Dưới Làn Sóng. Truyện ngắn Hoàng Đạo


Hoàng Đạo

Presentation3

(Báo Ngày Nay, Số 27 in tại Hà Nội Tháng 09/ 1936)

Đã mươi hôm, mưa tầm tã. Mực nước lên cao dần. Trống hộ đê đánh liên thanh không dứt. Tiếng trống đều đều gợi trong linh hồn dân quê những nỗi hãi hùng man mác, nghe buồn thảm như tiếng trống ngũ liên một đêm tối trời. Dân phu từng đám trên đê, đắp cừ, đan tre trong không khí yên lặng ghê sợ. Mấy ông kỳ mục, quần ống cao ống thấp, ngồi xổm dưới túp lều trống gió, vẻ mặt bơ phờ nhìn theo chiếc xe “quan” đi về phía huyện lỵ. Chiếc xe tay khấp khểnh nhọc mệt lăn trên con đường gồ ghề; một chú lính lệ tay xách chiếc điếu ống chạy theo sau.

Trong một đám dân phu, Mịch đang nai lưng làm việc. Anh vác từng thúng đất đào ở một thửa ruộng gần đấy đem lên mặt đê để đắp cừ. Thỉnh thoảng, mệt, anh đứng lại thở, nhìn ra mặt sông, lắc đầu lo ngại. Sông đỏ mênh mông, chảy từ từ như một huyết quản khổng lồ của một con quái vật nào. Mịch đưa mắt theo những đám bọt vẩn, những thanh củi lạc từ từ trôi về miền hạ du, mơ màng nghĩ đến cảnh rừng thẳm âm u là nơi mưa lũ đuổi những lá, những cành các thứ cây lạ trôi về. Cảm giác ấy thoáng qua trong óc Mịch như một tia chớp rồi Mịch lại quay trở lại với công việc. Mịch hì hục vác, nhanh nhẹn, nhịp nhàng, không hề nghĩ đến cái cớ bắt Mịch ra đây làm việc công.

Trưa hôm ấy, trời hửng nắng. Mọi người trông nhau, tươi tỉnh hẳn lại. Mịch vui vẻ ngồi ăn bữa cơm trưa. Anh đói nên ăn rất ngon miệng. Vài bát cơm khoai, mấy con cá kho muối, anh thấy hương vị đậm đà, nên lúc giỏ cơm đã hết, anh chép miệng nói một mình:

– Giá có cơm nữa mà ăn nhỉ!

Bỗng Mịch nghĩ đến gia đình. Anh băn khoăn tự hỏi:

– Chẳng biết hôm nay mẹ cái ốc có mò được con cua nào không? Rõ khổ… Mình ở đây còn có cơm ăn, chứ mẹ con nó biết nuôi nhau bằng cái gì?

Mịch thở dài nghĩ đến cảnh nhà bần bách.

Có vài sào ruộng công để cày cấy thì đã đem cầm cố đi cả; anh chỉ còn nghề làm mướn để sinh nhai. Nhưng anh không bao giờ bận lòng oán thán, vì yên chí rằng ở trên đời, sự khổ sở, cơ cực là phận của anh, còn sung sướng, thong thả là phận của người khác.

Chiều đến, công việc hộ đê có vẻ uể oải. Mấy ông kỳ mục, được hôm tạnh ráo, ngồi đánh tổ tôm với nhau trong điếm. Dân phu thì tụm năm túm ba ngồi trên bờ đê than thở.

– Nước năm nay to y như năm Dần…

– Có lẽ hơn, bác ạ.

Ai nấy buồn bã nhìn ra ngoài đê. ánh tà dương viền bạc đám mây xám nằm ngang phương tây, nhuộm tía mấy đám mây lơ lửng trôi ở trên không, phản chiếu xuống mặt sông, mặt đê, xuống cánh đồng lúa non rợn xanh đến chân trời. Không một ngọn gió trong không khí nặng nề. Lòng sông mênh mông cũng ngừng lại không chảy nữa. Người và vật chìm đắm trong một giấc mơ êm tĩnh lạ thường…

Bỗng trong đám mây xám, Mịch nhác thấy một tia chớp. Một lúc sau, trời tự dưng tối sầm lại; mầu nước, mầu mây biến ra nhợt nhạt trong một thứ ánh sáng mờ ảo. Mặt sông gợn sóng. Mây kéo lên khắp trời. Khoảnh khắc, dưới ngọn cuồng phong, sóng bạc đầu theo nhau nổi lên trên mặt sông mỗi lúc một mau. Mưa đổ xuống như thác. Trời tối hẳn. Tiếng trống hộ đê lại bắt đầu gieo nỗi kinh hoàng vào lòng người. Lẫn trong tiếng tre sột soạt, tiếng sóng ì ầm vỗ vào mạn đê, tiếng trống nghe bổng trầm như tiếng kêu cứu của một người hấp hối. Thỉnh thoảng, trong khoảng trời mù mịt, hiện ra một bó đuốc gieo ánh sáng đỏ thê thảm ra chung quanh rồi biến đi, khiến đêm tối lại càng thêm tối. Mịch, thân thể ướt át, đứng ở mạn đê cắm cọc tre xuống một cách mạnh mẽ, nhưng tuyệt vọng. Anh cảm thấy sự kinh khủng bao bọc lấy mình, như nom được sự hung hãn dị thường của những sức mạnh huyền bí vô cùng của trời đất. Trước những mãnh lực tàn khốc ấy, Mịch có cái cảm tưởng rõ rệt rằng cả anh và những người khác bên cạnh đều nhỏ nhặt, yếu hèn như giống kiến, giống trùng, không thể cản trở hay kháng cự lại được.

Như đáp lại tư tưởng của Mịch, gió gào một khắc một mạnh. Hạt mưa nặng rơi trên chiếc nón lá bắn nước tung tóe ra chung quanh, gió thổi tạt vào một phía, khiến chàng tối tăm cả mặt mũi. Mỗi khi Mịch cúi xuống đổ đất, anh lại nghe thấy tiếng sóng vỗ mạnh vào mạn đê như tiếng gầm giận dữ của một con mãnh thú trong cơn điên cuồng.

Bỗng cách Mịch vài trăm thước, ầm lên một tiếng lớn vang động như sấm. Theo ngay sau một tiếng kêu thất thanh rơi vào trong bóng tối. Giật mình, dân phu ai nấy đều dừng tay, yên lặng. Họ đều có cái cảm giác rằng một tai nạn ghê gớm vừa tới. Trước mặt họ, những hình ảnh khốc hại thoáng hiện ra, những hình ảnh họ đã từng biết: cánh đồng lúa xanh mềm biến đổi ra hồ nước mênh mông, nhà cửa đổ sụp trôi theo dòng nước, đàn bà trẻ con nheo nhó chạy lụt… Mịch sực nhớ đến vợ con. Anh kinh động lo lắng. Nhà anh ở ngoài đầu làng, gần cây đa lớn bên đường và nếu nước chảy xiết về, anh sợ không đủ vững.

– Phải về, phải về mới được.

Tiếng nước reo mỗi giây một rõ. Mịch hồi hộp nhìn lên. Hai bên bờ hội khẩu, dưới ánh trăng mờ tỏ của vài bó đuốc bạt ngọn trước luồng gió dữ, bóng người lung lay trên nền trời đen thẫm, dệt nên một cảnh tượng ghê sợ. Mịch rùng mình. Anh nhìn con nước xói vào cánh đồng ầm ầm như thác ngàn đổ, mãnh liệt không có sức nào cản nổi. Anh nhìn chung quanh. Toàn những bộ mặt nhợt tái diễn tả bao nhiêu nỗi khủng khiếp ngấm ngầm.

Hơn một giờ sau, Mịch mới tìm được chiếc thuyền nan. Anh nhân lúc lính vô ý, trốn thoát nhảy xuống thuyền, tâm trí để hết đến việc trở về làng. Một tay anh cầm gáo tát nước ứ ra ngoài, còn một tay ra sức chèo. Trong đêm tối, hạt mưa nặng vẫn ào ào đáp lên chiếc nón lá, gió vẫn thổi mạnh. Con thuyền bị trôi băng trên mặt nước, Mịch phải để ý giữ gìn từng li từng tý mới khỏi sóng đánh úp. Anh thuộc đường lắm nên khi ngược nước, chiếc thuyền con có chòng chành nhưng đi vẫn thoát.

Nửa giờ qua. Mịch thoáng thấy bóng cây đa cổ thụ in đám lá đen kịt lên mầu trời đen xám. Lòng anh hồi hộp, phấp phỏng. Anh vẫn biết trong lúc nguy kịch, trong làng không còn ai nghĩ đến vợ con anh. Anh chỉ còn cậy vào sức mình. May mà vài mươi con sào nữa là anh về đến nhà. Vợ anh chắc lúc này đâng ngồi ẵm con trên nóc túp lều tranh. ý tưởng ấy khiến Mịch chèo thêm mạnh tay. Giây phút, con thuyền đã vượt qua con đường bên gốc đa. Ngọn nước kéo chiếc thuyền về phía dưới, anh ra sức chèo ngược lên, con thuyền ở giữa hai cái mãnh lực gần thăng bằng đứng im một chỗ. Bỗng Mịch nghe trong khoảng đêm tối một tiếng kêu cứu, tiếng kêu hốt hoảng bao hàm bao nhiêu nỗi kinh khủng. Chàng ráng hết sức, vượt qua ngọn sóng, giơ tay vơ lấy một cành đa. Con thuyền nhẹ bồng lên, những đợt sóng réo theo nhau chạy về phía dưới. Mịch bật bồng nhìn về nhà, kêu:

– Mẹ cái ốc đâu?

Tiếng gió trả lời anh. Anh gọi luôn mấy tiếng nữa cũng không ai đáp lại. Lòng Mịch rạo rực; trái tim anh đập rất mau. Hết sức, anh dún mình đưa con thuyền đè sóng đâm ngang vào bụi tre mà anh biết là ở cạnh cổng nhà, rồi hai tay anh với cành tre giữ thuyền lại. Mắt tre đâm vào cánh tay, anh cũng không thấy đau. ánh sáng của bó đuốc nhỏ chiếu tỏa ra chung quanh. Mịch rên lên một tiếng khổ não. Anh đăm đăm nhìn về phía nhà và chỉ trông thấy vũng nước đỏ ngầu lấp lánh dưới ánh đuốc. Mắt mở to, anh trừng trừng nhìn lên mặt sóng bấp bênh chiếc mái nhà lật ngược. Tuyệt vọng, Mịch sực nhớ đến tiếng kêu ban nãy, tiếng kêu cuối cùng của vợ anh có lẽ đang ẵm con thơ. Mịch run bắn cả người, hai tay rời cành tre. Một làn gió mạnh, một đợt sóng qua. Chiếc thuyền nghiêng ngửa, Mịch không vững chân, ngã ngửa người vật xuống…

Vài giờ sau, vừng thái dương xán lạn mọc lên trong bầu trời quang đãng, âu yếm nhuộm hồng mấy sợi mây tơ chăng lên trên da trời màu bạch nguyệt, dịu dàng mơn trớn cánh đồng nước lặng sóng như mặt hồ. ánh sáng buổi bình minh tinh khiết như hồi thiên địa mới sơ khai. Nếu không có vài chiếc thuyền thỉnh thoảng lách vào mấy ngọn tre xơ xác, những sự khủng bố hồi hôm có lẽ khách du chỉ cho là một giấc mơ dữ dội.

Hoàng Đạo

Dưới Bến Trên Thuyền. Tuỳ bút Tường Bách


Tường Bách

(Bài của nhà văn Tường Bách được đăng trên báo Ngày Nay số 3, in tại Hà Nội ngày 20/02/1935)

Bờ sông Hà Nội, ngay ở chỗ bến thuyền, là một nơi ít người để ý đến, ít để ý đến cách sinh hoạt của dân cư dưới bãi cát hay trên thuyền bè.

Người ta có đi qua cũng chỉ thấy một khung cảnh vui vẻ, tấp nập, tuy bây giờ đã kém xưa, hồi mấy năm về trước nhiều lắm. Cái rừng cột buồm thẳng tắp, khi trước chi chít, bây giờ trông có vẻ lơ thơ, buồn bã.

Những thuyền chở gỗ từ Yên Báy, Phú Thọ, chở than từ Đông Triệu, Quảng Yên, chở muối từ Nam Định, Thái Bình, tuy vẫn lui tới, nhưng chỉ còn ít. Ngoài cái nguyên nhân từ khủng hoảng kinh tế ra, còn vì lẽ những hàng hóa ấy người ta chở bằng tầu hỏa hay tầu thủy, nhanh chóng hơn và giá vận tải cũng không cao hơn là mấy.

May ra có những thuyền những thuyền Nghệ chở nước mắm là còn giữ được chút phồn thịnh ngày trước. Những chiếc thuyền đi bể này, trông to lớn, cột buồm cao vút với lá cờ phấp phới trên ngọn, hai bên mui vẽ mắt như mắt cá và rồng phượng nhiều màu như để dọa nạt những cơn sóng ngất trời ở giữa bể khơi. Một chiếc thuyền ghé vào bến Hà Nội như thể mang tới một chuyến hàng độ bốn năm trăm tấn, ngày trước có khi đến hằng nghìn. Hàng ấy chứa đầy trong đáy thuyền tối om và sâu như cái giếng, thường thường chỉ có một cái lổ vuông bằng cái bàn con để thò gáo xuống múc lên.

Bán hết rồi, họ xuôi về Nghệ. Về mùa này, phần nhiều họ đợi được gió bấc rồi mới quay mui. Người Nghệ đi bể quen nên đoán thời tiết rất giỏi. Nhiều khi, trời nắng chang chang, gió nồm thổi ẩm ướt, mà họ cũng sửa soạn cho thuyền quay về: thế là tối hôm ấy tự nhiên trời đổi lạnh, gió bấc thổi vù vù đưa những thuyền Nghệ xuôi ra bể nam.

Đời những người làm thuyền thật vất vả. Quanh năm sống trên mặt nước, những công việc khó nhọc và nắng mưa, gió bể đã khiến cho tay, chân họ thành chai và da dẻ xám đen già cỗi. Lắm khi còn phải chống cự với nhưng cơn gió táp lúc đang lênh đênh trên mặt sóng.

Mà những phu-phen làm việc ở bờ sông cũng khó nhọc như vậy. Họ phải vác những bao to hay gánh những gánh nặng đầy sỏi, cát hay than đá đen sì, trèo từ dưới thuyền lên bờ sông, dốc và gồ ghề. Những phu kéo gỗ nhiều khi phải giắt giây nhau chừng hai mươi người mới kéo nổi một cây gỗ lên cạn. Mồ hôi chảy nhễ nhại trong lúc trời rét như cắt, họ vừa ra sức vừa hát những câu tình ái kéo dài bằng những tiếng “ới a”, và thỉnh thoảng lại điểm một tiếng “dô ta” vang động cả bờ sông. Mỗi ngày như thế, tiền công được độ hai ba hào không cơm là nhiều lắm. Ăn uống lẽ tất nhiên là rất khổ sở. Và tối đến, họ chui rúc vào những nhà nứa lợp gianh ở Cấu Đất, những nhà thấp nhỏ, chật chội, bẩn thỉu và tối tăm không chút vệ sinh.

************

Bãi Cầu Đất cũng như mọi nơi khác, bên bờ sông, thật là chỗ tụ họp của người nghèo: phu phèn, thợ thuyền, buôn bán lặt vặt, như quà bánh chẳng hạn, chen chúc nhau trong dãy phố tồi tàn ấy. Đã vậy, nhiều khi nước lên to, tràn ngập cả, tình cảnh lúc đó mới thật là khốn đốn, vì còn biết chạy đi đâu. Ở bãi Cầu Đất, ta thấy rõ cái cảnh nghèo hèn, cách ăn ở khốn nạn của bọn mà ta gọi chung cả một tiếng là bọn hạ lưu. Nhưng khốn nạn thì khốn nạn, bao giờ họ cũng tìm được cách mua vui, những cuộc vui tai hại như rượu chè, cờ bạc.

Ở bến tàu thuỷ, quang cảnh vui vẻ hơn, vì sạch sẻ, sáng sủa hơn đây là lẽ tự nhiên. Nhưng lắm khi ta thấy, giữa đám đông người vừa ở dưới tàu lên, một cô gái quê ngớ ngẩn, tay cắp thúng trông bốn phía như tìm đường đi. Rồi có một người đàn bà chạy đến, nói cười một lúc rồi dắt cô đi theo. Người nhà hay quân giỗ người? Không biết chắc, nhưng ta đã nghĩ rằng cô gái quê ấy đã bước bước đầu trên con đường trụy lạc trong thành phố Hà Nội mà cái tiếng phồn hoa đã gọi cô đến nơi.

Ngoài những kẻ giỗ người, còn có những kẻ rủ người đi để bóc lột nữa. Một hôm, tôi đương đứng hứng gió bên bến tàu, bỗng có một anh quần áo cánh trắng tiến lại sẽ hỏi:

– Gỡ không?

Tôi chợt nghĩ đến bao nhiêu người ở dưới tàu lên thì giàu có, rồi chỉ vì một tiếng gỡ, mà phải ăn mày về tàu. Muốn cùng chung một số phận như họ, tôi đáp:

– Gỡ gì?

– Xốc dĩa, xì phé gần đây

Anh ta đưa tôi qua bãi cát, tới gần cầu, và lên một chiếc thuyền con chở ra giữa sông đến một cái nhà bè rộng rãi. Trong đó, đủ các hạng người đang sâu sé nhau. Mà trong đó, người hạ lưu không phải ít. Trong bộ quần áo bẩn thỉu, rách vá, họ ngồi để bị bóc lột, hình như sung sướng lắm. Trông những đồng tiền họ vứt đi, tôi lại nhớ đến bao nhiêu ngày họ phải khó nhọc, vất vả mới kiếm ra được.

Dưới bãi bờ sông thật là nơi tụ tập của người tứ xứ. Chỉ có những người các tỉnh khác, vì kinh tế phải rời làng đi kiếm ăn ở Hà Nội. Nghèo thì làm phu, làm thợ, mà giàu có hơn thi buồn bè, buồn nứa.

Cách sinh hoạt trên những nhà bè cũng có nhiều cái thú vị. Lênh đênh trên mặt sóng, nước lên đến đâu dâng cái bè lên đến đấy. Nhiều người quanh năm ở trên nhà bè, sống về nghề chài lưới. Còn những người buồn nứa, đến mùa nước cạn, họ làm một cái nhà trên bãi cát để ở.

Trông chỗ nhà bé ấy với cái nhà gianh thấp hẹp, nhiều nhất là những cái vòm tựa như cái cống làm bằng mui thuyền cũ, dưới đặt mấy cây nứa để ngủ, nằm rải rác trên bãi cát rộng, ta tưởng tượng như đứng giữa một bãi sa mạc bên Phi châu. Mà nói cho đúng, cách ăn ở của người mình ở đây cũng chẳng hơn người da đen là mấy.

Ngày họ đi làm, chẻ nứa hay bó nứa, tiền công độ một hào, hào rưởi, mà là công việc nhẹ, phần nhiều đàn bà trẻ con làm. Con bọn đàn ông thi đi giắt bè, những bè nứa từ trên Chèm về, đóng thành từng lớp, hay khuân vác những cây nứa. Như thế, họ sống cũng phong lưu. Phong lưu đối với họ, chứ trông bữa cơm với nhà cửa của họ, ta không thể hiểu sao họ sống lượm thượm đến như thế được.

Những cái nhà vòm, nhiều cái chỉ rộng bằng miệng cống, mà ở trong, nếu kê một cái giường có lẽ không đủ chỗ. Anh sáng chiếu vào chỉ rõ những cái chiếu cũ, rách giải trên sàn, và trong một góc, bát đĩa, quần áo để lộn xộn. Thế mà đêm đến, trong cái cống ấy, năm sáu người đàn ông, đàn bà, trẻ con lăn lộn co quắp ngủ trong một giấc say sưa.

Còn những cái nhà hơi ra hồn nhà một tí, thì cũng bẩn thỉu, chật chội như thế. Và mùa đông những tấm phên mỏng đầy lổ hở, chống sao nổi với cái lạnh căm căm theo luồng gió bấc thổi mạnh trên bãi cát mông mênh –  mà những ngày nắng rát, trên mặt trời chiếu xuống chói lọi, dưới hơi cát bốc lên, tưởng không còn chỗ nào nóng hơn được nữa.

Họ sống như thể, nhưng họ không lấy làm khổ lắm.  Họ hình như thản nhiên chịu cái số phận vất vả, khốn nạn, mà ít khi, ta thấy họ kêu ca oán thán lấy nữa lời.

Nhẫn nhục, biết phục tòng số mệnh, có nhẽ là cái đức tính to nhất của dân ta, dù ở nơi trên biển, dưới thuyền hay trong luỹ tre xanh cũng vậy.

Tường Bách

 

 

Đợi Chờ. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Truyện ngắn này được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 17, in ngày chủ nhật 19/ 07/ 1936 tại Hà Nội)

img_5119

Cây im, sông lắng đợi xuân về
Thế Lữ

Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua dặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.

Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi rộng trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhẩy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay, từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.

Chàng đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.
Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây yên lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn với hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẩn trong không. Cả những làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây, nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ…
Nhưng qua giậu nứa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung.
*
* *
Cách đây hai năm, và cũng trong tháng chạp. Một hôm cưỡi ngựa đến bên sông thăm vườn cam sắp trẩy, Linh gặp một chiếc ô tô đỗ cạnh đồi. Tưởng đó là xe khách đến chơi và tài xế không biết lối vào trong ấp, Linh cho ngựa lại gần, nghiêng mình nhòm qua cửa xe. Trong xe, một bà ngót năm mươi tuổi và một thiếu nữ đầy đặn nở nang, nước da hồng hào rám nắng, mà thoạt trông chàng ví ngay với màu da cam bắt đầu rám chín dưới luồng gió heo may.
Chàng ngồi thẳng người lên, lễ phép nói:
– Xin cụ tha lỗi cho, tôi tưởng bạn đến chơi.
Nhưng thiếu nữ rất lịch thiệp đã thò đầu ra ngoài mỉm cười đáp lại:
– Thưa ông, me tôi không dám. Vả lầm thì ai chả có khi lầm.
Câu trả lời, Linh cho là vô vị. Song nụ cười tình tứ điểm theo, chàng ngắm thấy ngọt như mật ong, thơm như hoa cam sành mới nở, và có mãnh lực làm cho chàng lúng túng mất vài giây. Sự lúng túng ấy chàng che đậy bằng một câu hỏi, giọng run run:
– Thưa cô, xe liệt máy?
Nụ cười càng tình tứ hơn, tuy đôi lông mày bán nguyệt tô thêm chỉ hơi díu lại một cách rất nũng nịu, dễ yêu.
– Thưa ông, xe không chết máy, nhưng hết dầu xăng.
– Vậy ý hẳn bác tài đi mua dầu xăng?
– Không, anh ấy đến hàng nước kia hỏi xem có thể mua lại ở đâu được vài lít xăng để đủ chạy từ đây đi Kép. Vậy thưa ông, ông có biết thì xin ông làm ơn bảo giùm cho.
Linh mỉm cười:
– ồ! Tưởng hỏng máy, chứ nếu chỉ hết dầu xăng, thì tôi xin biếu cụ và cô.
Bà cụ sung sướng vội hỏi.
– Thưa ông, nhà ông ở gần đây?
– Thưa cụ, cũng không xa. Đây là đồn điền của tôi.
Thiếu nữ vẻ mặt ngạc nhiên.
– Đồn điền của ông? Chắc là rộng lắm!
– Thưa cô, cũng không rộng lắm, độ hai nghìn mẫu thôi.
Thiếu nữ mở cửa xe bước xuống, gọi:
– Anh tài!
Tức thì một người vận âu phục màu vàng từ trong hàng nước cạnh bến phà đi lại. Linh xuống ngựa, nói:
– Bác cưỡi ngựa theo con đường này vào ấp bảo người nhà tôi đưa cho một bi đông ét xăng, rồi cầm ngay ra đây…
– Thưa ông, cháu không cưỡi ngựa bao giờ.
– Chà, khó gì!
Linh ngẫm nghĩ một giây rồi chép miệng nói tiếp:
– Thôi được, để tôi đi lấy cho.
Thiếu nữ vội gạt:
– Chết thế thì phiền ông quá!
Nhưng Linh đã nhẩy lên lưng ngựa, dựt cương ra về, và nháy mắt, chàng đã biến vào trong cỏ tranh cao, rậm.
*
* *
Lúc trở lại, Linh chỉ thấy người tài xế nằm ngủ trên nệm xe. Chàng dừng lại ngồi thở, trời rét, cái áo lót của chàng ướt đẫm mồ hôi, vì chàng đã cho ngựa phi mau quá.
Bỗng có tiếng cười nói trong vườn cam. Linh vội vàng cởi bỏ vào trong xe cái bi đông dầu xăng buộc sau yên, rồi cho ngựa thong thả lên đồi. Tiếng thiếu nữ nói qua hàng giậu:
– Chúng tôi đương đợi ông ra để xin ông một quả cam.
Linh hấp tấp rẽ cương qua cửa vườn.
– Thưa cụ, cam ở đây còn chua lắm, chưa ăn được. ở trong ấp có một ít đã thực chín rồi và ngọt lắm, xin mời cụ và cô quá bộ vào chơi.
Bà cụ từ tạ:
– Xin cảm ơn ông, chúng tôi xin về… Ông đã cho chúng tôi vay dầu xăng?
Linh buồn rầu đưa mắt nhìn thiếu nữ:
– Thưa cụ, có dầu xăng rồi.
– ồ! thế thì may quá. Cảm ơn ông quá. Không có ông giúp thì mẹ con tôi chẳng biết làm thế nào mà về được đến nhà.
– Thưa cụ, ấp cách đây có hơn hai cây số, xin mời cụ quá bộ vào chơi. Thưa cụ, tôi ở nơi hẻo lánh này chẳng mấy khi được hân hạnh đón tiếp khách quý.
Thiếu nữ nể lời ân cần mời mọc của chủ ấp, áy náy nhìn mẹ:
– Thưa me, hay là me vào chơi một lát cho ông chủ bằng lòng. Vào ăn quả cam Bố Hạ rồi lại đi ngay.
Quay về phía Linh, nàng mỉm cười, láu lỉnh nói tiếp:
– Rồi ông để chúng tôi đi ngay nhé?
Linh, trên mặt lộ đầy vẻ biết ơn:
– Xin vâng.
– Vậy vào nhé, me nhé?
Bà mẹ mắng yêu con
– ừ thì vào. Gớm chết! Cô Phụng đi đâu cô cũng la cà hết ngày hết buổi.
Linh sung sướng chạy vội ra cửa vườn gọi tài xế.
*
* *
Một giờ sau, Linh đưa Phụng đi xem khắp vườn cam, quýt, trong khi bà mẹ ngồi nghỉ bên lò sưởi, vì đứng ở ngoài lâu chân tay bà rét buốt.
Nhờ có một nền giáo dục lịch thiệp nhận được ở trường học và ở một gia đình theo lối mới Phụng đối với ông chủ ấp không chút ngượng ngùng, e lệ. Nàng cười nói dễ dàng, hỏi nhiều câu mà Linh phải lấy làm kinh ngạc, tưởng các cô thiếu nữ không bao giờ dám nghĩ tới.
Đến một gốc quít cỗi, nàng ngắt một quả rồi vờ quay đi ăn vụng. Nhưng nàng quay lại ngay, phá lên cười và kêu:
– Bắt lấy con ăn cắp quýt cho tôi!
Linh cũng cười, nói một câu mà vừa buột miệng thốt ra, chàng cho là rất sáo:
– Nó được hân hạnh cô chiếu cố là may cho nó.
– Vậy tôi lại muốn chiếu cố đến nó nữa.
Vừa nói Phụng vừa với một quả ở cành cao nhưng không tới.
– Cô để tôi lấy giùm.
Linh phải nhảy lên mới với được cả cành quít chĩu chịt gần chục quả.
– ồ phí quá, ông nhỉ?
Linh toan ngắt ra từng quả nhưng Phụng vội gạt.
– ấy, ông cho xin cả để tôi mang về giữ làm kỷ niệm.
Hai tiếng kỷ niệm ở miệng mỹ nhân nói ra, Linh nhận thấy âu yếm, thấm thía tâm hồn. Chàng toan đáp lại một câu tình tứ, nhưng không tìm ra được, đành chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn thiếu nữ. Giữa phút thần tiên ấy, có tiếng gọi:
– Phụng, xin phép ông về thôi!
Lần đầu tiên trong đời, Linh cảm thấy tất cả cái ý nghĩa buồn rầu, sầu thảm của chữ “về”.
– Phụng, đi về!
– Vâng, con đây.
Nàng bỏ cả nửa quả quít vào mồm nhai ngốn ngấu. Còn một nửa có lẽ vì đãng trí, nàng đưa cho Linh:
– Trời ơi! Quít ngọt quá! Ông nếm thử mà xem.
Rồi nàng chạy vội lại chỗ mẹ.
Linh thở dài, lững thững theo sau…
*
* *
Lúc xe mở máy. Linh mới chợt nhớ ra rằng chưa hỏi địa chỉ của Phụng.
Trong một giờ được một mình ở bên người đẹp, Linh chỉ mê man nghĩ đến hiện tại mà chàng biết rằng ngắn ngủi. Và chàng chỉ cảm thấy từng phút từng giây đương lạnh lùng rơi vào quãng không.
Kẻ ở người đi rồi hiện tại sẽ thành dĩ vãng sẽ thành một kỷ niệm như cành quít mà Phụng đã đem về nhà để giữ làm kỷ niệm.
Nhưng cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn thiêng liêng.
Năm, năm, cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quít.
Linh chờ đợi, mong ngóng.
Chàng chờ đợi, mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao trong câu truyện thù ứng. Nhưng Linh tin là lời hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế nhưng chàng cũng không thể không tin được.
Đã hai năm chàng chờ đợi…
Và trên bờ sông cao khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẫn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại. Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Khái Hưng

Phong Lan. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Phong Lan. Truyện ngắn của Khái Hưng đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 22, in ngày chủ nhật 23/08/1936 tại Hà Nội)

Phất tì tay lan can ngồi ngước mắt ngắm khóm phong lan trong cái cũi nhỏ làm bằng gỗ thông treo ở hiên dưới cái gian cẩm leo nụ màu hồng nhạt vừa bắt đầu lấm tấm. Những chùm hoa vàng điểm chấm đen nhung óng ánh phản nắng chiều và se sẽ rung động đưa trước gió, trông như đàn bướm xòe cánh rập rờn bên những lá lan dài và nhọn rũ lỏa tỏa bốn phía.

Phất thở dài lẩm bẩm: “gần ba năm rồi”.

Chàng vẫn muốn quên, quên nhãng hẳn, vì chàng hiểu rằng khi nào người ta tìm nhớ thời dĩ vãng, thì thường những kỷ niệm buồn trở lại trong ký ức. Kỷ niệm vui, làm gì có kỷ niệm vui. Sự vui chỉ có trong hiện tại. Vui qua, còn lại cái buồn man mác, sự nhớ tiếc ở trong lòng, phảng phất như chút hương tan của bông hoa khô héo.

Năm ấy lần đầu Phất lên chơi Chapa. Nhà chàng không giàu, nhiều khi lại túng bẩn là khác. Chàng cũng không ưa gì cái thú nghỉ mát mà chàng cho là cái thú xa xỉ của riêng các gia đình phú quý. Hơn nữa, chàng rất khỏe mạnh, chẳng mấy khi ốm đau và cần đi nghỉ mát để dưỡng sức, tuy chàng vẫn chăm chỉ học lấy trong mấy tháng, để thi đậu tú tài phần hai.

Vậy Phất đi Chapa chỉ vì một lẽ riêng: Lẽ riêng ấy đối với cái tuổi ngoài hai mươi, chín mươi phần trăm thuộc phạm vi ái tình.

Chính thế, Chapa mà trước khi chàng không hề nghĩ đến, và cũng không biết ở về phía nào, vụt trở nên một thành phố đầy ánh sáng, đầy hy vọng, một thành phố ái tình. Vì Lan vừa cùng mẹ và em trai lên đó nghỉ mát.

Tình yêu của Phất đối với Lan thực là ly kỳ. Ngày chàng còn theo học tại trường Bảo Hộ, một hôm đến hội quán Tri Trí dự một cuộc âm nhạc tổ chức lấy tiền giúp việc thiện. Trong bọn tài tử có một thiếu nữ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, ngồi trước cây phong cầm đánh một bài độc tấu. Thế là Phất yêu ngay.

Chàng nhớ mãi khúc nhạc réo rắt và cái dáng ngồi yểu điệu của thiếu nữ: Cái đầu hơi nghiêng, một bên má phản chiếu ánh điện nhuốm sắc hồng hồng, đôi mắt buồn yên lặng ngước nhìn trần, hai bàn tay mềm, giẻo, thoắt chạy, thoắt ngừng trên hàng phím xương trắng muột. Có lúc sung sướng, mê man trong điệu trầm bổng, du dương, thiếu nữ se sẽ rung động toàn thân và bao nhiêu nếp áo của nàng đều uyển diệu rung rinh.

Hình ảnh ấy Phất chôn sâu ngay trong ký ức, trong tâm hồn. Và chàng chân thành thờ nó như thờ một lý tưởng thiêng liêng tuyệt đích.

Chàng hỏi thăm biết nhà thiếu nữ giàu, giàu lắm. Nhưng đó không phải một cớ khiến chàng tuyệt vọng. Chàng nghèo nhưng tri thức chàng giàu, tâm hồn chàng giàu. Và chàng thấy rõ rệt sự tương đương, sự cân đối của chữ “tài” và chữ “sắc” mà trước kia chàng cho rằng hai chữ sảo trong văn chương, không có một chút nghĩa lý gì thiết thực.

Từ đó, đời Phất chia hẳn ra hai phần đầy thú vị và có sự liên lạc mật thiết với nhau: học và yêu.

Yêu, nghĩa là mỗi ngày để ra chút thời gian nhàn rỗi mà tưởng nhớ tới người đánh đàn. Rồi chủ nhật, thứ năm được nghỉ học ra ngoài, khi qua nhà nàng, dừng lại trước cửa vài phút – vài phút thôi – mà ngắm cây liễu rũ lá thướt tha bên hàng giậu sắt. Hôm nào thoáng nghe thấy mấy tiếng phong cầm hay nhác trông thấy tà áo hồng phấp phới bên luống hoa chân chim thì buổi chiều về trường Phất nhảy múa, ca hát huyên thiên.

Còn học? Học như mọi ngày thường, Phất cho không thể xứng đáng với tình yêu kia được. Chàng liền bỏ trường về nhà học lấy cho chóng hơn. Thấy vậy, người ta tưởng Phất lười biếng bỏ học. Nhưng năm sau ai nấy phải kinh ngạc khi đọc nhật trình thấy tên chàng trên bảng những người đậu tú tài phần thứ nhất vào hạng bình thứ. Phất sung sướng mỉm cười nghĩ thầm: “Ảnh hưởng của ái tình. Cứ thế này thì không biết mình còn đi xa đến đâu?”

Nhưng ái tình của chàng ngoài chàng ra không ai biết, không ai có mộ tia ngờ. Chàng giữ nó âm thầm trong trái tim với cái hình ảnh cô đánh đàn diễm lệ.

Trong hai năm chàng chờ đợi, yêu, nhớ, thương thầm, chàng biết đích rằng không một ai đến hỏi Lan. Phất cho sự ngẫu nhiên ấy có ý nghĩa thiêng liêng, huyền bí và nhân duyên của chàng với Lan là một cuộc thiên duyên tiền định. Và lòng mong ước của Phất, hơn nữa lòng tín ngưỡng của Phất càng thấm thía, vững vàng.

Một hôm người ta bảo cho Phất biết rằng trong số tranh trưng bày ở phòng triễn lãm mỹ thuật có bức ảnh cô Lan, một trang tuyệt sắc Hà Thành. Phất vội thuê xe đến phòng triễn lãm, và suốt ba hôm, trừ hai bữa cơm ra, chàng ở luôn bên bức tranh thiếu nữ. Và chàng nghĩ thầm: “Biết thế mình học vẽ!”

***

Đầu mùa hè năm ấy thấy vắng bóng Lan tha thướt trong vườn. Phất hỏi thăm biết nàng cùng mẹ và em lên Chapa đã hơn nửa tháng. Lan đau phổi, thầy thuốc khuyên nên đi nghỉ mát ở vùng núi cao.

Trong mấy hôm liền, Phất chạy nháo đi khắp nơi thân thuộc vay được ba chục bạc rồi vội vàng hấp tấp lên thẳng Chapa.

Hôm đầu gặp Lan đi với mẹ và em ở trước cửa nhà bưu điện. Phất cảm động, luống cuống, toan cất mũ chào. Lan thản nhiên nhìn chàng, thản nhiên quay đi như đối với mọi người không quen biết.

Thì ra những bài thơ âu yếm phản chiếu hình ảnh nàng, vang động linh hồn nàng mà Phất đã viết và gửi đăng trên các báo, nàng không biết tác giả là ai. Lòng tự phụ, tự tin của Phất cho không thể nào như thế được. Thục ra, những bài thơ ấy Lan chưa từng đọc qua: Vì ngoài âm nhạc, nàng không thích một nghệ thuật nào khác nữa.

Hai tuần lể ở Chapa – cái ví nhẹ của chàng không cho phép chàng ở lâu hơn nữa – Phất mơ màng tưởng tượng ra mấy năm Từ Thức sống trong động Phi Lai, tuy tiên nữ của chàng đối với chàng vẫn thờ ơ, lãnh đạm, không ngờ có một khối tình vĩ đại ở dưới gót chân mềm yếu.

Nhưng chẳng vì thế mà mười lăm hôm nghỉ mát của Phất giảm phần lạc thú. Chàng yêu để yêu. Cần gì có ai yêu lại hay không! Chàng nghĩ thầm: “Ái tình mà có đi có lại thì gọi sao được là ái tình, họa chăng nó là việc buôn bán, hay một ván bạc “ăn miếng trả miếng”

Vả chàng còn ao ước vì hơn nữa. Ngày nào chàng không gặp mặt Lan ít ra một lần, hoặc ở rừng, hoặc ở Núi Đen. Câu truyện gặp gỡ trong giây phút ấy đối với chàng cũng đủ là một thiên trang thiên tiểu thuyết rồi.

Sáng, chiều, chàng đứng rình lúc Lan cùng mẹ và em ra đi. Xa xa chàng theo sau. Nếu bọn kia vào rừng thì chàng đợi đến chỗ đường hẻm để vượt qua, như thế cái mỉm cười kèm theo cái cất mũ ngả đầu chào của chàng mới có ý nghĩa:“Xin lỗi bà và cô, tôi xin phép tiến lên trước”

Cái cất mũ để vượt qua ngày ngày nhắc lại, lâu cũng thành ra có vẻ cố ý. Phất muốn tránh điều đó, nên chàng không vượt nữa, chàng gặp mặt. Cảnh gặp gỡ ấy chàng bố trí như thế này: Biết hai người đàn bà vào rừng, chàng hết sức đi thực mau, hầu như chạy về phía khách sạn lớn rồi theo con đường đồi bên kia mà vòng đến cầu. Gặp Lan, chàng vờ coi như một sự ngẫu nhiên may mắn.

Một hôm, Lan và mẹ đi qua nhà bưu điện lên Núi Đen. Phất vội rẽ đường tắt lên đó trước. Nhưng lúc nghe tiếng giày đè sỏi, chàng ngượng và sợ bà cụ ngờ vực, liền ngồi khuất sang phía bên kia mỏm đá, để nhường cái ghế dài cho hai người đàn bà.

Tiếng cười của Lan làm cho chàng sung sướng, ngây ngất. Lần ấy là lần đầu chàng nghe rõ tiếng Lan và chàng nhận thấy giọng Lan hơi khàn khàn. Chàng buồn rầu nghĩ đến bộ phổi ốm của người yêu. Bỗng Lan hỏi mẹ:

– Ồ, mẹ trông cây phong lan. Đẹp quá!

Ngừng vài giây, nàng lại nói:

– Con yêu phong lan lắm.

Bà mẹ đáp:

-Vì nó trùng tên với con đấy mà.

-Ồ nhỉ! Mẹ ạ, làm thế nào lấy được thì thích quá nhỉ. Con sẽ treo nó ở bên cái piano của con.

Phất muốn nhảy xổ ra leo lên cây lấy cho bằng được khóm phong lan để tặng người yêu. Nhưng chàng nhận thấy cử chỉ ấy không tự nhiên chút nào, nên thôi ngay.

Lúc hai người đàn bà về rồi, Phất ra đứng ngắm khóm phong lan mọc trên cây bồ kết dại, lá và hoa rũ xuống lòa xòa. Chàng buồn bã thở dài.

Hôm sau, vào giữa trưa – giờ ấy ở Núi Đen người vắng hẳn – Phất trở lại nơi hôm trước. Nhìn không thấy ai qua lại, chẳng tháo giầy, liều trèo lên cây, lấy được khóm phong lan, gói vào cái khăn rộng đem theo.

Chàng moi óc suy nghĩ mãi chưa tìm được cách biếu Lan khóm hoa rừng, thì vì cạn tiền, chàng phải về Hà Nội. Nhưng chàng thề với chàng rằng món quà kia thế nào cũng sẽ đến tay người yêu.

*****

Mùa rét năm ấy, bệnh đau phổi cướp Lan đi.

Phất ở trên đời với khóm phong lan.

Và năm năm, mỗi lần hoa phong lan bắt đầu nở, chàng lại như nghe tiếng đồng vọng trong không:

-“Ồ! Mẹ trông, cây phong lan! Đẹp quá!”

Khái Hưng

 

 

 

 

Một Vạt Nắng Xuân Trên Hè Phố. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Một vạt nắng xuân ngang vườn Tao Đàn, Sài gòn)

Con bé ì ạch đạp. Mấy chồng báo tuy không nặng lắm nhưng cũng đủ làm cho cả người của nó vẹo đi mỗi lần nó mắm môi lấy gân sức. Chỉ còn mấy quãng phố nữa thì tới nơi trả báo ế, lấy báo mới, nhưng mà sao kìa, cái xe cứ mỗi lúc một nặng hơn. Một tay nào đó phóng xe hon-da chợt xẹt qua người nó như một lằn chớp và ném lại phía sau cho nó một câu gọn ghẽ:

– Xẹp lốp rồi!

Nó thốt ngừng ngay lại và lái cái xe chúi mũi vào vỉa hè. Không còn nghi ngờ gì nữa, cả cái bánh sau của nó bẹp gí không còn lấy một chút hơi. Nó ngơ ngẩn xòe bàn tay nhỏ xíu ra vuốt lên vành bánh, và nó chợt phát giác ra một điều đáng nguyền rủa: Cái xe bị cán đinh!

Vào đúng cái lúc nó nhớn nhác nhìn dọc theo hè đường để tìm xem kẻ nào đã làm cái việc thất nhân ác đức đó, thì một thằng nhỏ đứng ở một gốc cây đang nhìn nó và nhoẻn miệng cười:

– Lại đây vá cho. Lấy rẻ!

Con bé gân mặt lên:

– Rẻ mắc gì! Phải anh rải đinh từ mé đằng kia lại, có phải không?

Thằng nhỏ, áng chừng hơn nó vài tuổi, cũng vênh mặt lên:

– Này đừng có mà ăn nói bặm trợn. Tao rải đinh hồi nào. Cái xe của mày cũ mèm thì có.

Con bé nhìn thằng nhỏ một cách kỹ càng hơn. Tóc bờm sờm, da đen đúa, mặt mũi vêu vao, chỉ được có mỗi một vẻ là khi cười, nó phô ra hai hàm răng trắng nhởn. Thấy con bé không nói gì, thằng nhỏ giọng sốt sắng hơn:

– Người ta hai ngàn, tớ lấy một ngàn thôi! Sáng mở hàng lấy hên.

Con bé vùng vằng:

– Tiền đâu mà sẵn thế. Không dưng làm xẹp bánh xe người ta rồi đòi tiền.

– Mày thử đi khắp cái phố Sì-Gòn này coi, có ai chịu vá xe một ngàn không. Cái ngữ xẹp kiểu đó bỏ rẻ cũng phải ba lỗ vá.

Con bé không thèm đáp lại nữa. Nó hầm hầm dắt cái xe đi ngang qua mặt thằng nhỏ. Cũng không thèm nhìn nữa. Nó đã có chủ đích rồi. Ráng dắt xe cuốc bộ vài quãng, về tới nhà thì ba của nó cũng có đủ đồ nghề làm chuyện đó. Hơi sức đâu mà thí cho quân ác ôn đến ngàn bạc.

Thế là con bé ráng đẩy cái xe đi. Người nó ốm nhách, giò cẳng khẳng khiu, so cái xe với chồng báo tú hụ, nó cứ như một con nhái bén đang hì hục xoay vần. Được một quãng xa, nó đã thấy mệt bở hơi tai. Mồ hôi rịn ra ở những chân tóc, nhễu xuống trán và nhỏ xuống hai bờ mi. Con bé phải dừng lại để vén vạt áo lên chùi. Bỗng có tiếng la bải hải phía đằng sau, cùng một lúc có tiếng xe hon-da trờ tới. Nó nhận ra ngay bác hàng xóm nhà mình.

– Chèn ơi, giờ này mà mầy còn lang thang ở đây làm tao kiếm hụt hơi. Có về ngay không, má mầy té xẩy thai, đang nằm liệt kìa…

Con bé run rẩy:

– Nằm …nằm..ở đâu?

– Nhà mụ Xoài mé bển đó! Tới mau đi…

Vừa nói hết câu là người hàng xóm đã lại vụt lao đi, nhanh như một cú điện xẹt. Con bé chẳng buồn nhìn theo vì trong đầu của nó đang bận rộn tính toán. Tiếp tục đẩy cái xe trở về hay là quay lại vá cái bánh xe. Nghĩ đến mẹ nó đang nằm ở một chỗ, chắc đang cần tới nó để bảo ban công việc, ruột nó bỗng nóng sôi lên và nó hối hả quay lại chỗ thằng nhỏ vừa nãy. Nhìn thấy nó, thằng nhỏ lại nhăn ra cười. Ơi, dưới ánh nắng bình minh, sao mà hàm răng của nó nom trắng nhởn như răng bò đến thế. Con bé hậm hực:

– Một ngàn đấy, vá đi.

Thằng nhỏ hỏi móc:

– Sao tính không vá, bây giờ lại vá.

Con bé nguýt nó một cái thật dài:

– Thế đấy. Nẫy không thích, bây giờ thích. Có sao không?

Ui da, cái con nhỏ sao mà chanh chua. Nhưng nghĩ cho cùng, phải thế mới được. Sống ở giữa đám người lam lũ, rách rưới đông nghìn nghịt như kiến cỏ trong cái thành phố này, không cứng cựa làm sao yên. Thằng nhỏ nghĩ thế nên nhìn con bé một cách cảm tình rồi xăng xái bầy đồ ra vá cái vỏ xe. Trong lúc làm việc, nó tỉ tê:

– Này! Cái vỏ đã bốn miếng vá rồi. Liệu mà thay đi.

– Nói dễ nghe nhỉ! Bộ giầu lắm sao mà muốn thay là thay.

– Giầu nghèo gì cái xăm xe. Phải chi như mấy ổng, đổi xe hơi đời này sang đời khác, mô-đen này qua mô-đen khác thì mới nói chớ.

– Ơi! Nói chuyện như thế mà đòi nói. Mà điều mấy ổng giầu, thay cái xe còn dễ hơn mình vá cái lốp kìa. Đúng không?

Thằng nhỏ nhìn con bé, bỗng cảm thấy cảm tình hơn. Nhãi con bằng từng nấy sao mà suy nghĩ đã khôn lanh quá trời. Nó bỗng cười toe toét:

– Mày nói đúng đó. Thiên hạ tiền muôn, bạc triệu, thay có cái xe hơi thì nhằm nhò gì. Nhưng mà về phần mầy, nom đâu đã đến nỗi mà vá có cái xăm xe cũng phải cò cưa.

Con bé dẩu mồm lên:

– Không cò cưa thì có đói nhăn răng ra. Sáng nay, má xẩy thai, nằm một chỗ rồi.

Thằng nhỏ kêu lên:

– Ý cha! Chuyện thật hay rỡn đó mậy?

Con nhỏ tốc vạt áo lên lau thêm mấy giọt mồ hôi đọng trên trán. Rồi nó thở dài, giọng than vãn:

– Má sắp tới cữ rồi mà vẫn còn đi vác gạch, tui nói không nghe.

– Mày nói…mà nói sao?

– Tui nói má ơi, nghỉ đi. Má làm nữa, vác nặng, em bé trong bụng nó chịu hổng nổi đâu.

– Cái đó thì má mày cũng biết rồi.

Con bé trợn mắt:

– Biết rồi thì cũng phải nói chớ. Mà nói riết thì cũng vậy thôi. Có dư được đồng nào, ba moi bằng hết mang đi uống rượu với đánh bạc cha nó hết.

Thằng bé xuýt xoa:

– Ui choa, cái thằng cha bất nhân.

Con bé chợt sửng cồ lên:

– Này, đừng có kiếm cớ mạt sát cha tui nhé. Bề gì thì ông cũng là ổng.

Thằng nhỏ vội vã xua tay:

– Đâu có…. đâu có… Tớ nói vậy thôi, chớ ba của đằng ấy, tớ đâu dám!

Con bé ngồi im không nói gì thêm nữa. Nó cũng chẳng nhìn xem thằng nhỏ đã loay hoay những gì với cái xe của nó. Chừng mười lăm phút sau, thằng nhỏ cất tiếng:

– Rồi! Bi giờ thì có đạp lên cung trăng cũng chẳng hề hấn gì.

Con bé phủi đít, đứng dậy. Nó toan móc túi lấy tiền trả thì thằng nhỏ đã xua tay:

– Tiền nong gì! Cất đi!

– Ô hay, sao lại không lấy?

– Không lấy vì tao thích không lấy. Có sao không?

– Chả sao hết. Không lấy thì đây cám ơn.

– Ơn huệ gì. Lần sau mà mày còn vác xác tới, tao tính tiền gấp ba. Hôm nay hãy để đó.

Con bé nhoẻn miệng cười:

– Ui cha, anh lại định dở trò rải đinh nữa ra với tôi phải không? Ê! Bữa nay thì êm đó, chớ lần sau thì tôi đi thưa.

Thằng bé nhăn ra cười:

– Ừa, thưa đi. Mày thưa tao, tao thưa lại.

– Tôi làm gì mà anh thưa?

– Thưa mày không lo cho má, để má vác nặng tới xẩy thai. Ôi chà! Tù mọt gông đó nghe “em”!

Con bé nguẩy người, lườm thằng nhỏ một cái thật dài rồi dắt xe xuống đường. Lúc nó đạp được vài vòng thì thằng nhỏ đã nói với theo:

– Tao mới ráp thêm hai cái má thắng đó. Ui da, xe cộ gì mà thắng không có, chạy loăng quăng có ngày mất mạng như chơi!

Con bé ngó xuống mé bánh sau. Quả nhiên nó nhìn thấy cái má thắng mòn vẹt gần hết nay đã được thay bằng hai miếng cao su dầy dặn và trắng phau. Nó thử thắng cái xe lại. Ôi chao, vừa mới nhấp một tí mà cái xe đã giật đứng ngay lại, chả bù cho lúc trước, vừa phải ghì cái xe, vừa phải lết cả hai bàn chân xuống mặt đường mỗi khi cần ngừng gấp. Nó ngoái đầu nhìn lại chỗ sửa xe. Thằng nhỏ vẫn còn đứng đó nhìn theo. Hình như nó đang nhe răng ra cười. Hai hàm răng, nhìn từ xa mà vẫn thấy trắng nhởn. Sao mà lại có người có cái cười ngạo nghễ đến thế!

Hai hôm sau, vào đúng chiều hai mươi tám Tết, con bé đạp xe trở lại hè đường cũ. Hôm nay cái xe của nó nhẹ tênh vì chẳng có chồng báo nào đèo sau lưng của nó. Chỉ có gói giấy dầu nhỏ xíu, bên trong có một cái bánh bao còn nóng hổi. Con bé ngơ ngáo nhìn hết gốc cây này tới gốc cây khác. Chẳng thấy thằng nhỏ đâu. Bên đống đồ nghề sửa xe, chỉ có một ông già đang ngồi chúi mũi vào tờ giấy dò vé số. Nó cất tiếng hỏi:

– Ông ơi, cái anh…. cái anh sửa xe mọi khi ở đây đâu rồi?

Ông già ngẩng đầu lên, bộ râu lởm chởm như cố đỡ lấy cái gọng kính đồi mồi cũ kỹ:

– A! Thằng Tín. Cháu cần hỏi gì nó?

Con bé tự nhiên nóng cả mặt. Chân tay của nó luống cuống hẳn ra. Nó ấp úng:

– Cháu…. cháu tìm anh ấy.

– Hôm nay nó không ra. Có chuyện gì thế?

– Dạ…. cháu…. cháu…. mua cho ảnh cái bánh bao.

– Ý chà! Sao mà sang thế!

Con bé càng quíu hơn. Hai bên má của nó nóng rực và hồng lên trong sáng sớm:

– Dạ…. Tại vì…. tại vì bữa nọ ảnh sửa xe cho cháu…. tốt quá!

Ông già vui vẻ:

– Thế hử. Cái thằng nom thế mà tay nghề nó cũng vững lắm. Bánh bao hả? Cứ để đây, chốc về, ông mang về cho nó.

Con bé bẽn lẽn nhìn ông già:

– Ông là ông của anh Tín hả.

– Ừ! Ông ngoại! Bố nó chết rồi. Mẹ nó đi lấy chồng. Nó về ở với ông. Chỉ có mỗi nó thôi.

Con bé trao gói bánh cho ông già rồi rồi vội vã đạp xe mất hút trong lòng thành phố. Tim nó đập thình thịch. Nó thấy mình sao mà liều lĩnh quá. Không dưng lại đi trao bánh cho ông già. Phải chi chờ thằng Tín ra thì sự việc có vẻ suông sẻ hơn. Bên sửa xe, bên cho bánh, có cái gì là không nên không phải đâu. Không biết lúc thằng Tín nhận gói bánh thì sẽ nghĩ sao. Nó lại cũng tiếc là không nán lại chút xíu nữa để hỏi thêm về Tín. Nhà ở đâu? Có đi học trường nào không? Lớp mấy? Nhưng mà thôi, trao được cái bánh là đủ rồi. Mai mốt sẽ còn có dịp đạp xe qua mà.

Rồi nó lại lan man nghĩ đến cái bánh bao còn nóng hổi. Tối hôm qua nó đã ngồi lột củ cải cho bà Hưng mãi đến tận hai giờ sáng. Hàng Tết đổ về, ngoài linh tinh mọi thứ, nhà bà Hưng còn tràn ngập những củ cải trắng, cái nào cái đó to bằng bắp tay. Từ phòng trong ra nhà ngoài, tràn xuống cái sân con rồi tuôn ra cả cái con hẻm còn lép nhép nước mưa, toàn là những củ cải chỗ thì trắng phau, chỗ thì nhoe nhoét đất với bùn. Bà Hưng đã huy động mấy đứa con, lớn thì mười sáu mười bẩy, bé thì lên tám, lên chín, tất cả xúm vào, mỗi đứa một con dao sắc lẻm, chém, vạt, xả, cắt…. làm túi bụi mà vẫn không xuể. Những đống củ cải đã làm xong được thồn vào những cái bao tải chất cao như núi trong nhà. Ấy vậy mà khắp mọi chỗ, từ trong nhà ra ngoài ngõ vẫn bề bộn vương vãi từ củ đến lá, từ vỏ đến ruột, tất cả nom cứ như một bãi xây cất ngổn ngang, chồng chất những vật liệu. Đến nỗi ông Tổ trưởng Dân phố cứ soạch một cái lại thò đầu ở bên kia ràng rào ra đe:

– Quá lắm rồi đó chị Hưng ơi! Chị bày ra kiểu này… chết bà con, rồi chết tới tui luôn.

Bà Hưng xoắn xuýt:

– Hết rồi…. Hàng về hết rồi. Chỉ loáng cái là xong thôi.

Rồi bà nháy mắt cho thằng con lớn. Nó biết ý, ngưng tay dao, lại tủ bán thuốc lá của con em nhón ra một gói ba số rồi lẻn ra ngoài. Một lát sau quay về cười tủm tỉm. Bà Hưng thấy thế cũng tủm tỉm cười theo.

Rồi bà lại cho đi gọi con bé hàng xóm sang phụ, thế là nó có thêm việc từ tối tới quá nửa khuya. Xong xuôi nó được rúi vào tay những mười nghìn. Thế là nó nghĩ ngay tới cái bánh bao thơm phức nằm trong cái nồi hơi bốc nghi ngút khói của ông già vẫn ngồi bán ở đầu ngõ. Tín vá xăm xe, lại tự ý sửa hai cái má phanh cho nó, cả đời nó chưa bao giờ được hưởng cái sự mình không nói ra mà lại có người tự ý làm cho mình. Chính cái đó làm cho nó thấy bứt rứt, người cứ nao lên mà chẳng biết vì cái gì.

Sáng hôm sau, theo thông lệ, nó chở báo đến nhà phát hành để đổi báo cũ, lấy báo mới thì đã thấy thằng Tín ngồi chồm hổm ở vỉa hè, ngay chỗ mọi người đang kiểm báo. Nó thấy choáng cả người và thốt lên:

– Úi chao ơi….

Tín nom thấy nó thì đứng phắt dậy và nhe răng ra cười. Hai đứa nhìn nhau mãi mà không đứa nào lên tiếng. Rút cục, con bé phải lên tiếng hỏi, giọng như người hết hơi:

– Kiếm ai vậy?

– Còn phải hỏi. Đang sùng lắm đây.

Con bé mở to mắt lên nhìn. Mặt nó hơi thoáng một vẻ sợ hãi khiến cho thằng Tín phải nhỏen thêm một nụ cười nữa như để trấn an, rồi cố lấy giọng dịu dàng:

– Đã không có tiền, sao còn đi mua bánh bao?

Mặt con bé chợt đỏ bừng lên. Nó thấy nóng ran cả người từ chân ngọn tóc cho đến các đầu ngón chân. Nó ấp úng:

– Ơ…. tại hôm qua làm thêm được mớ củ cải.

Tín sấn lại gần nó, giơ cả bàn tay nhem nhuốc vì dầu mỡ lên rồi dằn giọng:

– Lần sau thì đừng, nghe không. Xắt mớ củ cải thì được bao nhiêu. Má hôm nay sao rồi?

– Má xẩy xong rồi, cái nhau bự cho thấy là con trai.

Rồi nó bùi ngùi:

– Tiếc quá…. tui đang mong có em trai. Nhưng cũng đỡ, nhà nghèo quá, có thêm thì chỉ khổ cả nó lẫn má thôi.

Tín cầm tay nó lên, cũng cất giọng bùi ngùi:

– Thôi quên chuyện đó đi. Đời còn dài. Chẳng có ai khổ mãi suốt đời đâu.

Tự nhiên con bé ứa nước mắt. Nó cũng không rõ tại sao mình lại khóc dễ dàng thế. Mấy hôm trước, chính tay nó bưng cái hũ thai xẩy của mẹ nó ra góc nghĩa địa vùi xuống mà nó có khóc đâu, mặc dù nó cũng đã lâm râm khấn:

– Em ơi. Em tìm nhà khác mà đầu thai. Ở đây mẹ với chị quần quật lắm cũng không đủ nuôi cho em sung sướng đâu.

Thế mà bây giờ nó lại khóc. Những giọt lệ long lanh trong khóe mắt rồi lăn dài xuống hai má. Tín thấy thế cũng cuống quýt cả lên. Nó muốn lau mặt cho con bé mà chân tay cứ quều quào, không thực hiện được. Cuối cùng nó kêu to:

– Thôi, gửi cái xe lại rồi lên đây.

Con bé ngơ ngác nhìn. Rồi nó hỏi:

– Đi đâu?

Tín nhoẻn miệng cười. Nó lấy lại được sự thoải mái bình thường sau câu hỏi đó. Nó cất giọng rõng rạc:

– Đi chợ Tết!

Mặt con bé thoáng lên một niềm vui hồn nhiên như thể ngày xưa còn bé, hồi bà ngoại nó còn, bà hứa cho nó một cái kẹo chanh. Hai má của nó chợt hồng lên, đôi mắt long lanh như vừa có một vạt nắng xuân le lói chiếu vào. Nhưng nó vẫn hỏi:

– Mà đi chợ Tết thì mua gì cơ chứ?

Tín nói như ra lệnh:

– Mua cho đằng ấy cái lược!

Con bé dẫy nẩy lên:

– Ui! Em thì cần gì lược.

– Nói không cần lược nên cái đầu mới xù lên như cái tổ quạ thế này. Năm mới, phải chải cái đầu cho bảnh thì mới ra dáng con người mà ăn Tết chớ.

Con bé ngúng nguẩy:

– Không đi đâu, cũng chẳng mua bán cái gì hết.

Tín giở giọng ngang tàng:

– Không đi thì đây bế lên mà đi, ráng chịu!

Vừa nói nó lại vừa sấn tới. Cái thằng sao mà ngang tàng, coi trời bằng vung đến thế. Nhưng con bé lại không lấy thế làm bực mình. Nó chỉ cuống quýt lên và la bải hải:

– Đi… Ừ….. đi thì đi…. Mà hượm để gửi xe cái đã.

Vừa nói, con bé vừa chen vào đám đông lúc ấy đang nhốn nháo với những chồng báo cao ngất nghểu. Chợt Tín gọi giật lại:

– Ê…. này….. ấy ơi….

Nó chưa biết tên con bé là gì nên giọng rõ ra vẻ lúng túng. Từ bữa hổm tới giờ, nó cứ xuýt xoa là quên mất không hỏi con bé tên gì. Cái sự lúng túng này cứ đeo đẳng trong đầu nó mãi, ngay cả khi hai đứa đã len lỏi vào rừng người đông nghẹt trong chợ Tết. Nhưng cuối cùng thì nó cũng chợt vùng lên nói:

– Này…. gì ấy nhỉ?

– Gì là gì?

– Tên ấy! Phải có tên mà gọi chứ!

– Em biết tên của anh rồi, anh Tín!

– Thế còn…..

Nó chợt ngừng lại. Miệng tắc tị. Nó thấy rõ là chẳng có khi nào mình phát ngôn lại khó khăn như lúc này. May quá, con bé thông minh, đã trả lời ngay:

– Còn em ấy à? Gọi em là Hoa.

– Hoa gì?

Con bé nhìn Tín, hai mắt long lanh, giọng tinh nghịch:

– Anh thích hoa gì?

– Hoa Mai ! Ở làng anh, mỗi lần giáp Tết, hoa Mai nở rộ cả một vùng.

Hoa mỉm cười:

– Vậy em cũng thích hoa Mai. Chừng nào hết nghèo, được về quê ăn Tết, em sẽ trưng hoa Mai khắp trong nhà.

Tín nắm ngay lấy bàn tay xinh xắn của nó rồi lôi đi:

– Nghèo giầu gì! Mình sẽ đi mua cả cái lược lẫn một cành Mai!

Chẳng cần bảo nhau, cả hai đứa cùng như cảm thấy cả một vườn hoa Mai rực rỡ ở chốn xóm làng xưa cũ hiện ra trước mắt làm cho chúng nó thấy rộn rã trong lòng.

Thế rồi vô tình con bé cũng nắm chặt lấy cánh tay của Tín và cả hai cùng mất biến trong đám người lố nhố, cũng đang ồn ào chen chúc nhau để vội vàng mua sắm Tết.

Nhật Tiến

Những Ngày Mới. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

(Những Ngày Mới. Truyện ngắn Thạch Lam đã đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 19 in ngày Chủ nhật 02/08/1936 tại Hà Nội)

img_5131

Những bông lúa vàng mới cắt xong đều xếp rải rác từng hàng trên bờ ruộng, trong đám cỏ xanh mọc dầy. Mỗi khi gặt được vài lượm lúa người thợ hái ôm sát bó lúa thơm vào người, đem ra xếp vào chỗ lúa trước. Rồi họ lại trở vào ruộng, đứng theo hàng những người bạn gặt. Tiếng hái đưa vào gốc lúa xoàn xoạt như tiếng trâu bò ăn cỏ.

Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý gì đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rỏ ở trên trán xuống. Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phản phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm cho chàng say sưa như men rượu. Tân lại cố hết sức gặt, chỉ lo không theo kịp hàng những người thợ khác.

Buổi sáng khi Tân ngỏ ý cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:

– Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn lúa.

Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.

Người già nhất trong bọn, một ông cụ râu tóc đã bạc, nhưng da xém đen và khỏe mạnh, lẳng lặng đem một cây hái ra mài trên bờ ruộng. Khi mọi người sửa soạn xong, ông cụ đưa cho Tân cây hái, lưỡi sáng loáng nói:

– Lưỡi sắc thế này thì cắt cứ ngọt như cắt cỏ.

Cắt được mấy lượm lúa, Tân thấy cánh tay mỏi rã rời. Chàng tưởng không thể nào gặt được nữa. Tuy vậy, cố hết sức chàng cũng chưa theo kịp bọn thợ gặt. Nhưng được vài bước, Tân lại phải dừng lại để thở. Chàng nhận thấy cô gái ban nãy, tuy tay đưa hái thoăn thoắt nhưng vẫn để ý nhìn chàng. Còn ông cụ già cứ điềm đạm gặt, bên cạnh ông ta, những bông lúa đã xếp thành đống. Tân lại cúi xuống làm việc. Dần dần mềm dẻo, Tân thấy dễ chịu. Chàng luôn đưa lưỡi hái, vui vẻ khi thấy những bông lúa chắc, vàng ngả sát vào người. Tân thấy tâm hồn khoan khoái như không bận một ý nghĩ gì.

Từ bờ ruộng đằng xa đi lại, một người đàn bà gánh hai gánh đầy. Ông cụ già thẳng người đứng lên nói với các bạn gặt:

– Thôi, hãy nghỉ tay ăn quà đi.

Tân cũng ngừng tay lại. Chàng đương thích làm việc, nói: “Đã nghỉ rồi cơ à? Sao chóng thế”. Chàng quên rằng bọn thợ đã gặt luôn bốn giờ đồng hồ chưa nghỉ, họ làm việc từ buổi sáng sớm, trong lúc chàng còn ngủ.

Bọn thợ gặt tìm chỗ có bóng mát ở chân đồi nghỉ. Chung quanh đấy, ở các ruộng khác, những thợ hái cũng đều nghỉ cả, mỗi người chọn một chỗ dưới gốc cây, tay cầm bát cơm nếp ăn rất ngon lành. Đấy là bữa quà buổi trưa, vì sáng sớm trước khi ra đồng, người nào cũng ăn cơm cả rồi.

Mấy người thợ Tân mượn nhìn chàng ra dáng cám ơn lắm vì Tân rộng rãi, bữa cơm sáng đã cho họ ăn một ít cá vụn mà em chàng mua của bọn đánh dậm. Đến lúc đổi đồng, chàng lại cho phép họ được đem lúa đổi lấy một ít chả để ăn với xôi và bao diêm, gói thuốc cho mọi người. Bởi vậy, họ rất sung sướng vì ngày công tám xu của họ còn nguyên không phải tiêu dùng đến.

Thấy Tân dễ dãi vui tính, họ cũng vui vẻ trò chuyện trước mặt chàng, không còn ngượng nghịu hay giữ gìn gì nữa. Ông cụ già gọi chàng đến bên cạnh mời hút thuốc lào và uống nước. Cụ rót trong cái vò sành ra một bát nước đỏ thẫm ra đưa cho Tân:

– Cậu thử uống bát nụ vối này mà xem. Không có thứ nước nào ngon hơn nữa.

Thật đúng như vậy, Tân chưa uống bát nước nào ngon hơn bát nước vối của ông cụ. Chàng nghĩ đến khi còn ở Hà Nội, uống rượu bia và nước chanh ngâm đá, nhưng chưa thấy bao giờ khoan khoái như bây giờ.

Ăn xong, trên ven đồi, bọn thợ gặt nằm dài trên cỏ ngủ. Các thợ đàn bà họp nhau lại một chỗ ăn trầu và nói chuyện mùa màng còn ông cụ thì loay hoay buộc lại mấy cái hái để dùng đến buổi gặt chiều.

Cánh đồng lúa chín lóe vàng dưới mặt trời buổi trưa. Từng chỗ, ở thửa ruộng nào đã gặt rồi, gốc rạ lấp lánh như dát bạc. Phía xa, làng mạc ở chân trời rung động trong ánh nắng.

Tân nằm trên thảm cỏ, nhìn lên. Qua khe lá lung lay, chàng thấy trời xanh trong và mát. Mùi cỏ và mùi lúa thơm bốc lên xung quanh, Tân cảm thấy cái sung sương của một người làm xong công việc. Chàng thấy vui vẻ, một mối tình nảy nở giữa tâm hồn Tân với những người thợ gặt giản dị và mộc mạc chung quanh chàng.

Họ làm việc xong cũng vui vẻ, sung sướng tuy những lúa gặt không phải là của họ. Tân cũng vậy, chàng biết rằng những bó lúa kia đem bán đi thì có lẽ không đủ tiền trả công người làm. Song những bông lúa ấy đối với Tân quý lắm và như có một ý nghĩa thiêng liêng, đấy là kết quả của cả một năm làm lụng khó nhọc và vất vả.

Tân nhìn xuống đồi, ngắm nghía những dải mây trắng lững thững ở phía xa. Từ khi trở về quê, chàng quen nhìn xét những đám mây mà trước kia ở tỉnh chàng không bao giờ để ý đến. Tân nhớ lại tất cả quãng đời niên thiếu của mình đã qua ở tỉnh thành. Ngay từ khi còn nhỏ tuổi, cha mẹ chàng đã gởi chàng ở nhà ông chú làm việc trên Hà Nội. Nhà chàng cũng không lấy gì làm giàu có, nhưng cũng vào bậc nhất nhì trong làng. Quanh năm cày cấy mươi mẫu ruộng ở ven đồi và chăm bón mấy nương chè, sắn, cũng thừa đủ chi dụng trong nhà.

Cũng như tất cả những nhà giàu khác ở trong làng, cái hy vọng của cha mẹ Tân là cho chàng đi học để trở nên thầy thông hay thầy ký… Mà lúc bấy giờ, chí nguyện của Tân cũng chỉ có thế, chàng hết sức chăm học nên năm mười tám tuổi đã đạt được cái hy vọng của gia đình.

Tân mỉm cười khi nghỉ đến cái tâm trạng của mình lúc mơi đi làm; nghĩ đến cái anh chàng lúc nào cũng ăn bận chải chuốt như một cô gái, lúc nào cũng nghĩ đến cái quan trọng của mình. Hình như mỗi cử chỉ của thầy ký trẻ tuổi đều có ảnh hưởng đến mọi người.

Khi có nạn kinh tế, chàng mất việc. Cái chán nản của Tân và của cha mẹ chàng lúc bấy giờ thực đến cực điểm. Cha chàng buồn rầu từ trần. Còn chàng cứ lang thang ở Hà Nội mấy tháng trời, sống cái đời vất vưởng của anh thất nghiệp. Chàng đã biết cái thất vọng của những lúc đợi chờ, cái khổ sở của những đêm không có chỗ trọ, vì trong lúc ấy ở nhà quê có mình bà mẹ trông nom ruộng nương không xuể, và giá thóc hơn, nên không có tiền gửi cho chàng.

Nhưng một hôm rét mướt, một ý nghĩ bỗng nảy ra trong trí, nếu ở đây không đủ sống, tại sao không trở về quê sống cái đời giản dị của người làm ruộng?

Thế là hôm sau, Tân xách khăn gói về. Rồi từ đấy chàng hoàn toàn là một người nhà quê dễ dãi. Mới đầu Tân cũng thấy nhiều sự thiếu thốn khổ sở. Nhưng dần dần chàng nghiệm ra rằng những cái thiếu thốn đó, không phải là những cái cần dùng cho cuộc đời, mà là những cái thừa. Sự cần dùng là ăn với mặc, chàng đã có đủ. Dần dần chàng mới thấy cái đời chàng sống trước ở tỉnh thành là một cuộc đời phức tạp và vô vị, không có nghĩa lý gì. Chỉ việc có ăn ở theo mọi người, nghĩ ngợi theo mọi người, và đi tìm cái vui chốc lát trong những cuộc hành lạc để mua lấy cái chán nản về sau.

Tân tiếc hồi thủa nhỏ không sống ở thôn quê để được gần gũi với cảnh vật. Chàng thích sống bên cạnh những người nhà quê chất phác và mộc mạc. Bấy giờ chàng mới biết đến trời đất, đến thời tiết, đến sự thay đổi của mùa nọ sang mùa kia. Một cơn gió hay một cái mầm cỏ non, đối với chàng đều có ý nghĩa riêng.

Tân không dửng dưng như trước với những cái chung quanh mình. Tâm hồn chàng có liên lạc và rung động cùng với cảnh vật. Chàng có cái cảm giác rằng mình sống…

Buổi chiều, thửa ruộng của Tân đã gặt xong. Cả một cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ. Bọn thợ gặt đều thu xếp liềm hái để trở về. Trên con đường vào làng, các lực điền gánh những gánh lúa vàng nặng trĩu. Mặt trời đã xế phía bên kia đồi. Ở dưới thung lũng, sương mù lạnh trắng xóa lan ra lẫn với làn khói tỏa ở xung quanh các làng. Cỏ bên đường đi đã ướt. “Về phía xa, có ngọn lửa của ai đốt trên sườn rặng núi mờ ở chân trời. Tân với bọn thợ bước đều trở về nhà, ai nấy yên lặng không nói gì,như cùng kính trọng cái thời khắc của một ngày tàn. Trong cái thời khắc này, Tân như thấy cảnh vật đều có một tâm hồn, mà lớp sương mù kia là tâm hồn của đất màu, đã nuôi hạt thóc cần cho sự sống của loài người.

Khi vào đến con đường khuất khúc trong làng, trời nhá nhem tối. Qua hàng rào cây, Tân thấy lấp lánh đèn ở sân các nhà, tiếng néo đập lúa trên cối đá, tiếng hạt thóc bắn vào nia cót như mưa rào. Đâu đâu cũng thấy tiếng cười nói vui vẻ, cảnh đêm trong làng thôn quê vẫn yên lặng âm thầm thì chiều nay hoạt động vô cùng. Mùi lúa thơm vương lại trong các bụi cây hòa lẫn với mùi đầm ấm của phân cỏ, bốc lên khắp cả.

Về đến sân nhà, mọi người ăn xong lại bắt đầu làm việc. Đàn bà vừa đập lúa vừa hát, còn bọn thợ hái ngồi quây quần bên chiếc đèn con nói chuyện. Ai cũng cười đùa tự nhiên. Họ đã tận tâm làm việc suốt ngày. Những lượm lúa vàng sẫm đem đến cho họ cái vui của ngày được mùa, cái hình ảnh của sự no ấm trong đời.

Tân thấy mình cũng sung sướng như họ, chàng thấy tấm lòng mình rộng rãi ra, tâm hồn thân thiết, và yêu mến với cả mọi người.

Sau khi hẹn thưởng cho bọn thợ nồi cơm nếp mới, Tân bước ra ngõ, nhìn xuống dưới đồi. Trên trời, ngàn sao lấp lánh. Gió dưới ruộng đưa lên mùi rạ ướt và hơi sương lạnh. Cả một vùng đêm rộng rãi và bình tĩnh trên cánh đồng yên lặng.

Tân chợt thấy ở chân phía trời xa, cái khoảng ánh sáng mờ của tỉnh thành Hà Nội…

Chàng sung sướng nghĩ đến những ngày đầy đủ của mình ở chốn thôn quê này. Một cuộc đời mới đương chờ đợi chàng…

Thạch Lam

Ánh Sáng. Truyện ngắn Hoàng Đạo


Hoàng Đạo

(Truyện ngắn Ánh Sáng của Hoàng Đạo đã được đăng lần đầu trên Tuần Báo Ngày Nay số 18, in ngày  chủ nhật 26/07/1936 tại Hà Nội)

img_5120

– Phở có nóng không bác?
– Nóng.
– Vậy bác bán cho tôi ba xu.
Cậu bé đặt sáu đồng trinh lên mặt gánh, lặng yên đứng nhìn người bán phở nhấc môi bánh nóng hôi hôi đặt vào bát. Hơi nóng trong nồi nước dùng bay tỏa ra từng đám trắng, gió chiều thổi tạt về đầu phố.
Bằng đứng phía cuối gió, đương thẫn thờ cúi xuống nhìn cỏ, bỗng giật mình ngước mắt lên. Vô tình ngọn gió đã đột ngột đem theo mùi thơm ngào ngạt làm giác quan chàng rung động. Bằng quen tay thò vào túi, và sực nhớ rằng đồng hào cuối cùng chàng đã tiêu hết từ chiều hôm trước, cả gia tài chỉ còn một đồng trinh.
Lại một làn gió thơm đưa tới, nhẹ nhàng vờn mớ tóc rối của Bằng. Như đột nhiên nghĩ đến một việc cần, Bằng hấp tấp rảo bước đi thật nhanh. Qua gánh phở, chàng ngoảnh mặt chăm chú nhìn một bông hồng lách qua giậu sắt, rung rinh trước gió, hình như không nghe thấy tiếng hàng phở chào:
– Mời thầy mua cho một bát.
Thực thì Bằng vẫn nghe rõ lắm. Nhưng chàng không muốn lên tiếng từ chối trong khi lòng chàng rạo rực nôn nào Chàng đói Chàng đói lắm: từ sáng đến giờ, chưa có một hột cơm nào trong bụng, mà cứ thế lang thang hết phố này sang phố khác.
Bằng lang thang đi tìm việc làm. Đã hai tháng nay, từ hôm Sở dầu thải hơn sáu chục người làm công, không có ngày nào là Bằng không đi như vậỵ Chàng chỉ biết có một nghề đánh máy chữ và tính sổ, mặc dầu cha mẹ chàng xưa kia chuyên nghề làm ruộng. Đáng lẽ như người khác, Bằng bây giờ đã vác cày ra đồng, khó nhọc kiếm lấy miếng ăn dưới ánh nắng thiêu, trong những ruộng lầỵ Nhưng thuở nhỏ chàng chăm chỉ và thông minh hơn trẻ khác, nên cha mẹ chàng cố nuôi chàng ăn học, có mấy sào ruộng bán dần đi hết. Bằng vì thế trở nên một thầy ký. Công việc có nhẹ nhàng nhưng cảnh người làm công, cảnh bức bách. Có điều mỗi lúc về quê, họ hàng đối với chàng đều có vẻ trọng vọng tôn kính. Còn chàng chắc cũng an phận, nếu kinh tế không khủng hoảng. Nhưng đã gần một năm nay, sở nào cũng nghe thấy nói đến việc thải người làm. Trong Sở dầu, anh em thường thì thầm bàn đến một cách sợ sệt. Duy ai nấy cũng thầm tưởng, thầm mong rằng có thải cũng không đến mình. Bỗng một hôm, đương lúc mọi người cặm cụi làm việc, người loong toong chạy vào:
– Mời các ông lên quan Đốc gọi.
Trong phòng giấy rộng rãi, sang trọng, ông Đốc đứng nghiêm trang trong bộ áo là nếp thẳng thắn. Ông cám ơn mọi người đã làm hết phận sự, rồi ông tỏ nỗi lòng ông băn khoăn, khổ sở mấy hôm vừa qua:
– Các ông ạ, sự khủng hoảng bắt buộc chúng tôi phải rời các ông, tôi lấy làm tiếc vô hạn. Tôi mong sẽ có ngày kia, kinh tế vững chãi và các ông sẽ lại về làm ở đâỵ
Nói xong, ông Đốc xem vừa ý lắm, thắt lại cái cà vạt, vuốt lại mái tóc mượt, vẻ mặt sung sướng khoan khoái, ông bước lên xe ô tô hòm giục tài xế đưa đến một khách sạn sang để dự bữa tiệc chiều.
Trong khi ấy, các ông Ký bị thải ngơ ngác nhìn nhau, rồi buồn bã người nào trở về nhà nấy với mâm cơm cà và rau muống luộc.
Ngày theo ngày, những ngày dài dằng dặc, những ngày ngồi rỗi với một tâm hồn chán nản, với cuộc tương lai mập mờ bất trắc. Mâm cơm cà và rau muống dần dần cũng không có nữa Bằng đã tới cái cảnh ngao ngán ấy. Về quê làm nghề nông thì không còn một thửa ruộng – Bằng cũng tự biết không đủ sức cầy sâu, cuốc bẫm – và làm thợ thì không biết nghề gì, Bằng chỉ còn mong tìm được một chân bàn giấy. Chàng tiêu dần hết cả tiền dành dụm, mà không có chút hy vọng nào.
Ngày hôm nay, chàng không còn một đồng xu dính túi. Đã vậy, chủ nhà, bà Cai Đá, lại nhất định đòi tiền thuê nhà, và sau một hồi thuyết lý mỉa mai, bà ta hẹn lại cho Bằng đến sáng mai phải trả, nếu không thì đứng trách.
– Đừng trách!
Bằng nhếch mép cười một cách chua chát, tâm trí đầy rẫy nỗi uất ức, tức giận. Chàng ngẫm nghĩ:
– Dốt nát ngu xuẩn như mụ Cai Đá thì chỉ việc ngồi duỗi mà sống một cách sung sướng đầy đủ, còn mình muốn làm vất vả cả ngày để nuôi thân mà cũng không được. Ông trời bất công thực.
Bằng ngửa mặt nhìn lên không trung. Trời chiều trong xanh như ngọc thạch. Mấy đám mây hồng nhẹ nhàng trôi. Bằng cảm thấy rõ sự vô lý của lòng oán hận một cảnh vật vô tình, thản nhiên…
Bỗng chàng giật mình. Một tiếng còi gắt gỏng, một câu nói bẳn và một cái xe ô tô vụt qua trước mặt chàng. Chỉ chậm một giây nữa thì Bằng bị ô tô cán phải. Thì ra chàng bước xuống đường nhựa lúc nào không biết.
Sợ hãi, Bằng lùi lên bờ hè, mới hay mình ở trước vườn hoa nha Đốc lý. Mệt nhọc, chàng ném mình xuống một cái ghế dài gần đấy, ôn lại cái nạn vừa xảy ra:
– Thật là chết hụt!
Ngẫm nghĩ, chàng tắc lưỡi:
– Chà! Chết mà lại hay…Sống khổ sở thế này thì cũng chẳng nên sống làm gì.
Thở dài, chàng xua đuổi ý nghĩ chán nản nhìn ra chung quanh. Trời đã nhá nhem tối, những bông cúc trắng rung rinh trong ánh sáng mờ mờ khiến Bằng nhớ đến cảnh xa hoa của tết năm nào.
Có tiếng nói sẽ như đáp lại ý nghĩ của Bằng:
– Lạy thầy dón tay làm phúc.
Trông người ăn mày hốc hác, rách rưới, đứng chĩa tay trước mặt. Bằng nở một nụ cười buồn tênh, lắc đầu ra hiệu rằng mình không có tiền. Người ăn mày vẫn nhẫn nhục đứng lải nhải xin. Bằng đứng dậy móc túi lấy đồng trinh còn lại ném cho, rồi vừa đi vừa nói một mình.
– Thế là hết.
Chàng lần theo những phố đông đúc, trong lòng thấy vui vui vì đã cứu một người nghèo khó hơn mình. Thấy đói và mệt, chàng dừng lại nhìn một cửa hàng bán vàng bạc, tò mò ngắm nghía những chiếc nhẫn dát kim cương lóng lánh bên cạnh mấy đôi xuyến huyền nạm vàng.
– Nếu ta có một chiếc xuyến kia nhỉ?
Bỗng một ý nghĩ bất chính nẩy ra trong trí Bằng. Như muốn tránh sự cám dỗ, chàng ngoảnh nhìn sang một cửa hàng ở dãy bên kia phố. Trong khung kính, mấy miếng xúc xích đương lơ lửng trên vài chiếc bánh tây ngon lành, và những chiếc bánh sữa đương phơi màu vàng ngọt dưới ánh điện sáng trưng. Bằng rùng mình, tưởng tượng ra một bữa tiệc long trọng, những chiếc bánh đặt trong giỏ mây bên cạnh những cốc pha lê trắng muốt, những đĩa thịt thơm thọ Bằng rùng mình, vì ý nghĩ chiếm đoạt tiền của người khác đã hình thành trong óc chàng và xui giục chàng thò tay vào lấy trộm chiếc xuyến.
– Họ có mất chiếc xuyến cũng không sao, mà ta lại được một bữa cơm ngon.
Bằng thò đầu vào cửa hàng bỏ vắng, bỗng chàng nhìn thấy bóng trong gương, mặt mày len lét, bơ phờ. Chàng kêu rú lên một tiếng rồi cắm cổ chạy như tội nhân đi trốn.
Về đến nhà, Bằng mới hoàn hồn, chàng nằm vật xuống phản, thở hồng hộc, như vừa mới thoát khỏi một cái nạn to: thiếu chút nữa, chàng đã thành một thắng ăn cắp. Nhưng nghĩ đến cách sống ngày mai, Bằng càng bối rối. Biết làm gì mà nuôi được thân bây giờ, ngoài việc bất chính? Hay là đi hành khất? Bằng nhớ lại người ăn mày ở vườn hoa Đốc lý, nhớ lại cái nạn ô tô suýt nữa xảy rạ Chàng than thở:
– Nó chẳng đè chết đi cho rảnh chuyện.
Một tư tưởng vụt ra trong trí, khiến chàng thẫn thờ lẩm nhẩm:
– Âu là…
Rồi Bằng ôm mặt nức nở khóc.
* * *
Mặt trời đã lên caọ ánh nắng êm đềm xiên qua cửa sổ. Bà Cai Đá trỗi dậy, với lấy ống nhổ, gọi con sen:
– Đỏ, mày chạy xuống đòi thầy Bằng tiền nhà đi.
Rồi bà lẩm bẩm:
– Lần này mà không trả thì bà bảo cho. Đã hai tháng của người ta rồi, mà cứ chây ra, người đâu mà trơ đến thế!
Con sen vừa mới bước xuống cầu thang, bà Cai Đá khoác vội cái áo dài, chạy liền theo, nét mặt hầm hầm.
Đến cửa phòng Bằng ở, bỗng bà đứng dừng lại, ngạc nhiên. Bà trông thấy Bằng ngồi trên thành cửa sổ tay gõ dịp xuống tường, miệng hát nghêu ngao…
– Thế nào, thầy trả tiền nhà tôi đi chứ?
Như không nghe thấy câu hỏi của bà Cai, Bằng cúi hẳn người ra ngoài, nhìn chòm lá long não phấp phới rung rinh trước gió, tươi cười như một cô con gái nhí nhảnh. Bằng không hiểu sao mình vẫn còn sống mà ra đây nhìn ánh sáng và chàng lấy làm lạ rằng sao lúc nãy chàng lại cảm thấy một cách đằm thắm hơn mọi khi, cái vui, cái đẹp của đời.

Hoàng Đạo

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng. Truyện ngắn Nhất Linh


Nhất Linh

(Tặng tâm hồn Bồ Tùng Linh, tác giả Liêu Trai)
Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng của cố Văn Hào Nhất Linh. Đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 10, in tại Hà Nội năm 1935

Một đêm trăng mờ trên sông Thương. Con thuyền lờ đờ trôi bên cạnh một dảy lau cao, gió thổi qua xào xạc. Sinh ngồi dựa vào mạn thuyền, đôi mắt mơ màng nhìn một thiếu nữ tóc trần, mặc áo lụa trắng, đương ôm vào lòng một cây đàn hờ hững gảy vài tiếng rời rạc. Một cơn gió mạnh thoảng qua. Sinh hỏi thiếu nữ:

– Ở giữa sông, mà lạ thật, có mùi hoa nhài thơm lạ?

Thiếu nữ nghiêng đầu để Sinh nhìn rõ trên mái tóc mấy bông hoa nhài trắng cài trong làn tóc đen, rồi thiếu nữ đăm đăm nhìn nước trôi cạnh thuyền như muốn ôn lại trong trí những việc xảy ra từ thời quá khứ ra xa xăm. Một lát thiếu nữ thở dài, buồn rầu nói:

– Em thích nhứt hoa nhài…vì hình như kiếp trước đời em là đời hoa nhài .

Sinh cười nói đùa:

– Tuyết của tôi có linh hồn một nhà thi sĩ

Tuyết nghiêm nét mặt:

– Em không nói đùa đâu. Anh không thấy người ta vẫn bảo hoa nhài là một bông hoa đĩ, vì hoa nhài chỉ nở ban đêm, thế mà đời em – em nói ra cũng không hỏi thẹn gì – là đời một gái giang hồ.

Rồi nửa buồn rầu nửa đùa cợt, Tuyết cất tiếng hát:

Ngẫm xem hoa ấy thân này…

Tuyết đặt đàn ngồi sát lại gần Sinh:

– Anh muốn tin hay không tin tuỳ ý anh, nhưng em thì em cho đời em với đời hoa nhài có liên lạc với nhau. Mà người ta bảo hoa nhài là một thứ hoa đĩ, thật đúng lắm. Để em kể anh nghe lại cái hồi em mới bắt đầu bước chân vào cuộc đời giang hồ này:

“Năm ấy em mới mười sáu tuổi. Một đêm nhà vắng, cũng về mùa hè, có cả trăng mờ như đêm nay. Em nằm một mình ở ngoài hiên cho mát và vơ vẩn nhìn ra ngoài. Bỗng em thấy trên cái sân gạch rộng, lờ mờ dưới bóng trăng hiện ra ba người con gái mặc toàn đồ trắng, nhẹ nhàng đi lướt qua sân. Em thấy làm lạ, vì trong nhà, ngoài em ra, không có một người con gái nào khác nữa. Em ngồi nhổm dậy nhìn ra thì thấy ba người con gái đi đi lại lại chơi bời cười nói trên sân coi như nhà của họ. Em ngạc nhiên bước ra sân, toan hỏi, thì cả ba cô con gái cùng đến xúm lại bên em, cầm tay em tỏ nỗi mừng rỡ, rồi bảo em:

– Chị Tuyết đây rồi! Chúng em tìm chị mãi. Thấy em ngạc nhiên, một cô hỏi:

– Chị quên chúng em rồi sao? Sao mà chóng thế. Bạn cũ của chị đây mà, chị nhớ ra chưa?

Thế là từ lúc ấy, em mang máng nhớ dần ra rồi, em thấy hình như có gặp họ ở đâu nhiều lần rồi. Em chỉ nhớ mang máng thế thôi, chưa kịp nghĩ ngợi gì cả, thì ba cô đã cầm tay em kéo đi, vừa đi vừa nói chuyện, nói chuyện lâu lắm, nhưng em không nhớ nói những chuyện gì. Lúc đi với họ, em thấy trong người nhẹ nhõm và quanh người lúc nào cũng phảng phất một thứ hương thơm ngát, nhưng không đoán ra được là thứ hương gì. Bỗng một cô nói:

– Thôi khuya rồi, xin từ biệt chị

Rồi cả ba cô sát lại người em, ôm lấy em: em thấy hoa cả mắt, cả hương thơm ở người ba cô bạn làm em choáng váng, tê mê, thiêm thiếp đi một lúc. Khi tỉnh dậy thì cả ba cô đi đâu mất và khi em giơ vạt áo lên thì thấy đẫm mùi hoa nhài. Có tiếng cười khúc khích. Em giật mình thức dậy mới biết là mình vừa nằm mê.

Em quay mặt ra ngoài cho tỉnh hẳn, thì thấy ngay ở đầu phản bên gối em, ba bông hoa nhài trắng và to vừa mới nở, gió thổi chùm lại với nhau và quay cả về phía em nằm, hương thơm đưa thoang thoảng”.

Sinh cười bảo Tuyết:

– Nằm bên hoa, ngửi thấy mùi hoa mê như thế là thường.

Tuyết nói:

– Anh để em kể hết đã… “Từ lúc ấy trở đi, em thấy em đổi khác hẳn, rồi ngay ngày hôm sau, em gặp một chàng trẻ tuổi, em mê người ấy, và từ đó, thân em không còn là thân một cô con gái mười sáu tuổi trong sạch nữa. Em trở về thì mấy bông hoa hôm trước, cánh đã héo tàn, vàng úa. Bắt đầu từ đó, em bước dần mãi vào con đường nhơ nhuốc…cho đến ngày nay. Nhiều lúc em muốn trở về với cái đời trong sạch kia, nhưng không thể nào được nữa, hình như có một sức mạnh vô hình bắt em phải sống, phải mãi mãi sống cái đời khốn nạn này”.

Tuyết nhắc cây đàn lên gẩy xong bài Xuân Nữ Thân, rồi cúi mặt buồn rầu, hai bên má nước mắt chảy ràn rụa. Muốn khuây buồn cho người bạn một đêm, Sinh giơ tay khẽ rứt mấy bông hoa nhài ở mái tóc Tuyết, rồi cầm vứt xuống sông. Hai người cùng nhìn theo mấy bông hoa trôi theo giòng nước. Một cơn gió thoảng qua, Sinh nói:

– Để làm gì cái bông hoa ấy nó quấy rầy cuộc vui của hai người đêm nay. Hết hoa, một cơn gió qua là hết cả hương thơm ám ảnh…

Tuyết mỉm cười chua chát:

– Hết thế nào được. Cái hương ấy nó đã thấm sâu vào da thịt em, nó đã tắm cả linh hồn em, gió nào thổi cho sạch được.

Mặt trăng lộ ra, trời sáng hẳn. Tấm áo của Tuyết đã trắng lại trắng thêm, nổi hẳn lên trên nền lá sậy đen. Bỗng Sinh chăm chú nhìn vào mặt Tuyết, và ngạc nhiên thấy mặt Tuyết dưới ánh trăng mỗi lúc mặt trắng dần…trắng như mầu trắng của một bông nhài mới nở. Chàng ngạc nhiên hơn nữa, khi một cơn gió thoáng qua đưa lại phía chàng mùi hương nhài thơm nức như ở trong áo Tuyết bay ra….

Sinh dụi mắt. Lúc bỏ tay ra, thì thấy ánh sáng soi vào giữa mắt mình và thấy mình nằm trên cái ghế mây giải ở đầu hiên nhà. Lúc đó Sinh mới hay rằng mình mới vừa nằm một giấc chiêm bao. Thấy lẫn trong gió có mùi thơm hoa nhài, Sinh quay mặt nhìn ra: ngay ở đầu ghế, một cánh nhài gió thổi hắt về phía chàng để lộ ra trong đám lá một bông hoa nhài mới nở trắng nuột dưới ánh trăng. Hương thơm vẫn thoang thoảng và bông hoa rung rinh trước gió, Sinh tưởng tượng như đương còn thì thầm kể lại câu truyện chàng được nghe trong giấc mộng.

Nhất Linh

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Bến Đò Năm Xưa. Truyện ngắn Khái Hưng.


Khái Hưng

(Bến Đò Năm Xưa. Truyện ngắn của Khái Hưng đã đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 21, in ngày chủ nhật, 16/08/1936 tại Hà Nội)

78cd5e6d-e0a9-4833-bb57-5d99bb5e45ee

Nguyên dừng lại trên đê cao, nhìn xuống con sông sâu. Và chàng mang máng nhận thấy rằng mười lăm, mười sáu năm về trước chàng đã đến đó một lần.

Dòng nước về mùa đông cũng cạn, cũng chảy lờ đờ. Bụi lau mọc ven bờ, lá vẫn xơ xác như xưa, hàng bông trắng vẫn se sẽ lao đao trước gió. Nhất là cây gạo thân thẳng và cao, ngạo nghễ đứng bên sườn đê rướn ngọn chọc trời, thì chàng không thể nhầm nó với một cây gạo khác được. Gốc nó phía trên tựa da trăn đầy những khoanh mốc trắng, phía dưới nổi lên những bướu tròn hùng tráng như những bắp thịt rắn chắc của nhà lực sĩ.

Nguyên đương tỉ mỉ nhận xét điều ấy, thì đưa chàng đi sâu thêm vào thời ký vãng một làn khói lan tỏa ra ôm ấp lấy cái mái rạ rồi từ từ bay tản mạn trong đám lá xanh. Bấy giờ chàng mới kịp để ý đến túp lều bé nhỏ, xiêu vẹo, túp lều mà mười lăm năm về trước chàng đã thấy nằm núp dưới gốc cây gạo. Cho đến cả mảnh lưới nâu vắt phơi trên cái lao sặt, vại nước đặt trên khóm mía ở đầu nhà, mọi vật đối với ký ức chàng như đối với con mắt nhà mỹ thuật, một bức tranh sơn bỏ quên lâu năm trong xó tủ, bây giờ bỗng đem ra lau sạch bụi và treo lên tường.

Chiếc xe sắt đã trèo hết cái dốc đê và phăng phăng xuống bến để khiêng vào thuyền sang sông. Nguyên lững thững theo xuống. Nghe tiếng gầm gừ, chàng quay lại giật mình kinh ngạc: Con chó trắng bông dương cặp mắt thao láo dữ tợn nhìn chàng đi qua. Chàng nhớ lần trước chàng cũng thấy con chó bông trắng như hệt thế nằm bên khóm chuối kia gần đàn gà con đang bới đống rác bẩn tìm sâu. Chàng chau mày tự nhủ thầm: “Hình như ta đã để ở nơi này một kỷ niệm trong giây phút.”

a0678cc7-3c50-4896-8bb8-1fb693002648

Ý nghĩ ấy làm cho chàng bật cười. Nào phải bây giờ chàng mới có cái cảm tưởng, cái cảm giác như thế về dĩ vãng. Nhiều khi lần đầu bước chân vào một phòng khách lạ chàng chẳng thấy bàn ghế, đồ đạc bầy ở đó có nhiều quen thuộc, thân mật với chàng là gì?

– Mời ông xuống đò cho thuyền sang ngang. Chúng tôi ngồi chờ tê cả chân.

Ðương tò mò ngắm những xác vờ rải trắng trên làn cát ướt, nghe lời thúc giục, Nguyên quay lại. Trong chiếc thuyền nan, ngồi bên cái xe kéo, hai người đàn bà và một người đàn ông khoác áo tơi lá, gió thổi kêu lạt sạt. Và đứng ở đằng lái, lả lơi vịn vào con sào, một thiếu nữ óng ả, thon thon, tấm áo nâu đổi vai, hai vạt trước buộc gọn gàng ra phía sau lưng.

Nguyên bước lên thuyền trân trân nhìn cô lái, khiến cô bẽn lẽn cuối gằm mặt xuống, cắm sào xoay mũi, “Lạ! người này nữa! Ta cũng đã gặp rồi, mà gặp ở đây, ở bến đò này!”

– Cô vẫn chở đò ở đây?

Cô lái cho đó là một câu trêu ghẹo, bỡn cợt, nên lặng ngảnh trông đi, không đáp.

– Tôi nhớ mang máng lần trước tôi gặp cô cũng ở bến đò nầy, nhưng đã lâu lắm, đến hơn mười lăm năm rồi.

Tiếng cười rộ của bọn sang ngang làm cho Nguyên ngơ ngác:

– Mười lăm năm trước mà ông gặp chị Thà thì chị ấy đương chập chững tập đi.

– Ờ nhỉ!

Nguyên ngây người suy nghĩ “Ô! mình lẩn thẩn quá thực. Hồi đó, cô ta mới độ lên hai, lên ba!” Rồi chàng cũng cười theo. Nhưng chàng vẫn ngờ vực: “Chẳng lẽ mình mơ mộng đến thế được?” Một câu nói tiếp của một người đàn bà khiến chàng tỉnh ngộ:

– Mười lăm năm về trước thì họa chăng ông gặp bu chị Thà.

Người ấy quay ra nói chuyện với người ngồi bên:

– Chị Thà, chị ấy giống bu chị ấy như đúc.

Nguyên mỉm cười: “Phải, bu chị ấy. Có thế chứ, ta lầm sao được.” Chàng lấy làm tự phụ về trí nhớ của mình. Rồi chàng lại đăm đăm ngắm nghía cô lái đò: “Xinh xắn thế kia thảo hèn ta nhớ lâu, nếu quả thực người mẹ ngày xưa cũng đẹp như cô con ngày nay.”

Giữa lúc ấy anh sẩm cất tiếng hát. Cái giọng khàn khàn, đùng đục. Nguyên nhận thấy như đã rầu rãi nắng mưa, chẳng khác thanh sắt vứt lay vứt lắt, bị rỉ ăn luỗng từng chỗ. Nhưng cái giọng ấy, cũng vẫn cái giọng lần trước. “Hừ! chẳng lẽ anh sẩm này lại cũng là con anh sẩm ngày xưa.”

Anh mù ngửa mặt như nhìn qua đôi kính râm, đầu lắc lư, tay kéo nhị, há hốc miệng gào:

“Công cha như núi Thái Sơn, sữa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

Người đàn ông chừng một ngày mấy lần qua sông nên thuộc lòng câu sẩm chợ, ngồi đập chân xuống sàn thuyền gõ nhịp, môi mấp máy lẩm bẩm hát theo. Còn hai người đàn bà thì thản nhiên như chỉ có bọn họ trong thuyền, oang oang nói chuyện:

– Sợi nhà bà ngâm được mấy buổi?

– Sợi nhà tôi ngâm được bốn đêm.

– Ờ! khá đấy! Nhà bà tràng vốn nên ngâm được lâu.

Nguyên kinh ngạc. Mấy mẩu chuyện, lần trước chàng đã nghe thấy không thiếu không thừa, không sai một tiếng. “Thì ra dưới trời này mọi vật không bao giờ thay đổi.”

Anh sẩm hát: “Ba năm bú mớm…”

Nguyên ném một xu vào cái thau sắt tây thủng, rồi cúi xuống ngắm bóng mây trắng lướt theo con thuyền êm lặng, trên giòng nước trong xanh.

Bài Lưu Thủy của anh sẩm nhắc Nguyên biết rằng thuyền đã tới bến. Chàng mỉm cười vơ vẩn, lấy làm lạ rằng mình đã lắng tai nghe hết bài hát. Mọi lần ở các bến phà, hễ anh sẩm cất tiếng, là Nguyên vội đãi anh một, hai xu để xin anh ngồi im cho. Nhưng lần này, bài ca tầm thường đã gợi trong lòng chàng một mối cảm hoài man mác, và đưa chàng trở lại với thời xưa. Vì thế chàng đã im lặng để những câu hát vô vị chạy lướt qua trí nhớ như bóng mây lướt trên mặt nước im trong.

Nguyên trả cô lái năm xu, rồi toan nhảy lên bờ.

– Ấy, ông để cháu giữ thuyền cho chắc chắn đã, chẳng ngã.

Nguyên đứng dốn lại hỏi:

– Bến đò này ở nơi hiu quạnh lắm nhỉ?

– Vâng, ở đây buồn lắm. Nhưng được cái cách phố phủ có sáu, bẩy cây số.

Lúc ấy có một người đứng trên đường gọi:

– Thà ơi, mày đi hộ tao, để tao chở thuyền cho. Tiền đây này!

Người đàn ông quẩy gánh củ cải nặng, bước xuống nước, bảo Nguyên:

– Bu chị Thà đấy. Có phải người thầy gặp lần trước không?

Nguyên ngửng đầu lên nhìn: “Ừ, bu con giống nhau thực!”

Cô lái đò nghe nói, mủm mỉm cười, gọi mẹ:

– Bu ơi, tiền đò đây này, bu giữ lấy. Ông cho năm xu đấy.

Người đàn bà quần áo lôi thôi nhem nhuốc chạy vội lại:

– Cám ơn thầy.

Bác gánh củ cải bảo bà ta:

– Này bà, bà có nhận được ông nầy không?

Nguyên cười, cho câu hỏi ấy vô lý hết sức. Nhưng chàng kinh ngạc xiết bao, khi thấy người đàn bà đăm đăm nhìn mình rồi vui vẻ chào:

– Ồ chào thầy! Trông thầy vẫn thế nhỉ. Không già đi mấy.

Nguyên còn ngơ ngác cố nhớ lại thì người đàn bà đã nói tiếp:

– Ngày ấy thầy mặc áo tơi dạ, chứ không phải áo sơn này. Với lại cái “bao-ly” của thầy có quai mà to hơn nhiều, tôi xách lên bờ nặng sái cả cánh tay. Mà thầy vui tính lắm, nói đùa luôn mồm.

Nguyên đáp:

– Bây giờ già rồi, nên mất cả vui tính.

Thế rồi Nguyên lên xe. Cái xe gỗ lạch cạch lắc lư, nhảy trên con đường gồ ghề, lồi lõm, không mấy khi được hân hạnh có chiếc ô-tô qua lại. Nhưng Nguyên không thấy khó chịu như lúc ở quãng đường bên kia sông. Còn văng vẳng bên tai câu nói của người đàn bà chở đò: “Thầy mặc cái áo tơi dạ… cái bao-ly của thầy có quai.” Và chàng nghĩ thầm: “Sau mười lăm, mười sáu năm, người ấy còn nhớ mình mặc áo tơi dạ và cái va-li của mình có quai! Người ấy lại nhớ cả mình vui tính nữa.”

Chàng tưởng tượng – tưởng tượng chứ không phải nhớ vì chàng không còn nhớ – chàng tưởng tượng ngay ra một cảnh gặp gỡ ở bến đò, cuộc gặp gỡ giữa cô lái xinh tươi với ông khách có duyên qua bến và như nghe thấy tiếng cười ròn tan trong luồng gió lạnh, như nhìn thấy cái liếc mắt lẳng lơ đưa theo dịp chèo đập nước.

Rồi kẻ đi người ở. Tình vẫn man mác phảng phất như chút hương nhạt trong hai tâm hồn có lẽ không bao giờ gặp nhau.

“Cái áo tơi dạ của thầy… cái bao-ly có quai của thầy…”

Cùng với cảnh chuyến đò gặp gỡ, một cảnh khác hiện ra trong tưởng tượng. Cảnh chờ đợi, nhớ mong. Nguyên như được ngắm cô lái, một đêm trăng ngồi tựa gốc cây gạo nhìn xuống dòng nước mà gửi hồn ruổi theo người khách lạ. Qua khóm lau thưa, lấp ló ngọn lửa con thuyền đánh cá. Xa xa, tiếng chó sủa trong lũy tre âm u.

Rồi hình ảnh người qua đò một ngày một phai cho đến khi mười lăm năm sau, một hôm người ấy trở lại…

Trên đường đất gồ ghề, lồi lõm, chiếc xe sắt hục hặc nhảy chồm như con ngựa bất kham… Nhưng Nguyên vẫn yên lặng bình tĩnh theo giấc mộng liên miên…

Khái Hưng

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

(Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam đã được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 18, in ngày chủ nhật 26/07/1936 tại Hà Nội)

Mùa hè năm nay, Tâm và vợ chàng về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê. Khi người bạn mời thì Tâm nhận lời ngay, vì chàng tính được chỗ nghỉ mát suốt một tháng hè không phải mất tiền, vả lại tiện hơn nữa, chàng có dịp về thăm nhà cũng ở gần đó.

Hôm ấy trời nắng mà có gió. Buổi sáng, ăn điểm tâm xong, hai vợ chồng Tâm bắc ghế ngồi ngoài hiên hưởng gió mát. Người bạn Tâm vì có việc phải ra tỉnh từ sớm. Tâm sực nhớ đến việc về thăm nhà, mà từ khi về nghỉ đến giờ, chàng cứ để lần lữa mãi. Chàng nói với vợ:

– Hôm nay thế nào tôi cũng phải về thăm nhà mới được.

Vợ đáp:

– Thế còn tôi, tôi làm gì cho hết ngày hôm nay? Ngồi đây mãi thì chán chết.

– Độ năm giờ chiều tôi đã về đây rồi.

Vợ Tâm nũng nịu:

– Thế thành ra suốt một ngày tôi ở đây một mình à? Cậu ích kỷ lắm, chỉ biết nghỉ đến công việc của cậu, mà không nghĩ đến tôi cả.

Tâm ngẫm nghĩ. Muốn chiều vợ chàng bàn:

– Hay là thế này thì tiện nhất. Mợ cùng đi với tôi. Đến ga, chúng ta rẽ vào cao lâu ăn cơm sáng. Rồi mợ đợi tôi ở đấy, tôi về thăm nhà độ một giờ, rồi tôi lại ra ngay.

Vợ chàng bằng lòng. Hai người đánh xe ô tô nhà đi đến nhà ga xe hỏa cách đấy độ một chục cây số. Đến nơi, hai người dạo chơi phố, rồi vào hàng cơm nghỉ.

Tâm bảo:

– Bây giờ mợ đợi tôi ở đây, tôi về thăm bà cụ.

– Phải đấy, nhưng đừng có ở lâu nhé. Cậu chớ quên rằng tôi đợi cậu ở đây đấy.

Tâm mặc áo đi ra, để vợ ngồi trong căn phòng mát mẻ ở hàng cơm. Chàng đi theo một con đường đất đỏ, hai bên toàn cây dâm bụt lá xanh thẳm.

Có đến năm, sáu năm nay, tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế riễu mình, khi còn nhỏ, đã có cái đời ở thôn quê là giản dị, và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bạch dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười.

Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải vượt qua để có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết! Có khi chàng nghĩ giận bà mẹ, vì bà mà chàng phải giấu diếm như thế.

thumbnail

Tuy vậy, khi đến gần đầu làng, Tâm trong lòng cũng thấy cảm động. Hai bên cánh đồng lúa xanh gió đưa như nổi sóng. Trên đường giải đá, mặt đất khô rắn lại và nứt nẻ nhiều chỗ. Tâm nhớ lại cái đất ấy đã làm đau đớn bàn chân non nớt của chàng khi còn nhỏ ngày ngày cắp sách đi học.

Một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai: Tâm ngửng đầu lên nhìn, chàng vừa đi vừa bước vào dưới vòm lá tre xanh trong ngõ. Mấy đứa trẻ nhà quê trần truồng và đen sạm đương chơi khăng ở vệ đường. Khi thấy chàng đi qua, chúng đưa những cặp mắt bẩn thỉu nhấp nháy nhìn, và chùi tay giây bùn vào bắp chân. Nghĩ đến thuở nhỏ, chàng cũng chỉ là một đứa bẩn thỉu như những đứa trẻ này, Tâm tự phụ vì mình bây giờ đã vượt hẳn được cái bực nghèo hèn ấy.

Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân đồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiến gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.

Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:

– Con đã về đấy ư?

– Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? – Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được, vì Tâm thấy cái lãnh đạm của mình.

– Bà ở đây một mình thôi à?

Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:

– Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.

– Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng. Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.

Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:

– Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. – Bà cụ yên lặng một lát. – Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.

Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.

Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:

– Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?

Tâm nhìn ra ngoài đáp:

– Như thường rồi. – Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:

– Ở làng có việc gì lạ không?

Bà cụ trả lời:

– Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm.

Có tiếng người đi ở ngoài vườn. Bà cụ ngừng lại: Có lẽ nó về đấy. Rồi bà cụ cất tiếng gọi:

– Trinh đấy phải không con? Vào đây, có cậu Tâm vừa về chơi.

Một thiếu nữ lách cửa liếp bước vào. Tâm trông ra thấy một cô gái quê ăn mặc giản dị, nhưng sạch sẽ. Đôi mắt Tâm gặp đôi mắt cô ta, đen láy, mở to nhìn chàng:

– Cậu Tâm đấy, con không nhớ ư?

Cô Trinh mỉm cười:

– Thưa, có ạ, ai chứ cậu Tâm thì quên thế nào được.

Hình như lỡ lời, cô thiếu nữ cúi mặt, hơi e lệ. Cái cử chỉ ấy, và lời nói đã không làm cho Tâm cảm động, lại làm cho chàng hơi ghét. Cô gái quê mùa tưởng chàng để ý đến chắc? Vì vậy, Tâm cất tiếng hỏi hơi sẵng:

– Thế nào, cô Trinh còn đợi gì mà không lấy chồng đi cho tôi ăn mừng.

Thấy thiếu nữ không trả lời, Tâm để ý nhìn. Chàng thấy cô ta không thay đổi, tuy có nhớn lên mà vẫn là cái cô bé chơi đùa với chàng thuở còn nhỏ. Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không thay đổi mấy, và tính tình vẫn giữ được y nguyên. Nhưng chàng, thì chàng thay đổi khác hẳn rồi. Những kỷ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa chàng và cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cái đời tối tăm nghèo khổ.

Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả.

Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.

Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy. Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:

– Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.

– Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm.

Tâm lại an ủi:

– Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.

Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:

– Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho.

Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.

Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra:

– Thôi, bà ở lại. Chào cô Trinh nhé. Bảo tôi có nhời hỏi thăm tất cả họ hàng.

Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận.

Khi Tâm bước vào hàng cơm, vợ chàng vui mừng lộ ra nét mặt, vì không ngờ chàng chóng thế. Trời hãy còn sớm. Hai vợ chồng rủ nhau đi ngắm cảnh, đợi đến chiều mát sẽ đi ô-tô về hứng gió.

Hai người đi quanh quẩn trong phố, nhìn những cửa hàng nước tiều tụy của ta và những hiệu lớn của người Khách. Mặt trời xế ngang chiếu ánh nắng lóe vào mắt, và giải vàng lên trên những mái nhà tranh. Chợ đã vãn: những người đàn bà gồng gánh sắp ra về, trên mặt đất đầy những rác bẩn, những vỏ dưa, những lá gói: một cái mùi âm ấm bốc lên, cái mùi đặc biệt, hình như lẫn mùi đất, mùi ẩm, và mùi rác đốt. Tâm nhớ lại rõ rệt những ngày trẻ.

Bỗng nhiên, Tâm giật lùi lại: Một bà cụ già khom lưng dựa bên một cô con gái, đi ra phía ga. Tâm nhận ra bà mẹ. Có lẽ bà cụ muốn được trông thấy con một lần nữa. Chắc bà tưởng Tâm đi xe hỏa. Chàng lộ vẻ khó chịu. Bà cụ còn ra đây làm gì? Tâm sợ lúc bà cụ lại khóc lóc, để cố giữ chàng lại. Hay nắm lấy áo chàng mà kể lể giữa chốn đông người. Chàng tưởng nghe thấy những câu bình phẩm to nhỏ, và trông thấy những cái mỉm cười chế riễu của mọi người. Vợ chàng sẽ nói thế nào?

– Thôi, chúng ta về ngay đi.

Tâm nói như người sốt ruột, giật cánh tay vợ rảo bước mau.

Đợi bà cụ đi khuất đầu phố, Tâm và vợ trở lại nhà hàng trả tiền, rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm ru bắt đầu lướt trên đất.

Khi đến chỗ quặt quá ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô con gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây, Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn mình.

Tâm không ngoảnh lại, chàng nghĩ đến bà mẹ, đến cô Trinh vẫn chơi đùa với chàng thuở nhỏ. Song những hình ảnh ấy như xa xăm lắm, và Tâm vẫn thấy dửng dưng không bận tâm trí. Giữa những kỷ niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản: xe ô tô, vợ chàng, cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ.

Phong cảnh đồng ruộng hai bên đường vùn vụt trốn lại sau như càng làm xa cách chàng với cảnh thôn quê cũ.

Thạch Lam

Tặng Phẩm Cho Em. Truyện ngắn Nhật Tuấn


Nhật Tuấn

(Nhà Văn Nhật Tuấn sinh năm 1942, mất ngày 06 tháng 10 năm 2015)

TÁC PHẨM CHÍNH:

-Trang 17 (tập truyện, 1978)
-Con chim biết chọn hạt (tập truyện, 1981)
-Bận rộn (tiểu thuyết, 1985)
-Mô hình và thực thể (tiểu thuyết, 1986)
-Lửa lạnh (tiểu thuyết, 1987)
-Biển bờ (tiểu thuyết, 1987)
-Tín hiệu của con người (tiểu thuyết, 1987)
-Đi về nơi hoang dã (tiểu thuyết, 1988)
-Niềm vui trần thế (tiểu thuyết, 1989)
-Những mảnh tình đã vỡ (tiểu thuyết, 1990)
-Quê nhà Quê người (chung với Nhật Tiến, 1994)
-Tặng phẩm cho em (tập truyện, 1995)
-Một cái chết thong thả (tập truyện, 1995)

***

Tặng Phẩm Cho Em

Truyện ngắn Nhật Tuấn

Người đàn ông ngồi cuối xe khóc lặng lẽ. Không ai nhìn thấy những giọt nước mắt đang làm nhòa cặp kính đen to tướng. Chiếc xe buýt chạy rất chậm. Con đường dọc theo những ngôi nhà nhiều tầng đang xây. Buổi chiều thu muộn trong veo làm rõ những đường gờ đỉnh núi lãng đãng mây trắng. Trên đó là vệt mòn chân thú chạy ngoằn ngoèo qua tầng lá mục. Những cây đại thụ cổ kính. Chú sóc nào đó nhởn nhơ và vô tư trên sợi dây leo đu đưa. Trên đó nữa là…bầu trời.

“Nó mới nói cuối năm hai đứa sẽ làm đám cưới”.

Cô gái nói bâng quơ bên tai người đàn ông mang kính đen. Trong xe, những người ngồi và những người đứng vẫn im lìm. Tiếng máy rù rì chảy dài trên đường. Bắt đầu lên dốc, người lái gạt cần chuyển số và bất ngờ lên tiếng:

“Chiếc xe này lẽ ra sáng nay chở khách về Hà Nội. Hôm trước nó mới xin tôi cho nó đi nhờ. Nhà chồng nó ở phố Bà Triệu phải không?”.

Không ai trả lời. Xe vẫn chạy rất chậm và lên cao dần. Chiều thu muộn trải ra mênh mông trên dòng sông quanh co. Ven bờ, những máy san màu vàng đang gạt đất, lầm lũi như con dế trũi. Xa hơn nữa những cánh tay cần trục đang quay trên những hàng giáo nhọn hoắt.

“Năm ngoái đã có một người ngã từ giàn giáo tầng năm xuống đất, chết ngay…”.

“Tại sao không đeo dây phòng hộ? Tại sao an toàn viên không kiểm tra? Tại sao…”.

Giọng gay gắt của một người ngồi đầu xe chìm vào tiếng động cơ rầm rì. Không ai trả lời ông ta. Mắt mọi người dường như đang nhìn xuống.

Người đàn ông dừng khóc, đưa khăn tay lau kính. Cô gái ngồi bên nói rất khẽ:

“Ông ấy mới trên tổng công đoàn xuống. Ông ấy đã hỏi rất nhiều câu “tại sao” mà không ai trả lời được”.

“Rồi sẽ phải trả lời. Tại tôi, tại các anh hay tại nó?”.

“Ồ…không đâu. Đã có nhiều chuyện xảy ra không quy được tại ai cả”.

Cô gái nghĩ một điều gì đó, chợt trừng mắt:

“Nhưng rút cuộc, vẫn do một người nào đó chứ”.

“Tôi không biết. Tôi không được biết chuyện đó”.

“Nó hiền như đất ấy. Nó sợ tất cả mọi người. Bố chết, mẹ đi lấy chồng từ khi nó còn bé. Nó ở thuê cho người ta rồi lớn lên, đi công trường”.

Ngưòi đàn ông quay đi và lại khóc trong cặp kính. Xe buýt đi vào thung lũng, không còn nhà cao tầng, không còn cần trục, không còn giàn giáo. Phía trước, những nếp nhà sàn nằm nép mình trong lùm cây xanh tươi. Đường máng nước mảnh khảnh đổ xuống từ sườn núi. Chiếc cối cổ xưa nặng nhọc kéo cần và tự rơi buồn bã. Một con trâu đen bỗng nhô ra từ bụi rậm. Nó nhìn ngây ngô, chớp chớp đôi mắt ướt nhoèn và nhảy quàng lên đồi. Tiếng lục lạc trên cổ lóc cóc điểm vào không gian ngưng đọng.

Sau đó, người đàn ông ngồi cuối xe không còn nhìn thấy gì nữa, ngọai trừ cặp mắt kính đen nhòa nước.

Cô gái ngồi bên nhìn thấy những gương mặt căng thẳng. Tất cả mọi người đều đang nghĩ. Trong giây phút này, không ai là không nghĩ một điều gì đó.

Nguời có tuổi đứng giữa xe nghĩ về trách nhiệm của mình. “Tôi đã đôn đốc thực hiện mọi quy tắc. Tất nhiên, là giám đốc tôi không thể đi lay từng cái cột giáo xem có chắc chắn hay là không”.

Chàng kỹ sư ngồi đầu xe nghĩ về cái “ngày hôm ấy. Thật là may, ngay từ đầu giờ, mình đã đến giao việc tỉ mỉ, đầy đủ cho bà đội trưởng”.

Bà đội trưởng đang âm thầm ngồi ở gần cửa xe. Hai hôm nay, bà luôn luôn cảm thấy bị nhìn bằng những con mắt kết tội.

“Các đồng chí kết tội tôi sao được? Tôi không thể chờ phòng vật tư cấp cho tôi gỗ tốt hơn để làn giàn giáo. Ai cho phép tôi chờ? Tiến độ là cái cao hơn hết thảy. Thành tích của chúng tôi ở đó. Trong hàng trăm cây gỗ, làm sao biết đuợc cây nào đã mục ruỗng ở bên trong? Không ai có thể biết được. Năm nay, đội tôi mất danh hiệu đội lao động xã hội chủ nghĩa là cái chắc. Nhưng cái đó đâu phải tại tôi…”.

Vậy ai là người phải chịu trách nhiệm về nó trong tất cả những gương mặt căng thẳng kia? Ông giám đốc,anh kỹ sư hay bà đội trưởng? Không, không ai cả. Thế còn ông thư ký công đoàn đang trầm tư và ông trưởng phòng tổ chức đang nhìn xuống cuốn sổ ghi chép kia? Cũng không phải nốt. Thôi thì …tại trời.

Nhưng ông trời cũng đã chết từ lâu rồi, chết trong từng mỗi nguời. Trong chuyến xe này, không có ai còn tin cái điều nhảm nhí nói rằng có một ông trời ở trên cao và ở cả trong từng mỗi con nguời. Đó là một bày đặt nhảm nhí, mê tín, dị đoan. Tít trên cao kia có con tàu vũ trụ và sâu mãi trong ta chỉ có ta mà thôi. Và những “cái ta” ấy đều đã sắp sẵn một cung cách tự bào chữa một khi bị hỏi tới trách nhiệm về nó.

Riêng người lái xe, từ nãy vẫn chăm chú nhìn con đường, nghĩ về những chiếc ổ gà sẽ phải tránh, chợt quay lại hỏi to:

“Cái thằng chồng sắp cưới của nó có lên kịp không hả các ông?”.

“Có biết đâu mà lên”.

“Tại sao ông không điện cho người ta?”.

“Nó chưa xin giấy chứng nhận để làm giá thú. Trong lý lịch, nó cũng chưa khai tình trạng hôn nhân. Vậy hà cớ gì phải đánh điện?”.

Rồi ông trưởng phòng tổ chức nói thật to cho mọi người đều nghe thấy:

“Trong mục “Khi cần báo tin cho ai” nó cũng không khai ai cả”.

Người lái xe lại hỏi tiếp:

“Vậy ai sẽ lĩnh tiền tuất? Tài sản của nó sẽ thuộc về ai?”.

Bà tài vụ ngồi ghế trên cùng trả lời rành rọt:

“Không ai được lĩnh tiền tuất cả. Tài sản của nó sẽ bán hóa giá nhập công quỹ. Ngay sau cái lúc đó, chúng tôi đã cử người phối hợp với công đoàn làm bản kiểm kê. Một cái hòm gỗ, hai bộ quần áo, một chăn bông vỏ hoa, một cái gương con và một cái chậu thau”.

Bà tài vụ quay xuống nhìn ông giám đốc và yên tâm về câu trả lời của mình, bà trở lại vẻ mặt rầu rĩ cần thiết.

Trong buổi chiều thu êm đềm chiếc xe buýt chạy rất chậm. Nó đã đi hết đọan đường lớn trải nhựa chạy qua công trường. Nó đã leo đường dốc sang bên kia dãy núi. Nó đang đi vào thung sâu để đến một nơi mà mọi người đều nóng lòng muốn đến: nghĩa trang.

Lẽ ra sáng nay nó chở cô ấy về phố Bà Triệu gặp chồng sắp cưới. Bây giờ nó đang chạy rất chậm theo sau chiếc xe tải chở cô ấy. Đó là đọan đường đi xe cuối cùng của một cô gái công trường. Nhưng lần này, cô không mang theo chiếc hòm gỗ tùy thân chứa đựng tất cả gia tài góp nhóp được sau bao chuyến đi qua các công trường.

Trong chuyến di chuyển này, cô chỉ mang theo chiếc hòm gỗ dài, chứa đựng hình hài của chính cô.

***

Cô nằm trong đó, chiếc quan tài màu đỏ xung quanh đặt những vòng hoa rừng sặc sỡ. Hoa bằng lăng tím ngát, hoa mò o đỏ tươi, hoa tóc tiên vàng dịu. Không tìm được đâu ra bông hoa màu trắng để biểu thị sự trinh nguyên của cô…

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình – đó là lỗi tự thiên nhiên.

Chiếc xe tải đi rất chậm rất chậm cũng không sao tránh hết được những lồi lõm mặt đường. Mỗi lần ổ gà, chiếc quan tài giật nảy, gõ vào thùng xe, gõ vào đầu anh lái, gõ vào chiều thu mênh mông. Con đường, con đường – xin đừng gồ ghề cho cô được nằm yên để đi cho hết đọan cuối cùng. Phađin… Cam Đuờng… Trái Hút…

Những chặng đường cầm mòn cán cuốc, người con gái công trường không bao giờ còn vần chiếc hòm gỗ lên những chuyến xe di chuyển, không bao giờ còn thức dậy trong tiếng kẻng thúc vào giấc ngủ chập chờn, không bao giờ còn bịt khăn vuông kín mặt chống che nắng gió. Màu da cô, thân xác cô sắp được ấp ủ trong lòng đất kín.

Chiếc xe tải đi rất chậm, rất chậm. Đã nhìn thấy màu đất đỏ bãi san sườn núi dùng làm nghĩa địa.

”Ngát ơi..Ngát ơi…”.

Tiếng kêu than níu kéo thảng thốt chấn động trời chiều. Một cô gái ngồi trên xe tải chợt ôm cứng lấy chiếc quan tài đỏ. Đó là người duy nhất phá bỏ tập tục, chít vành khăn đại tang để trở bạn. Suốt dọc đường, cô ngồi bên thùng xe như hóa đá. Đôi mắt cạn khô và vô tri. Dường như cô không còn nhìn cái gì nữa. Cô chỉ thấy ở bên trong cô “cái Ngát”. Nó đấy. Miệng cười mơ hồ, ánh mắt xa xăm, thân quen lắm và cũng xa lạ nhiều.

“Ngát ơi, có đau lắm không?”.

“Không đau đâu, chỉ thấy tối sầm lại rồi có còn biết gì nữa đâu…”.

“Tại cái xô đấy. Lúc giàn gíáo đổ xuống, cái xô úp lên đầu Ngát, hai trăm viên gạch đè lên người Ngát. Rồi thì… thôi, đừng nhắc lại chuyện ấy nữa. Không có cái chuyện ấy đâu. Ngát không chui xuống giàn giáo để gánh nước đâu, cái xô vẫn treo ở đầu hồi đấy. Ngát về Hà Nội với anh Uyên rồi. Vài ba hôm nữa Ngát lại lên, đúng không?”.

“Không đúng đâu…”.

“Đúng đấy, hôm nào Ngát lên, mình phải đi dỡ sắn đấy. Tháng này mỗi người phải trừ một cân gạo tiết kiệm. Cả năm phải cắt đi một tháng đấy. Mình chẳng sợ Ngát nhỉ. Mình đã thái và phơi đuợc ngót một yến sắn khô rồi. Chẳng đói đuợc đâu mà lo. Mình lại còn vạt khoai lang đằng sau nhà kho nữa à… Ngát này, con gà mái tơ sáng nay nó đẻ đấy. Trứng to lắm. Tớ đã cất vào thùng gạo rồi. Chả mấy chốc mà đủ một chục. Dành cả cho Ngát bồi dưỡng anh Uyên đấy. Phấn khởi nhé. Dậy đi…”.

“Không dậy được đâu…”.

“Tháng hai này hai đứa có bảy công tăng ca đấy. Dành cả tiền cho Ngát để mua lụa cung cấp nhé. Về Hà Nội đi chơi với người yêu mà cứ diện mãi quần ta tăng cũ chẳng sợ người ta cười cho. Còn tiền bán đỗ xanh thì để cuối năm Ngát làm đám cưới nhé. Lo cho cô đến vậy, mai kia cô mải chồng quên tôi, mất chị mất em thì đừng có trách. Dậy đi, anh Uyên anh ấy ở Hà Nội về kìa…”.

“ ….”

“Giời ơi… Ngát đâu rồi. Ngát đi đâu thế này. Đêm nay Ngát ngủ đâu. Ngày mai, ngày kia… Ối Ngát ơi là Ngát ơi…”.

Cô gái òa khóc và kể lể. Chiếc quan tài giật nảy trong vòng tay cô khi chiếc xe tải dừng sững lại. Xe buýt cũng vừa tới nơi. Nghĩa trang là một vạt đất do xe ủi san bằng ven sườn núi. Màu đất đỏ, ráng chiều đỏ. Những hàng cây trang nghiêm. Những con bướm trắng bay chập chờn. Tất cả mọi người đều đã xuống xe và vây quanh chiếc áo quan đang được buộc dây.

Ông giám đốc ra lệnh khẽ:

“Nhanh tay lên…”.

Đám ma đi trong sương chiều, tiếng khóc và những bước chân bấm trên mặt đất trơn lầy. Huyệt mộ đã được đào sẵn. Những búi cỏ giập nát đã chớm héo vàng. Người đàn ông mang kính đen đứng lẫn vào đám người xung quanh huyệt. Hai sợi dây ni lông trắng chầm chậm đưa xuống chiếc quan tài đỏ. Từ đâu đó, anh cán bộ nhân sự bước ra cầm mảnh giấy đọc những lời điếu viết sẵn. Trong im lặng nặng trĩu, giọng anh khê nặc và trầm bổng.

“Cô Phạm Thị Ngát sinh năm 1960, bố chết, từ nhỏ ở với mẹ, năm mười lăm tuổi theo tiếng gọi của đoàn và của đảng, cô xung phong đi làm công nhân công trường…”.

Người đàn ông khóc nức lên sau cặp kính. Cổ ông tắc nghẹn trong lúc chính ông muốn ông phải nói: “Không đúng, không đúng đâu. Bố “nó” không chết. Bố “nó” còn sống đấy. Tôi đã im lặng từ hai mươi năm nay và cho tới bây giờ tôi vẫn còn im lặng”. Ông ta chới với níu cong xuống một cành cây gần đó.

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình, đó là lỗi tự con người.

“Hãy biến đau thương thành hành động. Hãy ra sức thi đua hoàn thành kế họach của tổng công ty giao cho. Phút mặc niệm bắt đầu…”.

Cô ấy sắp đi hẳn rồi. Đi về đâu em ơi? Về những nếp nhà sàn có chiếc cối nước rơi buồn bã. Về ngôi nhà đang xây với cánh tay cần trục quay tròn trên hàng giáo nhọn hoắt. Đi về đâu em ơi? Về đỉnh núi có chú sóc nhỏ vô tư hay về bầu trời mây trắng lãng đãng. Không ai biết, không ai có thể biết được. Cái điều huyền bí ấy là của riêng em, là tặng phẩm duy nhất em mang theo được cho một đời nỗ lực.

Những hòn đất đỏ đã rơi xuống rồi. Ngôi mộ đầy lên và sau cùng người ta đặt lên đó một bát cơm và một quả trứng bửa đôi. Gió đưa khói hương bốc lên cao và tan đi mất.

Một cánh bướm chập chọang trong nhá nhem tối. Hai chiếc ô tô nổ máy trở về công trường.

Người đàn ông mang kính đen ngồi bên ngôi mộ mới. Ông còn ngồi lại làm gì? Người con gái do chính ông sinh ra và ông đã chối từ cho tới tận lúc nó chết chỉ vì sự bình yên cho chức quyền của riêng ông, đâu còn nói được những lời tha thứ nữa…

Và ông cầu xin ai?

Nhật Tuấn

(Nguồn: Khai Phóng)

Gió Bấc Lạnh Lùng. Tùy bút của Tường Bách


Tường Bách

(Tùy bút của nhà văn Tường Bách đã được đăng lần đầu trên báo Ngày Nay số 1, in tại Hà Nội ngày 30/01/1935.)

Tiểu sử Cụ Nguyễn Tường Bách

Tốt nghiệp bác sĩ năm 1946, cùng thời với Bác Sĩ Ninh (Viện Việt Học), Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàng (cùng lãnh đại Đại Việt Quốc Dân Đảng với GS Nguyễn Ngọc Huy). Trước năm 1946, Pháp không công nhận bằng bác sĩ cho người Việt mà chỉ gọi họ là y sĩ.

Là con út tư trong một gia đình bẩy anh chị em: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), và Nguyễn Tường Bách.

Tác phẩm đã xuất bản:

Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn, truyện dài
Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua, hồi ký
40 Năm Sống Ở Trung Quốc, hồi ký

Ngày Nay

Mùa đông đã đem lại cho ta cái cảnh gió bấc mưa phùn trong những ngày âm-u thảm đạm. Những cánh bàng xơ xác, những chiếc lá rụng rắc đỏ trên đường phố, với những buổi sáng sương mù xuống bao bọc cả thành phố Hà Nội trên các nóc nhà đỏ và các rặng cây còn xanh tươi, gieo vào lòng người một nỗi buồn thoáng qua nhưng sâu xa, thắm thía.

Nhưng mùa đông cũng đem lại cái thi vị và những cái thú vui riêng, mà chỉ trong ngày lạnh lẽo, người ta mới hiểu rõ hết được. Những làn gió thoáng trên các vườn, phảng phất đưa đến mùi hương thanh đạm của bao thứ hoa vừa nở, của những hoa cẩm chướng hay vạn thọ nhiều sắc rực rỡ, và nhất là của những hoa cúc mềm mại như lụa hay những cành đào vừa hé nụ cười điểm màu tươi lộng lẫy trên nền trời u-ám. Mà cảnh đông lạnh lẽo thật đáng nên thơ cho những người muốn tìm lấy cảm giác hay.

Một buổi sáng, trong bộ quần áo ấm, điếu thuốc lá ngậm trên môi, hai tay đút túi, ta dạo quanh bờ hồ Tây để ngắm cảnh sương mù nhẹ lan trên mặt nước bao la, che phủ cả những xóm xa xa thấp thoáng ở chân trời. Lúc đó, những cơn gió lạnh vụt thổi xào xạc qua cành lá gợi bao cảm giác mơ màng trong tâm hồn thơ của nhà thi sĩ nếu ta là thi sĩ.

Những thú vị của mùa đông lại càng rõ rệt hơn đối với hạng người phong lưu, nhàn nhã, không phải lo âu về vật chất. Trong khi ngoài đường gió bấc đưa những giọt mưa bay đập tí tách vào cửa kính, người ta thích quây quần trong những gian phòng ấm áp bên cái lò sưởi than hồng vui cháy, bên cạnh một bàn tổ tôm hay bên cạnh cái bàn đèn đầy mới là tuyệt nhất. Những lúc ấy người ta mới cảm thấy rõ rệt cái hạnh phúc không gì bằng của gia đình.

Mùa đông tới, người ta vẫn thản nhiên sung sướng vui chơi. Vài chiếc lá bàng rụng đủ là một dịp cho trái gái Hà-thành phối phang quần áo rét. Như thế cũng hay, vì ta được ngắm những cô tân thời yểu điệu trong bộ quần áo mới kiểu Lemur bằng len mùi dịu với cái khăn san phất phơ theo chiều gió cùng mấy sợi tóc vấn vương.

0011-2

Năm nay, nhiều khi ta thấy được những ngày nắng ấm, khô ráo thỉnh thoảng nhẹ bay qua một cơn gió hây hẩy mát. Đây là những tháng ngày thích nhất trong cả năm, vì người ta thấy trong lòng hăng hái, hăng hái làm việc hay ăn chơi. Nhất là ăn chơi.

Sau khi dạo chơi quanh các phố để ngắm các cô tiểu thư lộng lẫy trong cảnh rực rỡ, huy hoàng, hay đi mấy bài trong các dancing tưng bừng đàn hát, tiết trời êm ái, hơi lành lạnh như dục người quây quần bên cái bàn đèn ấm cúng hay mua một “đêm- ái -tình” tuỳ ý. Mùa đông đối với hạng thượng lưu thực là vui vẻ nhất, vì đã đem lại cho họ bao nhiêu thú vui mua được. Nhưng hơn thế nữa, mùa đông là mùa của ái tình, vì theo câu thơ của Bán than:

“Mùa đông gió bấc lạnh lùng
Gợi tình lắm cậu, dục tình lắm cô…”

Nên trong ba tháng mùa đông có biết bao nhiêu là đám cưới! Trong ba tháng ấy, biết bao là hạnh phúc đã xây dựng lên. Những xác pháo đỏ nằm rải rác trên thềm, những con lợn quay vàng với những chiếc ô tô hòm kết hoa trắng, gợi cho ta mơ tưởng tới cái diễm phúc đầy thi vị của đôi vợ chồng mới cưới giữa lúc gió đập vi vút vào cửa sổ và sương mù xuống bao tỏa những khóm cây xanh. Nhưng nếu những bông cúc mềm mại và những dò thủy tình xinh xắn phảng phất cái hương vị của ngày Tết tưng bừng hớn hở để mừng cuộc ái ân đằm thắm, thì cũng nhắc cho ta rằng sắp tới mùa xuân nặng nề ướt át.

*

Người phong lưu trông các mùa qua bằng con mắt thân- nhiên, không những thế, họ coi như là một sự thay đổi cần phải có, vì đối với họ, trời cứ nóng hay lạnh mãi, thì còn thú vị gì nữa? Vì họ chỉ biết cái lạnh thoáng qua trên những toà nhà cao, tường dây cửa kín, chứ chưa từng biết cái lạnh căm căm buốt đến tận xương trong những gian nhà tranh lụp sụp, trống hở tứ tung và chốc chốc lại rung động theo luồng gió. Mà các cô thiếu nữ xinh tươi nơi thành thị, xin lỗi các cô – có rõ đâu nỗi khổ của những cô gái quê cao váy, mờ sáng đã phải đi tát nước hay cấy lúa, dưới những cơn gió bấc thổi vù vù trên ruộng đầy nước.

Phải đứng trên cánh đồng bát ngát, nghe tiếng gió đập xào xạc vào nhưng bụi cây khô, mới hiểu rõ nỗi buồn vô cùng của những ngày đông u ám.

*

Ngay ở Hà Nội, sống trong cảnh đầy đủ, lộng lẫy, xa hoa, ta không bao giờ để ý đến một số đông người co ro với mảnh áo rách, ngày, đêm lang thang vất vưởng trong cảnh rực rỡ, nguy nga của thành phố để ngắm nhìn cái sung sướng, vui vẻ của người khác. Những buổi tối lạnh lẽo, mưa bay, ta thấy họ tránh nấp dưới mái hiên những toà nhà đồ sộ và thỉnh thoảng ghé mắt nhìn vào trong gian phòng ấm cúng, đầy những hạnh phúc gia đình mà họ không bao giờ được hưởng. Rồi khi đường phố đã vắng, họ đi tìm chỗ ngủ với một manh chiếu trên các bực cửa, dưới gầm cầu hay trong cổng những đền, chùa. Vào khoảng 9-10 giờ trở đi, ở nhiều phố – phố hàng Than chẳng hạn – người ta thấy những bọn ăn mày, những đứa trẻ mồ côi, những người nghèo khổ kiếm công ăn việc làm, mà vì nhiều lẽ không muốn vào Dạ Lữ hay Tế Bần Viện – co quắp nằm thành những đống thịt lù lù dưới ánh đèn điện lạnh lẽo.

Mùa đông đến đem lại cho họ những nỗi lo sợ, buồn rầu – không phải nỗi lo sợ, buồn rầu nên thơ của nhà thi sĩ, mà là nỗi lo sợ thiết thực, lo sợ những hạt mưa phùn ném lạnh qua làn áo mỏng và lo sợ những cơn lạnh buốt đến tận xương.

Và đối với họ, mùa đông hẳn là không có thú vị.

Tường Bách

Chuyện Phố Tôi. Nhật Tiến


Nhật Tiến

Sau khi duyệt xét kỹ lưỡng lý lịch của tất cả các chủ hộ, Phường uỷ quyết định chọn dì Năm làm tổ phó an ninh. Quyết định này được thông báo đến lão Phú, Tổ trưởng tổ 3, Phường 15, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Lão phát biểu:

– Tôi hoàn toàn nhất trí với “trên” về việc lựa chọn này. Chị Năm xuất thân từ thành phần cơ bản, công tác tích cực, tư tưởng chuyển biến tốt…

Lão nói đến đó thì kịp thời ngừng lại. Đáng lẽ, lão còn thêm  : “ Hiềm vì văn hoá dì Năm còn rất hạn chế”. Nói nôm na là dì Năm mù chữ. Nhưng lão ý thức được ngay sự nguy hiểm nếu phát biểu ra trọn vẹn ý nghĩa ấy. Trong Phường còn thiếu gì kẻ dốt, kể cả đồng chí Sáu Đăng người xuất thân từ chân thợ nề, theo Cộng sản, nằm vùng được hơn hai năm thì bị bắt và đày đi Côn Đảo tới hơn bốn năm mới được giải phóng. Về Sài Gòn, đồng chí Sáu Đăng ra mắt bà con lần đầu ở trường tiểu học, đồng chí đánh vần mãi mới xong bài phát biểu dĩ nhiên là được viết trước. Về văn hoá thì vậy, nhưng so thành tích cách mạng thì cả Phường này chẳng có ai hơn. Ở thời buổi này, cái danh hiệu người về từ Côn Đảo vẫn luôn luôn là cái gì sáng lóa để chẳng có ai dám thắc mắc, nhỏ to điều gì. Dĩ nhiên bên cạnh đồng chí Phường uỷ phải có nhiều phụ tá. Thân cận nhất là Liễu, gái Sài Gòn, gọi ông Sáu Đăng bằng cậu ruột. Những ngày đầu tiên sau 30 tháng 4 năm 1975, Liễu đã có mặt đều đặn trong các buổi sinh hoạt ở trụ sở Thành đoàn Thanh niên đường Duy Tân. Nàng đã theo học ở đó một khoá cấp tốc về chính trị. Rồi được kết nạp đối tượng Đoàn. Đồng chí Văn ở ban Tuyên Huấn đã dặn dò :

– Thời gian xuống sinh hoạt ở Chi đoàn Thanh niên các khóm, Phường là một việc để các đồng chí phấn đấu tiến lên một bước nữa trên con đường cách mạng. Nếu các đồng chí chuyển biến tốt, khắc phục bản thân tốt, hoàn tất công tác tốt thì các đồng chí sẽ được kết nạp Đoàn. Đoàn viên Thanh niên là cánh tay mặt của Đảng, các đồng chí nhớ kỹ như thế để thấy rõ vai trò mũi nhọn xung kích tiền phong của mình…

Liễu nhận nhiệm vụ lệnh về trình diện ngay ông cậu ruột của mình. Nàng mè nheo ngay:

– Có cái tiệm điện lạnh hai tầng lầu ở ngay kế bên chợ đó cậu, chủ nhà bỏ trốn ra nước ngoài, cậu cho chúng cháu làm trụ sở Chi Đoàn Thanh niên nhé.

Nhà cửa hồi đó không thiếu. Ông Sáu Đăng ký ngay một cái giấy cho Liễu tiếp thu căn nhà khang trang đẹp đẽ đó. Hai tuần lễ sau, nơi đó đã biến thành chỗ sinh hoạt nhộn nhịp. Liễu có văn phòng riêng, có đội trực gác, có ban thông tin văn hóa, có ban văn nghệ. Riêng ban văn nghệ được chiếm nguyên cả một tầng lầu để dượt nhạc với kèn, trống om sòm từ sáng đến đêm.

Liễu đã trút bỏ bộ áo dài cổ hữu để thay bằng một loạt áo cánh may bằng soie đen. Hôm gặp Liễu ở đầu phố, nhìn thân hình tròn lẳn của Liễu trong chiếc áo nịt chật cứng, dì Năm la lên:

– Chèn ơi con Liễu, mày đổi bộ này ngó coi ngộ quá ta !

Liễu thẹn đỏ cả mặt nhưng không khỏi bực mình. Nàng cằn nhằn:

– Dì Năm ăn nói gì bô lô, ba la ngoài phố nghe lỗ mãng quá vậy.

Dì Năm cười ngỏn ngoẻn:

– Ờ ! thì mày “ ngộ” tao nói “ngộ” chứ sao . Coi chừng mấy thằng thanh niên sinh hoạt với mày chết giấc hết.

Liễu nghiêm mặt lại :

– Dì nói năng phải giữ lời chứ. Bây giờ cách mạng về rồi, đâu còn có lối sống đồi trụy như xưa .

Thấy con nhỏ bắt đầu giận, dì Năm bỏ qua mé chợ. Nó với dì chẳng có họ hàng gì với nhau. Dì cũng chẳng có họ hàng gì với ai ráo trọi ở khu phố này. Nhưng dì đã sống ở đây mấy chục năm liền, ai dì cũng quen, nhà ai dì cũng biết, ngõ ngách nào trong khu phố này dì cũng thông thuộc. Tất cả bà con đều kêu dì bằng dì. Tiếng là dì vậy thôi, chứ năm nay răng dì cũng đã rụng hết ráo, gần 70 rồi đấy chớ. Được cái dì Năm vẫn mạnh. Đi đứng nhanh nhẩu. Tính tình hồn nhiên cởi mở, một đôi lúc chanh chua, cái chanh chua của một kẻ ỷ vào thế của tuổi già, và mặt khác cũng là ở cái tuổi đang lần hồi biến chuyển tâm lý trở thành con nít. Dì Năm ở thuê một căn phòng xép nhỏ của gia đình chú Lý đạp xích lô. Cái nhà này đông con dữ, vợ Lý sòn sòn năm một, hồi dì mới tới chỉ có hai, nay đã chòm chèn cả chục đứa. Lắm lúc dì cũng vui, nhưng lắm lúc dì muốn phát khùng vì chúng nó. Nhất là càng về sau này, đời sống khó khăn, chỉ nge mấy đứa khóc đòi ăn khoai, ăn mì là cũng đủ héo trời, héo đất.

Nhưng dì Năm ít khi ở nhà. Nghề của dì  là đi lang thang khắp các cửa tiệm tạp hoá, các tư gia để bỏ mối cho một hãng sản xuất hương vòng và nhang. Hồi trước dì còn bán cả vàng mã nữa. Nhưng cách mạnh về rồi, giấy vàng mã không thịnh thành như trước, lại khan hiếm giấy, nên chỉ còn có nhang và hương vòng. Dì gửi cả nhang và hương vòng ở cửa hàng Hợp tác xã nhờ bán giùm. Đồng chí quản lý ở đó dẫy nẩy lên:

– Chết mẹ tôi rồi. Thời buổi cách mạng thế này mà dì đòi khuân hương vòng vào cửa tiệm Hợp tác xã để bán có khác gì muốn đưa cả cơ quan đi học tập cải tạo mút mùa.

Dì Năm tác xác:

– Hương vòng thì có cái gì phản động. Tao làm nghề bỏ mối hương vòng này mấy chục năm nay, đâu có thiệt hại gì tới ai.

Bà quản lý, cũng là dân trong khu phố với nhau cả, cãi lý với dì không được, tức quá đến cầu cứu với Liễu. Liễu chào thua bà cụ vì làm thế nào có thể giảng được cho bà cụ nghe và hiểu về con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho nên nàng chỉ buông xuôi:

– Thôi kệ, cứ để từ từ rồi dì ấy sẽ chuyển biến nhận thức và tự giác ngộ.

Đồng chí quản lý hoan hỷ ra mặt. Ít ra là bà cũng trút được cái trách nhiệm đó cho Liễu. Liễu không là gì nhưng là cháu đồng chí Phường uỷ. Đồng chí Phường uỷ là nhân vật to nhất Phường. Vậy là khỏi băn khoăn. Hương thẻ, hương vòng của dì Năm nhờ thế vẫn chiếm một kệ kín đáo trên quầy hàng Hợp tác xã . Thật ra bày là chỉ để mà bày, chứ rõ ràng món hàng dì Năm gởi ở Hợp tác xã đã ế sưng ra. Có ma nào dại gì đút đầu vào Hợp tác xã, nơi đầy rẫy tai mắt cán bộ để hỏi mua nhang hay hương vòng. Cắp nhang hay hương vòng đi ngờ ngờ ở trụ sở Hợp tác xã thì có khác gì tự tố cáo bản thân là “ tôi hãy còn nhiều tàn dư phản động!” . Mọi người thừa trí khôn để không làm chuyện đó. Nhưng mọi người cũng lại thừa trí khôn để mua nhang lấy lòng dì Năm kể từ khi dì được phong chức tổ Phó an ninh. Nhất là những anh lười đi họp. Vắng mặt trong buổi họp hôm trước là hôm sau dì Năm đã tò tò tới nhà tác xác:

– Ê ! Hôm qua mày làm cái giống gì ở nhà mà không đi họp tổ dân phố hả ?

Kẻ trốn họp phải cười giả lả:

– Tội con quá dì Năm ơi! Hôm qua đứng nắng xếp hàng mua gạo, về lên một cơn trúng cảm những tưởng đã vô nhị tì Quãng đông rồi ấy chớ!

Hay là:

– Chèn ơi ! Thằng nhỏ lên kinh hôm qua tưởng phải vô nhà thương rồi ấy chớ. Bụng dạ nào bỏ nó ở nhà mà đi họp, dì Năm!

Và sau một câu kể khó, kể khổ là bao giờ đương sự cũng chuyển ngay qua đề tài khiến dì Năm rất dễ nghe:

– Nhà em hết nhang rồi đó dì Năm. Bữa nào xin dì Năm cho em thêm một gói hương vòng với một chục thẻ nhang.

Cơn giận của dì Năm tan xèo ngay trong giây lát. Dì vui vẻ kể chuyện Khóm, chuyện Phường, chuyện nhà nào sắp đi kinh tế mới, chuyện thằng Phường đội nào hôm qua say, chuyện ai bị phê bình phát ngôn bừa bãi…vân…vân… Rồi trước khi về, dì không quên nhiệm vụ của mình:

– Kỳ tới phải nhớ đi họp đó nghe. Đi họp là phát huy quyền làm chủ tập thể mà, bộ tụi bây không biết sao !

Có hôm, một chị ngứa mồm hỏi lại:

– Làm chủ tập thể là làm sao dì Năm há?

Dì Năm trả lời ngay, giọng trách móc ngụ ý sao tới bây giờ mà còn có đứa không biết:

– Làm chủ tập thể tức là cách mạng giải phóng chứ làm sao. Trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đàng sau có nhân dân làm chủ tập thể. Tụi bây trốn đi họp như ranh, làm sao mà hiểu rõ được chính sách mới của nhà nước.

Lời giải thích ấy không biết cách nào lại lọt vào tai Liễu. Nàng chờ một hôm rảnh rỗi, kéo dì Năm vô trụ sở thì thào:

– Bây giờ dì là người của đoàn thể. Dì không thể phát ngôn bừa bãi tự ý được.

Dì Năm trợn mắt lên:

– Tao nói cái gì sai trái mà gọi là bừa bãi?

– Dì phải học mới biết được cái gì là sai, cái gì là đúng.

Dì Năm nổi sùng lên:

– Xí! Tao già đầu thế này mà còn phải học à?

– Chớ sao! Ai mà không học. Không học thì không có cơ sở nhận thức. Từ chỗ không có cơ sở nhận thức sẽ đi đến sự suy nghĩ sai, lập luận sai, phát biểu sai, hành động sai…

Dì Năm nói dỗi:

– Phải rồi! Cái gì tôi cũng sai hết. Chỉ có cô là đúng thôi. Cô là cháu ông Phường uỷ mà!

Liễu dẫy nẩy lên:

–  Ấy chết! Đâu phải thế. Cháu là gì đi nữa mà không học tập thì cũng sai nữa. Dì cũng vậy.

– Ờ! Thế tôi sai chỗ nào, cô nói tôi nghe coi.

– Như hôm nọ dì nói trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đằng sau có nhân dân làm chủ tập thể là sai!

– Sao sai?

– Dì phải nói cơ chế tổ chức của xã hội ta là Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý và nhân dân làm chủ tập thể thì mới đúng. Chớ làm gì có chuyện ai ở trên, ai ở dưới, ai ở đằng sau lưng như dì nói.

Dì Năm cười khanh khách:

– Tưởng cái gì chớ mấy chữ nghĩa đó nhằm nhò gì. Tao thì tao cứ nghĩ mấy ông Đảng uỷ ở tuốt trên cao thì là ở trên, như trên Phường thì có Phường uỷ, dưới Phường uỷ là ông chủ tịch Phường, tức là ông Nhà Nước, rồi sau cùng mới tới mình. Thế thì mình chả ở sau lưng là gì?

Liễu vò đầu bứt tai:

– Thế nhưng mà không phải thế. Phường uỷ chỉ lãnh đạo thôi chớ không ở trên. Chủ tịch Phường chỉ quản lý thôi chớ không ở dưới. Còn ai nói nhân dân ở mé sau lưng hồi nào?

Câu chuyện đấu lý nhùng nhằng đó rút cục cũng chẳng đi đến đâu. Trình độ hiểu biết của bà Năm như thế thì có nhồi nhét lý luận cả đời dì cũng không thể vỡ lẽ được thế nào là lãnh đạo nhưng không phải là ngồi trên, quản lý lại không phải là ngồi dưới.

Tuy nhiên không phải lý do đó mà dì Năm bị giảm lòng tin cậy của Uỷ ban Nhân dân Phường. Cảm thông với người dốt nát, ít học bao giờ chẳng xuất phát từ tình cảm hữu ái giai cấp. Hơn nữa, dì Năm lại là người tuệch toạc, có gì nói nấy, ai cũng thấy rõ là không âm mưu. Cán bộ rất sợ những người âm mưu. Càng có học, càng dễ âm mưu, cho nên cần thì vẫn xài, nhưng hết cần thì vắt chanh xong bỏ vỏ. Vấn đề chính yếu là phải nắm chắc lấy chính quyền, bằng mọi cách, mọi giá, triệt để và không khoan nhượng!

Trong thời gian giữ chức vụ tổ Phó an ninh, dì Năm thường tự hào về thành tích đối phó được với lão già cứng đầu nhất trong tổ dân phố là lão Trương Sanh. Bà con lối xóm cũng rất hả hê được nhiều dịp chứng kiến cuộc đấu trí giữa hai nhân vật cùng già nua tuổi tác này. Sau ba mươi tháng tư, con cái của Trương Sanh di tản hết. Chẳng hiểu kẹt giỏ thế nào, chỉ có một mình ông cụ ở lại. Gần một năm sau thì cụ nối liên lạc được với gia đình. Lá thư đầu tiên gửi từ Pháp về, người con lớn của cụ căn dặn: “ Ba cứ yên tâm, con đang làm giấy tờ bão lãnh cho ba đi. Từ nay tới đó chưa biết bao lâu, nhưng trễ lắm thì cũng chỉ trong vòng một năm là cùng. Con đã nhờ người quen chuyển tiền về để ba xài. Có tin gì mới, con sẽ đánh điện cho ba biết gấp!”.  Thế là ông cụ tự xếp mình vào vị trí bên lề xã hội, mặc cho thiên hạ đảo điên, xoay vần chung quanh, cụ chỉ còn có việc tiêu dao ngày tháng chờ ngày có giấy tờ bảo lãnh để rời quê hương.

Ước nguyện này mới nghe thì nhỏ nhoi, nhưng trong thực tế không giản dị chút nào. Đã có lần Liễu giải thích với cụ:

– Thưa bác, dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, lợi ích của mỗi người gắn chặt và thống nhất với lợi ích của tập thể. Vì vậy không có ai là không có trách nhiệm đối với vận mệnh chung của xã hội, lại không quan tâm đến công việc chung của tập thể…

Ông cụ Trương Sanh cau mày:

– Thế thì làm sao?

Liễu cười ngỏn ngoẻn:

– Dạ, thưa bác thế thì xin bác lưu ý đi họp đều cho. Cháu nghe dì tổ trưởng nói bác không chịu đi họp tổ dân phố.

Cụ Trương Sanh vỗ cái quạt đến đốp vào mông mình rồi văng một câu trước khi lùi lũi bỏ đi:

– Đếch!

Liễu cáu lắm nhưng nể ông cụ tuổi già, không dám láo lếu nhiều hơn. Nhưng nàng lập tức đi tìm dì Năm tổ phó an ninh:

– Ông Trương Sanh là người ở ngay trong tổ dân phố của dì. Dì chịu để ông ấy buông tuồng được sao?

Dì Năm bực bội:

– Lão già dịch đó không chịu đi họp thì biết làm sao bây giờ?

– Đó là việc của dì. Trách nhiệm của tổ Phó an ninh mà!

Nói rồi Liễu bỏ đi, mặc cho dì Năm đứng chết trân lại, vừa giận con nhỏ đáo để, vừa tức lão già đầy bản chất lạc hậu, phản động. Đến kỳ họp tổ dân phố lần sau, đích thân dì Năm đến nhà ông Trương Sanh để thông báo ngày, giờ họp. Ông lão khôn hồn rút tuốt lên tận lầu hai, cửa sắt dưới nhà kéo kín mít, thêm một lớp cửa gỗ kín bưng ở bên trong. Dì Năm gõ đùng đùng lên cánh cửa:

– Ông Trương Sanh ơi! Đi họp!

Giọng của dì trước còn hùng dũng, mạnh bạo, nhưng chỉ gào độ mươi mười lăm phút sau là nó thất thanh hẳn đi.  Bà con lối xóm chỉ còn nghe mấy tiếng:

– Sanh…ơi…họp!…

Bà con cả phố có lẽ đều nghe tiếng gào của dì Năm, trừ ông cụ đang ngồi tình queo đâu đó trên lầu hai ngay đấy. Ai cũng đều phục lăn cái tính lì của ông cụ, và càng nghe dì Năm gào thét, càng bụm miệng cười. Cuối cùng dì thua cuộc bỏ đi sau khi đã xỉa xói trước cánh cửa gỗ:

– Rồi nhé! Biết nhé! Lần sau đừng hòng đi mua nhu yếu phẩm nữa nghe ông Trương Sanh! Không đi họp là không có được mua gì hết ráo!…

Nhưng ông Sanh chẳng cần. Ông sống một mình, tiền bạc lại dư dả, ông nghe thấy hết, nên sau này chỉ cười hề hề với bà con :

– Tôi đâu cần. Nhu  yếu phẩm nhằm nhò gì tới tôi.

Thế là cuộc đấu trí giữa dì Năm và ông Trương Sanh kết thúc ở giao đoạn một. Dì Năm tức điên lên, không phải vì buổi họp thiếu người mà vì cái chức tổ Phó an ninh của dì không ăn thua gì tới lão già dịch đó cả.

Bỗng một hôm dì nẩy ra được một sáng kiến đáng giá ngàn vàng. Dì chạy đi gặp lão tổ trưởng dân phố hớt hải:

– Anh Phú đi với tui. Tui sẽ moi lão Trương Sanh ra để anh cho lão một bài học. Nó sống ở đây mà làm như đang sống trên cung trăng, không biết ai vào với ai hết.

Lão tổ Trưởng dân phố nhăn nhó lắc đầu:

– Dì kêu cách mấy lão cũng không ra đâu. Vô ích mà!

– Thì theo tôi đi! Nhớ túm được nó thì cho nó một bài học nghe.

Hai người lót tót đến cửa nhà Trương Sanh. Dì Năm gõ thình thịch lên cánh cửa gỗ:

– Ông Trương Sanh ơi! Ra mà nhận điện tín ngoại quốc nè!…

Lão tổ Tưởng dân phố giật nẩy mình:

– Chết cha! Ẩu nào dì Năm!

Dì Năm ngoảnh ra nhìn lão, khoái chí cười khà. Rồi dì lại gõ tiếp:

– Điện tín nè! Ông Trương Sanh!…

Lão tổ Trưởng không còn bụng dạ nào giảng giải nghĩa vụ công dân trong xã hội mới nữa, vội vã lủi mất. Lủi còn nhanh hơn cả ông Trương Sanh đang cuống cuồng nhảy bổ từ lầu hai xuống, lính quýnh mở mấy lần cửa khoá, then cài. Lúc ông ló mặt ra , dì Năm cười hề hề:

– Còn trốn nữa hay thôi?

Lão Trương Sanh mỉm cười cầu tài:

– Trốn! Ai thèm trốn chi!

Rồi lão hỏi:

– Đâu? Điện tín đâu?

Dì Năm dẩu môi:

– Ham lắm! có điện tín của nhà nước thì có. Điện tín mời đi họp tổ dân phố nè!

Thấy bị lừa bịp quá trắng trợn, lão Trương Sanh la lên:

– Trời đánh mụ lắm đó nghe! Người đâu mà mặt sứa quá vậy!

Dì Năm chỉ rộ lên cười. Đến lúc Trương Sanh đùng đùng kéo cánh cửa sắt lại và đóng thêm cánh cửa gỗ kêu đánh rầm thì dì còn kêu to:

– Tối nay tám giờ nghe ông Trương Sanh. Đúng tám giờ khai mạc buổi họp đó!

Cái trò loan tin trắng trợn này dì Năm không chỉ áp dụng một lần. Nói cho ngay, cũng có hôm dì nài bằng được ông phát điện tín để cho dì trao tận tay Trương Sanh một kỳ.

Lần đó dì kêu ông Trương Sanh bằng giọng quả quyết hơn khiến cho ông bán tín bán nghi. Ông chỉ đứng thập thò mà không thèm mở cửa. Đến lúc dì Năm la lên:

– Không mở cửa ra tui trả cho bưu điện rán chịu à nghe.

Chừng đó Trương Sanh mới chịu kéo cánh cửa ra. Và lần này thì lão toại nguyện. Lão quên những cơn giận dữ lần trước. Lão vồ lấy cái điện tín và cảm ơn dì Năm rối rít. Nhưng trước sau thì cũng có mỗi một lần. Còn kỳ dư những bận khác, dì Năm cho lão leo cây cả. Lão tức điên người lên, nhưng chẳng lần nào lão có đủ kiên gan để mà bỏ ngoài tai câu réo ầm ĩ của dì Năm:

– Ông Trương Sanh ơi, có điện tín ngoại quốc nè!

Riết rồi ông phát bệnh lên vì cái trò trắng trợn ấy. Có lần ông tức quá đứng chết trân ở ngay ngưỡng cửa. Lúc dì Năm đi rồi, ông quị ngay xuống đó. Cơn tức khiến cho ông muốn ngộp thở. Nhưng cả tháng mòn mỏi chờ điện tín của thằng con, lúc nghe có điện, dẫu thế nào ông cũng mừng quýnh lên, mừng xong thì đến lượt bứt râu, đấm ngực thùm thụp “ già rồi mà vẫn còn dại với con mẹ trời đánh thánh vật đó!”.

Nói cho ngay, trong một hai năm  đầu, mọi thứ chưa ổn định ra đâu và đâu thì bầu không khí sinh hoạt trong Phường còn mang cái vẻ ỡm ờ kiểu đó. Vả chăng mọi người vẫn còn rủng rỉnh tiền bạc, đời sống có khó khăn nhưng còn có cái đem bán để mà ăn. Chừng hai năm sau, mọi sinh hoạt đều như ngả sang màu tái xám. Nhịp độ ồn ào chậm đi. Nụ cười của mọi người đã thấy gượng gạo, héo hắt. Nhìn mặt ai cũng thấy vêu vao, cặp mắt lờ đờ thiếu linh động, rõ ra là thiếu chất thịt trong dinh dưỡng hàng ngày. Guồng máy chính quyền cứ siết chặt lại. Trước tiên là đồng chí Sáu Đăng, Phường uỷ, được tổ chức sắp xếp đi học bổ túc văn hoá. Căn trụ sở chi đoàn thanh niên của Liễu cũng lập tức bị thu hồi. Liễu nghe “trên” giải thích:

– Địa bàn xung kích của thanh niên bây giờ là vùng kinh tế mới. Đồng chí hãy cố gắng vận động thanh niên trong Phường hăng hái tham gia nhiệm vụ đó. Vậy mới xứng đáng với danh hiệu “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Liễu thừa thông minh để hiểu được rằng viên Phường uỷ mới nhậm chức muốn mình nộp đơn xin xung phong đi vùng kinh tế mới. Nàng vụt thấy mọi sinh hoạt, cố gắng của mình trong hơn một năm qua chỉ là một thứ trò rỡn chơi.

Nàng đã có thể phát biểu như vẹt bất cứ vấn đề gì trong các tài liệu học tập, nhưng từ lý thuyết bước sang thực hành, nó là cả một sự biến chuyển sâu xa từ cội rễ. Trong hai năm qua, Liễu nói bằng mồm rất nhiều, nhưng nàng luôn luôn che  giấu trái tim của mình. Nay đã đến lúc nàng phải moi trái tim đen ra ngoài ánh sáng để biểu lộ sự tuyệt đối trung thành với xã hội mới. Cọng rơm ba mươi của nàng chỉ qua một lời phát biểu của viên Phường uỷ mới tới đã phút chốc cháy xèo. Liễu thấy đắng ở miệng và nàng lẳng lặng rút lui. Cô gái Sài Gòn trước sau gì cũng chỉ là cô gái Sài Gòn, mặc dù trước đó có thử đội lên đầu đủ thứ nón tai bèo, bộ đội hay xỏ vào chân đôi dép râu kệch cỡm. Liễu ghé qua nhà cậu Sáu Đăng để thông báo cho ông ta biết ý định của Phường uỷ là vận động một đợt thanh niên đi tham gia vùng kinh tế mới. Cậu Sáu Đăng phát biểu ngay:

– Cháu tới đó không được đâu. Chỗ người nhà cậu nói thiệt!

Liễu mỉm cười:

– Cháu biết. Cháu có nhiều người quen đã đi về đó. Họ kể nghe thấy mà ớn. Cán bộ giao cho căn nhà thì xiêu vẹo như đồ chơi trẻ con, cỏ trong nhà mọc cao tới đầu gối, lúc tiếp thu phải khua gậy khắp nơi để đuổi rắn ra khỏi nhà.

Rồi Liễu chép miệng:

– Vậy mà Phường của mình cũng có tới mấy trăm gia đình rỡ nhà đi vùng kinh tế mới rồi đó chứ.

Liễu nói với cậu mà như thốt ra lời thú tội với chính mình. Trong quá trình công tác, Liễu tham gia tích cực nhất trong công cuộc vận động bà con trở về vùng kinh tế mới. Rất may, ông Sáu Đăng đã giải tỏa cho nàng ít ra là một phần mặc cảm tội lỗi. Ông ấy nói:

– Chúng nó nói một đằng, làm một nẻo. Kế hoạch thì hay ho lắm, mà điều chỉ toàn trên giấy tờ. Mình nghỉ thôi, cháu ạ.

Nói xong ông Sáu Đăng lẵng lặng rút vào trong nhà, Liễu nô rỡn với mấy đứa em một lát rồi cũng về. Trên đường phố Liễu gặp dì Năm đang ôm một lẵng đựng đầy thóc những thẻ nhang và hương vòng. Hồi nầy trông dì cũng có vẻ già sọm đi. Công việc buôn bán của dì ngày càng tệ. Bây giờ ai cũng lo chạy gạo, tiền đâu ra mà mua hương cúng bái. Thôi thì tâm thành là chính, vái suông cũng đủ tâm động quỷ thần linh. Mặt của dì vêu vao thấy rõ. Có nhiều hôm dì không bán được lấy một thẻ nhang. Buổi tối trở về căn phòng xếp tối om, dì không buồn châm lên ngọn đèn dầu hay nhóm bếp để đun lấy ấm nước. Dì nằm lẳng lặng xuống tấm ván gỗ kê bên vách tường xoay trở trong tiếng muỗi vo ve nhức óc. Đói. Cái đói hành hạ làm dì trằn trọc. Ở phía bên kia vách tường, mấy đứa con của Lý cũng ti tỉ khóc. Tiếng khóc của lũ trẻ vì thiếu ăn, tiếng trăn trở của bà cụ già trên ván gỗ vì nhịn đói, đã xẩy ra hàng đêm, riết rồi cũng trở thành những âm thanh bình thường sau ngày Sài Gòn được giải phóng.

NHẬT TIẾN
Santa Ana 29.3.1983

Những Con Đường Việt Nam. Tùy bút của Mai Thảo.


Mai Thảo

Những con đường Việt Nam

Đất nước chúng ta, trong cái muôn vàn điệp điệp của những đời sống nhỏ và những thân thế nhỏ- để riêng chỉ là những phiến lẻ và những tờ rời, nhưng cùng đựng chung một lẵng thời gian, là một tổng hợp làm nên Đời Sống Lớn và Thân Thế Lớn- đã có những đời sống và những thân thế dài thẳm ấy của những con đường. Tỏa thành nan quạt trên ba miền quê hương, vẽ thành bàn cờ, mê cung trên địa hình đất nước, từ rất nhỏ và mang linh hồn ngõ, tới rộng xa bát ngát mênh mông chân biển chân trời, những con đường Việt Nam, đã có một tiến trình đường và một lịch sử đường toàn vẹn hơn tất cả những đời đường và những kiếp đường thế giới.

Tôi đã nghĩ đến những con đường của hiện tại Việt Nam như vậy. Như những hiện tượng đời sống sinh động, mất và còn, thay hình và đổi dạng, theo một quy luật biện chứng. Tôi đã nhìn thấy những lòng đường của thời chiến và thời bình Việt Nam như vậy. Đường bước cùng thời thế. Đường đi theo đời người. Mỗi dặm biếc là một đánh dấu, mỗi dặm hồng là một chứng tích, ở đó đã biểu hiện đằm thắm và đau đớn rực rỡ những dấu chân ta và những khởi hành ta. Nói đến những con đường Việt Nam, nói làm sao hết chuyện của những cây cột trắng. Kể chuyện những đời đường đất nước, kể làm sao hết tâm sự của sỏi, linh hồn của đá. Đường có máu chảy và có tim đập. Đường có tiếng nói và có sống chết. Những con đường rất già, những con đường thật trẻ, đi từ những bình minh anh đi tới những hoàng hôn tôi, đó là những con đường Việt Nam.

Huyền thoại về đường phát sinh từ chính cái muôn vàn và muôn mặt của đường. Con đường không chỉ còn là một hình thể, một chiều dài, một diện tích. Định mệnh của lối, hiện hữu của ngã, không chỉ còn giản đơn là một nơi để đi, một chốn để về. Mà hòa nhập bằng một hòa nhập tận cùng của chuyển mình đất nước một đêm kia, dưới một chùm sao báo tin cách mạng, những con đường Việt Nam hai mươi năm nay đã đồng loạt thức giấc, đi ngút ngàn thành ba mươi triệu dấu chân đi. Con đường đã trở thành một ý, một sự. Một hiện tượng và một trạng thái đường. Mỗi lối về đã trở thành một tấm gương soi, thấy mưa bay và giông bão. Mỗi ngã đến đã trở thành một giai đoạn sống, dừng lại thấy quá khứ, đi nữa thấy tương lai, quay sang tả thấy máu chảy, ngó sang hữu thấy lúa xanh, cái trước mặt và cái sau lưng của một đời người, một đầu này, một đầu kia cùng hiện rõ. Những con đường của chúng ta đều vang dậy trong chúng những vang động không cùng như vậy. Chúng là suối róc rách, là sóng ào ào, là biển bao la, là triều dào dạt. Những con đường đứng lên. Và sống. Dũng mãnh. Những con đường ngã xuống. Và chết. Tan nát. Đưa tới những chân trời, bằng dặm vàng xe lăn gấp gấp, ruổi tới những xóm làng bằng chân chuyển tấp nập, của tản cư trong đêm, chuyển quân dưới nắng, tiễn biệt lúc sương mù, trùng phùng khi nắng dấy, băng qua những chiến hào, vượt qua những hầm hố, một vĩ tuyến bỏ qua, một mật khu bỏ lại, từ độc đạo trong rừng, tới xa lộ giữa lúa, nghiêng nghiêng bóng dừa miền Nam, lượn lượn lũy tre miền Bắc, xanh bóng núi từ Nam Quan đường xuống, vàng dáng biển từ Cà Mau đường về, đón cách mạng lên, mời đảo chính tới, những con đường có tim đập và có hơi thở ấy là những con đường Việt Nam, tôi muốn nhớ lại tất cả một lần. Bằng những dấu chân một đời đã gặp.

Những con đường thứ nhất của người cũng là của một thời thanh bình đã mất, là những lối đi dưới lá, trong cây, nhỏ, yên, lắng động và thơ mộng hiền hậu. Đó là những sợi chỉ hồng múa lượn dịu dàng giữa hai bờ cỏ, lòng đất mát thơm da thịt. Đó là những sợi chỉ biếc thả luồn trong nắng, mỗi buổi sáng mùa xuân mưa phùn lất phất, mỗi buổi trưa mùa hè chập chờn những cánh bướm lang thang. Chiều, hoàng hôn màu tím đến êm như tình nhân. Đêm, cái mái tóc óng ả của con trăng hiền là một mái tóc bằng hữu. Đom đóm bay theo vui tôi ở đó, vui của đầu đời lớn dần với tuổi. Tiếng gà gáy, tiếng chim hót, tiếng rì rào của lá tre múa múa, của trâu bò về chuồng, của lúa rơi ngày mùa, của gió trong vườn, của mưa đầu ngõ, tôi đã nghe thả xuống những lòng đường ấu thơ thuở ấy, mỗi con đường là một dàn nhạc, đất đựng âm thanh, đường trong đất là một phím dương cầm, đất trong đường là một phòng vi âm, thu và phát hết những lời ru và những ca khúc sáng tươi trăm nghìn của thôn dã. Chân chim sẻ nhảy trên lối tuổi hồng. Lối đến của ca dao, ngã vào của lục bát, lá trên đầu lợp mái, cỏ hai bờ trải thảm, tôi là con sáo nhỏ ngậm một bông hồng hàm tiếu bay hồn nhiên trên đường thơ thơ. Rồi thình lình là chấn động và phá vỡ lớn. Cùng với đất nước, người người lớp lớp đứng lên bằng những dấu chân chuyển núi của khởi nghĩa và cách mạng, là sự hiện hình kinh dị, thảng thốt của những đời đường và những kiếp đường mới.

Những con đường Việt Nam

(Khu phi quân sự vĩ tuyến 17)

Lửa tiêu thổ cháy bùng ngọn đỏ. Những thị trấn san phẳng. Những xóm làng mất tích. Và những con đường Việt Nam hùng hậu, từ lối mòn tới nẻo khuất, từ cái quan tới quốc lộ, đã đổi ngược hẳn đi cái ý nghĩa, cái thực thể đường. Hết là một nối liền, lối là một chặt đứt. Thôi là một dẫn tới, ngã là một đứt rời. Khi chiếc ụ đất đầu tiên được đắp lên trong đêm đen đặc, tối tăm thứ nhất của hủy phá toàn diện, trong tiếng thét dậy đất của bạo động khởi sự, còn là tiếng kêu thất đảm của giao thông tử thương và rãy chết cùng khắp vang lên. Búa chim bổ xuống đầu. Xẻng cuốc đâm trúng tim. Mìn nổ. Bằng những con dốc chênh vênh khóc xuống những cây cầu đổ sập, bằng những khúc quành chi chít những nhát đâm, lỗ chỗ những vết chém, bằng sắt đường tàu cắm tua tủa vào thân thể tan nát như từng chùm lông nhím, bằng chông dựng ngược và bằng bẫy đặt ngầm, là những tay chân óng ả uyển chuyển của đường bị chặt cụt, là những đời đường thương phế binh. Trí nhớ của tôi, trí nhớ nằm trong những bước chân đã đi qua suốt một thời kỳ lưu động lang thang từ rừng xuống biển, còn nguyên vẹn cái cảnh tượng hồng hoang ấy của những đời đường lâm nạn. Đường là một nghĩa địa. Mỗi cột cây số còn sống sót là một mộ chí màu trắng. Thân cây nằm dọc. Chướng ngại đứng nghiêng. Trên những chữ chi của hố chữ nhật, trên những khúc quanh của hố hình tròn, bằng biểu ngữ chăng ngang, bằng cổng chào dựng thẳng, những con đường Việt Nam bị cắt gân, tùng xẻo, điểm huyệt. Và chết. Tôi đã đi trên những đường đời lâm chung ấy. Nghe sỏi nức nở. Nghe đá quằn quại. Thấy đất hủy thể. Thấy cỏ tan tành. Những bước chân người vì vậy mà cũng đổi khác. Từ một hóa thân tập thể của đường, những huyền thoại bắt đầu. Kẻ lữ hành phải tập cho mình một lối đi mới. Những con đường của chiến thời đã thay đổi hẳn bộ mặt đất nước. Bằng một thay đổi hoàn toàn. Chúng ta đã đi như thế nào từ hai mươi năm nay. Con đường nào là con đường dài thẳm nhất. Chân bước về phía tả hay chân đi về phía hữu. Những tên đường đã có, đã mất, đã lỡ và đã lạc. Đi cho chân cứng đá mềm. Đi cho trời yên bể lặng. Hành trang nào và lúc nào là giờ hoàng đạo. Những con đường riêng, kín thầm, nhỏ nhỏ. Những con đường chung, bát ngát mênh mông. Điều đáng nói và đáng tìm hiểu nhất là những dấu chân của người trên những thân thế và những đời sống ấy như thế nào? Riêng tôi, bước chân đã mỏi, con đường còn dài. Trên một trạm mang tên là hoài nghi, những dặm biếc, những dặm hồng từ lâu không thấy nữa.

Mai Thảo

https://123hoang.wordpress.com/2012/08/25/nhung-con-duong-viet-nam/

Nhận Thư Con. Truyện Ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

Bà cụ Tám quẹt đến que diêm thứ ba rồi mà vẫn chưa châm được mồi lửa. Diêm quốc doanh hồi nầy tồi tệ quá, đầu que chỉ dính chút xíu thuốc mồi, lại mềm xèo, quẹt vô vỏ bao chỉ bở toẹt ra và bốc khói lên thôi. Cơn bực bội của cụ như có thêm được lý do để nổ bùng. Cụ ném văng hột quẹt xuống vệ đường và la lối:

– Tổ cha nhà nó, diêm quẹt thế nầy cũng bán cho người ta.

Rồi cụ lật thúng, lật rổ đùng đùng như thể kiếm xem trong gánh hàng của cụ còn sót lại bao diêm cũ kỹ nào không. Ngồi ngay bên cạnh, chị Bảy bán xôi bắp thấy sốt ruột phải kêu lên:

– Thôi đi ngoại ơi, vía van ở đâu ra mà đốt hoài! Từ sáng ngoại đốt đã hai lần rồi, cũng đến vậy thôi.

Bà cụ quay sang sẵng giọng:

– Có đốt có hơn, có kiêng có lành chớ. Mới mở mắt ra đã mấy đứa tới ám quẻ, làm gì không xui.

Chị Bẩy bật lên cười:

– Ai mà ám quẻ ngoại làm chi. Khoai của ngoại sùng, người ta mất tiền mua, người ta phải kêu nài chứ. Tội là tội mấy thằng trong ban điều hành Hợp tác xã kia kìa. Chúng nó ăn tay với bọn đi thu mua, đem về toàn đồ dỏm rồi bắt bà con tiêu thụ. Ngoại ham rẻ buôn lại mấy thứ nợ đó rồi có ngày hết vốn!

Lời phân giải của chị Bảy chẳng làm nguôi ngoai được bà cụ chút nào mà trái lại còn khiến bà cụ tức tối thêm. Cụ với tay chụp lấy cái vỉ đập ruồi khua loạn xạ lên mấy cái mẹt trước mặt khiến cho những con nhặng xanh, những con ruồi đen kịt đang bu trên mớ khoai lổn nhổn vụt bay lên tán loạn.

Một lát sau, cơn tức giận của cụ dịu xuống. Cụ bắt đầu chú ý nhìn ra chung quanh. Con hẻm chật chội lõng bõng bùn nước vì cơn mưa đêm qua, vào lúc này đã tấp nập người qua lại. Mấy đứa nhỏ còn có cơ hội đi học đang cắp sách đến trường, trên cổ đeo những chiếc khăn quàng màu đỏ chói mắt. Vài người trong xóm tay xách những chiếc bao tải, những cái giỏ không, bên nách kẹp cuốn sổ hộ khẩu và sổ thực phẩm đang đi đến trụ sở của Hợp tác xã Thương nghiệp. Ở trước căn nhà nhỏ được dùng làm trụ sở của Chi đoàn Thanh niên, một đám thanh niêm nam nữ đang tụ tập mỗi lúc một đông. Không biết hôm nay có công chuyện gì mà thấy lển nghển đủ thứ cờ quạt, khẩu hiệu và biểu ngữ. Xế cửa bên mé đó là trụ sở của một tổ hợp may cắt, vào lúc nầy cánh cửa cũng đã mở toang, bên trong thấy lố nhố nhiều người. Một cái xe vận tải nhỏ đậu chình ình ở đó ngay từ sáng sớm hiện đang bốc dỡ những xúc vải lớn để khuân ùn ùn vào bên trong nhà tổ hợp. Hồi nầy cách làm ăn bên đó có vẻ trúng mối. Nhà nước gởi tới may loạt sơ mi dài tay bằng vải trắng có chạy những đường kẻ sọc màu xanh hay nâu. Một lần bà cụ Tám đi ngang qua đó vào buổi chiều, có tiếng của Hảo, con gái ông Đông bên hàng xóm, gọi véo von:

– Ngoại ơi! Coi nè!

Bà cụ đứng khựng lại, ngó vô. Bà thấy cái Hảo đang xoè rộng cái áo sơ mi vừa được nó may xong và giơ lên cho cụ thấy. Ôi chao là dị kỳ. Nó dài, nó to, nó rộng, chỉ nội cái thân đã nuốt thòm lỏm hết cả từ đầu con bé xuống đến quá đầu gối rồi. Bà cụ kêu lên:

– Áo sơ mi nầy may lớn thế thì bán cho ai ?

Cái Hảo vừa cười ngặt nghẽo vừa trả lời:

– Đâu có bán cho ai. Cái này nhà nước xuất khẩu đi Liên Xô!

À ra thế. Hèn chi mà vải vóc cứ chở đến ùn ùn, công nhân ra vô tấp nập, đèn đóm ở đó sáng choang từ sáng đến tối. Hôm đó vui chân bà cụ Tám tạt ngay vô nhà và xoè tay bốc cái vạt áo sơ mi lên để xem cho tận mắt cái vải “xuất khẩu đi Liên Xô” nó ra làm sao. Bà cụ không tin ở mắt mình. Bà vê đi vê lại cái mặt vải trên mấy ngón tay. Rồi bà kêu lên:

– Cái này vải bông xí òm, giặt đi một nước thì nó nhão nhoẹt ra rồi nhăn túm lại chớ gì.

Cái Hảo mỉm cười:

– Thì thế! Hồi trước mình đâu có xài mấy thứ nầy để may áo sơ mi. Giỏi lắm thì cũng đến chỉ để may áo gối thôi.

Cụ Tám càng ngạc nhiên:

– Vậy chớ sao đem xuất khẩu đi Liên Xô?

Cái Hảo phá lên cười:

– Ngoại đi mà hỏi mấy ông nhà nước chớ cháu làm sao mà biết đường trả lời. Mà “Xô” thì “Xô” chớ cũng nghèo chết ra ấy chớ, có cái mà mặc cũng quí rồi.

Thế chẳng cần “đi hỏi mấy ông nhà nước”, Cụ Tám cũng đã hài lòng về cách giải thích của cái Hảo rồi. Cụ cười khà lên một tiếng rồi đi ra. Trong bụng cụ nghĩ vừa ấm ức, vừa tức cười. Tổ cha mấy thằng liếu láu bên ban Thông tin Văn hoá phường. Lúc nào cũng dẻo cái mồm “Liên Xô vĩ đại, Liên xô vĩ đại”, làm như chỉ cần nói cho lấy được, bất kể trắng đen. Tuy nhiên bà cụ Tám cũng chả bận tâm gì nhiều đến chuyện đó. Chúng nó nói gì thì nói. Nói riết rồi đâm nhàm, chả ai thèm để ý. Mối lo âu duy nhất của mọi người bây giờ là làm sao chạy ra cái ăn. Sự thiếu thốn cứ thế mỗi ngày một hiện ra rõ ràng trước mắt. Mặt ai cũng xanh xám, gò má vêu vao, mắt như đục đi, răng miệng như hô ra, nụ cười cứ mỗi lúc trở nên héo hắt.

Riêng cụ thì từ ngày thằng Quang đi học tập, cụ bám riết lấy mớ thúng mủng hàng ngày ra ngồi ở đầu hè. Hàng họ bầy bán ngày một sa sút đi. Trước đó còn có đôi quả xoài, dăm nải chuối, vài trái thơm và linh tinh bánh kẹo đủ thứ. Nay thì chỉ còn phần lớn là những củ khoai lang, khoai mì và mấy trái cóc, trái ổi đèn đẹt. So với những dãy hàng rong ngồi la liệt ở khu hẻm nầy, gánh hàng cụ Tám thiểu não nhất.

Ngay bên cạnh cụ, chị Bảy cũng còn có gánh xôi khá tươm tất. Một bên là cái thúng lớn, trong chia nhiều ngăn được được ủ kín bằng những tàu lá chuối có cả xôi bắp, xôi vò, xôi đậu xanh, đậu đen. Bên kia quang gánh là linh tinh bát đũa đủ thứ. Ai mua mang về được gói trong một mảnh giấy to bằng bàn tay được lót một mẫu lá rong. Ai ăn tại chỗ thì có bát đũa tươm tất. Tính chị Bảy vừa đàng hoàng, vừa rộng rãi. Chả bao giờ chị nỡ từ chối một bác xích lô xin thêm ít mỡ hành, hay một thằng nhỏ năn nỉ đòi thêm một thìa đường chẳng phải loại đường như trước mà là thứ đường cục được nghiền nát thành bột. Chị Bẩy may mắn hơn nhiều người là chồng chị không phải học tập cải tạo. Những ngày đầu có lệnh của Uỷ ban Quân quản bắt các cựu sĩ quan phải đi tập trung, hễ có ai hỏi thăm về trường hợp của anh Bảy, chị cười sung sướng, khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên:

– Ảnh mới có hạ sĩ thôi à! Hạ sĩ chỉ học có ba ngày rồi nhà nước cho “dìa”.

Chả bù với ngày xưa thấy bạn bè có chồng con nên chức nên phận, những lúc giận nhau với ảnh chị vẫn đay nghiến:

– Anh thì làm nên cái cơm cháo gì. Hơn mười năm ở lính vẫn lẹt đẹt cái “hạ sĩ”.

Nào ngờ, sau một cuộc đổi đời, lại có lúc chị nhắc nhở đến chức tước của anh như một thành tích vẻ vang, trong khi đó mấy đứa bạn cũ hồi còn đi học nay lấy chồng sĩ quan, đứa nào đứa nấy khóc sưng đỏ vù cả con mắt.

Sau ba ngày học tập ngay địa phương, anh Bẩy được trả quyền “công dân”. Thỉnh thoảng anh vẫn lầu bầu:

– Mẹ kiếp, công dân ở cái xứ nào không biết, chứ trong cái xã hội chủ nghĩa này thì số phận lúc nào cũng đen như mõm chó.

Chị Bẩy phải lừ mắt nhìn anh để nạt nộ và có lúc chị phải nói:

– Muốn học tập mút mùa hay sao mà cứ ngứa mồm nói năng ẩu tả. Nói cho anh hay, tụi nó bắt đầu thắc mắc cái nghề lái xe ôm của anh rồi đó.

Anh Bẩy nhìn chị tức tối:

– Lái xe ôm thì sao. Tui đâu có nhờ vả trông cậy gì được của tụi nó tí chút nhu yếu phẩm nào đâu.

– Mà điều anh không có lao động sản xuất. Thời buổi này không lao động sản xuất là ăn bám xã hội anh hiểu chưa.

Anh Bẩy kêu lên:

– Ái cha, cô đi sinh hoạt học lóm được đôi ba chữ chính trị bây giờ đem về dạy dỗ cả tui nữa há.

Chị Bẩy không tức vì anh không đồng quan điểm với mình, nhưng tức là vì anh đã gán cho chị hai chữ “học lóm”. Chị mà thèm học lóm đứa nào. Mấy cái tư tưởng lao động đó chúng nó ra rả tối ngày trong cái loa bên ban Thông tin Văn hoá Phường ai cũng nghe, ai cũng rõ chứ chị đâu thèm học lóm. Thế là hai người cãi nhau. Anh Bẩy tức tối xách cái xe máy ra đường đi biệt từ sáng tới tối. Lúc trở về, hỏi tiền kiếm được không thấy đưa ra, lại mang thêm bộ mặt đỏ ké, mồm miệng sặc sụa hơi rượu. Cuộc cãi nhau về đêm sau đó còn to hơn nữa.

Tuy nhiên những chuyện lỉnh kỉnh như vậy không xảy ra thường xuyên. Đời sống khó khăn, thiếu thốn đã khiến cho vợ chồng gần gũi thương yêu nhau hơn. Chỉ phú quý mới sinh lễ nghĩa mà, các cụ ngày xưa đã dạy thế. Cũng nhờ vậy, anh Bẩy đỡ đần chị khá nhiều khi mỗi ngày anh chịu xách xe ra cổng, đầu đội mũ tùm hụp, móc một bên túi áo trên ra lọ thuốc muỗi chứa đầy xăng mồi mồi một chút xíu cho cái máy rồi đạp cần số cho máy nổ. Cái xe máy chạy bằng dầu hôi nổ rầm rầm như cái xe hủ lô và tuôn khói mù mịt. Chị Bẩy cảm thấy khoan khoái khi được ngửi cái mùi khói quen thuộc ấy. Nó đem lại cho chị cái cảm giác dễ chịu đồng nghĩa với sự dễ chịu khi nghĩ tới buổi tối anh trở về là có tiền mua thêm chai nước mắm, hay vài bó củi, hay nửa ký đường hoặc những cái linh tinh vặt vãnh nào đó vừa hết soẳn ở trong nhà.

Còn chị thì vẫn cố thủ với gánh xôi. Chị cũng kiếm được đồng ra đồng vào nhưng thủ kỹ chẳng bao giờ nói ra với anh Bẩy là chị có lưng vốn bao nhiêu, mỗi ngày lời lãi bao nhiêu. Điều rõ nhất mà anh biết là hai đứa nhỏ nhà anh chưa đến nỗi nhịn đói, còn chị Bẩy thì tuy có sa sút nhưng cũng còn mát mẻ, phong độ lắm.

Mỗi buổi sáng vào giờ này, như sáng nay, là chị cũng đã tự bán cho mình một gói xôi nóng hổi rưới cả mỡ lẫn đường nhiều gấp đôi, gấp ba các khách hàng khác. Mùi xôi mỡ thơm phức bay sang lỗ mũi bà cụ Tám bên cạnh cứ mỗi lúc một làm cho cụ nôn nao. Cơn tức tối vì chuyện mấy đứa ám quẻ kêu nài khoai sùng, khoai thối đã nguôi ngoai trong lòng cụ. Bây giờ cụ chỉ thấy cơn đói đang râm ran chạy khắp cơ thể làm cho cụ cảm thấy hết sức khó chịu. Cái đầu cứ chòng chành. Cặp mắt nhìn đâu cũng thấy như mờ đi. Chân tay của cụ run rẩy. Trong ruột thì cái trống rỗng cứ mỗi lúc một làm cụ thấy buốt xót như có ai đang bào nạo. Đói. Đói từ chiều hôm qua. Cụ nhớ đến hũ gạo vét vơ đến hạt cuối cùng từ bốn năm ngày trước. Ngày hôm kia ra chợ định đong ít lon về nấu độn nhưng nó đòi mười đồng một ký gạo. Trong khi ấy thằng Quang hồi mấy tháng trước viết thư về chỉ xin một gói muối mè rang mè, một lọ dầu gió và mấy thẻ đường bổi. Hôm nhờ người ta đọc thư của nó lên cho bà cụ nghe, bà cụ ôm mặt khóc:

– Nó biết tôi nghèo, tội nghiệp, nó chẳng dám xin gì.

Với nhu cầu thiếu thốn của nó như thế đời nào cụ dám bỏ ra tới mười đồng để đong một ký gạo. Thế là cụ chọn giải pháp ăn bậy bạ cái gì cho qua cũng được. Cụ quyết tâm dành dụm để lo phần quà chu đáo cho thằng Quang trong lần thăm nuôi tới.

Tuy nhiên mùi hành mỡ quái ác từ mẹt xôi của chị Bẩy đưa sang cứ làm tất cả các tế bào khứu giác của cụ nhất loạt đứng hết cả dậy. Mới đầu thì cụ tránh để không nghĩ tới nó. Nhưng càng cố tránh mùi thơm càng đưa lên ngào ngạt. Nó bắt buộc cụ phải quay đầu lại phía những mẹt xôi và để cho hai lỗ phập phồng đón tiếp tự do cái mùi vị mà cả hai tháng nay cụ chưa hề thưởng thức tới. Rồi cụ sững người ra nhìn chị Bẫy nhai nhóp nhép tự lúc nào mà cụ không ý thức được, không kiểm soát được. Đã có lúc cụ định xuất ra đồng bạc để mua cho mình một gói xôi. Nhưng ý nghĩ dại dột ấy lập tức bị dập tắt ngay bởi hình ảnh gầy đét, ốm yếu xanh xao như một bộ xương khô của thằng con trai cụ. Cụ cố níu lấy cái hình ảnh đó để chống trả với những cuộc tấn công của mùi hành ngập mùi mỡ béo và cả mùi thơm phức của những hạt xôi dẻo quạch. Về một ý nghĩa nào đó, quả thực cụ cũng đang bị trải qua một cuộc tra tấn bằng cân não, đánh vào cái bao tử cồn cào, đánh vào hai lỗ mũi đầy thần kinh khứu giác, đánh cả vào bộ não bồng bềnh, phiêu dạt bởi những cảm giác đói run cứ diễn ra trong đầu óc.

Cuối cùng thì cụ đành phải đầu hàng cái cuộc tra tấn ấy bằng cách lượm lên một củ khoai. Củ khoai đẹt nhất, có nhiều dấu loang lổ xanh bầm của vết sùng, vết thối nhất. Cụ run rẩy bóc vỏ bằng mấy ngón tay. Rồi cụ cắt một khoanh nhỏ đưa lên miệng. Vị bùi của khoai không lấn át vị đắng nghét của vết sùng làm cho mặt cụ nhăn lại. Bây giờ thì cụ cảm thấy mấy đứa ám quẻ mua khoai rồi đem trả lại là có lý. Khoai hư thối thế này ai mà nuốt nổi. Cắt toang một củ ra, để chỉ có một phần ăn được, còn tới bốn phần hư. Thế thì trăm tội đổ lên đầu mấy thằng bên Hợp tác xã Thương nghiệp là đúng rồi. Cụ chém cái sống dao xuống mép một cái thúng rồi bật kêu lên:

– Tổ cha nó! Khoai thế này cũng bán cho người ta.

Chị Bẩy ngồi bên chợt rích lên cười:

– Thì đã biểu rồi mà. Ngoại ham rẻ buôn mấy thứ đó có ngày hết vốn.

Bà cụ định nói một câu gì đó nhưng miếng khoai chẹn trong cổ làm cụ nghẹn lại. Vị đắng nghét đứng sững ở đó, thấm vô nước miếng rồi loang ra. Bà cụ thấy rõ cái cảm giác khó chịu đó chui xuống tận bên trong cổ họng. Còn đang lúng búng với miếng khoai và những ý nghĩ rã rời, bỗng bà cụ Tám chợt giật nẩy người lên khi nghe từ đằng xa có ai réo gọi tên mình. Quả nhiên chỉ trong một thoáng sau đó mấy đứa nhỏ đã lốc nhốc chạy lại từ phía đầu hẻm, vừa chạy vừa la chói lói:

– Cụ Tám có thư! Cụ Tám có thư!

Những tiếng la có tác dụng làm cho người cụ chết sững lại. Cụ quên cả đói. Quên vị khoai đắng nghét còn chứa đầy trong miệng. Quên luôn cả sự hờn giận mấy đứa làm ăn bê bối bên Hợp tác xã Thương nghiệp. Trong đầu óc cụ bây giờ chỉ còn lùng bùng mấy tiếng “Cụ Tám có Thư. Cụ Tám có thư”. Cụ muốn nhỏm dậy nhưng toàn thân đã tê điếng. Củ khoai nham nhở còn nằm nguyên vẹn trong mấy ngón tay nhưng bây giờ ngó như tất cả đều đang run bắn lên. Cụ cũng cố cất lên một lời đáp lại tiếng la của lũ nhỏ nhưng giọng nói của cụ cũng như bị tắc lại. Cụ chỉ còn biết giương to cặp mắt nhìn về phía đầu ngõ. Mọi người ở đó đông đảo quá nên cụ chưa phân biệt được gì. Duy có một điều cụ biết chắc mình đang được thụ hưởng một biến cố. Cái biến cố ấy cụ chờ đợi đã từ lâu, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, đêm nào trước khi nhắm mắt đi ngủ cụ cũng hình dung ra thân hình xanh xao, còm cõi của thằng con với một sự băn khoăn tức tủi “đến hôm nay rồi sao nó chưa có thư?”.

Bây giờ thì cái thư ấy đã tới. Nó tới một cách bất ngờ, đột ngột. Tới trong một buổi sáng mà cụ không đợi chờ, không hy vọng, một buổi sáng mà cụ cho là xui xẻo nhất vì cụ đã phải đốt vía mấy lần để xua đuổi cái xui do mấy kẻ mua hàng đem lại. Chợt có tiếng của chị Bẩy nói to làm cụ choàng tỉnh cơn sững sờ của mình:

– Vậy là có thư của cậu Quang rồi.

Chị vừa nói dứt lời thì lũ nhỏ cũng đã chạy tới. Chúng nó bu lại quanh mẹt khoai của bà cụ. Đứa này nói, đứa kia nói. Vừa nói vừa thở, quang cảnh ồn ào, náo nhiệt hẳn lên. Sự nồng nhiệt của chúng nó làm cụ cảm động. Cụ thấy rõ tất cả mọi người, kể cả lũ trẻ lam lũ, vô tội này cũng đều chia sẻ với cụ nỗi lòng của người có thân nhân đi học tập cải tạo. Nếu chúng nó không quá đông, nếu những củ khoai của cụ không quá nhiều vết sùng, và nếu cụ đã cầm chắc được cái thư của thằng Quang trên tay rồi thì cụ dám hứng chí đưa cả mẹt khoai cho lũ trẻ phân phối với nhau. Nhưng ít ra cụ cũng còn đủ sáng suốt để nhớ lại cái vốn gần chục bạc bỏ ra buôn khoai chưa thu lại được một phần tư. Cụ cũng nhớ đến ước vọng của thằng Quang viết trong những thư trước: “Con biết mẹ già yếu chẳng làm ăn buôn bán được gì. Nếu xoay xoả được, xin mẹ gửi cho con một gói muối mè rang mặn…”. 

Chỉ mới nghĩ được đến thế thì nước mắt của cụ bà đã tuôn trào. Cụ khóc vì thương nó cũng có và vì mừng rỡ hôm nay được tin của nó cũng có.

Lúc này thì người phát thư cũng đã đi tới. Vai ông ta  đeo một túi vải đựng đầy nhóc những lá thư. Một tay ông giắt chiếc xe đạp bằng cách cầm ở một bên tay lái, còn tay kia thì ông giơ cao một bao bì màu trắng loại giấy được nấu lại nên đã ngả màu úa ngà. Vừa đi ông ta vừa nói to:

– Nguyễn Thị Dần là ai?

Bà cụ la lên, tưởng như không hét to thì ông ta không nghe thấy:

– Tôi…Dạ tôi đây!

Người phát thư ngừng lại ở ngay trước mặt cụ và hỏi tiếp:

– Cụ có thân nhân nào tên Võ Ngọc Quang không?

Bà cụ đột nhiên bị cơn xúc động làm cho miệng trở nên sệu mệu:

– Dạ, đó là con tôi. Nó đang học tập cải tạo…

Nói chưa dứt câu thì cụ oà lên khóc. Cơn khóc kéo đến quá bất ngờ, mau chóng như thể là kết tinh lại ở đầu bao nhiêu là nỗi niềm tủi nhục, oán hờn, bao nhiêu là đêm thao thức, trằng trọc, chờ đợi mong thư.

Thấy cụ khóc lên một cách quá dễ dàng, người phát thư hơi sững sờ một chút nhưng ông ta cất lên lời khuyên nhủ ngay:

– Thôi không sao đâu. Nó đi rồi nó lại về mà. Học tập cải tạo chớ có phải tù tội gì đâu.

Lời nói của ông lọt vào tai chị Bẩy làm chị thảng thốt. Chị quay phắt sang nhìn vào tận mặt bác đưa thư, và cơn giận bỗng ùa đến thật mau. Chị nói như phủi vào mặt:

– Giam con nhà người ta mấy năm liền mà nói có tù tội gì đâu. Ăn gì mà ngu quá vậy.

Người đàn ông tức tối vì bị dùng hai chữ “ăn gì”, lại nữa câu nói ấy lại được sử dụng ở ngay giữa đám đông, nếu không có lời cãi lại thì mất mặt quá. Cho nên bác ta đã quay lại phía chị Bẩy sừng sộ:

– Chị nói ai “ăn” gì?

– Tôi nói cái đứa nào ngu mà biểu học tập cải tạo chứ đâu phải đi tù, giỏi có ngon thì vô đó học đi!

Bác phát thư bật lên một tiếng cười khẩy:

– Hơ! Tôi việc gì mà phải vô đó nhỉ? Tôi đâu có nợ máu. Tôi đâu có phản cách mạng. Coi chừng những quân phản động ăn nói mất lập trường mới phải vô đó thôi nghe.

Chị Bẩy đang ngồi bỗng đứng phắt ngay dậy. Chị gạt cái mẹt đang vướng víu ở chân qua một bên rồi sấn xuống lòng đường. Lần này giọng của chị tác xác hơn:

– A! Ra bác chụp mũ tôi là phản động phải không. Tôi nói sự thật như thế đó mà kêu là phản động phải không. Đi mà trình báo đi. Con này cùi rồi đâu có sợ lở .

Màn đấu khẩu không đâu vào đâu thế mà trong khoảnh khắc có vẻ trở nên trầm trọng. Bà cụ Tám hốt hoảng nhất vì sợ mất lòng người đưa thư, lần này đã vậy, lần sau nó vất vô sọt rác thì kêu ai, cho nên bà cụ vội níu ngay lấy cánh tay của chị Bẩy kéo lại và nói:

– Thôi đi mà. Chuyện có gì đâu mà xé ra to.

Chị Bẩy phân bua:

– Thì có ngoại ở đây từ đầu ngoại thấy đó. Cháu có nói gì đâu, vậy mà bác ấy kêu cháu phản động. Cháu hỏi ngoại chớ thằng Quang đi cải tạo có phải là đi tù không? Ngoại nói thật đi.

Bà cụ nài nỉ:

Thôi mà, nhắc làm chi tới những chuyện đó. Tù hay cải tạo hay học tập gì cũng được tuốt. Chữ nghĩa mà ăn nhằm gì.

Chị Bẩy được lời nói của bà Tám nên reo lên:

– Đó! Thấy không? Hiền lành như bà cụ đây cũng thấy rõ chữ nghĩa mà ăn nhằm gì. Có xảo ngôn cách mấy thì tù vẫn là tù thôi, đâu có khác được.

Bà cụ tưởng mình ngỏ lời dàn hoà cho vui vẻ cả hai bên, đâu có ngờ chỉ mới thốt lên một câu đã khiến cho mọi người hiểu lầm và chị Bẩy túm được lấy nó xài xể thêm bác đưa thư. Điều đó khiến cho cụ mặt ngẩn ra và không biết phải sửa chữa lại cách nào.

Đã thế một thằng nhỏ, đứng ở ngoài bỗng ngứa mồm la lên:

– Để bác ấy vô rồi bác ấy biết…

Bác phát thư đang đuối lý, cũng chưa bết phản ứng cách nào, bỗng túm được thằng nhỏ cà chớn ở đâu xía mồm vào, bác liền trút ngay cơn giận dữ của mình lên đầu nó. Bác liền quay phắt người lại và chỉ vào mặt nó gằn giọng:

– Này, ranh con biết gì. Mày không câm mồm tao “ goắn” chết mẹ mày!

Thằng nhỏ chột dạ về thái độ quyết liệt của bác ta, vội vã lùi lại ra phía ngoài đám đông, rồi chợt nó vùng lên chạy, vừa chạy nó vừa la to:

– Goắn đi! Goắn đi!…Người lớn bắt nạt con nít.

Mấy đứa bạn của nó cũng a dua ùa lên chạy theo. Một đứa buột mồm kêu:  Ế! Ế !…Chị Bẩy được cả lũ hỗ trợ nên vẻ hài lòng hiện rõ trên nét mặt. Chị cảm thấy cuộc đấu khẩu coi như đã ngã ngũ và phần thắng đã ngả về phe chị. Do đó chị không cưỡng lại cử chỉ của bà cụ kéo chị trở về chỗ ngồi của mình.

Bác phát thư thấy cũng chẳng còn lý do để mà gây thêm phiền nhiễu ở cái con hẻm đầy dẫy những thành phần phức tạp này nên cũng vội vã ấn vào bàn tay của bà cụ phong thư màu vàng úa và vội vã leo lên xe đạp đạp đi. Bà cụ không còn bụng dạ nào để tâm tới bác ta nữa. Bà vồ lấy phong thư như một kẻ đi trong sa mạc  nóng bỏng nhiều ngày bỗng vớ được một ly nước lạnh. Nhưng bỗng nhiên chân tay của bà mềm nhũn hẳn ra. Bà cầm phong thư trước mặt mà không tin cặp mắt của mình. Đúng nó là phong thư được gửi đi từ trại cải tạo. Đúng nó là phong thư đề đích danh tên người nhận chính là bà. Nhưng nó không phải là phong thư do tay thằng Quang đã viết bằng nét chữ quen thuộc của nó. Đấy chính là lá thư của ban Quản trại. Mà một khi Ban Quản trại đã gửi thư đến nhà cho những thân nhân thì kể như tất cả mọi trường hợp đã từng xảy ra, nó chỉ mang đến cho mọi người một sự thật kinh hoàng. Sự thật ấy bây giờ choáng ngợp trong đầu óc của bà cụ. Nó làm cho bà đang đứng ở giữa phố mà chết sững như trời trồng. Chung quanh bà có một vũ trụ đang chan hoà ánh sáng bỗng nhiên như tối sầm lại và đổ sụp xuống. Mọi người ở gần đó chỉ được nghe tiếng ở miệng bà bỗng bật ra một tiếng la “ới con ơi!” não nùng, thảm thiết, tuy ngắn ngủi nhưng chất chứa biết bao nhiêu nỗi oán hờn, tủi nhục trước khi trông thấy bà đổ khuỵ xuống kéo theo những củ khoai đèo đẹt văn vương vãi trên mặt đường…

NHẬT TIẾN
Santa Ana ngày 19.10.82

Huế Hôm Nay. Tùy bút Trịnh Công Sơn


Trịnh Công Sơn

Sinh ngày: 28-2-1939 tại Lạc Giao. Chính quán: Minh Hương. Soạn nhạc từ năm 1958-1959

Tác phẩm: 1. Trên ba mươi bản (Ướt mi, Biển nhớ, Lời buồn thánh, Hạ trắng, Tuổi đá buồn, Nắng thuỷ tinh, Chiều một mình qua phố, Xin mặt trời ngủ yên…) do các nhà xuất bản An Phú, Ly Tao, Minh Phát phát hành từ 1959 đến 1965; 2. Tập Thần thoại quê hương, tình yêu và thân phận do nhà xuất bản An Tiêm và Nhân Bản phát hành 1965-1966; 3. Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời, Những tình khúc Trịnh Công Sơn, Như cánh vạc bay, Cỏ xót xa đưa,… do nhà xuất bản Nhân Bản in ấn lần lượt từ 1966 đến 1970-71.

Trịnh Công Sơn và tiếng ru máu lệ
Tôi là một nghệ sĩ thuần tuý. Tôi chỉ diễn tả những điều gì tôi mơ ước, nhưng tôi không biết làm cách nào để hoàn thành những mơ ước của tôi!…
(Trịnh Công Sơn, trích The New York Times, 10-6-1970)

(Chân dung và thủ bút của Trịnh Công Sơn từ góc nhìn của họa sĩ Tạ Tỵ)

Một cửa sổ của căn phòng bẩn thỉu nơi tôi đang sống đã nhìn ra phía ngoài một góc thành phố đông đúc. Trong một buổi chiều, tôi nằm dài yên lặng trên ghế bố, nhìn ra ngoài cửa và tôi nhớ Huế.
Từ cửa sổ ngó ra, Huế, là hai cây bông bụt đỏ ối, những làn mưa nghiêng nghiêng trong một bầu trời ảm đạm.

Mỗi năm vào tháng này, tôi đi Huế. Đi ở đây, có nghĩa là trở về với những cái gì tầm thường như quý giá: một căn nhà chật hẹp, một tô bún bò gạo giã, bạn bè tại những quán cà phê nhỏ Mệ Tồn và giữ Huế trong tay suốt mùa hạ. Bản chất của Huế nằm trong kích thước nhỏ bé của nó. Nó không ồn ào và bận rộn. Những lề đường của Huế thân mật. Trên con đường của thành phố, bạn có thể giơ tay vẫy bạn bè suốt ngày. Khách lạ mới tới Huế có cảm tưởng rằng tất cả mọi người ở Huế đều có họ hàng với nhau.

Trước hết, tôi trở về để thưởng thức những vật tầm thường nhỏ bé đó. Tôi đã thưởng thức nó trong một thời gian ngắn trước khi biến cố Mậu Thân xảy ra.

Một sự sợ hãi lớn lao đã đến với Huế. Thật là điều khó khăn đối với tôi để quên, mùi xác thịt thối rữa trên đường Lê Lợi khi tôi cùng gia đình tản cư ngang qua đó. Hai hàng cây trước kia che chở đại lộ bằng những bóng mát cũng bị tróc gốc và trở thành những chướng ngại vật cho chúng tôi.

Nhìn vào Huế tháng Hai, tôi thấy một bộ mặt sụp đổ của thành phố cổ kính. Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài suốt tháng này. Họ là những người còn sống sót trong những cuộc chém giết, dường như họ chỉ còn thân xác mà không còn hồn. Nỗi buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn. Tất cả dân Huế sống cùng với nhau trong suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất, đều đã thở bầu không khí bẩn thỉu nhất của trại tị nạn. Tất cả đều đã được biết sự tận cùng của đau khổ. Tôi nhìn những căn nhà bên kia sông bị nổ tung vì đạn đại bác, tạc đạn rơi trên dòng sông Hương, làm mặt nước tung bọt trắng xoá. Trong những ngày đầu của trận chiến, gia đình và tôi ngồi yên lặng trong nhà. Buổi sáng đi qua trên những khuôn mặt khổ não. Các anh tôi và tôi ngồi nhấp nháp rượu trong khi đạn réo ngang đầu. Qua khung cửa, chúng tôi nhìn thấy những người lính Bắc Việt di chuyển, nấu ăn, đào hố trong vườn trước mặt nhà. Đó là những ngày đẹp trời của mùa xuân, với những giọt mưa nhẹ như sợi chỉ đan vào nhau và không khí lành lạnh. Tôi muốn tản bộ dọc theo những con đường đầy bóng mát trước cửa nhà. Tôi muốn có cốc cà phê ở một tiêm bên kia sống, trong nội thành, đằng trước Trường Âm nhạc và Mỹ thuật.

Nhưng tôi đã ngồi bất động hơn 15 ngày. Anh tôi và tôi ví những ngày của chúng tôi với những ngày của Anne Frank.

Tôi không biết bây giờ những gì có thể tìm thấy, khi tôi trở về Huế. Những cây cầu bắc ngang qua dòng sông nhỏ đã bị gãy. Tất cả mọi cây cầu An Cựu, Khe Ron, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao v.v… Một trong những cây cầu này đã chứng kiến sự trưởng thành của người bạn gái thân nhất, những dấu chân của nàng đã in hằn trên đó khi đi đến trường.

Khu nhà tôi ở bây giờ đã trở thành bãi dây kẽm gai. Căn nhà tôi, một phần lớn bị tàn phá, đã đầy rác. Ngày đầu tiên tôi trở về. Tôi ngồi duỗi dài chân tay trên một cái giường bị gãy và nhìn giọt mưa nhỏ rơi trên tôi, từ chỗ trống của mái nhà, tôi nghĩ rằng đang mơ. Thật sự, Huế chẳng còn gì cả. Bầu không khí thanh lịch, ấm áp của ngày xưa sẽ không bao giờ trở lại. Các kho tàng cổ kính và quý giá của Huế đã bị bom đạn đốt cháy.

Chỉ trong vòng hai tháng, tất cả mọi người dân của thành phố Huế đều trở thành những công nhân. Tập quán cổ truyền có từ lâu của một lối sống vương giả ở những gia đình ngày xưa đã bị xoá đi mất. Tôi đã nhiều lần bước ngang qua cầu Tràng Tiền gãy đổ nhiều nhịp. Tôi qua dòng sông Hương với con thuyền đầy người. Còn đâu sự êm đềm trong tâm hồn thành phố. Rất khó kiếm thấy một chỗ không bị lỗ chỗ bởi những hố bom.

Những con đường tráng nhựa sạch sẽ thuở nào nay đã trở nên lộn xộn, bẩn thỉu. Từng đám bụi bay lên cao suốt ngày ở hai con đường chính. Một bảng quảng cáo của rạp hát Châu Tinh vẫn còn treo ở trước cử chợ Đông Ba. Phim này dường như cũng là một điềm gở: Le Temps du Massacre.

Máu đã chảy và thấm xuống đất thành phố. Tôi đã mất nhiều thời gian ngồi trong quán cà phê trên đường Trần Hưng Đạo để quan sát những người qua lại buồn phiền, những người đã thăm được chiều sâu của sự buồn phiền. Tôi nhớ rằng tôi đã không tắm, không thay quần áo và không cạo râu cắt tóc trong hai tháng.

Sau giờ giới nghiêm, thành phố còn trở nên bi thảm hơn. Cửa nội thành đóng, đường phố bị bao phủ bởi một bầu không khí lạnh lẽo của bãi tha ma. Những ngôi mộ mới mọc lên như nấm dóc theo những con đường và lề đường trong công viên, trong vườn cam Tây Lộc và trong những cánh đồng nơi đàn bò ăn cỏ. Những bức tường của thành nội cũng đầy những vết đạn. Có lẽ hương hồn của những vị vua chúa ngày xưa và những quan lại cũng sợ hãi. Huế luôn luôn được nếm mùi bất hạnh. Từ lụt lội, bão tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng ngàn căn nhà, hàng ngàn gia đình trong cuộc chém giết tàn nhẫn ngày hôm nay, người dân Huế đã phải học cách sống trong kiên nhẫn. Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. Sẽ không bao giờ có thành phố Huế cổ kính ngày xưa nữa. Tại đây, dân chúng không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải 4 thế hệ: ông, cha, con và hcáu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn nhà được truyền từ đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng sà nhà, từng bậc cửa.

Vì thế phải cần một thời gian lâu, mọi người có thể nhìn Huế mà không nhìn thấy khuôn mặt bị tàn phá. Huế của ngày xưa đã biến mất đi khi mái cao của cửa Thượng Tứ và cửa Đông Hoà đã bị tàn phá và đầy lỗ thủng.

Tôi bước dọc theo đường thành nội nơi mà hàng ngàn căn nhà đã bị đốt cháy rụi.

Tôi đi lên An Hoà, đứng trên ngọn đồi Uông Voi và nhìn chung quanh, cạnh những hố bom sâu hơn 10 thước. Nơi đây là nhà của hàng ngàn những gia đình nghèo khó. Họ đã trở về để nhìn lại những cây chuối non, những cột gỗ, những lăng tẩm, từng bậc đá ghi lại những dấu vết của những cái gì đã một lần ở đó.

Tất cả mọi thứ đều bị tàn phá. Huế đã phải lo cúng bái thêm nhiều linh hồn con đi lang thang. Huế đã có một ngày giỗ chung cho tất cả mọi người chết, ngày mà người ta nhìn thấy nhiều đống xác người. Nhưng bây giờ lại có thêm nhiều thân người nữa. Sự tàn phá cũng càng ngày càng nhiều. Nước mắt của người dân Huế đã đủ để làm dòng suối nhỏ. Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng, tại Bãi Dâu, tại Kim Long, tại Long Thọ, là những dấu vết của một bạo lực hung ác, không có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống.

Nhớ những ngày ở Huế trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi không bao giờ có thể quên được những người mẹ chạy theo xe chở xác, đã mang đứa con trai của bà và trong khi chạy, bà đã vỗ tay cười suốt con đường lầy lội đất đỏ.

Tôi cũng sẽ không bao giờ quên được những người lính Mỹ ngồi dài trên lề đường, nhìn bà ta cười ngạo nghễ. Tôi cũng nhớ một người đàn ông già, bước những bước nặng nề, trên vai ông một cỗ quan tài bé, trên quan tài có cắm ba nén hướng đang cháy.

Huế đã sống qua những ngày tàn nhẫn. Hàng đoàn người đã đào lỗ để tìm xác cha, anh, mẹ hay chị. Những tiếng khóc của đám ma có thể làm rung chuyển cả núi rừng. Nhiều cái chết do sự ác độc của loài người gây nên. Ngày kia tôi lẩn trốn trong một thư viện của Viện Đại học Huế, tâm hồn tôi là một tảng băng. Chung quanh tôi mọi vật đều bị tàn phai. Tôi không thể nói được gì cả, khi đời sống chỉ là một trò đùa. Trong một tháng, tôi đã sống ở nơi ẩm ướt, lạnh lùng, trong bầu không khí ảm đạm của thư viện. Tôi không biết phải làm cái gì với cảnh tàn phá này. Căn bản luân lý của chiến tranh đã ra khỏi giới hạn của năng lực loài người để chịu đựng.

Huế ơi! Tôi hy vọng có một ngày thanh bình nào đó, tôi có thể trở về để ăn bánh bèo ở cây Phượng, bún bò thịt nướng ở Kim Long, bún bò tiệm bà Rốt. Tôi muốn quay trở lại để ngủ đêm trên dòng sông Hương và gọi ông Bê mang cho tôi một bát bún, rất cay, cay đến chảy nước mắt. Tôi sẽ gọi cô con gái trên thuyền mang cho tôi một con mực nướng khô, một cốc rượu nhỏ, thật nhỏ để làm cho đêm trở nên ấm hơn, những bài hát nửa đêm trở nên hay hơn và giấc ngủ hiền hoà hơn trong lúc sông lặng lờ trôi…

Trịnh Công Sơn

(Nguồn: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ)

 

 

Thềm Hoang. Truyện dài Nhật Tiến


Nhật Tiến

Truyện dài
Giải Văn Chương Toàn Quốc 1961

Thềm Hoang – Chương 1

Ai mang tôi đến chốn này
Ban đêm thì tối, ban ngày thì đen…

Tiếng đàn rời rạc bật lên giữa những ngón tay của bác Tốn. Bác ấy đứng ở đằng sau. Không cần nhìn, Ích cũng biết hai con mắt của bác lim dim dưới ánh đèn sáng. Có thể bây giờ bác đang nhếch miệng cười vì tiếng đàn của bác đột nhiên căng lên phừn phựt. Những lúc hứng chí, bác hay bật dây đàn như thế. Bật xong thì bác cười, nụ cười vu vơ bao giờ cũng chỉ nhếch ra ở nửa miệng, làm bờ môi hơi trễ xuống, đồng thời gò má của bác dúm lại thành mấy nếp nhăn. Ích đứng ở đằng trước. Nó đang hát. Tiếng hát của nó rơi lạc lõng vào tiếng ồn ào của cửa tiệm. Những lúc ấy, đầu óc của Ích hay vấn vương ở trên ngọn đèn ống có những con thiêu thân đang nhảy múa. Nhiều khi chúng nó bay chấp chới quanh mấy sợi dây đèn hoặc trước cái mồm đỏ hỏn của những con thạch sùng. Mỗi lần mấy chú này chớp được một con thì Ích lấy làm khoái, cái khoái như lúc người ta ném vào mũ của bác Tốn một đồng bạc. Mắt Ích nhìn đi vẩn vơ như vậy mà miệng nó vẫn hát, vì thế có lúc chính Ích cũng không hiểu mình đang hát cho mọi người nghe bài gì. Điều ấy làm cái giọng đang trơn tru của nó tự nhiên tắc lại. Nó quên tịt ngay câu hát ở dưới, và nó đứng ì ra với một vẻ mặt hết sức đần độn. Bác Tốn thấy nó tự nhiên câm họng vội lấy cái cùi chỏ dúi vào lưng nó:

– Nhà ông làm sao thế?

Ích nói:

– Quên mất rồi.

Bác Tốn vội búng sợi dây đàn dạo lại mấy nốt nhạc lúc trước. Ích vụt nhớ ra, nó vội vàng rít lên qua hai hàm răng sún:

Chiều… chiều nhớ em khôn lòng nguôi… nhớ em khôn lòng nguôi…

Tiếng đàn của bác Tốn lại kêu giòn ở phía đằng sau. Chắc bác ấy lại đang cười. Hát xong một bài, Ích lùi lại mấy bước. Bây giờ thì nó lại nhìn ra xung quanh. Mọi người có vẻ không nhớ rằng họ vừa được thưởng thức xong một bản nhạc. Những cái thìa vẫn múa lên trong từng bát phở bốc khói. Mùi nước dùng tỏa ra ngào ngạt. Ích hếch mũi lên cho cái hương vị thơm tho ấy thấm vào tận ruột. Nó nghĩ đến mấy khoanh hành tây trắng nõn xếp gọn gàng bên cạnh những lá hành hoa xanh biếc, rồi lại có cả tương ớt đỏ rưới lên những miếng thịt óng ánh mỡ vàng nữa. Tự nhiên nước bọt ứa ra chân răng làm Ích phải nuốt vào ừng ực. Bàn tay xương xẩu của bác Tốn chợt sờ soạng lên đầu Ích. Nó biết ý dẫn bác ta đi chầm chậm. Một tay nó nắm vào vạt áo tây vàng của bác, một tay nó chìa cái mũ dạ xuống từng bàn, không nói. Có một vài đồng bạc rơi vào lòng mũ. Ích nhón lên ấn vào túi bác. Bác Tốn mỉm cười gật gật. Sợi dây đàn bật lên rất khẽ dưới mấy ngón tay. Âm thanh rung nhè nhẹ và ngân dài trong bầu gỗ. Chợt thằng Ích đứng lại. Bác sờ tay lên đầu nó dò dẫm, thì ra nó thoáng trông thấy một lưng bát phở. Bát phở không có khói nhưng vẫn còn có thịt. Ích úp cái mũ lên đầu và bưng bát phở lên môi. Tiếng sợi phở kêu lách chách trên đầu lưỡi của nó. Mùi nước dùng thơm ngậy đưa thoang thoảng qua mũi bác Tốn, làm bác hếch mặt lên cười:

– Phở hả?

Ích nói qua miệng bát:

– Phở!

– Chín hay tái!

– Chín!

– Sướng mê đi rồi!…

Hàm răng bác Tốn đưa ra phía đằng trước. Mũi bác cũng hấp háy. Một dúm nước bọt quyện ở trong hàm, trôi một cách khó khăn qua cổ. Bác nghe thấy tiếng thằng bé mút chùn chụt và nhai khoái trá. Nghĩ đến món bở của nó bác gõ ngón tay lên bầu đàn rồi cười vu vơ. Nụ cười làm hai bờ môi của bác trễ xuống, kéo theo làn da má dúm dó lại. Mặt bác ngửa lên. Bác nom thấy một khoảng đục lờ lờ có những cái bóng mờ thấp thoáng phía đằng trước. Đứng ở đấy bác có thể nghe thấy tiếng quạt chạy vù vù trên đầu. Gió mát lùa qua lần cổ áo và mơn man trên lưng. Đâu đó quanh đây có mùi nước hoa và phấn thơm thoang thoảng. Cái hương vị rạo rực ấy khiến bác nhớ đến mỗi lần cô Huệ đi qua hàng rào vào lúc nửa đêm. Tiếng guốc của Huệ khua lóc cóc trên mặt đất gồ ghề. Một đôi lần có tiếng hỏi bâng quơ của mấy người phu xe tinh nghịch:

– Mệt không cô Huệ ơi?

Huệ đáp chanh chua:

– Mệt cái phải gió! Cha tổ bố, ít tiền mà cứ muốn của đẹp!

Cái chanh chua của Huệ làm bác Tốn rất khoái. Bác cười một mình trong bóng tối. Và bác hít nhè nhẹ mùi phấn thơm của nàng còn thoang thoảng trong gió mát ban đêm.

Khi Ích ăn xong bát phở, nó lại kéo bác đi chầm chậm. Cái mũ dạ lại chìa xuống từng bàn. Nhưng lần này không có đồng bạc nào được ném vào đấy cả. Bác bảo Ích:

– Tao đói rồi.

Ích vừa quệt ngang cái mồm còn bóng mỡ vừa hỏi:

– Về chưa?

Bác Tốn hỏi lại nó:

– Mấy giờ rồi nhỉ?

Ích bước ra ngoài, nhìn lên nền trời lặng lẽ có sao lưa thưa trên đỉnh đầu. Nó trông về phía những nóc nhà cao ngất đứng im lìm trong ánh sáng mờ nhạt. Ích đoán phỏng:

– Chắc gần một giờ.

Hai bác cháu dẫn nhau đi lầm lũi. Gió về đêm thổi lành lạnh. Bầu không khí nhẹ nhàng, mất hẳn cái ngột ngạt trong hiệu ăn. Đèn cuối phố úa vàng trên những lùm cây. Vài chiếc xích-lô đi chầm chậm vào bóng tối. Mắt Ích bắt đầu thấy díu lại Nó ngáp một cái thật dài và có mấy giọt nước mắt ứa ra nhếch nháp ở bờ mi. Ích nghĩ đến cái ổ rơm đầy muỗi và bóng tối. Nằm đấy, Ích có thể nhìn ra khung cửa đục lờ lờ của đêm mùa hạ. Những hôm có trăng, ánh sáng êm mát lùa vào tới tận mép chiếu. Khoảng sân đằng trước cũng sáng lên, soi rõ cái bể nước thấp lè tè xây cạnh mấy chum tương của u nó vẫn làm để bán ngoài chợ. Về đêm, lúc bắt đầu ngủ, Ích hay nghe thấy tiếng con Vện nằm nhá cái ống bơ lóc cóc ngoài ngõ. Xa xa, có tiếng bác Tốn hát vu vơ một mình vẳng lại từ phía bên kia bờ rào. Và trong bóng tối của nhà trên, Ích nghe thấy cả tiếng ngáy rất nặng nề của dượng Tám nữa. Thấy nó lâu không nói, bác Tốn hỏi:

– Ích nghĩ gì thế?

Nó uể oải:

– Buồn ngủ ghê!

Tiếng đàn bật lên khe khẽ. Bác Tốn không hỏi nữa, và lẩm nhẩm hát một mình trong miệng. Ích quay lại nhìn. Khuôn mặt trắng xanh và xương xương của bác có ánh đèn chiếu sáng một nửa. Mái tóc cắt ngắn ép sát vào vầng trán cao hơi dô. Hai mắt bác lúc nào cũng nhắm nghiền, cái miệng hay cười một nửa làm tăng vẻ ngạo nghễ, khôi hài. Ích thấy mến bác ở cái cười như thế. Điều mà nó khoái nhất là bác luôn luôn coi nó như một người lớn thật sự. Bác hay thủ thỉ với nó đủ các loại chuyện, từ chuyện nhà cửa, chuyện vợ chồng, chuyện đi ô tô, tầu bay, tầu ngầm, cho đến cả chuyện gái điếm nữa. Những lần hai bác cháu dẫn nhau đi qua ánh đèn đỏ gay gắt của các tiệm nhảy trên phố, có tiếng kèn xoáy vào không khí tĩnh mịch ban đêm, tiếng cốc tách va vào nhau lách cách, bác Tốn thường lắc lắc vai nó:

– Nhảy đầm khoái chứ nhỉ?

Ích đáp có vẻ thành thạo:

– Khoái đứt đuôi đi ấy chứ lị.

– Dơ bỏ bố đi.

– Dơ mà lại khoái!

– Khoái nhưng dơ! Đếch gì ôm nhau thế này, rồi lại đi uốn éo như vào xiếc. Tao thì tao khoái ở nhà với vợ hơn.

Ích cãi:

– Bác có vợ đếch đâu mà nói.

Bác Tốn cười hề hề:

– Không có nhưng mà phải biết chứ. Mày nhớn như tao rồi mày cũng biết.

Ích nói:

– Vợ chồng hay đánh nhau bỏ sừ đi.

Bác Tốn cười:

– Dào, vợ chồng như dượng với u mày thì nói làm chó gì. Phải biết hy sinh.

Ích hỏi:

– Hy sinh cái gì?

– Cái gì mà không được. Nghĩa là nhường nhau. Tao mà có vợ thì tao nhường phải biết. Yêu không chê được.

Rồi bác lại bật dây đàn, hát lẩm nhẩm trong miệng:

– Cô Huệ ơi!

Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng…

Hàm răng của bác lại đưa ra phía đằng trước. Nụ cười có vẻ ngạo nghễ lại nở trên vành môi. Nghĩ đến Huệ, lòng bác tự nhiên thấy nôn nao, cái nôn nao đầy êm ả.

Về đến vườn hoa, bác Tốn đòi nghỉ. Hai người ngồi xuống chân cột đèn. Cây đàn va vào nền xi-măng reo lên một tiếng khô khan. Bác Tốn bảo:

– Bây giờ đếm cái đã.

Vừa nói, bác vừa chậm rãi móc túi lấy ra những tờ giấy bạc. Ích vuốt lại cho thẳng rồi xếp lên nhau. Bác hỏi:

– Mấy?

Nó kiểm lại một lần nữa rồi nói:

– Hai mươi hai!

– Vậy tao mười một, mày mười một.

Chia tiền xong hai người lại đứng dậy, Ích dặn:

– Về nhà bác nói chín thôi nhé.

Bác Tốn cấu vào lưng Ích, mắt bác tìm về phía nó:

– Ôn con, mày giấu hai làm gì?

Ích vừa nhét hai đồng bạc vào sâu trong cạp quần, vừa đáp:

– Để đành ăn một chầu ga-tô thật no.

– Ăn no thì hết mấy. Sức mày chỉ ba cái chứ gì.

Ích xì một cái rồi bĩu môi:

– Ba! Ba cái chả bõ dính răng. Bác thử bỏ chục cái ra đây xem nào. Cháu chỉ đớp một cái là hết xoẳn.

Vừa nói nó vừa nghĩ đến những cánh hoa bằng kem xanh đỏ rực rỡ rắc ở trên mặt bánh. Nó tưởng tượng nếu được ngoạm một miếng như thế thì chắc sướng phải biết! Nước bọt lại ứa ra trong mồm. Ích tắc lưỡi mấy cái y như nó đang được thưởng thức món thần tiên ấy. Bác Tốn nói:

– Tao thì tao khoái phở hơn.

– Sao hôm qua có mấy bát, bác không ăn?

– Ai lại đi húp thừa ấy.

– Thế thì mua hẳn một bát. Phở gầu giòn, muối tiêu chanh ớt vào. Tuyệt!

– Đắt bỏ bố đi. Những bẩy đồng một tô. Gần một buổi đi hát của nhà cháu đấy ông ạ!

Ích cười khanh khách:

– Thế thì cả đời không bao giờ bác được ăn phở cả.

Bác Tốn cãi lại:

– Có chứ! Ngày xưa thì tao ăn khối ra. Lúc nào khoái là tao có phở ngay…

– Ngày xưa thì nói làm đếch gì! Kể bây giờ cơ chứ. Cháu mà như bác thì gọi mua đàng hoàng. Phở nóng hổi, húp vào bỏng môi, cay sè lưới ra… khoái phải biết.

Bác Tốn cười vu vơ:

– Nói như bố chó xồm ấy. Phở nóng thì còn chê thế đếch nào được.

Nói đến chuyện phở, Ích chợt nghĩ đến em gái. Cái Ngoan vẫn ước ao được ăn một mình một bát phở, mặc dầu một đôi khi nó cũng đã được nếm cái hương vị thơm ngon ấy. Nhưng phở của nó chỉ là phở trộn cơm nguội mà dượng Tám ăn thừa cho nó, hết cả nóng, hết cả thịt, chỉ lõng bõng ít nước đục lờ đờ đỏ ửng lên vì ớt. Ích thấy thương em. Nó vẫn đinh bụng khi ăn bớt được tiền thì một bận nào đó sẽ dẫn em ra chợ. Nó sẽ ăn một chầu ga-tô thật no, và em nó sẽ ăn riêng một mình một bát phở. Tuy vậy nó nơm nớp sợ dượng Tám. Nếu dượng ấy mà biết thì ốm đòn. Ích rùng mình khi nghĩ đến những lần dượng Tám say rượu đánh u chúng nó ở ngoài sân, chán tay rồi ngủ gục ngay ở bực cửa. Trong khi trên nhà xô xát ầm ĩ thì anh em nó lén xuống bếp ngồi trong xó tối. Ngoan khóc thút thít vì sợ. Tiếng dượng Tám gọi tên chúng nó giận dữ bên ngoài. Nhưng không bao giờ chúng nó dám thưa cả. Thưa thì chết. Dượng sẽ tóm chúng nó như tóm củ khoai. Và chúng nó sẽ bị dượng đá lăn lông lốc từ thềm hiên xuống sân đất. Bởi vậy chúng nó chỉ nín thở, nép mình vào ổ rơm, lặng yên nhìn ra khung cửa bếp in rõ nền trời lấp lánh những vì sao. Trời càng về khuya, gió lùa trong sân đất càng trở nên mát mẻ. Tiếng động trong xóm bớt dần dần, cho đến khi chúng nó chỉ còn nghe thấy tiếng u Tám nỉ non khóc một mình ở bậc cửa và tiếng dượng Tám ngáy pho pho ở đầu hè. Ánh trăng sáng tỏ soi rõ khuôn mặt ngây thơ của con bé. Má nó bầu bĩnh, miệng nó bĩu ra. Hai mắt nó còn ngấn lệ. Nhưng cũng có lần Ngoan thức đến khuya với anh. Hai đứa ngồi thủ thỉ nói chuyện với nhau. Ngoan kể với anh chuyện buổi sáng, chuyện buổi chiều. Có khi nó khoe với anh tờ giấy một đồng mới tinh mà nó kiếm được. Ngoan tuy nhỏ nhưng nhanh nhẹn, giỏi dắn. Nó giữ việc đi mua bán đồ đồng nát rồi đem về đổi cho bác Vang ở trong ngõ. Mới mười tuổi đầu, nhưng nó cũng đỡ được cho gia đình một món chi tiêu không phải là nhỏ. Câu chuyện của chúng nó chẳng bao giờ dứt. Chúng nó hay đố nhau xem ban ngày đã được ăn món gì sang nhất. Cả đời Ngoan chỉ nói được món ô mai vì ô mai rẻ nhất và hợp với ý thích của nó nhất. Còn thằng Ích thì nói ngay món phở thơm tho mà nó vẫn thưởng thức ở trên hiệu. Ngoan chịu thua ngay vì đối với Ngoan, phở là món quà lý tưởng rồi. Tuy vậy, nếu được ước ao, thì Ngoan không ước ao món phở. Nó mê một cái lược xanh thật đẹp cài trên đầu hơn. Chúng nó nói chuyện với nhau quên cả ngủ. U Tám đã hết khóc và nhà trên đã hoàn toàn im lặng. Ngoài ngõ chỉ còn thấp thoáng một vài cô áo trắng đi về. Có tiếng xe xích lô lăn khấp khểnh trên nền đất lồi lõm. Họ hỏi thăm nhau:

– Mệt không cô Huệ ơi!…

Vẫn tiếng chanh chua của Huệ:

– Mệt cái phải gió. Cha tổ bố, ít tiền mà cứ muốn của đẹp!

Những lúc như thế là phải hơn hai giờ. Hai anh em Ích nằm ngủ quên trên đống lá. Giấc ngủ đến với chúng nó thật dễ dàng. Khuôn mặt thơ ngây của chúng thấp thoáng dưới ánh trăng lọt qua khung cửa. Cái Ngoan gối đầu lên chân của thằng Ích. Nhiều khi chúng nó ngủ quên, lăn mãi vào gầm chạn hay ghếch đùi lên cạnh liếp. Đến sáng, Ngoan đậy sớm, quẩy hai cái sọt xinh xinh đi lên phố. Ích ở nhà thổi cơm, gánh nước cho đến chiều thì đi hát với bác Tốn. Ngày trước hồi chưa có nó thì bác nuôi thằng Đăng, cũng bằng trạc tuổi nó. Thằng Đăng láu cá hơn Ích nhiều. Nó lại xin tiền dai như đỉa nên kiếm cho bác Tốn khá bộn. Cũng vì thế bác Tốn để dành được một món tiền lớn. Một dạo bác ta tầm ngầm có ý định cưới vợ. Những đồng bạc để dành, bác cẩn thận nhét vào cái ống tre ở thành trõng. Nhưng có lần bác để cho thằng Đăng trông thấy. Nó “chớp” luôn mấy nghìn bạc và trốn đi bịệt. Bác Tốn tiếc ngẩn tiếc ngơ như người mất vợ. Những đêm buồn, bác hay mang đàn ra gẩy ở ngoài sân rồi cất tiếng hát:

Tôi mấy cô… không duyên, không nợ…

 Tôi mấy cô… không vợ, không chồng…

Giọng hát của bác buồn buồn vang trong ngõ vắng. Tiếng hát vẳng sang nhà Ích vào những đêm trời nóng nực, mọi người thao thức không ngủ. Dượng Tám nằm đập muỗi trong mùng nói vọng ra:

– Cái thằng, không mù thì khối đứa cảm.

Rồi không hiểu nghĩ lan man thế nào, dượng điều đình với bác cho Ích thay chỗ của thằng Đăng. Ích bỏ nghề kiếm củi khô để đi hát với bác từ dạo ấy.

*

Về đến nhà, Ích còn dặn bác Tốn một câu trước khi chia tay:

– Dượng cháu có hỏi thì bác nói chín thôi nhé.

Bác Tốn mỉm cười, gật gật. Bóng của bác quờ quạng đi trong sân đất. Tiếng đàn bật nhẹ và kêu rung rung trong bóng tối. Ích rẽ sang phía cổng nhà mình. Con Vện hực lên mấy tiếng. Ích vuốt lên đầu con vật mấy cái rồi đi thẳng lên thềm. Đèn trong nhà tối om om. Có tiếng cười rúc rích ở giường dượng Tám. Trong bóng tối, bàn tay cái Ngoan thò ra nắm lấy tay nó kéo xuống bếp. Ích hỏi:

– U đâu?

Ngoan thì thào:

– U đi làm hồ từ hồi chiều rồi.

– Còn tương thì sao?

– Mẻ tương này chậm vì lần trước không có đỗ ngon. Bác Nhan rủ, u đi rồi.

– Ai trong nhà thế?

– Cô xóm trong!

Hai đứa dừng lại. Tiếng cười len qua vách lá to hơn rồi im bặt. Ích dắt em ra đầu nhà. Thỉnh thoảng u chúng nó đi vắng, dượng Tám vẫn ngủ với một vài người như thế. Nhưng chẳng lần nào chúng nó dám mách cả. Cứ chỉ nhìn vào đôi mắt đỏ như tiết và nom như bốc lửa của dượng là bọn chúng nó cũng đủ dúm người lại rồi.

Hai đứa ngồi xuống thềm đất. Ngoan lấy ra cho Ích một gói nhỏ:

– Kẹo tây đây này!

Ích mở to mắt trong bóng tối:

– Ở đâu ra thế?

– Em mua đấy. Một đồng năm cái.

Ích suýt soa:

– Sang nhỉ! Hôm nay mày được bao nhiêu?

– Có tám đồng.

Ích vội khoe:

– Tao có riêng gần một chục đây này.

Ngoan nắm lấy tay anh:

– Ở đâu ra mà nhiều thế?

Ích định thú thật với em rằng mình đã ăn bớt tiền đi hát được, nhưng rồi nó lại ngập ngừng:

– Thì người ta cho chứ ở đâu.

Hai đứa im lặng một lúc lâu. Ích chợt nói:

– Tao sẽ cho mày ăn riêng một tô phở và mua thêm một cái lược.

Ngoan náo nức:

– Lược mầu xanh biếc ấy anh nhá.

– Được rồi, mai cùng đi rồi tha hồ mày chọn.

– Nhưng mua rồi thì giấu ở đâu.

Ích đáp:

– Tao có chỗ này kín lắm. Mai tao chỉ cho. Dượng Tám có tìm một ngày cũng không thấy được.

Ngoan chép miệng:

– Mình chán nhỉ. Có tiền mua mà cũng không dám dùng hẳn hoi.

Tự nhiên Ích thấy buồn buồn và thương Ngoan. Ít khi tình thương đến với nó một cách rõ ràng như thế. Thường thường có nghĩ đến em thì nó cũng chỉ biết để dành cho em cái bánh, cái kẹo là cùng, chứ không bao giờ Ích lại thấy lòng nôn nao một cách khó tả như thế. Nó nhìn trộm sang phía Ngoan. Khuôn mặt bầu bĩnh của con bé chìm mờ trong bóng tối. Bất giác Ích giơ tay tìm tay em. Ngoan lặng lẽ nắm hờ lấy anh, mắt nó nhìn long lanh ra phía ngoài sáng. Giây lâu nó bóc kẹo trao cho Ích. Hai anh em ngồi ngậm kẹo. Bốn bề im lặng chỉ có tiếng gió rì rào trên lùm cây xanh đen, xen lẫn tiếng chó sủa vu vơ ở phía đằng xa. Hai đứa cùng như cảm thấy một điều gì nhẹ nhõm. Mãi Ích mới nghĩ ra rằng tại u Tám đi vắng và dượng Tám đang ngủ với cô gái ở trên nhà. Chúng nó được tự do ngồi với nhau, lại có cả kẹo ngậm nữa. Vì thế đêm đã khuya rồi mà chúng nó chưa buồn ngủ. Ngoan kể với anh chuyện ban ngày, chuyện ở dọc đường, ở mọi nhà mà nó đến đổi đồ đồng nát. Nó nói với anh như mới khám phá một điều lạ:

– Anh Ích này, bé như em mà người ta cũng mượn đi làm cơ.

Ích đáp:

– Dĩ nhiên! Bằng mày mà không chạy được khối việc à.

– Em tưởng phải nhớn cơ chứ?

– Nhớn công nhiều, bé công ít.

– Ít là bao nhiêu?

Ích tịt mít. Nó cũng không hiểu cỡ như cái Ngoan đi ở thì một tháng được bao nhiêu tiền. Nhưng Ngoan đã ước lượng hộ nó:

– Chắc một trăm.

Ích cãi:

– Hơn chứ!

– Một trăm có cơm nuôi. Đến tết lại được một bộ quần áo.

– Sao mày rõ thế?

– Em hỏi mà lị. Giá dượng cho em đi làm như thế thì em đi ngay. Ở nhà, u với dượng hay đánh nhau, chán chết!

Ích nói:

– Nhưng cũng còn hơn là làm đầy tớ người ta.

– Ồ! Mình cũng phải làm chứ có đi xin đâu mà sợ.

Rồi nó thấy mình lỡ lời, nên vội chữa:

– Như anh đấy, cũng phải hát mới có tiền chứ!

Ích ngập ngừng:

– Chắc dượng không cho đâu!

Ngoan thấy cái náo nức trong lòng đang nhen nhúm tự nhiên tắt hẳn. Anh nó nói đúng. Chẳng bao giờ u nó và dượng nó lại cho đi như thế. Ở nhà, nó còn đỡ được nhiều việc. Nó mà đi thì chỉ mình nó sướng thôi. Ngoan nghĩ đến những chiếc nhà tây hai, ba tầng, quét vôi sáng sủa. Buổi chiều có nắng chiếu lên những dàn hoa sặc sỡ. Sân gạch ở đằng trước đầy gió và bóng mát. Đã có lần nó đi theo người ta vào trong ấy khuân các đồ chai lọ. Nó đã được đứng trên mặt đá hoa mát lạnh mà chưa từng bao giờ nó đặt chân đến. Những vòi nước máy bằng đồng sáng loáng, mở ra có nước tuôn xối xả quyến rũ nó một cách lạ lùng. Ở trong căn nhà ấy, thứ gì, vật gì đối với nó cũng đều lạ mắt cả. Từ cái quạt cao hơn đầu dượng Tám dựng đứng, xoay khắp trong phòng, đến những ổ điện nhằng nhịt, những bàn, ghế, giường, nệm, tất cả tạo thành một thế giới riêng biệt, thần tiên, khác xa hẳn với căn nhà lá ẩm thấp và tối tăm của dượng nó ở xóm Cỏ này. Vì thế mà Ngoan vẫn nuôi cái mộng trong đầu là được rời xa chốn khốn khổ ấy. Nhất là nó sẽ chẳng còn phải chứng kiến cái cảnh dượng Tám uống rượu say rồi nắm từng mớ tóc của u nó mà giật. Những khi ấy, Ngoan có cảm tưởng như chính những mảng tóc của nó đang bị bật ra, và nó chỉ biết ngồi ôm mặt khóc.

Về phần u Tám, thì nhiều lúc u lầm lì như cục đất. Trong nhà, u chẳng hay nói với ai một lời vui vẻ, ngay cả đến anh em nó. Chúng nó nhận ra sự im lặng của u có một vẻ khác thuờng. Hình như u sống với chúng nó đấy, mà đầu óc chẳng để ý gì đến ai cả. Cặp mắt của u bạc nhược, khuôn mặt trắng xanh nổi lên những nét khắc khổ và mệt nhọc. U rất chăm làm, làm như một con vật mà lại là thứ con vật vô tri giác. Ấy thế mà dượng Tám chẳng mấy khi để cho u được yên cả. Tiền u kiếm được, dượng moi bằng hết để đi đánh bạc. Mỗi lần không có, thì dượng gây sự với u để lại túm lấy u và đánh như đánh một quân thù không đội trời chung. Nhiều khi u Tám cũng chống cự lại bằng sức lực yếu đuối của mình. Như thế, trong nhà lại tán loạn lên vì tiếng khóc và tiếng chửi rủa. Anh em Ích lại rúc vào ổ rơm mà trốn bịệt.

Nghĩ lan man thế nào, Ngoan tự nhiên rưng rưng khóc. Thấy nó không nói, Ích ngẩng lên nhìn và trông thấy những giọt nước mắt ứa ra trên hai má của Ngoan. Nó hỏi em:

– Ngoan làm sao thế

Ngoan không đáp chỉ lắc đầu, và bắt đầu khóc thành tiếng nho nhỏ. Ích vỗ lên lưng em, dỗ dành:

– Mày đi làm làm gì. Ở nhà có anh, có em sướng hơn.

Ngoan càng lắc đầu mạnh. Nó biết không phải nó khóc vì không được đi làm. Nó chỉ tủi thân thôi. Mà tủi thân thì nói thế nào cho Ích hiểu được. Vì thế nó chỉ ôm hai tay lên mặt, im lặng cho dòng nước mắt nóng hổi chảy trên từng ngón tay nhớp nháp. Ích cũng ngồi yên không nói nữa. Cái vui nhẹ nhàng ban nãy không còn. Bây giờ chúng nó lại cảm thấy buồn hơn hết. Chúng nó nghĩ đến ngày mai, ngày kia và mãi mãi, buổi sáng phải đi mót củi khô và lá rụng ở mặt đường, buổi trưa nắng gắt, đi quẩy nước ở ngoài giếng, chiều tối, lúc dượng Tám uống rượu lảo đảo trở về, chửi lảm nhảm đến khuya. Mỗi cử động mạnh của dượng, ngay lúc dượng chẳng đánh ai cả, cũng đủ làm cho tim Ích đập nhanh trong lồng ngực. Ích nghĩ, dượng Tám thật là tráo trở, vui đấy, mà cũng giở mặt ngay đấy. Nhiều khi Ích dám có ý nghĩ là mình được cầm một con dao nhọn hoắt mà đâm mạnh vào tim dượng. Máu đỏ phun ra sẽ làm nó rất kinh sợ nhưng hẳn cũng hả hê biết mấy. Hả hê ngay từ khi nó mới chỉ tượng tượng ra như thế mà thôi. Cũng có lúc Ích ao ước mình được dẫn em bỏ trốn nhà ra đi. Nhưng điều ấy lại còn khó khăn hơn là sự cầm dao giết dượng Tám. Vì trong thành phố ồn ào này, tuy rộng rãi thật, nhưng nó chẳng biết là mình sẽ đi về đâu. Bất giác Ích thở dài, ngẩng lên nhìn về phía nhà trên. Ở trong vẫn tối om và chắc dượng Tám đã cùng cô gái ngủ say rồi. Nó trông lên nền trời xanh đen. Bây giờ có một lớp sương trắng đùng đục che mờ những vì sao thưa. Gió càng về đêm càng lạnh hơn và sương đêm hắt vào vai nó một cảmgiác âm ẩm. Nó kéo Ngoan đứng dậy. Hai anh em dắt nhau xuống ngủ ở nền lá khô dưới bếp. Ngoan trở mình một lúc rồi nằm yên. Còn Ích thì nhìn rất lâu ra khung cửa đùng đục trắng. Ánh sáng nhàn nhạt lùa vào đống lá một vệt sáng nhờ. Ích thấy những mơ ước vẩn vơ của mình hiện lên ở trên nền cửa ấy. Những con thiêu thân trên ngọn đèn sáng ở ngoài tiệm phở bay mơ hồ qua lại. Tiếng đàn của bác Tốn văng vẳng bên tai nghe xa xôi. Ích thiếp đi trong những cảm giác chập chờn như thế…

Nhật Tiến

Xem tiếp Chương 2

Văn Cao, Giấc Mơ Một Đời Người. Phan Lạc Phúc


Phan Lạc Phúc

Văn Cao - Phan Lạc Phúc...

(Chân dung Nhạc Sĩ Văn Cao và Nhà Văn Phan Lạc Phúc)

Đầu năm 1995, có người trao cho tôi một cuốn video mà tôi mong đợi đã từ lâu. Cuốn băng về Văn Cao: “Giấc Mơ Của Một Đời Người”. Từ bữa ấy tới nay, đã hai, ba lần xem đi xem lại cuốn băng này mà lần nào xem xong tôi cũng không tránh khỏi thở dài. Một con người tài hoa như vậy, tâm hồn lớn lao như vậy, có đóng góp như vậy mà cuối đời, sao mà tẻ lạnh, buồn tênh. Một ông già lụm cụm, râu tóc bạc phơ, một mình trong gian phòng vắng, ngoài trời mưa bay, cây bàng khẳng khiu, những chiếc lá cuối cùng đã rụng. Văn Cao nhìn “cây bàng mồ côi mùa đông” trong khi chiếc đồng hồ trên tường không ngừng nghỉ, điểm những giọt thời gian tích tắc, tích tắc. Những tiếng tích tắc ấy vang lên mênh mông trong gian phòng vắng như một câu hỏi mơ hồ nhưng khắc nghiệt: đến bao giờ.

Đến bao giờ xuất hiện dấu chấm hết cho một đời người, bởi vì không ai tránh khỏi: con người sinh ra là để chết (l’homme, un être mortel). Những tiếng tích tắc ấy như những giọt cường toan nhỏ xuống lòng người.

Khi cuốn băng này ra đời (1994) Văn Cao đã bước qua ngưỡng cửa “thất thập cổ lai hi”. Không nói ra nhưng hình như những người dựng cuốn băng này muốn thực hiện một khúc bi ca, viếng người còn sống: sợ không làm thì không kịp nữa, thời gian gấp gáp đuổi theo sau lưng. Cũng có thể những người thực hiện cuốn băng thấu hiểu cái lẽ “sinh ký tử qui” giống như người xưa, có tuổi rồi là sắm một “cỗ áo” để sẵn trong nhà phòng khi hữu sự. Hay là bắt chước mấy ông nhà Nho già ngày trước, thân với nhau đến độ làm sẵn những câu đối sinh vãng (làm sẵn từ khi còn sống) để lỡ khi bạn mình nằm xuống thì đã có sẵn câu đối, cứ thế mà treo lên. “Người sắp chết nói lời khôn – Chim sắp chết tiếng kêu thương” xem cuốn phim video này nó thảm, nó buồn là vì vậy. Ở Úc này, nghe nói có loài chim thorn bird (cũng như có cuốn tiểu thuyết lừng lẫy The Thorn Bird). Giống chim này hót hay nhất, thê thiết nhất, tuyệt vời nhất khi chiếc gai nhọn đâm thấu vào tim, máu chảy tràn trề. Máu trong tim vừa cạn thì khúc bi ca cũng vừa chấm dứt.

Cái cảm giác thảm thê, rờn rợn khi xem cuốn video này của tôi đã dự báo đúng. Văn Cao, con chim thorn bird Việt Nam đã mất vào tháng 7 năm 1995. Những người yêu mến Văn Cao đã kịp thời thực hiện cuốn băng này trước khi không còn kịp nữa.
. . . . . .

GẶP GỠ VĂN CAO

Đầu thập niên 40 tôi là một anh học trò mới lớn, tuổi mười lăm mười bảy. Thời kỳ ấy tôi thuộc nằm lòng Thăng Long Hành Khúc của Văn Cao: “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng. Trông khói sương chiều ám trên giòng sông”. Tôi cũng bắt đầu say mê Buồn Tàn Thu với lời đề tặng đáng ghi nhớ của tác giả trên đầu bài hát. “Thân tặng Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn”. Lúc bấy giờ Phạm Duy đang đi theo các đoàn cải lương suốt từ Bắc vào Nam và ngược lại. Giữa hai màn cải lương, Phạm Duy ôm đàn ra hát …“Đêm tàn thu tới, nghe mùa đông đang rớt rơi theo lá vàng. Em ngồi đan áo. Lòng buồn vương vấn. Em thương nhớ chàng.” Lối hát ấy, thời bấy giờ gọi là entre-scènes. Và Phạm Duy cho tới nay vẫn tự xưng là một kẻ hát rong, chính đã bắt đầu như vậy.

Cách mạng tháng tám bùng lên. Như một trò chơi hấp dẫn, người học trò mới lớn ném cả tâm hồn và thể xác vào cuộc đấu tranh dành độc lập cho xứ sở. Văn Cao lúc ấy nổi lên rực rỡ như một khuôn mặt điển hình của thanh niên. Vừa mang súng lục làm trưởng ban ám sát thành (Tô Hiệu – Hải Phòng) vừa là nhạc sĩ sáng tác những bản nhạc đấu tranh cách mạng: Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng, Hải Quân Hành Khúc, Không Quân Hành Khúc, Bắc Sơn v.v…

Không những thế con người cách mạng ấy còn là tác giả những khúc tình ca ngây ngất: Suối Mơ, Thiên Thai, Đàn Chim Việt, Trương Chi.

Cách mạng bùng lên, rồi kháng chiến trường kỳ … Văn Cao là một nhà sáng tác lừng lẫy. Phạm Duy lúc bấy giờ là một ca sĩ hàng đầu, được yêu mến khắp mọi nơi …
. . . . . .

Một hôm ông anh tôi mới hỏi tôi “Muốn đi gặp Văn Cao không?” Thời kháng chiến 9 năm, Văn Cao là một tên tuổi lẫy lừng khắp nước, ai mà không hát Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng … ai mà không ngâm ngợi “Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối …” Cho nên tôi nao nức đạp xe theo ông anh tôi liền. Từ quê tôi qua Thạch Thất tới Cầu Trò rồi theo đường liên tỉnh (lúc đó đã phá hoại, đào đường kháng chiến ngang dọc khắp nơi, nhưng xe đạp vẫn còn đi được) lên thị xã Sơn Tây. Từ Sơn Tây qua Quảng Oai lên bến Trung Hà. Ở đây phải đi đò qua sông Cái (sông Hồng) sang một thành phố ngã ba bên kia sông: Việt Trì. Ngày xưa chỗ này gọi là Ngã ba Hạc. Việt Trì là một thành phố trại lính. Thời Pháp thuộc có hẳn một binh đoàn lê dương (légion Việt Trì) trấn đóng khu vực chiến lược này. Đây là địa đầu của trấn Sơn – Hưng – Tuyên trong yếu ngày xưa (Sơn Tây – Hưng Hóa – Tuyên – Quang).

Sang đến bên kia sông, ông anh tôi đi tìm một người bạn “thổ công” ở miền đất này. Đó là nhạc sĩ Lưu Bách Thụ, tác giả Con Thuyền Xa Bến. “Theo gió thuyền xuôi, sóng đưa bèo trôi”. Theo ông anh tôi kể lại, Lưu Bách Thụ nguyên là lính kèn ở thị trấn này. Bây giờ ông không thổi kèn la vầy tò te, tí tét nữa mà ông sáng tác nhạc cải cách và trở thành ông bầu văn nghệ của Việt Trì.

Hôm nay, Ca kịch Giải Phóng đoàn văn nghệ đầu đàn thời ấy, gồm những khuôn mặt lớn như kịch sĩ Song Kim (bà Thế Lữ), Phạm Văn Đôn (kiêm họa sĩ, nhạc sĩ), các ca sĩ Phạm Duy, Mai Khanh, Phạm Đình Viêm (Hoài Trung sau này), nữ ca sĩ Thương Huyền, Hoàng Oanh (Hoàng Oanh xưa ở Hải Phòng không phải Hoàng Oanh bây giờ) v.v…

Văn Cao ngoài tư cách là nhạc sĩ sáng tác còn kiêm nghề tiền đạo diễn (élément précurseur) đi trước một bước để sắp xếp nơi diễn và lo liệu nơi ăn chốn ở cho đoàn kịch. Đoàn chưa đến nhưng Văn Cao đã có mặt trước ở Việt Trì. Tôi theo ông anh và nhạc sĩ thổ công Lưu Bách Thu tới một quán nước ven bờ sông. Ở đó tôi gặp một người đàn ông còn trẻ chừng 24, 25 tuổi nhưng có vẻ muốn làm già đi với cái mũ nồi sụp trước mắt và chiếc pipe phì phà khói. Người thanh niên này không đẹp trai, phải nói như vậy, nhưng có một phong cách khác người, một vẻ tự tin đặc biệt. Ông anh tôi khẽ nói với tôi “Văn Cao đấy”. Đến lượt tôi tiến tới bắt tay, anh tôi bỏ nhỏ “Cậu em tôi ở quê nhà, muốn được gặp Văn Cao”. Người thanh niên không nói gì chỉ giơ tay bắt, con mắt nheo lên một nét cười thầm lặng.

Lúc bấy giờ, tôi chỉ là một anh “nhóc” mới lớn lên, 19 tuổi, nên ngồi lặng im nghe các đàn anh chuyện vãn. Một lát sau, bún riêu, cà phê xong xuôi, ông anh tôi và Lưu Bách Thụ vội vàng đi vì nghe tin thuyền buồm chở đoàn kịch đã tới. Chỉ còn Văn Cao và tôi ngồi lại. Văn Cao vẫn không ngớt phì phà khói pipe. Tôi rụt rè nêu câu hỏi: “Dạo này, hát bài của anh sướng quá. Từ các bản cách mạng Tiến Quân Ca, Bắc Sơn sang các bản trữ tình suối Mơ, Thiên Thai. Dạo năm ngoái triển lãm tranh Cách Mạnh tháng 8 ở Khai Trí Tiến Đức còn thấy bày tranh của anh nữa. Rồi thơ “Chiếc Xe Xác Qua Phường Dạ Lạc”. Văn Cao giơ tay như muốn ngắt lời tôi “Tôi hiểu ý của bạn rồi. Có phải bạn muốn hỏi rằng tôi rồi đây sẽ nghiêng về địa hạt nào?” Tôi gật đầu, đồng ý. Văn Cao nói tiếp “Tôi sống với cả ba, nhưng thời kỳ qua có thể gọi là thời kỳ nhạc, thời của Cách mạng, của kêu gọi, của đám đông. Đến một lúc nào đó, con người phải quay về với nội tâm mình, có lẽ thời kỳ đó đối với tôi là thời kỳ thơ, thời kỳ họa.”

Với lại về nhạc, dạo này có một người bạn tôi, mới sáng tác nhưng anh ta có một sensibilité kỳ lạ (tôi còn nhớ nguyên chữ sensibilité nói rât trang trọng của Văn Cao) – Người ấy là Phạm Duy …

Thành phố trại lính Việt Trì cũng như các thành phố khác lúc bấy giờ đang tiêu thổ kháng chiến. Một rạp hát đã phá bỏ mái, không còn tường bao xung quanh, nhưng sân khấu vẫn còn. Buổi trình diễn của đoàn ca kịch Giải Phóng cho quân, dân, chính Việt Trì được tổ chức trong nhà hát ấy. Không có ghế, mọi người phải ngồi xổm xuống sàn mà coi. Có kịch “Trả con tôi đây” do những kịch sĩ danh tiếng một thời trong ban kịch Thế Lữ thủ diễn. Có đơn ca của Thanh Huyền “khi bước đi vó câu xa xa dồn bao nhớ thương”. Có tam ca Hòn Vọng Phu I do Phạm Duy – Mai Khanh – Thương Huyền trình bày. Có những bài hát hài hước “Con vỏi con voi cái vòi đi trước”, “Con mèo mày trèo cây cau” của Nguyễn Xuân Khoát do giọng ca trầm ấm và dí dỏm Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) diễn tấu. Có đơn ca của giọng hát đang được yêu chuộng nhất lúc bấy giờ Phạm Duy. Ca sĩ đêm nay hát bài của anh vừa sáng tác xong: Chiến sĩ Vô Danh. Anh đã cúi đầu chào khán giả và định rời sàn diễn thì một tiếng hô không biết của ai vang lên “Trương Chi mới, Trương Chi mới”.

Những tiếng hô tiếp nối Trương Chi mới, cùng tiếng vỗ tay từng chập nổi lên. Hồi đầu thập niên 40, Văn Cao đã sáng tác một bài Trương Chi. Bài hát chưa được phổ biến rộng rãi, mới được lưu hành hạn hẹp trong một số người thân quen với tác giả. Nhưng giờ đây sau Cách mạng tháng 8, 1945 Văn Cao sáng tác một bài Trương Chi khác, được coi là một thành tựu mới. Bài Trương Chi này chưa được chính thức phát hành; nó là bài hát đang được kiếm tìm, đang được ưa chuộng của người thưởng ngoạn. Cùng một lúc với những bài hát Cách Mạng sục sôi như Tiến Quân Ca, Bao Chiến Sĩ Anh Hùng, Bắc Sơn, Không Quân, Hải Quân … Người ta còn tìm thấy nơi Văn Cao một nguồn suối những bàn tình ca thần thoại: Bến Xuân, Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi … Người ta bàng hoàng ngơ ngẩn, choáng ngợp trước tâm hồn giàu có và đa dạng của tác giả.

Phạm Duy người ca sĩ thời danh đã ôm guitare bước ra tiền trường sân khấu. Mắt kính trắng loáng lên trước ánh đèn “măng xông”. Anh nghiêng đầu, tay vuốt nhẹ một arpège dẫn vào khúc dạo của Trương Chi. Cả thính phòng im phắc. Chỉ nghe một tiếng hát không phải từ cuộc đời này mà từ một tiền kiếp xa xôi nào vọng lại:

“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ …”

BẾN XUÂN

Đối với anh em văn nghệ, buổi trình diễn đầu năm 1947 ở Việt Trì chỉ là “công tác”. Cuộc gặp gỡ sau khi trình diễn mới là đáng kể. Chiến tranh toàn quốc mới nổ ra mấy tháng, nhưng súng đạn làm cho những cuộc gặp gỡ bất ngờ trên đường kháng chiến thêm đậm đà ý nghĩa. Chỉ mấy tháng thôi nhưng Hà Nội – Hải Phòng đã thấy vời vợi xa. Vùng ánh sáng mờ mờ kia đó là Hà Nội, nhưng đâu còn về được. “Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài” (Thơ Quang Dũng). Trong cơn mưa đêm lấm tấm của một mùa xuân muộn, mấy người bạn văn nghệ tìm đến nhau. Nhạc sĩ “thổ công” Lưu Bách Thụ và cũng là “khổ chủ” đưa mấy người bạn thân đi khoản đãi riêng. Trong một căn phòng nhỏ còn lại của một nhà khách địa phương đang phá hoại dở, mọi người tụ tập, uống rượu mía đặc biệt Quảng Oai, ăn cháo gà. Căn phòng nhỏ lù mù dưới ánh đèn dầu hỏa chỉ có dăm bảy người chen chúc. Có Văn Cao, Phạm Duy, Thương Huyền, Hoàng Oanh, khổ chủ Lưu Bách Thụ và ông anh tôi, Trần Ngọc D. Tôi may quá được “ăn theo”.

Trong số các khuôn mặt hiện diện theo lời ông anh tôi cho biết, đáng lưu ý nhất là nữ ca sĩ Hoàng Oanh. Hoàng Oanh là một người đẹp “huyền thoại” của Hải Phòng. Ở đây có hai người Hải Phòng: Văn Cao và Hoàng Oanh. Đầu thập niên 40, Hoàng Oanh đã là nguồn cảm hứng để Văn Cao sáng tác khúc tình ca bất hủ Bến Xuân “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần …” Đó là Hoàng Oanh đến thăm Văn Cao trên bến đò Rừng. Có lẽ người đẹp chỉ đến một lần, rồi không đến nữa nên trong lời ca thứ hai của bài Bến Xuân, Văn Cao kể lể “Chiều nay tôi vẫn còn ngơ ngác. Em đến tôi một chiều. Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu”.

Nàng không đến nữa, tất cả chỉ còn là kỷ niệm. “Không có em, cõi nhân gian này hoang vắng” (un seul être vous manque, tout est dépeuplé) (Thơ Lamartine). Vì vậy nên Văn Cao sáng tác Bến Xuân như một hoài niệm xót xa và đẹp đẽ nói về một cuộc tình vừa mới nhen lên đã tắt.

Được biết người đẹp Hoàng Oanh sau đó đã lên xe hoa, về làm vợ một nhạc sĩ rất tiếng tăm thời ấy cũng ở Hải Phòng, bỏ lại Văn Cao, bỏ lại căn nhà “bên chiếc cầu soi nước”.

Nhưng “hồng nhan đa truân” người đẹp Hoàng Oanh vui duyên mới đâu được vài năm, người chồng, người nhạc sĩ tài danh vắn số kia tạ thế. Hoàng Oanh trở thành một góa phụ đa cảm đa sấu.

Chiến tranh toàn quốc, người góa phụ đi theo ban ca kịch, đi kháng chiến để phần nào nguôi ngoai quên sầu muộn. Theo con mắt tôi, một gã thanh niên vừa lớn thì Hoàng Oanh vẫn đẹp não nùng. Không phải là cái đẹp mơm mởn của tuổi dậy thì, mà là cái đẹp tròn đầy của một trái cây vừa chín tới.

Bữa ăn đêm ấm bụng thêm vào chất rượu đặc sản Quảng Oai, Sơn Tây, rượu mía ngọt lừ mà say lúc nào không biết. “Thổ công” Lưu Bạch Thụ tay cầm ly rượu ngất ngưởng đứng lên “Đêm nay, không ngờ lại được gặp Văn Cao và Hoàng Oanh ở đây, hai người con yêu của Hải Phòng mà cũng là hai nhân vật chính trong bản tình ca Bến Xuân bất hủ. Để mở đầu cuộc họp mặt văn nghệ thân hữu đêm nay, yêu cầu anh Phạm Duy hát lại Bến Xuân …” Tiếng vỗ tay hưởng ứng vang lên trong căn phòng nhỏ. Trong khi Phạm Duy đi tìm cây đàn guitar tròng vào vai, Văn Cao cảm khái ngâm hai câu thơ dẫn nhập “Chiều nay run rẩy thơ đôi cánh. Một cánh chim xưa đến lạc loài”. Lời thơ chìm vào âm điệu trầm buồn dìu dặt của cung Rê thứ. Phạm Duy bắt đầu hát:

“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao cánh chim rừng, rập rờn trên khắp bến Xuân …
. . . .
Dìu vai theo dốc suối mơ ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây sao thấy lòng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền trên nước
Tà áo tung bay nghe thoáng nhẹ thẹn thùng ngoài Bến Xuân …
Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Về đâu buồm nâu còn trên lớp sóng Xuân
Ai tha hương nghe réo rắt oanh ca
Cánh nhạn vào mây thướt tha
Lưu luyến tình vừa qua …”

Từ khi nghe bài Bến Xuân năm ấy đến nay đã gần 50 năm trôi qua. Ngày ấy tôi là một thanh niên vừa mới lớn mà bây giờ, tôi đã là một anh già “thất thập” … Nửa thế kỷ … thời gian đâu có ngắn nhưng mỗi khi nhớ lại bài Bến Xuân, tôi lại thấy suốt châu thân rờn rợn. Phạm Duy không phải là một giọng ca vàng, nhưng Phạm Duy hơn người ở chỗ anh biết nắm lấy cái “thần” của từng bài hát. Bài hát đã thấm vào tâm hồn ngây dại của tôi lúc ấy và ở lại đó y nguyên.

Ở trên đời này có biết bao nhiêu mối tình dang dở, nhưng đối với tôi không có cuộc tình nào dở dang, trữ tình, dìu dặt xót xa như Bến Xuân năm ấy. Có thể khung cảnh đặc biệt trong một đêm Xuân ở Việt Trì đã ghi khắc vào tâm hồn non dại của tôi những dấu vết không phai.

Hai người tình xưa gặp lại nhau trong một đêm xuân mưa bụi. Gặp nhau đây, bao kỷ niệm xưa bừng dậy nhưng ngày mai … không hứa hẹn gì. Chiến tranh, đổ nát, chia ly. Kỷ niệm xưa càng đẹp, chia tay bây giờ lại càng đau xót. Bất giác tôi nhớ một câu thơ của J. Prévert “Moi qui t’aimais. Toi qui m’aimais. Mais la vie sépare ceux qui s’aiment” (Tôi yêu em và em yêu tôi, nhưng những kẻ yêu nhau thường bị cuộc đời chia rẽ).

GIẤC MƠ THÊ THẢM

tie1babfng-quc3a2n-ca-vc483n-be1baa3n

(Tiến Quân Ca được dùng làm Quốc Ca hiện tại)

Theo tôi nghĩ, một bài hát mà mình yêu thích thường đánh dấu một quãng thời gian, không gian nào đó, khắc ghi một kỷ niệm đáng nhớ trong đời. Bài hát ấy, thời, không gian ấy, ca sĩ ấy … tất cả tạo thành một dấu ấn không quên. Đối với tôi bài Bến Xuân là một vùng kỷ niệm của ngày đầu đi kháng chiến chống Pháp, có “giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến” có đôi người tình cũ Văn Cao – Hoàng Oanh gặp nhau rồi xa nhau, có bến giang đầu Ngã ba Hạc – Việt Trì thê thiết, có giọng hát thấm vào hồn người Phạm Duy. Nó cũng đánh dấu thời kỳ đầu đi kháng chiến của bao nhiêu lứa thanh niên kẻ trước người sau, nô nức đi vào ngày hội lớn.

Vào khoảng giữa năm 1947, ông anh tôi Trần Ngọc D. không “công tác” ở vùng Sơn Tây nữa, lúc bấy giờ thuộc khu 2, mà đi lên khu 10 tận Việt Bắc – Lào Kay mở một cái “quán biên thùy” ở miền biên giới Hoa – Việt. Tôi cũng không biết việc đó là buôn bán tư nhân hay là công tác nữa. Ông anh tôi lúc nào cũng giữ đúng qui luật, “bem” tuyệt đối. Chỉ biết là một bộ phận nhạc trong đoàn ca kịch Giải Phóng tách ra lên Lào Kay, trong đó có Phạm Duy ở quán Biên Thùy. Ít tháng sau, trong những lượt về thăm quê, ông anh tôi có mang theo những sáng tác mới của Phạm Duy như Bên Cầu Biên Giới, Thu Chiến Trường, Nợ Xương Máu v.v… Tôi bắt đầu nghĩ đến từ sensibilité (sự mẫn cảm) mà Văn Cao hôm nào trong quán nhỏ bên sông đã đặc biệt nói về Phạm Duy. Đây cũng là một khúc rẽ để Phạm Duy từ một ca sĩ chuyển sang phần đất chính của anh: sáng tác.

Bữa ở Việt Trì khi tôi từ biệt đoàn ca kịch Giải Phóng trở về Quốc Oai, Phạm Duy có chép tặng tôi bài Bến Xuân của Văn Cao có ký tên Phạm Duy mà tôi còn nhớ mãi nét phẩy cuối cùng của chữ Y trong chữ ký được Phạm Duy xoáy vòng trong vòng ngoài như một con ốc vặn. Sự lập dị của nghệ sĩ, sự “chơi trội” của một tài danh, không biết nữa, nhưng bản thân tôi giữ bài Bến Xuân này rât kỹ.

Theo tôi được hiểu, tình hình chiến sự không cho phép tổ chức một đoàn ca kịch lớn lao và cồng kềnh như đoàn ca kịch Giải Phóng. Chiến tranh du kích thì văn nghệ cũng phải du kích. Phải chia ra từng nhóm nhỏ, bám trận địa, bám nhân dân mà trình diễn. Chiếc thuyền buồm lớn chở đoàn ca kịch chỉ trình diễn thêm một điểm nữa ở Vân Đình là giải thể. Cho nên bữa chia tay ở Việt Trì hôm ấy không khí đã bâng khuâng. Thuyền đã nhổ neo rồi. Đoàn đã đi. Phạm Duy, ông anh tôi Trần Ngọc D. cũng đi theo đoàn kịch.

Trên bến Việt Trì, chỉ còn tôi ngồi lại với Văn Cao. Văn Cao nắm tay tôi khá chặt, không lặng lờ “cảnh vẻ” như lần trước. “Mình còn gặp nhau nữa chứ. À bientôt”, anh nói vậy trước khi chia tay. Tôi đạp xe đi được một đoạn, quay lại nhìn thấy Văn Cao, cái mũ béret basque kép sụp xuống mắt đang đứng sững một mình trước bến Việt Trì chập chùng sông nước.

Anh hẹn “sớm gặp lại nhau” (à bientôt) nhưng trong chiến tranh, mấy ai giữ được lời ước hẹn. Sớm gặp lại nhau. Sớm là bao nhiêu lâu? Một vài tuần, một vài tháng, một vài năm? Ở đây là 50 năm, tôi mới được gặp lại anh. Mà không phải gặp Văn Cao bằng xương bằng thịt, mà chỉ gặp một hình bóng Văn Cao thấp thoáng trên băng nhựa. Văn Cao thật sự đã nằm yên trong lòng đất. Con chim thorn bird Việt Nam đã cạn khô giòng máu, tắt hơi rồi.

Mỗi khi xem cuốn băng Văn Cao, giấc mơ một đời người, tôi lại chìm trong kỷ niệm. Đặc biệt là bài hát Bến Xuân. Tôi yêu thầm một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người con gái ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Nên mới có câu “Em đến tôi một lần”. Tác giả Văn Cao đã dẫn nhập như vậy trước khi đi vào bài hát nhưng khi ca sĩ trình bày, nó không phải là Bến Xuân mà là bài Đàn Chim Việt. Bài Bến Xuân đã từng thấm vào tâm hồn tôi từ 50 năm về trước; đó là một bản tình ca diễm tuyệt, làm gì có “hoàng hôn Thái Nguyên tung hoành”, với “Bắc Sơn kia thời tung cánh”. Hai người tình đi với nhau dưới nắng xuân đầm ấm, thì giờ đâu mà nhớ đến “mấy đồi Yên Thế”. Không có Đàn Chim Việt nào bay từ Bắc sang Trung.

Bản tình ca dìu dặt Bến Xuân thời kỳ Cách Mạng 1946 đã được cải trang thành Đàn Chim Việt. Không biết sự cải trang này là do chính tác giả Văn Cao hay do nhà xuất bản muốn phục vụ đúng lúc, đồng thời tung ra một món hàng ăn khách. Chưa biết được. Phục vụ một giai đoạn Cách Mạng, hoặc là làm vừa lòng một phong trào thời thượng, mượn giai điệu Bến Xuân trở thành Đàn Chim Việt, tạm cho là được đi. Nhưng 50 năm sau thực hiện một cuốn băng video ghi dấu một chặng đường sáng tác của một tác giả lớn, có giá trị như một lễ vật viếng người còn sống thì không thể “nhập nhằng” như thế được.

Phải trả cho Caesar cái gì của Caesar, phải trả lại Bến Xuân cho cuộc tình đắm say và dìu dặt của Văn Cao. Tình ca là tình ca, bài ca Cách Mạng là bài ca Cách Mạng, không nên “nửa dơi nửa chuột” như thế. Nó vừa thất lễ với tác giả Văn Cao, mà làng âm nhạc VN cũng thiếu vắng đi một bản tình ca đặc sắc.

Không biết tôi có quá yêu bài hát Bến Xuân, quá yêu kỷ niệm của tôi hay không? Nhưng bữa nào gặp lại Phạm Duy (tôi hi vọng là gặp sớm) tôi sẽ xin anh hát lại Bến Xuân; chắc chắn, dù đã nửa thế kỷ trôi qua, Phạm Duy vẫn sẽ hát “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần” …

“Văn Cao Giấc Mơ Một Đời Người” tôi xem đi xem lại mấy lần mà lần nào cũng buồn hiu hắt. Nửa thế kỷ nay không gặp lại Văn Cao … từ một thanh niên kiêu mạn, tự tin ngày nào anh đã trở thành một ông già đầu râu tóc bạc, lụm cụm chống gậy đi tìm dĩ vãng. Cái đổi thay thể chất không nói làm gì “Được là bao cái thân người, mà cay đắng trải mọi mùi thế gian” nhưng cái khiến tôi âm thầm ái ngại là cái tự tin, kiêu mạn ngày nào nơi anh đã mất. Tụi tôi một lũ người thua trận ở xứ tạm dung này cứ mỗi khi thời tiết đổi thay là lại ngóng về quê hương mà thở dài; anh ở quê nhà, lại là tác giả bài “quốc ca” mà cũng buồn bã, cô đơn như vậy hay sao?

Anh nói nào là “Tôi luôn luôn thất bại … trong tình yêu.” “Tôi muốn tìm lại trong giấc mơ những gì tôi đã đánh mất trong những ngày trẻ tuổi.” – “Không nên sống với những gì mơ mộng – cuộc sống không đạt được” v.v… Anh là Lưu, Nguyễn từ Thiên Thai trở về trần thế. Người cũ đã xa, suối mơ đã cạn “ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta”.

Nhìn anh tôi lại nhớ đến ông anh tôi. Trần Ngọc D. bạn anh ngày nào. Ông anh tôi đi theo Cách Mạng suốt cả một đời người mà kết thúc cuộc đời cũng âm thầm tức tưởi. Chết rồi, chết ở Paris. Tự tử bắn một phát súng vào đầu. Ông anh tôi “bem” suốt đời nên bà chị tôi cũng không hiểu vì sao mà ông anh tôi lại liều mình như vậy. Tôi đi tù cải tạo về năm 1985, nhận được thư bà chị tôi từ Hà Nội báo tin như thế.

Đây cũng là giấc mơ thê thảm của một đời người.

Phan Lạc Phúc

 

 

 

Françoise Sagan và Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi). Huyền Viêm


Huyền Viêm

Buồn ơi! Vĩnh biệt!
Buồn ơi! Xin chào!
Tên mi viết ở trần cao,
Viết trong đôi mắt dạt dào ta yêu.
Mi đâu hẳn nỗi khốn nghèo,
Khi môi cằn ấy cố trêu nụ cười…

Françoise Sagan

(Françoise Sagan
Thần tượng của giới trẻ Pháp thế kỷ XX)

Adieu trítesse!
Bonjour trítesse!
Tu es inscrite dans les lignes du plafond,
Tu es inscrite dans les yeux que j’aime.
Tu n’es pas tout à fait la misère
Car les lèvres les plus pauvres te dénoncent
Par un sourire…

Paul Eluard (La vie immédiate).

Một buổi sáng tháng giêng năm 1954, một cô gái e lệ bước vào căn nhà mang số 30 đường Đại học – trụ sở của Nhà xuất bản Julliard – leo lên lầu một, men sát bờ tường, tới trao tập bản thảo vào tay cô Musy, người thư ký có nhiệm vụ nhận các bản thảo.

Cô thiếu nữ rất ít nói, gần như bỏ đi ngay sau khi hỏi xem trong bao lâu nữa thì nhận được hồi âm.

– Chừng một tháng. Cô Musy trả lời.

Tập bản thảo đánh máy, có nhan đề “Bonjour Tristesse” (Buồn ơi, chào nhé!).

Ngay chiều hôm đó, cùng với mấy tập bản thảo khác, bản thảo của cô gái được đặt trên bàn của viên giám đốc văn học. Ông này nhìn phớt qua các tập bản thảo, tới tập bản thảo của Françoise Sagan, với ghi chú số tuổi 19 khiến ông tò mò. Ông đọc qua mấy dòng, cảm thấy bàng hoàng vì giọng văn mới lạ nên giao tập bản thảo cho nhân viên cao niên nhất và được tôn trọng nhất trong ban Tuyển đọc là ông François Le Grix năm ấy đã 80 tuổi.

Bảy ngày sau – ngày 12-1-1954 – cụ Le Grix chuyển tới ban Tuyển đọc một bản tường trình rất nhiệt thành. Chiều hôm đó, ông chủ Nhà xuất bản, Renée Julliard, đang dự tiệc tại nhà ông Chủ tịch Hội đồng Kinh tế, được tin, vội cáo lỗi với chủ nhân là phải về sớm và giải thích :

– Dường như người ta đã khám phá ra loài chim hiếm. Tôi phải về đọc bản thảo ngay đêm nay.

Bảy giờ sáng hôm sau, ông đã đọc xong, chú dẫn, chấp thuận và cho gửi một bức điện khẩn mời Sagan tới. Ba ngày sau, hợp đồng xuất bản được ký kết, không phải với tác giả vì cô còn là gái vị thành niên, mà ký với người cha, đại diện cho cô.

Nhà xuất bản Plon – nơi mà F. Sagan cũng có gửi một bản thảo cuốn sách ấy – tiếc hùi hụi vì chậm hơn Nhà xuất bản Julliard một bước, dù ban Tuyển chọn đã làm một bản tường trình nhiệt liệt tán thành việc in tác phẩm ấy.

Françoise Sagan sinh ngày 21 tháng 6 năm 1935 ở Cajarc (Pháp) với tên Françoise Quoirez, nhưng lấy bút hiệu Sagan, một nhân vật của Marcel Proust trong tác phẩm “À la recherche du temps perdu” (Đi tìm thời gian đã mất), một tác phẩm nổi tiếng và được xếp vào lọai những tác phẩm hay nhất thế giới. Sagan rất ái mộ tác giả này.

Françoise Sagan bất ngờ bước vào lĩnh vực văn học làm sững sờ thế giới. Đã từ lâu, ở Pháp không có cuốn tiểu thuyết nào được mọi tầng lớp – nhất là giới trẻ – hâm mộ và yêu chuộng đến thế.

Sagan viết xong cuốn “Bonjour tristesse” trong vòng bảy tuần lễ, đánh máy bản thảo bằng hai ngón trong quán cà phê. Tháng 3 năm 1954, cuốn “Bonjour Tristesse” chào đời, buộc dải băng mang dòng chữ “Quỷ trong tim” (Diable au Cœur) (2), tức khắc trở thành một trong những best-seller sau chiến tranh: tháng 5-1954 bán được 8000 cuốn, 45.000 cuốn tháng 9, 100.000 cuốn tháng 10, 200.000 cuốn tháng 12 (1954). Năm năm sau, “Bonjour tristesse” đã bán được 4 triệu cuốn trên khắp thế giới (tại Mỹ 1 triệu cuốn).

Sagan chưa kịp ước mơ, vinh quang đã ào đến. Tháng 5 được giải Critique, và quyển tiểu thuyết chưa tới 200 trang này được dịch ra 22 thứ tiếng. Ở Việt Nam, Nguyễn Vỹ là người đầu tiên dịch cuốn này năm 1959.

Sagan kể trong Bonjour Tristesse:

“ Năm đó tôi, Cécile, mười bảy tuổi, hoàn toàn sung sướng vì sống trong một gia đình khá giả. Bố tôi, Raymond, 40 tuổi, góa vợ từ 15 năm trước, có người tình là Elsa, bên cạnh là Anne – bạn người mẹ quá cố của tôi – rất đoan trang, đứng đắn. Tôi tình cờ gặp Cyril, một thanh niên đẹp trai khỏe mạnh trong một lần đi tắm biển, tôi rất yêu chàng và chàng cũng yêu tôi. Tôi sống rất phóng khoáng, tự do, không chịu được Anne muốn hướng dẫn mình vào con đường nghiêm chỉnh. Tôi biết bố muốn tính chuyện trăm năm với Anne nên tìm cách phá đám. Tôi xếp đặt để cho Anne thấy bố đang âu yếm Elsa. Anne thất vọng, phóng xe như điên và rơi xuống vực sâu 50 mét. Từ đó, tôi bắt đầu biết buồn….” và Sagan bắt đầu nổi lọan (3).

Năm 12 tuổi (1947), Sagan vào học trường dòng Couvent des Oiseaux, nhưng sau đó bị đuổi học vì nàng sống rất phóng túng, không chịu ép mình theo kỷ luật nhà trường, còn nhà trường thì cho rằng nàng thiếu tâm linh, không thể theo học lâu dài được.

Năm 1950, nàng bỏ ra cả năm trời để thưởng thức nhạc Jazz ờ Saint Germain des Prés, có lẽ vì thế mà năm 1951 nàng thi hỏng tú tài. Sau đó nàng ghi tên học văn chương ở Sorbonne nhưng rồi cũng bỏ dở dang.

Sagan yêu văn chương từ nhỏ, khi còn ở lứa tuổi vị thành niên nàng đã say mê đọc André Gide, Marcel Proust, Rimbaud rồi Camus, Sartre, Stendhal, Faulkner… và biết rằng con đường mình phải theo là con đường văn nghiệp.

Năm 1954, cuốn Bonjour Tristesse ra đời là một quả bom nổ giữa bầu trời văn học Pháp, gây chấn động cả làng văn nước Pháp, mà tác giả của nó lại là một cô gái nổi loạn ở tuổi 19 nên rất được độc giả hâm mộ và yêu chuộng. Năm 1954 cũng là năm nước Pháp mỏi mệt vì hai cuộc chiến tranh ở Đông Dương và Algérie, nhất là sau cuộc thảm bại ở Điện Biên Phủ nên thanh niên Pháp có tâm trạng chán chường, sống buông thả, luôn cảm thấy cô đơn và thất bại cay đắng trong tình trường. Trong khi đó, các nhân vật của Sagan lại bất chấp luân lý, lao vào những cuộc tình ngẫu nhiên để tìm một chỗ dựa – dù là tạm thời – cho tâm hồn đã quá ê chề mỏi mệt. Cuốn sách ra đời đúng lúc nên nhanh chóng trở thành best-seller cũng không phải là chuyện lạ.

Văn Sagan giản dị, dễ hiểu, thẳng thắn, bóng bẩy, không trau chuốt, chuyển tải mạnh mẽ rung cảm của tác giả sang độc giả. Cốt truyện chặt chẽ, các lớp lang nối tiếp nhau rất tự nhiên như sự thật vốn có. Tác giả không cố công tìm tòi cái mới mẻ, chỉ viết theo dòng cảm xúc tuôn trào nên hấp dẫn được người đọc.

Ông Serge Gavronsky, giáo sư dạy môn văn học Pháp tại đại học Barnard cho rằng “Buồn ơi, xin chào!” đã chuyển tải được sự nổi loạn và tính hoài nghi, yếm thế của rất nhiều người trong tầng lớp tư sản Pháp thời ấy.

Image11

Nhà văn François Mauriac (1885-1970), Viện Sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1933), giải Nobel văn chương 1952 gọi Sagan là “tiểu quỉ duyên dáng” và Emile Henriot (1889-1961), Viện Sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1945) gọi quyển “Buồn ơi, xin chào!” là “kiệt tác nhỏ vô sỉ, tàn ác”.

Ngoài giải Critique năm 1954, năm 1985 Sagan được giải Prince-Pierre-de-Monaco cho toàn bộ tác phẩm của mình.

Cuộc sống của Sagan rất phóng túng. Để trốn tránh nỗi buồn, bà lao vào các cuộc ăn chơi trác táng, yêu cuồng sống vội, thức đêm cờ bạc, rượu và ma túy. Vì thế mà số nhuận bút khổng lồ chẳng bao lâu không còn một xu dính túi.

Sagan rất liều lĩnh, yêu xe thể thao, thường cùng một số bạn bè phóng xe như điên nên suýt chết nhiều lần, nhất là năm 1957. Mặc dù vậy, bà vẫn không chừa.

Vì lối sống phóng đãng, tiêu tiền như rác nên nhiều lúc Sagan đảo điên vì túng bấn. Bà có một ngôi nhà ở gần Biển Bắc, mua bằng tiền được bạc 80.000 quan nhưng rồi cuối cùng cũng phải bán vì túng thiếu. Bà thiếu thuế của nhà nước, bị phạt một năm tù treo. Bạn bè và kẻ ái mộ phản đối, cho rằng Sagan thiếu tiền nhà nước, nhưng nhà nước thiếu Sagan nhiều hơn thế nữa. Ngay cả diễn viên nổi tiếng Isabelle Adjani cũng đã kêu gọi chính phủ Pháp phải xem bà như một báu vật quốc gia và phải để tên tuổi ấy nằm ngoài sự dính líu với thuế vụ.

Về đời tư, Sagan có hai đời chồng. Lần thứ nhất, năm 23 tuổi (1958) bà kết duyên với Guy Schoeller lớn hơn bà 20 tuổi, hai năm sau ly dị. Lần thứ hai, năm 27 tuổi (1962) bà lấy Robert Westhoff, điêu khắc gia người Mỹ và có với ông này một đứa con trai tên Denis. Một năm sau ly dị, từ đó bà sống độc thân cho đến chết, tuy hãy còn rất trẻ và có hàng tá nhân tình.

Bạn bè của Sagan phần lớn là những người tên tuổi như nhà văn Jean Paul Sartre (tác giả của những tác phẩm nổi tiếng: La nausée, Les chemins de la Liberté, minh tinh màn bạc Brigitte Bardot và nhất là người mê sách François Mitterrand sau này trở thành Tổng Thống Pháp. Theo Sagan thì F. Mitterrand là người bạn thông minh, lý tưởng và duyên dáng. Tình cảm giữa hai người rất thắm thiết vì có sự đồng cảm sâu sắc về cách cảm nhận cuộc sống.

Ngày 24 tháng 9 năm 2004, Françoise Sagan qua đời vì suy tim và nghẹt đường hô hấp, thọ 69 tuổi. Bà được an táng tại một nghĩa trang nhỏ gần nơi sinh trưởng. Rất đông bạn bè, người hâm mộ và nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền đưa tiễn, tỏ lời ca ngợi và tiếc thương. Nữ tài tử điện ảnh Brigitte Bardot mỉa mai:

“Vậy mà khi Sagan sống trong khó khăn thì chẳng ai cục cựa ngón tay giúp đỡ”.

Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã nói về bà:

“Nước Pháp vừa mất đi một trong những văn sĩ tài năng có sức ảnh hưởng nhất, một nhân vật xuất chúng của đời sống văn học”.

Françoise Sagan mất đi nhưng hình ảnh bà vẫn còn in sâu trong lòng những người ái mộ. Tác phẩm của bà đã đi sâu vào lòng người vì bao giờ cũng thể hiện sự khao khát tình yêu mãnh liệt cùng nhữn g hoài nghi về cuộc sống quanh mình.

Sách của Sagan vào Việt Nam được giới trẻ thời ấy đón chào nồng nhiệt vì họ yêu bầu không khí cực kỳ mới mẻ trong sách và tinh thần tự do của Cécile (nhân vật trong Bonjour Tristesse). Họ ước ao được sống tự do thoải mái như Cécile vì lúc ấy chiến tranh còn đang tiếp diễn.

Với gần 50 tác phẩm để lại cho đời, trong đó nhiều tác phẩm rất có giá trị, Françoise Sagan đáng có một chỗ đứng xứng đáng trong nền văn học Pháp cũng như thế giới./.

Huyền Viêm
Posted on 8 Tháng Tám 2017
by banmaihong

http://khaiphong.net/showthread.php?20629-Fran%E7oise-Sagan-v%E0-Bonjour-Tristesse-(Bu%26%237891%3Bn-%26%23416%3Bi-Ch%E0o-Mi)

Chim Hót Trong Lồng. Truyện dài Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Chương 1

…..

Chủ Nhật, ngày 16 tháng 11…
Má ơi,

Thế là hôm nay má không đến con rồi. Con bắt đền má đấy. Cả buổi tối hôm qua con gấp áo ở đầu giường, con đi ngủ rồi mà còn nghĩ đến má. Con cũng nằm mơ thấy má dẫn con đi nhặt lá đa ở trên hồ, nhưng không phải hồ Gươm đâu má ạ. Cái hồ mà lại có khói mờ mờ ở trên mặt nước. Con thì mặc cái váy đầm xanh mà má mới mua cho con. Còn má thì bận quần đen, áo đen. Má đánh môi son làm ai cũng nhìn. Con đang mơ thì Ma soeur Félicité đến đánh thứùc con dậy. Bà mắng con đi ngủ mà không buông màn. Con tiếc quá, định nằm mơ nữa thì ngủ quên đi mất. Đến sáng hôm nay thì con chờ má hết hơi. Con bắt đền má đấy. Ở ngoài cổng trường bao nhiêu là người đến đón. Sáng nay lành lạnh nên đứng ở trong hiên nhìn ra có nhiều màu áo lắm má ạ. Có một bà mặc áo vét xanh, mà da cũng trắng như má, đứng ôm cái gì ở ngực. Con tưởng là má, nhưng đến lúc mọi người vào sân trương rồi thì hóa ra không phải.

Lũ bạn chúng con tìm được ba má chúng nó, nên hét vang lên rồi chạy nhắng nhít ở trên sân sỏi. Còn con thì cứ nhớn nhác nhìn bà này bà kia, mà chẳng có ai là má cả. Ma soeur Félicité đi tìm hộ con cũng không thấy má. Đến lúc người ta ra hết rồi thì chỉ còn lại mỗi một mình con. Con đứng ở giữa sân nhìn theo mọi người. Con tức má ghê lắm. Nước mắt con chạy vòng quanh, rồi con ngồi ở ghế đá mà khóc. Soeur Félicité lau nước mắt cho con. Bà ấy dỗ dành mà con vẫn thấy buồn, thấy ghét má. Cả một tuần có một ngày Chủ Nhật, mà má lại không đến tìm con. Ma soeur rủ con lên phòng nhưng con vẫn ngồi ở đấy. Con nhìn những chiếc lá bàng đỏ ối rơi ở trên sân sỏi mà nhớ đến giấc mơ đêm hôm qua. Hôm nay con cũng bận váy đầm xanh mặc áo len trắng. À, dép của con đứt một quai rồi má ạ. Nếu hôm nay mà được ra thì sẽ đem khâu được. Hôm Thứ Năm chơi nhẩy dây ở ngoài sân con bị trẹo chân vì cái quai dép ấy đấy. Nhưng không làm sao má ạ. Con khỏi ngay, chỉ hơi đau đau thôi. Hôm nay má không vào thì con còn phải lê một tuần nữa. Tuần sau đấy má nhé, tuần sau má phải vào với con không thì con khóc đến chiều, đến mai nữa không biết chừng.

Mấy hôm nay hơi rét má nhỉ. Đêm nằm má có lạnh không? Cái cửa sổ có kính vỡ má đã bịt đi chưa? Ở đây, hôm Thứ Sáu các Ma soeur cũng phát thêm chăn rồi. Buổi tối lúc tắt đèn, con rúc vào chăn ấm mà nghĩ đến má thì thích lắm. Giá bấy giờ mà được nằm với má, ôm cổ má mà ngủ thì còn thích bằng mấy. Nhưng bao giờ má lại cho con ngủ với má. Con chỉ cần ngủ với má một tuần một lần vào tối Chủ Nhật thôi. Thế mà dạo này má cũng không cho. Con ghét má rồi. Má hay bắt con về trường từ chiều tối hôm trước, làm con sợ cái buồng vắng vẻ này lắm. Những ngày khác còn vui vui, chứ tối hôm ấy thì chỉ có một mình con. Như thế là chẳng có tối hôm nào con được nằm rúc vào nách má cả. Tại sao thế má? Con đoán là tại tối hôm ấy đang ngủ với con, má bỏ ra đi đến gần sáng, rồi con cứ hỏi mãi má phải không má? Nếu đúng như thế thì con hứa sẽ không hỏi má đi đâu nữa. Má cứ đi, nhưng má cho con ngủ với má mỗi tuần một lần là con bằng lòng rồi. Con không sợ ma nữa. Con không bắt đền má nữa, nhé má nhé. Tuần sau nhé, tuần sau má cho con ở lại nhà một tối nhé. Con nhớ cái mùi thơm thơm ở cổ má, con nhớ làn da mịn mịn ở tay má vuốt vào lưng con. Con cũng gãi lưng cho má. Mẹ con mình nằm với nhau như thế có phải là sướng hơn không.

À, tuần này con nhiều bon point lắm má ạ. Soeur Lucie khen này, soeur Antoine cũng khen này, con nhất về dictée, về vocabulaire, còn géographie thì con được thứ ba. Thế là má nợ con một buổi đi chơi chùa đấy nhé. Tuần này con cũng mới học được kiểu thêu point de chainette. Nếu má mua vải cho con thì con viền và thêu mù xoa cho má. Còn hộp thuốc ho thì con đưa các soeur rồi. Mỗi ngày Ma soeur cho con uống hai viên. Uống ba hôm thì khỏi. Má đừng buồn nhé. Ở trong này ấm bằng mấy ở nhà. Vì chỗ nào cũng có cửa kính, không có gió đâu má ạ. Con chỉ lo cho má thôi. Nếu má giầu thì má thuê nhà khác. Ở đây ghét nhất là phải lội bùn những hôm trời mưa. Mà lại còn buồn nữa. Má ở một mình như thế chắc má cũng nhớ con lắm má nhỉ. Còn con thì khỏi phải nói. Lúc nào con cũng nhớ má. Con chỉ mong cho chóng đến ngày Chủ Nhật để về với má.

Lần sau thì má phải vào với con. Con cứ đứng chờ má ở ngoài sân. Nếu má lại không tới thì con cứ đứng cho chết cóng thì thôi đấy. Lá thư này đến mai thì con gửi đi. Con sẽ chờ đến khi cổng trường mở cho mọi người trở về thì con chạy tọt ra thùng thư chỗ cột đèn mà bỏ vào đấy. Con không có tem nhưng mặc kệ cho má bị phạt. Ai bảo má không yêu con gái, má không nhớ con gái của má.

Con hôn má thật nhiều đấy má nhé.
HẠNH

Nhật Tiến

Xem tiếp Phần 2

 

 

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: