40 Năm Hải Ngoại- Một Nén Hương- Một Bông Hồng Cho Những Nhà văn- Nhà Thơ Đã Khuất Núi (Đã cập nhật danh sách tới tháng 6/2017)


Nhật Tiến biên soạn.
(Tổng hợp từ nhiều nguồn)

(Đã cập nhật danh sách tới tháng 6/2017)

Thời gian 40 năm chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử, nhưng tuy vậy cũng đủ để cho con người hoàn tất một sự nghiệp hay từ giã cõi đời.

Trong suốt 40 năm qua, kể từ khi miền Nam sụp đổ trước sự xâm lấn của CS miền Bắc, nhiều văn nghệ sĩ vốn đã tạo dựng nên một nền Văn Học rực rỡ của miền Nam cũng đã vượt thoát ra đi để mưu tìm một cuộc đời tự do đáng sống. Trên phần đất tự do thuộc nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh những nỗ lực để hội nhập vào xã hội mới, các nhà văn, nhà thơ gốc Việt vẫn tiếp tục miệt mài sáng tạo, duy trì và phát triển Văn Học Miền Nam trên đất tạm dung để có thể coi là đã có một nền văn chương VN hải ngoại. Và cũng ròng rã trong suốt 40 năm tận tụy với ngòi bút ấy, nhiều người đã lặng lẽ ra đi, bỏ lại phía sau những công trình có thể chưa hoàn tất nhưng cũng đã gieo nhiều nỗi ngậm ngùi, xót xa trong lòng của nhiều người ở lại

Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm hội nhập, mặc dù không thể thu góp đầy đủ danh xưng của tất cả những nhà văn, nhà thơ đã khuất bóng, phần liệt kê dưới đây xin coi như một nén nhang, một bông hồng cho tất cả những nhà văn, nhà thơ đã mất ở hải ngoại mà trong suốt 40 năm qua đã góp phần cung ứng cho đời những tác phẩm quý giá để các thế hệ sau khi nhìn lại không thể không biết tới.
Danh sách dưới đây xếp theo thứ tự thời gian mà các vị đã khuất núi.

 


THANH NAM (1931-1985)
Nhà văn/nhà thơ Thanh Nam tên Trần Đại Việt, người làng Mỹ Trọng tỉnh Nam Định, thân phụ là Tổng Giám thị trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Nội ngày trước.

Năm 1946, mới 15 tuổi, Thanh Nam đã được tờ báo Thiếu Nhi tại Hà Nội đăng thơ và mời cộng tác, và viết một số Sách dành cho tuổi trẻ cho nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh.

Năm 1953 ông vào Sài Gòn, được mời làm Tổng Thư ký báo Thẩm Mỹ, viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ độc giả, phụ trách nhiều mục khác như Phụ nữ Gia Đình, Gỡ Rối Tơ Lòng … và còn ký nhiều bút hiệu như Sông Hương, Cô Hồng Ngọc, Bà Bách Lệ, Tôn nữ Đài Trang, Thợ Cạo. Năm 1960, ông hợp tác với nguyệt san Hiện Đại do Nguyên Sa và Thái Thủy chủ trương, và là Tổng Thư ký tuần báo Nghệ Thuật, cùng viết bài trên tuần báo Kịch Ảnh.

Di tản sang Hoa Kỳ năm 1975, ông tạm cư tại tiểu bang New Jersey rồi năm 1976 định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở đây ông cộng tác với tờ Đất Mới và một trong vài tờ báo Việt ngữ đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ . Ông mất vào ngày 2 tháng 6 năm 1985 do chứng ung thư thanh quản.

Tác phẩm đã xuất bản :

Hồng Ngọc (1957)
Người Nữ Danh ca (1957)
Buồn Ga Nhỏ (1962)
Giấc Ngủ Cô Đơn (1963)
Còn Một Đêm Nay (1963)
Cho Mượn Cuộc Đời, Bầy Ngựa Hoang (1965)
Giòng Lệ Thơ Ngây (1965)
Những Phố Không Đèn (1965)
Mấy Mùa Thương Đau (1968)
Gã Kéo Màn, ….
Đất Khách (1983)

 

VŨ KHẮC KHOAN (1917-1986)
Ông sinh năm 1917 tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y Khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh Nông, tốt nghiệp kỹ sư sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Ông là tác giả những vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948), Thành Cát Tư Hãn, và Giao thừa (1949). Hai vở Giao thừa và Thằng Cuội đã được trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội vào những năm 1951 và 1952. Bài vở của ông cũng được đăng trên báo Phổ thông và Quan điểm.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam viết cho các báo Tự do, Quan điểm rồi làm chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ của Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn.

Ông tỵ nạn sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota và thành lập Hội Phật giáo Việt Nam tại đây. Ông mất ngày 12 tháng Chín, 1986.

 

ĐÀO ĐĂNG VỸ (1908-1997)

Đào Đăng Vỹ là nhà văn, nhà văn hóa, nhà từ điển học rất nổi tiếng ở Huế từ những năm cuối của thập niên 40. Ông cũng là dịch giả có tiếng của Việt Nam. Riêng trong lãnh vực từ điển, ông đã biên soạn những cuốn như Pháp Việt Đại Từ điển (1949-52, 1963, 1970), Việt Pháp Đại Từ điển ( 1956, 1963, 1970), Pháp Việt Từ điển Phổ thông (1954-1956, 1960, 1963, 1965, 1970), Pháp Việt Tiểu Từ điển (1961, 1963, 1966, 1970), Việt Pháp Tiểu Từ điển (1962, 1964, 1966, 1970), Việt Nam Bách Khoa Từ điển (Cuốn I cuốn II, III…; 1959-1963).

Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1908 tại Huế, và mất ngày 7/4/1987 tại California – Mỹ.

 

BÌNH NGUYÊN LỘC (1914-1987)
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút hiệu khác như Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…]

Ông đã sáng tác khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và bốn quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại độ 800 trang viết tay coi như bị thất lạc.

Ông cũng từng viết tiểu thuyết bằng thơ trường thiên như Thơ Ba Mén, Việt sử trường ca, Luận thuyết y học, Thơ thổ ngơi Đồng Nai, Ca dao… Ông còn có công sưu tầm được hàng nghìn câu ca dao kèm theo chú thích về đặc điểm của mỗi câu.

Tháng 10 năm 1985, ông được gia đình bảo lãnh sang Mỹ chữa bệnh. Ngày 7 tháng 3 năm 1987, ông từ trần tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì bệnh cao huyết áp, thọ 74 tuổi

 


HOÀI ĐIỆP TỬ (1941-1987)
Tên thật Phạm Văn Tập. Sinh năm 1941 – Tân Tỵ – tại Bạc Liêu.

Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Điệp Yên Hà, Lê Thăng, Kép Độc, Kiều Linh Khanh. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 14 tuổi, chính thức viết văn vào năm 1958 với truyện dài đầu tiên “Mớ tóc gái Phù Sa” viết trên nhật báo Chuông Mai của ông Huỳnh Hoài Lạc.

Lần lượt cộng tác với các nhật báo, tuần san như Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, Dân Đen của Nguyễn Duy Hinh, Tiếng Dân, Tia Sáng của Nguyễn Trung Thành, Tiếng Nói Dân Tộc của Lý Quý Chung, Độc Lập của Hoàng Châu, Tin Sáng của Ngô Công Đức, Thách Đố của Đặng Văn Bé v.v…

– Năm 1966 ông sáng lập Nhà xuất bản Sông Hậu cùng với các thân hữu như Trương Đạm Thủy, Ngô Tỵ, Phan Yến Linh, Phương Triều, Tâm Đạm Dương Trữ La.

– Khi sang Mỹ từ năm 1981, nhà văn Hoài Điệp Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai (Nam California) từ năm 1982 đến 1987.

Ông bị sát hại tại tòa soạn nằm trên đường Westminster (Nam California) lúc 2 giờ 15 sáng chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 1987. Vụ án mạng này đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam : – Vũng Lầy (1964) – Trái Cấm – Tuổi Tình Yêu, nhà xuất bản Sống Mới phát hành, 1965. – 16 Phiên Buồn (1966) – Lửa Đạn Về Thành – Tình Biển (1968) – Đỉnh Núi Sương Mù – Còn Xanh Kỷ Niệm (1969) – Bến Đục – Giọt Máu Cho Cánh Đồng Mùa Hạ (1970) – Tặng Phẩm Của Đêm – Bụi Thành Phố (1971) – Mặt Trời Mọc Cho Ai – Hành Lang Đen (1972) – Cao Ốc Số 8 (1973) – Sóng Hoang, nhà xuất bản Sông Hậu phát hành (1974)…. và một số thơ cùng truyện ngắn.

Tác phẩm đã xuất bản tại Mỹ : – Truyện dài: Trên Đầu Sóng, nhà xuất bản Hải Ngoại phát hành, 1982.

 


NGUYỄN TẤT NHIÊN (1952-1992)
Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30-5-1952 tại xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà..

Ông là một thi sĩ bẩm sinh, tài hoa, suốt đời cuồng nhiệt, đam mê với thơ, đặc biệt là thơ tình. Biết làm thơ từ rất sớm: Mới 14 tuổi (1966,) đã có tập thơ đầu tay“Nàng Thơ Trong Mắt” và hai năm sau, 16 tuổi (1968,) viết tiếp tập thơ“Dấu Mưa Qua Đất” (cả hai tập thơ nầy đều ký bút danh Hoài Thi Yên Thi). Năm 1970, ông tự ấn hành tập thơ“Thiên Tai,”lần đầu tiên lấy bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Năm 1978, ông vượt biên và định cư tại Pháp. Tại đây, nhà xuất bản Sud-Asie đã ấn hành tập“Thơ Nguyễn Tất Nhiên”gồm những bài thơ sáng tác từ 1970 – 1980. Sau đó, ông sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tiếp tục sáng tác thơ, nhạc, cho ấn hành các tập thơ“Chuông Mơ” (NXB Văn Nghệ,1987,)“Tâm Dung”(NXB Người Việt, 1989,)“Minh Khúc” (1990, đã hoàn tất bản thảo, phổ biến hạn chế.)

Ông mất ngày 3-8-1992 tại California.

 


DUYÊN ANH (1935-1997)
Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tỉnh Thái Bình.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam (tháng 4, 1976). Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ôngvượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc.

Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

 

NGUYÊN SA (1932-1998)

Nguyên Sa sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950 với những tác phẩm như“Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”, v.v.

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại (Mặc Lâm –RFA).

Ông đi Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời. Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998.

 

MAI THẢO (1927-1998)
Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, ông sinh ngày 8/6/1927 tại huyện Hải-hậu, tỉnh Nam-định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam-định rồi Hà-nội (học trường Đỗ Hữu Vị, sau là Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng-yên. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà-nội tản cư về quê chợ Cồn, từ đó Mai Thảo rời nhà vào Thanh-hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên-khu-ba, Liên-khu-tư đến chiến khu Việt-bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến vào thành, đi buôn. 1954, di cư vào Nam. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương báo Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông nom báo Văn. Tham gia chương trình văn học nghệ thuật của các đài phát thanh tại Sài-gòn từ 1960 đến 1975. Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển. và định cư ở Hoa-kỳ. Ít lâu sau ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 7/1982 ông tái bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ông mất tại Santa Ana, California ngày 10/1/1998.

Tác phẩm Mai Thảo đã xuất bản:

Đoản thiên
Đêm giã từ Hà Nội (Người Việt, 1955)
Tháng giêng cỏ non (1956)
Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963)
Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965)
Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966)
Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967)
Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968)
Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969)
Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969)

Tùy bút (1970)
Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà Nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970)
Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987)
Một đêm thứ bảy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988)
Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989)
Chân bài thứ năm (Nam Á,Paris, 1990)
Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990)…

Truyện dài:
Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963)
Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác)
Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964)
Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966)
Đêm kỳ diệu (?)
Cùng đi một đường (1967)
Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968)
Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968)
Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969)
Lối đi dưới lá (1969)
Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969)
Thời thượng (Côi Sơn, 1970),
Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970),
Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970),
Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970)
Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971)
Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971)
Một ngày của Nhã (1971)
Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971)
Sóng ngầm (Hoa biển, 1971)
Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972)
Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn Đình Vượng, 1972)
Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972)
Gần mười bảy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972)
Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972)
Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
Tình yêu màu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973)
Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973)
Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973)
Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974)
Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974)
Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Thơ:
Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989)

 

LÊ ĐÌNH ĐIỂU (1939-1999)

Nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động xã hội Lê Đình Điểu, người bạn lớn của nhiều sinh hoạt văn hóa, giáo dục, truyền thông Việt Nam từ hơn 40 năm qua.

Ông sinh năm 1939 tại Ngọc Hà, ngoại thành Hà Nội. Ông làm thơ, viết văn từ thời niên thiếu với bút hiệu Y Dịch. Năm 1967, ông tốt nghiệp khóa Báo Chí học tại Viện Báo Chí Quốc Tế ở Kuala Lumpur, Mã Lai. Sau đó, ông làm đặc phái viên Việt Tấn Xã, và là Phụ Tá Học Vụ Ban Báo Chí học ở Đại Học Chính Trị Kinh Doanh, Đà Lạt. Năm 1972, ông đứng đầu ngành Thông Tin Quốc Nội trong phủ Tổng Ủy Dân Vận, sau đổi thành Bộ Dân Vận-Chiêu Hồi. Năm 1974 ông làm ở Phòng Báo Chí của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo.

Từ 1975 đến 1981 ông bị đi tù cải tạo. Năm 1985 gia đình ông qua Mỹ, và ông làm chủ bút nhật báo Người Việt, đến năm 1988 thì trở thành Tổng Giám Đốc Công Ty Người Việt. Năm 1991 ông là chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21. Ông cũng là chủ tịch trong nhiều năm Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA). Năm 1995, ông làm chủ tịch đài phát thanh VNCR mà ông là một sáng lập viên.

Ông đã dịch các cuốn sách “Kỹ Thuật Tòa Soạn”, THN xuất bản ở Sài Gòn năm 1969, và “Ký Giả Chuyên Nghiệp”, Hiện Đại xuất bản năm 1974, Người Việt tái bản năm 1977. Gặp chứng bệnh nan y, ông đã từ trần ngày 24-5-1999.

 


NGHIÊM XUÂN HỒNG (1920-2000)
Cư sĩ Tịnh Liên NGHIÊM XUÂN HỒNG sinh năm 1920 tại Hà Đông, Bắc Việt.

Năm 1953, hành nghề Luật Sư.

Năm 1954, đất nước chia đôi, di cư vào Nam.

Nguyên Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon, Cựu Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng năm 1965, thời Nguyễn Khánh.

Sáng lập viên nhóm Quan Điểm, Saigon.

Năm 1975, miền Nam Việt Nam mất, di cư sang Hoa Kỳ.

Trước năm 1975, viết sách về Chính Trị, Triết Học và Văn Chương.

Sau năm 1975, chuyên đọc Kinh Đại Thừa, tịnh tu, viết sách Phật và giảng dạy Phật Pháp tại chùa Trúc Lâm Yên Tử, Santa Ana và chùa Liên Hoa, Garden Grove, California.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN Ở VIỆT NAM:
01. Đi Tìm Một Căn Bản Tư Tưởng, 1957.
02. Lịch Trình Diễn Tiến của Phong Trào Quốc Gia Việt Nam, 1959.
03. Xây Dựng Nhân Sinh Quan, 1960.
04. Luyến Ái Quan qua Triết Thuyết và Tình Sử, 1961.
05. Cách Mạng và Hành Động, 1962.
06. Người Viễn Khách Thứ Muời, Kịch, 1963.
07. Từ Binh Pháp Tôn Ngô đến Chiến Lược Nguyên Tử, 1965.
08. Việt Nam, nơi Chiến Trường Trắc Nghiệm, 1966.
09. Biện Chứng Giải Thoát trong Tư Tưởng Ấn Độ, 1966.
10. Biện Chứng Giải Thoát trong Giáo Lý Trung Hoa, 1967.
11. Nguyên Tử Hiện Sinh và Hư Vô, 1969.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN Ở HOA KỲ:
01. Lăng Kính Đại Thừa, 1982. 02. Tánh Không và Kinh Kim Cang, 1983.
03. Lăng Nghiêm Ảnh Hiện, 1983. 04. Nguồn Thiền Như Huyễn, 1984.
05. Mật Tông và Kinh Đại Thừa, 1986. 06. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 1, 1988
07. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 2, 1989. 08. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 3, 1991.
09. Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc 4, 1992. 10. Ma Tâm và Ma Sự của người tu, 2001

Ông mất ngày 07 tháng 05 năm 2000 tại Orange County, California, Hoa Kỳ.

 

TRẦN HỒNG CHÂU (1921-2003)

Thi sĩ TRẦN HỒNG CHÂU tức Giáo sư NGUYỄN KHẮC HOẠCH, sinh năm 1921, tại Hưng Yên, mất năm 2003 tại California, Hoa Kỳ.

Học tại Trung Học Khải Định, Huế (1936-1943) rồi Trường Đại Học Luật Hà Nội cho tới năm 1945.

Xuất ngoại: Học Đại Học Sorbonne, Paris, đậu Cử nhân Văn Chương năm 1950, và Tiến Sĩ Văn Chương Quốc Gia (Doctorat d’Etat) năm 1955.

Tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Quốc Tế Học thuộc Đại Học Luật Khoa Paris (Institut des Hautes Études Internationales de la Faculté de Droit), Paris, 1952.

Tốt nghiệp Trung Tâm Âu Châu Học thuộc Đại Học Nancy (Centre D’Etude Européennes, Université de Nancy) Pháp quốc, 1957.

Về nước năm 1957, gia nhập ban giảng huấn Đại Học Văn Khoa Saigon, phụ trách các môn Văn chương Pháp và Văn chương Việt Nam. Đồng thời cũng giảng dậy tại Đại Học Sư Phạm Saigon, Học Viện Quốc Gia Hành chính và Viện Đại Học Huế.

Được bầu làm Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Saigon từ 1965 đến 1969.

Giáo sư biệt thỉnh về văn chương Pháp và văn chương, văn hoá Việt Nam tại Southern Illinois University trong thời gian 1970-1974.

Thành viên của Ủy Ban điển chế văn tự và Ủy Ban soạn thảo từ điển Bách khoa Việt Nam (1968-1970). Thành viên Hội Đồng Viện Đại Học Saigon từ 1958 đến 1970. Được tưởng thưởng Văn Hoá Giáo Dục Bội Tinh (1968).

Thành viên của các hiệp hội văn hoá giáo dục tại quốc ngoại và quốc nội: Modern Languages Association từ 1971, Association of American University Professors từ 1973, Association for Asian Studies từ 1971, American Oriental Society từ 1973, Societé des Etudes Indochinoises (1961-1970), Hội Việt Nam liên lạc Văn hoá Á châu (1958-1961).

Đã dự một số hội nghị về văn hoá giáo dục ở trong và ngoài nước: Nhật (Đại Học Keio, 1960), Ấn độ (New Delhi, 1965), Đài Loan (Đài bắc, Việt Trung Hoa học, 1969). Tham quan một số Đại học Đại Hàn (1967) và Hoa Kỳ (1966 và 1968).

Khai đường mở lối cho Viện Việt Học: Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đã được Hội Đồng Viện Việt Học mời vào Ban Cố Vấn từ ngày thành lập Viện, 26 tháng 2, năm 2000 và được mời làm Viện Trưởng Viện Việt Học (2001-2003), California.

Le Japon et le Traité de Paix (Nhật Bản và Hoà Ước), Paris, 1952.
Le Roman Vietnamien au 18e et 19e Siècle (Tiểu Thuyết Việt Nam Thế Kỷ 18 và 19), Paris, 1955.
Les Relations Américano-japonaises depuis 1951 (Quan hệ Nhật-Mỹ từ 1951), Paris, 1957.
Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hoá Giáo Dục, (biên khảo, phê bình), Lửa Thiêng, Saigon, 1970.
Thành Phố Trong Hồi Tưởng (tùy bút), An Tiêm, Los Angeles,1991.
Nửa Khuya Giấy Trắng (thơ), Thanh Văn, Los Angeles, 1992.
Nhớ Đất Thương Trời (thơ), Thế Kỷ, Los Angeles, 1995.
Hạnh Phúc Đến Từng Phút Giây (thơ) Văn Học, Los Angeles, 1999.
Dăm Ba Điều Nghĩ về Văn Học Nghệ Thuật (tiểu luận), Văn Nghệ, 2001.
Vietnam Culture Series (Series Editor), Việt-Học Publishing, 2001-2003
Để Tưởng Nhớ Nguyễn Du (thơ), Viện Việt Học, 2002
Suối Tím (thơ), Văn Nghệ, 2003
Tuyển tập Trần Hồng Châu (thơ, tùy bút, tiểu luận), Viện Việt Học, 2004

 


ĐẶNG TRẦN HUÂN (1929-2003)
Đặng Trần Huân sinh ngày 7-6 -1929, cựu Thiếu tá QLVNCH, làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến, ngành thông tin báo chí. Khởi viết năm 1953. Ông xuất thân sĩ quan Bảo chính đoàn từ Hànội trước 1954, (sau là Bảo An ), từng là cấp chỉ huy của sĩ quan báo chí Lê Cự Phách (tức Du Tử Lê ) – Ông chuyển sang làm báo chuyên ngành quân đội, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến – Quân Lực VNCH. Bị đi tù cải tạo ở miền Bắc, khi được trả tự do, Ông sang định cư tại Hoa kỳ, diện H.O năm 1992.

Ông là tác giả CHUYỆN CẤM ĐÀN BÀ ( tập 1 và 2) , HẢI ĐẢO THẦN TIÊN (dịch), THÀNH PHỐ BUỒN THIU ( bút ký ). Sang Hoa Kỳ, tự xuất bản HÀNH TRÌNH MỘT HÁT-Ô (Văn Mới 1995 ) NHỮNG NGƯỜI THÍCH DẤU HUYỀN ( 1998) CHỮ NGHĨA BỀ BỀ ( 2000). Ông qua đời ở Hoa Kỳ ngày 21 tháng 3 năm 2003.

 


ĐỖ NGỌC YẾN (1941-2006)
Ông là người sáng lập và cũng là chủ nhiệm đầu tiên của Nhật báo Người Việt, tờ báo lâu đời nhất và cũng lớn nhất tại hải ngoại. Ông cũng là một trong những người góp phần tạo lập ra khu Little Saigon tại Quận Cam, California.

Ông bắt đầu viết báo khi còn đi học và là chủ bút tờ báo ở trường Trương Vĩnh Ký. Khi vào đại học Văn khoa, ông trở thành một đại diện trong ban Chấp hành Sinh viên và đã tổ chức những cuộc xuống đường đòi lật đổ tướng Nguyễn Khánh năm 1964. Năm sau ông bắt đầu làm việc với International Voluntary Service (IVS), một hội thiện nguyện Hoa Kỳ, vận động và tổ chức thanh niên sinh viên giúp tổ chức này phân phối thực phẩm cho đồng bào bị nạn bão lụt ở miền Trung.

Từ năm 1964 ông Ðỗ Ngọc Yến viết bài cho các nhật báo Sống, Sóng Thần, Ðại Dân Tộc, tạp chí Văn Nghệ, tuần báo Ðời, và nhiều tờ báo khác. Bắt đầu từ thập niên 1970 ông cộng tác với nhiều phóng viên các báo ngoại quốc hoạt động tại Việt Nam. Ngày 26-04-1975, ông và vợ cùng 3 con rời Việt Nam và định cư ở Hoa Kỳ.

Ông thành lập tờ báo Người Việt (vào cuối năm 1978 ban đầu là tuần báo, tới 1985 thì trở thành nhật báo). Ông cũng đứng vai trò trung gian chuyển đạt quan điểm người Việt tị nạn đến với người Mỹ qua báo chí Mỹ. Ông mất ngày 17 tháng 8- 2006 tại bệnh viện Fountain Valley, miền Nam California.

 


THANH TÂM TUYỀN (1936-2006)
Nhà thơ, nhà văn Thanh Tâm Tuyền, tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13-3-1936, tại Vinh, Nghệ An. Từ 16 tuổi đã đi dạy học tại Hà Đông, viết truyện đăng trên báo Thanh Niên tại Hà Nội. Từ 1954 ông hoạt động trong Tổng Hội Sinh viên Hà Nội, chủ trương nguyệt san Lửa Việt, rồi vào Nam.

Tại Sài Gòn, ông làm cho các báo Dân Chủ, Người Việt và tham gia ban biên tập tạp chí Sáng Tạo (1956-1960) do Mai Thảo đứng tên, có ảnh hưởng lớn trên văn học Việt Nam suốt một thập niên.

Do động viên năm 1962, Ông hoạt động trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, công tác huấn luyện văn hóa, cấp bực cuối cùng là đại úy. Từ 1975 bị đi học tập nhiều năm tại nhiều trại cải tạo miền Bắc. Sau đó sang định cư tại Hoa Kỳ.

Đã xuất bản khoảng mười tác phẩm. Ba tập thơ : Tôi không còn cô độc (1956), Liên – Đêm – Mặt trời tìm thấy (1964, Sài Gòn), Thơ ở đâu xa (1990, Mỹ). Ba truyện : Bếp Lửa (1957) ; Khuôn Mặt (1964), Dọc đường (1967).Ba tiểu thuyết : Cát lầy(1966), Mù Khơi (1970), Tiếng động (1970). Một vở kịch ngắn : Ba Chị Em (1965). Một phiếm luận(1970). Ông còn nhiều tác phẩm chưa xuất bản, như tiểu thuyết Ung Thư đăng nhiều kỳ trên báo Văn, Sài Gòn.

Ông qua đời lúc 11 giờ 30 ngày 22-3-2006 tại thành phố St Paul, Minnesota, Hoa Kỳ, nơi ông cư ngụ, hưởng thọ 70 tuổi.

 


HOÀNG ANH TUẤN (1932 – 2006)
Hoàng Anh Tuấn là một nhà đạo diễn và nhà văn sinh năm 1932 tại Hà Nội. Năm 17 tuổi ông du học sang Pháp đến năm 1958 thì về lại Việt Nam sau khi tốt nghiệp trường điện ảnh IDHEC (L’Institut des hautes études cinématographiques) ở Paris.

Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo chí ở Sài Gòn. Năm 1965 ông được bổ nhiệm làm Quản đốc Đài Phát thanh Đà Lạt. Tên tuổi của của ông gắn liền với ngành điện ảnh trong vai trò đạo diễn. Bốn cuốn phim có sự đóng góp của ông là

Ngàn năm mây bay(1963), dựa theo tiểu thuyết của Văn Quang, hãng Thái Lai sản xuất với các diễn viên Lê Quỳnh, Bích Sơn, Bích Thủy, Phạm Huấn
Hai chuyến xe hoa(1961) dựa trên tiểu thuyết Hai chuyến xe hoa của Nguyễn Bính Thinh và tuồng cải lương của Thái Thụy Phong; hai diễn viên chính trong phim là Thanh Nga và Thành Được
Nước mắt đêm xuân với các diễn viên Mai Trường, Nguyễn Long, Lệ Quyên và Khánh Ly.
Xa lộ không đèn(1972) với các diễn viên Thanh Nga, Hoài Trung, Trang Thanh Lan, Năm Châu

Sau năm 1975 ông bị đi tù cải tạo đến năm 1979 thì xuất cảnh sang Pháp. Năm 1981 ông sang định cư ở Hoa Kỳ rồi mất năm 2006 ở San Jose, California.

Tác phẩm của Hoàng Anh Tuấn :

Ly nước lọc– kịch
Hà Nội 48– kịch
Về Provence– tập thơ
Yêu em, Hà Nội– tập thơ
“Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội” – nhạc soạn cùng với Phạm Đình Chương.

 

VƯƠNG ĐỨC LỆ (1937-2008)
Ông tên thật là Lê Ðức Vượng, sinh ngày 15 tháng 11, 1937 tại Bạch Mai, Huyện Hoàn Long, Tỉnh Hà Đông.

– Học Trung Học Chu Văn An Hà Nội và sau 1954, tại Sài Gòn. Đã theo học Luật Khoa và Văn Khoa.

– Năm 1962, ông bắt đầu đi dạy, sau đó làm Ký Giả cho Việt Nam Thông Tấn Xã, rồi làm Giám Đốc Đài Phát Thanh Long An rồi làm Biên Tập Viên cho Đài Phát Thanh Sài Gòn.

– Năm 1989, ông tham gia nhóm Diễn Đàn Tự Do (Đoàn Viết Hoạt), bị bắt và bị giam cho tới cuối năm 1995.

– Định cư tại Hoa-Kỳ, Tiểu Bang Virginia từ năm 2000, hoạt động với nhà xuất bản Tủ Sách Tiếng Quê Hương (Uyên Thao), Tổng Thư Ký Nguyệt San Kỷ Nguyên Mới – Hoa Thịnh Đốn, và viết bài bình luận cho Đài Phát Thanh Sài Gòn Houston (Texas).

– Ông qua đời ngày 20 tháng 1, 2008 tại Annandale, Virginia.

TÁC PHẨM ÐÃ XUẤT BẢN:

– Hoa Mười Phương, tuyển tập thơ với 14 tác giả, Sài Gòn 1959
– Ðường Lên Thiên Thai, Thơ, Sài Gòn 1962
– 40 Bài Thơ của Mai Trung Tĩnh và Vương Ðức Lệ, Sài Gòn 1960 [Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc (1960-1961)]
– Tình Thơ Vương Ðức Lệ, Sài Gòn 1970
– Thiên Nga Trên Ngọn Ðỉnh Trời, Sài Gòn 1974
– Thơ Vương Ðức Lệ, Tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia 2000
– Thơ Tình Vương Ðức Lệ, Tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia 2003
– Thơ Giữa Đời Thường, Tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia

 


PHẠM VIỆT TUYỀN (1926-2009)
Nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà báo Phạm Việt Tuyền, bút hiệu Thanh Tuyền, sinh ngày 15 tháng Tám, năm 1926. Ông từng là Chủ nhiệm nhật báo Tự Do kiêm Giám đốc Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do. Ông cũng là Tổng Thư Ký của Trung Tâm Văn Bút VN trong nhiều nhiệm kỳ. Tác phẩm của ông gồm những cuốn“Trên Ðường Phụng Sự,” (Kịch, Xb năm 1947) “Nghệ Thuật Viết Văn,”(Biên khảo, Xb năm 1952) “Phá Lao Lung,” (Thơ, Xb năm 1956) “Quan Ðiểm Về mấy Vấn Ðề Văn Hóa,” (Biên khảo, Xb năm 1953) hay “Phương Pháp Nghị Luận, Phân Tích và Phê Bình Văn Chương,” (Biên khảo, Xb năm 1969).. vân vân…

Trong lãnh vực giáo dục, ông là giáo sư dạy chứng chỉ dự bị ban Việt Hán, ở Ðại Học Văn Khoa, Sài gòn; hay chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, cho năm thứ nhất ở Ðại Học Văn Khoa, Huế. Ðầu thập niên 1980, ông chọn định cư tại thành phố Strasbourg, Pháp. Ông mất ngày 16 Tháng Hai, năm 2009.

 


TRẦN TAM TIỆP (1928-2009)
Nhà báo Trần Tam Tiệp sinh ngày 11-11 -1928.

Ông tốt nghiệp khoá 2 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và được đi tu nghiệp sĩ quan phi hành tại Pháp.

Trước 1975, với cấp bậc Trung Tá và bút hiệu Đạo Cù, ông là một trong những chủ biên tập san Lý Tưởng của Không Quân và là người viết quen thuộc của báo giới Việt Nam.

Sau Tháng Tư 1975, ông cùng với một số nhà văn định cư tại Pháp như Minh Đức Hoài Trinh, Nguyên Sa Trần Bích Lan, Trần Thanh Hiệp… nhanh chóng thành lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, liên lạc cộng tác và được Văn Bút Quốc Tế chính thức nhìn nhận, liên tục cho tới ngày nay.

Trần Tam Tiệp được Chủ Tịch Văn Bút Thế Giới thời ấy là Thomas Von Vegesack đặc biệt quí trọng, vì những cống hiến không mệt mỏi của ông trong việc kêu gọi quốc tế tranh đấu bảo vệ các nhà văn miền Nam bị cộng sản bắt giam không xét xử.

Chính là nhờ sự vận động bền bỉ của ông mà tổ chức “The International PEN Writers in Prison Committee (WiPC) đã dành cho các nhà văn, nhà báo Việt Nam bị CS cầm tù nhiều trợ giúp ý nghĩa hoặc can thiệp bảo trợ.

Ông bỏ tiền túi và kêu gọi anh em gởi tiền về để giúp đỡ các đồng đội và văn nghệ sĩ đang bị cộng sản cầm tù trong những năm đó và còn vận động các quốc gia Âu Châu như Ý Đại Lợi và Thụy Điển cho cuộc tranh đấu về Tự do và Hoà Bình cho nhân loại.

Ông đã tạ thế vào ngày 23 tháng 12 năm 2009, Paris, Pháp quốc, hưởng thọ 81 tuổi.

 

TRƯƠNG BẢO SƠN (1916-2010 )

Ông tên thật là Trương Cam Bỉnh. Sinh ngày 02 tháng 03 năm 1916 tại Hà Nội . Ông hoạt động cách mạng trong Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới danh xưng Trương Bảo Sơn và văn hóa với bút hiệu Bảo Sơn. Ông còn có vài bút hiệu khác như Cẩm Bình, Ngọc San, Trường Sơn. Ông là Hội viên Trung tâm Văn Bút VN trong Hội Văn Bút Quốc Tế (P.E.N International).

Ông cộng tác với nhà văn Nhất Linh thành lập nhà xuất bản Phượng Giang, Đời Nay, xuất bản giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay. –

Năm 1959, Chủ nhiệm giai phẩm Tân Phong.

Năm 1965, Giám đốc chính trị tạp chí Đông Phương (Chủ nhiệm Nguyễn thị Vinh)

Năm 1978 ông vượt biển tới Pulau Bidong (Mã Lai) và định cư tại Gia Nã Đại từ 1979.

Năm 1988, ông cùng Nguyễn Khắc Ngải và Đỗ Quý Toàn thành lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trung tâm Quebec Canada. –

Ông mất ngày 23 tháng 05 năm 2010 tại Montréal-Canada

Tác phẩm dịch:

1. Tình Nghĩa Vợ Chồng.
2. Con Nai Tơ
3. Một Bản Đàn.
4. Gió Đông, Gió Tây.
5. Ngư Ông Và Biển Cả.
6. Đỉnh Gió Hú.
7. Chiếc Lá Cuối Cùng.
8. Viên Ngọc Trai.
9. Trà Đạo.
10. Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith
11. Mặc Cho Gió Dập Tuyết Vùi.
12. Ngược Dòng Thời Gian.
13. Nội Cỏ Của Thiên Đường.

 


CAO XUÂN HUY (1947-2010)

Cao Xuân Huy sinh tháng 9 năm 1947, quê nội ở Bắc Ninh, quê ngoại ở Hà Nam. Sau hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, gia đình ông cũng bị chia ly. Thân phụ ông theo kháng chiến, trở về Hà Nội, chị ông không vô Nam, ở lại với bố. Còn ông thì theo mẹ di cư vào Nam.

Ông nhập ngũ năm 1968, là cựu Trung Úy Ðại Ðội Phó ÐÐ 4 thuộc Tiểu Ðoàn 4 Thủy quân Lục chiến. Tại mặt trận Quảng Trị vào tháng 3, 1975, ông bị bắt làm tù binh và bị cầm tù 5 năm.

Năm 1982 ông vượt biên và đến Mỹ một năm sau đó.

Năm 1985, ông in cuốn hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng”, là cuốn hồi ký được viết năm 1985, ghi chép lại những diễn biến của mặt trận Thừa Thiên- Huế cho đến khi tác giả bị bắt làm tù binh. Cuốn sách đã được tái bản đến 10 lần và có mặt trên 58 thư viện lớn trên toàn thế giới.

Năm 2005, nhà văn Cao Xuân Huy làm chủ biên tạp chí Văn Học (kế tục vai trò của nhà văn Nguyễn Mộng Giác) đến tháng 4 năm 2008 Văn Học phát hành số 236 thì đình bản vì lý do ông bị ung thư mắt, sức khỏe suy yếu nên không thể chăm lo cho tờ báo. Ngày 12-11-2010 nhà văn Cao Xuân Huy từ trần sau một thời gian dài bệnh nặng. Bốn tháng trước khi qua đời, ông cho ra mắt cuốn “Vài mẩu chuyện” do tạp chí Văn Học xuất bản.

 


THẢO TRƯỜNG (1936-2010)
Nhà văn Thảo Trường tên thật Trần Duy Hinh, sinh ngày 25-12-1936 (giấy tờ ghi 1938) tại Nam Định trong một gia đình đông con, ông là người thứ chín. Thân phụ ông mất sớm, năm 1954 ông di cư vào Nam để lại mẹ và người chị ở quê nhà lo phụng dưỡng ông nội và coi sóc mồ mả tổ tiên. Nhưng sau đó, mẹ ông bị đấu tố, bị tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn, phải ra ở ngoài gò đất giữa cánh đồng nước mênh mông. Vào Nam, nhà văn Thảo Trường gia nhập quân đội theo học khóa 6 Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, và chính thức viết văn.

Truyện ngắn “Hương gió lướt đi” là tác phẩm đầu tiên của ông đăng trên tạp chí Sáng Tạo do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút. Nhà văn Thảo Trường tham dự chiến tranh Việt Nam suốt 17 năm. Ngày 30/4/1975 ông đi tù gần 17 năm, trải qua 18 nơi giam giữ. Sau khi ra tù một năm, ông sang Mỹ đoàn tụ với vợ con. Ông đã qua đời tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ, ngày 26-8-2010 vì bệnh ung thư gan, thọ 74 tuổi

Các tác phẩm đã xuất bản gồm:
Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp (1966), Vuốt Mắt (1969), Chung Cuộc (1969, xuất-bản chung với Du Tử Lê), Th. Trâm (1969), Bên Trong (1969), Ngọn Đèn (1970), Mé Nước (1971), Cánh Đồng Đã Mất (1971), Bên Đường Rầy Xe Lửa (1971), Người Khách Lạ Trên Quê Hương (1972), Lá Xanh (1972), Hà-nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng (1973) , Cát (1974), Đá Mục (1998), Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả (1999), Mây Trôi (2002) , Miểng (2005), Những miểng vụn của tiểu thuyết (2008).

 

PHẠM CÔNG THIỆN (1941-2011)

Phạm Công Thiện sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Thiên Chúa Giáo. Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, và Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh ngữ tinh âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo và tạp chí như Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn. Năm 1960, ông khởi sự viết cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học khi chưa được 19 tuổi.

Ðầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc “khủng hoảng tinh thần.” Tại đây ông quy y ở chùa Hải Ðức, lấy pháp danh Nguyên Tánh. Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.

Từ năm 1966-1968, ông là giám đốc soạn thảo chương trình giảng dạy cho tất cả các phân khoa của Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1968-1970, giữ chức trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện đại học này. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Ðức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông lập gia đình và sau đó làm giáo sư triết học Tây phương của Viện Ðại học Toulouse. Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, làm giáo sư ở College of Buddhist Studies. Từ khoảng năm 2005, ông sang cư ngụ tại Houston, tiểu bang Texas cho đến lúc qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011.

 

NGUYỄN CHÍ THIỆN (1939-2012)

Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 2, 1939 là một nhà thơ phản kháng chính thể CSVN. Ông đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản bắt giam tổng cộng 27 năm tù vì tội “phản động”.

Sinh trưởng tại Hà Nội, ông có một thời dạy học. Trong một bài giảng môn Sử năm 1960 do giảng bài không theo quan điểm nhà Nước nên ông bị bắt vì tội “phản tuyên truyền”.

Ông được thả năm 1964. Đến năm 1966 ông lại bị bắt giam vì làm thơ đả phá chế độ. Lần này ông bị giam đến năm 1977.

Năm 1979 Nguyễn Chí Thiện tìm cách chuyển tập thơ do ông sáng tác cho nhân viên sứ quán Anh tại Hà Nội. Vì lý do trên ông lại bị bắt. Đến ngày 28 tháng 10 năm 1991 ông được ra tù.

Năm 1994 ông được tổ chức Theo dõi Nhân quyền trao giải thưởng Hellman/Hammett.

Tháng 1 năm 1995 ông được xuất cảnh sang Hoa Kỳ qua sự vận động của Đại tá Không quân Hoa Kỳ Noboru Masuoka. Nhưng số phận nghiệt ngã, tên tuổi của ông lại bị những ý đồ đen tối vùi giập một thời gian dài cho đến khi ông qua đời ngày 2 tháng 10 năm 2012 tại Santa Ana, quận Cam, California, Hoa Kỳ. Sau đây là lời nhận định của nhà phê bình văn học Thụy Khuê :

“Nguyễn Chí Thiện, trong sâu thẳm của thi ca, hình hài, và ngôn ngữ, trong tác phong, trong cách diễn đạt, là một nhân cách thật, một con người thật. Chỉ vì nói thật mà mắc vòng tù tội. Một con người ngây thơ, thành thật, ngơ ngác, vấp ngã trước bao giả trá, tàn ác của chế độ độc tài. Tính thật ấy toát ra trong lời nói, trong câu văn, không hoa mỹ, không vòng vo. Chất thật ấy bao trùm không gian, bọc lấy người nghe, như một điệu buồn, như một hồn ma không đất đậu trên quê hương mà gian dối đã thở thành sự thật. “

 


TUẤN HUY (1933-2012)
Nhà văn Tuấn Huy tên thật là Nguyễn Năng Toàn sinh năm 1933 tại Hà Nội. Về sự nghiệp văn chương, Tuấn Huy được ghi nhận là thành công rất sớm. Trong 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, ông có một số tiểu thuyết vẫn được nhiều người nhắc đến như: Nỗi Buồn Tuổi Trẻ, Ngày Vui Qua Mau, Yêu trong bóng tối, Hương Cỏ May, Vòng tay Chờ Ðợi, ..v…v…

Vượt biển tìm tự do, trong thời gian tạm trú tại trại tỵ nạn, Tuấn Huy viết truyện dài“Bến Lỡ.” Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, ông đã xuất bản thêm nhiều tác phẩm mới như “Dòng Sông Trong Giọt Nước,” “Thềm Sương Mù” (tiểu thuyết).“Xuôi Dòng Trầm Cảm” (tâm cảm) và, “Những Sợi Mưa Hư Ảo,” tiểu thuyết. Tác phẩm này tuy đã được in thành sách, nhưng ông chú thích “Ấn phẩm đặc biệt này dành riêng cho tác giả không bán.” Ngay nơi trang đầu của tiểu thuyết (có thể coi là sau cùng), nhà văn Tuấn Huy ghi “Thương nhớ Uyển Hương và gửi các con…” Tưởng cũng nên nói thêm, Uyển Hương là khuê danh người bạn đời của tác giả “Vòng Tay Chờ Ðợi.” Bà mất trong chuyến vượt biên hồi tháng 7 năm 1981 ở Biển Ðông.

Ông qua đời ngày 24 tháng 2 năm 2012, tại miền Nam California.

 


NGUYỄN MỘNG GIÁC (1940-2012)
Ông sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940 tại tỉnh Bình Định, miền Trung Việt Nam.

Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tiếp tục học tại trường Cường Để (Quy Nhơn), trường Võ Tánh (Nha Trang), rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An (Sài Gòn).

Sau khi học một năm ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông ra Huế học Đại học Sư phạm ban Việt-Hán. Năm 1963, ông tốt nghiệp thủ khoa, khóa Nguyễn Du. Ngay năm ấy, ông được điều đến giảng dạy tại trường Đồng Khánh ở Huế. Năm 1965, ông được đổi vào Quy Nhơn làm Hiệu trưởng trường Cường Để.

Năm 1973, ông được thăng làm Chánh sở Học Chánh tỉnh Bình Định. Năm 1974, ông chuyển vào Sài Gòn làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục thuộc Bộ Giáo Dục cho đến 1975.

Về sự nghiệp văn chương, ông bắt đầu viết văn từ năm 1971, đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. Năm 1974, truyện dài Đường Một Chiều của ông được giải thưởng Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Tháng 11 năm 1981, sau khi vừa viết xong trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ, ông cùng con trai vượt biển, đến được đảo Kuku của Indonesia. Trong mấy tháng ở đây, ông đã viết một số truyện ngắn mà sau này xuất bản thành cuốn Ngựa Nản Chân Bon, và tập I của bộ trường thiên tiểu thuyếtMùa Biển Động.

Tháng 11 năm 1982, ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, cộng tác với các báo: Đồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật.

Từ năm 1986, ông làm Chủ bút tạp chí Văn Học ở California, Hoa Kỳ. Đến tháng 8 năm 2004, ông phải ngưng công việc làm báo vì phát hiện bị ung thư gan.

Ông đã qua đời ngày 2 tháng 7 năm 2012 tại tư gia ở thành phố Westminster (Orange County, California, Hoa Kỳ), thọ 72 tuổi.

 


THẾ UYÊN (1935-2013)
Nhà văn Thế Uyên tên thực là Nguyễn Kim Dũng, sinh năm 1935 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông là em ruột các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, và là chị nhà văn Thạch Lam.

Cùng với người anh ruột là nhà văn Duy Lam, Thế Uyên khi vừa qua tuổi 20, tên tuổi đã hiện diện trong làng báo. Ông là người sáng lập tạp chí Thái Độ, như là một điểm khởi hành mới trong hành trình chữ nghĩa của chính bản thân ông. Ông là tác giả các tác phẩm nổi tiếng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, như Mười Ngày Phép của một người lính, Tiền Đồn

Nhà văn Thế Uyên tốt nghiệp Trung học Chu Văn An, theo học tại Đại học Văn Khoa và Sư Phạm, trở thành giáo sư Việt văn, dạy tại nhiều trường trung học công lập ở miền Nam, rồi thuyên chuyển lên dạy ở Ban Mê Thuột trước khi được động viên vào khoá 14 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trước năm 1975 ông đã xuất bản 21 cuốn sách, kể cả dịch cuốn Exodus của Leon Uris qua tiếng Việt là tác phẩm Về Miền Đất Hứa rất nổi tiếng được nhiều người tìm đọc

Sau 1975 ông bị đi tù cải tạo rồi đi định cư tại tiểu bang Washington Hoa Kỳ vào năm 1987. Ở đây ông vừa viết văn vừa đi học rồi đi làm. Ông đã có thêm mười tác phẩm được xuất bản: Sài Gòn sau mười hai năm, Con đường qua mùa Đông, Nghĩ trong mùa Xuân, Tuyển tập truyện ngắn Thế Uyên, Tuyển tập dâm tình của các nhà văn nữ Hoa Kỳ, Khu vườn mùa mưa, Nhà văn già và cô bé gù, Không một vòng hoa cho người chiến bại, Những người Mỹ chung quanh chúng ta.

Nhà văn Thế Uyên đã qua đời ngày 11 tháng 6, 2013 tại tư gia ở Bothell, tiểu bang Washington thọ 78 tuổi.

 

NGUYỄN XUÂN HOÀNG (1940-2014)

Nguyễn Xuân Hoàng sinh ngày 7 tháng 7 năm 1940 tại Nha Trang (Khánh Hòa).

Thời niên thiếu, ông học ở trường Võ Tánh (Nha Trang), trường Petrus Ký (Sài Gòn).

Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Văn Khoa (Triết học), Viện Đại học Đà Lạt (1958-1961), rồi giảng dạy môn Triết tại trường trung học Ngô Quyền ở Biên Hoà (1961-1962), tại trường Pétrus Ký ở Sài Gòn (1962-1975). Ngoài ra, ông còn làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn (1972-1974).

Năm 1985, ông đến Hoa Kỳ và định cư tại San Jose.

Năm 1986-1997, ông làm tổng thư ký báo Người Việt Daily News California).

Năm 1989- 1994, ông còn là tổng thư ký tạp chí Thế kỷ 21 (California) thuộc công ty Người Việt.

Năm 1994, ông ở trong ban chủ biên tạp chí Văn Học. Tháng 9 năm 1996, ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn, đồng thời ông làm tổng thư ký cho báo Việt Mercury trực thuộc nhật báo San Jose Mercury News của Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 11 năm 2005. Sau đó ông chủ trương báo Việt Tribune.

Ông cũng từng là giảng viên (lecturer) giảng dạy môn Văn học Việt Nam đương đại tại Đại học California-Berkeley. Sau một thời gian định cư tại San Jose (Bắc California), ông qua đời tại đây vào ngày 13 tháng 9 năm 2014.

Tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng đã xuất bản gồm:

Tập truyện ngắn
Mù sương (1966)
Sinh nhật (1968)
Truyện dài:
Bụi và rác (1996)
Khu rừng hực lửa (1972)
Kẻ tà đạo (1973)
Người đi trên mây (1987)
Sa mạc (1989)
Các thể loại khác
Ý nghĩ trên cỏ (tiểu luận, 1971)
Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu (tùy bút, 1974)
Căn nhà ngói đỏ (tạp ghi, 1989)…

 


NGUYỄN HỮU NHẬT  (1942-2014)
Nhà văn, nhà thơ, họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật sinh ngày 22 tháng 6 năm 1942 tại La Khê, Hà Ðông, sống tại Hà Nội từ khi lên bốn tuổi. Cùng gia đình di cư vào Nam năm 1955.

Từ năm 1967 đến năm 1975 ông phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Sau 1975 ông kết hôn với nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Ông bị đi tù cải tạo hai lần: lần thứ nhất từ năm 1975 đến năm 1982, lần thứ hai từ năm 1984 đến 1988.

Năm 1989 ông được định cư tị nạn tại Na Uy, sống cùng gia đình tại Oslo. Tại đây ông điều hành tủ sách văn nghệ Sài Gòn Nghĩa Thư và tạp chí Hương Xa cho đến khi qua đời ngày 11 tháng 12 năm 2014.

Tác phẩm đã xuất bản:

Quán đời (tiểu thuyết, 1971)
Hạc sen (thơ, 1991)
Chí tôn ca (thơ, 1995)
Đã đời (thơ, 1995)
Cuộc chiến (thơ, 1998)
Hoa đào năm ngoái (tiểu thuyết lịch sử, 2009
)

(Chân dung những Nhà Văn – Nhà Thơ đã khuất núi)

TỪ NĂM 2015 TỚI 2017

MẶC ĐỖ (1915-2015)

Mặc Đỗ — tên thật là Đỗ Quang Bình – là nhà văn, nhà báo, dịch giả, là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975.

Ông sinh năm 1915 tại Hà Nội. Học Luật nhưng không hành nghề và chọn viết văn.. Khởi đầu viết các truyện ngắn, kịch và dịch sách đăng báo.

Sau 1954 di cư vào Nam, cùng với Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, xuất bản sách của các thành viên trong nhóm.

Ông cũng đã cùng với các nhà văn Vũ Khắc Khoan, Tam Lang Vũ Đình Chí, nhà thơ Đinh Hùng, Như Phong Lê Văn Tiến, Mặc Thu Lưu Đức Sinh sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam.

Sau 1975 ông định cư ở Mỹ và từ trần ngày 20 tháng 9 năm 2015 tại Austin, tiểu bang Texas – Hoa Kỳ.

Tác phẩm:

Bốn Mươi (1956), Siu Cô Nương (1958),
Tân Truyện I (1967),
Tân Truyện II (1973),
Trưa Trên Đảo San Hô (2011),
Truyện Ngắn (2014),
chỉ trừ Tân Truyện II (1973) do Nxb Văn, sách Mặc Đỗ đều xuất bản với tên Nxb Quan Điểm.

Dịch thuật:

Lão Ngư Ông và Biển Cả / Ernest Hemingway (Quan Điểm 1956);
Con Người Hào Hoa / F.Scott Fitzgerald (Quan Điểm 1956);
Một Giấc Mơ / Vicki Baum (Cảo Thơm 1966);
Người Vợ Cô Đơn / Francois Mauriac (Cảo Thơm 1966);
Thời Nhỏ Trong Gia Đình Luvers / Boris Pasternak (Văn 1967);
Tâm Cảnh / André Maurois (Văn 1967);
Anh MÔN / Alain-Fournier (Cảo Thơm 1968);
Vùng Đất Hoang Vu / Leo Tolstoi (Đất Sống 1973);
Giờ Thứ 25 / Virgil Georghiu (Đất Sống 1973).

 

VÕ PHIẾN (1925-2015)

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1925 tại huyện Phù Mỹ, Bình Định; Ông là tác giả của 4 tiểu thuyết, 9 tập tuỳ bút, nhiều tập truyện ngắn, một tập thơ và nhiều tác phẩm phê bình tiểu luận. Ông còn có bút danh là Tràng Thiên.

Năm 1933 Ông theo học trường làng và sau đó học trung học ở Quy Nhơn.

Năm 1942, ông ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn.

Năm 1945, Võ Phiến đi bộ đội cho đến năm 1946 thì ra Hà Nội học trường Văn Lang.

Năm 1948, ông kết hôn với bà Võ Thị Viễn Phố và dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V.

Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin một thời gian rồi chuyển vào lại Quy Nhơn, tại đây ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu là Chữ tình (1956) và Người tù (1957).

Sau đó ông vào làm việc tại Sài Gòn và cộng tác với các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành, Mai, Tân Văn, Bách Khoa…

Năm 1962, lập nhà xuất bản Thời Mới.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông định cư tại Los Angeles rồi Orange County, California Hoa Kỳ.

Ông qua đời ngày 28/09/2015 tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.

Tác phẩm :

Chữ tình (Quy Nhơn, 1956)
Người tù (Quy Nhơn, 1957)
Mưa đêm cuối năm (Sài Gòn, 1958)
Đêm xuân trăng sáng (Sài Gòn, 1961)
Về một xóm quê (Sài Gòn, 1961)
Giã từ (Sài Gòn, 1962)
Thương hoài ngàn năm (Sài Gòn, 1962)
Thư nhà (Sài Gòn, 1963)
Tiểu thuyết hiện đại (1963)
Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (dịch Stefan Zweig)
Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (dịch Andre Mourois)
Truyện hay các nước 1 (dịch với Nguyễn Minh Hoàng)
Truyện hay các nước 2 (dịch với Nguyễn Minh Hoàng)
Một mình (Sài Gòn, 1965)
Tạp bút 1 (Sài Gòn, 1965)
Tạp bút 2 (Sài Gòn, 1965)
Tạp bút 3 (Sài Gòn, 1966)
Đàn ông (Sài Gòn, 1966)
Ảo ảnh (Sài Gòn, 1967)
Phù thế (Sài Gòn, 1969)
Tạp luận (Sài Gòn, 1973)
Chúng ta qua cách viết (Sài Gòn, 1973)
Đất nước Quê Hương (Sài Gòn, 1973)
Ông chồng muôn thuở (dịch Dostoievski)
Thư gửi bạn (Hoa Kỳ, 1976)
Ly hương (viết với Lê Tất Điều, Hoa Kỳ, 1977)
Nguyên vẹn (Hoa Kỳ, 1978)
Lại thư gửi bạn (Hoa Kỳ, 1979)
Văn học Miền Nam, tổng quan (Hoa Kỳ, 1987)
Truyện thật ngắn (Hoa Kỳ, 1991)
Quê (Hoa Kỳ, 1992)
Đối thoại (Hoa Kỳ, 1993)
Viết (Hoa Kỳ, 1993)
Sông và Viết (Hoa Kỳ, 1996)
Thơ thẩn (Hoa Kỳ, 1997)
Văn học Miền Nam, truyện 1 (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, truyện 2 (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, truyện 3 (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, ký (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, tùy bút và kịch (Hoa Kỳ, 1999)
Văn học Miền Nam, thơ (Hoa Kỳ, 1999)
Cảm nhận (Hoa Kỳ, 1999)

 

DƯƠNG KIỀN (1939-2015)

Tên thật cũng là bút hiệu, Ông sinh ngày 28.12.1939 tại Huế.

– 1962, tốt nghiệp đại học Luật Khoa rổi gia nhập Luật Sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm. Kết hôn với ái nữ của dịch giả Trương Bảo Sơn và nhà văn Nguyễn thị Vinh.

– 1961-1963, chủ bút tạp chí Văn Học.

– 1966, được giải thưởng Văn chương toàn quốc với kịch bản «Sân khấu».

– 1968, ông nhập ngũ và là Phó Ủy Viên tại tòa Án Mặt Trận Quân Sự – Nha Trang.

– 1975-1979, Tù cải tạo 3 năm trại Long Giao.

– 1979, vượt biên và định cư tại Na Uy (Norway).

– Ông mất ngày 17-11-2015 tại Oslo, Na Uy.

Tác Phẩm:

1. Thú đau thương (thơ) (Tự xuất bản 1960)
2. Sân khấu (kịch) (nhà x.b Văn Học 1965)
3. Biển trầm lặng (truyện dài) (nhà x.b Đông Phương 1965)
4. Kẻ xa lạ (dịch) (nhà x.b Bốn Phương 1965)
5. Máu của mẹ (truyện ngắn) (nhà x,b Thứ Tư 1966)
6. Người tù sa mạc (dịch) (nhà x.b Thứ Tư 1968)
7. Luật giá thú, tử hệ, và tài sản cộng đồng (biên khảo) (nhà x.b Khai Trí 1965)
8. Mùa gặt giữa hư vô (thơ) (nhà x.b Tiếng Việt 1991)
9. Thế Kỷ 20 (biên niên sử) (nhà x.b Tiếng Quê Hương 2005)

 

PHÙNG NGUYỄN (1950-2015)

Nhà văn Phùng Nguyễn, tên thật Nguyễn Ðức Phùng, sinh năm 1950 tại Quảng Nam. Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường làng, năm 1961 thi đậu vào lớp Ðệ Thất trường trung học Trần Quý Cáp tại Hội An.

– Năm 1968 nhập ngũ.

– Ðến Hoa Kỳ năm 1984, ông theo học cao học quản trị kinh doanh, từng sống và làm việc trong ngành tin học tại California, Hoa Kỳ.

– Ông bắt đầu viết văn từ năm 1994, đã cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, talawas.org, tienve.org, damau.org,…

– Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hợp Lưu (năm 2002), đồng chủ trương tạp chí mạng Da Màu (2006), chủ trương thư viện online Trên Kệ Sách (2008), chủ trương trung tâm ấn hành eBook Kệ Sách (2011).

– Ông qua đời ngày 17 Tháng 11-2015 vì bệnh tim, tại một bệnh viện ở tiểu bang Maryland.

Tác phẩm:

– “Tháp Ký Ức,” NXB Văn, 1998,
– “Ðêm Oakland và Những Truyện Khác,” NXB Văn, 2001.

NGUYỄN ĐỨC LẬP (1945-2016)

Nguyễn Đức Lập, tự là Chánh Phương, sinh năm 1945 tại Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

Bút Hiệu: Nguyễn Đức Lập, Chánh Phương, Hương Giáo, Ngô Phụng Anh, tên rừng Hướng Đạo là Sóc Vui Vẻ.

Ông là con của nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy, Bà Tùng Long Lê Thị Bạch Vân và là bào đệ của nhà thơ Trạch Gầm.

Ông học trung học ở trường Pétrus Ký, là cựu sinh viên luật khoa Đại Học Đường Sài Gòn, và nguyên luật sư Toà Thượng Thẩm, Sài Gòn.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, về làm rẫy ở ấp Phước Lập, xã Phú Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Ông vượt biên tháng 8 năm 1980, ở trại tỵ nạn Palawan, sau đó đến trại chuyển tiếp Bataan, Philippines rồi định cư tại Hoa Kỳ năm 1983.

Đã cộng tác với các báo Tin Việt, Làng Văn (Canada), Hoa Thạnh Đốn Việt Báo, Nhân Văn, Văn Học, Đường Sống, Hoa Sen, Sức Sống, Thời Báo, Trẻ (Dallas).

Ông là Trưởng Hướng Đạo, sinh hoạt trong phong trào Hướng Đạo Việt Nam.

Năm 1999, ông cùng nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, nhà báo Du Miên, giáo sư Trần Lam Giang, nha sĩ Võ Trọng Di thành lập Thư Viện Việt Nam, tại Nam California, hiện tại vẫn còn hoạt động.

Ông từ giã cõi trần vào ngày 29 tháng Hai, 2016, tại Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.

Tác Phẩm Đã Xuất Bản:

Thơ:

Những Đêm Không Ngủ, 1986

Truyện Ngắn:

Cuộc Chiến Tàn Chưa, 1987
Cặp Mắt Quay Lại, 1992
Khung Rào Hẹp, 1992
Lớp Trước, Lớp Sau, 1994

– Truyện Dài:

Kiếm Đạo 1, Bảo Kiếm Tặng Anh Hùng, 1987
Kìếm Đạo 2 Thần Thư Trao Hào Kiệt, 1987
Ngắn Cổ Khó Kêu, 1989
Nhứt Biết Nhì Quen, 1990
Phong Vũ Tiêu Tiêu, Lôi Vũ Động, 1991
Giàn Đậu Mưa Rung, 1992
Trần Ai Khoai Củ, 1994
Mảnh Vụn Một Đời, 1999
Đi Trước Về Sau, 2009

Hương Giáo Đề Thơ, 2016 (Tập đầu tiên ấn hành năm 1990 gom những bài viết trong 5 năm đăng trên tờ Bách Khoa, sau đó Mục Hương Giáo Đề Thơ đăng đều đặn trên tờ Thời Báo của Du Miên). Thay Lời Tựa trong tập I nầy anh viết: “Đây là tập thư của vị thầy giáo làng gởi cho đứa học trò (Lê Văn Cui) cả đời không học hết được túi khôn của thánh hiền…”.

 

TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG (1938-2016)

Tạ Chí Đại Trường là một nhà sử học và là nhà nghiên cứu văn hóa .

Ông sinh ngày 21 tháng 6 năm 1938 tại Nha Trang, là con của nhà Hán học Tạ Chương Phùng vốn là nhà hoạt động phong trào độc lập dân tộc trong thập niên 1940 – 1950 cùng với ông Ngô Đình Diệm.

Năm 1964 Tạ Chí Đại Trường tốt nghiệp bằng Cao học Lịch sử tại Viện Đại học Sài Gòn rồi nhập ngũ. Ông phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1964 cho tới năm 1974 với quân hàm Đại úy.

Năm 1964, Ông viết tác phẩm ‘Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802”, đặt lại vấn đề về vai trò của nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Lịch Sử Nội Chiến tại Việt Nam 1771-1802. Cuốn này được tặng Giải Thưởng Tổng Thống VNCH năm 1970.

Sau năm 1975, ông bị đi cải tạo cho đến năm 1981.

Tháng 8/1994, ông đi định cư tại Hoa Kỳ, cộng tác với một số tạp chí như Văn, Văn Học, Hợp Lưu.

Đầu thập niên 2000, ông về Sài Gòn chữa bệnh và mất ở đó vào ngày 24-3-2016.

Tác Phẩm :

1 Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Nxb. Văn Sử học, Sài Gòn 1973.
2 Thần, người và đất Việt, Nxb. Văn Nghệ, Hoa Kì 1989; Văn Học xb., Hoa Kì 2000.
3 Một khoảnh Việt Nam Cộng hoà nối dài, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1993.
4 Việt Nam nhìn từ bên trong và bên ngoài, bài viết riêng được gộp chung với Nguyễn Xuân Nghĩa, Nxb. Văn Lang, Hoa Kì 1994.
5 Những bài dã sử Việt, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1996.
6 Những bài văn sử, Văn Học xb., Hoa Kì 1999.
7 Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt: Một lối nhìn khác. Bài viết cho Williams Joiner Center (UMASS/Boston) 2002.
8 Sử Việt đọc vài quyển, Văn Mới xb., Hoa Kì 2004.
9 Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, bản thảo bắt đầu 2005. Văn Mới, USA 2009.
10. Người lính thuộc địa Nam Kỳ (1861-1945), bản thảo 1975. Nxb. Tri Thức & Nhã Nam, 2011.

 

VŨ HUY QUANG (1942-2017)

Vũ Huy Quang sinh ngày 9.7.1942 tại Hải-Phòng

Vào Nam năm 1954, đến California tị nạn sau năm 1975.

Trước năm 1975 là một đại uý trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và ông chỉ bắt đầu sự nghiệp sáng tác và biên dịch văn học tại Mỹ.

Ông cộng tác với nhiều tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại dưới các bút hiệu Diệu Phong, Tam Trương, Thăng Long Văn Sĩ.
Sau nhiều năm ở Nam California, ông đến sống tại Pacifica, Bắc California, và mất ở đó vào ngày 14 tháng Giêng năm 2017 sau một thời gian chống trả bệnh ung thư, thọ 74 tuổi

Tác phẩm đã xuất bản :

– Mười Tân Truyện Liêu Trai (1991).
– Câu Chuyện Triết Lý (1992).
– Chín Truyện Ngắn (1992).
– Nơi Trại Trừng Giới (dịch, 1988).
– Đường Lên Trời (dịch, 1989).
– Nhục Bồ Đoàn (dịch, 1990).

 

PHAN LẠC PHÚC (1928-2016)

Nhà Văn, nhà báo Phan Lạc Phúc, bút hiệu Ký Giả Lô Răng, sinh năm 1928, là bào huynh của nhà văn Phan Lạc Tiếp.

Ông tốt nghiệp Khóa 2 Thủ Đức và năm 1955, ông mang cấp bậc trung úy, giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng TĐ 14 Việt Nam, tiếp thu Bình Định.

– Năm 1956 làm việc tại Phòng 5 Bộ TTM.

– Năm 1957, ông được gửi đi học khóa Sĩ Quan Thông Tin Báo Chí (Press Information Officer) tại Ft. Slocum, New York, Mỹ.

– 1958, ông là Phụ tá Trưởng Phòng 5 Bộ TTM và lần lượt đảm trách các chức vụ:

– Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, Bộ Tư Lệnh Hải Quân,

– Sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Thiếu Tướng Dương Văn Minh.

– Năm 1964, Trưởng Khối Huấn Luyện của trường Chiến Tranh Chính Trị.

– Văn phòng của Tướng Trung Hoa Dân Quốc Vương Thăng, cố vấn của Bộ TTM. VNCH về “Lục Đại Chiến.”

– Năm 1965, là Chủ bút của tờ nhật báo Tiền Tuyến và mở mục Tạp Ghi dưới tên Ký Giả Lô Răng.

– Năm 1973, học khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Long Bình.

– Tham Mưu Phó CTCT Quân Đoàn III tại Biên Hòa.

– Biên tập Tập san Quốc Phòng (trường Cao Đẳng Quốc Phòng).

Sau biến cố tháng Tư, 1975, Trung Tá Phan Lạc Phúc đã qua các trại tập trung Long Giao, Suối Máu, ra Bắc ở Liên trại 2 Sơn La, Phù Yên, Thanh Phong, Tân Kỳ (Nghệ Tĩnh), Hà Nam Ninh, sau cùng là Xuân Lộc Z.30D. Ra tù năm 1985.

Năm 1991, vợ chồng ông đến định cư tại Sydney, Úc theo diện đoàn tụ do ái nữ bảo lãnh.

Ông cầm bút trở lại, và cũng với thể loại tạp ghi xuất hiện trên nhiều tờ báo khác tại Úc Châu như Chiêu Dương, Văn Nghệ, Việt Luận, Dân Việt và Ngày Nay (Mỹ), Quê Mẹ (Pháp), Thời Báo (Canada).

Ông qua đời vào ngày 28 tháng 4 -2016 vì đột quỵ tại Sydney (NSW) Australia.

Tác phẩm:

– Bạn Bè Gần Xa (2000,)
– Tuyển Tập Tạp Ghi (2002).

 

BÙI BẢO TRÚC (1944-2016)

Ông sinh năm 1944 tại làng Trình Phổ, tỉnh Thái Bình. Đi học ở tỉnh Hải Phòng năm 1952, sau lại dời lên Hà Nội vào năm 1953 để theo học Tiểu học tại trường Lý Thường Kiệt nằm ở phố Sinh Từ.

Năm 1954 ông di cư theo gia đình vào Nam, theo học nốt chương trình bậc Tiểu học ở trường Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn, sau đó tiếp tục bậc Trung học ở trường Chu Văn An, và tốt nghiệp Tú tài Toàn phần, Ban C năm 1963.

Sau đó ông du học ở Tân Tây Lan (New Zealand) và trở về nước năm 1965 để dạy Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ và trường London School của giáo sư Nguyễn Ngọc Linh.

Thời gian sau ông qua làm việc với Phủ Tổng Ủy Dân Vận và Chiêu Hồi của ông Hoàng Đức Nhã.

Năm 1973 ông đảm nhiệm chức vụ phát ngôn viên chính phủ VNCH.

Năm 1974, ông làm việc tại Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Anh Quốc, và sau biến cố tháng 4-1975, ông qua Canada vào tháng 6 cùng năm.

Năm 1977 ông làm việc cho đài VOA ở Hoa Thịnh Đốn cho đến năm 2001 thì nghỉ hưu. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục viết loạt bài Thư Gửi Bạn Ta cho nhiều báo, được rất đông độc giả tán thưởng.

Ông cũng cộng tác với đài Little Saigon Radio, Hồn Việt TV trong hai chương trình Ngày Này Năm Xưa, Chào Hoàng Hôn mỗi ngày, và Anh Ngữ Trong Đời Sống hằng tuần.

Sau vài tháng trở bệnh, ông từ giã cõi trần vào ngày 16-12-2016 tại Fountain Valley, California.

 



MINH ĐỨC HOÀI TRINH (1930-2017)
Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, sinh ngày 15 Tháng Mười, 1930 tại Huế.

Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó bỏ về Huế tiếp tục học.

Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris.

Năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF.

Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris.

1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Tháng 4 1975, bà trở lại Paris, nỗ lực tranh đấu cho những văn, thi nghệ sĩ bị cộng sản cầm tù. Bà cũng là người cùng với các văn nghệ sĩ đang sống ở Pháp như ký giả Trần Tam Tiệp, nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan, nhà văn Trần Thanh Hiệp đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận là hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979.

Trong sinh hoạt sáng tác, bà thường lấy các bút hiệu như Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử, và là một trong những ngòi bút nổi tiếng của miền Nam Việt Nam.

Bà từ trần ngày 9 tháng 6, 2017 tại Quận Cam, Nam California, hưởng thọ, 87 tuổi.

Tác phẩm đã xuất bản :

Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

Nhật Tiến biên soạn.
(Tổng hợp từ nhiều nguồn)
https://nhavannhattien.wordpress.com/40-nam-hai-ngoai-mot-nen-huong-mot-bong-hong-cho-nhung-nha-van-nha-tho-da-khuat-nui/

Phỏng Vấn Nhà Văn Nhật Tiến Về Ông Nguyễn Hùng Trương Nguyên Giám Đốc Nhà Sách Khai Trí


Đinh Quang Anh Thái

(Nhà văn Nhật Tiến và ông Khai Trí)

ĐQAT: Ông có thể cho biết trong hoàn cảnh nào khiến ông Khai Trí cho xuất bản báo Thiếu Nhi mà ông làm chủ bút?

NT: Tôi nhận thấy gần như trong suốt cuộc đời, một trong những nỗi ưu tư hàng đầu của ông Khai Trí là sự quan tâm đến vấn đề giáo dục con trẻ. Chẳng thế mà ông vẫn thường nhắc đi nhắc lại câu nói sau đây mỗi khi có dịp và đặc biệt ông đã dùng làm câu mở đầu cho loại sách Tuổi Thơ do chính ông chủ trương: “Tương lai nước Việt Nam sau này hay hay dở đều do sự giáo dục hiện tại của lứa tuổi thiếu nhi, mầm non của đất nước”.

Vào thời điểm khởi đầu của thập niên 70, (khi ông quyết định cho ấn hành tuần báo Thiếu Nhi), tình hình giáo dục, đặc biệt là chất lượng giáo dục dành cho tuổi thơ có vẻ như đang trên đà suy sụp. Lý do một phần là vì ảnh hưởng của chiến tranh với nếp sống ngoài xã hội ngày càng sa đọa do sự có mặt của trên nửa triệu lính Mỹ cư ngụ tràn ngập trên các tỉnh và đô thị: một phần khác, lãnh vực sách báo dành cho tuổi thơ hầu như đã bị tràn ngập bởi rất nhiều loại thiếu lành mạnh đến nỗi ông Khai Trí đã từng phải kêu lên xót xa: “Chúng ta đang chứng kiến cái thảm cảnh đám trẻ thơ ngây ngày đêm cứ say mê tìm đọc các loại sách nhảm nhí chú Thoòng, hay sách trinh thám và kiếm hiệp rẻ tiền, kể cả những loại sách khiêu dâm, ma quỷ quái đản đầy tính cách đầu độc trí óc non nớt của con em chúng ta”.

Như thế, việc ông quyết định cho xuất bản một tạp chí lành mạnh dành cho lứa tuổi thiếu nhi là điều dễ hiểu, nó vừa phù hợp với ngành nghề sách báo của ông vừa thỏa mãn phần nào tân tư và nguyện vọng mà ông từng ấp ủ.

ĐQAT: Báo Thiếu Nhi hiện diện trong sinh hoạt văn hóa của miền Nam đúng vào giai đoạn của cuộc chiến lên đến mức cao độ, vậy tờ báo có giúp độc giả trẻ em thoát khỏi nỗi ám ảnh của chiến tranh hay không? Và các em có tìm được sự an bình đối với tuổi thơ của mình không?

NT: Tờ Thiếu Nhi tuy được phát hành rộng rãi trên toàn quốc nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, nên nó cũng chỉ tới được hầu hết giới trẻ em sinh sống tại các tỉnh hay đô thị, còn ở các vùng nông thôn, xa thành phố thì không. Do đó, ảnh hưởng của tờ Thiếu Nhi đối với độc giả cũng kể như bị giới hạn rất nhiều, mặc dù vào thời điểm mà tờ báo có điều kiện hoạt động mạnh mẽ nhất thì cũng có đông độc giả và tòa soạn cũng thành lập được Chi Nhánh Gia Đình Thiếu Nhi tại hầu hết các tỉnh và đô thị thuộc V.N.C.H. Chính nhờ cung cách tổ chức Gia Đình Thiếu Nhi như vậy, và qua các báo cáo sinh hoạt hoạt hàng tháng của mỗi chi nhánh, tòa soạn được biết các em đã tự quy tụ thành nhiều nhóm với sự trợ giúp của các thầy cô giáo địa phương để cùng nhau tham dự những sinh hoạt lành mạnh như tổ chức thư viện Thiếu Nhi, sinh hoạt tập thể ngoài trời, tổ chức các buổi cùng nhau đọc sách báo lành mạnh., góp phần tham dự vào những cuộc thi sáng tác văn chương hay đố vui do Gia Đình Trung Ương tổ chức… v.v. , Theo tôi nghĩ, có lẽ nhờ thế mà cũng có một số em đã có thể tìm thấy sự an bình trong tuổi thơ của mình và những nỗi ám ảnh về chiến tranh vốn đè nặng lên tâm hồn của các em do đó cũng giảm thiểu được rất nhiều.

ĐQAT: Trong suốt thời gian làm bạn, làm việc với ông Khai Trí, ông nhận xét ra sao về những đóng góp của ông Khai Trí trên phương diện văn hóa và về đời thường của ông ấy?

NT: Một cách vắn tắt, có thể nói rằng miền Nam kể từ năm 1954 đến năm 1975 đã hình thành một nền nếp sinh hoạt văn hóa hết sức đa dạng và phong phú do công lao và sự đóng góp bền bỉ của nhiều khuôn mặt văn hóa nổi tiếng hay của nhiều ngòi bút tài năng. Tuy nhiên, để tạo điều kiện hỗ trợ cho sinh hoạt văn hóa nghệ thuật ấy được phát triển, ta không thể quên những nỗ lực không kém phần phong phú của các nhà xuất bản, các cơ sở phát hành văn hóa phẩm. Trên phương diện này, nhà sách Khai Trí phải được kể là một trong những cơ sở văn hóa hàng đầu của miền Nam. Nhiều thế hệ tuổi trẻ đã được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường sinh hoạt văn hóa với rất nhiều loại sách báo giá trị do chính nhà sách Khai Trí cung ứng. Ông Khai Trí vừa là một người say mê với nghề nghiệp với một cung cách hầu như không bao giờ biết mệt mỏi, ông lại cũng vừa là con người hết lòng với văn hóa, với tương lai của thế hệ trẻ. Nhờ nguồn tài chính thu được dồi dào qua sách báo, ông cũng đã trao tặng rất nhiều phần thưởng cho các học sinh xuất sắc và cung ứng nhiều học bổng giá trị cho những học sinh nghèo. Riêng trong giới viết lách, nhờ khả năng đánh giá nhậy bén và sự hỗ trợ tận tình của ông mà rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo đã có cơ hội ấn hành tác phẩm của mình, cho dù có khi chỉ là tác phẩm đầu tay hay tác phẩm thuộc loại kén độc giả, giầu giá trị nội dung nhưng yếu kém về mặt thương mại.

ĐQAT: Theo nhận xét của ông, với những đóng góp và hy hiến của ông Khai Trí như vậy thì thông điệp mà ông Khai Trí để lại là gì?

NT: Nhìn lại chặng đường gian khổ mà ông Khai Trí đã từng trải qua kể từ sau năm 1975, như ở trong nước thì bị tịch thu gia sản, và chịu đựng bệnh tật triền miên, dòng dã trên 5 năm trong trại tù, khi ra hải ngoại thì lại phải đối diện với sự thực phũ phàng, nhiều công trình sách vở của ông đã bị gian thương cướp trắng bằng cách cho in lại vô tội vạ tủ sách Khai Trí của ông, vậy mà tôi nhận thấy ông vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ họa hoằn mới buông lời than thở. Hình như ông không muốn đem chuyện buồn khổ riêng tư để làm mất vui người chung quanh. Hình như ông chấp nhận số phận không may, coi như một thứ đã được an bài và qua đó ông học hỏi thêm được tính kiên nhẫn, chịu đựng để xây đắp cho tình yêu tha nhân, yêu đời. Có lẽ vì thế mà vào mùa xuân năm 1981, ông đã viết những dòng như: “Nhiều khi cảnh khổ đối với tôi là điều hay, có ích cho tôi. Biết đâu, nó lại giúp cho tôi trở nên tốt hơn và yêu đời hơn. Tôi cố thương yêu nhiều hơn nữa những người chung quanh tôi, mọi người trên trái đất này, yêu thong cả loài vật và cây cỏ”

Dưới mắt tôi, đây là một thông điệp của một con người đầy lòng nhân ái, đáng để cho thế hệ đi sau suy ngẫm.

Đinh Quang Anh Thái

https://nhavannhattien.wordpress.com/phong-van-nha-van-nhat-tien-ve-ong-nguyen-hung-truong-nguyen-giam-doc-nha-sach-khai-tri/

Món Quà “Hòa Giải”. Huy Phương


                                           Huy Phương
 .
 Nhà văn Huy Phương
 

Trong buổi lễ trao giải thưởng văn học năm 2016 tại Việt Nam, ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Cộng Sản Việt Nam cho biết sẽ tổ chức một hội nghị, vào ngày Giỗ tổ Hùngg Vương 10 tháng 3 năm 2017 âm lịch, mời tất cả những nhà văn VN ở nước ngoài về dự, kể cả những nhà văn đó phục vụ chế độ cũ. Đây là một “hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học!”

Chúng ta cũng nên biết rằng, Hội Nhà văn Việt Nam lâu nay vẫn được xem là công cụ của đảng, và ông Hữu Thỉnh đã được đảng sắp xếp cho làm chủ tịch trong thời gian dài 15 năm (ba nhiệm kỳ.) Trong tình trạng chính Hội Nhà Văn VN cũng đang muốn tắt thở bị cắt ngân khoản xuống ½ và ngân khoản này hầu hết dùng để in báo phát không (free) cho con số hội viên không dưới 1,000 người, và ngay trong tình trạng khó khăn như vậy, Hội này lại dám đề xuất một hội nghị có tầm vóc, tốn kém trong một thời gian quá ngắn, hẳn là một việc làm cấp bách do cấp trên giao phó là khẩn trương “hòa hợp dân tộc.”

Trước hết trên danh nghĩa, ông Hữu Thỉnh đã dùng chữ “nhà văn phục vụ chế độ cũ” để nói đến những người như chúng tôi, hầu phân biệt với những nhà văn phục vụ chế độ của đảng ngày nay.

Thật ra, theo định nghĩa chung của nhà văn, nhà văn không phải là thứ “viết thuê vẽ mướn,” đồng nghĩa với “chém thuê giết mướn” trong cung cách văn nô, bồi bút theo lề lối của những nhà văn, nhà thơ sống trong chế độ Cộng Sản lâu nay, không “phục vụ” thì chỉ có cách chết đói hay đi tù như những nhà văn thuộc thế hệ Nhân Văn Giai Phẩm 1955. Không phục vụ chế độ như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm có nghĩa là “tình báo nước ngoài được cài cắm và làm gián điệp cho ngoại quốc” nhằm “phủ nhận sự lãnh đạo của đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo chính trị và nhà nước duy nhất của đảng Lao Động VN.” (lời lẽ kết án của đảng đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm.)

Nhà văn ở miền Nam trước đây không có ai nhận sự lãnh đạo chính trị của đảng nào hay chính phủ nào trong lĩnh vực văn hóa cả. Thiên chức của một nhà văn không phải sinh ra để phục vụ chế độ hầu để kiếm chén cơm, manh áo, chút tem phiếu hay một chức vụ của đảng ban cho. Ở miền Bắc, người ta đào tạo ta những nhà văn như thế, nhưng tận tụy phục vụ cho đảng, cuối cùng cũng chỉ nhận được sự xem thường, khinh miệt.

Có lần, hội nhà văn Cộng hòa Dân chủ Đức, qua Hội Nhà Văn Việt Nam gửi tặng cho các nhà văn Việt Nam mấy cái xe đạp Diamant, thời đó món quà này là một cả một gia tài lớn. Hội nhà văn làm danh sách, chia xe đạp cho một số nhà văn, trong đó có nhà văn Nguyên Hồng. Từ Bắc Giang, Nguyên Hồng lặn lội về Hà Nội nhận xe. Nhưng nhà văn phục vụ chế độ khốn khổ này, cuối cùng chỉ được chụp hình với cái xe, để người ta gửi báo cáo về Đông Đức, còn cái xe thì hội giữ lại để dâng cho bọn lãnh đạo. Nguyên Hồng cho rằng Hội Nhà Văn VN đối xử với hội viên của họ còn thua bọn đầu nậu, du thủ du thực trong Bỉ Vỏ (tác phẩm của Nguyên Hồng trước 1945.)

Còn thời nay, Nguyễn Hữu Thỉnh, người lãnh đạo Hội NVVN suốt 15 năm là một nhân vật như thế nào?

Hữu Thỉnh sinh năm 1942, 10 tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn lính Pháp. 12 tuổi mới được đi học. Nhập ngũ, làm lính Trung đoàn 202, tham gia các công việc như chăn bò, học lái xe tăng, Sau 1975, Hữu Thỉnh học Sơ cấp Thú Y. Đặt để một ông tốt nhiệp sơ cấp Thú Y, trưởng ban Chăn nuôi, biên tập của Tạp chí Thú Y, một ông Thừa Cung thời nay, làm Hội trường Nhà Văn VN, thật là đúng quy cách, đường lối của đảng đối với văn nghệ sĩ.

Hổ thẹn vì mang danh hội viên Hội Nhà Văn VN, ngày 11/5/2015, hơn 20 nhà văn, nhà thơ đã ký tên vào đơn tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam. Đó là Nguyên Ngọc, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Đình Trọng, Võ Thị Hảo, Bùi Minh Quốc, Đặng Văn Sinh, Hòang Minh Tường, Lê Hiền Phương, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Quang Thân, Thùy Linh, Vũ Thế Khôi, Ý Nhi, Dư Thị Hòan, Trịnh Hòai Giang, Dạ Ngân, Nguyễn Duy, và Trần Kỳ Trung. Trong số 20 người, có bốn người cũng đồng thời tuyên bố rời bỏ cả Văn đoàn độc lập: Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Nguyễn Duy và Trần Kỳ Trung.

Cái hội nhà văn do ông Hữu Thỉnh lãnh đạo là cái hội đã đem râu cụ Phan Thanh Giản cắm vào cằm ông Nguyễn Khuyến, lấy khăn vấn của ông Chu Văn An đội cho ông Cao Bá Quát, và cho rằng Hàn Mặc Tử và Yến Lan là một!

Nói về “hòa giải dân tộc,” thì những người có đầu óc suy nghĩ ở hải ngoại hẳn đã phải dị ứng nổi gai ốc, mỗi lần nghe đến mấy chữ này, vì 42 năm với những thù hận, kiêu ngạo, kỳ thị, ngu dốt của những người thắng trận, không còn gì để hòa hợp, hòa giải nữa! Ở trong nước, với người đã chết các ông cũng đào mồ cuốc mả, với người sống thì đàn áp tù đày. Liệu tổ chức được một thứ hội nghị “hòa giải dân tộc” như thế, số tiền hải ngoại gửi về có tăng lên chăng?

Nhưng quý ông trong nước cũng đừng quá bận tâm lo lắng. Không phải đến bây giờ, hải ngoại chưa chịu hòa hợp hòa giải với mấy ông. Cách đây mấy năm, cây cổ thụ âm nhạc như Phạm Duy cũng đã về xin hòa hợp rồi. Ca sĩ ở hải ngoại như Khánh Ly, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Chế Linh, Elvis Phương, Thái Châu, Phương Dung, Hương Lan, Trường Vũ, Phi Nhung, Quang Lê , Tóc Tiên, Đức Huy…về Việt Nam hát thường xuyên, đến đỗi lúc đầu nghe tin CSVN cho phép Khánh Ly về “hòa hợp”, Phạm Duy đã ca tụng đây là một dấu hiệu đáng mừng của “hòa hợp hòa giải!” Rồi Hoài Linh, Chí Tài, Kiều Oanh, Việt Hương cũng nối gót! Ca sĩ gốc “chiến khu” như Thu Phương, Trần Thu Hà, Bằng Kiều…đi ra rồi lại đi vào, đi ngược về xuôi, không còn biết đâu mà lần!

Gần đây một số nhà văn, nhà thơ của miền Nam thời cũ (tôi không dùng chữ phục vụ chế độ cũ,) mặc dầu họ đã là những cựu quân nhân, viên chức, thậm chí đã bị các ông cầm tù, đày ải trong các trại tập trung, cũng đã xin về hòa hợp hòa giải bằng cách “giao lưu” với những nhà văn trong nước, xuất bản, in sách, giới thiệu, ra mắt tác phẩm. Họ đình đám, ca tụng hòa giải với nhau, còn đem hình ảnh ra quảng bá, khoe khoang trên báo chí hải ngoại nữa, thì cần gì các ông phải nhọc lòng, tốn ngân khoản để tổ chức hội nghị này, hội nghị nọ cho nhọc lòng, thêm đề tài cho thiên hạ chửi nữa..

Cũng có thể rồi đây, các ông sẽ chiêu dụ được một đám lòng tong, cá chốt ở đây về dự tham dự hội nghị “hòa hợp dân tộc” nhân dịp giỗ Tổ Hùng Vương. Cũng còn nhiều anh lúc ra đi, trốn chui trốn nhũi, bây giờ về, muốn được xe công an hộ tống có còi hụ dẫn đường, và muốn nhảy cẫng, leo lên sân khấu cùng vỗ tay hát bài hát “Như Có Bác Hồ” của Phạm Tuyên, đứa con bất hiếu!

Tôi không nghĩ là ông Hữu Thỉnh “hoang tưởng” như nhà văn Nhật Tiến nhận định trong cuộc phỏng vấn của Văn Hoá, có thể Cộng Sản nghĩ đúng: mẻ lưới nào quăng ra mà không có cá! Không có cá thì cũng có cua, còng, rơm rác! Rồi căn cứ vào đó, theo thói quen được chăn dắt, báo chí truyền hình trong nước lại ca tụng: “hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học” đã thành công rực rỡ!

Thôi, “bỏ đi Tám!”

Huy Phương

Nguồn :http://thoibao.com/mon-qua-hoa-giai/

Ba lần đi tìm Hồ Dzếnh. Nguyễn Thị Ngọc Hải



Nguyễn Thị Ngọc Hải

(Chân dung Thi Sĩ Hồ Dzếnh)

1. GIỮA CHỢ ….KHÔNG AI HỎI?

Quái lạ, suốt bao nhiêu năm làm báo ở Hà Nội, bao nhiêu lần đạp xe qua phố Hòa Mã, mà sao mình không biết ở đó có nhà của thi sĩ Hồ Dzếnh?

Đó là câu hỏi có phần ngạc nhiên và ân hận, khi tôi xin được địa chỉ của nhà ông. Lúc này đã vào năm 1991 khi tôi đã chuyển vào Sài Gòn sống, lúc nào nghĩ về quê nhà xa xôi là liền nhớ về trên cái “gam“ nền những rung động buồn thương thuở thiếu thời ôm cuốn “Chân trời cũ”…

Mà chợt nhớ ra, những năm tháng sống ở Hà Nội ấy không biết mình từng đi qua cửa nhà Hồ Dzếnh cũng phải. Thời đó nắng to lên một cái là đạp xe như ma đuổi, chạy cho nhanh xa những phố phường gần nhà máy, trận địa cao xạ, Hay đơn giản là chẳng gần đâu cả, nhưng phố nắng người thưa đang trong hồi còi báo động. Nhà thi sĩ ở ngay “phố nhà rượu”, rất dễ là mục tiêu bắn phá của máy bay Mỹ.

Và cũng quanh quanh gần mấy phố này thôi, nhà thơ tài năng – Quang Dũng (Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn – Về ngắm Sài Sơn lúa chin vàng-….Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc- Sáo diều vi vút thổi đêm trăng – ông tả quê tôi đấy ) đã từng sống những ngày nghèo khó thiếu ăn. Như nhà văn Thanh Châu miêu tả, Quang Dũng thích ăn khoai lang hàng bà cụ phố Tuệ Tĩnh. Kẹo vừng ông lão chợ Hôm. Nước chè tươi, cơm đầu ghế… Tất cả đều gần gũi quanh đây, sao ngày đó tôi không tìm họ?…

Sau những năm bom đạn ấy, lại tiếp thời bao cấp đói nghèo Hà Nội. Vất vả nuôi con, thiếu thốn và mải miết với những xếp hàng mua gạo thịt tem phiếu. Với những chuyến đi. Với những rắc rối cơ quan nhà nước nào cũng có… Suốt ngày sấp mặt xuống đến nỗi sau này vào Sài Gòn hát nhạc Trịnh công Sơn tả Hồ Tây với “đàn sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời…” tôi cứ tự hỏi, quái lạ, mình sống ven Hồ Tây mà suốt đời có bao giờ nhìn thấy loài chim nào gọi tên Sâm Cầm đâu.

Cũng không biết ngay đầu phố mình, ven Hồ có nhà văn Phùng Quán sống bằng “cá câu trộm “ ở Hồ Tây, làm cái chòi ngay mép nước trường Chu văn An nơi con tôi học ở đó…

Cuộc sống vất vả nhất – cũng có thể là bị hủy hoại bởi nhiều thứ chán ghét nhất đó khiến tôi không thể tách mình ra mà hiểu hết được cái thời mình đang sống, để tìm gặp những người mình rất ngưỡng mộ sau này là những danh nhân chẳng thể nào gặp nữa.

Sao mình không phỏng vấn Võ Nguyên Giáp, Tôn Thất Tùng, Văn Cao, Trần Duy Hưng, Phạm Tiến Duật, Quang Dũng, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh ….? Thật là một khoảng trống không thể tha thứ đối với một người đã từng làm báo ở Hà Nội.

Với tất cả nỗi “day dứt Hà Nội “đó, vợ chồng tôi tìm đến phố Hòa Mã.

Năm 91- những năm đầu Việt Nam mở cửa, đã mấy năm bước vào Đổi Mới rồi, nhưng vẫn còn nghèo. Các ký giả phương Tây vào nhiều. Họ tả Việt Nam với lời khen ngợi nhưng vẫn là một Việt nam theo góc nhìn tường thuật riêng …” Nơi gặp gỡ lạ lẫm giữa Đông và tây “…” Xóm ổ chuột, phụ nữ chẻ tre, bán trái cây, làm ruột cá. Đàn ông thu gom sắt vụn, sửa nhà cửa …””

Chưa đến cái thời “giàu nhanh, mất định hướng và hỗn loạn “như sau này

***

Trời Hà Nội vừa nắng gắt đã chuyển mưa nên nhiều người bị cảm cúm thành dịch giữa mùa hè. Vợ nhà thơ cũng bị cúm nên quán sách của ông bà đóng cửa. Hồ Dzếnh đi vắng.

Bà Nguyễn thị Hồng Nhật, dù đang ốm nghe chúng tôi tự giới thiệu “Độc giả hâm mộ từ Sài Gòn ra” thì vội thay chồng tiếp khách.

Khi chúng tôi muốn bà phác họa trước vài nét tính cách cá tính của nhà văn, bà cười với vài lời ngắn gọn:

“Nghĩ đến ăn là sợ. Có lẽ một ngày bữa ăn quan trọng nhất của nhà tôi là sáng sớm, một bát phở hàng quen, cho rất ít bánh. Ông bị hen phế quản nên khó thở và yếu.. Đêm không ngủ được, cứ kêu thừa thì giờ phí quá, lại ngồi viết.”

Rồi bà như giải thích:

“Tính tình âm thầm trầm lặng ít phô phang, không bao giờ thích nói tâm tư mình. Có lẽ vì thế nó…. tích thành bệnh.”

Chúng tôi nhìn quanh nhà, trên tường có một tấm hình đề chụp 1957 ở sân bay Gia Lâm- Cụ Hồ đang nhận bó hoa từ tay một phụ nữ thay mặt đoàn người . Bà Hồng Nhật giải thích:

”Hồi đó tôi hoạt động công tác Mặt trận ra tiễn Cụ Hồ đi thăm các nước.”

Căn phòng ấm cúng trang trí giản dị theo lối gia đình Hà Nội gốc trong căn biệt thự Pháp hầu hết đã cũ kỹ.

Thế là chỉ bước qua quán sách nhỏ, ta bỏ lại sau lưng phố xá nhốn nháo thời “hiện đại “ hàng quán có cả trăm thứ chuyện bực mình để bước vào một thế giới dịu êm thuần khiết của “người Hà Nội xưa “. Những gì văn hóa, thanh nhã xa với tiền bạc vẫn đang sống kín đáo, trở nên một phong cách riêng mà trên phố xá ta nào thấy được.

Bà kể có lần, một người không rõ từ đâu đến đứng chọn mua sách rồi hỏi “Thưa có phải đây là nhà của thi sĩ Hồ Dzếnh không”. Sau khi nghe trả lời đúng rồi, anh ta hát lên: ”Trên đường về nhớ đầy….chiều chậm đưa chân ngày …” rồi cúi chào bước đi

Quán sách bán không chạy (đã vào cái thời …mấy ai đọc sách nữa..). Bà chọn những cuốn sách văn học có giá trị, bày vào cái tủ kính nhỏ. Đoạn gần Chợ Hôm mới nhiều người qua lại bán mua. Đoạn phố Hòa Mã này không phải nơi sầm uất, nên không mấy khách tìm tới. Thành ra chiếc tủ sách nhỏ phải lui vào im lặng bên trong, nhường chỗ cho hàng hóa khác treo la liệt ngoài cửa hiên nhà.

Nhà thơ cho thuê rẻ cái góc cửa nhỏ, giúp đỡ cho các thanh niên chưa có việc làm có chỗ bán hàng tạm.

Một lúc sau, thi sĩ Hồ Dzếnh về.

Dù đã tranh thủ “điều tra “ trước qua bà vợ ông, dù đã đọc nhiều bài viết về ông trên sách báo, chúng tôi vẫn ngạc nhiên và vui mừng được thấy ngay trước mắt mình một người thanh nhã, ý nhị và rất gần gũi, rất phù hợp với mối xúc cảm mà tất cả chúng ta từng được khơi dậy từ “Chân trời cũ “.

Khi nói chuyện, ông hay cười, càng khơi càng thân và tâm đắc.

Khi biết đây là khách “tận trong Sài Gòn “ ra thăm chỉ vì ái mộ, vợ chồng ông mời chúng tôi ở lại ăn cơm. Rất tiếc là thời gian eo hẹp quá nên ông tìm ra giải pháp mời chúng tôi đi ăn sáng vào hôm sau. Ăn sáng tốn ít thì giờ hơn, ra tiệm, khách khỏi áy náy sợ phiền “không ai phải nấu nướng cả “, nhất là ông có hàng phở quen, ngon lắm.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đến cổng, đã thấy ông đứng chờ ngay dưới gốc cây. Thật cảm động khi thấy” người thi sĩ trong mơ “ của mình, ăn mặc tề chỉnh giản dị, tóc chải mượt ra phía sau y như trong các tấm hình chúng ta thường thấy.

Hình như quán phở đường Lê văn Hưu? Không nhớ nữa. Chúng tôi cảm động quá,, ngồi ăn phở và uống café sữa. Ông rất vui, cho biết chúng tôi đến thăm vô tình đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 75 của ông.

Hôm ấy, ông kể chuyện mình đi vào Nam và đến chùa Pháp Hoa tìm thăm nhà văn Nguyễn minh Châu, nhưng không gặp. Đó là những năm cuối đời, Nguyễn minh Châu bệnh nặng, vào Chùa Pháp Hoa lúc đó đang nổi tiếng trị được trọng bệnh theo một thứ thuốc riêng. Cho mãi sau đến lúc gặp được nhau, đã là lúc Nguyễn minh Châu sắp mất.

“Những người mà mình yêu mến, hình như không bao giờ được gần”

Nhà văn nói khẽ, không biết có phải ông đang nhớ lại những ngày gặp Thạch Lam vào năm 1941 trên chuyến xe lửa Hải Dương-Hà Nội hay không. Trên chuyến tàu đó, Hồ Dzếnh ngồi xem lại tập bản thảo của mình thì một người ngồi bên cạnh hỏi mượn xem. Lúc đó ông đâu biết người ấy chính là Thạch Lam, nhà văn nổi tiếng của Tự Lực Văn Đoàn.

Sau lần ấy, Thạch Lam phát hiện, khuyên nhủ góp ý, giúp cho tập truyện được xuất bản. Chính Thạch Lam đã viết lời tựa đầu tiên cho tập “Chân trời cũ “ của Hố Dzếnh. Nhưng khi sách ra được, thì Thạch Lam đã mất.

“Với Nguyễn Minh Châu và Thạch Lam, nếu tính thời gian theo cả giây cả phút thì tôi cũng chỉ được gặp hai ông trong 3-4 tiếng đồng hồ là cùng.”

Nhìn vẻ mặt xúc động của ông, tôi chợt hỏi:

“Cả đối với bác nữa – thưa bác, cháu có một điều không rõ: Vì sao bác vẫn sống ngay giữa Hà Nội, vậy mà sự gặp gỡ cũng như tin tức về bác hầu như rất ít, rất mù mờ. Có người còn đồn rằng hình như bác ở mãi đâu bên Mỹ, Canada…”?

Hồ Dzếnh cười hiền:

“Tôi vẫn sống ở đây thôi. Bần cư trung thị vô nhân vấn. Nhà nghèo thì ở ngay giữa chợ cũng không ai hỏi đến. Vậy mà mình bần, hôm nay vẫn có các bạn đến hỏi đây này.”

Dù đã đọc nhiều, chúng tôi vẫn muốn nghe từ chính ông chuyện sáng tạo ra những vần thơ vì sao nó ở mãi trong lòng người. Ông sáng tác bài “Chiều “ có mối sầu vạn cổ chất vào trong một buổi chiều ấy như thế nào… Các nhân vật được ông viết trong “Chân trời cũ “ ám ảnh buồn thương da diết ấy là ai, có còn không…

Hồ Dzếnh kể rằng bài “Chiều” chỉ làm ngẫu hứng tại Lạng Sơn, khi đó ông là một chàng trai lên chơi với người anh làm hỏa xa.. Ở đó, chàng đứng một mình giữa rừng biên giới, lòng buồn vô hạn vì thấy quê cha Trung quốc, quê mẹ Việt nam. Hai quê hương mà không có nơi chốn nào để đến cả. Cả hai đất nước đều bị xâm chiếm. Mình đứng giữa thấy một nỗi buồn lạ lùng. Và bài thơ thả vào không gian nỗi buồn đó.

“Còn những nhân vật trong “Chân trời cũ “ có còn ai không ư, còn chị Đỏ Đương, giờ đã 80 tuổi rồi. Muốn về thăm cụ ấy….”

“Những người ấy, họ có biết họ được trở thành nhân vật làm thổn thức bao trái tim không ạ?”

Hồ Dzếnh:

” Không. Thí dụ như cụ Đỏ Đương 80 tuổi rồi ấy, mù chữ. Đâu có biết đến văn chương. Họ sống cuộc đời cho mình lấy làm tài liệu nhưng không bao giờ đọc.”

Ông nói chậm, nhẹ, ngậm ngùi. Tôi bỗng nhớ lại câu chuyện lúc nãy bà vợ ông kể cho chúng tôi về cái ngày họ vào Sài Gòn được dự một đám cưới người quen. Khi quan khách được nghe giới thiệu rằng có mặt nhà thơ Hồ Dzếnh, thì tất cả bỗng lặng đi, ngạc nhiên. Rồi lập tức mấy cậu trai trẻ nhảy lên sân khấu, cầm đàn hát ngay bài “Chiều “.

Nhớ chuyện ấy, tôi nghĩ mình cũng đang có một cơ hội ngồi trước mặt thi sĩ, tôi liền cũng hát cho ông nghe bài “Chiều “ đó. Tiếng buồn vang trong mây, tiếng buồn vang trong mây……

Âm điệu buồn thương giữa rừng cao biên giới ấy, mặc kệ, bây giờ giữa quán phở có màn hình tivi đang mở nhạc Rock ầm ỹ ấy, mặc kệ, nó vẫn vang lên trong các tâm hồn cảm động.

Đã đến lúc tôi có thể hỏi ông về nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học “phê bình “ rằng văn chương ông có chút yếu đuối.

Ông gật đầu:

“Yếu đuối và lãng mạn ư? Phải cần tới nó. Đó không phải là yếu đuối, mà là cái TÌNH luôn giữ được trong con người. Một góc nào đó, nó giúp con người kiên gan. Cháu thấy không, người mẹ chỉ có cái ruột tượng thắt bụng nuôi con, chẳng bao giờ hé răng kêu.”

Thật kỳ lạ. Chỉ bước ra khỏi quán sách im ắng của nhà ông thôi, ta lại đối mặt với cuộc sống ào ào, khá tàn bạo. Vậy mà bên trong ấy, vẫn có một dòng chảy khác, khá lãng mạn nâng đỡ tâm hồn con người.

Cảm ơn Hồ Dzếnh. Hình như ông vừa bước ra từ “Chân trời cũ “ để thả vào cuộc sống hôm nay một lời xao xuyến nhắc nhở về tình người

2. MÌNH VỪA LÀ CHỊ, LÀ EM….

Lần thứ hai tôi ra Hà Nội – khoảng năm 1992, tìm đến nhà, dù biết chẳng còn gặp Hồ Dzếnh được nữa. Ông đã mất ngày 13-8-1991.

Tôi đến để thắp hương.

Tôi hơi bàng hoàng vì sự thay đổi nhanh chóng, cứ như là người vừa đi là dấu vết mới đây thôi cũng đi theo.. Ngôi nhà không còn là quán sách và những người buôn bán vặt la liệt không còn ở đó nữa.

Bà Hồng Nhật tiếp tôi cũng không còn ở căn phòng ấm cúng lần trước kiểu Hà Nội xưa, mà là ở căn phòng lớn mặt tiền. Ở đó có một bàn thờ hiếm có:

Do bà bày tất cả sách, báo viết về ông lên đó và ngày ngày thắp hương, trò chuyện trong im lặng.

Bàn thờ độc đáo giống như một quầy sách khá lớn.

Bài báo nhỏ của tôi viết về cuộc gặp mới đây, đăng lên, ông chưa kịp đọc cũng nằm đó, lọt thỏm giữa các tác phẩm đồ sộ.

Bà chẳng nói được gì nhiều như lần gặp đầu tiên vui vẻ. Khách cũng khá run rẩy trong lòng nên buổi viếng đó chỉ dành để lướt qua những gì tha thiết nhất người ta viết về Hồ Dzếnh.

Cuộc đời ông hiện ra thật khổ đau qua lời Vũ Bằng:

…”Chiến tranh chạy về làng Neo Thọ Xuân Thanh Hóa – dọc bờ sông Nông Giang dạy học. Vợ bán sách cũ và thảm tình trong những ngày kháng chiến, vợ bị bệnh tả chết để lại đứa con trai mới 5-6 tháng:

“Lấy võng đưa xác vợ chạy đi chôn trong chiều tím ngắt tím hoa sim đúng như trong thơ Hữu Loan Màu tím hoa sim.”

Trong trí nhớ Vũ Bằng, …”mặc áo bành tô cứt ngựa, đi dép, địu con trên lưng, lúc thì đi vơ vẩn ở bãi bến đầu sông, lúc thì chui vào bờ bụi tránh máy bay. Hễ gặp người nào như thế, không ai nói ai nhưng ai cũng biết đó là Hồ Dzếnh. Không cách gì mà sai được. Là vì ở Khu 4, mà chắc chắn khắp cả trong nước không có một người đàn ông thứ hai nào nuôi con khổ cực đến như Hồ Dzếnh. Một mặt lo chạy loạn, một mặt lo ăn, một mặt nữa lo sao cho con có sữa sống qua ngày.”…

Tôi gập cuốn sách lại, liếc nhìn vẻ mặt bà Hồng Nhật dưới vành khăn để tang còn mới. nhưng trong khi tôi nước mắt lau trộm thì bà lặng lẽ, lật tìm những bài khác đưa cho tôi.

Bà bảo, ông địu con đi xin bú nhờ (gọi là bú thép. Thế nên mới hay nói câu: “Vợ góa nhà văn lấy nhà văn góa vợ – Con nuôi nước Việt, nhờ nước Việt nuôi con…)

Bà Hồng Nhật – như ta biết – là cô gái bán sách tiệm Bình Minh, đẹp nhất nhì Hà Nội một thời, là vợ góa của nhà thơ Trần trung Phương. Chồng mất, bà cũng nuôi đứa con trai nhỏ mới mấy tháng như Hồ Dzếnh và rồi hai người đã trở thành bạn đời.

Đây là lời Du Tử Lê: ”Hồ Dzếnh là người bạn thiết của những kẻ lang thang. Hồ Dzếnh đã đi vào đời tôi bằng một khung cửa buổi chiều. Hồ Dzếnh đã ở trong tôi không như một Huy Cận cao ngất khinh mạn, không như một Nguyễn Bính ngọt ngào mật đồng nội. Hồ Dzếnh đến và ở lại trong tôi như một chiếc bóng âm thầm. Muộn phiền và tơi tả “.

Còn Mai Thảo: – “Hồ Dzếnh “một người Tàu nghèo khổ bỏ một nước Tàu nghèo khổ. Đi qua Vân Nam. Đi từ Dương Tử đi tới Hồng Hà. Đi từ Trung Hoa đi tới Việt Nam.” Khi nói tới người mẹ Việt của Hồ Dzếnh, Mai Thảo dẫn ra tác phẩm “Quê ngoại – là chiếc khay vàng hiến dâng mẹ hiền một niềm biết ơn trang trọng.”….

Bà Hồng Nhật thắp thêm ngọn nến khác thay vào ngọn đã cháy hết. Chúng tôi cứ im lặng chẳng nói gì, chỉ lần giở qua những tác phẩm bày đầy một bàn, sửa sang cho ngay ngắn.

Chia tay bà, tôi nhớ câu của nhà văn Nguyễn Khải:

”Hiện nay, tầng dưới ngôi nhà phố Hòa Mã vẫn chỉ có hai vợ chồng. Ông luôn mỉm cười ngồi ở trên cao kia, còn bà mỗi ngày một mỏng đi.”

Cái dáng “mỗi ngày một mỏng đi “ ấy đưa tôi ra tận đầu đường mới chịu quay lại.

Tôi chợt nhớ bài thơ Hồ Dzếnh viết tặng vợ:

”Mình vừa là chị, là em
Tiếng lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới lúc chia phôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin là kẻ đi sau đỡ mình….”

Hồ Dzếnh ơi, vội ra đi trước, vậy là ông đã nuốt lời hứa rồi sao….?

3. GỌI TÊN VANG GÓC PHỐ

Vào năm 2000 tôi lại có dịp ra Hà Nội và không quên ghé phố Hòa Mã để thắp hương ông và thăm bà Hồ Dzếnh.

Dự định là Sẽ ngồi với bà thật lâu. Lần này sẽ hỏi bà nhiều chuyện tâm tình mà lần trước sát ngay những ngày đau thương, không thể tiện hỏi. Chuyện tình yêu, gia đình, chuyện Hồ Dzếnh bảo với chúng tôi trong lần gặp đầu, ông đang viết cuốn sách có tên “Chuyện viết lúc 5 giờ chiều “. Ông viết về người thân, bạn bè, theo một kiểu giống “Chân trời cũ “. Không rõ viết xong chưa, đã in chưa…

Tôi đến trước cổng nhà phía Ngô Thời Nhậm, nơi ngày đó Hồ Dzếnh ăn mặc chỉnh tề đầu chải mượt đứng chờ để đưa chúng tôi đi ăn phở. Giờ đây không có ông nữa rồi, không còn dáng ”Hồ Dzếnh thường đi lặng lẽ, lủi thủi một mình trên hè phố….như bóng dáng của nhân vật từ chân trời xa vắng….(Võ Văn Trực )

Cách cả chục năm rồi còn gì. Lúc đó, ngôi nhà 2 mặt tiền của ông có vẻ chưa có nhiều ý nghĩa kinh tế gì lắm. Cái thời mà nhà báo nước ngoài tả Hà Nội có những người đàn ông đội mũ nồi, áo vải nhăn chậm rãi đạp xe qua những hồ nước phẳng lặng. Thành phố toát lên bầu không khí trí thức tinh tế.

Bây giờ thì không đúng nữa rồi. Mặt tiền nhà phía Hòa Mã đã không còn như cũ. Một tiệm thời trang đã thuê để kinh doanh. Mấy cái Manocanh khiến ta giật mình như có ai đang chặn hỏi. Như nó mắng tôi, mắt để đâu, làm gì còn có ngày xưa….

Chiếc cửa phía Ngô Thời Nhiệm vẫn thế, có cái xích lớn vòng qua lỗ cửa và một chiếc khóa lớn đóng im ỉm.

Tôi bắt đầu đập mạnh vào cái dây xích, gọi cửa. Mãi mới có một thanh niên ra tiếp. Anh giới thiệu mình là Trần trung Cường, con trai của bà Hồng Nhật.

Anh hốt hoảng hỏi nãy giờ chị gọi tên ai. Rồi ngậm ngùi: Chị vừa kêu tên mẹ em vang khắp phố. Mẹ em mất rồi. Mất từ năm 1998 cơ.

….Câu chuyện hôm đó đưa chúng tôi trở lại quá khứ. Chuyện về bố của Cường. Ông là nhà thơ viết về thiếu nhi nổi tiếng Trần trung Phương, thường viết cho tờ Tin Mới dưới bút danh Tổng Nhĩ. Ông hoạt động Cách mạng, bị Pháp bắt và mất năm 1945, khi Cường mới 5 tháng. Mẹ Hồng Nhật nuôi con, mở tiệm sách Bình Minh và tham gia hoạt động yêu nước cách mạng. Rồi mẹ kết hôn với Hồ Dzếnh.

Thế còn câu chuyện mẹ anh là người phụ nữ đẹp nhất nhì Hà Nội thế nào?

Anh Cường:

”Không có thi cử như bây giờ. Không ai bầu. Nhưng Hà Nội lúc đó nhỏ, giới trí thức, trung lưu hay đồn nhau. Họ cho rằng mẹ em và vợ nhà nhiếp ảnh Lê Vượng cũng tên là Vượng- là hai người phụ nữ đẹp nhất Hà Nội. Em nhớ một chuyện, hồi chiến tranh chống máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc, phải đi sơ tán về Hương Canh Vĩnh Phú. Em đem theo cái đài bán dẫn ban đêm nghe. Một lần có buổi phát thanh từ Đô thị miền Nam, có bài viết Nhớ về Hà Nội. Họ tả phố xá, món ăn, nhớ cả hiệu sách Bình Minh có cô bán sách rất đẹp và lịch thiệp. Em vặn to lên cho mẹ em nằm bên cùng nghe”

Anh Cường giờ đây đã trở thành giảng viên của Nhạc viện Hà Nội. Anh Chính – người con trai xưa Hồ Dzếnh bế đi xin “bú thép “ nay cũng đã là một giáo viên dạy toán. Còn người đẹp Hà Thành năm xưa nay cũng đã mất ở tuổi 83.

“Khi mẹ đau ốm nặng, bạn bè chúng em vào thăm. Nói rằng khi đi tưởng tượng ra bà cụ 83 chắc là già lắm. Vậy mà đến nơi thấy bà còn đẹp quá. Đó là mẹ đã gầy đi còn một nửa và mẹ bảo cảm ơn các anh tôi đã sa sút nhiều lắm rồi đấy ạ.”

“Mẹ là một phụ nữ rất chỉn chu lo toan trong họ ngoài làng. Lại rất văn minh, lịch thiệp, có văn hóa. Em không ngờ khi tuổi cao gần mất, mẹ rất thuộc thơ văn.Thơ chồng đã đành. Còn biết rất nhiều điển tích, khi nói rất hay vận dụng, mà em nhiều khi không hiểu hết mẹ mình.

Mẹ đoan trang quý phái, nghĩ ngợi nhiều, ít giao tiếp bên ngoài. Ăn mặc nền nã, hay mặc áo màu chìm, áo dài đen. Phấn son nhẹ nhàng, tóc nhuộm không bao giờ để bạc.Tóc nhuộm lần cuối trước khi vào bệnh viện. Bàn tay búp măng đẹp lắm. Đây còn cái áo mẹ mậc khi vào Sài Gòn chơi, được tặng hoa ông Võ nguyên Giáp.

Gia đình em 2 dòng máu, mẹ cha đều yêu thương hai Tổ Quốc Cách mạng”

Trước lúc mất, dù là người cao tuổi nhất đoàn,”theo tour cho kịp là khó khăn”, bà vẫn gắng cùng bạn bè đi du lịch Trung Quốc một lần “cho biết quê chồng “, dù rằng chỉ biết quê ông ở Quảng Đông. Không còn dấu vết cũng như họ hàng thân thích nào. Bà đi theo một số địa danh có tên trong các bài thơ nhớ thương bàng bạc của chồng.

Chính vì gốc tích, quê hương mơ hồ mà nỗi thương nhớ của thi sỹ Hồ Dzếnh trong người vợ đến quê chồng ”Tô Châu lớp lớp phủ Kiều -Trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam – Rọc rời vó ngựa quá quan – Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa …”càng thêm da diết xót xa.

“Lúc từ bệnh viện về, mẹ đòi đưa tập hình ảnh chụp chuyến đi Trung Quốc để giữ bên mình trong túi áo. Mẹ muốn giữ kỷ niệm sâu sắc và niềm vui mãn nguyện cuối đời đã thay chồng về cho biết quê hương.”.

Tôi tạm biệt Cường với căn nhà mỗi lần đến là một lần thay đổi.

Những cảm xúc buồn thương ấy lạ quá, sao nó không mất đi được theo năm tháng.?

“Nát thân không nát nỗi buồn
Lẫn trong cái chết vẫn còn nỗi đau”

(Tưởng chuyện ngày sau- Hồ Dzếnh ).

Những giọt lệ khóc cố hương “có 1 chút buồn Tư Mã, 1 chút nhớ Chiêu Quân“ “ Một thế giới mang nặng nỗi buồn u kín của ngày xưa “(Vũ Bằng).

Bâng khuâng trăng sáng trời Viên Hán- Một giải Giang Nam nước rợn màu“

Nhưng, Quê hương thật sự trong ông chính là đất Việt, quê mẹ, nơi có gió đầu mùa xa xôi, có bãi dâu vẫn đợi dòng sông vẫn chờ.

Đó là quê hương “Hỡi nước Việt nam, tôi nghiêng lòng xuống Người trên những luống cày hương thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước và nói tiếng nói của Người. Vì tôi đã thề yêu Người trên bậc tuyệt vời của Tôn giáo. Trên dải đất xúc tích những tinh hoa của văn chương, những công trình lịch sử, tôi còn ghi cả những bóng dáng người xưa tôi thương yêu “

(Chị Yên – Chân trời cũ).

Người ta bảo thơ Hồ Dzếnh buồn bắt nguồn từ “Lòng sầu xứ cộng với nỗi đau khổ”. Khi nhớ quê hương biền biệt không bao giờ biết “Mây ơi có tạt về phương Bắc – Chầm chậm cho ta gửi mấy lời – Từ thuở ly hương ta vẫn nhớ – nhưng tình xa lắm gió mây ơi (Tư Hương ).

Nhưng quê Việt lại có một tình sâu nặng, có thật, không biết là nhớ thương nơi nào nặng lòng hơn nơi nào:

”Tôi yêu nhưng chính là say
Tình quê hương Việt-bàn tay dịu dàng
Thơ tôi đê thắm bướm vàng
Con sông be bé cái làng xa xa.”

(Lũy tre xanh ).

Tạm biệt Cường và căn nhà Hồ Dzếnh, tự nhiên tôi nhớ đến người mẹ đã khuất của tôi và tự hỏi: Ngày xưa mẹ nói đúng, còn tôi đã sai?

Thuở ấy tôi đang là sinh viên Văn khoa, đang dùi mài kinh sử với các lý luận văn học.Với các lý thuyết và chủ nghĩa về hiện thực và tranh đấu cao xa.

Về hè, mẹ ngồi khâu trong trưa vắng ở Hải phòng, cũng một phòng của căn biệt thự Pháp cũ phố Cát Dài.

Bà là trí thức do Pháp đào tạo và chỉ mê văn học Pháp. Có lần bà bảo tôi,- lâu ngày chỉ nhớ đại ý là,- nguồn gốc cái tình căn bản làm nên áng văn chương chính là tình mẫu tử. Văn chương còn lại lâu bền chính vì nỗi buồn …” Và tôi biết tất cả những tác phẩm bất hủ chỉ là những tiếng khóc.”

Tôi không nhớ mẹ đã trích dẫn từ ai. Nhưng hôm nay rời nhà Hồ Dzếnh, những lời của mẹ tôi sống dậy.

Vì sao “thơ có cùng mới hay “? Vì sao nỗi buồn của ông Hồ Dzếnh – như Thạch Lam viết trong lời giới thiệu tập “Chân trời cũ“ lại liên quan đến xúc cảm của tôi hôm nay?

Thạch Lam:

”Điều mà ta nhận thấy ở ông Hồ Dzếnh, cũng là một điều gần giống ở bà mẹ ông. Nghĩa là sức chịu đựng đau khổ.”

Sao đau khổ của ông Hồ Dzếnh, mắc mớ chi lại làm cho bao thế hệ, mãi mãi người sau rung động y chang nỗi buồn đó? Và dù đã “xếp ông ngồi một chiếu “ với Thạch Lam và Thanh Tịnh, các nhà nghiên cứu vẫn cứ tìm tòi đặt tên tuyệt vời cho “kiểu buồn“ của riêng ông không lẫn được với ai.

Đó là “”Buồn chiều, buồn Hồ Dzếnh. Nhanh hơn slow, chậm hơn Valse…Mỏng nhẹ như sương.”(Nhà nghiên cứu Thụy Khuê )…

Tạm biệt Cường và căn nhà Hồ Dzếnh không biết bao giờ trở lại, tôi tự hỏi về nỗi buồn thương của mình: sự truyền cảm tha thiết đó chẳng cần đi tìm lời giải thích gì nữa. Mẹ tôi đúng rồi và tôi đang nhớ Người bằng chính tình thương mẹ sầu thảm của Hồ Dzếnh.

Bất chấp mọi thứ chủ nghĩa, nó chính là tính trường tồn của Văn chương bất hủ

Nguyễn Thị Ngọc Hải
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 25-1-17
Nguồn: http://www.viet-studies.net/NTNgocHai_HoDzenh.htm

Thư ngỏ gửi toàn thể các Văn Hữu quanh chuyện Trung Tâm Văn Bút (1957-1975) – Nhật Tiến


Nhật Tiến

 

Gần cuối năm 2016, tôi có biên soạn và cho ấn hành cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1957-1975” nhằm mục đích lưu trữ lại cho các thế hệ sau những hoạt động văn hóa của các bậc tiền bối như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu,Vũ Hoàng Chương, Vương Hồng Sển, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường, Tam Lang Vũ đình Chí, LM Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền …cùng hàng trăm hội viên Văn Bút khác.<!>Trong khi đi tìm tài liệu cho cuốn sách này tôi phát hiện là ông Viên Linh đã tiết lộ hai chuyện động trời trong bài viết của ông, in trong cuốn “Chiêu Niệm Văn Chương- Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ” do báo Khởi Hành ấn hành năm 2000”. Hai chuyện ấy là:

1) Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.

2) GS Phạm Việt Tuyền, Tổng Thư Ký Văn Bút sau 1975 bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu đói không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp.

Để bảo vệ danh dự cho hai thành viên nòng cốt của Văn Bút cùng đã quá cố và nhất là không muốn các thế hệ sau có cái nhìn lầm lạc về một tổ chức văn hóa vốn quy tụ hầu hết các nhà làm văn hóa lão thành đã tổn hao nhiều công sức đóng góp cho nền văn hóa miền Nam VN trong gần 20 năm trời ròng rã (1957-1975), tôi đã yêu cầu ông Viên Linh, chủ nhiệm báo Khởi Hành hãy trưng bằng cớ cụ thể.

Cho đến nay Viên Linh đã không trả lời được về những điều do ông cáo buộc kể trên.

Đã thế ông còn cho đàn em là Nguyễn Tà Cúc sử dụng tờ Khởi Hành để viết lách lung tung, rối rắm, lu loa những lời lẽ hỗn xược, nhỏ nhen, xuyên tạc nhằm lấp liếm cái tội vu khống của đàn anh Viên Linh, rồi mới đây trên các trang mạng cô ta lại còn vu cho tôi cái tội “Tấn công vô bằng một nhà thơ/nhà văn/nhà báo kiệt hiệt của Miền Nam” (sic) tức là đàn anh Viên Linh của cô ta.

Thưa quý văn hữu,

Tôi chỉ “chất vấn” ông Viên Linh chứ đâu có “tấn công” ông ta như cô Cúc viết. Rồi 2 câu chất vấn nêu ở trên cũng rất rõ ràng chứ đâu phải “vô bằng” như luận điệu xuyên tạc của cô ta.

Cái tâm địa nhỏ nhen, ác độc, vo tròn bóp méo sự kiện để vu khống nhằm bôi nhọ người khác là bản chất của Nguyễn Tà Cúc vốn đã lộ ra trong những bài viết của cô ta gần đây, ai đọc hẳn cũng đã rõ.

Tôi chỉ xin nêu một ví dụ mới xẩy ra gần đây nhất, khi cô ta post lên Net những lời như sau:

Theo Nhật Tiến, Trung Tâm Văn bút Việt Nam đã làm giấy chứng nhận với tên “Hội Văn Bút Giải Phóng” từ ngày 1 tháng 5. 1975 ngay tại Trụ sở Trung Tâm với sự có mặt của CT Thanh Lãng, TTK Phạm Việt Tuyền và Phó CT Nhật Tiến”

Đấy là sự kiện tôi đã nêu ra trong phần cuối cuốn sách của tôi, tả lại những ngày cuối cùng ở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, bao gồm những chi tiết như sau:

1) Ngày 1-5-75, Ban Thường Vụ đang dọn dẹp giấy tờ thì thi sĩ Nguyễn Đức Sơn (hiện cư ngụ tại Bảo Lộc VN) đạp xe tới. Ông nói oang oang cho tất cả mọi người nghe : “Tôi chẳng có bất cứ một thứ giấy tờ nào để tuỳ thân. Văn Bút cấp cho tôi một cái!”

2) GS Phạm Việt Tuyền chép miệng : “Cậu đùa sao? Miền Nam mất rồi, Văn Bút còn tư cách gì để cấp giấy chứng nhận cho ai !”

3) Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn cười ngỏn ngoẻn :“Cứ đề mẹ nó là Văn Bút Giải Phóng, tôi đem về tỉnh, có thằng ma nào biết ai vào với ai.”

4) Trước tình cảnh liên hệ tới sự sống còn của anh em văn nghệ, và lại ở vào những giây phút cực kỳ rối bời và hấp hối ấy, chúng tôi tự thấy nếu có thể làm được bất cứ điều gì giúp được hội viên qua cơn nguy cấp thập tử nhất sinh thì cứ vượt qua nguyên tắc mà làm. Vì thế mới có cái giấy chứng nhận – duy nhất dưới từ ngữ Văn Bút Giải Phóng – cấp cho thi sĩ Nguyễn đức Sơn để ông làm giấy tùy thân giữa vòng vây nghiệt ngã của CS.

5) Mãi bốn năm sau, vào khoảng giữa năm 1979, một hôm Nguyễn Đức Sơn đột ngột xuất hiện ở cửa nhà tôi ở đường Bùi Viện Sài Gòn. Quần áo của ông rách rưới, ông ngồi trên chiếc xe đạp mà từ tay lái tới khung xe, tới cái porte-bagages phía đàng sau, lủng lẳng, treo buộc hộp không, chai lọ và đủ thứ đồ.

Tôi thực sự vui mừng chỉ thiếu điều ôm lấy ông vì thấy ông vẫn bình an, mạnh khoẻ, cất cho tôi cái điều băn khoăn vẫn canh cánh bên lòng là ông có được an toàn không khi ông mang cái giấy chứng nhận dỏm kia trong người. Nhắc lại chuyện đó, ông cười ha hả :

– Ôi giời ơi ! Cứu tinh của tớ đấy. Ngay sau hôm đó, tớ chuồn tuốt lên Bảo Lộc và nhờ có cái giấy thổ tả này, tớ đi đâu cũng lọt. Nhưng tớ đã dẫn tuốt vợ con vô rừng, kiếm củi trồng khoai mà sống với nhau. Không có đứa nào làm phiền hết!!

(trong cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1957-1975”, chương cuối)

Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/1chuong-vi-ngay-cuoi-o-tru-so-trung-tam-van-but/

Chuyện chỉ có thế. Không thể tưởng tượng được là Nguyễn Tà Cúc có thể khinh thường khả năng nhận xét, trí phán đoán của độc giả để lái câu chuyện nhằm bôi nhọ Trung Tâm Văn Bút VN đến như thế.

Tức là sau 30-4-1975 chẳng có cái Hội nào gọi là Hội Văn Bút Giải Phóng hết, ai đọc phần đó trong sách của tôi cũng đều hiểu như thế. (xin coi link ở trên).

Vậy mà Nguyễn Tà Cúc đem rêu rao trên Net với dụng ý lươn lẹo, chụp cho Trung Tâm Văn Bút Việt Nam cái tội sau 30- 4-75 đã biến thành Hội Văn Bút Giải Phóng.

Thật là một hành vi đốn mạt sử dụng giọng lưỡi điêu ngoa, xảo quyệt, và ác độc đến thế là cùng.

Vậy thử hỏi những điều khác về Văn Học Miền Nam do y thị viết ra có còn đáng tin cậy nữa hay không?

Đây là lần đầu tiên tôi phải gửi tới quý văn hữu lời biện minh này về những luận điệu xuyên tạc của Nguyễn tà Cúc. Và cũng sẽ là lần cuối tôi nhắc đến thứ ngòi bút đê hạ này để khỏi làm mất thì giờ của chính tôi cũng như làm bận tâm thêm cho quý vị.

Nhật Tiến

14-1-2017

http://nhinrabonphuong.blogspot.com.au/2017/01/thu-ngo-gui-toan-cac-van-huu-quanh.html

Báo Thiếu Nhi Sài Gòn Trong Ký Ức. Lê Minh Quốc


Lê Minh Quốc

blob

Qua những trang báo dành cho độc giả thiếu nhi như Tuổi Xanh, Tuổi Hoa, Thiếu Nhi, Thằng Bờm… thế hệ tôi, những cậu học trò ở Đà Nẵng cũng đã ít nhiều hình dung ra Sài Gòn từ năm tháng ấy.

Những tờ báo gắn liền với tuổi thơ

Khoảng thập niên 1960, khi đang học tiểu học, ở nhà tôi có mua thường kỳ tờ báo Tuổi Xanh, tòa soạn trong Chợ Lớn; Chủ nhiệm Trần Quang Khải, Thư ký tòa soạn Bảo Vân, ban biên tập còn có các nhà giáo quen thuộc như Hà Mai Anh, Bùi Văn Bảo, Nguyễn Khắc Lộc…

Đến lúc lên trung học, tôi mới thật sự “gắn bó” với Sài Gòn. Nói như thế vì năm học lớp 8, lần đầu tiên tôi được in thơ trên báo Thiếu Nhi. Có lẽ suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên “159 Thiệu Trị, Phú Nhuận, Sài Gòn, ĐT: 42152”. Đó là địa chỉ tòa soạn của tờ báo mà ông chủ Nhà sách Khai Trí Nguyễn Hùng Trương là chủ nhiệm, nhà văn Nhật Tiến làm chủ bút. Địa chỉ ấy, tôi đã nhiều lần nắn nót ghi trên bì thư khi gửi thơ, văn cộng tác. Rồi thỉnh thoảng có đôi lần được đăng. Sướng đứt đuôi con nòng nọc.

Nhân đây nói luôn, các “mầm non văn nghệ” mà bây giờ đã “thành danh”, thời đó thường ký bút danh rất “oách”, như Nguyễn Nhật Ánh ký Hoài Mộng Diễm Thư, Nguyễn Thái Dương ký Nguyễn Mặt Trời, Phạm Sỹ Sáu ký Ngy Xuân Sơn, Nguyễn Văn Nhân ký Bạc Hà, Phan Vân Sơn ký Mừng Hoang Vu, còn tôi ký Thiên Bất Hủ… Nhà thơ Đoàn Vị Thượng lại ký tên thật Trần Quang Đoàn, còn nhà văn Khôi Vũ, ngay từ hồi đó đã “ngon lành” lắm rồi, vì anh phụ trách chuyên mục Khu vườn hạnh phúc trên báo Tuổi Hoa với tên thật Nguyễn Thái Hải. Nhắc lại để thấy, có nhiều thế hệ viết lách ở miền Trung đã tạo dựng “cơ nghiệp” ban đầu là từ các báo ấn hành tại Sài Gòn.

Một trong những điều khiến chúng tôi một thời say mê, là sự xuất hiện của nhiều cây bút nặng lòng với giáo dục, mà khi nhìn thấy tên của họ là các bậc phụ huynh yên tâm. Đến nay, thỉnh thoảng tôi vẫn đọc lại Thư chủ nhiệm do ông Nguyễn Hùng Trương in trên mỗi kỳ báo Thiếu Nhi. Đó là các bài viết về sống đẹp, ý thức công dân, kỹ năng sống… thông qua những câu chuyện triết lý nhẹ nhàng, tương tự như loại sách Hạt giống tâm hồn hiện nay. Rồi lại náo nức với tiểu thuyết phơi-dơ-tông (feuilleton) đăng từng kỳ như Tiếng hú trên đỉnh non Chà Hóc (Vũ Hạnh), Khi ông cậu quý bị đắm tàu (Minh Quân)… và nhất là Thuở mơ làm văn sĩ (Nhật Tiến). Chính các tác phẩm này đã dẫn dắt thế hệ tôi thêm sự quyết liệt khi… “dấn thân vào văn chương”. Bên cạnh đó, còn là các chuyên mục như Tay ngọc bên bếp hồng, Ảo thuật, Khéo tay, Thủ công, Sáng tác của em, Cuộc thi sáng tác, Vui cười…

Phải nói thêm sự yêu thích ấy còn là vì tranh bìa in ốp sét (offset) rất đẹp. Thời đó, họa sĩ Vi Vi “làm mưa làm gió” trên nhiều trang bìa của các báo thiếu nhi. Sức lao động của ông thật khủng khiếp. Tuần nào cũng có tranh bìa mới. Và thêm nữa là họa sĩ Nguyễn Tài cũng “hớp hồn” bọn tôi qua các truyện tranh dài kỳ như Mười ngày trên đảo Rồng, Cùng đi với tử thần, Tí Ti qua ống kính bác Sáu Râu… Riêng tờ báo Tuổi Hoa còn thực hiện tủ sách với 3 loại truyện dài theo chủ đề: Hoa Đỏ (phiêu lưu mạo hiểm, trinh thám), Hoa Xanh (tình cảm nhẹ nhàng về gia đình, bạn bè), Hoa Tím (dành cho lứa tuổi 16 – 18). Các cây bút thường hay viết cho tủ sách này là Hoàng Đăng Cấp, Thùy An, Quyên Di, Mỹ Lan, Nguyễn Thái Hải, Nguyễn Trường Sơn…

Sách bán “xon” ở sài gòn

Còn nhớ, những tờ báo như Thằng Bờm, Thiếu Nhi đều thành lập những Thi văn đoàn, Bút nhóm nhằm quy tụ độc giả nhí tại các tỉnh, thành nơi đó cùng sinh hoạt chung. Ở Đà Nẵng, chúng tôi họp mặt vào mỗi sáng chủ nhật hằng tuần tại Nghĩa Trủng. Đồng phục đi sinh hoạt là quần xanh, áo trắng có phù hiệu trường, lớp đang theo học. Đôi lúc, các anh phụ trách tổ chức đi cắm trại nơi xa, đốt lửa trại, chơi mật mã… Sinh hoạt cộng đồng này diễn ra đều đặn, có quy củ. Phải nói thế hệ trẻ con chúng tôi trưởng thành và yêu thơ văn là từ đấy.

Làm sao có thể quên lúc báo Thiếu Nhi tổ chức thì làm “bích báo” tức “báo tường” dành cho Gia đình Thiếu Nhi ở các địa phương cùng tham gia. Quà thưởng ngày ấy, từ Sài Gòn gửi về cho chúng tôi là các tác phẩm thuộc Tủ sách Tuổi Thơ do Nhà sách Khai Trí tài trợ. Nhờ đó, chúng tôi đã được đọc Dinh Thầy (Phan Du), Thần điểu và hoa hồng (Thẩm Thệ Hà), Cái quai chèo (Nguyễn Văn Xuân), Người bạn mới (Nhật Tiến), Trung thu của bác đèn xếp (Lê Tất Điều)… Loại sách này mỏng, giấy đẹp, chỉ vài chục trang in, tương tự như loại Tủ sách Vàng của NXB Kim Đồng hiện nay.

Đến năm 1974, tôi quyết liệt phải vào Sài Gòn cho bằng được. Các anh phụ trách Gia đình Thiếu Nhi ở Đà Nẵng lúc đó chỉ mới học lớp 12 đã mua vé của Hãng xe đò Phi Long – Tiến Lực dẫn các cậu nhóc chúng tôi “hành phương Nam”. Phải đi để thỏa mơ ước mãnh liệt vì thèm khát phải biết Sài Gòn, do ma lực, hấp dẫn của vùng đất này mà mình chỉ mới biết qua các trang báo.

Nhất là bấy giờ, trên báo Thiếu Nhi có in bài Một vòng thị trường sách bán xon trên vỉa hè Sài Gòn của Bách Khoa. Càng đọc càng xốn xang, càng thèm thuồng bởi cái đoạn này: “Trung tâm của thị trường sách xon là lề đường Công Lý, khúc ngã tư Lê Lợi đến gần ngã tư Hàm Nghi. Một rừng sách báo tràn ngập hai bên vỉa hè: sách bày la liệt dưới đất, sách nằm ngổn ngang trên sạp gỗ đóng sơ sài, sách dựng hai bên bờ tường, sách nằm trong thùng sữa, sách chất thành đống, cao thành ngọn dưới gốc cây, bên miệng cống, không mái che, không thảm lót, sách chen chúc với chỗ đậu xe hơi, lấn át nơi dựng xe máy, choán cả đường đi của mọi người chen chúc. Lạc vào đây, người ta ngợp mắt vì sách, lách qua sách mà đi, giẫm lên sách mà lấn tới, bò lổm ngổm trên từng đống sách để bới, để tìm, gặp những cuốn không vừa ý thì liệng đại xuống rồi lại bới nữa, tìm nữa… dưới ánh nắng gay gắt như đổ lửa hay dưới bầu trời vần vũ đe dọa của cơn mưa. Những ai thích sách, yêu sách, ít tiền mà vẫn muốn có sách cất giữ, không thể ghé một lần. Đối với dân mọt sách, đã từng bỏ ra cả ngàn bạc mua một quyển sách mỏng teo trong tiệm sách, hẳn thấy giá cả sách ở đây quả là một… thiên đường” (báo Thiếu Nhi số 96 ngày 1.7.1973).

Thật hạnh phúc, một cậu học trò tỉnh lẻ năm học lớp 9 là tôi đã được đặt chân đến “thiên đàng” ấy. Và vẫn còn giữ lại ký ức tươi đẹp từ năm tháng tuổi thơ trong trẻo và đáng yêu.

Lê Minh Quốc

Nhật Tiến, nhà văn của tuổi thơ. Trần Việt Hải- Los Angeles


te1baadp-san-thie1babfu-nhi

Lời giới thiệu: Sau khi nhà báo Kiều Phong công bố trên Internet bài “Thứ sách đê hạ”, nội dung trình bầy tư cách đê hạ của Viên Linh khi ông ta viết về nhà văn Nhật Tiến như sau:

“Tôi vốn không đọc Nhật Tiến, tác giả của những truyện về trẻ mồ côi, về các bà sơ có lòng nhân ái, những đề tài thích hợp với mấy cậu nhỏ thuở mơ làm văn sĩ, bước vào giai đoạn sáng tác thì nhân vật cốt truyện đề tài văn chương được bao lăm, đọc chi cho mất thì giờ.” (Viên Linh)

Hay:

“Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1905-1963), sinh ở Hải Dương, cuối thập niên ’60 xuất bản tạp chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài gòn, đăng bài vở của một nhóm vô danh mà tài năng của họ được Nhất Linh khuếch đại quá đáng, trong có Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Nhật Tiến, …” (Viên Linh)

Những luận điệu này của Viên Linh đã khiến cho nhiều người bất bình, thậm chí phẫn nộ. Như một ngòi bút trẻ, anh Việt Hải ở Los Angeles, vốn thuở trước đã từng là độc giả của nhà văn Nhật Tiến đã phải lên tiếng trên nhiều trang diễn đàn để vẽ lại chân dung của nhà văn này hầu trả lại sự thật cho trang sử Văn Học Miền Nam (trước 1975) vốn đã từng bị những ngòi bút thiếu lương tâm viết lách sai lạc để quấy hôi, bôi nhọ.

**************

Nhật Tiến, nhà văn của tuổi thơ. Trần Việt Hải- Los Angeles

Một thuở chập chững bước vào trung học ghé hiệu sách Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương, trên con lộ Lê Lợi quen thuộc, nhịn ăn quà sáng để dành tiền mẹ cho bê tác phẩm trên kệ mà lòng thấp thỏm thèm nhỏ dãi.

Ừ, hihi… nào, tiền trao cháo múc, khuân sách chữ nghĩa bề bề về nhai ngấu nghiến cho sướng tâm tư, cho no bộ não, cho thỏa con tim ngày cũ, chả “ke” đến dạ dày, bởi vì cái thuở xa xa ấy ta ở xa xa nhà thương, ta chả cần các vị toubib (chữ mà nhà văn Duyên Anh hay xài, chỉ các vị bác sĩ) thiên thần nào cả, chữ nghĩa của sách vở nuôi ta cho ta những lục phủ ngũ tạng vốn hoàn mỹ. L’état de santé est à zéro faute tout le temps, oui c’est vrai toujours,…

Ôi nhớ lại những ngày vui đã qua, những ngày mài đũng đáy quần trên ghế nhà trường. Chuyện ngày xa xưa ấy, tôi nhớ những tác phẩm của Lê Tất Điều quyến rũ túi bạc bữa lủng, bữa mong manh của tôi dán mắt cú vọ vào những truyện: Tình Bạn Của Đôi Guốc, Những Giọt Mực,… loạt tập sách Tuổi Hoa của nhà văn Quyên Di, hoa gì cũng đọc cả, rồi lớn hơn tí nữa với tác phẩm Doãn Quốc Sỹ như Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Ðịnh Mệnh, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều,… Nhưng lúc ở tuổi babylac xổ sữa, nhổ giò lên trung học, tôi mê thích hai tác phẩm Những Vì Sao Lạc và Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến, cốt truyện rất thích hợp với tâm trạng tuổi nhỏ, những quyển sách truyện thiếu nhi loại bông tím PG của nhà văn Quyên Di, đọc sách trong nỗi say sưa, mến mộ của tôi.

Rồi nay khi ngao du trên net lại bắt gặp câu nói bôi bác, trong thái độ kẻ viết như kẻ cả, xấc xược, ngạo mạn, thô lỗ chữ nghĩa, câu văn trắc nết của bạn đã được ném trả về cho chữ nghĩa của bạn vậy. Le style, c’est l’homme, “đọc chi cho mất thì giờ.”, phường tuồng nào nỡ buông những dòng vô tâm, vô đạo như thế này:

“Tôi vốn không đọc Nhật Tiến, tác giả của những truyện về trẻ mồ côi, về các bà sơ có lòng nhân ái, những đề tài thích hợp với mấy cậu nhỏ thuở mơ làm văn sĩ, bước vào giai đoạn sáng tác thì nhân vật cốt truyện đề tài văn chương được bao lăm, đọc chi cho mất thì giờ.”

Những ý tưởng khiêu khích, bôi bác trong khi tuổi đời, quỹ thời gian của bạn không còn bao nhiêu, bạn nhé. Êh mà bạn này, bạn không đọc thì kệ xác bạn, hà cớ gì bạn phải buông những lời lẽ cộc cằn, nặng nề khi nghe, chói tai nghịch thính nhĩ như thế nhỉ? Hãy nhìn quanh bạn đi nhé, “Dis-moi avec qui tu traînes, et je te dirai qui tu es” (proverbe espagnol), hay “Dites-moi qui est votre ami et je vous dirai qui vous êtes” (proverbe russe), rồi “Dites-moi ce que vous pensez que vous êtes et je vais vous dire ce que vous n’êtes pas.” (Henri Frédéric Amiel [1821-1881]), thêm “Dites-moi ce que vous faites attention et je vais vous dire qui vous êtes.” (José Ortega y Gasset [1883-1955]).

Bạn công kích văn chương Nhật Tiến, êh thử cho xem bạn để gì lại cho tuổi thơ, một quả trứng vịt to tổ bố ư ? Tôi gửi bạn những văn phong thanh cao khác hơn bạn, những cảm nhận thanh tao của những cái nhìn thoáng hơn bạn nhé:

1) “Với hơn 20 tác phẩm đã xuất bản, với nhiều thể loại, các tác phẩm chính của Nhật Tiến đều có liên hệ tới tuổi thơ. Nhật Tiến được mệnh danh là nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của khuynh hướng xã hội. Võ Phiến trong bài viết về Nhật Tiến trong bộ Văn Học Miền Nam đã đưa ra nhận xét: “Lúc bấy giờ ai cũng biết ở Miền Nam có nhiều tác giả tên tuổi viết về giới trẻ thơ. Mỗi vị một vẻ. Trẻ em trong truyện Duyên Anh thường là những trẻ đáo để. Đám trẻ của Lê Tất Điều hầu hết đều có nét tinh nghịch. Trong Nhật Tiến là trẻ bất hạnh”. [VHMN, truyện 2, tr.1270, Nxb Văn Nghệ 1999]”

(đọc Ngô Thế Vinh, “Nhật Tiến Thềm Hoang Vẫn Một Tráng Sinh Lên Đường”)

2) “Như đa số chúng ta đều biết, ông Nhật Tiến là một nhà văn, nhưng ít ai biết và nghĩ rằng chính ông Nhật Tiến còn là nhà giáo Bùi Nhật Tiến dạy toán, lý, hoá trung học. Theo tôi, chính tinh thần khoa học đã là cái khuôn hướng dẫn mọi sinh hoạt của ông, khiến ông làm được rất nhiều việc trong cùng một lúc. Mỗi tuần ông dạy từ 40 đến 50 giờ. Tinh thần kỷ luật và khoa học ấy còn được bao phủ bằng tinh thần Hướng Đạo, khiến những suy nghĩ và hành động của ông tràn ngập những suy tư về xã hội. Cuộc sống bận bịu như thế nhưng nhà văn Nhật Tiến, trong 20 năm ở Miền Nam, ông đã có gần 20 tác phẩm được xuất bản, mà hầu như tác phẩm nào cũng mang nặng tinh thần xã hội, như Những Người Áo Trắng, Chuyện Bé Phượng. Đặc biệt khi Miền Nam ổn định, năm 1961, giải Văn học Nghệ thuật tiếp tục được tổ chức, cuốn Thềm Hoang của nhà văn Nhật Tiến đã được trao tặng giải nhất, khi ấy ông mới có 25 tuổi. Nội dung cuốn sách nói về hoàn cảnh của những người nghèo khổ, khốn cùng của xã hội. Trong khi đó, đây cũng là lúc người ta có khuynh hướng ca tụng những tư tưởng hiện sinh đang ồn ào ở xã hội tây phương, ảnh hưởng khá khá mạnh vào sinh hoạt văn học Việt Nam. Cuốn sách của ông như một người độc hành trên con đường quê nghèo khổ. Biết thế, nhưng ông vẫn lặng lẽ đi một mình với những trang sách ngập tràn những thương yêu, những hàn gắn, an ủi những con người bất hạnh.”

(đọc “Phan Lạc Tiếp Viết Về Nhà Văn Nhật Tiến”)

3) “Nhật Tiến là một nhà văn tranh đấu, dùng văn chương để xoa dịu những bất công xã hội, những hận thù hờn oán trong con người. Ở Nhật Tiến, tuổi thơ khốn khổ, xã hội nghèo đói, quê hương chiến tranh và hòa hợp dân tộc là những đề tài chính.

Ngay từ những tác phẩm đầu tay Những người áo trắng, Những vì sao lạc, Nhật Tiến đã nghiêng mình xuống những số phận mồ côi, những đứa trẻ lạc loài. Khi chiến tranh lan rộng, ông viết về thảm cảnh của những đứa bé tàn tật, nạn nhân của bom đạn, về những gia đình ly tán, anh theo Mặt Trận, em đi lính Cộng Hòa… và sau này khi ra hải ngoại, ông tranh đấu cho con đường hòa hợp hòa giải dân tộc giữa người Việt trong và ngoài nước.

Nhật Tiến là một nhà văn hiện thực, hướng thượng. Cái đích mà ông muốn đạt tới là lòng nhân ái, tình tương trợ giữa người và người, ông muốn bào mòn những bất hạnh trong cuộc sống lầm than, xóa bỏ hận thù giữa hai chiến tuyến để tìm đến tình thương, tình người.”

(đọc “Nhật Tiến Qua Nhà Phê Bình Văn Học Thụy Khuê”).

4)”Viết về Nhật Tiến, Võ Phiến trong cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan đã đưa ra nhận xét là Nhật Tiến đã viết những cuốn truyện “đầy lòng nhân ái với lời văn trong sáng, giản dị”. Nhật Tiến vẫn xuất hiện với một ngòi bút nhân ái đó. Lòng nhân ái làm ông vẫn tin chắc là tình người còn mãi trong con người và sẽ phát hiện trong những giây phút của sự thật. Phải chăng lòng tin đó cũng là đặc tính của con người nhà văn có khuynh hướng luân lý mà Võ Phiến đã xếp Nhật Tiến?

Phát biểu về những truyện viết về Việt Nam, Nhật Tiến cho biết trong những năm đầu, ông viết để tố cáo những bất công, đàn áp của Cộng Sản. Trong giai đoạn sau, ông viết về những chuyển hóa nhận thức ngay từ chính những người đã tham dự vào xã hội Cộng Sản. Những điều đó, ông thực hiện được trong “ Một Thời Đang Qua”.

Trong một lần khác, Nhật Tiến đã nói về công việc sáng tác của ông như sau:

“ Viết là truyền thông với người đọc sự rung động của chính mình về một hoàn cảnh nào đó trong cuộc đời, để gợi lên trong mỗi người tinh thần liên đới của mỗi cá nhân với tập thể. Còn ngắn hay dài, đó chỉ là vần đề kỹ thuật.” …”

(đọc “Bảo Lâm Đọc Một Thời Đang Qua Của Nhật Tiến”).

5) “Nhà văn Nhật Tiến là nhà văn của tuổi thơ, của những bức xúc về một cuộc chiến tranh và là một người lưu lạc suy ngẫm về thân phận của mình và của chung một thế hệ phải trải qua những ngày chiến tranh và những ngày hậu chiến tranh mà những bi thảm, những bất toàn của xã hội lại còn đáng sợ hơn thời còn khói lửa. Ông viết với tâm cảm mà những ý nghĩ trung thực được biểu lộ không e ngại và là tiếng nói được lắng nghe từ công luận.

Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến : nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xã hội, nhà văn của lưu lạc xứ người mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng đếu có những thông điệp trao gửi theo….

Di cư vào Nam, ông xuống Bến Tre dạy học ở trường Quang Trung và cuối tuần ông không về Sài Gòn, ở lại trường nên có thời giờ sáng tác. Ông hoàn tất “Những người áo trắng” lấy không gian và thời gian của Hà Nội kể lại chuyện của một cô nữ tu trẻ nguyện tận hiến dâng đời cho Thiên Chúa. Một giáo sư cùng dạy học với ông là Trương Cam Vĩnh đọc và thích thú với tiểu thuyết này và mang về cho nhà văn Nhất Linh đọc và cho ý kiến. Văn hào Nhất Linh rất khen ngợi và khuyến khích ông nên xuất bản thành sách. Thế là năm 1959, nhà văn Nhật Tiến đã in tác phẩm đầu tay “Những người áo trắng“ và bắt đầu cho một hành trình văn chương kéo dài đến hơn nửa thế kỷ sau. Những tác phẩm tiếp theo là Những Vì Sao Lạc, Tay Ngọc, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng…”

(đọc Nguyễn Mạnh Trinh, “Nhà văn vẫn đứng ngoài nắng : Nhật Tiến”)

6) Hay những nhận xét của Nguyễn Vy Khanh trong “Thế-giới nhân-bản của Nhật Tiến”, xem link sau:

Văn học & Nghệ thuật Nguyễn Vy Khanh trong “Thế-giới nhân-bản của Nhật Tiến”

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19340

****

Trong sự sâu thẳm cùa cảm nghĩ riêng tôi, Trần Văn Tui, Búa Cẩu Xồm, thì nhà văn Nhật Tiến vung nét bút chân phương diễn tả những nghịch cảnh xã hội trong những tác phẩm của ông, ông tạo ra những nhân vật trong truyện được xây dựng, ông mô tả tâm lý những nhân vật đóng trọn vẹn vai trò của họ. Ví dụ như Lão Đối có người con trai theo CS, tức “thằng Đực” trong truyện “Giấc Ngủ Chập Chờn”. Tâm lý hai cha con được biểu lộ qua những mẩu đối thoại rất bình dị của người dân quê làng xã ở miền Nam.

Văn chương của Nhật Tiến đầy nét nhân ái, hiền hòa đối với trẻ thơ, như truyện “Chuyện Bé Phượng” sống trong trại mồ côi, hay truyện “Chim Hót Trong Lồng” với bé Hạnh bị bỏ trong nội trú ở với các soeurs, bà mẹ đi miết. Những bà mẹ của bé Hạnh, bé Phượng sống xa con mình, chuyện thương tâm trẻ thơ của những vết thương xã hội. Tác phẩm Nhật Tiến trang trải những tiếng lòng cô đơn của các em. Bé Hạnh trong truyện Chim Hót Trong Lồng cho thấy tâm lý trẻ thơ thèm thuồng cầu mong sao cho ngày dài kia sớm đến ngày Chủ Nhật để về với người mẹ.

Những truyện ngày xưa đó đã ảnh hưởng đến tôi nhiều, vì trẻ thơ cần phải được che chở, bảo vệ. Xin cám ơn nhà văn Nhật Tiến.

Trần Văn Tui, Búa Cẩu Xồm.
(aka Việt Hải Los Angeles).

Nguồn: Nhà Văn Nhật Tiến

HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC. Một Định Chế Quốc Gia của VNCH


Nhật Tiến

ccf55485354c444cb50c13550c014fa2

HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC
Một Định Chế Quốc Gia của VNCH
(Phụ lục: Trường hợp đắc cử của nhà văn Nhật Tiến)

Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐ/VHGD) được thành hình ngày 2 tháng 5 năm 1969 do Tổng Thống VNCH ký trong Luật số 05/69 do chiếu điều 93, 94 của Hiến Pháp VNCH năm 1967 và đã được Quốc Hội thảo luận rồi biểu quyết đồng ý thành lập.

Nhiệm vụ của HĐ/VHGD là:

1) Cố vấn chính phủ trong việc hoạch định và thực thi chính sách Văn Hoá Giáo Dục.

2) Trình bầy sáng kiến và soạn thảo kế hoạch về các vấn đề Văn Hóa Giáo Dục.

3) Nghiên cứu việc thiết lập Hàn Lâm Viện.

Các thành viên của HĐ/VHGD gồm 45 Hội viên thực thụ và 15 Hội viên dự khuyết mà trong đó:

– 15 Hội viên Thực thụ và 5 Hội viên Dự khuyết do Tổng Thống chỉ định.

– 30 Hội viên Thực thụ và 10 Hội viên Dự khuyết thì do các tổ chức Văn hóa Giáo dục công, tư và các Hiệp hội Phụ huynh học sinh đề cử

– Các Hội viên nói trên sẽ được Tổng Thống bổ nhiệm bằng Sắc Lệnh.

– Nhiệm kỳ của Hội viên là 4 năm và có thể được tái tuyển.

– Chủ tịch của HĐ/VHGD là Phó Tổng Thống VNCH.

– Để giám sát cuộc đề cử các Hội viên do các tổ chức Văn hóa Giáo dục công, tư và các Hiệp Hội Phụ huynh học sinh thực hiện, một “Hội Đồng Đề Cử Trung Ương” được thành lập mà thành viên gồm có:

– Phó Tổng Thống hay đại diện.

– Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa hay đại diện.

– Tổng Trưởng Giáo Dục và Thanh Niên hay đại diện.

– Một Nghị sĩ thuộc Ủy ban Văn Hóa Giáo Dục
Thượng Nghị Viện.

– Một Dân Biểu thuộc Ủy ban Văn Hóa Giáo Dục
Hạ Nghị Viện.

– Tổng Quản Trị Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục:
thuyết trình viên.

– Một Giám Đốc Nha tại Bộ Giáo Dục và Thanh Niên :
Thư ký, không quyền biểu quyết.

Hội đồng này có nhiệm vụ:

– Giám sát các cuộc đề cử, giải quyết các tranh chấp (nếu có)

– Tuyên bố kết quả chính thức cuộc đề cử.

****

Trường hợp đắc cử của nhà văn Nhật Tiến.

Sở dĩ có thêm phần này là vì ông Viên Linh, Chủ nhiệm tạp chí Khởi Hành gần đây có loan tải trên Net một bài bịa đặt, vu khống trắng trợn có nội dung như sau:

Lời Viên Linh:
(trích)
“Bởi thế, hẳn ông còn nhớ một hôm đến nhà ông, tôi đã hỏi thẳng rằng:

“- Anh Nhật Tiến, hồi ở Sài gòn tôi lấy làm lạ tại sao anh lại được mời vào làm hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục? Lúc ấy là đâu như 1974, anh mới dưới 40 tuổi, chỉ là giáo sư Trung học dạy Lý Hóa; nhiều người cao tuổi 50, 60 lại sinh hoạt trong ngành văn hóa có tên tuổi sự nghiệp lâu dài hơn mà không được mời làm thành viên hội đồng, mà sao anh cả chục năm trước, hồi đâu 1963 đã làm Phó chủ tịch Hội Văn Bút, rồi sau này lại là hội viên văn hóa của Hội đồng VHGD, tôi lấy làm lạ đấy?”
Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
– “Tại ông Nhất Linh cả!” (3)

Ghi chú (3) cũng của Viên Linh:

3. Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1905-1963), sinh ở Hải Dương, cuối thập niên ’60 xuất bản tạp chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài gòn, đăng bài vở của một nhóm vô danh mà tài năng của họ được Nhất Linh khuếch đại quá đáng, trong có Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Nhật Tiến, …
(ngưng trích)

***

Nhật Tiến trả lời:

Việc tôi đắc cử Hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục năm 1974 và nhà văn Nhất Linh mất năm 1963 (tức là đã từ trần trước đó 11 năm), hai sự việc chẳng ăn nhập gì với nhau, thế mà Viên Linh cũng bịa chuyện, đặt vào miệng tôi câu trả lời ngô nghê:

Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
“Tại ông Nhất Linh cả!”

Thật điêu-ngoa ngoài sức tưởng tượng!!

Sự thật là:

Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục được thành lập năm 1969 thì năm 1970 đã hình thành Nhiệm kỳ I (1970-1974) mà Trung Tâm Văn Bút đã có một thành viên đắc cử Hội viên Thực Thụ, đó là LM. Thanh Lãng.

Qua Nhiệm kỳ II (1974-1978), tôi đại diện Trung Tâm Văn Bút tham gia Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục do sự đề cử của các văn hữu lão thành trong Văn Bút như Vũ Hoàng Chương, Vi Huyền Đắc, Đào Đăng Vỹ, Tam Lang Vũ đình Chí, Lê văn Hoàn, Nghiêm Xuân Việt, Hồ Hữu Tường..v..v…

Sau đó tôi lại phải trải qua một cuộc bầu phiếu giữa các Hiệp Hội Văn Hóa, Văn Nghệ khác nữa thì mới được trở thành Hội viên HĐ/VHGD nhiệm kỳ II (1974-1978) mà trong đó có GS. Phạm Cao Dương là một ứng viên đại diện cho ngành Giáo Dục ( GS Phạm Cao Dương hiện cư ngụ ở Quận Cam, Nam Cali).

Sự thể rõ ràng, minh bạch như thế, can cớ gì tôi phải ú ớ trả lời khi bị chất vấn như lời Viên Linh đã bịa đặt:

Trước câu hỏi thẳng đó của tôi, anh tặc lưỡi tỏ vẻ am hiểu chuyện đời, khề khà giải thích:
“Tại ông Nhất Linh cả!”

Là Chủ Nhiệm tạp chí Khởi Hành, một tạp chí tự mệnh danh là “Tạp chí Văn Học –Lịch Sử”, ông Viên Linh đã bịa đặt và xuyên tạc Văn Học và Lịch Sử một cách trắng trợn như trên, khiến tôi phải đặt câu hỏi : Tư cách và Liêm sỉ ngòi bút của Viên Linh ở đâu mà đến nỗi viết lách một cách gian dối và bịa đặt thảm hại để bôi nhọ người đến như thế.

Chẳng trách khi xưa, ông đã đến nhà Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc (1944-2016) mượn bản thảo tập thơ của Nguyễn Chí Thiện rồi lén đem photocopy để in hớt tay trên của tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, kiếm lời, khiến Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc bị hàm oan trong nhiều năm sau đó.

Nhật Tiến
17-12-2016

***

Ghi chú: Tài liệu về Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục xuất xứ từ nguồn namkyluctinh.org

(http://khaiphong.org) HỘI ĐỒNG VĂN HÓA GIÁO DỤC Một Định Chế Quốc Gia của VNCH

Hành Trình Đến Tự Do – Nhà Văn Thuyền Nhân Mai Thảo. Ngô Thế Vinh


NGÔ THẾ VINH

Hình 1: Mai Thảo và ký họa của Tạ Tỵ.
Nguồn: E.E – Emprunct Empreinte

“Có lẽ một ngày nào đó Việt Nam sẽ tự do và tôi có thể trở về. Tôi đang hạnh phúc ở đây nhưng nội tâm thì rất buồn bã. Buồn cho dân tộc tôi. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn một tương lai. Xa rời quê hương, thật khó mà duy trì truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như bị đánh mất phần hồn.” Đã 36 năm kể từ ngày Mai Thảo trả lời cuộc phỏng vấn của Jane Katz 7.10.1980, hai năm sau ngày anh đặt chân tới Mỹ và cũng đã 18 năm kể từ ngày anh mất: Việt Nam vẫn chưa có tự do và thân xác anh thì nay đã vùi nông trên một lục địa mới rất xa với một nơi được gọi là quê nhà.

BÀN VIẾT LỮ THỨ MAI THẢO

Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của nhà văn Mai Thảo trên đất nước Mỹ. Chỉ là một căn phòng 209 rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau hẻm nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách. Mai Thảo có nhiều bạn nhưng đây có lẽ là tấm hình “đôi bạn” mà anh rất thích. Về tuổi tác, Vũ Hoàng Chương hơn Mai Thảo một con giáp, cũng vì vậy mà Nguyễn Xuân Hoàng hết đỗi ngạc nhiên khi thấy Mai Thảo gọi Vũ Hoàng Chương là “mày”.

h22

Hình 2: Mai Thảo và Vũ Hoàng Chương.
Nguồn: báo Văn, số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo tháng 2, 1998

Qua lời thuật của Nguyễn Hưng Quốc, hãy nghe Mai Thảo nói về Vũ Hoàng Chương bạn mình ra sao:

“Con người anh ấy lạ lắm. Đúng là một thi sĩ. Mặt mũi lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác như trẻ con. Mà nói chuyện về thơ thì hay vô cùng. Ai cũng là thằng hết. Lý Bạch là thằng. Nguyễn Du là thằng. Một người yêu thơ, thuộc thơ nhiều vô cùng tận.”

Nguyễn Đình Toàn sinh năm 1936, nhỏ hơn Mai Thảo 9 tuổi, cũng vẫn cứ mày tao với Mai Thảo. Để thấy trong sinh hoạt văn học, cùng một lứa bên trời lận đận, họ đã là những bạn văn không biết đếm tuổi.

Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là toà soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh. Mai Thảo giỏi tiếng Pháp, đọc nhiều sách Pháp; anh cũng tiếp cận với nền văn học Mỹ và rất thích các tác giả Mỹ như Henry Miller, Hemingway, John Steinbeck nhưng là qua những bản dịch Pháp ngữ.

Tôi chú ý tới một cuốn sách tiếng Anh khá nổi bật với bìa đỏ trên kệ sách: Artists in Exile, American Odyssey của Jane Katz. Trong cuốn sách ấy, nữ ký giả Jane Katz, đã phỏng vấn các văn nghệ sĩ thế giới tới tỵ nạn trên đất Mỹ. Họ đến từ nhiều quốc gia như Nga, Trung Quốc, Afghanistan, Nam Phi, Á Căn Đình, Việt Nam… Nhà văn Mai Thảo được Jane Katz phỏng vấn và giới thiệu như một “thuyền nhân”, tác giả của 42 cuốn sách tiếng Việt, tất cả đều lưu trữ trong thư viện Đại học Cornell. Cuộc phỏng vấn Mai Thảo, được thực hiện ngày 10 tháng 07, 1980, hai năm sau ngày anh đặt chân tới Mỹ qua thông dịch của anh Nguyễn Thanh Trang, tới từ San Diego, bạn nhà văn Mai Thảo. Tuy là một bài phỏng vấn nhưng không có xen kẽ vào những câu hỏi, nên nội dung như một “tự sự”của Mai Thảo. Jane Katz đã ghi lại cảm tưởng sau cuộc phỏng vấn nhà văn Mai Thảo:

“ Ông phát biểu với một nhân cách trầm tĩnh, và với cả sự kiềm chế sau những năm sống cách biệt – He speaks with quiet dignity, and with the restraint which years of privation have taught him.” (6)

b

Hình 3: Trái, Jacket design by Ted Berstein; Artists in Exile, Jane Katz; Stein & Day Publishers, New York 1983. Phải: chân dung Mai Thảo, photo by Kathryn Oneita, với dòng chữ:
“Khi biển đã lặng thì mọi người bắt đầu cất tiếng ca hát. The sea was calm, and the people began to sing.”

Hình 4: Thủ bút của Jane Katz trên ấn bản đặc biệt tặng nhà văn Mai Thảo

Tôi đã lấy xuống từ kệ sách và mượn anh Mai Thảo cuốn sách với thủ bút của Jane Katz. Tôi lược dịch bài phỏng vấn Mai Thảo và cho phổ biến trên các tạp chí Văn học, và sau này kể cả trên Văn số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo (1) với tên người dịch Tâm Bình. Sau đó, tôi đã đem cuốn sách trả lại trên kệ sách của anh.

Bài phỏng vấn của Jane Katz cũng sẽ đi cùng với bài viết này để tưởng niệm ngày Giỗ thứ 18 của Mai Thảo.

Khi giao tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng năm 1996, cũng là năm đánh dấu sức khoẻ của Mai Thảo bắt đầu suy yếu, anh đi lại khó khăn; tới mức, theo Khánh Trường kể lại, thì một buổi tối khuya về, anh không còn đủ sức leo lên một tầng thang lầu để trở về căn gác trọ thân thuộc trong bấy nhiêu năm. Sau đó Mai Thảo phải dọn xuống một căn phòng khác dưới tầng trệt. Ngay phía lầu trên là căn phòng của hoạ sĩ Khánh Trường. Sức khoẻ Khánh Trường thì cũng không khá gì nhưng đủ sức để chăm sóc anh Mai Thảo khi cần đến. Tín hiệu Mai Thảo gọi Khánh Trường không phải là điện thoại mà thường là một cây gậy gõ gõ lên trần nhà.

h5

Hình 5: Mai Thảo và hoạ sĩ vỉa hè New York, là biệt danh Mai Thảo gọi Khánh Trường.
Nguồn: tư liệu Khánh Trường

Một Khánh Trường giang hồ với Hợp Lưu, một Mai Thảo chính phái với Văn, rất khác nhau cả về tuổi tác và nếp sống nhưng họ lại là một đôi bạn chân tình. Hoạ sĩ Vỉa Hè New York là biệt danh Mai Thảo gọi Khánh Trường. Cũng như một Cao Xuân Huy lính tráng ban đầu rất “kình” với Mai Thảo nhưng sau đó gần anh, trở nên rất thân quý và thương anh Mai Thảo vô cùng. Trong cuốn sách Chân Dung 15 Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, do nhà sách Văn Khoa xuất bản ở hải ngoại [1985], Mai Thảo đã có những nét cực tả về các bạn văn của mình: một Nhật Tiến vẫn đứng ở ngoài nắng, một nhân cách Bình Nguyên Lộc, một Mặc Đỗ quy ẩn, con đường Dương Nghiễm Mậu, đường gươm Lê Tất Điều, Nhã Ca giữa cơn hồng thuỷ… (5)

TẠP CHÍ VĂN TRÊN ĐẤT MỸ

Tên tuổi Mai Thảo gắn liền với Tạp chí Sáng Tạo, cho dù Sáng Tạo có một đời sống tương đối ngắn ngủi.

Nhưng báo Văn thì đeo đuổi Mai Thảo lâu dài hơn, từ trong nước trước 1975, ra tới hải ngoại tới 1996.

Báo Văn khởi đầu từ 1964 với thư ký toà soạn Trần Phong Giao kéo dài được 8 năm. Năm 1972, Văn chuyển qua Nguyễn Xuân Hoàng thay Trần Phong Giao. Năm 1973, Mai Thảo về Văn cùng với Nguyễn Xuân Hoàng trông coi Văn. Năm 1974, Nguyễn Xuân Hoàng rời báo Văn, còn lại Mai Thảo làm tiếp đến 30.4.1975.

Sau hai năm đặt chân tới Mỹ, năm 1982 Mai Thảo cho tục bản tạp chí Văn và kéo dài được 14 năm. Khó có thể tưởng tượng được rằng một mình Mai Thảo trông tờ Văn, anh không lái xe, anh vẫn thuộc trường phái “viết tay” chỉ dùng cây viết chứ không hề đụng tới chiếc máy chữ hay máy điện toán. Kể cả trên mỗi chiếc phong bì gửi báo cho hàng trăm độc giả dài hạn, anh cũng vẫn cặm cụi viết tay. Có người bạn trẻ muốn giúp anh dùng computer in nhãn để không phí thời gian nhưng anh chối từ. Mai Thảo rất tình cảm, anh muốn có mối tương quan gần gũi với từng độc giả qua nét chữ của chính anh trên từng số báo. Mười bốn năm sống với và sống bằng tờ Văn, anh hào hứng mỗi khi khám phá ra một cây viết tài năng mới. Văn cũng là nơi quy tụ lại những cây viết cựu của miền Nam lưu vong ra hải ngoại. Như một Thảo Trường từng viết cho Sáng Tạo, sau 17 năm tù cộng sản rồi qua Mỹ, các sáng tác đầu tay của Thảo Trường viết ở Mỹ, đều gửi cho Mai Thảo đăng trên tạp chí Văn.

Khi nói tới tờ Văn, Mai Thảo tâm sự: “từ mấy năm nay làm lại tờ Văn ở Hoa Kỳ, đời sống lữ thứ hàng ngày thấy đỡ thất lạc, bởi lại được thả trôi trở lại với một không khí toà soạn không khí trị sự, tuy đã khác biệt nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó, trên một góc bàn viết, dưới một ánh đèn sáng, cái không khí đã bao năm tôi sống ở quê nhà, tâm trí tôi thường có nhiều hơn những hồi tưởng về báo quán cũ, là 38 Phạm Ngũ Lão Sài Gòn, ngày trước.” (5)

Đến năm 1996, sau số báo số 158 &159, do sức khoẻ sa sút, Mai Thảo ban đầu trao tạp chí Văn lại cho Du Tử Lê, sau một số báo 160, tờ Văn được Mai Thảo chính thức trao lại cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Nguyễn Xuân Hoàng tiếp tục ra tờ Văn từ số 161 cho đến số 163.

Hình 6: Người khách lữ thứ Mai Thảo Tháng Giêng 1996, bức hình chụp 2 năm trước ngày anh mất.
Photo by Nguyễn Bá Khanh

Đầu năm 1997, Nguyễn Xuân Hoàng ra tờ báo Văn số 1, bộ mới. Kéo dài được 12 năm. Tới năm 2008, tờ Văn số cuối cùng 125-129 cho ba tháng Giêng, Hai và Ba là số đặc biệt về hoạ sĩ Thái Tuấn với bài vở đã layout xong chuẩn bị đưa nhà in, nhưng rồi vì lý do tài chánh Nguyễn Xuân Hoàng đành cho đình bản tờ Văn, cho dù báo Văn vẫn bán được, tuy không đem lại lợi nhuận nhưng không thể để một món nợ lớn đến như vậy với nhà in Kim Select Graphics & Printing trên đường Euclid, mà sau này vợ chồng Nguyễn Xuân Hoàng phải gồng mình gánh trả.

Lý do sâu xa mà không ai muốn nói ra, khi tờ Văn của Nguyễn Xuân Hoàng đình bản, cũng như nhà xuất bản Văn Nghệ của anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết phải ngưng hoạt động vì sách báo thì vẫn bán được nhưng lại không được các nhà sách sốt sắng thánh toán tiền bạc.

Hình 7: từ trái, Mai Thảo, Kiều Loan (con gái Hoàng Cầm), Nguyễn Xuân Hoàng; 1996 cũng là năm Mai Thảo trao tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng.
Nguồn: tư liệu Nguyễn Xuân Hoàng

TẤM LÒNG TỪ BI MAI THẢO

Mai Thảo được mọi người biết tới như một nhà văn, một cây viết tuỳ bút nổi tiếng và sau này là một nhà thơ. Quen biết anh, người ta càng thấy mến con người Mai Thảo hơn. Tấm lòng của Mai Thảo với tha nhân thật đẹp. Anh tốt với mọi người và rất trực tính, nói thẳng trước mặt với người trái ý anh, kể cả lớn tiếng và giận dữ nhưng sau đó thì quên đi, anh không bao giờ để tâm. Trong suốt cuộc đời viết văn, chưa bao giờ Mai Thảo dùng ngòi bút để nói xấu hay chửi bới ai, cho dù không thiếu những bài viết chỉ trích anh nặng nề, có lẽ anh không đọc và cũng không bao giờ trả lời.

Nguyễn Đăng Khánh, người em ruột Mai Thảo viết về anh mình: “Nhiều lần đọc báo thấy người ta mạt sát anh thậm tệ, tôi nóng ruột tới hỏi anh: Tại sao người ta chỉ trích anh nặng nề như thế mà anh không lên tiếng? Anh nói: Sống với người, với đời, phải có lòng. Tấm lòng ở đây là la bonté. Con người không có la bonté là vứt đi. Phải sống thành thật với người, với đời. Vì thế nên tôi không bao giờ dùng ngòi bút của tôi để phê phán, chỉ trích hay nói một điều xấu về ai hoặc để trả lời lại những kẻ mạt sát tôi. Người ta muốn chỉ trích, muốn nói xấu tôi, cứ nói. Khánh thấy người ta chỉ trích tôi trên báo chí vì họ muốn độc giả thấy tên họ đứng trên cùng một trang báo với Mai Thảo. Họ thích như vậy, cứ để cho họ làm, tôi sẽ không bao giờ viết lại.” (3)

Trước đó khá lâu, năm 1989 Mai Thảo cũng có một phát biểu tương tự khi gặp Nguyễn Hưng Quốc ở Paris:

“Đời tôi có một nguyên tắc: không bao giờ dùng văn chương để làm bất cứ điều gì xấu xa. Đâu phải tôi không biết người nào tốt người nào xấu với mình, nhưng tốt hay xấu mặc họ. Người nào tốt, đến gần, uống rượu chơi. Người nào xấu, lánh ra thật xa, đừng thèm đụng tới. Nhưng đừng bao giờ mang những điều đó lên trang giấy để bôi bẩn nhau. Văn chương là cái đẹp, là thế giới của cái đẹp, ở thế giới ấy có thứ tiền tệ riêng của nó: anh phải dùng thứ tiền ấy, anh phải đàng hoàng, phải lương thiện. Thứ tiền tệ ấy chính là cái đẹp.” (4)

Trong bài báo đăng trên Saigon Times “Một Vài Kỷ Niệm với Nhà Văn Mai Thảo” viết vào khoảng cuối năm 1997, khi nhà thơ Thái Tú Hạp vào thăm Mai Thảo tại bệnh viện Fountain Valley. Thái Tú Hạp đã xúc động nhớ lại một câu nói tâm tình của Mai Thảo khi anh còn khoẻ và thường tới quán Doanh Doanh ở cuối con đường Sunset, một quán ăn gia đình rất văn nghệ của vợ chồng Thái Tú Hạp-Ái Cầm có nhạc cổ điển có treo cả một bức tranh sơn dầu lớn của Nguyên Khai:

“Tôi bảo với Hạp một điều, trong đời sống có thể chúng ta không yêu người này, không thích người kia, xỉ vả nhau thẳng thừng trực diện một trận rồi thôi. Bỏ! Đừng lôi nhau lên báo, kỳ lắm. Cõi văn chương hãy để cho nó trong sáng. Hãy xử dụng ngòi bút mình một cách ngay thẳng, tử tế đối với mọi người…”

Trong cuộc phỏng vấn ngày 5 tháng 6 năm 2008, mười năm sau khi Mai Thảo mất, câu hỏi cuối cùng của Thuỵ Khuê với Trần Vũ, “Anh muốn nói điều gì nữa về Mai Thảo? Trần Vũ nhớ lại: lúc sinh tiền, Mai Thảo thường nhắc: «Em không dụng chữ cho mục đích phi văn chương. Không chửi ai cả. Văn chương không phải là chỗ cho em bựa. Em không được quyền.» Những khi cáu, ông gắt um. Không phải một lần, mà nhiều lần, lời khuyên, mệnh lệnh. Bây giờ Mai Thảo mất rồi, tôi cũng không còn trẻ nữa, nhưng những khi nghĩ đến ông, tôi lại nhớ đến lời dặn này. Hôm qua, bây giờ, tôi vẫn giữ tròn lời hứa với trưởng thượng của mình.”

Cả một đời sống với chữ nghĩa, vẫn cứ mãi là một Mai Thảo nhất quán, luôn luôn là người bảo vệ sự trong sáng và thanh thoát của cõi văn chương. Không tu hành nhưng Mai Thảo sẵn có một tâm Phật.

Rồi chợt nhớ tới hai câu trong bài thơ Em Đã Hoang Đường Từ Cổ Đại trong tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền của Mai Thảo:

Tâm em là Bụt tâm anh Phật
trên mỗi tâm ngồi một nhánh hương

NHỮNG NGÀY THÁNG NẰM VIỆN

Trao lại tờ Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng rồi, chẳng bao lâu sau đó, sức khỏe Mai Thảo mau chóng suy kiệt, có lúc anh đã không còn đủ sức ra khỏi căn buồng trong khu chung cư cho dù anh đã dọn xuống tầng trệt. Nỗi cô đơn và dấu hiệu bệnh tật thật sự đã có từ mấy năm trước khiến Mai Thảo đã làm bài thơ “Dỗ bệnh”:

Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng

Khi không còn “dỗ bệnh” được nữa, là tới lúc Mai Thảo phải rời chiếc bàn viết lữ thứ, rời căn phòng phía sau nhà hàng Song Long để luân phiên vào các bệnh viện Fountain Valley Orange County, Good Samaritan Los Angeles và rồi Barlow Hospital và anh đã chẳng có dịp trở lại chốn cũ.

Hình 8: khu chung cư cao niên Bolsa phía sau nhà hàng Song Long; căn phòng 209, địa chỉ báo Văn và bàn viết lữ thứ của Mai Thảo.
Photo by Ngô Thế Vinh.

Good Samaritan là bệnh viện tôi tới thăm anh. Nơi đây tôi gặp Nguyễn Phúc Vĩnh Khiêm, người bác sĩ trẻ chuyên khoa tim mạch đang trực tiếp chăm sóc anh. Khiêm từ bé học trường Pháp rồi lớn lên học y khoa ở Mỹ nên không biết gì về văn chương Mai Thảo, nhưng qua thân phụ, Khiêm được biết mình đang được chăm sóc một người bệnh tên Nguyễn Đăng Quý, là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng với bút danh Mai Thảo.

Cũng tại bệnh viện Good Samaritan này, Khiêm đã thông tim cho Thượng toạ Thích Mãn Giác tức thi sĩ Huyền Không, Khiêm cũng là thành viên trong toán mổ tim lần thứ hai cho nhà văn Võ Phiến. Vì cùng trong lãnh vực chuyên môn, tôi có nhiều dịp trao đổi với Khiêm về tình trạng sức khoẻ anh Mai Thảo. Về hô hấp anh cần dưỡng khí qua ống thở, về dinh dưỡng do không ăn được anh được nuôi bằng chất thực phẩm lỏng bơm qua một G-tube vào dạ dày. Thời gian này sự sống của anh phụ thuộc vào máy móc và toán chăm sóc đặc biệt. Sau một thời gian nằm qua các bệnh viện, sức khỏe Mai Thảo ổn định nhưng hồi phục thì rất chậm do tổng trạng quá yếu, hậu quả của nhiều năm uống rượu mà không ăn và hút thuốc nên bị suy dinh dưỡng trầm trọng và cả suy hô hấp.

h9

Hình 9: tập thơ thứ nhất Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền; hình bìa Trần Cao Lĩnh, Nxb Văn Khoa 1989; và thủ bút Mai Thảo.
Ảnh: tư liệu Ngô Thế Vinh

Nguyễn Mộng Giác khi cùng với hai chị Bùi Bích Hà và Trần thị Lai Hồng khi vào thăm Mai Thảo tại bệnh viện Barlow Los Angeles, bằng trực giác của một nhà văn anh đã có ý nghĩ: “dù không có kiến thức y khoa, chúng tôi đều cảm thấy anh Mai Thảo đang đi trên con đường một chiều, không có cơ may nào quay trở lại đời sống bình thường như trước.” (1)

Sau khi ra khỏi được ống thở, không còn cần thiết phải nằm trong một bệnh viện “acute care” Mai Thảo được chuyển về một khu chăm sóc Phục Hồi Quận Cam. Anh không mắc một căn bệnh nan y nào, dù uống rượu bấy nhiêu năm anh vẫn có một lá gan bằng sắt nhưng Mai Thảo thì cứ như một thân cây khô héo dần cho tới ngày 10 tháng Giêng năm 1998 thì anh mất.

Nhớ lại khi Mai Thảo vừa mất, Đỗ Ngọc Yến có ý tưởng lập ngay một giải văn chương Mai Thảo. Tôi nói với Yến, trước khi nói tới một giải văn chương mang tên Mai Thảo, việc nên làm ngay là giữ lại chiếc bàn viết lữ thứ của anh ấy, như một nét văn hoá của Little Saigon.

Sau khi anh mất, cả không gian sống của Mai Thảo, cuối cùng được người em trai là anh Nguyễn Đăng Khánh đến thu dọn, tất cả chỉ đủ xếp vào mấy chiếc thùng giấy. Và đã không còn đâu dấu vết chiếc bàn viết lữ thứ của một nhà văn “thuyền nhân” lưu vong có tên Mai Thảo.

Người Việt phiêu bạt từ khắp năm châu, khi hành hương tới thủ đô tỵ nạn không lẽ chỉ để thấy một khu Phước Lộc Thọ, chỉ có một tiệm sách Văn Khoa thì nay cũng không còn nữa. Một người bạn cùng gia đình và đàn con thế hệ thứ hai đến từ xứ tuyết Toronto, nhận định là tới Little Saigon không lẽ chỉ để dẫn chúng nó vào những tiệm phở, ngắm bảng hiệu mấy văn phòng bác sĩ hay luật sư. Anh ấy muốn nói tới một Công Viên Văn Hoá Việt Nam.

JANE KATZ PHỎNG VẤN MAI THẢO

Và sau đây là bản lược dịch của người viết từ nguyên bản tiếng Anh, “Những Nghệ sĩ Lưu vong, Hành trình tới Mỹ Quốc” trích từ cuốn sách Artists in Exile, American Odyssey của Jane Katz do Stein & Day Publishers, New York xuất bản 1983. (6)

Tôi sinh năm 1930* tại tỉnh Nam Định, Bắc Việt Nam. Cha tôi là một điền chủ thành đạt, ông được dân làng kính trọng. Ông là chủ gia đình, mẹ tôi thì ở nhà với những người giúp việc. Tôi và các anh em tôi đều rất tuân phục cha tôi.

Sau khi có người Tây phương xâm nhập, đã có tình trạng bất hòa giữa thế hệ trẻ và già. Nhưng những người ngoại quốc ấy đã không thể phá vỡ nền tảng gia đình của đất nước chúng tôi. Đó là một trật tự lâu đời không ai có thể hủy hoại.

Cha tôi quản lý các trang trại. Ông giàu có nên không để chúng tôi làm công việc đồng áng. Tôi phải tới trường đi học, nhưng sau lớp học thì tôi lại rong chơi ngoài đồng ruộng. Với những con trâu kéo cày trên những thửa ruộng nơi châu thổ sông Hồng. Đồng cỏ thì phì nhiêu và xanh tươi. Một số người trong làng thì làm công cho cha tôi, một số khác có ruộng đất riêng của họ.

Dân tộc tôi yêu đất đai, họ tin rằng có hương hồn tổ tiên trong đó. Mọi gia đình đều làm việc ngoài đồng áng, không có ai phải đói kém.

Khi tôi được 10 tuổi thì cha tôi bị mất hết ruộng vườn. Gia đình tôi phải rời về Hà Nội. Thật là khó khăn cho cha tôi phải rời bỏ đất đai của tổ tiên và làng mạc. Trong làng ông quen biết mọi người. Ông đã có một căn cước ở đó mà ông không thể tìm thấy lại nơi thành phố.

Ở Hà Nội, tôi được thấy thành quách và những ngôi chùa cổ qua các triều đại từ những thế kỷ thứ 8 và thứ 10. Một ngôi chùa có tên Ngọc Sơn, một ngôi đền khác có tên là Quan Thánh. Trung tâm thành phố là một hồ lớn, nơi mọi người gặp nhau sau một ngày dài làm việc. Vào mùa hè thì chúng tôi đi biển.

Cho dù sống ở đô thị, chúng tôi vẫn giữ các tập tục cổ truyền như kính trọng người già, tưởng niệm các ngày lễ theo truyền thống.

Tinh thần quốc gia là một phần của truyền thống Việt Nam. Trong một ngàn năm, người Việt bị người Tàu đô hộ, với ảnh hưởng trên nền giáo dục và tư tưởng nhưng người Việt chưa bao giờ bị hoàn toàn khuất phục. Rồi tới thế kỷ 19, khi người Pháp đánh chiếm nhiều tỉnh của Việt Nam, thiết lập nền hành chính đô hộ, mở trường học và các cơ sở dân sự điạ phương.

Năm 16 tuổi, tôi gia nhập phong trào kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi tổ chức những chương trình ca nhạc kịch trong các làng xóm để khích động lòng yêu nước. Chúng tôi viết những câu chuyện về lịch sử và khát vọng tự do. Tôi đã từ bỏ kháng chiến 4 năm sau đó khi biết được Cộng sản đã xử dụng phong trào kháng chiến để phá vỡ trật tự xã hội cổ truyền và cổ võ cho đấu tranh giai cấp.

Chiến tranh Việt Pháp chấm dứt năm 1954 và đất nước bị phân đôi. Gia đình chúng tôi di cư vào Sài Gòn. Đó là một hình thức phản kháng những người Cộng sản. Cha tôi không tin họ và họ cũng không tin cha tôi. Dưới thống trị của Cộng sản, dân chúng hết quan tâm về nghệ thuật. Làm sao có thể vẽ tranh khi mà thường ngày phải lo từng miếng ăn? Trí thức thì bị khống chế và thường bị cưỡng bức vào quân đội.

Từ năm 1958, khởi sự có đối đầu công khai giữa hai miền Việt Nam: miền Bắc là chế độ Cộng sản hậu thuẫn bởi Trung Cộng và Liên Xô và miền Nam không Cộng sản hậu thuẫn bởi Hoa Kỳ và các nước đồng minh.

Thường xuyên có chiến dịch tuyên truyền của cả đôi bên. Miền Bắc thì rêu rao là đang giải phóng miền Nam chống lại đế quốc Mỹ, còn chính phủ miền Nam thì đang chống lại sự thống trị của Trung Cộng và Liên Xô. Cộng sản thực hiện cuộc chiến du kích ẩn náu trong rừng sâu. Máy bay Mỹ thì rải chất độc khai quang để bắt địch quân phải lộ diện. Họ cũng đã gây nhiễm độc cho rừng núi, cây cối, xúc vật và nguồn thực phẩm.

Trí nhớ của tôi về những năm chiến tranh còn rất sống động. Tôi vẫn còn thấy được những căn nhà bị đánh bom, cây cối thì cháy lá và trơ cành, một ngôi đền cổ bị bốc cháy, những trẻ con bụng ỏng, mất mắt hay cụt chân, bà cụ già không nhà cửa thì đi lang thang như người mất hồn…

Tôi viết văn từ năm 1950. Ở xứ sở tôi, nhà văn nhà giáo rất được kính trọng. Sách của tôi được các công ty nhỏ tư nhân xuất bản ở miền nam Việt Nam, rất phổ biến, một số sách đã trở thành “best-sellers” nhưng để sống bằng nghề cầm bút rất khó. Tôi viết rất nhiều truyện và tiểu thuyết. Chúng tôi không có nhiều dịch giả, các sách của tôi không được dịch ra ngoại ngữ. Tôi cũng làm chủ bút một vài tờ báo và tập san văn chương.

Tôi có đọc các nhà văn Mỹ mà tôi rất thích như: Henry Miller, Hemingway, John Steinbeck – qua những bản dịch tiếng Pháp. Các tác giả này không ảnh hưởng tới văn phong của tôi. Nền văn học của chúng tôi rất khác. Chúng tôi có truyền thống văn học riêng từ ngàn năm. Nền văn học của chúng tôi rất quy cách, với mục đích: thăng tiến xã hội.

Có một truyện ngắn tôi đã viết và ưa thích có tựa đề là “Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời”. Một người đàn ông và một người đàn bà chung sống trong một căn nhà nhỏ bên suối. Người đàn bà thì không hiểu tại sao người đàn ông đã bỏ đi. Hành trình của người đàn ông là leo lên tới đỉnh cao nhất của một ngọn núi Phương Đông. Ông muốn biết ngọn núi ấy cao bao nhiêu; ông đi tìm kiếm một chân lý tuyệt đối và hạnh phúc. Khi tới được đỉnh cao nhất của ngọn núi thì ông ta tuyệt vọng vì ý thức được rằng chân lý tuyệt đối thì không bao giờ có thể đạt được. Người đàn bà đi tìm kiếm và thấy xác người đàn ông nằm bên bờ suối. Không ai biết người đàn ông đã chết như thế nào. Người đàn bà đưa xác người đàn ông về làng và tự hỏi tại sao người đàn ông chết. Và cuối cùng người đàn bà nghiệm ra rằng trên đường đi tìm chân lý, người đàn ông đã chọn cái chết.

Như một nhà văn, tôi đề cập tới vấn đề nhân sinh; tôi không có ý đi tìm một giải pháp. Đa số các sách và truyện của tôi dựa trên kinh nghiệm bản thân hay của những người mà tôi quen biết. Sự kiện ghi nhớ trộn lẫn với hư cấu. Văn phong – style, là điều quan trọng.

Người Mỹ rút khỏi Sài Gòn năm 1975. Do các bài viết chống cộng trước đó, tôi bị liệt kê trong sổ đen những nhà văn có nguy hại cho chế độ. Hầu hết các nhà văn có tên trong danh sách ấy đều bị bắt đi tù, nhiều người bị chết trong tù vì thiếu ăn, thiếu thuốc men.

Tôi thì may mắn hơn, được dân chúng chăm sóc và che chở. Không có tình thương yêu của họ tôi đã không thể sống còn ở Việt Nam.

Cộng sản ra thông báo là bất cứ ai tán trợ những nhà văn có tên trong sổ đen sẽ bị bắt giữ. Hệ thống an ninh của họ rất chu đáo. Họ chỉ định những người hàng xóm canh chừng nhau và báo cáo lên chính quyền địa phương. Nhưng vẫn có nhiều người liều mạng để che chở cho tôi. Họ che dấu tôi trong 8 căn nhà khác nhau trong vòng hai năm trời. Tôi sống trong hầm tối vì bất cứ ánh sáng hay sinh hoạt nào bị hàng xóm phát hiện sẽ gây hiểm nguy cho gia chủ. Phải là những căn nhà không có trẻ em vì các gia đình luôn luôn dạy con em không được nói dối. Cộng sản đã lục soát một số nhà nhưng không hiệu quả, và họ đã không tìm ra tôi.

Tôi sống như một con vật trong bóng tối, ẩn mình trong suốt hai năm. Có những đêm hoàn toàn mất ngủ, những ngày giống nhau buồn chán. Một người bạn đem đến cho tôi cỗ mạt chược và tôi chơi cùng một lúc ở cả hai phe. Đôi khi quá tuyệt vọng, tôi phải tìm cách ra ngoài, một cách bí mật trong bóng đêm. Đôi khi tôi không thể tưởng tượng rằng mình đã phải sống trong những điều kiện như vậy. Có lúc tôi cảm thấy tuyệt vọng, và tưởng tượng rằng sẽ có một giấc ngủ dài và không trở dậy nữa. Nhưng người Việt có thói quen chịu đựng và vượt qua. Tôi sâu sắc cảm thấy nhà văn là thuộc xã hội và quần chúng mà họ đang sống với. Với những người đã cùng nhau hợp tác cứu sống tôi, tôi thấy mình phải can đảm để xứng đáng với sự trợ giúp mà tôi đã nhận.

Tôi không phải là Phật tử cho dù gia đình tôi theo Phật giáo. Nhưng là một nhà văn và là một người suy tưởng, tôi phải nhìn lại đời sống mình và cố gắng tìm ra những ý nghĩa. Trong nhiều giờ mỗi ngày tôi đã tịnh tâm và suy niệm. Đặc biệt trong hoàn cảnh như vậy, người ta phải đi tìm sự thật và ý nghĩa của cuộc sống. Tôi đã có cơ hội đó. Tôi tin rằng mỗi chúng ta có một thượng đế trong chính mình. Một người có thể tự cứu rỗi đời sống chính mình qua những hành động và suy nghĩ. Sự tỉnh thức này luôn luôn có ở trong tôi.

Vào cuối năm 1977, có các tổ chức tư nhân giúp người vượt biên. Họ liên lạc với tôi và bảo tôi cứ chờ ở nơi đang ẩn lánh. Tôi hiểu rằng đào thoát là một dịch vụ tốn kém mà tôi thì không có một xu. Tôi không có cách nào liên lạc với gia đình mà không gây nguy hiểm cho họ. Tôi chờ đợi. Vào một đêm tối trời, một người mặc áo đen đi xe Honda, đậu dưới một gốc cây sau căn nhà, hướng dẫn tôi ngồi lên xe gắn máy và lặng lẽ chạy ra hướng bờ sông Sài Gòn, nơi có một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đang chờ. Tôi được bảo nên chèo ghe, giả bộ như một ngư dân. Sau 2 hoặc 3 giờ đồng hồ, tôi lại được chuyển sang một thuyền máy trên biển. Bây giờ thì người đàn bà chủ tàu bảo tôi có thể hút thuốc. Tôi nhìn một lần chót thành phố Sài Gòn và bật khóc vì hiểu rằng tôi chẳng còn bao giờ thấy lại nữa. Người dân miền Nam, hết sức gắn bó với một thành phố mang tên Sài Gòn. Tôi có cảm tưởng đã quay lưng lại với di sản của chính mình.

Trên biển cả, tôi có cảm giác được phóng thả. Tôi đã là một con người tự do.

Đó là một đêm tối đen không trăng. Chúng tôi ra được biển khơi nhưng nhưng lại có một cơn bão thổi tới từ Phi Luật Tân, vật vã con tàu nhỏ, bắt buộc chúng tôi phải trở lại bờ. Tôi trở lại nơi ẩn náu. Vài ngày sau đó, tôi được tin cha tôi chết ở tuổi 82. Đối với tập tục Á Đông, một đứa con phải về chịu tang lễ của bố mẹ hoặc mang trong tội bất hiếu. Nhưng các anh tôi khuyên tôi không nên về nhà vì đang bị theo dõi và tôi có thể bị bắt. May mắn là tôi đã bí mật tới thăm được mộ cha tôi, đọc lời cầu nguyện tỏ lòng tưởng nhớ và điều ấy đã làm dịu nỗi đau.

Rồi có chiếc xe gắn máy khác tới trong đêm tối. Chuyến đào thoát thứ hai nguy hiểm hơn lần trước. Chiếc thuyền đánh cá nhỏ đưa tôi tới một chiếc chòi, tôi phải núp ở đó suốt 2 ngày trong vùng xình lầy có cây che khuất. Cuối cùng thì một chiếc ghe tới đưa tôi ra khơi và trong đêm tối, tôi được chuyển qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn. Bất chợt, có một tín hiệu đèn và không tiếng động. Một toan tính kỹ lưỡng và cả nhiều may mắn. Tôi bước lên một con tàu sức chứa 20 người nhưng số người lên tàu là 58. Chúng tôi phải rất tiết kiệm nước và gạo vì không có chỗ chứa. Mọi người ăn uống rất ít và không có ai chết.

Hình 10: nhà văn thuyền nhân Mai Thảo đến bến bờ tự do Pulau Besar, Mã-lai 12.1977.
Nguồn: internet

Trên tàu gồm những người tỵ nạn chính trị, sinh viên học sinh, người già, các gia đình với trẻ thơ. Chúng tôi trải qua 6 ngày đêm. Mọi người đều đói và khát, một số ngã bệnh. Khi chúng tôi tới gần Mã Lai, biển lặng, trời trong, và mọi người bắt đầu cất tiếng hát. Họ yêu cầu tôi ngâm một bài thơ. Tôi đọc bài thơ của một người bạn nói về một người đàn ông rời nhà ra đi mà không có một ai tới nói lời giã từ.

Tới Mã Lai nhưng họ không muốn tiếp nhận chúng tôi. Các giới chức tỏ vẻ không thân thiện, do đã có quá nhiều tàu tỵ nạn tới đây. Là một quốc gia nghèo, họ không thể cưu mang tất cả. Mỗi lần chúng tôi cố cập bến, họ đẩy chúng tôi ra xa. Cuối cùng, một ngư phủ Mã Lai ra dấu cho chúng tôi; họ bảo cứ ủi tàu vào bãi, nếu tàu bị vỡ hư hại thì họ phải nhận chúng tôi. Chúng tôi đã làm như vậy và có hiệu quả. Con tàu chở chúng tôi bị vỡ. Chúng tôi giúp trẻ em, người già bệnh hoạn lên bờ. Viên chức cứu trợ Liên Hiệp Quốc tới gặp chúng tôi, tặng tiền để chúng tôi mua thực phẩm. Món hàng đầu tiên mà tôi mua là một bao thuốc lá. Họ đưa chúng tôi tới trại tỵ nạn. Trại rất đông nhưng có đủ thực phẩm và lều trú và chúng tôi thì tự do.

Chúng tôi không bị giam hãm trong trại. Tôi bắt đầu yêu mến người dân Mã Lai. Trong trại có đài phát thanh và tôi được yêu cầu viết bài và đọc cho chương trình. Tôi cũng giữ chức chủ tịch trại.

Tôi tới Mỹ vì đã có hai em tôi ở đó, và tôi cũng có quen biết với số nhà văn Việt Nam tới trước. Bây giờ tôi đang viết về kinh nghiệm của chính mình. Tôi hy vọng các tiểu thuyết của tôi được dịch sang tiếng Anh. Tôi cũng đang vận động trả tự do cho các văn nghệ sĩ còn bị cầm tù ở Việt Nam. Tôi e rằng nền văn học nghệ thuật của chúng tôi sẽ bị tiêu vong.

Tôi gửi tiền về cho mẹ tôi. Tôi mong bà sẽ sang đây nhưng bà thì không muốn là gánh nặng cho các con ở Mỹ. Và bà cũng không muốn chết ở một nơi xa quê nhà.

Tôi muốn nói với với thế giới rằng hai mươi năm chiến tranh đã tàn phá đất nước tôi. Nhà cửa đường xá có thể xây dựng lại, nhưng vẻ đẹp của đất đai và tâm hồn dân chúng thì không. Khi chúng ta đang nói chuyện nơi đây, sự hủy hoại vẫn tiếp diễn dưới chế độ Cộng sản.

Có lẽ một ngày nào đó Việt Nam sẽ tự do và tôi có thể trở về. Tôi đang hạnh phúc ở đây nhưng nội tâm thì rất buồn bã. Buồn cho dân tộc tôi. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn một tương lai. Xa rời quê hương, thật khó mà duy trì truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như bị đánh mất phần hồn.

Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey (6)

* Ghi chú của người viết: Mai Thảo sinh ngày 8 tháng 6 năm 1927, chi tiết Mai Thảo sinh năm 1930 trong bài phỏng vấn của Jane Katz có lẽ không chính xác.

h1125

Hình 11: Người muôn năm cũ, từ phải: Thanh Tâm Tuyền 2006, Đinh Cường 2016, Mai Thảo 1998, Ngọc Dũng 2000.
Nguồn: tư liệu Đinh Cường

TIỂU SỬ MAI THẢO VÀ TÁC PHẨM

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, sinh ngày 8/6/1927 tại chợ Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam định rồi Hà nội (học các trường Đỗ Hữu Vị, Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng Yên.

Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà Nội tản cư về quê chợ Cồn, sau đó Mai Thảo vào Thanh Hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên khu III, IV đến chiến khu Việt bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến về thành. 1954, di cư vào Nam.

Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương tạp chí Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông báo Văn.

Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển tới Pulau Besar, Mã lai. Đầu năm 1978, sang định cư tại Hoa-kỳ. Ban đầu cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam trên Seattle và một số báo khác tại hải ngoại.

Tháng 7/1982 anh cho tục bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ngày 10/1/1998 Mai Thảo mất tại Santa Ana, California, thọ 71 tuổi.

TÁC PHẨM

Nhà nghiên cứu và thư viện học Phạm Trọng Lệ, trên báo Văn số Tưởng mộ Mai Thảo tháng 2/1998 đã sưu tầm một thư mục Mai Thảo, trong đó có ghi số trương mục những tác phẩm được lưu trữ tại các thư viện ở Hoa Kỳ, và được Thuỵ Khuê bổ xung phân loại sau đó. (2)

Đoản thiên:

Đêm giã từ Hà-nội (Người Việt, 1955) Tháng giêng cỏ non (1956), Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963), Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965), Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966), Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967), Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968), Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969), Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969), Tùy bút (1970), Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà-nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970), Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987), Một đêm thứ bẩy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988) Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989), Chân bài thứ năm (Nam Á, Paris, 1990), Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990).

Truyện dài:

Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963), Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác), Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964). Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966). Đêm kỳ diệu. Cùng đi một đường (1967). Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968), Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968), Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969), Lối đi dưới lá (1969), Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969), Thời thượng (Côi Sơn, 1970), Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970), Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970), Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970), Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971), Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971), Một ngày của Nhã (1971), Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971), Sóng ngầm (Hoa biển, 1971), Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972), Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn đình Vượng, 1972), Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972), Gần mười bẩy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972), Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972), Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Tình yêu mầu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973), Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973), Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973), Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974), Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974), Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Nhận định, hồi ức:

Chân dung mười lăm nhà văn, nhà thơ Việt Nam (Văn Khoa, 1985)

Thơ:

Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989).

ĐI THĂM MAI THẢO

Buổi sáng ngày lập đông, nam California vẫn là một ngày nắng đẹp tuy hơi se lạnh. Chúng tôi, anh Từ Mẫn nguyên giám đốc Nxb Lá Bối rồi Văn Nghệ, anh Phạm Phú Minh nguyên chủ bút Thế Kỷ 21 rồi Diễn ĐànThế Kỷ, cùng hẹn nhau đi thăm mộ anh Mai Thảo. Riêng nhà thơ Thành Tôn, người có đầy đủ nhất các tư liệu về Mai Thảo vì bận bất ngờ không đi được.

h1210

Hình 12: Mộ chí Mai Thảo với 4 câu thơ trích từ tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền; trên bia mộ là tờ Văn số đặc biệt Tưởng Mộ Mai Thảo, tư liệu của Thành Tôn

h1310

Hình 13: anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết (phải) và anh Phạm Phú Minh thăm mộ Mai Thảo 04.12.2016
[photo by Ngô Thế Vinh]

Mộ Mai Thảo trong khu vườn Vĩnh Cửu, gần nhà Thuỷ Tạ. Cô nhân viên của Peek Family nhận biết ngay tên nhà văn Mai Thảo, và cho biết thường chỉ có khách phương xa tới thăm. Quanh mộ Mai Thảo cỏ mọc xanh non, riêng tấm bia mộ bằng đá đen trải qua 18 năm vẫn nguyên vẹn với chân dung Mai Thảo và phía dưới có trạm khắc 4 câu thơ từ tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền:

Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi

Đặt mấy nhánh hồng trên mộ chí anh Mai Thảo, cùng với số báo Văn đặc biệt Tưởng Mộ anh, thắp mấy nén nhang với khói hương trầm toả khắp. Thăm anh Mai Thảo và nhớ tới anh với câu thơ Nguyễn Du: Thác là thể phách còn là tinh anh.

NGÔ THẾ VINH
California, 12.2016

______
Tham Khảo:

1/ Nguyễn Xuân Hoàng, Nhớ Mai Thảo; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

2/ Phạm Trọng Lệ, Bảng Thư Mục Tác Phẩm của Mai Thảo; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

3/ Nguyễn Đăng Khánh, Mai Thảo Anh Tôi; Văn số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998

4/ Nguyễn Hưng Quốc, Vài ghi nhận về Mai Thảo; VOA 12.01.2011

_http://www.voatiengviet.com/a/ghi-nhan-ve-mai-thao-2-01-12-2011-113379499/892744.html

5/ Mai Thảo, Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam,

Nxb Văn Khoa 1985

6/ Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey; Stein & Day Publishers, NY 1983

(Nguồn:http://khaiphong.org/showthread.php?16722-H%C3%A0nh-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BA%BFn-t%E1%BB%B1-do-%E2%80%93-nh%C3%A0-v%C4%83n-thuy%E1%BB%81n-nh%C3%A2n-Mai-Th%E1%BA%A3o&s=53a04cfbb250a9819d06249dbd04b9a9)

 

Ông Nguyễn Hùng Trương và nhà sách Khai Trí. Nguyễn Ngọc Chính


Nguyễn Ngọc Chính

fab3a-1802nhc3a0sc3a1chkhaitrc3ad
Nhà sách Khai Trí

Khi đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Geneve (20/7/1954), nhà sách Khai Trí đã có mặt tại Sài Gòn từ hai năm trước đó. Tôi di cư sớm hơn, vào Ðà Lạt năm 1953 và trong những chuyến về chơi thủ đô, nhà sách Khai Trí là một trong những địa điểm tôi thường lui tới để thỏa mãn tính tò mò, tìm hiểu về thế giới sách vở tại đây.

Dạo đó, mỗi chiều cuối tuần người Sài Gòn thường rủ nhau đi “bát phố” Bonard, hết đi lên rồi lại đi xuống, suốt con đường từ Quốc Hội (sau này đổi là Nhà Hát Lớn) đến chợ Bến Thành. Kể từ thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, Bonard được đổi tên thành Lê Lợi. Ðặc biệt con đường này chỉ đông người phía bên phải theo hướng từ tòa nhà Quốc Hội đi đến cuối đường là chợ Bến Thành.


Ông “Khai Trí” Nguyễn Hùng Trương với kho sách của ông, ở những năm cuối đời.

Ðường Lê Lợi đông người “bát phố” vì trên suốt con đường có nhiều địa chỉ nổi tiếng… Nhà hàng Givral nằm ngay góc Catinat (đường Tự Do, sau 1975 đổi là Ðồng Khởi) và Bonard. Nơi này được mệnh danh là “Khu tứ giác Eden” gồm Passage Eden có rạp ciné Eden của gia đình họ Huỳnh Phú, đầu kia của tứ giác là nhà hàng Givral (góc Tự Do và Lê Lợi)…

Khu tứ giác này ngày nay đã biến mất hình dạng, để lại cho những người Sài Gòn xưa nhiều nuối tiếc. Kiến trúc “hiện đại” đã làm mất đi những đường nét cổ kính từ thời Pháp thuộc của Sài Gòn. Vẫn biết cuộc sống là luôn thay đổi nhưng ở một chừng mực nào đó thì vẫn còn đọng lại đâu đây những nuối tiếc, hoài cổ.

Rồi sau này, năm 1962, có rạp Rex, “rạp cinê đầu tiên có máy lạnh,”“thang cuốn” của tỷ phú Ưng Thi được khai trương theo mô hình rạp Rex tại Paris. Rex nằm ngay ngã tư Lê Lợi-Nguyễn Huệ lúc nào cũng dập dìu “tài tử giai nhân” đi xem phim hoặc không tiền thì đi… nhìn người ta xem phim!

Xuống đến ngã tư Lê Lợi-Pasteur có tiệm kem Mai Hương, ngày nay là kem Bạch Ðằng. Ðây là địa chỉ dừng chân của những người trung lưu, không đủ tiền ngồi Givral vốn dành cho giai cấp thượng lưu, “quý tộc,” kể cả những trai thanh gái lịch con nhà giàu.


Tiệm kem Mai Hương góc Lê Lợi-Pasteur

Ði thêm vài bước nữa là đến tiệm sách Khai Trí, giang sơn của giới “mọt sách” bình dân; vì nếu “trí thức” hơn, người ta ghé vào nhà sách Xuân Thu trên đường Catinat (Tự Do). Xuân Thu có gắn máy lạnh và chuyên bán sách báo nhập từ nước ngoài với giá cao, và dĩ nhiên chỉ dành cho giới “quý tộc.”

Lần đầu tiên nghe đến tên Khai Trí không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến Hội Khai Trí Tiến Ðức ngày xưa tại Hà Nội (1). Nhà sách ở Sài Gòn cũng như hội đoàn ngoài Hà Nội đã cùng một mục đích “khai tâm mở trí” cho người Việt thời Pháp thuộc cũng như thời VNCH.

Ðường Lê Lợi cũng có thể gọi tên là con đường “văn hóa” vì ngay cạnh Khai Trí (số 60-62 Lê Lợi), còn có nhiều nhà sách khác như Dân Trí, Thanh Tuân và Phúc Thành nằm chen vai thích cánh bên nhau. Tuy cùng cạnh tranh trên đường Lê Lợi nhưng Khai Trí vẫn nổi bật vì chiếm hẳn hai căn nhà bề thế; hơn nữa việc nổi tiếng còn do tài lèo lái và quản lý của người chủ. Ðó là ông Nguyễn Hùng Trương nhưng người ta ít biết đến tên ông mà chỉ gọi là: “Ông Khai Trí.”

Người ta nói ông Khai Trí khởi nghiệp buôn bán “sách vở” bằng 1 chiếc xe đẩy, hình như trước cổng trường Chasseloup Laubat đường Hồng Thập Tự, nay là trường Lê Quý Ðôn, đường Nguyễn Thị Minh Khai. Trong cuộc phỏng vấn của Phan Hoàng tại Sài Gòn được đăng trên báo Tiền Phong năm 2001 mang tựa đề “Vua sách Khai Trí trở lại TP Hồ Chí Minh,” ông Nguyễn Hùng Trương kể lại thời kỳ khởi nghiệp trên bước đường kinh doanh sách của mình: “Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã mê sách hơn mọi thứ khác. Càng lớn lên thì niềm đam mê sách càng tăng. Tôi nhớ một ngày nọ có mấy anh bạn đồng môn đến nhờ tôi mua giùm năm cuốn sách về văn học Pháp. Tôi cũng đang cần một cuốn để lưu, nên gởi thư cho nhà xuất bản xin mua sáu cuốn. Ông giám đốc nhà xuất bản gởi thư hồi âm rằng, nếu tôi mua từ mười cuốn trở lên thì sẽ được trừ 30% giá bìa. Nhẩm tính tôi thấy nếu mua luôn mười cuốn thì số tiền chẳng hơn sáu cuốn chưa chiết khấu là bao, nên mượn tiền gởi mua đủ. Nhận sách, tôi đưa mấy anh bạn năm cuốn, tôi lưu một cuốn, còn bốn cuốn đem ký gởi. Khoảng ba ngày sau tôi ra thăm chừng, không ngờ sách đã bán hết, ông chủ tiệm trả tiền và nói rằng nếu có sách gì cần bán thì cứ đem đến ký gởi… Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm các loại sách báo có giá trị, quý hiếm đặt mua ngay tại cơ sở rồi mang ra hiệu sách ký gởi. Rồi khi để dành được số tiền kha khá tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện mở nhà sách. Năm 1952, sau một thời gian chuẩn bị vốn liếng và mặt bằng, tôi đã khai trương nhà sách Khai Trí.”

Tài sản quý giá nhất của ông Khai Trí là sách báo. Sài Gòn khi đó có khoảng ba mươi tờ nhật báo, hàng chục tuần báo và nguyệt san, bán nguyệt san. Ông tìm mua hết và đóng bìa cứng để lưu trữ. Ðặc biệt hơn cả, ông sưu tập được bộ Paris Match của Pháp từ số 1 cho đến ngày 30 tháng 4, 1975, trong đó có nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá về cuộc chiến tranh của Pháp ở Ðông Dương.

Ngoài ra, kho lưu trữ của ông còn 4,000 trang bản thảo từ điển tiếng Việt và gần 300 bản thảo sách nằm trong kế hoạch in thì bị “nửa đường đứt gánh.” Theo lời ông, thật đáng tiếc là kho sách báo ấy hiện bị thất lạc gần hết. Ông nói, tại Mỹ, bộ tạp chí Paris Match nếu còn giữ được thì giá không dưới nửa triệu đô-la.

Cũng từ trong nước, nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long, tác giả cuốn tiểu thuyết Loan Mắt Nhung, đã viết về ông Nguyễn Hùng Trương như sau:

“Tiệm sách của ông tại đường Lê Lợi mang tên Khai Trí bị nhà nước quản lý, nay mang tên Phahasa của nhà nước. Thuở đó, sau khi các sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị đi cải tạo trước, đến lượt những văn nghệ sĩ bị bắt, tác phẩm thiêu đốt và họ đều bị coi là kẻ có tội, đương nhiên bị bôi nhọ, kết tội là Biệt Kích Văn Nghệ. Ông Khai Trí cũng bị coi là tội phạm, liệt vào hàng văn nghệ sĩ và bị bỏ tù, vì người chiến thắng cho ông là người kinh doanh và phát triển cái văn hóa đồi trụy. Những người đã từng sống ở miền Nam trước giải phóng, ai cũng biết đến ông. Gọi là ông Khai Trí mà quên cái tên cúng cơm của ông là Nguyễn Hùng Trương, ông làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, cả đời ông đam mê công việc ấy. Và ông quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam, kể cả những văn nghệ sĩ Bắc di cư 1954.

Nhiều vị học giả, nhiều nhà văn nhà thơ, tất cả đều quí mến ông. Có vị nói với tôi, “Ông Khai Trí không khen được thì thôi, chớ có gì đâu để mà nói xấu, để chê bai.” Ðúng vậy, ông Khai Trí là người làm sách, làm văn hóa, kinh doanh mặt hàng ấy, nhưng không thể coi ông là hàng “đầu nậu” xuất bản sách, trái lại rất trân trọng, vì tư cách của ông, con người vừa khiêm nhượng vừa tốt lành của ông.

Khai Trí là nhà sách bán lẻ nhưng cái tên Khai Trí còn xuất hiện như một nhà xuất bản, nhà phát hành và đồng thời là nhà xuất nhập cảng sách.Ngoài việc xuất bản sách,ông còn chủ trương in tuần báo Thiếu Nhi (Chủ nhiệm: Nguyễn Hùng Trương, Chủ biên: Nhật Tiến) rồi tập san Sử Ðịa (2) do Nguyễn Nhã làm Chủ biên. Ông tâm sự với Phan Hoàng: “Trong tất cả các loại sách, tôi đặc biệt nặng lòng với sách thiếu nhi.Từ năm 1971 tới 1975, tôi chọn lọc xuất bản 300 đầu sách trong bộ Tuổi thơ dành riêng cho các cháu nhỏ.Bên cạnh đó, tôi còn xuất bản tuần báo Thiếu nhi với sự cộng tác của nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo có uy tín và tâm huyết với trẻ em. Ðây là công việc mà tôi thích thú nhất!”


Nhà văn Nhật Tiến giới thiệu ông Nguyễn Hùng Trương
trong buổi ra mắt tuần báo Thiếu Nhi

Trên diễn đàn Talawas, tác giả Làng Ðậu bày tỏ lòng tri ân và thành kính với người đã góp công không nhỏ giáo dục và đào tạo một thế hệ thiếu nhi tại miền Nam với “tuần báo giải trí và giáo dục thiếu nhi” như đã ghi trên bìa mỗi số: “Về hình thức, trang bìa và trang cuối của tờ Thiếu Nhi lúc nào cũng được trình bày rất công phu, dùng kỹ thuật in offset, một kỹ thuật tiến bộ (và cũng đắt tiền) nhất thời bấy giờ.” Trang bìa thường in hình vẽ của họa sĩ Vi-Vi về các đề tài khác nhau. Có lẽ bức tranh tôi thích nhất là bức Ông đồ, bức tranh này sau đó cũng đã được lên khung trong một bộ tem dưới cái tên cúng cơm của họa sĩ Vi-Vi: Võ Hùng Kiệt.

Nếu như trang đầu của tờ báo là một sự trang trọng cần thiết thì trang cuối, ngược lại, đem lại cho độc giả vô vàn thú vị qua các câu chuyện bằng tranh màu nổi tiếng dịch lại từ tiếng nước ngoài, như truyện Tin-Tin, truyện Asterix Obelix, truyện của Walt Disney… Những truyện tranh này đã được chọn lọc rất kỹ trước khi đăng nên có chất lượng cao về nội dung giáo dục. Họa sĩ Vi-Vi cũng có góp phần vẽ minh họa một số truyện tranh Việt Nam.


Tuần báo Thiếu Nhi số ra mắt

Tờ Thiếu Nhi không bao giờ bị khô khan bởi vì nó luôn có các kỳ thi “đố vui có thưởng,” các chuyện cười do độc giả gửi tới cũng như các bài thơ, văn, nhạc, họa của nhiều tác giả, cả già lẫn trẻ. Mục “Truyện cổ tích” cũng thu hút người đọc bằng các truyện của Tô Hoài, Nhật Tiến và nhiều cây bút cừ khôi khác. Ðặc biệt thú vị là hai mục: “Trả lời thắc mắc”“Tay ngọc bên bếp hồng.”

Cũng xin nhắc lại vài câu thuộc loại “hoa thơm cỏ lạ” được giới thiệu trong vô vàn danh ngôn mà tờ Thiếu Nhi đã cho phổ biến trên mặt báo: “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan” (Ðức Phật), “Lấy chí nhân thay cường bạo, đem đại nghĩa thắng hung tàn” (Nguyễn Trãi) hay “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi”… Làng Ðậu, “độc giả nhí ngày đó,” viết: “Tiền lời của nhà sách khi bán các mặt sách khác đã được đem qua để bù lỗ cho tờ Thiếu Nhi. Có lẽ riêng đối với tôi, một thằng bé đen đủi không quen biết, ông đã hành sử ‘bù lỗ nhiều hơn’; khi tôi hỏi mua 3 tờ Thiếu Nhi vì không đủ tiền mua nhiều, thì đã được ông cho thêm mấy tờ mà tôi muốn.”


Bìa báo Thiếu Nhi với bức tranh Ông Đồ của họa sĩ Vi Vi
nhân kỷ niệm lễ Khổng Tử “Đặc biệt nhớ ơn thầy”

Ðối với độc giả người lớn, ông Khai Trí “bảo trợ” tập san Sử Ðịa của một nhóm giáo sư và sinh viên trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc năm 1966 và số cuối cùng năm 1975 mang chủ đề “Ðặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa,” một đề tài nóng bỏng sau sự kiện ngày 19 tháng 1, 1974, Hải Quân Trung Cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa (Paracells) khi ấy đang thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.


Tập san Sử Địa số đầu tiên

Tập san Sử Ðịa phát hành 3 tháng một kỳ, ra được tổng cộng 29 số báo cho đến ngày Sài Gòn thất thủ năm 1975. Ðây là nguồn tài liệu phong phú trong việc khảo cứu, sưu tầm về sử ký và địa lý Việt Nam. Tác giả những bài viết trên tập san Sử Ðịa là những nhân vật nổi tiếng của miền Nam như Hoàng Xuân Hãn, Phan Khoang, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu Í…


Tập san Sử Địa số cuối cùng

Khai Trí còn là một nhà xuất bản chuyên in tự điển của miền Nam. Nếu nhà xuất bản Thời Thế in cuốn Việt Nam Tân Từ Ðiển của Thanh Nghị dầy 1069 trang thì Khai Trí đã phát hành một loạt từ điển như Pháp Việt Tự Ðiển của Ðào Ðăng Vỹ với độ dầy lên đến 1276 trang; Anh Việt-Việt Anh Từ Ðiển của Nguyễn Văn Khôn…


Ông chủ nhà sách Khai Trí và nhà làm tự điển Nguyễn Văn Khôn

Thậm chí có những cuốn tự điển rất cần cho việc nghiên cứu nhưng lại khó tiêu thụ trên thị trường nhưng Khai Trí vẫn mạnh dạn xuất bản, chẳng hạn như bộ Hán Việt Từ Ðiển của Thiều Chửu hay Hán Việt Tân Từ Ðiển của Nguyễn Quốc Hùng.

Nguyên tắc của kinh doanh nói chung là nhắm vào tiền lãi thu về nhưng một nhà kinh doanh có “tâm” hay có “đạo đức kinh doanh” là biết dung hòa giữa một bên là “lợi nhuận” và phía bên kia là “lợi ích” của xã hội. Ông Nguyễn Hùng Trương là nhà kinh doanh biết kết hợp cả hai cái “lợi” để đóng góp cho nền văn hóa của miền Nam. Ông còn giúp đỡ nhiều anh em văn nghệ sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn bằng cách mua tác phẩm của họ, dù chưa in nhưng ông vẫn trả tiền đầy đủ theo kiểu “tiền trao cháo múc.” Ngoài ra, ông tài trợ cho nhiều tờ báo hồi đó ở Sài Gòn, chẳng hạn như tờ nhật báo Sống của Chu Tử.


Nhật báo Sống của Chu Tử

Theo Kaviti, ông Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Ðức, nhưng cũng có người nói ông sinh tại Biên Hòa. Thời thơ ấu của ông rất cơ cực, thường nhịn ăn sáng và dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên trung học ông vào trường Petrus Ký với một chiếc xe đạp cũ.

Báo Thanh Niên viết về ông Khai Trí: “Hết sức quảng bác nhưng ông lại rất ít nói về mình, nên ít người biết ông chính là tấm gương sống động: từ hai bàn tay trắng trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất và uy tín nhất miền Nam.”

Trong những ngày đầu Sài Gòn đổi chủ, có người thấy ông chủ Khai Trí trải tấm nylon lớn trên vỉa hè ngay trước cửa nhà sách Khai Trí để bán nốt các số báo Thiếu Nhi còn sót lại. Tờ Thiếu Nhi vốn là báo khổ to, nhưng đến gần 1975 thì nó đã co nhỏ và thu bé mình lại, chỉ còn như một cuốn sổ tay mỏng lét nhưng vẫn giữ nguyên tôn chỉ và mục đích.

Năm 1976, chính quyền mới mở đợt “cải tạo văn hóa” tiếp theo sau đợt cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền.” Nhà sách Khai Trí bị truất hữu và tịch thu, kho sách 60 tấn bị tiêu hủy. Chủ nhân Nguyễn Hùng Trương bị bắt trong chiến dịch tháng 4, 1976 và đưa đi cải tạo tại trại Z30C Hàm Tân vì tội “biệt kích văn nghệ.”

Một số nhân vật khác trong ngành phát hành sách báo như ông Nguyễn Văn Chà, chủ nhân nhà tổng phát hành Nam Cường, ông Tư Bôn (Paul) chủ nhân cơ sở phát hành Thống Nhất rồi ông chủ các nhà phát hành Ðồng Nai, Ðộc Lập cũng cùng chung số phận vì đã hoạt động trong lãnh vực sách báo “văn chương đồi trụy”…

Năm 1991, ông Khai Trí xuất cảnh sang Hoa Kỳ để đoàn tụ cùng gia đình. Theo nhà văn Nhật Tiến, ông Nguyễn Hùng Trương dự định mở lại nhà Khai Trí, nhưng điều trớ trêu là hầu hết các tác phẩm của Khai Trí đã “được” một số nhà xuất bản hải ngoại in lại mà không hề nghĩ đến chuyện… bản quyền!

Theo Phạm Phú Minh, một điểm khó khăn nữa là ông Khai Trí vừa thiếu vốn lại thiếu cả nhân lực để gây dựng lại nhà xuất bản tại Mỹ: “Ông Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ ở Nam California, đã tiếp xúc nhiều với ông Khai Trí thời gian ông mới qua Mỹ, cho biết rằng các con của ông Khai Trí nói thẳng rằng họ có thể góp ít vốn cho ông theo khả năng của họ, nhưng hoàn toàn không thể giúp được gì ông, vì ai cũng có công việc cả rồi, không thể nào bỏ việc để cùng cha phiêu lưu theo giấc mộng của ông.”

Hình như ông Khai Trí có gặp ông Nguyễn Tấn Ðời để bàn việc góp vốn cho chương trình văn hóa nhưng không đạt được kết quả. Ông Võ Thắng Tiết cho biết, trong số sách vở ông Khai Trí đã chuyển được sang Mỹ có nhiều thứ rất giá trị, như bộ sưu tập đầy đủ của báo Tri Tân và báo Nam Phong, tập san Sử Ðịa thời VNCH cũng không thiếu một số nào, tất cả sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học.

Sau năm năm sống tại Mỹ, ông Nguyễn Hùng Trương biết rõ là mình chẳng làm được những gì mong ước cho nên năm 1996 ông Khai Trí về lại Việt Nam để sống luôn tại đây. Nghe nói nhà nước Việt Nam có chủ trương trả lại nhà cửa đã tịch thu năm 1975, ông về nước với đề nghị nhà nước trả lại các cơ sở cho ông; và ông sẽ cùng nhà nước thực hiện các nhà sách tân tiến theo lối Mỹ, trong đó có gian uống cà phê xem sách, có gian thiếu nhi để các em thoải mái tìm tòi…

Nhưng những gì ông “nghe nói” đã không đúng với thực tế. Nhà sách Khai Trí của ông đã thành nhà sách quốc doanh Sài Gòn. Nhà khác của ông thì bị chia chác cho cán bộ đã 20 năm qua, họ bán đi bán lại nhiều lần, giá cả càng ngày càng cao. Cuối cùng người ta “cho lại” một phòng trong một căn nhà cũ của ông; và ông sống ở đó, cho đến ngày qua đời, với giấc mộng lớn không bao giờ thực hiện.

Con người có niềm đam mê mãnh liệt với sách báo ấy đã ra đi lúc 5 giờ 15 ngày 11 tháng 3, 2005, linh cữu quàn tại nhà riêng số 237 Ðiện biên Phủ (đường Phan Thanh Giản cũ). Nguyện vọng của gia đình là tiền phúng điếu sẽ tặng cho quỹ từ thiện thành phố.

Lúc còn sinh thời ông Nguyễn Hùng Trương đã có lần chán nản khi được hỏi bao giờ người ta trả lại nhà sách Khai Trí cho ông.Câu trả lời của ông là.. “năm 3000”! Chẳng khác nào khi diễn tả một chuyện không bao giờ có thể xảy ra, người Sài Gòn thường nói chờ đến… “Tết Congo”!

Nguyễn Ngọc Chính

 

Buồn vui thời điêu linh: Thời Đốt Sách! Nguyen Ngoc Chinh


Nguyen Ngoc Chinh

dot-sach

Xuống đường Bài trừ Văn hóa “Đồi trụy & Phản động” trong thời điêu linh

“Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch. Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu:

“Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt. Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966 cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975 chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc:

“Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm…

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê…. Phê bình văn học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh…

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy. Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để hỏa thiêu.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên, những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt.

Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt sách năm 1975:

“Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong. Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với danh ngôn: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, người được giới văn học đánh giá là một trong những cây bút đầu tiên viết truyện ngắn hiện đại bằng chữ quốc ngữ trong văn học Việt Nam. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.

Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó có Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề là “Con sáo của em tôi” đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn, truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.

Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản…

Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’…”

Trong vụ án được mệnh danh là Nhũng tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miềnNam nhưng bất thành vì áp lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20 năm), Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn (12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và Khuất Duy Trác cùng Trần Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất hăng ở Rừng Phong (Virginia) trên blog của HHT

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo ra hàng ngày.

 

Nhật báo Tiền Tuyến và Tiếng Chuông

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học. Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo). Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng 12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/60)

sang-tao71-4-bachkhoa_1962

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ Châu.

Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi. Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc…. Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

71-5-tap-chi-van

Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến 1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc… Văn đặc biệt quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong, Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964. Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.

Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.

Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy…). Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang…

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức…”

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch… Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung, phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam… đều sống bằng ngòi bút một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo… cũng đều có những số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long… Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.

Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài’ văn học’ (!?), Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…

Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề’…

71-7-cntnguyenthithuyvu71-8-cnttuyhong71-9-cntnguyenthihoang08-1-chu-tu

Chân dung một số văn nghệ sĩ Miền Nam

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’ nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần

Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước 1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise Sagan…

Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng thì chưa”.

Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation (Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” và “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.

Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces (dày khoảng 3000 trang in lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes,Hamlet của William Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von Goethe,The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre Gide, Remembrance of Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul Sartre…

71-10-dscf0016

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mớicũng được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng…Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở
Không thấy sách báo xưa
Ngọn lửa nào năm cũ
Lạc về đâu bây giờ?

Nguyen Ngoc Chinh (Hồi ức một đời người)

(Nguồn: http://khaiphong.org/showthread.php?1497-Bu%26%237891%3Bn-vui-th%26%237901%3Bi-%26%23273%3Bi%EAu-linh-Th%26%237901%3Bi-%26%23272%3B%26%237889%3Bt-S%E1ch-)

Vài vấn đề xoay quanh cuốn Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút VN (1957-1975) của Nhật Tiến


Trang Bia

Sau khi cuốn sách mới ra của tôi “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút VN (1957-1975)”, do nhà Huyền Trân phát hành ngày 15-8-2016 (và post lên online), tôi nhận được một lá thư của cô Nguyễn Tà Cúc, Tổng thư ký báo Khởi Hành do ông Viên Linh làm Chủ nhiệm, trong đó cô phản bác lại những ý kiến của tôi về việc ông Viên Linh bịa đặt sự kiện để nhục mạ hai vị tiền nhiệm rất có công với  Trung Tâm Văn Bút trước 1975 là GS Phạm Việt Tuyền và LM Thanh Lãng.

Trong thư nói trên, cô Tà Cúc viết cho tôi rằng: “.. nhân thể báo rằng sẽ là lá thư cuối Tà Cúc gửi cho anh. Phần anh, anh cũng khỏi gửi cuốn sách đó hay thư từ cho Tà cúc nữa…” Vậy thì để cô có thể đọc được những câu trả lời của tôi về những điều mà cô nêu ra trong thư, tôi không có cách nào khác là nhờ phương tiện của Internet.

Mặt khác, vì  đây là những vấn đề liên hệ đến nhiều người, nhiều vị đã khuất, và nhất là đến danh dự của Trung Tâm Văn Bút VN, lại nữa những lời xuyên tạc của ông Viên Linh được trích dẫn từ cuốn sách của chính ông đã xuất bản rồi, như vậy chuyện phản bác qua lại không còn nằm trong lãnh vực cá nhân nữa mà  đã trở thành vấn đề chung của những ai vốn hằng lưu tâm đến Trung Tâm Văn Bút V.N.  nói riêng và Văn hóa miền Nam nói chung.

Vì thế mới có bài viết này của tôi. Gồm 2 phần:

1) Nguyên văn lá thư Cô Nguyễn Tà Cúc  gửi cho Nhật Tiến.

2) Phần trả lời của tôi.

  1. Nguyên văn lá thư Cô Nguyễn Tà Cúc gửi cho Nhật Tiến.

(những chỗ in đậm và gạch dưới là của chính người viết, cô Tà Cúc )

Ngày 21. 8 . 2016

Anh Nhật Tiến,

Tà Cúc vừa được một bạn gửi cho xem một đoạn anh viết về anh Viên Linh trong cuốn sách mới của anh. Đây là những điều Tà Cúc nghĩ và nhân thể báo rằng sẽ là lá thư cuối Tà Cúc gửi cho anh. Phần anh, anh cũng khỏi gửi cuốn sách đó hay thư từ cho Tà cúc nữa vì, cứ đọc một chương này, Tà Cúc đủ thấy nó không cần thiết cho sự nghiên cứu của Tà Cúc. Nay Tà Cúc nói đến phần anh viết về anh Viên Linh khiến dẫn đến quyết định chấm dứt của Tà Cúc:

-Anh đã không trích dẫn đầy đủ bài của anh Viên Linh, khiến gây cho người đọc cảm tưởng sai lầm rằng anh ấy VÔ CỚ tấn công Phạm Việt Tuyền và Thanh Lãng. [Không, Tà cúc không tin anh Viên Linh phải trả lời nếu có bao giờ đọc đến vì anh đã mất quyền được trả lời khi không trích dẫn đầy đủ.] Lẽ ra anh phải trích cho đấy đủ đoạn anh Viên Linh viết vì cốt tủy của đoạn này là sự im lặng của Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền về sự bị cầm tù rồi qua đời của Chủ tịch tiền nhiệm Vũ Hoàng Chương sau khi họ đã tranh đấu rất ồn ào và hiệu quả cho người Cộng sản nằm vùng Vũ Hạnh; nghĩa là họ cũng đã GÓP PHẦN VÀO SỰ LƯU TRUYỀN NHỮNG TIN TỨC XẤU XA VÔ BẰNG VỀ Miền Nam

– “Anh Chương là Chủ tịch Văn bút Việt Nam, bậc tiền nhiệm của chủ tịch Thanh Lãng. Khi nhà văn Vũ Hạnh bị chính phủ quốc gia bắt giữ vì tình nghi là Việt cộng – mà đúng là Việt cộng thật – Linh mục Thanh Lãng và Tổng thư ký Văn Bút Phạm Việt Tuyền đã nỗ lực vận động Văn Bút Quốc Tế và Hội Ân Xá Quốc Tế can thiệp phóng thích. Chính phủ Quốc gia đã phải phóng thích, vì tôn trọng trò chơi Dân chủ, tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc tôn trọng tự do phát biểu. Đến khi bậc tiền nhiệm của mình bị bắt, bị bắt về vấn đề tự do tư tưởng, tự do phát biểu, như Vũ Hạnh, nhưng ông Thanh Lãng đã im lặng. Ông đã được Hà Nội thu dụng làm việc tiếp ở Đại học Văn khoa; và Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt côn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu đói không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Strasbourg, Pháp.Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957, lúc ông Phạm Trọng Nhân làm lãnh sự tại Nhật, cuối cùng đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền. Hơn ai hết, Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, trước cảnh tù ngục của bậc tiền nhiệm, phải quan niệm in lặng không phải là sự nhục nhã….” [Viên Linh, sđd, trang 73-75-Anh không trích những câu in ngả và gạch dưới.]

Như các bạn đã chỉ ra và như Tà Cúc nhận thấy ngay lập tức, anh đã cắt bỏ 8 câu và để lại chỉ có gần 6 câu trong đoạn trên hầu không đề cập đến hai vấn đề tối quan trọng của Văn Bút trước 1975 mà anh có trách nhiệm trực tiếp. Trước hết, đó là sự trà trộn và lộng hành của cộng sản nằm vùng Vũ Hạnh với sự tiếp tay rất đắc lực của Chủ tịch Thanh Lãng cùng những câu vu khống vô cùng sai sự thực về Miền Nam. Sau nữa, chúng ta sẽ giải nghĩa ra sao về sự im lặng của Chủ tịch Thanh Lãng và đồng- sáng -lập-viên kiêm đồng- tạo-dựng-viên Phạm Việt Tuyền khi các sự bắt bớ tù đày này xẩy ra cho rất nhiều hội viên hay không-hội-viên Văn Bút và cho ngay chính cựu Chủ tịch Vũ Hoàng Chương sau 1975 [như Viên Linh đặt vấn đề] khiến người ta phải thắc mắc về sự có mặt của Đảng Cộng sản bên trong? Tại sao Vũ Hạnh lại có bài trên tạp chí của VBVN [nếu Tà Cúc không nhầm] để củng cố địa vị của hắn trong lúc có khi có người ngoài hội như Viên Linh phải đối phó với hắn công khai bằng một bài viết phản bác hắn trên Nghệ Thuật?

Hơn thế nữa, là một hội được nâng đỡ, trợ cấp tài chính, cung cấp phương tiện và còn lại được chính phủ Miền Nam cho phép tham dự một cơ cấu quốc gia để phát biểu, anh không nên kể lể công ơn cho Phạm Việt Tuyền hay bất cứ ai ở đây. Đó là bổn phận của các anh, của hội viên. Hay cố tình kéo ra ngoài vấn đề: Bất cứ ai cũng sẽ có quyền đặt câu hỏi về sự thành lập Văn bút Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh lạnh đó hay tại sao có mặt Vũ Hạnh hay tại sao có một ông Chủ tịch NHÂN DANH CẢ HỘI ngang nhiên tuyên bố những câu vu khống ngay giữa thủ đô Miền Nam mà hội viên xem ra im lặng? Bởi thế, một câu trả lời hữu hiệu trong hoàn cảnh này không phải là một sự chụp mũ người khác hay nhân danh các hội viên khác để chụp mũ mà nên lợi dụng các thắc mắc ấy để trình bày VỚI BẰNG CHỨNG. Vâng, để cho công bằng, anh rất cần áp dụng Tuyên ngôn của VBQT cho cả Chủ tịch Thanh Lãng và cũng nên hỏi tư cách như thế mà được cử làm Chủ Tịch Văn bút Việt Nam– có cả trăm hội viên với nhiều thành tích văn hóa như anh đã kể– thì đúng là loạn quá.

Bởi vậy, nếu dùng chữ “chất vấn”, thì cũng chính anh sẽ bị chất vấn trước ai hết thảy và ngay lập tức về những hoạt động vu khống Miền Nam của Thanh Lãng  và hoạt động của Vũ Hạnh. Anh biết gì về Thanh Lãng?! Về Vũ Hạnh? LÚC ĐÓ và SAU NÀY? Anh và Phạm Việt Tuyền ở đâu khi Thanh Lãng nhân danh Trung Tâm Văn bút Việt Nam tuyên bố trên tạp chí của Nguyên Sa vào đầu năm 1975, như sau:

-“NHÀ VĂN: Tết năm nay, linh mục chủ tịch và các văn hữu trong quý trung tâm ăn Tết như thế nào?

-“THANH LÃNG: Tết năm nay, đối với Trung tâm Văn bút Việt Nam là một cái tết “tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong “một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân. [Thanh Lãng, số Mùa Xuân, tháng 2. 1975, trang 115]

Nếu anh không biết một chuyện “búa tạ” như thế, nếu anh không biết chính anh đang “sống trong một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân” theo sự tuyên bố của chính ông Chủ tịch của anh, có lẽ anh đã mất tư cách “chất vấn” thiên hạ. Người bạn Tà Cúc có nói anh cũng cho in lại ý kiến của anh Mặc Đỗ và phần giải thích của Văn Bút Việt Nam trong cuốn sách mới này. Nếu đúng thế, Tà Cúc thành thực hy vọng anh cũng cho đăng lại lời tuyên bố của Chủ tịch Thanh Lãng vào năm 1975 kèm phản ứng –hoan nghênh hay bất đồng ý kiến–của anh nếu có, dù quá muộn, để khỏi mang tiếng thiên vị bạn đồng hội của anh đến nỗi có thể bị hiểu lầm là che dấu sự thực. Và cũng để người khác được quyền tự do đặt dấu hỏi về một hội nhà văn tuy được Chính phủ Việt Nam Cộng hòa bảo trợ nhưng lại có ngôn ngữ của một thứ tuyên truyền đậm chất Cộng sản. [Không, không nên chụp mũ Tà Cúc là động chạm đến cả Trung tâm VBVN vì người đụng chạm đến Trung tâm này cùng các văn hữu nhân dân Miền Nam chính là Thanh Lãng.]

          Cho nên, cũng không, không chỉ một vấn đề Vũ Hạnh mà còn ông Chủ Tịch Thanh Lãng với sự im lặng của hội viên NHƯ ANH khi ông ta tuyên bố thượng dẫn. Và càng không, không chỉ sự kiện Trung Tâm VBVN tranh đấu cho Vũ Hạnh ra khỏi tù mà còn là một cuộc tỷ thí giữa nhà văn Quốc gia và nhà văn Cộng sản ngay trong một tổ chức chính thức của các anh. Nếu sau 40 năm nhìn lại, anh chỉ thấy quá đơn giản như anh đã viết là quyền của anh, nhưng cần có chứng cớ thuyết phục. Nếu không, anh sẽ rơi ngay vào luận điệu đã dùng để nguyền rủa người khác, mà đồng thời, rõ ra, không chịu nhận trách nhiệm của một hội viên. Nhất là khi anh lại giữ chức vụ quan trọng trong VBVN và không có cớ mà sai lầm về nội tình như người ngoài được.

Đó, đó mới là những vấn đề mà các thế hệ đi sau cần biết khi khảo cứu về Văn Bút: Hoàn cảnh thành lập của nó với thêm nhân chứng hay thêm văn bản và sự đối phó với hội viên CS nằm vùng như Vũ Hạnh hay một ông Chủ tịch Thanh Lãng. Cho tới khi anh đưa được văn bản hay nhiều nhân chứng để giúp chứng minh, hãy nên coi những nguồn tin đó là một thí dụ để đem lại công lý giản dị chỉ vì, cho tới khi có văn bản và nhân chứng khác, ý kiến của anh chỉ được coi là MỘT ý kiến, không hơn không kém. Nhất là sau khi anh đã không trích đầy đủ phần phát biểu của Viên Linh; hay ngoài ra, những phát biểu của anh về các hội viên Cộng sản trong Văn Bút Quốc tế cũng cần được xét lại [trước khi anh áp dụng loại tin tức này vào lý luận của anh], như các nước CS đều tham dự VBQT vv Trên thực tế Nga Xô chỉ gia nhập vào giữa thập niên 1980, không cùng khoảng thời gian với Trung Tâm Việt Nam, mà trước đó lại còn đóng xập Trung tâm của quốc gia Latvia khi chiếm đóng nước này vào năm 1940 vv…

Anh cũng cần nên nhớ rằng, hễ đã hoạt động công khai thì khi người khác có ý kiến, dù thế nào, cũng không nên nổi nóng. Đọc kỹ lại bài Mặc Đỗ, Tà Cúc nhận thấy vẫn còn những ý kiến anh ấy đưa ra chưa có trả lời thỏa đáng từ các anh. Nội cái việc anh ấy than phiền là không có sự góp ý của các nhà văn khác trước khi các anh đi tham dự hội nghị Văn Bút mà cứ “nhân danh nhà văn Việt Nam” [và hình như còn than van là các anh phải “hy sinh” khiến anh ấy khó chịu?], Tà Cúc chưa thấy các anh trả lời. Rồi các anh kể thành tích Trung tâm đã đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi nhưng cũng không nói rõ là các sáng tác đó được chọn trong vòng tất cả nhà văn hay chỉ trong vòng hội viên vv…[mà chắc lại nhân danh nhà văn Việt Nam?] thì cũng chưa đáp được một thắc mắc rất rõ ràng của anh ấy. 41 năm sau, phản bác Viên Linh, anh lại lôi Hiến Chương Văn Bút Quốc Tế ra dài dòng như đã làm với Mặc Đỗ. Để làm gì vậy? Hiến chương VBQT có giải thích được cái vụ các anh “nhất nhất đều nhân danh nhà văn Việt Nam” như Mặc Đỗ nêu câu hỏi nhiều lần hồi đó hay vụ Thanh Lãng & Vũ Hạnh như Viên Linh đặt vấn đề bây giờ không?

-Ngoài ra, với Tà Cúc, còn một yếu tố quan trọng nữa khiến Tà Cúc thấy nên chấm dứt: Anh vẫn đôi khi gặp anh Viên Linh mà không thấy anh hỏi anh ấy những chuyện này, cho anh ấy một cơ hội để giải thích hay suy ngẫm. Nay xuất kỳ bất ý tung ra một mảnh viết không đẹp về anh ấy, mà tung ra ngay trên một website từng gọi các anh là “nhà văn đô thị” khiến anh và anh ấy đã phải ra sức chống đỡ. Tà Cúc thì khác. Tà Cúc quan niệm rằng trừ phi biết chắc chắn có ác ý [như trường hợp Ngô Thế Vinh], Tà Cúc luôn tìm một giải đáp nếu có thể từ chính người đó. Tà Cúc đã không ngại hỏi Dương Nghiễm Mậu, anh, Đỗ Quý Toàn vv khi Tà Cúc thấy cần phải hỏi. Chúng ta đang có quá nhiều vấn đề với người Cộng sản, nếu thanh toán được thắc mắc nào với những người còn có thể coi là bạn thì cứ giải quyết trước. Không ai trong chúng ta là không lầm lỗi. Thanh Lãng–một người tự căn bản không ác độc lại rất tài hoa– đã phải học một bài học đau đớn, trả một cái giá cho sự xẩy bước của mình đến nỗi cuối đời phải viết 40 trang sám hối, xin Chúa và anh em tha tội cho mình. Người như thế đáng thương dù chúng ta vẫn phải nhắc tới cái giá này vì nó liên quan đến lịch sử của chúng ta. Thế nên, nếu có cơ hội nói chuyện với nhau lại bật ra những chuyện khác soi sáng cho mình thêm, giúp mình tránh thêm lỗi lầm. Khi nào không giải quyết với nhau được, sẽ cứ thẳng tay trên con đường tìm thấy công lý cũng chưa muộn.

Thế nên, với quan điểm ấy,  Tà Cúc không muốn dính dáng gì đến những nhân sự chỉ làm Tà Cúc thấy cuộc đời buồn nản, sân si thêm. Cách giải quyết của Tà Cúc là cắt đứt cái nguồn buồn nản sân si ấy để dành sức lực mà làm việc của mình và vui với những người bạn đồng ý hướng với mình/.

Nguyễn Tà Cúc


  1. Phần trả lời của Nhật Tiến

          Tôi xin trả lời từng luận điểm một, nêu trong lá thư kể trên của cô Nguyễn Tà Cúc và tô đậm hay gạch dưới những chỗ cần thiết :

          1) Tôi đã không trích dẫn đầy đủ câu của Viên Linh, khiến gây cho người đọc cảm tưởng sai lầm rằng ông ấy VÔ CỚ tấn công Phạm Việt Tuyền và Thanh Lãng. Mà theo cô Nguyễn Tà Cúc thì “ cốt tủy của đoạn này là sự im lặng của Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền về sự bị cầm tù rồi qua đời của Chủ tịch tiền nhiệm Vũ Hoàng Chương sau khi họ đã tranh đấu rất ồn ào và hiệu quả cho người Cộng sản nằm vùng Vũ Hạnh”.

Nguyên văn đoạn ấy của Viên Linh như sau:

Anh Chương là Chủ tịch Văn bút Việt Nam, bậc tiền nhiệm của chủ tịch Thanh Lãng. Khi nhà văn Vũ Hạnh bị chính phủ quốc gia bắt giữ vì tình nghi là Việt cộng – mà đúng là Việt cộng thật – Linh mục Thanh Lãng và Tổng thư ký Văn Bút Phạm Việt Tuyền đã nỗ lực vận động Văn Bút Quốc Tế và Hội Ân Sá Quốc Tế can thiệp phóng thích. Chính phủ Quốc gia đã phải phóng thích, vì tôn trọng trò chơi Dân chủ, tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc tôn trọng tự do phát biểu. Đến khi bậc tiền nhiệm của mình bị bắt, bị bắt về vấn đề tự do tư tưởng, tự do phát biểu, như Vũ Hạnh, nhưng ông Thanh Lãng đã im lặng.”

Tại sao tôi không trích đoạn này vào sách của tôi?

Xin trả lời rằng vì tôi không muốn phô cho độc giả nhìn thấy cái ác tâm của ông Viên Linh qua đoạn văn  này. Nó vừa có tính chất quá ấu trĩ về kiến thức đối với C.S vừa mang dấu tích của một thứ thủ đoạn “lập lờ đánh lận con đen” nhằm gây lạc hướng cho người đọc:

          1) Tôi nói ấu trĩ là vì: ông Viên Linh đi từ năm 1975, nay ngồi ở California viết báo Khởi Hành, vừa tích cực chống Cộng, vừa dũng cảm bênh vực Vũ Hoàng Chương đã bị CS bắt giữ v.v…. Còn hai vị Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, cũng như tất cả các văn thi sĩ kẹt lại sau 1975 thì không ai có thể can trường lên tiếng  như ông Viên Linh đòi hỏi được.

Vào thời gian sau 1975 ấy, ở Sài Gòn khét lẹt bầu không khí khủng bố. Nhà văn, nhà thơ, ký giả, văn nghệ sĩ, người nào cũng hồi hộp chờ ngày bị Công an đến nhà còng tay lôi đi, thân mình còn như cá nằm trên thớt thì đòi lên tiếng cái nỗi gì? Và lên ở đâu? Gửi bài phản kháng cho báo “Nhân Dân” hay  báo ‘Sài Gòn Giải Phóng” để đòi C.S thả Vũ Hoàng Chương chăng? Rồi phản kháng xong thì hy vọng CS cũng thả Vũ Hoàng Chương như ngày trước chính phủ V.N.C.H thả Vũ Hạnh chăng? Trình độ nhận thức ấu trĩ như thế mà cô Tà Cúc cứ nằng nặc “đòi đăng lại”  thì quả là tinh thần đồng đội của cô quả có đáng kính nể thật.

2) Tôi nói : còn mang dấu tích của một thủ đoạn lập lờ đánh lận con đen là vì ông Viên Linh che giấu tư cách Chủ tịch Văn Bút của LM Thanh Lãng trước và sau 1975.

– Trước 1975, LM Thanh Lãng còn ở cương vị Chủ tịch Văn Bút nên ông có bổn phận phải lên tiếng khi Hội viên của mình bị bắt giữ. Lại nữa, trước 1975,  VNCH là một chính thể tự do – dân chủ, việc đòi thả người là chuyện có thể xẩy ra và người đòi cũng chẳng ai hề hấn gì.  Nhưng sau 1975, TT Văn Bút đã bị giải tán, LM. Thanh Lãng đâu còn tư cách Chủ tịch mà ông Viên Linh đòi LM. phải lên tiếng.

Cho nên, cô Nguyễn Tà Cúc đòi tôi phải trích nguyên câu của Viên Linh:

“ -Anh đã không trích dẫn đầy đủ câu của anh Viên Linh, khiến gây cho người đọc cảm tưởng sai lầm rằng anh ấy VÔ CỚ tấn công Phạm Việt Tuyền và Thanh Lãng. [Không, Tà Cúc không tin anh Viên Linh phải trả lời nếu có bao giờ đọc đến vì anh đã mất quyền được trả lời khi không trích dẫn đầy đủ]. ”

Thì bây giờ, qua thư của cô Tà Cúc,Viên Linh đã được trích dẫn đầy đủ rồi đó.

Vậy xin ông Viên Linh hãy trả lời câu hỏi của tôi đã in trong sách (trang 23) rằng: “Xin ông Viên Linh cho biết GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và xin nêu vài tên tuổi nào của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Như thế để cho cô Nguyễn Tà Cúc khỏi phải kêu ca giùm ông rằng: “Tà Cúc không tin anh Viên Linh phải trả lời nếu có bao giờ đọc đến vì anh đã mất quyền được trả lời khi không trích dẫn đầy đủ.”

***

2) Cô Tà Cúc bảo tôi không nên “kể công” trong đoạn cô viết : “… là một hội được nâng đỡ, trợ cấp tài chính, cung cấp phương tiện và còn lại được chính phủ Miền Nam cho phép tham dự một cơ cấu quốc gia để phát biểu, anh không nên kể lể công ơn cho Phạm Việt Tuyền hay bất cứ ai ở đây. Đó là bổn phận của các anh, của hội viên…”

          Vâng, thưa cô Tà Cúc, một khi đã nhận nhiệm vụ thi hành một công việc dù là việc thiện nguyện (tất cả hội viên Văn Bút đều làm việc thiện nguyện, trừ cụ thư ký hành chánh không phải là hội viên) thì ai mà chẳng coi là bổn phận phải làm, cô khỏi cần nhắc nhở. Nhưng cô nói là chúng tôi kể lể công ơn thì sai hoàn toàn. Chúng tôi chỉ liệt kê những công việc đã làm để về sau nếu có ai nghiên cứu về Văn Bút sẽ có tài liệu mà tham khảo. Cũng như bên quân đội, các chiến sĩ VNCH thuật lại những chiến công là để ghi vào lịch sử, chẳng lẽ cô cũng cho là các vị ấy không nên kể lể công ơn hay sao?

3) Cô Nguyễn Tà Cúc hỏi Tôi (Nhật Tiến) và Phạm Việt Tuyền ở đâu khi Thanh Lãng nhân danh Trung Tâm Văn bút Việt Nam tuyên bố trên tạp chí của Nguyên Sa vào đầu năm 1975, như sau:

Tết năm nay, đối với Trung tâm Văn bút Việt Nam là một cái tết “tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong “một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân.

           Nếu anh không biết một chuyện “búa tạ” như thế, nếu anh không biết chính anh đang “sống trong một nhà tù lớn, một chốn ly thân, trong thân phận vong thân” theo sự tuyên bố của chính ông Chủ tịch của anh, có lẽ anh đã mất tư cách “chất vấn” thiên hạ.

Và cũng cô Tà Cúc viết:

          “Tà Cúc thành thực hy vọng anh cũng cho đăng lại lời tuyên bố của Chủ tịch Thanh Lãng vào năm 1975 kèm phản ứng –hoan nghênh hay bất đồng ý kiến–của anh nếu có, dù quá muộn, để khỏi mang tiếng thiên vị bạn đồng hội của anh đến nỗi có thể bị hiểu lầm là che dấu sự thực.”

          Xin trả lời ngay rằng tôi đâu có thiên vị bạn đồng hội để “che giấu sự thực” tức là giấu biến đi lời tuyên bố của LM. Thanh Lãng in trên báo của nhà thơ Nguyên Sa.

Nếu cô Tà Cúc trước khi hạ bút phê phán hãy chịu khó mở trang 184-185 trong cuốn sách của tôi thì sẽ thấy lời tuyên bố như trên của LM Thanh Lãng còn được tôi trích dẫn rành rành ra đó. Xin trích lại như sau:

“ Tôi tin rằng nếu những con người miền Nam khi  đó có được ý chí chống Cộng sâu sắc và quyết liệt như bây giờ thì đã chẳng có những cuộc xuống đường biểu tình, xin thả những người như Vũ Hạnh, và do đó cũng chẳng nên lấy cái kinh nghiệm bây giờ để phê phán những con người ở thời điểm trước.

Cũng như vậy, hẳn LM Thanh Lãng đã chẳng phát biểu với phóng viên tạp chí  Nhà Văn trong cuộc phỏng vấn nhân dịp đầu năm Ất Mão 1975 như sau:

NHÀ VĂN: Tết năm nay Linh mục Chủ tịch và các văn hữu trong quý Trung Tâm ăn Tết như thế nào?

THANH LÃNG: Tết năm nay, đối với Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là một cái Tết tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong một nhà tù lớn, một chốn ly thân trong thân phận vong thân. .

(tạp chí  Nhà Văn, số Xuân Ất Mão, trang 115-   Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc)  

          “nhà văn Việt Nam đang sống trong một nhà tù lớn”, đây là một lời “thậm ngôn” được phát biểu trong một tâm trạng bực bội, bất mãn không phản ảnh đúng với thực tế VN trước 1975. Và tuy là một lời nói hồ đồ, đáng trách nhưng cũng chỉ vì ý thức về hiểm họa CS khi đó còn hời hợt chứ không ai trong các Hội viên Văn Bút vì thế mà quy tội cho LM.Thanh Lãng là Cộng Sản cả!

                         (ngưng trích- Từ Nhóm Bút Việt đến TTVB trang 184-185)

Phản ứng bất đồng ý kiến của tôi là như thế đó. Đâu có quá muộn và đâu có  thiên vị bạn đồng hội của tôi để đến nỗi có thể bị hiểu lầm là che giấu sự thực như cô Nguyễn Tà Cúc mạnh miệng kết án khơi khơi như ở trên!

4) Về phần nói về các hội viên Văn Bút Quốc Tế, trong có cả các hội viên là quốc gia Cộng Sản, tôi viết:

“ Vả chăng việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng. Nhiều hội viên trong tổ chức Văn Bút Quốc Tế  lại chính là các nước Cộng Sản như Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư….thì chống Cộng ở cái chỗ nào?”

(Sách đã dẫntrang 21)

Cô Nguyễn  Tà Cúc phản bác:

          “Trên thực tế Nga Xô chỉ gia nhập vào giữa thập niên 1980, không cùng khoảng thời gian với Trung Tâm Việt Nam, mà trước đó lại còn đóng xập Trung tâm của quốc gia Latvia khi chiếm đóng nước này vào năm 1940.. vv…”

Đúng! Nga Sô chỉ mới gia nhập Văn Bút Quốc Tế từ năm 1988, nhưng những năm trước đó đâu có phải Văn Bút Quốc Tế vì chống Cộng mà không cho Nga Sô gia nhập!

Nguyên nhân chỉ là vì cái Hiến Chương của Văn Bút Quốc Tế do đã tôn trọng tự do cầm bút mà nhà nước Nga Sô không cho thành lập Hội Văn Bút trong nước này, cũng giống như nhà nước CSVN bây giờ, sau 1975, ở Việt Nam làm gì có Hội  Văn Bút.

Hơn thế nữa, chính nhà văn Arthur Miller, Chủ tịch Văn Bút Quốc Tế nhiệm kỳ 1966-1969 đã qua cả Nga Sô để vận động Nga vào Văn Bút mà cũng không có kết quả gì.

Trong trang nhà của P.E.N. International  (http://www.pen-international.org/our-history/    có đoạn nói về vụ này:

“Arthur Miller also travelled to the USSR to meet with the Union of Soviet Writers, and was told bluntly that Soviet writers wanted to join PEN but for one major obstacle: the Charter”.

(Arthur Miller cũng đã du hành qua Nga Sô để gặp gỡ Hiệp hội các nhà văn Xô-Viết, và ông được nói thẳng thừng cho biết rằng các nhà văn Xô Viết muốn gia nhập Văn Bút nhưng có một trở ngại chính yếu, đó là Hiến Chương của Văn Bút.)

Như vậy, tôi khẳng định: việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng.

5) Cô Tà Cúc viết:

Đọc kỹ lại bài Mặc Đỗ, Tà Cúc nhận thấy vẫn còn những ý kiến anh ấy đưa ra chưa có trả lời thỏa đáng từ các anh. Nội cái việc anh ấy than phiền là không có sự góp ý của các nhà văn khác trước khi các anh đi tham dự hội nghị Văn Bút mà cứ “nhân danh nhà văn Việt Nam” [và hình như còn than van là các anh phải “hy sinh” khiến anh ấy khó chịu?], Tà Cúc chưa thấy các anh trả lời. Rồi các anh kể thành tích Trung tâm đã đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi nhưng cũng không nói rõ là các sáng tác đó được chọn trong vòng tất cả nhà văn hay chỉ trong vòng hội viên vv…[mà chắc lại nhân danh nhà văn Việt Nam?] thì cũng chưa đáp được một thắc mắc rất rõ ràng của anh ấy.”

Xin trả lời:

  1. a) Mỗi khi nhận được thư mời tham dự Hội Nghị Quốc Tế Văn Bút, Ban Thường Vụ đều thông báo cho các hội viên, và mở cuộc hội luận tại ngay trụ sở về đề tài của Văn Bút Quốc Tế đưa ra cho năm đó để Hội viên tham dự trao đổi ý kiến (và gọi là những cuộc hội thoại). Một thí dụ:

Ngày 16-7-1969: GS Phạm Việt Tuyền hội thoại nêu vấn đề  “Văn chương ở thời đại nhàn rỗi”  là đề tài sẽ hội thảo ở Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần 36 ở Pháp.

Ngày 26-10-1969: Thanh Lãng-Thanh Vân-Bàng Bá Lân-Phạm Việt Tuyền: Văn chương ở thời đại nhàn rỗi (đề tài đã thảo luận ở Văn  Bút Quốc Tế lần 36 ngày 21-9-69  tại Menton- Pháp).

 (trong sách đã dẫn-trang 50)

Nhà văn Mặc Đỗ không phải là Hội viên Văn Bút nên Ban Thường Vụ dĩ nhiên không hề có bổn phận phải tường trình với ông mỗi khi đi dự bất cứ Hội nghị Quốc Tế nào.

  1. b) Phái đoàn Văn Bút Việt Nam đến dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế thì xưng danh là “Phái đoàn Việt Nam” chứ còn danh từ nào khác? Chẳng lẽ phải xưng lên rằng “Phái đoàn Văn Bút trụ sở ở số 36/59 đường cô Bắc Sài Gòn” thì mới làm nhà văn Mặc Đỗ và cô Tà Cúc vừa lòng hay sao ?
  2. c) Cô Tà Cúc viết: “Rồi các anh kể thành tích Trung tâm đã đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi nhưng cũng không nói rõ là các sáng tác đó được chọn trong vòng tất cả nhà văn hay chỉ trong vòng hội viên vv… …[mà chắc lại nhân danh nhà văn Việt Nam?]”

Đem truyện ra dịch và gửi ra ngoại quốc dự thi là một trong nhiều sinh hoạt nội bộ của Văn Bút. Vì thế nếu có dịch truyện của Hội viên rồi gửi đi dự thi thì đó là quyền của Hội, có điều gì sai trái đâu mà cô Tà Cúc  chê trách? Mà đôi khi Hội cũng không chỉ chọn toàn tác phẩm của Hội viên. Có các nhà văn không phải Hội viên Văn Bút mà vẫn được tuyển chọn, như Chữ viết của người tử tù của Nguyễn Tuân, Ma Đậu của Bùi Hiển, Nhà mẹ Lê của Thạch Lam.

Với những nhà văn ấy chẳng nhân danh  nhà văn Việt Nam thì biết gọi là “nhà gì” (??) bây giờ, thưa cô Tà Cúc.

6) Cô Tà Cúc viết:  “Anh vẫn đôi khi gặp anh Viên Linh mà không thấy anh hỏi anh ấy những chuyện này, cho anh ấy một cơ hội để giải thích hay suy ngẫm…”

Chuyện này giống y hệt như chuyện Nguyễn Hữu Nhật ngày xưa, đả kích tôi ròng rã trong nhiều năm trên trang báo Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa. Vậy mà tôi không hay biết vì tôi rất kỵ tìm đọc những trang báo của phường bất chính.

Riêng Viên Linh cũng vậy. Tôi đã không là độc giả dài hạn của tạp chí Khởi Hành trong ròng rã nhiều năm. Chuyện Viên Linh hạ nhục GS Phạm Việt Tuyền, L.M Thanh Lãng và cả Hội Văn Bút trước 1975 tôi hoàn toàn không hay biết. Cho tới tháng 6-2016 nhân lục tìm tài liệu để viết cuốn “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút” tôi mới phát hiện ra chuyện động trời này nhờ những trang nhà trên Internet.

Cô Tà Cúc muốn tôi : “cho anh ấy một cơ hội để giải thích hay suy ngẫm…”

Thưa cô, tôi đâu có quyền cho hay không cho ông Viên Linh giải thích hay suy ngẫm, về bất cứ chuyện gì của ông ấy.

Bài viết của ông ấy đã in thành sách và post trên nhiều trang mạng toàn cầu. Những ai đã đọc đến hẳn sẽ nghĩ trong đầu rằng những lời tố cáo của ông Viên Linh là đúng đắn và vì thế hẳn đã nẩy sinh sự khinh miệt đối với những người mà ông Viên Linh tố cáo. Nay tôi phản bác lại những luận điệu bịa đặt ấy của ông Viên Linh thì việc giải thích hay suy ngẫm là việc của ông ấy chứ. Ông ấy làm lúc nào mà chẳng được, nếu ông ấy muốn. Cô khỏi cần lên tiếng đòi hỏi.

Còn việc của tôi chỉ là nhân danh một Hội viên đã từng gắn bó lâu năm với Văn Bút lại biết rõ sự thực bên trong của Hội, nên trước những gì sai trái tôi phải  lên tiếng để bảo vệ uy tín Hội cũng như trả lại danh dự cho những vị đã khuất núi, không còn cơ hội để thanh minh cho chính mình nữa.

7). Nguyễn Tà Cúc viết: Không ai trong chúng ta là không lầm lỗi. Thanh Lãng–một người tự căn bản không ác độc lại rất tài hoa– đã phải học một bài học đau đớn, trả một cái giá cho sự xẩy bước của mình đến nỗi cuối đời phải viết 40 trang sám hối, xin Chúa và anh em tha tội cho mình. Người như thế đáng thương dù chúng ta vẫn phải nhắc tới cái giá này vì nó liên quan đến lịch sử của chúng ta.

Phải nói rằng tôi rất phẫn nộ khi đọc tới đoạn nảy. Bởi vì:

Một là nó chẳng liên hệ gì tới chuyện Văn Bút để “đến nỗi cuối đời LM. Thanh Lãng phải viết 40 trang sám hối, xin Chúa và anh em tha tội cho mình”!

Hai là sự hiểm độc của đoạn văn muốn dẫn dắt người đọc đi tới ý nghĩ rằng  LM. Thanh Lãng đã làm nhiều điều xằng bậy ở Văn Bút để đến nỗi cuối đời ông phải sám hối. Chữ “anh em tha tội cho mình” không ám chỉ bất cứ văn hữu nào trong Hội Văn Bút hết mà chỉ là những người đồng Đạo với LM. Thanh Lãng thôi.

Như thế, chuyện sám hối của LM. Thanh Lãng hoàn toàn nằm trong lãnh vực tôn giáo, không phải văn chương,  qua đó vì trung thành với ý nguyện ban đầu của Vatican mà ông chống đối Đức Giám Mục Nguyễn văn Thuận nhưng về sau chính ông lại hối tiếc về chuyện này nên đã cất lời sám hối.

Vụ việc xẩy ra từ năm 1974, khi Tổng Thống  Nguyễn Văn Thiệu đã vận động với Tòa Thánh La Mã để bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Thuận về làm Tổng Giám Mục Sài Gòn.

Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận là một người chống Cộng quyết liệt, nhưng lập trường của Vatican khi đó lại rất rõ ràng: thông qua Đức Giáo Hoàng Phao-lồ Đệ Lục, Vatican  kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, gián tiếp chống lại quan điểm của người Mỹ và chính quyền VNCH.

Nhưng tới đầu tháng Tư 1975 thì tình thế có thay đổi.

Trong bài viết “Vụ giáo sĩ làm mật vụ”, ở đoạn “Nhìn về Việt Nam”, nhà báo Lữ Giang đã viết:
(trích theo nguồn  www.honnho.org/20080827/1157)

“Chúng tôi nhớ lại, vào tháng 4 năm 1975, khi đoán biết miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, ngày 23.4.1975 Tòa Thánh đã cử ĐGM Nguyễn Văn Thuận làm TGM Phó Tổng Giáo Phận Saigon với hy vọng sự khôn ngoan của ngài có thể đưa Giáo Hội Việt Nam vượt qua những cơn khó khăn sắp đến.

Nghe tin này, ngày 8.5.1975, một nhóm Linh mục đã gởi đến Đức TGM Nguyễn Văn Bình một kiến nghị yêu cầu hoãn bổ nhiệm ĐGM Nguyễn Văn Thuận làm TGM Phụ Tá. Kiến nghị này do các Linh mục sau đây ký tên: Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm, Hoàng Kim, Huỳnh Công Minh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Đinh Bình Định, Nguyễn Thiện Toàn, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Nghị.

Mặc dầu có sự phản đối nói trên, ngày 12.5.1975 Tòa Giám Mục Saigon vẫn thông báo cho các giáo xứ trong Giáo Phận biết ĐGM Nguyễn Văn Thuận đã được Tòa Thánh bổ nhiệm làm TGM Phó Giáo Phận Saigon. Ngay lập tức, các Linh mục Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm và Hoàng Kim đã đến Chủng Viện Thánh Giuse ở đường Cường Để Sài Gòn, chất vấn Đức TGM Nguyễn Văn Bình và yêu cầu Đức Phó TGM Nguyễn Văn Thuận từ chức.

Ngày 15.8.1975, Công an đến bắt Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đưa ra giam ở xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

(ngưng trích)

Số phận của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận từ đó trở nên bi đát. Ngày 1-12-1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam được C.S đưa xuống tầu Trường Xuân để chuyển ra Bắc. Tại miền Bắc, ngài đã bị biệt giam trong 9 năm ở nhiều trại tù khác nhau, và bị quản chế 3 năm. Mãi tới  năm 1988, ngài mới được trả tự do và chỉ định nơi cư trú là Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Chính sự tù đầy cực kỳ gian khổ này của Ngài mà L.M Thanh Lãng đã tỏ ra ăn năn và viết lời sám hối.

Nguyên văn lời sám hối của LM. Thanh Lãng là như sau:

Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội thánh Toàn cầu và Việt Nam.

Lạy Chúa xin tha thứ cho con mọi lầm lẫn và ban cho con lòng tin, lòng trông cậy và ơn tha thứ.

Tôi xin công khai sám hối xin lỗi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa giữ gìn và trả công cho Đức cha.

Tôi xin công khai sám hối xin lỗi tất cả và tình anh em linh mục mà tôi vô tình hay cố ý, làm mất lòng.

Tôi xin công khai và xin lỗi toàn thể dân Chúa mà tôi hối tiếc là chưa được phục vụ trong Mục vụ.

Tôi xin mọi người tha tội cho tôi để Hội Thánh và Chúa tha tội cho tôi”.

Ngày 28-11-1988,

 Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lãng

(DCVOnline.net). http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/BachDienTS/BatSVVietCong.htm

Non một tháng sau khi viết lời sám hối này, LM. Thanh Lãng qua đời vào ngày 17.12.1988.

Một thái độ rất trí thức đầy can đảm và chân thành như thế đã không khiến cho cô Tà Cúc ngưỡng mộ hay mủi lòng mà cô lại còn dùng nó như một võ khí hiểm độc đánh vào danh dự của người đã khuất.

Mà việc Sám hối đâu chỉ có riêng một mình LM. Thanh Lãng đã thể hiện.

Trên bia mộ Đức Giám Mục Jean De Cassaigne (1895-1973) – một vị Giám Mục vĩ nhân của những người Cùi ở vùng Tây Nguyên VN – có khắc hai dòng chữ sau đây:

Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi không giúp đỡ được gì, hãy tha lỗi cho tôi.”

 “Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi đã nêu gương xấu, hãy tha lỗi cho tôi”

Đấy cũng là những lời sám hối của một tâm hồn cao cả trước khi nhắm mắt lìa đời.

Là một kẻ hậu sinh quá non trẻ so với các bậc tiền bối, cô Nguyễn Tà Cúc hãy biết ngước nhìn lên để thấy có nhiều điều cao thượng hơn cô tưởng và do đó cô không thể cứ nhẫn tâm chắp nối  sự kiện này vào sự kiện kia để dễ dàng hủy hoại danh dự của người đã khuất.

Nhật Tiến

8/2016

Nhật Tiến: CHẤT VẤN ÔNG VIÊN LINH


Nhật Tiến

Trang Bia

Trụ sở ở số 157 Đường Phan Đình Phùng Sài Gòn.

(Trích trong: Từ Nhóm Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (1957-1975) của Nhà Văn Nhật Tiến)

LỜI NÓI ĐẦU

Miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975 nói về mặt sinh hoạt văn hóa thì đó là một thời kỳ rực rỡ được vun trồng bởi nhiệt huyết của một số lượng nhân sự lớn lao bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, các nhạc sĩ, họa sĩ, các nghệ sĩ trong mọi ngành sân khấu, điện ảnh và cả các giới chức trong toàn ngành giáo dục. Nhiều thế hệ qua đó đã được đào tạo, vừa nhằm mục đích gây dựng một nền tảng đạo đức xã hội song song với việc duy trì truyển thống văn hóa tốt đẹp của Cha Ông và cũng vừa làm nẩy nở và phát triển thêm về những tư tưởng khai phóng, dân chủ qua các trào lưu văn hóa mới trên thế giới.

Trong bối cảnh tự do trăm hoa đua nở đó, tổ chức Văn Bút là một Hội duy nhất được dành cho giới cầm bút, bao gồm các nhà văn, nhà thơ, các soạn giả, kịch tác gia, các chủ bút và ký giả báo chí cùng các nhà khảo cứu, bình luận gia về mọi ngành thuộc về văn học nghệ thuật.

Được chính thức thành lập từ tháng 10 năm 1957 qua Nghị định số 111-BNV/NA/P5 của Bộ Nội Vụ VNCH, Hội đã liên tục hoạt động không ngưng nghỉ cho tới tháng 4-1975. Trải gần 20 năm ròng rã ấy, đã có biết bao nhiêu sinh hoạt của Hội đóng góp vào công cuộc xây dựng và vun trồng nền văn hóa của Miền Nam Việt Nam mà nếu có thể ghi chép lại thì cũng gom được thành một tài liệu văn học hữu ích cho các thế hệ sau.

Nhưng tiếc thay, cuộc phần thư năm 1975 do nhà cầm quyền CS tiến hành đã thiêu hủy biết bao nhiêu là tài liệu, sách báo quý giá kể cả những tài liệu liên quan đến Văn Bút VN.

Rồi thời gian qua đi, các vị làm văn hóa lão thành vốn đã từng tạo dựng nên hội Văn Bút và nắm giữ nhiều kỷ niệm quý giá về Hội này thì hầu hết đã quy tiên cả như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Đào Đăng Vỹ, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ Đình Chí, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, LM. Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền v.v… Cho nên nếu ai có quan tâm cách mấy về việc viết lại các sinh hoạt của hội Văn Bút thì cũng thẩy đều gần như bó tay vì số lượng tài liệu còn tìm thấy được lại quá ít ỏi.

Tuy nhiên một tổ chức văn hóa như thế mà không có tài liệu nào viết về nó dù chỉ là một cách tương đối thì cũng thật là đáng tiếc. Vì vậy, nhân danh một Hội viên thuộc thế hệ hậu sinh, đã có dịp gặp gỡ và làm việc chung với nhiều bậc tiền bối như Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường, LM. Thanh Lãng… tôi tự thấy có bổn phận phải gom góp tài liệu dù rất ít ỏi để viết về những sinh hoạt của Văn Bút kể từ Nhóm Bút Việt cho đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam qua cả một chặng đường dài từ 1957 cho đến 1975.

Những dữ kiện về Văn Bút trong cuốn này sẽ mặc nhiên phủ chính lại một vài dữ kiện khác biệt đã có trong những bài viết trước đây của tôi về Văn Bút vì lý do khi đó tôi chưa có đủ tài liệu để đối chiếu.

Dù đã hết sức cố gắng nhưng lực bất tòng tâm, tôi vẫn hy vọng sau này sẽ có nhiều cây bút khác với sự kiên nhẫn tìm tòi và nghiên cứu kỹ lưỡng tại các thư viện trong và ngoài nước hẳn sẽ có thể viết lại lịch sử Văn Bút một cách đầy đủ hơn và như thế sẽ còn bổ sung hay phủ chính lại những sai sót nếu có của tôi trong cuốn tài liệu nhỏ bé này. Và đó là điều tôi hết lòng mong mỏi.

Garden Grove, California ngày 6-7-2016

Nhật Tiến

________

CHƯƠNG I

Tiến trình Thành Lập

Sau một thời gian tìm hiểu về Hội Văn Bút Quốc Tế (P.E.N International), ngày 17-8-1957, một số văn nghệ sĩ lão thành ở Sài Gòn đã quyết định thành lập một tổ chức có tên là “Nhóm Bút Việt”.

Họ bao gồm 19 nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà biên khảo, kịch tác gia và cả họa sĩ mà danh tính theo tờ Thế Giới Tự Do Tập VII, số 9, năm 1957 thì như sau: Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên, Lê Ngọc Trụ, Phạm Việt Tuyền, Như Phong Lê văn Tiến, Tchya Đái Đức Tuấn, Thạch Trung Giả, Triều Đẩu, Xuân Nhã, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, Mai Xuyên, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Phạm Tăng, Thuần Phong, Hoàng Đình Lượng.

Khi thành lập, Nhóm Bút Việt tuyên bố :

“ Nhóm không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có chủ trương cương lĩnh hoặc đường lối nhất định nào hết. Nó không phải là một văn đoàn, văn phái. Cũng không phải là một hội ái hữu. Bút Việt chỉ là một câu lạc bộ của các nhà cầm bút muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến về sáng tác, về công phu tìm hiểu cũng như công phu giới thiệu”. (In trong kỷ yếu mà sau này Văn Hóa Ngày Nay Tập I của Nhất Linh có in lại)

Như vậy trong buổi khởi đầu, Nhóm Bút Việt đã hình thành trong một ý niệm hết sức rộng rãi và tự do. Các thành viên của Bút Việt sinh hoạt như một Câu lạc bộ.

Điều đáng chú ý là theo danh sách ở trên, ta không thấy có tên nhà văn Nhất Linh, một tên tuổi lão thành mà nhiều người vẫn thường nghĩ ông là một trong những vị đứng ra sáng lập tổ chức Văn Bút.

Tuy nhiên nếu so sánh ngày tháng và nơi cư trú của Nhất Linh vào thời điểm ấy thì ta thấy :

– Ông từ Hương Cảng trở về Hà Nội khoảng cuối năm 1950 (theo quý nam của ông là Nguyễn Tường Thiết ghi lại trong bài Nhất Linh, Cha tôi.)

– Đầu tháng 4 năm 1951, ông dời Hà Nội vào Nam.

– Năm 1954, khoảng tháng 7, ông qua Pháp để chữa bệnh. Thời gian này gia đình ông cũng di cư vào Nam sau Hiệp định Genève, và cư ngụ ở khu chợ An Đông, Sài Gòn.

– Năm 1955, ông lên Đà Lạt với quyết định ở luôn trên ấy.

– Năm 1957 ông mua một lô đất ở ven quốc lộ 20 Sài Gòn – Đà Lạt, ở phía nam của làng Fim-Nôm và dự tính xây một căn nhà cho chính ông. Thời gian này ông sáng tác tác phẩm Xóm Cầu Mới.

– Năm 1958, sau một cơn bão ở Đà Lạt phá sập nguyên căn nhà mà ông đang cư ngụ nên ông đã dời về Sài Gòn để từ đó bắt đầu chuẩn bị cho tờ Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay với số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, một ngày mà theo nhà báo Hiếu Chân thì ông đã cố ý lựa chọn vì 17-6-1930 là ngày liệt sĩ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Thực dân Pháp đưa lên đoạn đầu đài xử trảm tại Yên Bái.

Như thế, khi các văn nghệ sĩ chủ chốt chuẩn bị thành lập Nhóm Bút Việt từ năm 1957, thì nhà văn Nhất Linh đã không có mặt ở Sài Gòn để tham gia. Mãi tới tháng 12-1957, Nhóm mới mời ông làm Cố vấn và Hội viên Danh dự. Và tới niên khóa 1961-1962 thì ông được bầu làm Chủ tịch Văn Bút với hai vị Phó Chủ tịch là LM. Thanh Lãng và Vi Huyền Đắc.

****

Trở lại từ năm 1957, các văn nghệ sĩ đã nêu trong danh sách kể trên không chỉ ngừng lại ở ý niệm một Câu Lạc Bộ cầm bút mà còn muốn đi xa hơn, tức nhắm vào mục đích xin gia nhập tổ chức Văn Bút Quốc Tế để mở rộng tầm mức sinh hoạt hơn. Bởi vì trong bối cảnh của một đất nước vừa bị chia đôi sau Hiệp Định Genève 20-7-1954 và trước một cuộc sống đầy dẫy những vấn đề của công cuộc hình thành một miền Nam Tự Do đối đầu với miền Bắc Cộng Sản, hẳn nhiều nhà làm văn hóa trong số các vị kể trên cũng đã thao thức với thời cuộc về những bổn phận và trách nhiệm của mình. Họ đã nghĩ tới việc tiếp cận Tổ chức Văn Bút Quốc Tế để mong tiến tới một tổ chức qui tụ các người cầm bút ở ngay trong nước. Họ đã gặp gỡ, bàn thảo công việc chuẩn bị, kể cả những lần tiếp xúc với các văn gia quốc tế đặc biệt là với ông David Carver, Tổng Thư Ký Hội Văn Bút Quốc Tế hồi đó để thăm dò hoặc tham khảo ý kiến về việc thành lập một chi nhánh Văn Bút Quốc Tế tại VN.

Tổ chức Văn Bút Quốc Tế vốn đã được thành lập từ năm 1921 ở Anh Quốc. Tổ chức này lấy tên là P.E.N International bao gồm các Nhà thơ (Poets), Kịch tác gia (Playwright), Bình luận gia (Essayist), Chủ bút và ký giả (Editors), Tiểu thuyết gia (Novelist).

Theo Hiến chương của tổ chức này thì :

* Các thành viên của PEN phải luôn luôn sử dụng những ảnh hưởng của mình để thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, xua tan những hận thù chủng tộc, giai cấp, hận thù quốc gia và đấu tranh cho lý tưởng một nhân loại sống trong hòa bình trên thế giới.

* PEN ủng hộ nguyên tắc tự do truyền bá tư tưởng trong mỗi quốc gia và trong mọi dân tộc. Các thành viên của PEN tự cam kết phản đối mọi hình thức đàn áp tự do ngôn luận trong nước hay trong cộng đồng của mình.

* PEN tuyên bố tán thành một nền báo chí tự do và phản đối việc kiểm duyệt độc đoán trong thời bình.

* PEN tin rằng sự tiến bộ của thế giới hướng tới một trật tự chính trị và kinh tế có tổ chức cao hơn sẽ làm cho việc tự do phê bình chính phủ, chính quyền, và các tổ chức là điều rất quan trọng. Và vì sự tự do có bao hàm ý nghĩa hạn chế tự nguyện, nên các hội viên PEN tự cam kết chống lại các tệ nạn như : xuyên tạc ý nghĩa của tự do xuất bản báo chí, cố ý lừa dối, và bóp méo các sự kiện nhằm những mục đích chính trị và cá nhân…

Khi nhận thấy tình hình đã có nhiều thuận lợi, Nhóm đã quyết định mở phiên họp chính thức vào ngày 17-8-1957 kể trên để quyết định lập Ban Vận Động và xúc tiến các thủ tục hành chính. Danh sách Ban Vận Động gồm có:

Chủ tịch: Đỗ Đức Thu.

Phó Chủ tịch: Vương Hồng Sển, Tchya Đái Đức Tuấn.

Tổng Thư Ký: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Cố vấn: Vũ Hoàng Chương, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội.

Vì đã có sự vận động với quốc tế từ trước, nên Ban Vận Động Bút Việt đã được mời tham dự ngay Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29 họp tại Đông Kinh, Nhật Bản, từ ngày 1 đến 9 tháng 9-1957.

Phái đoàn Việt Nam gồm có Đỗ Đức Thu, Đái Đức Tuấn, Phạm Việt Tuyền, Hoàng Định Lượng và Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tham dự Hội nghị này có 350 nhà văn, nhà thơ, ký giả đại diện cho 27 quốc gia trên thế giới. Số người của riêngVăn Bút Nhật Bản tới dự cũng đông gần con số 350.

Trong phiên họp ngày 2 tháng 9 năm 1957 tại Đông Kinh, Đại Hội Văn Bút Quốc Tế đã chính thức thu nhận hai Hội viên mới: Nhóm Bút Việt của Việt Nam Cộng Hòa và Nhóm Văn Bút của Băng Đảo (Cộng Hòa Iceland). Như thế, tổng số hội viên của Văn Bút Quốc Tế là 50 Hội viên tính tới tháng 9-1957.

Khi ở Đông Kinh về, các đại biểu đã triệu tập một phiên họp vào cuối tháng 10-1957 để tường trình công việc.

Qua tháng 11-1957, tại trụ sở tạm thời của Nhóm ở số 69 đường Cao Thắng Sài Gòn, Ban Vận Động từ chức vì xong nhiệm vụ. Một Ban Chấp Hành Lâm Thời được bầu ra gồm 5 vị: :

Chủ tịch: Đỗ Đức Thu.

Phó Chủ tịch: Vương Hồng Sển và Vi Huyền Đắc.

Tổng Thư Ký: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Thủ Quỹ: Bùi Xuân Uyên.

Tới ngày 29-5-1958, Ban Chấp Hành Lâm Thời bổ sung thêm 2 vị Thư Ký: Nguyễn Khang và Lê văn Siêu.

Nhiệm vụ của Ban Chấp Hành Lâm Thời là thiết lập trụ sở, tổ chức văn phòng thường trực, xúc tiến thủ tục hành chánh xin thành lập Nhóm, thiết lập Thư viện, phát triển Hội viên, chuẩn bị cho Đại Hội toàn quốc và xuất bản tờ Kỷ Yếu.

Ngày 21 tháng 10 năm 1957 Nhóm được cấp giấy phép hoạt động ở trụ sở số 25 Võ Tánh Sài Gòn (đây chỉ là địa chỉ mượn của báo Tự Do để làm giấy tờ mà thôi), do 3 vị đứng tên là Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển và Nguyễn Hoạt và do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Nguyễn Hữu Châu ký trên Nghị Định số 111-BNV-/NA/P5 có nội dung chính như sau:

“Nhóm Bút Việt, danh hiệu quốc tế P.E.N Việt Nam, trụ sở đặt tại số 25 đường Võ Tánh Sài Gòn, được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam đúng với bản Điều Lệ của Hội đã được duyệt y (đính theo Nghị định này) và trong phạm vi của Dụ số 10 ngày 6-8-50 ấn định quy chế các Hiệp Hội.”

Như thế, Nhóm Bút Việt đã được hình thành từ ngày 2-9-1957 trên phương diện quốc tế và ngày 21-10-1957 là trên phương diện hành chánh ở trong nước.

Khoảng giữa năm 1957, Nhóm Bút Việt dời về trụ sở mới ở số 157 đường Phan đình Phùng Sài Gòn (xin coi hình chụp của Mạnh Đan trên tờ Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7,năm 1957).

Tới mùa Thu năm 1959 Nhóm lại dời về trụ sở số 36/59 Cô Bắc Sài Gòn và ở đây cho tới năm 1971 mới lại dọn về số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn.

Cũng từ trụ sở này, Nhóm Bút Việt đã tiếp các nhà văn quốc tế qua VN như nhà văn Mỹ Mac Anley, hai nhà báo và nhà văn Pháp Suzanne Normal, Paul Acker, nhà báo Thụy Điển Charles Asndré Nicole và nhà văn Đan Mạch Lindermann.

untitled

Từ trái qua: các văn hữu Bùi Phương Thể, Nguyễn Duy Miễn, Đỗ Đức Thu, nhà văn Đan Mạch Kelvin Lindermann, Nguyễn Hoạt, Vi Huyền Đắc, Phạm Trọng Nhân. (Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957)

Tháng Tư-1958, Nhóm xuất bản một tập kỷ yếu viết bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp lấy tên là Kỷ Yếu Bút Việt đồng thời cũng lựa dịch một số truyện ngắn Việt Nam ra tiếng Anh để gửi dự thi các truyện dịch do tạp chí văn chương Encounter của Anh quốc tổ chức. Nhóm cũng góp phần dịch truyện ngắn Việt Nam ra Anh ngữ để nhà xuất bản Western Printing and Lithographing Company ấn hành.

Khi số Hội viên đã lên tới 50 người, Nhóm đã thành lập một đoàn Chèo Cổ do Vũ Huy Chấn, Nhất Linh và Trần Tuấn Khải phụ trách.

Một ban Kịch cũng được thành lập do hai Kịch tác gia Vi Huyền Đắc và Vũ Khắc Khoan cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương đảm trách.

Đã có các hoạt động kể trên tất phải đặt ra nhu cầu tài chánh, nhưng Cơ quan Văn Hóa Á Châu đã nhận lời yểm trợ.

Ngày 29-5-1958, Nhóm đã triệu tập phiên họp Đại Hội Đồng để bầu cử Ban Chấp Hành mới. Nhưng Đại Hội đã biểu quyết lưu nhiệm Ban Chấp Hành cũ ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa.

pix3

Quang cảnh phiên họp tại Trụ sở Bút Việt ngày 29-5-1958. (Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957)

*****
CHẤT VẤN ÔNG VIÊN LINH!

Phần trình bầy về ngày thành lập của nhóm Bút Việt đáng lẽ đến đây là chấm dứt, nếu không có lời nhận định sau đây của nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm tạp chí Khởi Hành xuất bản ở Nam Cali :

“Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957, lúc ông Phạm Trọng Nhân làm lãnh sự tại Nhật, cuối cùng đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.”

Đoạn văn trên trích từ cuốn “Chiêu Niệm Văn Chương- Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ.”, tác giả Viên Linh. Nhà Xuất Bản Khởi Hành ấn hành năm 2000”, có thể tìm thấy ở nguồn: http://www.tanvien.net/Tribute_1/vhc_by_vienlinh.html

Đưa ra một chi tiết động trời như thế, nhưng ông Viên Linh không hề nêu được một bằng chứng nào cho thấy “Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957”

Ông Trần Kim Tuyến tài năng cỡ nào mà có thể khuynh loát được 19 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo trong đó có cả những bậc lão thành như : Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Tam Lang Vũ đình Chí, Tchya Đái Đức Tuấn, Đào Đăng Vỹ, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên (bút hiệu Hi Di, chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ ở Hà Nội trước 1954) ..v..v..

Tôi chính thức yêu cầu ông Viên Linh trưng bằng cớ về chuyện này.

Ông còn nêu cái ý rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng.

Xin hỏi, chẳng lẽ 19 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo có mặt trong nhóm sáng lập Văn Bút không có ai chống Cộng hay sao mà lại phải nhờ ông Trần Kim Tuyến “thúc đẩy”! Vậy ai đã thúc đẩy họ chạy từ Bắc vô Nam sau Hiệp định Genève? Lại cũng ông Trần Kim Tuyến chăng?

Vả chăng việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng. Nhiều hội viên trong tổ chức Văn Bút Quốc Tế lại chính là các nước Cộng Sản như Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư….thì chống Cộng ở cái chỗ nào ? Đã từng là Chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại, hẳn ông Viên Linh phải hiểu rõ Hiến Chương của Văn Bút. Tôi nhắc lại, đó là:

“Các thành viên của PEN phải luôn luôn sử dụng những ảnh hưởng của mình để thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, xua tan những hận thù chủng tộc, giai cấp, hận thù quốc gia và đấu tranh cho lý tưởng một nhân loại sống trong hòa bình trên thế giới.

PEN ủng hộ nguyên tắc tự do truyền bá tư tưởng trong mỗi quốc gia và trong mọi dân tộc. Các thành viên của PEN tự cam kết phản đối mọi hình thức đàn áp tự do ngôn luận trong nước hay trong cộng đồng của mình.

….v..v…

Chính những lý tưởng cao quý này của Văn Bút Quốc Tế mà các văn gia miền Nam mới tụ họp nhau bàn thảo để xin gia nhập chứ chẳng phải vì có mỗi một mục đích “chống Cộng’ như Viên Linh nói, mặc dù chỉ với những lý tưởng cao đẹp như thế thì cũng đã đương nhiên là “chống Cộng” rồi.

Viết lách như thế mà cũng đã có thời ông Viên Linh làm Chủ tịch Văn Bút Hải Ngoại thì kể cũng lạ!

Rồi lại còn kinh khủng hơn nữa khi ông giáng một đòn búa tạ nặng nề lên tổ chức Văn Bút VN bằng một câu ngắn gọn : “…cuối cùng [Trung Tâm Văn Bút Việt Nam] đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.”

Thật là chuyện động trời!

Có thực Việt Cộng đã điều hành Trung Tâm Văn Bút VN trước 1975 qua bàn tay của LM Thanh Lãng và GS Phạm Việt Tuyền hay không?

Tính cho đến năm 1975, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã có gần 200 hội viên mà danh sách sẽ in trong phần sau, tuy chưa đầy đủ.

Xin hỏi ông Viên Linh, “bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền” lông lá cỡ nào mà khuynh loát được cả gần 200 hội viên để đến nỗi Trung Tâm Văn Bút đã trở thành công cụ cho Việt Cộng điều hành.

Tất nhiên ông Viên Linh sẽ nêu bằng cớ là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã can thiệp cho cây bút nằm vùng Vũ Hạnh bị bắt được thả ra. Nhưng nếu chỉ có một chuyện đó thôi mà đã la lên là Văn Bút đã do Việt Cộng điều hành thì thái độ cầm bút đó là hết sức hàm hồ, là vu cáo, là thiếu sự ngay thẳng khi cầm bút. Sự bịa đặt lớn lối và đầy vô trách nhiệm này đã ngồi xổm lên công luận trong nhiều năm ròng rã kể từ khi LM. Thanh Lãng lên làm Chủ tịch Văn Bút đồng thời sổ toẹt mọi công lao đóng góp cho nền Văn Hóa Miền Nam của biết bao nhiêu Hội viên Văn Bút trong thời gian ấy.

Về chuyện Văn Bút can thiệp cho Vũ Hạnh tôi sẽ phân tích thêm ở phần sau, nhưng tôi lại chính thức yêu cầu ông Viên Linh trưng thêm bằng cớ về sự buộc tội của ông rằng : “…cuối cùng [Trung Tâm Văn Bút Việt Nam] đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền.”

Và một câu cũng trích ra từ bài nói trên của ông Viên Linh:

“Ông (tức LM.Thanh Lãng) đã được Hà Nội thu dụng làm việc tiếp ở Đại học Văn khoa; và Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy”, trước khi chịu nhục không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp.

Xin ông Viên Linh cho biết GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các “nhà văn Ngụy” tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và xin nêu vài tên tuổi nào của những “nhà văn Ngụy” đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Nếu không trả lời được những câu hỏi này tức là ông đã xuống tay độc ác với chính đồng nghiệp của mình bằng sự bịa đặt và do đó không biết chính ai sẽ là người chịu nhục đây?

Một cựu Chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại viết không nương tay, vô bằng cớ để hạ gục một cựu Tổng Thư Ký Văn Bút trước 1975 vốn đã dầy công lao đóng góp cho Văn Bút thời đương nhiệm thì không biết vì lý do gì nếu không phải đó chỉ là sản phẩm của một ngòi bút có lúc đã thiếu lương tâm của người cầm bút.

Nhưng dù là với lý do nào thì khi phê phán cũng phải dựa trên sự thực. Sự phê phán hay tố cáo mà không dựa trên sự thực thì chỉ là vu cáo. Người đời thường mà đặt chuyện vu cáo thì cũng đã là tệ lắm rồi, huống hồ lại ở trong văn giới và trong cùng một tổ chức cầm bút với nhau.

Nhiều người chủ quan cứ tưởng rằng khi hạ bút xong thì rồi sẽ có thể phủi tay. Phủi tay thì dễ nhưng giấy mực còn đó. Và làm sao xóa được những tài liệu vu khống hay gian dối khi chúng sẽ còn tồn tại mãi trong các thế hệ về sau.

Nhật Tiến

(Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/1chuong-i-tien-trinh-thanh-lap-v-noi-quy/)

Trả lại sự Công Bằng cho Văn Học Miền Nam, Phùng Nhân Thế


Phùng Nhân Thế

2e462ff3ac6671d1c087db1d0222d178vanhocmiennam-tho_vophien-bia

(Tác phẩm của Nhà văn Võ Phiến)

Nhà văn Võ Phiến mất ngày 28 tháng 9 -2015 tại Santa Ana, Nam California, hưởng thọ 90 tuổi. Tang lễ của ông đã được cử hành ngày 4-10-2015.

Trong dịp này đã có không biết nhiêu là lời ca ngợi dành cho nhà văn vừa quá cố. Như nhật báo Người Việt thì trích thuật lời của học giả Nguyễn Hiến Lê : “nổi tiếng nhất là nhà văn Võ Phiến” hay “ Đông Hồ khen là nhất miền Nam”. Cả hai ông này sau 1975 đều chưa ra hải ngoại và đều đã mất nên không có dịp đọc công trình đồ sộ, bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến mà nhà phê bình non trẻ Nguyễn Hưng Quốc đánh giá là: “Nói chung đó không những là thành tựu lớn nhất của Võ Phiến sau 1975 mà thậm chí đó là thành tựu lớn nhất của cả hải ngoại nói chung về văn học miền Nam trước 75. Cho tới bây giờ chưa có người nào viết về văn học miền Nam một cách đầy đủ, sắc sảo, tinh tế đến như vậy …..”

Còn trên Việt Báo on-line ngày 3-10-2015 thì ông Chủ bút Phan Tấn Hải hết lòng ca tụng Võ Phiến như sau:

“Với tôi, văn nghiệp của ông là những cánh đồng xanh, nơi đó ông dẫn độc giả qua các vườn kỳ hoa dị thảo, và khi đọc ông, chúng ta có thể đọc đi đọc lại một trang, thậm chí một đoạn văn mà vẫn thấy ưa thích và nhận ra có điều để học. Với tôi, văn nghiệp Võ Phiến cũng là một ngọn núi, nơi nhiều nhà văn có thể ngước lên nhìn và tự nhủ, sao cứ mãi thấy bóng mát của ông lẩn khuất trong ngòi bút của mình.”

Đã thế, ông Hải còn sợ có người không có cơ duyên đọc đầy đủ về Võ Phiến để có thể đưa ra những cái nhìn “phiến diện” “bất toàn”, nên ông còn gặng thêm:

“Trong nhiệm vụ một nhà báo, tôi vẫn quan sát tin tức về nhà văn tiền bối này. Và tôi vui khi được nghe kể về những khoảnh khắc an lạc cuối đờì của ông. Và tôi quan ngại, khi thấy có ai ở xa tận quê nhà không có cơ duyên đọc đầy đủ về ông và đưa ra các nhận định phiến diện. Rồi tôi nghĩ, dĩ nhiên, Võ Phiến là một ngọn núi, và rồi cái nhìn nào cũng có thể chỉ là cái nhìn phần mảnh, bất toàn.” (vietbao.com/p112a243693/vo-phien-nghin-nam-may-trang-le-the)

Thêm nữa, ông Phạm Phú Minh (báo Thế Kỷ 21) thì phát biểu trên đài Á Châu Tự Do ngày 3-10-2015 rằng:

“Sản phẩm đầy công sức ấy mang tên Văn học Miền Nam Tổng quan được ông viết sau khi ông sang Mỹ định cư một thời gian ngắn. Nền văn học miền Nam gần như hồi sinh sau khi Văn học Miền Nam Tổng quan ra đời. Từng trang sách, từng tác giả xuất hiện trong đó làm người đọc hiểu thêm giá trị văn học sau khi nó vĩnh viễn bị mất đi. Về lĩnh vực này công đầu thuộc về Võ Phiến mà không ai tranh cãi.”

Còn nhà thơ Du Tử Lê thì nêu nhận xét:

“Tinh thần kẻ sĩ trong con người nhà văn Võ Phiến là một trong những nét son lớn trong sự nghiệp văn chương đồ sộ nhiều mặt mà ông đã tận hiến cho dân tộc, đất nước”.

Chỉ cần nêu ra vài thí dụ kể trên ta cũng có thể thấy sự vinh danh nhà văn Võ Phiến đến thế nào sau khi ông tạ thế.

Nhưng di sản tinh thần của Võ Phiến để lại có hoàn toàn tốt đẹp như vậy không?

Và những nhà văn nhà thơ dầy công đóng góp cho Văn Học Miền Nam đã từng bị Võ Phiến bêu riếu, nhục mạ trong bộ sách phê bình của ông thì có đáng bị phê phán như Võ Phiến đã phê phán họ không? (Xin coi phần trình bầy ở dưới).

Cho nên cần phải làm sáng tỏ cái ác tâm của Võ Phiến khi viết về Văn Học Miền Nam cùng là rọi thêm nhiều sự thật vào những lời vinh danh ồn ào nhân tang lễ của ông để trả lại sự công bằng cho các nhà văn từng bị Võ Phiến miệt thị nói riêng và cho Văn Học Miền Nam nói chung.

Xin hãy đọc những lời do chính Võ Phiến viết ra khi ông nhận định, phê bình một số nhà văn miền Nam (hầu hết là từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954). Tạm thời liệt kê như sau: (Phần chữ đậm là cốt để nhấn mạnh cho rõ thêm)

– Nguyễn đình Toàn:

……”…Đây đó có người bảo Nguyễn đình Toàn chuyên về thứ tình ái tiểu thuyết hiện sinh; lại loáng thoáng có người bảo văn chương Nguyễn đình Toàn là thứ văn chương son phấn, viết cho đàn bà con gái.
(Võ Phiến – Truyện Miền Nam II, trang 988).

Thủ thuật “có người bảo”, nghe “loáng thoáng” hay viện dẫn lời của các nhà phê bình khác như Uyên Thao, Cao Huy Khanh, cô Phương Thảo (tức nhà văn nằm vùng Vũ Hạnh)…để gián tiếp bầy tỏ ‎‎ý kiến của mình, vốn là sở trường của Võ Phiến viết phê bình trong bộ Văn Học Miền Nam.

– Dương Nghiễm Mậu:

……”…Kỹ thuật độc đáo ấy làm cho không khí trong tác phẩm Dương Nghiễm Mậu thật náo nhiệt. Mọi nhân vật đều là “tôi”. Tôi này xỉ vả tôi nọ tưng bừng, các tôi nguyền rủa thời đại inh ỏi. Không có tác giả nào theo kịp nhân vật mình. Dương Nghiễm Mậu khôn ngoan lánh mặt, đứng phía sau, cười cười, hiền lành.
(Võ Phiến – Truyện Miền Nam I( trang 717).

– Mai Thảo:

……”… Ai nấy đều dễ dàng nhận thấy văn viết truyện của Mai Thảo không giống lời văn ở hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của….thiên hạ.

Văn tiểu thuyết dù không đến nỗi vô ngã, nó cũng không phải là thứ văn cầu kỳ trau chuốt. Tiểu thuyết không phải là chỗ chơi …văn. Ai muốn trổ tài văn chương hãy đi chỗ khác mà phô. Hãy làm thơ, làm phú; hãy đi viết tùy bút chẳng hạn.
(Võ Phiến – Truyện Miền Nam I – trang 894).

– Hà Thúc Sinh:

Trước 1975, Hà Thúc Sinh là một Sĩ quan Hải quân, đã in tác phẩm “Dạo núi mình ta” (Sài Gòn 1972). Dù là một Sĩ Quan, khi làm thơ và đặt một tựa đề như thế thì ông đâu có vi phạm gì đến quân phong, quân kỷ. Ấy thế mà cũng bị Võ Phiến mang ra nhiếc móc :

…“ … Ủa, Hà Thúc Sinh là một sĩ quan, sao ông lại khoái lơn tơn dạo núi một mình. Sách ra đời năm 1972, giữa lúc cuộc chiến đến hồi cực độ gay cấn, tình hình nước nhà rất đỗi rối ren. Quân nhân ham dạo núi một mình, vậy đồn bót bỏ ai trông?”
(Võ Phiến – Văn Học Miền Nam THƠ- trang 2885)
…….
Đọc Thơ mà thắc mắc như thế thì quả là giết thơ. Thật hết nước nói. Chưa hết, Võ Phiến còn xuyên tạc ‎ý thơ của Hà Thúc Sinh bằng thủ thuật trích đoạn nửa vời để chê trách tác giả thân thiết với bộ đội C.S. :

….“ … Trước 1975, có lúc người quân nhân là ông, tỉ tê thân thiết với bộ đội cộng sản, cứ ta ta chú chú:
“Ta cũng người như chú….
‎ …Vì nói thật cùng chú…
…Chú cứ ăn cho đủ”..vv..
(nghinh địch hành)…”…
(Võ Phiến – Văn Học Miền Nam THƠ- trang 2887)

Nguyên văn bài thơ “nghinh địch hành” của Hà Thúc Sinh như sau :

Giao thừa đâu mà vội
Hãy khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
Mà ăn uống cho say

Ta cũng ng­ười nh­ư chú
Cũng nhỏ bé trong đời
Có núi sông trong bụng
Mà bất lực hôm nay

Chiến chinh trời cũng sợ
Chỉ còn lại hai bên
Vội vàng chi cho cực
Cứ thong thả nghỉ đêm

Ta nói thật cùng chú
Trăm năm có là bao
Binh đao sao biết đ­ược
Sinh tử ở nơi nào

Nếu chú có cha mẹ
Ta chẳng những ng­ười thân
Còn mang thêm lắm nợ
Với r­ượu và gió trăng

Chú cứ ăn cho đủ
Mai chết sẽ chết no
Ta cũng cần đêm cuối
Từ giã gió trăng xư­a.

Một bài thơ hào sảng, đầy nhân bản với giọng đàn anh như thế (gọi bộ đội là chú mày) mà chỉ bình vài câu ‎với vỏn vẹn trích 3 dòng ngắn ngủn, chắp nối như trên thì đủ hiểu cái ác tâm của Võ Phiến đối với tác giả đến thế nào.

– Nhật Tiến:

…”… Riêng về một chuyện thiếu tranh đấu, chuyện ấy đã khiến cô Phương Thảo độ nào nặng lời với Nhật Tiến. Năm 1963, cuốn Ánh sáng công viên ra đời do nhà Ngày Nay xuất bản. Đó là một tập gồm tám truyện ngắn. Trong truyện “Mắt lưới”, một văn sĩ nghèo là Tân gian díu với một cô gái nghèo, cô Nhân….

Phương Thảo mắng: “ Cô Nhân ở trong Mắt lưới sinh một đứa con với Tân, rồi phải bán mình nuôi con, thế mà vẫn giữ được bộ mặt bình tĩnh khi gặp lại kẻ Sở Khanh đã lợi dụng mình, một sự bình tĩnh mất cả nhân tính ở một con người như vậy”
(Tạp chí Tin Sách, Sài Gòn, số 18, tháng 12- 1963, trang 22).

“Cô Nhân mất nhân tính, cô Nhân bậy, không phải bậy cách tình cờ. E bậy từ… gốc. Nghĩa là tác giả. Bởi vì các nhân vật khác do ông dựng lên cũng bậy luôn.

“ Nói một cách khác, nhân vật Nhật Tiến, dù là người nghèo,cũng không mang cái âu lo sinh kế bằng cái lo âu tình cảm, cũng không hành động bằng những tính toán hợp lý mà bằng xúc động xuẩn động
( Tin Sách trang 22).

Cuối cùng, cô Phương Thảo lo cho một số độc giả trẻ tuổi có thể là nạn nhân của “những suy nghiệm chủ quan” của Nhật Tiến, theo cô : …“ …nếu họ (tức số độc giả trẻ tuổi nói trên) có tiếp xúc với đời họ thấy không chỉ có một vấn đề tình cảm mà còn vấn đề sinh kế, không chỉ có sự đau khổ mà còn có sự bất bình, không chỉ có sự sa đọa mà còn có sự vươn lên, có sự gắn bó, có sự đấu tranh, gian khổ cay đắng nhưng đầy hi sinh cao quí, đầy những nỗ lực lớn lao, với những ý chí sáng suốt khác thường
(trang 23-Tin Sách)”

Nhật Tiến giống cô Nhân nhiều quá: lắm tình cảm mà thiếu ý thức về “sinh kế,” tức về quyền lợi, thiếu cả sự bất bình, cả ý chí đấu tranh. Như vậy có mất luôn cả nhân tính, cả sáng suốt, cả cao quý chăng?
(Võ Phiến – Truyện Miền Nam II- trang 1273-1274).

Những nhà văn kể trên đều là những ngòi bút trẻ ở miền Bắc, đã vào Nam do cuộc di cư 1954. Bọn họ hầu hết đều bị Võ Phiến bôi bác với giọng văn cười cợt, thiếu nghiêm chỉnh đối với một đề tài quan trọng là “Văn Học Miền Nam”.

Có thể tóm tắt sự khinh miệt này của Võ Phiến bằng đoạn văn như sau :

– “…Hãy tưởng tượng những nhân vật như vậy xúm xít nhau ở Hà Nội: làm thơ, làm thiếc, làm kịch làm cọt, cà-phê cà pháo, đấu qua tán lại v.v..
Ít lâu, Hà Nội mất. Họ kéo nhau vào Sài Gòn xúm xít nhau ngày ngày làm thơ, làm thiếc, làm kịch làm cọt, cà-phê cà pháo, tán qua đấu lại v.v..[,,,]
Những nhân vật thông minh như thế, xinh xắn như thế, tài hoa như thế, lành như thế và vô tích sự như thế, rốt cuộc họ khổ cực điêu đứng. Tội nghiệp quá chừng. Thương ơi là thương…..” …
(Võ Phiến, Văn học Miền Nam-Kịch & Tuỳ bút, “Nguyễn Đình Toàn”, trang 2504)

****
Vậy thế còn những ngòi bút lão thành cũng từ miền Bắc di cư vào Nam thì có thoát khỏi dã tâm triệt hạ của Võ Phiến không?
Xin hãy liệt kê vài vị được Võ Phiến đưa vào bộ sách của mình:

– Mặc Đỗ:

Trích:
…”… Nhân vật trong truyện Mặc Đỗ đích là trí thức. Riêng trong cuốn Bốn Mươi thì là đại trí thức: ai nấy đều du học bên Tây về cả, đều đậu đạt cao chót vót cả. Và các bậc trí thức ấy lợi tức họ cao, dinh cơ của họ lớn, trong nhà có những người giúp việc gọi là tiểu đồng, là thằng bộc, là ả xẩm… Trong xã hội Việt Nam các nhân vật này là một số rất ít, thuộc tầng lớp thuợng đẳng. Những người may mắn này, thành phần được ưu đãi nhất của tiểu tư sản này, họ sống ra sao, họ làm những gì trước sự trông cậy của những ai cùng một chiến tuyến? Họ sống nhiều hơn làm. Trong cái “sống” của họ có rất nhiều bữa ăn, nhiều rượu tây, nhiều nhà hàng, có cả nhà hát cô đầu nữa. Còn làm thì, trong cuốn Bốn Mươi, ấy là tổ chức một bữa tiệc tứ tuần đại khánh; trong pho tiểu thuyết Siu cô nương là “chơi một tối kịch” trước khi bỏ Hà Nội rút chạy; trong thiên truyện ngắn “Trăng đỏ”, là uống thật đẹp một ly bourbon với đá cục; trong thiên truyện ngắn “Buổi trưa trên đảo san hô” là một đêm chung chạ với người tình xưa… Đại khái thế. Có “làm” gì mấy đâu. Nhất là làm trong tư cách trí thức tiểu tư sản, tầng lớp đang đứng ra nhận lãnh trách nhiệm chính trị trước lịch sử. (ngưng trích)
(Võ Phiến, Văn học Miền Nam-Truyện I – trang 922)

***
– Đinh Hùng:

…“…Ai sao ông vậy, đã làm văn nghệ sĩ phải ra văn nghệ sĩ : say sưa rượu chè, lang thang đàng đúm, gái-ghiếc, thuốc phiện, nhẩy nhót, huyênh hoang khoác lác…”…
(Võ Phiến, Văn học Miền Nam-Thơ – trang 2837)

***
Vũ Hoàng Chương:
(trích)
…” … Vũ Hoàng Chương không những già, lại còn xưa. Hoài Thanh ngờ rằng “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á.” Lại nghĩ rằng: “trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa. Duy ở đây nó có cái vị chua chát, hằn học và bi đát riêng.”Trụy lạc hay không trụy lạc, say sưa hay không say sưa, ngao ngán hay không ngao ngán, Vũ Hoàng Chương đều có thể xưa. Ngay trong yêu đương, ca hát, ông cũng có cốt cách một người xưa. Xưa trước ông chừng hai nghìn năm chẳng hạn. Mất Kiều Thu, chàng thanh niên trong tuổi đôi mươi ngồi vỗ chậu hát nghêu ngao hệt Trang Tử! Chàng hát hổng ra sao? Do ré mi fa sol chăng? Không. Chàng hát xế xừ cống xự xang v.v…Chàng mơ gái Tầm Dương, nhắc tích Tây sương, chàng kể chuyện sông Tương, Kinh Kha, Tần Thủy Hoàng ..v.v.. Giữa chừng câu ca thỉnh thoảng chàng nện xuống một tiếng “hề”(Thơ Việt Nam có độ lổn nhổn rất nhiều “hề”; tôi có cảm tưởng là phong trào “hề” thịnh hành từ sau ông Vũ?) -ngưng trích-
(Võ Phiến, Văn học Miền Nam-Thơ – trang 3180-3181)

***.
– Vũ Khắc Khoan:
(trích)
…”… Người lúc nào cũng sôi nổi hơn thần (nhất là nữ thần) cho nên một lần khác “Khoan tôi” không ngần ngại xuất hiện, tự nhận là một trí thức tiểu tư sản, đối thoại trực tiếp với một đảng viên cộng sản, và buông lời kết thúc dứt khoát: “Sáng rồi. Chúng ta có thể từ giã nhau, như những nhân vật chính của một tấn kịch ba màn có hậu. Ông về Hà Nội. Còn tôi, tôi phải lên đường. Ông đã giữ phần chủ động trong suốt màn hai. Giờ đây màn ba khai diễn. Màn ba là của tôi, của chúng tôi.” Cũng được, màn ba của ông cũng được đi. Tiếc thay, màn tư là một màn thảm hại và trong các vở kịch của ông Vũ, từ Thành Cát Tư Hãn về sau, đều một giọng hư vô, tuyệt chẳng còn chút tin tưởng vào cái gì nữa. Vào trí thức, không; vào giai cấp tiểu tư sản, không; vào chính nghĩa, vào thắng lợi, cũng không, thậm chí vào cuộc đời cũng không luôn. Không có cuộc sống nào đáng sống hết. Ông cợt nhả cả với Trời . (ngưng trích)
(Võ Phiến, Văn học Miền Nam-Tổng Quan, trang 262)

***
Nhà phê bình Thụy Khuê cũng nhắc đến những cung cách phê bình của Võ Phiến :

(trích)
…”… “Về văn của Vũ Khắc Khoan, ông đánh giá: “Nó phảng phất lối viết văn của Nhất Linh thời “Hồng nương! Hồng Nương!”” và ông mượn lời của Uyên Thao để xác nhận “Mai Thảo và Vũ Khắc Khoan là những tay văn chương ưỡn ẹo”.

Về kịch Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan, ông dẫn lời Cao Huy Khanh:

“Ông Vũ giống hệt Thành Cát Tư Hãn” rồi ông lại dẫn lời Vũ Khắc Khoan mô tả Thành Cát Tư Hãn “sừng sững, lầm lì, khốc liệt và hầu như vô giác”

để đi đến kết luận của Võ Phiến:

“Ôi! Hãi quá! Người sao mà khủng khiếp quá thể.”
(Văn Học miền Nam, sđd, trang 1748).

Tóm lại là ông ít đưa ra ý kiến của riêng ông mà hay dùng những ý kiến của người này, người kia để chế giễu, châm biếm những đối tượng văn học mà ông không thích.”

Ở Bình Nguyên Lộc, ông cho Bình Nguyên Lộc là một “tác giả tốt bụng, có hảo ý muốn làm vui người đọc” và còn thêm: “hảo ý không thuộc về nghệ thuật”, ông mượn lời Cao Huy Khanh để nói cuốn Ðò Dọc “sự thành công duy nhất và quá hiếm hoi của Bình Nguyên Lộc”.

Ở Nhật Tiến, ông mượn lời Nhật Tiến trả lời phỏng vấn “tôi chỉ là nhà giáo hơn là một nhà văn” để xác định: Nhật Tiến nói đúng, ông chỉ là nhà giáo.

Lối viết châm biếm, mỉa mai (đời), ưu điểm của tùy bút nơi ông, lại trở thành châm biếm, mỉa mai (cá nhân), điều tối kỵ trong phê bình văn học. Một cách phê bình như thế, không những không giúp gì cho sự tìm hiểu văn học miền Nam, mà lại còn có hại cho sự nghiệp văn học của Võ Phiến. (ngưng trích)

(Thụy Khuê,Vấn đề đoạn tuyệt với quá khứ để lên đường, http://thuykhue.free.fr/thumucindex.html)

*****

Ấy vậy mà Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã trầm trồ khi nhắc đến Võ Phiến trên đài Á Châu Tự Do nhân trả lời Mặc Lâm sau ngày Võ Phiến mất :

“ Cho tới bây giờ chưa có người nào viết về văn học miền Nam một cách đầy đủ, sắc sảo, tinh tế đến như vậy …..”

Có thể nào ông Nguyễn Hưng Quốc tuy được tiếng là “Phê bình gia”, nhưng không đọc hết bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến mà cứ nhắm mắt khen bừa chăng ?

Hay là ông “trả lễ” Võ Phiến khi ông được nhà văn này ưu ái như chính ông đã khoe ầm ĩ cũng ở trên đài Á Châu Tự Do nhân cuộc phỏng vấn của Mặc Lâm :

……. “…“Mỗi lần tôi ra một cuốn sách hay viết một bài báo nào đó mà ông đọc được thì ông trầm trồ khen ngợi bằng những bức thư dài 3, 4 trang để bình luận về một bài báo của tôi. Tôi nghĩ là ở Võ Phiến ngoài cái tài của ông thì điều mà người ta không thể phủ nhận được còn cái tâm của ông đối với giới viết lách, văn chương. Tôi nghĩ hiếm có người nào mà vừa say mê văn chương lại vừa rộng lượng với người khác như Võ Phiến….”…

Nói về “… cái tâm của ông (Võ Phiến) đối với giới viết lách, văn chương” thì sau khi đọc phần trên, chúng ta đã thấy. Đối với những cây viết kể trên thì ông dùng “cái tâm” có thể nói là ác, nhưng với Nguyễn Hưng Quốc thì ông lại có cái tâm khác, cái tâm biết “trầm trồ khen ngợi bằng những bức thư dài 3, 4 trang để bình luận về một bài báo của tôi”.

Cho nên khi Nguyễn Hưng Quốc viết “Tôi nghĩ hiếm có người nào mà vừa say mê văn chương lại vừa rộng lượng với người khác như Võ Phiến” thì sự kiện ông Quốc “rộng lượng” lại với Võ Phiến cũng chẳng có gì lạ.

Điều này người ta vẫn gọi là “văn nghệ thù tạc”, “mặc áo thụng vái nhau”, hay là “đọc thì không kỹ, có khi cũng chẳng đọc, chỉ “nghe đồn” đã mụ mị lên, mà vẫn cứ xen vô với những lời ca tụng hào phóng, coi những lời khen tặng là quà miễn phí, một loại của riêng trong nhà lôi ra thù tạc trả lễ qua lại lẫn nhau.

Cái trò này tưởng đã hết thời rồi, vậy mà nó vẫn còn sống dai dẳng gớm!

Ngày 5-10-2015
Phùng Nhân Thế

(Nguồn:http://www.vietfreefun.com/forum/showthread.php?222487-Tr%E1%BA%A3-l%E1%BA%A1i-s%E1%BB%B1-C%C3%B4ng-B%E1%BA%B1ng-cho-V%C4%83n-H%E1%BB%8Dc-Mi%E1%BB%81n-Nam)

 

Hai mươi năm văn học miền Nam và các Giải Thưởng Văn Chương, Nguyễn Mạnh Trinh.


bc154ccbc3894c6bb48dee069c6136e7

Nguyễn Mạnh Trinh

Hai mươi năm văn học miền Nam (1954-1975) là một thời kỳ văn học có nhiều đặc sắc. Như mọi nền văn học khác, cũng có thời kỳ hưng và thời kỳ suy. Cũng như thời cuộc đã ảnh hưởng rất lớn vào đời sống văn chương, cả về cuộc đời tác giả lẫn nội dung tác phẩm. Hai mươi năm, thời thế có nhiều biến chuyển đặc biệt. Bắt đầu với biến cố hòa ước Genève năm 1954 chia đôi đất nước, và chấm dứt với ngày 30 tháng tư năm 1975, quân Cộng sản miền Bắc thôn tính xong miền Nam, văn học cũng như về các phương diện khác như quân sự, xã hội, kinh tế, văn hóa,… là của một đất nước chiến tranh sau một thời kỳ hòa bình ngắn ngủi.

Với chiến tranh, trong tình trạng mọi sinh lực quốc gia đều dồn cả vào quân sự và tất cả thành phần nồng cốt của quốc gia đều vào quân đội, làm công việc cầm súng. Do đó, trong hai mươi năm ấy, mà thời kỳ sau cùng biểu hiện rõ nhất, là nhận thức về cuộc chiến. Có người đã ví von rằng từ năm 1954, văn học miền Nam đã khởi đi từ một bến vắng với sinh hoạt văn chương không đáng kể so với nền văn chương kháng chiến. Nhưng sau cuộc di cư của gần một triệu người dân miền Bắc vào Nam thì lại có sự thay đổi. Văn chương trở thành tiếng nói tâm huyết của những người xây dựng cuộc đời mới, say sưa với những hướng vọng dân chủ tự do. Từ đó, một con đường văn học đã được vạch đi và hầu như là một con đường độc đạo. Nhưng đến khi chiến tranh bùng nổ và càng ngày càng tăng cường độ, qua một thời gian rồi với sự hiện diện của quân đội viễn chinh Hoa kỳ, cũng như chiến tranh đã mang dân chúng về sống trong thành phố nên ở nông thôn vắng vẻ đi và thành phần thị dân chiếm đa số dân chúng. Lúc ấy, niềm tin về tương lai đã giảm đi và con đường độc đạo ấy đã phân hai thành hai khuynh hướng, một vẫn giữ những ý nghĩ tâm tình cũ và một có khuynh hướng khác, nhìn vào thực tại đất nước để phán xét chiến tranh.

Đó chỉ là một nhận xét. Nghĩ cho cùng, vẫn chưa lý giải và thể hiện được sự thực. Có rất nhiều người cầm bút, sống trong thời kỳ văn học ấy và có những nhận xét mà phát xuất từ kinh nghiệm thực sự của đời cầm bút. Có khi, những phát biểu ấy tùy theo từng thời kỳ mà có cảm thức nhận xét khác nhau nên thời điểm là một yếu tố khá quan trọng để từ đó những người thuộc thế hệ sau hiểu được sự chi phối của thời sự như thế nào.

Trong tập san Vấn Đề ra tháng 5 năm 1968, nhà văn Mai Thảo viết:

“Năm 1954 còn ghi lại, chói lọi, cái đẹp ấy của mùa mới, cái đẹp ấy của lên đường.Ta đứng đi chật đất. Ta từng có, lớp lớp. Ta từng đến, hàng hàng. những khởi đầu của từng hoạt động văn học từng phát động nghệ thuật nói chung của ta tuyệt đúng tuyệt đẹp..”

Nhưng có khi, những nhận xét ấy lại có sự khiêm tốn khi nói về những bước chân mở đầu cho một thời kỳ văn học. Trong bài phỏng vấn “Mai Thảo, nhà văn ở phút nói sự thật” của Nguyễn Nam Anh trong tạp chí Văn số 192 ra ngày 15 tháng 12 năm 1971 có đoạn trả lời khi nói về thời kỳ Sáng Tạo:

“Tờ Sáng Tạo là của những thí nghiệm và những mở đường. Hậu quả nếu có cũng là của những thí nghiệm, những mở đường. Tôi không nhìn Sáng Tạo như một nơi phát xuất và hình thành một dòng văn học nghệ thuật. Lớn chuyện quá. Một tinh thần nào, một cách thế nào, thì có,,,”

Tại sao, ở một nhà văn mà cả đời người sống gắn liền với văn chương chữ nghĩa mà cũng có suy nghĩ lúc hào hứng tột độ, lúc khiêm nhượng đơn sơ như vậy? Có phải vì trong những hoàn cảnh khác nhau của thời thế không?

Thành ra, sự nhận định những sự kiện văn học không phải đơn giản để có những kết luận hữu lý. Từ một sự kiện, có thể nhìn ngắm khác nhau để có một sự thực. Rất nhiều người có nhận xét, nhưng đãi lọc những ý kiến ấy để có một kết luận hợp lý lại là một vấn đề quan trọng. Đó là nói về có những tư liệu để tìm hiểu để lựa chọn.

Còn như tình trạng hiện nay, khi hai mươi năm văn học miền Nam bị chế độ đương quyền ra tay bôi xóa. Sách vở bị đốt bỏ, nhà văn bị cầm tù, cả một hàng ngũ văn nô đông đảo lên tiếng chê bai miệt thị theo chỉ thị của Đảng, tất cả những sự kiện ấy đã làm thành những điều bất khả cho những người làm công việc ghi chép lại văn học sử.

Một bằng chứng xác đáng nhất biểu hiện một phần nào sinh hoạt văn học là các giải thưởng văn chương. Qua đó, người đọc có thể hiểu được xu thế thời đại cũng như những nỗi niềm, tâm sự của thế hệ hiện tại chuyên chở theo.

Thông thường, giải thưởng văn chương được chú ý nhất trên thế giới là giải Nobel của Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Sở dĩ được chú ý vì uy tín của ban tuyển chọn và giá trị hiện kim lớn cũng như phần đông những tác giả hàng năm đoạt giải đều xứng đáng.

Ở các nước Âu Châu thì có giải The European Union Prize for Litterature. Pháp thì có giải Goncourt, giải Renaudot, giải Femina, Giải Medicis, Giải Interalité … Anh thì có Man Booker Prize, British Book Awards, Commonwealthds Litterature Prize,…Hoa kỳ có Pulitzer Prize for litterature,…

Ở Việt Nam, trở lại những năm về trước lâu đời thì có giải thưởng của hội Khai Trí Tiến Đức từ năm 1924, giải Tự Lực Văn Đoàn từ năm 1936, giải của hội Khuyến Học Nam Việt từ năm 1941, giải Alexandre De Rhodes từ năm 1943.

GIẢI VĂN CHƯƠNG TOÀN QUỐC NĂM 1957

Về sau, mãi đến năm 1957 vào thời đệ nhất Cộng Hòa mới có Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc.

Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc do Văn Hóa Vụ tổ chức và không đòi hỏi nào về nội dung hoặc hình thức đối với tác phẩm gửi đến dự thi hoặc được xét đến. Điều ràng buộc duy nhất là tác phẩm phải được in trong năm. Ban giám khảo đã đọc, chọn lựa và nhận xét 206 tác phẩm in từ năm 1954 đến năm 1956 .

Ban giám khảo gồm có chủ tịch là học giả Đoàn Quan Tấn và các thành viên: Nghiêm Toản, Nguyễn Thành Châu (tức Năm Châu), Nguyễn Khắc Kham, Linh mục Nguyễn Văn Thích, Trương Công Cừu, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bà Tùng Long, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ, Á Nam Trần Tuấn Khải, Vũ Hoàng Chương và Vũ Khắc Khoan.

Danh sách đoạt giải thì bộ môn Khảo luận: Tác phẩm “ Văn Chương Bình Dân” của Linh mục Thanh Lãng, tác phẩm “Xây Dựng Nhân Vị” của Bùi Tuân, tác phẩm “Người Xưa” của Trần Đình Khải.

Bộ môn Tiểu thuyết, tác phẩm “Tìm Về Sinh Lộ” của Kỳ Văn Nguyên, tác phẩm “Đem tâm Tình Viết Lịch Sử” của Nguyễn Mạnh Côn, tác phẩm “Nếp nhà” của Bửu Kế.

Bộ môn Thơ: tác phẩm “Anh Hoa” của Phạm Mạnh Viện, “Long Giang Thi Tập” của Trần Hữu Thanh, “Nam Trung Thi tập” của Nguyễn Văn Bình, “Kiếp Hồng Nhan” của Quang Hân.

Bộ môn Kịch: tác phẩm “Bão Thời Đại” của Trần Lê Nguyễn, “Ái Tình Bôn-Sê-Vích “ của Thạch Bích, “Hai Màu Áo” của Minh Đăng Khánh

VTT-ZZDEC-3-Nhà-văn-Hoangdao-2ING.674

(Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn và tác phẩm đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1957)

GIẢI VĂN CHƯƠNG TOÀN QUỐC NĂM 1958-1959

Ban Giám khảo đổi tên là Hội Đồng Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1958-1959 do ông Trương Công Cừu khoa trưởng đại học Văn Khoa làm chủ tịch và thành viên là các tên tuổi như Hà Như Chi, Hà Thượng Nhân, Đái Đức Tuấn (Tchya), Trần Hữu Thanh, Đỗ Đức Thu, Đông Hồ và Vi Huyền Đắc.

Danh sách đoạt giải:

Khảo luận : tác phẩm “Dịch Kinh Tân Khảo” của Nguyễn Mạnh Bảo, “Việt Nam Văn Học Toàn Thư” của Hoàng Trọng Miên,
Tiểu thuyết: tác phẩm “ Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, “Thần Tháp Rùa” của Vũ Khắc Khoan,“Đời Phi Công” của Toàn Phong, “Mưa Đêm Cuối Năm” của Võ Phiến

Thơ: tác phẩm “Hoa Đăng” của Vũ Hoàng Chương.

Kịch: Không có giải thưởng.

DoDocVo PhienTHANTHAPRUA_200_300

(Các tác phẩm đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1958-1959)

GIẢI VĂN CHƯƠNG TOÀN QUỐC NĂM 1960-1961

Hội Đồng Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc lại thay đổi phương hướng và tên gọi. Tên mới là “Hội Đồng Tuyển Trạch Giải Thưởng Văn Chương 1960-1961” do ông Thu Giang Nguyễn Duy Cần làm chủ tịch gồm ba tiểu ban. Tiểu ban Khảo luận gồm các tên tuổi như Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Văn Trung. Tiểu ban Thơ gồm Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ, Thanh Tâm Tuyền. Tiểu ban tiểu thuyết và kịch: Vi huyền Đắc, Vũ Khắc Khoan, Đỗ Đức Thu, Bình Nguyên Lộc.

Danh sách đoạt giải gồm:

Bộ môn Biên khảo: “Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị” của Lê Ngọc Trụ.

Bộ môn Tiểu thuyết: giải nhất: tác phẩm “Thềm Hoang” của Nhật Tiến; giải nhì tác phẩm “Gìn Vàng Giữ Ngọc” của Doãn Quốc Sỹ; giải nhì đồng hạng “Tầu Ngựa Cũ”của Linh Bảo

Bộ môn Thi ca: tác phẩm đoạt giải nhất “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng; giải nhì “Hy Vọng” của Hoàng Bảo Việt; giải ba “Tổ Ấm” của Anh Tuyến ; giải ba đồng hạng “40 Bài Thơ” của Vương Đức lệ và Mai Trung Tĩnh.

Bộ môn Kịch: không có giải thưởng.

Sau cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963, tình hình trong nước có nhiều xáo trộn về chính trị nên đến năm 1966 thì giải thưởng văn chương toàn quốc mới được Bộ Văn Hóa tổ chức lại.

h7-bia-3-tac-pham-23912162122_f616ea7573Duong_Vao_Tinh_Su088

(Các tác phẩm đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1960-1961)

GIẢI VĂN CHƯƠNG TOÀN QUỐC NĂM 1966

Hội đồng Tuyển Trạch được thành hình do nhà thơ Đông Hồ làm chủ tịch. Thành viên thì trên danh nghĩa là do sự lựa chọn của văn nghệ sĩ nhưng thực chất là do sự chỉ định của Bộ Văn hóa.
Danh sách trúng giải:

Bộ môn Biên khảo: “Đại Cương Văn học Sử Trung Quốc” của Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi Nguyễn Hữu Văn ; tác phẩm thứ hai là “Nửa tháng trong miền Thất Sơn” của Nguyễn Văn Hầu.

Bộ môn Văn: với các tác giả Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu.

Bộ môn Thơ: với ba thi sĩ là Tuệ Mai , Nhã Ca, và Huy Lực.

Bộ môn Kịch: với Dương Kiền , Phan Tùng Mai.
(Tên những tác phẩm đoạt giả về các bộ môn văn , thơ , kịch, tôi chưa sao lục tìm kiếm được. Xin các vị thông hiểu và còn nhớ bổ túc giùm!)

Năm 1966 có những sự kiện lạ. Hai ông Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi từ chối giải thưởng và để cho ban Tuyển chọn trao giải thưởng cho cơ quan văn hóa nào xét ra cần thiết hơn. Nhà văn Thanh Tâm Tuyền không đi tham dự buổi lễ nhận giải và ủy quyền cho người khác đi thay. Và trong buổi lễ trao giải thưởng bà Tuệ Mai trong phần diễn văn phát biểu cảm tưởng đã có những lời nói công kích thẳng thừng chính quyền và báo động về những tình trạng sa sút bi thảm của văn nghệ hiện nay.

Tuy vậy, bà Tuệ Mai không bị một hậu quả nào của chính quyền mặc dù trong công luận không phải là tất cả đều đồng ý với lời nói tuy can đảm nhưng chưa phải là hữu lý tuyệt đối.

Cũng phải nên ghi nhận thêm là trong năm 1966 có giải thưởng văn chương thứ hai là giải thưởng về truyện dài của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Nhà văn Lê Tất Điều đã đoạt giải với tiểu thuyết : “Đêm Dài Một Đời”.

Sau một thời gian không liên tục, Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1966 đã tạo ra nhiều thắc mắc trong văn giới và công luận. Trong bối cảnh mà những xáo trộn chính trị làm đời sống dân chúng chịu ảnh hưởng thì đó có phải là một biểu hiện của một xã hôi đang trong cơn sốt chiến tranh. Tình trạng lạm phát kinh tế, chiến tranh tăng cường độ khốc liệt cũng như sự hiện diện của những lực lượng quân đội ngoại quốc đã tạo thật nhiều biến động cho đời sống hàng ngày. Và văn học cũng phải chịu quy luật chung ấy…

33v1index

(Các tác phẩm đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1966)

GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT 1967-1969 CỦA TỔNG THỐNG VNCH

Kết quả Giải Văn Học Nghệ Thuật 1967-1969 về các bộ môn: hội họa, điêu khắc, âm nhạc, nhiếp ảnh, điện ảnh, văn học .. đã được công bố vào cuối năm 1969 đầu năm 1970.

Về bộ môn Văn: giải nhất truyện dài “Má Hồng” của Đỗ Tiến Đức; giải nhì tập truyện “Y Sĩ Tiền Tuyến” của Trang Châu; giải ba hồi ký “Trại Đầm Đùn” của Trần Văn Thái.

Bộ môn Thơ: giải nhất đồng hạng “Lời Gửi Cây Bông Vải” của Trần Tuấn Kiệt và “Tình Biển Nghĩa Sông” của Hoàng Thoại Châu; giải nhì không có; giải ba đồng hạng “Trên Quê ta Đó” của Tường Linh và “Nước Mắt Quê Hương” của Lê Minh Ngọc.

Bộ môn Biên khảo: giải nhất tác phẩm “Cười” của Dương tấn Tươi; giải nhì tác phẩm “Văn Học Chu Tần” của Trần Trọng San; giải ba tác phẩm “Những Hàng Châu Ngọc Trong Thi Ca Việt Nam” của râm.

Bộ môn Kịch giải nhất không có; giải nhì đồng hạng “Cơn lốc” của Nguyễn Tinh Vệ (tức Diệu Tần sau này ở hải ngoại) và “Phút Quyết Định” của Thanh Hiệp; giải ba: “Hoa cỏ” của Trương Thủy.

TDB_1bia_y_si_tien_tuyen

(Các tác phẩm đoạt giải văn học nghệ thuật 1967-1969 của Tổng Thống VNCH)

GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT 1970 CỦA TỔNG THỐNG VNCH

Lấn này, Giai thưởng mở ra nhiều ngành cho nhiều bộ môn. Về biên khảo có biên khảo về các vấn đề văn hóa, phê bình, lý luận văn học, triết học biên khảo, Việt sử, tham luận chính trị đông tây. Rồi ca kịch, hôi họa, điêu khắc. Âm nhạc có giải về thể nhạc Tây phương, về thể nhạc cổ truyền. Nhiếp ảnh có ảnh đen trắng, ảnh màu, Điện ảnh có giải thưởng về phim truyện, giải thưởng về phim tài liệu phóng sự.

Bộ môn Biên khảo về các vấn đề văn hóa phê bình, lý luận văn học, triết học thì giải nhất, nhì, ba không có chỉ có giải khuyến khích với tác phẩm “Nguyên Thủy” của Lê Chí Thiện. Biên khảo Việt sử giải nhất tác phẩm “Lịch Sử Nội Chiến VN từ 1771 đến 1802” của Tạ Chí Đại Trường. Biên khảo tham luận tư tưởng chính trị đông tây giải nhì với “Kiến Quốc Cơ Bản Luận” của Vũ Tiến Phúc.

Bộ môn Văn với giải nhất truyện dài “Những Sợi sắc Không” của Túy Hồng; giải nhì tác phẩm “Khung Rêu” của Nguyễn Thị Thụy Vũ; giải ba hồi ký “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca.

Bộ môn Thơ : giải nhất “Sầu Ở Lại” của Tạ Ký; giải nhì “Còn Gì Cho Anh” của Hà Huyền Chi; giải ba “Mưa Quê Hương” của Thế Viên ; giải khuyến khích: “Sương Giá Biên Thùy” Thần Liên Lê Văn Tất “Gởi Hồn Cho Đá” của Nguyễn Đăng Doanh; và “Trên Đường Gió Bụi” của Lê Xuân Giáo.

Bộ môn Kịch Nói: không có giải nhất; giải nhì là vở “Hàn Mặc Tử” của Đinh Xuân Hòa; giải ba đồng hạng: “Người Cha” của Trần Minh Đại; “Mất Tiền Mua Đổi” của Đỗ Đức Tiến; “Ra Đi Vì Nước” của Lê Thị Minh.

Năm 1970, Trung tâm Văn Bút cũng đã trao giải thưởng về Thi Ca với hai giải đồng hạng:“Sầu Tuổi Đá” của Tường Linh và “Trái Tim Còn lại” của Hoàng Lộc. Giải Biên khảo của Trung tâm Văn Bút có giải khuyến khích với tác phẩm “Lịch Sử Người Việt Tại Kampuchea từ năm 1853 đến 1970” của Lê Hương.

KhungReu-contentkhan-so-cho-hue

(Các tác phẩm đoạt giải văn học nghệ thuật 1970 của Tổng Thống VNCH)

GIẢI TUYÊN DƯƠNG SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG HỌC THUẬT VÀ MỸ THUẬT NĂM 1972.

Giải thưởng Văn học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1972 được đổi tên là Giải Tuyên Dương Sự Nghiệp Văn chương Học Thuật và Mỹ Thuật và gồm có ba giải: Văn chương( thơ, tiểu thuyết, kịch..) Học thuật (nghiên cứu, khảo luận..) và Mỹ thuật (nhạc , họa, điêu khắc, nhiếp ảnh,..) nhằm mục đích tuyên dương toàn bộ sự nghiệp xuất sắc của văn nghệ sĩ đã có địa vị vững vàng hoặc vạch ra định hướng độc đáo khả dĩ góp phần phát huy văn hóa Việt Nam. Hội đồng tuyển trạch do học giả Giản Chi Nguyễn Hữu Văn làm chủ tịch và các thành viên như giáo sư Bùi Xuân Bào, nhạc sĩ Lê Thương, họa sĩ Lưu Đình Khải, kiến trúc sư Nguyễn văn Quyện, nhà văn Võ Long Tê, giáo sư Nghiêm Toản.

Kết quả là giải được trao tặng cho nhà thơ Vũ Hoàng Chương giải Văn chương, nhà biên khảo Thiên Giang Nguyễn Duy Cần cho giải Học thuật và họa sĩ Nguyễn văn Anh (tức Nguyễn Anh) cho giải Mỹ thuật.

FullSizeRender(4)

Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Quyện (ngồi ngoài cùng bên phải) là một trong nhiều vị Giám Khảo của Giải Tuyên Dương Sự Nghiệp Văn chương Học Thuật và Mỹ Thuật năm 1972

GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT 1973.

Giải thưởng Văn học Nghệ Thuật do Tổng Thống VNCH sáng lập từ năm 1970.Việc tuyển chọn và chấm giải do Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa giáo dục tổ chức với hai bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên phối hợp thi hành. Những tác phẩm dự thi chỉ do các tác giả gửi tới chứ không tuyển chọn trong các sách đã xuất bản để tránh tình trạng được giải mà không nhận khiến cho giá trị giải thưởng vị giảm sút như đã có nhiều trường hợp đã xảy ra.

* Hội đồng chấm giải bộ môn Văn do nhà văn Bình Nguyên Lộc làm chủ tịch với các thành viên: Nhật Tiến, Võ Phiến, Sơn Nam, Nguyễn Thị Vinh.

Tác phẩm trúng giải: thể loại Tiểu thuyết giải chính thức “Áo Mơ Phai” của Nguyễn Đình Toàn

* Thể loại Tuỳ bút, Hồi ký, phóng sự: giải khuyến khích “Đường Đi Không Đến” của Xuân Vũ Bùi Quang Triết.

* Bộ môn Thơ với hội đồng chấm giải do nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải làm chủ tịch và: Vũ Hoàng Chương, Hà Thượng Nhân, Bàng Bá Lân và Mộng Tuyết là thành viên.

Tác giả trúng giải chính thức về thể loại Thi tập là Du Tử Lê với tác phẩm “Thơ Du Tử Lê”.

* Thể loại Trường thiên giải chính thức là Phạm Thiên Thư với “Đoạn Trường Vô Thanh”

* Bộ môn Kịch Nói với hội đồng chấm giải nghệ sĩ Năm Châu Nguyễn Thành Châu làm chủ tịch và các thành viên: Vi huyền Đắc, Vũ Khắc Khoan, Đỗ Văn Rỡ, Tam Lang Vũ Đình Chí.

Giải thưởng Kịch thể loại văn xuôi “Buổi Tập Kịch”, bản thảo của Phạm Đức Thịnh. Thể loại Kịch thơ: không có. Ngoài ra còn có các hội đồng chấm giải về ca kịch, hội họa, âm nhạc, nhiếp ảnh, điện ảnh. Tổng cộng giải Văn học Nghệ thuật năm 1973 có 10 bộ môn và chia ra làm 25 thể loại khác nhau.

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật năm 1973 đã để lại nhiều dư âm trong công luận. Như việc chọn lựa thiên hồi ký “Đường Đi Không Đến” đã gây ra sự việc là tác giả Phan Nhật Nam của “Mùa hè Đỏ Lửa” đã viết lá thư riêng đăng trên nhật báo Sóng Thần để nêu ra những thắc mắc của ông về giải thưởng Văn học về bộ môn này. Nhà văn Nhật Tiến trong Hội đồng Tuyển chọn đã viết thư trả lời đăng trên nhật báo Hòa Bình để giải tỏa những thắc mắc trên và gây sự thông cảm hiểu biết trong giới cầm bút.

Cũng như về giải thưởng về thơ có sự hiểu lầm giữa nhà thơ Hoàng Trúc Ly và Du Tử Lê. Không hề có sự kiện nhà thơ Hoàng Trúc Ly được tuyển chọn từ vòng đầu đến vòng cuối và giờ chót thì có sự thay đổi bằng Du Tử Lê. Một thành viên trong Hội đồng chấm giải đã khẳng định như vậy. Cũng như những giải thưởng Văn học khác, dĩ nhiên có sự bẽ bàng giữa người được giải và người không được giải. Những giải văn chương lớn trên thế giới cũng có những chuyện tương tự như thế…

doan-truong-vo-thanhim13251811391clip_image003_thumb2

(Các tác phẩm đoạt giải văn học nghệ thuật năm1973)

TỔNG KẾT

Để tạm tổng kết bài viết đã trình bày ở trên, chúng tôi xác nhận đây chỉ là những chi tiết mà chúng tôi tìm kiếm và góp nhặt từ các tạp chí văn chương thời trước năm 1975 như Bách Khoa, Văn Học, Văn, Vấn Đề, Khởi Hành, Văn Hữu…Dĩ nhiên, là góp nhặt nên không thể đầy đủ được. Dẫu sao, trong cố gắng để làm rõ nét hơn những sinh hoạt văn chương của một thời. Hai mươi năm văn học miền Nam là một thực thể của văn hóa dân tộc dù chính quyền Cộng sản cố tình bôi xóa và triệt hủy nhưng cũng chẳng thể thành công.

Với tấm lòng yêu sách vở và biết ơn với những đóng góp của các nhà văn, nghệ sĩ làm đẹp cho đất nước, tôi tìm trong rừng sách vở để có những chi tiết hầu biểu lộ một nền văn học có nhiều đặc tính khác biệt hẳn với văn học miến Bắc trước năm 1975 và ở trong nước sau này.

Tôi mong ước sẽ viết được một bài viết kế tiếp để đi sâu vào văn nghiệp cũng như chân dung của những tác giả trong danh sách những người đoạt giải thưởng qua những thu góp tìm tòi trong những sách vở tạp chí văn chương mà tôi đã đọc. Ở đó, tôi tìm thấy những cảm xúc và nhận định của những người đồng thời cùng trong một thời điểm qua những bài viết, những câu trả lời phỏng vấn đăng tải trên báo chí thời đó. Và như thế, tôi mường tượng rằng những nhà văn đã sống, đã viết, đã nghĩ như thế nào trong lúc đó.

Đầu năm, qua những trang sách giở, tôi tìm về một thời đại xưa của những nhân dáng cũ từ ba mươi mấy năm về trước…

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguyễn Thị Thụy Vũ, giữa dòng đời nghiệt ngã, Vương Trùng Dương


Vương Trùng Dương

107 5 nguyen-thi-thuy-vu

Đôi Dòng:

Tháng Tư năm 2000, tôi đọc bài viết “Người Con Gái 27 Năm Với Đời Sống Thực Vật” của nhà văn Văn Quang từ trong nước viết về hình ảnh quá thương tâm của cháu Khôi Thụy (con của Tô Thùy Yên và Nguyễn Thị Thụy Vũ):

“Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thung ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi nơi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm. Cháu không thể nằm nệm vì chẳng có thứ nệm nào chịu cho nổi. Phải nằm nửa giường lạch tre thưa để tiện cho mọi công việc ăn uống, tắm rửa. Hơi thở thoi thóp, cái thân hình con gái căng đầy, cặp chân nhỏ xíu chẳng cân xứng chút nào với thân hình. Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở là của con người. Cho ăn thì ăn, ăn bất cứ thứ gì được mẹ hay các cô dì, bạn của mẹ đưa vào miệng. Không cho ăn, cháu cũng chẳng đòi. Thỉnh thoảng cháu hú lên không phải vì đói mà vì một lẽ gì đó không ai biết. Tiếng hú như tiếng kêu của một oan hồn hơn là một con thú hoang…”.

Đây là bài viết đầu tiên về NTTV, khi đọc rất xúc động. Trước năm 1975, tôi chưa gặp NTTV nhưng những người thân trong gia đình chị và tôi có quen biết nhau (đề cập trong bài viết) nên tôi tôi viết bài “Nguyễn Thị Thụy Vũ, giữa dòng đời nghiệt ngã” vào tháng Năm năm 2000. Bài viết đăng trên vài tờ báo ở California và trên trang web Quán Gió ở Uùc Châu. Qua hai bài viết, một số độc giả và thân hữu có lòng từ tâm hỗ trợ số tiền qua anh Văn Quang để chị NTTV ổn định cuộc sống để nuôi cháu Khôi Thụy.

Năm 2005 tôi thực hiện tờ báo và trang web Cali Weekly. Được biết anh Văn Quang cùng khóa với anh Hoàng Tích Thông trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (thông gia với tôi) vì vậy hai anh em thân tình và liên lạc thường xuyên. Mỗi tuần anh Văn Quang với mục “Viết Từ Sài Gòn”, tôi giới thiệu với anh Tống Hoằng, chủ nhiệm nhật báo Viễn Đông ở Little Saigon, tiền nhuận bút trả đều đặn với điều kiện chỉ đăng ở Viễn Đông tại Nam California, còn các nơi khác thì tùy ý tác giả. Hàng tuần với một bài viết cũng ổn định được cuộc sống ở quê nhà, anh Văn Quang không thích không khí xô bồ ở Sài Gòn nên lên Lộc Ninh sống để vui thú điền viên và viết lách nhưng được thời gian thì bị chính quyền địa phương kiềm kẹp, truy xét nên đành quay lại Sài Gòn. Khi anh Tống Hoằng lâm trọng bệnh thì nhật báo Viễn Đông không còn mục “Viết Từ Sài Gòn”.

image00KhungReu-content

Trải qua 14 năm, tôi đọc được những bài viết về NTTV, giải tỏa được đôi điều ngộ nhận về sự liên hệ giữa lằn ranh Quốc/Cộng trong gia đình chị.

Nhà văn Trần Hoài Thư, chủ trương tạp chí Thư Quán Bản Thảo thực hiện chủ đề về Nguyễn Thị Thụy Vũ vào mùa Thu năm nay. Nhân dịp nầy, lục lại bài viết 14 năm trước với chân dung nhà văn trong tuổi già bóng xế ở quê nhà .
VTrD*

***

Vào thập niên 60 những khuôn mặt nữ lưu xuất hiện với Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ… đã tạo được thế đứng trên văn đàn Việt Nam.

“Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà văn phái nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ với sắc thái đặc thù. Những ý nghĩ bỏng cháy và rẫy rụa về thân xác trong mỗi tác phẩm, đôi khi vượt qua ý nghĩ của nhiều người”
(Tạ Tỵ – Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Sài Gòn 1973).

Ngọn bút của Nguyễn Thị Thụy Vũ có tính cách táo bạo, sống, sinh động vì vậy đã gây sự xôn xao trong dư luận trước quan niệm phê phán về tính cách sống sượng, khiêu dâm và quan niệm đồng tình vì thể hiện thực trạng, lối sống, tâm lý con người trong cuộc sống. Uyên Thao nhận định: “Nguyễn Thị Thụy Vũ là một cây bút khá sắc bén và tinh tế, nhưng vẫn những sơ hở nặng nề của một tinh thần tùy hứng”
(Các Nhà Văn Nữ Việt Nam 1900 – 1970, Sài Gòn 1973).

Nguyễn Thị Thụy Vũ sôi động trên văn chương chữ nghĩa nhưng trong cuộc sống mang bao điều trăn trở, bất hạnh trải dài với thời gian. Và, nhìn lại những nhà văn nữ cùng thời thuở đó, ở quê nhà Nguyễn Thị Hoàng và Nguyễn Thị Thụy Vũ qua một phần tư thế kỷ, giã từ nghiệp dĩ, sống lặng lẽ với bóng tối cuộc đời.

Chân Dung:

Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long. Nhà văn sống giữa hai lằn ranh Quốc – Cộng trong gia đình. Vì sống giữa lằn ranh đó, NTTV đã gánh chịu bao điều ngộ nhận về khuynh hướng chính trị, khi con người rơi vào trường hợp thương tâm, chấp nhận bao hệ lụy đưa đẩy thì bỏ mặc thế nhân tiếng chì tiếng bấc.

Sinh trưởng trong gia đình văn nghệ, thân phụ là nhà thơ Mặc Khải, tác giả các tập thơ Sông Nước Cổ Chiên, Phấn Nội Hương Đồng, Yên Vân Hành, Lửa Thép, Vòng Chuyển Hóa… Mặc Khải nằm vùng, hoạt động nằm vùng cho Việt Minh từ năm 1945 trong phong trào “Thanh Niên Tiền Phong”, ở ngã ba Trung Lương, gia nhập bộ đội Trung Lương. Sau năm 1954 về hoạt động bí mật nội thành.

Giữa thập niên 60, Lữ Phương, Vũ Hạnh, Mặc Khải… ra đời tờ Tân Văn. Khi tờ Tân Văn bị đóng cửa, Mặc Khải lui về Lộc Ninh mở tiệm thuốc tây.

Thân phụ Mặc Khải từng là tri huyện ở Mỹ Tho, cụ ông có nhiều vợ, trong đó có nữ sĩ Song Thu, uyên thâm về nho học, nhân vật tên tuổi cùng với Đào Vân Khanh, Băng Tâm trong hội Khuyến Học. Cụ Song Thu tên là Phạm Xuân Chi, cháu nội cụ Phạm Phú Thứ, cô của Phạm Phú Quốc, dòng dõi nho sĩ ở Quảng Nam. Mặc Khải là anh cùng cha khác mẹ với hai chị em Phương Đài (Nguyễn Thị Thu Hường) và Xuân Hoàng. Nhà thơ Phương Đài, tác giả Đất Mẹ và Hiếu Lễ Mùa Thơ, có mối quan hệ mật thiết với Vũ Hạnh, Lưu Nghi, Tường Linh, Kiên Giang, Chinh Văn… và số văn nghệ sĩ thân tả thời đó. Năm 1971 bị bắt vì tình nghi hoạt động cho Cộng Sản được Linh mục Thanh Lãng và Trần Văn Ân can thiệp nên được thả, sau đó tham gia vào Văn Bút Việt Nam. Sau tháng 4-75 Phương Đài có chân trong hội Văn Nghệ Giải Phóng, được thời gian rồi bị thất sủng

image02

Xuân Hoàng (Oanh) lập gia đình với ký giả Trần Quân, chủ trương tuần báo Minh Tinh, Tổng thư ký nhật báo Tiếng Vang. Trần Quân còn có nhiều bút hiệu như Sức Voi, Thanh Quang, Hoàng Ái Phương, Bút Nguyên Tử. Trong thời kỳ kháng chiến vào giữa thập niên 40, Trần Quân tham gia vào đoàn thanh niên cứu quốc của mặt trận Việt Minh, bị nghi ngờ tình báo Cộng Sản cài vào hoạt động ở Sài Gòn nhưng nhà báo thích ánh đèn mầu, mê cá ngựa của nếp sống đô thị cũng bị bắt cùng lúc với Phương Đài, và được thả sớm. Sau năm 1975 Trần Quân còn được ưu đãi vài năm nhưng rồi vào trại tù, tin đồn với hai lý do: tội bỏ hàng ngũ, tội hoạt động cho tình báo Mỹ. Ông trải qua bảy năm trong lao tù Cộng Sản, chết năm 1992.

(Bài viết “Thụy Vũ chăn dê” của Đỗ Tăng Bí vào tháng 12 năm 2004 cho biết:

Ba tôi có bằng gì kiểu như Trữ Dược đó. Ổng mở một tiệm thuốc tây nhỏ ngay khu chợ Lộc Ninh, thực tình để ổng nuôi cán bộ, trợ cấp tiền bạc cho Việt Cộng. Ổng là Cộng Sản mà. Ổng mê Cộng Sản lắm, nói nó lý tưởng. Đâu dè sau này… Sau 75, ổng là cố vấn cho Hội Văn Nghệ gì đó. Mới “giải phóng” vô, tổ chức học tập, bọn chúng đến nói ba tôi: Anh không biết dạy con (Thụy Vũ). Con anh nói nhiều cái khó nghe quá. Ông già tôi nói: Tôi hãnh diện vì nó. Nó có lý tưởng nó, tôi có lý tưởng tôi. Ông ấy điệu lắm. Ổng mất hai mươi mấy năm rồi. Hồi mới kêu bằng “Quân Quản” đó thì ông ấy là cố vấn Hội Văn Nghệ ở Sài Gòn. Lúc đó có Bảo Định Giang. Hồi xưa Bảo Định Giang đánh xe ngựa cho ông già tôi. Một hôm ổng đến nhà Bảo Định Giang nói với anh gác cửa: Vào nói Bảo Định Giang có thằng đánh xe ngựa tới thăm. Thật đúng bây giờ đổi đời… Mấy anh biết cái nhà từ đường của nhà tôi ở Vĩnh Long không, trời ơi là một gia tài đó, bao nhiêu đồ cổ quí giá, vậy mà năm 75 ổng hiến tặng cho nhà nước. Bây giờ người ta vẫn nói nhà đó tiền tỷ tỷ mà con gái thì chăn dê, chăn bò khổ cực. Đây nè, thằng con trai tôi nè, nó học xong đại học Anh ngữ rồi đó chứ, bây giờ về giúp mẹ chăn bò… Nhiều khi chơi với thú vật sướng hơn, nó không có phản bội mình…”)*

Nguyễn Thị Thụy Vũ chung sống với Tô Thùy Yên, phục vụ ở phòng Văn Nghệ, cục Tâm Lý Chiến (Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Theo học tại Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp. Nhập ngũ năm 1963, phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị, cấp bậc Thiếu Tá. Tô Thùy Yên lập gia đình với vợ chánh là bà Huỳnh Diệu Bích. Sau 1975, Tô Thùy Yên bị bị tù gần 13 năm. Năm 1993 cùng gia đình với người vợ trước sang Mỹ theo diện HO…).

Em ruột Nguyễn Thị Thụy Vũ là Hồ Trường An (Nguyễn Viết Quang), khóa 26 Thủ Đức, phục vụ ở ban Thông Tin Báo Chí, khối Chiến Tranh Chính Trị, Quân đoàn III. Ngoài bút hiệu quen thuộc là Hồ Trường An, còn có nhiều bút hiệu khác như Đinh Xuân Thu, Người Sông Tiền, Đặng Thị Thanh Nguyệt. Sau tháng 4-75, Hồ Trường An oán trách chế độ, tình cha con bị sứt mẻ, Hồ Trường An thuộc diện gia đình có công “cách mạng” nên không bị lao tù như tất cả sĩ quan QLVNCH, hai chị em “được ghi tên” khóa học Bồi Dưỡng Chính Trị, Hồ Trường An được làm việc ở Thư viện Quốc Gia, cuối năm 1977 Hồ Trường An sang định cư tại Pháp theo diện bảo lãnh.

Đổi đời, Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng như hầu hết vợ sĩ quan chế độ cũ lâm vào cảnh khốn cùng, bương chải ngược xuôi để nuôi đàn con dại, trong đó có đứa con gái mới hai tuổi, bại liệt đôi chân, nằm liệt trên giường “Không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở của con người”. Không thể chịu đựng nổi khổ cực, về cư ngụ ở ngôi nhà cha mẹ tại Lộc Ninh, nơi chốn được xem như địa bàn giao liên của ông bà Mặc Khải nhưng rồi Cộng Sản làm khó dễ. Cuối cùng, có nơi tá túc nhưng chân yếu tay mềm không làm rẫy được nên NTTV trở lại Sài Gòn, nơi chốn cũ, NTTV phải làm giấy tờ với mẫu đơn thật buồn cười “Đơn xin tạm trú trong căn nhà của tôi”, không được “ân sủng” cầm bút trở lại mà còn bị gán ghép nhà văn đồi trụy, dâm ô vì vậy NTTV rơi vào nghịch cảnh trong gia đình.

Về hình ảnh Nguyễn Thị Thụy Vũ, trong ký sự văn học Giai Thoại Hồng của Hồ Trường An ấn hành ở Hoa Kỳ năm 1989 viết về những cây bút nữ giới, trong đó có hai người thân trong gia đình là Phương Đài và NTTV.

“Hồi còn nhỏ, Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ được màu da trắng mát như cánh hoa ngọc lan. Trán chị hơi vồ, mũi chị hơi tẹt, răng có cái lòi xỉ. Chị bắt chước tôi ăn mặc theo lối con trai… nhìn chị ai cũng tưởng đó là một chú kim đồng thông minh dĩnh ngộ.

Càng lớn lên, chị đằm thắm lại, tuy có nghịch nhưng nghịch ngầm, cười nói lúc nào cũng kín đáo, nhỏ nhẹ. Trán chị bớt vồ, hai chiếc răng lòi xỉ được cưa để làm hai chiếc răng giả thật khéo… Cái ưu điểm của Thụy Vũ là chiếc miệng đẹp với đôi môi thanh tú, thường nở một nụ cười đằm thắm hồn nhiên. Hơn nữa, chị không làm dáng, không điệu hạnh, uốn éo gì hết trơn. Nhưng đôi mắt chị sáng quá, một thứ sáng kỳ dị như muốn thôi miên người đối diện” .

“Từ tuổi mười lăm, chị tôi sống lêu bêu. Vì bệnh hoạn lại không tự ái, nên chị tôi lười học. Tôi không hiểu chị tôi thích gì. Chị đọc tiểu thuyết tình của Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Dương Hà, Nguyễn Ngọc Mẫn… thơ của Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, T.T. Kh… Nguyễn Thị Thụy Vũ cứ sống cà ngơ cà ngất như vậy cho tới lúc đi dạy học”.

“Thi rớt bằng trung học đệ nhất cấp, chị tôi thi vào ngành giảng tập viên, cam phận làm cô giáo làng suốt năm năm. Sau đó tôi đốc xuối chị bỏ quê quán ở Vĩnh Long lên Sài Gòn học tiếng Pháp ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, học tiếng Anh ở London School và Hội Việt Mỹ”.

“Tại Sài Gòn trong các năm 1962-1963. Chị tôi bắt đầu viết nhật ký… Chính tập truyện đầu tay của Túy Hồng thúc dục Thụy Vũ lao vào văn đàn đã có Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo thắp đuốc tiền phong”
(HTA -GTH).

Hồ Trường An kể lại câu chuyện thật lý thú về người chị dùng ngải “thứ ngải thoa vào môi nói gì ai cũng nghe theo” để gặp văn nhân như Thanh Nam hầu chọn đăng truyện ngắn nhưng tiếc rằng ngải không hiệu nghiệm. Vì vậy, sau nầy truyện ngắn Chiếc Giường trong tập Lao Vào Lửa, NTTV viết về hình ảnh cô gái bán bar dùng bùa ngải để mê hoặc khách làng chơi thật sinh động.

“Gặp ông Võ Phiến, tôi nói ngay ý định của chị tôi, nhờ ông đỡ đầu cho chị trong bước đầu viết lách… chị tôi chìa bản thảo mà chị đã chép lại một đoạn trong quyển nhật ký của mình… Một Buổi Chiều là cái chìa khóa để một cô giáo làng mở một cánh cửa bước vào văn đàn”
(HTA – GTH).

Băng Lĩnh yêu con đường văn nghệ và vì tự mình lập thân với “ngón nghề” ngộ nghĩnh và vớ vẫn qua bùa ngải. Không dùng nó để mồi chài tình yêu, lường gạt tiền bạc, vật chất người khác mà xử dụng để cho văn nhân chọn ngọn bút của mình trên trang báo. Và, ngòi bút của Băng Lĩnh không lọt vào đôi mắt của Võ Phiến, Chủ bút tạp chí Bách Khoa, chủ trương nhà xuất bản Thời Mới, bằng chiêu thức đó.

“Chai ngải của chị tôi bị tôi lỡ tay làm đổ. Tôi mua chai xá xị khác thế vào mà không cho chị biết. Vào hôm đi yết kiến ông Võ Phiến, chị đem nước xá xị thoa lên môi, đợi môi khô chị mới thoa một lượt son màu hường tươi… Khi nghĩ tới phải hội kiến một nhà văn lớn,chị tôi đâm ra khớp. Cái trâng tráo, nghịch ngợm cố hữu của chị tôi bay đâu mất. Mặt chị xanh như đàn bà sảo thai, lời nói khó khăn, đứt quãng như sản phụ đẻ ngược”
(HTA – GTH).

Nhà văn Võ Phiến viết về NTTV với những dòng đầu trong bài:

“Đầu thập kỷ 60 – tôi không nhớ rõ năm nào – tòa soạn Bách Khoa bắt đầu nhận, thỉnh thoảng một thiên truyện ngắn của một người viết mới, thuộc phái nữ, ký tên Nguyễn Băng Lĩnh. Lúc bấy giờ các cây bút nữ giới hãy còn hiếm. Tòa soạn có ý tò mò…
… Người ấy về sau mang bút danh Nguyễn Thị Thụy Vũ, là tác giả cuốn sách có tên là Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Cho Trận Gió Kinh Thiên… Tức là thứ sách mà các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết!” (Võ Phiến – Văn Học Miền Nam, Hoa Kỳ 1999)

Tập truyện Mèo Đêm của NTTV xuất hiện cùng thời điểm với sự xuất hiện các cây bút nữ giới vào năm 1966. Và, “Cuốn tập truyện Mèo Đêm đã làm cho Thụy Vũ bớt rụt rè đối với văn giới. Chị dám đặt chân tới tòa soạn Bách Khoa. Trước đó chị viết bài xong, đưa cho ông Võ Phiến xem trước, và khi xem xong ông Võ Phiến đưa cho ông Lê Ngộ Châu, Tổng thư ký tòa soạn tập san Bách Khoa. khi bài vở được đăng, chính tôi đến tòa soạn nhận lãnh tiền nhuận bút dùm chị”
(HTA – GTH).

Từ đó, NTTV bước vào văn đàn với nhiều tác phẩm, thành lập nhà xuất bản Kim Anh với Nguyễn Thị Nhiên, Hồng Đức, Kẻ Sĩ với Tô Thùy Yên. Là một trong những tác giả thuộc phái nữ có nhiều tác phẩm đang ăn khách ở Việt Nam vào giữa thập niên 60-70 cho đến ngày đen tối trong cuộc đời cầm bút sau 30-4 – 75.

Tác Phẩm:

Từ cô giáo tỉnh lẻ, trình độ học vấn chẳng bao nhiêu, yêu văn chương chữ nghĩa, khởi đi từ những trang nhật ký, trong vòng mười năm (65-75), NTTV đã đi vào Văn học Việt Nam với nhiều tác phẩm:

Tập truyện: Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông

Truyện dài: Thú Hoang, Ngọn Pháo Bông, Khung Rêu, Như Thiên Đường Lạnh, Chiều Xuống Êm Đềm, Nhan Tàn Thắp Khuya, Cho Trận Gió Kinh Thiên… còn nhiều truyện viết feuilleton đăng trên báo chưa xuất bản. Năm 1978, nhà xuất bản Sống Mới ở Fort Smith, Arizona cho tái bản truyện dài Thú Hoang.

Tập truyện Mèo Đêm gồm bảy truyện ngắn: Mãnh, Đợi Chuyến Đi Xa, Một Buổi Chiều, Mèo Đêm, Nắng Chiều, Bóng Mát Trên Đường, Miền Ngoại Ô Tỉnh Lẻ.

Tập truyện Lao Vào Lửa gồm ba truyện ngắn: Chiếc Giường, Đêm Nổi Lửa, Lao Vào Lửa.

Tập truyện Chiều Mênh Mông gồm sáu truyện ngắn: Trôi Sông, Đêm Tối Bao La, Tiếng Hát, Lìa Sông, Chiều Mênh Mông, Cây Độc Không Trái.

Trong mười sáu truyện ngắn xuất bản năm 1966 và 1968 “đã gây ồn ào trong dư luận giới đọc sách” vì tính cách táo bạo, ngôn ngữ tả chân khi làm tình, khi tán tỉnh, không khí snack bar với rượu chè trai gái.

Nếu viết về nỗi cô đơn của cô gái mang nhiều mặc cảm như Đợi Chuyến Đi Xa, nỗi buồn chán chường của người đàn bà ở Ngoại Ô Tỉnh Lẻ, tâm trạng cô gái trong chuyện chồng con qua Lìa Sông… chẳng có gì gây tác động sự xuất hiện ngòi bút nữ giới với giới thưởng ngoạn. NTTV viết về hình ảnh ăn chơi, đàng điếm, mồi chài, thác loạn của giới bán bar trong giai đoạn quân đội Mỹ tràn ngập ở Việt Nam. Nếu viết thực, sống động phải là người từng lăn lộn, đầy dẫy kinh nghiệm, trải qua tháng ngày trong khung cảnh đó. Ở đây lại là cô giáo tỉnh lẻ, giữ mình trong cuộc sống mô phạm phần nào nhưng đã chọn cho mình cái nhìn độc đáo để sáng tạo. NTTV nhờ dạy kèm tiếng Anh cho giới bán bar, giới làm sở Mỹ nên có cơ hội giao tiếp, tìm hiểu mặt trái của cuộc sống làm chất liệu cho ngòi bút.

Hình ảnh Loan trong Mèo Đêm, cuộc đời bán bar của Loan như loại mèo đêm “ăn sương” với lính Mỹ. Cuộc đời cô gái vô học bước vào lầu xanh với cái tên ngoại quốc Mi-Sen, qua bao năm trong nghề với những mánh khóe điêu luyện để lột tiền lính Mỹ ăn chơi. Trong Chiếc Giường, cô gái giang hồ về chiều ế khách dùng bùa mê để có được nhiều mối ăn nằm trên thân xác nhầy nhụa.

Lao Vào Lửa là chân dung cô nữ sinh nghèo túng, đi tìm việc trong hộp đêm, Tina chưa rành rọt với “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” nên bị chê, và cô gái giang hồ chẳng mấy chốc trở thành tay nghề.

“Một tên Mỹ cao lớn, râu ria cạo nhẵn thín, nhưng vết sẹo trên râu quai nón vẫn làm tối sầm khuôn mặt hắn. Hắn nhe răng cười mơn trớn hỏi:

– Em tên gì”

Tôi trả lời cộc lốc:

– Tina

Hắn lôi tôi vào lòng rồi đặt lên bắp đùi hắn. Bàn tay hắn sờ soạng trên trên ngực và eo của tôi. Chị Năm thường nói với tôi là tụi đàn ông Âu Mỹ lông lá như con dã nhơn, mỗi ngày cạo râu hai lần thì hành sự rừng rú chịu không nổi. Tôi sợ sệt nhìn cánh tay hắn. Hắn buông thõng tay tôi tiếp tục:

– Ngủ với tôi đi.

Tôi đưa tay lên làm hiệu:

– Mười nghìn nghe.

Hắn lắc đầu:

– Mắc lắm, cưng ơi! Nếu mười nghìn thì em phải trả tiền phòng và tiền ticket”.

Trong Tiếng Hát và Chiều Mênh Mông mô tả hình ảnh người con gái lăn vào cuộc tình với nhục dục mạnh bạo làm khoái cảm thân xác. Vì vậy có sự phê phán về hiện tượng dồn nén gây ẩn ức sinh lý, gặp môi trường tác động làm chất liệu để bày tỏ.

Sau ba tập truyện ngắn, NTTV cho ra đời ba truyện dài Ngọn Pháo Bông năm 1968, Thú Hoang, 1968 và Khung Rêu 1969.

Ngọn Pháo Bông mô tả cuộc đời vũ vữ sống dưới ánh đèn màu, theo thời gian, gái làng chơi hành nghề cho Tây rồi Mỹ trải dài qua hai thập niên. Cuộc đới gái điếm lão luyện đó được kết thúc bởi tên ma cao lưu manh bắng lưỡi dao oan nghiệt.

Tác phẩm Khung Rêu do Kẻ Sĩ xuất bản vào năm 1969. Năm 1970 Khung Rêu được giải nhì Văn Chương toàn quốc (Nhà sách Văn Nghệ ở Nam California in lại năm 2000).

Với Giải Thương Văn Chương, tên tuổi NTTV được nhiều cây bút đề cập, trong đó có ba tác phẩm đáng kể như Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Trịnh Công Sơn, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Thế Uyên, Thế Phong, Bùi Giáng, Võ Hồng) của Tạ Tỵ. Các Nhà Văn Nữ Việt Nam 1900 – 1970 (Song An, Mộng Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương) của Uyên Thao và Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta gồm 45 cây bút từ 1954 đến 1973 do Nguyễn Đông Ngạc, chủ trương nhà xuất bản Sóng, thực hiện vào năm 1974 đưa tên tuổi NTTV sáng giá. Truyện ngắn Lòng Trần cùng với hình ảnh NTTV qua ống kính của Trần Cao Lĩnh hiện diện trong tuyển tập nầy.

Khung Rêu ghi lại hình ảnh nơi quê mà trong phần tựa, NTTV viết:

“Từ hồi nhỏ, tôi phải chịu đựng mốt ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. Nguyên nhân chính của sự suy sụp bệ rạc nầy thì ai cũng biết: chiến tranh… Khi khởi công viết quyển truyện nầy, tôi đặt trước cho mình một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thuở nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong”.

Bối cảnh câu chuyện xoay quanh gia đình ông Phủ, điền chủ, quan lại, giai đoạn về hưu. Nhìn bề ngoài gia đình giàu sang nhưng bên trong từ ông Phủ đến con cái chẳng ra gì, con trai có đứa thì chơi bời trụy lạc, đứa thì dốt nát, con gái có đứa thì lăng loàng, đứa thì thất tình hóa điên, đứa thì ái nam ái nữ. Ông Phủ lắm vợ nhưng đầu óc đầy nhục dục, hãm hiếp người làm trong nhà tuổi bằng con cái… tạo ra thảm kịch, băng hoại của gia đình đến thời suy sụp.

Cho Trận Gió Kinh Thiên đề cập đến bi kịch trong đời sống vợ chồng, ông ăn chả thì bà ăn nem, mà khi nàng lao mình vào cuộc tình mới để trả thù chồng, bỏ quê về sống nơi đô hội như lao mình vào cơn gió bụi bên cạnh hình ảnh cờ bạc, đĩ điếm.

NTTV dám viết với ngôn từ, suy nghĩ của giới giang hồ, hình ảnh, động tác lẫn cảm giác của trai gái khi “lâm trận” mà trước đó chưa có nhà văn nữ nào đề cập. Túy Hồng, khuôn mặt đất thần kinh, tiếp nhận ngòi bút của Francoise Sagan trong nếp sống hiện sinh, tác động xác thịt rung động được mô tả đã ảnh hưởng vào cái nhìn của Thụy Vũ. Và, khi kề cận với giới sống gần gủi mấy chàng G.I, khai thác được nhiều khía cạnh mà cây bút nữ khác không có chất liệu để sáng tác. NTTV biết táo bạo động tác ái ân như: “làm đùng đùng như cù dậy”, “làm đùng đùng như con cá sấu đập đuôi bánh lái ghe chài”, hay chủi bới nhau bằng ngôn ngữ thô tục như: “Tam đại tứ đại, cao tằng cố tổ con đĩ mụ nội nó”, “Mầy là con đĩ ăn cám uống hèm nên ngu si đần độn”... (Cho Trận Gió Kinh Thiên) nên bị phê phán như ngòi bút khiêu dâm.

Quan niệm về sáng tác theo NTTV:

“Tôi thích truyện ngắn không có cốt truyện mà đầy nhiều chi tiết soi sáng thái độ lẫn quan niệm của tác giả đối với văn chương và cuộc đời. Trong ba tập truyện: Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông, hầu hết các truyện ngắn đều có cốt truyện hẳn hoi, nên tôi không được vừa ý lắm. Bởi vậy, đã từ lâu, tôi không viết truyện ngắn nào nữa, mà chỉ cắt xén vài đoạn trong truyện dài để làm truyện ngắn đăng báo mà thôi”
(NĐN – NTNHNCQHCT).

Nhận định về truyện ngắn, theo Tạ Tỵ:

“Thụy vũ viết truyện ngắn với nhiều thể tài, mỗi thể tài được hàm chứa sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ trong vấn đề tình yêu, cũng như nỗinhức mỏi về thân phận, thân phận người con gái với những ước mơ táo bạo về dục tình”
(TT – MKMVNHN).

107 7 NguyenthiThuyVuimage01

Nguyễn Thị Thụy Vũ sau năm 1975

Dòng Đời:

Nhà văn Văn Quang, tác giả nhiều tác phẩm xuất hiện vào thập niên 50 – 70 như Thùy Dương Trang, Nghìn Năm Mây Bay, Nguyệt Áo Đỏ, Chân Trời Tím, Đời Chưa Trang Điểm, Nét Môi Cuồng Vọng, Người Yêu Của Lính, Vì Sao Cô Độc, Tiếng Hát Học Trò… gần đây với truyện dài Ngã Tư Hoàng Hôn, Bắt Tay Tử Thần… và Một Người Đàn Bà, Nhiều Người Đàn Ông trên nhật báo Người Việt vào đầu năm 2000, vừa gởi ra hải ngoại bài viết về con gái của bạn văn. Câu chuyện về con gái của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ: “Người Con Gái 27 Năm Sống Với Đời Sống Thực Vật” của Văn Quang đã gây xúc động nhiều người.

Sau biến cố thang thương năm 1975 hai mươi lăm năm, tên tuổi NTTV đã phôi pha theo thời gian, hình như tác phẩm của Thụy Vũ xa lạ ở hải ngoại. Con người sống giữa lằn ranh Quốc – Cộng đó không còn cầm bút để bày tỏ, đôi khi chấp nhận sự ngộ nhận như oan khiên của cuộc đời.

Vào đầu thập niên 90, đọc ký sự Giai Thoại Hồng của Hồ Trường An, tôi nhớ lại kỷ niệm xưa khi đề cập đến ngôi nhà người thân trong gia đình anh.

“Vào năm 1961, gia đình của cô Phương Đài tôi còn ở trong căn một căn nhỏ hẹp ở dãy đông lang của Thánh thất Từ Vân, đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận. Thánh thất thuộc bổn đạo Cao Đài ở gần chùa Quán Thế Âm, chùa do cố Hòa thượng Thích Quảng Đức trụ trì (còn gọi là chùa Mạch Lô) cùng tọa lạc trên đường Nguyễn Huệ. Dãy đông lang nầy vách ván, mái lợp ngói âm dương… Cảnh trí nơi đây rất thơ mộng. Trước dãy đông lang có trồng ba cây điệp ta, những khóm dạ lan, những bụi bông trang dệt gấm đỏ, hường, vàng”.

Vài năm sau, vợ chồng Phương Đài cất ngôi nhà khá xinh phía sau dãy đông lang đó, ở chung với thân mẫu. Trong dãy đông lang đó, vợ chồng Trần Quân – Xuân Hoàng ở một căn, căn bên cạnh, bạn tôi được thuê với giá rẻ để ăn học. Thuở đó sinh viên vào Sài Gòn, đồng hương với cụ Song Thu và chị Phương Đài, được anh Tường Linh giới thiệu, có chỗ ở rất tốt cho việc học hành, muốn dạy kèm được cụ gởi gắm. Có thời gian về ở chung với người bạn nên có dip gần gũi gia đình Phương Đài. Cư xử với nhau rất tình nghĩa và tử tế, chưa bao giờ nghe luận điệu tuyên truyền nào cả. Có lần nhà thơ nầy gợi ý với tôi, Thùy Dương Tử cần bài khảo cứu cho tờ An Lạc số cuối năm, có tính cách quê hương, tôi viết bài Thực Trạng Xã Hội Trong Thi Ca Trần Tế Xương.

Cuối năm 1966 tôi vào quân ngũ, quên chuyện bài vở, sau đó bạn tôi lên Thủ Đức thăm với chút quà và tiền nhuận bút hai nghìn, tương đương với ba tháng tiền nhà ở đó, hai đứa cưa đôi. Tôi không ngờ chuyện nhờ bài vở, tôi trả lễ, khi đi xa, giữ được chữ tín… Vào đầu thập niên 70, khi ở đơn vị, nghe tin khoảng mười người trong giới văn nghệ lần lượt bị bắt, trong đó có Tường Linh, Phương Đài… vài người quen nữa mà trước kia thấy họ thường lui tới thăm hỏi với nhau. Đâu ngờ vài khuôn mặt đồng hương đã quý mến lại nằm vùng hoạt động cho địch! Thảo nào lúc đó Vũ Hạnh thường lui tới, tập thơ Đất Mẹ của Phương Đài ra đời năm 1967, Vũ Hạnh đề tựa. Giai đoạn Lữ Phương, Nguyễn Ngọc Lương, Vũ Hạnh ra đời tờ Tin Văn tạo môi trường giao thiệp cho những người trong cuộc nằm vùng có cơ hội sinh hoạt, giao tiếp. Khuôn mặt nầy tôi đã đề cập trong bài Vũ Hạnh, Kẻ Hoạt Đầu Văn Hóa trên Saigon Times và Thời Mới vào cuối tháng 12 -1991.

Giữa lằn ranh Quốc – Cộng trong gia đình NTTV thuở đó:

“Bà Song Thu, ba tôi, cô Phương Đài, dượng Trần Quân đều ngả theo phe tả… Tô Thùy Yên thuở đó chống Cộng có lập trường. Còn Thụy Vũ và tôi cứ lửng lơ con cá vàng giữa hai chủ nghĩa”
(HTA – GTH).

Sau năm 1975 Mặc Khải chẳng có chỗ đứng nào trong sinh hoạt văn nghệ, ông chết năm 1982. Khi chiêu bài đã lộ hình, nhìn lại để suy nghiệm bài học trong văn giới.

Trong tác phẩm Cõi Ký Ức Trăng Xanh, Hồ Trường An có đề cập đến tình duyên lận đận của NTTV với chàng Hải quân khi ở Vĩnh Long. Năm 1964, NTTV gặp Tô Thùy Yên trong bữa tiệc ăn mừng của Thanh Tâm Tuyền nhân dịp đoạt giải thưởng Văn Chương toàn quốc. Tô Thùy Yên đã có gia đình, NTTV cuộc tình tan vỡ, có đứa con riêng.

“Thế là từ đó Tô Thùy Yên không rời Thụy Vũ nữa. Khi chung sống với nhau, Tô Thùy Yên nhận thấy Thụy Vũ quê quê, vulgaire thế nào, anh muốn biến chị tôi thành người đàn bà phong nhã, lịch lãm”
(HTA – GTH).

107 6 ToThuyYen

Tô Thùy Yên

Căn gác của đôi tình nhân nhà thơ, nhà văn qua bài viết Lịch Sử Văn Học Qua Ống Kính của Trần Công Nhung khi thực hiện chân dung văn nhà văn bằng hình ảnh:

“Tôi nhớ mang máng thì dạo đó nhà của Tô – Thụy cũng không xa nhà cụ Vũ Hoàng Chương, đâu lối Bàn Cờ, bởi cũng vào hẽm quanh co. Lúc nhận ra số nhà, tôi thấy ngay người đàn bà đang ẵm một cháu bé trạc 2 tuổi đang đứng nơi bậc cửa… Khuôn mặt chị luôn luôn tươi, mước da không trắng lắm nhưng đẹp và phảng phất nét cổ điển… Căn nhà tối quá, con hẽm thì hẹp… Bởi chu vi căn nhà không rộng nên cái cầu thang cũng quá hẹp. Đi phải nghiêng người mới vừa. Tôi chậm chạp từng bước vừa cúi nhìn chân sợ lỡ trượt một cái là hỏng hết. Vừa ló đầu qua khỏi cửa thang gác thì một cảnh tượng bất ngờ đập vào mắt, khiến tôi vừa mắc cở, vừa buồn cười. Căn gác trống trơn, ở góc bên trái có cái rương gỗ cũ bằng chiếc bàn con. Ngang tầm mắt, căng hai sợi giây kẽm phơi đầy những thứ riêng tư của nữ giới… Tôi nghe như có tiếng cười khe khẽ sau lưng. Làm như không hay biết gì tôi ngồi quì xuống sàn gác, đặt xách máy lên chiếc rương gỗ giả vờ sửa soạn đồ lề để chị có thời giờ thu dọn chiến trường. Chừng một lúc, tôi đứng lên thì tất cả cờ quạt đã dồn về một phía. Chiếc cửa sổ duy nhất được mở ra, căn phòng sáng hơn… ánh sáng bán âm bán dương rất hợp với khuôn mặt của chị. Chưa đầy năm phút là xong, tôi xin cáo lui”.

Trong căn gác nghèo nàn đó NTTV đã cho ra đời nhiều tác phẩm được hình thành trên cái rương gỗ làm bàn. Giữa năm 1972 khi làng Báo Chí Thủ Đức được hoàn thành, NTTV là một trong chín người đầu tiên có nơi chốn khang trang giữa nơi qui tụ văn nghệ sĩ.

Tháng 6 – 1975 Tô Thùy Yên trình diện trong số 24 nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhạc sĩ quân đội, và trải qua nhiều năm trong lao tù.

“Sau ngày 30 – 4 – 75, chị tôi đem lũ con lên Lộc Ninh để làm rẫy. Nhưng vì tôi kỳ kèo nên chị phải về Sàigòn để học khóa Bồi Dưỡng Chính Trị vào năm 1976 do bọn cán bộ văn nghệ cộng sản tổ chức… Qua màn tự phê tự kiểm, Thụy Vũ mệt lả người, trong khi đó chị Nguyễn Thị Vinh, chị Trần Thị Tuệ Mai vây chung quanh chị, mắt chị nào cũng nhòa lệ; cái thân phận làm kẻ bại trận thật nhục nhã, ê chề”
(HTA – GTH).

Là nữ lưu nhưng NTTV không cúi mình kể lể, lấy công như vài “văn nhân” khác để được chỗ đứng, khoan hồng.

An phận thủ thường, nuôi bốn đứa con thơ, trong đó có bé Khôi Thụy bị thương tật nằm liệt trên giường, theo chuyện kể của BBH, bạn văn với NTTV, lúc đó bác sĩ bảo rằng Khôi Thụy khó sống trong hoàn cảnh nầy, giải quyết cho cháu yên nghĩ nhưng tình mẫu tử của NTTV không thể chấp nhận, sống chết bên nhau cho dù đắm chìm trong nghiệt ngã. Theo hồ sơ bệnh lý của bệnh viện Chợ Rẫy và Hội đồng Y Khoa năm 1982: “Khôi Thụy chậm phát triển và tâm thần mức độ nặng”, trên thực tế thì tình trạng còn nguy kịch hơn nhiều.

107 8 BaVanQuang-ThuyVu_10-2010-content-content

Từ trái sang phải: Bà Ngân (vợ Văn Quang) và Thụy Vũ
(Ảnh chụp năm 2010)

Qua một phần tư thế kỷ NTTV sống lặng lẽ với bao nỗi đau thương trong cuộc đời nơi góc chốn ở quê nhà. Hai mươi lăm năm người mẹ gắn bó bên đứa con tật nguyền qua chứng nhân của người bạn văn:

“Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thun ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếc chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm… Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở của con người”
(Văn Quang).

Hình ảnh thương tâm của cháu Khôi Thụy làm bằng hữu phương xa nghĩ lại thân phận nhà văn NTTV ở quê hương. Văn Quang cho tôi biết Thái Thủy và Phan Ngọc Diên sắp cho tái bản hai tác phẩm Mèo Đêm và Khung Rêu của NTTV.

Trong truyện ngắn Đêm Tối Bao La, NTTV viết về hình ảnh người đàn bà:

“Sau vài cuộc tình phất phơ, bây giờ tôi mệt mỏi thật sự. Tôi bất chấp dư luận để sống mà rồi vẫn cô đơn… Chàng nhạt nhẽo quá. Tôi lại mơ cao để rồi số tuổi càng ngày chồng chất theo nỗi chán chường”.

Cầm bút, đôi khi cảm nhận điều gì đó đến với mình qua từng nhân vật có khi rơi vào trường hợp bản thân đến tuổi cuối đời.

Vương Trùng Dương
Little Saigon, Tháng 5-2000
Viết lại Tháng 9-2014 (bổ túc thêm đoạn NTTV nói về thân phụ với Đỗ Tăng Bí)
Posted by NGUYỆT-SAN VIỆT-NAM

20 Năm Văn Học Dịch Thuật Miền Nam 1955-1975, Nguyễn Văn Lục


27-1-tucamphan-thay-nvluc-largenvl-mtdn-bia-truoc-0-large

(Chân dung và tác phẩm của nhà văn Nguyễn Văn Lục)

Nguyễn Văn Lục

(Tác giả Nguyễn văn Lục tốt nghiệp cử nhân Triết Đà Lạt năm 1963, dạy tại nhiều trường trước 75: Võ Tánh Nha Trang, Ngô Quyền, Khiết Tâm Biên Hòa, Cứu Thế, Trường Sơn, Văn Hóa và trung tâm Cao Bá Nhạ ở Sàigòn).

Văn học dịch kể như không có trong mắt một số nhà văn, nhất là một số người làm công tác phê bình văn học nghệ thuật. Nhà văn Võ Phiến có bộ sách dày gần 2.000 trang về Văn học miền Nam nhưng đối với mảng Văn học dịch thì ông hà tiện lắm: vỏn vẹn có hai trang. Trong hai trang đó, ông lại dành để nói lên cái nỗi lo sợ của một số người làm văn hóa lúc bấy giờ vì sự tràn ngập sách dịch ở miền Nam vào cuối những thập niên 60 và đầu 70. Võ Phiến đã có công lập một danh sách những người làm văn nghệ trong Nam như các nhà thơ, các nhà văn… ngay cả những người viết về Triết, về Sử, các người làm nghiên cứu về ngôn ngữ học, những người viết về chính trị như ông Vũ Tài Lục hay Nguyễn Bảo Trị cũng có tên nhưng lại không lập danh sách các dịch giả. Vì trong tập mở đầu Văn học miền Nam tổng quan, Võ Phiến đã có lời hứa: “Các tập kế tiếp sẽ được dành cho từng bộ môn sáng tác”. Thế là rõ ràng rồi, phải sáng tác mới được. Thật cũng chẳng muốn làm khó Võ Phiến, nội cái việc chọn người này, không chọn người kia cũng đủ làm ông mệt rồi.

Riêng những người làm công việc dịch thuật thì kém may mắn thật. Tên họ đã không có. Chẳng hạn như chị em Phùng Thăng, Phùng Khánh rồi Vũ Đình Lưu, Hải Triều, Ngọc Thứ Lang, Nguyễn văn Sơn, Trần Thiện Đạo, Bửu Ý, Phạm Kim Khôi, Nguyễn Hữu Hiệu, Đinh Bá Kha hay các dịch giả dịch tiểu thuyết Tàu như Hàn Giang Nhạn, Liêu Quốc Nhĩ và hằng trăm người khác. Họ không có mặt. Điều đó chúng ta phải nghĩ thế nào? Phải chăng sách dịch là thứ văn hóa ngoại lai không đáng được nói tới? Vậy mà cái thị phần sách dịch theo Võ Phiến đã có một thời vào năm 1970 chiếm đến 60% và đến năm 1972 đã lên đến 80% toàn bộ đầu sách xuất bản ở miền Nam. Trần Trọng Đăng Đàn, trong Văn Hóa, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975 cũng đưa ra con số chính xác như Võ Phiến. Cũng theo Trần Trọng Đăng Đàn, sau kết quả điều tra, tiến hành vào tháng 7-1976, số sách dịch của miền Nam trong 20 năm bao gồm: Đức 57 đầu sách, Ý 58, Nhật 71, Anh 97, Mỹ 273, Pháp 499, Đài Loan và Hương Cảng 358, Nga 120, còn lại các nước khác 38 [1]. Những con số vừa nêu trên đáng để ta suy nghĩ lắm chứ?

Trong những năm đầu, từ 1955 đến 1960 số đầu sách dịch kể ra còn thưa thớt. Không phải chính quyền không lưu ý đến điều đó, bên cạnh công tác dịch thuật của các cơ quan văn hóa như Cơ quan viện trợ Á Châu (Asian Foundation), Phòng thông tin Hoa Kỳ, Hội Việt Mỹ, Phù Luân Hội và nhất là Hội Văn hóa Á Châu (Asian culture association), ngay từ cuối 1955 Bộ Thông tin dưới thời Tổng thống Ngô đình Diệm đã ban hành nghị định về: Thủ tục kiểm duyệt ấn phẩm nước ngoài nhập cảng – ấn định thủ tục duyệt các sách dịch – về tiền thù lao dịch thuật và các loại sách được nhập cảng vào VN. Đến thời tổng thống Nguyễn văn Thiệu, đã thành lập Ủy ban dịch thuật do ông Mai Thọ Truyền làm chủ tịch. Năm 1970 đã thiết lập Hội đồng chấm giải dịch thuật. Năm 1971, Tổng thống Thiệu đã xuất quỹ một triệu bốn trăm ngàn đồng cho các giải về dịch thuật. Nhưng tất cả những nỗ lực từ phía chính quyền và các cơ quan Văn Hóa thật sự chẳng có ảnh hưởng là bao nhiêu đến sinh hoạt dịch thuật ở miền Nam, đôi khi còn gây phản tác dụng có hại.

Khung cảnh lúc bấy giờ ở miền Nam, nhất là sau khi Sáng Tạo ra đời vào tháng 10-1956, có một không khí nở rộ, tưng bừng. Mọi sinh hoạt văn học như bừng trỗi dậy: thơ văn, sách báo tiểu thuyết, hội họa. Báo có Ngôn Luận, Tự Do thu hút được nhiều cây viết có tài. Nhạc có Phạm Duy. Hội họa có Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh. Triết Tây có Nguyễn văn Trung và Nguyễn Nam Châu với hai cuốn: Những nhà văn hóa mới (1958) và Sứ mệnh Văn Nghệ (1958) [2]. Hai cuốn sách này đã gây thích thú cho nhiều độc giả thời kỳ đó. Chỉ tiếc rằng, sau đó Nguyễn Nam Châu đi du học rồi làm giáo sư ở Bỉ không thấy xuất hiện nữa. Báo tuần có Sáng Tạo khua động, phất trống mở cờ với lời tuyên bố của Mai Thảo trong Sáng Tạo, số 1, 1956: “Sàigòn thay thế cho Hà Nội, từ một đô thị miền Nam trở thành thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước. Sàigòn sáng tạo và suy tưởng”. Tiếp theo là Văn Hóa Ngày Nay, Bách Khoa, Hiện Đại, Thế Kỷ 20, v.v..
Sự có mặt của Sáng Tạo vô tình đã đẩy lui một số khuôn mặt những nhà văn, nhà thơ cũ vào im lặng, tệ hơn nữa vào bóng tối. Họ là những Đông Hồ, Vũ Bằng, Quách Tấn, Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Tam Lang, Vi Huyền Đắc và đặc biệt là Nhất Linh với tờ Văn Hóa Ngày Nay. Khi số báo đầu tiên của Văn Hóa Ngày Nay ra ngày 27-06-1958 đã bán được 10.000 số. Sự tò mò háo hức tìm lại Tự Lực Văn Đoàn nhanh chóng trở thành nỗi thất vọng: Vẫn thế… Không ai ngờ sau đó độc giả bỏ rơi Nhất Linh. Nghĩ lại cái thời từ 1930-1945, Nhất Linh huy hoàng quá, không ai hơn ông đuợc. Làm sao ông không buồn? Nói cho cùng cũng chẳng phải tại Sáng Tạo. Cuộc di cư của người Bắc vào Nam đã bỏ lại sau lưng gần như toàn bộ quá khứ một cách không tương nhượng, cả một truyền thống văn học, một nếp sống, nếp nghĩ vào đến trong Nam theo quy trình hội nhập đã tự động cởi rũ để hội nhập. Sáng Tạo có mặt vì đem lại một cái gì mới, chặt cầu với cái cũ, giới thiệu cái ngày hôm nay, dù ngày hôm nay chưa định hình và chưa biết hôm nay là cái gì… Văn Hóa Ngày Nay muốn làm sống lại thời 45, điều đó đi ngược lại tiến trình hội nhập xã hội khiến bị loại là điều khó tránh được.

Riêng Sáng Tạo, mặc dầu được tài trợ của chính quyền cũng chỉ có mặt vỏn vẹn có 31 tháng. Mặc dù vậy, đó là những giai đọan đem lại nhiều thay đổi, nhiều triển vọng sau này cho các lớp nhà văn trẻ nam và nữ của thập niên 60. Trước tình hình như thế, sinh hoạt dịch ra sao? Thật ra miền Nam lúc đó không thiếu những người có đầy đủ uy tín và trình độ để dịch thuật. Họ có vốn liếng tiếng ngoại quốc Anh và Pháp ngữ, đi du học về. Chẳng hạn, tờ Sáng Tạo cứ mang tiếng là cửa ngõ đem chủ nghĩa Hiện Sinh vào VN. Nào đã có ai dịch cái gì đâu? Chỉ có rải rác một vài bài sau đây: Văn chương và Siêu Hình Học, Nguyễn văn Trung, số 10 tháng 7-1957; Nhận định đại cương về triết học Hiện Hữu, Nguyên Sa, số 14 tháng 11-1957; Khái niệm về chủ nghĩa Hiện Sinh, Quang Minh, số 28-29 tháng 1 và 2-1959; Trình bầy và phê bình hai quan điểm nổi loạn của Camus, Thạch Chương, số tháng 9-1960. Dịch và giới thiệu: Người đàn bà ngoại tình của Camus, Nguyễn văn Trung, số tháng 12-1960. Hình như chỉ có vậy. Trong khi đó, trên tờ Bách Khoa, có tất cả 21 bài viết liên quan đến triết học Hiện Sinh. Phần lớn do Trần Hương Tử, tức Trần Thái Đỉnh viết từ Kierkergaard, Heidegger đến Husserl, Sartre, Camus [3]. Thật sự triết học Hiện Sinh được giới thiệu và được nói tới nhiều từ tạp chí Đại Học Huế, có 23 bài viết về triết học Hiện Sinh [4]. Nhưng số sách dịch và biên khảo về chủ nghĩa này chỉ ảnh hưởng nơi một số sinh viên, nhất là những sinh viên Văn Khoa.

Sách dịch Jean Paul Sartre: Phần lớn sách dịch về Sartre là ở phần văn chương Hiện Sinh, phần tiểu thuyết của Sartre. Những tác phẩm về triết lý Hiện Sinh như L’Etre et le Néant (1943), Critique de la raison dialectique (1960) đã không được dịch. Có muốn dịch cũng không phải dễ. Về Sartre có những dịch phẩm sau:

Cuộc tranh luận về văn nghệ giữa Sartre, Y.Berger, Simon {Trần Thiện Đạo}, báo Văn số đặc biệt về J.P Sartre. Sartre tỏ rõ thêm về quyển Les Mots, bài của J. Platier {Trần Thiện Đạo}. Tiền Phong là gì? {Lê Huy Oanh}. Sartre nói về Sartre {Trần Thiện Đạo}. A. Camus, J.P. Sartre {Trần Thiện Đạo}. Guồng máy L’engrenage {Trần Phong Giao}. Ả giang hồ La pute respectueuse {Nguyễn Minh Hoàng}. Không một nấm mồ Morts sans sépultures rồi Les séquestrés d’Alton và Sự đã rồi Les jeux sont faits {Trần Phong Giao}. Những ruồi Les Mouches và Buồn nôn La nausée {Phùng Thăng}, nxb AnTiêm. Bức tường Le mur {Lê Thanh Hoàng Dân} [5].

Sự nghiệp của Sartre đồ sộ như thế, không lạ gì mà đám ma ông vào năm 1980 được xem như một sự tiễn biệt một trí thức hàng đầu, một nhà văn cuối cùng của nước Pháp, đã nhắc nhở người ta nghĩ tới đám ma của Victor Hugo một thế kỷ trước. Nhưng những ảnh hưởng về triết học từ tác giả này đối với người đọc Việt Nam phải kể là nhỏ nhoi. Trừ những sinh viên theo ban Triết.

29120viethai-vanchuongtriethocvanxhoang-05

(Chân dung và tác phẩm của Jean Paul Sartre)

Sách dịch Albert Camus Camus đã được dịch khá nhiều. Giữa Sartre và Camus, độc giả Việt Nam chọn đọc Camus nhiều hơn. Vũ Đình Lưu dịch Người đàn bà ngoại tình. Trần Thiện Đạo dịch Gió về Djémila. Nguyễn Minh Hoàng dịch Cắt nghĩa cuốn Người xa lạ, J.P. Sartre. Bên cạnh đó còn Ngộ nhận, Bạo chúa Caligula, Con người phản kháng, Mùa hè-sa mạc cũng đã được dịch. Riêng cuốn L’étranger, theo dịch giả Trần Thiện Đạo đã được các tác giả sau đây chuyển ra tiếng Việt: Người xa lạ, A. Camus {Võ Lang}, nxb Thời Mới 1965. Kẻ xa lạ {Dương Kiền và Bùi ngọc Dung}, nxb Ngày Nay 1965. Kẻ xa lạ {Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vi Phúc}, nxb Trẻ 1973. Người dưng {Dương Tường}, nxb Văn Học, Hà Nội 1995. Và mới đây nhất Kẻ xa lạ {Nguyễn văn Dân}, nxb Văn Hóa, Hà Nội 2002. Tại sao có sự dịch trùng lập đến lạ lùng như vậy? Vì tác giả nổi tiếng quá? vì cuốn L’étranger hay quá? Vì những người đi trước dịch dở quá? Vì nhu cầu độc giả mê đọc? Hay dịch lại từ bản dịch trước thì đỡ tốn công sức? Khoảng cách thời gian giữa bản dịch đầu đến bản dịch cuối cách nhau 35 năm có nói lên điều gì hay không? Trên báo Văn, số tưởng niệm A.Camus 1-1-1965 có những bài sau đây: Trần Phong Giao dịch ‘La Peste’ Dịch hạch. Vũ Đình Lưu dịch Nền tảng Đạo Đức luận của Camus. Trần Phong Giao dịch Sứ mệnh văn nghệ hôm nay.

Nhưng thật sự mà nói, chủ nghĩa Hiện Sinh giới hạn vào một số thành phần sinh viên, trí thức rất chọn lọc. Nghe thì ai cũng nghe, biết loáng thoáng thì có, nhưng biết khá một chút thì không dễ. Vì thế, triết lý này chỉ ảnh hưởng rõ nét trên cái mốt sống Hiện Sinh, hay cái phong thái Hiện Sinh. Cái đó thì có rất nhiều và có tràn lan. Miền Nam lúc bấy giờ, bất cứ cái xì căng đan nào cũng đều đổ oan lên đầu triết lý Hiện Sinh. Một vụ tự tử, một chuyện tình ái lăng nhăng, người ta vội nói: do ảnh hưởng chủ nghĩa Hiện Sinh. Cái “thương hiệu” đó sau này, những người Cộng Sản khi vào tiếp thu cũng cứ nhắm mắt kết án liều một cách hồ đồ. Mấy ai trong họ đủ điều kiện, đủ hiểu biết để phê phán? Phê phán những bèo bọt, bên lề với dụng ý chính trị mà cứ lầm tưởng rằng mình đang làm một cuộc phê phán văn học, triết học?
Sách dịch Francoise Sagan Thời trang Hiện Sinh khi đó có người đại diện là Francoise Sagan. “Đứa con hoang của chủ nghĩa Hiện Sinh”. Cuốn sách của Nguyễn Nam Châu, Những Nhà Văn Hóa Mới đã mở cửa chào đón Sagan vào VN, từ đó mà Sagan nổi tiếng. Cái mốt Hiện Sinh cũng còn được trực tiếp giới thiệu trên Bách Khoa, năm 1958 với bài: Sứ mệnh văn chương của Francoise Sagan của Cô Liêu, tức Vũ Đình Lưu, một dịch giả tài ba. Sagan Francoise Quoiriez sinh năm 1935, viết cuốn Bonjour Tristesse vào năm 1954 lúc 18 tuổi. Đó là câu chuyện của Cécile đã đẩy người tình của cha mình đến chỗ phải tự tử. Dân chúng Pháp nhìn Cécile như một mẫu sản phẩm điển hình của thế hệ trẻ “produit-type”. Trong vài tuần, hàng triệu ấn bản đã được bán ra. Với đám đông độc giả Pháp, họ đồng hóa tác giả Sagan vào mẫu người của Cécile, lớp thanh thiếu niên Hippie hay “nouvelle vague”. Điều đó thật là lạ. Tác giả và nhân vật truyện trở thành một người. Trong tiểu thuyết có Sagan, trong điện ảnh thì có James Dean. Đó là những lớp người trẻ, thuộc gia đình giàu có, nhưng chán không biết làm gì sau chiến tranh. Họ làm tình lúc họ muốn, uống rượu “sec”, vào hộp đêm, đua xe thể thao, sống bất cần…

Bên Việt Nam, vào năm 1959, Nguyễn Vĩ đã dịch cuốn Bonjour Tristesse là Buồn ơi chào mi. Sau đó, Lê Huy Oanh, một giáo sư Anh văn cũng nhảy vào dịch lại Bonjour Tristesse thành: Buồn ơi, xin chào. Nguyễn văn Trung tiếp nối với bài: Trường hợp Sagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết [6]. Và sau đó, Nguyễn Minh Hoàng dịch ‘Un certain sourire’ Có một nụ cười (sau này, Nguyễn Minh Hoàng dịch chung với Võ Phiến các cuốn: Truyện hay các nước 1 và 2). Rồi bẵng đi một thời gian dài, mãi đến năm 1973, Bửu Ý mới dịch: Dans un mois, dans un an Một tháng nữa, một năm nữa. Nhan đề cuốn sách của Sagan có thể đã được rút ra từ hai câu thơ của Jean Racine trong Bérénice: Combien ce mot cruel est affreux quand on aime? Dans un mois, dans un an, comment souffrirons-nous? Cũng năm 1973 Đinh Bá Kha dịch Les merveilles nuages Những đám mây huyền diệu.

Francoise Sagan là một hiện tượng trong văn học dịch của miền Nam thời bấy giờ. Lối viết thật ngắn, lối sống, lối nghĩ thẳng băng đến thản nhiên, đến vô tình. Quan hệ tình dục ngang trái, khác đời thường của một nữ sinh còn trên ghế nhà trường trực tiếp tác động trên đời sống thanh thiếu niên thành thị miền Nam. Nó quyến rũ lạ thường, vì nó mới quá, điều mà trước đây không ai nghĩ tới, mà nghĩ tới được thì cũng cho là những liên hệ ngang trái hay bất thường. Các nhà văn trong nhóm Sáng Tạo, Bách Khoa, Hiện Đại, Thế kỷ 20 cộng lại cũng không có được một ảnh hưởng đậm nét như thế. Những nhân vật truyện của Sagan như Dominique, nữ sinh còn trẻ, Luc, người đàn ông đã 40 tuổi là những nhân vật sống động, quyến rũ giới trẻ…

Các nhà văn nữ vào những thập niên 60 như Nguyễn thị Hoàng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Nguyễn thị Thụy Vũ có nét gì trùng hợp với Sagan? Có phải là những đứa con hoang của chủ nghĩa Hiện Sinh qua Sagan không? Chẳng ai dám nói họ bắt chước. Nhưng phảng phất không khí Sagan. Vòng tay học trò là một tỉ dụ. Sống ngoài vòng, sống buông thả, liên lạc tình dục đậm đặc sống sượng, thô bạo. Cái cảm giác khi đọc các nhà văn này (trừ Nguyễn thị Hoàng) là họ còn đi xa hơn các nhà văn nam giới và đi xa hơn cả Sagan trong những mô tả tính dục [7]. Chẳng hạn, Sagan tả những liên hệ tính dục một cách phơn phớt, không đào sâu, không đậm đặc, “không mặn”, không sống sượng như Túy Hồng hay Nguyễn thị Thụy Vũ. Đọc những nhà văn viết mặn này xong là khát nước. Lối văn của Sagan cụt, hụt hẫng, hững hờ, không màu mè, diêm dúa. Mục đích của Sagan không phải là mô tả những scènes tình dục cho bằng muốn nhắn gửi: cuộc đời chẳng có gì quan trọng, ngay như chuyện làm tình… Luân lý cũng vậy vậy, đạo đức vậy vậy. Cuộc đời trong một ngày, một tháng, một năm, có gì là lạ. Thản nhiên, vô cảm. Cái điều mà bà muốn nhắn gửi là cuộc đời này chẳng có ý nghĩa gì, cuộc sống chẳng ra làm sao. Có sao cũng chẳng làm sao? Trong khi đó, các nhà văn nữ kể trên dừng lại ở những điều mà đáng nhẽ chỉ là phương tiện mà nhà văn phải vượt qua, bởi vì nếu không vượt qua được thì chỉ là những cuốn tiểu thuyết mô tả tình dục. Vấn đề là chiều kích của tác phẩm, dự phóng và sứ điệp muốn nhắn gửi. Nhà văn lớn hay nhỏ là ở chỗ ấy.

Ngay cả đến truyện của Chu Tử, có cái gì hao hao giống với những nhân vật truyện của Sagan. Tiểu thuyết đầu tiên của ông: Yêu với chú Đạt và cô “cháu gái” tên Diễm đã hứa lấy chú Đạt ngay từ hồi 9 tuổi. Điều đó bắt người ta liên tưởng đến những Luc và Dominique. Nhân vật của Chu Tử táo bạo, ngang ngược, liều lĩnh, ẩu, bất chấp… nhưng để làm gì mới được? Chu Tử cũng chỉ dừng ở chỗ mô tả nhân vật, chưa kích lên được, chưa đặt thành vấn đề? Vẫn lại là vấn đề chiều kích của tác phẩm.

TruyenNganFrancoiseSaganbonjour84831

(Chân dung và tác phẩm của Francoise Sagan)

Sách dịch Pearl Buck, St Exupéry, Hemingway Tiếp theo đó, có một số nhà văn như St Exupéry (1900-1944), Pearl Buck cũng được nhiều độc giả Việt Nam ái mộ. St Exupéry từng viết: Pour moi, voler ou écrire, c’est tout un Với tôi, bay hay viết, chính là một. Vì thế, hai cuốn sách Vol de nuit Chuyến bay đêm (1935) và Terre des hommes Cõi người ta (1939) được coi là toàn hảo nhất của ông. Với lối văn nhẹ, đầy tính chất thơ và triết lý, thứ triết lý nhắc nhớ ta đến một André Malraux, băn khoăn đi tìm một thể tuyệt đối. Gần kề với cái chết, những cảm nghiệm siêu hình về tôn giáo, về cái linh thiêng ám ảnh St Exupéry, với hai sứ mạng: Sứ mạng mang trọng trách của người phi công và sứ mạng mang trách nhiệm nhà văn.

Bùi Giáng đã dịch Hoàng Tử Bé Le petit Prince, nxb An Tiêm và Cõi người Terre des hommes, nxb Quế Sơn. Dịch cõi người thì hết chỗ để nói. Tài hoa lắm. Trần Thiện Đạo dịch là Cậu Hoàng Con, nxb Khai Trí. Nhã Điển dịch Chuyến thư miền Nam. Chẳng biết nhà văn Toàn Phong đã có cảm hứng từ Chuyến bay đêm để viết Đời phi công, 1958 hay không? Đời phi công ghi lại những kỷ niệm vui, buồn trong những phi vụ. Chẳng biết qua đó Toàn Phong có nhắn gửi gì thêm không? Lại vấn đề chiều kích của tác phẩm. Phần nhà văn Pháp, Chuyến bay đêm ghi lại những cảm nghĩ của người phi công phải ráng chu toàn trách nhiệm, vì nghĩ tới đồng đội đang hy vọng, đang trông chờ ông phải trở về. Ông phải đối đầu với những trận bão cát sa mạc, đối đầu với thiên nhiên, từ đó có những xao xuyến siêu hình về phận người. Chiều kích tác phẩm Chuyến bay đêm là ở đó.

Cũng một lẽ ấy, Ernest Hemingway viết Ngư ông và biển cả. Chuyện chẳng có gì, chỉ là chuyện độc thoại của lão già đánh cá, bằng mọi cách phải mang được con cá câu về. Cuộc chiến đấu giữa người và thiên nhiên, bất kể thắng hay bại, lão đã mang được cá về, mặc dầu chỉ là một bộ xương. Người ta trao giải thưởng Nobel cho ông hẳn là ở chỗ chiều kích tác phẩm muốn nói lên một điều gì? Những chuyện khác của Hemingway được dịch như: A farewell to Arms Giã từ vũ khí. For Whom the bells Tolls Chuông gọi hồn ai.

caunoi7kienthuc_net_xudechuongnguyenNguOngVaBienCa-B1

(Chân dung và tác phẩm của Ernest Hemingway)

Các sách dịch từ nay có khuynh hướng chuyển sang các nhà văn viết bằng tiếng Anh, như phần lớn sách của Pearl Buck, Henry Miller hay của Hermann Hesse. Hoặc như các Chuyện tình người {Võ Sơn Thanh}, Phía Đông vườn địa đàng của John Ernst Steinbeck {Đinh Hoàng Sa}. Chùm nho phẫn nộ The grapes of wrath, Chuột và người Of Mice and Men vẫn của John Steinbeck {Võ Lang}. Tuyết Sinh dịch Những ngày tranh đấu. Toàn Cường dịch Hoàng Ngọc Topaze. Vũ Đang dịch The narrow corner Khung trời nhỏ hẹp. Đỗ Khánh Hoan dịch Lưỡi dao cạo. Nguyễn Hiến Lê dịch Of human Bondage Kiếp người. Đỗ Khánh Hoan dịch Kim Các Tự và Tiếng Sóng của Yukio Mishima.
Sách của bà Pearl Buck mô tả đời sống xã hội Trung Hoa phong kiến cũng đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Việt như Trần An với Tà áo xanh. Văn Hòa với Ba người con gái của Cao Phu Nhân. Nguyên Hùng dịch Bà mẹ xưa. Vũ Kim Thư dịch Người yêu nước. Và nhiều tác phẩm khác Gió Đông gió Tây, Đường về Trùng Khánh, v.v..

Giai đoạn 55-60, với sự ổn định chính trị và đời sống tương đối an bình, đủ ăn, đủ mặc đã tạo nên một sắc thái văn học nghệ thuật phong phú và đồng bộ về nhiều mặt. Nhưng kể từ sau hiện tượng văn học Sagan, văn học dịch bùng lên và chiếm đa số thị phần người đọc sách về đủ các lãnh vực: Từ triết học, văn học, sử học, sách chưởng và sách chuyện đủ loại. Độc giả thanh niên, sinh viên, trí thức tìm đến sách dịch như một nhu cầu để học hỏi, để giải trí và nhất là để có dịp suy nghĩ về những vấn đề lớn của con người như tương giao nhân loại, thân phận con người, vấn đề chiến tranh và hòa bình, ý nghĩ cuộc đời qua cái sống cái chết, vấn đề tha nhân. Từ đó đưa tới một lối nhìn, lối nghĩ, lối sống. Chưa bao giờ, sách dịch có tầm ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống văn hóa và tinh thần của lớp trẻ như thế… Điều mà các nhà văn Việt Nam đã không thể đáp ứng được.

Phải nhận rằng phần lớn các dịch giả miền Nam đã làm tròn nhiệm vụ một người dịch thuật với trách nhiệm và sự cẩn trọng trong việc chọn tác giả, chọn tác phẩm. Xin nêu danh một số dịch giả đã đóng góp đặc biệt vào hai mươi năm Văn học dịch này: Phùng Khánh, Vũ Đình Lưu tức Cô Liêu (bị thảm sát năm 1980 tại Vũng Tầu), Trần Thiện Đạo ở Pháp, Ngọc Thứ Lang, Vũ Minh Thiều, Nguyễn Hiến Lê và Bùi Giáng. Và cuối cùng: Hàn Giang Nhạn và Liêu Quốc Nhĩ. Tại sao không? Cũng có một vài đóm lửa sau này như Tô Thùy Yên dịch La condition humaine của A.Malraux. L’éternel mari, Dostoevsky, bản dịch của Đỗ Kim Bảng. Mạnh Tường dịch Kierkegaard: Những chứng nhân của chân lý của Georges Gurdorf. Tôn Thất Hoàng dịch Phương pháp luận của Descartes, Ý thức luận và Vật chất và ký ức của Henry Bergson. Cho mãi đến năm 1974, Triết học nhập môn của K.Jasper mới được gs Lê Tôn Nghiêm dịch và đối chiếu.

Sách dịch về lịch sử và triết học Trung Hoa Có lẽ cuốn sách dịch triết học Đông Phương khá sớm là cuốn Kinh dịch của Ngô Tất Tố. Nhưng khi mà trường Văn Khoa có bộ môn Triết Đông thì có sự thiếu vắng trầm trọng các sách về lịch sử và Lịch sử triết học Đông Phương. Cụ Nguyễn Đăng Thục đã viết bộ Lịch sử triết học Đông Phương gồm 4 cuốn. Sách không dễ đọc gì, không dễ nắm bắt nội dung vì nó có vẻ bề bộn, thiếu hệ thống. Bước đầu được vậy cũng kể là tốt.
Trung tâm học liệu, thuộc bộ Giáo Dục đã đứng ra xuất bản Khổng Tử san định, gồm 3 tập, dày gần 2.000 trang, của dịch giả Tạ Quang Phát. Ngay từ năm 1956, Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã dịch Trang Tử tinh hoa. 1962 dịch Lão Tử đạo đức kinh, rồi Lão Tử tinh hoa. Cứ thế tiếp tục, năm 1963 ông dịch và bình chú Nam Hoa kinh. Công trình của Nguyễn Duy Cần chỉ có tính cách giới thiệu, tóm lược nhưng ở vào thời này, sinh viên đều tận dụng những cuốn sách của ông trong việc học tập Triết Đông. Thượng Thư (tức Kinh Thư), Khổng Tử san định và Nhượng Tống dịch. Đồ Nam dịch Thiền và Lão Trang của Ngô Di, 1973. Huỳnh Minh Đức dịch Trung Quốc Triết học sử của Hồ Thích với sự giới thiệu của cụ Nguyễn Đăng Thục.

Người có công đầu trong vấn đề giới thiệu Văn học Trung Hoa phải kể đến là Nguyễn Hiến Lê. Ông cũng chỉ là người tự học như nhiều người khác. Nhưng do công chịu khó, bước đầu, ông đã đặt một viên gạch cho việc dịch thuật lịch sử và triết học Đông Phương. Ông viết nhiều, viết đủ loại, tham bác đủ thứ. Loại sách Học làm người của ông đã giúp giới trẻ không nhỏ trong việc vào đời. Ông đã dịch và san định Cổ văn Trung Quốc. Nguyễn Hiến Lê đã tuyển dịch và chú thích hơn 100 bài thơ của Mạnh Tử, Khổng Tử, Bạch Cư Dị, Đại cương văn học sử Trung Quốc, Chiến quốc sách, Đại cương Triết học Trung Quốc, Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa của Lâm Ngữ Đường, Sử ký của Tư Mã Thiên, Tô Đông Pha, v.v.. Không có những tác phẩm dịch này của một số dịch giả, hẳn sự hiểu biết về văn học, lịch sử, triết học Trung Hoa sẽ thật nghèo nàn. Sau này, có những vị như Lương Kim Định đã có những góc nhìn mới về Triết học Trung Hoa như Chữ Thời, Cửa Khổng sân Trình, v.v..

Việc dịch triết học Trung Hoa là một điều tự nhiên và bình thường, bởi vì nó có trong giáo trình ở đại học. Nhưng, dịch giả và độc giả Việt Nam trong thời 60-70 có khuynh hướng tìm về Thiền. Đây là một hiện tượng khá đặc biệt để ta bàn đến ở đây. Chiến tranh ở miền Nam càng đi vào chỗ ác liệt, cái giờ thứ hai mươi lăm càng gần kề, những phản ứng, những chọn lựa, những ứng xử trước chiến tranh đó càng nhiều. Có người tìm quên vào chuyện ăn chơi, chuyện tình vớ vẩn, chuyện Chưởng. Có người trong cuộc phản kháng thành phản chiến. Có người đi tìm một nơi trú ngụ tâm linh. Thiền trở thành nơi trú ẩn đem lại an bình cho tâm hồn.

Ngoài các sách Thiền Suzuki do Thích Nhất Hạnh phổ biến, còn có nhiều dịch giả đã dịch Krishnamurti. Chẳng hạn như: Dưới chân Thầy At the Feet of the Master {Bạch Liên}. Tự do đầu tiên và cuối cùng The First and last Freedom {Phạm Công Thiện}. Đường vào Hiện Sinh Commentaries of living {Trúc Thiên}. Giải trừ Kiến thức Freedom from the Known {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Cách mạng con người The only Revolution {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống Education and Significance of life {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Giáp mặt cuộc đời Life ahead {Nguyễn Minh Tâm}, Ý nghĩa về sự chết, đau khổ và thời gian {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Tự Do và Hòa Bình Liberté et Paix {Nguyễn Minh Tâm và Đào Hữu Nghĩa}, Krisnamurti, Cuộc đời và tư tưởng Krishnamurti, the Man and his Teachings của Ren Fouère {Võ văn Quế}, Hiện tượng Krishnamurti Phénomène de Krishnamurti của Carlo Suarès {Trúc Thiên} [8].

Sách dịch của Hermann Hesse Tính ra có khoảng 10 năm ngự trị của triết học Hiện Sinh trên sinh hoạt văn học miền Nam. Bóng dáng quá lớn của chủ thuyết này lan rộng ở miền Nam chỉ vì một lý do rất đơn giản: Có một số trí thức lúc đầu, xuất thân từ ảnh hưởng văn hóa Pháp, đã gieo cấy cho cây Hiện Sinh nẩy mầm và mọc lan tràn, tạo cái không khí Hiện Sinh nơi đám trẻ. Mở mồm ra là “phi lý”, là “buồn nôn”, là cái thừa, cái de trop. Trong những năm đó, không phải là không có người lên tiếng phản bác, nhất là nơi một vài người công giáo như Phạm Đình Tân, Nhóm Tin Văn và sau này nơi một số môn sinh của họ [9].

Hermann-Hesse684f8b49-90b5-447c-af0a-093b2f88b223scan00031

(Chân dung và tác phẩm của Hermann Hese)

Nhưng ngoài nước Pháp còn những chân trời khác. Bên Mỹ chắc hẳn đã không có cái rầm rộ, náo nhiệt của không khí Hiện Sinh. Phùng Khánh do có dịp du học sống trên đất Mỹ, đã làm công việc mà đàn anh của bà đã làm cách đây gần 10 năm, tuy không kèn không trống, trong thầm lặng bà đã giới thiệu nghiêm chỉnh một khuôn mặt mới cho văn học dịch miền Nam: Nhà văn Đức Hermann Hesse. Đây là một trong những tác giả Tây Phương được dịch nhiều và ảnh hưởng khá rộng, khá sâu trên những thành phần sinh viên, trí thức thành thị. Người ta đã bắt đầu ngấy triết Hiện Sinh với những ngõ cụt: đời phi lý, buồn nôn, thừa thãi, ý thức chán chường. Văn chương của nhà văn Đức đem lại một luồng sinh khí mới về những nét đẹp của con người, trở về nguồn của triết lý Đông Phương, đượm chất thơ, chất ngườiù. Cái triết lý, tôn giáo và ngay cả đạo học này nữa xem ra gần gũi, quen thuộc như một tìm về. Đọc tác giả, cảm được sự an vi, sự thư thái tâm hồn, lắng đọng chiều sâu. Có một cái gì đó không nói ra được, nhưng có những cảm thông sâu đậm giữa tác giả và người đọc. Cái đó cũng vẫn là chiều kích, là cái sứ điệp nhà văn muốn nhắn gửi. Những người dịch đều có chân tài như chị em Phùng Thăng, Phùng Khánh, Vũ Đình Lưu, tức Cô Liêu và Hoài Khanh.
Một nhận xét là càng ngày cái xu hướng dịch các tác giả viết bằng tiếng Anh càng gia tăng về số lượng tác giả cũng như tác phẩm. Điều đó có thể hiểu và cắt nghĩa được. Sự có mặt của người Mỹ đã là một chuyện, những người trẻ về từ Mỹ là chuyện thứ hai, cái mới lạ đem về từ Mỹ là thứ ba và cái cuối cùng vẫn là vấn đề tiền.

Vũ Đình Lưu đã dịch Tuổi trẻ và cô đơn và nhất là cuốn Đôi bạn chân tình, nxb Ca Dao. Phải nói đây là một cuốn sách hay mà bỏ qua không đọc thì thật uổng. Vũ Đình Lưu, tài hoa, đã dịch một tác phẩm có tầm thước như vậy, rất thoát, đến độ tưởng chừng như đang đọc một nhà văn Việt Nam. Cái khó của dịch là ở chỗ đó. Chỗ thoát. Có một nhận xét đến lý thú là ông là người đầu tiên đưa Francoise Sagan vào Việt Nam, nay một lần nữa giới thiệu Hermann Hesse. Ông cũng còn dịch Chopin, nhà thơ âm nhạc và nghiên cứu phân tâm học. Phần này, không có gì đáng nói. Ngoài ra cũng có hai tác phẩm là Đời nghệ sĩ và Vinh danh và quyền lực, nhưng tôi không nhớ tên người dịch.
Hoài Khanh dịch Tuổi trẻ băn khoăn. Ông cũng dịch Nghệ thuật truyền thống và chân lý của Kaufmann, rồi dịch Tchaikowsky với cuộc đời và nghệ thuật, Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống Krishnamurti. (Sau này có thêm nhiều người dịch triết gia Ấn Độ này)

tuhieuminh.blogspot.com-krishnamurtitu-do-dau-tien-cuoi-cung04bbe8d2-c7e1-4fe7-a74a-c1e086c165bf

(Chân dung và tác phẩm của Krishnamurti)

Sách hay có người dịch đã đành. Nhưng nếu không có ai đứng ra xuất bản thì cũng xếp ở một xó nào đó. Sách được xuất bản là nhờ vào một số nhà xuất bản rất có lòng với văn học như Lá Bối, An Tiêm, Trí Đăng, Ca Dao, Trình Bày, Sống Mới, Nguyễn Đình Vượng, Nam Chi, Đại Ngã, Cảo Thơm, Trí Dũng, Diên Hồng, Sáng Tạo và cuối cùng là Văn Hữu Á Châu. Nhà xuất bản Ca Dao cũng do Hoài Khanh, một thi sĩ đứng chủ trương. Ông đã cho xuất bản một số sách dịch đáng nể sau đây: Triết lý là gì? của Heidegger, Phạm Công Thiện dịch, Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa của Lâm Ngữ Đường, Thế giới ngày nay và tương lai nhân loại của Bertrand Russell và Chinh phục hạnh phúc đều do Nguyễn Hiến Lê dịch [10].

Chơn Hạnh và Phùng Thăng dịch Sói Đồng hoang. Đây cũng là một tác phẩm dịch khá hay. Phùng Thăng cũng là người dịch La nausée của J.P Sartre sau này. Trong phần đầu cuốn truyện của Sartre, bà đã dành ra ít trang để sơ lược nội dung của tác phẩm, và tư tưởng của tác giả, giúp người đọc nắm được những điểm then chốt về tư tưởng của J.P Sartre. Phùng Thăng cũng đã dịch chung với Phùng Khánh chuyện Bắt trẻ Đồng Xanh của Salinger. Đây cũng là một truyện dịch rất hay, không thể nào bỏ qua được.

Phùng Khánh là nữ dịch giả tài tuấn trong giới dịch giả nữ. Bà đã dịch Câu chuyện của dòng sông. Theo ý kiến riêng của tôi ở vào thời đó, hai cuốn Đôi Bạn chân tình và Câu chuyện của dòng sông là những cuốn sách hay nhất của Hermann Hesse. Tài dịch thuật của Phùng Khánh thì không còn gì để nghi ngờ. Tôi được biết và kính trọng bà chỉ vì cuốn truyện dịch này. Sau này, năm 90, bà cùng với Vĩnh Bách và Loan Nhã dịch lại cuốn Đôi bạn chân tình do Vũ Đình Lưu đã dịch. Tôi đã đọc cả hai bản dịch. Thật khó nói ai dịch hay hơn ai. Phùng Khánh dịch với nhan đề tên tác phẩm là Nhà khổ hạnh và gã lang thang. Cả hai nhan đề tên tác phẩm của Vũ Đình Lưu và Phùng Khánh đều diễn tả đúng nội dung tác phẩm của nhà văn Đức. Sau biến cố Phật giáo, bà đi tu, pháp danh Trí Hải và đã để lại rất nhiều công trình dịch thuật như sau: E. Herringel. The method of Zen. The story of my expériments with Truth. Tạng thư Sống Chết, The Tibétian book of lying and dying của Soyal Rinpoche, Tự Truyện của Gandhi xuất bản 1971, Tâm phân học và tôn giáo của Eric Fromn. Bên cạnh dó, còn nhiều tác phẩm về Phật giáo sau này tôi chỉ được nghe nói tới mà thôi. Cả hai chị em bà nay đều đã ra người thiên cổ, nhưng những đóng góp của hai người, nhất là Phùng Khánh, sau này là Trí Hải đã đánh dấu một thời văn học dịch thuật thật trong sáng, thật ý nghĩa, khác hẳn cái không khí của những năm 54-60. Những nhà phê bình, lý luận văn học có đao thớt của Hà Nội như Trần Trọng Đăng Đàn đã cố tình không đụng chạm đến một số nhà dịch thuật miền Nam như Nguyễn Hiến Lê, Phùng Khánh, Phùng Thăng. Một chữ cũng không. Những gì không đụng chạm, không nói tới, phải được hiểu là hay, là có giá trị đấy.

Sách dịch Gheorghiu Chiến tranh leo thang và bắt đầu lan rộng. Chiến tranh hai phía, hai kẻ thù, hai bộ mặt người Việt đối mặt. Việc dịch các tác phẩm của các nhà văn trên có ý nghĩa gì? Có sự tài trợ, thúc đẩy của chính quyền không? Phải nhận rằng, có những sách báo, truyện xuất phát từ những cơ sở như Việt Tấn Xã hay các cơ quan ngôn luận như báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Rất có thể đã được chính quyền ngấm ngầm tài trợ. Nhưng những sách báo này thường bị chìm trong quên lãng. Chẳng hạn như cuốn Nước đã đến chân của Suzane Labin, nxb Tự Do. Bí Danh của Lâm Ngữ Đường, nxb Ngôn Luận. Thoát ly hỏa ngục của bác sĩ Thomas Dooley, nxb Diên Hồng 1961 và ngay cả cuốn Giai cấp mới của nhà văn Nam Tư Milovan Djilas, nxb Anh Việt 1958. Một cuốn sách chính trị chống Cộng xuất hiện sớm nhất mà không mấy dễ đọc, phải nói là khô khan và cao quá. Hoặc giả một vài cuốn sách như Chiến lược ý thức hệ của Oyvind Skard, Võ Như Vong dịch năm 1968. Bạn có thể tin được người Cộng Sản? của Fred Schawars, Đinh Hoàn và Hoài Châu dịch 1969. Mấy ai đọc những sách đó?

Trong khi đó, những cuốn truyện của các nhà văn vừa nêu trên đôi khi được dịch đi dịch lại bởi hai ba dịch giả. So với những nhà văn mà phía Cộng Sản xếp loại là đặc công văn hóa chống Cộng hàng đầu của VNCH như Võ Phiến [11], Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn và sau này Nhã Ca thì xem ra tính chất chống Cộng ở những nhà văn ta chưa đủ đậm đặc. Vốn sống chưa đủ độ cay nghiệt, khổ đau chưa tới để có thể làm nên những tác phẩm lớn. Mấy ai còn nhớ Mưa đêm cuối năm, nxb Tự Do 1958 (Đây có thể là tác phẩm đầu tay của Võ Phiến. Tôi đã đọc ở thời điểm đó, thấy hay như một khám phá vì những phân tích tâm lý về nội tâm của viên cán bộ rất chi li và rạch ròi. Khá thích thú. Nhưng cũng thời điểm đó có cơ duyên đọc Georghiu bằng tiếng Pháp, thấy xót xa, dư âm đọng lại mới thật ngậm ngùi khó quên). Mấy ai còn biết đến là Nguyễn Mạnh Côn viết Kỳ Hoa Tử? Cùng lắm còn nhớ được cuốn Đem tâm tình viết lịch sử với biệt hiệu là Nguyễn Kiên Trung. Moi lục trí nhớ cũng chẳng còn ai nhớ tới: Chữ Tình, Người Tù hay Về một xóm quê của Võ Phiến, Đêm giã từ Hà Nội, Căn nhà vùng nước mặn nxb An Tiêm 1966 hay Tháng giêng cỏ non 1956 của Mai Thảo và Mùa ảo ảnh của Đỗ Thúc Vịnh. Cùng lắm nhớ đâu đây Dòng sông định mệnh của Doãn Quốc Sĩ?

Vậy mà người ta không thể quên được Giờ thứ 25 của C.V. Georghiu. Bản dịch truyện Giờ thứ hai mươi lăm được Lê Ngọc Trụ và Lê thị Hay dịch vào năm 1963, nxb Thời Nay. Đúng thời điểm. Đến 1973, Mặc Đỗ dịch lại Giờ thứ 25. Ông còn dịch Ả Q. Bên cạnh đó là những truyện dịch Độc hành, Lê thị Duyên Người Sông Kiên dịch, nxb Sông Kiên 1972. Người lữ hành cô đơn, Tầm Nguyên dịch. Kẻ ăn mày phép lạ, Chiếc roi ngựa, Lối thoát cuối cùng, Hoàng Sa và Bích Ty dịch, nxb Lá Bối 1968. Nửa đời du đãng, Nam Chinh dịch, nxb Sống Mới. Trong số truyện của Georghiu, có hai tác phẩm đáng kể và hay nhất là Lối thoát cuối cùng và Giờ thứ hai mươi lăm. Tác giả nói lên những đau khổ, những hệ lụy của con người, kéo lê thân phận vì chế độ tàn bạo, vì những guồng máy chính quyền. Tác giả thất vọng vì giờ thứ hai mươi lăm là cái giờ đã quá muộn để có thể làm gì, để có thể cứu gỡ, cũng quá muộn để sống và để chết.
Bên cạnh đó, còn có tác giả như André Gide với Bọn làm bạc giả, nxb An Tiêm. Bửu Ý dịch Kẻ vô luân, nxb Võ Tánh. Bùi Giáng dịch Khung cửa hẹp, nxb An Tiêm. Văn Mồng dịch Tagore với thơ Tâm hồn hiến dâng. Rồi một lô các nhà văn Nga như Tolstoi với Chiến Tranh và Hòa Bình, nxb Lá Bối, Nguyễn Hiến Lê dịch. Maxime Gorky với Mưu Sinh, nxb Đại Nam. Nhất là Dostoevsky với những tác phẩm: Tội ác và hình phạt, Lũ người quỷ ám, Anh em nhà Karamazov, Con bạc do Trương Đình Cử dịch. Hai cuốn Tội ác và hình phạt và Anh em nhà Karamazov được nhiều độc giả thanh niên, trí thức lúc bấy giờ ham đọc.

Nhà văn và sứ điệp đã được gửi đến cho nhân loại, cho người đọc. Sách đã được mọi tầng lớp thanh niên say mê đọc. Phần các “nhà văn một phía” của miền Nam, sứ điệp nhà văn gửi đi yếu quá, nhỏ quá, bởi vì nó vẫn bó chặt vào một cá nhân, một cảnh đời, một tên cán bộ, vào những phân tích tâm lý của một viên bộ đội. Nó chẳng gửi đến được một sứ điệp gì thì nó phải bằng lòng nhận lấy cái phần nhỏ nhoi mà người đọc dành cho nó. Họa chăng có những người như nhà văn Thảo Trường mà trong từng truyện của ông muốn nhắn gửi một cái gì? Như trong Thử Lửa hay Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp.

Docteur Jivago của Boris Pasternak B. Pasternark chính ra là một thi sĩ với tác phẩm: Ma soeur, la vie, 1922. La seconde naissance, 1931. B. Pasternak đã lén gửi bản thảo tiểu thuyết Bác sĩ Jivago ra nước ngoài xuất bản vào năm 1957. Cuốn sách đã được giải thưởng Nobel một năm sau đó, 1958. Nhưng trước áp lực của nhà cầm quyền Liên Xô lúc bấy giờ, ông đã phải từ chối nhận giải thưởng cao quý này. Bản dịch cuốn truyện này do Nguyễn Hữu Hiệu, lấy tên là Vĩnh biệt tình em. Theo thiển ý, giữ nguyên tựa đề của tác giả là hay nhất. Cuốn tiểu thuyết còn được dịch từ bản tiếng Ý với nhan đề: Bác sĩ Zivago, nxb Mặt trận bảo vệ tự do, do Văn Tự và Mậu Hải dịch. Sau này, nó lại được dịch với khuôn khổ sách nhỏ, chia ra 3 tập do Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Đức Dương và Lê Khánh Trường, nxb TP HCM. Nếu Bác sĩ Jivago được cho in lại thì tất cả những sách của Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, hà cớ gì lại không có mặt? Bác sĩ Jivago nặng về số trang (hơn 800 trang) cũng như về nội dung không dễ đối với nhiều người. Bác sĩ Jivago nhằm tố cáo chế độ thiếu nhân tính, thiếu tình người. Một chế độ đã nghiền nát, đè bẹp con người, nhất là người trí thức như ông. Phải chăng cuốn truyện là một bản án rà xét lại tất cả những cái được gọi là lý tưởng, cái làm nên chế độ đó? Trải dài trong suốt cuốn truyện, ông đã dành nhiều trang để đề cao tình người của Iouri Andréiévitch Jivago, Marina Markelovna.. những con người bình thường biết thương yêu, biết hờn giận, yếu hèn nhưng trung thực, biết khát vọng tự do khác hẳn những mẫu người Cộng Sản sắt đá và lạnh lùng. Đồng thời ông cũng đề cao tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước xứ sở của con người. Cuốn truyện cũng cho thấy câu chuyện tình cảm động và say đắm giữa Jivago và Tonia Alexandrovna Groméko. Càng có những nghịch cảnh và trắc trở, tình yêu giữa hai người thêm say đắm và thiết tha. Cuốn truyện dịch khác của Pasternak là Thời nhỏ trong gia đình Luwers ít được người đọc biết đến.

Mặc dầu cuốn Bác sĩ Jivago được nói tới nhiều, nhưng độc giả của Pasternak có phần chọn lọc và giới hạn.
Soljénitsyne và quần đảo Goulag Có thể, đối với văn học thế giới, mặc dầu cùng thời với Pasternak nhưng Soljénitsyne được nhắc nhở, được nói tới nhiều hơn và cũng được chuyển ngữ sang tiếng Việt một cách khá muộn màng. Tôi không cắt nghĩa được điều này và cũng không hiểu tại sao nó lại như vậy. Khởi đầu là Một ngày trong đời của Ivan Denissovitch do Thạch Chương và Trần Lương Ngọc dịch năm 1970, nxb Nguồn Sống. Tiếp theo Khu ung thư, Vũ Minh Thiều dịch, nxb Ngàn Khơi 1971. Tại nhà ga Krechetovka, Lê Vũ dịch, nxb Hành Trình 1973. Rồi Tầng đầu địa ngục do Hải Triều dịch từ bản tiếng Anh The first circle của Thomas. P. Whitney, nxb Đất Mới. Ngoài bản dịch của Hải Triều, Vũ Minh Thiều dịch là Vòng Đầu. Thạch Chương và Thanh Tâm Tuyền dịch là Vòng đầu địa ngục từ bản tiếng Pháp Le 1er Cercle. Đã hẳn, một cuốn truyện mà đến ba tác giả dịch phải có cái gì? Đừng quên sự có mặt của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền của nhóm Sáng Tạo. Cũng vì chuyện ba tác giả dịch một tác phẩm trong cùng một thời điểm nên đã bị nhà phê bình văn học Cộng Sản Trần Trọng Đăng Đàn gọi là “Chợ trời Văn Nghệ”!

Nhưng cuốn sách gây sóng gió nhất hẳn phải là cuốn Quần đảo Ngục Tù The Gulag Archipelago được đăng trên tờ Sóng Thần của Chu Tử, do Ngọc Thứ Lang dịch và in thành sách, 2 tập vào 1974, nxb Trí Dũng. Đến nỗi, bất cứ cái gì liên quan đến trói buộc, đến đau khổ, người đọc miền Nam gán cho cái chữ Gulag. Bên cạnh mấy tác giả trên, có một số sách dịch cũng được xếp vào cùng một loại như Le Dieu des ténèbres, dịch giả Đinh Bá Kha. Le zéro et l’infini của Arthur Koestler, do Thạch Trung Giả dịch. Có hai cuốn khác của Koestler cũng được dịch là Nội chiến bi thảm và tội không thành, Thượng đế đã chết trong thành phố, Nguyễn quốc Trụ dịch. Đây là những tác giả bị người Cộng Sản xếp vào lọai sách phản động chống Cộng.

Giữa hai tác giả Georghiu và Soljénitsyne, tôi vẫn thích nhà văn của Giờ thứ hai mươi lăm, vì sứ điệp nhà văn gửi đi có phần kín đáo, điều mà bất cứ người đọc nào cũng muốn góp phần tham dự vào sứ điệp đó. Còn nhà văn của Quần đảo ngục tù, sứ điệp gửi đi lộ liễu quá, nói hết, nói cả, nói đến trần trụi. Nói xong là hết. Còn có chỗ nào cho độc giả dự phần?

virgilgheorghiuGiothu25-1Keanmay1

(Chân dung và tác phẩm của Georghiu)

Rơi vào giữa những sách dịch trên, sau thời kỳ ông Diệm bị lật đổ có cuốn sách của Chu Việt dịch: Ông Đại sứ của Morris. L.West được kể là đặc biệt và hay. Nhiều người đọc cuốn này liên tưởng đến cá nhân ông Diệm được trình bầy trong sách. Kể từ 1963 trở đi, xáo trộn đã nhiều. Chiến tranh gần kề. Ban đêm giấc ngủ không yên vì sự đánh thức dậy của bom đạn. Thời kỳ Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca và để trả lời cho tiếng bom đạn, Trịnh Công Sơn sáng tác Hát trên những xác người rồi Bài ca dành cho những xác người: “Xác nào là em tôi dưới hố hầm này, trên những đồng lúa cháy bên những vồng ngô khoai…” Chiến tranh vốn đã tàn bạo, lại thêm có sàng lọc: Trẻ chết trước già. Người nghèo, người dân quê, người dốt nát chết thay cho người giàu, người dân thành phố, kẻ trí thức. Kẻ hiền lành, đạo đức chết trước bọn bất lương. Cuối cùng chỉ còn sót lại những kẻ làm chính trị, kể cả chính trị sa lông, nếu cần thì lo chạy trước và những nhà quân sự không thể chết, vì nếu họ chết thì còn làm gì còn chiến tranh nữa. Thế rồi. Cứ như thế, rượu gọi rượu “le vin appelle le vin”, thi ca phản chiến, nhạc phản chiến, báo phản chiến, hết Thái Độ, Hành Trình đến Đất Nước. Báo chí đủ loại đến 40 tờ. Đêm ngủ không yên, thiếu thuốc an thần. Truyện dịch ra đời đủ loại thay cho thuốc ngủ: giải trí có, vui có, nhảm nhí có, bất cần có, truyện tình nhan nhản chẳng thiếu, truyện kiếm hiệp, truyện chưởng. Đó là cái không khí hỗn tạp của một thành phố, một đất nước có chiến tranh.

Phần những nhà văn “một phía” 54-60 thì tắt tiếng. Họ không có gì để nói và lúng túng trưóc một tình thế khó xử : tiếp tục ủng hộ cuộc chiến hay còn có con đường nào khác cho đất nước? Người ta đành lòng phải mượn tiếng nói của dịch thuật.

Sách dịch Eric Maria Remarque Sách của Remarque mà nội dung chủ yếu là phản chiến, sự thăng hoa của tình bạn trong và sau chiến tranh, những tình bạn lưu vong vô tổ quốc, của những con người lạc loài không đất nước nào chấp nhận, đã được dịch ra rất nhiều: Bia mộ đen Obélisque noir, Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh A l’Ouest rien de nouveau, nxb Kinh Thi, Tầm Nguyên dịch. Đài tưởng niệm đen của bầy diều hâu gẫy cánh Obélisque noir, nxb Đất Sống, Chiến hữu Les Camarades, Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống Les Exilés, Vũ Kim Thư dịch. Đến lượt Phạm Kim Khôi cũng dịch lại cuốn Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh. Các tiểu thuyết Remarque Một thời để yêu một thời để chết, Đảo hy vọng, Đêm ở Lisbonne, Lửa thương yêu lửa ngục tù, Khải hoàn môn được đông đảo giới thanh niên, sinh viên học sinh say mê, hâm mộ và được đón nhận một cách trân quý, đáp ứng đúng tình thế chiến tranh ở miền Nam lúc bấy giờ. Dĩ nhiên, chiến tranh của Remarque không phải là thứ chiến tranh đang diễn ra ở Củ Chi, An Lộc, Quảng Trị nhưng ở đâu thì cũng có người chết, có bia mộ, tình đồng đội, có tình yêu thời chiến, có phản bội, mơ ước và có mất mát. Eric Maria Remarque là tác giả của thân phận con người trong chiến tranh và không chấp nhận chiến tranh, một thân phận mà độc giả miền Nam thấu hiểu dễ dàng.

Sách dịch Mario Puzo Sách dịch về Mario Puzo thật đáng nể. Sách của ông đã làm người đọc thích thú và say mê. Cho mãi đến sau này ở hải ngoại người đọc vẫn không quên. Cũng không thể quên dịch giả Ngọc Thứ Lang, vì nhờ Ngọc Thứ Lang mà Bố Già nổi tiếng. Cái tên Bố già đặt cho nhan đề cuốn tiểu thuyết sau này trở thành ngôn ngữ thời thượng. Sách gồm The God-father Bố già, nxb Thứ Tư, tái bản 3, 4 lần. Rồi Hồi ký của Bố già, Đứa con của Bố Già, Đấu trường đen, Đất tiền đất bạc, nxb Xuân Thu, Sicilly lãnh địa Mafia, nxb Việt Nam, Đặng Thiền Mẫn dịch. Tất cả đều được in trong năm 1974 lúc mà miền Nam sắp sụp đổ. Mario Puzo là viên thuốc an thần cuối cùng.

Hiện tượng sách dịch Kim Dung Kim Dung tên thật là Trà Lương Dung. Truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu, xuất bản ở Hương Cảng, từ đó có bút danh Kim Dung. Năm 1957 ra bộ Anh Hùng Xạ Điêu, 1969 ra Lộc Đỉnh Ký. Cho mãi đến 1978 Đài Loan mới rút lệnh cấm tác phẩm Kim Dung và 1986, sau khi tiến lên 4 Hiện đại hóa ở Trung Quốc mới xuất hiện Kim Dung. Theo Vũ Đức Sao Biển [12], nhà Kim Dung học Việt Nam hiện thời, trong những năm 1960 có các dịch giả: Phan Cảnh Trung, Lão Sơn Nhân, Từ Khánh Văn và đặc biệt Từ Khánh Phụng và Hàn Giang Nhạn. Tôi xin bổ túc thêm Thương Lan (đã dịch ít nhất 10 bộ truyện của Kim Dung), Nhất Quỳnh Mai, Nguyễn Kháng, Trần Thanh Vân, Đà Giang Tử dịch chung với Phan Cảnh Trung.

Truyện chưởng Kim Dung “độc bá quần hùng” trong sinh hoạt văn học ở miền Nam thời ấy. Vào năm 1968, khi xuất hiện Tiếu Ngạo Giang Hồ trên tờ Minh Báo thì có đến 44 nhật báo ở Sàigòn đều tranh nhau dịch và đăng lại. Tình trạng mê Kim Dung đến như thế, và kéo dài cho đến 1972-1974 khi bộ Lộc Đỉnh Ký ra đời. Và đây là lời Vũ Đức Sao Biển, tốt nghiệp Đại học Văn Khoa, Sàigòn, ban Hán Văn: “Tôi học cách làm người, cách đối xử nhân thế, đắc thủ được những kiến thức hoàn toàn không có trong giáo trình đại học từ các tác phẩm của một nhà văn nước ngoài chưa hề biết mặt”.

Với lượng tác phẩm đồ sộ như thế, với số người đọc đông như thế, không thể không tìm hiểu văn học miền Nam nhất là văn học dịch mà bỏ qua tác giả Kim Dung. Người ta có thể bàn về bất cứ vấn đề nào của con người, của xã hội, từ tình yêu, bạo lực, đạo đức, tâm lý hay sự đánh tụt giá của chủ nghĩa Bạo lực trong truyện Kim Dung. Từ vấn đề nghệ thuật, cách xây dựng nhân vật tiểu thuyết, chất thơ, chất hài… đến chứng cứ kiếm pháp, Võ và Hiệp, cho đến những vấn đề có thể trở thành tranh luận văn học như hư cấu nhân vật, hư cấu lịch sử. Kim Dung đã hư cấu lịch sử Trung Hoa cách đấy ba thế kỷ mà vẫn hay với cấu trúc tiểu thuyết liên hoàn. Vương Sóc, nhà văn-nhà phê bình Trung Hoa (mà nghĩ đến ông tôi bắt nghĩ đến Trần Trọng Đăng Đàn của Việt Nam), đã gọi tiểu thuyết Kim Dung là một trong “tứ đại tục” bởi đã hư cấu méo mó hình tượng người Trung Hoa. Từ đó đã gây thành những tranh luận lớn khắp Hoa Lục. Lại còn vấn đề tôn giáo, giáo phái trong tiểu thuyết. Luận về anh hùng và những nhân vật biểu tượng như Kiều Phong, một đại trí, đại dũng lại rất giầu tình cảm và lòng nhân ái vời vợi? Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung, tài trí hơn người, hành xử quang minh lỗi lạc, tốt bụng hơn người? Dương Quá, Địch Vân, Hồ Phỉ… Rồi còn nhân vật nữ, những mỹ nhân như Hân Tố Tố, Nhậm Doanh Doanh, Triệu Minh, Tiểu Siêu, Song Nhi, v.v.. mỗi người mỗi vẻ, mỗi người một thông điệp. Không có những nhân vật nữ đó, tiểu thuyết Kim Dung còn gì?

Vấn đề tâm đắc đối với tôi: Vấn đề chính hay tà, vấn đề thị phi trong cuộc đời, giữa Hiệp nghĩa và xã hội đen, giữa danh môn chính phái và ma giáo. Ai chính, ai tà. Tà chính khác nhau chỗ nào? Đọc Kim Dung sẽ thấy sự phân biệt Chính và Tà là vô thực [13]. Trong Kim Dung, có một cố gắng đánh tụt giá những người tự nhận là Chính Nghĩa, và qua họ, những giá trị mà họ tượng trưng. Sự sa đọa xuống tới sự bất nhân, sự dâm loạn, sự ngu xuẩn của những đệ tử phái Toàn Chân thì còn ai tin gì ở Chính Nghĩa?

Chuyện đã hay, cơ man nào nhân vật, cơ man nào tình tiết chòng chéo lôi kéo người đọc. Kim Dung phải là người kiến thức rộng, đọc nhiều, dùng Quan Thoại, một thứ ngôn ngữ trong sáng, lại kế thừa truyền thống của những nhà văn như Lâm Ngữ Đường, Tào Ngu, Lỗ Tấn… đã biến những chuyện võ hiệp tầm thường thành những tác phẩm để đời. Đã vậy, có những dịch giả như Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ tài tình làm say mê độc giả VN. Hễ hay thì người đọc, dở thì bị người bỏ quên.

fyodordostoevskyTTc113046546874dc3735f220f6.228x333.w.b

(Chân dung và tác phẩm của Dostoevsky)

Hiện tượng sách dịch Quỳnh Giao Truyện của Kim Dung thì không là người Tàu, tất không viết được. Nhưng đến truyện tình, chả lẽ Việt Nam không có ai viết nổi? Có nhiều nữa. Bà Tùng Long là một tay viết cự phách được rất nhiều phụ nữ bình dân mê chuộng. Theo Hồi ký Bà Tùng Long, nxb Trẻ 2003, bà đã in 32 cuốn, nếu kể cả chưa in thì có trên 60. Vậy mà bà có đến 2 cái thiệt thòi: Thứ nhất không được nhà văn Võ Phiến kể vào trong số những nhà văn trong Văn học miền Nam tổng quan. Thứ hai: Bà Tùng Long để cho Quỳnh Dao lấn lướt cái thị phần độc giả nữ, nhất là giới nữ học sinh. Tiểu thuyết đầu tiên của Quỳnh Dao xuất hiện tại Sàigòn là Song Ngoại. Câu chuyện tả mối tình giữa một nữ sinh Giang Nhạn Dung với một giáo sư tên Khang Nam. Đầy tình tiết éo le rồi bị dư luận khắt khe lên án. Mối tình tan vỡ… Không tìm được hạnh phúc với người chồng mới cưới, Giang Nhạn Dung quay trở lại với Khang Nam nay chán đời rượu chè be bét. Tất cả những câu chuyện của Quỳnh Dao là vậy. Chuyện tình xoay quanh các cô nữ sinh bậc cao trung, những nữ sinh trẻ, đẹp, mơ mộng ở thành phố. Đó là những thứ tình cảm lãng mạn đầu đời, những rung động bầy tỏ những khát vọng tuổi trẻ muốn yêu và muốn được đền đáp. Nhưng thường tình yêu đó gặp những nghịch cảnh, những ngang trái, những éo le, những chồng chéo, áp lực gia đình, xã hội, đạo đức, phong tục, tập quán đã xô đẩy những cảnh đời của những người trẻ đến tan vỡ, chia lìa và phản bội. Tình yêu như những tiếng réo gọi đầy nước mắt, nhớ thương và không khỏi tủi nhục, xót xa. Những truyện như Hải âu phi xứ có đến bốn dịch giả khác nhau. Có đến hơn 60 chục đầu sách Quỳnh Dao được dịch sang tiếng Việt, thậm chí có cả nhà xuất bản Quỳnh Dao chỉ để in sách dịch Quỳnh Dao. Cuốn Cánh hoa chùm gửi trong một năm được in đi in lại đến ba lần vào năm 1972. Nếu Kim Dung có dịch giả Hàn Giang Nhạn, thì Quỳnh Dao có Liêu Quốc Nhĩ. Anh vốn là một giáo sư Toán còn trẻ, dạy đại học Khoa Học, đến năm 1972 thì nghỉ dạy hẳn chuyên ngồi dịch sách Quỳnh Dao. Kể cũng là một trường hợp hi hữu lắm.
Hình như chiến cuộc càng leo thang, chiến tranh mỗi ngày càng ác liệt, tiếng bom tiếng đại bác ban đêm dội về thành phố càng nhiều thì chuyện tình của Quỳnh Dao càng được chiếu cố tận tình. Phải chăng hiện tượng sách dịch Quỳnh Dao cũng là những liều thuốc ngủ qua đêm?

236824-paramount-pictures-sues-mario-puzo-estate-to-prevent-godfather-sequelEEWEFimagesXXS

(Chân dung và tác phẩm của Mario Puzo)

Nhận xét chung về 20 năm sách dịch ở miền Nam Trong bài viết này, tôi đã không thể nói tới các sách dịch có tính cách giáo dục như sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê, cũng như những sách giáo khoa dùng trong trường học, sách dịch về khoa học thường thức, v.v. Ông Nguyễn Hiến Lê đã dịch hơn 20 đầu sách về Giáo dục làm người, đặc biệt là Dale Canergie và Dorothy Carnegie như Đắc nhân tâm, Quẳng gánh lo đi mà vui sống, Giúp chồng thành công, v.v.. Hay các sách dịch có tính cách thời sự về chính trị, quân sự hay nhân vật lịch sử một thời như Hitler chẳng hạn [14].
Kể từ sau tháng 11-63, khuôn mặt báo chí, sách truyện ở miền Nam có rất nhiều thay đổi. Có hiện tượng bùng lên về số báo xuất bản, về số truyện dài để lấp đầy trang báo và để lôi cuốn bạn đọc. Có vấn đề thị trường tiêu thụ, vấn đề thương mại, quảng cáo. Có vấn đề viết nhanh viết vội, viết thấp, viết dễ, viết để giải trí. Nhưng bấy nhiêu yếu tố cũng không đủ giải thích sự bùng lên của sách dịch. Không ai trong số các nhà văn đã đặt ra một cách tự vấn là viết cho ai? Viết cho loại độc giả nào? Có đáp ứng được đòi hỏi của người đọc không? Có tầm nhìn, tầm hiểu biết về trào lưu tư tưởng của thế giới không? Tôi nghĩ câu trả lời là Không, cùng lắm là chưa đủ và hạn hẹp.

Không phải nhà văn Việt Nam thiếu khả năng sinh ngữ, yếu kém văn hoá, nhưng không có đủ thì giờ để đọc, để trau dồi. Vấn đề của các nhà văn Việt Nam là vấn đề thì giờ, vấn đề sinh nhai. Có nhà văn bận sinh kế, lớp lo làm báo, dạy tư chạy hết trường này sang trường khác. Càng dạy hay, càng nổi tiếng, càng bận. Rồi mở trường, chủ bút… thì giờ đâu cho việc đọc, việc nghiên cứu. Đọc mười chưa chắc viết được một. Câu người ta nói chẳng có thiên tài nào mà lại không có tiền bối vẫn đúng. Không đọc, không có vốn, làm sao viết sách cho có tầm cỡ được. Nếu nhà văn đã không bị sinh kế ràng buộc níu kéo, chuyện đã hẳn là khác. Nhiều nhà văn nhà báo khác cũng lao đao khốn khổ như thế vẫn không đủ ăn. Ngày viết 4, 5 truyện dài chỉ là chuyện viết vội, vá víu cho xong. Trường hợp như nhà văn Túy Hồng, Nguyễn thị Thụy Vũ phải lao đao đầu này, đầu kia mới có đủ ăn, nói ra đến tàn nhẫn. Viết hay sao được. Những cách viết vội, viết lấy được, viết cho có, thấy rõ nơi các ông Chu Tử, Hoàng Hải Thủy, Lê Xuyên. Vốn viết ít, vốn đọc ít ỏi, vốn sống cũng không luôn. Vốn sống của một số nhà văn Việt Nam là gặp bạn bè mỗi ngày, ngồi ăn nhậu, ngồi tán gẫu chuyện thế sự, chuyện người, chuyện tào lao, chuyện ăn chơi, chuyện trai gái… và để lấp tội, họ cho nhà văn là phải sống trác táng, ăn chơi mới là nhà văn. Y như cái thời xa xưa, nhà văn là phải cô đầu, hút thuốc phiện, bài bạc trai gái. Vốn sống ở đây là vốn đi, vốn giao tiếp trao đổi, vốn trải nghiệm với con người, với thiên nhiên. Thật khó mà đòi hỏi ở các nhà văn Việt Nam hơn thế được.

Erich-Maria-RemarqueMotThoiDeYeu(1)bmdvbdhgc

(Chân dung và tác phẩn của Eric Maria Remarque)

Cho dù Văn học dịch đã chiếm phần lớn thị phần người đọc miền Nam trong 20 năm, vẫn chưa làm đủ chức năng mà người ta chờ đợi ở nền văn học dịch thuật này. Các trào lưu tư tưởng không được giới thiệu, hoặc dịch đồng bộ. Rất khập khiễng. Thời Triết hiện sinh, có mấy cuốn Triết kinh điển được dịch? Thời Phong trào “tiểu thuyết mới” sau đó không có quyển nào. Đã thế, nhiều cuốn lại dịch trùng lấp lên nhau. Một người dịch đã đành, đến hai có khi đến ba, lãng phí thì giờ và công sức. Nữa là đã không có dịch giả chuyên môn làm công việc dịch thuật, trừ trường hợp tiểu thuyết của Kim Dung và Quỳnh Dao. Mỗi người ghé qua một chút, rồi bỏ đi. Công việc dịch thuật trở thành công việc thêm vào, đọc cái gì thấy hay, thấy thích thì dịch chơi. Lại một thứ nghiệp dư. Nếu không nghiệp dư thì dịch là để kiếm tiền. Để kiếm tiền nên dịch vội, dịch ẩu, dịch truyện nào câu khách. Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ có thế giá cũng đành lòng nhảy sang lĩnh vực dịch. Do thiếu tự tin? Hay chỉ vì lý do tài chính? Nhưng lý do chính đáng nhất là họ đọc được một tác phẩm hay muốn phổ biến cho mọi người cùng được thưởng thức. Chẳng hạn nhà văn Võ Phiến với Hai mươi bốn giờ trong đời một người đàn bà. Rồi Thế Uyên với bộ sách dịch về Tình Dục và Exodus, Về miền đất hứa. Thời đó, những loại sách về Do Thái rất được ưa chuộng. Cuốn Về miền đất hứa là một câu chuyện cảm động đến ứa nước mắt. Có những hình ảnh câu chuyện về tướng độc nhãn Moshe Dayan đeo kính den trở thành một cái mốt. Hầu như bất cứ tướng lãnh nào của Việt Nam khi lên tướng thì việc làm đầu tiên của họ là phải sắm một cặp kính đen. Tiếp đến là các nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ Tô Thùy Yên, Đinh Hùng với bút hiệu khác Hoài Điệp Thứ Lang, Lê Huy Oanh, Mặc Đỗ, Huỳnh Phan Anh, Hoàng Hải Thủy, Trần Phong Giao, Hoài Khanh, Bùi Giáng… Những người này phần lớn là công chức, giáo sư hoặc một thiểu số ở trong quân đội. Họ có lương bổng, đời sống tương đối ổn định. Dịch thêm như một nghề tay trái. Trong số những người trên, Trần Phong Giao đã để tâm dịch thuật khá nhiều về các tác giả Hiện Sinh. Công của ông không nhỏ. Người ta cũng nhận thấy, ít khi nào có sách dịch ngay từ khi cuốn sách mới được xuất bản ở nước ngoài. Nó mất cái thời tính, cái trào lưu và sự cập nhật thông tin. Nó là những sản phẩm quá date. Trong phạm vi dịch thuật, chúng ta tụt hậu từ 50 năm đến 100 năm. Chẳng hạn, cho đến bây giờ mà dịch giả uy tín của miền Bắc, Dương Tường còn mang Camus ra dịch lại. Dịch lại L’étranger mà trước đó 40 năm đã có ba dịch giả trong miền Nam dịch rồi. Nếu mục đích dịch là để cho người đương thời tìm hiểu một tác giả, một giai đoạn văn học thì còn tạm được, nhưng nếu dịch để cho độc giả bây giờ đọc để giải trí thì đúng là lỗi thời. Thế giới truyền thông, thế giới sách vở hiện đại mà thật khó có tác phẩm nào ngồi quá một năm trên kệ sách, việc dịch thuật sách cũ, dù là nổi tiếng cũng cần được xét lại. Lấy một tỉ dụ: Tôi ra thư viện mượn lại cuốn Bonjour Tristesse của Sagan, cuốn duy nhất còn sót lại trong ba thư viện để đọc lại. Năm 1999, ghi có hai người mượn đọc, năm 2000 có một người mượn vào ngày 11 tháng Giêng. Từ 4 năm nay, không ai đọc nữa. Có một số tác giả làm công việc dịch vì lợi nhuận, đã không chọn tác giả, đầu sách, mà nhắm vào thị hiếu khiến nhiều cuốn sách dịch đáng nhẽ không nên có mặt. Nhưng biết làm sao được, vì vẫn có một số người đọc.

Dù gì đi nữa, sách dịch đóng góp không nhỏ vào thị trường sách vở miền Nam. Nó bù vào chỗ cái thiếu của nhà văn VN. Thiếu về sự đa dạng, thể loại, về tầm cỡ, về tư tưởng thời đại. Nếu về kinh tế, xuất cảng là đầu ra của sự thịnh vượng, thì về văn học, dịch thuật là đầu vào của một sinh hoạt văn học đa dạng và phong phú. Còn nếu cái sinh hoạt đó như thế nào, hay hay dở, phần quy trách vẫn là phía các người làm văn hoá, nghệ thuật, các nhà văn, nhà thi sĩ. Nếu họ viết không tới, không đáp ứng được tính đa dạng của nhu cầu người đọc, trách nhiệm về họ.
Trong bất cứ trường hợp nào, người đọc bao giờ cũng có lý. Nhưng đừng quên rằng, trước 1954 cả trong Nam lẫn ngoài Bắc, chưa thể nói đến một nền văn học dịch. Nhóm Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh chẳng hạn không chú trọng đến phần dịch thuật. Cuốn duy nhất của nhóm này đã dịch là cuốn Le Chemin du bonheur của Victor Pauchet. Trong Nam, trước 54, cái người có công lớn nhất trong việc dịch thuật là ông Phạm văn Tươi, tức nhà xuất bản Phạm văn Tươi, vào năm 1950 đã dịch và cho xuất bản lọai sách Học làm người (Culture humaine, hay Selt improvement) [15]
Người ta biết rất ít về văn học thế giới. Có biết chăng nữa, sự hiểu biết đó gói ghém vào trong các nhà văn, nhà tư tưởng của thế kỷ 17 đến 19 của Pháp và thường chỉ có những học sinh xuất thân từ các trường Tây hoặc ban C, chương trình Việt mới có cơ hội được học hỏi. Lần đầu tiên ở miền Nam mà thôi, nhờ dịch thuật mà thế giới văn chương nước ngoài được du nhập vào VN.

Nghĩ lại 20 năm miền Nam là cả một trời văn học dịch. Thật khó có một thời điểm nào phong phú và đa dạng hơn nó nữa. Sự phủ nhận nó là một điều tồi tệ.

Nguyễn Văn Lục

Chú thích:

[1] Trích dẫn TTĐĐ, Văn Hóa Văn Nghệ… trang 427. Nhà XB Văn Hóa, Thông Tin.
[2] Trong một bài viết trên Hợp Lưu, tháng 10-11-2002 để giới thiệu cuốn Triết Học Hiện sinh của Trần Thái Đỉnh, Thụy Khuê đã xếp “tứ trụ” về Triết Tây thời đó là Trần văn Toàn, Lê tôn Nghiêm, Nguyễn văn Trung và Trần Bích Lan. Riêng trường hợp TBL, theo tôi, có thể thay thế bằng Trần Thái Đỉnh, mặc dầu xuất hiện sau, có lẽ công bằng hơn. Trần Thái Đỉnh có công giới thiệu Triết học Hiện Sinh một cách giáo khoa mạch lạc, hệ thống giản dị và dễ hiểu.
[3] Trích lại trong Nhìn lại những chặng đường đã qua 1955-1995. Nguyễn văn Trung, Montréal 2000, trang 355
[4] Tạp chí Đại Học Huế có những bài sau đây:
Vấn đề giải thoát con người trong Phật giáo và tư tưởng J.P Sartre.. Nguyễn văn Trung, số 2, tháng 5-1958; Thời gian Hiện sinh trong Đoạn Trường Tân Thanh, Lê Tuyên; Cái nhìn hay đám cưới với cuộc đời, Nguyễn văn Trung; Tưởng niệm Camus, số 14 tháng 3-1960; Vài cảm nghĩ về tình cảm phi lý của kẻ lưu đầy, Nguyễn văn Trung; Từ tri thức phản kháng đến tình liên đới nhân loại, Lê Tuyên; Le message interrompu d’Albert Camus, P.Rietsch; Dịch: Người khách trọ (Camus); Vấn đề trào lưu hiện sinh, 11-60; Vị trí trào lưu hiện sinh trong lịch sử Triết học, Trần văn Toàn; Giới thiệu Triết học Merleau Ponty, Trần Thái Đỉnh; G. Marcel hay con người là một huyền niệm, Thân văn Tường; Vấn đề con người trong tư tưởng Karl Jasper, Lê Tôn Nghiêm; M. Heidegger, triết gia của chân lý (dịch). R. Campbell; Cuộc đời như một tra hỏi, Nguyễn văn Trung; Karl Jaspers hay là thảm trạng của tri thức trong thân phận con người, M. Heidegger là triết gia của Hữu thể hay của Hư vô, Thân văn Tường; Thi ca và triết học, Nguyễn văn Trung; Yếu tính của tha nhân, Trần Thái Đỉnh; Tôi với người khác, Cung Giữ Nguyên; Tha nhân, thành phần của bản thân tôi, Trần văn Toàn; Heidegger và bản chất của thi ca, Trần Thái Đỉnh
Trên Tập san Tư Tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh:
Vị trí của Vô thể Heidegger trong tư tưởng Đại Thừa, Ngô Trọng Anh; Heideigger trước sự phá sản của tư tưởng Tây Phương, Từ Heideigger 1 đến Heideigger 2, Trần Công Tiến; Sự thất bại toàn diện của Heidegger và con đường tư tưởng VN, Phạm Công Thiện; Tư tưởng là gì?, Tuệ Sĩ.; Phật giáo và chủ nghĩa Hiện sinh, Quang Minh 1968; Camus giữa lòng thế kỷ 20, Nguyễn khắc Hoạch.
Trích lại trong ° Nhìn lại những chặng đường đã qua, trang 351, 352. (1955-1995) của Nguyễn văn Trung, ấn bản Photocopie.
[5] Trích lại trong Những chặng đường đã qua của Nguyễn văn Trung, trang 358.
[6] Sau này in lại trong Nhận định 2, trang 30-47
[7] Trong các nhà văn nam giới, Thế Uyên là ngòi viết có ám ảnh tình dục trổi bật. Chỗ nào, bất cứ ở đâu trong một trang sách của ông cũng có vấn đề ấy. Có người đã cất công đi đếm trong một cuốn truyện của ông có bao nhiêu lần tả những xen làm tình. Đã vậy, ông còn dịch cả một bộ Tình dục 4 cuốn. Thế Uyên cũng còn dịch cuốn sách nổi tiếng Exodus, Về miền đất hứa, nội dung nói về dân Do Thái về lại Israel.
[8] Trích trong Krisnamurti, Dòng sông Thanh Tẩy, Nguyễn Ước dịch. Trang 471. Nhà Nguồn sống.
[9] Bắt đầu từ năm 1960 với những bài trên tờ Văn Đàn của Phạm Đình Khiêm: Nhân đọc bài luân lý và Văn Học của ô. NVT, từ thái độ cởi mở đến sự phủ nhận luân lý trong Văn Học. Bùi Tuân: Lại một trạng thái cuồng loạn phơi bầy trong tiểu thuyết. Nguyễn Đức Trọng: Chúng tôi tố cáo mầm phản lọan trong văn nghệ. Bút nhọn. Hay như Nguyễn Trọng Văn viết: Những con hoang của NVT. Bách Khoa số 264. Trích lại trong Những chặng đường đã qua… của Nguyễn văn Trung, trang 352
[10] Đặc biệt nhất là nhà Lá Bối do nguyên Đại đức Từ Mẫn, tên thật là Võ Thắng Tiết. Thầy là người có lòng, để việc phụng sự văn học nghệ thuật lên trên tiền bạc. Thầy Từ Mẫn đã giúp các nhà văn có nơi xuất bản những đầu sách có giá trị và người đọc có cơ hội đọc những cuốn sách trang nhã, chăm sóc từng chút trong việt trình bầy ấn loát và cả đến nội dung sách. Tất cả sách của Nhất Hạnh đều từ đây mà ra. Nếu không có Lá Bối, những Chiến tranh và Hòa Bình, Chiến Quốc Sách, Sử Ký Tư Mã Thiên, Kiếp người của Sommerset Maugham, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay và Lối thoát cuối cùng của V. Georghiu sẽ nằm ở đâu? Nếu không có Lá Bối, nhiều sách chắc gì đã có cơ hội ra mắt bạn đọc. Nhất là bộ Chiến tranh và Hòa Bình của Léon Tolstoi. Sau này, ở Hải ngoại, ông tiếp tục làm công tác văn học với nhà xuất bản Văn Nghệ. Nếu cần một vinh danh gì cho 20 năm Văn học dịch nói riêng và Văn học nói chung, có cần nên nhắc đến Võ Thắng Tiết không? Kẻ lót đường cho Văn học miền Nam.
[11] Mặc dầu là nhà văn chuyên nghiệp, Võ Phiến cũng đóng góp vào sinh hoạt dịch khá sớm 1963, lúc mà sinh hoạt dịch đang rộ với các cuốn: Hai mười bốn giờ trong đời một người đàn bà (Stéfan Zweig). Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (André Maurois). Truyện hay các nước 1 và 2, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng. Ông chồng muôn thuở (Dostoevsky)
[12] Trích Kim Dung giữa đời tôi, quyển thuợng, của Vũ đức Sao Biển trang 8, Nxb Trẻ. Vũ Đức Sao Biển, nay đuợc coi như nhà °Kim Dung Học° ở Việt Nam. Ông có cho xuất bản ba cuốn sách về Kim Dung: Kim Dung giữa đời tôi. Quyển thượng: Kiều Phong, khát vọng tự do. Quyển Trung: Thiên hạ đệ nhất Mỹ Nhân và quyển kết: Thanh Kiếm và cây đàn. Ngay từ trước 75, Đỗ Long Vân, một giáo sư Đại học văn khoa Sàigòn, và đại học Huế xuất thân Sorbonne, bạn học với Nguyên Sa đã viết một bài luận thuyết dài đặc sắc: Vô Kỵ giữa chúng ta hay Hiện tượng Kim Dung. Sau in lại trong cuốn Kim Dung: Tác phẩm và dư luận, Nxb Văn Học.
[13] Lấy lại ý của Đỗ Long Vân, trong phần Nghi vấn đạo lý trong Kim Dung. Trích trong Kim Dung, tác phẩm và dư luận, trang 188. Nhà xuất bản Văn Học
[14] Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái. Dalton, trọn đời chinh chiến. Từ Hy Thái Hậu. Cuộc truy nã tên đồ tể Adolf Eichmann. Cuộc săn tìm vũ khí bí mật của Hitler. Bài học Israel. Tướng độc nhãn Moshe Dayan. Hitler, tội phạm chiến tranh hay là vụ án Nuremberg và cuối cùng đừng quên Nhật Ký của Anne Frank.
[15] Trích lại trong 10 câu chuyện văn chương, Nguyễn Hiến Lê, tr 43, nxb Văn Nghệ.

Ai Muốn Đánh Cắp “Nỗi Lòng Người Đi” của Nhạc Sĩ Anh Bằng? Phạm Trần


1011896_3204590331414_117589637_n1043967_3204603931754_1719070631_n

(Chân dung Nhạc Sĩ Anh Bằng và Dòng Nhạc Lưu Vong)

danlambaovn.blogspot.com

(10/2014)

Vấn đề suy thoái đạo đức, ăn gian nói dối, mua bán bằng cấp và chạy chức chạy quyền trong xã hội thời Cộng sản không còn ngạc nhiên mà là thói quen của một bộ phận cán bộ, đảng viên, ngay cả trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Lãnh đạo đảng và nhà nước đã nhiều lần nhìn nhận như thế nhưng không sao cải thiện được.

Noi-Long-Nguoi-Di-540x680Noi-Long-Nguoi-Di_sheet-1-529x680

(Nhạc phẩm Nỗi Lòng Người Đi của Nhạc Sĩ Anh Bằng do Tinh Hoa Miền Nam phát hành 1967 không có tên Nguyễn Bính như lời phát biểu sai lạc)

Giáo sư Hoàng Tụy, Nhà toán học nổi tiếng của Việt Nam từng nói:

“Giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối. Ngành giáo dục càng không thể là ngành giả dối.

Thế nhưng đã có hơn một nhà khoa học nước ngoài nói thẳng với tôi rằng, điều thất vọng lớn nhất mà ông ta cảm thấy là sự giả dối đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở các tầng nấc.” (trích Phỏng vấn của báo Dân Trí)

Ông Hoàng Tụy, người có Anh hùng Hoàng Diệu là Bác ruột còn nói với báo điện tử Việtnam Quality (VieQ.VN) ngày 03/03/2014:

” Việc sử dụng bằng giả, bằng thật mà chất lượng dỏm có hại trực tiếp đến cơ quan nhà nước, làm ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống của chúng ta. Muốn nâng cao chất lượng bộ máy nhà nước, không có cách nào khác phải chống bằng giả, phải bảo đảm giá trị thật của bằng cấp. Tình trạng bằng giả chỉ chui được vào cơ quan nhà nước theo cách nói của Bộ trưởng Phạm Vũ Luận không phải là khám phá gì mới mẻ, chẳng qua quan chức nói ra thì nghe… lạ tai, chứ dân chúng thì biết rõ điều này. “Nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ, bốn trí tuệ” là câu vè nghe chướng tai nhưng lại rất thực tế.”

Thực tế đã chứng minh số người có bằng giả đã hoặc đang làm việc trong các cơ quan nhà nước không hiếm ở Việt Nam. Người nổi tiếng trong vụ khai gian bằng Tiến sĩ  là Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang nay đã bị sa thải. Ông Quang khai đã có bằng Tiến sĩ tại Đại học Uppsala, Thụy Điển, nhưng sự thật thì trường này, theo báo chí Việt Nam, chỉ cấp chứng chỉ về nghiên cứu Khoa học Dược phẩm tự nhiên cho ông Cao Minh Quang, chứ không phải văn bằng.

Báo ViệtnamExpress viết ngày 16/9/2011: ĐH Uppsala xác nhận: “Ông Cao Minh Quang, sinh ngày 6/6/1953, đạt chứng chỉ “Licentiatexamen” về nghiên cứu khoa học dược phẩm tự nhiên vào ngày 26/10/1994. Đây là chứng chỉ chứ không phải văn bằng. Theo quy định của trường Uppsala chứng chỉ nói trên cần phải đạt được để tham dự khóa học tiến sĩ”.

Bằng chứng này đã xác nhận một thực trạng ai cũng biết đang diễn ra trong xã hội Việt Nam: Ở bất kỳ địa vị nào trong xã hội, nhất là những kẻ có chức có quyền, cũng có thể gian dối để đạt lợi ích cá nhân mà không cần phải hổ thẹn với lương tâm.

GS Hoang Tuy

(Chân dung Giáo Sư Hoàng Tụy)

Trường hợp của “Nỗi Lòng Người Đi”

Vì vậy khi đem bi kịch gian dối lồng vào sự bất lực của nhà nước trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng từ bao nhiêu năm mà nay vẫn còn “nghiêm trọng” cũng không phải là một ngoại lệ. Nếu sự dối gian này cũng đã lan sang lĩnh vực Văn nghệ trong thời gian hai năm qua đối với Tác phẩm Âm Nhạc nổi tiếng “Nỗi Lòng Người đi” của Nhạc sĩ Anh Bằng thì cũng không ai ngạc nhiên.

Tuy chuyện “tranh quyền Tác giả” bài ca lịch sử này đã râm ran từ lâu nhưng không mấy người quan tâm cho đến khi Đài Truyền hình VTV1 loan báo có chương trình Giai điệu tự hào mang chủ đề Người Hà Nội lúc 20h ngày 24/10 (2014), và Ca khúc Nỗi Lòng Người Đi – của nhạc sĩ hải ngoại Anh Bằng sẽ lên sóng VTV1.

Vì vậy ông Khúc Ngọc Chân – nguyên nhạc công cello Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam đã làm to chuyện rằng chính ông ta mới là Tác giả của “Nỗi Lòng Người Đi”, có tên gốc là “Tôi Xa Hà Nội” viết năm 1954!

Câu chuyện bắt đầu như thế này:

Nhạc sĩ Anh Bằng, người có tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1926 tại Nga Điền, Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa cùng quê với Nhà thơ Hữu Loan, Tác giả của Bài Thơ bất tử “Mầu Tím Hoa Sim”.

Khi bước sang tuổi 88 năm 2014, Nhạc sĩ Anh Bằng đã có một gia tài gần 700 ca khúc nhạc tình, nhạc dân tộc và nhạc trẻ nổi tiếng, trong đó có “Nỗi Lòng Người Đi” ra đời ngày 15/04/1967.

Khi Tác phẩm này in ra, ai cũng thấy chỉ có một mình tên Tác giả Anh Bằng in trên Bản nhạc.

Và trong suốt 47 năm qua, qua trình diễn của nhiều thế hệ ca sĩ từ trong nước ra hải ngoại, không có bất cứ một ai dám “cả gan” tranh chấp chủ quyền với ông.

Tại sao? Bởi vì ông đã viết ra “Nỗi Lòng Người Đi” cho cả một thế hệ người Bắc di cư vào Nam năm 1954, trong đó có gia đình ông, sau khi Việt Nam phải chia đôi đất nước tại Hội nghị Geneve tháng 07/1954.

Nội dung bài hát nói lên tâm trạng rời bỏ quê hương Hà Nội của một Thanh niên đã phải bỏ lại người yêu đi tìm tự do vì không thể nào có thể ở lại miền Bắc sống chung với quân Việt Minh thời ấy (Theo sách: Kỷ niệm 50 năm âm nhạc Anh Bằng- bài tác giả Phạm Kim).

Lý do dễ hiểu vì Anh Bằng thuộc một gia đình chống Cộng sản như Tiểu sử ông đã cho biết: “Năm 1935 ông xa gia đình để học Tiểu chủng viện Ba Làng tại huyện Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, sau đó ông lại tiếp tục theo học trung học ở Hà Nội. Vì gia đình anh em ông chống Việt Minh, vào thời kỳ Kháng Pháp, ông bị Việt Minh bắt giam ở trại Lý Bá Sơ. Các anh em ông bị tuyên án tử hình nhưng sau được thả, riêng người anh Trần An Lạc bị Việt Minh thủ tiêu. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở khu Bà Chiểu, Sài Gòn cho đến năm 1975.”

Chuyến ra đi lịch sử của Anh Bằng năm 1954 và cuộc di cư vào Năm trong thời gian 300 ngày của trên 1 triệu người dân miền Bắc đã in đậm trong tâm khảm người Việt Nam thời ấy. Vì vậy, mỗi khi nghe ai hát “Nỗi Lòng Người Đi” là người dân gốc Bắc, dù ở trong nước hay hải ngọai trong suốt 60 năm qua (20/7/1954 – 20/07/2014), cũng phải rưng rưng nước mắt!

Thế nhưng, tuy đã gần đến tuổi 50 kể từ ngày ra đời 1967, “Nỗi Lòng Người Đi” vẫn không thoát khỏi một tai nạn khơng ai có thể ngờ tới xẩy đến năm 2012 qua “một việc làm chung” của 2 người ở Hà Nội, Nhà báo phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha và Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân, người tự nhận chính ông mới là “tác giả thật” của “Nỗi Lòng Người Đi” đã được ông Anh Bằng đặt thay cho “tên nguyên thủy”“Tôi Xa Hà Nội”.

Nguyễn Thụy Kha – Khúc Ngọc Chân

Khuc Ngoc Chan va Nguyen Thuy Kha (anh N.M. Ha2)

(Chân dung 2 “Ông” Nguyễn Thụy Kha – Khúc Ngọc Chân)

Lập luận của 2 ông Kha và Chân có một số điểm “rất nên thơ” nhưng họ lại không chứng minh được:

Thứ nhất, hãy nghe ông Nguyễn Thụy Kha kể: “Một buổi sáng cuối thu Hà Nội, có một người nhỏ thó đến văn phòng tôi làm việc ở 59 Tràng Thi – Hà Nội. Ông tự giới thiệu là Khúc Ngọc Chân.

Tôi nhìn mãi mới nhận ra ông đã từng là nghệ sĩ đàn cello ngồi ở Dàn nhạc Giao Hưởng Việt Nam từ những năm mới thành lập. Các anh em của ông là Khúc Phác và Khúc Ka Hồng cũng đều là dân nhạc nổi tiếng từ lâu. Ông Chân họ Khúc, đích thị là con cháu Khúc Thừa Dụ ở Ninh Giang – Hải Dương rồi. Ông nói rằng ông có bài thơ về tổ tiên được khắc trên bia đá tại đền thờ họ Khúc ở quê. Dần dà, ông bắt đầu kể cho tôi nghe về hoàn cảnh ra đời của ca khúc “Nỗi Lòng Người Đi” mà chính ông là tác giả với cái tên đầu tiên là “Tôi Xa Hà Nội.”

Thế rồi chuyện tình của Tác gỉả “Tôi Xa Hà Nội” Khúc Ngọc Chân được ông Kha kể: “Vốn yêu âm nhạc, ông Chân tìm đến học đàn với thầy Wiliam Chấn ở gần Hồ Tây. Lúc ấy, cả nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Tạ Tấn cũng đều đến học thầy Chấn nổi tiếng. Qua học thầy mà ông Chân quen với một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng, kém ông hai tuổi. Rồi tình yêu nhen lửa. Họ đã có những ngày đầu yêu thương thật thơ mộng bên bờ Hồ Gươm. Không thể quên những chiều ngồi bên bờ hồ té nước đùa vui với nhau.”

Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký hiệp định Genève. Ông Chân phải theo gia đình về quê. Nỗi nhớ nhung người yêu khiến cho ông cảm xúc bâng khuâng.

Khi trở về Hà Nội, ông Chân mới biết gia đình người yêu đã xuống Hải Phòng, ở khách sạn Cầu Đất chờ di cư vào Nam. Ông tìm xuống Hải Phòng để sống cùng người yêu, chờ tiễn nàng xuống tàu. Những ngày đó, với cây guitar luôn mang theo bên mình, Khúc Ngọc Chân viết Tôi Xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng, viết lại những gì đã bâng khuâng trong suốt những ngày tháng qua, những ngày tháng xa Hà Nội:

(1) “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói bay theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai bên hồ
Khua nước chơi như ngày xưa.”

Trong khi Anh Bằng viết:

“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa.”

Bài của Nguyễn Thụy Kha viết tiếp như ông viết Truyện tình thơ mộng của Khúc Ngọc Chân : “Chàng tròn 18 tuổi. Nàng tròn 16 tuổi. Khi ấy, tuổi ấy yêu đương là bình thường. Nếu nỗi nhớ thương người yêu ngày đó đã khiến cho Hoàng Dương viết ra Hướng về Hà Nội nổi tiếng, thì Khúc Ngọc Chân cũng viết Tôi xa Hà Nội nổi tiếng không kém. Chàng lại tiếp tục dào dạt trở lại cái cảm xúc ấy, cái giai điệu ấy nhịp 3/8 hát chậm và tình cảm (Lento – Espressivo):”

(2) “Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Thuở ấy tôi mang cây đàn
Quen sống ca vui bên nàng
Nàng khóc tơ duyên lìa xa…”

Nhạc Anh Bằng:

“Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian, tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng
Nay khóc tơ duyên lìa tan.”

Nguyễn Thụy Kha còn bi thảm hóa cuộc gặp của đôi tình nhân Nguyễn Thu Hằng-Khúc Ngoc Chân với những dòng: “Không biết trong những ngày ngắn ngủi bên nhau ở Hải Phòng, nàng đã khóc bên chàng bao lần. Chỉ biết rằng họ vẫn an ủi nhau, nàng cứ vào trước, chàng hứa hẹn rằng sẽ vào sau, sẽ tìm nàng ở Sài Gòn. Nàng hãy gắng chờ đợi giữa đô hội phồn hoa:”

(3) “Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời
Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ.”
Nhưng đọan này lại giống hệt như lời của Anh Bằng:
“Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ.”

Nhưng đến đọan chót của Bài hát thì ông Khúc Ngọc Chân thay đổi:

(4) “Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu não đi trong bùi ngùi
Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi.”

Trong khi Anh Bằng đã viết:

“Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi trong bùi ngùi
Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi.”

Những mặt trái bị lộ

Đến đây thì chân tướng không thật bắt đầu lộ ra với giọng văn tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Kha:“Ca khúc được viết xong, Khúc Ngọc Chân đã tập cho nàng hát thuộc lòng, hát đi hát lại đến chan chứa cảm xúc. Khi ấy đã là cuối tháng 11.1954.

Ngày đưa tiễn nàng và gia đình xuống tàu há mồm di cư vào Nam, chàng và nàng cùng xuống một chiếc thuyền con ở bến Bính để đi ra nơi tàu đậu ngồi cửa biển. Thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát Tôi Xa Hà Nội cho nàng nghe. Nàng thì vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền. Một cảnh tượng chia tay thật lãng mạn như trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Và rồi con tàu đã rời xa đất liền, trôi mãi vào biển cả mênh mang, mang theo nàng và mối tình đầu day dứt cùng giai điệu đượm buồn kia. Còn chàng thì quay về, rồi trở lại Hà Nội. Nhưng nỗi nhớ nàng thì cứ thắp sáng trong những đêm trường cô đơn.”

Lối “tả chân” của Nhà văn Nguyễn Thụy Kha chất chứa đầy đủ những hoạt cảnh cần thiết cho một khúc phim tình cảm của thời bình trên chiếc du thuyền, nhưng chắc chắn không thể có “trong chuyến đi” di cư của người miền Bắc vào Nam của thời 1954. Tất nhiên vào khi ấy, không người di cư tất tưởi nào lại còn đủ bản lãnh để thư thái mà “bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe”, và nàng cũng “ung dung”, chả quan tâm gì đến bố mẹ và gia đình ngồi quanh để “vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền”!

Về trường hợp của cô Nguyễn Thu Hằng, qua ngò bút điêu luyện không cần có chứng minh, ông Nguyễn Thụy Kha viết: “Còn nàng, khi vào Sài Gòn, vì mưu sinh, với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar. Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng đã được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ. Hát để nhớ chàng, hát để chia sẻ với bao người khác có tâm trạng nhớ nhung như nàng. Và đương nhiên, một ca khúc hay như thế đã lọt vào thẩm âm của nhiều nhạc sĩ lúc đó cũng đã lìa xa Hà Nội. Chắc chắn trong đó có nhạc sĩ Anh Bằng. Ca khúc đã có một số phận khác khi được nhạc sĩ nhận thức và tìm cách xử lý. Còn ở Hà Nội, Khúc Ngọc Chân đâu ngờ gia đình ông bao đời không chịu làm cho Tây đã không theo dòng người di cư mà ở lại Hà Nội vừa giải phóng. Vậy là lời hứa với nàng đành lỡ dở theo thời gian.”

Đến đây thì “màu sắc” chính trị “làm cho Tây”“Hà Nội vừa giải phóng” đã được Nguyễn Thụy Kha lồng vào âm nhạc. Chả lẽ Nguyễn Thụy Kha khơng biết đâu phải hơn 1 triệu người bỏ miền Bắc di cư xuống Nam là vì đã “làm cho Tây” nên đã đi theo Tây vào Nam?

Cũng chẳng lẽ ông Kha không biết lực lượng Việt Minh đã “tiếp quản” thành phố Hà Nội từ tay quân đội Pháp sáng ngày 10/10/1954 chứ đâu có đánh đấm gì mà bảo là “giải phóng” như Ban Tuyên giáo đảng CSVN đã kỷ niệm 60 năm mới đây (10/10/1954 – 10/10/2014)?

Không dừng ở đây mà Tác gỉa Nguyễn Thụy Kha đã cùng với Khúc Ngọc Chân đong đưa tiếp với nhiều huyền thoại:

Nhà báo này viết: “Ở lại Hà Nội, năm 1956, ông Chân vào học đàn cello ở Trường Âm nhạc Việt Nam. Khi tốt nghiệp thì về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ngày thống nhất đất nước, khi Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, ông Chân đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo năm 1969, khi mới vào tuổi “tam thập nhi lập”. Theo người thân của người yêu, ơng đã tìm đến mộ nàng và thắp hương, thầm khóc cho cuộc tình chia phôi bất hạnh. Chính vì người yêu đã mất, nên ông không sao hiểu nổi bằng cách gì mà ca khúc Tôi xa Hà Nội của ông lại lọt vào tay nhạc sĩ Anh Bằng, được ông sửa thành nhịp 4/4 theo điệu Slow và phổ biến “quá trời” tại Sài Gòn.”

Rồi ông Kha và ông Chân kể tiếp như người chết đuối vớ được phao giữa dòng nước xoáy: “Ông Chân nói rằng đó là điều may mắn. Khi ấy, nếu ca khúc lan ra mà lại ghi tên ông là tác giả, chắc ông khỏi mà ngồi yên ở Dàn nhạc Giao hưởng cho đến khi về hưu. Nhưng vì ca khúc ghi là của tác giả Anh Bằng, nên những ca từ rất thực của ông diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm lại trở thành một vệt đen mang đậm nỗi ấm ức của bao người di cư ở bên kia chiến tuyến. Lại nữa, vì Anh Bằng đổi tên ca khúc thành Nỗi Lòng Người Đi nên vệt đen kia hóa thành có thực khi đất nước bị chia cắt. Cũng chính vì thế mà cho đến nay Nỗi Lòng Người Đi (vốn là Tôi Xa Hà Nội) vẫn chưa được cho phép hát lại.”

Nhưng làm sao mà ông Chân có thể “hát lại” được, bởi vì Trung tâm bảo vệ quyền Tác giả Âm Nhạc Việt Nam ở Hà Nội (Vietnam Center for Protection of Music Copyright, VCPMC) đã bác lời xin bảo vệ quyền lợi cho ông vì ông “đã không chứng minh được quyền Tác giả” của mình.

Nguyên văn điện thư của Bà Đinh Thị Thu Phương, Phó Quản lý, đặc trách ngoại vụ của Trung Tâm gửi Nhạc sĩ Anh Bằng về tác quyền như sau:

Kính gửi Nhạc sĩ Anh Bằng,

Cháu nhận được email kèm theo bản nhạc của bác đã lâu, nhưng phải chờ thẩm định, rồi lại vì bận nhiều việc quá nên hôm nay cháu mới hồi âm tới bác được, mong bác thứ lỗi.

Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân ủy quyền cho VCPMC ca khúc Tôi Xa Hà Nội từ ngày 24.4.2014, tuy nhiên sau đó phát hiện có sự song trùng với ca khúc Nỗi Lòng Người đi của bác. VCPMC đã yêu cầu 2 bên cung cấp chứng cứ bằng văn bản, nhưng ông Khúc Ngọc Chân không có, vì vậy VCPMC đã quyết định ngừng bảo vệ, quản lý và khai thác ca khúc Tôi Xa Hà Nội. Điều đó có nghĩa VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi Lòng Người Đi của nhạc sĩ Anh Bằng. Cháu xin chúc mừng bác ạ.

Đây là việc thường xuyên phải giải quyết của VCPMC, mong bác giải thích với mọi người rằng chỉ thuần túy là việc tranh chấp dân sự bình thường, ai không đủ chứng cứ là thua, có thế thôi, không phải là âm mưu chính trị gì đâu (như có bài viết ở hải ngoại phỏng đoán) vì sự việc này quá tầm thường không đáng để suy diễn làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước VN.

Để thực hiện khoản 1, 2 Điều 3 của Hợp đồng ủy quyền mà Trương Mỹ Dung (tức ca sĩ Trang Mỹ Dung) – học trò của bác ở Việt Nam đã thay mặt bác ký với VCPMC) một lần nữa cháu đề nghị bác vui lòng gửi qua email cho cháu toàn bộ ca khúc của bác mà bác đang có, nếu đã là xuất bản phẩm trước 1975 tại Sài Gòn thì bác scan cho cả mặt ngoài và mặt trong của bản nhạc khổ giấy A3, ca khúc nào chưa xuất bản hoặc viết sau 1975 chưa in thì bác gửi cho cháu bản chép tay cũng được. Cháu cảm ơn bác trước.

Cháu xin gửi kèm theo đây 1 quyết định của Giám đốc VCPMC và 1 mẫu Hợp đồng ủy quyền để bác tham khảo.

Trân trọng kính chào bác – người nhạc sĩ tài danh mà tác phẩm luôn hướng tới và dành cho tình yêu con người cùng quê hương đất nước Việt Nam. Chúc bác vui khỏe và dồi dào sức sáng tạo.

Kính thư, Dinh Thi Thu Phuong (Ms)

Ngoài ra: Vào ngày 12 tháng 09 năm 2014 Giám đốc Trung Tâm, Nhạc sỹ Phó Đức Phương cũng ra Quyết định

có 3 điểm nguyên văn như sau ,

Điều 1: Ngừng bảo vệ quản lý và khai thác một ca khúc “Tôi Xa Hà Nội” của Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân.

Điều 2: Những ca khúc khác của nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân vẫn được bảo vệ, quản lý và khai thác bình thường.

Điều 3: Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký. Các phòng ban chức năng của Trung Tâm chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

(Phó Đức Phương- ký tên và đóng dấu)

Pho Duc Phuong-Huy bo bao ve quyen cua NS Khuc Ngoc Chan

Tiếp tục sai lầm

Bài viết của Nguyễn Thụy Kha còn tiếp tục sai lầm rằng:

“Tìm hiểu về nhạc sĩ Anh Bằng qua nhiều luồng thông tin, qua trang mạng Google thì thấy rằng điều ông Chân thổ lộ rất có cơ sở. Nhạc sĩ Anh Bằng tên khai sinh là Trần An Bường. Ông sinh năm 1925 tại thị trấn Bỉm Sơn thuộc Ninh Bình. Ông học trung học tại Hà Nội trước khi di cư vào Nam. Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas . Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn T T Asia Entertainment tại Houston.”

Ngay trong đoạn này, ông Kha đã “khẳng định chuyện kể của ông Chấn “rất có cơ sở”, căn cứ theo những gì ông Kha tìm được trên mạng điện tử Google, nhưng ông lại nói sai “Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas. Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn Trung tâm Asia Entertainment tại Houston”, trong khi gia đình Nhạc sĩ Anh Bằng và Trung tâm Asia chưa bao giờ sinh sống hay xây dựng sự nghiệp âm nhạc ở Houston, Texas.

Tuy vậy, tác gỉa Nguyễn Thụy Kha cứ “đong đưa” với chữ nghĩa để tiếp tục thêu dệt rằng :

“ Ngày ấy, khi vào Sài Gòn, theo thiển nghĩ của tôi, Anh Bằng chưa được biết đến như Chung Quân, Cung Tiến. Nghe được ca khúc Tôi xa Hà Nội do một thiếu nữ làm ở quán bar hát những khi chia sẻ mà lại không biết xuất xứ. Với khả năng âm nhạc của mình, Anh Bằng đã thuộc được giai điệu này. Ông thấy rất hợp tâm trạng của ít nhất là những thanh niên vừa phải xa Hà Nội di cư vào Sài Gòn. Vậy là cuộc sử dụng một giai điệu mang tâm trạng của thanh niên xa Hà Nội, nhưng để hợp thời thế, Anh Bằng đã chuyển nhịp 3/8 gốc của ca khúc Tôi Xa Hà Nội thành nhịp 4/4 dùng tiết điệu Slow.”

Tệ hại hơn, Thụy Kha còn dựa vào lời nói của người duy nhất tự nhận là Tác giả “Tôi Xa Hà Nội” Khúc Ngọc Chân để bịa ra rằng : “Còn về ca từ, Anh Bằng đã khéo léo gắn vào đó tên của một nhà thơ tình nổi tiếng là Nguyễn Bính.”

Nhưng Nhạc sĩ Anh Bằng, đã trả lời câu hỏi của tôi (Phạm Trần) về chuyện Nguyễn Bính như sau:

“Cảm ơn Anh đã tỏ ra rất quan tâm đến ca khúc “Nỗi Lòng Người Đi” của tôi đang bị cướp đọat một cách trắng trợn.

Anh đã xem Bản nhạc được in và phát hành năm 1967 tại Sài Gòn chỉ có tên Tác giả là Anh Bằng trong ca khúc “Nỗi Lòng Người Đi”. Tuyệt đối không có tên Thi sĩ Nguyễn Bính in bên cạnh như kẻ gian manh, xáo quyệt, vô lương tâm, vô liêm sỉ bịa đặt.

Anh Bằng xin minh xác như vậy để anh yên tâm.”

Nhạc sỹ Lê Dinh, người bạn tâm giao của Anh Bằng trong nhóm 3 Nhạc sỹ Lê Minh Bằng (Lê Dinh-Minh Kỳ-Anh Bằng) phản ứng về chuyện này:

“Bài viết này, của báo trong nước, tôi cũng đã đọc cách nay một tuần. Đây chỉ là một bài viết lập lại những lý luận mà họ đã lải nhải như trong nhiều bài trước, không có gì mới lạ.

Nhưng họ không đá động gì tới việc cô Đinh thị Thu Phương, Vietnam Center for Protection of Music Copyright (VCPMC / thuộc Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả) đã xác nhận với Anh Bằng, qua thư đề ngày 24-09-14, rằng: “Sau khi thẩm định, VCPMC đã quyết định ngừng bảo vệ, quản lý và khai thác ca khúc Tôi Xa Hà Nội (của Khúc Ngọc Chân tự nhận, vì không cung cấp chứng cứ bằng văn bản).

Và VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi Lòng Người Đi của nhạc sĩ Anh Bằng”.

Như vậy, chúng ta xem như việc này đã kết thúc qua lá thư của cô Đinh thi Thu Phương (CVPMC) gửi cho Anh Bằng ngày 24-09-14 (được trích trên đây)

“…Việc lên tiếng của VCPMC là một tiếng chuông cảnh cáo những kẻ giả mạo để ăn cướp công lao của những nhạc sĩ sáng tác, vì không gì dễ bằng, cứ lấy một tác phẩm cũ nổi tiếng nào đó, của một nhạc sĩ nổi tiếng nào đó, chép bằng máy vi tính, sửa lại vài chữ và nói đây là bài nhạc của tôi sáng tác năm đó, năm đó… ông nhạc sĩ này lấy bài nhạc của tôi làm và nói là của ổng. Chủ nhà trở thành kẻ cướp và kẻ cướp trở thành chủ nhà, quá dễ.

May mà có sự quyết định sáng suốt của Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả, nếu không thì sẽ có loạn trong làng âm nhạc Việt Nam, chứ chẳng không.”

Tại sao đến 2012 mới biết?

Về chủ quyền bài hát, ông Khúc Ngọc Chân tỏ ra lúng túng khi phĩng viên báo Thể thao-Văn Hóa Việt Nam (Thethaovanhoa.vn) hỏi ngày 15/10/2014 rằng : “Tại sao đến tận bận bây giờ ông mới nhận Nỗi Lòng Người Đi là của mình. Ông có bằng chứng gì thuyết phục rằng đó chính thức là ca khúc của mình không?

Ông đã sáng tác ca khúc đó trong hoàn cảnh nào và liệu ông có còn nhạc bản ngày xưa hay không?”

Ông Chân đáp gọn: “Bản nhạc ngày xưa sao mà giữ được. Ca khúc của tôi sáng tác hồi đó chính ra chỉ có 2 người biết với nhau là tôi và cô người yêu thôi.”

Về chuyện bảo Anh Bằng ghi tên Nhà thơ Nguyễn Bính vào bản nhạc, ông Chân lại ú ớ khi được báo Thanh niên-Văn Hóa (TTVH) hỏi: “Sau này rồi có ai biết có bài nào nhác nhác như thế của ông Nguyễn Bính không?”

Khúc Ngọc Chân: “Không có. Gia đình Nguyễn Bính ở Nam Định cũng không còn ai, con cháu đi hết rồi. Tất cả các tuyển tập thơ Nguyễn Bính không có bài nào như thế.

May cho tôi là khi kể chuyện này với nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha và một số người bạn, có người lên mạng đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác đề rằng Nỗi Lòng Người Đi, nhạc Anh Bằng, thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, sau bài viết đầu tiên của Nguyễn Thụy Kha được đưa lên mạng thì đến ngay cả Thụy Kha đi tìm bản đề thơ Nguyễn Bính cũng không còn nữa mà chỉ đề là tác giả Anh Bằng thôi, bỏ phần thơ đi. Nếu mà sự thực phổ thơ Nguyễn Bính thì vẫn để nguyên chứ. Giả dụ là thơ của Nguyễn Bính thật thì không sao, không thì tôi phải là Nguyễn Bính chứ không phải Anh Bằng, bởi Anh Bằng chỉ phổ nhạc thôi mà.”

Nhưng tại sao ông Khúc Ngọc Chân (KNC) không yêu cầu ông Nguyễn Thụy Kha và “một số người bạn” trưng ra bằng cớ về chuyện “đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác” có tên Nguyễn Bính trên đó?

Báo TTVH: “Ông nói rằng Nỗi Lòng Người Đi không phải của Anh Bằng, vậy chỉ cần ông đưa ra bằng chứng xác đáng đó là của ông và nếu thực sự là của ông thì dù cho nhiều người chưa biết thì sẽ biết đến ca khúc này là của ông?”

KNC: “Người yêu của tôi đã mất, do vậy tôi không tranh chấp quyền tác giả. Tôi chỉ muốn nói về một số phận khác khi ca khúc được một nhạc sĩ nhận thức và xử lý và đã thành một ca khúc hay, đó là điều may mắn. Khi xưa, lúc tôi biết Anh Bằng phổ nhạc, tôi cũng không dám nói ra, bởi Tôi Xa Hà Nội với những ca từ rất thực diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm của tôi lại trở thành một vệt đen thì sao?”

Chân trái đá chân phải

Trong khi đó, Nguyễn Mạnh Hà (báo Tiến Phong, 11-10-2014) viết: “Khúc Ngọc Chân khẳng định, mãi tới năm kia (2012) ông mới biết đến sự tồn tại của Nỗi Lòng Người Đi. Bởi ông không thích và rất ít nghe nhạc hải ngoại.”

Qua lời kể của ông Chân thì thậm chí Nguyễn Thụy Kha cũng biết đến “nghi án” Nỗi Lòng Người đi. Ông Chân thuật lại lời ông Kha trong cuộc gặp lần đầu tiên của hai người: “Anh có cái bài Nỗi Lòng Người Đi bên kia người ta nói là bài của anh?!” Nhưng Nguyễn Thụy Kha lại khẳng định không hề biết đến nghi án này cho tới khi Khúc Ngọc Chân kể ra. Tuy nhiên, ông Kha vẫn cảm thông với cách trình bày hơi khó hiểu của ông Chân: “Người ta không phải người ăn nói với công chúng. Nhưng mình biết được cái lõi của vấn đề. Tôi bằng trực giác biết chắc chắn bài này của ông ấy rồi!”.

“Phổ thơ cũng được nhưng đấy là cái sai lầm nhất của Anh Bằng. Tồn bộ gia tài Nguyễn Bính không có bài thơ nào như lời bài “Nỗi Lòng Người Đi”. Mà lúc đấy Nguyễn Bính tập kết ra Bắc ra Hà Nội rồi, không dính dáng đến miền Nam nữa mà viết cái đó. Đấy là kẽ hở của câu chuyện.”

Thế rồi Nguyễn Mạnh Hà nhận xét: “Sự vơ danh của Khúc Ngọc Chân là một điều bất lợi khi đặt cạnh Anh Bằng- tác giả của hàng trăm bài hát trong đó có Khúc Thụy Du, Nếu Vắng Anh, Anh Còn Nợ Em, Tình Là Sợi Tơ… Một điểm yếu nữa trong câu chuyện của Khúc Ngọc Chân mà những người đứng về phía Anh Bằng xoáy vào là có nhiều hình ảnh tư liệu cho thấy tàu “há mồm” đưa người vào Nam cập sát cảng Hải Phòng. Trong khi ông Chân kể, ông vẫn còn hát Tôi Xa Hà Nội cùng người yêu trên thuyền từ bến Bính ra “phao số không” để tiễn nàng lên tàu há mồm. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, người gốc Hải Phòng, cho hay Thu Hằng vào Nam là đợt đầu tiên, tháng 11/1954. Lúc đó tàu há mồm chưa cập vào cảng Hải Phòng.”

Với những gì chúng ta đọc được quanh “vụ án Nỗi Lòng Người Đi” của Nhạc sĩ Anh Bằng cho thấy đã có những thay đổi nguy hiểm trong tâm tư của cả giới làm văn nghệ ở Việt Nam trong thời đại “gian dối đã ngự trị trên, không những con người mà cả nền tảng văn hóa truyền thống lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của dân tộc làm kim chỉ nam cho đời sống hàng ngày.”

Một nền văn hóa loạn xạ như thế phải là mối lo nhức nhối của mọi người, vì như Giáo sư Hoàng Tụy đã báo động: “Giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối.” -/-

danlambaovn.blogspot.com

(10/2014)

 

 

 

Chân Dung 5 Nhà Văn Nữ Qua Góc Nhìn Của Họa Sĩ Chóe


EVAN_524358592zxz60l

(Họa sỹ Chóe – Nguyễn Hải Chí (1944 – 2003) và tạp chí Văn)

Đinh Quang Tỉnh
(sưu tầm)

Họa sĩ Chóe – Tên thật là Nguyễn Hải Chí. Nguyên quán tại tỉnh An Giang. Định quán tại tỉnh Đồng Nai. Sinh ngày 11-11-1944 và mất ngày 12-3-2003 tại bệnh viện Virginia- Hoa Kỳ. Di quan an táng tại đất Thánh Mẫu.

Ông đến với nghệ thuật từ những sáng tác truyện ngắn, thơ gửi đăng báo trước khi vẽ tranh. Với tài năng bẩm sinh, nhìn sự kiện qua lăng kính hài hước, trào lộng, ông đã trở thành một họa sĩ biếm nổi tiến của Việt Nam. Năm 1973, nhà báo Mỹ Barry Hilton đã thu thập một số sáng tác của ông để in thành sách, phát hành tại Mỹ với tên gọi The world of Choe và gọi ông là Cây biếm họa số 1 của VN. Sau giải phóng, tranh của ông lại tiếp tục xuất hiện trên rất nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực, hủ bại, góp phần vào công cuộc lành mạnh hóa xã hội.

Chúng tôi xin giới thiệu chân dung của 5 nữ sỹ Việt Nam đã từng nổi tiếng một thời, qua nét vẽ tài hoa của họa sỹ Chóe – năm 1973

cnttuyhong

(Chân dung nhà văn Túy Hồng)

Nhà văn Nguyễn Thị Tuý Hồng. Bút danh: Tuý Hồng. Sinh ngày 12-10-1938 tại Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế. Bà viết văn từ năm 1962.

Tác phẩm: Thở dài, nhà xuất bản Đời Mới 1965, Kim Anh tái bản 1966; Vết thương dậy thì, nhà xuất bản Kim Anh 1966; Trong móc mưa hạt huyền, nhà xuất bản Đồng Nai 1969; Tôi nhìn tôi trên vách, nhà xuất bản Đồng Nai 1970; Mùa hạ huyền, Văn Khoa 1971; Những sợi sắc không (Giải nhất Văn chương toàn quốc 1970), nhà xuất bản Khai Trí 1971; Biển điên, nhà xuất bản Văn Khoa 1971 ; Bướm khuya, nhà xuất bản Đồng Nai 1971…

Đã cộng tác với: Văn Hữu, Bách Khoa, Lập Trường, Văn, Văn Học, Tin Sách, Nghệ Thuật, Kịch Ảnh, Con Ong, Diều Hâu, Tia Sáng, Độc Lập, Tin Sáng, Thần Phong, Thời Nay, Đời Nay, Khởi Hành, Tiền Tuyến, Vấn Đề…

cnttrungduong

(Chân dung nhà văn Trùng Dương)

Nhà văn Trùng Dương, tên khai sinh là Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1944 tại Sơn Tây, Hà Nội. Bà nguyên là chủ nhiệm-chủ bút nhật báo Sóng Thần (Sài Gòn, 1971-75), và là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài, biên khảo, phóng sự, minh hoạ, và một vở kịch ba màn, Các con tôi đã về (1978) ghi lại những ngày cuối cùng ở Sài Gòn vào mùa xuân 1975. Định cư tại Hoa Kỳ từ 1975, bà trở lại trường học và tốt nghiệp ngành báo chí, công quyền và các vấn đề quốc tế tại Đại học Tiểu bang California, Sacramento. Từ 1991-1993, bà làm phóng viên cho tờ The Mountain Democrat, Placerville, Calif; sau đó về cộng tác với nhật báo The Record, Stockton, Calif, từ cuối 1993 tới khi về hưu giữa năm 2006.

cntnhaca

(Chân dung nhà văn Nhã Ca)

Nhà văn Nhã Ca – Sinh năm 1936. tại Huế, khởi viết ngay từ thuở còn là nữ sinh Trung Học trường Đồng Khánh, những bài thơ, truyện ngắn đầu tay của Nhã Ca đã xuất hiện trên các tuần báo ở Saigon từ năm 1957, với tên thật Trần thị Thu Vân. Tuy nhiên, phải ba năm sau đó, bút hiệu Nhã Ca mới chính thức xuất hiện.

Nhã Ca là nhà văn nữ Việt Nam đương thời, có số tác quyền cao nhất. Nhã Ca là một nhà văn nữ nổi bật của Sài Gòn trước 1975, bà đã 2 lần đoạt giải thưởng lớn về Thơ và Văn. Nhã Ca là tác giả của hơn 30 cuốn sách đã xuất bản. Nhã Ca là một trong số ít nữ tác giả được đọc và biết đến nhiều tại Việt Nam.

cntnguyenthihoang

(Chân dung nhà văn Nguyễn Thị Hoàng)

Nguyễn Thị Hoàng là một nhà văn nữ ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Bà sinh năm 1938 tại Huế, tốt nghiệp Đại học Văn khoa, Viện đại học Đà Lạt. Sau khi tốt nghiệp, bà dạy học tại Đà Lạt. Năm 1966 bà nghỉ dạy, chuyển sang viết văn.

Tác phẩm đầu tay là Vòng tay học trò xuất bản năm 1966 đã tạo được sự quan tâm của dư luận đương thời. Nhiều ý kiến phê phán tác phẩm này có nội dung vô luân do viết về quan hệ tình cảm giữa một cô giáo trẻ và cậu học trò phổ thông học cùng trường cô giáo dạy.

Các tác phẩm khác bao gồm: Trên thiên đường ký ức (1967), Về trong sương mù (1970), Bây giờ và mãi mãi (1974).

cntnguyenthithuyvu

(Chân dung nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ)

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ. Sinh ngày 19-8-1937 tại Vĩnh Long. Viết văn từ năm 1965.

Tác phẩm: Mèo đêm, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 1966, Hiện Đại tái bản 1968; Lao vào lửa, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 1967; Chiều mênh mông, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 1968; Ngọn pháo bông, truyện dài, nhà xuất bản Hiện Đại 1968; Thú hoang, truyện dài, nhà xuất bản Hồng Đức 1968; Khung rêu, truyện dài, nhà xuất bản Kẻ Sĩ 1969 (Giải nhì Văn chương toàn quốc 1970). Đã cộng tác với: Bách Khoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Vấn Đề, Khởi Hành, Hoa Tình Thương, Tin Sáng, Tiếng Nói Dân Chủ, Đời, Lập Trường, Dân Chủ Mới, Dân Ý, Ánh Sáng, Tin Mật, Tiến Bộ…

Đinh Quang Tỉnh
(sưu tầm)

 

Nhớ Về Tạp Chí Văn, Nguyễn Chí Kham


2011219_202024_VANNKHAI2011214_12114_gioithieuVan06

(Tạp Chí Văn (1964-1975) của ông Nguyễn Đình Vượng)

Nguyễn Chí Kham

Ðối với những người viết trẻ trước 75, đến nay vẫn cứ nhắc nhở, nghĩ đến tờ báo Văn nơi họ đành được một chỗ đứng trong văn chương buổi ban đầu. Và, với nhà văn Trần Phong Giao quí mến, họ cũng gọi anh là cánh chim đầu đàn. Suốt thời gian phụ trách bài vở cho Văn, luôn luôn anh có sự gần gũi thân tình, khích lệ anh em trẻ. Những kỷ niệm về anh trong bao nhiêu năm tháng cũ vẫn giữ lấy sự ràng buộc, thân thương.

Anh Trần Phong Giao đã qua đời tại Sài Gòn cách đây hơn hai năm. Khi hay tin anh mất, các nhật báo ở quận Cam có loan tin và đăng phân ưu. Riêng tạp chí Văn và Khởi Hành, hai nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Viên Linh có dành một số đặc biệt tưởng niệm người bạn văn cùng thời.

Năm ấy, tôi rời Huế vào Sài Gòn tìm kiếm việc làm. Với đồng lương tuy ít, nhưng tôi cũng gắng để dành mua ít sách báo mình thích để đọc, và riêng tờ Văn đọc xong, tôi cất giữ.

Tôi ở trọ nhà người dì, trong con hẻm sau lưng tòa đại sứ Ðức. Con đường Võ Tánh chạy ngang qua tòa nhà này, phía dưới là rạp hát Quốc Thanh, phía trên là khu chợ Thái Bình trông ra đường Phạm Ngũ Lão. Báo Văn gần ngay đó, từ nhà tôi đi bộ tới chừng mười phút. Tôi thường gặp ông Vượng buổi chiều hay đứng ngoài hàng hiên đọc báo, hút thuốc, và thỉnh thoảng đến gặp anh Giao mỗi khi cần mua lại những số báo Văn cũ cho mấy người quen ở xa gửi nhờ. Từ đó, dù không phải là dân viết lách nhưng tôi cũng có chút giao tình với cả ông Vượng và anh Giao.

FF0DB90A-449E-4E1E-B03B-DA144DEFE3E8_mw1024_s_n

(Từ trái sang: Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng trước toà soạn báo Văn, 38 Phạm Ngũ lão, Sài Gòn năm 1973)

Tòa soạn Văn ở 38 Phạm Ngũ Lão, cũng là nhà in của ông Vượng. Anh Giao, trước khi đảm nhận tờ Văn anh làm việc bên tạp chí Tin Sách của Hội Văn Bút do cha Thanh Lãng làm Chủ tịch. Tin Sách ra hàng tháng, giới thiệu những nhà văn và các tác phẩm vừa mới xuất bản bằng những bài điểm sách rất nghiêm túc, khách quan. Ngoài công việc làm báo, anh Giao còn sáng tác và dịch thuật. Những tác phẩm của anh đã in gồm có:

Nửa Đêm Thức Giấc (tiểu thuyết)

Ngồi Lại Bên Cầu (truyện ngắn)

Guồng Máy(L’engrenage) dịch tác phẩm kịch của Jean Paul Sartre

Sự Đã Rồi (Les jeux sont faits) tác phẩm kịch của Jean Paul Sartre dịch chung với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Sứ Mệnh Văn Nghệ Hiện Đại (Discours de Suède) dịch những bài diễn văn của Albert Camus

Lưu Đày Và Quê Nhà (L’exil et le royaume) tuyển truyện của Camus, dịch chung với Vũ Ðình Lưu

Con Chim Trốn Tuyết (Snow goose) truyện của Paul Gallico, dịch chung với Hoàng Ưng.

Tuy không bằng cấp, nhưng sự tự học của anh rất cẩn trọng, chín chắn, vững vàng. Truyện sáng tác của anh cũng được độc giả ưa thích. Văn anh chân thực, giản dị, dồi dào kinh nghiệm sống. Truyện dịch của anh giữ được tinh thần nguyên bản, bút pháp của tác giả và dùng tiếng Việt rất dễ hiểu, vừa rõ ràng, chính xác. Người học thêm ngoại ngữ, luôn tin cậy vào bản dịch của anh. Người mới tập tễnh viết văn có thể học bút pháp nhà văn nước ngoài qua lối văn dịch của anh.

Sau biến cố đảo chánh 1/11 miền Nam bắt đầu bước qua một gai đoạn mới của lịch sử trong bầu không khí tự do cởi mở. Rất nhiều nhật báo, tuần báo và tạp chí xuất hiện vào thời kỳ đổi mới này, trong đó có tạp chí Văn quản nhiệm là ông Nguyễn Ðình Vượng, và anh trong vai trò thư ký tòa soạn.

Số 1 Văn ra mắt đầu Xuân năm 1964. Số báo ra mắt qui tụ rất nhiều nhà văn nổi tiếng miền Nam qua các thế hệ, và đã bán hết số lượng phát hành ngay trong tuần lễ đầu. Ðôc giả đón nhận hết sức nồng nhiệt, nhất là giới sinh viên, học sinh.

Số 2, bắt đầu bình thường với số trang hơn một trăm. Số 2, tưởng niệm nhà văn Pháp Albert Camus. Trong số này, có một bài viết quan trọng của Jean Paul Sartre: Cắt nghĩa cuốn L’étranger (L’explication de l’étranger). Bài này, được ông Nguyễn Minh Hoàng dịch và chú giải đầy đủ. Hai truyện ngắn rất đặc sắc rút trong tập Lưu Ðày Và Quê Nhà. Truyện thứ nhất, Người Khách Trọ (L’hôte) Trần Phong Giao dịch, truyện thứ nhì Người Đàn Bà Ngoại Tình (La femme adultère) Vũ Ðình Lưu dịch. Giáo sư Nguyễn văn Trung dạy trường Ðại Học Văn Khoa viết bài Những Tình Bạn Dang Dở, trong bài này, giáo sư nói đến sự liên hệ rồi đoạn giao giữa Jean Paul Sartre với Albert Camus và Merleau Ponty. Một bài tiểu luận khác nữa rất sâu sắc của một nhà phê bình Pháp có tựa: Camus, Kẻ Đánh Cá Với Cuộc Đời.

Số 2, Văn giới thiệu một nhà văn danh tiếng Pháp khá đầy đủ như một cuốn khảo luận. Albert Camus sinh năm 1913 ở Algérie. Năm 23 tuổi, ông in tác phẩm đầu tay tập tiểu luận Bề Trái, Bề Mặt (L’envers et l’endroit). Những tác phẩm tiếp theo có tập tùy bút Giao Cảm (Noces), tiểu thuyết Kẻ Xa Lạ (L’étranger), tiểu luận Huyền Thoại Sisyphe (Le mythe de Sisyphe), kịch, Ngộ Nhận (Le malentendu), tiểu thuyết Dịch Hạch (La peste), tuyển truyện Lưu Ðày và Quê Nhà, tiểu luận Con Người Phản Kháng (L’homme révolté), tiểu thuyết Sa Ðọa (La chute). Năm 1957, ông được giải Nobel văn chương, ba năm sau, ông tử nạn trong một tai nạn xe hơi, hưởng dương 47 tuổi.

Khi đảm nhận tờ Văn, anh Trần Phong Giao chủ trương dành cho lớp độc giả hiếu học ham đọc, ưa suy nghĩ. Rồi lần lượt, mỗi kỳ nửa tháng, những số tiếp nhau ra đều đặn và báo Văn luôn được độc giả đón nhận. Ở miền Trung, số lượng phát hành khá lớn đến 4000 số, mỗi gia đình công chức cũng đã chọn hai tờ Văn và Bách Khoa làm món ăn tinh thần hàng tháng trong gia đình. Ðọc Văn, yêu thích thơ văn. Ðọc Bách Khoa, mở mang thêm kiến thức tổng quát.

Số 6, tuyển tập những cây bút trẻ. Nói là trẻ ở đây, thực ra, các nhà văn ở lứa tuổi trên ba mươi cũng đã thành danh. Trong số này, nhiều truyện ngắn hay: Duyên Anh, Con Sáo Của Em Tôi. Lê Tất Ðiều, Vùng Ðất Khô. Thế Uyên, Vấn Ðề, đặc biệt một truyện vừa rất đặc sắc Hồi Chuông Tắt Lửa của Thế Nguyên. Truyện chiếm gần 42 trang báo in chữ véronèse thân 8. Nội dung rất đơn giản, chuyện kể một vị linh mục có đứa con hoang, nhưng cách kể chuyện kín đáo, bí mật, bằng một bút pháp lạnh, xám, đầy dục tính trong cơn mưa và bóng tối.

Số 14, tưởng niệm văn hào Nhất Linh trong ngày giỗ đầu. Số báo đặc biệt này đã gây xúc động cho văn giới và toàn thể độc giả qua những bài viết của bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà văn Vũ Khắc Khoan, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, và hồi ký Người Bác của nhà văn Thế Uyên là người cháu gọi Nhất Linh bằng cậu.

Số 17, giới thiệu nhà văn triết gia Jean Paul Sartre với sự đóng góp những bài tiểu luận và phiên dịch của giáo sư Trần Thiện Ðạo, nhà văn Huỳnh Phan Anh, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Số 18, đề tài chiến tranh trong văn chương

Số 20, giới thiệu nhà văn phi công Pháp Saint Exupéry.

Chỉ mới qua một năm đầu vớ 24 số báo, tạp chí Văn đã tạo được uy tín và sự tin cậy cho lớp độc giả trung lưu, trí thức. Sự xuất hiện Văn cũng còn được coi là đại diện cho văn học miền Nam, trên từng số báo này, mỗi năm càng có nhiều sự đóng góp lớn những tên tuổi làm nên văn học miền Nam. Qui tụ ở đây có đủ các nhà văn ba miền Vũ Hoàng Chương, Ðông Hồ, Vũ Bằng, Lê văn Trương, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Linh Mục Thanh Lãng, giáo sư Nguyễn Văn Trung, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường, Vĩnh Lộc, Văn Quang, Phan Du, Võ Hồng, Ðặng Tiến, Trần Thiện Ðạo, Tô Thùy Yên, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Minh Hoàng, Vũ Ðình Lưu, Nguyễn Ðình Toàn, Tuấn Huy, Viên Linh, Ðỗ Quí Toàn, Phạm Công Thiện, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Dương Nghiễm Mậu, Thanh Nam, Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Mộng Giác, Tạ Ký, Trần Dzạ Từ… Về các nhà văn nữ, có Túy Hồng, Nhã Ca, Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ.

Báo Văn, mỗi số mang một chủ đề quan trọng về các nhà văn Việt Nam cũng như ngoại quốc. Những người viết ở Văn đã thu hút người đọc bằng những bài nhận định, phê bình, bằng truyện và thơ chọn lọc, khơi dậy niềm ước ao nơi tuổi hai mươi của học sinh, sinh viên.

Từ báo Văn, sau mấy số đầu tìm hiểu, bài bạn đọc được gởi tới, và hộp thư của Văn trở thành địa chỉ văn học chung cho những cây bút trẻ tham dự.

Theo yêu cầu chung, một lá thư ngỏ đăng ở phần sinh hoạt nêu rõ chủ trương tờ báo:

– Văn không có chủ bút.

– Bài lai cảo khi nhận được chuyển ngay đến ban tuyển đọc gồm ba người. Truyện có hai người đồng ý, sẽ đăng. Truyện đọc, một người thuận, một người chống, sẽ đưa người thứ ba đọc và quyết định.

– Tác giả được đăng truyện lần đầu, sẽ nhận được báo biếu. Ðăng lần thứ nhì trở đi, sẽ có tiền nhuận bút.

– Bài không đăng, không trả lại bản thảo.

– Bạn đọc cần thư riêng, xin gởi kèm theo tem.

Thực sự là khó khăn cho những người mới viết về cả thơ và truyện. Ðược đăng, đã khó rồi, nói chi đến tiền nhuận bút, hay vinh dự có tên mình ở số báo Xuân.

Thế nhưng, chính báo Văn đã có một công lớn dạy viết văn cho lớp người trẻ bằng sự kích thích họ đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, tự dưng khám phá vỡ ra được một cách nhìn, một cách viết.

Chỉ sau một năm đầu còn ít ỏi, lớp trẻ chỉ mới có một số tên tuổi sớm xuất hiện trên Văn như Y Uyên, Phan Duy Nhân, Ðào trường Phúc, NH Tay Ngàn, Trần Như Liên Phương, Nguyễn Vũ Ðan Vy, Nguyên Vũ, Thái Lãng, Lê cao Nguyên, Văn Lệ Thiên qua những năm sau, những cây bút lúc đầu hẳn còn non kém dần tiến lên làm nên một đội ngũ, một lực lượng dự trữ cho Văn. Khi được một đội ngũ trẻ có học vấn, yêu thích văn chương, anh Trần Phong Giao rất hài lòng và kỳ vọng. Từ tỉnh đầu giới tuyến đến Sài Gòn, đến miền Ðông, miền Tây đã có:

Quảng Trị: Phan Phụng Thạch, Thạch Nhân, Sương Biên Thùy

Huế: Trần Doãn Nho, Hồ Minh Dũng, Trần Dzạ Lữ, Lê Bá Lăng, Thái Ngọc San, Lê Văn Ngăn, Lữ Quỳnh, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Hoàng Hạ Lan, Hoàng Ngọc Tuấn, Huỳnh Hữu Ủy, Lê Nhược Thủy, Yên My, Trần yên Du, Trần Ðình Sơn Cước, Võ Quê.

Ðà Nẵng: Nguyễn Nho Sa Mạc, Chu Trầm Nguyên Minh, Phương Tấn, Luân Hoán, Thành Tôn, Hà Thúc Sinh

Hội An: Thái Tú Hạp, Ðinh Trầm Ca, Hoàng Thị Bích Ni.

Tam Kỳ: Huy Tưởng, Tần Hoài Dạ Vũ, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Hoài Thư

Quảng Ngãi: Hà Nguyên Thạch, Mê Cung, Phan Nhự Thức, Vương Thanh.

Qui Nhơn: Trần Phiên Ngung, Ðặng Tấn Tới, Võ Chân Cửu.

Tuy Hòa: Nguyễn Lệ Uyên, Trần Huyền Ân, Hoàng Ðình Huy Quan, Mang Viên Long, Cảnh Cửu.

Nha Trang; Phạm Chu Sa, Văn Lệ Thiên

Phan Rang: (không nhớ)

Phan Thiết, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Thị Ngọc Minh

Pleiku: Kim Tuấn, Lâm Hảo Dũng.

Dù ở xa thủ đô Sài Gòn, nhưng từ các tỉnh miền Trung, miền Ðông, miền Tây, hay cao nguyên, sáng tác của những cây bút trẻ kể trên vẫn gởi đến Văn một cách đều đặn và thể hiện sự tiến bộ rõ rệt. Những sáng tác của người viết mới, không chỉ giữa anh em cùng lứa tuổi biết nhau mà còn được các nhà văn đàn anh để mắt đến. Từ đó, mỗi người viết trẻ có chỗ đứng, một vị trí vững vàng trên Văn. Ðể khích lệ, mỗi năm, người phụ trách bài vở Trần Phong Giao cũng dành một vài số đặc biệt cho tất cả những cây bút trẻ được thành danh.

Tôi vẫn làm người đọc đều đặn của tạp chí Văn. Ðọc văn các bạn cùng lứa tuổi với mình, tôi rất thích và cùng hiểu được tâm trạng qua các nhân vật về tình yêu, về chiến tranh. Trong số anh em trên, tôi được làm quen một số người như anh Trần Hữu Thục, Lê Bá Lăng, Trần Yên Du, Hà Nguyên Thạch, Hồ Minh Dũng, Kim Tuấn. Mới cách đây một tuần, Thục từ Boston qua quận Cam chơi nhân kỳ lễ Ðộc Lập 4 tháng 7, anh được gặp khá đông bạn bè và có ghé thăm tôi. Một tối chuyện trò ngồi ở chiếc bàn vuông nhỏ ngoài mái hiên với mấy chai bia, dĩa đồ mồi, tôi và Thục có nói chuyện về báo Văn ngày xưa, về cái thâm tình của anh Giao đối với an hem viết văn trẻ, về những truyện ngắn thời đó của Thục, của Trần Hoài Thư, Hồ Minh Dũng, Ngụy Ngữ mà tôi đã đọc. Sau cùng, hai chúng tôi với một giọng buồn, ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của anh Giao. Sau biến cố Tháng Tư Ðen, cũng như số phận nhiều anh văn nghệ sĩ miền Nam cũ, gia đình anh Giao sống trong cảnh khó khăn, nghèo túng.

Anh Trần Phong Giao đã gắn bó với tờ Văn trong những tháng ngày và những năm hưng thịnh. Từ tạp chí Văn, anh Giao gây dựng thêm Tin Văn, nguyệt san chuyên về tiểu luận, phê bình, và dùng tên tạp chí xuất bản một loại sách hay nhưng rẻ tiền bằng giá một cuốn báo để giúp đọc giả nghèo có sách đọc.

Người ta sẽ hiểu sai khi cho rằng, tạp chí Văn chỉ làm sáng giá những cây bút trẻ, còn những nhà văn có tên tuổi, dù viết cho báo nào họ cũng có một chiếu ngồi, một địa vị đã có sẵn. Hoàn toàn không đúng. Thực sự, nhìn xét một cách nghiêm túc, chính tờ báo là nơi mà các nhà văn đã tên tuổi tăng thêm uy thế của mình. Năm 1956, tạp chí Sáng Tạo ra đời. Những nhà văn trong nhóm này là Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp này gây được tiếng vang với tính cách chuyển dòng văn học mới khác với Tự Lực Văn Ðoàn, nhưng xét ra ảnh hưởng các nhà văn kể trên thời kỳ đó chưa rộng lớn, chỉ quanh quẩn ở Sài Gòn mới biết đến tên tuổi, còn ra những nơi xa thì hẳn là vắng bóng. Một điều dễ hiểu, vào thời kỳ đó chỉ ở Sài Gòn mới có trường Ðại Học, trung học Ðệ Nhị Cấp, còn ở các nơi xa, mỗi tỉnh chỉ mới có một trường trung học Ðệ Nhất cấp, vậy làm sao ở cái tuổi học sinh mới Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ đọc và hiểu nổi văn chương hiện sinh, văn chương mới của nhóm Sáng tạo.

Tạp chí Văn đã xuất hiện đúng lúc, đáp ứng nhu cầu độc giả học sinh, sinh viên. Vào thời điểm của Văn, hầu hết các tỉnh lớn nhỏ ở miền nam đã bắt đầu có trường trung học Ðệ Nhị Cấp, Huế và Ðà Lạt còn có thêm trường Ðại Học nên số độc giả tăng và giá trị văn chương được xét đoán đúng tầm mức của nó.

Nhà văn Thanh Tâm Tuyền được coi cây bút chủ lực của nhóm Sáng Tạo. Anh khởi sự cuốn Ung Thư sau khi viết xong Bếp Lửa. Truyện dài Ung Thư đã được trích đăng trên Sáng Tạo, Hiện Ðại, Bách Khoa, nhưng phải đợi đến lúc xuất hiện trên tạp chí Văn mới gây được sự chú ý cho độc giả. Và, cũng qua Văn người đọc mới tìm kiếm Mai Thảo ở Tháng Giêng Cỏ Non, Bản Chúc Thư Trên Ngọn Ðỉnh Trời , mới đọc Doãn Quốc Sỹ ở Dòng Sông Định Mệnh, U Hoài, và bộ trường thiên Khu Rừng Lau. Nói một cách khách quan, thực sự trên mảnh đất báo Văn, nơi hứa hẹn cho lớp nhà văn trẻ, và cũng là nơi làm tăng thêm uy tín các nhà văn đã có sẵn địa vị.

Tờ Văn, anh Giao đảm nhận từ số 1 năm 1964 đến cuối năm 1971 với hơn 190 số báo thì ngưng. Anh rời khỏi tòa soạn với một lá thư gởi bạn đọc cùng ngỏ lời chia tay với những người viết trẻ. Sự ra đi của anh rất lặng lẽ. Tiếp tục công việc cho Văn, ông Nguyễn Ðình Vượng mời hai nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và Mai Thảo. Ông Mai Thảo là nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp. Ông đã làm Chủ bút Sáng Tạo, Kịch Ảnh, viết scénario cho phim ngoại quốc chiếu ở rạp, và đang làm báo Vấn Ðề ngưng lại để lo cho tờ Văn. Còn nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, trước đây cộng tác Văn Học, sau qua Văn cùng với một nhóm trí thức trẻ có Hoàng Ngọc Biên, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ , Nguyễn Ðình Toàn.

Nhưng cũng từ sự thay đổi này, số lượng Văn phát hành dần trở nên sút giảm, một phần do tình hình chiến tranh và kinh tế miền Nam sa sút. Hơn một năm giữ vai trò phụ trách bài vở, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng vì bận công việc dạy học lại thôi, để một mình nhà văn Mai Thảo cáng đáng.

Nhà văn Mai Thảo một mình với tờ Văn, đã giữ được tới số cuối cùng, ngừng hẳn khi cuộc chiến miền Nam vừa đi tới giai đoạn kết thúc.

Nguyễn Chí Kham
(Nguồn: báo Người Việt)

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô