Bến Bờ Hư Vô. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Bến Bờ

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!

Lời tình còn đọng trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…

(Hư Vô)

0265f89b-b8ce-418b-a10e-0e3e3d3b30a9

Một buổi trưa không biết ở thời nào
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
(Đi Giữa Đường Thơm – Huy Cận)

Có lẽ như nhà thơ Huy Cận đã viết: “Ca dao luôn sống mãi trong bao tâm hồn Việt. Nó chính là dòng sữa ngọt ngào nuôi lớn đời ta“. Đối với người xa quê, ca dao dường như đã trở thành quê hương, thành xương thịt,  là dòng tâm  tưởng tràn trề, lai láng. Nó gợi nhớ tình quê, gợi những kỷ niệm một thời xa vắng. Chọn thể thơ lục bát của ca dao, Hư Vô đã làm ta sống lại những cảm xúc đã dồn nén bao lâu bỗng tuôn trào, lai láng. Đọc Bến Bờ của thi sĩ ta không chỉ  cảm nhận đang về lại quê hương với dòng sông, con đò, bến đợi và bên tai vẫn cứ văng vẳng những làm điệu dân ca, ca dao về những tình yêu không trọn vẹn mà chính là ta đang sống trong một thế  giới của âm nhạc, của cảm xúc, suy tưởng.

Con đò, dòng sông là mô típ thường thấy trong ca dao. Ca dao thường mượn hình ảnh con đò, bến nước, cây đa để thể hiện tình yêu thủy chung hay ly biệt, nhớ  thương:

– Con đò với gốc cây đa
Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò.

– Cây đa bậc cũ lỡ rồi
Đò đưa bến khác bạn ngồi chờ ai.

– Gọi đò chẳng thấy đò sang
Phải chăng bến cũ phụ phàng khách xưa.

“Thuyền đi để bến đợi chờ,
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau,
Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền”

Chọn một hình ảnh thường xuất hiện trong đời sống, trong ca dao, nhà thơ dễ dàng truyền đến người đọc sự đồng cảm ngay từ phút giây đầu.

Gọi đò, đò đã sang sông
Gọi em, em cũng ngược dòng nhân gian
Gọi nhau một khúc tình tan
Em, người dưng đã, hoang đàng, thơ tôi!
(Hư Vô)

Đoạn thơ xuất hiện hình ảnh dòng sông, bến đợi, con  đò và khách sang sông. Nhưng tất cả đều thể hiện sự trễ muộn. Đò đã sang sông, em ngược dòng nhân gian. Câu chữ không theo quy luật, hình ảnh cũng ngược chiều. Tất cả đều oái oăm, ngang trái. Tình tan, mộng dở dang. Lời gọi đò, gọi em, gọi nhau chỉ còn là những âm thanh buồn bã, tắt lịm. Dòng sông vẫn trôi, đò vẫn cứ sang sông không đợi khách bộ hành. Em không chờ tôi về, đã vội vã bỏ đi, lạc hướng mịt mờ bóng chim tăm cá. Tình tan, em – muôn đời vẫn làm người dưng, hoang đàng theo mỗi bước thơ tôi.

“Gọi” lập lại ba lần, “đò” lập lại hai lần, em- người dưng đã vừa lập lại vừa nhấn, câu cuối những dấu phẩy cắt câu bát thành bốn theo nhịp 1/3/2/2 diễn tả một sự rối loạn của cảm xúc. Thảng thốt, đau đớn, rã rời để rồi buông trôi, buông xuôi. Một nỗi đau định hình, sự thất vọng não nề hiện lên từng câu chữ. Có một chút gì cay trong mắt, có một chút gì nhói trong tim. Có lẽ là nỗi đau từ khúc tình tan của khách sang sông. Cấu trúc câu thơ với nhiều thanh bằng nhưng dường như không tạo được cảm giác nhẹ nhõm mà nhân rộng, tỏa rộng nỗi đau bởi vần “an”. Ngôn từ, cảm xúc của thi sĩ gợi tôi nhớ đến Lời thề cỏ may của Phạm Công Trứ:

Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê.
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…

Phạm Công Trứ gỡ bỏ lời thề cỏ may, Hư Vô khác xưa, hoang đàng cuộc đời, hoang đàng thơ. Chữ tình hư ảo sao làm tan nát bao cuộc đời, bao con người và có đôi khi sự tổn thương đã khép lại hoàn toàn trái tim yêu. Có lẽ điều này đúng với những người vốn có trái tim đa sầu, đa cảm như  chàng trai đa tình trong thi phẩm. “Hoang đàng” có lẽ là câu chữ của  thi sĩ thể hiện một sự thay đổi của nhân vật trữ tình, con người bình thường xưa đã không còn nữa, sự thay đổi quả thật đau lòng. Có lẽ chàng trai không thể chấp nhận được tình tan. Xưa nay tôi vẫn cho rằng tình là vô thưởng bởi nó đến rồi đi không hề báo trước, chính vi vậy khi tình yêu tan vỡ có những người không thể vượt qua có lẽ với một người bản lĩnh cách hành xử trên có phần nào yếu đuối, tiêu cực nhưng chưa hẳn như vậy bởi điều mình đặt hết tâm huyết vào nếu mất đi không thể xem là chuyện bình thường, bởi vậy mà  “khúc tình tan” của thi sĩ bắt đầu lên tiếng:

Lời tình còn động trên môi
Trái tim tôi đã tơi bời xanh xao
Sông sâu có khúc bạc đầu
Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Tình yêu trong Hư Vô thường là nỗi đau, thường là chia ly. Thi sĩ không nói rõ vì sao mà ly tan nhưng đôi khi chính người trong cuộc cũng không hiểu vì sao? Chỉ biết khi tình lỡ nỗi đau dường như làm ta tuyệt vọng. Nhưng có một điều tôi nhận ra nỗi đau tình trong thơ Hư Vô không quằn quại của những rên xiết, thét gào mà thật da diết đến đớn đau của những vết cắt sâu để rồi thành những đóa hoa sầu, những giọt lệ thầm trong đêm sâu khi chỉ một mình trong thăm thẳm của bóng đêm để rồi  thảng thốt chợt nhận ra mình đã không còn như ngày xưa:

Gọi nhau một khúc tình tan
… Trái tim tôi đã tơi bời, xanh xao.

“Tơi bời” câu chữ đơn sơ, giản dị gần như là một khẩu ngữ tạo một định hình cho nỗi đau rất thực. Tơi bời là kết quả của một không gian vừa trải qua một cơn lũ tràn, một cơn bão lớn. Tất cả tan hoang, vỡ nát, rời rã, tang thương. Cơn bão tình làm giông tố phá nát hồn anh, đời anh. Cơn bão đi qua, sự sống rồi sẽ hồi sinh nhưng cơn bão tình thì mãi mãi thổi, linh hồn thành hoang mạc, nỗi sầu tạo thành quách trong tim. Cơn bão tình- cõi vô vọng đang hòa vào nhau tạo thành khúc tình tan . Có lẽ nỗi đau của khúc tình tan sẽ mãi theo chàng thi sĩ suốt những tháng ngày còn lại.  Khi tôi đọc đến câu thơ này tôi liên tưởng đến bài thơ Bão của Tế Hanh:

Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi.
(Tế Hanh- Bão)

Để rồi tôi cảm nhận ra cơn bão lòng tôi vẫn còn thổi mãi một niềm đau quá khứ có lẽ vì vậy mà tôi hiểu “trái tim xanh xao” của chàng trai, lại một câu chữ biến hóa trong tay của thi sĩ, lấy nét vẽ ngoại hình “xanh xao” để miêu tả thế giới nội tâm của riêng mình, một sự nhiễu loạn về màu sắc đỏ thành xanh, sự sống đã lìa bỏ, đã cạn nguồn khi em rời xa tôi. Nhẹ mà thấm, mà đau, câu chữ của Hư Vô vốn là vậy. Tim thay màu, không gian cũng thay màu:

Sông sâu có khúc bạc đầu
(Hư Vô)

Sông bạc đầu hay màu sông cũng đổi thay dường như là lời tự vấn của thi sĩ. Em bạc lòng, sông cũng bạc đầu, thiên nhiên vốn ít khi thay đổi mà vẫn đổi thay huống chi là con người. Em đi, đã làm tan nát cuộc đời tôi lời nhẹ trách mà thương nhiều. Trái tim nhà thơ vốn vậy luôn bao dung, luôn đầy đạm. Lời trách cứ thành âm vang trôi xuôi theo dòng sông:

Đò em lỡ chuyến biết đâu mà chờ!
(Hư Vô)

Em đi rồi biết có quay trở lại. Nhưng cho dù có trở lại nhưng tất cả đã lỡ làng, đã kết thúc, câu thơ vang lên một âm thanh buồn bã của sự đợi chờ vô vọng “biết đâu mà chờ!”. Thời gian không đợi, người không hẹn quay về chỉ còn lại dòng sông và tâm trạng nỗi sầu của người đợi đò. Câu thơ gợi nhớ những câu ca dao với những nỗi buồn sông nước:

-Nước sông lững đững lờ đờ
Thương người nói vậy biết chờ hay không.

-Sông sâu cá lội ngù ngờ
Biết em có đợi mà chờ uổng công

-Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.

-Sông sâu biết bắc mấy cầu
Khi thương thì anh thương vội
Khi sầu anh để lại cho em

Gì buồn hơn giữa những dòng sông đỏ nước phù sa, con thuyền không thấy quay về. Dòng sông buồn thấm vào ca dao, chảy tràn qua thơ Hư Vô để thi sĩ ngẩn ngơ, nuối tiếc, xót xa, hụt hẫng và rồi chỉ biết buông xuôi:

Khi xưa lỡ một chuyến đò
Đi lên đi xuống vòng vo nỗi buồn
Bây giờ cách mấy đại dương
Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!
(Hư Vô)

Ở khổ thơ thứ hai, “Khi xưa” không và chưa bao giờ mất đi trong lòng thi sĩ; nó luôn song hành cùng thực tại “Bây giờ” đó là ranh giới của tình yêu: Anh vẫn không đổi  thay. Không gian xưa hẹp chỉ là một bến sông, mà anh luôn đợi dù biết đợi chờ cũng chỉ để ngậm ngùi “Đi lên đi xuống” tôi thích chữ “ vòng vo” mà thi sĩ dùng. Đẹp, lạ và mang hơi hướm của ca dao tạo sự chân thực trong từng câu chữ. Vòng vo là trạng thái đi không định hướng, câu chữ gợi tôi nhớ đến chàng trai trong bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” với động tác trèo lên/ bước xuống dường như vô thức để diễn tả sự mất phương hướng khi lỡ duyên. Và thi sĩ của chúng ta lại chọn bến sông để “đi lên đi xuống vòng vo” để diễn tả một cảm xúc buồn khi tình yêu đã hết. Vòng vo của bước chân lên xuống vô định kia làm trái tim người đọc cũng như lây nhiễm nỗi đau tình. Hư Vô đang đánh thức điệu hồn ca dao dậy để nỗi ngậm ngùi như sâu, như rộng, như dài hơn dường như để bắt kịp không gian. Ngày xưa là một không gian hẹp “bến sông” bây giờ là một không gian rộng “cách mấy đại dương”.  Xưa chỉ một không gian hẹp mà đã lạc nhau một đời, giờ là không gian rộng thì làm sao mà tìm! “Muốn thăm em, đâu biết đường mà đi!”. Câu thơ dường như phá cách trong kỹ thuật hài thanh, câu chữ dường như không xuôi chiều, dường như có sự chống đối lại nhau. Tôi nghĩ câu thơ có thể viết thành “Muốn thăm em, biết đường nào mà đi!” nhưng thi sĩ không viết vậy bởi vì anh muốn dùng “biết đâu” ở khổ thơ trên thành “đâu biết” ở khổ thơ này như một cách nhấn. Biết đâu là một phủ định, đâu biết cũng là một phủ định, một khẩu ngữ dù có đảo cách nào đi chăng nữa cũng để thể hiện một nỗi niềm sự bế tắc, mịt mờ phương hướng của những kiếm tìm. Tôi nghe như lời tình vô vọng đang vang lên để rồi đọng lại thành nỗi buồn sông nước. Bến chờ, bến đợi trong ca dao chỉ còn trong tâm tưởng, bến sông xưa đã ngăn cách mấy đại dương nên bến tình buồn hiu hắt. Tôi thương những dòng sông đợi đò trong chiều vắng ngắt chỉ có gió lạnh đi qua không nói năng gì, tôi thương lữ hành đợi người nơi bến vắng chiều mưa để bao nhiêu hơi buốt giá thấm vào hồn:

Chiều phơi cuối ngọn xuân thì
Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
Chuyến đò chở khẳm bể dâu
Bỏ tôi ở lại vực sầu lạnh tanh…
(Hư Vô)

Chiều xuống, chiều đang rơi, chiều tàn… Đó là cách mà ta thường dùng khi nói về hoàng hôn, Hư Vô viết “chiều phơi cuối ngọn xuân thì ” cách viết vừa lạ, vừa hình tượng. Tôi tưởng tượng buổi chiều như đang phơi trần trước ta, dấu vết cuối ngày đã buồn lại càng buồn hơn khi hình ảnh người con gái ngồi phơi cuối ngọn xuân thì. Cái đẹp dường như đã tàn, đã kết thúc tạo nỗi ngậm ngùi dài và rồi nhân vật trữ tình cũng rời bỏ nỗi muộn phiền của đời mình trong một nồi niềm day dứt:

Phủi tay, biết có còn gì cho nhau
(Hư Vô)

Yêu là để chờ trong muộn màng, nuối tiếc; yêu là để trĩu nặng niềm ray rứt không nguôi, yêu là những bâng khuâng, nhung nhớ… Tình yêu là hạnh phúc trong nỗi thương đau, lặng im để tưởng niệm một thời tình đã qua… Phải chăng trong thi sĩ, trong tôi và chúng ta những người từng có một thời yêu có phải đã từng cho rằng: Yêu là được nhớ nhung, giữ gìn một ai đó trong tim dù có trải qua bao dâu biển đổi dời tình ấy không mất đi mà vẫn luôn nguyên vẹn.Tình yêu không đợi có nhau trong cuộc đời mà nó sẽ là một hình bóng luôn vẹn nguyên trong tâm hồn ta, nó là động lực giúp ta đứng lên khi bị cuộc đời xô ngã. “Phủi tay” có nghĩa là buông bỏ, là không còn nghĩ đến để vui hay để buồn nhưng chỉ là cái động tác ngoại hình bởì trong tâm hồn ông chữ tình vẫn chất chứa không nguôi “biết có còn gì cho nhau” một cụm từ phủ định nhưng lại mang ý nghĩa khẳng định của sự dâng hiến đầy yêu thương. Câu thơ buồn trong từng câu chữ nhưng lại trĩu nặng những “dấu tích trần ai”. Và trong tận cùng của quá khứ hình ảnh con đò lại quay  trở về:

Chuyến đò chở khẳm bể dâu
(Hư Vô)

Khổ thơ đầu là “đò”, khổ thơ tiếp là “đò em” và hai khổ còn lại thi sĩ viết “chuyến đò” như một trình tự tăng tiến đò chở khách qua sông, em là chiếc thuyền tách bến sang sông một mình và cuối cùng là chuyến đò cuộc đời. Trễ đò, khách tiếc nhớ, mong đợi. Đò em sang sông, anh hụt hẫng đau thương. Đò đời chở nặng giông tố, biển dâu chỉ mình anh nhận thì quả thật là chua xót.

Hai câu thơ cuối khoanh tròn kiếp người, kiếp tình thành nỗi buồn phơi trên ngọn xuân thì. Phủi, bỏ, ở lại.. một loạt từ diễn tả những trạng thái ngược nhau là những suy ngẫm về cuộc đời, về tình yêu. Đời là biển dâu, chàng trai đã nhận trong khoảng đời phiêu bạt, có những nỗi buồn, nỗi nhớ không thể tỏ bày và tình yêu cũng mất chỉ còn lại thi sĩ và vực sầu lạnh tanh. Lạnh tanh nghĩa là rất lạnh. Tình lạnh, đời lạnh chồng lên nhau, nỗi đau của tình lỡ, nỗi đau của bể dâu cuộc đời chỉ mình “tôi” mang không người chia sẻ. Tại sao không là “để tôi” mà lại là “bỏ tôi” . Chữ bỏ đã nói lên tất cả. Bỏ mặc, không đếm xỉa, không đoái hoài là sự từ bỏ, bỏ rơi nó là kết quả của tình yêu một thời tươi đẹp. “Bỏ tôi” đã làm tăng cao nỗi cô đơn, bẽ bàng của thi sĩ, nó dồn ép cảm xúc là một sự cam chịu đầy cay đắng, tôi thương sự cô đơn của thi sĩ trong cuộc đời, tôi cảm nhận được vực sầu lạnh tanh mà anh viết. Hai vần ”anh” liền kề tạo một âm vang, âm vang từ đáy vực nên thăm thẳm mất hút trong không gian nên cuối cùng âm thanh cũng im bặt chỉ còn lại khoảng trắng lặng im càng tô đậm dáng vẻ cô đơn của nhân vật trữ tình. “Lạnh tanh” tôi rằng nó là cụm từ đắc địa thể hiện trọn vẹn cảm xúc của bài thơ. Lạnh của yêu thương, lạnh của nhân tình, cái lạnh đã trùm suốt bài thơ nhưng càng về cuối cái lạnh càng lạnh hơn nữa thành một chuỗi âm vang không lời thể hiện cái lạnh  lẽo, trơ trọi của một nỗi đau tình khi chỉ còn mình “anh” đi trên con đường tình, đường đời  bơ vơ.

Khúc tình tan của Hư Vô đã cho tôi một khoảng lặng của ngậm ngùi, của xót xa khi tình yêu tan vỡ.  Nếu Xuân Diệu đã từng làm xúc động bao trái tim người yêu thơ với “Cung Nguyệt Lạnh” thì Hư Vô đã đem đến cho người đọc mê lộ cùng đường của “Khúc Tình Tan”. Trong khúc ca tan vỡ kia tôi thấy thấp thoáng bóng của ca dao hiện về với giọng hò thê thiết trên sông nước mênh mông với những khúc ca não lòng của  tình yêu tan vỡ. Tôi tìm thấy trong khúc tình tan của Hư Vô nỗi chạnh lòng, nỗi thương thân trong kiếp tình buồn, trong cuộc đời dâu biển đa đoan và khi bài thơ khép lại thì cái giọt “lạnh tanh” kia chính là giọt sầu, giọt đời thi sĩ, tôi, bạn đang uống từng ngày và ngày vẫn cứ trôi trong tiếng vọng của ngàn xưa với khúc tình tan của chàng thi sĩ có tên gọi HƯ VÔ.

August, 2018
Trần Sương Lam

Thi Sĩ Hư Vô – Như Loài Chim Thorn Birds. Tùy bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

Như Loài Chim Thorn Birds

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…

Hư Vô

Như Loài Chim Thorn Birds

Hình ảnh chim, cánh chim không lạ trong văn chương Việt Nam xưa cũng như nay. Ta có thể bắt gặp trong văn chương trung đại cánh chim mang cả buổi chiều trong đôi cánh nhỏ, chao nghiêng; cánh chim bơ vơ, lạc loài cuối chân trời tìm về chốn bình yên; cánh chim với giọng hót nức nở của nỗi thương nhà, nhớ nước… Nối tiếp dòng văn thơ cổ, nhiều thi phẩm hiện đại vẫn thấp thoáng những cánh chim bay:

“Chim trời thả bóng vào mây
Ngẩn ngơ thả nhớ vào ngày xa em”
(Hoàng Đình Quang –Chiêm Bao)

Ngày mai nhạn sẽ hợp đôi
Ngày mai tôi sẽ ngỏ lời yêu em (Ngày mai)

Nhưng tội nghiệp, trên trời đôi nhạn lạc,
Cứ yêu nhau đừng tưởng đến ngày mai..
(Lòng anh – Hàn Mặc Tử)

Những cánh chim trong thi đàn hiện đại Việt Nam thường là cánh chim chuyển tải những cảm xúc của con người trong tình yêu với khúc hoan ca lẫn bi ca về tình yêu. Hư Vô cũng hòa vào chương khúc tình yêu của Việt Nam, của nhân loại lời hát tình yêu “Như Loài Chim Thorn Birds”.

Trong truyền thuyết có một loài chim là Thorn Birds. “Loài chim ấy chỉ hót một lần trong đời nhưng là tiếng hót hay nhất thế gian. Có một lần nó rời tổ bay đi tìm cho bằng được một bụi mận gai. Giữa đám cành gai gốc, nó cất tiếng và hát bài ca của mình rồi lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Nó không biết sức mạnh nào đã buộc nó lao vào mũi nhọn đến chết mà vẫn hót. Lúc mũi gai xuyên qua tim, nó không nghĩ rằng mình sắp chết, nó chỉ hót cho đến lúc mất tiếng đứt hơi”…và thi sĩ Hư Vô đã mượn loài chim Thorn Birds để gửi vào đó khúc tình buồn của mình.

Khúc tình buồn ấy bắt đầu bằng câu chuyện thuở mới quen nhau:

Tôi phiêu lãng mang hồn đi ở trọ
Chỗ nhân gian lạc lõng tiếng khóc cười
Để thấy em hoá thân thành người lạ
Rồi lân la chen chúc bước vào đời.
(Hư Vô)

Hai câu thơ đầu tôi cảm nhận lạnh, lạnh tanh. Trần gian lạc lõng, chơi vơi. Trần gian đơn điệu chỉ có tiếng khóc, tiếng cười. Trần gian không có gì để gắn bó nên chẳng thiết tha. Lạnh, nhạt, câu chữ hằn một nỗi chán chường đến mệt mỏi. Nhưng chàng thi sĩ không đi một mình, vô tình nhận ra “em” cũng bước vào cõi tạm với sự “lân la, chen chúc” hai từ này trong văn nói thường mang nghĩa “chê” (nghĩa âm tính), nhưng khi ngôn ngữ đã thành thơ sẽ trở nên sống động, tượng hình lạ lùng. Còn từ “hóa thân” lại là một từ đẹp. Tôi cho rằng “em” ở đây có một cái gì không như trước, không giống như xưa và khi hai người yêu thương nhau không cảm nhận sự gần gũi thì sao có thể gắn bó. “em hoá thân thành người lạ” dường như là lời báo trước của thi sĩ về cuộc tình tan. Kiếp trước hẹn hò gặp nhau kiếp sau. Nhưng kiếp sau lại có một cái gì chênh giữa hai con người ấy. Tôi cảm nhận hình như giữa hai con người ấy “lạc” mất nhau rồi. Nhớ lời thề nguyền, tìm dấu tình yêu, tìm chốn ước hẹn chờ người:

Dấu chân hoang còn in trên phiến đá
Từ trăm năm một di tích luân hồi
(Hư Vô)

Lãng tử tìm thấy dấu chân thuở trước như một di tích luân hồi. Nhẽ ra dấu vết ấy nên dùng chứng tích hay dấu tích nhưng nhà thơ lại chọn di tích luân hồi. Một nghệ thuật cường điệu để dấu tích trần ai bình thường thành di tích luân hồi đặc biệt. Đặc biệt vì khối tình ấy như khối ngọc lưu ly không tan, luân hồi theo kiếp người. Tình đẹp, thi sĩ nặng tình. Câu thơ ấm áp, tỏa rạng, cảm xúc thăng hoa. Nhưng cái gì đẹp lại không ở với ta lâu, tình như chiếc bóng vừa thấy đã tan biến. Sự chóng vánh tạo giọng điệu xót xa:

Như chiếc bóng cựa mình trong lòng mắt
Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!
(Hư Vô)

“Cựa mình” câu chữ chạm đến sự mong manh. Tình sao mong manh thoáng qua trong tia nhìn rồi hun hút trôi đi. Hụt hẫng, bàng hoàng, tiếc nuối. Trái tim nặng tình đau xót không nguôi. Ý thơ làm tôi nhớ đến một câu ca dao:

“Xốn xang như muối xát gừng,
Phải chi hồi trước ai đừng biết ai!” (Ca dao)

Người tình trong ca dao hối tiếc vì biết duyên không thành thì thà đừng quen nhau. Lãng tử không hối tiếc mà đau xót vì không giữ được tình đã đợi chờ nhau bao kiếp.

Tình yêu đã hết thì không thể quay lại được nữa, cho dù tâm còn động, cho dù không thể quên. Điều này đến bây giờ tôi mới cảm nhận được: Người ta rời bỏ nhau không phải vì hết yêu nhau mà vì không còn có thể ở cùng nhau được nữa. Có lẽ vì vậy mà câu thơ “Có xốn xang thì cũng mất nhau thôi!” đã trở thành nỗi ngậm ngùi dài.

Vì sao mà chia tay có lẽ chỉ mình lãng tử hiểu và đã là niềm riêng thì sao có thể sẻ chia chính vì cứ mang nên nỗi sầu cứ nhân lên nhiều dần cho đến một lúc phải vỡ tung, phải kết thúc, phải dừng lại. Khổ thơ tiếp tôi cho rằng nó là khổ thơ nặng chất kịch tính đẩy cảm xúc của thi sĩ lên cao trào:

Tôi lảo đảo tựa loài chim Thorn Birds
Gọi thất thanh lời yêu dấu sau cùng
Chùm gai nhọn xuyên qua đời thảng thốt
Đâu chắc gì em đã kịp khóc chung.
(Hư Vô)

“Tôi” xốn xang, lảo đảo, thất thanh, thảng thốt… một loạt từ láy diễn tả nhiều cung bậc của tâm trạng tràn ngập những âu lo, thảng thốt, hãi hùng. Âm thanh, cảm xúc, hành động được khuấy động lên như một cơn giông bão mịt mù. Động lực cuối cùng để tồn tại cũng không còn. Tình bao kiếp cũng tan vỡ, sức chịu đựng hoàn toàn sụp đổ thương quá hình hài của chàng trai “phiêu lãng mang hồn đi ở trọ” âm thanh thảng thốt cuối cùng cất lên là khúc hát về tình yêu bất tử trỗi dậy trước khi nhận chùm gai nhọn xuyên thấu qua trái tim mình. Dòng máu chim Thorn Birds đang tuôn chảy, dòng máu của chàng trai đang tuôn chảy cuốn theo dòng nước mắt của tôi – người đã chứng kiến mối tình giẫy chết. Hóa thân của tình yêu sao quá đắt, gục xuống trên chùm gai nhọn vẫn là kiếp cô đơn và trong tận cùng sâu thẳm của linh hồn yêu vẫn khắc khoải một điều da diết: mong giọt nước mắt em rơi trước chân tình của tôi. “Đâu chắc gì” vẫn là giọng buồn thương da diết ẩn chứa một nỗi niềm một hoài vọng, mong ngóng. Không có dịp để làm người tình chung nhưng không thể thì mong được một lần “khóc chung”. Ước muốn đơn giản nhưng vẫn không thành hiện thực. Lời thơ chất chứa những đắng cay.

Sự ruồng bỏ đã thành hình nhưng trái tim tình yêu vẫn không ngừng khắc khoải một ước mơ: chàng trai phiêu lãng gửi lại cho đời khúc tình yêu bất tử, một tặng vật tình yêu quý giá cho những tình nhân đang tha thiết yêu nhau:

Thì cũng có một thời em lỡ vận
Ngồi tựa lưng cùng những bụi mận gai
Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn
Ghim ngọt ngào một dấu tích trần ai…
(Hư Vô)

Một hồi ức về tình yêu đã qua. Vẫn là cái nhìn bao dung, nhân hậu của thứ tha. Em cũng đã từng yêu tôi, từng hy sinh cho một tình yêu vĩnh cửu cũng từng bị gai cào nát thịt da. Dấu tích tình yêu, sự tận hiến của em cho tình vẫn còn ghi dấu, cho dù hôm nay em đã quên, đã không còn yêu thương tôi vẫn không trách hờn, tôi vẫn muốn để lại cho em một khúc hát của tình yêu bất tử, món quà tôi tặng ghi dấu những hoan lạc của tình yêu cùng những ngọt ngào, cay đắng. Đó là “dấu tích trần ai” Nếu chỉ là dấu chân hoang qua cõi tình nhiều kiếp chỉ là một “di tích luân hồi” nhưng đã là sự hiến dâng thì lại là một kết thúc luân hồi để tình yêu chuyển sang một cung bậc mới “dấu tích trần ai”. Tình yêu định hình trở thành những vết cắt đớn đau “Nghe máu chảy sụt sùi quanh vết nhọn” nhưng rồi nó “ghim” thành một một dấu tích ngọt ngào. Điều rất sâu trong cảm nhận của thi sĩ là nỗi đau đớn của kiếp tình sẽ thăng hoa trở thành một bông hoa, bài nhạc khi nó được trui rèn trong sóng gió, trong sự tha thứ, bao dung, trong sự tận hiến của con người như Meggie Cleary – người phụ nữ trong tiểu thuyết “Tiếng Chim Hót Trong  Bụi Mận Gai” được Colleen Mc Culough xây dựng lên chính là hiện thân của loài chim Thorn Birds. Meggie biết tình yêu không phải chỉ là vị ngọt, nó có cả vị mặn chát, chua, cay của nước mắt, của ghen tuông, của hiểu lầm, của chia ly… mà nhiều khi, cái vị ngọt ngào của hạnh phúc, trong cả cuộc yêu mình chỉ nếm được một lần. Nhưng cái gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi người ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại. Bởi vậy nên cô cứ lao ngực vào bụi mận gai, vắt kiệt sức mình vì tình yêu, dù biết nó có thể vô cùng đau đớn.

Bụi mận gai không lạ với những tình yêu mãnh liệt. Ở đó, những tình nhân đã từng nếm nhiều hương vị của tình yêu ngọt ngào, chua cay lẫn đớn đau. Mỗi lần đớn đau là thương tích toàn thân, nỗi đau như máu tim chảy tràn. Lời thơ làm tôi nhớ đến lời của một bài nhạc “Speak Softly Love” của Nino Rota do Larry Kusik viết ca từ và Trường Kỳ dịch lời Việt: “Có biết đau thương mới như là tình / Say đắm trong đời thì mới là yêu. / Tình như đớn đau tình xé lòng nhau / Muôn đời không lành.” (Thú Yêu Thương)

Chết cho tình yêu, cái chết ngọt ngào tuy đớn đau nhưng khẳng định cái quý giá của tình yêu. Nếu cuộc sống trần gian không còn chỗ cho tình yêu tồn tại thì nơi ấy đã tận thế.

Đọc bài thơ tôi tự hỏi: Tình yêu không phải lúc nào cũng là khúc ca hoan lạc mà có khi còn là khúc bi ai. Phạm Thái vì tình mà vỡ tan giấc mộng anh hùng, Honoré de Balzac chờ đợi hơn hai mươi năm để đến với tình yêu muộn của mình và còn bao nhiêu cặp tình nhân đã như loài chim Thorn Birds kia chấp nhận cái chết để dâng tặng cuộc đời một khúc ca tuyệt vời, như Meggie Cleary hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho “người tình trăm năm” mà không hề hối tiếc. Vị đắng của tình yêu càng nhiều thì vị ngọt ngào càng có ý nghĩa hay nói một cách khác tình chỉ đẹp, mãi mãi tồn tại nếu ta biết dâng hiến, chấp nhận mọi nỗi đau chỉ cho riêng mình.

Trần Sương Lam

Tài liệu tham khảo:

Trang Tho Hư Vô

https://evan.vn- : Hạ Miên

Thêm Một Lần Tháng Bảy. Tuỳ bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

613B8335-7106-47E7-B368-9124C26CDF62

K niệm đối với tôi đó là những gì thật sự trân quý. Có thể đó là một k niệm vui cũng có khi là k niệm buồn. Nhưng cho dù vui hay buồn nó vẫn luôn hiện diện trong tâm hồn tôi, ru ngủ tôi trong những tất bật của cuộc sống. Tôi thường gọi đó là những hoài niệm khó quên. Nhất là những hoài niệm về những mối tình đã đi qua trong lứa tuổi học trò đẹp như những bông hoa phượng vĩ trên cành chỉ rực rỡ mỗi độ hè về. 

Nhà thơ Hư Vô cũng đi qua tuổi học trò với những mối tình sầu mãi mãi còn trong bao thăng trầm của đời sống. Thêm một mùa thu qua, thêm một tuổi thì nỗi nhớ dường như càng nồng nàn, say đắm hơn vì mối tình ấy chưa đi đến cuối đường đã vội vàng rẽ nhánh để lại sau lưng những đau khổ, nuối tiếc khôn nguôi như bài thơ “Thêm Mt Ln Tháng Bảy“ của thi sĩ Hư Vô

Tôi không nhớ Sài gòn trước đây tháng by thế nào? Vì tháng bảy là tháng nghỉ hè. Tôi thuở nhỏ lại là con mọt sách hình như chữ “chơi” với tôi là một khái niệm mơ hồ. Nhưng khi đọc bài thơ thì trong tôi mùa mưa Sài gòn, mùa thu Sài gòn như đang hiển hiện trước mắt bềnh bồng, mơ hồ, xa xăm… Một Sài gòn chưa đi đã nhớ, càng ở càng thương. Tôi nhớ những con đường cây xanh bóng mát ngày hai buổi đi về. Con đường Đoàn Thị Điểm, Ngô Thời Nhiệm, Phan Thanh Giản, Bà Huyện Thanh Quan … sao mà thương đến thế. Thế giới tôi chỉ đơn giản là con đường đến trường với những tàng cây rợp mát, hoa Ngọc Lan thơm ngát con đường mưa. Nhưng đối với Hư Vô lại là con đường của hẹn hò, của tình yêu tuổỉ học trò thơm ngát. Mưa, tà áo dài, mái tóc thề ngang lưng ngày ấy có lẽ đã trở thành một hình ảnh quen thuộc của thơ ca trước đây:

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!
(Hư Vô)

Mưa thơm. Mưa không màu, không mùi vào trong thơ thành mưa thơm. Mưa thơm vì mưa thấm em, thấm mùi hương áo em, tuổi thanh xuân, mùi thơm thật khó quên, mùi thơm làm bao nhiêu trái tim phải bối rối ngăn cảm xúc đang tuôn chảy thành dòng. Có một thời tôi rất yêu “Một Chút Mưa Thơm” của Mường Mán nhà thơ của Sinh viên Sài Gòn những năm 70.

Mưa thân ái trên tay
Tay mỏi rời trong tóc
Tóc nhớ ai mọc dài
Mắt nhớ ai muốn khóc
Tay của em
Tóc của em, và
Mắt của em
Của mưa của mưa, ừ
Của mưa
Tay em tay mưa
Tóc em tóc mưa
Mắt em mắt mưa…
(Mường Mán)

Để rồi cũng cơn mưa thơm ấy vào tôi cũng trở thành ám ảnh chẳng nguôi ngoai:

Cho em chút mưa thơm
Rơi trên tay ngọt ngào
Mưa ơi em quên hết
Giọt sầu môi run run
(Mường Mán)

Mở đầu không gian tình yêu của Hư Vô là không gian của khứu giác: tưởng nhớ một mùi hương. Không hiểu sao khi tôi đọc “Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóctôi lại nhớ đến một tình Kim Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du  với câu thơ thật lãng mạn Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” mùi hương “xộc” vào tâm hồn ta; mưa và mái tóc dài ngang lưng  thật ấn tượng. Người lãng mạn ai mà không yêu mưa. Những cơn mưa thấm đất, thấm vào lòng người, thấm vào cuộc tình nỗi nhớ miên man:

Ở đầu kia nỗi nhớ
Nằm đếm tiếng mưa rơi
Đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ
(Trần Đình Chính)

Để rồi những hạt mưa thấm đẫm mái tóc em ướt bờ vai con gái thành một ám ảnh không phai. Tháng by mưa. Mưa suốt cả ngày, cả chiều và cả đêm. Những hàng cây rũ rượi trong mưa. Những mái hiên che dọc đường Tự Do, thương xá Tax thành chỗ trú mưa, thành chốn em qua. Những con đường em đến và đi trong cuộc tình đã trở thành con đường mang tên em.

Chỗ nào cũng có bóng em qua!
(Hư Vô)

Tôi thích ngôn ngữ thơ của Hư Vô đơn sơ nhưng gợi. “Chỗ nào” thì hình như đã là tất cả, nghĩa là thế giới của anh, em đã chiếm lĩnh tất cả nhưng buồn ở chỗ nó không phải “dáng em” mà là “bóng em” nghĩa là nó đã trở thành mơ hồ, sương khói, chỉ là bóng không còn là hình, chỉ còn là hư ảo với bao nhớ tiếc khôn nguôi.

Bốn câu thơ đầu, Hư Vô để chút hương gây mùi nhớ, để cơn mưa làm tan biến cái hữu hình và bức chân dung tình yêu trải rộng một nỗi nhớ “hư hao”.

Phố mưa- mái  tóc- con đường cuộn tròn lại thành nỗi nhớ, thành nụ hôn đầu của em mười sáu tuổi:

Thanh xuân lại chìm ngập không gian yêu. Thời gian quay lại thanh xuân. Hư Vô quay lại với nụ hôn đầu mê đắm:

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.
(Hư Vô)

Nụ hôn vội vàng, cuống quýt, lơ ngơ sao mà dễ thương chi lạ. Nụ hôn mà bao năm rồi vẫn cứ làm ta ngơ ngẩn, ngẩn ngơ. Nụ hôn mà Trần Dạ Từ từng say đắm đến dại khờ:

Lần đầu ta ghé môi hôn
Trăm con ve nhỏ hết hồn kêu vang.
(Trần Dạ Từ)

Nụ  hôn “hết hồn” trăm con ve  nhỏ, hết hồn chàng thi sĩ đa tình và “em” cũng ngẩn ngơ theo. Nụ hôn của Hư Vô với tình nhân là “thảng thốt”. Cả hai thi sĩ đều có một cảm giác bất ngờ, bàng hoàng đến ngẩn ngơ với nụ hôn đầu đời và có lẽ thế giới đang chuyển động phải dừng lại nhiều giây chờ nụ hôn đầu. Câu thơ gợi lại trong ta- những người đã từng có nụ hôn đầu” một cảm xúc khó diễn tả thành lời. Nụ hôn là kết đọng của cảm xúc, của tình yêu, của những thăng hoa. Nụ hôn đầu của Hư Vô làm sống lại những gì già cỗi trở lại thanh xuân và cũng từ đây cõi riêng của anh và em” bắt đầu những nợ nần, quấn quít đời nhau. Giọng thơ mê man, chìm đắm trong cõi riêng, ta cảm nhận hình như đã đủ đầy hạnh phúc, đủ đầy yêu thương.

Tình yêu đẹp như một giấc chiêm bao. Câu thơ dường như là chiêm nghiệm của thi sĩ: Cái gì đẹp thường không ở với người ta lâu. Mưa tháng by và giấc mơ dường như đã báo trước sự tan rã của đôi tình nhân:

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.
(Hư Vô)

Tôi đã từng đầu trần trong mưa lang thang bao nhiêu con đường những lúc cô đơn và tôi hiểu mưa là mở ra một thế giới tâm trạng với bao uẩn khúc. Hư Vô đã đưa tình yêu của mình vào thế giới mưa- thế giới của bao nỗi ngậm ngùi. Mưa vuốt ve ướt môi trần tình nhân. Những giọt mưa ve vuốt em, cái lạnh cũng theo về. Mưa tháng bảy dường như đã đưa ta vào thế giới lạnh lẽo với “những hạt mưa lăn”, mưa không rơi mà lăn như tô son lên môi tình nhân. Môi như mềm hơn nhưng lại ướt trong lạnh lẽo.Tôi cảm nhận sự chia ly đã bắt đầu từ đây, từ những giọt mưa lăn trên đôi môi người con gái.

Để rồi cái ngày chia ly cũng đến, cũng chạm vào cuộc tình thơ mộng thuở đầu đời:

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.
(Hư Vô)

Nhà thơ đã tượng hình một không gian ảo trên cái nền hiện thực Sài gòn- Sydney- Los Angeles nơi Hư Vô đã từng đặt dấu chân qua: Sài gòn chỉ còn là miền ký ức, tình yêu anh đã để lại nơi này, để lại em với “dòng nước mắt” cùng nỗi nhớ tình nhân. Em biết khóc đôi lần có phải Hư Vô tham lam muốn người ở lại cả đời cứ nhớ, cứ thương một người mù khơi hay nhà thơ đang hỏi lại mình. Có bình yên nơi xa xôi không? Hay vẫn cứ canh cánh một nỗi niềm ray rứt không nguôi. Tình buồn và nỗi nhớ khó nguôi ngoai. Tôi không còn bên em, không gian chúng mình thật diệu vợi, lạc nhau, mất  nhau rồi nỗi buồn như nhân đôi “Dù Sydney hay Los Angeles/ Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.”

Thể thơ thất ngôn phù hợp với biểu hiện cảm xúc tâm trạng, cả câu thơ chỉ duy nhất một  thanh bằng tạo một cảm giác lạc lõng, chơi vơi không định hướng để rồi chìm đắm trong cõi sầu bát ngát. Dòng tiếp theo lại có đến 5 thanh bằng để rồi kết thúc bằng âm vang thôi”. Thôi là kết thúc, là chấm dứt là không còn gì. Chữ nghĩa dường như nhòe đi trong sự se xót. Buồn, em ở lại, tôi đi, sự chia cắt rạch ròi cả hai không còn chung lối, tình lỡ, nỗi buồn như ngân vang thành tiếng thơ đến xé  lòng.

Tháng bảy mùa ngâu, mưa như trút nước. Mưa gợi nhớ bao nhiêu điều; có điều mọi người ai cũng hiểu nhưng có điều chỉ có mình nhà thơ hiểu:

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
(Hư Vô)

Con đường tình yêu không còn chung một lối. Tôi và em ngược hướng nhau rồi. Sự dõi tìm là vô vọng. Chiều đã xuống, sương phủ nhạt nhòa và lá bay khi mùa thu tới. Tất cả đã chìm khuất, mịt mờ. Trong sương khói của mưa, của mùa thu bóng em vẫn hiện ra thật đậm, thật rõ ràng với những bước chân thật dài, bước chân đuổi theo tình yêu đã mất dần dấu vết:

Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…
(Hư Vô)

Tôi chạnh thương người con gái với tình đầu dang dở, có thể đối với một ai đó nó chỉ là một thoáng phôi pha nhưng có thể với ai đó thì ngàn năm vẫn không quên.

Tình yêu chỉ mang đến cho ta thoáng ngậm ngùi, nỗi khổ đau nhất là đối với những tình yêu không trọn vẹn.

Thêm một lần tháng bảy là thêm khoảng cách của chia ly, thêm một lần nhói buốt trái tim yêu, thêm một nỗi niềm thống khổ của hai con người yêu mà không thể ở gần nhau. Đã là mưa thì ở đâu cũng thế. Cũng buồn như nhau. Đã là ly tan thì ở đâu cũng đau. Mùa mưa vẫn cứ về như một quy luật tuần hoàn của thời gian nhưng tình yêu thì không có quy luật, đến và đi là lẽ vô thường. Vì vô thường nên ta cứ đau mãi không nguôi, nên vẫn cứ cúi xuống khóc cho những mối tình dang dở

Trần Sương Lam
July, 2018

Thêm Một Lần Tháng Bảy.

Mưa Sài Gòn còn thơm dáng tóc
Thả xuống lưng chừng vai áo xưa
Đường Tự Do hay Thương Xá Tax
Chỗ nào cũng có bóng em qua!

Phố xá dường như đang mười sáu
Từ em thảng thốt nụ hôn đầu
Còn giấu hồn tôi trong vạt áo
Cho nợ nần quấn quít đời nhau.

Không phải chiêm bao thì cũng đã
Có một thời rộn rã tình nhân
Để em ve vuốt cùng tháng bảy
Những hạt mưa lăn ướt môi trần.

Cũng có đôi lần em biết khóc
Khi phố phường đã vắng bóng tôi
Dù Sydney hay Los Angeles
Thì buồn nào cũng giống nhau thôi.

Mà chỉ riêng một mình tôi hiểu
Đường ngược chiều mù lá sương bay
Em bước cho dài thêm tháng bảy
Cũng đâu níu kịp một hình hài…

Hư Vô

Dưới Bến Trên Thuyền. Tuỳ bút Tường Bách


Tường Bách

(Bài của nhà văn Tường Bách được đăng trên báo Ngày Nay số 3, in tại Hà Nội ngày 20/02/1935)

Bờ sông Hà Nội, ngay ở chỗ bến thuyền, là một nơi ít người để ý đến, ít để ý đến cách sinh hoạt của dân cư dưới bãi cát hay trên thuyền bè.

Người ta có đi qua cũng chỉ thấy một khung cảnh vui vẻ, tấp nập, tuy bây giờ đã kém xưa, hồi mấy năm về trước nhiều lắm. Cái rừng cột buồm thẳng tắp, khi trước chi chít, bây giờ trông có vẻ lơ thơ, buồn bã.

Những thuyền chở gỗ từ Yên Báy, Phú Thọ, chở than từ Đông Triệu, Quảng Yên, chở muối từ Nam Định, Thái Bình, tuy vẫn lui tới, nhưng chỉ còn ít. Ngoài cái nguyên nhân từ khủng hoảng kinh tế ra, còn vì lẽ những hàng hóa ấy người ta chở bằng tầu hỏa hay tầu thủy, nhanh chóng hơn và giá vận tải cũng không cao hơn là mấy.

May ra có những thuyền những thuyền Nghệ chở nước mắm là còn giữ được chút phồn thịnh ngày trước. Những chiếc thuyền đi bể này, trông to lớn, cột buồm cao vút với lá cờ phấp phới trên ngọn, hai bên mui vẽ mắt như mắt cá và rồng phượng nhiều màu như để dọa nạt những cơn sóng ngất trời ở giữa bể khơi. Một chiếc thuyền ghé vào bến Hà Nội như thể mang tới một chuyến hàng độ bốn năm trăm tấn, ngày trước có khi đến hằng nghìn. Hàng ấy chứa đầy trong đáy thuyền tối om và sâu như cái giếng, thường thường chỉ có một cái lổ vuông bằng cái bàn con để thò gáo xuống múc lên.

Bán hết rồi, họ xuôi về Nghệ. Về mùa này, phần nhiều họ đợi được gió bấc rồi mới quay mui. Người Nghệ đi bể quen nên đoán thời tiết rất giỏi. Nhiều khi, trời nắng chang chang, gió nồm thổi ẩm ướt, mà họ cũng sửa soạn cho thuyền quay về: thế là tối hôm ấy tự nhiên trời đổi lạnh, gió bấc thổi vù vù đưa những thuyền Nghệ xuôi ra bể nam.

Đời những người làm thuyền thật vất vả. Quanh năm sống trên mặt nước, những công việc khó nhọc và nắng mưa, gió bể đã khiến cho tay, chân họ thành chai và da dẻ xám đen già cỗi. Lắm khi còn phải chống cự với nhưng cơn gió táp lúc đang lênh đênh trên mặt sóng.

Mà những phu-phen làm việc ở bờ sông cũng khó nhọc như vậy. Họ phải vác những bao to hay gánh những gánh nặng đầy sỏi, cát hay than đá đen sì, trèo từ dưới thuyền lên bờ sông, dốc và gồ ghề. Những phu kéo gỗ nhiều khi phải giắt giây nhau chừng hai mươi người mới kéo nổi một cây gỗ lên cạn. Mồ hôi chảy nhễ nhại trong lúc trời rét như cắt, họ vừa ra sức vừa hát những câu tình ái kéo dài bằng những tiếng “ới a”, và thỉnh thoảng lại điểm một tiếng “dô ta” vang động cả bờ sông. Mỗi ngày như thế, tiền công được độ hai ba hào không cơm là nhiều lắm. Ăn uống lẽ tất nhiên là rất khổ sở. Và tối đến, họ chui rúc vào những nhà nứa lợp gianh ở Cấu Đất, những nhà thấp nhỏ, chật chội, bẩn thỉu và tối tăm không chút vệ sinh.

************

Bãi Cầu Đất cũng như mọi nơi khác, bên bờ sông, thật là chỗ tụ họp của người nghèo: phu phèn, thợ thuyền, buôn bán lặt vặt, như quà bánh chẳng hạn, chen chúc nhau trong dãy phố tồi tàn ấy. Đã vậy, nhiều khi nước lên to, tràn ngập cả, tình cảnh lúc đó mới thật là khốn đốn, vì còn biết chạy đi đâu. Ở bãi Cầu Đất, ta thấy rõ cái cảnh nghèo hèn, cách ăn ở khốn nạn của bọn mà ta gọi chung cả một tiếng là bọn hạ lưu. Nhưng khốn nạn thì khốn nạn, bao giờ họ cũng tìm được cách mua vui, những cuộc vui tai hại như rượu chè, cờ bạc.

Ở bến tàu thuỷ, quang cảnh vui vẻ hơn, vì sạch sẻ, sáng sủa hơn đây là lẽ tự nhiên. Nhưng lắm khi ta thấy, giữa đám đông người vừa ở dưới tàu lên, một cô gái quê ngớ ngẩn, tay cắp thúng trông bốn phía như tìm đường đi. Rồi có một người đàn bà chạy đến, nói cười một lúc rồi dắt cô đi theo. Người nhà hay quân giỗ người? Không biết chắc, nhưng ta đã nghĩ rằng cô gái quê ấy đã bước bước đầu trên con đường trụy lạc trong thành phố Hà Nội mà cái tiếng phồn hoa đã gọi cô đến nơi.

Ngoài những kẻ giỗ người, còn có những kẻ rủ người đi để bóc lột nữa. Một hôm, tôi đương đứng hứng gió bên bến tàu, bỗng có một anh quần áo cánh trắng tiến lại sẽ hỏi:

– Gỡ không?

Tôi chợt nghĩ đến bao nhiêu người ở dưới tàu lên thì giàu có, rồi chỉ vì một tiếng gỡ, mà phải ăn mày về tàu. Muốn cùng chung một số phận như họ, tôi đáp:

– Gỡ gì?

– Xốc dĩa, xì phé gần đây

Anh ta đưa tôi qua bãi cát, tới gần cầu, và lên một chiếc thuyền con chở ra giữa sông đến một cái nhà bè rộng rãi. Trong đó, đủ các hạng người đang sâu sé nhau. Mà trong đó, người hạ lưu không phải ít. Trong bộ quần áo bẩn thỉu, rách vá, họ ngồi để bị bóc lột, hình như sung sướng lắm. Trông những đồng tiền họ vứt đi, tôi lại nhớ đến bao nhiêu ngày họ phải khó nhọc, vất vả mới kiếm ra được.

Dưới bãi bờ sông thật là nơi tụ tập của người tứ xứ. Chỉ có những người các tỉnh khác, vì kinh tế phải rời làng đi kiếm ăn ở Hà Nội. Nghèo thì làm phu, làm thợ, mà giàu có hơn thi buồn bè, buồn nứa.

Cách sinh hoạt trên những nhà bè cũng có nhiều cái thú vị. Lênh đênh trên mặt sóng, nước lên đến đâu dâng cái bè lên đến đấy. Nhiều người quanh năm ở trên nhà bè, sống về nghề chài lưới. Còn những người buồn nứa, đến mùa nước cạn, họ làm một cái nhà trên bãi cát để ở.

Trông chỗ nhà bé ấy với cái nhà gianh thấp hẹp, nhiều nhất là những cái vòm tựa như cái cống làm bằng mui thuyền cũ, dưới đặt mấy cây nứa để ngủ, nằm rải rác trên bãi cát rộng, ta tưởng tượng như đứng giữa một bãi sa mạc bên Phi châu. Mà nói cho đúng, cách ăn ở của người mình ở đây cũng chẳng hơn người da đen là mấy.

Ngày họ đi làm, chẻ nứa hay bó nứa, tiền công độ một hào, hào rưởi, mà là công việc nhẹ, phần nhiều đàn bà trẻ con làm. Con bọn đàn ông thi đi giắt bè, những bè nứa từ trên Chèm về, đóng thành từng lớp, hay khuân vác những cây nứa. Như thế, họ sống cũng phong lưu. Phong lưu đối với họ, chứ trông bữa cơm với nhà cửa của họ, ta không thể hiểu sao họ sống lượm thượm đến như thế được.

Những cái nhà vòm, nhiều cái chỉ rộng bằng miệng cống, mà ở trong, nếu kê một cái giường có lẽ không đủ chỗ. Anh sáng chiếu vào chỉ rõ những cái chiếu cũ, rách giải trên sàn, và trong một góc, bát đĩa, quần áo để lộn xộn. Thế mà đêm đến, trong cái cống ấy, năm sáu người đàn ông, đàn bà, trẻ con lăn lộn co quắp ngủ trong một giấc say sưa.

Còn những cái nhà hơi ra hồn nhà một tí, thì cũng bẩn thỉu, chật chội như thế. Và mùa đông những tấm phên mỏng đầy lổ hở, chống sao nổi với cái lạnh căm căm theo luồng gió bấc thổi mạnh trên bãi cát mông mênh –  mà những ngày nắng rát, trên mặt trời chiếu xuống chói lọi, dưới hơi cát bốc lên, tưởng không còn chỗ nào nóng hơn được nữa.

Họ sống như thể, nhưng họ không lấy làm khổ lắm.  Họ hình như thản nhiên chịu cái số phận vất vả, khốn nạn, mà ít khi, ta thấy họ kêu ca oán thán lấy nữa lời.

Nhẫn nhục, biết phục tòng số mệnh, có nhẽ là cái đức tính to nhất của dân ta, dù ở nơi trên biển, dưới thuyền hay trong luỹ tre xanh cũng vậy.

Tường Bách

 

 

Áo Hạ Vàng – Thơ Hư Vô Mỏng Tênh Như Tơ Lụa. Tuỳ bút Sương Lam


Sương Lam

Áo Hạ Vàng

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Hư Vô

Mùa hè, mùa của hoa rực rỡ, của trái chín trĩu cành, của lời mời gọi ta đến với biển với nắng. Mùa hè mở vào tâm hồn ta những khát khao thầm kín, dấy lên trong ta những yêu thương, những đam mê bỏng cháy. Trong bài Hạ Hồng, Phạm Duy dường như cũng bốc cháy với mặt trời trên cao:

Mùa hè thiên nhiên như tỉnh giấc
Mùa hè đưa ta tới hồng hoang
Trần truồng yêu nhau trong trời đất
Mùa hè của uyên ương.

Hư Vô đến với mùa hè bằng khúc lục bát bềnh bồng, mơ hồ đến mênh mông:

Em qua bóng đổ hiên ngoài
Đàn chim sáo nhỏ vụt bay cuối ngàn
Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Mặt trời lên cao nhưng không sáng chói, mặt trời được miêu tả một cách gián tiếp qua “bóng” em. Là bóng thôi, không là hình, bước vào thế giới tình yêu dường như ta đã chạm phải nỗi buồn và hình như ý niệm hiện hữu của “em” đang nhạt nhòa dần trong không gian, trong thời gian của một ngày nắng hạ. Thoáng thấy bóng em ngoài hiên, chỉ thoáng thấy bằng mắt hay bằng tâm không rõ nhưng rõ nhất là hình ảnh của đàn sáo nhỏ. Sáo vụt bay về cuối ngàn. Cách miêu tả âm thanh của thi sĩ lạ: “vụt” một động tác bay đột ngột, rất nhanh của cả đàn sáo. Ta nghe thật rõ tiếng đập cánh của đàn chim trong buổi trưa hạ, âm thanh của sự sống nhưng chỉ vút lên rồi tất cả lại rơi vào yên lặng. Trong cái tĩnh lặng của cõi tình tiếng đập cánh bay của đàn sáo nhỏ không chỉ khuấy động không gian mà còn khuấy động cả lòng người:

Giật mình hạ rớt thênh thang
Nở trên nhánh tóc em vàng cánh hoa.

Tôi ít thấy chữ “rớt” trong thi phẩm nhất là thơ tình. Chữ rớt thường được dùng như một khẩu ngữ. Nhà thơ chọn hạ rớt chứ không chọn hạ rơi (chữ rơi được dùng nhiều trong văn chương bình dân lẫn văn học viết). Khẩu ngữ vào thơ không làm câu chữ trở thành bình dân mà vẫn giữ được vẻ đẹp kiêu sa của nó. Rơi là một thanh bằng chưa đủ lực làm nhân vật trữ tình giật mình phải là rớt. Thanh sắc dấy động tất cả, khơi dậy tất cả một sự bừng thức của không gian “thênh thang”, một sự bừng thức của “anh”, về “em”. Cái đẹp cũng bừng thức, hoa là em, là mùa hạ, là hoa vàng – màu của mùa hè.

Nếu thi sĩ giật mình vì bóng em khơi dậy cả mùa hạ trong anh thì tôi giật mình vì chữ nghĩa vào tay thi sĩ nó không còn tuân theo qui luật vốn có của nó. Tôi đọc khá nhiều thơ, tôi đã gặp không ít trạng thái “Giật mình” của thơ xưa cũng như nay: Nguyễn Du viết “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh? Giật mình mình lại thương mình xót xa”. Tú Xương viết Sông Lấp: ”Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, Nguyễn Duy viết: “Ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình”. Giật mình của Nguyễn Du gợi cảm xúc thương thân của Kiều, giật mình của Tú Xương là nhớ tiếc những cái tốt đẹp cứ mất dần đi, giật mình của Nguyễn Duy là sự tự hối và cái giật mình của Hư Vô mới đậm chất lạ lùng sao? Một ngẫu hứng duy lý trong một tương quan chặt chẽ “em- mùa hạ- – nỗi nhớ- lãng quên- trở về” sự khuấy động tâm thức, thời gian, không gian làm cho ta cảm nhận chữ tình trong anh trĩu nặng và chân dung của “em” cứ mở rộng dần trong bức tranh mùa hè huyền diệu:

Nắng trong veo, thấu lụa là
Áo em mỏng quá lòng ta gập ghềnh
Dù là một thoáng lênh đênh
Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn.

Mùa hạ đã định hình trong màu hoa vàng trên tóc em, mùa hạ lên cao nhập vào trong nắng tạo màu “trong veo”. Tôi thương nắng thủy tinh của Trịnh Công Sơn, tôi thích câu hỏi của nhạc sĩ với “em” màu nắng hay là màu tóc em? Nắng mùa hạ trong nhạc Trịnh như khối thủy tinh đúc cho nắng lung linh vàng rồi nắng đi vào trong mắt em. Một sự hóa thân, hòa nhập của hai vẻ đẹp: mặt trời-em. Tôi cũng thích cái nắng loạn trong thơ Hàn Mặc Tử “nắng ửng, nắng chang chang, nắng thơm” nắng hè chói chang, nóng rát không còn thay vào đó là nắng tươi, nắng thơm của gấm lụa, của dung nhan. Nắng đã trở thành biểu tượng cho cái đẹp. Nắng của Hư Vô “trong veo” nghĩa là nắng như tấm gương soi không đáy, nắng hữu hình đến trong veo. Chữ nghĩa tượng hình dần như chân dung “em” rõ dần. Không còn là bóng, không còn là mùi hương “hoa vàng” mà là hình hài, là xương thịt là vẻ đẹp kiêu sa. Tôi nghĩ Hư Vô đã dùng nét vẽ tượng trưng cho bức chân dung tình yêu của mình. Tôi nghe giọng thì thầm của thi sĩ. Em mềm như lụa, mong manh như tơ trời, áo là sương khói cho hồn ta thoáng gập ghềnh, lênh đênh. Nhan sắc của người tình sao mong manh, nét đẹp được lọc qua cảm xúc thật tinh tế, thật lãng mạn, vẻ  đẹp vừa táo bạo nhục thể vừa thanh tao duyên dáng “trong veo, thấu,mỏng” nó làm tan chảy mọi cảm giác để chỉ còn đọng lại một cảm xúc tuyệt vời: “Đã nghe mùa hạ chảy trên phím đàn”.

Nguyễn Hồng Ân trong bài: “Chiều biển vắng thênh thang” đã viết: “Mang tên em chiều in màu lá / Vừa tàn mùa sen hạ cháy trên cành.”

Hạ cháy của Nguyễn Hồng Ân khơi gợi một sự bừng thức, ngỡ ngàng về mùa hè, Hư Vô lại cảm nhận “mùa hạ chảy trên phím đàn” thì quả là tuyệt bút. Chữ mềm như nhung lụa và tan chảy thành dòng âm nhạc thì không còn gì phải bàn đến vẻ đẹp của ngôn từ. Mỹ học của bài thơ tỏa từ hội họa màu sắc, từ thi ca mùa hạ chảy, từ âm nhạc trên phím đàn. Ta dường như lạc vào thế giới của cõi mơ, của âm nhạc, của cõi tình mê đắm. Ta đang tan chảy vào vẻ đẹp của đất trời, của tình yêu và đồng thời cũng tan chảy vào trong cảm xúc của Hư Vô. Tâm khơi, tình động cho quay quắt một hình hài:

Từ em xõa tóc sang ngang
Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.
Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình.

Mái tóc thề, mái tóc bao lần vào thi ca tạo nên bao hình tượng thẩm mỹ đẹp lạ thường. Lúc còn đi học một cô bạn đã tặng tôi hai câu thơ:

Ta phiêu du mãi chưa về
Biết em còn để tóc thề hay không?

Tôi đã yêu mái tóc thề ngày đó, tôi không ngạc nhiên khi ký ức tình yêu của thi sĩ có mái tóc thề nhưng mái tóc ấy không phải xõa xuống tạo bóng mát cho tình yêu, tạo chiếc cầu cho anh sang em mà là mái tóc xõa để em đi lấy chồng. Oái oăm và trớ trêu là ở đó. Thiên nhiên sao vô tình với nỗi đau của kẻ tình si: “Hàng cây nghiêng nón rộn ràng tiễn nhau.”

Buồn vì tình yêu không trọn vẹn, buồn khi mình tiễn đưa người yêu lấy chồng, thi sĩ lạc lõng trong chốn trần gian “rộn ràng”. Mùa hạ, mùa tình yêu, mùa của hoan lạc, hạnh phúc viên mãn cũng theo em, thi sĩ trở thành khách lạ ngay trong thế giới của riêng mình “Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình”, hình như tôi đang cảm nhận nỗi chua chát đến tê đầu lưỡi, nỗi cô đơn đến rợn ngợp “khách lạ không tìm thấy bóng mình”. Tôi lại thấy đâu đây bóng hình Hàn Mặc Tử:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi thôi ước mơ.

Với Mặc Tử khi em lấy chồng là kết thúc tất cả: cõi mơ, tình mộng, niềm vui, nỗi buồn… Hư Vô không kết thúc vẫn đong đầy những khát khao:

Bên đời nắng có lung linh
Để em giấu kín chút tình phôi pha
Còn thương góc phố quê nhà
Vàng em áo hạ, buồn ta mưa về…

Nắng đâu còn trong veo, nắng đã lung linh nhuốm màu hư ảo, màu của lãng quên, thi sĩ vẫn mong mỏi đến tuyệt vọng “em giấu kín chút tình phôi pha”. Mối tình ấy sâu đậm đến khắc cốt ghi tâm, không thể quên và không bao giờ quên. Tình ấy mãi vần vương đến “còn thương góc phố quê nhà”, nơi chúng ta từng hẹn, nơi tình yêu của tuổi học trò bừng cháy những khát khao, chữ nghĩa bây giờ dung dị, giản đơn như một khúc ca dao buồn, da diết vang lên từ làng quê Nam bộ “còn thương” hai thanh bằng tạo âm hưởng kéo dài thê thiết của mối tình quá khứ làm sao quên, thương góc phố, quê nhà lặng lẽ, thương hạ vàng áo em và thi sĩ càng cảm nhận nỗi cô đơn cứ rộng đến vô cùng để rôi kết đọng lại thành những cơn mưa hạ ướt đẫm hồn, ướt đẫm tình, tình vô biên. Giấu … như một quãng lặng của cảm xúc ngậm ngùi, của mối u tình mà dẫu cơn mưa có ướt, có thấm đẫm cũng không thể phôi pha. Áo hạ vàng- một bài thơ của tình yêu dang dở, khúc ca buồn của Hư Vô về một cuộc tình đã qua nhưng không tan biến. Tình đã hòa thành dòng chảy của thời gian để rồi rung lên thành cung đàn bất tận. Tôi như thấy thi sĩ ngồi giữa biển hoa vàng nghe hạ chảy trên tay. Không gian, thời gian dường như trầm mặc như tâm trạng đầy uẩn khúc của thi sĩ. Hạ vàng hay áo em nhuộm vàng mùa hạ, nhuộm hồn anh tơi tả những dấu mưa.

Sương Lam
(Kính tặng nhà thơ Hư Vô.)
22/11/2017

Chia Tay Mùa Xuân. Tùy bút Sương Lam


Sương Lam

Thơ tình yêu thời đại nào cũng lấn át các chủ đề khác nhất là mảng thơ về tình yêu nam nữ. Thơ tình theo tôi cảm nhận vui ít nhưng buồn thì nhiều nhất là những tình yêu tan vỡ. Hạnh phúc nhất của đời người có lẽ là yêu, được yêu và cùng bước chung một con đường đến cuối cuộc đời cùng với người mình yêu thương. Nhưng không phải ai yêu cũng được toại nguyện. Có khi yêu mà phải chia tay. Chia tay hai từ thôi cũng đủ gợi lên bao nỗi đau và có bao giờ ta tự hỏi ta có bao lần trong đời đã yêu và cũng đã chia tay với bao nhiêu cuộc tình. Sau mỗi cơn đau có lẽ trái tim ta hằn thêm một vết cắt để rồi ta lại tiếp tục tìm kiếm hay rồi chán nản buông xuôi. Tình tuyệt vọng đôi khi làm thăng hoa cuộc sống có lẽ vì do nỗi đau không dễ gì quên nên cứ luôn nhớ. Yêu và ly tan hình như không phải là mới nhưng chuyển tải nỗi niềm để đi vào tâm hồn người lại thuộc về tài năng của người sáng tác. Hãy dừng lại dăm ba phút của cuộc sống bộn bề, hãy thư giãn và nghe một nhà thơ kể chuyện tình buồn:

Chia Tay Mùa Xuân

Hôm chia tay Sài gòn vừa chớm Tết
Trong mắt em như thể đã ra giêng
Phố xá gập ghềnh chông chênh nhịp guốc
Còn xôn xao từng chiếc lá công viên.

Môi em hiền tựa như mùi hương cốm
Áp vào tôi ngọt đắm nụ tầm xuân
Giọt lệ không chân long lanh vàng đá
Đang mặn mà em đã vội quay lưng!

Bỏ lại Sài gòn rưng rưng góc phố
Ngọn đèn vàng xô dạt bước chân tôi
Trời đất mịt mù ngày mưa giông tới
Nơi máu trong tim chưa kịp luân hồi.

Mà cũng có đôi lần em biết khóc
Lối hẹn hò cỏ mọc đã xanh um
Để nhớ một thời em còn xoã tóc
Chỗ lời tình thổn thức tiếng vô ngôn …

Hư Vô

Tết đến có nghĩa là xuân về. Mùa xuân trong đời thực lẫn trong thơ làm bao nhiêu người đắm say, ngơ ngẩn. Bởi vì mùa xuân là mùa tình yêu, mùa của sự sống, của lộc biếc căng tràn. Tôi yêu Mùa Xuân Chín của Hàn Mặc Tử, yêu Xuân Thì của Phạm Duy, yêu Bến Xuân của Văn Cao… Đó là những bài  thơ, bài hát ca ngợi mùa xuân đẹp, thanh xuân đẹp và tình yêu cũng đẹp như xuân. Hư Vô cũng đến với mùa xuân nhưng không phải bằng một tâm trạng lâng lâng hạnh phúc của thi nhân mà là một nỗi niềm thăm thẳm:

Hôm chia tay Sài gòn vừa chớm Tết

Tình yêu thường gắn liền với nỗi nhớ. Chỉ cần xa một vài giờ là nhớ là mong là đợi chờ gặp gỡ. Yêu thế mà chia tay. Anh phải đi, phải xa chưa một lời hứa hẹn tao phùng. Cô gái không kịp nói lời từ biệt nhưng đôi mắt đã thay điều muốn nói:

Trong mắt em như thể đã ra giêng

Mùa xuân mới bắt đầu, sự ngọt ngào vừa thấm vào cảnh vào hồn người thì nỗi buồn đã tràn đến bủa vây “chớm / chia tay” Ngữ nghĩa dường như đối kháng nhau tạo ra một nghịch cảnh trớ trêu:

Phố xá gập ghềnh chông chênh nhịp guốc
Còn xôn xao từng chiếc lá công viên.

Tình đang đắm say mà lại cách xa, con đường tình bắt đầu gập ghềnh cho em lao đao. Tiếng guốc khua trên hè với nhịp chông chênh, đổ vỡ, tiếng guốc tạo những âm thanh chí chát đánh thức cả những hàng cây lá công viên đang còn mơ màng trong giấc xuân. Và trong mắt em đang ánh lên tia nhìn xa vắng.  Thời gian không dừng lại, đang trôi qua không thể níu giữ “chớm tết mà đã ra giêng”. Tôi cảm nhận cô gái đang mòn mỏi, đợi chờ.

Phương xa, nhân vật trữ tình mãi ngày nhớ đêm mong về một bóng hình trong tim và hình ảnh người con gái đã hiển hiện với muôn sắc màu, hương vị, hình ảnh vừa thực vừa mơ:

Môi em hiền tựa như mùi hương cốm
Áp vào tôi ngọt đắm nụ tầm xuân

Môi em thơm mùi hương cốm, mềm như vạt lụa và hiền tựa chiêm bao. Một người tình nho nhỏ, dễ thương. Ý thơ làm tôi nhớ đến một câu thơ của Đỗ Quý Toàn trong “Chuyện tình”:

Ôi anh yêu em vì em biết nói
Em đã biết thưa em còn biết gọi

(Đỗ Quý Toàn)

Chàng trai trong  “Chuyện tình” yêu cái nết ngoan hiền ở người con gái, yêu tiếng dạ thưa ngọt ngào làm mê đắm lòng người còn chàng thi sĩ của chúng ta cũng yêu em bởi nết ngoan hiền. Tình yêu đến không chỉ vì nhan sắc mà còn từ sự dịu dàng trong em. Sự dịu dàng đã làm hồn chàng tan chảy đến mê đắm. Hư Vô diễn tả nụ hôn cũng thật lạ lẫm.

Khi đọc Nụ Hôn Đầu của Trần Dạ Từ tôi cảm nhận một không gian nhã nhạc, một hồn phách tiêu tan, một cảm xúc bàng hoàng và như một giọt nước mắt đang rơi trong chứa chan hạnh phúc của nụ hôn đầu đời:

Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vườn xanh cỏ biếc trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông.

(Trần Dạ Từ)

Nụ hôn đầu của Trần Dạ Từ đã làm thay đổi cả thế giới, cả không gian rất lặng ngoài kia, tất cả đều đổi thay hướng về cái đẹp một loạt màu sắc hiện lên cạnh nhau những gam màu hội họa đối lập mà đan xen của một cảm giác mê đắm, chất ngất “vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng, phượng đỏ” thật là khi yêu đâu đâu ta cũng thấy một màu yêu.

Thế giới tình yêu của Hư Vô cũng là thế giới của sắc màu yêu “hương cốm, nụ tầm xuân, vàng đá”  nhưng ông không chọn sắc màu rực rỡ, lộng lẫy như Trần Dạ Từ mà thật hiền hòa, nhẹ nhàng của sắc xanh đồng nội tỏa ta từ cốm, sắc hồng tỏa từ những đóa tầm xuân nằm mơ màng bên lưng giậu, góc hiên nhà như màu hồng của má hồng con gái. Tôi yêu chút hây hây hồng trên đôi má thanh xuân.

Đi vào thế giới thơ Hư Vô là đi vào thế giới của sắc màu bình dị pha lẫn kiêu kỳ khiến nhan sắc em vừa mê đắm vừa hồn hậu, dịu dàng. Hôn em, hôn môi hiền, nụ hôn thơm như ướp mật. Mùi hương cốm tỏa nhẹ qua môi hôn, môi em xinh như nụ tầm xuân trinh nguyên của vườn thiếu nữ. Nụ hôn là hội tụ của hương hoa, của đất trời, của những gì thân thuộc của quê hương. Môi hôn vì thế dù đắm say vẫn đượm một chút gì hiền thục, đằm thắm. Tự nhiên hay là một lựa chọn mà thi sĩ đã đặt hương cốm cạnh nụ tầm xuân dường như chẳng có sự nối kết về thời gian. Cốm có vào mùa thu, hoa tầm xuân nở vào tháng chạp, tháng giêng. Tôi cho là một sự sắp xếp cố ý của thi sĩ để nới rộng biên độ thời gian để khẳng định tình yêu là vô tận ở đó không có không gian, cũng không có thời gian mà nơi đó chỉ là hội tụ của cả một khối tình. Câu thơ biểu lộ một niềm tin vào sự thủy chung son sắt trong tình yêu. Tình yêu đã cho nhân vật trữ tình đôi cánh bay lên vào huyền thoại. Hạnh phúc làm rưng rưng những giọt lệ long lanh như những hạt châu:

Giọt lệ không chân long lanh vàng đá

Âm vang của ngôn ngữ vì thế cũng mờ đi, nhòe dần trong suy tưởng. Tôi nghe được lời cám ơn thầm lặng của thi sĩ với người tình: Cám ơn em đã yêu anh. Cám ơn vì em chấp nhận sự cách xa vẫn yêu anh, cám ơn em đã cho anh một tình yêu ngọt ngào, cám ơn em đã luôn cho anh niềm tin vào độ bền của lòng chung thủy…

Nhưng niềm hạnh phúc không kéo dài, bóng mây đen đã che ngang mặt trời làm không gian thoáng đãng, rực rỡ bỗng tối sầm:

Đang mặn mà em đã vội quay lưng!

Em đã từng nói yêu tôi, em đã từng chung thủy với tình tôi, em đã từng chờ đợi ngày tôi về nhưng thật chóng vánh nhanh đến không ngờ “quay lưng!”

Dấu chấm cảm cuối dòng để biểu lộ nỗi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của kẻ đang yêu, được yêu và đang hạnh phúc với tình yêu. Nếu là tôi có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ hỏi lý do người bỏ ta đi chỉ đơn giản là câu hỏi chẳng bao giờ có câu trả lời mà cho dù có cố gắng trả lời chỉ là những lời không thật để cố gắng tránh làm tổn thương nhau. Tôi nghĩ thi sĩ không hỏi mà đây chỉ là cái cớ để anh trang trải nỗi niềm khi tình yêu đã mất:

Bỏ lại Sài gòn rưng rưng góc phố
Ngọn đèn vàng xô dạt bước chân tôi
Trời đất mịt mù ngày mưa giông tới
Nơi máu trong tim chưa kịp luân hồi.

Ý thơ làm tôi nhớ đến ca từ trong một bài hát của Trịnh Công Sơn “Em đi bỏ lại con đường/ Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em”. Một con đường thôi mà đã bao nhớ nhung còn đây là cả một thành phố của những con đường bao dấu chân qua. Tôi thích “Sài gòn rưng rưng góc phố”. Tiếng khóc nghẹn chưa tuôn thành giọt lệ chỉ mới rưng rưng mà chừng như trái tim đã xót. Tình yêu đã đọng lại thành giọt châu rơi, những giọt không chân, mênh mông trời đất bây giờ chỗ nào cũng là em, là bóng em, dáng em, bước chân, nụ hôn nồng nàn của em… giọng thơ hình như đã nghẹn dần thành một chuỗi bi thương, câu chữ như cuộc tình bị đẩy xô trôi dạt để rồi về lại nơi đây ngổn ngang, tăm tối, tù mù “Ngọn đèn vàng xô dạt bước chân tôi, trời đất mịt mùng, máu không kịp chảy trở về…”

Tôi cảm nhận không gian hình khối đang vỡ tan, dòng máu đang tuôn chảy, nỗi đau cào cấu linh hồn. Từng chữ, từng câu đang cứa nát tất cả, như muối đang chà xát vết thương ứa máu chưa lành để người con gái quay lưng kia cũng đôi lần “biết khóc”

Mà cũng có đôi lần em biết khóc
Lối hẹn hò cỏ mọc đã xanh um
Để nhớ một thời em còn xoã tóc
Chỗ lời tình thổn thức tiếng vô ngôn …

Giọt lệ của ăn năn, của nuối tiếc và cũng là một an ủi cho thi nhân khi tình yêu đã ngoài tầm với. Lối thu xưa, lối xuân xưa không còn em và tôi qua lại chỗ cỏ đã phủ xanh xao lòng phố.

Đau xót khó nguôi ngoai. Có lẽ nỗi đau còn vì tình chưa phai nên vẫn nhớ đến hình bóng của người xưa một thời tóc xoã xanh um như ngọn cỏ. Không thể nói ra lời tình nhưng trái tim vẫn thổn thức tiếng vô ngôn.

Con người sinh ra khó ai vượt qua được chữ tình. Tình yêu dù có một kết thúc trọn vẹn hay dở dang vẫn cứ đẹp. Nhưng có lẽ những cuộc tình không trọn vẹn sẽ làm người ta nhớ mãi, không quên, nhớ đến muôn đời. Chia tay – mùa xuân đặt cạnh nhau trong mối quan hệ tương phản càng làm dấy lên trong lòng ta một nỗi buồn vô hạn về kiếp tình ngắn ngủi của những người có duyên không phận và chính điều đó đã tạo cho nhân loại những bài thơ tình êm đềm như dòng sông trôi đi vào mênh mang của đất trời trong một trạng thái mông lung: Đời ta trôi về đâu, tình ta đi về đâu trong cái vô cùng vô tận của đất trời…

Cũng là cuộc chia tay nhưng thi sĩ đã chọn không gian mùa xuân chính điều này đã làm cho lần cuối cùng gặp gỡ không tuyệt vọng mà vấn vương, thương nhớ đến cả cuộc đời. Chia tay mùa xuân, chia tay hoàng hôn cũng vẫn là những cuộc chia tay đau khổ nhưng dường như thi sĩ vẫn kịp cho mình chiếc áo khoác mùa xuân phủ lên cuộc tình tan của mình một hương vị lạ: Tình xa nhưng không mất như mùa xuân đi nhưng rồi lại quay về dù đó là sự quay về của ký ức nhưng vẫn đáng quý, đáng yêu. Bài thơ buồn nhưng không bi lụy. Tôi vẫn thấy mùa xuân đang lộng lẫy khoác áo lụa vàng đứng bên cạnh tôi với cái nắm tay thân thiết mà tôi đang cảm nhận: “Mùa xuân đang chạm tới da trần”. (Hư Vô)

Sương Lam

Vào Xuân, đọc bài thơ: “Phơi Áo Tình Nhân Ngày Giáp Tết” của Thi Sĩ Hư Vô. Tùy bút Sương Lam


Sương Lam

Đẹp nhất trong năm là những ngày sắp Tết. Trời se se lạnh cho dù khí hậu Sai gòn sớm nắng chiểu mưa. Còn gì thú vị hơn khi được lang thang qua những con đường vắng, đón Tết sớm của riêng mình cũng là một hạnh phúc không dễ gì có được.

Sài gòn ngày xưa đi đâu đâu ta cũng bắt gặp những tà áo dài thướt tha trong gió. Nữ sinh, phụ nữ làm công sở, người đi chơi… ai cũng thích mặc áo dài. Tôi một người con gái của Sài gòn thuở ấy cũng chỉ thích một trang phục duy nhất – áo dài.

Đêm giao thừa nào cũng vậy, cả nhà tôi đều đi lễ chùa, hái lộc đầu năm. Những tà áo dài tha thướt trong đêm sương lành lạnh, trong mùi nhang trầm thơm ngát, trong tiếng chuông chùa, trong tiếng pháo đì đùng tiễn đưa năm cũ là những kỷ niệm không dễ gì quên, nó đi vào cuộc sống của tôi thầm lặng mà đầy nhung nhớ mênh mông. Tôi yêu mùa xuân, tôi yêu Sài gòn những ngày giáp Tết:

Giao thừa em đi hái lộc
Chuông chùa theo gió trầm đưa
Lòng tôi vang hồi tín mộ
Trôi dài suốt chuỗi ngày xưa
(Sưu tầm)

Sài gòn sau 75 bao thay đổi. Đổi từ diện mạo đến cách sống, giá trị sống và cả con người. Bây giờ còn mấy ai ngồi lặng lẽ một mình trong đêm giao thừa mà đọc thơ tình. Cuôc sống thực dụng đã làm thay đổi và đồng thời cũng làm mất đi nhiều thứ lắm. Cái thành phố từng được xem là Hòn Ngọc Viễn Đông bây giờ cũng xô bồ, chen chúc, hỗn loạn; đi tìm một chốn thanh vắng thật là không dễ dàng gì. Thôi thì trong căn phòng nhỏ của riêng mình, cái thế giới thật nhỏ nhưng không lụy phiền mỗi ngày tôi đi về với nó để cảm nhận một thoáng bình yên trong dòng đời cuộn chảy. Tôi đón mùa xuân trong thời khắc lặng lẽ, riêng mình với bài thơ mùa xuân của Hư Vô:

Phơi Áo Tình Nhân Ngày Giáp Tết.

Áo tình nhân em phơi vào Tết
Trên chồi mai nhọn đóa xuân thì
Em phơi cái bóng tôi trong mắt
Vạt áo buồn ai bay ướt mi.

Ngày tôi đi em còn kẹp tóc
Đứng nép bên song để đợi chờ
Tôi về không kịp như hò hẹn
Xác pháo đường hoa đỏ dốc mơ.

Em còn đứng bên bờ tơ lụa
Áo chưa khô giọt lệ lăn trầm
Để em mặc khoe cùng nhan sắc
Chút kiêu kỳ tặng phẩm tình nhân.

Thì như tôi vẫn còn đâu đó
Ở loanh quanh một chỗ thật gần
Tìm trong hương cũ em sẽ thấy
Mùa xuân đang chạm tới da trần…

Hư Vô

Trong tình yêu, quà tặng cho nhau là điều bình thường. Tặng quà – món quà người yêu mình thích đó là điều những người yêu nhau thường làm. Tặng để lưu dấu tình yêu, tặng như một lời đính ước, đợi chờ nhau…

Hư Vô tặng cho tình nhân mình chiếc áo. Món quà bình thường, giá trị vật chất không cao nhưng nó bao hàm một ý nghĩa sâu sắc. Tặng áo để người yêu luôn nhớ về mình, nhớ những kỷ niệm tình yêu. Món quà của thi sĩ phù hợp với tình yêu ngây thơ, đượm sắc màu lãng mạn của mối tình đầu thời đi học. Thuở mà tình yêu chưa bao giờ đạt lên cân mà tính toán lỗ lời. Hẳn món quà đó làm cho người con gái được yêu muôn vàn hạnh phúc. Sư lựa chọn ngẫu nhiên vô tình trùng lặp hay là một ẩn ý của thi sĩ đưa người đọc trở về nguồn cội của chiếc nôi văn hóa dân gian, một tặng vật gợi tình, gợi nhớ đẫm chất thơ. Ca dao Việt Nam có nhiều bài nói về việc tặng áo, tặng khăn cho tình nhân. Cái áo trong ca dao đã thành vật kỷ niệm, biểu tượng của tình yêu lứa đôi nồng nàn, bền chặt, là chỗ dựa tinh thần, phương thuốc mầu nhiệm của những lứa đôi.

Chiếc áo của thi sĩ không chỉ là tặng vật đơn thuần mà gắn vào đó là lời hứa. Chiếc áo vì thế mà thiêng liêng mà mang bao giá trị. Em giữ gìn chiếc áo, đợi anh về. Thế nhưng lời hứa chưa thể thực hiện, người con gái không đủ niềm tin để đợi chờ. Chiếc áo được giấu kỹ, khóa kín như một phần đời không bao giờ được bộc lộ ra. Không nỡ bỏ, vẫn quý yêu nên Tết đến xuân về, người con gái mang chiếc áo ra phơi. Phơi có nghĩa là đã rất lâu không dùng đến, phơi là để cố giữ một kỷ niệm của một thoáng vàng son, phơi là vẫn bận lòng, vẫn một chút tiếc nhớ mối tình thơ ngây đã qua đi. Chiếc áo vì thế mà dường như có linh hồn, có nỗi buồn – nỗi buồn của những lãng quên.

Áo tình nhân em phơi vào Tết
Trên chồi mai nhọn đóa xuân thì

Áo phơi lên đón mùa xuân về . Hai sự việc như dẫn dắt nhau đưa người đọc đến thế giới của không gian tự nhiên và không gian của hồn thi sĩ.

Mùa xuân kéo theo chồi non, lộc biếc, càng đẹp hơn khi “em” đang độ xuân thì. Hư Vô thật tinh tế khi viết về mùa xuân non tơ phải là “chồi mai nhọn”, chồi nhọn là chồi chưa lớn, chưa căng tràn sức sống, còn e ấp, thơ ngây. Mùa xuân ở đây thuộc về vẻ đẹp chưa mãn khai, vẻ đẹp mới tượng hình, non tơ, nõn nà, e ấp. Vẻ đẹp tinh khiết, thơ ngây của đóa xuân ngời. Cái đẹp của liên tưởng, của dẫn dắt, của khám phá, của sự toàn bích. Hương mùa xuân bát ngát đất trời, hương xuân nữ bao la khắp chốn. Vẻ đẹp khiến ta phải cảm xúc đến trào tuôn và có khi còn phải thốt thành lời ca ngợi. Khung cảnh tươi, không gian ngát hương, mùa của đôi lứa, của tình yêu nhưng không là đôi lứa đang yêu và tình tự với mùa xuân mà lại chỉ có một – cái một lẻ loi: “Cái bóng tôi”. Nếu là người yêu thơ anh, có lẽ ta không ngạc nhiên khi thấy không gian mùa xuân xuất hiện cái bóng. Tôi nhớ đến truyện dài của Túy Hồng “Tôi nhìn tôi trên vách” và có cảm nhận chúng ta như chiếc bóng cả đời tự rượt đuổi mình nhưng vẫn không làm sao vượt qua nỗi cô đơn. Nghĩ nhiều nên tâm động, cuộc sống chỉ có tôi tồn tại. Tâm là bóng, tình là bóng, đời cũng là một chiếc bóng. Câu thơ dường như đã cực tả được nỗi cô đơn của kẻ lãng du qua đường tình mà không có điểm dừng chỉ lang thang, đơn độc. Mối tình tơ, mối tình thơ thoáng như một giấc mơ nhưng nó để lại trong tâm hồn thi nhân bao dấu tích. Để từ đây, trong thơ Hư Vô ta thường bắt gặp chiếc bóng của chàng nghệ sĩ đa tình:

Bước chưa qua chiếc bóng
Quẩy cái gánh cồng kềnh
Mà hồn nghe luýnh quýnh
Biết còn kịp tái sinh.
(Con Đường- Hư Vô)

Một lần em biết khóc
Giọt nước mắt dậy thì
Cho trắng da dài tóc
Che bóng người tình si.
(Từ Khúc Mùa Xuân -Hư Vô )

Em mang mùa hạ qua cầu
Ta như khách lạ tìm đâu bóng mình.
(Áo Hạ Vàng -Hư Vô )

Bóng mình không tìm thấy ai tìm ra bóng ta trong cuộc đời dài rộng. Nỗi u ẩn muộn phiền đang thấm vào không gian, thấm vào lòng người những gam màu ảm đạm.

Em phơi cái bóng tôi trong mắt
Vạt áo buồn ai bay ướt mi.

Thì ra chàng đã cảm nhận rất rõ: anh không còn gì trong em. Sự hiện hữu của anh chỉ còn đọng trong đôi mắt đã mơ hồ, đã không còn tồn tại. Đôi mắt của tình xưa kéo không gian về lại quá khứ êm đềm:

Ngày tôi đi em còn kẹp tóc
Đứng nép bên song để đợi chờ
Tôi về không kịp như hò hẹn
Xác pháo đường hoa đỏ dốc mơ.

Em vẫn còn kẹp tóc, vẫn ôm cặp đến trường, vẫn đón lời hò hẹn, nép bên song đợi chờ. Mối tình có lẽ đẹp như bài thơ vì nó còn mới mẻ, còn ngây thơ, trong sáng. Họ yêu không lâu và phải từ biệt nhau với lời hẹn ước đợi chờ. Và tình yêu đã bước vào ngã rẽ, con đường anh đi lắm chông gai. Thời gian không biết là bao lâu em đã quên lời hẹn- người con gái đi lấy chồng. Có hạnh phúc không khi em là người lỗi hẹn? Có đớn đau không khi tôi không còn có em? Chỉ biết câu thơ cuối đoạn kết bằng máu đỏ của trái tim đau: “Xác pháo đường hoa đỏ dốc mơ”. Dốc mơ đâu còn màu hoa tím mà chỉ toàn sắc đỏ của ly tan. Ý thơ làm tôi nhớ đến câu thơ của TTKH:

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

Hoa đỏ nhưng bài thơ không sáng, không rực rỡ . Dốc mơ không đẹp như thơ, màu đỏ của tim tan vỡ làm nhức nhối trái tim ta. Dốc mơ của đồi yêu bây giờ chỉ là máu nhỏ của chàng thi sĩ cô đơn. Nỗi đau vì thế đã tượng hình thành nỗi tiếc nhớ khó nguôi ngoai:

Em còn đứng bên bờ tơ lụa
Áo chưa khô giọt lệ lăn trầm
Để em mặc khoe cùng nhan sắc
Chút kiêu kỳ tặng phẩm tình nhân.

Đọc khổ thơ này tôi lại nhớ một đoạn thơ tôi biết lâu lắm từ thuở còn đi học:

Ta đứng bên đường chờ em buổi xuân
Có nụ tình xanh ru má em hồng
Có hạnh phúc nào ru đời rất ngắn
Như cuộc tình đầu mang nhiều bâng khuâng

Tình đầu luôn thánh thiện đến tuyệt vời mãi mãi ủ hương hoa trong hồn ta làm say đắm đến diệu kỳ. Người Tình Hư Vô trở thành nàng tiên trong một không gian bát ngát của tơ lụa, gấm hoa, của nhan sắc kiêu kỳ. Chiếc áo lụa là quà tặng của tình nhân càng làm rực rỡ hơn vẻ đẹp huyền hoặc, mê đắm của người con gái. Đoạn thơ sống động, rực rỡ và cũng lắm những u tình. Áo có đẹp nhưng chỉ mặc một mình không anh cùng xuống phố chỉ càng tô đậm cảm giác lẻ loi, kỷ niệm dù đẹp không đủ gói cả cuộc đời. Có tình yêu mà vẫn lẻ loi, những giọt lệ khóc thầm chảy tràn trên gối mỗi đêm, chảy thấm vạt buồn của chiếc áo hẹn hò, kỷ niệm. Với Hư Vô, xa không gian nhưng tình lại thật gần. Câu thơ bật lên nỗi niềm thấu cảm. Trái tim người tình sâu sắc, thiết tha. Thương em với nỗi buồn đơn lẻ, những lúc khóc ai là người lau nước mắt. Xa tặng áo để em luôn nhớ, để em khoe với bạn bè. Chu đáo, tận tình, đầy yêu thương, trìu mến trong cách tặng, quà tặng. Em đã qua cầu, pháo đỏ rượu hồng, xuân xanh phấp phới. Màu đỏ với em hân hoan, chất ngất. Màu đỏ trong tôi là máu nhỏ từ tim, những giọt máu tình yêu đang tuôn chảy. Đau đớn mà không oán trách mà vẫn là những chăm chút yêu thương:

Thì như tôi vẫn còn đâu đó
Ở loanh quanh một chỗ thật gần

Bềnh bồng, lãng đãng như là mưa, như là sương, là gió hay là lá nhưng dù gì đi chăng nữa vẫn là điều không tồn tại. Mạch buồn đã ngấm, chữ nghĩa đã nhòa, bóng tôi đang mờ dần, nước mắt đang nhỏ xuống… Em khóc thương tình tôi, hay em khóc cho mình không đủ kiên nhẫn để đợi chờ hay vì lẽ gì nuối tiếc một tình yêu đẹp đã phai tàn. Tôi như nghe tiếng thì thầm đầy yêu thương của thi sĩ: :”Thì như tôi vẫn còn đâu đó/ Ở loanh quanh một chỗ thật gần” Nước mắt rơi xuống rồi nhưng không không phải của thi sĩ, của Người Tình Hư Vô mà của tôi, người suốt đời đi tìm một bóng mát cho đời mình chưa bao giờ gặp. Tôi khóc cho sự đầy đạm trong tình yêu của chàng thi sĩ – Tình yêu không có sự kết thúc nếu là một tình yêu đích thực.

Tình yêu phải là sự quan tâm, ân cần, chăm sóc, chở che. Chỉ đứng loanh quanh, một chỗ thật gần, mãi mãi bên đời rất gần em chỉ đâu đó mà thôi (nhưng em có biết hay em đâu biết ?). Tôi nhìn thấy sự đôn hậu, dịu dàng, ân cần, chu đáo mà vẫn đủ đầy đam mê ở thi nhân.

Thế giới tình yêu của Hư Vô thật đẹp, cái đẹp của thủy chung, của những ngọt ngào, da diết như lời trò chuyện thầm lặng cuối gửi cho tình nhân:

Tìm trong hương cũ em sẽ thấy
Mùa xuân đang chạm tới da trần…

Nếu khi nào buồn, em muốn quay lại tìm chút mùi hương cũ của tình ta, em sẽ thấy mùa xuân trong chiếc áo ngày nào anh tặng, mùa xuân vẫn còn nguyên vẹn chưa phai, chưa bao giờ mất đi. Chữ “chạm” tôi cho đó là chữ “đẹp nhất” của bài thơ. Chạm đã kết tinh cả không gian, thời gian, sự sống, thanh xuân, tình yêu vào đó. Khẽ chạm vào chiếc áo quá khứ sẽ làm sống lại trong em tình anh ngày ấy- bây giờ – mai sau cũng chỉ vẻn vẹn một khối tình chưa bao giờ thay đổi.

Tôi yêu ngôn ngữ thơ Hư Vô vì tôi cảm nhận điều anh viết giống như bút hiệu của anh: Thực ra mọi điều trong cuộc đời này kể cả chữ tình đắm đuối làm đau đớn bao người nó chỉ là hư vô nhưng bước vào cõi hư vô ta lại thấy một điều rất thực mùa xuân đang chạm vào ta, thấu đến da trần. Nhục cảm- Đê mê- Tràn trề- Bát ngát đến mênh mông- Đó là cách nhà thơ tìm đến mùa xuân. Những năm 40, Xuân Diệu đã làm cho bao người Việt Nam phải kinh ngạc vì cách miêu tả mùa xuân rất gợi của ông “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”; “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” thì ở thế kỉ XXI cũng có một nhà thơ tả mùa xuân cũng tuyệt vời không kém “Mùa xuân đang chạm tới da trần…” Nếu Xuân Diệu vồ vập, ngấu nghiến, ôm chầm mùa xuân thì Hư Vô. chiếm lĩnh mùa xuân một cách nhẹ nhàng, tinh tế. Ta cảm nhận mùa xuân trong thơ Hư Vô tinh khôi, thanh khiết, lãng đãng nhưng lại rất đời, rất gần không hề xa chính vì vậy thơ anh đã đi vào bao tâm hồn đồng điệu họ đã giao cảm, đã ngậm ngùi, đã trân trong những thi phẩm tuyệt vời mà anh đã đưa đến cho mọi người (kể cả tôi)

Nếu Xuân Diệu trong Vội Vàng đã đưa đến cho người đọc một thiên đường trần gian, một mâm cỗ tuyệt diệu của những món ngon vật lạ để ngợi ca tuổi trẻ, mùa xuân, tình yêu thì Hư Vô lại đem đến cho chúng ta một ly rượu mùa xuân có men đời chua chát hòa với men tình đắm say của nuối tiếc da diết về cái đẹp của tình yêu- rất đẹp nhưng cũng chóng phai tàn vì cái đẹp vốn mong manh, yếu ớt.

Mùa xuân sẽ lại về với đất trời, với chúng ta một lần nữa. Trong trời đất vô cùng này hãy tận hưởng tất cả cuộc sống trần gian cho dù đó là niềm vui hay nỗi buồn tất cả đều đáng trân quý vì dù vui, dù buồn hạnh phúc nhất là được làm một con người . Và thi sĩ Hư Vô của chúng ta cũng cảm nhận trong cõi vô cùng của đất trời, anh vẫn tìm đến mùa xuân với cả tấm lòng yêu đắm đuối:

Một chút hương thầm rơi xuống đất
Là cả mùa xuân rất diệu kỳ…
(Vườn Xuân- Hư Vô)

Phơi Áo Tình Nhân Ngày Giáp Tết chính là chút hương thầm mà Hư Vô đã rắc vào thế giới nhiều bộn bề, toan lo của tôi, của chúng ta một mùa xuân rất diệu kỳ…

Sương Lam
(29.11.2017)

Thoáng cảm nhận về bài thơ: “Cuối Đường Em Đi” của Thi Sĩ Hư Vô. Tùy bút Sương Lam.


Sương Lam

Chân dung thi sĩ Hư Vô

(Chân dung Thi Sĩ Hư Vô)

Khi học phổ thông bọn tôi chuyền nhau chép một câu danh ngôn mà lúc đó thật sự tôi không hiểu gì hết “Tình yêu ở xa là một viên kim cương, khi lại gần là một giọt nước mắt”, thú thật ngày ấy tôi không biết tình yêu là gì, câu nói ấy cứ ám ảnh mãi trong tâm trí tôi và phải rất lâu, rất lâu sau tôi mới hiểu (theo cách hiểu của riêng tôi) Khi chưa yêu người ta thường khao khát được yêu, một lần được yêu trong đời nhưng khi có được tình yêu thì bắt đầu xuất hiện ý niệm khổ đau. Khổ đau vì những nghi ngờ, là những lo lắng không thể có một kết thúc trọn vẹn, là không còn yêu nhau trở thành xa lạ thậm chí thù hận…

Khi tôi biết thơ Hư Vô, tôi đọc khá nhiều bài thơ của thi sĩ, tôi chợt nhận ra một sự đồng cảm trong tình yêu đó là nỗi đau của một tình yêu không trọn vẹn:

Cuối Đường Em Đi

Có trèo qua dốc núi
Chưa chắc tới đỉnh sầu
Thì dầu gì đi nữa
Mình cũng nợ nần nhau.

Chỗ anh vào nương náu
Em cất giấu muộn phiền
Giữa trái tim khập khiễng
Là ngàn nỗi oan khiên.

Đất có dài hơn biển
Cũng đâu nối liền bờ
Anh lần mò mê mải
Vẫn ở ngoài bến mơ.

Lối anh đi không đến
Chỗ em về tai ương
Chưa qua khỏi nghiệp chướng
Biết còn nhau cuối đường?

Thêm một lần thất hứa
Để em biết bạc tình
Từ trái tim rướm máu
Còn ngọt ngào dấu đinh.

Đóng anh vào quá khứ
Cho đời em thênh thang
Bước ngang qua giọt lệ
Nhỏ xuống ngọn nến tàn…

Hư Vô

Tôi thích thơ ngũ ngôn, lục ngôn vì nó phù hợp với kết cấu của một câu chuyện, nó giống như một lời tự tình miên man như một dòng chảy của tâm trạng không có điểm dừng, như dòng suối, như một thác ghềnh và là những dòng lệ trào tuôn.

Khổ thơ đầu bài thơ “Cuối Đường Em Đi” làm tôi nhớ đến một câu hát trong “Đời Đá Vàng” của Vũ Thành An: “Ta một mình leo mãi, không qua được vách sầu. Ta tìm một tiếng yêu chỉ toàn là sầu đau”, Hư Vô cũng trèo qua đỉnh núi để tìm kiếm dốc sầu của cuộc tình buồn:

Có trèo qua dốc núi
Chưa chắc tới đỉnh sầu

Nhưng Vũ Thành An đã chạm tới đỉnh của nỗi sầu. Hư Vô thì không bởi vì:

Thì dầu gì đi nữa
Mình cũng nợ nần nhau.

Một tâm trạng dùng dằng muốn và không muốn, kết thúc và không kết thúc, không phải vì còn yêu, còn mê mà còn nợ nần nhau. Nợ thì trước sau gì cũng phải trả; không trả trước thì phải trả sau, không trả được kiếp này thì phải trả kiếp tới, đường tình trở thành đường không lối, quẩn quanh, bế tắc, muộn phiền, oan trái, đớn đau:

Chỗ anh vào nương náu
Em cất giấu muộn phiền
Giữa trái tim khập khiễng
Là ngàn nỗi oan khiên.

Tình yêu làm người ta yêu đời và trần gian trở thành thiên đường, những người yêu nhau họ thấy trái tim luôn trỗi dậy những bài tình ca với niềm hân hoan, chất ngất. Chàng đã tìm được thế giới tình yêu của mình nhưng hoan lạc vắng không, thiên đường không có hoa thơm cỏ lạ mà chỉ những “muộn phiền”. Sự nương náu để tìm sự đồng cảm, yêu thương chỉ có “nỗi oan khiên”. Ý thơ làm tôi chợt nhớ đến bài thơ “Xa Cách” của thi sĩ Xuân Diệu:

Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng.
Em là em, anh vẫn cứ là anh.
Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành
Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

Có lẽ cái mà tôi cho rằng không thể vượt được trong tình yêu chính là sự xa cách của hai tâm hồn không đồng điệu. Yêu đấy nhưng không hiểu nhau, yêu đấy nhưng không sẻ chia, yêu đấy nhưng chỉ muốn chiếm hữu tất cả…và cũng từ đấy sự xa cách đã bắt đầu xuất hiện trong tình yêu- Sự xa cách không dễ gì nhận ra và nếu có nhận ra đôi khi đã quá muộn màng. Không thể nói với nhau nên nỗi muộn phiền chỉ riêng em mang lấy, muộn phiền che lấp mất anh, trái tim không còn dành cho anh tất cả và thế là cứ ngày một xa.

Gần trong gang tấc mà xa nhau muôn trùng. Tình yêu không còn giới hạn trong “lòng anh, lòng em” nữa mà đã trở thành đại dương mênh mông:

Đất có dài hơn biển
Cũng đâu nối liền bờ
Anh lần mò mê mải
Vẫn ở ngoài bến mơ.

Cái lạnh của không gian bắt đầu chiếm lĩnh “anh”, khoảng cách giữa hai con người gần như một lại thành hai, hai đến diệu vợi. Khổ thơ như một nỗi tuyệt vọng, một kết thúc không thể cứu vãn. Có biển là có bờ, có bờ là có bến, có anh thì phải có em nhưng tất cả đã không theo qui luật vốn có của nó, tất cả đã ngoài tầm với, “Anh lần mò mê mải/ vẫn ở ngoài bến mơ”, hạnh phúc xa tầm với, tình yêu không chờ đợi anh, cuộc đời xô đẩy đành lạc mất nhau.

Lối anh đi không đến
Chỗ em về tai ương
Chưa qua khỏi nghiệp chướng
Biết còn nhau cuối đường?

Cái không thể vượt qua chính là định mệnh. Hai con người vì duyên mà yêu nhau và vì không duyên lại xa nhau. Tình yêu kết thúc có khi là kết thúc luôn cả cuộc đời là về với thế giới không còn nỗi đau; có khi kết thúc lại là một ám ảnh khó quên, nhói một góc lòng và cũng có thể bắt đầu từ đấy trái tim băng giá không còn có thể yêu thêm lần nữa…

Khi còn trẻ, có lẽ ai yêu cũng muốn được sống với người mình yêu đến bạc đầu nhưng bây giờ tôi lại không nghĩ như vậy bởi vì chắc gì ở đến trăm năm vẫn cứ còn yêu. Tình yêu dở dang sẽ làm người ta nhớ mãi, nhất là những lúc cuộc đời nghiêng ngã, ê chề, trong chúng ta (có tôi) cũng muốn được nương tựa vào một mối tình quá khứ không có kết thúc trong cuộc đời. Nó sẽ là một dòng sông tưới mát cuộc ta trong những còn mất của đời người. Phải chăng điều đó đã trở thành khát khao trong tim của những con người chỉ có mất mát và cô đơn trong đời. Tình hết và những lời lý giải vì sao ta xa nhau trỗi dậy trong một khổ thơ đa thanh trắc, giọng thơ vút lên những âm thanh khô khốc, những âm vực thăm thẳm đến tái tê:

Thêm một lần thất hứa
Để em biết bạc tình
Từ trái tim rướm máu
Còn ngọt ngào dấu đinh.

Tôi đến để yêu em và cũng chính tôi rời xa em nhưng sự rời xa ấy không phải vì tôi không còn yêu mà nó còn là biểu hiện sâu đậm, nồng nàn hơn bao giờ hết. Em cứ trách, cứ giận, cứ hờn kẻ bạc tình. Chỉ có tôi mới biết sự lìa xa làm trái tim tôi rướm máu, dấu đinh mãi hằn nơi trái tim không thể nguôi ngoai, nỗi đau và hoan lạc đan trùng khít. Đoạn thơ dường như là sự giải bày tự trách nhưng không tự hối bởi vì trong tình yêu không có đúng sai được mất mà chỉ có duy nhất sự ngọt ngào, dấu tích của một thuở yêu thương. Tôi cảm nhận bài thơ có nhiều cung bậc của hạnh phúc, của dịu dàng, của thống khổ, của đam mê và tận cùng là sự nuối tiếc, của sự biết ơn, biết ơn em đã cho anh đến với tình yêu, cho anh nếm trái hạnh phúc dù chỉ là phút thoáng qua trong đời. Tình là một ý niệm khổ đau, tình đóng đinh vào quá khứ, vào cảm xúc, vào trái tim. Trái tim tan vỡ, tình tan vỡ và đằng sau tan vỡ là sự lãng quên:

Đóng anh vào quá khứ
Cho đời em thênh thang

Tôi cảm nhận nỗi bi tình thống thiết đang tỏa khắp không gian làm thinh không rơi lệ. Tôi đã từng có cảm nhận “Lệ trần gian một thuở chia lìa”. Nếu ai đã từng yêu, từng mất mát thì mới thấy câu thơ mà cung bậc của nỗi đau từ cao vút đột ngột xuống thấp chỉ còn lại những vang âm thật nhẹ của những thanh bằng “Cho đời em thênh thang”.

Quên anh đi, cuộc đời em cánh cửa vẫn còn rộng mở những bước thênh thang và có người sẽ chờ đợi em cuối con đường. Câu thơ gợi ra hai ý nghĩa: mong em hạnh phúc/ lòng anh nát tan. Dường như thi sĩ đang mâu thuẫn với chính mình. Thi sĩ muốn níu giữ nhưng cũng muốn buông tay nhưng cuối cùng sự chọn lựa vẫn là sự mưu cầu hạnh phúc cho người mình yêu thương. Nếu anh không thể cho em điều hạnh phúc thì chỉ có một cách là rời xa:

Đóng anh vào quá khứ
Cho đời em thênh thang
Bước ngang qua giọt lệ
Nhỏ xuống ngọn nến tàn…

Nước mắt tuôn chảy, ánh sáng tắt lịm. Câu thơ chỉ còn những giọt lệ và bóng tối phủ vây. Thi sĩ như chết đuối trong nỗi đau chất ngất. Tứ thơ làm tôi nhớ đến “Những Giọt Lệ” của Hàn Mặc Tử:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

Giọt lệ của Hàn Mặc Tử là những hạt châu long lanh của những tiếc nuối, thống hận của một người một đời khát khao mà chỉ là hư ảo, giọt lệ của Hư Vô thật nhẹ rơi xuống tắt nốt những ánh sáng cuối cùng còn sót lại của ngọn nến, của tình yêu. Kết thúc. Khép lại. Nhưng lại mở ra một biển tình mênh mông, một khát khao mong người con gái tôi từng yêu mãi mãi hạnh phúc.

Bài thơ với tôi lạ: Tình buồn- Nỗi đau- Mất mát nhưng lại thấm đậm đến da diết một tình yêu lãng mạn- Yêu không có nghĩa là chiếm hữu, yêu không có nghĩa là được, yêu là hãy đem đến cho người mình yêu yên bình và hạnh phúc. Hãy chọn cho mình một cách yêu tôi nghĩ đó là thông điệp ở Cuối Đường Em Đi mà nhà thơ muốn nói và cách yêu của thi sĩ không phá cách- nó nằm trong tiêu chí của lãng mạn cổ điển thấm đẫm chất nhân văn của người Việt Nam từ nghìn xưa- Yêu là hy sinh.

Sương Lam
15.11.2017
(Kính tặng nhà thơ Hư Vô)

46028D32-B895-461C-999A-772961070D82

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Gió Bấc Lạnh Lùng. Tùy bút của Tường Bách


Tường Bách

(Tùy bút của nhà văn Tường Bách đã được đăng lần đầu trên báo Ngày Nay số 1, in tại Hà Nội ngày 30/01/1935.)

Tiểu sử Cụ Nguyễn Tường Bách

Tốt nghiệp bác sĩ năm 1946, cùng thời với Bác Sĩ Ninh (Viện Việt Học), Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàng (cùng lãnh đại Đại Việt Quốc Dân Đảng với GS Nguyễn Ngọc Huy). Trước năm 1946, Pháp không công nhận bằng bác sĩ cho người Việt mà chỉ gọi họ là y sĩ.

Là con út tư trong một gia đình bẩy anh chị em: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), và Nguyễn Tường Bách.

Tác phẩm đã xuất bản:

Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn, truyện dài
Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua, hồi ký
40 Năm Sống Ở Trung Quốc, hồi ký

Ngày Nay

Mùa đông đã đem lại cho ta cái cảnh gió bấc mưa phùn trong những ngày âm-u thảm đạm. Những cánh bàng xơ xác, những chiếc lá rụng rắc đỏ trên đường phố, với những buổi sáng sương mù xuống bao bọc cả thành phố Hà Nội trên các nóc nhà đỏ và các rặng cây còn xanh tươi, gieo vào lòng người một nỗi buồn thoáng qua nhưng sâu xa, thắm thía.

Nhưng mùa đông cũng đem lại cái thi vị và những cái thú vui riêng, mà chỉ trong ngày lạnh lẽo, người ta mới hiểu rõ hết được. Những làn gió thoáng trên các vườn, phảng phất đưa đến mùi hương thanh đạm của bao thứ hoa vừa nở, của những hoa cẩm chướng hay vạn thọ nhiều sắc rực rỡ, và nhất là của những hoa cúc mềm mại như lụa hay những cành đào vừa hé nụ cười điểm màu tươi lộng lẫy trên nền trời u-ám. Mà cảnh đông lạnh lẽo thật đáng nên thơ cho những người muốn tìm lấy cảm giác hay.

Một buổi sáng, trong bộ quần áo ấm, điếu thuốc lá ngậm trên môi, hai tay đút túi, ta dạo quanh bờ hồ Tây để ngắm cảnh sương mù nhẹ lan trên mặt nước bao la, che phủ cả những xóm xa xa thấp thoáng ở chân trời. Lúc đó, những cơn gió lạnh vụt thổi xào xạc qua cành lá gợi bao cảm giác mơ màng trong tâm hồn thơ của nhà thi sĩ nếu ta là thi sĩ.

Những thú vị của mùa đông lại càng rõ rệt hơn đối với hạng người phong lưu, nhàn nhã, không phải lo âu về vật chất. Trong khi ngoài đường gió bấc đưa những giọt mưa bay đập tí tách vào cửa kính, người ta thích quây quần trong những gian phòng ấm áp bên cái lò sưởi than hồng vui cháy, bên cạnh một bàn tổ tôm hay bên cạnh cái bàn đèn đầy mới là tuyệt nhất. Những lúc ấy người ta mới cảm thấy rõ rệt cái hạnh phúc không gì bằng của gia đình.

Mùa đông tới, người ta vẫn thản nhiên sung sướng vui chơi. Vài chiếc lá bàng rụng đủ là một dịp cho trái gái Hà-thành phối phang quần áo rét. Như thế cũng hay, vì ta được ngắm những cô tân thời yểu điệu trong bộ quần áo mới kiểu Lemur bằng len mùi dịu với cái khăn san phất phơ theo chiều gió cùng mấy sợi tóc vấn vương.

0011-2

Năm nay, nhiều khi ta thấy được những ngày nắng ấm, khô ráo thỉnh thoảng nhẹ bay qua một cơn gió hây hẩy mát. Đây là những tháng ngày thích nhất trong cả năm, vì người ta thấy trong lòng hăng hái, hăng hái làm việc hay ăn chơi. Nhất là ăn chơi.

Sau khi dạo chơi quanh các phố để ngắm các cô tiểu thư lộng lẫy trong cảnh rực rỡ, huy hoàng, hay đi mấy bài trong các dancing tưng bừng đàn hát, tiết trời êm ái, hơi lành lạnh như dục người quây quần bên cái bàn đèn ấm cúng hay mua một “đêm- ái -tình” tuỳ ý. Mùa đông đối với hạng thượng lưu thực là vui vẻ nhất, vì đã đem lại cho họ bao nhiêu thú vui mua được. Nhưng hơn thế nữa, mùa đông là mùa của ái tình, vì theo câu thơ của Bán than:

“Mùa đông gió bấc lạnh lùng
Gợi tình lắm cậu, dục tình lắm cô…”

Nên trong ba tháng mùa đông có biết bao nhiêu là đám cưới! Trong ba tháng ấy, biết bao là hạnh phúc đã xây dựng lên. Những xác pháo đỏ nằm rải rác trên thềm, những con lợn quay vàng với những chiếc ô tô hòm kết hoa trắng, gợi cho ta mơ tưởng tới cái diễm phúc đầy thi vị của đôi vợ chồng mới cưới giữa lúc gió đập vi vút vào cửa sổ và sương mù xuống bao tỏa những khóm cây xanh. Nhưng nếu những bông cúc mềm mại và những dò thủy tình xinh xắn phảng phất cái hương vị của ngày Tết tưng bừng hớn hở để mừng cuộc ái ân đằm thắm, thì cũng nhắc cho ta rằng sắp tới mùa xuân nặng nề ướt át.

*

Người phong lưu trông các mùa qua bằng con mắt thân- nhiên, không những thế, họ coi như là một sự thay đổi cần phải có, vì đối với họ, trời cứ nóng hay lạnh mãi, thì còn thú vị gì nữa? Vì họ chỉ biết cái lạnh thoáng qua trên những toà nhà cao, tường dây cửa kín, chứ chưa từng biết cái lạnh căm căm buốt đến tận xương trong những gian nhà tranh lụp sụp, trống hở tứ tung và chốc chốc lại rung động theo luồng gió. Mà các cô thiếu nữ xinh tươi nơi thành thị, xin lỗi các cô – có rõ đâu nỗi khổ của những cô gái quê cao váy, mờ sáng đã phải đi tát nước hay cấy lúa, dưới những cơn gió bấc thổi vù vù trên ruộng đầy nước.

Phải đứng trên cánh đồng bát ngát, nghe tiếng gió đập xào xạc vào nhưng bụi cây khô, mới hiểu rõ nỗi buồn vô cùng của những ngày đông u ám.

*

Ngay ở Hà Nội, sống trong cảnh đầy đủ, lộng lẫy, xa hoa, ta không bao giờ để ý đến một số đông người co ro với mảnh áo rách, ngày, đêm lang thang vất vưởng trong cảnh rực rỡ, nguy nga của thành phố để ngắm nhìn cái sung sướng, vui vẻ của người khác. Những buổi tối lạnh lẽo, mưa bay, ta thấy họ tránh nấp dưới mái hiên những toà nhà đồ sộ và thỉnh thoảng ghé mắt nhìn vào trong gian phòng ấm cúng, đầy những hạnh phúc gia đình mà họ không bao giờ được hưởng. Rồi khi đường phố đã vắng, họ đi tìm chỗ ngủ với một manh chiếu trên các bực cửa, dưới gầm cầu hay trong cổng những đền, chùa. Vào khoảng 9-10 giờ trở đi, ở nhiều phố – phố hàng Than chẳng hạn – người ta thấy những bọn ăn mày, những đứa trẻ mồ côi, những người nghèo khổ kiếm công ăn việc làm, mà vì nhiều lẽ không muốn vào Dạ Lữ hay Tế Bần Viện – co quắp nằm thành những đống thịt lù lù dưới ánh đèn điện lạnh lẽo.

Mùa đông đến đem lại cho họ những nỗi lo sợ, buồn rầu – không phải nỗi lo sợ, buồn rầu nên thơ của nhà thi sĩ, mà là nỗi lo sợ thiết thực, lo sợ những hạt mưa phùn ném lạnh qua làn áo mỏng và lo sợ những cơn lạnh buốt đến tận xương.

Và đối với họ, mùa đông hẳn là không có thú vị.

Tường Bách

Những Con Đường Việt Nam. Tùy bút của Mai Thảo.


Mai Thảo

Những con đường Việt Nam

Đất nước chúng ta, trong cái muôn vàn điệp điệp của những đời sống nhỏ và những thân thế nhỏ- để riêng chỉ là những phiến lẻ và những tờ rời, nhưng cùng đựng chung một lẵng thời gian, là một tổng hợp làm nên Đời Sống Lớn và Thân Thế Lớn- đã có những đời sống và những thân thế dài thẳm ấy của những con đường. Tỏa thành nan quạt trên ba miền quê hương, vẽ thành bàn cờ, mê cung trên địa hình đất nước, từ rất nhỏ và mang linh hồn ngõ, tới rộng xa bát ngát mênh mông chân biển chân trời, những con đường Việt Nam, đã có một tiến trình đường và một lịch sử đường toàn vẹn hơn tất cả những đời đường và những kiếp đường thế giới.

Tôi đã nghĩ đến những con đường của hiện tại Việt Nam như vậy. Như những hiện tượng đời sống sinh động, mất và còn, thay hình và đổi dạng, theo một quy luật biện chứng. Tôi đã nhìn thấy những lòng đường của thời chiến và thời bình Việt Nam như vậy. Đường bước cùng thời thế. Đường đi theo đời người. Mỗi dặm biếc là một đánh dấu, mỗi dặm hồng là một chứng tích, ở đó đã biểu hiện đằm thắm và đau đớn rực rỡ những dấu chân ta và những khởi hành ta. Nói đến những con đường Việt Nam, nói làm sao hết chuyện của những cây cột trắng. Kể chuyện những đời đường đất nước, kể làm sao hết tâm sự của sỏi, linh hồn của đá. Đường có máu chảy và có tim đập. Đường có tiếng nói và có sống chết. Những con đường rất già, những con đường thật trẻ, đi từ những bình minh anh đi tới những hoàng hôn tôi, đó là những con đường Việt Nam.

Huyền thoại về đường phát sinh từ chính cái muôn vàn và muôn mặt của đường. Con đường không chỉ còn là một hình thể, một chiều dài, một diện tích. Định mệnh của lối, hiện hữu của ngã, không chỉ còn giản đơn là một nơi để đi, một chốn để về. Mà hòa nhập bằng một hòa nhập tận cùng của chuyển mình đất nước một đêm kia, dưới một chùm sao báo tin cách mạng, những con đường Việt Nam hai mươi năm nay đã đồng loạt thức giấc, đi ngút ngàn thành ba mươi triệu dấu chân đi. Con đường đã trở thành một ý, một sự. Một hiện tượng và một trạng thái đường. Mỗi lối về đã trở thành một tấm gương soi, thấy mưa bay và giông bão. Mỗi ngã đến đã trở thành một giai đoạn sống, dừng lại thấy quá khứ, đi nữa thấy tương lai, quay sang tả thấy máu chảy, ngó sang hữu thấy lúa xanh, cái trước mặt và cái sau lưng của một đời người, một đầu này, một đầu kia cùng hiện rõ. Những con đường của chúng ta đều vang dậy trong chúng những vang động không cùng như vậy. Chúng là suối róc rách, là sóng ào ào, là biển bao la, là triều dào dạt. Những con đường đứng lên. Và sống. Dũng mãnh. Những con đường ngã xuống. Và chết. Tan nát. Đưa tới những chân trời, bằng dặm vàng xe lăn gấp gấp, ruổi tới những xóm làng bằng chân chuyển tấp nập, của tản cư trong đêm, chuyển quân dưới nắng, tiễn biệt lúc sương mù, trùng phùng khi nắng dấy, băng qua những chiến hào, vượt qua những hầm hố, một vĩ tuyến bỏ qua, một mật khu bỏ lại, từ độc đạo trong rừng, tới xa lộ giữa lúa, nghiêng nghiêng bóng dừa miền Nam, lượn lượn lũy tre miền Bắc, xanh bóng núi từ Nam Quan đường xuống, vàng dáng biển từ Cà Mau đường về, đón cách mạng lên, mời đảo chính tới, những con đường có tim đập và có hơi thở ấy là những con đường Việt Nam, tôi muốn nhớ lại tất cả một lần. Bằng những dấu chân một đời đã gặp.

Những con đường thứ nhất của người cũng là của một thời thanh bình đã mất, là những lối đi dưới lá, trong cây, nhỏ, yên, lắng động và thơ mộng hiền hậu. Đó là những sợi chỉ hồng múa lượn dịu dàng giữa hai bờ cỏ, lòng đất mát thơm da thịt. Đó là những sợi chỉ biếc thả luồn trong nắng, mỗi buổi sáng mùa xuân mưa phùn lất phất, mỗi buổi trưa mùa hè chập chờn những cánh bướm lang thang. Chiều, hoàng hôn màu tím đến êm như tình nhân. Đêm, cái mái tóc óng ả của con trăng hiền là một mái tóc bằng hữu. Đom đóm bay theo vui tôi ở đó, vui của đầu đời lớn dần với tuổi. Tiếng gà gáy, tiếng chim hót, tiếng rì rào của lá tre múa múa, của trâu bò về chuồng, của lúa rơi ngày mùa, của gió trong vườn, của mưa đầu ngõ, tôi đã nghe thả xuống những lòng đường ấu thơ thuở ấy, mỗi con đường là một dàn nhạc, đất đựng âm thanh, đường trong đất là một phím dương cầm, đất trong đường là một phòng vi âm, thu và phát hết những lời ru và những ca khúc sáng tươi trăm nghìn của thôn dã. Chân chim sẻ nhảy trên lối tuổi hồng. Lối đến của ca dao, ngã vào của lục bát, lá trên đầu lợp mái, cỏ hai bờ trải thảm, tôi là con sáo nhỏ ngậm một bông hồng hàm tiếu bay hồn nhiên trên đường thơ thơ. Rồi thình lình là chấn động và phá vỡ lớn. Cùng với đất nước, người người lớp lớp đứng lên bằng những dấu chân chuyển núi của khởi nghĩa và cách mạng, là sự hiện hình kinh dị, thảng thốt của những đời đường và những kiếp đường mới.

Những con đường Việt Nam

(Khu phi quân sự vĩ tuyến 17)

Lửa tiêu thổ cháy bùng ngọn đỏ. Những thị trấn san phẳng. Những xóm làng mất tích. Và những con đường Việt Nam hùng hậu, từ lối mòn tới nẻo khuất, từ cái quan tới quốc lộ, đã đổi ngược hẳn đi cái ý nghĩa, cái thực thể đường. Hết là một nối liền, lối là một chặt đứt. Thôi là một dẫn tới, ngã là một đứt rời. Khi chiếc ụ đất đầu tiên được đắp lên trong đêm đen đặc, tối tăm thứ nhất của hủy phá toàn diện, trong tiếng thét dậy đất của bạo động khởi sự, còn là tiếng kêu thất đảm của giao thông tử thương và rãy chết cùng khắp vang lên. Búa chim bổ xuống đầu. Xẻng cuốc đâm trúng tim. Mìn nổ. Bằng những con dốc chênh vênh khóc xuống những cây cầu đổ sập, bằng những khúc quành chi chít những nhát đâm, lỗ chỗ những vết chém, bằng sắt đường tàu cắm tua tủa vào thân thể tan nát như từng chùm lông nhím, bằng chông dựng ngược và bằng bẫy đặt ngầm, là những tay chân óng ả uyển chuyển của đường bị chặt cụt, là những đời đường thương phế binh. Trí nhớ của tôi, trí nhớ nằm trong những bước chân đã đi qua suốt một thời kỳ lưu động lang thang từ rừng xuống biển, còn nguyên vẹn cái cảnh tượng hồng hoang ấy của những đời đường lâm nạn. Đường là một nghĩa địa. Mỗi cột cây số còn sống sót là một mộ chí màu trắng. Thân cây nằm dọc. Chướng ngại đứng nghiêng. Trên những chữ chi của hố chữ nhật, trên những khúc quanh của hố hình tròn, bằng biểu ngữ chăng ngang, bằng cổng chào dựng thẳng, những con đường Việt Nam bị cắt gân, tùng xẻo, điểm huyệt. Và chết. Tôi đã đi trên những đường đời lâm chung ấy. Nghe sỏi nức nở. Nghe đá quằn quại. Thấy đất hủy thể. Thấy cỏ tan tành. Những bước chân người vì vậy mà cũng đổi khác. Từ một hóa thân tập thể của đường, những huyền thoại bắt đầu. Kẻ lữ hành phải tập cho mình một lối đi mới. Những con đường của chiến thời đã thay đổi hẳn bộ mặt đất nước. Bằng một thay đổi hoàn toàn. Chúng ta đã đi như thế nào từ hai mươi năm nay. Con đường nào là con đường dài thẳm nhất. Chân bước về phía tả hay chân đi về phía hữu. Những tên đường đã có, đã mất, đã lỡ và đã lạc. Đi cho chân cứng đá mềm. Đi cho trời yên bể lặng. Hành trang nào và lúc nào là giờ hoàng đạo. Những con đường riêng, kín thầm, nhỏ nhỏ. Những con đường chung, bát ngát mênh mông. Điều đáng nói và đáng tìm hiểu nhất là những dấu chân của người trên những thân thế và những đời sống ấy như thế nào? Riêng tôi, bước chân đã mỏi, con đường còn dài. Trên một trạm mang tên là hoài nghi, những dặm biếc, những dặm hồng từ lâu không thấy nữa.

Mai Thảo

https://123hoang.wordpress.com/2012/08/25/nhung-con-duong-viet-nam/

Cảo Thơm Lần Giở… Bùi Giáng viết về Thơ Tuệ Sỹ


Bùi Giáng

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…. Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty

(Tuệ Sỹ – Tác phẩm của Dominique de Miscault)

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.

Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Tôi hoảng vía đề nghị: Đại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

Ông đáp: – Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời
Hội cũ

Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? – Cung trời hội cũ.

Một hội đạp thanh? Một hội nao nức? – “Giờ nao nức của một thời trẻ dại?”.

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ…

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh…. Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều “phải nói” với mọi người “muốn nghe” với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).

Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.

Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du: “Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (…). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?”.

Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!

Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.

Đáp: – Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ

Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh?

Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.

Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?

“Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang”

Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?

(Thi sĩ Bùi Giáng)

Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?

Mình là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?

Phải có nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.

Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du:

Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Một tiếng “buồn chăng” lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường:

Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi:

Đếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Đủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh

Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ? Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi “đá” sớm từ giã mọi yêu thương?

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.

Bùi Giáng

https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=17C459

 

 

Huế Hôm Nay. Tùy bút Trịnh Công Sơn


Trịnh Công Sơn

Sinh ngày: 28-2-1939 tại Lạc Giao. Chính quán: Minh Hương. Soạn nhạc từ năm 1958-1959

Tác phẩm: 1. Trên ba mươi bản (Ướt mi, Biển nhớ, Lời buồn thánh, Hạ trắng, Tuổi đá buồn, Nắng thuỷ tinh, Chiều một mình qua phố, Xin mặt trời ngủ yên…) do các nhà xuất bản An Phú, Ly Tao, Minh Phát phát hành từ 1959 đến 1965; 2. Tập Thần thoại quê hương, tình yêu và thân phận do nhà xuất bản An Tiêm và Nhân Bản phát hành 1965-1966; 3. Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời, Những tình khúc Trịnh Công Sơn, Như cánh vạc bay, Cỏ xót xa đưa,… do nhà xuất bản Nhân Bản in ấn lần lượt từ 1966 đến 1970-71.

Trịnh Công Sơn và tiếng ru máu lệ
Tôi là một nghệ sĩ thuần tuý. Tôi chỉ diễn tả những điều gì tôi mơ ước, nhưng tôi không biết làm cách nào để hoàn thành những mơ ước của tôi!…
(Trịnh Công Sơn, trích The New York Times, 10-6-1970)

(Chân dung và thủ bút của Trịnh Công Sơn từ góc nhìn của họa sĩ Tạ Tỵ)

Một cửa sổ của căn phòng bẩn thỉu nơi tôi đang sống đã nhìn ra phía ngoài một góc thành phố đông đúc. Trong một buổi chiều, tôi nằm dài yên lặng trên ghế bố, nhìn ra ngoài cửa và tôi nhớ Huế.
Từ cửa sổ ngó ra, Huế, là hai cây bông bụt đỏ ối, những làn mưa nghiêng nghiêng trong một bầu trời ảm đạm.

Mỗi năm vào tháng này, tôi đi Huế. Đi ở đây, có nghĩa là trở về với những cái gì tầm thường như quý giá: một căn nhà chật hẹp, một tô bún bò gạo giã, bạn bè tại những quán cà phê nhỏ Mệ Tồn và giữ Huế trong tay suốt mùa hạ. Bản chất của Huế nằm trong kích thước nhỏ bé của nó. Nó không ồn ào và bận rộn. Những lề đường của Huế thân mật. Trên con đường của thành phố, bạn có thể giơ tay vẫy bạn bè suốt ngày. Khách lạ mới tới Huế có cảm tưởng rằng tất cả mọi người ở Huế đều có họ hàng với nhau.

Trước hết, tôi trở về để thưởng thức những vật tầm thường nhỏ bé đó. Tôi đã thưởng thức nó trong một thời gian ngắn trước khi biến cố Mậu Thân xảy ra.

Một sự sợ hãi lớn lao đã đến với Huế. Thật là điều khó khăn đối với tôi để quên, mùi xác thịt thối rữa trên đường Lê Lợi khi tôi cùng gia đình tản cư ngang qua đó. Hai hàng cây trước kia che chở đại lộ bằng những bóng mát cũng bị tróc gốc và trở thành những chướng ngại vật cho chúng tôi.

Nhìn vào Huế tháng Hai, tôi thấy một bộ mặt sụp đổ của thành phố cổ kính. Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài suốt tháng này. Họ là những người còn sống sót trong những cuộc chém giết, dường như họ chỉ còn thân xác mà không còn hồn. Nỗi buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn. Tất cả dân Huế sống cùng với nhau trong suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất, đều đã thở bầu không khí bẩn thỉu nhất của trại tị nạn. Tất cả đều đã được biết sự tận cùng của đau khổ. Tôi nhìn những căn nhà bên kia sông bị nổ tung vì đạn đại bác, tạc đạn rơi trên dòng sông Hương, làm mặt nước tung bọt trắng xoá. Trong những ngày đầu của trận chiến, gia đình và tôi ngồi yên lặng trong nhà. Buổi sáng đi qua trên những khuôn mặt khổ não. Các anh tôi và tôi ngồi nhấp nháp rượu trong khi đạn réo ngang đầu. Qua khung cửa, chúng tôi nhìn thấy những người lính Bắc Việt di chuyển, nấu ăn, đào hố trong vườn trước mặt nhà. Đó là những ngày đẹp trời của mùa xuân, với những giọt mưa nhẹ như sợi chỉ đan vào nhau và không khí lành lạnh. Tôi muốn tản bộ dọc theo những con đường đầy bóng mát trước cửa nhà. Tôi muốn có cốc cà phê ở một tiêm bên kia sống, trong nội thành, đằng trước Trường Âm nhạc và Mỹ thuật.

Nhưng tôi đã ngồi bất động hơn 15 ngày. Anh tôi và tôi ví những ngày của chúng tôi với những ngày của Anne Frank.

Tôi không biết bây giờ những gì có thể tìm thấy, khi tôi trở về Huế. Những cây cầu bắc ngang qua dòng sông nhỏ đã bị gãy. Tất cả mọi cây cầu An Cựu, Khe Ron, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao v.v… Một trong những cây cầu này đã chứng kiến sự trưởng thành của người bạn gái thân nhất, những dấu chân của nàng đã in hằn trên đó khi đi đến trường.

Khu nhà tôi ở bây giờ đã trở thành bãi dây kẽm gai. Căn nhà tôi, một phần lớn bị tàn phá, đã đầy rác. Ngày đầu tiên tôi trở về. Tôi ngồi duỗi dài chân tay trên một cái giường bị gãy và nhìn giọt mưa nhỏ rơi trên tôi, từ chỗ trống của mái nhà, tôi nghĩ rằng đang mơ. Thật sự, Huế chẳng còn gì cả. Bầu không khí thanh lịch, ấm áp của ngày xưa sẽ không bao giờ trở lại. Các kho tàng cổ kính và quý giá của Huế đã bị bom đạn đốt cháy.

Chỉ trong vòng hai tháng, tất cả mọi người dân của thành phố Huế đều trở thành những công nhân. Tập quán cổ truyền có từ lâu của một lối sống vương giả ở những gia đình ngày xưa đã bị xoá đi mất. Tôi đã nhiều lần bước ngang qua cầu Tràng Tiền gãy đổ nhiều nhịp. Tôi qua dòng sông Hương với con thuyền đầy người. Còn đâu sự êm đềm trong tâm hồn thành phố. Rất khó kiếm thấy một chỗ không bị lỗ chỗ bởi những hố bom.

Những con đường tráng nhựa sạch sẽ thuở nào nay đã trở nên lộn xộn, bẩn thỉu. Từng đám bụi bay lên cao suốt ngày ở hai con đường chính. Một bảng quảng cáo của rạp hát Châu Tinh vẫn còn treo ở trước cử chợ Đông Ba. Phim này dường như cũng là một điềm gở: Le Temps du Massacre.

Máu đã chảy và thấm xuống đất thành phố. Tôi đã mất nhiều thời gian ngồi trong quán cà phê trên đường Trần Hưng Đạo để quan sát những người qua lại buồn phiền, những người đã thăm được chiều sâu của sự buồn phiền. Tôi nhớ rằng tôi đã không tắm, không thay quần áo và không cạo râu cắt tóc trong hai tháng.

Sau giờ giới nghiêm, thành phố còn trở nên bi thảm hơn. Cửa nội thành đóng, đường phố bị bao phủ bởi một bầu không khí lạnh lẽo của bãi tha ma. Những ngôi mộ mới mọc lên như nấm dóc theo những con đường và lề đường trong công viên, trong vườn cam Tây Lộc và trong những cánh đồng nơi đàn bò ăn cỏ. Những bức tường của thành nội cũng đầy những vết đạn. Có lẽ hương hồn của những vị vua chúa ngày xưa và những quan lại cũng sợ hãi. Huế luôn luôn được nếm mùi bất hạnh. Từ lụt lội, bão tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng ngàn căn nhà, hàng ngàn gia đình trong cuộc chém giết tàn nhẫn ngày hôm nay, người dân Huế đã phải học cách sống trong kiên nhẫn. Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. Sẽ không bao giờ có thành phố Huế cổ kính ngày xưa nữa. Tại đây, dân chúng không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải 4 thế hệ: ông, cha, con và hcáu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn nhà được truyền từ đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng sà nhà, từng bậc cửa.

Vì thế phải cần một thời gian lâu, mọi người có thể nhìn Huế mà không nhìn thấy khuôn mặt bị tàn phá. Huế của ngày xưa đã biến mất đi khi mái cao của cửa Thượng Tứ và cửa Đông Hoà đã bị tàn phá và đầy lỗ thủng.

Tôi bước dọc theo đường thành nội nơi mà hàng ngàn căn nhà đã bị đốt cháy rụi.

Tôi đi lên An Hoà, đứng trên ngọn đồi Uông Voi và nhìn chung quanh, cạnh những hố bom sâu hơn 10 thước. Nơi đây là nhà của hàng ngàn những gia đình nghèo khó. Họ đã trở về để nhìn lại những cây chuối non, những cột gỗ, những lăng tẩm, từng bậc đá ghi lại những dấu vết của những cái gì đã một lần ở đó.

Tất cả mọi thứ đều bị tàn phá. Huế đã phải lo cúng bái thêm nhiều linh hồn con đi lang thang. Huế đã có một ngày giỗ chung cho tất cả mọi người chết, ngày mà người ta nhìn thấy nhiều đống xác người. Nhưng bây giờ lại có thêm nhiều thân người nữa. Sự tàn phá cũng càng ngày càng nhiều. Nước mắt của người dân Huế đã đủ để làm dòng suối nhỏ. Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng, tại Bãi Dâu, tại Kim Long, tại Long Thọ, là những dấu vết của một bạo lực hung ác, không có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống.

Nhớ những ngày ở Huế trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi không bao giờ có thể quên được những người mẹ chạy theo xe chở xác, đã mang đứa con trai của bà và trong khi chạy, bà đã vỗ tay cười suốt con đường lầy lội đất đỏ.

Tôi cũng sẽ không bao giờ quên được những người lính Mỹ ngồi dài trên lề đường, nhìn bà ta cười ngạo nghễ. Tôi cũng nhớ một người đàn ông già, bước những bước nặng nề, trên vai ông một cỗ quan tài bé, trên quan tài có cắm ba nén hướng đang cháy.

Huế đã sống qua những ngày tàn nhẫn. Hàng đoàn người đã đào lỗ để tìm xác cha, anh, mẹ hay chị. Những tiếng khóc của đám ma có thể làm rung chuyển cả núi rừng. Nhiều cái chết do sự ác độc của loài người gây nên. Ngày kia tôi lẩn trốn trong một thư viện của Viện Đại học Huế, tâm hồn tôi là một tảng băng. Chung quanh tôi mọi vật đều bị tàn phai. Tôi không thể nói được gì cả, khi đời sống chỉ là một trò đùa. Trong một tháng, tôi đã sống ở nơi ẩm ướt, lạnh lùng, trong bầu không khí ảm đạm của thư viện. Tôi không biết phải làm cái gì với cảnh tàn phá này. Căn bản luân lý của chiến tranh đã ra khỏi giới hạn của năng lực loài người để chịu đựng.

Huế ơi! Tôi hy vọng có một ngày thanh bình nào đó, tôi có thể trở về để ăn bánh bèo ở cây Phượng, bún bò thịt nướng ở Kim Long, bún bò tiệm bà Rốt. Tôi muốn quay trở lại để ngủ đêm trên dòng sông Hương và gọi ông Bê mang cho tôi một bát bún, rất cay, cay đến chảy nước mắt. Tôi sẽ gọi cô con gái trên thuyền mang cho tôi một con mực nướng khô, một cốc rượu nhỏ, thật nhỏ để làm cho đêm trở nên ấm hơn, những bài hát nửa đêm trở nên hay hơn và giấc ngủ hiền hoà hơn trong lúc sông lặng lờ trôi…

Trịnh Công Sơn

(Nguồn: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ)

 

 

Văn Cao, Giấc Mơ Một Đời Người. Phan Lạc Phúc


Phan Lạc Phúc

Văn Cao - Phan Lạc Phúc...

(Chân dung Nhạc Sĩ Văn Cao và Nhà Văn Phan Lạc Phúc)

Đầu năm 1995, có người trao cho tôi một cuốn video mà tôi mong đợi đã từ lâu. Cuốn băng về Văn Cao: “Giấc Mơ Của Một Đời Người”. Từ bữa ấy tới nay, đã hai, ba lần xem đi xem lại cuốn băng này mà lần nào xem xong tôi cũng không tránh khỏi thở dài. Một con người tài hoa như vậy, tâm hồn lớn lao như vậy, có đóng góp như vậy mà cuối đời, sao mà tẻ lạnh, buồn tênh. Một ông già lụm cụm, râu tóc bạc phơ, một mình trong gian phòng vắng, ngoài trời mưa bay, cây bàng khẳng khiu, những chiếc lá cuối cùng đã rụng. Văn Cao nhìn “cây bàng mồ côi mùa đông” trong khi chiếc đồng hồ trên tường không ngừng nghỉ, điểm những giọt thời gian tích tắc, tích tắc. Những tiếng tích tắc ấy vang lên mênh mông trong gian phòng vắng như một câu hỏi mơ hồ nhưng khắc nghiệt: đến bao giờ.

Đến bao giờ xuất hiện dấu chấm hết cho một đời người, bởi vì không ai tránh khỏi: con người sinh ra là để chết (l’homme, un être mortel). Những tiếng tích tắc ấy như những giọt cường toan nhỏ xuống lòng người.

Khi cuốn băng này ra đời (1994) Văn Cao đã bước qua ngưỡng cửa “thất thập cổ lai hi”. Không nói ra nhưng hình như những người dựng cuốn băng này muốn thực hiện một khúc bi ca, viếng người còn sống: sợ không làm thì không kịp nữa, thời gian gấp gáp đuổi theo sau lưng. Cũng có thể những người thực hiện cuốn băng thấu hiểu cái lẽ “sinh ký tử qui” giống như người xưa, có tuổi rồi là sắm một “cỗ áo” để sẵn trong nhà phòng khi hữu sự. Hay là bắt chước mấy ông nhà Nho già ngày trước, thân với nhau đến độ làm sẵn những câu đối sinh vãng (làm sẵn từ khi còn sống) để lỡ khi bạn mình nằm xuống thì đã có sẵn câu đối, cứ thế mà treo lên. “Người sắp chết nói lời khôn – Chim sắp chết tiếng kêu thương” xem cuốn phim video này nó thảm, nó buồn là vì vậy. Ở Úc này, nghe nói có loài chim thorn bird (cũng như có cuốn tiểu thuyết lừng lẫy The Thorn Bird). Giống chim này hót hay nhất, thê thiết nhất, tuyệt vời nhất khi chiếc gai nhọn đâm thấu vào tim, máu chảy tràn trề. Máu trong tim vừa cạn thì khúc bi ca cũng vừa chấm dứt.

Cái cảm giác thảm thê, rờn rợn khi xem cuốn video này của tôi đã dự báo đúng. Văn Cao, con chim thorn bird Việt Nam đã mất vào tháng 7 năm 1995. Những người yêu mến Văn Cao đã kịp thời thực hiện cuốn băng này trước khi không còn kịp nữa.
. . . . . .

GẶP GỠ VĂN CAO

Đầu thập niên 40 tôi là một anh học trò mới lớn, tuổi mười lăm mười bảy. Thời kỳ ấy tôi thuộc nằm lòng Thăng Long Hành Khúc của Văn Cao: “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng. Trông khói sương chiều ám trên giòng sông”. Tôi cũng bắt đầu say mê Buồn Tàn Thu với lời đề tặng đáng ghi nhớ của tác giả trên đầu bài hát. “Thân tặng Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn”. Lúc bấy giờ Phạm Duy đang đi theo các đoàn cải lương suốt từ Bắc vào Nam và ngược lại. Giữa hai màn cải lương, Phạm Duy ôm đàn ra hát …“Đêm tàn thu tới, nghe mùa đông đang rớt rơi theo lá vàng. Em ngồi đan áo. Lòng buồn vương vấn. Em thương nhớ chàng.” Lối hát ấy, thời bấy giờ gọi là entre-scènes. Và Phạm Duy cho tới nay vẫn tự xưng là một kẻ hát rong, chính đã bắt đầu như vậy.

Cách mạng tháng tám bùng lên. Như một trò chơi hấp dẫn, người học trò mới lớn ném cả tâm hồn và thể xác vào cuộc đấu tranh dành độc lập cho xứ sở. Văn Cao lúc ấy nổi lên rực rỡ như một khuôn mặt điển hình của thanh niên. Vừa mang súng lục làm trưởng ban ám sát thành (Tô Hiệu – Hải Phòng) vừa là nhạc sĩ sáng tác những bản nhạc đấu tranh cách mạng: Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng, Hải Quân Hành Khúc, Không Quân Hành Khúc, Bắc Sơn v.v…

Không những thế con người cách mạng ấy còn là tác giả những khúc tình ca ngây ngất: Suối Mơ, Thiên Thai, Đàn Chim Việt, Trương Chi.

Cách mạng bùng lên, rồi kháng chiến trường kỳ … Văn Cao là một nhà sáng tác lừng lẫy. Phạm Duy lúc bấy giờ là một ca sĩ hàng đầu, được yêu mến khắp mọi nơi …
. . . . . .

Một hôm ông anh tôi mới hỏi tôi “Muốn đi gặp Văn Cao không?” Thời kháng chiến 9 năm, Văn Cao là một tên tuổi lẫy lừng khắp nước, ai mà không hát Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng … ai mà không ngâm ngợi “Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối …” Cho nên tôi nao nức đạp xe theo ông anh tôi liền. Từ quê tôi qua Thạch Thất tới Cầu Trò rồi theo đường liên tỉnh (lúc đó đã phá hoại, đào đường kháng chiến ngang dọc khắp nơi, nhưng xe đạp vẫn còn đi được) lên thị xã Sơn Tây. Từ Sơn Tây qua Quảng Oai lên bến Trung Hà. Ở đây phải đi đò qua sông Cái (sông Hồng) sang một thành phố ngã ba bên kia sông: Việt Trì. Ngày xưa chỗ này gọi là Ngã ba Hạc. Việt Trì là một thành phố trại lính. Thời Pháp thuộc có hẳn một binh đoàn lê dương (légion Việt Trì) trấn đóng khu vực chiến lược này. Đây là địa đầu của trấn Sơn – Hưng – Tuyên trong yếu ngày xưa (Sơn Tây – Hưng Hóa – Tuyên – Quang).

Sang đến bên kia sông, ông anh tôi đi tìm một người bạn “thổ công” ở miền đất này. Đó là nhạc sĩ Lưu Bách Thụ, tác giả Con Thuyền Xa Bến. “Theo gió thuyền xuôi, sóng đưa bèo trôi”. Theo ông anh tôi kể lại, Lưu Bách Thụ nguyên là lính kèn ở thị trấn này. Bây giờ ông không thổi kèn la vầy tò te, tí tét nữa mà ông sáng tác nhạc cải cách và trở thành ông bầu văn nghệ của Việt Trì.

Hôm nay, Ca kịch Giải Phóng đoàn văn nghệ đầu đàn thời ấy, gồm những khuôn mặt lớn như kịch sĩ Song Kim (bà Thế Lữ), Phạm Văn Đôn (kiêm họa sĩ, nhạc sĩ), các ca sĩ Phạm Duy, Mai Khanh, Phạm Đình Viêm (Hoài Trung sau này), nữ ca sĩ Thương Huyền, Hoàng Oanh (Hoàng Oanh xưa ở Hải Phòng không phải Hoàng Oanh bây giờ) v.v…

Văn Cao ngoài tư cách là nhạc sĩ sáng tác còn kiêm nghề tiền đạo diễn (élément précurseur) đi trước một bước để sắp xếp nơi diễn và lo liệu nơi ăn chốn ở cho đoàn kịch. Đoàn chưa đến nhưng Văn Cao đã có mặt trước ở Việt Trì. Tôi theo ông anh và nhạc sĩ thổ công Lưu Bách Thu tới một quán nước ven bờ sông. Ở đó tôi gặp một người đàn ông còn trẻ chừng 24, 25 tuổi nhưng có vẻ muốn làm già đi với cái mũ nồi sụp trước mắt và chiếc pipe phì phà khói. Người thanh niên này không đẹp trai, phải nói như vậy, nhưng có một phong cách khác người, một vẻ tự tin đặc biệt. Ông anh tôi khẽ nói với tôi “Văn Cao đấy”. Đến lượt tôi tiến tới bắt tay, anh tôi bỏ nhỏ “Cậu em tôi ở quê nhà, muốn được gặp Văn Cao”. Người thanh niên không nói gì chỉ giơ tay bắt, con mắt nheo lên một nét cười thầm lặng.

Lúc bấy giờ, tôi chỉ là một anh “nhóc” mới lớn lên, 19 tuổi, nên ngồi lặng im nghe các đàn anh chuyện vãn. Một lát sau, bún riêu, cà phê xong xuôi, ông anh tôi và Lưu Bách Thụ vội vàng đi vì nghe tin thuyền buồm chở đoàn kịch đã tới. Chỉ còn Văn Cao và tôi ngồi lại. Văn Cao vẫn không ngớt phì phà khói pipe. Tôi rụt rè nêu câu hỏi: “Dạo này, hát bài của anh sướng quá. Từ các bản cách mạng Tiến Quân Ca, Bắc Sơn sang các bản trữ tình suối Mơ, Thiên Thai. Dạo năm ngoái triển lãm tranh Cách Mạnh tháng 8 ở Khai Trí Tiến Đức còn thấy bày tranh của anh nữa. Rồi thơ “Chiếc Xe Xác Qua Phường Dạ Lạc”. Văn Cao giơ tay như muốn ngắt lời tôi “Tôi hiểu ý của bạn rồi. Có phải bạn muốn hỏi rằng tôi rồi đây sẽ nghiêng về địa hạt nào?” Tôi gật đầu, đồng ý. Văn Cao nói tiếp “Tôi sống với cả ba, nhưng thời kỳ qua có thể gọi là thời kỳ nhạc, thời của Cách mạng, của kêu gọi, của đám đông. Đến một lúc nào đó, con người phải quay về với nội tâm mình, có lẽ thời kỳ đó đối với tôi là thời kỳ thơ, thời kỳ họa.”

Với lại về nhạc, dạo này có một người bạn tôi, mới sáng tác nhưng anh ta có một sensibilité kỳ lạ (tôi còn nhớ nguyên chữ sensibilité nói rât trang trọng của Văn Cao) – Người ấy là Phạm Duy …

Thành phố trại lính Việt Trì cũng như các thành phố khác lúc bấy giờ đang tiêu thổ kháng chiến. Một rạp hát đã phá bỏ mái, không còn tường bao xung quanh, nhưng sân khấu vẫn còn. Buổi trình diễn của đoàn ca kịch Giải Phóng cho quân, dân, chính Việt Trì được tổ chức trong nhà hát ấy. Không có ghế, mọi người phải ngồi xổm xuống sàn mà coi. Có kịch “Trả con tôi đây” do những kịch sĩ danh tiếng một thời trong ban kịch Thế Lữ thủ diễn. Có đơn ca của Thanh Huyền “khi bước đi vó câu xa xa dồn bao nhớ thương”. Có tam ca Hòn Vọng Phu I do Phạm Duy – Mai Khanh – Thương Huyền trình bày. Có những bài hát hài hước “Con vỏi con voi cái vòi đi trước”, “Con mèo mày trèo cây cau” của Nguyễn Xuân Khoát do giọng ca trầm ấm và dí dỏm Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) diễn tấu. Có đơn ca của giọng hát đang được yêu chuộng nhất lúc bấy giờ Phạm Duy. Ca sĩ đêm nay hát bài của anh vừa sáng tác xong: Chiến sĩ Vô Danh. Anh đã cúi đầu chào khán giả và định rời sàn diễn thì một tiếng hô không biết của ai vang lên “Trương Chi mới, Trương Chi mới”.

Những tiếng hô tiếp nối Trương Chi mới, cùng tiếng vỗ tay từng chập nổi lên. Hồi đầu thập niên 40, Văn Cao đã sáng tác một bài Trương Chi. Bài hát chưa được phổ biến rộng rãi, mới được lưu hành hạn hẹp trong một số người thân quen với tác giả. Nhưng giờ đây sau Cách mạng tháng 8, 1945 Văn Cao sáng tác một bài Trương Chi khác, được coi là một thành tựu mới. Bài Trương Chi này chưa được chính thức phát hành; nó là bài hát đang được kiếm tìm, đang được ưa chuộng của người thưởng ngoạn. Cùng một lúc với những bài hát Cách Mạng sục sôi như Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng, Bắc Sơn, Không Quân, Hải Quân … Người ta còn tìm thấy nơi Văn Cao một nguồn suối những bàn tình ca thần thoại: Bến Xuân, Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi … Người ta bàng hoàng ngơ ngẩn, choáng ngợp trước tâm hồn giàu có và đa dạng của tác giả.

Phạm Duy người ca sĩ thời danh đã ôm guitare bước ra tiền trường sân khấu. Mắt kính trắng loáng lên trước ánh đèn “măng xông”. Anh nghiêng đầu, tay vuốt nhẹ một arpège dẫn vào khúc dạo của Trương Chi. Cả thính phòng im phắc. Chỉ nghe một tiếng hát không phải từ cuộc đời này mà từ một tiền kiếp xa xôi nào vọng lại:

“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ …”

BẾN XUÂN

Đối với anh em văn nghệ, buổi trình diễn đầu năm 1947 ở Việt Trì chỉ là “công tác”. Cuộc gặp gỡ sau khi trình diễn mới là đáng kể. Chiến tranh toàn quốc mới nổ ra mấy tháng, nhưng súng đạn làm cho những cuộc gặp gỡ bất ngờ trên đường kháng chiến thêm đậm đà ý nghĩa. Chỉ mấy tháng thôi nhưng Hà Nội – Hải Phòng đã thấy vời vợi xa. Vùng ánh sáng mờ mờ kia đó là Hà Nội, nhưng đâu còn về được. “Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài” (Thơ Quang Dũng). Trong cơn mưa đêm lấm tấm của một mùa xuân muộn, mấy người bạn văn nghệ tìm đến nhau. Nhạc sĩ “thổ công” Lưu Bách Thụ và cũng là “khổ chủ” đưa mấy người bạn thân đi khoản đãi riêng. Trong một căn phòng nhỏ còn lại của một nhà khách địa phương đang phá hoại dở, mọi người tụ tập, uống rượu mía đặc biệt Quảng Oai, ăn cháo gà. Căn phòng nhỏ lù mù dưới ánh đèn dầu hỏa chỉ có dăm bảy người chen chúc. Có Văn Cao, Phạm Duy, Thương Huyền, Hoàng Oanh, khổ chủ Lưu Bách Thụ và ông anh tôi, Trần Ngọc D. Tôi may quá được “ăn theo”.

Trong số các khuôn mặt hiện diện theo lời ông anh tôi cho biết, đáng lưu ý nhất là nữ ca sĩ Hoàng Oanh. Hoàng Oanh là một người đẹp “huyền thoại” của Hải Phòng. Ở đây có hai người Hải Phòng: Văn Cao và Hoàng Oanh. Đầu thập niên 40, Hoàng Oanh đã là nguồn cảm hứng để Văn Cao sáng tác khúc tình ca bất hủ Bến Xuân “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần …” Đó là Hoàng Oanh đến thăm Văn Cao trên bến đò Rừng. Có lẽ người đẹp chỉ đến một lần, rồi không đến nữa nên trong lời ca thứ hai của bài Bến Xuân, Văn Cao kể lể “Chiều nay tôi vẫn còn ngơ ngác. Em đến tôi một chiều. Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu”.

Nàng không đến nữa, tất cả chỉ còn là kỷ niệm. “Không có em, cõi nhân gian này hoang vắng” (un seul être vous manque, tout est dépeuplé) (Thơ Lamartine). Vì vậy nên Văn Cao sáng tác Bến Xuân như một hoài niệm xót xa và đẹp đẽ nói về một cuộc tình vừa mới nhen lên đã tắt.

Được biết người đẹp Hoàng Oanh sau đó đã lên xe hoa, về làm vợ một nhạc sĩ rất tiếng tăm thời ấy cũng ở Hải Phòng, bỏ lại Văn Cao, bỏ lại căn nhà “bên chiếc cầu soi nước”.

Nhưng “hồng nhan đa truân” người đẹp Hoàng Oanh vui duyên mới đâu được vài năm, người chồng, người nhạc sĩ tài danh vắn số kia tạ thế. Hoàng Oanh trở thành một góa phụ đa cảm đa sấu.

Chiến tranh toàn quốc, người góa phụ đi theo ban ca kịch, đi kháng chiến để phần nào nguôi ngoai quên sầu muộn. Theo con mắt tôi, một gã thanh niên vừa lớn thì Hoàng Oanh vẫn đẹp não nùng. Không phải là cái đẹp mơm mởn của tuổi dậy thì, mà là cái đẹp tròn đầy của một trái cây vừa chín tới.

Bữa ăn đêm ấm bụng thêm vào chất rượu đặc sản Quảng Oai, Sơn Tây, rượu mía ngọt lừ mà say lúc nào không biết. “Thổ công” Lưu Bạch Thụ tay cầm ly rượu ngất ngưởng đứng lên “Đêm nay, không ngờ lại được gặp Văn Cao và Hoàng Oanh ở đây, hai người con yêu của Hải Phòng mà cũng là hai nhân vật chính trong bản tình ca Bến Xuân bất hủ. Để mở đầu cuộc họp mặt văn nghệ thân hữu đêm nay, yêu cầu anh Phạm Duy hát lại Bến Xuân …” Tiếng vỗ tay hưởng ứng vang lên trong căn phòng nhỏ. Trong khi Phạm Duy đi tìm cây đàn guitar tròng vào vai, Văn Cao cảm khái ngâm hai câu thơ dẫn nhập “Chiều nay run rẩy thơ đôi cánh. Một cánh chim xưa đến lạc loài”. Lời thơ chìm vào âm điệu trầm buồn dìu dặt của cung Rê thứ. Phạm Duy bắt đầu hát:

“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao cánh chim rừng, rập rờn trên khắp bến Xuân …
. . . .
Dìu vai theo dốc suối mơ ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây sao thấy lòng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền trên nước
Tà áo tung bay nghe thoáng nhẹ thẹn thùng ngoài Bến Xuân …
Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Về đâu buồm nâu còn trên lớp sóng Xuân
Ai tha hương nghe réo rắt oanh ca
Cánh nhạn vào mây thướt tha
Lưu luyến tình vừa qua …”

Từ khi nghe bài Bến Xuân năm ấy đến nay đã gần 50 năm trôi qua. Ngày ấy tôi là một thanh niên vừa mới lớn mà bây giờ, tôi đã là một anh già “thất thập” … Nửa thế kỷ … thời gian đâu có ngắn nhưng mỗi khi nhớ lại bài Bến Xuân, tôi lại thấy suốt châu thân rờn rợn. Phạm Duy không phải là một giọng ca vàng, nhưng Phạm Duy hơn người ở chỗ anh biết nắm lấy cái “thần” của từng bài hát. Bài hát đã thấm vào tâm hồn ngây dại của tôi lúc ấy và ở lại đó y nguyên.

Ở trên đời này có biết bao nhiêu mối tình dang dở, nhưng đối với tôi không có cuộc tình nào dở dang, trữ tình, dìu dặt xót xa như Bến Xuân năm ấy. Có thể khung cảnh đặc biệt trong một đêm Xuân ở Việt Trì đã ghi khắc vào tâm hồn non dại của tôi những dấu vết không phai.

Hai người tình xưa gặp lại nhau trong một đêm xuân mưa bụi. Gặp nhau đây, bao kỷ niệm xưa bừng dậy nhưng ngày mai … không hứa hẹn gì. Chiến tranh, đổ nát, chia ly. Kỷ niệm xưa càng đẹp, chia tay bây giờ lại càng đau xót. Bất giác tôi nhớ một câu thơ của J. Prévert “Moi qui t’aimais. Toi qui m’aimais. Mais la vie sépare ceux qui s’aiment” (Tôi yêu em và em yêu tôi, nhưng những kẻ yêu nhau thường bị cuộc đời chia rẽ).

GIẤC MƠ THÊ THẢM

tie1babfng-quc3a2n-ca-vc483n-be1baa3n

(Tiến Quân Ca được dùng làm Quốc Ca hiện tại)

Theo tôi nghĩ, một bài hát mà mình yêu thích thường đánh dấu một quãng thời gian, không gian nào đó, khắc ghi một kỷ niệm đáng nhớ trong đời. Bài hát ấy, thời, không gian ấy, ca sĩ ấy … tất cả tạo thành một dấu ấn không quên. Đối với tôi bài Bến Xuân là một vùng kỷ niệm của ngày đầu đi kháng chiến chống Pháp, có “giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến” có đôi người tình cũ Văn Cao – Hoàng Oanh gặp nhau rồi xa nhau, có bến giang đầu Ngã ba Hạc – Việt Trì thê thiết, có giọng hát thấm vào hồn người Phạm Duy. Nó cũng đánh dấu thời kỳ đầu đi kháng chiến của bao nhiêu lứa thanh niên kẻ trước người sau, nô nức đi vào ngày hội lớn.

Vào khoảng giữa năm 1947, ông anh tôi Trần Ngọc D. không “công tác” ở vùng Sơn Tây nữa, lúc bấy giờ thuộc khu 2, mà đi lên khu 10 tận Việt Bắc – Lào Kay mở một cái “quán biên thùy” ở miền biên giới Hoa – Việt. Tôi cũng không biết việc đó là buôn bán tư nhân hay là công tác nữa. Ông anh tôi lúc nào cũng giữ đúng qui luật, “bem” tuyệt đối. Chỉ biết là một bộ phận nhạc trong đoàn ca kịch Giải Phóng tách ra lên Lào Kay, trong đó có Phạm Duy ở quán Biên Thùy. Ít tháng sau, trong những lượt về thăm quê, ông anh tôi có mang theo những sáng tác mới của Phạm Duy như Bên Cầu Biên Giới, Thu Chiến Trường, Nợ Xương Máu v.v… Tôi bắt đầu nghĩ đến từ sensibilité (sự mẫn cảm) mà Văn Cao hôm nào trong quán nhỏ bên sông đã đặc biệt nói về Phạm Duy. Đây cũng là một khúc rẽ để Phạm Duy từ một ca sĩ chuyển sang phần đất chính của anh: sáng tác.

Bữa ở Việt Trì khi tôi từ biệt đoàn ca kịch Giải Phóng trở về Quốc Oai, Phạm Duy có chép tặng tôi bài Bến Xuân của Văn Cao có ký tên Phạm Duy mà tôi còn nhớ mãi nét phẩy cuối cùng của chữ Y trong chữ ký được Phạm Duy xoáy vòng trong vòng ngoài như một con ốc vặn. Sự lập dị của nghệ sĩ, sự “chơi trội” của một tài danh, không biết nữa, nhưng bản thân tôi giữ bài Bến Xuân này rât kỹ.

Theo tôi được hiểu, tình hình chiến sự không cho phép tổ chức một đoàn ca kịch lớn lao và cồng kềnh như đoàn ca kịch Giải Phóng. Chiến tranh du kích thì văn nghệ cũng phải du kích. Phải chia ra từng nhóm nhỏ, bám trận địa, bám nhân dân mà trình diễn. Chiếc thuyền buồm lớn chở đoàn ca kịch chỉ trình diễn thêm một điểm nữa ở Vân Đình là giải thể. Cho nên bữa chia tay ở Việt Trì hôm ấy không khí đã bâng khuâng. Thuyền đã nhổ neo rồi. Đoàn đã đi. Phạm Duy, ông anh tôi Trần Ngọc D. cũng đi theo đoàn kịch.

Trên bến Việt Trì, chỉ còn tôi ngồi lại với Văn Cao. Văn Cao nắm tay tôi khá chặt, không lặng lờ “cảnh vẻ” như lần trước. “Mình còn gặp nhau nữa chứ. À bientôt”, anh nói vậy trước khi chia tay. Tôi đạp xe đi được một đoạn, quay lại nhìn thấy Văn Cao, cái mũ béret basque kép sụp xuống mắt đang đứng sững một mình trước bến Việt Trì chập chùng sông nước.

Anh hẹn “sớm gặp lại nhau” (à bientôt) nhưng trong chiến tranh, mấy ai giữ được lời ước hẹn. Sớm gặp lại nhau. Sớm là bao nhiêu lâu? Một vài tuần, một vài tháng, một vài năm? Ở đây là 50 năm, tôi mới được gặp lại anh. Mà không phải gặp Văn Cao bằng xương bằng thịt, mà chỉ gặp một hình bóng Văn Cao thấp thoáng trên băng nhựa. Văn Cao thật sự đã nằm yên trong lòng đất. Con chim thorn bird Việt Nam đã cạn khô giòng máu, tắt hơi rồi.

Mỗi khi xem cuốn băng Văn Cao, giấc mơ một đời người, tôi lại chìm trong kỷ niệm. Đặc biệt là bài hát Bến Xuân. Tôi yêu thầm một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người con gái ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Nên mới có câu “Em đến tôi một lần”. Tác giả Văn Cao đã dẫn nhập như vậy trước khi đi vào bài hát nhưng khi ca sĩ trình bày, nó không phải là Bến Xuân mà là bài Đàn Chim Việt. Bài Bến Xuân đã từng thấm vào tâm hồn tôi từ 50 năm về trước; đó là một bản tình ca diễm tuyệt, làm gì có “hoàng hôn Thái Nguyên tung hoành”, với “Bắc Sơn kia thời tung cánh”. Hai người tình đi với nhau dưới nắng xuân đầm ấm, thì giờ đâu mà nhớ đến “mấy đồi Yên Thế”. Không có Đàn Chim Việt nào bay từ Bắc sang Trung.

Bản tình ca dìu dặt Bến Xuân thời kỳ Cách Mạng 1946 đã được cải trang thành Đàn Chim Việt. Không biết sự cải trang này là do chính tác giả Văn Cao hay do nhà xuất bản muốn phục vụ đúng lúc, đồng thời tung ra một món hàng ăn khách. Chưa biết được. Phục vụ một giai đoạn Cách Mạng, hoặc là làm vừa lòng một phong trào thời thượng, mượn giai điệu Bến Xuân trở thành Đàn Chim Việt, tạm cho là được đi. Nhưng 50 năm sau thực hiện một cuốn băng video ghi dấu một chặng đường sáng tác của một tác giả lớn, có giá trị như một lễ vật viếng người còn sống thì không thể “nhập nhằng” như thế được.

Phải trả cho Caesar cái gì của Caesar, phải trả lại Bến Xuân cho cuộc tình đắm say và dìu dặt của Văn Cao. Tình ca là tình ca, bài ca Cách Mạng là bài ca Cách Mạng, không nên “nửa dơi nửa chuột” như thế. Nó vừa thất lễ với tác giả Văn Cao, mà làng âm nhạc VN cũng thiếu vắng đi một bản tình ca đặc sắc.

Không biết tôi có quá yêu bài hát Bến Xuân, quá yêu kỷ niệm của tôi hay không? Nhưng bữa nào gặp lại Phạm Duy (tôi hi vọng là gặp sớm) tôi sẽ xin anh hát lại Bến Xuân; chắc chắn, dù đã nửa thế kỷ trôi qua, Phạm Duy vẫn sẽ hát “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần” …

“Văn Cao Giấc Mơ Một Đời Người” tôi xem đi xem lại mấy lần mà lần nào cũng buồn hiu hắt. Nửa thế kỷ nay không gặp lại Văn Cao … từ một thanh niên kiêu mạn, tự tin ngày nào anh đã trở thành một ông già đầu râu tóc bạc, lụm cụm chống gậy đi tìm dĩ vãng. Cái đổi thay thể chất không nói làm gì “Được là bao cái thân người, mà cay đắng trải mọi mùi thế gian” nhưng cái khiến tôi âm thầm ái ngại là cái tự tin, kiêu mạn ngày nào nơi anh đã mất. Tụi tôi một lũ người thua trận ở xứ tạm dung này cứ mỗi khi thời tiết đổi thay là lại ngóng về quê hương mà thở dài; anh ở quê nhà, lại là tác giả bài “quốc ca” mà cũng buồn bã, cô đơn như vậy hay sao?

Anh nói nào là “Tôi luôn luôn thất bại … trong tình yêu.” “Tôi muốn tìm lại trong giấc mơ những gì tôi đã đánh mất trong những ngày trẻ tuổi.” – “Không nên sống với những gì mơ mộng – cuộc sống không đạt được” v.v… Anh là Lưu, Nguyễn từ Thiên Thai trở về trần thế. Người cũ đã xa, suối mơ đã cạn “ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta”.

Nhìn anh tôi lại nhớ đến ông anh tôi. Trần Ngọc D. bạn anh ngày nào. Ông anh tôi đi theo Cách Mạng suốt cả một đời người mà kết thúc cuộc đời cũng âm thầm tức tưởi. Chết rồi, chết ở Paris. Tự tử bắn một phát súng vào đầu. Ông anh tôi “bem” suốt đời nên bà chị tôi cũng không hiểu vì sao mà ông anh tôi lại liều mình như vậy. Tôi đi tù cải tạo về năm 1985, nhận được thư bà chị tôi từ Hà Nội báo tin như thế.

Đây cũng là giấc mơ thê thảm của một đời người.

Phan Lạc Phúc

 

 

 

Nỗi cô đơn lớn lao của Mai Thảo. Tùy bút Nguyễn Mộng Giác


Nguyễn Mộng Giác

Mai Thảo

Sau nhiều tháng bệnh nặng, sức khoẻ suy nhược dần như ngọn đèn hết dầu, nhà văn Mai Thảo đã vĩnh biệt tất cả bạn bè chúng ta hồi ba giờ sáng ngày 10 tháng 1 năm 1998. Tuy mọi người đều chờ tin buồn này với tất cả sự bất lực tuyệt vọng như chờ một định mệnh không thể tránh được, tin buồn vẫn gây một xúc động lớn lao trong văn giới hải ngoại. Bạn bè bốn phương đổ về Quận Cam đưa nhà văn Mai Thảo đến nơi an nghĩ cuối cùng, một nghĩa trang nằm cạnh con đường Bolsa chạy xuyên qua khu trung tâm của Little Sài gòn. Từ đây hằng ngày Mai Thảo vẫn có thể trông thấy bạn bè của mình qua lại trên con đường tấp nập có nhiều đồng hương qua lại, và ở bên kia thế giới, chắc anh vẫn mỉm cười nhìn đám bạn bè cũ tất tả lo toan cho cuộc mưu sinh với nụ cười hiền lành và ánh mắt ân cần quen thuộc của gương mặt anh.

Những người bạn không có cơ hội thăm viếng Mai Thảo trong những tháng bệnh cuối cùng, hôm viếng anh lần cuối ở nhà quàng, đều ngỡ ngàng không nhận ra anh. Ngày thường, khuôn mặt anh dài, nghiêm trang ít nói, và điềm tĩnh trong tất cả mọi tình huống. Hôm cuối, khuôn mặt anh choắt lại, như khuôn mặt một đứa bé. Tôi đã nghe nhiều lời thì thào trong tiếng nức nở: “Anh Mai Thảo đây ư?”

Hôm cùng với chị Trần thị Lai Hồng và chị Bùi Bích Hà lên thăm anh tại bệnh viện Barlow ngoại ô Los Angeles, chúng tôi cũng đã thốt lên câu hỏi ấy. Chúng tôi không nhận ra anh nữa. Chị Bùi Bích Hà nghĩ là chúng tôi đã vào lộn phòng. Chị Lai Hồng trỏ vào tấm bảng ghi tên bệnh nhân QUY NGUYEN, chúng tôi mới dám chắc người nằm đó là Mai Thảo. Cô y tá người Hoa đang bơm thực phẩm vào dạ dày anh, và anh thở bằng hai ống ni-lông nối vào bình dưỡng khí. Anh đã không thế tự sống được bằng hoạt động của chính cơ thể mình. Anh sống bằng máy. Cô y tá cố gắng tập cho hai chân anh co lên co xuống để khỏi tê liệt nhưng anh không cử động đôi chân được. Cô y tá khuyến khích bảo gắng tập cho đôi chân cử động bình thường để cô chuyển anh lên xe lăn đẩy ra hành lang ngắm cây cối xanh tươi chung quanh bệnh viện cho đỡ buồn. Anh lắc đầu. Cô y tá cũng lắc đầu, mang vào chân anh hai chiếc tất nĩ để gót chân khỏi bị nhiễm trùng tạo ra vết lở ở gót. Cô rời phòng, nét mặt thôi không còn buồn rầu thất vọng mà hớn hở vui mừng sau khi chị Bùi Bích Hà cho biết bệnh nhân của cô là một nhà văn tiếng tăm của Việt Nam. Chữ nghĩa, văn chương, trong những hoàn cảnh bất ngờ nhất, ít ra cũng giúp cho những người khổ sở vì nó một niềm an ủi nhỏ nhoi!

Anh Mai Thảo nhận diện được tất cả chúng tôi. Do dụng cụ hô hấp gắn ở mũi và cổ họng, anh không nói được, anh ra dấu cho chị Lai Hồng bảo đem bút và giấy cho anh bút đàm. Chúng tôi mừng vì đôi tay anh vẫn có thể cử động tuy yếu ớt. Và đôi mắt anh, tuy mỏi mệt, vẫn còn có thể phát ra ánh vui. Anh viết lên tập giấy hai câu:

“Cảm ơn đã vào thăm.”
 “Xin lỗi bị đau nặng chưa nói được.”

Chúng tôi lặng người sau khi đọc hai câu anh viết. Cảm ơn! Xin lỗi! Đáng lẽ tất cả chúng tôi, tất cả bạn bè và độc giả của anh phải “cảm ơn” và “xin lỗi” anh, chứ không phải anh thốt ra hai tiếng đó. Chúng tôi lúng túng không biết phải làm gì để cho anh hồi phục, lúng túng vì dù không có kiến thức y khoa, chúng tôi đều cảm thấy anh đang đi trên con đường một chiều, không còn cơ may nào quay trở lại đời sống bình thường như trước. Chị Lai Hồng vừa kể chuyện đời sống mới của chị ở Florida vùa xoa bóp hai ống chân và cánh tay anh. Tất cả chỉ còn xương bọc da. Trên toàn thân, trừ hai tay, đôi mắt là còn sự sống, tất cả đều bất động. Trong khi đầu óc anh vẫn hết sức tinh tường. Hai câu anh viết , với cái gạch ngang ở đầu dòng, với những lời lẽ được lựa chọn thích hợp và chính xác, vẫn còn đầy đủ tính cẩn trọng cần thiết của một người suốt đời trân trọng và tin tưởng ở sức mạnh của ngôn ngữ. Vẫn còn đầy đủ sự trân trọng của anh đối với bạn bè, không phân biệt tuổi tác, tính tình, tài năng, học thức. Bất cứ ai yêu văn chương đều là bạn anh, đều được anh xem là tâm giao vì đã sống hết mình trong “cõi viết”, và theo anh, như thế họ “đã là”. Tôi nghĩ suốt thời gian anh nằm một mình trong các bệnh viện vào giai đoạn cuối đời, ngay cả thời gian anh còn ở căn phòng chung cư sau quán Song Long nằm suốt ngày trên giường vì đôi chân quá yếu, sự đau khổ nhất của Mai Thảo là trí óc minh mẫn trong khi thân thể ngày càng bất lực. Nhớ bài thơ bệnh anh làm khi chưa thật sự bệnh:

Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Bảo nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho.

Như thế nghĩa là từ lâu lắm, từ hơn mười năm trước khi “cơ thể gây thành chuyện lớn”, anh đã tiên liệu cái ngày trí óc anh và cơ thể anh không đi cùng một con đường. Phải chăng đây là cái mâu thuẫn lớn nhất trong cuộc đời đầy mâu thuẫn của anh?

Đám tang của nhà văn Mai Thảo qui tụ hầu hết những người bạn thực sự yêu thương quí trọng anh, và nếu nhìn một vòng những người đưa anh tới nơi an nghỉ cuối cùng, chúng ta thấy họ thuộc đủ mọi thành phần. Họ khác biệt nhau về tuổi tác, sở thích, tính tình, học thức, nghề nghiệp… Có thể ngoài niềm đau chung là cái chết của Mai Thảo, họ không có gì để nói với nhau. Mai Thảo là một người có nhiều bạn. Anh sống hết mình với bạn, ân cần lo lắng cho bạn. Nói như thế không có nghĩa là anh coi tất cả những người anh gặp trên đường đời là bạn. Anh có một tiêu chuẩn kết bạn khá lạ lùng, đôi khi cực đoan và phi lý. Chẳng hạn trong văn giới, anh thường phân biệt những người “bạn văn” của anh với những người anh liệt vào hạng “ngoại đạo”. Tiêu chuẩn ấy không dựa vào tài năng, vào giá trị tác phẩm của người viết. Cũng không dựa vào vị trí xã hội của họ. Bằng cách định giá của riêng anh, Mai Thảo liệt vào hàng “ngoại đạo” tất cả những người (theo anh nghĩ) không xem văn chương là lẽ sống duy nhất trong đời, những người đầu tư tâm lực của mình vào một ngành hoạt động khác nhưng lâu lâu nhảy vào văn chương như một thú giải trí cuối tuần. Cũng có lúc anh nới rộng tiêu chuẩn ngoại đạo này, xét cả đến cách sống. Anh không mấy ưa cách sống ngăn nắp sáng vác ô đi tối vác về của giới công chức, và cảm thấy dễ thân thiết gần gũi hơn với giới nghệ sĩ trình diễn sống không theo khuôn phép khắc khe của guồng máy xã hội. Một khi đã nhận ai là người “trong đạo”, Mai Thảo cư xử hết sức chân thành với họ. Ngược lại, anh dửng dưng (và đôi khi còn cay nghiệt nữa) đối với những người bị liệt vào hàng ngoại đạo. Khuynh hướng định giá bạn bè theo lối ấy, theo tôi, đã làm nẩy sinh những tình cảm yêu ghét cực đoan về Mai Thảo. Làm nẩy sinh một hiện tượng trong văn học Miền Nam trước 1975 mà nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, khi trả lời phỏng vấn của Đài RFI, gọi là hiện tượng “thiết triều”. Những nhà nghiên cứu phê bình văn học sau này có thể không đồng ý với nhau về văn chương Mai Thảo và ảnh hưởng thực sự của nhóm Sáng Tạo đối với văn học Miền Nam, nhưng trong sinh hoạt văn hóa của Miền Nam suốt hai mươi năm (1955-1975), không ai có thể phủ nhận được ảnh hưởng lớn lao của Mai Thảo. Anh gây thành một phong trào viết óng ả chải chuốt như lối viết của anh, lối viết đó lan sang giới truyền thanh qua những lời giới thiệu bài hát, chương trình Tao đàn, và cho tới bây giờ, đã trở thành cái nếp không thể bỏ được, làm nhịp cầu giữa ca nhạc và văn chương. Anh tạo thành một thế lực văn hóa ảnh hưởng lan rộng qua nhiều ngành, từ văn chương, báo chỉ, xuất bản, qua ca nhạc, điện ảnh.

Tất cả những “thế lực”, những “ảnh hưởng” lớn lao ấy không do chủ ý của Mai Thảo. Anh không hề “muốn gây thành chuyện lớn”. Tìm hiểu về thuở ban đầu của tờ Sáng Tạo (qua lời những người sáng lập, qua chính lời anh kể), chúng ta sẽ thấy không hề có những tuyên ngôn lớn lao, những triết lý định hướng, những sơ đồ cách mạng nào cả. Mỗi người một ý. Bản tính ai thế nào thì cứ viết như thế. Doãn Quốc Sỹ là một trong những cây bút cột trụ của Sáng Tạo, nhưng làm sao tìm ra “không khí Sáng Tạo” trong Khu Rừng Lau hay Dòng Sông Định Mệnh? Người “sáng tạo” nhất của nhóm có lẽ là Thanh Tâm Tuyền. Còn Mai Thảo, người cầm lái, thì văn phong của anh dù hết sức tân kỳ trong cách sử dụng ngôn ngữ (biến dành từ thành động từ, biến tĩnh từ thành danh từ…) vẫn nặng tính cổ điển biền ngẫu. Ngay cả chuyện nhận tài trợ của cơ quan USIS (mà chính quyền cộng sản dựa vào đó kết án cả Mai Thảo lẫn tờ Sáng Tạo là công cụ của Mỹ), Mai Thảo vẫn không xem là điều quan trọng. Anh khơi khơi mà viết, khơi khơi mà sống, kết bạn kết thù cũng hết sức khơi khơi, như một người đi lạc giữa đời. Do đó tuy nhiều bạn, nhưng suốt đời anh cô đơn.

Anh kết bạn vì sợ cô đơn. Không biết thời trước 1975 ở Sài gòn thế nào, chứ trong thời gian quen anh ở Hoa Kỳ, tôi thấy anh là người cô đơn nhất trong những bạn văn tôi biết.

Mai Thảo tự phác hoạ chính xác chân dung của anh, hay nói đúng hơn, chân dung nỗi cô đơn lớn lao của anh:

Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy

Nhiều hôm sau một cuộc họp mặt đông vui nhiều bạn bè, tôi chở anh về căn gác trọ lúc phố xá vắng tanh. Khu chung cư dành cho người già cũng ngủ im trong khuya khoắc. Xe dừng. Nhưng Mai Thảo ngồi im, không muốn xuống. Anh đề nghị tìm một chỗ họp mặt nào khác. Khi thấy đề nghị của mình vô lý, anh đành mở cửa, bước khỏi xe. Anh than: “Lại phải trở về cái quan tài này nữa.” Anh không cảm thấy yên ổn trong căn phòng quen thuộc của anh. Mà anh cũng không tìm thấy chỗ nào trên trần gian này là nơi an trú, từ ngày anh phải xa quê hương. Chỗ nào cũng là quan tài, phòng giam lạnh lẽo.

Mỗi ngày một gạch mỗi ngày giam
Lên bức tường câm cạnh chỗ nằm
Gạch miết tới không còn chỗ gạch
Gạch vào trôi giạt tới nghìn năm.

Anh là hiện thân trọn vẹn nhất của hai tiếng “lưu vong”, hơn thế nữa, trong khi những bạn văn khác tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới, Mai Thảo khăng khăng sống y như cũ, từ chối tất cả những thay đổi cần thiết để hội nhập. Anh không học Anh văn, không lái xe, chữ viết nắn nót trang trọng trên trang giấy kẽ hàng, thậm chí hàng tháng cứ dùng viết Bic viết từng địa chỉ và họ tên của bảy trăm độc giả dài hạn của tạp chí Văn lên phong bì chứ không dùng phương tiện điện toán hiện đại. Tinh thần anh đề kháng với những gì đang đổi thay trước mắt. Bức ảnh chụp Mai Thảo ngồi một mình trên ghế chờ xe buýt trong khi hậu cảnh là một vệt mờ của chiếc xe buýt đang chạy qua, sở dĩ được xem là bức ảnh đẹp nhất trong loạt chân dung Mai Thảo, vì nhiếp ảnh viên đã chụp bắt được “chất lưu vong” của nhà văn. Anh là người ngồi chờ một chuyến xe buýt không bao giờ có. Chuyến xe của quá khứ. Những chuyến xe của đời thường qua lại đúng giờ trước mắt anh, nhưng anh từ chối không bước lên. Anh chờ những chuyến xe từng chở anh từ Nam Định lên Hà Nội. Anh chờ những chuyến xe chở anh từ đường Ký Con về đại lộ Tự Do. Anh chờ Quá Khứ. Một mình chờ. Héo hắt chờ.

Y lý hiện đại không giải thích được căn bệnh của Mai Thảo. Theo lẽ thường, uống rượu nhiều như anh thì dù có lá gan bằng bạch kim cũng phải cháy. Lúc bệnh anh trở nặng, các bác sĩ quen thân của anh đoán chắc không cần chẩn đoán thử nghiệm lôi thôi cũng biết anh đã tới ngày phải trả giá cho thói quen lạm dụng rượu mạnh. Nhưng kết quả hoàn toàn trái ngược. Gan anh bình thường. Rà soát hết lục phủ ngũ tạng, cơ thể Mai Thảo không mắc phải chứng bệnh gì. Bệnh viện kết luận anh chỉ bị chứng suy dinh dưỡng, vì anh không chịu ăn uống gì cả. Chỉ cần rán ăn cho cơ thể có đủ chất dinh dưỡng, là mọi sự được giải quyết.

Thật dễ dàng, và đơn giản. Nhưng tới đây thì cơ thể của Mai Thảo lên tiếng. Nó “gây thành chuyện lớn”. Nó từ chối không chịu ăn. Nó hợp tác với tinh thần lưu vong đề kháng để nói lớn: “Không!”

Mắt đã từ lâu mù dáng người
Tai đã từ bao lạc tiếng đời
Đứng lên gửi lại lời xin lỗi
Của kẻ ra về giữa cuộc chơi.

Gửi lại lời xin lỗi! Mai Thảo xin lỗi chúng tôi hôm ấy ở bệnh viện Barlow. Anh không muốn đi cùng đường với chúng tôi, cố gắng thích nghi với cuộc sống trước mắt. Anh muốn quay ngược trở lại. Cho nên tôi không mấy ngạc nhiên khi hay tin trong những ngày cuối đời ở bệnh viện Garden Grove, anh cũng dùng bút đàm hỏi nhà thơ Trần Dạ Từ là bao giờ cho anh về lại đường Ký Con. Nỗi cô đơn lớn lao của anh chỉ được giải tỏa khi anh bước lên những chuyến xe buýt cũ của quê hương mà không còn phải sợ bất cứ thứ quyền lực trần thế nào. Anh đã toại nguyện.

Nguyễn Mộng Giác

http://nguyenmonggiac.com/tap-chi-van-hoc/250-noi-co-don-lon-lao-cua-mai-thao.html

 

Nhà Văn Mai Thảo. Tùy bút Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Thuở sinh thời, nhà văn Mai Thảo viết Tháng Giêng Cỏ Non. Từ ngày 10 tháng Giêng năm 1998, là ngày ông từ trần, tới nay là mười lăm năm. Cỏ non bây giờ đã phủ đầy mộ chí.…Có một người làm thơ, đã khắc trên bia mộ của mình bài thơ tứ tuyệt:

“Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

Bài thơ nhan đề “Không hiểu” mở ra với cái hữu hạn của con người và đóng lại với cái  vô hạn của cuộc sống. Có mấy ai thông kim bác cổ hiểu được tất cả sự việc? Dù, cả khi cuối đời, khi đã trải đủ ngọt bùi đắng cay của kiếp nhân sinh? Chỉ, khi đã nằm trong ba tấc đất, nhìn ngôi sao sáng để đọc được cái lẽ huyền vi của đất trời. Chữ “chẳng sao” trong câu thơ, ý lạnh lùng, nghĩa thản nhiên, có một chút mặc kệ, biểu lộ cái tâm cảm an nhiên của một người sẽ phải đáp chuyến đi vào vô tận. Cuộc hành trình vô tận ấy, có khi xa xăm như ngôi tinh đẩu kia nhưng lại đôi lúc gũi gần như cái chết dần trước mặt. Thơ như trải ra nỗi niềm của một người thấy được cái hư vô của đời người. Thơ không đóng lại mà mở ra cõi tâm linh của một người có đôi mắt luôn vọng về một cõi xa, của tâm thức muôn đời vời vợi…

Có một người viết văn, coi việc cầm bút là làm đẹp cho đời, mang chữ nghĩa để biểu tỏ tấm lòng thiết tha yêu đời yêu người. Những trang tùy bút đẹp, những tiểu thuyết tình yêu có nét lãng mạn riêng mang nét đặc thù một mình một chiếu. Người ấy, đã là chủ nhiệm Sáng Tạo, mang một không gian mới cho khí hậu văn học Việt Nam, cũng như đã từng là chủ nhiệm tạp chí Văn một giai đoạn ở hải ngoại, hình thành một thời kỳ văn chương sôi động và phong phú của những người lưu vong của thập niên 80. …

Có một người trong suốt cuộc đời mình tuy quảng giao, nhiều bạn nhưng lúc nào cũng cảm thấy cô đơn, như một người luôn đi tìm kiếm cái vô cùng nhưng cuộc đời thì còn nhiều hữu hạn. Người ấy, tự nhận là mình không thành công trong tình ái nhưng lại có nhiều giai thoại tình yêu đặc biệt. Trong cuộc đời, có những nét khác người, cả về văn chương lẫn nếp sống …

Mai Thảo chờ xe buýt
Người ấy, là nhà văn Mai Thảo.

Bức thư của nhà văn Nguyễn Đình Toàn khi còn kẹt lại trong nước gửi tay cho ca sĩ Duy Trác mang sang Hoa Kỳ cho tác giả “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” mà Nguyễn- Xuân Hoàng trong Sổ Tay của tạp chí Văn đã trích dẫn cho thấy một nét đặc thù của một chân dung văn học hàng đầu:

“..Tao có đọc mấy bài thơ ‘quỷ quái’ của mày. Tất nhiên làm gì có đủ mà đọc hết. Vứt mẹ nó hết những cái gọi là ý nghĩa sự đời đi. Cái đặt được tay vào chỗ không thể đặt là đủ sướng rồi. Nhất là hôm gặp lại ‘nghe bả khen thơ mày’, càng thích. Nhưng bày đặt làm thơ làm gì cho khổ cái thân già…

.. Ông Lý* vừa tới chơi. Nghe tao định viết thư cho mày, ổng gửi lời thăm. Vẫn chưa chừa bệnh văn chương. Ông bảo viết về Mai Thảo thật khó. Tao có bảo với ổng, coi như mỗi thằng viết văn có một mảnh đất, chữ nghĩa của nó là cỏ. Hễ nó lấp đầy được mảnh đất thành một bãi cỏ xanh là đủ, mặc mẹ những chỗ lồi lõm. Cái hay của Mai Thảo là nó viết một chữ cũng Mai Thảo, một câu cũng Mai Thảo. Thế là quá đủ rồi…*[Ông L‎ý là nhà văn L‎ý Hoàng Phong]

Quả thực, cõi văn chương của Mai Thảo có một phong thái riêng, một mình một chiếu. Chữ nghĩa văn xuôi của tác giả những “Đêm giã từ Hà Nội”, “Căn nhà vùng nước mặn”, “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời”… là ngôn từ đẫm chất thơ nhưng lại cố tâm sử dụng để không còn là một thể loại trang hoàng mà tạo thành một bản chất văn chương tạo thành ấn tượng. Đọc lại những đoạn văn tả tình tả cảnh, thấy man mác những không gian thời gian, bàng bạc những cảnh thổ, những nỗi niềm.

Nguyễn Tuân đã nâng nghệ thuật viết tùy bút lên một bực khi viết những trang chữ phản ánh một thời đã qua cũa những con chữ lấp lánh ánh nắng hoàng hôn của hồi tưởng. Có sự cầu kỳ, có chút làm dáng  nhưng tất cả là kết tinh của trân trọng chữ nghĩa nâng niu văn chương. Còn với Mai Thảo, tất cả đều là thơ, từ những câu văn thật dài hay những câu thật ngắn, có lúc như những lời cộc lốc, có lúc trầm bổng như ngầm chứa biển cả tiết tấu bên trong. Cái mục đích duy nhất là làm đẹp, đẹp cho đời sống và đẹp cho văn chương.

Cái chủ đích duy mỹ ấy, đã tạo thành những mẫu nhân vật đẹp, những tâm tình đẹp, nhiều khi hiếm hoi trong đời. Từ nội dung suy tưởng đến hình thức diễn tả, là những dấu ấn mà Nguyễn Đình Toàn đã gọi là “một chữ cũng Mai Thảo, một câu cũng Mai Thảo”.

Trong những tập truyện ngắn của mình, Mai Thảo đặc biệt thích tập “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời”. Trong khi trả lời câu phỏng vấn của Jane Katz “Artists in Exile”, ông đã nói đại ý là nhân vật của ông đã khám phá ra một điều là những kẻ đã đạt tới đích đều tầm thường, những cái đạt được cũng tầm thường như vậy. Cho nên để Ngọn Đỉnh Trời mãi mãi vẫn là một bí mật, là thần tượng không bao giờ có thực, là cái đích luôn luôn treo trước mặt nhưng không bao giờ vươn tới, nhân vật ấy không muốn bước tới và chọn sự ra đi: “leo lên cho được một đỉnh núi cao nhất phương Đông nhân vật của ông muốn biết đình núi ấy cao bao nhiêu, ông đang đi tìm một thứ chân lý tuyệt đối và cũng là hạnh phúc.  Nhưng khi đã đặt chân lên đến đỉnh cao, lại là một cảm giác tuyệt vọng bởi ví đã khám phá ra rằng chân lý tuyệt đối chẳng bao giờ có thực và đạt tới được “tâm lý hoài nghi có lẽ là của một người luôn đi kiếm tìm hạnh phúc như tác giả Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” chăng?

Những tập truyện ngắn khác như “Tháng Giêng Cỏ Non”, Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật, Căn Nhà Vùng Nước Mặn”,… lại là những thành công về nghệ thuật dù trên phương diện thương mại có số bán không bằng hoặc ít tái bản như các tập truyện dài “Khi Mùa Mưa Tới”, “Cũng Đủ Lãng Quên Đời”, “Mười Đêm Ngà Ngọc”, “Mái Tóc Dĩ vãng”, “Tới Một Tuổi Nào”.…

Những truyện ngắn, biểu lộ tính duy mỹ và duy cảm rõ rệt. Trong hình ảnh, đầy ấn tượng. Trong ngôn ngữ, đầy cảm xúc. Ở thể loại truyện ngắn gần như tùy bút, văn phong được chuốt lọc tạo được nhiều đoạn tả tình hay tả cảnh đặc sắc. Đọc “Người thầy học cũ”, “Chuyến tàu trên sông Hồng”, “Người đàn bà trong vòng đai trắng”, thấy được cái không gian lồng lộng của vô biên cũng như những tâm tình rất Việt Nam ẩn sâu trong văn mạch.

Đọc “Đêm giã từ Hà Nội”, để thấy một sự lựa chọn. Bỏ lại thành phố đầy kỷ niệm dưới chân, để bắt đầu cho cuộc sống mới. Hết rồi, cái thuở đeo bạc đà đi kháng chiến lang thang ở khu Tư. Bây giờ, khởi hành cho một đoạn đường mới.  Tâm tình của người sắp sửa rời xa như luyến nhớ tha thiết những gì bỏ lại sẽ mất mát vĩnh viễn. Những câu văn, những dòng chữ, là tiếng xé lòng, là nỗi niềm mênh mang ứa lệ:

…Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia… Nhìn xuống Phượng có cảm giác chơi vơi như đứng trên một tầng cao.  Anh nhìn xuống vực thẳm Hà Nội ở dưới ấy……”

Vực thẳm ở dưới ấy, là cuộc giã từ không hẹn ngày về, của chuyến bay chót sau một trăm ngày đình chiến và Hà Nội sẽ đổi chủ, sẽ mất đi những bóng dáng, những kỷ niệm cũ……

Nhà xuất bản Văn Khoa ở hải ngoại của giáo sư Đỗ Đình Tuân đã in cho ông hai tác phẩm tiêu biểu. Một là tập Chân Dung Tác Giả, hai là tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”. Tập thơ độc nhất trong danh sách hơn bốn chục truyện dài và hai chục tập truyện ngắn. Thơ của một người làm thơ nhưng yêu thơ như với một tôn giáo cuồng tín nhất. Dù:

Cõi không là thơ. Không còn gì nữa hết là thơ. Nơi không còn gì nữa hết là khởi đầu thơ. Một xóa bỏ tận cùng . Từ xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ… (Bờ cõi khởi đầu).

Ta thấy hình ta những miếu đền. Có phải là những câu cuồng ngạo của một người tự đắc nhìn vào gương ngắm mình và tự vái mình? Nhiều người đã nghĩ thế. Nhưng, nếu đọc kỹ, thì ngược lại. Trong thấp thoáng tư tưởng của Trang Tử từ Nam Hoa Kinh, những câu thơ như là một chứng nghiệm của cuộc sống. Mai Thảo đã nói rất nhiều về Nam Hoa Kinh, về những câu thơ của mình trong những lúc bốc đồng của cơn say.  Giữa hai bờ cực tiểu và cực đại, giữa có và không, con người phải vượt qua những mâu thuẫn để đạt được cái nhìn “huyền đồng”, chan hòa cái lẽ “Một”,  để không còn băn khoăn suy nghĩ về còn mất, có không, về cái thật lớn hay điều cực nhõ, về cái chính mình hay là kẻ khác….

Ta thấy hình ta những bảng đường
Đời ta, sử chép cả ngàn chương
Sao không hạt cát sông Hằng ấy
Còn chứa trong lòng cả đại dương…”

Có thể nói rằng cái ta được đạt tên đường, cái ta sử chép hay cái ta hạt bụi cái ta tầm thường cũng chỉ là một. Vì hạt cát nhỏ bé thế kia mà chứa đựng cả đại dương bên trong thì phân biệt làm gì giữa cá Côn, chim Bằng với con ve sầu, chim Cưu như Trang Tử đã luận.

Và:
“…
Ta thấy hình ta những miếu đền
Tượng thờ nghìn bệ những công viên
Sao không, khói với hương sùng kính
Đều ngát thơm từ huyệt lãng quên.

Ta thấy muôn sao đứng kín trời
Chờ ta, Bắc đẩu trở về ngôi
Sao không, một điểm lân tinh vẫn
Cháy được lên từ đáy thẳm khơi

Ta thấy đường ta Chúa hiện hình
Vườn ta Phật ngủ, ngõ thần linh
Sao không, tâm thức riêng bờ cõi
Địa ngục ngươi là, kẻ khác ơi!..

Những chính đề và phản đề cứ nối tiếp nhau. Chữ “sao không”, dùng như một ý phủ định, lột tả được một tâm trạng. Miếu đền, tượng thờ đường bệ hay huyệt đất bình thường cũng chỉ là một, với hàm ý lãng quên. Cũng như ngôi Bắc Đẩu của trời tinh tú, hay vệt lân tinh nhỏ nhoi cũng là một. Hay ý Chúa, tâm Phật với tâm thức con người cũng chỉ là một mà thôi.

Sao không.. Sao không. ..Những vấn nạn nối tiếp nhau, để càng thấy mênh mông hơn cái biên giới giữa cực tiểu và cực đại, giữa có và không, giữa còn và mất. Có phải, rốt cuộc tất cả chỉ là hư vô, hay trong tận cùng, con người phải tự giết mình đi để phục sinh. Sao  lại không nhỉ?

Có người cho rằng văn chương Mai Thảo đầy chất viễn mơ và quay lưng với thực tại của Việt Nam với những thời kỳ đầy máu lửa. Những truyện dài kiểu tiểu thuyết “feuilleton” đăng hàng ngày có thể làm bố cục tác phẩm lỏng lẻo hoặc có thể trùng lặp từ ý tới lời. Đề tài tình yêu vẫn là một đề tài ăn khách và những nhân vật của ông sống trong một môi trường khó có thực trong đời thường. Nhưng cái nét đẹp trong thơ của Mai Thảo cùng với cái bềnh bồng lãng mạn của những người thích rong chơi đã thành một nét quyến rũ người đọc.

Nhưng trước sau, Mai Thảo vẫn là một người làm thơ, dù chỉ in có một tập thơ độc nhất. Viết văn là làm thơ. Viết tùy bút cũng là làm thơ.  Viết “Tùy Bút” cho báo “Khởi Hành” trong nước hay “Sổ Tay” cho tạp chí Văn ở hải ngoại cũng là làm thơ. Với ông, đang sống và đang thở cũng là đang làm thơ. Thơ, như mạch sống còn. Thơ như thực phẩm để dinh dưỡng trí tuệ…Có thể nói Mai Thảo là một thi sĩ hơn là một văn sĩ. Tôi nghĩ thế.

Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

 

 

Ngày Đó Tôi Về. Tùy Bút Toại Khanh


Toại Khanh
.
Qua Sông
.
Tôi về giữa nhân gian như một kẻ lưu lạc đang hồi quận. Ô hay, quanh tôi có quá nhiều những lăng xưa đền cổ, những bài học ngàn vàng từ muôn đời cổ nhân truyền thừa di dưỡng. Mà sao tôi chỉ thấy ra những dấu vết buồn thay vì là những bài học để chiêm ngưỡnghọc hỏi. Tôi chỉ biết ngó mấy viên ngói vỡ để rồi buồn nhớ ngu ngơ. Dấu xưa không đủ để dạy tôi bài học nào về hai chữ kinh nghiệm sao chứ. Tôi cứ nôn nao chờ đợi một bình minh tuyệt đẹp có nắng sớm, có hoa bướm, với những làn hương. Tôi không hề biết rằng mình vừa lỡ dịp.

Tôi đi giữa cuộc đời như một viễn khách nơi miền đất lạ. Có biết bao thứ tinh khôi mới mẻ vừa chớm nở đây đó chung quanh và trước mắt, mà sao tôi cứ hững hờ không tận hưởng nắm bắt. Thời gian đang trôi và đẩy lùi hiện tại vào một cõi xa miên viễn. Thay vì đứng nhìn một đoá hoa vừa chớm trong sương, tôi đã lần lữa chậm bước, mắt nhắm tai ngơ. Tôi bỗng nhiên tiếc nhớ một cái gì xưa cũ và lần bước trở về khu lăng mộ để tìm nhặt những viên ngói vỡ mà mình đã một lần nhìn thấy. Không còn kịp nữa, mù sương đã bắt đầu kín lối. Nghe một mùi hương lạ, tôi nhớ ra đoá hoa buổi sáng và muốn trở gót. Nhưng bây giờ đã là chiều muộn. Đoá hoa kia đã héo úa từ bao giờ.

Tôi ghé ngang cuộc đời như một người khách ngóng đò. Lẽ ra tôi đã có thể sang sông từ trưa. Vậy mà chỉ vì bất chợt thấy thèm một phút ngã lưng, thèm được tắm sông hái trái, lại bay bướm trộm ngắm cái dáng lưng ong của cô hàng nước trên bến, rồi ngần ngừ chẳng chịu qua sông. Một chuyến đò ngang, rồi thêm chuyến nữa, tôi đã quên mất chuyện sang sông. Trời tối dần, cô hàng nước đã bỏ đi, ông lão lái đò cũng về bên kia sông ngủ sớm. Tôi nhớ ra thì không còn kịp nữa. Vậy là đêm nay tôi sẽ phải nằm lại bến sông lộng gió này để chờ chuyến đò sớm mai. Manh áo phong trần mong manh làm sao đủ để chịu nổi cái lạnh mùa đông se sắt dưới gốc còng già khẳng khiu này chứ…

Hắn lang thang rong rủi giữa đời như một đứa học trò khờ trốn thầy xuống núi. Thầy là một cao sĩ bác lãm cổ kim, hắn quên mất, chỉ muốn đi tìm danh sư trong thiên hạ. Sá gì chứ một ông già xó núi mù sương. Hắn đi và không tìm thấy gì. Một ngày định mệnh, có bậc danh sĩ chốn kinh sư nghe hắn đi tìm thầy giỏi trong đời, ông không nói gì mà chỉ trỏ tay về núi. Trời ạ, đó là hướng núi trụ xứ của thầy hắn. Hắn hốt hoảng quy sơn, đường về bỗng xa ngàn trùng, cỏ gai ngập lối. Trong ánh trăng non đầu tháng, ngôi cổ tháp rêu phong vẫn đứng đó như một dáng người đang đứng đợi. Hắn gõ cửa để chỉ nghe tiếng gõ của bàn tay mình. Sư phụ đã không còn nữa. Mẫu nến vụn chỉ đủ rọi sáng một góc nhà cho hắn tìm thấy mảnh di thư nhạt nhoà. Trời ơi, hắn lang thang chừng ấy năm tháng chỉ để tìm thấy mỗi manh giấy nhỏ xíu này sao chứ…

Lão vẫn gọi nàng trong mơ như nhớ người tình xưa. Ngày đó, tay trắng yêu người, lão tự hiểu là bất khả. Rồi thì biệt xứ mươi năm để ngậm ngãi tìm trầm, xuống biển mò ngọc, lên núi đào vàng, lưu lạc xứ người, trôi giạt hoang đảo. Một ngày tìm thấy trân châu, lão trở về quê cũ và kẻ đầu tiên lão gặp là một bà lão móm mém ho hen đang dò bước trên đường. Nghe khách lạ hỏi tên một người con gái, bà nheo mắt nhìn rồi nhận mình là cô ấy. Bao năm rồi ai chẳng già đi. Lão ngỡ ngàng bối rối rồi thì bà lão chống gậy bỏ đi, sau khi ném lại một câu lạnh ngắt: Hồi đó hổng nói thì ai biết, giờ thì hẹn gặp nhau ở dưới đó là vừa!

Ngày xưa nàng Scheherazade đã kể ngàn lẻ một câu chuyện để cứu chừng ấy mạng người. Tôi giờ kể mấy chuyện thôi, nên có lẽ không cứu được ai. Mà ngẫm kỹ thì chỉ để tự cứu mình. Vậy thì ngại gì chẳng kể, ta kể cho ta. Người xưa kể chuyện để qua được ngàn đêm sinh tử, tôi giờ ngồi viết lại mấy chuyện vặt để qua được mấy giờ đồng hồ nhạt nhẽo của một đêm tối mùa đông.

Rời bàn viết, tôi đi tới lui trong gian nhà vắng và ngẫu nhiên nghe trong vô thức một lời hát nửa lạ nửa quen:

Em đi qua chuyến đò
thấy con trăng đang nằm ngũ
con sông là quán trọ
và trăng tên lãng du
………………
Em đi qua chuyến đò
lắng nghe con sông nằm kể
trăng ơi, trăng rất tệ
mày đi, nhớ chóng về
………………
Tôi vui chơi giữa đời
Ối a, biết đâu nguồn cội
tôi thu tôi bé lại
làm mưa tan giữa trời….(TCS)

Toại Khanh

https://thuvienhoasen.org/a26883/ngay-do-toi-ve

Từ Ly Hương – Lê Tất Ðiều đến thơ – Cao Tần. Tuỳ Bút Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

(Tác phẩm và chân dung của nhà văn Lê Tất Điều)

Lúc ấy, giữa thập niên 70, ở Mỹ bắt đầu cuộc đời tị nạn. Ở buổi ban đầu, cái ngơ ngác giữa một đời sống mới hầu như của tất cả những người di tản. Câu hỏi đầu tiên là sẽ làm gì, sống như thế nào ở một thế giới hoàn toàn xa lạ. Cái tâm cảm ấy đè nặng lên cuộc sống và ở những phương trời xa tắp, người Việt cảm thấy thật bơ vơ.

Nhà văn Lê Tất Ðiều và Võ Phiến trong hoàn cảnh ấy đã viết và in Ly Hương, vào năm 1977, như là cuốn sách một trong những cuốn sách đầu tiên của văn học Việt ở hải ngoại.

Ở thuở ban đầu ấy, nhà văn Lê Tất Ðiều nghĩ ra sao về người tị nạn buồn? Trong bài viết đầu tiên của Ly Hương, ông đã phác họa những chân dung trong “Nếu bạn gặp một người di tản buồn”.

Có thể là một bà di tản: “… Vào một ngày trời bỗng mưa, hoặc tuyết bỗng rơi, người đàn bà di tản lẳng lặng bỏ chỗ ngồi, đến bên cửa sổ nhìn trời và khóc, khóc hàng giờ… Hành động bất ngờ đó khiến các đồng nghiệp kinh ngạc. Những người mến thương bà ta kinh hoàng xúm lại hỏi han. Chuyện gì vậy? Bà gặp chuyện gì ấm ức? Bất mãn? Sở làm gây rắc rối cho bà chăng? Chủ nhân hay một đồng nghiệp nào vô tình làm phiền bà? Chúng tôi giúp bà ược gì?

Các bạn quấn quít tìm quanh quẩn kiếm cái lý do làm người đàn bà di tản rơi lệ. Thường thì bạn không thấy và bà ta cũng không giải thích được đâu. Bởi vì nguyên nhân của những giọt nước mắt trên má người di tản có thể là những giọt mưa tầm thường quen thuộc bên ngoài khung cửa sổ kia. Oái! những giọt mưa từng rơi mười năm trên cánh đồng bao la hay hai mươi năm trên mái tôn nhà nhỏ trong hẻm nghèo. Những giọt mưa làm ướt sũng rặng tre bên con đường làng, hay làm mát dịu âm u một buổi chiều thành phố! Những giọt mưa ấy vừa lấp ló bên cửa sổ sở làm xa lạ này và cuốn người di tản vào một cơn lốc tiếc thương, một nỗi nhớ không có gì an ủi được.

Ðôi khi thời tiết âm thanh không phải là lý do gợi nhớ. Chính tình bạn, sự săn sóc của những người bạn mới khiến người di tản bật khóc nhớ đến bao nhiêu thân nhân bằng hữu bỏ lại đằng sau lưng.

Những con người lưu lạc ấy, cho tới chết cũng vẫn không sống tách rời được quá khứ…”

Hoặc một chân dung khác: “Bạn có thể gặp một ông di tản đãng trí. Ðàn bà khóc dễ dàng, đàn ông thì không, nhất là đàn ông Việt Nam. Trong cơn đau khổ họ trở thành ngu ngơ đãng trí…

Bạn là đồng nghiệp, bạn có thể xếp những ông bà di tản này vào số người kỳ quặc bất thường. Bạn là chủ, bạn có thể coi họ là những người làm vi phạm giao ước… Nhưng bạn muốn biết sự thực, tôi có thể nói được một phần. Những người di tản ấy đang khốn khổ vì hai thế giới: một thực một mộng.

Thế giới thực thế giới người Mỹ mà họ đang sống thì chập chờn như mộng, như không có thực. Còn thế giới cũ đã xa đã mất như một giấc mộng thì đối với họ là “ thực” vô cùng, còn đầy trong tâm hồn họ. Trong thế giới thực họ sống bồn chồn bất an, va đầu vào tường mà chẳng biết đau.Nhưng qua sự gợi nhớ của một tiếng hát, những giọt mưa, ánh trăng quen thuộc, họ lập tức bị xô ngược về quá khứ. Họ bàng hoàng đau đớn vì những vết thương vô hình. Những buổi mai, có những người di tản lau vội những giọt nước mắt đến trong giấc mộng đêm qua, vội vàng đến sở làm, lao đầu vào cuộc sống thực mà như giả…”

Hay chân dung khác, một người di tản nổi nóng bất ngờ: “Thế mà một hôm con người hiền từ đó nổi nóng với một người bạn Mỹ. Anh bạn Mỹ này từng ở Việt Nam hai năm nhưng lại không hiểu một tí gì về cuộc chiến tranh mà anh phải tham dự. Anh nói tốt cho Cộng sản và chàng di tản hiền từ nổi sùng lên, suýt có ẩu đả.

Duyên cớ nổi nóng không phải là vấn đề chủ nghĩa. Những lời của anh bạn Mỹ đã động tới – nỗi nhớ thương chiến hữu của chàng di tản.

Hơn mười năm anh ta sống với quân đội. Các chiến hữu thân thiết với anh ta hơn ruột thịt. Họ toàn là thanh niên mới mười tám mười chín tuổi đã ra tiền đồn chiến đấu bảo vệ tự do. Nếu sống sót họ sống hàng chục năm xa nhà, bị giam cầm bởi khói lửa. Bây giờ, bị bỏ rơi họ lại bị nằm tù vì cái tội đã bỏ cả mười, hai mươi năm trai trẻ ra để băng rừng lội suối. Nghĩ đến số phận kỳ quái của các bằng hữu ấy, anh di tản đã muốn phát điên. Nghe người ta xúc phạm họ anh bình tĩnh sao được ?”

Và: “Bạn có thể gặp một người di tản không nói lời ca ngợi nuoc Mỹ, cám ơn nhân dân Mỹ.

Những người ấy biết là nước Mỹ giàu có, mạnh mẽ, rộng mênh mông, họ đang sống trên miền đất hưởng nhiều ân sủng của Thượng đế. Nhưng những người ấy, cho đến lúc dứt ruột bỏ đất nước ra đi không hề mơ ước được sống ở một nơi nào, một thiên đường nào ngoài quê hương. Họ đến nước Mỹ không phải chỉ mong tìm một đời sống tiện nghi, dễ dàng mà chỉ vì phải chạy trốn cái chết, sự độc tài. Họ biết ơn miền đất mới nuôi nấng họ nhưng lúc nào cũng thích nhắc nhở đến quê hương nghèo nàn, nhỏ bé. Quê hương họ là nhất. Nó thua thiệt nước Mỹ nhiều điều, họ biết, nhưng nó vẫn nhất.

Họ được sống sót, được người Mỹ cưu mang đang sống dễ chịu và đôi người tỏ ra hạnh phúc. Nhưng đó là thứ hạnh phúc kỳ lạ của kẻ sống sót sau cuộc chìm tàu.

Sống sót thì mừng, lại được nuôi nấng thì mang ơn. Nhưng có ai dại dột mong rằng trong đời mình có một lần được hưởng kinh nghiệm hạnh phúc đắm tàu ấy.

Bạn bảo họ là những người may mắn. Tôi đồng ý hoàn toàn. Tôi chỉ cầu chúc cho tất cả những người còn được sống trong thế giới tự do không khi nào phải mong đợi “sự may mắn” như thế…”

Lê Tất Ðiều nhà văn bỗng trở thành nhà thơ Cao Tần, cũng ở thời gian, không bắt đầu những năm lưu vong di tản.

Cao Tần là một thi sĩ xuất hiện một cách bất ngờ trong thời điểm vô cùng đặc biệt. Lúc đó, là những năm đầu kế tiếp sau cuộc di tản của mấy trăm ngàn người Việt lưu lạc sang xứ người. Trong hoàn cảnh bắt đầu của một cuộc sống xa lạ, khởi đi từ những nỗi niềm mang theo, văn chương ở hải ngoại đã nảy mầm từ những tâm tư thương nhà nhớ nước của người Việt tị nạn sau một cuộc đổi đời. Cao Tần là một nhà thơ xuất hiện sớm nhất và cũng là một nhà thơ nổi bật nhất trong thời kỳ ấy. Vốn là một nhà văn đã thành danh ở Việt Nam và cũng là một ký giả có lối viết phiếm luận sắc bén, thơ Cao Tần đã được để ý từ những bài thơ đầu tiên.

Năm 1977, gần hai năm sau ngày 30 tháng tư năm 1975, trên tờ báo Bút Lửa có đăng mấy bài thơ của một thi sĩ danh tánh lạ hoắc ký tên Cao Tần. Những bài thơ ấy mới xuất hiện đã nổi bật ngay và gây một hiện tượng xôn xao cho độc giả. Nhiều người liên tưởng tới như những bài thơ của T.T Kh. đã tạo thành một nghi vấn cho văn học Việt Nam mà còn mù mờ chưa rõ ràng. Quả thực những bài thơ trên Bút Lửa ấy đã gây kinh ngạc cho độc giả. Mãi về sau này, mới biết Cao Tần là bút danh của nhà văn Lê Tất Ðiều hay nhà báo Kiều Phong, một người đã là một cây bút quen thuộc của hai mươi năm văn học miền Nam…

Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1942 tại Hà Ðông. Di cư vào Nam năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975. Trước khi di tản ông là một nhà giáo và cũng là một ký giả ở Sài Gòn. Ðã xuất bản truyện dài Ðêm Dài Một Ðời đã đoạt giải thưởng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, và các tập truyện ngắn Khơỉ Hành, Kẻ Tình Nguyện, Quay Trong Gió Lốc, Phá Núi, Người Ði, Những Giọt Mực.

Lý do mà những bài thơ đầu tiên mang tên Cao Tần được chú ý thật là giản dị. Bởi tâm sự của Cao Tần khi làm thơ cũng là tâm trạng chung của những người Việt di tản lúc ấy. Với ngôn ngữ vừa bi hùng vừa tha thiết, diễn tả lại một tình trạng tâm lý của những người còn xa lạ với cuộc sống mới và tiếc nuối những tháng ngày của cuộc đời xưa cũ. Lúc ấy, một nền văn học lưu vong đang dần dần hình thành. Ở những ngoái nhìn quá khứ và băn khoăn từ những bước chân đi đến tương lai. Ai mà chẳng cùng chung suy tư và ở những câu thơ Cao Tần lại gợi lên từ tâm cảm yêu nước nhớ nhà và ngôn ngữ mẹ đẻ đã thành thân yêu vô cùng trong những ngày bắt đầu tạo dựng một cuộc sống mới ở xứ người..

Có lẽ hồi trước 1975, nhà văn Lê Tất Ðiều cũng không làm thơ và sau này khi loạt thơ Cao Tần chấm dứt ông cũng ngưng làm thơ. Tại sao ông chỉ làm thơ trong khoảng thời gian đó?

Có lẽ chỉ có một mình tác gỉa mới có thể trả lời câu hỏi khó này. Trong một cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Á Châu Tự Do RFA do Mặc Lâm thực hiện thì ông giải thích

“Tự nhiên tôi không có cảm hứng viết truyện ngắn nữa. Thế rồi thơ nó lôi cuốn bởi vì trong bài thơ công việc sáng tác nó ngắn hơn nó không đòi hỏi thời gian nhiều..”

Nhà văn Võ Phiến có viết đại ý là Cao Tần làm thơ như người kể chuyện và đó chính là một yếu tố để thơ ông gần gũi với cuộc sống hơn và tạo sự chú ý của độc giả.

Trong bài đề tựa tập thơ Cao Tần do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành, nhà văn Võ Phiến nói rằng thơ của Cao Tần kết cấu như truyện và là những truyện ly kỳ nữa nên gợi được sự tò mò muốn tìm hiểu của người đọc. Và ông nêu ra vài thí dụ bài thơ Kho tàng kể về chuyện của một anh chàng tị nạn Cù Lần..

Nội dung của bài thơ cũng chỉ là một anh chàng tị nạn lúc nào cũng kè kè bên mình một cái túi không một phút nào rời xa. Bạn bè tưởng là anh chàng biển lận nên đè anh ta xuống để mở cái túi bí mật kia ra. Và cũng chẳng có gì ngoài một lạng vàng, chiếc khăn tay và những danh thiếp cũ. Nhưng là cả một kho tàng của một người di tản và nhắc lại người và cảnh đã xa. Vàng thì nhắc đến người mẹ:

“.. miệng túi mở ra kho tàng rơi tung toé
một lạng vàng trong giấy gói đơn sơ
một đứa hét “ vàng này thằng em bé
không mại đi mày tính để đem thờ
“ Sư chúng mày, vàng đem theo bốn cục
ông bán ba, bắt gọn mấy trăm đô
còn cục này tàn đời ông cóc bán
lúc lên đường bà cụ dúi tay cho

Còn khăn tay thì nhắc đến người vợ bây giờ đã xa cách ngàn trùng:

“..một chiếc khăn tay cũ xì cũ xịt
mầu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh
“ giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt
“ Khăn vợ tao trao ngày khoác áo nhà binh”

và những tấm danh thiếp, ôi những tấm giấy làm nhớ lại những tên đường những tên người đã vào xa xưa:

 “đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ
những tên người tên tỉnh đã xa xưa
những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ
những đường quen không trở lại bao giờ
…Với danh thiếp những tên đường đã đổi
những số nhà chớp mắt đã tang thương
những chốn hẹn ngàn năm không trở lại
những tên đời tơi tả khắp quê hương
.”

Ðọc xong bài thơ này chúng ta thấy thế nào?

Phải nói là rất xúc động. Nhưng có khi chỉ cảm thấy thôi chứ diễn tả ra cái hay thế nào thì khó lắm. Phải có một lúc, đợi xúc cảm lắng xuống thì dễ dàng để thấy bài thơ này độc đáo ra sao..

Chúng tôi cũng như những độc giả khác, chỉ cảm thấy rung động thôi và cũng phải loay hoay suy nghĩ để may ra có thể tìm được những điều mà mình cho là tâm đắc và tuyệt diệu. Bài thơ sống động quá với những ngôn ngữ đời thường mô tả những cuộc đối thoại chuyên chở được ý tình mà tác giả muốn đề cập đến. Có một chút diễu cợt nhưng chỉ là cảm giác thoáng qua để thay vào đó là sự thương camû. Chỉ một túi nhỏ tầm thường của người di tản vỏn vẹn có thế mà sao lại coi như một kho tàng vô giá được? Bởi vì những vật thể này không còn đơn thuần là vật thể nữa mà nó chứa đựng cả một trời quê hương và nhắc lại những người thân đã xa và những nơi chốn đã khuất biệt. Câu chuyện kể bằng thơ chỉ giản dị như thế nhưng lại gây ra sự xúc động đến vô bờ cho người đọc. Bởi nó đánh động đến tâm sự chung nên đầy ắp những chia sẻ…

Một bài thơ khác mà nhà văn Võ Phiến nhắc đến như một bằng chứng đơn cử cho lập luận của mình. Như bài “Ta làm gì cho hết nửa đời sau”. Hình như đã có nhiều người lưu vong thốt lên lời nói đó mỗi khi bị ray rứt vì chuyện nước chuyện non..

Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
gánh sơn hà toan chất thử lên vai
chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn
dọn tinh thần cưa nhẹ đỡ vài chai
..”

Như trong một cơn đồng thiếp, một chàng hào hùng;

“một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn
nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn
nay đất khách léo lê đời rất nản
ta tính sẽ về vượt suối trèo non
sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động
những hùm thiêng cựa móng thét rung trời
và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy
và cờ bay trên đất nước xinh tươi..”

Và một chàng khác, thì lại muốn làm tượng thần tự do hỏa thiêu thân xác chính mình để làm đuốc soi đường cho những oan hồn bị trầm luân trong đáy nước bao la:

Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối
thần tự do giờ đứng ở nơi nào?
Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới
Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao
Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh
Ta tiếc gì năm chục ký xương da
Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển
những oan hồn ai bỏ giữa bao la

Và kết cuộc, chỉ là một cơn say. một tỉnh dậy giữa nỗi buồn của những người thấy mình bất lực giữa thế thời, mộng ước lớn mà bàn tay thì qúa nhỏ:

“..sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
Ta làm gì cho hết nửa đời sau.”

Thật là cảm khái. Thật là cay đắng với những nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời lớn lên và trưởng thành trong những nghiệt ngã của đất nước chiến tranh. Thực trạng sao buồn quá! Câu hỏi như một tiếng than…Ta làm gì cho hết nửa đời sau?…Những thân phận lưu vong. Những nỗi niềm nhược tiểu.

Mỗi người tị nạn đều mang theo những kỷ niệm trong ký ức. Có những người vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ. Có những buồn phiền. có những ray rứt. Nhà thơ Cao Tần có bài thơ nào diễn tả tâm trạng ấy trong nhiều bài thơ. Chúng ta thử đọc bài thơ Chốn Tạm Dung xem. Bản thân tôi đã sống ở đây ba chục năm, thế mà có lúc cũng có những nỗi niềm trống vắng như thế. Thơ nói lên tâm cảm của những người nhiều khi thấy mình bơ vơ giữa cuộc sống và kỷ niệm của nơi chốn xưa của đời sống cũ vẫn cứ bàng bạc hiện hữu:

“nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi
buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc
sau lưng sương ngập cao lưng trời
trước mặt thông sầu reo đáy vực
bắt đầu ngày bằng một chút vui
hát nghêu ngao trong lòng xe rỗng tuếch
bài ca quen bỗng chợt quên lời
chút kỷ niệm còm lại mất khơi khơi
tiếng Việt trong ta ngày bỗng héo
hồn Việt trong ta ngày mỗi khô
dốc mở như đời ta trước mặt
sương kín như đời ta năm xưa..”

Một ngày qua một ngày. Ra đi khi lúc vừa mờ sáng và trở về khi phố đã lên đèn, khúc ca sầu xứ mãi mãi ám ảnh. Trải qua bao nhiêu cuộc đổi dời. Bao nhiêu là nỗi muộn phiền. bao nhiêu là ray rứt. Người tị nạn có một mẫu số chung, của khởi hành đi vào cuộc đời mới với tất cả năng lực của mình nhưng vẫn canh cánh bên lòng nhớ mong về quê hương đất nước:

“chiều về lên dốc thân tơi tả
một quả hoàng hôn phủ kín trời
mình mới ngoi lên ngày đã ngả
đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi
giữa đỉnh sương mù thông đáy vực
ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn
còng lưng gánh nốt đời lưu lạc
nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non.”

Cái độc đáo của thơ Cao Tần là dùng những ngôn từ thật sống động, những ngôn ngữ tạo nhiều hình ảnh như: “kỷ niệm còm”, như “quả hoàng hôn”, như “mất khơi khơi”. Xử dụng những ngôn từ ấy thành thơ chính là một dụng công để thi ca có máu huyết xương thịt của đời sống thực, của suy nghĩ thực…

Người tị nạn tuy hội nhập vào dòng chính nhưng vẫn còn ám ảnh bởi quê hương cũ của đất nước xưa. Có một lúc nào thơ Cao Tần biểu lộ tâm cảm ấy.

Ðọc bài thơ Cảm Khái chúng ta nhận ra ngay lập tức. Tấm thẻ căn cước, tờ chứng chỉ tại ngũ nhắc lại một thời xa xưa. Một cách hóm hỉnh pha lẫn đau xót, tác gỉa nhận thấy hình như những tấm hình trên căn cước đều lam nhem xấu xí, không biết có phải là số phận tiền định xui khiến như vậy:

“hình căn cước anh nào mà chẳng xấu
tên chụp hình như một lão tiên tri
triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác
cùng đến một ngày gãy đổ phân ly
nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ
chợt nhớ câu thơ Gãy cánh đại bàng
ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ
muôn anh hùng phút chốc hóa tang thương..”

và những câu cảm khái mà chúng ta trong những ngày lưu lạc thường hay thấm thía:

“Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám
người sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư
hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
mày lang thang đất lạ đến bao giờ
Oâi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Oâi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ
.”

Có người nhận xét rằng mỗi bài thơ của Cao Tần đều mang theo một thông điệp gửi gấm cho người cùng cảnh ngộ và gửi trả lại quê hương. Trong hai mươi bài của tập Thơ Cao Tần, hình như hầu hết các bài đều diễn tả được một tâm sự đặc thù của người bỏ xứ ra đi.

Thư Quê Hương là:

“Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ
Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương
anh sẽ đọc đất trời ta đã thở..”

Chuyện Thần Tiên là:

“Ta muốn điều chi cuối đời lưu lạc
Này bà tiên vừa hỏi giấc mơ ta
‘”hãy đem hết những đổi đời tan tác
gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua

Chiều Bát Phố là:

Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố
Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau
Quen cả nước? Ra đường chào gẫy cổ
Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu
Nhưng quen cả nước chắc lòng sẽ nhẹ
Khi đi có chào may bớt xót xa
Oâi xóm mưa ơi có khi nào đổi kiếp
Tôi về thành chim hót trước hiên nhà
.”

Mai Mốt Anh Về là:

“nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
Ông anh hùng ông cứu được quê hương
Ông sẽ mở ra ngàn lò cải tạo
Lùa cả nước vào học tập yêu thương
Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp
Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm
Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy
Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng”

Và còn nhiều bài thơ khác với những ý tưởng khác, thông điệp khác. Giở từng trang thơ, để thấy những ngôn ngữ linh hoạt, những chữ lóng, những ngôn từ dân giã, tất cả làm nổi bật một phong vị có lúc như diễu cợt, có lúc như ngông nghênh, mà có lúc là tình cảnh “ở ngoài cười nụ ở trong khóc thầm”. Người tị nạn đã trải qua những đoạn đời, đã qua nhiều nghịch cảnh, sẽ thấy thấm thía biết bao nhiêu với tâm cảm người thơ. Nếu nói thơ Cao Tần là biểu hiện sống động một thời kỳ của người Việt di tản đầu tiên thì cũng chưa đầy đủ mà phải nói rằng thơ Cao Tần đã làm hồi sinh lại một thời đại văn học lưu vong ở hải ngoại. …

Nguyễn Mạnh Trinh

Bình Nguyên Lộc ở rừng U Minh. Nguyễn Xuân Hoàng


Nguyễn Xuân Hoàng

Lần đầu tôi gặp nhà văn Bình Nguyên Lộc là vào năm 1972, khi tôi mới về làm thư ký toà soạn tạp chí Văn. Ông gầy ốm, mái tóc chải rẽ đường ngôi ngay chính giữa, đeo một đôi kính đen kiểu xưa và mặc bộ đồ trắng y như một công chức thời Pháp thuộc. Tác giả Đò Dọc lúc đó cho tôi thấy hình như có một tương ứng đặc biệt giữa trang phục người viết và phong cách ông viết. Trong khi Sơn Nam, tác giả Hương Rừng Cà Mau cũng không khác gì Bình Nguyên Lộc bao nhiêu, nếu không nói là có vẻ lừng khừng hơn – để lại trong tôi nhiều ấn tượng văn học về phong tục miền Nam, thì Bình Nguyên Lộc cho tôi một ấn tượng khó nói… Tôi có cảm giác Bình Nguyên Lộc gần Hồ Biểu Chánh và Vương Hồng Sển,… khó… tiếp cận hơn, trong khi Sơn Nam mặc dầu có nhân dáng còn xuề xoà hơn Bình Nguyên Lộc nhiều nhưng tôi thấy lại gần gũi hơn, mới hơn, dễ gần hơn.

Sau đó, khi Bình Nguyên Lộc gửi tặng tôi cuốn Nguồn Gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, với lời dặn là nhớ đọc kỹ và cho biết ý kiến, nhưng ‘hình như’ tôi đã bất công với ông. Tác phẩm khá công phu của ông, tôi đã để một chỗ khá cao trong kệ sách toà soạn. Và tôi đã quên lời dặn của ông.

*

Mãi đến năm Một Chín Tám Mươi, khi nằm tù ở rừng U Minh, mỗi ngày đẩy phà chở xe be trên Kinh Làng Thứ Bảy, … đào kinh, làm ruộng, theo bạn tù đi lấy mật ong ở rừng tràm, hay lội trên những đường ngập bùn nước, rướm máu vì những gốc lồ ồ nhọn và bén như dao… tôi mới có dịp nghe chuyện Bình Nguyên Lộc.

Người kể chuyện là một “tù cải tạo” ở trại B. Anh tên Tr., Bùi Văn Tr. đã nằm ấp ở đây từ năm năm trước ngày tôi bị giải đến.

Một hôm, nhân ngày nghỉ cuối tuần của trại, Tr. rủ tôi đi bắt rắn và chuột. Khi ngồi nghỉ trên bờ một ao nước, Tr. nói trước đây chỗ này là một hố bom. Năm đầu tiên ở đây, Tr. kể, anh đã tìm thấy một cây thập tự bằng gỗ tràm với bộ xương chôn vùi dưới nước. Anh nói đó có thể là xác một người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bị bắt và bị chôn sống, sau khi đã bị trói chân tay vào thân cây thập tự. Nhìn đám tràm thấp và chắc thịt trước mặt, Tr. bỗng hỏi tôi:

“Ở Sài Gòn làm nghề gì?”

Ở cùng trại tù cả sáu bảy tháng trời, Tr. chưa hề hỏi quá khứ tôi một câu nào, tự nhiên hôm nay anh buột miệng…

Tôi hơi do dự. Tôi luôn luôn có trong đầu một lý lịch giả. Chần chừ lâu thấy kỳ, tôi nói:

“Lái xe đò.”

“Lâu chưa?”

“Cũng lâu rồi….”

“Vợ con gì chưa?”

“Rồi!”

“Học hành tới đâu rồi?”

“Học hành gì đâu. Chỉ biết đọc biết viết lỏm bỏm thôi.”

Tôi nói y như tôi khai lý lịch lúc ngồi tù ở Rạch Giá.

“Có khi nào đọc sách báo gì không?”

“Đọc lung tung, gặp gì đọc nấy. Không thích lắm!”

“Có đọc truyện của ông Bình Nguyên Lộc bao giờ chưa?”

“Có đọc qua đâu đó, nhưng không nhớ…” Tôi hơi ngạc nhiên trước câu hỏi của anh.

“Có đọc truyện Rừng Mắm chưa?”

“Hình như chưa. Mà cũng không nhớ!…”

Tôi ngọng thật. Có lẽ tôi chưa đọc truyện nào của Bình Nguyên Lộc sau Ba Sao Giữa Giời. Và đó cũng là truyện tôi đọc rất láo.

“Chưa đọc phải không?” Tr. cạy một hòn đất nhỏ nghiêng mình lấy đà liệng xuống hố nước.

“Có lẽ chưa…” Tôi vẫn ngập ngửng trả lời anh. Tôi chưa biết Tr. muốn nói gì. Câu chuyện rồi sẽ đến đâu.

“Tôi thì đọc không sót một truyện nào của ông Bình Nguyên Lộc.” Tr. nói. “Tôi khoái truyện dài Đò Dọc và các truyện ngắn Ba Con Cáo, Cho Tay Này Lấy Tay Kia… tôi cũng mê Ba Sao Giữa Trời” – Tr. nói là Trời chứ không phải là Giời như bảm chính của tác giả – “nhưng thích nhất vẫn là Rừng Mắm.”

“Tại sao?” Tôi hỏi, ngạc nhiên.

“Bởi vì trong Rừng Mắm tôi thấy có tôi ở trong đó.”

“…”

“Tiếc là anh chưa đọc. Thôi để tôi kể anh nghe. Nghe cũng như đọc chớ khác gì. Chuyện vầy: Một gia đình bốn người gồm có thằng con tên Cộc, cùng với tía má nó và ông nội nó, sống trong một vùng đất khô cằn là rừng U Minh. Đây nè, chỗ tụi mình ngồi đây nè. Cả nhà đã ở chốn đồng không mông quạnh kia suốt năm năm trời cũng bằng cái thời gian mà tôi ở đây vậy, xung quanh không có tiệm quán chợ búa, hàng xóm láng giềng. Với lại cũng không có tiền nữa. Anh nghĩ coi bây giờ mình vậy mà khá hơn cái gia đình bốn người trong truyện Rừng Mắm của ông Bình Nguyên Lộc nhiều. Cả cái đám tù mình đây, từ ông sĩ quan cho tới ông công chức học tập, cho tới mấy ông mấy bà vượt biên cũng gần cả ngàn chớ phải chơi đâu. Vui hơn cái gia đình của thằng Cộc cả ngàn lần lận. Còn tiền thì tuy có chút ít, và cũng đã bị nó cướp, nó đổi rồi, nhưng nếu có trắng tay thì bất quá cũng trắng tay như nhà thằng Cộc là cùng. Nhưng mà mình còn có tiếp tế, chớ thằng Cộc trong chuyện thèm chén chè, thèm một trái xoài thấy mồ cố tổ, mà có được đâu. Còn mình, chè thì thỉnh thoảng vẫn có, xoài thì đâu đến nỗi. Nhưng nghĩ cho cùng, truyện ông Bình Nguyên Lộc có chuyện gì đâu. Cái điều quan trọng mà tôi khoái ổng là cái Rừng Mắm…”

“Rừng Mắm là rừng của những cây mắm?”

“Phải rồi, có biết cây mắm không?”

“Không, tôi chưa bao giờ nghe nói tới cây mắm. Cây đó dùng làm gì? Cất nhà hay làm củi chụm?”

“Cây mắm không thể làm gì khác ngoài làm vật hy sinh. Cái hay của ổng là vầy. Ổng nói rằng bờ biển mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ trở thành đất thịt được, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Chừng nào mắm ngã rạp, tràm sẽ mọc lên. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần rồi cây ăn trái mới mọc được. Ổng nói đời ông nội và tía má thằng Cộc là đời mắm còn đời thằng Cộc là đời tràm, đến đời con cháu của Cộc sẽ đời lúa, mít, xoài, dừa, cau… Ông Bình Nguyên Lộc ổng viết một câu mà tôi thấm lắm. Ổng nói là: Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng. Tôi ở đây đã năm năm xa nhà, xa vợ, xa con, chịu bao nhiêu là cay đắng tủi nhục, nhưng mà tôi an lòng lắm. Ông Bình Nguyên Lộc ổng hay thiệt!”

Tr. ngừng nói ngó đăm đăm xuống hố bom. Trước mặt tôi là một rừng tràm bát ngát.

“Anh nghĩ coi, tụi mình là cây mắm hay cây tràm đây?”

*

Tám tháng sau, tôi vượt trại giam Kinh Làng Thứ Bảy, chính Bùi Văn Tr. đã giúp tôi một tay. Khi ra trại, Tr. tặng tôi chiếc túi vải do chính tay anh ráp nối từ chiếc áo lính cũ. Cái túi vải ấy tôi thích lắm, tiếc thay, tôi đã không giữ được. Người tài xế xe đò chạy đường Kiên Giang – Sài Gòn nói với tôi nếu phải là tù cải tạo về thì nhớ trình Lệnh Tạm Tha ở các “chốt” công an, còn nếu trốn trại, ông ta nói nhỏ, hãy để cái túi kia lại đi. Tôi đau xót hiểu đó là một lời khuyên đáng lưu tâm.

*

Tết năm Tám Hai, tôi đến thăm Bình Nguyên Lộc. Căn nhà nằm cuối đáy một con ngõ yên tĩnh. Cánh cổng thấp, nơi mà nhà văn Mai Thảo mỗi lần đến thăm đã phải “dựa xe vào thành tường, bên cạnh hai chậu Vạn niên thanh trấn môn xanh ngắt, một màu xanh muôn thuở”.

Căn nhà yên lặng. Tôi gõ cửa. Không một tiếng trả lời. Tôi chờ thật lâu. Sau đó, gõ mạnh hơn. Tiếng người nói rất khẽ là cửa không đóng xin cứ tự tiện. Tôi mở cửa buớc vào nhà. Phòng khách tối, nhưng tôi vẫn thấy được cả tấm trần nhà gần như sụm xuống. Những rui mè, rơm rạ và những thanh gỗ nhỏ gẫy sụp như bị nước đọng từ mái quá lâu làm mục rã. Bình Nguyên Lộc nằm ở phòng trong. Căn phòng hẹp. Cửa sổ mở ngó ra sân trước. Ánh sáng chiếu vào một chiếc bàn nhỏ có một bình nước và hai cái ly. Mấy lọ thuốc tây. Sau khi thăm hỏi sức khỏe ông, chúng tôi nói chuyện về những người viết Sài Gòn cũ, ai ở ai đi. Ông nhắc đến tạp chí Văn, ông Nguyễn Đình Vượng và Trần Phong Giao, Mai Thảo, Sơn Nam. Ông cũng kể tên vài ông nhà văn ngoài Bắc có đến thăm ông. Và phần tôi, tôi đã kể cho ông nghe về một độc giả của ông ở rừng U Minh nói về cây mắm, cây tràm, cây xoài. Ông nằm yên lặng nghe, không nói, mắt dán lên trần nhà. Đến khi tôi đề cập truyện Rừng Mắm và nhắc lại câu chuyện anh Tr. kể, Bình Nguyên Lộc cười:

“Truyện đó viết lâu quá rồi tôi không còn nhớ. Tuy nhiên tôi có thể nói sự sống mới là cái quý, chớ thân thể đâu phải là điều quan trọng.”

Đầu năm Tám Lăm tôi đến Mỹ. Tháng Mười Tám Lăm, tôi hay tin ông cùng gia đình cũng đã đến. Tôi gọi điện thoại thăm ông nhưng không có cơ hội gặp lại ông.

Cuộc sống mới cuốn hút tôi trong những trăn trở không vui. Nhưng mỗi lần đọc những bài viết cũ của ông, tôi thấy mình học được một điều: sự bình tâm trước cuộc đời xô dạt và sự lạc quan trước những xao động của thời thế. Ông viết như chơi, ông viết như nói, như thể ông là người có nhiều tay và trí nhớ ông là chiếc tủ có nhiều ngăn kéo. Nói gì thì nói, tôi vẫn mang nơi tôi một món nợ tinh thần khó trả lại cho ông. Khi nhà văn Nguyễn Mộng Giác báo tin cho tôi hay là Bình Nguyên Lộc đã qua đời, tôi không biết phải làm gì với món nợ kia. Tôi muốn đọc lại cái truyện ngắn của ông mà tôi đã đọc lần đầu, năm tôi vừa mười tám tuổi. Truyện Ba Sao Giữa Giời in lại trong tập Ký Thác. Bình Nguyên Lộc viết: “Tôi đau cho cái nghĩa đời con người liền sau khi chết. Phút trước đây, mạng anh quý biết là bao nhiêu, mà phút sau này, xác anh là đồ bỏ. Ra cái quý chính là sự sống chứ không phải là thân thể nữa. Có đau hay không cho thân thể của con người?”

Cám ơn Bình Nguyên Lộc.

Xin vĩnh biệt ông Rừng Mắm.

“Anh nghĩ coi, tụi mình là cây mắm hay là cây tràm đây?” Câu hỏi của anh Bùi Văn Tr. ở U Minh vẫn còn trong đầu tôi.

Nguyễn Xuân Hoàng

https://www.voatiengviet.com/a/binh-nguyen-loc-o-rung-u-minh-04-23-2012-148554215/1119202.html

“Thành Phố Trong Hồi Tưởng” Những Mùa Thu – Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

“Thành Phố Trong Hồi Tưởng” Những Mùa Thu – Nguyễn Mạnh Trinh

Mùa Hạ đã qua. Sân trường với những ô vuông gạch đỏ mấy ngày trước là nơi để nô giỡn của mấy chú sẻ nâu nay ồn ào náo nhiệt. Ngồi trên phòng làm việc nhìn thấy cũng làm sinh động thêm không khí trong campus của mùa tựu trường. “Back To School”, lại một chu kỳ sinh hoạt mới. Thấy lại những khuôn mắt ngơ ngác lẫn háo hức của những cô cậu sinh viên mới. Thấy lại những công việc mà hàng năm tái diễn cùng với một vài thay đổi cho huê dạng và một ít khác lạ. Tự nhiên, thấy lại sự chia sẻ với hồi tưởng một ngày nào, thuở còn sinh viên học sinh ở Việt Nam rồi qua đây làm một sinh viên già vừa làm vừa học rồi trở lại làm việc ở ngôi trường đại học. Bao nhiêu là kỷ niệm. Thời gian đi qua. Thấm thoát cũng đã gần trọn đời người. Tôi đã thấy, ở đây. Bao nhiêu lớp sinh viên đã vào học và ra trường. Bao nhiêu là mộng ước, đã có, thành tựu hoặc tàn lụi. Và, tôi vẫn còn ở lại, nhìn theo, làm một người mà như thơ Hoài Khanh “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng. Nghe trong hồn rêu cỏ mọc hoang vu…” Nước vẫn chảy và, đời cứ theo dòng. Những khuôn mặt sinh viên đi qua. Và, tôi ở lại, như cầu thệ thủy dưới ánh tà huy, của một mường tượng nào xa xăm lãng đãng…

Hình như, tôi thấy lại những cổng trường xưa, những bạn, thầy cũ. Hình như, tôi đi ngược về, những không gian nào, thời gian nào, xưa cũ nhưng không mất hút. Có lúc, mường tượng và sinh động. Một đời sống nào, trở lại. Một giấc mơ nào, tái sinh. Tôi đọc “Thành Phố trong Hồi Tưởng”. Tôi đọc “Tình Khúc Ðại Học”. Tôi đọc “Tuyển tập Trần Hồng Châu”. Bây giờ, ngày khai trường của một năm học mới, fall semester năm nay.

Có lẽ, cả một đời giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, tức nhà thơ Trần Hồng Châu, gắn bó và dính liền với những ngôi trường đại học. Là khoa trưởng của đại học Văn Khoa thuộc Viện Ðại Học Sài Gòn. Là giáo sư thỉnh giảng đại học Southern Illinois University. Là cựu sinh viên luật đại học Hà Nội, cựu sinh viên văn chương đại học Sorbonne.

Thành ra, khi viết “Tình ca Ðại Học”, ông đã có cái tâm cảm của một người sống lại một thời của mình. Những giấc mơ tuổi trẻ, những ấp ủ đi tìm kiếm ngọn nguồn của trí tuệ, cùng với tính tình lãng mạn phóng khoáng, đã hiển hiện trong từng dòng chữ. Không phải là những khoe khoang mà chính là thái độ khiêm tốn kẻ sĩ. Một người có tài năng có danh vị mà cũng đặt tên cho tác phẩm của mình “Dăm Ba Ðiều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật”.

Giở từng trang sách của “Tuyển Tập Trần Hồng Châu”, tôi thấy một trời thơ mênh mông lai láng. Không chỉ ở phần thơ tuyển, mà, tất cả trong tuyển tập từ những tùy bút, đến những trang biên khảo, đều có nét thơ mộng lãng mạn cách riêng. Có một chút bềnh bồng nghệ sĩ, cũng như, một chút suy tư của người đã lỡ bước vào khung cửa triết học. Nhưng ở tất cả, là một khuôn trời mà cánh chim xoải bay cũng chưa về đến đích. Ở đó, là những áng mây phiêu du, bất định…

Jacques Prevert đôi khi đã làm người đọc là tôi nhớ mãi với những câu thơ Barbara của một thời học trò, theo giọng đọc của thầy giáo già mà nghe xôn xao trong lòng những giấc mộng viễn du, của trái mơ cứ chín nẫu trong lòng mà tay không thể với hái…

“Rappelle-toi Barbara.
Il pleuvait sans cesse sur brest ce jour-la
Et tu marchais souriante
Epanouie ravie ruisselante…”

Thì, Trần Hồng Châu cũng làm cho tôi như sống lại một thuở mê say đắm đuối mộng tưởng đến phương trời mà mình đã quen từ sách vở:

“Barbara, Trời Mưa Trên Môi Tả Ngạn

“Barbara!
Trời mưa trên phố biển
Trời mưa trên môi tả ngạn
Trời lặn cùng ta
Em vẫn là em
Hoa ngàn năm hóa thạch…

Ðêm Paris
Một mình một mình
Từng giọt lạnh cường toan mưa trên hồn nhỏ
Anh nằm nhìn quả cầu lửa

Thơ cháy
Chẳng còn đường về mê cung em
Barbara! Trời mưa trên phố biển?
Trời mưa trên môi tả ngạn?…”

Ba tập thơ “Nhớ Ðất Thương Trời “, “Hạnh Phúc Ðến Từng Giây” “Nửa Khuya Giấy Trắng” chọn lại vài chục bài thơ trong tuyển tập như chứa đựng hết những tinh túy của một nhà khoa bảng mà đến khi gần nhắm mắt lìa đời vẫn mong muốn là một thi sĩ. Một thi sĩ hiểu theo ý nghĩa cao đẹp nhất, một người luôn đi tìm cái đẹp và ăn nằm với cái đẹp. Với riêng tôi, tìm trong thơ, quả ông có cái nét đẹp ấy. Của một tấm lòng chân thành muốn đi tìm thẩm mỹ quan vĩnh viễn muôn đời. Ở trong thơ, là một biển trời tâm sự. Trong vần điệu, là nhịp thở của trái tim giàu cảm lụy. Từ ngôn ngữ, đã sẵn lời tâm huyết thiên thu.

Ở thể tùy bút, là những tản văn có phong vị đẹp của những bài thơ âm hưởng. Nhà giáo Nguyễn Khắc Hoạch có lúc trở thành một cậu sinh viên đầy mơ mộng của ngôi trường Sorbonne danh tiếng ngày nào: “…Tôi yêu dáng điệu hồn nhiên và tư tưởng sung mãn của Bachelard trong những bài giảng sớm thứ năm. Bachelard với chòm râu bạc phất phơ như một rừng hoa mai bừng nở với giấc mơ Thơ… Cùng nhau giong buồm lái trở về nguồn Trí Tuệ và Cảm Xúc nguyên thủy… Tôi yêu những hoài bão lớn lao của tuổi trẻ trên lầu tình tự vắng vẻ, cách xa huyên náo hỗn tạp của thị thành và thị dân đang quay cuồng vùng vẫy trong sương mù và trong những vùng lửa đèn màu nửa khuya ở dưới chân đồi Ste. Geneviève mà chúng tôi vẫn thân mật âu yếm gọi là Ste. Ginette như một cô em gái bé bỏng nghịch ngợm.

Ở đây trên đỉnh “đồi” linh thiêng tôi đã mơ tuyệt đối và hiểu tại sao người ta có thể đắm đuối say mê Thơ và Tư Tưởng như nhan sắc của một người tình. Ở đây tôi đã nâng niu những giây phút bé nhỏ trong đó tôi bồi hồi cảm động gặp lại chính tâm hồn mình, diện đối diện giữa thanh vắng và hướng nội trầm tư. Ở đây tôi đã tập thói quen không bằng lòng với cái tầm thường, cái ấu trĩ để cố noi theo hướng đi lên của tinh thần và nghệ thuật…

Tôi đã ngồi rất lâu dưới chân tượng Montaigne, hiện thân của thâm trầm và khoan dung trong những giờ nhập thiền diện bích tuy đây không có bức tường nào cả. Ðể đón hoàng hôn chầm chậm xuống trong những tấm áo mây chiều lượt là màu ngũ sắc. Ðể lắng nghe tâm tư sốt vỡ da và lớn mạnh cùng với cỏ cây quanh khu vườn trước cửa Ðại Học. Ðể thấy trên những nẻo đường của Văn và Triết, lối độc hành cổ điển vẫn có những nét độc đáo và thực là cần thiết, nếu không phải là lối khám phá duy nhất…”

Rồi Cambridge, Heidelberg, Havard, những ngôi trường đại học vang danh của thế giới cũng đầy kỷ niệm với một người luôn mê say đi tìm chân lý cho trí tuệ và chân lý cho cuộc đời. Những con đường, những giảng đường, chỗ nào khi ghé thăm trở lại cũng đầy cảm xúc. Chốn này, đã là nơi miệt mài đi tìm cách thực hiện giấc mộng ấp ủ.

“…Tôi yêu điệu blue “Dòng sông xanh” của Cambdidge, điệu moderato tịch mịch chầm chậm nhẹ nhàng buông lơi, điệu nhạc tươi sáng vừa dựng xong trong tâm tư cho riêng chính mình. Ðể tạm quên ý nhạc waltz cuồng say, dồn dập choáng váng của thành Wien, với sông nước Donau, dòng sông xanh, xanh… màu vàng lá úa, màu buồn tàn thu, màu hoàng hôn mệt mỏi héo hon!…”

Hay: “...Tôi yêu bản trường ca màu hồng của Heidelberg. Màu mong manh sáng chói yêu đời và cũng hơi đàn bà… tình cảm, bâng khuâng… Hồng nhạt, chiếc cầu đẹp như một giấc mơ, vươn mình qua sông Neckar chở đầy lịch sử, thơ, nhạc và tình yêu. Hồng, hồng mấy công thự baroque của đại học và tòa lâu đài trên ngọn đồi xây toàn bằng sa thạch, màu bình minh của núi rừng “từng biếc chen hồng” ở chung quanh vùng…”

Với Havard, cái nôi của những nhà lãnh đạo tương lai của thế giới, của những cô chiêu cậu ấm nắm hết ngày mai của nhân loại:

…Tôi yêu màu nâu pha đỏ, màu đỏ nâu ấm áp bền vững – màu bordeaux hay huyết dụ? – của tường nhà Havard. Ấm áp ngay cả khi tuyết rơi trắng muốt xóa mờ những bãi cỏ xanh. Ấm áp nhưng cũng e dè như người dân Boston cổ kính, như những dãy phố tỉnh nhỏ vùng New England với tường nhà để gạch đỏ lộ thiên, dãi dầu cùng mưa nắng. Màu phù hợp với kiến trúc nhẹ nhàng, mãnh mai thì “lập quốc” khác hẳn với những khối ciment cục mịch vô hồn ở các đại học non trẻ, chào đời sau Thế chiến thứ hai

… Tôi ít yêu hơn bọn thiếu niên con nhà kiều dưỡng được đào tạo ở Havard để sau này bước vào chính trường. Họ mang tên Roosevelt hay Kennedy. Sống trong nhung lụa và vòng tay nuông chiều của các bà mẹ âu yếm nhưng thiển cận lại được chăm sóc trong lồng kính vĩ đại bên bờ Charles River, xa rời cái phức tạp của cuộc sống đích thực. Vì vậy mà họ ra làm lãnh tụ, dìu dắt cả trăm triệu người trong một thế giới chính trị bá đạo, muôn mặt lắt léo và đầy mưu mô xảo quyệt. Cho nên trong việc đối ngoại xứ này đã có những quyết định quá chừng ngây thơ (có người độc miệng hơn còn gọi là… ấu trĩ) và nền ngoại giao Mỹ quốc từ sau thế chiến đã đi hơn một bước giật lùi nguy hiểm tuy về kinh tế đã có nhiều thành tích vẻ vang. Trách nhiệm của học đường, của những kỹ sư tâm hồn! Người tuổi trẻ Harvard hãy cẩn thận!

Chiều hôm nay tạm biệt Harvard. Ánh trời hoàng hôn lọc qua kẽ lá nhuộm vàng từng mảng tường gạch đỏ thành một màu kỳ thú. Tôi ngắt một chiếc lá ivy. Tôi ngắt cả mùa thu kẹp vào tập thơ của một tác giả trẻ tuổi sáng tác sau những khuôn cửa sổ nhìn ra Harvard Yard. Chiếc lá biểu tượng. Chiếc lá kỷ niệm từ một hải đảo trí thức và sáng tạo bập bềnh giữa vô vàn đợt sóng vật chất của một thời đại một thế giới tưởng như cũng đang chìm dần vào ánh trời hoàng hôn…”

Với đại học Văn Khoa, nhà thơ đã mang cái tâm lãng mạn phóng khoáng của mình để gây dựng một nền đại học dân tộc phản ánh được tâm tình của một thời đại Việt Nam nhiều biến cố và mang cái tâm nỗ lực xây dựng tương lai.

“Tôi yêu những tấm lòng trinh bạch và màu trắng đơn sơ hồn hậu màu thanh bần lạc đạo trên sân tường Văn Khoa. Văn Khoa linh hồn thầm kín của đại học và quê hương trong những mùa lịch sử nóng bỏng và sôi động… Tôi yêu màu trắng chiều đông hơi ngả sang xám hay xanh nhạt của trường cũ cũng như trường mới, thoáng gợi cái mong manh u buồn của lớp phấn light blue shadow nằm dài trên mí mắt khi những cửa sổ linh hồn bâng khuâng ngỡ ngàng dường như mở rộng cuốn chúng ta vào muôn vạn nẻo đường mịt mùng xa vời vợi hun hút sâu như vực thẳm giữa lòng đại dương… Nhớ thương luôn nên mắt có quầng viền!”

Tôi muốn trích dẫn nhiều hơn những dòng tuyệt bút mang cái tâm vằng vặc vào văn chương. Nhưng nếu như thế thì phải mang cả cuốn sách vào trong bài viết. Thì, với vài đoạn đơn sơ, chúng ta cũng có thể cảm được cái lòng kẻ sĩ của một người sống trong một thời đại quá nhiều dâu biển biển dâu. Có lúc, như trong bài thơ thi sĩ đối thoại với cụ Tiên Ðiền, người đã mang vào văn chương Việt Nam những vần châu ngọc, để thấm thía cái câu: “bất tri tam bách dư niên hậu”

“…Ðoạn trường gói chặt tấm son
Một thiên bạc mệnh chưa mòn tuyết băng
Bóng ai lãng đãng cầm trăng
Gió thu hồng biếc một vầng quan san
Lửa hương một nắm tro tàn
Hồng Lam trăm mối đoạn trường về đâu

Ðường đời còn mải phân vân
Thì xin ước hẹn vô vàn mai sau
Thì xin tát cạn nguồn sầu
Nghìn thu tuyệt bút điểm màu vấn vương
Phấn hương thừa nhặt nẻo đường
Nòi tình ai cũng đoạn trường với ai?

Ðêm thu mộng triệu khơi miền
Ðoạn trường bướm trắng ưu phiền gió trăng
Gặp người ta lại cố nhân
Bất tri tam bách… một vần cảm thông

Bây giờ, giở từng trang Tuyển tập như thấy lại hình dáng người thầy xưa hiện về. Viết văn, làm thơ, soạn tiểu luận, hay chấm bài, soạn sách giáo khoa, dù đang đứng trên bục giảng đường hay đang trải hồn theo mộng biếc thanh xuân những ngày du học, tất cả chỉ làm rõ nét thêm một vóc dáng thi nhân muôn tuổi. Tôi vẫn nghĩ, trong tâm thức đơn giản của mình, thi ca sẽ có đời sống dài hơn là khoảnh khắc ba trăm năm mà cụ Nguyễn Du đã thắc mắc cho nỗi niềm còn mất của chữ nghĩa riêng mình!

Nguyễn Mạnh Trinh

Bonjour Việt Nam – Người Đi, Người Ở, Người Về… Tùy bút Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh More

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: