Hiện Tượng Bùi Giáng. Thụy Khuê


Thụy Khuê

Sinh thời, Bùi Giáng bảo: “Hãy để cho tôi yên, tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có ai bàn đến thơ tôi .” (1) Có lẽ vì tôn trọng nhà thơ, cho nên ít ai bàn đến thơ ông (2). Ca tụng Bùi Giáng thì nhiều, nhưng phê bình Bùi Giáng thì ít.

Như thơ, Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng, cả đời lục bát. Tại sao lục bát? Lục bát bởi vì, đối với Bùi Giáng: “Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bẩy sông hồ.” (3) Ðó là lộng ngôn Bùi Giáng.

Về bản thân mình, Bùi Giáng tự họa: “Nhe răng cười trong bóng tối… Không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn… Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài… Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài… Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh.” (4) Ðó là mâu thuẫn Bùi Giáng.

Hỏi về tiểu sử, Bùi Giáng trả lời:

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa.
Gọi tên là một hai ba,
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.
Ðó là vô căn Bùi Giáng.

Trên báo Văn, số 26 tháng 8 năm 1984, Mai Thảo kể lại rằng khi hỏi về cái lực viết phi phàm của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền lắc đầu cười: “Chịu, không giải thích được. […] Nói đến mấy ngàn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận, vô cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Ði ra thơ. Ðứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ.”

Vẫn theo lời Mai Thảo, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, thuật lại: “Ảnh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, nói buổi sáng, buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm bẩy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc.”

Mai Thảo kể tiếp, khi làm số Văn, đặc biệt về Bùi Giáng: “Tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ […] Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng viết, thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả. Như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút, từ đầu ngón thôi […] Lần đó, tôi đã thấy, đã hiểu tại sao Bùi Giáng, cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi.”

Về những cơn điên Bùi Giáng, Phạm Xuân Ðài kể trong lời tựa tập Thơ Bùi Giáng (5): “Chỉ có thơ và những cơn điên […] Bây giờ (năm 1992) anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì vẫn viếng thăm anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện ở vùng chợ Trương Minh Giảng (chỗ Ðại Học Vạn Hạnh, là nơi ngày xưa anh thường trú ngụ) đứng giữa đường vung tay, điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng […] Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô hình.”

Ðó là hiện tượng Bùi Giáng, qua lời kể của những người thân trong giới văn học.
*
Bùi Giáng là ai? Bùi Văn Vịnh, em của Bùi Giáng, cho biết (6): Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Thuở nhỏ, học trường Bảo An tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, trung học ở trường Thuận Hóa, Huế. Năm 1950, đậu Tú Tài II văn chương ở Liên Khu V. Sau đó ra Liên Khu IV học tiếp đại học. Nhưng sau khi nghe qua bài diễn văn khai giảng của ông viện trưởng, Bùi Giáng quay về Quảng Nam và bắt đầu quãng đời được gọi là “Mười lăm năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.

Tháng năm 1952, Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa.

Lần này, sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dậy ở Văn Khoa, Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.

Từ 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết. Như lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, có thể ném bịch một vài trăm trang sách. Ðúng là một kỷ lục có một không hai.
*
Chúng ta thử tìm hiểu bản chất của kỷ lục ấy qua một vài trang sách của Bùi Giáng trong Con Ðường Ngả Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, do An Tiêm xuất bản lần thứ nhất tại Sài gòn năm 1972, và tái bản tại hải ngoại.

Có thể nói trong cuốn sách này, cái gọi là điên của Bùi Giáng phát hiện rõ rệt dưới hình thức loạn ngôn, ngộ chữ cao độ. Về Heidegger, Bùi Giáng viết: “Tất cả con đường tư tưởng của Heidegger là mọi lối nhiếp dẫn bước đi về những vùng u kín trong cổ lục uyên nguyên.” (trang 13)

Về Nietzsche, ông viết: “Nietzsche không phải là đại hải đại dương. Nietzsche đã đón vào lòng mình một dòng sông dơ bẩn. Và từ đó? Từ đó, Nietzsche biến thành một loại người mạt hậu theo mọi nghĩa thái thậm ly kỳ. Con người mạt hậu và hư vô chủ nghĩa, con người mạt hậu và sa mạc tinh hoa, con người mạt hậu và Mạt Hậu “Tử Sinh Môn” Hoạt Tinh Thể, con người mạt hậu và Siêu Hình Học Lãnh Ðịa, con người mạt hậu và Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu và Siêu Hình Học theo nghĩa Sử Lịch chân lý của Hiện Thể như là Hiện Thể, Sử Lịch chân lý của Hiện Thể và Ðịnh Mệnh Tồn Lưu thoái tàng ư mật, Tồn Lưu thoái tàng ư mật và Hằng Thể bước vào vòng di vong trầm một, từ di vong trầm một, còn chút hậu tình ân ốc nào sẽ “trột mầm” cho một trận Dịch Chuyển thông hành của Ðịnh Mệnh hay không? hay là Siêu Hình Học vẫn mãi mãi kiên trì tồn lập trong cuộc đù đỡn “trệ lưu ư ngoại” bất khả tư nghì khuyết phạp từ Hoạt Tinh Thể của Hư Vô? …” (trang 17)

Và cứ như thế, Bùi Giáng sản xuất 499 trang Con Ðường Ngả Ba, Bước Ði Của Tư Tưởng.

Ðiểm thích thú nhất của người đọc trong cuốn sách này là những trích đoạn thơ Bùi Giáng, phần lớn là những câu thơ hay, tỏa ra những suy tư sâu lắng về bản chất con người.

Nhưng trong 499 trang chữ ấy, người đọc tìm thấy rất ít dòng đứng đắn và tỉnh táo bàn về những vấn đề triết học như hiện sinh và bản thể, tồn tại và thời gian, mặc dù ông rất ngưỡng mộ Heidegger, người thầy hiện sinh được ông trích, dịch một cách kỳ cục. Ví dụ như câu này, dịch ra từ tiếng Pháp, tiếng Ðức: “Nhưng mà lời thuyết thoại trì ngự, trong (khởi từ) Ðịnh Mệnh Phối Tiết mở phơi, sẽ ra sao nếu như cái Sở Khải Khai trong Song Trùng Tịch Hạp bị Ðịnh Mệnh Phối Tiết (ruồng rẫy) bỏ phó mặc cho cuộc thể hội vất vơ nhân tuần (dung thường nhật lệ) của con người từ diệt chúng tử chúng sinh?”
(Con Ðường Ngả Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, trang 12-13)

Dù đặc sệt những tên tuổi triết gia, nặng ký trích dẫn thiên kinh, vạn điển, dù có một số ý trội lên về vấn đề đọc sách, đọc Nguyễn Du, đọc Bùi Giáng, về sự gặp gỡ giữa những nhà tư tưởng lớn, đả kích một số nhà xuất bản không tôn trọng văn bản của tác giả, Con Ðường Ngả Ba vẫn không phải là cuốn sách bàn về triết học, hoặc đưa ra một hệ thống tư tưởng mạch lạc; mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần chú, nhại triết học, nhạo người đọc. Cho nên khi Tạ Tỵ viết: “Bùi Giáng đối thoại với Nietzsche, Sophocle, Parménide, Khổng Tử, Lão Tử, Sartre, Camus…” thì e rằng Tạ Tỵ quá lời. Sự tìm kiếm siêu hình nơi Bùi Giáng, như chỉ dừng ở phần vỏ của ngôn từ: tồn sinh, tồn lưu, hằng thể, hư vô, logos, … mà không đi vào nội tâm của suy tưởng. Hoặc có lẽ Bùi Giáng chỉ muốn rỡn chơi. Nếu ông có nhắc tới Như Lai, Bồ Tát, Heidegger, Parménide, Platon, Socrate cũng chỉ như ông nói đến Nam Phương Hoàng Hậu, Dương Quý Phi, Marilyn Monroe, đười ươi, chuồn chuồn, châu chấu v.v… vậy thôi, trong một trạng thái “tẩu hỏa nhập ma”, một tinh thần anarchiste toàn diện. Một “người phá”, để nói theo ngôn ngữ Trần Dần. “Người phá” trong cái nghĩa tiêu cực của nó, chứ không phải trong cái nghĩa sáng tạo, ít nhất là ở cuốn sách Con Ðường Ngả Ba.

Phải chăng Bùi Giáng chỉ muốn “hù dọa” người đọc không chuyên môn? Hay ông muốn nhại, diễu, những hệ thống suy tưởng mà một số trí thức quen dùng như mẫu mực hoạt động tinh thần? Biến chúng thành một thứ charabia, ngôn ngữ vấn đáp chuồn chuồn, châu chấu, nói trẹ, nói xàm, nói bá láp và ông có khả năng sản xuất mỗi ngày vài trăm trang như thế?

Thái độ anarchiste toàn diện này mở rộng trong đời sống, trở thành một bản năng phản kháng quẫy đời: Cởi quần áo giữa lớp học, tắm nơi công cộng, ngủ vỉa hè, trở thành clochard (hành khất say rượu), mặc áo rằn ri lính ngụy, để chỉ đường…, tất cả những “cơn điên” ấy của Bùi Giáng chứng minh sự sáng suốt của một Bùi Giáng không điên.

Không điên vì ông chỉ đẩy đến cùng trạng thái hiện sinh, chứng nghiệm ý thức trần trụi về bản thể. Cởi dần năm bẩy lớp quần áo chẳng qua chỉ là hình ảnh “rút gọn hiện tượng”, bóc vỏ các tầng lớp bề ngoài của “hiện tượng” để tìm ra bản chất trong hiện tượng luận Husserl.

Trở thành clochard là một cách thể nghiệm tự do và tự hủy.

Trong những đệ tử của hiện sinh thời ấy, Bùi Giáng là người đi xa nhất trong hành động tự hủy và hành xác. Tự hủy để chứng minh: Cá nhân con người đã chán ngấy cuộc sống, nó có một quyết định tự do lựa chọn, và sự hủy hoại bản thân là sự lựa chọn tiến gần nhất đến tự do tuyệt đối.

Sau 75, người ta càng yêu Bùi Giáng hơn, vì trong một xã hội được bị lồng vào khuôn phép, một xã hội đã ổn định cơ chế, công chúng yêu mến những gì bất thường, yêu những kẻ ngoại đạo, bất ổn.

Bùi Giáng là người ngoại đạo duy nhất dám làm lũng đoạn môi trường ổn định bằng thái độ tự hủy. Cái điên của Bùi Giáng là cái điên sáng suốt trong một tình thế không có cứu cánh nào khác nếu không tìm về bản thể của con người.

Thơ Bùi Giáng, hiện sinh trong đoạn trường và định mệnh

Những “dạ thưa”, những “tồn sinh”, những “phố thị”, những “cố quận”, “đười ươi”, đã trở thành những cốt cách, những địa chỉ rất Bùi Giáng:

Dạ thưa phố Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Dạ thưa Vỹ Dạ về gần
Ðã từ xa lắm thiên thần nhớ em

Thơ Bùi Giáng, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, đã tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất một dục tình khép mở Xuân Hương:

Cá ở ngoài khe có ít nhiều
Cồn lau cỏ lách có hoang liêu
Em về có hỏi răng ri rứa
Nhắm mắt đưa chân có bận liều.
(Bờ trần gian)

hoặc:

Bỏ hai chân xuống một vùng
Nước truông là lá thu rừng xuống khe.
(Bỏ hai chân)

Những dòng thơ trên đây, theo như lời Mai Thảo, Bùi Giáng đã làm một mạch, tại chỗ, xuất bút thành thơ. Huyền thoại Bùi Giáng, thi sĩ bẩm sinh, poète né, trong thập niên 60-70, được xác định như một hiện tượng văn học độc đáo. Như thể ông đã biết trước đường đi nước bước của thơ. Có khả năng thiên bẩm về sự lang thang ngơ ngẩn của chữ trên đời, và chỉ cần huơ tay, bắt chúng, nhốt vào câu lục bát, như Bình Nguyên Lộc “nhốt gió”, là có ngay thơ Bùi Giáng:

Một hôm đếm một ra ba
Thật là lạ lắm, ấy là cái chi

hay:

Người con gái lội qua khe
Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau
Bàn chân với nước cùng nhau lại đè.
(Lá hoa cồn)
*
Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa
Gọi tên là một hai ba
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm

Bốn câu tự họa trên đây dường như đã gói trọn bản chất thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng. Một bản chất đa mang nỗi hiện sinh hoang tưởng trong một “đạo khờ” gắn bó với đoạn trường tái tân thanh (chữ của Bùi Giáng) tiếp nhận Nguyễn Du như một thông đạo, thông thư, thông mệnh văn học.

Thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân, biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được? Ðến bản thân ta, ta còn không biết, nữa là… Nếu trường phái hiện sinh (Sartre) bác bỏ tính chất định mệnh, thì ở Bùi Giáng, định mệnh (Kiều) và hiện sinh giao hưởng với nhau thành một cấu trúc tư tưởng mới, tạo nên những vần thơ đậm dấu Ðạm Tiên, hắt ra những ánh siêu thực:

Em chết bên bờ lúa
Ðể lại bên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nhìn chân trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya trốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng
(Mưa nguồn)

Bùi Giáng có những câu thơ rất cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt.

Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
(Hư vô và vĩnh viễn – Mưa Nguồn)

Không gian Bùi Giáng, một cõi hư không đầy dấu hỏi, bồng bế nhau đi, năm này qua tháng khác, một cõi trùng sinh, di động luân hồi.

Những nhịp bước trên đường còn dội mãi
Vang về đâu không vọng lại hồi âm
Của réo rắt riêng một lần mãi mãi
Gió phương trời ủ mộng giữa hoa tâm
Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại
Chẳng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm
Em ngó mãi những chiều về trở lại
Mang những gì về trong cõi trăm năm…
(Chiều – Mưa Nguồn)

Từ Nguyễn Du, Bùi Giáng trích tạo nên một mô típ bạc mệnh hiện đại, mầu sắc siêu thực, tài tử và tài hoa, một chất thơ giao thoa Nguyễn Du Bùi Giáng

Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn
Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau
Ðạp thanh vẽ bóng lộn mầu
Góp dâng cữ gió nghiêng đầu sương mây
Ngõ ban sơ hạnh ngân đài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua
Xin chào giữa bước chân ra
Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn
(Mầu hoa trên ngàn)

Nơi Bùi Giáng còn một mô típ bạc mệnh, cuồng khất, tổng hợp đoạn trường, tồn sinh, ngông ngôn, rất liều và rất loạn, mà cũng là vọng âm của niềm hoang mang tuyệt đối:

Hồng quần rất mực bước ra
Trường quần duệ địa phong hoa lá cồn
Phải rằng nắng quáng dập dồn?
Hay là đèn trút linh hồn oái oăm?
Phải là nguyệt giữa đêm rằm?
Nguyên tiêu lãng đãng lá nằm ngẩn ngơ?
Kể từ hằng thủy ban sơ?
Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang?
Kể từ thu tạ lên đàng?
Rừng phong thu đã quan san nhuộm mầu?
Phải rằng đó trước kia sau?
Hay là sau trước còn tao ngộ gì?
(Con đường ngả ba)
*
Nhưng bi kịch của Bùi Giáng là ông lập lại chính mình.

Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo, về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du… ban đầu làm xuyến xao người đọc: Em về rũ áo mù sa, trút quần phong nhụy cho tà huy bay. Nhưng vì lập lại nhiều lần chúng bị phá giá. Hiện tượng phá giá này có mặt ngay ở những tác phẩm đầu và chủ yếu của Bùi Giáng.

Từ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, năm 62, 63 đã thấy xuất hiện tính chất đoạn trường, tồn sinh như tinh thần chính trong tư tưởng Bùi Giáng: Nguyễn Du, Tản Ðà gặp gỡ Heidegger, Breton phóng sinh một tạng chán đời mới lạ. Bài Rượu Uống trong Lá Hoa Cồn, một thứ đoạn trường ngông rất lãng mạn siêu thực, tiêu biểu cho tính chất lang thang trong cấu trúc thơ Bùi Giáng:

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trăm năm gục hai bờ tử sinh
Ðộng hờ hững chúa điêu linh
Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi
Nhà ma cửa quỷ đi đời
Chìm hơi thở đục trong lời sương xanh
Càn khôn xiêm mỏng che mành
Về trong thiên hạ em thành thiên thân.

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình
Tài hoa tiếng vọng điêu linh
Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.
Thưa em từ bữa nghiêng chào
Chớm trang đầu chợt sóng trào trường giang
Em đi rắc lá trên đàng
Cỏ xanh rì mọc suốt càn khôn kia
Mùa xuân mưa rưới mộng lìa
Về trong nắng hạ mép bìa sai bâu

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma
Chạy quang cồn cụm lá già
Rách như bươm suốt ruộng sa mạc đồng
Càn khôn gió đổ chất chồng
Rú như beo rống như hùm đổi hang
Trên rừng dưới lũng tan hoang
Vẫn sừng sững bóng chắn ngang quỷ sầu

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm bao
Nhìn nhau trong lũy ngoài hào
Lời phôi dựng một điệu chào dị sai
Trên đầu thế kỷ chia hai
Nguồn man mác lạnh tìm ai bây giờ

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận trường
Chung cầm dâu biển khôn lường
Chân trời mộng lý con đường chia ba
Nam đình doanh trại dàn qua
Trống chầu trùng ngộ thưa là không mong
Hoạt tồn phát tiết sầu đong
Tràng giang thế kỷ xô dòng xuống lên

Bài thơ gồm năm nhịp nối tiếp nhau bằng điệp khúc Thưa em rượu uống bây giờ. Mở đầu Thưa em rượu uống bây giờ, điệp khúc mấu chốt, mở cửa dẫn đến câu thơ thứ nhì: Là trăm năm gục hai bờ tử sinh. Cả hai nằm trong cấu trúc song song, tổng hợp quan niệm ngông, đoạn trường và hiện sinh của toàn bài. Câu ba, câu bốn: Ðộng hờ hững chúa điêu linh, Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi, đệm thêm chất lẳng lơ dục tính, nhưng đã loãng đi vì loại hình này được Bùi Giáng dùng nhiều. Rồi Chìm hơi thở đục trong lời sương xanh, một câu rất hay bị đặt bên một câu lãng xẹt: Nhà ma cửa quỷ đi đời.
Nếu chúng ta đọc đến nhịp thơ thứ nhì:

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình

cũng vẫn thấy nguyên những nhược điểm như nhịp thơ đầu, tức là trong phần thơ đệm có những vội vàng, dễ dãi, ghép chữ, ghép ý rất sáo: Tài hoa tiếng vọng điêu linh, Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.

Ở những nhịp sau, thì ngay chính điệp khúc mấu chốt:

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma

Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận trường

đã có sự lập lại chính mình, như thể nhà thơ tiện tay bắt được chữ nào vội bỏ ngay vào lục bát, không màng nhìn lại những câu thơ đầu nữa.
*
Tất nhiên láy là một quy ước rất thường trong thi ca. Nhưng láy chỉ làm tăng giá trị thơ khi nó đưa đến những dồn dập hoặc trong cảm xúc, hoặc trong nhịp điệu, hoặc trong sinh động… Tức là láy phải đưa tới một trạng thái căng thẳng, tới một vận tốc khác trong tiến trình âm và ý.
Ví dụ:

Này chồng, này vợ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

là một trong những cách láy của Nguyễn Du, vừa tăng vận tốc miêu tả, vừa gia tốc sức ép của hiện thực, rành rành, chính xác, chỉ mặt, chỉ tên.
Hoặc:

Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi

Láy ở đây lũy thừa mật độ ác liệt của Tú Bà.
Hoặc:

Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu

Mỗi lần láy này là một lần Nguyễn Du chuyển cảnh, chuyển tình.

Sự láy lại, nơi Bùi Giáng, rất thường khi chỉ là láy dập dình tại chỗ, láy lười, thấy hợp vần, tiện thể thì láy. Láy hồ đồ ít khi mang tới trạng thái mới, cảm xúc mới, hoặc một sức ép gia tăng, mà chỉ cho ta một cảm tưởng dằng dai, lai tạp:

Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều khe mương
Hãy mang tôi tới dặm trường
Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia
(Sa mạc trường ca, Cầu Nguyện Ca)
*
Jacques Brel, năm 1966, khi tuyên bố ngừng hát ở tột đỉnh danh vọng, trả lời câu hỏi: “Tại sao ông ngừng hát lúc này?” Brel bảo: “Tôi ngừng vì muốn giữ lòng ngay thẳng với thính giả và với chính mình. Bởi vì khi người nghệ sĩ như tôi, đã nắm vững được tất cả những yếu tố kỹ thuật làm lay động lòng người, thì người đó sẽ có khuynh hướng ăn gian (tricher), phong tỏa người nghe bằng tất cả những kỷ sảo của mình, và khi tôi biết mình sắp đi đến chỗ bước vào kỷ sảo , tôi ngừng.” Tất nhiên, Brel chỉ ngừng hát hai năm và năm 68, khi ông trở lại với âm nhạc, đã với một tinh thần khác, hẳn Brel biết mình đã đoạn tuyệt được với ý định dùng kỷ sảo để thu phục lòng người. Và Brel ở lại với âm nhạc thêm sáu năm nữa.

Ở Bùi Giáng hình như không có sự tự giới ấy. Cho nên biết bao lần người đọc tiếc, giá Bùi Giáng đừng ham chơi, chịu khó dừng lại ở chỗ đáng dừng để những câu thơ sáng giá như:

Bụi thu mờ ai phủi với hai tay

hoặc:

Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi còn giữ đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù

khỏi bị lọt vào khu rừng hoang, ôm đồm những lời thơ vội vàng, mọc lên như cỏ dại.
*
Ám ảnh đoạn trường, tư tưởng và ngôn ngữ Nguyễn Du theo đuổi Bùi Giáng suốt đời. Những tập thơ mới nhất, in ở hải ngoại những năm gần đây càng lộ rõ. Trong những cuốn Thơ Bùi Giáng (sđd), Bùi Giáng 94 (in tại California năm 95), và một phần tập Chớp Biển (sđd), Bùi Giáng tìm về người thầy Nguyễn Du như một cứu cánh. Hầu như mỗi bài thơ của ông đều có ít nhất một chữ hoặc một câu của Nguyễn Du. Và cấu trúc toàn bài thường dựa vào ý một câu Kiều:

Rằng xưa ký ức đàn bà
Tên là phụ nữ, tuổi là dấn thân.
…..
Trước đèn một tập mở ra
…..
Biển dâu lục địa cõi miền
…..
Cảo thơm lần giở gió giăng dậy thì

Ám ảnh “mù sa”, ám ảnh “chỉn e”, ám ảnh “vân mòng”, “mai sau”, “trăm năm”, “ngẫu nhĩ”, “phong tình”, “cổ lục”, “dặm về”, “tử sinh”... trở thành lớp da thứ nhì của Bùi Giáng:

Rừng phong thu đã nhuốm màu
Quan san ngần ấy tư trào ngần kia
…..
Chốn nào mộng mị chiêm bao
Chốn này tỉnh táo tiêu tao vân mồng

Từ cảnh sang tình, từ mơ sang thực, ám ảnh ngôn ngữ trở thành ám ảnh tư tưởng. Bùi Giáng đã cạn dần hồn mình và sống hồn Nguyễn Du trong đoạn cuối đời:

Em đi từ tỉnh mộng đầu
Một mình anh ở mang sầu trăm năm

Em từ vô tận xa xăm
Trùng lai chất vấn: Từ trăm năm nào?

Những câu hỏi mà Bùi Giáng trải suốt đời thơ, thắc mắc, tìm kiếm, đặt nghi vấn về cõi đi, cõi ở, cõi có, cõi không, biết đâu hôm nay Bùi Giáng chẳng đã tìm được Nguyễn Du ở một cõi trùng lai nào đó, và ông đang chất vấn người thầy về nỗi đoạn trường ấy, từ trăm năm nào?

Thụy Khuê

Chú thích:
(1) trích theo Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Hồn Thơ Bị Vây Khổn, Văn, số đặc biệt Bùi Giáng, tháng 5 năm 1973.
(2) Trừ một số bài như bài của Tạ Tỵ, trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, in năm 1972, tại Sài gòn, tái bản ở Hoa Kỳ và các bài viết của Thanh Tâm Tuyền, Cao Huy Khanh, Trần Hữu Cư, Nam Chữ, Tuệ Sỹ, Trần Tuấn Kiệt và Thục Khưu trên báo Văn, số đặc biệt Bùi Giáng, tháng 5 năm 1973 tại Sài gòn.
(3) trích theo Thanh Tâm Tuyền, s đ d.
(4) trích theo Thanh Tâm Tuyền, s đ d.
(5) nhà xuất bản Thế Kỷ in năm 1994 tại Hoa Kỳ.
(6) trong cuốn Chớp Biển, thơ Bùi Giáng in tại Canada năm 1996.

Nhất Linh với Hội Bút Việt và Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay. Tài liệu văn học Nhật Tiến.


Lời người viết : Bài viết này được soạn thảo trong dịp nhà văn Phạm Phú Minh và bằng hữu chuẩn bị tổ chức 2 ngày “Triển lãm và Hội Thảo về hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay”  ở Nam Cali vào đầu tháng 7-2013.

Những tưởng buổi Hội thảo chỉ có quy mô hẹp, không rầm rộ như sau này mọi người đã thấy, nên tôi đã đáp ứng ngay lời mời  đóng góp một bài trong cuộc Hội Thảo do nhà văn Phạm Phú Minh nhân danh Ban Tổ Chức chuyển đạt, và tôi đã hoàn tất bài viết này ngay từ cuối tháng 5-2013.

Qua đầu tháng 6, nhà văn Phạm Phú Minh công bố trong vòng nội bộ toàn bộ chi tiết của hai ngày tổ chức và cho tới lúc này tôi mới thấy sự nhận lời mời tham dự của tôi là một điều không mấy thích hợp đối với mục tiêu của ban Tổ Chức.

Lý do: Các diễn giả trong suốt 2 ngày tổ chức đều tập trung vào chủ đề “Tự Lực Văn Đoàn” với những công trình tốt đẹp mà Nhất Linh cùng các văn hữu của ông đã thực hiện được. Đây là một nỗ lực hết sức công phu của Ban Tổ Chức và nội dung các bài phát biểu đã nêu ra được một bức tranh toàn cảnh rất đẹp đẽ về Văn Đoàn này. Như thế, bài nói của tôi về các sinh hoạt văn hóa của nhà văn Nhất Linh lúc cuối đời  (Buồn nhiều hơn vui, có những sự thực về tờ Văn Hóa Ngày Nay không thể không nói ra), có thể sẽ làm mờ nhạt hào quang của người đứng đầu Tự Lực Văn Đoàn mà Ban Tổ Chức muốn phô bầy.

Qua đầu tháng 6-2013, tôi đã gửi Email tới nhà văn Phạm Phú Minh nêu rõ ý nghĩ của mình và xin ban Tổ Chức cho tôi được rút tên ra khỏi cuộc Hội thảo. Nhà văn Phạm Phú Minh đã rất thông cảm với sự quan ngại này của tôi nên đã đồng ý hoàn toàn và hẹn sẽ mời tôi hợp tác trong một dịp khác.

Nay cuộc Triển Lãm và Hội Thảo về 2 tờ báo Phong Hóa-Ngày Nay cùng Tự Lực Văn Đoàn đã hoàn tất mà theo báo chí tường thuật thì rất là quy mô và mỹ mãn. Tôi nhận thấy như thế sau đó thì cũng sẽ là thời điểm thuận lợi để tôi cho đăng tải bài viết của mình, hơn nữa tôi lại có dịp có bổ sung thêm vài chi tiết mà trước đây vì phải gò bó trong khuôn khổ một bài nói chuyện, tôi không thể nêu ra được hết.

Xin gọi là một chút đóng góp nhỏ nhoi  về một cái nhìn riêng tư của tôi đối với những sinh họat văn hóa của nhà văn Nhất Linh khi ông ở vào giai đoạn cuối đời. Nếu bài viết có điều chi sai lầm hay thiếu sót, tôi xin sẵn sàng ghi nhận những lời chỉ giáo của bạn đọc.

Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhất Linh và huy hiệu của hội Bút Việt)

Trong mấy năm vừa qua, người quan tâm đến công cuộc bảo tồn văn hóa bỗng rất ngạc nhiên và vui mừng khi được biết đã có nhiều nhóm thiện chí ở nhiều nơi khác nhau đang nỗ lực phục hồi những công trình ấn loát đồ sộ và giá trị của thế kỷ trước bằng cách “số hóa” những bộ báo giá trị như Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị, Phong Hóa, Ngày Nay, Tập San Sử Địa,  và ngay cả bộ Văn Hóa Ngày Nay thời hậu chiến.

Thế rồi, những nỗ lực ấy, dù xuất xứ từ bất cứ nhóm nào, tất cả cũng đều được hoàn tất. Các bộ báo kể trên vốn chỉ nằm trong thư viện hay trong các bộ sưu tập cá nhân với những trang giấy nhiều khi đã ố mầu thời gian thì nay được chuyển thành từng trang báo đọc được rất rõ ràng, và ai ngồi ở nhà cũng có thể vào Internet coi được qua dạng mà vi tính gọi là PDF tức tên gọi tắt của Portable Document Format ( Định dạng Tài liệu Di động)

Riêng công việc số hóa toàn bộ 2 tờ Phong Hóa – Ngày Nay, vì có tài liệu trên Internet nên người đọc mới có thể biết được nhóm thực hiện, trước hết là bà Phạm Thảo Nguyên (nhũ danh Phạm Thị Thảo), con dâu của nhà thơ Thế Lữ- một trong những thành viên chủ chốt của Tự Lực Văn Đoàn. Kế đó là ông Nguyễn Trọng Hiền, quý nam của họa sĩ Cát Tường (1912-1946), còn có biệt danh là họa sĩ Lemûr (Lơ-muya, tiếng Pháp: bức tường), người cùng các họa sĩ khác như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, và cả Nhất Linh ký bút hiệu Đông Sơn khi vẽ, tất cả đã cùng tham gia việc trình bầy và minh họa cho 2 tờ báo.

Ông Nguyễn Trọng Hiền là một nhà nhiếp ảnh nghệ thuật. Ông là người đã bỏ nhiều công trình cho việc ứng dụng  kỹ thuật nhiếp ảnh cho toàn bộ bản số hóa này với sự góp sức về kỹ thuật của các vị như Lê Thành Tôn, Đỗ Thị Kim Dung, Lê Huyền Thanh.

Ngoài ra, trong công trình sưu tập còn có thể các vị khác như Martina Nguyễn Thục Nhi, Đỗ Tuấn Khanh, nhà văn Vu Gia (trong nước) và đặc biệt, có ông Nguyễn Tường Thiết, quý nam nhà văn Nhất Linh, người đã chia sẻ một tư liệu vô cùng quý giá. Đó là Di cảo viết tay “Đời làm báo” của Nhất Linh.

Khi Bộ báo đã được số hóa, coi như tài liệu đã sẵn sàng rồi, thì việc nghiên cứu nội dung của nó trên bình diện chính trị, văn hóa, xã hội cùng vai trò của nó trong thời kỳ ấy là một việc rất nên làm nếu không muốn nói là rất cần thiết.

Nhà văn Phạm Xuân Đài cùng nhóm thân hữu của ông đứng ra tổ chức một tuần lễ triển lãm Phong Hóa Ngày Nay cùng một số bài tham luận đọc trong dịp này đã là một công trình khởi đầu cho công cuộc nghiên cứu lâu dài kể trên.

Do nhã ý của ban Tổ chức, tôi được mời tham dự một bài phát biểu về Bộ báo Phong Hóa-Ngày Nay này. Tuy nhiên vì chỉ chuyên việc sáng tác và không có sở trường trong vấn đề nghiên cứu những công trình văn hóa nên tôi chỉ xin được đóng góp phần nhỏ bé của mình dưới một đề tài khác, tuy không đi  hẳn vào chủ đề chính  nhưng cũng liên quan ít nhiều  đến người chủ chốt của hai tạp chí Phong Hóa và Ngày Nay. Đó là nhà Văn Nhất Linh khi ông ở vào giai đoạn sau Phong Hóa Ngày Nay, tức những sinh hoạt văn học nghệ thuật thời kỳ cuối đời của ông, qua hai hoạt động văn hóa: Hội Bút ViệtGiai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay.

Hội Bút Việt

(sau đổi danh xưng thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam)

thumbnail_huy_hieu_van_but-color-1

 Theo nhà biên khảo Đoàn Thêm (1915-2005), tác giả bộ sách Hai Mươi Năm Qua (1945-1964), việc từng ngày thì Hội Văn Bút Việt Nam được chính thức thành lập ở Sài Gòn vào ngày 21-10-1957.

Và đáng ngạc nhiên thay, cũng theo tác giả Đoàn Thêm thì Hội Văn Bút Việt Nam đã xin gia nhập và được Hội Văn Bút Quốc Tế chấp nhận trong Đại hội Văn Bút QuốcTế lần thứ 29 tại Tokyo (Nhật Bản) ngày 2-9-1957, tức là trước ngày chính thức thành lập ở VN tới gần 2 tháng!

Ta có thể lý giải sự kiện tréo cẳng ngỗng này như sau : “ Một nhóm nhà văn, nhà báo vào thời kỳ đó đã tự động ngồi lại với nhau, lập thành một nhóm cầm bút để xin gia nhập Tổ chức Văn Bút Quốc tế (tên gọi chính thức hồi đó là PEN Club International, với ý nghĩa PEN  là cây bút, mà cũng là chữ mang 3 mẫu tự đầu liên quan đến giới cầm bút, như P = Poetes, Playwrights, E= Essayists, Editors, N=Novelists).

Hẳn cũng vì muốn dịch chữ PEN trong tên gọi mà Nhóm lấy tên là Hội Bút Việt.

Rồi sau khi được sự chấp thuận của Văn Bút Quốc Tế, Hội Bút Việt mới xin giấy phép hoạt động ở trong nước và do đó mới có ngày chính thức thành lập trễ gần 2 tháng như tác giả Đoàn Thêm đã  ghi lại.

Văn nghệ sĩ thành lập Nhóm Bút Việt bao gồm nhiều cây bút lão thành. Có thể kể : Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vũ Hoàng Chương, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Hoạt, Mặc Thu, Nguyễn Thiệu Lâu, Bùi Xuân Uyên, Lê văn Siêu, Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, Phạm Việt Tuyền, Nghiêm Xuân Việt, Lê văn Hoàn…v..v…

Nhóm tự nhận mình là “Một cây cầu vòng nối hai chân trời”, đó là chân trời văn hóa dân tộc với chân trời thế giới.  Trong bài nhận định đăng trên Kỷ Yếu Bút Việt (mà Văn Hóa Ngày Nay in lại), trong có đoạn nói:

Chiến tranh thứ hai chấm dứt. Những chân trời mới đã mở rộng ra cho những con người văn hóa chúng ta. Thế giới tự do đã dần dần tiến tới cuộc sinh hoạt cộng đồng về mọi mặt, vậy không có lý gì chúng ta chỉ thiên trọng phần tìm hiểu mà sao lãng phần tự giới thiệu. Chính vì mục đích đó  mà Trung Tâm Bút Việt  của tổ chức Văn Bút Quốc Tế  được thành lập”.

Khi thành lập, Nhóm  Bút Việt  tuyên bố:

Nhóm  không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có chủ trương cương lĩnh hoặc đường lối nhất định nào hết.  Nó không phải là một văn đoàn, văn phái. Cũng không phải là  một hội ái hữu.  Bút Việt chỉ là một  câu lạc bộ  của các nhà cầm bút muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến về sáng tác, về công phu tìm hiểu cũng như công phu giới thiệu”.

Như vậy trong buổi khởi đầu, Nhóm Bút Việt đã hình thành trong một ý niệm hết sức rộng rãi và tự do. Các thành viên của Bút Việt sinh hoạt như một Câu lạc bộ và không có sự bầu bán nào. Mọi chức vụ điều hành hầu như chỉ theo cung cách phân công. Theo nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt thì Nhà văn Nhất Linh nhận chức vụ Cố vấn theo lời thỉnh cầu của nhiều người và chức vụ Chủ Tịch đầu tiên của Bút Việt là nhà văn Đỗ Đức Thu. Qua năm 1959, Bút Việt đã  tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 30, họp tại  Francfurt (Tây Đức). Phái đoàn Việt Nam gồm có Chủ tịch  Đỗ Đức Thu và một hội viên là nhà biên khảo Lê văn Siêu.

Nhân nói đến nhà văn Đỗ Đức Thu, Chủ tịch đầu tiên của Văn Bút, tôi muốn nêu lại sự kiện rằng đã có một thời, văn giới đặt nghi vấn ông có phải là một thành viên của Tự Lực văn Đoàn hay  không ? Nhà văn quá cố Đặng Trần Huân (1929-2003) trong tác phẩm “Những Người Thích Dấu Huyền” do nhà xuất bản Văn Mới in năm 1988, đã khẳng định: “Đỗ Đức Thu không phải thành viên của Tự Lực Văn Đoàn”.

Ông nêu lý do:

1) Theo nhà văn Nguyễn Thạch Kiên viết trong cuốn “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương” do Phượng Hoàng ấn hành năm 1996 thì Tự Lực văn Đoàn có mời Đỗ Đức Thu gia nhập nhưng thời gian đó ông không ở Hà Nội mà đang làm cho Sở Khí Tượng ở Quảng Châu, Trung quốc, kể như việc gia nhập không thành.

2) Ông Đặng Trần Huân cũng cho biết ông chưa hề thấy tác phẩm nào của Đỗ ĐứcThu có in dòng chữ “trong Tự LựcVăn Đoàn” dưới tên tác giả, cho dù nhà văn Duy Lam lại nói chính ông đã thấy tác phẩm Đứa Con của Đỗ Đức Thu có in mấy dòng chữ này ở ngoài bìa. Nhưng vì Duy Lam không có cuốn sách trong tay để làm bằng chứng nên cũng kể như Đỗ Đức Thu chưa có chân trong TLVĐ.

Vào thời gian nẩy sinh ra những nghi vấn đó (1988), sự phát triển của ngành tin học chưa được bao nhiêu. Việc truy cập tài liệu trên Internet còn rất phôi thai và chậm chạp. Nhưng ở thời điểm này (2013), việc truy tầm tài liệu để tìm giải đáp cho một nghi vấn thì không mấy khó khăn gì. Riêng trong vụ này, tôi đã có 2 bằng chứng để có lời giải đáp:

1) Trong Văn Hóa Ngày Nay số ra mắt, Nhất Linh đã chọn in một truyện ngắn của Đỗ Đức Thu, tựa đề là  “Cúng Cơm” và ghi dưới tên tác giả dòng chữ “trong Tự Lực Văn Đoàn”.

2)  Tôi lại cũng đã tìm thấy phóng ảnh tấm bìa tác phẩm Đứa Con của Đỗ Đức Thu, dưới tên tác giả cũng ghi rõ “trong Tự Lực Văn Đoàn” đúng như nhà văn Duy Lam đã nói. Tác phẩm này do nhà Phượng Giang ấn hành năm 1953.  (nguồn: sachxua.net)

4

Như vậy, đích thực “Nhà văn Đỗ ĐứcThu, Chủ tịch đầu tiên của Văn Bút Việt Nam từ năm 1957, cũng đã là một thành viên của Tự Lực Văn Đoàn”.

*****

Trở lại sinh hoạt của Bút Việt, vào khoảng đầu năm 1959 sau khi tôi đã cho in tác phẩm đầu tay Những Người Áo Trắng do nhà xuất bản Huyền Trân ấn hành thì nhà văn Nhất Linh đã giới thiệu tôi gia nhập Hội. Vào thời gian đó thì danh xưng không còn là Nhóm nữa mà trở thành Hội, Hội Bút Việt mà công việc tổ chức đã vào quy củ, như có trụ sở riêng, có con dấu riêng, có nhân viên thường trực được trả lương để trông nom trụ sở, hồ sơ, giấy tờ. Việc quản trị mọi thứ được giao cho ông Tổng thư Ký Phạm Việt Tuyền khi ấy  đang là Chủ nhiệm nhật báo Tự Do.

Theo nhà báo Nguyễn Hoạt  trong bài “Hoài Niệm Nguyễn Tường Tam” in trên báo Văn số 156, ra ngày 15-6-1970 tại Sài Gòn thì trụ sở đầu tiên của  Hội Bút Việt là ở đường Phan đình Phùng nhưng khi tôi gia nhập thì Hội đã dọn về số 39 đường Cô Bắc Sài Gòn. Đây là một con phố hẹp, tọa lạc ở ngay khu Chợ Cầu Ông Lãnh, đi khỏi Chợ, tới đường Đề Thám thì có lối rẽ vào.

Căn phố này có 2 tầng, tầng dưới dành cho gia đình ông Nguyễn văn Hinh, là  thư ký của Hội cư ngụ. Vị thư ký này không thuộc giới nhà văn, chỉ là thư ký hành chánh, nhưng cũng đã gắn bó  với công việc của Hội bền bỉ cho tới tháng 4 -1975 (tôi đã có dịp nhắc tới công lao của vị này trong một bài viết năm 2009 nói về Trung Tâm Văn Bút)

Tầng trên của trụ sở Văn Bút chỉ kê vỏn vẹn có một cái bàn dài để hội họp, một bên vách tường thì có tủ kính đựng sách báo và hồ sơ.

Vào thời gian này, việc gia nhập Hội cũng rất giản dị. Tôi cứ y hẹn tới tham dự một  kỳ họp của Ban Thường Vụ và được các vị hiện diện hôm đó bắt tay chào mừng. Thế là xong! Tôi đã trở thành một Hội viên của Văn Bút ! Dù vậy, sau buổi họp thì tôi cũng phải điền vào một cái đơn xin nhập Hội, trong kê khai đầy đủ Tên, Họ, địa chỉ, năm sinh, nơi sinh, bút hiệu, các báo đã từng cộng tác và tác phẩm đã xuất bản.

Theo đúng chủ trương nhận mình là “Một cây cầu vòng nối hai chân trời”, Hội Bút Việt rất chú trọng đến công việc dịch thuật, nhất là việc dịch một số truyện ngắn của các nhà văn VN ra Anh và Pháp ngữ. Truyện dịch xong thì đăng trong tập Kỷ Yếu của Hội. Cũng có vài truyện được gửi đi dự Giải Truyện Ngắn của các nhà văn trong khu vực Á Châu và Thái Bình Dương (Pacific Rim). Hai tác giả VN có tác phẩm được gửi đi dự giải mà tôi còn nhớ là nhà văn Bình Nguyên Lộc ( Ba Con Cáo) và nhà văn Linh Bảo (Tầu Ngựa Cũ ?). Về dịch giả thì phải kể tới hai người vẫn tham gia việc phiên dịch bền bỉ cho tới năm 1975. Đó là Luật sư Nghiêm Xuân Việt, người chuyên dịch ra Pháp ngữ và dịch giả Lê văn Hoàn chuyên dịch ra Anh ngữ.

Hội Bút Việt cũng tổ chức nhiều buổi nói chuyện về Văn học-Nghệ thuật như trong năm 1958 có vài  buổi như Ông Vũ Huy Chấn, trong ban Chèo Cổ Đào Duy Từ thuyết trình về Chèo Cổ, nhà báo Phạm Việt Tuyền nói về  “Vấn đề nghiên cứu Văn Hóa Á Châu với ý thức hệ Dân tộc”, nhà thơ Vũ Hoàng Chương nói về  “Giấc mộng giải thoát của Thi nhân” . Khi Hội chưa có trụ sở riêng khang trang thì các buổi nói thường được tổ chức tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ hay Hội trường của Đại Học Văn Khoa, còn những năm về sau thì các buổi nói chuyện hàng tháng được tổ chức tại trụ sở của Hội ở số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn.

Hội Bút Việt về sau đổi danh xưng thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam kể từ nhiệm kỳ Chủ tịch là thi sĩ Vũ Hoàng Chương kế nhiệm nhà văn Đỗ Đức Thu, và Chủ tịch sau cùng là LM Thanh Lãng. Trong những nhiệm kỳ sau này,  ban Thường Vụ tăng cường thêm nhân sự, bao gồm Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và một số Ủy viên như Dịch thuật (Anh, Pháp ngữ), Xuất bản (nguyệt san Tin Sách). Riêng các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ Tịch và Tổng Thư ký thì đều phải thông qua một cuộc bầu phiếu tại Đại Hội Văn Bút được tổ chức cứ 2 năm một lần. Những văn hữu ở xa có thể gửi giấy ủy quyền để tham dự bầu cử. Chương trình hoạt động của Văn Bút do đó ngày càng phong phú với sự tham gia đông đảo của nhiều văn nghệ sĩ trong các hoạt động. Có thể kể  như Hội mở Câu Lạc Bộ Văn Nghệ sĩ để các nhà văn, nhà thơ, nhà báo lui tới gặp gỡ nhau bàn chuyện văn nghệ riêng tư; rồi tổ chức các buổi nói chuyện hàng tháng, ra tờ nguyệt san Tin Sách chỉ chuyên loan những tin tức về sách hay các bài phê bình sách, các bài nói chuyện trong tháng. Văn Bút còn lập Giải Văn Chương hằng năm, như năm đầu (1970)  dành cho thể Thi Ca (hai nhà Thơ Tường Linh với Sầu Tuổi Đá và Hoàng Lộc với Trái Tim Còn lại chiếm giải đồng hạng), qua năm sau, thể loại Biên Khảo, tác giả Lê Hương với cuốn Lịch Sử Người Việt tại Kampuchea từ năm 1853 đến  1970 đoạt giải, rồi những năm kế tiếp có Thể loại Truyện Ngắn (nhà văn Minh Quân đoạt giải với truyện ngắn Những Ngày Cạn Sữa), Thể Truyện Dài (nhà văn Nguyễn Mộng Giác đoạt giả với truyện dài Bóng Thuyền Say). Cho đến năm 1975 dự tính trao giải cho Thể loại Kịch  thì biến cố 30-4 đã xẩy đến, Hội đã phải hoàn toàn ngưng hoạt động. Ngoài ra, Văn Bút còn đề cử Hội viên ứng cử vào Hội đồng Văn Hóa Giáo Dục, một tổ chức cấp Quốc Gia, theo quy chế Hiến Định. Nhiệm kỳ nào của Hội Đồng cũng có thành viên Văn Bút. Như Nhiệm kỳ I (1972-1974) có LM Thanh Lãng, nhiệm kỳ II (1974-1976) có Nhật Tiến, cả hai đều đắc cử nhân danh đại diện cho Trung Tâm Văn Bút.

1

Trong khuôn khổ bài viết chỉ nói về Nhất Linh nhân dịp triển lãm và hội thoại về hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay, tôi xin tạm chấm dứt phần nhắc tới Hội Bút Việt và xin bước qua phần Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương.

*******

                  Giai Phẩm  VĂN HÓA NGÀY NAY

Tập 1 (Tháng 6-1958)                     Tập 11- (Tháng 4-1959)

Số  đầu                                                Số cuối

2

Năm 1951 nhà văn Nhất Linh từ bỏ cuộc sống lưu vong ở Hồng Kông để trở về Hà Nội. Một năm sau, tức năm 1952, Ông thành lập nhà xuất bản Phượng Giang, sau đổi tên thành Đời Nay rồi Ngày Nay. Nhà xuất bản này trong những năm đầu hoạt động hầu như chỉ chuyên tái bản các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, mặc dù cũng in một số tác phẩm của vài cây viết mới như Nguyễn thị Vinh với Thương Yêu, Hai Chị Em, Linh Bảo với Gió Bấc, Duy Lam với Gia đình tôi, Tường Hùng với Gió mát. Năm 1961, cuốn Thềm Hoang của tôi được ông ấn hành dưới tên nhà xuất bản Đời Nay.

3

Phượng Giang (1953)         Phượng Giang (1954)          Đời Nay (1961)

Năm 1958, Nhất Linh chủ trương Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay mà số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, một ngày mà theo nhà báo Hiếu Chân thì Nhất Linh cố ý lựa chọn vì 17-6-1930 là ngày mà những liệt sĩ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Thực dân Pháp đưa lên đoạn đầu đài  xử trảm tại Yên Bái.

Văn Hóa Ngày Nay (VHNN) không được chính phủ đương thời coi là một tờ báo. Nó chỉ được gọi tên là một Giai Phẩm. Theo dịch giả Trương Bảo Sơn, một đồng chí thân cận của Nhất Linh  thì  vì  chính quyền lo ngại tên tuổi của Nhất Linh nên VHNN không được phép xuất bản như một tạp chí được phát hành có định kỳ. Ngoài ra, theo ông thì  tờ báo còn bị Cơ quan kiểm duyệt Bộ Thông Tin cố tình giữ lâu mới trả bản thảo để mang in, gây tình trạng báo ra chậm trễ nên không thể có hạn kỳ nhất định cho ngày ra báo.

Trong bài “Văn Hóa Ngày Nay với Văn Hóa Việt Nam” mở đầu cho số ra mắt, coi như một “tuyên ngôn về văn hóa”, nhà văn Nhất Linh nhận định:

Văn Nghệ Việt Nam hơn mười năm nay vẫn ở trong tình trạng ngưng đọng, chưa tìm được lối đi. Một số lớn bình luận gia và văn nghệ sĩ cho rằng văn nghệ chậm tiến vì không biết phụng sự thời đại; họ cố bắt mạch cho được  ý thức công cộng của nhất thời để khơi xúc động trong lòng độc giả. Thế rồi nhiều tác phẩm ra đời để ướm thử, thăm dò dư luận nhưng chỉ ít lâu sau đều chìm trong lãng  quên !” (VHNN tập I- trang 17)

Để khắc phục tình trạng bế tắc này, Văn Hóa Ngày Nay đề  ra chủ trương :

“ Không đề cập đến vấn đề chính trị, kinh tế, khoa học : tập san của chúng tôi sẽ nặng về phần tìm sống hơn về phần tìm  hiểu(VHNN tập I- trang 18)

( phần chữ in nghiêng là của chính  tòa soạn VHNN muốn nhấn mạnh).

Hẳn cũng đã có nhiều độc giả thấy khó nắm vững được ý tưởng của tòa soạn trong chủ trương này, vì hiểu như thế nào là tìm sống? và tại sao lại gắn chuyện tìm sống với chuyện tìm hiểu để có chủ trương tìm sống sẽ đặt nặng hơn tìm hiểu. Mà nếu coi nhẹ việc tìm hiểu thì thành quả của sự tìm sống sẽ có được tốt đẹp không?

Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì ý nghĩa của hai chữ “tìm sống” hình như đã được giải thích thêm trong đoạn dưới của bài nhận định :

Về tư tưởng, chúng tôi sẽ giải quyết những thắc mắc thời đại và cố đi đến một nhận định đúng đắn về vũ trụ, về đời người; đã đến lúc loài người phải giở sổ soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương lai, tìm chân lý làm kim chỉ nam cho người đời giữa biển khơi sóng gió” (VHNN -Tập I-trang 19)

Đoạn văn này cho người đọc cái cảm tưởng như đấy là một chủ trương của một tổ chức tôn giáo hơn là đường lối chỉ đạo cho nội dung của một tờ báo. Nhưng ở nhiều trang  khác, nhà văn Nhất Linh lại đã luôn luôn nhấn mạnh đến quan điểm nghệ thuật của Văn Hóa Ngày Nay là: “ Văn chương phải có giá trị vượt thời gian và không gian”.

Quan điểm này không có gì phải thắc mắc. Trong gia tài văn hóa dân tộc đã có đầy rẫy những tác phẩm có giá trị “vượt không gian và thời gian”. Nhưng trong sinh hoạt chữ nghĩa, dù là sách hay báo, nhiều khi những vấn đề nhỏ nhặt thời sự hàng ngày – hay nói theo ngôn từ  của Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay là ý thức công cộng của nhất thời sẽ cũng vẫn là những nhu cầu của độc giả. Nhất là trong bầu không khí khởi sắc của những năm cuối thập niên 50’s, dân chúng miền Nam bắt đầu tạo dựng cho mình một đời sống tự do khác biệt với miền Bắc CS.

Ở thời điểm đó, sau cuộc chia đôi đất nước mới chỉ vài ba năm nên có thể coi như một vết chém chia lìa dân tộc chưa ngưng rỉ máu. Cuộc di cư khổng lồ với cả triệu con  người từ Bắc vô Nam tất gây xáo trộn trong cả nước và như thế  thì hẳn đời sống có rất nhiều vấn đề thời sự nóng hổi bầy ra trước mắt. Vậy thì việc từ bỏ ý thức công cộng của nhất thời để chỉ đi tìm những đề tài vĩnh cửu sẽ có khiến cho người sáng tác quay lưng lại với thực tế hay không?

Nói thế không phải tôi phủ nhận quan điểm làm báo của VHNN. Thế giới chữ nghĩa là cả một rừng hoa với nhiều mầu sắc. Văn Hóa Ngày Nay đương nhiên là một tạp chí tô điểm thêm cho sinh hoạt báo chí thời đó vốn đã vô cùng sôi nổi với nhiều tờ báo danh tiếng khác như Đời Mới, Vấn Đề, Sáng Tạo, Bách Khoa, Văn Hóa Á Châu, Quê Hương..v..v..

Tuy nhiên, sau vài số đã phát hành, có vẻ như Văn Hóa Ngày Nay đã hiện diện như một bông hoa tuy nhiều hương sắc nhưng lại có vẻ như lạc lõng giữa dòng đời đang trôi đi hối hả. Đọc những trang chính Nhất Linh trả lời thư độc giả ở những số đầu, ta thấy hầu như Ông chưa nhận ra được sự lạc lõng này. Ông vẫn bộc lộ sự chủ quan qua những lời lẽ như nhận mình là con voi nằm thù lù trong sở thú, hay trách độc giả sao bắt ông làm việc quá nhiều trong khi ông cũng chỉ có 24 giờ như mọi người…

Mặt khác, Nhất Linh lại là một nhân vật nổi tiếng với nhiều thành tích văn học quá lẫy lừng. Phải chăng chính sự nổi tiếng này đã trở thành một yếu tố bất lợi cho chính ông bởi vì các độc giả đã kỳ vọng ở nơi ông quá nhiều. Cứ nhìn số báo ra mắt Văn Hóa Ngày Nay được đón nhận thế nào thì đủ thấy. Theo học giả Đoàn Thêm trong cuốn “Hai Mươi Năm Qua, việc từng ngày”, thì VHNN số đầu tiên đã bán hết tới 10 ngàn số, và Thế Uyên, người cháu gọi Nhất Linh bằng Bác còn tiết lộ trong cuốn “Chân Dung Nhất Linh” do tạp chí Văn ấn hành, rằng:

Trước khi phát hành Văn Hoá Ngày Nay số 1, Nhất Linh dự đoán sẽ bán được năm ngàn số. Duy Lam lạc quan hơn, đưa con số tám ngàn. Tất cả đều đoán sai. Tám ngàn là con số bán hết trong mấy ngày đầu, sau đó phải in đi in lại nhiều lần.”

Nếu đúng như thế thì đây là một kỷ lục mà sau đó chưa có một tạp chí văn nghệ nào theo được bén gót. Nó cũng nói lên rằng độc giả đã quý trọng và đón chờ công trình văn hóa mới của Nhất Linh như thế nào sau biết bao nhiêu biến cố lớn lao của đời sống, cả chính trị lẫn văn học.

Ta hãy thử xem trong VHNN số đầu tiên đã chứa đựng những gì?

Điểm sơ qua thì thấy Nhất Linh dành tới 6 trang để trả lời thư độc giả xa gần ở nhiều tỉnh từ Huế vào Sài Gòn, từ Biên Hòa, Vũng Tầu xuống  Mỹ Tho, Trà Vinh ….Báo chưa phát hành mà đã có nhiều độc giả gửi thư về tòa soạn đến thế.  Họ có thể là những độc giả tò mò hay hối hả gửi thư chất vấn ông ngay cả khi tờ báo chưa ra số đầu chăng?

Ngoài phần trả lời thư độc giả, Nhất Linh còn viết 4 bài khác, trong đó có 2 sáng tác gồm truyện ngắn Bắn Vịt Trời và truyện dài Xóm Cầu Mới, cộng 1 bài nghị luận “Văn Hóa Ngày Nay với Văn Hóa Việt Nam” như đã nhắc ở trên và thêm một bài khởi sự cho tập biên khảo “Viết và đọc Tiểu Thuyết”.

Nhà giáo Nguyễn Thành Vinh, một đồng chí của Nhất Linh trong lãnh vực chính trị, viết 1 bài bình luận nêu cao chủ trương “Văn chương phải có giá trị vượt thời gian và không gian”, Trương Bảo Sơn dịch Một Bản Đàn của Leon Tolstoї,  Nguyễn thị Vinh có truyện dài Cô Mai,  Duy Lam, một cây viết mới có tới 4 bài, và Tường Hùng cũng là một cây viết mới có 2 bài, hầu hết là loại văn vui. Sau cùng là những truyện ngắn của các tác giả, cả mới lẫn cũ như Khái Hưng, Đỗ Đức Thu, Bình Nguyên Lộc, Linh Bảo, Quỳ Hương.

Một nội dung như thế, có thể gây đôi chút cảm giác ngỡ ngàng cho người đọc sau những ngày chờ đợi. Gọi là ngỡ ngàng vì Giai phẩm VHNN hầu như không đáp ứng được nhu cầu đọc sách của độc giả lúc đương thời. Hàng triệu con người vừa di cư vào Nam, trước cuộc sống mới vô vàn khó khăn, bỡ ngỡ, với biết bao nhiêu nhu cầu đặt ra trước mắt và biết bao nhiêu vấn đề phải đối phó, tất nhiên nội tâm của họ phải sôi động, tâm tình phải gắn bó với cuộc sống đang dồn dập thay đổi xẩy ra từng ngày, từng giờ ở chung quanh. Sống trong một hiện trạng xã hội như thế, hẳn độc giả rất muốn được nghe tiếng lòng của Ông, hoặc nghe ông kể về  những kinh nghiệm dầy dạn trong sinh hoạt cả về Văn Chương lẫn Chính trị khi họ tuyên xưng Ông vừa là một Văn gia, lại cũng vừa là một Chính trị gia lão thành.

Vậy mà trong những trang sáng tác mới,  những nhân vật vượt không gian và thời gian của Ông như Cô Mùi, như Ông Năm Bụng, như Bà mẹ Lê..v..v.. tuy vẫn là những hình tượng vĩnh cửu, nhưng lại thiếu ngọn lửa hừng hực của cuộc sống đương thời và đó không phải là những nhu cầu mà  người đọc đã  nôn nóng chờ đợi như khi vừa nghe tin “nhà văn Nhất Linh xuống núi, ra báo trở lại”.

Cảm nhận này không chỉ ở phía đa số độc giả mà ở ngay cả những người trong nhà, lại là những người cũng đã trở thành nhà văn sau này. Tôi muốn nói đến hai nhà văn Thế Uyên và Duy Lam, những người có họ hàng ruột thịt với Nhất Linh và cũng đã tiếp cận với Ông khi VHNN đang được chuẩn bị ra số đầu. Duy Lam thực sự là một cây bút chủ lực của VHNH, nhưng Thế Uyên thì lại không thấy xuất hiện bài nào. Trong cuốn “Những Ý Nghĩ Của Bọt Biển”, nhà văn Thế Uyên đã thuật lại rằng khi chủ trương ra tờ Văn Hóa Ngày Nay, Nhất Linh đã nói với ông rằng: “ cháu viết được nhưng kiểm duyệt không cho đăng đâu.”

Khi VHNN đã ra được vài số, cả Duy Lam lẫn Thế Uyên cũng đều có cảm nhận giống như tôi đã trình bầy ở trên. Trong tập “Chân Dung Nhất Linh” do tạp chí Văn ấn hành, Thế Uyên đã viết trong bài “Người Bác’ như sau:

“Cả hai đứa đều không chịu nổi những bài khảo luận linh tinh, những bức thư Nhất Linh viết trả lời độc giả. Đọc loạt bài này đôi khi thấy cũ kỹ và lẩm cẩm. Về văn, tuy vẫn phục nghệ thuật phân tích tâm lý, nghệ thuật trình bày nhân vật, nhưng tôi đã cảm thấy Nhất Linh không còn là nhà văn của thế hệ trẻ. Trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới có những nhân vật đặt trong một không gian thật xa cách.”

Điều này hầu như cũng là nguyên do khiến cho chỉ sau vài số, số lượng báo VHNN bán ra đã sút giảm dần.

Dịch giả Trương Bảo Sơn sau này góp bài viết trong cuốn “ Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ-Người Chiến Sĩ” do Thế Kỷ xuất bản năm 2004, đã nêu nhận xét:

Tập Văn Hóa Ngày Nay bán chạy như tôm tươi mấy số đầu, đã bị ế đi. Nhà phát hành độc quyền của chính phủ đã thi hành độc kế không gửi đủ số báo cho các tiệm sách đã đặt mua. Chúng tôi khi buộc báo thành từng bó đã cố ý đánh dấu riêng, khi nhận báo từ nhà phát hành trả về, thấy những dấu ấy vẫn còn y nguyên, tức là nhà phát hành đã không làm đúng nhiệm vụ, đã giữ báo của chúng tôi trong kho, không phân phối đi. Có những tiệm sách đến điều đình mua thẳng báo với chúng tôi để có đủ báo bán, nhưng chúng tôi phải từ chối vì sợ chính quyền gài bẫy. Ðã nghèo lại bị thua lỗ, chúng tôi đành đình bản tờ Văn Hóa Ngày Nay.”

Có thể đấy lý do chính mà tờ Văn Hóa Ngày Nay bị đình bản, nhưng cũng chưa hẳn đó  là lý do duy nhất. Dù tờ báo có bị chính quyền cấm cản bằng những thủ đoạn nào thì cũng không thể bỏ qua yếu tố độc giả, là những người cũng đã ít nhiều tham dự trực tiếp tham dự vào sự sống còn của một tờ báo. Sau vài số báo, có chăng sự kiện độc giả không còn hứng thú theo dõi VHNN như trước nữa nên Nhà phát hành có thể đã  kìm hãm những cọc báo không gửi đi các tỉnh cho đỡ tiền cước phí?

Dẫu sao thì sự sút giảm độc giả hẳn cũng làm nản lòng người chủ trương VHNN. Cũng trong  bài “Người Bác” nói trên, nhà văn Thế Uyên còn cho biết:

“Sau khi Văn Hoá Ngày Nay số 8 phát hành, Nhất Linh tuyên bố với người thân: “Thôi, không làm nữa!”. Bạn bè xúm lại can. Nể người thân, ông chịu để Tường Hùng và Duy Lam tiếp tục. Ra tiếp hai số, ông cương quyết kết liễu Văn Hoá Ngày Nay. “Nó đã làm xong nhiệm vụ!”.

Nếu sự thể đã xẩy ra đúng như vậy thì số báo cuối cùng do Tường Hùng và Duy Lam thực hiện chỉ còn 98 trang kể cả 8 trang quảng cáo, so với số đầu dầy tới 180 trang, tức là về hình thức đã sa sút gần một nửa. Trong ngót 100 trang của số 11, tức số cuối cùng này, truyện dài Cô Mùi của Nhất Linh chiếm tới 25 trang, tức hơn ¼ số báo, một điều khá kỵ trong kỹ thuật làm báo. Cũng như vậy, truyện ngắn Ả Hầu của Đỗ Tốn cũng bị chia cắt thành 3 kỳ (khởi đăng từ số 9), cũng làm độc giả bớt hứng thú theo dõi. Cũng trong số này, nhà thơ Bùi Khánh Đản chiếm tới 7 trang Thơ, cũng là một sự thiên vị  bất thường. Và theo thông lệ, ngòi bút Duy Lam vẫn giữ vai trò chủ lực. Ông có tới 5 bài, 2 bài bình luận : một về Văn, một về Hội Họa, 3 bài còn lại là văn vui. Tường Hùng chỉ có một bài duy nhất “Kiểu mẫu Thanh Niên”, cũng là văn vui.

Ngoài ra, những sáng tác khác vẫn gồm 4 truyện dài của Nhất Linh, Nguyễn thị Vinh, Linh Bảo và bản dịch truyện của Leon  Tolstoї.

Một số báo như thế báo hiệu sự sa sút rõ rệt về mặt  nội dung, càng là lý do để ta có thể đánh giá mức độ đón nhận của độc giả đối với tờ VHNN ra sao.

Tuy nhiên, tờ Văn Hóa Ngày Nay đình bản dẫu vì bất cứ lý do nào, kể cả  sự liên đới của nhà văn Nhất Linh đối với vấn đề chính trị lúc đương thời, thì cũng là một điều đáng tiếc!

Tiếc nhất là VHNN chỉ ra được 11 số nên không còn cơ hội tiếp tục vun trồng và khích lệ những cây bút mới như: Duy Lam, Tường Hùng, Tuyết Hương, Trần Tuấn Kiệt, Lê Tất Điều, Đỗ Phương Khanh, Đặng Phi Bằng.. v.v.. .. và cả chính tôi, Nhật Tiến nữa. Một số người trẻ đã nhờ Văn Hóa Ngày Nay mà có đà để đi được những chặng đường xa hơn.

***

Do quen biết với gia đình nhà văn Nguyễn thị Vinh nên sau khi VHNN đình bản, tôi còn có vài cơ hội gặp gỡ Nhất Linh ở nhà in Việt Liên, đường Gia Long Sài Gòn do bà Nguyễn thị Vinh làm chủ. Có một buổi gặp gỡ mà mãi sau này trong ký ức của tôi vẫn thấy như là mới mẻ, đó là buổi tối của hôm trước khi xẩy ra cuộc đảo chính ngày 11-11-1960. Nhà tôi, Đỗ Phương Khanh thì đã lên lầu trò chuyện với anh chị Trương Bảo Sơn và Nguyễn thị Vinh. Ở tầng dưới, nhà văn Nhất Linh thì ngồi trầm ngâm bên một cái bàn nhỏ, chung quanh đầy những cột ram giấy của nhà in chất cao nghệu.

Thấy tôi, ông mỉm cười và rủ tôi chơi bài domino. Thế là tôi xà vào bên ông, vui vẻ đổ cỗ bài lên mặt bàn và ngắm nhìn ông xếp những con bài nhựa bằng đôi bàn tay đã bắt đầu thấy hơi run run. Có lẽ đấy là lần đầu tiên tôi có cảm giác gần gũi với Ông nhất. Bởi vì sự liên hệ giữa tôi và Ông lúc này chỉ là hai con người trong một trò giải trí chứ chẳng phải là  giữa một nhà văn vốn đã lừng lẫy trong suốt một chiều dài của lịch sử Văn học Việt  Nam,  với một thanh niên mới chỉ có 24 tuổi đời, vừa chập chững đi vào thế giới của văn chương. Tôi nhớ là mình đã “gí” ông tận tình và rất thích thú nhìn đôi lông mày rậm của ông nhíu lại, vầng trán cao ngất phảng phất nhiều nếp nhăn, và mỗi khi phản công lại thì ông mỉm cười, nụ cười nom rất hiền từ và bao dung khiến tôi thấy lòng mình như ấm áp hơn lên.

Trong những giây phút thân ái đó, tôi thật đâu có ngờ là đầu óc của ông lại còn đang suy tưởng về một cuộc đảo chính sắp sửa xẩy ra, chỉ trong vài giờ sau đó!

1 giờ 30 sáng ngày 11-11-1960, tiếng súng bắt đầu rộ lên trong thành phố. Tiếng súng của phe đảo chính!

Cuộc đảo chính mà sau này nhiều người cho là ông không trực tiếp tham dự nhưng biết  trước và có ủng hộ tinh thần. Tôi cũng muốn đồng ý như vậy, bởi vì nếu ông là người có dính líu đến nội vụ thì hẳn tối hôm trước, ông đã chẳng ngồi chơi domino với tôi như thế.

Thế nhưng một đồng chí của ông, dịch giả Trương Bảo Sơn trong bài “Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam” in trong cuốn “Nhất Linh, người chiến sĩ – người nghệ sĩ”, do Thế Kỷ 21 xuất bản năm 2004, thì lại cho biết về việc làm truyền đơn trong biến cố 11-11-1960 này như sau :

Khi thảo truyền đơn, trong danh sách những người ký tên, chúng tôi đã để tên Nguyễn Tường Tam lên đầu, rồi mới tới tên các cụ Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Văn Văn, Nguyễn Xuân Chữ v.v… Ông Tam đã sửa lại để tên ông sau tên ông Chữ. Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông giải thích: “Anh đừng quên người ta vẫn nói miền Nam của người Nam, mình là người Bắc di cư, phải lưu tâm và tôn trọng điều đó.”

Mặc dù có liên quan hay không thì ông vẫn bị chính quyền quản thúc tại gia và đưa ra tòa xét xử  vào ngày 11-7-1963. Thế nhưng, ngày 7-7-1963 ông đã dùng độc dược quyên sinh vì đời ông, ông chỉ chịu để cho  lịch sử phán xét.

Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao cho văn giới.

Không mất mát lớn lao sao được khi một nhân tài lỗi lạc như thế đã không còn nữa.

Một nhân tài mà quý nam của Nhất Linh, ông Nguyễn Tường Thiết đã tóm gọn một câu về cuộc đời của thân phụ của ông trong cuộc phỏng vấn do ký giả Lê Quỳnh Mai thực hiện trên Tạp chí Hợp Lưu số tháng 7 & 8 năm 2008,  như sau :

“Tôi suy nghĩ về toàn thể cuộc đời ông. Từ hồi ông có bài thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn năm ông mới 16 tuổi, cho đến ngày ông mất năm ông 57 tuổi. Ông đã sống một đời lỗi lạc, làm được quá nhiều việc trong một đời ngắn ngủi. Một người bận rộn như thế, nổi tiếng như thế, thì làm gì có được một cuộc sống thanh thản, bình dị, như cuộc đời nơi mỗi chúng ta?”

Và ông Thiết đã kết luận chính xác như đã nói thay cho mọi người rằng:

“ …Tôi tin rằng sự nghiệp của cha tôi sẽ trường tồn không phải đơn thuần nhờ vào văn tài của ông mà còn nhờ vào sự ngưỡng mộ và quý trọng về cả con người, cuộc đời và cái chết của ông nữa.”

Còn riêng đối với tôi, một người cầm bút sau Nhất Linh cả một thế hệ, khi ông mất đi, tôi vừa thấy đã mất một nhà văn lão thành, vừa mất một nguồn khích lệ lớn lao trên con đường văn nghiệp của tôi vì ông đã khuyến khích tôi rất nhiều sau khi đọc xong bản thảo cuốn truyện dài đầu tay của tôi. Rồi ông lại dành chỗ trang trọng để đăng tải những truyện ngắn của tôi trên tờ Văn Hóa Ngày Nay, tiếp nối công trình của Phong Hóa và Ngày Nay. Ông cũng lại ân cần giới thiệu tôi vào Trung Tâm Văn Bút, nơi mà tôi đã có dịp được sinh hoạt liên tục trong suốt gần 20 năm sau đó, cho đến khi miền Nam mất vào tay CS. Có thể nói tóm gọn, con đường đi vào thế giới Văn chương Chữ nghĩa của tôi đã có được sự khích lệ của nhà văn Nhất Linh rất nhiều.

Để có cơ hội viết bài này, tôi cũng xin cám ơn nhà văn Phạm Phú Minh và những vị trong Nhóm tổ chức Triển lãm và Hội luận về hai tờ báo Phong Hóa – Ngày Nay. Nếu không có lời mời tham dự của quý vị thì tôi không có dịp ngồi ôn lại những kỷ niệm trong lãnh vực văn chương ở vào thuở khai sinh Việt Nam Cộng Hòa mà khi đó mọi người đã cùng gắng công vun đắp một Miền Nam Tự Do với vô vàn sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng mà sức lan tỏa vẫn còn cho đến tận ngày nay.

NHẬT TIẾN

Garden Grove, California ngày 20 tháng 5 năm 2013

Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/sinh-hoat-van-hoa-cua-nhat-linh-giai-doan-cuoi-doi-voi-hoi-but-viet-va-giai-pham-van-hoa-ngay-nay/

Bài Ca Dao Trong Lục Bát Hư Vô. Phê Bình Văn Học Trần Sương Lam.


Trần Sương Lam

Sức sống của ca dao có thể nói là bền bỉ, bất diệt. Ca dao đã đặt nền móng cho thể lục bát hiện đại thăng hoa. Nhiều nhà thơ đã tìm đến thể thơ truyền thống này để làm mới nó và họ đã thành công. Những bài thơ viết theo thể lục bát dễ đi vào lòng người bởi giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, dung dị của ca dao. Với lục bát, bao thi sĩ đã đưa độc giả về lại cội nguồn dân tộc để chúng ta – những người thưởng thức càng cảm nhận cái duyên thầm của ca dao đã ru bao thế hệ Việt Nam sống thật đẹp, thật lãng mạn nhưng cũng thật lạc quan trên cái nền xanh tươi của ruộng đồng, làng mạc Việt Nam.

Thi đàn của cộng đồng người Việt hải ngoại Úc Châu xuất hiện nhà thơ HƯ VÔ – NGƯỜI ĐÃ MỘT ĐỜI ÂM THẦM, LẶNG LẼ TẠO HÌNH, TẠO NHẠC CHO TIẾNG VIỆT và ông đã rất thành công ở thể loại thơ lục bát, thể thơ vốn bắt đầu từ nguồn ca dao bất tận. Như những âm vang của câu hò, giọng hát mà ngôn ngữ đã đi theo ông trong cuộc hành trình chữ nghĩa…

Và xin mời người thưởng ngoạn hãy cùng tôi bước vào thế giới Hư Vô với một bài lục bát tiêu biểu, được trích dẫn từ thi tập Lưng Nguyệt của ông, do nhà xuất bản International Link United (ILU) tại Mỹ, đã in và phát hành.

Ca Dao Chiều

Chiều em phơi nắng trên ngàn
Tóc bay từ thuở dung nhan biết buồn
Tôi còn quấn quít mùi hương
Chưa trăm năm đã hoang đường từ khi.

Một lần em bỏ tôi đi
Đường xa đâu biết có gì cho nhau
Em hiền như điệu ca dao
Thả câu lục bát tan vào hư không.

Giấu quanh chút nắng trong lòng
Em đi vấp sợi tơ hồng dưới chân
Nhìn nhau nửa mắt tình nhân
Mà nghe giọt lệ đã lăn vào đời.

Chiều ru vọng khúc à ơi
Cho lời vàng đá trên môi còn nồng
Vậy mà em đã sang sông
Bài ca dao bỗng mênh mông, lạ lùng…

Hư Vô

Ca Dao Chiều của thi sĩ Hư Vô như một bài ca dao, một khúc ru tình lỡ mà khi đọc xong ta cứ mãi vấn vương với bao nhiêu câu hỏi:

Chiều em phơi nắng trên ngàn
Tóc bay từ thuở dung nhan biết buồn
Tôi còn quấn quít mùi hương
Chưa trăm năm đã hoang đường từ khi.

Buổi chiều trong thi ca đã khơi gợi bao điều. Theo Phạm Nguyên Thảo “… Hoàng hôn, cái rực rỡ của vẻ đẹp sắp tàn phai, của ngày sắp hết, cái vô thường của những áng phù vân lộng lẫy, cái vô nghĩa của cuộc đời, cái nhỏ bé của con người trước thiên nhiên, nỗi cô đơn …bao phủ lấy ta.” Người thơ nhìn cảnh mênh mông bao la của buổi chiều hôm trong núi, tự nhiên thấy dâng lên trong lòng một cảm giác thê lương không duyên cớ, mênh mang thương xót, chứ không vì một nguyên nhân nào khác. Nỗi buồn thương ấy tạo ra từ tâm hồn thi sĩ trước cảnh chiều, nên nó rất thơ, và cũng rất dễ thấy trong văn chương cổ điển.

Thời gian trong ca dao mang tính tâm lý được biểu thị, cảm nhận theo đúng phong vị ca dao, dân ca. Và buổi chiều trong ca dao đã chất chứa nỗi sầu thiên cổ từ vạn kiếp người rồi. Hư Vô đã đưa chiều vào từ đầu tiên của bài thơ như lời đề báo hiệu một khúc nhạc lòng sẽ trỗi lên giai điệu buồn của vạn cổ, buồn của kiếp người đang thấm thía từ nỗi chia lìa.

Cách điệu của “Ca dao Chiều” chính là không gian nghệ thuật ở đây là “nắng phơi trên ngàn”. “Nắng” chiều tôi gọi là nắng hấp hối, “ngàn” cũng không phải là nơi để nắng vùng vẫy, tỏa sáng rực rỡ. Tôi cảm nhận nắng đuối dần, đang thoi thóp, lụi tàn, sự sống đang rời bỏ nơi đây và không gian, thời gian cũng đang hợp nhất tạo thành dấu khắc vô hình “trăm năm- hoang đường”. Trong không gian – thời gian hiu hắt ấy, đôi tình nhân xuất hiện dường như họ được đặt trong trạng thái tương thức: “em- tóc bay- dung nhan- mùi hương / anh- quấn quít- hoang đường”. Em rực rỡ thanh xuân, anh đắm mê, ngây dại. Mà đất trời thì như đang bày biện cuộc người, để cuốn anh và em vào cùng tận điệu ca dao oan nghiệt!

Con gái Sài gòn xưa thích để tóc dài cho xôn xao tà áo nữ sinh. Tóc dài, áo dài đã trở thành vẻ đẹp biểu tượng cho phái nữ. Bao nhà thơ, nhạc sĩ điên đảo vì mái tóc dài, vì tà áo dài mà có lần tôi đã viết “mái tóc dài như dòng nhạc chảy tràn trong thi ca” còn gì đẹp hơn buổi trưa, buổi chiều tan trường, em đi về gió chiều tung bay mái tóc, tung bay tà áo và tình yêu đến một cách diệu kỳ như thế. Người con gái ấy đang ở tuổi “biết buồn”, đang tuổi bâng khuâng, thả tóc dài thênh thang mùi hương con gái đã làm thổn thức trái tim của những chàng trai học sinh, sinh viên thời ấy. Là đề tài cho biết bao nhạc sĩ đã viết đến xanh những nốt nhạc diệu kỳ:

Buồn đã biết rồi từ thuở biết thương yêu
Tình sẽ lớn dần và buồn sẽ thêm nhiều
Mang những vết thương đi trong cõi đời dài
Ôi tuổi buồn ơi! Tuổi còn mài theo ta hoài…
(Tuổi biết buồn – Phạm Duy- Ngọc Chánh)

Nét đẹp về em đã định hình theo một trật tự nhất định: tóc bay- nhan sắc- mùi hương. Sự hợp tấu, giao thoa kỳ bí giữa hình thể, mùi hương; như là một sự kết tụ giữa thân và thần giữa thuộc thể và thuộc linh, thực và ảo cứ vậy mà quấn quít đến ngạt ngào, để chân dung tình yêu trở nên óng ả, lung linh và cũng từ đó đã làm hồn thi nhân bối rối, vụng về bước vào thiên đường tình ái với những đắm say cuống quít không rời:

Tôi còn quấn quít mùi hương
Chưa trăm năm đã hoang đường từ khi.

Tình- khi yêu ai cũng mong êm ả, dài lâu mãi mãi nhưng đâu phải cứ muốn là được và dường như thi sĩ cũng đã cảm nhận những bất trắc, tai ương trên đường tình với một loạt ngôn từ chỉ thời gian đã pha lẫn giữa khẳng định và phủ định, quá khứ, thực tại “chưa, đã, từ khi”. Bước vào cõi tình dẫu đã biết chốn ấy, tình ấy chỉ là mộng tưởng “hoang đường”. Nhưng với thi sĩ đó là thiên đường diễm ảo, một ngày được yêu như thể cả trăm năm. Và ý niệm thời gian ở đây, theo tôi là cách thi sĩ thể hiện niềm hạnh phúc vô bờ của mình: yêu và được yêu. Nhưng tình càng đẹp thường buồn bã và mong manh. Thi sĩ đã tận dụng ngôn ngữ thật chân tình để diễn tả sự mất mát đó:

Một lần em bỏ tôi đi
Đường xa đâu biết có gì cho nhau

Chỉ một lần thôi nhưng đủ kết thúc tất cả. Tôi thấy giọt lệ tình đang rơi, giọt lệ như hạt ngọc long lanh. Tình tan vỡ, thiên đường thành hư không. Trăm năm chỉ có một lần là tan nát. Những thanh bằng rất nhẹ nhưng cả không gian, thời gian sụp đổ, tan hoang.

“Em bỏ tôi đi” ngữ điệu câu thơ bật lên chút tê tái, xót xa. Đường xa ở đây có thể là không gian địa lý mà cũng có thể là không gian trong tâm trạng, cái khoảng cách tâm hồn mới là điều đáng nói khi tình đã hết, khi tình đã xa tất cả chỉ tồn tại một dấu chấm hết. Tôi nghe sự tuyệt vọng đang dâng lên, không gian dường như đã mơ hồ, đã nhòe trong nỗi đau vô hạn “đâu biết có gì cho nhau”, ngoài giọt nước mắt như là chút kỷ niệm để em mang đi như chứng tích của một cuộc tình tan. Mà muôn đời em vẫn là bài ca dao dạt dào trong tôi những lời tình sương khói phiêu linh:

Em hiền như điệu ca dao
Thả câu lục bát tan vào hư không.

Hai câu thơ nhẹ như một làn gió mơn man bởi một so sánh vừa khái quát, vừa tinh tế . Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên đã so sánh người tình hiền như ma soeur để làm nổi bật vẻ đẹp tinh khôi, thánh thiện, toàn bích của người một thời ông đã yêu; Hư Vô lại so sánh người tình hiền như điệu ca dao thì quả là dung dị, đơn sơ mà thật gợi cảm vì ca dao là tâm hồn dân tộc cho ta vị ngọt của tình yêu, cho ta vị êm đềm, phiêu diêu của những dòng lục bát. Ca dao từ khi xuất hiện cho đến bây giờ nó vẫn tồn tại cùng dân tộc. Sự tồn tại của ca dao là sự khẳng định sức sống kỳ diệu của ca dao. Valery đã có một nhận định qua câu nói “Le vrai poète est celui qui inspire.” Dòng thơ thực chỉ đến với những ai có tâm hồn. Phải chăng đây là tuyên ngôn tình yêu của thi sĩ với “em”, em không bao giờ mất mất, em tồn tại, em mãi mãi trong anh. Người thì mù khơi, bóng chim tăm cá, biết đâu mà tìm nhưng sự dịu dàng, mối tình ngây thơ của một thời áo trắng sẽ mãi cùng anh đi theo năm tháng.

Ca dao là thân xác, lục bát là vòng tay. Cứ thế lục bát ôm trọn ca dao vào lòng để ấp ủ cái hương thơ của hồn quê, của tình người. “Em bỏ tôi đi”, đã hết, điệu ru tình có còn cũng chỉ là tiếng thảng thốt vang vào hư không. Tôi cảm nhận nỗi đau được thi sĩ ngắt, rồi nhấn trong nhịp lục bát ca dao dù câu thơ có tới năm thanh bằng. Thơ Hư Vô buồn như ca dao, nhẹ mà thấm mà mênh mang vời vợi, dù thi nhấn đã có thả tan vào hư không nhưng câu thơ, nỗi buồn không như ông muốn, mà nó đã thành sợi tơ vướng víu, quấn quít trong trái tim đồng cảm của những người yêu thơ. Ý tưởng đó làm tôi nhớ đến câu lục bát của Truyện Kiều:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng. (Nguyễn Du)

Đã là tình, nhất là tình lỡ khó mà nguôi ngoai.

Em đi. Tôi ở lại. Tôi cảm nhận, em vẫn còn chưa quên tình yêu của một thời áo trắng. Nó như giọt nắng lung linh le lói mãi thành một quầng sáng trong tim, quầng sáng dõi theo em suốt trên con đường em đi, cho em ấm áp, cho em niềm vui nếu cuộc đời em không mấy khi vui… Có lẽ là em hiểu tình tôi, giọt nắng cuối ngày làm em vướng vít bước chân, vướng vít con tim.. Dừng chân, ngoảnh lại quá khứ, len lén nhìn nhau nửa mắt như sợ “người ta” biết, như sợ tình nhân biết nỗi buồn của em. Cứ thế mà xa dần rồi mất hút- dáng em, bóng em và chỉ còn sót lại “giọt lệ rơi” thầm lặng của em thôi.

Giấu quanh chút nắng trong lòng
Em đi vấp sợi tơ hồng dưới chân
Nhìn nhau nửa mắt tình nhân
Mà nghe giọt lệ đã lăn vào đời.

Ca Dao Chiều cứ thế mà trỗi dậy khúc bi ca. Tôi như thấy giọt nước mắt mình đang rơi như Hư Vô “Mà nghe giọt lệ đã lăn vào đời”. Tôi thực sự cảm nhận câu thơ chính là dòng lệ tôi. Có lẽ, người ta thường gọi đây là sự đồng cảm mà cũng là sự tự thương của những người luôn gặp những bất trắc, tai ương trong tình yêu. Hư Vô không viết mà thấy, thi sĩ viết “Mà nghe”, nhà thơ không viết giọt lệ rơi mà viết giọt lệ lăn thì rõ là chất giọng của ca dao rồi, vì ca dao không làm dáng, khoác áo đơn sơ, mộc mạc nhưng chân thật. Lăn làm tôi liên tưởng đến “lăn lóc” một sự bỏ rơi, không đoái hoài, không quan tâm. Giọt lệ tình mà thi sĩ đã nhỏ xuống cho tình nhân dường như chỉ mình mình biết chỉ mình mình hay. Nỗi cô đơn cũng theo ông từ ngày ấy, đồng hành cùng thi nhân trên những chặng đường đời. Từng câu chữ như những viên sỏi đang bị những dấu chân người đi nghiến nát, sỏi có đau? Sỏi có buồn? Giọt lệ mong manh như những viên sỏi đang lăn trên đường để gió cát, bụi đường vùi lấp. Tình ấy, buồn ấy cũng chẳng tan bởi đã hòa trong trời đất dấy lên khúc bi ca để cứ mãi vang xa. “Mà nghe”. Tôi nghe giọt lệ đang hòa vào nỗi đau của khúc tình buồn để rồi chiều lại đến, lại về. Lời ru buồn của ca dao lại miên man trong hiu quạnh:

Chiều ru vọng khúc à ơi

À ơi… là điệp khúc lời ru trong ca dao. Hư Vô đang thả điệu lục bát để ru tình nhưng không phải là khúc hoan ca mà là khúc ngậm ngùi. Tiếng ru vang trong chiều vắng nghe đến đắng lòng, đến da diết, mênh mông. Hồn của ca dao lại về, không gian đầy ắp những âm thanh buồn bã đến ngậm ngùi:

Cho lời vàng đá trên môi còn nồng

Lời trách. Em quên rồi lời ước hẹn thủy chung, em quên rồi những lời vàng đá sẽ mãi mãi yêu tôi, em quên rồi những nụ hôn nồng nàn quá khứ. Quên. Lãng quên. Quên hết. Để tôi ở lại nơi này. Không em. Để tôi ở lại nơi này với lời vàng đá thuở xưa; để tôi ở lại nơi này môi nồng lời ước hẹn. Không gian nhờ lời ru mà thành bát ngát, nỗi đau thấm vào lời ru mà nồng nàn, điệu à ơi cho câu ru như kéo dài, kéo dài cả nỗi nhớ tiếc khôn nguôi, kéo nỗi buồn thành vô biên, vô lượng. Chiều mênh mang nỗi nhớ, chiều mênh mang nỗi buồn. Nỗi buồn vọng từ quá khứ đến hôm nay để rồi đọng lại thành khúc ru chiều – khúc ru của tình tan:

Vậy mà em đã sang sông

“Vậy mà” là một sự ngạc nhiên, là một sự thất vọng, một sự đau lòng… về người con gái mà nhân vật trữ tình, yêu và đặt hết niềm tin vào đó. Tôi cảm nhận giọt nước mắt đã khô rồi, bầu lệ nóng đã cạn dòng. Chấp nhận duyên phận ngắn ngủi “có ngần ấy thôi”, giọng thơ trĩu nặng nỗi buồn khi “em đã sang sông”. Ý thơ làm tôi liên tưởng đến bài dân ca Nam bộ Lý Con Sáo:

“Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay xa” (Dân ca)

Em như cánh chim bay không bao giờ trở lại nơi này. Tình xưa còn vọng để thành lời ru. Giọng à ơi… của khúc hát ru tình lỡ cứ xoáy vào tim ta những nỗi buồn không tên. Ca dao lại về trong câu hát ru chiều, trong câu ca lỡ làng của chuyến đò tình không bến đỗ:

Đó đây cách trở vì đâu
Trách thay con tạo cơ cầu đa đoan (Ca dao)

Em đã đi rồi.. Tôi nhớ đến Những giọt lệ của Hàn Mặc Tử:

Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ. (Hàn Mặc Tử)

Với Hư Vô người đi để lại cho chàng thi sĩ một nỗi đau mênh mông. Tôi nghe một tiếng thở dài thật nhẹ như lời ca dao tình lỡ:

Bài ca dao bỗng mênh mông, lạ lùng…

Câu chữ chuẩn xác đủ để diễn tả thần thái của ca dao. Ca dao vốn là cung đàn muôn điệu, mỗi người hiểu ca dao theo cách của riêng mình. Mỗi thời đại, ca dao lại có một cách thấu hiểu riêng, tôi gọi đó là sức sống bền bỉ của ca dao phải chăng vì thế làn điệu dân gian ấy vẫn cứ làm say lòng bao thế hệ người Việt Nam. Phạm Duy trong Tình Ca ông đã từng khẳng định:

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
À à ơi! Tiếng ru muôn đời. (Phạm Duy)

Bài ca dao Chiều của Hư Vô vẫn là cái cảm xúc của người Việt về quê hương, đất nước với tự hào về kho tàng quý báu của văn học dân gian và cũng là cảm nhận mối tình đã qua của nhà thơ. Tình yêu đến rồi tình yêu đi, mang đến hoan lạc, hạnh phúc lẫn thương đau. Đó là sắc màu của tình yêu, của cuộc đời và cũng của ca dao. Thần thái của bài Ca Dao Chiều theo tôi nằm ở câu kết của bài: Đẹp, sâu ở từng câu chữ. Một phát hiện tự nhiên đầy bất ngờ “Bài ca dao bỗng mênh mông, lạ lùng” và tâm ý của bài thơ vì thế không kết ở dấu chấm hết mà tuôn chảy tự nhiên như dòng đời, dòng tâm cảm, dòng lệ thương cho những mối tình chóng vánh đã vội đi.

Ca dao đẹp ở những dòng lục bát ngọt ngào khi cất lên thành những điệu hò, những khúc hát ru vỗ về ta, nhắc nhở ta buồn có buồn thật đấy, có não nề, da diết thật đấy nhưng rồi sẽ nguôi ngoai vì nỗi niềm đã ngỏ, đã được sẻ chia, đã được thấu cảm. Tôi hiểu câu kết của bài đơn giản như vậy. Phải chăng vì thế khúc Ca Dao Chiểu của thi sĩ cứ mông lung, cứ lạ lùng khi ta tìm đến thi sĩ nghe ngâm vịnh khúc Ca Dao Chiều để rồi sau đó ta lặng đi trong một nỗi ngậm ngùi và cũng chợt nhận ra hình như đã ít nhất có trong đời mình một lần ta đã từng chênh vênh, mộng mị, đớn đau khi bước qua một mối tình không trọn vẹn.

Ca Dao Chiều khúc ru tình đẹp trong sự mất mát. Mất mát mà không tàn phai. Mất mát trong nỗi nhớ nhung khôn nguôi và nỗi nhớ ấy đã trở thành khúc ru tình góp vào thơ hiện đại Việt Nam một thi phẩm đẹp như ca dao, đẹp như điệu hồn dân tộc.

Trần Sương Lam

Hạ Sơn. Kịch lửa trại hay sân khấu của Nhà Văn Nhật Tiến.


Nhật Tiến

NHÂN VẬT

– Tráng sĩ……trạc 30 tuổi
– Thần Đá……ngoài 80 –
– Người Máy

Y phục: – Tráng sĩ bận quần áo võ sinh, chít khăn đầu rìu thắt lưng bỏ múi, tay cầm kiếm, vai đeo tay nải.

– Thần Đá bận áo Đạo Sĩ, râu tóc bạc, tay cầm chòm lông bạc gắn trên đầu một cây gậy ngắn.

– Người máy chân tay đeo ống kiểu Ro-bot.

Thời gian: Đêm trăng của một ngày thuộc hậu bán thế kỷ 20.

Không gian: Cảnh rừng núi u tịch.

Trang trí: Vài phông cảnh rừng núi. Sân khấu trống trơn. Mé bên trái, bên cạnh bụi cây là một tảng đá.

LỚP I

Tráng Sĩ rồi Thần Đá

Tráng sĩ: (Ở trong bước ra, nhìn trời quanh quẩn rồi hạ tay nải xuống) Trời đã về khuya. Đêm trăng lại sáng vằng vặc. Cảnh trí đẹp tuyệt vời. Ta nghỉ chân ở đây rồi mai đi sớm (lại gần tảng đá, xách tay nải để bên cạnh. Trở lại giữa sân khấu, rút kiếm ra khỏi vỏ ngắm nghía rồi cất giọng ngâm):

Trời đất ngủ, nhưng lòng ta không ngủ
Ba mươi năm chờ đợi phút này đây
Ba mươi năm mang nặng nghĩa ơn Thầy
Xin ghi tạc, thề một lòng báo đáp
(lại phiến đá mài kiếm rồi giơ kiếm lên)
Hồn Kiếm ơi, ba mươi năm rằng rặc
Ta cùng mi bầu bạn giữa non cao
Trong rừng sâu, nung nấu chí anh hào
Hồn Kiếm với hồn ta hòa một điệu
Khi thong dong giữa đêm dài huyền diệu
Khi sục sôi giữa gió núi mưa rừng
Khi cô đơn, khi thánh thót vui mừng
Lòng khắc khoải, chờ mong ngày Nhập thế
Ngoài Đại Nghĩa đâu còn gì đáng kể
Kiếm đã reo trên cổ lũ hung tàn…

(có tiếng cười ròn rã ở phía đằng sau, tráng sĩ giật mình quay lại)

Thần Đá: (xuất hiện phía đằng sau tráng sĩ, nhại lại): Kiếm đã reo trên cổ lũ hung tàn (lại cất tiếng cười ngạo nghễ)

Tráng Sĩ: Người là ai? Tại hạ có gì thất thố để khiến người giễu cợt?

Thần Đá: (chỉ vào tảng đá) Ta là Thần Đá. Hóa thân của ta là tảng đá. Tráng Sĩ không làm điều gì thất thố cả, nhưng ta cười vì lời tâm sự tráng sĩ vừa thổ lộ đó.

Tráng Sĩ: Tại hạ không hiểu.

Thần Đá: Tráng sĩ hiểu làm sao được sau 30 năm miệt mài tu luyện trên non cao. Phải 30 năm không?

Tráng Sĩ: Vâng. Tại hạ sinh ra mồ côi cả cha lẫn mẹ, được sư phụ nuôi nấng từ thuở lọt lòng. Sau 30 năm dầy công tu luyện, bây giờ sư phụ cho phép hạ sơn nhập thế giúp đời.

Thần Đá: Giúp đời! Hừ… tài năng của tráng sĩ có gì xuất sắc mà muốn hạ sơn giúp đời!

Tráng Sĩ: Tài mọn tuy không thấm vào đâu với những bậc cao minh, tuyệt thế, nhưng ắt cũng không làm hổ danh sư phụ.

Thần Đá: (Cất tiếng cười dài)

Tráng Sĩ: (quắc mắt) Lão Trượng không tin! Lão Trượng chưa bao giờ nghe danh môn phái trên Vô Vi Cốc?

Thần Đá: Vô Vi! Vô Vi!… Hừ, tất cả đã lùi sâu vào dĩ vãng mịt mù của dòng tiến hóa…

Tráng Sĩ: Lão Trượng nói thế có ngụ ý gì?

Thần Đá: Lão thành thực khuyên tráng sĩ hãy trở về đi. Tài năng của tráng sĩ chỉ còn là bóng mờ trước triều sóng cao vòi vọi của Văn Minh Kỹ Thuật.

Tráng Sĩ: Văn Minh Kỹ Thuật? Môn phái nào vậy mà tại hạ chưa bao giờ được nghe nói đến.

Thần Đá: (cười ha hả) Làm sao tráng sĩ nghe nói đến được khi mà tráng sĩ chôn vùi tuổi thanh xuân suốt 30 năm ròng nơi thâm sơn cùng cốc. Cuộc đời cuồn cuộn trôi xuôi, vạn vật sinh hóa vô cùng. Không ra khỏi vỏ ốc, con ốc làm sao nhìn thấy đại dương!

Tráng Sĩ: Không có đạo nào huyền diệu hơn Vô Vi… Không có võ công nào qua được cửa Vô Vi Cốc…

Thần Đá: Thật không?

Tráng Sĩ: (vung gươm lên, hét lớn) Hãy nhìn coi (một ánh kiếm xoẹt lên, tráng sĩ kiêu hãnh, hất hàm) Lão Trượng có nghe thấy gì không?

Thần Đá: Nghe thấy chứ. lão nghe thấy tiếng một con chim cú vừa rơi từ trên cành xuống đất cách đây hai mươi trượng!

Tráng Sĩ: (mỉm cười kiêu hãnh) Đó là Cách Không Kiếm, một võ công thượng đẳng của Vô Vi Cốc.

Thần Đá: (rút ở bọc ra một khẩu súng) Nhưng còn thua cái này!

Tráng Sĩ: Cái gì vậy?

Thần Đá: Đây là khẩu súng.

Tráng Sĩ: Súng! Súng là cái gì?

Thần Đá: Một võ khí sơ đẳng của hậu bán thế kỷ hai mươi.

Tráng Sĩ: Khả năng của nó thế nào ?

Thần Đá: Nó có thể hạ địch thủ chớp mắt trong vòng 100 trượng.

Tráng Sĩ: (ngạc nhiên) 100 trượng?

Thần Đá: Đó là tầm xa tối thiểu. Cùng loại với nó, còn nhiều khẩu có tác dụng mãnh liệt hơn và xa hơn.

Tráng Sĩ: Những ai sử dụng được ám khí này?

Thần Đá: Tất cả bàn dân thiên hạ. Từ một đứa bé lên sáu đến một cụ già 80, miễn là được chỉ dẫn sơ qua trong vòng nửa khắc.

Tráng Sĩ: Nửa khắc?

Thần Đá: Phải, chỉ nửa khắc thôi cũng đủ chế ngự Cách Không Kiếm mà tráng sĩ phải dầy công tu luyện trong gần 30 năm. Tráng sĩ còn tài ba gì nữa?

Tráng Sĩ: (xuống tấn, nhìn thẳng vào mắt Thần Đá) Xin lão trượng coi kỹ rồi hãy nói lão trượng đã nhìn gì?

Thần Đá: A! Vô Vi Nhỡn, Vô Vi Nhỡn!…

Tráng Sĩ: Biết được Vô Vi Nhỡn thì kiến thức võ công của Lão Trượng quả là uyên thâm.

Thần Đá: Làm sao mà ta không biết được võ công đã thất truyền đó. Kẻ sử dụng Vô Vi Nhỡn có thể phóng hào quang từ mắt mình ra để soi sáng cảnh vật trong vòng 10 trượng.

Tráng Sĩ: Tại hạ thú thật mới chỉ luyện được tới mức 5 trượng thôi. Phải thượng thừa như sư phụ tại hạ thì mới soi sáng được 10 trượng.

Thần Đá: Nếu vậy tráng sĩ coi đây. (móc túi lấy ra một cái đèn pin, bấm sáng lòa).

Tráng Sĩ: (che mắt) Ối cha chả… Lão Trượng dùng ma thuật gì thế?

Thần Đá: (cười ha hả) Có ma thuật gì đâu. Người trần thế gọi cái này là cái đèn pin vì nó chạy bằng pin. Cũng gọi là cái đèn bấm vì chỉ cần bấm một cái là hào quang phóng ra tới 20 trượng.

Tráng Sĩ: Những ai có được bửu bối này?

Thần Đá: Ối chà… nó được bầy bán hà rầm ở kẻ chợ… ai mua cũng được, muốn mua bao nhiêu cũng có, lại giá rẻ không hơn giá một con gà… Lão trượng xin tặng tráng sĩ một cái xài chơi… (đưa đèn pin ra).

Tráng Sĩ: (ngắm nghía bấm thử vài lần rồi cất giọng buồn rầu) Thế là bao công phu luyện tập của tại hạ trong 30 năm đều tan tành ra mây khói. Tại hạ không thích nghi với đời sống của thiên hạ thời nay.

Thần Đá: Chính vì thế mà ta muốn nhắc tráng sĩ hãy thận trọng hơn khi nhập thế…

Tráng Sĩ: Không… tại hạ sẽ quay về… tại hạ đành xin giập đầu tạ lỗi cùng sư phụ…

Thần Đá: Sao?… Đã vội gì. Tráng sĩ còn tài năng gì nữa xin phô ra nốt cho lão được chứng kiến…

Tráng Sĩ: Thôi! Tại hạ đã thấy thế nào là Văn Minh Kỹ Thuật rồi. Võ công của tại hạ không qua nổi trào lưu tiến hóa ấy đâu.

Thần Đá: Đừng vội nản lòng (móc túi lấy ra một viên đá nhỏ) Tráng sĩ bóp vỡ được hòn đá này chăng?

Tráng Sĩ: Chắc lão trượng muốn riễu cợt tại hạ có phải không?

Thần Đá: Không, ta không rỡn. Ta hỏi tráng sĩ thật đó.

Tráng Sĩ: Đây là trò trẻ… tại hạ có thể làm hơn thế nữa (cầm lấy hòn đá bóp mạnh… hòn đá trong tay tráng sĩ chảy nước).

Thần Đá: (kêu lên) Hỏa Tâm Lực!

Tráng Sĩ: Vâng! Đấy là Hỏa Tâm Lực. Tại hạ sử dụng lửa của trái tim để làm chẩy đá thành nước. Văn Minh Kỹ Thuật có làm hơn thế được chăng?

Thần Đá: Không! Văn Minh Kỹ Thuật không có tim. Văn Minh Kỹ Thuật bóp chết sự rung động trong trái tim mọi người. Văn Minh Kỹ Thuật không có tâm hồn. Nó làm tâm hồn người ta băng giá, nguội lạnh. Văn Minh Kỹ Thuật cũng không có lòng dạ. Nó làm lòng dạ người ta xa rời nhân bản, xa rời ý nghĩa đích thực của con người.

Tráng Sĩ: (vui mừng) Vậy tại hạ có thể làm được gì cho người trần thế?

Thần Đá: Hãy đi truyền thông ngọn lửa nhiệt thành. Hãy làm sống dậy sự rung động của tâm hồn mọi người trước Chân, Thiện, Mỹ. hãy hâm nóng tấm lòng của thiên hạ đang trở thành băng giá trước triền sóng dồn dập của Văn Minh Kỹ Thuật. Phải khuất phục Văn Minh Kỹ Thuật bằng chính Hỏa Tâm Lực (Có tiếng cười ghê rợn xuất phát từ hậu trường – Cả hai cùng im bặt, lắng tai nghe – Lại một tràng cười nữa cất lên).

Thần Đá: Văn Minh Kỹ Thuật!

Tráng Sĩ: (lùi lại, giơ kiếm lên, nhìn quanh).

Thần Đá: Hãy thử lửa đi! Nếu tráng sĩ thất bại, lão không còn lý do gì kìm giữ tráng sĩ trong ý định trở về Vô Vi Cốc tạ tội với sư phụ và tiêu dao cho hết tuổi thanh xuân.

Tráng sĩ: Tại hạ xin cố gắng.

LỚP II

Thêm người máy

Người Máy: (Khật khưỡng bước ra, vừa đi vừa cười ngạo nghễ) Khuất phục Văn Minh Kỹ Thuật bằng Hỏa Tâm Lực… Hà… hà… Thật là một tham vọng ngông cuồng. Từ xưa tới nay không có một mãnh lực nào có thể khuất phục được sức mạnh vô song của Văn Minh Kỹ Thuật.

Tráng Sĩ: Ngươi đừng lớn lối. Từ xưa tới nay cũng chưa có mãnh lực nào khuất phục được ý chí của con người.

Người Máy: Ý chí là cái gì?

Tráng Sĩ: Là tất cả. Là sức mạnh của tâm hồn, là sự khôn ngoan, là lòng hy sinh, là sự quả cảm, là bền bỉ, là nhẫn nại. Nó được nuôi dưỡng bằng yêu thương rung động.

Người Máy: (ngơ ngác) Ngần ấy thứ có giúp con người lên được mặt trăng không?

Tráng Sĩ: Đi xa hơn nữa. Nó giúp con người hòa đồng vào tận cùng của vũ trụ.

Người Máy: Văn Minh Kỹ Thuật rồi cũng sẽ có ngày đi vào tận cùng của Vũ Trụ.

Thần Đá: Thôi, cãi nhau làm gì mất công. Hãy làm một cuộc so tài.

Người Máy: Phải đó! Hãy làm một cuộc so tài.

Thần Đá: Người Máy! Mi có biết làm tính không?

Người Máy: (cười ha hả) Đó là sở trường của ta.

Thần Đá: Vậy cuộc so tài thứ nhất là giải một bài toán. Mi có phản đối gì không?

Người Máy: Tôi ký cả hai tay!

Thần Đá: Vậy hãy nghe đề thi thứ nhất : “Hai lực lượng chiến đấu chống nhau. Bên xâm lăng là 50 vạn quân tinh nhuệ với võ khí hùng hậu. Bên tự vệ là 1 vạn quân ô hợp với võ khí thô sơ. Bên nào thắng?”

Người Máy: Bên 50 vạn quân thắng!

Tráng Sĩ: Không! Bên 1 vạn quân thắng.

Thần Đá: Người Máy! Ngươi thua keo đầu rồi!

Người Máy: Vô lý! Theo sự tính toán của ta thì…

Thần Đá: Mi đã tính toán sai. bài tính của mi thiếu một giả thuyết. Đó là lòng yêu nước!

Người Máy: Hừ! Lòng yêu nước là cái gì?…

Thần Đá: Nếu chưa biết thì mi giở lại hộc ký ức của ngươi coi. Vào năm 1282, năm mươi vạn hùng binh của Vua nhà Nguyên dưới quyền điều khiển của Thái Tử Thoát Hoan bên Trung Quốc qua xâm lăng Việt Nam…

Người Máy: Ta thấy rồi! 50 vạn hùng binh của quân Nguyên tan nát như lá tre trên sông Bạch Đằng. Ta chịu thua keo đầu!

Thần Đá: (vuốt râu) Bây giờ làm một con tính khác.

Người Máy: Dẹp lối tính toán kỳ cục ấy đi! Phải đổi môn thi thì mới gọi là công bình.

Thần Đá: Mi muốn thi cái gì?

Người Máy: Ta muốn đấu sức!

Thần Đá: Được lắm! Đó là ý muốn của ngươi… Nhưng nếu đấu sức nữa mà cũng thua thì mi phải đền bù cái gì?

Người Máy: Tôi sẽ làm nô lệ cho các người đời đời…

Thần Đá: Được lắm! Bây giờ cả hai bên nghe cho rõ bài thi đấu sức đây. Ta có hai tảng đá. Mỗi bên phải giơ tảng đá lên cao khỏi đầu và giơ thế mãi. Bên nào làm rớt đá trước thì thua!

Người Máy: Dễ ợt mà! Ta sẽ cho các ngươi biết cường lực của Văn Minh Kỹ Thuật. Nào, bê lên (cầm tảng đá lên bằng một tay) hì… hì… nó nhẹ như lông hồng.

Thần Đá: Bỏ xuống đã! Chờ hiệu lệnh đàng hoàng kẻo sau này kiện cáo mất công. Nào, cả hai bên nghe ta đếm đây! Một! Hai! Ba!

(Tráng Sĩ và Người Máy cùng nhấc tảng đá lên khỏi đầu).

THỜI GIAN TRÔI QUA

(Nếu là lửa trại mọi người có thể hát một bản đồng ca – Nếu là sân khấu, âm nhạc sẽ dồn dập)

Thần Đá: Người Máy, mi sắp thua rồi!

Người Máy: (run run tay rồi rung động cả thân mình).

Thần Đá: Ráng lên! Nếu không mi sẽ chịu cảnh nô lệ đời đời…

Người Máy: (loạng choạng toàn thân, rên rỉ) Ôi! Ta chịu hết nổi rồi… cho ngừng cuộc thi đến ngày mai…

Thần Đá: (cười ròn rã) Ngừng sao được!… Nếu ngươi làm rớt hòn đá là mi thua.

Người Máy: Ta cần mặt trời… Ta cần ánh nắng để nạp vào tế bào quang điện… (loạng choạng suýt té).

Thần Đá: Mặt trời!… Đêm mới về khuya. Trời lại vần vũ chuyển mưa. Ngày mai cũng sẽ không có mặt trời…

Người Máy: (rên rỉ) Ta thua mất… ta sắp quị rồi... (loạng choạng ôm hòn đá đi, mặt ngơ ngác) Mặt trời… Ta cần mặt trời... (Té khụy xuống, tảng đá văng ra xa – Nằm bất động).

Tráng Sĩ: Người Máy! Mi thua rồi.

Thần Đá: (vuốt râu) Nói với nó bây giờ vô ích. Nó có còn hiểu gì đâu. Nó không còn khả năng gì nữa. (tiến lại người máy lôi xềnh xệch) Bây giờ nó chỉ là đống sắt vụn vô tri… (đi vào).

Tráng Sĩ: (sửng sốt ngó, rồi cũng đi theo).

MÀN HẠ

NHẬT TIẾN
11-7-1973

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 100, ra ngày 29-7-1973)

Tô Thùy Yên, Chân Dung Muôn Đời Thi Sĩ. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

(Chân dung và thủ bút của thi sĩ Tô Thùy Yên)

Tháng 2, 1987, ở xứ người, đọc Anh Hùng Tận, đọc Qua Sông. Có một liên tưởng nào của một người lính trẻ lái xe xuôi ngược trên freeway Nam Bắc, nhìn mông về rặng núi thẫm xanh trước mặt gờn gợn trong lòng những cơn mưa ngày xưa. Của một thời trận mạc. Của nỗi niềm quẩn quanh một thời hào sảng. Nhớ thi sĩ. Tô Thùy Yên đang mịt mù trong tù ngục quân thù ở quê nhà. Đọc thơ, tưởng gặp người hào sĩ ở ngã ba sông, xuồng ba lá đậu kế chân bàn. Ôi cái thuở xưa chiến chinh, trời đất làm nhà, bằng hữu muôn phương là anh em. Ôi cái thời tuổi trẻ. “Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn/nên gặp nhau không dấu nỗi mừng/ta gạn dăm ba lời tặng bạn/dẫu từ lâu bỏ việc văn chương/thiệt tình tên bạn ta không nhớ/nhưng mà trông mặt thấy quen quen/ hề chi ta uống cho say đã/nào có ra gì một cái tên/ tới đây toàn những tay hào sĩ/ sống chết không làm thắt ruôt gan/ cũng không ai nhắc gì thân thế/ có vợ con mà như độc thân/bạn hỏi thăm ta cho có lệ/ cuộc đời binh nghiệp Ta cười bung/ còn mươi tháng nữa lên trung úy/ có thể ngày mai chửa biết chừng…”

Và, ở chiều mưa Los Angeles, viết và tưởng tới Tô Thùy Yên, một chân dung muôn đời thi sĩ. Chiều mưa đất khách, đọc Tô Thùy Yên:

Một thằng lính trận đang ngồi nhớ

Chiều mốc hôi xưa mấy dáng cò

Chừng nghe con nước đang lần giở

Qua sông, mưa dột những câu thơ

Cây súng đôi vai dường quá nặng

Dựng vách lá xiêu mấy mảng trời

Hào sảng cười ai còn văng vẳng

Rượu đế cùng say chắc đã đời

Đỉnh dốc thiên thu nào hiển hiện

Mưa giọt giọt thầm góc quán xưa

Anh hùng tận, tìm đâu chỗ đến

Lục bình hoa tím chuyến đò đưa

Cởi đôi giầy trận, ngả nón sắt

Thiếu úy trẻ quên những ý cuồng

Lỡ lên trung úy mai về đất

Có sao? Ngày cũng phải tà dương

Chắt ly rượu hết, nghe bất chợt

Xiết vào cò súng bắn lên trời

Loạn tâm lạc giữa mây ngợp ngợp

Binh lửa? ừ thôi tiếng cả cười

Khơi khơi quán cóc bờ sát nước

Chỗ này ta đã đến rồi sao?

Xuồng ai đi đến chèo xuôi ngược

Cào ta tủy nhớ vết thương sâu

Mường tượng phận thân trời sẵn định

Dông bão giục ta chiến sĩ hành

Dễ chi thân thế vài năm lính

Chiến trường quên mất tuổi xuân xanh

Tiếng chân vang vọng ngàn năm trước

Theo giọt mưa xiên đã trở về

Thơ cổ có câu nào chẳng thuộc

Lời ai túy ngọa giữa chiều mê?

Tháng 8 năm 1995. Nói chuyện với Tô Thùy Yên. Phỏng vấn trên Hợp Lưu số 24. Thưc hiện sau khi thi sĩ đến Mỹ định cư vài năm. Như một tìm hiểu chân dung một thi sĩ vừa bắt đầu cuộc sống mới. Xin ghi chép lại như một tư liệu cho mai sau (mong mỏi như thế!):

Nguyễn Mạnh Trinh: Xin anh cho một vài dòng về tiểu sử của mình?

Tô Thùy Yên: Tôi tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, cha mẹ và mấy đời ông bà nội ngoại đều ở tại đất này. Tôi theo học tiểu học ở Trường Tỉnh Gia Định, trung học ở trường Petrus Ký, đại học ở trường Văn Khoa Sài Gòn. Lúc mới vào đời, trong mấy năm, tôi dạy học và làm báo. Cuối năm 1963, tôi bị động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và tôi đã phục vụ trong quân đội cho đến những giờ phút cuối cùng của chế độ Miền Nam, phần lớn thời gian trong nghành Chiến Tranh Chính Trị. Cấp bực cuối cùng là Thiếu Tá và chức vụ cuối cùng là Trưởng Phòng Văn Nghệ/ Cục Tâm Lý Chiến. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi bị đưa đi cải tạo hơn 10 năm, trong đó có hơn 6 năm lưu đầy ở Miền Bắc và chịu quản chế 3 năm sau đó. Khoảng cuối năm 1988, tôi bị cầm tù hết mấy tháng vì một chuyến vượt biên thất bại. Trong tù lần này, khi ở biệt giam tôi đã cắt đứt động mạch nơi cườm tay tự tử nhưng rồi được cứu sống vào những hơi thở tưởng là cuối cùng của tôi. Rồi đến năm 1991, tôi lại bị bắt, lần này tại nhà với những tội danh lần lượt gán ghép: sáng tác thơ văn chống chế độ xã hô chủ nghĩa, hoạt động gián điệp, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân. Tổng cộng cả 3 lần, tôi đã ở tù gần 13 năm. Cuối năm 1993, tôi cùng gia đình được đưa ra khỏi nước, theo diện cưu tù nhân chính trị, và tái định cư từ đó đến nay tại Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ.

NMT: Anh bắt đầu cầm bút từ lúc nào? Anh viết những tác phẩm đầu tay trong trường hợp nào? Có kỷ niệm nào đặc biệt không?

TTY: Tôi say mê chữ nghĩa từ hồi còn nhỏ, rất nhỏ, 13, 14 tuổi gì đó. Và tôi cũng đã rón rén tập tành làm văn, làm thơ từ cái tuổi đó, mặc dù lúc bấy giờ cũng như mãi về sau rất lâu, tôi hoàn toàn không có ý thức và càng không có ý muốn sẽ ăn ở một đời sống chết với văn chương. Đầu hè 1954, sau mùa thi tôi lãnh một căn bệnh thập tử nhất sinh, nằm liệt mấy tháng liền và cứ mỗi lần tỉnh sốt, tôi lại ngấu nghiến sách vở, lúc nhìn ra bãi cỏ trước sân nhà xanh rỡ sau những cơn mưa. Lúc đó, tôi thèm một cách thảm khốc được sống, được đi được trở lại căn nhà lá nhỏ lẫn khuất giữa khu vườn cây ăn trái, có những lối đi cỏ mát chân trần mà tôi đã ở qua cùng mẹ và các em tôi chạy loạn ngoài chiến khu chống Pháp. Và lúc đó tôi thấy cần làm thơ, cần hơn tất cả mọi thứ cần khác. Một trong những bài thơ làm lúc đó, tôi gửi cho Tạp chí Đời Mới do nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương biên tập. Bài thơ đó đã được chọn đăng với lời nhắn của ông Nguyễn Đức Quỳnh muốn tôi đến gặp ông. Lúc đó tôi mới vừa 16 tuổi và tôi chợt lờ mờ hiểu rằng dường như giữa tôi và văn chương đã manh nha một ràng buộc định mệnh chờn rờn nào đó, một ràng buộc mà về sau có nhiều lần tôi muốn tháo bỏ mà tôi vẫn không tháo bỏ được. Tuy rằng bài thơ đầu tiên đăng báo đó chắc chắn không phải là một bài thơ hay và ngày nay tôi chẳng còn nhớ nó như thế nào nữa.

NMT: Anh đã sinh hoạt với nhóm Sáng Tạo khá lâu, vậy anh có thể kể lại để phác họa một thời kỳ rất đặc sắc của văn học miền Nam 1954-1975?

TTY: Thơ tôi lần lượt xuất hiện trên những số đầu tiên của tạp chí Sáng Tạo bộ cũ do Mai Thảo chủ trương. Lúc đó tôi vừa 17 tuổi. Tuổi của Rimbaud Le bateau Ivre khi chàng bỏ trốn gia đình lang thang dưới bầu trời chì quặn thắt gió xấu. On n’est pas se1rieux quand on a dix sept ans… Một số những tác giả hợp tác với tạp chí Sáng Tạo mấy năm sau quây quần thành ban biên tập chính thức trong đó có tôi của tạp chí Sáng Tạo Bộ mới, sau một thời gian ngắn đình bản để chỉnh đốn hàng ngũ và chủ trương, những tác giả đó đều lớn tuổi, kể cả Thanh Tâm Tuyền cũng lớn hơn tôi 2 tuổi. Đương nhiên tôi là đứa em út trong đám, le benjamin de la troupe. Đó là thời kỳ hoang tưởng nhưng cũng là thời kỳ định hình của riêng tôi. Còn về phần cả nhóm thì có lẽ không cần phải nhìn kỹ cho lắm, người ta cũng có thể nhận ra ngay rằng chúng tôi hoàn toàn khác biệt nhau, mỗi người một bộ vị riêng tư và chúng tôi chỉ thuần nhất với nhau ở mỗi một sắc thái: muốn làm mới văn học nghệ thuật, cải đổi nhận thức thẩm mỹ. Trong những năm tháng đều tiên, những năm tháng thuyết phục, nhóm Sáng Tạo, đặc biệt là Thanh Tâm Tuyền tứ bề thọ địch mặc dù tap chí Sáng Tạo được độc giả, chủ yếu là độc giả trẻ đón nhận nồng nhiệt, càng lúc càng nồng nhiệt, người viết khí thế bừng bừng đã đành mà cả người đọc cũng vậy. Tiện đây tôi xin mở ngoặc không thể trông mong có được một nền văn học nghệ thuật đổi mới nếu như không có một lớp quần chúng sôi nổi lúc khởi đầu. Tất nhiên chẳng phải lúc nào lịch sử cũng sẵn sàng một cơ hội hào hứng. Và cái cơ hội hào hứng mà may mắn chúng tôi có được đã chẳng kéo dài bao lâu. Chiến tranh gia tăng cường độ, nới rộng địa bàn, chính tình càng lúc càng rối ren mờ mịt. Thanh Tâm Tuyền vào lính, ít lâu sau đến lượt tôi vào lính. Quần chúng lông lốc đảo điên trong cơn bão lốc mỗi ngày một hung hãn, khốc liệt. Riêng tạp chí Sáng Tạo tồn tại cho đến năm 1962 thì đình bản vĩnh viễn. Nhưng tình bạn thắm thiết giữa chúng tôi, những người đã kết hợp thành nhóm Sáng Tạo, đã chẳng chấm dứt tại đó, giấc mơ chung nối kết chúng tôi chẳng tan biến tại đó. Chắc chắn mãi mãi chúng tôi còn muốn mình là những kẻ tiền phong đi cùng những lớp người tiên phong trẻ mới. Liệu rồi trong quãng đời còn lại của chúng tôi, lịch sử có còn kịp một cơ hội hào hứng nào nữa hay không?

NMT: Anh cầm bút có chủ đích nào không? Nếu có, chủ đích đó có thay đổi tùy theo thời kỳ mà anh đã sống không?

TTY: Tất nhiên là có chủ đích. Tôi thiết nghĩ ai cầm bút cũng phải có chủ đích. Viết, theo tôi là một hành vi chung hậu khi không còn một hành vi khả thi nào khác nữa, chung hậu đến độ có thể coi như đó là mưu toan tột cùng của vô vọng cũng đúng. Vậy chủ đích của tôi là gì ư? Chủ đích của tôi cực kỳ đơn giản. Rõ rệt: nỗ lực thể hiện đến mức tối đa mà tôi có thể, bằng phương tiện chữ nghĩa tất cả những gì tôi nghe thấy được về đời sống ở nơi tôi. Và ngoài chủ đích đó ra, tôi hoàn toàn không có một vọng động một lung ảo nào khác về việc cầm bút. Thành thử chủ đích của tôi trong thể loại hành vi này trước sau vẫn không hề thay đổi dù đời sống của tôi có thay đổi, thay đổi đén cỡ nào đi nữa cũng vậy. Cũng theo chỗ tôi thiển nghĩ, tất cả việc làm của người cầm but trong tư cách nghệ sĩ chỉ là đặt, và thường khi là đặt lại những vấn đề nào đó, chớ người cầm bút không có trách vụ cũng như khả năng đưa ra những giải pháp này nọ. Nghệ thuật phát sinh từ những vấn đề trôi nổi và tự sát ở những giải pháp hình thành. Hơn nữa, điều rõ ràng ai cũng nhận thấy là ngôn ngữ như mọi hình thức nghệ thuật nào khác, vốn chỉ là một phương tiện có giới hạn, rất giới hạn. Cái nói lên của nghệ thuật không giống như cái nói lên của một logic bình thường, do đó không thể nào tường tận khúc chiết được. Nhìn chung, nghệ thuật vẫn là một thách đố nào đó giữa người làm nghệ thuật và người thưởng ngoạn nghệ thuật trong bối cảnh hằng có của một thách đố lớn lao hơn, do đó cũng hùng vĩ hơn giữa một bên là nghệ thuật và một bên là đời sống.

NMT: Anh có coi công việc làm thơ là một thiên chức cao quý hay cũng chỉ là một công việc bình thường của đời sống mỗi người?

TTY: Tôi coi công việc làm thơ là một công việc bình thường trong đời sống của tôi. Chỉ sau khi bài thơ đã thành hình là một bài thơ được đưa đến người đọc rồi lúc đó bài thơ tự nó có một thiên chức nào hay không, là hoàn toàn do chính nó, tác giả thôi không còn dính dáng gì nữa, không có quyền hạn gì nữa. Nói cách khác, thơ có thiên chức nhưng thi sĩ thì không. Đơn giản thi sĩ chỉ là người ráng làm cho được những bài thơ, những bài thơ hay.

NMT: Theo anh, thế nào là một bài thơ hay?

TTY: Giải thích thế nào là một bài thơ hay quả là một điều không thể nào làm được dù rằng người đọc có năng khiếu thưởng lãm thơ, nhận biết dễ dàng bài thơ nào là một bài thơ hay. Phù, thi chi, nan ngôn dã. Ôi thơ là điều khó nói vậy. Chắc chắn Cao Bá Quát không phải là người đầu tiên hay là người cuối cùng kêu lên như vậy. Bởi lẽ tôi nghĩ không thể có một khuôn mẫu nhất định, bất biến nào cho thơ nói chung. Thơ hay, hay theo từng bài, mỗi bài hay một cách, không bài nào giống bài nào. Do đó nếu tìm một quy định thơ hay phải như thế này, hoặc như thế kia thì một quy định như vậy, cứ tạm cho là tìm được đi, đương nhiên sẽ khiếm khuyết què quặt một cách thảm hại, sẽ khoanh vùng hạn chế một cách ngu đần phạm vi hiểu biết và thưởng lãm thơ. Trong khi đó cõi bay lượn của thơ thì vô cùng vô định. Nên cái khó khăn duy nhất, đầu tiên và cũng là cuối cùng của người đọc, đó là chính người đọc phải cố gắng thi triển trọn vẹn đôi khi vượt quá khả năng bình sinh của mình bay đuổi kịp theo cái hay thiên hình vạn trạng biến ảo khôn lường của thơ như một kỳ công phóng lượn vô song, tuyệt vời của hồn người chưa từng khứng chịu giam hãm vùi dập. Bài thơ hay không đứng đợi những người đọc nặng nhọc, bài thơ nào đứng đợi như vậy chắc chắn chẳng phải là một bài thơ hay, chẳng phải là thơ. Phần tôi nếu như có người bạn nào cứ một mực khăng khăng đòi tôi giải thích cho kỳ được thế nào là một bài thơ hay có lẽ tôi phải tạm bằng lòng với ý nghĩ rằng một bài thơ hay là bài thơ mà sau khi đã được đọc thấy rồi, bài thơ đó một cách vô thức mặc nhiên trở thành một phần hồn của người đọc. Thơ hay, thơ có hồn, và cái hồn đó của thơ không thể chỉ tồn tại ở bài thơ mà nó phải đáo nhập vào hồn của người đọc, biểu lộ trọn vẹn sinh kiếp ở nơi đó và chỉ nơi đó mà thôi. Tôi xin lỗi không thể nói được rõ ràng hơn. Khôn ngoan một chút, nói về thơ, bao giờ cũng nên xin lỗi trước.

NMT: Điều gì xảy ra để anh làm thơ, cảm hứng tức thời hay là những nung nấu lâu ngày trong tâm tưởng? Có phải thơ cũng như rượu, càng ủ lâu càng ngon…?

TTY: Làm thơ, cũng như là bất cứ thể loại nghệ thuật nào khác đương nhiên đòi hỏi trước tiên phải có cảm hứng, tia sét thần khải đánh vở khối đá câm đặc ôm giấu trong lòng viên ngọc ẩn. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, cảm hứng đó do đâu mà phát sinh, nếu chẳng phải là từ những nung nấu trường kỳ đến mức đã trở thành những ám ảnh một đời của tác giả. Bản thân tôi không tin là có thể có những cảm hứng ngẫu sinh. Dĩ nhiên bài thơ thành hình không chỉ thuần với cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó. Từ cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó đến cuối bà thơ được hoàn thành, với tôi, luôn luôn là một con đường xa vợi nhọc nhằn lắm khi tuyệt vọng ê chề vì lực bất tòng tâm. Tôi thọ nhận lời dạy của Paul Valery “Nàng thơ ban cho thi sĩ một câu thơ đầu, còn những câu thơ sau, thi sĩ phải tự tìm kiếm lấy”. Thành quả nào cũng phải là thành quả của cơ duyên, tu luyện và lao động. Một nghệ sĩ hoàn chỉnh nào cũng phải là một nghệ nhân hoàn chỉnh trước đã. Hiển nhiên quan niệm này chẳng phải là quan niệm riêng biệt của Paul Valery. Ông chỉ lặp lại một quan niệm đã có từ trước, trước cả thời của những Malherbe hay Boileau, nhằm nhắc nhở….

Tôi cũng tâm niệm lời hứa của Đỗ Phủ: “ngữ bất kinh nhân, tử bất an”. Nói không làm người sợ, chết không yên. Dường như chẳng bao giờ tôi ngừng nghỉ kiếm tìm cho dù có khổ công đến đâu một chữ đắc, cái chữ độc nhất mà không một chữ nào khác cho là tương đương hòng thay thế được. Nói cách khác tôi chỉ chịu đi qua một câu thơ, một đoạn thơ khi nào tôi hoàn toàn kiệt quệ khả năng thể hiện hay hơn, gần hơn, sống hơn điều tôi ao ước thể hiện. Nhân đây tôi cũng muốn góp phần soi sáng một điều thoạt đầu nghe có vẻ rất nghịch lý là làm việc nhọc nhằn với chữ nghĩa tuyệt nhiên không có nghĩa là kiếm tìm điên đảo những cái cầu kỳ quái dị mịt mờ biến chữ nghĩa thành diêm dúa, hợm hĩnh giảo ngụy. Bậc võ công thượng thừa không để cho thấy chỗ tuyệt tử công phu của mình. Tôi nhại lời của Lão Trang: mức cao nhất của chỗ tuyệt tử công phu xem ra chẳng khác gì với cái thoải mái hồn nhiên của kẻ chưa từng biết thế nào là thao luyện. Câu thơ hay nhất mà thi sĩ nào cũng mong mỏi làm được có lẽ là câu thơ gần gũi nhất với lời nói thông thường mà mới thoạt nghe ai cũng nhận ra ngay là thơ, không giải thích được, không diễn dịch được.

NMT: Có phải như Bạch Cư Dị đã luận:Thơm tình là gốc, chữ là ngọn, âm thanh là hoa, nghĩa là quả. Và như thế, phần nào là quan yếu nhất?

TTY: Theo tôi, nói chung, phần nào cũng quan yếu hết. Còn phân lượng, gia giảm như thế nào tùy ở mỗi bài thơ. Lời bàn ví von bóng bảy của Bạch Cư Dị nghe ra chẳng khác nào một bài giảng cách trí đầu mình chân tay về thơ. Liệu người nghe có hiểu biết thêm một chút gì về thơ không? Phần tôi thì không. Bởi đó vốn là những điều ai ai cũng biết cà rồi. Khổ quá…

Tôi có cảm tưởng là Bạch Cư Dị đứng giữa nhà xác thơ, nói về những cơ phận của tử thi thơ. Mà thơ thì nhất định không phải là một cái xác. Thơ đã chết không phải là thơ nữa. Tôi không muốn nói trái ý Bạch Cư Dị, ờ, thơ như một cái cây và tôi chỉ cảm nhận nó nguyên vẹn là một cái cây, một cái cây có sự sống của cây ở nơi tôi mà thôi.

NMT: Làm thơ có người chú trọng đến ngôn ngữ, có người lại để ý đến hình ảnh hoặc âm điệu… Phần anh, anh để ý đến điều gì nhất?

TTY: Tôi không quen phân tích như vậy. Theo tôi, câu thơ đạt, bài thơ đạt phải là một toàn khối gắn bó hữu cơ. Chữ mà dùng tới đương nhiên hội ập đông đủ, mật thiết tất cà các điều mãnh liệt tối yếu đó. Thơ nương náu chờ đợi trong ngôn ngữ, nó chính là phần huyền nhiệm của ngôn ngữ. Và thơ xuất hiện hân hoan từ cơ may mãi mãi trước sau chỉ xảy ra mỗi một lần đó thôi của những chữ tiếng hằng thất lạc nhau trong mịt mùng hoài vọng, chợt tương phùng phối kết nhau, mừng tủi điếng lặng…

NMT: Làm mới thi ca có phải là niềm băn khoăn thường hằng của thi sĩ?

TTY: Không thể nào còn được thi ca, còn được nghệ thuật nếu như không có sự làm mới thi ca, làm mới nghệ thuật. Vấn đề cần đặt ra là làm mới và làm mới như thế nào. Nghệ thuật là bóng dáng của đời sống. Đời sống biến thiên, nghệ thuật cũng biến thiên theo. Tôi thiển nghĩ nghệ thuật đạt là nghệ thuật biểu lộ được đến mức tối đa cái tưởng tính mà người làm nghệ thuật nhìn thấy được của đời sống. Và đạt được đến mức đó đương nhiên cũng là đạt được đến sự làm mới chính đáng của nghệ thuật. Người làm nghệ thuật nhìn ngắm đời sống mà tìm thấy nghệ thuật, chớ không phải nhìn ngắm nghệ thuật mà tìm thấy nghệ thuật. Tôi không tin là trong nghệ thuật lại có một phân lìa có thể nhận thức được của hình thức và nội dung. Nội dung nào có cái hình thức tương ứng đó và ngược lại, hình thức nào có cái nội dung tương ứng đó, không sai chạy đi đâu được.

NMT: Jan Skacel viết: “Thi sĩ không sáng tạo thi ca. Thi ca là một chốn nào đó ở đằng sau. Đã ở đó từ thời gian dài thật dài. Mà thi sĩ mãi miệt mài tìm kiếm. Như vậy thơ chỉ là tìm kiếm những cái đã có sẵn chứ không có tính sáng tạo”. Theo anh, có kết luận nào không? Và đó có phải là một quan niệm để làm mới thi ca không?

TTY: Dường như tôi hiểu lời của tác giả anh vừa trích đọc đó khác anh. Tôi cũng vừa nói qua là thơ nương náu chờ đợi trong ngôn ngữ. Trạng thái thơ là một trạng thái có sẵn trong tâm khảm của loài người. Vậy tại sao cuộc miệt mài tìm kiếm thơ của thi sĩ lại chẳng phải là một sự sáng tạo, một sự làm mới thi ca? Thử hỏi sự tìm kiếm nào lại chẳng là một sự sáng tạo. Hơn nữa, trong bản chất sự sáng tạo nghệ thuật là gì, nếu chẳng phải là sự tái tạo, sự dựng lại một cách chủ quan bằng những phương tiện riêng khác những cái vốn đã có sẵn trong ký ức tồn đọng từ muôn nghìn năm rồi bây giờ chợt tìm thấy lại trong đời sống?

NMT: Milan Kundura đã thắc mắc trong việc phân biệt âm điệu và vần điệu trong thơ văn xuôi và tản văn. Theo anh có khi nào một bài tản văn hoặc tùy bút lại rất giống với một bài thơ văn xuôi?

TTY: Tôi thật không hiểu là có những áng tản văn nào đó bàng bạc chất thơ, do đó nên được coi là những bài thơ văn xuôi chăng? Nếu vậy tôi sẽ không đồng ý với ông ta. Theo tôi một áng tản văn dù có chan chứa chất thơ đến đâu cũng không thể đồng hóa với một bài thơ văn xuôi được. Một bài tản văn còn có thể được diễn dịch ra trong cùng ngôn ngữ đó theo một cách thức khác mà vẫn không xuy xuyển gì giá trị của nó, nhưng với một bài thơ dù là thơ văn xuôi thì nhất định chẳng thể làm như vậy được. Bài thơ khi được diễn dịch ra tức khắc sẽ tan biến không còn là bài thơ, chính bài thơ đó nữa. Bởi lẽ một bài thơ được hình thành bằng những chữ không thể đổi khác được, nó là một toàn khối khắng khít đá vàng của những chữ hội ngộ hân hoan. Người ta cần đọc thuộc bài thơ nhưng không cần đọc thuộc áng tản văn. Cũng vì lý do đó, riêng tôi, khi đọc thơ nước ngoài qua một chuyển ngữ nào đó, tôi vẫn thích bản dịch sít sao từng chữ, từng dòng hơn là đọc một bản dịch bằng thơ cho dù bản dịch thơ dịch đó có tài tình đến đâu chăng nữa. Bài thơ dịch Phong Kiều Dạ Bạc của Tản Đà chẳng hạn, không ai không nhận là tuyệt vời, nhưng đối với tôi, dường như đó là một bài thơ riêng của Tản Đà chớ không phải là bài thơ của chính Trương Kế. Trường hợp bản chuyển kiệt tác bằng thơ Anh của Edward Fitzerald những bài thơ Rubaiyat của Omar Khayyam cũng vậy.

NMT: Triết học và thi ca là những phạm trù khác nhau. Nhưng có nhiều người làm thơ triết học. Theo anh có biên giới nào giữa thi ca và triết học không?

TTY: Có một loại thơ gọi là thơ triết học sao?

NMT: Anh theo học chương trình Pháp từ trung học. Và chắc quen thuộc với những nhà thơ Tây Phương. Như vậy tự nhìn ngắm mình anh thấy có những ảnh hưởng nào?

TTY: Tôi đẽ học hỏi được rất nhiều thứ nơi những nhà thơ Tây Phương thuộc mọi trường phái, khuynh hướng kể cả những nhà thơ mà vì những duyên do nào đó khác nhau tôi đã chẳng thâm nhập được. Tôi không đặc biệt yêu mến một nhà thơ nào nhất định bởi lẽ ở một giai đoạn của đời tôi, tôi lại phát hiện, yêu mến một hay những nhà thơ nào đó. Có rất nhiều nhà thơ tôi đã trở lại nhiều lần và mỗi lần trở lại, tôi đều khám phá thêm những điều mới lạ ở nơi họ và cả ở nơi tôi. Tôi nghĩ một tác giả lớn là một tác giả mà người đọc sau bao nhiêu biến thiên của đời mình vẫn bị réo gọi phải trở lại và sẽ chẳng bao giờ múc cạn được tác giả đó. Một tác giả lớn bao giờ cũng vô hạn. Nói chung tôi đã chịu nhiều ảnh hưởng của thi ca Tây Phương. Nhưng ảnh hưởng như thế nào, đến mức nào thì quả tình tôi chẳng thể nhận biết thấu đáo được. Có lẽ tôi nên mượn câu hỏi này của anh mà đặt lại với anh, nhờ anh giải đáp giúp. Cùng lắm tôi cũng chỉ có thể nói là kinh nghiệm thi ca Tây Phương phần nào đã củng cố cho tôi niềm tin trong nỗ lực tăng cường khả năng chuyển vận của thi ca, cái khả năng mà tôi cảm thấy là còn bị hạn chế rất nhiều nơi thi ca Việt Nam nói riêng và Đông Phương nói chung

NMT: Anh có đọc Đường Thi và Tống Thi không? ảnh hưởng của hai thời kỳ thi ca này đối với anh như thế nào?

TTY: Có một thời gian khá dài, tôi đã mày mò tự học chữ Hán để đọc thơ Trung Hoa. Chẳng những tôi ngưỡng mộ một số đông đảo những thi sĩ đời Đường cùng một số ít hơn những thi sĩ đời Tống, Tô Đông Pha, Vương An Thạch, Lục Du, Tần Khí Tật,… mà còn ngưỡng mộ cả những thi sĩ vô danh của Kinh Thi và xây xẩm kinh hoàng trước Khuất Nguyên. Tôi cũng có lúc yêu thích Ái Thanh, có lẽ là khuôn mặt lớn gần như duy nhất của thi ca Trung Hoa trong thế kỷ này, một nền thi ca dường như càng lúc càng khan hiếm tài năng vì tính chất tiểu xảo đè nén cầm hãm lẩn quẩn muôn đời của nó. Nhìn toàn cảnh, thi ca Trung Hoa là một thế gới rất ư diệu kỳ và cũng rất ư cách biệt. Từ những thời kỳ xa xôi, thi ca Trung Hoa tự nó đã hoàn thiện chung quyết những biên cương nghiêm nặt của nó để rồi không làm sao vượt thoát được chính nó nữa. Phải, sau những thời kỳ hoàn thiện cực kỳ rạng rỡ đó rồi, thi ca Trung Hoa hoàn toàn chẳng có được một thời kỳ hưng phấn kế tiếp nào nữa. Riêng đối với tôi, bất kỳ ở giai đoạn nào của tôi, bao giờ thi ca Trung Hoa cũng vừa quen thuộc vừa lạ lẫm và tuy tôi đã trở lại gần như thường xuyên với nó nhưng không lần nào ở lại lâu dài được với nó. Tất nhiên qua cái gia sản thi ca Việt Nam mà tôi đã thọ lãnh từ lúc còn nằm nôi, ảnh hưởng của thi ca Trung Hoa đối với tôi chắc chắn là không nhỏ. Tuy nhiên, tôi ước lượng, hay đúng hơn là tôi mong mỏi, rằng những ảnh hưởng đó đối với tôi cuối cùng cũng tương tự như những ảnh huổng nào đó của nó đối với Saint John Perse và Ezra Pound chẳng hạn.

NMT: Chiến tranh đã hiện diện trong đời sống cá nhân và thi ca của anh như thế nào? Trước năm 1975 anh là một người lính và là sĩ quan Tâm Lý Chiến. Vậy anh có tin tưởng nào về một chiến thắng không? Hay chỉ là một thái độ hoài nghi như trong thơ anh đã bàng bạc có?

TTY: Chiến tranh đã tiêu thụ gần như cả cuộc đời tôi. Cho đến những nông nỗi tù rạc, lưu vong sau này hẳn nhiên cũng là do chiến tranh mà ra. Trong gần 12 năm của tuổi trẻ, tôi đã làm một người lính, một người lính động viên nhưng không hẳn là bất đắc dĩ. Bởi khi chấp nhận vào lính, tôi chỉ tự nhủ một điều là tôi phải chia sẻ số phận của dân tộc tôi và tôi mong mỏi rằng lịch sử sẽ sang trang khi tôi vừa đi mòn một hay hai đôi giày trận. Tôi nghĩ một cách tự nhiên rằng không có lý do nào chính đáng biện minh được cho một cá nhân tìm cách thoát thân lấy một mình khỏi cái đại họa đang trùm phủ xuống tập thể mà mình trục thuộc. Nhất là khi cá nhân đó lại là người cầm bút. Do đó rất nhiều khi tôi đã tự nguyện lao mình đi giữa chiến tranh chỉ vì tôi muốn nghe thấy trên làn da và tâm khảm của mình niềm rát phỏng của đám cháy quê hương. Thật tình ngay trong cả thời kỳ đó, tôi cũng chẳng tin tưởng gì vào một chiến thắng, tôi chỉ dám hoài vọng vào một trì hoãn một sursis khả hữu nào đó cho miền Nam trong khi chờ đợi một giải pháp chính trị toàn bộ. Nhưng tâm trạng đó cũng đã không hề ngăn trở tôi thường xuyên mong mỏi như Andre1 Malraux từng mong mỏi khi tham gia vào cuộc chiến tranh chống Đức Quốc Xã: Cầu cho chiến thắng sẽ đến với những ai tham gia chiến tranh mà không hề yêu thích nó. Tôi có làm vài bài thơ về chiến tranh và những bài thơ đó thật sự chẳng nói được bao nhiêu so với những điều tôi đã thấy và muốn nói

NMT: Khi bị đối phương cầm tù, tâm trạng thực của anh ra sao? Có giống như trong những bài thơ mà sau này anh đã viết ra không?

TTY: Tôi nghĩ lại là đại để trong tù và tâm trạng trong thơ của tôi không khác nhau. Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 khi đã vào tù rồi, tôi luôn luôn tự nhắc nhở mỗi một điều là hãy coi mình như đã chết và đây chính là phần posthumor life của mình Đời ta sáng mượn ánh tàn dư/ đến từ một hành tinh đã tắt nghỉ… Tất cả mọi nỗ lực nhiều khi vượt sức bình sinh của mình trong thế giới đày đọa đó là phải làm thế nào gìn vàng giữ ngọc, đương đầu với mọi kỹ thuật thâm độc nhằm hủy diệt nhân cách như là cái phần duy nhất còn lại của những người bại trận. Kẻ có liêm sỉ không vỗ ngực mình là người anh hùng trong một hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy mà chỉ có thể hài lòng là mình đã chẳng gục mặt trước bạo quyền để phải nhục nhã về sau với bạn hữu.

NMT: Anh đã sống một thời gian khá dài ở trong nước sau 1975. Vậy anh có thể nào nói và mô tả xã hội mà anh phải sống với và những nỗi niềm ray rứt đã có trong thời gian ấy?

TTY: Nói ngắn gọn, đó không phải là một xã hội dành cho con người. Ray rứt bức xúc ghê gớm nhất là sống trong xã hội đó, liệu mình còn là con người cho đến lúc nào đây…

NMT: Nhìn lại nửa thế kỷ vừa qua, anh có nghĩ chiến tuyến Quốc Cộng vẫn còn giữa những người Việt Nam? Hay nghĩ rằng đó là chuyện quá khứ và bây giờ là hiện tại và tương lai?

TTY: Trong thâm tâm chúng ta, những con người Việt Nam, thật sự chúng ta có chút nào hài lòng về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua không? Nếu không thì tại sao chúng ta cứ phải duy trì và duy trì cho đến bao giờ cái điều mà chính chúng ta không hài lòng đó. Nghĩ như vậy không có nghĩa là chúng ta nhắm mắt làm ngơ cho bất kỳ thế lực tối tăm ngu muội nào muốn làm gì thì làm trên đất ước chúng ta. Từ hai mươi năm qua, những người Cộng sản đã toàn thắng nhưng chính sự toàn thắng đó đã hàm chứa cái mầm móng đương nhiên của sự thất bại hiện giờ và vĩnh viễn của họ. Điều tiên quyết hết sức đơn giản là chúng ta phải tách ra khỏi, trong cái nhìn của chúng ta một bên là dân tộc Việt Nam dù ở miền Bắc hay ở miền Nam, dù ở trong nước hay ngoài hải ngoại, một dân tộc từ lâu mòn mỏi kêu cầu được xót thương nhau, vỗ về nhau, tha thứ nhau, với một bên là tập đoàn Cộng sản thống trị ngăn trở. Từ đó, có thể chúng ta sẽ tìm ra được cái cách thức hữu hiệu nhất, nhẹ nhàng nhất nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ Cộng sản. Tôi đặt một hy vọng lớn lao vào những tiếng nói văn hóa.

NMT: Anh có tham vọng diễn tả nỗi niềm chung mang của thế hệ chúng ta qua những bài thơ anh viết? Như Đỗ Phủ vẽ lại một xã hội và thời thế tan nát ngày xưa?

TTY: Có. Một cách chung chung đó là tham vọng đương nhiên của bất kỳ ai cầm bút. Đỗ Phủ là nhà thơ mà tôi thường tưởng nghĩ tới.

NMT: Anh có mơ ước sẽ chen chân trên văn đàn thế giới quốc tế để nói lên nỗi niềm của con người Việt Nam không?

TTY: Hiển nhiên là có. Điều bao giờ tôi cũng muốn làm là cố gắng, qua tác phẩm của mình, biểu hiện được tâm hồn dân tộc Việt Nam, biểu hiện đến tối đa mà tôi có thể biểu hiện được. Thường tôi tự dầy vò với câu hỏi là tại sao mãi chúng ta vẫn chưa có được những tác phẩm đậm đà bề thế nói lên được những gì mà dân tộc ta phải gánh chịu cũng như những gì mà nhờ đó, dân tộc ta đã trường tồn và còn trường tồn. Bởi lẽ đứng trên bình diện văn học nghệ thuật mà xét thì một thời kỳ đại họa của một dân tộc bao giờ cũng tiên đoán một thời kỳ được mùa văn học nghệ thuật của dân tộc đó. Nên chẳng lúc nào trong lòng tôi tắt đi niềm mong ước ngày đêm đó. Và nếu như tôi chỉ còn được một niềm tin tưởng nào thì đó phải là niềm tin tưởng vào dân tộc Việt Nam.

NMT: Có người chê bai và đánh giá thấp những thi sĩ mang chính đời sống mình ra mà giải bày tâm sự. Theo anh, sự phê phán này có chính xác không?

TTY: Ai mà chê bai kỳ vậy? Cái cao thấp của một tác phẩm không ở cái đề tài được xử dụng mà là ở cái cách thức diễn đạt cùng những tình ý được diễn đạt chung quanh hay đằng sau cái đề tài đó. Hơn nữa, nghệ thuật xuất phát từ cái riêng lẻ. Nói đến nghệ thuật tức là nói đến cái chủ quan. Tại sao cứ phải áp đặt một cách nghiệt ngã như vậy những thể loại đề tài?

NMT: Trong thơ anh có tình yêu không?

TTY: Anh thấy có không?

NMT: Khuôn dáng người nữ khá mờ nhạt trong thơ anh. Tại sao vậy?

TTY: Tôi không rõ là tại sao. Có thể là trong những bài thơ mà tôi đã làm, tôi không chủ vào việc mô tả khuôn dáng người nữ.

NMT: Khi làm một bài thơ anh có chọn lựa thể loại lục bát, bảy chữ, tám chữ hay thơ tự do không? Hay tùy hứng không chủ đích trước?

TTY: Thuờng tôi không có chủ đích trước. Sự chọn lựa của tôi về thể thơ chủ yếu được quy định bởi tính chất của những tình ý mà tôi muốn diễn đạt.

NMT: Anh có nhận xét nào về văn học trong nước, văn học ngoài nước? Có thể có sự so sánh nào không?

TTY: Nhìn toàn cảnh, từ mấy năm nay, văn học trong nước có phần nào đổi khác; ít ra không còn bị khuôn bó trong một số những đề tài nào đó được ấn định sau này người đọc còn muốn đọc qua. Cảm tưởng chung của tôi là phần lớn những tác giả trong nước dường như có vẻ gì đó vội vội vàng vàng của những người không muốn bị trễ muộn hơn nữa cho một chuyến xe, đồng thời cũng có điều gì đó còn ấp úng, không được mạnh dạn, thoải mái cho lắm đối với chính mình. Vài ba khuôn mặt nổi lên trong những ánh đèn chính trị chiếu từ nhiều phía hơn là do chính sức sáng tự có của tài năng văn chương. Còn văn học hải ngoại thì dường như cũng có chung cái sắc mặt mất ngủ dã dượi bần thần của nỗi hồi niệm câm hãm. Tôi có cảm tưởng những tác giả hải ngoại chưa quyết định xong cho mình về một chuyến xe cần phải chọn. Số lượng phong phú sách báo văn học xuất bản tự nhiều tụ điểm văn hóa lưu vong cho thấy một chen chúc nở rộ của rất nhiều tác giả cũ có, mới có nhưng thẳng thắn mà nói, chưa có tài năng nào hay tác phẩm nào có đủ từ lực khiến cho người đọc còn đang trông chờ phải tìm kiếm đến. Giữa hai trạng thái văn học trong nước và hải ngoại, tôi nghĩ không cần và cũng không thể có sự so sánh.

NMT: Anh nghĩ thế nào về gioa lưu văn hóa giữa trong nước và hải ngoại.? Vào thời điểm bây giờ? Và trong tương lai?

TTY: Lý ra ta không cần phải đặt ra vấn đề giao lưu văn hóa bởi lẽ chuyện văn hóa giao lưu nhau vốn là chuyện đương nhiên phải như vậy. Ngăn sông cấm chợ văn hóa là một việc làm bỉ ổi của những quyền lực sợ hãi dù rằng nó có nhân danh một thứ gì cho là cao quý đến mấy đi nữa. Ờ, tại sao người Việt Nam trong nước lại không được đọc tác phẩm của những tác giả Việt Nam ở hải ngoại?

NMT: Những dự trù văn chương của anh?

TTY: Viết, viết, viết và viết…

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn: Báo Việt Luận Úc Châu – http://vietluan.com.au/to-thuy-yen-chan-dung-muon-doi-thi-si/

Đọc Lại Thơ Tuệ Sĩ. Nguyễn Mộng Giác


Nguyễn Mộng Giác

Hòa thượng Thích Tuệ Sĩ

Cuối năm 1988, khi tin hai vị tu sĩ Phật giáo Trí Siêu (Lê Mạnh Thát) và Tuệ Sỹ bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam kêu án tử hình truyền ra hải ngoại, nhiều người mới tò mò tìm đọc những gì hai vị này đã viết. Họ tìm thấy những bài khảo cứu văn sử học của Lê Mạnh Thát, và những tùy bút đầy chất thơ phiêu bồng của Tuệ Sỹ.

Rất nhiều người đã ngạc nhiên. Dường như không có gì gần gũi giữa những bài khảo cứu khô khan, những bài thơ “viễn mộng” với những hoạt động chính trị nhằm lật đổ một chế độ chuyên chế, chưa nói tới những hoạt động nguy hiểm đến độ chính quyền phải lập tòa án đặc biệt và kêu án tử hình.

Hồi đó, báo chí đã cho đăng tải một số thơ cũ và mới của Tuệ Sỹ.

Bài “Tôi Vẫn Đợi” dưới đây là bài Tuệ Sỹ mới làm sau này, có lẽ lúc đang bị giam chờ ngày ra tòa:

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái bình dương
Người ở lại với bàn tay bạo Chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Thú thật đọc xong bài thơ này, cảm tưởng ban đầu của tôi là hơi hụt hẫng, thất vọng.

Thơ của một người tử tù đây ư? Không nói ra, nhưng lâu nay tôi vẫn giữ một định kiến hoặc một ước lệ về thể loại thơ tù.

Ước lệ về khung cảnh thơ:
song sắt, vách ngục, máu tra tấn, thân còm cõi…

Ước lệ về không khí thơ:
u uất, phẫn nộ, khinh mạn, oán hờn…

Định kiến về nhân cách người thơ:
cao ngạo, bất khuất, quắc mắt mà nhìn kẻ đưa mình ra pháp trường, uy vũ kềm kẹp không làm cho run sợ.

Và định kiến về dự phóng cho tương lai:
ngục tù không ngăn được diễn tiến tất yếu của lịch sử, thân tù đơn độc nhỏ nhoi dù bị hủy diệt cũng không ngăn được những con người bất khuất khác noi gương tiếp nối…

Thơ người tử tù phải là một sứ điệp rõ ràng làm cương lĩnh cho hành động. Đem bao nhiêu cái khuôn thước có sẵn trên đây mà so với bài thơ Tuệ Sỹ, tôi bị hụt hẫng hoang mang là phải!

Tôi đã dựa vào những khuôn thước trí tuệ thông tục mà đọc bài thơ, và cố tìm hiểu sứ điệp ẩn giấu sau mười sáu câu thơ tám chữ.

Trước hết là khuôn thước thời gian. Nếu căn cứ vào tiêu chuẩn này, bài thơ được phân làm hai phần: phần dự phóng tương lai của ba đoạn thơ đầu, bắt đầu bằng các chữ Tôi vẫn đợi: phần trở lại thực tại tù tội ở bốn câu cuối bắt đầu bằng ba chữ Rồi trước mắt.

Nếu chia bài thơ ra hai phần như vậy, thì ý nghĩa của bài thơ tù đượm chất bi quan, như con hổ bị giam trong cũi sắt nhớ tiếc và mơ tưởng núi rừng thung lũng mênh mông của những ngày tự do.

Ba đoạn thơ đầu là những dấu hỏi dành cho tương lai, mở ra những khả thể để đến đoạn cuối là một dấu than đột ngột tàn nhẫn, như một giọt lệ rỏ lên mọi hy vọng, chấm dứt mọi khả thể.

Một số bài thơ của Cao Bá Quát (cũng là một tử tù) được làm theo dạng này, gần gũi nhất là bài Quá Dục Thúy Sơn (Qua núi Dục Thúy) dưới đây:

Thiên địa hữu tư sơn
Vạn cổ hữu tư tự
Phong cảnh dĩ kỳ tuyệt
Nhi ngã diệc lai thử
Ngã dục đăng cao sầm
Hạo ca ký vân thủy
Hữu ước nải vi tư
Phàm sự đại đô nhĩ

Trời đất có núi ấy .
Muôn thuở có chùa này
Phong cảnh đã kỳ tuyệt
Lại thêm ta đến đây
Ta muốn lên đỉnh núi
Hát vang gửi nước mây
Ao ước mà không được
Việc đời thường như vầy.

(Ngô Lập Chi dịch)

Tuệ Sỹ từ ô cửa ngục gửi ra cho nhân gian những tiếng thở dài hay sao?

Tôi đã kiểm chứng cách hiểu ban đầu của mình bằng cách đọc lại lần nữa toàn bài thơ, và bớt chú tâm đến những mốc thời gian mở đầu các tiểu đoạn.

Tôi không tìm thấy những tiếng thở dài. Không có cả những lời than van. Thoang thoảng đâu đó, khi rõ rệt, khi mơ hồ, tôi có cảm tưởng đang nghe một tiếng võng đưa, hoặc những lời mẹ ru con dìu dặt, mơn trớn, vỗ về. Có cái gì rộng rinh không thể gói trọn bằng ngôn ngữ hoặc ý niệm cụ thể.

Tôi bắt đầu ngờ vực cách phân định thời gian rành mạch ban đầu, và thử tìm đọc bài Tôi Vẫn Đợi theo một cách khác.

Chẳng hạn thử tìm hiểu ý nghĩa của màu sắc và âm thanh.

Nếu như vậy, mỗi đoạn thơ bốn câu tự nó đã mang đủ một sứ điệp trọn vẹn, không còn cần đến cả bài.

Xin đọc lại đoạn thơ đầu:

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng.

Đúng là một tập hợp của những thi ảnh phức tạp (đôi khi mâu thuẫn nhau) với những nối kết lỏng lẻo, mờ nhạt, nhưng vẫn lập thành một khối thống nhất nhờ liên hệ văn phạm và vần điệu hợp nhất một cách bình thường.
Câu thứ nhất nói đến màu xanh của đêm, câu thứ hai giải thích thêm một ẩn ngữ (màu xanh trong tiếng khóc ven rừng).

Ẩn ngữ này tưởng lại được giải thích trong câu thứ ba (màu xanh trong tiếng khóc, trong bóng tối hận thù) nhưng không, đó chỉ là một liên hệ giả. Những thi ảnh của hai câu thơ đầu được lặp lại ở hai câu sau (khắc khoải ố tha thiết, tiếng khóc ố rưng rưng), thêm vào đó, chữ trong khiến chúng ta có cảm tưởng như hai câu sau là phụ ý chuyển của hai câu trước.

Thật sự không phải vậy. Hai câu sau bay bổng lên một vũ trụ khác, cất cánh khỏi những hệ lụy nhân gian, những ti tiện của tranh chấp và thù hận, để đạt đến một cõi sáng láng hơn, cao cả hơn, mà biểu trưng là một ánh sao, một nụ cười. Bốn câu thơ di chuyển theo chiều cao, từ bậc thấp của những tranh chấp ti tiện đớn đau đến bậc cao của thức tỉnh giác ngộ.

Đoạn thơ thứ nhì:

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Được thừa hưởng tinh chất của đoạn thứ nhất nên sự chuyển hóa đơn giản hơn, không quá rối rắm mâu thuẫn hoặc quằn quại vươn mình lên như ý thơ của đoạn thứ nhất.

Thơ đoạn này di chuyển theo chiều rộng và cũng bắt đầu bằng một màu sắc:
màu đêm đen.

Bố trí văn phạm của đoạn thơ thứ nhì cũng giống y như đoạn thơ trước, câu sau luôn giữ nhiệm vụ giải thích một chữ quan trọng của câu trước (đêm đen trong câu 5 và màu đen của câu 6, ánh mắt của câu 6 và nhìn hun hút của câu 7, dài thêm lịch sử của câu 7 và dài con sông của câu.

Từ màu đêm đen, Tuệ Sỹ không gợi nhớ màu đêm u tối của sinh lão bệnh tử mà gợi ra màu đen của một ánh mắt. Phải rồi, tất cả cuộc đời bắt đầu bằng một cái nhìn, một lối nhìn. Có những cái nhìn chìm đắm chết đuối vào sắc tướng, có những cái nhìn thấu suốt được chân lý của cuộc sinh hóa. Thơ di chuyển theo chiều rộng của thời gian, thơ nhìn ra được diễn tiến của cuộc đời tự ngàn xưa, nhìn ra được cốt tủy mọi biến động của lịch sử cũng như thấu hiểu do đâu có cảnh núi xương sông máu trên quê hương thân yêu. Ánh mắt người tử tù không dừng lại ở những phẫn nộ oán hờn tầm thường và ước vọng dung tục. Ánh mắt đó vượt ra ngoài, vượt lên trên mọi thứ song sắt, vách ngục, kể cả song sắt vách ngục của mê chấp.

Sức chuyển biến của thơ, sức thăng hoa của ý đến cuối Câu thơ thứ tám như vậy là đã đến đỉnh chót của nó, đáng lý sau câu thứ tám, Tuệ Sỹ có thể dừng lại, không cần phải viết thêm gì nữa. Trong ngục tối, nhà thơ sống với màu xanh xao của chút ánh sáng lọt qua cửa ngục và màu đen mênh mông, từ đó làm chất liệu khởi thủy của sáng tạo và suy tưởng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng người tử tù còn cảm nhận được sự sống của thế giới bằng những tiếng động bên ngoài. Hai đoạn thơ sau của Tuệ Sỹ là một hành trình khác, khởi đầu không bằng màu sắc mà bằng âm thanh.

Xin đọc lại cả hai đoạn cuối:

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái bình dương
Người ở lại với bàn tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Tôi vừa viết xuống hai chữ khởi đầu. Thật ra, viết như vậy chưa đúng lắm, vì Tuệ Sỹ không làm một bài thơ khác mà chỉ chuyển hóa lối sử dụng hình ảnh cho thơ. Do đó, bố cục văn phạm của đoạn thơ thứ ba vẫn giữ y như lối bố cục của hai đoạn thơ trước, còn ý thơ thì cũng tiếp nhận sức thăng hoa của phần trên để nói lên một ước vọng mà mới đọc qua, chúng ta tưởng là nghịch lý. Ước vọng được quên, quên hết.

Quên những tiếng sóng vỗ của cảnh đời bão nổi ngoài kia, những đợt sóng tàn bạo khiến nhà thơ phải xắn tay áo nâu lên thử giăng một cánh buồm, từ đó đưa đến cảnh tù tội gông cùm hiện tại. Quên thân phận bèo bọt của hàng triệu người phải đành đoạn liều chết vượt biển tìm tự do. Quên cả những cọng lau gầy oằn vai chịu đựng những bạo tàn từ tay bạo chúa của hơn bảy mươi triệu người ở lại.

Tất cả những điều tưởng là nghịch lý ấy được Tuệ Sỹ giải thích ở đoạn thơ cuối bằng một hình ảnh, bằng một âm thanh hết sức biểu trưng : tiếng gõ nhẹ của ngón tay lên tường rêu lạnh của ngục tối.

Nó biểu trưng vì đó là một thứ âm thanh lặng lẽ, hoàn toàn trái ngược với tiếng sóng vỗ cuồng nộ ồn ào bên kia vách ngục.

Ngón tay ốm o yếu ớt của một tử tù thân bé bỏng lại gõ vào một vách ngục rêu bám, thì chắc chắn không tạo ra được tiếng dội nào lớn lao. Cho những bạn tù cùng khu biệt giam. Cho những tên cai ngục. Huống gì là cho những người không ở vào cảnh tù tội.

Đó không phải là loại âm thanh dành cho thính giác, mà là âm thanh dành cho tri giác, tuệ giác. Âm thanh đó, tiếng gõ nhịp đó không phải do sức mạnh của bắp thịt, của bạo động nhằm xô ngã tường rêu phá đổ nhà ngục, nhưng lại có một sức mạnh tinh thần lớn lao để đưa con người vượt lên trên mọi thứ ngục tù: sức mạnh của giác ngộ, của tỉnh thức.

Hai câu thơ cuối khép lại một thế giới huyễn mộng mê chấp, và mở ra một thế giới mới:

Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Vẫn còn một câu hỏi lớn:

Ý thức được cái sương mai, cái bóng chớp của nhân sinh đã đủ để ngăn bàn tay bạo chúa và làm cho dòng sông quê cha thôi tràn máu lệ hay chưa?

Đây là câu hỏi nhức nhối thường xuyên ám ảnh Phật tử mỗi lần họ phải đối diện những đàn áp bất công của xã hội họ đang sống. Mỗi lần như vậy, Phật tử vẫn thường nhắc tới khuôn mẫu sống hài hòa giữa đạo và đời của các tu sĩ Phật giáo thời Lý, Trần, dù biết cách tổ chức xã hội thời xa xưa đó khác với bây giờ.

Bài thơ của Tuệ Sỹ nhắc tôi nhớ tới câu hỏi nhức nhối này, vì Tuệ Sỹ là một tu sĩ Phật giáo “đi vào cuộc đời”, một Phật tử hành động. Chắc chắn Tuệ Sỹ đã ưu tư đi tìm lời đáp trước khi quyết định hành động chống lại chế độ Cộng sản. Và suốt thời gian bị giam cầm, Tuệ Sỹ còn có nhiều thì giờ và điều kiện hơn để suy nghĩ về câu trả lời. Vậy mà sứ điệp Tuệ Sỹ gửi ra ngoài cửa ngục dường như thiếu hẳn chất thực tế. Bài thơ không hề là một lời tố cáo đầy phẫn nộ, lại không phải là một bài hịch. Không phải là một tiếng sấm.

Ngược lại, như tôi đã so sánh ở trên, đây là những lời ru hiền hòa, lời vỗ về của mẹ, lời thì thầm của lá, của hoa, của cây cỏ.

Không phải là mũi nhọn công phá vào vách khám mà là một làn hương tỏa lên trên, len qua kẽ ngục và tỏa rộng lên trời cao.
Vì sao vậy?

Tôi cho rằng ngay từ cốt tủy của Phật pháp, khả năng hoàn thiện con người và cuộc sống không nằm ở sức mạnh của tổ chức mà nằm ở sức giác ngộ của cá nhân. Đạo Phật không chấp nhận Cái Duy Nhất, Cái Tuyệt Đối, Cái Vĩnh Cửu, Cái Sáng Lòa soi đường cho hằng hà sa số đời sống trước sau. Ai cũng có thể trở thành Phật.

Mỗi người tự đốt đuốc lên và chọn con đường sáng láng cho mình, khỏi cần cẩn thận rón rén đi theo dấu chân của người đi trước. Mỗi người chịu trách nhiệm lấy chính số phận mình.

Mỗi người không cần phải khép nép sợ hãi trước bất cứ Thần lực thiêng liêng nào, vì nếu tỉnh thức, mỗi người chính là Thần lực thiêng liêng ấy.

Người còn vướng mắc vào những giới hạn, những chấn song của mê chấp thì thường núp vào đám đông, mong che chở của tập thể. Nhưng lúc đã thấy được chân tướng của những sương mai, bóng chớp, thì mỗi người đều có một thần lực riêng. Điều đó giải thích được tại sao vào những giai đoạn bi đát nhất của lịch sử dân tộc, Phật giáo không suy yếu theo mà ngược lại, trở thành chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ góp phần đưa dân tộc qua mọi gian truân thử thách.

Nguyễn Mộng Giác

Những Bài Thơ Khắc Trên Mộ Bia. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên qua nét vẽ Đinh Cường

Cuối năm, tảo mộ. Thời tiết lạnh lạnh của những cơn gió thổi qua nhắc đến những ý tưởng nào tưởng đã xa xôi nhưng có lúc lại gần gũi. Câu thơ “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ” như nhắc lại một thời văn chương đã qua, những chân dung văn học đã vắng bóng. Buổi trưa, vào thăm từng ngôi mộ cũa những nhà văn nhà thơ vừa đi khuất, đọc những vần thơ ghi khắc trên bia mộ, chột thấy lòng bâng khuâng. Hình ảnh còn đây, ngôn ngữ còn đây. Nhưng người thì đã đi vào cõi vô thủy vô chung. Cái còn để lại, là những tác phẩm để đời, là những câu thơ vẫn cứ hoài trong trí nhớ của những người yêu mến.

Nghĩa trang cuối đường Bolsa là nơi an nghỉ của nhiều tác giả của văn học Việt Nam. Phía đông con đường thì ồn ào nhịp sống trong khi phía tây con đường thì tĩnh mịch lặng lẽ. Hình như cái tương phản giữa cõi của người sống và cõi của người chết chỉ một dặm đường như gọi lại bao nhiêu sắc thái của người tị nạn. Vòm cây xanh ngát của nghĩa trang, màu xanh thẳm của cỏ, màu xanh lam của nắng và màu xanh nhớ ngút ngàn của gió, làm sự phân chia của sống và chết chỉ trong thế giới mơ hồ…

Đến mộ thi sĩ Nguyên Sa, dường như nghe thấy thầm thầm một câu hỏi dù câu thơ ấy đã được ghi khắc trên ngôi mộ một thi sĩ lớn:

Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau?
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?

Vâng, biết đâu! Phải biết đâu chuyện ba trăm năm sau khi tấc lòng thi sĩ vẫn còn mãi mãi qua thăm thẳm thời gian những kiếp người?

Lúc còn sinh tiền, thi sĩ cũng đã có lúc làm thơ để nghĩ về chuyến ra đi của mình. Bài thơ “Lúc Chết”:

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất
sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng
mười ngón tay sờ saong giữa hư không
đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh
ở trên ấy mây mùa thu có lạnh
anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời
em có ngồi mà nghe gió thu phai
và em có thắp hương bằng mắt sáng
lúc ra đi hai chân anh đằng trước
mắt đi sau còn vướng vất cuộc đời
hai mươi năm, buồn ở đấy, trên vai
thân thể nặng đóng đinh bằng tội lỗi
đôi mắt ấy đột nhiên buồn không nói
đột nhiên buồn chaỵ đến đứng trên mi
anh chợt nghe mưa gió ở trên kia
thân thể lạnh thu mình trong gỗ mục
anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc
anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya
trên tay dài giun dế rủ nhau đi
anh lặng yên một mình nghe tóc ướt
nằm ở đây hai bàn tay thấm mệt
ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài
những bài thơ anh đã viết trên môi
lửa trái đất sẽ nung thành ảo ảnh”

Có một đoạn thơ, đã được khắc trên bia mộ một nhà thơ, thi sĩ Long Ân:

Nay ta trở lại dòng sông cũ
Rượu đã nhạt trong chai nhẹ không
Ta thấy sông im nằm say ngủ
Còn chính ta là sông mênh mông.

Sông là người. Sông là ta. Ta với người, người với ta chia sẻ cùng nhau những nỗi niềm của một thời đại lịch sử đầy biến động. Dòng sông cũ chảy về biển lớn như bước trở lại cội nguồn. Câu thơ, như một kiếp người trôi đi từ lưu lạc, của một tiền kiếp hoang sơ trong số phận Việt Nam nào…

Một bài thơ của người viết phiếm “Bỉnh Chúc Dạ Du” trên các báo Việt Nam Hải Ngoại và Thời Luận, của “nắng xế cõi chiều”, của “chưa khuất vết xe”, của “bên lề vẫy tay”, của “hồn vướng sợi mây”, của “bia mộ khắc tên” để nhớ về một người bạn đã “xa bóng trăng khơi” giữa mênh mông cuộc đời:
Một người “bỉnh chúc dạ du”

Gửi vào thiên cổ mịt mù nhân gian
Trăm năm đã vội dặm ngàn
Thoảng cười nụ tưởng hoa vàng còn mơ
Tháng giêng, bước lạ bến bờ
Con sông chảy thuở tình cờ gọi ai
Người rằng “ Thiên hà ngôn tai”
Nhắc riêng đành một cõi ngoài quanh hiu
Tháng giêng, nắng xế cõi chiều
Bạc phai tóc lộng chân xiêu nẻo về
Người đi, chưa khuất vết xe
Ngã tư ngỡ đứng bên lề vẫy tay
Nhớ ai, hồn vướng sợi mây
Vọng đôi mắt của tháng ngày chưa quên
Vẫy tay, bia mộ khắc tên
Chắt giọt rượu giữa vô biên một thời.

Người xa, còn bóng trăng khơi
Còn câu thơ giữa một đời mênh mông…
(Nguyễn Mạnh Trinh)


Nhà thơ Mai Thảo qua nét vẽ Đinh Cường.

Thuở sinh thời, nhà văn Mai Thảo viết Tháng Giêng Cỏ Non. Từ ngày 10 tháng giêng năm 1998, là ngày ông từ trần, tới nay là mười lăm năm. Cỏ non bây giờ đã phủ đầy mộ chí…

Có một người làm thơ, đã khắc trên bia mộ của mình bài thơ tứ tuyệt:

Thế giới có triệu điều không hiểu
càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

Bài thơ nhan đề “Không hiểu”. Mở ra với cái hữu hạn của con người và đóng lại với cái vô hạn của cuộc sống. Có mấy ai thông kim bác cổ hiểu được tất cả sự việc? Dù, cả khi cuối đời, khi đã trải đủ ngọt bùi đắng cay của kiếp nhân sinh? Chỉ, khi đã nằm trong ba tấc đất, nhìn ngôi sao sáng để đọc được cái lẽ huyền vi của đất trời. Chữ “chẳng sao” trong câu thơ, ý lạnh lùng, nghĩa thản nhiên, có một chút mặc kệ, biểu lộ cái tâm cảm an nhiên của một người sẽ phải đáp chuyến đi vào vô tận. Cuộc hành trình vô tận ấy, có khi xa xăm như ngôi tinh đẩu kia nhưng lại đôi lúc gũi gần như cái chết dần trước mặt. Thơ như trải ra nỗi niềm của một người thấy được cái hư vô của đời người. Thơ không đóng lại mà mở ra cõi tâm linh của một người có đôi mắt luôn vọng về một cõi xa, của tâm thức muôn đời vời vợi..

Khi còn sống, nhà văn Mai Thảo cũng đã nghĩ đến ngày nằm xuống ba tấc đất cuả mình. Bài thơ “Nghe Đất” trong buổi trưa hôm nay chợt đến để thấy cái tâm của một người thoáng rộng ở giữa cõi tử sinh. Người nằm trong đất còn thoảng nghe tiếng “đời sau thở dài”:

Nằm đây dưới bóng cây xanh
Nhìn qua lá biếc lại xanh sắc trời
Mát thơm đất trải bên người
Nghe trong ấm lạnh da người cũng thơm
Đất lên hương thấm qua hồn
Nghe vui thoảng đến với buồn thoảng di
Giữa giờ trưa nắng uy nghi
Bóng vây vây nhẹ hàng mi cúi đầu
Người nằm nghe đất bao lâu
Tai nương nhẹ tiếng đời sau thở dài
Lung linh sóng nắng đan cài
Cõi Trong điệp điệp Cõi Ngoài mang mang
Chợt đâu rụng tiếng phai tàn
Rơi ngưng nửa ráng nắng chiều trôi qua
Lonh hồn thiếp giữa triều hoa
Bóng hình thôi đã nhạt nhòa quanh thân.

Những câu thơ tiền định ghi khắc trên bia mộ của Nguyễn Tất Nhiên như báo trước một đời tài hoa nhưng chết trẻ:

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
phải đau theo từng hớp rượu tàn
phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định
(vì Thượng Đế từ lâu hiện hữu
cầm trong tay sinh tử của muôn loài
tình ta vừa gánh nặng thấu xương vai
thì em hỡi ngai trời ta đạp xuống)


Nhà thơ Nguyên Sa qua nét vẽ Nguyên Khai.

Những câu thơ ấy cũng như những câu thơ khác được khắc trên bia mộ của các nhà văn Mai Thảo, Nguyên Sa, Long An,… là một chứng tích của thế hệ lưu vong hôm nay để lại cho đời sau. Nhiều người ở xa khi đến thăm little Sài Gòn, đã thường đến nghĩa trang ở cuối đường Bolsa để chiêm ngưỡng những câu thơ đặc biệt ấy…

Có bài thơ viết để tưởng niệm Nguyễn Tất Nhiên sau một ngày thi sĩ qua đời. Buổi trưa hôm nay, khi nhìn di ảnh và đoạn thơ trên mộ, tự nhiên những bài thơ kỷ niệm của riêng tôi thoáng qua trong trí nhớ. “Thà như giọt mưa/vỡ trên tượng đá”. Vỡ tan, vỡ tan…

Ngày hôm qua thi sĩ đã chết
Nắng mùa hạ lửa đốt trong đầu
Mồ hôi đọng long lanh lệ khóc
Mặt thủy mờ kính cuộn nỗi đau
Một mình cơn mộng du không dứt
Xa lộ đông bỗng chẳng còn ai
Mặt nhựa xám đen thẳm ý mực
Vỡ tan tành nghiên bút loay hoay
Ngày hôm qua thơ tình đã hết
“thà giọt mưa trên đá” vỡ tan
cành “trúc đào” nở hoa oan nghiệt
rất yêu em dù nỗi muộn màng
đào mấy tầng tinh tuyền chất quặng
ngôn ngữ ròng cùng tận trái tim
gánh nhân gian đôi vai còn nặng
“Cũng cần cho hạnh phúc” cách riêng
Ngày hôm qua chuyến xe khuất biệt
Hạt bụi nào hành trang đi xa
Này “cô gái Bắc kỳ” mắt biếc
Nước mắt đành giọt nhỏ vỡ òa?
Hát lên đi bản nhạc xưa cũ
Như chiếc lá phơi nền cỏ nâu
Dáng mắt buồn đêm trắng ẩn dụ
Lửa vô minh khói ngút bờ lau
Ngày hôm qua trái đất đứng sững
Chân lao đao thế giới lạ lùng
Tiếng gió bật cuồng điên ngựa chứng
Vài câu thơ đọc giữa muôn trùng.
Sống là chịu vai trò thất ý
Mộng ngàn năm, mơ cũng vạn năm
Đáy tâm cảm loài hoa kỳ dị
Mọc rễ trong da thịt ăn năn
Ngày hôm qua thi sĩ đã chết
Gót chân trần dẫm cõi hư không
Bài thơ tình chẳng có đoạn kết
Ngôn ngữ rơi theo sóng bềnh bồng
Ai đã hỏi thơ bao nhiêu tuổi?
Ba trăm năm, ý nhớ tình quên
Thơ, thiên thu vẫn là tiếng gọi
Dìu dắt ai lạc chốn vô biên!

Nguyễn Mạnh Trinh

Hồ Hữu Tường, Người độc hành trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Nhà văn Hồ Hữu Tường tạ thế ngày 26 tháng 6 năm 1980. Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu trong một bài tưởng niệm đã viết: “… Chánh quyền Cộng Sản đã bắt ông Hồ Hữu Tường vào năm 1977. Sau bao nhiêu năm giam cầm ở Sài Gòn các bạn tù đều cho biết là sức khỏe của ông khá tốt. Lúc nào ông cũng ngậm một lát gừng tươi trong miệng mà theo ông các thức ăn có chất cay nhất là thảo mộc ngoài nhiệt năng hiện được đo lường bằng đơn vị calories có thể còn chứa chấp loại năng lượng về sức sống mà khoa học hiện tại chưa làm được cách thức dò xét. Các bạn tù của ông Tường còn cho biết thêm là mỗi đêm khuya ông thường đánh cờ một mình, tay trái đi cờ đối thủ với tay mặt. Ngoài ra chắc thế nào ông cũng viết trong đầu “tiểu thuyết ngẫm” mà tiếc thay ông đã đem theo ông ngaỳ 26 tháng 6 năm 1980 khi ông từ giã để qua một thế giới khác. Bốn năm sau, cuối mùa đông 1984, tác phẩm cuối cùng của ông “41 năm làm báo, Hồi ký” được xuất bản ở Paris”. (Thực ra, tác giả Trần Ngươn Phiêu nhầm lẫn. Hồi ký “41 năm làm báo” Trí Ðăng xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn).

Một người đã có nhiều kinh nghiệm, biết cách giữ gìn sức khỏe và tinh thần qua bao nhiêu năm tháng ròng rã trong các lao tù thế mà chỉ trong vòng hai tháng bị đưa đi giam ở Hàm Tân lại bị lần lần kiệt sức và chỉ được đưa về để gục chết trước thềm nhà mình là một việc lạ cần được các sử gia nghiên cứu trong tương lai. Tưởng cũng nên ghi lại là đã có một lần xe chở Hồ Hữu Tường chuyển trại đã bị tai nạn (?) dọc đường và ông đã được đưa trở về Sài Gòn chữa trị. Dưới một chế độ nắm toàn quyền sinh sát trong tay với một ngành công an có nhiều kinh nghiệm học hỏi ở Nga Sô và các kỹ thuật tinh xảo âm thầm giết người thì việc thủ tiêu một đối phương đang bị tù không có gì là khó khăn. Nhưng cũng nên hy vọng là bởi những cải tiến không ngừng của nền khoa học hiện đại nhiều âm mưu ám hại tưởng là bí mật rồi cũng có ngày bị phát giác…

Hồ Hữu Tuờng là một nhà văn nhà báo vào hàng tiền bối của văn chương hiện đại Việt Nam. Ông cũng là một chính trị gia khi sang Pháp du học, kết bạn với Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, gia nhập Ðệ Tứ Quốc Tế Cộng sản rồi sau lại tuyên bố từ bỏ lý thuyết Mác vì cho là biện chứng pháp không thực tế và không thích hợp với dân tộc Việt Nam. Hơn thế nữa ông còn là một nhà tư tưởng lớn đề ra nhiều lý thuyết về chính trị, kinh tế, triết học.

Viết về Hồ Hữu Tường, có lẽ một bài không đủ. Bởi có quá nhiều chi tiết về chân dung con người ấy. Nguyên cuộc đời của ông, đã là một đề tài lớn. Những ngày tù tội, từ khám tối của thực dân Pháp, đến khám tử hình của chế độ Ngô Ðình Diệm rồi khám Chí Hòa của Cộng sản và chết trong tù ngục đỏ. Thời gian bị cầm giữ với ông lại là những ngày để suy tư và tâm thức luôn bay bổng vượt qua những rào cản để tới những viễn kiến cho những phương trời rộng mở. Rồi ông là một học giả, một chính trị gia, một nhà văn, và cũng là người theo Cộng sản Ðệ Tứ rồi rời bỏ, đi làm cố vấn cho Bảy Viễn nên bị chế độ Ngô Ðình Diệm kết án tử hình, rồi lập thuyết, tìm một “minh đạo” cho văn hóa Việt Nam. Sang thời kỳ đệ nhị của chính thể VNCH, ông trở thành dân biểu, và viết “Người Mỹ ưu tư”, gửi thư cho John Steinbeck, người đoạt giải Nobel văn chương và hậu thuẫn cho sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Với tôi, tôi đã đọc truyện Hồ Hữu Tường từ khi bắt đầu vào trung học khi tìm thấy sách của ông ở những tiệm cho mướn sách. Tôi đọc truyện kiếm hiệp say mê cũng song song với đọc Hồ Hữu Tường. Tôi đọc bộ sách “Gái Nước Nam làm gì?” với Thu Hương, Chị Tập, cũng như đọc bộ “Ngàn Năm Một thuở” với Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Bỡn Nga, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ. Những nhân vật như thằng mõ Cổ Nhuế, thằng mõ Phù Ninh… đã làm cho tôi hồi đó chỉ thấy được cái nét châm biếm, như một chuyện tiếu lâm mà không để ý đến những điều sâu xa hơn từ cách thế trào lộng. Với một đứa bé hơn mười tuổi, đọc để mà đọc nhưng đã vô tình tạo một tâm thức trong trí óc non nớt của tôi lúc ấy. Tôi đọc Thu Hương, Chị Tập, để biết những người kháng chiến chống Pháp thời đó ra sao và có một chút ngưỡng mộ với những anh thư ấy…

Nhân vật chính của bộ truyện này là hai người phụ nữ tiêu biểu cho hai thành phần trong xã hội cùng tham gia trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Thu Hương thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản sống ở thành thị trong khi chị Tập thuộc thành phần lao động ít học. Thu Hương là nữ sinh viên trường Y Khoa Hà Nội, đảng viên của một đảng cách mạng bí mật, là một cô gái kiên cường có bản lãnh, đã thi hành những công tác nguy hiểm như tổ chức cướp sân khấu để tuyên truyền, ám sát bọn chó săn cũng như viên chức Pháp giửa thành phố… Còn chị Tập là một người thuộc giới cùng đinh, bị cha mẹ bán lấy tiền, trải qua nhiều nỗi khổ đau, bị tù tội, đầy ải sống chung với những người cách mạng và cả những tên đầu trộm đuôi cướp. Khi được tha khỏi trại giam, chị Tập trở thành một đảng viên nồng cốt tham gia những việc như làm thổ phỉ, buôn lậu, tổ chức cướp vũ khí của quân Nhật, xây dựng căn cứ địa để đánh Pháp… Bộ truyện này có nhiều diễn tiến mạnh, tạo được những hình ảnh của những người phụ nữ, không kể lao động hay trí thức, hết mình hy sinh cho đất nước…

Còn ở bộ “Ngàn Năm Một Thuở”, với Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ, Tiểu Phi Lạc Náo Sài Gòn, Diễm Hồng Xuất Giá. Tôi tìm thấy những nét trào phúng từ nhân vật Phi Lạc. Một người đậm nét của xã hội bình dân Việt Nam, dốt nát nhưng lại hay khoe khoang chữ nghĩa rất tự cao tự đại nhưng lại xun xoe nịnh hót những người có quyền thế để thủ lợi, cũng như đầy đủ những cá tính tiểu sảo vặt. Những cá tính thời đại này không phải chỉ có tiêng ở nhân vật Phi Lạc mà còn thấy nhan nhản những con người như thế ở chung quanh trong xã hội. Từ thằng mõ đến ông tiên chỉ, rồi đến các nhà bác học, những vị anh hùng… tất cả từ đời trước đến đời sau, như trong một tấn tuồng bi hài mà ở đó sự hữu lý và vô lý như bàn tay lúc ngược lúc úp, thay đổi dễ dàng như trong một hài kịch có khi bi thảm, có lúc nực cười…

Trong Phi Lạc Sang Tàu, câu chuyện về nguồn cội của nhân vật bắt đầu cho một tấn tuồng ảo hóa. Vai chính là thằng mõ làng Phù Ninh, vô học nhưng đầy khóe lường gạt lại mồm mép giả danh là hậu duệ họ Hồ của tông tộc Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Lại có một tên lừa bịp khác là thằng mõ làng Cổ Nhuế, muốn phá đám tên mõ làng Phù Ninh nên bán đứt cho một vị sư từ Tàu qua tên là sư Hồng Hạc. Ông này là một vị chân tu có sứ mạng là qua Việt Nam tìm đến “thảo lư” tìm kiếm một vị vạn đại quân sư như Khổng Minh đời Tam Quốc xưa để thành một thánh sư đời nay để trong mưu vọng phục quốc phản Thanh phục Minh… Những nhân vật này được xếp đặt trong những cục diện, những tình thế tròng tréo, viết theo kiểu truyện Tàu với những hồi, với những chương nối tiếp nhau. Truyện thâm ý bài xích cái tinh thần vọng ngoại và cái tập tục ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Từ chữ nghĩa, tới tên địa danh, tên nhân vật, đều là những biểu tượng có hai nghĩa, có hàm ý mỉa mai, và ở trong những điều kiện ràng buộc với nhau như trong một bố cục liên hệ. Những câu hỏi liên tiếp nhau. Tại sao sư Hồng Hạc lại đi kiếm thánh sư ở phương Nam? Tại sao lại đến làng Phù Ninh? Tại sao lại liên lạc với mõ làng Cổ Nhuế? Tác giả đã nối các chi tiết với nhau. Sư Hồng Hạc qua Việt Nam vì sấm truyền của Minh Thái Tổ để lại và đến làng Phù Ninh bởi vì làng này là nơi sinh trưởng của công chúa Ngọc Hân thì chắc là phải có hậu duệ của Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Và liên hệ với làng Cổ Nhuế bởi vì làng này nổi tiếng là buôn phân người nhưng đồng thời cũng là làng có nhiều nhân tài và nhiều người đỗ đạt nhất. Những chi tiết ấy trộn lẫn với nhau, rối nùi trong cái mê đồ để khiến người đọc nghĩ đến những trò đành hanh của con tạo, của những bất ngờ, những cái duyên có khi tình cờ có khi là hậu quả của nhửng trò đùa của cuộc đời. Trong đó, cái hóm hỉnh của truyện Trạng Quỳnh, cùng cái chửi đời châm biếm của Ba Giai, Tú Xuất, làm nổi bật lên chủ đích của tác giả. Hầu như mọi giá trị đêu bị đảo lộn, những câu khoác lác, những trò lừa bịp lại có ảnh hưởng rộng lớn, và bao nhiêu người tài giỏi trên đời này nhiều khi lại thua mưu kém trí những tên vô học bới những trò tiểu sảo tầm thường. Những lý thuyết nhiều khi trống rỗng và các danh nhân nhiều khi chỉ là cái bóng mờ nhạt… Ðọc tới đoạn thằng mõ, thuộc giai cấp mạt hạng trong xã hội mà lại luận đàm thuyết lý, nói chuyện tế thế an dân với những Khổng Minh, những Hồ Thích, có phải là một hài kịch được dàn dựng để trong đó gờn gợn những ý tưởng phản kháng xã hội và xét lại tất cả những gì được gọi là khuôn vàng thước ngọc của xã hội…

Lớn lên một chút, tôi đọc “Tương lai văn hóa Việt Nam”, một tác phẩm mà tôi nghĩ là những suy tư khởi đầu của ông để từ văn hóa bước sang những phạm vi khác như chính trị, tôn giáo, xã hội… để thành một người lập thuyết. Hồi nhỏ thì không ảnh hưởng lắm nhưng bây giờ đọc lại, tôi thấy có những suy nghĩ tới bây giờ vẫn còn giá trị. Trước hết, đây là những tâm huyết của một người muốn nói những điều mà biết rằng sẽ có ít âm vọng nếu không nói là tiếng kêu trong sa mạc.

“Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt…”.

Câu văn biền ngẫu, ý hướng tha thiết, tác giả Hồ Hữu Tường còn muốn vạch ra một con đường văn hóa, thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc và Tây phương. Theo ông, “Văn trong nghĩa căn nguyên của nó là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ là hung bạo. Hóa trong nghĩa căn nguyên của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện, xấu xa) hóa ra Người (cao quý, đẹp đẽ)…”

Ông cho rằng mọi ý thức hệ chỉ có tác dụng trong một thời điểm mà thôi trong ý nghĩa tích cực của nó. Nhưng khi không còn thích hợp với cuộc sống thì nếu không bị triệt tiêu đi mà còn tồn tại sẽ thành những chướng ngại vật chống cản lại chiều hướng phát triển và ở trong một ý nghĩa tiêu cực sẽ thành một hiểm họa cho nhân loại. Như vậy, chúng ta phải xây đắp một nền văn hóa dân tộc, luôn luôn thay đổi theo chiều hướng phát triển của cuộc nhân sinh và thoát ra được sự kềm hãm và chi phối của các ý thức hệ lỗi thời. Con đường ấy, không bị chi phối bởi Ðông hay Tây phương, nhưng kết nạp và thu liễm những tinh túy của người để biến thành của mình. Con đường ấy mệnh danh là con đường văn hóa, và nâng cao trình độ và vị thế của con người.

Tác giả còn cho rằng Tây phương chưa có văn hóa mà chỉ có quái hóa. Quái hóa ấy có thể tạo thành ở hình thức văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học… nhưng ở nội dung thì chỉ là những phương tiện để đi chinh phục. “Chính quái hóa này đã biến đổi những tư tưởng đẹp đẽ như tự do, bình đẳng, bác ái, thành phương tiện, thành khí giới để chinh phục. Quái hóa đã xui khoa học chế ra đại bác, chiến xa, tàu chiến, phi cơ, hơi ngạt, vi trùng, bom nguyên tử để giết người, để chinh phục kẻ yếu, để đè nén áp bức chúng ta…”

Và ông kết luận: “Văn hóa làm cho con người trở nên Người. Quái hóa biến văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học thành phương tiện. Bởi nó không theo con đường nhân bản. Còn mượn Ðạo học của Ðông phương ư? Nhưng ở Ðông phương chỉ có thuật tu dưỡng, chớ đã có văn hóa bao giờ?”

Cái độc đáo và cũng là đầu đề tranh cãi khi ông cho rằng cả Ðông lẫn Tây phương không có văn hóa. Ông tạo ra con người có khuynh hướng “mở” biết thay đổi để có một tiến trình nhân bản đến chân thiện mỹ. Văn hóa luôn ở trong trạng thái động, là một thái độ, một phong cách luôn luôn suy tưởng kiếm tìm.

Cuộc đời văn học của Hồ Hữu Tường có nhiều giai đoạn sáng tác khác nhau. Mới đầu, ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản Mác theo khuynh hướng Đệ Tứ và thời gian này ông coi như là những năm tháng ô nhục của thời gian lầm đường lạc lối. Ông không để lại một chút gì dấu vết lưu lại bởi vì ông chối bỏ lối lập luận kiểu duy vật biện chứng. Sau khi từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản, ông bị Pháp bắt giam đầy đi Côn Ðảo lần thứ nhất và ông suy nghĩ đến một hệ thống tư tưởng mới độc lập với các hệ tư tưởng ngoại lai như Pháp, Tàu, Nga, Mỹ… mà ông gọi là chủ nghĩa dân tộc. Rồi tiếp theo là thời kỳ ông nghiên cứu để viết lên những suy tư mới về xã hôi, kinh tế, chính trị, dân tộc. Thời kỳ này ông viết Tương Lai Văn Hóa Việt Nam. Ông có cách nghiên cứu tìm tòi của một học giả và sự luôn luôn khao khát với cái mới đã thúc đẩy ông trong việc thiết lập một hệ tư tưởng riêng biệt của dân tộc.

Sau khi bị chế độ Ngô Ðình Diệm kết án tử hình và đầy đi Côn Ðảo lần thứ ba, ông viết rất nhiều và sau này in lại như Kế Thế, Hồn Bướm Mơ Hoa, Thuốc Trường Sanh, Trầm Tư của Một Tên Tội Tử Hình…

Sau năm 1963, ông tiếp tục sáng tác với những tiểu thuyết như Chuyện con thằn lằn chọn nghiệp, Thằng Thuộc con nhà nông… và Hồi ký 41 năm làm báo.

Có một tác phẩm khá đặc biệt là Người Mỹ Ưu Tư, một cuốn sách được in với ấn bản viết bằng tay của tác giả. Mới đầu được in hàng ngày trên nhật báo Sống và sau có một phong trào xin chữ ký giới thiệu để đề cử vào giải Nobel văn chương. Theo bác sĩ Trần Ngươn Phiêu là người khởi xướng công việc này thì đã có tới hơn mười ngàn chữ ký để đề cử. Ông viết về một đề tài lúc đó tới giờ hơn bốn chục năm mà vẫn còn chất sống động của thời thế. Vấn đề con lai mà về sau này chính quyền Mỹ đã phải giải quyết để có hàng chục ngàn con lai được định cư ở Hoa Kỳ nơi quê nội của họ.

Trong 5 bức thư gửi cho John Steinbeck, giải Nobel văn chương, coi như lời nói đầu của bộ truyện, Hồ Hữu Tường đã viết:

“Ở xứ tôi những nhà văn không tên tuổi thường dùng một cái thuật để tiến thân như sau đây hễ thấy một áng văn chương được nhiều người hoan nghinh thì họ bèn viết nối theo áng văn chương nọ, với đầy đủ những nhân vật của áng nọ, và nếu cần thì có những con, những cháu thêm vào. Thuật ấy gọi là cái thuật viết “hậu”. Trên văn đàn quốc tế tôi không có tên tuổi. Tôi bèn dùng cái thuật viết “hậu” ấy mà tháp tác phẩm của tôi vào tiểu thuyết của Graham Greene, mà gá thân một chút xíu gì của những vấn đề của tôi, nhưng vẫn để cho độc giả nào đã đọc The Quiet American cũng bị cám dỗ bởi cái nhan đề “hậu” The Unquiet American.

Tuy nhiên nhân vật chánh của sáng tác của tôi phải là Pyle, phải là Phượng (hay phải là con của họ nếu cần), phải là tất cả những nhân vật đã sống trong tiểu thuyết của Graham Greene. Có gì hay bằng điển hình một nhân vật Amerasien bằng một đứa con chung của Pyle và Phượng? Ðứa con ấy, tôi đặt tên cho là Loan, một đứa con gái năm ấy được mười lăm tuổi!”

Với cách nói và diễn tả của Hồ Hữu Tường, lòng vòng, thường xử dụng ngôn ngữ gián tiếp, những câu chuyện kể trở thành những chuyện ngụ ngôn nhiều ẩn ý. Ông mượn những chuyện đời xưa tới đời nay, từ chuyện dương gian đến chuyện âm phủ, để thành những nối tiếp của những suy tư nhiều khi không liên hệ với nhau nhưng lại là những gợi ý để khơi mở sang những ẩn dụ, những hình tượng khác…

Ông viết cho Steinbeck:

“Người phương Tây của ông ít khi bận rộn về những suy tư, tôi không dám nói là siêu hình mà tôi xin nói là “ngoại hình” như vậy. Người Việt chúng tôi, mấy nghìn năm trước ở vào vùng ảnh hưởng của Ấn Ðộ trước khi bị ảnh hưởng của Trung Hoa từ miền Bắc tràn xuống. Nên chi tâm tư của chúng tôi ngày nay không ít thì nhiều phảng phất những nét ngoại hình như vậy. Mà những nét ấy coi chẳng ra sao lại cứ ám ảnh chúng tôi mãi…

Pyle chỉ là một oan hồn phiêu bạt, làm sao mà sống được một đoạn lịch sử vô cùng sôi động của đất nước chúng tôi. Ðể rồi chứng kiến sự nổi loạn của Phượng và Loan và để bưng chén mật tương thân mà uống khi chứng kiến Loan xuống tóc mà làm một ni cô, một ni cô mang một bào thai Amerasian mà chính nàng cũng là một Ameriasian nữa.

Thế giới ngày nay là một thế giới “bốn biển một nhà, năm châu một chợ”. Sự lai chủng tộc là một sự hiển nhiên, không sao tránh được. Cũng như rất hiển nhiên là chúng ta đang sống trong thời nguyên tử.

Tinh lực nguyên tử mà ta cho nổ thì nó tàn sát biết bao nhiêu người? Tinh lực nguyên tử mà ta áp dụng để phụng sự hòa bình thì kết quả tốt đẹp là bao? Sự lai chủng tộc mà ta cho nổ thì nó gây ra bao nhiêu rắc rối cho nhân loại? Sự lai chủng tộc đã cho nổ rồi mà ta lại thêm nuôi các đương sự bằng những “chùm nho uất hận” thì ta có thể đo lường nổi sự tai hại của nó chăng?

Tôi nói rằng Pyle là người Hoa Kỳ ưu tư. Mà chính tôi cũng là người ư tư. Và tôi muốn rằng sự ưu tư của tôi được truyền nhiễm đến ông, đến tất cả những người Hoa Kỳ là “bên nội”của đám Amerisian này. Vấn đề Amerisain là một vấn đề quốc tế của thời “bốn biển một nhà, năm châu một chợ”. Tôi cảm thấy rằng đem những “chùm nho uất hận” mà giải quyết vấn đề này chỉ đem thêm hận thù mà chồng chất lên bất công. Vì lẽ đó mà tôi kính tặng loạt thơ thay lời tựa này cho tác giả của “Chùm Nho Uất Hận””.

Tiểu thuyết “Người Mỹ Ưu Tư” quả là “hậu” The Quiet American, tiểu thuyết của Graham Greene, cũng với những nhân vật ấy. Và, Fowler, nhân vật ký giả người Anh lại đóng vai người kể truyện. Thêm một nhân vật, là Loan, đứa con lai của Pyle (người Mỹ bị giết chết trong The Quiet American) và Phượng. Câu chuyện bắt đầu như một truyện ma quái. Fowler gặp hồn ma của Vigot, một viên chức mật thám Pháp lai để được dẫn đến một cái cốc hoang vắng gặp một hồn ma thông thái đã đậu bằng tiến sĩ văn chương ở Pháp với một luận án về Pascal. Và sau cuộc gặp gỡ này Fowler ngủ li bì một giấc đúng 15 ngày mới tỉnh dậy. Dù là cơn mê gặp gỡ những người âm nhưng anh vẫn còn giữ được hộp trà có bốn hình tiên nữ với 4 câu thơ chữ Hán bắt đầu bằng bốn tiết: Thanh minh, Tiểu thử, Hàn lộ, Tiểu hàn. Sự việc quái dị ấy và những câu chuyện luận đàm thế sự, triết lý cuộc sống đã gieo vào đầu óc chai sạn của Fowler những ý nghĩ siêu hình của phương Ðông. Còn Vigot, thì bị chết đuối ở Vũng Tàu, chỉ 5 phút sau khi từ trần đã dẫn Fowler đến cái cốc hoang vắng như đã kể ở trên. Một sự kiện quái dị khác là khi Vigot sống lại thì bị linh hồn Pyle nhập vào. Thành ra Pyle là Vigot và ngược lại Vigot là Pyle, một mà hai, hai mà một. Pyle và Loan, thành một cặp vợ chồng và sống ở Việt Nam, trôi nổi theo thời sự thăng trầm đầy biến cố ở đây. Pyle thực ra là cha ruột của Loan, một mối tình loạn luân kỳ lạ vì Phượng dù nhận lời làm vợ Fowler nhưng lại có con với Pyle. Và, tác gỉa kết cuộc: Loan cắt tóc coi như đi tu nhưng trong bụng lại mang giọt máu của Pyle.

Tiểu thuyết của Hồ Hữu Tường rất đặc biệt kiểu … Hồ Hữu Tường. Luôn luôn trong cốt truyện hoặc trong những câu đối thoại ông cố tình mang vào những kiến thức để tạo ra những gợi ý khác nhiều khi không ăn nhập gì đến diễn tiến câu chuyện. Nếu dùng luận lý thông thường thì tiểu thuyết của ông có nhiều điều vô lý không tưởng, nhưng, đi sâu hơn một chút, thấy được sự độc đáo và cái cảm giác khi đọc là sẽ nhiều bỡ ngỡ với lối kết cấu bừa bộn những suy tưởng và bị dẫn đi trên những con đường mà trong vô lý thấy sự hữu lý..

Trong bài phỏng vấn của Nguyễn Ngu Ý, Hồ Hữu Tường đã nhận xét về tác phẩm của mình như sau:

“Tác phẩm mà tôi mong được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh… và xuất bản ở Âu Mỹ để làm bức thư cảm ơn chung cho những ai ở ngoại quốc và ở trong nước đã ký tên để xin ân xá cho tôi. Là bộ “Thuốc Trường Sanh”. Tôi viết nó ở tù Côn Ðảo, tháng tư và tháng năm. Ðó là một quyển khảo cứu về triết học trình bày dưới hình thức tiểu thuyết có tính thời đại. Nó khảo cứu về thuyết nhân quả, về hành động, về đức tin. Các nhà văn Âu Châu tả sự cô đơn của cá nhân, trong Thuốc Trường Sanh tôi tả sự cô đơn của tập thể, sự cô đơn của nhóm Tuyết Lê, trong thế giới hai phe đang chống đối nhau kịch liệt bằng máu lửa, mà không theo một bên nào được, nên đuổi theo mộng “lấp cái hố của đấu tranh, của hận thù”. Và nhân vật chánh của tiểu thuyết tượng trưng này, tôi dành cho loài cọp, mà tôi thấy hơn loài người, cọp giết người vì bản tính tự nhiên còn người giết người lắm khi vì một cớ không đâu…”

Hồ hữu Tường cũng tự nhận xét về tác phẩm “Thằng Thuộc con nhà nông”:

“Tôi viết tự truyện “Thằng Thuộc con nhà nông” là để tôi tìm hiểu lại tôi, cái tôi thật ẩn náu tận đáy lòng, ở trong tiềm thức sau này tô lên một lớp sơn dày. Mà “Thằng Thuộc con nhà nông” là quyển đầu của bộ “Một Kinh Nghiệm Sống”. Quyển kế sẽ là “Căm Hờn”, tả nỗi lòng của tôi tự kỷ ý thức được thân phận của mình, thân phận của một con nhà nông nghèo bị đè đầu, bị hiếp đáp, bóc lột, phải phục thù, tôi chụp lấy cái khí giới Mác Lê. Quyển ba là “Mê Ly Ðồ” người tín đồ cuồng tín của chủ nghĩa Mác Lê là tôi đã hành động, rồi băn khoăn để tỉnh ngộ ra sao, đó là đại ý quyển này…”

Và, có khi như tự trách mình khi làm việc ôm đồm và thường xuyên bỏ dở nhiều công việc:

“Nhiều anh em – trong đó có anh- trách nhẹ tôi hay bỏ mứa trong công việc viết… Bỏ dở dang những công trình đã khởi sự. Như dịch Tam Quốc Chí, thì dịch có quyển đầu. Viết Lịch Sử Văn Chương Việt Nam thì chỉ cho ra quyển một. Có biết đâu, viết, viết văn cũng như viết báo, đối với tôi là việc nhỏ, việc phụ.

-Thế việc lớn, việc chánh của anh là…

– Là Sống. Khi mà cái tiểu tiết là viết, là gì gì khác mà không hợp với đại thể là tôi gạt qua bên…”

Thực ra khó mà định hình được chân dung Hồ Hữu Tường. Ông là một chính trị gia thất bại, ở tù nhiều lần, và coi thời gian ở tù như thời gian để chiêm nghiệm để suy tư. Và cuối cùng ông chấm dứt cuộc sống ở tù ngục Cộng Sản. Ðọc những trang sách của ông, cái phong cách độc đáo, không giống bất cứ một tác giả nào khác và đôi khi cũng khác với cả những điều ông viết từ trước. Tôi không được đọc hết các tác phẩm của ông, nhưng, tôi vẫn có cảm giác rằng ông là một người luôn đi kiếm tìm một con đường để thực sự Sống, không phải cho riêng ông mà cho cả dân tộc Việt Nam nữa.

Nguyễn Mạnh Trinh.

Tuệ Sĩ – Người Gầy Trên Quê Hương. Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu.


HT Thích Nguyên Siêu

(Chân dung nhà thơ Hòa Thượng Thích Tuệ Sĩ)

Tuệ Sĩ – Người gầy trên quê hương điêu tàn. Tuệ Sĩ – Người ẩn mình dưới lòng hố thẳm hun hút, Tuệ Sĩ – Trên đỉnh Trường Sơn chót vót sương mù, mây trắng. Những hình dung từ tiêu biểu cho một con người như còn lãng vãng đâu đó, náu mình trong khói đá. Ẩn hiện trên khói sóng. Nhấp nhô trên những lượng nước bạc đầu của đại dương. Hiển hiện trên quê hương điêu tàn. Núp sâu trong lòng người khốn khó. Ngày cũng như đêm luôn có ở những nơi đó. Có như một linh hồn mục nát, đọa đày giữa muôn triệu linh hồn đau thương, gầy guộc. Luôn kêu gào thấu trời xanh, nhưng những kẻ quyền uy tham vọng ở nơi đó vẫn bịt tai, nhắm mắt như loài khỉ nhảy nhót trên cành cây vô lương tri. Như bầy thú hoang dẫm nát núi rừng nơi chúng ở.

Một vì sao sáng ở phương đông để dẫn lối cho các vì sao lạc hướng. Cả bầu trời đen ngòm, thăm thẳm u minh, bao trùm muôn vật, gục đầu trong tuyệt vọng.

“Ôi nỗi buồn từ ngày ta lạc bước,
Cố quên mình là thân phận thần tiên”
(Giấc Mơ Trường Sơn 57- An Tiêm 2002)

Đúng! Tuệ Sĩ người đã lạc bước, nên bốn mươi năm qua đã phải sống với cỏ cây, sương mù, vạt nắng… với rừng xanh, cốc lặng thâm u, để nuôi dưỡng một thân người gầy còm như Khô Mộc Thiền Sư, trên đỉnh Trường Sơn gió hú. Lạc bước để ru đời mình qua cơn mộng kinh hoàng của quê hương. Qua nỗi đọa đày, lầm than của dân tộc. Vì lạc bước vào một thảm cảnh điêu tàn đã làm xốc dậy nỗi đau chung của loài người. Nỗi oán hờn của cỏ cây, sỏi đá, của kiếp người cuốn theo bụi mờ của thời gian tăm tối.

Mang thân phận người mà chia sẻ những cảm nghĩ, suy tư chẳng ai thấu hiểu, nhìn nhận, vì đã bị lạc điệu. Con người ở nơi đó đã choáng ngợp ánh đèn tham vọng. Con đường tham nhũng để dẫn tới cảnh bán nước cầu vinh. Nhóm người vong thân, lạc hướng của thời đại điêu tàn hoang dã của thời tiền sử. Vì lạc bước nên không cùng chung ý thức sống. Ý thức của ý thức. Người thật người. Người của lương tri. Người của người. Người của tất cả, cỏ dại mây ngàn, biển xanh, núi thẳm… Vì lạc bước nên ở đó cảm thấy mình cô độc giữa xã hội người mà chẳng ai cảm thông, chia sẻ, nỗi niềm, ước vọng để đồng hành trên con đường phụng sự tha nhân, làm lợi đạo ích đời. Khi mình còn hiện hữu. Có tâm lý nào của loài người khi có được viên ngọc quý trong tay mà quăng nó vào xó nhà, vứt nó vào xọt rác. Tâm lý này có thể có ở những kẻ sống xa thế giới người, không biết cái quý của viên ngọc. Hay đúng hơn như loài vượn, loài khỉ. Cho nó ăn chuối, cầm lấy ăn liền, nhưng đưa nó viên ngọc, nó nhìn qua nhìn lại rồi ném đi chẳng hối tiếc. Vượn khỉ chẳng suy tư nghĩ ngợi gì giá trị hiếm có của viên ngọc, nên dưới mắt của vượn khỉ viên ngọc không quý bằng trái chuối.

Trong mọi thời gian, dù rằng xa xưa ở quá khứ, loài người mới xây dựng một đời sống xã hội thấp, lao tác bằng tay chân, ít sử dụng việc làm bằng đầu óc. Nhưng những ai có được cái đầu, cho những dòng tư tưởng tuôn chảy, cho tri thức hiện hữu qua sự sinh hoạt thường nhật, thì người có cái đầu vẫn hơn, vẫn được trọng dụng để khai phá, phát triển những việc cần khai phá, cần phát triển. Có được như vậy, thì loài người mới tiến bộ thăng hoa đời sống thánh thiện, nâng cao trình độ tri thức xã hội. Bằng không xã hội người đó sẽ không bắt kịp với những nền văn minh tiến bộ khác.

Đã lỡ lạc bước rồi, thôi thì hãy cố quên mình là thân phận thần tiên đi, mà phải vào rừng ăn trái cây, uống nước suối, cùng lũ khỉ vượn chuyền cành cho qua ngày tháng, theo dòng thời gian:

“Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn,
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm 2002)

Có người ngược xuôi để tìm cầu, tranh giành quyền uy tước cả, dù có đi bằng cái đầu xuống dưới đất, họ vẫn làm để được những tham vọng bất lương, những tiền bạc bất nghĩa, quyền cao lộc cả dù phải bán nước cho ngoại bang, những mong tiền bạc đầy túi, vàng ngọc đầy nhà, để lót, để nạm bàn ghế ngồi chơi hưởng thụ trên xương máu của dân đen. Nhưng nơi đây có người “ngược xuôi” mà chỉ có để “nhớ nửa cung đàn” chưa được trọn “cung đàn”. Đơn giản quá! Tri túc quá! Biết đủ như là một thân người có chiều cao 1.59 m và cân nặng 39.5 kg. Có mấy ai được cái ngược xuôi đó? Hay chỉ có kẻ đứng ngoài vòng danh lợi, ngoài cái thị phi, nhân ngã, tầm thường của thế nhân.

Nửa cung đàn ấy như là tiếng ngân dài của cung đàn rồi chợt dứt. Như dòng lịch sử của quê hương dân tộc rớt tỏm xuống hố sâu, tối tăm, mịt mờ, tuyệt vọng qua chặng đường lịch sử hôm nay.

Đời sống như là quán trọ, con người đến rồi đi. Sanh rồi tử, muôn trùng, thăm thẳm, vô biên, vô tận. Con người đắm chìm trong cái quán trọ đó mà sinh ra đủ thứ chuyện để làm ngăn nẻo về của những bước chân phương trời viễn mộng. Vậy thì, bị ngăn nẻo về, không về được nên quay lại để sống với mình. Đóng cửa phòng, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nhịn đói, tuyệt thực. Ngày chỉ uống nước chanh pha đường. Có lúc xỉu trên bàn vì đói. Còn lở dở mấy câu thơ:

“Ta cưỡi kiến đi tìm tiên động
Cõi trường sinh đàn bướm dật dờ
Cóc và nhái lang thang tìm sống
Trong hang sâu con rắn nằm mơ”.
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 68, 2002)

Bị ngăn nẻo về nên cưỡi kiến đi tìm tiên động, để tu tiên thành tiên ông. Sống nơi cõi trường sinh bất tử đó, mà vui với bướm ong, cóc nhái, rắn rít trong hang sâu nằm mơ phương trời mộng. Sống thực không được thì sống mộng mơ. Sống cho chính mình. Sống cho qua một giấc chiêm bao tưởng chừng như đã:

“Đêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ xoi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 67, 2002)

Có bà mẹ nào xoi tim con thành lỗ để móc bên trong hạt ngọc sáng ngời? Chỉ có bà mẹ điên thời đại mới làm như vậy. Bà mẹ điên ấy chỉ biết vàng và ngọc mà không có tình yêu thiêng liêng sinh con và thương con. Bà mẹ điên thời đại đã đẩy đàn con mình lang thang bươi rác rưởi để sinh nhai. Tìm sống trên những vỉa hè cùng khốn. Thất học, mù chữ, đói nghèo… Còn bà mẹ thì ngất ngưỡng hưởng thụ ngọc ngà, vòng bạc từ máu của người dân, mà qua đêm chiêm bao “ta thấy máu”. Máu nhuộm đỏ con người. Máu tuôn chảy như sông. Máu lan tràn cả nước. Rồi có những đêm ngồi bên cửa sổ, ngắm ngọn nến tàn qua khung cửa sổ để sống mộng, sống mơ y như sống thực.

“Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 12, 2002)

Đi đâu bây giờ, vì ai đó đã ngăn nẻo về thì có lối đâu mà về. Có đường đâu mà đi và có quán trọ nào để tới. Nẻo về không. Quán trọ cũng không. Chỉ chôn mình bên chồng sách cũ với bốn vách tường rong rêu mà gõ nhịp. Vì sống mộng nên tránh xa cõi người, vào hang động núi rừng để cuốc đất sinh nhai. Trồng bí bầu, khoai lang, mướp đắng, rau quả, tía tô, xà lách… để đêm đêm nằm nghe tiếng dế nỉ non, côn trùng hát ca bài ca dân tộc.

“Người đi đâu bóng hình mòn mỏi
Nẻo tới lui còn dấu nhạt mờ
Đường lịch sử
Bốn nghìn năm dợn sóng
Để người đi không hẹn bến bờ.”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 85, 2002)

Sống với người bị ngăn nẻo về. Sống thực đã thành mộng và sống mộng để thấy hiện thực, một sự sống vì đời mà tranh đua. Tranh đua, giành giật cả ngày lẫn đêm trên mặt đất hay dưới lòng đất lắng nghe từ sự tan vỡ hãi hùng, giết chết sự sống của sức người lao tác.

“Ta biết mi bọ rùa
Gặm nhắm tàn dãy bí
Ta vì đời ghanh đua
Khổ nhọc mòn tâm trí.

Ta biết mi là dế
Cắn đứt chân lá non
Ta vì đời nô lệ
Nên phong kín nỗi hờn

Ta biết mi là giun
Chui dưới lòng đất thẳm
Ta vì đời thiệt hơn
Đêm nằm mơ tóc trắng”
(Giấc Mơ Trường Sơn – An Tiêm, tr. 31, 2002)

Nổi trôi theo năm tháng, thân hình gầy còm như cọng lau, giữa rừng núi Bảo Lộc, trong đêm trường u tịch, có lúc chẳng thèm thở nữa, nằm giữa núi rừng, dân làng mang về tiếp hơi để thở. Đây là mộng hay thực, là đời sống văn minh thế giới loài người hay đời sống của loài dã thú nơi chốn núi sâu, rừng hiểm?

Có ai một lần nghĩ tới “Tiên ông” để thấy viên ngọc quý của giống nòi nước non, mà thắp nén hương lòng khấn nguyện, giữ gìn nghìn năm sau không hề phai. Núi rừng Bảo Lộc như cúi đầu thầm lặng để lắng nghe “Tiên ông” cưỡi kiến đi cùng khắp nẻo vô sinh. Lão tử cưỡi trâu thành bất tử. “Tiên ông” cưỡi kiến để cùng sinh tử với chúng sinh.

San Diego, Mạnh Đông, 05 tháng 01 năm 2017
Nguyên Siêu

Một Cảnh Tượng Kỳ Ảo. Tuỳ bút Mai Thảo


Mai Thảo

Mai Thảo

Anh Đinh Hùng, tôi nhớ năm ngoái cũng vào tháng này, để đánh dấu ngày giỗ đầu cái chết của anh, nhà xuất bản Văn ở số 38 đường Phạm Ngũ Lão Saigon, (chủ nhân là anh Nguyễn Đình Vượng, người đã mở đầu cho nhà xuất bản Văn bằng Người Đao Phủ Thành Đại La của anh) cho in lại Mê Hồn Ca. Tái bản mang ý nghĩa truy điệu thi sỹ này, đáng lẽ phải có, bằng văn tôi, một bài vào tập. Mê Hồn Ca được phát hành sau đó. Nhà Văn đành xin lỗi những người đọc thơ anh, bởi bài vào tập đã báo trước, cuối cùng không có. Tôi không viết được nó. Mặc dầu đã định. Đã muốn. Hết lòng. Không viết nổi vài hàng dẫn nhập cho một tập thơ đến nay tôi vẫn thành thực xem như một trong những đỉnh cao của thi ca tiền chiến, không nói được lời nào về một người, người đó là một nhà thơ sinh thời là bạn, là điều đến nay vẫn còn làm tôi hết sức ngạc nhiên. Không thực hiện được một bài viết tưởng đã có hàng trăm ý nghĩ trong đầu, tôi tìm hiểu nguyên nhân, chỉ có thể đi đến kết luận này: với tôi, Mê Hồn Ca vẫn đích thực là cái thế giới mê hồn kỳ lạ của riêng anh. Và nếu hiểu thơ của một người, cũng phải như hiểu một sự vật, một đời sống, nghĩa là thấu triệt được những quy luật cấu thành biện chứng của sự vật và đời sống, thì cái chân tướng của Mê Hồn Ca lung thoát, mơ hồ, tôi không nhìn thấy được cái từ đâu mà thành, bởi đâu mà có. Văn học sử Việt Nam sau này tất yếu sẽ phải làm thay tôi việc đó. Tôi nói tất yếu. Cõi thơ, tiếng thơ, một ngôn ngữ thơ mang tên Đinh Hùng, đích thực vẫn còn hay sẽ mất với những liên hệ chặt chẽ với thơ của cả một thời kỳ, một thời đại. Thơ anh là thơ của một người. Còn là thơ của một thời.

Thơ Việt Nam bây giờ chuyển lưu sang một trời thơ khác, chứng minh điều đó. Nhận cho thơ Đinh Hùng như một động lực đưa tới một hóa thân, một tiến trình mới của thơ, thì cũng cứ vẫn phải công nhận thêm một điều này: thơ anh nếu có khép đóng lại một giòng thơ thì cũng chính từ khép đóng này mà thơ đã mở đi những giòng thơ khác.

Anh Đinh Hùng, tôi kể lại anh nghe chuyện nhỏ này. Nghĩ nó, tuy cũng trà dư tửu hậu mà thôi, có chiếu sáng cho tôi phần nào về một vài bình diện thi sỹ. Một buổi chiều tuần trước, tôi cùng Thạch Chương và Thanh Tâm Tuyền đến chơi một người bạn. Ở đây, chúng tôi tình cờ gặp lại nhà thơ Bùi Giáng. Với tôi, cõi thơ Bùi Giáng là một trong những cõi thơ bát ngát nhất hiện nay của thơ ta. Thơ Bùi Giáng là một vực thẳm không cùng. Một cánh rừng dầy đặc.

Nó òa tới, làm nhạt nhòa Xuân Diệu. Nó vụt qua làm mất biến Xuân Xanh. Dẫm đạp lên mọi thể loại ngôn ngữ tĩnh tại, sáng hồng, đôn hậu, toàn vẹn, đã xong, thơ Bùi Giáng là cái tang trống kinh dị treo căng trên hai đầu cọc nhị trùng: từ một băng hoại tận cùng tới một thăng hoa chói lọi. Thơ nguy nga như thế mà con người bệnh quá. Mỏi nhọc, già yếu, Bùi Giáng ngồi đó, bóng chiều lãng đãng, như hình như bóng, mang trên hình hài âm u cái hiện tượng dị thường của một cõi ngôn ngữ khi bình lặng thì thiêm thiếp, hư không, khi dấy động là dấy động bàng hoàng một trời giông bão. Chừng như tôi điên, một năm vài tháng, Bùi Giáng nói. Thế nhưng khổ nhất cho Bùi Giáng lại là lúc tỉnh. Tỉnh thức, ra khỏi những quằn quại nghẹn ngào, những nhức nhối đốt lửa, Bùi Giáng mới biết là có thật nhiều điều, dầu biết phải nói, chẳng nên nói ra bằng giấy trắng mực đen. Nhưng rồi những cơn lốc kinh hoàng hệt như những cơn say sượng sần mê ngất chụp bắt lấy. Và khi đó thi sỹ lại nói hết. Nói hết những niềm quái dị, những nỗi hoang vu bất chợt sáng ngời, bằng một Ánh Sáng Lạ, trong tâm linh và tiềm thức. Tôi nhớ chiều hôm đó, Thanh Tâm Tuyền, yêu mến Bùi Giáng lắm, đã giải thích cái trạng thái bất bình thường nơi Bùi Giáng như một hòa nhập quá thể say đắm, quá thể trầm trọng với ngôn ngữ. Rằng đó là tại vì anh coi trọng ngôn ngữ quá. Rằng anh muốn phá tan ngôn ngữ còn muốn phá tan chính Cuốn Sách là cái biểu tượng cái thể tích thường hằng được chấp nhận cho ngôn ngữ, cho thơ.

Anh Đinh Hùng, cái “ca” đặc biệt của Bùi Giáng trở lại trong trí tưởng tôi lúc này tôi nói chuyện với anh về những cõi ngôn ngữ dị thường ấy là những cõi ngôn ngữ thi sỹ. Nếu Breton định nghĩa cái đẹp như một bàng hoàng, bàng hoàng đó đã sấm sét, đã địa chần bao nhiêu năm dưới trời siêu thực, và nếu ngôn ngữ ở Bùi Giáng là những lượng chất nổ thả dần bằng những ngón tay thơ rất đỗi dịu dàng vào cái tôi nhìn thấy rõ nhất ở Bùi Giáng là một cõi tâm linh mê ngất – chúng ta đã thấy nhưng không thể tan tành và toàn vẹn bằng, ở cõi thơ trái điên và mật đắng của Hàn Mặc Tử – tôi muốn nhìn thơ anh, như nỗ lực một đời của ước muốn đến với cái phía bên kia đã mất của thực tại. Đó là cái nỗ lực cài đính trang trọng lên một nền trời những vì sao đã rụng. Sự vật tất yếu nằm trong vận động của một sinh thành và một hủy diệt. Quy luật ấy, đích thực anh đã không chịu chấp nhận nó. Đã muốn phản chống lại bằng thơ. “Khi miếu đường kia phá đổ rồi. Ta đi về những hướng sao rơi.” Trời thơ anh nằm gọn trong mười bốn chữ đó. Giữa một thời đại ào ạt vươn tới những biển vàng chưa gặp. bây giờ người ta đã nghĩ đến những ngọn cỏ đường cho năm 2000, vẫn có những nhà bác học nghiêm túc phủi đi những bụi phấn trên một đồ vật chôn vùi cũ bằng đất nung. Cho sáng rỡ trở lại cái nghệ thuật tạo tác của một hơi lửa tiền sử. Anh là một trong những nhà bác học đó. Vần đề tưởng rằng lớn lao và ngột ngạt nhất của thi ca là ngôn ngữ không đặt ra với Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử tiên thiên tuy cũng là một nỗ lực biểu hiệu tới tận cùng một định mệnh ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ với Đinh Hùng đôn hậu, ngoan ngoãn. Nó chỉ là một phương tiện. Cái phương tiện dẫn đi. Cái phương tiện chở về.

Vào thơ anh trước hết tôi nhìn thấy một vũ trụ một thế giới không tiếng động, không ánh sáng. Nó là một cánh rừng chết. Im phắc. Rất đen và rất đêm. Rồi lửa thơ ngang đầu, thi sỹ đi tới. Thi sỹ vào. Đánh thức những bằn bặt. Lay tỉnh những thiêm thiếp. Gõ cửa những chôn vùi. Như một ngọn đèn pha trên một con đường tối, ánh sáng lướt. Những sự vật hiện. Nhặt những “sao rơi” anh đang cài đính từng chùm một, lên một nền trời đã nghìn triệu năm tắt nghỉ mọi cuộc đời tinh tú. Người ta bảo thơ Đinh Hùng là một thất bại trong ý hướng tạo dựng và làm sống lại một thế giới đã vĩnh viễn tịch mịch. Người ta nói Đinh Hùng không làm sao đón được đời sống vào vũ trụ mình giản đơn là bởi vì cái vũ trụ đó không có. Tôi muốn nghĩ khác.

Tôi muốn nghĩ khác. Tri thức và trầm tư cho một bản thể rực rỡ như Đinh Hùng, ít nhất cũng là đã mở được những cửa ngõ hòa nhập dư thừa vào hằng cữu và tạo vật, hiểu được thế nào là chân thân kia của một hạt cát sông Hằng, tri thức đó nhất định không đến nỗi rơi ngã vào ảo tưởng mù lòa về những cái đã chết, đã mất, phải làm cho sống lại. Bởi không thể. Cài đính trang trọng những nhành sao rụng lên một nền trời kia, ở Đinh Hùng chỉ là đốt lửa đêm cho cuộc đời nhìn thấy cái mặt sấp kia của một đồng tiền. Cái mặt không reo không nhẩy. Cái phía đã im phắc. Đã bất động. Đã thành tượng.

Thành tựu của thơ Đinh Hùng ở nơi anh được những vì sao rụng trên mặt cỏ hằng cữu. Và không, khi nào “miếu đường” không phá đổ được miếu đường còn đứng đó, cản ngăn đường ngưng về một hướng sao rơi. Thơ ở một phía khác thơ Đinh Hùng, thơ ngợi ca đời sống, thơ đầm ấm hơi thở, thơ tươi tắn máu hồng, thơ trái tim trên tay, thơ như một thâm nhập tràn đầy và dữ dội của ngôn ngữ, thơ trên mỗi tảng đá, mỗi ngọn cỏ, để lại cái dấu khắc đau đáu tươi mầu của hiện hữu và tri thức người, khác ở nơi nó không vấp phải một miếu đường nào. Sao cũng rơi trên chúng ta đấy chứ. Nhưng sao rơi gần. Với Đinh Hùng, đã cách một miếu đường thực tại, sao còn nghìn dặm.

Thả hòn đá xuống một lòng giếng thẳm, vang vọng mất biến. Ném ngôn ngữ đi quá xa tới những vùng trời biệt tích ngoài mình, ngôn ngữ biệt tích luôn. Mê Hồn Ca tuyệt nhiên không đắm say cái ý tưởng mù lòa làm sống lại những đồ vất đất nung được tạo tác ngày nào bằng hơi lửa tiền sử. Chỉ Đinh Hùng muốn dẫn chúng ta tới đó. Tới những cõi chôn vùi. Tới những trời hủy hoại. Tới một lối đi xưa. Tới một cửa đền cũ. Cái khác là chúng ta đã tới và đã trở về. Riêng Đinh Hùng ở lại.

Anh Đinh Hùng, bây giờ thì với anh miếu đường kia đã đích thực phá đổ. Tôi nhìn thấy trời thơ anh sáng dần. Thi sỹ đã tới. Trên một nền trời kia, từ một bàn tay ấy, những vì sao đang được khoan hòa và trang trọng đính cài lên. Cảnh tượng này đối với tôi và với thơ, đã dư thừa một cảnh tượng kỳ ảo.

Mai Thảo

(Khởi Hành số 17)

Bùi Giáng Một Bài Thơ Lạc Vận. Tuỳ bút Nguyễn Đình Toàn


Nguyễn Đình Toàn

(Chân dung nhà thơ Bùi Giáng)

Bùi Giáng đã được nói đến nhiều. Mỗi người đọc ông nói đến ông theo một cách. Người ta nói đến thơ ông, nói đến tư tưởng của ông, nói đến cách thế ông sống, tùy theo cách nhìn của mình.

Người ta nhìn thấy ở ông, rõ hơn, kiến thức của ông, tư tưởng của ông, như một hội tụ lớn của tư tưởng Đông Tây.

Người ta cũng nói đến ông như một người điên.

Nếu ai có dịp nhìn thấy ông mang trên mình đủ các thứ: nồi, niêu, xoong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi, vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không gì quá đáng.

Nhưng cũng người điên ấy, vai mang một tấm biển, đi rong qua các phố, trên tấm biển có những dòng chữ viết tay:

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhảy tưng lên trời

Thì nhiều người lại cho rằng đó là một người điên giả vờ. Một sự việc quan trọng như thế, một người Việt “đi dép lốp mà bay vào vũ trụ” như thế, mà nói tới một cách giễu cợt vậy sao?

Ông bị bắt giam.

Nhưng rồi sau đó người ta cũng thả ông ra, vì… ông điên! Và có lẽ vì điên nên ông không biết sợ, ông nói toáng lên những điều có người nghe rồi cười, có người không muốn nghe, cả những điều người ta không dám lập lại dù là để báo cáo đi nữa!

Người ta nhìn thấy ông, mặc bộ quần áo rằn ri của quân đội cũ, đứng trước cửa trường Đại Học Vạn Hạnh, nhìn các đám sinh viên nam nữ qua lại, mủm mỉm cười, bảo: “Lịch sử bức bách tụi bay quá!”

Có rất nhiều giai thoại liên quan tới Bùi Giáng, liên quan tới những cơn điên của ông.

Cũng vô lý như làn kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đất xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư vô

Đọc một lần, đọc hai lần những câu thơ ấy của Bùi Giáng, ai có thể cả quyết ông nói tới điều gì?

Cái mất, cái còn, cái cổ xưa, cái cận đại, Hồn nguyên tiêu/ Phượng Thành Hy Lạp úa/ Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa / điển tích và những câu nói cửa miệng xen lẫn, bờ trùng ngộ là gì mà cả một phen này phen nữa?

Đọc liền một bài thơ của Bùi Giáng, đọc một hơi mươi mười lăm câu thơ của ông, người ta có cảm tưởng ông đùa rỡn với một điều gì đó hết sức nghiêm trọng. Nhưng đã nghiêm trọng sao lại đùa? Đọc một hai câu thơ của ông thôi, có khi chúng ta lạnh mình, tựa hồ bị thổi tạt bởi cơn gió rét không biết tự phương nào lại.

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Đất khóc, trời khóc hay người khóc? Nhưng khóc cái gì mới được chứ? Đất trời có vĩnh biệt đã vĩnh biệt lâu rồi, không còn gì để khóc. Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu. Hãy tưởng tượng một sớm hay một chiều nào đó, ta trở về quê cũ, ngẩng mặt trông những hàng cây, gió thổi lùa sương từ cành này qua cành khác. Cành nói với lá. Lá nói với hư vô, nói với ta, hay chỉ vì gió lay nên cành động? Cố hương. Cố quận. Cố nhân tình. Mờ mờ, ảo ảo…

Cảnh cũng là người và người cũng là cảnh, lẫn lộn trong sương mù.

Ta cười cợt, ta nghiêm chỉnh, ta nhớ quên, ta làm bộ hay ta biết rõ, tất cả đều diễn ra cùng một lúc với cái chết. Cái chết như sương mù bôi xóa.

Nhưng nghĩ như thế cũng có thể là nghĩ sai về thơ Bùi Giáng.

Hãy nghe ông nói về thơ ông:

“Muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác”.

Ông còn bảo rằng:

“Kẻ nào tự xét mình từ trong tinh thể mà ra chẳng có chi là phiêu bồng tí chút thì chả nên cưỡng cầu tự ép uổng ghé vào thi ca thâm xứ mà chi”.

Như thế, Bùi Giáng vừa làm thơ vừa muốn đóng cửa thơ.

Nguyễn Vy Khanh, trong một bài viết về thơ Bùi Giáng cũng cho rằng “người ta đã viết nhiều về hành trạng Bùi Giáng hơn là thơ của ông”.

Những hành trạng sống của ông cũng là thơ ông.

Thơ ông làm để tặng chuồn chuồn châu chấu tại sao chúng ta lại lấy đọc rồi trách ông tư tưởng rời rạc, không có hệ thống?

Trữ tình chăng?

Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.

Hiện thực chăng?

Bây giờ em để quần đâu
Cỏ trên mình mẩy em buồn ra sao?

Cười cợt chăng?

Que diêm que lửa que lời
Cõi trăm năm cũng một đời ba que.

Hai câu thơ vừa rồi rút trong bài “que diêm” Bùi Giáng viết sau năm 1975.

Thơ Bùi Giáng như vậy.

Ông không khóc nhưng hình như thơ ông có nước mắt. Ông cười cợt khi nói lời nghiêm trang. Ông nói với chính mình nhiều hơn với người khác.

Về cái chết của mình ông để sẵn trong tập Mưa Nguồn cách ngày ông qua đời mười năm mấy câu này:

Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian này mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu

BÙI GIÁNG LÀ AI?

Một trung niên thi sĩ như ông vẫn tự gọi?

Một nhà thơ lớn của Việt Nam?

Hay giản dị: Ông chỉ là một gã điên?

Rất nhiều người, trong đó có cả những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học của chúng ta, đã thử trả lời câu hỏi ấy, nhưng hình như vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Mỗi người nhìn ông một khác.

Người ta viết, nói về Bùi Giáng như một cách tự giải đáp những thắc mắc của mình về Bùi Giáng nhiều hơn là thơ của ông.

Và khi nói về thơ của ông dường như người ta lại nói về các giai thoại quanh ông, những điều bàn tán về ông nhiều hơn.

Nhưng nếu người ta đã có lần đọc Bùi Giáng, yêu những bài thơ, những bài phiếm luận của ông liên quan tới thi ca, triết học, tôn giáo, chuyện tào lao dính tới Brigitte Bardot, Kim Cương hay Mẹ Phùng Khánh của ông, thì người ta sẽ vô cùng thích thú vì thấy tất cả những điều đàm luận kia chẳng khác những tấm gương phản chiếu nhiều khuôn mặt của Bùi Giáng: cười cợt, đau đớn, nghiêm chỉnh, điên rồ…

Người khen ông nhiều lắm: Huy Tưởng, Mai Thảo, Huỳnh Hữu Ủy, Cung Tích Biền… người ta không tiếc lời ca ngợi Bùi Giáng.

Nhưng cũng không thiếu những người nghĩ khác.
Chẳng hạn như Thụy Khê.
Thụy Khê viết:

“Trong gần nửa thế kỷ làm thơ. Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài thơ, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du ban đầu làm xao xuyến người đọc… Nhưng vì lập lại nhiều lần, chúng bị phá giá.”

Còn Trần Hữu Thục trong một bài nhận định của mình đã viết rằng:

“Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay, chưa hẳn là rất hay, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ của ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngay ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò.”

Xin trích mấy câu thơ lục bát của Bùi Giáng:

Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi

Có những câu ta thật sự không hiểu ông định nói gì:

Một hôm gầu guộc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm

Xen vào đấy là những câu có thể làm chúng ta sởn người khi đọc:

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Hoặc chỉ một câu thôi đủ làm chúng ta ngẩn ngơ:

Còn hai con mắt khóc người một con.

BÙI GIÁNG ĐIÊN THẬT CHĂNG?

Người ta kể lại rằng, một cán bộ nhà văn khi gặp Bùi Giáng đã nói, họ đánh giá cao những tác phẩm của ông, nhưng muốn rằng Bùi Giáng phải thay đổi cách suy nghĩ, phải tỏ ra tiến bộ mới có thể làm việc trở lại được, hiểu theo nghĩa mới được “phép” viết lách trở lại. Bùi Giáng đã đứng dậy chỉ vào mặt người này hỏi lại:

-Thế nào là tiến bộ? Trời đất có bắt núi non tiến bộ không? Nếu núi non tiến bộ mãi mày đi đâu mà ở?

Đó có phải là lời nói của một người điên chăng?
Đây là một giai thoại bịa đặt hay có thật?

Trở lại với thơ Bùi Giáng.

Hình như ông không làm thơ theo quan niệm, theo cái cách người ta thường nghĩ.

Ông rũ bỏ thơ ra khỏi mình như những bụi bặm, như một oan nghiệp.

Mai Thảo mất trước Bùi Giáng.
Trước khi chết Mai Thảo có để lại bốn câu thơ:

Và ở Sài Gòn vẫn còn Bùi Giáng
Tối tối về chùa, đêm làm thơ
Ngày ca múa, khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi

Hai người có gặp lại nhau chăng?
Nếu có, họ sẽ nói gì với nhau nhỉ?

Bùi Giáng đã nói về mình thế này:

Miệng anh còn đủ lưỡi môi
Mà răng rụng hết lấy gì nhe ra
Mím môi ôm mặt khóc òa
Hôn em một chút cho đỡ già nua thôi.

Tóm lại khó có một bức chân dung Bùi Giáng. Chỉ có một hình ảnh từa tựa. Ông là một bài thơ lạc vận và đôi khi thừa chữ.

Nguyễn Đình Toàn

Sài Gòn Thủ Đô Văn Hoá Việt Nam. Mai Thảo


Mai Thảo

Sài gòn thủ đô văn hóa Việt Nam: Không phải là một danh từ, một câu nói xuông nhạt. Không phải là một ảnh hình trừu tượng. Không phải là một ảo tưởng mong manh còn nằm trong ngày tới xa thẳm. Không phải là một ý niệm khát khao đợi chờ. Đã là một thực thể được minh định : Văn Hóa Việt Nam thực hiện hôm nay và sẽ được kiện toàn trong ngày tới đã có được một trung tâm xuất phát và sinh thành: Thủ đô Sài Gòn.

Thực thể lòa chói này được biểu tỏ rõ rệt xâu đậm, ngày lại ngày.

Ánh sáng của Văn Hóa cháy lên hôm nay từ giữa lòng đời sống lớn rộng của dân tộc là một giòng máu bừng bừng mãnh liệt luân lưu trong một cơ thể chứa đựng cái vô hạn của những năng lực sáng tạo trẻ mạnh phong phú. Giòng máu bắt nguồn từ trái tim. Sài Gòn xuất hiện trên những kinh rạch tăm tối ngày nào, đã đổi thay để có thêm một hình thể tinh thần nữa: hình thể của một trái tim đập mạnh, với những đường máu, những lối ánh sáng đan chen nhau, tỏa đi trên toàn thể, toàn diện.

Không còn là chân tay, Sài Gòn đã là một trái tim. Những biến cố trọng đại của lịch sử đất nước từ một ngày nào đã chuyển đổi trọng tâm sinh hoạt dân tộc, và Sài Gòn đang phát triển, thay thế cho một Hà Nội đã tàn lụi, đã nghiễm nhiên biến thành một thứ cứ điểm chính yếu quy tụ mọi thiện chí xây dựng và mọi nỗ lực đóng góp của những hoạt động văn-hóa hiện hữu, trên mọi ngành mọi mặt.

Từ người du khách ngoại quốc đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, đến những chuyến tầu vượt đại dương vào hạ neo trên mặt nước phẳng lặng của thương khẩu thành phố, đến những con người xa cách không biết bao nhiêu trùng dương, lúc mở nút điện nghe một tiếng nói, một giọng hát, một bản nhạc truyền thanh qua không gian, hoặc đọc một cột báo tường thuật ghi chép những chứng tích của Văn Hóa – nghĩ đến Việt Nam – đều mang trong tâm hồn hình ảnh đằm thắm của thành phố lớn rộng đã trở nên trung tâm sinh hoạt và phát huy của tất cả mọi lực lượng tinh thần đất nước giữa mùa kiến tạo.
Thành phố đổi khác. Thêm một tấm áo của Văn-Hóa khoác lên mình tấm áo của thiên nhiên. Nắng nhiệt đới chói chang vàng diệp bừng cháy thêm một thứ ánh sáng văn hóa càng ngày càng thắm thiết rực rỡ.

Không phải chỉ là những công trình kiến trúc với những đại lộ rộng thẳng, những ngã tư trùng điệp xe cộ, những công viên xanh mướt mầu cỏ bóng lá, những xưởng may vang vọng nhịp điệu sản xuất, những trường học, chợ búa sinh hoạt thường xuyên. Không phải chỉ là một khoảng không gian tập hợp một dân số đông đảo có chung một gốc nguồn, một lịch sử, một tương lai. Không phải chỉ là một thương cảng lớn đón nhận và gửi đi những kiện hàng những chuyến tầu.
Sài Gòn còn là thủ đô Văn-Hóa Việt Nam.
*
Từ một điểm son bé nhỏ vô nghĩa ghi trên tấm bản đồ hình thể xứ sở, đến những công trình xây dựng bề mặt, thành phố dựng lên theo chiều cao đang tỏa đi theo chiều rộng và thấm lắng xuống chiều sâu, để từ một đô thị miền Nam biến thành một thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước.

Sài Gòn đã đứng vào vị trí. Đã nhận nhiệm vụ mình. Sau khi Hà Nội đã từ bỏ vị trí nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa vượt vĩ-tuyến đã sáng lên ở đây, hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ mạnh sẵn có, Thành phố hòn ngọc của Á Châu tinh hoa của đất nước đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt nhất của một mùa văn hóa mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ, hệ thống.
Những công trình nghệ thuật đang được thể hiện song song với những công trình khoa học, kỹ-thuật. Thành phố từ một mảnh đất mầu mỡ trở nên một kho tàng. Đời sống đang đóng góp cho kho tàng này. Sự đóng góp về từ khắp nơi. Nhìn thấy ánh sáng văn hóa phát xuất trên bờ Cửu Long, chảy qua đại dương, băng qua lục địa, những con người văn hóa Việt Nam trên toàn thể thế giới đã ý thức được sự chuyển đổi trọng tâm, đã xuống một chuyến tầu biển, lên một chuyến máy bay vượt không gian về đặt chân xuống Thủ Đô Mới, hiến dâng phần kiến thức chuyên môn của mình vào cuộc dựng xây văn hóa. Người vẫn ở đây, người về từ hải ngoại, người đến qua vĩ tuyến, chung lưng trong sự nghiệp xây dựng toàn thể. Những chứng tích mới. Những phát minh mới. Kho tàng văn hóa đầy dần.

Thủ Đô lộng lẫy về hình thức, càng thêm rực rỡ tinh anh. Ánh sáng văn hóa hồng cháy, tỏa rộng, bốc lên, lan đi xa rộng. Ánh sáng của nghệ thuật, của khoa học, ánh sáng của đời sống, của con người là ánh sáng của thủ đô hôm nay. Ngọn lửa mới của văn hóa có một sức tác động lấn át cả thứ ánh sáng cố hữu của thiên nhiên trong xanh giữa mùa nắng lớn.

Từ hải ngoại, từ nội địa, ở khắp mọi miền núi rừng đồng nội, trên khắp các khu vực của đất nước, những xu hướng và khả năng tỉnh thần đều nghiêng xuôi về thủ đô miền Nam trở nên thủ đô toàn quốc, như những giòng suối chảy về một hội trùng dương. Những đoàn ghe thuyền ngược giòng những nhánh sông đầy của Tiền Giang Lục Tỉnh ăm ắp thóc lúa khoai sắn của những bàn tay cần lao của những miền đất đai phì nhiêu, ngày đêm suôi về những bến xá nằm trong phạm vi trung tâm văn hóa. Những ngả đường từ cao nguyên đổ xuống, những ngả đường từ duyên hải đi lên, đều mang hình ảnh của những giòng máu chảy về trái tim, những giây thần kinh chảy về đầu óc.

Trái tim, đầu óc là thành phố. Là trung tâm văn hóa. Là Sài Gòn. Sài Gòn sáng tạo và suy tưởng.
*
Người trở về từ hải ngoại giữa mùa mưa 56. Tôi đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất từ mùa nắng 54. Những người bạn đường đã sinh trưởng ở đây kể từ ngày thành phố xuất hiện trên những kinh rạch ẩm ướt đen tối. Những người bạn đường còn ở rải rác trên những đô thị thế giới, bên kia muôn ngàn trùng dương. Tất cả đời sống chúng ta, kể cả phần tâm tưởng thầm kín đến phần sinh hoạt thường nhật, đều hướng về Sài Gòn. Như những nhành hoa hướng dương nở về một phía bình minh. Như những bước chân đi về trạm hẹn. Mang trong lòng ít nhiều thiện chí xây dựng, rất nhiều tin tưởng, qua một ý niệm chân thành ở tiền đồ văn hóa đất nước, chúng ta đang lăn mình vào sinh hoạt văn hóa. Mỗi người, mỗi chỗ đứng là một vị trí nhỏ trong trung tâm văn hóa rộng lớn.

Chúng ta đến với một số mặc cảm. Trong tin tưởng có hoài nghi. Ý chí xây dựng cương quyết mà tâm hồn thì còn nhiều thắc mắc. Sự giao động này là một lẽ tất nhiên. Dĩ vãng buồn đau còn gửi về hình ảnh một thủ đô cũ, một trung tâm cũ. Niềm đắng cay của một thiện chí dựng xây nào đổ vỡ hoặc không thành. Anh còn nhớ đến cái ánh sáng lòa chói của những thủ đô văn hóa thế giới. Chúng ta đặt những bước chân bỡ ngỡ vào thành phố đã trở nên trung tâm, nên quê hương. Hiện tượng mới đột ngột. Thủ Đô văn hóa vừa được chọn ở đây. Nhưng rồi lăn mình vào sinh hoạt, đứng lại giữa vị-trí, những hoài nghi tan biến dưới những tin tưởng vững mạnh lên hình. Như sương mù tan đi trong ánh sáng. Như những tảng bóng tối dầy đặc rụng đổ lả tả giữa biển ngày trong veo.

Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam! Từ một hiện tượng đến một thực thể. Nền văn hóa dân tộc đặt định những nền tảng ở đây, đang phát huy ở đây bằng những nỗ lực sáng tạo của chúng ta – những con người hiện có mặt ở đây. Bằng những nỗ lực sáng tạo của những người bạn đường thế giới. Bằng những hành động đóng góp tương trợ của những dân tộc huynh đệ, những xu hướng văn hóa bằng hữu của thế giới.

Sài Gòn khác biệt với bất cứ một thủ đô nào của thế giới. Nhưng Sài Gòn cũng là một trong những thủ đô văn hỏa thế giới. Trên bản đồ đất nước, chúng ta ghi tên Sài Gòn: thủ đô văn hóa dân tộc hôm nay và ngày mai.

Mai Thảo
Sáng Tạo số 1 tháng 10/1956

Mục Lục 44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại. Luân Hoán


Luân Hoán

(Hình tập 1 và 2 trong 7 tập: “44 Năm Văn-Học Việt-Nam Hải-ngoại (1975-2019)”

Tuyển tập 44 Năm Văn Học Việt-Nam Hải Ngoại (1975-2019) do nhà văn/họa sĩ Khánh Trường, nhà thơ Luân Hoán và nhà biên khảo Nguyễn Vy Khanh thực hiện, vừa được nhà Mở Nguồn / Nhân Ảnh (Hoa-Kỳ) xuất-bản, được thực hiện với mục-đích ghi dấu lịch sử và những thăng trầm, biến đổi của dòng văn học Việt-Nam vì hoàn cảnh đã phải thiên cư ra khỏi nước. Dòng văn-học này với nội dung cá biệt và những nhân tố rõ rệt, đã góp phần gìn giữ văn hóa Việt Nam.

Hơn 300 nhà văn nhà thơ và phê-bình, biên-khảo văn-học góp mặt là những người đã từng hoặc đang sinh hoạt văn học nghệ thuật ở hải ngoại và gần 50 vị sinh sống ở trong nước nhưng đã cộng tác, đăng bài hoặc xuất bản tác phẩm ở ngoài nước. Chúng tôi cũng cố gắng giới thiệu một số các tác-giả đã quá cố. Có những nhà văn thơ không có mặt trong tuyển tập hoặc do chúng tôi không liên lạc được hoặc vì một lý do nào đó đã không tham gia. Riêng các tác giả từng có mặt trong tuyển tập 20 Năm Văn Học Việt-Nam Hải Ngoại 1975-1995 do nhà Đại Nam xuất-bản năm 1995, chúng tôi giữ nguyên phần giới thiệu nếu như không thể liên lạc được và nhận cập nhật.

Cộng đồng Việt Nam hải-ngoại hình thành đã được 44 năm! Thời gian đủ dài để một lớp người, do hoàn cảnh lịch sử, phải bỏ nước ra đi và dần dà tạo được một cộng đồng không ngừng phát triển, lớn mạnh, từ non trẻ đến trưởng thành về nhiều mặt, trong đó không thể không nói đến văn học. Khối óc và trái tim của cộng đồng. Cũng do hoàn cảnh lịch sử, người Việt ngụ cư khắp nơi trên thế giới, lớp sau tiếp nối lớp trước, rồi thế hệ thứ 2, thứ 3,… làm nên một nền văn-học viết bằng tiếng Việt ở hải-ngoại rất đỗi phong phú , đa dạng, đa văn hóa, và nhất là dân chủ, tự do, khai phóng!

Trước ngày 30 tháng Tư 1975, văn học miền Nam từng phát triển và hiện đại hóa không ngừng, đã được những người ra đi mang theo, để rồi trải dài hơn bốn thập kỷ, cho đến hôm nay. Chúng ta hãy nhìn lại quá trình hình thành nền văn học này. 44 năm, đã có nhiều giai đoạn: di tản, lưu vong (phôi thai, 1975-1979), trở nên tị nạn chính trị (hình thành, 1980-86), rồi thời hy-vọng và hợp lưu (trưởng thành, 1987-1991), kế tiếp là hoài niệm (1992-2000) và sau cùng là lão hóa và chuyển động thế kỷ (2001-2019).

Trân trọng giới thiệu với quý độc giả bộ tuyển tập văn-học gồm 7 tập, mỗi tập trên dưới 700 trang.

TÁC GIẢ GÓP MẶT TRONG TUYỂN TẬP 44 NĂM VĂN HỌC VIỆT-NAM HẢI NGOẠI (1975-2019)

MỤC LỤC 

Tập 1: Vần A, B, C, D

*Lời cảm ơn – Khánh Trường7
*Danh sách tác giả8
*Lời tựa11
1.Ái Cầm27
2.Bạt Xứ35
3.Bắc Phong39
4.Bùi Bảo Trúc49
5.Bùi Bích Hà65
6.Bùi Vĩnh Phúc79
7.Cái Trọng Ty105
8.Cao Bình Minh115
9.Cao Đông Khánh151
10.Cao Mỵ Nhân162
11.Cao Nguyên168
12.Cao Tần (Lê Tất Điều)173
13.Cao Xuân Huy196
14.Chân Phương209
15.Chim Hải213
16.Chu Vương Miện219
17.Cung Tích Biền226
18.Cung Trầm Tưởng253
19.Cung Vũ258
20.Diên Nghị275
21.Doãn Quốc Sỹ282
22.Du Tử Lê312
23.Duyên Anh347
24.Dư Mỹ361
25.Dương Kiền366
26.Dương Như Nguyện405
27.Dương Thu Hương410
28.Đặng Hiền426
29.Đặng Mai Lan434
30.Đặng Phú Phong449
31.Đặng Phùng Quân457
32.Đặng Thơ Thơ476
33.Đặng Tiến503
34.Đinh Cường524
35.Đinh Huyền Dương536
36.Đoàn Nhã Văn543
37.Đoàn Nhật575
38.Đoàn Thêm579
39.Đoàn Xuân Kiên595
40.Đỗ Hoàng Diệu616
41.Đỗ Kh.644
42.Đỗ Quí Toàn665
43.Đỗ Quyên672
44.Đỗ Trường693
45.Đông Duy704
46.Đức Phổ743

MỤC LỤC
Tập 2: Vần G, H, K, L

1. Giang Hữu Tuyên 13
2. Hà Huyền Chi 20
3. Hà Kỳ Lam 25
4. Hà Nguyên Du 44
5. Hà Thúc Sinh 55
6. Hà Thượng Nhân 69
7. Hạ Quốc Huy 78
8. Hạ Uyên 97
9. Hàn Song Tường 101
10. Hoa Văn 111
11. Hoài Ziang Duy 117
12. Hoàng Anh Tuấn 124
13. Hoàng Chính 131
14. Hoàng Du Thụy 137
15. Hoàng Khởi Phong 153
16. Hoàng Lộc 176
17. Hoàng Mai Đạt 181
18. Hoàng Nga 205
19. Hoàng Ngọc Tuấn 215
20. Hoàng Phủ Cương 225
21. Hoàng Quân 229
22. Hoàng Thị Bích Ti 243
23. Hoàng Xuân Sơn 260
24. Hồ Đình Nghiêm 267
25. Hồ Minh Dũng 275
26. Hồ Phú Bông 288
27. Hồ Trường An 298
28. Huy Trâm 319
29. Huy Tưởng 322
30. Huỳnh Hữu Ủy 327
31. Huỳnh Liễu Ngạn 337
32. Hư Vô 341
33. Khánh Trường 345
34. Khế Iêm 375
35. Kiệt Tấn 388
36. Kiều Diễm Phượng 401
37. Kinh Dương Vương 411
38. Lâm Chương 437
39. Lâm Hảo Dũng 467
40. Lãm Thúy 479
41. Lâm Vĩnh Thế 485
42. Lê An Thế (Lê Bi) 521
43. Lê Cần Thơ 527
44. Lê Đại Lãng 547
45. Lê Giang Trần 563
46. Lê Hân 570
47. Lê Lạc Giao 580
48. Lê Mai Lĩnh 601
49. Lê Minh Hà 613
50. Lê Nguyên Tịnh 638
51. Lê Phương Nguyên 642
52. Lê Thị Huệ 651
53. Lê Thị Nhị 662
54. Lê Thị Thấm Vân 675
55. Lê Thị Ý 687
56. Lê Uyên Phương 691
57. Lê Văn Tài 698
58. Lệ Hằng 704
59. Liễu Trương 718
60. Linh Vang 732
61. Luân Hoán 742
62. Lương Thư Trung 763
63. Lưu Diệu Vân 773
64. Lưu Nguyễn 777
65. Lữ Quỳnh 783

MỤC LỤC
Tập 3: Vần M, N (1)

1.M.H. Hoài Linh Phương 13
2.Mai Khắc Ứng18
3.Mai Ninh33
4.Mai Thảo60
5.Mai Trung Tĩnh66
6.Miêng73
7.Minh Đức Hoài Trinh 87
8.Nam Dao104
9.Nghiêu Đề137
10.Ngọc (Ngọc Nguyễn) 144
11.Ngọc Khôi152
12.Ngô Du Trung192
13.Ngô Nguyên Dũng211
14.Ngô Thế Vinh227
15.Ngu Yên237
16.Nguyên Lương247
17.Nguyên Nghĩa251
18.Nguyên Sa256
19.Nguyên Vũ267
20.Nguyễn Âu Hồng277
21.Nguyễn Bá Trạc306
22.Nguyễn Chí Kham325
23.Nguyễn Đăng Thường 358
24.Nguyễn Đăng Trúc 375
25.Nguyễn Đăng Tuấn 497
26.Nguyễn Đình Toàn 401
27.Nguyễn Đông Giang 416
28.Nguyễn Đông Ngạc 420
29.Nguyễn Đức Bạt Ngàn 435
30.Nguyễn Đức Lập446
31.Nguyễn Hải Hà464
32.Nguyễn Hàn Chung 468
33.Nguyễn Hoàng Nam 475
34.Nguyễn Hoàng Văn 487
35.Nguyễn Hưng Quốc 504
36.Nguyễn Hương513
37.Nguyễn Hữu Nhật537
38.Nguyễn Lương Vỵ552
39.Nguyễn Mạnh An Dân 564
40.Nguyễn Mạnh Trinh 617
41.Nguyễn Minh Nữu623
42.Nguyễn Minh Phương 639
43.Nguyễn Mộng Giác 655
44.Nguyễn Nam An693
45.Nguyễn Ngọc Ngạn 707
46.Nguyễn Phước Nguyên 725
47.Nguyễn Sao Mai733
48.Nguyễn Tấn Hưng737
49.Nguyễn Tất Nhiên748
50.Nguyễn Thanh Châu 752

MỤC LỤC
Tập 4: Vần N(2), P

1. Nguyễn Thị Hải Hà 13
2. Nguyễn Thị Hoàng Bắc 29
3. Nguyễn Thị Minh Ngọc 46
4. Nguyễn Thị Ngọc Lan 54
5. Nguyễn Thị Ngọc Nhung 80
6. Nguyễn Thị Thanh Bình 103
7. Nguyễn Thị Vinh 109
8. Nguyễn Tiến 120
9. Nguyễn Trung Hối 123
10. Nguyễn Vạn Lý 133
11. Nguyễn Văn Sâm 152
12. Nguyễn Văn Trung 161
13. Nguyễn Vy Khanh 191
14. Nguyễn Xuân Hoàng 210
15. Nguyễn Xuân Quang 218
16. Nguyễn Xuân Thiệp 261
17. Nguyễn Xuân Tường Vy 271
18. Nguyễn Ý Thuần 287
19. Nhã Ca 299
20. Nhật Tiến 316
21. Như Quỳnh de Prelle 334
22. Phạm Cao Hoàng 344
23. Phạm Chi Lan 354
24. Phạm Công Thiện 368
25. Phạm Hải Anh 376
26. Phạm Hồng Ân 393
27. Phạm Miên Tưởng 399
28. Phạm Ngũ Yên 402
29. Phạm Nhã Dự 422
30. Phạm Quốc Bảo 428
31. Phạm Thăng 441
32. Phạm Thị Hoài 463
33. Phạm Thị Ngọc 473
34. Phạm Trần Anh 495
35. Phạm Văn Nhàn 507
36. Phạm Việt Cường 517
37. Phan Huy Đường 524
38. Phan Lạc Tiếp 548
39. Phan Nguyên 565
40. Phan Nhật Nam 578
41. Phan Nhiên Hạo 597
42. Phan Ni Tấn 608
43. Phan Quỳnh Trâm 613
44. Phan Tấn Hải 618
45. Phan Tấn Uẩn 632
46. Phan Thị Trọng Tuyến 647
47. Phan Việt Thủy 692
48. Phan Xuân Sinh 705
49. Phùng Nguyễn 711
50. Phương Tấn 729
51. Phương Triều 734

MỤC LỤC
Tập 5: Vần Q, S, T(1)

1. Quan Dương 13
2. Quyên Di 19
3. Quỳnh Thi 37
4. Sĩ Trung 49
5. Song Hồ 65
6. Song Nhị 68
7. Song Thao 77
8. Song Vinh 95
9. Sương Mai 100
10. Sỹ Liêm 107
11. Tạ Tỵ 126
12. Tâm Thanh 140
13. Thái Tú Hạp 150
14. Thái Tuấn 156
15. Thanh Nam 161
16. Thanh Tâm Tuyền 168
17. Thành Tôn 174
18. Thảo Trường 187
19. Thận Nhiên 207
20. Thế Giang 217
21. Thế Uyên 242
22. Thi Vũ 264
23. Thu Nga 270
24.Thu Thuyền 285
25. Thụy Khuê 303
26. Thường Quán 347
27. Tiểu Thu 354
28. Tiểu Tử 367
29. Tô Thùy Yên 377
30. Tôn Nữ Thu Dung 389
31. Trạch Gầm 393
32. Trang Châu 398
33. Trầm Phục Khắc 412
34. Trân Sa 417
35. Trần Dạ Từ 432
36. Trần Diệu Hằng 458
37. Trần Doãn Nho 472
38. Trần Đại Sỹ 499
39. Trần Hạ Vi 527
40. Trần Hoài Thư 534
41. Trần Hồng Châu 538
42. Trần Hồng Hà 544
43. Trần Long Hồ 577
44. Trần Mộng Tú 594
45. Trần Phù Thế 606
46. Trần Thị Diệu Tâm 611
47. Trần Thị Hương Cau 621

MỤC LỤC
Tập 6: Vần T(2), U, V, X, Y

1.Trần Thị Kim Lan13
2.Trần Thị Lai Hồng33
3.Trần Thu Miên46
4.Trần Trúc Giang59
5.Trần Trung Đạo68
6.Trần Văn Nam75
7.Trần Văn Sơn96
8.Trần Vũ104
9.Trần Yên Hòa121
10.Triều Hoa Đại130
11.Triệu Châu134
12.Trịnh Gia Mỹ154
13.Trịnh Khắc Hồng162
14.Trịnh Thanh Thủy169
15.Trịnh Y Thư175
16.Trung Hậu181
17.Trùng Dương187
18.Trương Anh Thụy219
19.Trương Văn Dân237
20.Trương Vũ253
21.Túy Hồng265
22.Tường Vũ Anh Thy 281
23.Tưởng Năng Tiến290
24.Uyên Nguyên297
25.Vi Khuê313
26.Vĩnh Hảo327
27.Võ Đình345
28.Võ Hoàng360
29.Võ Kỳ Điền371
30.Võ Phiến385
31.Võ Phú410
32.Võ Phước Hiếu425
33.Võ Quốc Linh464
34.Võ Thị Điềm Đạm474
35.Vũ Huy Quang488
36.Vũ Kiện495
37.Vũ Quỳnh Hương502
38.Vũ Quỳnh N.H.537
39.Vũ Thị Thanh Mai550
40.Vũ Thùy Hạnh575
41.Vũ Thư Hiên582
42.Vũ Trà My605
43.Vũ Uyên Giang610
44.Vương Đức Lệ635
45.Vương Trùng Dương 640
46.Xuân Vũ660
47.Xuyên Trà679
48.Y Chi685
49.Yên Sơn711

MỤC LỤC
Tập 7: Quốc Nội

1.Bùi Chát13
2.Bùi Ngọc Tấn19
3.Bùi Thanh Minh53
4.Cao Thoại Châu67
5.Dung Thị Vân74
6.Dương Nghiễm Mậu 80
7.Đặng Châu Long108
8.Đoàn Văn Khánh118
9.Hoàng Hưng127
10.Khoa Hữu137
11.Khuất Đầu143
12.Lê Văn Trung150
13.Lê Vĩnh Thọ164
14.Nguyên Cẩn175
15.Nguyên Minh186
16.Nguyễn An Bình208
17.Nguyễn Dương Quang 221
18.Nguyễn Hiến Lê225
19.Nguyễn Hữu Hồng Minh 292
20.Nguyễn Huy Thiệp 304
21.Nguyễn Lệ Uyên340
22.Nguyễn Thành357
23.Nguyễn Thụy Long 366
24.Nguyễn Tôn Nhan387
25.Nguyễn Văn Gia397
26.Nguyễn Viện404
27.Như Không421
28.NP Phan436
29.Phạm Hiền Mây441
30.Phạm Ngọc Lư450
31.Phan Huyền Thư458
32.Phùng Cung464
33.Thiếu Khanh497
34.Tiêu Dao Bảo Cự507
35.Trần Dzạ Lữ532
36.Trần Mạnh Hảo549
37.Trần Thị Ng.H.576
38.Trần Vạn Giã600
39.Trần Vàng Sao607
40.Văn Quang618
41.Vy Thượng Ngã649
42.Xuân Thao670

Luân Hoán

(Nguồn: FB Luân Hoán)


Nguyễn Đình Toàn – Nước Mắt Cho Sài Gòn. Tùy bút Trần Yên Hoà


Trần Yên Hòa

(Chân dung văn thi sĩ Nguyễn Đình Toàn)

Năm 1966, tôi đang học đại học ở Sài Gòn thì cha tôi ở quê viết thư vào bảo: “Quê mình mất an ninh rồi, cha mẹ phải bỏ quê mà tản cư xuống quận lỵ tỵ nạn. Trong một đêm, địch về làng bắn giết, đốt phá nhà cửa của cán bộ làm việc bên phe quốc gia nhiều lắm, cha mẹ sợ quá nên phải tản cư xuống quận lỵ tạm trú, chứ ở quê không yên. Con cố gắng tự túc đi học nghe con.” Tôi đọc thư mà nghe buồn bã quá. Tìm đọc trên mục rao vặt trên các báo Chính Luận, Công Luận, tôi đi dạy kèm, đi giặt đồ cho một công ty thầu giặt đồ cho lính Mỹ, mà lương lậu chẳng đâu vào đâu. Tôi học không vô nữa, bèn nộp đơn xin đi dạy theo một thông cáo tuyển lựa giáo sư tư nhân dạy giờ của Bộ Giáo Dục. Sau đó mấy tháng, tôi được giấy của bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy ở trường trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Với nỗi buồn vui lẫn lộn. Buồn vì phải bỏ giảng đường đại học mới tập tểnh bước vào mấy năm. Vui vì mình sắp bước vào con đường mới, con đường dạy học. Đó cũng là mộng ước của tôi thời niên thiếu. Với lại, Quảng Ngãi tôi chưa biết đến bao giờ. Và cả Mộ Đức, một quận lỵ, vẫn nghe đồn rằng, đó là vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm “giải phóng”. Nhưng tôi lại nghĩ, mình chỉ là thầy giáo quèn, gỏ đầu trẻ, có gì đâu mà sợ, nên tôi cũng vững tâm đến đó.

Mộ Đức là một quận lỵ buồn, không có phố xá, chỉ có con đường quốc lộ một chạy qua. Bộ chỉ huy chi khu và văn phòng quận hành chánh đóng chung bên kia đường, đối diện trường trung học, do một trung úy bộ binh làm quận trưởng kiêm luôn chi khu trưởng.

Tôi đã dạy học ở đó với những em học sinh tóc cháy vàng vì nắng gió và nhờ đó mà tôi vui.

Những buổi chiều quận lỵ thật buồn. Chênh chếch phía bên kia đường có một loa phóng thanh của chi thông tin bắt trên ngọn cây, hàng ngày thường mở đài Sài Gòn hay đài Quảng Ngãi cho dân chúng nghe tin tức. Một buổi chiều, cũng như mọi buổi chiều khác, tôi được nghe từ loa phóng thanh, một bài hát có tên Tình Khúc Thứ Nhất được xướng ngôn viên giới thiệu tác giả là Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn, bản nhạc này, nhạc đã hay mà lời cũng quá hay:

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi

Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế

Lúc này, Vũ Thành An và Nguyễn Đình Toàn chứa nổi, tác giả chỉ là cái tên, nhưng bản nhạc quá hay nên có tôi cảm tình với tác giả ngay, nhất là tác giả viết lời. Lúc đó, tôi cứ nghĩ Vũ Thành An đã phổ từ một bài thơ nào đó của Nguyễn Đình Toàn. Nhưng sau này, khi tôi đọc trên một tờ báo nào đó, mới biết là nhạc phẩm này của Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn viết lời.

Chúng ta hãy đọc lại mấy câu, ông dùng ngôn ngữ rất lạ mà rất thơ:

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy…
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Bản nhạc này, tôi nghe (sau đó được nghe lại mấy lần) và tự nhiên thuộc lời, rồi tôi đã đem lời nhạc này đọc cho học sinh trong lớp tôi dạy (vì tôi dạy môn Việt văn nên tôi tha hồ mà bình luận, bốc phét, thêm nhưn nhị vào bài thơ, những ý tưởng mà có lẽ tác giả cũng không nghĩ ra). Có thể nhờ bản nhạc này mà tôi có một (vài) mối tình rất thơ với một (vài) cô gái Mộ Đức, một cô gái có tên là Nề, mà sau này tôi có viết trong một truyện ngắn, truyện Nề xưa. Bây giờ tất cả đã xa lắc lơ, chỉ còn là kỷ niệm. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn.

Sau này, cũng thời gian năm 66 hay 67 gì đó, tôi có đọc một bài thơ của Nguyễn Đình Toàn ở đâu đó, và rất mê. Nhưng lâu rồi cũng quên nhan đề, sau khi tìm kiếm, lục lọi, mới biết đó là bài Khi Em Về. Tôi xin ghi lại như sau:

Khi em về

Quê mẹ đấy ưu phiền nhiều quá lắm
Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo
Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng
Đi qua dần khi nước mắt buông theo

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá

Khi em về bước chân chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã lắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim

Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che

Nguyễn Đình Toàn còn có bài thơ Khúc Ca Phạm Thái cũng rất nổi tiếng. Bài thơ ghi lại hình ảnh chàng tráng sĩ Phạm Thái yêu Trương Quỳnh Như, em ruột của người bạn thân là Trương Quang Ngọc, mối tình đó đã trở thành tình sử trong văn học Việt Nam mà Khái Hưng đã viết thành tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Bài thơ với ngôn ngữ mang mang hào sảng, nói lên chí khí của người tráng sĩ mang gươm đi cứu nước, nhưng thất bại, phải dẹp bỏ cuộc tình riêng, giọng thơ hào khí ngất trời. (hơi thơ giống bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác). Cho nên trong những cuộc vui chơi với bằng hữu, những người thích thơ, biết làm thơ hay cảm thơ, mỗi khi ngồi uống rượu với nhau thường ngâm bài thơ này:

Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề, sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Chí nhỏ lòng kiêu, đổ thưà vận rủi,
Tài sơ sức mỏi, trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ,
Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng.

Em ơi tám hướng sông hồ,
Mười năm ngang dọc, bây giờ là đây ..
Sự đời chừ đã trắng tay,
Ngủ vùi một giấc, cho đầy gối tham .
Ta say hay ta tỉnh?
Nàng buồn hay nàng vui?
Ngọc châu pha vỡ tiếng cười ,
Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau .

Từ lâu, nghĩa là từ trước năm bảy lăm, tôi nghĩ là Nguyễn Đình Toàn chỉ làm thơ và viết văn thôi, nếu cùng lắm thì ông đặt lời cho nhạc như bài Tình Khúc Thứ Nhất. Nhưng sau này tôi biết ông còn sáng tác nhạc, ông viết rất nhiều ca khúc. Trong những ca khúc của ông tôi thích đâu 3, 4 bài, như bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, mà nhiều người biết đến, sau đây:

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên – như dòng sông nước quẩn quanh buồn – như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không…
Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao – trong niềm vui tiếng hỏi câu chào – sáng đời tươi thắm vạn sắc màu – còn gì đâu…”

Theo tôi, bản nhạc này là bản nhạc hay nhất của nhạc Việt Nam viết về Sài Gòn sau khi mất nước và lúc Sài Gòn đã thay đổi tên. 2 bản đứng thứ nhì đồng hạng là bài Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng và bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Du Tử Lê. Sau rót mới đến bản Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc. Bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt được mọi người biết đến nhiều có lẽ nhạc phẩm này ra đời sớm, khoảng đâu sau bảy lăm một hai năm, trong lúc đó, lòng người Việt Nam, nhất là những người di tản từ ba mươi tháng tư bảy lăm, luôn luôn khắc khoải trong lòng nổi nhớ quê hương, mà Sài Gòn là biểu tượng một quê hương trong lòng mọi người, nên mất đi Sài Gòn, rời xa Sài Gòn, ai cũng tưởng tiếc, cũng nhớ về. Kể cả những người đi ở tù cộng sản như chúng tôi, khi nghe bản Vĩnh Biệt Sài Gòn (được đưa chui vào trại tù), chúng tôi nghe cũng thật bùi ngùi, cảm động (lúc đó tôi ở Long Khánh, có tin truyền miệng nhạc phẩm Vĩnh Biệt Sài Gòn là của một sĩ quan sư đoàn 5 bộ binh sáng tác). Đến khi qua Mỹ, tôi mới biết tác giả là Nam Lộc. Và theo tôi đánh giá về nghệ thuật, bản nhạc này lời rất giản dị, bình thường, ca từ không có gì mới lạ, có nhiều câu, suy cho kỹ thì phản ý của người di tản hay người vượt biên, ví dụ như câu “bây giờ tôi như con thú hoang lạc đàn”, sao lại là “con thú hoang”? Nếu như vậy thì đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước bảy lăm và những người sống trong đất nước đó là đàn thú hoang sao?. Và sau đó có những câu như “Sài Gòn ơi ta xin hứa là ta sẽ về.” Sao đã vĩnh biệt rồi, như theo đề tựa, vĩnh biệt là không bao giờ gặp lại, mà sao hứa sẽ trở về? Cho nên, bản nhạc này được nhiều người nghe là do tâm trạng thương nhớ Sài Gòn có sẳn trong lòng, chứ không phải là bản nhạc hay.

Nguyễn Đình Toàn sáng tác nhạc rất nhiều, sau khi ra hải ngoại ông đã cho ra mắt 2 CD, đó là: Hiên Cúc Vàng với chỉ một giọng ca Khánh Ly, và Tình Ca Việt Nam với Duy Trác, Khánh Ly, Sĩ Phú, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.
Nhạc Nguyễn Đình Toàn mang hơi hám của một người lưu vong luôn luôn nhớ về những kỷ niệm cũ, một hoài niệm không rời với hồi ức, thường buồn hơn vui, đã đưa người nghe vào một không gian âm thanh sâu lắng, không sôi nỗi xáo động, nó trầm lắng, dịu dàng, nên lớp người cũ đã sống trước bảy lăm ở miền Nam rất thích nghe.

Từ Giờ Ra Chơi đến Áo Mơ Phai

Truyện Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1970. Tôi mua quyển truyện này tại một tiệm sách ở khu Hòa Bình trong một chủ nhât đi phép. Đời SVSQ/CTCT ngày phép thường ra bát phố Đà Lạt, sau khi đã vào tiệm tắm nước nóng tắm để rũ sạch bụi đỏ quân trường, sau đó đi ăn phở Bằng hay vào quán Tùng uống cà phê hay ra bờ Hồ Xuân Hương vào Thủy Tạ ăn kem. Nhưng tôi thì hay đi loanh quanh mấy tiệm sách để tìm mua những tác phẩm mới xuất bản của các nhà văn mình yêu thích. Thời điểm đó, truyện dài Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn mới phát hành nên tôi nhìn thấy là chộp mua ngay.

Giờ Ra Chơi kể lại mối tình của cô gái học trò Đà Lạt tên Thục và tình yêu của tuổi mới lớn của Thục. Truyện nhẹ nhàng êm dịu, thơ mộng như trời mây non nước xứ Đà Lạt. Lúc này tôi có một người bạn gái là một cô học trò trường Hồng Đức, Đà Nẵng, tôi liền mua thêm một cuốn gởi về tặng cô gái và tả tình tả cảnh Đà Lạt, cũng như mối tình đẹp của cô học trò tên Thục trong truyện. Tôi cố rũ người bạn gái lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh để được gần tôi, cuối cùng cô gái nghe lời “dụ dỗ” của tôi mà lên Đà Lạt theo học. Rất tiếc là khi cô lên Đà Lạt thì tôi cũng xong hai năm thụ huấn. Tôi đổi đi xa nên mối tình cũng bay theo sương khói.

Áo Mơ Phai, tập truyện dài của Nguyễn Đình Toàn đăng “phơidơtông” ở Nhật Báo Tiền Tuyến, được nhiều người đón nhận, theo dõi say mê từng ngày. Sau này in thành sách và được giải văn chương toàn quốc năm 1972.

Truyện Áo Mơ Phai kể lại những mối tình thơ mông ở Hà Nội trước ngày di cư năm 1954, khi Hà Nội còn là ngàn năm văn vật đất Thăng Long, cùng với một Hà Nội thơ mộng trữ tình là sự dùng dằng, ra đi hay ở lại của những người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử năm 1954, chia đôi đất nước.

Chúng hãy đọc một đoạn ngắn trong Áo Mơ Phai khi tác giả tả những cái đáng yêu của Hà Nội:

“Những tiếng động nhỏ ấy, những hương vị mờ nhạt ngửi thấy, cây cối trong mùa mưa, phấn hương của người quen thuộc, những món ăn, thức uống, những câu thơ, những bài hát, Hà Nội giống như một cái chuông và những tiếng kêu ấy là những cách khua động, người ta tự gõ vào trí tưởng mình, tự xé lòng mình, để nhẹ bớt nỗi nhớ mong, ám ảnh của Hà Nội, Hà Nội đã biến thành khuôn mặt người tình đầu tiên, khi người ta ghé môi hôn thì cũng là lúc cái hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm khảm. Những khu phố dịu dàng dưới sương đêm, sáng cái ánh sáng của vầng trăng lúc nào cũng giống như, trăng khi còn thơ ấu, và những cơn gió nhẹ thổi trên các lối đi, thổi lên các cành cây, chẳng khác những hơi thở nồng nàn tình ái, người ta không thể biết rõ cái vẻ dịu dàng của Hà Nội được tẩm đẫm nhan sắc, dáng vẻ của những người đàn bà, những cô gái Hà Nội, hay chính những người này thừa hưởng cái không khí êm đềm đó, những trận gió mang đầy hơi phù sa của sông Hồng, mùi cỏ của con đê Yên Phụ, mùi rượu ngang, rêu phong của những mái nhà cũ kỹ, của những bức tường thành của ngày Hà Nội bị xâm chiếm xa xưa, của các xưởng máy, của hoa đào, hoa sấu, sắc đỏ của những bông gạo vừa tàn rụng hết trong ngày hè với muôn ngàn tiếng chim kêu hót…”

Nguyễn Đình Toàn đã hiến cho đời những tác phẩm hay, với riêng với tôi, tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn đã theo bước chân thời gian của cuộc đời đeo đuổi tôi, qua những cuộc tình học trò, sinh viên, thơ mộng, dịu êm. Còn ngoài đời, tôi chỉ gặp ông đâu có hai, ba lần gì đó, cũng chẳng được dịp nói chuyện lâu, nhưng trong lòng tôi, lúc nào cũng mến mộ Nguyễn Đình Toàn.

Rất cảm ơn nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Trần Yên Hoà

Lá Diêu Bông. Tùy bút Đỗ Thái Nhiên


Đỗ Thái Nhiên

Xã hội là môi trường sống của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giúp con người giao lưu với xã hội. Sống đồng nghĩa với đối thoại. Tuy nhiên ngôn ngữ là ngôn ngữ chung. Sử dụng ngôn ngữ chung để diễn tả tâm tình riêng vốn là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp. Dưới chế độ độc tài hà khắc, người cầm bút đã phải vừa vận dụng ngòi bút với tất cả khó khăn của ngôn ngữ chung, vừa tinh vi lách tránh công an văn hóa bằng kỹ thuật: dùng cái hư làm nổi bật cái thực, nhắc đến cái thực với ẩn ý đẩy sự suy nghĩ hướng về cái hư. Đó là lý do giải thích tại sao trong lòng của chế độ CSVN đã xuất hiện một số các tác phẩm văn học nghệ thuật mang nội dung kỳ bí gần như huyễn hoặc. Không khí kỳ bí và huyễn hoặc kia là cả một lời mời gọi, thiết tha bao nhiêu, xoáy tim óc bấy nhiêu. Trên đỉnh cao nhất của thế giới thiết tha nhưng xoáy tim óc này, chúng ta tìm thấy bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm.

Lá Diêu Bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thờ đi tìm

Đồng chiều

Cuống rạ…

Chị bảo:

Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng.

Hai ngày,

Em tìm thấy lá

Chị châu mày:

– Đâu phải lá Diêu Bông.

Mùa đông sau,

Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu.

Trông nắng vãn ven sông

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!

Hoàng Cầm (1959)

 (Chân dung nhà thơ Hoàng Cầm)

Chúng ta hãy khảo sát bài thơ Lá Diêu Bông trên cả ba mặt: bản thể nhận thức và phương pháp.

BẢN THỂ của Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Hình ảnh vào đề bài thơ là hình ảnh lạnh lùng của chiều đông,

trên cánh đồng ngổn ngang “cuống rạ”, người chị tâm sự với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng”

“Hai ngày sau”, “mùa đông sau” người em khoe với chị:

“Em tìm thấy lá”

Mỗi lần em khoe “tìm thấy lá”, chị lại lắc đầu:

“Đâu phải lá Diêu Bông”

Thời gian trôi qua mà chẳng có “đứa nào tìm được lá Diêu Bông”, người chị đành phải đi lấy chồng:

“Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

Xe chỉ ấm trôn kim”

Có một lần, sau khi chị đã lấy chồng, người em lại khoe:

“Em tìm thấy lá”

Lần này, người chị phủ định một cách dứt khoát:

“Xòe tay phủ mặt

Chị không nhìn”

Mặc cho người chị dứt khoát không tin ở sự xuất hiện của lá Diêu Bông, người em vẫn miệt mài đi tìm Diêu bông… Thế rồi, đời sống thật là thảm sầu:

“Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

Ới Diêu Bông…!”

Đi tìm bản thể của bài thơ Lá Diêu Bông tức là đi tìm ẩn ý nằm đàng sau các câu hỏi: Chị là ai? Em là ai? Tại sao Lá Diêu Bông lai là một loài lá chỉ có trong mộng tưởng? Phần nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông sẽ cho chúng ta đáp số đối với các câu hỏi vừa nêu.

NHẬN THỨC về Bài Thơ LÁ DIÊU BÔNG

Nhận thức về bài thơ Lá Diêu Bông tức là nhận thức về mối liên hệ giữa tác giả và nội dung của tác phẩm. Đồng thời cũng là nhận thức về thái độ đón nhận tác phẩm từ phía người đọc. Trước hết, chúng ta hãy ghi nhận hai chi tiết sau đây của bài thơ:

– Chi Tiết Một: Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh gợi nhớ một chiều đông, trên cánh đồng trơ “cuống rạ”. Câu chuyện trong thơ là câu chuyện diễn ra trong nhiều năm: mùa đông này rồi lại đến “mùa đông sau”.

– Chi Tiết Hai: Bài thơ được sáng tác vào năm 1959. Trong liên hệ giữa mùa này với mùa kia: mùa Đông đến sau mùa Thu. Trong liên hệ giữa năm này với năm kia: năm 1959 đến sau năm 1945.

Mang hai chi tiết nêu trên đặt cạnh nhau, chúng ta thấy ngay rằng Lá Diêu Bông là bài thơ có chủ ý diễn tả những cảm nghĩ của tác giả về một sự việc đã thực sự xảy ra và thực sự có những yếu tố hiển nhiên để đánh giá. Sự việc đã xảy ra là sự việc gì? Đối với Hoàng Cầm, một nhân vật trọng yếu của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, sự việc đã xảy ra chẳng thể là gì khác hơn cái gọi là: Cách mạng mùa thu 1945. Mùa thu là mùa của “cách mạng” thì mùa đông là mùa nhân dân bắt đầu thắc mắc về “cách mạng”. Điều này cho chúng ta thấy không phải vô tình mà vấn đề Lá Diêu Bông được đặt ra vào mùa đông. CSVN đã trả lời hoài nghi của nhân dân đối với cách mạng bằng hai biến cố: Cải Cách Ruộng Đất và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1956).

Hoàng Cầm đã tài tình dùng hình ảnh chị và em để nói lên mối liên hệ giữa thế hệ này và các thế hệ sau. Chị là biểu tượng của thế hệ này: thế hệ của những người Việt Nam đã thực sự đau khổ dưới ách Cộng Sản, có kinh nghiệm về Cộng Sản. Em là biểu tượng của các thế hệ sau. Các thế hệ sau bao gồm những người vẫn còn tin tưởng ở một lúc nào đó, tại một nơi nào đó “các em” sẽ tìm được lá Diêu Bông.

Bây giờ chúng ta hãy trở về với nhân vật người chị. Đối với một thiếu nữ: ước mơ tha thiết nhất, ước mơ trang trọng nhất là ước mơ gặp được một người chồng tâm đầu ý hợp. Ước mơ này đồng dạng với ước mơ của nhân dân có được một chánh quyền thực tâm phục vụ tự do dân chủ. Ý niệm về tự do dân chủ đơn giản và rõ ràng như hình ảnh một chiếc lá. Thế nhưng đối với “ngụy quyền kiểu CSVN” thì tự do dân chủ phải là một loại lá không có thật: Lá Diêu Bông. Biết được thực chất phản dân chủ của CSVN, chị nói với em:

“Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay, ta gọi là chồng”.

Chữ “đứa” ở đây rõ ràng là cách xưng hô của chị đối với em. Văn hóa Việt Nam không cho phép vợ gọi chồng bằng “đứa”. Do đó, câu thơ vừa trích dẫn ở trên không thể bị hiểu rằng: đứa nào tìm được lá Diêu Bông, từ nay ta gọi đứa đó là chồng. Vậy thì người chồng mà người chị để ý tìm kiếm là ai? Thưa rằng: như đã trình bày ở trên, người chồng chỉ là hình ảnh biểu tượng cho nhà cầm quyền. Câu nói của người chị nên được hiểu như sau: người nào chứng minh được nhà cầm quyền CSVN thực sự tôn trọng tự do dân chủ (có được lá Diêu Bông), từ nay “ta” gọi nhà cầm quyền đó là chính quyền. Và dĩ nhiên, “ta” chấp nhận làm người dân ngoan ngoãn của chính quyền. Thái độ của “ta” chẳng khác nào thái độ của bà vợ hiền bên cạnh ông chồng mẫu mực.

Ngay sau “Cách mạng mùa thu”, guồng máy tuyên truyền của CSVN làm việc rất tích cực và ồn ào. Mỗi thắc mắc của quần chúng về tự do dân chủ (Lá Diêu Bông) đều được cán bộ Cộng Sản nhanh nhẩu giải đáp. Tuy nhiên:

Hai ngày

Em tìm thấy lá

Chị chau mày

Đâu phải lá Diêu Bông”

Thế rồi với thời gian, thực chất phản dân chủ của CSVN càng ngày càng phơi bày trắng trợn. Và, cũng với thời gian, người dân (người chị là biểu tượng) đành phải bó tay trước bạo lực của “ngụy quyền CSVN”, đành phải miễn cưỡng chấp nhận mối quan hệ “quan chức” và nhân dân. Quan hệ này được ẩn náu dưới quan hệ vợ chồng. Trong tình huống đó, nhóm chữ “tự do, dân chủ” chỉ có ý nghĩa của một mỉa mai:

“Ngày cưới chị,

Em tìm thấy lá

Chị cười

Se chỉ ấm trôn kim”

Điều đau đớn nhất nằm ở sự thể rằng: không riêng gì chị, mà con cháu chị, các thế hệ sau chị vẫn phải sống, phải tiếp tục âm thầm và nhọc nhằn bước trên con đường tuyệt đối không tự do dân chủ:

“Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt,

Chị không nhìn”

“Chị không nhìn” có nghĩa là chị đã hoàn toàn nhìn ra: tất cả những gì mà CSVN gọi là tự-do dân-chủ chỉ là chiêu bài. Thế nhưng thật là xót xa cho các thế hệ đàn em. Họ vẫn miệt mài đi tìm Lá Diêu Bông. Lá Diêu Bông sẽ không bao giờ có. Có chăng chỉ là muôn vạn sinh linh trong Cải Cách Ruộng Đất đang quyện vào “gió quê” để tạo thành lời than vãn bi thiết về một tự-do dân-chủ chỉ có trong mộng tưởng:

Từ thuở ấy…

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

– Diêu Bông hời…

Ới Diêu-bông…!

Bằng bài thơ Lá Diêu Bông, thi sĩ Hoàng Cầm có chủ ý nói với thế hệ chúng ta và các thế hệ mai hậu: đi tìm tự-do dân-chủ dưới chế độ Cộng Sản, chắc hẳn chúng ta sẽ đi đến kết quả: “Em đi trăm núi, ngàn sông, nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ!” (nhạc và lời Phạm Duy).

PHƯƠNG PHÁP LUẬN của bài thơ LÁ DIÊU BÔNG

Theo lời của tác giả Lý Kiệt Luân, có một lần Hoàng Cầm đã tâm sự với thân hữu: “Cái cuộc đời của tôi, ngẫm nghĩ cái gì cũng thế… nó cứ bị trói gom lại như… như… cái lá Diêu Bông! Nếu có ai bắt nguồn với tôi, dù chỉ là quen biết sơ khai ban đầu thì nó cũng từ cái lá Diêu Bông mà ra… Cho nên phải nói: nó là cái lá Định Mệnh của tôi hơn là gọi nó như là tên của một bài thơ” (Việt Nam News – Xuân Ất Hợi – trang 85).

Lời phát biểu kể trên của thi sĩ Hoàng Cầm chỉ là một kiểu nói khiêm tốn. Trong thực tế, Hoàng Cầm đã ban cho Lá Diêu Bông một sinh mệnh, chứ Lá Diêu Bông không hề tạo được định mệnh cho Hoàng Cầm. Bằng phương pháp nào Hoàng Cầm đã mang sinh mệnh đến với Lá Diêu Bông? Sinh mệnh của thi phẩm chính là sức sống của thi phẩm đó trong lòng người. Nói đến lòng người tức là nói đến sự thuận hợp với Lịch Sử quan. Cách nay hơn bốn thập niên, mặc dù bị chế độ Cộng Sản bưng mắt bịt tai, Hoàng Cầm vẫn nhìn ra Sử Quan con người: lấy tự-do dân-chủ làm hướng tiến của lịch sử. Lá Diêu Bông chuyên chở ba chủ ý:

– Tố cáo chế độ CSVN phản dân chủ, nhân quyền.

– Nói lên nỗi đau khổ của người dân bị “ép duyên” phải sống với chế độ độc tài.

-Trình bày những di hại của chế độ phản dân chủ qua nhiều thế hệ.

Điều quan trọng không là tác giả đã nghĩ gì khi sáng tác ra bài thơ. Mà điều quan trọng chính là những cảm nghĩ của người đọc trải dọc theo chiều dài sinh mệnh của bài thơ. Người nghệ sĩ không thể và không cần tiên liệu mọi phản ứng của người đọc đối với tác phẩm của mình sau một thời gian dài tác phẩm đó đã đi vào dòng đời. Người nghệ sĩ bao giờ cũng sáng tác trên lập luận rằng: bên cạnh tiêu chuẩn về nghệ thuật, phương pháp xây dựng sinh mệnh cho tác phẩm đòi hỏi tác giả phải có khả năng tạo điều kiện cho tác phẩm sống thuận chiều với lịch sử. Nói cách khác, tác giả cần có lịch sử quan thích nghi.

Tóm lại, bản thể của Lá Diêu Bông là ước vọng tự do dân chủ được gói ghém bên trong một câu chuyện thiết tha, trữ tình và duyên dáng. Nhận thức của Lá Diêu Bông là những nhận thức đạt mức quân bình hữu lý giữa hai nhu cầu. Bên này là nhu cầu an toàn của người cầm bút. Bên kia là nhu cầu chuyển gửi một cách trung thực những cảm nghĩ sâu sắc của tác giả đến với người đọc. Phương pháp của Lá Diêu Bông là phương pháp vận dụng lịch sử quan con người, lịch sử quan của tự-do dân-chủ nhân-quyền nhằm gầy dựng sức sống bền bĩ và hấp dẫn cho tác phẩm. Trên cả ba mặt bản thể, nhận thức và phương pháp, Hoàng Cầm quả thực là tác giả tuyệt hảo của Lá Diêu Bông.

Đỗ Thái Nhiên

Nguồn: http://vietluan.com.au/la-dieu-bong/

Nhà văn Dương Hà và Bên Dòng Sông Trẹm. Tuỳ bút Nguyễn Thị Hàm Anh


Nguyễn Thị Hàm Anh

Lời giới thiệu: Nhà văn, nhà báo Dương Hà vừa qua đời vào hôm thứ Hai 20.8.2018 tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi. Tên thật Dương Văn Chánh, sinh ngày 25-2-1934 tại Bạc Liêu và sống ở Sài Gòn. Ông là một nhà báo, nhà văn nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975, từng cộng tác với nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn và là tác giả của gần 60 tác phẩm, trong đó cuốn “Bên Dòng Sông Trẹm” được nhắc đến nhiều nhất. Bài viết dưới đây của tác giả Nguyễn Thị Hàm Anh viết cách đây vài năm và xin đăng lại để tưởng nhớ một trong những nhà văn hóa có tiếng ở Miền Nam trước 1975.

(Việt Luận – The Vietnamese Herald)

(Chân dung nhà văn Dương Hà)

Tôi qua phà Thủ Thiêm. Nhìn sông Saigon rộng lớn vỗ sóng bên mạn phà, tôi liên tưởng đến tên một con sông của cuốn truyện vừa mới xem. Sông Trèm Trẹm ở Cà Mau chia vùng U Minh thành hai miền U Minh Thượng và U Minh Hạ. Dòng sông chảy qua huyện An Minh (Kiên Giang) và Thới Bình (Cà Mau) đã trở thành nổi tiếng khi nó được đặt tựa cho một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Dương Hà: Bên Dòng Sông Trẹm.

Tôi đang trên đường đến thăm nhà văn. Trước kia ông ở đường Cao Thắng- quận 3, nay dọn về Thủ Thiêm- quận 2 ở cùng với một người con gái. Con đi làm suốt ngày. Thủ Thiêm còn vắng vẻ, ít hàng quán, chợ búa nên thỉnh thoảng ông phải vào nội thành mua thức ăn về dự trữ. Một mình trong căn nhà rộng rãi, buồn quá nên ông ra quán nước gần đó. Điểm tâm xong, với ly bia trước mặt, ông thường ngồi đấy luôn từ sáng đến chiều tối mới về. Ngày nào cũng đều đặn, giống nhau như vậy.

Mặc dù bữa rượu hôm trước còn ngầy ngật nhưng ông vẫn nhất định kéo mọi người ra ngoài. Ông cười nói: Ngồi quán mới khí thế…

Nhà văn Dương Hà tên thật Dương Văn Chánh, sinh năm 1934 tại Bạc Liêu, đáng lẽ học ở Cần Thơ, ông bỏ quê lên Saigon sống. Ông là bạn đồng môn với nhà văn Ngọc Linh, Hoàng Hải Thủy, Phượng Hải ở trường Tân Thanh. Lúc bấy giờ Tân Thanh có hai chi nhánh. Một trường nằm trên đường Phạm Hồng Thái do kỹ sư Phan Út làm hiệu trưởng, trường kia nằm ở cư xá Đô Thành do ông Thái Sanh Khương đứng đầu nơi nhà thơ Trần Tuấn Kiệt theo học.

Ở thành phố một thời gian ngắn, ông bắt đầu thử sức vào nghiệp văn rất sớm. Từ năm mới mười mấy tuổi, ông đã gửi truyện ngắn cho báo Tin Điển của Nguyễn Dân.

Sau đó vào năm 1952, ông làm thư ký toà soạn cho tờ Mạch Sống, Nhân Loại. Rồi chuyển qua thử viết phóng sự gửi cho tờ Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc.

Khoảng 53, 54, ông chuyển qua cộng tác với Saigon Mới. Bắt đầu công việc của một phóng viên quèn, ông chạy lui tới bệnh viện, tòa án, cò bót… để lượm lặt đủ loại tin cung cấp cho mục Từ Thành Ra Tỉnh. Tuy nhiên bà Bút Trà rất biết nhìn người, sau này bà không giao cho ông chạy phóng sự nữa mà chỉ chuyên viết tiểu thuyết hàng ngày thôi. Ông rất hợp với cái “e” của bà Bút Trà. Dần dần, giã từ luôn công việc phóng viên chuyên đi lấy tin vặt, nhà văn Dương Hà chỉ chuyên tâm vào lãnh vực tiểu thuyết. Mọi việc trở nên dễ dàng với ông. Khoảng 1955, 57, cùng lúc làm các phụ trang Điện Ảnh, Tân Nhạc, Kịch Trường, Sân Khấu…, ông viết feuilleton đầu tiên cho báo Saigon Mới, sau đó cùng lúc viết cho các tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Thẩm Mỹ…

Truyện hàng ngày hấp dẫn, phù hợp với độc giả phụ nữ của báo. Loại tiểu thuyết này lôi kéo lượng độc giả tăng hẳn lên, nhờ thế báo bán rất chạy. Ông bắt đầu nổi tiếng nhà văn viết feuilleton ăn khách. Cứ vừa đăng hết truyện trên báo là ông cho ra sách ngay. Truyện đã lôi cuốn trên nhật báo nên khi in thành sách tiêu thụ rất nhanh. Những cuốn này về sau đều được tái bản nhiều lần.

Làm phóng viên phải chạy lấy tin nhưng viết tiểu thuyết chỉ cần nằm nhà. Ông thuê phòng ở khách sạn Đại Nam, ngồi viết miệt mài suốt ngày. Đến giờ, thợ sắp chữ các báo đến tận khách sạn lấy bản thảo của ông.

Sau thời kỳ Hồ Biểu Chánh là Lê Minh Hoàng Thái Sơn… Ngọc Sơn rồi đến giai đoạn tung hoành của thể loại tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội feuilleton mà tiêu biểu là nhà văn Dương Hà, Trọng Nguyên, bà Tùng Long, bà Lan Phương…

Với giọng văn rặt Nam bộ, tiểu thuyết của ông rất được ưa thích. Ông lồng những câu chuyện tình yêu muôn đời vào bối cảnh thực tế. Khung cảnh, địa danh trong truyện đều có thật, ai cũng biết. Đó là màu đỏ quạch đặc biệt của nước sông Trèm Trẹm vào mùa mưa, hàng dừa nước ven kênh rạch, chiếc tam bản thương hồ ngược xuôi trên kinh Xã Thoàn, kinh Phó Sinh… Ngoài ra còn cảnh giã gạo, xay lúa, chèo thuyền… là những sinh hoạt ngày thường quen thuộc.

Vì thế khi đọc truyện, độc giả cảm thấy do địa danh có thực, trong bối cảnh với tình tiết thật mà ai nấy từng nghe đến, đi qua, thậm chí ở ngay đó. Những ngang trái, éo le, vì thế trở nên gần gũi, đời thường hơn. Câu truyện hư cấu dường như cũng biến thành chuyện thật xảy ra quanh quất. Tới nỗi ngay cả độc giả cũng có người tin nó từng xảy ra ở địa phương của mình.

Theo như cách viết tiểu thuyết bấy giờ, giống như Hồ Biểu Chánh, Lê văn Trương… nội dung truyện Dương Hà bao giờ cũng là những mối tình trắc trở, trong chiến tranh ác liệt, đạo lý cổ xưa vẫn được giữ gìn. Kẻ ác bị đền tội, người hiền lành nếu không nhận một kết cục có hậu thì đổi lại cũng được sự thông cảm, yêu mến của độc giả do nhân nghĩa luôn được đề cao.

Khi ấy thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết Dương Hà. Lúc đó, ông kết bạn thân với Hoàng Hải Thủy, Thanh Nam, Hoàng Anh Tuấn… Chủ nghĩa hiện sinh chỉ sau này mới xuất hiện với các nhân vật nổi loạn nằm trong một dòng văn học mới mẻ mang tên một loạt các tác giả mới.

Tác phẩm đầu tiên ra đời của ông là tập truyện ngắn có tên Bên Song Cửa. Sau này ông in sách ồ ạt. Tổng số đầu sách có đến năm, sáu chục quyển: Anh Ơi Đừng Yêu Em, Đứa Con Rơi, Em Vẫn Chờ Đợi Anh… Theo thời gian, sách bị mất, thất lạc, bị đốt cháy… nay chỉ còn sót giữ được độ bốn, năm quyển. May mắn trong đó có Bên Dòng Sông Trẹm.

Thật ra, đây không phải là cuốn tiểu thuyết ông thích nhất nhưng lại được độc giả ưa chuộng nhất. Khi nhắc đến tên Dương Hà là phải nhắc đến tác phẩm này. Đến nỗi rất nhiều người biết tiếng cuốn truyện dù chưa từng đọc qua.

Bên Dòng Sông Trẹm kể về mối tình trắc trở nhưng đẹp đẽ, đầy hy sinh cao quý giữa hai nhân vật chính là chàng điền chủ trẻ tuổi Triệu Vỹ và cô thôn nữ Mỹ Lan. Cuốn truyện phổ biến tới nỗi nhiều lần được đưa lên sân khấu kịch và cải lương. Hiện có hãng phim cũng đang muốn chuyển thể kịch bản dựng thành phim sau thành công của một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

Song song với việc viết feuilleton, ông còn ra báo. Đó là các tờ Miền Nam, Sống Mới, Diễn Đàn… nhất là nhật báo Dân và tuần báo Phụ Nữ Đẹp rất ăn khách. Vừa nhà xuất bản, vừa nhà in Đẹp, ông làm không xuể, lại cho ra nhà xuất bản Kim Lệ in sách của Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Nguyên Vũ… Nhà văn bản tính xuề xòa, công việc điều hành báo chí và nhà xuất bản chủ yếu do vợ ông trông nom. Bà quản lý giỏi nên nhà xuất bản phát triển mạnh mẽ. Vì thế ngoài lúc viết lách, ông dành thời gian chỉ rong chơi cùng bạn bè.

Vừa uống ngụm bia, ông lại nhấp ly rượu. Một vại bia và một ly rượu để trước mặt, ông uống xen kẽ tới lúc cả hai cùng cạn. Nhà tận ngoại ô, khó gặp bạn bè. Một bữa điểm tâm ngoài quán, một bữa tối sơ sài ở nhà, ông cứ mỗi ngày một mình đóng đô ngoài quán. Nhìn mông lung ra đằng trước quán, đám rau muống xanh biếc phủ dày mặt ao, ngoài xa xe cộ qua lại thưa thớt, ông than thở bạn già người mất hết, kẻ đi xa chẳng còn ai, độc ẩm mãi thật chán. Khi tôi hỏi còn viết tiểu thuyết nữa không, ông lắc đầu cười xòa:

– Tiểu thuyết gì nữa. Gác bút rồi. Bây giờ chỉ muốn viết hồi ký thôi.

Quả là ngay từ sát năm 75, ông đã bớt viết truyện mà chỉ in lại các tác phẩm cũ. Ông sống quá nhiều, kinh nghiệm, hiểu biết quá dày cho một cuốn hồi ký có thể ra đời. Nhưng rồi ông chỉ vào ly rượu trước mặt, lắc đầu nói ngay:

– Muốn viết lắm nhưng mắc cái này làm sao viết nổi!

Không phải bây giờ mới uống. Từ xưa vốn là người thích la cà, ông có thể ngồi uống với bạn bè cả ngày, cả buổi được. Một cuốn hồi ký chắc chắn rất hấp dẫn nhưng thật khó để thực hiện khi tuổi già đã nhấm nháp nỗi cô đơn vào men rượu.

Chỉ còn cuốn Bên Dòng Sông Trẹm mới tái bản nằm trước mặt ông. Đứa con yêu quý của đời văn sẽ còn lại mãi mãi với đời…

Nguyễn thị Hàm Anh

Phạm Thiên Thư. Bài viết của Võ Phiến


Võ Phiến

Nhà thơ Phạm Tiên Thư vah Hư Vô

(Nhà thơ Phạm Thiên Thư và Hư Vô)

Nguyễn Du có Đoạn trường tân thanh, ông có Đoạn trường vô thanh; Nguyễn Du có thơ Chiêu hồn, ông cũng có Chiêu hồn ca. Mặt khác, Phật có kinh Kim Cương, kinh Hiền Ngu, ông cũng phỏng soạn Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ v.v… Rồi sau tháng 5-1975 nghe nói có một độ ông toan vung bút làm sáng tỏ cách mạng giải phóng. Đời ông từng bị thu hút ngược xuôi nhiều hướng. Nhưng Phạm Thiên Thư làm văn nô không thành văn nô, làm sư cũng không hẳn ra sư. Con vạc bờ kinh nó ghẹo ông:

“Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ.”
(Động Hoa Vàng)

Phạm Thiên Thư chỉ đóng trọn vai tuồng xuất sắc khi ông trở về với chính mình, tức một tu sĩ đa tình. Và trong vai tuồng ấy ông thật tuyệt vời, đáng yêu hết sức.

Thử tưởng tượng: Nếu Phạm Thiên Thư sớm tối miệt mài kinh kệ, một bước không ra khỏi cổng chùa, không biết tới chuyện hẹn hò, không hề lẽo đẽo đưa em này đi rước em nọ về v.v… thì nền thi ca của chúng ta thiệt thòi biết bao. Lại thử tưởng tượng Phạm Thiên Thư quanh năm suốt tháng chỉ những em này em nọ dập dìu, nhớ thương ra rít, mà không màng tới kinh Hiền kinh Ngọc, không biết chuông biết mõ gì ráo, thì trong kho thi ca tình ái của ta cũng mất hẳn đi một sắc thái đặc biệt chứ.

Cho nên ông cứ ỡm ờ thế lại hay. Có tu mà cũng có tình. Cái tình của một người tu nó khác cái tình của người không tu, nó có nét đẹp riêng. Thật thế, khi yêu đương có lần ông kêu than vì một dáng hình mất hút:

“dáng em nho nhỏ
trong cõi xa vời”
(Ngày Xưa Hoàng Thị…)

“Dáng em nho nhỏ” là hình ảnh quen thuộc của phần đông các cô gái trong thơ ca, là chỗ gặp gỡ chung của mọi thi nhân đa cảm. Nhưng “trong cõi xa vời” là khung cảnh riêng của Phạm Thiên Thư, là cái không khí yêu đương riêng biệt của ông. Tu sĩ đa tình, ông làm cho thế giới yêu đương phong phú hẳn lên.

Xưa nay có ai mê gái mà kêu “tình ơi tình ơi”? Họa chăng chỉ có Phạm đại đức. Ông thù thì thủ thỉ, ông kêu khe khẽ những lời ân tình tha thiết không chịu được. Tình yêu của ông thật tội nghiệp. Không phải nó tội nghiệp nó đáng thương vì ông bị hất hủi, bị bạc tình, bội phản, vì ông gặp cảnh tuyệt vọng v.v… Không phải thế. Tội nghiệp là vì bên cạnh các mối tình vời vợi của ông lúc nào cũng thấp thoáng cái ám ảnh của kiếp sống mong manh, của cuộc thế vô thường, của cảnh đời hư ảo. “Dáng em nho nhỏ” cứ như lúc nào cũng chập chờn “trong cõi xa vời”, đáng thương là thế.

Nhớ thuở nào lá vàng rơi trên áo người yêu phơi trước gió thu, bây giờ người yêu không còn nữa:

“nay áo đã cuốn về thiên cổ
lá vàng bay lạnh nỗi niềm không.”
(Áo Thu)

Nhớ thuở nào người yêu đan áo tặng mình, áo chưa đan xong thì bỗng:

“rồi bỏ đó em vào thiên cổ
anh một đời ngóng áo thiên thanh.”
(Đan Áo)

Trong trường hợp tình nhân mất tình nhân, kẻ khác vật vã đau đớn, thì Phạm Thiên Thư lặng đi trước Không Hư. Ở đây không chỉ mất đi một người tình, một mối tình; ở đây là tan biến hết thảy, sự tan biến nó làm cho ta không buồn vật vã nữa mà thấy hụt hẫng, ngẩn ngơ.

Vả lại không phải chờ đến một cái chết mới đối diện Hư Vô, ngay cả khi đôi trẻ hãy còn đủ trên đời ông vẫn ý thức rõ ràng cái nhỏ bé chơi vơi của tình yêu:

“Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay.”

Đáng thương biết mấy cái cảnh:

“Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm.”
(Vết Chim Bay)

Không phải chỉ thương vì tìm chim biền biệt vốn khó; chính thương nhất là vì tình sầu vô lượng chẳng qua chỉ như một vết chim bay mà thôi. Ngay khi nói chuyện yêu đương đã nghe “lạnh nỗi niềm không”! Cái biệt sắc của tu sĩ đa tình nó hay là thế.

Vừa rồi trót buột ra mấy chữ “ân tình”, “tha thiết”, có thể gây sự hiểu lầm. Nói thế không phải có ý bảo ông Phạm có tài tán tỉnh giỏi giang hay ho. Ông không sở trường về khoa ấy. Tóm tắt, có lẽ ông không sở trường về khoa ái tình nào cả: nói năng, tí toáy, mánh lới quyến rũ mê hoặc v.v… đều không. Trông ông lành lắm, cổ điển lắm. Ông không có phát kiến nào trong lãnh vực yêu đương. Xuất hiện trước ông một thập niên kỷ, Nguyên Sa tỏ ra “mới mẻ” hơn nhiều: từ lời ăn tiếng nói khóe mắt đầu mày cho tới hoạt động tay chân bên cạnh người yêu đều linh hoạt tân kỳ.

Còn người tình lớp trẻ, lớp đàn em, là Phạm Thiên Thư lại hiền khô. Trong mối tình nổi tiếng nhất người ấy chỉ lẽo đẽo “gót giày thầm lặng” đi theo sau người yêu vậy thôi, trong bụng cũng muốn “tìm lời mở nói” nhưng mà cứ ngập ngừng cứ ngại ngần hoài. Mãi mới dám “trao vội chùm hoa”, thế rồi là… hết!

“trao vội chùm hoa
ép vào cuối vở.”
(Ngày Xưa Hoàng Thị…)

là tuyệt đích cuối cùng. Rồi trong những mối tình đậm đà táo bạo sau này cũng chỉ đến chỗ “dan díu bàn tay” mà thôi.

Đã có ai bắt gặp cái hôn nào trong tình yêu của Phạm Thiên Thư chưa nhỉ. Ái tình ở đây cơ hồ không nhằm mưu cầu hạnh phúc. Yêu nhau như thể không vì hoan lạc mà chỉ để cùng thấm thía cái tính cách bọt bèo của kiếp người. Ái tình không đưa tới hạnh phúc, cũng không đưa tới những quằn quại, ghen tuông, khổ đau, sầu não v.v… Nó chỉ đưa tới sự ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ trước mênh mông, vắng lặng. Trước Phạm Thiên Thư lâu rồi, vào thời kỳ văn học lãng mạn, nghĩa là thời kỳ của tình cảm dạt dào cao khiết, khi yêu đương Xuân Diệu liền bám sát: “sát đôi đầu, kề đôi ngực, trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài”, rồi “quấn riết đôi vai”, rồi “gắn chặt đôi môi” v.v… Vậy mà ông cứ kêu “Thế vẫn còn xa lắm”. Trong tiếng thơ tưởng nghe được cả hơi thở hổn hển. Nhà thơ cắn vào món ăn trần gian (nourriture terrestre), cắn mạnh dữ đa!

Sau này về già, Xuân Diệu trầm tư chín chắn, vẫn giữ một lập trường về thân xác:

“Không nền, sao dựng lầu thơ?
Không thân thể, chỉ bâng quơ cái hồn.”
(Thân Em)

Về già, Vũ Hoàng Chương gặp lại giai nhân trong giấc mơ cũng nằn nì:

“Em nhé!…, chiều anh, gần chút nữa
Cho anh tìm thấy chính em xưa.”

Khi em đã gần và anh đã tìm thấy, anh liền lính quýnh:

“Ớ, Chính em mà! Tất cả em
Đã về… Ôi trận gió nào đem!”
(Giấc Mơ Tái Tạo)

Tất cả em, tức là đủ cả nền thơ lẫn lầu thơ đấy, tức là không bâng quơ đâu. Các lão thi nhân không chịu cái bâng quơ nhé, ngay cả trong giấc mơ.

Nhưng trước nữa, trước xa, cách chúng ta hơn nghìn năm, ngót mười hai thế kỷ, tại quê hương đức Khổng, thì một vị tiến sĩ phong nhã như ông Bạch Cư Dị coi kỹ cũng khiếp lắm, không sao? Lúc thất thế sa cơ ông tư mã Giang Châu mặc áo xanh đêm khuya nghe đàn vẫn cốt cách ra gì, còn khi đắc ý ông làm thượng thư tại triều thì áo mũ cân đai, đường đường chính chính, uy nghi biết mấy. Vua trên trông xuống, muôn dân trông vào. Thế mà nói đến gái họ Dương, ông không ngại nói luôn tới cái lúc người ta đang tắm rửa kỳ cọ:

“Xuân hàn tứ dục Hoa Thanh trì
Ôn tuyền thủy hoạt tẩy ngưng chi”

Ông nói đến cả chuyện da thịt người ta trắng thế này thế nọ. Đứa xấu nết đọc tới dám bấn lên lắm.

Những bậc đàn anh, những bậc tiền bối và cổ tiền bối ấy, giá họ có dịp xem qua thơ tình của chàng thanh niên thời nguyên tử, thời hiện sinh, cái thời từng bị vu là sa đọa! Thơ tình của chàng là thứ thơ tình không có nụ hôn. Người tình của chàng là thứ người tình không da thịt. Đố thiên hạ tìm ra trong thơ chàng một nụ hôn, tìm ra những cặp môi mọng như quả nho, gò má ửng hồng như trái đào, những sóng mắt đắm đuối, ngực tròn phập phồng v.v…, đố như thế là đố khó quá. Thường thường chỉ có nón bài thơ, có hoa cài đầu, có áo hồng áo xanh v.v… Kẻ hăm hở xông tới cũng có thể bắt gặp môi, tóc và một bàn tay chẳng hạn. Bàn tay (cái phần rất ít thân xác trong thân xác), bàn tay vậy thôi, cũng như tóc như tai vậy thôi. Không mọng đỏ, không no tròn, không phập phồng, không đắm đuối, không long lanh v.v… Ồ, những chữ nghĩa ấy hàm ý thưởng thức, cái ý quá sỗ sàng đối với chàng. Thành thử em Ngọ, em Tí, gái gác chuông, gái giàn hoa, gái lều thơ, gái chong đèn v.v…, tất cả chỉ là một cái tên hay một bóng dáng. Tuyệt nhiên không thịt da. A! Gái nguyên tử này với trai hiện sinh nọ, xứng chưa!

Thân xác ư? Chẳng qua những tấm thân mảnh dẻ, mong manh, như liễu, như tơ, như sương. Những thân xác như thế không chịu được sự cận kề. Gái như thế họ chập chờn xa xa , họ ở chỗ “xa vời”, họ thường mất hút hoặc trong quá khứ, trong thời gian mịt mù, hoặc trong không gian diệu vợi, hoặc trong hư vô, trong “niềm không” buốt lạnh…

Mới vừa rồi lại trót nói Phạm Thiên Thư không xuất sắc về kỹ thuật ái tình nào, nói ái tình ở đây không có hôn hít, người tình ở đây không có xác thân háo hức v.v…, nói vậy lại e có sự hiểu lầm khác nữa. Như vậy hoặc có thiếu nữ nào đó ngờ rằng Phạm lang có phần lạnh nhạt hờ hững chăng? Không đâu. Trái lại. Con chim con thú không lời nói, chúng vẫn có linh tính để phân biệt kẻ dữ người lành, để biết rõ ai là kẻ thương yêu nó. Người tình họ Phạm không tỏ ra bạo dạn nồng nàn, nhưng nghe giọng thủ thỉ của ông chúng ta tin ngay là ông yêu đương chân thành. Chân thành chắc chắn không kém lòng ông mến đạo. Những mối tình chay tịnh của ông chẳng những là tình chân thành lại còn là tình tha thiết. Mà tình càng tha thiết thì cái chới với của nó trong kiếp phù du chỉ càng thấm thía.

Ðáp lời tạp chí Bách Khoa trong một cuộc phỏng vấn, Phạm Thiên Thư bảo ông cần có ba thứ trợ hứng cần thiết: thiên nhiên, sự yên lặng, và những quán cà-phê (Bách Khoa, số ra ngày 18-5-1974). Một cách thức trợ hứng vất vả: thiên nhiên phải đi với các quán cà-phê, sự yên lặng cũng phải đi đôi với các quán cà-phê, không khó khăn quá sao?

Nhưng khi đã có đủ ba trợ hứng cần thiết rồi thì ta thấy nhà thơ tha hồ phóng bút làm thơ liên hồi về ba (lại ba) đề tài: tôn giáo, tình yêu, thiên nhiên. Đó là những đề tài chính yếu của thơ Phạm Thiên Thư. Đáng tiếc, tôi không có sự hiểu biết để nói về tôn giáo. Đáng tiếc hết sức, vì nó rất là quan trọng. Tôn giáo tỏa ảnh hưởng lên tình yêu, lên thiên nhiên, trong thơ Phạm Thiên Thư. Tôn giáo tạo cho thi sĩ một phong cách yêu đương riêng, và một phong cách riêng trước thiên nhiên.

Nếu khi tôn giáo cặp với ái tình nó có làm cho người đời ngỡ ngàng đôi chút, thì khi tôn giáo đi với thiên nhiên, cái thế hòa hợp thật là thoải mái. Mà chắc chắn trong trường hợp này chính Phạm Thiên Thư cũng thấy thoải mái nữa. Cho nên ông nói đến cái sức trợ hứng của thiên nhiên mà không đề cập đến sức trợ hứng của ái tình, mặc dầu sức ấy đâu phải không đáng kể.

Thiên nhiên trong thơ họ Phạm thật đẹp. Khi sảng khoái nhà thơ lên nương, và:

“Cắp theo cái nậm khô bầu
Ta ra múc nước bên cầu suối xanh
Vào bầu mây cũng xô nhanh
Ngẩn ngơ cảm thấy không đành bước đi.”
(Nhớ Trang Trại Hồng)

Khi ngậm ngùi, ông trông ra một cảnh chợ xưa:

“Đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc
Tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu.”
(Đom Đóm)

Trang trại hồng đẹp mà động hoa vàng cũng đẹp, mây chảy vào bầu đẹp mà đom đóm tụ về nền chợ cũ cũng lại đẹp nữa. Có con mắt nhìn ra cảnh đẹp đã quí, mắt Phạm Thiên Thư trông cảnh chẳng những thấy đẹp lại còn thấy ra đạo. Thế rồi trong cảnh chẳng những “trông” thấy đạo, ông lại “nghe” thấy đạo. Ngày thì:

“Trang kinh mây nổi trước hiên nhà.”
(Kinh Mây)

Tối đến lại:

“Đêm nghe lau lách thầm thì
Họp nhau từng khúc kinh gì nửa khuya.”
(Nhớ Trang Trại Hồng)

Nhưng cứ đi nhặt nhạnh chỗ này chỗ kia những câu nói về kinh kệ, về tiếng chuông tiếng mõ v.v… để cho rằng thiên nhiên trong thơ ông nhuốm mùi đạo thì dễ dãi quá. Những câu những chữ như thế chỉ là cái để phô ra; ông Phạm không cần phô ra: đạo nó đã thấm vào tâm hồn ông, nhập vào từng cảnh vật thiên nhiên quanh ông. Tôi đã gặp ở ông những bài ngũ ngôn tứ tuyệt cực hay, kể chuyện tang thương dâu bể chuyện nghìn đời đau thương, trong những khung cảnh hoang phế điêu tàn, mà lời lẽ vắn tắt, ý tình kín đáo, không hề quá độ bi thảm. Tôi cũng gặp ở ông những buổi mai sáng lạn diễn bằng lời nhẹ nhàng khoan thai. Ở đây niềm vui không cuống quít, nỗi buồn không não nề.

Giữa một thời ác liệt đầy âm thanh và cuồng nộ, ông giữ được quân bình an lạc trong tâm hồn: Do đạo đấy chăng? Như thế hà tất dõi theo tiếng chuông tiếng mõ trong thơ ông làm chi.

Thành thử Phạm Thiên Thư có tu lại có tình, nhưng không phải tí ti l’amour tí ti la foi. Không phải thế. Ở đây tình yêu thì tha thiết, niềm tin thì chí thành. Không tí ti.

Phạm Thiên Thư xuất hiện muộn ngưng bút sớm, mà sự nghiệp thi ca của ông vẫn đồ sộ. Năm 1975, mới ba mươi lăm tuổi ông đã có ngót chục vạn câu thơ. Phong phú là một đặc điểm của thế hệ văn nghệ sĩ bấy giờ. Riêng ông Phạm, ông từng dùng đến những tiếng: vơi óc, ốm người, mửa máu v.v… để nói về sự cố gắng của mình (Tạp chí Bách Khoa, số vừa dẫn); tuy nhiên người ta thấy có những trường hợp không có lý do để cố gắng ông vẫn làm thơ rất nhiều rất nhanh. Cuốn Kinh Hiền mười hai nghìn câu ông viết trong một năm rưỡi: việc đạo phải nỗ toàn lực nên thế. Còn cuốn Quyên từ độ bỏ thôn đoài gồm 111 bài thơ ông cũng chỉ làm xong trong vòng hăm ba ngày. Mỗi ngày năm bài thơ, đều đều. Lý do gì vậy?

Không ai đi trách một người… làm quá nhiều thơ. Duy không biết có phải cái lượng đã hại cái phẩm chăng. Vì trong cái lượng đồ sộ nọ số dở khá nhiều. Trong lắm bài có những câu thật hay lạc vào giữa các câu dở làm ta tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Võ Phiến
11 – 1986
(Võ Phiến, Văn học Miền Nam, nxb. Văn Nghệ, California 1999)

Nhân Cách Bình Nguyên Lộc. Tùy bút Mai Thảo


Mai Thảo

Nhà văn Bình Nguyên Lộc và Mai Thảo

(Chân dung nhà văn Bình Nguyên Lộc và Mai Thảo)

Thời gian đầu, sau khi cộng sản đã lấy nốt được miền Nam là thời gian còn được để yên, chưa bị kết tội, chưa bị lùng bắt, tôi thường sáng sáng một mình đạp xe đạp qua một Sài Gòn tan nát tới thăm một nhà thơ và một nhà văn, ngưởi trước Bắc, người sau Nam, cả hai đều thuộc thế hệ trước tôi, cả hai đều đã tên tuổi lẫy lừng từ thời tiền chiến.

Những thăm viếng thường xuyên này của tôi, giữa Sài Gòn và trong đổi đời lúc đó được đọc bởi hai điều. Một, hai khuôn mặt lớn ấy của văn học Miền Nam, từ quốc nạn 1975, đã đóng kín địa chỉ, dựng cao lũy hoa, cắt đứt với đời, không ra khỏi nhà, muốn gặp họ tôi phải tìm tới. Hai, giữa cái thể chế chuyên chính đã trùm kín, chưa bao giờ trong đời tôi lại cảm thấy sự cần thiết lớn lao phải giữ chặt lấy một số thân tình bền vững tôi hằng mến yêu và kính trọng. Và hai cái đối tượng của thăm viếng thường xuyên thì với tôi lại là hai niềm mến yêu và kính trọng vô cùng. Nhà thơ miền Bắc tôi vừa nói tới là Vũ Hoàng Chương. Và nhà văn miền Nam, Bình Nguyên Lộc.

Vũ Hoàng Chương thời gian đó ở khá xa, mãi bên vùng Khánh Hội, trong một ngõ hẻm khuất khúc giữa phường Cây Bàng, trên căn Gác Bút lừng tiếng, nơi thi sĩ bị công an cộng sản tới bắt đem giam nhốt vào khám Chí Hòa rồi trở về trong hấp hối lâm chung và lìa đời ở đó. Bình Nguyên Lộc ở gần hơn. Thăm viếng do vậy cũng ngắn đường hơn, trong cuối đáy một con ngõ yên tĩnh một thời Vũ Hoàng Chương đã ở, khu Cô Giang Cô Bắc, đầu ngõ là con đường Huỳnh Quang Tiên, khúc từ con ngõ nhìn ra có những vì tường xám của hãng thuốc lá MIC chạy dài trước mặt.

Tới ngõ, tôi xuống xe dắt bộ đi vào, và ngừng lại trước một căn nhà một tầng cổ cũ, căn nhà này là của gia đình Bình Nguyên Lộc, nhà văn chỉ mới dọn về ở một thời gian từ sau cái chết của người con trai lớn là Bác sĩ Giám Đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, để sống gần với người chị ruột ở căn nhà kế cận.

Mở cánh cổng thấp, dựa xe vào thành tường, bên cạnh hai chậu vạn niên thanh trấn môn xanh ngắt, một màu xanh muôn thuở, tôi gõ nhẹ tay vào thành cửa đóng kín. Nhớ lần nào tôi cũng phải đứng chờ ít phút, nhưng không lần nào phải trở về. Căn nhà yên lặng hoàn toàn. Tiếng gõ cửa ngân vào thật sâu thật xa ở bên trong, rồi là tiếng chân người đi ra. Rồi là cánh cửa hé mở từ từ và cái thân hình nhỏ bé, bộ đồ ngủ lùng thùng và cái mái tóc rẽ giữa duy nhất của văn học miền Nam, cái mái tóc rẽ giữa của Bình Nguyên Lộc.

Bao nhiêu lần như bao nhiêu lần, và cảm giác này càng rõ rệt những buổi sáng tới bạn sau vực thẳm 1975, lần nào nhìn thấy Bình Nguyên Lộc, tao nhã, gầy guộc, trên cái nền mờ tối của căn nhà đóng kín, tôi cũng có được tức khắc, ở trong tôi, như một mầu nhiệm êm đềm, một ấm áp và một yên tâm không thể nào tả được. Ấm áp như cái thế giới tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc, không siêu hình, không gió bão, cái thế giới đã bốn mươi năm văn học ở trong đời sống và làm cho đời sống muôn vàn tươi thắm. Yên tâm như cái văn phong, cái nhân cách Bình Nguyên Lộc, dung dị mà bác học, đơn giản mà trí thức, Bình Nguyên Lộc con người và Bình Nguyên Lộc tác phẩm chính là niềm yên tâm lớn nhất một thời của văn học chúng ta.

Thấy anh, lần nào tôi cũng nói, cảm động thành thực:
– Còn được tới thăm anh.
Lần nào anh cũng cười:
– Còn được gặp anh. Vào đây.

Anh bảo tôi đưa xe vào nhà, kẻo xe mất “hết đường tới thăm bạn”. Đoạn đóng cửa lại, bật ngọn đèn đầu giường và đi về phía sau đun một ấm nước.

Giữa đám sách vở, tài liệu bề bộn, cạnh một chỗ nằm cũng là chỗ ngồi làm việc của ông, trước một khay trà, thật bình dân, không cầu kỳ như khay trà Vũ Hoàng Chương và những điếu thuốc đen ông đốt theo một nhịp điệu đều đặn, tôi thường ở rất lâu với Bình Nguyên Lộc. Tới trưa. Tới sau trưa. Tới cái gạt tàn có ngọn. Tới bình trà nguội tiếp thêm một bình trà. Một vài lần còn tới giữa bữa cơm ông ấy lấy thêm bát đĩa ép tôi cùng ăn, bữa ăn cực kỳ thanh đạm, chỉ một soong cơm và một con cá khô hấp nóng. Phải, nhớ lần nào tôi cũng ở lại thật lâu. Với cái mái tóc rẽ giữa. Với những cử chỉ chậm rãi. Với cặp mắt thông minh sau làn khói. Với những đứng ngồi lên xuống từ tốn. Trong cái thế giới rất riêng tây, cách biệt của Bình Nguyên Lộc, càng riêng tây, càng cách biệt từ cộng sản đã vào tới Sài Gòn.

Những lần tới thăm Bình Nguyên Lộc như vậy, ông thường nói ít lời như một tạ lỗi, nhờ tôi nói lại với anh em, với mọi người. Rằng từ ngày người con trai lớn mất, ông đã chẳng muốn đi đâu. Rằng chứng áp huyết nặng tối kỵ chững di chuyển, những họp mặt. Rằng “họ” đã vào tới rồi, thành phố là của “họ”, đời sống chẳng còn gì đáng thấy, đóng cửa trong nhà thôi.

Lập luận về một thái độ sống thu vào im lặng và ẩn dật, thoạt nghe ở Bình Nguyên Lộc tưởng thật dễ dàng. Sự thật, nó chẳng dễ dàng chút nào, với Bình Nguyên Lộc, với chế độ mới và Bình Nguyên Lộc, suốt thời gian ở đó. Và cái lý do giản dị chỉ là ông chẳng phải là một người viết văn như bất cứ một người viết văn nào mà là nhà văn hàng đầu, nhà văn lớn nhất miền Nam.

Bây giờ, đó là thời gian từ 30 tháng tư 75, tới đầu 76, Trung Ương Đảng Cộng Sản ở Hà Nội, tuy chưa phát động đàn áp và cầm tù văn nghệ sĩ, đã cho thi hành ở Sài Gòn một chính sách lũng đoạn hàng ngũ văn nghệ cực kỳ hiểm độc. Chính sách đó nhằm tạo kỳ thị, gây chia rẽ, giữa những nhà văn miền Bắc vào Nam trong đợt di cư 1954 với những nhà văn sinh trưởng ở Nam Phần. Suốt ba mươi năm văn học, Nam Bắc đã một nhà, Bắc Nam đã bằng hữu. Cộng sản muốn chấm dứt cái tình trạng hòa đồng tốt đẹp đó. Và người chúng đã dành hết mọi nỗ lực khuynh đảo là Bình Nguyên Lộc. Thoạt đầu là đám văn nghệ nằm vùng. Như Sơn Nam, Vũ Hạnh. Kế đó, đến nhóm văn nghệ của Mặt Trận Giải Phóng về thành, tạm thời được nắm giữ những địa vị quan trọng như Trần Bạch Đằng, Giang Nam, Anh Đức, nhiều kẻ đã quen biết Bình Nguyên Lộc từ xưa. Cuối cùng là đám nhà văn, nhà thơ công thần của chế độ và vào từ Hà Nội như Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận. Tất cả, trên từng địa vị khác biệt, đã viết thư, điện thoại ân cần thăm hỏi tác giả Đò Dọc, về sức khỏe, về đời sống của ông, nói thân thế ông mãi an toàn, sinh kế vẫn bảo đảm, sự nghiệp không chôn vùi, ông vẫn nhà văn lớn. Tất cả đã lần lượt đến khu Cô Giang Cô Bắc, tươi cười, nhã nhặn gõ cửa xin gặp người trong ngôi nhà có hai chậu vạn niên thanh. Bình Nguyên Lộc tiếp hết, từ tốn, chững chạc vậy thôi. Duy có một lần, không sao được, ông phải tới dự đại hội văn nghệ thống nhất lần thứ nhất ở Bộ Thông Tin cũ đường Phan Đình Phùng. Kỳ họp này, Vũ Hạnh, Thanh Nghị báo cáo kể công, Sơn Nam đóng trò nhiệt tình khóc lóc, riêng Bình Nguyên Lộc ngồi im lặng từ đầu đến cuối, không chịu phát biểu một lời nào.

Đó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng. Của tiếp xúc Bình Nguyên Lộc với chế độ mới. Cố nhân quen biết tương đối thân thiết nhất với anh là Giang Nam, được Thế Lữ ca ngợi là tiếng thơ cách mạng lớn nhất miền Nam, về Sài Gòn giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng, mặc dù đã viết cho Bình Nguyên Lộc một lá thư thật dài, thật tình cảm, cũng thất bại. Thư mời Bình Nguyên Lộc tới trụ sở Hội. Mời sinh hoạt. Mời hội họp. Mời viết lại. Và Bình Nguyên Lộc đã nhã nhặn viết một lá thư trả lời. Nói ông rất đau yếu. Nói bị chứng áp huyết. Nói chẳng còn làm được gì. Nói chẳng thể đi đâu. Nói xin được yên thân. Cuối cùng rồi mọi ve vuốt, mọi khuynh loát đều chịu thua, đều lùi bước trước sự nhã nhặn khuớc từ, trước cái nhân cách và sự tự trọng chói lọi của Bình Nguyên Lộc. Hò đành để cho Bình Nguyên Lộc được cách biệt, được một mình, được vẫn mãi mãi là Bình Nguyên Lộc trong căn nhà đóng kín.

Nhân cách trí thức độc lập ấy của Bình Nguyên Lộc, thái độ tuyệt vời của người nhà văn miền Nam ở Bình Nguyên Lộc, không một lần nào, ông phô trương mà chúng tôi đều biết, cả miền Nam đều biết và sung sướng vô cùng và quý mến rất mực.

Nhớ Bình Nguyên Lộc ở xa, tin tức quê nhà đã lâu không nhận được, chẳng biết vẫn còn hay đã mất, những lần sau cùng tới khu Cô Giang Cô Bắc, hình ảnh hai chậu vạn niên đại xanh ngắt một màu xanh muôn thuở trước ngôi nhà văn học đóng kín, lại trở về, xanh ngắt trong tôi.

Bình Nguyên Lộc. Cái mái tóc rẽ giữa, hai miền trung dung phân định như tấm lòng người quân tử một đường ngôi đời thẳng tắp. Bình Nguyên Lộc, bộ đồ lụa trắng, rất thông phán tòa sứ, rất trăng nước miền Nam, trên chiếc cyclo đạp chậm đưa ông tới gặp các tòa soạn Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề chúng tôi làm, phần lớn là anh em nhà văn miền Bắc. Không có Nam Bắc với Bình Nguyên Lộc, chỉ có văn chương, chỉ có hợp tác, chỉ có bằng hữu. Tôi làm biếng lắm, ít khi đi đâu, đến chơi tôi nhé. Thân tình, hòa nhã. Cái truyện ngắn này dục tôi viết gấp, thì phải viết gấp, không được tốt lắm, thôi dùng tạm vậy. Nhũn nhặn, bình dị. Một năm trong bốn năm liền cùng ở chung trong Hội Đồng Giám Khảo giải thưởng Văn Chương toàn quốc, ông từ chối nói chứng áp huyết không còn leo nổi những bực thềm cao của Dinh Độc Lập, cặp mắt đã yếu chẳng thể nào đọc hết được những tác phẩm dự thi. Nài mãi mới nhận. Nhưng cười, giao hẹn: “Vậy phải đọc hết giùm tôi, rồi đưa cho tôi đọc mười cuốn khá nhất.” Nghiêm chỉnh. Ngay thẳng. Năm đó, ông không vào Dinh Độc Lập được thật. Những bực thềm cao quá cho tài viết hàng đầu.

Rồi là cái công trình Văn Học cuối đời của Bình Nguyên Lộc. Cuốn Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam đã phác thảo, đã in thành sách, trọn năm năm trời, tìm kiếm, sưu tập, thu thập thêm một kho tàng tài liệu mới, đã hoàn tất thành một biên khảo vĩ đại hơn một ngàn trang. Cộng Sản vào Nam. Thiên biên khảo kỳ công vẫn còn là bản thảo. Một lần tới thăm, tôi hỏi Bình Nguyên Lộc về công trình văn học đó. Và đó cũng là lần thứ nhất tôi thấy Bình Nguyên Lộc buồn phiền và thất vọng. Trèo qua cái giường ngủ, ông lấy từ một giá sách cao xuống một tập bản thảo nặng chĩu, trao nó cho tôi.

Giọng ông trào lộng mà nụ cười thật buồn:
– Nó đây.
Và chỉ tay lên cái giá sách bụi bậm:
– Kia là mồ chôn nó.

Kế đó, ông thuật cho tôi hay về số phận của thiên biên khảo lịch sử, mà nguồn gốc dân tộc Việt, theo sử quan và chứng minh Bình Nguyên Lộc, không từ miền Bắc xuống mà từ biển ngoài vào. Một nhóm những người cao cấp về biên khảo lịch sử của nhà nước Cộng Sản từ Hà Nội vào, được nghe nói về công trình biên khảo này của Bình Nguyên Lộc. Họ tới. Tỏ lòng ngưỡng mộ, rồi xin được mượn tập bản thảo về đọc, nói sẽ có nhận xét, sẽ có thảo luận. Mấy tuần sau, tập bản thảo được gửi trả lại với một lá thư ngắn nói quan điểm lịch sử nói chung và nguồn gốc dân tộc nói riêng của Bình Nguyên Lộc hoàn toàn thoái hóa và sai lầm đối với quan điểm biện chứng duy vật lịch sử cách mạng, khoa học và tiến bộ.

Thuật lại xong, ông lắc đầu, sự thất vọng hiện rõ nhưng giọng nói vẫn từ tốn:
– Thế là gạt bỏ, thế là phủ nhận. Nói là để đối chiếu, để thảo luận, mà không có gì ráo trọi.

Tôi buồn vì cái công trình của mình, nhưng buồn hơn cả là cái sự gạt bỏ của miền Bắc đồi với sách tôi không phải là một thái độ văn học, không hề được đặt trên căn bản văn học. Nói đến văn học, tuyệt đối không thể nói đến một lập luận, một giá trị độc tôn nào. Phải nhiều lập luận khác biệt, phải nhiều khái niệm đối nghịch, một vấn đề văn học, một nghi vấn lịch sử mới được chiếu sáng. Khoa học lịch sử thiết yếu phải có được yếu tính và tinh thần đó. Tôi buồn nhất là ở cái sự không có tranh luận, không có đối thoại ấy mà thôi. Chứ không hoàn toàn vì sách tôi không bao giờ còn hy vọng được in ra.

Tập bản thảo nghìn trang, mồ chôn là cái giá sách bụi bậm. Hai chậu vạn niên thanh xanh ngắt một màu xanh muôn thuở. Trí thức dựng cao lũy hoa. Một nhân cách chói lòa trong tự trọng một đời, đã tám năm im lặng trong ngôi nhà đóng kín. Chẳng bao giờ tôi còn được sàng sáng tới thăm Bình Nguyên Lộc nữa và Vũ Hoàng Chương đã mất. Nhưng ở thật xa và cách thật lâu rồi mà rõ thì vẫn thật rõ. Về Bình Nguyên Lộc, nhà văn miền Nam hàng đầu của văn học ta rõ bởi cái ánh sáng ấy, cái ánh sáng của một nhân cách rực rỡ, tôi đã nhìn thấy không ngừng, sau đổi đời và giữa cộng sản, sáng sáng đạp xe qua một Sài Gòn đổi chủ ngừng xe lại trước nhà có hai chậu vạn niên thanh.

Mai Thảo

Nhà Văn Mai Thảo viết về danh ca Thái Thanh, năm 1971.


Mai Thảo

25CC34D5-A31B-43B8-B5A0-D0CF1840FC80.jpeg

(Chân dung danh ca Thái Thanh)

Bao nhiêu năm nay, mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh, từ một ca khúc tiền chiến như hơi thở tuyệt vời duy nhất còn lại của một thời đã mất, đến những bài hát mới, phản ảnh sinh động cái hơi thở trăm lần đầm ấm hơn của âm nhạc bây giờ, tôi không khám phá mà chỉ thấy trở lại trong tâm hồn và thẩm âm của mình một số rung động và liên tưởng cố định.

Những rung động ấy đã có từ lâu, những liên tưởng ấy từ đầu đã có. Chúng có từ Thái Thanh với bài hát thứ nhất, và nguyên vẹn như thế cho đến bây giờ. Chẳng phải vì con người thưởng ngoạn âm nhạc trong tôi không có những thay đổi. Cũng chẳng phải vì tiếng hát Thái Thanh là một thực thể âm nhạc bất biến và bất động, không có những thay đổi.

Đã hai mươi năm Thái Thanh hát. Lịch sử âm nhạc ta đã được đánh dấu bằng cái hiện tượng khác thường, duy nhất, là Thái Thanh tiếng hát hai mươi năm. Nếu mỗi con người, mỗi vật thể đều được thực chứng như một biến thái thường hằng trước va chạm khốc liệt dữ dội với đời sống mỗi ngày là một khuôn mặt mới, một tiếng hát, dẫu vượt thời gian như tiếng hát Thái Thanh cũng vậy. Bằng chứng là Thái Thanh của những năm bảy mươi, Thái Thanh của bây giờ không thể và không còn là Thái Thanh của những năm tháng khởi đầu.

Mọi người dễ dàng nhận thấy như tôi là, chuyển lưu không ngừng qua nhiều vùng trời âm điệu khác biệt, hòa nhập không thôi vào mọi không khí, trào lưu âm nhạc và trình diễn thay đổi từng năm, từng mùa như mưa nắng, chính tâm hồn và ý thức người hát, trong mối liên hệ mật thiết một đời với nhạc, thế tất có những biến chuyển. Tiếng hát vì thế cũng đổi thay theo. Nói Thái Thanh hát bao giờ cũng vậy là sai. Lấy một bài hát bây giờ, một bài hát trong mười bốn ca khúc của băng nhạc Tơ Vàng chẳng hạn, cùng nghe với một bài hát cũ, ta thấy ngay, trên cái tiến trình và thành tựu rực rỡ của hai mươi năm đi tới không ngừng, tiếng hát Thái Thanh đang đích thực được lồng đựng trong một kích thước, một tinh thần mới. Sự thay đổi đó không ngẫu nhiên, chẳng tình cờ. Nó biểu hiện cho cái nỗ lực chính yếu của người hát tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngủ yên trên những thành công đã có.

Hát với Thái Thanh là một tình yêu muốn cháy đỏ một đời, phải được làm mới từng ngày. Lối hát, cách hát, từ kỹ thuật trình bầy một ca khúc đến cái khó nhận thức hơn, vì ở bên trong, nhưng không phải là không thấy được, là trạng thái tâm hồn Thái Thanh gửi cho âm nhạc, cái phải có và phải thế nào cho tiếng hát của mình bây giờ, trước trưởng thành vượt bậc của âm nhạc và thưởng ngoạn hiện tại, thảy đều dẫn tới một minh chứng: Thái Thanh của những năm bảy mươi đã bỏ lại thật xa ở sau lưng và trong quá khứ, Thái Thanh của thời kỳ khởi nghiệp. Không nhận thấy nỗ lực thay đổi, làm mới này, đó chỉ là vì những người yêu nhạc đã nghe Thái Thanh đều đặn, không đứt quãng, suốt hai mươi năm. Nhìn thấy hoài một khuôn mặt quen thuộc, giản đơn là ta khó thấy những thay đổi của khuôn mặt ấy.

Điểm đặc biệt đáng nói, theo ý tôi, là nếu một mặt, tiếng hát Thái Thanh đã và đang còn vươn phóng rực rỡ tới bắt gặp những chân trời âm điệu mới, phía thưởng ngoạn và tiếp nhận ở rất nhiều người, trong đó có tôi, lại bất biến, từ đầu, không thay đổi. Hai mươi năm, chúng ta vẫn chỉ thấy có một Thái Thanh. Sự ngạc nhiên lại chính là cái hiện tượng muôn vàn quen thuộc. Tại sao như vậy? Tìm hiểu tiếng hát Thái Thanh, cái bởi đâu khiến cho tiếng hát hàng đầu này tồn tại suốt hai mươi năm, trong khi những tiếng hát khác đã tiếp nối nhau lặn chìm và tàn tạ. Cái tại sao, khiến cho sau hai mươi năm, khối lượng cảm tình của khán giả yêu nhạc cả nước dành cho Thái Thanh vẫn đầy ắp như một bát nước đầy, tìm hiểu đó phải được khởi đi từ cái hiện tượng khác thường của thưởng ngoạn tôi vừa nói tới. Nó giải thích được cho cái trường hợp thành tựu duy nhất trong âm nhạc ta. Của một tiếng hát.

Ở một bài giới thiệu ngắn trong một chương trình Nhạc Chủ Đề thực hiện trước đây trên làn sóng điện đài Saigon, nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã nhận định về tiếng hát Thái Thanh như một giọng ca không có tuổi. Táng láng, hồng tươi, không quá khứ. Nhận định này chỉ nói đến một sự thực hiển nhiên. Tốt tươi và phơi phới, bay bổng và cao vút, tiếng hát Thái Thanh hai mươi năm nay là một hơi thở bình minh, ở đó không có một dấu vết nhỏ của tháng năm và quá khứ đè nặng. Đã là một giòng sông đầy, nó vẫn còn là cái thánh thót, cái trong vắt của một giòng suối, nước reo thủy tinh, sỏi lăn trắng muốt. Như một bông hoa không nở và tàn trong một buổi sáng, mà hoa đã mãn khai, vẻ hàm tiếu vẫn còn. Tiếng hát trẻ trung vĩnh viễn, không tuổi, không quá khứ là vì nó tạo mãi được cho người nghe cái cảm giác mát tươi đầu mùa như vậy. Cái não nùng, cái thê thiết rũ rượi là những cái làm già. Thái Thanh không hát cái chết bao giờ, trong cả những ca khúc nói về cái chết. Tiếng hát không bao giờ là một tiếng khóc, nó là đời sống, tiếng cười, và mặt trời. Những cái đen, những cái tối, gì là vũng lầy, gì là vực thẳm, ở ngoài tiếng hát Thái Thanh. Ở ngoài. Không đột nhập.

Nhưng nếu chỉ nói đến cái hiện tượng không có tuổi nằm trong một phía duy nhất là tiếng hát, không đủ. Không có tuổi còn ở phía đối diện, phía người nghe. Nghe Thái Thanh lúc nào cũng vậy, phút rất vui cũng như phút thật buồn. Nghe Thái Thanh ở một nơi chốn nào cũng thế, tiếng hát hàm chứa và phát hiện trong nó một hiệu lực đồng hóa, khiến cho tình yêu của hàng trăm ngàn người gửi cho tiếng hát Thái Thanh có thể thâu tóm toàn vẹn trong một người, trở thành cái có một. Trên dàn nhạc một phòng trà kín bưng mịt mùng khói thuốc, trên thảm cỏ một chương trình từ thiện ngoài trời, ngày nào dưới cái vòm cao vút của Nhà Hát Lớn Hà Nội, bây giờ dưới những đêm sao rực rỡ miền Nam, trên băng nhạc 1800 “phít” hay trên dĩa nhựa 45 vòng, tiếng hát gửi đến, gián tiếp, hay người hát đối diện trực tiếp với đám đông, bằng nhạc Văn Cao, Phạm Duy hay nhạc Hoài Bắc, Cung Tiến, hiệu năng đồng hóa và hiệu lực dẫn độ của tiếng hát Thái Thanh, vĩnh viễn phát xuất từ một khởi điểm tình cảm cố định. Nó dẫn dắt rung động người nghe hát tới những xúc cảm, những liên tưởng cố định. Không một người nào “lỡ” tiếng hát Thái Thanh. Đã gặp một lần là trùng phùng mãi mãi. Chẳng phải vì Thái Thanh đã hát hai mươi năm, còn hát, chỉ đơn giản là chúng ta đã nghe bằng cái trạng thái thuần túy, trong suốt nhất của thưởng ngoạn, nghe bằng cái không tuổi thênh thang phơi phới của mình. Tôi gọi vùng cảm xúc và liên tưởng cố định ấy là quê hương tiếng hát Thái Thanh. Như cây kim trong địa bàn chỉ xoay về hướng bắc, người nghe nào cũng gặp lại, bằng và với tiếng hát Thái Thanh, một thứ quê hương tình cảm muôn thuở trong mình. Chúng ta nói tiếng hát này gợi lại kỷ niệm, đánh thức trí nhớ, đâu phải vì tiếng hát Thái Thanh chỉ hát những bài hướng về kỷ niệm. Chúng ta nói tiếng hát Thái Thanh thân ái, tình nhân, bằng hữu, chỉ là người nghe đã thân ái, bằng hữu, tình nhân với chính mình, từ tiếng hát. Tôi nghĩ đó là nguyên nhân xâu xa đích thực nhất giải thích chu đáo cho khối lượng cảm tình đằm thắm, vững bền, không lạt phai, không lay chuyển, mà quần chúng yêu nhạc ba miền đã dành cho Thái Thanh từ hai mươi năm nay.

Đặt vào tiến trình và hình thành của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tiến trình đó nhất định phải đưa tới một đoạn tuyệt hoàn toàn với những giòng nhạc cũ, hình thành đó tất yếu sẽ nâng đẩy âm nhạc tới những biểu hiện sinh động bay múa nghìn lần hơn cõi nhạc quá khứ, tiếng hát Thái Thanh, hơn mọi tiếng hát khác ở điểm này, hội đủ điều kiện cho một thăng hoa và một hòa nhập lý tưởng. Bởi sau hai mươi năm, nó vẫn là một ra khơi, một lên đường, của những năm bảy mươi và cho những năm bảy mươi, âm nhạc đang được định nghĩa lại, từ phía sáng tác, trình diễn, đến phía thưởng ngoạn. Trước đòi hỏi của một lớp người yêu nhạc càng ngày càng vươn tới những vùng nghệ thuật đích thực, những bước tiến lớn lao ghi nhận được về nghệ thuật hoà tấu, kỹ thuật hoà âm chúng ta thấy thể hiện trong một băng nhạc bây giờ, là những dấu hiệu mở đầu cho một trưởng thành toàn diện.

Tiếng hát Thái Thanh là một đồng nghĩa toàn vẹn với hiện tượng trưởng thành này. Không phải là trong quá khứ, mà bây giờ mới vẹn toàn tiếng hát Thái Thanh. Trên tinh thần này, và trước viễn tượng sáng tươi của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tôi không nghĩ Thái Thanh đã tới, mà nói Thái Thanh mới bắt đầu.

Đừng đặt câu hỏi là sau hai mươi năm, bao giờ Thái Thanh vĩnh viễn giã từ âm nhạc. Mùa nhạc này, chúng ta mới chỉ đang nghe những bài hát thứ nhất của Thái Thanh, những bài hát đánh dấu cho một khởi hành mới, những bài hát mở đầu cho một sự nghiệp thứ hai. Những người yêu mến tiếng hát Thái Thanh từ hai mươi năm nay, chắc đều nhận thấy với tôi như vậy.

Mai Thảo
(Lời tựa cho băng nhạc Tơ Vàng 4 – tiếng hát Thái Thanh)

Trong Hội Hoạ – Đinh Cường Là Thi Sĩ Của Hoài Niệm. Trịnh Công Sơn


Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn - Đinh Cường

(Chân dung Trịnh Công Sơn và Đinh Cường)

Đầu những năm 60, bóng dáng của Modigliani và của những bậc thầy các trường phái hội họa mới thấp thoáng đi về dưới những bức tường cổ rêu phong của Đại Nội. Ở đó có trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế và ở đó cũng có Đinh Cường.

Rất nhiều mùa màng đã đi qua những căn phòng trọ luôn dời đổi. Trong những căn phòng đó đã có một thời, thi ca và âm nhạc đã sống cùng với hội họa, và đã cùng hít thở đến quen thuộc cái bầu không khí hăng hắc mùi sơn dầu còn tươi từ những tấm toile (bố vẽ) mới phác thảo, đang tìm tòi.

Đó là cái thời của những tuổi hai mươi tìm gặp nhau trong một mối đồng cảm về nghệ thuật. Cái tuổi của lãng mạn, trữ tình và đầy chất hào hoa phong nhã.

Tôi đã gặp Đinh Cường vào thời điểm ấy. Trong những đêm mùa đông, băng qua khu vườn rộng ẩm ướt mưa ở Bao Vinh, trước khi gặp Cường bao giờ tôi cũng phải “diện kiến” với một con mắt đỏ lập lòe của ngọn đèn dầu trên am thờ. Đó chính là cái point riche (điểm tráng lệ) của đêm đen mà về sau này tôi vẫn thường bắt gặp trên tranh của Cường.

Với cái nền lãng mạn đầy tính chất thi ca, Đinh Cường đã say sưa “vọc” sơn dầu và nhồi nặn tâm hồn mình vào trong ấy. Thời gian ấy, tôi rất hiếm thấy những họa sĩ trẻ sử dụng sơn dầu nhuần nhuyễn như Đinh Cường. Và đó cũng là giai đoạn của những “khỏa thân xanh” (nu blue), “khỏa thân hồng” (nu rose) phảng phất đường nét của Modigliani, một trong những bậc thầy về chân dung mà anh rất ngưỡng mộ và yêu mến.

Sức làm việc của Đinh Cường trong những năm ấy đã gây cảm hứng rất nhiều cho bạn bè làm văn nghệ ở quanh anh. Tuy đang ở trong những năm đầu của nghề nghiệp nhưng anh đã biết tạo cho mình một vòm khí hậu riêng biệt. Đó là cái khí hậu đầy lôi cuốn mà người ta thường tìm thấy trong thế giới của những nghệ sĩ đã trưởng thành trong tác phẩm cũng như trong lối sống. Ở đó người ta chỉ bắt gặp sự sáng tạo, nỗi đam mê không bờ bến và những giấc mơ kỳ diệu.

Được sự cộng sinh của những trào lưu mới mẻ của văn học nghệ thuật thế giới lúc bấy giờ, Đinh Cường đã buông thả đôi cánh phóng khoáng của tâm hồn mình để có dịp mang thế giới màu sắc về những biên giới sáng tạo không hình thể. Theo thời gian, cùng với nỗi đắm đuối khôn cùng đối với chất liệu sơn dầu, anh đã biến những linh cảm của thế giới tinh thần trước đời sống và thiên nhiên thành những khối màu nói bằng thứ ngôn ngữ thầm lặng. Những khuôn mặt thiếu nữ, hoa, lá, núi, đồi… có lúc đã nhòe đi và hòa lẫn, tan biến vào nhau, để trở thành cái tinh khiết, cái thuần chất nhất, đó là cảm xúc, là sự rung động đã được lọc sạch trước thế giới bên ngoài.

Đinh Cường là con người sống để vẽ và đi. Đi với Đinh Cường đồng nghĩa với hạnh phúc. Một thời tuổi trẻ chúng tôi đã cùng đi và đã sống những mảng đời đầy thơ mộng. Đi và sống giữa cuộc đời mênh mông như những nhà thám hiểm cô đơn mà kẻ dìu dắt cũng chính là bản thân mình. Có khi về giữa một thị trấn, có khi ở trong lòng một thành phố nhỏ và cũng đã có nhiều tháng ngày về ẩn dật trong một căn nhà sàn nằm trơ trọi giữa rừng núi vùng Kađô.

Cái vốn liếng một đời người có được cũng từ những chuyến đi đó – Đi, để tạo một khoảng cách cần thiết đối với cuộc sống quen thuộc của mình, để ngẫm nghĩ về nó. Đó cũng là khoảng cách, bước lùi cần thiết cho một họa sĩ để có một cái nhìn quán xuyến hơn trước bức tranh mình đang vẽ. Đinh Cường vẽ tranh như người ta thở. Nhưng để đạt được sự dễ dàng đó không phải ai cũng làm được. Trong Đinh Cường, có sự phóng khoáng bềnh bồng của một người nghệ sĩ nhưng đồng thời cũng có sự cần mẫn, tinh tế của một người thợ.

Blues xanh

(Blues Xanh – Đinh Cường)

c491e1bb91m-le1bbada-mie1bb81n-c491e1bb93i-nc3bai

(Đốm Lửa Miền Đồi Núi – Đinh Cường)

Qua một phần tư thế kỷ, Đinh Cường đã mang đến cho những người yêu hội họa, qua những phòng tranh trong nước cũng như ở nước ngoài, hoặc trên sách báo, gần cả ngàn bức tranh lớn, nhỏ, và minh họa. Nhớ lại những phòng tranh cũ và được xem những bức tranh mới, tôi chợt nhận thấy rằng trong Đinh Cường luôn luôn có một sự trở về. Anh không có cái logic của người luyện kim từ một mẩu sắt thô biến thành một thanh kiếm đẹp. Anh như mang trong mình một nỗi nhớ không nguôi đối với kỷ niệm. Trong tranh của Đinh Cường không có bóng dáng của cái gọi là sự trở thành (le devenir). Anh có vẻ như đang còn mải đi tìm cái tuyệt đối trong sự tương đối được lặp đi lặp lại mãi của một đời người. Tìm đến thế giới tranh của Đinh Cường là tìm đến với sự yên tĩnh đẫm chất thơ mộng. Dưới nét bút của anh, không có hình bóng của sự bạo hành hoặc sự nồng nhiệt đầy cuồng nộ của những tâm hồn phương Tây. Cái màu xanh lạnh được chuyển qua nhiều sắc độ khác nhau cùng màu hồng nồng nàn trong những bức tranh xưa vẫn còn tìm thấy lại trên những tấm tranh mới. Rõ ràng Đinh Cường không muốn tìm kiếm hoặc chạy theo những trường phái mới nữa. Anh đang dừng lại trong những biên giới của chính mình để tìm kiếm qua hình thể, sắc màu, cái vẻ đẹp lung linh của một giấc mơ không nắm bắt được.

Nhìn những bức tranh mới đây, với khung cảnh quen thuộc của núi rừng Đà Lạt, Lâm Đồng, tôi như vẫn còn nghe thấy được chút nắng vàng rơi dưới thung lũng, đốm lửa bập bùng trên những đường đèo và cả tiếng lục lạc trên cổ con ngựa trắng kéo khoang xe chở Đinh Cường một mình từ quận Đơn Dương trở về căn nhà sàn gỗ ở Kađô trên tay cầm nải chuối và chai xăng để rửa cọ.

Đà Lạt, Huế cùng những màu đất đá rêu phong là nỗi ám ảnh và cũng là nỗi nhớ triền miên của Đinh Cường.

Trong hội họa, tôi gọi Đinh Cường là thi sĩ của hoài niệm.

Trịnh Công Sơn
(Tạp chí Sông Hương)

 

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: