Tuệ Sỹ, Viễn Mộng Mấy Khung Trời. Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.

IMG_4172
(Thiền sư Tuệ Sỹ)

Có người yêu thơ và hay tập tành làm thơ, sau khi đọc một tác phẩm “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của một người làm thơ viết về một người làm thơ khác (Tuệ Sỹ viết về Tô Ðông Pha) đã cảm khái:

“nghe từ thiên cổ
lời ru mênh mang
bước vào cuộc Lữ
mấy chuyến đò ngang.
Tà dương có khóc
Nắng ngả ánh vàng
Mưa bay thoảng chốc
Thiên địa hoang tàn
Một người đọc thơ
Nhìn trăng vừa khuyết
Sinh tử đâu chờ
Vòng quay nhật nguyệt.
Ði vào đất trích
Quanh quẩn nhân gian
Cho tròn vai kịch
Giây phút muộn màng
Phương trời viễn mộng
Sẵn lúc chào đời
Bốn bề gió lộng
Người ơi, Thơ ơi!!”

IMG_4173

Viết về Tô Ðông Pha, mà nghe như viết cho chính mình. Tuệ Sỹ, trong cái quay cuồng của lịch sử, đã nhìn vào chặng lữ hành của lịch sử để tìm vào cõi sâu kín của vòng chuyển dịch. Ông, không phải trong vai trò thiền sư để đi tìm cái uyên áo mà, với thái độ mơ mộng lãng mạn đi tìm cho riêng mình một cõi thơ riêng. Ông viết:

“Thơ vẫn là một cuộc lịch nghiệm Riêng và Chung, của Thời Ðại và Lịch Sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo cánh của Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng Viễn, dẫn Lịch Sử Uyên Nguyên tụ hội với Thời Ðại. Hình như những sự này tôi nghe được từ nơi thơ của Tô Ðông Pha, nhưng có nghe lộn hay không thì không biết…”

Kinh Thi và Kinh Dịch là những trầm lắng suy tư của người xưa, theo Tuệ Sỹ là hai cánh chim lớn của con thần nhạn chuyên chở định mạng của dân tộc Trung Hoa bay lượn suốt mấy mươi thế kỷ trên vòm trời Viễn Ðông. Thi và Dịch, là suy ngẫm để tìm đến đích đến rốt ráo của Chân Lý. Và, cũng là những phiến gương soi để tìm lại những bóng hình vẫn còn hiện hữu dù đã xa xôi những không gian, thời gian muôn trùng…

Có những câu thơ, của thấp thoáng tình Riêng trong Ý chung. Thấp thoáng nỗi niềm của Tuệ Sỹ trong ngôn ngữ một thuở Thịnh Ðường. Dù thơ lục bát, của ngữ ngôn thuần túy Việt Nam, nhưng giấc mộng vẫn vút cao

“Ðồi mai ngơ ngác nụ cười
cánh hồng lả mộng của đời lưu ly
tồn sinh thấp thoáng nẻo về
dấu trơ bãi tuyết, ngoài tê cánh hồng
Sư già, tháp mới, hồn không
Tường rêu đổ xuống đâu đồng vọng Thơ
Gập ghềnh năm tháng, hay chưa?
Ðường dài người mỏi, gót lừa kêu đau…”

Ôi, những phương trời viễn mộng, của những kiếp nhân sinh trôi nổi theo dòng thời thế, của nỗi niềm người tha hương lưu lạc ngay trong chính đất nước mình. Những canh trường mộng, những lời nỉ non nghe vẳng lại từ hai bờ tịnh không của cảm xúc. Vẫn, vần lục bát, lời của Tuệ Sỹ, làm vẳng nhớ đến Tô Ðông Pha thuở nào xa xưa:

“Ðá mòn phơi nẻo tà dương
nằm nghe bước lũ khóc chừng Cuộc Chơi
nghìn năm vang một nỗi đời
gió đưa cuộc lữ lên lời Viễn phương
đan sa rũ mộng phi thường
đào tiên trụi lá bên đường Tử Sinh
đồng hoang mục tử chung tình
Ðăm chiêu dư ảnh nóc đình hạc khô”

Viết về bài thơ, viết về cái tâm tình của bờ biển lớn, của cõi hoang vu mà thiên nhiên là đại dương bí ảo để, ở đó những dấu chân tỏ mờ trong ngã về hoang lộ. Tuệ Sỹ viết:

“… Người đã lãng phí trọn vẹn tinh thể của người, để cho thiên nhiên tỏ bày ân tình trơ trọi, như viên sỏi bên đường lây lất với nắng và gió. Nắng lên cùng với dấu hiệu của hao mòn và sụp đổ. Gió lên cùng với những ước nguyện thiên thu phảng phất ra ngoài khung trời Hoằng viễn và Tịch nhiên. Mộng Phi Thường được ký thác trong đan sa trong dấu hiệu của trường sinh bất tử, nhưng đường Sinh tử đi trong cõi Hoằng viễn Tịch nhiên, ấy thế mà không bao giờ dừng bước cho Lữ Khách một lần ngụ cư ở đó. Sống và Chết vẫn còn như một nỗi đời hư huyễn, vẫn rầm rộ như một cuộc chơi. Giữa khoảng đồng rộng, đồng trống, đồng không mông quạnh. Mục tử đăm chiêu tư lự những chuyện đường đời. Và Lịch sử qua bóng dáng con Hạc gầy, rồi tự hỏi; Ðâu là Cõi Mộng Thiên Thu?..”

Ðọc “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của Tuệ Sỹ để thấy từ một người hậu sinh sau những thế kỷ dài đã chia sẻ với Người Thơ những nỗi niềm của những người tri kỷ. Thời thế có khác, đất nước có khác, nhưng chất Thơ vô cùng bát ngát của những phương trời mở ra mênh mông những cánh vỗ để đi vào cái tận cùng của ngữ ngôn, để bay vào cái vô tận của ý tưởng. Viết về thơ đã khó, giải thích thơ lại khó hơn nhưng tái tạo lại không gian thơ, lại khó bội phần. Thơ ở trong thơ, không chỉ là cái khám phá hời hợt bên ngoài, mà, Thơ có tham vọng đi sâu vào cõi vô thủy vô chung của những nốt lặng của một bản trường ca chưa hoàn tất. Chinh cái dở dang ấy, là thái độ của người thơ, dù trong hoàn cảnh lao lung cấm cố, bốn bề là những bức tường đá lạnh lùng, mà, hồn vẫn thoát đi, bay bổng, không có gì ngăn chắn được. Thơ, là thái độ sống, là sự thản nhiên của người hiểu biết được cái vô cùng nhỏ nhoi nhưng cũng vô cùng lớn lao của tâm thức con người…

IMG_4174

Một buổi tối, đọc lại tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn. Không dừng lại được, ngồi dậy bật máy, viết… Những tâm cảm đón nhận được từ những câu thơ. Như những làn sóng lan tỏa từ mặt nước yên tịnh. Ngoài trời chắc khuya lắm thì phải. Và những giọt mưa, mù mịt đất trời. Sắc không, còn mất, có lúc như hơi thở nhẹ. Lắng nghe từ vô thức, tôi đọc…

Có những điều, nói nhiều mà chẳng đủ. Cũng như có những việc, nói ít mà vẫn thừa. Chuyện thi ca, có khi chỉ một giây phút, hiểu rồi, sẽ bất khả tư nghị. Tôi không dám làm người vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng thêm cánh. Mà, tôi chỉ diễn tả cái tâm chân thực của mình. Ðọc rồi cảm, cái quá trình ấy phải chăng là lúc này, khi mọi lắng đọng đã theo giấc ngủ ngon vút mất. Thơ như cáinh tay lay động, thức tỉnh ngũ quan..

Ðóng lại tập thơ. Với bài thơ cuối. Những câu lục bát đơn sơ. Như một lời nhắn nhủ. Có thể với chính mình nhưng cũng có thể là một ai khác, cùng mang khắc khoải trong lòng. Một chút vỗ về, một chút xao động thoảng qua. Bước chân ai, đi về, biền biệt.

“Khói ơi, bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi Vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần ra hoa.”

Tại sao lại nhớ những lần cây nhỏ ra hoa? Có phải vì ý niệm thời gian? Tôi nghĩ là không phải. Mổi lần ra hoa, là một lần sự phát triển đến mức tuyệt đối. Trong hành trình của con người, có phải là đi tìm một cái gì tuyệt đối mà chẳng bao giờ nắm bắt được. Cõi vĩnh hằng, có khi là khói sương, là những mong manh vô định….

Giấc mơ Trường Sơn – Những bài thơ có man mác ý tình, của cái tâm như biển động lúc nào cũng trào khơi theo ngàn sóng vỗ. Không nói đến thời thế mà quê hương vẫn hiển hiện trong thơ. Những nhọc nhằn của một thời đại nhiều máu lệ. Những giấc mơ của những người tham dự vào lịch sử một cách bất đắc dĩ. Những người nhìn thấy Trường Sơn vòi vọi nhân chứng.

Quê hương, những bước chân đi của mười năm, những mốc thời gian đau đớn.

“Ngọn gió đưa anh đi mười năm phiêu lãng
Nhìn quê hương qua dấu tích điêu tàn
Triều Ðông Hải vẫn thầm thì cát trắng
Truyện tình người và nhịp thở Trường Sơn.
Mười năm nữa anh vẫn lầm lì phố thị
Yêu rừng sâu nên khóe mắt rưng rưng
Tay anh với trời cao chim chiều rủ rỉ
Ðời lênh đênh thu cánh nhỏ bên đường
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như lòng ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn
Mười năm đó anh quên mình sậy yếu
Ðôi vai gầy từ thuở dựng quê hương
Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Ðông phương
Và ngày ấy anh trở về phố cũ
Giữa con đường còn rợp khói tang thương
Trong mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ
Vẫn chân tình như mưa lũ biên cương”

Có phải đó là tự truyện của một người Việt Nam? Ở bên kia? hay bên này? Của chiến tuyến đã vạch sẵn từ bao nhiêu năm nay. Dường như đó là nỗi niềm chung mang của cả một thế hệ? Ở phố thị, lầm lì với những tâm tình khó ngỏ thành lời. Trời thì cao mà bàn tay thì khó với tới những ước nguyện và chim trời thì lênh đênh những cánh nhỏ ngơ ngác bên đường. Mười năm rồi tiếp mười năm, quê hương vẫn chỉ là những con sông huyết lệ. Ngày trở về phố cũ vẫn man mác nỗi hờn thiên cổ, của những người hình như mất mát một quê hương.

Thơ Tuệ Sỹ, trong ngôn ngữ bình dị có những suy tư thâm trầm. Xúc cảm hình như cố gắng để lắng đọng lại và ý tưởng cũng được trình bầy một cách gián tiếp để trong màn sương mờ ảo ấy, thấy được cái lẽ xoay vần của thời thế.

Thi sĩ cũng làm thơ tù. Cũng những ngày biệt giam, cũng những bức tường cao nhưng sao lồng lộng gió và đầy trăng sao. Cái thong dong của tâm thể đã vượt quá cái cùm gông của thân xác …

“…Vẫn khúc điệu tự ngàn xưa ám khói
Ép thời gian thành rượu máu trong xanh
Rượu không nhạt mà thiên tài thêm cát bụi
Thì ân tình ngây ngất cõi mong manh
Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỷ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy
Ðổi hình hài con mắt vẫn đầy Sao.”

Viết ở trại giam Phan Ðăng Lưu mà tưởng đến quán trọ của ngàn sao, có lẽ chỉ có một mình Tuệ Sỹ! Sự tưởng tượng ấy như cánh buồm đưa con thuyền ra khơi về chân trời nào mênh mông chỉ có được từ những hồn thơ trải theo muôn dặm bát ngát. Thơ, vô úy, thong dong. Thơ, như trèo qua được con dốc thực tại để đến một nơi, rộng khắp bao la

“Mắt em quán trọ của ngàn sao
Ngọt ngất hoang sơ ánh rượu đào
Pha loãng nắng tà dâng cát bụi
Ấm lòng khách lữ bước lao đao
Mắt huyền thăm thẳm mượt đêm nhung
Mưa hạt long lanh rọi nến hồng
Sương lạnh đưa người xanh khói biển
Bình minh quán trọ nắng rưng rưng.”

Có những vần thơ ngưng đọng, xót xa. Như những thề nguyền, hứa hẹn cho những bước chân lên đường. Những hùng tráng trộn lẫn với bi thương.

“… Ta đã hát những bài ca của suối
Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời
Gọi quỷ sứ từ âm ty kéo dậy
Ngập rừng xanh lấp lánh ma trơi
Ðêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ soi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời.”

Những câu thơ diễn tả tâm trạng của một người muốn làm chuyện đội đá vá trời. Ta đã hát những bài ca của suối. Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời… Lời suối thầm thỉ muôn năm. Hát bài ca đó, có phải là từ thiên thu vọng lại. Gã anh hùng? Ta? Hay kẻ khác? Bẻ vụn mặt trời, để đêm tối kéo về, để quỷ sứ từ âm ty kéo dậy, để hãi hùng rừng núi những ánh ma trơi…

Một bài thơ viết giữa những ngày tháng tư năm 75 ở Nha Trang, lúc tình trạng đất nước nghiêng ngửa thẳm đen. Bài thơ, như một mốc dấu tích cho những ngày tháng không thể xóa nhòa trong tâm khảm những người dân Việt.

“Phố trưa nắng đỏ cờ hồng
Người yêu cát bụi đời không tự tình
Sầu trên thế kỷ điêu linh
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa ráng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời đông
Trời ơi tóc trắng rủ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Ðêm đêm trông bóng Thiên Hà buồn tênh
Ðời không cát bụi chung tình
Người yêu cát bụi quê mình là đâu?”

Cát bụi, từ ngữ được nhắc đi nhắc lại một cách cố tâm. Người yêu cát bụi đời không tự tình. Rồi Ðời không cát bụi chung tình. Người yêu cát bụi quê mình là đâu? Cát bụi, hình ảnh của hỗn loạn, của những lênh đênh ngày tháng. Bài thơ diễn tả nỗi niềm của một người ngơ ngác giữa vần xoay của thời cuộc… Tháng tư năm 75, những ngày tháng chẳng thể nguôi quên. Dù là một thiền sư cố giữ lòng không vọng động. Mà sao vẫn ầm vang thác lũ nỗi niềm.

Thơ Tuệ Sỹ có lúc cô đọng đến chẳng thể ngắn gọn hơn. Như những hé mở, để ở đó tầm nhìn bị kích thích để trải dài tới sâu xa rộng khắp hơn. Không phải thơ haiku của những cây trồng ép mình trong chậu bonsai mà ở đây tự nhiên sống đời thảo mộc trong khổ hạnh chịu đựng náu thân vào ngôn ngữ.

“Bứt cọng cỏ
Ðo bóng thời gian
Dài mênh mang”

Hay:

“Gió cao bong bóng vỡ
Mây sương rải kín đồng
Thành phố không buồn ngủ
Khói vỗ bờ hư không”

Buổi sáng tập viết chữ thảo, có một chút mênh mang thời cũ nhưng cũng có những khắc khoải bây giờ. Ban mai là lúc tấm lòng mở ra, vô tận. Thơ, cũng phơi phới, an nhiên vô ngại:

“Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vuốt tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba”

Tụê Sỹ. Thiền sư khổ hạnh. Hay một nghệ sĩ phiêu bồng. Hay là chiến sĩ tranh đấu cho dân tộc cho đất nước với sự sắt son kim cương vô hoại. Thơ cũng trong những góc cạnh ấy để có một đời sâu sắc phong phu mà ngôn từ bình dị như thanh kiếm gỗ của Ðộc Cô Cầu Bại trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung sắc bén hơn vạn lần bảo kiếm. Thơ Tuệ Sỹ, ngôn ngữ đời thường để biểu hiện tấm lòng bồ tát…

Trong cuộc hành trình, đời sống mở ra những cảm xúc. Tuệ Sỹ làm thơ trong cái phơi phới của thiên nhiên, của núi cao mây trắng, của bến cũ neo thuyền, của mặt biển khơi xao động. Bài thơ “Một Bước Ðường”, không có phong vị của một bài hành nhưng sao nghe như có một điều gì bừng dậy của tâm tư, của những tâm can bừng bừng ngữ ngôn:

“Một bước đường thôi nhưng núi cao
trời ơi mây trắng đọng phương nào?
Ðò ngang neo bến chờ sương sớm
Cạn hết ân tình nước lạnh sao
Một bước đường xa xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra biển bình minh đó
Nhưng mấy ngàn năm tống biệt rồi
Cho hết đêm hè trong bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy ngàn sau ố nhạt nhòa
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạy lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu áo
Trên phím dương cầm hay máu xanh…”

Giấc mơ Trường Sơn, một tập thơ mỏng nhưng chứa đựng nhiều biển trời và đại dương như thi sĩ Bùi Giáng đã nhận xét khi đọc một bài thơ trong đó. Và tôi xin được trích dẫn lại thay cho lời kết bài viết này:

“… Thi nhân đã mấy phen ngồi ngắm trăng tàn. Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp với chân trời xa xôi đại hải?

Ðỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Ðỉnh đá quy tụ về mọi hướng màu trời mây rừng rú.Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Ðó là cái bất tận của tâm tình đứng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du. Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Ðường thi Trung Hoa đến siêu thực Tây phương…”

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn: https://sangtao.org/2017/05/09/tue-sy-vien-mong-may-khung-troi/#more-95685

Nguyễn Mạnh Trinh Đọc Thuở Mơ Làm Văn Sĩ Của Nhật Tiến.


Nguyễn Mạnh Trinh 

Thuở Mơ Làm Văn Sĩ

Mơ làm văn sĩ? Bất kỳ ai ở trong chúng ta mà không ­ước mơ trong thời niên thiếu. Có người mơ những giấc mộng lớn, làm người hùng với ­ước vọng đội đá vá trời thì cũng có những người mơ ­ước phiêu du vào trư­ờng văn trận bút.

Tôi giở những trang sách, nhớ lại một thời của mình. Thuở mơ làm văn sĩ. Những lúc tóc còn xanh. Những lúc hồn đang mơ “ngoài cửa lớp”. Tôi hay ai? Đang viết những bài thơ ngô nghê đầu tiên. Tôi hay ai? Đang viết để tạo ra, để kể lại những cuộc sống mình chưa trải qua nhưng sao lại bàng bạc từng ngày, từng giờ. Những ­ước mơ nào của ai? Sao gần gũi quá. Những trang giấy thuở nào, của tuổi học trò tinh khôi nhưng tưởng mình đã già tr­ước tuổi, đã hiểu qua những vị đắng của cuộc đời .

Tôi đọc “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ” để thấy mình tìm lại một phần nào bóng hình bản thân t­ương tự trong đó. Hình như­, nhân vật x­ưng “tôi”, giống tôi của một phân số cùng chung mẫu số và tử số. Không hiểu tại sao tôi nghĩ như­ vậy. Có một chút gì gần gũi liên quan….

Tác giả trong phần mở đầu cuốn sách, phát biểu đây là một Tiểu Thuyết Hồi Ký. Tôi cũng hơi ngạc nhiên về danh xư­ng này. Hồi ký mà viết dưới dạng tiể­u thuyết thì có được bao nhiêu phần trăm sự thực, bao nhiêu phần trăm hư cấu ? Nhưng qua diễn tả của tác giả, nhà văn Nhật Tiến thì:

” . . ­ước vọng của tôi là mong góp phần dù rất nhỏ bé vào công việc gửi đến các em những kinh nghiệm của người đi tr­ước, những điều các em nên tránh, những việc mà các em nên làm, với hy vọng các em có thể trau giồi được dễ dàng hơn khả năng sáng tạo của mình, ngoài thiện chí mầy mò một mình trong nỗ lực cô đơn.

Đáng lẽ những dữ kiện phải được trình bày dưới hình thức một tác phẩm biên khảo tương tự nh­ư tác phẩm ” Viết và Đọc Tiểu Thuyết ” của cố Văn hào Nhất Linh đã làm ( dưới một tầm mức đơn giản và cho một đối tượng giới hạn hơn). Nhưng để phù hợp với đ­ường lối linh động của tờ báo, tôi phải trình bày dưới hình thức một Tiểu Thuyết Hồi Ký vì dẫu sao đối với các em nó sẽ trở nên bớt khô khan, buồn nản hơn.

Đặt chữ Tiểu Thuyết bên cạnh chữ Hồi Ký là một dụng ý cần thiết. Điều đó chứng tỏ các em không cần đối chiếu những sự kiện có thực đã xảy ra trong quá khứ của người viết. Cái quá khứ ấy đã được tiểu thuyết hóa đi để tăng phần linh động và giảm phần nhàm chán vì bắt độc giả cứ phải nghe quá nhiều về một cái tôi bình thư­ờng của một cá nhân bình thường trong tập thể.

Vấn đề chính yếu là các em sẽ tìm thấy ở đây nhiều dữ kiện. Những dữ kiện rất gần gũi với các em, những dữ kiện có nhiều lợi ích thiết thực cho vấn đề sáng tác mà các em đang theo đuổi.

Bởi lý do rất dễ hiểu là nhân vật x­ưng tôi trong tác phẩm này, cũng như­ các em, tất cả đều đã gặp nhau ở một thuở có nhiều ­ước mơ vốn đầy thiết tha và dồi dào cảm hứng, đó là Thuở Mơ làm Văn Sĩ .”

Tuổi học trò từ tr­ước đến bây giờ đều giống nhau những nét rõ rệt. Cũng có những bút nhóm, cũng tụ tập với nhau thành thi văn đoàn và cũng tập tành làm “người lớn” trong khi còn con nít. Vào những trang mạng bây giờ, thấy tuổi trẻ viết cho nhau, trò chuyện với nhau, hỏi đáp với nhau, viết văn làm thơ cho nhau thì mới thấy, ở đâu và lúc nào, văn chư­ơng của thời mới lớn vẫn là nâng niu trân trọng nhất của suốt cuộc đời.

Cũng đã có nhiều cuộc khởi hành. Những cuộc phiêu l­ưu vào thơ văn, vào chữ nghĩa. Có người thành công, nhưng cũng rất nhiều người thất bại. Rồi cuộc sống đẩy đ­ưa trôi đi, thành kỷ niệm dễ thương nhưng khó quên. Nhà văn Nhật Tiến, trong khi viết Thuở Mơ Làm Văn Sĩ, chắc cũng nhớ lại những kỷ niệm của mình để viết và kể lại về nơi chốn, về người, về những chuyện đã xảy ra trong đời mình nên trong bút pháp chan chứa những tình cảm bồi hồi và gây cho độc giả những liên cảm khiến cho người đọc như­ sống trong hoàn cảnh ấy, nơi chốn ấy, thời thế ấy trong sự chia sẻ tột cùng.

Có người đọc đã nói “nhờ tác giả Nhật Tiến, tôi đã hình dung được cuộc sống ở thành phố Hà Nội thời gian ấy. Hà Nội là thành phố trong tâm tưởng của tôi và càng ngày càng rõ nét hơn, hiện thực hơn từ những tác phẩm như­ Thuở Mơ Làm Văn Sĩ. ”

Nhà văn Nhật Tiến viết về tuổi thơ của mình ngày còn mài lê đũng quần ở những lớp tiểu học ở trư­ờng Hàng Vôi tức trư­ờng Nam Tiểu Học Nguyễn Du Hà Nội. Đó là những năm của thập niên 40. Trong không gian của 36 phố ph­ường, quả những lớp từ tiểu học lên trung học, những cậu bé học trò đã tập tễnh làm thơ viết văn với sự đam mê vô hạn. Vì yêu văn chương nên việc học nhiều khi bê trễ và đôi khi việc học hành đã làm một gánh nặng đè lên những cậu học trò. Có nhiều cố gắng để v­ượt qua và chính những phấn đấu ấy đã tạo thành những kỷ niệm riêng mà sau này khi lớn rồi trư­ởng thành mỗi khi nhớ lại không sao tránh được sự bồi hồi. Những ông thầy dữ đòn, nghiêm khắc thuở nào bây giờ nhớ lại là những khuôn mặt đáng nhớ của một đời học trò. Họ đã yêu thương và đã tận tâm tận lực để tạo thành những người hữu dụng cho xã hội. Nhưng có một lúc, họ đã thành “hung thần” cho các tí hon “mơ làm văn sĩ”. . .

” …Quả nhiên thầy Huỳnh “túm” lên bảng cả tám đứa trong đó dĩ nhiên có cả tôi. Đó là những đứa không nộp bài. Thầy lại hạ lệnh đánh phủ đầu mỗi đứa ba gậy. Vâng, ba gậy chứ không phải ba roi. Gậy đây là cây th­ước gỗ to, dài, dầy ba bốn phân mà thầy vẫn dùng để kẻ những dòng trên bảng đen khi có bài tập viết. Nó làm bằng gỗ, thứ gỗ chắc nịch, rất nhiều gân, nhiều thớ nhưng lâu ngày nó đã phủ đầy bên ngoài bằng những lớp bụi phấn trắng. Cái “hình cụ” này mà phệt vào mông thì ôi thôi, cứ chỉ nghĩ tới cũng đủ rùng mình sởn gáy lên rồi. Ấy vậy mà mấy đứa bạn của tôi chịu hẳn ba gậy của thầy mà mặt cứ nhơn nhơn. Có đứa lại còn c­ười ngỏn ngoẻn lúc đi về chỗ ra cái điều “có quái gì đâu” mặc dù tôi biết cu cậu huếch miệng cư­ời là chỉ để chữa thẹn cho cái tội không nộp bài đó thôi.

Riêng phần tôi, ở gậy thứ nhất, mồ hôi lạnh đã đổ ra ư­ớt đẫm cả trán và lư­ng áo. Đến gậy thứ hai thì lớp học của tôi trở nên chòng chành như­ thuyền đi trên sóng, và thầy chư­a kịp thi hành nốt gậy thứ ba tôi đã khuỵu ngay x­uống nền gạch, cả lớp chợt nhao nhao lên. Thầy Huỳnh cũng xanh mặt. Thầy hạ lệnh bế tôi nằm lên ghế dài, tìm dầu Con Hổ xức lia trên trán, lên cả vào l­ưng, vào bụng rồi cả hai bàn chân nữa. Mười phút sau tôi mới tỉnh lại…

Những cảnh như ­thế, bây giờ chắc không xảy ra nữa. Như­ng vào thời của tôi, thì vẫn còn. Học trò vẫn nhìn ông thầy nh­ư một hung thần nhất là các anh học yếu và hay “mộng ngoài cửa lớp”. Không hiểu về sau, nếu trở thành người thành đạt có còn giữ cái nhận định như­ thế không?

“Gần tới kỳ thi, thầy Huỳnh bắt chúng tôi đi học sớm hơn thêm một giờ để chuyên luyện Toán và Luận. Hồi này thầy càng dữ đòn thêm đối với những đứa l­ười biếng. Nhưng giờ nghĩ lại tôi mới thấy lòng thầy đối với học trò thật bao la. Nhà thầy ở tuốt dưới khu Bạch Mai, coi như­ ngoại ô Hà Nội. Giữa trư­a nắng, thầy đạp xe đi dạy học từ hơn 12 giờ. Tới lớp, cả trư­ờng còn vắng hoe, chỉ riêng lớp của thầy là đã bắt đầu học. Thầy giảng bài rất tỉ mỉ và tận tâm. Thầy có tâm trạng lo lắng nh­ư một bà mẹ sắp sửa phải đẩy đàn con vào cuộc đời mà vẫn áy náy chúng nó chư­a đủ lông đủ cánh. Vì thế dù mệt mỏi, tốn sức bao nhiêu thầy cũng vẫn không quản ngại. Miễn sao lũ học trò ra khỏi tầm tay của thầy, đứa nào cũng có một căn bản vững vàng như­ thầy mong mỏi… ” .

Đọc những lời kể của nhà văn Nhật Tiến, tôi như­ m­ường tư­ợng ra một thời kỳ giáo dục và văn học lúc đó. Người thầy được sự kính trọng và biết ơn của học trò và cả gia đình. Ngày lễ thầy cũng là một ngày lễ trang trọng của đời học trò. Còn về văn học, ở tuổi tôi, Hà Nội đã là một thành phố của tưởng t­ượng nên người và cảnh như­ có phủ một lớp sư­ơng mù của trí nhớ.

Cảnh thì: “Hà Nội đối với tôi bao giờ cũng đẹp nhất vào lúc tàn thu. Bầu trời mầu chì nh­ư thấp xuống. Cành cây như­ v­ươn cao hơn vì lá đã rụng nhiều. Khung cảnh bốn bề không sáng quá dưới ánh nắng thoi thóp của mùa thu sắp hết. Mọi vật chung quanh từ những chiếc ghế đá im vắng đến những cánh lá úa vàng l­ượn xào xạc trên thảm cỏ và những hàng cây cao đã xẫm màu thêm ra, một màu nâu điểm những vết mốc lốm đốm bạc, tất cả như­ đang xao động nhẹ nhàng để đón lấy cái lạnh gây gây nhẹ nhàng của mùa đông đang lén tới. . . ”

Bạn văn nghệ thời tiểu học của tác giả là Hòa :

“…ngồi cạnh tôi là anh bạn tên Hòa. Hắn lớn hơn tôi một tuổi nhưng tầm vóc thì phải lớn hơn đến gấp r­ưỡi. Tôi với Hòa thân với nhau từ mấy ngày đầu. Và càng chơi với nhau lâu, chúng tôi càng khám phá ra rằng hai đứa rất giống nhau về sở thích. Giờ ra chơi, tôi với Hòa không chạy nhảy mà chỉ kéo nhau ra gốc bàng ngồi tán chuyện. . . tiểu thuyết.”

Tuy còn bé, nhưng cả hai đã tập tành viết văn với cả nỗ lực của thời thơ ấu. Oanh liệt hơn nữa là viết cả một tờ báo mang tên Bút Học Trò với cả các tiết mục của một cơ quan ngôn luận tí hon. Ra được 5 số thì học vấn của cả hai tụt thang một cách thảm hại dù cố gắng ngoi lên trong thứ hạng của lớp. Tưởng phải bỏ cuộc nhưng “tôi” tự ái và một mình làm tờ báo mang tên Bút Mới bằng cách dùng thạch bản và mực tím để in. Nhưng rồi cũng phải dẹp tiệm vì lúc đó công an, mật thám đang rình mò bắt bớ những tổ chức học sinh chống Pháp dùng thạch bản để in truyền đơn.

Thi đậu vào tru­ng học Chu Văn An, “tôi”, tức tác giả lại có một bạn văn chư­ơng mới, anh chàng cùng lớp có tấm danh thiếp thật “nổ” có mấy hàng chữ:

Trần Văn Tắc

Bút hiệu: Song Vũ

Journaliste.

“Journaliste thì là ký giả đứt đuôi đi rồi. Ôi chà! Mới mấy phút tr­ước, đối với tôi hắn chỉ là một thằng nhãi con, nhưng coi xong tôi thấy hắn trở nên to lớn trọng đại vô cùng. Giuốc-nan-lít! Giuốc-nan-lít! Ba cái tiếng đó nh­ư nổ lên đùng đùng nghe sao mà hấp dẫn và dòn dã đến thế! ”

Tắc, tức “nhà văn” Song Vũ, đã tạo cho tác giả ý định gửi bài viết để đăng trên báo và quả nhiên với những vở hài kịch đầu tay, “tôi” đã b­ước vào những tờ báo với đôi chân chập chững. Những bạn bè cùng trang lứa với “tôi” có : Nguyễn đình Toàn, Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm hay Hùng Phong Nguyễn đức Cầu:

“Vở kịch tung ra gây một trận c­ười vỡ bụng trong làng văn chư­ơng choai choai mới lớn. Tôi còn nhớ anh Toàn (bây giờ là nhà văn Nguyễn Đình Toàn) hồi đó nhà ở bên Gia Lâm cách Hà Nội khoảng vài ba cây số. Nhà Toàn ở rất đơn sơ. Mái tôn, vách gỗ, nhiều chỗ phô ra nhiều khe hở nên bà cụ mẹ Toàn lấy giấy báo trám vô những lỗ thủng. Chính trang báo Cải Tạo có đăng vở kịch của tôi lại cũng được đóng vai che chắn đó. Nó lại nằm ngay ở tr­ước bàn n­ước nơi xếp ly tách chai lọ, nên một hôm Toàn đứng rót n­ước uống vô tình để mắt lên trang báo. Tuy đã đọc từ tr­ước rồi, thế mà chợt nhìn lạ, Toàn cũng không nhịn được nên c­ười phá lên làm nước bắn tung tóe ra mọi người chung quanh. Giai thoại ấy Toàn đem kể lại cho bạn bè. . . ”

Và:

“trong các bạn bè tôi chỉ có một người gửi bài nào là dính bài đó. Lại dính ở một tờ

báo sáng giá nhất hồi đó là tờ Tia Sáng, ấn bản đặc biệt ngày chủ nhật. Đó là anh chàng Nguyễn Thanh Đạm tức nhà thơ Song Hồ bây giờ. . . Đạm làm nhiều thơ. Thơ của Đạm mới mẻ, tân kỳ. Anh lại có tài t­ưởng t­ượng rất phong phú. Chẳng hạn trong những ngày hè nóng chảy mỡ, Đạm chui xuống quầy hàng, chổng mông ra, cúi đầu vào, lụi hụi làm thơ trời lạnh có tuyết rơi và ở dưới không quên ghi chú Paris ngày . . . Tòa soạn Tia Sáng Chủ Nhật chọn đăng thơ của Đạm đều đều. Người ngoài không biết tưởng nhà thơ này đã đi Tây, đã yêu nhiều, đã thất tình và từng lang thang lê gót giang hồ tứ xứ. Ai có ngờ đâu, đó chỉ là một cậu học trò đang mài đũng quần ở bậc trung học đệ nhất cấp. ” .

Hay:

“Một nhân vật khác cũng có tài tưởng tư­ợng hết sức phong phú mà tôi còn nhớ được là anh bạn Nguyễn Đức Cầu tức ký giả Hùng Phong của giới báo chí Sài Gòn bây giờ. Tôi quen Cầu từ năm học lớp nhất trư­ờng Hàng Vôi. Nhà của Cầu ở phố Hàng Than gần chợ Đồng Xuân Hà Nội. Anh ta chuyên đi một chiếc xe đạp mà cái tay lái (guidon) không hiểu vì sao lại gẫy mất phần bên trái, chỉ còn một phần bên phải nên Cầu chỉ lái xe có một tay. Cầu chơi đàn banjo rất giỏi, tiếng đàn gọn lại chắc qua từng nốt nhạc và lúc “vê” cho âm thanh kéo dài ra thì nghe rất ròn rã, điệu nghệ. Đã thế, Cầu còn viết cả phóng sự được in hàng ngày trên tờ Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên nữa thì mới là “chúa” chứ….”

Những sinh hoạt văn ch­ương một thời mới lớn với bao nhiêu là mộng ­ước của “Tôi” sao giống quá với những người đang b­ước chân vào tr­ường văn trận bút. Sao mùi mực in quyến rũ đến thế! Sao chữ in trên giấy báo lại có tác dụng làm mê đắm người viết đến thế? Cũng là những hàng chữ, mà sao ở trang bản thảo thì tầm thư­ờng nhưng khi đăng trên báo lại có tác dụng lớn lao. Những ai gửi bài lai cảo, trông đứng trông ngồi, để chờ thấy những hàng chữ của mình và tên tuổi của mình xuất hiện. Ôi sao mà hạnh phúc quá đỗi! Nhà văn Nhật Tiến hình như­ viết say sư­a trong hồi cảm của mình. Nâng niu kỷ niệm, nhất là những kỷ niệm đẹp bằng văn ch­ương, theo ý tôi, một người đọc, đã làm thăng hoa hơn nhưng cảm giác và lôi cuốn được độc giả vào những không gian thời gian có lẽ là lâu lắm. Năm 1973, ông in tác phẩm này ở Sài Gòn về một thời ở Hà Nội. Cũng là một ngoái nhìn về kỷ niệm ngày xa xưa. Năm nay, 2013, ở Tiểu Sài Gòn, ông tái bản lại tác phẩm. Và cũng là tấm lòng trao gửi cho những người trẻ sau này một chút thiết tha, một chút trân trọng cho con đ­ường nghiệp dĩ sẽ mở ra cho những hạt mầm văn ch­ương chờ ngày nở rộ.

Bút pháp của Thuở Mơ Làm Văn Sĩ, từ tả tình, tả cảnh, đến tâm lý nhân vật hay đối thoại đều có chất lãng mạn và say s­ưa của một người cầm bút tìm kiếm lại được những kỷ niệm đẹp của đời mình. Tôi đọc truyện của nhà văn Nhật Tiến, từ Thềm Hoang đến Chuyện Bé Ph­ượng, hay từ Giấc Ngủ Chập Chờn đến Hành Trình Chữ Nghĩa, mỗi tác phẩm đều gợi cho tôi những không gian, thời gian quen thuộc của đời mình và có lúc tưởng như đang sống trong những hoàn cảnh ấy. Có lẽ đó là yếu tố làm tác phẩm vư­ợt qua được sự đãi lọc của thời gian. Dù đời sống có khác, tâm tình thời đại có khác, nhưng những mẫu nhân vật muôn thuở của văn ch­ương vẫn còn sống mãi dù qua năm tháng.

Viết với niềm đam mê, dù ở tuổi gần xấp xỉ bát tuần, nhà văn Nhật Tiến vẫn miệt mài trong nghiệp dĩ của mình:

“Tôi mở trang báo có in bài của tôi. Tôi đọc lại từng dòng, đọc một cách thoải mái, tự do không phải theo cái kiểu he hé coi cọp ở sạp bán báo mà người bán cứ đuổi quầy quậy. Tôi sung s­ướng thấy tên của mình ở đó. Cái tên ấy nằm một cách trịnh trọng trang nhã và dĩ nhiên hẳn là mang một ý nghĩa vinh dự, niềm vinh dự của một nhà. . . nghệ sĩ có tài sáng tác và tác phẩm của hắn ta đăng trên báo để gửi tới đọc giả bốn ph­ương.

Niềm vui xen lẫn sự hân hoan hãnh diện bỗng xua tan đi mọi nỗi bực dọc vừa qua. Tôi không thấy còn lý do nào có đủ vững chắc để khiến cho tôi bẻ bút, quăng báo xuống hồ, không chơi với văn nghệ nữa. Văn nghệ là lẽ sống của tôi. Văn nghệ vẫn là niềm vui của tôi. Văn nghệ vẫn là nhu cầu, là lý tưởng mà tôi sẽ còn phải theo đuổi.

Tôi nhìn ra mặt hồ. Mặt nước trong xanh chứa cả một bầu trời có nhiều mây xám ảm đạm. Gió thoảng nhẹ từ xa thổi vào mang theo cái giá lạnh của một ngày cuối đông đang bắt đầu hửng nắng. Tôi bỗng chợt thấy lòng dâng lên những cảm hứng dạt dào. Tôi nẩy ra được một đề tài mới hay ho cho một sáng tác mới. Tôi nghĩ ngay tới ánh sáng vàng úa của một ngọn đèn chong suốt đêm khuya chỉ có một mình tôi cặm cụi với trang giấy trắng muốt. Tôi sẽ viết. . . viết hoài. . . viết mãi.. ”

Có lẽ đó là lý giải đơn sơ nhưng rõ ràng nhất của hiện tư­ợng về một người cầm bút có bề dầy hơn 60 năm sáng tác, chỉ trong hơn một năm đã viết và in 6 tác phẩm. Sức làm việc ấy, có phải là từ nỗi đam mê văn chư­ơng đã khởi đi từ buổi ấu thời?

Viết Hoài… Viết Mãi… có phải văn học Việt Nam hải ngoại đã thành hình và phát triển từ những ý tưởng như vậy. Viết như một cách thế không thể nào không viết được, những ngọn đèn sẽ thắp lên suốt đêm trong cả một đời. Dù cô đơn nhưng những dòng chữ phăng phăng nỗi niềm của những người  l­ưu lạc tha hương vẫn làm đầy những trang giấy trắng tinh của mộng ­ước thuở nào…

Nguyễn Mạnh Trinh 

https://nhavannhattien.wordpress.com/nguyen-manh-trinh-doc-thuo-mo-lam-van-si/

Hồ Biểu Chánh và tiếng Phật. Phan Ni Tấn


Phan Ni Tấn

Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884–1958)

Hồi nhỏ tới giờ tôi vẫn ưa đọc sách, đọc đủ các thể loại truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, khoa học dã tưởng, dịch thuật… Về sau, nghiền ngẫm những tác phẩm của Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường, Vương Hồng Sễnh, đặc biệt là nhà văn Hồ Biểu Chánh, tôi như tìm về các ngõ ngách, ruộng đồng, kinh rạch, sông nước miền Tây quê nội tôi.

Đọc Hồ Biểu Chánh để thấy một tâm hồn mộc mạc, đơn thuần như những cuộc đất khẩn hoang với những con lạch muỗi mồng, âm u gợi lên từng địa danh xa vời. Hồ Biểu Chánh sở trường về văn xuôi ẩn chứa một triết lý nhân sinh góp phần bồi đắp nền văn học miền Nam qua hàng trăm tác phẩm giá trị. Người đọc tìm đến Hồ Biểu Chánh bởi nhân cách sống với phong độ nho gia đạm bạc và những trang viết giản dị, trong sáng, lấy bối cảnh miền Nam làm đề tài với những cảnh đời phức tạp, những thành kiến hủ bại của gia đình xã hội thời phong kiến. Phần lớn ông viết về đời sống phong phú của những người dân cần cù lao động làm nổi bậc truyền thống dũng cảm, sức chịu đựng, lòng nghĩa hiệp và tinh thần vượt qua mọi gian lao thử thách vào giai đoạn lịch sử dưới thời Pháp thuộc.

Đặc tính trong cách hành văn của Hồ Biểu Chánh là luôn luôn nhấn mạnh vào từng tiếng địa phương, từng chữ đơn sơ, từng nghĩa mộc mạc của ngôn ngữ miền đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi câu truyện của Hồ Biểu Chánh là một bức khắc họa có chiều sâu với những hình thể và màu sắc khác biệt. Nói đến Hồ Biểu Chánh là nói đến dòng thời gian xa thẳm, là tìm về miền ký ức mờ sương. Cho nên đọc Hồ Biểu Chánh, ta có cảm tưởng như đi ngược về dĩ vãng để tha thiết tìm lại hồn đời của từng nếp sống xa xưa.

Hồ Biểu Chánh viết văn giản dị như nói chuyện. Ông say sưa kể chuyện với cả tâm tình. Những câu chuyện về đồng áng, kinh rạch, sông ngòi, đất đai, nhà cửa…, về bà Hội đồng, ông Hương cả, thầy Tham bái, vị Cai tổng, Quan tham biện cho tới người ăn kẻ ở quê mùa, chất phác đều toát ra cái thần hồn thần tính của họ… Tất cả những cảnh đời nói trên đều được Hồ Biểu Chánh làm sống lại trong văn chương tả chân, phản ánh đúng lề lối sinh hoạt của người dân miền sông nước Cửu Long trong giai đoạn thực dân hóa.

Nhớ mùa hè năm 1969, tôi và một người bạn cùng quê đi Honda ngao du về miền Lục tỉnh Nam kỳ. Cuộc hành trình từ Sài Gòn qua Nhà Bè tới Cần Đước, theo những con đường lồi lõm, sỏi đá và bụi, băng qua những thửa ruộng, những bờ đê ghé về quê nội tôi là huyện Cần Giuộc; thuở ấy làng quê chỉ có những dẫy nhà tranh lụp xụp với con đường đất chạy xuyên qua đầm lau sậy âm u. Từ Cần Giuộc qua cầu Rạch Kiến cặp theo dòng sông Soài Rạp tới cửa Cần Giờ, rồi từ đó xuôi theo hướng Đông ghé vào chợ Dinh, Gò Công nhắm chút rượu chuối với cá khô đồng.

Ban đêm ngủ trong nhà người bà con nghèo khó mà tốt bụng của anh bạn đồng hành nghe tiếng vạc kêu sương, nghe giun dế nỉ non, nghe tiếng heo ụt ịt đòi ăn sau hè làm tôi bồi hồi nhớ tới những câu chuyện tiểu thuyết thời sự xa xưa của nhà văn lão thành Hồ Biểu Chánh.

Đêm hôm đó, nằm trên chiếc chõng tre ọp ẹp, tôi ngắm ánh trăng lặng lẽ luồn qua liếp cửa chảy xuống đọng thành những vũng sáng trên nền đất mà nhớ tới người. Tôi mơ hồ tưởng chừng như ông vẫn còn ở đâu đó trên mảnh đất Gò Công hiền hòa này. Hồ Biểu Chánh sanh trưởng tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công, nơi xưa kia là vùng đồi núi có nhiều chim công. Ông sinh ra để sống và viết. Lúc mất đi, ông để lại cho đời những áng văn chương bất hủ, góp phần bồi đắp cho nền văn học Việt Nam thêm phong phú.

Trong hàng trăm tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, cuốn tiểu thuyết Tại Tôi, khi đọc tôi cảm thấy tự đáy sâu lòng mình thường dâng lên từng đợt sóng u hoài.

Tại Tôi có những bối cảnh, những diễn biến cũng như những nhân vật đầy bi thảm. “Thằng Ba”, tức Lý Như Thạch, con thứ của bà Cả Kim và cô con dâu tên Nhung là những nạn nhân của chế độ gia đình thuở xưa. Sinh ra dưới thời phong kiến, Như Thạch chịu sự giáo huấn nghiêm khắc của bà mẹ đồng thời hấp thụ nền văn học Tây phương. Lý Như Thạch đi học xa nhà, cảm nhiễm phong hóa Âu Tây, cưới vợ mà không thưa với bà Cả là trái với gia pháp nên rốt cuộc cả cậu Thạch lẫn cô dâu đều bị bà Cả dứt tình đuổi ra khỏi nhà.

Đoạn thê thảm nhất trong tác phẩm Tại Tôi của Hồ Biểu Chánh là, tuy hai người trôi giạt về chốn xa xăm, thương yêu, đùm bọc nhau trong hoạn nạn, chịu đựng nỗi cơ cực, bần hàn, nhưng “họa vô đơn chi”. Lý Như Thạch đã hỏng về phương tộc, người bạn đường mà anh yêu quí hết lòng hết dạ, trời xui đất khiến lại bị bịnh tim mà đứt gánh giữa đường. Cô Nhung chết đi để lại người chồng bất đắc chí và “nhánh lá nhà họ Lý” là con Thanh Nguyên còn thơ dại. Vậy mà trời nào chịu buông tha, vẫn bắt số kiếp bi đát của Lý Như Thạch, trong mình mang sẵn bịnh lao, không có tiền chạy chữa thuốc than; cuộc sống quá đày ải lại gặp sự buồn rầu dồn dập, thân thể gầy mòn nên lần hồi ngắc ngoải lìa đời. Không có gì bất hạnh cho bằng con còn nhỏ mà phải trải qua nỗi đau mất cả mẹ lẫn cha.

Cái chết và sự sống qua những câu văn thật bình dị và vô cùng cảm động của Hồ Biểu Chánh khiến tâm hồn người đọc cũng theo ông nghiêng xuống nỗi đau của cuộc đời. Nhưng người chết đã đành, người sống thì sao? May mắn thay, trước khi chết Như Thạch đã để lại một tờ di ngôn cho người bạn chí cốt tên Tự Cường và nhờ bạn nuôi dưỡng giùm đứa con vô gia đình, vô thân tộc. Nhờ vậy, Thanh Nguyên lớn lên trong sự yêu thương hết lòng của người dưỡng phụ, tuy không phải là cha đẻ nhưng tình nghĩa đã gần như một bổn phận thiêng liêng đối với ông.

Tác phẩm Tại Tôi của Hồ Biểu Chánh là tiếng thở dài não nuột trước sự bạc bẽo của nhân tình thế thái. Vì lẽ đó, ở cuối chương tác gỉả đã ôn tồn đưa triết lý Phật giáo vào cốt truyện như muốn khơi lại tánh bổn thiện của những thói đời hệ lụy. Ngọn lửa từ bi là ánh sáng soi đường dẫn lối cho sinh linh thành khẩn chắp tay hướng Phật. Nhưng vì gia tài đồ sộ của dòng họ Lý đã che mờ lý trí của Lý Thị Phụng; con đầu lòng của bà Cả Kim, tự cô chọn vị trí đứng ngoài bóng mát của hạnh từ bi nên y thị không có duyên với nhà Phật, không hề nghe được tiếng Phật. Vì thiếu đức tin nên trong truyện cô Phụng đành đoạn giấu nhẹm lá thư cầu cứu của em mình đang trong cơn thập tử nhất sinh từ xa gởi về, không cho bà Cả hay. Giấu nhẹm thư tuyệt mệnh của em mình để làm gì, nếu không phải là lòng tham không đáy muốn chiếm trọn gia tài đồ sộ kia?

Sự kiện chua xót này được thể hiện bằng lời trách móc của thầy Hội đồng nhắm vào vợ chồng cô Phụng thật là đáng.

“Phụng, thiệt rõ ràng vợ chồng mầy hiệp nhau mà giết em mầỵ Ngày thằng Thạch dắt vợ nó về, chị Cả giận đuổi nó, vợ chồng mầy không có được một lời can gián. Khi nó gần chết, nó viết thư như vầy, mà vợ chồng mầy giấu biệt không cho chị Cả hay. Bây ăn ở như vầy thì khốn nạn quá. Tao hiểu hết. Bây muốn cho thằng Thạch chết mà lại tuyệt tộc nữa đặng bây muốn ăn gia tài cho trọn. Không được đâu, thái độ của bây như vậy trời không cho bây hưởng trọn giàu sang đâu…”

Nhừng mà trời Phật có bỏ ai dâu, chẳng qua người xấu gieo nhân xấu thì gặt quả xấu, đúng như nhà Phật có câu gieo nhân gặp quả, vậy thôi. Đó là sự công bằng, cũng là chuyện thường hằng của nhân thế.

Và rồi việc gì tới phải tới. Từ ngày vợ chồng Lý Như Thạch chết đi, con Thanh Nguyên, cháu nội bà Cả Kim lớn lên biết chuyện, không chịu nhận cội nguồn; còn thằng Hữu Nhơn, con của vợ chồng cô Phụng bạc nghĩa kia lại mắc phải chứng dở khùng dở điên. Cái cơ ngơi to lớn của bà Cả lúc nào cũng tràn đầy ánh nắng, sau cuộc tang thương đã trở nên lạnh lẽo khác thường. Cái gì làm cho ngôi nhà kia âm u, và thân tộc kia trở nên buồn bã? Cuộc bể dâu vỗ từng cơn sóng dữ vào lòng nhân thế là như thế. Cũng là chuyện thường tình.

Ta hãy nghe Hồ Biểu Chánh kết thúc câu chuyện đầy chua chát này:

Ông cai tổng Quyền lắc đầu rồi cười gằn: “Rõ ràng hễ làm dữ thì gặp dữ”.

Còn bà Cả Kim ngồi im lìm, mắt ngó sững ra ngoài sân một hồi lâu, bà thở một hơi dài thiệt dài rồi nói: “Tại tôi hết thảy!”.

Nhìn lại suốt quãng đời cầm bút của nhà văn lão thành Hồ Biểu Chánh, vì sự thôi thúc của bản năng và nỗi dằn vặt nội tâm khiến cho cuộc sống cổ sơ và các tác phẩm văn chương của ông đều toát ra vẻ hiền hòa, chân thực không những dành riêng cho mình mà con dành cho những con người miền Nam quê mùa, chất phác.

Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn có giá trị của miền Nam nước Việt nói chung và của miền đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

Phan Ni Tấn

Chân Dung Nhà Thơ Bùi Giáng. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

img_3053

(Chân Dung Nhà Thơ Bùi Giáng)

Có rất nhiều tác giả viết về nhà thơ Bùi Giáng. Không biết bài viết của tôi có thừa không? Nhiều nhà phê bình văn học đã phác họa một chân dung văn học với cách nhìn ngắm nhận định tuy chủ quan nhưng có khi lại đóng vai khách quan. Riêng tôi, từ một vai trò của một người đọc thơ, tôi cố gắng đi tìm cảm giác của một người nhận hiểu những điều mà mình thắc mắc từ nhiều câu hỏi.

Nhiều người nhận xét là ít có bài viết phê bình về văn hay thơ của Bùi Giáng mà có rất nhiều bài viết đầy những giai thoại có tính ca tụng, dù chân dung văn học của ông đã được nhìn ngắm với nhiều khía cạnh khác nhau. Có điên có tỉnh, có lúc thơ là những ý nghĩ độc đáo trong sáng nhưng cũng có lúc là những câu nói lái dung tục, là chất chứa của những ẩn ức không lối thoát. Riêng tôi, khởi đọc từ những bài thơ từ thuở Mưa Nguồn đến sau này, tôi thấy trên con dường suy tư của ông, những ý nghĩ độc đáo, những hình ảnh gợi nhiều liên tưởng gợi ra một cuộc rong chơi của một thế gian khác, hơi giống thời hiện taị nhưng lại có nhiều nét cổ xưa hoang dại đầy ắp những nỗi niềm.

Hình như không có một điều gì ngăn cấm giới hạn trong tác phẩm của ông. Trong khi viết khảo luận, ông viết chống báng lại chính mình là thường. Hứng khởi tạo cho ông một cực đoan. Không có một nhân vật của văn chương, của triết học nào mà ông đế cập đến không có những chi tiết bất ngờ lạ lùng của những khám phá đến tận cùng. Riêng với thi ca, ông đọc thơ, bình thơ và làm thơ chỉ chung một tâm cảm, của những tín đồ cuồng tín nhất. Có nhiều khi ông khen ngợi quá lời, thành ra những nhận định ở trong vòng tùy hứng. Ai cũng có thể thành thi thánh, thi thần, nhưng ở chỗ khác lại bị chê bai thậm tệ… Nhưng tại sao, Bùi Giáng vẫn được nhiều người như nhà văn Mai Thảo coi là tài thơ trác tuyệt, là ngôn ngữ ảo diệu không tiền khoáng hậu, là vì có ông thơ ca mới đích thực có biển có trời…

Ai tỉnh? Ai điên? Ai viết văn cuồng? Ai viết thơ ngông? Bùi Giáng đã nhận diện vóc dáng chính mình trong cuốn sổ tay của Thầy Thích Nguyên Tạng chùa Pháp Vân, Gia Ðịnh trong một buổi trưa ngày 10/11/ 1993:

“- 1926- được bà mẹ đẻ ra đời
– 1928- khi té bể trán, vết sẹo còn nguyên kỷ niệm, hai năm trời chết đi sống lại

– 1933- bắt đầu đi học a,b,c trường làng tại Thanh Châu với thầy Cù Ðình Quý

– 1936- học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn

– 1939- ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Ðình Ðàn, Hoài Thanh Nguyễn Ðức Nguyên, Dào Duy Anh vân vân

– 1940- về Quảng Nam chăn bò.

– 1942– trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế. Nhập ngũ, bộ đội công binh hai năm sau giải ngũ

– 1952- vào Sài Gòn 1955 khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm Tân Việt xuất bản.

– 1957 Tân Việt xuất bản giảng luận về Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, giảng luận về Chu Mạnh Trinh, về Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị

– 1969 bắt đầu điên rực rỡ

– 1970

Lang Thang Du Hành Lục Tỉnh (khách sạn Long Xuyên Bà chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)
Gái Châu Ðốc Thương yêu và Gái Long Xuyên yêu dấu

Gái Chợ Lớn Khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)

– 1971-75-93

Ðiên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang
Rong chơi như hài nhi (con nít)

Ðược gia đình ông Phó chủ tịch (482) Lê Quang Ðĩnh, Hội đồng thành phố đối xử thơ mộng thênh thang.

Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa đôi lời rốt cuộc

Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cô Nương, và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)

Do đâu mà được như thế?

Ðáp. Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao chùa chiền miền nam nước Việt không biết nói sao cho hết”

img_3051

Bùi Giáng đã viết về “ông điên” một chân dung tự vẽ chính mình: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là Mẫu Thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên thì trước hết phải đáp vào câu hỏi. Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà? đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy?”

Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Bách Khoa, một bệnh nhân tâm thần của Bịnh Viện Biên Hòa, nhà văn Nguiễn Ngu Í cũng đã phỏng vấn một bệnh nhân đồng viện đồng bệnh Bùi Giáng. Thế mà, câu trả lời lại hết sức tỉnh táo, bình thường hơn cả những người bình thường nhất:

“Anh Ngu Í, xin gửi anh vài kinh nghiệm và ý nghĩ riêng. Viết cũng như sống – cần chút trật tự, điều hòa: ăn ít, ngủ nhiều. Ðừng để những bực bội phá giấc ngủ. Thỉnh thoảng đi về Lục Tỉnh (con đường từ Long Xuyên xuống Châu Ðốc đẹp lạ lùng).
Không hút thuốc lá nặng khói. Nên uống la de (bia), uống vừa phải.

Tôi xin trở lại với giấc ngủ vì xem đó là cái tốt nhất trong đời. Nếu có thể nên ngủ thật sớm (lúc 7, 8 giờ tối) để có thể thức giấc lúc 4, 5 giờ sáng, ra đường đi dạo, lai rai vài tua, hít thở nhịp nhàng, rồi trở về ngồi viết hoặc nằm viết.

Ðừng nên ngủ chung giường với một người nào. Hơi thở của họ sẽ chi phối nhịp thở của ta…”

Thế mà, theo Võ Ðắc Danh, đọc hồ sơ lưu trữ tại nhà thương điên Biên Hòa ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977, thời gian này Nguyễn Ngu í vẫn còn sống trong bệnh viện, hai người cùng ở khu 3. Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi: “Bệnh tái phát từ tháng 4 năm 1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị văn hóa trọng đại có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3 năm 1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn.”

Trong tác phẩm “ Ði Vào Cõi Thơ”, Bùi Giáng viết về chính Bùi Giáng:

“Những bài thơ “chuồn chuồn châu chấu” của ông quả thực là có ý nghĩa. Nó bay nhẹ vi vu quả có đúng như là phận mỏng cánh chuồn. Vào những buổi sáng mùa đông lạnh lạnh ở Trung Việt, vào những buổi chiều mùa thu ở Bắc Hà, hình bóng những con chuồn chuồn bay lượn cuối ngõ đầu xuân quả thật là tha thướt. Ðôi phen mất cái tiết điệu riêng biệt ấy cũng còn tái hiện trong đôi vần phồn hoa không bao giờ có chuồn chuồn bay vòng múa lượn…

Tuy nhiên Bùi Giáng là chỗ quen biết với tôi nên không tiện bàn luận chi nhiều Chê thì mất lòng nhau. Mà khen thì mang tiếng “mẹ hát, con vỗ tay”

Dù sao bài nay cũng nên trích thêm vào tập:

Bóng dương buồn ngủ qua chiều
Qua sông tại hạ toan liều tấm thân
Ðường sông bóng để cơ trần
Gẫm chông gai ấy ai từng đạp qua
Ghì môi con mộng la đà
Tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng
Nửa vời trăng mộng mông lung
Ðường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”

Viết về thơ, Bùi Giáng hình như trong một hành trình tự hủy, làm kẻ lạc lõng trong cuộc nhân sinh và tìm kiếm sự sáng suốt trong tận cùng cuồng si. Với ngôn ngữ riêng ông, pha trộn những ngôn từ bác học và dung tục, chuyên chở những ý tưởng lạ lùng, có lúc như những mật ngữ phù chú khó hiểu nhưng có lúc lại bình thường của một người tỉnh táo hết mình.

“Thơ tôi làm trong mấy cuốn thơ của tôi chỉ là cách dìu ba đào về chân trời khác.

Ði vào giữa trung tâm bão dông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phà vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên cánh tay mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm bay về Sương Hy Lạp ghé Calvaire viếng thăm một linh hồn bát ngát, rồi quay về đồng rộng, làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng, khoai sắn, thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao…”

Bùi Giáng điên trong cái tỉnh và thơ của ông cũng bất định theo cái nhịp mê cuồng:

“Hãy để yên cho tôi điên tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có bàn đến thơ tôi. Tôi không dám si mê, cũng không dám hoài vọng. Một mai tôi chết. Nghĩa là tôi không còn sống. Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống…Người yêu đừng bén mảng đến, bạn bè hãy đi xa. Ðể tôi một mình tha hồ tôi điên tôi dại. Ai có đến gần thì hãy thử điên dại cho như tôi…”

Một cách nhìn khá đặc biệt, của một thi sĩ ngắm nhìn chân dung một thi sĩ, Thanh Tâm Tuyền trong “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn” viết:

“Ðối với đa số, Bùi Giáng là một nhà thơ điên. Không nhắc đến bọn tục, bọn tỉnh, bọn khôn suốt cả đời chẳng một giây nào thèm “ thơ” đến tuyệt vọng, nói ngay những người quí ông – nhìn được ông như một thiên tài – thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại nhiều khi cũng né tránh, chẳng dám bước hẳn vào cõi thơ ông, hoặc có bước vào thì cũng theo cái lối “chân trong chân ngoài”, “mắt trước mắt sau”, cười cợt vui đùa hay nghiêm trang lố bịch, tưởng như thế là làm thuận lý, vui lòng nhà thơ – người bầy trận nghiêm trọng và ta nên chiều người.

Chính thái độ của những kẻ yêu ông – những kẻ ghét ông chẳng đáng nói – càng khiến ông phát “bẳn”, càng khiến ông phát “điên” (điên tiết), càng khiến nhà thơ thêm lạc lõng “một mình một cõi” càng đẩy ông tới chốn hoang vu bờ bãi, chơi với mọi, với beo, với gấu, châu chấu, chuồn chuồn.

Không, Bùi Giáng không điên. Ông là một nhà thơ sáng suốt, cực kỳ. Ông là một nhà thơ “ngộ”. Ðừng hiểu chữ ngộ trong cái nghĩa đơn giản của đạo giáo, Bùi Giáng sẽ nhăn mặt nổi quạu, ông có thể sẽ tông cửa chạy tuốt xuống Biên Hòa ngay lập tức. Hãy để cho tiếng ấy “phiêu bồng” từ Nam chí Bắc qua mọi nghĩa có thể có (ngộ dại, giả ngộ, ngộ quá ta, ngồ ngộ, ngộ không, ngộ nhận, ngộ độc…)”

Có lẽ, trong thơ văn và trong đời sống, chữ “ngộ” với nhiều nghĩa, từ bác học đến đời thường, đều có vẻ thích hợp, theo ý riêng của tôi. Ngộ dại? Có thể. Ngộ nhận? Giả ngộ? Ngộ độc? Ngộ không?… Mỗi thứ một nghĩa nhưng đều gợi ý đến một thi sĩ ngộ chữ? (Hình như ông Thanh Tâm Tuyền cũng tinh nghịch muốn bắt chước trò chơi chữ nghĩa?)

Ở một vị trí của người đọc, tôi khó lòng định hướng được suy nghĩ của mình. Có lúc tôi thấy sao ông có nhiều bài thơ mà tôi không thích nó ngang ngang kỳ kỳ không giống ai. Nhưng có lúc, ở trong một giây phút nào đó, tôi lại thấy những câu cú tuyệt vời trong thơ ông. Ðọc từ Mưa Nguồn, thi tập đầu tay, đến những tập thơ sau, Lá Hoa Cồn, Sa Mạc Trường Ca, … suốt nửa thế kỷ sau đến những Thơ Bùi Giáng, Chớp Biển,… tôi thấy được một trường thi bát ngát, mà sự thay đổi của ý từ, chuyển biến của cấu trúc ngôn ngữ, cũng chỉ là những vấn đề nhỏ. Mà, cái chính yếu vẫn là cái đang đi tìm và chưa tới đích. Nếu ông có phê phán chê bai, một tác giả, nếu ông có giận dữ nổi khùng vì một vài hiện tượng, thì cũng chỉ là sự bối rối của một người muốn nói nhưng chưa phát biểu hết, chưa biểu hiện đủ. Thơ có lúc như nhóm quặng nguyên sinh nóng hổi nhưng có lúc lại lưu lạc vào một nơi chốn hoang vu riêng biệt tít mù và cái hiểu và không hiểu cứ rập rình vấn đáp. Có nét của tâm kinh Phật giáo nhưng cũng có triết học của Cổ Hy La, có triết hiện sinh nhưng cũng có tư tưởng Lão Trang trộn lẫn, cũng có tôi điên lẫn lộn cùng tôi tỉnh, cũng có lúc phẫn nộ nhưng có lúc hiền từ, Và tình yêu, tình ái với ông chỉ có trong tâm tưởng và mãi mãi vẫn là niềm tôn kính cái đẹp dù qua bất cứ hình ảnh của mỹ nhân nào. Kim Cương Nương Tử hay Mẫu Thân Phùng Khánh cũng chỉ là biểu tượng tuy có thực ngoài đời nhưng lại mơ màng trong chữ nghĩa. Cũng vì sự trân trọng, mà những cử chỉ phát tiết điên cuồng, những lời tỏ tình của một tâm tư mê đắm nhưng không cuồng si, nên những giai thoại có thực của ông không phải là những chuyện tào lao khùng điên ở chợ…

Có nhiều người bắt chước ông làm thơ, cũng xử dụng những ngôn từ Bùi Giáng, nào dạ thưa, nào tồn sinh, nào liên tồn… rồi cũng na ná theo nhịp điệu lục bát, rồi cũng gắng đem những biểu tượng không bình thường. Nhưng kết cuộc là của giả. Có một người đã ví von thơ Bùi Giáng hay vì ông “điên” thật. Còn những kẻ giả vờ điên, bắt chước theo thì làm sao thuyết phục người yêu thơ cho được.

Có người cho rằng Bùi Giáng tránh né không muốn đề cập đến thời sự chính trị. Nhưng trong “Con Ðường Ngả ba, Bước đi của tư tưởng”, thì người đọc thỉnh thoảng vẫn tìm được những dòng bàng bạc. Con Ðường Ngả Ba mà Thụy Khuê đã cho rằng “không phải là một cuốn sách bàn về triết học hoặc đưa ra một hệ thống mạch lạc mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần chú, nhại triết học, nhạo người đọc.” Bùi Giáng viết về Trương Tửu / Nguyễn Bách Khoa và duy vật biện chứng pháp:

“… Ấy là điệu Nguyễn Bách Khoa đại diện cho bọn “đạo thính đồ thuyết” đầy rẫy khắp sử xanh Việt nam và Ðông nam Á Châu chỉ trừ Ai Lao, Cao miên và Xiêm la Miến Ðiện. Ai lao, Cao miên và Xiêm la Miến Ðiện là những dân tộc thơ ngây mênh mông thuần phác, tinh hoa thăm thẳm của Ðông Phương. Nơi những dân tộc ấy không thể nào phát sinh được bọn người đạo thính đồ thuyết, là sản vật ly kỳ của những xã hội tục gọi là văn minh, tự cho mình có tới ba ngàn hoặc ba ngàn rưỡi văn hiến. Văn hiến của nó là một loại văn hiến phát sinh từ một thứ thông minh của con người khôn vặt, con người mạt hậu của mặt đất vốn dĩ đã hiện hoạt trên địa cầu từ một thuở ngàn thu nào của vô lượng na tha a tăng kỳ kiếp…”

Hay: “Ðạo thính đồ thuyết (nghe ngoài đường và nói ngoài đường) là hoạt tinh thể của con người mạt hậu. Nó thông minh một cách thô thiển, nó vểnh tai ở ngoài đường và bi bô ăn nói ở ngoài đường để tàn phá mọi ngả ba đường của bước chân đi từ nội tâm nội mật. Nguyễn Bách Khoa là lãnh tụ bọn chúng. Phó lãnh tụ là Ðặng Thái Mai. Tổng thư ký là Vũ Ngọc Phan. Chúng xua quân chiếm đóng mọi bờ bến suy tư chận đứng mọi Ngả Ba – Ðường của thi ca tư tưởng gây truyền nhiễm cho những kẻ có chân tài như Nhượng Tống, Nguyễn Sỹ Tế về sau. Sức tác quái của chúng chính là nguyên nhân đã xui khiến tư tưởng đổ rụng tàn rơi lục tục giai tằng ngàn thu rớt hột từ Thệ Ða Rừng Tía đổ xuống Ấn Ðộ Dương, từ Nghi Thủy Vũ Vu trút xuống Bắc Minh Nam Hải từ Cổ Hy Lạp Homerè nhào xuống Ðại TâyDương…”

Thơ Bùi Giáng từ trước đến sau, từ thuở mưa Nguồn đến khi Chớp Biển hay Thơ Bùi Giáng in lúc gần cuối đời, có những ám ảnh khôn nguôi. Nguyễn Du và Truyện Kiều với những nhân dáng của Thúy Kiều, của Mã Giám Sinh, của Từ Hải, luôn luôn hiện diên trong thơ, trong khảo luận và trong tất cả những điều diễn tả. Một tác gỉa khác là Martin Heidegger cũng là bóng dáng lẩn khuất bàng bạc trong chữ nghĩa và biểu tượng của ông. Trong cuốn Tư Tưởng Hiện Ðại dù ông có đề cập đến tư tưởng và nhân vật như Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone Weil, André Malraux, Jean Paul Satre, Saint Exupery,… nhưng cũng trình bày về thơ Tản Ðà, Thơ Kiều nguyên thủy và thơ giả Kiều của chính ông sáng tác. Nguyễn Du, Hồng Sơn Liệp Hộ, ông đề cập đến không phải để bàn về đời sống với khen chê thị phi của một nhân vật lịch sử và văn chương tầm cỡ mà chính là muốn nêu ra một biểu tượng của nỗi đau khổ của con người trường cửu trong kiếp nhân sinh. Dù có lúc, ông có vẻ bỡn cợt với tác giả Truyện Kiều nhưng trong cái chia sẻ tận cùng ấy nồng nàn những nỗi niềm gửi theo, những lẩn khuất trong đời một người không muốn theo dòng đời chảy. Với Heiddeger, Bùi Giáng có giọng nghiêm trang hơn và ít khi có sự buông thả đùa dỡn.

Thơ Bùi Giáng, hình như không phải để cho kiểu bình thơ thường hằng. Như tại sao dùng những ý, những hình, những ngôn ngữ lập đi lập lại để dù đặc sắc nhưng thành sáo ngữ. Hay sao láy thơ, rồi điệp thơ, làm rối tung vần điệu, làm tối tăm cảm xúc. Có lẽ thơ Bùi Giáng không hạp với cách lối đọc thơ chúi mũi vào phần vỏ mà không chủ ý đến phần trong, phần trụ cốt chủ yếu. Bởi thơ ông, cũng rong chơi như những câu thơ chào một cõi thi ca lồng lộng màu biếc thắm của Nguyên Xuân:

“Hỏi rằng: người ở quê dâu
Thưa rằng: Tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: Từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.”

Nguyễn Mạnh Trinh

Đọc “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam“. Tạp ghi văn nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.   

Trang Bia

Nhà văn Nhật Tiến vừa phát hành tác phẩm “ Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam “. Một tác giả tuổi vừa tám mươi đã in một tác phẩm viết về những kinh nghiệm của đời cầm bút của mình, có lẽ là một hiện tượng đẹp. Với cuộc sống thăng trầm nổi trôi theo từng biến cố của dân tộc, những nhận định được ghi chép lại chắc có những giá trị đáng kể. Nhất là , với những dữ kiện có liên quan đến chính trị, thời sự và văn học.

Với  cảm quan của một người đọc sách, coi trọng việc học hỏi từ sách vở, tôi đọc tác phẩm trên của nhà văn Nhật Tiến với sự trân trọng đặc biệt. Tôi tìm thấy nhiều chi tiết có thể làm sáng tỏ những điều mà tôi nghĩ còn mù mờ chưa chuẩn xác. Dĩ nhiên, đó là ý nghĩ của riêng tôi. Bài viết này như  một góp ý về một tác phẩm mà trong nhận xét của mình, là một tác phẩm có giá trị và nhiều chất tích cực.

Nhà văn Nhật Tiến chủ trương nhà xuất bản Huyền Trân trong  một thời gian khá dài  từ năm 1959 đến nay hơn nửa thế kỷ và tác phẩm Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là tác phẩm xuất bản mới nhất.

Tác phẩm này viết về một thời kỳ đặc biệt của hai mươi năm văn học miền Nam mà những sinh hoạt ấy đáng kể là những hoạt động của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Trong bối cảnh của một nền văn học tự do khai phóng,  một tổ chức Văn Bút được thành lập quy tụ nhiều thế hệ cầm bút gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, các nhạc sĩ, các họa sĩ, các nghệ sĩ trong ngành sân khấu, điện ảnh và các giới  chức trong ngành giáo dục. Từ ngày chính thức thành lập từ tháng 10 năm 1957 đến tháng tư năm 1975, Trung Tâm Văn Bút đã có nhiều cống hiến cho kho tàng văn hóa dân tộc  với những tác giả và tác phẩm có thể coi như điển hình cho những sinh hoạt văn học nghệ thuật tiêu biểu. Ghi chép lại những sinh hoạt ấy thành những tài liệu văn hóa có lẽ là một việc làm cần thiết, nhất là sau cuộc đốt sách giam tù văn nghệ sĩ miền Nam của chế độ Cộng sản. Vì nhiều lý do,  sự thực  đã  bị nhìn ngắm sai lạc, dẫn đến sự tam sao thất bản và dẫn đến tình trạng những lớp người trẻ sinh sau, lớn lên và trưởng thànhh đã có những  nhận định mù mờ không rõ ràng về những hiện trạng văn hóa của những thời kỳ trước.

Nhà văn Nhật Tiến viết:

“Được chính thức thành lập từ tháng 10 năm 1957 qua nghị đĩnh số 111 BNV/NA/P5 của Bộ Nội Vụ VNCH, Hội đã liên tục hoạt động không ngưng nghỉ cho tới tháng 4 năm 1975. Trải gần 20 năm ròng rã ấy đã có biết bao nhiêu sinh hoạt của Hội đóng góp vào công cuộc xây dựng và vun trồng nền băn hóa của Miền Nam Việt Nam mà nếu có thể ghi chép lại thì cũng gom được thành một tài liệu văn học hữu ích cho các thế hệ sau.

 Nhưng tiếc thay, cuộc phần thư năm 1975 do nhà cầm quyền Cộng Sản tiến hành đã thiêu hủy hết bao nhiêu là tài liệu sách báo quý giá kể cả những tài liệu liên quan đến Văn Bút Việt Nam

  Rồi thời gian qua đi, các vị làm văn hóa lão thành vốn đã từng tạo dựng nên hội Văn Bút và nắm giữ nhiều kỷ niệm quý giá về Hội này thì hầu hết đã qu tiên cả như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Bũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Đào Đăng Vỹ, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ Đình Chí, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, L.M.Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền… Cho nên nếu dù ai có quan tâm cách mấy về việc viết lại  các sinh hoạt cũa hội Văn Bút thì cũng thấy đều gần như bó tay vì số lượng tài liệu còn tìm thấy được lại quá ít oi.

Tuy nhiên một tổ chức văn hóa như thế mà không có tài liệu nào viết về nó dù chỉ một cách tương đối thì cũng thật là đáng tiếc. Vì vậy nhân danh một hội viên thuộc thế hệ hậu sinh đã có dịp gặp gỡ và làm việc chung với nhiều bậc tiền bối như Vi Huyền Đắc, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường, L.M.Thanh Lãng,… tôi tự thấy có bổn phận phải gom góp tài liệu dù rất ít ỏi để viết về những sinh hoạt của Văn Bút kể từ nhóm Bút Việt cho đến Trung Tâm Văn Bút qua cả một chặng đường dài từ 1957 cho đến 1975”

Tác phẩm gồm 6 chương sáchh với một bố cục  bao gồm từng thời điểm hoạt động với những sự kiện  văn học có tính xác thực rút từ văn bản, hay nói một cách giản đơn là nói có sách , mách có chứng.

Từ chương I, tiến trình thành lập & nội quy, đến chương II những sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút để mở ra những ngộ nhận về Văn Bút ở Chương III. Chương IV là những chân dung tác giả tiêu biểu của V ăn Bút qua những cuộc sinh hoạt hội họp. Qua đó, những phác họa chân dung, tiểu sử của nhà văn Đỗ Đức Thu, nhà văn hóa Vương Hồng Sển, nhà văn Phạm Việt Tuyền, kịch tác gia Vi Huyền Đắc, thi sĩ Vũ Hoang Chương, Linh mục Thanh Lãng, nhà văn Hồ Hữu Tường. Chuơng V là Văn Bút với đời sống xã hôi và chính trị qua công tác cứu trợ bão lụt,  cũng như những sự kiện về tên Việt  Gian Cộng Sản nằm vùng Vũ Hạnh  và Văn Bút với quyền tự do cầm bút. Chương sách sau cùng là một hồi ức của nhà văn Nhật Tiến về ngày cuối cùng ở trụ sở Trung tâm Văn Bút vẽ lại một cảnh tượng vỡ đàn xảy nghé của  đất nước Việt Nam.

Điều mà tôi thích thú nhất là đọc trong các phác họa chân dung của các nhà văn tiền bối của Văn Bút và khi gấp lại cuốn sách thì hình như những chân dung ấy hiện ra trong trí nhớ tôi dù tôi chưa gặp họ bao giờ. Truớn năm 1975, tôi chỉ là một người đọc bình thường và hay tưởng tượng ra các nét đáng yêu của những chân dung văn học mà mình thần tượng. Bây giờ đọc lại qua những trang sách của “ Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam” thì những chân dung ấy hiển hiện ra, không những là hình tượng của một cá nhân mà còn có những nét biểu hiện thời thế mà họ đã sống và đã viết.. Ở đó tôi tìm thấy được những mẫu nhân vật tiêu biểu cho văn học Việt Nam với nhiều cá tính đặc sắc qua nhận định chừng mực thẳng thắn của tác giả Nhật Tiến. Ông đã phối hợp từ văn bản các tài liệu và những kỳ niệm, những tiếp cận cá nhân để tạo thành những phác họa sống động cũa những tư liệu có giá trị.

Hình như có một chút đồng cảm với tôi từ tác giả “Từ Nhóm Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam”

Tôi  đọc nhà văn Nhật Tiến  khi ông viết về nhà văn hóa Hồ Hữu Tường :

“Phải thành thật mà nói tôi đã thấy mình bé nhỏ và bỡ ngỡ như một kẻ hậu sinh trước những bậc đại tiền bối khi được hân hạnh cùng đứng chung với Hồ Hữu Tường ở Ban Thường Vụ Văn Bút. Ông là một nhân vật khét tiếng ngay từ khi tôi còn chưa được sinh ra kìa!  Vì năm 1930 ông đã ở Pháp cộng tác với nhà cách mạng Phan Văn Hùm viết báo bằng tiếng Phap. Tờ La  Verité( Sự Thực) chống đối việc Pháp xử từ anh hùng Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ VNQDĐ. Ông cũng ở trong ban biên tập tò La Lutte( Tranh Đấu) xuất bản ở Sài Gòn năm 1934 cùng với các danh nhân nổi tiếng có tên trên bảng dường là nhà cách mạng Nguyễn An Ninh và Trần Văn Thạch. Tuy nhiên ông không mang một cái vẻ gì là một nhân vật kỳ bí oanh liệt như những tài liệu lịch sử viết về ông cả. Mặc dù đã vào tù ra khám nhiều lần kể cả đi tù Côn Đảo nhưng ông vẫn giữ được vóc dáng đẫy đà, vầng trán cao đôi lông mày rậm, bạc với nụ cười thoải mái phô bộ hàm răng hơi lớn quá khổ. Bình thường ông bận thường phục nhưng cũng có lần ông đến họp trong bộ áo nhà tu mầu vàng từ đầu tới chân. Hồi đó nhà thơ Phạm Thiên Thư cũng tới họp Văn Bút,  đầu cạo trọc  mặc áo thầy tu…”

Dù phần đông những người có quan tâm đến  Trung Tâm Văn Bút và  hai mươi năm văn học miền Nam đều có cùng chung những quan điểm và tâm cảm kể trên nhưng cũng có những ngộ nhận hoặc có những nhận xét vội vàng không có sở cứ lý luận vững chắc.  Hình như tác giả Nhật Tiến muốn làm rõ ràng những sự kiện tạo thành ngộ nhận ấy.

Ngay trong chương I, Tiến Trình Thành Lập Trung Tâm Văn Bút và Nội Quy có phần chất vấn nhà thơ  Viên Linh . Nhà văn Nhật Tiến  đề cập đến những nhận định của ông này về Trung Tâm Văn Bút .

Sự “chất vấn” bắt nguồn từ một nhận định của nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm  tạp chí Khởi hành và chủ tich Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại, trong đoạn văn trích từ cuốn  “Chiêu Niệm Văn Chương Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ”:

“Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại Hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957 lúc ông Phạm Trọng Nhân làm lãnh sự tại Nhật cuối cùng đã do Việt Cộng điều hành qua bàn tay của Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền”

Như vậy nhà thơ  Viên Linh đã cho rằng Trung Tâm Văn Bút Việt Nam được thành lập do nhu cầu Chống Cộng nhưng cuối cùng lại do  Việt Cộng điều hành. Một nhà văn  đã làm chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam ở hải ngoại mà viết như thế có phải là một sự kiện “động trời “ không  ?

Nhà văn Nhật Tiến đã “chất vấn “ nhà thơ Viên Linh:

“Đưa ra một chi tiết động trời như thế nhưng ông Viên Linh không hề nêu ra được một bằng chứng nào cho thấy” Trung tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng cho kịp thời với Đại Hội Văn bút ỏ Tolyo vào năm 1957”.

Ông Trần Kim Tuyến tài năng cỡ nào mà có thể khuynh loát được 19 nhà văn , nhà thơ, nhà biên khảo trong đó có cả những bậc lão thành như Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Tam Lang Vũ Đình Chí, Tchya Đái Đức Tuấn, Đào Đăng Vỹ, Lê Văn Siêu, Bùi Xuân Uyên…

Tôi chính thức yêu cầu ông Viên Linh  trưng bằng cớ về chuyện này”

Nhà văn Nhật Tiến còn nhận định về ý tưởng của nhà thơ Viên Linh cho rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập Văn Bút để chống Cộng.  Chẳng lẽ 19 nhà văn , nhà thơ , nhà biên khảo có mặt trong nhóm sáng lập Văn Bút không có ai chống Cộng hay sao mà lại phải nhờ ông Trần Kim Tuyến thúc đẩy. Và như vậy ai đã thúc đẩy họ  di cư từ Bắc vô Nam sau hiệp định Genève? Có phải cũng ông Trần Kim Tuyến chăng? Vả chăng việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng. Nhiều hội viên trong tổ chức Văn Bút Quốc Tế là những nước Cộng sản như Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư  thì họ chống Cộng ở chỗ nào? Hiến chương của Văn Bút Quốc Tế mà một người  từng làm Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại phải bắt buộc thông hiểu mà sao lại viết như thế?

Nhận định thứ hai của Viên Linh mới gây sửng sốt cho mọi người” Cuối cùng Trung Tâm Văn Bút đã do Việt Cộng điều hành qua bàn tay Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền”.

Nhà văn Nhật Tiến nhận định trong sự phẫn nộ:

“Xin hỏi ông Viên Linh” bàn tay Thanh Lãng Phạm Việt Tuyền lông lá cỡ nào mà khuynh loát được gần cả 200 hội viên để đến nỗi Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã trở thành công cụ cho Việt Cộng điều hành.

 Tất nhiên ông Viên Linh sẽ nêu bằng cớ là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã can thiệp cho cây bút nằm vùng Vũ Hạnh bị bắt được thả ra. Nhưng nếu chỉ có một chuyện đó thôi mà đã la lên là Văn Bút đã do Việt Cộng điều hành thì thái độ cầm bút đó là hết sức hàm hồ là vu cáo là thiếu sự ngay thẳng khi cầm bút. Sự bịa đặt lớn lối và vô trách nhiệm này đã ngồi xổm lên công luận trong nhiều năm ròng rã kể từ khi linh mục Thanh Lãng lên làm chủ tịch Văn Bút đồng thời sổ toẹt mọi công lao đóng góp cho nền  Văn Hóa Việt Nam của biết bao nhiêu Hội Viên Văn Bút trong thời gian này”

Viên Linh cũng trong bài viết trong Chiêu Niệm Văn Chương kể trên đã buộc tội :

“Ông (tức Linh Mục Thanh Lãng) đã được Hà Nội thu dụng làm việc tiếp ỏ Đại Học Văn Khoa. Và Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “ nhà văn ngụy” trước khi chịu nhục không nổi phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp”

Và nhà văn Nhật Tiến cũng cật vấn:

“ Xin ông Viên Linh cho biết GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các nhà văn Ngụy tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và xin nêu thêm vài tên tuổi nào  của những nhà văn Ngụy  đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS  Phạm Việt Tuyền??” .

Là một người đọc sách, tôi có ý nghĩ thế nào về sự chất vấn của nhà văn Nhật Tiến với nhà thơ Viên Linh?

Tôi chỉ muốn mình là một người học trò khi đọc những trang sách để thu góp cho mình một kiến thức khả dĩ chính xác. Và như thế những câu chất vấn kể trên không phải là của một cá nhân với một cá nhân mà nó đã thành một vấn đề của những người lưu tâm đến văn hóa văn nghệ.

Nhà văn Mai Thảo đã viết “ Nhật Tiến vẫn đứng ở ngoài nắng” Ông  nói về những cơn nắng chói chang dữ dằn đổ lửa “ của dân tôc Việt Nam. Những cái nắng của thế kỷ, bỏng cháy trên vai trần  của hàng triệu con người lầm than trên trái đất, của những con người bị mất quyền làm người, nạn nhân của thế lực tiền bạc và thế lực bạo lực. Những cái nắng nhễ nhại  trên bãi mìn  nơi Phan Nhật Nam  lê gót  tù nhân như đi trên thủy tinh vỡ. Những cái nắng  ngùn ngụt ở  Gia Trung, nơi những Doãn Quốc Sỹ, những Nguyện Sĩ Tế, mệt lả mồ hôi mang vác những thân cây nặng ne trong thân phận của người tù khổ sai.  Và những cái nắng của ngày vượt biên khát đắng và thiêu đốt con người. Hay cái nắng của đảo hoang Ko Kra , nơi những hải tặc hiện hình làm quỷ sứ. Những cơn nắng thiêu cháy con người  , những đỏ lửa hun đốt  cõi đời ,

Với cá tính như vậy, nhà văn Nhật Tiến viết tác phẩm  mới nhất của mình với tâm cảm thẳng thắn của một người tôn trọng sự thật. Với những ngộ nhận ông thẳng thắn đề cập đến không khoan nhương.

Trong chương III, Giải Tỏa  Những Ngộ Nhận về Nhóm Bút Việt , chúng ta  đã tìm được nhiều chi tiết để học hỏi thêm  và hiểu biết về văn học miền Nam nhưng chưa thấu đáo lắm.  Sự việc bắt đầu từ câu trả lời của nhà văn Mặc Đỗ trong bài phỏng vấn của nhà văn Lê Phương Chi. Nhà văn Mặc   Đỗ đã trả lời câu hỏi:“ anh nghĩ thế nào về nhóm Bút Việt? Nếu chúng tôi mời anh gia nhập nhóm Bút Việt có trở ngại gì cho cho cá nhân nhà văn Mặc Đỗ với nhóm Quan Điểm chăng? Bằng câu trả lời:

“câu hỏi gay go nhưng tôi xin nói sự thực Cho tới hôm nay tôi chưa hết khó chịu mỗi khi nghe nói tới PEN, tới những hoạt động của hội viên PEN nhân danh nhà văn Việt Nam. Chắc chưa ai quên PEN Việt Nam được hình thành như thế nào để kịp dư hội nghị Đông Kinh. Tôi buồn thấy một số nhà văn chúng ta ít kiêu hãnh quá. Giả thử hồi đó họ biết kiêu hãnh hơn, từ chối không bán rẻ tên tuổi lấy một chuyến đi, văn chương Việt Nam sẽ vinh hạnh hơn. Đừng nói nhận là hy sinh, vì văn chương Việt Nam không cần ai phải hy sinh hết. Mà hy sinh nỗi gì, hồ sơ PEN Đông Kinh còn đó để minh chứng kết quả sự có mặt của PEN Việt Nam. Chẳng qua có một số ít người nhân danh đám đông những người cầm bút Việt Nam để đi du lịch hoặc nếu có thể để quảng cáo tên tuổi cho riêng mình, văn chương và nhà văn Việt có lợi gì?

Từ vụ Đông Kinh đến nay, bao lần có hội viên PEN đi dự hội nghị ở ngoại quốc nhất nhất đều nhân danh các nhà văn Việt Nam nhưng thử hỏi họ đi về có ai biết tới, họ đã nhân danh nhà văn Việt Nam làm được những gì ở hội nghị.

Tôi lấy một ví dụ cụ thể vì gần nhất, là vụ nhà thơ Vũ Hoàng Chương nhân danh nhà văn Việt Nam đi dự hội nghị ở Nam Tư. Vấn đề đặt ra ở hội nghị hay đến như vậy, tất nhiên PEN Việy Nam phải được thông báo từ lâu  lắm, mà có ai được biết để thâu góp ý kiến thực sự của nhà văn Việt Nam. Kịp tới khi đi, hội thầm lặng cử người đi, người đi cũng im lìm ra đi, rồi lặng lẽ trở về, không kèn không trống. Nước chúng ta đang nghèo đói thông tín viên, một cây bút như Vũ Quân mà đi về không được lấy một bài báo- báo cáo đăng nơi công luận cho anh em ở nhà được biết. Tại sao. Vũ Quân không viết? Nếu viết thiếu gì báo đăng. Ít nhất cũng cần tỏ rằng mình có trách nhiệm chứ. Đằng này Vũ Quân kênh kiệu chờ một phóng viên của Tin Sách tới phỏng vấn mới kể lể qua loa vài chuyện vô trách nhiệm. Hội nghị bàn bạc ra sao đại diện các nhà văn Việt Nam can thiệp như thế nào vào cuộc thảo luận, ý kiến phát biểu ra sao phản ứng của hội nghị như thế nào? Chờ  hội nghị  in cuốn sách tổng kết rồi gửi qua và để riêng các ông hội viênPEN Việt Namđọc thì chán quá!

 Do sự có mặt của PEN Việt Nam, thế giới có biết đến văn chương Việt Nam hay không, cứ đọc qua những lời đối thoại của Vũ Quân với mấy phóng viên báo chí tại Bled đủ thấy thiên hạ nhìn chúng ta bằng con mắt tò mò vì chúng ta là của lạ hơn là họ bắt buộc phải biết đến chúng ta vì chúng ta đáng được đếm xỉa tới trên mặt đất này hay vì chúng ta có Nguyễn Du( Tại sao đi đâu cũng đưa mãi Nguyễn Du ra? Đã có những người ngoại quốc khi nói cuyện tới văn học Việt Nam đã phải dặn trước là miễn nói tới Nguyễn Du. Chúng ta tôn thờ Nguyễn Du, điều đó đúng nhưng lhông phải hết thẩy những người ngoại quốc chưa thấu hiểu được những đặc thù của tiếng Việt đều thú Nguyễn Du cả đâu và không phải cần  có Nguyễn Du rồi bây giờ khoanh tay kênh kiệu là đủ cho thế giới biết đến ta)

 Tôi buồn nghĩ đến chuyện đã qua và chuyện bây giò nên không hề nghĩ có dịp nào gia nhập PEN Việt Nam. Tôi tài sức đâu mà thay đổi được tổ chức hiện tại nhưng cứ ngồi đó mà nhìn những tàn tích của sự kém kiêu hãnh của ngòi bút thì càng buồn thêm! Tôi nghĩ rằng đóng góp tác phẩm vào với anh em cùng nghề đã tạm đủ( tuy đôi khi hoàn cảnh riêng khiến cho sự đóng góp không mãn ý)đóng góp bằng cá nhân mình hãy để chờ dịp thuận tiện và cần thiết”

Đọc trong  trang 88,  thấy:

“Để minh xác trước lời phê phán của nhà văn Mặc Đỗ” :

Từ vụ Đông Kinh tới nay, bao lần có hội viên PEN đi dự hội nghị ở ngoại quốc nhất nhất đều nhân danh các nhà văn Việt Nam nhưng thử hỏi họ đi về có ai biết tới, họ đã nhân danh nhà văn Việt Nam làm được những gì ở hội nghị xin phổ biến lại bài tường thuật của ký giả Lê Phương Chi “ Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế  lần thứ 33 tại Bled với Thi sĩ Vũ Hoàng Chương  Đại Biểu Trung Tâm Văn Bút Việt Nam”. nội dung của bài viết này đã phác họa lại một sinh hoạt văn học quốc tế mà nhà thơ Vũ Hoàng Chương đại diện cho các nhà văn Việt Nam đã được chú ý và  có nhiều cuộc phỏng vấn có ảnh hưởng khá rộng trên trường quốc tế. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã nói về sinh hoạt của Văn Bút Việt Nam trong thời điểm ấy, cũng như  những công trình dịch thuật từ Việt ngữ sang các ngôn ngữ thông dụng trên thế giới như Anh  hay Pháp ngữ. Ông cũng nhắc đến những bản dịch từ Nguyễn Du, Nhất Linh, sang Anh ngữ. Và Pháp ngữ cũng như đã dịch sang Việt ngữ các tác phẩm văn học Tây phương  như thơ của Lamartine, truyện của  Balzac, kịch của Shakespeare, Corneille, và văn xuôi của Ernest Hemingway, Williams Faulkner, Albert Camus. Vì Việt ngữ có vị trí khiêm tốn trên thế giới nên dù có nhiều văn tài nhưng khó có cơ hội để nổi danh như các nhà văn viết bằng các ngôn ngữ thông dụng trên thế giới.

Như vậy lúc trở về thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã có tường trình về hội nghị  và được phổ biến trên các phương tiện của Việt Tấn Xã, Đài Phát Thanh Sài gòn và nhiều nhật báo, tạp chí đã phổ biến rộng rãi. Và nhà văn Nhật Tiến  cho biết mỗi khi nhận được thư mời tham dự hội nghị quốc tấ Văn Bút, Ban Thường Vụ đều thông báo cho các hội viên và mở cuộc hội luận tại ngay trụ sở về đề tài của Văn bút Quốc Tế đưa ra cho năm đó. Một điểm tế nhị là nhà văn Mặc Đỗ không phải là hội viên nên dĩ nhiên Ban Thường Vụ không có bổn phận phải tường trình với ông mỗi khi cử người đi tham dự bất cứ Hội nghị Quốc tế cần xuất cảnh nào.  Và đi  tham dự hội nghị Vn Bút Quốc tế thì xưng danh Phái Đoàn Việt Nam là chính danh và sự kiện” chẳng qua một số ít người nhân danh đám đông những người cầm bút Việt Nam để đi du lịch , hoặc nếu có thể, để quảng cáo tên tuổi cho riêng mình, văn chương và nhà văn Việt nam có lợi gì?” không hiểu nhà văn Mặc Đỗ có biết  chính xác những trường hợp ấy không hay chỉ là võ đoán mà thôi.

Trong khi nhà thơ Viên Linh  đã viết không nương tay để hạ gục một cựu Tổng Thư Ký Văn Bút trước năm 1975  thì một  người khác, nhà thơ Du Tử Lê lại khen không tiếc lời đến nỗi xóa bỏ mọi công lao của những người khác cùng có trách nhiệm  điều hành chung. Trong bài viết “Phạm Việt Tuyền, người chọn vắng mặt” đăng trên nhật báo Người Việt có nhiều điều cần phải làm sáng tỏ và để mọi người hiểu rõ về  một sinh hoạt kéo dài suốt hai mươi năm văn học miền Nam.

Nhà văn Nhật Tiến trong đoạn văn : “Trung Tâm Văn Bút Việt Nam  Những Điều Cần Nói Rõ”  đã có những nhận định khá chính xác về sự kiện trên. Khi nhà thơ Du Tử Lê cho rằng không có sự tận tụy kiên nhẫn quên mình của  Phạm Việt Tuyền thì sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời đó không có gì đáng nói thì ông đã “xổ toẹt” tất cả công sức của những vị đã đóng góp bền bỉ tích cực của các tên tuổi Lẫy  lừng như Vũ Hoàng Chương, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ Đình Chí,Đông Hồ Lâm Tấn Phác,  Vi Huyền Đắc , Linh mục Thanh Lãng, Đỗ Đức Thu, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hồ Hữu Tường , Nghiêm Xuân Việt…

Trong bài viết, nhà thơ Du Tử Lê nhớ lại :

”Giữa thập niên 1960 để tạo sinh hoạt đều đặn cho hội, họ Phạm đưa ra sáng kiến mỗi tháng mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn học hay nghệ thuật do hội viên đó tự chọn. Nơi chốn ( luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Am Nhạc ở đường Nguyễn Du) cùng những nhu cầu khác như người phụ diễn, trợ huấn cụ, quảng bá tin tức, mời khách tham dự… đều do đích thân ông liên lạc, cung ứng. Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà không phải đưa ông duyệt trước…”

Nhà văn Nhật Tiến đã nêu ra những điểm không chính xác của đoạn văn này. Với tư cách một người sinh hoạt lâu năm trong TTVB VN, Ông khẳng định việc mỗi tháng mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn chương không phải là sáng kiến riêng của ông TTK Phạm Việt Tuyền mà là kết quả của sự bàn soạn cặn kẽ của Ban Thường Vụ. Cũng như việc điều hành tổ chức cũng phải có nhiều người tham gia và  ông TTK không thể nào  “đích thân “ lo toan đến cả những công việc đa đoan như nhu cầu người phụ diễn, trọ huấn cụ, quảng bá tin tức… còn địa điểm tổ chức những buổi thuyết trình văn học không phải luôn luôn là thính đường của  trường Quốc Gia Am Nhạc mà nhiều khi phải di chuyển đi các nơi khác thí dụ như hội trường của Đại học Văn Khoa chẳng hạn.  Còn sự kiện  diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà không phải đưa duyệt trước không phải là sự dễ dãi xuề xòa của ông Phạm Việt Tuyền mà là chủ trương tôn trọng tự do của người cầm bút theo Hiến chương Văn bút Quốc tế.

Năm 1965, nhà thơ Du Tử Lê được TTVB VN mời nói chuyện. Ông kể trong bài viết: “Trước khi nhận lời tôi hỏi ông, tại sao, một người tên tuổi uy tín như ông lại không phải là một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch? Ông đáp” thì các anh các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác lúc đó tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì…” Tôi hiểu ông trung thành với chủ trương “tránh mang tiếng”

Theo nhà văn Nhật Tiến thì nhà văn Phạm Việt Tuyền đã có hai buổi nói chuyện vào năm 1962 và 1963 thì vào năm 1965 nhà thơ Du Tử Lê mới tham dự tức là sự việc đã thành thông lệ rồi thì việc nhường nhịn trước sau có đặt thành vấn đề hay không? Vậy thì làm gì có chuyện Phạm Việt Tuyền trả lời Du Tử Lê :

” thì các anh các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác lúc đó tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì… Tôi hiểu ông trung thành với chủ trương “ tránh mang tiếng.”

Và nhà văn Nhật Tiến kết luận:

“Ô hay! Là Tổng Thư Ký của một Hội đứng ra tổ chức các buổi nói chuyện hnag tháng tha thiết mời người khác nói trong khi chính mình thì cũng đã nói tới hai buổi rồi thì tại sao lại có chuyện “ Tránh mang tiếng”

Hay là ông muốn nói rằng ông Tổng Thư ký tránh mang tiếng là tranh giành chỗ nói của người khác.. nhưng đó chỉ là sự suy diễn, chứ ý của Du Tử Lê trong bài biết thì đã quá rõ ràng. Vả lại chẳng bao giờ làm chuyện công vụ cho văn bút mà ông Phạm Việt Tuyền lại sợ mang tiếng”

Đọc chương sách cuối bài viết “Ngày cuối ở trụ sở Trung Tâm Văn Bút” sao tôi cảm thấy bùi ngùi quá. Có phải đó là một kỷ niệm buồn của nhà văn Nhật Tiến mà còn làm cho chúng ta  nhớ lại những ngày tháng tư năm 1975 ấy. Cho dù lúc ấy  có người còn con nít .Đối  với một đứa  trẻ chưa trưởng thành  mà sự hãi hùng vẫn còn mấy chục năm sau thì nỗi đau ấy với mọi người thì còn sâu đậm đến bực nào? Nhà văn Nguyễn Đức Sơn cũng có mặt ở Trung Tâm Văn Bút  lúc ấy và cũng chia sẻ với mọi người nỗi bùi ngùi của một người mất nước. Và trong cái  tính khí bất thường của mình…

Khi đọc đến những dòng chữ cuối của cuốn sách tôi thấy mình đã thêm một chút cẩn trọng khi cầm bút. Chữ nghĩa không phải là nói chơi, phải hiểu sự quan trọng khi phát biểu một vấn đề gì.

Từ những điều mà nhà văn Nhật Tiến đề cập đến, tôi hiểu rằng với sự thẳng thắn khi bầy tỏ, ông muốn  thế hệ sau hiểu biết rõ ràng hơn và minh bạch hơn về những sinh hoạt văn chương của một thời đại đầy biến động và vì nhiều lý do tạo ra vì chiến tranh nên cái nhìn để nhận định và quan sát không được trung thực. Những thế hệ  sinh trưởng  sau từ năm  1975 ở hải ngoại và cả ở trong nước làm sao hiểu biết được  sự thực nếu không đọc hoặc tìm hiểu một cách cặn kẽ thì làm sao biết được  cuộc sống của thế hệ cha anh với những trầm bổng thế sự  và những hệ lụy lịch sử dân tộc. Nói chuyện văn chương trung thực, có phải lúc nào cũng cần thiết?

Nguyễn Mạnh Trinh.    

 

 

Ngày giỗ đầu Nhật Tuấn, đọc lại vài trang sách…Tạp ghi văn nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.

chan-dung-va-tac-pham-cua-nha-van-nhat-tuan

(Chân dung và tác phẩm của Nhà Văn Nhật Tuấn)

Ngày 6 tháng 10 năm nay là giỗ đầu của nhà văn Nhật Tuấn. Thời gian qua thật mau nhưng những tác phẩm  để lại dương gian của ông  vẫn còn hiện hữu, Đọc lại những trang sách để thấy và tìm đuọc  chân dung của một nhà văn có nhiều đóng góp cho văn chương Việt Nam.

Nhà văn Nhật Tuấn họ Bùi, sinh ở Hà Nội và sự nghiệp văn học của ông nổi bật với thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong nhiều năm sau này, khi là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông ở hải ngoại, ông lại là một nhà báo xuất sắc, nhạy bén với mọi sự kiện xã hội, chính trị ở trong nước và phô bầy những sự kiện hai mặt cho độc giả hải ngoại.

Đã có một nhận xét khá xác đáng: ”Nhà văn Nhật Tuấn thuộc nhóm trí thức đi từ Bắc vào Nam. đi từ nhận thức bị “ định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” đến sự thức tỉnh, rồi bất mãn và lên tiếng phẫn nộ, châm biếm, đả kích chế độ Cộng sản và nhà cầm quyền. Ở cả sáng tác văn học và báo chí của ông, chúng ta đều thấy tính phóng khoáng của người từng trải, Phải sống giữa “ thời đồ đểu”( chữ của ông); thấy cả giọng bất mãn của một người có lòng biết yêu thương con người; và thấy cả sự tức giận của một con người có chí khí, thẳng tay tố cáo những cái xấu đang diễn ra trong nước”

Tác phẩm của nhà văn Nhật Tuấn thì có “Đi Về Nơi Hoang Dã” là một tiểu thuyết nổi tiếng  được in ở trong nước nhưng lại bị tịch thu. Khi xuất bản ở hải ngoại và được độc giả đón nhận rất trân trọng nồng nhiệt. Ngoài  ra còn có hơn 20 tác phẩm trong đó có: Trang 17, Con Chim Biết Chọn Hạt, Bận Rộn, Mô Hình và Thực Thể Lửa Lạnh, Biển Bờ, Tín Hiệu của Con Người, Niềm Vui Trần Thế, Những Mảnh Tình Đã Vỡ, Tặng Phẩm Cho Em, Một Cái Chết Thong Thả,… Ông còn viết trên “ Thời 2 Đ. Blog” với những bài viết sâu sắc, của một tâm hồn tuy phóng khoáng nhưng vẫn tôn trọng sự thực và những giá trị đạo đức căn bản của con người.

Tác phẩm đầu tay của nhà văn Nhật Tuấn  có tên là “ Trang 17” in năm 1978 đoạt Giải Nhất Văn học  của Tổng Công Đoàn Việt Nam. Nhưng tác phẩm xuất sắc và nổi tiếng nhất là Đi Về Nơi Hoang Dã in năm 1988 nhưng bị nhà nước Cộng sản cấm ngay sau khi phát hành nhưng lại được in  và phổ biến  được đón nhận rất nồng nhiệt ở hải ngoại..

Nhan đề của tác phẩm này, Đi về Nơi Hoang Dã, hình như mang theo một ý nghĩa liên tưởng tới” Đi về Nơi Thiên Đường” mà thiên đường chínhlà nơi hoang dã, nơi của hoang tưởng không có dấu chân người. Thiên đường chỉ có trong không thực mà cuộc hành trình đi tìm kiếm đỉnh núi Hua Ca, một nơi chốn đã được tưởng tượng từ những gì tốt đẹp hạnh phúc nhất. Có người khi đề cập đến văn chương ám chỉ, đã cho rằng thiên đường ở đỉnh núi Hua Ca  chính là thiên đường Cộng sản, cũa những ý nghĩ hoang tưởng, của những nhân vật bị mê đắm vì những dụ dỗ mơ hồ…và đó chính là thâm ý và thông điệp gửi theo tác phẩm.

Nhân vật chính trong ĐI về Nơi Hoang Dã đã dược xuất hiện như thế nào và đã đóng vai trò gì trong cuộc hành trình đi tìm kiếm thiên đường?

Trong lời mở đầu Đi Về Nơi Hoang Dã, tác gỉả viết : ”Năm con người bị đẩy vào miền hoang dã với nhiệm vụ chính trị cao nhất là tìm một con đường trên núi cao được vạch sẵn do Ban chỉ huy nằm dưới đồng bằng và truyền lệnh hàng ngày qua cái máy vô tuyến điện. Cho du ngay trên đường đi vấp phải vách đá dài dằng dặc, con đường trên núi ngày càng tỏ ra được thiết kế sai toét tòe loe, nhưng mọi người vẫn phải tuyệt đối tin tưởng ở cấp trân, thực địa có thể khác với bản thiết kế con đường nhưng Ban chỉ huy không bao giờ sai… vậy nhưng rồi tới  cái ngày ngay ông toán trưởng là người lãnh đạo cái đoàn người đi trên núi này rồi cũng đã trắng mắt, cay đắng nhận ra rằng Ban chỉ huy đã sai trong chỉ đường vạch lối, vậy nhưng ông vẫn phải nhắm mắt tuân  theo mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp hành, nhiệm vụ chính trị cao nhất của chúng ta  trong lúc này là đi tới, đi tới… Nhưng mà đi tới… đâu, đi tới cái đỉnh Hua Ca chỉ có trong tưởng tượng bằng bất cứ giá nào. Vậy là đã thành một chân lý Ban chỉ huy không bao giờ sai, đừng có tranh cãi , triết luận hội thảo hội thiếc gì với cấp trên hết, nếu không sẽ thành thằng phản động. Anh dám nói cấp trên là mù quáng hả? Anh quên mất phải tin tưởng tuyệt đối ở ban chỉ huy hả? Anh đứng trên lập trường giai cấp nào mà phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật vậy? Một khi vấn đề đã được đặt ra theo kiểu vậy thì thua rồi, cho dù có tuyên ngôn hội thảo hiến chương kết nối gì cũng vô ích. Cả 5 người đi trong đoàn người thôi không còn tranh cãi, không còn dùng ngôn từ để nghị luận voiứ cấp trên nữa, họ im lặng, im lặng nhưng lhông buông xuôi, họ triết luận với các lý thuyết gia của con đường, với ban chỉ huy bằng chính cuộc đời thê thiết của họ”

Nhà Văn Nhật Tuấn đã viết về nhân vật của Đi Về Nơi Hoang Dã : ”Chúng tôi có 5 người, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà , đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng”

Tại sao  có 5 nhân vật? Nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy, một người bạn thiết của nhà văn Nhật Tuấn đã giải nghĩa. Tác giả đã tung ngũ hành vào hành trình đi tìm kiếm thiên đường. 5 nhân vật tượng trưng cho ngũ hành. Ông già, là người trưởng toán, là nhân vật trung tâm thuộc thổ. Nhân vật thằng Học Giả, tượng trưng cho trí, thuộc thủy. Nhân vật thằng Hộ Pháp, tượng trưng cho lễ( thành  tích, cơ bắp) thuộc  hỏa. Nhân vật thằng Cấp Dưỡng, tượng trưng cho nghĩa, thuộc kim. Và nhân vật xưng Tôi, thuộc hành mộc.  Ngũ hành cũng là 5 giai cấp chính trong xã hôi: công, nông, binh, trí, thương. Những nhân vật ấy, trong một hành trình tìm kiếm, có lúc tương sinh có lúc tương khắc nhưng vẫn bị  một vòng ràng buộc bắt buộc phải cùng nhau đi tới một đích đến mà tất cả ngầm hiểu là vô vọng.

Mỗi người mỗi ý,  riêng tôi khi đọc truyện dài này tôi lại nghĩ đến một câu chuyện rất quen thuộc với chúng ta. Đó là chuyện Tam Tạng thỉnh kinh với các đệ tử Tôn Hành Giả, Bát Giái và Sa Tăng. Qua nhiều trở ngại, đấu chiến với những yêu quái cản đường, những nhân vật tượng trưng cho Tham Sân Si ấy đã thỉnh được những trang kinh vô tự. Tuy nhiên, ở Đi Về Nơi Hoang Dã, năm thầy trò đã phải chiến đấu nhiều mặt. Với đói khát  với  thời tiết với trở ngại thiên nhiên cả đoàn còn phải chiến đấu lẫn nhau với cái kỷ luật quái ác ai cũng ghét mà vẫn phải tuân theo.

Có người nói Đi về Nơi Hoang Dã không có bố cục và là một loại truyện không có Chuyện. Nhưng thật ra, là chuyện kể về một toán năm  người theo lệnh của ông già toán trưởng phạt cây mở đường, ăn rau ăn cỏ ăn rắn ăn rết chịu đói khát đến khô mép khô môi, cắn răng chịu đựng gian khổ mà không dám than van, tuy chán chường trong bụng mà vẫn còn cố gắng hô khẩu hiệu tiến lên, để đến một điểm đến là đỉnh Hua Ca tượng trưng cho một thiên đường. Chỉ có một đường tuân lệnh, phải tiến lên không ngã lòng. Kẻ nào nghi ngờ mở miệng bàn ngang không chịu tiến lên, nghi hoặc là một đích đến xa vời thì sẽ bị trừng phạt ghê gớm bị xích xiềng  và kết thúc là  một cái chết nhơ bẩn làm hổ cha xấu mẹ ô danh quê hương cội nguồn.

Không có quyền nghĩ là một con đường không bao giớ đến đích, và nghi ngờ sự hiện hữu của đỉnh Hua Ca, dù đó chỉ là một nơi đầy sương mù và toàn nước đọng  ô nhiễm. Không có quyền nghi ngờ sự sai lầm lạc hướng của một quyền lực tối cao của một Ban Chỉ Huy vô hình nhưng cũng vô tích sự, ngu dốt và ngây thơ vì cái định kiến duy ý chí lạc hậu. Khẩu hiệu là tiến lên hay là chết? Ông già trưởng toán vì sức cùng lực kiệt đã gục  ngã ở ngưỡng cửa của thiên đường và được cả toán chôn cất trang trọng trên đỉnh Hua Ca một nơi mà suốt cả đời ông mong ước được đặt chân đến đó.

Nhà Văn Nhật Tuấn đã viết một câu văn kết của người nói ngọng ”Bốn người chẻ ( trẻ) còn nại ( lại) đều xống xót( sống sót).” Một câu văn nhiều khôi  hài tính, hình như có ẩn tàng chút sám hối của những người bị dẫn dắt vào những con đường sai lầm đến tuyệt lộ. Cả bốn người trẻ còn lại của toán, tuy đã đến đích nhưng sẽ xuống núi để tìm một đường mới.

Đoạn kết, như một thông điệp viết : “Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ.”

Sáng mai xuống núi, có phải là hành động của một quyết định của sửa chữa, một hành động làm lại từ cái sai lầm và khởi nguồn từ một tình thế không còn một cách thế nào khác hơn.  Nhật Tuấn viết: “Trong đêm cuối cùng trên đỉnh Hua Ca, chúng tôi đốt một đống lửa, ngồi quây quần như những ngày trước. Không ai hé răn một lời. Tất cả ngồi thẫn thờ trước ngọn lửa đang bốc cao kéo những tàn đỏ đuổi nhau và mất hút trong bóng đêm. Mọi việc giữa bọn tôi rồi cũng qua đi như thế. Sáng mai sẽ xuồng núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên , không vì thế con người không thực bụng yêu nhau”.

Như vậy  cả toán đã đến được thiên đường như là một thiên đường không có thực mà tác giả gọi là “ nơi hoang dã”. Một nơi chốn tưởng tượng của những bộ óc chỉ huy ngu dốt, của những  ngôn ngữ dẫn đạo sai lầm. Của những định hướng mù lòa nhưng độc đoán tàn bạo của một chế độ không nhân tính…

Tại sao có người trong giới phê bình trong nước cho rằng văn chương của Đi Về Nơi  Hoang Dã là văn chương ám chỉ. Muốn mượn những chuyện hư cấu để nói về chuyện hiện tại của một xã hội đang trên đường chệch hướng?

Tôi đọc trong truyện thấp thoáng thấy cái thiên đường vụn vỡ của giấc mơ thế giới đại đồng của chủ nghĩa Cộng  sản. Một thiên đường quái đản của những bộ óc không bình thường, của những giấc mơ không bao giờ thực hiện được. Một cách liên tưởng, thiên đường của Nhật Tuấn  hiện thực chỉ là những nơi chốn hoang vu dơ bẩn:

“ Tôi ngơ ngác nhìn quanh, nửa tin nửa ngờ, không lẽ tôi đã đi một vòng ngay trên đầu con quạ đấy ư? Vậy còn cái mỏ của nó phun ra dòng nước thần đâu? Chẳng lẽ cái vùng đất huyền diệu nàng Sao kể cho tôi nghe lại tầm thường toàn sulơng mù gai góc và đầy những vũng nước vàng ố  và bẩn thỉu thế kia  ư? Không thể như thế được, cái đỉnh Hua Ca thần thánh ấy chắc không phải nơi tôi đang đứng đây, nó phải ở đâu đó cao tít từng mây kia chứ. Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ. Tôi không thể bắt` chước thằng Học  Giả , không thà mang thứ nước vàng  đục kia và gọi nó là nước thần về cho nàng Sao. Tôi bước nhanh ra khỏi vũng lầy đầy những bọ gậy và lá mục…”

Kết cuộc  của Đi Về Nơi Hoang Dã  có khi nào chỉ có giá trị trong hư cấu trong lý thuyết  mà thôi?

Cũng Nhật Tuấn đã viết: “Cái kết cuộc của Đi về Nơi Hoang Dã không chỉ cho ta cái kết cục tất yếu ảo tưởng về một con đường đi tới được đĩnh Hua Ca. Hơn thế nữa cái đỉnh Hua Ca kia chỉ có trong huyền thoại và một khi huyền thoại không còn nữa thì tình yêu thương giữa con người với con người sẽ thay thế cái đẹp mà cứu chuộc thế gian này. Sự tồn tại và trưởng thành của dân tộc ta qua biết bao thăng trầm của lịch sử biết bao bão táp của chiến tranh và cách mạng phải chăng đã minh chứng điều đó. Và với thông điệp như vậy hẳn là Đi Về Nơi Hoang Dã sẽ còn được các thế hệ mai sau đón đọc.”

Ngày giỗ đầu của nhà văn Nhật Tuấn, có người đã nhắc đến những bài viết gây sóng gió một thời trong giới văn chương trong nước. Tác phẩm Chân Dung Nhà Văn của nhà thơ Xuân Sách đã gây ra nhiều phản ứng trong giới cầm bút và đụng cham rất nhiều đến những cây đa cây đề trong giới cầm chịch văn học trong nước. Nhà văn Nhật Tuấn đi xa hơn một bước và đã mượn lời thơ của Xuân Sách để khai triển một cái nhìn  xa hơn về thực trạng văn học Việt Nam ở trong nước. Với bản tính thẳng thắn nên những bài viết của ông cũng gây nhiều ảnh hưởng trong suy nghĩ và đời sống . Chân Dung Nhà Văn là một tác phẩm văn học đã gây ra nhiều dư luận không những trong giới cầm bút mà còn trở thành những giai thoại trong dân gian. Trong một xã hội bị bưng bít nghẹt thở về mọi mặt của chế độ xã hội chủ nghĩa, những chân dung nhà văn tượng trưng cho giai cấp kẻ sĩ được nhìn ngắm từ đời thường và tác phẩm đã lột tả được một thế thời điên đảo của một đất nước bị xiết chặt và kiểm soát của một hệ thống thư lại nhiều chất đàn áp con người đến mức vô cảm.

“ Chân Dung Nhà Văn” của nhà thơ Xuân Sách viết về 100 khuôn mặt văn chương của  văn học trong nước trước 1975 và hiện đại trong nước sau này với sự khắc họa từ tác phẩm và chính cuộc đời họ nhưng không nêu tên tác giả. Nhà văn Nhật Tuấn đã từ những phác họa bằng thơ của Xuân Sách để thành những bài viết nêu đích danh và  tiết lộ thêm những chi tiết khá thú vị về những khuôn mặt văn chương ấy?

Nhà văn Xuân Sách (1932-2008)  có một thời làm biên tập viên tạp chí  Văn Nghệ Quân Đội, có lúc làm Phó Giám đốc nhà xuất bản Hà Nội và sau cùng là Chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Xuân Sách đạt thành  tựu trong cả văn xuôi và thơ trữ tình nhưng nổi tiếng nhất với tập thơ Chân Dung Nhà Văn. Đây là 99 ký họa nhà văn  và cùng một bài tự họa của chính ông, đã lột tả thần thái của nhiều trong số những tác giả quan trọng của nền văn học Việt Nam trước 1975 ở miền Bắc và  sau 1975 ở trong nước. In xong thì cả nhà xuất bản và tác giả không ngờ đến dược phản ứng của những người được đề cập đến.Những nhà văn lớn,  có bản lĩnh, họ im lặng chịu đựng Nhưng những nhà văn tầm tầm thì lồng lộn gay gắt đòi Bộ Văn Hóa kiểm điểm tác giả và thu hồi tác phẩm.

Nhà văn Nhật Tuấn đã viết về Chân Dung Nhà Văn mà ông gọi là Chân Tướng Nhà Văn:

“ Chính với “ cảm hứng chủ đạo có phần thất vọng về phẩm chất nhà văn, tuy Xuân Sách  gọi là viết “chân dung” nhưng thực ra ông đã vạch những “ chân tướng nhà văn” vậy…

Đọc Xuân Sách trước tiên ta cảm phục sự dũng cảm của ông Văn học Việt Nam vào những năm” trời đất nổi cơn gió bụi”, những năm thập kỷ 1970 xã hội còn chìm đắm trong nền kinh tế bao cấp, văn hóa văn nghệ bị “ quản lý “ đến nghẹt thở vậy mà Xuân Sách cả gan vạch trần chân tướng của tất cả những văn thi sĩ đang cúc cung tận tụy hiến dâng tài năng và tâm huyết cho…Đảng, cho chủ nghĩa hiện thực xả hội chủ nghĩa. Đầu sổ là nhà thơ Tố Hữu, chủ soái của văn hóa nghệ thuật của Đảng, Xuân Sách vẫn không sợ vẫn xỏ xiên bằng những câu thơ phác họa rất chính xác chân tướng ông quan to nhà thơ này. Với nhà thơ Chế Lan Viên, thi sĩ “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ” Xuân Sách thẳng tay ra đòn không e ngại. Trước 1945, nhà phê bình Hoài Thanh nổi tiếng với cuộc tranh luận ”vị nghệ thuật vị nhân sinh?” từ sau cách mạng chỉ còn là một anh hề đồng “ca ngợi cấp trên” nên Xuân Sách hạ bút rất độc trong Chân Dung Nhà Văn.

Nhà văn Nguyễn Tuân trước cách mạng nổi đình đám với “Vang Bóng Một Thời” nhưng từ sau cách mạng ông tự tước bỏ gai góc xù xì để trở thành một nhà văn chỉ “ ngợi ca chế độ”. Nhà thơ Lưu Trong Lư” con nai vàng “ đã vờ ngơ ngác để leo lên tới chức vụ Vụ Trưởng Vụ Văn Nghệ, Nhà thơ Huy Cận ngày xưa với Lửa Thiêng từ sau khi đi theo cách mạng ông cũng ”nói dối”

Như vậy nhà thơ Xuân Sách đã “sờ gáy “ hầu như tất cả các quan to băn nghệ của văn học xã hôi chủ nghĩa rồi.

Chưa hết,  nhà văn Nhật Tuấn còn kể thêm nữa. Như nhà văn Nguyễn Đình Thi tuy làm  quan cách mạng nhưng vẫn viết “ Con Nai Đen” ngụ ý xỏ xiên. Nhà văn Tô Hoài chỉ được “ con dế mèn” từ thời trước cách mạng sau đó” tàn phai” trong những tác phẩm phục vụ cách mạng. Nhà văn Nguyên Hồng nổi tiếng với “ Bỉ Vỏ”, đi với cách mạng viết khá nhiều tiểu thuyết” đồ sộ” về số trang nhưng chẳng mấy giá trị. Nhà văn Nguyễn Công Hoan ngày xưa với” Kép Tư Bền”, từ sau cách mạngthì …hết lộc trời còn lại chỉ viết truyện lăng nhăng. Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh ngày xưa nổi tiếng làm thơ bí hiểm với câu thơ” nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm”. Than ôi từ ngày đi theo cách mạng ông “làm công tác Hội” hơn là làm thơ. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết mấy cuốn tiểu thuyết dày cộp cũng chỉ rặt một màu đỏ cách mạng. Cứ như vậy, không chừa một ai, từ những cây đại thụ trong rừng văn chương cách mạng cho tới những thế hệ sau, chỉ bằng một khổ thơ ngắn bằng những cái tựa sách, Xuân Sách đã tạc nên bức chân dung chân thực hơn bất cứ một luận đề tâng bốc của mấy anh phê bình văn học “ăn leo nói leo”…

Xuân Sách vẽ “ Chân Tướng Tố Hữu:

“ Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng

mắt trông về tám hướng phía trời xa

chân dép lốp bay vào vũ trụ

lúc trở về ta vẫn là ta!

Từ ấy trong tôi bừng tiếng hát

Trông về Việt Bắc tít mù mây

Nhà càng Lộng Gió thơ càng nhạt

Máu ở chiến trường Hoa ở đây.”

Nhà văn Nhật Tuấn giải mã và chỉ đích danh: nhà thơ Tố Hữu. Mở đầu thập kỷ 1960, thập kỷ của” sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, trống Bắc Lý , cờ Ba Nhất, thập kỷ” hồ hởi phấn khởi” sắn tay xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn miền Bắc, ông trùm thơ cách mạng Tố Hữu khoái trá hạ bút:

“Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng

… Đời trẻ lại. Tất cả đều cách mạng

rũ sạch cô đơn, riêng lẻ bần cùng”

Thi ca của ông này chỉ có mục đích phục vụ cho đường lối chính trị mà ông ta theo đuổi và bắt ép cả giới văn học nghệ thuật tuân theo. Ông làm thơ cổ võ ồn ào minh họa cho các chủ trương đường lối của Đảng, ca ngợi lãnh tụ quá đáng đến nỗi thờ phụng. Nếu xét về nghệ thuật thì chẳng có giá trị gì. Nhạc sĩ  Văn Cao đã nói thẳng vào mặt Tố Hữu đại ý thơ kiểu hò vè ca dao của Tố Hữu thì có giá trị gì mà đọc và chính vì câu nói  này mà bị hành hạ suốt cả đời.

Có nhiều người  đồng tình với thơ “vịnh” Tố Hữu và “ giải mã của  nhà văn Nhật Tuấn?

Thí dụ như nhà văn Lại Nguyên An :

“Thơ Tố Hữu có những vết  nhơ không thể tẩy  xóa, như đoạn thơ” yêu biết mấy nghe con tập nói/Tiếng đầu lòng con gọi “ Stalin”! Ý thơ ấy ngay tầm gần đã trái hẳn lẽ thường nhân loại, trẻ con tập nói thì  gọi “ mẹ chứ đâu đã biết ai xa lạ? Trẻ Việt làm sao tập nói được cái từ đa tiết xịt xoạt như thế kia?( Bài đăng tạp chí Văn Nghệ 1953 là “Tiếng đầu lòng nó gọi Ông Lin”, bản in vào sách Việt Bắc, 1955 sửa thành “Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”). Lại nữa, người đàn bà Việt dân quê làm sao có thể” Thương cha thương mẹ thương chồng/Thương mình thương một thương  Ông(Stalin) thương mười(!?!). Đây quả là một quái tượng trong thơ ca tiếng Việt và thơ ca thế giới, khi nhà thơ( thường được xem la kẻ chỉ biểu dương những gì nhân ái , lương thiện) lại  ngợi ca” công đức” một Bạo Chúa, một Hung Thần, một Độc Tài khét  tiếng, một Đao Phủ Thủ vĩ đại, và để làm cái việc ngợi ca trái lẽ ấy, người làm thơ đã hoàn toàn xé bỏ những giới hạn thông thường của tình cảm nhân loại…”

Nhưng có một nhà văn mà nhiều người gọi là nhà phê bình văn học lại có ý binh vực Tố Hữu.Người đó là nhà văn Đặng Tiến.

Có thể ôngnày  có phản ứng giống như cả một đội ngũ bồi bút trong nước  hiện đang ca tụng say sưa Tố Hữu trong những cuộc hội thảo được liên tiếp tổ chức? Và ông có nghĩ rằng Tố Hữu yêu dân tộc, tranh đấu cho tự do thoát vòng nô lệ lại tôn sùng những tên tội đồ của nhân loại như thế…

Về những câu mà Đặng Tiến cho là “vần vè tuyên truyền qúa khích” thì Lại  Nguyên Ân viết: ”Trên mạng internet bây giờ đôi khi còn thấy người ta cho rằng Tố Hữu là tác giả đoạn thơ khủng khiếp này:

Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt..”

Tôi thấy lạ với đoạn thơ này vì dường như chưa từng gặp nó trong các tập thơ Tố Hữu đã đọc. Vậy nhân đây đề xuất với giới nghiên cứu, nhất là các giáo sư đã từng “ ăn lộc” nhiều ở thơ  Tố Hữu( như Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử..) hãy tìm ra ngọn nguồn đoạn thơ này và thông tin lại cho bạn đọc, nếu nó không phải là thuộc ngòi bút Tố Hữu thì cũng là may cho ông, tuy vẫn thật buồn cho giới làm thơ của chúng ta. Lọt sàng xuống nia, nó vẫn là của một ngòi bút Việt Nam nào đó. Vượt ra ngoài chuyện xác định” tác quyền” cụ thể, đoạn thơ này thông báo rằng còn có cả một dòng thơ quần chúng sắt máu đầy hận thù giai cấp từng được Đảng khơi lên, từng được sáng tác và lưu truyền ra ngoài dân chúng,- đó là văn thơ có cả kịch chèo phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, xuất hiện vào khoảng năm 1951 và tự tắt đi vào khoảng năm 1956. Rất nhiều tên tuổi nhà thơ nhà văn quen thuộc có góp tác phẩm vào mảng thơ văn này kể cả Nguyễn Tuân, kể cả Nguyễn Bính , kể cả Hữu Loan… tất nhiên số đông hơn vẫn là những tác giả quần chúng ít tên tuổi.

Cho đến nay, về cải cách ruộng đất thì ít nhiều đã cónhững công trình, luận án sử học, nhưng mảng văn thơ cải cách ruộng đất thì vẫn chưa hề co một sưu tập, tuyển tập tác phẩm, cũng chưa có một công trình nghiên cứu, luận án hay luận văn nào đề cập tới. Cố tình hay vô ý của giới nghiên cứu văn học chính ngạch ta đây? Hãy chờ nghe trả lời từ những người đang phụ trách các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội của nhà nước. Nhưng dù sao thì cũng đừng nghĩ rằng hễ giới nghiên cứu làm bộ quên thì mảng văn thơ này sẽ dần dần biến mất; tốt hơn là nên tiếp cận bằng các sưu tập và công trình nghiên cứu, tức là nhắc lại nó như một kinh nghiệm đau xót của một nền văn học từng sa vào những giọng điệu và tinh thần phi nhân đáng hổ thẹn này..”

Nguyễn Mạnh Trinh.

Chú Tư Cầu của Lê Xuyên, một kho tàng ngôn ngữ của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Hồ Trường An.


Hồ Trường An

Lê Xuyên

(Chân dung và tác phẩm của nhà văn Lê Xuyên)

Troyes ngày, 19 tháng 08 năm 2007

Bạn hiền thân mến,

Trong một bức thư, bạn có bảo tôi rằng bạn đang thèm nghe một ngôn ngữ miệt vườn trên dải đất Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta mà phải là một giọng rặc ròng thổ ngữ từ miền Bình Định vào tận miền Nam trước năm 1975, tức là vào thời kỳ khởi đầu cơn gió bụi trên dải đất Đông Dương.

Hôm nay, tôi có dịp tâm sự với bạn đây.

Khi viết xong quyển bút khảo Quê Nam Một Cõi thì tôi cũng vừa nhận được một ấn bản của quyển Chú Tư Cầu của Lê Xuyên do chị Dư Thị Diễm Buồn từ Sacramento gửi tặng. Quyển sách do nhà xuất bản Tiếng Vang tái bản, in trên giấy quý màu vàng tái của hoa kim liên. Tôi sẽ không nhận xét chi ly tỉ mỉ quyển này trong cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi của chúng ta đâu. Tôi phải để dành nó cho một cuốn bút khảo khác vào một vào dịp khác, cũng vẫn viết về văn chương của các cây bút gốc Nam Kỳ.

Tôi nhớ mang máng vào năm 1964 1965 gì đó, các làn sóng dư luận xôn xao về các cuốn tiểu thuyết của các nhà văn Chu Tử, Văn Quang, Thanh Nam, Tuấn Huy và những cuốn võ hiệp tiểu thuyết của Kim Dung chưa lắng dịu hẳn. Thì đùng một cái, những truyện dài đăng từng kỳ của Lê Xuyên đăng trên các nhật báo nổi tiếng ở Thủ Đô Sài Gòn bắt đầu gây một tiếng vang dữ dội. Cho nên trong cuộc viếng thăm nhà văn Võ Phiến, tôi được nghe họ Võ bảo:

– Viết đối thoại rặc tiếng Nam Kỳ có ai bằng Lê Xuyên đâu.

Ông Lê Châu, chủ bút kiêm chủ nhiệm tạp san Bách Khoa đã tấm tắc với Thụy Vũ và tôi trong dip tôi theo chị tôi đến tòa soạn Bách Khoa lấy tiền nhuận bút:

– Lê Xuyên viết đối thoại quyến rũ nhất. Eo ơi, hễ đọc tác phẩm của ông ấy là như gặp lời ăn tiếng nói mọi tầng lớp người Nam Kỳ.

Quyển tiểu thuyết của Lê Xuyên mà tôi đọc trước nhất là Vợ Thầy Hương, sau đó mới tới quyển Chú Tư Cầu, và sau hết là quyển Rặng Trâm Bầu. Không khí trong 3 quyển đó căng thẳng, khí hậu ngột ngạt. Nếu không nhờ lối viết đối thoại tinh tế tuyệt vời thì các tác phẩm của anh tuy đạt được phẩm chất nghệ thuật cao nhưng chỉ quyến rũ độc giả một cách chừng mực mà thôi.

Vào năm 1966, tôi tháp tùng chị Thụy Vũ tôi và ký giả Lê Phương Chi đi xi-nê tại rạp Rex để xem phim gì mà tôi quên tựa mất rồi. Hôm đó Lê Xuyên đi chung với cặp Nhã Ca & Trần Da Từ. Từ khi quyển Mèo Đêm của chị tôi trình làng thì cặp Từ Nhã và chị tôi là chỗ đồng nghiệp quen thân. Lê Xuyên có vóc dáng nho phong, khuôn mặt dịu dàng của một nhà mô phạm, nụ cười hiền lành, nhưng ánh mắt thật linh hoạt. Anh ăn mặc quá đơn giản: quần màu vỏ trái ô-liu đậm, áo sơ mi cụt tay trắng, đôi giày màu sô-cô-la, cườm tay trái đeo đồng hồ. Con người mát lành ngọt dịu như vậy mà văn chương lại cuồng phong bạo vũ đầy dao súng, máu me, ác mộng và tinh khí. Luôn tiện chị Nhã giới thiệu cho chị em tôi biết nhà văn Lê Xuyên. Để tỏ ra thân mật, chị tôi gọi anh bằng chú Tư Cầu. Còn anh gọi chị tôi bằng Mèo Đêm. Trong Mèo Đêm, Thuỵ Vũ có hai truyện ngắn viết vê các cô gái buông hương bán phấn hoặc gái gọi (call girls) trá hình các cô chiêu đãi viên trong các snack-bar ở Sài Gòn. Và chị ban cho họ cái hổn danh ”mèo đêm”, tức là những kẻ săn tình vào lúc đêm về. Hôm đó, chị tôi vẫn cười nói vui vẻ với Lê Xuyên:

– Chú Tư, hẹn hôm khác mình gặp nhau, nói chuyện nhiều hơn. Phim sắp chiếu rồi. May quá, hôm nay tình cờ Thụy Vũ mới gặp một chú Tư Cầu bằng xương bằng thịt.

Anh Lê Xuyên vui vẻ:

– Hôm khác nghen cô Mèo Đêm.

Khi xem phim xong, tôi bảo Lê Phương Chi:

– Ông Lê Xuyên có vẻ hiền lành mà viết văn dữ dằn. Đây là thứ nước trà màu vàng lợt mà là thứ trà quạu… Uống nó vào là chúng ta sẽ mất ngủ vì nó sẽ trở thành trà Thái Đức làm ẩm khách thức đái suốt đêm.

Trong cuốn 3 của bộ Văn Học Miền Nam, Võ Phiến nhận xét tổng quát về văn chương như sau:

Trong thời kỳ 1954-1975, các nhà văn gốc Nam khi nói đến chiến tranh trên đất nước thường chỉ nói về cuộc chiến chống Pháp mà tránh cuộc chiến chống cộng. Viết truyện như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, viết ký như Vũ Bình, đều thế. Đến lượt Lê Xuyên, ông cũng thế. Mặt khác, các vị gốc Bắc thì chuyên về cuộc sống và con người đô thị, còn các vị gốc Nam thường viết về nông dân nông thôn. Lê Xuyên cũng thế.

Chuyện ấy dễ hiểu. Người Nam chưa biết qua chế độ cộng sản thì không mặn nồng với việc chống cộng; người Bắc di cư, bao nhiêu văn nhân, nghệ sĩ trí thức vào Nam đều sống ở đô thị nên chỉ biết viết về đô thị.

Như vậy cốt truyện Lê Xuyên, thường xảy ra trong kháng chiến trước Genève, thường diễn ra ở miền quê, nhân vật thường là những nam nữ nông dân chất phác, ít học.

Lê Xuyên đặt các chuyện trong khung cảnh kháng chiến không phải là để nói về kháng chiến. Không có vậy đâu. Ông không hợp với các vấn đề chính trị. Trong khung cảnh thời đánh nhau với Pháp ông nói chuyện nam nữ yêu nhau thôi. Trong chuyện yêu nhau ông không chú trọng tới lòng thầm kín giấu giếm trong các ngóc ngách của quả tim, như các ông Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng khi viết Tố Tâm, Hồn bướm mơ tiên. Lê Xuyên, ông ấy chủ về phía tình yêu xác thịt theo cung cách hồn nhiên nhất (nhân vật nông dân mà).

Về chuyện xác thịt, ông không chủ trương những phô bày bạo tợn như D.H. Lawrence, Henry Miller… Lê Xuyên không làm mích lòng sở Kiểm duyệt. Ông chú trọng nhất là ở những màn biểu diễn bằng mồm. Đừng nên lẩn lộn ông Lê với chuyện giữa Clinton và Monica Lewinsky; cái yêu đương bằng mồm của ông Lê tức là những trang đối thoại dài dằng dặc xung quanh mục tiêu chính của ái tình. Khi nam nữ đã dàn binh bố trận xong thì tác giả lánh mặt. Trong những Chú Tư Cầu, Vợ thầy Hương, Rặng Trâm Bầu v.v…, sự tình rộn ràng ríu rít, đầy lời như thế.

Vậy Lê Xuyên viết truyện có chiến tranh mà không phải truyện chién tranh, có nông dân lầm than mà không phải truyện xã hội, có ái tình mà không phải truyện tình cảm. Chẳng qua là chuyện ”gay cấn” để độc giả đọc chơi lúc buồn tình, đọc cho nóng máy trong chốc lát rồi bỏ qua thôi chứ gì.

(Chương Lê Xuyên, các trang 843, 844)

Chú Tư Cầu là tác phẩm đầu tay của Lê Xuyên. Chàng viết về cuộc đời tình ái của một chàng nông dân ngây thơ, nhân hậu, có số đào hoa, không ve vãn gái mà gái vẫn chạy theo quyến rũ chàng rần rần. Trước hết là cô Phấn, bạn gái cùng quê của chàng ở Rạch Chiếc (gần quận lỵ Trà Ôn). Cô vốn táo bạo, dám hiến thân cho chàng không cần lịnh mẹ, rồi rủ chàng lên Sài Gòn để xây tổ uyên ương, cốt tránh cuộc hôn nhân cưỡng ép do mẹ cô sắp đặt khi bà chưa qua đời. Nhưng khi tới Cần Thơ, cô bị tên Khách Trú trẻ tuổi tên Lâm Sanh quyến rũ. Hắn bàn điều hơn lẽ thiệt cho cô nghe vì chốn thị thành không phải làm chốn dung thân của một kẻ đôn hậu, quê mùa như Tư Cầu. Cho nên vì tương lai của Tư Cầu, Phấn dùng kế gạt chàng xuống tàu để trở về quê. Dè đâu, chàng đi lộn tàu lên Nam Vang. Còn Phấn không còn mặt mũi nào để trở về quê nên đành theo làm vợ người Khách Trú kia. Thật ra, trước phong vận thanh tân của kẻ thị thành như tên ngoại kiều kia, Phấn cũng xiêu lòng làm vợ hắn.

Dọc đường, Tư Cầu gặp một ông khách đồng hành đứng tuổi xưng là chú Bảy. Chú ta cám cảnh thương tình Tư Cầu nên khi tới Nam Vang chú giới thiệu chàng giúp việc cho tiệm cơm người chị ruột chú là cô Năm. Tại Nam Vang, Tư Cầu có nhiều dịp tiếp xúc với phường trộm cắp, phường dao búa, và được lòng cô Ba Xá Lỵ một gái nặc nô xinh đẹp, uy trấn một góc xã hội du côn nho nhỏ trên đất Chùa Tháp này. Cô ta mê chàng vì tấm lòng nhân hậu và hào hiệp của chàng, tìm mọi cách để quyến rũ chàng. Rồi cả hai tằng tịu say mê nhau. Nhưng sau một thời gian sống hạnh phúc trên đất Chùa Tháp, vì nhớ quê, Tư Cầu xin trở về quê; chàng có rủ cô Ba theo, nhưng cô ta biết rằng chốn ruộng đồng không phải là chốn môi sinh thích thú của mình nên từ chối.

Tư Cầu về quê, được mẹ chàng cho chàng biết Phấn lấy chồng Khách Trú giàu, có về đây vài lần và lần nào cũng đến thăm hỏi chàng. Cô ta giúp đỡ gia đình chàng trong cơn ngặt nghèo nên bà rất cảm kích cô ta lắm. Rồi cha mẹ chàng buộc chàng phải cưới cô Thơm làm vợ. Cô này vốn là gái Việt gốc Miên rất được chàng yêu thương quý trọng. Cuộc sống lứa đôi của chàng tạm bình yên hạnh phúc.

Nhưng cơn gió bụi bắt đầu xảy ra trên đất nước. Sài Gòn bị dội bom. Phấn về quê để gặp Tư Cầu, rủ chàng đến chỗ khác xây dựng lại cuộc sống lứa đôi đã từng dang dở. Cô cũng cho chàng biết đứa con trai của cô vốn là con ruột của chàng. Cô Thơm bắt gặp quả tang cả hai lén lút tâm sự nhau nên ghen lồng lộn. Rốt cuộc Phấn phải trở về Sài Gòn, tiếp tục sống với người chồng ngoại kiều của mình như cũ.

Rồi đó, trong các Sóc Thổ, người Miên nổi dậy phong trào ”cáp duồng” (với mục đích giết sạch người Việt). Cô Thơm dù vốn là gốc Miên nhưng đã từng được cha mẹ Việt Nam nuôi từ thở ấu thơ, rồi khi lớn lên lấy chồng Việt Nam nên cũng bị người Miên cho là thứ Miên gian. Trong một chuyến về quê thăm cha mẹ nuôi, cô bị bọn miên hãm hiếp và bị chúng hạ sát. Tư Cầu điên tiết giết chúng để báo thù cho vợ.

Rồi Tư Cầu nghe theo lời Ba Kiên gia nhập vào nhóm du kích kháng chiến, bị bắt giải lên Sài Gòn, rồi được chuyển qua dinh cơ của một trung úy người Pháp có phận sự canh giữ các tù nhân trước khi giải họ đi Côn Đảo. Không ngờ viên sĩ quan này là chồng hờ của cô Ba Xá Lỵ. Tình cũ gặp nhau, cô Ba Xá Lỵ hết lòng giúp đỡ Tư Cầu để được gần gũi ân ái với chàng. Chàng chỉ làm tạp dịch nhẹ nhàng thôi. Nhưng rồi một hôm nọ, Tư Cầu theo nhóm tù nhân đến tiệm bán cây mà viên trung úy đã đặt tiền mua để chất cây lên đoàn vận tải quân xa đem về nhà hắn. Tình cờ Tư Cầu gặp Phấn, vợ tên Khách trú Lâm Sanh, bây giờ hắn ta trở thành chủ nhân tiệm bán cây ấy. Phấn gạn hỏi nguồn cơn người yêu cũ của mình, rồi hiệp cùng cô Ba Xá Lỵ giúp đỡ Tư Cầu vượt vòng phong tỏa của viên trung úy chồng hờ của cô Ba. Tại nhà riêng do Phấn thuê, Tư Cầu bị lính tuần tiễu bố ráp nên bị bắt đưa về bót cảnh sát Catinat để cho bọn bao bố nhìn mặt. Những tên chỉ điểm đội bao bố kia (để khỏi bị ai biết mặt) vì không biết chàng có dính dáng với bọn Việt Minh công tác ở thành phố hay không nên không thể xác nhận chàng là Việt Minh nội thành và cho nên chàng được tha.

Tư Cầu lại về quê. Tình hình ở đây căng thẳng nên chàng nhập vào toán du kích kháng chiến địa phương. Trong cuộc tấn công quân xa của lính Tây, Tư Cầu cùng đồng bọn hạ sát được tên chồng sĩ quan hờ của cô Ba Xá Lỵ. Nhưng chàng không cứu được cô. Tên chánh trị viên giết cô ta. Tư Cầu toan báo thù cho người yêu của mình nhưng hắn đã kịp thời cao bay xa chạy mất rồi.

Nhớ lời dặn chú Bảy trên chuyến tàu đi Nam Vang năm xưa, Tư Cầu lên Châu Đốc tìm chú và làm vườn cho chú. Chàng chiếm được trái tim cô Thắm, và được chú Bảy gả con gái cưng của chú cho chàng. Nhưng rồi chàng đi theo lực lượng kháng chiến để rồi chết trong trận đánh Tây theo chiến thuật du kích. Trong khi đó ở quê nhà, cô Phấn mang thai. Rồi đứa con trai của chàng chào đời. Nhưng dù sao chàng cũng đuợc an ủi vì trong lúc lâm chung, thằng em vợ của chàng đọc cho chàng nghe bức thư báo tin mừng của vợ.

Như bạn biết: theo truyền thống các cây bút Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta, Lê Xuyên dù không có khuynh hướng tải đạo, nhưng anh thường cho các nhân vật chánh của anh ăn ở theo đạo nghĩa, phô bày tấm lòng nhân hậu, bao dung một cách hồn nhiên, không cố gắng. Trên đất Nam Vang, Tư Cầu chống cự với kẻ mạnh độc dữ để binh vực kẻ yếu hiền lành. Chàng bao dung kẻ thù toan hãm hại chàng làm cho kẻ thù hồi tâm kính mến chàng. Tư Cầu vốn dốt nát, chỉ biết đọc quọt quẹt năm ba chữ quốc ngữ, nào có biết nhân, nghĩa, lễ, trí tín hay tam cang ngũ thường do ông Khổng Tử bày ra đâu. Anh không đọc kinh Phật bao giờ, nhưng anh không làm ác, không lấy oán trả oán. Vợ anh bị bọn Miên cưỡng hiếp và hạ sát, nhưng khi thấy cô gái Miên bị Ba Kiên, anh trai của chàng toan bề cưỡng dâm chàng phản kháng ngay, không muốn anh mình gây ác nghiệp. Cho nên Ba Kiên phải buông tha cô thiếu nữ Miên. Trong thời kỳ Nhật đảo chánh, có hai tên lính Tây bị chìm tàu tắp vào Rạch Chiếc, Ba Kiên toan đi báo cho nhà chức trách, nhưng Tư Cầu hợp cùng nhóm người nhân từ đòi phóng thích lính Tây. Khi được Cô Ba Xá Lỵ giúp chàng vượt ngục, chàng nằng nặc đòi cô giúp luôn chú Tám, người bạn tù đã cùng cùng đồng cam cộng khổ với chàng.

Tư Cầu theo toán du kích kháng chiến chống Tây là cảm thấy mình phải làm theo thiên lương soi sáng mình một cách hồn nhiên, không nghĩ xa, không nghĩ gần, cũng không được ai huấn luyện lòng ái quốc thương dân. Do đó, chàng gần ông Thích Ca Cồ Đàm cùng ông LãoTử và ông Trang Tử hơn ông Khổng Tử. Chàng lạc loài với các ông chuộng trí thức Tây Phương cùng dân khoa bản. Chàng cũng không thể là thần tượng huy hoàng cho các cô ôm lý tưởng môn đăng hộ đối và có thói ưa chuộng phi cao đẳng bất thành phu phụ. Chàng là người tình lý tưởng của các cô gái táo tợn, liều lĩnh, nhưng có thiên lương trong sáng, biết nắm bắt được cái giá trị chân thật của con người, không cần tính toán chi ly, không cần so sánh dài dòng. Hồ Biểu Chánh khi viết văn theo kiểu văn dĩ tải đạo còn dựa theo khuôn nếp, nguyên tắc, lời khuyên răn dạy bảo của các bậc thánh hiền. Lê Xuyên không theo ông hiền triết nào, không nương tựa rêu rao theo khuynh hướng đạo nghĩa nào. Anh viết khơi khơi mà vẫn làm cho độc giả xúc động, yêu mến lớp dân quê hiền lành, lòng ngay dạy thẳng, không có chút ý nghĩ quanh co đo đắn trước những công việc phải làm.

Lê Xuyên không viết văn dài dòng: không cần tả cảnh, tả người, tả vật, tả tâm tâm trạng, tức là không tả những cái mà giới bình dân cho là lòng vòng không hợp với khiếu thưởng ngoạn của lớp độc giả với lòng dạ rổng rang, suông thẳng nhưng ống nứa ống tre. Anh thích kể chuyện, ưa cho các nhân vật của mình chuyện trò vòng vo Tam quốc, cằn nhằn dai dẳng, cà khịa rỉ rả, cãi lẫy tưng bừng, có khi chửi bới huyên náo. Anh không cần viết văn đâu. Anh cũng thích kể chuyện lắm đâu. Anh chỉ thích cho các nhân vật của mình có nhiều dịp đối thoại tuồn tuột, ngon ơ. Lời nói của các nhân vật biểu lộ cá tính của các đương sự luôn cả chân dung của họ cùng bối cảnh chung quanh họ hiện mập mờ vài nét tạo hình khái quát, nhưng cũng đủ chạm khắc vào ấn tượng độc giả sành điệu. Trong Chú Tư Cầu, Lê Xuyên dùng ngôn ngữ Nam Kỳ Lục Tinh vào thuở tiền chiến, không pha ngôn ngữ của thời Đệ nhất Cộng Hòa hay vào thời Đệ nhị Cộng Hòa. Thí dụ: rắc rối không biết đâu mà rờ (tức là không thể đoán trúng được), làm cho xất bất xang bang (tức làm cho khổ sở điêu đứng), đụng đâu xâu đó (tức là hễ gặp dịp là nắm lấy ngay không cần biết tốt xấu, lợi hại), mấy con nập nợn (tức là mấy cô thiếu nữ dâm đảng lẳng lơ), anh làm cái điệu đó thì mụ nội em cũng lìa (tức là làm cho em điêu đùng, gặp cảnh gia đình ly tán) … Anh không pha thêm những tiếng lóng ( les patois) mà người Bắc di cư và người Nam bản xứ pha trộn nhau như: sức mấy, bỏ qua đi Tám, lấy le, thằng cà chớn, oan ôi ông Địa, lạng quạng, mút mùa lệ thủy, đi ăn chè ở nhà Bè (tức là lén lút đi ngoại tình, cụm tư này lấy sự tích nhạc sĩ Phạm Duy cùng nữ ca sĩ Khánh Ngọc đi Nhà Bè để ngoại tình; nhưng khi bi lính kiểm tục và thừa phát lại bắt đuợc, cả hai khai rằng họ đi Nhà Bè để ăn chè) …

Ngôn ngữ miền Nam chánh gốc, thuần túy hay ngôn ngữ phối hợp của người Bắc di cư và của người Nam bổn xứ đều quyến rũ như nhau: sống động và gợi cảm gấp đôi ngôn ngữ kiều diễm cao sang trong các tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn vì chúng dễ đi sâu vào tâm hồn dân tộc ở mọi cấp bậc và mọi thành phần trong xã hội. Hồ Biểu Chánh viết văn mà không hề lộn ngôn ngữ Bắc Kỳ. Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam cũng vậy. Nhưng hai anh Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam chỉ thành công về phương diện kỹ thuật viết văn, ở sự diễn tả tình tiết, nhưng ngôn ngữ và cách đối thoại trong văn chương họ không có linh hồn sống động, không có sức hấp dẫn bằng ngôn ngữ trong văn chương và cách đối thoại của Lê Xuyên. Họ Lê chịu khó lắng tai nghe ngôn ngữ trong dân gian, nhất là nơi sinh hoạt của lớp bình dân, lớp người ở cấp bậc thấp nhất trong giới hạ lưu của xã hội. Cái thành công của anh nhất định là phải có. Trong giới điện ảnh của nước Pháp, người viết đối thoại tài hoa lỗi lạc nhất là Michel Audiard. Ông này chị khó đi tìm ngôn ngữ trong dân gian nên mới chiếm một địa vị cao chót vót trong ngành viết đối thoại như thế.

Ở Miền Nam Việt Nam của chúng ta, trước năm 1975, những cây viết gốc Nam Kỳ như Ngọc Linh, Sĩ Trung không viết thuần túy văn chương Nam Kỳ. Những đoạn đối thoại dài ngoằng của họ càng làm độc giả bực mình, cho nên tên tuổi họ chỉ đứng bên lề văn học sử. Duy người Bắc như Thanh Tâm Tuyền trong truyện dài Cát Lầy, Viên Linh trong truyện dài Mã Lộ đều viết đối thoại bằng ngôn ngữ Nam Kỳ, đều thành công khả quan. Nhà văn Võ Phiến gán cho các nhân vật người Nam trong truyện dài Đàn Ông và trong truyện dài Một Mình cái ngôn ngữ Nam Kỳ cực kỳ quyến rũ. Giờ đây, ở hải ngoại, dù là cha Quảng Ngãi (nhà chí sĩ Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy), mẹ Quảng Nam (nữ sĩ Tùng Long), nhưng được sinh trưởng ở Sài Gòn nên nhà văn Nguyễn Đức Lập viết giọng điệu Nam Kỳ cực kỳ duyên dáng bỏ xa các cây bút gốc Nam Kỳ khác. Tuy nhiên, tất cả những nhà văn này làm sao tìm lai cái ngôn ngữ Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh như Lê Xuyên với các ngôn ngữ mà giới phu phen ở đô thị, giới nông dân ở thôn quê, giới thương hồ trên sông nước phù sa thường dùng như: nằm chàng hảng chê hê, chữ nghĩa quọt quẹt, nói tiếng Tây ba xí ba tú, làm chuyện gì cũng ba trật bốn vuột, ai ai cũng hít hà chắt lưỡi khen hay, ăn ở bầy hầy như chồn hôi chó vật…

Thôi thì, nhưng kẻ sanh sau đẻ muộn như chúng ta, đã trưởng thành vào 5 năm cuối của thập niên 50, chúng ta có thể chắc mót, lượm lặt ngôn ngữ Nam Kỳ của chúng ta vào thời biển lặng sông trong xa xưa được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Có còn hơn không, phải không bạn?

Cổ Nguyệt Đường, hè năm Đinh Hợi (2007),
Tiết thịnh hạ
Hồ Trường An
(trích Quê Nam Một Cõi)

Hồ Dzếnh, thơ văn của nỗi thống khổ kiếp người. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Chân dung và tác phẩm của nhà thơ Hồ Dzếnh

(Chân dung và tác phẩm của nhà thơ Hồ Dzếnh)

Năm 1943, vào lúc thịnh thời của thơ mới, nhà xuất bản Á Châu cho ra đời một tập thơ khá lạ: Tập thơ Quê ngoại của Hồ Dzếnh với lời giới thiệu: “Lần đầu tiên thi ca Việt Nam được tô điểm một cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của một nhà thơ ngoại quốc. Thực ra, nói nhà thơ ngoại quốc là chưa chính xác lắm, nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh, một người có cha Tàu mẹ Việt. Ông viết về đất nươc quê hương của mẹ: Quê Ngoại.

Tập thơ ra đời đã là một viên châu ngọc của thi ca Việt Nam. Nhiều bài thơ , đã trở thành bất tử và ngôn ngữ ấy đã biểu hiện được tâm tình một thời của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Tri Tân đã có nhận xét: Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu những nhà văn hữu tài khác…”

Trong tập thơ ấy, người yêu thơ đã tìm ra được rất nhiều những bài thơ tuyệt tác. Có những bài thơ được phổ nhạc và trở thành quen thuộc đến nỗi như là một ngôn ngữ thường hằng và sống động. Những câu thơ thật quen thuộc và hình như lúc nào cũng tiềm tàng những cuộc sống riêng, những tâm tư riêng nên đã thành những ấn tượng không thể phai nhòa trong cảm quan người nhận. Như trong “ Cảm xúc “:

“ Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi”

Câu thơ ấy, hình như có nhiều người nói và viết, đến nỗi tưởng như là của chung và có nhiều người không biết mình đã nói hoặc viết của Hồ Dzếnh.

Hay những câu thơ được phổ nhạc. Tuyệt vời! Như trong “ Ngập ngừng”:

“ Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
ngó trên tay, thuốc lá cháy rụi dần..
Tôi nói khẽ: Gớm làm sao nhớ thế…
… Tôi sẽ trách- cố nhiên ! – nhưng rất nhẹ
nếu trót đi, em hãy gắng quay về
tình mất vui khi đã vẹn câu thề
đời chỉ đẹp những khi còn dang dở
thư viết đừng xong thuyền trôi chớ đỗ
cho nghìn sau .. lơ lửng với nghìn xưa..”

Hay trong “Mùa thu năm ngoái “:

“ Trời không nắng cũng không mưa
chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung
chiều buồn như mối sầu chung
lòng im nghe thoảng tơ chùng chốn xa
đâu hình tàu chậm quên ga
bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày..”

hoặc “Màu cây trong khói”:

“trên đường về nhớ đầy
chiều chậm đưa chân ngày
tiếng buồn vang trong mây
chim rừng quên cất cánh
gió say tình ngây ngây
có phải sầu vạn cổ
chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây”

Những câu thơ đã được nhạc tháp cánh và gây được xao động cho người đọc, người nghe. Những bản nhạc tới bây giờ nghe lại trải ra một không gian bàng bạc thương nhớ. Mà tình cảm thương nhớ thì ở bất cứ thời gian không gian nào cũng giống nhau cho nên cảm xúc cũng vẫn y nguyên không vì thời gian mà phai phôi. Hồ Dzếnh vẽ tranh , không bằng đường nét, không bằng màu sắc hiện thực mà chính bằng cái tâm cảm của một nỗi buồn mà hiện hữu có lẽ từ rất lâu, từ lúc mà con người còn thuở sơ khai hoang dã…

Trong “ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến “ , tác giả Nguyễn Tấn Long đã trích dẫn nhận xét của nhà văn Mai Thảo, một lời khen tặng nồng nhiệt và đầy cảm tính:

“Trong cái thế giới ngột ngạt bít bưng tức thở ra của những tháp ngà tiền chiến như những phần mộ lạnh buốt, thơ Hồ Dzếnh hơn cả Xuân Diệu, và theo tôi, hơn cả Nguyễn Bính đầu mùa, là những xâu chuỗi lanh lảnh nhạc vàng gõ vui từng nhịp nắng trên mênh mang đài trán thnah niên. Tôi nhớ mãi cái cảm giác của tôi, 20 tuổi, tiếp nhận một tập thơ cốm mới đậm đà, một tập thơ mười tám cái xuân đầy, đọc mỗi câu tưởng tưởng như có mật có đường ngọt trong cổ. Thơ Hồ Dzếnh tiền chiến là cái trạng thái ngu ngơ trong suốt nhất của một tiếng thơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng. Ngó thật kỹ, Quê Ngoại không hằn một vết nhăn. Với tôi, một tập thơ đầu tay phải như thế. Phải có cái khí thế vạm vỡ của sống như một lao vào, cái vóc dáng của yêu như một kín trùm dào dạt..”

Thơ Hồ Dzếnh là của niềm tâm cảm gờn gợn trong lòng, của nỗi nhớ mong về những cảnh thổ cũ, quê quán xưa. Không gian ấy rất mơ hồ, những nét phác họa đôi khi chỉ dệt bằng cảm giác, bằng những nét bút vờn của ảo ảnh tạo thành. Cảnh vật cũng bình thường, không có gì khác lạ nhưng khi đã chuyên chở những tâm ý thì lại khác hẳn, nó vời vợi chiều sâu và hun hút độ dày. Trời không nắng cũng không mưa / chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung/.. Có một chút gì không tròn vẹn. Không mưa, không nắng, nhưng lại có nỗi lạnh lẽo của nhớ nhung. Hình như người và cảnh cùng thở chung với nhau một nhịp tim, của những lỡ làng lửng lơ lơ lửng…

Năm 1942, Hồ Dzếnh in “Chân trời cũ”. Một gia đình dòng tộc người Minh Hương được phác thảo lại trong những thiên truyện ngắn rất gần với những trang tự thuật. Nhân vật xưng tôi, có khi là chính bóng dáng của tác giả, tuy được phác họa trong sự cố ý làm mờ nhạt đi để những nhân vật khác nổi bật lên.

Một người cha người Hán giang hồ đi sang xứ người lập nghiệp gặp người mẹ người Việt và thành một tiểu gia đình mà số phận họ buộc trói theo dòng đời trôi nổi. Người mẹ Việt , là hình bóng muôn đời của sự hy sinh, là gà mẹ xòe cánh ra ấp ủ đàn con giữa những đe dọa của cuộc đời. Rồi những người thân của nhân vật xưng tôi: chú Nhì, người anh cả, đứa cháu đích tôn, cô em Dìn, chị đỏ Đương, người chị dâu Trung Hoa, ông anh hai trụy lạc ,… tất cả sống trong một xã hội mà những lề thói, những phong tục là những sợi dây buộc chặt vào một đời sống mà sự thiếu thốn và nghèo khổ luôn luôn lai vãng…

Trong “Chân trời cũ “ chúng ta thấy một đời sống cũ đã qua nay trở lại từ cái tâm hoài cổ, từ những suy tư bắt nguồn từ sự nâng niu những kỷ niệm khó quên của một đời người. Và, vì sống ở xứ sở bên mẹ nên quê ngoại lại gần gũi hơn và chan chứa tình cảm.

Nhà văn Thạch Lam trong đề tựa của “Chân Trời Cũ “ đã viết những dòng giới thiệu mà về sau này Hồ Dzếnh đã coi như người tri kỷ, hiểu được cả những góc cạnh thâm cảm của ông:

“ .. Tác giả đã đau khổ trong cuộc sống; và chúng ta nhận thấy ông ưa thích quay về dĩ vãng, để lại khiến những đau khổ cũ trở dậy và thêm sắc mắc hơn nữa. Cho nên những truyện ông kể cho chúng ta nghe đều có một mầu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía. Ông chỉ kể những chuyện ấy thôi, nhưng mà đủ có mực thước để khỏi thành ra phô phang, và cũng đủ rung động để độc giả cảm thấy sự thành thực, sự “đã sống” của những chuyện đó.

Những nhân vật mà ông trình bày đều linh động cả. Mỗi người đều có bản ngã riêng, và chúng ta nhận thấy-tình cờ hay là số mệnh?- người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ. Người mẹ, người con cả, người con thứ cho đến cô yên, cái cô gái nuôi đặc biệt Việt Nam, vẫn sống trong một gia đình không phải của mình, để mà chịu đựng bao nhiêu vất vả và bất công, tuy có được người mẹ nuôi biết thương đến. Cái đời sống tối tăm và lặng lẽ ấy không đi đến đâu cả, và tác giả để chúng ta thấy thương qua số phận một dân số nghèo khó ở các tỉnh đông đúc hay nghèo nàn, cuộc sinh hoạt khó khăn trên những đồng ruộng bạc màu…”

Cái chung nhất của thơ và văn Hồ Dzếnh chính là nỗi đau đớn của kiếp người. Trong bài thơ lục bát“ Tặng vợ tôi khi còn sống“ có câu thơ viết trong buồn khổ tận cùng: “mùa đời rụng hết vàng xanh/nỗi đau thương cũ nay thành máu thơ..” “ Máu thơ”, của những mảnh đời lận đận, của những lời thống thiết khi một người chồng vừa mất vợ bồng bế đứa con mới sinh còn đỏ hỏn đi xin sữa để nuôi con .“ Máu thơ”, của người bị lôi cuốn vào trong tâm bão thời cuộc, có tâm hồn nghệ sĩ, muốn mang tâm não và tài sức vào bút mực để lại cho đời nhưng không toại chí. Mỗi ngày làm anh thợ đúc thép, đạp xe từ Hà Nội qua cầu Long Biên tới Gia Lâm, nhà văn ấy, nhà thơ ấy có nhớ lại một thời tung hoành trường văn trận bút trong nỗi chạnh lòng…

Năm 1993, ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân lại in tập hồi ký “Quyển truyện không tên” và tập thơ “Quê Ngoại II”. Tập hồi ký ấy khá ngắn nhưng chất chứa cả một biển khơi tâm tư của người viết. Hồ Dzếnh mượn lời của đứa con vừa bốn tháng rưỡi tuổi vừa mất mẹ để nói lên cái tâm cảm và hoàn cảnh của mình. Thời gian mà ông kể lại trong khoảng năm 1947-1950 và không gian là vùng khu tư Thanh hóa, nơi cả gia đình bé nhỏ vì không sống nổi ở vùng đồng bằng phải đi lên vùng ngược mưu sinh nhưng rốt cuộc nghèo khó và bệnh tật đã đẩy họ trở về,

Đọc những trang hồi ký, độc giả có nhiều lúc rơi nước mắt. Tình cảnh như thế là tận cùng. Hãy thử tưởng tượng chỉ trong vòng vài tháng, người thơ phải gạt nước mắt đau đớn chôn đưa con trai đầu lòng và người vợ bất hạnh. Chôn đứa con trai, với tất cả gia sản nghèo nàn :”con búp bê đất mất đầu, hai đôi tất bằng vải, cái kèn tu huýt, đôi dép cao su mòn đế và hai bộ quần áo đã sờn rách..” và khi tống táng vợ :” Đây không phải là một buổi liệm. Bởi nếu là liệm thì phải tắm rửa thay quần áo mới. Mẹ tôi không có một mảnh vải nào cả. Để cho người chết đỡ tủi – người chết có tủi không?- cha tôi cổi chiếc áo cánh ướt trên người, đắp lên vợ..”

“ Quyển truyện không tên“ kể toàn là những chuyện đau lòng. Người mẹ cho con bú mà không đủ sữa vì thiếu dinh dưỡng, đứa con nhay đến nỗi có một chút máu vương ở miệng đứa bé hoặc cảnh đứa bé húc mãi vào vú mẹ để bú mà không được. Hoặc là tình cảm thê thảm, người cha bồng đứa con vừa bốn tháng rưỡi đi xin sữa sau khi người mẹ đã chết vì thiếu thuốc thang. Tất cả, những thảm kịch được kể lại với gờn gợn một chút gì phẫn hận. Lúc chiến tranh, có khi còn có nhiều thảm cảnh khác, nhưng tác giả có khi đi sâu vào suy tư để thấy được những nguyên do của thảm kịch. Thời thế đảo điên, văn chương cũng chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp tươi sáng.

“.. Chiến cuộc chỉ mới bước vào năm thứ hai. Còn lâu, còn gian nan, còn gay go mới đến ngày đoàn tụ. Sinh kế đã cảm thấy khắc khổ ở mọi lớp người, trước viễn tượng chiến tranh gần như vô cùng tận. Gánh gia đình, từ ngày có thêm tôi, mới bắt đầu nặng nhọc.Nếu đời là một thiên lệ sử, thì ngay buổi tôi sinh ra, những dòng chữ khắc khổ đã thành hình.

Tôi sinh ra giữa một kỷ nguyên khác lạ , kỷ nguyên của những con đường thênh thang bị phá vỡ, cầu đổ sụp, nhà cửa tiêu tan, xe cộ mất lối. Người đô thị tản mạn lên rừng xanh, những cô gái xinh tươi của cuộc đời nhung lụa biến thành những cô hàng nước, những bèo bọt phong trần. Cuộc đổi đời đó thật là vĩ đại và kinh khủng, lay chuyển hết mọi tầng lớp, giai cấp, san phẳng hết mọi chênh lệch vì sang giàu. Nếu chỉ có một trạng thái biến đổi đó thôi thì chưa đến nỗi gay gắt. Đằng này, buồn thế hệ gặm nhấm vào từng lòng người, cái phẫn uất cay chua nhào thành một loại cảm giác kỳ dị, gán lên cuộc sống một hình thức sượng sần khó tả. Cái gì dở, trái, đều được văn chương mới mạng danh bằng những tiếng kêu ròn: tiểu tư sản, phong kiến. Muốn vào trong cái thế giới vừa tân tạo hôm qua, con người bắt buộc phải qua một lớp lột xác, hay ít nhất, cũng phải có ý thức lột xác. Thành ra có nhiều lúc con người băn khoăn tự hỏi mình sao lại phải điêu đứng như vậy, và nếu mình cứ giữ thành phần của mình thì đã sao chưa?

Nhưng tiểu tư sản lại là một chất nhựa- độc vì người ta bảo thế- đã nuôi lớn một lớp sống trước để cho lớp sống sau này lên án. Sau này món ăn đã khác, tư tưởng đã thay, loạt nhân sinh như tằm ăn lên, đã gặp đúng hoàn cảnh đón tiếp. Còn cái loạt trước, mới đến rầy rà. Máu là máu cũ, ngũ tạng đều thấm lớp men chua, lời nói , tâm tình sặc sụa những lãng mạn.

Cha tôi rơi đúng vào cái ngã ba đó. Tôi cũng sinh nhằm vào thời đó. Một cái cũ đã chắt chiu ôm ấp một cái mới, trong khi cái mới xung quanh vẫn tìm cách đào thải những nếp sống trái ngược, tôi thấy là cả một chuyện kỳ..”

Tô Hoài trong hồi ký “Chiều chiều “cũng phân bua về trường hợp Hồ Dzếnh bị từ chối không được nhận việc làm gần gũi với văn chương mà phải qua Gia Lâm làm thợ, cam chịu số phận của một công nhân:

“….Hồ Dzếnh đã dịch và in một tiểu thuyết nhật cho nhà xuất bản Thanh Niên. Nhà xuất bản muốn nhận Hồ Dzếnh vào làm. Những cơ quan có trách nhiệm xem xét thấy có thời gian Hồ Dzếnh làm đại diện bên Nhật của báo Thần Chung ở Sài Gòn. Mọi việc báo và xuất bản của các cơ quan khác, chẳng mảy may bàn đến hội, nhưng đến lúc có trắc trở thì bù nhìn chúng tôi được khiêng ra trả lời. Tôi có đọc một bài báo Trần Thanh Địch viết về Hồ Dzếnh có câu trách hội cái sự này. Và Hồ Dzếnh sau đó, đi đường gặp tôi, coi như không nhìn thấy…”

và một đoạn khác cũng Tô Hoài:

“Rồi chuyện tập kết giữa hai miền. Trong số người miền Nam ra miền Bắc, hoặc miền Bắc vào miền Nam có những anh em văn nghệ sĩ. Những văn nghệ sĩ ở miền Bắc thường tập trung ở Hà Nội, đã vào Sài Gòn với con số không ít. Trong số đông này không có Hồ Dzếnh. Không chỉ thế, Dzếnh còn là một trong số những anh em văn nghệ đi tuyên truyền giải thích, bằng nhiều hình thức, đối với anh em đồng nghiệp đang hoang mang giữa đi hay ở để giữ chân họ lại. Và sau năm 1954 trong Đại Hội Văn Nghệ toàn quốc, việc anh được bầu vào ban chấp hành Hội Văn Học Nghệ Thuật trong khóa đầu tiên là chuyện không lạ ..

Đầu năm 1956 tôi ở trong đoàn văn công Cải Cách ruộng đất liên khu Tư ra Hà Nội, chuyển công tác sang nhà xuất bản Thanh niên. Cơ quan này đang thiếu một cán bộ biên tập có tay nghề nhờ tôi tìm một người. Tôi nghĩ đến Hồ Dzếnh . Và giới thiệu qua đôi nét về khả năng anh. Đồng thời, tôi đến nói chuyện với Dzếnh thì anh rất vui. Đôi cái giấy tờ thủ tục làm xong ngay đó. Một cán bộ trong nhà xuất bản liền sang hội Nhà Văn hỏi sơ qua một lời về Hồ Dzếnh cho tròn trách nhiệm. Nhưng một vị ở đây đã tỏ vẻ ngập ngừng. Vị ấy bảo rằng “hãy thong thả chút đã“ và thế là xong. Nghĩa là không xuôi. Một lời nói. Không có công văn. Không có chữ ký. Không có khuôn dấu.

Tôi đến tìm Hồ Dzếnh và nói lại mọi sự việc. Anh có hơi đổi sắc mặt một tí tẹo, nhưng miệng vẫn cười. Một cái cười cam chịu nhẫn nhục. Xem như đây chỉ là chút “không may” được nhích thêm vào chuỗi dài không may trong đời mình. Thế là cuối cùng Dzếnh trở thành một công nhân. Thực thụ là người thợ cầm búa qua nhiều năm tháng…”

Nhưng có người lại nghĩ khác đi. Hồ Dzếnh bị trù úm vì đã viêt bài thơ “Nhớ Nguyễn Sơn “, một tướng tư lệnh liên khu Tư rất có cảm tình và giúp đỡ văn nghệ sĩ rất nhiều. Nhóm Nhân văn Giai Phẩm khi tướng này mất cũng viết nhiều bài Khóc Nguyễn Sơn và cùng đăng với 1 bài của Hồ Dzếnh. Lữ Giang viết :”anh có nhiều cảm tình với tướng Nguyễn Sơn nhà quân sự rất yêu văn nghệ sĩ nên bài báo Nhớ Nguyễn Sơn của anh cũng được chú ý..” Và vì “ được chú ý “nên muôn năm vẫn phải lao động chân tay, quai tay búa để thay cho cầm bút, như thế còn lòng dạ nào để sáng tác nữa?

Quyển truyện Không Tên mang rất nhiều tâm tư của Hồ Dzếnh. Mảnh đời đau thương biểu lộ, ngoài tấn thảm kịch còn lồng trong những suy tư về văn nghệ, về thế thái nhân tình, về cái buộc trói của chính trị vào văn hóa. Có lúc , ông cũng muốn cầm bút như kiểu theo dòng của cung cách “quốc doanh”. Nhưng những bài thơ ấy, chỉ là những âm vang mất biệt không dấu tích. Như bài thơ “Bến nước Thanh Trì”, “ Khúc hát cầu phao”, “Ngày ấy xuân về “… Dù cố gắng đi theo “Cách mạng” , nhưng ông viết khó khăn và hầu như bỏ bút để kiếm sống. Ông chua chát: ”Con mắt thời đại đã khác. Nó sắc và to, không có rèm mi nào dịu. Tôi, tôi ưa nhìn thực tại với chút bóng dịu dàng dẫu là chút bóng mơ mộng ..” Chán nản cực dộ hơn: ”Nào hành lý vợ con, nào áo quần tư tưởng. Mắt ta đã mù. Lưng ta đã mỏi. Con người văn nghệ ngậm kín nỗi đau lòng…” Kỳ quặc thay là cái chế độ mà “tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, phải có xen vào công trình tập thể ..”

Có lúc, nhà thơ bi quan như muốn quyên sinh. “Nằm đây tưởng chuyện ngàn sau/ lung linh nến cháy hai đầu áo quan/ gió lìa cành lá không vang/ tin ta vĩnh quyết trần gian hững hờ”. Đời sống toàn bi thảm, những đoạn đường trần chông gai bít lối, nên cái đau đớn, cáo nỗi niềm như cũng bị khâm lịệm theo. Người nằm trong ba tấc đất nhưng vẫn còn đó nỗi đau nhân sinh:

“ngậm ngùi nhớ trắng rừng mai
cảm thương sông nước ghi bài điếu tang
ngựa gầy bóng gió mênh mang
cờ đen lối cũ, cây vàng nẻo xa
ta nằm trong ván trông ra
tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười
ta toan … giận dỗi xa đời
chợt hay: khăn liệm quanh người vẫn thơm
nát thân không nát nổi hồn
lẩn trong cái chết vẫn còn cái đau.”

Ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân in tập thơ Quê Ngoại II – Tiếng hát thiên nga. So với tập thơ đầu thì tập này chỉ có giá trị từ những kỷ niệm đời của Hồ Dzếnh, in thơ lại như một cách thế để tưởng niệm. Phần nhiều những bài thơ là để tăng riêng cho hai bà vợ: bà Hồng Phúc và bà Hồng Nhật. Có nhiều bài thật cảm đông như bài tặng bà Nguyễn Thị Hồng Nhật:

“ Mình vừa là chị là em
tấm lòng người mẹ trái tim bạn đời
mai này tới phút chia đôi
hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau dỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chna chứa nghĩa tình mình ơi!”

Viết về bài thơ này, Mai Quốc Liên đã bình như sau:

” ..Thật là cổ kim chưa có một bài thơ nào lớn như vậy. Tôi có dẫn lời ông Viên Mai bình một bài thơ hay ngày xưa, nói rằng “lời tuy giản dị nhưng làm cả người đọc lẫn người nghe biến cả thần sắc và dù cho Đỗ Phủ, Lý Bạch sống dậy cũng phải cúi đầu.

Thật vậy bài thơ này là kết tinh tình cảm giữa anh chị trong mấy chục năm chia sẻ, gắn bó, thăng trầm và là lời nói sau cùng vĩnh biệt người bạn đời. Nó là viên ngọc của văn chương. Lời giản dị mà thốt tự đáy lòng làm người đọc ứa nước mắt. Hôm tôi đọc xong thì liền có mấy nữ sinh vuên Đại Học Y Khoa dự ở đó mượn để chép lại Đặc biệt câu cuối của bài thơ thật là một triết lý phù sinh rất lớn lao: ”Cuộc đời đâu phải phù sinh/ nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!”. Có một người bạn trẻ tri kỷ được Hồ Dzếnh làm thơ tặng . Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu người đã viết “ Ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa”. Một bài “Cầu Giát “ viết bên giường bệnh bạn và bài “ Cỏ lau “viết nhân ngày giỗ đầu bạn. Trong “ Cầu Giát “ có những câu :” cái đẹp thiêng liêng đích thưc/nỗi đau truyền kiếp văn chương? Anh bnạ đi tìm chân mỹ/bao giờ tới đích hành hương..” Và trong “ Cỏ Lau”: “ giã từ nhé, Nguyễn Minh châu/trang văn tâm huyết chiều sâu ân tình..”

Phần đông những bài thơ trong Quê Ngoại II đều tăng bà Hồng Phúc, có bài chân thành cảm động, như bài Gảin dị :

“Em ăn, em nói, em cười
Kiếp này không có hai người như em
Kinh thành quần nhiễu, hàng len
Em tôi áo trắng, quần đen sơ sài
Ai mà để ý vào ai
Quần đen lẩn bóng áo gai lẩn mầu
Trên đời hai đứa yêu nhau
Quần đen hóa đẹp, áo sầu hóa vui
Tình là hạnh phúc chia đôi
Hương lan kẽ đá trăng soi dậm trường
Đừng mong ước cả thiên đường
Hãy xin lấy nửa tấc vươờn vắng hoa.”

Khi cuối đới Hồ Dzếnh dự trù sẽ viết “Chân trời Mới “ về xã hội hiện tại để đối chiếu với “Chân trời Cũ” thuở xa xưa. Nhưng, dự định vẫn chỉ là dự định. Có lý do sức khỏe nhưng cũng có lý do là với tâm thức như thế khó lòng mà viết được một chân trời sáng lạn . ..

Từ những tác phẩm đã in cũng như những di cảo được phổ biến, thơ và văn Hồ Dzếnh như những tiếng than tận trong phế phủ, bị trầm uất và nén tới tân đáy lòng. Đau đớn đã hòa vào trong máu huyết để mỗi câu văn, mỗi lời thơ là những giọt máu hồng thành mực cho ngòi bút.

Nguyễn Mạnh Trinh

Kim Lân, người bị treo bút trong chế độ đỏ…Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Blog Người Tình Hư Vô

(Chân Dung và Tác Phẩm của Nhà Văn Kim Lân)

Có một người đã hỏi nhà văn Kim Lân:” Ông không viết văn lâu rồi nhưng những gì ông viết của mấy chục năm về trước vẫn được không ít độc giả tìm đọc với những lý do khác nhau. Sao ông lại im lặng mấy chục năm nayvà im lặng đếnn hết cuộc đời?”

Nhà văn Kim Lân đã trả lời, chân thực, chua chát:

“Có nhiều lý do khiến tôi im lặng. Có những điều tôi muốn viết nhưng ngại nên không viết ra được, không vượt qua được ngưỡng cửa của chính mình. Vì sự im lặng ấy mà giờ đây tôi cũng im lặng không viết ra.

Cái mốc tôi ngưng viết văn là từ khi truyện Con Chó Xấu Xí ra đời. Khi người ta đã nhận mình là Con Chó Xấu Xí thì biết làm gì nữa đây. Đôi khi tôi viết về một người bạn văn chương nào đó đã khuất. Đó là những dòng của người còn sống trên dương gian nhớ người đã vắng bóng.

Truyện ngắn cuối cùng trong đời, tôi đã chuẩn bị đầy dủ nhưng rồi lại không viết!”

Và ông nói sơ lược về truyện ngắn cuối đời ấy, bình thản nhưng chứa một thông điệp nào của những điều khó nói

“Truyện này đại khái là về một người đàn ông câm. Ông câm này nuôi một con chó. Tất cả những người chung quanh anh ta chẳng hiểu anh ta nói gì nghĩ gì kể cả mẹ của anh. Chỉ có con chó hiểu được anh. Cả hai đều không nói được cái tiếng mà người quanh họ đã nói.

Khi người ta mở chiến dịch giết chó, con chó của người này bị đuổi bắt. Nó chạy đến mép rừng. Chỉ dăm bước nữa là nó thoát chết. Đúng lúc đó người câm cất tiếng kêu như một tiếng tru. Con chó dừng lại. Nó quay lại và bị giết chết. Nó không thể bỏ đi trước tiếng kêu đau khổ của bạn mình”

Sẽ có người trong nước kêu lên rằng viết như vậy là thú vật hóa loài người như của một cây bút “quốc doanh” nào đó kết tội tiểu thuyết của Dương Nghiễm Mậu. Và Kim Lân cũng đã tiên đoán trước nên không viết. Nhưng thử hỏi, người đã mang cái nghiệp văn chương mà tự mình treo bút thì não nề đến bực nào. Cứ âm thầm suy tư, cứ âm thầm nuôi trong lòng những điều muốn ngỏ mà không ngỏ được.

Kim Lân, cho đến cuối đời. Viết, để rồi bị phê phán, bị kiểm thảo, tác phẩm bị vùi dập thì viết làm chi…Trước khi mất hai tháng, nhà văn Kim Lân có nói đến trường hợp sáng tác của mình:

” Tôi viết Con Chó Xấu Xí là viết sau khi xảy ra chuyện Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy tôi không bị liệt vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm nhưng lúc bấy giờ người ta lại xướng ra việc đấu tranh với Nhân Văn Giai Phẩm trong đó có 5 người không tham gia đám Nhân văn Giai Phẩm gồm có Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng và tôi. Chúng tôi không tham gia hội họp, không viết bài “đánh”.. vì chúng tôi cho rằng đó là anh em mình cả, chúng tôi chỉ muốn nếu thật sự họ sai thì phải thuyết phục họ, vì tất cả đều mới ở trong kháng chiến mà ra cả (Hoàng Cầm, Trần Dần, Hoàng Tích Linh, Lê Đạt…). Nhưng chính vì không tham gia nên người ta cũng ghét chúng tôi.”

Sau một thời kỳ dài bị phê phán, Văn Nghệ Trẻ đăng lại truyện ngắn “Con Chó Xấu Xí“ của Kim Lân. Đọc lời bình của Bảo Ninh, tự nhiên tôi muốn đọc lại một truyện ngắn đã gây ra nhiều rắc rối cho tác giả và cũng là một chuyện chứng minh rằng có những điều mà ở thời buổi ấy thật bình thường, xảy ra hàng ngày thì về sau lại rất lạ lùng tưởng chuyện xảy ra một nơi chốn nào khác như trên cung trăng chẳng hạn…Thời nào có đặc thù riêng của thời ấy. Trên mọi phương diện khác, các sự kiện có thể bị bôi xóa đi. Nhưng, ở văn chương thì không như vậy. Những sự kiện đã được ghi chép, không bị xóa nhòa mà trái lại còn là những chứng tích cho một thời. Mà, những chứng tích ấy, càng về sau, lại càng làm rõ nét hơn một xã hội, một thời thế nữa…

Viết về Kim Lân, Xuân Sách trong “Chân Dung Nhà Văn” đã phác họa như sau :

“ Nên danh nên giá ở làng
chết vì ông lão bên hàng xóm kia
làm thân con chó xá gì
phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn”

Tác phẩm của Kim Lân có hai tập truyện ngắn : Nên Vợ Nên Chồng và Con Chó Xấu Xí. Trong tập “Nên Vợ Nên Chồng” có truyện“Ông Lão Hàng Xóm” một truyện mà Xuân Sách đã hạ một câu thật tuyệt ”chết vì ông lão bên hàng xóm kia“. Nhân vật của truyện là một ông lão, tuy muốn sống một đời bình thường nhưng lại mang nặng vết thương cải cách ruộng đất. Với tâm cảm ấy ông nhìn hàng xóm làng mạc khác hẳn thuở xưa. Cái tình lân lý tương thân tương trợ ngày trước đã hết, mà thay vào đó là sự ngờ vực của những người đã trải qua những thay đổi của nhân tâm, của tâm lý những con chim bị tên nhìn cây cong tưởng cây cung nhắm bắn. Truyện ấy còn có một nhân vật khác, cô đội trưởng đội cải cách non choẹt đã từng làm chánh án những buổi đấu tố và xử tử biết bao nhiêu địa chủ trong vùng. Ông tả lại cái hoạt cảnh cô đội trưởng tập lái xe đạp, một chiến lợi phẩm tịch thu được của một gia đình địa chủ, ở sân đình, với tất cả sự mỉa mai và trào lộng : ”Cô đội trưởng lùn tè tè, hai bàn chân không đạp tới pê-đan… cặp mông mập xoắn lấy chiếc yên xe khi chân cô đạp lên đạp xuống…”. Nhân vật cốt cán, là chủ lực của chế độ mà mô tả như thế thì làm sao những quan cán bộ “lãnh đạo“ văn hóa như Trường Chinh, Tố Hữu,.. chấp nhận cho được. Thế là, sách in ra, bị tịch thu. Nhưng, mọi chuyện đã muộn, mọi người đã đọc, và, trong sổ đen công an văn hóa, Kim Lân bị ghi thêm một điểm xấu….

Trong lời bình của Bảo Ninh, viết sau hơn bốn chục năm tập truyện ngắn “Con Chó Xấu Xí“ ra đời, tôi thấy hình như tác giả Nỗi Buồn Chiến Tranh muốn diễn tả một tâm tư nào, có khác với thời ấy nhưng cũng giống với thời ấy. Tuy bây giờ, là thời của đổi mới, cũng như có một thời là “sửa sai”. “Đổi“ hay ”sửa“, có làm mất đi được cái chất phi nhân vong thân không? Bảo Ninh viết:

“Con Chó Xấu Xí hồi mời ra đời bị phê dữ lắm. Cụ thể bị phán những gì qui kết ra làm sao chẳng ai còn nhớ, chỉ nhớ là rất kịch liệt. Cái thời đến lạ. Độc giả thời nay chịu không hiểu được.

Đành rằng ở ta, và có lẽ chẳng riêng gì ở ta, cái sự truyện ngắn mà lại lấy loài vật, nào hợi, nào sửu, nào thân nào tuất ra làm “nhân vật“ thể nào tác giả cũng phải chuốc lấy phiền toái, song trong Con Chó Xấu Xí thì quả thật đọc kỹ và soi mãi vẫn không thể lọc ra một đoạn một câu một chữ có thể làm cho thiên hạ chạnh lòng. Vậy mà…
Hay là bởi vì ở “con Mực nhà ta”, ở cái con êu êu thảm hại này với sự xấu xí phát ghê, sự thống khổ bi hài, và nhất là với sự tận nghĩa kinh hồn, mù lòa và điên dại của nó, có toát lên một cái gì đặc biệt con người chăng?ít nhất là so với vợ chồng Nhược Dự?…”

Không phải như Bảo Ninh viết: “Cái thời đến lạ. Độc giả thời nay chịu không hiểu được“ đâu. Mà tôi nghĩ. Bảo Ninh biết thừa ra đấy. Bởi, thời trước với thời bây giờ có gì xa lạ với nhau đâu. Dù đã đổi mới, dù đã bị áp lực của cả thế giới để buộc phải cải tổ. Tôi nghĩ, về phương diện văn học, cái giây buộc trói vẫn còn chứ không phải đã cởi ra với nhà văn như tổng bí thư đảng Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố. Hồi trước đã có nhiều vụ án văn tự như những nhà văn trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm hay nhóm nhà văn trí thức bị chụp tội “xét lại“. Thì bây giờ, cũng có nhiều nhà văn nhà thơ bị truy bức bị đày ải bị treo bút bị theo dõi bị làm những công việc không liên quan đến chữ nghĩa.

Còn nhân vật vợ chồng Nhược Dự trong Con Chó Xấu Xí là hai nhân vật mà tác gỉa cố ý phác họa cho một đại diện của giời trí thức tiểu tư sản với tất cả những tật xấu gán cho. Ở một cực độ, ông cho thấy chủ tâm muốn so sánh nhân vật này với con chó xấu xí kia. Cũng cùng vô dụng, cũng cùng có bộ dạng không giống ai, cũng cùng bị những người chung quanh khinh ghét:“. Trước ngày, Nhược Dư cũng có viết văn. Anh ta viết những truyện “ái tình” lâm ly, sướt mướt với một thứ văn chương uốn éo quen thuộc rẻ tiền. Anh ta làm văn chẳng khác gì người thợ kim hoàn quen tay làm đồ Mỹ khí. Vì thế, từ ngày khởi nghĩa anh không viết gì được nữa mà anh ta cũng chẳng nghĩ gì đến chuyện tiếp tục viết văn.

Tuy vậy, cả nhà anh ta, từ bà cô già mõ bán bún riêu ngoài quán đình Bùi đến cô vợ hai còn trẻ măng chuyên việc bêp núc, hầu hạ chồng và con chồng ở nhà đều như còn lẩn quẩn mê luyến với cái không khí của một thời “oanh liệt” của ông chồng trước kia… Trước mặt người lạ họ đối đãi nói năng với nhau hoa mỹ kiểu cách như người trong truyện cả. Nghĩa là nghe nó ngớ ngẩn, giả dối rất chướng tai!

Người như vậy kháng chiến cũng không bỏ. Biết Nhược Dư trước kia có viết văn cơ quan tôi mấy bận cử người về đón anh đi công tác. Bận nào Nhược Dự cũng có bộ mặt rầu rĩ băn khoăn vì nỗi hoàn cảnh anh ta bó buộc vì anh ta nặng gánh gia đình vì anh ta bệnh tật đau yếu luôn. Phải loanh quanh ở nhà như vậy anh ta lấy làm xấu hổ và khổ tâm lắm lắm.

Người địa phương vì thế ghét vợ chồng anh ta thậm tệ. Giữa cuộc kháng chiến bùng nổ không ai có thể ưa một anh đàn ông sức dài vai rộng mà chỉ thấy cặp kè với hai bà vợ và nhởn nhơ với một ngôi hàng. Người ta làm vợ chồng anh khó chịu tức tối ngấm ngầm có khi phải tủi hổ…”

So sánh một con chó với một con người, hình như tác giả muốn làm chất nhân bản bị giảm sút đi trong đời sống ấy. Con chó dù bị bỏ đói bạc đãi đủ điều nhưng vẫn trung nghĩa, trong mọi hoàn cảnh dù tối tăm đến đâu cũng không bỏ chủ. Suốt đời sống nó, toàn là cảnh nằm nhóc mõm chờ cơm, dù mẩu xương thừa hay miếng cơm ôi cũng không có. Thế mà mỗi khi chủ về vẫn chạy tới vẫy đuôi mừng rỡ. Nhà cửa bị Tây vào ruồng bố đốt phá tan hoang, chủ phải chạy tản cư khi trở về vẫn thấy chú chó xấu xí nhưng có nghĩa ở đó dù sức tàn nhưng vẫn vẫy đuôi mừng rỡ. Có phải ông chủ bạc ác ấy, không biết quý trọng nhân nghĩa ấy, là tượng hình của những người lãnh đạo mà nhà văn Xuân Vũ ví von gọi là “dì ghẻ văn nghệ”?

Ví von vợ chồng Nhược Dư với chú chó, tác giả đã theo đúng những chỉ đạo được “trên” đề ra chưa? Hạ giá thấp giới tiểu tư sản, có gì mà rõ ràng cho bằng gọi bằng loài chó. Thế mà, trong cái nhận xét ấy, có một chút gì bất nhẫn, có một chút gì ngầm chứa từ liên tưởng xa xôi. Và, cái mục đích viết để gây căm thù giai cấp, viết để phân biệt ta địch, viết để minh họa chế độ, dường như không phải là chủ đích của Kim Lân. Mà, ngược lại có khi là những cái ngầm hiểu rất dễ gây ấn tượng đối nghịch…

Bảo Ninh nhận định: ”Ngày nay chẳng biết phê gì biết bình gì hơn ngoài một chữ Hay, Truyện hay. Tuyệt hay.
Mới ngẫm ra rằng nhà văn rất khác nhà khoa học, không chỉ khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội. Nhà nghiên cứu thì thế hệ sau nhất định phải cao tầm hơn thế hệ trước, trò phải giỏi hơn chí ít là kiến thức phải đầy hơn thầy. Nhà văn thì không nhất thiết như thế. Nhà văn Kim Lân mà nói rộng ra là lớp nhà văn thế hệ ông, cho đến nay, và có thể sẽ mãi mãi, vẫn là những nhà văn bậc thầy, tác phẩm mãi mãi vẫn là hay mãi mãi vẫn vượt trội…”

Riêng tôi, trong cảm thức của mình, truyện Con Chó Xấu Xí đáng nói hơn từ cái cái chủ tâm hơn là cái tài nghệ văn chương. Làm người kể chuyện, ông viết kiểu khề khà và ít thấy chất sống động trong văn mạch. Nhưng, ở cái trầm lắng ấy, lại càng rõ hơn cái tâm thâm thúy và gợi lại nhiều suy tưởng. Không phải chỉ giản dị là tác giả mượn con vật để ví von với con người, mà phức tạp hơn, là biểu tượng của những đặc tính của một thời thế đã qua nhưng vẫn còn sức sống và là niềm nuối tiếc của nhiều người. Không gian, thời gian của Con Chó Xấu Xí là của một thời đã qua, của khó khăn vật chất, của hy sinh tinh thần. Nhưng, sau đó, khi phần nào đạt được những thành quả, thì có những người, như những chú chó cứ chờ hoài một hạt cơm rơi, một mẫu xương thừa nhưng chẳng bao giờ có. Những nhà văn, lưng còn thẳng, chân còn đứng chưa quì, trở về Hà nội, ngỡ ngàng với chiến thắng nhưng lại thầm tiếc thời gian khổ, lúc mà “dì ghẻ“ (lãnh đạo văn nghệ) và ”con chồng” (quần chúng văn nghệ) chịu chung thiếu thốn. Bây giờ, kẻ thì nhà cao cửa rộng lên xe xuống ngựa tem phiếu thượng hạng của ngon vật lạ không thiếu một món gì trong khi có người luôn thiếu, đói, vợ con nheo nhóc, chỗ ở chật hẹp.

Có lần nhà văn Kim Lân tâm sự :

”Tôi viết không chỉ vì nhuận bút. Viết được thì viết. Không viết được thì thôi. Những cái cố gượng viết đều giả, đều khô khan đọc lại thấy xấu hổ lắm.

Tôi nghĩ muốn theo đuổi nghề văn thì người viết phải là người tử tế trước đã. Dĩ nhiên không phải hễ là người tử tế ắt hẳn viết văn hay được. Viết văn phải có tài. Cái tài đến với nhà văn thật tự nhiên, mất đi cũng rất tự nhiên. Tôi thấy nhiều nhà văn lúc chưa biết nghề nếp tẻ ra sao, hồn nhiên thoải mái viết cái mình yêu, mình thích thì viết lại rất hay, đến lúc hiểu kỹ về nghề thì viết lại tồi đi rất nhiều. Hay chăng cái mình biết đã gò bó cái tự nhiên của mình? Những hiểu biết về nghề văn là rất cần. Nó nâng tầm nhà văn lên, nhưng nếu để nó khống chế mình, làm mất cái thiên bẩm của mình đi thì nhà văn ấy không còn là chính mình nữa..”

Tôi vẫn chưa hiểu được tại sao “lúc hiểu kỹ về nghề thì lại viết tồi đi rất nhiều” như Kim Lân bày tỏ. Hay, nếu nghĩ rằng “hiểu kỹ về nghề“ có thể là hiểu biết những mục tiêu mà cấp trên cần hoặc luồn lách khéo léo qua những kẽ hở để nói lên được điều mình muốn nói?

Theo Xuân Sách, trong những lời tâm sự khi viết về tập thơ “Chân Dung Nhà Văn” thì nhà văn phải học tập rất nhiều và rất nghiêm túc về những vấn đề chính trị, những yêu cầu cần thiết để văn học phục vụ chính quyền. Những giây phút học hành ấy là cả một cực hình cho những người nghệ sĩ. Và không biết có phải vì những hiểu biết thu lượm được để “hiểu kỹ về nghề” và làm ngọn bút tồi đi, kém đi.

Thế mà, sau khi Kim Lân viết Con Chó Xấu Xí, hơn bốn chục năm, thì Bảo Ninh lại xám hối và ca tụng một tác phẩm đã bị chế độ vùi dập và đẩy tác giả của nó vào cùn nhụt lãng quên:

“… nhà văn Kim Lân viết không nhiều, tự đùa mình là lão ông, vậy mà chúng ta hỡi ôi, chúng ta tràng giang đại hải, chúng ta hì hục sản xuất văn chương, nhưng một chút gì của“con chó xấu xí” thôi chúng ta cũng không thể có. Chúng ta ráo riết làm mới, làm lạ, mắm môi mắm lợi tự cao tự đại phô trương sự tối tân và thời thượng của những kiệt tác chúng ta sản xuất ra, nhưng chúng ta vẫn cứ vô cùng cũ và nhạt, hoàn toàn không thể nào bì được với văn chương chậm rãi, khề khà, nhà quê, mà vừa xiết bao chân thực vừa vô cùng thâm thúy lại thiết tha và sâu đậm lòng nhân, tình yêu thương con người và đất nước, tình yêu ngôn ngữ Việt của một nhà văn thực tài như Kim Lân.”

Trong tập truyện ngắn đầu tiên “Nên Vợ nên Chồng”, có truyện ngắn “Cu Ế”, một truyện tuy viết theo đúng chính sách nhưng không làm cho “lãnh đạo“vừa lòng. Chuyện kể về một anh chàng trước đây nghèo đói nợ nần lại xấu xí nên vô duyên chẳng có cô nào thèm để mắt xanh đến. Những chàng trai cùng trang lứa đều thành vợ thành chồng hết mà chỉ có riêng anh vẫn sống cu ky một mình nên anh mới được gọi tên là “Cu Ế”. Nhưng đến khi đội cải cách về làng, anh được bắt rễ để làm việc tố cáo. Và, anh đã thấy được ánh sáng do Đảng mang tới cho đời mình. Cu Ế vươn lên và đấu tranh giai cấp một cách kịch liệt. Anh sắm được một cô vợ và người ta bây giờ không ai còn dám gọi anh là Cu Ế nữa. Truyện viết mạch lạc, kể một hơi, đọc dòng đầu đã ngờ ngợ dòng sau, lai viết đúng bài bản, không bắt bẻ chê bai chỗ nào được. Nhưng cái hình ảnh anh bần cố nông như thế kể ra mà đại diện cho những người đang đấu tranh để xóa bỏ giai cấp thì cũng hơi… đẹp mặt cho Đảng. Cái thâm thúy của nhà văn là mang cái chính sách đang được đề cao để so sánh với một câu chuyện có thể gọi là vụn vặt, chuyện lấy vợ cụa một anh chàng kiết xác. Thời Cải cách ruộng đất khi mà những đội cải cách là thượng đế, ai chết ai sống mặc tình tùy thuộc vào quyền hạn của họ, thì cái chiến lợi phẩm như cô vợ của anh Cu Ế hay chiếc xe đạp của cô đội trưởng nhãi ranh đang vẹo mình tập đạp kể ra cũng chẳng vinh quang mấy. Nó chỉ là một nét trào lộng thoáng qua thôi, nhưng mà thâm trầm sâu sắc…

Một truyện ngắn khác của Kim Lân được nhiều người cùng thời nhắc tới là truyện “Làng”. Một truyện viết về nông thôn thời kháng chiến chống Pháp ở Việt bắc có những dấu ấn văn chương khá đậm. Cái tâm cảm của một người đi vào chiến đấu để mong có ngày trở về Hà Nội để nhìn thấy được những vinh quang mong đợi. Hình ảnh mà Kim Lân mô tả về cái gánh gồng của một gia đình tản cư có lẽ chỉ còn là chuyện rất cũ. Cái gánh này một đầu thì đầy những nồi niêu soong chảo đồ tuế nhuyễn lặt vặt cần thiết cho một gia đình còn đầu kia là một đứa bé. Nó ngồi trong thúng đầu đội chiếc nón lá che úp mặt hai bàn tay nắm chặt lấy quang giây dù bố nó đã cẩn thận chèn chung quanh những chăn màn vá chằng vá đụp. Cái hình ảnh ấy, nghèo nàn tang thương và nhẫn nhục làm sao…

Nhưng, cái truyện ngắn ấy lại có những đoạn tuyên truyền hơi ngô nghê. Nhân vật trong truyện, ông Hai làng Dầu đã có những thay đổi theo thời rất nhanh. Trước, ông rất hãnh diện về làng của ông có những lăng mộ hùng vĩ thì sau này ông lại ghét đến độ căm thù vì những lăng tẩm phong kiến ấy bắt cả làng ông phục dịch. Rồi vì tin đồn làng Dầu đã theo tây nên dân chúng ở đây cũng ghét lây gia đinh ông. Nhưng sự thực làng Dầu không theo Pháp và vẫn tôn sùng Hồ Chí Minh nên cả làng nơi tản cư cũng đổi thái độ với gia đình ông… Viết đúng đường lối như thế mà khi in Con Chó Xấu Xí vẫn bị đấu đá tơi bời…

Đọc lại truyện về chó, một con chó xấu xí, ghẻ lở vô dụng nhưng có nghĩa, tôi lại chạnh lòng khi nghĩ đến câu thơ của nhà thơ Nguyễn Vỹ “Nhà văn An Nam khổ như chó“. Ấy là thời của đế quốc, phong kiến, nô lệ. Còn thời đại của văn nghệ “hiện thực xã hội chủ nghĩa“ thì sao? Có còn người chủ bạc ác đối đãi tệ hại với một loài vật có tình với mình không ? Dù, đã qua mấy thời sửa sai, đổi mới..? Trước khi mất, trong cuộc phỏng vấn của báo Đời Sống và Pháp Luật, nhà văn Kim

Lân có nhận xét:

“Tôi có cảm giác văn ngày nay mất đi tưởng tượng lãng mạn mơ mộng và nhiệt huyết sống, Nó trở nên thưc dụng ê chề oái oăm hơn. Đó là những điều cần khắc phục để nước nhà có một nền văn học ngày càng hoàn thiện..”

Nhà văn Kim Lân đã từ trần vào ngày 20 tháng 7 năm 2007, thọ 87 tuổi. Là một nhà văn tiền chiến đã đi theo Đảng từ ngày còn kháng chiến thế mà suốt cả cuộc đời chỉ in được có 2 tập truyện ngắn và cũng suốt đời chỉ thai nghén mà không viết được những truyện xứng ý với mình. Đó có phải là một trường hợp khi chính trị chỉ đạo văn hoc, thì thơ thành vè và văn chương chỉ là lớp son cho những điều giả trá,…

Nguyễn Mạnh Trinh

Hoàng Cầm, những bài thơ quê hương tôi. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

1345293431.nvTho_Hoang_CamHoàng Cầm

(Tác phẩm và chân dung nhà thơ Hoàng Cầm)

Năm tôi sinh ra đời Hoàng Cầm viết bài thơ “ Bên Kia sông Đuống “.
Mười năm sau , khi “ Bài thơ sông Đuống ” sắp được ghi vào trong chương trình Văn của các lớp phổ thông ở miền Bắc thì xảy ra vụ “ Nhân Văn Giai Phẩm “ và bài thơ bị xóa tên trong chương trình học nhưng không bị quên lãng. Nhưng nó vẫn còn được truyền tụng với những người yêu thơ đánh dấu một thời kỳ thi ca của lòng yêu nước …

Hai chục năm sau, “ Bài thơ sông Đuống “ lại được ghi vào chương trình học. Kể ra thì số phận của bài thơ và tác giả của nó cũng khá truân chuyên …Khi chính trị quyết định và chi phối tất cả thì văn chương chỉ là những yếu tố tùy thuộc nhỏ nhoi. Nhà thơ Bùi Tằng Việt đã lấy tên của vị thuốc đắng hoàng cầm làm bút hiệu của mình thì những hoạn nạn của cuộc đấu tố văn học xem ra không tránh khỏi .

Cuộc đời Hoàng Cầm hình như có rất nhiều dấu ấn từ nơi chôn nhau cắt rốn. Nhà phê bình Chu Văn Sơn đã có một ví von khá thú vị:

“.. Cũng như, ai biết được , bài “ Bên kia sông Đuống “ lại chứa một điềm báo ngược. Mười năm trước , khi viết những câu” Em ơi buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống”, Hoàng Cầm không thể nghĩ , dù tiên cảm có thánh đến đâu, rằng chỉ sau đấy mười nm , qua một con số 8 giời đầy , ông lại về sông Đuống. Dĩ nhiên , giờ thì ngược rồi Cũng là “ về” nhưng không phải với khúc khải hoàn ca hội hè. Mà thui thủi , mà tức tưởi một trường hận ca cái “ tôi “ ở đó như kẻ bị trấn lột mất căn cước tinh thần đành trở về cội xưa tự làm căn cước cũ. Cũng băý đầu từ cái “ ngày khủng khiếp” với “ ngọn lửa hung tàn” nhưng không phải do ngoại xâm phóng hỏa mà do nội tình truy bức .. vì thế, cũng “ bây giờ tan tác về đâu?” cũng “ bây giờ đi đâu về đâu?” cũng những tan hoang rách xé nhưng không phải sau cơn bão tố mà sau cơn đấu tố. Cơn đấu tố đã hỏa thiêu cái thế giới Kinh Bắc của một tâm hồn bị tổn thương. Khiến tất cả không còn là cái thế giới tranh Đông Hồ nguyên dạng, trái lại đã bị thiêu hóa , bị hóa vàng thành một Đông Hồ trong cõi ảo sinh. Nếu “ Bên kia sông Đuống “ là một Kinh Bắc dương bản thì “ Về Kinh Bắc “ là miền sông Đuống âm bản , một thế giới nghệ thuật mắc chứng trầm uất…”

Với tôi, chợt nghĩ. Có một dòng sông, nhờ một bài thơ mà trở thành một biểu tượng của quê hương, mà mỗi khi nghe nhắc đến lại nao nao trong dạ . Sông Đuống của Hoàng Cầm, của một thời kháng chiến . Cũng là sông Đuống có làng Thanh Am tên tục là làng Đuống nghèo nàn ven bờ, quê nội của tôi. …

Nói đến Hoàng Cầm , có nhiều bài nổi tiếng . Có người thích và cho rằng tiêu biểu nhất là bài thơ “ Đêm Liên Hoan”, một thi khúc hùng tráng của một thời kháng chiến . Hay, bài thơ “ Tiếng Hát Quan Họ “ cũng là tiếng thơ của vùng Kinh Bắc , cái nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam. Hay bài thơ “ Cây tam cúc ‘ của những tình ca, trong sáng ngây thơ , của nòi tình sớm phát tiết .Cũng như về sau này , với “ Lá Diêu Bông “, một bài thơ trở thành nguồn cội cho nhiều ca khúc của những bản nhạc làm rung động lòng người.

Riêng với tôi, mỗi lần đọc bài thơ trên, tôi lại nghĩ về quê hương tôi lúc tôi rời bỏ khi vừa ở tuổi vừa biết cắp sách đến trường. Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng quê nội tôi là một làng nhỏ ven bờ sông Đuống và những hình ảnh của nó chỉ là những ký ức lãng đãng trong tiềm thức. Tôi thường hay nghe cha mẹ tôi nhắc đến ngôi nhà thờ có bậc thềm cao đầy những hoành phi câu đối của một thời hưng vượng. Những cây nhãn , cây bưởi mà tuổi tác cũng ngang với những đứa trẻ trong họ , bây giờ đã sống tán lạc ra mấy phương trời. Những vuông sân gạch mênh mông, thuở nào bước chân trẻ thơ lẫm chẫm. Rặng tường hoa dọc theo bờ ao,những mảnh sứ cẩn lóng lánh mầu nắng. Bờ ao với cây khế mọc là đà mặt nước , với những bè rau muống , rau rút xanh tươi, là ao cá đầy cá mỗi khi tát ao vào dịp tết. Hai cổng gạch và cánh cửa sắt như tượng trưng cho oai phong của dòng tộc, bây giờ có còn hiện hữu…

ƠI, những liên tưởng để nhớ lại và gửi về…. Đọc những câu thơ , sao mà rưng rưng cảm động:
“ Em ơi , buồn mà chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ lau
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay.
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm Em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng.. muôn lòng xuân xanh.”

Hoàng Cầm viết bài thơ vào đúng năm tôi sinh ra đời khi khói lửa chiến tranh , khi gia đình tôi phải chạy loạn , mẹ tôi bồng tôi trên tay và anh tôi ngồi ở một đầu của quang gánh mang theo gia tài hòm xiểng của gia đình . Tới bây giơ đã hơn nửa thế kỷ, biết bao nhiêu là biến động diễn ra trên quê hương đất nước tôi. Và ngôi làng nhỏ , nơi chôn nhau cắt rốn của tôi chắc cũng phải chịu nhiều tang thương biến đổi. Dòng sông thuở nào bây giờ có còn bãi mía bờ lau, hay tất cả đã bồi lở theo từng năm tháng. Những con cháu trong dòng họ tôi , bây giờ trôi nổi sống ở những lục địa khác nhau, không biết có còn giây phút nào , ngóng về quê cũ để bồi hồi sống lại những mảnh đời đã trôi vụt qua nhanh vào quá vãng. Theo truyền tụng thì tên làng Thanh Am là chữ do cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt ra và mang danh tự ấy mãi đến tận sau này. Ở cánh đồng làng có cây đa cổ thụ thật lớn mà người làng cho rằng là của cụ tổ trồng ra và chính là hình ảnh rõ nhất của làng mỗi khi trở về . Làng ít ruộng đất , và ít ai theo nghề buôn bán nên dân tình cũng không giàu có so với những làng như làng Phù Lưu , cũng ở vùng Kinh Bắc, quê ngoại của tôi…

Riêng tôi, có lẽ, nhờ những câu thơ trong tâm não , để một thời sống lại. Đọc thơ Hoàng Cầm, thấy dậy lên một niềm tự hào âm thầm. Quê cha đất tổ tôi, những địa danh được nhắc đến trong văn học có phải là chút hãnh diện của người bị lưu lạc tha hương từ lúc còn trẻ dại?

Nhưng, đời sống của thi sĩ Hoàng Cầm thì buồn lắm và đầy bất hạnh.Tham gia kháng chiến sau 1945, góp nhiều công sức nên khi trở về Hà Nội được tin cậy và giữ chức vụ Trưởng Đoàn Văn Công của Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân. Thế mà vì tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm bị cách tuột chức tước, tù tội, nghèo đói cho đến tận cuối đời.

Hoàng Cầm bị kiểm thảo, bị làm nhục, bị o ép theo dõi, có lúc ông tưởng rằng không thể nào chịu đựng những bất hạnh quá mức như thế. Trong một bức thư gửi cho con gái là Kiều Loan con người vợ trước đang sinh sống ở San José “… Đến khi chị Yến của con chết thì người bố hoàn toàn suọ đổ, hàng tháng sau vẫn chỉ là cái xác vật vờ, lờ lững mà thôi…” . Bị tù giam vì chuyển bản thảo tập thơ “ Kinh Bắc “ cho Nguyễn Mạnh Hùng mang ra ngoại quốc in, rồi bị tịch thu sách vở bản thảo, rồi hai người thân nhất là vợ và con gái từ trần trong thời gian ngắn, rồi khi được thả thì bị công an làm nhục, mang hình ảnh tên tuổi bêu riếu ngoài phường phố. Tất cả những biến động ấy đã biến ông thành một người phẫn chí, lẩm cẩm. Mấy chục năm trong thời Cộng Sản, thân phận của một thi sĩ thật đoạn trường.

Đến nỗi nhà thơ Phùng Quán khi đến thăm đã viết bài thơ trên giấy xi-măng bằng than củi để an ủi người bạn mà cũng là người anh đáng thương:

“ Tôi tin núi tàn!
Tôi tin sông lấp!
Nhưng tôi không thể nào tin:
Một nhà thơ như anh lại ngã lòng suy sụp
Tôi tin, nhà thơ anh đã viết
Cách đây ba mươi năm
Những vần thơ lẫm liệt!
Tiểu đội anh, những ai còn và ai mất?
Không ai còn ai mất
Chỉ chết cả mà thôi!
Người sau kẻ trước lao vào giặc,
Giữ vững ngàn thu một giống nòi
Thế gian có một ngàn con sông
Và một ngàn nhà thơ lớn
Nhưng chỉ có một dòng
May được thơ xưng tụng
Nhờ đó mà vang vọng
Nhờ thơ mà vinh danh
Đó là con sông Đuống
Con sông của quê anh
Mà anh xót xa như bàn tay anh ngón rụng
Tôi có một niềm tin
Chắc như đanh đóng cột
Ngày mai anh nhắm mắt.
Đi sau linh cữu anh,
Ngoài bạn hữu gia đình,
Có cả con sông Đuống
Sông Đuống sẽ mặc đại tang
Khóc bên bồi bên lở,
Sóng cuộn bờ nức nở,
Ngàn đời chịu tang anh
Tôi tin núi tàn!
Tôi tin sông lấp!
Nhưng tôi không thể nào tin
Một nhà thơ như anh
Lại ngã lòng suy xụp.”

Thơ quá hay và cảm động bởi một tấm lòng biểu lộ.” Ngày mai anh nhắm mắt/ đi sau linh cữu anh/ ngoaiø bạn hữu gia đình/ có cả con sông Đuống/ sông Đuống sẽ mặc đại tang/ khóc bên bồi bên lở/ sóng cuộn bờ nức nở / ngnà đời chịu tang anh…” Phùng Quán với những bài thơ ,câu văn viết cho những người cùng hoạn nạn cho chúng ta cái tâm vòi vọi của kẻ sĩ. Trong hoàn cảnh ấy,cuối đường của khốn cùng. Chỉ còn văn chương, để làm cây gậy chống và đứng dậy. Phải rồi, chính người thơ ấy đã viết những vần lẫm liệt của “ Đêm Liên Hoan”, ngôn ngữ dậy lửa của đòi hỏi hy sinh xương máu. Phải rồi, chính người thơ ấy đã viết cho dòng sông quê hương những hình ảnh thần kỳ của tấm lòng tha thiết . Phải rồi, chính người thơ ấy đã mang những ẩn dụ vào thi ca để bầy tỏ nỗi niềm của “ Lá Diêu Bông”. Thơ và đời, sao trái ngược, thi ca sang cả, hạnh phúc, hào hùng trong khi đời thường nghèo đói bất hạnh phủ vây.
Xuân Sách, cũng những ngậm ngùi, những phác họa một chân dung thi sĩ nhiều sóng gió :

“Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được!
Quan họ đã vào hợp tác
Đông Hồ gà lợn nuôi chung
Bên Kia Sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy Lá Diêu Bông hỡi chàng !”

Em ơi buồn làm chi! Câu thơ của một thuở nào “ Bên Kia Sông Đuống” bây giờ Xuân Sách nhắc lại như một chút cay đắng cũ càng. Tất cả thay đổi rồi, người thi sĩ mất đi vị trí thời trước . Văn nghệ đã bị mặc chung bộ đồng phục, tranh gà lợn không còn nét trong sáng tư riêng.Và Lá Diêu Bông cũng là những gì không thực, mà người thơ cứ tha thẩn kiềm tìm mãi mãi mà không thấy .Xuân Sách nhắc đến Tiếng Hát Quan Họ với những câu thơ của Hoàng Cầm như

“.. Suốt tháng giêng mưa xuân trắng ngõ
Những người gái thôn Dương Ổ
Đập sợi thâu đêm
Khi nắng lên se chỉ trắng ngoài thềm
Khi giăng lên đưa con thoi dệt vải
Tiếng hát chập chùng , mái tranh phủ khói
Chị em hẹn nhau ngày hội sang năm…”

Một thời nào xưa lắm, có phải? Thuở thanh bình với phong tục dân gian đáng yêu, bây giờ có còn? Hay, tất cả , trôi theo dòng thời thế, để vỡ vụn, nát tan? Trong thế giới thi ca của Hoàng Cầm , từ cảnh tới người , từ ý tới lời , đều có nét vờn của bảng lảng , của bàng bạc đời sống. Cái hồi nhớ đôi khi là cảm giác thực , cái liên tưởng đôi khi là giây phút sống nhất . Với cuộc đời, thơ là nét mơ hồ , là lẫn lộn thực mộng , là những cơn mơ , dịu dàng , nhưng triền miên để thành nỗi đau nỗi nhớ , Thơ , tuy tiếp cận , tuy gần gũi nhưng vẫn có một cái gì làm khoảng cách , như đôi mắt hay nhìn ra xa để lảng tránh cái nỗi buồn gần . ..

Một bài thơ, mà nhiều nhạc sĩ đã tạo thành những ca khúc để đời: Trần Tiến, Phạm Duy, Lê Yên, Ngọc Thanh.” Lá Diêu Bông”:

“ Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ…
Chị bảo
Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi làm chồng.
Hai ngày
Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
Đâu phải lá Diêu Bông
Mùa đông sau
Em tìm thấy lá
Chị châu mày
Trông nắng vãn ven sông
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười
Xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt
Chị không nhìn
Từ thuở ấy…
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
Ơi Diêu Bông…!”

Bài thơ như một câu chuyện không đoạn kết. Ở mỗi chủ quan người đọc, nẩy ra những suy tưởng khác nhau. Trường hợp các nhạc sĩ là thí dụ. Mỗi người khai triển bài thơ theo suy cảm riêng. Chính cái bảng lảng của những câu hỏi cho một vấn nạn mờ ảo tạo thành sự giàn trải rộng khắp cho một không gian thi ca. Lá Diêu bông, rõ ràng là một ẩn dụ ! Đi tìm nó, có phải là một công trình vô vọng? Hay , chính là hình tượng của niềm hy vọng vào cái thẩm mỹ quan của sự toàn bích? “ Gió quê vi vút gọi… Diêu Bông hời… Ơùi Diêu bông” có phải là tiếng gọi của một hồn thơ luôn luôn bị bủa vây trong dây xích buộc trói của chữ nghĩa?

Nguyễn Mạnh Trinh

Thử Giải Mã “Một Cõi Đi Về” của Trịnh Công Sơn. Minh Tuệ Đỗ Minh


Minh Tuệ Đỗ Minh

trinh-cong-son

1.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về .

Trịnh Công Sơn. Một Cõi Đi Về là một ca khúc cao sâu chiều kích tâm linh của Trịnh Công Sơn, cũng là tác phẩm Ông tâm đắc nhất trong sự nghiệp âm nhạc của mình.

Một Cõi Đi Về được hiểu nhiều cách khác nhau, phổ biến nhất là Cõi Chết, theo nghĩa của “sinh ký tử quy”, sống gửi thác về. Một ý nghĩa khác là “kiếp nhân sinh”, cũng giống như “trăm năm trong cõi người ta” của Nguyễn Du vậy. Trong bài tản mạn này, xin được có thêm một góc nhìn mới về “cõi” này: cốt lõi thực sự của tâm (phục bổn hoàn nguyên) hay bộ mặt thanh tịnh của tâm (bản lai diện mục), và nói theo cách riêng của Trịnh là “vẻ nguyên vẹn” của cội nguồn tâm hay “trở về với Phật tính trong cõi riêng của mình”.

Đoạn nhạc đầu tiên này có thể gọi là một bài thơ Thiền về bờ giác, bến mê, rất Trịnh. Ý tứ không lạ nhưng trở nên sống động qua cách biểu đạt mới mẻ của riêng Ông. Kinh Phật và thơ Thiền Việt Nam cũng có những bài kệ, bài thơ chuyển tải ý “đi đâu loanh quanh” hay “lang thang” này rất hay. Dù “loanh quanh”“lang thang” hơi khác nhau, nhưng ý nghĩa chung là muốn nói về bước chân không định hướng.

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách,
Nhựt viễn gia hương vạn lý trình
(Trần Nhân Tông)
Lang thang làm khách phong trần mãi,
Ngày cách quê hương muôn dặm trình
(Thích Thanh Từ dịch).

Hay Phật trước khi Giác Ngộ cũng là một người lang thang, nhưng là lang thang đi tìm nhà, không giống như hầu hết chúng ta, tuy lang thang nhưng không tha thiết với chuyện trở về “quê quán tôi xưa”.

Lang thang bao kiếp sống Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này, Khổ thay, phải tái sanh.
(Kinh Pháp Cú, câu 153)

Trịnh là một người hiểu sâu triết lý Phật Giáo nên những vấn đề như Sinh Tử Luân Hồi đều được Ông nhắc đến.

Không có đâu em này Không có cái chết đầu tiên
Và có đâu bao giờ Đâu có cái chết sau cùng
(Ngẫu Nhiên)

Vòng sinh tử “loanh quanh”, vô thủy vô chung dẫn dắt chúng sanh lăn trôi bất tận khi chưa thực sự về đến “một cõi đi về”.

Kìa còn biết bao người Dìu dặt tới quanh đây
(Ngẫu Nhiên)

Ánh sáng của “đôi vầng nhật nguyệt” luôn “rọi suốt trăm năm” trong mỗi trái tim người nhưng không phải ai cũng nhận ra được. Trong truyện cổ Phật Giáo, có sự tích người ăn xin vẫn mãi xin ăn, không biết được trong nhà mình có cả một kho báu. Dựa trên giai điệu của bài Một Cõi Đi Về, xin đươc hát tếu như thế này “Bao nhiêu năm rồi còn mãi đi xin, trong khi nơi kho muôn ngàn vàng ngọc”.

Về góc độ tự sự, bốn câu đầu tiên này như một suy niệm sâu sắc về thân phận con người và cách nhìn của một thiền nhân về con đường thoát ra khỏi thân phận đó. Như một lời trách nhắc nhẹ nhàng, Trịnh tự trách mình thôi, nhắc mình thôi nhưng ai nghe cũng thấm! Những lời này cũng từng xuất hiện nhiều trong khung trời mênh mông của Trịnh, khi thấp thoáng, khi rõ ràng như ”Trăng ơi trăng rất tệ, mày đi nhớ chóng về” (Biết đâu nguồn cội) hay “Thôi về đi đường trần đâu có gì” (Phôi pha). Không phải là thân phận phù du cát bụi của kiếp người như ở đoạn sau, tàn xuân tàn hạ, mà là nỗi niềm bế tắc “loanh quanh”, “chạy vòng quanh”, “kiến bò quanh đĩa”, lòng vòng không có đường ra, đầy bi kịch phủ kín, bít lấp như “mây che trên đầu” này của hữu hạn trăm năm.

Ở đây, có sự tương phản giữa hai màu sắc nghịch nhau, màu trầm tối “mỏi mệt” than van trên những bước chân không hướng và màu sáng tỏa của “nhật nguyệt” mở hướng, chiếu “nắng trên vai”. Ánh nắng ấy hiện hữu “rọi suốt”, lúc nào cũng có mặt mà sao ta lại “hững hờ” với “chôn quê nhà” đến vậy. “Nhật nguyệt í a trên cao” ấy là gì? “Cõi đi về” ấy là gì? Vẫn còn nhiều điều để nói.

2.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về.

“Đôi vầng nhật nguyệt” hay “một cõi đi về” đều là những hình ảnh tượng trưng cho chân lý. Trong rất nhiều ca khúc của Trịnh, hình ảnh này cũng xuất hiện với nhiều tên gọi khác như “nguồn cội” (Biết đâu nguồn cội), “hư vô”, “chân như” (Giọt lệ thiên thu), “mái nhà” (Lời thiên thu gọi), “quê quán xưa” (Bên đời hiu quạnh), “địa đàng” (Dấu chân địa đàng), “vô vi” (Nguyệt ca), “thiên thu” hay “ngàn năm” (Ru mãi ngàn năm) .v..v…

Làm sao để thấy được “đôi vầng nhật nguyệt” này? Trong đạo học phương Đông có câu “ngón tay chỉ trăng”, muốn thấy được chân lý (mặt trăng) phải nương theo hướng chỉ của ngôn từ (ngón tay), khi thấy chân lý rồi thì đừng nhìn ngón tay nữa. Chân lý vốn không lời, là chân kinh không chữ như Nguyễn Du đã từng nói “Chung tri vô tự thị chân kinh” (cuối cùng mới biết rằng chân kinh là không chữ). Và “chân kinh vô tự” cũng chính là “chân tâm vô niệm”. Như vậy, muốn thấy “nhật nguyệt” hay “chân tâm” cần phải nương vào “ngón tay”, “bản đồ”, “chiếc bè” hay “nhịp cầu” của kinh điển. Đây là lý do tại sao những người tha thiết với chân lý (truth-seeker) thường tìm đến với tôn giáo.

Với Trịnh, chúng ta cũng thấy nơi Ông một tấm lòng nhiệt tâm của một người khao khát muốn trở về với “mái nhà Phật tính” của chính mình: “Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn” hay “Hãy biến mình vào hư vô, vào hư vô của chính mình, vào hư vô của sự vật, vì trong hư không đó mình sẽ tìm thấy được mình và sự vật ở vẻ nguyên vẹn của nó.” “Hư vô” là điều Phật cũng đã nói từ ngàn xưa: “Hãy nhìn đời trống không, thần chết không thấy được”.

Khi về lại được với “cõi tịch lặng vô ngôn” hay “hư vô, hư không” đó chính là “trở về với Phật tính trong cõi riêng mình. Đó là quê hương, là chiếc ngai Phật. Tôi ngồi, Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật”.

Hãy cùng nghe thêm một câu nói rất hay của Ông.

“Có kẻ đứng trước bao la mà không thấy được bao la. Có kẻ ở buổi bình minh, nghe tiếng chim hót đã chạm mặt với cõi vô lượng. Biết được vô lượng là cùng lúc đến với vô biên. Cái vô biên nằm đâu đó trên cánh vạc chở hoàng hôn về núi mỗi chiều.”

Và chắc không khó để nhận ra bóng dáng của chân lý qua những từ như vô lượng, vô biên. Vô lượng là chiều bao la của không gian và vô biên là chiều mênh mông của tĩnh lặng.

Chiều kích vô lượng, vô biên ấy của chân lý, ví như ngọc báu, cũng có sẵn trong mỗi người chúng ta: “Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch” (Trong nhà có ngọc không cần tìm kiếm nơi nào khác cả, thơ Trần Nhân Tông) hay “You wander from room to room, hunting for the diamond necklace, that is already around your neck” (câu này của Rumi, nhà thơ đạo sĩ Hồi Giáo, thế kỷ 13, tạm dịch : Chuỗi ngọc trên cổ rồi Tại sao lại không thấy Tìm phòng này phòng nọ Lòng vòng mỏi mệt thay).

Chân lý là gì? Chân lý ở đâu? Làm sao để nhận ra chân lý? Xin được nói thêm trong phần tiếp theo.

3.

Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa.
Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ
Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà.

Về mưa, Trịnh cũng viết nhiều bài hay như Mưa Hồng với “Này em đã khóc chiều mưa đỉnh cao, còn gì nữa đâu sương mù đã lâu”, hay Diễm Xưa với “Mưa vẫn mưa bay cho đời biển động, làm sao em nhớ những vết chim di”, rồi Chìm Dưới Cơn Mưa với “Chìm dưới cơn mưa và chìm dưới đêm khuya, trời đất bao la còn chìm đắm trong ta”. Phải chăng mưa là một dạng “thời tiết” của cuộc đời, khi dịu mát, lúc lạnh băng?

Trong đoạn hai này của Một Cõi Đi Về, cũng “mưa” nhưng là “mưa nơi này”“mưa nơi xa”. Nghe mưa ở đây, hiện tại, lại nhớ về mưa nơi nào thuộc tương lai hay quá khứ? “Từng hạt nhỏ” là những suy tưởng trong tâm thức “mưa bay”? Chính những tiếng mưa vang vang mãi “trong ta” đã ngăn trở con đường “hội ngộ” với “vô biên” của “chốn quê nhà”?

“Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ”? “Trăm năm” là một kiếp người. Trăm năm này “tử” đến trăm năm khác “sinh”, trở đi trở lại trong vòng luân hồi “vô biên”, bất tận? Ý này cũng hợp lý nhưng chỉ nói đến thực trạng “không biết nhà để về” của một người lang thang.

Nếu sắp xếp lại để thành “Trăm năm chưa từng hội ngộ (với) vô biên” thì chiều kích “vô biên” của Đạo được “mở” rõ ràng hơn, như đã từng giải bình trong những phần trước, và người viết nghĩ đây chính là ý mà Trịnh muốn gởi gắm.

Còn nếu hiểu “Trăm năm vô biên” là sự vô biên của tuổi thọ đời người vốn vỏn vẹn “ba vạn sáu ngàn ngày là mấy” thì quả là vô lý. Quãng thời gian ngắn ngủi ấy không thể nói là vô biên, vô hạn được, sớm muộn gì thì cũng như “vết mực”, phải chấp nhận số phận “xóa bỏ không hay” thôi!

Trong thơ nhạc, do âm điệu, do giới hạn của câu chữ nên làm thế nào chỉ trong bao nhiêu nốt ấy, bao nhiêu chữ ấy, nhạc sỹ, thi nhân có thể chuyển được ý sâu là một điều không đơn giản. Đó là “nỗi khổ từng chữ, từng nốt” và cũng là yếu tố để quyết định tài năng!

Bài đăng trước có đề cập đến chiều kích vô biên, vô lượng của chân lý, giờ đây xin được bàn thêm.

Chân lý là gì? Là sự thật (truth). Sự thật thì có sự thật tuyệt đối (absolute truth) và sự thật tương đối (relative truth). Sự thật tuyệt đối là sự thật không bị chi phối bởi thời gian, vĩnh hằng, không thay đổi, không bị hoại diệt vì không có tuổi thọ. Sự thật tương đối là sự thật có tuổi thọ, chỉ tồn tại trong một thời gian nào đó (trăm năm, ngàn năm, triệu năm,…) rồi cũng phải chịu sự chi phối của định luật vô thường, sinh diệt, đổi thay, biến hoại.

Ở đây, tuy không dùng tính từ “đúng” khi nói đến chân lý, nhưng ý nghĩa “không bao giờ sai”“không bao giờ mất” cũng đã được hàm chứa. (“Đúng sai” là câu chuyện dài của loài người chẳng bao giờ kết thúc; sự thăng hoa, sự tuột dốc, nước mắt, máu xương, đã đổ quá nhiều như sông, như núi cũng từ hai chữ “đúng sai” này.)

Nếu thật ngắn gọn thì có thể nói thế này : Chân lý tuyệt đối là “cái-không-có-gì”, còn “chân lý tương đối”“cái-có-gì”. “Cái không có gì” đó chính là “không gian” (space) và “cái có g씓vật thể” (objects). Vật thể là những gì có hình, có tướng, nổi lên, hiện ra, có thể biết được qua các giác quan, nhìn được, nghe được, ngửi được, nếm được, sờ mó được, suy nghĩ được. Còn không gian thì ẩn, chìm, vô hình, vô tướng, vượt ra ngoài sự hạn hẹp của ngôn từ nên chỉ có một cách duy nhất là “feel” thôi, cảm nhận trực tiếp bằng “trực giác” thôi.

Chân lý còn có một khái niệm khác đồng nghĩa là “thực tại” (reality). Đời sống của chúng ta nếu chỉ “nghiêng” về “thực tại tương đối” (relative reality) thì chắc chắn sẽ “ngả” vì thiếu sự quân bình, thiếu sự nâng đỡ của “thực tại tuyệt đối” (absolute reality). Đây cũng là một thảm trạng chung cho nhân loại.

Thế thì chân lý ở đâu? Câu trả lời là “Chân lý ở khắp mọi nơi” (God ,Truth, is everywhere), cũng giống như không gian vậy. Không gian bên ngoài là vũ trụ vô biên, dung chứa những tinh tú. Không gian bên trong là vũ trụ của tâm, dung chứa suy nghĩ, cảm xúc. Đại khái thế, không thể nói dài một sớm một chiều được, phải từ từ thôi.

Dầu chúng ta không thể nói được về không gian “không có gì”, nhưng có thể mượn những hình ảnh của “có gì” để nói về nó. Trên mỗi trang giấy, có phải nằm phía dưới những con chữ là nền trắng? Trên hư không, có phải ẩn sau những đám mây là màu xanh của bầu trời? Phía dưới dòng xe cộ, có phải là sự bất động của con đường? Có phải bất cứ ở đâu và khi nào, bao trùm chúng ta cũng là không gian và sự tĩnh lặng (cặp này luôn đi chung với nhau, không tách rời)?

Phải chăng khi biết chú ý thêm chiều “tĩnh” của “cái-không-có-gì” giữa những chiều “động” của “cái-có-gì”, cách nhìn đời, cách cảm nhận cuộc sống sẽ được trọn vẹn hơn, nhất là nghe lại nhạc Trịnh? “Đôi chân ta đi sông còn ở lại”, “Núi đứng quanh năm, đất muôn đời nằm, riêng ta rộn ràng”, “đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời”, “ôi áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều’,…rất nhiều những bức tranh có sự qua lại, linh động, trọn vẹn “âm dương”,”động tĩnh” như thế này.

4.

Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Đi lên non cao đi về biển rộng
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì.
Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn
Để sớm mai đây lại tiếc xuân thì.

“Trong khi ta về lại nhớ ta đi” là một câu nhạc của Trịnh có độ rung chấn không nhỏ, ai cũng thấy mình trong đó, hình như tình huống nào cũng “vận dụng sáng tạo” được. Sự ngập ngừng trên mỗi bước chân, sự dùng dằng giữa “Đường trần đâu có g씓Tiếng nói nhu mì của quê quán tôi xưa”, sự giằng co giữa “chén rượu cay một đời tôi uống hoài”“vầng trăng quê cũ”. Ra đi thì lúc nào cũng nghe vang vang “Trăng ơi trăng rất tệ mày đi nhớ chóng về”, lâu lâu về nhà thì nghe thì thầm “Lòng thật bình yên mà sao buồn thế”.

“Trong khi ta về lại nhớ ta đi” cũng không khác “trong khi ta đi lại nhớ ta về”. Đây là tình cảnh “Đi về lận đận Tình đôi ngập ngừng” trong Tiến Thoái Lưỡng Nan sau này.

“Đi lên non cao đi về biển rộng”? Những ai có tu thiền đều thích câu này. Tập cho tâm an trú trong hiện tại nhưng “tâm viên ý mã” lúc nào cũng kéo ta “lên non cao” của quá khứ, “về biển rộng” của tương lai. “Vọng tưởng điên đảo” luôn luôn muốn đi đó đi đây “ta bà thế giới”, “ngoạn thủy du sơn”.

Về mặt từ ngữ, “Đi lên non cao đi về biển rộng” cũng có thể cảm nhận theo hai cách. Cách thứ nhất có thể đặt “non cao” cùng hướng với “biển rộng” chỉ con đường hướng ra ngoài sơn thủy, theo cách này thì “về” cũng là “đi”. Cách thứ hai, bẻ ngoặt hướng đối lập thì “non cao” chỉ bên ngoài, còn “biển rộng” chỉ bên trong. Nếu so sánh thuần về độ lớn thì rõ ràng biển rộng lớn hơn, chiếm ba phần tư quả đất, “quê nhà” rộng như biển bao giờ cũng bao la thanh bình hơn gấp nhiều lần mây nắng non cao, và hai chữ “về” trong hai câu “trong khi ta về”“đi về biển rộng” đều chỉ một chuyển động cùng chiều.

Giữa hai chọn lựa “đi” “làm con sông cho tháng ngày trôi”“về” “chốn thiên đường không có tháng ngày trôi” thì phần thắng luôn luôn cho nơi có tháng ngày. Dầu đôi khi thấy “Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời” (Ở trọ) nhưng “Dầu thật lệ rơi lòng không buồn mấy” (Bên đời hiu quạnh). Đây là một nét rất đẹp của Trịnh, đẹp vì thật, đẹp vì tin vào sự chọn lựa của mình, dầu biết rõ rằng trong quyết định “rong chơi giữa đời” vẫn không hoàn hảo. Nét ngay thẳng của “đại nhân” nằm chính chỗ này.

“Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”? “Nhân gian chưa từng độ lượng” thì ý rõ rồi, nhưng còn “đôi tay nhân gian”? “Đôi tay” của “nhân gian” hay lấy “đôi tay” mình để ôm cả “nhân gian”? Ý thứ nhất là một cách nhìn đời, ý thứ hai có trái tim mình trong cuộc đời đó.

“Người ôm lấy muôn loài” (Ngẫu nhiên) hay “Sông có đôi tay, đôi tay thật dài, ôm quanh tình người” (Giọt lệ thiên thu) cũng đã từng có cái “ôm” theo ý thứ hai này.

Trong phần trước đã bàn về cái hữu hạn, hữu lượng tương đối của “nhân gian”. Dù “đường trần không có gì” (Phôi pha) nhưng lại là chốn “trần gian có xót xa” (Đóa hoa vô thường), và chốn ấy rất “cần một trái tim” (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui) và “cần có một tấm lòng” (Để gió cuốn đi).

Người ôm lấy muôn loài
Nằm trong tiếng bi ai
(Ngẫu nhiên)

Đường đời vốn thế, lấy “đôi tay” mình mà “ôm” thì giống như “ôm lòng đêm”, cuối cùng cũng “Ôi phù du từng tuổi xuân đã già đời người như gió qua” (Phôi pha) và “Đôi tay vẫn còn ôm mịt mùng” (Tình xót xa vừa) mà thôi. Làm sao có hạnh phúc thực sự giữa chốn “chưa từng độ lượng” ấy được.

Và “suốt xuân thì” chỉ thấy “ngọn gió hoang vu” nhưng vẫn “yêu quá đời này”, dẫu rằng nhiều khi “dấu lệ”.

Đoạn cuối này còn hai câu mang nỗi buồn cũng đậm, nhưng thôi, cứ để hương linh ông bây giờ “ôm thiên đường ngủ muộn”, “tiếc xuân thì” chỉ còn lúc vướng víu với nhân gian.

5.

Mây che trên đầu và nắng trên vai
Đôi chân ta đi sông còn ở lại
Con Tinh yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người.

Qua bốn câu nhạc này, chúng ta có thể thấy được lý do tại sao đưa đến sự giằng co giữa hai lực kéo Đi và Về trên con đường “lênh đênh giữa đời” của Trịnh. Là một con người bình thường vì trái tim cũng đập theo nhịp đời như bao người, nhưng cũng khác thường nhờ sức nâng của đôi cánh tâm linh đã đẩy ông bay lên khỏi một phần những tầm thường trong vòng tục lụy thế gian.

Có người nói rằng nếu Trịnh Công Sơn không bị níu lại bởi sợi dây ràng buộc của đời thường thì rất có thể Ông sẽ trở thành một thánh thi sĩ như Tagore của Ấn Độ hay Rumi của Ba Tư. Hai nhà thơ rất được tôn kính, những lời minh triết xưa của họ thường được nhắc đến trong cộng đồng tâm linh trên toàn thế giới, đặc biệt ở phương Tây.

Hơn ai hết, Trịnh cũng biết được giới hạn của mình, điều này có lẽ không khó nhận qua những lời ca Ông viết “Đời tôi trót dại tự làm khô héo tôi đây” (Chiếc là thu phai). Và cũng chính biết rõ mình như thế đã làm tăng thêm giá trị của ông: một người sống giữa đời, dù có buồn có khổ, nhưng vẫn sống hết lòng bằng trái tim đạo, đầy thương yêu.

“Mây che trên đầu và nắng trên vai”? Ánh sáng “chân như” chiếu “rọi suốt trăm năm” nhưng chỉ xuống được phần vai, phần đầu vì bị mây che không tới được. Hệ lụy nhân gian làm ánh sáng không trọn vẹn, toàn phần. Trong kinh Phật, hình ảnh “trăng thoát khỏi mây” thường dùng để nói đến kinh nghiệm chứng ngộ được sự thật, thấy được “bản lai diện mục” (bộ mặt xưa nay) của chính mình. Bộ mặt này qua ca từ của Trịnh là “quê quán xưa”, “vầng nhật nguyệt”, v.v.. mà chúng ta đã từng nói đến.

“Đôi chân ta đi sông còn ở lại”? Dòng sông xuất hiện rất nhiều trong di sản ca khúc của Ông, mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Đẹp và lạ như tranh trong “con sông là thuyền mây xa là buồm”, “Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi” (Bốn mùa thay lá), trầm ngâm triết lý như “Ngồi bên dòng sông nhớ đời mình, một trăm năm sau mãi ngủ yên” (Lời của dòng sông)… Nhưng trong Một Cõi Đi Về, với một chủ đề xuyên suốt chặt chẽ, thì có lẽ ý nghĩa “cội nguồn” là hợp lý nhất.

Về chiều sâu tâm thức, phải chăng “đôi chân ta đi”“động”, vọng tưởng, vọng tâm … “sông còn ở lại”“tĩnh”, là cội nguồn, là chân tâm, minh tâm…Có “cái biết” sáng tỏ, im lắng đang “thấy” những bước chân đi? Có thể “hát chế” thành “Tâm kia (giả) đang đi, Tâm này (thực) ở lại” được không?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có một câu nói về ý này nhưng dùng hình ảnh “mái nhà” thay vì “sông”:

“Rứt bỏ mái nhà để ra đi cũng như phụ rẫy một tình yêu. Mái nhà ở lại hoàn toàn vô tội. Mái nhà vẫn chờ cửa để đón người trở về nhưng người ra đi thì không bao giờ kéo được mái nhà về với mình nữa. Có được một mái nhà riêng trong lúc sống là một hạnh phúc. Nhất là mái nhà ấy là hình ảnh của chính mình.”

Mái nhà cũng như sông vẫn ở lại đó, êm đềm yên lặng, chờ đợi “trăng lãng du” trở về mà sao đôi chân mãi cứ ra đi?

Lý do đây: Con tinh yêu thương! Dù Trịnh có lần giải thích lý do ông dùng chữ “yêu tinh” là vì ở Huế, người thân hay mắng yêu mấy cô gái nhỏ, xinh đẹp, nghịch ngợm là “đồ yêu tinh”. Nhưng cách giải thích này chỉ hé mở một phần, phần lớn còn lại chính là Ông muốn ám chỉ “tình yêu nam nữ” hay rộng hơn là dục vọng hay khát ái của con người. Điều này cũng đã được hát lên trong Giọt Lệ Thiên Thu: “Nắng quái yêu ma, lung linh thành trì, lung linh cửa nhà”. Yêu ma hay yêu tinh thì cũng là “yêu”. Đang “rong chơi giữa đời”, quanh mình toàn là người bình thường, yêu xuống yêu lên, nếu nói trắng ra, sao tránh khỏi phiền lòng thiên hạ! Hơn nữa, mình đâu phải thầy tu mà “hạ giá” điều mà mọi người xem trọng, ngay cả mình cũng chưa thoát được ngọt đắng của nó kia mà.

Tình yêu vẫy gọi, tình bạn, tình đời, đủ thứ tình. Dù biết “Sống có đôi chân, đôi chân mệt nhoài, một đời tới lui” (Giọt lệ thiên thu) nhưng bên tai vẫn có tiếng loáng thoáng “chợt gọi vô tình” của “con người hiện bóng”. Lại ra đi, chán. Lại đi về, buồn.

6.

Đường chạy vòng quanh, một vòng tiều tụy

“Vòng quanh” “tiều tụy” cũng giống như “loanh quanh mỏi mệt”. Thử thay đổi một chút thành “chạy quanh đường vòng”, nghe cũng hay hay. “Chạy quanh”, tốc độ nhanh hơn, mạnh hơn “đi đâu loanh quanh”. “Tiều tụy” cho ta cảm giác héo, hốc hác hơn “mỏi mệt” rất nhiều, mỏi mệt chỉ đổ mồ hôi còn tiều tụy rất rõ sự hết “pin”, mỏi mòn nhựa sống.

“Đường vòng” gợi đến sự cong cong, một đường cong khép kín, tịt lối thoát, bí lối ra. “Kiến bò quanh đĩa” hay “cái vòng danh lợi cong cong, kẻ hòng thoát khỏi người mong bước vào” là những câu rất Việt không lạ. Bi kịch của thân phận người bị bao vây bởi “cái vòng” này, phải nói là “mê hồn trận” cho thêm phần kịch tính. Danh lợi ở đây chỉ là một phần ý nghĩa của “cỏ non”, “cỏ lạ” trong bài hát này.

Xin nói thêm tí về danh lợi , sẽ bàn tiếp “cỏ” sau. Nghe hai từ này, thông thường ta hay nghĩ đến sự thăng quan tiến chức, bổng cao lộc lớn, chức trọng quyền cao Nhưng trong thực tế, nếu quay ngược nhìn kỹ lại mình, sẽ cảm được ý nghĩa rộng gần hơn của câu này, cũng dành cho mọi chúng ta. Danh là tiếng thơm, tiếng tốt, ai chẳng thích được khen. Lợi liên quan đến tiền, ai chẳng muốn mình có tiền, càng nhiều càng tốt, lòng ham muốn chẳng bao giờ khiêm tốn cả. Và như thế, cứ đi loanh quanh, cứ chạy vòng vòng, miệt mài đuổi bắt, khó dừng nên không mệt mỏi, không tiều tụy mới là chuyện đáng ngạc nhiên.

Trong triết lý Phật Giáo, vòng luân hồi sanh tử được giải thích bằng Thập Nhị Nhân Duyên, một “đường vòng” mà trong đó chúng sanh vẫn “chạy”, chạy tới chạy lui, chạy lên chạy xuống. Vòng này khởi đầu bằng Vô Minh, sau đó là Hành, Thức, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, v.v.. Bởi Vô Minh nên bị Tham Sân Si dẫn dắt, lăn trôi, chìm đắm mãi giữa “tiều tụy” của khổ đau.

Theo ý này thì chắc không “quá đáng” khi hát “chế” hai câu đầu: “Bao nhiêu kiếp rồi còn mãi ra đi Lăn trôi loanh quanh luân hồi mỏi mệt”.

Và muốn thoát ra khỏi “đường vòng” này cần phải thấy được Minh, ánh sáng của “đôi vầng nhật nguyệt” (Trong tiếng Hán, khi ghép Nhật và Nguyệt sẽ thành Minh).

7.
Một bờ cỏ non một bờ mộng mị ngày qua.

“Cỏ” cũng là một từ đẹp trong vườn Trịnh, chỉ phận người như “Ta thấy em trong tiền kiếp như cọng buồn cỏ khô” (Rừng xưa đã khép), “Sống chết mong manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi non” (Giọt lệ thiên thu). Ý này cũng có trong Kinh Thánh: “Đời sống con người chẳng qua như cỏ, như bông hoa nở giữa cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó mất đi, nơi nó mọc sẽ không còn mang vết tích”.

Nhưng trong Một Cõi Đi Về, ý nghĩa của “cỏ non” chỉ “cám dỗ của thế gian” nếu nói theo Ki-tô, hay “quyến rũ của dục lạc” nếu nói theo Phật thì hợp lý hơn vì nó giải thích được lý do tại sao lại “đi quanh, chạy vòng” để phải bị đuối.

Cám dỗ gì? Quyến rũ gì? Mắt đi tìm hình ảnh đẹp, tai đi tìm tiếng hay, mũi đi tìm mùi thơm, lưỡi đi tìm vị ngon, thân đi tìm sự xúc chạm êm ái, ý đi tìm suy tưởng mới. Mà phải “non”, “tươi”, “lạ” mới thỏa mãn hài lòng. Có bao nhiêu người hiểu được rằng đây chỉ là “mộng mị” phù du ? Ngày hôm qua đẹp, hay, thơm, ngon, mới lạ, êm ái biết bao, sao hôm nay tất cả bay đâu mất rồi. Lại khát nữa, lại đi tiếp, laị chạy tiếp. Và như thế, ngày qua… ngày qua…

Còn “bờ”, hãy nghe lại câu nói của Trịnh.

“Bờ bến của một cuộc tình cũng không phải hẹp đâu. Có biết bao nhiêu kẻ đã bị dìm chết giữa giòng để mãi mãi không đến được bờ bên kia. Kẻ đã đến được bờ bên kia rồi, khi quay nhìn lại sẽ thấy rất rõ, sẽ nhận thức được mọi thất vọng, khổ đau đã qua đều là giả tạo, phù phiếm. Và bỗng nhiên một nụ cười thanh thản bỗng nở ra. Một khi đã qua được bờ bên kia rồi tất cả sẽ thấy lòng mình tràn ngập một nỗi hân hoan lạ thường và từ đó cái nguồn cội của khổ đau không còn lừa gạt ta được nữa…”

Câu này ý tứ sâu, không đi vào ở đây, trích dẫn để hình dung rõ hơn triết lý Phật về bờ mê, bến giác đã ảnh hưởng thế nào đến tư tưởng của Trịnh thôi. Như vậy, là có bờ bên này và bờ bên kia. Bến bờ này cũng có mặt trong nhiều câu hát: “Như bờ xa nước cạn đã chìm vào cơn mưa” (Tình nhớ) hay “Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em” (Em đi bỏ lại con đường)…Bờ xa bên kia thì không mộng mị như bờ gần bên này, bờ bên kia là bờ giác, bờ bên này là bờ mê. Bờ bên này cỏ non nhiều nên giả tạo, phù phiếm, bờ bên kia chỉ có nụ cười thanh thản và nỗi hân hoan.

8.

Từng lời tà dương là lời mộ địa
Từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe.

Hai câu này là một ý với “Dưới vành nôi mọc từng nấm mộ” (Cỏ xót xa đưa) hay rõ hơn là “Cụm rừng nào lá xác xơ cây, từ vực sâu nghe lời mời đã dậy, ôi cát bụi phận này ,vết mực nào xóa bỏ không hay” (Cát bụi). Đây là lời cảnh báo của vị thiên sứ hầu như chẳng ai muốn nghe dù trước sau cũng phải đối diện : Thần Chết.

Tà dương là ánh mặt trời sắp lặn, mộ địa là nấm mồ. Tà dương mộ địa, từ Hán Việt, dùng trong câu này quả rất hay, Ông là người yêu ca dao, yêu tiếng Việt, chúng ta khi nghe Trịnh đều yêu thêm tiếng nước mình. Thỉnh thoảng trong túi có móc ra vài từ không thuần Việt nhưng đặt chữ nào xuống là đắc chữ đó, như “tiến thoái lưỡng man”. Không phải làm khó người nghe mà chỉ với ý làm tăng thêm độ sâu của bài hát.

Nếu “nắng vàng” xuất hiện lung linh buồn, thanh thoát nhẹ thì “tà dương” gợi lên một không gian cổ điển u trầm, làm ta không thể không nhớ đến “Trải bao thỏ lặn ác tà”“Bóng tà như giục cơn buồn” của Nguyễn Du, “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà” của Bà Huyện Thanh Quan, hay độc đáo linh động của Tản Đà với “Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương”. Lời tà dương của Trịnh nặng trầm hơn vì bên cạnh là âm hưởng lạnh lạnh của mộ địa.

“Từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe”? Lại gặp lại dòng sông, lần này tiếng hát của sông vang vọng lên, một bên là biển, một bên suối khe, đây là hình ảnh “Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi” trong Bốn Mùa Thay Lá. Từ nơi bắt đầu của một dòng chảy đầu nguồn là khe, hòa vào suối, nhập vào sông, cuối cùng ra biển cả. Một sự khởi đầu của “vành nôi” chào đời và kết thúc của “nấm mộ” ngủ yên.

Nếu ví đời người như một cuốn sách 36.000 trang, mỗi trang được lật qua là thêm một trang tiến gần về chương cuối. Cũng vậy, mỗi lần hoàng hôn rơi….

9.

Lời nào của cây, lời nào cỏ lạ
Một chiều ngồi say một đời thật nhẹ, ngày qua.
Vừa tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ
Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa.

“Cây” là cây của sự sống (tree of life) như đã từng gặp trong Cỏ Xót Xa Đưa: “Trên đời người trổ nhánh hoang vu, trên ngày đi mọc cành lá mù”. Cây mang tính gốc rễ vững chắc, từ đó cành, nhánh, lá vươn ra. Cành, nhánh có thể là những liên hệ bên ngoài của ta trong cuộc đời, cũng có thể là suy nghĩ, cảm xúc bên trong nội tâm.

Nhưng nếu theo ý này thì không chặt lắm khi “cây” đi cùng với “cỏ lạ”. Cỏ lạ chỉ “lạc thú trần gian” khi ta đi loanh quanh, chạy vòng quanh như đã nói trong bài trước thì “cây” phải mang nghĩa ngược lại thì ý mới sống động. Theo hướng tâm linh này thì cây giác ngộ (tree of enlightenment) hợp lý hơn vì bản thân cây này cũng đã hàm chứa ý nghĩa “đôi vầng nhật nguyệt” trong sáng, có hoan lạc, bình an thật sự, chứ không giả tạm, nhất thời như “lạc thú” của “cỏ lạ” hời hợt, chóng tàn.

“Một chiều ngồi say”? Say “cây” hay say “cỏ”? Câu này là một cách nói khác của “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”, say vì yêu bông hoa, nụ cười, yêu nắng đầy, mưa tới … (chắc là cũng có rượu). Yêu ngất ngây nhẹ nhàng tất nhiên sẽ hưởng được nguồn vui của “một đời thật nhẹ”, cứ “ngồi thong dong trao đến mọi loài chút tình tôi”. Nếu không biết “say” chắc chắn sẽ là “một đời thật nặng… ngày qua”

Thời gian trôi, tháng ngày trôi, mặt trời lên rồi xuống, nắng đến rồi phai, tàn xuân, tàn hạ. Rồi sẽ đến khúc cuối đời, nghe tiếng lộc cộc chậm buồn tiếng chân ngựa về để đón đưa. Một lần nữa hình ảnh “ngựa” lại xuất hiện, không xa vắng như “nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng” trong Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, không say buồn như “Một ngày như mọi ngày, giọng buồn lên tiếp nối, một ngày như mọi ngày, xe ngựa về ngủ say” trong Một Ngày Như Mọi Ngày.

“Chân ngựa về chốn xa” là văng vẳng tiếng của chuyến xe thổ mộ đưa quan tài về đất trả lại cho cát bụi. Thổ là đất, mộ là mồ, thổ mộ là nấm mồ đất. Mộ địa âm buồn bên ánh tà dương.

10.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

Một lần nữa, hãy đọc lại những tâm sự Trịnh đã để lại “Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn, nhưng vô vọng”. Ông đã thao thức nhiều trên con đường tìm lại “bản chất chân thực” (real nature) của mình. Đó cũng là thao thức chung cho những ai muốn thoát khỏi cảnh phù du, tạm bợ của hạn hẹp nhân gian.

Ông biết rằng có một cái gì cao cả hơn, an bình hơn nằm sâu bên dưới tâm thức bình thường, tĩnh lặng tựa đáy đai dương bao la:

“Và tôi đã tìm đến với thế giới của im lặng và hội họa. Ở đây, tôi đã bắt gặp một mảng đời của mình bấy lâu nay vẫn còn bị che dấu. Chính ở trong cõi màu sắc này, tôi đã chạm vào được cái chìa khóa để mở dần những cánh cửa vô thức của bản thân mình.”

“Mảng đời của mình vẫn còn bị che dấu” được gọi là “một cõi đi về” mà ông đang khát khao tìm kiếm. Chạm được “chìa khóa”, thấp thoáng “cánh cửa” nhưng chiều sâu “vô thức của bản thân” thì “bó tay”, “vô vọng”. Cánh cửa “vô lượng, vô biên” hé chút chợt sầm đóng lại, rồi lại tiếp tục tới lui với đôi cánh là đà bay lượn giữa đời lênh đênh.

Dù vậy, ông vẫn tự nhủ “Hãy biết đi tìm, nhẫn nhục tìm kiếm sẽ có ngày thấy được. Dù ở đâu. Từ trong một hạt bụi đến cõi trời bao la. Từ cái sờ mó được đến cõi vô hình”. Nghe câu này, chúng ta không thể không nhớ một câu trong Kinh Thánh “hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Matthew 7:7).

Phải chăng “cõi đi về” mà Trịnh muốn tìm, muốn hỏi, muốn gõ ấy chính là “cõi trời bao la” “cõi vô hình” như ông đã nói? Những tự sự sâu kín “tự mình biết riêng mình Và ta biết riêng ta” ám ảnh Trịnh suốt một đời về “nguồn cội”. Những “giọt lệ long lanh” cùng “nụ cười đắng ngọt” đã làm rung động chúng ta qua những câu chữ, nét nhạc. Lúc bay bổng vui tươi. Lúc trầm lắng sâu buồn.

Nghìn dâu cố quận muôn trùng nhớ em
(Em đi bỏ lại con đường)
Rồi một lần kia khăn gói đi xa
Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà
(Bên đời hiu quạnh)

Tấm lòng hướng về “vầng nhật nguyệt” mà đôi khi được gọi là “bờ xa” cũng lung linh trong nhiều tình khúc: “Ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều, như bờ xa nước cạn, đã chìm vào cơn mưa” (Tình nhớ). Chúng ta cũng hình dung thấy “bờ xa bên kia” đôi khi nhạt mờ khuất bóng. Sương khói cuộc đời không thể đưa ông qua bờ với nước cạn lòng sông.

Minh Tuệ Đỗ Minh

(Nguồn: http://thuvienhoasen.org/a24406/mot-coi-di-ve-cua-trinh-cong-son)

Phùng Quán, vịn vào thơ mà đứng dậy. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Ba-Phut-Su-That-Phung-Quanphingquantranghoangthanh635296973443007812_khotrithuc.com_tap-tho-phung-quan_pdf

(Chân dung và tác phẩm của nhà thơ Phùng Quán)

Phùng Quán, một khuôn mẫu đời trong một xã hội nhiều biến động. Thuở nhỏ, trải qua “Tuổi thơ dữ dội”, viết “Vượt Côn Ðảo,” tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, tiếp theo là chuỗi ngày trưởng thành gian nan, mà ông thường tự kể “ba mươi năm, cá trộm, rượu chịu, văn chui.” Bị cấm viết mà vẫn nặng nghiệp cầm bút, viết bằng hàng chục bút hiệu, viết để mà cố gắng sống còn. Cái đòn thù cơm áo mà Ðảng và những tay lãnh đạo văn nghệ tuy độc hại nhưng không làm sờn lòng. Làm thơ, viết văn, như một cách thế trả nợ đời. Và, lúc nào, cũng thẳng lưng:

“Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Ðường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã…”

Những lúc buồn nản, hoặc tâm tư bị nhiều xáo trộn của đời sống, tôi lại nghĩ đến câu thơ Phùng Quán:

“Có những phút ngã lòng.
Tôi vịn câu thơ và đứng dậy…”

Không biết ngôn ngữ thi ca có chất an thần hay không, nhưng lúc ấy, tôi thấy làm thơ hay đọc thơ, đã làm tôi thoải mái khá nhiều. Thơ như một phương thức buông xả, để thấy mọi chuyện trên đời sẽ nhỏ bé biết bao so với cái không gian bao la thăm thẳm của thơ và tâm hồn sẽ nhẹ nhàng triệt tiêu đi cái sức ngàn cân đè nặng. Cứ thử tưởng tượng, con người sẽ bị bào mòn đến rã rời từ thể xác đến tinh thần biết bao nhiêu với nhịp sống quay cuồng ào ào đến chóng mặt hiện nay. Một tuần, bắt đầu một ngày thứ Hai rồi chấm dứt một ngày cuối tuần, vụt qua chớp mắt.Thấm thoát mà hơn hai mươi năm ở xứ người, ngoảnh lại chỉ là một thoáng. Thơ, với tôi, là khuôn trời biếc, cho cánh diều bay lên tận trời xanh. Thơ, là cơn gió mát mùa Hạ từ ngoài khơi thổi về mang theo hương vị của muối biển và rong rêu xa lạ. Có những khi ngã lòng, có lẽ tôi cũng phải vịn vào những vần lục bát, những câu bảy chữ, tám chữ thật? Bởi, nếu không có thơ, cuộc sống tôi vô vị xiết bao!…

Yêu thơ, cũng có nhiều người rất yêu, nhưng có khi, chỉ là thái độ của người “cưỡi ngựa thưởng hoa” mà thôi. Yêu thơ, để sống chết với thơ như Phùng Quán khá hiếm. Những câu thơ, viết ra với tâm trạng cực kỳ chân thành với chính mình, không ngờ là mầm mống cho những tai họa khôn nguôi cho một cuộc đời. Tôi nghĩ đến câu nói của Tố Hữu khi nói về đứa cháu của mình “Quán nó dại và tôi cũng… dại” lúc bị mất hết quyền hành và nghĩ lại về những việc làm đã qua.

Vì thơ, mà Phùng Quán bị biết bao nhiêu đòn thù giáng xuống của một chế độ độc đoán không thích những người có lòng trung thực.

Thực ra, tôi đọc Phùng Quán không nhiều. Tiểu thuyết “Vượt Côn Ðảo” tôi chưa được đọc. Chỉ có vài bài viết trên tạp chí Sông Hương và Cửa Việt, nhưng làm tôi xúc động, như bài viết về Nguyễn Hữu Ðang hay kể lại cuộc xông đất đầu năm với Tố Hữu. Cũng như những bài thơ của Nhân Văn Giai Phẩm thuở nào…

Gần đây, tôi đọc “Trăng Hoàng Cung,” một cuốn sách kỳ lạ trong một tâm trạng cũng khá kỳ lạ. Cuốn sách được in ở hải ngoại như một cách thổ lộ tâm sự của người trong nước. Một cuốn sách mỏng nhưng chất chứa nhiều nỗi niềm của một người chịu nhiều dông bão của cuộc sống.

Tôi nghĩ một cách chủ quan, tác giả đã viết với tâm đắc của mình. Ông không để ý đến thể loại. Gọi là tùy bút cũng được, mà thơ văn xuôi cũng không sai. Nhưng rõ rệt một điều, những trang sách đẫm chất thơ và là những cảm nhận khá sâu sắc và chân thành về nghệ thuật. Nhân vật, dù chỉ là thi sĩ và nàng thơ, cũng chỉ là những biểu tượng. Có khi, thi sĩ không phải là Phùng Quán, mà là một khuôn dáng của tổng hợp giữa tưởng tượng và hiện thực. Và có thể không có thực trên cõi đời này. Còn nàng thơ, có phảng phất bóng dáng của một tôn nữ miền sông Hương, núi Ngự. Biết đâu, chỉ là biểu tượng của ý nghĩ tạo hình thành.

Phùng Quán là người đã viết những câu thơ, của một thời Nhân Văn Giai Phẩm, với tâm huyết dồn lên đầu ngọn bút:

“Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu”

Hoặc, với phong cách của một chiến sĩ, như lời khai từ của “Trăng Hoàng Cung”:

“Hai mươi mốt tuổi, tôi, người lính chiến bước thẳng vào làng Văn với cuốn tiểu thuyết đầu tay kể chuyện những người vượt ngục thất bại. Ngay sau đó tôi được coi là nhà văn. Nhưng với tôi thơ là tất cả. Thơ là mạng sống, là lý lịch đời tôi… tôi dương thơ như ngày nào ngoài mặt trận dương lưỡi lê đánh giáp lá cà với thói dối trá, đạo đức giả, tệ nạn quan liêu, lãng phí, bòn rút, ăn cắp của công – tuy ngày đó mới manh nha, nhưng tôi đã dự cảm sẽ là hiểm họa to lớn đang rình phục nhân dân tôi…”

Thơ ông viết ra, đã phải trả giá đắt cho cuộc sống mình. Ba mươi năm của tuổi trẻ thanh xuân sẽ tươi đẹp xiết bao, nhưng vì án văn tự mà ngược lại thành dẫy đầy những cơn ác mộng. Toàn là vùi dập đầy ải và dồn đến ngõ đường cùng của kiếp sống. Người cầm bút mà bị bắt buộc bẻ bút, sinh kế gia đình bị bao vây khiến có lúc ông đã phẫn nộ thốt lên ông sống được là nhờ văn chui, rượu chịu, cá trộm,… Văn chui bởi vì viết ra ký tên thật không chỗ nào dám đăng, phải mượn tên người khác để có chút nhuận bút còm cầm hơi. Rượu chịu, uống để thay cho những cay đắng của cuộc đời, uống dù chẳng đủ tiền mua. Cá trộm, ở những ao hồ chung quanh thành phố Hà Nội, phải luôn luôn coi chừng những con mắt rình mò của các “ông” công an. Sinh kế cùng cực đến thế mà thơ vẫn bay bổng, ăm ắp trong hồn. Thơ như chứa thành lẫm, thành kho, miên man bất tận. Những nguồn suối, cội sông thi ca dường muốn hội tụ về biển mẹ bao la. Nhưng cũng có lúc, thơ không làm được nữa. Thơ dù lao động khổ nhọc vẫn không thành hình. Thi sĩ phải lên rừng đào mạch thơ giữa thiên nhiên. Sống khổ hạnh, mọi vật dụng giản đơn thô sơ như người tiền sử ông quyết đi tìm lại chính cuộc sống mình. Bên cạnh suối Linh Nham ồn ào tiếng nói của thiên nhiên nhưng vắng bặt âm thanh con người, ông một mình một bóng sống và tìm kiếm. Tự đào một huyệt đá cho mình, nguyện nếu không tìm được thơ sẽ chôn mình ở đó. Trong ba năm, chỉ làm được một bài thơ duy nhất.

“Tôi phải lên rừng
Hái lá khổ sâm
Tự mình cất lấy ly rượu uống
Ôi rượu khổ sâm đắng lắm!
Ðắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian
Bạn hữu thân thiết ơi!
Xin đừng trách cứ tôi
Sao trong thơ tôi cứ lẫn nhiều vị đắng
Chỉ vì
Tôi vừa ngâm ngợi câu thơ
Vừa cạn chén rượu đời
Cất bằng lá khổ sâm…”

Chàng thi sĩ trở về lại xứ Huế để bắt đầu một cuộc tình. Tình yêu có hai mặt. Bên ngoài là vẻ hào nhoáng lãng mạn, nhưng bên trong là nỗi đau thăm thẳm của đời thường. Thực tế là cuộc tình của anh chàng Trương Chi và nàng công chúa Mỵ Nương ngày xưa. Dù chàng thi sĩ làm thơ nhưng cũng không mang cái nét nghệ sĩ để làm nàng xiêu lòng. Với thi sĩ, bút đòi mực, mực đòi giấy, giấy đòi thơ, chàng vẫn một mực chân thành với chính ý nghĩ mình:

“Với nhiều người giấy không kẻ dòng dễ viết đẹp
Nhưng với tôi
Không có gì đẹp hơn
Viết ngay viết thẳng
Là nhà văn
Tôi yêu tha thiết
Sự ngay thẳng tột cùng
Ngay thẳng thủy chung
Của mỗi dòng chữ viết…”

Làm gì có cuộc tình đẹp giữa hai người cách biệt như thế. Dù bao nhiêu ghẻ lạnh, dù bao nhiêu đuổi xua, những bài thơ là chứng từ của cuộc tình đơn phương lãng mạn. Phùng Quán làm thơ như chàng nghệ sĩ đánh cá ngày xưa mượn tiếng hát để ngỏ thật lòng mình. Nhưng rốt cuộc chỉ là ảo ảnh tan loãng vào đáy cốc. Thiên đường chỉ là tưởng tượng. Trăng hoàng cung, như một biểu tượng. Rồi cũng tan loãng hư vô. Vầng trăng mà chàng thi sĩ tôn thờ đã bị lấm bẩn. Không còn của riêng chàng, mà đã qua tay nhiều kẻ. Trăng không còn trong huyền thoại và chàng thi sĩ khóc:

“Tôi khóc niềm tin yêu nát tan
Tôi khóc ngai vàng mộng tưởng
Tôi khóc Trăng Hoàng Cung bị lấm bẩn
Tôi khóc không biết lấy gì để gột sạch trăng…”

Tôi nghĩ Phùng Quán không chủ tâm kể một chuyện tình. Mà đó chỉ là một cái cớ. Chẳng lẽ ông viết lại một chuyện tình như Trương Chi -Mỵ Nương sao? Ông muốn ví von gì với những bài thơ viết không phải với dụng ý tỏ tình? Những câu thơ như muốn bầy tỏ một ý hướng nào khác hơn mà thi sĩ muốn bầy tỏ. Không hiểu tôi có nghĩ xa hơn những dòng chữ viết không?

“Trên vực thẳm vô cùng của hạnh phúc
Tôi bỗng thấy mình đang đứng quá cheo leo…”

Trăng Hoàng Cung có những nét đẹp trong sự mâu thuẫn. Những câu thơ rất thực, của một chiến sĩ kiên cường. Nhưng cũng có những điều lãng mạn của một người nghệ sĩ biết yêu, dám yêu và sống chết với yêu. Hình như Phùng Quán có ý định viết một trường thi thì phải? Trăng Hoàng Cung có rất nhiều câu thơ tâm đắc của một đời người cầm bút. Biểu tượng vầng trăng của Tử Cấm Thành với người đẹp sông Hương kiêu sa có liên hệ gì với thi ca, với quãng đường nhọc nhằn sáng tạo. Hạnh phúc, có khi là sợi khói mơ hồ, rồi sẽ tan loãng khi nắng mặt trời lên. Hạnh phúc, có lẽ nào chỉ trong mộng ảo và chẳng có ở đời thường?

Cho nên tôi cũng chẳng bận tâm khi gọi cuốn sách này là thơ, tiểu thuyết hay tùy bút. Ngôn ngữ đâu cần tách bạch như thế. Tôi chỉ biết mình đang lạc lối trong một không gian, thời gian đầy ắp chất thơ. Và, những ấn tượng mạnh mẽ nhất vẫn là thái độ chân thực với mình, với người của một nghệ sĩ. Không phải “Trăng Hoàng Cung” chỉ có hai nhân vật thi sĩ và nàng thơ. Mà còn có chúng ta, những nhân vật của trường thi cuộc đời đang chia sẻ nỗi niềm với một người luôn băn khoăn tìm cái đẹp vô cùng miên viễn của nghệ thuật sáng tạo…

Nguyễn Mạnh Trinh

Thanh Tịnh và Tôi Đi Học. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

Thanh-Tinh-

(Chân dung nhà văn Thanh Tịnh)

Thanh Tịnh là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam thời tiền chiến. Truyện ngắn của ông tràn đầy chất thơ và đã tạo ra được một không gian văn chương riêng biệt. Đó là dòng văn chương trữ tình đầy chất lãng mạn và đã được Hồ Dzếnh trong một bài thơ cảm tác khi nghe tin tác giả “Quê mẹ” vừa lìa đời năm 1988:

“Đời xếp anh, tôi và Thạch Lam
ngồi chung một chiếu hội văn đàn
chao ôi! Chiếu đã hai lần lạnh
còn lại mình tôi với thế gian

dẫu biết đường đi chỉ có chừng
gió chiều sao vẫn ớn trên lưng?
Trái tim bỗng dội niềm xao xuyến
Tàu rẽ vào ga. Chặng cuối cùng
Thôi nhé anh về vui bạn cũ
Tôi chờ đến hẹn lại thăm anh
Lòng ta như nước sông Hương ấy
Vời vợi trời thu dáng núi xanh.”

Thời kỳ 1930 –1945, Thanh Tịnh đem thi ca trộn lẫn vào văn xuôi để có được những áng văn đẹp như một bài thơ và cũng bàng bạc những nỗi niềm của một quá khứ đã xưa nhưng vẫn còn gợi lại trong ký ức những bàng bạc xao xuyến của những điều đã mất đi và khó tìm lại được. Cái không gian và thời gian của làng quê mang tên Mỹ Lý có lẽ chỉ trong tưởng tượng nhưng là của một sự thay đổi từ những cuộc đời cổ xưa êm ả đến những buổi giao thời giữa cái mới và cái cũ. Trong đời sống chao đảo mà cũ mới đối nghịch nhau, Thanh Tịnh tuy vẫn phê phán những tục lệ cổ hủ nhưng vẫn nâng niu và bênh vực những tập quán tốt đẹp của ngày trước, của những đời sống yên bình đã kéo dài từ lâu.

Khi trả lời phỏng vấn của tạp chí Sông Hương, Thanh Tịnh cho biết là ông rất yêu thích hai tác giả Alphonse Daudet và Guy De Maupassant của văn chương Pháp và cũng yêu thích Thạch Lam và Nguyễn Công Hoan của văn học Việt Nam. Trong tác phẩm Quê Mẹ, có phảng phất ảnh hưởng. Như khi ông tả nỗi bâng khuâng ngậm ngùi của một người nhớ nhung và hồi tưởng lại đời sống êm ả của một làng quê nghèo khi chưa bị tiếng còi tàu của văn minh làm náo động, làm người đọc nhớ tới cùng một phong cách của Alphonse Daudet. Cũng như khi ông phác họa những nhân dáng nghèo hèn với những nỗi khổ tâm riêng làm nhớ tới Guy De Maupassant.

Thạch Lam đã có một nhận xét khá xác đáng về thơ và văn Thanh Tịnh thời tiền chiến “truyện ngắn nào hay của ông đều có chất thơ bên trong và bài thơ nào hay cũng đều có cốt truyện lồng theo”. Chất hài hòa đã làm cho văn chương ông có nét riêng, thơ mộng và lãng mạn.

Trong giáo trình lịch sử văn học được giảng dạy tại các trường trung và đại học ở Việt Nam hiện nay, Thạch Lam, Hồ Dz ếnh và Thanh Tịnh được xếp vào một chi phái trong văn xuôi lãng mạn xu hướng văn xuôi trữ tình.

(…)

1

Một buổi sáng cuối tuần, nằm trong chăn ấm, với những cuốn sách quen thuộc chung quanh, tự nhiên tiếng mưa ngoài trời gợi lại cho tôi một diều gì bâng khuâng khó tả. Có những cảnh ngộ, khi trải qua rồi mới thấu hiểu được. Tôi nghĩ đến bài phỏng vấn nhà văn Thanh Tịnh của tạp chí Sông Hương xưa kia với bài thơ mà nhà văn tiền chiến tâm đắc nhất. Bài “Gặp lại“ như một nỗi niềm khi trở về Huế nhìn lại cảnh cũ nhưng với nhiều trái ngang:

 

“người cũ đây rồi bạn cũ đây
cầm tay lại nói chuyện chia tay
ba mươi năm chẵn xa lâu nhỉ
mà tưởng cách nhau có mấy ngày
giòng giòng kỷ niệm tuôn xuôi ngược
lẫn lộn vui buồn dệt ngổn ngang
cũng quên khóc trước hay cười trước
chỉ nhớ bên song nắng trải vàng
chuyện dài chưa hết bỗng ngồi yên
biết nói làm sao hết nỗi niềm
tóc bạc ngỡ ngàng hai mái tựa
thẹn thùng như buổi gặp đầu tiên.”

Bài thơ có những điều thiết tha, của một tâm tư lẫn lộn vui buồn. Ngôn ngữ bình dị, nhưng chuyên chở được nỗi xúc động hiện có. Tôi nghĩ bài thơ hay vì nỗi chân thành mà tác giả mang vào vần điệu…

(…)

Cùng với Thạch Lam, Hồ Dzếnh, ông được xếp vào cùng một trường phái văn chương vị nghệ thuật. Những truyên ngắn của ông tràn ngập ý thơ, với một tâm hồn vừa lãng mạn vừa sâu sắc. Một thế giới được tạo dựng lại với sự rung cảm tột độ khi diễn tả. Thời đó, không gian ấy đã xa lạ, đã là những ký ức đã qua, thì với bây giờ, sao đọc lại mà vẫn thấy hiển hiện những cảm nghĩ mồn một những xúc động.

Thanh Tịnh viết về ngôi làng của mình, làng Mỹ Lý trong cái thời gian mới cũ giao thời. Chữ Nho cổ xưa dần dần được chữ Pháp và Quốc ngữ thay thế. Phong tục trong làng cũng theo thời mà thay đổi. Hình ảnh ông đồ của thơ Vũ Đình Liên cũng phảng phất trong truyện ngắn Thanh Tịnh. Những ông đồ nho của một thời thất thế.

Như hình ảnh ông Hậu con của ông Hoàng chủ nhân của một dinh cơ nguy nga của một thời lừng lẫy phải viết câu đối tết ở phiên chợ cuối năm để sinh nhai, dù “chữ của ông ta viết đẹp lắm“ nhưng chỉ là hình ảnh gợi trí tò mò của những lũ trẻ con xúm nhau vây quanh nhìn ông ta viết một cách lơ đãng không hứng thú. Hay như nhân vật trong “Chú tôi”, một thầy đồ của thời cũ sót lại, với những câu văn hoa buồn cười và lối sống hủ lậu đang dần dần tàn tạ. Trong buổi giao thời, mọi giá trị bị thay đổi. Nhưng trong lòng những tâm hồn hoài cổ chắc không tránh khỏi nỗi ngậm ngùi.

Thanh Tịnh có những trang viết về tuổi học trò vẽ lại được một thời kỳ đã qua với nhiều sinh động. Những trường học mái ngói đỏ au dần dần đã thay đổi những lớp ê a câu Tam Tự kinh, những thầy giáo, những ông đốc mang ánh sáng văn minh đến tuổi học trò đã thay thế những cụ đồ già của thời cổ xưa ngồi trên phản ôm xe điếu với những câu chi hồ giã dã.

2

Những đứa trẻ lớn lên, say sưa với những biểu tượng của thời đại mới, thích thú với những cầu thủ của “đội ban nhà quê”, nhìn những chuyến tàu đi qua làng với cái háo hức tìm kiếm từ phương xa mang lại. Lúc ấy, đã xa lắm những lề tục hủ lậu, và đời sống đã có những cựa mình thay đổi. Những màn cúng tế, những buổi họp làng họp tổng, không còn là nỗi chú tâm của tuổi thơ.

Háo hức với sự thay đổi như thế, tâm lý con người như bị những lực đối kháng. Một mặt, chê bỏ những điều cũ kỹ, nhưng một mặt, vẫn thấy bâng khuâng ngậm ngùi trước những vần xoay thay đổi.

Những hình ảnh tràn đầy trong truyện Thanh Tịnh là những con tàu và những sân ga. Khác với trong truyện ngắn Thạch Lam, con tàu và sân ga là những vật thể tượng trưng cho năng động và đổi thay (như truyện ngắn “Hai Chị Em”), trong “Quê Mẹ“ là hình ảnh buồn rầu của một ga tạm mới dựng với những đoàn tàu sắt đi qua không ghé lại. Cũng có khi là những đoạn đường sắt song song giũa những cánh đồng cỏ hoang vu, hoặc tiếng còi tàu vang lên ngạo nghễ trong cái không gian im ắng vô vọng. Đại diện cho cơ khí trong một xã hội còn nhiều nét cổ lỗ phong kiến, những con tàu sắt là một biểu hiện cho văn minh mà Thanh Tịnh đã nhìn ngắm với nhiều chủ đích. Trong hình ảnh, chứa đựng những tâm cảm lẫn lộn giữa náo nức và ngậm ngùi.

“Quê Mẹ” là những chuyện “làng” tên Mỹ Lý. Ở đó có giòng sông, có những bến đò, có bờ sông xanh ngắt cây cỏ. Có những con người bình dị với những hoài vọng âm thầm, những tình ca ngập ngừng, những điệu hò mái đẩy đìu hiu. Quê hương của ông là nơi chốn của thơ mộng huyền ảo, của những lãng mạn thăng hoa thành ngôn ngữ. Đọc lại, những câu văn mang mang âm hưởng thi ca với văn phong tùy bút sang cả làm cho trí tưởng tượng như bị kích thích và đi xa hơn những phong cảnh thường nhật. Có mấy ai, không nghĩ về những phương trời cũ, về ngõ lối xưa khi tiếp nhận những hình ảnh ấy, tầm thường quen thuộc nhưng lại gợi biết bao nhiêu nỗi niềm…

( …)

Tôi đã đọc nhiều bài viết tưởng niệm ông và nghĩ rằng ông được nhiều bạn bè cũng như những người đi sau nể trọng. Tôi nghĩ một cách chủ quan, dù cố thay đổi nhưng con người của thời Quê mẹ, thời mà ba người đồng hành Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh cùng vào trường văn trận bút, vẫn không thay đổi. Dù trong cảnh huống nào, vẫn là cậu học trò bỡ ngỡ đến trường vào buổi đầu thu, vẫn là một con người có trái tim văn chương (…). Trong những trang Quê Mẹ, vẫn còn đất nước dấu yêu của mùi hương dù trong tưởng nhớ nhưng cũng làm ngây ngất nhiều người…

Thơ Thanh Tịnh bình dị, truyện ngắn Thanh Tịnh sâu sắc, và hình như trong tất cả văn mạch của ông phảng phất những nỗi buồn.

Hình ảnh ông đồ của thơ Vũ Đình Liên hình như cũng thấp thoáng trong ngôn ngữ và hình tượng văn chương của ông. Tấm lòng hoài cổ phát xuất từ niềm yêu thương quê hương thiết tha đã tạo thành nỗi rung động cho người đọc.

Dù mấy chục năm qua đi, dù thời thế xoay vần lưu chuyển, vẫn còn âm vang vẳng lại những câu tập đọc của bài Tôi Đi Học: Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh….

Nguyễn Mạnh Trinh

3

Tôi Đi Học

Thanh Tịnh

Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây ban bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.

Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy, tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này, tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.

Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quí và không đi ra đồng nô đùa như thằng Sơn nữa.

Trong chiếc áo vải dù đen dài, tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.

Dọc đường thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng xệch ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước ôm sách vở nhiều, lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.

Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:

– Mẹ đưa bút thước cho con cầm.

Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:

– Thôi để mẹ cầm cũng được.

Tôi có ngay cái ý nghĩ vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.

Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.

Trước sân trường làng Mỹ Lý dày đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.

Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé lại trường một lần.

4

Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ . Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng nào khác là nhà trường cao ráo và sạch sẽ hơn các nhà trong làng.

Nhưng lần này lại khác. Trướ c mặt tôi, trường Mỹ Lý trông vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn trong những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ .

Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ . Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.

Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Cảm thấy mình trơ vơ là lúc này. Vì chung quanh là nh ững cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả ban tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.

Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đến đứng trước lớp ba. Trường làng nhỏ, nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông ta đọc đến tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:

– Thế là các em được vào lớp năm. Các em phải gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy các em được sung sướng. Các em đã nghe chưa.

(Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có một tiếng dạ ran của phụ huynh đáp lại.)

Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút này, chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy, đã lúng túng, chúng tôi càng lúng túng hơn.

Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:

– Thôi, các em lên đây sắp hàng để vào lớp học.

Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cánh tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lưng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.

Ông đốc tươi cười nhẫn nại chờ chúng tôi.

5

– Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai lại được nghỉ cả ngày nữa.

Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi đi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt tươi cười đang đón chúng tôi trước cửa lớp. Trong thời thơ ấu, tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ.

Vì có những hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.

Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường, tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận, rồi tự nhiên lạm nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tý hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề quen biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá, đến nỗi tôi cũng không dám tin có thật.

Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.

Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa hay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.

Nhưng tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật.

Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đánh vần đọc:

– Bài tập viết: TÔI ĐI HỌC!

Quê mẹ, tập truyện ngắn,

Nhà xuất bản Đời nay,
Hà Nội, 1941

Thanh Tịnh

Mấy chục năm sau, đọc lại thơ Nguyễn Bính. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

images1445751_nguyen_binh__1_images1445754_605_129923747004797315_Tho_Nguyen_Binhnguyen-binh-90-bai-tho-tinh-chon-loc

(Chân dung và tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Bính)

Nguyễn Bính (1918-1966 ) với những câu thơ Lỡ Bước Sang Ngang, Tâm Hồn Tôi, Một Nghìn Cửa Sổ… là một thi sĩ có tên tuổi sống miên viễn trong lòng những người yêu thơ. Có những tác giả, mà tác phẩm có tuổi thọ dài hơn đời sống thực. Nguyễn Bính là một trong những khuôn dáng ấy. Những câu thơ trữ tình mộc mạc còn sống mãi trong ký ức văn chương của nhiều người.

Thế mà, có lần tôi đọc được một bài viết phê bình và có trích đăng những bài thơ ca tụng chế độ, ca tụng lãnh tụ của Nguyễn Bính. Những câu thơ đại khái như: “Cha già phương Bắc xa xôi. Lần tay tính lại tuổi người sáu ba. Có ai về tới Cha già. Dừng chân tôi gửi kính Cha đôi lời…”

Quả thực, tôi chợt thấy buồn. Buồn cho tác giả một mà buồn cho văn chương Việt Nam lúc đó mười. Những vệt đen ấy đã làm ố bẩn đi những ký ức đẹp của người yêu thơ. Mà phải thi sĩ được ân huệ nào của chế độ đâu? Ðến khi nhắm mắt giã từ cuộc sống ông vẫn là người chung thân bất mãn và chết trong cô độc với đám tang chỉ có vài người. Tôi chợt nhớ tới câu nói của Nguyễn Tuân đại ý nói viết văn phải một câu nịnh chen vào một câu trung mới có thể sống còn được. Có phải đó cũng là trường hợp của tác giả Lỡ Bước Sang Ngang?

Xuân Sách đã có vài dòng lược tả Nguyễn Bính khá độc đáo:

Mấy lần Lỡ Bước Sang Ngang.
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi.
Trăm Hoa thân cánh rã rời.
Thôi đành lấy đáy Giếng Thơi làm mồ.

Lỡ Bước Sang Ngang, Nước Giếng Thơi là tên những tập thơ và Trăm Hoa là tạp chí mà Nguyễn Bính làm chủ nhiệm. Về tình cảnh “Trăm Hoa thân cánh rã rời” Tô Hoài trong Cát bụi Chân Ai viết:

“Trên có sáng kiến lấy giấy và tiền nhà xuất bản giúp Trăm Hoa. Tôi được giao thuyết phục một báo tư nhân nhưng có tiếng nói chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân Văn. Tôi có kinh nghiệm năm đầu cách mạng giúp Nguyễn Ðức Thuyết ra báo Vì Nước. Công tác không khó khăn đối với tôi, nhưng đã thuộc tính lung tung của Nguyễn Bính, liền kéo cả anh Trúc Ðường đến. Nguyễn Bính cảm kích được giúp đỡ. Trúc Ðường đã làm báo lâu năm, từ Ích Hữu đến Ðàn Bà và rồi Công Dân ở đồng bằng sông Hồng trong kháng chiến. Chúng tôi bàn về Trăm Hoa lâu dài và cả từng số báo. Tôi “mua hộ”giấy in… Tờ Trăm Hoa ra một vẻ khác. Không về bè với Nhân Văn, như chẳng đi với ai. Trên nhận xét từng số, từng bài cho là chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết. Tôi bàn lại với Nguyễn Bính. Nguyễn Bính cười:

Trăm Hoa phải thế mới là Trăm Hoa của Nguyễn Bính chứ. Nếu không thì mày làm quách cho xong!”

Và thế là tờ báo đóng cửa. Nguyễn Bính lêu bêu trở về Nam Ðịnh phục vụ dưới quyền của Chu Văn ở Ty Văn hóa Thông tin Nam Hà. Hình như cách đối xử với nhà thơ cũng không có gì là thông cảm cho lắm cho đến khi ông chết.

Tuyển Tập Nguyễn Bính Nhà xuất bản Văn Học in năm 1986 có hai bài viết một giới thiệu của Tô Hoài một bạt của Chu Văn. Ðọc lại tôi thấy rõ một điều Tô Hoài viết về Nguyễn Bính trước 1945 và Chu Văn sau 1945. Hai thời kỳ thấy rõ ràng một cách biệt.

Thơ Nguyễn Bính thời tiền chiến, phát xuất từ trái tim nóng hổi yêu thương và một tâm hồn lãng mạn đến cao độ. Không cung cách làm mới nhưng ngôn ngữ đã đi vào lòng người từ những rung động sâu xa đằm thắm nhất. Thơ cho người yêu hay thơ về quê hương đã cách xa, cũng là những vần điệu ngân nga rất lâu trong hồn người đọc. Thơ ông bình dị, dễ nhớ, những câu lục bát, bảy chữ âm điệu như ca dao quả đã có đời sống lâu dài.

Riêng với bài bạt của Chu Văn, một thời kỳ sáng tác cuối đời của Nguyễn Bính được kể lại. Ông trưởng ty Thông tin Văn hóa viết về anh nhân viên của mình:

“Thế là từ hôm ấy anh Bính làm việc hàng ngày. Anh em đồng sự toàn là đàn em kể cả tuổi đời, tuổi nghề nghiệp. Nguyễn Bính làm việc không “tài tử” như một số anh em vẫn nghĩ. Anh ngồi trong phòng như một công chức kiểu mẫu, viết rất kỹ. Bản thảo của anh trông thật mê. Và anh có lối viết thảo bằng bút lông rất bay bướm thường hay chép thơ khi tặng bạn bè.

Công việc làm thơ tuyên truyền. Thơ ca ngợi chiến thắng miền Nam. Thơ nói về sản xuất nông nghiệp công nghiệp. Những tập sáng tác của Ty Văn Hóa ngày in ra phát hành không thu tiền. Nguyễn Bính làm thơ phục vụ công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước…”

Thôi rồi một đời nhà thơ. Những đề tài ấy làm sao thành những tâm đắc được để tài hoa có dịp phát tiết ra ngoài. Suốt mấy năm, thơ đã trở thành phương tiện để sống. Và số phận của ông đã định sẵn để rồi chấm dứt bằng cái chết ngậm ngùi đúng ngày ba mươi tết. Cuối đời lang bạt thiếu vắng nỗi vui. Thơ chết điếng trên những lãnh vực mà một người làm vè cũng có giá trị ngang với một nhà thơ lừng lẫy… Chế độ ấy về sau có làm nhà lưu niệm rồi tưởng niệm thì cũng đã muộn. Lãnh đạo đâu có cần và đâu có trọng nghệ sĩ. Mà họ chỉ sử dụng trong một giai đoạn mà thôi.

Như có người đã viết những cái hay cái đẹp đáng nhắc nhở hơn là những cái tầm thường vì cái xấu cái bất toàn nhan nhản ở đời sống nhắc đến làm gì cho mệt. Tôi đọc lại những bài thơ của Tâm Hồn Tôi, của Lỡ Bước Sang Ngang… với nhiều chia sẻ. Coi như chỉ đề cập đến những gì mà nhà thơ tâm đắc. Còn những rác rưởi kiểu văn chương anh cán bộ xã ấp để ý làm chi!

Tôi quên đi những bài thơ tuyên truyền mà Nguyễn Bính làm để phục vụ chế độ. Tôi cũng quên đi những câu thơ khích động chém giết sắt máu và ca tụng những kẻ cầm quyền một cách quá lố.

Mà nói đến Nguyễn Bính, tôi lại chỉ nhớ đến những câu thơ ca tụng tình yêu, đến những ngôn ngữ thi ca hướng vọng về quê hương, đến những mối tình đơn sơ của đồng nội của một thuở giao thời của đất nước chúng ta.

Như Tô Hoài nhận xét về bài thơ Chân Quê, coi như một bản tuyên ngôn về quan niệm sáng tạo của một nhóm thi sĩ trong thời kỳ thi ca đang nở rộ ra nhiều trường phái.

“Bài thơ Chân Quê của Nguyễn Bính không phải là đôi lời than thở của anh ả gặp chị ả nào đó. Chân Quê tuyên bố quan niệm của phái thơ này trong trào lưu làm thơ đương rầm rộ.”

Hoa chanh nở ở vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều…

Tôi cũng được thấy như thế, thơ và hành động trong đời làm thơ của Thâm Tâm, của Trần Huyền Trân và các bài thơ của Nguyễn Bính. “Ðưa người ta không đưa sang sông…” và “Nhớ nhau vẫy bút làm mưa gió…” Những áng thơ phảng phất “Thét roi cầu Vi” kỳ thực mang trong lòng hình ảnh tâm sự của người cầm bút thời đại”

Tôi nhận thấy Nguyễn Bính đã dùng rất nhiều hình ảnh cánh bướm trong thơ của mình. Với ông hình ảnh cánh bướm luôn ám ảnh và coi như là một biểu tượng của luyến ái, của những mơ mộng, và của lãng mạn kết thành.

“…Nhớ con bướm trắng lạ lùng
Nhớ tơ vàng nữa nhưng không nhớ nàng
Hỡi ơi bướm trắng tơ vàng
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi
Ðêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc quả tôi yêu nàng
Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập hồn bướm trắng mà sang bên này…”

Hay, trong “Hương cố nhân”:

Tôi chỉ thèm yêu được một lần
Có người đi giữa xứ mùa xuân
Thấy con bướm trắng bay thơ thẩn
Ý hẳn đi tìm hương cố nhân..”

Hoặc ở “Bướm đi tu”:

Lá rụng hoa buồn không nở nữa
Hoa buồn không nở bướm đi tu..”
Rồi, bài “Bóng bướm”:
Cành dâu cao, lá dâu cao
Lênh đênh bóng bướm trôi vào mắt em
Anh đi đèn sách mười niên
Biết rằng bóng bướm có lên kinh thành
Cành dâu xanh lá dâu xanh
Một mình em hát một mình em thương…

Tôi đọc một bài thơ cũng hay hay, thẩn thơ thơ thẩn như con người thi sĩ, “Không đề”, một bài thơ của chia ly:

Hôm nay dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy anh về đâu
Cánh buồm nâu cánh buồm nâu, cánh buồm…

Những điệp ngữ xoáy sâu vào trong cảm xúc như tiếng kêu thất thanh của người cảm thấy tự dưng mất biệt nhau. Người đi, kẻ ở, cách nhau qua khuôn cửa nhỏ tò vò, một hình ảnh chia ly tội nghiệp mà thơ đã làm sống lại những cảm giác của giây phút mịt mùng, của thời khắc sẽ thành xa vô định. Chiếc thuyền và khung cửa tò vò, chỉ có thế thôi mà chuyên chở được những tấm lòng bão dông trong cơn ly biệt…

Nguyễn Bính có bài Hành Phương Nam được nhiều người truyền tụng. Mùa xuân, vơi đầy tâm sự. Có những bức bối trong lòng . Thơ như men cay chưa hả, như lửa bừng bừng trong tâm. Thơ, một biển trời mênh mang ý nghĩ. Ðời sống mở ra những cảnh ngộ. Thơ, như một cách thể hiện, nói về để sẻ chia nghìn tâm sự:

Ðôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà ta với người buồn vậy thay
Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may
Người giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trí thân vào nợ nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây.
Nợ tình chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.

Nguyễn Bính làm thơ cho chị Trúc, cho người yêu cũ tên Oanh, rồi Ý Nhi, Tú Uyên… với những câu thơ thật đậm đà, chân tình. Theo Bùi Hạnh Cẩn tác giả “Nguyễn Bính và Tôi” một người hiểu biết rất rõ đời tư của ông thì những người con gái này có thực nhưng nhan sắc thì cũng thường thường không nổi trội lắm. Thơ, từ thi sĩ, có lẽ là kết quả của mơ mộng, lẫn lộn giữa thực và ảo, và những hình bóng ấy tái sinh lại trong một thế giới riêng của thi sĩ. Bằng ngôn ngữ bình dị, những cuộc tình được kể lại trong cái rung cảm của những trái tim riêng của nòi tình. Thơ Nguyễn Bính, là tổng hợp của nhịp đập trái tim và nhịp rung của tủy não trong cơn mê man của những mối tình lãng mạn. Như thế còn chỗ nào cho những lời ca tụng chế độ suông tình, cho những “nông công nghiệp Xã hội Chủ nghĩa”?

Nguyễn Mạnh Trinh

Tháng Giêng tưởng niệm “Thi Sĩ Mai Thảo”. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

1B68316D-C2F4-43D9-860E-F53B6D098E02_w640_r1_cx0_cy18_cw97_s

(Mai Thảo qua ống kính Nguyễn Bá Khanh).

Thuở sinh thời, nhà văn Mai Thảo viết Tháng Giêng Cỏ Non. Từ ngày 10 tháng Giêng năm 1998, là ngày ông từ trần, tới nay là mười lăm năm. Cỏ non bây giờ đã phủ đầy mộ chí.…

Có một người làm thơ, đã khắc trên bia mộ của mình bài thơ tứ tuyệt:

Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.”

Bài thơ nhan đề “Không hiểu” mở ra với cái hữu hạn của con người và đóng lại với cái vô hạn của cuộc sống. Có mấy ai thông kim bác cổ hiểu được tất cả sự việc? Dù, cả khi cuối đời, khi đã trải đủ ngọt bùi đắng cay của kiếp nhân sinh? Chỉ, khi đã nằm trong ba tấc đất, nhìn ngôi sao sáng để đọc được cái lẽ huyền vi của đất trời. Chữ “chẳng sao” trong câu thơ, ý lạnh lùng, nghĩa thản nhiên, có một chút mặc kệ, biểu lộ cái tâm cảm an nhiên của một người sẽ phải đáp chuyến đi vào vô tận. Cuộc hành trình vô tận ấy, có khi xa xăm như ngôi tinh đẩu kia nhưng lại đôi lúc gũi gần như cái chết dần trước mặt. Thơ như trải ra nỗi niềm của một người thấy được cái hư vô của đời người. Thơ không đóng lại mà mở ra cõi tâm linh của một người có đôi mắt luôn vọng về một cõi xa, của tâm thức muôn đời vời vợi…

Có một người viết văn, coi việc cầm bút là làm đẹp cho đời, mang chữ nghĩa để biểu tỏ tấm lòng thiết tha yêu đời yêu người. Những trang tùy bút đẹp, những tiểu thuyết tình yêu có nét lãng mạn riêng mang nét đặc thù một mình một chiếu. Người ấy, đã là chủ nhiệm Sáng Tạo, mang một không gian mới cho khí hậu văn học Việt Nam, cũng như đã từng là chủ nhiệm tạp chí Văn một giai đoạn ở hải ngoại, hình thành một thời kỳ văn chương sôi động và phong phú của những người lưu vong của thập niên 80. …

Có một người trong suốt cuộc đời mình tuy quảng giao, nhiều bạn nhưng lúc nào cũng cảm thấy cô đơn, như một người luôn đi tìm kiếm cái vô cùng nhưng cuộc đời thì còn nhiều hữu hạn. Người ấy, tự nhận là mình không thành công trong tình ái nhưng lại có nhiều giai thoại tình yêu đặc biệt. Trong cuộc đời, có những nét khác người, cả về văn chương lẫn nếp sống …

Người ấy, là nhà văn Mai Thảo.

Bức thư của nhà văn Nguyễn Đình Toàn khi còn kẹt lại trong nước gửi tay cho ca sĩ Duy Trác mang sang Hoa Kỳ cho tác giả “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” mà Nguyễn- Xuân Hoàng trong Sổ Tay của tạp chí Văn đã trích dẫn cho thấy một nét đặc thù của một chân dung văn học hàng đầu:

“..Tao có đọc mấy bài thơ ‘quỷ quái’ của mày. Tất nhiên làm gì có đủ mà đọc hết. Vứt mẹ nó hết những cái gọi là ý nghĩa sự đời đi. Cái đặt được tay vào chỗ không thể đặt là đủ sướng rồi. Nhất là hôm gặp lại ‘nghe bả khen thơ mày’, càng thích. Nhưng bày đặt làm thơ làm gì cho khổ cái thân già…

.. Ông Lý* vừa tới chơi. Nghe tao định viết thư cho mày, ổng gửi lời thăm. Vẫn chưa chừa bệnh văn chương. Ông bảo viết về Mai Thảo thật khó. Tao có bảo với ổng, coi như mỗi thằng viết văn có một mảnh đất, chữ nghĩa của nó là cỏ. Hễ nó lấp đầy được mảnh đất thành một bãi cỏ xanh là đủ, mặc mẹ những chỗ lồi lõm. Cái hay của Mai Thảo là nó viết một chữ cũng Mai Thảo, một câu cũng Mai Thảo. Thế là quá đủ rồi…” [Ông L‎ý là nhà văn L‎ý Hoàng Phong]

Quả thực, cõi văn chương của Mai Thảo có một phong thái riêng, một mình một chiếu. Chữ nghĩa văn xuôi của tác giả những “Đêm giã từ Hà Nội”, “Căn nhà vùng nước mặn”, “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời”… là ngôn từ đẫm chất thơ nhưng lại cố tâm sử dụng để không còn là một thể loại trang hoàng mà tạo thành một bản chất văn chương tạo thành ấn tượng. Đọc lại những đoạn văn tả tình tả cảnh, thấy man mác những không gian thời gian, bàng bạc những cảnh thổ, những nỗi niềm.

Nguyễn Tuân đã nâng nghệ thuật viết tùy bút lên một bực khi viết những trang chữ phản ánh một thời đã qua cũa những con chữ lấp lánh ánh nắng hoàng hôn của hồi tưởng. Có sự cầu kỳ, có chút làm dáng nhưng tất cả là kết tinh của trân trọng chữ nghĩa nâng niu văn chương. Còn với Mai Thảo, tất cả đều là thơ, từ những câu văn thật dài hay những câu thật ngắn, có lúc như những lời cộc lốc, có lúc trầm bổng như ngầm chứa biển cả tiết tấu bên trong. Cái mục đích duy nhất là làm đẹp, đẹp cho đời sống và đẹp cho văn chương.

Cái chủ đích duy mỹ ấy, đã tạo thành những mẫu nhân vật đẹp, những tâm tình đẹp, nhiều khi hiếm hoi trong đời. Từ nội dung suy tưởng đến hình thức diễn tả, là những dấu ấn mà Nguyễn Đình Toàn đã gọi là “một chữ cũng Mai Thảo, một câu cũng Mai Thảo”.

Trong những tập truyện ngắn của mình, Mai Thảo đặc biệt thích tập “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời”. Trong khi trả lời câu phỏng vấn của Jane Katz “Artists in Exile”, ông đã nói đại ý là nhân vật của ông đã khám phá ra một điều là những kẻ đã đạt tới đích đều tầm thường, những cái đạt được cũng tầm thường như vậy. Cho nên để Ngọn Đỉnh Trời mãi mãi vẫn là một bí mật, là thần tượng không bao giờ có thực, là cái đích luôn luôn treo trước mặt nhưng không bao giờ vươn tới, nhân vật ấy không muốn bước tới và chọn sự ra đi: “leo lên cho được một đỉnh núi cao nhất phương Đông nhân vật của ông muốn biết đình núi ấy cao bao nhiêu, ông đang đi tìm một thứ chân lý tuyệt đối và cũng là hạnh phúc. Nhưng khi đã đặt chân lên đến đỉnh cao, lại là một cảm giác tuyệt vọng bởi ví đã khám phá ra rằng chân lý tuyệt đối chẳng bao giờ có thực và đạt tới được “tâm lý hoài nghi có lẽ là của một người luôn đi kiếm tìm hạnh phúc như tác giả Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” chăng?

Những tập truyện ngắn khác như “Tháng Giêng Cỏ Non”, “Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật”,“ “Căn Nhà Vùng Nước Mặn”,… lại là những thành công về nghệ thuật dù trên phương diện thương mại có số bán không bằng hoặc ít tái bản như các tập truyện dài “Khi Mùa Mưa Tới”, “Cũng Đủ Lãng Quên Đời”, “Mười Đêm Ngà Ngọc”, “Mái Tóc Dĩ vãng”, “Tới Một Tuổi Nào”.…

Những truyện ngắn, biểu lộ tính duy mỹ và duy cảm rõ rệt. Trong hình ảnh, đầy ấn tượng. Trong ngôn ngữ, đầy cảm xúc. Ở thể loại truyện ngắn gần như tùy bút, văn phong được chuốt lọc tạo được nhiều đoạn tả tình hay tả cảnh đặc sắc. Đọc “Người thầy học cũ”, “Chuyến tàu trên sông Hồng”, “Người đàn bà trong vòng đai trắng”, thấy được cái không gian lồng lộng của vô biên cũng như những tâm tình rất Việt Nam ẩn sâu trong văn mạch.

Đọc “Đêm giã từ Hà Nội”, để thấy một sự lựa chọn. Bỏ lại thành phố đầy kỷ niệm dưới chân, để bắt đầu cho cuộc sống mới. Hết rồi, cái thuở đeo bạc đà đi kháng chiến lang thang ở khu Tư. Bây giờ, khởi hành cho một đoạn đường mới. Tâm tình của người sắp sửa rời xa như luyến nhớ tha thiết những gì bỏ lại sẽ mất mát vĩnh viễn. Những câu văn, những dòng chữ, là tiếng xé lòng, là nỗi niềm mênh mang ứa lệ:

…Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia… Nhìn xuống Phượng có cảm giác chơi vơi như đứng trên một tầng cao. Anh nhìn xuống vực thẳm Hà Nội ở dưới ấy……”

Vực thẳm ở dưới ấy, là cuộc giã từ không hẹn ngày về, của chuyến bay chót sau một trăm ngày đình chiến và Hà Nội sẽ đổi chủ, sẽ mất đi những bóng dáng, những kỷ niệm cũ……

Nhà xuất bản Văn Khoa ở hải ngoại của giáo sư Đỗ Đình Tuân đã in cho ông hai tác phẩm tiêu biểu. Một là tập Chân Dung Tác Giả, hai là tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”. Tập thơ độc nhất trong danh sách hơn bốn chục truyện dài và hai chục tập truyện ngắn. Thơ của một người làm thơ nhưng yêu thơ như với một tôn giáo cuồng tín nhất. Dù:

“Cõi không là thơ. Không còn gì nữa hết là thơ. Nơi không còn gì nữa hết là khởi đầu thơ. Một xóa bỏ tận cùng . Từ xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ… (Bờ cõi khởi đầu).

Ta thấy hình ta những miếu đền. Có phải là những câu cuồng ngạo của một người tự đắc nhìn vào gương ngắm mình và tự vái mình? Nhiều người đã nghĩ thế. Nhưng, nếu đọc kỹ, thì ngược lại. Trong thấp thoáng tư tưởng của Trang Tử từ Nam Hoa Kinh, những câu thơ như là một chứng nghiệm của cuộc sống. Mai Thảo đã nói rất nhiều về Nam Hoa Kinh, về những câu thơ của mình trong những lúc bốc đồng của cơn say. Giữa hai bờ cực tiểu và cực đại, giữa có và không, con người phải vượt qua những mâu thuẫn để đạt được cái nhìn “huyền đồng”, chan hòa cái lẽ “Một”, để không còn băn khoăn suy nghĩ về còn mất, có không, về cái thật lớn hay điều cực nhõ, về cái chính mình hay là kẻ khác….
“
Ta thấy hình ta những bảng đường
Đời ta, sử chép cả ngàn chương
Sao không hạt cát sông Hằng ấy
Còn chứa trong lòng cả đại dương…”

Có thể nói rằng cái ta được đạt tên đường, cái ta sử chép hay cái ta hạt bụi cái ta tầm thường cũng chỉ là một. Vì hạt cát nhỏ bé thế kia mà chứa đựng cả đại dương bên trong thì phân biệt làm gì giữa cá Côn, chim Bằng với con ve sầu, chim Cưu như Trang Tử đã luận.

Và:

Ta thấy hình ta những miếu đền
Tượng thờ nghìn bệ những công viên
Sao không, khói với hương sùng kính
Đều ngát thơm từ huyệt lãng quên.

Ta thấy muôn sao đứng kín trời
Chờ ta, Bắc đẩu trở về ngôi
Sao không, một điểm lân tinh vẫn
Cháy được lên từ đáy thẳm khơi

Ta thấy đường ta Chúa hiện hình
Vườn ta Phật ngủ, ngõ thần linh
Sao không, tâm thức riêng bờ cõi
Địa ngục ngươi là, kẻ khác ơi!..”

Những chính đề và phản đề cứ nối tiếp nhau. Chữ “sao không”, dùng như một ý phủ định, lột tả được một tâm trạng. Miếu đền, tượng thờ đường bệ hay huyệt đất bình thường cũng chỉ là một, với hàm ý lãng quên. Cũng như ngôi Bắc Đẩu của trời tinh tú, hay vệt lân tinh nhỏ nhoi cũng là một. Hay ý Chúa, tâm Phật với tâm thức con người cũng chỉ là một mà thôi.

Sao không.. Sao không. ..Những vấn nạn nối tiếp nhau, để càng thấy mênh mông hơn cái biên giới giữa cực tiểu và cực đại, giữa có và không, giữa còn và mất. Có phải, rốt cuộc tất cả chỉ là hư vô, hay trong tận cùng, con người phải tự giết mình đi để phục sinh. Sao lại không nhỉ?

Có người cho rằng văn chương Mai Thảo đầy chất viễn mơ và quay lưng với thực tại của Việt Nam với những thời kỳ đầy máu lửa. Những truyện dài kiểu tiểu thuyết “feuilleton” đăng hàng ngày có thể làm bố cục tác phẩm lỏng lẻo hoặc có thể trùng lặp từ ý tới lời. Đề tài tình yêu vẫn là một đề tài ăn khách và những nhân vật của ông sống trong một môi trường khó có thực trong đời thường. Nhưng cái nét đẹp trong thơ của Mai Thảo cùng với cái bềnh bồng lãng mạn của những người thích rong chơi đã thành một nét quyến rũ người đọc.

Nhưng trước sau, Mai Thảo vẫn là một người làm thơ, dù chỉ in có một tập thơ độc nhất. Viết văn là làm thơ. Viết tùy bút cũng là làm thơ. Viết “Tùy Bút” cho báo “Khởi Hành” trong nước hay “Sổ Tay” cho tạp chí Văn ở hải ngoại cũng là làm thơ. Với ông, đang sống và đang thở cũng là đang làm thơ. Thơ, như mạch sống còn. Thơ như thực phẩm để dinh dưỡng trí tuệ…Có thể nói Mai Thảo là một thi sĩ hơn là một văn sĩ. Tôi nghĩ thế.

Nguyễn Mạnh Trinh
(Blog / Nguyễn Xuân Hoàng)

 

Tố Hữu và Đặng Tiến. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


tohuuDangTien

(Chân dung Tố Hữu và Đặng Tién)

Nguyễn Mạnh Trinh

Tố Hữu là một nhân vật đã chết cách nay hơn chục năm. Viết về nhân vật này bây giờ có lẽ hơi không hợp thời. Và cũng đã có nhiều người viết về ông ta. Trong đó có Đặng Tiến, một người phê bình văn học đang sống ở Pháp. Nhân ở trong nước có những cuộc hội thảo về Tố Hữu, tôi đọc lại bài viết của Đặng Tiến để may ra có thể rút ra được một vài nhận xét có thể chính xác hơn không!

Đặng Tiến viết: “Nhà thơ Tố Hữu qua đời ngày 9 tháng 12 năm 1992, thọ 82 tuổi, là một tác giả chủ yếu trong nền văn học, thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Trước, tác phẩm của ông cơ bản là thơ chính trị, đấu tranh cho độc lập, thống nhất đất nước, ngợi ca dân tộc, đề cao lý tưởng Cộng sản và xã hội chủ nghĩa. Như vậy, dĩ nhiên là nhiều người thích hoặc không thích.

Kẻ thích trong giai đoạn đấu tranh, một khi mục tiêu đã hoàn tất thì bớt thích. Người chuộng những bài thơ ngợi ca lý tưởng- dù có khác chính kiến-cũng dè dặt với những câu sắt máu hay qúa khích. Loại thơ ngợi ca dân tộc và đất nước trước kia bây giờ đọc lại thấy nhàm chán, dễ dãi. Người yêu chuộng thi ca một thời cho thơ Tố Hữu là mới mẻ thiết thực, bây giờ thấy cũ kỹ thiếu sáng tạo và hiện đại. Xưa kia Tố Hữu làm thơ cách mạng, bây giờ ông được xem như tác giả bảo thủ, từ hình thức đến nội dung…”

Đặng Tiến viết Tố Hữu làm thơ chính trị, nhưng không đấu tranh cho độc lập, thống nhất đất nước mà chỉ đề cao lý tưởng Cộng sản, tôn sùng lãnh tụ ngoại lai. Và cũng chẳng ngợi ca dân tộc mà ngợi ca những tên đao phủ uống máu người không tanh như Stalin, như Mao Trạch Đông.

Nhà phê bình văn học Đặng Tiến hình như cố tình viết không đầy đủ. Những người mà ông nói về phía những người“ thích” Tố Hữu thì chỉ có ở ngày trước thôi, lúc ông này còn quyền chức. Chứ bây giờ đã khác rồi, tất cả đã thay đổi “dè dặt với những câu sắt máu hay quá khích”; “bây giờ đọc lại thấy nhàm chán dễ dãi”; “bây giờ thấy cũ kỹ thiếu sáng tạo và hiện đại”; “bây giờ ông được xem như tác giả bảo thủ, từ hình thức đến nội dung”. Tóm tắt, là “trước, thích, bây giờ, không thích”. Và như vậy, hiểu theo mạch văn ngầm thì ít người “thích” thơ Tố Hữu, và nhiều người đã thay đổi từ “thích” sang “không thích” ở cả những người về “phía” của ông ta.

Tố Hữu đề cập đến phía khác. Phía khác chính kiến, dĩ nhiên lắm kẻ không ưa, thậm chí còn thù oán. Họ thường cố công trích dẫn mấy câu vần vè tuyên truyền quá khích để bêu riếu. Ở đời, những cái thời thượng quá đáng thường chóng qua, bên nào cũng vậy. Văn học lâu dài công bình hơn…

Bây giờ, văn học đã qua một khoảng cách lâu dài đủ để cho thời gian chính xác, thì một nhà phê bình trong nước, ông Lại Nguyên Ân năm 2010 đã viết về “mấy câu vần vè tuyên truyền quá khích” để “phê phán” chứ không phải “bêu riếu”. (Không hiểu ông Lại Nguyên Ân có đứng về phía khác chính kiến không và có thù oán gì với lãnh tụ văn nghệ Tố Hữu của ông Đặng Tiến không). Ông Lại Nguyên Ân viết:

“Thơ Tố Hữu có những vết nhơ không thể tẩy xóa, như đoạn thơ “yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi “Stalin”! Ý thơ ấy ngay tầm gần đã trái hẳn lẽ thường nhân loại, trẻ con tập nói thì gọi “mẹ” chứ đâu đã biết ai xa lạ? Trẻ Việt làm sao tập nói được cái từ đa tiết xịt xoạt như thế kia? (Bài đăng tạp chí Văn Nghệ 1953 là “Tiếng đầu lòng nó gọi Ông Lin”, bản in vào sách Việt Bắc, 1955 sửa thành “Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”). Lại nữa, người đàn bà Việt dân quê làm sao có thể “Thương cha thương mẹ thương chồng/ Thương mình thương một thương Ông (Stalin) thương mười”(!?!). Đây quả là một quái tượng trong thơ ca tiếng Việt và thơ ca thế giới, khi nhà thơ (thường được xem là kẻ chỉ biểu dương những gì nhân ái, lương thiện) lại ngợi ca “công đức” một Bạo Chúa, một Hung Thần, một Độc Tài khét tiếng, một Đao Phủ Thủ vĩ đại, và để làm cái việc ngợi ca trái lẽ ấy, người làm thơ đã hoàn toàn xé bỏ những giới hạn thông thường của tình cảm nhân loại…”

Không hiểu ông Đặng Tiến đọc những dòng chữ trên có ý nghĩ gì? Có thể ông có phản ứng giống như cả một đội ngũ bồi bút trong nước hiện đang ca tụng say sưa Tố Hữu trong những cuộc hội thảo được liên tiếp tổ chức? Và ông có nghĩ rằng Tố Hữu yêu dân tộc, tranh đấu cho tự do thoát vòng nô lệ lại tôn sùng những tên tội đồ của nhân loại như thế…

Về những câu mà Đặng Tiến cho là “vần vè tuyên truyền quá khích” thì Lại Nguyên Ân viết: “Trên mạng internet bây giờ đôi khi còn thấy người ta cho rằng Tố Hữu là tác giả đoạn thơ khủng khiếp này:

“Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt…”

Tôi thấy lạ với đoạn thơ này vì dường như chưa từng gặp nó trong các tập thơ Tố Hữu đã đọc. Vậy nhân đây đề xuất với giới nghiên cứu, nhất là các giáo sư đã từng “ăn lộc” nhiều ở thơ Tố Hữu (như Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử…) hãy tìm ra ngọn nguồn đoạn thơ này và thông tin lại cho bạn đọc, nếu nó không phải là thuộc ngòi bút Tố Hữu thì cũng là may cho ông, tuy vẫn thật buồn cho giới làm thơ của chúng ta. Lọt sàng xuống nia, nó vẫn là của một ngòi bút Việt Nam nào đó. Vượt ra ngoài chuyện xác định “tác quyền” cụ thể, đoạn thơ này thông báo rằng còn có cả một dòng thơ quần chúng sắt máu đầy hận thù giai cấp từng được Đảng khơi lên, từng được sáng tác và lưu truyền ra ngoài dân chúng,- đó là văn thơ có cả kịch chèo phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, xuất hiện vào khoảng năm 1951 và tự tắt đi vào khoảng năm 1956. Rất nhiều tên tuổi nhà thơ nhà văn quen thuộc có góp tác phẩm vào mảng thơ văn này kể cả Nguyễn Tuân, kể cả Nguyễn Bính, kể cả Hữu Loan… tất nhiên số đông hơn vẫn là những tác giả quần chúng ít tên tuổi. Cho đến nay, về cải cách ruộng đất thì ít nhiều đã có những công trình, luận án sử học, nhưng mảng văn thơ cải cách ruộng đất thì vẫn chưa hề có một sưu tập, tuyển tập tác phẩm, cũng chưa có một công trình nghiên cứu, luận án hay luận văn nào đề cập tới. Cố tình hay vô ý của giới nghiên cứu văn học chính ngạch ta đây? Hãy chờ nghe trả lời từ những người đang phụ trách các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội của nhà nước. Nhưng dù sao thì cũng đừng nghĩ rằng hễ giới nghiên cứu làm bộ quên thì mảng văn thơ này sẽ dần dần biến mất; tốt hơn là nên tiếp cận bằng các sưu tập và công trình nghiên cứu, tức là nhắc lại nó như một kinh nghiệm đau xót của một nền văn học từng sa vào những giọng điệu và tinh thần phi nhân đáng hổ thẹn này…”

Thế mà, vẫn có một người nhận mình là phê bình văn học lại cố tình đánh lờ, viết những câu rất “ngạo mạn” rất là “chánh tổng văn học của văn chương làng xã” (mà nhà phê bình văn học ở trong nước Hoàng Ngọc Hiến đã gọi)

“Những hạn chế trong thơ Tố Hữu thì Trần Dần đã viết bài phê phán từ năm 1957, thịnh thời của Tố Hữu. Bài viết can trường, sắc sảo và chính xác, từ năm 2001 đã được phổ biến rộng rãi ở ngoài nước. Tôi không cần thêm điều gì.

Tố Hữu nhà thơ, còn là nhà chính trị lãnh đạo văn nghệ. Nơi này hay nơi kia, khi này hay khi khác, ông đã có những sai lầm, mà tôi không nói ở đây, vì không phải lúc, lễ độ văn học không cho phép”

Không đề cập đến, không phân tích đến thì ông Đặng Tiến viết bài này làm gì? Để chờ “ăn lộc” trong thơ Tố Hữu chăng? Và lúc nào thì phải lúc để lễ độ văn học cho phép?

Đặng Tiến khen Tố Hữu: “Tố Hữu xuất thân từ phong trào Thơ Mới 1932-1945, đã có công tạo một nội dung mới cho phong trào này, đã đưa phong trào thơ Mới vào sự nghiệp giải phóng dân tộc- dĩ nhiên là với nhiều tác giả khác- nhưng ông là mũi tiên phong. Với thơ Tố Hữu, những Mẹ Tom, Mẹ Suốt đã đi vào rừng sâu, ngục tối và dáng dấp Nàng Thơ đã thay xiêm đổi áo. Thơ đã thật sự đến với quần chúng theo những bước chân, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng, đã biết với nhân dân “cùng đổ mồ hôi sôi giọt máu…”

Có người phản bác Tố Hữu đã không tạo một nội dung mới nào cho Thơ Mới hết mà trái lại còn là kẻ phá hoại thay vì xây dựng. Ông ta áp đặt một thứ văn nghệ vô sản chữ nghĩa nôm na để bắt mọi người theo và quyết liệt phê bình để loại trừ tính lãng mạn mà ông ta gọi là lãng mạn kiểu tiểu tư sản. Và bảo ông ta “cùng đổ mồ hôi sôi giọt má” với nhân dân thì cũng chẳng có đâu, ông ta chỉ tuyên truyền và xúi giục người khác hy sinh để ông ta hưởng thụ mà thôi.

Đặng Tiến khen Tố Hữu bằng cách chê bai những nhà thơ (Không hiểu có nhà thơ Đặng Tiến tức Nam Chi trong thành phần này không?):

“các nhà thơ thường ảo tưởng về “thiên chức” của mình, tự phong làm những ngọn hải đăng cho nhân loại. Nhưng ai đọc các Ngài? Có người còn ảo tưởng: dân tộc Việt Nam yêu thơ. Nhưng yêu thơ gì, ngoài những vần vè ê a ấp úng trong các dịp hiếu hỉ, tửu hậu trà dư? Hai nguồn ảo tưởng ấy đã kết duyên, thành đôi thành lứa nương tựa vào nhau để sống. Một hạnh phúc vần vè trên ngộ nhận. Thơ Tố Hữu với những thành tựu và hạn chế đã thật sự đi vào quần chúng thuộc nhiều giai tầng xã hội khác nhau, trong một thời gian dài trong gian truân và khói lửa. Nói rằng thơ Tố Hữu đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước thì quá đáng nhưng đã cụ thể tham dự vào đời sống gian lao của dân tộc…”

Ông Đặng Tiến có trí nhớ hơi lộn xộn. Hoặc ông cố tình. Lúc thì ông viết rằng Tố Hữu có viết những bài thơ “vần vè tuyên truyền quá khích” ở đoạn trước thì ở đoạn sau ông lại viết thơ Tố Hữu đi vào quần chúng. Và, ông lại mang cái ngôn từ “vần vè” đầy chất bỉ thử gán cho những người làm thơ khác không chịu… đi vào quần chúng như kiểu Tố Hữu. Ông viết lấy được, lý luận một chiều, và cố tình che chở cho những cái lỗi lầm hiển nhiên của một quan văn nghệ như Tố Hữu. Đã thế lại cái giọng vừa sấc sược kiểu cường hào ấy lại càng gây phản cảm cho người đọc và càng làm rõ ràng hơn chân dung bị bôi lem bị phỉ nhổ…

Còn một điều nữa, trước đây tôi vẫn cứ tưởng dân tộc Việt Nam yêu thơ với truyền thống đã có từ lâu. Bây giờ, ông Đặng Tiến vì bênh vực Tố Hữu đã xổ toẹt “Các nhà thơ thường ảo tưởng về thiên chức của mình tự phong làm những ngọn hải đăng cho nhân loại. Nhưng ai đọc các Ngài? Có người còn ảo tưởng dân tộc Việt Nam yêu thơ. Nhưng yêu thơ gì ngoài những vần vè ê a ấp úng trong các dịp hiếu hỉ, tửu hậu trà dư? Hai nguồn ảo tưởng ấy đã kết duyên, thành đôi thành lứa nương tựa với nhau mà sống… Một hạnh phúc vần vè trên ngộ nhận…”

Đọc những câu này tôi thật sửng sốt. Và vội tìm đọc lại những bài viết của Đặng Tiến trong các tạp chí, các trang mạng và cả các quyển sách như “Vũ Trụ Thơ”, hay “Thơ, Thi Pháp và Chân Dung” thì thấy rằng những dòng chữ trên thật lạ lùng hiếm thấy. Những câu chữ phỉ báng thơ trong những ý khẳng định mà không chứng cớ. Nói khơi khơi, chê bai khơi khơi như một kẻ không biết suy nghĩ… Mà mục đích là gì, để làm nổi bật lên một thợ thơ Tố Hữu thành một nhà thơ Tố Hữu, y hệt như lời bốc thơm một anh thợ vẽ nhà quê thành một họa sĩ đích thực…

Nhưng có người lại cho rằng Đặng Tiến viết như vậy là có dụng ý khác, cơ hội chủ nghĩa hơn. Như nhân cái ngày gọi là Quốc Khánh 2 tháng 9 của Việt Cộng năm 2010, trên đài BBC có phỏng vấn Đặng Tiến. Ông này đã trả lời với sự tôn vinh Hồ Chí Minh và cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải chiến đấu với Thực dân Pháp, với Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch, và với các đảng phái mà ông ta gọi là theo chân bọn Tàu Tưởng. Và sự kiện ký hiệp ước sơ bộ không phải là sự nhượng bộ mà là một phương cách để chiến thắng. Đặng Tiến đã đồng hóa tất cả các đảng phái Quốc Gia vào một là những đảng phái bám gót quân Quốc dân Đảng Trung Hoa. Và nếu những ai có đọc lịch sử cận đại Việt Nam liệu có chấp nhận lối nói như vậy không? Võ Nguyên Giáp là tên đồ tể đã giết biết bao nhiêu chiến sĩ Quốc Gia mà tới nay Đặng Tiến lại đi xưng tụng một cách quá lố như vậy?

Trường hợp nữa, là ở cuốn sách Thơ Đến Từ Đâu của Nguyễn Đức Tùng. Có rất nhiều bài viết về tác phẩm này, trong đó có bài của Đặng Tiến. Đây là một bài viết tỏ lộ rất rõ cá tính của người viết.

Ông này đã viết một bài giới thiệu cuốn sách này rất… đúng đường lối đã vạch sẵn từ lề bên phải mà chính quyền Cộng sản ấn định. Ông viết:

“Thơ đến từ đâu, nhìn dưới một góc độ Việt Nam nào đó, còn là một lối đặt vấn đề đối thoại vì nó đã có lời giải đáp từ 1942 qua bài thơ Là Thi Sĩ kinh điển của Sóng Hồng:

“Tìm ý thơ trên ngọn sóng Bạch Đằng

để tâm hồn rào rạt với Chi Lăng

Làm bất tử trận Đống Đa oanh liệt..”

Sau này Tố Hữu còn đưa ra một định nghĩa thơ: Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí. Hai tiếng đồng chí của ta thật đẹp, nó có nghĩa là đồng ý đồng tình. Cứ như thế chân lý đã rõ ràng: Thơ đến từ trái tim đồng chí, còn hỏi han, phỏng vấn, trao đổi qua lại làm gì nữa?”

Hãy thử đặt câu hỏi. Có ai “đồng ý, đồng tình, đồng chí” với những câu thơ xưng tụng những đao phủ như Stalin, Mao Trạch Đông,… không? Lại Nguyên Ân viết:

“Tôi cho rằng thơ Tố Hữu có thể có tính giai cấp, tính dân tộc nhưng không có tính nhân loại. Không có tính nhân loại là ý thức, là chủ ý của nhà thơ Tố Hữu, người đã ra lệnh cho toàn giới lý luận và sáng tác văn nghệ ở miền Bắc phải loại bỏ tính nhân loại, bác bỏ chủ nghĩa nhân đạo (humanisme) cả về lý luận lẫn thực tiễn, bảo nó là “nhân loại chung chung, nhân tính trừu tượng” cấm không ai được rơi vào quan niệm đó, nếu không muốn bị trừng phạt. Tự ông nói thơ ông là“ đồng ý, đồng tình, đồng chí” nghĩa là những ai không là “đồng chí” với ông thì không thể được ông thích, những ai không “đồng tình, đồng ý” với ông thì đều bị loại ra khỏi thế giới thơ ông. Bị nhà thơ thường dân ghét thì cũng chẳng sao, nhưng bị nhà thơ quyền uy đầy mình như Tố Hữu ghét thì kẻ bị ghét sẽ khốn nạn từ thân xác đến tận tâm thần, như những cựu “đồng chí” Nhân Văn Giai Phẩm đó!”

Đặng Tiến viết: “Tố Hữu sử dụng thơ trong mục đích chính trị, cái đó đã rõ; nhưng đồng thời và vô hình trung, ông đã sử dụng chính trị làm đòn bẩy cho thi ca. Còn về sau này, thơ hay hoặc dở, không còn tùy thuộc ông ấy, cho dù ông có trách nhiệm chỉ đạo.

Trong đặc tính của nó thơ không có chức năng thông tin, mà phục vụ chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ. Đúng. Nhưng đã mấy người hiểu? Người nghe, đọc thơ, trước hết là đón nhận thông tin, về sau, về lâu về dài, mới ý thức được phẩm chất thẩm mỹ của ngôn ngữ. Trăm năm trong cõi người ta là một câu thơ xoàng, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau là một thông tin lẩn thẩn, cuộc đời Thúy Kiều là chuyện vẩn vơ, nhưng tác phẩm Truyện Kiều đã làm giàu ngôn ngữ và tâm hồn Việt Nam, thơ cách mạng, thơ kháng chiến nhắm mục đích tuyên truyền và thực dụng nhưng sau khi tuyên truyền nó lưu lại một dư vị thẩm mỹ trong ngôn ngữ người dân- như vậy là đã đóng góp vào sự nghiệp thi ca nói chung, hiểu theo tinh thần này, công bình mà nói thì thơ Tố Hữu – trong những hạn chế- đã có những đóng góp tích cực vào nền thi ca Việt nam trên ba mặt củng cố, phổ biến và phát huy..”

Đó có phải là sự thực không? Lại Nguyên Ân đã trả lời không với kinh nghiệm thực của mình từ đời sống, đã lớn lên và trưởg thành ở xã hội miền Bắc:

“Ảnh hưởng của thơ Tố Hữu ở Việt Nam (nói chính xác là ở vùng thuộc VNDCCH và CHXHCNVN) là lớn, nhờ việc bộ máy tuyên truyền do ông đứng đầu đưa thơ ấy tràn ngập các kênh chủ yếu: sách giáo khoa sách báo phổ thông, đài phát thanh… Nói cho đúng công chúng sống trên đất VNDCCH và CHXHCNVN biết và thuộc thơ Tố Hữu vì không thể tránh thoát thơ ấy, là vì không có chỗ trốn khỏi thơ ấy. Tất nhiên thơ ấy chiếm lĩnh tâm hồn rất nhiều lớp người và chính vì thế mà họ đã làm những gì thơ ấy kêu gọi, nhất là… ra trận”

Đặng Tiến viết về Tố Hữu, đã dùng luận điệu rằng những người thuộc phía đối kháng với chế độ hiện hữu đã mang hận thù để phê phán nhà thơ này. Tôi cũng hiểu được dụng ý ấy và đã mượn lời Lại Nguyên Ân, một tác giả đã sống và lớn lên trong môi trường giáo dục của Cộng sản để đối chiếu với những luận cứ của Đặng Tiến. Trước sau, tôi chỉ là một người đọc sách và lúc nào cũng muốn học hỏi được những cái thực chất của tri thức chứ không phải là những giả trá, những giai đoạn của những người đón gió phất cờ. Tôi nghĩ, đáng lẽ với một người ở hải ngoại như Đặng Tiến ngoài vòng cương tỏa thì việc viết và nhận định một nhân vật như Tố Hữu một cách lương thiện đâu có khó khăn gì?

Lại Nguyên Ân đã viết một bài khi chứng kiến những cuộc hội thảo rùm beng của những văn nô trong nước, vô hình trung đã gián tiếp phê phán bài viết của Đặng Tiến. Có lẽ, ông này đã đọc và không hiểu có tiếp cận và hấp thụ những điều Lại Nguyên Ân viết không? Hy vọng là có, để văn chương vẫn là văn chương và phê bình văn học không phải là việc bốc một nắm chữ rồi bày biện sơn phết theo ý nghĩ chủ quan mình…

Nguyễn Mạnh Trinh

Nhân ngày giỗ đầu của một Thi Sĩ. Tạp ghi văn nghệ Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

NCT

Tôi đọc tập thơ Hoa Địa Ngục nhiều lần. Từ ấn bản đầu tiên “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam” rồi “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” rồi đến “Hoa Địa Ngục” lần đầu tôi đọc và chú trọng nhiều đến tác giả hơn là tác phẩm.

Một thi sĩ đã làm một công việc phi thường là không ngại nguy hiểm đến bản thân vượt qua hàng rào an ninh dầy đặc của công an vào trong Tòa Đại Sứ Anh để nhờ phổ biến tập thơ viết trong ngục tù Cộng sản. Hành động ấy đã làm chấn động cả thế giới và lương tâm nhân loại.

Lúc đầu tôi đã đọc Nguyễn Chí Thiện với thơ của một chiến sĩ và nhìn ngắm ông như một người đứng lên tranh đấu cho tự do nhân quyền. Thơ chỉ là một phương tiện để phản kháng, để kể lại đời sống của một người tù khổ sai của chế độ với nỗi căm phẫn của người bị áp chế đàn áp.

Nhưng sau một thời gian, tôi đọc thơ Nguyễn Chí Thiện như thơ của một thi sĩ đầy nét sáng tạo nhân bản. Thơ của ông không khô khan như lúc đầu tôi lầm tưởng. Không phải thế giới thơ ông toàn những phông đen hắc ám của nhà tù mà vẫn còn chút ánh sáng của niềm tin không mệt mỏi. Tôi tìm thấy trong Hoa Địa Ngục những mơ mộng lãng mạn của một người dù trong hoàn cảnh cùng tận tới đáy cuộc đời nhưng vẫn y nguyên nét nhân bản và không hề tuyệt vọng. Trong thơ, đã rõ ràng hơn chân dung thi sĩ. Một thi sĩ Việt Nam, với những nét đặc biệt của một dân tộc đã bị quá nhiều truân chuyên đau khổ.

Có lần trong một cuộc phỏng vấn ngắn, tôi đã hỏi ông nghĩ thế nào về thơ tình và ông có làm thơ tình không. Ông trả lời là ông dị ứng với thơ tình trai gái bởi vì trong đời ông thời gian bị tù tội quá lâu nên ít có lúc nghĩ đến tình yêu đôi lứa.

Nhưng nếu đọc trong Hoa Địa Ngục thì không phải như vậy. Ông có làm thơ tình và cũng để lại nhiều tâm tư trong những bài thơ đó.

Thí dụ như bài “Tình câm”:

“Anh sợ lắm lòng anh xiêu đổ mất

anh ngăn anh đừng qua lại nơi đây

Nhưng than ôi em vắng bóng một ngày

Anh đã sống như người điên loạn nhất

Anh lạnh lẽo, em ơi đừng tưởng thật

Anh cũng giống như vỏ ngoài quả đất

Chứa trong lòng bao khói lửa hôn mê

Anh nhìn em rồi lặng lẽ ra về

Để đau khổ để âm thầm cay đắng

Không thể nữa, không làm sao cố gắng

Giữ cho tình câm nín ở trong tim…”

Hoặc trong bài “Tình mơ”:

“Anh yêu em, anh chỉ nói thế thôi

Nói thế thôi, cũng đã thừa rồi

Vì tình ái đâu cần ngôn ngữ

Tình từ tim mà ngôn ngữ từ môi

Anh yêu em em đã hiểu lâu rồi

Em đã hiểu từ ban đầu gặp gỡ

Anh hỏi thăm đường, em trỏ lối, thế thôi

Em hiểu anh trong dáng dấp bồi hồi

Trong ánh mắt ngập ngừng xao xuyến…”

Làm thi sĩ nhưng bảo mình không phải là thi sĩ . Viết thơ tình nhưng lại dối lòng bảo mình dị ứng với vần điệu tình yêu. Có lẽ, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã chọn là một người chiến sĩ tranh đấu cho công bằng tự do cho đất nước và nhìn chế độ của Đảng Cộng sản Việt Nam như là những tội nhân gớm ghiếc với tất cả những nét vô loại xấu xa phi nhân bản. Tù ngục của chế độ chuyên chính vô sản là sợi dây xích buộc trói toàn dân và những người có tâm huyết với dân tộc phải tố cáo trước lương tâm và công luận quốc tế những tội ác đã bị bưng bít hay bị guồng máy tuyên truyền che lấp sự thực.

Nằm ở xà lim, nhà thơ khi viết những câu thơ của đời tù ngục của mình cũng đã tỉnh táo nghĩ rằng thơ tố cáo lên án Cộng sản và chế độ ngục tù mãi là những đề tài tuy rất quen với mọi người nhưng dễ gây ra sự nhàm chán. Và ông đã viết với tấm lòng của ý nghĩ chân thực:

“Không sống trong lòng Cộng sản

bạn nên thông cảm một điều

Chế độ Mác- Lê tôi sở dĩ nói nhiều

tới mức phát nhàm phát chán

Vì thực tế không nhàm không chán

Mà kinh hoàng ai oán lắm bạn ơi!

Tôi sẽ nói khắp nơi

Nói tới muôn đời

Nói mãi!”

HoaDiaNguc_1

Trong bài tựa tập thơ Hoa Địa Ngục, thi sĩ đã viết “Với hoàn cảnh ấy, tôi phải làm thơ, nhất là ở trong tù, giấy bút không có, khám trại thường xuyên, bọn tù bẩm báo lại không thiếu. Thơ có thể làm trong đầu, học thuộc giữ trong đầu. Văn xuôi thời chịu! Nhưng dùng thơ mà để bàn tới chính trị, mà để luận tội mà để miêu tả hiện thực, toàn cảnh bắn giết, đánh đập, cùm kẹp, dớt dãi, tranh giành ngô khoai sắn, thì rất khô khan, khó có chất thơ, nhưng vẫn phải làm để cho mọi người và con em sau này biết rõ về tội ác Cộng Sản, về thảm cảnh của dân tộc. Để loại thơ này đỡ nhàm chán, trong muôn ngàn sự việc xảy ra hàng ngày trong muôn ngàn tâm tư, cảm xúc, tôi cố chọn lọc những gì nổi bật nhất, đập vào tim óc nhất. Coi mình là người ghi chép cảnh thực, tình thực của một giai đoạn lịch sử đớn đau tột độ tôi luôn luôn tôn trọng sự thực không cường điệu khuếch đại, bôi đen hoặc gây cấn hóa. Vả lại, nguyên những sự thực cũng chỉ ghi được phần nào, cần gì phải vẽ vời thêm! Tôi hết sức tránh những chữ, những hình tượng cầu kỳ, văn chương vì nó không hợp với loại thơ tôi làm. Tôi cố vươn tới sự giản dị như một nhà thơ Pháp đã nói “S’ élever à la simplicité””

Làm thơ trong hoàn cảnh biệt giam tù ngục là một công việc phi thường. Viết được hàng mấy trăm bài thơ đã khó, làm sao mà nhớ để chép lại càng khó khăn hơn. Nhất là trong hoàn cảnh bị theo dõi nghiêm ngặt không phải chỉ riêng với các giám thị, quản giáo mà còn phải dè chừng, để ý tới cả những người bạn đồng tù, có thể là những “angten” sẵn sàng báo cáo để lập công.

Thi sĩ đã nói về thơ của mình, tuy xác nhận không phải là thơ nhưng lại chan chứa ngôn ngữ của thi tính. Qua tâm sự chất ngất, qua cách diễn tả thẳng thắn những suy tư của mình:

“Thơ của tôi không phải là thơ

Mà là tiếng cuộc đời nức nở

Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở

Tiếng khò khè hai lá phổi hoang sơ

Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ

Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ

Tiếng răng lạnh đập vào nhau khổ sở

Tiếng dạ dày đói lả bóp bâng quơ

Tiếng tim buồn thoi thóp đập bơ vơ

Tiếng bất lực trước muôn ngàn sụp lở

Toàn tiếng của cuộc đời sống dở

Và chết thời cũng dở, phải đâu thơ”

Thơ đối với ông là một phương cách duy nhất để gửi ra ngoài thế giới lời tố cáo của một công dân bị bắt giam không có lý do xác đáng và trải qua một thời gian đằng đẵng hầu như suốt cuộc đời bị cầm tù. Ông đã gửi thông điệp bằng một cách liều lĩnh nhất mang cả cuộc đời mình hy sinh cho sứ mệnh. Sau này, có lần ông tâm sự: “Nhớ lại cái cảm giác phập phồng lo lắng tìm tới Tòa Đại Sứ Anh để trao gửi mấy trăm bài thơ, tôi muốn đứng tim. Khi chuẩn bị làm công việc liều lĩnh này tôi biết trước sẽ bị bắt lại, hoặc tệ hơn nữa có thể bị xử bắn, hoặc công khai hoặc dàn dựng trong một vụ trốn trại như đã từng xảy ra cho những bạn tù của tôi trước đó. Nhưng tôi không thể lùi. Vì chỉ có cách đó mới hy vọng thơ tôi đến được với người đọc.”

Năm 1960, khi vào tù lần đầu tiên, ông đã nghĩ đến cái chết của mình, cái chết của một người linh cảm đến những quãng đời sắp tới ngập tràn u uất của bóng tối:

“nếu một ngày mai tôi phải chết

thời lòng tôi cũng chẳng tiếc đời xuân

đời đáng yêu đáng quý vô ngần

song đau khổ đã cướp phần hương sắc

trong đêm vắng nhìn sao buồn xa lắc

hồn chìm buông theo quá vãng thời gian

trong phút giây quên thực tế bạo tàn

quên tất cả nỗi cơ hàn cay đắng

gương lịch sử đưa tôi về mấy chặng…”

Sống ở hải ngoại, canh cánh trong lòng những mơ ước, những mong đợi ngày chế độ bạo tàn sọp đổ. Dù:

“Tôi đương sống, nhưng từ lâu đã chết

chết trong tim, trong óc, chết tâm hồn

cố đào lên bao thứ sớm vùi chôn

song chúng đã tan mùi, xông rữa hết”

Nhà thơ tự nhủ dù đã gần với đất nhưng không thể xuôi tay. Con đường tranh đấu còn dài và tổ quốc đang điêu linh, dân tộc đang đắm chìm trong cơn hồng thủy.

“cuộc sống nhục nhằn không thể mang danh là cuộc sống

mà là chết mỏi, chết mòn chết mục chết miên man

ngửa mặt trông trời, trời thăm thẳm mênh mang

cúi mặt nhìn đất, đất trơ lì bất động…

Nuốt nhục, nuốt đau, nuốt buồn, nuốt khổ

Để nuôi lớn khối căm hờn

nay khối hờn căm đã già, sắp tới ngày xuống lỗ

anh nuốt nhiều hơn nuốt mãi không sờn…”

Ngày 2 tháng 10 năm 2012, nhà thơ từ giã cõi đời. Ông tâm sự với những người bạn thân tri kỷ rằng rốt cuộc ông đã không nhìn thấy ngày chế độ Cộng sản sụp đổ. Một chiến sĩ kiên trì tranh đấu cho tự do dân chủ đã ra đi. Và ước vọng một đời của thi sĩ bây giờ cũng chỉ là ước vọng dù chế độ vô sản chuyên chính ấy đang trên bờ vực diệt vong.

Ngày ấy, ngày mơ ước của thi sĩ mà cũng là mơ ước của toàn dân:

“Sẽ có một ngày con người hôm nay

Vất súng

Vất cùm

Vất cờ

Vất Đảng

Đội lại khăn tang

Đêm tàn ngày rạng

Quay ngang vòng nạng oan khiên

Sống sót về đây an nhờ phúc phận

Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân

Đứng bên nhau trên mất mát quây quần

Kẻ bùi ngùi hối hận

Kẻ bồi hồi kính cẩn

Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông

Khai sang kỷ nguyên

Tã trắng thắng cờ hồng.”

Thời gian qua thật mau. Lật bật đã đến ngày giỗ đầu thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Suốt một năm, sau khi thi sĩ từ trần, đã có rất nhiều bài viết tưởng niệm tiếc thương một chiến sĩ yêu nước, chiến đấu cho tự do dân chủ của đất nước. Với ông, thi ca không những là một nghệ thuật cao quý mà còn là một vũ khí để tấn công bạo quyền Cộng sản với tất cả những nét nhân bản của một con người chân chính đúng nghĩa con người.

Nhân ngày giỗ đầu của thi sĩ, trong làn khói hương của tưởng nhớ, bài viết này hy vọng sẽ là những ghi khắc lại chân dung của một thi sĩ đích thực, một nghệ sĩ tuyệt vời và một chiến sĩ kiên cường bất khuất.

Tập thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là một tập thơ đặc biệt cả về nội dung cũng như sự xuất hiện. Nôi dung là những bài thơ của một đời tù ngục kéo dài tới một thời gian khủng khiếp khó mà tưởng tượng được, của những nỗi niềm bi tráng cỉa một trí thức bị đầy ải trong gông cùm Cộng sản. Ở đó, có máu, có nước mắt, có mồ hôi của những phận đời tuy nghiệt ngã nhưng vẫn đứng dậy đòi quyền làm người. Là Bản Chúc Thư của Một Người Việt Nam, là Hoa Địa Ngục, là 192 bài Thơ Bi Hùng, là Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, là những ấn bản khác nhau của tập bản thảo đã được mang vào Tòa Đại Sứ Anh ở Hà Nội để phổ biến ra thế giới năm 1979 với bức thư kèm theo bằng Pháp ngữ:

“Nhân danh hàng triệu triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dày mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Đó là kết quả hai mươi năm làm việc của tôi. Phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm. Tôi nghĩ rằng không ai khác mà chính chúng tôi những nạn nhân có nhiệm vụ phải phơi bày cho thế giới thấy niềm đau đớn khôn cùng của cả một dân tộc đang bị áp chế và đầy đọa. Cuộc đời tan nát của tôi chỉ còn một ước mơ duy nhất là được thấy càng nhiều người ý thức được rằng Cộng sản là một tai họa khủng khiếp của nhân loại. Xin ông nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tôi cũng như của những đồng bào bất hạnh của tôi.”

Người mang bản thảo vào Tòa Đại Sứ Anh bị công an bắt ngay khi vừa rời khỏi. Ông tên Nguyễn Chí Thiện và tiếp tục những ngày tù ngục sau đó. Về sau, bản thảo tập thơ đuợc học giả Patrick Honey phổ biến trên thế giới.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục và đã bị tù Cộng sản tới gần ba thập kỷ. Ông bị tù lần đầu tiên vì lý do trong khi dạy học trò đã dạy học trò sửa lại những chi tiết sai của sách giáo khoa, bị kết tội phản động và tuyên truyền chống chế độ. Cuối năm 1960, một người bạn nhờ ông dạy thế hai giờ môn sử địa tại một trường trung học. Cuốn sách dùng làm tài liệu để giảng dạy là “Cách Mạng Tháng Tám 1945” do nhà xuất bản Sự Thật ấn và phát hành. Sách này xuyên tạc sự thực khi nói Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt là nhờ quân đội Liên Xô chiến thắng quân đội Nhật Bản. Tôn trọng sự thực, ông đã giảng cho học sinh biết là thế Chiến Thứ II chấm dứt nhờ Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử lên hai thành phố Hiroshima và Nagasaki buộc Nhật phải đầu hàng vô điều kiện.

Ông bị bắt giam, ra tòa kết án 2 năm nhưng bị giam tới 3 năm rưỡi mới được tha về. Ông đã qua nhiều trại giam như là trại tù Cổng Trời ở Phong Quang, Hà Giang là nơi nổi tiếng giam nhiều chính trị phạm.

Ông đã làm nhiều bài thơ trong thời gian này.

Sau nhiều năm tù tội, ông hoàn tất tập thơ Hoa Địa Ngục và mang vào Tòa Đại Sứ Anh để phổ biến ra công luận thế giới. Tập thơ đã gây ra nhiều chấn động trên văn giới quốc tế.

Nguyễn Chí Thiện thành một thi sĩ tranh đấu cho tự do nhân quyền, được liệt kê tiểu sử trong Who’s Who in Twentieth Century World Poetry (Mark Willharddt chủ biên) và nhiều tài liệu, tạp chí văn học khác. Ông cũng là hội viên danh dự của nhiều Trung tâm văn bút quốc gia như Pháp, Hoa Kỳ, Hòa Lan, Đức… Ông đoạt giải Rotterdam năm 1984, giải “Freedom to Write” năm 1989 của PEN Hoa Kỳ. Cũng như được làm khách danh dự để sáng tác của International Parliament of Writers ở Paris. Ba lần ông được đề nghị là ứng cử viên giải Nobel văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển.

Tác phẩm của ông gồm tập thơ Hoa Địa Ngục, tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện song ngữ “Hai Truyện Tù-Two Prison Life Stories” Jean Libby chủ biên…

ThienCvr50

Hai Truyện Tù là câu chuyện về hai mảnh đời trong ngục tù Cộng sản viết bằng Việt và Anh ngữ. Quyển sách viết nhằm để đáp ứng nhu cầu của giới trẻ, những người cần biết sự thực từ những chứng nhân lịch sử còn đang sống sót dưới chế độ tham tàn đàn áp của Cộng sản bằng sức mạnh của tinh thần và ý chí mãnh liệt tin tưởng vào chính nghĩa sẽ thắng và bạo tàn sẽ tàn lụi. Sách cũng thích hợp với những thuyền nhân những người thuộc thế hệ di dân thứ nhất đã mang tất cả cuộc đời, tính mạng của mình và gia đình mình vượt biển Đông tìn tự do với mộng ước sẽ xây dựng đời sống mới tại những quốc gia tự do dân chủ. Truyện cũng viết cho những sinh viên Việt Nam lớn lên dưới chế độ đảng trị sắt máu, hay những người khước từ tìm hiểu về các tác phẩm văn học của những trí thức, những tù nhân chính trị đang bị giam cầm.

Tập truyện Hỏa Lò gồm 6 truyện ngắn và một chuyện vừa “Sương Mờ Che Phủ Non Sông”, là những câu chuyện của những người tù, những câu chuyện được ghi nhận từ những chi tiết thực của đời tù ngục. Nó phác họa và vẽ lại một thế giới mà người Việt Nam nào cũng quen thuộc nhưng khó tưởng tượng ra được những nét đặc biệt của một đời sống của hỏa ngục. Có khi ông viết như một hồi ký nhưng phần đông ông muốn kể về những người khác đang cùng chịu đau khổ như ông. Ông ít viết về mình với nhận xét chủ quan mà viết về những người khác có tính biểu tượng hơn và nhiều nét chung mang hơn. Ông viết với một kỹ thuật diễn tả cao và lồng rất ý nhị suy nghĩ của mình qua phong cách diễn tả và phác họa các nhân vật. Họ là chứng nhân của một thời kỳ sa đọa nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam. Đọc Hỏa Lò, để thấy thân phận của người dân trong chế độ Đỏ và thấy được nỗi căm hận của người bị áp chế…

Tập thơ Hoa Địa Ngục của ông lúc đầu xuất bản dưới nhan đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”“Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” đã gây ra rất nhiều ngộ nhận trong một thời gian. Nhưng rồi về sau, qua những nhân chứng sống, và những chi tiết chính xác thì sự việc đã rõ ràng hiển nhiên và những bôi nhọ đánh phá ác ý đã bị vô hiệu. Thơ của ông được dịch ra Anh ngữ, Pháp ngữ, Đức ngữ qua các bản dịch của Huỳnh Sanh Thông, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Thị Hằng, Bùi Hạnh Nghi… được truyền đi khắp thế giới và Nguyễn Chí Thiện trở thành một nhân vật nổi tiếng của thế kỷ này. Những bài thơ được phổ nhạc của ông với các bản nhạc của Phạm Duy, Phan Văn Hưng, Trần Lãng Minh, cũng góp phần rất nhiều để phổ biến những thông điệp mà thi sĩ chiến sĩ Nguyễn Chí Thiện muốn trao gửi.

Nhờ vào cuốn sách ông được nhiều tổ chức tranh đấu cho nhân quyền can thiệp và có cả những quốc gia đã chính thức dùng tiếng nói của mình để đòi hỏi chế độ Công Sản Hà Nội phải thả ngay người thi sĩ cang cường ấy. Cuối cùng ông được thả và sang Mỹ định cư ngày 1 tháng 11 năm 1995. Một tuần lễ sau ông được mời ra điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Rồi sau đó tiếng tăm của ông đã được lan ra sâu rộng trong công luận và giới truyền thông. Tập thơ Hoa Địa Ngục được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Nga, Trung Hoa.

Nhà văn Paul Goma người Rumani, Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Những nhà Văn Lưu Vong đã viết về Nguyễn Chí Thiện:

“Một “nhà thơ gương mẫu” sẽ không chỉ nói về chuyện của mình. Nguyễn Chí Thiện không biện hộ cho chính ông. Ông đã lên tiếng thay cho tất cả những đồng bào bất hạnh của ông còn đang bị đàn áp trong các nhà tù Cộng sản.

Tiếc thay chúng ta những con người lưu vong từ các nước Cộng Sản chúng ta đã quá biết về số phận dành cho những người không chịu khuất phục, nhất là các nhà thơ. Ôi, đã biết bao là các nhà thơ bị tiêu diệt từ cuộc đảo chính mang tên “Cách Mạng Tháng Mười” Thử hỏi đã bao người đấu tranh cho một Việt Nam “dân chủ” giờ đây tỉnh ngộ về thực tế khủng khiếp của ngày hôm nay để thấy giấc mộng đó biến thành một quê hương tù ngục cả một dân tộc bị hy sinh và con người bị xếp xuống hàng chó ngựa.

Nhưng xin hãy cứ giữ lấy niềm tin ngày nào còn có những nhà thơ như Nguyễn Chí Thiện, ngày đó chúng ta còn có quyền tin ở chính nghĩa tối hậu”.

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguồn: http://vietluan.com.au/thong-tin-nhan-ngay-gio-dau-cua-mot-thi-si

Quách Thoại, Giữa Lòng Cuộc Đời. Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

giualongcuocdoiSlide1

(Tác phẩm Giữa Lòng Cuộc Đời và chân dung nhà văn Quách Thoại qua góc nhìn Đinh Cường)

Một tập thơ, hai phận số. Giữa Lòng Cuộc Đời, ấn bản đầu tiên do nhà xuất bản của tạp chí Văn Nghệ in vào đầu thập niên 60. Hơn 60 năm sau, cũng tập thơ ấy lại được tái bản ở hải ngoại bởi nhà xuất bản Tiếng Quê Hương năm nay, 2014. Quách Thoại, một thi sĩ một đời thống khổ, làm thơ như một chứng nhân của thời thế và thơ chỉ được in sau khi đã từ trần. Ông chết rất trẻ khi vừa 27 tuổi và khi còn sinh tiền đã làm những câu thơ như tiên đoán số phận của mình:

“Mặt trời mọc

Mặt trời mọc

Rưng rưng màu hoa gạo

Lỡ một ngày mai tôi chết trần truồng không cơm áo

Thì hồn tôi phảng phất chốn trăng sao

Để nhìn các anh

Như vừa gặp buổi hôm nào

Và trong câu chuyện tôi sẽ cười nhắc bảo

còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo.”

Nhà văn Nguyễn Đức Sơn tức thi sĩ Sao Trên Rừng đã viết trên tạp chí Văn Nghệ 6 năm sau ngày Quách Thoại từ trần: “Quách Thoại là thi sĩ. Tôi nói gì về Quách Thoại? Ngày Quách Thoại chết đi là ngày tâm hồn tôi cũng vừa lớn. Một tuần sau khi Quách Thoại chết, tôi bỏ học lang thang, làm như mình là bạn thân và đồng lứa của chàng thi sĩ khổ đau kia cũng không bằng.” Và có một đêm thương xót đến vô cùng, anh chàng độc giả vô danh kia đã viết ra một trong những bài thơ đầu tiên trong đời chàng:

Tưởng Niệm Quách Thoại.

Tôi sắp tìm anh anh đi đâu

Sương vây chiều kín nghĩa trang sầu

Từ đây thôi muôn đời xa cách

Hai cõi ai làm thơ bắc cầu

Tôi sắp tìm anh anh đi đâu

Trăng sao vằng vặc sóng cao đầu

Đêm xưa tôi mãi nằm thao thức

Không biết trời kia có nhiệm mầu

Ai đã từng đau niềm sinh diệt

Mà cõi lòng không thương mến anh

Đôi bài thơ ngắn mà tha thiết

Một kiếp buồn cảm chuyện mong manh

Không biết từ đâu ta đến đây

Mang mang trời thẳm đất xanh đầy

Lớn lên mang nghiệp làm thi sĩ

sống điêu linh và chết đọa đầy

Uất nghẹn vì đời đang dang dở

Sao vội đưa anh lên xe tang

Trăm năm một chuyến về thiên cổ

Tuế nguyệt buồn lay chút bụi vàng.

Theo tiểu sử thì nhà thơ Quách Thoại tên thật là Đoàn Thoại là con trai thứ ba trong gia đình có 6 anh chị em mà người cha là một công chức cao cấp. Người anh lớn là Đoàn Ân, nha sĩ. Anh kế là Đoàn Tường tức nhà văn Lý Hoàng Phong, chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ. Quách Thoại sinh năm 1930 tại Huế, khi 6 tuổi đã phải qua sống tại gia đình một người bác hiếm con yêu cầu và chỉ trở về sống trong gia đình khi 10 tuổi.

Năm 1948 khi vừa 18 tuổi, ông rời Huế vào Sài Gòn tham gia sinh hoạt báo chí và văn nghệ. Ông sáng tác văn xuôi và làm thơ nhưng đời sống rất bấp bênh và thiếu thốn. Ông bị mắc bệnh lao, một bệnh coi như vô phương cứu chữa vào thời kỳ ấy. Thành ra, hoàn cảnh đã đẩy ông vào một tâm trạng não nề, sinh kế khó khăn, Nhưng, ông cũng vẫn hăng hái sáng tác và đã hoàn thành 3 tập bản thảo thơ: Những Bài Thơ Tình Đầu Tiên, Giữa Lòng Cuộc Đời, Cờ Dân Chủ. Có lúc ông dự tính chọn cuộc sống tu hành, đi tu học để hành đạo. Đó cũng chính là lúc bệnh tình trở nên trầm trọng và phải vào viện bài lao ở nhà thương Hồng Bàng chữa trị. Tại đây, trong giây phút cuối trước khi lìa trần ông bày tỏ ý nguyện được rửa tội để trở thành con chiên của Chúa. Ông từ trần ngày 7 tháng 11 năm 1957.

Năm Quách Thoại 18 tuổi ông vào Sài Gòn chủ trương báo Nguồn Sống và cộng tác với các nhật báo Đoàn kết, Làm Dân. Năm 1955 viết cho báo Việt Chính của đại tá Cao Đài Hồ Hán Sơn, báo Người Việt của nhóm Người Việt của Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, và tạp chí Sáng Tạo của nhà văn Mai Thảo. Thơ của ông đăng rải rác trên các báo do ông chủ trương hoặc cộng tác nhưng chưa xuất bản được tập thơ nào.

Quách Thoại là một nhà thơ được kể là đứng trong nhóm Người Việt khi Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền chủ trương Lửa Việt, Người Việt. Về sau khi Người Việt đình bản thì ông cộng tác với tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo.

Nhà văn Thế Phong trong “Hàn Mặc Tử Quách Thoại, cuộc đời rướm máu- nhà thơ siêu thoát” có nhận xét: “Thơ ông có mạch sống của lề lối cảm nghĩ độc đáo, nhạc điệu tân kỳ, hồn thơ truyền cảm. Tình yêu đất nước, tình yêu đồng loại, cả hai hòa đồng tìm vẻ đẹp cho triết lý nhân sinh tiến bộ. Có thể nói là một loại thơ triết học của Tchernychevski’ égoisme raisonnable”. Ở Thoại tuy cuộc sống vô vàn cay độc; bệnh lao hành hạ, sinh kế eo sèo, lý tưởng chưa giải nghĩa rộng lớn. Tác giả chưa bao giờ thỏa mãn nên tâm trạng luôn luôn bị ray rứt. Cuộc sống vật chất khổ não, cuộc sống tinh thần khắc khoải, nhưng Quách Thoại khóc mình hơn là khóc thời thế. Khóc mình bao giờ cũng bình thản và coi thường cuộc sống nghèo khổ hàng ngày”

Thế Phong là một người bạn thân và cũng là một người sinh hoạt văn học chung với Quách Thoại nên theo tôi những điều ông nhận xét có nhiều điều khả tín.

Thật là đặc biệt bởi một tập thơ đã được tái bản sau nửa thế kỷ là Giữa Lòng Cuộc đời của nhà thơ Quách Thoại. Ở bản in đầu tiên có số phận khác và ở cuốn tái bản có phận số khác. Chúng ta có thể lý giải về hiện tượng này không?

Đúng, đây là một hiện tượng văn học đúng nghĩa. Thơ không bao giờ chết non dù tác giả của nó yểu tử. Phận số của Giữa Lòng Cuộc đời thật truân chuyên và đa đoan. Khi còn sống, nhà thơ đã được bạn bè thân hữu hứa hẹn sẽ in cho một tập thơ mà đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn chưa được nhìn thấy tác phẩm đứa con ruột của mình. Khi từ trần, dù nhiều bạn bè hứa hẹn, nhưng mãi đến sáu năm sau, tập thơ Giữa Lòng Cuộc Đời mới được người anh ruột của thi sĩ là nhà thơ Lý Hoàng Phong cho xuất bản. Tập thơ được coi là một di sản quý báu của một thi sĩ đúng nghĩa, với những bài thơ phản ánh được nỗi niềm thiết tha của tuổi trẻ Việt Nam sống trong một thời thế nhiều truân chuyên cay nghiệt.

Năm chục năm sau, thời thế Việt Nam với những biến chuyển xoay vần đến chóng mặt. Hai mươi năm văn học miền Nam đã bị chế độ cai trị Cộng sản bôi xóa hủy diệt. Sách vở bị cấm bị đốt. Văn nghệ sĩ bị cầm tù đầy ải. Cả nước trở thành một trại tù. Những chiến dịch đốt sách, bắt bớ giam cầm văn nghệ sĩ được thi hành liên tục và tàn bạo nhưng vẫn không bôi xóa được một nền văn học đã có nhiều đóng góp to lớn cho văn hóa Việt Nam. Năm nay, thơ Quách Thoại Giữa Lòng Cuộc Đời được in lại. Thơ chân chính vẫn không bị hủy diệt. Và nhà xuất bản Tiếng Quê Hương đã làm cho tuổi thọ của thơ Quách Thoại tăng lên vạn lần coi như muôn tuổi. Thơ vẫn sống, vẫn tồn tại, vẫn là những nhịp thở khôn nguôi của nhân loại.

Có một bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Quách Thoại được truyền tụng rất nhiều là Như Băng Trường Tình.

Bài thơ Như Băng Trường Tình khá dài gồm 89 câu thơ là một bài thơ tình mà chính thi sĩ cũng rất đắc ý. Những câu đầu tiên ông viết lúc còn sống ở thành phố Huế của sông Hương núi Ngự nhưng đến tháng 5 năm 1956 trong một trận ốm nặng tưởng chết ở khách sạn Đại Nam Lầu ở đường Hàm Nghi thì được sửa chữa lại để hoàn thành. Ông bị ho lao thời kỳ thứ ba, nhưng vẫn sáng tác hăng hái dù đang nằm trên giường bệnh. Khi bạn bè thân hữu đến thăm, ông đưa ra khoe bài thơ Cờ Dân Chủ và tập bản thảo đang đánh máy dở dang nhan đề là “Hợp Tấu”. Những bài thơ này như những di sản cuối đời và phản ánh được một chân dung rất là đa diện và phong phú của một tâm hồn thi sĩ mẫn cảm. Không chỉ là đơn giản thơ tình mà còn là những nỗi niềm của một người có nhiều suy tư lắng đọng về tôn giáo, về xã hội…

Bài thơ mô tả mối tình đơn phương của chính thi sĩ với một cô gái có đạo gốc và tin tưởng và ngưỡng mộ Đức Chúa Trời đến độ tuyệt đối. Nàng ở trong nhà Chung, còn chàng thi sĩ chờ đợi hết năm này tới tháng khác và than khóc cho mối tình của mình đầy trắc trở tai ương. “Như Băng Như Băng vì đâu mà lệ ứa/ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta/ một linh hồn lạc lõng giữa bao la/ một tình yêu chưa một lần trao gửi”. Tâm trạng thi sĩ rất phức tạp, một phía thì không theo Cơ Đốc Giáo nhưng trong mâu thuẫn vẫn tin rằng tôn giáo ấy sẽ mang lại hạnh phúc cho mình, cho nàng để cùng nhau chung con thuyền tình ái đến bến sông Trăng. Thơ phản ánh những nỗi niềm mâu thuẫn giữa chính mình, giữa đời, giữa Đạo là sự ám ảnh ray rứt biểu lộ trong từng câu từng chữ. Trường ca “Như Băng Trường Tình” là những câu, những dòng của con tim uất nghẹn của tâm tình bối rối giữa những điều đối chọi nhau, của người khác đạo yêu người có đạo. Nhưng, thơ vẫn là tình yêu cao cả, đôn hậu, chẳng theo đạo nàng mà cũng chẳng bỏ hương vị tình yêu đê mê dù phải qua những nỗi hoang mang để hòa đồng cùng nỗi niềm của nhân loại và xã hội.

“Ta đã ngạt thở bởi mùi hương xa vắng

Hương thiên đang vừa thoảng bến trần gian

Ta đê mê cảm động đến mơ màng

Nghe mầu nhiệm thấm nhuần trong mẫn cảm

Nghe sống lại trong hồn ta ảm đạm

Một tình yêu thánh thoát quá diệu huyền

Ôi mắt em trời mơ mộng còn nguyên

Cho ta gửi mối tình ta trinh bạch

Cho ta hôn bàn chân em ngọc thạch

Dẫm trên đường khổ hạnh chốn tu hành

Ôi! Giáo đường nở kín đóa xuân xanh

Hoa cao quí tắm mình trong tuyết ngọc

Như Băng ơi! Vì sao ta thầm khóc

Nghĩ thương em hồn ngưỡng mộ Chúa Trời”

Từ tật bệnh đến hoàn cảnh nhọc nhằn sinh kế, thi sĩ đành ôm một mối tình đơn phương nín lặng. Tình yêu không ngỏ được, thành những chất chứa não lòng. Rồi một lúc, như sóng trào ra ngọn bút, thành những câu thơ biểu hiện tâm tình. Thơ có lúc như một nỗi niềm vô vọng. Ngày mai, của người mình yêu, của Như Băng thánh nữ có còn không trong nỗi lo chung của tâm cảm nhân loại. Thi sĩ lo rằng nàng thơ sẽ chết đi giữa bốn bức tường của Nhà Chung, thân tuyết trinh sẽ vữa tan thành tro bụi. Thi sĩ cũng cám cảnh phận mình trong cõi sống của một đời vô vọng.

“Như Băng em! Xin ngó nẻo Thiên Đàng

để nguy hiểm ta sống đời Địa Ngục

ta chỉ sợ rồi đây nơi nhà Phúc

máu tai ương sẽ vấy tấm thân em

lưỡi dao người sẽ xẻ gót chân sen

em sẽ chết dập bàn tay ngà ngọc

rồi ta khóc đến tan tành trí óc

Như Băng ơi! Nào em hiểu gì đâu?

Đã từng đêm ta nguyện với ta cầu

Lòng tự hỏi vì đâu lòng khổ lụy

Mà hương thơm còn mãi đến ngàn sau…”

Đoạn cuối của Như Băng Trường Tình là một lời cám cảnh của con người trước nỗi suy vi của nhân loại. Dù tình yêu vẫn làm đời sống thăng hoa hơn:

“Em hát đi cho ta hết giựt mình

em cầu nguyện để ta còn tin tưởng

ta nhìn em qua niềm mơ ảo tưởng

phủ màn sương mộng ảnh xuống che em

ta muốn lấy hoa kết lại thành rèm

để vây phủ đời em trong cõi sống

để nguyên vẹn ta nhìn em vững chống

lái con thuyền tình ái đến sông Trăng

để tình ta còn đẹp tựa sông Hằng

Để Như Băng còn mãi thế Như Băng

Mà hôm nay ta lại khóc than rằng

Xin chầm chậm hoàng hôn đừng vội lặn

Ôi! Đau thương loài người xin hữu hạn”

Không phải chỉ có thơ tình đau thương cô độc mà thơ Quách Thoại còn có những bài thơ mô tả cuộc sống của bản thân mình. Có những giọt lệ xót thương cho mình, nhưng chỉ là phần ít so với những giọt lệ khóc cho thời thế, cho cuộc nhân sinh chung. Ông đã viết về cuộc sống mình ra sao?

Trong tập thơ giữa Lòng Cuộc Đời có những bài thơ viết về cuộc sống chật vật đầy những cay đắng như “Còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo”, “Chiếc Áo”, “Sau khi cháy nhà”, “Tôi viết bài thơ xuôi”.

Bài “Sau khi cháy nhà” tả lại tâm tư của ông khi cả tài sản của mình cũng như những người khác cư ngụ ở Xóm Cỏ bị cháy rụi. ông chân thành kể lại tâm tư của mình sau khi bị trắng tay. Tâm trạng bình thản, chịu đựng và vẫn tin tưởng vào sự tốt đẹp của cuộc sống:

“tôi viết bài thơ hôm nay

một bài thơ sau khi cháy nhà

sau khi đời trắng hai tay

ấy thế mà tôi vẫn viết được

tưởng chừng như không có gì chua cay

thác nắng mùa xuân vẫn chảy

những bông hoa lung lay

triều đại vừa qua đổ gãy

vũ trụ chỉ có nghĩa ngày nay

có kể gì tôi ăn mày

có kể gì anh bệnh hoạn

những người chết đi là… chết đi”

Trong hoàn cảnh khốn quẫn tột cùng ấy, thi sĩ vẫn còn mơ mộng, một giấc mơ bình dị

“Và đến đêm nay

tôi ao ước rằng tôi ngủ kỹ

một giấc mơ không ác mộng sầu bi

một giấc ngủ của con người bình dị

(ở dưới gầm cầu, trên ghế đá, đường đi)

Một giấc ngủ

Và không nhớ lại một tí gì”

Một bài thơ nổi tiếng khác mà Qúach Thoại đã viết về tôn giáo. Có lúc như ở trong “Như Băng Trường Tình” ông ẩn dụ rằng con người tin tưởng vào tôn giáo nhưng tôn giáo không cứu vớt con người ra khỏi vòng khổ não được mà chỉ trong lòng tin để có thể gắng gượng sống với đời, sau khi tâm hồn bị sa sút mệt mỏi. Nhưng trong thơ ông cũng cầu nguyện Chúa Phật với hy vọng cuối cùng để bản ngã thú vật bớt đi cho nhân tính con người được phục hồi. Và ông cũng lên tiếng chống lại chủ trương vô thần của Công sản trong bài Khẩu Cung:

“thôi các ông đừng đánh tôi nữa

để rồi tôi xin khai rõ

à tôi có nhớ cái bà Phước đó

cái bà thường hay mặc áo thụng trắng

và đi đôi giầy đen

với lại ngồi đâu một mình

thường hay đan len

và trong câu chuyện thường hay ngợi khen Đức Chúa Trời

lúc tôi đứng trước mặt bà ta

thì bà ta quỳ xuống chắp tay cầu nguyện

Tôi hét lớn “con mẹ này nói gì huyên thuyên”

và tôi đâm một nhát dao xiên”

Bài “Cờ Dân Chủ” là một bài thơ đã đi trước thời thế của chúng ta hôm nay. Tác giả làm bài thơ này trong những ngày lâm trọng bịnh. Bài thơ như một khúc hoan ca, của những lá cờ phất phới của một ngày hội lớn của dân tộc, của những ngày tự do dân chủ:

“Ta ngưỡng mộ hôm nay trời lý tưởng

ngát màu xanh xanh thẳm của quê hương

rực bình minh rạng rỡ ánh thiên đường

đêm gục chết theo với thời quá khứ

ta bước tới nắng tương lai đầy ứ

phố lớn cười đại lộ hát nghênh ngang

xã hôi đi về vũ trụ rộn ràng

nhà mới dựng gỗ ngói còn thơm lắm

ai mới kẻ chữ Việt Nam tươi thắm

lên trên tường, trên bảng với trên tim

trên linh hồn giữa náo động trong im lìm.

Tình yêu nước chao ôi là sâu kín

Là đậm đà như trái cây muồi chín

Là thiết tha như tình ái người yêu

Ta bước lên đau khổ ngã nghiêng xiêu

Hạnh phúc dựng theo những làng xóm mới”

Giữa Lòng Cuộc Đời còn có nhiều bài thơ tuyệt vời độc đáo khác, như “Trăng Thiếu Phụ”, như “Phạm Văn Thông”, như “Ta Úp Mặt”, như “Sáng Sài Gòn”.

Quách Thoại chết trẻ nhưng thơ ông sống mãi với thời gian. Từ trước sau 3 năm ngày ông từ trần, Tạp chí Sáng Tạo bộ mới số 5 của tháng 11 năm 1969 đã có chủ đề “Những kỷ niệm với Quách Thoại” với những bài viết của Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Hồ Nam, Ngọc Dũng, Lý Hoàng Phong, Mai Thảo. Tạp chí Văn Nghệ số 24 tháng 6-7 năm 1963 cũng có chủ đề Nhận Định về Quách Thoại với bài viết của Nguyễn Đức Sơn, Xuân Trường, Lý Hoàng Phong. Đặc biệt có một nhận định độc đáo trên nhật báo Đen của Đỗ Quý Toàn: “Quách Thoại là một nhà thơ thiên tài của dân tộc tôi”. Đọc thơ Giữa Lòng Cuộc Đời từ hai ấn bản in cách nhau đến nửa thế kỷ, chúng ta có cảm nghĩ gì? Và có thấy câu than của cụ Tiên Điền Nguyễn Du có chính xác không? Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Nguyễn Mạnh Trinh

(Nguồn: http://vietluan.com.au/thong-tin-quach-thoai)

Kiểm duyệt và Nhà Văn trong Nước, Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

02

(Một cảnh đốt sách năm 1975)

Xuất bản sách ở trong nước có bị kiểm duyệt không? Câu trả lời sẽ tùy theo người trả lời. Phần đông ý kiến cho rằng một chế độ độc tài như ở trong nước hiện nay thì làm sao không kiểm duyệt được. Nhưng, có một số nhà văn trong nước “tán tụng” hệ thống siêu kiểm duyệt trong nước và cho rằng đó là một phương cách cần có để bảo vệ chế độ. Thậm chí có những nhà văn sống ở hải ngoại cũng đã “tô hồng chuốc lục” cho hệ thống kiểm soát toàn trị này như Đặng Tiến đã viết về sự biên tập hay kiểm duyệt cuốn sách Thơ Đến Từ Đâu của Nguyễn Đức Tùng: “Từ đó nảy ra vấn nạn biên tập hay kiểm duyệt đã gây ra tranh cãi. Cũng vì vậy mà việc làm của nhà xuất bản Lao Động về mặt lý thuyết đã tham dự vào cuộc đổi mới văn học; trong thực tế tạo được cuộc giao lưu rộng rãi giữa 25 nhà thơ độc lập, là một việc làm dũng cảm đáng đề cao.”

Nhưng việc làm “dũng cảm đáng đề cao” ấy theo nhà phê bình Đặng Tiến có phải là sự thực không? Có rất nhiều thi sĩ đã được phỏng vấn trong Thơ Từ Đâu Đến phản bác rằng cái nạn kiểm duyệt hay biên tập vẫn còn là cái gông xiềng chưa bỏ được dù nhà xuất bản Lao Động đã được ông Đặng Tiến đề cao như thế. Như Đỗ Kh, Lý Đợi, Nguyễn Viện, Thận Nhiên, Dương Tường, Nam Dao,… đã cho rằng có nhiều sự cắt bỏ, sửa chữa nguyên bản, có khi có sự đồng ý của tác giả, có khi không. Thậm chí nhà thơ Thận Nhiên lại tiết lộ rằng có trường hợp câu văn của ông bị sửa chữa thành ra bài văn tạo những ý nghĩ đối nghịch và phản bác lại ý tưởng của tác giả.

Có những nhà văn trong nước “phê phán” hệ thống kiểm duyệt một cách thẳng thắn và can đảm. Có khi họ là nạn nhân của sự kiểm duyệt ấy: Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo, Bùi Ngọc Tấn, Hoàng Minh Tường…

Gần đây nhất, cuối năm 2013, nhà văn Hoàng Minh Tường đã làm dư luận chú ý khi lên tiếng về sự cấm đoán không cho in tác phẩm Nguyên Khí của mình. Trong cuộc nói chuyện với nhà thơ Hoàng Hưng, tác giả Nguyên Khí đã nói về trường hợp bị kiểm duyệt thô bạo mà ông ví như bị “lèn” thật đau đớn lên tác phẩm mà ông coi như một phần của tâm thức và đời sống ông:

hoang_minh_tuong

(Nhà văn Hoàng Minh Tường và tác phẩm Nguyên Khí)

“Hoàng Minh Tường: Thời của chúng ta đang sống bây giờ là mảnh đất màu mỡ cho các nhà tiểu thuyết đương đại. Nhưng sẽ chẳng có nhà văn nào thành công nếu không tự bẻ cong ngòi bút của mình đi, tự đẽo gọt những trang văn cho tròn trĩnh, nhợt nhạt. Vì thế tôi phải chọn đề tài lịch sử, trốn vào lịch sử may ra mới an toàn.

Hoàng Hưng: Vậy mà ông có an toàn đâu. Nghe nói Cục Xuất Bản Bộ Thông Tin và Truyền Thông đã cấm xuất bản tiểu thuyết Nguyên Khí của ông? Lý do gì nhỉ? Chỉ vì ông đã gửi bản thảo đến mấy nhà xuất bản và bị từ chối? Chỉ vì nhà xuất bản Tri Thức không có chức năng in tiểu thuyết?

Hoàng Minh Tường: Những lý do kỳ quặc phải không? Các nhà xuất bản có thể từ chối in một cuốn sách là chuyện bình thường. Có thể có một bản thảo bị 9 nhà xuất bản từ chối nhưng đến nhà xuất bản thứ 10 thì lại được vồ vập chào đón thì sao? Tuyệt tác Lolita của Nabokov đã từng bị tất cả các nhà xuất bản ở cựu lục địa từ chối đấy thôi. Lý do thứ nhất là vớ vẩn. Lý do thứ hai nếu NXB Tri Thức không có chức năng in tiểu thuyết thì các vị có cho tôi in ở các nhà xuất bản có chức năng in tiểu thuyết ví dụ NXB Văn Học, NXB Hội Nhà văn… không? Câu trả lời dứt khoát là Không. Các vị nại lý do có vẻ dân chủ. Thực chất là các vị muốn bóp chết một tác phẩm khi còn chưa ra đời. Vậy đó. Rất buồn là mấy chục năm nay giới sáng tác chúng ta bị vây bủa bởi một hệ thống xuất bản không giống bất kỳ nơi nào trên thế giới. Tôi bỗng nhớ lại câu chuyện đúng ba mươi năm của ông…

Hoàng-Hưng-800x500_c

(Nhà văn Hoàng Hưng)

Hoàng Hưng: Về tập thơ “Về Kinh Bắc” của nhà thơ Hoàng Cầm và chuyện Hoàng Cầm và tôi bị vào tù bởi tập thơ ấy?

Hoàng Minh Tường: Ông có đọc tiểu thuyết Thời Của Thánh Thần của tôi không? Ông có ấn tượng gì về nhà thơ Nguyễn Kỳ Vĩ trong tác phẩm?

Hoàng Hưng: Hình như ông muốn muợn câu chuyện tôi bị bắt vào Hỏa Lò để viết về một đoạn đời của Nguyễn Kỳ Vĩ?

Hoàng Minh Tường: Trường hợp các trí thức bị bắt oan như Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Cung, Hoàng Hưng, Bùi Ngọc tấn, Vũ Thư Hiên,… hồi ấy nhiều lắm. Từng người đều có bóng dáng nhân vật Nguyễn Kỳ Vĩ của tôi. Vậy mà người ta bảo Thời Của Thánh Thần là cuốn sách đen, bôi nhọ chế độ. Nhiều cuộc hội thảo, lớp tập huấn ở các hệ thống trường Đảng đều nêu Thời Của Thánh Thần như một cuốn sách bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa.”

Thời Của Thánh Thần là một tiểu thuyết gồm 2 phần: Cơn Gió Bụi và Cuộc Bể Dâu, gói ghém trong 29 chương sách kể về chuyện một gia đình nông dân nhưng có truyền thống khoa bảng ở một làng quê ở cùng châu thổ ven con sông Hồng Hà. Trong suốt hơn nửa thế kỷ, họ phải trải qua những cuộc biến động ghê gớm mà ở đó nhân tính của con người đã bị thử thách đến mức không tưởng tượng được. Sự thực của đời thường đã được tổng hợp để thành một hư cấu mà người đọc khó phân biệt. Nhân vật của Thời Của Thánh Thần có khi tuy chỉ là một nhưng là hòa hợp của nhiều chân dung, nhiều cuộc đời khác nhau. Từ những góc cạnh, sự quan sát và nhận xét toàn diện hơn và nhân bản hơn nên lột tả được những mẫu nhân vật khác thường trong một thời đại đặc biệt.

Ba người con ruột của Lý Phúc như ba ngã rẽ của một dòng sông và thời thế đã trôi đi theo những hướng đời khác nhau. Con cả Nguyễn Kỳ Khôi, sau được đổi tên là Chiến Thắng Lợi, trở thành lãnh đạo tuyên huấn của Đảng và tượng trưng cho lớp quan cán bộ với tất cả những đặc tính nha lại của nó. Nhưng khi đã bị mất chức, thì lại có một chút nghĩ lại và tìm về sự đùm bọc của gia tộc. Vì tham muốn quyền lực, mà Khôi đã hy sinh tất cả từ tình cha con, tình anh em, tình chồng vợ, tình gia tộc, sống giả dạng để mong tồn tại chức quyền. Về sau, khi bị thất sủng, mới hiểu được sự thực mình cũng chỉ là một con tốt được đấm qua sông và chỉ có một đường tiến chứ không có lối lui.

Người con thứ hai, nhà thơ Nguyễn Kỳ Vĩ, mang nhiều biểu tượng của các nhà văn của Nhân Văn Gia Phẩm, có tài văn chương nhưng vì thẳng tính và có nhiều nghệ sĩ tính nên đi chệch đường lối của Đảng và bị trù úm hành hạ đến nỗi bất đắc chí thành người trầm cảm sống dở tỉnh dở điên.

Người con thứ ba, Nguyễn Kỳ Vọng, di cư vào Nam học hành trở thành một kỹ sư có năng lực nhưng khi Cộng sản vào chiếm miền Nam tuy không bị cải tạo nhưng cũng bị nghi ngờ theo dõi và phải vượt biên tị nạn. Sau trở thành một Việt Kiều yêu nước và trở về để mua lại dương cơ họ Nguyễn Kỳ và chấn hưng lại.

Còn đứa con nuôi, Nguyễn Kỳ Cục, vừa là một chính diện vừa là một phản diện. Lúc ở cực độ xấu, bị xúi giục và khống chế để làm chuyện đê hèn nhưng về sau lại là một người biết điều để làm những công việc coi như chuộc lại lỗi lầm thời trước. Trước sau, anh này cũng chỉ là nạn nhân của một chính sách một chế độ đã ngự trị trên đất nước hơn nửa thế kỷ qua.

Những nhân vật ấy trong cuồng loạn của thời thế, gánh chịu những bất toàn của cuộc sống nhưng kết cuộc lại là happy ending với những cuộc đoàn viên, người xấu thành người tốt. Viết như thế thì hình như rất đúng với đường lối của Đảng, có phải? Nào hòa giải hòa hợp, Việt kiều yêu nước Nguyễn Kỳ Vọng trở về xây đắp quê hương! Rồi những tên phản động ra nước ngoài như chuẩn tướng Trương Phiên thì ăn năn hối lỗi khóc lóc vì những tội ác gây ra! Rồi tội ác Mỹ Ngụy, bảy chiến sĩ cách mạng suýt bị chôn sống cho máy ủi bừa đầu nhô lên khỏi mặt đất.! Nếu người đọc có bực mình vì những dòng chữ ấy thì có nên hiểu rằng đó là một cách thế đánh rồi lại vuốt một thủ thuật để cho tác phẩm có thể ra đời?

Nhưng Thời Của Thánh Thần cũng có nhiều điểm tiêu cực chống phá chế độ theo như các quan văn nghệ tuyên huấn thẩm định. Nào bôi bác chế độ, mang những bất toàn ra để bêu xấu. Nào mang những bi thảm của một dòng họ để phóng chiếu thành tiêu biểu cho một xã hội không giống ai, một hà khắc quá mức, một áp chế văn học đến mức phi văn học. Đã thế, những nhân vật phản diện còn hao hao giống ở đời thường. như Tư Vuông có phải ám chỉ Tố Hữu, hay Nguyễn Kỳ Khôi tức Chiến thắng Lợi ám chỉ đến những quan tuyên huấn như Nguyễn Đình Thi, như Chế Lan Viên,… sống giả dối và luôn bon chen vì danh lợi. Hay Nguyễn Kỳ Vĩ có phải là tổng họp của những khuôn dáng Nhân Văn Giai Phẩm là nạn nhân của chế độ hiện tại với một chút Trần Dần, một chút Hoàng Cầm,…?

Hoàng Hưng hỏi về tiểu thuyết Nguyên Khí vừa bị cấm xuất bản:

“Hoàng Hưng: Còn bây giờ Nguyên Khí có phải là một cuốn sách đen không?

Hoàng Minh Tường: Tôi cũng không biết nữa. Với hai lý do mà Cục Xuất Bản Bộ Thông Tin và Truyền Thông gán cho thì không biết chừng họ còn xếp Nguyên Khí trên cả sách đen. Họ không đủ kiên nhẫn chờ cho Nguyên Khí xuất bản rồi mới thổi còi như lâu nay họ vẫn làm mà họ xục xuống tận nhà xuất bản, bắt đem nộp bản thảo để kiểm duyệt. Tôi vẫn nhớ mồ ma nhà văn Trần Hoài Dương. Một đêm kia, ông choàng tỉnh dậy mồ hôi vã ra như tắm. Ông vừa mơ một giấc mơ khủng khiếp rằng cách mạng thành công từ năm 1930 chứ không phải 1945. Nếu quả như vậy thì Thơ Mới, Tự Lực Văn Đoàn, Mỹ Thuật Đông Dương… đã bị bóp chết từ trong trứng chứ làm gì được tồn tại để bây giờ chúng ta tự hào có những sản phẩm tinh thần vô giá. Và may thay thời ấy nhờ bọn thực dân không kiểm duyệt kỹ như bây giờ mà những Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân,… mới còn để lại được Số Đỏ, Chí Phèo, Tắt Đèn, Bước Đường Cùng, Bỉ Vỏ, Vang Bóng Một Thời.

Hoàng Hưng: Quả là một giấc mơ khủng khiếp

Hoàng Minh Tường: Vâng. Tận diệt văn hóa là một tội ác khủng khiếp. Triệt tiêu động lực sáng tạo của người viết, bóp chết tác phẩm khi còn đang trứng nước là vi phạm nhân quyền. Một nền văn học chỉ dung dưỡng những tác phẩm tung ra một nền xuất bản lúc nào cũng khuyến cáo các nhà văn hãy tự kiểm duyệt các tác phẩm của mình ngay từ khi ngồi trước trang viết thì còn gì là văn chương…”

clip_image00436

(Cửa hàng sách chạy trên đường Phan Thanh Giản cũ)

Nguyên Khí là tác phẩm thứ ba của nhà văn Hoàng Minh Tường bị làm khó dễ trong việc xuất bản. Lần thứ nhất là cuốn “Thủy Hỏa Đạo Tặc” viết xong năm 1982 nhưng bị “ngâm tôm” trong ngăn kéo các nhà xuất bản hơn 15 năm mãi đến khi có phong trào đổi mới văn học mới được cho in năm 1986 thì năm sau tiểu thuyết này đoạt giải thưởng văn học của Hội Nhà Văn. Năm 2008, ông xuất bản tiểi thuyết “Thời Của Thánh Thần” và khi ra mắt đã gây ra nhiều dư luận, nhiều tiếng vang trong văn giới. Sau đó bị cấm lưu hành, bị đầu nậu in chui gây thua lỗ cho nhà xuất bản và tác giả.

Nguyên Khí là tác phẩm khảo luận lịch sử, mà cũng có thể gọi là tiểu thuyết dã sử, viết theo khuynh hướng hậu hiện đại, luận về trí thức và quyền lực, kẻ sĩ và chế độ toàn trị một thời. Tác phẩm viết về những sự kiện xảy ra quanh vụ án Lệ Chi Viên dẫn tới cuộc đại thảm sát hai công thần triều Lê là quan Thừa Chỉ Hành Khiển Nguyễn Trãi và quan Lễ Nghi Học Sỹ Nguyễn Thị Lộ. Câu chuyện chỉ diễn ra trong 27 ngày từ ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), là ngày Tiệp Dư Ngô Thị Ngọc Dao sinh hạ hoàng tử Lê Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này) đến ngày 16 tháng 8 cùng năm, ngày quan Thừa Chỉ Hành Khiển Nguyễn Trãi và Lễ Nghi Học Sỹ Nguyễn Thị Lộ bị xử trảm và chu di tam tộc. Chỉ trong một thời gian ngắn nhưng xảy ra bao nhiêu sự kiện lịch sử trong đó dồn chứa những tấn thảm kịch, bao nhiêu tính mạng bị oan khuất, bao nhiêu những thủ đoạn mưu mô gian hiểm.

Công An Văn Hóa muốn ngăn chặn một tác phẩm mà họ cho là văn chương ám chỉ, như hai tác phẩm trước của Hoàng Minh Tường. Viết về những người bị oan khuất trong bối cảnh của một chế độ phong kiến độc tài như thời Lê Sơ chắc làm người đọc liên tưởng tới chế độ hiện tại với những trò đấu đá tranh dành quyền lực và những vụ án mà người xử tội có khi chính là kẻ chủ mưu tội ác.

Nhà văn Hoàng Minh Tường trong cuộc phỏng vấn của phóng viên đài RFI đã tâm sự: “Một trong những vấn đề tôi trăn trở là tôi muốn viết một cuốn sách về giới trí thức. Tôi đã suy ngẫm rất nhiều về câu chuyện của hai cụ Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ và cái chết thảm khốc của hai nhân vật mà tôi nghĩ là vĩ đại trong lịch sử. Lâu nay rất nhiều người đã viết về chủ đề này nhưng tôi nghĩ rằng chưa giải mã được câu chuyện lịch sử này một cách thấu đáo. Một trong những điều mà cụ Nguyễn Trãi làm mà lâu nay các nhà sử học và các nhà xã hội học chưa phát hiện ra mà cũng chưa khẳng định. Đó là cái vai trò của cụ Nguyễn Trãi trong việc chấn hưng triều Lê, nhất là thời của Lê Thái Tông. Nguyễn Trãi là tác giả của bộ luật lớn nhất từ trước đến nay: bộ Luật Hồng Đức.

Bộ luật Hồng Đức đến thời Lê Thánh Tông mới công bố, năm 1464, nhưng khi vua Lê Thánh Tông minh oan Nguyễn Trãi thì bộ luật đó đã hoàn thành. Tôi có liên hệ với ngày nay. Bây giờ là thời kỳ “trị nước”, thời kỳ rất cần đến chất xám, cần đến trí thức, cần đến sự phản biện của trí thức…”

Trả lời tại sao lại đặt tên với nhan đề Nguyên Khí, ông nói: “Có một câu nói của cụ Thân Nhân Trung (1409-1499) tiến sĩ và đồng thời là Phó Súy của Tao Đàn thời Lê Thánh Tông. Cụ có viết một câu hiện vẫn còn trong Quốc Tử Giám: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” khi cụ viết về vai trò của trí thức, của kẻ sĩ mọi thời thì có viết câu trên trong phần mở đầu văn bia tiến sĩ năm Nhâm Tuất (1442). Từ xưa tới nay, trí thức là một tầng lớp, một giai tầng rất nhỏ, nếu dân trí là một hình tháp nhọn. Trí thức ở đây không chỉ là những người làm văn chương, giáo viên, gióa chức mà trí thức là tinh hoa, tinh túy của nhân loại. Tinh túy ấy có cả ở nông thôn, hang cùng ngõ hẻm. Nếu một quốc gia biết xử dụng tất cả những nguyên khí đó, những tài năng hoặc lộ diện hoặc không lộ diện thì sẽ giúp rất nhiều cho công việc xây dựng đất nước…giống như thời Trần với hội nghị Diên Hồng. Thời nào nguyên khí cũng rất quan trọng huống chi ở Việt Nam hiện nay, sau khi đã thống nhất đất nước, nguyên khí phải được tích tụ, trí thức phải được trọng dụng. Tôi muốn dùng hình ảnh đấy để nói về thời cụ Nguyễn Trãi. Khi cái phần nguyên khí, cái tinh hoa nhất bị chính quyền nguyễn Thị Anh tiêu diệt, thì cả một thời sau đó, đất nước bị kiệt quệ hơn nhiều… Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nói thời kỳ này trộm cắp như rươi, trí thức bị khinh bỉ.

Dùng chữ Nguyên Khí khi để đặt tên cuốn sách tôi muốn nói đến vai trò của tài năng, vai trò của hiền tài trong cuộc kiến quốc ở mọi thời đại”

Câu hỏi của RFI: “Một số người quan tâm đến triết học cổ trung đại có nhận xét rằng nguyên khí là một khái niệm của một học thuyết Tân Nho Giáo thời trung đại, mang màu sắc Đạo Gia được dùng làm ngọn cờ nhằm quy tụ một lớp trí thức cận thần phục vụ cho nền quân chủ Khổng Giáo trước đây?”

Và nhà văn Hoàng Minh Tường trả lời: “Tôi không nghĩ nguyên khí để chỉ giới cận thần mà tôi nghĩ nguyên khí là trí thức. Tức là khí thiêng của sông núi, của đất nước. Bởi khí thiêng thì tập hợp ở giới trí thức. Giới trí thức thì bao giờ cũng là nguyên khí quốc gia. Ngay cả cái thời của cụ Thân Nhân Trung cũng nói về cái đó, cũng giải mã cái đó… Nếu thời đại không có nguyên khí, không có giới trí thức, không có những giới tính nhanh nhẹn nhất, tinh hoa nhất của dân tộc, thì đó là cái thời mạt vận. Nguyên khí luôn luôn là ánh sáng của dân tộc. Như cái râu của con ốc sên, là cái dẫn đường. Nó có một sự tinh nhạy vô cùng…”

Trả lời câu hỏi: “Một cuốn tiểu thuyết hiểu theo nghĩa thông thường là có hư cấu- Nếu các nhà sử học đọc cuốn Nguyên Khí thì họ sẽ nhận định thế nào: đâu là phần lịch sử đâu là phần hư cấu?”

Hoàng Minh Tường: “Vâng, tôi cũng muốn nhân cuốn sách này ra đời, tôi sẽ được tranh luận với các nhà sử học. Cái thời này các nhà sử học tập trung nghiên cứu rất nhiều. Chính sử thì đã nghiên cứu hết rồi. Chủ yếu là “Đại Việt Sử ký Toàn Thư” của Ngô Sĩ Liên rồi “Thông Sử” của Lê Quý Đôn… Rồi một số các dã sử khác. Gần đây có một số tư liệu, nhất là các gia phả của một số đông họ Lê, họ Đinh, họ Nguyễn…. Tất nhiên gia phả có nhiều điều đáng tin cậy nhưng trong gia phả cũng có nhiều chi tiết mang tính dã sử. Các nhà sử học không có quyền được hư cấu các sự kiện, các biến cố, các thời đại lịch sử, nhưng nhà văn từ những diễn biến lịch sử thì có quyền ráp nối lại và đưa ra những kiến giải. Để mà giải thích lịch sử một cách lô-gich. Tôi nghĩ nhà văn không có quyền hư cấu ngoài (trái với?) các tư liệu lịch sử.

Trong cuốn sách này, đối với tất cả nhân vật lịch sử có tên thì tôi đều hết sức tôn trọng các sự kiện. Nhưng mà tôi không tôn trọng một cách mù quáng, không tôn trọng bằng cách thừa nhận mặc nhiên. Tôi nghiên cứu ngay cả đoạn Ngô Sĩ Liên viết về cụ Nguyễn Trãi, về cái chết của cụ và nhận định về Nguyễn Thị Lộ. Tôi nghĩ rằng chính Ngô Sĩ Liên là người không dám công tâm, không dám nhìn nhận về lịch sử mà viết ra những điều đó.

Chính đó là điều mà lâu nay các nhà sử học bị đánh lừa trong các nhận định của Ngô Sĩ Liên về Nguyễn Thị Lộ mà vua bị chết. Thì chính điều này bây giờ tôi phản bác lại.

Tôi cho rằng Ngô Sĩ Liên là một nhà sử học vĩ đại nhưng ông cũng có những sai lầm. Có những phần ông viết hoàn toàn không đúng.”

Nguyên Khí đề cập đến người xưa thì cũng viết về người hôm nay. Như nhà văn Trung Hoa Mạc Ngôn, giải Nobel văn chương:

“Tôi bắt được một tác phẩm cũ nói về vụ án Lệ Chi Viên “Long Thành Tạp Ký”. Cái tác phẩm này tôi phải nhờ dịch từ tiếng Nôm ra. Tôi mới đưa cho cụ giáo sư Hoàng Ngôn người đã dịch Mạc Ngôn, để dịch. Nên khi làm truyện thì mới bàn đến Mạc Ngôn trong đó. Đây là cách riêng của tiểu thuyết Nguyên Khí. Câu chuyện này đan xen vào thời hiện tại. Trong đó có 19 chương thì có 4 chương viết về thời hiện tại bây giờ còn 15 chương là lịch sử. Trong các chương hiện đại, người ta bình luận về lịch sử, ví dụ về Lê Thái Tông thế nào, về Nguyễn Thị Anh ra sao, trong đó có nhận định cả về thế giới Đông Tây, và cả Mạc Ngôn nữa. Đó là cuốn sách tôi pha rệu giữa cái ảo và cái thực, cái đương đại và lịch sử.

Đọc Mạc Ngôn tôi thấy rằng đó là gương mặt của Trung Hoa đương đại hiện lên rõ nét, nhất là trong “Rừng Xanh Lá Đỏ” hay “Phong Nhũ Phì Đồn”. Nước Trung Hoa hiện đại nó ghê gớm quá, khủng khiếp quá. Sách của chúng tôi ở đây có thấm thía gì.

Có lẽ quan niệm của những người quản lý xuất bản, nhìn chung là họ quá khắt khe. Đến một lúc nào đó có lẽ họ sẽ phải ân hận. Nó đang lập lại giai đoạn, thời kỳ nhà thơ Hoàng Cầm bị cấm xuất bản cuốn Về Kinh Bắc. Mà chính gần đây, Hoàng Cầm lại được giải thưởng Nhà Nước về chính tập thơ đó.

Ông Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng của chúng tôi vừa nói một bài, giới trí thức đang bình luận rất nhiều. Ông ấy nói là “người dân có quyền làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mình” Thế thì tôi là một nhà văn, tôi cũng là một công dân. Tôi có quyền viết những gì mà pháp luật không cấm. Tôi có quyền bảo vệ văn quyền, quyền sáng tác của mình. Nhưng mà ở đây tôi cũng muốn nói là “được vạ má đã sưng”. Mà ngay cả quyết định cấm, họ cũng không dám viết bằng văn bản. Hiện nay hoàn toàn chỉ là chỉ thị miệng, những lệnh từ bóng tối phát ra. Cho nên rất khó, rất khổ cho nhà văn Việt Nam là không biết kêu ai cả. Chúng tôi bây giờ rất bi quan..”

Nguyễn Mạnh Trinh

http://vietluan.com.au/thong-tin-kiem-duyet-va-nha-van-trong-nuoc

Tưởng Niệm Văn Thi Họa Sĩ Tạ Tỵ – (nhân ngày giỗ của ông 24 tháng 8). Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

20120713015428!Tạ_Tỵ

(Chân dung Tạ Tỵ tự họa)

Tạ Tỵ họa sĩ. Tạ Tỵ nhà văn. Tạ Tỵ thi sĩ. Một chân dung nghệ sĩ đa dạng. Một vóc dáng tác giả lừng lẫy. Sự nghiệp văn chương và hội họa kéo dài hơn nửa thế kỷ và trải qua nhiều thời kỳ của lịch sử Việt Nam với nhiều tác phẩm của một chứng nhân biểu hiện cho những thời kỳ đặc biệt của dân tộc. Là người lính, ông đã trải qua những ngày quân ngũ và nhìn chiến tranh với tư cách của người trong cuộc. Là tù nhân sau cuộc chiến, tác phẩm của ông cũng biểu hiện những niềm đau thời thế của những người thua trận. Là người tị nạn, văn và thơ của ông cũng chất chứa nỗi niềm của người lưu lạc luôn hoài niệm về quê hương đã xa. Là một họa sĩ, thuộc lớp đầu tiên của những người khai phá xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, tranh của ông hiện nay được kể vào hàng quốc bảo, là tài sản của quốc gia và không được mang ra ngoại quốc.

Nhân ngày giỗ của ông (ngày 24 tháng 8) chúng tôi, xin phác họa một vài nét về chân dung một nghệ sĩ đích thực, tài hoa, đa diện của văn chương nghệ thuật Việt Nam.

Nếu có câu hỏi, chúng ta có nhà văn, nhà thơ, họa sĩ Tạ Tỵ. Như vậy, chân dung nghệ sĩ nào tiêu biểu nhất cho tên tuổi ông?

Theo ý kiến riêng của cá nhân tôi, thì ở mỗi chân dung nghệ sĩ của tên tuổi Tạ Tỵ đều có những nét nổi bật riêng. Nếu tìm kiếm một chân dung tiêu biểu nhất thì tôi e rằng sẽ rất khó khăn. Tốt nhất, chúng ta hãy đi tìm chân dung đích thực nghệ sĩ qua từng bộ môn và sau đó sẽ tổng hợp thành một chân dung văn chương nghệ thuật đích thực.

Chúng ta nên phác họa con người nghệ sĩ Tạ Tỵ từ bộ môn nào? như một họa sĩ chẳng hạn và khởi từ những bước chân khai phá đầu tiên.

Có người nhận xét là Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo nên hội họa bị coi như là một trò chơi xa xỉ của những người giàu có. Thành ra, cho đến ngày hôm nay chúng ta chưa tìm được những chứng liệu hội họa nào quan trọng ngoài loại tranh mộc bản nhân gian thí dụ như tranh Đông Hồ chẳng hạn. Nhưng từ khi có một nhóm họa sĩ xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương thì hội họa đã có nhiều chuyển động mới và có nhiều cánh cửa mở ra với hôi họa thế giới.

Có thể kể ra một số tên tuổi họa sĩ đi tiên phong trong sự chuyển động mới ấy mà họa sĩ Tạ Tỵ cùng thời với những tay cọ như Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Nguyễn Tư Nghiêm, Lê Quốc Lộc, Lương Xuân Nhị, Mai Văn Nam… khi bắt đầu vẽ tranh sơn mài. Nhưng sau ông lại là người tiên phong trong hội họa lập thể và trừu tượng.

Năm 1948, khi còn trong khu kháng chiến, họa sĩ Tạ Tỵ cùng với các bạn là Văn Cao và Bùi Xuân Phái đã trưng bày triển lãm tranh. Ông thì trưng bày những tranh lập thể và trừu tượng còn Bùi Xuân Phái thì bày những bức tranh ấn tượng với những khu phố cũ cổ lỗ và những ngõ hẻm tối buồn hiu hắt của Hà Nội. Và chính những bức tranh này về sau được gọi là tranh Phố Phái đã thành những danh phẩm hội họa nổi tiếng.

Sau cuộc triển lãm này, các họa sĩ đã bị nhiều rắc rối. Từ những đợt thảo luận khuynh hướng của nghệ thuật để phục vụ kháng chiến, thì chiến dịch “phê bình và tự phê bình” được thực hiện với sự tổ chức và đôn đốc của các cố vấn Trung Quốc. Bùi Xuân Phái được yêu cầu phải giải thích rõ ràng cho những người phần đông là nông dân ít học thiếu kiến thức hội họa. Số đông đã áp đảo và dùng nhiều lời buộc tội họa sĩ là xa rời quan điểm của quần chúng và bắt buộc họa sĩ phải từ bỏ những quan niệm sáng tác cũ. Bị áp lực, các họa sĩ phải im lặng và chịu nhận khuyết điểm.

Năm 1950, họa sĩ Tạ Tỵ về Hà Nội và hai năm sau họa sĩ Bùi Xuân Phái cũng rời bỏ vùng kháng chiến về sống ở thành phố này. Khi có cuộc di cư, họa sĩ Tạ Tỵ có rủ họa sĩ Bùi Xuân Phái di cư vào Nam nhưng ông từ chối. Sau này, hình như họa sĩ Bùi Xuân Phái cũng có vẻ hối tiếc vì quyết định ở lại này… Về sau này, khi họa sĩ Tạ Tỵ đi tù cải tạo về có gặp lại họa sĩ Búi Xuân Phái và hai người bạn cố tri chỉ còn biết ôm nhau im lặng ứa nước mắt nhìn nhau…

Quan niệm thẩm mỹ về hội họa của họa sĩ Tạ Tỵ khác với quan niệm của Đảng mà Trường Chinh, một lãnh tụ Cộng sản đã tuyên bố “Chủ nghĩa lập thể, siêu thực, Đa Đa,… là những cái nấm độc trên cái thân gỗ mục ruỗng của nền văn hóa đế quốc. Không phải chỉ riêng ông, mà một nhà phê bình hội họa là Nguyễn Sỹ Ngọc đã dám phê phán “dốt mà dám phê bình mỹ thuật” khi nói về câu tuyên bố trên. Riêng họa sĩ Tạ Tỵ thì đã nói về thẩm mỹ quan của mình trong catalogue cuộc triển lãm Hôi Họa Hiện Đại năm 1951: “Cái Đẹp là… tiềm thức đã phải làm việc để nâng cao lên giá trị giữa mực sống bình thường… Cái Động của thiên nhiên quay theo với sức nóng của mặt trời cũng như luật tuần hoàn của kiếp sống. Thay đổi luôn luôn biến đổi từ vô hình đến hữu hình, từ Xanh đến Vàng, từ Hồng đến Tím và xê dịch với tốc độ của thời gian. Nghệ thuật chứa đựng trong lòng nó cái sức sống tiềm tàng của Đất, Trời. Tiếng nói của vũ trụ là Âm Thanh và Mầu Sắc. Phần Âm Thanh rung lên rồi tan đi. Mầu Sắc còn lại nói sự “cựa mình của Sự Vật…”

Tình cờ, tôi được đọc một “brochure” của một phòng triển lãm tranh thuộc hàng quốc tế ở Singapore giới thiệu tranh Tạ Tỵ bằng Anh ngữ mà tôi tạm dịch như sau:

“TẠ TỴ.

1922 : Sinh ở Hà Nội, Việt Nam.

1943 : tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.

1951 : triển lãm 60 bức tranh tại Hà Nội.

1956 : cuộc triển lãm hơn 60 bức tranh đầu tiên tại Sài Gòn.

1961 : Cuộc triển lãm lần thứ hai 60 bức tranh lập thể và trừu tượng ở Sai Gòn.

Bên cạnh, ông còn là một nhà thơ và viết truyện ngắn nổi tiếng.

Tác phẩm của ông được trưng bày tại nhiều bảo tàng viện nghệ thuật quốc tế ở Tokyo, San Francisco, New York, và Paris.”

Đó là một vóc dáng họa sĩ có tầm cỡ của thế giới. Còn ở Việt Nam, tranh của ông được trưng bày bên cạnh những bộ sưu tập họa phẩm của Tú Duyên, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tư Nghiêm, Hoàng Lập Ngôn, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Trần Văn Cẩn, Trần Lưu Hậu … và được coi là những tài sản văn hóa quí giá của dân tộc.

Đặc biệt, có những mảng tranh được nhiều người biết đến là những bức chân dung văn nghệ sĩ… Đó là những bức ký họa do Họa sĩ Tạ Tỵ phác họa. Mới đầu là 33 bức chân dung văn nghệ sĩ gồm các nhà văn nhà thơ thời tiền chiến và cả thời hiện đại được in trong phụ bản của tập hồi ký “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi”. Về sau này ông cũng vẽ thêm nhiều bức chân dung tác giả nữa.

TaTy_VanNgheSi_pic1

(Chân dung Văn Nghệ Sĩ qua góc nhìn của Tạ Tỵ)

Ông đã phác họa chân dung tác giả bằng những nét rất riêng chỉ đặc biệt ở con người thực hoặc con người văn chương. Thành ra, ngắm những nét phác họa, sẽ dễ dàng liên tưởng đến chân dung thực của người tác giả. Thí dụ như nhìn Vũ Hoàng Chương sẽ nhận ra ngay nét cá biệt của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhìn chân dung Mai Thảo sẽ nhìn thấy rõ từ con người nhà văn Mai Thảo. Ông vẽ ký họa bằng cả những hiểu biết về tác giả, từ đời thường đến đời sống văn chương…

Những chân dung tác giả của ông mà nhiều họa sĩ chuyên nghiệp đã cho rằng có rất nhiều nét sáng tạo và lột tả được cá tính của từng người. Vẽ Đinh Hùng đặc biệt vóc dáng phiêu bồng thi sĩ. Vẽ Mai Thảo trầm ngâm lạnh lùng như khuôn mặt hiện hữu ngoài đời. Vẽ Vũ Hoàng Chương để hình tượng được cái trầm tư biểu lộ bằng đường nét. Mỗi người mỗi vẻ, màu sắc và đường nét phối hợp nhau để tạo được những liên tưởng mà chỉ riêng mỗi người mỗi cá tính. Hình như, trong phác họa có bàng bạc những nét thơ mộng của thi ca và điều ấy đã khiến sự suy tưởng của người nhìn ngắm có sự bềnh bồng lãng mạn hơn.

TaTy_VanNgheSi_pic2

(Chân dung Văn Nghệ Sĩ qua góc nhìn của Tạ Tỵ)

Tôi rất thích những bức chân dung văn nghệ sĩ phụ bản của “Những Khuôn Mặt Văn nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi”. 33 khuôn mặt, nhìn từ những góc cạnh mới lạ khám phá được những phần tiềm ẩn bên trong của nhân dáng con người. Dường như, là một cái duyên giữa người vẽ và người được vẽ thành những gì để lại cho đời sau. Tôi chợt nhớ đến câu nói của một anh bạn văn nghệ cùng thời. Lúc đó chúng mình in sách mà được nhà xuất bản An Tiêm của thầy Thanh Tuệ và có phụ bản chân dung do họa sĩ Tạ Tỵ vẽ thì cuốn sách tăng thêm ngàn vạn lần giá trị. Thế mà, bây giờ chỉ trong vài ngày trong một năm cả hai đã dắt tay nhau đi vào hư vô. Tháng Tám, một cái tháng của chia biệt. Thầy Thanh Tuệ, và họa sĩ Tạ Tỵ bây giờ không còn nữa để lại bao nhiêu là tưởng nhớ cho mọi người.

Những bức tranh ký tên Tạ Tỵ bây giờ vô giá. Theo những người sành về tranh thì những bức tranh ký tên Tạ Tỵ bây giờ có giá trị rất cao trong những bộ sưu tập. Hình như tranh của ông được xác nhận từ chính quyền trong nước là tài sản quốc gia và không được quyền mang ra nước ngoài. Thời Việt Nam Cộng Hòa, có bức tranh mang giá cả triệu đồng, như bức tranh được ngân hàng Chase Manhattan mua lúc đó. Bây giờ bức tranh ấy được trưng bày trang viện Bảo Tàng Nghệ Thuật thành phố Sài Gòn.

Lúc sinh thời, họa sĩ Tạ Tỵ mong muốn có một cuốn sách hội họa để đời và hai người con đã khổ sở vì ước muốn ấy sau khi đã khổ công gắng sức trong khả năng chuyên môn của mình. Bao nhiêu công khó để thực hiện một CD chứa đầy hình ảnh của những bức tranh tuyệt tác. Thế mà khi mang đi in thử ở hết nhà in này đến nhà in khác thì đều bị họa sĩ chê. Nào màu sắc không trung thực, nào lọc màu bị “defected”… Hai anh em muốn làm vui lòng người cha nhưng quá khó vì nghệ thuật được nâng lên tới mức khó thực hiện dù với kỹ thuật in ấn quá tiến bộ ở xứ sở này. Với con mắt khó tính của một họa sĩ, thêm cái tính cầu toàn phải hoàn hảo đến trăm phần trăm nên công việc không hoàn thành được. Thế nên hồi ký “Cuộc Đời và Hội họa” chỉ là tác phẩm “sẽ xuất bản” mà thôi. Nhưng biết đâu về sau, từ kỷ niệm của nhà họa sĩ tài ba, sẽ có một tác phẩm để đời sẽ in! và những bức tranh sẽ là những món quà vô giá cho hậu thế. Biết đâu, cái cơ duyên ấy…

Đã có một tuyển tập in những tác phẩm chọn lọc về văn –thơ –họa của ông in năm 2001. Tôi không thể nào quên buổi ra mắt sách đặc biệt của ông ở cà phê Factory. Với vị trí của một tác giả trên văn đàn thừa sức để có một cuộc giới thiệu sách trọng thể. Thế mà, một buổi sáng Chủ Nhật, một lão trượng tóc bạc phơ ngồi ký từng quyển sách cho một hàng người xếp hàng trước mặt. Giản dị chỉ có thế nhưng tôi biết ông sung sướng lắm khi nói chuyện và quây quần với bọn trẻ. “Tuyển Tập Tạ Tỵ” là một cuốn sách gửi gấm nhiều tâm tư của một nghệ sĩ đích thực cả đời nâng niu trân trong nghệ thuật văn chương. Đây là một hiến tặng quý báu cho đời sau, chủ quan riêng tôi nhận thức như thế. Tuy chưa đầy đủ hết cả những phần tinh lọc của sự nghiệp văn chương nhưng cũng chứa đựng những phần chính của sự nghiệp tác giả. Tôi nhớ lại nụ cười hào sảng, nhớ đến nét chữ mạnh mẽ của một người họa sĩ thích viết văn làm thơ. Bây giờ, giở lại cuốn sách, còn thấy bùi ngùi. Những cuốn sách với chữ ký rắn rỏi tài hoa, vẫn còn nguyên trên kệ sách. Những báu vật một đời.

Với riêng tôi, ngoài tình văn nghệ, tôi còn là bạn của con ông, nên được ông coi như người trong nhà. Trong giới văn nghệ, cách xưng hô thông thường vẫn là anh và em. Nhưng tôi vẫn gọi bác Tạ Tỵ, dù cả những khi đang làm phỏng vấn. Tôi trước sau đã phỏng vấn ông bốn năm lần và lần nào cũng tìm thấy được sự hứng khởi của một người yêu và trân trọng văn chương chữ nghĩa. Những buổi chiều, với máy ghi âm, tôi đã được nghe những kỷ niệm khắc sâu trong trí nhớ của một người có hơn nửa thế kỷ gần gũi với cọ sơn và bút mực. Những người bạn văn chương cùng thời được nhắc đến như một cách biểu lộ tình cảm của một tri kỷ với một tri kỷ. Và bàng bạc trên tất cả là nỗi niềm của những người đã trải qua nhiều biến cố của thời thế nhiễu nhương.

Những bài phỏng vấn ấy được phổ biến trên nhiều tờ báo và cả trong những cuốn sách nữa. Bài phỏng vấn Tạ Tỵ, tác giả tác phẩm do tôi phỏng vấn đã đăng trên tạp chí Văn Học. Bài phỏng vấn nhà văn Tạ Tỵ về nhà thơ Nguyên Sa, Đinh Hùng, Du Tử Lê đã in trong các cuốn “Nguyên Sa, tác gia & tác phẩm,” “Đinh Hùng, tác giả & tác phẩm”, “Du tử Lê, tác giả & tác phẩm” trong Tủ Sách Tác Giả & Tác Phẩm của nhà xuất bản Đời do tôi chủ trương. Những bài phỏng vấn ấy với tôi như những kỷ niệm không quên…

Có nhiều chân dung nghệ thuật trong nhân dáng nghệ sĩ Tạ Tỵ. Với những tác phẩm đã xuất bản, hình như trong thơ của ông thấp thoáng có họa, trong họa của ông có bàng bạc chất thơ và văn là tổng hợp của những tinh túy từ thi ca và hội họa để tất cả thành một đồng nhất có tính nghệ thuật cao độ. Nói về thi sĩ Tạ Tỵ, không thể gạt bỏ ra con người họa sĩ và văn sĩ, bởi sự nhất quán cần có để nhìn thấy được toàn diện hơn con người nghệ sĩ…

Phác họa chân dung thi sĩ Tạ Tỵ, ý tưởng nào đầu tiên? Bên cạnh con người họa sĩ, là đích thực một thi sĩ Tạ Tỵ. Ngôn ngữ của thi ca, với ông, là tiếng nói chân thực của trái tim. Một tâm thức, trải qua bao nhiêu là biến cố trong đời sống, trải qua những khắc khoải của cuộc nhân sinh, được biểu hiện qua vần điệu để thành một biển trời bao la chữ nghĩa. Thơ của ông, có thịt da xương thịt thực sự của đời người và có khi là tiếng nói của cả một thế hệ đặc biệt Việt Nam qua những giai đoạn lịch sử qua phân chinh chiến.

Thời thế lịch sử đã ảnh hưởng thế nào trong thơ. Tâm sự ấy có nét chung mang của thế hệ đồng thời với ông.

Là một nghệ sĩ thì sự nhạy cảm với cuộc đời với thời thế là cố nhiên. Ông là người đã đi kháng chiến, trở về nhập ngũ vào quân đội VNCH, rồi sau năm 1975 vào tù Cộng sản, sau vượt biển sang tị nạn xứ người, hoàn cảnh ấy không phải riêng ông nên trong thi ca hoặc văn chương đều có nét riêng tư nhưng mà chung mang của nhiều người cùng thế hệ mà nhiều người nhận xét đó là mẫu số chung mang nhiều thời đại tính của những thế hệ.

Quả thật, khi đọc những bài thơ, tôi đã nghe man mác những nỗi niềm nghe như đồng vọng từ cuộc sống. Có phải từ những kinh nghiệm thẩm thấu riêng tư, thơ đã đi vào trong xúc cảm những rung động mà tưởng như hồi tưởng lại kỷ niệm lánh sâu trong ngày tháng. Bây giờ, thơ vỡ òa. Thơ như những lời thầm thì từ qúa khứ nào, cuộc đời nào… tâm sự ấy, lời thơ ấy, mang mang như một đoạn hồ trường. Theo tôi, thời đại tính đã chan chứa trong thơ và người đọc dễ rung cảm vì sự chia sẻ.

Tâm sự một đời người ấy chắc là những dằn vặt một đời khi bản thân thi sĩ đã trải qua bao nhiêu hoàn cảnh. Có lúc, thi sĩ đã trải lòng ra với những câu thơ mênh mang tâm sự. Thí dụ như:

“… Xa quá là xa vùng kỷ niệm

Mà sao lòng vẫn cứ vơi đầy

Cơm áo dư thừa đời trống rỗng

Ngựa xe nào đó nối đường dây

Rượu buồn uống cạn nhiều đêm trắng

Tóc bạc đan mau với tháng ngày

Muốn đem tâm sự phơi lòng giấy

Bỗng thấy xôn xao tiếng nọ này

Đành khép cô đơn vào băng giá

Thả mộng xuôi chiều gió lắt lay

Hoa héo đâu chờ tay người hái.

Ngọn đèn mờ tỏ có ai hay

Chí mong lấp biển san bằng núi

Nhưng sức còn thua ngọn cỏ may

Cắn bút lặng nghe lòng vỡ vụn

Từng dòng phẫn uất buốt đầu tay

Mực khôn làm máu anh hùng nhỉ

Bút chẳng làm gươm cứu nước đây

Đành mặc thời gian đưa đẩy mãi

Trăm năm nhược mộng cõi lưu đày.”

Có người nhận xét suy tư ấy, cảm hứng ấy hình như không phải riêng của một mình thi sĩ Tạ Tỵ mà còn là của chung những tâm hồn nhạy cảm với cuộc đời. Tâm sự ấy, sao buồn! Ai mà chẳng có lúc nhìn về quê xưa, nghe đời hiu hắt trôi đi ngày tháng? Ngôn ngữ thơ tự nhiên trở thành những sợi giây đàn ngân nga trong lòng những người sầu xứ.

Hình như trước đây cả nửa thế kỷ, thi sĩ Tạ Tỵ cũng đã sầu xứ rồi từ khi di cư vào Nam… Rời bỏ Hà Nội, rời bỏ Sài Gòn, như rứt bỏ một phần da thịt. Thương về năm cửa ô xưa, thơ đã thành nhạc để ngân lên trong lòng những người xa xứ mấy chục năm về trước. Lời giản dị, ý bồng bềnh tha thiết, thơ như một tâm tư thực giãi bày không cầu kỳ son phấn mà sao dư âm như tiếng sóng ngọn rạt rào. Những địa danh xưa cũ, nhắc lại sao nghe đứt ruột. Không gian nào, hiển hiện trong thương nhớ, hun hút nỗi chua xót không nhòa.

Thơ và nhạc có phải đã hôn phối với nhau để đồng vọng thành nỗi niềm thiên thu của những người mang lòng hoài niệm luôn ngóng trông về quê cũ vời xa?

Đọc những câu thơ này để tưởng nhớ lại một thời kỳ một đoạn kỷ niệm của đời người

“Tôi đứng bên này vỹ tuyến

Thương về năm cửa ô xưa

Quan Trưởng đêm tàn dẫn lối

Đê cao hun hút chợ Dừa.

Cầu Rền mưa phùn lầy lội

Gió về đã buốt lòng chưa?

Yên Phụ đôi bờ sóng vỗ

Nhị Hà lấp lánh sao thưa

cầu Giấy đường hoa phượng vỹ

nhớ thương biết mấy cho vừa… ”

Thi sĩ Tạ Tỵ cũng là một thuyền nhân và có những bài thơ viết ở trại đảo về thân phận của người vượt biển tị nạn xứ người. Là một người tị nạn lưu lạc xứ người, trước cảnh trời nước bao la ở đảo tạm dung, người thi sĩ không dằn lòng được trước những sự kiện một đời đã trải. Bây giờ, Việt Nam quê hương đã xa lắm rồi. Xót xa nhớ thương, ơi những hình bóng cũ. Đời đã đẩy đưa để phải bắt đầu một hành trình đi tìm đất sống:

“… chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này, không thuộc về quê hương nước Việt

Đã xa rồi, xa thật rồi, những hình bóng thân yêu

Đã vĩnh viễn chia tay cùng phố phường thân thuộc

Việt Nam đó, bàn chân nào nghiêng nghiêng lối bước

Tà áo nào tha thướt phủ hoàng hôn

Mưa đêm về có làm ướt môi hôn

Và sương gió có đùa vui bờ vai nhỏ?

Chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này, ôm đầy nỗi nhớ

Theo sóng triều dào dạt tấp vào bờ cát đìu hiu

Từng nỗi buồn vui đã mất

Chúng ta nhìn xác những con tàu phơi mình trên bãi vắng

Như nhìn thấy bao nhiêu kiếp người trôi dạt nằm lại nơi đây, trên ngọn đồi Vĩnh Biệt…”

Tạ Tỵ cũng đã viết những tác phẩm nhận định văn học sâu sắc. Những tác phẩm có tính vừa biên khảo vừa tùy bút để phác họa lại chân dung những văn nghệ sĩ mà ông có quen biết và có nhiều kỷ niệm.

muoikhuonmatvannghehomnay4119Bs_Phamduyảnh

(Tác phẩm của Tạ Tỵ)

Với một thời gian dài cầm bút, ông đã viết nhiều cuốn sách nhận định văn học chất chứa nhiều chi tiết xác thực và phác họa lại được những thời kỳ văn chương đặc sắc. Những tác phẩm viết trước 1975 tại miền Nam như: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ; Phạm Duy Còn Đó Nỗi Buồn; Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay; hay tác phẩm viết sau này ở hải ngoại Những Khuôn Mặt Văn nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi, là những tài liệu văn học mà qua đó những người đi sau hiểu biết được vóc dáng những văn nghệ sĩ tiêu biểu cho một thời. Với cái nhìn của một họa sĩ, cùng với tâm cảm của một nhà thơ, cùng với kỹ thuật già dặn của một tiểu thuyết gia, chân dung ấy đã được lột tả bằng ký họa và tiểu luận cũng như hồi ký. Những nghệ sĩ đã sống lại trong một không gian, thời gian tuy đã qua nhưng vẫn còn sinh động trong sinh hoạt văn học.

Tại hải ngoại, ông có viết một tác phẩm nào như một hồi ký.

Về những tác giả là người bạn văn nghệ của ông trong “Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua trong đời tôi”: “trong hơn 40 năm đằng đẵng biết bao nhiêu dữ kiện chủ quan cũng như khách quan đã làm cho những con người làm văn nghệ như bị bủa vây vào cơn huyễn mộng, ở đấy chỉ có hư ảo thắp sáng để soi đường cho từng bước đi lạc lõng. Nói cho đúng nền văn học nghệ thuật Việt Nam rất đa dạng và đông đảo. Nhưng tôi chỉ viết và nói đến các bạn bè đã cùng với tôi, có ít nhiều kỷ niệm, đã chia sẻ với tôi phần nào nỗi vinh nhục của lịch sử, từ thời bị trị bởi bàn tay của Thực Dân Pháp, tới hôm nay lại tan hoang dưới sự áp chế bạo tàn của Cộng Sản Việt Nam. Tôi viết về anh em, tôi vẽ chân dung họ bằng ngôn ngữ, đồng thời cũng tự họa. Nhưng cũng chính nhờ vào cơ may của bao nhiêu biến động trên mảnh đất quê hương, đã khổ lại càng khổ thêm, đã nghèo lại nghèo hơn nên những người làm văn nghệ mới có đề tài để sáng tạo nên biết bao nhiêu công trình nghệ thuật, dù muốn dù không nó cũng thuộc về gia tài của đất nước. Nhờ vào sự quen biết nhiều do hoàn cảnh tôi mới có cơ may viết nên cuốn sách này… ”

Ông cũng có nhiều tập truyện ngắn được đánh giá là có cá tính riêng phản ánh đời sống. Với tập truyện “Yêu Và Thù”, Lãng Nhân viết với một vài nhận định khá độc đáo:

“Cuốn Yêu và Thù này là 14 truyện ngắn tả những mối tình yêu có khi lãng mạn có khi sỗ sàng nhưng bao giờ cũng có sắc thái thiết tha uất ức vì nằm trong những hoàn cảnh mà cuộc chiến tranh quá dài đã làm cho dở dang hay ngang trái. Cốt truyện thường phác thực nên dễ rung cảm. Tác giả đã đem phương pháp của hội họa áp dụng một cách thấu đáo vào văn chương, mỗi truyện là một bức tranh linh hoạt, nói lên một cảnh não lòng…”

Văn chương của ông hình như để phác họa lại một đời sồng văn chương cũng như đời sống thường ngày. Ở từng thời gian nổi bật lên những không gian với những tên gọi không thôi cũng đủ gợi lại một trời ký ức. Hà Nội, thành phố của ấu thơ và thời kỳ vừa mới lớn. Sài Gòn, nơi trưởng thành và làm việc với biết bao nhiêu vui buồn. Trại đảo Bi Đông ở Mã Lai nơi đời sống rẽ đi những lối ngõ khác bắt đầu cho nỗi buồn lưu vong biệt xứ. Rồi San Diego, rồi quận Cam, Westminster, gậm nhấm nỗi buồn của một con hổ về già, nghe gió xào xạc bên tai tưởng tới bóng thẵm rừng già hùng vĩ. Đời sống ấy, có vui có buồn, nhưng bất cứ hoàn cảnh nào cũng là những ghi chép chân thực của một người luôn mơ mộng và lãng mạn.

Trong dòng văn chương mô tả hiện thực đời sống của những trại tù Cộng sản, Ông viết “Đáy Địa Ngục”. Có người cho rằng những cuốn sách viết về ngục tù Cộng Sản chỉ có tác dụng nhất thời về chính trị và không có nhiều ảnh hưởng đến đời sống văn học. Tôi nhớ có lần viết về nhà văn Solzhenitsyn của “Tầng đầu địa ngục” và đã thắc mắc rằng những tiểu thuyết viết về ngục tù Gulag ấy đã được cả thế giới hâm mộ. Riêng với Tạ Tỵ và “ Đáy Địa Ngục” cùng với những “ Ánh Sáng và Bóng Tối” của Hoàng Liên, “Đại Học Máu” của Hà Thúc Sinh, “Thép Đen” của Nguyễn Chí Bình,… Tôi vẫn tìm được những chia sẻ cả về nhân thức chính trị lẫn ý thức thẩm mỹ văn chương. Chữ nghĩa, có một lúc đứng về cái thực để chống lại cái giả trá của chính thể độc tài. Tù ngục cộng sản không những tàn ác mà còn nâng cái kỹ thuật hành hạ con người và hạ thấp xuống từ nhân phẩm đến thân phận súc vật. Điều ấy, có lẽ nhiều người đã viết, đã nói, mỗi một cách thế khác nhau. Nhưng tựu chung, vẫn là tiếng kêu gọi làm người, và phơi bày những địa ngục có thật mà các tác giả đã trải qua…

Văn Sĩ –Thi Sĩ- Họa Sĩ- tất cả những vóc dáng ấy gói tròn trong con người nghệ sĩ Tạ Tỵ. Trong nhất thời một lúc, không thể nào nói hết được tất cả những đóng góp của ông cho văn hóa dân tộc và văn chương nhân loại. Người ta nói rằng “cái quan định phận”, thì đã qua sáu năm rồi ngày ông từ trần, trong ngày giỗ tôi xin ghi lại một phần nào những di sản của ông để lại cho đời. Và, biết đâu sẽ có sự hưởng ứng của những vị uyên bác hơn để có những nhận xét trung thực và chính xác hơn về một khuôn dáng nghệ sĩ lẫy lừng trong văn học sử Việt Nam. Không ngờ một câu nói trước đây của ông đã thành sự thực. Nếu có chết tôi sẽ trở về quê hương để gửi nắm xương tàn. Bây giờ, ông đã khởi hành vào chốn miên viễn hư vô. Chuyến song loan đã rời bến nhân gian. Những bức tranh, những cuốn sách của ông vẫn còn đời sống, vẫn hiện hữu hàng ngày. Chỉ có điều, bây giờ không còn nữa hình dạng nhà văn, nhà họa sĩ nổi danh một thời nữa. Nụ cười đôn hậu, tiếng nói sang sảng, mái tóc bạc phơ, tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Nhưng chắc chắn, sẽ chẳng bao giờ lãng quên trong lòng những người Việt Nam yêu nghệ thuật…

Nguyễn Mạnh Trinh

(http://vietluan.com.au/thong-tin-tuong-niem-van-thi-hoa-si-ta-ty)

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: