Bạn Xưa Mai Thảo. Hồi niệm Phan Lạc Phúc


Phan Lạc Phúc
Hồi niệm (KHỞI HÀNH hải ngoại – số 16 Tháng Hai 1998).


Gần Tết năm Canh Thân (1992) khi vừa tới Úc được nửa năm, vợ chồng già chúng tôi đi Mỹ thăm thân nhân, bè bạn. Chúng tôi có con gái đầu lòng ở San Diego – Cali. Dạo mới sang định cư ở Úc con gái đầu của tôi cũng ở Sydney. Nhưng sau chú nó tức là em ruột tôi P.L.T., gọi nó sang Mỹ chơi, rồi chú thím nó thay mặt chúng tôi gả chồng cho cháu. Thế là con tôi lập gia đình ở gần bên chú vùng San Diego. Khi chúng tôi sang được đến nơi anh em bè bạn trên đất Hoa Kỳ biết là chúng tôi rách nên anh em ở nhiều nơi gửi cho cái vé máy bay để tôi có dịp tới thăm bè bạn. Tôi đã được dịp đi Minnesota thăm Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Cao Đàm, Vũ Quang, Cung Tiến, – đi Seattle thăm Vũ Đức Vĩnh, Phạm Hậu, Hà Huyền Chi, – lên San Jose thăm Hà Thượng Nhân, Vũ Duy Hiền. San Diego không xa miền Santa Ana… nên tôi có nhiều dịp lên thăm anh em bè bạn vùng Little Saigon – và vợ chồng tôi cũng đã lên Los Angeles thăm anh chị Võ Phiến.

Nhưng trong dịp viếng thăm Hoa Kỳ năm ấy có một người bạn lại đi xe hỏa về San Diego chơi với gia đình chúng tôi. Đó là Mai Thảo. Mai Thảo ở Santa Ana, đi xe hỏa vài ba tiếng đồng hồ là tới San Diego, đã được thông báo trước, gia đình chúng tôi ra ga chờ đón. Chúng tôi đứng ở ngoài sân. Con gái tôi vào nhà ga đón bác Mai Thảo. Một lát sau, đã thấy hai bác cháu đi ra. Con gái tôi một tay xách cái valise nhỏ, một tay nắm tay ông bạn già của tôi mà tung tăng bước tới giống như bố con một gia đình nào đó vừa đi du lịch ở xa về. Trước 1975 Mai Thảo là người bạn rất gần gũi với gia đình chúng tôi. Tôi đã từng đưa con gái tôi lúc đó nó vừa mới lớn lên, cùng với bác Mai Thảo đi mua sách ở Xuân Thu hoặc là ăn sáng ở La Pagode. Con tôi rất thân với bố nên nó rất quí bạn của bố. Chính con tôi trong điện thoại trước đó mấy hôm đã thưa với bác Mai Thảo “mời bác về chơi San Diego nhà cháu vài ngày. Bố mẹ cháu chắc là vui lắm  – mà cháu cũng rất sung sướng”.

Hôm nay con tôi bày tỏ sự vui sướng ra mặt khi nó đích thân đi đón bác Mai Thảo ở nhà ga. Trên đường về nhà, nó còn dừng lại một tiệm Liquor nổi tiếng, đưa bác Mai Thảo vào và thưa “Bác thích rượu nào để cháu mua vài chai bác uống…” Bạn tôi xưa nay tính lừng khừng ít nói, sống một mình, không gia đình không vợ, không con mà bữa ấy bỗng bật cười và nói “Con nhỏ này, năm nay nó ba mươi mấy tuổi rồi mà vẫn lăng săng như trước nhỉ…

Không những tôi mà vợ con tôi đều biết là đón bác Mai Thảo thì việc đầu tiên là phải có rượu. Tôi cũng ít khi kể chuyện bạn bè cho gia đình vợ con nghe nhưng có một chuyện khiến tôi bắt buộc phải nói đôi điều về bạn tôi Mai Thảo. Năm ấy không nhớ rõ là năm nào, đầu vào khoảng cuối thập niên 60. Một ngày ba mươi Tết cập rập, sôi động và đông đảo người của Saigon. Tôi đi làm. Mẹ cháu thì bận cửa hàng cho nên chỉ còn chiều ngày 30 mà bao nhiêu việc phải làm cho xong. Trên chiếc xe nhà, chở chật cứng mẹ cháu và một lũ con, chúng tôi phải ráng đi vào cuối đường Phan Đình Phùng (bây giờ gọi là đường Nguyễn Đình Chiểu) vào nhà hàng giò chả Nguyên Hương nổi tiếng lấy vài cân giò về ăn Tết.

Đường chật ních người, ai cũng lăng săng vội vã đi sắm cho xong cái Tết. Xe chuyển dịch khó khăn, vất vả. Đến ngã tư Phan Đình Phùng – Nguyễn Thiện Thuật tôi chợt trông thấy bạn tôi Mai Thảo đang ở góc đường. Bạn tôi đứng đó, khoanh tay, nhàn tản… một biểu tượng khác hẳn với đám đông đang chộn rộn xung quanh. Tôi vội gọi lớn Mai Thảo, Mai Thảo nhưng trong cái ồn ào, náo nhiệt của chiều cuối năm đi sắm Tết, tiếng gọi của tôi chìm vào đám đông. Tôi thì tôi hiểu tại sao bạn tôi đứng đó. Bao nhiêu năm quen sống không nhà, lúc nào bạn tôi cũng cần một nơi để đến. Nhà một người bạn, một quán rượu, một tiệm ăn, hoặc một cái “vòm” nào đó. Nhưng chiều 30 Tết nơi nào cũng bận rộn làm lễ tất niên, đón gia tiên về ăn Tết và cũng là bữa cơm đoàn tụ gia đình trong lúc năm cùng tháng tận. Giao Thừa là giờ phút thiêng liêng và trọng đại đối với mọi mọi gia đình. Nhưng bạn tôi bao nhiêu năm nay sống một mình, không có gia đình nên chiều 30 Tết mà không biết đi đâu, về đâu. Tôi xung quanh đang có vợ, có con… nên càng thông cảm cái bơ vơ của người bạn độc thân chiều 30 Tết.


Thấy Mai Thảo đứng đó lơ ngơ nhà tôi vội bảo: “Sao không dừng xe lại xem anh ấy muốn đi đâu thì chở anh ấy đi”. Tôi không tiện trả lời nhưng tôi biết bạn tôi không phải thiếu phương tiện, mà bạn tôi kẹt là không biết nơi nào để đến. Nhà tôi lại hỏi tiếp: “Sao không về nhà?” – “Anh ấy có nhà đâu mà về. Chỗ ở của anh ấy thì cuối năm nó vắng như chùa Bà Đanh, chắc anh ấy chưa muốn về”. “Sao không về đón Tết với các cụ?”. Chúng tôi đều biết là Mai Thảo còn ông bà cụ thân sinh sống ở Saigon. Nhưng tôi biết bạn tôi không muốn gặp các cụ thân sinh ngày Tết. Tôi nhớ một bữa ngày đầu năm năm trước vận quần áo đi chúc Tết tôi có tạt vào nơi Mai Thảo ở. Tết đến mà căn phòng độc thân của bạn vẫn bừa bộn, hoang vắng.

Tôi định ra về bỗng Mai Thảo gọi tôi lại mà nói “P.L.P. moi nhờ toi một việc”. Chúng tôi vừa là bạn viết, vừa là bạn chơi nên xưng hô với nhau tùy tiện. Lúc thì ông ông, tôi tôi, lúc thì moi, toi – không câu nệ. “Cứ nói đi”. “Sẵn quần áo toi đi với moi về thăm ông bà già. Có toi ông bà già đỡ giảng moral”. Chúng tôi tới nhà ông anh Mai Thảo là nhà luật sư Nguyễn Đăng Thiện (Mai Thảo là Nguyễn Đăng Quí) ở giữa đường Phan Đình Phùng. Sau khi chúc Tết các cụ và ông bà Thiện, uống ly rượu Cointreau xong là tôi xin phép ra về. Mai Thảo cũng rút theo luôn. Khi ra xe, Mai Thảo nói: “Không có toi các cụ, nhất là bà thân moi thế nào cũng lại dục đi xem mặt đám này, đám kia. Sốt ruột lắm mà không biết thưa với các cụ thế nào?”

Sau khi biết qua tình trạng của bạn tôi Mai Thảo, về đến nhà mẹ cháu liền ghé vào tai tôi mà bảo: “Tết đến như vậy thì anh Mai Thảo anh ấy buồn lắm nhỉ”. Nói xong rồi nhà tôi liền đi lấy chai rượu Hennessy và một cân giò mà bảo tôi: “Thôi, chịu khó đi bố. Đem đến cho anh Mai Thảo anh ấy uống ly rượu cuối năm”. Từ đó có Tết đến là mẹ con nó, như một cái lệ, lại có chai rượu Tết bác Mai Thảo.

Sau bao nhiêu năm xa vắng Tết năm Canh Thân 1992 – chúng tôi gặp lại bạn xưa Mai Thảo ở Hoa Kỳ; con gái tôi có thưa với bác Mai Thảo “bác thích thử rượu nào để cháu mua về bác uống” thì nó cũng là tiếp nối các truyền thống bạn bè từ mấy chục năm xưa… Vào khoảng giữa năm 1956 khi tôi từ bỏ nghề chiến binh lội ruộng về làm báo chí ở Tổng Tham Mưu (Saigon) thì tôi ở với Thanh Nam; lúc bấy giờ Thanh Nam có một căn nhà trong ngõ Nancy. Mấy tên trai trẻ độc thân ở với nhau. Cùng ở nhà Thanh Nam lúc ấy có Vũ Quang Ninh – Quản đốc đài phát thanh Quân Đội, nhà thơ Thái Thủy và kịch sĩ kiêm “ngâm sĩ” Hoàng Thư. Ở trước cửa nhà Thanh Nam là nhà họa sĩ (kiêm thi, văn sĩ) Tạ Ty. Ở ngoài mấy bước là nhà “sáo sĩ” Tô Kiều Ngân. Cùng ở trong con ngõ này còn có gia đình của bạn hợp ca Hạc Thành với anh em các ca nhạc sĩ Nhật Bằng – Nhật Phượng – Thể Tần – Hồng Hảo.

Có thể nói đây là một cái ngõ “Văn nghệ”. Vì ngoài những khuôn mặt kể trên, các nhà văn, nhà thơ, nhà kịch đến ngõ này đông đảo. Nhà Thanh Nam luôn luôn rộng mở đón tiếp anh em. Hay đến đây nhất là Đinh Hùng – Vì cùng với tác giả Mê Hồn Ca, có Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Thái Thủy, Hoàng Thư là có gần đủ mặt thành viên ban Tao Đàn: “Tiếng nói của thơ văn miền Tự Do”. Thêm vài giọng ngâm nữ như Giáng Hương – Hồ Điệp hoặc Hoàng Oanh là đầy đủ một ban Tao Đàn chính hiệu. Vui chân đến đây họp mặt ăn nhậu còn có Vũ Khắc Khoan, Phạm Đình Chương, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thiếu Lang, Anh Ngọc,… Huy Quang (Vũ Đức Vĩnh) sau từ Nha Trang về Saigon cũng hiện diện trong ban Tao Đàn. Một buổi tôi gặp một người bạn mới trong cuộc họp bàn về việc dựng lại kịch thơ ở Saigon. Anh em định dựng hoặc Lên Đường của Hoàng Cầm hoặc Bến Nước Ngũ Bồ của Hoàng Công Khanh. Người bạn mới “lưng cao dài trán rộng” dáng điệu rất văn nhân tài tử ấy là Mai Thảo một danh tiếng đang bắt đầu lừng lẫy sau “Đêm giã từ Hà Nội”.

Người bạn mới ít nói thường nhếch mép cười nửa miệng. Nhưng khi được hỏi ý kiến lại nói rất hăng, vài sợi tóc xõa xuống vầng trán rộng tay chém vào không khí. “Tôi nghĩ là không nên diễn lại những vở kịch đó, dù nó có giá trị, nhưng giá trị đó là của một thời đã qua. Tại sao chúng ta không diễn kịch của chúng ta. Kịch hôm nay và bây giờ. Chúng ta phải có kịch của thời đại chúng ta chứ?”.

Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy cụm từ “văn nghệ hôm nay” “văn nghệ bây giờ”. Vài năm sau nó thường xuyên xuất hiện trên Sáng Tạo. Mai Thảo và những người bạn của anh trong nhóm đã quyết tâm thổi một luồng sinh khí mới vào văn học Việt Nam. Sự hiện diện của nhóm Sáng Tạo là sự kiện đáng kể nhất trong 20 năm Văn học miền Nam. Có nhiều ý kiến về nhóm Sáng Tạo nhưng chắc không ai phản đối từ khi có nhóm Sáng Tạo, thơ văn miền Nam lạ hơn, mới hơn. Một nhóm nghiên cứu Văn học ở Pháp mới đây (trong Propos recueillis) khi nhìn về 20 năm Văn học miền Nam đã cho rằng nhóm Sáng Tạo đã có đóng góp lớn là đem lại cho văn chương miền Nam một thẩm mỹ mới, một nhạc tính mới.

Riêng về sân khấu, vì chủ trương không diễn kịch cũ mà phải có kịch của “thời đại chúng ta” nên những năm sau đó miền Nam đã có những kịch bản mới như Bão Thời Đại của Trần Lê Nguyên, Sân khấu của Dương Kiên, Bão Loạn của Tinh Vệ, Ba Chị Em của Thanh Tâm Tuyền, Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan vv… (chỉ kể một số tác giả quen biết…). Tôi nghĩ chủ trương “Văn nghệ hôm nay”, “Văn nghệ thời đại” mà Mai Thảo chủ xướng trong nhóm Sáng Tạo đã không những tác động đến các thành viên trong nhóm mà nó còn là một chất xúc tác khiến cho những đoàn, nhóm, văn nghệ khác cũng đua nhau sáng tác, tạo nên một diện mạo đặc biệt của thi văn, nhạc, họa miền Nam.

Theo nhà văn đồng thời là nhà nghiên cứu văn học Võ Phiến, tác giả “Văn học miền Nam tổng quan” thì Văn học chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa hiện thời không công nhận Văn học miền Nam, coi như không có. Nhưng trong cuốn Từ Điển Văn học Thế giới (Dictionnaire universel des littératures) do nhà xuất bản Press Universitaire in tại Pháp đầu năm 1994 gồm trên 4000 trang, từ điển này có phần dành riêng cho Văn học miền Nam 1954-1975. Điều này sở dĩ có được là nhờ những người suốt đời sống cho Văn học như Võ Phiến như Mai Thảo…

Có một bữa, ban Tao Đàn của Đinh Hùng cần đến một bài thơ Huy Cận tiền chiến. Trong hành lý tôi vẫn mang theo bên mình tập Lửa Thiêng ấn bản lần đầu 1940 (?). Lửa Thiêng là một ấn phẩm tuyệt đẹp, bìa Tô Ngọc Vân, tựa Xuân Diệu,… tuy in trên giấy gió nhưng càng xưa càng đẹp, càng cũ càng quí. Đây là một kỷ niệm hành quân của tôi, ghi dấu một thời đi trận miền Zone Sud ngoài Bắc. Cuối năm 1953, trong cuộc hành quân theo chiến đoàn 2 (GM2) từ Xuân Trường sang Hải Hậu (Nam Định) ra gần đến biển, đơn vị tôi đụng trận ở Quần Liêu Văn Lý. Đánh suốt buổi trưa đến chiều mới qua cầu, vào được một khu dinh cơ tòa ngang giãy dọc. Đây là khuôn viên của một gia đình rất giàu có ở thôn quê. Đặc biệt khu nhà gác trông ra sông là một gian phòng đọc sách có một thư viện nhỏ. Trái phá làm đổ một góc căn nhà gác, một số sách rơi xuống ngổn ngang.

Tôi nhận ra những cuốn sách rất quí, những danh tác của các tác gia cổ điển Pháp và những sách nổi tiếng của các tác gia Việt Nam đương thời. Có cả một bộ tự điển Littré, bìa da chữ vàng. Tôi nghĩ đây phải là dinh cơ của một gia đình văn học lắm. Tôi cứ âm thầm than tiếc mãi cái thư viện bắt đầu đổ nát đó; phải bao nhiêu công trình mới thâu thập được những danh tác như vậy, bây giờ chiến tranh tràn đến nó có thể cháy, có thể tiêu tan bất cứ lúc nào. Tôi nhìn thấy cuốn Lửa Thiêng của Huy Cận trên bệ sách. Xưa nay tôi vẫn khao khát tập thơ tiền chiến này. Tôi cầm cuốn Lửa Thiêng ngoài bìa có triện son, mở ra xem. Cầm lòng không được tôi bỏ cuốn Lửa Thiêng vào trong túi quần treillis. Đây là vật tôi “thổ phỉ” đầu tiên trong cuộc đời lính tráng. Sau đó thấy sách quý rơi vãi đầy nhà, tiếc của Trời, tôi ôm mấy cuốn tự điển, mấy cuốn sách học cho vào một cái “sac marin” gửi về cho em tôi P.L.T. đang đi học ở Hà Nội…

Một bữa Mai Thảo đến nhà Thanh Nam chơi, nhìn thấy cuốn Lửa Thiêng để trên bàn. Giật mình Mai Thảo cầm cuốn sách lên coi, nhìn kỹ dấu triện son. Mai Thảo liền hỏi Thanh Nam “vì đâu có cuốn Lửa Thiêng này”. Thanh Nam chỉ tôi.

Tôi liền kể cho Mai Thảo nghe sự tích cuốn sách. “Có phải căn nhà gác có thư viện nhìn ra cầu phải không?”. Đúng – “Có những cây bàng dọc theo bờ sông phải không? Đúng – “Thế là nhà tôi đấy ông ạ. Triện son “Nguyễn Đăng…” còn ghi ngoài bìa sách đây mà”. Tôi ngượng ngùng nhìn Mai Thảo mà không biết nói sao, Mai Thảo tiếp “Ông giữ cuốn thơ này như vậy là may, vì sau đó cả khu dinh cơ ấy bị triệt hạ đâu có còn gì. Đây là di vật còn lại không ngờ của căn nhà cũ…” Tôi có ý định hoàn trả lại Mai Thảo cuốn Lửa Thiêng nhưng Mai Thảo nhất định “Ông phải giữ cuốn thơ này làm kỷ niệm”. Sau đó trong Sáng Tạo (bộ cũ) Mai Thảo viết một thiên tùy bút đặc sắc “Căn Nhà Vùng Nước Mặn”, Mai Thảo nói rằng vì tôi gợi nhớ nên Mai Thảo mới viết thiên tùy bút này. Chúng tôi cũng gần gũi nhau từ đấy..

Những cuốn sách học, tự điển mang triện son “Nguyễn Đăng” của gia đình Mai Thảo do tôi gửi về trong chiếc “sac marin” từ miền biển Quần Liêu – Văn Lý (Nam Định) đã là hành trang rất quí đối với em tôi P.L.T., tên học trò nghèo ở Hà Nội. Sau này di cư vào Saigon, em tôi mang “hành trang” ấy đi luôn. Nó thân thiết với em tôi suốt những ngày đi học – từ trung học và sau lên Đại học. Em tôi có ước mơ trở thành một thầy giáo dạy Văn – nhưng không ngờ, sau này chiến sự cũng hút nó luôn vào Quân Đội.

Mới đầu, P.L.T. không biết “Nguyễn Đăng…” là ai. Em tôi chỉ quí những cuốn sách như một phương tiện giúp nó học hành thi cử. Nhưng khi biết Nguyễn Đăng Quý là Mai Thảo nhất là khi đọc tùy bút “Căn nhà vùng nước mặn”, những cuốn sách kia đã trở thành kỷ niệm thiết thân của P.L.T.. Nó ghi dấu một quê hương đã xa, đã mất, một thời kỳ học trò nghèo vất vả ở Hà Nội. Cho nên trong cuộc di tản đau thương trước ngày 30-4-1975 trong muôn ngàn thứ không biết bỏ cái gì, mang đi cái gì, em tôi đã đem theo cuốn tự điển có triện son Nguyễn Đăng sang Mỹ. Đầu thập niên 80 khi Mai Thảo vượt thoát được tới định cư ở Santa Ana, Cali, em tôi P.L.T, đã mời Mai Thảo về chơi nhà nó ở San Diego. Một lần nữa, Mai Thảo lại nhìn thấy triện son “Nguyễn Đăng…” trên cuốn tự điển. Em tôi PL.T. có nói lại rằng Mai Thảo đã ngỡ ngàng lắm, đã bần thần lắm khi nhìn lại cuốn sách xa… Không biết Mai Thảo đã suy nghĩ, đã liên tưởng những gì mà Mai Thảo bỗng hỏi em tôi “Bao giờ gặp lại P.L.P.?”. Hỏi để mà hỏi thôi vì sau đó Mai Thảo thở dài. Có thể hiểu tiếng thở dài này vì khi vừa đến đảo ở Pulau Besar năm 1978, Mai Thảo viết thư sang Mỹ đã ghi “Những bạn bè chưa đi được của chúng ta… hãy biết vắn tắt là không hi vọng được thấy họ nữa…” (Thư cho VL)

Nhưng mà chúng tôi đã gặp lại nhau đầu Xuân 1992. Những chuyện tưởng rằng không thể xảy ra đã xảy ra. Không ai ngờ bức tường Bá Linh sụp đổ. Không ai ngờ đế quốc Sô Viết tan tành. Cũng không ai ngờ những tên “tử tù” tưởng sẽ mục xương trong xó rừng u tối, bây giờ đây đang được HO đi Mỹ hay là ODP đi Úc… Trong bữa tiệc tẩy trần ở San Diego, P.L.T đã nâng ly mà thưa với Mai Thảo: “Khi anh đến đây lần trước, cũng đã hơn 10 năm rồi anh có hỏi: Bao giờ gặp lại P.L.P. Em không dám trả lời anh; Bây giờ không ngờ lời thăm hỏi mà cũng là lời cầu chúc của anh đã thành sự thực. Em xin cảm ơn anh và xin mời anh ly rượu hạnh ngộ này”. P.L.T, đối với Mai Thảo, không những có sự trân trọng trước một nhà văn học hàng đầu – nhà còn có sự chân tình thân quí như đối với một người anh lớn.

Trong những ngày Mai Thảo ở chơi với tụi tôi ở San Diego, câu chuyện xoay quanh những người bạn cũ. Càng già càng cần có bạn, mà bạn già thì mỗi ngày thêm thưa thớt. Tôi đi tù cải tạo về được ít lâu ở Việt Nam đã nghe tin Thanh Nam Trần Đại Việt từ trần ở Mỹ.

Vài năm sau đến lượt Vũ Khắc Khoan. Một bữa từ Hóc Môn tôi lên nhà Thanh Tâm Tuyền ở Bình Thạnh. Tác giả “Bếp Lửa” ngậm ngùi nhà nói “Ở Minnesota Tuyết Ngưu Vũ Khắc Khoan đi rồi”. Giữa năm 1991, vừa tới Sydney được mấy tuần đang đêm nhận được tin Hoài Bắc Phạm Đình Chương vừa mất. Bao nhiêu năm không viết lách gì, bài đầu tiên tôi viết ở hải ngoại là bài tưởng niệm Phạm Đình Chương. Ngày xưa Đinh Hùng có nói “mỗi một người bạn là một phần đời sống của mình”. Lúc trẻ mình tưởng nhà thơ “bốc” mà nói vậy thôi. Nhưng càng già càng thấy đúng. Vì những chuyện ấy, vào thời kỳ ấy… nếu không còn người bạn ấy thì không biết nói với ai. Như thời kỳ ở ngõ Nancy nhà Thanh Nam – bạn bè nườm nượp – người vẽ, người viết, người làm thơ, người làm kịch… mộng còn xanh như tóc mà bây giờ còn lại những ai. Thanh Nam chết rồi – sau một thời kỳ cuống họng ung thư, nói không được, trò chuyện với vợ con, bạn bè đều bằng bút… Mai Thảo nói về lần cuối cùng lên Seattle gặp Thanh Nam – Túy Hồng:


Trong văn chương Việt Nam, bạn bè đưa tiễn, viếng thăm nhau cũng không phải là ít. “Bác Dương thôi đã thôi rồi – Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” (Nguyễn Khuyến). “Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ – Có giống như mình lưu luyến, chăng” (Huyền Kiêu) nhưng không có lời nhắn gửi nào tỉnh táo một cách thảm thê như lời nhắn gửi của Thanh Nam với bạn: “Không bận gì tháng tới/ Về đây đưa đám tao”. Tháng sau quả nhiên Thanh Nam tắt thở. Trong số những bạn bè gần gũi của chúng tôi… Thanh Nam là người bỏ đi sớm nhất.

Chúng tôi thường gọi Vũ Khắc Khoan là ông “Thần Tháp Rùa”, tên một truyện ngắn rất đặc sắc của anh. Nhưng họ Vũ lại ra vẻ không vừa ý. “Đối với moi, trước hết và sau cùng là kịch”. Họ Vũ nói vậy. Anh nổi tiếng ở Hà Nội trước 1954 vì vở kịch Giao Thừa… Một vở kịch được công diễn nhiều lần ở nhà hát lớn Hà Nội. Vở kịch có một sự táo bạo đáng nhớ: “Sân khấu chia làm hai. Một bên là nhà của một họa sĩ nghèo một bên là nhà ông thợ mộc”. Sự “đụng chạm” giữa hai con người ấy, hai căn nhà ấy làm nên kịch tính… Thần Tháp Rùa theo họ Vũ cũng chỉ là một thứ kịch được “tiểu thuyết hóa” mà thôi. Vào Nam, vẫn theo con đường ấy Vũ Khắc Khoan viết kịch Thành Cát Tư Hãn, là chủ nhiệm bộ môn kịch tại trường Quốc Gia Âm Nhạc đồng thời giảng văn tại trường Đại học Văn khoa. Sau này, gọi Vũ Khắc Khoan là “đại hãn”, (một danh xưng đặc biệt của người Mông Cổ) mới thấy họ Vũ mỉm cười.

Mai Thảo từ tờ Lửa Việt của sinh viên di cư (1954), đã hình thành một nhóm người viết mới trong Sáng Tạo gồm Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo; các nhà thơ Tô Thùy Yên, Quách Thoại; các họa sĩ (và cũng là người viết) Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng, nhạc sĩ đồng thời nhà nghiên cứu văn học Cung Tiến. Vũ Khắc Khoan tuy không đứng hẳn trong nhóm Sáng Tạo nhưng anh là người bạn thân, người đồng hành của nhóm. Anh và Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Nguyễn Mạnh Côn đứng trong nhóm Quan Điểm, một tập hợp Văn Nghệ – Chính Trị – nhưng nhóm Quan Điểm không tồn tại được lâu. Mai Thảo sau Sáng Tạo bộ cũ (giữa thập niên 50), Sáng Tạo bộ mới (cuối thập niên 50 và đầu 60), Nghệ Thuật (giữa thập niên 60) lại cùng với Vũ Khắc Khoan (cuối thập niên 60) chủ trương tạp chí Vấn Đề. Cái tên này đã được bắt nguồn từ một câu cửa miệng của Vũ Khắc Khoan “phải đi tìm cái vấn đề của vấn đề”.

Bạn tôi Thanh Tâm Tuyền làm “bếp” (thư ký toà soạn) cho Vấn Đề nên bạn dục tôi viết bài. Tôi nhớ trong số một của Vấn Đề tôi có viết một bài nhận định về Mai Thảo. Ngày đó ai cũng gọi Mai Thảo là nhà văn. Sau những tuyển tập đặc sắc Đêm Giã Từ Hà Nội – Tháng Giêng cỏ non… nhất là sau sự xuất hiện chấn động của nhóm Sáng Tạo với chủ trương “Văn nghệ hôm nay” Mai Thảo được coi là một nhà văn tiên tiến hàng đầu. Nhưng tôi nhớ là trong bài viết ấy (tiếc thay sau tháng 4 đen 75 và sau chính sách “phần thư” của người Bôn sê vích, sách báo tài liệu đều bị thiêu hủy, phân tán hết), tôi không nghĩ Mai Thảo là “nhà văn” mà tôi gọi Mai Thảo là nhà thơ – một nhà thơ bất toàn (un poete manqué).

Một người, ví dụ như Vũ Khắc Khoan, trước sau tự nhận mình là một người viết kịch. Những loại hình “văn nghệ” khác như văn, như thơ… đối với họ Vũ chỉ là thứ “làm chơi”. Cái chất của anh, cái tạng của anh là như thế – và họ Vũ đã nhận thức đúng về con người văn nghệ của mình. Mai Thảo cho đến lúc ấy ai cũng gọi tác giả Tháng Giêng cỏ non là nhà văn – ngoài đời Mai Thảo cũng đương nhiên hành xử cái nghiệp “nhà văn”. của mình. Về hiện tượng thì là như vậy. Nhưng bản chất thì lại khác. Đọc “văn” Mai Thảo thật sự là đọc một thứ thơ suôi. Chữ nghĩa điểm trang trau chuốt. Nhạc điệu câu vài thánh thót, bổng trầm – nhiều khi như một thứ biền ngẫu mới. “Xe lăn từng vòng – tôi nhớ lại những đêm Saigon cũ… Cuộc Sống tuần tự thênh thang chảy từ cái khúc sông thanh bình của buổi chiều nắng nhạt, chảy sang cái giòng suối hát ca của buổi tối lên đèn, chảy tiếp vào cửa biển mênh mông của đêm không cấm đoán, chảy sang cái ánh hồng của buổi sớm hôm sau… Những đêm Saigon tôi đã đi vào – Những đêm Saigon tôi đã sống với… Tới đêm mới là không khí thênh thang ca hát của những vỉa hè…” (Sau không giờ).

Đọc văn Mai Thảo, ví dụ như đoạn văn trên ta thấy sự kiện ít, tình cảnh nhiều. Giống như xem một bức tranh ấn tượng – màu sắc nhòa nhạt, đan xen, trộn lẫn. Nó cho ta một cảm giác về màu sắc hơn là chi tiết của sự vật. Nó khơi gợi nhiều hơn là chỉ vẽ. Nó là ngôn ngữ của thơ hơn là của văn.

Đọc Mai Thảo, người ta có cảm tưởng là nhà văn cân lời, lựa chữ lắm. Viết lách kỳ khu, bóng bẩy như vậy chắc mất thì giờ. Nhưng gần gũi với Mai Thảo khá lâu, nhiều lúc ngồi chung toà soạn (Tiếng Vang – Nghệ Thuật – Tiên Tuyến), tôi thấy Mai Thảo viết khá nhanh. Có lúc hàng ngày phải viết tới bốn feuilleton (chuyện dài đăng hàng ngày trên báo), Mai Thảo vẫn cứ thế, phăng phăng. Mai Thảo thường thích viết trên thứ giấy báo đã in một mặt, thứ giấy sốp và mềm, bút bi chạy hết trang này sang trang khác. Có khi “nhà chữ” đã đứng sẵn đợi bài – vừa xong mấy dòng lại xé đem đi xếp chữ; hoặc có khi tùy phái báo bạn đã đến hỏi bài mà tác giả vẫn còn đang viết chưa xong, “nhà văn” phải phóng tay cho kịp. Viết xong là đưa bài đi ngay. Không kịp xem lại mà chữ nghĩa Mai Thảo trước sau vẫn vậy. Trời sinh ra Mai Thảo là như thế, ở đâu, lúc nào cũng sống với một văn phong diễm lệ (un style pittoresque).

Ngay lúc bấy giờ, Mai Thảo cũng có làm thơ – Thông thường trước khi có nghiệp dĩ với văn chương, ai cũng bắt đầu bằng những vần thơ của thời mới lớn. Cũng có khi “un coup d’essai est lun coup de maitre” (thử thách đầu tiên đã là tác phẩm bậc thầy) như trường hợp Đinh Hùng, Tô Thùy Yên, nhưng chuyện này ít khi xảy ra. Có hai bài thơ của Mai Thảo đăng trên Sáng Tạo (bộ cũ) nhưng ký một bút hiệu khác: Nhị (Hình như Mai Thảo yêu riêng bút hiệu này nên trong một số tác phẩm khác, có những nhân vật mang tên Nhi). Đó là bài lục bát Nghe đất và bài thơ tự do Cái Đầu.


Bài thơ chững chạc, già dặn nhưng phảng phất hơi thơ lục bát Huy Cận. Bài thơ tự do “Cúi đầu”. Mai Thảo thích lắm, thường ngâm ngợi hoài những khi trà dư tửu hậu:


Bài này cũng chưa ra khỏi ảnh hưởng của bài thơ thời trước Gió thổi mùa thu về Hà Nội. Thơ Mai Thảo hay nhưng anh chưa tạo được cho mình một thế giới riêng một phong cách riêng dấu ấn đặc biệt của nhà thơ đúng nghĩa. Mai Thảo còn đang trên đường đi tìm một bản sắc. Tôi gọi Mai Thảo là nhà thơ bất toàn, thoạt tiên là vì như vây.

Nhưng sự “bất toàn” của Mai Thảo, theo tôi, được tìm thấy nhiều nhất ở nội dung những gì Mai Thảo viết ra. Cả văn, lẫn thơ Mai Thảo đều nhận chịu một sự phân ly khắc khoải. Ý chí của Mai Thảo, tuyên ngôn của Mai Thảo là phải băng mình lên phía trước, làm một cuộc đổi mới toàn diện cho văn chương thực hiện, “văn nghệ hôm nay” nhưng những gì Mai Thảo viết ra hay nhất, tinh tuyền nhất lại thuộc về quá khứ. Mai Thảo là nhà văn, nhà thơ của hoài niệm (un passéist). Những tác phẩm đáng kể nhất của Mai Thảo: Đêm giã từ Hà Nội, Tháng Giêng cỏ Non… là ảnh tượng từ trên cao nhìn về một thành phố thân yêu đã mất – hoặc ở xa nhớ về một mùa Xuân chỉ có trong hồi tưởng. Chính Mai Thảo, trong vô thức đã nhận ra sự bất lực, nằm trong sự mâu thuẫn không phương giải quyết của tâm hồn mình khi Mai Thảo viết trong bài tứ tuyệt Thừa:


Cái đau buồn rất cổ xưa mà Mai Thảo đeo đẳng như một số mệnh đã ngăn cản cái tâm tiền tiến. Cả một đời văn chương Mai Thảo vùng vẫy trong cải khoảng phân ly ấy. Già rồi, Mai Thảo mới chính thức làm thi sĩ, và nhận thấy mình bất lực. Bất lực là một dạng thức của sự bất toàn.

Bây giờ khi tôi viết những giòng này, bạn tôi Mai Thảo đang hấp hối. Nhưng mà yên tâm đi bạn ta. Bậc thiên tài của thi văn nước ta, Nguyễn Du, thế kỷ 18, trước khi từ giã cõi đời – cũng nghĩ rằng Người không đủ sức nói lên cái tâm sự bi thiết của mình cho hậu thế. Cho nên Người mới viết:

Bất tri tâm bách dư niên hậu.

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Không biết 300 năm sau, có ai khóc cho Tố Như không?

Về văn thơ, về cái đẹp hay nói chung về thẩm mỹ thì mỗi thời gian, không gian, mỗi con người lại có một tiêu chuẩn riêng không ai giống ai mà cũng không ai bắt buộc được ai,”nhân tâm tùy thích”. Trong hàng hàng lớp lớp tác phẩm của Mai Thảo, có cuốn được chuyển thành phim ảnh, có cuốn được in đi in lại 5, 7 lần… nhưng riêng tôi trước sau chỉ thích “Tháng Giêng cỏ non”. Từ giữa thập niên 50, ngay từ tác phẩm đầu tiên “Đêm giã từ Hà Nội”, Mai Thảo đã nổi tiếng ngay. Đây là tiếng than dài sau một cuộc phân ly bắt buộc, là vết thương còn rỉ máu trong tâm hồn mọi người sau hiệp định chia đôi đất nước 1954. Nó phần nào thuộc về “thời sự”.

Mấy năm sau khi vết thương xa đã kín miệng, cuộc sống di cư đã đi vào nền nếp, miền Bắc, miền Nam trên thực tế đã thành hai chính thể khác biệt nhau, người di cư mới nhận ra rằng miền quê tưởng là “tạm thời” dời bỏ, bây giờ đã trở thành miền đất nhớ thương, không biết ngày nào trở về. Thời sự đã trở thành hoài niệm. Như đã nói, Mai Thảo là người viết về hoài niệm rất hay. Thời gian đã làm cho hoài niệm càng ngày càng sâu lắng. Trong “Tháng Giêng cỏ non” có những ngày đầu nô nức đi kháng chiến, bạn bè của một thủa “đầu đời lãng mạn”, quê hương rã rời tan nát trong “vành đai trắng”, “người thiếu nữ áo cổ vuông” không biết là người yêu hay là người bạn… tất cả thấp thoáng, nhạt nhòa ẩn hiện như những vết lân tinh chợt sáng, chợt tắt trong tiềm thức bóng đên. Vùng kỷ niệm đầy ấn tượng ấy là một cõi riêng đặc sắc của Mai Thảo.

“Tháng Giêng cỏ non” là một tập truyện; tôi vẫn nghĩ rằng “truyện ngắn” hay tùy bút của Mai Thảo hay hơn Mai Thảo truyện dài. Đọc Mai Thảo là đọc “văn” Mai Thảo hơn là đọc “truyện” Mai Thảo. Bạn tôi là một người làm thơ bằng văn suôi; dù Mai Thảo viết bao nhiều truyện dài chăng nữa, Mai Thảo vẫn không phải là người viết tiểu thuyết đúng nghĩa. Tôi không nhớ rõ năm nào, hình như vào đầu thập niên 60 thì phải, Mai Thảo có đưa tôi đọc một thiên tùy bút “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời”. Theo như cung cách bạn tôi gửi gấm, Mai Thảo đã đặt nhiều tâm lực vào thiên tùy bút này. Vài bữa sau gặp lại, Mai Thảo hỏi “Sao?”, vẻ nao nức hiện ra trong ánh mắt. Tôi không trả lời ngay được, bởi vì tôi không cảm nhận được những “tín hiệu” ấy. Tôi không có chút kinh nghiệm nào về những chuyến đi xa như thế, nhung miền đất ấy hoàn toàn xa lạ với tôi, một “ngọn đỉnh trời” hay là một “miền tuyết phủ”. Tôi không phải là một nhà phê bình, nên cái “băng tần” của tôi chỉ đón nhận được những tín hiệu trong cùng tần số. Cho nên tôi đã trả lời bạn: Công phu thì có nhưng không “thú” bằng “Chuyến tàu trên sông Hồng”. Theo tôi “Chuyến tàu trên sông Hồng” mới là tùy bút đáng ghi nhớ nhất của Mai Thảo.

“Hình dung thấy con tàu đó trên con sông đó. Con sông Hồng Hà. Như dòng máu đỏ tươi chảy băng băng khắp vùng trí nhớ bâng khuâng…”. Tiếng còi tàu vang vọng hai bên bờ ký ức, gọi dậy những kỷ niệm. “… nhắm mắt lại mà theo dõi cái âm thanh không bao giờ mất ấy trong dòng hồi tưởng… Thấy vẽ ra trước mắt con tàu cũ, cái bến xưa, và tất cả những ảnh hình tuổi nhỏ chới với như một cánh bướm ma ẩn ẩn hiện hiện trong sương mù quá khứ“… Tôi cảm nhận được “Chuyến tàu trên sông Hồng” bởi vì tôi cũng đã có một thời, xách cái valise ọp ẹp, từ tỉnh lẻ Sơn Tây ra Hà Nội, đi theo tiếng gọi của tiếng còi xe hơi trên đường cái quan – cũng như tiếng còi tàu thủy của Mai Thảo, hay tiếng còi xe hỏa của Tế Hanh – đến những bến bờ xa lạ của cuộc đời.

Đầu Xuân 1992, tôi gặp lại bạn xưa Mai Thảo khi bạn từ Santa Ana đi xe lửa về San Diego chơi với tụi tôi. Kỳ này Mai Thảo có mang theo cho tôi cuốn thơ “độc nhất” trong cuộc đời sáng tác của bạn “Ta thấy hình ta những miếu đền”. Nhận cuốn thơ, tôi cười mà thưa với bạn: “Ít ra, tôi cũng nói đúng một điều. 25 năm trước (1967) trong Vấn Đề số ra mắt, nhận định về Mai Thảo, tôi đã nói bạn là nhà thơ trước khi là nhà văn”…

Vừa là bạn viết vừa là bạn chơi sau 17 năm xa cách, nên chúng tôi có nhiều chuyện để nói với nhau; chuyện cũ, chuyện mới, bạn xa, bạn gần, bạn chết, bạn sống. Chưa kịp đọc kỹ cuốn thơ “độc nhất” của bạn – mới feiuilleter qua loa. Tôi nghiệm ra một điều “đọc thơ, tùy theo tâm cảnh mà lúc thì thích bài thơ này, lúc lại thích bài thơ khác”.

Bữa ấy, thấy tôi đang đọc “Ta thấy hình ta những miếu đền” Mai Thảo giống như xưa lại hỏi “Sao?”. Kỳ này tôi dễ dàng hơn trước bởi vì khi đọc tập thơ độc nhất của Mai Thảo tôi nhận ra ngay những tín hiệu thân quen.

Trước đây, ngày còn ở Saigon khi “phùng trường tác hí” với nhau, có một Mai Thảo trước khi uống rượu và sau khi uống rượu khác hẳn nhau. Khi chưa uống Mai Thảo là một gã lừng khừng, dửng dưng, nguội lạnh. Nhưng khi nhìn vào rồi thì lại là một Mai Thảo bông lơn, đùa đùa, diễu diễu; những chuyện “không ra cái đếch gì” theo giọng điệu Mai Thảo lại trở nên có duyên kỳ lạ. Như chuyện “chỗ đặt” sau đây:


Không phải ai cũng đặt được như vậy và không phải ai cũng nói được cái chuyện “khó nói” ấy ra. Đây cũng là điều dễ hiểu khi Mai Thảo nổi tiếng phong lưu, tài tử, đã có trong tay những sắc đẹp rực rỡ nhất của Saigon, Mai Thảo đùa với người đẹp với cuộc đời, đùa cợt ngay với thảm kịch của chính bản thân mình nữa. Nghe nói lại, giữa thập niên 80, thấy mỗi ngày một gầy đi, xuống cân thấy rõ, Mai Thảo được một người bạn thân làm thầy thuốc kéo đi khám bệnh. Khám xong thấy Mai Thảo có ung bướu trong người:


Mấy chục năm rượu chè, văn nghệ, văn gừng đã để lại cho Mai Thảo một lục phủ, ngũ tạng như thế. Người bạn thầy thuốc đề nghị nghỉ uống rượu, và định ngày lên bàn mổ. Nhưng Mai Thảo cảm ơn người bạn thầy thuốc mà nói rằng “Mai Thảo mà thôi uống rượu thì cuộc đời này còn ra cái mẹ gì nữa.” Và vẫn tiếp tục uống; Mai Thảo uống nhiều hơn ăn. Đối với căn bệnh trầm kha trong người, Mai Thảo đề nghị một cuộc hưu chiến, Mai Thảo dỗ dành:


Cái trầm luân của kiếp người là do sinh, lão, bệnh, tử mà ra. Bây giờ bạn tôi “coi như pha” hết. Mai Thảo làm thân với bệnh, với nỗi chết gần kề. “Gối tay lên bệnh nằm thanh thản, thành một đôi ta rất đá vàng“. Đối với Mai Thảo, như thế là mọi sự đều vô nghĩa. Ngày xưa Mai Thảo nhất định sống một mình, không gia đình, không vợ, không con “để moithử sống một đời với nghệ thuật xem sao?”. Bạn muốn xem nó ra sao – bây giờ nó hóa ra như thế.

Mai Thảo rượu vào là “nỏ” chuyện. Trước khi uống thì lừ đừ… cạy miệng không ra lời, chén chú chén anh vào rồi là vung vít. Những lúc ấy là “rượu nói” không hẳn đã là Mai Thảo nói. Người ta kêu bằng “bốc đồng”. Bài thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền” là một cơn bốc đồng. Tôi có nói với bạn tôi như vậy. Mai Thảo cầm ly rượu xoay xoay, cười cười… Năm ấy 1992 tôi vừa ở Việt Nam đi ODP sang Úc rồi sang chơi bên Mỹ, tâm hồn tôi còn u ám về dĩ vãng, về những tháng năm rùng rợn vừa qua nên đọc thơ bạn… tôi cảm nhận bằng cái tâm cảnh ấy. “Ta thấy hình ta những miếu đền” đối với tôi chỉ là một cơn say. Ở với Cách mạng “tù trong cũng như tù ngoài” cơm đâu có mà ăn, lấy gì mà say – mà say sao nổi. Cho nên tôi đã rất thích bài Quê Nhà:


Đây là tâm sự thật, rất thật của tác giả. Ít ra Mai Thảo cũng đã có ba năm ở lại với Cách mạng đã trốn chui trốn nhủi ở “thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”; rực rỡ như vậy nhưng dân thì ăn bo bo, ăn sắn, ăn khoai… còn không đủ, lấy đâu cơm trắng mà ăn. Cơm trắng là một cái gì xa xỉ, là một giấc mơ không với tới của mọi người. Thế mà bây giờ ở đây “cơm thừa mỗi sáng quăng thùng rác” – Không ở với Cách mạng thì không biết hạt cơm nó quý như thế đâu. Hai cụ thân sinh ra Mai Thảo vốn ở lại Việt Nam. Mai Thảo một phút nhớ quê nhà, nhớ cha, nhớ mẹ nên mới có những câu thơ ấy “Mẹ dặn hạt cơm là hạt ngọc – Mẹ già không có miếng cơm ăn“. Đối với người khác, sự khó khăn, khốn khổ khi ở với Cách mạng là phần số… Nhưng đối với các cụ thân sinh ra Mai Thảo “mẹ già không có miếng cơm ăn” nó thảm thiết hơn nhiều.

Tôi vì một sự tình cờ đã qua vùng Hải Hậu (Quần Liêu – Văn Lý) đã nhìn thấy dinh cơ của các cụ, tòa ngang dãy dọc; trong nhà có hẳn một thư viện “Nguyễn Đăng” nên câu thơ nó đi thẳng vào tâm hồn tôi. Trong những khi trò chuyện Mai Thảo có cho hay ngày xưa bạn bè ở Hà Nội, nghỉ hè hay là Tết kéo nhau về “căn nhà vùng nước mặn” lũ lượt, nghỉ ngơi, chơi đùa, học hành, ăn ngủ ở đấy. Không phải chỉ có bạn của Mai Thảo mà thôi – còn có bè bạn của các anh Nguyễn Đăng Thiện, Nguyễn Đăng Viên, Nguyễn Đăng Khánh nữa. Gia đình Nguyễn Đăng là một “đại gia” ở miền này.

Trong gia đình Nguyễn Đăng ai cũng làm ăn chân chỉ, người làm luật sư, người là tỉnh trưởng, người làm giáo sư… chỉ có Mai Thảo Nguyễn Đăng Quí là “lãng tử”… Mai Thảo đã đi ra ngoài cái nền nếp gia đình để làm “nhà văn”. Cũng theo lời Mai Thảo kể lại thì vùng Quần Liêu – Văn Lý, nơi có dinh cơ của các cụ chỉ là quê mới của gia đình Nguyễn Đăng, nơi các cụ đến làm ăn, sinh cơ lập nghiệp. Quê chính của dòng họ Nguyễn Đăng là ở làng Thố Khối – Bắc Ninh “quê hương quan họ”. Hai cụ thân sinh ra Mai Thảo đến ngụ cư ở Hải Hậu từ hai bàn tay trắng mà dựng nên cơ nghiệp như thế, chắc các cụ đã phải làm ăn cần kiệm, khó nhọc thu vén suốt cả một đời. Khi khá giả, giàu có rồi, các cụ vẫn dạy con “hạt cơm là hạt ngọc”. Bây giờ già, con cái tản mát bốn phương, gần đất xa trời “mẹ già không có miếng cơm ăn”.

Hoài niệm của Mai Thảo văn cũng như thơ đều âm u trữ tình, khắc khoải phần nào giống như những đoạn văn viết trong cơn mộng “Đi tìm thời gian đã mất” (A la recherche du temps perdu) của M. Proust. Ngày ấy tâm hồn tôi như vậy nên tôi cảm nhận văn thơ bạn như vậy. Tôi không có với Mai Thảo những kỷ niệm khi bạn ở Mỹ nên một số thơ trong “Ta thấy hình ta những miếu đền”, tôi không chia sẻ được. Nhưng qua mấy lần thăm viếng bạn ở trên căn gác nhỏ vùng Westminster (Little Saigon 1992) đọc những trang viết về bạn, nhất là bản thân cảm nghiệm cuộc sống người già nơi “đất khách” tôi mới dần dần thấm thía những vần “độc thoại” của bạn. Tôi gọi là độc thoại bởi vì những vần thơ ấy toát ra một sự cô đơn kỳ lạ, dù sống ở một nơi đô hội, ngựa xe như nước nhưng Mai Thảo vẫn  hình như sống trong một cõi riêng, nhật nguyệt đều xa vắng, chỉ có “mình” nói chuyện với “mình”.


Cõi nhân gian như vậy chỉ có mình ta. May ra chỉ còn ánh trăng soi rọi – ánh trăng âm thầm chiếu một cái bóng chênh – vênh, nửa say nửa tỉnh từ một phố thị nào đi về căn gác nhỏ đêm khuya.

Mai Thảo vẫn như người ta, vẫn sống, vẫn nhìn ngắm cuộc đời nhưng có thấy gì đâu. Một cái nhìn hướng ra bên ngoài nhưng thật ra đó là một cái nhìn quay ngược vào bên trong. Cái nhìn “trắng” “khô” và trống rỗng. Đành trở về với số phận mình:


Dạo còn ở Saigon, cuối thập niên 60 đầu 70 thời kỳ Đêm Màu Hồng, thấy Mai Thảo và Hoài Bắc Phạm Đình Chương đêm nào cũng gặp nhau uống rượu mà mặt mũi đăm đăm…, tôi đã rất thích câu văn của Mai Thảo “chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu”. Không gặp nhau thì buồn, thì nhớ… nhưng gặp nhau rồi lại “chán quá không có chuyện gì mà nói với nhau”. Thế là lại lì lì uống rượu hết ly này sang ly khác. Buồn như thế, chán như thế nhưng mà vẫn cần có người bạn ấy ở bên. Bây giờ những năm sau 1991, ở Mỹ, Hoài Bắc Phạm Đình Chương mất rồi – Mai Thảo thường uống rượu một mình – Người sành rượu thường nói rằng: “Không gì buồn bằng “độc ẩm”. Không phải là uống rượu nhà uống nỗi buồn trơ trọi của mình:


Cái “bình đêm” ấy là một nỗi cô đơn, uống mãi mà không vơi, không cạn. Đó là tình trạng Mai Thảo những năm gần đây ở Mỹ. “Để moi thử sống một cuộc đời với văn nghệ xem sao”. Câu nói ấy theo sát cuộc đời Mai Thảo. Không gia đình, không vợ, không con… sống suốt một đời với văn chương, nghệ thuật để rồi… “thất thập cổ lai hi…” nơi quê người, đất khách hiện ra số phận của một “Người Viết Mướn”.


Hôm từ biệt Mỹ để về lại Úc (tháng 4-1992) chúng tôi đi từ San Diego lên sân bay Los Angeles. Phải qua vùng Santa Ana. Khi còn ở San Diego, Mai Thảo hứa xuống chơi với chúng tôi một lần nữa nhưng phút cuối Mai Thảo kêu đau chân không đi được. Qua Little Saigon, “mẹ cháu” vội nói “Rẽ vào chào anh Mai Thảo một tí chứ”. Xe quẹo vô khu nhà chung cư ấy – Nhìn lên cái cửa sổ trên lầu thấy cái rideau vẫn mở. Dấu hiệu Mai Thảo có nhà. Vợ chồng chúng tôi, vợ chồng con gái tôi kéo lên. Cái lầu của Mai Thảo có “chút xíu à” chật ếm, nào tranh, nào sách, nào giường, nào toilet, nào frigidaire, nào ấm đun nước, bình pha cà phê lỉnh kỉnh. Lúc ấy Mai Thảo lại đang có khách. Có ông bạn “Người Việt Đỗ Ngọc Yến” và nhà văn trẻ Thế Giang (nếu tôi nhớ không nhầm). “Tụi tôi về Úc hôm nay đây, rẽ qua “say good bye” với bạn”. Thấy nhà chật không tiện – ngồi lâu, chúng tôi đi xuống. Mai Thảo xuống theo, vội vàng cứ đi chân không mà cùng chúng tôi ra car park. Tôi đã lên xe rồi Mai Thảo còn cầm tay tôi mà nói “Tụi mình cũng không còn được bao lâu nữa đâu – Có dịp nào thì phải cố mà gặp nhau đấy nhé…”.

“Không còn được bao lâu nữa đâu” nhưng tôi nghĩ cũng không nên vội vã. Dăm mười năm thì chắc vẫn còn có thể. Nhưng nhà không ngờ từ dạo ấy đến nay đã quá năm năm rồi nhà tôi chưa có dịp nào trở lại thăm đất Mỹ. Cứ lần lần lữa lữa… Trong lúc đó nghe tin ở Mỹ nơi này nơi kia tổ chức chương trình Mai Thảo… đêm Mai Thảo. Có nơi anh em giục tôi viết về Mai Thảo nhưng tôi nghĩ “cứ từ từ”… Nhưng mà từ từ… không được nữa rồi.

Bạn tôi Mai Thảo tháng trước đây “bất tỉnh” phải đưa ngay vào nhà thương cấp cứu. Cái con bệnh trong người nó “gây thành chuyện” mất rồi. Tôi vội viết những giòng này mà nghĩ không biết có kịp hay không? Mai Thảo chỉ còn thoi thóp. Bây giờ tôi mong ước một điều “Tình lại đi Mai Thảo, tỉnh lại đi Mai Thảo”.

Nhưng một sớm cuối năm Đinh Sửu, bạn tôi Mai Thảo đã ra đi, không bao giờ tỉnh lại…

Phan Lạc Phúc

Nguồn: Nguyễn Trường Trung Huy chép lại từ bộ sưu tập riêng. Sài Gòn, Tháng Tám 2021

Bố Tôi. Bùi Nguyên Trụ


Bùi Nguyên Trụ

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến – Sài Gòn 1971)

Mẹ tôi người làng Hành Thiện, Nam Định. Ông Nội của Mẹ tôi chống Pháp bị chém đầu chung với Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám vào năm 1913. Mẹ tôi có người anh cả là bác Quỳnh đi theo Việt Minh cũng chống Pháp. Việt Minh trong giai đoạn này là liên minh chính trị cánh tả mang danh nghĩa trung lập với mục đích công khai là “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái để chống thực dân Pháp”. Về sau bác Quỳnh bị Việt Minh thủ tiêu vì không phải là người Cộng Sản mà bác đi theo Đảng Tân Dân Chủ. Lớn lên khi dọn về Hà Nội, gia đình Mẹ rất khá giả vì ông Ngoại tôi là nhà thầu cho mỏ than Hòn Gai tại Quảng Ninh. Sau khi Việt Minh chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp Định Đình Chiến Geneve 1954 được ký kết, ông Ngoại tôi tức tốc bán tống bán tháo tài sản để di cư vào Nam, tránh bị đấu tố khi đã biết quá rõ bản chất của người Cộng Sản là gì.

Bố tôi gốc Hà Nội, có hai anh chị cũng đi theo Việt Minh chống Pháp và người anh kế là bác Tân thì lại đi theo chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Bác Tân tốt nghiệp khóa Sỹ Quan Hải Quân ở Nha Trang mang cấp bậc Thiếu Úy và vì tin theo Hiệp Định Geneve năm 1956 sẽ có Tổng Tuyển Cử, hai miền Nam-Bắc sẽ thống nhất, nên bác quay về Hà Nội.

Thủ Tướng Ngô Đình Diệm làm cuộc Trưng Cầu Dân Ý và truất phế Vua Bảo Đại vào năm 1955. Sau đó ông Diệm cũng tuyên bố sẽ không tổ chức cuộc Tổng Tuyển Cử ở Miền Nam như đã dự định vào năm sau 1956, vì ông cho rằng bầu cử ở Miền Bắc mà do Đảng Lao Động (Cộng Sản) tổ chức thì chỉ là trò bịp bợm không công bằng, vì thật sự người dân Miền Bắc làm gì có tự do mà đi bầu. Vậy là cuộc Tổng Tuyển Cử theo Hiệp Định Geneve kể như bị hủy bỏ. Bác Tân dính luôn ngoài Bắc rồi bị vùi dập cho đến cuối đời vì lỡ mang cái mác từng đi lính Quốc Gia.

Trong bối cảnh đó, một bên nhất quyết bỏ xứ vào Nam, một bên muốn ở lại. Thế là ông Ngoại tôi phải tới nhà ông Nội tôi xin cho Bố tôi đi theo, sau một lễ cưới gấp Mẹ tôi cho kịp ngày di cư.

Vào Sài Gòn, Bố tôi bắt đầu gầy dựng sự nghiệp qua nghề làm báo viết văn. Ông hoạt động rất tích cực và cũng dấn thân vào chính trị qua ngòi bút. Năm 1959 khi tác phẩm đầu tay “Những Người Áo Trắng” ra đời, Bố tôi chính thức bước vào thế giới văn nghệ sĩ và đã được văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam của Tự Lực Văn Đoàn giới thiệu vô Trung Tâm Văn Bút Việt Nam vào cuối năm 1959. Sau này, Bố tôi giữ chức Phó Chủ Tịch cho tới ngày mất nước.

Ông Nhất Linh tuẫn tiết vì chống chính phủ Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp các phần tử đối lập. Cái chết của ông là một thảm kịch và đã tạo xúc động lớn lao cho giới trẻ sinh viên học sinh tại miền Nam dạo đó. Ở đám tang của ông vào ngày 13 tháng 7 năm 1963, gần bốn tháng trước khi chế độ nhà Ngô bị đảo chánh, Bố Tôi lúc đó mới 27 tuổi đã được hân hạnh đọc điếu văn. Ông ràn rụa nước mắt nói về cố văn hào Nhất Linh như sau: “Văn hào đã hình thành sứ mạng cao quý của người cầm bút. Văn hào đã nêu cao sĩ khí bất khuất của truyền thống những nhà văn chân chính”.

Bố tôi tuy là nhà văn nhưng thật sự ông kiếm kế mưu sinh nuôi nấng đàn con bằng nghề nhà giáo. Bố tôi dạy Vật Lý-Hóa Học cho nhiều trường công tư thục ở Sài Gòn, như Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo, Bồ Đề, Phan Sào Nam..v.v… Đối với quân đội, ông cũng là giảng viên đứng lớp về các khóa chính trị cho các sỹ quan quân lực VNCH ở Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Mỗi sáng thứ Hai hàng tuần, Bố tôi còn viết bài diễn văn cho Trung Tướng Trần Văn Trung để đọc dưới chân cột cờ trong trại Lê Văn Duyệt. Tôi còn nhớ hàng ngày Bố tôi tha về hàng xấp tài liệu đã đánh máy sẳn rồi sai tôi đi ra tiệm quay ronéo. Quay ronéo đại khái giống như máy photocopy thời nay nhưng phải quay bằng tay. Hồi xưa các trường trung học ra báo Xuân thường sử dụng kiểu quay ronéo này. Nhìn vào bài học thì nói chung là về “Tuyên Truyền và Phản Tuyên Truyền”. Cũng như bài vở về Lý-Hóa, Bố tôi cũng cần quay ronéo những tài liệu này ra hàng trăm copy để phát cho học sinh. Sau khi mang về sắp xếp trang thứ tự và hoàn thành nhiệm vụ, Bố tôi thường thưởng cho anh em tôi mỗi đứa một cái bánh giò hay bánh chưng mà có một bà đội nguyên cái thúng trên đầu đi rao bán hàng ngày ngang xóm.

Nói chung thời thơ ấu của anh chị em chúng tôi có thể nói là rất êm đềm. Cuối tuần Bố tôi thường nhét cả một gia đình chín người vào chiếc xe hơi của ông rồi chở cả đám đi chơi. Tuần thì đi bát phố Bonard ăn kem Pôle Nord hay vào chợ An Đông ăn Cơm Gà Siu Siu. Có tuần thì cả nhà đi xem ciné sau khi lang thang thương xá Tam Đa hay Tax và phố sách Lê Lợi. Hoặc có dịp thì Bố lôi cả lũ đi Sở Thú hay ra Vũng Tàu cho tắm biển.

Nhưng có lúc chúng tôi cũng bị Bố tôi bắt nằm xuống hết rồi quất cho mỗi đứa vài roi, từ trên xuống dưới. Bố mới giơ roi lên chưa hạ xuống là cả lũ đã bù lu bù loa khóc lóc than “đau quá, đau quá” làm bố tôi cũng phì cười. Riêng tôi thì có một hôm tôi nhớ hoài. Lần đó tôi đã sẳn sàng chịu đựng, mặc hai, ba cái quần xà lỏn dày lên cho đỡ đau. Cả ngày cứ như người mất hồn vì sợ do lần này tội quá nặng. Khi Bố tôi bước vô nhìn tôi một lúc lâu không nói câu nào, bỗng nhiên ngồi phịch xuống ghế sa-lông. Hình như là ông đã quá chán nản, có thể nói tôi là cái thứ quá bất trị, rồi ông đứng lên bỏ ra ngoài. Đó là lần cuối cùng Bố tôi không còn muốn sử dụng roi vọt gì đối với tôi nữa. Bị quất tuy đau nhưng tôi vẫn lì, nhưng chính vì lần đó ông không nói gì nên tôi mới nhớ, không bao giờ tôi dám tái phạm lần nữa.

Có hai ngày mà tôi để ý thấy Bố tôi lặng người ngồi ngoài sân hàng giờ không nói câu nào. Đó là 27 tháng 1 năm 1973, ngày chính thức đình chiến giữa hai miền Nam-Bắc. Bố tôi thắp nhang ở Bàn Thờ Ông Bà Nội,cầu nguyện từ đây đất nước sẽ không còn tiếng súng, tiếng bom đạn. Nhưng mực ký chưa ráo thì Việt Cộng đã trắng trợn vi phạm Hiệp Định Paris,chúng lại giở trò pháo kích, giật mìn, quậy phá.

Rồi đến ngày 30/4 năm 1975. Bố tôi ra lệnh cho anh em tôi đốt hết tài liệu từ trường Chiến Tranh Chính Trị mà tôi thấy từng thùng với những trang giấy plastic viết bằng bút lông màu lên trên, giống như kiểu projector đặt trên mặt kính, có đèn ở dưới chiếu sáng lên phông vải trắng. Bố tôi còn cẩn thận lấy kéo cắt nhỏ từng tờ ra rồi quăng vào đống lửa. Đốt hết, tài liệu, sách báo nào liên quan tới chính trị đốt sạch. Nội đổ ra sân rồi lựa ra đốt cũng đến tối mịt mới hết, bắt đầu từ lúc những binh đoàn Motolova của Cộng Quân đã tràn vào tiếp quản Thủ Đô Sài Gòn.

Cũng may hồ sơ trong Cục Tâm Lý Chiến đã được thiêu hủy kịp và không bị ai chỉ điểm. Bố tôi được đi dạy học lại tại trường Hưng Đạo trên đường Cống Quỳnh. Làm nghề thầy giáo ở dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa, có thể nói là Bố tôi cực kỳ chán nản. Ông có viết một tác phẩm kể rõ những hỉ nộ ái ố có tựa “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác”. Giai đoạn này gia đình tôi cũng dọn hẳn về mặt tiền đường Bùi Viện, chỉ cách trường Hưng Đạo 50-70 mét, mà bây giờ là Phố Đi Bộ hay họ còn gọi là Phố Tây Ba Lô.

Về đây cạnh xóm Sáu Lèo, không khí rất xô bồ vì ở trong khu vực Ngã Tư Quốc Tế (Bùi Viện-Cống Quỳnh-Phạm Ngũ Lão-Đề Thám), dân cư đông đúc thuộc giới lao động tạp nhạp nên không bị để ý như hồi còn ở nhà cũ đường Thiệu Trị. Đã thế vì gần trường Hưng Đạo nên học trò của thầy Tiến ngày nào cũng lũ lượt ghé thăm thầy, ra vô nườm nợp. Rất tiện lợi cho Bố Mẹ tôi toan tính chuyện cho cả gia đình đi vượt biên.

Năm 1980, Bố Tôi đi chuyến thứ hai qua tới được Songkla của Thái Lan. Vào thời đó, bọn hải tặc Thái Lan hoành hành ác độc dữ lắm. Nhập trại Bố tôi cùng hai nhà báo Dương Phục và Vũ Thanh Thủy đã cùng nhau viết lên bản cáo trạng “Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan” mà chính bố tôi là một trong 157 nhân chứng đã bị chúng nó kéo vào đảo Kra, rồi gửi lên Liên Hiệp Quốc (LHQ). Bản cáo trạng này đã làm thức tỉnh lương tâm nhân loại. Sau đó LHQ đã thành lập một Ủy Ban tạo sức ép cho Hải Quân Hoàng Gia Thái phải đi lùng bắt hải tặc. Kết quả là một số hải tặc đã bị đồng bào ta ra tòa chỉ mặt, phải chịu án tù. Cũng nhờ vậy mà sau này vấn nạn hải tặc cũng bớt đi nhiều vì chúng nó cũng biết sợ.

Tới California năm 1981, lúc này Mẹ tôi qua được từ Mã Lai trong chuyến vượt biên thứ ba của cả nhà. Bố tôi mướn được một căn nhà ở đường King tại Santa Ana, ông gom đàn con lại hết. Bố tôi may được nhà báo Bùi Ngọc Đường của tạp chí Khai Phóng mách cho cách kiếm tiền bằng nghề cắt cỏ. Ông tốt bụng còn chia cho Bố tôi khởi đầu bằng một số account ở vùng Glendale cách Santa Ana khoảng 50-60 miles. Thế là Bố tôi sáng sớm phải khởi hành mang theo máy cắt cỏ, máy thổi bụi, bao rác..v..v….trên chiếc xe truck cũ rích. Đôi khi tôi cũng đi theo Bố tôi để phụ việc hay đi phát flyer để kiếm thêm account. Ác nỗi cái vùng nhà giàu này toàn nhà lớn trên đồi. Đi bộ lên dốc quăng tờ quảng cáo “Mr. Lee Landscaping” cả block mới được có vài căn, toát cả mồ hôi. Nhưng cắt cỏ cho nhà giàu thì họ trả cao vì lắm việc và có nhiều tiền tip. Đến chiều thì xe truck đã chất đầy bao rác rồi mang ra landfill đổ. Bố tôi nói, nghề này tuy cực nhưng đó là cách kiếm tiền lương thiện chân chính, vì mình mới qua, cho dù có khó khăn cỡ nào đi nữa cũng còn tốt hơn gấp trăm lần phải sống dưới chế độ Cộng Sản. Với chân lý ấy, tôi chẳng bao giờ thấy Bố tôi bực dọc hay cằn nhằn gì cả vì đã chấp nhận hoàn cảnh cũng như hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ xứ ra đi, trên đường đi tìm tự do.

Rồi khó khăn gì cũng qua đi. Sau Bố tôi cùng Mẹ tôi đi học điện tử lại ở trường Control Data Institute, cả hai ra trường với tấm bằng Electronics Technician và cùng đi làm cho hãng Verifone chuyên sản xuất máy cà thẻ credit card cho tới ngày về hưu.

Năm 1991, nghe tin bác Tân ngoài Bắc bị bệnh nặng thiếu thốn đủ thứ. Từ ngày đi di cư vào Nam năm 1954, Bố tôi vẫn chưa được gặp lại các bác tính ra đã 37 năm ròng. Tôi đã tháp tùng theo Bố tôi về Hà Nội năm đó. Ôi thôi Bố tôi quá xúc động và thật sự cảm thông cho dân tộc Việt đang bị chà đạp dưới chế độ phi nhân Cộng Sản. Đời bác Tân đúng là sai một li đi một dặm. Phải chi ngày ấy bác đừng quay về Hà Nội thì cuộc đời của bác đâu đến nỗi bị đọa đày triền miên đến thế này.

Bố tôi cũng có người em mà tôi gọi bằng chú, tên Bùi Nhật Tuấn. Lúc này ông cũng đã thành danh ở Miền Bắc với một sự nghiệp viết văn đồ sộ không kém Bố tôi. Thời chinh chiến ông đi bộ đội, rất bất mãn với chế độ nên hai ông rất tâm đầu ý hợp. Tác phẩm ” Đi Về Nơi Hoang Dã” của chú Tuấn bị đánh giá là chống Đảng bêu xấu lãnh đạo. Nó moi ra những cái vô lý của cuộc sống mà con người chỉ biết tuân theo mệnh lệnh, có chết đói rã họng cũng phải chịu đựng vì cấp trên, tức Đảng ta thì không bao giờ sai cả, có khó khăn gì đi nữa cũng phải ráng mà khắc phục. “Đi Về Nơi Hoang Dã” có ý tưởng đả phá Cách Mạng như các tác phẩm” Những Thiên Đường Mù” của Dương Thu Hương, “Mùa Lá Rụng Trong Vườn” của Ma Văn Kháng, “Thời Xa Vắng” của Lê Lựu, “Nỗi Buồn Chiến Tranh” của Bảo Ninh. Ở thời gian này, nhờ sự cởi trói cho giới văn nghệ sĩ của Nguyễn Văn Linh nên trong Việt Nam nở rộ ra phong trào “Văn Nghệ Phản Kháng” kiểu như phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” thời 1955-1958.

Thế là khi quay về Mỹ, Bố tôi cùng nhà văn Bùi Nhật Tuấn có viết chung một tập truyện tựa “Quê Nhà – Quê Người”. Cuốn này gom những truyện ngắn của Nhật Tiến – Nhật Tuấn có nội dung nói lên những bất công của xã hội VN dưới chế độ CS. Đồng thời Bố tôi cũng tập trung được bài của 27 nhà văn Hải Ngoại, đọc và viết về 67 nhà văn phản kháng trong nước để ra mắt tác phẩm”Trăm Hoa Vẫn Nở trên Quê Hương” ngõ hòng tiếp sức cho cao trào văn nghệ phản kháng trong nước đang dâng cao (sau bị cấm), gộp lại toàn là những tác giả có xu hướng bất mãn chế độ CS như Tướng Trần Độ, Đại Tá Nguyên Ngọc, Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,Hà Sĩ Phu .v…v..

Với cả một công trình tim óc của cả trăm tác giả trong và ngoài nước như thế nhưng có một số người ở hải ngoại đã cắt xén những câu văn qua lời giới thiệu của Bố tôi để vu khống tập truyện “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương”. Nào là công cụ của Đảng ta, nào là hòa hợp hòa giải với tà quyền, nào là bợ đít chế độ đương thời. Chưa thỏa mãn, họ còn đi vu cáo Bố tôi tiếp tay với nhà văn Bùi Nhật Tuấn để nhuộm đỏ hải ngoại, trong khi hỏi tới thì chính họ cũng chưa từng đọc qua tập truyện đã được gom lại của cao trào văn nghệ phản kháng này, mặt mũi trang bìa ra sao, màu gì, họ cũng không hề biết. Ông Nhật Tuấn cũng đã ra đi vào ngày 6/10/2015.

Qua danh nghĩa chống Cộng họ viết bài đánh phá Bố tôi triền miên từ năm nay qua năm khác, cứ toác miệng ra vu khống chửi bới cho sướng cái mồm, khốc liệt đến nỗi chính những tác giả ở hải ngoại có bài trong “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” cũng phải e dè, không có một lời thanh minh thanh nga trong khi Bố tôi đang bị đánh hội đồng. Diễn biến này đã làm cho Bố tôi già đi nhiều vì quá chán nản và không còn muốn dấn thân đấu tranh gì nữa cho các phong trào đấu tranh dân chủ cho quê hương. May là sau có một nhóm lên tiếng qua “Lá Thư Ngỏ” của nhà văn Vũ Huy Quang đưa ra,vài bài viết lý luận trên tạp chí Hợp Lưu bênh vực “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” do nhà văn Phan Tấn Hải viết,và những phân tích của nhà báo Hoàng Lan Chi trên các diễn đàn người Việt chống Cộng.Khi tôi hỏi tới, thì Bố tôi nói Bố tôi sẽ trả lời những định kiến xuyên tạc khi đúng lúc. Quả tình, cách đây sáu, bảy năm, ông đã đi tìm lại sự thật cho “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương”, ơn đền oán trả phải sòng phẳng qua tác phẩm: “Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi” (link đính kèm).

Những tác phẩm của Bố Tôi viết sau này được Nhà Xuất Bản Huyền Trân mà Bố tôi giao cho tôi làm Giám Đốc, đã tái bản lại hầu hết. Tôi có đề nghị và được ông đồng ý là gửi tặng toàn bộ tác phẩm của Nhật Tiến cho tất cả thư viện ở những trường đại học lớn khắp 50 Tiểu Bang. Thế là tôi lên danh sách mấy trăm cái thư viện và đã làm trọn nhiệm vụ đó để mai sau có những học sinh cần sách Việt Ngữ sẽ kiếm được sách của Bố tôi mà trau dồi.

Hồi xưa ở Sài Gòn, Bố tôi đầu tắt mặt tối lo dạy học, viết văn và làm báo, không có thời giờ nhiều nên ít khi ngồi chơi với anh em chúng tôi. Nhưng sau này khi về hưu, Bố tôi đã dành hết thời gian cho các cháu nội ngoại. Ông đưa đón các cháu đi học, dẫn đi Pick ‘n Save, tiệm 99 cents mua đồ chơi, hoặc ông gấp Origami hay photoshop các loại hình thú vật, Superman cho các cháu cắt. Rồi khi chúng nó lớn lên thì thỉnh thoảng ông dúi tiền cho chúng nó xài, sợ bố mẹ các cháu không cho lấy. Có mấy năm sau này vì tuổi già, sức khỏe của Bố tôi càng ngày càng suy yếu, đến cái chữ ký tặng sách tôi xin Bố ký mà Bố tôi cầm bút cũng khó khăn. Tôi phải đề nghị đi làm cái triện son, Bố khỏi cần ký nữa, cứ dùng triện son đỏ mà ấn vào sách thay cho chữ ký.

Lúc một giờ sáng đêm hôm qua nghe tin Bố tôi khó thở. Tức tốc tôi chở Bố tôi vào bệnh viện Kaiser ở Irvine. Trên đường đi tôi nắm lấy bàn tay gầy guộc của Bố mà linh tính như có chuyện chẳng lành. Người Bố tôi đã nhũn ra như không còn một chút sinh lực nào hết, tôi phải bế Bố tôi mà hồi tưởng lại khi còn bé chiều chiều Bố tôi thường bế tôi ra đầu ngõ dạo chơi. Ôi sao mà ấm quá Bố ơi. Đến nơi họ cấp tốc đưa Bố tôi vào phòng hồi sinh cho thở máy oxygen, nhưng nhịp tim của Bố tôi càng lúc càng yếu dần như ngọn đèn cầy le lói chỉ chờ tắt ngúm. Đến 11:26 trưa thì tim Bố tôi ngừng đâp. Bố tôi đã ra đi thanh thản chẳng làm phiền toái gì đến các con các cháu.

Thưa Bố,

Thôi vậy thì cách đây 66 năm Bố theo Mẹ xuôi Nam.Nghe Mẹ kể hồi còn trung học, ngày nào Bố cũng kiếm cớ đi qua nhà Mẹ.Mỗi ngày Mẹ mặc áo màu gì là Bố đi lùng ở mấy tiệm may kiếm cho bằng được miếng vải có màu áo của Mẹ, rồi dán trong sổ như là nhật ký.Nay Mẹ đi mới được hai tuần Bố nhớ nên hôm qua Bố đã muốn theo kiếm Mẹ trên cõi Vĩnh Hằng. Con tin chắc Mẹ đang chờ Bố và Bố Mẹ sẽ được thảnh thơi không còn phải vướng mắc bụi trần làm chi nữa. Riêng đàn chim sau nhà mà ngày hai buổi Bố thường rải gạo cho chúng nó ăn, lúc nào Bố cũng sợ thiếu gạo. Bố yên trí đi, tụi nó sẽ được lo lắng đầy đủ Bố nhé.

Bây giờ con cũng xin phép được quỳ xuống vái Bố mười lạy để tri ân những gì Bố đã cho con nhe Bố.

Con của Bố!

Bùi Nguyên Trụ
Sept 15th,2020

MẸ TÔI: https://www.facebook.com/michaeltrubui2/posts/10158405856348405

Nhà văn Đỗ Phương Khanh. Hồi ức của Hồ Trường An


Hồ Trường An


Nhà văn Đỗ Phương Khanh – ảnh Cao Lĩnh

Đỗ Phương Khanh đã làm quen với độc giả qua vài truyện ngắn như “Đi Mua Giầy”, “Giận Nhau” trên tập san Văn Hóa Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương. Chị xuất hiện đồng thời với Duy Lam, Nhật Tiến, Tô Hoàng, Tuyết Hương. Sau đó trên tập san Tân Phong, chị còn cho đăng một vài truyện ngắn nữa, như truyện “Con So ” chẳng hạn.

Từ khi làm vợ Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh hầu như ngưng sáng tác. Chị Nguyễn thị Vinh thường than thở: Cô Phương Khanh thông minh, duyên dáng, viết hay lắm cơ. Tại cô ấy bận rộn con cái nên không chịu viết nữa. Vả lại cô ấy thấy chồng mình thành công trên văn đàn là cô ấy mãn nguyện rồi. Khi chị Nguyễn thị Vinh thực hiện tuyển tập truyện ngắn “Mười Hoa Trổ Sắc” gồm mười truyện ngắn của mười tác giả nữ thì chị Đỗ Phương Khanh cũng đóng góp vào đó một truyện, lấy tựa đề là “Vàng Son” một truyện xã hội, văn phong tuy dịu dàng, chải chuốt, nhưng thật đắng như vị quế chi, lưu hội.

Đỗ Phương Khanh viết về truyện nam nữ yêu nhau, truyện đời sống lứa đôi trong gia đình. Xã hội trong tác phẩm của chị là xã hội trung lưu. Nhân vật của chị là những nhân vật bình thường, tầm thường. Thế nhưng câu văn dí dỏm, lối diễn tả hoạt bát, bố cục chặt chẽ đã làm cho các tác phẩm truyện ngắn của chị lôi cuốn thao thao như lạch nước chảy siết vọng tiếng ngân thánh thót.

Tôi được biết chị Đỗ Phương Khanh vào năm 1967, trong buổi tiếp tân tại nhà chị Nguyễn thị Vinh. Hôm đó, bên phía đàn ông có Nhật Tiến, Phổ Đức, Tô Thùy Yên, Thục Vũ, Duy Thanh, Anh Hoàng Tổng. Bên nữ có: Nguyễn thị Thụy Vũ, chị Trúc Liên (vợ họa sĩ Duy Thanh), nhà thơ nữ Diễm Phúc. Và có thêm một số thân hữu không phải là văn nghệ sĩ, trong đó có Đoàn Yên Linh và tôi.

Sau màn trà nước, mọi người dùng tiệc theo kiểu self-service. Chiếc bàn dài chất đầy rượu, sôi gấc, nộm sứa, chả rán, ai thích ăn gì tùy thích mà lấy. Mãi tới lúc bữa ăn gần tàn, chị Đỗ Phương Khanh mới bồng con tới. Chị mặc bộ áo sẫm màu huyền bóng loáng rắc bông đỏ tía lấm tấm. Vóc chị hơi đẫy, nhưng gọn và tươi mát. Chị ăn nói thật duyên dáng, lời nói đơn giản nhưng dí dỏm, ý nhị. Chị vui vẻ nhưng vẫn đóng khung trong thước ngọc khuôn vàng.

Cách đó năm năm sau, một hôm tình cờ theo chị Thụy Vũ đến trụ sở Trung Tâm Văn Bút, tôi gặp chị và nhận không ra chị. Chị mảnh dẻ, tha thướt hơn trong chiếc áo dài màu xám mịn màng óng ả điểm những mặt tròn cỡ đồng xu màu đen. Chiếc áo vừa đẹp vừa nổỉ choáng lộn dù chỉ có hai màu vừa buồn vừa nguội lạnh nhưng nền và bông hòa hợp một cách xôn xao. Chị xài son phấn thật ít, tóc chải óng ả tự nhiên chứ không xịt keo. Cái đơn giản vừa phải làm chị đẹp phong lưu hẳn ra.


Năm 1973, có lần trời vừa chạng vạng, nhân dịp đi ngang qua nhà chị, ngó vào thấy đèn lửa leo lét (vì hôm đó khu nhà chị bị cúp điện), tôi nảy ý định vào thăm anh Nhật Tiến và chị. Phải chờ đèn điện khắp khu sáng trở lại, tôi mới dám gọi cổng. Tôi xưng là em trai của Thụy Vũ, anh Nhật Tiến mừng lắm, vội pha trà. Anh tặng cho tôi cuốn tập truyện “Tặng Phẩm Của Dòng Sông” và cuốn “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ”, một tự truyện của anh.

Còn chị Đỗ Phương Khanh vào trong một lúc lâu chừng lúc trở ra phòng khách, lễ mễ ôm một chồng tuần san Thiếu Nhi, tờ báo do ông Khai Trí (tên thật là Nguyễn Hùng Trương) làm chủ nhiệm, anh Nhật Tiến làm chủ bút, chị Đỗ Phương Khanh giữ phần trả lời độc giả. Tờ báo in đẹp, nhiều bài vở có ý thức, rất bổ ích cho kiến thức thanh thiếu nhi.

Song song với việc trông nom tờ Thiếu Nhi, chị Đỗ Phương Khanh giúp đỡ chồng trong việc điều động nhà xuất bản Huyền Trân, đã xuất bản một số lớn các tác phẩm của Nhật Tiến.

Gió thời cuộc đổi chiều. Sau ngày 30-4-75, tôi có gặp chị Đỗ Phương Khanh tại đường Nguyễn Du. Chị đứng bên chiếc xe đạp dựng cạnh gốc me. Chị bảo tôi:

– Những gì Phương Khanh mong đợi, “cách mạng”’ đã làm hết rồi. (Sau này tôi mới biết chị nói để dò ý tôi).

Có lần, chị Nguyễn thị Vinh lặn lội từ Sài Gòn lên thăm cụ thân sinh của tôi, tôi có bảo chị:

– Em chẳng hiểu “cách mạng”, chẳng hiểu xã hội chủ nghĩa gì ráo. Nhưng coi bộ họ “đía” thì giỏi, nhưng nhúng tay vào việc làm thì dở ẹt.

Không hiểu khi ra về chị Vinh nói với chị Đỗ Phương Khanh sao đó, trong buổi học tập của khóa bồi dưỡng chính trị, chị Đỗ Phương Khanh viết mảnh giấy nhỏ quăng cho Thụy Vũ, rằng:

“Thụy Vũ ơi, mình tưởng chị cùng Hồ Trường An giống ông cụ.”.

Nhưng đâu phải vậy. Ông cụ tôi thiên Cộng, mê Cộng ai mà không biết.

Trong buổi học sau, tôi dọn chỗ để ngồi gần hai ông anh tiểu thuyết gia hiền lành của tôi là Trọng Nguyên và Thanh Thủy. Họ cùng ngồi một dãy với chị Vinh, anh Nhật Tiến và chị Đỗ Phương Khanh. Họ xếp tôi ngồi gần chị Đỗ. Tôi cứ ngủ gục hoài làm anh Trọng Nguyên cứ gọi từng chập:

– Mày cứ ngủ hoài, họ để ý mày đó.

Vào cái hôm một nhà văn nữ làm màn tự phê tự kiểm, thấy đương sự vật vã van xin cộng sản cho mình cầm bút trở lại, chị Đỗ Phương Khanh đứng dậy dõng dạc:

– Cô muốn xin viết lại thì nên xin cho riêng cô, đừng xin cho chúng tôi làm gì.

Cũng trong buổi hôm đó, có tên cán bộ cộng sản tên Mai Quốc Liên, dù là kẻ dự thính, nhưng hắn đã khinh miệt bảo phe cầm bút loại trên:

– Xin các anh chị đừng tiếc rẻ cái văn nghệ miền Nam nữa. Đó là thứ văn nghệ chợ trời, hiện đem bán solde chẳng ai mua.

Lập tức, chị Đỗ Phương Khanh đứng lên:

– Anh Liên! Anh nhân danh ai mà nói câu ấy? Anh đọc “Những Giọt Mực” của Lê Tất Điều chưa?

Chị vừa thét vừa khóc nức nở làm cơn buồn ngủ tôi tan biến đâu mất.

Giờ thì vợ chồng con cái Nhật Tiến định cư ở California. Đã quá lâu, tôi không có liên lạc với họ. Vào năm 1979, tôi đã nhận thư anh Nhật Tiến, lúc anh còn ở tại trại Songkhla với cặp ký giả Dương Phục – Vũ Thanh Thủy. Thoắt chốc đã chín năm qua rồi. Được biết cặp Nhật Tiến – Đỗ Phương Khanh hăng say phụ giúp với Quyên Di coi sóc tờ báo Tuổi Hoa là tôi mừng. Họ là những kẻ có đầu óc lý tưởng những Idéalistes làm tôi ngưỡng mộ như đã từng ngưỡng mộ họ cùng anh Phan Lạc Tiếp, cặp Phục – Thủy.

Đã lâu rồi người ta không thấy chị Đỗ Phương Khanh xuất hiện trên văn đàn, tuy nhiên giới thân cận chị cho biết rằng từ ngày ra hải ngoại chị ăn trường trai và chỉ chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật. Chị viết nhiều bài khảo luận giá trị về đạo Phật đăng trên một vài tờ báo ở California dưới bút hiệu Liên Hương.

Hồ Trường An

(Trích Giai Thoại Hồng của Hồ Trường An –trang 232-235)

Mẹ Tôi. Michael Bùi



Michael Bùi

Gia đình tôi là gia đình di cư. Năm 1954, đồng 18 tuổi, Bố Mẹ tôi nắm tay nhau xuống tàu Há Mồm xuôi Nam chạy trốn chế độ CS. Vào đến Sài Gòn, Bố Mẹ tôi khởi nghiệp bằng cách hành nghề viết Sách làm Báo. Năm tôi còn học Tiểu Học, Mẹ tôi dùng tư gia để thành lập Cơ Sỡ Ấn Loát Huyền Trân. Căn nhà này được cái sâu và rộng nên tôi thấy có đến cả trăm nhân viên nhà in làm việc suốt ngày. Chỗ thì chứa các máy in, chỗ thì đễ những hộc chữ bằng chì, phòng này đặt máy sén, cắt giấy, phòng kia cho giai đoạn khâu sách bằng chỉ của các cô các dì..v…v….Trong giờ làm việc thì ôi thôi vui lắm. Tiếng máy in chạy rầm rầm xen lẩn tiếng nói, tiếng cười đùa, tiếng ca vọng cỗ…nó tạo nên một không khí rất sinh động.
Công nhân của nhà in thì rất quý Mẹ tôi qua cách cư xữ và đối đãi với họ rất tận tình chu đáo như đại gia đình. Tôi nghe bà thường nói, ngày thứ 6 là ngày vui nhất của Mẹ trong tuần đó con, vì ngày đó là ngày phát lương cho thợ. Nghĩ đến cãnh họ có tiền chạy về nhà dẫn vợ con đi chơi cuối tuần là Mẹ thấy vui rồi. Cái chân lý ấy đã thấm nhuần tôi cho đến mấy chục năm về sau này, tốt với nhân viên thì họ sẽ đối xử với mình y như vậy thôi.
Có thể nói là Mẹ tôi rất thương tôi, chưa bao giờ Mẹ tôi la rầy gì hết cho mặc tôi có phá phách kiểu gì đi nữa, Mẹ tôi chỉ nhìn và khuyên tôi thôi đừng làm vậy nữa nhe con. Hồi xưa kỷ thuật in ấn còn thô sơ chứ không viết bằng computer rồi in ra như bây giờ. Bài viết được thợ sắp chữ nhìn vào rồi bốc từng chữ chì cho vào cái khay, ABCD – sắc huyền hỏi ngã nặng, sắp được vài hàng là họ phải bỏ qua một bên rồi sắp tiếp, một trang bài có là thợ giỏi cũng mất khoảng 1/2 tiếng, khi đầy trang rồi thì lấy dây cói cột lại, xong họ cà mực lên chì rồi lăn qua giấy trắng, chữ chì ngược khi in qua tờ giấy sẽ hiện ra chử xuôi.
Dĩ nhiên là khi bốc từng chữ như vậy chắc chắn họ sẽ bốc lộn, Mẹ tôi sẽ coi lại những chỗ sai gọi là sửa Morát, bà lấy bút lôi ra sửa từng chữ rồi trả về cho thợ sắp chữ, họ chỉ việc lấy cái nhíp gắp từng chữ sai ra rồi thay vào đó bằng chữ khác cho đúng. Bản chì đã sửa đủ thành trang, họ chồng lên nhau đễ chờ đưa vào máy in.
Thế mà ban đêm bọn con nít chúng tôi kéo nhau vô chạy nhảy trong nhà in làm lộn tùng phèo hết đống chữ ấy, kéo theo những chồng giấy in khổ báo lớn chất cao tới trần nhà xập xuống đổ ngổn ngang. Thế là sáng hôm sau những người thợ phải làm lại từ đầu. Họ báo cáo lên thì Mẹ tôi cũng không nói gì, bà chỉ yên lặng khi nhìn ra thủ phạm chính là tôi, rồi hiền từ nói, các con muốn chạy nhảy thì ra sân mà chơi nhé, đừng làm công việc nhà in của Mẹ bị chậm trễ.
Có những buổi trưa khi Mẹ tôi còn làm quản lý cho nhà in Hồng Lam trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm của Linh Mục Cao Văn Luận. Cha Luận từng là Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, sau bị chính quyền Ngô Đình Diệm thất sủng qua vụ Biến Động Miền Trung,cha có viết một cuốn Hồi Ký lẩy lừng tựa “Bên Giòng Lịch Sử 1940-1965”. Mẹ tôi cho tôi đi theo chơi quanh quẩn trong nhà in. Mổi lần được gặp mặt, cha Luận lại dúi cho tôi nay thì vài cái kẹo, vài bửa thì cái bánh giò, nghĩ lại thật là hân hạnh cũng nhờ Mẹ tôi.
Rồi cũng có những lần, Mẹ tôi dắt tôi đi khám bệnh hay đi làm răng ngoài Sài Gòn, tôi rất ghét cái cha Nha Sĩ này ở gần VP Beer BGI cạnh hảng làm Nước Đá trên đường Hai Bà Trưng, khi xe xích lô ngừng trước cửa là tôi biết ngay, sợ lắm nhất định không dám vào, Mẹ tôi lại phải dụ ngọt mãi.Bù lại, cứ mổi lần như thế là Mẹ tôi lại dắt tôi đi xem Ciné ở các Rạp như Eden, Đại Nam, Rex…., xong bà còn thưởng cho một chầu ở quán Kem Bạch Đằng đối diện Casino Sài Gòn vì tôi đã anh dũng hy sinh cái răng bị hư. Thiệt, răng bị sâu tôi còn không biết thế mà Mẹ tôi đã biết tỏng rồi…
Khoảng đầu thập niên 70′ Mẹ tôi vừa làm nhà in, vừa mở thêm Vườn Trẻ Anh Vũ theo phương pháp giáo dục Montessori, bà mướn trọn cái nhà lầu 2 tầng kế bên có cái sân rất rộng,rồi đập luôn cái tường cho thông qua nhau. Ban ngày phụ huynh gửi trẻ, tối về hết thế là bọn chúng tôi lại có thêm đất đễ chạy nhảy bắn súng chơi 5-10. Hò hét vui thật vui, lũ con nít trong xóm thòm thèm muốn vô chơi phải xin vào à nhe, nên tôi rất có thớ, đứa nào cà chớn tôi tống cổ ra nên tụi nó một phép. Ỷ Mẹ mà, có quyền vênh váo chút chứ.
Ngoài 2 Cơ Sỡ nêu trên, Mẹ tôi còn phụ trách trang Nhi Đồng trong Báo Hòa Bình của Linh Mục Trần Du trên đường Phạm Ngũ Lão, trang Phụ Nữ trong Báo Dân Chủ thuộc Đảng Dân Chủ của ông Thiệu trên đường Hiền Vương. Đồng thời vào năm 1971, Báo Thiếu Nhi cũng ra đời, bà là Tổng Quản Trị và đồng phụ trách trang Vườn Hồng mà chủ nhiệm là ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí và chủ bút là nhà văn Nhật Tiến. Thời gian này nhà tôi còn đông nữa, Mẹ tôi tận dụng luôn mấy phòng trên đễ làm Tòa Soạn. Hàng ngày thì các cô chú trong Ban Biên Tập tới làm việc, cuối tuần thì mở cửa đón các thiếu niên vào Thư Viện Báo Thiếu Nhi đọc sách, sinh hoạt Gia Đình Thiếu Nhi. Báo Thiếu Nhi còn mở lớp dạy ORIGAMI – Nghệ Thuật Gấp Giấy của Nhật Bản nữa chứ. Nói chung Mẹ tôi đầu tắt mặt tối, nhưng hình như càng thấy đông con nít lại càng làm cho bà vui, chẳng bao giờ thấy Mẹ tôi kêu ca phiền hà gì.
Năm tôi lên lớp 6, chắc phá quá nên Mẹ tôi cho tôi vào trường nội trú Don Bosco ở Thủ Đức. Cuối tuần thứ 7 có xe Bus chỡ về, ngày chủ nhật họ lại đón đi. Dĩ nhiên là bị bắt vào khuôn khổ kỷ luật của các Linh Mục người Hòa Lan thì làm sao tôi thích được. Thế là tôi dùng 500$ mà cứ mổi tuần Mẹ tôi dúi vào tay khi ra đi ngày chủ nhật, tôi mua kẹo Cam kẹo Dâu trong cái hộp sắt ở Căn Tin rồi chờ thứ 7 đem về tặng Mẹ như là quà hối lộ. Năn nỉ ỉ ôi riết qua năm lớp 7 vì thương tôi nên Mẹ tôi cho tôi về học Lasan Hiền Vương-Sài Gòn.
Vì trong giới Nhà Văn Nhà Báo, Bố Mẹ tôi có rất đông thân hữu. Từ nhà văn Duyên Anh, Mai Thảo, Nguyễn Hiến Lê, Cung Tích Biền, Sơn Nam..v…v… cho tới Nguyễn Thị Vinh, Minh Đức Hoài Trinh, Minh Quân,Tuệ Mai….Riêng nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn nhận tôi là con nuôi, mà tôi xưng lại là Me Vinh. Hầu như gần hết các Văn Nghệ Sĩ ở Sài Gòn thường xuyên lui tới thăm viếng ông bà cụ và nhiệm vụ của tôi là bưng nước. Còn đãi tiệc thì có thể nói là thường xuyên. Cứ mổi lần đi học về xuống nhà bếp là thấy Mẹ tôi và 3 bà người làm tất bật lo chuẩn bị, thường thì Mẹ tôi đãi khách bằng các món Miền Bắc như Bánh Tôm Cổ Ngư, Chạo Tôm, Nem Rán Cua Bễ, Giả Cầy hay Bún Thang, Bún Ốc..v..v…Thế là tôi lại có dịp được uống nước Xá Xị, nước Cam thả giàn. Chai ướp lạnh khui ra cứ vậy mà nốc.
Ngày 30/4/75 đại họa ụp xuống thế là Mẹ tôi bi mất hết. Nhà in dẹp tiệm, Vườn Trẻ giải tán, toàn bộ Báo Chí của Miền Nam Tự Do bị cấm đoán, chỉ có Nhật Báo Tin Sáng của Dân Biểu nằm vùng Ngô Công Đức là được ra lại vào tháng 7/1975 vì Võ Văn Kiệt cần một tờ báo của chế cũ đễ tuyên truyền. Đã thế vào tháng 9/1975, Ủy Ban Quân Quản còn ra lệnh đổi tiền, cứ 500$ tiền VNCH đổi được 1$ tiền mới. Mổi gia đình được phép đổi 100,000$ VNCH tức là chỉ được 200$ tiền Việt Cộng. Gia đình nào có trên 100,000$ VNCH thì kể như mất sạch. Cú này là đòn chí tử đánh vào những gia đình trung lưu ở Miền Nam.Mẹ tôi kể như trắng tay sau 20 năm tích lũy.
Miền Nam sau ngày Sài Gòn tắt bóng, người dân sống trong cãnh lo âu sợ hãi. Không biết đêm nào Công An sẽ gõ sữa bắt đi vì lý do nào đó. Tuy vậy, ở một khóa học tập gọi là “Khóa Bồi dưỡng Chính Trị dành cho Văn Nghệ Sĩ”, Mẹ tôi đã đứng lên chỉ mặt vào một Cán Bộ Miền Bắc tên Mai Quốc Liên, khi ông ta dám tuyên bố rằng “Các anh các chị làm đừng trông mong vào việc cầm bút trở lại. Bởi vì miền Nam các anh các chị làm gì có văn hóa!” Mẹ tôi hỏi: Anh vào trong Nam được bao lâu rồi, và anh đã đọc được bao nhiêu tác phẩm của miền Nam rồi mà anh dám nói miền Nam không có văn hóa? Làm hắn cứng họng.
Là con người đầy nghị lực, Mẹ tôi lại lăn ra đường kiếm sống cũng như hàng triệu người Miền Nam khác, bằng cách mở Quán bán Bánh Tôm Cỗ Ngư tại Hồ Con Rùa trước cữa Viện Đại Học Sài Gòn (tôi có bài viết kỷ niệm về Quán Bánh Tôm này, link đính kèm), Một thời gian sau cũng không xong phải dẹp tiệm vì bị Công An rình rập, về nhà bà đi vay mượn rồi lại mở Cơ Sỡ Sản Xuất Nước Đá. Thấy có vẻ xôm trò,thế là Ủy Ban Nhân Dân Phường bắt phải đưa vào Hợp Tác Xã, tức mình Mẹ tôi dẹp luôn,nhất định không dây dưa gì đến chúng nó.
Trong thời gian này, một hôm tôi thấy có Ký Giả – Phóng Viên Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên tới nhà sầm sì gì với Mẹ tôi chuyện gì đó. Vài ngày sau thì tôi thấy có một người đàn ông lạ mặt tới ở tuốt đàng sau nhà, căn phòng này xưa là cái kho nhỏ cạnh nhà tắm. Ông ta không bao giờ ra đường, tôi cũng không rõ ông ta ăn uống thế nào. Rồi mãi sau này tôi mới biết ông ta tên Nguyễn Phúc Vĩnh Tung, là sỹ quan QLVNCH, chồng cô Kiều Mỹ Duyên trốn tù cãi tạo về TP. Thế mà Mẹ tôi ra tay giúp đỡ bao che cho. Thiệt, chúng mà bắt được thì Mẹ tôi có môn rũ tù, nhưng bà vẫn tĩnh bơ làm như không có chuyện gì xảy ra. Ông Vĩnh Tung sau cũng tìm ra đường đi vượt biên và đã đến được bến bờ tự do vào năm 1979.
Thời gian sau Mẹ tôi nhờ quen biết nên được ông Lý Thái Thuận một người Việt gốc Hoa, Giám Đốc nhà in Alpha mời về làm xếp khâu sửa Morát có biên chế nhà nước. Mừng quá bà nhận lời ngay. Thế là ngày qua ngày Mẹ tôi lại đạp xe đạp từ Cỗng Xe Lữa Số 6 đi làm Công Nhân Viên ở đường Phạm Ngũ Lão gần chợ Thái Bình. Có lần mãi đến tối mịt mới thấy Mẹ tôi về, mồ hôi nhễ nhãi, trời ơi Mẹ tôi phải dắt xe đạp bị đứt Dây Sên từ đường Kỳ Đồng về tới nhà vì không đủ tiền sửa. Dây Sên phải thay mới. Nhưng bà vẩn hớn hở, vì trong giỏ hôm đó là ngày Mẹ tôi được mua Nhu Yếu Phẩm có 1 ký thịt heo. Nhìn Mẹ mà tôi chảy nước mắt nhưng không làm gì được cho Mẹ.
Nhưng cũng nhờ sự quen biết này mà Mẹ tôi mới vay được tiền ông Lý Thái Thuận đễ lo cho 2 anh em tôi đi vượt biên. Ngày chia tay xuống bãi vào cuối Hè năm 1979, Mẹ tôi dúi vào tay tôi một chĩ vàng rồi ôm tôi khóc, Mẹ không biết con sẽ đi về đâu, nhưng nếu có thoát được ráng cho Mẹ biết đễ Mẹ khỏi lo, tôi biết chắc rằng Mẹ tôi sẽ không ngủ được. May sao, rời Ngọc Hà ghe của tôi lênh đênh trên Biển Đông khoảng 1 tuần thì được tàu của Hoàng Gia Na Uy vớt lên đem vào Singapore. Nhập trại xong là tôi mò ra Sembawang đánh điện cấp tốc ngay về cho Mẹ chỉ với 1 hàng chữ “Cam on co chu Thuan”, cho khỏi lộ chuyện gia đình có thân nhân đã đào tẩu với bọn Công An khu vực.
Lại nữa, không có Mẹ tôi lo cho đi thì ở lại cũng đi đạp Xích Lô chứ khá gì nổi ở cái xứ Xếp Hàng Cả Ngày ấy.
Mẹ tôi chia ra cho cả gia đình đi vượt biên thành 3 chuyến. May sao cả 3 đều trót lọt và cùng gặp nhau tại California. Năm 1981 qua tới, bà lại làm lại từ đầu. Bố mẹ tôi chỡ nhau đi học điện cho thực tế, hồi xưa có trường Control Data Institute ở Anaheim, không biết bây giờ còn không. Sau đó cả 2 ông bà đều ra trường với tấm bằng Technician điện. Sau Hảng Verifone chuyện sản xuất máy cà credit card, nhận cả 2 vào làm Electronic Technician cho tới ngày Bố Mẹ tôi nghĩ hưu, tính ra Mẹ tôi làm cho Verifone cũng được 20 năm.
Sau khi nghĩ hưu có thời giờ rãnh rỗi, Mẹ tôi bắt đầu dồn nỗ lực vào việc nghiên cứu kinh kệ. Bà phụ trách và biên soạn cho chương trình về Phật Pháp Tuệ Đăng hàng tuần trên đài Hồn Việt TV phát đi khắp 50 TB và Canada.Ngoài ra Mẹ tôi còn dịch sách của Triết Gia Krishnamurti sang Việt Ngữ, cũng như phụ trách điều hành trang website khaiphong chấm net cho dân mạng mở mang kiến thức về các vần đề Khoa Học Xã Hội.
Nói thật, Mẹ tôi sinh tôi ra, lo lắng cho tôi từng li từng tí, cái gì tôi thích bà cũng chiều. Muốn đi chơi, Mẹ cho tiền. Muốn xe đạp có xe đạp, muốn Giầy mới, đồ mới, mẹ tôi trước sau gì cũng xì tiền cho tôi mua. Chẳng bao giờ thấy Mẹ lôi la mắng gì cả. Ngay đến cái Sổ Học Bạ hồi xưa, tháng nào mà tôi bị xuống hạng.Tôi cũng cầu cứu Mẹ tôi đưa Bố tôi ký cho xong chuyện còn đem đi nộp..
Ngày Mẹ tôi nghĩ hưu, bà có tiền hưu, tiền già, chẳng khi nào bà cần gì từ anh chị em chúng tôi . Nói đúng ra thì tôi chưa lo cho Mẹ tôi được ngày nào, thứ vô cùng vô dụng đối với Mẹ tôi. Nhưng đôi khi tôi cũng có chút an ủi làm cho Mẹ tôi vui, số là thế này. Cách đây 10 năm sau khi giá Địa Ốc bị sụp đổ. Tôi xoay qua nghề nhập các loại máy về Massage vô Mỹ bán,máy thì ôi thôi tôi có đủ hết. Massage bụng, cổ, vai, lưng, tay, chân, đầu, mặt ..nói chung là các loại các kiểu đủ hết. Mà Mẹ tôi sau này lại hay bị đau nhức vì hồi xưa trước 1975, có lần bà bị Xe Lửa đụng. Đúng vậy, Xe Lửa đụng nát chiếc xe hơi bà đang đi tại Cổng Xe Lửa Số 6 đâm ra Bệnh đau nhức nó cứ theo bà từ dạo đó. Thế là tôi mang đủ loại Massage qua cho Mẹ tôi trị bệnh, mang nhiều đến nỗi bạn bè của Mẹ tôi đến chơi họ còn nói dỡn, cứ tưởng như đang lạc vào GYM. Nhờ vậy mà bệnh đau nhức của Mẹ tôi cũng bớt nhiều, lại còn không phải mổ chân theo lời một ông BS kia súi bậy.
Có cái đưa máy mới thì lúc nào Mẹ tôi cũng áy náy vì sợ tôi cần hàng đễ bán cho khách. Tôi phải năn nĩ, Mẹ ơi, máy con có cả kho mẹ cứ sài đồ mới đi…mãi bà mới chịu nhận. Đấy, đến cuối đời Mẹ tôi vẫn lo cho tôi chẳng khác gì ngày tôi còn bé.
Mẹ tôi là người ăn chay trường từ 30 năm nay. Bà sống rất đạm bạc, vui vẽ, lạc quan, yêu đời. Cách đây vài tuần, BS phát giác ra Mẹ tôi trở bạo bệnh vào thời kỳ cuối. Không than van, không rên siết, không làm phiền tới ai. Mẹ tôi đã ra đi thanh thản vào trưa ngày hôm qua Aug 26th, 2020 với đầy đủ con cháu chung quanh.
Mẹ ơi, tối hôm qua lúc xe Nhà Quàn tới đưa Mẹ đi, tụi con tiển Mẹ cho tới giờ xe lăn bánh. Kỷ niệm của những năm tháng thời thơ ấu lại trở về đầy ắp trong tâm trí. Bao nhiêu âu yếm ân cần mà Mẹ cho tụi con nay đã trỡ thành dĩ vảng. Ước gì Mẹ ráng ở lại thêm được ngày nào hay ngày đó thì vui biết mấy, hay là Mẹ quay luôn về sống lại những ngày xưa ấu thơ của tụi con thì càng tốt. Con sẽ chạy quanh Mẹ đễ Mẹ xoa đầu gọi “Trụ của Mẹ”, Mẹ phải đền cho con khi con bị té, Mẹ phải đền từng mủi chích, từng cái răng khi con bị nhỗ, nhất là phải có Mẹ con mới lên mặt được với chúng nó.
Nhưng ước gì thì ước vậy thôi chứ Mẹ đã ra đi thật rồi thì con xin kính chúc Mẹ được thảnh thơi trên cõi Vĩnh Hằng. Đời Mẹ đã hy sinh cho tụi con như thế là quá đủ, Mẹ đừng bận tâm nữa Mẹ nhé.
Con của Mẹ.
Michael Bùi
Aug 27th,2020

https://www.facebook.com/michaeltrubui2/posts/10157724445243405
https://www.facebook.com/michaeltrubui2/posts/10157580820863405
https://www.facebook.com/Saigontrongtraitimtoi/posts/2627702370891744/
https://www.youtube.com/watch?v=8kPSOb4Pv84


“Văn Hóa Không Tên” tạo nên linh hồn của Sài Gòn xưa. Hồi ức Văn Quang


Văn Quang

Buổi sáng thứ sáu tuần vừa qua, tôi được một ông bạn điện thoại đến rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral nằm trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó ở Sài Gòn này, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt. Mỗi lần đi ngang qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia của chúng tôi. Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy cái gọi là “trại cải tạo”. Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn còn ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bị tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Gival đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hỏa thiêu, không bao giờ gặp lại.

Đường Tự Do.

Ông bạn thấy tôi khựng lại, bèn giải thích: “Nó mở lại Givral hôm qua (10-10-2012) ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.” Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay. Dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhớ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy. Nói đến Gival là nhớ đến La Pagode, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này. Đây là một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking”, tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi – Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường. Givral, La Pagode, Brodard đã trở thành một cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn.

Sau năm 1975, Givral vẫn còn sống sót cho đến khi khu này bị “giải tỏa”, nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ”.

Givral ngày ấy bây giờ

Trong khi ông bạn tôi tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Gival mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi – Đồng Khởi, mấy cái cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng Givral nằm trong thương xá Edencó thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong. Điếu đáng tiếc nhất là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.

Chúng tôi bước vào nhà hàng với một vẻ lạ lẫm. Những chiếc bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang dáng vẻ sang trọng như bất cứ một nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở những thành phố lớn. Khoảng 9 giờ sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai. Cái không khí ấy khiến tôi không thể quên những ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai. Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy ông dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa đang say sưa bàn về những “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp… Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là cái linh hồn của Givral trước 1975. Bây giờ không tìm lại được nữa.

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là Givral nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Carvelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard. Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau.. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi. Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó. Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress. Còn Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây. Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này. Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi! Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn. Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam

Không thể tìm lại dĩ vãng

Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn thông tin đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa thành phố Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên Việt Nam. Nó sẽ chỉ còn thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua thành phố này. Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.

Văn Quang

Hồ Trường An viết về Nhật Tiến và Đỗ Phương Khanh


Hồ Trường An

(Chân dung Nữ Sĩ Đỗ Phương Khanh và Nhà Văn Nhật Tiến – 1955)

Vào những năm 1969, 1870, 1971, Tô Thùy Yên thường bảo tôi:

– Các nhà văn có khuynh hướng xã hội, nghiêng xuống kẻ bất hạnh, người cùng đinh lại thường khá giả, có xe hơi đi. Còn các nhà văn có khuynh hướng mới thì nghèo hơn, chỉ đi xe gắn máy.

Đúng như lời anh nói, các nhà văn xã hội thời đó đều sắm xe cả: Lê Tất Điều, Vũ Hạnh, Minh Quân và cặp vợ chồng Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh.

Ở Việt Nam, tôi quen rất sơ đôi uyên ương cầm bút nầy nhưng tôi đọc hầu hết tác phẩm của họ. Về tác phẩm của Nhật Tiến, đầu tiên tôi đọc Những Vì Sao Lạc đăng từng kỳ trên tạp chí Tân Phong do chị Nguyễn thị Vinh chủ trương. Về truyện của Phương Khanh, tôi đọc một vài truyện ngắn của chị đăng rải rác trên Văn Hoá Ngày Nay và Tân Phong: Đi Mua Giày, Giận Nhau, Con So, Hương Thu.

Trên hành trình viết về xã hội, trước hết Nhật Tiến viết về các trẻ em mồ côi qua các tác phẩm: Những Vì Sao Lạc, Những Người Áo Trắng, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng. Sau đó anh mới viết về xã hội nghèo khó như: Thềm Hoang, Vách Đá Cheo Leo …Khi chiến tranh sôi động, anh có các tác phẩm: Tặng Phẩm của Dòng Sông, Giấc Ngủ Chập Chờn.
Cuốn Thềm Hoang đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc nâng tên tuổi Nhật Tiến lên hàng đầu . Nhưng truyện kịch Người Kéo Màn của anh mới là tác phẩm gây xôn xao và có giá trị nghệ thuật.

Nhật Tiến là nhà giáo, nhà văn. Anh nghiêm trang, đạo mạo nên có vẻ già trước tuổi. Cái nhìn của anh như có vẻ thờ ơ, lãnh đạm sau cặp kính cận, nụ cười của anh nhẹ nhàng, lạt lẽo . Nhưng thật ra anh là người làm việc rất hăng say, nghiêm chỉnh và nồng nhiệt với văn nghiệp, với sự tranh đấu chống bất công, bạo lực. Gia nhập Trung Tâm Văn Bút, được bầu vào ban chấp hành, anh sát cánh với Linh Mục Thanh Lãng vận động cho hội viên thêm đông. Vào quân đội, được phái làm giảng viên ngành Chiến Tranh Chính Trị cho các sĩ quan, anh là kẻ giảng bài tỉ mỉ nhất, lời giảng hùng hồn lưu loát. Năm đó, vừa tốt nghiệp khoá 26 trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi được biệt phái qua Địa Phương Quân ở Bình Dương và được cho theo học một khoá chiến tranh chính trị tại đường Đặng Đức Siêu, Sài Gòn. Ông thày dạy tôi là nhà văn Nhật Tiến.

Tôi đã gặp nhà văn Nhật Tiến vào dịp dự bữa tiệc do chị Hoàng Hương Trang và Thụy Vũ thết đãi tại nhà cụ Vi Huyền Đắc ở Ngã Năm Bình Hòa. Sau đó là bữa tiệc tại nhà chị Nguyễn thị Vinh ở cư xá Lữ Gia. Gần tàn bữa tiệc thì chị Phương Khanh bồng con tới. Chị không đẹp lắm nhưng hoạt bát, thông minh, duyên dáng. Hôm đó chị mặc chiếc áo xẩm cụt tay bằng gấm đen nổi hoa xanh đỏ. Ít lâu sau, nhà xuất bản Ngọc Minh thực hiện tuyển tập các nhà văn nữ do chị Nguyễn thị Vinh cố vấn việc chọn bài. Các nhà văn nữ có mặt trong tuyển tập gồm: Nguyễn thị Vinh, Linh Bảo, Minh Quân, Vân Trang, Trúc Liên, Đỗ Phương Khanh, Hoàng Hương Trang, Minh Đức Hoài Trinh, Trùng Dương, Nguyễn thị Thụy Vũ ….Trong tuyển tập ấy, truyện Vàng Son của Đỗ Phương Khanh rất hay, có khuynh hướng xã hội rõ rệt.

Nhật Tiến không ưa lối viết bạo của Thụy Vũ. Trên các tạp chí xuân năm Mậu Thân 1968, anh nạo Thụy Vũ tơi bời , cho rằng văn chương Thụy Vũ tục tĩu, ngang ngược, không có một chút giá trị căn bản của nghệ thuật. Song song với Nhật Tiến chà láng Thụy Vũ, nhóm Tin Văn pháo kích Nguyễn thị Hoàng tơi bời manh giáp. Nhưng trong hai năm liền, sách của hai nữ tác giả này bán chạy như tôm tươi.

Xét cho cùng, Nhật Tiến nạo sát ván Thụy Vũ chẳng phải vì tư thù. Anh có đường lối văn chương xã hội nên không thể nào chịu nổi lối viết mạnh bảo tả chân của Thụy Vũ. Dù bị phê bình tàn mạt, Thụy Vũ vẫn không có chút thù hằn Nhật Tiến. Bốn năm sau, hai chị em tôi có dịp đến Trung Tâm Văn Bút để gặp Linh Mục Thanh Lãng thì gặp lại cặp Nhật Tiến – Đỗ Phương Khanh. Giữa hai bên hầu như chưa hề có bài phê bình nặng lời đó. Chị Đỗ Phương Khanh rủ Thụy Vũ gia nhập Văn Bút trở lại.
Vào năm 1968, nhà xuất bản Huyền Trân do Nhật Tiến chủ trương, cho xuất bản tập truyện Hương Thu của Đỗ Phương Khanh. Tôi đã viết bài điểm cuốn ấy trên tạp chí An Lạc do Đại Đức Thích Thông Bửu làm chủ nhiệm.

Năm 1973, tôi ăn dầm nằm dề tại nhà ký giả Lê Khiêm (con trai nhà văn Lê Trương). Mỗi sáng chúng tôi ra cổng xe lửa số 6 đáp xe lửa đi Biên Hoà làm việc ở Quân đoàn 3. Chiều, hai đứa cùng về, tụ tập với lũ ký giả ăn nhậu tán dóc lu bù mà không ngờ Nhật Tiến ở gần đó (ngã ba Trương Minh Giảng – Nguyễn Huỳnh Đức). Thời gian đó, tôi đang theo dự lớp tôi ở đại học Minh Đức, phân khoa điện ảnh. Một hôm khi ra tới đường để đón xe lam đi học, tôi gặp chị Đỗ Phương Khanh. Cả mừng, chị rủ tôi đến chơi cho biết nhà và anh chị cho tôi một lô sách.

Sau ngày 30-4-75, tôi có tháp tùng nhà văn Vũ Mai Anh đến thăm Nhật Tiến. Anh có dịp hiểu tôi hơn, dù ba tôi thân Cộng, giữ chức cố vấn Hội Văn Nghệ Sĩ Giải Phóng đồng với cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, nghệ sĩ Bảy Nhiêu (Hùynh Năng Nhiêu) và nhà thơ nữ Ái Lan, nhưng tôi vẫn là sĩ quan ngụy, đang trốn học tập và phải rời bỏ xóm cũ.

Rôi tôi cùng cặp Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh học khóa I Bồi dưỡng Chính trị vào năm 1976. Trong lúc bàn về sách vở, báo chí miền Nam, tên cán bộ văn hoá Mai Quốc Liên đã khinh miệt chê bai văn chương miền Nam là văn chương chợ trời, văn chương bán “sôn”. Chị Phương Khanh dằn không nổi, thét lớn:

” Sao anh dám nói thế? Anh đã xem hết sách vở miền Nam chưa? Anh nói thế là do ý anh hay anh nhân danh Bác và Đảng của anh?”

Chị bật lên khóc và ngồi xuống ghế . Sau đó, khi nghe một nhà văn nữ van xin Cộng Sản:

“Hãy để cho chúng tôi viết lại. Chúng tôi là kẻ bị chế đô cũ đầu độc, yếu đuối. Chúng tôi cần có sự dìu dắt của các anh”, chị Đỗ Phương Khanh đã dõng dạc nói: “Cô có xin thì xin cho cô ấy. Đừng có xin cho chúng tôi làm gì !”

Về phần Nhật Tiến, sau khi làm tự phê tự kiểm, anh vào phòng rửa mặt khóc nức nở. Anh bị tên Bùi Đức Ái (tức Anh Đức, tác giả truyện dài Hòn Đất ) nạo sát ván nhưng anh vẫn không chịu nhận đường lối văn chương xã hội của anh là sai, ngay cả những gì anh viết trong cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn là bịa đặt (cuốn nầy tố Cộng khá nặng). Trước sau anh vẫn khăng khăng trả lời cán bộ Cộng sản rằng anh chỉ là kẻ ghi chép những gì mắt thấy tai nghe và anh cũng đã viết về những băng hoại, thối nát của chế độ miền Nam.

Hồ Trường An

Nguồn: Khai Phóng
Hồ Trường An viết trong “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ”

Chút kỷ niệm với tuần báo Thiếu Nhi, Phạm Công Luận


31726b3472d44d7297a10d33784a0351

Phạm Công Luận

Năm 1972, Sài Gòn đang vui vẻ trẻ trung với hippy choai choai đầy đường phố. Nhạc Phạm Duy đang được hát khắp nơi và nhạc ngoại quốc lời Việt thịnh hành với những bài Đồng Xanh. Trong nắng trong gió. Những mùa nắng đẹp. Xã hội đầy lo lắng từ các bậc phụ huynh khi con cái bị ảnh hưởng văn hóa phương Tây, yêu cuồng sống vội.

Lúc ấy tôi còn là đứa con nít đang học lớp Nhứt (bây giờ là lớp Năm) ở tr­ường Võ Tán, Phú Nhuận. Tuy còn nhỏ nhưng nhờ có sẵn tủ sách của Ba và ông anh học Văn khoa nên tôi đọc được nhiều. Đã vậy, các hiệu sách cho thuê mư­ớn truyện đang phổ biến. Tôi ngốn từ sách của nhà xuất bản Phư­ợng Giang với truyện của Thạch Lam, Khái Hư­ng, nhà xuất bản Huyền Trân với tác giả Nhật Tiến. . . đến sách của Tủ sách Tuổi Hoa. Sách dịch có Con Nai Tơ của Rawlings, Phiêu l­ưu trên lư­ng ngỗng của Selma Lagerlof, cả lô truyện trinh thám Z28 như­ Kashmir sông máu thuyền hoa, Bhutan đêm dài không sáng, Hồng Loan Hồng Ngọc . . . Tôi đọc mà nhớ nhớ quên quên, nhưng ham quá nên đích thị là con mọt sách.

Biết tôi ham đọc nên dù học không giỏi giang gì tôi được Cô giáo lớp Năm giao cho trọng trách là “quản thủ tủ sách” của lớp. Thời đó, mỗi lớp được một khoản tiền hằng tháng để mua sách báo thiếu nhi xếp loại là lành mạnh (không dùng ngôn ngữ lóng thô tục hay có cảnh đấm đá) để học trò đọc bên cạnh ổ bánh mì to và ly sữa hằng ngày cho mỗi đứa (chư­ơng trình viện trợ từ nước ngoài). Sách thì có cô lo, còn báo, tôi được giao mua hằng tuần. Từ đó, tôi phát hiện tờ Tuần báo Thiếu Nhi. Trư­ớc đó, tôi toàn đọc ké sách ng­ười lớn nên một ấn phẩm được coi là báo dành cho thiếu nhi đẹp nhất nhì miền Nam khiến tôi mê tít. Tranh màu nước của họa sĩ Vi Vi trên tranh bìa, do được in trên khổ lớn nên đẹp hơn mấy bức của ông vẽ in trên tạp chí Tuổi Hoa của linh mục Chân Tín. Bài vở thì do nhà văn Nhật Tiến chăm sóc cùng vợ là nhà văn Đỗ Phương Khanh, vốn là cây bút của các tạp chí Tân Phong, Văn Hóa Ngày Nay từ cuối thập niên 1950 nên rất có nghề. Mỗi kỳ báo có bài viết của “ông Khai Trí” Nguyễn Hùng Trư­ơng cũng là chủ nhiệm báo, nhẹ nhàng và sâu sắc trong mong muốn định hư­ớng lối sống lành mạnh cho giới trẻ. Truyện tranh thì có truyện Tin tin của Hergé, Tí hon thần lực của Peyo. Bài của các nhà văn Thúy An, Minh Quân. Kim Hài, Vũ Hạnh, Phan     Kh­ương Thái viết hay, sâu và luôn có tính giáo dục. Nhà văn Nhật Tiến thì đăng phơi-ơ-tông dạng như­ Thuở mơ làm văn sĩ. Mỗi tuần, tôi mua báo trên đường đi học về và sáng hôm sau mang vào lớp cất vào tủ sách để các bạn xem vào mỗi cuối buổi.

Qua suốt năm đó và đến đầu hè sau năm lớp Đệ thất (lớp 6), dù nghỉ học nhưng tôi vẫn được đọc báo Thiếu Nhi vì ông anh bắt đầu lo tôi sẽ ham mấy truyện tranh gọi là nhảm nhí như­ Quỷ một giò, Chú Thoòng bán đầy vỉa hè. Với tiền anh cho, tôi tiếp tục mua báo Thiếu Nhi và đọc được thông báo là tòa soạn sẽ mở một khóa học đặc biệt ở trụ sở tòa báo số 159 Thiệu Trị (nay là đường Trần Hữu Trang Phú Nhuận). Lớp mang tên “căn bản gấp giấy Origami” cái tên Nhật Bản này không lạ vì trên báo Thiếu Nhi đã đăng lai rai dăm kiểu xếp giấy và gọi đích danh như­ vậy.

Ba má tôi, quá ngán thằng con lêu lổng suốt ngày ngoài đường trong ba tháng hè nên đồng ý nhay khi tôi mở miệng xin học. Tôi cùng ba thằng bạn trong xóm lần mò đến Tòa soạn mà lòng hồi hộp, hoặc có mình tôi cảm thấy vậy vì ba thằng kia chả quan tâm gì, đi theo tôi cho vui. Chúng tôi ghi danh và học luôn buổi dầu.

Lớp bắt đầu khi một ông nhỏ ng­ười đeo kính b­ước ra chào mừng đám học viên, đa số là ngư­ời lớn ra dáng giáo viên. Ông giới thiệu là Nhật Tiến, thần t­ượng của tôi, ngư­ời từng làm khổ tôi vì phải soạn bài “trần thuyết” (tập cho học sinh thuyết trình tác phẩm văn học) cuốn Thềm Hoang của ông trong năm lớp 6.

907dc005004b4b1cba7ba18d046333d901461c98e9f54599b570a8ac80d6634959112ad59ae34dd99a036851604d4eb4

Sau đó, có một ông đầu hói, dáng bệ vệ trong bộ vest, da ngăm đen và có nụ cư­ời như­ ông Địa b­ước ra. Đó chính là ông chủ nhà sách Khai Trí, tức Chủ nhiệm báo Nguyễn Hùng Trư­ơng. Một ông thứ ba là ngư­ời Nhật từ Đại sứ quán Nhật Bản tại Sài Gòn.

Cả ba ông phát biểu ngắn gọn, ca ngợi môn nghệ thuật và cũng là thú vui gấp giấy này. Sau đó ông Nhật Tiến giới thiệu ch­ương trình học trong suốt ba tuần, tuần vài buổi, giấy thì ban tổ chức lo. Ai gấp đầy đủ các mẫu hình và nộp cho thầy sẽ được cấp bằng tốt nghiệp.

Học được vài buổi thì ba thằng bạn của tôi, dù không có “mư­a một ngày” nào nhưng lại bỏ tôi đi chơi đá dế, tạt lon, dễ hiểu hơn là ngồi chọc ngoáy mấy tờ giấy.

imagesxcdxz

Phần tôi tiếp tục ngồi học, tuần mấy lần đi ngang qua nghĩa địa Phong Thần (nay là chợ Trần Hữu Trang) là nơi yên nghỉ của bà ngoại tôi để đến Tòa soạn. Ở đó tôi học từ các mẫu căn bản đến xếp được những con phức tạp nh­ư con cọp, con gà trống bằng hai mẩu giấy và xếp dần đến con cua, con rồng rất khó. Thầy Nhật Tiến hiền hậu, kiên nhẫn và luôn hết lòng khi hư­ớng dẫn học viên. Thỉnh thoảng cô Đỗ Phương Khanh cũng ra giúp thầy. Cô Phương Khanh có làn da trắng, dáng đầy đặn và sang trọng. Đám con thầy khá đông, con trai thì gầy, con gái trắng bóc và mũm mĩm. Con trai đầu của thầy, hình như­ tên Khiết, thỉnh thoảng ra ngồi cùng chúng tôi và xếp biểu diễn những con vật rất khó.

Ra vô tòa soạn, thỉnh thoảng tôi xem được những bức tranh bìa chuẩn bị cho số tới của họa sĩ Vi Vi rất nổi tiếng ở miền Nam lúc đó. Có lần, tôi thấy anh bư­ớc ra, dáng cao ráo và hơi nghiêm nghị. Một anh học viên quay về lớp khoe là đã xin chữ ký của anh. Lúc khác thì thấy báo chở về tòa soạn bằng xe ba gác, xếp đều tăm tắp và mới tinh t­ươm. Không khí làm báo lúc đó đối với đứa con nít mư­ời một tuổi như­ tôi thật lạ lẫm, hấp dẫn và gây ấn t­ượng đến nỗi lớn lên tôi lỡ bư­ớc theo nghề này luôn .

3ad71b58c4cd477588c7f0499577d1568c43d67691f24ee984e152a7fd51ad3a

31c5475cb45446e7b8fc888a9666f6c6

Kết thúc khóa học, chỉ còn mỗi mình tôi là đứa con nít duy nhất được cấp chứng chỉ tốt nghiệp vì học đủ, nộp bài đủ. Vài học viên lớn tuổi được tặng quà vì xếp đẹp quá. Còn tôi thì thấy buồn vì hết được lui tới tòa soạn thân yêu này, và chư­a có lần nào dám nói được một câu với chú Nhật Tiến hay anh Vi Vi.

Tám tháng sau thì đến 30 tháng 4 năm 1975 và tờ báo Thiếu Nhi ngư­ng hoạt động. Nhiều năm sau tôi nghe nói gia đình nhà văn Nhật Tiến đã ra nước ngoài sống. Năm 1979, tôi được dự trại tổng kết hè dành cho những cá nhân ư­u tú trong đợt hoạt động hè. Mỗi trại viên được một họa sĩ vẽ ký họa chân dung để triển lãm trong trại. Tôi được một họa sĩ tên Giang, tự là “Giang chảy” vẽ chân dung. Bên cạnh tôi, một đứa chư­a chắc đẹp trai hơn tôi lại do chính họa sĩ Võ Hùng Kiệt tức Vi Vi vẽ. Tôi ghen tức biết chừng nào, nhất là khi nhìn lại bức chân dung một thanh niên mư­ời tám tuổi quá đạo mạo do ông Giang Chảy thể hiện.

Cách nay vài năm, khi dọn nhà, tôi soạn lại sách vở giấy tờ và tìm được tấm chứng chỉ tốt nghiệp rất đẹp này, dù giấy đã úa vàng qua hơn ba chục năm. Tờ chứng chỉ do họa sĩ Vi Vi trình bày, có chữ ký của ông Khai Trí và nhà văn Nhật Tiến toàn những ngư­ời tôi ngư­ỡng mộ.

Kể chuyện này cho chị Th­ư bán sách cũ trên đường Lê Văn Sỹ, chị bảo bà Đỗ Phương Khanh có về Việt Nam, tìm mua lại dăm tờ báo Thiếu Nhi ngày xư­a. Tôi mang ra nhờ chị gửi tặng bà vài số. Tờ báo hay cái chứng chỉ cũ này đều gợi lên những ngày tư­ơi đẹp và trong trẻo, mối duyên nhỏ giữa những ngư­ời tâm huyết làm báo cho thế hệ tương lai và số đông độc giả, là tôi và bạn bè đồng lứa.

 Phạm Công Luận
(trong cuốn Sài Gòn, chuyện đời của phố, do Hội Nhà Văn xuất bản)

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: