết hồn chàng thi sĩ đa tình và “em” cũng ngẩn ngơ theo. Nụ hôn của Hư Vô với tình nhân là “thảng thốt”. Cả hai thi sĩ đều có một cảm giác bất ngờ, bàng hoàng đến ngẩn ngơ với nụ hôn đầu đời và có lẽ thế giới đang chuyển động phải dừng lại nhiều giây chờ nụ hôn đầu. Câu thơ gợi lại trong ta- những người đã từng có nụ hôn đầu” một cảm xúc khó diễn tả thành lời. Nụ hôn là kết đọng của cảm xúc, của tình yêu, của những thăng hoa. Nụ hôn đầu của Hư Vô làm sống lại những gì già cỗi trở lại thanh xuân và cũng từ đây cõi riêng của anh và em” bắt đầu những nợ nần, quấn quít đời nhau. Giọng thơ mê man, chìm đắm trong cõi riêng, ta cảm nhận hình như đã đủ đầy hạnh phúc, đủ đầy yêu thương.

Tình yêu đẹp như một giấc chiêm bao. Câu thơ dường như là chiêm nghiệm của thi sĩ: Cái gì đẹp thường không ở với người ta lâu. Mưa tháng by và giấc mơ dường như đã báo trước sự tan rã của đôi tình nhân:

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.
(Hư Vô)

Tôi đã từng đầu trần trong mưa lang thang bao nhiêu con đường những lúc cô đơn và tôi hiểu mưa là mở ra một thế giới tâm trạng với bao uẩn khúc. Hư Vô đã đưa tình yêu của mình vào thế giới mưa- thế giới của bao nỗi ngậm ngùi. Mưa vuốt ve ướt môi trần tình nhân. Những giọt mưa ve vuốt em, cái lạnh cũng theo về. Mưa tháng bảy dường như đã đưa ta vào thế giới lạnh lẽo với “những hạt mưa lăn”, mưa không rơi mà lăn như tô son lên môi tình nhân. Môi như mềm hơn nhưng lại ướt trong lạnh lẽo.Tôi cảm nhận sự chia ly đã bắt đầu từ đây, từ những giọt mưa lăn trên đôi môi người con gái.

Để rồi cái ngày chia ly cũng đến, cũng chạm vào cuộc tình thơ mộng thuở đầu đời:

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.
(Hư Vô)

Nhà thơ đã tượng hình một không gian ảo trên cái nền hiện thực Sài gòn- Sydney- Los Angeles nơi Hư Vô đã từng đặt dấu chân qua: Sài gòn chỉ còn là miền ký ức, tình yêu anh đã để lại nơi này, để lại em với “dòng nước mắt” cùng nỗi nhớ tình nhân. Em biết khóc đôi lần có phải Hư Vô tham lam muốn người ở lại cả đời cứ nhớ, cứ thương một người mù khơi hay nhà thơ đang hỏi lại mình. Có bình yên nơi xa xôi không? Hay vẫn cứ canh cánh một nỗi niềm ray rứt không nguôi. Tình buồn và nỗi nhớ khó nguôi ngoai. Tôi không còn bên em, không gian chúng mình thật diệu vợi, lạc nhau, mất  nhau rồi nỗi buồn như nhân đôi “Dù Sydney hay Los Angeles/ Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.”

Thể thơ thất ngôn phù hợp với biểu hiện cảm xúc tâm trạng, cả câu thơ chỉ duy nhất một  thanh bằng tạo một cảm giác lạc lõng, chơi vơi không định hướng để rồi chìm đắm trong cõi sầu bát ngát. Dòng tiếp theo lại có đến 5 thanh bằng để rồi kết thúc bằng âm vang thôi”. Thôi là kết thúc, là chấm dứt là không còn gì. Chữ nghĩa dường như nhòe đi trong sự se xót. Buồn, em ở lại, tôi đi, sự chia cắt rạch ròi cả hai không còn chung lối, tình lỡ, nỗi buồn như ngân vang thành tiếng thơ đến xé  lòng.

Tháng bảy mùa ngâu, mưa như trút nước. Mưa gợi nhớ bao nhiêu điều; có điều mọi người ai cũng hiểu nhưng có điều chỉ có mình nhà thơ hiểu:

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
(Hư Vô)

Con đường tình yêu không còn chung một lối. Tôi và em ngược hướng nhau rồi. Sự dõi tìm là vô vọng. Chiều đã xuống, sương phủ nhạt nhòa và lá bay khi mùa thu tới. Tất cả đã chìm khuất, mịt mờ. Trong sương khói của mưa, của mùa thu bóng em vẫn hiện ra thật đậm, thật rõ ràng với những bước chân thật dài, bước chân đuổi theo tình yêu đã mất dần dấu vết:

Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…
(Hư Vô)

Tôi chạnh thương người con gái với tình đầu dang dở, có thể đối với một ai đó nó chỉ là một thoáng phôi pha nhưng có thể với ai đó thì ngàn năm vẫn không quên.

Tình yêu chỉ mang đến cho ta thoáng ngậm ngùi, nỗi khổ đau nhất là đối với những tình yêu không trọn vẹn.

Thêm một lần tháng bảy là thêm khoảng cách của chia ly, thêm một lần nhói buốt trái tim yêu, thêm một nỗi niềm thống khổ của hai con người yêu mà không thể ở gần nhau. Đã là mưa thì ở đâu cũng thế. Cũng buồn như nhau. Đã là ly tan thì ở đâu cũng đau. Mùa mưa vẫn cứ về như một quy luật tuần hoàn của thời gian nhưng tình yêu thì không có quy luật, đến và đi là lẽ vô thường. Vì vô thường nên ta cứ đau mãi không nguôi, nên vẫn cứ cúi xuống khóc cho những mối tình dang dở

Trần Sương Lam
July, 2018

Thêm Một Lần Tháng Bảy.

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…

Hư Vô

Dưới Bến Trên Thuyền. Tuỳ bút Tường Bách


Tường Bách

(Bài của nhà văn Tường Bách được đăng trên báo Ngày Nay số 3, in tại Hà Nội ngày 20/02/1935)

Bờ sông Hà Nội, ngay ở chỗ bến thuyền, là một nơi ít người để ý đến, ít để ý đến cách sinh hoạt của dân cư dưới bãi cát hay trên thuyền bè.

Người ta có đi qua cũng chỉ thấy một khung cảnh vui vẻ, tấp nập, tuy bây giờ đã kém xưa, hồi mấy năm về trước nhiều lắm. Cái rừng cột buồm thẳng tắp, khi trước chi chít, bây giờ trông có vẻ lơ thơ, buồn bã.

Những thuyền chở gỗ từ Yên Báy, Phú Thọ, chở than từ Đông Triệu, Quảng Yên, chở muối từ Nam Định, Thái Bình, tuy vẫn lui tới, nhưng chỉ còn ít. Ngoài cái nguyên nhân từ khủng hoảng kinh tế ra, còn vì lẽ những hàng hóa ấy người ta chở bằng tầu hỏa hay tầu thủy, nhanh chóng hơn và giá vận tải cũng không cao hơn là mấy.

May ra có những thuyền những thuyền Nghệ chở nước mắm là còn giữ được chút phồn thịnh ngày trước. Những chiếc thuyền đi bể này, trông to lớn, cột buồm cao vút với lá cờ phấp phới trên ngọn, hai bên mui vẽ mắt như mắt cá và rồng phượng nhiều màu như để dọa nạt những cơn sóng ngất trời ở giữa bể khơi. Một chiếc thuyền ghé vào bến Hà Nội như thể mang tới một chuyến hàng độ bốn năm trăm tấn, ngày trước có khi đến hằng nghìn. Hàng ấy chứa đầy trong đáy thuyền tối om và sâu như cái giếng, thường thường chỉ có một cái lổ vuông bằng cái bàn con để thò gáo xuống múc lên.

Bán hết rồi, họ xuôi về Nghệ. Về mùa này, phần nhiều họ đợi được gió bấc rồi mới quay mui. Người Nghệ đi bể quen nên đoán thời tiết rất giỏi. Nhiều khi, trời nắng chang chang, gió nồm thổi ẩm ướt, mà họ cũng sửa soạn cho thuyền quay về: thế là tối hôm ấy tự nhiên trời đổi lạnh, gió bấc thổi vù vù đưa những thuyền Nghệ xuôi ra bể nam.

Đời những người làm thuyền thật vất vả. Quanh năm sống trên mặt nước, những công việc khó nhọc và nắng mưa, gió bể đã khiến cho tay, chân họ thành chai và da dẻ xám đen già cỗi. Lắm khi còn phải chống cự với nhưng cơn gió táp lúc đang lênh đênh trên mặt sóng.

Mà những phu-phen làm việc ở bờ sông cũng khó nhọc như vậy. Họ phải vác những bao to hay gánh những gánh nặng đầy sỏi, cát hay than đá đen sì, trèo từ dưới thuyền lên bờ sông, dốc và gồ ghề. Những phu kéo gỗ nhiều khi phải giắt giây nhau chừng hai mươi người mới kéo nổi một cây gỗ lên cạn. Mồ hôi chảy nhễ nhại trong lúc trời rét như cắt, họ vừa ra sức vừa hát những câu tình ái kéo dài bằng những tiếng “ới a”, và thỉnh thoảng lại điểm một tiếng “dô ta” vang động cả bờ sông. Mỗi ngày như thế, tiền công được độ hai ba hào không cơm là nhiều lắm. Ăn uống lẽ tất nhiên là rất khổ sở. Và tối đến, họ chui rúc vào những nhà nứa lợp gianh ở Cấu Đất, những nhà thấp nhỏ, chật chội, bẩn thỉu và tối tăm không chút vệ sinh.

************

Bãi Cầu Đất cũng như mọi nơi khác, bên bờ sông, thật là chỗ tụ họp của người nghèo: phu phèn, thợ thuyền, buôn bán lặt vặt, như quà bánh chẳng hạn, chen chúc nhau trong dãy phố tồi tàn ấy. Đã vậy, nhiều khi nước lên to, tràn ngập cả, tình cảnh lúc đó mới thật là khốn đốn, vì còn biết chạy đi đâu. Ở bãi Cầu Đất, ta thấy rõ cái cảnh nghèo hèn, cách ăn ở khốn nạn của bọn mà ta gọi chung cả một tiếng là bọn hạ lưu. Nhưng khốn nạn thì khốn nạn, bao giờ họ cũng tìm được cách mua vui, những cuộc vui tai hại như rượu chè, cờ bạc.

Ở bến tàu thuỷ, quang cảnh vui vẻ hơn, vì sạch sẻ, sáng sủa hơn đây là lẽ tự nhiên. Nhưng lắm khi ta thấy, giữa đám đông người vừa ở dưới tàu lên, một cô gái quê ngớ ngẩn, tay cắp thúng trông bốn phía như tìm đường đi. Rồi có một người đàn bà chạy đến, nói cười một lúc rồi dắt cô đi theo. Người nhà hay quân giỗ người? Không biết chắc, nhưng ta đã nghĩ rằng cô gái quê ấy đã bước bước đầu trên con đường trụy lạc trong thành phố Hà Nội mà cái tiếng phồn hoa đã gọi cô đến nơi.

Ngoài những kẻ giỗ người, còn có những kẻ rủ người đi để bóc lột nữa. Một hôm, tôi đương đứng hứng gió bên bến tàu, bỗng có một anh quần áo cánh trắng tiến lại sẽ hỏi:

– Gỡ không?

Tôi chợt nghĩ đến bao nhiêu người ở dưới tàu lên thì giàu có, rồi chỉ vì một tiếng gỡ, mà phải ăn mày về tàu. Muốn cùng chung một số phận như họ, tôi đáp:

– Gỡ gì?

– Xốc dĩa, xì phé gần đây

Anh ta đưa tôi qua bãi cát, tới gần cầu, và lên một chiếc thuyền con chở ra giữa sông đến một cái nhà bè rộng rãi. Trong đó, đủ các hạng người đang sâu sé nhau. Mà trong đó, người hạ lưu không phải ít. Trong bộ quần áo bẩn thỉu, rách vá, họ ngồi để bị bóc lột, hình như sung sướng lắm. Trông những đồng tiền họ vứt đi, tôi lại nhớ đến bao nhiêu ngày họ phải khó nhọc, vất vả mới kiếm ra được.

Dưới bãi bờ sông thật là nơi tụ tập của người tứ xứ. Chỉ có những người các tỉnh khác, vì kinh tế phải rời làng đi kiếm ăn ở Hà Nội. Nghèo thì làm phu, làm thợ, mà giàu có hơn thi buồn bè, buồn nứa.

Cách sinh hoạt trên những nhà bè cũng có nhiều cái thú vị. Lênh đênh trên mặt sóng, nước lên đến đâu dâng cái bè lên đến đấy. Nhiều người quanh năm ở trên nhà bè, sống về nghề chài lưới. Còn những người buồn nứa, đến mùa nước cạn, họ làm một cái nhà trên bãi cát để ở.

Trông chỗ nhà bé ấy với cái nhà gianh thấp hẹp, nhiều nhất là những cái vòm tựa như cái cống làm bằng mui thuyền cũ, dưới đặt mấy cây nứa để ngủ, nằm rải rác trên bãi cát rộng, ta tưởng tượng như đứng giữa một bãi sa mạc bên Phi châu. Mà nói cho đúng, cách ăn ở của người mình ở đây cũng chẳng hơn người da đen là mấy.

Ngày họ đi làm, chẻ nứa hay bó nứa, tiền công độ một hào, hào rưởi, mà là công việc nhẹ, phần nhiều đàn bà trẻ con làm. Con bọn đàn ông thi đi giắt bè, những bè nứa từ trên Chèm về, đóng thành từng lớp, hay khuân vác những cây nứa. Như thế, họ sống cũng phong lưu. Phong lưu đối với họ, chứ trông bữa cơm với nhà cửa của họ, ta không thể hiểu sao họ sống lượm thượm đến như thế được.

Những cái nhà vòm, nhiều cái chỉ rộng bằng miệng cống, mà ở trong, nếu kê một cái giường có lẽ không đủ chỗ. Anh sáng chiếu vào chỉ rõ những cái chiếu cũ, rách giải trên sàn, và trong một góc, bát đĩa, quần áo để lộn xộn. Thế mà đêm đến, trong cái cống ấy, năm sáu người đàn ông, đàn bà, trẻ con lăn lộn co quắp ngủ trong một giấc say sưa.

Còn những cái nhà hơi ra hồn nhà một tí, thì cũng bẩn thỉu, chật chội như thế. Và mùa đông những tấm phên mỏng đầy lổ hở, chống sao nổi với cái lạnh căm căm theo luồng gió bấc thổi mạnh trên bãi cát mông mênh –  mà những ngày nắng rát, trên mặt trời chiếu xuống chói lọi, dưới hơi cát bốc lên, tưởng không còn chỗ nào nóng hơn được nữa.

Họ sống như thể, nhưng họ không lấy làm khổ lắm.  Họ hình như thản nhiên chịu cái số phận vất vả, khốn nạn, mà ít khi, ta thấy họ kêu ca oán thán lấy nữa lời.

Nhẫn nhục, biết phục tòng số mệnh, có nhẽ là cái đức tính to nhất của dân ta, dù ở nơi trên biển, dưới thuyền hay trong luỹ tre xanh cũng vậy.

Tường Bách

 

 

Áo Hạ Vàng – Thơ Hư Vô Mỏng Tênh Như Tơ Lụa. Tuỳ bút Sương Lam


Sương Lam

Áo Hạ Vàng

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Hư Vô

Mùa hè, mùa của hoa rực rỡ, của trái chín trĩu cành, của lời mời gọi ta đến với biển với nắng. Mùa hè mở vào tâm hồn ta những khát khao thầm kín, dấy lên trong ta những yêu thương, những đam mê bỏng cháy. Trong bài Hạ Hồng, Phạm Duy dường như cũng bốc cháy với mặt trời trên cao:

Mùa hè thiên nhiên như tỉnh giấc
Mùa hè đưa ta tới hồng hoang
Trần truồng yêu nhau trong trời đất
Mùa hè của uyên ương.

Hư Vô đến với mùa hè bằng khúc lục bát bềnh bồng, mơ hồ đến mênh mông:

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Mặt trời lên cao nhưng không sáng chói, mặt trời được miêu tả một cách gián tiếp qua “bóng” em. Là bóng thôi, không là hình, bước vào thế giới tình yêu dường như ta đã chạm phải nỗi buồn và hình như ý niệm hiện hữu của “em” đang nhạt nhòa dần trong không gian, trong thời gian của một ngày nắng hạ. Thoáng thấy bóng em ngoài hiên, chỉ thoáng thấy bằng mắt hay bằng tâm không rõ nhưng rõ nhất là hình ảnh của đàn sáo nhỏ. Sáo vụt bay về cuối ngàn. Cách miêu tả âm thanh của thi sĩ lạ: “vụt” một động tác bay đột ngột, rất nhanh của cả đàn sáo. Ta nghe thật rõ tiếng đập cánh của đàn chim trong buổi trưa hạ, âm thanh của sự sống nhưng chỉ vút lên rồi tất cả lại rơi vào yên lặng. Trong cái tĩnh lặng của cõi tình tiếng đập cánh bay của đàn sáo nhỏ không chỉ khuấy động không gian mà còn khuấy động cả lòng người:

Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Tôi ít thấy chữ “rớt” trong thi phẩm nhất là thơ tình. Chữ rớt thường được dùng như một khẩu ngữ. Nhà thơ chọn hạ rớt chứ không chọn hạ rơi (chữ rơi được dùng nhiều trong văn chương bình dân lẫn văn học viết). Khẩu ngữ vào thơ không làm câu chữ trở thành bình dân mà vẫn giữ được vẻ đẹp kiêu sa của nó. Rơi là một thanh bằng chưa đủ lực làm nhân vật trữ tình giật mình phải là rớt. Thanh sắc dấy động tất cả, khơi dậy tất cả một sự bừng thức của không gian “thênh thang”, một sự bừng thức của “anh”, về “em”. Cái đẹp cũng bừng thức, hoa là em, là mùa hạ, là hoa vàng – màu của mùa hè.

Nếu thi sĩ giật mình vì bóng em khơi dậy cả mùa hạ trong anh thì tôi giật mình vì chữ nghĩa vào tay thi sĩ nó không còn tuân theo qui luật vốn có của nó. Tôi đọc khá nhiều thơ, tôi đã gặp không ít trạng thái “Giật mình” của thơ xưa cũng như nay: Nguyễn Du viết “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh? Giật mình mình lại thương mình xót xa”. Tú Xương viết Sông Lấp: ”Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, Nguyễn Duy viết: “Ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình”. Giật mình của Nguyễn Du gợi cảm xúc thương thân của Kiều, giật mình của Tú Xương là nhớ tiếc những cái tốt đẹp cứ mất dần đi, giật mình của Nguyễn Duy là sự tự hối và cái giật mình của Hư Vô mới đậm chất lạ lùng sao? Một ngẫu hứng duy lý trong một tương quan chặt chẽ “em- mùa hạ- – nỗi nhớ- lãng quên- trở về” sự khuấy động tâm thức, thời gian, không gian làm cho ta cảm nhận chữ tình trong anh trĩu nặng và chân dung của “em” cứ mở rộng dần trong bức tranh mùa hè huyền diệu:

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Mùa hạ đã định hình trong màu hoa vàng trên tóc em, mùa hạ lên cao nhập vào trong nắng tạo màu “trong veo”. Tôi thương nắng thủy tinh của Trịnh Công Sơn, tôi thích câu hỏi của nhạc sĩ với “em” màu nắng hay là màu tóc em? Nắng mùa hạ trong nhạc Trịnh như khối thủy tinh đúc cho nắng lung linh vàng rồi nắng đi vào trong mắt em. Một sự hóa thân, hòa nhập của hai vẻ đẹp: mặt trời-em. Tôi cũng thích cái nắng loạn trong thơ Hàn Mặc Tử “nắng ửng, nắng chang chang, nắng thơm” nắng hè chói chang, nóng rát không còn thay vào đó là nắng tươi, nắng thơm của gấm lụa, của dung nhan. Nắng đã trở thành biểu tượng cho cái đẹp. Nắng của Hư Vô “trong veo” nghĩa là nắng như tấm gương soi không đáy, nắng hữu hình đến trong veo. Chữ nghĩa tượng hình dần như chân dung “em” rõ dần. Không còn là bóng, không còn là mùi hương “hoa vàng” mà là hình hài, là xương thịt là vẻ đẹp kiêu sa. Tôi nghĩ Hư Vô đã dùng nét vẽ tượng trưng cho bức chân dung tình yêu của mình. Tôi nghe giọng thì thầm của thi sĩ. Em mềm như lụa, mong manh như tơ trời, áo là sương khói cho hồn ta thoáng gập ghềnh, lênh đênh. Nhan sắc của người tình sao mong manh, nét đẹp được lọc qua cảm xúc thật tinh tế, thật lãng mạn, vẻ  đẹp vừa táo bạo nhục thể vừa thanh tao duyên dáng “trong veo, thấu,mỏng” nó làm tan chảy mọi cảm giác để chỉ còn đọng lại một cảm xúc tuyệt vời: “Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn”.

Nguyễn Hồng Ân trong bài: “Chiều biển vắng thênh thang” đã viết: “Mang tên em chiều in màu lá / Vừa tàn mùa sen hạ cháy trên cành.”

Hạ cháy của Nguyễn Hồng Ân khơi gợi một sự bừng thức, ngỡ ngàng về mùa hè, Hư Vô lại cảm nhận “mùa hạ chảy trên phím đàn” thì quả là tuyệt bút. Chữ mềm như nhung lụa và tan chảy thành dòng âm nhạc thì không còn gì phải bàn đến vẻ đẹp của ngôn từ. Mỹ học của bài thơ tỏa từ hội họa màu sắc, từ thi ca mùa hạ chảy, từ âm nhạc trên phím đàn. Ta dường như lạc vào thế giới của cõi mơ, của âm nhạc, của cõi tình mê đắm. Ta đang tan chảy vào vẻ đẹp của đất trời, của tình yêu và đồng thời cũng tan chảy vào trong cảm xúc của Hư Vô. Tâm khơi, tình động cho quay quắt một hình hài:

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình.

Mái tóc thề, mái tóc bao lần vào thi ca tạo nên bao hình tượng thẩm mỹ đẹp lạ thường. Lúc còn đi học một cô bạn đã tặng tôi hai câu thơ:

Ta phiêu du mãi chưa về
Biết em còn để tóc thề hay không?

Tôi đã yêu mái tóc thề ngày đó, tôi không ngạc nhiên khi ký ức tình yêu của thi sĩ có mái tóc thề nhưng mái tóc ấy không phải xõa xuống tạo bóng mát cho tình yêu, tạo chiếc cầu cho anh sang em mà là mái tóc xõa để em đi lấy chồng. Oái oăm và trớ trêu là ở đó. Thiên nhiên sao vô tình với nỗi đau của kẻ tình si: “Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.”

Buồn vì tình yêu không trọn vẹn, buồn khi mình tiễn đưa người yêu lấy chồng, thi sĩ lạc lõng trong chốn trần gian “rộn ràng”. Mùa hạ, mùa tình yêu, mùa của hoan lạc, hạnh phúc viên mãn cũng theo em, thi sĩ trở thành khách lạ ngay trong thế giới của riêng mình “Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình”, hình như tôi đang cảm nhận nỗi chua chát đến tê đầu lưỡi, nỗi cô đơn đến rợn ngợp “khách lạ không tìm thấy bóng mình”. Tôi lại thấy đâu đây bóng hình Hàn Mặc Tử:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi thôi ước mơ.

Với Mặc Tử khi em lấy chồng là kết thúc tất cả: cõi mơ, tình mộng, niềm vui, nỗi buồn… Hư Vô không kết thúc vẫn đong đầy những khát khao:

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Nắng đâu còn trong veo, nắng đã lung linh nhuốm màu hư ảo, màu của lãng quên, thi sĩ vẫn mong mỏi đến tuyệt vọng “em giấu kín chút tình phôi pha”. Mối tình ấy sâu đậm đến khắc cốt ghi tâm, không thể quên và không bao giờ quên. Tình ấy mãi vần vương đến “còn thương góc phố quê nhà”, nơi chúng ta từng hẹn, nơi tình yêu của tuổi học trò bừng cháy những khát khao, chữ nghĩa bây giờ dung dị, giản đơn như một khúc ca dao buồn, da diết vang lên từ làng quê Nam bộ “còn thương” hai thanh bằng tạo âm hưởng kéo dài thê thiết của mối tình quá khứ làm sao quên, thương góc phố, quê nhà lặng lẽ, thương hạ vàng áo em và thi sĩ càng cảm nhận nỗi cô đơn cứ rộng đến vô cùng để rôi kết đọng lại thành những cơn mưa hạ ướt đẫm hồn, ướt đẫm tình, tình vô biên. Giấu … như một quãng lặng của cảm xúc ngậm ngùi, của mối u tình mà dẫu cơn mưa có ướt, có thấm đẫm cũng không thể phôi pha. Áo hạ vàng- một bài thơ của tình yêu dang dở, khúc ca buồn của Hư Vô về một cuộc tình đã qua nhưng không tan biến. Tình đã hòa thành dòng chảy của thời gian để rồi rung lên thành cung đàn bất tận. Tôi như thấy thi sĩ ngồi giữa biển hoa vàng nghe hạ chảy trên tay. Không gian, thời gian dường như trầm mặc như tâm trạng đầy uẩn khúc của thi sĩ. Hạ vàng hay áo em nhuộm vàng mùa hạ, nhuộm hồn anh tơi tả những dấu mưa.

Sương Lam
(Kính tặng nhà thơ Hư Vô.)
22/11/2017

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: