Lời Gian Dối Thật Tình. Thơ Hư Vô


Cũng có đôi lần tôi muốn nói
Ngập ngừng ngại em khóc, lại thôi
Có nói gì cũng là gian dối
Khi lời tình đã đắng trên môi.

Em trải lòng đêm cùng chăn gối
Đợi hồn tôi thả xuống giấc mơ
Cho tim em rộn ràng bối rối
Chút tình sót lại sợi tóc tơ!

Nhưng lòng tôi ơ thờ, trắc trở
Xô đời em lỡ dở xuân thì
Nếu biết đêm dài hơn mộng mị
Chưa chắc gì tôi đã bỏ đi!

Gom mảnh tình si vào cùng tận
Để cả đời bưng bít cưu mang
Ngày xưa mà tôi đừng quờ quạng
Thì em đâu đã bước sang ngang…

Hư Vô

Bình Nguyên Lộc ở rừng U Minh. Nguyễn Xuân Hoàng


Nguyễn Xuân Hoàng

Lần đầu tôi gặp nhà văn Bình Nguyên Lộc là vào năm 1972, khi tôi mới về làm thư ký toà soạn tạp chí Văn. Ông gầy ốm, mái tóc chải rẽ đường ngôi ngay chính giữa, đeo một đôi kính đen kiểu xưa và mặc bộ đồ trắng y như một công chức thời Pháp thuộc. Tác giả Đò Dọc lúc đó cho tôi thấy hình như có một tương ứng đặc biệt giữa trang phục người viết và phong cách ông viết. Trong khi Sơn Nam, tác giả Hương Rừng Cà Mau cũng không khác gì Bình Nguyên Lộc bao nhiêu, nếu không nói là có vẻ lừng khừng hơn – để lại trong tôi nhiều ấn tượng văn học về phong tục miền Nam, thì Bình Nguyên Lộc cho tôi một ấn tượng khó nói… Tôi có cảm giác Bình Nguyên Lộc gần Hồ Biểu Chánh và Vương Hồng Sển,… khó… tiếp cận hơn, trong khi Sơn Nam mặc dầu có nhân dáng còn xuề xoà hơn Bình Nguyên Lộc nhiều nhưng tôi thấy lại gần gũi hơn, mới hơn, dễ gần hơn.

Sau đó, khi Bình Nguyên Lộc gửi tặng tôi cuốn Nguồn Gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, với lời dặn là nhớ đọc kỹ và cho biết ý kiến, nhưng ‘hình như’ tôi đã bất công với ông. Tác phẩm khá công phu của ông, tôi đã để một chỗ khá cao trong kệ sách toà soạn. Và tôi đã quên lời dặn của ông.

*

Mãi đến năm Một Chín Tám Mươi, khi nằm tù ở rừng U Minh, mỗi ngày đẩy phà chở xe be trên Kinh Làng Thứ Bảy, … đào kinh, làm ruộng, theo bạn tù đi lấy mật ong ở rừng tràm, hay lội trên những đường ngập bùn nước, rướm máu vì những gốc lồ ồ nhọn và bén như dao… tôi mới có dịp nghe chuyện Bình Nguyên Lộc.

Người kể chuyện là một “tù cải tạo” ở trại B. Anh tên Tr., Bùi Văn Tr. đã nằm ấp ở đây từ năm năm trước ngày tôi bị giải đến.

Một hôm, nhân ngày nghỉ cuối tuần của trại, Tr. rủ tôi đi bắt rắn và chuột. Khi ngồi nghỉ trên bờ một ao nước, Tr. nói trước đây chỗ này là một hố bom. Năm đầu tiên ở đây, Tr. kể, anh đã tìm thấy một cây thập tự bằng gỗ tràm với bộ xương chôn vùi dưới nước. Anh nói đó có thể là xác một người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bị bắt và bị chôn sống, sau khi đã bị trói chân tay vào thân cây thập tự. Nhìn đám tràm thấp và chắc thịt trước mặt, Tr. bỗng hỏi tôi:

“Ở Sài Gòn làm nghề gì?”

Ở cùng trại tù cả sáu bảy tháng trời, Tr. chưa hề hỏi quá khứ tôi một câu nào, tự nhiên hôm nay anh buột miệng…

Tôi hơi do dự. Tôi luôn luôn có trong đầu một lý lịch giả. Chần chừ lâu thấy kỳ, tôi nói:

“Lái xe đò.”

“Lâu chưa?”

“Cũng lâu rồi….”

“Vợ con gì chưa?”

“Rồi!”

“Học hành tới đâu rồi?”

“Học hành gì đâu. Chỉ biết đọc biết viết lỏm bỏm thôi.”

Tôi nói y như tôi khai lý lịch lúc ngồi tù ở Rạch Giá.

“Có khi nào đọc sách báo gì không?”

“Đọc lung tung, gặp gì đọc nấy. Không thích lắm!”

“Có đọc truyện của ông Bình Nguyên Lộc bao giờ chưa?”

“Có đọc qua đâu đó, nhưng không nhớ…” Tôi hơi ngạc nhiên trước câu hỏi của anh.

“Có đọc truyện Rừng Mắm chưa?”

“Hình như chưa. Mà cũng không nhớ!…”

Tôi ngọng thật. Có lẽ tôi chưa đọc truyện nào của Bình Nguyên Lộc sau Ba Sao Giữa Giời. Và đó cũng là truyện tôi đọc rất láo.

“Chưa đọc phải không?” Tr. cạy một hòn đất nhỏ nghiêng mình lấy đà liệng xuống hố nước.

“Có lẽ chưa…” Tôi vẫn ngập ngửng trả lời anh. Tôi chưa biết Tr. muốn nói gì. Câu chuyện rồi sẽ đến đâu.

“Tôi thì đọc không sót một truyện nào của ông Bình Nguyên Lộc.” Tr. nói. “Tôi khoái truyện dài Đò Dọc và các truyện ngắn Ba Con Cáo, Cho Tay Này Lấy Tay Kia… tôi cũng mê Ba Sao Giữa Trời” – Tr. nói là Trời chứ không phải là Giời như bảm chính của tác giả – “nhưng thích nhất vẫn là Rừng Mắm.”

“Tại sao?” Tôi hỏi, ngạc nhiên.

“Bởi vì trong Rừng Mắm tôi thấy có tôi ở trong đó.”

“…”

“Tiếc là anh chưa đọc. Thôi để tôi kể anh nghe. Nghe cũng như đọc chớ khác gì. Chuyện vầy: Một gia đình bốn người gồm có thằng con tên Cộc, cùng với tía má nó và ông nội nó, sống trong một vùng đất khô cằn là rừng U Minh. Đây nè, chỗ tụi mình ngồi đây nè. Cả nhà đã ở chốn đồng không mông quạnh kia suốt năm năm trời cũng bằng cái thời gian mà tôi ở đây vậy, xung quanh không có tiệm quán chợ búa, hàng xóm láng giềng. Với lại cũng không có tiền nữa. Anh nghĩ coi bây giờ mình vậy mà khá hơn cái gia đình bốn người trong truyện Rừng Mắm của ông Bình Nguyên Lộc nhiều. Cả cái đám tù mình đây, từ ông sĩ quan cho tới ông công chức học tập, cho tới mấy ông mấy bà vượt biên cũng gần cả ngàn chớ phải chơi đâu. Vui hơn cái gia đình của thằng Cộc cả ngàn lần lận. Còn tiền thì tuy có chút ít, và cũng đã bị nó cướp, nó đổi rồi, nhưng nếu có trắng tay thì bất quá cũng trắng tay như nhà thằng Cộc là cùng. Nhưng mà mình còn có tiếp tế, chớ thằng Cộc trong chuyện thèm chén chè, thèm một trái xoài thấy mồ cố tổ, mà có được đâu. Còn mình, chè thì thỉnh thoảng vẫn có, xoài thì đâu đến nỗi. Nhưng nghĩ cho cùng, truyện ông Bình Nguyên Lộc có chuyện gì đâu. Cái điều quan trọng mà tôi khoái ổng là cái Rừng Mắm…”

“Rừng Mắm là rừng của những cây mắm?”

“Phải rồi, có biết cây mắm không?”

“Không, tôi chưa bao giờ nghe nói tới cây mắm. Cây đó dùng làm gì? Cất nhà hay làm củi chụm?”

“Cây mắm không thể làm gì khác ngoài làm vật hy sinh. Cái hay của ổng là vầy. Ổng nói rằng bờ biển mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ trở thành đất thịt được, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Chừng nào mắm ngã rạp, tràm sẽ mọc lên. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần rồi cây ăn trái mới mọc được. Ổng nói đời ông nội và tía má thằng Cộc là đời mắm còn đời thằng Cộc là đời tràm, đến đời con cháu của Cộc sẽ đời lúa, mít, xoài, dừa, cau… Ông Bình Nguyên Lộc ổng viết một câu mà tôi thấm lắm. Ổng nói là: Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng. Tôi ở đây đã năm năm xa nhà, xa vợ, xa con, chịu bao nhiêu là cay đắng tủi nhục, nhưng mà tôi an lòng lắm. Ông Bình Nguyên Lộc ổng hay thiệt!”

Tr. ngừng nói ngó đăm đăm xuống hố bom. Trước mặt tôi là một rừng tràm bát ngát.

“Anh nghĩ coi, tụi mình là cây mắm hay cây tràm đây?”

*

Tám tháng sau, tôi vượt trại giam Kinh Làng Thứ Bảy, chính Bùi Văn Tr. đã giúp tôi một tay. Khi ra trại, Tr. tặng tôi chiếc túi vải do chính tay anh ráp nối từ chiếc áo lính cũ. Cái túi vải ấy tôi thích lắm, tiếc thay, tôi đã không giữ được. Người tài xế xe đò chạy đường Kiên Giang – Sài Gòn nói với tôi nếu phải là tù cải tạo về thì nhớ trình Lệnh Tạm Tha ở các “chốt” công an, còn nếu trốn trại, ông ta nói nhỏ, hãy để cái túi kia lại đi. Tôi đau xót hiểu đó là một lời khuyên đáng lưu tâm.

*

Tết năm Tám Hai, tôi đến thăm Bình Nguyên Lộc. Căn nhà nằm cuối đáy một con ngõ yên tĩnh. Cánh cổng thấp, nơi mà nhà văn Mai Thảo mỗi lần đến thăm đã phải “dựa xe vào thành tường, bên cạnh hai chậu Vạn niên thanh trấn môn xanh ngắt, một màu xanh muôn thuở”.

Căn nhà yên lặng. Tôi gõ cửa. Không một tiếng trả lời. Tôi chờ thật lâu. Sau đó, gõ mạnh hơn. Tiếng người nói rất khẽ là cửa không đóng xin cứ tự tiện. Tôi mở cửa buớc vào nhà. Phòng khách tối, nhưng tôi vẫn thấy được cả tấm trần nhà gần như sụm xuống. Những rui mè, rơm rạ và những thanh gỗ nhỏ gẫy sụp như bị nước đọng từ mái quá lâu làm mục rã. Bình Nguyên Lộc nằm ở phòng trong. Căn phòng hẹp. Cửa sổ mở ngó ra sân trước. Ánh sáng chiếu vào một chiếc bàn nhỏ có một bình nước và hai cái ly. Mấy lọ thuốc tây. Sau khi thăm hỏi sức khỏe ông, chúng tôi nói chuyện về những người viết Sài Gòn cũ, ai ở ai đi. Ông nhắc đến tạp chí Văn, ông Nguyễn Đình Vượng và Trần Phong Giao, Mai Thảo, Sơn Nam. Ông cũng kể tên vài ông nhà văn ngoài Bắc có đến thăm ông. Và phần tôi, tôi đã kể cho ông nghe về một độc giả của ông ở rừng U Minh nói về cây mắm, cây tràm, cây xoài. Ông nằm yên lặng nghe, không nói, mắt dán lên trần nhà. Đến khi tôi đề cập truyện Rừng Mắm và nhắc lại câu chuyện anh Tr. kể, Bình Nguyên Lộc cười:

“Truyện đó viết lâu quá rồi tôi không còn nhớ. Tuy nhiên tôi có thể nói sự sống mới là cái quý, chớ thân thể đâu phải là điều quan trọng.”

Đầu năm Tám Lăm tôi đến Mỹ. Tháng Mười Tám Lăm, tôi hay tin ông cùng gia đình cũng đã đến. Tôi gọi điện thoại thăm ông nhưng không có cơ hội gặp lại ông.

Cuộc sống mới cuốn hút tôi trong những trăn trở không vui. Nhưng mỗi lần đọc những bài viết cũ của ông, tôi thấy mình học được một điều: sự bình tâm trước cuộc đời xô dạt và sự lạc quan trước những xao động của thời thế. Ông viết như chơi, ông viết như nói, như thể ông là người có nhiều tay và trí nhớ ông là chiếc tủ có nhiều ngăn kéo. Nói gì thì nói, tôi vẫn mang nơi tôi một món nợ tinh thần khó trả lại cho ông. Khi nhà văn Nguyễn Mộng Giác báo tin cho tôi hay là Bình Nguyên Lộc đã qua đời, tôi không biết phải làm gì với món nợ kia. Tôi muốn đọc lại cái truyện ngắn của ông mà tôi đã đọc lần đầu, năm tôi vừa mười tám tuổi. Truyện Ba Sao Giữa Giời in lại trong tập Ký Thác. Bình Nguyên Lộc viết: “Tôi đau cho cái nghĩa đời con người liền sau khi chết. Phút trước đây, mạng anh quý biết là bao nhiêu, mà phút sau này, xác anh là đồ bỏ. Ra cái quý chính là sự sống chứ không phải là thân thể nữa. Có đau hay không cho thân thể của con người?”

Cám ơn Bình Nguyên Lộc.

Xin vĩnh biệt ông Rừng Mắm.

“Anh nghĩ coi, tụi mình là cây mắm hay là cây tràm đây?” Câu hỏi của anh Bùi Văn Tr. ở U Minh vẫn còn trong đầu tôi.

Nguyễn Xuân Hoàng

https://www.voatiengviet.com/a/binh-nguyen-loc-o-rung-u-minh-04-23-2012-148554215/1119202.html

Phá Sản. Thơ Hư Vô


Phá Sản

Em đi, bước vấp thềm hoa cũ
Chân có nghe đau điếng bẽ bàng?
Chỗ tim anh hoang tàn phế tận
Gia tài còn chiếc bóng cưu mang.

Chào nhau một tiếng khan lồng ngực
Nói năng gì cũng chỉ thất ngôn
Tặng em bài thơ tình lỡ vận
Mang theo chồng làm của hồi môn.

Chia phần em buồn riêng một nửa
Nửa buồn còn lại trả nhân gian
Phủi tay cho kịp lần phá sản
Em ôm đời khánh tận sang ngang.

Nơi sợi nắng đan vàng lối cỏ
Em qua bỏ lại dấu chân trần
Thì anh cũng có lần nín thở
Trả em còn chưa dứt nợ nần…

Hư Vô

40 Năm Hải Ngoại- Một Nén Hương- Một Bông Hồng Cho Những Nhà văn- Nhà Thơ Đã Khuất Núi (Đã cập nhật danh sách tới tháng 6/2017)


Nhật Tiến biên soạn.
(Tổng hợp từ nhiều nguồn)

(Đã cập nhật danh sách tới tháng 6/2017)

Thời gian 40 năm chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử, nhưng tuy vậy cũng đủ để cho con người hoàn tất một sự nghiệp hay từ giã cõi đời.

Trong suốt 40 năm qua, kể từ khi miền Nam sụp đổ trước sự xâm lấn của CS miền Bắc, nhiều văn nghệ sĩ vốn đã tạo dựng nên một nền Văn Học rực rỡ của miền Nam cũng đã vượt thoát ra đi để mưu tìm một cuộc đời tự do đáng sống. Trên phần đất tự do thuộc nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh những nỗ lực để hội nhập vào xã hội mới, các nhà văn, nhà thơ gốc Việt vẫn tiếp tục miệt mài sáng tạo, duy trì và phát triển Văn Học Miền Nam trên đất tạm dung để có thể coi là đã có một nền văn chương VN hải ngoại. Và cũng ròng rã trong suốt 40 năm tận tụy với ngòi bút ấy, nhiều người đã lặng lẽ ra đi, bỏ lại phía sau những công trình có thể chưa hoàn tất nhưng cũng đã gieo nhiều nỗi ngậm ngùi, xót xa trong lòng của nhiều người ở lại

Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm hội nhập, mặc dù không thể thu góp đầy đủ danh xưng của tất cả những nhà văn, nhà thơ đã khuất bóng, phần liệt kê dưới đây xin coi như một nén nhang, một bông hồng cho tất cả những nhà văn, nhà thơ đã mất ở hải ngoại mà trong suốt 40 năm qua đã góp phần cung ứng cho đời những tác phẩm quý giá để các thế hệ sau khi nhìn lại không thể không biết tới.
Danh sách dưới đây xếp theo thứ tự thời gian mà các vị đã khuất núi.

 


THANH NAM (1931-1985)
Nhà văn/nhà thơ Thanh Nam tên Trần Đại Việt, người làng Mỹ Trọng tỉnh Nam Định, thân phụ là Tổng Giám thị trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Nội ngày trước.

Năm 1946, mới 15 tuổi, Thanh Nam đã được tờ báo Thiếu Nhi tại Hà Nội đăng thơ và mời cộng tác, và viết một số Sách dành cho tuổi trẻ cho nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh.

Năm 1953 ông vào Sài Gòn, được mời làm Tổng Thư ký báo Thẩm Mỹ, viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ độc giả, phụ trách nhiều mục khác như Phụ nữ Gia Đình, Gỡ Rối Tơ Lòng … và còn ký nhiều bút hiệu như Sông Hương, Cô Hồng Ngọc, Bà Bách Lệ, Tôn nữ Đài Trang, Thợ Cạo. Năm 1960, ông hợp tác với nguyệt san Hiện Đại do Nguyên Sa và Thái Thủy chủ trương, và là Tổng Thư ký tuần báo Nghệ Thuật, cùng viết bài trên tuần báo Kịch Ảnh.

Di tản sang Hoa Kỳ năm 1975, ông tạm cư tại tiểu bang New Jersey rồi năm 1976 định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở đây ông cộng tác với tờ Đất Mới và một trong vài tờ báo Việt ngữ đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ . Ông mất vào ngày 2 tháng 6 năm 1985 do chứng ung thư thanh quản.

Tác phẩm đã xuất bản :

Hồng Ngọc (1957)
Người Nữ Danh ca (1957)
Buồn Ga Nhỏ (1962)
Giấc Ngủ Cô Đơn (1963)
Còn Một Đêm Nay (1963)
Cho Mượn Cuộc Đời, Bầy Ngựa Hoang (1965)
Giòng Lệ Thơ Ngây (1965)
Những Phố Không Đèn (1965)
Mấy Mùa Thương Đau (1968)
Gã Kéo Màn, ….
Đất Khách (1983)

 

VŨ KHẮC KHOAN (1917-1986)
Ông sinh năm 1917 tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y Khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh Nông, tốt nghiệp kỹ sư sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Ông là tác giả những vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948), Thành Cát Tư Hãn, và Giao thừa (1949). Hai vở Giao thừa và Thằng Cuội đã được trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội vào những năm 1951 và 1952. Bài vở của ông cũng được đăng trên báo Phổ thông và Quan điểm.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam viết cho các báo Tự do, Quan điểm rồi làm chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ của Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn.

Ông tỵ nạn sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota và thành lập Hội Phật giáo Việt Nam tại đây. Ông mất ngày 12 tháng Chín, 1986.

 

ĐÀO ĐĂNG VỸ (1908-1997)

Đào Đăng Vỹ là nhà văn, nhà văn hóa, nhà từ điển học rất nổi tiếng ở Huế từ những năm cuối của thập niên 40. Ông cũng là dịch giả có tiếng của Việt Nam. Riêng trong lãnh vực từ điển, ông đã biên soạn những cuốn như Pháp Việt Đại Từ điển (1949-52, 1963, 1970), Việt Pháp Đại Từ điển ( 1956, 1963, 1970), Pháp Việt Từ điển Phổ thông (1954-1956, 1960, 1963, 1965, 1970), Pháp Việt Tiểu Từ điển (1961, 1963, 1966, 1970), Việt Pháp Tiểu Từ điển (1962, 1964, 1966, 1970), Việt Nam Bách Khoa Từ điển (Cuốn I cuốn II, III…; 1959-1963).

Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1908 tại Huế, và mất ngày 7/4/1987 tại California – Mỹ.

 

BÌNH NGUYÊN LỘC (1914-1987)
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút hiệu khác như Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…]

Ông đã sáng tác khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và bốn quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại độ 800 trang viết tay coi như bị thất lạc.

Ông cũng từng viết tiểu thuyết bằng thơ trường thiên như Thơ Ba Mén, Việt sử trường ca, Luận thuyết y học, Thơ thổ ngơi Đồng Nai, Ca dao… Ông còn có công sưu tầm được hàng nghìn câu ca dao kèm theo chú thích về đặc điểm của mỗi câu.

Tháng 10 năm 1985, ông được gia đình bảo lãnh sang Mỹ chữa bệnh. Ngày 7 tháng 3 năm 1987, ông từ trần tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì bệnh cao huyết áp, thọ 74 tuổi

 


HOÀI ĐIỆP TỬ (1941-1987)
Tên thật Phạm Văn Tập. Sinh năm 1941 – Tân Tỵ – tại Bạc Liêu.

Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Điệp Yên Hà, Lê Thăng, Kép Độc, Kiều Linh Khanh. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 14 tuổi, chính thức viết văn vào năm 1958 với truyện dài đầu tiên “Mớ tóc gái Phù Sa” viết trên nhật báo Chuông Mai của ông Huỳnh Hoài Lạc.

Lần lượt cộng tác với các nhật báo, tuần san như Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, Dân Đen của Nguyễn Duy Hinh, Tiếng Dân, Tia Sáng của Nguyễn Trung Thành, Tiếng Nói Dân Tộc của Lý Quý Chung, Độc Lập của Hoàng Châu, Tin Sáng của Ngô Công Đức, Thách Đố của Đặng Văn Bé v.v…

– Năm 1966 ông sáng lập Nhà xuất bản Sông Hậu cùng với các thân hữu như Trương Đạm Thủy, Ngô Tỵ, Phan Yến Linh, Phương Triều, Tâm Đạm Dương Trữ La.

– Khi sang Mỹ từ năm 1981, nhà văn Hoài Điệp Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai (Nam California) từ năm 1982 đến 1987.

Ông bị sát hại tại tòa soạn nằm trên đường Westminster (Nam California) lúc 2 giờ 15 sáng chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 1987. Vụ án mạng này đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam : – Vũng Lầy (1964) – Trái Cấm – Tuổi Tình Yêu, nhà xuất bản Sống Mới phát hành, 1965. – 16 Phiên Buồn (1966) – Lửa Đạn Về Thành – Tình Biển (1968) – Đỉnh Núi Sương Mù – Còn Xanh Kỷ Niệm (1969) – Bến Đục – Giọt Máu Cho Cánh Đồng Mùa Hạ (1970) – Tặng Phẩm Của Đêm – Bụi Thành Phố (1971) – Mặt Trời Mọc Cho Ai – Hành Lang Đen (1972) – Cao Ốc Số 8 (1973) – Sóng Hoang, nhà xuất bản Sông Hậu phát hành (1974)…. và một số thơ cùng truyện ngắn.

Tác phẩm đã xuất bản tại Mỹ : – Truyện dài: Trên Đầu Sóng, nhà xuất bản Hải Ngoại phát hành, 1982.

 


NGUYỄN TẤT NHIÊN (1952-1992)
Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30-5-1952 tại xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà..

Ông là một thi sĩ bẩm sinh, tài hoa, suốt đời cuồng nhiệt, đam mê với thơ, đặc biệt là thơ tình. Biết làm thơ từ rất sớm: Mới 14 tuổi (1966,) đã có tập thơ đầu tay“Nàng Thơ Trong Mắt” và hai năm sau, 16 tuổi (1968,) viết tiếp tập thơ“Dấu Mưa Qua Đất” (cả hai tập thơ nầy đều ký bút danh Hoài Thi Yên Thi). Năm 1970, ông tự ấn hành tập thơ“Thiên Tai,”lần đầu tiên lấy bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Năm 1978, ông vượt biên và định cư tại Pháp. Tại đây, nhà xuất bản Sud-Asie đã ấn hành tập“Thơ Nguyễn Tất Nhiên”gồm những bài thơ sáng tác từ 1970 – 1980. Sau đó, ông sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tiếp tục sáng tác thơ, nhạc, cho ấn hành các tập thơ“Chuông Mơ” (NXB Văn Nghệ,1987,)“Tâm Dung”(NXB Người Việt, 1989,)“Minh Khúc” (1990, đã hoàn tất bản thảo, phổ biến hạn chế.)

Ông mất ngày 3-8-1992 tại California.

 


DUYÊN ANH (1935-1997)
Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tỉnh Thái Bình.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam (tháng 4, 1976). Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ôngvượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc.

Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

 

NGUYÊN SA (1932-1998)

Nguyên Sa sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950 với những tác phẩm như“Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”, v.v.

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại (Mặc Lâm –RFA).

Ông đi Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời. Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998.

 

MAI THẢO (1927-1998)
Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, ông sinh ngày 8/6/1927 tại huyện Hải-hậu, tỉnh Nam-định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam-định rồi Hà-nội (học trường Đỗ Hữu Vị, sau là Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng-yên. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà-nội tản cư về quê chợ Cồn, từ đó Mai Thảo rời nhà vào Thanh-hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên-khu-ba, Liên-khu-tư đến chiến khu Việt-bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến vào thành, đi buôn. 1954, di cư vào Nam. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương báo Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông nom báo Văn. Tham gia chương trình văn học nghệ thuật của các đài phát thanh tại Sài-gòn từ 1960 đến 1975. Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển. và định cư ở Hoa-kỳ. Ít lâu sau ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 7/1982 ông tái bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ông mất tại Santa Ana, California ngày 10/1/1998.

Tác phẩm Mai Thảo đã xuất bản:

Đoản thiên
Đêm giã từ Hà Nội (Người Việt, 1955)
Tháng giêng cỏ non (1956)
Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963)
Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965)
Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966)
Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967)
Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968)
Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969)
Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969)

Tùy bút (1970)
Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà Nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970)
Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987)
Một đêm thứ bảy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988)
Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989)
Chân bài thứ năm (Nam Á,Paris, 1990)
Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990)…

Truyện dài:
Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963)
Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác)
Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964)
Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966)
Đêm kỳ diệu (?)
Cùng đi một đường (1967)
Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968)
Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968)
Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969)
Lối đi dưới lá (1969)
Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969)
Thời thượng (Côi Sơn, 1970),
Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970),
Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970),
Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970)
Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971)
Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971)
Một ngày của Nhã (1971)
Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971)
Sóng ngầm (Hoa biển, 1971)
Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972)
Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn Đình Vượng, 1972)
Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972)
Gần mười bảy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972)
Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972)
Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
Tình yêu màu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973)
Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973)
Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973)
Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974)
Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974)
Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Thơ:
Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989)

 

LÊ ĐÌNH ĐIỂU (1939-1999)

Nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động xã hội Lê Đình Điểu, người bạn lớn của nhiều sinh hoạt văn hóa, giáo dục, truyền thông Việt Nam từ hơn 40 năm qua.

Ông sinh năm 1939 tại Ngọc Hà, ngoại thành Hà Nội. Ông làm thơ, viết văn từ thời niên thiếu với bút hiệu Y Dịch. Năm 1967, ông tốt nghiệp khóa Báo Chí học tại Viện Báo Chí Quốc Tế ở Kuala Lumpur, Mã Lai. Sau đó, ông làm đặc phái viên Việt Tấn Xã, và là Phụ Tá Học Vụ Ban Báo Chí học ở Đại Học Chính Trị Kinh Doanh, Đà Lạt. Năm 1972, ông đứng đầu ngành Thông Tin Quốc Nội trong phủ Tổng Ủy Dân Vận, sau đổi thành Bộ Dân Vận-Chiêu Hồi. Năm 1974 ông làm ở Phòng Báo Chí của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo.

Từ 1975 đến 1981 ông bị đi tù cải tạo. Năm 1985 gia đình ông qua Mỹ, và ông làm chủ bút nhật báo Người Việt, đến năm 1988 thì trở thành Tổng Giám Đốc Công Ty Người Việt. Năm 1991 ông là chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21. Ông cũng là chủ tịch trong nhiều năm Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA). Năm 1995, ông làm chủ tịch đài phát thanh VNCR mà ông là một sáng lập viên.

Ông đã dịch các cuốn sách “Kỹ Thuật Tòa Soạn”, THN xuất bản ở Sài Gòn năm 1969, và “Ký Giả Chuyên Nghiệp”, Hiện Đại xuất bản năm 1974, Người Việt tái bản năm 1977. Gặp chứng bệnh nan y, ông đã từ trần ngày 24-5-1999.

 


NGHIÊM XUÂN HỒNG (1920-2000)
Cư sĩ Tịnh Liên NGHIÊM XUÂN HỒNG sinh năm 1920 tại Hà Đông, Bắc Việt.

Năm 1953, hành nghề Luật Sư.

Năm 1954, đất nước chia đôi, di cư vào Nam.

Nguyên Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon, Cựu Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng năm 1965, thời Nguyễn Khánh.

Sáng lập viên nhóm Quan Điểm, Saigon.

Năm 1975, miền Nam Việt Nam mất, di cư sang Hoa Kỳ.

Trước năm 1975, viết sách về Chính Trị, Triết Học và Văn Chương.

Sau năm 1975, chuyên đọc Kinh Đại Thừa, tịnh tu, viết sách Phật và giảng dạy Phật Pháp tại chùa Trúc Lâm Yên Tử, Santa Ana và chùa Liên Hoa, Garden Grove, California.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN Ở VIỆT NAM:
01. Đi Tìm Một Căn Bản Tư Tưởng, 1957.
02. Lịch Trình Diễn Tiến của Phong Trào Quốc Gia Việt Nam, 1959.
03. Xây Dựng Nhân Sinh Quan, 1960.
04. Luyến Ái Quan qua Triết Thuyết và Tình Sử, 1961.
05. Cách Mạng và Hành Động, 1962.
06. Người Viễn Khách Thứ Muời, Kịch, 1963.
07. Từ Binh Pháp Tôn Ngô đến Chiến Lược Nguyên Tử, 1965.
08. Việt Nam, nơi Chiến Trường Trắc Nghiệm, 1966.
09. Biện Chứng Giải Thoát trong Tư Tưởng Ấn Độ, 1966.
10. Biện Chứng Giải Thoát trong Giáo Lý Trung Hoa, 1967.
11. Nguyên Tử Hiện Sinh và Hư Vô, 1969.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN Ở HOA KỲ:
01. Lăng Kính Đại Thừa, 1982. 02. Tánh Không và Kinh Kim Cang, 1983.
03. Lăng Nghiêm Ảnh Hiện, 1983. 04. Nguồn Thiền Như Huyễn, 1984.
05. Mật Tông và Kinh Đại Thừa, 1986. 06. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 1, 1988
07. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 2, 1989. 08. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 3, 1991.
09. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 4, 1992. 10. Ma Tâm và Ma Sự của người tu, 2001

Ông mất ngày 07 tháng 05 năm 2000 tại Orange County, California, Hoa Kỳ.

 

TRẦN HỒNG CHÂU (1921-2003)

Thi sĩ TRẦN HỒNG CHÂU tức Giáo sư NGUYỄN KHẮC HOẠCH, sinh năm 1921, tại Hưng Yên, mất năm 2003 tại California, Hoa Kỳ.

Học tại Trung Học Khải Định, Huế (1936-1943) rồi Trường Đại Học Luật Hà Nội cho tới năm 1945.

Xuất ngoại: Học Đại Học Sorbonne, Paris, đậu Cử nhân Văn Chương năm 1950, và Tiến Sĩ Văn Chương Quốc Gia (Doctorat d’Etat) năm 1955.

Tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Quốc Tế Học thuộc Đại Học Luật Khoa Paris (Institut des Hautes Études Internationales de la Faculté de Droit), Paris, 1952.

Tốt nghiệp Trung Tâm Âu Châu Học thuộc Đại Học Nancy (Centre D’Etude Européennes, Université de Nancy) Pháp quốc, 1957.

Về nước năm 1957, gia nhập ban giảng huấn Đại Học Văn Khoa Saigon, phụ trách các môn Văn chương Pháp và Văn chương Việt Nam. Đồng thời cũng giảng dậy tại Đại Học Sư Phạm Saigon, Học Viện Quốc Gia Hành chính và Viện Đại Học Huế.

Được bầu làm Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Saigon từ 1965 đến 1969.

Giáo sư biệt thỉnh về văn chương Pháp và văn chương, văn hoá Việt Nam tại Southern Illinois University trong thời gian 1970-1974.

Thành viên của Ủy Ban điển chế văn tự và Ủy Ban soạn thảo từ điển Bách khoa Việt Nam (1968-1970). Thành viên Hội Đồng Viện Đại Học Saigon từ 1958 đến 1970. Được tưởng thưởng Văn Hoá Giáo Dục Bội Tinh (1968).

Thành viên của các hiệp hội văn hoá giáo dục tại quốc ngoại và quốc nội: Modern Languages Association từ 1971, Association of American University Professors từ 1973, Association for Asian Studies từ 1971, American Oriental Society từ 1973, Societé des Etudes Indochinoises (1961-1970), Hội Việt Nam liên lạc Văn hoá Á châu (1958-1961).

Đã dự một số hội nghị về văn hoá giáo dục ở trong và ngoài nước: Nhật (Đại Học Keio, 1960), Ấn độ (New Delhi, 1965), Đài Loan (Đài bắc, Việt Trung Hoa học, 1969). Tham quan một số Đại học Đại Hàn (1967) và Hoa Kỳ (1966 và 1968).

Khai đường mở lối cho Viện Việt Học: Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đã được Hội Đồng Viện Việt Học mời vào Ban Cố Vấn từ ngày thành lập Viện, 26 tháng 2, năm 2000 và được mời làm Viện Trưởng Viện Việt Học (2001-2003), California.

Le Japon et le Traité de Paix (Nhật Bản và Hoà Ước), Paris, 1952.
Le Roman Vietnamien au 18e et 19e Siècle (Tiểu Thuyết Việt Nam Thế Kỷ 18 và 19), Paris, 1955.
Les Relations Américano-japonaises depuis 1951 (Quan hệ Nhật-Mỹ từ 1951), Paris, 1957.
Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hoá Giáo Dục, (biên khảo, phê bình), Lửa Thiêng, Saigon, 1970.
Thành Phố Trong Hồi Tưởng (tùy bút), An Tiêm, Los Angeles,1991.
Nửa Khuya Giấy Trắng (thơ), Thanh Văn, Los Angeles, 1992.
Nhớ Đất Thương Trời (thơ), Thế Kỷ, Los Angeles, 1995.
Hạnh Phúc Đến Từng Phút Giây (thơ) Văn Học, Los Angeles, 1999.
Dăm Ba Điều Nghĩ về Văn Học Nghệ Thuật (tiểu luận), Văn Nghệ, 2001.
Vietnam Culture Series (Series Editor), Việt-Học Publishing, 2001-2003
Để Tưởng Nhớ Nguyễn Du (thơ), Viện Việt Học, 2002
Suối Tím (thơ), Văn Nghệ, 2003
Tuyển tập Trần Hồng Châu (thơ, tùy bút, tiểu luận), Viện Việt Học, 2004

 


ĐẶNG TRẦN HUÂN (1929-2003)
Đặng Trần Huân sinh ngày 7-6 -1929, cựu Thiếu tá QLVNCH, làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến, ngành thông tin báo chí. Khởi viết năm 1953. Ông xuất thân sĩ quan Bảo chính đoàn từ Hànội trước 1954, (sau là Bảo An ), từng là cấp chỉ huy của sĩ quan báo chí Lê Cự Phách (tức Du Tử Lê ) – Ông chuyển sang làm báo chuyên ngành quân đội, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến – Quân Lực VNCH. Bị đi tù cải tạo ở miền Bắc, khi được trả tự do, Ông sang định cư tại Hoa kỳ, diện H.O năm 1992.

Ông là tác giả CHUYỆN CẤM ĐÀN BÀ ( tập 1 và 2) , HẢI ĐẢO THẦN TIÊN (dịch), THÀNH PHỐ BUỒN THIU ( bút ký ). Sang Hoa Kỳ, tự xuất bản HÀNH TRÌNH MỘT HÁT-Ô (Văn Mới 1995 ) NHỮNG NGƯỜI THÍCH DẤU HUYỀN ( 1998) CHỮ NGHĨA BỀ BỀ ( 2000). Ông qua đời ở Hoa Kỳ ngày 21 tháng 3 năm 2003.

 


ĐỖ NGỌC YẾN (1941-2006)
Ông là người sáng lập và cũng là chủ nhiệm đầu tiên của Nhật báo Người Việt, tờ báo lâu đời nhất và cũng lớn nhất tại hải ngoại. Ông cũng là một trong những người góp phần tạo lập ra khu Little Saigon tại Quận Cam, California.

Ông bắt đầu viết báo khi còn đi học và là chủ bút tờ báo ở trường Trương Vĩnh Ký. Khi vào đại học Văn khoa, ông trở thành một đại diện trong ban Chấp hành Sinh viên và đã tổ chức những cuộc xuống đường đòi lật đổ tướng Nguyễn Khánh năm 1964. Năm sau ông bắt đầu làm việc với International Voluntary Service (IVS), một hội thiện nguyện Hoa Kỳ, vận động và tổ chức thanh niên sinh viên giúp tổ chức này phân phối thực phẩm cho đồng bào bị nạn bão lụt ở miền Trung.

Từ năm 1964 ông Ðỗ Ngọc Yến viết bài cho các nhật báo Sống, Sóng Thần, Ðại Dân Tộc, tạp chí Văn Nghệ, tuần báo Ðời, và nhiều tờ báo khác. Bắt đầu từ thập niên 1970 ông cộng tác với nhiều phóng viên các báo ngoại quốc hoạt động tại Việt Nam. Ngày 26-04-1975, ông và vợ cùng 3 con rời Việt Nam và định cư ở Hoa Kỳ.

Ông thành lập tờ báo Người Việt (vào cuối năm 1978 ban đầu là tuần báo, tới 1985 thì trở thành nhật báo). Ông cũng đứng vai trò trung gian chuyển đạt quan điểm người Việt tị nạn đến với người Mỹ qua báo chí Mỹ. Ông mất ngày 17 tháng 8- 2006 tại bệnh viện Fountain Valley, miền Nam California.

 


THANH TÂM TUYỀN (1936-2006)
Nhà thơ, nhà văn Thanh Tâm Tuyền, tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13-3-1936, tại Vinh, Nghệ An. Từ 16 tuổi đã đi dạy học tại Hà Đông, viết truyện đăng trên báo Thanh Niên tại Hà Nội. Từ 1954 ông hoạt động trong Tổng Hội Sinh viên Hà Nội, chủ trương nguyệt san Lửa Việt, rồi vào Nam.

Tại Sài Gòn, ông làm cho các báo Dân Chủ, Người Việt và tham gia ban biên tập tạp chí Sáng Tạo (1956-1960) do Mai Thảo đứng tên, có ảnh hưởng lớn trên văn học Việt Nam suốt một thập niên.

Do động viên năm 1962, Ông hoạt động trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, công tác huấn luyện văn hóa, cấp bực cuối cùng là đại úy. Từ 1975 bị đi học tập nhiều năm tại nhiều trại cải tạo miền Bắc. Sau đó sang định cư tại Hoa Kỳ.

Đã xuất bản khoảng mười tác phẩm. Ba tập thơ : Tôi không còn cô độc (1956), Liên – Đêm – Mặt trời tìm thấy (1964, Sài Gòn), Thơ ở đâu xa (1990, Mỹ). Ba truyện : Bếp Lửa (1957) ; Khuôn Mặt (1964), Dọc đường (1967).Ba tiểu thuyết : Cát lầy(1966), Mù Khơi (1970), Tiếng động (1970). Một vở kịch ngắn : Ba Chị Em (1965). Một phiếm luận(1970). Ông còn nhiều tác phẩm chưa xuất bản, như tiểu thuyết Ung Thư đăng nhiều kỳ trên báo Văn, Sài Gòn.

Ông qua đời lúc 11 giờ 30 ngày 22-3-2006 tại thành phố St Paul, Minnesota, Hoa Kỳ, nơi ông cư ngụ, hưởng thọ 70 tuổi.

 


HOÀNG ANH TUẤN (1932 – 2006)
Hoàng Anh Tuấn là một nhà đạo diễn và nhà văn sinh năm 1932 tại Hà Nội. Năm 17 tuổi ông du học sang Pháp đến năm 1958 thì về lại Việt Nam sau khi tốt nghiệp trường điện ảnh IDHEC (L’Institut des hautes études cinématographiques) ở Paris.

Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo chí ở Sài Gòn. Năm 1965 ông được bổ nhiệm làm Quản đốc Đài Phát thanh Đà Lạt. Tên tuổi của của ông gắn liền với ngành điện ảnh trong vai trò đạo diễn. Bốn cuốn phim có sự đóng góp của ông là

Ngàn năm mây bay(1963), dựa theo tiểu thuyết của Văn Quang, hãng Thái Lai sản xuất với các diễn viên Lê Quỳnh, Bích Sơn, Bích Thủy, Phạm Huấn
Hai chuyến xe hoa(1961) dựa trên tiểu thuyết Hai chuyến xe hoa của Nguyễn Bính Thinh và tuồng cải lương của Thái Thụy Phong; hai diễn viên chính trong phim là Thanh Nga và Thành Được
Nước mắt đêm xuân với các diễn viên Mai Trường, Nguyễn Long, Lệ Quyên và Khánh Ly.
Xa lộ không đèn(1972) với các diễn viên Thanh Nga, Hoài Trung, Trang Thanh Lan, Năm Châu

Sau năm 1975 ông bị đi tù cải tạo đến năm 1979 thì xuất cảnh sang Pháp. Năm 1981 ông sang định cư ở Hoa Kỳ rồi mất năm 2006 ở San Jose, California.

Tác phẩm của Hoàng Anh Tuấn :

Ly nước lọc– kịch
Hà Nội 48– kịch
Về Provence– tập thơ
Yêu em, Hà Nội– tập thơ
“Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội” – nhạc soạn cùng với Phạm Đình Chương.

 

VƯƠNG ĐỨC LỆ (1937-2008)
Ông tên thật là Lê Ðức Vượng, sinh ngày 15 tháng 11, 1937 tại Bạch Mai, Huyện Hoàn Long, Tỉnh Hà Đông.

– Học Trung Học Chu Văn An Hà Nội và sau 1954, tại Sài Gòn. Đã theo học Luật Khoa và Văn Khoa.

– Năm 1962, ông bắt đầu đi dạy, sau đó làm Ký Giả cho Việt Nam Thông Tấn Xã, rồi làm Giám Đốc Đài Phát Thanh Long An rồi làm Biên Tập Viên cho Đài Phát Thanh Sài Gòn.

– Năm 1989, ông tham gia nhóm Diễn Đàn Tự Do (Đoàn Viết Hoạt), bị bắt và bị giam cho tới cuối năm 1995.

– Định cư tại Hoa-Kỳ, Tiểu Bang Virginia từ năm 2000, hoạt động với nhà xuất bản Tủ Sách Tiếng Quê Hương (Uyên Thao), Tổng Thư Ký Nguyệt San Kỷ Nguyên Mới – Hoa Thịnh Đốn, và viết bài bình luận cho Đài Phát Thanh Sài Gòn Houston (Texas).

– Ông qua đời ngày 20 tháng 1, 2008 tại Annandale, Virginia.

TÁC PHẨM ÐÃ XUẤT BẢN:

– Hoa Mười Phương, tuyển tập thơ với 14 tác giả, Sài Gòn 1959
– Ðường Lên Thiên Thai, Thơ, Sài Gòn 1962
– 40 Bài Thơ của Mai Trung Tĩnh và Vương Ðức Lệ, Sài Gòn 1960 [Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc (1960-1961)]
– Tình Thơ Vương Ðức Lệ, Sài Gòn 1970
– Thiên Nga Trên Ngọn Ðỉnh Trời, Sài Gòn 1974
– Thơ Vương Ðức Lệ, Tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia 2000
– Thơ Tình Vương Ðức Lệ, Tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia 2003
– Thơ Giữa Đời Thường, Tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia

 


PHẠM VIỆT TUYỀN (1926-2009)
Nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà báo Phạm Việt Tuyền, bút hiệu Thanh Tuyền, sinh ngày 15 tháng Tám, năm 1926. Ông từng là Chủ nhiệm nhật báo Tự Do kiêm Giám đốc Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do. Ông cũng là Tổng Thư Ký của Trung Tâm Văn Bút VN trong nhiều nhiệm kỳ. Tác phẩm của ông gồm những cuốn“Trên Ðường Phụng Sự,” (Kịch, Xb năm 1947) “Nghệ Thuật Viết Văn,”(Biên khảo, Xb năm 1952) “Phá Lao Lung,” (Thơ, Xb năm 1956) “Quan Ðiểm Về mấy Vấn Ðề Văn Hóa,” (Biên khảo, Xb năm 1953) hay “Phương Pháp Nghị Luận, Phân Tích và Phê Bình Văn Chương,” (Biên khảo, Xb năm 1969).. vân vân…

Trong lãnh vực giáo dục, ông là giáo sư dạy chứng chỉ dự bị ban Việt Hán, ở Ðại Học Văn Khoa, Sài gòn; hay chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, cho năm thứ nhất ở Ðại Học Văn Khoa, Huế. Ðầu thập niên 1980, ông chọn định cư tại thành phố Strasbourg, Pháp. Ông mất ngày 16 Tháng Hai, năm 2009.

 


TRẦN TAM TIỆP (1928-2009)
Nhà báo Trần Tam Tiệp sinh ngày 11-11 -1928.

Ông tốt nghiệp khoá 2 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và được đi tu nghiệp sĩ quan phi hành tại Pháp.

Trước 1975, với cấp bậc Trung Tá và bút hiệu Đạo Cù, ông là một trong những chủ biên tập san Lý Tưởng của Không Quân và là người viết quen thuộc của báo giới Việt Nam.

Sau Tháng Tư 1975, ông cùng với một số nhà văn định cư tại Pháp như Minh Đức Hoài Trinh, Nguyên Sa Trần Bích Lan, Trần Thanh Hiệp… nhanh chóng thành lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, liên lạc cộng tác và được Văn Bút Quốc Tế chính thức nhìn nhận, liên tục cho tới ngày nay.

Trần Tam Tiệp được Chủ Tịch Văn Bút Thế Giới thời ấy là Thomas Von Vegesack đặc biệt quí trọng, vì những cống hiến không mệt mỏi của ông trong việc kêu gọi quốc tế tranh đấu bảo vệ các nhà văn miền Nam bị cộng sản bắt giam không xét xử.

Chính là nhờ sự vận động bền bỉ của ông mà tổ chức “The International PEN Writers in Prison Committee (WiPC) đã dành cho các nhà văn, nhà báo Việt Nam bị CS cầm tù nhiều trợ giúp ý nghĩa hoặc can thiệp bảo trợ.

Ông bỏ tiền túi và kêu gọi anh em gởi tiền về để giúp đỡ các đồng đội và văn nghệ sĩ đang bị cộng sản cầm tù trong những năm đó và còn vận động các quốc gia Âu Châu như Ý Đại Lợi và Thụy Điển cho cuộc tranh đấu về Tự do và Hoà Bình cho nhân loại.

Ông đã tạ thế vào ngày 23 tháng 12 năm 2009, Paris, Pháp quốc, hưởng thọ 81 tuổi.

 

TRƯƠNG BẢO SƠN (1916-2010 )

Ông tên thật là Trương Cam Bỉnh. Sinh ngày 02 tháng 03 năm 1916 tại Hà Nội . Ông hoạt động cách mạng trong Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới danh xưng Trương Bảo Sơn và văn hóa với bút hiệu Bảo Sơn. Ông còn có vài bút hiệu khác như Cẩm Bình, Ngọc San, Trường Sơn. Ông là Hội viên Trung tâm Văn Bút VN trong Hội Văn Bút Quốc Tế (P.E.N International).

Ông cộng tác với nhà văn Nhất Linh thành lập nhà xuất bản Phượng Giang, Đời Nay, xuất bản giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay. –

Năm 1959, Chủ nhiệm giai phẩm Tân Phong.

Năm 1965, Giám đốc chính trị tạp chí Đông Phương (Chủ nhiệm Nguyễn thị Vinh)

Năm 1978 ông vượt biển tới Pulau Bidong (Mã Lai) và định cư tại Gia Nã Đại từ 1979.

Năm 1988, ông cùng Nguyễn Khắc Ngải và Đỗ Quý Toàn thành lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trung tâm Quebec Canada. –

Ông mất ngày 23 tháng 05 năm 2010 tại Montréal-Canada

Tác phẩm dịch:

1. Tình Nghĩa Vợ Chồng.
2. Con Nai Tơ
3. Một Bản Đàn.
4. Gió Đông, Gió Tây.
5. Ngư Ông Và Biển Cả.
6. Đỉnh Gió Hú.
7. Chiếc Lá Cuối Cùng.
8. Viên Ngọc Trai.
9. Trà Đạo.
10. Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith
11. Mặc Cho Gió Dập Tuyết Vùi.
12. Ngược Dòng Thời Gian.
13. Nội Cỏ Của Thiên Đường.

 


CAO XUÂN HUY (1947-2010)

Cao Xuân Huy sinh tháng 9 năm 1947, quê nội ở Bắc Ninh, quê ngoại ở Hà Nam. Sau hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, gia đình ông cũng bị chia ly. Thân phụ ông theo kháng chiến, trở về Hà Nội, chị ông không vô Nam, ở lại với bố. Còn ông thì theo mẹ di cư vào Nam.

Ông nhập ngũ năm 1968, là cựu Trung Úy Ðại Ðội Phó ÐÐ 4 thuộc Tiểu Ðoàn 4 Thủy quân Lục chiến. Tại mặt trận Quảng Trị vào tháng 3, 1975, ông bị bắt làm tù binh và bị cầm tù 5 năm.

Năm 1982 ông vượt biên và đến Mỹ một năm sau đó.

Năm 1985, ông in cuốn hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng”, là cuốn hồi ký được viết năm 1985, ghi chép lại những diễn biến của mặt trận Thừa Thiên- Huế cho đến khi tác giả bị bắt làm tù binh. Cuốn sách đã được tái bản đến 10 lần và có mặt trên 58 thư viện lớn trên toàn thế giới.

Năm 2005, nhà văn Cao Xuân Huy làm chủ biên tạp chí Văn Học (kế tục vai trò của nhà văn Nguyễn Mộng Giác) đến tháng 4 năm 2008 Văn Học phát hành số 236 thì đình bản vì lý do ông bị ung thư mắt, sức khỏe suy yếu nên không thể chăm lo cho tờ báo. Ngày 12-11-2010 nhà văn Cao Xuân Huy từ trần sau một thời gian dài bệnh nặng. Bốn tháng trước khi qua đời, ông cho ra mắt cuốn “Vài mẩu chuyện” do tạp chí Văn Học xuất bản.

 


THẢO TRƯỜNG (1936-2010)
Nhà văn Thảo Trường tên thật Trần Duy Hinh, sinh ngày 25-12-1936 (giấy tờ ghi 1938) tại Nam Định trong một gia đình đông con, ông là người thứ chín. Thân phụ ông mất sớm, năm 1954 ông di cư vào Nam để lại mẹ và người chị ở quê nhà lo phụng dưỡng ông nội và coi sóc mồ mả tổ tiên. Nhưng sau đó, mẹ ông bị đấu tố, bị tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn, phải ra ở ngoài gò đất giữa cánh đồng nước mênh mông. Vào Nam, nhà văn Thảo Trường gia nhập quân đội theo học khóa 6 Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, và chính thức viết văn.

Truyện ngắn “Hương gió lướt đi” là tác phẩm đầu tiên của ông đăng trên tạp chí Sáng Tạo do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút. Nhà văn Thảo Trường tham dự chiến tranh Việt Nam suốt 17 năm. Ngày 30/4/1975 ông đi tù gần 17 năm, trải qua 18 nơi giam giữ. Sau khi ra tù một năm, ông sang Mỹ đoàn tụ với vợ con. Ông đã qua đời tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ, ngày 26-8-2010 vì bệnh ung thư gan, thọ 74 tuổi

Các tác phẩm đã xuất bản gồm:
Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp (1966), Vuốt Mắt (1969), Chung Cuộc (1969, xuất-bản chung với Du Tử Lê), Th. Trâm (1969), Bên Trong (1969), Ngọn Đèn (1970), Mé Nước (1971), Cánh Đồng Đã Mất (1971), Bên Đường Rầy Xe Lửa (1971), Người Khách Lạ Trên Quê Hương (1972), Lá Xanh (1972), Hà-nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng (1973) , Cát (1974), Đá Mục (1998), Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả (1999), Mây Trôi (2002) , Miểng (2005), Những miểng vụn của tiểu thuyết (2008).

 

PHẠM CÔNG THIỆN (1941-2011)

Phạm Công Thiện sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Thiên Chúa Giáo. Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, và Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh ngữ tinh âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo và tạp chí như Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn. Năm 1960, ông khởi sự viết cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học khi chưa được 19 tuổi.

Ðầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc “khủng hoảng tinh thần.” Tại đây ông quy y ở chùa Hải Ðức, lấy pháp danh Nguyên Tánh. Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.

Từ năm 1966-1968, ông là giám đốc soạn thảo chương trình giảng dạy cho tất cả các phân khoa của Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1968-1970, giữ chức trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện đại học này. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Ðức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông lập gia đình và sau đó làm giáo sư triết học Tây phương của Viện Ðại học Toulouse. Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, làm giáo sư ở College of Buddhist Studies. Từ khoảng năm 2005, ông sang cư ngụ tại Houston, tiểu bang Texas cho đến lúc qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011.

 

NGUYỄN CHÍ THIỆN (1939-2012)

Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 2, 1939 là một nhà thơ phản kháng chính thể CSVN. Ông đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản bắt giam tổng cộng 27 năm tù vì tội “phản động”.

Sinh trưởng tại Hà Nội, ông có một thời dạy học. Trong một bài giảng môn Sử năm 1960 do giảng bài không theo quan điểm nhà Nước nên ông bị bắt vì tội “phản tuyên truyền”.

Ông được thả năm 1964. Đến năm 1966 ông lại bị bắt giam vì làm thơ đả phá chế độ. Lần này ông bị giam đến năm 1977.

Năm 1979 Nguyễn Chí Thiện tìm cách chuyển tập thơ do ông sáng tác cho nhân viên sứ quán Anh tại Hà Nội. Vì lý do trên ông lại bị bắt. Đến ngày 28 tháng 10 năm 1991 ông được ra tù.

Năm 1994 ông được tổ chức Theo dõi Nhân quyền trao giải thưởng Hellman/Hammett.

Tháng 1 năm 1995 ông được xuất cảnh sang Hoa Kỳ qua sự vận động của Đại tá Không quân Hoa Kỳ Noboru Masuoka. Nhưng số phận nghiệt ngã, tên tuổi của ông lại bị những ý đồ đen tối vùi giập một thời gian dài cho đến khi ông qua đời ngày 2 tháng 10 năm 2012 tại Santa Ana, quận Cam, California, Hoa Kỳ. Sau đây là lời nhận định của nhà phê bình văn học Thụy Khuê :

“Nguyễn Chí Thiện, trong sâu thẳm của thi ca, hình hài, và ngôn ngữ, trong tác phong, trong cách diễn đạt, là một nhân cách thật, một con người thật. Chỉ vì nói thật mà mắc vòng tù tội. Một con người ngây thơ, thành thật, ngơ ngác, vấp ngã trước bao giả trá, tàn ác của chế độ độc tài. Tính thật ấy toát ra trong lời nói, trong câu văn, không hoa mỹ, không vòng vo. Chất thật ấy bao trùm không gian, bọc lấy người nghe, như một điệu buồn, như một hồn ma không đất đậu trên quê hương mà gian dối đã thở thành sự thật. “

 


TUẤN HUY (1933-2012)
Nhà văn Tuấn Huy tên thật là Nguyễn Năng Toàn sinh năm 1933 tại Hà Nội. Về sự nghiệp văn chương, Tuấn Huy được ghi nhận là thành công rất sớm. Trong 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, ông có một số tiểu thuyết vẫn được nhiều người nhắc đến như: Nỗi Buồn Tuổi Trẻ, Ngày Vui Qua Mau, Yêu trong bóng tối, Hương Cỏ May, Vòng tay Chờ Ðợi, ..v…v…

Vượt biển tìm tự do, trong thời gian tạm trú tại trại tỵ nạn, Tuấn Huy viết truyện dài“Bến Lỡ.” Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, ông đã xuất bản thêm nhiều tác phẩm mới như “Dòng Sông Trong Giọt Nước,” “Thềm Sương Mù” (tiểu thuyết).“Xuôi Dòng Trầm Cảm” (tâm cảm) và, “Những Sợi Mưa Hư Ảo,” tiểu thuyết. Tác phẩm này tuy đã được in thành sách, nhưng ông chú thích “Ấn phẩm đặc biệt này dành riêng cho tác giả không bán.” Ngay nơi trang đầu của tiểu thuyết (có thể coi là sau cùng), nhà văn Tuấn Huy ghi “Thương nhớ Uyển Hương và gửi các con…” Tưởng cũng nên nói thêm, Uyển Hương là khuê danh người bạn đời của tác giả “Vòng Tay Chờ Ðợi.” Bà mất trong chuyến vượt biên hồi tháng 7 năm 1981 ở Biển Ðông.

Ông qua đời ngày 24 tháng 2 năm 2012, tại miền Nam California.

 


NGUYỄN MỘNG GIÁC (1940-2012)
Ông sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940 tại tỉnh Bình Định, miền Trung Việt Nam.

Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tiếp tục học tại trường Cường Để (Quy Nhơn), trường Võ Tánh (Nha Trang), rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An (Sài Gòn).

Sau khi học một năm ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông ra Huế học Đại học Sư phạm ban Việt-Hán. Năm 1963, ông tốt nghiệp thủ khoa, khóa Nguyễn Du. Ngay năm ấy, ông được điều đến giảng dạy tại trường Đồng Khánh ở Huế. Năm 1965, ông được đổi vào Quy Nhơn làm Hiệu trưởng trường Cường Để.

Năm 1973, ông được thăng làm Chánh sở Học Chánh tỉnh Bình Định. Năm 1974, ông chuyển vào Sài Gòn làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục thuộc Bộ Giáo Dục cho đến 1975.

Về sự nghiệp văn chương, ông bắt đầu viết văn từ năm 1971, đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. Năm 1974, truyện dài Đường Một Chiều của ông được giải thưởng Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Tháng 11 năm 1981, sau khi vừa viết xong trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ, ông cùng con trai vượt biển, đến được đảo Kuku của Indonesia. Trong mấy tháng ở đây, ông đã viết một số truyện ngắn mà sau này xuất bản thành cuốn Ngựa Nản Chân Bon, và tập I của bộ trường thiên tiểu thuyếtMùa Biển Động.

Tháng 11 năm 1982, ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, cộng tác với các báo: Đồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật.

Từ năm 1986, ông làm Chủ bút tạp chí Văn Học ở California, Hoa Kỳ. Đến tháng 8 năm 2004, ông phải ngưng công việc làm báo vì phát hiện bị ung thư gan.

Ông đã qua đời ngày 2 tháng 7 năm 2012 tại tư gia ở thành phố Westminster (Orange County, California, Hoa Kỳ), thọ 72 tuổi.

 


THẾ UYÊN (1935-2013)
Nhà văn Thế Uyên tên thực là Nguyễn Kim Dũng, sinh năm 1935 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông là em ruột các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, và là chị nhà văn Thạch Lam.

Cùng với người anh ruột là nhà văn Duy Lam, Thế Uyên khi vừa qua tuổi 20, tên tuổi đã hiện diện trong làng báo. Ông là người sáng lập tạp chí Thái Độ, như là một điểm khởi hành mới trong hành trình chữ nghĩa của chính bản thân ông. Ông là tác giả các tác phẩm nổi tiếng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, như Mười Ngày Phép của một người lính, Tiền Đồn

Nhà văn Thế Uyên tốt nghiệp Trung học Chu Văn An, theo học tại Đại học Văn Khoa và Sư Phạm, trở thành giáo sư Việt văn, dạy tại nhiều trường trung học công lập ở miền Nam, rồi thuyên chuyển lên dạy ở Ban Mê Thuột trước khi được động viên vào khoá 14 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trước năm 1975 ông đã xuất bản 21 cuốn sách, kể cả dịch cuốn Exodus của Leon Uris qua tiếng Việt là tác phẩm Về Miền Đất Hứa rất nổi tiếng được nhiều người tìm đọc

Sau 1975 ông bị đi tù cải tạo rồi đi định cư tại tiểu bang Washington Hoa Kỳ vào năm 1987. Ở đây ông vừa viết văn vừa đi học rồi đi làm. Ông đã có thêm mười tác phẩm được xuất bản: Sài Gòn sau mười hai năm, Con đường qua mùa Đông, Nghĩ trong mùa Xuân, Tuyển tập truyện ngắn Thế Uyên, Tuyển tập dâm tình của các nhà văn nữ Hoa Kỳ, Khu vườn mùa mưa, Nhà văn già và cô bé gù, Không một vòng hoa cho người chiến bại, Những người Mỹ chung quanh chúng ta.

Nhà văn Thế Uyên đã qua đời ngày 11 tháng 6, 2013 tại tư gia ở Bothell, tiểu bang Washington thọ 78 tuổi.

 

NGUYỄN XUÂN HOÀNG (1940-2014)

Nguyễn Xuân Hoàng sinh ngày 7 tháng 7 năm 1940 tại Nha Trang (Khánh Hòa).

Thời niên thiếu, ông học ở trường Võ Tánh (Nha Trang), trường Petrus Ký (Sài Gòn).

Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Văn Khoa (Triết học), Viện Đại học Đà Lạt (1958-1961), rồi giảng dạy môn Triết tại trường trung học Ngô Quyền ở Biên Hoà (1961-1962), tại trường Pétrus Ký ở Sài Gòn (1962-1975). Ngoài ra, ông còn làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn (1972-1974).

Năm 1985, ông đến Hoa Kỳ và định cư tại San Jose.

Năm 1986-1997, ông làm tổng thư ký báo Người Việt Daily News California).

Năm 1989- 1994, ông còn là tổng thư ký tạp chí Thế kỷ 21 (California) thuộc công ty Người Việt.

Năm 1994, ông ở trong ban chủ biên tạp chí Văn Học. Tháng 9 năm 1996, ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn, đồng thời ông làm tổng thư ký cho báo Việt Mercury trực thuộc nhật báo San Jose Mercury News của Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 11 năm 2005. Sau đó ông chủ trương báo Việt Tribune.

Ông cũng từng là giảng viên (lecturer) giảng dạy môn Văn học Việt Nam đương đại tại Đại học California-Berkeley. Sau một thời gian định cư tại San Jose (Bắc California), ông qua đời tại đây vào ngày 13 tháng 9 năm 2014.

Tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng đã xuất bản gồm:

Tập truyện ngắn
Mù sương (1966)
Sinh nhật (1968)
Truyện dài:
Bụi và rác (1996)
Khu rừng hực lửa (1972)
Kẻ tà đạo (1973)
Người đi trên mây (1987)
Sa mạc (1989)
Các thể loại khác
Ý nghĩ trên cỏ (tiểu luận, 1971)
Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu (tùy bút, 1974)
Căn nhà ngói đỏ (tạp ghi, 1989)…

 


NGUYỄN HỮU NHẬT  (1942-2014)
Nhà văn, nhà thơ, họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật sinh ngày 22 tháng 6 năm 1942 tại La Khê, Hà Ðông, sống tại Hà Nội từ khi lên bốn tuổi. Cùng gia đình di cư vào Nam năm 1955.

Từ năm 1967 đến năm 1975 ông phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Sau 1975 ông kết hôn với nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Ông bị đi tù cải tạo hai lần: lần thứ nhất từ năm 1975 đến năm 1982, lần thứ hai từ năm 1984 đến 1988.

Năm 1989 ông được định cư tị nạn tại Na Uy, sống cùng gia đình tại Oslo. Tại đây ông điều hành tủ sách văn nghệ Sài Gòn Nghĩa Thư và tạp chí Hương Xa cho đến khi qua đời ngày 11 tháng 12 năm 2014.

Tác phẩm đã xuất bản:

Quán đời (tiểu thuyết, 1971)
Hạc sen (thơ, 1991)
Chí tôn ca (thơ, 1995)
Đã đời (thơ, 1995)
Cuộc chiến (thơ, 1998)
Hoa đào năm ngoái (tiểu thuyết lịch sử, 2009
)

(Chân dung những Nhà Văn – Nhà Thơ đã khuất núi)

TỪ NĂM 2015 TỚI 2017

MẶC ĐỖ (1915-2015)

Mặc Đỗ — tên thật là Đỗ Quang Bình – là nhà văn, nhà báo, dịch giả, là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975.

Ông sinh năm 1915 tại Hà Nội. Học Luật nhưng không hành nghề và chọn viết văn.. Khởi đầu viết các truyện ngắn, kịch và dịch sách đăng báo.

Sau 1954 di cư vào Nam, cùng với Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, xuất bản sách của các thành viên trong nhóm.

Ông cũng đã cùng với các nhà văn Vũ Khắc Khoan, Tam Lang Vũ Đình Chí, nhà thơ Đinh Hùng, Như Phong Lê Văn Tiến, Mặc Thu Lưu Đức Sinh sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam.

Sau 1975 ông định cư ở Mỹ và từ trần ngày 20 tháng 9 năm 2015 tại Austin, tiểu bang Texas – Hoa Kỳ.

Tác phẩm:

Bốn Mươi (1956), Siu Cô Nương (1958),
Tân Truyện I (1967),
Tân Truyện II (1973),
Trưa Trên Đảo San Hô (2011),
Truyện Ngắn (2014),
chỉ trừ Tân Truyện II (1973) do Nxb Văn, sách Mặc Đỗ đều xuất bản với tên Nxb Quan Điểm.

Dịch thuật:

Lão Ngư Ông và Biển Cả / Ernest Hemingway (Quan Điểm 1956);
Con Người Hào Hoa / F.Scott Fitzgerald (Quan Điểm 1956);
Một Giấc Mơ / Vicki Baum (Cảo Thơm 1966);
Người Vợ Cô Đơn / Francois Mauriac (Cảo Thơm 1966);
Thời Nhỏ Trong Gia Đình Luvers / Boris Pasternak (Văn 1967);
Tâm Cảnh / André Maurois (Văn 1967);
Anh MÔN / Alain-Fournier (Cảo Thơm 1968);
Vùng Đất Hoang Vu / Leo Tolstoi (Đất Sống 1973);
Giờ Thứ 25 / Virgil Georghiu (Đất Sống 1973).

 

VÕ PHIẾN (1925-2015)

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1925 tại huyện Phù Mỹ, Bình Định; Ông là tác giả của 4 tiểu thuyết, 9 tập tuỳ bút, nhiều tập truyện ngắn, một tập thơ và nhiều tác phẩm phê bình tiểu luận. Ông còn có bút danh là Tràng Thiên.

Năm 1933 Ông theo học trường làng và sau đó học trung học ở Quy Nhơn.

Năm 1942, ông ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn.

Năm 1945, Võ Phiến đi bộ đội cho đến năm 1946 thì ra Hà Nội học trường Văn Lang.

Năm 1948, ông kết hôn với bà Võ Thị Viễn Phố và dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V.

Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin một thời gian rồi chuyển vào lại Quy Nhơn, tại đây ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu là Chữ tình (1956) và Người tù (1957).

Sau đó ông vào làm việc tại Sài Gòn và cộng tác với các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành, Mai, Tân Văn, Bách Khoa…

Năm 1962, lập nhà xuất bản Thời Mới.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông định cư tại Los Angeles rồi Orange County, California Hoa Kỳ.

Ông qua đời ngày 28/09/2015 tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.

Tác phẩm :

Chữ tình (Quy Nhơn, 1956)
Người tù (Quy Nhơn, 1957)
Mưa đêm cuối năm (Sài Gòn, 1958)
Đêm xuân trăng sáng (Sài Gòn, 1961)
Về một xóm quê (Sài Gòn, 1961)
Giã từ (Sài Gòn, 1962)
Thương hoài ngàn năm (Sài Gòn, 1962)
Thư nhà (Sài Gòn, 1963)
Tiểu thuyết hiện đại (1963)
Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (dịch Stefan Zweig)
Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (dịch Andre Mourois)
Truyện hay các nước 1 (dịch với Nguyễn Minh Hoàng)
Truyện hay các nước 2 (dịch với Nguyễn Minh Hoàng)
Một mình (Sài Gòn, 1965)
Tạp bút 1 (Sài Gòn, 1965)
Tạp bút 2 (Sài Gòn, 1965)
Tạp bút 3 (Sài Gòn, 1966)
Đàn ông (Sài Gòn, 1966)
Ảo ảnh (Sài Gòn, 1967)
Phù thế (Sài Gòn, 1969)
Tạp luận (Sài Gòn, 1973)
Chúng ta qua cách viết (Sài Gòn, 1973)
Đất nước Quê Hương (Sài Gòn, 1973)
Ông chồng muôn thuở (dịch Dostoievski)
Thư gửi bạn (Hoa Kỳ, 1976)
Ly hương (viết với Lê Tất Điều, Hoa Kỳ, 1977)
Nguyên vẹn (Hoa Kỳ, 1978)
Lại thư gửi bạn (Hoa Kỳ, 1979)
Văn học Miền Nam, tổng quan (Hoa Kỳ, 1987)
Truyện thật ngắn (Hoa Kỳ, 1991)
Quê (Hoa Kỳ, 1992)
Đối thoại (Hoa Kỳ, 1993)
Viết (Hoa Kỳ, 1993)
Sông và Viết (Hoa Kỳ, 1996)
Thơ thẩn (Hoa Kỳ, 1997)
Văn học Miền Nam, truyện 1 (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, truyện 2 (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, truyện 3 (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, ký (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, tùy bút và kịch (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, thơ (Hoa Kỳ, 1999)
Cảm nhận (Hoa Kỳ, 1999)

 

DƯƠNG KIỀN (1939-2015)

Tên thật cũng là bút hiệu, Ông sinh ngày 28.12.1939 tại Huế.

– 1962, tốt nghiệp đại học Luật Khoa rổi gia nhập Luật Sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm. Kết hôn với ái nữ của dịch giả Trương Bảo Sơn và nhà văn Nguyễn thị Vinh.

– 1961-1963, chủ bút tạp chí Văn Học.

– 1966, được giải thưởng Văn chương toàn quốc với kịch bản «Sân khấu».

– 1968, ông nhập ngũ và là Phó Ủy Viên tại tòa Án Mặt Trận Quân Sự – Nha Trang.

– 1975-1979, Tù cải tạo 3 năm trại Long Giao.

– 1979, vượt biên và định cư tại Na Uy (Norway).

– Ông mất ngày 17-11-2015 tại Oslo, Na Uy.

Tác Phẩm:

1. Thú đau thương (thơ) (Tự xuất bản 1960)
2. Sân khấu (kịch) (nhà x.b Văn Học 1965)
3. Biển trầm lặng (truyện dài) (nhà x.b Đông Phương 1965)
4. Kẻ xa lạ (dịch) (nhà x.b Bốn Phương 1965)
5. Máu của mẹ (truyện ngắn) (nhà x,b Thứ Tư 1966)
6. Người tù sa mạc (dịch) (nhà x.b Thứ Tư 1968)
7. Luật giá thú, tử hệ, và tài sản cộng đồng (biên khảo) (nhà x.b Khai Trí 1965)
8. Mùa gặt giữa hư vô (thơ) (nhà x.b Tiếng Việt 1991)
9. Thế Kỷ 20 (biên niên sử) (nhà x.b Tiếng Quê Hương 2005)

 

PHÙNG NGUYỄN (1950-2015)

Nhà văn Phùng Nguyễn, tên thật Nguyễn Ðức Phùng, sinh năm 1950 tại Quảng Nam. Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường làng, năm 1961 thi đậu vào lớp Ðệ Thất trường trung học Trần Quý Cáp tại Hội An.

– Năm 1968 nhập ngũ.

– Ðến Hoa Kỳ năm 1984, ông theo học cao học quản trị kinh doanh, từng sống và làm việc trong ngành tin học tại California, Hoa Kỳ.

– Ông bắt đầu viết văn từ năm 1994, đã cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, talawas.org, tienve.org, damau.org,…

– Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hợp Lưu (năm 2002), đồng chủ trương tạp chí mạng Da Màu (2006), chủ trương thư viện online Trên Kệ Sách (2008), chủ trương trung tâm ấn hành eBook Kệ Sách (2011).

– Ông qua đời ngày 17 Tháng 11-2015 vì bệnh tim, tại một bệnh viện ở tiểu bang Maryland.

Tác phẩm:

– “Tháp Ký Ức,” NXB Văn, 1998,
– “Ðêm Oakland và Những Truyện Khác,” NXB Văn, 2001.

NGUYỄN ĐỨC LẬP (1945-2016)

Nguyễn Đức Lập, tự là Chánh Phương, sinh năm 1945 tại Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

Bút Hiệu: Nguyễn Đức Lập, Chánh Phương, Hương Giáo, Ngô Phụng Anh, tên rừng Hướng Đạo là Sóc Vui Vẻ.

Ông là con của nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy, Bà Tùng Long Lê Thị Bạch Vân và là bào đệ của nhà thơ Trạch Gầm.

Ông học trung học ở trường Pétrus Ký, là cựu sinh viên luật khoa Đại Học Đường Sài Gòn, và nguyên luật sư Toà Thượng Thẩm, Sài Gòn.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, về làm rẫy ở ấp Phước Lập, xã Phú Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Ông vượt biên tháng 8 năm 1980, ở trại tỵ nạn Palawan, sau đó đến trại chuyển tiếp Bataan, Philippines rồi định cư tại Hoa Kỳ năm 1983.

Đã cộng tác với các báo Tin Việt, Làng Văn (Canada), Hoa Thạnh Đốn Việt Báo, Nhân Văn, Văn Học, Đường Sống, Hoa Sen, Sức Sống, Thời Báo, Trẻ (Dallas).

Ông là Trưởng Hướng Đạo, sinh hoạt trong phong trào Hướng Đạo Việt Nam.

Năm 1999, ông cùng nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, nhà báo Du Miên, giáo sư Trần Lam Giang, nha sĩ Võ Trọng Di thành lập Thư Viện Việt Nam, tại Nam California, hiện tại vẫn còn hoạt động.

Ông từ giã cõi trần vào ngày 29 tháng Hai, 2016, tại Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.

Tác Phẩm Đã Xuất Bản:

Thơ:

Những Đêm Không Ngủ, 1986

Truyện Ngắn:

Cuộc Chiến Tàn Chưa, 1987
Cặp Mắt Quay Lại, 1992
Khung Rào Hẹp, 1992
Lớp Trước, Lớp Sau, 1994

– Truyện Dài:

Kiếm Đạo 1, Bảo Kiếm Tặng Anh Hùng, 1987
Kìếm Đạo 2 Thần Thư Trao Hào Kiệt, 1987
Ngắn Cổ Khó Kêu, 1989
Nhứt Biết Nhì Quen, 1990
Phong Vũ Tiêu Tiêu, Lôi Vũ Động, 1991
Giàn Đậu Mưa Rung, 1992
Trần Ai Khoai Củ, 1994
Mảnh Vụn Một Đời, 1999
Đi Trước Về Sau, 2009

Hương Giáo Đề Thơ, 2016 (Tập đầu tiên ấn hành năm 1990 gom những bài viết trong 5 năm đăng trên tờ Bách Khoa, sau đó Mục Hương Giáo Đề Thơ đăng đều đặn trên tờ Thời Báo của Du Miên). Thay Lời Tựa trong tập I nầy anh viết: “Đây là tập thư của vị thầy giáo làng gởi cho đứa học trò (Lê Văn Cui) cả đời không học hết được túi khôn của thánh hiền…”.

 

TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG (1938-2016)

Tạ Chí Đại Trường là một nhà sử học và là nhà nghiên cứu văn hóa .

Ông sinh ngày 21 tháng 6 năm 1938 tại Nha Trang, là con của nhà Hán học Tạ Chương Phùng vốn là nhà hoạt động phong trào độc lập dân tộc trong thập niên 1940 – 1950 cùng với ông Ngô Đình Diệm.

Năm 1964 Tạ Chí Đại Trường tốt nghiệp bằng Cao học Lịch sử tại Viện Đại học Sài Gòn rồi nhập ngũ. Ông phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1964 cho tới năm 1974 với quân hàm Đại úy.

Năm 1964, Ông viết tác phẩm ‘Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802”, đặt lại vấn đề về vai trò của nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Lịch Sử Nội Chiến tại Việt Nam 1771-1802. Cuốn này được tặng Giải Thưởng Tổng Thống VNCH năm 1970.

Sau năm 1975, ông bị đi cải tạo cho đến năm 1981.

Tháng 8/1994, ông đi định cư tại Hoa Kỳ, cộng tác với một số tạp chí như Văn, Văn Học, Hợp Lưu.

Đầu thập niên 2000, ông về Sài Gòn chữa bệnh và mất ở đó vào ngày 24-3-2016.

Tác Phẩm :

1 Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Nxb. Văn Sử học, Sài Gòn 1973.
2 Thần, người và đất Việt, Nxb. Văn Nghệ, Hoa Kì 1989; Văn Học xb., Hoa Kì 2000.
3 Một khoảnh Việt Nam Cộng hoà nối dài, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1993.
4 Việt Nam nhìn từ bên trong và bên ngoài, bài viết riêng được gộp chung với Nguyễn Xuân Nghĩa, Nxb. Văn Lang, Hoa Kì 1994.
5 Những bài dã sử Việt, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1996.
6 Những bài văn sử, Văn Học xb., Hoa Kì 1999.
7 Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt: Một lối nhìn khác. Bài viết cho Williams Joiner Center (UMASS/Boston) 2002.
8 Sử Việt đọc vài quyển, Văn Mới xb., Hoa Kì 2004.
9 Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, bản thảo bắt đầu 2005. Văn Mới, USA 2009.
10. Người lính thuộc địa Nam Kỳ (1861-1945), bản thảo 1975. Nxb. Tri Thức & Nhã Nam, 2011.

 

VŨ HUY QUANG (1942-2017)

Vũ Huy Quang sinh ngày 9.7.1942 tại Hải-Phòng

Vào Nam năm 1954, đến California tị nạn sau năm 1975.

Trước năm 1975 là một đại uý trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và ông chỉ bắt đầu sự nghiệp sáng tác và biên dịch văn học tại Mỹ.

Ông cộng tác với nhiều tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại dưới các bút hiệu Diệu Phong, Tam Trương, Thăng Long Văn Sĩ.
Sau nhiều năm ở Nam California, ông đến sống tại Pacifica, Bắc California, và mất ở đó vào ngày 14 tháng Giêng năm 2017 sau một thời gian chống trả bệnh ung thư, thọ 74 tuổi

Tác phẩm đã xuất bản :

– Mười Tân Truyện Liêu Trai (1991).
– Câu Chuyện Triết Lý (1992).
– Chín Truyện Ngắn (1992).
– Nơi Trại Trừng Giới (dịch, 1988).
– Đường Lên Trời (dịch, 1989).
– Nhục Bồ Đoàn (dịch, 1990).

 

PHAN LẠC PHÚC (1928-2016)

Nhà Văn, nhà báo Phan Lạc Phúc, bút hiệu Ký Giả Lô Răng, sinh năm 1928, là bào huynh của nhà văn Phan Lạc Tiếp.

Ông tốt nghiệp Khóa 2 Thủ Đức và năm 1955, ông mang cấp bậc trung úy, giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng TĐ 14 Việt Nam, tiếp thu Bình Định.

– Năm 1956 làm việc tại Phòng 5 Bộ TTM.

– Năm 1957, ông được gửi đi học khóa Sĩ Quan Thông Tin Báo Chí (Press Information Officer) tại Ft. Slocum, New York, Mỹ.

– 1958, ông là Phụ tá Trưởng Phòng 5 Bộ TTM và lần lượt đảm trách các chức vụ:

– Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, Bộ Tư Lệnh Hải Quân,

– Sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Thiếu Tướng Dương Văn Minh.

– Năm 1964, Trưởng Khối Huấn Luyện của trường Chiến Tranh Chính Trị.

– Văn phòng của Tướng Trung Hoa Dân Quốc Vương Thăng, cố vấn của Bộ TTM. VNCH về “Lục Đại Chiến.”

– Năm 1965, là Chủ bút của tờ nhật báo Tiền Tuyến và mở mục Tạp Ghi dưới tên Ký Giả Lô Răng.

– Năm 1973, học khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Long Bình.

– Tham Mưu Phó CTCT Quân Đoàn III tại Biên Hòa.

– Biên tập Tập san Quốc Phòng (trường Cao Đẳng Quốc Phòng).

Sau biến cố tháng Tư, 1975, Trung Tá Phan Lạc Phúc đã qua các trại tập trung Long Giao, Suối Máu, ra Bắc ở Liên trại 2 Sơn La, Phù Yên, Thanh Phong, Tân Kỳ (Nghệ Tĩnh), Hà Nam Ninh, sau cùng là Xuân Lộc Z.30D. Ra tù năm 1985.

Năm 1991, vợ chồng ông đến định cư tại Sydney, Úc theo diện đoàn tụ do ái nữ bảo lãnh.

Ông cầm bút trở lại, và cũng với thể loại tạp ghi xuất hiện trên nhiều tờ báo khác tại Úc Châu như Chiêu Dương, Văn Nghệ, Việt Luận, Dân Việt và Ngày Nay (Mỹ), Quê Mẹ (Pháp), Thời Báo (Canada).

Ông qua đời vào ngày 28 tháng 4 -2016 vì đột quỵ tại Sydney (NSW) Australia.

Tác phẩm:

– Bạn Bè Gần Xa (2000,)
– Tuyển Tập Tạp Ghi (2002).

 

BÙI BẢO TRÚC (1944-2016)

Ông sinh năm 1944 tại làng Trình Phổ, tỉnh Thái Bình. Đi học ở tỉnh Hải Phòng năm 1952, sau lại dời lên Hà Nội vào năm 1953 để theo học Tiểu học tại trường Lý Thường Kiệt nằm ở phố Sinh Từ.

Năm 1954 ông di cư theo gia đình vào Nam, theo học nốt chương trình bậc Tiểu học ở trường Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn, sau đó tiếp tục bậc Trung học ở trường Chu Văn An, và tốt nghiệp Tú tài Toàn phần, Ban C năm 1963.

Sau đó ông du học ở Tân Tây Lan (New Zealand) và trở về nước năm 1965 để dạy Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ và trường London School của giáo sư Nguyễn Ngọc Linh.

Thời gian sau ông qua làm việc với Phủ Tổng Ủy Dân Vận và Chiêu Hồi của ông Hoàng Đức Nhã.

Năm 1973 ông đảm nhiệm chức vụ phát ngôn viên chính phủ VNCH.

Năm 1974, ông làm việc tại Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Anh Quốc, và sau biến cố tháng 4-1975, ông qua Canada vào tháng 6 cùng năm.

Năm 1977 ông làm việc cho đài VOA ở Hoa Thịnh Đốn cho đến năm 2001 thì nghỉ hưu. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục viết loạt bài Thư Gửi Bạn Ta cho nhiều báo, được rất đông độc giả tán thưởng.

Ông cũng cộng tác với đài Little Saigon Radio, Hồn Việt TV trong hai chương trình Ngày Này Năm Xưa, Chào Hoàng Hôn mỗi ngày, và Anh Ngữ Trong Đời Sống hằng tuần.

Sau vài tháng trở bệnh, ông từ giã cõi trần vào ngày 16-12-2016 tại Fountain Valley, California.

 



MINH ĐỨC HOÀI TRINH (1930-2017)
Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, sinh ngày 15 Tháng Mười, 1930 tại Huế.

Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó bỏ về Huế tiếp tục học.

Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris.

Năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF.

Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris.

1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Tháng 4 1975, bà trở lại Paris, nỗ lực tranh đấu cho những văn, thi nghệ sĩ bị cộng sản cầm tù. Bà cũng là người cùng với các văn nghệ sĩ đang sống ở Pháp như ký giả Trần Tam Tiệp, nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan, nhà văn Trần Thanh Hiệp đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận là hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979.

Trong sinh hoạt sáng tác, bà thường lấy các bút hiệu như Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử, và là một trong những ngòi bút nổi tiếng của miền Nam Việt Nam.

Bà từ trần ngày 9 tháng 6, 2017 tại Quận Cam, Nam California, hưởng thọ, 87 tuổi.

Tác phẩm đã xuất bản :

Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

Nhật Tiến biên soạn.
(Tổng hợp từ nhiều nguồn)
https://nhavannhattien.wordpress.com/40-nam-hai-ngoai-mot-nen-huong-mot-bong-hong-cho-nhung-nha-van-nha-tho-da-khuat-nui/

“Thành Phố Trong Hồi Tưởng” Những Mùa Thu – Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

“Thành Phố Trong Hồi Tưởng” Những Mùa Thu – Nguyễn Mạnh Trinh

Mùa Hạ đã qua. Sân trường với những ô vuông gạch đỏ mấy ngày trước là nơi để nô giỡn của mấy chú sẻ nâu nay ồn ào náo nhiệt. Ngồi trên phòng làm việc nhìn thấy cũng làm sinh động thêm không khí trong campus của mùa tựu trường. “Back To School”, lại một chu kỳ sinh hoạt mới. Thấy lại những khuôn mắt ngơ ngác lẫn háo hức của những cô cậu sinh viên mới. Thấy lại những công việc mà hàng năm tái diễn cùng với một vài thay đổi cho huê dạng và một ít khác lạ. Tự nhiên, thấy lại sự chia sẻ với hồi tưởng một ngày nào, thuở còn sinh viên học sinh ở Việt Nam rồi qua đây làm một sinh viên già vừa làm vừa học rồi trở lại làm việc ở ngôi trường đại học. Bao nhiêu là kỷ niệm. Thời gian đi qua. Thấm thoát cũng đã gần trọn đời người. Tôi đã thấy, ở đây. Bao nhiêu lớp sinh viên đã vào học và ra trường. Bao nhiêu là mộng ước, đã có, thành tựu hoặc tàn lụi. Và, tôi vẫn còn ở lại, nhìn theo, làm một người mà như thơ Hoài Khanh “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng. Nghe trong hồn rêu cỏ mọc hoang vu…” Nước vẫn chảy và, đời cứ theo dòng. Những khuôn mặt sinh viên đi qua. Và, tôi ở lại, như cầu thệ thủy dưới ánh tà huy, của một mường tượng nào xa xăm lãng đãng…

Hình như, tôi thấy lại những cổng trường xưa, những bạn, thầy cũ. Hình như, tôi đi ngược về, những không gian nào, thời gian nào, xưa cũ nhưng không mất hút. Có lúc, mường tượng và sinh động. Một đời sống nào, trở lại. Một giấc mơ nào, tái sinh. Tôi đọc “Thành Phố trong Hồi Tưởng”. Tôi đọc “Tình Khúc Ðại Học”. Tôi đọc “Tuyển tập Trần Hồng Châu”. Bây giờ, ngày khai trường của một năm học mới, fall semester năm nay.

Có lẽ, cả một đời giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, tức nhà thơ Trần Hồng Châu, gắn bó và dính liền với những ngôi trường đại học. Là khoa trưởng của đại học Văn Khoa thuộc Viện Ðại Học Sài Gòn. Là giáo sư thỉnh giảng đại học Southern Illinois University. Là cựu sinh viên luật đại học Hà Nội, cựu sinh viên văn chương đại học Sorbonne.

Thành ra, khi viết “Tình ca Ðại Học”, ông đã có cái tâm cảm của một người sống lại một thời của mình. Những giấc mơ tuổi trẻ, những ấp ủ đi tìm kiếm ngọn nguồn của trí tuệ, cùng với tính tình lãng mạn phóng khoáng, đã hiển hiện trong từng dòng chữ. Không phải là những khoe khoang mà chính là thái độ khiêm tốn kẻ sĩ. Một người có tài năng có danh vị mà cũng đặt tên cho tác phẩm của mình “Dăm Ba Ðiều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật”.

Giở từng trang sách của “Tuyển Tập Trần Hồng Châu”, tôi thấy một trời thơ mênh mông lai láng. Không chỉ ở phần thơ tuyển, mà, tất cả trong tuyển tập từ những tùy bút, đến những trang biên khảo, đều có nét thơ mộng lãng mạn cách riêng. Có một chút bềnh bồng nghệ sĩ, cũng như, một chút suy tư của người đã lỡ bước vào khung cửa triết học. Nhưng ở tất cả, là một khuôn trời mà cánh chim xoải bay cũng chưa về đến đích. Ở đó, là những áng mây phiêu du, bất định…

Jacques Prevert đôi khi đã làm người đọc là tôi nhớ mãi với những câu thơ Barbara của một thời học trò, theo giọng đọc của thầy giáo già mà nghe xôn xao trong lòng những giấc mộng viễn du, của trái mơ cứ chín nẫu trong lòng mà tay không thể với hái…

“Rappelle-toi Barbara.
Il pleuvait sans cesse sur brest ce jour-la
Et tu marchais souriante
Epanouie ravie ruisselante…”

Thì, Trần Hồng Châu cũng làm cho tôi như sống lại một thuở mê say đắm đuối mộng tưởng đến phương trời mà mình đã quen từ sách vở:

“Barbara, Trời Mưa Trên Môi Tả Ngạn

“Barbara!
Trời mưa trên phố biển
Trời mưa trên môi tả ngạn
Trời lặn cùng ta
Em vẫn là em
Hoa ngàn năm hóa thạch…

Ðêm Paris
Một mình một mình
Từng giọt lạnh cường toan mưa trên hồn nhỏ
Anh nằm nhìn quả cầu lửa

Thơ cháy
Chẳng còn đường về mê cung em
Barbara! Trời mưa trên phố biển?
Trời mưa trên môi tả ngạn?…”

Ba tập thơ “Nhớ Ðất Thương Trời “, “Hạnh Phúc Ðến Từng Giây” “Nửa Khuya Giấy Trắng” chọn lại vài chục bài thơ trong tuyển tập như chứa đựng hết những tinh túy của một nhà khoa bảng mà đến khi gần nhắm mắt lìa đời vẫn mong muốn là một thi sĩ. Một thi sĩ hiểu theo ý nghĩa cao đẹp nhất, một người luôn đi tìm cái đẹp và ăn nằm với cái đẹp. Với riêng tôi, tìm trong thơ, quả ông có cái nét đẹp ấy. Của một tấm lòng chân thành muốn đi tìm thẩm mỹ quan vĩnh viễn muôn đời. Ở trong thơ, là một biển trời tâm sự. Trong vần điệu, là nhịp thở của trái tim giàu cảm lụy. Từ ngôn ngữ, đã sẵn lời tâm huyết thiên thu.

Ở thể tùy bút, là những tản văn có phong vị đẹp của những bài thơ âm hưởng. Nhà giáo Nguyễn Khắc Hoạch có lúc trở thành một cậu sinh viên đầy mơ mộng của ngôi trường Sorbonne danh tiếng ngày nào: “…Tôi yêu dáng điệu hồn nhiên và tư tưởng sung mãn của Bachelard trong những bài giảng sớm thứ năm. Bachelard với chòm râu bạc phất phơ như một rừng hoa mai bừng nở với giấc mơ Thơ… Cùng nhau giong buồm lái trở về nguồn Trí Tuệ và Cảm Xúc nguyên thủy… Tôi yêu những hoài bão lớn lao của tuổi trẻ trên lầu tình tự vắng vẻ, cách xa huyên náo hỗn tạp của thị thành và thị dân đang quay cuồng vùng vẫy trong sương mù và trong những vùng lửa đèn màu nửa khuya ở dưới chân đồi Ste. Geneviève mà chúng tôi vẫn thân mật âu yếm gọi là Ste. Ginette như một cô em gái bé bỏng nghịch ngợm.

Ở đây trên đỉnh “đồi” linh thiêng tôi đã mơ tuyệt đối và hiểu tại sao người ta có thể đắm đuối say mê Thơ và Tư Tưởng như nhan sắc của một người tình. Ở đây tôi đã nâng niu những giây phút bé nhỏ trong đó tôi bồi hồi cảm động gặp lại chính tâm hồn mình, diện đối diện giữa thanh vắng và hướng nội trầm tư. Ở đây tôi đã tập thói quen không bằng lòng với cái tầm thường, cái ấu trĩ để cố noi theo hướng đi lên của tinh thần và nghệ thuật…

Tôi đã ngồi rất lâu dưới chân tượng Montaigne, hiện thân của thâm trầm và khoan dung trong những giờ nhập thiền diện bích tuy đây không có bức tường nào cả. Ðể đón hoàng hôn chầm chậm xuống trong những tấm áo mây chiều lượt là màu ngũ sắc. Ðể lắng nghe tâm tư sốt vỡ da và lớn mạnh cùng với cỏ cây quanh khu vườn trước cửa Ðại Học. Ðể thấy trên những nẻo đường của Văn và Triết, lối độc hành cổ điển vẫn có những nét độc đáo và thực là cần thiết, nếu không phải là lối khám phá duy nhất…”

Rồi Cambridge, Heidelberg, Havard, những ngôi trường đại học vang danh của thế giới cũng đầy kỷ niệm với một người luôn mê say đi tìm chân lý cho trí tuệ và chân lý cho cuộc đời. Những con đường, những giảng đường, chỗ nào khi ghé thăm trở lại cũng đầy cảm xúc. Chốn này, đã là nơi miệt mài đi tìm cách thực hiện giấc mộng ấp ủ.

“…Tôi yêu điệu blue “Dòng sông xanh” của Cambdidge, điệu moderato tịch mịch chầm chậm nhẹ nhàng buông lơi, điệu nhạc tươi sáng vừa dựng xong trong tâm tư cho riêng chính mình. Ðể tạm quên ý nhạc waltz cuồng say, dồn dập choáng váng của thành Wien, với sông nước Donau, dòng sông xanh, xanh… màu vàng lá úa, màu buồn tàn thu, màu hoàng hôn mệt mỏi héo hon!…”

Hay: “...Tôi yêu bản trường ca màu hồng của Heidelberg. Màu mong manh sáng chói yêu đời và cũng hơi đàn bà… tình cảm, bâng khuâng… Hồng nhạt, chiếc cầu đẹp như một giấc mơ, vươn mình qua sông Neckar chở đầy lịch sử, thơ, nhạc và tình yêu. Hồng, hồng mấy công thự baroque của đại học và tòa lâu đài trên ngọn đồi xây toàn bằng sa thạch, màu bình minh của núi rừng “từng biếc chen hồng” ở chung quanh vùng…”

Với Havard, cái nôi của những nhà lãnh đạo tương lai của thế giới, của những cô chiêu cậu ấm nắm hết ngày mai của nhân loại:

…Tôi yêu màu nâu pha đỏ, màu đỏ nâu ấm áp bền vững – màu bordeaux hay huyết dụ? – của tường nhà Havard. Ấm áp ngay cả khi tuyết rơi trắng muốt xóa mờ những bãi cỏ xanh. Ấm áp nhưng cũng e dè như người dân Boston cổ kính, như những dãy phố tỉnh nhỏ vùng New England với tường nhà để gạch đỏ lộ thiên, dãi dầu cùng mưa nắng. Màu phù hợp với kiến trúc nhẹ nhàng, mãnh mai thì “lập quốc” khác hẳn với những khối ciment cục mịch vô hồn ở các đại học non trẻ, chào đời sau Thế chiến thứ hai

… Tôi ít yêu hơn bọn thiếu niên con nhà kiều dưỡng được đào tạo ở Havard để sau này bước vào chính trường. Họ mang tên Roosevelt hay Kennedy. Sống trong nhung lụa và vòng tay nuông chiều của các bà mẹ âu yếm nhưng thiển cận lại được chăm sóc trong lồng kính vĩ đại bên bờ Charles River, xa rời cái phức tạp của cuộc sống đích thực. Vì vậy mà họ ra làm lãnh tụ, dìu dắt cả trăm triệu người trong một thế giới chính trị bá đạo, muôn mặt lắt léo và đầy mưu mô xảo quyệt. Cho nên trong việc đối ngoại xứ này đã có những quyết định quá chừng ngây thơ (có người độc miệng hơn còn gọi là… ấu trĩ) và nền ngoại giao Mỹ quốc từ sau thế chiến đã đi hơn một bước giật lùi nguy hiểm tuy về kinh tế đã có nhiều thành tích vẻ vang. Trách nhiệm của học đường, của những kỹ sư tâm hồn! Người tuổi trẻ Harvard hãy cẩn thận!

Chiều hôm nay tạm biệt Harvard. Ánh trời hoàng hôn lọc qua kẽ lá nhuộm vàng từng mảng tường gạch đỏ thành một màu kỳ thú. Tôi ngắt một chiếc lá ivy. Tôi ngắt cả mùa thu kẹp vào tập thơ của một tác giả trẻ tuổi sáng tác sau những khuôn cửa sổ nhìn ra Harvard Yard. Chiếc lá biểu tượng. Chiếc lá kỷ niệm từ một hải đảo trí thức và sáng tạo bập bềnh giữa vô vàn đợt sóng vật chất của một thời đại một thế giới tưởng như cũng đang chìm dần vào ánh trời hoàng hôn…”

Với đại học Văn Khoa, nhà thơ đã mang cái tâm lãng mạn phóng khoáng của mình để gây dựng một nền đại học dân tộc phản ánh được tâm tình của một thời đại Việt Nam nhiều biến cố và mang cái tâm nỗ lực xây dựng tương lai.

“Tôi yêu những tấm lòng trinh bạch và màu trắng đơn sơ hồn hậu màu thanh bần lạc đạo trên sân tường Văn Khoa. Văn Khoa linh hồn thầm kín của đại học và quê hương trong những mùa lịch sử nóng bỏng và sôi động… Tôi yêu màu trắng chiều đông hơi ngả sang xám hay xanh nhạt của trường cũ cũng như trường mới, thoáng gợi cái mong manh u buồn của lớp phấn light blue shadow nằm dài trên mí mắt khi những cửa sổ linh hồn bâng khuâng ngỡ ngàng dường như mở rộng cuốn chúng ta vào muôn vạn nẻo đường mịt mùng xa vời vợi hun hút sâu như vực thẳm giữa lòng đại dương… Nhớ thương luôn nên mắt có quầng viền!”

Tôi muốn trích dẫn nhiều hơn những dòng tuyệt bút mang cái tâm vằng vặc vào văn chương. Nhưng nếu như thế thì phải mang cả cuốn sách vào trong bài viết. Thì, với vài đoạn đơn sơ, chúng ta cũng có thể cảm được cái lòng kẻ sĩ của một người sống trong một thời đại quá nhiều dâu biển biển dâu. Có lúc, như trong bài thơ thi sĩ đối thoại với cụ Tiên Ðiền, người đã mang vào văn chương Việt Nam những vần châu ngọc, để thấm thía cái câu: “bất tri tam bách dư niên hậu”

“…Ðoạn trường gói chặt tấm son
Một thiên bạc mệnh chưa mòn tuyết băng
Bóng ai lãng đãng cầm trăng
Gió thu hồng biếc một vầng quan san
Lửa hương một nắm tro tàn
Hồng Lam trăm mối đoạn trường về đâu

Ðường đời còn mải phân vân
Thì xin ước hẹn vô vàn mai sau
Thì xin tát cạn nguồn sầu
Nghìn thu tuyệt bút điểm màu vấn vương
Phấn hương thừa nhặt nẻo đường
Nòi tình ai cũng đoạn trường với ai?

Ðêm thu mộng triệu khơi miền
Ðoạn trường bướm trắng ưu phiền gió trăng
Gặp người ta lại cố nhân
Bất tri tam bách… một vần cảm thông

Bây giờ, giở từng trang Tuyển tập như thấy lại hình dáng người thầy xưa hiện về. Viết văn, làm thơ, soạn tiểu luận, hay chấm bài, soạn sách giáo khoa, dù đang đứng trên bục giảng đường hay đang trải hồn theo mộng biếc thanh xuân những ngày du học, tất cả chỉ làm rõ nét thêm một vóc dáng thi nhân muôn tuổi. Tôi vẫn nghĩ, trong tâm thức đơn giản của mình, thi ca sẽ có đời sống dài hơn là khoảnh khắc ba trăm năm mà cụ Nguyễn Du đã thắc mắc cho nỗi niềm còn mất của chữ nghĩa riêng mình!

Nguyễn Mạnh Trinh

Phỏng Vấn Nhà Văn Nhật Tiến Về Ông Nguyễn Hùng Trương Nguyên Giám Đốc Nhà Sách Khai Trí


Đinh Quang Anh Thái

(Nhà văn Nhật Tiến và ông Khai Trí)

ĐQAT: Ông có thể cho biết trong hoàn cảnh nào khiến ông Khai Trí cho xuất bản báo Thiếu Nhi mà ông làm chủ bút?

NT: Tôi nhận thấy gần như trong suốt cuộc đời, một trong những nỗi ưu tư hàng đầu của ông Khai Trí là sự quan tâm đến vấn đề giáo dục con trẻ. Chẳng thế mà ông vẫn thường nhắc đi nhắc lại câu nói sau đây mỗi khi có dịp và đặc biệt ông đã dùng làm câu mở đầu cho loại sách Tuổi Thơ do chính ông chủ trương: “Tương lai nước Việt Nam sau này hay hay dở đều do sự giáo dục hiện tại của lứa tuổi thiếu nhi, mầm non của đất nước”.

Vào thời điểm khởi đầu của thập niên 70, (khi ông quyết định cho ấn hành tuần báo Thiếu Nhi), tình hình giáo dục, đặc biệt là chất lượng giáo dục dành cho tuổi thơ có vẻ như đang trên đà suy sụp. Lý do một phần là vì ảnh hưởng của chiến tranh với nếp sống ngoài xã hội ngày càng sa đọa do sự có mặt của trên nửa triệu lính Mỹ cư ngụ tràn ngập trên các tỉnh và đô thị: một phần khác, lãnh vực sách báo dành cho tuổi thơ hầu như đã bị tràn ngập bởi rất nhiều loại thiếu lành mạnh đến nỗi ông Khai Trí đã từng phải kêu lên xót xa: “Chúng ta đang chứng kiến cái thảm cảnh đám trẻ thơ ngây ngày đêm cứ say mê tìm đọc các loại sách nhảm nhí chú Thoòng, hay sách trinh thám và kiếm hiệp rẻ tiền, kể cả những loại sách khiêu dâm, ma quỷ quái đản đầy tính cách đầu độc trí óc non nớt của con em chúng ta”.

Như thế, việc ông quyết định cho xuất bản một tạp chí lành mạnh dành cho lứa tuổi thiếu nhi là điều dễ hiểu, nó vừa phù hợp với ngành nghề sách báo của ông vừa thỏa mãn phần nào tân tư và nguyện vọng mà ông từng ấp ủ.

ĐQAT: Báo Thiếu Nhi hiện diện trong sinh hoạt văn hóa của miền Nam đúng vào giai đoạn của cuộc chiến lên đến mức cao độ, vậy tờ báo có giúp độc giả trẻ em thoát khỏi nỗi ám ảnh của chiến tranh hay không? Và các em có tìm được sự an bình đối với tuổi thơ của mình không?

NT: Tờ Thiếu Nhi tuy được phát hành rộng rãi trên toàn quốc nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, nên nó cũng chỉ tới được hầu hết giới trẻ em sinh sống tại các tỉnh hay đô thị, còn ở các vùng nông thôn, xa thành phố thì không. Do đó, ảnh hưởng của tờ Thiếu Nhi đối với độc giả cũng kể như bị giới hạn rất nhiều, mặc dù vào thời điểm mà tờ báo có điều kiện hoạt động mạnh mẽ nhất thì cũng có đông độc giả và tòa soạn cũng thành lập được Chi Nhánh Gia Đình Thiếu Nhi tại hầu hết các tỉnh và đô thị thuộc V.N.C.H. Chính nhờ cung cách tổ chức Gia Đình Thiếu Nhi như vậy, và qua các báo cáo sinh hoạt hoạt hàng tháng của mỗi chi nhánh, tòa soạn được biết các em đã tự quy tụ thành nhiều nhóm với sự trợ giúp của các thầy cô giáo địa phương để cùng nhau tham dự những sinh hoạt lành mạnh như tổ chức thư viện Thiếu Nhi, sinh hoạt tập thể ngoài trời, tổ chức các buổi cùng nhau đọc sách báo lành mạnh., góp phần tham dự vào những cuộc thi sáng tác văn chương hay đố vui do Gia Đình Trung Ương tổ chức… v.v. , Theo tôi nghĩ, có lẽ nhờ thế mà cũng có một số em đã có thể tìm thấy sự an bình trong tuổi thơ của mình và những nỗi ám ảnh về chiến tranh vốn đè nặng lên tâm hồn của các em do đó cũng giảm thiểu được rất nhiều.

ĐQAT: Trong suốt thời gian làm bạn, làm việc với ông Khai Trí, ông nhận xét ra sao về những đóng góp của ông Khai Trí trên phương diện văn hóa và về đời thường của ông ấy?

NT: Một cách vắn tắt, có thể nói rằng miền Nam kể từ năm 1954 đến năm 1975 đã hình thành một nền nếp sinh hoạt văn hóa hết sức đa dạng và phong phú do công lao và sự đóng góp bền bỉ của nhiều khuôn mặt văn hóa nổi tiếng hay của nhiều ngòi bút tài năng. Tuy nhiên, để tạo điều kiện hỗ trợ cho sinh hoạt văn hóa nghệ thuật ấy được phát triển, ta không thể quên những nỗ lực không kém phần phong phú của các nhà xuất bản, các cơ sở phát hành văn hóa phẩm. Trên phương diện này, nhà sách Khai Trí phải được kể là một trong những cơ sở văn hóa hàng đầu của miền Nam. Nhiều thế hệ tuổi trẻ đã được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường sinh hoạt văn hóa với rất nhiều loại sách báo giá trị do chính nhà sách Khai Trí cung ứng. Ông Khai Trí vừa là một người say mê với nghề nghiệp với một cung cách hầu như không bao giờ biết mệt mỏi, ông lại cũng vừa là con người hết lòng với văn hóa, với tương lai của thế hệ trẻ. Nhờ nguồn tài chính thu được dồi dào qua sách báo, ông cũng đã trao tặng rất nhiều phần thưởng cho các học sinh xuất sắc và cung ứng nhiều học bổng giá trị cho những học sinh nghèo. Riêng trong giới viết lách, nhờ khả năng đánh giá nhậy bén và sự hỗ trợ tận tình của ông mà rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo đã có cơ hội ấn hành tác phẩm của mình, cho dù có khi chỉ là tác phẩm đầu tay hay tác phẩm thuộc loại kén độc giả, giầu giá trị nội dung nhưng yếu kém về mặt thương mại.

ĐQAT: Theo nhận xét của ông, với những đóng góp và hy hiến của ông Khai Trí như vậy thì thông điệp mà ông Khai Trí để lại là gì?

NT: Nhìn lại chặng đường gian khổ mà ông Khai Trí đã từng trải qua kể từ sau năm 1975, như ở trong nước thì bị tịch thu gia sản, và chịu đựng bệnh tật triền miên, dòng dã trên 5 năm trong trại tù, khi ra hải ngoại thì lại phải đối diện với sự thực phũ phàng, nhiều công trình sách vở của ông đã bị gian thương cướp trắng bằng cách cho in lại vô tội vạ tủ sách Khai Trí của ông, vậy mà tôi nhận thấy ông vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ họa hoằn mới buông lời than thở. Hình như ông không muốn đem chuyện buồn khổ riêng tư để làm mất vui người chung quanh. Hình như ông chấp nhận số phận không may, coi như một thứ đã được an bài và qua đó ông học hỏi thêm được tính kiên nhẫn, chịu đựng để xây đắp cho tình yêu tha nhân, yêu đời. Có lẽ vì thế mà vào mùa xuân năm 1981, ông đã viết những dòng như: “Nhiều khi cảnh khổ đối với tôi là điều hay, có ích cho tôi. Biết đâu, nó lại giúp cho tôi trở nên tốt hơn và yêu đời hơn. Tôi cố thương yêu nhiều hơn nữa những người chung quanh tôi, mọi người trên trái đất này, yêu thong cả loài vật và cây cỏ”

Dưới mắt tôi, đây là một thông điệp của một con người đầy lòng nhân ái, đáng để cho thế hệ đi sau suy ngẫm.

Đinh Quang Anh Thái

https://nhavannhattien.wordpress.com/phong-van-nha-van-nhat-tien-ve-ong-nguyen-hung-truong-nguyen-giam-doc-nha-sach-khai-tri/

Sếu Cỏ. Thơ Hư Vô


Này Sếu Cỏ, trăm năm còn con gái
Thì tình yêu đâu dễ cũ bao giờ
Giả dụ có được bắt đầu trở lại
Con đường nào em bước tới bến mơ?

Để anh làm thơ tôn vinh tình ái
Nghe mùa thu chảy xuống giữa cơn say
Tô thắm môi em đầy thêm trăng mật
Chỗ hồn anh ngây ngất tượng hình hài!

Anh níu thời gian dìu em bước chậm
Cho gót chân không dẫm ngược đời nhau
Mà em đã bỏ quên lời hò hẹn
Trên lối tình xưa ngọn cỏ bạc đầu.

Này Sếu Cỏ, có buồn riêng ý lược
Trong mắt em đã ướt một lòng gương
Buông sợi tóc thề so đo bóng nguyệt
Chưa giáp xuân thì, dài đã trăm năm…

Hư Vô

Bonjour Việt Nam – Người Đi, Người Ở, Người Về… Tùy bút Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh More

Quán Thơ Hư Vô 284


THÁNG 5, SINH NHẬT TÌNH NHÂN

Tháng 5, sinh nhật tình nhân
Em về giũ áo dự phần mùa thu
Tiệc tình dọn xuống hư vô
Kề chung ngực thở cuồng xô sóng ngàn.

Tôi lăn vào giữa dung nhan
Tan trong da thịt tình nhân bất ngờ
Mùa thu đâu biết chần chờ
Để tôi quờ quạng trải thơ em nằm.

Một lần sinh nhật trăm năm
Có em trang điểm trái tim tội tình
Hối hả nhịp thở hồi sinh
Nhập hồn chung cuộc linh đình đời sau.

Em ơi, buồn mới bắt đầu
Biết đâu còn được nỗi đau muộn màng
Tháng 5, mù mịt lá vàng
Trong tim tôi đã hoang đàng, từ khi …

Hư Vô

LÀ NHỮNG MIẾU ĐỀN

chợt thức dậy giữa đêm mù mịt gió
nghe miếu đền thấp thoáng bước chân hoang
chơ vơ quá những chiều nghe đá thở
thấy hồn ai vất vưởng giữa muôn ngàn

hóa đời sống là trăm nghìn bia mộ
khi cõi người chìm khuất với hư không
nghe đâu đây khua nỗi buồn xích thố
ngựa lắt lay từng nhịp vó câu dồn

hồn ám thị trong những đêm nằm mộng
nhịp sanh buồn đinh gõ nhịp áo quan
nằm cô độc bên săng hòm trống rỗng
mà nhủ lòng còn nuối tiếc dương gian

thì thôi vậy khi bóng chiều dừng lại
cỗ xe nằm đợi khách giữa hoàng hôn
đến lượt ai trong cõi người tê tái
chân bước lên sầu buốt một linh hồn…

Nguyễn Minh Phúc

SUỐI TÓC NGƯỜI TÌNH

Bơi qua suối tóc người tình
Câu thơ chết đuối, tôi rình rập tôi…
Muốn làm sợi dây thun thôi
Để em cột tóc suốt đời…còn hơn!

Đời du tử chỉ thêm buồn
Liêu xiêu đáy mắt mỹ nhân, được gì?
Hóa thi nhân có ích chi
Giữa đời thực dụng , nhu mì được sao?

Bơi qua dương thế chiêm bao
Cần em , tôi lại sát sao điệu tình…
Chỉ nhìn từ phía lưng em
Miên man suối tóc, mắt quên đường về!

Em môi ngoan. Em là gì
Mà tôi thắp nhớ nghìn khuya, cháy lòng?

Trần Dzạ Lữ

ĐÂU HỀ GÌ CHÚT ĐỢI-CHỜ NHAU

Em ơi, chờ đến bao giờ nhỉ
cho bão tàn qua, nắng một ngày
đời vẫn đi hoài, chân đã mỏi
sao còn ngờ-nghệch những lần say.

Năm tháng vù qua lòng luống-tuổi
ngẩn-ngơ quay-lại hỏi mây trời
chắt-chiu kỷ-niệm hồn riêng lạnh
tình vẫn mù-tăm góc biển-khơi.

Em như chim một đời dang cánh
mỏi-mắt anh sông-nước kiếm-tìm
Em vẫn biệt-xa mờ dấu-tích
anh còn trơ-trọi khóc êm-đềm.

Anh hóa đá ngồi đây vạn-kiếp
đâu hề gì chút đợi-chờ nhau
dù ngày qua, bão chưa tàn hết
thôi cũng đành cho gió cuốn mau.

Đâu hề gì lúc Em không đến
anh vẫn thật-tình khóc thản-nhiên
Em hỡi, chim trời ai nỡ hẹn
cứ chờ mỏi mắt, có khi quên.

Hà Việt Hùng

KHÚC MUỘN

Cứ ném tôi xuống mồ, chôn tôi thôi!…
Để tôi biết phút thay hình, chuyển thể…
Cõi sống có gì vui mà gượng thế
Mà loay hoay vá víu mảnh đời trần…
Bằng chiếc hòm, hay thước vải bó thân
Đi chưa tới, nhưng về rồi sẽ tới…
Hồn nguyện khấn bên ngai thờ Thượng giới.
Xin hằng yêu dù ghét, có, dù không…
Xin ước mơ, xin sự thật tao phùng
Thắp ngọn lửa tinh anh rọi đường nhân bản.
Tự lâu lắm, loài người quên duyên dáng
Thành dị dung, lồ lộ mặt bi hài…
Giấu đam mê, gào thét vận rủi, may
Lỡ nhan sắc, nhạt nhòa xuân niên thiếu…
Tôi tìm em ở phương nào đồng điệu?!…
Tôi tìm tôi trong khóe mắt, môi em…
Chuyện tình riêng sao quá não nùng tim
Buồn nghẽn mạch, máu rẽ dòng chảy ngược…
Bọt thời gian dưới mi nằm úng nước
Đợi ngày sau đẫm lệ khóc ngày xưa…
Này trăng sao, này sương gió, này mây mưa,
Ai chẳng bước qua một lần nắng tắt?!…
Ném tôi xuống, đừng e dè cân nhắc
Chôn tôi thôi! Chôn tôi thôi! Nhẹ nhàng…
Còn lưu cưu, còn nặng nợ đá vàng
Đói sỉ diện, khát khao tần tước vị…
Chân guốc mộc, đầu nón rơm khả dĩ
Sánh liền vai yếm lụa, áo khinh cừu…
Hẹn cao lâu, Mỹ tửu cụng Bồ đào.
Gặp tiểu cốc, xoay vòng ly đế sủi…
Tôi mãi miết uống cơ đồ cát bụi
Tôi miên man nhai nuốt miếng vô vi….
Nghe giang hồ huyên náo cuộc sinh ly
Mùi tử biệt lượn chờn vờn trước cửa…
Chịu vất vả giữa lòng, cơn ói mửa
Đau rã rời tôi tháng mỏi, năm mòn.
Lạy Đức Từ Bi, Lạy Đấng Chí Tôn.
Trái tội lỗi chín khắp rừng nhục nhã,
Tôi tội lỗi đáng muôn điều thóa mạ…
Cầu ban ơn, cứu rổi phận điêu linh
Hiệp phước lành, nuôi lớn trọn niềm tin.
Qua ải khổ, mừng bội thu mùa hạnh…
Thề xứng nhận Thiên thần ngoan chắp cánh
Vượt trùng vây, bay tít tận ngàn khơi.
Một kiếp dài, như thể một trò chơi…

Đặng Triều
15/5/2017

TỨ TUYỆT
1.
chim quyên xưa hót trên cành
chẳng may lạc điệu chết thành bụi cây
người sau về ẩn chốn này
nghe trong xưa tiếng quyên gầy hót ra
2.
nhìn sông nắng phủ nhập nhòa
hấp hiu cuối bãi một tà khói sương
xa người mấy độ tà dương
mà sao yêu quí còn vương tấc lòng
3.
cảm thương con khướu trong lồng
vô tâm hót lệch mây dòng chuông ngân
non cao bước xuống phong trần
đôi tay rộng lượng thả vần thơ bay
4.
mảng sầu trăng rụng non Tây
làm xao xác vệt chim bay cuối trời
thương ai tất tưởi mấy lời
làm hoa rụng trắng tâm người trầm tư
5.
nhớ cây vú sữa trước nhà
con trăng lỡ độ đường xa ngủ nhờ
mười năm nặng một dòng thơ
hỏi con trăng nọ bây giờ ở đâu
6.
con chim bỏ núi xa đàn
sớm theo gió bạt xuống ngàn dặm sông
nước đi xanh biêc một dòng
hẹn trăng ra biển bỏ buồn cho thơ.

Phan Ni Tấn

LỘT TRẦN THƠ

tôi biết em mượn bóng gởi hình
mượn mạn thuyền tránh cơn lụt dữ
mượn bờ vai trút nỗi buồn quá khứ
mượn lời thơ ve vuốt chữ tình xưa.

tôi biết em sáng nắng chiều mưa
dưới mặt trời vẫn ôm tim mù quáng
giữa đêm đen lại khát khao ánh sáng
làm bụi mù cho thành phố tôi yêu.

tôi biết lá vàng rơi xuống buổi chiều
trong mắt người khen là mùa thu đẹp
ôi chiếc lá khô khan đường vân bẹp
đã lìa cành vẫn quay cuống về cây.

tôi biết thơ tôi như những áng mây
sẽ không có góc trời dừng lại
thà là mây để đời còn phong thái
lồng lộng bay giữa trời đất bao la.

tôi biết em giả ngộ trăng hoa
thêm sống động một bóng hình lỡ mượn
bởi yêu thơ, tôi đành câm như tượng
cho ngữ ngôn một lần thoát xác thương vay.

tôi biết có ngày tình sẽ thay vai
và có lúc thơ không còn ma lực
thà chấp nhận cuộc chơi này chấm dứt
giã từ nhau xin gởi lại đôi lời…

Phạm Hồng Ân
(Hiên Thư Các, 30/09/2016)

THỨC SUỐT CÙNG TRĂNG

khi không. ở đậu quê người
giữa cơn ấm lạnh kéo trời che nhau.
nụ môi
chia phần xót đau
quê nhà đứt ruột mùa ngâu muộn màng.
nhiều đêm thức suốt cùng trăng
nghe thơ ứa mộng đầy trang
ruột mềm!

Đức Phổ

Bạn Bè Ta Giờ Còn Mấy Đứa? Thơ Hư Vô


(Hư Vô đứng cuối cùng phía tay phải)

Cả đời không gặp tụi bây nữa
Nhớ lắm, nhưng ta ghét bọn mày
Đứa bỏ nhau đi về địa ngục
Đứa còn ở lại với thiên tai.

Đã hết thời ngông nghênh ngang ngược
Chọc trời, khuấy nước chẳng màn chi
Quậy phá mềm môi vài ba xị
Say rồi ta thả cửa đập ly.

Một cõi buồn hiu nơi xứ lạ
Tìm đâu ra cô chủ quán xưa
La làng một tiếng cho đã khát
Rượu ngon đâu có bạn mà chừa!

Dẫu trách phiền nhau thì cũng mặc
Ta ngồi ta uống mình ta phê
Rót tràn ly, xị cay xị ngọt
Nhớ bạn bè quen tiếng chửi thề.

Những chuyện qua rồi không muốn kể
Của một thời nghèo rớt mồng tơi
Năm bảy thằng chuyền nhau điếu thuốc
Rít chung để thấm thía cuộc đời.

Đứa hỏng tú tài đi quân dịch
Đưa vào đại học, học chiến tranh
Còn lại mấy ngoe lia chia rụng
Mả mồ cỏ mọc đã rêu xanh!

Bạn bè ta giờ còn mấy đứa?
Biệt tăm từ một bữa tan hàng
Cuộc đổi đời cũng chưa dài lắm
Vậy mà như đã lạnh khói nhang…

Hư Vô

Tuệ Sỹ, Viễn Mộng Mấy Khung Trời. Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.

IMG_4172
(Thiền sư Tuệ Sỹ)

Có người yêu thơ và hay tập tành làm thơ, sau khi đọc một tác phẩm “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của một người làm thơ viết về một người làm thơ khác (Tuệ Sỹ viết về Tô Ðông Pha) đã cảm khái:

“nghe từ thiên cổ
lời ru mênh mang
bước vào cuộc Lữ
mấy chuyến đò ngang.
Tà dương có khóc
Nắng ngả ánh vàng
Mưa bay thoảng chốc
Thiên địa hoang tàn
Một người đọc thơ
Nhìn trăng vừa khuyết
Sinh tử đâu chờ
Vòng quay nhật nguyệt.
Ði vào đất trích
Quanh quẩn nhân gian
Cho tròn vai kịch
Giây phút muộn màng
Phương trời viễn mộng
Sẵn lúc chào đời
Bốn bề gió lộng
Người ơi, Thơ ơi!!”

IMG_4173

Viết về Tô Ðông Pha, mà nghe như viết cho chính mình. Tuệ Sỹ, trong cái quay cuồng của lịch sử, đã nhìn vào chặng lữ hành của lịch sử để tìm vào cõi sâu kín của vòng chuyển dịch. Ông, không phải trong vai trò thiền sư để đi tìm cái uyên áo mà, với thái độ mơ mộng lãng mạn đi tìm cho riêng mình một cõi thơ riêng. Ông viết:

“Thơ vẫn là một cuộc lịch nghiệm Riêng và Chung, của Thời Ðại và Lịch Sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo cánh của Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng Viễn, dẫn Lịch Sử Uyên Nguyên tụ hội với Thời Ðại. Hình như những sự này tôi nghe được từ nơi thơ của Tô Ðông Pha, nhưng có nghe lộn hay không thì không biết…”

Kinh Thi và Kinh Dịch là những trầm lắng suy tư của người xưa, theo Tuệ Sỹ là hai cánh chim lớn của con thần nhạn chuyên chở định mạng của dân tộc Trung Hoa bay lượn suốt mấy mươi thế kỷ trên vòm trời Viễn Ðông. Thi và Dịch, là suy ngẫm để tìm đến đích đến rốt ráo của Chân Lý. Và, cũng là những phiến gương soi để tìm lại những bóng hình vẫn còn hiện hữu dù đã xa xôi những không gian, thời gian muôn trùng…

Có những câu thơ, của thấp thoáng tình Riêng trong Ý chung. Thấp thoáng nỗi niềm của Tuệ Sỹ trong ngôn ngữ một thuở Thịnh Ðường. Dù thơ lục bát, của ngữ ngôn thuần túy Việt Nam, nhưng giấc mộng vẫn vút cao

“Ðồi mai ngơ ngác nụ cười
cánh hồng lả mộng của đời lưu ly
tồn sinh thấp thoáng nẻo về
dấu trơ bãi tuyết, ngoài tê cánh hồng
Sư già, tháp mới, hồn không
Tường rêu đổ xuống đâu đồng vọng Thơ
Gập ghềnh năm tháng, hay chưa?
Ðường dài người mỏi, gót lừa kêu đau…”

Ôi, những phương trời viễn mộng, của những kiếp nhân sinh trôi nổi theo dòng thời thế, của nỗi niềm người tha hương lưu lạc ngay trong chính đất nước mình. Những canh trường mộng, những lời nỉ non nghe vẳng lại từ hai bờ tịnh không của cảm xúc. Vẫn, vần lục bát, lời của Tuệ Sỹ, làm vẳng nhớ đến Tô Ðông Pha thuở nào xa xưa:

“Ðá mòn phơi nẻo tà dương
nằm nghe bước lũ khóc chừng Cuộc Chơi
nghìn năm vang một nỗi đời
gió đưa cuộc lữ lên lời Viễn phương
đan sa rũ mộng phi thường
đào tiên trụi lá bên đường Tử Sinh
đồng hoang mục tử chung tình
Ðăm chiêu dư ảnh nóc đình hạc khô”

Viết về bài thơ, viết về cái tâm tình của bờ biển lớn, của cõi hoang vu mà thiên nhiên là đại dương bí ảo để, ở đó những dấu chân tỏ mờ trong ngã về hoang lộ. Tuệ Sỹ viết:

“… Người đã lãng phí trọn vẹn tinh thể của người, để cho thiên nhiên tỏ bày ân tình trơ trọi, như viên sỏi bên đường lây lất với nắng và gió. Nắng lên cùng với dấu hiệu của hao mòn và sụp đổ. Gió lên cùng với những ước nguyện thiên thu phảng phất ra ngoài khung trời Hoằng viễn và Tịch nhiên. Mộng Phi Thường được ký thác trong đan sa trong dấu hiệu của trường sinh bất tử, nhưng đường Sinh tử đi trong cõi Hoằng viễn Tịch nhiên, ấy thế mà không bao giờ dừng bước cho Lữ Khách một lần ngụ cư ở đó. Sống và Chết vẫn còn như một nỗi đời hư huyễn, vẫn rầm rộ như một cuộc chơi. Giữa khoảng đồng rộng, đồng trống, đồng không mông quạnh. Mục tử đăm chiêu tư lự những chuyện đường đời. Và Lịch sử qua bóng dáng con Hạc gầy, rồi tự hỏi; Ðâu là Cõi Mộng Thiên Thu?..”

Ðọc “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của Tuệ Sỹ để thấy từ một người hậu sinh sau những thế kỷ dài đã chia sẻ với Người Thơ những nỗi niềm của những người tri kỷ. Thời thế có khác, đất nước có khác, nhưng chất Thơ vô cùng bát ngát của những phương trời mở ra mênh mông những cánh vỗ để đi vào cái tận cùng của ngữ ngôn, để bay vào cái vô tận của ý tưởng. Viết về thơ đã khó, giải thích thơ lại khó hơn nhưng tái tạo lại không gian thơ, lại khó bội phần. Thơ ở trong thơ, không chỉ là cái khám phá hời hợt bên ngoài, mà, Thơ có tham vọng đi sâu vào cõi vô thủy vô chung của những nốt lặng của một bản trường ca chưa hoàn tất. Chinh cái dở dang ấy, là thái độ của người thơ, dù trong hoàn cảnh lao lung cấm cố, bốn bề là những bức tường đá lạnh lùng, mà, hồn vẫn thoát đi, bay bổng, không có gì ngăn chắn được. Thơ, là thái độ sống, là sự thản nhiên của người hiểu biết được cái vô cùng nhỏ nhoi nhưng cũng vô cùng lớn lao của tâm thức con người…

IMG_4174

Một buổi tối, đọc lại tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn. Không dừng lại được, ngồi dậy bật máy, viết… Những tâm cảm đón nhận được từ những câu thơ. Như những làn sóng lan tỏa từ mặt nước yên tịnh. Ngoài trời chắc khuya lắm thì phải. Và những giọt mưa, mù mịt đất trời. Sắc không, còn mất, có lúc như hơi thở nhẹ. Lắng nghe từ vô thức, tôi đọc…

Có những điều, nói nhiều mà chẳng đủ. Cũng như có những việc, nói ít mà vẫn thừa. Chuyện thi ca, có khi chỉ một giây phút, hiểu rồi, sẽ bất khả tư nghị. Tôi không dám làm người vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng thêm cánh. Mà, tôi chỉ diễn tả cái tâm chân thực của mình. Ðọc rồi cảm, cái quá trình ấy phải chăng là lúc này, khi mọi lắng đọng đã theo giấc ngủ ngon vút mất. Thơ như cáinh tay lay động, thức tỉnh ngũ quan..

Ðóng lại tập thơ. Với bài thơ cuối. Những câu lục bát đơn sơ. Như một lời nhắn nhủ. Có thể với chính mình nhưng cũng có thể là một ai khác, cùng mang khắc khoải trong lòng. Một chút vỗ về, một chút xao động thoảng qua. Bước chân ai, đi về, biền biệt.

“Khói ơi, bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi Vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần ra hoa.”

Tại sao lại nhớ những lần cây nhỏ ra hoa? Có phải vì ý niệm thời gian? Tôi nghĩ là không phải. Mổi lần ra hoa, là một lần sự phát triển đến mức tuyệt đối. Trong hành trình của con người, có phải là đi tìm một cái gì tuyệt đối mà chẳng bao giờ nắm bắt được. Cõi vĩnh hằng, có khi là khói sương, là những mong manh vô định….

Giấc mơ Trường Sơn – Những bài thơ có man mác ý tình, của cái tâm như biển động lúc nào cũng trào khơi theo ngàn sóng vỗ. Không nói đến thời thế mà quê hương vẫn hiển hiện trong thơ. Những nhọc nhằn của một thời đại nhiều máu lệ. Những giấc mơ của những người tham dự vào lịch sử một cách bất đắc dĩ. Những người nhìn thấy Trường Sơn vòi vọi nhân chứng.

Quê hương, những bước chân đi của mười năm, những mốc thời gian đau đớn.

“Ngọn gió đưa anh đi mười năm phiêu lãng
Nhìn quê hương qua dấu tích điêu tàn
Triều Ðông Hải vẫn thầm thì cát trắng
Truyện tình người và nhịp thở Trường Sơn.
Mười năm nữa anh vẫn lầm lì phố thị
Yêu rừng sâu nên khóe mắt rưng rưng
Tay anh với trời cao chim chiều rủ rỉ
Ðời lênh đênh thu cánh nhỏ bên đường
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như lòng ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn
Mười năm đó anh quên mình sậy yếu
Ðôi vai gầy từ thuở dựng quê hương
Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Ðông phương
Và ngày ấy anh trở về phố cũ
Giữa con đường còn rợp khói tang thương
Trong mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ
Vẫn chân tình như mưa lũ biên cương”

Có phải đó là tự truyện của một người Việt Nam? Ở bên kia? hay bên này? Của chiến tuyến đã vạch sẵn từ bao nhiêu năm nay. Dường như đó là nỗi niềm chung mang của cả một thế hệ? Ở phố thị, lầm lì với những tâm tình khó ngỏ thành lời. Trời thì cao mà bàn tay thì khó với tới những ước nguyện và chim trời thì lênh đênh những cánh nhỏ ngơ ngác bên đường. Mười năm rồi tiếp mười năm, quê hương vẫn chỉ là những con sông huyết lệ. Ngày trở về phố cũ vẫn man mác nỗi hờn thiên cổ, của những người hình như mất mát một quê hương.

Thơ Tuệ Sỹ, trong ngôn ngữ bình dị có những suy tư thâm trầm. Xúc cảm hình như cố gắng để lắng đọng lại và ý tưởng cũng được trình bầy một cách gián tiếp để trong màn sương mờ ảo ấy, thấy được cái lẽ xoay vần của thời thế.

Thi sĩ cũng làm thơ tù. Cũng những ngày biệt giam, cũng những bức tường cao nhưng sao lồng lộng gió và đầy trăng sao. Cái thong dong của tâm thể đã vượt quá cái cùm gông của thân xác …

“…Vẫn khúc điệu tự ngàn xưa ám khói
Ép thời gian thành rượu máu trong xanh
Rượu không nhạt mà thiên tài thêm cát bụi
Thì ân tình ngây ngất cõi mong manh
Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỷ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy
Ðổi hình hài con mắt vẫn đầy Sao.”

Viết ở trại giam Phan Ðăng Lưu mà tưởng đến quán trọ của ngàn sao, có lẽ chỉ có một mình Tuệ Sỹ! Sự tưởng tượng ấy như cánh buồm đưa con thuyền ra khơi về chân trời nào mênh mông chỉ có được từ những hồn thơ trải theo muôn dặm bát ngát. Thơ, vô úy, thong dong. Thơ, như trèo qua được con dốc thực tại để đến một nơi, rộng khắp bao la

“Mắt em quán trọ của ngàn sao
Ngọt ngất hoang sơ ánh rượu đào
Pha loãng nắng tà dâng cát bụi
Ấm lòng khách lữ bước lao đao
Mắt huyền thăm thẳm mượt đêm nhung
Mưa hạt long lanh rọi nến hồng
Sương lạnh đưa người xanh khói biển
Bình minh quán trọ nắng rưng rưng.”

Có những vần thơ ngưng đọng, xót xa. Như những thề nguyền, hứa hẹn cho những bước chân lên đường. Những hùng tráng trộn lẫn với bi thương.

“… Ta đã hát những bài ca của suối
Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời
Gọi quỷ sứ từ âm ty kéo dậy
Ngập rừng xanh lấp lánh ma trơi
Ðêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ soi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời.”

Những câu thơ diễn tả tâm trạng của một người muốn làm chuyện đội đá vá trời. Ta đã hát những bài ca của suối. Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời… Lời suối thầm thỉ muôn năm. Hát bài ca đó, có phải là từ thiên thu vọng lại. Gã anh hùng? Ta? Hay kẻ khác? Bẻ vụn mặt trời, để đêm tối kéo về, để quỷ sứ từ âm ty kéo dậy, để hãi hùng rừng núi những ánh ma trơi…

Một bài thơ viết giữa những ngày tháng tư năm 75 ở Nha Trang, lúc tình trạng đất nước nghiêng ngửa thẳm đen. Bài thơ, như một mốc dấu tích cho những ngày tháng không thể xóa nhòa trong tâm khảm những người dân Việt.

“Phố trưa nắng đỏ cờ hồng
Người yêu cát bụi đời không tự tình
Sầu trên thế kỷ điêu linh
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa ráng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời đông
Trời ơi tóc trắng rủ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Ðêm đêm trông bóng Thiên Hà buồn tênh
Ðời không cát bụi chung tình
Người yêu cát bụi quê mình là đâu?”

Cát bụi, từ ngữ được nhắc đi nhắc lại một cách cố tâm. Người yêu cát bụi đời không tự tình. Rồi Ðời không cát bụi chung tình. Người yêu cát bụi quê mình là đâu? Cát bụi, hình ảnh của hỗn loạn, của những lênh đênh ngày tháng. Bài thơ diễn tả nỗi niềm của một người ngơ ngác giữa vần xoay của thời cuộc… Tháng tư năm 75, những ngày tháng chẳng thể nguôi quên. Dù là một thiền sư cố giữ lòng không vọng động. Mà sao vẫn ầm vang thác lũ nỗi niềm.

Thơ Tuệ Sỹ có lúc cô đọng đến chẳng thể ngắn gọn hơn. Như những hé mở, để ở đó tầm nhìn bị kích thích để trải dài tới sâu xa rộng khắp hơn. Không phải thơ haiku của những cây trồng ép mình trong chậu bonsai mà ở đây tự nhiên sống đời thảo mộc trong khổ hạnh chịu đựng náu thân vào ngôn ngữ.

“Bứt cọng cỏ
Ðo bóng thời gian
Dài mênh mang”

Hay:

“Gió cao bong bóng vỡ
Mây sương rải kín đồng
Thành phố không buồn ngủ
Khói vỗ bờ hư không”

Buổi sáng tập viết chữ thảo, có một chút mênh mang thời cũ nhưng cũng có những khắc khoải bây giờ. Ban mai là lúc tấm lòng mở ra, vô tận. Thơ, cũng phơi phới, an nhiên vô ngại:

“Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vuốt tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba”

Tụê Sỹ. Thiền sư khổ hạnh. Hay một nghệ sĩ phiêu bồng. Hay là chiến sĩ tranh đấu cho dân tộc cho đất nước với sự sắt son kim cương vô hoại. Thơ cũng trong những góc cạnh ấy để có một đời sâu sắc phong phu mà ngôn từ bình dị như thanh kiếm gỗ của Ðộc Cô Cầu Bại trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung sắc bén hơn vạn lần bảo kiếm. Thơ Tuệ Sỹ, ngôn ngữ đời thường để biểu hiện tấm lòng bồ tát…

Trong cuộc hành trình, đời sống mở ra những cảm xúc. Tuệ Sỹ làm thơ trong cái phơi phới của thiên nhiên, của núi cao mây trắng, của bến cũ neo thuyền, của mặt biển khơi xao động. Bài thơ “Một Bước Ðường”, không có phong vị của một bài hành nhưng sao nghe như có một điều gì bừng dậy của tâm tư, của những tâm can bừng bừng ngữ ngôn:

“Một bước đường thôi nhưng núi cao
trời ơi mây trắng đọng phương nào?
Ðò ngang neo bến chờ sương sớm
Cạn hết ân tình nước lạnh sao
Một bước đường xa xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra biển bình minh đó
Nhưng mấy ngàn năm tống biệt rồi
Cho hết đêm hè trong bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy ngàn sau ố nhạt nhòa
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạy lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu áo
Trên phím dương cầm hay máu xanh…”

Giấc mơ Trường Sơn, một tập thơ mỏng nhưng chứa đựng nhiều biển trời và đại dương như thi sĩ Bùi Giáng đã nhận xét khi đọc một bài thơ trong đó. Và tôi xin được trích dẫn lại thay cho lời kết bài viết này:

“… Thi nhân đã mấy phen ngồi ngắm trăng tàn. Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp với chân trời xa xôi đại hải?

Ðỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Ðỉnh đá quy tụ về mọi hướng màu trời mây rừng rú.Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Ðó là cái bất tận của tâm tình đứng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du. Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Ðường thi Trung Hoa đến siêu thực Tây phương…”

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn: https://sangtao.org/2017/05/09/tue-sy-vien-mong-may-khung-troi/#more-95685

Ba Mươi Năm Chưa Gặp. Thơ Hư Vô


Ba mươi năm chưa gặp
Tưởng chừng mới hôm qua
Tóc còn dài e ấp
Chải dòng sông quê nhà.

Mà có lần em đã
Bước lún một dấu chân
Vết bùn lem gót nhỏ
Cho nặng thêm nợ nần!

Gọi nhau lời tuyệt vận
Em bây giờ ở đâu?
Dòng sông xưa đã cạn
Tóc quen hơi, đã nhầu.

Ba mươi năm không gặp
Còn nghe tiếng thở dài
Từ nụ hôn ngây dại
Một thời tình mãn khai.

Có bước vào mê lộ
Cũng chỉ tới vực sầu
Chỗ anh về cỏ mọc
Đã mù mịt chiêm bao.

Sydney hay Newyork
Trời đất cũng bạc đầu
Vết thương còn rịn máu
Làm hoang phế đời nhau…

Hư Vô

Đường Lên Núi Thiên Mã. Truyện dài Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Bạn đọc vừa theo dõi xong một cuộc điều tra của ông Thanh tra Mạc Kính, nữ ký giả Thu Dung và Sơn bán báo.

Đây là một tác phẩm trong loạt truyện trinh thám phiêu lưu do tác giả viết riêng cho lứa tuổi Thiếu Nhi. Qua diễn biến của câu chuyện, tác giả đã du nhập một cách linh động những kiến thức khoa học phổ thông để dẫn giải các sự kiện xảy ra trong đời sống các nhân vật. Ở đây, những phương pháp suy luận theo tinh thần khoa học, những ứng dụng mới mẻ trong lãnh vực điều tra như những kỹ thuật theo dõi kẻ gian, kỹ thuật lấy dấu tay, kỹ thuật giảo nghiệm các tài liệu giả mạo, những ứng dụng mới của khoa học vào lãnh vực truy tầm nghiên cứu v.v… cùng các vấn đề phổ thông liên quan đến sử ký, địa lý, lịch sử địa chất Việt nam v.v… Tất cả sẽ là những bài học linh động vừa giải trí vừa bổ ích cho các em..

HUYỀN TRÂN XUẤT BẢN

Chương Một
BẢN TIN GIỜ CHÓT

Trong suốt một ngày, chỉ trừ lúc báo bắt đầu lên khuôn là tòa soạn mới trở nên yên tĩnh hẳn sau những giờ ồn ào, náo nhiệt.

Ban biên tập chủ lực sau khi thu xếp xong bài vở đã kéo nhau đi hết từ lúc bốn giờ.

Anh thư ký tòa soạn nán lại để cắt tin giờ chót cũng đã rời tòa soạn sau đó ít phút. Kíp thợ sắp chữ làm việc suốt từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều cũng đã về. Chỉ riêng có anh chef- typo (trưởng nhóm thợ xếp chữ) là còn có mặt để phòng hờ có sự thay đổi vào phút chót.

Rút cuộc, cả tòa báo ồn ào suốt từ sáng sớm đến xế chiều bây giờ chỉ còn toán thợ đúc chì. Toán lên khuôn chạy máy là bắt đầu vào việc.

Người thợ đúc chì đắp lên trang báo đã xếp thành chữ những tờ giấy dó mỏng và ướt (như những tờ giấy bản để viết chữ nho – nhúng ướt để giấy ăn sát vào bát chữ), rồi phết từng lớp bột lên mỗi lớp giấy, xong cho vào máy ép nóng, ép thành những khuôn chữ cứng. Sau đó những thanh chì được nấu chảy đem đổ lên cái khuôn này, rồi để nguội sẽ thành những bản chì đúc, khi ghép lại sẽ có nguyên một trang báo. Người thợ chạy máy chỉ việc đóng những bản chì đó lên mặt gỗ của máy in rồi cho máy chạy là từng tờ báo thơm phức được hoàn thành. Một đôi khi người thợ vội vã đóng không lút đinh, nên khi báo in ra có những chỗ còn hằn cả vệt đầu đinh lên trang giấy. Báo tuy ra 8 trang nhưng trang 2 /trang 7 và trang 4/trang 5 gồm những bài không cần theo sát thời sự đã được in từ ba ngày trước. Chỉ có trang 1/trang 8 hay trang 3/trang 6 là ấn hành sau để tòa soạn kịp loan những tin tức nóng hổi trong ngày.

Với cách làm việc ấy, độc giả ở Thủ Đô vào khoảng 6, 7 giờ chiều là đã có báo đọc của ngày hôm sau. Phần còn lại sẽ được in suốt đêm để sáng sớm hôm sau đem phát hành đi các tỉnh. Những khu vực làm việc của toán thợ làm đêm đều được dồn hết về phía dẫy nhà sau của tòa báo, ở đó phòng sắp chữ, lò đúc chì, bàn vỗ bản thảo, máy in…là chen chúc gần như kín mít, chỉ còn chừa có một lối đi hết sức chật hẹp. Phần đông các tòa báo Việt Nam đều nghèo như thế.

Căn phòng dành cho tòa soạn lại còn nghèo hơn, được đặt trên một cái gác xép, mái tôn thấp và nóng, bàn ghế dành cho ký giả thì ọp ẹp và tồi tàn, nhưng ai có thể biết rằng chính những tinh hoa của các bài nghị luận đanh thép, chính những tin tức sốt rẻo, bám sát thời cuộc, những truyện dài với tình tiết lâm ly, hấp dẫn đều hầu như được sáng tác ở đó.

Phần đẹp nhất của tòa báo là căn phòng ngoài cùng, nơi đặt bàn giấy của ty Quản Lý, chỗ tiếp xúc với độc giả thường xuyên vì thế khung cảnh có phần tươm tất hơn, việc sắp đặt được ngăn nắp hơn. Ở ngoài vào, ta sẽ thấy một cái quầy gỗ của nhân viên nhận đăng quảng cáo hay rao vặt, kế đó là bàn giấy của vị quản lý với vài nhân viên phụ tá. Đặc biệt chiếc điện thoại độc nhất của tòa soạn được để trên một chiếc kệ gỗ cho mọi phần hành xài chung, và một cô thư ký xinh như mộng phụ trách trực cái điện thoại đó trong suốt giờ làm việc để ghi nhận các tin tức của mọi nơi, những lời dặn dò của phóng viên đang len lỏi trong khắp mọi sinh hoạt của Thủ đô đã dùng dây nói từ xa gọi về.

Sinh hoạt của tòa báo từ sáng đến xế chiều thật là ồn ào. Và chỉ khi thành phố đã lên đèn, các em bán báo cổ động đã khuân đủ những chồng báo mới tinh còn lóng lánh màu mực mới đem phát hành khắp Thủ đô, thì chừng đó cánh cửa sắt mới được kéo lại, và người làm công già nua mới đem chổi ra quét dọn những tờ bản thảo rơi vương vãi, những tờ bài vỗ đã sửa xong vứt rải rác mỗi nơi một mảnh.

Hôm đó vào khoảng năm giờ chiều, ở tòa báo Ánh Sáng Thời Đàm mọi sự sắp đặt đã hoàn toàn xong xuôi. Bản đúc chì đầu tiên đã được đóng lên máy và người thợ đã lăn thử ấn bản đầu tiên trao cho anh Thư ký Tòa soạn kiểm soát lại. Tờ báo “mi” (Mise en pages=Dàn trang) thật đẹp, chữ vỗ thật sắc nét, mực in xuống đều, bản kẽm in hình thời sự lên thật rõ, mọi người đều mỉm cười hài lòng. Và đúng lúc ấy, chuông điện thoại reo vang. Tất cả mọi người có mặt đều nhìn về phía cô Bích Ngọc, nhân viên trực điện thoại lúc ấy vẫn còn hiện diện. Bàn tay tháp bút của Bích Ngọc nhanh nhẹ nhấc ống nói lên, nàng cất tiếng thỏ thẻ :

– A lô ! Nhật báo Ánh Sáng, chúng tôi nghe đây.

Im lặng choán chỗ trong một phút và cặp mắt dịu dàng của nàng bỗng nhếch lên biểu lộ một sự kinh ngạc làm mọi người quay lại chú ý nhìn. Một lát Bích Ngọc ra hiệu cho anh thư ký tòa soạn, rồi bịt ống nghe lại, nói nhanh :

– Đông Hưng vượt ngục rồi !…

Như bị một luồng điện giật, tất cả mọi người đều ồ lên một tiếng, và anh thư ký tòa soạn hỏi ngay :

– Thật không ? Ai cho tin ấy thế?

Bích Ngọc giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng, lắng nghe một lát nữa rồi cúp máy điện thoại và quay lại trả lời :

– Sở Cảnh Sát Thủ Đô, đích thân ông Thanh Tra Mạc Kính gọi lại. Ông ta báo tin lão Đông Hưng Chủ tịch Hội Phù Dung đã vượt ngục vào giữa buổi chiều hôm nay !

Dân chúng ở Thủ đô không còn ai lạ gì tổ chức Hoa Phù Dung của Đông Hưng. Đó là một tổ chức rất chặt chẽ, qui mô dùng mọi hình thức bất lương và phi pháp để kinh tài. Cầm đầu là một thương gia khả kính ở Chợ Lớn tên là Đông Hưng đã bị bắt sau cuộc âm mưu thanh toán ông già Nguyễn Quốc Viên để đoạt những tài liệu mật thiết đến chiến dịch Kim Cương “Những con đom đóm trời”. (Xin xem Lá Chúc Thư đã in thành sách). Vụ án này gây chấn động dư luận Thủ đô, mới trong vòng không đầy một năm trước đây. Và bây giờ khi đang thọ phạt bản án 10 năm cấm cố thì có tin Đông Hưng vượt ngục.

Anh Thư ký Tòa soạn vội vàng ra hiệu cho máy ngưng chạy và nhảy bổ đến chỗ đặt điện thoại, nhấc lên quay số thật nhanh. Mọi người hồi hộp chờ đợi. Trong vài giây sau, anh đã liên lạc với ông Mạc Kính ở đầu dây. Không biết ông Mạc Kính nói những gì, chỉ biết sau cuộc điện đàm này, anh ra lệnh cho tất cả vào việc. Thợ máy gỡ ngay khuôn báo vừa lên xong. Anh chef- typo sửa soạn xếp bản tin giờ chót, bản tin chắc chắn sẽ nóng hổi và nhanh chóng hơn bất cứ báo nào khác. Còn thợ đúc chì cũng phải sửa soạn để đúc lại bản tin mới. Một bài trên trang nhất không mấy quan trọng sẽ được đục bỏ để có chỗ thay thế. Tất nhiên báo có thể chậm hơn mọi ngày chừng một giờ. Nhưng để bù lại, nhật báo Ánh Sáng chắc chắn sẽ chạy như tôm tươi về một tin tức sẽ làm tất cả độc giả phải sững sờ. Sau đây là nguyên văn bản tin do anh thư ký tòa soạn đã cấp thời viết ngay sau khi phối kiểm tin tức một cách chính xác:

CHẤN ĐỘNG TRONG GIỚI AN NINH NHÀ NƯỚC:
ĐÔNG HƯNG, CHỦ TỊCH HỘI HOA PHÙ DUNG ĐÃ VƯỢT NGỤC

Tin giờ chót: Một nguồn tin từ giới thẩm quyền trong Sở An Ninh Quốc Gia đã cho biết Đông Hưng chủ tịch Hội Hoa Phù Dung đã vượt ngục ngay giữa thanh thiên bạch nhật, vào hồi ba giờ chiều hôm nay 4 tháng 4 khi đương sự đang được di chuyển từ khám đường Trung Ương ra Vũng Tàu để đi Côn Đảo. Tưởng cũng nên nhắc lại rằng trong những năm vừa qua, một tổ chức nguy hiểm cho nền an ninh xã hội mệnh danh là Hội Hoa Phù Dung đã hoạt động mạnh mẽ làm mất ăn mất ngủ nhiều thương gia giàu có và đã khiến giới cao cấp trong ngành an ninh phải điên đầu. Sau đó, nhờ kỳ công của ông Thanh Tra Mạc Kính, phối hợp với sự điều tra khéo léo tuyệt vời của bản báo phóng viên, nữ ký giả Thu Dung và em Sơn, một tài năng điều tra hiếm có chỉ giữ nghề nghiệp khiêm nhường là đi bán báo, toàn thể cơ sở đầu não của Hội Hoa Phù Dung đã bị phá vỡ. Chủ tịch Hội là Đông Hưng, một thương gia có uy thế trong giới tài phiệt đã bị bắt giam và tòa kết án 10 năm. Vào hồi ba giờ chiều hôm nay, tù nhân Đông Hưng dưới danh số A. 18279 đã vượt ngục một cách dễ dàng trên đường di chuyển từ khám đường Trung Ương ra Vũng Tàu để được đi Côn Đảo. Chắc chắn việc tổ chức vượt ngục này đã được nghiên cứu chu đáo kỹ lưỡng và có sự tiếp tay của nhiều đồng lõa. Cuộc điều tra của nhà chức trách đang tiến hành. Nữ bản báo phái viên Thu Dung đang theo dõi vụ này, chắc chắn sẽ cống hiến độc giả thân mến nhiều tình tiết ly kỳ và lý thú. Xin độc giả nhớ đón coi”.

Nhật Tiến

Xem tiếp Chương Hai

 

Tháng 5, Sinh Nhật Tình Nhân. Thơ Hư Vô


(Viết cho sinh nhật tôi, 15/ 05)

(Chipping Norton Park in autumn. Photo by Hạ Vàng) 

Tháng 5, sinh nhật tình nhân
Em về giũ áo dự phần mùa thu
Tiệc tình dọn xuống hư vô
Kề chung ngực thở cuồng xô sóng ngàn.

Tôi lăn vào giữa dung nhan
Tan trong da thịt tình nhân bất ngờ
Mùa thu đâu biết chần chờ
Để tôi quờ quạng trải thơ em nằm.

Một lần sinh nhật trăm năm
Có em trang điểm trái tim tội tình
Hối hả nhịp thở hồi sinh
Nhập hồn chung cuộc linh đình đời sau.

Em ơi, buồn mới bắt đầu
Biết đâu còn được nỗi đau muộn màng
Tháng 5, mù mịt lá vàng
Trong tim tôi đã hoang đàng, từ khi …

Hư Vô

Quán Thơ Hư Vô 283


ĐỈNH LÁ MÙ

Bước ngang qua đỉnh lá mù
Hồn treo ngược bóng cõi thu chớm vàng
Quay lại phía bụi vông vang
Thấy em đứng giữa hai hàng gai khô.

Tôi như một gã tội đồ
Lần theo quá khứ mơ hồ gọi nhau
Đường trơn đâu có lối vào
Để tôi còn biết vết đau cựa mình.

Mùa thu đâu có tội tình
Chỉ là chiếc lá thình lình vướng chân
Bóng em ngả xuống thật gần
Chỗ trái tim đang dự phần cuộc chơi.

Mà em cũng có một thời
Theo tôi bén gót cho đời sắt son
Bước qua dấu tích chưa mòn
Tôi và em đã nhừ đòn như nhau…

Hư Vô

LẶNG LẼ TAM KỲ

lặng lẽ Tam Kỳ, lặng lẽ nhau
đi qua, không ghé, phố thương người?
chiếc xe đò thuở em còn trẻ
chở miết mùa xưa vĩnh biệt tôi

lặng lẽ Tam Kỳ, lặng lẽ em
một đời bụng dạ gửi chồng con
thì tôi có đứng trông đầu phố
cũng chịu tàn rơi một nỗi niềm

lặng lẽ Tam Kỳ, lặng lẽ tôi
thăm em, như đã được thăm rồi
chuyến xe đò chở nhau đi mất
bỏ lạc bài thơ thuở tặng người.
2017
Hoàng Lộc

TA GỌI EM LÀ O HUẾ .2
tặng TL.
Ta nợ em bài thơ về xứ Huế
Bài thơ buồn của những kẻ tha hương
Ta đến Huế- chưa biết nhiều về Huế
Đã yêu ngay hàng phượng vĩ bên đường

Chiều hối hả- mưa luồn về An Cựu
Một chút gì ướt đẫm cả hồn ta
Không phải đâu- sá gì dăm chén rượu
Huế đón ta – Ừ, những gã xa nhà

Em và Huế- trong ta là bí ẩn
Huế thâm nghiêm mà em lại dịu dàng
Em với Huế – trong ta là ngộ nhận
Nên yêu hoài những bước nhỏ lang thang

Ta nợ em bài thơ về xứ Huế
Nợ sông Hương – nợ cả chuyến đò ngang
Bởi núi Ngự không cây chim ngủ đất
Nên chuông chùa Thiên Mụ mãi ngân vang..

Ta vẫn thích gọi em là O huế
Có cái gì gần gũi lẫn âu lo
Ta yêu Huế chưa viết gì về Huế
Nợ lần nầy- mai mốt trả cho O…

Hochibuu

THƯƠNG QUÊ

hẹn em về, trưa thơm hương nắng
mạ ven đường mát rượi gót chân.
chuyện cũ vỡ òa. đêm tĩnh vật
buồn len theo giọng kể u trầm.

đâu phải chỉ vì đời xa xứ
mà thương quê như chuyện đã đành.
khi tuổi nhỏ thả diều hái sứ
đọng vào hồn những giấc mơ xanh.

đâu phải chỉ vì ta yêu em
để nhớ nhung dắt vào kỷ niệm.
ta muốn dắt ta về làng cũ
thăm lũy tre giếng nước miếu đền.

đâu phải chỉ vì đời lận đận
để nhớ nhà cho ấm nỗi buồn.
xa xứ. ta là tay ở ẩn
người đua chen. ta kẻ đứng bên đường.

những chiều nắng nhạt bên thềm vắng
thơ thẩn hon mơ ánh nguyệt tà.
mấy phen chìm nổi. không danh phận
đã thấm đòn đau. nỗi nhớ nhà.

Đức Phổ

BOLÉRO VÀ EM

Thả Boléro cùng em
Khóa sol nằm ở môi mềm giai nhân
Tình tiền kiếp cứ lần khân
Đến hôm nay hát cho vầng trăng nghiêng…

Anh hùng ráp với thuyền quyên
Tay anh gõ nhịp, mắt em chia lời
Chấp luôn chợ Nọ ca mùi (*)
Chim bay Bến Ngự tiếc hùi hụi xưa!

Đêm buồn, phố nhỏ trong mưa
Chợt thương khăn áo mình chưa vàng ròng
Boléro qua cầu cong
Lại tròn trái ấu trên dòng thời gian…

Trần Dzạ Lữ
(*) Boléro chợ Nọ Huế

ĐÔI KHI GIỮA KHUYA

Khuya nghe điệp khúc xuyên từ đất
điệp khúc cung buồn tiếng dế ca
đôi khi đâu đó như phảng phất
một nổi từ bi trách cứ ta

khuya nghe hiu quạnh trong hồn đá
cái lạnh thấm dần cơn ngủ mê
đôi khi chợt thấy mình như lá (*)
tìm ngõ năm xưa một lối về (**)

khuya nghe tiếng gió ru ngủ cỏ
lòng chợt buồn theo với tháng ngày
mai này thuở ấy là cố thổ
có nhận ra mình : đứa trắng tay

khuya nghe mặt đất đang chìm xuống
níu kéo thời gian chạy trở vào
ngõ cụt tâm hồn đường ướt nhũn
trơn trợt chân đời bước thấp cao

khuya nghe tiếng vọng âm rừng cũ
tôi vén màn sương, chạm mặt nhau
rũ cánh tôi về mong thắp lửa
ngọn nến hoang đường tắt đã lâu

đông hương
(*) thơ LanPhi
(*) ý thơ LanPhi

THÁNG NĂM HOA TÍM LẠI VỀ

Tháng năm bằng lăng lại nở
Con đường tím bước chân ai
Nắng ơi đem theo làn gió
Mùi hương một thuở thương hoài.
*
Tôi như chim hoang bỏ núi
Rong chơi giữa chốn đồng bằng
Bỗng đâu người dưng rất lạ
Vô tình chịu cảnh trói chân.
*
Từng chiều mưa sao dai quá
Đường xa chẳng thấy em về
Sợ gần em nghiêng mặt lại
Tỉnh tuồng giả bộ nhà quê.
*
Cuối mùa chồi non nẩy lộc
Từng chùm quả nỏn xanh tơ
Tình tôi sao không kết nụ
Người xa nên nỗi dại khờ.
*
Tháng năm nhớ tà áo trắng
Một thời trốn gió bâng khuâng
Ai thương đỏ màu phượng thắm
Riêng lòng tôi tím bằng lăng.

Nguyễn An Bình

NGÀY THÁNG MỆT NHOÀI

ngày qua tháng lại võ vàng
hồn tôi như ánh đèn vàng xước mưa
nghe tình dội những âm xưa
nghe tôi loáng thoáng đời vừa tàn phai

từng đêm ngồi nhớ sớm mai
biển khuya khoắt dội sóng dài qua tay
ru đời bằng những âm say
như tôi đã sống lạc loài cỏ cây

tạc vào trí nhớ một mai
là chênh chao những hình hài phù du
có ai về giữa sương mù
cho tôi đội bóng thiên thu cuối trời

mong manh sương khói gọi mời
buổi về chân mỏi rã rời đường bơi
chiều ngồi vớt sóng biển khơi
mới hay buồn đã mệt nhoài cõi tôi…

Nguyễn Minh Phúc

NHỚ
(Họa theo bài Nhớ của N T L)

Em đi thu vàng mấy độ
Cố hương mờ khuất chân trời
Chuyện xưa vùi sâu đáy mộ
Lặng thầm ngày tháng dần trôi.

Đã mấy lần thu thay lá
Quê xa còn có mong chờ?
Phố cũ dường như… xa lạ
Người về – quá đỗi bơ vơ …

Kỷ niệm một thời vẫy gọi
Khơi xa nhớ nước đầu nguồn
Sao nước xuôi dòng không đợi?
Bên cầu ô thước… mưa tuôn.

Ngày xưa chung đường bao bận
Bây giờ, trăng lạnh cùng em
Đâu thuở hoa vàng bướm dại?
Trở mình, gió rớt tàn đêm…

Phan Mạnh Thu
9/2011

FullSizeRender

Dòng Sông Mùa Thu. Thơ Hư Vô


Dòng sông anh xanh như màu áo
Chợt nắng về thay áo dòng sông
Em mùa thu tóc dài hai nhánh
Chia nỗi buồn thành đôi cánh mênh mông.

Để em tan vào anh, như nắng
Chở nhau về nơi rất bình an
Ở đó có vô vàn mây trắng
Và cây bàng đang khép nép khỏa thân.

Anh nín thở trên môi thu vừa áp
Em xôn xao giọt nước mắt vào đời
Lòng anh vẫn còn nguyên chăn gối
Trải lụa là lên mặt nước chơi vơi.

Rồi thu bỏ đi khi anh chợt thức
Nắng cũng vàng theo bóng cuối dòng
Trời ở xa còn gần hơn ngọn sóng
Mất nhau rồi, em nhớ một dòng sông??

Hư Vô

Đỉnh Lá Mù. Thơ Hư Vô


Bước ngang qua đỉnh lá mù
Hồn treo ngược bóng cõi thu chớm vàng
Quay lại phía bụi vông vang
Thấy em đứng giữa hai hàng gai khô.

Tôi như một gã tội đồ
Lần theo quá khứ mơ hồ gọi nhau
Đường trơn đâu có lối vào
Để tôi còn biết vết đau cựa mình.

Mùa thu đâu có tội tình
Chỉ là chiếc lá thình lình vướng chân
Bóng em ngả xuống thật gần
Chỗ trái tim đang dự phần cuộc chơi.

Mà em cũng có một thời
Theo tôi bén gót cho đời sắt son
Bước qua dấu tích chưa mòn
Tôi và em đã nhừ đòn như nhau…

Hư Vô 

Món Quà “Hòa Giải”. Huy Phương


                                           Huy Phương
 .
 Nhà văn Huy Phương
 

Trong buổi lễ trao giải thưởng văn học năm 2016 tại Việt Nam, ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Cộng Sản Việt Nam cho biết sẽ tổ chức một hội nghị, vào ngày Giỗ tổ Hùngg Vương 10 tháng 3 năm 2017 âm lịch, mời tất cả những nhà văn VN ở nước ngoài về dự, kể cả những nhà văn đó phục vụ chế độ cũ. Đây là một “hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học!”

Chúng ta cũng nên biết rằng, Hội Nhà văn Việt Nam lâu nay vẫn được xem là công cụ của đảng, và ông Hữu Thỉnh đã được đảng sắp xếp cho làm chủ tịch trong thời gian dài 15 năm (ba nhiệm kỳ.) Trong tình trạng chính Hội Nhà Văn VN cũng đang muốn tắt thở bị cắt ngân khoản xuống ½ và ngân khoản này hầu hết dùng để in báo phát không (free) cho con số hội viên không dưới 1,000 người, và ngay trong tình trạng khó khăn như vậy, Hội này lại dám đề xuất một hội nghị có tầm vóc, tốn kém trong một thời gian quá ngắn, hẳn là một việc làm cấp bách do cấp trên giao phó là khẩn trương “hòa hợp dân tộc.”

Trước hết trên danh nghĩa, ông Hữu Thỉnh đã dùng chữ “nhà văn phục vụ chế độ cũ” để nói đến những người như chúng tôi, hầu phân biệt với những nhà văn phục vụ chế độ của đảng ngày nay.

Thật ra, theo định nghĩa chung của nhà văn, nhà văn không phải là thứ “viết thuê vẽ mướn,” đồng nghĩa với “chém thuê giết mướn” trong cung cách văn nô, bồi bút theo lề lối của những nhà văn, nhà thơ sống trong chế độ Cộng Sản lâu nay, không “phục vụ” thì chỉ có cách chết đói hay đi tù như những nhà văn thuộc thế hệ Nhân Văn Giai Phẩm 1955. Không phục vụ chế độ như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm có nghĩa là “tình báo nước ngoài được cài cắm và làm gián điệp cho ngoại quốc” nhằm “phủ nhận sự lãnh đạo của đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo chính trị và nhà nước duy nhất của đảng Lao Động VN.” (lời lẽ kết án của đảng đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm.)

Nhà văn ở miền Nam trước đây không có ai nhận sự lãnh đạo chính trị của đảng nào hay chính phủ nào trong lĩnh vực văn hóa cả. Thiên chức của một nhà văn không phải sinh ra để phục vụ chế độ hầu để kiếm chén cơm, manh áo, chút tem phiếu hay một chức vụ của đảng ban cho. Ở miền Bắc, người ta đào tạo ta những nhà văn như thế, nhưng tận tụy phục vụ cho đảng, cuối cùng cũng chỉ nhận được sự xem thường, khinh miệt.

Có lần, hội nhà văn Cộng hòa Dân chủ Đức, qua Hội Nhà Văn Việt Nam gửi tặng cho các nhà văn Việt Nam mấy cái xe đạp Diamant, thời đó món quà này là một cả một gia tài lớn. Hội nhà văn làm danh sách, chia xe đạp cho một số nhà văn, trong đó có nhà văn Nguyên Hồng. Từ Bắc Giang, Nguyên Hồng lặn lội về Hà Nội nhận xe. Nhưng nhà văn phục vụ chế độ khốn khổ này, cuối cùng chỉ được chụp hình với cái xe, để người ta gửi báo cáo về Đông Đức, còn cái xe thì hội giữ lại để dâng cho bọn lãnh đạo. Nguyên Hồng cho rằng Hội Nhà Văn VN đối xử với hội viên của họ còn thua bọn đầu nậu, du thủ du thực trong Bỉ Vỏ (tác phẩm của Nguyên Hồng trước 1945.)

Còn thời nay, Nguyễn Hữu Thỉnh, người lãnh đạo Hội NVVN suốt 15 năm là một nhân vật như thế nào?

Hữu Thỉnh sinh năm 1942, 10 tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn lính Pháp. 12 tuổi mới được đi học. Nhập ngũ, làm lính Trung đoàn 202, tham gia các công việc như chăn bò, học lái xe tăng, Sau 1975, Hữu Thỉnh học Sơ cấp Thú Y. Đặt để một ông tốt nhiệp sơ cấp Thú Y, trưởng ban Chăn nuôi, biên tập của Tạp chí Thú Y, một ông Thừa Cung thời nay, làm Hội trường Nhà Văn VN, thật là đúng quy cách, đường lối của đảng đối với văn nghệ sĩ.

Hổ thẹn vì mang danh hội viên Hội Nhà Văn VN, ngày 11/5/2015, hơn 20 nhà văn, nhà thơ đã ký tên vào đơn tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam. Đó là Nguyên Ngọc, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Đình Trọng, Võ Thị Hảo, Bùi Minh Quốc, Đặng Văn Sinh, Hòang Minh Tường, Lê Hiền Phương, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Quang Thân, Thùy Linh, Vũ Thế Khôi, Ý Nhi, Dư Thị Hòan, Trịnh Hòai Giang, Dạ Ngân, Nguyễn Duy, và Trần Kỳ Trung. Trong số 20 người, có bốn người cũng đồng thời tuyên bố rời bỏ cả Văn đoàn độc lập: Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Nguyễn Duy và Trần Kỳ Trung.

Cái hội nhà văn do ông Hữu Thỉnh lãnh đạo là cái hội đã đem râu cụ Phan Thanh Giản cắm vào cằm ông Nguyễn Khuyến, lấy khăn vấn của ông Chu Văn An đội cho ông Cao Bá Quát, và cho rằng Hàn Mặc Tử và Yến Lan là một!

Nói về “hòa giải dân tộc,” thì những người có đầu óc suy nghĩ ở hải ngoại hẳn đã phải dị ứng nổi gai ốc, mỗi lần nghe đến mấy chữ này, vì 42 năm với những thù hận, kiêu ngạo, kỳ thị, ngu dốt của những người thắng trận, không còn gì để hòa hợp, hòa giải nữa! Ở trong nước, với người đã chết các ông cũng đào mồ cuốc mả, với người sống thì đàn áp tù đày. Liệu tổ chức được một thứ hội nghị “hòa giải dân tộc” như thế, số tiền hải ngoại gửi về có tăng lên chăng?

Nhưng quý ông trong nước cũng đừng quá bận tâm lo lắng. Không phải đến bây giờ, hải ngoại chưa chịu hòa hợp hòa giải với mấy ông. Cách đây mấy năm, cây cổ thụ âm nhạc như Phạm Duy cũng đã về xin hòa hợp rồi. Ca sĩ ở hải ngoại như Khánh Ly, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Chế Linh, Elvis Phương, Thái Châu, Phương Dung, Hương Lan, Trường Vũ, Phi Nhung, Quang Lê , Tóc Tiên, Đức Huy…về Việt Nam hát thường xuyên, đến đỗi lúc đầu nghe tin CSVN cho phép Khánh Ly về “hòa hợp”, Phạm Duy đã ca tụng đây là một dấu hiệu đáng mừng của “hòa hợp hòa giải!” Rồi Hoài Linh, Chí Tài, Kiều Oanh, Việt Hương cũng nối gót! Ca sĩ gốc “chiến khu” như Thu Phương, Trần Thu Hà, Bằng Kiều…đi ra rồi lại đi vào, đi ngược về xuôi, không còn biết đâu mà lần!

Gần đây một số nhà văn, nhà thơ của miền Nam thời cũ (tôi không dùng chữ phục vụ chế độ cũ,) mặc dầu họ đã là những cựu quân nhân, viên chức, thậm chí đã bị các ông cầm tù, đày ải trong các trại tập trung, cũng đã xin về hòa hợp hòa giải bằng cách “giao lưu” với những nhà văn trong nước, xuất bản, in sách, giới thiệu, ra mắt tác phẩm. Họ đình đám, ca tụng hòa giải với nhau, còn đem hình ảnh ra quảng bá, khoe khoang trên báo chí hải ngoại nữa, thì cần gì các ông phải nhọc lòng, tốn ngân khoản để tổ chức hội nghị này, hội nghị nọ cho nhọc lòng, thêm đề tài cho thiên hạ chửi nữa..

Cũng có thể rồi đây, các ông sẽ chiêu dụ được một đám lòng tong, cá chốt ở đây về dự tham dự hội nghị “hòa hợp dân tộc” nhân dịp giỗ Tổ Hùng Vương. Cũng còn nhiều anh lúc ra đi, trốn chui trốn nhũi, bây giờ về, muốn được xe công an hộ tống có còi hụ dẫn đường, và muốn nhảy cẫng, leo lên sân khấu cùng vỗ tay hát bài hát “Như Có Bác Hồ” của Phạm Tuyên, đứa con bất hiếu!

Tôi không nghĩ là ông Hữu Thỉnh “hoang tưởng” như nhà văn Nhật Tiến nhận định trong cuộc phỏng vấn của Văn Hoá, có thể Cộng Sản nghĩ đúng: mẻ lưới nào quăng ra mà không có cá! Không có cá thì cũng có cua, còng, rơm rác! Rồi căn cứ vào đó, theo thói quen được chăn dắt, báo chí truyền hình trong nước lại ca tụng: “hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học” đã thành công rực rỡ!

Thôi, “bỏ đi Tám!”

Huy Phương

Nguồn :http://thoibao.com/mon-qua-hoa-giai/

Quán Thơ Hư Vô 282


THÁNG TƯ, NGÀY TẬN THẾ

Sài gòn tháng tư ngày tận thế
Mẹ về chưa kịp phút lâm chung
Để thấy thằng con ria họng súng
Viên đạn đồng kết liễu anh em.

Bốn mươi năm còn nghe tiếng khóc
Ngổn ngang một chứng tích tương tàn
Có tự hào bên nào chiến thắng
Bàn thờ cũng đã lạnh khói nhang.

Dòng máu đỏ mang hồn tổ quốc
Tội tình gì mà phải giết nhau
Mẹ đẻ hoang đàn con mất giống
Trơ gan vùi dập xác đồng bào!

Bốn mươi năm Sài gòn đã chết
Kể từ ngày thành phố đổi tên
Cờ sao bay đỏ tròng con mắt
Đắng hồn giỗ muộn tháng tư đen…

Hư Vô

ĐEM TÌNH VỀ THẮP THÁNG TƯ

Tháng ba mang đi chiếc lá tội tình
Ô cửa lớp lạc vào vườn cổ tích
Tình yêu tôi rất thơm màu mực tím
Chưa kịp phai khi phượng trổ đầu cành.

Tiếng ve rền đâu đó giữa trời xanh
Sao xa ngái tiếng cười tan nắng vỡ
Tôi đứng lại nhìn thời gian ngược gió
Chợt nghe tim mình lỡ nhịp run lên.

Cũng đâu còn tiếng guốc mộc êm êm
Buổi sáng vừa lên nắng hồng đôi má
Màu mắt trong veo chao nghiêng sắc hạ
Bỏ mặc mình tôi nắng sớm chuyển mùa.

Tôi theo mưa về tìm tháng tư xưa
Trong nỗi nhớ vụng về thời mới lớn
Thương vạt nắng chông chênh vừa qua cổng
Đỏ một trời màu phượng của tôi ơi.

Nguyễn An Bình

ĐÔI MẮT THÁP MƯỜI

cớ chi môi miệng em cười
làm cho tôi nhớ Tháp Mười tràm chim
nắng vàng thả ngập chiều nghiêng
em chèo mà mắt đưa duyên ngập ngừng

trách con chim sáo lừng khừng
sao không nhắn gửi tôi đừng sang sông
Tháp Mười chiều xuống mênh mông
để tôi lạc giữa bềnh bồng mắt em…

êm êm sóng vỗ mạn thuyền
sen mùa nước nổi bình yên chim về
ngọt ngào tiếng hót đê mê
bâng khuâng chân bước lặng nghe hương tràm

Tháp Mười ơi nắng đừng tan
để tôi còn gặp mùa vàng tương tư
để tôi còn níu nụ cười
của người em gái Tháp Mười vướng chân…

Nguyễn Minh Phúc

HOA QUÊ

Lưng đèo hoa rụng nhặt thưa
Vườn xưa cau cũng già nua lắm rồi
Người về… nắng đã qua đồi
Bờ sương khói lạnh sông phơi bóng tà

Những mùa mưa bão quê xa
Đi qua… có để phù sa bãi bồi
Mà Mua vẫn tím ven đồi
Sắc màu da diết nửa đời xa quê.

Mây ngàn theo gió sơn khê
Người đi…đi mãi… lối quê mịt mờ
Hoa Mua cùng với tuổi thơ
Chỉ còn trong những giấc mơ nửa chừng

Rồi mai cát bụi về rừng
Xin làm ngọn cỏ lưng chừng đồi quê
Có hoa Mua tím bốn bề
Ru cho tròn giấc người về trăm năm

Bến chiều nằm nhớ xa xăm
Cội tre già cũng trầm ngâm mấy mùa
Ngậm ngùi nhặt cánh hoa Mua
Ngờ trong sắc tím… ngày xưa lại về.

Phan Mạnh Thu

LỤC BÁT TRONG TRĂNG.

Cúi hôn đất mặn vị gừng
Nghe hoa mai nở nửa chừng lại thôi.
*
Ngày về nhặt bóng trăng côi
Đem treo ngược giữa tay người lộ thiên
*
Quê nghèo sót chút hồn duyên
Vườn rau muống nhớ con thuyền neo xa
*
Tháng mười cải muộn nở hoa
Mái tranh vệt khói lạnh tà tà bay
*
Nỗi buồn hóa những vầng mây
Tha hương mỏi lối đọng đầy cố hương.
*
Em chưa khô giọt lệ hường
Mà hoa súng đã tím phương trời chiều
*
Mắt nhòa nhạt dấu sương yêu
Gió xa lắc động cánh diều ngủ say
*
Trời còn nắng đổ cuồng quay
Áo em ướt đẫm giọt ngày mồ hôi
Môi hường ngậm ánh xuân thôi
Duyên quê em khiến chiều tôi vỡ òa…

Lê Bảo

HẠ PHAI KỶ NIỆM

Nơi anh đã đi qua
Hôm nay em tìm đến
Mấy mươi năm bao xa
Tình cờ như ước hẹn…

Đâu rồi Mỏ Cày Nam
Không như xưa anh kể
Bao đại lộ thênh thang
Nuốt anh vào dâu bể

Giẫm chân vào dấu xưa
Ngậm ngùi chạm dang dở
Mới biết mình trẻ thơ
Tin thời gian thong thả

Phượng nở sớm cuối xuân
Không đỏ bằng lòng mắt
Còn gì để bâng khuâng?
Hụt hơi….chôn kỷ niệm!

Tương Giang

BUỔI NGƯỜI

Cái năm tôi đi ngược Dọc Đường Số 1(*)
Những trận mưa làm đất mốc lên buồn
Có tiếng súng lùng bùng trong họng súng
Có biến kinh chóp chép miệng người luôn

Dấu Binh Lửa(*) làm non sông xạm mặt
Mũi lưỡi lê hộc máu chảy tanh nồng
Người ngả xuống trên đèo cao dốc thẳm
Thiếu phụ cười giọt lệ nuốt vào trong

Những trận đánh diễn ra trên rừng núi
Mặt trời khuya treo trái sáng soi đêm
Súng đạn gì như thứ cô hồn sống
Bắn quê hương dụi xuống vũng tro mềm

Những trận đánh diễn ra trong thành phố
Nướng dân đen như ngói đến cong oằn
Cuộc chém giết ngày càng thêm khốc liệt
Ghê máu xương nhuộm đỏ mối thù hằn

Viên đạn đồng theo ngón tay vừa lẫy
Đạn bay ra mạnh như một quốc gia
Bị tách khỏi chia thành hai giới tuyến
Hiệp ước buồn trang giấy ẩm sương hoa

Mảnh nước non nhai hoài không đứt nỗi
Hàm răng mòn bệu bạo cạp ngả nghiêng
Cây súng gẫy buồn như viên đạn rỉ
Nằm ngu ngơ bên đám cỏ hoa hèn

Tôi đưa em băng qua vùng lửa cháy
Buổi điêu tàn không nỡ hẹn ngày sau
Khi trườn qua khổ đau và hạnh phúc
Có chút lòng rất khẽ gọi tên nhau

Phan Ni Tấn
(*) Tên tác phẩm của nhà văn Phan Nhật Nam

NHỮNG NGÀY NÀY

Những ngày này chợt thèm nghe
Bát theo câu lục em vê… tình về!
Ngoại ô lặng lẽ tư bề
Chỉ nghe nhịp đập đam mê tim mình

Những ngày này cách xa em
Vào đêm nguyệt bạch lại thèm áo xanh
Môi cười mươn mướt trâm anh
Ngày sau cũng rứa, mô đành quên nhau?

Nghiệp duyên chưa rã rời đâu
Vô thường tất hiểu, bể dâu tất rành…
Em về nhổ tóc riêng anh
Dú đi sợi bạc, long lanh sợi buồn…

Những ngày này bọc nhớ thương
Anh nung nấu mộng cho tường tận em
Xuân này là xuân đầu tiên
Anh không ngược nắng nên viên mãn lòng…

Trần Dzạ Lữ

VỀ SÀI GÒN, THÁNG TƯ

Tháng tư
về giữa Sài Gòn
Xơ rơ góc phố. Vai mòn lá me.

Rụng rời
năm tháng nhiêu khê
Hàng phượng chết sững. Cành tê dại cành.

Tìm đâu
xưa, nụ cười tình
Trơ em phố vắng. Buồn tênh cội hồng.

Trải lòng vấn ngọn hư không
Mượn người giọt nhớ, rơi trong nắng hè!…

Đức Phổ

Hành Tháng Tư. Thơ Hư Vô


Qua Sông. Tranh Đinh Cường

(Qua Sông. Tranh Đinh Cường)

Đường nhân gian lạ lẫm
Một ngày tháng tư đen
Xô đời em vấp ngả
Vào đám người chưa quen.

Đâu còn ai hò hẹn
Giữa trời đất ngổn ngang
Em xanh xao quờ quạng
Níu một cuộc tình tan.

Đã lỡ làng lỡ vận
Ở phía ngoài cơn mê
Tôi lạ nơi lạ chỗ
Đâu còn lối quay về.

Mà em như cọng cỏ
Mọc giữa trái tim tôi
Vết sầu đang mưng mủ
Tươm qua đời tả tơi.

Có bước vào quá khứ
Cũng chỉ tới đường cùng
Đâu còn ai ngoảnh lại
Được thấy lần khóc chung.

Ngày tháng tư quằn quại
Đau đã thấu hình hài
Tiếng gọi nhau khản giọng
Chưa qua khỏi trần ai.

Bốn mươi năm gộp lại
Như một tiếng thở dài
Để hồn tôi dị mộng
Thành giọt lệ mãn khai.

Lăn quanh em lận đận
Thời tình cuối tháng tư
Đã hoang tàn phế tận
Một khúc đời còn dư…

Hư Vô

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: