Vườn Xuân. Thơ Hư Vô. Nhạc Viễn Trình. Ca sĩ Diệu Hiền – Thụy Long


Thơ Hư Vô
Nhạc Viễn Trình
Ca sĩ Diệu Hiền – Thụy Long

Tôi bước tới vườn, xuân em đã
Nắng tưới vàng tươi áo lụa là
Lòng thì cũng, mà buồn chi lạ
Em đứng gần một phía thật xa.

Mùa xuân con gái hồng đôi má
Cho khách đường xa đỡ nhớ nhà
Hoa và lá trở mình non nả
Em gót hồng đã biết kiêu sa!

Tôi bước tới vườn, xuân vừa Tết
Chưa ra giêng mà đã biết buồn
Bóng em che khuất tôi một phiá
Còn bên nào em để soi gương!

Có giấu lòng nhau thì cũng thấy
Vườn em đang trổ nhánh xuân thì
Một chút hương thầm rơi xuống đất
Là cả mùa xuân rất diệu kỳ…

Hư Vô

Một Ngày Trăm Năm. Thơ Hư Vô



Anh đầu sông nắng giòn mặt nước
Cuối nguồn em mưa có xôn xao
Khóc chung một dòng sông mưa nắng
Có khi nào mình quên nhớ nhau?
       
Nhắm mắt để chiêm bao mở cửa
Lối em vào hoa nở đầy tay
Bao giờ nước sông Tương ngừng chảy
Xin đổi trăm năm lấy một ngày.
                             
Anh sẽ về vui như chăn gối
Đổi một đời lấy thoáng hương bay
Môi kề nhau dầy thêm bóng tối
Cho tóc em thôi buồn trên vai.
                             
Nhưng hình hài dường như không thật
Thiên đường còn ở cuối chân mây
Mà dòng sông chia hai nhánh rẽ
Em tan vào cụm khói liêu trai…

Hư Vô

Như Cánh Vạc Bay. Cảm nhận của Hoàng Ngọc Tuấn


Hoàng Ngọc Tuấn

NHƯ CÁNH VẠC BAY là nhan đề tuyển tập nhạc tình ca mới nhất của Trịnh Công Sơn, xuất hiện vào cuối năm 1970, đánh dấu một sự trở về với tình yêu và lãng mạn của người nhạc sĩ này sau một khoảng thời gian dài làm nhạc phản chiến và kêu gọi hòa bình.

Từ khi những bài tình ca của hai tập Ca khúc TCS và Tình khúc TCS gây được ảnh hưởng mạnh mẽ và tốt đẹp trong quần chúng, nhất là trong giới trẻ yêu nhạc, nguồn suối tình cảm thơ mộng của tác giả này đã gián đoạn trong một khúc rẽ của chuyển hướng sáng tác cá nhân cùng với biến chuyển của thời cuộc: Da vàng ca khúc, Kinh Việt Nam và gần đây nhất là Ta phải thấy mặt trời là những tiếng hát tạm thời rời bỏ khung trời của cái đẹp vĩnh cửu, của tình ái muôn thuở, để cất lên lời kêu thuong phẫn nộ đầy những nhạc điệu dữ dội và chua xót, của một người nghệ sĩ cảm nhận được sứ mệnh của mình đối với đồng bào và nhân loại. Tiếng ca phản kháng này không còn là một tác phẩm thuần túy được thưởng thức trong giới văn nghệ, mà đã bay xa hơn, như tiếng trống dồn dập thúc quân trên con đường tìm kiếm thanh bình cho đất nước.

Ngày nay, người nhạc sĩ đầy ý thức ấy đã trở lại với tâm hồn trữ tình cố hữu của mình. Trong một cuộc chiến mệt mỏi, tình ca cũng là một cách thế phản kháng bởi vì tình ca nuôi dưỡng tình yêu, vun xới tình người, ca ngợi yên bình và là nguồn nước ngọt tưới lên những đời khô cạn.

Và Như cánh vạc bay ra đời với 15 bài hát được trình bày bởi Khánh Ly, tiếng hát nữ đồng hành đáng yêu và thành công nhất của Trịnh Công Sơn.

15 bài gói ghém trong một cuộn băng nhỏ chưa được phổ biến. Tôi đã nghe nhiều lần những bài ấy, trong một khoảng thời gian ngắn ở 3 nơi chốn khác nhau: Sài Gòn, Đà Lạt và Huế. Vì thế cho đến bây giờ, chỉ cần một phút giây hoài niệm là lời ca tiếng nhạc ấy tràn đầy vào trong người như một tình cảm quen thuộc.

*

Nếu những Diễm Xưa, Mưa Hồng, Nắng thủy tinh… thuở xưa là tiếng nói của những tinh yêu đẹp và thần thánh chứa đầy trong người, thì những bài trong tập NHƯ CÁNH VẠC BAY này lại là vang vọng quãng đời quạnh hiu, trống trải khi những cuộc tình đều đã xa lìa, mất mát.

“Một người về đỉnh cao, một người về vực sâu, để cuộc tình chìm mau, như bóng chim cuối đèo” (TÌNH NHỚ)

Và TÌNH XA là bài hát xô đẩy sự cô độc đến tận cùng rời rã khi “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”.

RU TA NGẬM NGÙI, bài hát lên đến những nốt cao nhất và xuống những nốt thấp nặng nề nhất, nghe buồn bã như một lời ru, lời ru đối với chính tâm trạng chiếc bóng cô tịch của mình.

Âm thanh quấn quýt sự phiền muộn hơn nữa khi diễn tả những tháng ngày tiếp nối dửng dưng vô vị như tiếng chuyển động đều đặn của chiếc đồng hồ.

“Một ngày như mọi ngày từng chiều lên hấp hối. Một ngày như mọi ngày bóng đổ một mình tôi.”

NGƯỜI VỀ BỖNG NHỚ mang đầy nét êm đềm dịu dàng của núi đồi Đà Lạt, và Rừng xưa đã khép với cái coda dồn dập như hồi thúc một cuộc chia lìa. Cho dù hạnh phúc chỉ đến khi có bóng dáng của người nữ: “Ta vẫn mong em về đấy cho đời bày cuộc vui”.

Ba bài hát thành công và rực rỡ sự toàn bích của lời và nhạc nhất, có lẽ lời Như cánh vạc bay, Ru em và Tình xót xa vừa. Ở những tình ca này, hình ảnh tươi đẹp nhất của lời và nhịp điệu lãng mạn u sầu của nhạc đã đến một mức độ cao nhất, mang một tính chất điển hình nhất của tác giả trong cốt cách tài hoa sẵn có đã làm rung động tâm hồn người thưởng ngoạn một cách tuyệt vời.

NÀY EM CÓ NHỚ mang âm hưởng của một bài thánh ca trong đêm Giáng Sinh, nhưng là một đêm Giáng Sinh không có Chúa, không tôn giáo, một Giáng Sinh chỉ có “tôi” và “em”.

“Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người. Này em, xin cứu một người.”

RỒI NHƯ ĐÁ NGÂY NGÔ với đoạn chấm dứt lơ lửng, chơi vơi, như tâm hồn chìm đắm trong tưởng nhớ.

“Đôi khi bước qua phố xưa lòng tôi nhớ. Đôi khi có mưa giữa khuya hồn tôi bỗng vu vơ…”

Cuối hết, như cố đem lại một thoáng vui đùa và nụ cười cho đời trống trải, Em đã cho tôi bầu trời và Hãy cứ vui như mọi ngày như những lời an ủi đối với chính mình, thanh thản chấp nhận một đời sống giá lạnh sau khi đã mất mát.

Từ khi Khánh Ly giã từ thảm cỏ hoang và quán cà phê ngoài trời đêm để đi hát phòng trà, nhiều người đã bớt đi cảm tình đối với giọng hát nghề nghiệp của người nữ ca sĩ nổi danh này.

Nhưng có nghe Khánh Ly khi nàng hát những bài tình ca mới NHƯ CÁNH VẠC BAY trong phòng studio lặng lẽ không có tiếng vỗ tay đùa cợt, tiếng ly tách ồn ào chạm nhau và tiếng cười lanh lảnh giả tạo của những em ca ve phất phơ qua lại, tôi mới thấy được những nét độc đáo nhất làm cho Khánh Ly thành công, bây giờ nàng vẫn còn nuôi nấng và càng sâu thẳm hơn trước nữa. Đó là tiếng hát ngây dại, khinh bạc, thảnh thơi như hơi thở, và phiền muộn như tiếng khóc.

Đối với cá nhân tôi, nếu Trịnh Công Sơn là người nhạc sĩ chân thực xứng đáng nhất của tuổi trẻ, thì muôn đời vẫn chỉ có Khánh Ly là tiếng hát trung thực xứng đáng nhất của nhạc anh.

Hoàng Ngọc Tuấn

(Khởi Hành số 98 ngày 1-4-1971)

Đêm Mơ Thánh Nữ. Thơ Hư Vô – Nhạc Trần Chương Lương – Ca sĩ Nguyên Trường – Hòa âm Tuyền Linh


Dìu em ngang góc giáo đường
Tôi như ngả xuống mùi hương dại khờ
Chuông nhà thờ đổ bơ vơ
Rung cây thánh giá nghiêng bờ tháp cao.

Dìu nhau qua lối tơ đào
Còn nghe chiếc lá rơi vào bể dâu
Muốn ôm. Ngại áo em nhầu
Muốn hôn. Lại sợ em đau môi gần.

Hàng me xõa tóc phân vân
Mơ đêm thánh nữ chân trần kiêu sa
Tay em lạnh buốt lụa là
Lùa tôi ngang điệu thánh ca lạc vần.

Bàn tay mấy ngón tình nhân
Ngón nào đeo nhẫn định lần hứa hôn?
Nhẫn tôi liễu óng tơ tròn
Kề em nhan sắc còn thơm da người.

Giữ nhau ngọc biếc hương đời
Mở trang cựu ước về soi hình hài
Đá vàng đâu dễ tàn phai
Trăm năm chỉ một đêm này, thôi em…

Hư Vô

Cơn Say… Thơ Hư Vô



Em có nghe tiếng anh động đậy?
Từ cõi hư vô gọi nhau về
Say sướt mướt một đời hoang dại
Còn nghe oằn oại giữa cơn mê.

Anh ngã xuống đêm ngang tóc rối
Gối chăn như thể có linh hồn
Tặng phẩm tình nhân em dâng hiến
Là tiếng thì thầm giữa vô ngôn.

Căn gác nhỏ thuở tình giấu diếm
Nằm nghe mưa xối xả xuân thì
Không muốn tỉnh để nhìn em khóc
Cho cơn say còn mãi dị kỳ.

Níu áo em vào đêm vô tận
Mà tay dài chưa tới trăm năm
Thì trái tim anh có ngừng đập
Cũng đâu chung được một chỗ nằm…

Hư Vô

Tôi Vẽ Em Mùa Thu. Thơ Hư Vô – Phổ nhạc và trình bày Khai Hoang


Tôi vẽ em, mùa thu Hà Nội
Lá bàng trôi tím mặt Hồ Gươm
Em bước qua bóng còn ở lại
Để tôi mắc nợ những con đường.

Đi đâu cũng vấp mùi hương cũ
Hoa sữa vườn ai rụng trắng môi
Chân nghiêng thành quách bờ rêu phủ
Mùa thu đã thay áo em rồi!

Còn đau đêm buông mình tóc rối
Tôi mang hồn cổ tích đi hoang
Trả em nhan sắc buồn vô tội
Hà Nội ơi, thôi đã lỡ làng!

Tôi vẽ em, mùa thu phố lạ
Mà nghe hương cốm ngọt môi nhau
Để nước mắt chia thành hai ngả
Chảy vào hoang phế nửa đời sau…

Hư Vô

Bạn Xưa Mai Thảo. Hồi niệm Phan Lạc Phúc


Phan Lạc Phúc
Hồi niệm (KHỞI HÀNH hải ngoại – số 16 Tháng Hai 1998).


Gần Tết năm Canh Thân (1992) khi vừa tới Úc được nửa năm, vợ chồng già chúng tôi đi Mỹ thăm thân nhân, bè bạn. Chúng tôi có con gái đầu lòng ở San Diego – Cali. Dạo mới sang định cư ở Úc con gái đầu của tôi cũng ở Sydney. Nhưng sau chú nó tức là em ruột tôi P.L.T., gọi nó sang Mỹ chơi, rồi chú thím nó thay mặt chúng tôi gả chồng cho cháu. Thế là con tôi lập gia đình ở gần bên chú vùng San Diego. Khi chúng tôi sang được đến nơi anh em bè bạn trên đất Hoa Kỳ biết là chúng tôi rách nên anh em ở nhiều nơi gửi cho cái vé máy bay để tôi có dịp tới thăm bè bạn. Tôi đã được dịp đi Minnesota thăm Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Cao Đàm, Vũ Quang, Cung Tiến, – đi Seattle thăm Vũ Đức Vĩnh, Phạm Hậu, Hà Huyền Chi, – lên San Jose thăm Hà Thượng Nhân, Vũ Duy Hiền. San Diego không xa miền Santa Ana… nên tôi có nhiều dịp lên thăm anh em bè bạn vùng Little Saigon – và vợ chồng tôi cũng đã lên Los Angeles thăm anh chị Võ Phiến.

Nhưng trong dịp viếng thăm Hoa Kỳ năm ấy có một người bạn lại đi xe hỏa về San Diego chơi với gia đình chúng tôi. Đó là Mai Thảo. Mai Thảo ở Santa Ana, đi xe hỏa vài ba tiếng đồng hồ là tới San Diego, đã được thông báo trước, gia đình chúng tôi ra ga chờ đón. Chúng tôi đứng ở ngoài sân. Con gái tôi vào nhà ga đón bác Mai Thảo. Một lát sau, đã thấy hai bác cháu đi ra. Con gái tôi một tay xách cái valise nhỏ, một tay nắm tay ông bạn già của tôi mà tung tăng bước tới giống như bố con một gia đình nào đó vừa đi du lịch ở xa về. Trước 1975 Mai Thảo là người bạn rất gần gũi với gia đình chúng tôi. Tôi đã từng đưa con gái tôi lúc đó nó vừa mới lớn lên, cùng với bác Mai Thảo đi mua sách ở Xuân Thu hoặc là ăn sáng ở La Pagode. Con tôi rất thân với bố nên nó rất quí bạn của bố. Chính con tôi trong điện thoại trước đó mấy hôm đã thưa với bác Mai Thảo “mời bác về chơi San Diego nhà cháu vài ngày. Bố mẹ cháu chắc là vui lắm  – mà cháu cũng rất sung sướng”.

Hôm nay con tôi bày tỏ sự vui sướng ra mặt khi nó đích thân đi đón bác Mai Thảo ở nhà ga. Trên đường về nhà, nó còn dừng lại một tiệm Liquor nổi tiếng, đưa bác Mai Thảo vào và thưa “Bác thích rượu nào để cháu mua vài chai bác uống…” Bạn tôi xưa nay tính lừng khừng ít nói, sống một mình, không gia đình không vợ, không con mà bữa ấy bỗng bật cười và nói “Con nhỏ này, năm nay nó ba mươi mấy tuổi rồi mà vẫn lăng săng như trước nhỉ…

Không những tôi mà vợ con tôi đều biết là đón bác Mai Thảo thì việc đầu tiên là phải có rượu. Tôi cũng ít khi kể chuyện bạn bè cho gia đình vợ con nghe nhưng có một chuyện khiến tôi bắt buộc phải nói đôi điều về bạn tôi Mai Thảo. Năm ấy không nhớ rõ là năm nào, đầu vào khoảng cuối thập niên 60. Một ngày ba mươi Tết cập rập, sôi động và đông đảo người của Saigon. Tôi đi làm. Mẹ cháu thì bận cửa hàng cho nên chỉ còn chiều ngày 30 mà bao nhiêu việc phải làm cho xong. Trên chiếc xe nhà, chở chật cứng mẹ cháu và một lũ con, chúng tôi phải ráng đi vào cuối đường Phan Đình Phùng (bây giờ gọi là đường Nguyễn Đình Chiểu) vào nhà hàng giò chả Nguyên Hương nổi tiếng lấy vài cân giò về ăn Tết.

Đường chật ních người, ai cũng lăng săng vội vã đi sắm cho xong cái Tết. Xe chuyển dịch khó khăn, vất vả. Đến ngã tư Phan Đình Phùng – Nguyễn Thiện Thuật tôi chợt trông thấy bạn tôi Mai Thảo đang ở góc đường. Bạn tôi đứng đó, khoanh tay, nhàn tản… một biểu tượng khác hẳn với đám đông đang chộn rộn xung quanh. Tôi vội gọi lớn Mai Thảo, Mai Thảo nhưng trong cái ồn ào, náo nhiệt của chiều cuối năm đi sắm Tết, tiếng gọi của tôi chìm vào đám đông. Tôi thì tôi hiểu tại sao bạn tôi đứng đó. Bao nhiêu năm quen sống không nhà, lúc nào bạn tôi cũng cần một nơi để đến. Nhà một người bạn, một quán rượu, một tiệm ăn, hoặc một cái “vòm” nào đó. Nhưng chiều 30 Tết nơi nào cũng bận rộn làm lễ tất niên, đón gia tiên về ăn Tết và cũng là bữa cơm đoàn tụ gia đình trong lúc năm cùng tháng tận. Giao Thừa là giờ phút thiêng liêng và trọng đại đối với mọi mọi gia đình. Nhưng bạn tôi bao nhiêu năm nay sống một mình, không có gia đình nên chiều 30 Tết mà không biết đi đâu, về đâu. Tôi xung quanh đang có vợ, có con… nên càng thông cảm cái bơ vơ của người bạn độc thân chiều 30 Tết.


Thấy Mai Thảo đứng đó lơ ngơ nhà tôi vội bảo: “Sao không dừng xe lại xem anh ấy muốn đi đâu thì chở anh ấy đi”. Tôi không tiện trả lời nhưng tôi biết bạn tôi không phải thiếu phương tiện, mà bạn tôi kẹt là không biết nơi nào để đến. Nhà tôi lại hỏi tiếp: “Sao không về nhà?” – “Anh ấy có nhà đâu mà về. Chỗ ở của anh ấy thì cuối năm nó vắng như chùa Bà Đanh, chắc anh ấy chưa muốn về”. “Sao không về đón Tết với các cụ?”. Chúng tôi đều biết là Mai Thảo còn ông bà cụ thân sinh sống ở Saigon. Nhưng tôi biết bạn tôi không muốn gặp các cụ thân sinh ngày Tết. Tôi nhớ một bữa ngày đầu năm năm trước vận quần áo đi chúc Tết tôi có tạt vào nơi Mai Thảo ở. Tết đến mà căn phòng độc thân của bạn vẫn bừa bộn, hoang vắng.

Tôi định ra về bỗng Mai Thảo gọi tôi lại mà nói “P.L.P. moi nhờ toi một việc”. Chúng tôi vừa là bạn viết, vừa là bạn chơi nên xưng hô với nhau tùy tiện. Lúc thì ông ông, tôi tôi, lúc thì moi, toi – không câu nệ. “Cứ nói đi”. “Sẵn quần áo toi đi với moi về thăm ông bà già. Có toi ông bà già đỡ giảng moral”. Chúng tôi tới nhà ông anh Mai Thảo là nhà luật sư Nguyễn Đăng Thiện (Mai Thảo là Nguyễn Đăng Quí) ở giữa đường Phan Đình Phùng. Sau khi chúc Tết các cụ và ông bà Thiện, uống ly rượu Cointreau xong là tôi xin phép ra về. Mai Thảo cũng rút theo luôn. Khi ra xe, Mai Thảo nói: “Không có toi các cụ, nhất là bà thân moi thế nào cũng lại dục đi xem mặt đám này, đám kia. Sốt ruột lắm mà không biết thưa với các cụ thế nào?”

Sau khi biết qua tình trạng của bạn tôi Mai Thảo, về đến nhà mẹ cháu liền ghé vào tai tôi mà bảo: “Tết đến như vậy thì anh Mai Thảo anh ấy buồn lắm nhỉ”. Nói xong rồi nhà tôi liền đi lấy chai rượu Hennessy và một cân giò mà bảo tôi: “Thôi, chịu khó đi bố. Đem đến cho anh Mai Thảo anh ấy uống ly rượu cuối năm”. Từ đó có Tết đến là mẹ con nó, như một cái lệ, lại có chai rượu Tết bác Mai Thảo.

Sau bao nhiêu năm xa vắng Tết năm Canh Thân 1992 – chúng tôi gặp lại bạn xưa Mai Thảo ở Hoa Kỳ; con gái tôi có thưa với bác Mai Thảo “bác thích thử rượu nào để cháu mua về bác uống” thì nó cũng là tiếp nối các truyền thống bạn bè từ mấy chục năm xưa… Vào khoảng giữa năm 1956 khi tôi từ bỏ nghề chiến binh lội ruộng về làm báo chí ở Tổng Tham Mưu (Saigon) thì tôi ở với Thanh Nam; lúc bấy giờ Thanh Nam có một căn nhà trong ngõ Nancy. Mấy tên trai trẻ độc thân ở với nhau. Cùng ở nhà Thanh Nam lúc ấy có Vũ Quang Ninh – Quản đốc đài phát thanh Quân Đội, nhà thơ Thái Thủy và kịch sĩ kiêm “ngâm sĩ” Hoàng Thư. Ở trước cửa nhà Thanh Nam là nhà họa sĩ (kiêm thi, văn sĩ) Tạ Ty. Ở ngoài mấy bước là nhà “sáo sĩ” Tô Kiều Ngân. Cùng ở trong con ngõ này còn có gia đình của bạn hợp ca Hạc Thành với anh em các ca nhạc sĩ Nhật Bằng – Nhật Phượng – Thể Tần – Hồng Hảo.

Có thể nói đây là một cái ngõ “Văn nghệ”. Vì ngoài những khuôn mặt kể trên, các nhà văn, nhà thơ, nhà kịch đến ngõ này đông đảo. Nhà Thanh Nam luôn luôn rộng mở đón tiếp anh em. Hay đến đây nhất là Đinh Hùng – Vì cùng với tác giả Mê Hồn Ca, có Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Thái Thủy, Hoàng Thư là có gần đủ mặt thành viên ban Tao Đàn: “Tiếng nói của thơ văn miền Tự Do”. Thêm vài giọng ngâm nữ như Giáng Hương – Hồ Điệp hoặc Hoàng Oanh là đầy đủ một ban Tao Đàn chính hiệu. Vui chân đến đây họp mặt ăn nhậu còn có Vũ Khắc Khoan, Phạm Đình Chương, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thiếu Lang, Anh Ngọc,… Huy Quang (Vũ Đức Vĩnh) sau từ Nha Trang về Saigon cũng hiện diện trong ban Tao Đàn. Một buổi tôi gặp một người bạn mới trong cuộc họp bàn về việc dựng lại kịch thơ ở Saigon. Anh em định dựng hoặc Lên Đường của Hoàng Cầm hoặc Bến Nước Ngũ Bồ của Hoàng Công Khanh. Người bạn mới “lưng cao dài trán rộng” dáng điệu rất văn nhân tài tử ấy là Mai Thảo một danh tiếng đang bắt đầu lừng lẫy sau “Đêm giã từ Hà Nội”.

Người bạn mới ít nói thường nhếch mép cười nửa miệng. Nhưng khi được hỏi ý kiến lại nói rất hăng, vài sợi tóc xõa xuống vầng trán rộng tay chém vào không khí. “Tôi nghĩ là không nên diễn lại những vở kịch đó, dù nó có giá trị, nhưng giá trị đó là của một thời đã qua. Tại sao chúng ta không diễn kịch của chúng ta. Kịch hôm nay và bây giờ. Chúng ta phải có kịch của thời đại chúng ta chứ?”.

Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy cụm từ “văn nghệ hôm nay” “văn nghệ bây giờ”. Vài năm sau nó thường xuyên xuất hiện trên Sáng Tạo. Mai Thảo và những người bạn của anh trong nhóm đã quyết tâm thổi một luồng sinh khí mới vào văn học Việt Nam. Sự hiện diện của nhóm Sáng Tạo là sự kiện đáng kể nhất trong 20 năm Văn học miền Nam. Có nhiều ý kiến về nhóm Sáng Tạo nhưng chắc không ai phản đối từ khi có nhóm Sáng Tạo, thơ văn miền Nam lạ hơn, mới hơn. Một nhóm nghiên cứu Văn học ở Pháp mới đây (trong Propos recueillis) khi nhìn về 20 năm Văn học miền Nam đã cho rằng nhóm Sáng Tạo đã có đóng góp lớn là đem lại cho văn chương miền Nam một thẩm mỹ mới, một nhạc tính mới.

Riêng về sân khấu, vì chủ trương không diễn kịch cũ mà phải có kịch của “thời đại chúng ta” nên những năm sau đó miền Nam đã có những kịch bản mới như Bão Thời Đại của Trần Lê Nguyên, Sân khấu của Dương Kiên, Bão Loạn của Tinh Vệ, Ba Chị Em của Thanh Tâm Tuyền, Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan vv… (chỉ kể một số tác giả quen biết…). Tôi nghĩ chủ trương “Văn nghệ hôm nay”, “Văn nghệ thời đại” mà Mai Thảo chủ xướng trong nhóm Sáng Tạo đã không những tác động đến các thành viên trong nhóm mà nó còn là một chất xúc tác khiến cho những đoàn, nhóm, văn nghệ khác cũng đua nhau sáng tác, tạo nên một diện mạo đặc biệt của thi văn, nhạc, họa miền Nam.

Theo nhà văn đồng thời là nhà nghiên cứu văn học Võ Phiến, tác giả “Văn học miền Nam tổng quan” thì Văn học chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa hiện thời không công nhận Văn học miền Nam, coi như không có. Nhưng trong cuốn Từ Điển Văn học Thế giới (Dictionnaire universel des littératures) do nhà xuất bản Press Universitaire in tại Pháp đầu năm 1994 gồm trên 4000 trang, từ điển này có phần dành riêng cho Văn học miền Nam 1954-1975. Điều này sở dĩ có được là nhờ những người suốt đời sống cho Văn học như Võ Phiến như Mai Thảo…

Có một bữa, ban Tao Đàn của Đinh Hùng cần đến một bài thơ Huy Cận tiền chiến. Trong hành lý tôi vẫn mang theo bên mình tập Lửa Thiêng ấn bản lần đầu 1940 (?). Lửa Thiêng là một ấn phẩm tuyệt đẹp, bìa Tô Ngọc Vân, tựa Xuân Diệu,… tuy in trên giấy gió nhưng càng xưa càng đẹp, càng cũ càng quí. Đây là một kỷ niệm hành quân của tôi, ghi dấu một thời đi trận miền Zone Sud ngoài Bắc. Cuối năm 1953, trong cuộc hành quân theo chiến đoàn 2 (GM2) từ Xuân Trường sang Hải Hậu (Nam Định) ra gần đến biển, đơn vị tôi đụng trận ở Quần Liêu Văn Lý. Đánh suốt buổi trưa đến chiều mới qua cầu, vào được một khu dinh cơ tòa ngang giãy dọc. Đây là khuôn viên của một gia đình rất giàu có ở thôn quê. Đặc biệt khu nhà gác trông ra sông là một gian phòng đọc sách có một thư viện nhỏ. Trái phá làm đổ một góc căn nhà gác, một số sách rơi xuống ngổn ngang.

Tôi nhận ra những cuốn sách rất quí, những danh tác của các tác gia cổ điển Pháp và những sách nổi tiếng của các tác gia Việt Nam đương thời. Có cả một bộ tự điển Littré, bìa da chữ vàng. Tôi nghĩ đây phải là dinh cơ của một gia đình văn học lắm. Tôi cứ âm thầm than tiếc mãi cái thư viện bắt đầu đổ nát đó; phải bao nhiêu công trình mới thâu thập được những danh tác như vậy, bây giờ chiến tranh tràn đến nó có thể cháy, có thể tiêu tan bất cứ lúc nào. Tôi nhìn thấy cuốn Lửa Thiêng của Huy Cận trên bệ sách. Xưa nay tôi vẫn khao khát tập thơ tiền chiến này. Tôi cầm cuốn Lửa Thiêng ngoài bìa có triện son, mở ra xem. Cầm lòng không được tôi bỏ cuốn Lửa Thiêng vào trong túi quần treillis. Đây là vật tôi “thổ phỉ” đầu tiên trong cuộc đời lính tráng. Sau đó thấy sách quý rơi vãi đầy nhà, tiếc của Trời, tôi ôm mấy cuốn tự điển, mấy cuốn sách học cho vào một cái “sac marin” gửi về cho em tôi P.L.T. đang đi học ở Hà Nội…

Một bữa Mai Thảo đến nhà Thanh Nam chơi, nhìn thấy cuốn Lửa Thiêng để trên bàn. Giật mình Mai Thảo cầm cuốn sách lên coi, nhìn kỹ dấu triện son. Mai Thảo liền hỏi Thanh Nam “vì đâu có cuốn Lửa Thiêng này”. Thanh Nam chỉ tôi.

Tôi liền kể cho Mai Thảo nghe sự tích cuốn sách. “Có phải căn nhà gác có thư viện nhìn ra cầu phải không?”. Đúng – “Có những cây bàng dọc theo bờ sông phải không? Đúng – “Thế là nhà tôi đấy ông ạ. Triện son “Nguyễn Đăng…” còn ghi ngoài bìa sách đây mà”. Tôi ngượng ngùng nhìn Mai Thảo mà không biết nói sao, Mai Thảo tiếp “Ông giữ cuốn thơ này như vậy là may, vì sau đó cả khu dinh cơ ấy bị triệt hạ đâu có còn gì. Đây là di vật còn lại không ngờ của căn nhà cũ…” Tôi có ý định hoàn trả lại Mai Thảo cuốn Lửa Thiêng nhưng Mai Thảo nhất định “Ông phải giữ cuốn thơ này làm kỷ niệm”. Sau đó trong Sáng Tạo (bộ cũ) Mai Thảo viết một thiên tùy bút đặc sắc “Căn Nhà Vùng Nước Mặn”, Mai Thảo nói rằng vì tôi gợi nhớ nên Mai Thảo mới viết thiên tùy bút này. Chúng tôi cũng gần gũi nhau từ đấy..

Những cuốn sách học, tự điển mang triện son “Nguyễn Đăng” của gia đình Mai Thảo do tôi gửi về trong chiếc “sac marin” từ miền biển Quần Liêu – Văn Lý (Nam Định) đã là hành trang rất quí đối với em tôi P.L.T., tên học trò nghèo ở Hà Nội. Sau này di cư vào Saigon, em tôi mang “hành trang” ấy đi luôn. Nó thân thiết với em tôi suốt những ngày đi học – từ trung học và sau lên Đại học. Em tôi có ước mơ trở thành một thầy giáo dạy Văn – nhưng không ngờ, sau này chiến sự cũng hút nó luôn vào Quân Đội.

Mới đầu, P.L.T. không biết “Nguyễn Đăng…” là ai. Em tôi chỉ quí những cuốn sách như một phương tiện giúp nó học hành thi cử. Nhưng khi biết Nguyễn Đăng Quý là Mai Thảo nhất là khi đọc tùy bút “Căn nhà vùng nước mặn”, những cuốn sách kia đã trở thành kỷ niệm thiết thân của P.L.T.. Nó ghi dấu một quê hương đã xa, đã mất, một thời kỳ học trò nghèo vất vả ở Hà Nội. Cho nên trong cuộc di tản đau thương trước ngày 30-4-1975 trong muôn ngàn thứ không biết bỏ cái gì, mang đi cái gì, em tôi đã đem theo cuốn tự điển có triện son Nguyễn Đăng sang Mỹ. Đầu thập niên 80 khi Mai Thảo vượt thoát được tới định cư ở Santa Ana, Cali, em tôi P.L.T, đã mời Mai Thảo về chơi nhà nó ở San Diego. Một lần nữa, Mai Thảo lại nhìn thấy triện son “Nguyễn Đăng…” trên cuốn tự điển. Em tôi PL.T. có nói lại rằng Mai Thảo đã ngỡ ngàng lắm, đã bần thần lắm khi nhìn lại cuốn sách xa… Không biết Mai Thảo đã suy nghĩ, đã liên tưởng những gì mà Mai Thảo bỗng hỏi em tôi “Bao giờ gặp lại P.L.P.?”. Hỏi để mà hỏi thôi vì sau đó Mai Thảo thở dài. Có thể hiểu tiếng thở dài này vì khi vừa đến đảo ở Pulau Besar năm 1978, Mai Thảo viết thư sang Mỹ đã ghi “Những bạn bè chưa đi được của chúng ta… hãy biết vắn tắt là không hi vọng được thấy họ nữa…” (Thư cho VL)

Nhưng mà chúng tôi đã gặp lại nhau đầu Xuân 1992. Những chuyện tưởng rằng không thể xảy ra đã xảy ra. Không ai ngờ bức tường Bá Linh sụp đổ. Không ai ngờ đế quốc Sô Viết tan tành. Cũng không ai ngờ những tên “tử tù” tưởng sẽ mục xương trong xó rừng u tối, bây giờ đây đang được HO đi Mỹ hay là ODP đi Úc… Trong bữa tiệc tẩy trần ở San Diego, P.L.T đã nâng ly mà thưa với Mai Thảo: “Khi anh đến đây lần trước, cũng đã hơn 10 năm rồi anh có hỏi: Bao giờ gặp lại P.L.P. Em không dám trả lời anh; Bây giờ không ngờ lời thăm hỏi mà cũng là lời cầu chúc của anh đã thành sự thực. Em xin cảm ơn anh và xin mời anh ly rượu hạnh ngộ này”. P.L.T, đối với Mai Thảo, không những có sự trân trọng trước một nhà văn học hàng đầu – nhà còn có sự chân tình thân quí như đối với một người anh lớn.

Trong những ngày Mai Thảo ở chơi với tụi tôi ở San Diego, câu chuyện xoay quanh những người bạn cũ. Càng già càng cần có bạn, mà bạn già thì mỗi ngày thêm thưa thớt. Tôi đi tù cải tạo về được ít lâu ở Việt Nam đã nghe tin Thanh Nam Trần Đại Việt từ trần ở Mỹ.

Vài năm sau đến lượt Vũ Khắc Khoan. Một bữa từ Hóc Môn tôi lên nhà Thanh Tâm Tuyền ở Bình Thạnh. Tác giả “Bếp Lửa” ngậm ngùi nhà nói “Ở Minnesota Tuyết Ngưu Vũ Khắc Khoan đi rồi”. Giữa năm 1991, vừa tới Sydney được mấy tuần đang đêm nhận được tin Hoài Bắc Phạm Đình Chương vừa mất. Bao nhiêu năm không viết lách gì, bài đầu tiên tôi viết ở hải ngoại là bài tưởng niệm Phạm Đình Chương. Ngày xưa Đinh Hùng có nói “mỗi một người bạn là một phần đời sống của mình”. Lúc trẻ mình tưởng nhà thơ “bốc” mà nói vậy thôi. Nhưng càng già càng thấy đúng. Vì những chuyện ấy, vào thời kỳ ấy… nếu không còn người bạn ấy thì không biết nói với ai. Như thời kỳ ở ngõ Nancy nhà Thanh Nam – bạn bè nườm nượp – người vẽ, người viết, người làm thơ, người làm kịch… mộng còn xanh như tóc mà bây giờ còn lại những ai. Thanh Nam chết rồi – sau một thời kỳ cuống họng ung thư, nói không được, trò chuyện với vợ con, bạn bè đều bằng bút… Mai Thảo nói về lần cuối cùng lên Seattle gặp Thanh Nam – Túy Hồng:


Trong văn chương Việt Nam, bạn bè đưa tiễn, viếng thăm nhau cũng không phải là ít. “Bác Dương thôi đã thôi rồi – Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” (Nguyễn Khuyến). “Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ – Có giống như mình lưu luyến, chăng” (Huyền Kiêu) nhưng không có lời nhắn gửi nào tỉnh táo một cách thảm thê như lời nhắn gửi của Thanh Nam với bạn: “Không bận gì tháng tới/ Về đây đưa đám tao”. Tháng sau quả nhiên Thanh Nam tắt thở. Trong số những bạn bè gần gũi của chúng tôi… Thanh Nam là người bỏ đi sớm nhất.

Chúng tôi thường gọi Vũ Khắc Khoan là ông “Thần Tháp Rùa”, tên một truyện ngắn rất đặc sắc của anh. Nhưng họ Vũ lại ra vẻ không vừa ý. “Đối với moi, trước hết và sau cùng là kịch”. Họ Vũ nói vậy. Anh nổi tiếng ở Hà Nội trước 1954 vì vở kịch Giao Thừa… Một vở kịch được công diễn nhiều lần ở nhà hát lớn Hà Nội. Vở kịch có một sự táo bạo đáng nhớ: “Sân khấu chia làm hai. Một bên là nhà của một họa sĩ nghèo một bên là nhà ông thợ mộc”. Sự “đụng chạm” giữa hai con người ấy, hai căn nhà ấy làm nên kịch tính… Thần Tháp Rùa theo họ Vũ cũng chỉ là một thứ kịch được “tiểu thuyết hóa” mà thôi. Vào Nam, vẫn theo con đường ấy Vũ Khắc Khoan viết kịch Thành Cát Tư Hãn, là chủ nhiệm bộ môn kịch tại trường Quốc Gia Âm Nhạc đồng thời giảng văn tại trường Đại học Văn khoa. Sau này, gọi Vũ Khắc Khoan là “đại hãn”, (một danh xưng đặc biệt của người Mông Cổ) mới thấy họ Vũ mỉm cười.

Mai Thảo từ tờ Lửa Việt của sinh viên di cư (1954), đã hình thành một nhóm người viết mới trong Sáng Tạo gồm Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo; các nhà thơ Tô Thùy Yên, Quách Thoại; các họa sĩ (và cũng là người viết) Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng, nhạc sĩ đồng thời nhà nghiên cứu văn học Cung Tiến. Vũ Khắc Khoan tuy không đứng hẳn trong nhóm Sáng Tạo nhưng anh là người bạn thân, người đồng hành của nhóm. Anh và Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Nguyễn Mạnh Côn đứng trong nhóm Quan Điểm, một tập hợp Văn Nghệ – Chính Trị – nhưng nhóm Quan Điểm không tồn tại được lâu. Mai Thảo sau Sáng Tạo bộ cũ (giữa thập niên 50), Sáng Tạo bộ mới (cuối thập niên 50 và đầu 60), Nghệ Thuật (giữa thập niên 60) lại cùng với Vũ Khắc Khoan (cuối thập niên 60) chủ trương tạp chí Vấn Đề. Cái tên này đã được bắt nguồn từ một câu cửa miệng của Vũ Khắc Khoan “phải đi tìm cái vấn đề của vấn đề”.

Bạn tôi Thanh Tâm Tuyền làm “bếp” (thư ký toà soạn) cho Vấn Đề nên bạn dục tôi viết bài. Tôi nhớ trong số một của Vấn Đề tôi có viết một bài nhận định về Mai Thảo. Ngày đó ai cũng gọi Mai Thảo là nhà văn. Sau những tuyển tập đặc sắc Đêm Giã Từ Hà Nội – Tháng Giêng cỏ non… nhất là sau sự xuất hiện chấn động của nhóm Sáng Tạo với chủ trương “Văn nghệ hôm nay” Mai Thảo được coi là một nhà văn tiên tiến hàng đầu. Nhưng tôi nhớ là trong bài viết ấy (tiếc thay sau tháng 4 đen 75 và sau chính sách “phần thư” của người Bôn sê vích, sách báo tài liệu đều bị thiêu hủy, phân tán hết), tôi không nghĩ Mai Thảo là “nhà văn” mà tôi gọi Mai Thảo là nhà thơ – một nhà thơ bất toàn (un poete manqué).

Một người, ví dụ như Vũ Khắc Khoan, trước sau tự nhận mình là một người viết kịch. Những loại hình “văn nghệ” khác như văn, như thơ… đối với họ Vũ chỉ là thứ “làm chơi”. Cái chất của anh, cái tạng của anh là như thế – và họ Vũ đã nhận thức đúng về con người văn nghệ của mình. Mai Thảo cho đến lúc ấy ai cũng gọi tác giả Tháng Giêng cỏ non là nhà văn – ngoài đời Mai Thảo cũng đương nhiên hành xử cái nghiệp “nhà văn”. của mình. Về hiện tượng thì là như vậy. Nhưng bản chất thì lại khác. Đọc “văn” Mai Thảo thật sự là đọc một thứ thơ suôi. Chữ nghĩa điểm trang trau chuốt. Nhạc điệu câu vài thánh thót, bổng trầm – nhiều khi như một thứ biền ngẫu mới. “Xe lăn từng vòng – tôi nhớ lại những đêm Saigon cũ… Cuộc Sống tuần tự thênh thang chảy từ cái khúc sông thanh bình của buổi chiều nắng nhạt, chảy sang cái giòng suối hát ca của buổi tối lên đèn, chảy tiếp vào cửa biển mênh mông của đêm không cấm đoán, chảy sang cái ánh hồng của buổi sớm hôm sau… Những đêm Saigon tôi đã đi vào – Những đêm Saigon tôi đã sống với… Tới đêm mới là không khí thênh thang ca hát của những vỉa hè…” (Sau không giờ).

Đọc văn Mai Thảo, ví dụ như đoạn văn trên ta thấy sự kiện ít, tình cảnh nhiều. Giống như xem một bức tranh ấn tượng – màu sắc nhòa nhạt, đan xen, trộn lẫn. Nó cho ta một cảm giác về màu sắc hơn là chi tiết của sự vật. Nó khơi gợi nhiều hơn là chỉ vẽ. Nó là ngôn ngữ của thơ hơn là của văn.

Đọc Mai Thảo, người ta có cảm tưởng là nhà văn cân lời, lựa chữ lắm. Viết lách kỳ khu, bóng bẩy như vậy chắc mất thì giờ. Nhưng gần gũi với Mai Thảo khá lâu, nhiều lúc ngồi chung toà soạn (Tiếng Vang – Nghệ Thuật – Tiên Tuyến), tôi thấy Mai Thảo viết khá nhanh. Có lúc hàng ngày phải viết tới bốn feuilleton (chuyện dài đăng hàng ngày trên báo), Mai Thảo vẫn cứ thế, phăng phăng. Mai Thảo thường thích viết trên thứ giấy báo đã in một mặt, thứ giấy sốp và mềm, bút bi chạy hết trang này sang trang khác. Có khi “nhà chữ” đã đứng sẵn đợi bài – vừa xong mấy dòng lại xé đem đi xếp chữ; hoặc có khi tùy phái báo bạn đã đến hỏi bài mà tác giả vẫn còn đang viết chưa xong, “nhà văn” phải phóng tay cho kịp. Viết xong là đưa bài đi ngay. Không kịp xem lại mà chữ nghĩa Mai Thảo trước sau vẫn vậy. Trời sinh ra Mai Thảo là như thế, ở đâu, lúc nào cũng sống với một văn phong diễm lệ (un style pittoresque).

Ngay lúc bấy giờ, Mai Thảo cũng có làm thơ – Thông thường trước khi có nghiệp dĩ với văn chương, ai cũng bắt đầu bằng những vần thơ của thời mới lớn. Cũng có khi “un coup d’essai est lun coup de maitre” (thử thách đầu tiên đã là tác phẩm bậc thầy) như trường hợp Đinh Hùng, Tô Thùy Yên, nhưng chuyện này ít khi xảy ra. Có hai bài thơ của Mai Thảo đăng trên Sáng Tạo (bộ cũ) nhưng ký một bút hiệu khác: Nhị (Hình như Mai Thảo yêu riêng bút hiệu này nên trong một số tác phẩm khác, có những nhân vật mang tên Nhi). Đó là bài lục bát Nghe đất và bài thơ tự do Cái Đầu.


Bài thơ chững chạc, già dặn nhưng phảng phất hơi thơ lục bát Huy Cận. Bài thơ tự do “Cúi đầu”. Mai Thảo thích lắm, thường ngâm ngợi hoài những khi trà dư tửu hậu:


Bài này cũng chưa ra khỏi ảnh hưởng của bài thơ thời trước Gió thổi mùa thu về Hà Nội. Thơ Mai Thảo hay nhưng anh chưa tạo được cho mình một thế giới riêng một phong cách riêng dấu ấn đặc biệt của nhà thơ đúng nghĩa. Mai Thảo còn đang trên đường đi tìm một bản sắc. Tôi gọi Mai Thảo là nhà thơ bất toàn, thoạt tiên là vì như vây.

Nhưng sự “bất toàn” của Mai Thảo, theo tôi, được tìm thấy nhiều nhất ở nội dung những gì Mai Thảo viết ra. Cả văn, lẫn thơ Mai Thảo đều nhận chịu một sự phân ly khắc khoải. Ý chí của Mai Thảo, tuyên ngôn của Mai Thảo là phải băng mình lên phía trước, làm một cuộc đổi mới toàn diện cho văn chương thực hiện, “văn nghệ hôm nay” nhưng những gì Mai Thảo viết ra hay nhất, tinh tuyền nhất lại thuộc về quá khứ. Mai Thảo là nhà văn, nhà thơ của hoài niệm (un passéist). Những tác phẩm đáng kể nhất của Mai Thảo: Đêm giã từ Hà Nội, Tháng Giêng cỏ Non… là ảnh tượng từ trên cao nhìn về một thành phố thân yêu đã mất – hoặc ở xa nhớ về một mùa Xuân chỉ có trong hồi tưởng. Chính Mai Thảo, trong vô thức đã nhận ra sự bất lực, nằm trong sự mâu thuẫn không phương giải quyết của tâm hồn mình khi Mai Thảo viết trong bài tứ tuyệt Thừa:


Cái đau buồn rất cổ xưa mà Mai Thảo đeo đẳng như một số mệnh đã ngăn cản cái tâm tiền tiến. Cả một đời văn chương Mai Thảo vùng vẫy trong cải khoảng phân ly ấy. Già rồi, Mai Thảo mới chính thức làm thi sĩ, và nhận thấy mình bất lực. Bất lực là một dạng thức của sự bất toàn.

Bây giờ khi tôi viết những giòng này, bạn tôi Mai Thảo đang hấp hối. Nhưng mà yên tâm đi bạn ta. Bậc thiên tài của thi văn nước ta, Nguyễn Du, thế kỷ 18, trước khi từ giã cõi đời – cũng nghĩ rằng Người không đủ sức nói lên cái tâm sự bi thiết của mình cho hậu thế. Cho nên Người mới viết:

Bất tri tâm bách dư niên hậu.

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Không biết 300 năm sau, có ai khóc cho Tố Như không?

Về văn thơ, về cái đẹp hay nói chung về thẩm mỹ thì mỗi thời gian, không gian, mỗi con người lại có một tiêu chuẩn riêng không ai giống ai mà cũng không ai bắt buộc được ai,”nhân tâm tùy thích”. Trong hàng hàng lớp lớp tác phẩm của Mai Thảo, có cuốn được chuyển thành phim ảnh, có cuốn được in đi in lại 5, 7 lần… nhưng riêng tôi trước sau chỉ thích “Tháng Giêng cỏ non”. Từ giữa thập niên 50, ngay từ tác phẩm đầu tiên “Đêm giã từ Hà Nội”, Mai Thảo đã nổi tiếng ngay. Đây là tiếng than dài sau một cuộc phân ly bắt buộc, là vết thương còn rỉ máu trong tâm hồn mọi người sau hiệp định chia đôi đất nước 1954. Nó phần nào thuộc về “thời sự”.

Mấy năm sau khi vết thương xa đã kín miệng, cuộc sống di cư đã đi vào nền nếp, miền Bắc, miền Nam trên thực tế đã thành hai chính thể khác biệt nhau, người di cư mới nhận ra rằng miền quê tưởng là “tạm thời” dời bỏ, bây giờ đã trở thành miền đất nhớ thương, không biết ngày nào trở về. Thời sự đã trở thành hoài niệm. Như đã nói, Mai Thảo là người viết về hoài niệm rất hay. Thời gian đã làm cho hoài niệm càng ngày càng sâu lắng. Trong “Tháng Giêng cỏ non” có những ngày đầu nô nức đi kháng chiến, bạn bè của một thủa “đầu đời lãng mạn”, quê hương rã rời tan nát trong “vành đai trắng”, “người thiếu nữ áo cổ vuông” không biết là người yêu hay là người bạn… tất cả thấp thoáng, nhạt nhòa ẩn hiện như những vết lân tinh chợt sáng, chợt tắt trong tiềm thức bóng đên. Vùng kỷ niệm đầy ấn tượng ấy là một cõi riêng đặc sắc của Mai Thảo.

“Tháng Giêng cỏ non” là một tập truyện; tôi vẫn nghĩ rằng “truyện ngắn” hay tùy bút của Mai Thảo hay hơn Mai Thảo truyện dài. Đọc Mai Thảo là đọc “văn” Mai Thảo hơn là đọc “truyện” Mai Thảo. Bạn tôi là một người làm thơ bằng văn suôi; dù Mai Thảo viết bao nhiều truyện dài chăng nữa, Mai Thảo vẫn không phải là người viết tiểu thuyết đúng nghĩa. Tôi không nhớ rõ năm nào, hình như vào đầu thập niên 60 thì phải, Mai Thảo có đưa tôi đọc một thiên tùy bút “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời”. Theo như cung cách bạn tôi gửi gấm, Mai Thảo đã đặt nhiều tâm lực vào thiên tùy bút này. Vài bữa sau gặp lại, Mai Thảo hỏi “Sao?”, vẻ nao nức hiện ra trong ánh mắt. Tôi không trả lời ngay được, bởi vì tôi không cảm nhận được những “tín hiệu” ấy. Tôi không có chút kinh nghiệm nào về những chuyến đi xa như thế, nhung miền đất ấy hoàn toàn xa lạ với tôi, một “ngọn đỉnh trời” hay là một “miền tuyết phủ”. Tôi không phải là một nhà phê bình, nên cái “băng tần” của tôi chỉ đón nhận được những tín hiệu trong cùng tần số. Cho nên tôi đã trả lời bạn: Công phu thì có nhưng không “thú” bằng “Chuyến tàu trên sông Hồng”. Theo tôi “Chuyến tàu trên sông Hồng” mới là tùy bút đáng ghi nhớ nhất của Mai Thảo.

“Hình dung thấy con tàu đó trên con sông đó. Con sông Hồng Hà. Như dòng máu đỏ tươi chảy băng băng khắp vùng trí nhớ bâng khuâng…”. Tiếng còi tàu vang vọng hai bên bờ ký ức, gọi dậy những kỷ niệm. “… nhắm mắt lại mà theo dõi cái âm thanh không bao giờ mất ấy trong dòng hồi tưởng… Thấy vẽ ra trước mắt con tàu cũ, cái bến xưa, và tất cả những ảnh hình tuổi nhỏ chới với như một cánh bướm ma ẩn ẩn hiện hiện trong sương mù quá khứ“… Tôi cảm nhận được “Chuyến tàu trên sông Hồng” bởi vì tôi cũng đã có một thời, xách cái valise ọp ẹp, từ tỉnh lẻ Sơn Tây ra Hà Nội, đi theo tiếng gọi của tiếng còi xe hơi trên đường cái quan – cũng như tiếng còi tàu thủy của Mai Thảo, hay tiếng còi xe hỏa của Tế Hanh – đến những bến bờ xa lạ của cuộc đời.

Đầu Xuân 1992, tôi gặp lại bạn xưa Mai Thảo khi bạn từ Santa Ana đi xe lửa về San Diego chơi với tụi tôi. Kỳ này Mai Thảo có mang theo cho tôi cuốn thơ “độc nhất” trong cuộc đời sáng tác của bạn “Ta thấy hình ta những miếu đền”. Nhận cuốn thơ, tôi cười mà thưa với bạn: “Ít ra, tôi cũng nói đúng một điều. 25 năm trước (1967) trong Vấn Đề số ra mắt, nhận định về Mai Thảo, tôi đã nói bạn là nhà thơ trước khi là nhà văn”…

Vừa là bạn viết vừa là bạn chơi sau 17 năm xa cách, nên chúng tôi có nhiều chuyện để nói với nhau; chuyện cũ, chuyện mới, bạn xa, bạn gần, bạn chết, bạn sống. Chưa kịp đọc kỹ cuốn thơ “độc nhất” của bạn – mới feiuilleter qua loa. Tôi nghiệm ra một điều “đọc thơ, tùy theo tâm cảnh mà lúc thì thích bài thơ này, lúc lại thích bài thơ khác”.

Bữa ấy, thấy tôi đang đọc “Ta thấy hình ta những miếu đền” Mai Thảo giống như xưa lại hỏi “Sao?”. Kỳ này tôi dễ dàng hơn trước bởi vì khi đọc tập thơ độc nhất của Mai Thảo tôi nhận ra ngay những tín hiệu thân quen.

Trước đây, ngày còn ở Saigon khi “phùng trường tác hí” với nhau, có một Mai Thảo trước khi uống rượu và sau khi uống rượu khác hẳn nhau. Khi chưa uống Mai Thảo là một gã lừng khừng, dửng dưng, nguội lạnh. Nhưng khi nhìn vào rồi thì lại là một Mai Thảo bông lơn, đùa đùa, diễu diễu; những chuyện “không ra cái đếch gì” theo giọng điệu Mai Thảo lại trở nên có duyên kỳ lạ. Như chuyện “chỗ đặt” sau đây:


Không phải ai cũng đặt được như vậy và không phải ai cũng nói được cái chuyện “khó nói” ấy ra. Đây cũng là điều dễ hiểu khi Mai Thảo nổi tiếng phong lưu, tài tử, đã có trong tay những sắc đẹp rực rỡ nhất của Saigon, Mai Thảo đùa với người đẹp với cuộc đời, đùa cợt ngay với thảm kịch của chính bản thân mình nữa. Nghe nói lại, giữa thập niên 80, thấy mỗi ngày một gầy đi, xuống cân thấy rõ, Mai Thảo được một người bạn thân làm thầy thuốc kéo đi khám bệnh. Khám xong thấy Mai Thảo có ung bướu trong người:


Mấy chục năm rượu chè, văn nghệ, văn gừng đã để lại cho Mai Thảo một lục phủ, ngũ tạng như thế. Người bạn thầy thuốc đề nghị nghỉ uống rượu, và định ngày lên bàn mổ. Nhưng Mai Thảo cảm ơn người bạn thầy thuốc mà nói rằng “Mai Thảo mà thôi uống rượu thì cuộc đời này còn ra cái mẹ gì nữa.” Và vẫn tiếp tục uống; Mai Thảo uống nhiều hơn ăn. Đối với căn bệnh trầm kha trong người, Mai Thảo đề nghị một cuộc hưu chiến, Mai Thảo dỗ dành:


Cái trầm luân của kiếp người là do sinh, lão, bệnh, tử mà ra. Bây giờ bạn tôi “coi như pha” hết. Mai Thảo làm thân với bệnh, với nỗi chết gần kề. “Gối tay lên bệnh nằm thanh thản, thành một đôi ta rất đá vàng“. Đối với Mai Thảo, như thế là mọi sự đều vô nghĩa. Ngày xưa Mai Thảo nhất định sống một mình, không gia đình, không vợ, không con “để moithử sống một đời với nghệ thuật xem sao?”. Bạn muốn xem nó ra sao – bây giờ nó hóa ra như thế.

Mai Thảo rượu vào là “nỏ” chuyện. Trước khi uống thì lừ đừ… cạy miệng không ra lời, chén chú chén anh vào rồi là vung vít. Những lúc ấy là “rượu nói” không hẳn đã là Mai Thảo nói. Người ta kêu bằng “bốc đồng”. Bài thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền” là một cơn bốc đồng. Tôi có nói với bạn tôi như vậy. Mai Thảo cầm ly rượu xoay xoay, cười cười… Năm ấy 1992 tôi vừa ở Việt Nam đi ODP sang Úc rồi sang chơi bên Mỹ, tâm hồn tôi còn u ám về dĩ vãng, về những tháng năm rùng rợn vừa qua nên đọc thơ bạn… tôi cảm nhận bằng cái tâm cảnh ấy. “Ta thấy hình ta những miếu đền” đối với tôi chỉ là một cơn say. Ở với Cách mạng “tù trong cũng như tù ngoài” cơm đâu có mà ăn, lấy gì mà say – mà say sao nổi. Cho nên tôi đã rất thích bài Quê Nhà:


Đây là tâm sự thật, rất thật của tác giả. Ít ra Mai Thảo cũng đã có ba năm ở lại với Cách mạng đã trốn chui trốn nhủi ở “thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”; rực rỡ như vậy nhưng dân thì ăn bo bo, ăn sắn, ăn khoai… còn không đủ, lấy đâu cơm trắng mà ăn. Cơm trắng là một cái gì xa xỉ, là một giấc mơ không với tới của mọi người. Thế mà bây giờ ở đây “cơm thừa mỗi sáng quăng thùng rác” – Không ở với Cách mạng thì không biết hạt cơm nó quý như thế đâu. Hai cụ thân sinh ra Mai Thảo vốn ở lại Việt Nam. Mai Thảo một phút nhớ quê nhà, nhớ cha, nhớ mẹ nên mới có những câu thơ ấy “Mẹ dặn hạt cơm là hạt ngọc – Mẹ già không có miếng cơm ăn“. Đối với người khác, sự khó khăn, khốn khổ khi ở với Cách mạng là phần số… Nhưng đối với các cụ thân sinh ra Mai Thảo “mẹ già không có miếng cơm ăn” nó thảm thiết hơn nhiều.

Tôi vì một sự tình cờ đã qua vùng Hải Hậu (Quần Liêu – Văn Lý) đã nhìn thấy dinh cơ của các cụ, tòa ngang dãy dọc; trong nhà có hẳn một thư viện “Nguyễn Đăng” nên câu thơ nó đi thẳng vào tâm hồn tôi. Trong những khi trò chuyện Mai Thảo có cho hay ngày xưa bạn bè ở Hà Nội, nghỉ hè hay là Tết kéo nhau về “căn nhà vùng nước mặn” lũ lượt, nghỉ ngơi, chơi đùa, học hành, ăn ngủ ở đấy. Không phải chỉ có bạn của Mai Thảo mà thôi – còn có bè bạn của các anh Nguyễn Đăng Thiện, Nguyễn Đăng Viên, Nguyễn Đăng Khánh nữa. Gia đình Nguyễn Đăng là một “đại gia” ở miền này.

Trong gia đình Nguyễn Đăng ai cũng làm ăn chân chỉ, người làm luật sư, người là tỉnh trưởng, người làm giáo sư… chỉ có Mai Thảo Nguyễn Đăng Quí là “lãng tử”… Mai Thảo đã đi ra ngoài cái nền nếp gia đình để làm “nhà văn”. Cũng theo lời Mai Thảo kể lại thì vùng Quần Liêu – Văn Lý, nơi có dinh cơ của các cụ chỉ là quê mới của gia đình Nguyễn Đăng, nơi các cụ đến làm ăn, sinh cơ lập nghiệp. Quê chính của dòng họ Nguyễn Đăng là ở làng Thố Khối – Bắc Ninh “quê hương quan họ”. Hai cụ thân sinh ra Mai Thảo đến ngụ cư ở Hải Hậu từ hai bàn tay trắng mà dựng nên cơ nghiệp như thế, chắc các cụ đã phải làm ăn cần kiệm, khó nhọc thu vén suốt cả một đời. Khi khá giả, giàu có rồi, các cụ vẫn dạy con “hạt cơm là hạt ngọc”. Bây giờ già, con cái tản mát bốn phương, gần đất xa trời “mẹ già không có miếng cơm ăn”.

Hoài niệm của Mai Thảo văn cũng như thơ đều âm u trữ tình, khắc khoải phần nào giống như những đoạn văn viết trong cơn mộng “Đi tìm thời gian đã mất” (A la recherche du temps perdu) của M. Proust. Ngày ấy tâm hồn tôi như vậy nên tôi cảm nhận văn thơ bạn như vậy. Tôi không có với Mai Thảo những kỷ niệm khi bạn ở Mỹ nên một số thơ trong “Ta thấy hình ta những miếu đền”, tôi không chia sẻ được. Nhưng qua mấy lần thăm viếng bạn ở trên căn gác nhỏ vùng Westminster (Little Saigon 1992) đọc những trang viết về bạn, nhất là bản thân cảm nghiệm cuộc sống người già nơi “đất khách” tôi mới dần dần thấm thía những vần “độc thoại” của bạn. Tôi gọi là độc thoại bởi vì những vần thơ ấy toát ra một sự cô đơn kỳ lạ, dù sống ở một nơi đô hội, ngựa xe như nước nhưng Mai Thảo vẫn  hình như sống trong một cõi riêng, nhật nguyệt đều xa vắng, chỉ có “mình” nói chuyện với “mình”.


Cõi nhân gian như vậy chỉ có mình ta. May ra chỉ còn ánh trăng soi rọi – ánh trăng âm thầm chiếu một cái bóng chênh – vênh, nửa say nửa tỉnh từ một phố thị nào đi về căn gác nhỏ đêm khuya.

Mai Thảo vẫn như người ta, vẫn sống, vẫn nhìn ngắm cuộc đời nhưng có thấy gì đâu. Một cái nhìn hướng ra bên ngoài nhưng thật ra đó là một cái nhìn quay ngược vào bên trong. Cái nhìn “trắng” “khô” và trống rỗng. Đành trở về với số phận mình:


Dạo còn ở Saigon, cuối thập niên 60 đầu 70 thời kỳ Đêm Màu Hồng, thấy Mai Thảo và Hoài Bắc Phạm Đình Chương đêm nào cũng gặp nhau uống rượu mà mặt mũi đăm đăm…, tôi đã rất thích câu văn của Mai Thảo “chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu”. Không gặp nhau thì buồn, thì nhớ… nhưng gặp nhau rồi lại “chán quá không có chuyện gì mà nói với nhau”. Thế là lại lì lì uống rượu hết ly này sang ly khác. Buồn như thế, chán như thế nhưng mà vẫn cần có người bạn ấy ở bên. Bây giờ những năm sau 1991, ở Mỹ, Hoài Bắc Phạm Đình Chương mất rồi – Mai Thảo thường uống rượu một mình – Người sành rượu thường nói rằng: “Không gì buồn bằng “độc ẩm”. Không phải là uống rượu nhà uống nỗi buồn trơ trọi của mình:


Cái “bình đêm” ấy là một nỗi cô đơn, uống mãi mà không vơi, không cạn. Đó là tình trạng Mai Thảo những năm gần đây ở Mỹ. “Để moi thử sống một cuộc đời với văn nghệ xem sao”. Câu nói ấy theo sát cuộc đời Mai Thảo. Không gia đình, không vợ, không con… sống suốt một đời với văn chương, nghệ thuật để rồi… “thất thập cổ lai hi…” nơi quê người, đất khách hiện ra số phận của một “Người Viết Mướn”.


Hôm từ biệt Mỹ để về lại Úc (tháng 4-1992) chúng tôi đi từ San Diego lên sân bay Los Angeles. Phải qua vùng Santa Ana. Khi còn ở San Diego, Mai Thảo hứa xuống chơi với chúng tôi một lần nữa nhưng phút cuối Mai Thảo kêu đau chân không đi được. Qua Little Saigon, “mẹ cháu” vội nói “Rẽ vào chào anh Mai Thảo một tí chứ”. Xe quẹo vô khu nhà chung cư ấy – Nhìn lên cái cửa sổ trên lầu thấy cái rideau vẫn mở. Dấu hiệu Mai Thảo có nhà. Vợ chồng chúng tôi, vợ chồng con gái tôi kéo lên. Cái lầu của Mai Thảo có “chút xíu à” chật ếm, nào tranh, nào sách, nào giường, nào toilet, nào frigidaire, nào ấm đun nước, bình pha cà phê lỉnh kỉnh. Lúc ấy Mai Thảo lại đang có khách. Có ông bạn “Người Việt Đỗ Ngọc Yến” và nhà văn trẻ Thế Giang (nếu tôi nhớ không nhầm). “Tụi tôi về Úc hôm nay đây, rẽ qua “say good bye” với bạn”. Thấy nhà chật không tiện – ngồi lâu, chúng tôi đi xuống. Mai Thảo xuống theo, vội vàng cứ đi chân không mà cùng chúng tôi ra car park. Tôi đã lên xe rồi Mai Thảo còn cầm tay tôi mà nói “Tụi mình cũng không còn được bao lâu nữa đâu – Có dịp nào thì phải cố mà gặp nhau đấy nhé…”.

“Không còn được bao lâu nữa đâu” nhưng tôi nghĩ cũng không nên vội vã. Dăm mười năm thì chắc vẫn còn có thể. Nhưng nhà không ngờ từ dạo ấy đến nay đã quá năm năm rồi nhà tôi chưa có dịp nào trở lại thăm đất Mỹ. Cứ lần lần lữa lữa… Trong lúc đó nghe tin ở Mỹ nơi này nơi kia tổ chức chương trình Mai Thảo… đêm Mai Thảo. Có nơi anh em giục tôi viết về Mai Thảo nhưng tôi nghĩ “cứ từ từ”… Nhưng mà từ từ… không được nữa rồi.

Bạn tôi Mai Thảo tháng trước đây “bất tỉnh” phải đưa ngay vào nhà thương cấp cứu. Cái con bệnh trong người nó “gây thành chuyện” mất rồi. Tôi vội viết những giòng này mà nghĩ không biết có kịp hay không? Mai Thảo chỉ còn thoi thóp. Bây giờ tôi mong ước một điều “Tình lại đi Mai Thảo, tỉnh lại đi Mai Thảo”.

Nhưng một sớm cuối năm Đinh Sửu, bạn tôi Mai Thảo đã ra đi, không bao giờ tỉnh lại…

Phan Lạc Phúc

Nguồn: Nguyễn Trường Trung Huy chép lại từ bộ sưu tập riêng. Sài Gòn, Tháng Tám 2021

Em Về. Thơ Hư Vô.



Giấc mơ chưa kịp tượng hình
Mà em như thể thần linh hiện về
Cùng tôi lướt tới cơn mê
Còn nghe thổn thức lời thề trăm năm.

Nhẹ nhàng theo mỗi bước chân
Men vào quá khứ cho gần bóng em
Có thành sương khói mông mênh
Một ngày cũng đã chồng chềnh đời nhau.

Nhịp tim như mới bắt đầu
Hồn tôi thì đã lao đao mất rồi
Em về tựa thoáng mây trôi
Trăm năm một bận luân hồi đó em!

Đời sau dẫu nhớ hay quên
Cũng xin hóa đá đáp đền ơn xưa
Thì trong mỗi một hạt mưa
Có em đứng giữa cho vừa vặn đau...

Hư Vô



	

Nghĩ Về Hồ Biểu Chánh. Sơn Nam


Sơn Nam

Sở trường của ông Hồ Biểu Chánh là viết tiểu thuyết xã hội, viết về cái xã hội tạm thời ổn định ở “Nam kỳ thuộc địa”. Ngoài những quyển tiểu thuyết sáng tác, ông còn có tài phóng tác, không ai bì kịp, thí dụ như, quyển Chúa Tàu Kim Qui.

Muốn thưởng thức trọn vẹn loại tiểu thuyết xã hội, độc giả phải là người lớn tuổi, cỡ hai mươi tuổi hoặc lớn hơn, càng già về tuổi tác thì độc giả càng có đủ tư cách để phê phán: tiểu thuyết hay hoặc dở, tâm lý nhân vật đúng hay sai, lối phân tách có tinh vi không, ngôn ngữ có linh hoạt không? Thời Pháp thuộc, lối khôi hài đùa cợt, hoặc tác phong trưởng giả có khác hơn bây giờ. Đó là chưa nói đến tâm lý của các thầy thông thầy ký, các ông hương chức hội tề hoặc oai phong của ông lục sự. Thuở ấy, thầy thông, ông điền chủ, thầy giáo làng… đều là “một cây” trong địa phương của họ. Viên thơ ký hành chánh là nhân vật quan trọng trong tỉnh nhỏ, cưới cô gái ông thương gia, ông đại điền chủ dễ thư chơi. Nói chi đến các thầy giáo làng ăn lương khoán do ngân sách của làng xã tài trợ! Các thầy giáo này là kẻ sĩ trong làng, nếu muốn cưới con gái út của ông hương cả thì nào khó.

Ngày nay, các độc giả thuộc lứa tuổi quân dịch chắc không tiêu thụ nổi tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh – nhất là các độc giả trẻ, sống ở thị thành, theo kiểu đợt sống mới. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không là sách đầu giường của lứa trẻ.

Nhưng đối với người già, tuổi độ sáu mươi thì sao?

Chúng tôi tin rằng vài vị công chức hồi hưu, điền chủ tản cư còn giữ vài quyển tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh do nhà Đức Lưu Phương xuất bản. Nhưng liệu các vị nầy còn chịu đọc không? Đến năm nay, tác phẩm Hồ Biểu Chánh đã là những đài hoa khô, họa chăng còn chút hương thừa.

Thời tiền chiến, Hồ Biểu Chánh là nhà văn miền Nam ăn khách nhất, như con phụng hoàng bay trên đỉnh núi. Các phê bình gia viết về văn chương miền Nam đều phải nói đến ông.

Sự có mặt của ông trên văn đàn đã khiến độc giả ở miền Nam phân biệt hai loại tiểu thuyết.

– Tiểu thuyết Bắc: do Tự Lực Văn Đoàn, Tân Dân xuất bản (Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tiểu Thuyết Thứ Bảy).

  • Tiểu thuyết Nam: do Hồ Biểu Chánh đơn thân độc mã ngồi một mình một chiếu.

Đặc tánh của tiểu thuyết Bắc là văn chương trau chuốt, cầu kỳ hơi xa thực tế trong khi tiểu thuyết Nam được viết đơn giản, dài dòng, có sao nói vậy, dùng những tiếng địa phương mà không chút mặc cảm tự ti.

Điều đó đã phản ảnh phần nào hậu quả của chế độ nước Nam có ba kỳ, Bắc kỳ theo chế độ quan làng khác Nam kỳ, đời sống và quyền hạn của người dân cũng khác. Đường giao thông khó khăn, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tự túc đã đào sâu sự phân chia tai hại ấy. Do đó, người miền Bắc đã ngạc nhiên khi nghe huyền thoại về “công tử Bạc-liêu”; người miền Nam ở thôn quê không tài nào phân biệt giọng Trung, giọng Bắc. Hễ nghe ai nói giọng “trọ trẹ” thì cho rằng đó là “người Huế”. Người Việt gốc Miên ở Sóc-trăng, Bạc-liêu dùng tiếng “Duôi Huế” (người Việt-Nam Huế) để chỉ tổng quát người Trung và người Bắc.

*

Có lẽ “tiểu thuyết Nam” mang truyền thống riêng, đứng về hình thức mà xét. Mở đầu là loại văn xuôi của những bổn dịch truyện Phong Thần, Tam Quốc ra mắt từ hồi đầu thế kỷ. Ngày nay, xem lại các bổn dịch xưa của Nguyễn An Khương, Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắt… chúng ta thấy các vị tiền bối nầy theo một văn phạm riêng, câu văn thì dài nhưng sáng sủa, rõ nghĩa. Phải chăng các dịch giả đã theo văn phạm “có sao nói vậy” mà cụ Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của đã áp dụng qua các tác phẩm Chuyện đời xưa, Chuyện giải buồn? Từ truyện Tàu bước sang địa hạt tiểu thuyết, chúng ta thấy ngành văn xuôi tiến thêm một bực. Tiểu thuyết vẫn phân chia ra từng hồi với hai câu giáo đầu, kế đến là phần giới thiệu nhân vật theo lối “phường tuồng” nhưng nó là tác phẩm có bố cục, lấy đề tài trong xã hội hoặc lịch sử địa phương. Lối văn biền ngẫu được áp dụng từng chập, khi trầm khi bổng.

Xin chép lại theo trí nhớ, đoạn mở đầu của tiểu thuyết Gương vỡ lại lành của ông Bá Nghiêm, Nguyễn Chánh Sắt, in trong sách thuốc Nhị Thiên Đường:

“Trời xanh mát mẻ, cảnh tượng êm đềm, trên núi mai đơm rực rỡ, dưới sông cá lội nhởn nhơ. Thật là:

Bốn phương lặng lẽ như tờ,

Long lanh tuyết điểm, mịt mờ sương sa…”

Hoặc hồi thứ nhất của lịch sử tiểu thuyết Gia Long Tẩu Quốc, tác giả Tân Dân Tử (1929):

“Đức Nguyễn Ánh lạc bước phong trào,

Nơi phật tự gặp người phò tá.

Đất Việt ba kỳ, trời Nam một góc, tang thương mấy độ, cuộc hưng vong dường thể chiêm bao; sự tích ngày xưa, gương trị loạn còn ghi lịch sử.

Trong khoảng cách chừng một trăm năm chục năm nay, nước Việt-Nam ta ném nhằm lúc triều Lê vận mạt (…) Lúc bấy giờ tại Cần-thơ có một ngôi nhà gần mé Hậu-giang tuy chẳng phải là nhà hào gia cự phú, song xem có vẻ thanh lịch u nhàn, giữa nhà để một bàn tròn, trên bàn trải một tấm khảm đỏ, lại có ít quyển sử, truyện, thi, thơ, văn phòng tứ bửu, hai bên thì để một bộ trường kỷ với ít cái đôn sành, ngoài hiên dựng một bình phong, trên cột treo một cây liễn, còn chung quanh ngôi nhà, có một cảnh vườn trồng đủ các thứ cây trái bông hoa, trước sân có xây một hòn giả sơn, bên thì để ít chậu kim quít, thanh tùng nhánh lá sởn sơ, bên lại trồng ít bụi mai, lan, cúc, trước, xem rất thú vị… Nhà nầy là của một ông quan hồi hưu…

Lúc bấy giờ trong nhà có một thanh niên trạc chừng mười tám tuổi, xem diện mạo tỏ ra một người anh phong tuấn dật (…) Phía bên lại có một nàng tuổi vừa hai chín, hai môi đỏ hồng như màu yên chi (…) Chính giữa, lại có một người đàn bà tuổi chừng năm mươi, sắc mặt cũng có vẻ âu sầu thảm đạm…”

Nếu đem so các đoạn văn tả chân tỉ mỉ, dài lê thê, viết theo công thức trên đây với các đoạn văn của Hồ Biểu Chánh, chúng ta thấy Hồ Biểu Chánh đã đánh dấu một cố gắng mới, một thành công mới. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh viết gọn gàng, trôi chảy hơn nhiều. Nhưng xét về bố cục thì Hồ Biểu Chánh vẫn giữ cái hậu của truyện, của tuồng: ơn đền, oán trả, thưởng phạt phân minh.

Từ hát bội (tuồng Tàu) bước qua cải lương, sân khấu vẫn giữ cái hậu ở màn cuối.

Từ truyện Tàu, bước qua Nguyễn Chánh Sắt, chuyển qua Hồ Biểu Chánh, ngành tiểu thuyết vẫn giữ cái hậu ở đoạn kết, như một vở tuồng. Do đó, độc giả và khán giả giữ thói quen, đòi hỏi một kết cuộc cụ thể ở màn chót, ở trang cuối. Tuồng cải lương hôm nay đã cải tiến về tranh cảnh, ngôn ngữ nhưng vẫn giữ phần kết cuộc “có thủy chung” để được ăn khách. Những người viết tiểu thuyết đăng nhật báo vẫn giữ thông lệ cũ. Trong hoàn cảnh xã hội xáo trộn, tìm một kết cuộc có thủy có chung là điều khó, gần như không hợp lý. Vào màn chót, nhân vật chánh phải tự tử, bị giết, ra tòa để nhờ công lý xét soi hoặc vào chùa để mượn tiếng chuông giải thoát! Hoặc trở về gia đình, đoàn tụ nhờ một sự thay đổi ngẫu nhiên. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, tiểu thuyết đăng nhật báo, tuồng cải lương và luôn cả phim Ấn-độ cứ đứng khựng một chỗ hoặc thối lui, hoặc “tiến tới” trong cái vòng lẩn quẩn bẩn chật đó.

*

Người viết bài nầy không được cái diễm phúc thưởng thức trọn vẹn tài nghệ của Hổ Biểu Chánh. Phải là công chức, tiểu điền chủ, có chút ít nhàn rỗi kìa. Tiếc thay! Năm mà chúng tôi bắt đầu biết thưởng thức tiểu thuyết xã hội thì nước nhà lại bắt đầu xáo trộn. Ấy là vào khoảng 1943, lúc ông Hồ Biểu Chánh chủ trương tạp chí Đại Việt. Chúng tôi đã thất vọng vì lúc bấy giờ ông làm chánh trị. Thực dân Pháp bắt buộc mọi người phải làm chánh trị để ủng hộ thống chế Pê-Te (Pétain), gây phong trào Pháp Việt Phục Hưng. Chúng tôi học ở trường Phan Thanh Giản Cần-thơ, suốt ngày lo tập thể dục để biểu diễn, đón rước quan khách ta và Tây trong khi ông Hồ Biểu Chánh đóng vai Phạm Quỳnh với một tờ Nam Phong nhỏ bé.

Chuyện xưa rồi, nhắc lại làm chi.

Chúng tôi muốn giữ niềm lạc quan: về hình thức, về hành văn, ngày nay chẳng còn sự phân biệt tiểu thuyết Nam và tiểu thuyết Bắc nữa. Người Bắc và người Nam đã vui vẻ dùng những tiếng lóng, tiếng trọ trẹ, tiếng đớt đát để làm vui tươi cho câu văn. Chỉ có người Việt, làng văn Việt, chỉ có tiếng Việt mến yêu. Nếu muốn nhắc nhở đến động cơ đã thúc đẩy viết văn thì xin thành thật mà nói rằng: người viết bài này hồi ở nhà trường đã thích văn chương của mấy tiểu thuyết gia và thi sĩ đất Bắc, và chỉ đọc lai rai tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

Hồ Biểu Chánh là người tài hoa, cái tài của ông là chỗ biết “bắt mạch” độc giả, tạo cho ông một số độc giả trung thành. Ông đã mất và số độc giả ấy cũng đã mất, mặc dầu có người còn sống. Chúng tôi không đọc hết các tác phẩm của ông nhưng làm sao quên được vài đoạn thần tình thí dụ như: ông hương chức làng đi ngang qua trường học, hỏi bằng một giọng hách dịch “Mấy giờ rồi, thầy giáo?” mặc dầu thầy giáo đang dạy học còn ông hương chức thì chỉ đi chơi. Hoặc ông cường hào ở nông thôn dắt đứa con vào lớp để mắng vốn và chửi xéo thầy giáo “Tao không cho mày học nữa, mầy về nhà chăn trâu”, đại khái như thế.

Sơn Nam

(Tạp chí Văn số 80, ngày 15-4-1967, số chủ đề Hồ Biểu Chánh)

Đại Học Miền Nam Trước 1975. Hồi Tưởng và Nhận Định của Giáo Sư Lê Xuân Khoa


Giáo sư Lê Xuân Khoa


LTS: Giáo sư Lê Xuân Khoa là một “chứng nhân” của nền giáo dục đại học trước 1975, vì ông từng giữ những chức vụ quan trọng như giáo sư triết học phương Đông tại ĐH Văn khoa Sài Gòn, thứ trưởng Bộ Giáo dục (1965) và phó viện trưởng (như phó hiệu trưởng đại học ngày nay) của Viện Đại học Sài Gòn (1974-1975). Ông định cư ở Mỹ năm 1975, trở thành giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins. Nay thì ông đã nghỉ hưu.


Khi được một thành viên trong Ban chủ biên Kỷ yếu Humboldt 200, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh, mời viết một bài về Đại học Miền Nam cho tập Kỷ yếu đánh dấu 200 năm Đại học Humboldt, tôi rất vui vì có cơ hội tham gia vào một công trình có ý nghĩa của một tập hợp trí thức trong và ngoài nước quan tâm đến sứ mệnh giáo dục Đại học ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi đã rất ngần ngại nhận lời, không chỉ vì tôi đã rời xa ngành giáo dục Việt Nam trên 35 năm mà còn lo ngại ký ức của tôi không còn nhớ nhiều về tổ chức và hoạch định chính sách cho nền giáo dục Đại học Miền Nam trước 1975. Quả thật, ngoài 15 năm giảng dạy một môn học rất xa thực tế là “Triết học Upanishad” và “Thiền học Việt Nam” ở Đại học Sài-gòn (sau này có dạy thêm “Văn minh Việt Nam” ở Đại học Đà-lạt,) tôi chỉ tham gia vào bộ phận điều hành ở Bộ Giáo dục, Viện Đại học Vạn Hạnh và Viện Đại học Sài-gòn trong những thời gian rất ngắn, từ năm tháng tới một năm. Tôi cũng ít có dịp hợp tác trực tiếp với những nhà lãnh đạo Đại học, trừ bốn người là cố Giáo sư Nguyễn Quang Trình (ĐH Sài-gòn), cố Linh mục Nguyễn Văn Lập (ĐH Đà-lạt), Thượng Tọa Thích Minh Châu (ĐH Vạn Hạnh) và cố Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huy (ĐH Sài-gòn). Nhưng tôi đã được TS Nguyễn Xuân Xanh thuyết phục khi anh nhắc nhở rằng một bài viết về Đại học miền Nam của một “người trong cuộc”, dù ít dù nhiều cũng là điều không thể thiếu trong tập kỷ yếu Humboldt 200, trong đó có phần lịch sử Đại học Việt Nam từ thời cổ, triết lý và quá trình phát triển của nó trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) và 35 năm sau thống nhất, đặc biệt là những vấn đề của hiện tại và nhu cầu “đổi mới để nhanh chóng vươn lên với thế giới”.

Vì đã có nhiều tác giả viết về lịch sử, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ Tiểu học tới Đại học, tôi thấy không cần thiết phải mô tả lại hệ thống giáo dục này. Tôi sẽ chỉ trình bày một số nhận xét và kinh nghiệm riêng của tôi về chính sách và điều kiện sinh hoạt Đại học trong khung cảnh chung của nền giáo dục ở miền Nam trước 1975, sau khi đã kiểm lại một số dữ kiện với hai bạn đồng nghiệp cũ là Giáo sư Nguyễn Thế Anh và Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, cả hai đều từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế. Tuyệt nhiên đây không phải là một bài nghiên cứu hay luận thuyết mà chỉ là một bài ghi nhận một số sự kiện đáng được lưu ý trong lịch sử ngắn ngủi 20 năm của nền giáo dục đại học ở miền Nam, từ ngày đất nước chia đôi đến ngày thống nhất. Do sự suy giảm của trí nhớ, tôi có thể đã bỏ sót hay không nhớ đích xác một số sự kiện diễn ra trên dưới 50 năm về trước.

Từ trung ương tập quyền đến tự trị đại học

Nói đến giáo dục Đại học hiện đại không thể không nói đến quyền tự trị của Đại học. Đó là xu thế chung của đại học ở các nước dân chủ như một điều kiện sine qua non cho sự phát triển của con người và xã hội. Điều 10 trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967 ghi rõ: “Nền giáo dục Đại học được tự trị”. Điều này phản ánh tinh thần khai phóng trong triết lý giáo dục miền Nam được xác định trong Đại hội giáo dục lần thứ nhất năm 1958, với ba nguyên tắc căn bản là “nhân bản, dân tộc, khai phóng”. Đại hội này được tổ chức với sự tham gia của đại diện giáo chức các cấp trên toàn quốc cùng một số trí thức độc lập bên cạnh các đại diện của Bộ Giáo dục. Mọi quyết định của hội nghị đều là kết quả của những cuộc thảo luận và biểu quyết hoàn toàn tự do không có bất cứ sự can thiệp nào của chính quyền. Tinh thần khai phóng ở Đại học được thể hiện rõ rệt nhất trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học tiến bộ và những giá trị văn hóa nhân bản của thế giới nhằm hiện đại hóa đất nước và phát triển toàn diện con người. Điểm này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở một đề mục dưới đây.

Thật ra cho đến năm 1975 Đại học miền Nam vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt tình trạng chuyển tiếp từ truyền thống trí thức hàn lâm của Đại học Pháp sang truyền thống thực dụng của Đại học Mỹ. Năm 1955, trước khi Pháp hoàn tất việc chuyển giao tất cả các cơ sở công quyền cho Việt Nam, hai nước đã ký kết một bản thỏa hiệp có hiệu lực mười năm về hợp tác và trao đổi văn hóa. Lý do là chính phủ Pháp muốn duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng của văn hóa Pháp ở Việt Nam trong lâu dài, trong khi chính phủ mới ở miền Nam cũng cần phát triển giáo dục từ một nền tảng đã có sẵn, nhất là vì các nhà lãnh đạo chính quyền và trí thức đại học đều được đào tạo bởi nền giáo dục Pháp. Trong mười năm đó, chính phủ Pháp cấp học bổng cho nhiều giáo sư trung học sang Pháp tu nghiệp ngắn hạn hay tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ. Nhưng dần dần ảnh hưởng Pháp mờ nhạt đi kể từ khi Việt Nam bắt đầu gửi công chức và sinh viên sang Hoa Kỳ, Úc, Tân-Tây-Lan và các nước khác vào những năm cuối thập kỷ 1950.

Truyền thống giáo dục cổ điển của Đại học Pháp bắt nguồn từ bản Hiến Pháp năm 1791 (hai năm sau Cách Mạng 1789) xác định vai trò của quốc gia trong giáo dục, bảo đảm mọi công dân có cơ hội đồng đều về giáo dục ở mọi cấp và mọi ngành. Những nghị định năm 1806 và 1808 dưới thời Napoléon I đặt toàn thể hệ thống giáo dục từ tiểu học tới đại học dưới sự điều hành và kiểm soát của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chính sách trung ương hóa nền giáo dục toàn quốc có mục đích kiện toàn nền thống nhất của quốc gia và tinh thần đoàn kết trong nhân dân Pháp. Định chế toàn quốc ấy đã tồn tại cho đến tận ngày nay, nhưng qua nhiều lần cải cách, chức phận điều hành và kiểm soát của Bộ Giáo dục đã được nới lỏng để con người được phát triển đầy đủ và tự do hơn. Đặc biệt ở cấp Đại học, sự kiểm soát không nhắm vào các hoạt động hàn lâm mà chú trọng đến sự hợp lệ trong các thủ tục điều hành ngân sách và nhân viên.

Chịu ảnh hưởng truyền thống cổ điển của Pháp, giáo dục đại học ở miền Nam không được tự trị về cả ba phương diện ngân sách, nhân viên và học vụ. Quả thật các Viện Đại học Sài-gòn, Huế, Cần Thơ, Đại học Bách Khoa Thủ Đức, các trường Cao đẳng và Đại học Cộng đồng của chính phủ đều được đặt dưới quyền điều hành của Bộ Giáo Dục. Các quyết định quan trọng như tuyển dụng hay thăng ngạch trật của giáo sư, mua sắm vật liệu hay chi phí xây dựng đều phải trình cho Bộ trưởng duyệt ký. Riêng chức vụ Viện trưởng là do Tổng thống bổ nhiệm, nhưng dưới thời Đệ nhị Cộng hoà thì việc bổ nhiệm Viện trưởng phải được Quốc hội thông qua sau một buổi điều trần về đường lối và tổ chức Đại học. Tiếp theo đó, Thủ tướng bổ nhiệm các Phó Viện trưởng theo đề nghị của Viện trưởng nhưng không cần phải thông qua Quốc hội. Chữ ký của Viện trưởng trên các văn bằng Đại học luôn luôn theo sau dòng chữ “Thừa ủy nhiệm Bộ trưởng Giáo dục”. Các khoản viện trợ từ bên ngoài cho phảt triển Đại học cũng phải qua ngân sách của Bộ Giáo dục ngoại trừ dưới hình thức hiện vật như sách vở, dụng cụ, máy móc, hay giáo sư thỉnh giảng (visiting professors) không do chính phủ Việt Nam trả lương. Nguồn viện trợ thường là các chương trình ngoại viện của các chính phủ Pháp, Mỹ, Úc, Tân-Tây-Lan . . . Về học vụ, mặc dù nội dung chương trình giảng dạy thuộc thẩm quyền của Đại học, việc tổ chức các phân khoa, thi cử và văn bằng cùng với mọi sáng kiến thay đổi hay dự án mới đều phải được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục. Tóm lại, Bộ Giáo Dục giữ vai trò điều hợp tổng quát các đại học để thống nhất về mặt triết lý giáo dục, quản trị nhân viên và tài chánh (trừ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh huấn luyện công chức là trực thuộc phủ Tổng Thống).[1]

Công bằng mà nói thì truyền thống đại học của Pháp không hẳn là một di sản xấu khiến cho đại học Việt Nam bị yếu kém về phẩm chất, như nhận xét của hai tác giả Thomas Vallely và Ben Wilkinson trong bản phúc trình của Đại học Harvard năm 2009. Nhận xét này đã bị Giáo sư Tạ Văn Tài phản bác rất đúng khi ông trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do, nhấn mạnh rằng những giáo sư đại học Việt Nam do Pháp đào tạo đều là những trí thức ưu tú không thua kém gì những đồng nghiệp người Pháp hay ngoại quốc khác. Họ đã xây dựng vững chắc nền đại học miền Nam từ 1954 và hầu hết sinh viên của họ khi ra nước ngoài đi làm hay học lấy bằng cấp cao hơn cũng đều là những nhân tài xuất sắc.[2] Có bậc thày không chỉ có công đào tạo ít nhất là hai thế hệ sinh viên mà còn là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp. Chẳng hạn, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, người có công gây dựng Đại học Văn Khoa từ những ngày đầu ở Hà Nội vào năm 1949-1950; bên Y khoa không mấy ai không biết đến Giáo sư Phạm Biểu Tâm là một vị thày thuốc điển hình của truyền thống Hippocrate.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm đang tiếp chuyện với sinh viên Y khoa về việc ông bị bắt trong biến cố 1963

Ở miền Nam, khi ghi trong Hiến pháp năm 1967 là “Nền giáo dục Đại học được tự trị,” các nhà làm chính sách giáo dục đã xác nhận sự cần thiết phải hội nhập với thế giới dân chủ, nhất là theo mô hình của Mỹ. Nhưng việc trao cho đại học quyền tự trị, nhất là về quản trị nhân viên và sử dụng ngân sách, từ những định chế lâu đời như Bộ Giáo dục, Tổng Nha Công vụ và Tổng Nha Ngân sách đòi hỏi những sự thay đổi hay điều chỉnh thích hợp về luật lệ và thủ tục, do đó cần phải có thời gian thực hiện theo một tiến trình chuyển tiếp.

Trụ sở Viện Đại Học Sài Gòn cạnh bên Hồ con rùa (góc đường Duy Tân – Trần Quý Cáp). Trước 1975, các trường ĐH công lập như Luật khoa, Văn khoa, Kiến trúc, Dược khoa và Y khoa v.v… đều là các Phân khoa thuộc Viện ĐH Sài Gòn. (Hình ảnh và ghi chú trích từ “flickrer” manhhai)

Dù sao trong tiến trình tự trị hóa, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều ưu đãi. Các đề nghị của Hội đồng đại học về nhân viên hay ngân sách thường được chính phủ chấp thuận mau chóng ngoại trừ những quyết định thật quan trọng. Do sự tín nhiệm sẵn có đối với lãnh đạo đại học, sự chấp thuận của chính phủ được căn cứ vào sự hợp lệ về hành chánh và khả năng ngân sách hơn là xét về nhu cầu và giá trị của đề nghị. Về mặt học vụ, sự chấp thuận của Bộ Giáo dục lại càng có tính hình thức hơn nữa vì không khi nào Bộ ra chỉ thị hay can thiệp vào việc ấn định nội dung các môn học, thể lệ thi cử và chấm thi, các công tác nghiên cứu và giảng dạy, miễn là không trái ngược với ba nguyên tắc căn bản là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Chính sách uyển chuyển này đối với lãnh đạo đại học đưa đến thái độ mặc nhiên chấp thuận cho đại học thử nghiệm sáng kiến mới để rốt cuộc chính thức công nhận kết quả của thử nghiệm. Một thí dụ: khoảng giữa năm 1965, tôi được biệt phái từ Đại học Văn khoa Sài-gòn sang Viện Đại học Vạn Hạnh trong một năm để giúp tổ chức và soạn thảo chương trình cử nhân cho Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn. Sau khi hội ý với Thượng Tọa Viện trưởng Thích Minh Châu và được sự đồng ý của Thượng Tọa, tôi bắt đầu soạn thảo các môn học theo hệ thống tín chỉ (credits) thay thế cho các chứng chỉ cử nhân nhưng vẫn duy trì chế độ niên khóa. Tôi trở về Đại học Sài-gòn khi xong công việc và được biết dự án cải cách dung hòa cũ-mới này sau đó được Hội đồng Viện hoàn chỉnh và lần lượt áp dụng vào các Phân khoa khác. Điều đáng chú ý là khi Viện ĐH Vạn Hạnh trình dự án này lên Bộ Giáo dục xin ý kiến, Bộ không chính thức chấp thuận hay bác bỏ, nhưng các văn bằng cử nhân của Đại học Vạn Hạnh đều được Bộ công nhận. Những buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên luôn luôn có sự hiện diện của Bộ trưởng Giáo dục. Từ đầu thập kỷ 1970, hệ thống tín chỉ chính thức được áp dụng ở các Đại học Cộng đồng và Đại học Bách khoa Thủ đức của chính phủ.

Một buổi lễ tốt nghiệp của Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Trong ảnh Viện trưởng, HT Thích Minh Châu đang đọc thuyết văn

Sự nảy nở các đại học cộng đồng (hay đại học sơ cấp hai năm) từ 1971 đáp ứng nhu cầu thực tế về nhân lực của địa phương và thể hiện tinh thần dân chủ vì có sự tham gia trực tiếp về tài chính và quản lý của địa phương đó. Sự thành lập Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1973 được phỏng theo mô hình California Polytechnic State University đích thực là một đại học đa khoa, không chỉ gồm những phân khoa thiên về nghiên cứu mà bao gồm cả các ngành thực tiễn như nông nghiệp, kỹ thuật cơ khí, điện tử . . . là những ngành cần thiết cho nền kinh tế tại Đô thành và các tỉnh lân cận. Một đặc điểm trong chương trình đại học cộng đồng hồi đó là chương trình giáo dục bổ túc dành cho những sinh viên do hoàn cảnh chiến tranh nên thiếu căn bản vững chắc để theo các lớp đại học. Chương trình này cũng nhắm vào những quân nhân giải ngũ, nhất là khi đất nước hòa bình, cần được cập nhật và bổ túc kiến thức sau một thời gian bị gián đoạn việc học. Như vậy, việc cải cách giáo dục đại học theo xu hướng thực dụng và dân chủ hóa đã thật sự bắt đầu từ năm 1971.

Tự do học thuật và phát triển con người

Mặc dù một phái đoàn của Đại học Michigan đã đến Sài-gòn từ năm 1954 để giúp cải tổ chương trình đào tạo cán bộ ở Học viện Quốc gia Hành chánh, ảnh hưởng giáo dục đại học Mỹ chỉ bắt đầu ba bốn năm sau và đến những năm đầu thập kỷ 1970 mới có sự tăng tốc trong tiến trình đổi mới, với sự nâng cấp một số trường Cao đẳng Chuyên nghiệp, sự ra đời của một loạt Đại học Cộng đồng và của trường Đại học Bách Khoa Thủ Đức. Thế hệ trí thức theo truyền thống cũ của Pháp cũng ý thức được nhu cầu đổi mới và lợi ích của tự trị đại học trong công cuộc phát triển xứ sở nên cũng sẵn sàng chuyển hướng theo triết lý giáo dục của Mỹ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực dân chủ hóa và thực tiễn hóa giáo dục đại học không có đủ thời gian thành tựu khi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam sụp đổ năm 1975.

Tự trị học vụ trong qui chế tự trị đại học thường bị lẫn lộn với một chức năng liên hệ là tự do nghiên cứu và giảng dạy nay đã trở thành một truyền thống đại học ở các nước dân chủ. Đến đây, cần phải nhắc đến triết lý giáo dục của Đại học Humboldt nhấn mạnh vào sứ mệnh của trí thức đại học là phát triển toàn diện con người bằng khoa học và văn hóa, và điều kiện của phát triển là tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy. Phát triển con người bằng khoa học là tinh thần khai phóng, phát triển con người bằng văn hóa là tinh thần nhân bản. Đó là hai nguyên tắc chính yếu đã được đưa vào triết lý giáo dục các cấp ở miền Nam cùng với nguyên tắc thứ ba là tinh thần dân tộc, theo thứ tự “nhân bản, dân tộc, khai phóng,” phù hợp với nhu cầu và sứ mệnh của một quốc gia đang mở mang muốn vươn lên và hội nhập thành công trong cộng đồng thế giới.

Giáo dục nhân bản lấy con người làm cứu cánh nên chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện, đúng như đã được định nghĩa trong sách Đại học của Nho giáo (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện). Đạo Nho có những giáo điều phong kiến lỗi thời nhưng những nguyên tố để đào tạo mẫu người lý tưởng như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều có giá trị phổ quát và vĩnh viễn. Người “quân tử” hay “kẻ sĩ” thời phong kiến khác với người “trí thức” thời dân chủ về trách nhiệm cụ thể, nhưng hoàn toàn giống nhau về tư cách đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục dân tộc nhằm bồi dưỡng tinh thần hiếu hòa nhưng nhiệt tình yêu nước của giống nòi Hồng Lạc qua hơn hai nghìn năm lịch sử, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Tinh thần dân tộc được thể hiện ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 và trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại/Trần Trọng Kim: nền giáo dục Việt Nam lập tức được Việt hóa với chương trình Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Giáo dục khai phóng tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật và tinh hoa văn hóa của các nước Tây phương một cách không định kiến. Rút kinh nghiệm mất nước vì chính sách tự cô lập với thế giới của vua chúa nhà Nguyễn, giáo dục khai phóng cũng du nhập những tư tưởng mới về triết học và chính trị, chuẩn bị cho học sinh sau khi tốt nghiệp tiểu học hay trung học có điều kiện trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.

Tinh thần khai phóng được thể hiện đầy đủ nhất ở Đại học qua sự thành lập các trường đại học mới, bổ sung tính chất nghiên cứu hàn lâm bằng khuynh hướng thực dụng để gia tăng khả năng phát triển kinh tế và công nghệ hóa miền Nam. Trong hai năm đầu, miền Nam mở thêm hai đại học, một công là Đại học Huế và một tư là Đại học Đà-lạt, cùng thành lập trong năm 1957; từ 1964 đến 1972 có thêm một đại học công là Đại học Cần Thơ (1966) và năm đại học tư là ĐH Vạn Hạnh (1964), ĐH Phương Nam (1967), ĐH Hòa Hảo (1970), ĐH Cao Đài (1971) và ĐH Minh Đức (1972). Sự gia tăng con số đại học tư—tổng cộng sáu đại học tư đều do bốn tôn giáo chính ở Việt Nam thành lập—cho thấy một đặc tính dân chủ ở miền Nam, mặc dù sự phát triển tự do này có vẻ biểu hiện nhu cầu xác lập vai trò và ảnh hưởng của mỗi tôn giáo trong xã hội hơn là nhu cầu thật sự về giáo dục đại học. Một đặc điểm khác của tinh thần khai phóng là quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy của các giáo sư. Các chứng chỉ, văn bằng và các môn học vẫn phải được Bộ Giáo dục duyệt y, nhưng nội dung các môn học và phương pháp giảng dạy đều do mỗi giáo sư tự ý quyết định.

Đáng tiếc là do tình hình chiến tranh, các hoạt động tự do học thuật này không phát triển được đến mức độ cao như mong đợi. Quả thật các giáo sư Đại học miền Nam được tự do nghiên cứu và giảng dạy, nhưng họ lại thiếu điều kiện để phát huy khả năng của họ. Trước hết là sự thừa kế truyền thống đại học cũ của Pháp từ thời Đại học Đông Dương. Trong những năm đầu chuyển tiếp từ 1954, Đại học Sài-gòn còn giảng dạy bằng tiếng Pháp ở các Phân khoa, trừ trường Văn Khoa, Cao đẳng Sư Phạm. (Ở trường Luật, nhờ những nỗ lực đặc biệt của GS Khoa trưởng Vũ Quốc Thúc và các đồng nghiệp của ông như Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Cao Hách, việc giảng dạy bằng tiếng Việt đã thực hiện được từ niên khóa 1955-56.)[3] Ngay cả khi đã hoàn toàn Việt hóa, Đại học miền Nam vẫn theo mô hình cũ của Pháp về tổ chức học theo năm và thói quen giảng bài hay phát bài cho sinh viên học thuộc lòng, trừ một số bộ môn khoa học như Toán và Vật lý. Giáo sư ít có những công trình nghiên cứu riêng, giữ nguyên bài giảng hàng năm hoặc chỉ thêm bớt đôi chút, không hoặc ít hướng dẫn cho sinh viên đọc sách tham khảo và thảo luận trong lớp học. Điểm bài thi cuối năm cao hay thấp phần lớn là tùy theo mức độ thuộc bài của sinh viên. Cho đến những năm cuối thập kỷ 1960, truyền thống cũ mới bắt đầu được thay đổi do sự trở về nước của một số giáo sư sau thời gian du học hay tu nghiệp ở những quốc gia ngoài hệ thống của Pháp như Anh, Đức, Úc, Tân-Tây-Lan, Nhật và Hoa Kỳ. Thật vậy, số người đậu tiến sĩ ở những nước này về Việt Nam dạy học gia tăng từ những năm giữa thập kỷ 1960, nhưng trách nhiệm lãnh đạo về học vụ vẫn ở trong tay thế hệ chịu ảnh hưởng của Pháp, vừa có thâm niên vừa chiếm đa số. Hệ thống giáo dục Đại học vì thế vẫn còn khá bảo thủ. Sự kéo dài tình trạng chuyển tiếp được thấy rõ ở Đại học Y khoa vào những năm cuối cùng: thành phần giảng huấn gồm các giáo sư Việt, Pháp và Mỹ, nhưng một số giáo sư người Việt khi giảng dạy vẫn pha lẫn tiếng Pháp và các bài giảng được viết bằng Pháp văn, đem đánh máy và in ronéo cho sinh viên học thuộc lòng để làm bài thi cuối năm.

Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn

Trong thời gian chuyển đổi từ ảnh hưởng của Pháp sang ảnh hưởng của Mỹ, một số giáo sư do Pháp đào tạo được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và khi về nước đã cập nhật kiến thức và phương pháp mới vào việc giảng dạy. Mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng mới và cũ tan biến mau chóng ngay cả ở Y, Dược khoa và sinh viên rất thích thú được hướng dẫn tra cứu thêm những sách báo y học và khoa học của Mỹ. Bên Luật khoa, các giáo sư trẻ mới du học về đưa ngay vào học trình một số môn mới trong hệ thống đại học Mỹ như kinh toán học, thống kê, phương pháp các khoa học xã hội, chính trị, bang giao quốc tế. Từ nay, thay vì chỉ ghi chép bài giảng của thày và học thuộc lòng để cuối năm sẽ viết ra y hệt (cours magistral), sinh viên đã có dịp áp dụng các phương pháp tự tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, do đó tập được thói quen tự học suốt đời, và có dịp tranh luận trong lớp để huấn luyện óc phê bình, sáng tạo. Bên Văn Khoa thì bất kể là giáo sư xuất thân từ đại học Pháp hay Mỹ, đều “trăm hoa đua nở”, tự do giới thiệu và phê bình các hệ tư tưởng triết học, các khuynh hướng văn học, nghệ thuật, tức là rất sát với trào lưu quốc tế. Thí dụ, hồi đó triết học hiện sinh (existentialisme) của Kierkegaard, Heidegger, Sartre và Merleau-Ponty được thảo luận sôi nổi nhất, và những tiểu thuyết hiện sinh của Albert Camus hay Simone de Beauvoir là những tác phẩm thời thượng. Lại có giáo sư không ngần ngại lập ra trường phái mới như Giáo sư Linh mục Kim Định viết cả ngàn trang sách về tư tưởng “Việt Nho”. Các giáo sư trong Tạp chí Đại học thì nghiên cứu và phê phán không thiếu vấn đề gì, từ triết học, văn học đến chính trị. `Đại học Văn Khoa còn có một sồ giáo sư là Thượng Tọa và Linh Mục, như TT Thích Mãn Giác, TT Thích Quảng Liên, LM Trần Thái Đỉnh, LM Hoàng Sĩ Quý. Nói chung, dù xuất thân từ bất cứ đại học nào và thuộc khuynh hướng nào, các giáo sư văn khoa và các ngành khoa học nhân văn đều áp dụng phương châm giáo dục của Kant là “không chỉ giảng dạy cho sinh viên các tư tưởng mà dạy cho họ biết tư tưởng.”

Một câu chuyện đáng ghi nhớ về tự do tư tưởng của trí thức Đại học miền Nam là vào năm 1965, ngay sau khi chính phủ quân nhân cầm đầu bởi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ được thành lập. Khi đó, Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, giao trách nhiệm đọc bài khai giảng niên khóa toàn trường cho Giáo sư Tạ Văn Tài, một trí thức trẻ mới ở Mỹ về, xác nhận rằng ông có quyền tự do phát biểu. Giáo sư Tài đã trình bày tóm lược bản luận án tiến sĩ của ông ở Mỹ về vai trò của quân đội tại các nước Đông Nam Á, phân tích ưu khuyết điểm của chế độ quân nhân ở những nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, nhấn mạnh đến quyết định sáng suốt của một số chính quyền quân đội đã mau mắn trao trả quyền lực cho nhân dân qua bầu cử, tránh được những cuộc đấu tranh chính trị gây đau thương chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và kìm hãm sự phát triển của đất nước. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cử Đại tá Dương Hồng Tuân đến tham dự và lấy bài giảng về làm tờ trình cho Hội Đồng Quân Lực. Sau đó, Tổng Thư ký Hội đồng Quân lực là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu nhận trách nhiệm nghiên cứu bản luận án của Giáo sư Tài nhưng không thấy công bố kết quả hay phản ứng của Hội Đồng Quân Lực như thế nào.

Ngoài truyền thống bảo thủ của Pháp, một lý do quan trọng khác làm chậm sự phát triển đại học là tình hình kinh tế thời chiến và nạn thiếu giáo sư so với tỉ lệ gia tăng của sinh viên và số đại học được mở thêm khiến nhiều giáo sư phải nhận dạy ở nhiều trường, có khi còn kiêm nhiệm chức vụ khác nữa. Mỗi lần đi dạy xa như từ Sài-gòn ra Huế hay Đà-lạt hay Cần Thơ, giáo sư cần phải ở lại địa phương trung bình hai, ba ngày. Công việc nghiên cứu chuyên môn lại càng bị hạn chế, sáng kiến và phương pháp giảng dạy mới cũng không được phổ biến khi những người có hiểu biết và đầu óc đổi mới lại chính là những người được giao phó thêm chức vụ mà công việc hàng ngày thường chiếm nhiều thì giờ hơn là dạy học. Riêng cá nhân tôi, trước khi được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Đại học Sài-gòn đặc trách nghiên cứu và phát triển năm 1974, tôi đã kiêm nhiệm hai chức vụ trong khu vực tư là Giám đốc Nhà Xuất bản Hiện Đại do Hội Việt-Mỹ bảo trợ và Phó Tổng Giám đốc của Mandarin Garment Co., một công ty hợp tác đầu tư Việt Nam-Hong Kong-Tây Đức, trong khi vẫn giảng dạy ở Đại học Văn Khoa. Dự án cải cách và phát triển Đại học Sài-gòn của tôi bị đình trệ vì phải huy động giáo sư và sinh viên tham gia công tác cứu trợ khẩn cấp đồng bào di tản vì chiến tranh từ các tỉnh miền Trung.

Nhà Xuất bản Hiện Đại là một dự án văn hóa có những đóng góp không nhỏ cho những hoạt động tự do, khai phóng của Đại học. Vì sự gia tăng cường độ của chiến tranh, công cuộc phát triển Đại học gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc gửi sinh viên đi du học nước ngoài. Bộ Giáo dục và Viện Đại học đã phải mời một số giáo sư ngoại quốc tới giảng dạy nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu. Khi làm Đổng lý Văn phòng tại Bộ Văn hóa Giáo dục năm 1965, tôi đã có dự án du nhập trí tuệ bằng việc mời giáo sư nước ngoài và dịch sách nghiên cứu để giải quyết nạn thiếu giáo sư và mở rộng kiến thức của sinh viên. Khi nói chuyện với các cơ quan viện trợ văn hóa nước ngoài, khẩu hiệu “We want to bring the brain in” của tôi có sức thuyết phục nhưng chưa kịp làm được gì thì chính quyền dân sự Phan Huy Quát đã phải ra đi. Năm 1971, cùng với sự nở rộ của các đại học tư và đại học cộng đồng kiểu Mỹ, tôi có cơ hội quan hệ với Hội đồng Quản trị Hội Việt-Mỹ và đề nghị chương trình dịch tài liệu giáo khoa của Mỹ cho giáo sư và sinh viên đại học Việt Nam bên cạnh chương trình phổ biến kiến thức phổ thông về văn học, khoa học và nghệ thuật mà Hội Việt-Mỹ đang thực hiện. Dự án được chấp thuận, Hội Việt-Mỹ phụ trách điều đình với các nhà xuất bản ở Mỹ về quyền được dịch sách và NXB Hiện Đại ra đời với sự hợp tác của nhiều giáo sư và học giả có uy tín cho đến những ngày cuối tháng Tư 1975.

Trong bốn năm hoạt động, NXB Hiện Đại đã hoàn thành được 45 tác phẩm trong đó 30 cuốn là sách nghiên cứu về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật. Điển hình là : Căn bản Chính trị của Phát triển Kinh tế của Robert T. Holt và John E. Turner, Vũ Quốc Thúc dịch; Sự Biến đổi của Quốc tế Công pháp của W. Friedman, Tạ Văn Tài dịch; Chính trị và Bang giao Quốc tế của Hans J. Morgenthau, một nhóm chuyên viên dịch, Nguyễn Mạnh Hùng chủ biên; Thế Quân bình Thế giới và Tương lai của Á châu của Robert Scalapino và William Griffith, Phạm Thiên Hùng dịch; Á châu và các Đại cường của Robert A. Scalapino, Nhóm Toàn Hưng dịch; Văn minh Dân chủ của Leslie Lipson, Vũ Trọng Cảnh dịch; Nguyên tắc Quản trị: Phân tích các Chức vụ Quản trị của Harold Koontz và Cyril O’Donnell, Trần Lương Ngọc và Cung Thúc Tiến dịch; Xã hội học của Joseph Fichter, Trần Văn Đĩnh dịch; Khía cạnh Kinh tế của Phát triển Nông nghiệp của John W. Mellor, Nguyễn Đăng Hải dịch; Năng lượng và Thế giới Ngày mai của Hal Hellman, Ngô Đình Long dịch; Ký giả Chuyên nghiệp của John Hohenberg, Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu dịch. Đáng chú ý là bộ Kinh tế học của Paul Samuelson, người được giải Nobel Kinh tế năm 1970, Cung Thúc Tiến, Nguyễn Minh Hải và Trần Lương Ngọc dịch, Nguyễn Cao Hách hiệu đính, mới in xong tập I (700 trang) khoảng giữa tháng Tư 1975, chưa kịp bán. Năm 1990, khi tôi và phái đoàn SEARAC gặp cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ở New York để vận động việc định cư cựu tù nhân cải tạo ở Mỹ, nhân dịp đề cập đến kế họach đổi mới của Nhà nước, ông Thạch báo tin vui là bộ sách của Samuelson đang được dịch sang tiếng Việt. Tôi kể lại chuyện năm 1975 NXB Hiện Đại để lại hai nghìn bản dịch cuốn sách này còn thơm mùi giấy mới và nói thêm: “Chắc lúc đó các anh đã cho đốt hết rồi.” Ông Thạch trả lời bằng một nụ cuời xòa.

Ngoài chương trình dịch sách của các tác giả người Mỹ, NXB Hiện Đại cũng xuất bản sách dịch từ Pháp văn và sách viết bằng tiếng Việt của tác giả người Việt. Cuốn sách tiếng Pháp làm sôi nổi dư luận thế giới hồi đó là cuốn Ni Marx, Ni Jesus của triết gia Pháp nổi tiếng Jean-François Revel được Nguyễn Khắc Nhân dịch sang tiếng Việt là Không theo Marx, không theo Jesus. Ba cuốn sách viết bằng tiếng Việt do Hiện Đại xuất bản là Từ điển Quản trị và Hành chánh của Bùi Quang Khánh và Vũ Quốc Thông, William Faulkner: Cuộc đời và Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Văn Nha, và Đặc khảo về Dân nhạc ở Việt Nam của Phạm Duy.

Tại mỗi phân khoa đại học, các giáo sư cũng đưa những công trình nghiên cứu chuyên môn của mình vào những ấn phẩm của phân khoa, như Y Dược có tạp chí Acta Medica Vietnamica, trường Luật có Luật học Kinh tế Tạp chí, Học Viện Quốc gia Hành chánh có Tập san Nghiên cứu Hành chánh, Văn Khoa Sài-gòn có tập san Nghiên cứu Sử Địa, Đại học Huế có tạp chí Đại Học do một nhóm giáo sư phụ trách với sự hợp tác của nhiều giáo sư ở Sài-gòn. Về bên Khoa học, tôi chỉ nhớ có cuốn sách nổi tiếng được ngoại quốc biết đến nhiều là cuốn Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ. Tôi không thể kể ra hết danh tính của những giáo sư đã có công đóng góp vào sự nghiệp phát triển đại học miền Nam, nhưng có thể khẳng định một cách tổng quát là những người trong ban giảng huấn đại học ở mọi cấp bậc đều được đào tạo theo hệ chính quy, trong nước hay ngoại quốc, có khả năng và tư cách nghề nghiệp xứng đáng được tôn trọng. Họ là một lực lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng có trong lịch sử đất nước, có đầy đủ tinh thần và phẩm chất của người trí thức ở các nước phát triển, không thua kém về trình độ so với các nước trong khu vực, có tư duy độc lập, có thái độ rất dấn thân và tâm huyết cho sự nghiệp phát triển nước nhà. Nếu có điều kiện tiếp tục phát triển hoà bình, chắc chắn họ sẽ tạo nên sự thăng hoa cho đất nước, như giới trí thức, khoa học gia đã từng làm cho nước Đức thế kỷ 19.

Ngoài sự nghiệp giáo dục đào tạo, giới trí thức đại học hồi đó cũng thấy rõ nhu cầu phát triển xã hội trong thời chiến đồng thời với công cuộc chuẩn bị tái thiết đất nước trong thời bình. Bởi vậy mặc dù ít thì giờ cho những công trình nghiên cứu lâu dài, một số trí thức vẫn đóng góp ý kiến với những nhà làm chính sách bằng những bài luận thuyết về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trí thức đại học chưa nghĩ đến việc thành lập “think tank” như ở Mỹ nhưng đã tụ họp với nhau trên các diễn đàn độc lập có những tiếng nói đáng kể như tạp chí Quê Hương do GS Nguyễn Cao Hách và đồng sự chủ trương, Văn Hóa Á châu (thêm ấn bản tiếng Anh Asian Culture) của Hội Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á châu, Thế kỷ Hai mươi do GS Nguyễn Khắc Hoạch chủ nhiệm, và Phát triển Xã hội (thêm ấn bản tiếng Anh Social Development) do tôi và một số đồng nghiệp phụ trách. Ngay cả những tạp chí của chính quyền như Pháp lý Tập san của Bộ Tư pháp, Tập san Quốc phòng của Bộ Quốc Phòng cũng có sự tham gia của nhiều giáo sư đại học và trí thức độc lập. Cũng cần nhắc đến bản Phúc trình Thúc-Lilienthal của “Nhóm Nghiên cứu Kế hoạch Hậu chiến” là kết quả hợp tác giữa trí thức đại học Việt Nam và các chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ.

Kết luận

Đại học miền Nam chỉ tồn tại có hai mươi năm trong đó mười năm đầu còn chịu ảnh hưởng Pháp khá sâu đậm do thỏa hiệp hợp tác văn hóa Việt-Pháp năm 1955. Chỉ từ 1965 Đại học miền Nam mới có cơ hội tiếp cận với tinh thần thực dụng và chế độ tự trị đại học của Mỹ và tìm cách áp dụng vào hệ thống đại học Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ những năm còn theo truyền thống cũ của Pháp, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều sự dễ dãi của Bộ Giáo dục về các thủ tục hành chánh, tài chánh, nhất là về học vụ. Các giáo sư được tự do nghiên cứu và giảng dạy mặc dù còn thiếu nhiều điều kiện giúp cho việc phát triển tiềm năng. Mười năm sau (1965-1975) vẫn được coi như thời kỳ chuyển tiếp vì khuynh hướng thực dụng và những thay đổi theo mô hình đại học Mỹ chỉ có cơ hội nảy nở từ những năm đầu thập kỷ 1970.

Sự gia tăng cường độ của chiến tranh kéo theo tình trạng bất ổn về xã hội và khó khăn về kinh tế đã hạn chế rất nhiều khả năng nghiên cứu, cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy của các giáo sư. Nhiều người đậu tiến sĩ ở ngoại quốc chưa muốn trở về nước giảng dạy vì bất mãn với chính quyền miền Nam. Nạn thiếu giáo sư càng trầm trọng trước sự gia tăng số sinh viên và số truờng đại học mới mở khiến cho những giáo sư giỏi phải đi dạy ở nhiều trường hoặc đảm nhận thêm công việc khác. Trong những điều kiện hạn chế và khó khăn như thế, Đại học Việt Nam vẫn cố gắng phát triển, nâng cấp những trường cao đẳng chuyên nghiệp, mở thêm các đại học cộng đồng và đại học bách khoa, áp dụng hệ thống tín chỉ . . . Môi trường đại học đích thực là một môi trường tự do của hoạt động trí thức. Nhiều giáo sư, dù bận dạy nhiều trường hay có việc làm thêm, vẫn cố gắng đóng góp ý kiến qua những diễn đàn trí thức về những vấn đề quan tâm chung. Tiếc rằng vào thời điểm những năm đầu thập kỷ 1970, chưa có ai nghĩ đến việc thành lập “think tank” để tư vấn cho những nhà làm chính sách, có lẽ khái niệm về những cơ quan nghiên cứu tư vấn kiểu Mỹ này còn khá xa lạ đối với Việt Nam.

Tôi không muốn so sánh Đại học miền Nam trong 20 năm chiến tranh trước 1975 với nền Đại học Việt Nam hiện nay, sau 35 năm đất nước hòa bình và thống nhất. Nhưng tôi thành thật nghĩ rằng nếu hiệp định Paris 1973 giữa bốn phe tham chiến được thi hành nghiêm chỉnh, thực hiện những đìều khoản đã thỏa thuận về “hòa giải và hòa hợp dân tộc” (chương IV, điều 10, 11 và 12)[4] thì miền Nam Việt Nam dưới một chính quyền mới sau cuộc tổng tuyển cử đã có triển vọng giàu mạnh không thua kém Nam Hàn, và Đại học miền Nam cũng đã đạt được “đẳng cấp quốc tế.” Kết quả này cũng chắc chắn đã diễn ra, dù chậm trễ hơn nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, nếu đường lối đổỉ mới thật sự của những nhà lãnh đạo có tầm nhìn như Nguyễn Cơ Thạch hay Võ Văn Kiệt không bị trở ngại trên bước đường thực hiện.

Cũng may là ở Việt Nam ngày nay vẫn còn có những trí thức không quên theo đuổi lý tưởng của người làm thày cao hơn người làm quan (tiến vi quan, đạt vi sư), nhất là không quên sứ mạng “lương sư hưng quốc”. Họ đã không ngừng tuyên dương và cố gắng phát huy truyền thống đại học Humboldt, trong đó tự do nghiên cứu và giảng dạy là điều kiện thiết yếu để đào tạo con người và phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo Nhà nước cũng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế”, đang tiếp cận với các nền giáo dục phát triển phương Tây, đặc biệt nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, nhưng đến bao giờ thì mới thật sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này? Thời gian không chờ đợi trên vũ đài thế giới.

Lê Xuân Khoa
Irvine, California
Tháng Mười, 2010

Tham khảo

Wikipedia, tiếng Việt, “Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa”.
Nguyễn Hữu Phước, Contemporary Educational Philosophies in Vietnam,1954-1974, luận án tiến sĩ tại University of Southern California, 1974.
Đỗ Bá Khê, “Phát triển Đại học miền Nam trước 1975”, trang 152-157, trong Giáo dục ở miền Nam tự do trước 1975 , Nguyễn Thanh Liêm chủ biên, Lê Văn Duyệt Foundation xuất bản, Santa Ana, California, 2006.

[1] Điều này khác với mô hình các đại học ở Liên Xô mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã áp dụng cho đến những năm gần đây: Đại học ngành nào thuộc Bộ ngành đó, thí dụ Y khoa thuộc Bộ Y tế, Luật khoa thuộc Bộ Tư pháp. Từ 1994 các khoa mới được tập trung thành Đại học Quốc gia. Sau 30.4.1975, trường Luật và trường Quốc gia Hành chánh bị bãi bỏ, nhưng dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt thì được tái lập, có lẽ vì chính quyền mới đã nhận ra vai trò đóng góp vào nền pháp trị của trường Luật ở miền Nam. Trong khi đó, kiến thức và kinh nghiệm của ban giảng huấn Học viện Quốc gia Hành chánh cũng cần thiết cho việc cải tổ hành chánh. Một số giáo sư chế độ cũ được mời giảng dạy và làm tư vấn về hành chánh cho Thủ tướng.

[2] Đài Á châu Tự do phỏng vấn GS Tạ Văn Tài ngày 19.10.2009, đăng lại trong Đặc San Luật Khoa 2010 của Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Nam, Houston, Texas.

[3] Về điểm này, phải kể đến sự đóng góp quan trọng của GS Vũ Văn Mẫu, soạn giả tập Từ Điển Pháp-Việt: Pháp, Chính, Kinh, Tài, Xã Hội.

[4] Thí dụ: Chương IV, Điều 11 ghi rằng: “Ngay sau khi ngưng chiến, hai bên miền Nam sẽ: (1) thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, chấm dứt hận thù, cấm đoán mọi hành động trả thù và kỳ thị đối với các cá nhân và đoàn thể đã hợp tác với bên này hay bên kia; (2) bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm việc, quyền tư hữu, và quyền tự do kinh doanh.

Nguồn : Trang nhà Tư Tưởng .

Lục Bát Hành. Thơ Hư Vô



Viết lên vạt áo lụa là
Dăm câu lục bát cũng là của nhau
Em có bước tới đời sau
Chắc gì quên nhớ bể dâu kiếp này.

Tôi còn lảo đảo như say
Viết câu di chúc để đày đọa em
Một ngày là cả trăm năm
Thì em cũng đã được làm tình nhân.

Mà trên mỗi đoạn đường trần 
Em như vạt nắng trong ngần ghé qua
Để em còn biết kiêu sa
Nghiêng theo tà áo lụa là mong manh.

Hồn tôi câu lục bát hành 
Lối xưa cỏ mọc đã xanh um rồi
Em về giũ áo ra phơi
Cũng đâu kịp để di dời bóng tôi…

Hư Vô

Nhân Chứng Thời Gian. Kỷ Niệm ngày giỗ đầu của Nhà Văn Nhật Tiến (phần 2)


Tulip Vàng Em Áo Tháng Mười. Thơ Hư Vô



Tulip vàng áo em một thuở
Tháng mười ngọt tựa bóng tình nhân 
Em về cho nắng thơm vườn cũ
Nhịp guốc dài theo mỗi bước chân.

Tôi như làn gió bâng quơ thổi 
Vạt áo em bay lộng phố phường 
Mùi con gái như còn lảng vảng
Nghiêng cành một đoá Uất- Kim-Hương.

Mà cũng có lần tôi mường tượng 
Nụ hoa nở chậm giữa môi người
Nghe thơm từ thuở em mười sáu 
Quấn tôi vào tà áo vàng tươi!

Là cả một thời tôi đắm đuối 
Hồn trôi lăn lóc giữa lụa là
Từ chùm Tulip mà em đã
Mang vào đời để biết kiêu sa…

Hư Vô

Nhân Chứng Thời Gian. Kỷ niệm ngày giỗ đầu của Nhà Văn Nhật Tiến (phần 1)


Lỗi Hẹn Sài Gòn. Thơ Hư Vô



Từ em lỗi hẹn Sài Gòn 
Con đường tan học đâu còn ai qua
Hồn tôi như lá sa đà
Rơi theo ngày tháng vàng pha bóng chiều.

Bước chân in dấu rong rêu
Trên từng phiến đá buồn hiu hắt lòng
Hiên người góc phố Gia Long
Phất phơ dáng tóc còn nồng hương quen.

Tôi ngồi xuống chỗ không em
Cà phê pha đậm mà thèm môi nhau
Ngất ngây trong nụ hôn đầu 
Còn nghe thảng thốt lao đao lạ lùng.

Bóng em như thể muôn trùng 
Tan vào đáy tách chỗ cùng tận tôi
Thì em cũng có một thời
Bỏ quên vạt nắng chiều phơi Sài Gòn…

Hư Vô

Mai Thảo Còn Đó Một Đời. Nguyên Vũ


Nguyên Vũ

LTS: Mai Thảo tên thật Nguyên Đăng Quý, sinh ngày 8.6.1927, tại Nam Định. Hỏi vì sao có cái tên Mai Thảo, chính Mai Thảo không hay biết nữa: “Lấy là lấy chứ chẳng biết tại sao. May lúc lấy bút hiệu vì một lý do gì đó, lâu quá tôi quên. Nhưng chắc không có lý do gì hết. Cái tên Mai Thảo đến với tôi một cách ngẫu nhiên.”Có lẽ vì tính cách độc đáo đó trong lối nghĩ, lối nhớ mà con đường cầm bút của Mai Thảo khác nhiều người khác. Mai Thảo yêu văn chương hồi còn cắp sách. “Ngày xưa thi ca tiền chiến là một khám phá bàng hoàng cho tuổi trẻ của tôi, tuổi lãng mạn và mơ mộng nhưng ít thấy ở tuổi trẻ bây giờ. Hồi đó tôi muốn viết văn, làm thơ như những nhà văn, nhà thơ tiền chiến tôi yêu thích.” Ra trường Mai Thảo và mấy người bạn cùng lớp hẹn nếu có điều kiện sẽ ra một tờ báo. Bấy giờ năm 1945 ở Hà Nội tờ tuần báo của Mai Thảo chỉ ra được dăm số, lại chiến tranh chống Pháp. Ba, bốn năm sau trở về Hà Nội mới viết trở lại. Năm 1954 di cư vào Nam viết báo Dân Chủ, Người Việt Tự Do…sau chủ trương tạp chí Sáng Tạo – diễn đàn của những người làm văn nghệ thế hệ mới, dấn thân, yêu đời. Không bao lâu sau báo đình bản, tục bản được chừng bảy số, bộ mới thì chết hẳn. Mai Thảo tiếp tục đường lối cũ, xuất bản tờ Nghệ Thuật, đẹp từ nội dung đến hình thức nhưng vẫn không thoát khỏi Định Mệnh của tờ Sáng Tạo. Chủ trương tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng đến tháng 4.1975. Mai Thảo cộng tác với nhiều báo, chuyên viết truyện dài (feuilleton), được nhiều nhà xuất bản đặt mua trước, nên hễ truyện chấm dứt trên báo, là đã thấy bày bán trên thị trường. Chỉ trong vài năm số lượng tác phẩm đã chiếm một con số khá cao. Nhưng không vì thế mà các tiểu thuyết của Mai Thảo có một nội dung thả lỏng, trái lại Mai Thảo không viết theo một khuynh hướng nào, không khai thác chuyên biệt một khía cạnh nào đến thành lối mòn như Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ. Qua Hoa Kỳ năm 1978, tục bản tạp chí Văn từ năm 1982. Năm 1983 được nhà văn nữ Jane Katz viết tới trong tác phẩm “Artists in exile” (Nghệ sĩ di lưu vong). (NT)

Tôi là một độc giả của Mai Thảo, nhóm Sáng Tạo, và hầu như tất cả các tác giả miền Nam, từ tuổi 15-17. Dù là học sinh ban Toán, trên trung bình, tôi ham đọc bất cứ lúc nào có thì giờ rảnh rỗi. Từ những tập kiếm hiệp mỏng dính Long Đầu Quái Khách, hay Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Người Đi Trong Mưa Gió của Nhất Linh – Khái Hưng, Thừa Tư của Khái Hưng, Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng,O Chuột của Tô Hoài, Ngọn Cỏ Gió Đùa của Hồ Biểu Chánh thời tiền chiến, tới các truyện ngắn, truyện dài đăng từng kỳ trên tuần san, nhật báo. Ngay các bài ký sự, biên khảo phong tục địa phương ngắn của Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê…tôi đều đọc mê say. Dĩ nhiên, tôi cũng nuôi hy vọng có ngày trở thành nhà thơ hay nhà văn. Diễn đàn của chúng tôi và các bạn cùng trang lứa (Nguyễn Đức Nam, Ngọc Hoài Phương…) là các tờ bích báo lớp, đặc san trường, và ngay các tuần san, nhật báo như Ngôn Luận, Tự Do…Nếu không vì sự giáo huấn của cha tôi, có lẽ tôi đã nhập ngũ hoặc vào làng văn, làng báo sớm hơn. Tôi làm quen với thế giới văn chương Mai Thảo qua những ký đăng trên tuần san Thế Giới Tự Do, tới những truyện ngắn và phóng tác trên các tờ Sáng Tạo, Tiếng Vang, Kịch Ảnhchủ nhiệm Quốc Phong đã mất tại Pháp …Điểm đặc biệt của Mai Thảo là lối hành văn và dùng từ kiểu cách,“chữ nghĩa loảng xoảng”. So với Nguyễn Tuân, Mai Thảo trẻ trung hơn, sinh động hơn. Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vẫn còn giữ được nguyên vẹn cảm giác bùi ngùi, xúc động về hình ảnh gã trai leo núi bỏ cuộc ở các thước cao điểm cuối cùng, khi đỉnh núi kề cận trước mắt. Hay tâm sự người thanh niên Hà Nội di cư, ngồi vắt chân chữ ngũ trong lòng chiếc cyclo, sống với bóng tối nhá nhem ánh đèn của Sài Gòn. Dĩ nhiên, truyện ngắn của Mai Thảo không tạo được các kích xúc của Trùng Dương, Linh Bảo, hay Phạm Nguyên Vũ, Lôi Tam, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Thảo Trường, nhưng Mai Thảo lập cho mình một thế đứng riêng trong nền văn học“tự do” miền Nam. So với những Duy Lam của trường phái Nhất Linh, hay Võ Hồng, Võ Phiến, Mai Thảo có phần vượt trội.Gần chục năm sau, tôi mới có dịp gặp Mai Thảo. Từ báo quán Văn tới những phòng trà, quán rượu. Dù đã bước vào làng văn, làng báo, tôi và Mai Thảo có một khoảng cách nào đó. Tôi là một người lính tác chiến thực sự, mang những đôi giày vải và ống quần trận ố vàng phèn chua, bụi đỏ đi đo đồng ruộng Cà Mau và núi rừng cao nguyên trong khi Mai Thảo ngất ngưởng những cơn say tại Sài Gòn. Mai Thảo cũng hơn tôi gần một giáp, nên khoảng cách thế hệ là điều khó tránh. Nhưng thẳm sâu là một tài liệu khiến tôi không hài lòng – một người bạn cho xem bản sao giấy phép xuất bản báo của Mai Thảo do một người Mỹ đứng tên. Tôi chủ trương văn hóa, văn nghệ phải hoàn toàn độc lập với những thế lực chính trị. Nhưng tôi quên không xét đến vấn đề ngay chính sự tồn tại của miền Nam cũng do viện trợ Mỹ. Giống như miền Bắc, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng không lúc nào ngừng đồng ca lời cảm tạ “sự giúp đỡ” của Nga Sô, Trung Cộng cùng khối cộng sản anh em vĩ đại. Tố Hữu dạy thiếu nhi miền Bắc:“Thương cha, thương mẹ, thương chồng, thương mình, thương một, thương ông (Stalin), thương mười”

Giáo sư Vũ Khắc Khoan, ông thầy dạy chúng tôi nửa giờ sử mỗi tuần năm Đệ Nhất Chu Văn An, phần nào giúp tôi cởi bỏ thành kiến, nhìn Mai Thảo độ lượng hơn. Thân phận đích thực của chúng tôi, và chúng ta, chỉ là những con chốt qua sông. Những con ngựa chiến của chúa Trịnh, như một tác giả Nhân Văn Giai Phẩm kết luận. Chúng ta mê say, kiêu ngạo với đủ loại vũ khí giết người nhập cảng trên tay, quên đi một điều là ngoại cường luôn luôn có những lý do riêng để cung cấp hay bán chịu cho chúng ta những khí giới ấy. Mao Trạch Đông nói với đại diện cộng sản Việt Nam rằng “cứ tự do vay nợ Bắc Kinh, bao giờ có thì trả, không trả cũng được”- vì đã nắm sẵn tờ giấy nợ của Phạm Văn Đồng năm 1958, nhìn nhận biên giới do Bắc Kinh tự vẽ, không ngừng đàn hồi.

Những ngày đầu nhận mặt chiến tranh – sống giữa những lượn sóng xúc động vỡ bờ trước cái chết của một đồng đội, cùng thôi thúc của bản năng “giết hay bị giết” tôi chưa nghiệm hết sự bẽ bàng của kiếp Lê Dương trên chính quê hương mình. Nên không ngừng cao giọng hô hào người cùng trang lứa nhập cuộc chơi, với ảo vọng duy trì một miền Nam“tự do, dân chủ“. Từ năm 1965, đặc biệt từ sau năm 1967, khi thuyên chuyển về Nhảy Dù tôi có cơ hội sinh hoạt thường xuyên trong giới văn nghệ chuyên nghiệp. Hai nhật báo Thời Luận của Nghiêm Xuân Thiện và Tiền Tuyến của Cục Tâm Lý Chiến do Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân phụ trách, khởi đăng ký Lửa Dậy U Minh và Nghiệp Đề Lô. Tuần báo Chiến Sĩ Cộng Hòavà nguyệt san Tiền Phong của Cục Tâm Lý Chiến cũng rải rác đăng thơ và ký. Nhưng điểm bứt phá có lẽ là Nguyễn Sĩ Nguyên của Tiểu Thuyết Thứ Năm và Hùng Phong của Chọn Lọc dành cho tôi chỗ viết thường xuyên, có trả tiền. Nhờ vậy ba tập sách đầu tay: Đời Pháo Thủ, Những Cái Chết Vô Danh, và Trở Về Từ Cõi Chết được chào đời. Nhà xuất bản của Đậu Phi Lục…đã giúp ba tác phẩm trên đứng vào hàng bán chạy tại miền Nam. Từ đó, tôi được Trương Hồng Sơn mời viết tiểu thuyết định kỳ cho Tia Sáng, tờ nhật báo bán chạy hàng đầu của miền Nam. Vòng Tay Lửa và Thềm Địa Ngục, hai tác phẩm bán chạy nhất của tôi, được đăng từng kỳ trên tờ Tia Sáng. Tiếp đó, đến các báo tư nhân Tin Sớm của anh chị Nguyễn Ang Ca, Đồng Nai của Huỳnh Thành Vị, Công Luận…Tôi cũng đồng ý cho tờ Saigon Post đăng từng kỳ Đêm Hưu Chiến, qua bản dịch của Trần Nhã [The Night of the Cease Fire]. Đây là thời gian tôi làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo miền Nam như Ngô Tỵ, Trọng Nguyên, Sĩ Trung, Ngọc Linh, Trần Tuấn Kiệt…Sở dĩ tôi được “nổi tiếng” nhanh phần lớn do sự gia tăng cường độ cuộc chiến, và đa số thanh niên đều bị nhập ngũ. Chiến tranh và đời quân ngũ trở thành nhu cầu tìm hiểu của đa số độc giả. Tôi cũng quyết định viết thật đơn giản, dễ hiểu cho những độc giả có mức độ phổ thông. Khoảng ba ngàn nhà cho thuê truyện trên toàn quốc đều tìm mua sách tôi. Nhờ vậy, sách được tái bản nhiều lần. Tôi cũng bước vào nghề xuất bản, khởi đầu tự in sách mình. Nhà xuất bản Đại Ngã tức Chân Nhân, mà có người giễu cợt là ngã to – còn giúp phổ biến sách một số bằng hữu như Mai Trung Tĩnh, Du Tử Lê, Thế Hoài, Thảo Trường…

Là tác giả thành danh đã lâu, Mai Thảo cũng viết tiểu thuyết định kỳ cho nhiều báo như Tiền Tuyến…Anh được mời vào ban giám khảo chấm thi giải “Văn chương tổng thống” hàng năm, giải thưởng do Tướng Edward Lansdale khuyến khích Nguyễn Văn Thiệu lập ra, thoạt tiên với mục đích tố cáo sự tàn ác của Việt cộng trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Nhưng tôi và một số nhà văn độc lập, kể cả anh Chu Tử, xếp loại như những miếng xương thừa mà tập đoàn cai thầu chiến tranh ném ra cho văn nghệ sĩ tranh nhau. Hai trong những người trúng giải đáng ghi nhận là nhà thơ Trần Tuấn Kiệt và nhà văn Xuân Vũ, một nhân viên hồi chính. Trần Tuấn Kiệt không thích đi lính, nên tấm huy chương giải thơ Tổng Thống giúp anh nhiều lần tai qua nạn khỏi khi bị chặn xét giữa đêm. Xuân Vũ, qua tác phẩm Đường Đi Không Đến, là một tác giả chống cộng có giá trị.

Sách Mai Thảo ra khá đều, do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng ấn hành. Tuy nhiên, trên thị trường, tôi và Duyên Anh vẫn là hai tác giả Bắc di cư được ứng tiền bản quyền cao nhất. Một người bạn làm kiểm duyệt ở Bộ Thông Tin có lần nhận được “món quà Xuân” hậu hĩ là bản thảo Uyên Buồn (để trao đổi lấy sự dễ dãi của lưỡi kéo kiểm duyệt). Điểm muốn nhấn mạnh là khác với những điều cả đoan của các nhà lý luận, phê bình văn học cộng sản khi nhận lệnh viết về “Văn hóa Mỹ-Ngụy”, nhu cầu thị trường đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa miền Nam. Không được độc giả ưa chuộng, khó có thể trở thành nhà văn chuyên nghiệp. Có độc giả là có mai mối của các nhà xuất bản lớn như Sống Mới, Khai Trí, Đồng Nai…tìm đến. Chỉ một thiểu số cây bút sống nhờ tiền lương và trợ cấp của Bộ Thông Tin, hay cơ quan Tâm Lý Chiến của quân đội và tòa Đại sứ Mỹ. Họ thường chỉ là những cây bút hạng nhì, hạng ba, kiếm danh vọng qua những màn xưng tụng, tâng bốc lẫn nhau trong những cuộc phỏng vấn tự viết, chẳng dính nhập gì nhiều với độc giả hay thị trường sách báo.

Từ hạ bán thập niên 1960, mắt nhìn của tôi về cuộc chiến bắt đầu thay đổi. Thời gian ngắn được biệt phái về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV giúp tôi cơ hội nhìn sâu hơn vào hậu trường chính trị miền Nam, và thực chất cuộc chiến. Quyết định trở lại Đại học Văn Khoa theo học Ban Giáo Khoa Triết Đông giúp tôi thoát khỏi bế tắc về tư tưởng. Tác phẩm của Trang Châu cùng kinh Phật mở ra cho tôi một nhân sinh quan mới. Binh nghiệp – nếu thân phận một sĩ quan trừ bị trong quân đội đáng gọi là binh nghiệp -bắt đầu tiến những bước giật lùi. Tôi ứa nước mắt ngậm ngùi nhớ đến những người bạn lính đã chết trong dạ tiệc “rửa mồ hôi lính” vào cuối năm 1967, và thắp lên ảo vọng được trở lại đời sống dân sự, nối nghề giáo thanh bần của cha tôi.

Nhưng chưa tròn một trăm ngày, tôi nhận được lệnh tái ngũ sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Thiếu tá Huỳnh Long Phi, chỉ huy trưởng pháo binh dù, miễn cưỡng đón nhận tôi trở lại. Tôi cũng chẳng vui thú gì ở những ngày cuối của giai đoạn “Việt Nam hóa chiến tranh”. Bưng tai, bịt mắt cho xong mảnh bằng Cử Nhân Triết Đông, cũng chẳng yên. Cuộc bầu cử độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu năm 1971 khiến tôi chẳng có một lựa chọn nào khác hơn phải nói lên thân phận chốt qua sông của người lính Việt Nam Cộng Hòa. Tôi cũng không thể chấp nhận thái độ hèn nhát của Nguyễn Văn Thiệu khi đánh đổi chiếc ghế Tổng Thống nhiệm kỳ 2 bằng cách cho Bắc Việt duy trì quân chủ lực miền Bắc ở phía Nam vĩ tuyến 17. Một Dân biểu gốc thợ chụp hình tỉnh Quảng Đức báo cáo lên Nguyễn Văn Thiệu về những lời tuyên bố của tôi, trong một cơn say. Hơn một trăm dân biểu gia nô của cái gọi là quốc hội đưa thỉnh nguyện thư yêu cầu điều tra. Dương Hùng Cường, tức ký giả Dê Húc Càn – người sau này nổi danh với bài phiếm “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” – chỉ vì ngồi chung bàn rượu, cũng bị câu lưu điều tra bốn tháng trong Cục An Ninh Quân Đội. Rồi thuyên chuyển ra Sư đoàn 3 Bộ binh tại triền núi Hòa Khánh (Phước Tường) – cùng nhau, “Ta nương đời lính mà qui ẩn # Nghiên nửa càn khôn dưới đáy bầu”.

Thời gian này, Trần Phong Giao đã thay Mai Thảo nắm nguyệt san Văn, ông Nguyễn Đình Vượng đã ứng tiền mua một bản thảo mới của tôi. Thỉnh thoảng tôi gặp Mai Thảo đó đây, nhưng chỉ chào hỏi qua loa.

Đến mùa Xuân đen 1975. Tôi trôi dạt đến Eau Claire, một tỉnh nhỏ Bắc Wisconsin. Tạm biệt nghề văn, nghề báo, chú tâm vào sử học, để tìm hiểu về thực chất cuộc chiến ba mươi năm. Loáng thoáng nghe tin Mai Thảo bị kẹt lại, nhưng từ chối trình diện tù cải tạo. Sống lẩn lút ở Sài Gòn một thời gian, Mai Thảo trốn được qua Mỹ.

Mãi tới năm 1986-1987, khi từ Pháp trở lại Mỹ, tôi mới có dịp gặp lại Mai Thảo. Vẫn Mai Thảo với những cơn say túy lúy, và mắt nhìn cuộc đời đầy khinh bạc. Kiếp tằm nhả tơ, Mai Thảo không thể không viết. Không thể không ra báo. Còn làm thơ, thấy đời mình toàn những miếu đền. Tuổi đời và chứng nghiện rượu khiến Mai Thảo cay đắng, phẫn nộ hơn trong những câu ề à chửi đổng, hay công kích người cùng bàn. Nhưng Mai Thảo vẫn khôngg thay đổi ở thái độ văn chương quen thuộc, tôi chưa từng thấy Mai Thảo dùng ngòi bút công kích bất cứ ai. Mai Thảo đáng yêu, đáng quí nhất ở điểm này.

Đôi lần Mai Thảo khăn gói từ Santa Ana lên San Jose thăm tôi, và ngược lại. Dù tiền bạc không dư giả, thỉnh thoảng Mai Thảo mua rượu cho tôi uống. Chúng tôi rất ít bàn đến văn chương, hay văn học. Hay chuyện đất nước, chiến tranh. Ít năm sau, nghe tin Mai Thảo bệnh nặng. Lần cuối cùng gặp nhau ở nhà hàng Kim Long, Mai Thảo chuyển sang uống vang thay vì Cognac như cũ. Khi tôi trở lại Houston, Đặng Hiền một ngày báo tin Mai Thảo có lẽ không yên. Rồi Mai Thảo ra đi, trong sự bao bọc, săn sóc của nhiều văn hữu trẻ.

Năm 2004, trước khi về Việt Nam nghiên cứu với một học bổng Fulbright, tôi ghé lại Santa Ana. Nguyễn Chí Hòa đưa tôi vào nghĩa trang thăm Long Ân. Trong lúc tìm tòi, tôi chợt nhận ra hình Mai Thảo ở đầu một ngôi mộ nhỏ, khiêm nhường. Ba nén hương thắp cho Mai Thảo, thật tình cờ, nhưng cũng có thể như do một tiền định. Tôi hỏi thầm “Mai Thảo, vui hay buồn?”. Không có hồi đáp.

Trên những bước chân mờ sương trở ra chỗ đậu xe, tôi thấy Mai Thảo lần chót. Khuôn mặt dài, nụ cười khinh bạc như chừng méo mó hơn. Nhưng tôi chợt nghĩ có lẽ ông bạn đồng nghiệp vong niên của tôi đang vui. Rất vui. Thuở sinh tiền, anh luôn trang trọng với văn chương, nghiệp dĩ. Ngòi bút Mai Thảo chưa từng dùng để vẩy mực vào cá nhân nào, cho dù là những con sâu bọ xúm xít quanh bông hoa văn chương Mai Thảo. Hay những người thù đầy hằn học đố kỵ trong cuộc sống. Sống chưa hẳn đã vui. Chết cũng chưa hẳn là điều đáng buồn. Mai Thảo đã đến, sống với chúng ta, rồi đi. Cá nhân Mai Thảo ra sao, có lẽ không quan trọng. Vấn đề là những gì Mai Thảo còn lưu lại cho hậu thế. Toàn bộ tác phẩm của anh. Những dòng chữ đả kích giáo điều, hằn học của các tác giả cộng sản không đủ làm giảm giá trị văn chương của Mai Thảo. Những lời xưng tụng của thân hữu không đủ nâng cao văn tài Mai Thảo. Điều đáng ghi nhớ nhất về Mai Thảo, bạn văn của tôi, là thái độ trang trọng của anh khi sử dụng ngòi bút của mình.

Nguyên Vũ

Người Kéo Màn Đã Bỏ Thềm Hoang. Thơ Hư Vô


(Để tưởng nhớ nhà văn Nhật Tiến, nhân ngày giỗ đầu tiên của Ông: September 14)

Có tiếng Chim Hót Trong Lồng
Vụt bay vào cõi hư không ngút ngàn
Bỏ lại dấu tích trần gian
Những mảnh đời bên Thềm Hoang dãi dầu.

Quê Nhà Yêu Dấu còn đâu
Đã Theo Gió Ngàn Bay vào biệt tăm
Thắp lên một nén hương trầm
Tiễn Người về chốn vĩnh hằng tịnh an.

Xong một kiếp Người Kéo Màn
Phủi Tay Ngọc giữa nhân gian xô bồ
Thảnh thơi bước tới hư vô
Gởi lại đời Lá Chúc Thư ngậm ngùi

Sự Thật Không Thể Chôn Vùi
Hành Trình Chữ Nghĩa – Một Thời Đang Qua
Mồ Hôi Của Đá mặn mà
Mở ra Cánh Cửa thật thà nhân văn.

Rồi bỏ lại giữa cõi trần
Những Người Áo Trắng khăn tang nát lòng
Giọt lệ nhỏ xuống mênh mông
Như Tặng Phẩm Của Dòng Sông u hoài.

Chảy vào cho thấu trần ai
Một Thời Như Thế thay lời di ngôn
Chữ nghĩa bỗng có linh hồn
Chắp cánh cùng Mây Hoàng Hôn tiễn Người…

Hư Vô

*Những CHỮ VIẾT NGHIÊNG là tên tác phẩm của nhà văn Nhật Tiến

Nguyễn Mạnh Trinh, Người “hết lòng” với Văn Học Nghệ Thuật. Trịnh Thanh Thuỷ


Trịnh Thanh Thủy

Lời tòa soạnNhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh vừa qua đời ngày 24 tháng 8 vừa qua tại Orange County, California, Hoa Kỳ, thọ 73 tuổi. Ông có một thời gian dài cộng tác với bán tuần báo Việt Luận. Việt Luận xin đăng lại bài viết dưới đây như một nén nhang để tưởng nhớ một người đã có nhiều đóng góp cho văn học của người Việt hải ngoại.

Tháng Tám chưa qua, hạ chưa hết. Thu còn xa lắc, lá chưa kịp chín vàng, mà ông đã rụng rơi. Nguyễn Mạnh Trinh, nhà thơ, nhà biên khảo và truyền thông đã lên đường, đã thong thả rong chơi về miền phương ngoại (1949-2021).

Xuất thân là một quân nhân thuộc binh chủng Không Quân, văn thơ của ông phản ảnh nhiều suy tư, thao thức về cuộc chiến. Ông yêu thi ca, làm thơ và viết rất nhiều bài nhận định trong những lãnh vực văn học nghệ thuật khác nhau. Ông cộng tác và viết thường xuyên cho các báo nhất là ở Úc, Canada và Hoa Kỳ.

Tôi mãi nhớ nụ cười hiền của ông, một Nguyễn Mạnh Trinh nho nhã, điềm đạm. Tôi không quên những lần trò chuyện cùng ông, tuy ít ỏi nhưng đầy ấn tượng và sâu sắc. Tôi cũng sẽ vô cùng tiếc nuối cho sự mất mát của một tài hoa, một ngòi viết hết lòng với văn học nghệ thuật tại hải ngoại. Đôi lần tôi được gặp gỡ ông tại nhà chị Bích Hạnh, Thùy Hạnh. Tuy nhiên, có lẽ lần tôi nói chuyện với ông lâu nhất là lần gặp ở nhà chị Bích Hạnh nhân dịp nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc qua Nam Cali để ra mắt sách (2014). Lần ấy có cả nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc với Nguyễn Mạnh Trinh bàn bạc cùng tôi về sự ra đi của diễn đàn Talawas của nhà văn Phạm Thị Hoài. Chúng tôi tiếc nuối cho sự đóng cửa của một diễn đàn văn học có nhiều bàn luận rất sôi nổi về các đề tài chính trị, văn học và xã hội. Ông có nhắc đến những bài viết gây nhiều tranh cãi của tôi là “Cái chết của một ngôn ngữ: Tiếng Việt Sài Gòn cũ” và một bài viết khác “Cái hĩm có răng” mà tôi viết để phản biện bài viết “Con cặc” của Nguyễn Hưng Quốc (2003). Chúng tôi vui vẻ bàn luận đến cái thời tôi còn hung hăng con bọ xít, cái thời tôi chưa biết đằm thắm là gì, say mê tranh cãi và coi trời bằng vung.

Có lẽ lần đó với tôi, Nguyễn Mạnh Trinh đã “mở miệng”, còn phần lớn ông chỉ nói khi cần nói. Bạn bè ông có tâm sự : Ông là người kiệm lời, nghiêm túc, nên khó ai đến gần. Tuy nhiên khi chơi thân với ai, ông rất chí tình. Bản tính cương trực, nên ông ngay thẳng, sòng phẳng, trung thực và rất đàng hoàng cùng đối tốt với bạn bè.

Ngay cả trong lãnh vực viết nhận định cũng vậy. Ông đọc nhiều, đọc kỹ, kiến thức rộng nên viết hay. Ông viết trung thực, thẳng thắn, sáng sủa rõ ràng, lột tả được tinh thần và ý tưởng của tác giả. Ông rất quý và trân trọng các tác giả. Ông còn chịu khó viết cho những người nổi tiếng hay  chưa nổi tiếng. Ông đã nhìn ra được những tiềm năng đặc biệt còn ẩn tàng của họ.

Chương trình “Tản mạn văn học” do ông và Nhã Lan thực hiện ròng rã từ năm 2009 đến nay trên Hồn Việt TV và đài phát thanh Little Saigon là một nỗ lực và dấu ấn đáng quý. Chương trình đã được đông đảo người Việt tại California theo dõi và yêu mến. Ông chỉ ngưng đến đài vào năm 2019 khi bệnh trở nặng. Mỗi sáng thứ Bảy là mỗi trang lịch sử văn học nghệ thuật được ông và Nhã Lan dở lại, nhắc nhở và phổ biến cho thế hệ trẻ sau này được rõ. Với mục đích chia sẻ những tư tưởng, những tiếng nói tích cực của nền văn học truyền thống, “Tản mạn văn học” còn ước mong, các em sinh viên, học sinh trong nước và ngoài nước xem, nghe và hiểu được cái hay, đẹp của thế hệ cha, ông.

Xướng ngôn viên Nhã Lan, người làm việc sát cánh với ông trong chương trình đã tâm sự:

– Nhã Lan rất hạnh phúc khi được làm việc với anh NMTrinh, người có cùng chí hướng và sở thích, yêu văn học và ngôn ngữ VN. NL rất kính phục anh, tuy đôi lúc có mâu thuẫn hay bất đồng ý kiến vì hai người ở hai thế hệ khác nhau. NL thuộc về một thế hệ không biết gì về văn chương hay biết rất ít về nền văn học của thế hệ trước. Tuy nhiên, anh vẫn hoà đồng, không trịch thượng, khiêm nhường, thân thiện, và luôn chu toàn trách nhiệm. Nói tóm lại, anh là một người không ai mua chuộc được bằng tiền bạc, thời gian, hay tình ái lăng nhăng, dù anh là một nhà thơ trong binh chủng “Không quân” nổi tiếng là binh chủng hào hoa, bay bướm. 

Ngoài ra, anh là người biết chịu đựng, kiên nhẫn khi làm việc, yêu chữ nghĩa và rất yêu sách. Anh có kể chuyện về tủ sách quý là kho tàng rất lớn của anh. Anh sưu tầm và cố tìm mua những cuốn sách giá trị để làm giàu cho tủ sách của mình. Nhà thơ Thành Tôn, có cùng một sở thích với ông và cũng là bạn thiết của ông cũng tiết lộ, ông có một tủ sách quý thật lớn và đầy đủ. Ông có làm một bài thơ tặng thi sĩ Thành Tôn.

Nói đến kỷ niệm đáng nhớ, NL nhớ nhất là một đêm cô và NMTrinh đến thăm nhà văn Nhật Tiến khi ông còn sống trong một dạ tiệc đêm giao thừa. Trong khi trò chuyện về chương trình “Tản mạn văn học”, cô nhắc lại lúc Hồn Việt TV mới thành lập, thì bác Nhật Tiến là người đề nghị phải có mảng văn học đầu tiên với Đinh Quang Anh Thái. Sau đó Nhã Lan được mời vào, dù cô là một người thuộc thế hệ đàn em, thụ hưởng cả hai nền giáo dục trước, và sau 75. Khi trò chuyện, cả ba đều ngã ngửa ra cả ba đều tuổi Tý, cách nhau mỗi người một con giáp. Ba thế hệ chuột, chuột già (NT), chột nhỡ (NMT) và chuột nhí (NL) gặp nhau. Thật là thú vị cho cuộc hội ngộ giữa ban tam ca ba con chuột trong đêm giao thừa !!!

Hội ngộ rồi chia ly. Ông đến giữa đời, làm thơ, viết văn, làm truyền thông, thực hiện những hoài bão làm đẹp, hết lòng với văn học rồi ra đi. Tôi xin thắp nén hương lòng chúc ông lên đường thanh thản ở cõi vĩnh hằng.

Trịnh Thanh Thủy

….

Tiểu sử 

Nguyễn Mạnh Trinh sinh năm 1949 tại Hà Nội. Gia nhập Không Quân 1969 tới 1975. Định cư tại Hoa Kỳ 1975, bắt đầu làm thơ, viết nhận định văn học liên quan đến tác phẩm của những tác giả nổi danh như Xuân Vũ, Trần Văn Minh, Dương Hùng Cường, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Vũ Hữu Định, Quang Dũng, Phạm Đình Chương, Phạm Công Thiện, Tô Thùy Yên, Kim Tuấn, Du Tử Lê… Những bài viết của ông xuất hiện trên hầu hết các tạp chí văn học tại hải ngoại.

Ông chủ trương tủ sách tác giả tác phẩm Đời và là thành viên trong nhóm chủ trương Hợp Lưu – Hoa Kỳ. 2009, cùng với Nhã Lan chủ trương chương trình “Tản Mạn Văn Học” trên đài phát thanh Little Saigon. 

Tác phẩm:

Thơ Nguyễn Mạnh Trinh (Người Việt, 1985)

Tập truyện Hai Mươi Ba Người Viết Sau 1975 (Biên tập cùng Trịnh Y Thư, Văn Nghệ Hoa Kỳ, 1989)

Rì Rào Sóng Vỗ – tập truyện ngắn

Tạp Ghi Văn Nghệ

Nguyễn Mạnh Trinh viết rất nhiều, các tác phẩm nhận định của ông có thể tìm đọc ở đây :

http://phusaonline.free.fr/ButViet/NMTrinh/0_NMTrinh.htm

Một Chuyến Đi. Truyện ngắn Đỗ Phương Khanh


Đỗ Phương Khanh

Do các xướng ngôn viên của Hồn Việt TV và LittleSaigonRadio thực hiện.

Đường Vào Bể Dâu. Thơ Hư Vô



Chạy đâu mà luýnh quýnh
Đường dài lắm em ơi
Có chạy tới hụt hơi
Đâu chắc gì đã đến.

Là con đường định mệnh
Cũng có khúc ngoằn ngoèo
Hành trang em gói ghém
Còn đủ sức mang theo?

Bàn chân em nhỏ xíu
Dẫm xuống bụi gai đau
Trái tim tươm giọt máu
Tưới cho đầy biển dâu.

Em đang chạy về đâu
Dòng sông sâu phía trước
Con nước ngược đàng sau
Chưa bước vào đã lún.

Một đời thì tôi cũng
Đuổi theo em cùng đường
Vịn chiếc bóng trong gương
Còn nghe mùi hương cũ.

Của một lần em đã
Bước vội vã để quên
Giọt nước mắt lạ lẫm
Lăn qua nỗi gập ghềnh…

Hư Vô

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: