Tuý Hồng Giữa Chúng Tôi. Tuỳ bút Mai Thảo


Mai Thảo

(Chân dung nhà văn Túy Hồng và Mai Thảo)

Nhà văn nữ Túy Hồng ngoài đời là người trăm năm của nhà văn Thanh Nam, tôi gặp mặt lần đầu, bấy giờ là khoảng cuối năm 1960. Chị vừa chia tay ngọn núi Ngự, từ biệt giòng sông Hương vào sống với gia đình trong một căn nhà nhỏ giữa khu Nguyễn Cư Trinh náo nhiệt. Người Huế đi tới chân trời góc biển nào cũng mang Huế, tận cùng theo mình tới đó. Nhất là người Huế lại là một phụ nữ Huế, biểu tượng rực rỡ của Huế bên cạnh nam phái Huế thường có khuynh hướng che dấu phần nào gốc gác mình, không có những tỏ hiện rõ ràng và ngỗ ngược về Huế bằng mái tóc thề và nón bài thơ Đông Ba, Thành Nội.

Túy Hồng cũng vậy. Một biểu tượng rực rỡ của người đàn bà Huế. Huế từ vóc dáng đến phục sức, từ cái lối đưa tay lên che miệng cười, từ cái lối cầm dù đi trên hè phố Sài Gòn một chiều mưa lớn, đến cái lối đứng tránh đón bạn vào nhà, đến cái lối sôn sao tiễn bạn ra đầu ngõ. Biểu tượng. Trộn vào muôn vàn cũng không sao lẫn được. Biểu tượng, hiểu tới tột đỉnh của biểu tượng, trong muôn nghìn kết thành ở một, với đầy đủ những đặc thù riêng tây và đậm đà nhất, với Túy Hồng sẵn đã Huế nói theo cách nói của kép hát Hùng Cường: “một chăm phần chăm”. Túy Hồng còn là một nhà văn. Và nhà văn nữ lỗi lạc sinh trưởng ở quê hương của mè xửng và của bún bò cay nhức óc này lại viết về Huế rất nhiều, chỉ viết về Huế, cái thế giới văn chương của bà ném đi xa rộng tới đâu cũng từ một tâm thức Huế, cũng ở trong những chân trời Huế.

Lần gặp đầu ấy, cái cảm tưởng thứ nhất của của tôi về đám chị em Túy Hồng rất đông, là giữa khu Nguyễn Cư Trinh vẫn cầu Tràng Tiền, cái dốc Nam Giao đâu đó, Phú Bài ngoài đầu ngõ, Vọng Cảnh ngay hông nhà, tôi vừa lọt vào xanh biếc tĩnh Tâm, tôi vừa rơi vào sương chiều Linh Mụ, giữa một bầy thiếu nữ Huế ríu rít tiếng chim, mà chim Huế một bầy ríu rít thì Nam Bắc đờ người ra, chim nói làm sao người hiểu được. Cảm tưởng thứ hai, và riêng về Túy Hồng thôi, là vị nhà văn nữ miền Trung, nổi danh từ tập truyện đầu, thật lạc lõng với Sài Gòn. Có vẻ như Sài Gòn làm Túy Hồng bối rối và kinh hoảng, trong những điều Sài Gòn thật sự làm bối rối, cả trong những điều Sài Gòn chẳng làm kinh hoảng gì người. Biển náo động kia làm xao xuyến hồ này trầm lặng, phải vậy chăng? Cái khối người bốn triệu vây bọc, tràn lấn là một dội đập bàng hoàng với người chỉ quen soi bóng mình trên yên tĩnh Hương Giang? Hay Sài Gòn của ban đêm, của tới sáng, của quán xá hội chợ, nhịp sống cơn lốc, đà sống thủy triều làm chấn động người nữ sinh Đại Nội, trong dậy thì chỉ biết cái ánh nắng dịu dàng của thôn Vĩ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử, sự lắng đọng nghìn đời của tịch mịch những lăng tẩm vua xưa?

Sự thể không rõ rệt lắm. Rõ rệt chỉ chính Túy Hồng viết được ra. Tạm giải thích là Túy Hồng có một tâm hồn và một bản thể địa phương rất mực. Cái sự địa phương tính đã tới mức linh hồn và tủy não, như trái quýt trong Cổ Học Tinh Hoa mới là nó khi được trồng trên đất nó Giang Nam và lạc thể ở bất cứ một đất vườn nào khác. Sự rõ ràng nếu thấy nằm ở phản ứng. Thân thế và cung cách sống ngoài Huế và xa Huế ở Túy Hồng vĩnh viễn là một phản chống tiên thiên không hòa nhập không đồng hóa. Không thể. Không thể. Đã bao nhiêu năm bà vẫn ở Huế, như là Huế từ đầu. Bản thân lưu lạc, nhưng bản thể vẫn ở bên kia ngọn đèo Hải Vân, thời còn con gái. Gia đình đã yên ấm, người thiếu nữ Huế đã êm đềm sang sông, mà chiều chiều vẫn cặp mắt trong thơ Nguyễn Bính hướng về mịt mùng quê ngoại. Văn chương và tiểu thuyết Túy Hồng, từ ngữ trong tạp văn, hình ảnh trong truyện ngắn đều đậm đà cách nói, cách viết Huế, những trang xưa như những trang mới bây giờ.

Thành ra câu trả lời sau cùng có lẽ là Túy Hồng như vậy, không một chút thay đổi ở bản chất sâu thẳm, không một chút biến tướng dầu ở tình huống nào, và chính bởi vậy bà mới là nhà văn, đã sống đã viết như tới bây giờ đang sống và viết, dựng nổi được một cõi ngôn ngữ không thấy ở một người viết nữ nào khác.

Huế không thực hiện được những giấc mộng cho người. Phải đi khỏi bóng cổ thành, những dấu tích dĩ vãng. Những trận mưa hàng tháng hàng tuần của Huế không cầm chân được lòng người muốn bay đi. Cuối cùng là đành phụ Huế, xa Huế, không thể đồng hóa vĩnh viễn định mệnh mình và định mệnh Huế. Phương trình chia lìa này là nền tảng cõi văn Túy Hồng, cũng như ở cõi thơ của một người viết nữ Huế khác, của Nhã Ca:

Từ độ xa chuông khôn lớn giữa đời

Thế nhưng tiếng chuông Linh Mụ ấy, Nhã Ca đêm nào cũng nghe “văng vẳng tiếng chuông reo”, và nhịp cầu Tràng Tiền ấy Túy Hồng tuổi nào cũng thấy nó bắc dài qua trí nhớ. Trước sau Huế vẫn là ngọn đỉnh, là trọng tâm, là đường kính tâm hồn. Thành ra có thể nói, bằng cái sự ở hay không ở của tấm lòng mà định ý nghĩa và trọng lượng của nơi chốn, thì Túy Hồng vào Nam với gia đình, Túy Hồng vượt biển từ Phú Quốc, mùa tuyết trước ở New Jersey, mùa tuyết này ở Seattle, đã chồng Bắc, bạn Bắc, đã phở, đã cà cuống, mà cây cầu bà đi vẫn là cây cầu Tràng Tiền, “bàn tay che thời tiết” như tựa đề một truyện dài của bà vẫn là thời tiết Đông Ba, trước sau nhà văn nữ này chưa từng một ngày rời xa Huế. Điều này, vẫn là cứ đọc Túy Hồng là thấy. Những cái khác Huế, ngoài Huế, bà đều thuật tả được sắc sảo, sinh động. Nhưng trên những cái tả cái thuật đó, chỉ thấy cái thấy, không có cái yêu, chỉ thấy cái thân tình mà không thấy cái gắn bó. Đôi khi còn là cái khô của phân tích, cái lạnh của giải phẫu, những phê phán nhức nhối, những nhận xét nghiệt ngã. Chỉ viết về Huế, Huế trong túi nhớ, Huế trong thói quen, Huế trong tấm lòng là Túy Hồng viết khác hẳn, cái xấu của Huế cũng biến thành cái đẹp, Huế phẳng lặng vậy mà tuyệt diệu, tâm tình người Huế hay nhất hoàn cầu, miếng ngon của Huế ngon nhất thế giới. Huế, và riêng về Huế, viết không bằng trí óc nữa. Mà bằng trái tim. Huế, và riêng về Huế là không khoảng cách, không nhìn vào, mà Huế ở trong tôi chính là tôi, muôn vàn thương yêu, muôn vàn tưởng nhớ.

Tập truyện ngắn thứ nhất của Túy Hồng, tập Thở Dài, truyện đã in ra nhưng tác giả bấy giờ còn ở Huế, tôi tình cờ thấy và đọc hết nó một buổi trưa trên căn phòng nhỏ chật của Thanh Nam ở khách sạn Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, căn phòng đêm đêm trong khói thuốc dày đặc, bọn Phan Nghị, Vũ Đức Duy cùng mấy em vũ nữ tan vũ trường về đánh bạc tới sáng, cũng là căn phòng, sau thành hôn của Túy Hồng, bọn quỉ sứ này phải cuốn gói bước hết, Túy Hồng sống những ngày thứ nhất cuộc đời thiếu phụ của mình. Thở Dài hay tuyệt. Tôi đọc một mạch. Một bất ngờ lớn. Hỏi Thanh Nam ai mà từ ngữ giàu có, bút pháp khác thường như vậy, Thanh Nam rung đùi, cười hề hề: “Một nhỏ Huế, chúng mày chưa ai biết”. Trước 60. Khách sạn Cửu Long. Rượu rồi cờ bạc. Cờ bạc rồi rượu. Thuốc phiện nữa. Đủ. Thanh Nam bấy giờ quá trời trong đời sống độc thân. Ngày cơm tiệm, đêm khách sạn. Chiều chiều theo bọn Hoài Bắc, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Anh Ngọc chúng tôi la cà khắp vùng Chợ Lớn, Chợ Cũ, hộp đêm, vũ trường, quầy rượu, không thiếu mặt một chiều nào. Đêm say ngất ngủ ở bùng binh Ngã Bảy. Ngày còn say, đã đóng cửa phòng ra đi. Và tập Thở Dài tôi đọc lần đầu, cạnh một kệ sách khách sạn, Túy Hồng thời gian đó còn là một “con nhỏ Huế” xa lạ thật. Rồi bà vào Sài Gòn, tôi gặp ở Nguyễn Cư Trinh. Rồi cơm tối ở nhà Trần Thanh Hiệp, điểm tâm với Phan Lạc Phúc, Thanh Tâm Tuyền. Cứ thế, trong cái dáng vẻ e dè bối rối, vẫn cứ thấy đông người là chùn lại, Túy Hồng đi dần vào những sinh hoạt hoang toàng hồi đó của bọn viết chữ chúng tôi. Rồi những người bạn mới đồng phái với bà, Trùng Dương, Thụy Vũ, với họ bà viết liên tiếp và đều tay những tác phẩm mới sau Thở Dài, mau chóng trở thành một nhà văn nữ toàn phần. Và với Trùng Dương, Thụy Vũ, thêm Lệ Hằng, Nhã Ca, Nguyễn thị Hoàng nữa, trở thành một thành viên hàng đầu của hàng tiền đạo văn chương nữ phái, hiện tượng đặc biệt và đáng ghi nhận nhất của văn học Miền Nam hai thập niên 60 và 70.

Đám cưới Thanh Nam, như chương sách của một chuyển đoạn lớn lao nhất trong tự truyện Túy Hồng, được anh em văn nghệ cùng nhà gái nhà trai tổ chức thật đông vui ở nhà hàng Đồng Khánh. Nhớ hôm đó, cô giáo Túy Hồng trông lạ hẳn với mái tóc cắt ngắn rất Shirley MacLaine, mái tóc chắc là công phu hơn mọi lần, mái tóc trong đời, khiến cô dâu Huế tới muộn và bối rối xin lỗi. Tối đó, Thụy Vũ say ngất và Thanh Nam vĩnh viễn giã từ cuộc đời và nếp sống độc thân. Tôi cứ nhớ mãi cái Đêm Màu Hồng ấy của Đất Khách với Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, của chàng sông Hồng lấy vợ như một giai thoại đầy bất ngờ kỳ lạ, và của nàng sông Hương lên xe hoa cũng vậy. Đám cưới của bạn với bạn, nhưng đặc biệt nhớ, bởi vì trên tinh thần, còn là đám cưới của Túy Hồng với toàn thể gia đình văn nghệ miền Nam, với mấy tờ Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề, trên hết thảy mọi diễn đàn thân hữu này từ đó văn chương Túy Hồng là một có mặt thường xuyên và Túy Hồng, một người viết chủ lực.

Hôn nhân với Thanh Nam một đời. Hôn nhân với văn chương đến nay chưa biết thế nào. Chưa một nhà văn nào trên cái đất này tuyên bố sống tới hơi thở cuối cùng với bút giấy. Nhưng nhìn lại thời gian từ đổ đèo Hải Vân vào Sài Gòn tới đêm Phú Quốc vượt biển, mười mấy năm văn học miền Nam của Túy Hồng đã đích thực là mười mấy năm xanh tươi, đầy ắp. Những trang bản thảo chữ viết xô chen, dập dập xóa xóa, đã tới số nghìn, nhiều nghìn. Sách đã một dãy ở Nam Cường. Sách đã một hàng ở Khai Trí. Cảnh tượng chữ nghĩa rực rỡ được mùa này ở Túy Hồng cũng giống như ở Nhã Ca. Người nữ Huế từ vòm trời tuổi nhỏ tới kinh thành không phải chỉ để chiều thứ bảy đi dạo trên hè đường Tự Do, may những chiếc áo dài mới trong thương xá Tax. Cái đích của đời sống cũng không chỉ ngừng lại với tấm thiệp báo hỷ, cái chỗ đứng trước bảng đen trường tiểu học Phú Lâm. Mà lộ trình còn mang trọn vẹn ý nghĩa một tiến tới nhọn hoắt, mộng tưởng văn chương cái đinh lóng lánh trên đầu mũi kiếm nữ hiệp xuống núi và từ xuống núi, thế kiếm Nga My cứ thế mà liên hoàn phóng tới, khiến cho cái quãng trường chữ nghĩa trọn một thập niên 60 chỉ còn là ầm ầm chỉ còn là náo động cái trận thế Nga My.

Người, là mái tóc dài lồng lộng thành mây, gót chân son vùn vụt thành gió, Huế không còn khép nép che nửa mặt hoa, Huế không còn âm thầm mưa đêm Thành Nội, mà là con suối nhỏ vào đời đã đi lên thành biển, nàng Bovary trong tiểu thuyết Flaubert đã mở toang cánh cửa của giới hạn ước lệ giam nhốt, đi thẳng ra với ngã tư đời sống mênh mông. Túy Hồng trở thành cây bút chuyên nghiệp. Túy Hồng trở thành nhà văn toàn phần. Thanh Nam ham vui, bạn ới đi là đi ngay hàng quán. Túy Hồng ở nhà, trên cái mặt bàn có một góc bàn viết, ý truyện thành hình đêm trước thức ru con, truyện đã viết xong trưa sau đặt nồi cơm lên bếp. Viết không còn là đôi lúc, cái phụ lục. Viết đã trở thành cái hàng ngày, cái chính cung. Nguyên Đán chưa tới nhưng mỗi năm, tháng mười, tháng một đã năm bảy cái đoản thiên viết sẵn cho hàng chục số Xuân chắc chắn tới đưa tiền. Bài phải ghim sẵn, cho các chú tùy phái Tia Sáng đúng giờ gõ cửa. Bút phải cầm tới, bởi đã hứa cái truyện dài cho Sóng Thần tuần sau. Chẳng bao lâu mà đã sống hẳn, ở hẳn với sinh hoạt với báo chí. Với những tách nước trà tòa soạn, với những bì thư tiền trị sự. Hiểu rõ được tạp chí Bắc kia, như thế nào phải viết. Thấy rành được nhật báo Nam này muốn gì ở cái viết ta. Rồi năm đó, đoạt Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc, cầm ly khai vị đứng trò chuyện với phu nhân Tổng thống trong dinh Độc Lập. Rồi năm nọ ngồi tươi cười giữa kỷ niệm Chu Niên Văn.

Bằng sinh hoạt văn chương, Túy Hồng Sài Gòn hóa dần dần. Thế sống vững chãi hơn. Đời sống trên cả cái mặt áp đảo biến nghịch của nó, cũng không còn làm bà bàng hoàng kinh dị nữa. Tiểu thuyết mỗi ngày một làm chủ ngòi bút, vấn đề mỗi ngày một đặt ra đàng hoàng, bút pháp mỗi ngày một thao túng, bay múa, người viết nữ đã cứng rắn không còn “tôi nhìn tôi trên vách”, mà chuyển hẳn lại thế ngồi, đối diện với toàn bộ, với chung quanh.

Tôi không nói Túy Hồng mở đường cho ngọn triều tiểu thuyết nữ phái một thời. Cùng lúc đã có những Trưng, Triệu văn nghệ khác. Không phải một cá nhân tiền phong nào mà cùng Túy Hồng đã một hiện tượng viết nữ, một tập thể viết nữ tạo mưa nắng làm giông bão, gây thành cái sự thể lấn lướt nam phái chưa từng thấy trong văn chương cận đại và hiện đại ta. Nhưng phải có Túy Hồng hiện tượng mới toàn phần, ngọn triều mới tới đỉnh. Ai ngờ được Huế vào Sài Gòn mà làm dữ vậy? Có lẽ tới bây giờ nhớ lại, chính Huế cũng không ngờ Sài Gòn anh tài, Sài Gòn tứ xứ tưởng chẳng có đất chen chân mà lại có chỗ đứng dưới mặt trời, mà lại là một dàn phóng ngon lành đến thế cho người từ Huế tới.

Viết về Túy Hồng, tôi chợt liên tưởng tới một người bạn thân khác, đã mất: nữ nghệ sĩ sân khấu Bích Hợp. Một thời chúng tôi thường cùng Phạm Mạnh Cương chồng của Bích Hợp tới sân khấu Kim Chung, Tổng Đốc Phương đón Bích Hợp vào Chợ Lớn ăn đêm. Hoặc trưa chủ nhật, tới nhà người nữ nghệ sĩ khả ái này ăn những bữa cơm gia đình do chính tay Bích Hợp củi lửa. Trên sân khấu, Bích Hợp là một đào thương, đào độc, lối diễn tan nát, khốc liệt, giọng ca bi thảm não nùng. Ngoài đời, Bích Hợp khác hẳn. Không thể dịu dàng không thể khép nép hơn, ở tiệm, trong xe, bao giờ cũng ngồi từ tốn một góc, có hỏi mới lễ phép mới vâng dạ trả lời. Bạn bè đến nhà, thật thân rồi mà bữa ăn dọn ra vẫn chắp tay thưa được để ăn sau, rồi xin phép lui vào phòng trong ngồi nói chuyện với mẹ.

Bích Hợp khác, Túy Hồng khác. Nhưng điểm tương đồng ở họ là sự khác biệt hoàn toàn giữa người nghệ sĩ với người đàn bà ngoài đời và trong gia đình. Cõi văn Túy Hồng bạo tợn, lối viết ngạo ngược phá phách. Ở trong cái hằng ngày của bà lại không thấy một dấu vết nào như vậy. Bà không bừa bãi như Thụy Vũ, rượu như Nguyễn Thị Hoàng, thuốc lá như Trùng Dương, bụi đời như Hoàng Hương Trang. Cũng không hội họp, lập đảng như Tuệ Mai, Nguyễn Thị Vinh. Chỉ ở nhà, chỉ chồng con, chỉ nội trợ. Hết độc thân rồi, Thanh Nam vẫn lu bù với chúng tôi, một mình. Bạn bè kéo đến trước ở Bùi Chu, sau ở Lý Thái Tổ, Túy Hồng dọn bữa nhậu cho đảng, rồi ở trong bếp hoặc lên trên lầu rất ít tham dự. Đem đối chiếu với văn viết, phô diễn, mạnh mẽ, thế sống ngược nghịch ở cái mờ nhạt, cái lùi khuất. Chừng như Túy Hồng hiển lộng với cuộc đời bằng văn chương mình là đủ, cái tiếng nói muốn nói giữa đồng thời đã nói ở nghìn trang tiểu thuyết là xong, sáng sáng xuống đời cây viết trên tay, chiều chiều lại trở về hang động mình không còn ai thấy mặt. Đã bao nhiêu năm như vậy, không một chút thay đổi. Vẫn Huế trong hồn, Tĩnh Tâm trong da, lặng lẽ, thu nhỏ. Thời tiết che nghiêng, mỏng manh cái nón bài thơ. Vùng an toàn tột đỉnh, vẫn cái vỏ ốc khép kín. Cái vẻ an phận cũng nhiều bằng cái dáng thỏa hiệp. Đã bao nhiêu năm như thế, thấy văn chương mà không thấy người. Cảnh tượng văn chương, một cảnh tượng riêng. Cảnh tượng đời sống, một cảnh tượng khác.

Bây giờ lại càng yên càng khuất nữa. Yên ở Tây Bắc. Sau tấm màn mưa, sau cánh cửa thông. Khuất ở Seattle, hồ vịnh một cõi. Mấy năm trước, một chỗ ngồi im lặng trên xe bus, xuống phố làm việc, cặp mắt Huế ngó thẳng con đường hàng ngày. Bây giờ ở nhà, ngôi nhà Othello đằng sau một cánh cổng thấp, lúc nào cũng như bên trong mọi người đi vắng hết. Những buổi trưa đi chợ, chiếc xe lái từ từ, tránh những ngả đèo dốc. Những buổi sáng dậy sớm, sửa soạn cho con đi học, con ăn cereals mẹ cũng một trái bưởi. Trật tự Mỹ. Đời sống Mỹ. Cái chung quanh Mỹ. Bữa điểm tâm Mỹ. Nhận như vậy, cái năm nay. Nhận như thế cái năm sau. Sự thỏa thuận dịu dàng như cái cử chỉ mỗi buổi sáng thắp một nén hương lên bàn thờ Phật.

Duy có ngòi bút, mỗi lần vẫn một thức động. Duy có cách viết, mỗi lần vẫn một nhọn hoắt. Duy có tâm thể, vẫn câu thơ bất hủ của Tản Đà. Seattle mưa là mưa bay đi. Nhưng trong nghìn triệu giọt mưa Tây Bắc, vẫn một giọt mưa Huế. Mưa có bay ra biển, mưa vẫn trở về nguồn. Tâm sự tha hương, trong kín thầm vẫn nguyên vẹn. Phòng khách Othello. Bầy con cãi lộn bằng tiếng Mỹ. Người mẹ ngồi ở giữa, tiếng Mỹ đầy trong đầu. Bữa điểm tâm bằng một trái bưởi nhưng Othello vẫn gió mưa một phiến trời Huế, vẫn xanh ngắt một tâm cảnh Huế. Vẫn là cả Huế mang theo. Vẫn không xa Huế một ngày.

Thành ra những thân tình lâu ngày không gặp, muốn thăm Túy Hồng ở Seattle bây giờ, nếu thấy ngôi nhà Othello dựng trên đất Mỹ mà vẫn có giòng sông Hương chảy qua phía trước, ngọn Ngự Bình in hình phía sau, một hông nhà vẫn lối vào Đông Ba, hông bên kia vẫn vòm cổng Thượng Tứ, thì những thân tình cũng đừng nên ngạc nhiên.

Mai Thảo
(Chân Dung Mười Lăm Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, Văn Khoa 1985)

Sơn Núi. Tùy bút Tuệ Sỹ


Tuệ Sỹ

1.
Sinh ra để làm thơ, đó là Định mệnh? Hay Lịch sử? Hay cái gì nữa? Có bao nhiêu câu hỏi tương tợ như vậy, nghĩa và vô nghĩa, để chắp cánh cho ta đi tìm một bóng dáng huyền thoại của một nhà thơ, và chỉ một mà thôi? Không; không có câu hỏi nào cả. Neti, neti, Tat tvam asi. Không có gì cả.

Chỉ có tiếng hú, và huyền thoại của tiếng hú, trong cơn lốc quằn quại của con vượn biết mình đang tan vào lượn sóng, chồm lên hung hãn đòi hỏi phẩm chất làm người. Sóng gào thét với gió ngàn bạt đỉnh, nhận chìm tiếng hú xuống dòng xoáy của hư vô. Từ đó, loài người xuất hiện, lầm lũi bước đi trong bóng đêm u tịch, nghe sau mình tiếng vọng đuổi theo; tiếng vọng của những quá khứ đã chết, những tháng ngày bay vèo theo xác lá khô. Đâu đó, nghe ngân dài: Ôi tình yêu! Ôi vĩnh cửu?

Tiếng ngân ấy, rung lên giai điệu nhẹ nhàng, thướt tha, và cũng tha thiết. Tiếng thơ của ai? Hay của con người, chỉ một con người, đứng ôm mặt trời nóng bỏng trên đỉnh Trường Sơn. Thế rồi, thiên địa bất nhân, coi vạn vật như chó rơm, cho sinh thêm một con người nữa, để có thể hỏi: Thơ là gì, là tình yêu hay tội lỗi? Thêm một người nữa, để cho ta biết yêu, biết hận, và biết làm thơ. Ta biết làm thơ, vì ta đã phụ bạc, đã ruồng rẫy; chôn tình người xuống hố sâu tội lỗi; dựng lời thơ thành cung điện huy hoàng. Đêm đêm rừng sao mênh mông tuôn xuống lớp lớp cơn mưa châu ngọc. Giữa cơn mê sảng của giàu sang, ảo ảnh hiện hình làm quỷ sứ, gọi nhà thơ dậy, hỏi dồn và thách thức: Đâu tình yêu? Đâu vĩnh cửu? Nhà thơ nhìn lại trong lòng tay; chỉ còn một hạt cát. Trong cơn mê sảng, nó thét lên:

Hột
Thì le

Vì người đã sống, và đã đi suốt chiều dài tiến hóa; nên Thơ đã chết. Chỉ còn giai điệu lăn lóc của sỏi và cát:

Hột
Thì le

Vô nghĩa, và vô ngôn. Chỉ có sự sống trần truồng, vật vã trong nắng bức và gió rát của sa mạc. Của đam mê và hủy diệt. Của tình yêu và phản bội. Của vĩnh cửu và hư vô.

Hai mươi lăm năm rồi, từ khi tôi biết yêu; từ khi nhìn thấy ngọn cỏ gầy gục đầu dưới lớp bụi nặng trĩu ven đường, mà bỗng thấy rạo rực với những ảo ảnh chập chờn, nghe đâu đó có tiếng thì thầm: Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.

Khi chợt tỉnh, chung quanh khói lửa ngập trời. Rồi mặt trời đỏ rực màu máu. Rồi Thái Bình Dương dậy sóng. Đi đâu hết rồi, những người tôi yêu và những người yêu tôi? Trong bóng tối của tử tù, từng khoảnh khắc tôi nghe đồng vọng tình yêu trên cao. Tình yêu đến gần, đang tô điểm phấn son, chờ phút giây hội ngộ trong yến tiệc linh đình của pháp trường cát. Tình yêu phía trước, ngân vang giai điệu prélude chậm buồn trong tay những xạ thủ:

Mai sau tắt lửa mặt trời

Tình yêu để lại phía sau, dãy hành lang hun hút, dồn đập tiết tấu Rhapsody:
Chuyện linh hồn với luân hồi có không

Rồi lật sang chương ba của bản hòa tấu, Marche funèbre:

Thái hư chừng sắp chuyển vòng
Đại dương tràn kéo núi đồng tan đi
Chúng ta giờ ước mong gì
Văn minh gởi cát bụi về mai kia…

….
2.
Sa mạc lớn dần… Thượng đế đã chết… Bởi vì con người đã chết. Một thế hệ được sinh ra, được nuôi lớn, để làm chứng cho sự sụp đổ, hoang tàn. Thần linh bỗng nhiên biến mất.

Và hình ảnh mầu nhiệm, kết tinh từ Thánh thể, cũng biến mất. Sự sụp đổ của một nền văn minh, và hoàng hôn của những thần tượng. Tôi đi tìm đâu đó hoài niệm về một quá khứ mà mình chưa từng có mặt. Bóng ma của cái quá khứ vô tri, xa lạ ấy, đã một thời ám ảnh.

Sa mạc lớn dần… Thượng đế đã chết… Từ lâu, tôi không còn nghe những âm hưởng một thời xao xuyến ấy. Không chỉ là xao xuyến, mà là sóng gió, là giông bão. Đó là những âm hưởng rung động, chấn động đầu đời. Tôi chẳng hiểu tại sao thế. Quả thật, còn nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu. Tôi muốn nói những ẩn ngữ của thơ. Cũng như tôi không hiểu tất cả sự huyền bí, mầu nhiệm, sự hiện hữu của một quả nho. Nhưng tôi đã từng nếm vị ngọt của nó. Nói cho thật nghịch lý, tôi chưa bao giờ biết, chưa bao giờ hiểu tôi là ai.
Nhưng tôi vẫn là tôi. Một nghịch lý không thể tránh; một nghịch lý ám ảnh không cùng, là tôi vẫn luôn tự hỏi, mỗi khi đối diện với anh: Sơn là ai nhỉ? Con người này là ai?

Anh là ai? Là một nhà thơ hiện sinh, nổi loạn, “quậy phá”?

Dưới ngòi bút phê bình, anh không thể khác đi được: hiện sinh, nổi loạn, quậy phá, du côn. Tôi cũng không nghĩ khác hơn những ảnh tượng, và những ấn tượng, mà ngòi bút có thể vẽ, có thể miêu tả. Một gã du côn, một tên phạm thánh. Và còn nhiều từ khác nữa. Nhưng làm sao có thể biết được, và cũng khó mà làm quen được, một người không đến với ta từ con đường trước mặt, hay bằng tiếng gọi từ sau lưng, mà là một cái gì đó, ở đâu đó, bỗng nhiên rơi xuống đó:

Tôi đang rơi xuống kêu cái bịch
Trên rong rêu tịch mịch
Từ muôn đời nay

Cái đó không phải là một hiện sinh; không phải là một hữu thể hay thực thể, bị ném vào đời một cách phi lý, vô nghĩa. Nó đến như là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng có phải vì vậy mà nó phi lý, nó làm cho buồn nôn? Tuy thế, cái ngòi bút phê bình quả là cái gậy thần. Gõ vào những trang sách dày cộm của Sartre, những từ ngữ triết học bí hiểm nhưng lại mang nhiều ưu tư khắc khoải của Heidegger, từ những cơn thịnh nộ bốc đồng của Nietzsche; gõ vào đó và làm cho xuất hiện một hiện sinh, một con người hiện sinh biết làm thơ. Rồi người ta cảm thấy buồn nôn vì cái hiện sinh phi lý ấy, hay vì cái ngòi bút đầy quyền uy siêu nhiên ấy? Dù sao, thì một thời, người ta nói, Sơn vẫn là nhà thơ hiện sinh. Người ta nói như thế. Cũng như người ta nói “Chú Sỹ hiện sinh”. Bởi vì chú thích leo cửa sổ vào buồng ngủ của Thầy hơn là đi vào bằng ngõ chính. Có điều, chú không

… rơi xuống kêu cái bịch
Trên rong rêu tịch mịch.

Anh là ai? Lần đầu tiên tôi gặp anh. Đó là sao trên rừng. Tôi không cảm thấy ba chữ này phải viết hoa. Trông có vẻ một thư sinh. Cũng hiền lành như những thư sinh khác. Hiền lành, nhưng cũng rất quậy. Một thứ quậy phá của học trò. Anh nói thơ, theo kiểu nói “sùi bọt mép”. Anh cãi lý Phật pháp với sư huynh tôi, học chung một lớp. Anh cãi rất hỗn. Nhưng không hiểu sao, cho tới bây giờ, sư huynh tôi vẫn quý anh. Hình như ông không biết đến một “Sơn quậy”, ông đã không đọc đoạn giữa của bài thơ, mà chỉ nhìn thấy câu đầu và mấy câu cuối:

Nhờ hồng phúc…
Tôi vẫn đang ngủ trên am mây
Với những bậc thầy

Muôn thuở trước Đoạn giữa, là một đoạn đời, hay một cuộc đời “hiện sinh” mà nay

Mà nay Mặc dù đã có gia đình bậy bạ rồi

Rồi 35 năm sau, vật đổi sao dời; tôi từ trong bóng tối tử tù bước ra, anh từ trên núi lăn xuống. Gặp nhau giữa đống rác Sàigòn chết. Không thấy gì khác lạ. Tất nhiên là có nhiều thay đổi. Trời đất còn phải đổi thay, non sông còn phải đổi chủ, huống gì là một con người, một gã du sỹ. Cái đổi thay này thì thật là kinh khiếp. Hàng vạn tấn bom không làm cho Thái Bình Dương dậy sóng. Nhưng những bài thơ cóc ngâm, ca tụng thiên đường hạ giới, đã gây những cơn địa chấn làm sập đáy biển, đã nhuộm đỏ biển Đông, đã làm cho cây rừng gục ngã, đã làm cho mồ hôi, nước mắt tuôn ào ạt thành những cơn lũ kinh hoàng. Tôi tìm đâu một trời thơ, sau những ngày tháng đong đưa trên vực thẳm sống chết?

Ta còn giỡn nữa hay thôi
Khói bay mờ tỏa luân hồi vòng vo

Gửi về đâu một chút tro
Kèn vang lộn mửa tiếng ò í e

3.
Một cuộc đời mà ta biết; một con người mà ta quen, thủy chung, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng khi người ấy làm thơ, thì khi ấy, con người thơ, và cõi mộng của thơ, là ẩn ngữ huyền nhiệm. Tôi biết, và cũng có thể chỉ là biết một cách tưởng tượng, rất nhiều người, những người làm thơ, đọc thơ, và cả những người nguyền rủa thơ; có rất nhiều người nhìn anh với cái nhìn ngạc nhiên, tò mò, như đang nhìn một vật thể lạ, rất lạ, quái lạ. Tôi nhìn anh cũng thấy rất lạ. Nhưng không lạ hơn khi tôi nhìn chính khuôn mặt mình. Cho nên, tôi thấy mình quen biết anh nhiều hơn là quen biết chính mình. Người ta hỏi tôi, Sơn là ai? Làm sao tôi trả lời được. Tôi vẫn chưa biết mình là ai. Bất quá, tôi mượn những ý tưởng có sẵn trong kho ngữ vựng triết học đông tây kim cổ, để tự giới thiệu và tự mô tả. Những ý ấy, và lời ấy, tôi biết thật sự là vô nghĩa. Dù sao, cũng vẫn cần một câu trả lời, để khẳng định hiện hữu của mình giữa cái thế giới lầm lì, hiu quạnh này. Thử hỏi: Ta là ai?

Thì ra
Ta vốn là ma

Vẽ ma dễ hơn vẽ người. Mỗi người tuy là mỗi cá thể độc lập, biệt lập; không ai giống ai. Nhưng tất cả loài người, bất kể da vàng da trắng, đều có chung những quy ước phổ quát. Không tuân thủ những quy ước, không làm sao vẽ được một hình người mà mọi người đều nhận ra đó là người. Dù vẽ theo ấn tượng, hay siêu thực, hay lập thể; vẫn có những quy ước phổ quát. Ngoài đó ra, là vẽ hình ma quái. Ấy thế, cái người mà mọi người cho là quái dị, kỳ cục; nhưng ai cũng cảm thấy mình có thể vẽ được con người ấy; vì nó là ma.

Người ta nói nó là ma. Cái bóng ma ấy chập chờn trên sa mạc. Quả vậy, tôi đang đi trên sa mạc. Đang quờ quạng trong bóng đêm rét buốt của sa mạc. Mới ban ngày đây thôi, mặt trời nóng cháy. Vì loài người đang thù ghét nhau. Thù nhau từ những phương trời mộng tưởng; đến đây để thanh toán nhau những món nợ oan cừu lịch sử gì đó. Bạn bè tôi, lớp lớp ra đi; theo nhịp bước lịch sử oai hùng. Nhưng thảy đều đi mất biệt. Không có trời đông, hay trời tây, để cho sao mọc hay sao lặn. Thế thì, sao trên rừng là cái quái gì? Cho nên, đại bác và hỏa châu rượt đuổi anh hàng ngày. Anh trốn trong hũ gạo. Trốn xuống gầm xe. Trốn vào nhà chùa. Anh chạy trốn, tất nhiên vì anh muốn sống. Ai lại chẳng muốn sống? Sống như bóng ma của thời đại trong cái huyễn mộng phù sinh; trong cái chập chờn ma quái; đôi khi lồ lộ một con người chân thật; một hình ảnh con người chưa từng sống, mà cũng như chưa từng chết. Xuyên bức màn trăng, mênh mông vô hình, ta nghe một con người đang than thở:

Ô hồn ta
Sao quá mỏng
Ngoài vườn trăng

Trong sa mạc đêm lạnh lẽo này, trong cái bóng tối uy hiếp của bốn vách đá của bức màn sắt rờn rợn này, trong đây không dễ gì tìm ra một con ma nào đang thở. Nhưng ngoài kia, ngoài vườn trăng kia, một hồn người sung mãn. Hồn người chứ không thể là hồn ma được. Đó là hồn người, cho nên nó biết khóc khi nhìn trong lòng tay, những giọt trăng đang đông lại thành những giọt máu. Máu của những oan hồn đang đòi quyền sống. Có muộn quá đi chăng?

Trong những đêm trăng
Có một nỗi gì thấy quá muộn màng
Làm ta muôn đời muốn khóc

Sớm hay muộn, nơi đó vẫn có một nắm đất nhân từ, có bóng tối thân thương:

Hỡi U Minh Giáo Chủ
Trăm năm mần chi đủ
Con hát hoài không thôi
Lướt trên mồ cỏ phủ

Đọc những câu thơ như thế, tôi muốn chui xuống mộ mà nằm, để còn được nghe tiếng hát.
4.
Ôi trăng ngàn
Vừa tan

Còn lại đó, một khoảng không tịch mặc của trời thơ. Và những lời không nói.

Ngàn sau. Phơ phất gò bông lau…

Tuệ Sỹ

trích Tuệ Sỹ Văn Tuyển 3

Hai Hiện Tượng Văn Học Mỹ – Một Bối Cảnh Kỳ Thị Chủng Tộc. Trùng Dương


Trùng Dương

Trong văn học sử Hoa Kỳ có hai hiện tượng nổi bật với nhiều điểm giống nhau, đó là nữ văn sĩ Margaret Michell với cuốn “Gone With The Wind” (1936) và nữ văn sĩ Harper Lee, tác giả “To Kill A Mockingbird” (1960). Cả hai cuốn tiểu thuyết cùng có bối cảnh là miền Nam Hoa Kỳ, cùng khai thác đề tài xung đột chủng tộc (da trắng và da đen), cùng bán được mỗi cuốn hàng ba, bốn chục triệu ấn bản. Cả hai tác phẩm lại cùng được giải Pulitzer danh giá, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, và dựng thành phim rất thành công, chiếm được nhiều giải Oscar.

Song, có lẽ đặc biệt hơn, là sự kiện cả hai nữ văn sĩ gốc da trắng này cùng chỉ có một tác phẩm duy nhất, mặc dù nhà xuất bản thúc hối, giới truyền thông trông chờ và độc giả khắp nơi khao khát đọc họ thêm. Đặc biệt ở trường hợp GWTW, độc giả muốn biết cái gì sẽ xẩy ra cho hai nhân vật Scarlett O’Hara và Rhett Butler. Liệu họ có trở lại với nhau sau khi Rhett tuyên bố một câu bất hủ, “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần), rồi bỏ ra đi mặc Scarlett nước mắt đầm đìa, thề sẽ tìm mọi cách lấy lại tình yêu mà Rhett đã dành cho nàng bấy lâu nhưng nàng mải đeo đuổi người khác? Sự khao khát đó đã đưa đến hai cuốn kế (sequels) với sự cho phép của cơ sở trách nhiệm tác quyền Mitchell, đó là “Scarlett” (1991, do Alexandra Ripley viết), và “Rhett Butler’s People” (2007, do Donald McCaig viết). Đấy là chưa kể cuốn “The Wind Done Gone” của Alice Randall viết từ nhãn quan của một người nô lệ tại đồn điền Tara của gia đình Scarlett, do Houghton Mifflin xuất bản năm 2001, sau khi nhà xuất bản này giàn xếp xong vụ kiện do công ty Mitchell khởi tố.

Trong khi đó, để trả lời cho yêu cầu của những người hâm mộ, tác giả “To Kill a Mockingbird” chỉ có sự im lặng đáp lại suốt mấy chục năm trong thời gian bà còn sống. Khác với bà Mitchell bị tử nạn mất sớm khi bà mới 49 tuổi, bà Lee sống tới 90 tuổi và mới qua đời năm 2016.

Tại sao sau sự thành công lẫy lừng đó cả hai nhà văn cùng không sản xuất thêm được tác phẩm nào khác? Ngay cả như trong trường hợp Harper Lee, có người cho rằng có lẽ chính bà không phải là người đã thực sự viết “Mockingbird,” mà là Truman Capote, tác giả “In Cold Blood,” là người bạn từ thuở thơ ấu với bà, mà bà vẫn làm thinh không cải chính. Cũng có thể đấy là một khiêu khích để bà tái xuất giang hồ cho ra đời tác phẩm kế tiếp như một biện minh hoặc lên tiếng cải chính, vì bà nổi tiếng là ẩn nhân từ giữa thập niên 1960, không nhận cho bất cứ ai phỏng vấn mình nữa, từ đó tạo nên một không khí huyền bí vây quanh bà.

Margaret Mitchell và ‘Gone With the Wind’

Margaret Mitchell sinh ngày 8 tháng 11, 1900 tại Atlanta, Georgia, trong một gia đình khá giả, cha là luật sư Eugene Muse Mitchell, và mẹ, một phụ nữ có học vấn tên May Belle Stephens và là một nhà tranh đấu cho quyền phụ nữ đầu phiếu (phụ nữ Mỹ chỉ mới được quyền bỏ phiếu vào năm 1920 sau nhiều tranh đấu cam go kéo dài nhiều thập niên và gặp nhiều đàn áp tàn bạo). Margaret còn có hai người em trai, nhưng một đã chết lúc còn nhỏ. Margaret ra đời đúng 35 năm sau khi cuộc Nội Chiến Nam Bắc (1861-1865) chấm dứt. Bà bị lôi cuốn bởi cuộc chiến này và những gì xẩy sau đó cho miền Nam Hoa Kỳ do hồi nhỏ đi thăm họ hàng nghe họ kể chuyện về những hoài niệm còn sống động của những người đã tham gia hoặc sống qua cuộc chiến cũng như thời hậu cuộc chiến đó. “Những chiều chủ nhật theo gia đình đi thăm bà con họ hàng thuộc thế hệ trước,” bà kể, “tôi thường ngồi trên những đầu gối gầy guộc của các cựu chiến binh [Confederate, phe đòi ly khai khỏi hệ thống liên bang] và những cái lòng mập mạp trơn trượt của các bà cô nghe họ kể chuyện” về các trận đánh cùng những phấn đấu đề sống còn sau khi miền Nam bị bại trận. Những câu chuyện này đã để lại trong bà nhiều ấn tượng sâu đậm.

Lớn lên bà thích nghề báo, nhưng phải bỏ dở học vấn sau có một năm đại học vì mẹ chết, bà phải về để phụ trông coi việc gia đình với cha. Bà viết ký sự cho tờ The Atlanta Journal Sunday Magazine, rồi được nhận vô làm phóng viên mặc dù không có kinh nghiệm về báo chí. Trong thời gian này, bà nghiên cứu về cuộc Nội Chiến với một đam mê đặc biệt, và bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết từ năm 1926 trong thời kỳ dưỡng thương sau một tai nạn xe cộ. Cuốn tiểu thuyết mà sau này trở thành “Gone With the Wind,” vẽ lại bức tranh xã hội của Miền Nam thời kỳ trước và sau cuộc Nội Chiến, với những dữ kiện lịch sử khá chính xác. Harold Latham của nhà xuất bản Macmillan khám phá ra bản thảo này qua một người bạn của Margaret, nhân một dịp đến Atlanta truy tìm tài năng mới và một cuốn truyện có thể trở thành bestseller.

Margaret Mitchell (1900-1949): Tại bàn làm việc trước cái máy chữ Remington bà dùng để viết “Gone With The Wind,” chụp năm 1936, và trái, với cuốn tiểu thuyết đã đưa bà lên tột đỉnh danh vọng mà nhà văn nào cũng ao ước có được, chụp năm 1948. (Ảnh Google/Image)

Nếu không nhờ tài kể chuyện, cách cấu tạo nhân vật rất chi tiết, sống động, lối hành văn lưu loát phong phú và các dữ kiện lịch sử chính xác, bên cạnh chủ đề có tính cách hoàn vũ (universal) – đó là quyết tâm sống còn của nhân vật bất kể nghịch cảnh — có lẽ cuốn GWTW đã, tôi nghĩ, không lôi cuốn được người đọc được như vậy vì người kể chuyện có cái nhãn quan hoàn toàn nghiêng về một phía, phía của những người da trắng kỳ thị chủng tộc, không chấp nhận chính sách của chính phủ liên bang bãi bỏ chế độ nô lệ, và không quên được thời hoàng kim trưởng giả của họ với những đồn điền cò bay thẳng cánh và đoàn nô lệ đông đảo sống dưới quyền sinh sát của các chủ nhân. Tôi đọc đâu đó là ít người Mỹ da đen đã đọc GWTW, coi đó là một cuốn truyện đượm mầu sắc kỳ thị chủng tộc.(*)

Cũng như Haper Lee sau này với sự thành công của cuốn “To Kill a Mockingbird,” Margaret Mitchell không tin là cuốn tiểu thuyết có thể thành công vượt bực như vậy. Chưa đầy một năm mà nhà xuất bản Macmillan đã bán được trên 1.3 triệu ấn bản GWTW. Rồi giải thưởng danh giá Pulitzer, tiếp theo là việc Hollywood dựng thành phim với tài tử Clark Gable danh tiếng bên cạnh một Vivien Leigh đẹp sắc sảo, tuy mới góp mặt với điện ảnh song đã hoàn toàn chinh phục khán giả với tài năng làm Scarlett sống động như thật. Cuốn sách đã được dịch ra trên 30 thứ tiếng, bán trên 30 triệu ấn bản. Tại Việt Nam, bản dịch GWTW ra đời vào năm 1951, tái bản tới lần thứ 12 và bán cả thẩy 100,000 ấn bản, một kỷ lục ở Việt Nam. Riêng tại Nga, chỉ mãi tới sau khi chế độ cộng sản Liên Sô xụp đổ và vào năm 2001 dân Nga mới được đọc GWTW bằng tiếng Nga.

Ngân phiếu cho tiền tác quyền bay về như bướm bướm, cùng với thư của những người hâm mộ tác giả, đòi bà viết thêm một sequel cho GWTW, bên cạnh những chuyến đi để quảng cáo, tiệc tùng, cho cả sách lẫn phim, những cuộc phỏng vấn liên tu bất tận, khiến có lúc Margaret phải chạy trốn khỏi Atlanta, mặc chồng là John Marsh ở nhà đối phó với nhưng cú phôn, khách viếng và cả núi thư từ. Phần lớn thời giờ, sau khi sách và phim phát hành, Margaret dùng vào việc viết thư trả lời độc giả và tâm sự về sự thành công bất ngờ và ảnh hưởng trên bà và gia đình.

Có lúc Margaret không khỏi ngạc nhiên tại sao người ta lại thích GWTW, “Mặc dù chiều dài lê thê và đầy các chi tiết, [cuốn tiểu thuyết] thực ra chỉ là chuyện kể về những người rất đơn giản,” bà viết thư tâm sự với một người bạn, được tác giả Anne Edwards ghi lại trong cuốn tiều sử rất sống động, “Road to Tara: The Life of Margaret Mitchell” (1983). “Không có văn chương văn chiếc gì hết trơn trong đó, không cả những tư tưởng lớn, không có một ý nghĩa tiềm ẩn nào, không biểu tượng, không có gì là giật gân hết – không có gì hết, không có gì cả như những cái đã làm những cuốn sách bán chạy nhất trở thành sách bán chạy nhất. Vậy thì làm sao giải thích được sự lôi cuốn của nó đối với người từ 5 tuổi tới 90 tuổi đây? Tôi không thể hiểu được.”

Mười ba năm sau khi GWTW đưa bà lên tuyệt đỉnh của danh vọng và tiền bạc, Margaret bị tử nạn trong một tai nạn xe cộ vào ngày 11 tháng 8, 1949, để lại cho đời nhiều luyến tiếc. Song trên một khía cạnh nào đó, bà không còn phải đối diện với sự mong chờ, thôi thúc của những người hâm mộ bà về một tác phẩm kế. Như Harper Lee đã, có lẽ, khắc khoải tới mấy thập niên sau khi “To Kill a Mockingbird” chào đời và cất cánh bay bổng lên chín tầng mây.

Harper Lee và ‘To Kill A Mockingbird’

Khác với Margaret Mitchell, sau thành công vượt bực của “To Kill a Mockingbird,” Harper Lee đã dự thảo trước sau hai dự án tiểu thuyết, với một cuốn đã viết được tới nửa và một cuốn đang được sưu tầm, đã có tựa, đó là “The Reverend,” để rồi cuối cùng bà bỏ cuộc, và rút vào im lặng, sống đời ẩn nhân.

Sinh ngày 28 tháng 4, 1926 và lớn lên tại Monroeville, một tỉnh nhỏ ở tiểu bang Alabama, bà tên thực là Nelle Harper Lee (bà bỏ chữ Nelle, phát âm như “Nail”, vì không thích người ta đọc chại ra Nellie). Nelle xuất thân từ một gia đình có cha là luật sư Amasa Coleman Lee, một thời làm dân biểu tiểu bang và chủ một tờ báo địa phương, và là một nhân sĩ được kính trọng trong tỉnh. Ông Lee có một dạo biện hộ cho hai người da đen, cả hai bị kết án tử hình và bị treo cổ sau đó, nên ông bỏ nghề biện hộ để xoay ra chuyên về luật ngân hàng. Mẹ bà, Frances, không có bao nhiêu ảnh hưởng đối với con cái vì bà bị bệnh tâm thần, hầu như không tự tay chăm sóc và giáo dục các con. Là con út trong một gia đình bốn anh em, Nelle có bà chị lớn, Alice, cũng làm luật sư và là người về sau này quản lý sổ sách và công việc giao tế cho bà sau khi “Mockingbird” ra đời và trở thành một hiện tượng văn học.

Nelle cũng theo học luật, nhưng bỏ dở chừng. Bà bỏ đi New York vào năm 23 tuổi để vừa đi làm vừa viết văn. Một phần cũng vì người bạn thời thơ ấu của bà là Truman Capote, đang sống đời văn sĩ tại đó sau khi có một đôi cuốn sách xuất bản và tạo được một tên tuổi, khuyến khích bà lên New York, cái nôi của văn học nghệ thuật thời đó. Cả hai khi còn nhỏ thường hay đàn đúm với nhau viết truyện trên một cái máy chữ cũ ông Lee mua cho con gái. Nelle, với bản chất giống con trai (tomboy), cao và khoẻ, thường còn là người bảo bọc cho Truman vì ông tính như con gái, thấp bé yếu ớt, thường bị tụi trẻ bắt nạt. Thời còn ở đại học, Nelle cũng đã cộng tác với tờ báo của trường, và càng lúc càng thấy không muốn làm gì khác ngoài viết văn. Cha bà rất buồn trước quyết định bỏ học luật của con gái, nhưng không cản bà đi New York, nghĩ rằng bà trước sau rồi sẽ tỉnh ngộ và về lại với gia đình để giúp ông thực hiện giấc mộng có một văn phòng luật dưới bảng hiệu “A.C. Lee & Daughters.”

Nelle đi làm nghề bán vé máy bay cho hai hãng hàng không để có tiền sinh sống, cũng chỉ đủ trả tiền thuê nhà và mua đồ ăn, sống rất khiêm tốn. Song ngược lại, bà có dịp làm quen với một số bạn, trong đó có nhà viết lời cho nhạc kịch Broadway tên Michael Brown và vợ là Joy, và trở nên thân thiết với gia đình này. Bà cũng hoàn tất được một số truyện ngắn và vừa tìm được người đại diện (literary agent) để giúp giao dịch với các nhà xuất bản. Giáng sinh năm 1956, sau sáu năm ở New York, Nelle nhận được một món quà đặc biệt của vợ chồng Brown nhân dịp ông vừa nhận được tiền bản quyền của một bộ nhạc kịch: đó là một món tiền trị giá lương một năm của Nelle, với một ghi chú ngắn: “Cô có một năm không phải đi làm để viết bất cứ gì cô thích. Merry Christmas.”

Nelle bỏ việc, ngồi nhà viết văn. Trong vòng một năm, trong sự cô độc và niềm nhớ nhà và khung cảnh thân thuộc của quê nhà ở miền Nam nước Mỹ, bà viết xong bản thảo đầu cuốn sách về sau này được đặt tựa là “To Kill a Mockingbird,”(**) mang nhiều chi tiết rút ra từ đời sống ở Monroeville. Nelle sau đó trải qua hơn một năm làm việc với chủ bút Tay Hohoff của nhà xuất bản J.B. Lippincott & Co., viết tới viết lui, sắp xếp lại thứ tự các chương, thay chỗ này cắt chỗ kia thêm chỗ nọ. Trong thời gian làm việc này, có lúc Nelle khổ sở chán nản tới độ một bữa trời đang tuyết, bà mở tung cửa sổ và tung hê đống bản thảo trong tuyết, rồi bốc điện thoại gọi bà chủ bút tuyên bố bỏ cuộc. Bà Hohoff bình tĩnh bảo bà mặc đồ ấm vào rồi xuống đường lượm những tờ bản thảo đó lên. Và Nelle đã làm như bà dặn, vừa nhặt các trang giấy sũng tuyết vừa khóc.

Nelle cuối cùng hoàn tất cuốn tiểu thuyết đầu tay vào mùa hè năm 1959. Cũng vào cuối năm đó, Truman cần Nelle tháp tùng giúp ông thu thập chất liệu cho một loạt phóng sự cho tạp chí The New Yorker về vụ án mạng toàn gia đình bốn người của nông gia khá giả tên Herbert Clutter, ở một tỉnh lẻ tên Holcomb, Kansas. Chính nhờ sự giúp đỡ đắc lực và rất hữu hiệu này của Nelle mà Truman đã cuối cùng có nhiều hơn là đủ chất liệu để thực hiện cuốn tiểu thuyết phóng sự nổi tiếng “In Cold Blood” (1966).(***)

Xuất bản vào ngày 11 tháng 7, 1960, “To Kill a Mockingbird” trong chỉ một sớm một chiều trở thành bestseller, được trao giải Pulitzer Prize for Fiction năm 1961, được dịch ra trên 40 thứ tiếng và trước sau bán ra trên 30 triệu ấn bản. “Mockingbird” được dựng thành phim vào năm 1962 do Robert Mulligan đạo diễn, với tài tử danh tiếng Gregory Peck thủ vai chính, luật sư Atticus Finch, và đã được nhiều giải thưởng Oscar. Năm 1999, Library Journal, qua một cuộc thăm dò ý kiến, bầu “Mockingbird” là “Best Novel of the Century”, qua mặt cả “Gone With the Wind.”


Harper Lee (1926-2015): Trái, Harper Lee, lúc 34 tuổi, và tác phẩm “To Kill A Mockingbird,” xuất bản năm 1960. (Ảnh Google/Image) Phải, với Tổng thống Georges W. Bush tại tòa Bạch Ốc năm 2007, khi bà, ở tuổi 81, được trao giải Presidential Medal of Freedom nhờ ảnh hưởng sâu xa của cuốn “To Kill A Mockingbird” đối với phong trào tranh đấu cho quyền công dân tại Mỹ vào thập niên 1960 và sau đó. “Mockingbird” hiện được giảng dậy tại phần lớn các trường trung học công lập tại Mỹ. (Ảnh Wikipedia Commons)

“To Kill a Mockingbird” đặt bối cảnh tại một tỉnh nhỏ miền Nam có tên là Maycomb, Alabama, trong thời kỳ Khủng hoảng Kinh tế vào đầu thập niên 1930. Câu chuyện được một nhân vật nữ kể lại về thời thơ ấu của mình qua cô bé Scout, với người anh, Jem, và cha, Atticus Finch, luật sư và là một người đàn ông goá vợ ở vậy nuôi các con. Câu chuyện bắt đầu lúc cô bé Scout chưa bắt đầu năm học đầu tiên, và kéo dài ba năm. Cô đeo theo người anh và một cậu bé hàng xóm tên Dill, mỗi hè về ở với người cô ở Maycomb. Cả ba chơi những trò chơi đơn sơ của trẻ con. Một trong những trò chơi đó là rình rập một căn nhà bí ẩn trong xóm, nơi trú ngụ của một người mà ai cũng né tránh coi thường, tên là Boo Radley. Ba đứa trẻ quyết tìm xem Boo mặt mũi thế nào. Dần dà bộ bốn dần trở nên bạn.

Trong khi đó trong tỉnh xẩy ra vụ một người da đen, Tom Robinson, bị cáo buộc là đã hãm hiếp một phụ nữ da trắng, Maybelle Ewell, con gái của một nông dân da trắng có tật say sưa và hung bạo, hay đánh đập la mắng cô. Lũ nhỏ không để ý tới chuyện này cho tới khi Atticus được cử biện hộ cho Tom. Khi Atticus ngồi án ngữ trước nhà ngục vào một đêm khuya để ngăn không cho đám người quá khích vào lôi Tom ra để hành quyết (lynching), cả ba đứa trẻ chạy tới góp mặt. Scout nhận ra trong đám người hung hãn ấy có một nông dân mà Atticus đã giúp đỡ trong một vụ pháp lý nhưng không có tiền trả và Atticus đã đồng ý nhận những gói hạnh nhân lâu lâu ông ta mang lại thay cho tiền, và ông này lại là cha của một cậu bé mà chính Scout đã nhẩy vào can thiệp khi cậu ta bị các bạn uy hiếp. Cô bé gợi chuyện với người đàn ông đó, khiến ông ta bối rối, hết còn hung hăng, và đám đông cũng dịu theo, rồi họ theo nhau giải tán. Mặc dù bị Atticus cấm không được theo giõi vụ án, nhưng Jem, Scout và Dill vẫn lén lên ban công nơi dành riêng cho người da đen mở xuống phòng xử dành riêng cho người da trắng bên dưới, để theo dõi vụ xử án. Vụ án diễn ra cho thấy công lý bị thành kiến và óc kỳ thị lấn át. Mặc dù Atticus đã đưa ra những lý luận hợp lý hợp tình, Tom vẫn bị một bồi thẩm đoàn toàn da trắng kết án. Khi đi theo Tom bị dẫn giải ra khỏi phòng xử, Atticus nói với theo Tom là ông sẽ kháng án, trước ánh mắt oán hận và tuyệt vọng của Tom. Biết trước sau gì cũng chết, Tom vượt ngục, nhưng bị bắn chết.

“To Kill a Mockingbird” ra đời đúng lúc phong trào đòi quyền công dân của người da đen lên cao vào thập niên 1960, bị các chính quyền địa phương ở miền Nam đối phó bằng bạo động, mặc dù phong trào được chính phủ liên bang công nhận và hỗ trợ. Độc giả da đen thấy họ phản ảnh trong “Mockingbird.” Độc giả da trắng vẫn hỗ trợ phong trào đòi quyền công dân, dù thầm lặng, nhìn thấy nơi luật sư Atticus Finch hình ảnh của họ. Giới trẻ trong khi theo giõi bộ ba Scout-Jem-Dill và chia sẻ những tràng cười với các nhân vật trước các trò chơi trẻ con ngây thơ, để rồi bị cuốn hút vào chuyện người lớn lúc nào không hay, như Scout, Jem và Dill. Có lẽ đó là một trong những lý do “Mockingbird” được đón nhận nồng nhiệt vì đã ra đời đúng lúc, mặc dù tác giả của nó không hề có dự tính đó.

Cũng như Margaret Mitchell, sự thành công bất ngờ của “Mockingbird” đã làm Nelle đi từ ngạc nhiên, tới choáng ngợp – choáng ngợp vì danh vọng chợt đến trong khi bà, vốn bản chất khiêm tốn và riêng tư, không hề chuẩn bị tinh thần vì vốn không tin là cuốn truyện về đời sống tại một tỉnh lẻ và những mảnh đời bình thường lại có thể trở thành ăn khách như thế.

“Tôi không hề mong đợi bất cứ một thành công nào với ‘Mockingbird.’ Tôi đã hy vọng sẽ lãnh một cái chết nhanh chóng và nhân từ từ tay các nhà phê bình, song đồng thời tôi cũng hy vọng ai đó sẽ thích [cuốn sách] vừa đủ để khuyến khích tôi,” Nelle trả lời cuộc phỏng vấn vào năm 1964 với Roy Newtquist, cuộc phỏng vấn cuối cùng mà sau đó bà đã từ chối không trả lời bất cứ câu hỏi gì liên quan tới “Mockingbird” nữa. “Tôi chỉ hy vọng một chút thôi, như tôi đã nói, song tôi đã nhận được quá nhiều, và trên một khía cạnh nào đó, điều này cũng hãi hùng như cái chết nhanh chóng và nhân từ mà tôi đã chờ đợi vậy.”

Ngay sau khi “Mockingbird” trở thành một hiện tượng văn học, nhà xuất bản Lippincott đã bắt đầu hỏi bà cuốn sách kế tới đâu rồi, vì không muốn bị mất cái đà mà “Mockingbird” đem lại. Phần bận rộn với việc quảng cáo cho cả sách lẫn phim suốt ba năm sau khi cuốn sách ra đời, phần khác có thể là do thận trọng vì biết từ đây tác phẩm nào dưới tên Harper Lee cũng sẽ không tránh khỏi bị đo bằng cái thước “Mockingbird,” Nelle lần lữa, khất lần. Một, hai, rồi ba năm trôi qua.

Và kể từ sau cuộc phỏng vấn với Roy Newtquist vào năm 1964, thì bà rút vào im lặng, mặc thiên hạ đoán già đoán non lý do tại sao bà ngưng hẳn sáng tác, kể cả không lên tiếng khi có người nêu lên giả thuyết là có thể Truman Capote là người giúp bà viết “Mockingbird.” Bà không lên tiếng cải chính, mà Truman thì lấp lửng trong chuyện này. Là một người có tính kiêu ngạo và khoe khoang, Truman vẫn cay cú với người bạn từ ấu thời ở chỗ mặc dù cũng là sách bán chạy nhất, nhưng “In Cold Blood” đã không nhận được những danh dự như của “Mockingbird,” nhất là đã không được giải Pulitzer danh giá. Tình bạn của họ do đấy cũng bị sứt mẻ dần, cộng thêm với những tuyên bố này khác của Truman về lý do tại sao Nelle không sáng tác được nữa. Và hai người bạn từ thuở ấu thời, đã từng giúp đỡ nương tựa lẫn nhau trên bước đường văn học, hầu như không gặp nhau nhiều năm trước khi Truman qua đời vì rượu chè và bệnh hoạn, vào năm 1984.

Theo Charles J. Shields, tác giả cuốn “Mockingbird – A Portrait of Harper Lee” (2006) — kết quả của một cuộc sưu tầm khá công phu, với 600 cuộc phỏng vấn những người quen biết Nelle trừ… Nelle, vì bà từ chối thư xin phép phỏng vấn của ông — thì vào giữa thập niên 1980, Nelle cũng bắt đầu sưu tập tài liệu cho một dự án tiểu thuyết thuộc loại như In Cold Blood. Cuốn sách, đã có tựa là “The Reverend,” dự định khai thác một vụ án có thật liên quan đến một mục sư bị kết án giết năm người trong đó có vợ ông để lĩnh tiền bảo hiểm nhân thọ, và lần cuối cùng thì viên luật sư vẫn biện hộ cho ông từ chối không biện hộ cho ông ta nữa vì nghi có điều mờ ám. Song ông luật sư này lại nhận biện hộ cho người đàn ông (thân nhân của một trong những nạn nhân của ông mục sư) đã bắn chết ông mục sư này ngay trong nhà thờ trước 300 nhân chứng vì bấy lâu ông ta tin chính ông mục sư đã giết người thân của ông ta. Shields đã viết về dự án sách không thành này dựa vào cuộc phỏng vấn với chính viên luật sư trong cuộc, Tom Radney, là người đã đưa tòan bộ hồ sơ vụ án cho Nelle mượn để nghiên cứu.

Năm ngoái, một cuốn sách khác đặt trọng tâm vào cuốn tiểu thuyết bỏ dở chừng “The Reverend” này, tựa là “Furious Hours – Murder, Fraud, and the Last Trial of Harper Lee,” của nữ ký giả chuyên về điều tra Casey Cep, do nhà xuất bản Alfred A. Knopf ấn hành, 2019. Dựa vào vô số tài liệu, hình ảnh thâu thập được và phỏng vấn những người liên hệ, Cep mô tả rất chi tiết hành trình thu thập tài liệu của bà Lee về các vụ án liên quan đến viên mục sư nhân vật chính, và nguyên nhân tại sao bà đã không hoàn tất cuốn truyện.

Ngoài hai cuốn sách trên của Shields và Cep, một cuốn khác cũng cho thấy thắc mắc lớn của nhiều người về sự im lặng của tác giả “Mockingbird,” đó là cuốn “The Mockingbird Next Door: Life with Harper Lee,” của nữ ký giả Marja Mills, xuất bản năm 2014. Với sự đồng ý của hai chị em bà Lee, Mills dọn đến căn nhà bên cạnh nhà của chị em bà Lee và ở đó suốt một năm, lý do là để dưỡng bệnh, và qua lại bầu bạn với hai bà già Alice và Nelle, và được hai chị em chia sẻ nhiều kỷ niệm. Nhưng khi cuốn “The Mockingbird Next Door” ra đời, bà Lee không bằng lòng, công khai tuyên bố là bà không hề tham dự vào hay cho phép sự hình thành của cuốn sách của Mills.

Dù vậy, thỉnh thoảng, đó đây, tác giả “Mockingbird” cũng hé lộ cho biết tại sao bà ngưng sáng tác. Câu trả lời mà tôi thích nhất, đó là khi một người em họ hỏi bà khi nào thì bà sẽ cho xuất bản cuốn sách kế, và bà đã trả lời: “Richard, khi cậu đã lên tới tột đỉnh thì chỉ còn có một con đường đi thôi.” (“Richard, when you’re at the top, there’s only one way to go.”)

Ngưng không sáng tác nữa là một việc Nelle chắc đã phải phấn đấu không ngừng để tự hoà giải đồng thời tìm sự an bình cần thiết cho tâm hồn. Bởi vì bà rất yêu viết văn. Trong cuộc phỏng vấn năm 1964 với Roy Newtquist, bà tâm sự: “Tôi thích viết. Đôi khi tôi sợ là tôi thích nó quá đi vì thường khi tôi bắt đầu tôi không muốn ngừng. Do đấy mà tôi có thể viết ngày này qua ngày khác không ra khỏi nhà hay nơi nào đó mà tôi đang ngồi viết. Tôi sẽ chỉ ra khỏi nhà vừa đủ thời giờ mua giấy và ít đồ ăn và chỉ có vậy. Cũng lạ, thay vì ghét viết [như nhiều văn sĩ một khi trở thành chuyên nghiệp] tôi lại yêu nó quá sức.”

Harper Lee sống với người chị, Alice, một luật sư ngoài lớn tuổi song vẫn còn sáng suốt và quản trị việc sổ sách giấy tờ cho em gái, mỗi khi bà về Monroeville, Alabama vào mùa đông. Ngoài ra, bà giữ một căn chung cư ở New York để đi về. Cả hai chị em cùng độc thân. Alice qua đời vào cuối năm 2014, ở tuổi 103, hơn một năm trước sự ra đi của em gái, ở tuổi 90.

Hiện có tới 75% trường trung học công lập dùng “Mockingbird” trong chương trình giảng dậy. Hàng năm cuốn truyện 300 trang này vẫn bán ra cả triệu ấn bản. Nhiều người đã phân tích những lý do đưa tới sự thành công của “Mockingbird.” Ngoài giá trị văn chương và chủ đề xung đột chủng tộc — một đỉểm nhức nhối của nước Mỹ, kể cả lúc này, giữa năm 2020 sau cái chết vào tay bạo lực của cảnh sát của người đàn ông da đen George Floyd và nhiều người trước đó — cuốn tiểu thuyết còn dậy cho các thế hệ trẻ tại Mỹ lòng bao dung và khả năng đồng cảm.

Và bài học ấy được gói trọn trong câu nói của vị luật sư nhân vật chính, Atticus Finch, qua diễn viên Gregory Peck — biết khó thắng nhưng vẫn đứng ra biện hộ hết mình cho kẻ bị hàm oan — trong một cuộc trao đổi với con gái, Scout: “Con sẽ không bao giờ thực sự hiểu thấu một người cho tới khi nào con nhìn mọi sự qua nhãn quan của người đó… Tới khi nào con lẩn được vào bên dưới làn da của người đó và đi đó đây trong làn da đó.” (“You never really understand a person until you consider things from his point of view… Until you climb inside of his skin and walk around in it.”)

Trùng Dương
[02/2012, 06/2020]

[Bài này có tựa là “Nhà văn một-tác-phẩm: Margarette Mitchell và Harper Lee” khi phổ biến lần đầu vào năm 2012.]

Chú thích:

(*) Theo bản tin Associated Press ngày 10 tháng 6, 2020, thì hãng HBO Max vừa tạm thời gỡ phim “Gone With the Wind” xuống khỏi thư viện phim của hãng để thêm bối cảnh lịch sử vào cuốn phim thực hiện 84 năm về trước và lâu nay vẫn bị chỉ trích là đã thơ mộng hóa thể chế nô lệ và đời sống của miền Nam thời Nội chiến. Quyết định gỡ phim xuống được đưa ra sau những cuộc biểu tình liên tiếp tại các thành phố ở Mỹ và nhiều nước khác nhằm chống bạo lực của cảnh sát và kỳ thị chủng tộc sau cái chết thảm của người đàn ông da den George Floyd dưới đầu gối của viên cảnh sát da trắng ở Minneapolis ngày 25 tháng 5, 2020. “Những mô tả đầy kỳ thị chủng tộc hồi ấy và cả bây giờ là sai lầm, và chúng tôi cảm thấy tiếp tục chiếu phim này mà không có kèm theo một lời giải thích và phản đối những mô tả đó nói lên tinh thần vô trách nhiệm,” phát ngôn viên của HBO Max tuyên bố qua một bản thông cáo.

(**) Thực ra thì sau khi nạp bản thảo đầu cho nhà xuất bản, Harper Lee được đề nghị viết lại dưới cái nhìn của một cô bé, và bản viết lại này trở thành cuốn sách bán chạy nhất, “To Kill A Mockingbird.” Thay vì hủy bỏ bản thảo đầu, bà Lee cất giữ rồi có lẽ quên. Khi bà trở thành mất trí và sống trong một viện dưỡng lão, luật sư coi tài sản cho bà tìm thấy bản thảo này. Do chỗ biết độc giả vẫn khao khát đọc thêm sách của tác già “Mockingbird,” nên cho xuất bản dưới tựa “Go Set a Watchman,” quảng cáo là sequel, song thực ra là prequel của “Mockingbird.” Cuốn sách không mấy được đón nhận, nếu không nói là đã làm nhiều người thất vọng. Xem thêm về trường hợp ra đời của cuốn “Go Set a Watchman,” tại https://damau.org/36121/mot-cuon-sach-chua-xuat-ban-nhung-da-gay-song-gio-tren-van-dan-my-du-luan-tac-gia-harper-lee-88-tuoi-bi-luat-su-khai-thac

(***) Về hoàn cảnh sáng tác “In Cold Blood,” mời đọc bản dịch bài phỏng vấn tác giả Truman Capot: “George Plimpton: Câu Chuyện Đằng Sau Một Cuốn Phóng Sự Tiểu Thuyết,” https://hopluu.net/a444/george-plimpton-cau-chuyen-dang-sau-mot-cuon-phong-su-tieu-thuyet

“Văn Hóa Không Tên” tạo nên linh hồn của Sài Gòn xưa. Hồi ức Văn Quang


Văn Quang

Buổi sáng thứ sáu tuần vừa qua, tôi được một ông bạn điện thoại đến rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral nằm trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó ở Sài Gòn này, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt. Mỗi lần đi ngang qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia của chúng tôi. Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy cái gọi là “trại cải tạo”. Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn còn ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bị tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Gival đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hỏa thiêu, không bao giờ gặp lại.

Đường Tự Do.

Ông bạn thấy tôi khựng lại, bèn giải thích: “Nó mở lại Givral hôm qua (10-10-2012) ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.” Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay. Dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhớ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy. Nói đến Gival là nhớ đến La Pagode, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này. Đây là một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking”, tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi – Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường. Givral, La Pagode, Brodard đã trở thành một cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn.

Sau năm 1975, Givral vẫn còn sống sót cho đến khi khu này bị “giải tỏa”, nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ”.

Givral ngày ấy bây giờ

Trong khi ông bạn tôi tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Gival mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi – Đồng Khởi, mấy cái cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng Givral nằm trong thương xá Edencó thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong. Điếu đáng tiếc nhất là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.

Chúng tôi bước vào nhà hàng với một vẻ lạ lẫm. Những chiếc bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang dáng vẻ sang trọng như bất cứ một nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở những thành phố lớn. Khoảng 9 giờ sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai. Cái không khí ấy khiến tôi không thể quên những ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai. Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy ông dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa đang say sưa bàn về những “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp… Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là cái linh hồn của Givral trước 1975. Bây giờ không tìm lại được nữa.

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là Givral nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Carvelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard. Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau.. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi. Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó. Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress. Còn Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây. Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này. Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi! Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn. Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam

Không thể tìm lại dĩ vãng

Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn thông tin đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa thành phố Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên Việt Nam. Nó sẽ chỉ còn thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua thành phố này. Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.

Văn Quang

30/04/1975 Nhìn Lại. Hồi ký Michael Bùi


Michael Bùi

Thế là đã 45 năm trôi qua. Còn nhớ trưa ngày 30/4/1975 dưới bầu trời u ám như muốn đổ lệ, tôi đứng ngay cổng xe lửa số 6 trên đường Trương Minh Giảng – Phú Nhuận.

Lúc đó lính Cộng Hòa đã trút bỏ quần áo đi bộ từng đoàn thất thểu, Súng Ống – Ba Lô – Quân Phục họ vất đầy lề đường. Xe Tank và các binh đoàn Motolova của CS đã tràn vào Thủ Đô Sài Gòn, chạy rầm rầm hướng về Bộ Tổng Tham Mưu. Chung quanh ai cũng hốt hoảng lo tìm đường chạy về nhà, giờ này đi di tản kể như đã quá trễ.

Lâu lâu lại thấy một vài đứa khốn nạn Cách Mạng 30/4 đeo băng đỏ ngồi trên xe Jeep cầm súng chĩa lên trời, chúng bắn từng tràng đạn chào mừng ngày Giải Phóng. Rồi nghe Radio đâu đó vọng lại bản “Nối Vòng Tay Lớn” do tên nằm vùng Trịnh Công Sơn dẫn Việt Cộng vào tiếp quản Đài Phát Thanh Sài Gòn.

Nhìn Miền Nam trong giờ phút lâm chung mà uất hận thay cho một chính thể Tự Do – Công Bình – Bác Ái đang bị bức tử quá tức tưởi…

30/4 là ngày vui của nhân loại vì ngày ấy Adolf Hitler và Eva Braun đã phải tự sát khi quân đội Đồng Minh đang tiến vào Thủ Đô Berlin chấm dứt thế chiến thứ 2 tại Âu Châu, nhưng 30/4 cũng lại là ngày đau buồn cho cả dân tộc Việt đến mãi ngàn sau.

Sau ngày 30/4 vào khoảng tháng 5 – 6 khi có chiến dịch “Bài Trừ Văn Hóa Đồi Trụy Mỹ Ngụy”

Có một vụ chấn động SG là vụ nổ ở 1 tiệm cho mướn Sách cũ. Chủ tiệm lùa hết bọn đeo băng đỏ vào trong rồi mở kíp lựu đạn tự sát cho dính trùm. Nghe đâu chết vài mống Cách Mạng 30/4 kể cả ông chủ. Tiệm này nằm trong Phường 10 – Quận Phú Nhuận (chung Phường với nhà mình bên đường Thiệu Trị – Nguyễn Huỳnh Đức).

Một vụ khác nữa là vào khoảng năm 1976, có một gia đình bên khu đường Rầy Xe Lửa hướng đi ra Cống Bà Xếp. Gia đình này có 2 vợ chồng và 8 đứa con. Vì căm phẩn chế độ CS, họ đã tìm ra đường thoát. Hôm đó họ nấu một nồi cháo Vịt , bỏ thuốc giết Chuột vô, cả nhà cùng ăn chung bữa cuối rồi nắm tay nhau cùng chết.. Khi họ khiêng xác từng người ra mà thấy kinh hoàng cũng vì cái họa CS, vụ này gây chấn động vùng Phú Nhuận một thời.

Còn tiệm cho mướn Sách kia, ông chủ cũng tìm đường thoát vì uất ức. Nằm gần trường TH St.Thomas & Nhà Thờ 3 Chuông, tiệm chuyên cho mướn sách được giới HS ưa chuộng vì..rẻ.

Mướn ngày hình như thời đó có 5-10$/ngày tiền VNCH (giá vé ciné 200-300$; đóng giầy Sapot khoảng 1,000$ mấy, may quần tây ống loe vải xịn Gabardine khoảng 6-7,000$, xe Honda Dame 50cc – 100,000$)

Tiệm cho mướn thượng vàng hạ cám từ chưởng, kiếm hiệp Lệnh Hồ Xung, Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, qua trinh thám Z-28- Dr. No, Bố Già..v…v…

Tới tiểu thuyết Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca , Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Thị Hoàng, Nhật Tiến..v…v…

Đến Tuổi Hoa: Xanh, Đỏ, Tím,..kể cả báo Thiếu Nhi, Yết Kiêu, Ngàn Thông, hay truyện tranh Chú Thòong, Con Quỷ 1 Giò, Lucky Luke, Lữ Hân Phi Lục, Xì Trum ..v…v… cho HS nghèo ghiền đọc truyện – đọc báo.

Mướn ngày họ ghi ngay sau bìa, đến ngày trả thì họ nhìn vào ngày mướn mà thâu tiền. Vì hết đường sống nên ông chủ ấy cũng đã tìm đến cái chết bi thảm như vậy.

Lệnh tịch thu cấm Sách Báo Miền Nam đã được đọc vào ngày 1 tháng 5,1975 bởi Ủy Ban Quân Quản nên bắt đầu qua tháng 5, họ đã đi lùng kiếm gõ cửa từng nhà. Bắt phải nộp lên Phường tất cả những Sách Báo của chế độ cũ.

Riêng về Tòa Soạn Báo Thiếu thì bị đánh làm 2 đợt:

Đợt 1:

Vào một buổi sáng “Khăn Quàng Đỏ” ập vào, bà cụ mình cuống cuồng gọi phone cho nhà văn Minh Quân cầu cứu, sau đó nhà văn Minh Quân có gọi cho nhà văn Sơn Nam nhờ giữ lại những Sách Báo trong sáng, vì đây là Tòa Soạn Báo Thiếu Nhi vốn là Báo lành mạnh của tuổi trẻ, lúc đó nhà văn Sơn Nam rất có uy tín với chế độ mới vì là thứ nằm vùng.

Hắn trả lời: “Sách Báo nhà Nhật Tiến thì toàn đồ phản động chứ gì”, và ông ta không chịu giúp.

Thế lá các bé Thiếu Nhi “Khăn Quàng Đỏ” vô tư tịch thu lấy tất cả Sách Báo ngoài phòng khách, từng là Thư Viện của Tòa Soạn Báo Thiếu Nhi.

Đợt 2:

Một đêm kia sau đó, chúng lại vào nhà cô văn sĩ Lệ Hằng lục soát, vì cổ đã từng bị lục rồi, nên cô ta mới tức mình phản đối:

-Nhà tôi thấm gì mà lục hoài, nhà ông Nhật Tiến mới nhiều kìa.

Thế là chúng lại ùa đến Tòa Soạn Báo Thiếu Nhi (tư gia của nhà văn Nhật Tiến), ngay trong đêm đó, chúng xộc tuốt vào nhiều buồng trong là những phòng làm việc của các bác, các chú trong Ban Biên Tập, chứa toàn Sách nghiên cứu và Tự Điển, thấy thế bà cụ mình phản đối:

-Đây không phải “Sách Báo phản động” mà là Sách học làm người của các tác giả danh tiếng như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần…v..v…và Tự Điển kiến thức để làm báo.

Chúng gân cổ cãi:

– “Học làm người Ngụy”, không phải học làm người Cách Mạng, Tự Điển là Sách của đế quốc Mỹ, đem đi đốt hết.

Thế là chúng xông vào hốt sạch lần 2

Sau này những bộ “Encyclopaedia Britannica” có đóng dấu “Thư Viện Thiếu Nhi” được bầy bán tại những quầy sách cũ ngoài đường …

Nhìn lại dĩ vãng ở những tháng ngày đen tối nhất của Miền Nam mà thấy ngậm ngùi..

Michael Bùi
Apr 25th,2020


Người Kéo Màn của Nhật Tiến, một hiện tượng văn học


Liễu Trương
Tiến sĩ Văn học đối chiếu, Đại học Paris III, Sorbonne Nouvelle.

Nhật Tiến là một nhà văn cầm bút rất sớm. Năm 1951, mới 15 tuổi ông đã viết một truyện ngắn được đăng trên báo Giang Sơn, truyện Chiếc nhẫn mặt ngọc. Năm 1954, khi di cư vào Nam, ông sống ở Đà Lạt và viết kịch cho Đài phát thanh Ngự Lâm Quân. Về sau sống ở Sài Gòn, thỉnh thoảng ông cũng sáng tác kịch, ông có những vở kịch mang tên: Cơn Giông, Bên Bờ Vực, Ngọn Cờ Núi Lam. Nhật Tiến giải thích sở dĩ ông sáng tác kịch là vì theo thói quen của thời ông còn là một hướng đạo sinh – ông đã từng là một tráng sinh, tráng đoàn phó Tráng Đoàn Bạch Đằng – quanh một lửa trại đêm, hướng đạo sinh thường trình diễn văn nghệ, đóng kịch vui chơi, và từ đấy Nhật Tiến có sở thích viết kịch. Nhưng sáng tạo của Nhật Tiến không chỉ ở trong lĩnh vực kịch nghệ. Trước 1975, ông đã có khoảng 9 truyện dài mà truyện đầu tay là Những Người Áo Trắng (1959), 2 tập truyện ngắn, 3 tập truyện thiếu nhi và những văn bản thuộc những thể loại khác: nhật ký, bút ký…

Năm 1962, khi tác phẩm Người Kéo Màn của Nhật Tiến ra mắt độc giả, không ít người bỡ ngỡ trước một hình thức lạ lùng, chưa từng thấy, mà tác giả gọi là tiểu thuyết kịch. Cho nên nếu có những phản ứng đây đó thì không có gì đáng ngạc nhiên.

I Phản ứng về tác phẩm Người Kéo Màn

Theo Nhật Tiến, kịch tác gia lão thành Vi Huyền Đắc, người đã có công đặt nền móng cho môn thoại kịch, khuyên Nhật Tiến nên gọi tác phẩm Người Kéo Màn là một tiểu thuyết đối thoại. Nhưng tiểu thuyết nào mà chẳng có đối thoại?

Và trong khi các nhà văn như Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Bùi Đình… tiếp nhận tác phẩm Người Kéo Màn với một thái độ tán thành, thì phía đại học, giáo sư Nguyễn Văn Trung tỏ ý ngờ vực hình thức mới này. Trong cuốn Lược Khảo Văn Học, tập II, chương Ngôn ngữ kịch, ông Nguyễn Văn Trung, sau khi nhắc đến cuộc tranh luận ở Tây phương về vấn đề: kịch là văn chương hay trình diễn? Và sau khi phân tích những yếu tố tạo nên kịch, đưa ra 2 điểm:

1/ Kịch là một bộ môn nghệ thuật được thực hiện bằng trình diễn và trình diễn do nhiều người đảm nhận.
2/ Kịch thiết yếu đòi hỏi một quần chúng xem kịch.

Vậy kịch là một bộ môn nghệ thuật cần có một tập thể để diễn xuất và một tập thể để thưởng thức. Nói chung, phải có tập thể thì mới có kịch. Điều này không ai phủ nhận.

Theo Nguyễn Văn Trung, đặt vấn đề: kịch là văn chương hay trình diễn không thể đưa đến những giải đáp ổn thỏa vì cuộc tranh luận trở thành tranh luận về vai trò của tác giả kịch hay vai trò của nhà dàn cảnh. Cho tác giả một vai trò chủ yếu hay cho nhà dàn cảnh một vai trò chủ yếu, không bên nào hoàn toàn sai cả, vậy không đi đến đâu, vì đặt vấn đề như thế là trong ý thức hệ cá nhân. Phải đặt vấn đề trong một tinh thần khác : tinh thần tập thể. Nếu tất cả (tác giả, nhà dàn cảnh, diễn viên…) đều coi đó là công trình tập thể (…) trong một tinh thần trách nhiệm chung và với một ý định phục vụ quần chúng, nghệ thuật, thì không còn vấn đề ai trọng ai khinh nữa.

Thiển nghĩ vấn đề tranh luận ở Tây phương, tức vấn đề kịch là văn chương hay trình diễn, đơn giản là vấn đề định nghĩa bộ môn kịch. Người ta đặt câu hỏi: kịch là để đọc (văn chương) hay để xem (trình diễn), chứ không phải tách rời sự trình diễn để đặt ra vấn đề cá nhân hay tập thể, trọng hay khinh một cá nhân (tác giả hay nhà dàn cảnh), không phải vấn đề ý thức hệ cá nhân.

Sau khi phân tích kịch truyền thanh, truyền hình và nhắc đến truyện phim mà có người gọi là tiểu thuyết phim, ông Nguyễn văn Trung bàn đến Người Kéo Màn của Nhật Tiến. Ông đoán khi Nhật Tiến viết tác phẩm này chắc Nhật Tiến không biết đến cuộc tranh luận trên, nhưng một cách vô tình Nhật Tiến đã coi kịch là một thứ văn chương để đọc, là một thứ tiểu thuyết được bổ sung bằng một vài đặc điểm của kịch. (tr. 134)

Trong một lá thư trả lời của Nhật Tiến mà ông Nguyễn Văn Trung cho đăng, tiếp theo lời bình luận trên, Nhật Tiến giải thích vì sao đã dùng một hình thức gồm 3 kỹ thuật: tiểu thuyết, kịch và điện ảnh. Đại khái Nhật Tiến muốn dùng ưu điểm của ba bộ môn: tiểu thuyết cho phép miêu tả, trình bày tâm lý nhân vật và đi vào nội tâm, kịch với những đối thoại làm cho cốt truyện có tính linh động, và kỹ thuật điện ảnh cho thấy liên tiếp những hình ảnh mới.

Nhưng giải thích của Nhật Tiến không thuyết phục được ông Nguyễn Văn Trung, ông cho rằng không thể vượt qua ranh giới giữa tiểu thuyết và kịch, nếu xóa đi ranh giới thì các bộ môn sẽ mất đi đặc tính của chúng.

Lập trường của tác giả và người phê bình là thế, đã đến lúc chúng ta đi vào tác phẩm Người Kéo Màn, tác phẩm kể chuyện gì? Và như thế nào?

II Nội dung Người Kéo Màn

Cần nói ngay Người Kéo Màn không phải là một vở kịch đúng theo nghĩa của nó, tức có thể được trình diễn trên sân khấu, cũng không hẳn là một tiểu thuyết mà độc giả có thể đọc trong một tinh thần thư thái, vì ở đây trí tưởng tượng của độc giả bị dồn dập thúc đẩy, phải theo dõi một không gian luôn biến đổi.

Tác giả Nhật Tiến dẫn độc giả vào cái thế giới của kịch nghệ, đằng sau sân khấu với đủ hạng người vội vàng, căng thẳng. Để hiểu nghệ thuật viết của Nhật Tiến, chúng ta cần theo dõi những tình tiết trong truyện.

Truyện khởi đầu bằng một ngoại cảnh: trước cửa hí viện, khán giả bắt đầu tụ tập, một đứa bé tàn tật đang ăn xin, nó ngơ ngác nhìn quang cảnh. Bỗng có tiếng một người đàn bà đang tìm nó, gọi nó là Cưng, bà ta chửi bới, đánh đập nó vì nó không xin được tiền. Gần hí viện, trong một công viên, có một cặp vợ chồng, người vợ được gọi là thiếu phụ áo đỏ, người chồng là tác giả vở kịch sắp được trình diễn trong hí viện. Tác giả ở trong một tâm trạng bứt rứt, dằn vặt, không hài lòng về đoạn kết của vở kịch, và hối tiếc đã giao vở kịch cho người ta trình diễn. Người vợ trái lại rất mãn nguyện về cách diễn tiến của sự việc, và trách chồng là không bao giờ vừa ý, bà ta hoàn toàn không hiểu được chồng, cuối cùng bà ta thổ lộ rằng nhờ bà ta mà vở kịch mới tiến hành tốt đẹp như thế. Người chồng đâm nghi ngờ vợ đã có gì với «nó» để «nó» bỏ tiền ra thực hiện vở kịch. Cuộc cãi cọ mỗi lúc một găng, rồi người chồng bỏ đi, không thèm vào hí viện xem trình diễn vở kịch của mình.

Bên trong hí viện, ở hậu trường những nhân vật chính xuất hiện từng cặp: ông lão kéo màn, mặt mày hốc hác, sặc sụa mùi rượu, và thằng bé bóp nắm xôi trong bàn tay cáu bẩn của nó. Ông lão nói cho thằng bé biết bố nó đã bỏ gánh hát, mẹ nó đẻ nó xong cũng chuồn đi, bỏ nó lại cho ông. Cặp thứ hai là diễn viên đóng vai Nga và diễn viên đóng vai Nghĩa. Người nữ diễn viên tỏ vẻ lo lắng vì đây là lần đầu tiên cô diễn kịch, người nam diễn viên trấn an cô. Cặp thứ ba là nhà Đạo diễn và nhà Mạnh Thường Quân. Nhà Đạo diễn chỉ trích cặp diễn viên khi họ đang diễn thử một mẩu đối thoại, ông ta không vừa ý, bỏ đi và tự hỏi tại sao mình phải quỵ lụy lão Mạnh Thường Quân. Nhà Mạnh Thường Quân hút xì gà, la rầy, ra lệnh cho người này người nọ, tập đọc bài diễn văn và từ chối gặp người thiếu phụ áo đỏ vì bận.

Ở ngoại cảnh, trong một quán rượu, hắn, tức tác giả, uống nhiều rượu, say khướt, lẫn lộn thực với ảo. Thấy một ca sĩ lên hát được nhiều người vỗ tay, hắn tưởng mình đang ở trong hí viện, và vở kịch của hắn đang được khán giả vỗ tay, hắn bèn loạng choạng bước lên bục gỗ để nói đôi lời với khán giả, nhưng liền bị tống ra khỏi quán. Hắn leo lên một chiếc xích lô.

Trở lại hậu trường để thấy sự căng thẳng giữa nhà Đạo diễn và nhà Mạnh Thường Quân. Đạo diễn không bằng lòng diễn viên nam đã quên mấy câu của kịch bản. Mạnh Thường Quân trái lại nhận thấy điều đó không quan trọng. Mạnh Thường Quân càng tỏ vẻ dễ dãi chừng nào thì Đạo diễn càng khó tính chừng đó và cứ dựa vào cái mẫu của các nhà đạo diễn ngoại quốc. Đạo diễn lại không bằng lòng nữ diễn viên trong khi Mạnh Thường Quân khen nịnh diễn viên này vì có hậu ý.

Ở ngoại cảnh, người phu xích lô đưa tác giả đến một nhà chứa, tác giả đã tỉnh rượu, gặp bà chủ chứa, bà này cho hay tác giả đã có một đứa con với một phụ nữ tên Hằng, Hằng đã đem cho người ta đứa con tên Nguyễn Văn Cưng. Tác giả bị thằng bé ám ảnh, cảm thấy đau xót.

Trong hậu trường, nữ diễn viên Nga độc thoại, cô nhớ lại sự cãi vã với người yêu, anh chàng thổi kèn clarinette, anh này tuy là một nghệ sĩ nhưng không muốn cô đi vào con đường văn nghệ. Cô tự nhủ sẽ làm lành với anh ta. Nhà Mạnh Thường Quân tiếp tục đeo đuổi cô, nhưng cô tỏ ra lạnh nhạt. Nhà Đạo diễn cho nhà Mạnh Thường Quân biết khán giả đòi tác giả ra trình diện, nếu không có tác giả thì Mạnh Thường Quân phải đại diện tác giả, hai bên trút cho nhau cái phận sự làm đại diện. Nhà Đạo diễn hậm hực bỏ đi, khi đi ngang qua phòng xép tình cờ nghe diễn viên đóng vai Nghĩa tình tự với diễn viên đóng vai tình nhân của cha của Nghĩa, và nghe hai người chê đạo diễn là ngu, chê diễn viên đóng vai Nga diễn xuất dở.

Ở chỗ cánh gà, đứa bé khoe với lão kéo màn nó có nhặt được cái bóp ở phòng hóa trang, nó đề nghị lão lấy số tiền trong bóp, lão từ chối và bảo thằng bé đem trả lại cái bóp.

Ở phía cánh gà bên phải có chuyện rắc rối: người nhận cho mướn một đứa bé không thấy đến, thiếu đứa bé vở kịch không thể được tiếp tục trình diễn. Nhà Đạo diễn và nhà Mạnh Thường Quân lại một dịp cãi nhau, người nào cũng từ chối trách nhiệm về chuyện này. Đạo diễn có vẻ khinh thường Mạnh Thường Quân, cho rằng ông ta chỉ biết đồng tiền, Mạnh Thường Quân chế nhạo Đạo diễn chỉ biết mơ tưởng đến ngoại quốc. Cuối cùng chính một người lao công có sáng kiến mướn đứa trẻ của cặp vợ chồng ở nhà dưới. Nhưng việc mướn đứa bé không dễ, vì người vợ không chịu cho mướn, người chồng thì ham tiền bằng lòng ngay, vợ chồng cãi nhau dữ dội và đi đến cảnh xô xát.

Trong hậu trường tác giả xuất hiện, gặp lão kéo màn và đứa bé, tác giả mời lão kéo màn cùng uống rượu với mình và cho đứa bé gói thuốc đang hút dở.

Trong khi trên sân khấu hai nhân vật Nga Nghĩa đang dùng dằng vì đứa con, cuối cùng đôi bên làm lành, và đứa bé có được người cha, thì trong hậu trường có sự trao đổi giữa đạo diễn và tác giả. Đạo diễn lý tưởng hóa vai trò của tác giả, cho rằng chuyện đứa con trên sân khấu là một vấn đề xã hội mà tác giả vì thiên chức của mình đã đem ra trình bày với khán giả. Tác giả thì phủ nhận điều đó, nói rằng không phải viết cái gì ra thì tôn trọng cái đó, và tố cáo những người cầm bút để viết những cái giả dối. Rồi tác giả đưa ra quan niệm của mình về một tác phẩm lớn. Hai bên không hiểu nhau, đạo diễn tức giận bỏ đi.

Tác giả vẫn ở trong hậu trường, đối thoại với lão kéo màn về chuyện trong kịch. Lão kéo màn nhìn nhận kịch với ngoài đời khác nhau, tác giả liền khen lão nhận xét đúng. Lão kéo màn khen tác giả viết hay nếu không tại sao thiên hạ lại vỗ tay, tác giả bật lên tiếng cười. Mạnh Thường Quân chạy vào la lên kịch đang hồi bi thảm sao lại phát ra tiếng cười. Tác giả và Mạnh Thường Quân cãi nhau. Mạnh Thường Quân tự xưng mình là người hiểu biết văn nghệ, nếu không sao lại bỏ tiền ra… và ông ta lo tác giả biết chuyện của mình với thiếu phụ áo đỏ. Tác giả lại rú lên cười khiến khán giả cũng cười lây. Mạnh Thường Quân chụp micro để xin lỗi vì có một tên điên.

Trên sân khấu vở kịch đến phần kết thúc, hai nhân vật Nga và Nghĩa làm hòa, bế đứa con ra giữa sân khấu, đứa bé vụt khóc khiến nhiều người cảm động lau nước mắt. Khi khán giả ra về, Hằng ở hàng ghế cuối khóc, không còn oán trách tác giả nữa, muốn đi tìm đứa con tên Cưng, nhưng người bạn bên cạnh khuyên nên đưa giấy khai sinh đứa con cho tác giả để tác giả tự đi tìm nó.

Trong hậu trường diễn viên đóng vai Nga phản đối kịch liệt về việc có người cười ầm trong khi cô ta đang diễn một bi kịch, cô lo lắng cho tương lai nghệ thuật của mình. Mạnh Thường Quân an ủi cô, hứa sẽ dành cho cô một tương lai rực rỡ. Nhưng người nữ diễn viên tỏ ra lạnh lùng và ghê tởm tên Mạnh Thường Quân. Trong khi đó gã thổi kèn clarinette đến tìm cô, nhưng khi trông thấy cô ở trong phòng với Mạnh Thường Quân, gã hiểu lầm và đau khổ bỏ đi.

Ở dưới hầm xảy ra một chuyện bất ngờ giữa người nữ diễn viên đóng vai tình nhân của cha Nghĩa và diễn viên đóng vai Nghĩa, người phụ nữ nhặt được cái bóp mà đứa bé đem trả lại, thấy có hình và khám phá diễn viên đóng vai Nghĩa đã có vợ con và đã nói dối. Người phụ nữ tức giận tột độ và tỏ ra dứt khoát.

Đạo diễn đi tìm Mạnh Thường Quân ở phòng hóa trang nữ, bất ngờ gặp diễn viên đóng vai Nga vừa chạy ra vừa mắng nhiếc thậm tệ Mạnh Thường Quân, gã này xấu hổ, tìm cách vớt vát với Đạo diễn và hứa sẽ bỏ tiền để giúp Đạo diễn dựng một vở kịch lớn. Đạo diễn tỏ ra dửng dưng.

Trong rạp hát, diễn viên đóng vai Nga đi tìm người thổi kèn clarinette, nhưng nhận được mẩu giấy với lời từ biệt của người này.

Trong hậu trường, Hằng đi tìm tác giả, nhưng khi trông thấy người đàn ông say rượu, áo quần xốc xếch, nằm sóng sượt, thì Hằng vỡ mộng nhét cái giấy khai sinh trong túi tác giả và bỏ đi.

Vào phần cuối tác phẩm Người Kéo Màn, tất cả các nhân vật đều biến mất, chỉ còn lại tác giả độc thoại trong hậu trường và sau đó độc diễn trên sân khấu. Hắn khinh bỉ người thiếu phụ áo đỏ và tự khinh mình, tự cảm thấy cô đơn, rồi nghĩ đến mẹ con Hằng. Hắn lại nghĩ đến đoạn kết của vở kịch, nhận thấy không thể trình bày như thế được, vì ngoài đời chuyện đâu có tốt đẹp như trong kịch. Hắn nghĩ bấy lâu vinh quang hắn mơ ước hoặc đạt được toàn là giả dối, và cảm thấy mình đang thay đổi, vì trong thâm tâm hắn vẫn đi tìm sự thật. Hắn ra trước sân khấu, với cái giọng lè nhè vì say rượu, hắn phân trần với khán giả vô hình, rồi ngã nhào xuống. Lão kéo màn khen kịch độc diễn hay.

III Ba kỹ thuật làm rõ nét những con người trong xã hội

Giới kịch nghệ được trình bày trong Người Kéo Màn tượng trưng cho xã hội trong đó có đủ hạng người.

Tác giả Nhật Tiến đã nói, ông dùng ưu điểm của ba kỹ thuật : tiểu thuyết, kịch và điện ảnh, để xây dựng tác phẩm Người Kéo Màn.

Ống kính của máy quay phim đưa độc giả đi từ ngoại cảnh nơi có công viên, quán rượu, nhà chứa vào hậu trường của hí viện có cánh gà, phòng hóa trang, phòng xép, dưới hầm, nhà dưới… để thấy cảnh sinh hoạt của mọi người.

Kỹ thuật tiểu thuyết đưa vào những đoạn miêu tả nơi chốn, như cảnh ngoài đường ban đêm, công viên, hậu trường, miêu tả các nhân vật như gã Mạnh Thường Quân với điếu xì gà và cách cư xử với mọi người, cô gái kiều diễm tặng hoa vì yêu nghệ thuật, thằng bé trong hậu trường hút thuốc như người lớn, v.v… ; kỹ thuật tiểu thuyết cũng cho phép trình bày tâm trạng của nhân vật và đi vào độc thoại nội tâm, như độc thoại nội tâm của diễn viên đóng vai Nga, của thiếu phụ áo đỏ hay của tác giả.

Còn ưu điểm của kịch là đối thoại, đối thoại nêu lên cá tính của mỗi nhân vật, làm sáng tỏ những sự kiện gay cấn, những cuộc xung đột, cãi vã, khiến thế giới kịch trở nên sống động. Đối thoại làm nổi bật những hạng người trong giới kịch nghệ. Nhân vật Mạnh Thường Quân là một con người thời thượng, tự xưng mình là nhà văn nghệ, nhưng thật ra không hiểu biết gì, chỉ dựa vào đồng tiền để lợi dụng, mua chuộc kẻ khác. Nhân vật Đạo diễn luôn luôn bất mãn, coi thường mọi người và chỉ biết hướng về cái mẫu đạo diễn xa xôi ở ngoại quốc. Hai nhân vật Mạnh Thường Quân và Đạo diễn luôn mâu thuẫn nhau, cãi vã nhau, tự tâng bốc mình và hạ thấp địch thủ:

Nhà Đạo diễn: Nhưng tôi xin nói cho ông biết, quan trọng hay không quan trọng là ở những người dưới quyền của đạo diễn với nhiệm vụ mà họ được giao phó. Ông phải biết, đối với những nhà đạo diễn ngoại quốc thì một lệnh là một lệnh!

Nhà Mạnh Thường Quân: Hừ ngoại quốc! Ngoại quốc! Lúc nào ông cũng đem cái ngoại quốc của ông ra hù dọa tôi. Ông phải biết là ông đang ở đâu chứ. Ngày nào cũng húp nước mắm mà cứ tơ tưởng đang uống sâm banh ở Paris.

Nhà Đạo diễn: Nếu ở địa vị ông thì tôi chỉ biết nhắm mắt bỏ tiền ra và thu tiền vào. Như thế sẽ dễ chịu cho ông hơn.

Nhà Mạnh Thường Quân: Vậy ra ý ông muốn ám chỉ rằng tôi không am hiểu gì về văn nghệ hết phải không. Thật tôi chưa hề gặp một ai kiêu căn và thiển cận đến như ông cả.

Trong cái thế giới ồn ào, vô trật tự đó, hiện lên một nhân vật tầm thường, lẫn khuất sau cánh gà, không được người ta chú ý đến, đó là lão kéo màn. Thế nhưng lão kéo màn lại là một nhân vật trụ cột của tác phẩm, lão ở một vị trí thấy được tất cả đám người xôn xao qua lại trong hậu trường, trên sân khấu và cả khán giả trong rạp hát, cả một tấn trò đời diễn ra trước mắt lão, khiến lão trở thành một chứng nhân của thế thái nhân tình. Cuối cùng lão trực diện với tác giả của vở kịch, lão là khán giả duy nhất của một diễn viên duy nhất là tác giả. Lão kéo màn biểu tượng cho lớp khán giả bình dân. Về nghệ thuật xây dựng tác phẩm, nhân vật lão kéo màn làm nên tính nhất quán của cốt truyện.

Như đã nói, những nhân vật trong Người Kéo Màn tượng trưng cho những con người ngoài xã hội, một xã hội được nhìn từ khía cạnh tiêu cực, với kẻ háo danh, háo sắc (Mạnh Thường Quân), kẻ có tự tôn mặc cảm (Đạo diễn), kẻ giả dối ngoại tình (diễn viên đóng vai Nghĩa), kẻ dùng mỹ nhân kế để đạt được cái mình muốn (thiếu phụ áo đỏ), kẻ coi thường phụ nữ và vũ phu (nhân vật người chồng cho thuê đứa con), nhưng xã hội cũng có một khía cạnh lạc quan với kẻ đi tìm sự thật qua sáng tạo văn nghệ (tác giả). Trong cái thế giới đó tình cảm con người có phần bế tắc, giữa người và người thiếu tình đồng nghiệp, tình huynh đệ, và rồi tình vợ chồng, tình yêu nam nữ đều đổ vỡ. Đối thoại cũng làm sáng tỏ một vấn đề hệ trọng trong xã hội, đó là hoàn cảnh của những trẻ thơ bất hạnh như hai đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi, một đứa ở bên ngoài hí viện, tàn tật đi ăn xin và bị hành hạ, đập đánh, đứa kia trong hậu trường được may mắn hơn nhưng tương lai vẫn đen tối.

IV Một chủ đề lớn : sáng tạo của người cầm bút

Tác phẩm Người Kéo Màn thật ra gồm hai vở kịch. Tác phẩm khởi đầu và kết thúc bằng sự hiện diện của tác giả, có thể xem đây là một vở kịch mà chính tác giả là diễn viên, tạm gọi là kịch 1. Vở kịch 2 là vở kịch diễn ra trong hậu trường và trên sân khấu với nhiều nhận vật, tạm gọi là kịch 2. Kịch 2 được lồng vào kịch 1. Kịch 2 của giới kịch nghệ chỉ là cái cớ để đi đến kịch 1 của tác giả, bao gồm quan niệm sáng tạo của người cầm bút. Đi từ kịch 2 đến kịch 1 là đi từ thế giới đa âm đến thế giới độc âm, đi từ sự ồn ào xung quanh một sáng tạo chưa tới đích đến nguồn sáng tạo thật sự.

Ngay từ đầu, độc giả thấy rõ sự hiện diện của nhân vật tác giả, được gọi là hắn. Trong khi khán giả tấp nập đến xem kịch thì hắn sống trong tâm trạng dằn vặt, không hài lòng về sự sáng tạo của mình, hắn có cảm tưởng chưa tìm ra sự thật, chưa tìm ra con đường của mình. Cho nên hắn uống rượu quá nhiều, mất hết ý thức về thực tế, áo quần lôi thôi, đi đứng chệnh choạng, ăn nói như nằm mơ. Cơn say rượu đó bề ngoài đối với mọi người là một trò cười, một trò đáng khinh bỉ, hạ thấp phẩm giá của một nhà văn, khiến phụ nữ như Hằng, người yêu cũ của hắn, thất vọng, như cô gái tặng hoa thích lý tưởng hóa tác giả vở kịch, bèn đâm ra sợ hãi, ghê tởm. Nhưng ý nghĩa cơn say rượu không ở bề mặt mà ở bề sâu. Cơn say rượu là một tẩy xóa những bợn nhơ trong tâm hồn hắn, là một cuộc độc hành xuyên qua sa mạc để quên hết và trong sạch hóa con người hắn. Hắn lần lần thấy rõ sự lầm lẫn của mình trước kia, và nhận thức một điều tối hệ trọng, đó là sự thật về sáng tạo và về cách sáng tạo. Hắn mãnh liệt chống lại sự giả dối của hạng người cầm bút. Tiếng cười rú lên trong hậu trường biểu tượng sự phủ nhận việc sáng tác của hắn trong quá khứ. Và khi độc diễn trên sân khấu, cử chỉ lấy xấp giấy trong túi ra đốt cũng là biểu tượng ý muốn từ bỏ lối sáng tạo trong quá khứ. Trong một rạp hát vắng người, nhưng đối với hắn, trước mắt là toàn thể những khán giả đang có mặt. Hắn tuyên bố:

Quý vị biết không… Giả tạo là kẻ thù của sáng tạo. Sự sáng tạo cũng không chấp nhận luôn cả thói nhai lại cái dư thừa của người khác. Mà đời sống hừng hực những chất liệu thì can cớ gì phải giả tạo hay đi làm loài nhai lại cơ chứ.

V Một hiện tượng trong văn học Việt Nam

Trở lại vấn đề tác phẩm Người Kéo Màn được Nhật Tiến gọi là tiểu thuyết kịch mà giáo sư Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức này có nguy cơ xóa ranh giới giữa hai thể loại: tiểu thuyết và kịch, và làm mất đi đặc tính của mỗi thể loại. Đứng về quan điểm bảo thủ, tôn trọng những thứ tự, quy củ, đã có từ xưa, thì đương nhiên phải bênh vực sự phân loại của truyền thống.

Nhưng những quy tắc đã được đặt ra đôi khi quá ràng buộc, quá khô cứng, cản trở người nghệ sĩ giàu tưởng tượng, mong muốn đi tìm cái đẹp, mà cái đẹp thì không có giới hạn. Cho nên cần tiếp nhận Người Kéo Màn của Nhật Tiến như một tìm tòi cái đẹp, một thử nghiệm về sáng tạo. Vào thời đó, Nhật Tiến có biết đến tình hình văn học ở Tây phương và có chịu ít nhiều ảnh hưởng của Tây phương không? Hay là ông đã sáng tác với một thứ trực giác của người nghệ sĩ ? Dù sao đi nữa Người Kéo Màn cũng là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ, một hiện tượng trong văn học Việt Nam. Để đo lường hiện tượng này, cần tìm hiểu sự tiến hóa của vấn đề sáng tạo văn chương ở Tây phương.

Sự xúc phạm ranh giới giữa các thể loại đã có từ lâu ở Tây phương. Trong quá khứ, giới cầm bút rất tôn trọng sự phân loại văn chương theo truyền thống, phân loại này bắt nguồn từ Thi Pháp của Aristote căn cứ vào ba thể loại: sử thi, thơ trữ tình và kịch. Với thời gian, ba thể loại này đã sinh sản ra nhiều thể loại khác. Theo nhà lý thuyết văn học Nga Mikhaïl Bakhtine, tác giả cuốn Esthétique et théorie du roman (Mỹ học và lý thuyết về tiểu thuyết), thì tiểu thuyết đã có rất sớm, từ lúc mà sử thi cố định hóa truyện kể lại quá khứ trong một hình thức không bao giờ thay đổi, thì một hình thức kể truyện khác tách rời để cho thấy con người trong cái thế tiến triển không ngừng. Thế nên ngay từ thời cổ đại, với nhà thơ sử thi nổi tiếng Homère, người ta đã thấy thấp thoáng một thể loại mới: trong khi thi phẩm Iliade của ông là một sử thi thì thi phẩm thứ hai Odyssée đã bắt đầu giống như một tiểu thuyết. Còn thể loại thơ vốn đã có từ đầu cũng đã biến dạng nhiều. Với chủ nghĩa lãng mạn, thơ không còn lẫn lộn với câu thơ, do đó cái lâu đài phân biệt các thể loại bị rung rinh. Việc làm cho câu thơ được mềm dẽo hơn kể từ văn hào Victor Hugo, và nhất là sự xuất hiện của thơ tự do, khoảng năm 1870, bắt buộc độc giả phải xem lại những tiêu chuẩn của thể loại thơ. Ý niệm «thơ» không ngừng mở rộng và tách rời khỏi câu thơ để lấy lại cái nghĩa từ nguyên của nó là «sáng tạo» (Poésie).

Nói tóm lại, cái quan niệm lập ra những quy tắc về các thể loại ngày nay vẫn còn được tôn trọng, nhưng dường như nó không thích hợp để trình bày văn học đương đại, không diễn tả được những tác phẩm lớn. En attedant Godot (Trong khi chờ đợi Godot) của Samuel Beckett là một bi kịch hay một hài kịch ? À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust là một tiểu thuyết theo định nghĩa của truyền thống? Lời đáp những câu hỏi này phải tinh vi, vì đặc tính các thể loại không còn «thuần khiết» nữa.

Ở thế kỷ 20, các thể loại văn chương càng tiến hóa nhiều, ranh giới để phân biệt đôi khi mập mờ, mong manh hoặc biến mất. Nguyên do là các nhà văn Tây phương muốn tự cho mình sự tự do chẳng những qua lại từ thể loại này đến thể loại khác, mà còn đưa vào văn chương những nghệ thuật tạo hình như hội họa, điện ảnh. Kết quả là có những tác phẩm hỗn hợp không có quy chế định rõ. Sự kiện này là do những dời chuyển của các nghệ thuật mà các nhà văn tiên phong ở thế kỷ 20 đã thử nghiệm. Xin đơn cử trường hợp của hai nhà văn: Alain Robbe–Grillet và Marguerite Duras.

Trong những năm 1950-1960, với sự xuất hiện của Tiểu Thuyết Mới ở Pháp, kỹ thuật của tiểu thuyết và kỹ thuật của điện ảnh xích lại gần nhau. Trong các tác phẩm Le Voyeur (1955) và La Jalousie (1957) của Alain Robbe –Grillet, thủ lĩnh của Tiểu Thuyết Mới, người kể truyện đồng hóa với cái nhìn. Sau đó A. Robbe–Grillet không phân biệt sáng tác tiểu thuyết với sáng tác phim như với tác phẩm L’année dernière à Marienbad. Đặc biệt trong tiểu thuyết La Maison de rendez-vous (1965) có nhiều người kể truyện dồn dập lên tiếng, cốt truyện được trình bày như thể có máy quay phim điều khiển, những kỹ thuật điện ảnh cần được đọc như những yếu tố của một truyện viết, vì việc dựa vào một nghệ thuật để xem (điện ảnh) là để làm nổi bật sự chóng mặt trước cái ảo mà mọi tác phẩm tưởng tượng gây nên. A. Robbe-Grillet đã tạo ra một tổng hợp giữa hai nghệ thuật.

Marguerite Duras cũng ghép văn chương với điện ảnh. Bà đã thực hiện những tiểu thuyết-phim nổi tiếng, như India SongHiroshima mon amour. Đặc biệt cuốn Hiroshima mon amour được viết để nhà đạo diễn A. Resnais quay thành phim. Cuốn sách bắt đầu bằng một sơ lược truyện phim, rồi đến phần đối thoại như trong kịch và cuối cùng là phần giải thích tỉ mỉ mỗi phân cảnh. Marguerite Duras cũng có những tác phẩm vượt ranh giới những thể loại, với những biến đổi trong cách viết, những văn bản dao động giữa những sơ lược truyện phim, kịch bản, truyện hoặc truyện ngắn, như trong các tác phẩm: Navire Night, Aurélia Steiner và L’Amant de la Chine du Nord.

Việc vượt qua ranh giới các thể loại đã làm lung lay những sắp xếp của truyền thống, và đưa vào ý thức thử nghiệm và lật đổ trong cách xây dựng thẩm mỹ, đến nỗi đã tạo ra những tác phẩm mới lạ mà truyền thống khó lòng phân loại. Tuy nhiên việc chuyển dời không những tạo nên sự hỗn hợp giữa các kỹ thuật, nó còn gây sự chông chênh, sự lạ lùng, làm mờ đi những quan hệ giữa lý thuyết và hư cấu, hư cấu cũng được huy động để phá hủy ranh giới.

Đi một vòng qua Tây phương để trở về với Người Kéo Màn của Nhật Tiến. Trong văn học Việt Nam chưa từng có một tác phẩm với một hình thức hỗn hợp như thế. Như đã nói, đây là một hiện tượng văn học. Lần đầu tiên tác giả chẳng những vượt ranh giới giữa tiểu thuyết và kịch mà còn đưa vào nghệ thuật điện ảnh, trong Người Kéo Màn ống kính của máy quay phim dời chuyển khoảng 33 lần, để cho thấy sự thay đổi của không gian với những nhân vật kế tiếp nhau, cho phép độc giả dần dần khám phá cốt truyện. Nhật Tiến liên kết ba kỹ thuật để làm nổi bật chủ đề sáng tạo. Sáng tạo mà giới kịch nghệ nâng niu trong hậu trường, trên sân khấu, và được khán giả hoan nghênh vỗ tay, chưa phải là một sáng tạo làm toại nguyện, người sáng tạo phải trăn trở, thao thức để đi xa hơn.

Khi sáng tác Người Kéo Màn, có lẽ nhà văn Nhật Tiến đã linh cảm điều André Malraux đã từng nhận xét: “Mọi sáng tạo khởi nguyên là một cuộc đánh vật của một hình thức tiềm năng chống lại một hình thức bắt chước (1)”. Hình thức tiềm năng đã thắng, và tác phẩm Người Kéo Màn đã đi vào văn học với tính hiện đại, cách tân của nó.

[*]Toute création est à l’origine la lutte d’une forme en puissance contre une forme imitée. André Malraux, Psychologie de l’artla création artistique, Nxb Skira, 1949.

Liễu Trương
31-3-2020

Cảm nhận bài thơ Hương Nắng của nhà thơ Hư Vô. Dung Thị Vân


Dung Thị Vân

Tựa đề bài thơ là Hương nắng. Nắng mà để lại mùi hương! Dù chỉ là một từ hương thôi nhưng đủ để cho chúng ta hiểu rằng đó là em. Người mà tôi yêu cho nên tác giả Hư Vô đã có sức tưởng tượng rất ư làn mãnh liệt khi mùi hương quyến rũ nơi em đã hoà quyện vào nắng. Nắng trời thì bao la và mênh mông vô tận vậy mà hương em trong nắng thì phải nói là thi nhân đã yêu một tình yêu vô bờ vô bến.

Dường như nhà thơ đã hối tiếc vì mình đã bỏ quên những ngày tháng cũ vì chưa kịp ngỏ lời cùng em chứ nào phải em phụ tình. Ở khổ thơ đầu này tác giả Hư Vô đã trăn trở hết nỗi lòng vào đoạn thơ này thật dằn vặt xót xa. Tất cả đã lỡ để rồi có cùng chung một con đường cũng đành câm lặng mà chẳng nói được gì. Con đường áo trắng ở trong thơ tác giả là con đường của những ngày tan học bước về nhìn thấy nhau. Phải chăng đây là tình yêu tuổi ngọc ngà của đôi bạn chung trường chung lớp… Của lứa tuổi đôi mươi e ấp yêu mà chẳng bao giờ dám ngỏ.

Thà phụ tình nhau còn đỡ nhớ
Con đường áo trắng đã thành thơ
Dáng em e ấp theo chiều nắng
Lối về chung vẫn thấy bơ vơ.

(Hư Vô)

Vẫn là những trách móc về mình tại sao ngu ngơ bỡ ngỡ của tuổi mới lớn. Bởi vì tuổi mới lớn yêu thường chẳng bao giờ dám nói mà chỉ câm lặng để rồi đến một ngày nào đó thấy tình yêu mình đã vỗ cánh bay đi bởi người mình yêu có thể đã có người tình hay đã lấy chồng. Nhà thơ Hư Vô tiếc nuối tại sao mình không nói được với em cũng chỉ vì nhút nhát nên nắng cũng tàn phai. Tưởng tượng từng chiếc lá vàng rơi trên mái tóc em bay. Tình yêu của nhà thơ viết ôi sao mà thánh thiện. Nhưng rồi phải chấp nhận.

Hay tại anh ngu ngơ bỡ ngỡ
Ngập ngừng chờ ngọn nắng tàn phai
Một lời thôi còn chưa dám ngỏ
Sợ lá vàng trên tóc em bay..

(Hư Vô)

Tất cả giờ đây chỉ còn là quá khứ tác giả tự trách mình trách em. sao không nói, trách mình sao ngây khờ. Khi tình yêu đã mất thì chỉ còn trách và trách vì không thể nào níu kéo hay gọi tình yêu quay về.

Nhà thơ Hư Vô diễn tả trên bước đường tình của mình giờ chẳng biết về đâu đi đâu mà tưởng tượng nỗi đau giằng xé rướm máu đôi chân. Mà trên bước đường còn lại nhà thơ chỉ thấy những hàng cây và con đường trụi lá. Và bóng dáng em trong những màu áo ám ảnh suốt cuộc đời thi nhân mà dường như lúc nào cũng hiện ra trước mắt trong trơ trụi lá của trời đông..

Ngày tháng quằn vai thành quá khứ
Bước qua cầu còn gọi tên nhau
Hỏi em, ngày xưa sao không nói?

Anh ngây khờ để nắng vút cao.

Về đâu, chân trần đang rướm máu
Dốc cầu nghiêng động bóng em qua
Bỏ lại anh vòm cây trụi lá
Còn phất phơ vạt áo lụa là…

(Hư Vô)

Viết tới đây lòng tôi chùng xuống những ngậm ngùi hình như thi nhân thường “thương vay. Khóc mướn” như nhau. Lòng tôi buồn như những lời nhạc của Trần Trịnh – Hà Huyền Chi trong bài Lệ đá:

“Tình yêu đã vỗ cánh rồi, là hoa rót mật cho đời, chắt chiu kỷ niệm dĩ vãng…”

Dung Thị Vân

March 01, 2020

Bạn Văn – Dòng Sông Trước Mặt. Tự Điển Văn Nghệ Sĩ Việt Nam. Phan Ni Tấn


Tản Mạn Văn Học – Nhà Văn Nhật Tiến


Gót Xuân Sài Gòn Trong Thơ Hư Vô. Tùy Bút Trần Sương Lam


Trần Sương Lam

A65E35BD-B35B-4C65-A178-E4FB07774894

Xuân hạ thu đông là vòng xoay của vũ trụ như vòng tuần hoàn khép kín bất biến, hết xuân thì đến hạ, hết hạ thì sang thu…một cách đều đặn theo định luật của thiên nhiên đã bày sẵn.

Nhưng tâm hồn con người thì không có một quy luật nào mang tính bất biến cả. Cảm xúc có khi đến bất chợt làm rung động lòng người bởi sự chuyển mình của trời đất. Như Nguyễn Đình Toàn, đến thăm em đêm 30 Tết thì trái tim ông mới chạm vào mùa xuân “Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?”, lòng mình đang Tết nghĩa là đang rực như mùa xuân mở hội cho cảm xúc dâng trào…

Hư Vô cũng vậy, dù đang ở một đất nước xa xôi nhưng lòng vẫn xôn xao đón Tết Sài Gòn- Sài Gòn của một thời mộng mơ với mối tình còn thơm tho mùi áo trắng và thi phẩm “Gót Xuân Sài Gòn” đến cùng bạn đọc như một mùi hương chạm khẽ qua đời ta, như làn gió bâng khuâng gợi nhớ mùa xuân, gợi nhớ tình đầu tinh khôi như màu nắng mới:

Gót Xuân Sài Gòn

Bước theo nhịp guốc Sài Gòn
Còn thơm dáng tóc dọc đường em qua
Phấn hương quấn quít lụa là
Bỏ tôi chết đứng giữa tà áo bay.

Hiên chiều phố đã như say
Để em nhón gót cho dài bóng không
Tôi vấp ngang bụi gai hồng
Hồn phiêu dạt mộng bềnh bồng, đó em!

Như ngọn sóng cuốn vào tim
Giọt cà phê bỗng lung linh Sài Gòn
Từ em áp nụ môi non
Vành ly bỏ lại vẫn còn thơm tho.

Cũng đâu chắc phải tình cờ
Hồn em thất lạc vào thơ tôi rồi
Trái tim động đậy đâm chồi
Giấu trong lụa biếc một thời tình si.

Mùa xuân vừa mới dậy thì
Dung nhan em đã kiêu kỳ mê man
Để thơ tôi biết hoang đàng
Theo em cho phố còn vang gót người…

Hư Vô

61777039-E5E8-4987-9D1D-77D196ADAEB2

Tôi yêu Sài Gòn. Đây là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Nơi đã gắn bó với tôi gần hết cuộc đời với những buồn vui, khổ đau, hoan lạc của đời người. Sài Gòn như một phần thân thể để tôi yêu từng con phố; yêu những cơn mưa rào, yêu những đợt nắng hạ chói chang oi ả nhưng cũng thật hiền hòa. Yêu những tà áo dài đủ sắc màu đang khoe khoang vào Tết.

Sài Gòn bình yên nhưng không tẻ nhạt và đơn điệu bởi đó là đặc trưng của thành phố phương Nam. Sài Gòn trong lòng người xa xứ là hoài niệm về một cái gì đó rất xưa cùng nhịp sống chậm rãi, thân thương với những con phố vang bước chân tình yêu, những niềm vui, nỗi buồn của một thời đã qua… Sài Gòn bây giờ nhiều thay đổi. Ồn ào, đông đúc, xa hoa, tiện nghi mà cũng nhiều ô nhiễm… Người chính gốc Sài Gòn chẳng còn bao nhiêu nên hoài niệm về nơi đây thật quý. Nó như một cuốn phim quay chậm để nhớ, để trầm tư, để yêu những gì đã cũ nhưng không thể quên. Hư Vô xa Sài Gòn đã lâu nhưng trong tâm hồn chàng lãng tử vẫn một nỗi nhớ miên man. Nỗi nhớ Sài Gòn như nỗi nhớ tình nhân đã hoài thai nên một dáng hình con gái:

Bước theo nhịp guốc Sài Gòn
Còn thơm dáng tóc dọc đường em qua
Phấn hương quấn quít lụa là
Bỏ tôi chết đứng giữa tà áo bay.

Đoạn thơ mở đầu đầy hương sắc, âm thanh. Tiếng guốc nhịp trên phố của em, có anh đi theo cùng. Gió thổi cả không gian thơm mùi tóc, thơm mùi áo lụa làm trái tim anh chàng si tình ngất ngây “chết đứng”. Chữ nghĩa tạc thành dấu tích tình yêu, cái chết đứng mới dễ thương làm sao! Cái chết đứng của tình yêu đắm say, ngây ngất. Không gian tình yêu êm đềm, thơ mộng, nhẹ nhàng mong manh quấn quít hồn người… Tôi ấn tượng bởi tiếng guốc của người tình thi sĩ. Nữ sinh ngày xưa, trường Việt chỉ mặc áo dài, đa phần các cô gái thì lại chuộng mang guốc đi học.. Âm vang tiếng guốc trên phố như đã chạm vào trái tim tôi. Câu thơ làm dậy trong tôi âm thanh của chuỗi ngày xưa hiện về, của một thời Sài Gòn “Hòn Ngọc Viễn Đông”, soi mình bên giòng Thủ Thiêm hiền hoà, óng ả.

Sài gòn hôm nay, thành phố bộn bề, đông dân nhập cư, Sài Gòn hôm nay, thành phố năng động, bước chân công nghiệp làm con người sống nhanh, làm nhanh đến bước chân cũng nhanh hơn. Cái lặng lẽ ngày nào cũng dần mất đi, nhiều người thích đến Sài Gòn để lập nghiệp vì ở đây đông vui, náo nhiệt gần như cả ngày lẫn đêm. Không biết điều này nên vui hay nên buồn…

Ngày ấy, tôi chưa đủ lớn để cảm nhận thật đầy đủ “chất Sài Gòn” nhưng với tôi vùng đất ấy vẫn đẫm chất huyền thoại đầy mê hoặc. Nhạc sĩ Phạm Duy đã đẩy chất ma mị của Sài Gòn lên cực điểm: dưới góc sân trường Luật, Văn Khoa xưa bao mối tình đẹp như tiểu thuyết đã chắp cánh cho tình yêu tuổi học trò thăng hoa. Từ con đường tình ta đi, đến quán nước ven đường cũng ngọt lịm chất Sài Gòn “uống ly chanh đường uống môi em ngọt” đến chia ly cũng đẹp “Ta hỏng tú tài, ta ta hụt tình yêu… thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi”

Sài gòn ngày ấy của tôi, của Hư Vô có một góc rất đẹp để tình yêu thăng hoa. Góc ấy là sân trường, những con đường cây dài bóng mát, những quán vỉa hè, những câu lạc bộ sinh viên. Những hẹn hò, chờ đợi, ngóng trông mà Hư Vô đã “chết đứng” giữa tà áo bay cùng nhịp guốc của giai nhân. Guốc cao làm tà áo dài như mềm mại hơn, bước chân kiêu sa, lộng lẫy cuống quít rộn ràng. Áo quấn bước chân em, quấn hồn thi nhân vào những câu thơ tình mong manh như vạt lụa.

Nguyên Sa đã từng một thời đắm đuối chiếc áo dài trắng của người tình trung học:

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay? (Nguyên Sa)

Hư Vô yêu chiếc áo dài, yêu tiếng guốc, có lẽ vì thế, và cũng chỉ đôi điều ấy đã vẽ nên bức chân dung tình yêu của thi sĩ. Chân dung người tình thanh thoát, rạng rỡ. Câu thơ chỉ phác họa dáng tóc, lụa là quấn quít mùi hương, vậy mà đã làm chàng thi sĩ mê man. Dáng con gái nhón gót cho chông chênh tà áo, yểu điệu chút duyên, cái duyên thầm đó ẩn hiện trong sự nũng nịu sao mà đáng yêu đến thế! Âm thanh tiếng guốc vang vang, nó khuấy động tất cả con đường, góc phố, khuấy động đến mỗi câu thơ của thi sĩ, tiếng guốc làm nhịp tim xốn xang, bồi hồi. Các nhà thơ thường dùng âm thanh để tả động, tả sự nhộn nhịp, Hư Vô dùng âm thanh để khởi động sắc xuân, khơi dậy tình yêu. Đoạn thơ đã làm dậy lên nhiều điều trong tôi. Như tiếng động gọi hồn tôi trở về với chính chiếc bóng của mình.

Trần Quang Lộc trong sáng tác “Về Đây Nghe Em” đã viết:

Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới (Trần Quang Lộc)

Đôi guốc mộc, chiếc áo the, bài ca dao, hạt lúa mới ở bài nhạc đã làm sống lại một không gian cổ xưa thanh bình, yên ả. Hư Vô cũng đưa ta về cõi xưa cũng bằng chiếc áo dài, đôi guốc mộc, mái tóc thề thơm lừng hương thiếu nữ. Chất đa tình của chàng trai Sài Gòn thuở ấy hiện rõ dần:

Bỏ tôi chết đứng giữa tà áo bay.

Hình ảnh chàng thi sĩ chết đứng gợi tôi nhớ đến mối tình Từ Hải – Thúy Kiều gợi nhớ đến chất tình si của họ Từ quá khứ. Chất duyên bén từ quá khứ phủ đến hiện tại gom lại trong một từ “gợi” tạo thành duyên thầm khó quên của thơ Hư Vô. Nếu thi ca thiếu tính “gợi” thì có lẽ bao nhiêu người đã quay lưng với chữ nghĩa với thơ văn, đâu còn cảnh đêm đêm ai đó chong đèn ngồi đọc những áng thơ tình.

Em mang hồn tôi trên đôi guốc mộc giữa phố đông người. Hồn tôi say, phố say, tôi vào cõi mơ chỉ còn em và tôi. Sài Gòn chiều xuống. Vạt nắng phai dần, bóng em đổ dài trên phố, lung linh, phố nghiêng ngả như say, thi sĩ cũng say theo hiên phố chiều. Luýnh quýnh trượt chân, vấp bụi gai hồng để hồn phiêu dạt bồng bềnh.

Hiên chiều phố đã như say
Để em nhón gót cho dài bóng không
Tôi vấp ngang bụi gai hồng
Hồn phiêu dạt mộng bềnh bồng, đó em!

Đoạn thơ có sự biến chuyển của nhịp điệu từ nhịp ổn định ở 6 câu đầu (2/4, 4/4) ở 2 câu cuối chuyển thành (3/3, 3/3/2) cùng dấu chấm cảm(!) tạo thành những động thái mạnh: vấp bụi gai nhưng không đau đớn mà bước vào cõi mộng, mà phiêu dạt. Cái phiêu dạt ấy sao mà đáng yêu, sao mà đẹp đến ngẩn ngơ! Không phải là trôi dạt trong cuộc đời thường, mà là phiêu dạt trong hương thơm của cõi tình bát ngát. Dường như tình ấy truyền cho thi sĩ động lực để bước tiếp trong con đường tình. Lời độc thoại trở thành lời đối thoại với “em” của quyến luyến, yêu đương hàm ẩn cả một tiếng lòng.

Cõi tình thênh thang, tâm hồn say đắm, chất lãng tử dường như dâng cao, theo gót chân người thiếu nữ, tiếng guốc làm nhịp tim bỗng rung lên những nhịp điệu mê man để âm thanh khai mở thần thức, tình đẹp như tranh vẽ, như cõi mộng, như cung đàn huyền diệu đang tấu khúc thanh xuân cho trái tim tình si của chàng thi sĩ phiêu lãng vang lên âm bậc yêu đương dạt dào. Câu thơ dường nhuốm màu tục lụy, dường nhuốm màu hư ảo đủ tạo độ chếnh choáng cho men tình, cho thơ. Tình nồng, thơ nồng như có, như không. Em nhón gót cho dài bóng không, thơ thêm chút bóng cho thành hư không. Thật không dễ để hiểu tình ý của nhà thơ khi pha lẫn giữa thực và ảo. Thơ Hư Vô thường hòa quyện giữa hai điều này nên khi đọc thơ anh, tôi hay say cái thực thoáng sầu, cái ảo đắm mê bàng bạt.

Tình say như ngọn sóng dội vào trái tim làm tất cả sắc màu, hình ảnh, âm thanh như thực, như ảo “bỗng lung linh” và tượng hình nên một câu thơ rất lạ:

Như ngọn sóng dội vào tim
Giọt cà phê bỗng lung linh Sài Gòn

Sự hợp nhất đang tương giao, không gian, khoảng cách đang bị phá bỏ, thời gian chảy ngược, giọt cà phê bỗng lung linh Sài Gòn, sắc màu của cà phê làm hồng thêm môi con gái. Gọi là một câu thơ hiện đại cũng không phải là thậm xưng. Giọt cà phê của bài thơ làm chất Sài Gòn mê hoặc hơn. Sài Gòn hiện về trong đáy tách. Quá khứ chưa bao giờ mất đi, mà ngược lại đã hồi sinh thành hiện tại. “Lung linh Sài Gòn” và cũng là em với tôi là bàng hoàng một nỗi nhớ, một mối tình không quên của một thuở Sài Gòn hương vị xuân vẫn thoáng chút ngậm ngùi của một quá khứ sắt son mà lớp người như tôi (có lẽ cũng là thi sĩ) mãi nhớ về một thời ngây dại.

Giọt tình chưa uống đã say, môi chưa chạm khẽ hương hoài chưa tan. Hương thanh xuân ngây ngất, hương tình yêu đắm say, hương mùa xuân ngạt ngào. Vần thơ bay bổng tỏa sắc, tỏa hương không gian mê đắm khiến thi sĩ đắm đuối trong thế giới đầy hương và sắc ấy:

Từ em áp nụ môi non
Vành ly bỏ lại vẫn còn thơm tho.

Câu thơ đẹp, tươi phơi phới “môi non- thơm tho” Tôi cảm nhận niềm hạnh phúc như khúc hoan ca trên những thăng trầm của đời người. Tình yêu thật đủ đầy, thỏa mãn những khát khao. Chỉ một lần em áp môi lên vành ly cà phê đã làm trái tim thi sĩ hé mở thiên đường. Tình yêu thuấn khiết, thánh thiện ấy đẹp như một dòng lệ trong, dòng lệ nảy sinh từ hạnh phúc tột cùng. Tôi yêu cái khoảnh khắc tình tinh khôi, rụt rè, e ngại, bối rối của mối tình đầu thơ dại ấy. Mối tình đã biến bao người bình thường trở thành thi sĩ, nhạc sĩ viết lên những bài thơ, bài nhạc ca ngợi tình yêu. Tôi đã từng đọc, từng yêu bài thơ “Nụ Hôn Đầu” của Trần Dạ Từ và hôm nay “Nụ Môi Non” của chàng thi sĩ Hư Vô càng làm tôi xúc động mà sống lại một thời với mối tình học trò hiền như hương chanh, hương bưởi, cất giấu mãi trong tim tôi mùi hương quá khứ dù đã bao năm trôi qua mà vẫn nguyên vẹn, ngọt ngào. Hình như ở Hư Vô, tôi cũng cảm nhận được điều này:

Cũng đâu chắc phải tình cờ
Hồn em thất lạc vào thơ tôi rồi
Trái tim động đậy đâm chồi
Giấu trong lụa biếc một thời tình si.

“Cũng đâu chắc phải tình cờ” một câu thơ phủ định gói chặt lời thú tội chân thành: tôi yêu em và em cũng yêu tôi. Không phải tình cờ mà là sự ẩn ý, nên từ đó em luôn trong tôi, là chân dung tình yêu của tôi. Tôi phiêu dạt trong cõi bềnh bồng, em thất lạc trong thơ tôi, ý thơ đẹp ở sự tương hợp, tương phùng. Hình như thi sĩ đang nói với chính mình: em là cõi mộng của tôi, em là hồn mà thơ tôi là dáng. Em khơi trong tôi tình yêu, khao khát, ước mơ, là nguồn thơ bất tận chảy thì thầm trong trái tim tôi. Tình yêu của thi sĩ thật dầy, thật sâu ở độ nồng nàn, say đắm, câu chữ không trau chuốt, không cầu kỳ nhưng phóng túng nên sống động, ngộ nghĩnh tấu thành khúc hoan ca. Mối tình ấy như nhung lụa trân quý biết bao!

Chữ nghĩa trong tay thi sĩ tượng hình dần ẩn chứa bao ngụ ý làm thành câu thơ duyên dáng đó là chất men của tuổi trẻ, của tình mới lớn tạo nên khúc xuân tươi.

Hàn Mặc Tử hay ví xuân như thiếu nữ, Hư Vô thì dùng mùa xuân để ca ngợi nhan sắc người tình:

Mùa xuân vừa mới dậy thì

Xuân và em thật tương xứng. Đầu xuân và đầu đời:

Dung nhan em đã kiêu kỳ mê man
Để thơ tôi biết hoang đàng
Theo em cho phố còn vang gót người…

“Xuân dậy thì” một tứ thơ lạ. Một câu thơ nhân hóa sống động, dễ thương của cảm xúc làm ý thơ thăng hoa và làm dậy lên trong tôi khát khao muốn ôm ghì lấy “xuân dậy thì” và làm tôi liên tưởng đến ý thơ Xuân Diệu:

“Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua”(Xuân Diệu)

Em như mùa xuân đang căng trào nhựa sống, gặp em như gặp mùa xuân, em lộng lẫy, kiêu kỳ như xuân. Ý thơ sang trọng, hồn thơ căng tràn mạch sống, câu thơ duyên và ngọt. Em khơi sáng tâm hồn, em cho tôi biết yêu thương, em cho tôi trở thành thi sĩ…

Quà tặng của em thật vô giá. Dường như nhà thơ đã được tái sinh lần nữa. Em là người tình chưa bao giờ mất đi, vẫn tồn tại và đồng hành cùng thi nhân trên những chặng đường đầy hoa xuân rực nở.

Cái lạ của thơ Hư Vô chính là chữ nghĩa, có lúc quá chỉnh chu, trang nhã; có lúc lại phóng túng đến tuềnh toàng. Theo tôi đó mới chính là cái chất của người nghệ sĩ- sự phá cách để bộc lộ cái tôi –để không thể lẫn vào một ai khác. “Kiêu kỳ- mê man- hoang đàng” đã thể hiện đậm nét chất tình si của chàng nghệ sĩ lấy thi ca làm hành trang cho suốt cuộc đời mình. Mở không gian là âm thanh tiếng guốc, khép lại không gian vẫn là tiếng guốc. Tiếng guốc dội lên những âm thanh giòn giã làm bừng thức trái tim yêu của chàng thi sĩ, tiếng guốc khép lại bài thơ âm thanh vẫn vang cho phố rộn ràng sắc xuân, cho hồn thơ thi sĩ mãi mãi non tơ đượm hương sắc nồng nàn của xuân tươi.

Câu thơ cuối theo tôi là một câu thơ đẹp. Xuân dậy thì ngập ngừng rón rén bước chân về phố. Mùa đông ủ rũ đi, phố sống lại, người thơ xuống phố để lại những âm vang, con phố bừng thức nhận ra mùa xuân đang chúm chím nụ cười. Câu thơ mang lại âm thanh của sự sống, của niềm yêu nhẹ nhàng mà lưu dấu, cái động thay cho cái tĩnh tạo khúc xuân tình nhẹ nhàng mà đầy say đắm, luyến lưu.

Tôi vừa qua cõi mộng, qua cõi tình xưa, tôi nghe hình như mùa xuân đang chạm vào môi những giọt xuân dịu ngọt. Hư Vô đã cho tôi vào thế giới của tình yêu tưởng đã lặng mà vụt bừng dậy bởi men tình ngất ngây của chàng thi sĩ. Sài Gòn trong thơ anh đầy ma mị, đầy mê hoặc, cuốn hút để ta trở lại tuổi hai mươi, để ta trở lại quá khứ bằng tất cả hoài niệm của một Sài Gòn đang hối hả vào xuân…

Trần Sương Lam

Hiện Tượng Bùi Giáng. Thụy Khuê


Thụy Khuê

Sinh thời, Bùi Giáng bảo: “Hãy để cho tôi yên, tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có ai bàn đến thơ tôi .” (1) Có lẽ vì tôn trọng nhà thơ, cho nên ít ai bàn đến thơ ông (2). Ca tụng Bùi Giáng thì nhiều, nhưng phê bình Bùi Giáng thì ít.

Như thơ, Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng, cả đời lục bát. Tại sao lục bát? Lục bát bởi vì, đối với Bùi Giáng: “Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bẩy sông hồ.” (3) Ðó là lộng ngôn Bùi Giáng.

Về bản thân mình, Bùi Giáng tự họa: “Nhe răng cười trong bóng tối… Không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn… Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài… Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài… Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh.” (4) Ðó là mâu thuẫn Bùi Giáng.

Hỏi về tiểu sử, Bùi Giáng trả lời:

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa.
Gọi tên là một hai ba,
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.
Ðó là vô căn Bùi Giáng.

Trên báo Văn, số 26 tháng 8 năm 1984, Mai Thảo kể lại rằng khi hỏi về cái lực viết phi phàm của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền lắc đầu cười: “Chịu, không giải thích được. […] Nói đến mấy ngàn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận, vô cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Ði ra thơ. Ðứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ.”

Vẫn theo lời Mai Thảo, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, thuật lại: “Ảnh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, nói buổi sáng, buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm bẩy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc.”

Mai Thảo kể tiếp, khi làm số Văn, đặc biệt về Bùi Giáng: “Tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ […] Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng viết, thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả. Như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút, từ đầu ngón thôi […] Lần đó, tôi đã thấy, đã hiểu tại sao Bùi Giáng, cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi.”

Về những cơn điên Bùi Giáng, Phạm Xuân Ðài kể trong lời tựa tập Thơ Bùi Giáng (5): “Chỉ có thơ và những cơn điên […] Bây giờ (năm 1992) anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì vẫn viếng thăm anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện ở vùng chợ Trương Minh Giảng (chỗ Ðại Học Vạn Hạnh, là nơi ngày xưa anh thường trú ngụ) đứng giữa đường vung tay, điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng […] Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô hình.”

Ðó là hiện tượng Bùi Giáng, qua lời kể của những người thân trong giới văn học.
*
Bùi Giáng là ai? Bùi Văn Vịnh, em của Bùi Giáng, cho biết (6): Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Thuở nhỏ, học trường Bảo An tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, trung học ở trường Thuận Hóa, Huế. Năm 1950, đậu Tú Tài II văn chương ở Liên Khu V. Sau đó ra Liên Khu IV học tiếp đại học. Nhưng sau khi nghe qua bài diễn văn khai giảng của ông viện trưởng, Bùi Giáng quay về Quảng Nam và bắt đầu quãng đời được gọi là “Mười lăm năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.

Tháng năm 1952, Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa.

Lần này, sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dậy ở Văn Khoa, Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.

Từ 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết. Như lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, có thể ném bịch một vài trăm trang sách. Ðúng là một kỷ lục có một không hai.
*
Chúng ta thử tìm hiểu bản chất của kỷ lục ấy qua một vài trang sách của Bùi Giáng trong Con Ðường Ngả Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, do An Tiêm xuất bản lần thứ nhất tại Sài gòn năm 1972, và tái bản tại hải ngoại.

Có thể nói trong cuốn sách này, cái gọi là điên của Bùi Giáng phát hiện rõ rệt dưới hình thức loạn ngôn, ngộ chữ cao độ. Về Heidegger, Bùi Giáng viết: “Tất cả con đường tư tưởng của Heidegger là mọi lối nhiếp dẫn bước đi về những vùng u kín trong cổ lục uyên nguyên.” (trang 13)

Về Nietzsche, ông viết: “Nietzsche không phải là đại hải đại dương. Nietzsche đã đón vào lòng mình một dòng sông dơ bẩn. Và từ đó? Từ đó, Nietzsche biến thành một loại người mạt hậu theo mọi nghĩa thái thậm ly kỳ. Con người mạt hậu và hư vô chủ nghĩa, con người mạt hậu và sa mạc tinh hoa, con người mạt hậu và Mạt Hậu “Tử Sinh Môn” Hoạt Tinh Thể, con người mạt hậu và Siêu Hình Học Lãnh Ðịa, con người mạt hậu và Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu và Siêu Hình Học theo nghĩa Sử Lịch chân lý của Hiện Thể như là Hiện Thể, Sử Lịch chân lý của Hiện Thể và Ðịnh Mệnh Tồn Lưu thoái tàng ư mật, Tồn Lưu thoái tàng ư mật và Hằng Thể bước vào vòng di vong trầm một, từ di vong trầm một, còn chút hậu tình ân ốc nào sẽ “trột mầm” cho một trận Dịch Chuyển thông hành của Ðịnh Mệnh hay không? hay là Siêu Hình Học vẫn mãi mãi kiên trì tồn lập trong cuộc đù đỡn “trệ lưu ư ngoại” bất khả tư nghì khuyết phạp từ Hoạt Tinh Thể của Hư Vô? …” (trang 17)

Và cứ như thế, Bùi Giáng sản xuất 499 trang Con Ðường Ngả Ba, Bước Ði Của Tư Tưởng.

Ðiểm thích thú nhất của người đọc trong cuốn sách này là những trích đoạn thơ Bùi Giáng, phần lớn là những câu thơ hay, tỏa ra những suy tư sâu lắng về bản chất con người.

Nhưng trong 499 trang chữ ấy, người đọc tìm thấy rất ít dòng đứng đắn và tỉnh táo bàn về những vấn đề triết học như hiện sinh và bản thể, tồn tại và thời gian, mặc dù ông rất ngưỡng mộ Heidegger, người thầy hiện sinh được ông trích, dịch một cách kỳ cục. Ví dụ như câu này, dịch ra từ tiếng Pháp, tiếng Ðức: “Nhưng mà lời thuyết thoại trì ngự, trong (khởi từ) Ðịnh Mệnh Phối Tiết mở phơi, sẽ ra sao nếu như cái Sở Khải Khai trong Song Trùng Tịch Hạp bị Ðịnh Mệnh Phối Tiết (ruồng rẫy) bỏ phó mặc cho cuộc thể hội vất vơ nhân tuần (dung thường nhật lệ) của con người từ diệt chúng tử chúng sinh?”
(Con Ðường Ngả Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, trang 12-13)

Dù đặc sệt những tên tuổi triết gia, nặng ký trích dẫn thiên kinh, vạn điển, dù có một số ý trội lên về vấn đề đọc sách, đọc Nguyễn Du, đọc Bùi Giáng, về sự gặp gỡ giữa những nhà tư tưởng lớn, đả kích một số nhà xuất bản không tôn trọng văn bản của tác giả, Con Ðường Ngả Ba vẫn không phải là cuốn sách bàn về triết học, hoặc đưa ra một hệ thống tư tưởng mạch lạc; mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần chú, nhại triết học, nhạo người đọc. Cho nên khi Tạ Tỵ viết: “Bùi Giáng đối thoại với Nietzsche, Sophocle, Parménide, Khổng Tử, Lão Tử, Sartre, Camus…” thì e rằng Tạ Tỵ quá lời. Sự tìm kiếm siêu hình nơi Bùi Giáng, như chỉ dừng ở phần vỏ của ngôn từ: tồn sinh, tồn lưu, hằng thể, hư vô, logos, … mà không đi vào nội tâm của suy tưởng. Hoặc có lẽ Bùi Giáng chỉ muốn rỡn chơi. Nếu ông có nhắc tới Như Lai, Bồ Tát, Heidegger, Parménide, Platon, Socrate cũng chỉ như ông nói đến Nam Phương Hoàng Hậu, Dương Quý Phi, Marilyn Monroe, đười ươi, chuồn chuồn, châu chấu v.v… vậy thôi, trong một trạng thái “tẩu hỏa nhập ma”, một tinh thần anarchiste toàn diện. Một “người phá”, để nói theo ngôn ngữ Trần Dần. “Người phá” trong cái nghĩa tiêu cực của nó, chứ không phải trong cái nghĩa sáng tạo, ít nhất là ở cuốn sách Con Ðường Ngả Ba.

Phải chăng Bùi Giáng chỉ muốn “hù dọa” người đọc không chuyên môn? Hay ông muốn nhại, diễu, những hệ thống suy tưởng mà một số trí thức quen dùng như mẫu mực hoạt động tinh thần? Biến chúng thành một thứ charabia, ngôn ngữ vấn đáp chuồn chuồn, châu chấu, nói trẹ, nói xàm, nói bá láp và ông có khả năng sản xuất mỗi ngày vài trăm trang như thế?

Thái độ anarchiste toàn diện này mở rộng trong đời sống, trở thành một bản năng phản kháng quẫy đời: Cởi quần áo giữa lớp học, tắm nơi công cộng, ngủ vỉa hè, trở thành clochard (hành khất say rượu), mặc áo rằn ri lính ngụy, để chỉ đường…, tất cả những “cơn điên” ấy của Bùi Giáng chứng minh sự sáng suốt của một Bùi Giáng không điên.

Không điên vì ông chỉ đẩy đến cùng trạng thái hiện sinh, chứng nghiệm ý thức trần trụi về bản thể. Cởi dần năm bẩy lớp quần áo chẳng qua chỉ là hình ảnh “rút gọn hiện tượng”, bóc vỏ các tầng lớp bề ngoài của “hiện tượng” để tìm ra bản chất trong hiện tượng luận Husserl.

Trở thành clochard là một cách thể nghiệm tự do và tự hủy.

Trong những đệ tử của hiện sinh thời ấy, Bùi Giáng là người đi xa nhất trong hành động tự hủy và hành xác. Tự hủy để chứng minh: Cá nhân con người đã chán ngấy cuộc sống, nó có một quyết định tự do lựa chọn, và sự hủy hoại bản thân là sự lựa chọn tiến gần nhất đến tự do tuyệt đối.

Sau 75, người ta càng yêu Bùi Giáng hơn, vì trong một xã hội được bị lồng vào khuôn phép, một xã hội đã ổn định cơ chế, công chúng yêu mến những gì bất thường, yêu những kẻ ngoại đạo, bất ổn.

Bùi Giáng là người ngoại đạo duy nhất dám làm lũng đoạn môi trường ổn định bằng thái độ tự hủy. Cái điên của Bùi Giáng là cái điên sáng suốt trong một tình thế không có cứu cánh nào khác nếu không tìm về bản thể của con người.

Thơ Bùi Giáng, hiện sinh trong đoạn trường và định mệnh

Những “dạ thưa”, những “tồn sinh”, những “phố thị”, những “cố quận”, “đười ươi”, đã trở thành những cốt cách, những địa chỉ rất Bùi Giáng:

Dạ thưa phố Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Dạ thưa Vỹ Dạ về gần
Ðã từ xa lắm thiên thần nhớ em

Thơ Bùi Giáng, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, đã tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất một dục tình khép mở Xuân Hương:

Cá ở ngoài khe có ít nhiều
Cồn lau cỏ lách có hoang liêu
Em về có hỏi răng ri rứa
Nhắm mắt đưa chân có bận liều.
(Bờ trần gian)

hoặc:

Bỏ hai chân xuống một vùng
Nước truông là lá thu rừng xuống khe.
(Bỏ hai chân)

Những dòng thơ trên đây, theo như lời Mai Thảo, Bùi Giáng đã làm một mạch, tại chỗ, xuất bút thành thơ. Huyền thoại Bùi Giáng, thi sĩ bẩm sinh, poète né, trong thập niên 60-70, được xác định như một hiện tượng văn học độc đáo. Như thể ông đã biết trước đường đi nước bước của thơ. Có khả năng thiên bẩm về sự lang thang ngơ ngẩn của chữ trên đời, và chỉ cần huơ tay, bắt chúng, nhốt vào câu lục bát, như Bình Nguyên Lộc “nhốt gió”, là có ngay thơ Bùi Giáng:

Một hôm đếm một ra ba
Thật là lạ lắm, ấy là cái chi

hay:

Người con gái lội qua khe
Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau
Bàn chân với nước cùng nhau lại đè.
(Lá hoa cồn)
*
Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa
Gọi tên là một hai ba
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm

Bốn câu tự họa trên đây dường như đã gói trọn bản chất thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng. Một bản chất đa mang nỗi hiện sinh hoang tưởng trong một “đạo khờ” gắn bó với đoạn trường tái tân thanh (chữ của Bùi Giáng) tiếp nhận Nguyễn Du như một thông đạo, thông thư, thông mệnh văn học.

Thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân, biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được? Ðến bản thân ta, ta còn không biết, nữa là… Nếu trường phái hiện sinh (Sartre) bác bỏ tính chất định mệnh, thì ở Bùi Giáng, định mệnh (Kiều) và hiện sinh giao hưởng với nhau thành một cấu trúc tư tưởng mới, tạo nên những vần thơ đậm dấu Ðạm Tiên, hắt ra những ánh siêu thực:

Em chết bên bờ lúa
Ðể lại bên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nhìn chân trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya trốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng
(Mưa nguồn)

Bùi Giáng có những câu thơ rất cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt.

Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
(Hư vô và vĩnh viễn – Mưa Nguồn)

Không gian Bùi Giáng, một cõi hư không đầy dấu hỏi, bồng bế nhau đi, năm này qua tháng khác, một cõi trùng sinh, di động luân hồi.

Những nhịp bước trên đường còn dội mãi
Vang về đâu không vọng lại hồi âm
Của réo rắt riêng một lần mãi mãi
Gió phương trời ủ mộng giữa hoa tâm
Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại
Chẳng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm
Em ngó mãi những chiều về trở lại
Mang những gì về trong cõi trăm năm…
(Chiều – Mưa Nguồn)

Từ Nguyễn Du, Bùi Giáng trích tạo nên một mô típ bạc mệnh hiện đại, mầu sắc siêu thực, tài tử và tài hoa, một chất thơ giao thoa Nguyễn Du Bùi Giáng

Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn
Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau
Ðạp thanh vẽ bóng lộn mầu
Góp dâng cữ gió nghiêng đầu sương mây
Ngõ ban sơ hạnh ngân đài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua
Xin chào giữa bước chân ra
Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn
(Mầu hoa trên ngàn)

Nơi Bùi Giáng còn một mô típ bạc mệnh, cuồng khất, tổng hợp đoạn trường, tồn sinh, ngông ngôn, rất liều và rất loạn, mà cũng là vọng âm của niềm hoang mang tuyệt đối:

Hồng quần rất mực bước ra
Trường quần duệ địa phong hoa lá cồn
Phải rằng nắng quáng dập dồn?
Hay là đèn trút linh hồn oái oăm?
Phải là nguyệt giữa đêm rằm?
Nguyên tiêu lãng đãng lá nằm ngẩn ngơ?
Kể từ hằng thủy ban sơ?
Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang?
Kể từ thu tạ lên đàng?
Rừng phong thu đã quan san nhuộm mầu?
Phải rằng đó trước kia sau?
Hay là sau trước còn tao ngộ gì?
(Con đường ngả ba)
*
Nhưng bi kịch của Bùi Giáng là ông lập lại chính mình.

Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo, về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du… ban đầu làm xuyến xao người đọc: Em về rũ áo mù sa, trút quần phong nhụy cho tà huy bay. Nhưng vì lập lại nhiều lần chúng bị phá giá. Hiện tượng phá giá này có mặt ngay ở những tác phẩm đầu và chủ yếu của Bùi Giáng.

Từ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, năm 62, 63 đã thấy xuất hiện tính chất đoạn trường, tồn sinh như tinh thần chính trong tư tưởng Bùi Giáng: Nguyễn Du, Tản Ðà gặp gỡ Heidegger, Breton phóng sinh một tạng chán đời mới lạ. Bài Rượu Uống trong Lá Hoa Cồn, một thứ đoạn trường ngông rất lãng mạn siêu thực, tiêu biểu cho tính chất lang thang trong cấu trúc thơ Bùi Giáng:

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trăm năm gục hai bờ tử sinh
Ðộng hờ hững chúa điêu linh
Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi
Nhà ma cửa quỷ đi đời
Chìm hơi thở đục trong lời sương xanh
Càn khôn xiêm mỏng che mành
Về trong thiên hạ em thành thiên thân.

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình
Tài hoa tiếng vọng điêu linh
Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.
Thưa em từ bữa nghiêng chào
Chớm trang đầu chợt sóng trào trường giang
Em đi rắc lá trên đàng
Cỏ xanh rì mọc suốt càn khôn kia
Mùa xuân mưa rưới mộng lìa
Về trong nắng hạ mép bìa sai bâu

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma
Chạy quang cồn cụm lá già
Rách như bươm suốt ruộng sa mạc đồng
Càn khôn gió đổ chất chồng
Rú như beo rống như hùm đổi hang
Trên rừng dưới lũng tan hoang
Vẫn sừng sững bóng chắn ngang quỷ sầu

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm bao
Nhìn nhau trong lũy ngoài hào
Lời phôi dựng một điệu chào dị sai
Trên đầu thế kỷ chia hai
Nguồn man mác lạnh tìm ai bây giờ

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận trường
Chung cầm dâu biển khôn lường
Chân trời mộng lý con đường chia ba
Nam đình doanh trại dàn qua
Trống chầu trùng ngộ thưa là không mong
Hoạt tồn phát tiết sầu đong
Tràng giang thế kỷ xô dòng xuống lên

Bài thơ gồm năm nhịp nối tiếp nhau bằng điệp khúc Thưa em rượu uống bây giờ. Mở đầu Thưa em rượu uống bây giờ, điệp khúc mấu chốt, mở cửa dẫn đến câu thơ thứ nhì: Là trăm năm gục hai bờ tử sinh. Cả hai nằm trong cấu trúc song song, tổng hợp quan niệm ngông, đoạn trường và hiện sinh của toàn bài. Câu ba, câu bốn: Ðộng hờ hững chúa điêu linh, Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi, đệm thêm chất lẳng lơ dục tính, nhưng đã loãng đi vì loại hình này được Bùi Giáng dùng nhiều. Rồi Chìm hơi thở đục trong lời sương xanh, một câu rất hay bị đặt bên một câu lãng xẹt: Nhà ma cửa quỷ đi đời.
Nếu chúng ta đọc đến nhịp thơ thứ nhì:

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình

cũng vẫn thấy nguyên những nhược điểm như nhịp thơ đầu, tức là trong phần thơ đệm có những vội vàng, dễ dãi, ghép chữ, ghép ý rất sáo: Tài hoa tiếng vọng điêu linh, Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.

Ở những nhịp sau, thì ngay chính điệp khúc mấu chốt:

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận trường

đã có sự lập lại chính mình, như thể nhà thơ tiện tay bắt được chữ nào vội bỏ ngay vào lục bát, không màng nhìn lại những câu thơ đầu nữa.
*
Tất nhiên láy là một quy ước rất thường trong thi ca. Nhưng láy chỉ làm tăng giá trị thơ khi nó đưa đến những dồn dập hoặc trong cảm xúc, hoặc trong nhịp điệu, hoặc trong sinh động… Tức là láy phải đưa tới một trạng thái căng thẳng, tới một vận tốc khác trong tiến trình âm và ý.
Ví dụ:

Này chồng, này vợ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

là một trong những cách láy của Nguyễn Du, vừa tăng vận tốc miêu tả, vừa gia tốc sức ép của hiện thực, rành rành, chính xác, chỉ mặt, chỉ tên.
Hoặc:

Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi

Láy ở đây lũy thừa mật độ ác liệt của Tú Bà.
Hoặc:

Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu

Mỗi lần láy này là một lần Nguyễn Du chuyển cảnh, chuyển tình.

Sự láy lại, nơi Bùi Giáng, rất thường khi chỉ là láy dập dình tại chỗ, láy lười, thấy hợp vần, tiện thể thì láy. Láy hồ đồ ít khi mang tới trạng thái mới, cảm xúc mới, hoặc một sức ép gia tăng, mà chỉ cho ta một cảm tưởng dằng dai, lai tạp:

Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều khe mương
Hãy mang tôi tới dặm trường
Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia
(Sa mạc trường ca, Cầu Nguyện Ca)
*
Jacques Brel, năm 1966, khi tuyên bố ngừng hát ở tột đỉnh danh vọng, trả lời câu hỏi: “Tại sao ông ngừng hát lúc này?” Brel bảo: “Tôi ngừng vì muốn giữ lòng ngay thẳng với thính giả và với chính mình. Bởi vì khi người nghệ sĩ như tôi, đã nắm vững được tất cả những yếu tố kỹ thuật làm lay động lòng người, thì người đó sẽ có khuynh hướng ăn gian (tricher), phong tỏa người nghe bằng tất cả những kỷ sảo của mình, và khi tôi biết mình sắp đi đến chỗ bước vào kỷ sảo , tôi ngừng.” Tất nhiên, Brel chỉ ngừng hát hai năm và năm 68, khi ông trở lại với âm nhạc, đã với một tinh thần khác, hẳn Brel biết mình đã đoạn tuyệt được với ý định dùng kỷ sảo để thu phục lòng người. Và Brel ở lại với âm nhạc thêm sáu năm nữa.

Ở Bùi Giáng hình như không có sự tự giới ấy. Cho nên biết bao lần người đọc tiếc, giá Bùi Giáng đừng ham chơi, chịu khó dừng lại ở chỗ đáng dừng để những câu thơ sáng giá như:

Bụi thu mờ ai phủi với hai tay

hoặc:

Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi còn giữ đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù

khỏi bị lọt vào khu rừng hoang, ôm đồm những lời thơ vội vàng, mọc lên như cỏ dại.
*
Ám ảnh đoạn trường, tư tưởng và ngôn ngữ Nguyễn Du theo đuổi Bùi Giáng suốt đời. Những tập thơ mới nhất, in ở hải ngoại những năm gần đây càng lộ rõ. Trong những cuốn Thơ Bùi Giáng (sđd), Bùi Giáng 94 (in tại California năm 95), và một phần tập Chớp Biển (sđd), Bùi Giáng tìm về người thầy Nguyễn Du như một cứu cánh. Hầu như mỗi bài thơ của ông đều có ít nhất một chữ hoặc một câu của Nguyễn Du. Và cấu trúc toàn bài thường dựa vào ý một câu Kiều:

Rằng xưa ký ức đàn bà
Tên là phụ nữ, tuổi là dấn thân.
…..
Trước đèn một tập mở ra
…..
Biển dâu lục địa cõi miền
…..
Cảo thơm lần giở gió giăng dậy thì

Ám ảnh “mù sa”, ám ảnh “chỉn e”, ám ảnh “vân mòng”, “mai sau”, “trăm năm”, “ngẫu nhĩ”, “phong tình”, “cổ lục”, “dặm về”, “tử sinh”... trở thành lớp da thứ nhì của Bùi Giáng:

Rừng phong thu đã nhuốm màu
Quan san ngần ấy tư trào ngần kia
…..
Chốn nào mộng mị chiêm bao
Chốn này tỉnh táo tiêu tao vân mồng

Từ cảnh sang tình, từ mơ sang thực, ám ảnh ngôn ngữ trở thành ám ảnh tư tưởng. Bùi Giáng đã cạn dần hồn mình và sống hồn Nguyễn Du trong đoạn cuối đời:

Em đi từ tỉnh mộng đầu
Một mình anh ở mang sầu trăm năm

Em từ vô tận xa xăm
Trùng lai chất vấn: Từ trăm năm nào?

Những câu hỏi mà Bùi Giáng trải suốt đời thơ, thắc mắc, tìm kiếm, đặt nghi vấn về cõi đi, cõi ở, cõi có, cõi không, biết đâu hôm nay Bùi Giáng chẳng đã tìm được Nguyễn Du ở một cõi trùng lai nào đó, và ông đang chất vấn người thầy về nỗi đoạn trường ấy, từ trăm năm nào?

Thụy Khuê

Chú thích:
(1) trích theo Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Hồn Thơ Bị Vây Khổn, Văn, số đặc biệt Bùi Giáng, tháng 5 năm 1973.
(2) Trừ một số bài như bài của Tạ Tỵ, trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, in năm 1972, tại Sài gòn, tái bản ở Hoa Kỳ và các bài viết của Thanh Tâm Tuyền, Cao Huy Khanh, Trần Hữu Cư, Nam Chữ, Tuệ Sỹ, Trần Tuấn Kiệt và Thục Khưu trên báo Văn, số đặc biệt Bùi Giáng, tháng 5 năm 1973 tại Sài gòn.
(3) trích theo Thanh Tâm Tuyền, s đ d.
(4) trích theo Thanh Tâm Tuyền, s đ d.
(5) nhà xuất bản Thế Kỷ in năm 1994 tại Hoa Kỳ.
(6) trong cuốn Chớp Biển, thơ Bùi Giáng in tại Canada năm 1996.

Nhất Linh với Hội Bút Việt và Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay. Tài liệu văn học Nhật Tiến.


Lời người viết : Bài viết này được soạn thảo trong dịp nhà văn Phạm Phú Minh và bằng hữu chuẩn bị tổ chức 2 ngày “Triển lãm và Hội Thảo về hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay”  ở Nam Cali vào đầu tháng 7-2013.

Những tưởng buổi Hội thảo chỉ có quy mô hẹp, không rầm rộ như sau này mọi người đã thấy, nên tôi đã đáp ứng ngay lời mời  đóng góp một bài trong cuộc Hội Thảo do nhà văn Phạm Phú Minh nhân danh Ban Tổ Chức chuyển đạt, và tôi đã hoàn tất bài viết này ngay từ cuối tháng 5-2013.

Qua đầu tháng 6, nhà văn Phạm Phú Minh công bố trong vòng nội bộ toàn bộ chi tiết của hai ngày tổ chức và cho tới lúc này tôi mới thấy sự nhận lời mời tham dự của tôi là một điều không mấy thích hợp đối với mục tiêu của ban Tổ Chức.

Lý do: Các diễn giả trong suốt 2 ngày tổ chức đều tập trung vào chủ đề “Tự Lực Văn Đoàn” với những công trình tốt đẹp mà Nhất Linh cùng các văn hữu của ông đã thực hiện được. Đây là một nỗ lực hết sức công phu của Ban Tổ Chức và nội dung các bài phát biểu đã nêu ra được một bức tranh toàn cảnh rất đẹp đẽ về Văn Đoàn này. Như thế, bài nói của tôi về các sinh hoạt văn hóa của nhà văn Nhất Linh lúc cuối đời  (Buồn nhiều hơn vui, có những sự thực về tờ Văn Hóa Ngày Nay không thể không nói ra), có thể sẽ làm mờ nhạt hào quang của người đứng đầu Tự Lực Văn Đoàn mà Ban Tổ Chức muốn phô bầy.

Qua đầu tháng 6-2013, tôi đã gửi Email tới nhà văn Phạm Phú Minh nêu rõ ý nghĩ của mình và xin ban Tổ Chức cho tôi được rút tên ra khỏi cuộc Hội thảo. Nhà văn Phạm Phú Minh đã rất thông cảm với sự quan ngại này của tôi nên đã đồng ý hoàn toàn và hẹn sẽ mời tôi hợp tác trong một dịp khác.

Nay cuộc Triển Lãm và Hội Thảo về 2 tờ báo Phong Hóa-Ngày Nay cùng Tự Lực Văn Đoàn đã hoàn tất mà theo báo chí tường thuật thì rất là quy mô và mỹ mãn. Tôi nhận thấy như thế sau đó thì cũng sẽ là thời điểm thuận lợi để tôi cho đăng tải bài viết của mình, hơn nữa tôi lại có dịp có bổ sung thêm vài chi tiết mà trước đây vì phải gò bó trong khuôn khổ một bài nói chuyện, tôi không thể nêu ra được hết.

Xin gọi là một chút đóng góp nhỏ nhoi  về một cái nhìn riêng tư của tôi đối với những sinh họat văn hóa của nhà văn Nhất Linh khi ông ở vào giai đoạn cuối đời. Nếu bài viết có điều chi sai lầm hay thiếu sót, tôi xin sẵn sàng ghi nhận những lời chỉ giáo của bạn đọc.

Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhất Linh và huy hiệu của hội Bút Việt)

Trong mấy năm vừa qua, người quan tâm đến công cuộc bảo tồn văn hóa bỗng rất ngạc nhiên và vui mừng khi được biết đã có nhiều nhóm thiện chí ở nhiều nơi khác nhau đang nỗ lực phục hồi những công trình ấn loát đồ sộ và giá trị của thế kỷ trước bằng cách “số hóa” những bộ báo giá trị như Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị, Phong Hóa, Ngày Nay, Tập San Sử Địa,  và ngay cả bộ Văn Hóa Ngày Nay thời hậu chiến.

Thế rồi, những nỗ lực ấy, dù xuất xứ từ bất cứ nhóm nào, tất cả cũng đều được hoàn tất. Các bộ báo kể trên vốn chỉ nằm trong thư viện hay trong các bộ sưu tập cá nhân với những trang giấy nhiều khi đã ố mầu thời gian thì nay được chuyển thành từng trang báo đọc được rất rõ ràng, và ai ngồi ở nhà cũng có thể vào Internet coi được qua dạng mà vi tính gọi là PDF tức tên gọi tắt của Portable Document Format ( Định dạng Tài liệu Di động)

Riêng công việc số hóa toàn bộ 2 tờ Phong Hóa – Ngày Nay, vì có tài liệu trên Internet nên người đọc mới có thể biết được nhóm thực hiện, trước hết là bà Phạm Thảo Nguyên (nhũ danh Phạm Thị Thảo), con dâu của nhà thơ Thế Lữ- một trong những thành viên chủ chốt của Tự Lực Văn Đoàn. Kế đó là ông Nguyễn Trọng Hiền, quý nam của họa sĩ Cát Tường (1912-1946), còn có biệt danh là họa sĩ Lemûr (Lơ-muya, tiếng Pháp: bức tường), người cùng các họa sĩ khác như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, và cả Nhất Linh ký bút hiệu Đông Sơn khi vẽ, tất cả đã cùng tham gia việc trình bầy và minh họa cho 2 tờ báo.

Ông Nguyễn Trọng Hiền là một nhà nhiếp ảnh nghệ thuật. Ông là người đã bỏ nhiều công trình cho việc ứng dụng  kỹ thuật nhiếp ảnh cho toàn bộ bản số hóa này với sự góp sức về kỹ thuật của các vị như Lê Thành Tôn, Đỗ Thị Kim Dung, Lê Huyền Thanh.

Ngoài ra, trong công trình sưu tập còn có thể các vị khác như Martina Nguyễn Thục Nhi, Đỗ Tuấn Khanh, nhà văn Vu Gia (trong nước) và đặc biệt, có ông Nguyễn Tường Thiết, quý nam nhà văn Nhất Linh, người đã chia sẻ một tư liệu vô cùng quý giá. Đó là Di cảo viết tay “Đời làm báo” của Nhất Linh.

Khi Bộ báo đã được số hóa, coi như tài liệu đã sẵn sàng rồi, thì việc nghiên cứu nội dung của nó trên bình diện chính trị, văn hóa, xã hội cùng vai trò của nó trong thời kỳ ấy là một việc rất nên làm nếu không muốn nói là rất cần thiết.

Nhà văn Phạm Xuân Đài cùng nhóm thân hữu của ông đứng ra tổ chức một tuần lễ triển lãm Phong Hóa Ngày Nay cùng một số bài tham luận đọc trong dịp này đã là một công trình khởi đầu cho công cuộc nghiên cứu lâu dài kể trên.

Do nhã ý của ban Tổ chức, tôi được mời tham dự một bài phát biểu về Bộ báo Phong Hóa-Ngày Nay này. Tuy nhiên vì chỉ chuyên việc sáng tác và không có sở trường trong vấn đề nghiên cứu những công trình văn hóa nên tôi chỉ xin được đóng góp phần nhỏ bé của mình dưới một đề tài khác, tuy không đi  hẳn vào chủ đề chính  nhưng cũng liên quan ít nhiều  đến người chủ chốt của hai tạp chí Phong Hóa và Ngày Nay. Đó là nhà Văn Nhất Linh khi ông ở vào giai đoạn sau Phong Hóa Ngày Nay, tức những sinh hoạt văn học nghệ thuật thời kỳ cuối đời của ông, qua hai hoạt động văn hóa: Hội Bút ViệtGiai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay.

Hội Bút Việt

(sau đổi danh xưng thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam)

thumbnail_huy_hieu_van_but-color-1

 Theo nhà biên khảo Đoàn Thêm (1915-2005), tác giả bộ sách Hai Mươi Năm Qua (1945-1964), việc từng ngày thì Hội Văn Bút Việt Nam được chính thức thành lập ở Sài Gòn vào ngày 21-10-1957.

Và đáng ngạc nhiên thay, cũng theo tác giả Đoàn Thêm thì Hội Văn Bút Việt Nam đã xin gia nhập và được Hội Văn Bút Quốc Tế chấp nhận trong Đại hội Văn Bút QuốcTế lần thứ 29 tại Tokyo (Nhật Bản) ngày 2-9-1957, tức là trước ngày chính thức thành lập ở VN tới gần 2 tháng!

Ta có thể lý giải sự kiện tréo cẳng ngỗng này như sau : “ Một nhóm nhà văn, nhà báo vào thời kỳ đó đã tự động ngồi lại với nhau, lập thành một nhóm cầm bút để xin gia nhập Tổ chức Văn Bút Quốc tế (tên gọi chính thức hồi đó là PEN Club International, với ý nghĩa PEN  là cây bút, mà cũng là chữ mang 3 mẫu tự đầu liên quan đến giới cầm bút, như P = Poetes, Playwrights, E= Essayists, Editors, N=Novelists).

Hẳn cũng vì muốn dịch chữ PEN trong tên gọi mà Nhóm lấy tên là Hội Bút Việt.

Rồi sau khi được sự chấp thuận của Văn Bút Quốc Tế, Hội Bút Việt mới xin giấy phép hoạt động ở trong nước và do đó mới có ngày chính thức thành lập trễ gần 2 tháng như tác giả Đoàn Thêm đã  ghi lại.

Văn nghệ sĩ thành lập Nhóm Bút Việt bao gồm nhiều cây bút lão thành. Có thể kể : Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vũ Hoàng Chương, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Hoạt, Mặc Thu, Nguyễn Thiệu Lâu, Bùi Xuân Uyên, Lê văn Siêu, Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, Phạm Việt Tuyền, Nghiêm Xuân Việt, Lê văn Hoàn…v..v…

Nhóm tự nhận mình là “Một cây cầu vòng nối hai chân trời”, đó là chân trời văn hóa dân tộc với chân trời thế giới.  Trong bài nhận định đăng trên Kỷ Yếu Bút Việt (mà Văn Hóa Ngày Nay in lại), trong có đoạn nói:

Chiến tranh thứ hai chấm dứt. Những chân trời mới đã mở rộng ra cho những con người văn hóa chúng ta. Thế giới tự do đã dần dần tiến tới cuộc sinh hoạt cộng đồng về mọi mặt, vậy không có lý gì chúng ta chỉ thiên trọng phần tìm hiểu mà sao lãng phần tự giới thiệu. Chính vì mục đích đó  mà Trung Tâm Bút Việt  của tổ chức Văn Bút Quốc Tế  được thành lập”.

Khi thành lập, Nhóm  Bút Việt  tuyên bố:

Nhóm  không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có chủ trương cương lĩnh hoặc đường lối nhất định nào hết.  Nó không phải là một văn đoàn, văn phái. Cũng không phải là  một hội ái hữu.  Bút Việt chỉ là một  câu lạc bộ  của các nhà cầm bút muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến về sáng tác, về công phu tìm hiểu cũng như công phu giới thiệu”.

Như vậy trong buổi khởi đầu, Nhóm Bút Việt đã hình thành trong một ý niệm hết sức rộng rãi và tự do. Các thành viên của Bút Việt sinh hoạt như một Câu lạc bộ và không có sự bầu bán nào. Mọi chức vụ điều hành hầu như chỉ theo cung cách phân công. Theo nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt thì Nhà văn Nhất Linh nhận chức vụ Cố vấn theo lời thỉnh cầu của nhiều người và chức vụ Chủ Tịch đầu tiên của Bút Việt là nhà văn Đỗ Đức Thu. Qua năm 1959, Bút Việt đã  tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 30, họp tại  Francfurt (Tây Đức). Phái đoàn Việt Nam gồm có Chủ tịch  Đỗ Đức Thu và một hội viên là nhà biên khảo Lê văn Siêu.

Nhân nói đến nhà văn Đỗ Đức Thu, Chủ tịch đầu tiên của Văn Bút, tôi muốn nêu lại sự kiện rằng đã có một thời, văn giới đặt nghi vấn ông có phải là một thành viên của Tự Lực văn Đoàn hay  không ? Nhà văn quá cố Đặng Trần Huân (1929-2003) trong tác phẩm “Những Người Thích Dấu Huyền” do nhà xuất bản Văn Mới in năm 1988, đã khẳng định: “Đỗ Đức Thu không phải thành viên của Tự Lực Văn Đoàn”.

Ông nêu lý do:

1) Theo nhà văn Nguyễn Thạch Kiên viết trong cuốn “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương” do Phượng Hoàng ấn hành năm 1996 thì Tự Lực văn Đoàn có mời Đỗ Đức Thu gia nhập nhưng thời gian đó ông không ở Hà Nội mà đang làm cho Sở Khí Tượng ở Quảng Châu, Trung quốc, kể như việc gia nhập không thành.

2) Ông Đặng Trần Huân cũng cho biết ông chưa hề thấy tác phẩm nào của Đỗ ĐứcThu có in dòng chữ “trong Tự LựcVăn Đoàn” dưới tên tác giả, cho dù nhà văn Duy Lam lại nói chính ông đã thấy tác phẩm Đứa Con của Đỗ Đức Thu có in mấy dòng chữ này ở ngoài bìa. Nhưng vì Duy Lam không có cuốn sách trong tay để làm bằng chứng nên cũng kể như Đỗ Đức Thu chưa có chân trong TLVĐ.

Vào thời gian nẩy sinh ra những nghi vấn đó (1988), sự phát triển của ngành tin học chưa được bao nhiêu. Việc truy cập tài liệu trên Internet còn rất phôi thai và chậm chạp. Nhưng ở thời điểm này (2013), việc truy tầm tài liệu để tìm giải đáp cho một nghi vấn thì không mấy khó khăn gì. Riêng trong vụ này, tôi đã có 2 bằng chứng để có lời giải đáp:

1) Trong Văn Hóa Ngày Nay số ra mắt, Nhất Linh đã chọn in một truyện ngắn của Đỗ Đức Thu, tựa đề là  “Cúng Cơm” và ghi dưới tên tác giả dòng chữ “trong Tự Lực Văn Đoàn”.

2)  Tôi lại cũng đã tìm thấy phóng ảnh tấm bìa tác phẩm Đứa Con của Đỗ Đức Thu, dưới tên tác giả cũng ghi rõ “trong Tự Lực Văn Đoàn” đúng như nhà văn Duy Lam đã nói. Tác phẩm này do nhà Phượng Giang ấn hành năm 1953.  (nguồn: sachxua.net)

4

Như vậy, đích thực “Nhà văn Đỗ ĐứcThu, Chủ tịch đầu tiên của Văn Bút Việt Nam từ năm 1957, cũng đã là một thành viên của Tự Lực Văn Đoàn”.

*****

Trở lại sinh hoạt của Bút Việt, vào khoảng đầu năm 1959 sau khi tôi đã cho in tác phẩm đầu tay Những Người Áo Trắng do nhà xuất bản Huyền Trân ấn hành thì nhà văn Nhất Linh đã giới thiệu tôi gia nhập Hội. Vào thời gian đó thì danh xưng không còn là Nhóm nữa mà trở thành Hội, Hội Bút Việt mà công việc tổ chức đã vào quy củ, như có trụ sở riêng, có con dấu riêng, có nhân viên thường trực được trả lương để trông nom trụ sở, hồ sơ, giấy tờ. Việc quản trị mọi thứ được giao cho ông Tổng thư Ký Phạm Việt Tuyền khi ấy  đang là Chủ nhiệm nhật báo Tự Do.

Theo nhà báo Nguyễn Hoạt  trong bài “Hoài Niệm Nguyễn Tường Tam” in trên báo Văn số 156, ra ngày 15-6-1970 tại Sài Gòn thì trụ sở đầu tiên của  Hội Bút Việt là ở đường Phan đình Phùng nhưng khi tôi gia nhập thì Hội đã dọn về số 39 đường Cô Bắc Sài Gòn. Đây là một con phố hẹp, tọa lạc ở ngay khu Chợ Cầu Ông Lãnh, đi khỏi Chợ, tới đường Đề Thám thì có lối rẽ vào.

Căn phố này có 2 tầng, tầng dưới dành cho gia đình ông Nguyễn văn Hinh, là  thư ký của Hội cư ngụ. Vị thư ký này không thuộc giới nhà văn, chỉ là thư ký hành chánh, nhưng cũng đã gắn bó  với công việc của Hội bền bỉ cho tới tháng 4 -1975 (tôi đã có dịp nhắc tới công lao của vị này trong một bài viết năm 2009 nói về Trung Tâm Văn Bút)

Tầng trên của trụ sở Văn Bút chỉ kê vỏn vẹn có một cái bàn dài để hội họp, một bên vách tường thì có tủ kính đựng sách báo và hồ sơ.

Vào thời gian này, việc gia nhập Hội cũng rất giản dị. Tôi cứ y hẹn tới tham dự một  kỳ họp của Ban Thường Vụ và được các vị hiện diện hôm đó bắt tay chào mừng. Thế là xong! Tôi đã trở thành một Hội viên của Văn Bút ! Dù vậy, sau buổi họp thì tôi cũng phải điền vào một cái đơn xin nhập Hội, trong kê khai đầy đủ Tên, Họ, địa chỉ, năm sinh, nơi sinh, bút hiệu, các báo đã từng cộng tác và tác phẩm đã xuất bản.

Theo đúng chủ trương nhận mình là “Một cây cầu vòng nối hai chân trời”, Hội Bút Việt rất chú trọng đến công việc dịch thuật, nhất là việc dịch một số truyện ngắn của các nhà văn VN ra Anh và Pháp ngữ. Truyện dịch xong thì đăng trong tập Kỷ Yếu của Hội. Cũng có vài truyện được gửi đi dự Giải Truyện Ngắn của các nhà văn trong khu vực Á Châu và Thái Bình Dương (Pacific Rim). Hai tác giả VN có tác phẩm được gửi đi dự giải mà tôi còn nhớ là nhà văn Bình Nguyên Lộc ( Ba Con Cáo) và nhà văn Linh Bảo (Tầu Ngựa Cũ ?). Về dịch giả thì phải kể tới hai người vẫn tham gia việc phiên dịch bền bỉ cho tới năm 1975. Đó là Luật sư Nghiêm Xuân Việt, người chuyên dịch ra Pháp ngữ và dịch giả Lê văn Hoàn chuyên dịch ra Anh ngữ.

Hội Bút Việt cũng tổ chức nhiều buổi nói chuyện về Văn học-Nghệ thuật như trong năm 1958 có vài  buổi như Ông Vũ Huy Chấn, trong ban Chèo Cổ Đào Duy Từ thuyết trình về Chèo Cổ, nhà báo Phạm Việt Tuyền nói về  “Vấn đề nghiên cứu Văn Hóa Á Châu với ý thức hệ Dân tộc”, nhà thơ Vũ Hoàng Chương nói về  “Giấc mộng giải thoát của Thi nhân” . Khi Hội chưa có trụ sở riêng khang trang thì các buổi nói thường được tổ chức tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ hay Hội trường của Đại Học Văn Khoa, còn những năm về sau thì các buổi nói chuyện hàng tháng được tổ chức tại trụ sở của Hội ở số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn.

Hội Bút Việt về sau đổi danh xưng thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam kể từ nhiệm kỳ Chủ tịch là thi sĩ Vũ Hoàng Chương kế nhiệm nhà văn Đỗ Đức Thu, và Chủ tịch sau cùng là LM Thanh Lãng. Trong những nhiệm kỳ sau này,  ban Thường Vụ tăng cường thêm nhân sự, bao gồm Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và một số Ủy viên như Dịch thuật (Anh, Pháp ngữ), Xuất bản (nguyệt san Tin Sách). Riêng các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ Tịch và Tổng Thư ký thì đều phải thông qua một cuộc bầu phiếu tại Đại Hội Văn Bút được tổ chức cứ 2 năm một lần. Những văn hữu ở xa có thể gửi giấy ủy quyền để tham dự bầu cử. Chương trình hoạt động của Văn Bút do đó ngày càng phong phú với sự tham gia đông đảo của nhiều văn nghệ sĩ trong các hoạt động. Có thể kể  như Hội mở Câu Lạc Bộ Văn Nghệ sĩ để các nhà văn, nhà thơ, nhà báo lui tới gặp gỡ nhau bàn chuyện văn nghệ riêng tư; rồi tổ chức các buổi nói chuyện hàng tháng, ra tờ nguyệt san Tin Sách chỉ chuyên loan những tin tức về sách hay các bài phê bình sách, các bài nói chuyện trong tháng. Văn Bút còn lập Giải Văn Chương hằng năm, như năm đầu (1970)  dành cho thể Thi Ca (hai nhà Thơ Tường Linh với Sầu Tuổi Đá và Hoàng Lộc với Trái Tim Còn lại chiếm giải đồng hạng), qua năm sau, thể loại Biên Khảo, tác giả Lê Hương với cuốn Lịch Sử Người Việt tại Kampuchea từ năm 1853 đến  1970 đoạt giải, rồi những năm kế tiếp có Thể loại Truyện Ngắn (nhà văn Minh Quân đoạt giải với truyện ngắn Những Ngày Cạn Sữa), Thể Truyện Dài (nhà văn Nguyễn Mộng Giác đoạt giả với truyện dài Bóng Thuyền Say). Cho đến năm 1975 dự tính trao giải cho Thể loại Kịch  thì biến cố 30-4 đã xẩy đến, Hội đã phải hoàn toàn ngưng hoạt động. Ngoài ra, Văn Bút còn đề cử Hội viên ứng cử vào Hội đồng Văn Hóa Giáo Dục, một tổ chức cấp Quốc Gia, theo quy chế Hiến Định. Nhiệm kỳ nào của Hội Đồng cũng có thành viên Văn Bút. Như Nhiệm kỳ I (1972-1974) có LM Thanh Lãng, nhiệm kỳ II (1974-1976) có Nhật Tiến, cả hai đều đắc cử nhân danh đại diện cho Trung Tâm Văn Bút.

1

Trong khuôn khổ bài viết chỉ nói về Nhất Linh nhân dịp triển lãm và hội thoại về hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay, tôi xin tạm chấm dứt phần nhắc tới Hội Bút Việt và xin bước qua phần Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương.

*******

                  Giai Phẩm  VĂN HÓA NGÀY NAY

Tập 1 (Tháng 6-1958)                     Tập 11- (Tháng 4-1959)

Số  đầu                                                Số cuối

2

Năm 1951 nhà văn Nhất Linh từ bỏ cuộc sống lưu vong ở Hồng Kông để trở về Hà Nội. Một năm sau, tức năm 1952, Ông thành lập nhà xuất bản Phượng Giang, sau đổi tên thành Đời Nay rồi Ngày Nay. Nhà xuất bản này trong những năm đầu hoạt động hầu như chỉ chuyên tái bản các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, mặc dù cũng in một số tác phẩm của vài cây viết mới như Nguyễn thị Vinh với Thương Yêu, Hai Chị Em, Linh Bảo với Gió Bấc, Duy Lam với Gia đình tôi, Tường Hùng với Gió mát. Năm 1961, cuốn Thềm Hoang của tôi được ông ấn hành dưới tên nhà xuất bản Đời Nay.

3

Phượng Giang (1953)         Phượng Giang (1954)          Đời Nay (1961)

Năm 1958, Nhất Linh chủ trương Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay mà số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, một ngày mà theo nhà báo Hiếu Chân thì Nhất Linh cố ý lựa chọn vì 17-6-1930 là ngày mà những liệt sĩ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Thực dân Pháp đưa lên đoạn đầu đài  xử trảm tại Yên Bái.

Văn Hóa Ngày Nay (VHNN) không được chính phủ đương thời coi là một tờ báo. Nó chỉ được gọi tên là một Giai Phẩm. Theo dịch giả Trương Bảo Sơn, một đồng chí thân cận của Nhất Linh  thì  vì  chính quyền lo ngại tên tuổi của Nhất Linh nên VHNN không được phép xuất bản như một tạp chí được phát hành có định kỳ. Ngoài ra, theo ông thì  tờ báo còn bị Cơ quan kiểm duyệt Bộ Thông Tin cố tình giữ lâu mới trả bản thảo để mang in, gây tình trạng báo ra chậm trễ nên không thể có hạn kỳ nhất định cho ngày ra báo.

Trong bài “Văn Hóa Ngày Nay với Văn Hóa Việt Nam” mở đầu cho số ra mắt, coi như một “tuyên ngôn về văn hóa”, nhà văn Nhất Linh nhận định:

Văn Nghệ Việt Nam hơn mười năm nay vẫn ở trong tình trạng ngưng đọng, chưa tìm được lối đi. Một số lớn bình luận gia và văn nghệ sĩ cho rằng văn nghệ chậm tiến vì không biết phụng sự thời đại; họ cố bắt mạch cho được  ý thức công cộng của nhất thời để khơi xúc động trong lòng độc giả. Thế rồi nhiều tác phẩm ra đời để ướm thử, thăm dò dư luận nhưng chỉ ít lâu sau đều chìm trong lãng  quên !” (VHNN tập I- trang 17)

Để khắc phục tình trạng bế tắc này, Văn Hóa Ngày Nay đề  ra chủ trương :

“ Không đề cập đến vấn đề chính trị, kinh tế, khoa học : tập san của chúng tôi sẽ nặng về phần tìm sống hơn về phần tìm  hiểu(VHNN tập I- trang 18)

( phần chữ in nghiêng là của chính  tòa soạn VHNN muốn nhấn mạnh).

Hẳn cũng đã có nhiều độc giả thấy khó nắm vững được ý tưởng của tòa soạn trong chủ trương này, vì hiểu như thế nào là tìm sống? và tại sao lại gắn chuyện tìm sống với chuyện tìm hiểu để có chủ trương tìm sống sẽ đặt nặng hơn tìm hiểu. Mà nếu coi nhẹ việc tìm hiểu thì thành quả của sự tìm sống sẽ có được tốt đẹp không?

Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì ý nghĩa của hai chữ “tìm sống” hình như đã được giải thích thêm trong đoạn dưới của bài nhận định :

Về tư tưởng, chúng tôi sẽ giải quyết những thắc mắc thời đại và cố đi đến một nhận định đúng đắn về vũ trụ, về đời người; đã đến lúc loài người phải giở sổ soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương lai, tìm chân lý làm kim chỉ nam cho người đời giữa biển khơi sóng gió” (VHNN -Tập I-trang 19)

Đoạn văn này cho người đọc cái cảm tưởng như đấy là một chủ trương của một tổ chức tôn giáo hơn là đường lối chỉ đạo cho nội dung của một tờ báo. Nhưng ở nhiều trang  khác, nhà văn Nhất Linh lại đã luôn luôn nhấn mạnh đến quan điểm nghệ thuật của Văn Hóa Ngày Nay là: “ Văn chương phải có giá trị vượt thời gian và không gian”.

Quan điểm này không có gì phải thắc mắc. Trong gia tài văn hóa dân tộc đã có đầy rẫy những tác phẩm có giá trị “vượt không gian và thời gian”. Nhưng trong sinh hoạt chữ nghĩa, dù là sách hay báo, nhiều khi những vấn đề nhỏ nhặt thời sự hàng ngày – hay nói theo ngôn từ  của Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay là ý thức công cộng của nhất thời sẽ cũng vẫn là những nhu cầu của độc giả. Nhất là trong bầu không khí khởi sắc của những năm cuối thập niên 50’s, dân chúng miền Nam bắt đầu tạo dựng cho mình một đời sống tự do khác biệt với miền Bắc CS.

Ở thời điểm đó, sau cuộc chia đôi đất nước mới chỉ vài ba năm nên có thể coi như một vết chém chia lìa dân tộc chưa ngưng rỉ máu. Cuộc di cư khổng lồ với cả triệu con  người từ Bắc vô Nam tất gây xáo trộn trong cả nước và như thế  thì hẳn đời sống có rất nhiều vấn đề thời sự nóng hổi bầy ra trước mắt. Vậy thì việc từ bỏ ý thức công cộng của nhất thời để chỉ đi tìm những đề tài vĩnh cửu sẽ có khiến cho người sáng tác quay lưng lại với thực tế hay không?

Nói thế không phải tôi phủ nhận quan điểm làm báo của VHNN. Thế giới chữ nghĩa là cả một rừng hoa với nhiều mầu sắc. Văn Hóa Ngày Nay đương nhiên là một tạp chí tô điểm thêm cho sinh hoạt báo chí thời đó vốn đã vô cùng sôi nổi với nhiều tờ báo danh tiếng khác như Đời Mới, Vấn Đề, Sáng Tạo, Bách Khoa, Văn Hóa Á Châu, Quê Hương..v..v..

Tuy nhiên, sau vài số đã phát hành, có vẻ như Văn Hóa Ngày Nay đã hiện diện như một bông hoa tuy nhiều hương sắc nhưng lại có vẻ như lạc lõng giữa dòng đời đang trôi đi hối hả. Đọc những trang chính Nhất Linh trả lời thư độc giả ở những số đầu, ta thấy hầu như Ông chưa nhận ra được sự lạc lõng này. Ông vẫn bộc lộ sự chủ quan qua những lời lẽ như nhận mình là con voi nằm thù lù trong sở thú, hay trách độc giả sao bắt ông làm việc quá nhiều trong khi ông cũng chỉ có 24 giờ như mọi người…

Mặt khác, Nhất Linh lại là một nhân vật nổi tiếng với nhiều thành tích văn học quá lẫy lừng. Phải chăng chính sự nổi tiếng này đã trở thành một yếu tố bất lợi cho chính ông bởi vì các độc giả đã kỳ vọng ở nơi ông quá nhiều. Cứ nhìn số báo ra mắt Văn Hóa Ngày Nay được đón nhận thế nào thì đủ thấy. Theo học giả Đoàn Thêm trong cuốn “Hai Mươi Năm Qua, việc từng ngày”, thì VHNN số đầu tiên đã bán hết tới 10 ngàn số, và Thế Uyên, người cháu gọi Nhất Linh bằng Bác còn tiết lộ trong cuốn “Chân Dung Nhất Linh” do tạp chí Văn ấn hành, rằng:

Trước khi phát hành Văn Hoá Ngày Nay số 1, Nhất Linh dự đoán sẽ bán được năm ngàn số. Duy Lam lạc quan hơn, đưa con số tám ngàn. Tất cả đều đoán sai. Tám ngàn là con số bán hết trong mấy ngày đầu, sau đó phải in đi in lại nhiều lần.”

Nếu đúng như thế thì đây là một kỷ lục mà sau đó chưa có một tạp chí văn nghệ nào theo được bén gót. Nó cũng nói lên rằng độc giả đã quý trọng và đón chờ công trình văn hóa mới của Nhất Linh như thế nào sau biết bao nhiêu biến cố lớn lao của đời sống, cả chính trị lẫn văn học.

Ta hãy thử xem trong VHNN số đầu tiên đã chứa đựng những gì?

Điểm sơ qua thì thấy Nhất Linh dành tới 6 trang để trả lời thư độc giả xa gần ở nhiều tỉnh từ Huế vào Sài Gòn, từ Biên Hòa, Vũng Tầu xuống  Mỹ Tho, Trà Vinh ….Báo chưa phát hành mà đã có nhiều độc giả gửi thư về tòa soạn đến thế.  Họ có thể là những độc giả tò mò hay hối hả gửi thư chất vấn ông ngay cả khi tờ báo chưa ra số đầu chăng?

Ngoài phần trả lời thư độc giả, Nhất Linh còn viết 4 bài khác, trong đó có 2 sáng tác gồm truyện ngắn Bắn Vịt Trời và truyện dài Xóm Cầu Mới, cộng 1 bài nghị luận “Văn Hóa Ngày Nay với Văn Hóa Việt Nam” như đã nhắc ở trên và thêm một bài khởi sự cho tập biên khảo “Viết và đọc Tiểu Thuyết”.

Nhà giáo Nguyễn Thành Vinh, một đồng chí của Nhất Linh trong lãnh vực chính trị, viết 1 bài bình luận nêu cao chủ trương “Văn chương phải có giá trị vượt thời gian và không gian”, Trương Bảo Sơn dịch Một Bản Đàn của Leon Tolstoї,  Nguyễn thị Vinh có truyện dài Cô Mai,  Duy Lam, một cây viết mới có tới 4 bài, và Tường Hùng cũng là một cây viết mới có 2 bài, hầu hết là loại văn vui. Sau cùng là những truyện ngắn của các tác giả, cả mới lẫn cũ như Khái Hưng, Đỗ Đức Thu, Bình Nguyên Lộc, Linh Bảo, Quỳ Hương.

Một nội dung như thế, có thể gây đôi chút cảm giác ngỡ ngàng cho người đọc sau những ngày chờ đợi. Gọi là ngỡ ngàng vì Giai phẩm VHNN hầu như không đáp ứng được nhu cầu đọc sách của độc giả lúc đương thời. Hàng triệu con người vừa di cư vào Nam, trước cuộc sống mới vô vàn khó khăn, bỡ ngỡ, với biết bao nhiêu nhu cầu đặt ra trước mắt và biết bao nhiêu vấn đề phải đối phó, tất nhiên nội tâm của họ phải sôi động, tâm tình phải gắn bó với cuộc sống đang dồn dập thay đổi xẩy ra từng ngày, từng giờ ở chung quanh. Sống trong một hiện trạng xã hội như thế, hẳn độc giả rất muốn được nghe tiếng lòng của Ông, hoặc nghe ông kể về  những kinh nghiệm dầy dạn trong sinh hoạt cả về Văn Chương lẫn Chính trị khi họ tuyên xưng Ông vừa là một Văn gia, lại cũng vừa là một Chính trị gia lão thành.

Vậy mà trong những trang sáng tác mới,  những nhân vật vượt không gian và thời gian của Ông như Cô Mùi, như Ông Năm Bụng, như Bà mẹ Lê..v..v.. tuy vẫn là những hình tượng vĩnh cửu, nhưng lại thiếu ngọn lửa hừng hực của cuộc sống đương thời và đó không phải là những nhu cầu mà  người đọc đã  nôn nóng chờ đợi như khi vừa nghe tin “nhà văn Nhất Linh xuống núi, ra báo trở lại”.

Cảm nhận này không chỉ ở phía đa số độc giả mà ở ngay cả những người trong nhà, lại là những người cũng đã trở thành nhà văn sau này. Tôi muốn nói đến hai nhà văn Thế Uyên và Duy Lam, những người có họ hàng ruột thịt với Nhất Linh và cũng đã tiếp cận với Ông khi VHNN đang được chuẩn bị ra số đầu. Duy Lam thực sự là một cây bút chủ lực của VHNH, nhưng Thế Uyên thì lại không thấy xuất hiện bài nào. Trong cuốn “Những Ý Nghĩ Của Bọt Biển”, nhà văn Thế Uyên đã thuật lại rằng khi chủ trương ra tờ Văn Hóa Ngày Nay, Nhất Linh đã nói với ông rằng: “ cháu viết được nhưng kiểm duyệt không cho đăng đâu.”

Khi VHNN đã ra được vài số, cả Duy Lam lẫn Thế Uyên cũng đều có cảm nhận giống như tôi đã trình bầy ở trên. Trong tập “Chân Dung Nhất Linh” do tạp chí Văn ấn hành, Thế Uyên đã viết trong bài “Người Bác’ như sau:

“Cả hai đứa đều không chịu nổi những bài khảo luận linh tinh, những bức thư Nhất Linh viết trả lời độc giả. Đọc loạt bài này đôi khi thấy cũ kỹ và lẩm cẩm. Về văn, tuy vẫn phục nghệ thuật phân tích tâm lý, nghệ thuật trình bày nhân vật, nhưng tôi đã cảm thấy Nhất Linh không còn là nhà văn của thế hệ trẻ. Trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới có những nhân vật đặt trong một không gian thật xa cách.”

Điều này hầu như cũng là nguyên do khiến cho chỉ sau vài số, số lượng báo VHNN bán ra đã sút giảm dần.

Dịch giả Trương Bảo Sơn sau này góp bài viết trong cuốn “ Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ-Người Chiến Sĩ” do Thế Kỷ xuất bản năm 2004, đã nêu nhận xét:

Tập Văn Hóa Ngày Nay bán chạy như tôm tươi mấy số đầu, đã bị ế đi. Nhà phát hành độc quyền của chính phủ đã thi hành độc kế không gửi đủ số báo cho các tiệm sách đã đặt mua. Chúng tôi khi buộc báo thành từng bó đã cố ý đánh dấu riêng, khi nhận báo từ nhà phát hành trả về, thấy những dấu ấy vẫn còn y nguyên, tức là nhà phát hành đã không làm đúng nhiệm vụ, đã giữ báo của chúng tôi trong kho, không phân phối đi. Có những tiệm sách đến điều đình mua thẳng báo với chúng tôi để có đủ báo bán, nhưng chúng tôi phải từ chối vì sợ chính quyền gài bẫy. Ðã nghèo lại bị thua lỗ, chúng tôi đành đình bản tờ Văn Hóa Ngày Nay.”

Có thể đấy lý do chính mà tờ Văn Hóa Ngày Nay bị đình bản, nhưng cũng chưa hẳn đó  là lý do duy nhất. Dù tờ báo có bị chính quyền cấm cản bằng những thủ đoạn nào thì cũng không thể bỏ qua yếu tố độc giả, là những người cũng đã ít nhiều tham dự trực tiếp tham dự vào sự sống còn của một tờ báo. Sau vài số báo, có chăng sự kiện độc giả không còn hứng thú theo dõi VHNN như trước nữa nên Nhà phát hành có thể đã  kìm hãm những cọc báo không gửi đi các tỉnh cho đỡ tiền cước phí?

Dẫu sao thì sự sút giảm độc giả hẳn cũng làm nản lòng người chủ trương VHNN. Cũng trong  bài “Người Bác” nói trên, nhà văn Thế Uyên còn cho biết:

“Sau khi Văn Hoá Ngày Nay số 8 phát hành, Nhất Linh tuyên bố với người thân: “Thôi, không làm nữa!”. Bạn bè xúm lại can. Nể người thân, ông chịu để Tường Hùng và Duy Lam tiếp tục. Ra tiếp hai số, ông cương quyết kết liễu Văn Hoá Ngày Nay. “Nó đã làm xong nhiệm vụ!”.

Nếu sự thể đã xẩy ra đúng như vậy thì số báo cuối cùng do Tường Hùng và Duy Lam thực hiện chỉ còn 98 trang kể cả 8 trang quảng cáo, so với số đầu dầy tới 180 trang, tức là về hình thức đã sa sút gần một nửa. Trong ngót 100 trang của số 11, tức số cuối cùng này, truyện dài Cô Mùi của Nhất Linh chiếm tới 25 trang, tức hơn ¼ số báo, một điều khá kỵ trong kỹ thuật làm báo. Cũng như vậy, truyện ngắn Ả Hầu của Đỗ Tốn cũng bị chia cắt thành 3 kỳ (khởi đăng từ số 9), cũng làm độc giả bớt hứng thú theo dõi. Cũng trong số này, nhà thơ Bùi Khánh Đản chiếm tới 7 trang Thơ, cũng là một sự thiên vị  bất thường. Và theo thông lệ, ngòi bút Duy Lam vẫn giữ vai trò chủ lực. Ông có tới 5 bài, 2 bài bình luận : một về Văn, một về Hội Họa, 3 bài còn lại là văn vui. Tường Hùng chỉ có một bài duy nhất “Kiểu mẫu Thanh Niên”, cũng là văn vui.

Ngoài ra, những sáng tác khác vẫn gồm 4 truyện dài của Nhất Linh, Nguyễn thị Vinh, Linh Bảo và bản dịch truyện của Leon  Tolstoї.

Một số báo như thế báo hiệu sự sa sút rõ rệt về mặt  nội dung, càng là lý do để ta có thể đánh giá mức độ đón nhận của độc giả đối với tờ VHNN ra sao.

Tuy nhiên, tờ Văn Hóa Ngày Nay đình bản dẫu vì bất cứ lý do nào, kể cả  sự liên đới của nhà văn Nhất Linh đối với vấn đề chính trị lúc đương thời, thì cũng là một điều đáng tiếc!

Tiếc nhất là VHNN chỉ ra được 11 số nên không còn cơ hội tiếp tục vun trồng và khích lệ những cây bút mới như: Duy Lam, Tường Hùng, Tuyết Hương, Trần Tuấn Kiệt, Lê Tất Điều, Đỗ Phương Khanh, Đặng Phi Bằng.. v.v.. .. và cả chính tôi, Nhật Tiến nữa. Một số người trẻ đã nhờ Văn Hóa Ngày Nay mà có đà để đi được những chặng đường xa hơn.

***

Do quen biết với gia đình nhà văn Nguyễn thị Vinh nên sau khi VHNN đình bản, tôi còn có vài cơ hội gặp gỡ Nhất Linh ở nhà in Việt Liên, đường Gia Long Sài Gòn do bà Nguyễn thị Vinh làm chủ. Có một buổi gặp gỡ mà mãi sau này trong ký ức của tôi vẫn thấy như là mới mẻ, đó là buổi tối của hôm trước khi xẩy ra cuộc đảo chính ngày 11-11-1960. Nhà tôi, Đỗ Phương Khanh thì đã lên lầu trò chuyện với anh chị Trương Bảo Sơn và Nguyễn thị Vinh. Ở tầng dưới, nhà văn Nhất Linh thì ngồi trầm ngâm bên một cái bàn nhỏ, chung quanh đầy những cột ram giấy của nhà in chất cao nghệu.

Thấy tôi, ông mỉm cười và rủ tôi chơi bài domino. Thế là tôi xà vào bên ông, vui vẻ đổ cỗ bài lên mặt bàn và ngắm nhìn ông xếp những con bài nhựa bằng đôi bàn tay đã bắt đầu thấy hơi run run. Có lẽ đấy là lần đầu tiên tôi có cảm giác gần gũi với Ông nhất. Bởi vì sự liên hệ giữa tôi và Ông lúc này chỉ là hai con người trong một trò giải trí chứ chẳng phải là  giữa một nhà văn vốn đã lừng lẫy trong suốt một chiều dài của lịch sử Văn học Việt  Nam,  với một thanh niên mới chỉ có 24 tuổi đời, vừa chập chững đi vào thế giới của văn chương. Tôi nhớ là mình đã “gí” ông tận tình và rất thích thú nhìn đôi lông mày rậm của ông nhíu lại, vầng trán cao ngất phảng phất nhiều nếp nhăn, và mỗi khi phản công lại thì ông mỉm cười, nụ cười nom rất hiền từ và bao dung khiến tôi thấy lòng mình như ấm áp hơn lên.

Trong những giây phút thân ái đó, tôi thật đâu có ngờ là đầu óc của ông lại còn đang suy tưởng về một cuộc đảo chính sắp sửa xẩy ra, chỉ trong vài giờ sau đó!

1 giờ 30 sáng ngày 11-11-1960, tiếng súng bắt đầu rộ lên trong thành phố. Tiếng súng của phe đảo chính!

Cuộc đảo chính mà sau này nhiều người cho là ông không trực tiếp tham dự nhưng biết  trước và có ủng hộ tinh thần. Tôi cũng muốn đồng ý như vậy, bởi vì nếu ông là người có dính líu đến nội vụ thì hẳn tối hôm trước, ông đã chẳng ngồi chơi domino với tôi như thế.

Thế nhưng một đồng chí của ông, dịch giả Trương Bảo Sơn trong bài “Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam” in trong cuốn “Nhất Linh, người chiến sĩ – người nghệ sĩ”, do Thế Kỷ 21 xuất bản năm 2004, thì lại cho biết về việc làm truyền đơn trong biến cố 11-11-1960 này như sau :

Khi thảo truyền đơn, trong danh sách những người ký tên, chúng tôi đã để tên Nguyễn Tường Tam lên đầu, rồi mới tới tên các cụ Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Văn Văn, Nguyễn Xuân Chữ v.v… Ông Tam đã sửa lại để tên ông sau tên ông Chữ. Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông giải thích: “Anh đừng quên người ta vẫn nói miền Nam của người Nam, mình là người Bắc di cư, phải lưu tâm và tôn trọng điều đó.”

Mặc dù có liên quan hay không thì ông vẫn bị chính quyền quản thúc tại gia và đưa ra tòa xét xử  vào ngày 11-7-1963. Thế nhưng, ngày 7-7-1963 ông đã dùng độc dược quyên sinh vì đời ông, ông chỉ chịu để cho  lịch sử phán xét.

Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao cho văn giới.

Không mất mát lớn lao sao được khi một nhân tài lỗi lạc như thế đã không còn nữa.

Một nhân tài mà quý nam của Nhất Linh, ông Nguyễn Tường Thiết đã tóm gọn một câu về cuộc đời của thân phụ của ông trong cuộc phỏng vấn do ký giả Lê Quỳnh Mai thực hiện trên Tạp chí Hợp Lưu số tháng 7 & 8 năm 2008,  như sau :

“Tôi suy nghĩ về toàn thể cuộc đời ông. Từ hồi ông có bài thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn năm ông mới 16 tuổi, cho đến ngày ông mất năm ông 57 tuổi. Ông đã sống một đời lỗi lạc, làm được quá nhiều việc trong một đời ngắn ngủi. Một người bận rộn như thế, nổi tiếng như thế, thì làm gì có được một cuộc sống thanh thản, bình dị, như cuộc đời nơi mỗi chúng ta?”

Và ông Thiết đã kết luận chính xác như đã nói thay cho mọi người rằng:

“ …Tôi tin rằng sự nghiệp của cha tôi sẽ trường tồn không phải đơn thuần nhờ vào văn tài của ông mà còn nhờ vào sự ngưỡng mộ và quý trọng về cả con người, cuộc đời và cái chết của ông nữa.”

Còn riêng đối với tôi, một người cầm bút sau Nhất Linh cả một thế hệ, khi ông mất đi, tôi vừa thấy đã mất một nhà văn lão thành, vừa mất một nguồn khích lệ lớn lao trên con đường văn nghiệp của tôi vì ông đã khuyến khích tôi rất nhiều sau khi đọc xong bản thảo cuốn truyện dài đầu tay của tôi. Rồi ông lại dành chỗ trang trọng để đăng tải những truyện ngắn của tôi trên tờ Văn Hóa Ngày Nay, tiếp nối công trình của Phong Hóa và Ngày Nay. Ông cũng lại ân cần giới thiệu tôi vào Trung Tâm Văn Bút, nơi mà tôi đã có dịp được sinh hoạt liên tục trong suốt gần 20 năm sau đó, cho đến khi miền Nam mất vào tay CS. Có thể nói tóm gọn, con đường đi vào thế giới Văn chương Chữ nghĩa của tôi đã có được sự khích lệ của nhà văn Nhất Linh rất nhiều.

Để có cơ hội viết bài này, tôi cũng xin cám ơn nhà văn Phạm Phú Minh và những vị trong Nhóm tổ chức Triển lãm và Hội luận về hai tờ báo Phong Hóa – Ngày Nay. Nếu không có lời mời tham dự của quý vị thì tôi không có dịp ngồi ôn lại những kỷ niệm trong lãnh vực văn chương ở vào thuở khai sinh Việt Nam Cộng Hòa mà khi đó mọi người đã cùng gắng công vun đắp một Miền Nam Tự Do với vô vàn sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng mà sức lan tỏa vẫn còn cho đến tận ngày nay.

NHẬT TIẾN

Garden Grove, California ngày 20 tháng 5 năm 2013

Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/sinh-hoat-van-hoa-cua-nhat-linh-giai-doan-cuoi-doi-voi-hoi-but-viet-va-giai-pham-van-hoa-ngay-nay/

Bài Ca Dao Trong Lục Bát Hư Vô. Phê Bình Văn Học Trần Sương Lam.


Trần Sương Lam

Sức sống của ca dao có thể nói là bền bỉ, bất diệt. Ca dao đã đặt nền móng cho thể lục bát hiện đại thăng hoa. Nhiều nhà thơ đã tìm đến thể thơ truyền thống này để làm mới nó và họ đã thành công. Những bài thơ viết theo thể lục bát dễ đi vào lòng người bởi giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, dung dị của ca dao. Với lục bát, bao thi sĩ đã đưa độc giả về lại cội nguồn dân tộc để chúng ta – những người thưởng thức càng cảm nhận cái duyên thầm của ca dao đã ru bao thế hệ Việt Nam sống thật đẹp, thật lãng mạn nhưng cũng thật lạc quan trên cái nền xanh tươi của ruộng đồng, làng mạc Việt Nam.

Thi đàn của cộng đồng người Việt hải ngoại Úc Châu xuất hiện nhà thơ HƯ VÔ – NGƯỜI ĐÃ MỘT ĐỜI ÂM THẦM, LẶNG LẼ TẠO HÌNH, TẠO NHẠC CHO TIẾNG VIỆT và ông đã rất thành công ở thể loại thơ lục bát, thể thơ vốn bắt đầu từ nguồn ca dao bất tận. Như những âm vang của câu hò, giọng hát mà ngôn ngữ đã đi theo ông trong cuộc hành trình chữ nghĩa…

Và xin mời người thưởng ngoạn hãy cùng tôi bước vào thế giới Hư Vô với một bài lục bát tiêu biểu, được trích dẫn từ thi tập Lưng Nguyệt của ông, do nhà xuất bản International Link United (ILU) tại Mỹ, đã in và phát hành.

Ca Dao Chiều

Chiều em phơi nắng trên ngàn
Tóc bay từ thuở dung nhan biết buồn
Tôi còn quấn quít mùi hương
Chưa trăm năm đã hoang đường từ khi.

Một lần em bỏ tôi đi
Đường xa đâu biết có gì cho nhau
Em hiền như điệu ca dao
Thả câu lục bát tan vào hư không.

Giấu quanh chút nắng trong lòng
Em đi vấp sợi tơ hồng dưới chân
Nhìn nhau nửa mắt tình nhân
Mà nghe giọt lệ đã lăn vào đời.

Chiều ru vọng khúc à ơi
Cho lời vàng đá trên môi còn nồng
Vậy mà em đã sang sông
Bài ca dao bỗng mênh mông, lạ lùng…

Hư Vô

Ca Dao Chiều của thi sĩ Hư Vô như một bài ca dao, một khúc ru tình lỡ mà khi đọc xong ta cứ mãi vấn vương với bao nhiêu câu hỏi:

Chiều em phơi nắng trên ngàn
Tóc bay từ thuở dung nhan biết buồn
Tôi còn quấn quít mùi hương
Chưa trăm năm đã hoang đường từ khi.

Buổi chiều trong thi ca đã khơi gợi bao điều. Theo Phạm Nguyên Thảo “… Hoàng hôn, cái rực rỡ của vẻ đẹp sắp tàn phai, của ngày sắp hết, cái vô thường của những áng phù vân lộng lẫy, cái vô nghĩa của cuộc đời, cái nhỏ bé của con người trước thiên nhiên, nỗi cô đơn …bao phủ lấy ta.” Người thơ nhìn cảnh mênh mông bao la của buổi chiều hôm trong núi, tự nhiên thấy dâng lên trong lòng một cảm giác thê lương không duyên cớ, mênh mang thương xót, chứ không vì một nguyên nhân nào khác. Nỗi buồn thương ấy tạo ra từ tâm hồn thi sĩ trước cảnh chiều, nên nó rất thơ, và cũng rất dễ thấy trong văn chương cổ điển.

Thời gian trong ca dao mang tính tâm lý được biểu thị, cảm nhận theo đúng phong vị ca dao, dân ca. Và buổi chiều trong ca dao đã chất chứa nỗi sầu thiên cổ từ vạn kiếp người rồi. Hư Vô đã đưa chiều vào từ đầu tiên của bài thơ như lời đề báo hiệu một khúc nhạc lòng sẽ trỗi lên giai điệu buồn của vạn cổ, buồn của kiếp người đang thấm thía từ nỗi chia lìa.

Cách điệu của “Ca dao Chiều” chính là không gian nghệ thuật ở đây là “nắng phơi trên ngàn”. “Nắng” chiều tôi gọi là nắng hấp hối, “ngàn” cũng không phải là nơi để nắng vùng vẫy, tỏa sáng rực rỡ. Tôi cảm nhận nắng đuối dần, đang thoi thóp, lụi tàn, sự sống đang rời bỏ nơi đây và không gian, thời gian cũng đang hợp nhất tạo thành dấu khắc vô hình “trăm năm- hoang đường”. Trong không gian – thời gian hiu hắt ấy, đôi tình nhân xuất hiện dường như họ được đặt trong trạng thái tương thức: “em- tóc bay- dung nhan- mùi hương / anh- quấn quít- hoang đường”. Em rực rỡ thanh xuân, anh đắm mê, ngây dại. Mà đất trời thì như đang bày biện cuộc người, để cuốn anh và em vào cùng tận điệu ca dao oan nghiệt!

Con gái Sài gòn xưa thích để tóc dài cho xôn xao tà áo nữ sinh. Tóc dài, áo dài đã trở thành vẻ đẹp biểu tượng cho phái nữ. Bao nhà thơ, nhạc sĩ điên đảo vì mái tóc dài, vì tà áo dài mà có lần tôi đã viết “mái tóc dài như dòng nhạc chảy tràn trong thi ca” còn gì đẹp hơn buổi trưa, buổi chiều tan trường, em đi về gió chiều tung bay mái tóc, tung bay tà áo và tình yêu đến một cách diệu kỳ như thế. Người con gái ấy đang ở tuổi “biết buồn”, đang tuổi bâng khuâng, thả tóc dài thênh thang mùi hương con gái đã làm thổn thức trái tim của những chàng trai học sinh, sinh viên thời ấy. Là đề tài cho biết bao nhạc sĩ đã viết đến xanh những nốt nhạc diệu kỳ:

Buồn đã biết rồi từ thuở biết thương yêu
Tình sẽ lớn dần và buồn sẽ thêm nhiều
Mang những vết thương đi trong cõi đời dài
Ôi tuổi buồn ơi! Tuổi còn mài theo ta hoài…
(Tuổi biết buồn – Phạm Duy- Ngọc Chánh)

Nét đẹp về em đã định hình theo một trật tự nhất định: tóc bay- nhan sắc- mùi hương. Sự hợp tấu, giao thoa kỳ bí giữa hình thể, mùi hương; như là một sự kết tụ giữa thân và thần giữa thuộc thể và thuộc linh, thực và ảo cứ vậy mà quấn quít đến ngạt ngào, để chân dung tình yêu trở nên óng ả, lung linh và cũng từ đó đã làm hồn thi nhân bối rối, vụng về bước vào thiên đường tình ái với những đắm say cuống quít không rời:

Tôi còn quấn quít mùi hương
Chưa trăm năm đã hoang đường từ khi.

Tình- khi yêu ai cũng mong êm ả, dài lâu mãi mãi nhưng đâu phải cứ muốn là được và dường như thi sĩ cũng đã cảm nhận những bất trắc, tai ương trên đường tình với một loạt ngôn từ chỉ thời gian đã pha lẫn giữa khẳng định và phủ định, quá khứ, thực tại “chưa, đã, từ khi”. Bước vào cõi tình dẫu đã biết chốn ấy, tình ấy chỉ là mộng tưởng “hoang đường”. Nhưng với thi sĩ đó là thiên đường diễm ảo, một ngày được yêu như thể cả trăm năm. Và ý niệm thời gian ở đây, theo tôi là cách thi sĩ thể hiện niềm hạnh phúc vô bờ của mình: yêu và được yêu. Nhưng tình càng đẹp thường buồn bã và mong manh. Thi sĩ đã tận dụng ngôn ngữ thật chân tình để diễn tả sự mất mát đó:

Một lần em bỏ tôi đi
Đường xa đâu biết có gì cho nhau

Chỉ một lần thôi nhưng đủ kết thúc tất cả. Tôi thấy giọt lệ tình đang rơi, giọt lệ như hạt ngọc long lanh. Tình tan vỡ, thiên đường thành hư không. Trăm năm chỉ có một lần là tan nát. Những thanh bằng rất nhẹ nhưng cả không gian, thời gian sụp đổ, tan hoang.

“Em bỏ tôi đi” ngữ điệu câu thơ bật lên chút tê tái, xót xa. Đường xa ở đây có thể là không gian địa lý mà cũng có thể là không gian trong tâm trạng, cái khoảng cách tâm hồn mới là điều đáng nói khi tình đã hết, khi tình đã xa tất cả chỉ tồn tại một dấu chấm hết. Tôi nghe sự tuyệt vọng đang dâng lên, không gian dường như đã mơ hồ, đã nhòe trong nỗi đau vô hạn “đâu biết có gì cho nhau”, ngoài giọt nước mắt như là chút kỷ niệm để em mang đi như chứng tích của một cuộc tình tan. Mà muôn đời em vẫn là bài ca dao dạt dào trong tôi những lời tình sương khói phiêu linh:

Em hiền như điệu ca dao
Thả câu lục bát tan vào hư không.

Hai câu thơ nhẹ như một làn gió mơn man bởi một so sánh vừa khái quát, vừa tinh tế . Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên đã so sánh người tình hiền như ma soeur để làm nổi bật vẻ đẹp tinh khôi, thánh thiện, toàn bích của người một thời ông đã yêu; Hư Vô lại so sánh người tình hiền như điệu ca dao thì quả là dung dị, đơn sơ mà thật gợi cảm vì ca dao là tâm hồn dân tộc cho ta vị ngọt của tình yêu, cho ta vị êm đềm, phiêu diêu của những dòng lục bát. Ca dao từ khi xuất hiện cho đến bây giờ nó vẫn tồn tại cùng dân tộc. Sự tồn tại của ca dao là sự khẳng định sức sống kỳ diệu của ca dao. Valery đã có một nhận định qua câu nói “Le vrai poète est celui qui inspire.” Dòng thơ thực chỉ đến với những ai có tâm hồn. Phải chăng đây là tuyên ngôn tình yêu của thi sĩ với “em”, em không bao giờ mất mất, em tồn tại, em mãi mãi trong anh. Người thì mù khơi, bóng chim tăm cá, biết đâu mà tìm nhưng sự dịu dàng, mối tình ngây thơ của một thời áo trắng sẽ mãi cùng anh đi theo năm tháng.

Ca dao là thân xác, lục bát là vòng tay. Cứ thế lục bát ôm trọn ca dao vào lòng để ấp ủ cái hương thơ của hồn quê, của tình người. “Em bỏ tôi đi”, đã hết, điệu ru tình có còn cũng chỉ là tiếng thảng thốt vang vào hư không. Tôi cảm nhận nỗi đau được thi sĩ ngắt, rồi nhấn trong nhịp lục bát ca dao dù câu thơ có tới năm thanh bằng. Thơ Hư Vô buồn như ca dao, nhẹ mà thấm mà mênh mang vời vợi, dù thi nhấn đã có thả tan vào hư không nhưng câu thơ, nỗi buồn không như ông muốn, mà nó đã thành sợi tơ vướng víu, quấn quít trong trái tim đồng cảm của những người yêu thơ. Ý tưởng đó làm tôi nhớ đến câu lục bát của Truyện Kiều:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng. (Nguyễn Du)

Đã là tình, nhất là tình lỡ khó mà nguôi ngoai.

Em đi. Tôi ở lại. Tôi cảm nhận, em vẫn còn chưa quên tình yêu của một thời áo trắng. Nó như giọt nắng lung linh le lói mãi thành một quầng sáng trong tim, quầng sáng dõi theo em suốt trên con đường em đi, cho em ấm áp, cho em niềm vui nếu cuộc đời em không mấy khi vui… Có lẽ là em hiểu tình tôi, giọt nắng cuối ngày làm em vướng vít bước chân, vướng vít con tim.. Dừng chân, ngoảnh lại quá khứ, len lén nhìn nhau nửa mắt như sợ “người ta” biết, như sợ tình nhân biết nỗi buồn của em. Cứ thế mà xa dần rồi mất hút- dáng em, bóng em và chỉ còn sót lại “giọt lệ rơi” thầm lặng của em thôi.

Giấu quanh chút nắng trong lòng
Em đi vấp sợi tơ hồng dưới chân
Nhìn nhau nửa mắt tình nhân
Mà nghe giọt lệ đã lăn vào đời.

Ca Dao Chiều cứ thế mà trỗi dậy khúc bi ca. Tôi như thấy giọt nước mắt mình đang rơi như Hư Vô “Mà nghe giọt lệ đã lăn vào đời”. Tôi thực sự cảm nhận câu thơ chính là dòng lệ tôi. Có lẽ, người ta thường gọi đây là sự đồng cảm mà cũng là sự tự thương của những người luôn gặp những bất trắc, tai ương trong tình yêu. Hư Vô không viết mà thấy, thi sĩ viết “Mà nghe”, nhà thơ không viết giọt lệ rơi mà viết giọt lệ lăn thì rõ là chất giọng của ca dao rồi, vì ca dao không làm dáng, khoác áo đơn sơ, mộc mạc nhưng chân thật. Lăn làm tôi liên tưởng đến “lăn lóc” một sự bỏ rơi, không đoái hoài, không quan tâm. Giọt lệ tình mà thi sĩ đã nhỏ xuống cho tình nhân dường như chỉ mình mình biết chỉ mình mình hay. Nỗi cô đơn cũng theo ông từ ngày ấy, đồng hành cùng thi nhân trên những chặng đường đời. Từng câu chữ như những viên sỏi đang bị những dấu chân người đi nghiến nát, sỏi có đau? Sỏi có buồn? Giọt lệ mong manh như những viên sỏi đang lăn trên đường để gió cát, bụi đường vùi lấp. Tình ấy, buồn ấy cũng chẳng tan bởi đã hòa trong trời đất dấy lên khúc bi ca để cứ mãi vang xa. “Mà nghe”. Tôi nghe giọt lệ đang hòa vào nỗi đau của khúc tình buồn để rồi chiều lại đến, lại về. Lời ru buồn của ca dao lại miên man trong hiu quạnh:

Chiều ru vọng khúc à ơi

À ơi… là điệp khúc lời ru trong ca dao. Hư Vô đang thả điệu lục bát để ru tình nhưng không phải là khúc hoan ca mà là khúc ngậm ngùi. Tiếng ru vang trong chiều vắng nghe đến đắng lòng, đến da diết, mênh mông. Hồn của ca dao lại về, không gian đầy ắp những âm thanh buồn bã đến ngậm ngùi:

Cho lời vàng đá trên môi còn nồng

Lời trách. Em quên rồi lời ước hẹn thủy chung, em quên rồi những lời vàng đá sẽ mãi mãi yêu tôi, em quên rồi những nụ hôn nồng nàn quá khứ. Quên. Lãng quên. Quên hết. Để tôi ở lại nơi này. Không em. Để tôi ở lại nơi này với lời vàng đá thuở xưa; để tôi ở lại nơi này môi nồng lời ước hẹn. Không gian nhờ lời ru mà thành bát ngát, nỗi đau thấm vào lời ru mà nồng nàn, điệu à ơi cho câu ru như kéo dài, kéo dài cả nỗi nhớ tiếc khôn nguôi, kéo nỗi buồn thành vô biên, vô lượng. Chiều mênh mang nỗi nhớ, chiều mênh mang nỗi buồn. Nỗi buồn vọng từ quá khứ đến hôm nay để rồi đọng lại thành khúc ru chiều – khúc ru của tình tan:

Vậy mà em đã sang sông

“Vậy mà” là một sự ngạc nhiên, là một sự thất vọng, một sự đau lòng… về người con gái mà nhân vật trữ tình, yêu và đặt hết niềm tin vào đó. Tôi cảm nhận giọt nước mắt đã khô rồi, bầu lệ nóng đã cạn dòng. Chấp nhận duyên phận ngắn ngủi “có ngần ấy thôi”, giọng thơ trĩu nặng nỗi buồn khi “em đã sang sông”. Ý thơ làm tôi liên tưởng đến bài dân ca Nam bộ Lý Con Sáo:

“Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay xa” (Dân ca)

Em như cánh chim bay không bao giờ trở lại nơi này. Tình xưa còn vọng để thành lời ru. Giọng à ơi… của khúc hát ru tình lỡ cứ xoáy vào tim ta những nỗi buồn không tên. Ca dao lại về trong câu hát ru chiều, trong câu ca lỡ làng của chuyến đò tình không bến đỗ:

Đó đây cách trở vì đâu
Trách thay con tạo cơ cầu đa đoan (Ca dao)

Em đã đi rồi.. Tôi nhớ đến Những giọt lệ của Hàn Mặc Tử:

Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ. (Hàn Mặc Tử)

Với Hư Vô người đi để lại cho chàng thi sĩ một nỗi đau mênh mông. Tôi nghe một tiếng thở dài thật nhẹ như lời ca dao tình lỡ:

Bài ca dao bỗng mênh mông, lạ lùng…

Câu chữ chuẩn xác đủ để diễn tả thần thái của ca dao. Ca dao vốn là cung đàn muôn điệu, mỗi người hiểu ca dao theo cách của riêng mình. Mỗi thời đại, ca dao lại có một cách thấu hiểu riêng, tôi gọi đó là sức sống bền bỉ của ca dao phải chăng vì thế làn điệu dân gian ấy vẫn cứ làm say lòng bao thế hệ người Việt Nam. Phạm Duy trong Tình Ca ông đã từng khẳng định:

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
À à ơi! Tiếng ru muôn đời. (Phạm Duy)

Bài ca dao Chiều của Hư Vô vẫn là cái cảm xúc của người Việt về quê hương, đất nước với tự hào về kho tàng quý báu của văn học dân gian và cũng là cảm nhận mối tình đã qua của nhà thơ. Tình yêu đến rồi tình yêu đi, mang đến hoan lạc, hạnh phúc lẫn thương đau. Đó là sắc màu của tình yêu, của cuộc đời và cũng của ca dao. Thần thái của bài Ca Dao Chiều theo tôi nằm ở câu kết của bài: Đẹp, sâu ở từng câu chữ. Một phát hiện tự nhiên đầy bất ngờ “Bài ca dao bỗng mênh mông, lạ lùng” và tâm ý của bài thơ vì thế không kết ở dấu chấm hết mà tuôn chảy tự nhiên như dòng đời, dòng tâm cảm, dòng lệ thương cho những mối tình chóng vánh đã vội đi.

Ca dao đẹp ở những dòng lục bát ngọt ngào khi cất lên thành những điệu hò, những khúc hát ru vỗ về ta, nhắc nhở ta buồn có buồn thật đấy, có não nề, da diết thật đấy nhưng rồi sẽ nguôi ngoai vì nỗi niềm đã ngỏ, đã được sẻ chia, đã được thấu cảm. Tôi hiểu câu kết của bài đơn giản như vậy. Phải chăng vì thế khúc Ca Dao Chiểu của thi sĩ cứ mông lung, cứ lạ lùng khi ta tìm đến thi sĩ nghe ngâm vịnh khúc Ca Dao Chiều để rồi sau đó ta lặng đi trong một nỗi ngậm ngùi và cũng chợt nhận ra hình như đã ít nhất có trong đời mình một lần ta đã từng chênh vênh, mộng mị, đớn đau khi bước qua một mối tình không trọn vẹn.

Ca Dao Chiều khúc ru tình đẹp trong sự mất mát. Mất mát mà không tàn phai. Mất mát trong nỗi nhớ nhung khôn nguôi và nỗi nhớ ấy đã trở thành khúc ru tình góp vào thơ hiện đại Việt Nam một thi phẩm đẹp như ca dao, đẹp như điệu hồn dân tộc.

Trần Sương Lam

Hạ Sơn. Kịch lửa trại hay sân khấu của Nhà Văn Nhật Tiến.


Nhật Tiến

NHÂN VẬT

– Tráng sĩ……trạc 30 tuổi
– Thần Đá……ngoài 80 –
– Người Máy

Y phục: – Tráng sĩ bận quần áo võ sinh, chít khăn đầu rìu thắt lưng bỏ múi, tay cầm kiếm, vai đeo tay nải.

– Thần Đá bận áo Đạo Sĩ, râu tóc bạc, tay cầm chòm lông bạc gắn trên đầu một cây gậy ngắn.

– Người máy chân tay đeo ống kiểu Ro-bot.

Thời gian: Đêm trăng của một ngày thuộc hậu bán thế kỷ 20.

Không gian: Cảnh rừng núi u tịch.

Trang trí: Vài phông cảnh rừng núi. Sân khấu trống trơn. Mé bên trái, bên cạnh bụi cây là một tảng đá.

LỚP I

Tráng Sĩ rồi Thần Đá

Tráng sĩ: (Ở trong bước ra, nhìn trời quanh quẩn rồi hạ tay nải xuống) Trời đã về khuya. Đêm trăng lại sáng vằng vặc. Cảnh trí đẹp tuyệt vời. Ta nghỉ chân ở đây rồi mai đi sớm (lại gần tảng đá, xách tay nải để bên cạnh. Trở lại giữa sân khấu, rút kiếm ra khỏi vỏ ngắm nghía rồi cất giọng ngâm):

Trời đất ngủ, nhưng lòng ta không ngủ
Ba mươi năm chờ đợi phút này đây
Ba mươi năm mang nặng nghĩa ơn Thầy
Xin ghi tạc, thề một lòng báo đáp
(lại phiến đá mài kiếm rồi giơ kiếm lên)
Hồn Kiếm ơi, ba mươi năm rằng rặc
Ta cùng mi bầu bạn giữa non cao
Trong rừng sâu, nung nấu chí anh hào
Hồn Kiếm với hồn ta hòa một điệu
Khi thong dong giữa đêm dài huyền diệu
Khi sục sôi giữa gió núi mưa rừng
Khi cô đơn, khi thánh thót vui mừng
Lòng khắc khoải, chờ mong ngày Nhập thế
Ngoài Đại Nghĩa đâu còn gì đáng kể
Kiếm đã reo trên cổ lũ hung tàn…

(có tiếng cười ròn rã ở phía đằng sau, tráng sĩ giật mình quay lại)

Thần Đá: (xuất hiện phía đằng sau tráng sĩ, nhại lại): Kiếm đã reo trên cổ lũ hung tàn (lại cất tiếng cười ngạo nghễ)

Tráng Sĩ: Người là ai? Tại hạ có gì thất thố để khiến người giễu cợt?

Thần Đá: (chỉ vào tảng đá) Ta là Thần Đá. Hóa thân của ta là tảng đá. Tráng Sĩ không làm điều gì thất thố cả, nhưng ta cười vì lời tâm sự tráng sĩ vừa thổ lộ đó.

Tráng Sĩ: Tại hạ không hiểu.

Thần Đá: Tráng sĩ hiểu làm sao được sau 30 năm miệt mài tu luyện trên non cao. Phải 30 năm không?

Tráng Sĩ: Vâng. Tại hạ sinh ra mồ côi cả cha lẫn mẹ, được sư phụ nuôi nấng từ thuở lọt lòng. Sau 30 năm dầy công tu luyện, bây giờ sư phụ cho phép hạ sơn nhập thế giúp đời.

Thần Đá: Giúp đời! Hừ… tài năng của tráng sĩ có gì xuất sắc mà muốn hạ sơn giúp đời!

Tráng Sĩ: Tài mọn tuy không thấm vào đâu với những bậc cao minh, tuyệt thế, nhưng ắt cũng không làm hổ danh sư phụ.

Thần Đá: (Cất tiếng cười dài)

Tráng Sĩ: (quắc mắt) Lão Trượng không tin! Lão Trượng chưa bao giờ nghe danh môn phái trên Vô Vi Cốc?

Thần Đá: Vô Vi! Vô Vi!… Hừ, tất cả đã lùi sâu vào dĩ vãng mịt mù của dòng tiến hóa…

Tráng Sĩ: Lão Trượng nói thế có ngụ ý gì?

Thần Đá: Lão thành thực khuyên tráng sĩ hãy trở về đi. Tài năng của tráng sĩ chỉ còn là bóng mờ trước triều sóng cao vòi vọi của Văn Minh Kỹ Thuật.

Tráng Sĩ: Văn Minh Kỹ Thuật? Môn phái nào vậy mà tại hạ chưa bao giờ được nghe nói đến.

Thần Đá: (cười ha hả) Làm sao tráng sĩ nghe nói đến được khi mà tráng sĩ chôn vùi tuổi thanh xuân suốt 30 năm ròng nơi thâm sơn cùng cốc. Cuộc đời cuồn cuộn trôi xuôi, vạn vật sinh hóa vô cùng. Không ra khỏi vỏ ốc, con ốc làm sao nhìn thấy đại dương!

Tráng Sĩ: Không có đạo nào huyền diệu hơn Vô Vi… Không có võ công nào qua được cửa Vô Vi Cốc…

Thần Đá: Thật không?

Tráng Sĩ: (vung gươm lên, hét lớn) Hãy nhìn coi (một ánh kiếm xoẹt lên, tráng sĩ kiêu hãnh, hất hàm) Lão Trượng có nghe thấy gì không?

Thần Đá: Nghe thấy chứ. lão nghe thấy tiếng một con chim cú vừa rơi từ trên cành xuống đất cách đây hai mươi trượng!

Tráng Sĩ: (mỉm cười kiêu hãnh) Đó là Cách Không Kiếm, một võ công thượng đẳng của Vô Vi Cốc.

Thần Đá: (rút ở bọc ra một khẩu súng) Nhưng còn thua cái này!

Tráng Sĩ: Cái gì vậy?

Thần Đá: Đây là khẩu súng.

Tráng Sĩ: Súng! Súng là cái gì?

Thần Đá: Một võ khí sơ đẳng của hậu bán thế kỷ hai mươi.

Tráng Sĩ: Khả năng của nó thế nào ?

Thần Đá: Nó có thể hạ địch thủ chớp mắt trong vòng 100 trượng.

Tráng Sĩ: (ngạc nhiên) 100 trượng?

Thần Đá: Đó là tầm xa tối thiểu. Cùng loại với nó, còn nhiều khẩu có tác dụng mãnh liệt hơn và xa hơn.

Tráng Sĩ: Những ai sử dụng được ám khí này?

Thần Đá: Tất cả bàn dân thiên hạ. Từ một đứa bé lên sáu đến một cụ già 80, miễn là được chỉ dẫn sơ qua trong vòng nửa khắc.

Tráng Sĩ: Nửa khắc?

Thần Đá: Phải, chỉ nửa khắc thôi cũng đủ chế ngự Cách Không Kiếm mà tráng sĩ phải dầy công tu luyện trong gần 30 năm. Tráng sĩ còn tài ba gì nữa?

Tráng Sĩ: (xuống tấn, nhìn thẳng vào mắt Thần Đá) Xin lão trượng coi kỹ rồi hãy nói lão trượng đã nhìn gì?

Thần Đá: A! Vô Vi Nhỡn, Vô Vi Nhỡn!…

Tráng Sĩ: Biết được Vô Vi Nhỡn thì kiến thức võ công của Lão Trượng quả là uyên thâm.

Thần Đá: Làm sao mà ta không biết được võ công đã thất truyền đó. Kẻ sử dụng Vô Vi Nhỡn có thể phóng hào quang từ mắt mình ra để soi sáng cảnh vật trong vòng 10 trượng.

Tráng Sĩ: Tại hạ thú thật mới chỉ luyện được tới mức 5 trượng thôi. Phải thượng thừa như sư phụ tại hạ thì mới soi sáng được 10 trượng.

Thần Đá: Nếu vậy tráng sĩ coi đây. (móc túi lấy ra một cái đèn pin, bấm sáng lòa).

Tráng Sĩ: (che mắt) Ối cha chả… Lão Trượng dùng ma thuật gì thế?

Thần Đá: (cười ha hả) Có ma thuật gì đâu. Người trần thế gọi cái này là cái đèn pin vì nó chạy bằng pin. Cũng gọi là cái đèn bấm vì chỉ cần bấm một cái là hào quang phóng ra tới 20 trượng.

Tráng Sĩ: Những ai có được bửu bối này?

Thần Đá: Ối chà… nó được bầy bán hà rầm ở kẻ chợ… ai mua cũng được, muốn mua bao nhiêu cũng có, lại giá rẻ không hơn giá một con gà… Lão trượng xin tặng tráng sĩ một cái xài chơi… (đưa đèn pin ra).

Tráng Sĩ: (ngắm nghía bấm thử vài lần rồi cất giọng buồn rầu) Thế là bao công phu luyện tập của tại hạ trong 30 năm đều tan tành ra mây khói. Tại hạ không thích nghi với đời sống của thiên hạ thời nay.

Thần Đá: Chính vì thế mà ta muốn nhắc tráng sĩ hãy thận trọng hơn khi nhập thế…

Tráng Sĩ: Không… tại hạ sẽ quay về… tại hạ đành xin giập đầu tạ lỗi cùng sư phụ…

Thần Đá: Sao?… Đã vội gì. Tráng sĩ còn tài năng gì nữa xin phô ra nốt cho lão được chứng kiến…

Tráng Sĩ: Thôi! Tại hạ đã thấy thế nào là Văn Minh Kỹ Thuật rồi. Võ công của tại hạ không qua nổi trào lưu tiến hóa ấy đâu.

Thần Đá: Đừng vội nản lòng (móc túi lấy ra một viên đá nhỏ) Tráng sĩ bóp vỡ được hòn đá này chăng?

Tráng Sĩ: Chắc lão trượng muốn riễu cợt tại hạ có phải không?

Thần Đá: Không, ta không rỡn. Ta hỏi tráng sĩ thật đó.

Tráng Sĩ: Đây là trò trẻ… tại hạ có thể làm hơn thế nữa (cầm lấy hòn đá bóp mạnh… hòn đá trong tay tráng sĩ chảy nước).

Thần Đá: (kêu lên) Hỏa Tâm Lực!

Tráng Sĩ: Vâng! Đấy là Hỏa Tâm Lực. Tại hạ sử dụng lửa của trái tim để làm chẩy đá thành nước. Văn Minh Kỹ Thuật có làm hơn thế được chăng?

Thần Đá: Không! Văn Minh Kỹ Thuật không có tim. Văn Minh Kỹ Thuật bóp chết sự rung động trong trái tim mọi người. Văn Minh Kỹ Thuật không có tâm hồn. Nó làm tâm hồn người ta băng giá, nguội lạnh. Văn Minh Kỹ Thuật cũng không có lòng dạ. Nó làm lòng dạ người ta xa rời nhân bản, xa rời ý nghĩa đích thực của con người.

Tráng Sĩ: (vui mừng) Vậy tại hạ có thể làm được gì cho người trần thế?

Thần Đá: Hãy đi truyền thông ngọn lửa nhiệt thành. Hãy làm sống dậy sự rung động của tâm hồn mọi người trước Chân, Thiện, Mỹ. hãy hâm nóng tấm lòng của thiên hạ đang trở thành băng giá trước triền sóng dồn dập của Văn Minh Kỹ Thuật. Phải khuất phục Văn Minh Kỹ Thuật bằng chính Hỏa Tâm Lực (Có tiếng cười ghê rợn xuất phát từ hậu trường – Cả hai cùng im bặt, lắng tai nghe – Lại một tràng cười nữa cất lên).

Thần Đá: Văn Minh Kỹ Thuật!

Tráng Sĩ: (lùi lại, giơ kiếm lên, nhìn quanh).

Thần Đá: Hãy thử lửa đi! Nếu tráng sĩ thất bại, lão không còn lý do gì kìm giữ tráng sĩ trong ý định trở về Vô Vi Cốc tạ tội với sư phụ và tiêu dao cho hết tuổi thanh xuân.

Tráng sĩ: Tại hạ xin cố gắng.

LỚP II

Thêm người máy

Người Máy: (Khật khưỡng bước ra, vừa đi vừa cười ngạo nghễ) Khuất phục Văn Minh Kỹ Thuật bằng Hỏa Tâm Lực… Hà… hà… Thật là một tham vọng ngông cuồng. Từ xưa tới nay không có một mãnh lực nào có thể khuất phục được sức mạnh vô song của Văn Minh Kỹ Thuật.

Tráng Sĩ: Ngươi đừng lớn lối. Từ xưa tới nay cũng chưa có mãnh lực nào khuất phục được ý chí của con người.

Người Máy: Ý chí là cái gì?

Tráng Sĩ: Là tất cả. Là sức mạnh của tâm hồn, là sự khôn ngoan, là lòng hy sinh, là sự quả cảm, là bền bỉ, là nhẫn nại. Nó được nuôi dưỡng bằng yêu thương rung động.

Người Máy: (ngơ ngác) Ngần ấy thứ có giúp con người lên được mặt trăng không?

Tráng Sĩ: Đi xa hơn nữa. Nó giúp con người hòa đồng vào tận cùng của vũ trụ.

Người Máy: Văn Minh Kỹ Thuật rồi cũng sẽ có ngày đi vào tận cùng của Vũ Trụ.

Thần Đá: Thôi, cãi nhau làm gì mất công. Hãy làm một cuộc so tài.

Người Máy: Phải đó! Hãy làm một cuộc so tài.

Thần Đá: Người Máy! Mi có biết làm tính không?

Người Máy: (cười ha hả) Đó là sở trường của ta.

Thần Đá: Vậy cuộc so tài thứ nhất là giải một bài toán. Mi có phản đối gì không?

Người Máy: Tôi ký cả hai tay!

Thần Đá: Vậy hãy nghe đề thi thứ nhất : “Hai lực lượng chiến đấu chống nhau. Bên xâm lăng là 50 vạn quân tinh nhuệ với võ khí hùng hậu. Bên tự vệ là 1 vạn quân ô hợp với võ khí thô sơ. Bên nào thắng?”

Người Máy: Bên 50 vạn quân thắng!

Tráng Sĩ: Không! Bên 1 vạn quân thắng.

Thần Đá: Người Máy! Ngươi thua keo đầu rồi!

Người Máy: Vô lý! Theo sự tính toán của ta thì…

Thần Đá: Mi đã tính toán sai. bài tính của mi thiếu một giả thuyết. Đó là lòng yêu nước!

Người Máy: Hừ! Lòng yêu nước là cái gì?…

Thần Đá: Nếu chưa biết thì mi giở lại hộc ký ức của ngươi coi. Vào năm 1282, năm mươi vạn hùng binh của Vua nhà Nguyên dưới quyền điều khiển của Thái Tử Thoát Hoan bên Trung Quốc qua xâm lăng Việt Nam…

Người Máy: Ta thấy rồi! 50 vạn hùng binh của quân Nguyên tan nát như lá tre trên sông Bạch Đằng. Ta chịu thua keo đầu!

Thần Đá: (vuốt râu) Bây giờ làm một con tính khác.

Người Máy: Dẹp lối tính toán kỳ cục ấy đi! Phải đổi môn thi thì mới gọi là công bình.

Thần Đá: Mi muốn thi cái gì?

Người Máy: Ta muốn đấu sức!

Thần Đá: Được lắm! Đó là ý muốn của ngươi… Nhưng nếu đấu sức nữa mà cũng thua thì mi phải đền bù cái gì?

Người Máy: Tôi sẽ làm nô lệ cho các người đời đời…

Thần Đá: Được lắm! Bây giờ cả hai bên nghe cho rõ bài thi đấu sức đây. Ta có hai tảng đá. Mỗi bên phải giơ tảng đá lên cao khỏi đầu và giơ thế mãi. Bên nào làm rớt đá trước thì thua!

Người Máy: Dễ ợt mà! Ta sẽ cho các ngươi biết cường lực của Văn Minh Kỹ Thuật. Nào, bê lên (cầm tảng đá lên bằng một tay) hì… hì… nó nhẹ như lông hồng.

Thần Đá: Bỏ xuống đã! Chờ hiệu lệnh đàng hoàng kẻo sau này kiện cáo mất công. Nào, cả hai bên nghe ta đếm đây! Một! Hai! Ba!

(Tráng Sĩ và Người Máy cùng nhấc tảng đá lên khỏi đầu).

THỜI GIAN TRÔI QUA

(Nếu là lửa trại mọi người có thể hát một bản đồng ca – Nếu là sân khấu, âm nhạc sẽ dồn dập)

Thần Đá: Người Máy, mi sắp thua rồi!

Người Máy: (run run tay rồi rung động cả thân mình).

Thần Đá: Ráng lên! Nếu không mi sẽ chịu cảnh nô lệ đời đời…

Người Máy: (loạng choạng toàn thân, rên rỉ) Ôi! Ta chịu hết nổi rồi… cho ngừng cuộc thi đến ngày mai…

Thần Đá: (cười ròn rã) Ngừng sao được!… Nếu ngươi làm rớt hòn đá là mi thua.

Người Máy: Ta cần mặt trời… Ta cần ánh nắng để nạp vào tế bào quang điện… (loạng choạng suýt té).

Thần Đá: Mặt trời!… Đêm mới về khuya. Trời lại vần vũ chuyển mưa. Ngày mai cũng sẽ không có mặt trời…

Người Máy: (rên rỉ) Ta thua mất… ta sắp quị rồi... (loạng choạng ôm hòn đá đi, mặt ngơ ngác) Mặt trời… Ta cần mặt trời... (Té khụy xuống, tảng đá văng ra xa – Nằm bất động).

Tráng Sĩ: Người Máy! Mi thua rồi.

Thần Đá: (vuốt râu) Nói với nó bây giờ vô ích. Nó có còn hiểu gì đâu. Nó không còn khả năng gì nữa. (tiến lại người máy lôi xềnh xệch) Bây giờ nó chỉ là đống sắt vụn vô tri… (đi vào).

Tráng Sĩ: (sửng sốt ngó, rồi cũng đi theo).

MÀN HẠ

NHẬT TIẾN
11-7-1973

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 100, ra ngày 29-7-1973)

Tô Thùy Yên, Chân Dung Muôn Đời Thi Sĩ. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

(Chân dung và thủ bút của thi sĩ Tô Thùy Yên)

Tháng 2, 1987, ở xứ người, đọc Anh Hùng Tận, đọc Qua Sông. Có một liên tưởng nào của một người lính trẻ lái xe xuôi ngược trên freeway Nam Bắc, nhìn mông về rặng núi thẫm xanh trước mặt gờn gợn trong lòng những cơn mưa ngày xưa. Của một thời trận mạc. Của nỗi niềm quẩn quanh một thời hào sảng. Nhớ thi sĩ. Tô Thùy Yên đang mịt mù trong tù ngục quân thù ở quê nhà. Đọc thơ, tưởng gặp người hào sĩ ở ngã ba sông, xuồng ba lá đậu kế chân bàn. Ôi cái thuở xưa chiến chinh, trời đất làm nhà, bằng hữu muôn phương là anh em. Ôi cái thời tuổi trẻ. “Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn/nên gặp nhau không dấu nỗi mừng/ta gạn dăm ba lời tặng bạn/dẫu từ lâu bỏ việc văn chương/thiệt tình tên bạn ta không nhớ/nhưng mà trông mặt thấy quen quen/ hề chi ta uống cho say đã/nào có ra gì một cái tên/ tới đây toàn những tay hào sĩ/ sống chết không làm thắt ruôt gan/ cũng không ai nhắc gì thân thế/ có vợ con mà như độc thân/bạn hỏi thăm ta cho có lệ/ cuộc đời binh nghiệp Ta cười bung/ còn mươi tháng nữa lên trung úy/ có thể ngày mai chửa biết chừng…”

Và, ở chiều mưa Los Angeles, viết và tưởng tới Tô Thùy Yên, một chân dung muôn đời thi sĩ. Chiều mưa đất khách, đọc Tô Thùy Yên:

Một thằng lính trận đang ngồi nhớ

Chiều mốc hôi xưa mấy dáng cò

Chừng nghe con nước đang lần giở

Qua sông, mưa dột những câu thơ

Cây súng đôi vai dường quá nặng

Dựng vách lá xiêu mấy mảng trời

Hào sảng cười ai còn văng vẳng

Rượu đế cùng say chắc đã đời

Đỉnh dốc thiên thu nào hiển hiện

Mưa giọt giọt thầm góc quán xưa

Anh hùng tận, tìm đâu chỗ đến

Lục bình hoa tím chuyến đò đưa

Cởi đôi giầy trận, ngả nón sắt

Thiếu úy trẻ quên những ý cuồng

Lỡ lên trung úy mai về đất

Có sao? Ngày cũng phải tà dương

Chắt ly rượu hết, nghe bất chợt

Xiết vào cò súng bắn lên trời

Loạn tâm lạc giữa mây ngợp ngợp

Binh lửa? ừ thôi tiếng cả cười

Khơi khơi quán cóc bờ sát nước

Chỗ này ta đã đến rồi sao?

Xuồng ai đi đến chèo xuôi ngược

Cào ta tủy nhớ vết thương sâu

Mường tượng phận thân trời sẵn định

Dông bão giục ta chiến sĩ hành

Dễ chi thân thế vài năm lính

Chiến trường quên mất tuổi xuân xanh

Tiếng chân vang vọng ngàn năm trước

Theo giọt mưa xiên đã trở về

Thơ cổ có câu nào chẳng thuộc

Lời ai túy ngọa giữa chiều mê?

Tháng 8 năm 1995. Nói chuyện với Tô Thùy Yên. Phỏng vấn trên Hợp Lưu số 24. Thưc hiện sau khi thi sĩ đến Mỹ định cư vài năm. Như một tìm hiểu chân dung một thi sĩ vừa bắt đầu cuộc sống mới. Xin ghi chép lại như một tư liệu cho mai sau (mong mỏi như thế!):

Nguyễn Mạnh Trinh: Xin anh cho một vài dòng về tiểu sử của mình?

Tô Thùy Yên: Tôi tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, cha mẹ và mấy đời ông bà nội ngoại đều ở tại đất này. Tôi theo học tiểu học ở Trường Tỉnh Gia Định, trung học ở trường Petrus Ký, đại học ở trường Văn Khoa Sài Gòn. Lúc mới vào đời, trong mấy năm, tôi dạy học và làm báo. Cuối năm 1963, tôi bị động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và tôi đã phục vụ trong quân đội cho đến những giờ phút cuối cùng của chế độ Miền Nam, phần lớn thời gian trong nghành Chiến Tranh Chính Trị. Cấp bực cuối cùng là Thiếu Tá và chức vụ cuối cùng là Trưởng Phòng Văn Nghệ/ Cục Tâm Lý Chiến. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi bị đưa đi cải tạo hơn 10 năm, trong đó có hơn 6 năm lưu đầy ở Miền Bắc và chịu quản chế 3 năm sau đó. Khoảng cuối năm 1988, tôi bị cầm tù hết mấy tháng vì một chuyến vượt biên thất bại. Trong tù lần này, khi ở biệt giam tôi đã cắt đứt động mạch nơi cườm tay tự tử nhưng rồi được cứu sống vào những hơi thở tưởng là cuối cùng của tôi. Rồi đến năm 1991, tôi lại bị bắt, lần này tại nhà với những tội danh lần lượt gán ghép: sáng tác thơ văn chống chế độ xã hô chủ nghĩa, hoạt động gián điệp, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân. Tổng cộng cả 3 lần, tôi đã ở tù gần 13 năm. Cuối năm 1993, tôi cùng gia đình được đưa ra khỏi nước, theo diện cưu tù nhân chính trị, và tái định cư từ đó đến nay tại Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ.

NMT: Anh bắt đầu cầm bút từ lúc nào? Anh viết những tác phẩm đầu tay trong trường hợp nào? Có kỷ niệm nào đặc biệt không?

TTY: Tôi say mê chữ nghĩa từ hồi còn nhỏ, rất nhỏ, 13, 14 tuổi gì đó. Và tôi cũng đã rón rén tập tành làm văn, làm thơ từ cái tuổi đó, mặc dù lúc bấy giờ cũng như mãi về sau rất lâu, tôi hoàn toàn không có ý thức và càng không có ý muốn sẽ ăn ở một đời sống chết với văn chương. Đầu hè 1954, sau mùa thi tôi lãnh một căn bệnh thập tử nhất sinh, nằm liệt mấy tháng liền và cứ mỗi lần tỉnh sốt, tôi lại ngấu nghiến sách vở, lúc nhìn ra bãi cỏ trước sân nhà xanh rỡ sau những cơn mưa. Lúc đó, tôi thèm một cách thảm khốc được sống, được đi được trở lại căn nhà lá nhỏ lẫn khuất giữa khu vườn cây ăn trái, có những lối đi cỏ mát chân trần mà tôi đã ở qua cùng mẹ và các em tôi chạy loạn ngoài chiến khu chống Pháp. Và lúc đó tôi thấy cần làm thơ, cần hơn tất cả mọi thứ cần khác. Một trong những bài thơ làm lúc đó, tôi gửi cho Tạp chí Đời Mới do nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương biên tập. Bài thơ đó đã được chọn đăng với lời nhắn của ông Nguyễn Đức Quỳnh muốn tôi đến gặp ông. Lúc đó tôi mới vừa 16 tuổi và tôi chợt lờ mờ hiểu rằng dường như giữa tôi và văn chương đã manh nha một ràng buộc định mệnh chờn rờn nào đó, một ràng buộc mà về sau có nhiều lần tôi muốn tháo bỏ mà tôi vẫn không tháo bỏ được. Tuy rằng bài thơ đầu tiên đăng báo đó chắc chắn không phải là một bài thơ hay và ngày nay tôi chẳng còn nhớ nó như thế nào nữa.

NMT: Anh đã sinh hoạt với nhóm Sáng Tạo khá lâu, vậy anh có thể kể lại để phác họa một thời kỳ rất đặc sắc của văn học miền Nam 1954-1975?

TTY: Thơ tôi lần lượt xuất hiện trên những số đầu tiên của tạp chí Sáng Tạo bộ cũ do Mai Thảo chủ trương. Lúc đó tôi vừa 17 tuổi. Tuổi của Rimbaud Le bateau Ivre khi chàng bỏ trốn gia đình lang thang dưới bầu trời chì quặn thắt gió xấu. On n’est pas se1rieux quand on a dix sept ans… Một số những tác giả hợp tác với tạp chí Sáng Tạo mấy năm sau quây quần thành ban biên tập chính thức trong đó có tôi của tạp chí Sáng Tạo Bộ mới, sau một thời gian ngắn đình bản để chỉnh đốn hàng ngũ và chủ trương, những tác giả đó đều lớn tuổi, kể cả Thanh Tâm Tuyền cũng lớn hơn tôi 2 tuổi. Đương nhiên tôi là đứa em út trong đám, le benjamin de la troupe. Đó là thời kỳ hoang tưởng nhưng cũng là thời kỳ định hình của riêng tôi. Còn về phần cả nhóm thì có lẽ không cần phải nhìn kỹ cho lắm, người ta cũng có thể nhận ra ngay rằng chúng tôi hoàn toàn khác biệt nhau, mỗi người một bộ vị riêng tư và chúng tôi chỉ thuần nhất với nhau ở mỗi một sắc thái: muốn làm mới văn học nghệ thuật, cải đổi nhận thức thẩm mỹ. Trong những năm tháng đều tiên, những năm tháng thuyết phục, nhóm Sáng Tạo, đặc biệt là Thanh Tâm Tuyền tứ bề thọ địch mặc dù tap chí Sáng Tạo được độc giả, chủ yếu là độc giả trẻ đón nhận nồng nhiệt, càng lúc càng nồng nhiệt, người viết khí thế bừng bừng đã đành mà cả người đọc cũng vậy. Tiện đây tôi xin mở ngoặc không thể trông mong có được một nền văn học nghệ thuật đổi mới nếu như không có một lớp quần chúng sôi nổi lúc khởi đầu. Tất nhiên chẳng phải lúc nào lịch sử cũng sẵn sàng một cơ hội hào hứng. Và cái cơ hội hào hứng mà may mắn chúng tôi có được đã chẳng kéo dài bao lâu. Chiến tranh gia tăng cường độ, nới rộng địa bàn, chính tình càng lúc càng rối ren mờ mịt. Thanh Tâm Tuyền vào lính, ít lâu sau đến lượt tôi vào lính. Quần chúng lông lốc đảo điên trong cơn bão lốc mỗi ngày một hung hãn, khốc liệt. Riêng tạp chí Sáng Tạo tồn tại cho đến năm 1962 thì đình bản vĩnh viễn. Nhưng tình bạn thắm thiết giữa chúng tôi, những người đã kết hợp thành nhóm Sáng Tạo, đã chẳng chấm dứt tại đó, giấc mơ chung nối kết chúng tôi chẳng tan biến tại đó. Chắc chắn mãi mãi chúng tôi còn muốn mình là những kẻ tiền phong đi cùng những lớp người tiên phong trẻ mới. Liệu rồi trong quãng đời còn lại của chúng tôi, lịch sử có còn kịp một cơ hội hào hứng nào nữa hay không?

NMT: Anh cầm bút có chủ đích nào không? Nếu có, chủ đích đó có thay đổi tùy theo thời kỳ mà anh đã sống không?

TTY: Tất nhiên là có chủ đích. Tôi thiết nghĩ ai cầm bút cũng phải có chủ đích. Viết, theo tôi là một hành vi chung hậu khi không còn một hành vi khả thi nào khác nữa, chung hậu đến độ có thể coi như đó là mưu toan tột cùng của vô vọng cũng đúng. Vậy chủ đích của tôi là gì ư? Chủ đích của tôi cực kỳ đơn giản. Rõ rệt: nỗ lực thể hiện đến mức tối đa mà tôi có thể, bằng phương tiện chữ nghĩa tất cả những gì tôi nghe thấy được về đời sống ở nơi tôi. Và ngoài chủ đích đó ra, tôi hoàn toàn không có một vọng động một lung ảo nào khác về việc cầm bút. Thành thử chủ đích của tôi trong thể loại hành vi này trước sau vẫn không hề thay đổi dù đời sống của tôi có thay đổi, thay đổi đén cỡ nào đi nữa cũng vậy. Cũng theo chỗ tôi thiển nghĩ, tất cả việc làm của người cầm but trong tư cách nghệ sĩ chỉ là đặt, và thường khi là đặt lại những vấn đề nào đó, chớ người cầm bút không có trách vụ cũng như khả năng đưa ra những giải pháp này nọ. Nghệ thuật phát sinh từ những vấn đề trôi nổi và tự sát ở những giải pháp hình thành. Hơn nữa, điều rõ ràng ai cũng nhận thấy là ngôn ngữ như mọi hình thức nghệ thuật nào khác, vốn chỉ là một phương tiện có giới hạn, rất giới hạn. Cái nói lên của nghệ thuật không giống như cái nói lên của một logic bình thường, do đó không thể nào tường tận khúc chiết được. Nhìn chung, nghệ thuật vẫn là một thách đố nào đó giữa người làm nghệ thuật và người thưởng ngoạn nghệ thuật trong bối cảnh hằng có của một thách đố lớn lao hơn, do đó cũng hùng vĩ hơn giữa một bên là nghệ thuật và một bên là đời sống.

NMT: Anh có coi công việc làm thơ là một thiên chức cao quý hay cũng chỉ là một công việc bình thường của đời sống mỗi người?

TTY: Tôi coi công việc làm thơ là một công việc bình thường trong đời sống của tôi. Chỉ sau khi bài thơ đã thành hình là một bài thơ được đưa đến người đọc rồi lúc đó bài thơ tự nó có một thiên chức nào hay không, là hoàn toàn do chính nó, tác giả thôi không còn dính dáng gì nữa, không có quyền hạn gì nữa. Nói cách khác, thơ có thiên chức nhưng thi sĩ thì không. Đơn giản thi sĩ chỉ là người ráng làm cho được những bài thơ, những bài thơ hay.

NMT: Theo anh, thế nào là một bài thơ hay?

TTY: Giải thích thế nào là một bài thơ hay quả là một điều không thể nào làm được dù rằng người đọc có năng khiếu thưởng lãm thơ, nhận biết dễ dàng bài thơ nào là một bài thơ hay. Phù, thi chi, nan ngôn dã. Ôi thơ là điều khó nói vậy. Chắc chắn Cao Bá Quát không phải là người đầu tiên hay là người cuối cùng kêu lên như vậy. Bởi lẽ tôi nghĩ không thể có một khuôn mẫu nhất định, bất biến nào cho thơ nói chung. Thơ hay, hay theo từng bài, mỗi bài hay một cách, không bài nào giống bài nào. Do đó nếu tìm một quy định thơ hay phải như thế này, hoặc như thế kia thì một quy định như vậy, cứ tạm cho là tìm được đi, đương nhiên sẽ khiếm khuyết què quặt một cách thảm hại, sẽ khoanh vùng hạn chế một cách ngu đần phạm vi hiểu biết và thưởng lãm thơ. Trong khi đó cõi bay lượn của thơ thì vô cùng vô định. Nên cái khó khăn duy nhất, đầu tiên và cũng là cuối cùng của người đọc, đó là chính người đọc phải cố gắng thi triển trọn vẹn đôi khi vượt quá khả năng bình sinh của mình bay đuổi kịp theo cái hay thiên hình vạn trạng biến ảo khôn lường của thơ như một kỳ công phóng lượn vô song, tuyệt vời của hồn người chưa từng khứng chịu giam hãm vùi dập. Bài thơ hay không đứng đợi những người đọc nặng nhọc, bài thơ nào đứng đợi như vậy chắc chắn chẳng phải là một bài thơ hay, chẳng phải là thơ. Phần tôi nếu như có người bạn nào cứ một mực khăng khăng đòi tôi giải thích cho kỳ được thế nào là một bài thơ hay có lẽ tôi phải tạm bằng lòng với ý nghĩ rằng một bài thơ hay là bài thơ mà sau khi đã được đọc thấy rồi, bài thơ đó một cách vô thức mặc nhiên trở thành một phần hồn của người đọc. Thơ hay, thơ có hồn, và cái hồn đó của thơ không thể chỉ tồn tại ở bài thơ mà nó phải đáo nhập vào hồn của người đọc, biểu lộ trọn vẹn sinh kiếp ở nơi đó và chỉ nơi đó mà thôi. Tôi xin lỗi không thể nói được rõ ràng hơn. Khôn ngoan một chút, nói về thơ, bao giờ cũng nên xin lỗi trước.

NMT: Điều gì xảy ra để anh làm thơ, cảm hứng tức thời hay là những nung nấu lâu ngày trong tâm tưởng? Có phải thơ cũng như rượu, càng ủ lâu càng ngon…?

TTY: Làm thơ, cũng như là bất cứ thể loại nghệ thuật nào khác đương nhiên đòi hỏi trước tiên phải có cảm hứng, tia sét thần khải đánh vở khối đá câm đặc ôm giấu trong lòng viên ngọc ẩn. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, cảm hứng đó do đâu mà phát sinh, nếu chẳng phải là từ những nung nấu trường kỳ đến mức đã trở thành những ám ảnh một đời của tác giả. Bản thân tôi không tin là có thể có những cảm hứng ngẫu sinh. Dĩ nhiên bài thơ thành hình không chỉ thuần với cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó. Từ cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó đến cuối bà thơ được hoàn thành, với tôi, luôn luôn là một con đường xa vợi nhọc nhằn lắm khi tuyệt vọng ê chề vì lực bất tòng tâm. Tôi thọ nhận lời dạy của Paul Valery “Nàng thơ ban cho thi sĩ một câu thơ đầu, còn những câu thơ sau, thi sĩ phải tự tìm kiếm lấy”. Thành quả nào cũng phải là thành quả của cơ duyên, tu luyện và lao động. Một nghệ sĩ hoàn chỉnh nào cũng phải là một nghệ nhân hoàn chỉnh trước đã. Hiển nhiên quan niệm này chẳng phải là quan niệm riêng biệt của Paul Valery. Ông chỉ lặp lại một quan niệm đã có từ trước, trước cả thời của những Malherbe hay Boileau, nhằm nhắc nhở….

Tôi cũng tâm niệm lời hứa của Đỗ Phủ: “ngữ bất kinh nhân, tử bất an”. Nói không làm người sợ, chết không yên. Dường như chẳng bao giờ tôi ngừng nghỉ kiếm tìm cho dù có khổ công đến đâu một chữ đắc, cái chữ độc nhất mà không một chữ nào khác cho là tương đương hòng thay thế được. Nói cách khác tôi chỉ chịu đi qua một câu thơ, một đoạn thơ khi nào tôi hoàn toàn kiệt quệ khả năng thể hiện hay hơn, gần hơn, sống hơn điều tôi ao ước thể hiện. Nhân đây tôi cũng muốn góp phần soi sáng một điều thoạt đầu nghe có vẻ rất nghịch lý là làm việc nhọc nhằn với chữ nghĩa tuyệt nhiên không có nghĩa là kiếm tìm điên đảo những cái cầu kỳ quái dị mịt mờ biến chữ nghĩa thành diêm dúa, hợm hĩnh giảo ngụy. Bậc võ công thượng thừa không để cho thấy chỗ tuyệt tử công phu của mình. Tôi nhại lời của Lão Trang: mức cao nhất của chỗ tuyệt tử công phu xem ra chẳng khác gì với cái thoải mái hồn nhiên của kẻ chưa từng biết thế nào là thao luyện. Câu thơ hay nhất mà thi sĩ nào cũng mong mỏi làm được có lẽ là câu thơ gần gũi nhất với lời nói thông thường mà mới thoạt nghe ai cũng nhận ra ngay là thơ, không giải thích được, không diễn dịch được.

NMT: Có phải như Bạch Cư Dị đã luận:Thơm tình là gốc, chữ là ngọn, âm thanh là hoa, nghĩa là quả. Và như thế, phần nào là quan yếu nhất?

TTY: Theo tôi, nói chung, phần nào cũng quan yếu hết. Còn phân lượng, gia giảm như thế nào tùy ở mỗi bài thơ. Lời bàn ví von bóng bảy của Bạch Cư Dị nghe ra chẳng khác nào một bài giảng cách trí đầu mình chân tay về thơ. Liệu người nghe có hiểu biết thêm một chút gì về thơ không? Phần tôi thì không. Bởi đó vốn là những điều ai ai cũng biết cà rồi. Khổ quá…

Tôi có cảm tưởng là Bạch Cư Dị đứng giữa nhà xác thơ, nói về những cơ phận của tử thi thơ. Mà thơ thì nhất định không phải là một cái xác. Thơ đã chết không phải là thơ nữa. Tôi không muốn nói trái ý Bạch Cư Dị, ờ, thơ như một cái cây và tôi chỉ cảm nhận nó nguyên vẹn là một cái cây, một cái cây có sự sống của cây ở nơi tôi mà thôi.

NMT: Làm thơ có người chú trọng đến ngôn ngữ, có người lại để ý đến hình ảnh hoặc âm điệu… Phần anh, anh để ý đến điều gì nhất?

TTY: Tôi không quen phân tích như vậy. Theo tôi, câu thơ đạt, bài thơ đạt phải là một toàn khối gắn bó hữu cơ. Chữ mà dùng tới đương nhiên hội ập đông đủ, mật thiết tất cà các điều mãnh liệt tối yếu đó. Thơ nương náu chờ đợi trong ngôn ngữ, nó chính là phần huyền nhiệm của ngôn ngữ. Và thơ xuất hiện hân hoan từ cơ may mãi mãi trước sau chỉ xảy ra mỗi một lần đó thôi của những chữ tiếng hằng thất lạc nhau trong mịt mùng hoài vọng, chợt tương phùng phối kết nhau, mừng tủi điếng lặng…

NMT: Làm mới thi ca có phải là niềm băn khoăn thường hằng của thi sĩ?

TTY: Không thể nào còn được thi ca, còn được nghệ thuật nếu như không có sự làm mới thi ca, làm mới nghệ thuật. Vấn đề cần đặt ra là làm mới và làm mới như thế nào. Nghệ thuật là bóng dáng của đời sống. Đời sống biến thiên, nghệ thuật cũng biến thiên theo. Tôi thiển nghĩ nghệ thuật đạt là nghệ thuật biểu lộ được đến mức tối đa cái tưởng tính mà người làm nghệ thuật nhìn thấy được của đời sống. Và đạt được đến mức đó đương nhiên cũng là đạt được đến sự làm mới chính đáng của nghệ thuật. Người làm nghệ thuật nhìn ngắm đời sống mà tìm thấy nghệ thuật, chớ không phải nhìn ngắm nghệ thuật mà tìm thấy nghệ thuật. Tôi không tin là trong nghệ thuật lại có một phân lìa có thể nhận thức được của hình thức và nội dung. Nội dung nào có cái hình thức tương ứng đó và ngược lại, hình thức nào có cái nội dung tương ứng đó, không sai chạy đi đâu được.

NMT: Jan Skacel viết: “Thi sĩ không sáng tạo thi ca. Thi ca là một chốn nào đó ở đằng sau. Đã ở đó từ thời gian dài thật dài. Mà thi sĩ mãi miệt mài tìm kiếm. Như vậy thơ chỉ là tìm kiếm những cái đã có sẵn chứ không có tính sáng tạo”. Theo anh, có kết luận nào không? Và đó có phải là một quan niệm để làm mới thi ca không?

TTY: Dường như tôi hiểu lời của tác giả anh vừa trích đọc đó khác anh. Tôi cũng vừa nói qua là thơ nương náu chờ đợi trong ngôn ngữ. Trạng thái thơ là một trạng thái có sẵn trong tâm khảm của loài người. Vậy tại sao cuộc miệt mài tìm kiếm thơ của thi sĩ lại chẳng phải là một sự sáng tạo, một sự làm mới thi ca? Thử hỏi sự tìm kiếm nào lại chẳng là một sự sáng tạo. Hơn nữa, trong bản chất sự sáng tạo nghệ thuật là gì, nếu chẳng phải là sự tái tạo, sự dựng lại một cách chủ quan bằng những phương tiện riêng khác những cái vốn đã có sẵn trong ký ức tồn đọng từ muôn nghìn năm rồi bây giờ chợt tìm thấy lại trong đời sống?

NMT: Milan Kundura đã thắc mắc trong việc phân biệt âm điệu và vần điệu trong thơ văn xuôi và tản văn. Theo anh có khi nào một bài tản văn hoặc tùy bút lại rất giống với một bài thơ văn xuôi?

TTY: Tôi thật không hiểu là có những áng tản văn nào đó bàng bạc chất thơ, do đó nên được coi là những bài thơ văn xuôi chăng? Nếu vậy tôi sẽ không đồng ý với ông ta. Theo tôi một áng tản văn dù có chan chứa chất thơ đến đâu cũng không thể đồng hóa với một bài thơ văn xuôi được. Một bài tản văn còn có thể được diễn dịch ra trong cùng ngôn ngữ đó theo một cách thức khác mà vẫn không xuy xuyển gì giá trị của nó, nhưng với một bài thơ dù là thơ văn xuôi thì nhất định chẳng thể làm như vậy được. Bài thơ khi được diễn dịch ra tức khắc sẽ tan biến không còn là bài thơ, chính bài thơ đó nữa. Bởi lẽ một bài thơ được hình thành bằng những chữ không thể đổi khác được, nó là một toàn khối khắng khít đá vàng của những chữ hội ngộ hân hoan. Người ta cần đọc thuộc bài thơ nhưng không cần đọc thuộc áng tản văn. Cũng vì lý do đó, riêng tôi, khi đọc thơ nước ngoài qua một chuyển ngữ nào đó, tôi vẫn thích bản dịch sít sao từng chữ, từng dòng hơn là đọc một bản dịch bằng thơ cho dù bản dịch thơ dịch đó có tài tình đến đâu chăng nữa. Bài thơ dịch Phong Kiều Dạ Bạc của Tản Đà chẳng hạn, không ai không nhận là tuyệt vời, nhưng đối với tôi, dường như đó là một bài thơ riêng của Tản Đà chớ không phải là bài thơ của chính Trương Kế. Trường hợp bản chuyển kiệt tác bằng thơ Anh của Edward Fitzerald những bài thơ Rubaiyat của Omar Khayyam cũng vậy.

NMT: Triết học và thi ca là những phạm trù khác nhau. Nhưng có nhiều người làm thơ triết học. Theo anh có biên giới nào giữa thi ca và triết học không?

TTY: Có một loại thơ gọi là thơ triết học sao?

NMT: Anh theo học chương trình Pháp từ trung học. Và chắc quen thuộc với những nhà thơ Tây Phương. Như vậy tự nhìn ngắm mình anh thấy có những ảnh hưởng nào?

TTY: Tôi đẽ học hỏi được rất nhiều thứ nơi những nhà thơ Tây Phương thuộc mọi trường phái, khuynh hướng kể cả những nhà thơ mà vì những duyên do nào đó khác nhau tôi đã chẳng thâm nhập được. Tôi không đặc biệt yêu mến một nhà thơ nào nhất định bởi lẽ ở một giai đoạn của đời tôi, tôi lại phát hiện, yêu mến một hay những nhà thơ nào đó. Có rất nhiều nhà thơ tôi đã trở lại nhiều lần và mỗi lần trở lại, tôi đều khám phá thêm những điều mới lạ ở nơi họ và cả ở nơi tôi. Tôi nghĩ một tác giả lớn là một tác giả mà người đọc sau bao nhiêu biến thiên của đời mình vẫn bị réo gọi phải trở lại và sẽ chẳng bao giờ múc cạn được tác giả đó. Một tác giả lớn bao giờ cũng vô hạn. Nói chung tôi đã chịu nhiều ảnh hưởng của thi ca Tây Phương. Nhưng ảnh hưởng như thế nào, đến mức nào thì quả tình tôi chẳng thể nhận biết thấu đáo được. Có lẽ tôi nên mượn câu hỏi này của anh mà đặt lại với anh, nhờ anh giải đáp giúp. Cùng lắm tôi cũng chỉ có thể nói là kinh nghiệm thi ca Tây Phương phần nào đã củng cố cho tôi niềm tin trong nỗ lực tăng cường khả năng chuyển vận của thi ca, cái khả năng mà tôi cảm thấy là còn bị hạn chế rất nhiều nơi thi ca Việt Nam nói riêng và Đông Phương nói chung

NMT: Anh có đọc Đường Thi và Tống Thi không? ảnh hưởng của hai thời kỳ thi ca này đối với anh như thế nào?

TTY: Có một thời gian khá dài, tôi đã mày mò tự học chữ Hán để đọc thơ Trung Hoa. Chẳng những tôi ngưỡng mộ một số đông đảo những thi sĩ đời Đường cùng một số ít hơn những thi sĩ đời Tống, Tô Đông Pha, Vương An Thạch, Lục Du, Tần Khí Tật,… mà còn ngưỡng mộ cả những thi sĩ vô danh của Kinh Thi và xây xẩm kinh hoàng trước Khuất Nguyên. Tôi cũng có lúc yêu thích Ái Thanh, có lẽ là khuôn mặt lớn gần như duy nhất của thi ca Trung Hoa trong thế kỷ này, một nền thi ca dường như càng lúc càng khan hiếm tài năng vì tính chất tiểu xảo đè nén cầm hãm lẩn quẩn muôn đời của nó. Nhìn toàn cảnh, thi ca Trung Hoa là một thế gới rất ư diệu kỳ và cũng rất ư cách biệt. Từ những thời kỳ xa xôi, thi ca Trung Hoa tự nó đã hoàn thiện chung quyết những biên cương nghiêm nặt của nó để rồi không làm sao vượt thoát được chính nó nữa. Phải, sau những thời kỳ hoàn thiện cực kỳ rạng rỡ đó rồi, thi ca Trung Hoa hoàn toàn chẳng có được một thời kỳ hưng phấn kế tiếp nào nữa. Riêng đối với tôi, bất kỳ ở giai đoạn nào của tôi, bao giờ thi ca Trung Hoa cũng vừa quen thuộc vừa lạ lẫm và tuy tôi đã trở lại gần như thường xuyên với nó nhưng không lần nào ở lại lâu dài được với nó. Tất nhiên qua cái gia sản thi ca Việt Nam mà tôi đã thọ lãnh từ lúc còn nằm nôi, ảnh hưởng của thi ca Trung Hoa đối với tôi chắc chắn là không nhỏ. Tuy nhiên, tôi ước lượng, hay đúng hơn là tôi mong mỏi, rằng những ảnh hưởng đó đối với tôi cuối cùng cũng tương tự như những ảnh huổng nào đó của nó đối với Saint John Perse và Ezra Pound chẳng hạn.

NMT: Chiến tranh đã hiện diện trong đời sống cá nhân và thi ca của anh như thế nào? Trước năm 1975 anh là một người lính và là sĩ quan Tâm Lý Chiến. Vậy anh có tin tưởng nào về một chiến thắng không? Hay chỉ là một thái độ hoài nghi như trong thơ anh đã bàng bạc có?

TTY: Chiến tranh đã tiêu thụ gần như cả cuộc đời tôi. Cho đến những nông nỗi tù rạc, lưu vong sau này hẳn nhiên cũng là do chiến tranh mà ra. Trong gần 12 năm của tuổi trẻ, tôi đã làm một người lính, một người lính động viên nhưng không hẳn là bất đắc dĩ. Bởi khi chấp nhận vào lính, tôi chỉ tự nhủ một điều là tôi phải chia sẻ số phận của dân tộc tôi và tôi mong mỏi rằng lịch sử sẽ sang trang khi tôi vừa đi mòn một hay hai đôi giày trận. Tôi nghĩ một cách tự nhiên rằng không có lý do nào chính đáng biện minh được cho một cá nhân tìm cách thoát thân lấy một mình khỏi cái đại họa đang trùm phủ xuống tập thể mà mình trục thuộc. Nhất là khi cá nhân đó lại là người cầm bút. Do đó rất nhiều khi tôi đã tự nguyện lao mình đi giữa chiến tranh chỉ vì tôi muốn nghe thấy trên làn da và tâm khảm của mình niềm rát phỏng của đám cháy quê hương. Thật tình ngay trong cả thời kỳ đó, tôi cũng chẳng tin tưởng gì vào một chiến thắng, tôi chỉ dám hoài vọng vào một trì hoãn một sursis khả hữu nào đó cho miền Nam trong khi chờ đợi một giải pháp chính trị toàn bộ. Nhưng tâm trạng đó cũng đã không hề ngăn trở tôi thường xuyên mong mỏi như Andre1 Malraux từng mong mỏi khi tham gia vào cuộc chiến tranh chống Đức Quốc Xã: Cầu cho chiến thắng sẽ đến với những ai tham gia chiến tranh mà không hề yêu thích nó. Tôi có làm vài bài thơ về chiến tranh và những bài thơ đó thật sự chẳng nói được bao nhiêu so với những điều tôi đã thấy và muốn nói

NMT: Khi bị đối phương cầm tù, tâm trạng thực của anh ra sao? Có giống như trong những bài thơ mà sau này anh đã viết ra không?

TTY: Tôi nghĩ lại là đại để trong tù và tâm trạng trong thơ của tôi không khác nhau. Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 khi đã vào tù rồi, tôi luôn luôn tự nhắc nhở mỗi một điều là hãy coi mình như đã chết và đây chính là phần posthumor life của mình Đời ta sáng mượn ánh tàn dư/ đến từ một hành tinh đã tắt nghỉ… Tất cả mọi nỗ lực nhiều khi vượt sức bình sinh của mình trong thế giới đày đọa đó là phải làm thế nào gìn vàng giữ ngọc, đương đầu với mọi kỹ thuật thâm độc nhằm hủy diệt nhân cách như là cái phần duy nhất còn lại của những người bại trận. Kẻ có liêm sỉ không vỗ ngực mình là người anh hùng trong một hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy mà chỉ có thể hài lòng là mình đã chẳng gục mặt trước bạo quyền để phải nhục nhã về sau với bạn hữu.

NMT: Anh đã sống một thời gian khá dài ở trong nước sau 1975. Vậy anh có thể nào nói và mô tả xã hội mà anh phải sống với và những nỗi niềm ray rứt đã có trong thời gian ấy?

TTY: Nói ngắn gọn, đó không phải là một xã hội dành cho con người. Ray rứt bức xúc ghê gớm nhất là sống trong xã hội đó, liệu mình còn là con người cho đến lúc nào đây…

NMT: Nhìn lại nửa thế kỷ vừa qua, anh có nghĩ chiến tuyến Quốc Cộng vẫn còn giữa những người Việt Nam? Hay nghĩ rằng đó là chuyện quá khứ và bây giờ là hiện tại và tương lai?

TTY: Trong thâm tâm chúng ta, những con người Việt Nam, thật sự chúng ta có chút nào hài lòng về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua không? Nếu không thì tại sao chúng ta cứ phải duy trì và duy trì cho đến bao giờ cái điều mà chính chúng ta không hài lòng đó. Nghĩ như vậy không có nghĩa là chúng ta nhắm mắt làm ngơ cho bất kỳ thế lực tối tăm ngu muội nào muốn làm gì thì làm trên đất ước chúng ta. Từ hai mươi năm qua, những người Cộng sản đã toàn thắng nhưng chính sự toàn thắng đó đã hàm chứa cái mầm móng đương nhiên của sự thất bại hiện giờ và vĩnh viễn của họ. Điều tiên quyết hết sức đơn giản là chúng ta phải tách ra khỏi, trong cái nhìn của chúng ta một bên là dân tộc Việt Nam dù ở miền Bắc hay ở miền Nam, dù ở trong nước hay ngoài hải ngoại, một dân tộc từ lâu mòn mỏi kêu cầu được xót thương nhau, vỗ về nhau, tha thứ nhau, với một bên là tập đoàn Cộng sản thống trị ngăn trở. Từ đó, có thể chúng ta sẽ tìm ra được cái cách thức hữu hiệu nhất, nhẹ nhàng nhất nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ Cộng sản. Tôi đặt một hy vọng lớn lao vào những tiếng nói văn hóa.

NMT: Anh có tham vọng diễn tả nỗi niềm chung mang của thế hệ chúng ta qua những bài thơ anh viết? Như Đỗ Phủ vẽ lại một xã hội và thời thế tan nát ngày xưa?

TTY: Có. Một cách chung chung đó là tham vọng đương nhiên của bất kỳ ai cầm bút. Đỗ Phủ là nhà thơ mà tôi thường tưởng nghĩ tới.

NMT: Anh có mơ ước sẽ chen chân trên văn đàn thế giới quốc tế để nói lên nỗi niềm của con người Việt Nam không?

TTY: Hiển nhiên là có. Điều bao giờ tôi cũng muốn làm là cố gắng, qua tác phẩm của mình, biểu hiện được tâm hồn dân tộc Việt Nam, biểu hiện đến tối đa mà tôi có thể biểu hiện được. Thường tôi tự dầy vò với câu hỏi là tại sao mãi chúng ta vẫn chưa có được những tác phẩm đậm đà bề thế nói lên được những gì mà dân tộc ta phải gánh chịu cũng như những gì mà nhờ đó, dân tộc ta đã trường tồn và còn trường tồn. Bởi lẽ đứng trên bình diện văn học nghệ thuật mà xét thì một thời kỳ đại họa của một dân tộc bao giờ cũng tiên đoán một thời kỳ được mùa văn học nghệ thuật của dân tộc đó. Nên chẳng lúc nào trong lòng tôi tắt đi niềm mong ước ngày đêm đó. Và nếu như tôi chỉ còn được một niềm tin tưởng nào thì đó phải là niềm tin tưởng vào dân tộc Việt Nam.

NMT: Có người chê bai và đánh giá thấp những thi sĩ mang chính đời sống mình ra mà giải bày tâm sự. Theo anh, sự phê phán này có chính xác không?

TTY: Ai mà chê bai kỳ vậy? Cái cao thấp của một tác phẩm không ở cái đề tài được xử dụng mà là ở cái cách thức diễn đạt cùng những tình ý được diễn đạt chung quanh hay đằng sau cái đề tài đó. Hơn nữa, nghệ thuật xuất phát từ cái riêng lẻ. Nói đến nghệ thuật tức là nói đến cái chủ quan. Tại sao cứ phải áp đặt một cách nghiệt ngã như vậy những thể loại đề tài?

NMT: Trong thơ anh có tình yêu không?

TTY: Anh thấy có không?

NMT: Khuôn dáng người nữ khá mờ nhạt trong thơ anh. Tại sao vậy?

TTY: Tôi không rõ là tại sao. Có thể là trong những bài thơ mà tôi đã làm, tôi không chủ vào việc mô tả khuôn dáng người nữ.

NMT: Khi làm một bài thơ anh có chọn lựa thể loại lục bát, bảy chữ, tám chữ hay thơ tự do không? Hay tùy hứng không chủ đích trước?

TTY: Thuờng tôi không có chủ đích trước. Sự chọn lựa của tôi về thể thơ chủ yếu được quy định bởi tính chất của những tình ý mà tôi muốn diễn đạt.

NMT: Anh có nhận xét nào về văn học trong nước, văn học ngoài nước? Có thể có sự so sánh nào không?

TTY: Nhìn toàn cảnh, từ mấy năm nay, văn học trong nước có phần nào đổi khác; ít ra không còn bị khuôn bó trong một số những đề tài nào đó được ấn định sau này người đọc còn muốn đọc qua. Cảm tưởng chung của tôi là phần lớn những tác giả trong nước dường như có vẻ gì đó vội vội vàng vàng của những người không muốn bị trễ muộn hơn nữa cho một chuyến xe, đồng thời cũng có điều gì đó còn ấp úng, không được mạnh dạn, thoải mái cho lắm đối với chính mình. Vài ba khuôn mặt nổi lên trong những ánh đèn chính trị chiếu từ nhiều phía hơn là do chính sức sáng tự có của tài năng văn chương. Còn văn học hải ngoại thì dường như cũng có chung cái sắc mặt mất ngủ dã dượi bần thần của nỗi hồi niệm câm hãm. Tôi có cảm tưởng những tác giả hải ngoại chưa quyết định xong cho mình về một chuyến xe cần phải chọn. Số lượng phong phú sách báo văn học xuất bản tự nhiều tụ điểm văn hóa lưu vong cho thấy một chen chúc nở rộ của rất nhiều tác giả cũ có, mới có nhưng thẳng thắn mà nói, chưa có tài năng nào hay tác phẩm nào có đủ từ lực khiến cho người đọc còn đang trông chờ phải tìm kiếm đến. Giữa hai trạng thái văn học trong nước và hải ngoại, tôi nghĩ không cần và cũng không thể có sự so sánh.

NMT: Anh nghĩ thế nào về gioa lưu văn hóa giữa trong nước và hải ngoại.? Vào thời điểm bây giờ? Và trong tương lai?

TTY: Lý ra ta không cần phải đặt ra vấn đề giao lưu văn hóa bởi lẽ chuyện văn hóa giao lưu nhau vốn là chuyện đương nhiên phải như vậy. Ngăn sông cấm chợ văn hóa là một việc làm bỉ ổi của những quyền lực sợ hãi dù rằng nó có nhân danh một thứ gì cho là cao quý đến mấy đi nữa. Ờ, tại sao người Việt Nam trong nước lại không được đọc tác phẩm của những tác giả Việt Nam ở hải ngoại?

NMT: Những dự trù văn chương của anh?

TTY: Viết, viết, viết và viết…

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn: Báo Việt Luận Úc Châu – http://vietluan.com.au/to-thuy-yen-chan-dung-muon-doi-thi-si/

Đọc Lại Thơ Tuệ Sĩ. Nguyễn Mộng Giác


Nguyễn Mộng Giác

Hòa thượng Thích Tuệ Sĩ

Cuối năm 1988, khi tin hai vị tu sĩ Phật giáo Trí Siêu (Lê Mạnh Thát) và Tuệ Sỹ bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam kêu án tử hình truyền ra hải ngoại, nhiều người mới tò mò tìm đọc những gì hai vị này đã viết. Họ tìm thấy những bài khảo cứu văn sử học của Lê Mạnh Thát, và những tùy bút đầy chất thơ phiêu bồng của Tuệ Sỹ.

Rất nhiều người đã ngạc nhiên. Dường như không có gì gần gũi giữa những bài khảo cứu khô khan, những bài thơ “viễn mộng” với những hoạt động chính trị nhằm lật đổ một chế độ chuyên chế, chưa nói tới những hoạt động nguy hiểm đến độ chính quyền phải lập tòa án đặc biệt và kêu án tử hình.

Hồi đó, báo chí đã cho đăng tải một số thơ cũ và mới của Tuệ Sỹ.

Bài “Tôi Vẫn Đợi” dưới đây là bài Tuệ Sỹ mới làm sau này, có lẽ lúc đang bị giam chờ ngày ra tòa:

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái bình dương
Người ở lại với bàn tay bạo Chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Thú thật đọc xong bài thơ này, cảm tưởng ban đầu của tôi là hơi hụt hẫng, thất vọng.

Thơ của một người tử tù đây ư? Không nói ra, nhưng lâu nay tôi vẫn giữ một định kiến hoặc một ước lệ về thể loại thơ tù.

Ước lệ về khung cảnh thơ:
song sắt, vách ngục, máu tra tấn, thân còm cõi…

Ước lệ về không khí thơ:
u uất, phẫn nộ, khinh mạn, oán hờn…

Định kiến về nhân cách người thơ:
cao ngạo, bất khuất, quắc mắt mà nhìn kẻ đưa mình ra pháp trường, uy vũ kềm kẹp không làm cho run sợ.

Và định kiến về dự phóng cho tương lai:
ngục tù không ngăn được diễn tiến tất yếu của lịch sử, thân tù đơn độc nhỏ nhoi dù bị hủy diệt cũng không ngăn được những con người bất khuất khác noi gương tiếp nối…

Thơ người tử tù phải là một sứ điệp rõ ràng làm cương lĩnh cho hành động. Đem bao nhiêu cái khuôn thước có sẵn trên đây mà so với bài thơ Tuệ Sỹ, tôi bị hụt hẫng hoang mang là phải!

Tôi đã dựa vào những khuôn thước trí tuệ thông tục mà đọc bài thơ, và cố tìm hiểu sứ điệp ẩn giấu sau mười sáu câu thơ tám chữ.

Trước hết là khuôn thước thời gian. Nếu căn cứ vào tiêu chuẩn này, bài thơ được phân làm hai phần: phần dự phóng tương lai của ba đoạn thơ đầu, bắt đầu bằng các chữ Tôi vẫn đợi: phần trở lại thực tại tù tội ở bốn câu cuối bắt đầu bằng ba chữ Rồi trước mắt.

Nếu chia bài thơ ra hai phần như vậy, thì ý nghĩa của bài thơ tù đượm chất bi quan, như con hổ bị giam trong cũi sắt nhớ tiếc và mơ tưởng núi rừng thung lũng mênh mông của những ngày tự do.

Ba đoạn thơ đầu là những dấu hỏi dành cho tương lai, mở ra những khả thể để đến đoạn cuối là một dấu than đột ngột tàn nhẫn, như một giọt lệ rỏ lên mọi hy vọng, chấm dứt mọi khả thể.

Một số bài thơ của Cao Bá Quát (cũng là một tử tù) được làm theo dạng này, gần gũi nhất là bài Quá Dục Thúy Sơn (Qua núi Dục Thúy) dưới đây:

Thiên địa hữu tư sơn
Vạn cổ hữu tư tự
Phong cảnh dĩ kỳ tuyệt
Nhi ngã diệc lai thử
Ngã dục đăng cao sầm
Hạo ca ký vân thủy
Hữu ước nải vi tư
Phàm sự đại đô nhĩ

Trời đất có núi ấy .
Muôn thuở có chùa này
Phong cảnh đã kỳ tuyệt
Lại thêm ta đến đây
Ta muốn lên đỉnh núi
Hát vang gửi nước mây
Ao ước mà không được
Việc đời thường như vầy.

(Ngô Lập Chi dịch)

Tuệ Sỹ từ ô cửa ngục gửi ra cho nhân gian những tiếng thở dài hay sao?

Tôi đã kiểm chứng cách hiểu ban đầu của mình bằng cách đọc lại lần nữa toàn bài thơ, và bớt chú tâm đến những mốc thời gian mở đầu các tiểu đoạn.

Tôi không tìm thấy những tiếng thở dài. Không có cả những lời than van. Thoang thoảng đâu đó, khi rõ rệt, khi mơ hồ, tôi có cảm tưởng đang nghe một tiếng võng đưa, hoặc những lời mẹ ru con dìu dặt, mơn trớn, vỗ về. Có cái gì rộng rinh không thể gói trọn bằng ngôn ngữ hoặc ý niệm cụ thể.

Tôi bắt đầu ngờ vực cách phân định thời gian rành mạch ban đầu, và thử tìm đọc bài Tôi Vẫn Đợi theo một cách khác.

Chẳng hạn thử tìm hiểu ý nghĩa của màu sắc và âm thanh.

Nếu như vậy, mỗi đoạn thơ bốn câu tự nó đã mang đủ một sứ điệp trọn vẹn, không còn cần đến cả bài.

Xin đọc lại đoạn thơ đầu:

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng.

Đúng là một tập hợp của những thi ảnh phức tạp (đôi khi mâu thuẫn nhau) với những nối kết lỏng lẻo, mờ nhạt, nhưng vẫn lập thành một khối thống nhất nhờ liên hệ văn phạm và vần điệu hợp nhất một cách bình thường.
Câu thứ nhất nói đến màu xanh của đêm, câu thứ hai giải thích thêm một ẩn ngữ (màu xanh trong tiếng khóc ven rừng).

Ẩn ngữ này tưởng lại được giải thích trong câu thứ ba (màu xanh trong tiếng khóc, trong bóng tối hận thù) nhưng không, đó chỉ là một liên hệ giả. Những thi ảnh của hai câu thơ đầu được lặp lại ở hai câu sau (khắc khoải ố tha thiết, tiếng khóc ố rưng rưng), thêm vào đó, chữ trong khiến chúng ta có cảm tưởng như hai câu sau là phụ ý chuyển của hai câu trước.

Thật sự không phải vậy. Hai câu sau bay bổng lên một vũ trụ khác, cất cánh khỏi những hệ lụy nhân gian, những ti tiện của tranh chấp và thù hận, để đạt đến một cõi sáng láng hơn, cao cả hơn, mà biểu trưng là một ánh sao, một nụ cười. Bốn câu thơ di chuyển theo chiều cao, từ bậc thấp của những tranh chấp ti tiện đớn đau đến bậc cao của thức tỉnh giác ngộ.

Đoạn thơ thứ nhì:

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Được thừa hưởng tinh chất của đoạn thứ nhất nên sự chuyển hóa đơn giản hơn, không quá rối rắm mâu thuẫn hoặc quằn quại vươn mình lên như ý thơ của đoạn thứ nhất.

Thơ đoạn này di chuyển theo chiều rộng và cũng bắt đầu bằng một màu sắc:
màu đêm đen.

Bố trí văn phạm của đoạn thơ thứ nhì cũng giống y như đoạn thơ trước, câu sau luôn giữ nhiệm vụ giải thích một chữ quan trọng của câu trước (đêm đen trong câu 5 và màu đen của câu 6, ánh mắt của câu 6 và nhìn hun hút của câu 7, dài thêm lịch sử của câu 7 và dài con sông của câu.

Từ màu đêm đen, Tuệ Sỹ không gợi nhớ màu đêm u tối của sinh lão bệnh tử mà gợi ra màu đen của một ánh mắt. Phải rồi, tất cả cuộc đời bắt đầu bằng một cái nhìn, một lối nhìn. Có những cái nhìn chìm đắm chết đuối vào sắc tướng, có những cái nhìn thấu suốt được chân lý của cuộc sinh hóa. Thơ di chuyển theo chiều rộng của thời gian, thơ nhìn ra được diễn tiến của cuộc đời tự ngàn xưa, nhìn ra được cốt tủy mọi biến động của lịch sử cũng như thấu hiểu do đâu có cảnh núi xương sông máu trên quê hương thân yêu. Ánh mắt người tử tù không dừng lại ở những phẫn nộ oán hờn tầm thường và ước vọng dung tục. Ánh mắt đó vượt ra ngoài, vượt lên trên mọi thứ song sắt, vách ngục, kể cả song sắt vách ngục của mê chấp.

Sức chuyển biến của thơ, sức thăng hoa của ý đến cuối Câu thơ thứ tám như vậy là đã đến đỉnh chót của nó, đáng lý sau câu thứ tám, Tuệ Sỹ có thể dừng lại, không cần phải viết thêm gì nữa. Trong ngục tối, nhà thơ sống với màu xanh xao của chút ánh sáng lọt qua cửa ngục và màu đen mênh mông, từ đó làm chất liệu khởi thủy của sáng tạo và suy tưởng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng người tử tù còn cảm nhận được sự sống của thế giới bằng những tiếng động bên ngoài. Hai đoạn thơ sau của Tuệ Sỹ là một hành trình khác, khởi đầu không bằng màu sắc mà bằng âm thanh.

Xin đọc lại cả hai đoạn cuối:

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái bình dương
Người ở lại với bàn tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Tôi vừa viết xuống hai chữ khởi đầu. Thật ra, viết như vậy chưa đúng lắm, vì Tuệ Sỹ không làm một bài thơ khác mà chỉ chuyển hóa lối sử dụng hình ảnh cho thơ. Do đó, bố cục văn phạm của đoạn thơ thứ ba vẫn giữ y như lối bố cục của hai đoạn thơ trước, còn ý thơ thì cũng tiếp nhận sức thăng hoa của phần trên để nói lên một ước vọng mà mới đọc qua, chúng ta tưởng là nghịch lý. Ước vọng được quên, quên hết.

Quên những tiếng sóng vỗ của cảnh đời bão nổi ngoài kia, những đợt sóng tàn bạo khiến nhà thơ phải xắn tay áo nâu lên thử giăng một cánh buồm, từ đó đưa đến cảnh tù tội gông cùm hiện tại. Quên thân phận bèo bọt của hàng triệu người phải đành đoạn liều chết vượt biển tìm tự do. Quên cả những cọng lau gầy oằn vai chịu đựng những bạo tàn từ tay bạo chúa của hơn bảy mươi triệu người ở lại.

Tất cả những điều tưởng là nghịch lý ấy được Tuệ Sỹ giải thích ở đoạn thơ cuối bằng một hình ảnh, bằng một âm thanh hết sức biểu trưng : tiếng gõ nhẹ của ngón tay lên tường rêu lạnh của ngục tối.

Nó biểu trưng vì đó là một thứ âm thanh lặng lẽ, hoàn toàn trái ngược với tiếng sóng vỗ cuồng nộ ồn ào bên kia vách ngục.

Ngón tay ốm o yếu ớt của một tử tù thân bé bỏng lại gõ vào một vách ngục rêu bám, thì chắc chắn không tạo ra được tiếng dội nào lớn lao. Cho những bạn tù cùng khu biệt giam. Cho những tên cai ngục. Huống gì là cho những người không ở vào cảnh tù tội.

Đó không phải là loại âm thanh dành cho thính giác, mà là âm thanh dành cho tri giác, tuệ giác. Âm thanh đó, tiếng gõ nhịp đó không phải do sức mạnh của bắp thịt, của bạo động nhằm xô ngã tường rêu phá đổ nhà ngục, nhưng lại có một sức mạnh tinh thần lớn lao để đưa con người vượt lên trên mọi thứ ngục tù: sức mạnh của giác ngộ, của tỉnh thức.

Hai câu thơ cuối khép lại một thế giới huyễn mộng mê chấp, và mở ra một thế giới mới:

Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Vẫn còn một câu hỏi lớn:

Ý thức được cái sương mai, cái bóng chớp của nhân sinh đã đủ để ngăn bàn tay bạo chúa và làm cho dòng sông quê cha thôi tràn máu lệ hay chưa?

Đây là câu hỏi nhức nhối thường xuyên ám ảnh Phật tử mỗi lần họ phải đối diện những đàn áp bất công của xã hội họ đang sống. Mỗi lần như vậy, Phật tử vẫn thường nhắc tới khuôn mẫu sống hài hòa giữa đạo và đời của các tu sĩ Phật giáo thời Lý, Trần, dù biết cách tổ chức xã hội thời xa xưa đó khác với bây giờ.

Bài thơ của Tuệ Sỹ nhắc tôi nhớ tới câu hỏi nhức nhối này, vì Tuệ Sỹ là một tu sĩ Phật giáo “đi vào cuộc đời”, một Phật tử hành động. Chắc chắn Tuệ Sỹ đã ưu tư đi tìm lời đáp trước khi quyết định hành động chống lại chế độ Cộng sản. Và suốt thời gian bị giam cầm, Tuệ Sỹ còn có nhiều thì giờ và điều kiện hơn để suy nghĩ về câu trả lời. Vậy mà sứ điệp Tuệ Sỹ gửi ra ngoài cửa ngục dường như thiếu hẳn chất thực tế. Bài thơ không hề là một lời tố cáo đầy phẫn nộ, lại không phải là một bài hịch. Không phải là một tiếng sấm.

Ngược lại, như tôi đã so sánh ở trên, đây là những lời ru hiền hòa, lời vỗ về của mẹ, lời thì thầm của lá, của hoa, của cây cỏ.

Không phải là mũi nhọn công phá vào vách khám mà là một làn hương tỏa lên trên, len qua kẽ ngục và tỏa rộng lên trời cao.
Vì sao vậy?

Tôi cho rằng ngay từ cốt tủy của Phật pháp, khả năng hoàn thiện con người và cuộc sống không nằm ở sức mạnh của tổ chức mà nằm ở sức giác ngộ của cá nhân. Đạo Phật không chấp nhận Cái Duy Nhất, Cái Tuyệt Đối, Cái Vĩnh Cửu, Cái Sáng Lòa soi đường cho hằng hà sa số đời sống trước sau. Ai cũng có thể trở thành Phật.

Mỗi người tự đốt đuốc lên và chọn con đường sáng láng cho mình, khỏi cần cẩn thận rón rén đi theo dấu chân của người đi trước. Mỗi người chịu trách nhiệm lấy chính số phận mình.

Mỗi người không cần phải khép nép sợ hãi trước bất cứ Thần lực thiêng liêng nào, vì nếu tỉnh thức, mỗi người chính là Thần lực thiêng liêng ấy.

Người còn vướng mắc vào những giới hạn, những chấn song của mê chấp thì thường núp vào đám đông, mong che chở của tập thể. Nhưng lúc đã thấy được chân tướng của những sương mai, bóng chớp, thì mỗi người đều có một thần lực riêng. Điều đó giải thích được tại sao vào những giai đoạn bi đát nhất của lịch sử dân tộc, Phật giáo không suy yếu theo mà ngược lại, trở thành chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ góp phần đưa dân tộc qua mọi gian truân thử thách.

Nguyễn Mộng Giác

Những Bài Thơ Khắc Trên Mộ Bia. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên qua nét vẽ Đinh Cường

Cuối năm, tảo mộ. Thời tiết lạnh lạnh của những cơn gió thổi qua nhắc đến những ý tưởng nào tưởng đã xa xôi nhưng có lúc lại gần gũi. Câu thơ “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ” như nhắc lại một thời văn chương đã qua, những chân dung văn học đã vắng bóng. Buổi trưa, vào thăm từng ngôi mộ cũa những nhà văn nhà thơ vừa đi khuất, đọc những vần thơ ghi khắc trên bia mộ, chột thấy lòng bâng khuâng. Hình ảnh còn đây, ngôn ngữ còn đây. Nhưng người thì đã đi vào cõi vô thủy vô chung. Cái còn để lại, là những tác phẩm để đời, là những câu thơ vẫn cứ hoài trong trí nhớ của những người yêu mến.

Nghĩa trang cuối đường Bolsa là nơi an nghỉ của nhiều tác giả của văn học Việt Nam. Phía đông con đường thì ồn ào nhịp sống trong khi phía tây con đường thì tĩnh mịch lặng lẽ. Hình như cái tương phản giữa cõi của người sống và cõi của người chết chỉ một dặm đường như gọi lại bao nhiêu sắc thái của người tị nạn. Vòm cây xanh ngát của nghĩa trang, màu xanh thẳm của cỏ, màu xanh lam của nắng và màu xanh nhớ ngút ngàn của gió, làm sự phân chia của sống và chết chỉ trong thế giới mơ hồ…

Đến mộ thi sĩ Nguyên Sa, dường như nghe thấy thầm thầm một câu hỏi dù câu thơ ấy đã được ghi khắc trên ngôi mộ một thi sĩ lớn:

Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau?
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?

Vâng, biết đâu! Phải biết đâu chuyện ba trăm năm sau khi tấc lòng thi sĩ vẫn còn mãi mãi qua thăm thẳm thời gian những kiếp người?

Lúc còn sinh tiền, thi sĩ cũng đã có lúc làm thơ để nghĩ về chuyến ra đi của mình. Bài thơ “Lúc Chết”:

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất
sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng
mười ngón tay sờ saong giữa hư không
đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh
ở trên ấy mây mùa thu có lạnh
anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời
em có ngồi mà nghe gió thu phai
và em có thắp hương bằng mắt sáng
lúc ra đi hai chân anh đằng trước
mắt đi sau còn vướng vất cuộc đời
hai mươi năm, buồn ở đấy, trên vai
thân thể nặng đóng đinh bằng tội lỗi
đôi mắt ấy đột nhiên buồn không nói
đột nhiên buồn chaỵ đến đứng trên mi
anh chợt nghe mưa gió ở trên kia
thân thể lạnh thu mình trong gỗ mục
anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc
anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya
trên tay dài giun dế rủ nhau đi
anh lặng yên một mình nghe tóc ướt
nằm ở đây hai bàn tay thấm mệt
ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài
những bài thơ anh đã viết trên môi
lửa trái đất sẽ nung thành ảo ảnh”

Có một đoạn thơ, đã được khắc trên bia mộ một nhà thơ, thi sĩ Long Ân:

Nay ta trở lại dòng sông cũ
Rượu đã nhạt trong chai nhẹ không
Ta thấy sông im nằm say ngủ
Còn chính ta là sông mênh mông.

Sông là người. Sông là ta. Ta với người, người với ta chia sẻ cùng nhau những nỗi niềm của một thời đại lịch sử đầy biến động. Dòng sông cũ chảy về biển lớn như bước trở lại cội nguồn. Câu thơ, như một kiếp người trôi đi từ lưu lạc, của một tiền kiếp hoang sơ trong số phận Việt Nam nào…

Một bài thơ của người viết phiếm “Bỉnh Chúc Dạ Du” trên các báo Việt Nam Hải Ngoại và Thời Luận, của “nắng xế cõi chiều”, của “chưa khuất vết xe”, của “bên lề vẫy tay”, của “hồn vướng sợi mây”, của “bia mộ khắc tên” để nhớ về một người bạn đã “xa bóng trăng khơi” giữa mênh mông cuộc đời:
Một người “bỉnh chúc dạ du”

Gửi vào thiên cổ mịt mù nhân gian
Trăm năm đã vội dặm ngàn
Thoảng cười nụ tưởng hoa vàng còn mơ
Tháng giêng, bước lạ bến bờ
Con sông chảy thuở tình cờ gọi ai
Người rằng “ Thiên hà ngôn tai”
Nhắc riêng đành một cõi ngoài quanh hiu
Tháng giêng, nắng xế cõi chiều
Bạc phai tóc lộng chân xiêu nẻo về
Người đi, chưa khuất vết xe
Ngã tư ngỡ đứng bên lề vẫy tay
Nhớ ai, hồn vướng sợi mây
Vọng đôi mắt của tháng ngày chưa quên
Vẫy tay, bia mộ khắc tên
Chắt giọt rượu giữa vô biên một thời.

Người xa, còn bóng trăng khơi
Còn câu thơ giữa một đời mênh mông…
(Nguyễn Mạnh Trinh)


Nhà thơ Mai Thảo qua nét vẽ Đinh Cường.

Thuở sinh thời, nhà văn Mai Thảo viết Tháng Giêng Cỏ Non. Từ ngày 10 tháng giêng năm 1998, là ngày ông từ trần, tới nay là mười lăm năm. Cỏ non bây giờ đã phủ đầy mộ chí…

Có một người làm thơ, đã khắc trên bia mộ của mình bài thơ tứ tuyệt:

Thế giới có triệu điều không hiểu
càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

Bài thơ nhan đề “Không hiểu”. Mở ra với cái hữu hạn của con người và đóng lại với cái vô hạn của cuộc sống. Có mấy ai thông kim bác cổ hiểu được tất cả sự việc? Dù, cả khi cuối đời, khi đã trải đủ ngọt bùi đắng cay của kiếp nhân sinh? Chỉ, khi đã nằm trong ba tấc đất, nhìn ngôi sao sáng để đọc được cái lẽ huyền vi của đất trời. Chữ “chẳng sao” trong câu thơ, ý lạnh lùng, nghĩa thản nhiên, có một chút mặc kệ, biểu lộ cái tâm cảm an nhiên của một người sẽ phải đáp chuyến đi vào vô tận. Cuộc hành trình vô tận ấy, có khi xa xăm như ngôi tinh đẩu kia nhưng lại đôi lúc gũi gần như cái chết dần trước mặt. Thơ như trải ra nỗi niềm của một người thấy được cái hư vô của đời người. Thơ không đóng lại mà mở ra cõi tâm linh của một người có đôi mắt luôn vọng về một cõi xa, của tâm thức muôn đời vời vợi..

Khi còn sống, nhà văn Mai Thảo cũng đã nghĩ đến ngày nằm xuống ba tấc đất cuả mình. Bài thơ “Nghe Đất” trong buổi trưa hôm nay chợt đến để thấy cái tâm của một người thoáng rộng ở giữa cõi tử sinh. Người nằm trong đất còn thoảng nghe tiếng “đời sau thở dài”:

Nằm đây dưới bóng cây xanh
Nhìn qua lá biếc lại xanh sắc trời
Mát thơm đất trải bên người
Nghe trong ấm lạnh da người cũng thơm
Đất lên hương thấm qua hồn
Nghe vui thoảng đến với buồn thoảng di
Giữa giờ trưa nắng uy nghi
Bóng vây vây nhẹ hàng mi cúi đầu
Người nằm nghe đất bao lâu
Tai nương nhẹ tiếng đời sau thở dài
Lung linh sóng nắng đan cài
Cõi Trong điệp điệp Cõi Ngoài mang mang
Chợt đâu rụng tiếng phai tàn
Rơi ngưng nửa ráng nắng chiều trôi qua
Lonh hồn thiếp giữa triều hoa
Bóng hình thôi đã nhạt nhòa quanh thân.

Những câu thơ tiền định ghi khắc trên bia mộ của Nguyễn Tất Nhiên như báo trước một đời tài hoa nhưng chết trẻ:

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
phải đau theo từng hớp rượu tàn
phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định
(vì Thượng Đế từ lâu hiện hữu
cầm trong tay sinh tử của muôn loài
tình ta vừa gánh nặng thấu xương vai
thì em hỡi ngai trời ta đạp xuống)


Nhà thơ Nguyên Sa qua nét vẽ Nguyên Khai.

Những câu thơ ấy cũng như những câu thơ khác được khắc trên bia mộ của các nhà văn Mai Thảo, Nguyên Sa, Long An,… là một chứng tích của thế hệ lưu vong hôm nay để lại cho đời sau. Nhiều người ở xa khi đến thăm little Sài Gòn, đã thường đến nghĩa trang ở cuối đường Bolsa để chiêm ngưỡng những câu thơ đặc biệt ấy…

Có bài thơ viết để tưởng niệm Nguyễn Tất Nhiên sau một ngày thi sĩ qua đời. Buổi trưa hôm nay, khi nhìn di ảnh và đoạn thơ trên mộ, tự nhiên những bài thơ kỷ niệm của riêng tôi thoáng qua trong trí nhớ. “Thà như giọt mưa/vỡ trên tượng đá”. Vỡ tan, vỡ tan…

Ngày hôm qua thi sĩ đã chết
Nắng mùa hạ lửa đốt trong đầu
Mồ hôi đọng long lanh lệ khóc
Mặt thủy mờ kính cuộn nỗi đau
Một mình cơn mộng du không dứt
Xa lộ đông bỗng chẳng còn ai
Mặt nhựa xám đen thẳm ý mực
Vỡ tan tành nghiên bút loay hoay
Ngày hôm qua thơ tình đã hết
“thà giọt mưa trên đá” vỡ tan
cành “trúc đào” nở hoa oan nghiệt
rất yêu em dù nỗi muộn màng
đào mấy tầng tinh tuyền chất quặng
ngôn ngữ ròng cùng tận trái tim
gánh nhân gian đôi vai còn nặng
“Cũng cần cho hạnh phúc” cách riêng
Ngày hôm qua chuyến xe khuất biệt
Hạt bụi nào hành trang đi xa
Này “cô gái Bắc kỳ” mắt biếc
Nước mắt đành giọt nhỏ vỡ òa?
Hát lên đi bản nhạc xưa cũ
Như chiếc lá phơi nền cỏ nâu
Dáng mắt buồn đêm trắng ẩn dụ
Lửa vô minh khói ngút bờ lau
Ngày hôm qua trái đất đứng sững
Chân lao đao thế giới lạ lùng
Tiếng gió bật cuồng điên ngựa chứng
Vài câu thơ đọc giữa muôn trùng.
Sống là chịu vai trò thất ý
Mộng ngàn năm, mơ cũng vạn năm
Đáy tâm cảm loài hoa kỳ dị
Mọc rễ trong da thịt ăn năn
Ngày hôm qua thi sĩ đã chết
Gót chân trần dẫm cõi hư không
Bài thơ tình chẳng có đoạn kết
Ngôn ngữ rơi theo sóng bềnh bồng
Ai đã hỏi thơ bao nhiêu tuổi?
Ba trăm năm, ý nhớ tình quên
Thơ, thiên thu vẫn là tiếng gọi
Dìu dắt ai lạc chốn vô biên!

Nguyễn Mạnh Trinh

Hồ Hữu Tường, Người độc hành trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Nhà văn Hồ Hữu Tường tạ thế ngày 26 tháng 6 năm 1980. Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu trong một bài tưởng niệm đã viết: “… Chánh quyền Cộng Sản đã bắt ông Hồ Hữu Tường vào năm 1977. Sau bao nhiêu năm giam cầm ở Sài Gòn các bạn tù đều cho biết là sức khỏe của ông khá tốt. Lúc nào ông cũng ngậm một lát gừng tươi trong miệng mà theo ông các thức ăn có chất cay nhất là thảo mộc ngoài nhiệt năng hiện được đo lường bằng đơn vị calories có thể còn chứa chấp loại năng lượng về sức sống mà khoa học hiện tại chưa làm được cách thức dò xét. Các bạn tù của ông Tường còn cho biết thêm là mỗi đêm khuya ông thường đánh cờ một mình, tay trái đi cờ đối thủ với tay mặt. Ngoài ra chắc thế nào ông cũng viết trong đầu “tiểu thuyết ngẫm” mà tiếc thay ông đã đem theo ông ngaỳ 26 tháng 6 năm 1980 khi ông từ giã để qua một thế giới khác. Bốn năm sau, cuối mùa đông 1984, tác phẩm cuối cùng của ông “41 năm làm báo, Hồi ký” được xuất bản ở Paris”. (Thực ra, tác giả Trần Ngươn Phiêu nhầm lẫn. Hồi ký “41 năm làm báo” Trí Ðăng xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn).

Một người đã có nhiều kinh nghiệm, biết cách giữ gìn sức khỏe và tinh thần qua bao nhiêu năm tháng ròng rã trong các lao tù thế mà chỉ trong vòng hai tháng bị đưa đi giam ở Hàm Tân lại bị lần lần kiệt sức và chỉ được đưa về để gục chết trước thềm nhà mình là một việc lạ cần được các sử gia nghiên cứu trong tương lai. Tưởng cũng nên ghi lại là đã có một lần xe chở Hồ Hữu Tường chuyển trại đã bị tai nạn (?) dọc đường và ông đã được đưa trở về Sài Gòn chữa trị. Dưới một chế độ nắm toàn quyền sinh sát trong tay với một ngành công an có nhiều kinh nghiệm học hỏi ở Nga Sô và các kỹ thuật tinh xảo âm thầm giết người thì việc thủ tiêu một đối phương đang bị tù không có gì là khó khăn. Nhưng cũng nên hy vọng là bởi những cải tiến không ngừng của nền khoa học hiện đại nhiều âm mưu ám hại tưởng là bí mật rồi cũng có ngày bị phát giác…

Hồ Hữu Tuờng là một nhà văn nhà báo vào hàng tiền bối của văn chương hiện đại Việt Nam. Ông cũng là một chính trị gia khi sang Pháp du học, kết bạn với Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, gia nhập Ðệ Tứ Quốc Tế Cộng sản rồi sau lại tuyên bố từ bỏ lý thuyết Mác vì cho là biện chứng pháp không thực tế và không thích hợp với dân tộc Việt Nam. Hơn thế nữa ông còn là một nhà tư tưởng lớn đề ra nhiều lý thuyết về chính trị, kinh tế, triết học.

Viết về Hồ Hữu Tường, có lẽ một bài không đủ. Bởi có quá nhiều chi tiết về chân dung con người ấy. Nguyên cuộc đời của ông, đã là một đề tài lớn. Những ngày tù tội, từ khám tối của thực dân Pháp, đến khám tử hình của chế độ Ngô Ðình Diệm rồi khám Chí Hòa của Cộng sản và chết trong tù ngục đỏ. Thời gian bị cầm giữ với ông lại là những ngày để suy tư và tâm thức luôn bay bổng vượt qua những rào cản để tới những viễn kiến cho những phương trời rộng mở. Rồi ông là một học giả, một chính trị gia, một nhà văn, và cũng là người theo Cộng sản Ðệ Tứ rồi rời bỏ, đi làm cố vấn cho Bảy Viễn nên bị chế độ Ngô Ðình Diệm kết án tử hình, rồi lập thuyết, tìm một “minh đạo” cho văn hóa Việt Nam. Sang thời kỳ đệ nhị của chính thể VNCH, ông trở thành dân biểu, và viết “Người Mỹ ưu tư”, gửi thư cho John Steinbeck, người đoạt giải Nobel văn chương và hậu thuẫn cho sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Với tôi, tôi đã đọc truyện Hồ Hữu Tường từ khi bắt đầu vào trung học khi tìm thấy sách của ông ở những tiệm cho mướn sách. Tôi đọc truyện kiếm hiệp say mê cũng song song với đọc Hồ Hữu Tường. Tôi đọc bộ sách “Gái Nước Nam làm gì?” với Thu Hương, Chị Tập, cũng như đọc bộ “Ngàn Năm Một thuở” với Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Bỡn Nga, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ. Những nhân vật như thằng mõ Cổ Nhuế, thằng mõ Phù Ninh… đã làm cho tôi hồi đó chỉ thấy được cái nét châm biếm, như một chuyện tiếu lâm mà không để ý đến những điều sâu xa hơn từ cách thế trào lộng. Với một đứa bé hơn mười tuổi, đọc để mà đọc nhưng đã vô tình tạo một tâm thức trong trí óc non nớt của tôi lúc ấy. Tôi đọc Thu Hương, Chị Tập, để biết những người kháng chiến chống Pháp thời đó ra sao và có một chút ngưỡng mộ với những anh thư ấy…

Nhân vật chính của bộ truyện này là hai người phụ nữ tiêu biểu cho hai thành phần trong xã hội cùng tham gia trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Thu Hương thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản sống ở thành thị trong khi chị Tập thuộc thành phần lao động ít học. Thu Hương là nữ sinh viên trường Y Khoa Hà Nội, đảng viên của một đảng cách mạng bí mật, là một cô gái kiên cường có bản lãnh, đã thi hành những công tác nguy hiểm như tổ chức cướp sân khấu để tuyên truyền, ám sát bọn chó săn cũng như viên chức Pháp giửa thành phố… Còn chị Tập là một người thuộc giới cùng đinh, bị cha mẹ bán lấy tiền, trải qua nhiều nỗi khổ đau, bị tù tội, đầy ải sống chung với những người cách mạng và cả những tên đầu trộm đuôi cướp. Khi được tha khỏi trại giam, chị Tập trở thành một đảng viên nồng cốt tham gia những việc như làm thổ phỉ, buôn lậu, tổ chức cướp vũ khí của quân Nhật, xây dựng căn cứ địa để đánh Pháp… Bộ truyện này có nhiều diễn tiến mạnh, tạo được những hình ảnh của những người phụ nữ, không kể lao động hay trí thức, hết mình hy sinh cho đất nước…

Còn ở bộ “Ngàn Năm Một Thuở”, với Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ, Tiểu Phi Lạc Náo Sài Gòn, Diễm Hồng Xuất Giá. Tôi tìm thấy những nét trào phúng từ nhân vật Phi Lạc. Một người đậm nét của xã hội bình dân Việt Nam, dốt nát nhưng lại hay khoe khoang chữ nghĩa rất tự cao tự đại nhưng lại xun xoe nịnh hót những người có quyền thế để thủ lợi, cũng như đầy đủ những cá tính tiểu sảo vặt. Những cá tính thời đại này không phải chỉ có tiêng ở nhân vật Phi Lạc mà còn thấy nhan nhản những con người như thế ở chung quanh trong xã hội. Từ thằng mõ đến ông tiên chỉ, rồi đến các nhà bác học, những vị anh hùng… tất cả từ đời trước đến đời sau, như trong một tấn tuồng bi hài mà ở đó sự hữu lý và vô lý như bàn tay lúc ngược lúc úp, thay đổi dễ dàng như trong một hài kịch có khi bi thảm, có lúc nực cười…

Trong Phi Lạc Sang Tàu, câu chuyện về nguồn cội của nhân vật bắt đầu cho một tấn tuồng ảo hóa. Vai chính là thằng mõ làng Phù Ninh, vô học nhưng đầy khóe lường gạt lại mồm mép giả danh là hậu duệ họ Hồ của tông tộc Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Lại có một tên lừa bịp khác là thằng mõ làng Cổ Nhuế, muốn phá đám tên mõ làng Phù Ninh nên bán đứt cho một vị sư từ Tàu qua tên là sư Hồng Hạc. Ông này là một vị chân tu có sứ mạng là qua Việt Nam tìm đến “thảo lư” tìm kiếm một vị vạn đại quân sư như Khổng Minh đời Tam Quốc xưa để thành một thánh sư đời nay để trong mưu vọng phục quốc phản Thanh phục Minh… Những nhân vật này được xếp đặt trong những cục diện, những tình thế tròng tréo, viết theo kiểu truyện Tàu với những hồi, với những chương nối tiếp nhau. Truyện thâm ý bài xích cái tinh thần vọng ngoại và cái tập tục ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Từ chữ nghĩa, tới tên địa danh, tên nhân vật, đều là những biểu tượng có hai nghĩa, có hàm ý mỉa mai, và ở trong những điều kiện ràng buộc với nhau như trong một bố cục liên hệ. Những câu hỏi liên tiếp nhau. Tại sao sư Hồng Hạc lại đi kiếm thánh sư ở phương Nam? Tại sao lại đến làng Phù Ninh? Tại sao lại liên lạc với mõ làng Cổ Nhuế? Tác giả đã nối các chi tiết với nhau. Sư Hồng Hạc qua Việt Nam vì sấm truyền của Minh Thái Tổ để lại và đến làng Phù Ninh bởi vì làng này là nơi sinh trưởng của công chúa Ngọc Hân thì chắc là phải có hậu duệ của Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Và liên hệ với làng Cổ Nhuế bởi vì làng này nổi tiếng là buôn phân người nhưng đồng thời cũng là làng có nhiều nhân tài và nhiều người đỗ đạt nhất. Những chi tiết ấy trộn lẫn với nhau, rối nùi trong cái mê đồ để khiến người đọc nghĩ đến những trò đành hanh của con tạo, của những bất ngờ, những cái duyên có khi tình cờ có khi là hậu quả của nhửng trò đùa của cuộc đời. Trong đó, cái hóm hỉnh của truyện Trạng Quỳnh, cùng cái chửi đời châm biếm của Ba Giai, Tú Xuất, làm nổi bật lên chủ đích của tác giả. Hầu như mọi giá trị đêu bị đảo lộn, những câu khoác lác, những trò lừa bịp lại có ảnh hưởng rộng lớn, và bao nhiêu người tài giỏi trên đời này nhiều khi lại thua mưu kém trí những tên vô học bới những trò tiểu sảo tầm thường. Những lý thuyết nhiều khi trống rỗng và các danh nhân nhiều khi chỉ là cái bóng mờ nhạt… Ðọc tới đoạn thằng mõ, thuộc giai cấp mạt hạng trong xã hội mà lại luận đàm thuyết lý, nói chuyện tế thế an dân với những Khổng Minh, những Hồ Thích, có phải là một hài kịch được dàn dựng để trong đó gờn gợn những ý tưởng phản kháng xã hội và xét lại tất cả những gì được gọi là khuôn vàng thước ngọc của xã hội…

Lớn lên một chút, tôi đọc “Tương lai văn hóa Việt Nam”, một tác phẩm mà tôi nghĩ là những suy tư khởi đầu của ông để từ văn hóa bước sang những phạm vi khác như chính trị, tôn giáo, xã hội… để thành một người lập thuyết. Hồi nhỏ thì không ảnh hưởng lắm nhưng bây giờ đọc lại, tôi thấy có những suy nghĩ tới bây giờ vẫn còn giá trị. Trước hết, đây là những tâm huyết của một người muốn nói những điều mà biết rằng sẽ có ít âm vọng nếu không nói là tiếng kêu trong sa mạc.

“Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt…”.

Câu văn biền ngẫu, ý hướng tha thiết, tác giả Hồ Hữu Tường còn muốn vạch ra một con đường văn hóa, thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc và Tây phương. Theo ông, “Văn trong nghĩa căn nguyên của nó là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ là hung bạo. Hóa trong nghĩa căn nguyên của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện, xấu xa) hóa ra Người (cao quý, đẹp đẽ)…”

Ông cho rằng mọi ý thức hệ chỉ có tác dụng trong một thời điểm mà thôi trong ý nghĩa tích cực của nó. Nhưng khi không còn thích hợp với cuộc sống thì nếu không bị triệt tiêu đi mà còn tồn tại sẽ thành những chướng ngại vật chống cản lại chiều hướng phát triển và ở trong một ý nghĩa tiêu cực sẽ thành một hiểm họa cho nhân loại. Như vậy, chúng ta phải xây đắp một nền văn hóa dân tộc, luôn luôn thay đổi theo chiều hướng phát triển của cuộc nhân sinh và thoát ra được sự kềm hãm và chi phối của các ý thức hệ lỗi thời. Con đường ấy, không bị chi phối bởi Ðông hay Tây phương, nhưng kết nạp và thu liễm những tinh túy của người để biến thành của mình. Con đường ấy mệnh danh là con đường văn hóa, và nâng cao trình độ và vị thế của con người.

Tác giả còn cho rằng Tây phương chưa có văn hóa mà chỉ có quái hóa. Quái hóa ấy có thể tạo thành ở hình thức văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học… nhưng ở nội dung thì chỉ là những phương tiện để đi chinh phục. “Chính quái hóa này đã biến đổi những tư tưởng đẹp đẽ như tự do, bình đẳng, bác ái, thành phương tiện, thành khí giới để chinh phục. Quái hóa đã xui khoa học chế ra đại bác, chiến xa, tàu chiến, phi cơ, hơi ngạt, vi trùng, bom nguyên tử để giết người, để chinh phục kẻ yếu, để đè nén áp bức chúng ta…”

Và ông kết luận: “Văn hóa làm cho con người trở nên Người. Quái hóa biến văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học thành phương tiện. Bởi nó không theo con đường nhân bản. Còn mượn Ðạo học của Ðông phương ư? Nhưng ở Ðông phương chỉ có thuật tu dưỡng, chớ đã có văn hóa bao giờ?”

Cái độc đáo và cũng là đầu đề tranh cãi khi ông cho rằng cả Ðông lẫn Tây phương không có văn hóa. Ông tạo ra con người có khuynh hướng “mở” biết thay đổi để có một tiến trình nhân bản đến chân thiện mỹ. Văn hóa luôn ở trong trạng thái động, là một thái độ, một phong cách luôn luôn suy tưởng kiếm tìm.

Cuộc đời văn học của Hồ Hữu Tường có nhiều giai đoạn sáng tác khác nhau. Mới đầu, ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản Mác theo khuynh hướng Đệ Tứ và thời gian này ông coi như là những năm tháng ô nhục của thời gian lầm đường lạc lối. Ông không để lại một chút gì dấu vết lưu lại bởi vì ông chối bỏ lối lập luận kiểu duy vật biện chứng. Sau khi từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản, ông bị Pháp bắt giam đầy đi Côn Ðảo lần thứ nhất và ông suy nghĩ đến một hệ thống tư tưởng mới độc lập với các hệ tư tưởng ngoại lai như Pháp, Tàu, Nga, Mỹ… mà ông gọi là chủ nghĩa dân tộc. Rồi tiếp theo là thời kỳ ông nghiên cứu để viết lên những suy tư mới về xã hôi, kinh tế, chính trị, dân tộc. Thời kỳ này ông viết Tương Lai Văn Hóa Việt Nam. Ông có cách nghiên cứu tìm tòi của một học giả và sự luôn luôn khao khát với cái mới đã thúc đẩy ông trong việc thiết lập một hệ tư tưởng riêng biệt của dân tộc.

Sau khi bị chế độ Ngô Ðình Diệm kết án tử hình và đầy đi Côn Ðảo lần thứ ba, ông viết rất nhiều và sau này in lại như Kế Thế, Hồn Bướm Mơ Hoa, Thuốc Trường Sanh, Trầm Tư của Một Tên Tội Tử Hình…

Sau năm 1963, ông tiếp tục sáng tác với những tiểu thuyết như Chuyện con thằn lằn chọn nghiệp, Thằng Thuộc con nhà nông… và Hồi ký 41 năm làm báo.

Có một tác phẩm khá đặc biệt là Người Mỹ Ưu Tư, một cuốn sách được in với ấn bản viết bằng tay của tác giả. Mới đầu được in hàng ngày trên nhật báo Sống và sau có một phong trào xin chữ ký giới thiệu để đề cử vào giải Nobel văn chương. Theo bác sĩ Trần Ngươn Phiêu là người khởi xướng công việc này thì đã có tới hơn mười ngàn chữ ký để đề cử. Ông viết về một đề tài lúc đó tới giờ hơn bốn chục năm mà vẫn còn chất sống động của thời thế. Vấn đề con lai mà về sau này chính quyền Mỹ đã phải giải quyết để có hàng chục ngàn con lai được định cư ở Hoa Kỳ nơi quê nội của họ.

Trong 5 bức thư gửi cho John Steinbeck, giải Nobel văn chương, coi như lời nói đầu của bộ truyện, Hồ Hữu Tường đã viết:

“Ở xứ tôi những nhà văn không tên tuổi thường dùng một cái thuật để tiến thân như sau đây hễ thấy một áng văn chương được nhiều người hoan nghinh thì họ bèn viết nối theo áng văn chương nọ, với đầy đủ những nhân vật của áng nọ, và nếu cần thì có những con, những cháu thêm vào. Thuật ấy gọi là cái thuật viết “hậu”. Trên văn đàn quốc tế tôi không có tên tuổi. Tôi bèn dùng cái thuật viết “hậu” ấy mà tháp tác phẩm của tôi vào tiểu thuyết của Graham Greene, mà gá thân một chút xíu gì của những vấn đề của tôi, nhưng vẫn để cho độc giả nào đã đọc The Quiet American cũng bị cám dỗ bởi cái nhan đề “hậu” The Unquiet American.

Tuy nhiên nhân vật chánh của sáng tác của tôi phải là Pyle, phải là Phượng (hay phải là con của họ nếu cần), phải là tất cả những nhân vật đã sống trong tiểu thuyết của Graham Greene. Có gì hay bằng điển hình một nhân vật Amerasien bằng một đứa con chung của Pyle và Phượng? Ðứa con ấy, tôi đặt tên cho là Loan, một đứa con gái năm ấy được mười lăm tuổi!”

Với cách nói và diễn tả của Hồ Hữu Tường, lòng vòng, thường xử dụng ngôn ngữ gián tiếp, những câu chuyện kể trở thành những chuyện ngụ ngôn nhiều ẩn ý. Ông mượn những chuyện đời xưa tới đời nay, từ chuyện dương gian đến chuyện âm phủ, để thành những nối tiếp của những suy tư nhiều khi không liên hệ với nhau nhưng lại là những gợi ý để khơi mở sang những ẩn dụ, những hình tượng khác…

Ông viết cho Steinbeck:

“Người phương Tây của ông ít khi bận rộn về những suy tư, tôi không dám nói là siêu hình mà tôi xin nói là “ngoại hình” như vậy. Người Việt chúng tôi, mấy nghìn năm trước ở vào vùng ảnh hưởng của Ấn Ðộ trước khi bị ảnh hưởng của Trung Hoa từ miền Bắc tràn xuống. Nên chi tâm tư của chúng tôi ngày nay không ít thì nhiều phảng phất những nét ngoại hình như vậy. Mà những nét ấy coi chẳng ra sao lại cứ ám ảnh chúng tôi mãi…

Pyle chỉ là một oan hồn phiêu bạt, làm sao mà sống được một đoạn lịch sử vô cùng sôi động của đất nước chúng tôi. Ðể rồi chứng kiến sự nổi loạn của Phượng và Loan và để bưng chén mật tương thân mà uống khi chứng kiến Loan xuống tóc mà làm một ni cô, một ni cô mang một bào thai Amerasian mà chính nàng cũng là một Ameriasian nữa.

Thế giới ngày nay là một thế giới “bốn biển một nhà, năm châu một chợ”. Sự lai chủng tộc là một sự hiển nhiên, không sao tránh được. Cũng như rất hiển nhiên là chúng ta đang sống trong thời nguyên tử.

Tinh lực nguyên tử mà ta cho nổ thì nó tàn sát biết bao nhiêu người? Tinh lực nguyên tử mà ta áp dụng để phụng sự hòa bình thì kết quả tốt đẹp là bao? Sự lai chủng tộc mà ta cho nổ thì nó gây ra bao nhiêu rắc rối cho nhân loại? Sự lai chủng tộc đã cho nổ rồi mà ta lại thêm nuôi các đương sự bằng những “chùm nho uất hận” thì ta có thể đo lường nổi sự tai hại của nó chăng?

Tôi nói rằng Pyle là người Hoa Kỳ ưu tư. Mà chính tôi cũng là người ư tư. Và tôi muốn rằng sự ưu tư của tôi được truyền nhiễm đến ông, đến tất cả những người Hoa Kỳ là “bên nội”của đám Amerisian này. Vấn đề Amerisain là một vấn đề quốc tế của thời “bốn biển một nhà, năm châu một chợ”. Tôi cảm thấy rằng đem những “chùm nho uất hận” mà giải quyết vấn đề này chỉ đem thêm hận thù mà chồng chất lên bất công. Vì lẽ đó mà tôi kính tặng loạt thơ thay lời tựa này cho tác giả của “Chùm Nho Uất Hận””.

Tiểu thuyết “Người Mỹ Ưu Tư” quả là “hậu” The Quiet American, tiểu thuyết của Graham Greene, cũng với những nhân vật ấy. Và, Fowler, nhân vật ký giả người Anh lại đóng vai người kể truyện. Thêm một nhân vật, là Loan, đứa con lai của Pyle (người Mỹ bị giết chết trong The Quiet American) và Phượng. Câu chuyện bắt đầu như một truyện ma quái. Fowler gặp hồn ma của Vigot, một viên chức mật thám Pháp lai để được dẫn đến một cái cốc hoang vắng gặp một hồn ma thông thái đã đậu bằng tiến sĩ văn chương ở Pháp với một luận án về Pascal. Và sau cuộc gặp gỡ này Fowler ngủ li bì một giấc đúng 15 ngày mới tỉnh dậy. Dù là cơn mê gặp gỡ những người âm nhưng anh vẫn còn giữ được hộp trà có bốn hình tiên nữ với 4 câu thơ chữ Hán bắt đầu bằng bốn tiết: Thanh minh, Tiểu thử, Hàn lộ, Tiểu hàn. Sự việc quái dị ấy và những câu chuyện luận đàm thế sự, triết lý cuộc sống đã gieo vào đầu óc chai sạn của Fowler những ý nghĩ siêu hình của phương Ðông. Còn Vigot, thì bị chết đuối ở Vũng Tàu, chỉ 5 phút sau khi từ trần đã dẫn Fowler đến cái cốc hoang vắng như đã kể ở trên. Một sự kiện quái dị khác là khi Vigot sống lại thì bị linh hồn Pyle nhập vào. Thành ra Pyle là Vigot và ngược lại Vigot là Pyle, một mà hai, hai mà một. Pyle và Loan, thành một cặp vợ chồng và sống ở Việt Nam, trôi nổi theo thời sự thăng trầm đầy biến cố ở đây. Pyle thực ra là cha ruột của Loan, một mối tình loạn luân kỳ lạ vì Phượng dù nhận lời làm vợ Fowler nhưng lại có con với Pyle. Và, tác gỉa kết cuộc: Loan cắt tóc coi như đi tu nhưng trong bụng lại mang giọt máu của Pyle.

Tiểu thuyết của Hồ Hữu Tường rất đặc biệt kiểu … Hồ Hữu Tường. Luôn luôn trong cốt truyện hoặc trong những câu đối thoại ông cố tình mang vào những kiến thức để tạo ra những gợi ý khác nhiều khi không ăn nhập gì đến diễn tiến câu chuyện. Nếu dùng luận lý thông thường thì tiểu thuyết của ông có nhiều điều vô lý không tưởng, nhưng, đi sâu hơn một chút, thấy được sự độc đáo và cái cảm giác khi đọc là sẽ nhiều bỡ ngỡ với lối kết cấu bừa bộn những suy tưởng và bị dẫn đi trên những con đường mà trong vô lý thấy sự hữu lý..

Trong bài phỏng vấn của Nguyễn Ngu Ý, Hồ Hữu Tường đã nhận xét về tác phẩm của mình như sau:

“Tác phẩm mà tôi mong được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh… và xuất bản ở Âu Mỹ để làm bức thư cảm ơn chung cho những ai ở ngoại quốc và ở trong nước đã ký tên để xin ân xá cho tôi. Là bộ “Thuốc Trường Sanh”. Tôi viết nó ở tù Côn Ðảo, tháng tư và tháng năm. Ðó là một quyển khảo cứu về triết học trình bày dưới hình thức tiểu thuyết có tính thời đại. Nó khảo cứu về thuyết nhân quả, về hành động, về đức tin. Các nhà văn Âu Châu tả sự cô đơn của cá nhân, trong Thuốc Trường Sanh tôi tả sự cô đơn của tập thể, sự cô đơn của nhóm Tuyết Lê, trong thế giới hai phe đang chống đối nhau kịch liệt bằng máu lửa, mà không theo một bên nào được, nên đuổi theo mộng “lấp cái hố của đấu tranh, của hận thù”. Và nhân vật chánh của tiểu thuyết tượng trưng này, tôi dành cho loài cọp, mà tôi thấy hơn loài người, cọp giết người vì bản tính tự nhiên còn người giết người lắm khi vì một cớ không đâu…”

Hồ hữu Tường cũng tự nhận xét về tác phẩm “Thằng Thuộc con nhà nông”:

“Tôi viết tự truyện “Thằng Thuộc con nhà nông” là để tôi tìm hiểu lại tôi, cái tôi thật ẩn náu tận đáy lòng, ở trong tiềm thức sau này tô lên một lớp sơn dày. Mà “Thằng Thuộc con nhà nông” là quyển đầu của bộ “Một Kinh Nghiệm Sống”. Quyển kế sẽ là “Căm Hờn”, tả nỗi lòng của tôi tự kỷ ý thức được thân phận của mình, thân phận của một con nhà nông nghèo bị đè đầu, bị hiếp đáp, bóc lột, phải phục thù, tôi chụp lấy cái khí giới Mác Lê. Quyển ba là “Mê Ly Ðồ” người tín đồ cuồng tín của chủ nghĩa Mác Lê là tôi đã hành động, rồi băn khoăn để tỉnh ngộ ra sao, đó là đại ý quyển này…”

Và, có khi như tự trách mình khi làm việc ôm đồm và thường xuyên bỏ dở nhiều công việc:

“Nhiều anh em – trong đó có anh- trách nhẹ tôi hay bỏ mứa trong công việc viết… Bỏ dở dang những công trình đã khởi sự. Như dịch Tam Quốc Chí, thì dịch có quyển đầu. Viết Lịch Sử Văn Chương Việt Nam thì chỉ cho ra quyển một. Có biết đâu, viết, viết văn cũng như viết báo, đối với tôi là việc nhỏ, việc phụ.

-Thế việc lớn, việc chánh của anh là…

– Là Sống. Khi mà cái tiểu tiết là viết, là gì gì khác mà không hợp với đại thể là tôi gạt qua bên…”

Thực ra khó mà định hình được chân dung Hồ Hữu Tường. Ông là một chính trị gia thất bại, ở tù nhiều lần, và coi thời gian ở tù như thời gian để chiêm nghiệm để suy tư. Và cuối cùng ông chấm dứt cuộc sống ở tù ngục Cộng Sản. Ðọc những trang sách của ông, cái phong cách độc đáo, không giống bất cứ một tác giả nào khác và đôi khi cũng khác với cả những điều ông viết từ trước. Tôi không được đọc hết các tác phẩm của ông, nhưng, tôi vẫn có cảm giác rằng ông là một người luôn đi kiếm tìm một con đường để thực sự Sống, không phải cho riêng ông mà cho cả dân tộc Việt Nam nữa.

Nguyễn Mạnh Trinh.

Tuệ Sĩ – Người Gầy Trên Quê Hương. Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu.


HT Thích Nguyên Siêu

(Chân dung nhà thơ Hòa Thượng Thích Tuệ Sĩ)

Tuệ Sĩ – Người gầy trên quê hương điêu tàn. Tuệ Sĩ – Người ẩn mình dưới lòng hố thẳm hun hút, Tuệ Sĩ – Trên đỉnh Trường Sơn chót vót sương mù, mây trắng. Những hình dung từ tiêu biểu cho một con người như còn lãng vãng đâu đó, náu mình trong khói đá. Ẩn hiện trên khói sóng. Nhấp nhô trên những lượng nước bạc đầu của đại dương. Hiển hiện trên quê hương điêu tàn. Núp sâu trong lòng người khốn khó. Ngày cũng như đêm luôn có ở những nơi đó. Có như một linh hồn mục nát, đọa đày giữa muôn triệu linh hồn đau thương, gầy guộc. Luôn kêu gào thấu trời xanh, nhưng những kẻ quyền uy tham vọng ở nơi đó vẫn bịt tai, nhắm mắt như loài khỉ nhảy nhót trên cành cây vô lương tri. Như bầy thú hoang dẫm nát núi rừng nơi chúng ở.

Một vì sao sáng ở phương đông để dẫn lối cho các vì sao lạc hướng. Cả bầu trời đen ngòm, thăm thẳm u minh, bao trùm muôn vật, gục đầu trong tuyệt vọng.

“Ôi nỗi buồn từ ngày ta lạc bước,
Cố quên mình là thân phận thần tiên”
(Giấc Mơ Trường Sơn 57- An Tiêm 2002)

Đúng! Tuệ Sĩ người đã lạc bước, nên bốn mươi năm qua đã phải sống với cỏ cây, sương mù, vạt nắng… với rừng xanh, cốc lặng thâm u, để nuôi dưỡng một thân người gầy còm như Khô Mộc Thiền Sư, trên đỉnh Trường Sơn gió hú. Lạc bước để ru đời mình qua cơn mộng kinh hoàng của quê hương. Qua nỗi đọa đày, lầm than của dân tộc. Vì lạc bước vào một thảm cảnh điêu tàn đã làm xốc dậy nỗi đau chung của loài người. Nỗi oán hờn của cỏ cây, sỏi đá, của kiếp người cuốn theo bụi mờ của thời gian tăm tối.

Mang thân phận người mà chia sẻ những cảm nghĩ, suy tư chẳng ai thấu hiểu, nhìn nhận, vì đã bị lạc điệu. Con người ở nơi đó đã choáng ngợp ánh đèn tham vọng. Con đường tham nhũng để dẫn tới cảnh bán nước cầu vinh. Nhóm người vong thân, lạc hướng của thời đại điêu tàn hoang dã của thời tiền sử. Vì lạc bước nên không cùng chung ý thức sống. Ý thức của ý thức. Người thật người. Người của lương tri. Người của người. Người của tất cả, cỏ dại mây ngàn, biển xanh, núi thẳm… Vì lạc bước nên ở đó cảm thấy mình cô độc giữa xã hội người mà chẳng ai cảm thông, chia sẻ, nỗi niềm, ước vọng để đồng hành trên con đường phụng sự tha nhân, làm lợi đạo ích đời. Khi mình còn hiện hữu. Có tâm lý nào của loài người khi có được viên ngọc quý trong tay mà quăng nó vào xó nhà, vứt nó vào xọt rác. Tâm lý này có thể có ở những kẻ sống xa thế giới người, không biết cái quý của viên ngọc. Hay đúng hơn như loài vượn, loài khỉ. Cho nó ăn chuối, cầm lấy ăn liền, nhưng đưa nó viên ngọc, nó nhìn qua nhìn lại rồi ném đi chẳng hối tiếc. Vượn khỉ chẳng suy tư nghĩ ngợi gì giá trị hiếm có của viên ngọc, nên dưới mắt của vượn khỉ viên ngọc không quý bằng trái chuối.

Trong mọi thời gian, dù rằng xa xưa ở quá khứ, loài người mới xây dựng một đời sống xã hội thấp, lao tác bằng tay chân, ít sử dụng việc làm bằng đầu óc. Nhưng những ai có được cái đầu, cho những dòng tư tưởng tuôn chảy, cho tri thức hiện hữu qua sự sinh hoạt thường nhật, thì người có cái đầu vẫn hơn, vẫn được trọng dụng để khai phá, phát triển những việc cần khai phá, cần phát triển. Có được như vậy, thì loài người mới tiến bộ thăng hoa đời sống thánh thiện, nâng cao trình độ tri thức xã hội. Bằng không xã hội người đó sẽ không bắt kịp với những nền văn minh tiến bộ khác.

Đã lỡ lạc bước rồi, thôi thì hãy cố quên mình là thân phận thần tiên đi, mà phải vào rừng ăn trái cây, uống nước suối, cùng lũ khỉ vượn chuyền cành cho qua ngày tháng, theo dòng thời gian:

“Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn,
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm 2002)

Có người ngược xuôi để tìm cầu, tranh giành quyền uy tước cả, dù có đi bằng cái đầu xuống dưới đất, họ vẫn làm để được những tham vọng bất lương, những tiền bạc bất nghĩa, quyền cao lộc cả dù phải bán nước cho ngoại bang, những mong tiền bạc đầy túi, vàng ngọc đầy nhà, để lót, để nạm bàn ghế ngồi chơi hưởng thụ trên xương máu của dân đen. Nhưng nơi đây có người “ngược xuôi” mà chỉ có để “nhớ nửa cung đàn” chưa được trọn “cung đàn”. Đơn giản quá! Tri túc quá! Biết đủ như là một thân người có chiều cao 1.59 m và cân nặng 39.5 kg. Có mấy ai được cái ngược xuôi đó? Hay chỉ có kẻ đứng ngoài vòng danh lợi, ngoài cái thị phi, nhân ngã, tầm thường của thế nhân.

Nửa cung đàn ấy như là tiếng ngân dài của cung đàn rồi chợt dứt. Như dòng lịch sử của quê hương dân tộc rớt tỏm xuống hố sâu, tối tăm, mịt mờ, tuyệt vọng qua chặng đường lịch sử hôm nay.

Đời sống như là quán trọ, con người đến rồi đi. Sanh rồi tử, muôn trùng, thăm thẳm, vô biên, vô tận. Con người đắm chìm trong cái quán trọ đó mà sinh ra đủ thứ chuyện để làm ngăn nẻo về của những bước chân phương trời viễn mộng. Vậy thì, bị ngăn nẻo về, không về được nên quay lại để sống với mình. Đóng cửa phòng, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nhịn đói, tuyệt thực. Ngày chỉ uống nước chanh pha đường. Có lúc xỉu trên bàn vì đói. Còn lở dở mấy câu thơ:

“Ta cưỡi kiến đi tìm tiên động
Cõi trường sinh đàn bướm dật dờ
Cóc và nhái lang thang tìm sống
Trong hang sâu con rắn nằm mơ”.
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 68, 2002)

Bị ngăn nẻo về nên cưỡi kiến đi tìm tiên động, để tu tiên thành tiên ông. Sống nơi cõi trường sinh bất tử đó, mà vui với bướm ong, cóc nhái, rắn rít trong hang sâu nằm mơ phương trời mộng. Sống thực không được thì sống mộng mơ. Sống cho chính mình. Sống cho qua một giấc chiêm bao tưởng chừng như đã:

“Đêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ xoi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 67, 2002)

Có bà mẹ nào xoi tim con thành lỗ để móc bên trong hạt ngọc sáng ngời? Chỉ có bà mẹ điên thời đại mới làm như vậy. Bà mẹ điên ấy chỉ biết vàng và ngọc mà không có tình yêu thiêng liêng sinh con và thương con. Bà mẹ điên thời đại đã đẩy đàn con mình lang thang bươi rác rưởi để sinh nhai. Tìm sống trên những vỉa hè cùng khốn. Thất học, mù chữ, đói nghèo… Còn bà mẹ thì ngất ngưỡng hưởng thụ ngọc ngà, vòng bạc từ máu của người dân, mà qua đêm chiêm bao “ta thấy máu”. Máu nhuộm đỏ con người. Máu tuôn chảy như sông. Máu lan tràn cả nước. Rồi có những đêm ngồi bên cửa sổ, ngắm ngọn nến tàn qua khung cửa sổ để sống mộng, sống mơ y như sống thực.

“Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 12, 2002)

Đi đâu bây giờ, vì ai đó đã ngăn nẻo về thì có lối đâu mà về. Có đường đâu mà đi và có quán trọ nào để tới. Nẻo về không. Quán trọ cũng không. Chỉ chôn mình bên chồng sách cũ với bốn vách tường rong rêu mà gõ nhịp. Vì sống mộng nên tránh xa cõi người, vào hang động núi rừng để cuốc đất sinh nhai. Trồng bí bầu, khoai lang, mướp đắng, rau quả, tía tô, xà lách… để đêm đêm nằm nghe tiếng dế nỉ non, côn trùng hát ca bài ca dân tộc.

“Người đi đâu bóng hình mòn mỏi
Nẻo tới lui còn dấu nhạt mờ
Đường lịch sử
Bốn nghìn năm dợn sóng
Để người đi không hẹn bến bờ.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 85, 2002)

Sống với người bị ngăn nẻo về. Sống thực đã thành mộng và sống mộng để thấy hiện thực, một sự sống vì đời mà tranh đua. Tranh đua, giành giật cả ngày lẫn đêm trên mặt đất hay dưới lòng đất lắng nghe từ sự tan vỡ hãi hùng, giết chết sự sống của sức người lao tác.

“Ta biết mi bọ rùa
Gặm nhắm tàn dãy bí
Ta vì đời ghanh đua
Khổ nhọc mòn tâm trí.

Ta biết mi là dế
Cắn đứt chân lá non
Ta vì đời nô lệ
Nên phong kín nỗi hờn

Ta biết mi là giun
Chui dưới lòng đất thẳm
Ta vì đời thiệt hơn
Đêm nằm mơ tóc trắng”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 31, 2002)

Nổi trôi theo năm tháng, thân hình gầy còm như cọng lau, giữa rừng núi Bảo Lộc, trong đêm trường u tịch, có lúc chẳng thèm thở nữa, nằm giữa núi rừng, dân làng mang về tiếp hơi để thở. Đây là mộng hay thực, là đời sống văn minh thế giới loài người hay đời sống của loài dã thú nơi chốn núi sâu, rừng hiểm?

Có ai một lần nghĩ tới “Tiên ông” để thấy viên ngọc quý của giống nòi nước non, mà thắp nén hương lòng khấn nguyện, giữ gìn nghìn năm sau không hề phai. Núi rừng Bảo Lộc như cúi đầu thầm lặng để lắng nghe “Tiên ông” cưỡi kiến đi cùng khắp nẻo vô sinh. Lão tử cưỡi trâu thành bất tử. “Tiên ông” cưỡi kiến để cùng sinh tử với chúng sinh.

San Diego, Mạnh Đông, 05 tháng 01 năm 2017
Nguyên Siêu

Một Cảnh Tượng Kỳ Ảo. Tuỳ bút Mai Thảo


Mai Thảo

Mai Thảo

Anh Đinh Hùng, tôi nhớ năm ngoái cũng vào tháng này, để đánh dấu ngày giỗ đầu cái chết của anh, nhà xuất bản Văn ở số 38 đường Phạm Ngũ Lão Saigon, (chủ nhân là anh Nguyễn Đình Vượng, người đã mở đầu cho nhà xuất bản Văn bằng Người Đao Phủ Thành Đại La của anh) cho in lại Mê Hồn Ca. Tái bản mang ý nghĩa truy điệu thi sỹ này, đáng lẽ phải có, bằng văn tôi, một bài vào tập. Mê Hồn Ca được phát hành sau đó. Nhà Văn đành xin lỗi những người đọc thơ anh, bởi bài vào tập đã báo trước, cuối cùng không có. Tôi không viết được nó. Mặc dầu đã định. Đã muốn. Hết lòng. Không viết nổi vài hàng dẫn nhập cho một tập thơ đến nay tôi vẫn thành thực xem như một trong những đỉnh cao của thi ca tiền chiến, không nói được lời nào về một người, người đó là một nhà thơ sinh thời là bạn, là điều đến nay vẫn còn làm tôi hết sức ngạc nhiên. Không thực hiện được một bài viết tưởng đã có hàng trăm ý nghĩ trong đầu, tôi tìm hiểu nguyên nhân, chỉ có thể đi đến kết luận này: với tôi, Mê Hồn Ca vẫn đích thực là cái thế giới mê hồn kỳ lạ của riêng anh. Và nếu hiểu thơ của một người, cũng phải như hiểu một sự vật, một đời sống, nghĩa là thấu triệt được những quy luật cấu thành biện chứng của sự vật và đời sống, thì cái chân tướng của Mê Hồn Ca lung thoát, mơ hồ, tôi không nhìn thấy được cái từ đâu mà thành, bởi đâu mà có. Văn học sử Việt Nam sau này tất yếu sẽ phải làm thay tôi việc đó. Tôi nói tất yếu. Cõi thơ, tiếng thơ, một ngôn ngữ thơ mang tên Đinh Hùng, đích thực vẫn còn hay sẽ mất với những liên hệ chặt chẽ với thơ của cả một thời kỳ, một thời đại. Thơ anh là thơ của một người. Còn là thơ của một thời.

Thơ Việt Nam bây giờ chuyển lưu sang một trời thơ khác, chứng minh điều đó. Nhận cho thơ Đinh Hùng như một động lực đưa tới một hóa thân, một tiến trình mới của thơ, thì cũng cứ vẫn phải công nhận thêm một điều này: thơ anh nếu có khép đóng lại một giòng thơ thì cũng chính từ khép đóng này mà thơ đã mở đi những giòng thơ khác.

Anh Đinh Hùng, tôi kể lại anh nghe chuyện nhỏ này. Nghĩ nó, tuy cũng trà dư tửu hậu mà thôi, có chiếu sáng cho tôi phần nào về một vài bình diện thi sỹ. Một buổi chiều tuần trước, tôi cùng Thạch Chương và Thanh Tâm Tuyền đến chơi một người bạn. Ở đây, chúng tôi tình cờ gặp lại nhà thơ Bùi Giáng. Với tôi, cõi thơ Bùi Giáng là một trong những cõi thơ bát ngát nhất hiện nay của thơ ta. Thơ Bùi Giáng là một vực thẳm không cùng. Một cánh rừng dầy đặc.

Nó òa tới, làm nhạt nhòa Xuân Diệu. Nó vụt qua làm mất biến Xuân Xanh. Dẫm đạp lên mọi thể loại ngôn ngữ tĩnh tại, sáng hồng, đôn hậu, toàn vẹn, đã xong, thơ Bùi Giáng là cái tang trống kinh dị treo căng trên hai đầu cọc nhị trùng: từ một băng hoại tận cùng tới một thăng hoa chói lọi. Thơ nguy nga như thế mà con người bệnh quá. Mỏi nhọc, già yếu, Bùi Giáng ngồi đó, bóng chiều lãng đãng, như hình như bóng, mang trên hình hài âm u cái hiện tượng dị thường của một cõi ngôn ngữ khi bình lặng thì thiêm thiếp, hư không, khi dấy động là dấy động bàng hoàng một trời giông bão. Chừng như tôi điên, một năm vài tháng, Bùi Giáng nói. Thế nhưng khổ nhất cho Bùi Giáng lại là lúc tỉnh. Tỉnh thức, ra khỏi những quằn quại nghẹn ngào, những nhức nhối đốt lửa, Bùi Giáng mới biết là có thật nhiều điều, dầu biết phải nói, chẳng nên nói ra bằng giấy trắng mực đen. Nhưng rồi những cơn lốc kinh hoàng hệt như những cơn say sượng sần mê ngất chụp bắt lấy. Và khi đó thi sỹ lại nói hết. Nói hết những niềm quái dị, những nỗi hoang vu bất chợt sáng ngời, bằng một Ánh Sáng Lạ, trong tâm linh và tiềm thức. Tôi nhớ chiều hôm đó, Thanh Tâm Tuyền, yêu mến Bùi Giáng lắm, đã giải thích cái trạng thái bất bình thường nơi Bùi Giáng như một hòa nhập quá thể say đắm, quá thể trầm trọng với ngôn ngữ. Rằng đó là tại vì anh coi trọng ngôn ngữ quá. Rằng anh muốn phá tan ngôn ngữ còn muốn phá tan chính Cuốn Sách là cái biểu tượng cái thể tích thường hằng được chấp nhận cho ngôn ngữ, cho thơ.

Anh Đinh Hùng, cái “ca” đặc biệt của Bùi Giáng trở lại trong trí tưởng tôi lúc này tôi nói chuyện với anh về những cõi ngôn ngữ dị thường ấy là những cõi ngôn ngữ thi sỹ. Nếu Breton định nghĩa cái đẹp như một bàng hoàng, bàng hoàng đó đã sấm sét, đã địa chần bao nhiêu năm dưới trời siêu thực, và nếu ngôn ngữ ở Bùi Giáng là những lượng chất nổ thả dần bằng những ngón tay thơ rất đỗi dịu dàng vào cái tôi nhìn thấy rõ nhất ở Bùi Giáng là một cõi tâm linh mê ngất – chúng ta đã thấy nhưng không thể tan tành và toàn vẹn bằng, ở cõi thơ trái điên và mật đắng của Hàn Mặc Tử – tôi muốn nhìn thơ anh, như nỗ lực một đời của ước muốn đến với cái phía bên kia đã mất của thực tại. Đó là cái nỗ lực cài đính trang trọng lên một nền trời những vì sao đã rụng. Sự vật tất yếu nằm trong vận động của một sinh thành và một hủy diệt. Quy luật ấy, đích thực anh đã không chịu chấp nhận nó. Đã muốn phản chống lại bằng thơ. “Khi miếu đường kia phá đổ rồi. Ta đi về những hướng sao rơi.” Trời thơ anh nằm gọn trong mười bốn chữ đó. Giữa một thời đại ào ạt vươn tới những biển vàng chưa gặp. bây giờ người ta đã nghĩ đến những ngọn cỏ đường cho năm 2000, vẫn có những nhà bác học nghiêm túc phủi đi những bụi phấn trên một đồ vật chôn vùi cũ bằng đất nung. Cho sáng rỡ trở lại cái nghệ thuật tạo tác của một hơi lửa tiền sử. Anh là một trong những nhà bác học đó. Vần đề tưởng rằng lớn lao và ngột ngạt nhất của thi ca là ngôn ngữ không đặt ra với Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử tiên thiên tuy cũng là một nỗ lực biểu hiệu tới tận cùng một định mệnh ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ với Đinh Hùng đôn hậu, ngoan ngoãn. Nó chỉ là một phương tiện. Cái phương tiện dẫn đi. Cái phương tiện chở về.

Vào thơ anh trước hết tôi nhìn thấy một vũ trụ một thế giới không tiếng động, không ánh sáng. Nó là một cánh rừng chết. Im phắc. Rất đen và rất đêm. Rồi lửa thơ ngang đầu, thi sỹ đi tới. Thi sỹ vào. Đánh thức những bằn bặt. Lay tỉnh những thiêm thiếp. Gõ cửa những chôn vùi. Như một ngọn đèn pha trên một con đường tối, ánh sáng lướt. Những sự vật hiện. Nhặt những “sao rơi” anh đang cài đính từng chùm một, lên một nền trời đã nghìn triệu năm tắt nghỉ mọi cuộc đời tinh tú. Người ta bảo thơ Đinh Hùng là một thất bại trong ý hướng tạo dựng và làm sống lại một thế giới đã vĩnh viễn tịch mịch. Người ta nói Đinh Hùng không làm sao đón được đời sống vào vũ trụ mình giản đơn là bởi vì cái vũ trụ đó không có. Tôi muốn nghĩ khác.

Tôi muốn nghĩ khác. Tri thức và trầm tư cho một bản thể rực rỡ như Đinh Hùng, ít nhất cũng là đã mở được những cửa ngõ hòa nhập dư thừa vào hằng cữu và tạo vật, hiểu được thế nào là chân thân kia của một hạt cát sông Hằng, tri thức đó nhất định không đến nỗi rơi ngã vào ảo tưởng mù lòa về những cái đã chết, đã mất, phải làm cho sống lại. Bởi không thể. Cài đính trang trọng những nhành sao rụng lên một nền trời kia, ở Đinh Hùng chỉ là đốt lửa đêm cho cuộc đời nhìn thấy cái mặt sấp kia của một đồng tiền. Cái mặt không reo không nhẩy. Cái phía đã im phắc. Đã bất động. Đã thành tượng.

Thành tựu của thơ Đinh Hùng ở nơi anh được những vì sao rụng trên mặt cỏ hằng cữu. Và không, khi nào “miếu đường” không phá đổ được miếu đường còn đứng đó, cản ngăn đường ngưng về một hướng sao rơi. Thơ ở một phía khác thơ Đinh Hùng, thơ ngợi ca đời sống, thơ đầm ấm hơi thở, thơ tươi tắn máu hồng, thơ trái tim trên tay, thơ như một thâm nhập tràn đầy và dữ dội của ngôn ngữ, thơ trên mỗi tảng đá, mỗi ngọn cỏ, để lại cái dấu khắc đau đáu tươi mầu của hiện hữu và tri thức người, khác ở nơi nó không vấp phải một miếu đường nào. Sao cũng rơi trên chúng ta đấy chứ. Nhưng sao rơi gần. Với Đinh Hùng, đã cách một miếu đường thực tại, sao còn nghìn dặm.

Thả hòn đá xuống một lòng giếng thẳm, vang vọng mất biến. Ném ngôn ngữ đi quá xa tới những vùng trời biệt tích ngoài mình, ngôn ngữ biệt tích luôn. Mê Hồn Ca tuyệt nhiên không đắm say cái ý tưởng mù lòa làm sống lại những đồ vất đất nung được tạo tác ngày nào bằng hơi lửa tiền sử. Chỉ Đinh Hùng muốn dẫn chúng ta tới đó. Tới những cõi chôn vùi. Tới những trời hủy hoại. Tới một lối đi xưa. Tới một cửa đền cũ. Cái khác là chúng ta đã tới và đã trở về. Riêng Đinh Hùng ở lại.

Anh Đinh Hùng, bây giờ thì với anh miếu đường kia đã đích thực phá đổ. Tôi nhìn thấy trời thơ anh sáng dần. Thi sỹ đã tới. Trên một nền trời kia, từ một bàn tay ấy, những vì sao đang được khoan hòa và trang trọng đính cài lên. Cảnh tượng này đối với tôi và với thơ, đã dư thừa một cảnh tượng kỳ ảo.

Mai Thảo

(Khởi Hành số 17)

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: