Chặng Đường Cuối. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)

Một thời như thế…..

Cả hai người đều ăn mặc quần áo bộ đội. Một anh trẻ tuổi và một gã trung niên. Anh trẻ tuổi, mới chạc khoảng ngoài hai mươi, đầu hớt ngắn, chải gọn ghẽ, quần áo phẳng phiu, mầu nhuộm của vải kaki còn nguyên vẹn nước hồ mới. Trên người anh chỉ có ngôi sao quân hàm là cũ kỹ đã bong sơn, ngôi sao màu đỏ chói gắn ở hai bên trên ve cổ áo. Gã trung niên thì có vẻ xuề xòa hơn. Quần màu xanh đậm, áo mầu lá úa, cả hai đều đã bạc mầu. Gã không đeo một loại quân hàm nào cả nhưng cử chỉ lại đủng đỉnh, chững chạc hơn là cái anh trẻ trẻ kia nhiều. Ông chủ quán cà phê đang ngồi ngáp vặt bên chiếc tủ kính cũ kỹ đựng những bao thuốc lá bán lẻ, thấy hai người
bước vào vội vã đon đả:
– Chào Thiếu Tướng. Mời Thiếu Tướng vô uống cà phê.
Gã trung niên đột nhiên phá lên cười. Gã quay ngay sang người bạn đồng hành, giơ tay vỗ lên lưng anh ta nghe bồm bộp rồi nói:
– Sướng nhé! Thế là từ sáng, cậu được phong lên Tướng cả thẩy ba lần rồi.
Mặt ông chủ quán nghệt ra. Ông ta ngó một lúc cả hai người với một vẻ vừa bỡ ngỡ vừa sượng sùng. Gã trung niên lên tiếng giải thich:
– Quân hàm của chúng tôi không giống bọn ngụy quân, ngụy quyền đâu. Các đồng chí trong Quân Đội Nhân Dân ở cấp binh nhì mang một sao, binh nhất hai sao. Hạ sĩ quan thì vừa có sao vừa có vạch. Cấp sĩ quan thì chỉ có vạch mà thôi. Một vạch là Thiếu Úy, hai vạch là Trung Úy, ba vạch là Thượng Úy….
Ông Hưng, chủ quán làm bộ ngạc nhiên:
​-Ủa! Lại có cả chức Thượng Úy nữa cơ à.
Bây giờ thì tiếng anh binh nhì đeo ngôi sao đỏ lên tiếng giải thích:
​- Có chứ. Thượng rồi mới lên Đại. Thượng Úy rồi mới lên Đại Úy. Thượng Tá rồi mới lên Đại Tá.
Ông Hưng giả bộ lè lưỡi:
​-Thế thì leo lên được tới chức Đại Tá Quân đội Nhân dân cũng mệt lắm nhỉ!
Anh binh nhì quay sang nhìn gã trung niên rồi cất giọng nịnh khéo:
​- Sao lại không mệt! Chả nói xa xôi, nội cứ leo lên được tới quân hàm Đại úy của Thủ trưởng tôi đây thì chiến công phải đã nhớ không hết rồi.
Ông Hưng lại “à” lên một tiếng nữa rồi quay sang phía gã trung niên đổi giọng trịnh trọng:
-Thưa chào Đại Úy!
Mặt gã trung niên hơi thoáng một vẻ hài lòng. Gã chọn một cái ghế thấp sát vách, ngồi quay mặt ra phía ngoài để có thể dòm chừng luôn được cả hai cái xe đạp dựng ở ngay bên ngưỡng cửa ra vào. Có đủ loại đồ đạc lỉnh kỉnh cột chung quanh hai cái xe đó, nào khung xe, nào vành bánh, nào túi gói, nào tay nải. Đó là chưa kể hai cái ba lô to kềnh mà cả hai người đã ngả xuống dựa nó vô vách gỗ. Trong lúc lúi húi pha cà phê, ông Hưng có ý lắng nghe câu chuyện trao đổi giữa hai người:
– Kỳ này về mà đời sống không cải thiện, Thủ trưởng dời vào trong này đi.
– Để coi sao đã!
– Bên địa phương của Thủ Trưởng thế nào thì không biết, chứ ở nhiều nơi, bộ đội phục viên rồi chẳng được phân biệt đối xử gì hết.
Rồi vẫn cái giọng của anh trẻ trẻ:
-Thủ trưởng có nhớ Trung úy Lộc bên quân khu Bảy không? Giải ngũ hơn ba năm nay rồi bây giờ đứng bán quần áo cũ ở chợ trời. Dân buôn chui chính tông đấy.
Gã Đại úy thốt lên:
– Thằng ấy nhảm!
– Thì làm sao hơn được. Chiến công, thành tích đâu có liên hệ gì tới sản xuất. Muốn sản xuất thì phải có tay nghề. Đi lính mười năm, toàn bắn súng, tay nghề ở đâu ra?
– Thì cũng phải có công việc văn phòng dành cho các đồng chí ấy chứ. Trong lãnh vực điều hành, có thiếu gì cương vị chỉ cần có mỗi một bộ óc suy nghĩ, xếp đặt mọi công việc hợp lý theo khoa học kỹ thuật.
Tiếng anh lính trẻ cười rích lên:
– Những chỗ như thế mà còn chen được chân vào, em xin đi bằng đầu.​ ​- Chú đừng lo! Đất nước mình đã hòa bình, thống nhất rồi. Có bao nhiêu là lãnh vực mới sẽ mở ra thu hút các loại lực lượng lao động. Chỉ sợ mình không đủ nhận thức để cung ứng hết mà thôi.
Anh lính trẻ đổi giọng an ủi:
– Thì em cũng tin tưởng như vậy. Mấy năm trước khác, còn bây giờ khác. Với lại những người có khả năng như Thủ trưởng, thiếu gì nơi cần dùng. Bỏ rẻ ra Thủ Trưởng cũng được giao trách vụ Chủ nhiệm một cái Hợp Tác Xã.
​- Chủ nhiệm Hợp Tác xã thì chẳng tới phiên mình đâu. Nhưng làm gì trong Hợp Tác Xã cũng được. Tôi thích cái không khí thoải mái ở Hợp Tác Xã hơn là ngồi ở các cơ quan.
​- Thế thì mèng ra Thủ trưởng cũng phải là Bí Thư Chi Bộ. Có được chỗ tốt rồi, Thủ trưởng cũng nên tính chuyện lập lại gia đình đi thôi….
Buột miệng xong câu nói, anh lính trẻ biết mình lỡ lời nên vội vàng im thít lại. Vẻ mặt của anh thoáng một nét sợ hãi. Anh biết rõ Thủ trưởng của mình thù ghét những kẻ nào khơi lại hoàn cảnh gia đình bi đát mà ông ta đã trải qua. Khi bước chân ra đi, cả làng xóm tiễn chân linh đình. Người vợ trẻ sụt sùi trong chiếc khăn tay đẫm lệ. Ngoảnh đi ngoảnh lại, mới có vài năm, cô ả tót đi lấy một anh chồng khác, địa vị cao, nhiệm sở công tác tốt, đời sống thấy cải thiện hẳn ra. Chuyện này địa phương bưng bít mất mấy năm sau gã đàn ông mới hay biết. Nhưng ai làm gì được trong thời buổi chiến tranh này. May mà gã chưa có con. Gã chỉ còn có một bà mẹ già, bà mẹ mà gã đi lính hơn mười năm chưa có dịp gửi về tặng được lấy một mảnh vải để may áo, trừ những lá thư gửi về kể lể đủ loại chiến công. Hồi bị thương nằm ở quân y viện và bị cưa xoẹt mất một ngón tay, gã vẫn mơ đến một ngày phục viên để về chăm lo cho mẹ. Bây giờ thì ước mơ ấy sắp hoàn thành.
Chuyến về này là chặng chót của cuộc đời quân ngũ của gã. Gã cũng ký luôn cho anh lính trẻ một cái giấy nghỉ phép để chuyến ra có bạn đồng hành. Thằng nhỏ nhanh nhẩu dễ thương, học lực cũng quá tốt, lớp 10 rồi chớ đâu phải ít. Lúc bưng hai ly cà phê ra cho hai người, ông Hưng mới nhận ra bàn tay thiếu ngón của gã đàn ông trung niên. Gã không che đậy, không giấu diếm chỗ làn da bị rúm ró, sần sùi. Ở thời buổi này, thương tích là mốt cái mà ai cũng muốn phô ra để chứng tỏ công lao đóng góp của mình. Nó cũng giống như những bà cán bộ mới ở rừng về, cố làm ra vẻ mệt mỏi hơn, lừ đừ hơn, trời chưa trở gió đã khoác một chiếc áo len mỏng, cộng thêm với chiếc khăn rằn ri quàng kín quanh cổ. Chỉ cần thoáng trông là ngườì ta như đã thấy hết được cả cái quá trình gian khổ chui rúc nhiều năm dưới hầm hố, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chịu đựng, cái hình ảnh này hoàn toàn tương phản với hình ảnh phây phây, nõn nà, tràn đầy sức sống của những thiếu nữ, phụ nữ Sài Gòn, những bà, những cô mà cho tới lúc này vẫn chưa biết mùi ăn độn là gì do hoàn cảnh kinh tế riêng tư vẫn còn phong phú, dồi dào.
Thí dụ như Hồng là một. Hồng ào vào quán cà phê của ông Hưng mang theo một mùi nước hoa thơm ngào ngạt. Nước da của nàng trắng như trứng gà bóc. Nàng bận một chiếc quần lụa thâm óng ả và mềm đến độ mỗi lần cất bước, lớp lụa in rõ cả hình dáng đôi chân thon và dài. Chiếc áo cánh mầu mỡ gà cổ thêu ren tỉ mỉ bó sát lấy thân hình tròn lẳn mang lại cho nàng một vẻ sinh lực hết sức tràn đầy, nhất là ở bộ ngực cao che giấu sau lớp áo phin mỏng được thêu thùa bằng những cánh hoa xếp đặt rất ỡm ờ, khéo léo. Nhận ra khách quen của mình, ông Hưng cất giọng đon đả:
– Chào cô Hồng. Sao bữa nay khá không?
Hồng trả lời lại câu hỏi bằng cách bưng mấy ngón tay thon dài có tô những móng lấp lánh ánh bạc kêu thành tiếng đánh “tách” một cái rồi nhoẻn một nụ cười. Hai hàm răng của nàng đều và trắng bong. Mới chỉ biểu diễn có thế thôi nhưng Hồng đã thực sự làm ngây ngất tất cả mọi người hiện diện. Cổ họng gã trung niên tự nhiên se khô lại. Anh lính trẻ trẻ thì vừa giương tròn đôi mắt lén nhìn vừa đưa lưỡi ra liếm mép. Ông Hưng luống tuổi đến như thế mà ánh mắt lúc này cũng thấy đĩ hẳn ra. Ông cất tiếng hỏi:
– Thuốc lá bữa rầy lên giá chút đỉnh. Cô lấy không?
Hồng lẳng lặng móc ở cái ví xinh xinh ra một cuồn giấy bạc và đặt lên bàn tờ giấy năm chục đồng còn mới tinh. Ông Hưng mở tủ kính lấy ra một gói Salem và thối lại năm đồng bạc lẻ. Chỉ thiếu một chút nữa là anh lính trẻ xuýt xoa bật lên thành lời. Hút một gói thuốc mà chi ra tới bốn mươii lăm đồng. Bốn mươi lăm đồng là chín tháng lương lính của anh. Không biết cái thứ thuốc lá này có nạm vàng, nạm bạc gì ở trong mà sao nó đắt thế. Lúc Hồng mở gói thuốc ra châm một điếu, mũi của anh lính trẻ hơi hỉnh lên . Anh cũng có ý hít thử xem cái khói thuốc đắt đỏ ấy thì mùi vị nó ra làm sao. Và anh tự nghĩ thơm thì có thơm thật nhưng đốt một cái nhấp nháy mà văng nguyên một lúc cả chín tháng lương thì vô lý quá. Còn Hồng thì như đo lường được cái mức độ ảnh hưởng về sự hiện diện của mình nên nàng cử động rất khoan thai, dềnh dàng. Vẻ mặt của nàng đầy chất tự mãn của một người đàn bà đẹp vẫn thường được tất cả mọi người chung quanh chiêm ngưỡng. Chợt ông Hưng lên tiếng giới thiệu một cách bâng quơ:
– Đại Úy đây sắp về Bắc. Cô Hồng có món hàng gì mới giới được thì giới thiệu đi.
Hồng được lời xoay mình hẳn lại phía đối diện hai người và nhìn về phía gã trung niên với cặp mắt tìm hiểu đánh giá. Lúc gã ngẩng đầu lên, Hồng liền nhoẻn một nụ cười. Rồi không chờ cho gã lên tiếng, Hồng tiến lại phía bàn gỗ thấp, kéo ngay một chiếc ngồi và vô đề một cách ngon ơ như mọi sự ở trên đời này đều ngon ơ dễ dàng như vậy cả:
– A! Anh Đại úy hả? Để tôi đề nghị với anh chuyến này kiếm ít tiền đem về Bắc xài chơi.
Câu chuyện của nàng là một áp phe còn đang nóng hổi. Nàng nói là nàng có một người bạn buôn bán chung. Buôn bán cái gì nàng chẳng tiết lộ, nhưng chỉ biết cô bạn hàng mới buổi chiều hôm nay bị bọn Phường Đội Phường 10 hốt luôn cả hàng họ lẫn người đem về tạm giam ở trụ sở. Nàng cong cớn:
─ Tụi nó bắt oan con người ta. Lại đòi tịch thu cả hàng hóa. Cách mạng cách mung gì mà ăn hiếp bà con lao động theo kiểu đó. Lộng còn hơn mấy ông trời con nữa.
Rồi nàng đề nghị:
─ Vụ này dễ ợt. Chỉ cần Đại úy ghé qua, nhận cô ta là em để xin thả về. “Chúng em” xin biếu Đại úy hai nghìn đem về Bắc mua quà cho các cháu.
Anh lính trẻ nghe nói liền món tiền khổng lồ hai nghìn bạc thì chịu quá, cứ nhấp nhổm như muốn thúc giục Thủ trưởng của mình chơi càn một vố. Dính dấp vô vụ này bỏ rẻ ra anh ta cũng ké được vài ba trăm. Mà đâu có gì là khó. Mấy thằng Phường đội, thứ lính bán chính quy nom thấy quân hàm Đại úy là chết khiếp. Nói ngọt trước. Hù sau. Nhấp nhấy trong mười lăm phút sơi ngon hai nghìn, thật là tiền ở trên trời rơi xuống.
Ấy thế mà gã Thủ trưởng khờ khạo của hắn lại lắc đầu mới chết cha con nhà người ta chớ. Gã đàn ông trung niên nghe Hồng nói xong mới cất tiếng:
─ Tôi muốn giúp cô lắm nhưng không thể được đâu. Các đồng chí bên ấy nếu có phải bắt là họ có lý do chính đáng.
Hồng nổi đóa lên, đổi giọng chanh chua ngay:
─ Chính đáng cái con mẹ gì. Người ta buôn bán thì cũng đổ mồ hôi sôi máu họng mới kiếm ra lời chớ đi ăn cướp của ai. Làm sao không dưng đi bắt cả người lẫn hàng họ của người ta.
Nghĩ một giây rồi nàng tiếp:
─ Thôi dứt khoát ba nghìn đấy. Ba nghìn đem được nguyên vẹn cả người lẫn hàng trở về. Mà Đại úy có mất công khó gì đâu.
Gã Đại úy vẫn lắc đầu:
─ Không được! Tôi không thể dính dấp vô chuyện này được.
Đến lúc này thì Hồng thực sự nổi giận. Nàng rít một hơi thuốc lá, thổi phà ngay về phía trước mặt làm cho làn khói bay tỏa ra mù mịt rồi đứng phắt dậy. Cử chỉ này làm cho anh lính trẻ tiếc ngơ ngẩn như rõ ràng nhìn thấy ba nghìn bạc vừa vuột ra khỏi bàn tay mình. Anh ta đâm tức mình với gã Đại úy. Lúc Hồng bước ra khỏi tiệm rồi, anh ta cất giọng bực tức, vẻ trọng nể lúc trước mất hẳn đi:
─ Chuyện nhỏ như thế sao mình không làm. Ba nghìn bạc chứ đâu có phải chuyện chơi.
Gã Thủ trưởng nghiêm nét mặt lại:
─ Chú đừng có ham tiền mà mất cảnh giác. Chuyện chót lọt thì không sao, nhưng đổ bể ra là tiêu tùng sự nghiệp cách mạng. Tôi chả dại.
Bầu không khí giữa hai người tự nhiên đâm ra nặng nề hẳn ra. Gã đàn ông thì xoay xoay ly cà phê đã nguội ngắt của mình và nghĩ đến chức vụ Bí Thư Chi Bộ trong một Hợp Tác Xã mà gã hy vọng khi trở về, cả làng xã sẽ mời gã đến để trịnh trọng đưa ra một lời đề bạt. Chiến công của gã, thương tích của gã với hàng xấp giấy ban khen chẳng là một vinh dự cho cả xã hay sao. Còn anh lính trẻ thì vẫn không quên được hình ảnh của một xấp tiền mới dẫn đến quá nhanh mà tan biến đi cũng hết sức dể dàng. Hắn rủa thầm trong lòng về sự ngờ nghệch của gã Thủ trưởng. Hắn nghĩ rằng cứ đi về làng xóm đi rồi biết bộ đội phục viên được đối xử ra sao. Có khả năng, có sức khỏe còn đỡ. Bị thương tích, bị tàn tật là thấy cuộc đời như cái mền rách ngay. Chế độ này là chế độ “vắt chanh bỏ vỏ” mà. Câu nói này không phải là của hắn nghĩ ra nhưng chính hắn đã nghe thấy hồi còn ở làng, chưa đi nhập ngũ. Một anh phế binh đã đứng ở cửa trụ sở cơ quan hành chính xã lớn tiếng thóa mạ như thế. Chẳng ai muốn phản ứng gì cả vì anh ta là một phế binh. Nhưng cũng chẳng ai có thể làm gì cho anh được khi mà tất cả cũng đang đều gặp khó khăn. Hình ảnh của anh vẫn còn như mới trong đầu óc của người lính trẻ. Và hắn nghĩ rằng rồi đây Thủ trưởng của hắn cũng đến cùng một hoàn cảnh như thế mà thôi. Vậy mà có tới ba nghìn làm vốn liếng thủ cẳng, gã lại chê thì có tức không.
Một lát sau, cả hai người đều đứng dậy. Gã đàn ông trung niên móc túi trả tiền cho nhà hàng. Đồng hồ mới chỉ gần chín giờ nhưng cả hai đều đồng ý nên ra ga sớm cho kịp chuyến tàu Thống Nhất khởi hành lúc mười giờ. Ông Hưng nói với theo một câu:
─ Chúc Đại úy về Bắc bình yên nhé. Khi nào có dịp vô Nam nhớ ghé lại đây uống cà phê.
Bóng dáng cồng kềnh của hai chiếc xe đạp chất đầy đồ đạc trong khoảnh khắc hòa lẫn vào khung cảnh ồn ào, đông đúc của thành phố, ông Hưng quên ngay mọi chuyện vừa xẩy ra vì những nhân vật, những tâm tình, những hoàn cảnh tương tự như thế vẫn xẩy ra hàng ngày ở đây. Bóng dáng của cán bộ, bộ đội, hình ảnh của những chiếc xe đạp cũ kỹ, những chiếc ba lô, túi sà-cột, những khuôn mặt xanh xao với nước da bì bì, tái tái, những chiếc áo cánh mầu trắng hay xanh lơ, chiếc quần thâm ngắn cũn cỡn, cái nón cối hay mũ tai bèo cùng những đôi dép râu hay dép xăng-đan thô kệch, tất cả đã hòa vào vẻ nguy nga tráng lệ của thành phố này một cách gượng gạo khiến cho cảnh vật đều nhuộm một mầu sắc quen thuộc, cũ kỹ đến độ nhàm chán.
Tuy nhiên, lâu lâu thì cũng có một vài biến cố bất ngờ, giống như một hòn sỏi nhỏ ném xuống mặt nước của một cái ao tù. Như trường hợp của gã đàn ông trung niên mang cấp bậc Đại úy là một thí dụ. Gã đang ở trên đường phục viên. Gã đang ướm một giấc mơ giản dị là khi trở thành dân thường gã sẽ được đề bạt một chân gì đó trong một Hợp Tác Xã để khởi đầu cho cuộc đời phục viên của gã. Và gần gũi nhất là niềm vui lần đầu được trao về tận tay bà mẹ già những món quà mà trước đó cả hàng chục năm, gã chưa có dịp mua được cho bà đến một vuông vải may áo.
Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc niềm vui và ước mơ của gã bỗng tan tành ra mây khói. Tài sản của gã bị cuỗm mất trước khi tàu chạy. Rồi con tầu Thống Nhất khởi hành đã hơn hai mươi phút mà gã vẫn còn hiện diện trong thành phố này, chỉ có thằng lính là vẫn an nhiên đi về phép.
Gã chạy đôn đáo đây đó như một thằng điên. Gã lớn tiếng mạt sát mấy cậu Công an bên cục đường sắt hết lời. Gã chửi Mỹ chửi Ngụy như điên. Nhưng rồi rốt cục gã cũng lại phải phóng về tiệm cà phê của ông Hưng vừa nói vừa thở hổn hển:
─ Cô Hồng đâu? Cô Hồng đâu ?
Ông Hưng ngạc nhiên nhìn thân hình tơi tả của gã. Quần áo thì xốc xếch. Đầu tóc thì rối bù. Vẻ mặt tái xanh tái xám một cách vô cùng thê thảm. Đến lúc gã la lối tiếp thêm thì ông Hưng mới vở lẽ ra:
─ Tiên sư nó! Tiên sư cả lò nhà chúng nó. Mới ngoảnh đi ngoảnh lại mà nó đã lấy mất cái xe đạp đầy hàng của tôi rồi. Thế có chết tôi không. Thế thì làm sao tôi dám vác mặt về thăm nhà, thăm mẹ tôi đây…
Chỉ thiếu điều gã ta bật lên tiếng khóc. Gã cố giữ cho cơn nghẹn ngào khỏi trào ra khóe mắt. Tuy nhiên giọng của gã cũng đã thấy lạc đi, mất vẻ bình thường. Gã nói tiếp:
─ Ông làm ơn dẫn tôi đi gặp cô Hồng lúc này. Tôi bằng lòng đi bảo lãnh cho người bạn của Cô ấy ra. Phải kiếm ít tiền bù vào cả cho bị mất cấp chứ…
Ông Hưng luôn mồm chép miệng về cơn sui sẻo của gã. Cấp này dân chúng đói khát nên lắm kẻ sinh làm càn. Nhất là ở nhà ga. Trộm cắp ở đó như rươi, có thiếu gì cảnh mấy anh bộ đội ngủ lại qua đêm để chờ giờ tầu chạy, sáng sớm ra bỗng thấy mình bị lột sạch!
Ông Hưng hỏi:
─ Thế còn chuyến tàu Thống Nhất hôm nay ra sao?
─ Tôi bán vé lại cho người khác rồi!
─ Vậy là Đại úy còn thời giờ để sắp xếp công việc. Vào giờ này thì chịu không thể kiếm đâu ra được cô Hồng đâu. Mời Đại úy sáng mai trở lại. Tôi sẽ dẫn Đại úy ra chợ trời. Tôi biết chỗ của cô ấy hay lui tới với bạn hàng.
Không có cách nào hơn, gã trung niên đành phải trở lại nhà ga. Đêm hôm đó, gã nằm ngủ ngoài trời để có dịp trằn trọc suy gẫm về con đường mà gã đã trải qua trong suốt bao nhiêu năm. Mọi sự đều hầu như trọn vẹn trừ sự mất mát một cô vợ trẻ và một ngón của bàn tay trái. Bây giờ gã đang ở trên chặng đường cuối. Chặng ngắn ngủi nhất, chỉ dài không quá ba ngày tàu chạy, tưởng sẽ trôi qua dễ dàng nhất, ấy thế mà lại đẩy gã vào tình thế kẹt cứng. Suốt đêm gã đã ngủ một giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị. Có lúc gã thấy mình vẫn còn đang ở nhà, chưa biết mùi vị đời lính, bên cạnh gã vẫn còn nhí nhảnh tiếng nói của người vợ trẻ. Có lúc gã lại thấy hình ảnh của Hồng hiện ra choáng lộn che kín tất cả tâm tư, tình cảm của gã. Rồi gã lại thấy mình bị lột lon nhục nhã giữa bao nhiêu là con mắt châm chọc của bạn bè đồng ngũ. Khi tỉnh dậy, trời mới mờ mờ sáng. Gã ghé vô một quán cà phê bán ở đầu đường, ngồi nhâm nhi suy nghĩ về những việc sắp tới của mình. Cuối cùng gã tặc lưỡi đứng dậy. Chẳng có đồng chí nào có thể giúp được gã qua cơn khó khăn này. Gã đành liều nhắm mắt mà đưa chân.
Mãi tới gần xế trưa gã mới được ông Hưng dẫn tới gặp được Hồng. Nàng đang ngồi trên một chiếc ghế salon bằng mây kê ở phía sau một căn hàng quán ở giữa khu chợ trời. Trước mặt nàng la liệt những bát và đĩa. Chắc nàng mới vừa ăn điểm tâm xong. Nàng vẫn giữ cái cốt cách đủng đỉnh ngày hôm qua. Khi hai người ghé vào, nàng không đứng dậy. Cũng chẳng thèm lấy một chiếc ghế nữa để mời khách ngồi. Nàng không quan tâm đến chuyện đó mà chỉ mở bóp lấy ra thỏi son môi. Nàng vừa thoa son vừa nghe ông Hưng trình bày tự sự. Một lát, nàng nhìn gã đàn ông trung niên rồi buông lời chỏng lỏn:
─ Anh khờ bỏ mẹ! Cờ đến tay cho phất mà không chịu phất. Sáng hôm nay tụi Phường Đội nó giải con bé lên công an Thành rồi. Có họa ông Lê Duẩn nhà anh nhúng tay vào thì mới gỡ được!
Gã đàn ông nghệt mặt hẳn ra. Thêm một lần thứ hai, niềm hy vọng của gã bị tan tành ra mây khói. Trông gã thất sắc một cách thiểu não. Cứ cung cách này thì đến một cái vé tàu ra Bắc gã cũng sẽ chẳng còn đủ tiền mà mua. Ông Hưng thấy thế thương hại vội nói vun vào:
─ Thì chẳng vụ này có vụ khác, cô thì thiếu gì cơ hội có thể giúp cho đồng chí ấy.
Gã đàn ông cũng tiếp lời:
─ Tôi không cần gì nhiều. Chỉ mong kiếm cho đủ số bị lấy mất rồi trở về.
Hồng lại nhìn gã từ đầu đến chân như đánh giá. Rồi nàng hỏi:
─ Giấy tờ anh còn đủ cả chứ ?
Gã nhanh nhẩu gật đầu.
─ Đưa tôi coi!
Thế là có một màn chớ trêu, một cô gái Ngụy mở ra kiểm soát đủ loại giấy tờ của một ông sĩ quan Cách mạng đứng xớ rớ trước mặt. Vừa coi Hồng vừa tra hỏi như người thẩm vấn: “Cái này là giấy gì? Con dấu này ở đâu? Của ai? Cấp bậc gì? v…v…” Cuối cùng nàng buông một câu làm cho cả gã đàn ông lẫn ông Hưng thở phào nhẹ nhõm:
─ Được đấy! Sẽ có việc cho anh làm. Vài ba vố dư tiền về Bắc tậu nhà.
Sau lần gặp gỡ đó, hai người toan tính gì với nhau, ông Hưng không quan tâm tới. Ông trở về với quán cà phê bình dân của mình. Bẵng đi tới hơn hai tháng sau, bỗng nhiên ông gặp lại người khách có tuổi trung niên của mình. Gã ta trông trẻ người lại và linh động hoạt bát hẳn ra. Bộ quân phục bây giờ đã được thay thế bằng một cái quần Jean và chiếc áo sơ mi trắng toát. Chỉ có bàn tay trái với bốn ngón tay là dấu tích cũ còn sót lại. Bây giờ gã đã lái được xe Honda đàng hoàng. Hồng ngồi vắt vẻo ở đàng sau. Trông nàng vẫn đầy vẻ kiêu sa một cách bệnh hoạn với điếu thuốc không ngừng cháy giữa những ngón tay thon dài chải chuốt bằng lớp sơn mầu ánh bạc. Ông Hưng mỉn cười hỏi kháy:
─ Đủ tiền ra Bắc chưa, ông Đại úy?
Gã đàn ông nhoẻn miệng cười không đáp. Làm sao gã có thể dám thổ lộ ra rằng đối tượng của gã theo đuổi bây giờ không chỉ còn là hai nghìn bạc ít ỏi mà chính là cô gái nõn nà đang đứng trước mặt. Một mục tiêu lúc nào cũng đẹp phây phây như thế hẳn sẽ còn cần nhiều khổ công để chinh phục. Đường về miền Bắc vì thế vẫn còn xa xôi, thăm thẳm mịt mù…..

California, tháng 12,1983.
NHẬT TIẾN

Chuyến Xe Về Giữa Mùa Xuân. Truyện Ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

chuyến xe về giữa mùa xuân

Theo lời bác tài thì chuyến xe này là chuyến chót. Chuyến cuối cùng của một năm sắp đi qua. Ba mươi Tết rồi còn gì.

Trời xẩm tối rồi. Hành khách thở phào như vừa được ban một ân huệ may mắn. Không may sao được, khi chuyến xe chạy qua cả một đoạn đường gồ ghề, lắt léo mang đầy vết tích của những cuộc giao tranh mà không va phải một trái mìn nào!

Tất cả có bốn mạng ngồi rộng tuyênh toang trên hai hàng ghế. Một người đàn bà chít khăn tang. Một bà cụ mái tóc như sương tuyết. Một cái lồng gà trong nhốt một con chó nhỏ. Và một gã đàn ông thương tật vừa được giải ngũ. Như thế, kể cả bác tài thì chuyến xe có năm mạng sống: bốn người và một con chó nhỏ. Con chó lông đen tuyền, mắt đen tuyền, mõm cũng đen tuyền, cả thân hình của nó là một khối đen cục mịch, lũn chũn, lâu lâu lại thấy phát ra những tiếng rít lên ư ử. Tiếng rít của nó bị át đi bởi tiếng động cơ nổ ồn ào của chiếc xe lam cũ kỹ. Đường nhiều ổ gà. Chiếc xe lồng lên. Lắc bên này. Ngả bên kia. Chồm tới. Giật lui. Đảo lên từng vòng.

Bà cụ có vẻ mệt. Thiếu phụ cũng ngả đầu lim dim lên vách gỗ. Chỉ có gã đàn ông là ngồi lầm lì. Gã mơ màng nhìn ra hai bên đồng lầy. Lúa đang mọc nhưng lưa thưa. Nhiều thửa ruộng xám đen, còn ghi rõ những nét toác nứt nẻ. Một màu xám ảm đạm chạy dài hun hút tới chân trời. Trên cao, mây đục như màu chì đang ngả màu tím thẫm. Gió lồng lộng thổi lùa qua khung cửa hẹp. Chiếc xe vẫn lắc lư. Hai bắp tay của bác tài xế vồng lên. Những đường gân nổi lên cuồn cuộn để chế ngự chiếc xe vật vã.

Vội lắm rồi! Bây giờ là chiều Ba mươi. Chuyến xe này là chuyến chót….Tốc độ xe chợt vọt lên chút nữa theo sự hứng khởi của bác tài. Kim đồng hồ chỉ tốc lực tới tám cây số giờ. Đường sóc như vậy kể là nhanh. Đây là hố mìn chưa lấp. Nọ là di tích của của những chướng ngại vật. Cái xác xe đò cháy rụi hôm nào còn nằm tênh hênh bên lề đường. Rồi những chiếc xe bò vụn nát không còn nhận ra hình thù. Còn có cả những đám tàn than chất đen thui thành từng đụn nhỏ: Xác người, xác trâu bò hay chỉ là dấu tích của những kiện hàng?

……

Bỗng cái xe chợt hãm bớt đà và từ từ chậm lại. Trước mũi xe là một cái hố lớn. Dưới lòng hố là một cái thùng xe đã han gỉ. Sau cái khung xe có bóng một người bận áo đen. Bóng người áo đen bị che lấp chỉ còn một bàn tay gầy guộc giơ lên vẫy. Bác tài xế chùn tay ga, giọng sững sờ sau khi thoáng thấy có cả một họng súng đen ngòm:

– Thôi chết….mình tới số rồi!!

Bóng đen bây giờ đứng hẳn lên. Một khuôn mặt trắng bệch hiện ra sau mớ tóc bù xù. Khuôn mặt rất trẻ, chưa quá hai mươi, đáng gọi là cậu hơn là anh, là chú hay bác. Cậu ta là người “bên kia”. Khẩu súng nói lên điều đó, nhưng nói một cách hiền từ chứ không dữ dằn như bất cứ lúc nào nhào lên xung kích.

Mọi người đổ dồn cả về phía đó. Sự ước lượng bây giờ chính xác hơn. Nhất định cậu này chỉ tới mười lăm. Cậu giơ khẩu súng lên ngang đầu bằng cả hai cánh tay gầy guộc. Vẻ mặt không giấu được sự lo âu, bối rối, cậu ta ấp úng:

– Em…em…hồ…ồi… ch..á..ánh ! Nhờ các bác dẫn về đồn ….

Bác tài trở nên bình tĩnh hơn. Bác đáp lại bằng giọng nửa như giễu cợt, nửa như phân trần:

– Lộn rồi chú ơi! Ở đây đâu có ai là lính. Muốn trở về, chú phải lên tuốt mé trển kìa!

Cậu nhỏ vẫn giữ nguyên cái thế để súng lên ngang đầu, từ tốn bước lên khỏi miệng hố. Rồi như không thấy bóng dáng bộ đồ lính treillis nào, cậu buông khẩu súng xuống, tiến lại gần bác tài :

– Thế thì chỗ nào có lính Quốc Gia, bác chở tôi tới!

Bác tài lắc đầu lia lịa:

– Trễ quá rồi. Tôi đâu có quay lại mé trển. Mà chỉ ở trển mới có lính đóng thôi.

– Xa không?

– Năm bẩy cây số lận!

– Vậy miệt dưới không có ai hết cả sao?

– Không có ai hết! Qua Giêng chắc mới có lính mở đường tới đó.

– Vậy cho tôi theo bác để rồi nằm chờ được không?

– Ý! Làm sao được. Tui có gia đình, tội nghiệp tui!

– Thì bác giữ cây súng này làm bằng. Có khi còn lãnh thưởng!

– Tui hổng ham. Tui không dính vô chuyện gì hết. Tui làm ăn chất phác mà.

Cậu nhỏ sẵng giọng:

– Bác không cho tôi theo thì bác ở đây với tôi luôn!

Bác tài dẫy nẩy lên:

– Ý! Cha Nội! Chơi cửa cha con nhà người ta đó sao! Vậy là tác phong Việt Cộng, chớ hồi chánh nỗi gì!!!

Gã thương binh ngồi ở sau xe, từ nẫy vẫn theo dõi câu chuyện bây giờ mới lên tiếng:

– Theo tôi về được không? Mai mốt tôi dẫn lên đồn.

Bác tài múa hai tay lên:

– Ui da! Vậy là ngon quá cỡ rồi còn gì.

Cậu cán binh rời chỗ đứng, tiến lại phía sau xe. Cậu giương cặp mắt bạc nhược lên nhìn gã đàn ông. Gã nói tiếp:

– Cậu đưa súng cho tôi.

– Bác biết xài hả?

– Mấy thứ này nhằm nhò gì! Lính Quốc gia thu được dài dài..

Cậu cán binh thở phào:

– Vậy mà tôi cứ ngỡ….

– Ngỡ gì?

– Ngỡ bác là người của Mặt Trận.

– Thì sao?

– Thì tôi phải bắn bác trước kẻo bác bắn tôi.

Gã đàn ông mỉm cười :

– Ui ! Đồng chí với nhau cả, sao nỡ tay thế!

Cậu nhỏ ấp úng:

– Tại tôi “quay”. Ở trỏng, tội quay đáng bắn bỏ!

Bác tài xế chờ đợi thấy lâu, vội nói:

– Thôi mời lên xe đi. Trễ rồi.

Chiếc xe lại bắt đầu chuyển động. Nó bò qua một mô cao rồi lũn cũn men theo một lối đi được in dấu bởi chiếc xe mười bánh băng qua những chướng ngại vật.

Cái cảnh len lỏi theo lốt bánh xe này không ai lấy làm lạ. Chuyện ấy bình thuờng. Như một chuyến xe bình thường trở về giữa mùa Xuân trên một giải đất vẫn đang còn triền miên trong khói lửa.

Nhật Tiến

Ngày Cưới. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

961F5B3B-6C7E-4952-88C7-5607C3478B56

– Nào…nào tỉnh dậy kẻo trễ rồi…con gái của mẹ…

Tiếng gọi ngọt ngào vẳng qua tai Thu xa rồi thật gần. Bàn tay quen thuộc vuốt từ trán Thu xuống má. Bây giờ thì mẹ không còn cù vào cổ Thu như những năm còn bé nhưng mơn nhẹ ở chỗ má lúm đồng tiền. Thế cũng đủ nhột lắm rồi và vì thế Thu đã thức giấc.

Nhưng Thu chưa mở mắt ra vội. Có một cái gì mù mờ chen lấn, xô đẩy trong đầu óc của Thu. Cả người Thu như đang trôi bồng bềnh. Phía dưới là vực thẳm sâu hun hút mà hình như Thu đã ngã xuống đấy và đã kêu gào thảm thiết. Phải rồi, Thu đã gào thảm thiết. Cảm giác nức nở còn như vướng lấy cổ họng, còn như đọng trên bờ mi, còn như làm run rẩy vành môi khô héo. Nhưng thực sự cái gì đã xẩy ra vậy kìa. Thu cố níu lấy một phần nào ý nghĩ để mong chụp bắt được những mảnh sống thực và mộng đã rã rời như sự rã rời mệt mỏi cũng cực đã khiến Thu không thể mở mắt ra, không thể nhấc nổi cánh tay trở dậy. À! Hình như có một biến cố nào vô cũng quan trọng xẩy ra đâu đó trong cuộc đời hai mươi năm làm con gái của Thu. Giọng mẹ vẫn thì thào như luồng gió ấm thổi qua tai:

– Trễ rồi…trễ rồi…con gái của mẹ…

Óc Thu vụt sáng rỡ như bầu trời tăm tối vụt được rọi một luồng hào quang. Thôi khỏi cần thắc mắc nữa rồi. Khỏi cần tỉnh dậy. Khỏi cần mở mắt ra Thu có thể nằm yên đó nhắm mắt thật kỹ cũng biết được cái gì đang xẩy ra ở quanh đó. Hẳn nhiên mẹ đang mỉm cười ánh mắt trìu mến.

Căn phòng quét vôi màu xanh tràn ngập ánh sáng. Ở góc kia một tấm gương chói lòa. Tấm gương của chiếc tủ phấn do anh chị Thúy mua tặng vào dịp cưới của Thu này đây. Tấm gương cao vừa đúng đầu người, đúng đầu của Thu thì phải hơn. Thu đã soi mình vào đấy. Áo cô dâu rực rỡ như cánh bướm đầu xuân. Chiếc voan choàng đầu mềm như suối tơ, nhẹ như cánh hồng dìu được tâm hồn của Thu bay bổng lên trời cao. Vòm trời chan hòa hạnh phúc. Có Thu có anh Sơn. Anh Sơn vững chãi như một cây thông giữa trời mà Thu chỉ ví mình như một cánh bướm nhỏ xíu bám trong vòng tay của anh. Đám cưới xẩy ra như một giấc mơ. Tất cả mọi người thấp thoáng ẩn hiện như đoàn người trong mộng tưởng. Không thể nhớ được. Không thể phân biệt được chuyện gì xẩy ra trước, chuyện gì xẩy ra sau. Kể cả cái hố sâu thẳm mà Thu đã té xuống rồi kêu gào. Nhưng tội gì mà nhớ cho đầy đủ. Hãy chỉ níu lấy giây phút làm Thu sung sướng nhất. Giây phút tưng bừng ở nhà thờ, có cha Thành trang nghiêm đọc những lời cầu chúc cho đôi lứa. Rồi anh Sơn…Ôi! Anh Sơn của em. Có phải anh đã đeo vào ngón tay em , ngón áp út chiếc nhẫn cưới xinh xắn nhất trên đời. Chiếc nhẫn ràng buộc đời em với đời anh. Chiếc nhẫn sẽ theo em suốt đời và em cũng sẽ đi theo anh suốt cuộc đời khổ nhọc mà anh đang mang đi. Phải…em sẽ theo anh cho đến suốt cuộc đời. Khởi sự từ giây phút này đây. Giây phút mẹ kêu em ở đầu giường. Bàn tay của mẹ mơn man trên má. Chỗ có lúm đồng tiền. Hì. Đến thánh cũng không thể nhịn cười được vì nhột nhạt. Mình sẽ mở mắt ra và sẽ thấy mẹ cười. Căn phòng sáng rạng rỡ. Ở góc phòng là một tấm gương gắn trước tủ phấn. Đấy là tủ phấn của cô dâu. Dậy…con gái của mẹ…bao nhiêu là việc phải làm mà cô ngủ ưỡn ra thế này thì hỏng hết. Ngủ dậy trễ, sau chồng nó chê đó!

Thế là Thu mở bừng mắt ra. Mỉm cười một nụ cười. Cơn nấc như còn vướng nghẽn trong cổ họng. Sức nặng nào vẫn còn làm nặng trĩu riềm mi. Vành môi khô héo. Nhưng việc đầu tiên là Thu nhìn vào góc phòng. Hai chiếc tủ phấn cô dâu còn đó. Tấm gương chói lòa. Những hộp son, phấn, bàn chải, lược còn nguyên ở đó. Mình sẽ trang điểm cho kỹ càng. Bao nhiêu người ngó chớ ít sao. Bộ áo trắng cô dâu rực rỡ như cánh bướm. Chiếc voan choàng đầu mềm như suối tơ. Ta cùng Sơn bay bổng lên trời cao. Thu lại mỉm cười nhìn mẹ. Cặp mắt long lanh sáng. Sáng hơn bất cứ vì sao nào sáng nhất trên bầu trời. Mẹ nhìn Thu bỗng nước mắt ràn rụa. Mẹ quay đi thật nhanh. Ồ! Anh Sơn không có gia đình. Anh Sơn chịu ở rể mà, sao mẹ còn buồn. Mẹ vui lên đi cho ngày cưới của con được trọn vẹn. Áo của con đâu. Chiếc áo mà suốt đời người phụ nữ nào cũng mơ ước được mặc một lần.

Mẹ nhoài tay lên rút xuống chiếc áo trắng. Có cả tấm voan, Thu nhẩy bổ lại trước gương. Vừa mặc vừa ngắm nghía. Thu vui sướng quên bẵng ngay mẹ mình vừa chạy vụt ra khỏi phòng đóng cửa lại. Ở phía tường bên kia, có tiếng mẹ khóc vẳng lại. Mẹ thật buồn cười. Con đi lấy chồng. Nhưng chồng con đi hành quân xa thỉnh thoảng mới về. Con vẫn ở với mẹ mà, sao mẹ buồn.

Chiếc áo này có vừa không. Nó rộng và dài. Nhưng nó là áo cô dâu. Mình là cô dâu, choàng khăn này. Còn phải đi hài nữa chứ ! Thu lăng xăng đi tìm đôi hài. Đôi hài đâu nhỉ. Thu nhớ mình dã xài và đã cất kỹ đâu đó trong một ngăn tủ. Thu lại mở tủ. Những bộ quần áo của anh Sơn xếp ngay ngắn bên cạnh những bộ quần áo của Thu. Ôi, anh Son. Anh mới đi không đầy năm ngày mà sao em nhớ anh quá đỗi. Hơi hướng của anh còn phảng phất đâu đây. Nhất là mùi thuốc lá đã từng ướp lên tóc của em. Mùi quen thuộc không thể quên đươc.

Thu ngẩn ngơ với đám quần áo, mãi rồi mới nhớ ra rằng mình đang đi tìm hài. Nàng thu được đôi hài ở góc tủ, trong một chiếc hộp còn thơm mùi giấy mới. Thu đi hài. Thu lại ngắm mình trong gương. Thật đủ bộ cho một cô dâu. Áo voan trắng, đầu trùm voan trắng, chân đi hài. Bộ quần áo hơi thô nhưng miễn mình là cô dâu. Suốt ngày hôm nay mình sẽ là cô dâu. Bao nhiêu người sẽ ngắm, bao nhiêu người sẽ trầm trồ khi mình xuất hiện. Thu lắng tai nghe. Quả nhiên ở nhà dưới đang ồn ào. Đông thật. Mẹ đâu rồi. Mẹ dẫn con xuống không thì con ngượng chết. Mẹ hiện ra ở cửa phòng. Mẹ ôm chầm lấy Thu khóc nức nở, Thu cũng sung sướng chẩy cả nước mắt. Nhưng rồi Thu cười ngay. Lấy anh Sơn chứ lấy ai mà sợ. Chắc anh chàng đang sốt ruột lắm phải không. Em xuống với anh đây. Thu mở cửa phòng. Đôi mắt rực lửa. Miệng Thu mỉm cười. Thu cố gắng lấy vẻ duyên dáng.

Nàng tự nhủ mình phải đi thật thẳng. Bước thật chậm. Bao nhiêu là người nhìn kìa. Khi bước xuống bậc cầu thang, quả nhiên tiếng ồn ào đông đảo bỗng dưng tắt ngúm. Tất cả mọi người đều nhìn lên. Thu muốn xốc lại chiếc áo, nhưng làm thế kỳ quá mặc dù Thu thấy mình luộm thuộm.

Chỉ có chiếc voan trên đầu là sửa được. Nó sụp xuống mắt. Thu thò tay ra mé sau, kín đáo kéo cái giải xuống thêm một chút. Chiếc voan nhích qua vầng trán rịn mồ hôi. Thu lại nhìn rõ mọi người. Tất cả là người quen thuộc đây, nhưng Thu không thể phân biệt ai với ai, đông lắm. Người nối người. Cả ngần ấy khuôn mặt đều hướng về phía Thu. Mắt Thu càng thêm sáng. Thu bước thật chậm. Ồ! Mình sẽ đi tới đâu kìa. Bạn phù dâu tệ thế, không biết chạy cả đi đâu. Anh Sơn đâu ? Anh Sơn đứng chỗ nào nhỉ?

Thu quay lại tìm mẹ. Bao giờ thì mẹ cũng gỡ cho Thu qua khỏi cơn bối rối. Quả nhiên mẹ đã năm lấy tay Thu. Bàn tay già nua, run rẩy, Thu thấy yên tâm hn đi. Tất cả mọi người đều đi ra. Thu đi theo họ, Thu hỏi:

– Mình đi đâu hả me.

Mẹ ấn Thu vào một chiếc xe hơi rồi thì thào:

– Lên nhà thờ con ạ.

A! Nhà thờ của cha Thành. Anh Sơn sẽ đeo cho mình chiếc nhẫn thật là xinh.

Thu lần tay xuống ngón áp út. Chiếc nhẫn còn nguyên ở đó. Nó làm cho Thu lại nhớ đến anh Sơn. Anh Sơn ngồi xe nào kìa. Nhưng không hề gì. Ta sẽ gặp nhau lại trong nhà thờ. Dưới tượng Chúa. Trước mặt cha Thành. Mình sẽ nguyện cầu hai đứa suốt đời không xa nhau. Nhà thờ đây rồi. Cha Thành đứng trang nghiêm như tất cả mọi lần. Quyển sách nhỏ mở sẵn cha cầm trên tay. Cha bảo Thu quì xuống. Nhưng Thu hỏi còn anh Sơn. Anh Sơn đâu rồi. Chồng con đâu rồi. Thưa Cha. Cha không đáp, nhìn Thu đăm đăm. Thu nhớn nhác nhìn quanh nơi làm lễ. Vẫn đám đông quì gối ngoan ngoãn. Vẫn tiếng cầu kinh rì rào. Khung cảnh y hệt như cách đó vài hôm, đúng ra là một tuần lễ, khi Sơn đeo cho Thu chiếc nhẫn này. Bây giờ Sơn đâu. Thu muốn kêu to lên để gọi cho Sơn nghe thấy. Nhưng đây là nhà thờ. Có cả cha Thành. Hãy hỏi cha. Thưa cha, chồng con đâu. Mấy hôm trước chồng con còn đứng đây. Sao cha không nói. Sao cha không trả lời. Còn mẹ Thu đâu. Bà đã khóc ngất đi ở chiếc quan tài. Trên có phủ quốc kỳ. Có cả những vòng hoa cườm. Thu nhẩy bổ lại. Thu hét lên. Thì ra cái vực thẳm chập chờn trong giấc ngủ hôm qua ấy là đây. Nó hiện ra trong khoảnh khắc. Thật phủ phàng. Thu như được rọi thêm đôi chút ánh sáng vào đầu óc mù mịt bồng bềnh của mình. Nàng nhìn lại tấm áo cưới. Nàng nhìn lại tấm khăn choàng cô dâu. Thu hét lên điên cuồng. Nàng quên cả là mình đang đứng trong nhà thờ. Quên cả cha Thành đang đứng trước mặt. Chỉ còn một vật vô tri mà nàng phải cấu xé. Nàng đã cấu xé gào thét. Anh Sơn Anh Sơn. Chiếc áo đại tang và vành khăn xô đang xụp xuống đôi mắt rực lửa của nàng đã rách bươm ra tơi tả.                                                                           

Nhật Tiến

Giấc Ngủ. Truyện ngắn Duy Thanh


Duy Thanh

Giấc Ngủ

À mày lại còn chối hả? im miệng hả? Thằng nào nó ngủ với mày thì phải khai ra, cái bụng mày nó chương phềnh ra thế kia thì còn giấu vào đâu hở con mụ ranh. Mày định làm xấu mặt cả làng này hay sao? Nói ngay để tao bỏ tù nó. Phép tắc luân lý ở đây đâu có đốn mạt như thế bao giờ? Mày làm bêu mặt chúng tao. Rồi mai đây báo chí đăng rầm cái tin khốn nạn này thì thể thống làng này còn ra cái gì hở… hở?

Y hồng hộc chỉ vào mặt tôi mà mắng như tát nước. Phải, tôi chửa hoang. Con mụ Tư thọt này chửa hoang đây, đứa nào làm gì thì làm, tôi hét to trong bụng tôi như vậy. Nếu tôi mà đứng được dậy thì thách y chửi tôi đấy. Tôi sẽ chồm lên mà xé tan cái mặt y ra, chứ tôi sợ gì cái mặt thịt ngồng ngộng bộ râu cá trê đáng ghét.

Y quay ra như phân vua với mọi người: Tiên nhân nó chứ, cái mặt nó cứ lầm lì như thế kia thì làm sao mà khảo được. Cái thá mày thì gọi là cho lên máy chém. Y lại xổ vào tôi mà thét: Gan, gan hở? ông thời bóp chết như ngoé. Tôi giơ tay chùi những tia nước bọt phì cả vào mặt. Nơi tay áo vải nâu đã bạc phếch, sờm ra và có mùi khăn khẳn. Ánh nắng chói làm tôi bật hắt hơi. Tức thì y lùi lại dang tay tát tôi đánh bốp kèm theo một câu chửi thật bẩn. Mấy mụ đàn bà ở bên ngoài cười rộ vì thấy tôi hực lên rồi vật đầu vào vách. Nhưng họ lại im ngay. Một không khí lo ngại trùm trong căn nhà họp của xóm. Trong đám đông có người nói to:

– Thôi đi ông Xã, nó đã không khai thì khảo mãi cũng vô ích, nhất là chị ta cũng đương bụng mang dạ chửa.

Một giọng khác phản đối:

– Sao lại không, phải bắt nó khai chứ còn thế nào. Cứ đánh bỏ mẹ thì thế nào nó cũng phải nói. Thế mà mấy tháng nay cứ tưởng chị chàng bị báng hay bệnh gì. Ðến bây giờ nó chềnh ềnh như cái trống mới thấy nhé.

Lão Xã trưởng được thể quay lại doạ tôi:

– Mày mà không khai thì còn là khổ, con ạ.

Giọng y ngọt hơn: Ờ thì cứ nói xem thằng nào, rồi tao bắt nó phải lấy mày. Chứ không biết ai thì cứ gọi là tức hộc máu.

Y hoa tay một vòng rồi nói với đám người xung quanh:

– Tôi nói thế có phải không các ông các bà?

– Kể cũng tức thật đấy, nhưng chị ta cứ không chịu nói là ai thì làm thế nào. Hay là cứ để cho chị ấy đẻ đi đã rồi trông đứa bé nó giống ai thì nó sờ sờ ra chứ còn gì nữa.
Một giọng nữa tiếp:

– Ấy chết không được, sợ cứ trông rồi đoán tầm bậy thì lại khốn khổ nhiều anh.
Mấy cô gái làng thấy câu nói lý thú bấm nhau cười cung cúc.

Tôi trông thấy chúng nó mà ghét tệ. Chúng nó đẹp, chúng nó xinh, chúng nó có chồng con, có nhân tình nhân ngãi. Còn tôi thì sống lết lê, chẳng ai thèm để ý. Hai chân tôi nó quặt đi nhỏ bằng cái ống sậy. Tôi đi bằng tay lê la như một con chó. Con chó còn sướng hơn bởi nó có bốn chân nó chạy. Còn tôi từ xó nhà ra đầu ngõ, rồi từ ngõ vào đến vườn là hết. Từ xưa chưa hề có ai để ý đến tôi cả, họ nhìn tôi như một con vật. Với ai tôi cũng phải ngửa đầu nhìn lên. Cho đến bây giờ tôi có chửa họ mới vụt nhận ra tôi cũng là người như họ. Tôi có chửa. Con mụ Tư thọt có chửa thì còn trời đất nào. Với ai? Có lẽ họ muốn biết để thoả tính tò mò, tôi còn lạ gì. Lão Xã trưởng nó hứa hẹn với tôi rằng khai ra thì gả kẻ đó cho tôi, lúc thì y lại bảo khai ra để y bỏ tù người ấy. Dễ tôi mới đẻ hôm qua chắc. Năm nay tôi ba mươi hai tuổi đầu và chưa hề nằm ngủ với người đàn ông nào trong đời, trừ một lần cách đây năm tháng. Cái bào thai trong bụng này là của anh ta. Nhưng đừng có hòng tôi nói ra… Tôi giữ cái kỷ niệm, cái hình ảnh ấy cho mình tôi. Tôi cho là đẹp, tôi ôm ấp cái hình ảnh ấy mặc cho họ rủa sả. Tôi chắc anh ta còn hối hận về phút cuồng dâm bữa ấy. Với tôi thì không. Tôi yêu. Tôi chắc anh ta sẽ tự tử nếu tôi khai tên anh ta ra. Mà sao tôi lại nói? Tôi thì mong lấy gì ai? Tôi lê đi dưới đất như một con chó. Tôi với cái bướu trên lưng. Tôi với hình người chẳng ra người. Ai cười thì cười. Ðứa trẻ nào trông thấy tôi cũng chế nhạo. Lũ người lớn thì coi tôi như không có trên thế gian này. Mỗi lần nhìn tôi sao họ có vẻ hợm hĩnh thế. Tôi thù họ. Cho đến ngày nay thì tôi trả được cái thù này. Tôi có chửa với một người của họ. Một gã đàn ông. Tôi sướng khoái với cảm giác thấy họ bị dằn vặt đau khổ. Thì ra lần đầu tôi được chú ý tới. Tôi là cái mốc cho họ bàn tán, ghen ghét. Lần đầu tiên họ nhận thấy có tôi trên cõi đời.

Mẹ tôi mang một nắm lạt tre để xuống bên cạnh tôi. Tôi vẫn tiếp tục đan thành hình một cái giỏ. Thấy người thở dài, tôi chỉ bảo:

– Bầm khỏi phải lo, chẳng ai làm gì được mẹ con ta cả. Còn người ấy thì nhất định con không nói ra đâu. Anh ta chẳng có tội gì hết. Con cũng không, con sẽ đẻ. Và sẽ nuôi đứa trẻ này.

Mẹ tôi nắm lấy tay tôi, tôi nhìn xuống bàn tay gầy guộc đầy gân xám to bằng con giun. Bàn tay tôi cũng sần lên như một bàn chân. Chưa ai ở làng này xấu bằng tôi. Thế mà tôi sắp có con với anh ta, với đứa con giai có vợ sắp cưới là cái Gái ở xóm dưới. Con bé vào loại nhất nhì trong làng. Tiếng mẹ tôi run run khàn khàn trong cái tĩnh mịch của chiều xuống. Tiếng lạt tre cọ vào nhau dưới ngón tay tôi đưa đẩy.

– Buổi chiều ông Xã có bảo với bầm rằng phải về dỗ ngon dỗ ngọt cho mày nói tên người ấy ra, không thì ông ấy đuổi ra khỏi làng. Bây giờ bầm già rồi, chỉ muốn yên phận. Vậy tùy mày xử trí thế nào thì xử. Đời bầm đã khổ nhiều từ ngày lấy bố mày.

Mẹ tôi không nói hết câu, cái hình ảnh cuối cùng là người bố chìm và tan trong một tiếng nấc. Buổi chiều lạnh và mênh mông như một cánh rừng: chơ vơ, lạc hướng. Tôi hình dung lại hình dáng người cha từ thuở nào xa lắm, cái hơi nồng của men rượu, những câu rủa tục tằn lúc nào cũng đeo trên đôi môi dày thâm sịt. Tôi biết mẹ tôi khổ nhiều, kể cả vì tôi. Không hiểu sao những kiếp người như chúng tôi lại cứ có trên cuộc đời. Đã thế lại còn bám vào cái sống không chịu buông. Ngày bố tôi chết vì say rượu trượt chân ngã xuống ao thì cả làng như bớt một gánh nặng. Chính tôi cũng không cảm thấy thương tiếc. Chúng tôi vẫn sống cái kiếp sống của con người vật, dài và buồn nản.

Tôi sờ tay lên gò má còn hằn ngón tay của lão xã, chưa bao giờ tôi thù y đến như thế. Y lại còn muốn làm khổ mẹ tôi. Với tôi như thế chưa đủ hay sao? Đã thế tôi sẽ làm cho y điên đảo. Tôi sẽ khai quách cho cháu y rồi muốn ra sao thì ra. Tôi nhớ lại cái gã đàn ông nặng nề và chậm chạp thỉnh thoảng qua ngõ nhà tôi. Đã có lần tôi ước ao ngủ với hắn và được hít cái mùi hoi hoi của chính người hắn đang vương trong không khí.

Cúi đầu xuống, tôi lại nghĩ đến cái thằng người con ngoi ngóp trong ấy. Nó đương ngọ nguậy, nhè nhẹ nhè nhẹ, nhưng nhiều khi nó cũng làm tôi đau nghiến. Tôi kéo bàn tay mẹ tôi để lên bụng:

– Bầm sắp có cháu bế.

Mẹ tôi yên lặng một lúc rồi bỗng nhiên nói:

– Mày đã định đặt tên nó là gì chưa?

– Chưa, bầm ạ.

Ba chúng tôi cùng ngồi yên, cùng nghĩ tới nhau, chưa bao giờ tôi thấy yêu mẹ tôi, yêu con tôi và yêu anh ta đến thế. tại sao tôi không đối phó để giữ những gì tôi ấp ủ?

– Bầm ạ, tôi thấy nóng mặt vì sắp nói dối mẹ tôi. Anh Ba đấy.

– Ba nào? Tiếng mẹ tôi lo âu.

– Ba, cháu ông Xã ấy mà.

Mẹ tôi chậm rãi đứng dậy chép miệng thở dài. Tôi biết người lo ngại viên xã trưởng. Tôi thì chẳng sợ gì. Y là một thứ vũ phu, y khảo tôi vì tò mò mà cũng để sĩ diện với làng xóm là mình có uy quyền. Đời nào y dám đuổi mẹ con tôi ra khỏi làng này.

– Thôi tao đi nằm đã, rồi cũng liệu mà đóng cửa Tư ạ, xẩm tối rồi.
Mẹ tôi quờ quạng tìm chiếc đèn dầu mắc ở xó nhà, châm lửa. Ánh đỏ chập chờn hoa lên trong chạng vạng của bóng tối vừa xuống. Tôi nói:

– Để con cố đan nốt chiếc giỏ này đã bầm ạ, gần xong rồi.

– Liệu mà nghỉ sớm cho khoẻ.

Mảnh trăng thượng tuần nhô lên sau đám mây dầy, lạnh lùng, đơn độc.
Tôi nhớ lại cái đêm tôi gặp anh ta, trăng cũng như thế này nhưng vào khuya hơn chút nữa. Lần đầu tôi biết một người đàn ông. Từ đó đêm nào tôi cũng nghĩ đến anh ta, cái hình ảnh ấy đến với tôi như một ám ảnh vĩnh viễn. Tôi mê cái ám ảnh đó mỗi buổi chiều tắt đi.

– Đừng anh, đừng ở đây.

Tiếng người con gái van vỉ. Giọng người đàn ông như lạc đi:

– Không, để yên nào.

– Nhưng anh vừa uống rượu với lại…

Câu nói bị đứt quãng bởi một bàn tay giật mạnh. Người con gái kêu lên một tiếng nhỏ rồi giằng ra. Tiếng xoạt của vải rách kèm theo một tiếng rủa ngắn. Tiếng chân chạy xa và gã đàn ông rên lên. Hắn loạng choạng bíu vào cành tre lả gần mặt. Tôi nghe thấy tiếng thở hừng hực. Lúc hắn đi quành ra đằng sau cậy rơm để ngồi xuống thì hắn há miệng vì ngạc nhiên. Một hình thù ngồi đấy tự bao giờ. Đó là tôi, một con vật giống cái. Thỉnh thoảng tôi vẫn bò ra ngồi chỗ này hóng mát, vì nó ở ngay phía sau nhà tôi, cạnh con đường ven làng. Lần này tôi đã thiu thiu chợp được một giấc khá dài. Trăng lấp sau bụi tre và bóng người đàn ông chỉ còn là một khối đen lớn trên nền sẩm của lá.

Anh ta chập choạng đi đến phía tôi rồi quỳ thụp xuống nhìn vào tận mặt. Hơi rượu cay cay làm tôi muốn bật ho. Một con muỗi bay bên lỗ tai vo vo, anh ta giơ tay đập cái đét rồi ôm choàng lấy tôi.

Tôi không kêu nhưng cố đẩy anh ta ra kịch liệt. Mà tại sao tôi lại chống cự cơ chứ? Tôi thường mơ ước được ngửi hơi thở một người đàn ông và lần này tôi đã được. Anh ta ở ngay trên tôi. Anh ta với những bắp thịt rắn đanh. Tay tôi ghì lấy lưng áo sâm sấp mồ hôi hay vì sương xuống tôi không biết. Ánh trăng rất mờ, đám mây xám đảo trên trời như bão hay bão ở lòng tôi, tôi cũng không hay.

Rồi anh ta buông tôi và bỏ đi giữa lúc tôi nằm yên trên cỏ. Mùi rơm hăng và thơm như lúa mới, nhưng không làm tôi quên cái mùi người anh ta, và tiếng chân bỏ xa trên đất cũng không làm tôi trở mình. Tôi nằm đấy suốt đêm với con trăng ướt lạnh, với những vòng hào quang thần thánh quay cuồng không gian.

Quả nhiên sự báo thù của tôi lại công hiệu. Viên xã trưởng thấy mẹ tôi nói là cháu hắn ta thì tái người. Y cũng không dám đánh tôi vì có người nói tôi mà trụy thai thì y không khéo mất chức mà lại khốn khổ. Mẹ tôi chỉ luôn miệng van xin. Người này, người nọ mỗi người hỏi một câu, chêm vào một chuyện. Lúc tôi trông thấy cái mặt tái xám của anh Ba thì lại không cầm lòng thương. Tôi bèn đổ đại cho một chàng khác. Rồi lại một tên nữa bay ra, khiến cả làng hoang mang. Họ càng tra hỏi thì lại càng lúng túng bởi những câu trả lời của tôi. Tôi dám chắc rằng cả đời chưa bao giờ tôi lại nguy hiểm đến như thế. Tôi không còn là một con chó thường nữa mà là một con chó dại khiến mọi người sợ điên lên. Tôi thú vị vì trả thù được những đứa con gái hợm hĩnh có tình nhân hoặc chồng bị ghép ngủ với tôi. Bao nhiêu chàng ê chề, nhục nhã và ngượng đến phát sốt rét vì bị mang cái tiếng tăm đó. Thế ra tôi đã ngủ hết với họ theo tưởng tượng của mọi người. Tôi trở thành một thần tượng cho mọi người sợ và ghét.

Chỉ vì mày đấy con ạ, ôi cái hòn máu bé nhỏ là con của mẹ. Mẹ ước ao rằng sinh ra con hoàn toàn là một người chứ không phải là con vật nữa. Mẹ mang con trong bụng mẹ và lê con trên mặt đất. Mỗi một thước dài là mẹ lại cảm thấy sự có mặt của con và nỗi yêu đương của mẹ.

Tôi thấy nó cười trong tôi, tê tái như sau đêm anh ta đến, và tự nhiên tôi thấy yêu cả cuộc đời. Lão xã trưởng với bộ râu trê ngồng ngộng không còn đáng ghét nữa, y có thể tát tôi dăm bảy cái liền. Tôi cũng không còn ghét những đứa con giai, con gái làng lầm lì nhìn tôi một cách hằn học. Bởi vì tôi đã báo được thù, tôi đã cho họ nhận thấy là tôi ngang hàng với họ, những kẻ có hai cẳng đứng hẳn hòi. Ý tưởng đó làm tôi suýt bật cười thành tiếng. Một người đàn bà sấn đến cạnh tôi vừa chửi vừa định đánh. May mà có một người khác giữ lại:

– Tiên sư nó chứ, chồng bà đâu có ngủ lang với cái thứ mày hởi con giời đánh kia. Bà chỉ cho mấy thanh củi là mày chết bỏ đời.

– Thôi thì bác chấp làm gì. Chị ta dở hơi đấy mà. Đánh chửi lắm nó lại càng khai tầm bậy. Với lại cái mã ấy cũng chẳng sống được đâu. Người như thế làm sao mà đẻ với đái được.

Câu nói đâm vào phổi tôi buốt như một cây kim nhọn.

Tôi nghĩ đến thằng người con trong bụng. Không! Nó còn sống, nó đang sống, nó phải sống. Nó đang ngọ nguậy trong tôi, làm sao nó lại chết được. Tôi bằng lòng chết cho nó sống. Tôi bằng lòng chết mà không cần oán hờn gì ai hết, kể cả anh ta. Mà tôi phải biết ơn mới đúng chứ. Anh ta đã cho tôi dư vị của sự sống. Sự sống tràn trề bùng lên như lửa.

– Không, tôi không chết, các người đi đi.

Tôi hét lên, và mọi người lầm lũi tản ra.Họ vẫn sợ tôi như một con chó dại.
Thế rồi câu chuyện cũng hơi nguôi mặc dầu bụng tôi ngày mỗi lớn. Tôi không lê được nữa. Tôi ở nhà. Mẹ tôi cũng lo ngại bảo với tôi:

– Bầm hỏi bà mụ ở làng thì bà ấy bảo phải đem mày ra tỉnh mới đủ thuốc.

Người lại chép miệng: Thì người ta cũng sợ không làm nổi, nhỡ có sao lại khốn cả hai mẹ con.

Tôi phải đi vì tôi muốn con tôi sống, nó sống để làm người. Mà tôi còn tiếc gì cái làng này khi người ta nhìn đến tôi như một con người vật.

Chúng tôi thu xếp lên tỉnh.

Lần đi này, tôi có cảm giác sẽ không bao giờ trở về nữa. Giã từ tất cả, căn nhà, bụi tre, đống rạ sau nhà. Tôi chỉ mang đi toàn hình ảnh. Những hình ảnh se thắt lại trong những cơn đau dữ dội từng hồi.

Vị bác sĩ khám cho tôi xong quay lại bảo nhỏ với cô nữ y tá tay cầm bút ghi chép. Mẹ tôi thì lo âu nhìn hai người.

– Sản phụ phải ở đây tĩnh dưỡng cho đến ngày sinh nở. Vị bác sĩ nói. Trường hợp này phải mổ để lấy đứa bé ra mới hy vọng cứu cả hai mẹ con. Nhưng tình trạng của sản phụ nguy hơn. Dù sao chúng tôi cũng cố gắng.

Không, nó sẽ sống, tôi kêu thầm như vậy. Tôi bằng lòng hy sinh để nó sống.

Nằm trên giường sắt trắng, tôi như chói mắt vì sắc trắng của trần nhà và buồn nôn vì cái không khí của nhà thương. Những sản phụ khác cũng nhìn tôi bằng con mắt tọc mạch. Chắc họ cũng tự hỏi làm sao một người như tôi lại có chửa như họ được. Và loáng thoáng tôi cũng nghe thấy những tiếng xầm xì từ giường này qua giường khác. Nhưng tôi thì cần gì nghĩ đến họ. Tôi nghĩ đến đứa con tôi, đến cái đêm mà trời như đổ xuống. Da tôi tê đi, ràn rạn như có sự cọ sát của những sợi râu thưa đâm vào má. Mẹ tôi nói:

– Tao lo cho mày, Tư ạ… nhỡ làm sao.

Tôi ngắt lời khe khẽ:

– Bầm khỏi lo, rồi bầm có cháu bế mà. Còn con thì…

Tôi cũng không nói hết câu nhưng mẹ tôi cũng thừa hiểu.

– Có gì bầm nuôi nó.

Giọng nói của tôi nghẹn trong cuống họng, chúng tôi im lặng mỗi người một ý nghĩ. Đêm ấy tôi mơ thấy tôi đi về làng như một người thường. Bằng hai chân. Ai nấy đều chào hỏi tôi như chính tôi cảm thấy từ trước mình vẫn là người thường. Đến nhà thì có một thằng nhỏ ra đón với mẹ tôi. Trông tôi thằng bé chỉ cười. Mẹ tôi dắt nó đến và bảo: Sao không chào mẹ mày đi. Tôi giơ tay bế nó hôn, rồi hai mẹ con dong chơi trong vườn. Giữa lúc đang đùa với con và đang sống tràn trề hạnh phúc thì tôi hãi hùng chợt thấy cảnh vật như lớn lên và tôi nhỏ dần, nhỏ dần lại. Một cảm giác ớn lạnh suốt sống lưng và tôi chợt thức dậy. Bấy giờ còn là đêm. Đầu phòng một ngọn đèn còn le lói và qua khung kính nhỏ trời sao lấp lánh. Căn phòng lặng lẽ như một chiếc quan tài.

Tôi đặt tay lên bụng mỉm cười nghĩ đến nó rồi lại ngủ thiếp đi.

Duy Thanh

(Nguồn: FB Tien Dang)

Đường Vào Trần Gian. Truyện ngắn Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Mịt mù khói lửa binh đao
Thiên Thần gẫy cánh lạc vào trần gian

– Nào! Một, hai, ba, hấp!

Lưng của Tư Híp khom xuống và thằng Út đứng ở xa, vừa toét miệng ra cười, vừa phóng tới, hai cánh tay gầy guộc và đen đủi của nó ôm chầm lấy cổ anh, đồng thời cái mông ốm tong teo của nó theo đà phóng tới. Trong một thoáng, thằng bé đã bíu gọn gàng được trên mảng lưng to như cánh phản của anh nó, như một con nhái bấu trên một ống tre vầu. Tư Híp xốc lại mình một lần nữa cho chắc ăn rồi đứng dậy. Gã hỏi:
– Tè rồi chưa?
Thằng bé đáp lại bằng cách nhún nhẩy như nó đang ngồi trên mình một con ngựa. Anh nó tiếp:
– Mày vô trỏng mà đái dầm người ta cắt cu.
Vừa nói gã vừa nghiêng mình xuống nhấc cái tay nải lên đeo ở cánh tay. Gia tài của anh em gã chỉ có thế. Vài cái quần áo, một mảnh chăn chằng đụp và một cái mùng rách bươm. Gã đảo mắt nhìn căn buồng tối tăm như hũ nút một lần cuối với vẻ quyến luyến rồi khom lưng bước qua cánh cửa thấp và hẹp. Ở ngoài sân đất, bà cụ chủ nhà đã đợi sẵn với quả chuối trong tay. Bà trao cho thằng Út với vẻ trìu mến, rồi hỏi:
– Anh Tư đi rồi bao giờ về?
Tư Híp đáp:
– Ý chà, chắc là lâu vài ba năm.
– Rồi cũng được nghỉ phép chớ bộ đánh nhau hoài sao?
– Có chứ! Tới chừng có dịp là cháu về thăm cụ ngay.
Bà cụ nhìn thằng Út thở dài:
– Vậy là anh nhất định kéo nó đi theo thiệt đó à. Vô đó ai người ta chịu?
Tư Híp mỉm cười:
– Hổng chịu thì cũng đành vậy thôi chớ, cháu bỏ nó mà đi thì lấy ai nuôi nó? Mình cứ trình bày hoàn cảnh thì rồi mấy ổng cũng phải thông cảm cho mình chớ.
Vừa nói Tư Híp vừa xốc lại thằng Út trên vai. Gã đứng tần ngần bên cạnh bà cụ một giây rồi chậm rãi đi ra cửa. Bà cụ lặng lẽ theo sau. Phút chia tay chẳng có gì thế mà bịn rịn. Dầu sao thì anh em thằng Tư Híp cũng đã chui rúc ở đây mấy năm rồi. Đối với họ, bà cụ coi như con cháu trong nhà. Ra tới ngoài, bà cụ mới móc ra tờ giấy bạc nhét vào túi áo thằng Út. Tư hỏi:
– Cái gì thế?
– Để cho nó ăn quà, tội nghiệp.
Tư Híp lúng túng cám ơn trong khi ấy thằng Út đã tẻm hết một nửa quả chuối và vất nguyên cái vỏ ra thềm đất. Bọn trẻ con đang chơi nhộn nhịp ở ngoài ngõ bỗng ùa lại. Một vài đứa hét:
– Ê! Út, mầy đi đâu đó mậy.
Út nhấp nhổm trên lưng anh và giơ tay lên vẫy. Tư Híp trả lời thay em:
– Đi quân dịch đây. Đứa nào khoái bắn súng thì theo tao.
Cả bọn nhao nhao:
– Tôi!
– Tôi!
– Tôi! Tôi nè!
Thế là cả bọn nó xúm xít bu lấy anh em Tư Híp như một chùm sung rồi cả chùm sung đó ùn ùn kéo nhau đi chật cả lòng ngõ. Tư Híp phởn chí toét miệng ra cười. Gã cất giọng ngêu ngao:

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng quốc gia đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống.

Đường Vào Trần Gian

Đám đông ra tới đường cái thì gặp một vụ đánh lộn. Thế là lũ trẻ túa lên chạy. Trong chớp mắt chỉ còn anh em Tư Híp đứng một mình ở bên vỉa hè. Thằng Út nhấp nhổm định đòi tụt xuống, nhưng anh nó đã vội nói:
– Ý! Mình đi quân dịch mà. Đâu có theo tụi nó được.
Út hậm hực lúc lắc trên vai anh nó một chút rồi lại ngồi yên. Nửa quả chuối còn lại bây giờ nó đã tẻm nốt và chùi bàn tay lên vai áo của anh nó. Gã đàn ông thủ thỉ:
– Từ bây giờ mình phải tập vô kỷ luật thì mới được. Nhà binh ác ôn lắm mày biết không.
Thằng Út buồn bã không trả lời nhưng anh nó vẫn tiếp:
– Nghĩa là mình phải theo lời mấy ông sĩ quan. Mấy ổng thổi toe một tiếng còi là phải sắp hàng ngay cái tróc, thổi toe một tiếng nữa là im lặng như điên, toe cái nữa là hấp nhào vô tập tành ngoan ngoãn, chăm chỉ. Mà điều đó phần tao. Còn mày khỏi! Đếch phải sắp hàng sắp lề gì hết ráo. Cho mày chạy chơi như điên, chỉ cần tao đi đâu mày lót tót theo đó là “năm bờ oăn” rồi, nghe Út!
Út chẳng đáp vì nó đang nhìn quả bóng xanh đỏ bay phất phơ trên tay một thằng bé bán bóng mới xuất hiện ở bên kia đường phố. Sự im lặng của nó làm Tư Híp phải ngoái lại nhìn. Gã cằn nhằn:
– Đếch nghe gì cả, ông nội! Bộ ông nội tưởng cóc có gì quan trọng lắm sao. Vô đó mà ông láng cháng làm trật lất thì họ ghét họ cắt cu. Lính thứ thiệt chớ bộ rỡn với ông sao?
Vừa nói gã vừa xốc lại thằng bé, đổi cái tay nải sang tay bên kia cho bớt mỏi, rồi gã lại thủ thỉ:
– Phải nhớ đó nghe. Hể mà ai đụng tới thì mày phải gào to lên, gào chừng nào tao nghe tiếng, tao chạy tới thì thôi. Mà ý chà! Cái gì chớ cái gào thì đếch cần phải dặn ông kỹ. Cái họng nhà ông mà gang ra thì cả nước phải điếc tai.
Vừa nói, Tư Híp cười hì hì. Hai hàm răng của gã nhăn ra như răng ngựa. Lớp thịt ở hai bên má của gã nhúm lại, đội cho vành mi dưới trồi lên hàng mi trên, khiến cặp mắt của gã đã bé lại càng bé thêm. Chả trách hàng xóm người ta không kêu tên thật của gã mà chỉ gọi gã là Tư Híp. Người ta không biết dĩ vãng của Tư như thế nào, nhưng chỉ biết Tư sống độc thân với thằng em ruột vừa gầy vừa choắt, so với gã thật là một sự tương phản mạnh mẽ. Tư Híp quí em như vàng. Điều mà gã lo sợ nhất là sau này, nếu gã chết đi, để lại một mình nó bơ vơ trong cuộc đời thì nó sẽ không biết làm gì để xoay xỏa lấy đời sống, Tư sợ cái hình ảnh đó lắm, và gã thường cầu trời cho đừng bao giờ xẩy ra cái chuyện khủng khiếp như thế cả. Buổi tối khi đi làm về, Tư ít đi chơi hay đi nhậu lai rai, gã chỉ thích ở nhà đùa nghịch với thằng Út trong bóng tối lờ mờ của ngọn đèn dầu hôi đặt trên vách gỗ. Nhưng Út thì không khoái nghe gã rủ rỉ chuyện trò bằng sự chạy lồng lên như chó điên với bọn trẻ ở trong ngõ. Thành ra nó chỉ láng cháng với anh nó một lát là lại tìm cách chuồn đi mất biệt. Tư Híp nằm buồn tình, cằn nhằn một mình trong bóng tối rồi chỉ một chốc gã đã lăn ra ngủ. Giấc ngủ đến với gã quá dễ dãi như bản tính dễ dãi của gã. Gã không mong gì hơn là được kéo dài cuộc sống bình thản như thế cho đến trọn cuộc đời. Thằng bé cứ bé như thế mãi, và gã thì lúc nào cũng khỏe mạnh để làm được thêm nhiều, bữa cơm chiều sẽ chẳng có vài đồng thịt quay thì cũng có mấy khoanh tiết nóng cho thằng Út.
Thế là gã mãn nguyện vô cùng rồi.
Nhưng vào một đêm có lính xét sổ gia đình và gã bị chớp lên xe vì gã ở trong tuổi quân dịch. Gã như điên lên khi thấy rằng chẳng cần đợi chờ lúc gã chết đi thì hình ảnh bơ vơ của thằng Út mới thực sự trở về. Gã đã van nài lạy lục tất cả mọi người, nhưng chẳng có ai nghe lời trần tình của gã. Cuối cùng gã phải tự thoát thân lấy bằng cách liều lĩnh nhẩy ùm xuống lạch nước khi được dẫn qua cây cầu khỉ và lặn một hơi qua những gậm nhà sàn tối tăm để thoát thân sang tận bên kia. Bữa đó trở về, gã nằm ngất ngư hết mấy hôm vì uống no một bụng toàn nước sông đen ngòm, sặc mùi sú khí.
Sau hôm đó, gã tự nghĩ rằng thà đem thằng Út vô lính cùng với gã còn hơn là lại tới một hôm nào đó người ta bắt giải gã đi một mình, để thằng Út bơ vơ, không ai chăm nom săn sóc.
Thế là gã gom góp đồ lề, sửa soạn hành lý để lên đường thi hành nghĩa vụ công dân. Hành trang của gã gồm có:
– Bốn bộ quần áo
– Một cái mền
– Một cái khăn mặt
– Một đôi dép cao su
– Và thằng Út năm nay vừa tròn sáu tuổi.
Ở quân vụ thị trấn, người ghi danh sách không nín được cười trước cái cảnh tay bồng tay mang của Tư Híp. Anh ta la lên:
– Trời ơi! Sao anh không đem cả vợ lớn vợ bé đi luôn có hơn là xách theo mỗi thằng nhỏ nầy.
Tư Híp gãi đầu gãi tai:
– Xin xếp thông cảm giùm. Em chưa có vợ.
– Chưa có vợ mà bế con vô hả?
– Dạ không phải! Nó là em.
Người đàn ông giận dữ:
– Em hay cháu hay chắt thì cũng phải để nó ở nhà chớ đi lính đánh giặc chớ bộ đi nghỉ mát sao mà bồng bế nhau um sùm tới đây vậy.
– Dạ để nó ở nhà thì không có ai nuôi. Nó còn con nít quá mà xếp. Xin xếp thông cảm giùm em..
– Cảm với cúm gì. Rồi anh coi, vô trại nhập ngũ người ta tống nó ra còn thêm tội cho nó hơn nữa.
Tư Híp đặt ngay thằng bé xuống, chấp hai tay định xá một xá, nhưng nghe lời dặn của anh, thằng Út nhất định không chịu rời cái lưng êm ái của anh nó. Hai tay nó níu chặt lấy cổ Tư Híp còn hai chân thì nó quắp chặt lấy mạng sườn khiến Tư Híp giằng cũng không ra và cử chỉ lễ phép của hắn trở nên lúng túng. Người đàn ông ngước mắt lên nhìn thân hình cõi của thằng bé với bộ mặt vêu vao đen thui thủi rồi bỗng chép miệng thở dài. Ông ta gõ cái bút chì lên trán Tư Híp rồi nói:
– Không bảo đảm đâu đó nghe! Xuống đó người ta đuổi, tôi mặc kệ đa…
Mặt Tư Híp tươi hẳn. Gã biến ngay thành con ngựa nhẩy quẫng lên, Tư xóc thằng Út trên lưng khiến nó khoái chí toét miệng ra cười và quắp chân thêm chặt hơn nữa. Lần này Tư Híp phải la lên:
– Thôi đi Ba. Nới nới ra chút giùm. Bộ tôi làm ngựa cho Ba cỡi suốt ngày đó sao.
Vừa nói gã vừa gỡ thằng bé, đặt xuống sàn đá hoa rồi vươn vai răng rắc. Mặt gã rạng rỡ hẳn lên. Nhìn đâu gã cũng thấy niềm vui chan hòa. Cử chỉ của gã cũng trở nên khép nép như để biểu lộ thêm lòng biết ơn của gã đối với sự dễ dãi mà người ta đã dành cho gã.
Một lát sau gã được xua vào đứng ở một góc sân cũng với mấy chục người khác. Thằng Út lót tót đi theo. Mắt nó dáo dác nhìn cảnh vật chung quanh với cặp mắt tò mò. Rồi chỉ một lát nó đã tót lại sờ mó những chiếc xe bóng loáng đậu ven bờ tường hay đứng ngẩn người ra ngắm khẩu súng lục trên dây lưng của người lính ngồi gác giữ an ninh gần đó. Sự táy máy của nó làm Tư Híp vừa cằn nhằn vừa chìa cái lưng ra nói:
– Thôi, mời bố phốc lên đây. Bố mà cà rà ra đó người ta tống ra ngoài đừng có mà hòng xin ai nữa.
Thằng Út nheo mắt nhìn anh mỉm cười. Nó lùi ra xa ba bốn bước để lấy đà rồi mới nhào người lại như kiểu anh hiệp sĩ trong phim cao bồi phóng mình lên lưng ngựa. Lúc Tư Híp đứng dậy thì nó chồm lên, thúc đùi vào mạng sườn của anh nó rồi cười như nắc nẻ…
Vào đến trại nhập ngũ, càng thấy đông người, Út càng trở nên nghịch ngợm. Giữa đám đông toàn thanh niên trai tráng, bóng dáng loắt choắt của nó bỗng trở thành một hình ảnh ngộ nghĩnh và đặc biệt thu hút được sự chú ý của mọi người. Suốt ngày nó nhẩy quẵng lên như con chó động cỡn, len lỏi hết đám đông này đến đám đông khác, la cà ở khu này tới khu khác, khi mệt mỏi nó lại tìm về chỗ của Tư Híp mà nằm lăn ra ngủ một cách dễ dãi. Trời nắng như thiêu đốt. Tư Híp kê đầu của nó lên chiếc tay nải rồi phủ người nó bằng tấm mền hôi và bẩn để kiếm chút bóng mát. Còn gã thì ngất ngư sau một ngày chờ đợi mệt mỏi. Mặt gã đỏ rừ. Mồ hôi tháo ra đầm đìa ở mặt và ở cổ. Miệng gã khô đắng lại. Suốt từ sáng gã chỉ dám liều ra quán uống có chai nước ngọt vào lúc trời nắng gay gắt nhất. Chai nước ngọt được chia làm hai. Non một nửa cho gã, và già một nửa nhường cho cái bụng ỏng kếch sù của thằng Út. Giờ ăn, gã được lãnh một phần cơm với hai miếng thịt. Gã tưới thực nhiều nước thịt kho để cơm được chan bằng thứ nước mằn mặn. Gã tưởng phải nhường phần cho thằng Út nên không được no, nhưng đến lúc chỉ lùa được hai muỗng vào miệng, gã đã thấy cổ họng mình bứ lại. Cái khát làm cho gã hết cả đói. Môi gã rộp lên, miệng đắng nghét, cặp mắt đỏ ngầu. Chưa bao giờ gã lại mong trời mưa đến như thế. Nhưng trời trong xanh và cao thăm thẳm. Không có một làn mây, không có một ngọn gió, bốn bề chung quang chỉ hầm hập hơi nóng. Hơi nóng làm héo úa những cọng cỏ mọc ngổn ngang trên nền đất, làm khô bỏng những lớp cát rải rác trên lối đi, làm cả lớp mái tôn của dẫy nhà chật ninh ních những người như cong lên, vênh lại.
Sự sinh hoạt ồn ào lúc buổi sáng cứ theo sức nóng của buổi trưa mà chìm dần trong êm ả. Sự êm ả bức bối, nực nội, mệt mỏi và rã rời, chỉ đến lúc chiều dần xuống, cái nóng dịu đi, những ngọn gió thần tiên bắt đầu thổi hây hây trong bầu không khí dịu mát, thì tiếng hò hét, nói cười lại trở về và kéo dài liên miên cho đến đêm khuya.
Bữa cơm sáng thằng Út chỉ ăn vã đúng có hai miếng thịt kho. Đến chiều nó ngắm nghía mấy sợi măng sào trên bát cơm nguội lạnh rồi lắc đầu và vùng lên chạy. Tư Híp chẳng kịp phân trần hay khuyến khích sự can đảm chịu đựng của nó thì bóng dáng loắt choắt của nó đã mất biến ngay trong đám người đứng ngồi ngổn ngang phía trước mặt.
Mãi đến lúc sẩm tối, Út mới tha thẩn đi về. Bộ điệu của nó có vẻ như mới được ăn no, tay nó cầm một mớ nút chai. Nó ngồi xuống nệm cỏ chơi đánh phén một mình chán rồi nằm phưỡn rốn ngửa mặt lên nhìn bầu trời bắt đầu lấp lánh mấy vì sao ướt mới mọc. Bầu không khí bây giờ lại dịu hẳn đi. Gió mát thổi lồng lộng làm tung những sợi tóc lòa xòa trên trán và má của Tư Híp. Sự khoan khoái hiện tại xen với nỗi cực nhọc của suốt một ngày chờ đợi hoàn tất mọi thủ tục khiến cho gã thiu thiu buồn ngủ. Gã gối đầu lên cái tay nải, một chân của gã khều về phía mộng đít của thằng Út như để gã cảm thấy yên tâm trông coi nó ngay cả trong giấc ngủ, còn hai tay của gã ruỗi ra thật dài. Gã sung sướng nhắm nghiền hai mắt để cho từng ngọn gió lùa qua cổ áo mơn man ở khắp ngực và bụng. Cứ như thế, chỉ trong khoảnh khắc gã đã quên bẵng khung cảnh ồn ào trước mặt và cả cuộc đời dở dang của gã để ngáy như kéo gỗ.
Trong giấc mơ, gã thấy mình bơ vơ giữa một khoảng trời ngùn ngụt lửa cháy và tơi bời bom đạn. Tiếng đạn nổ, tiếng người la, tiếng động cơ gầm thét trong bầu trời đỏ rực, gã thất thanh gọi tên thằng Út nhưng chung quanh gã chỉ có những hình thù đầy máu me chạy nhẩy hỗn loạn như những hình nhân gớm ghiếc. Tư Híp rú lên thất thanh và gã choàng dậy nhớn nhác nhìn quanh. Bên tai gã tiếng súng máy, tiếng động cơ vẫn ầm ĩ nổ rôn. Gã nhận ra những âm thanh đó phát ra từ chiếc máy phóng thanh và ở gần đó người ta đang chiếu cho tân binh quân dịch coi một cuốn phim giải trí. Gã hoàn hồn giơ bàn tay lên vuốt những giọt mồ hôi vã ra ở trần và ngực.
Thằng Út bây giờ cũng đã biến đi đằng nào. Chắc nó đã len lỏi vào đám đông trước mặt để nhìn cho rõ những hình ảnh nhấp nháy nhức mắt trên tấm khung vải xộc xệch căng bằng những sợi dây buộc trên xà gỗ. Tư Híp lơ đãng nhìn về phía đó một lát rồi lại nằm xuống. Gã cảm thấy cơ thể rã rời mệt mỏi và trí óc trĩu nặng những nỗi lo âu thấp thỏm. Gã nghĩ đến những đêm nằm nghe tiếng súng nặng nề làm rung chuyển nhà cửa trong thành phố, những trái hỏa châu bắn lên soi sáng vàng úa trên mặt đường nom thê thảm như những cây nến chết chóc sừng sững leo lét ở giữa bầu trời. Gã tự hỏi rồi ngày mai gã sẽ làm được gì và phải làm những gì. Nhưng đối với gã, dù có xẩy ra bất cứ điều gì gã cũng sẽ chịu đựng tất cả, miễn là anh em gã còn được gần nhau, thằng Út không phải bơ vơ trong mớ tuổi nhỏ nhoi của nó.
Nghĩ đến thế, bỗng nhiên Tư Híp thấy sốt ruột. Gã trở mình vài ba lần rồi thốt nhiên nhỏm dậy. Gã cố nghển cổ lên nhìn, cặp mắt hướng về phía đám đông như muốn chọc thủng bóng tối để tìm bóng dáng loắt choắt của thằng em. Nhưng đám người đứng đông nghìn nghịt khiến gã thấy ngay khó mà tìm ra được thằng Út trước giờ vui giã đám. Chán nản, Tư Híp lại tiếp tục nằm ngửa mặt nhìn lên bầu trời lấp lánh mấy vì sao. Không gian thật hoàn toàn êm ả nếu thỉnh thoảng không có những đốm đỏ của từng chiếc máy bay di chuyển nặng nề qua vùng trời trước mặt. Rồi chỉ một lát, có tiếng bom ầm ĩ vọng về. Tiếng bom thật xen lẫn với tiếng súng giả nổ ròn rã trên màn bạc. Hình ảnh của những vùng đất bị cầy, xới, khoét, phá xen lẫn với những đám lửa ngùn ngụt cháy. Những rừng cây xơ xác, những làng xóm hoang tàn như điên đảo, quay cuồng trong đầu óc của Tư Híp khiến gã thấy mình như bị ném vào một cơn lốc lớn, ở trong đó con người nhỏ bé của gã bị rang phỏng lên, đầu óc căng nứt ý nghĩ chập chờn, và gã bắt đầu cảm thấy mình đang tách rời cuộc sống hiện tại để đi vào một giấc ngủ chập chờn, mộng mị.
Đến lúc gã tỉnh dậy vì sương đêm ướt lạnh cả mảng lưng dưới nệm cỏ thì bốn bề đã trở nên im lặng hoàn toàn. Bên tai gã chỉ còn tiếng những con muỗi vo ve tạt đi tạt lại ở cổ, ở má và chân tay. Phía đằng xa, trên những tấm hàng rào kẽm gai trải thẳng tắp trên vùng đất rộng bao la, những ngọn đèn ủ rũ hắt xuống một thứ ánh sáng vàng vọt, héo úa. Tư Híp quờ quạng tay sang hai bên và gã bắt gặp thằng Út lúc nầy đang rúc đầu vào chiếc tay nải ngủ cách ngon lành. Khuôn mặt của nó bây giờ nom bình thản và thơ ngây một cách tội nghiệp. Tư Híp nghĩ đến cái giường ấm cúng trong căn buồng ấm cúng ở nhà. Gã bỗng thấy lòng dâng lên một niềm thương vô hạn trước sự gian truân mà thằng Út đang phải chịu đựng. Gã vội kéo nó nằm sát lại gần rồi rũ tấm mền ra đắp lên bụng nó. Trong giấc ngủ, thằng Út trông như một con chó nhỏ nằm mệt vùi sau một ngày rông dài, chạy nhẩy…
Những ngày tiếp theo, anh em thằng Út vượt qua trót lọt tất cả những chặng đường để vẫn còn được ôm nhau trong giấc ngủ. Chẳng ai nỡ dứt thằng bé loắt choắt ra khỏi tình thương của anh nó cả. Thật sự thì Út thừa đủ tinh khôn để tự lo lấy được cho mình. Ban ngày, trong lúc Tư Híp phải rời em làm phận sự thì Út lảng vảng ở dưới khu nhà thầu. Nó kết bạn với hầu hết mọi người làm việc ở đó. Chẳng cần để anh nó phải nhường nhịn, mỗi ngày Út cũng xoay xở được hai bữa cơm no. Thường thường Út chỉ trở lại tìm anh vào lúc trời tối hẳn. Ở giai đoạn đầu, Tư Híp chưa phải vất vả học tập bao nhiêu nên ban đêm hai anh em vẫn có thể la cà đây đó hay nằm trên giường tán róc trước khi ngủ. Cũng có nhiều hôm Út đi biệt hai ba ngày liền không trở về. Lần đầu tiên Tư Híp tưởng nó bị tống ra khỏi trại nên chạy đi xông xáo tìm kiếm và bỏ cơm đúng hai ngày.
Nhưng rồi bỗng nó lại lù lù, dẫn xác trở về trong bộ quần áo không mới lắm nhưng khác lạ.
Thằng ranh con thế mà tài. Mái tóc sù lên như ổ quạ rối của nó đã được hớt lên sạch sẽ. Trong túi của nó đã thấy rủng rẻng mươi đồng tiền cắc. Sự chĩnh chạc, phong lưu của nó khiến gã đàn ông quên cả buồn, quên cả giận. Gã đá phốc ngay vào cái lon sữa bò ở gần đó như chứng tỏ cơn giận gã trút hết cả vào đó, rồi gã hét lên:
– Thằng mắc dịch, mày đi đâu tao kiếm hụt hơi muốn chết mà không ra.
Út mỉm cười, móc túi lấy ra chiếc kẹo chanh đưa lên khoe rồi thản nhiên bóc giấy bóng và cho vào miệng. Tư Híp hỏi gặng:
– Mày đi đâu vậy Út?
Út giơ ngón tay chỉ về phía trước mặt, không trả lời. Miệng của nó còn mắc lúng búng với viên kẹo thơm phức. Gã đàn ông hậm hực một lát rồi nói:
– Coi chừng cà rà cho lắm vào mấy ổng sút cho một cái là bay về tới nhà đấy nhóc con. Lần sau thì cấm đấy, nghe chưa.
Nhưng lời nói của Tư Híp đối với Út cũng chẳng khác nước đổ đầu vịt. Thằng bé vẫn ham chơi, vẫn chạy nhẩy như con chó động cỡn, và từ hôm đó về sau lâu lâu nó mới chịu nằm ngủ gọn trong lòng anh một lần. Một hôm Tư Híp bắt gặp nó theo chân hai người đàn bà, một già một trẻ, khiêng một sọt su su từ chỗ đậu xe xuống nhà bếp.
Lúc đó Tư Híp đang làm tạp dịch ở ngoài hàng rào. Gã chú ý đến người thiếu nữ khiêng sọt vừa đi vừa nô với thằng Út. Tiếng cười trong trẻo của hai người làm ấm cúng hẳn khung cảnh buồn chán ở chung quanh với những mái tôn thấp, những hàng rào kẽm gai chạy dài và những chiếc mũ sắt thấp thoáng trong từng lô cốt. Khuôn mặt của nàng đầy quyến rũ với nước da ửng hồng, từng giọt mồ hôi chẩy vã xuống hai gò má còn dính những sợi tóc dài và ướt. Dưới vầng trán phẳng, cặp mắt bồ câu long lanh sáng. Nàng cười tươi như bông hoa buổi sáng và giọng nói lanh lảnh của nàng bỗng gieo vào lòng gã đàn ông nhiều cảm xúc xao xuyến.
Thằng Út mải đùa nên không để ý đến anh nó. Nhưng hình như thiếu nữ nhận ngay ra được Tư Híp. Nàng ghé vào tai Út thì thào và Út reo to lên quay lại nhìn về phía hàng rào. Nó giơ bàn tay lên vẫy vẫy. Tư Híp bối rối vẫy lại. Mắt gã vẫn không rời khuôn mặt của người thiếu nữ lúc tiến gần ngang qua chỗ gã đứng. Gã bắt gặp cái nhìn soi mói của nàng hướng về phía gã. Điều đó làm gã lúng túng vô cùng. Gã không dám nhìn ai nữa mà chỉ cúi vội xuống vờ lúi húi trong công việc.
Đến tối, gã thủ thỉ với Út trên giường nằm:
– Ai khiêng sọt su su hồi chiều đó, Út?
Út đáp:
– Chị Hiên nhà bếp đó
– Mầy quen hả?
– Quen
– Rồi mầy nói hay sao mà cổ cũng biết cả tao.
– Biết chớ! Em chỉ anh cho cổ mấy lần.
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Mầy kỳ thấy bà, khi không “chỉ” tao làm gì, làm tao mắc cỡ muốn chết.
Út yên lặng không đáp khiến Tư Híp chờ lâu không được nên lại tiếp tục hỏi:
– Mầy chỉ tao làm sao Út?
– Thì chỉ vào anh đó.
– Rồi mầy nói chi?
– Chả nói gì hết.
– Ngu thấy bà! Chỉ rồi thì cũng phải nói lai rai chớ bộ, im thì ai mà biết.
Út mỉm cười:
– Thế thì em chẳng có nói cái gì hết.
Sự ngu độn của nó làm Tư Híp bực mình. Gã vặc lên:
– Không nói cái gì hết mà cổ lại biết tao là anh mày. Thằng ngu quá đi!
– Vậy thì em có nói. Em nói anh Tư của em đó.
Mặt Tư Híp tươi lên. Lòng gã bỗng rung động. Gã hỏi dò một cách hồi hộp:
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Ừ! Rồi cổ bảo sao?
– Không bảo sao hết đó.
Tư Híp thất vọng, vén đùi lên gãi sồn sột. Một lát gã tỉ tê:
– Vậy từ hồi đó tới giờ, mầy ăn uống ở đó, đó hả?
– Ừ!
– Bộ mầy xin hay sao!
– Em không xin mà đều cổ cứ giữ lại.
– Kỳ! Không quen mà giữ lại.
– Thiệt đó!
Mặt Tư Híp tươi lên lần nữa. Gã nói:
– Rồi mầy nói sao?
– Chả nói sao hết.
– Mầy nói ngang như cua đó. Bộ chả nói, cứ việc xông đại vô ăn cơm nhà người ta đó chắc.
– Chớ sao. Người ta mời mình mà.
– Mời sao?
– Mời là mời chớ còn mời sao. Anh hỏi kỳ thấy bà.
Nói rồi Út giận dỗi nằm quay lưng về phía Tư Híp, co hai tay lên đầu nhất định không nói nữa. Thái độ của nó làm Tư Híp ngán ngẩm. Suốt đêm hôm ấy, Tư trằn trọc mãi không ngủ. Hình ảnh của người con gái đã gieo vào lòng gã biết bao nhiêu nỗi niềm xao xuyến.
Những ngày sau đó, cũng có một vài dịp Tư được đối diện với nàng, nhưng gã không thể nào cất lời nói được với nàng một lời nào cả. Tình yêu của gã chỉ biểu lộ qua cặp mắt nồng nàn say đắm mà gã chăm chú nhìn nàng vào những lúc nàng không nhìn gã. Gã biết mình quá nhút nhát nhưng gã không thể vượt qua được cái trở lực đó. Thấm thoắt hơn hai tháng trôi qua, chương trình học của gã mỗi ngày một thêm bận rộn và gay go. Có khi suốt cả một tuần gã không còn có dịp để tâm tới cả thằng Út. Mãi tới một hôm vào ngày nghỉ, gã mới đi tìm nó và gặp Hiên đang ngồi gọt su su với nó ở đầu hè. Lần này gã lấy hết can đảm để nói được một câu:
– Tôi cám ơn cô nhiều lắm, cô Hiên ạ..
– Cái gì anh Tư
Tư bắt đầu thấy lúng túng, mặt gã nóng rực lên. Gã ấp úng:
– Thằng Út! Thằng Út đó…
– Làm sao, anh?
– Nhờ cô đã nuôi dùm nó, tôi cám ơn cô vô cùng…
– Thôi, anh cho nó làm con nuôi má tôi đi! Má tôi cũng thương nó lắm đó..
– Thiệt không?
– Thiệt chớ!
– Mầy chịu không Út?
– Chịu!
– Vậy thì tôi cũng chịu đó. Nay mai tôi sắp đi rồi. Cho nó theo chẳng biết có yên không?
Mặt Hiên đang tươi bỗng buồn hẳn đi. Nàng cố nén tiếng thở dài:
– Tôi cũng đã nghĩ đến đó rồi. Đem nó vô đây thì dễ chớ mang đi trận sao được.
Tư đứng im lặng, tần ngần. Thấy gã có vẻ buồn, Hiên an ủi:
– Anh đi yên chí. Tôi coi nó như em ruột mà.
Tư nói:
– Vậy thì may cho tôi quá. Rồi những kỳ được nghỉ phép, tôi sẽ về thăm cô và nó luôn.
Hiên ngẩng mặt lên nhìn. Trong ánh mắt của nàng bỗng chứa chan niềm thương xót. Nàng mấp máy định nói gì nhưng rồi lại thôi. Thốt nhiên giữa hai người như có một khoảng ngăn cách nặng nề mà Tư Híp cảm thấy như bị ám ảnh bởi chiến tranh, bởi bom đạn và bởi những mạng sống bất trắc của cuộc đời người lính chiến. Điều đó khiến gã không muốn phát biểu nhiều hơn. Gã lặng lẽ ngắm hai bàn tay mềm mại của người thiếu nữ thoăn thoắt trên những lớp vỏ xanh rờn của trái su su. Một lát sau gã tức tưởi từ giã ra về.
Đêm hôm ấy gã lại trằn trọc không ngủ. Có lúc gã lại muốn im lặng để khỏi ràng buộc bất cứ ai vào cuộc đời gian lao sắp tới của gã. Chưa bao giờ gã cảm thấy tủi thân và cô độc, như đêm đó. Ngay cả thằng Út đứa em ruột thịt của gã mà gã tưởng như không bao giờ rời xa lại cũng như đang sắp sửa vuột khỏi cuộc đời gian lao của gã. Đêm hôm nay thằng Út không thấy trở về. Có lẽ nó quấn quít ở bên cạnh Hiên hay ngủ vùi ở một chỗ nào đó trong gian nhà ấm cúng của nàng. Gã bỗng thèm được ôm nó vào lòng, muốn được nghe giọng nó nói, tiếng nó cười và được trông thấy những vẻ láu lỉnh trên khuôn mặt vêu vao đen đủi của nó. Lần đầu tiên trong cuộc đời gã ôm mặt khóc thúc thít.
Sau hôm đó trở đi Hiên đối với Tư có vẻ gần gũi hơn. Nàng thường gởi thằng Út những món quà vặt vãnh khi thì một trái cam, khi thì gói thuốc lá, nhưng tuyệt nhiên Hiên không nhắn gì thêm cho Tư cả. Nhưng dù sao những món quà thân yêu ấy cũng đượm vẻ đầm ấm và lôi kéo thời gian đi quá mau. Ngày mãn khóa, Hiên mời gã đàn ông đến ăn cơm vào một buổi chiều. Gã náo nức chờ đợi.
Lần đầu tiên từ ngày nhập ngũ, gã thuê giặt bộ đồ treillis để được người ta sịt hồ lên đó và ủi cho thẳng nếp. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, gã lại cầm bộ đồ cứng như mo nang lên ngắm nghía. Gã đã hình dung ra hình ảnh tươm tất, gọn ghẽ, oai nghi của gã ở trong bộ đồ đẹp đẽ đó.
Trước kỳ hẹn hai ngày, gã lại chịu khó đi hớt tóc, mặc dù lần hớt trước đây mới chỉ được gần hai tuần lễ. Hai ngày hẹn cuối cùng đối với gã dài như thế kỷ. Gã mong nó tới, rồi lại mong nó chậm chậm đừng vội xẩy ra, và rút cục gã lại thấy giờ, phút bò đi quá nặng nề đến độ như thời gian đã ngừng lại. Nghĩ đến Hiên, tim gã đập rộn ràng, ý nghĩ của gã xáo trộn, và chân tay của gã bắt đầu bối rối. Chính vì thế mà gã thích được ngồi riêng ra một chỗ để nhẩm lại những điều mà gã sẽ nói với nàng. Ngày mai, ngày kia trên đường hành quân đầy cát bụi, biết còn lúc nào rảnh rỗi để về thăm chốn cũ, người xưa. Cho nên nói thẳng với nàng là điều tất nhiên rồi . Nhưng nói thế nào, nói làm sao, nói những gì? Ôi, lần đầu tiên Tư Híp bị rơi vào một vấn đề gai góc mà không một ai có thể giúp đỡ gã được.
Đã có lúc Tư chong đèn cầy, kê giấy lên thùng gỗ để viết cho Hiên một lá thư. Nhưng nét chữ vụng về của gã không đem lại cho gã niềm tin tưởng nào. Không hiểu sao, Tư có cảm giác như văn hóa của Hiên cao hơn mình. Như vậy thì đường vào tình yêu theo ý gã, không phải là con đường “văn hóa”. Nó cũng không phải là con đường “chính trị”. Bởi vì với một bữa cơm ngắn ngủi, gã không có cách nào, mà cũng chẳng có tài cán gì để đưa nàng vào thế giới tình yêu bằng những đòn phép chính trị cả. Cuối cùng, nát óc quá, gã phải đi tới kết luận là phải làm liều. Chỉ một cái cầm tay, một câu nói cộc lốc “Tôi thương cô, cô có thương tôi không”, là gã thấy có vẻ dễ dàng nhất. Miễn là biết liều, mặc dầu cái liều tình cảm này còn khó gắp mười lần cái liều ôm súng lao vào vị trí địch.
Rồi như để đo cái mức nguy hiểm của sự liều lĩnh đó đên chừng nào, Tư hay dò hỏi thằng Út về thái độ của Hiên. Gã hỏi:
– Mày ưa nói chuyện với chị Hiên thường hôn?
Út đáp:
– Thường!
– Nói kí gì?
– Nói kí gì thì ai mà nhớ.
– Thằng ngu hôn! Hổng nhớ mười thì cũng nhớ một chớ.
– Thế thì thiếu gì.
Mặt Tư tươi lên:
– Ờ! Phải vậy chớ. Nói nghe chơi.
– Chỉ kể “chiện”thanh xà, bạch xà, chiện ông Hoàng ốc, chiện…
Tư ngắt lời:
– Cái đó thì nói làm chi. Tao nói là nói chuyện mầy, chuyện tao, chuyện bình phẩm này nọ. Như thể chị đó khen mầy ngoan hay mầy hư, mầy mất dạy hay đạo đức, tao..tao… bảnh hay không bảnh ấy chớ.
Út phá lên cười:
– Ý! Anh thì bảnh với ai. Chỉ la anh cù lần!
Mặt Tư đỏ rừ lên như chính gã vừa nghe lời bình phẩm đó từ miệng của người yêu phát ra. Rồi gã cãi một cách tức tối:
– Tao mà cù lần! Mầy nói thiệt hôn?
– Thiệt. Chỉ nói vậy hoài mờ!
– Hừ! Cù lần ở chỗ nào mới được chớ
– Thiếu gì! Anh bận đồ lính trông như áo thụng tế nè, anh đội mũ chùm hụp như đội đầu ông địa nè…
Tư la lên:
– Tại người ta phát cho tao như vậy chớ! Mắc học thấy bà, ai mà lo đi sửa được. Mầy biết hôn, cái quần mà tao không cuộn lên thì nó còn dài tới ót!
– Vậy mới cù lần!
– Cái đó khó gì! Mai mốt tao sửa! Còn gì nữa hôn?
– Gì là gì?
– Chỉ nhắc tới tao hoài hôn?
– Cái đó thì hoài. Chỉ cứ đem anh ra đe em hoài. Chỉ la chỉ mách.
Mặt Tư tươi lên:
– À! Vậy đó! Mầy thấy hôn. Miệng chị nói cù lần vậy mà chỉ đâu có khi tao. Đờn bà, con gái làm duyên thôi đó mà!
Nói rồi Tư cười, hai má hây đỏ, lòng dạ ngất ngây, gã có cảm giác như vừa được uống một ly rượu. Lúc đó gã thấy mình đầy đủ can đảm để làm thừa sức cái việc tỏ tình với người con gái. Gã lại ngồi ôn lại những điệu bộ sẽ làm: cầm tay thế nào, mắt nhìn thế nào, miệng nói thế nào, và gã cương quyết sẽ thực hiện.
Nhưng buồn thay, sắp sửa tới lúc Tư thi thố lòng cương quyết đó của mình thì cấp trên cấp tốc đưa xuống lệnh cấm trại một trăm phần trăm. Rồi trước giờ hẹn bữa ăn lịch sử của đời gã vừa đúng tám tiếng đồng hồ, gã và anh em đồng đội được lùa lên một đoàn xe đỗ dài trước cổng trại. Vị Thiếu Úy Đại Đội Trưởng chỉ nói vắn tắt với anh em là do nhu cầu chiến dịch, đại đội phải lên đường khẩn cấp.
Mười lăm phút trước khi lên đường, Tư tìm cách lỏn vào được khu gia binh cơ hữu để tìm Hiên. Nàng vắng mặt! Bà cụ nói nàng đi chợ để sửa soạn làm bữa cơm tối. Tư lặng người đi và như có điều gì nghẹn ngào chẹn tức lấy cổ họng của gã. Gã nhìn quanh như cố thu thập lấy hình ảnh căn nhà ấm cúng mà người yêu của gã vẫn ra vào. Thằng Út hình như cảm thấy điều gì quan trọng nên không giám nhẩy phóc lên lưng gã làm ngựa nhong nhong như mọi lần. Đến lúc gã quì gối xuống, hai bàn tay cục mịch nắm chắc hai cánh tay khẳng khiu của thằng bé thì những giọt nước mắt của gã chợt long lanh chẩy qua hàng mi rồi rơi ròng ròng xuống hai bên má.
Lúc đứng dậy, Tư dốc tất cả món tiền còn lại trong túi ra trao cho thằng Út. Gã cố nén xúc động:
– Anh cho em ăn quà đấy nhe!
Đó là những tiếng ngọt ngào, kiểu cách đầu tiên gã dùng ở trong đời, nhưng đối với gã cũng là lời thành thực nhất. Bàn tay của Út ruỗi ra, nó dẫy nẩy không nhận. Và đó cũng là lần đầu tiên Út từ chối một món tiền do anh nó đem cho. Bầu không khí vì thế bỗng nghiêm trọng hẳn lên. Tư muốn nói thật nhiều mà thành ra không nói được gì cả. Một lát, gã vùng dậy. Thằng Út vứt mớ tiền rơi vung vãi rồi cũng bén gót đi theo. Tư đứng lại tần ngần:
– Em ở nhà ngoan nhé.
Út lẳng lặng gật đầu. Tư tiếp:
– Nói với chị Hiên là anh sẽ về sớm nhe. Thể nào anh cũng về.
Út lại gật đầu. Lần này nước mắt của nó cũng bắt đầu long lanh. Tư cầm lòng không được, cúi xuống ôm chầm lấy nó. Thế là thằng Út òa lên khóc. Ngoài xa, tiếng còi tập hợp mỗi lúc một réo lên gay gắt. Tư hốt hoảng buông thằng Út ra và nói:
– Thôi, anh đi đây. Dăm bảy tháng nữa anh về. Dăm bảy tháng nữa anh cưới chị Hiên làm vợ. Em nói thế hộ anh nhé, nghe Út.
Thằng Út gật đầu và Tư vùng lên chạy.
Đất nước còn đang tràn ngập đau thương và khói lửa thì có đáng kể gì lời hứa của một kẻ ra đi. Dưới ánh nắng thiêu đốt của một buổi chiều đầu hạ, đoàn xe chuyển bánh tung lên lớp bụi mù mịt.
Thằng Út trèo lên một cái ụ đất để nhìn cho rõ đoàn quân lên đường. Hình ảnh của anh nó bị che lấp đi trong lớp bụi mù mịt…

Nhật Tiến
(Sài Gòn-1968)

Quê Hương Tôi… Đồng Bào Tôi… Hồi ký Đỗ Phương Khanh


Đỗ Phương Khanh

Bách Khoa

(Đã đăng trên Báo Bách Khoa, số 267, Tân Niên 1968, số đặc biệt về biến cố Mậu Thân)

Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn.

Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc T.C.S. để mà thấy thêm yêu chuộng hòa bình.

Nhưng thật ra là dân đô thị, tôi cũng chưa thấu rõ được chiến tranh là thế nào. Đó đây trong trí nhớ của tôi chỉ thoảng qua một vài hình ảnh người đàn bà đi buôn hàng chuyến dọc đường bị mìn, cả khuôn mặt nát bấy còn lại vài cái hốc và những mảng thịt bầy nhầy di động cố thì thào:

– Con tôi, các con ơi…

Hoặc bà mẹ trẻ bế con mới sinh chạy hớt hải, tới khi nhìn xuống tay thì chỉ còn lại mớ tã lót bọc trong cái chăn, con đã lọt đi từ lúc nào, bà ta chạy nguợc lại thì ra dòng người chen chúc xô đẩy đã vô tình dẫm nát đứa nhỏ. Chỉ vài ba hình ảnh vụn vặt với cái tầm kiến thức về hiểm họa chiến tranh rất nghèo nàn của tôi như thế cũng đã đủ làm tôi rùng mình ghê sợ không muốn nhớ tới nữa. Và, như những người thích thanh bần, tôi cũng không muốn hiểu biết dồi dào thêm về mặt này.

Nhưng với chiến tranh, tôi không còn có quyền muốn hay không. Nó tàn nhẫn dạy dỗ, nhồi nhét cho tôi được hiểu biết. Tôi đã biết. Và tất cả dân đô thị đều đã biết, biết rõ ràng những đau đớn, thống khổ, tang tóc do chiến tranh gây ra. Biết vào đúng lúc lòng đang phơi phới mừng Xuân mới, biết vào lúc đang tung tăng trên đường đến Chùa, đến Nhà Thờ, lúc đang điểm trang, đang nhận tiền lì xì và các cô cậu bé biết cả vào lúc đang nhí nhảnh trước gương làm điệu hiệp sĩ….

Họ đã đổi lấy sự hiểu biết này bằng nhà tan cửa nát, bằng sinh mạng, bằng cánh tay, bằng cẳng chân, bằng máu, bằng bơ vơ xó chợ đầu đường ngay giữa ngày Xuân.

mauthanhue19681

Đây chiếc xe lam chở người đàn bà và đàn trẻ mặt mũi nhọ nhem, trong đó có một đứa mặt xanh ngắt, máu đỏ thẫm đã ngả đen bê bết trên chiếc áo sơ mi mới tinh, một cánh tay còn nát bấy lèo nhèo thịt lẫn với vải rách. Bà mẹ mặt mày ngơ ngác kinh hoàng nhìn tai nạn chụp vào đứa con yêu quí, chỉ còn biết giữ chặt lấy cánh tay chết của con như ước mong có phép mầu gắn lại. Kia, một ông mặc complet vừa chạy vừa đẩy chiếc xe Scooter mồm la hét inh ỏi, ông ta quá sợ không dám dừng lại để đạp cho xe nổ máy.

Tất cả đều kinh hoảng tột độ. Họ chết, bị thương vào những giây phút bất ngờ nhất. Họ đã được yên tâm, được ru ngủ bằng lời hứa hẹn “hưu chiến đầu năm”. Họ đã được mời dự một bữa tiệc thịnh soạn, thiệp mời in long trọng trên giấy kim nhũ, yêu cầu thực khách mặc lễ phục, để được thết bằng những món ăn tẩm thuốc độc.

Suốt những ngày khói lửa, tôi vô dụng đối với đồng bào. Tôi không giúp được gì khi được tin chồng chị bạn tôi chết giữa ngày Mồng Hai Tết, sau khi từ biệt chị để vào trại chiến đấu cùng đồng đội. Chị mếu máo:

– Hôm qua tụi em hẹn nhau tối nay đến mừng tuổi anh chị. Thế mà anh ấy bỏ em rồi. Anh ấy mới còn ngáp đây mà đã chết rồi.

Tôi không làm được gì cho chị giúp việc cũ của tôi. Nhà chị bị pháo kích cháy, chị cuống cuồng cắp hai đứa con ba và hai tuổi ra đường, chạy được vào định bế nốt con bé ba tháng thì mái nhà sập xuống. Chị tức tưởi:

– Cháu còn thấy nó dẫy trên võng. Tại đạn bắn rát quá nên mãi lúc cháy to cháu mới liều chạy ra. Cô ơi! Tội nghiệp nó quá, người nó teo lại bằng con gà quay mà bụng còn nguyên máu đỏ.

Tôi không thể làm vơi nỗi đau khổ của họ. Những lời an ủi đều vô nghĩa. Một mớ quần áo cũ, chút tiền cứu trợ có nghĩa gì với nỗi đau đớn tột cùng kia. Tất cả chỉ để cho họ được an tâm phần nào trong khi sự đau khổ đang xé nát trái tim họ.

Nhưng cũng có những hành động đẹp như bát nước mưa mát rượi tưới vào những cõi lòng héo hắt. Đó là những cụ già tóc bạc còn lặn lội đi hiến máu, những giọt máu của người già thật quí đối với họ, nó giữ gìn chút hơi tàn cuối đời mà cũng cố san sẻ để giúp nhân loại. Những cô cậu học sinh mò mẫm đi các trung tâm cứu trợ để giúp đỡ cho đồng bào tị nạn, các anh lái xe taxi, xe lam, xe honda, xe gắn máy ngược xuôi đi chở giúp những người bị nạn dời ra xa chốn bom đạn để tới những trạm tiếp cứu và những anh lính chiến len lỏi mò mẫm tìm đủ mọi cách tới được đơn vị, để chống giữ và đẩy lui những tang tóc đau thương đang tràn vào chụp thêm lên đầu dân chúng.

Trong những ngày dài dặc lo âu và xúc động, tôi thường nhìn những đứa nhỏ trong trại tị nạn đã mất cả cha mẹ một sớm một chiều – những đứa trẻ chẳng hiểu tang tóc đã đến, còn nhe răng cười khi thấy thằng bạn trượt chân – nhìn bà mẹ mất con mà phải dẹp đau đớn trong lòng, chen lấn để giành cho những đứa còn lại một chỗ nằm kín gió, nhìn ông già ngồi cạnh miệng cống đăm chiêu quấn điếu thuốc sâu kèn, để mà tự hỏi:

“Liệu tôi có nghĩ đúng khi cho rằng chỉ cần buông súng xuống là có hòa bình hay không ? Và còn có đời sống tự do hay không? Hay sẽ là những cuộc thanh trừng tàn sát còn đẫm máu hơn nữa”.

Tôi nghĩ…, tôi nghĩ…

***

Tôi không còn muốn nghĩ gì nữa. Từ thuở bé, tôi được ân huệ trời dành một nguồn hạnh phúc vô tận, là hằng đêm thường mơ thấy những giấc mộng đẹp. Tối lại, tôi đi ngủ với hy vọng gặp những giấc mộng. Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng gặp ác mộng. Đại khái là một bà già hình dung cổ quái nhe răng nhìn tôi, rồi cánh tay bà vươn ra muốn chụp lấy tôi. Tôi cố chạy mà không thể được. Những cơn ác mộng của tôi thường được kết liễu bằng sự cố chạy mà không được, tôi sẽ tỉnh lại bằng tiếng la của chính tôi.

Cơn ác mộng đã đến với tất cả các đô thị, đã đến với đồng bào tôi…. đến trong mùa Xuân … trong tiếng pháo nổ tưng bừng…. Không ai có thể la hét lên để mong tỉnh lại. Chỉ còn ao ước ác mộng chóng qua và những ngày thanh bình êm đềm cũ lại trở về.

Đỗ Phương Khanh
Sài Gòn -1968

Nguồn: http://khaiphong.net/showthread.php?18756-Tuy&%237875;n-t&%237853;p-&%23272;&%237895;-Ph&%23432;&%23417;ng-Khanh

 

Dưới Làn Sóng. Truyện ngắn Hoàng Đạo


Hoàng Đạo

Presentation3

(Báo Ngày Nay, Số 27 in tại Hà Nội Tháng 09/ 1936)

Đã mươi hôm, mưa tầm tã. Mực nước lên cao dần. Trống hộ đê đánh liên thanh không dứt. Tiếng trống đều đều gợi trong linh hồn dân quê những nỗi hãi hùng man mác, nghe buồn thảm như tiếng trống ngũ liên một đêm tối trời. Dân phu từng đám trên đê, đắp cừ, đan tre trong không khí yên lặng ghê sợ. Mấy ông kỳ mục, quần ống cao ống thấp, ngồi xổm dưới túp lều trống gió, vẻ mặt bơ phờ nhìn theo chiếc xe “quan” đi về phía huyện lỵ. Chiếc xe tay khấp khểnh nhọc mệt lăn trên con đường gồ ghề; một chú lính lệ tay xách chiếc điếu ống chạy theo sau.

Trong một đám dân phu, Mịch đang nai lưng làm việc. Anh vác từng thúng đất đào ở một thửa ruộng gần đấy đem lên mặt đê để đắp cừ. Thỉnh thoảng, mệt, anh đứng lại thở, nhìn ra mặt sông, lắc đầu lo ngại. Sông đỏ mênh mông, chảy từ từ như một huyết quản khổng lồ của một con quái vật nào. Mịch đưa mắt theo những đám bọt vẩn, những thanh củi lạc từ từ trôi về miền hạ du, mơ màng nghĩ đến cảnh rừng thẳm âm u là nơi mưa lũ đuổi những lá, những cành các thứ cây lạ trôi về. Cảm giác ấy thoáng qua trong óc Mịch như một tia chớp rồi Mịch lại quay trở lại với công việc. Mịch hì hục vác, nhanh nhẹn, nhịp nhàng, không hề nghĩ đến cái cớ bắt Mịch ra đây làm việc công.

Trưa hôm ấy, trời hửng nắng. Mọi người trông nhau, tươi tỉnh hẳn lại. Mịch vui vẻ ngồi ăn bữa cơm trưa. Anh đói nên ăn rất ngon miệng. Vài bát cơm khoai, mấy con cá kho muối, anh thấy hương vị đậm đà, nên lúc giỏ cơm đã hết, anh chép miệng nói một mình:

– Giá có cơm nữa mà ăn nhỉ!

Bỗng Mịch nghĩ đến gia đình. Anh băn khoăn tự hỏi:

– Chẳng biết hôm nay mẹ cái ốc có mò được con cua nào không? Rõ khổ… Mình ở đây còn có cơm ăn, chứ mẹ con nó biết nuôi nhau bằng cái gì?

Mịch thở dài nghĩ đến cảnh nhà bần bách.

Có vài sào ruộng công để cày cấy thì đã đem cầm cố đi cả; anh chỉ còn nghề làm mướn để sinh nhai. Nhưng anh không bao giờ bận lòng oán thán, vì yên chí rằng ở trên đời, sự khổ sở, cơ cực là phận của anh, còn sung sướng, thong thả là phận của người khác.

Chiều đến, công việc hộ đê có vẻ uể oải. Mấy ông kỳ mục, được hôm tạnh ráo, ngồi đánh tổ tôm với nhau trong điếm. Dân phu thì tụm năm túm ba ngồi trên bờ đê than thở.

– Nước năm nay to y như năm Dần…

– Có lẽ hơn, bác ạ.

Ai nấy buồn bã nhìn ra ngoài đê. ánh tà dương viền bạc đám mây xám nằm ngang phương tây, nhuộm tía mấy đám mây lơ lửng trôi ở trên không, phản chiếu xuống mặt sông, mặt đê, xuống cánh đồng lúa non rợn xanh đến chân trời. Không một ngọn gió trong không khí nặng nề. Lòng sông mênh mông cũng ngừng lại không chảy nữa. Người và vật chìm đắm trong một giấc mơ êm tĩnh lạ thường…

Bỗng trong đám mây xám, Mịch nhác thấy một tia chớp. Một lúc sau, trời tự dưng tối sầm lại; mầu nước, mầu mây biến ra nhợt nhạt trong một thứ ánh sáng mờ ảo. Mặt sông gợn sóng. Mây kéo lên khắp trời. Khoảnh khắc, dưới ngọn cuồng phong, sóng bạc đầu theo nhau nổi lên trên mặt sông mỗi lúc một mau. Mưa đổ xuống như thác. Trời tối hẳn. Tiếng trống hộ đê lại bắt đầu gieo nỗi kinh hoàng vào lòng người. Lẫn trong tiếng tre sột soạt, tiếng sóng ì ầm vỗ vào mạn đê, tiếng trống nghe bổng trầm như tiếng kêu cứu của một người hấp hối. Thỉnh thoảng, trong khoảng trời mù mịt, hiện ra một bó đuốc gieo ánh sáng đỏ thê thảm ra chung quanh rồi biến đi, khiến đêm tối lại càng thêm tối. Mịch, thân thể ướt át, đứng ở mạn đê cắm cọc tre xuống một cách mạnh mẽ, nhưng tuyệt vọng. Anh cảm thấy sự kinh khủng bao bọc lấy mình, như nom được sự hung hãn dị thường của những sức mạnh huyền bí vô cùng của trời đất. Trước những mãnh lực tàn khốc ấy, Mịch có cái cảm tưởng rõ rệt rằng cả anh và những người khác bên cạnh đều nhỏ nhặt, yếu hèn như giống kiến, giống trùng, không thể cản trở hay kháng cự lại được.

Như đáp lại tư tưởng của Mịch, gió gào một khắc một mạnh. Hạt mưa nặng rơi trên chiếc nón lá bắn nước tung tóe ra chung quanh, gió thổi tạt vào một phía, khiến chàng tối tăm cả mặt mũi. Mỗi khi Mịch cúi xuống đổ đất, anh lại nghe thấy tiếng sóng vỗ mạnh vào mạn đê như tiếng gầm giận dữ của một con mãnh thú trong cơn điên cuồng.

Bỗng cách Mịch vài trăm thước, ầm lên một tiếng lớn vang động như sấm. Theo ngay sau một tiếng kêu thất thanh rơi vào trong bóng tối. Giật mình, dân phu ai nấy đều dừng tay, yên lặng. Họ đều có cái cảm giác rằng một tai nạn ghê gớm vừa tới. Trước mặt họ, những hình ảnh khốc hại thoáng hiện ra, những hình ảnh họ đã từng biết: cánh đồng lúa xanh mềm biến đổi ra hồ nước mênh mông, nhà cửa đổ sụp trôi theo dòng nước, đàn bà trẻ con nheo nhó chạy lụt… Mịch sực nhớ đến vợ con. Anh kinh động lo lắng. Nhà anh ở ngoài đầu làng, gần cây đa lớn bên đường và nếu nước chảy xiết về, anh sợ không đủ vững.

– Phải về, phải về mới được.

Tiếng nước reo mỗi giây một rõ. Mịch hồi hộp nhìn lên. Hai bên bờ hội khẩu, dưới ánh trăng mờ tỏ của vài bó đuốc bạt ngọn trước luồng gió dữ, bóng người lung lay trên nền trời đen thẫm, dệt nên một cảnh tượng ghê sợ. Mịch rùng mình. Anh nhìn con nước xói vào cánh đồng ầm ầm như thác ngàn đổ, mãnh liệt không có sức nào cản nổi. Anh nhìn chung quanh. Toàn những bộ mặt nhợt tái diễn tả bao nhiêu nỗi khủng khiếp ngấm ngầm.

Hơn một giờ sau, Mịch mới tìm được chiếc thuyền nan. Anh nhân lúc lính vô ý, trốn thoát nhảy xuống thuyền, tâm trí để hết đến việc trở về làng. Một tay anh cầm gáo tát nước ứ ra ngoài, còn một tay ra sức chèo. Trong đêm tối, hạt mưa nặng vẫn ào ào đáp lên chiếc nón lá, gió vẫn thổi mạnh. Con thuyền bị trôi băng trên mặt nước, Mịch phải để ý giữ gìn từng li từng tý mới khỏi sóng đánh úp. Anh thuộc đường lắm nên khi ngược nước, chiếc thuyền con có chòng chành nhưng đi vẫn thoát.

Nửa giờ qua. Mịch thoáng thấy bóng cây đa cổ thụ in đám lá đen kịt lên mầu trời đen xám. Lòng anh hồi hộp, phấp phỏng. Anh vẫn biết trong lúc nguy kịch, trong làng không còn ai nghĩ đến vợ con anh. Anh chỉ còn cậy vào sức mình. May mà vài mươi con sào nữa là anh về đến nhà. Vợ anh chắc lúc này đâng ngồi ẵm con trên nóc túp lều tranh. ý tưởng ấy khiến Mịch chèo thêm mạnh tay. Giây phút, con thuyền đã vượt qua con đường bên gốc đa. Ngọn nước kéo chiếc thuyền về phía dưới, anh ra sức chèo ngược lên, con thuyền ở giữa hai cái mãnh lực gần thăng bằng đứng im một chỗ. Bỗng Mịch nghe trong khoảng đêm tối một tiếng kêu cứu, tiếng kêu hốt hoảng bao hàm bao nhiêu nỗi kinh khủng. Chàng ráng hết sức, vượt qua ngọn sóng, giơ tay vơ lấy một cành đa. Con thuyền nhẹ bồng lên, những đợt sóng réo theo nhau chạy về phía dưới. Mịch bật bồng nhìn về nhà, kêu:

– Mẹ cái ốc đâu?

Tiếng gió trả lời anh. Anh gọi luôn mấy tiếng nữa cũng không ai đáp lại. Lòng Mịch rạo rực; trái tim anh đập rất mau. Hết sức, anh dún mình đưa con thuyền đè sóng đâm ngang vào bụi tre mà anh biết là ở cạnh cổng nhà, rồi hai tay anh với cành tre giữ thuyền lại. Mắt tre đâm vào cánh tay, anh cũng không thấy đau. ánh sáng của bó đuốc nhỏ chiếu tỏa ra chung quanh. Mịch rên lên một tiếng khổ não. Anh đăm đăm nhìn về phía nhà và chỉ trông thấy vũng nước đỏ ngầu lấp lánh dưới ánh đuốc. Mắt mở to, anh trừng trừng nhìn lên mặt sóng bấp bênh chiếc mái nhà lật ngược. Tuyệt vọng, Mịch sực nhớ đến tiếng kêu ban nãy, tiếng kêu cuối cùng của vợ anh có lẽ đang ẵm con thơ. Mịch run bắn cả người, hai tay rời cành tre. Một làn gió mạnh, một đợt sóng qua. Chiếc thuyền nghiêng ngửa, Mịch không vững chân, ngã ngửa người vật xuống…

Vài giờ sau, vừng thái dương xán lạn mọc lên trong bầu trời quang đãng, âu yếm nhuộm hồng mấy sợi mây tơ chăng lên trên da trời màu bạch nguyệt, dịu dàng mơn trớn cánh đồng nước lặng sóng như mặt hồ. ánh sáng buổi bình minh tinh khiết như hồi thiên địa mới sơ khai. Nếu không có vài chiếc thuyền thỉnh thoảng lách vào mấy ngọn tre xơ xác, những sự khủng bố hồi hôm có lẽ khách du chỉ cho là một giấc mơ dữ dội.

Hoàng Đạo

Dưới Bến Trên Thuyền. Tuỳ bút Tường Bách


Tường Bách

(Bài của nhà văn Tường Bách được đăng trên báo Ngày Nay số 3, in tại Hà Nội ngày 20/02/1935)

Bờ sông Hà Nội, ngay ở chỗ bến thuyền, là một nơi ít người để ý đến, ít để ý đến cách sinh hoạt của dân cư dưới bãi cát hay trên thuyền bè.

Người ta có đi qua cũng chỉ thấy một khung cảnh vui vẻ, tấp nập, tuy bây giờ đã kém xưa, hồi mấy năm về trước nhiều lắm. Cái rừng cột buồm thẳng tắp, khi trước chi chít, bây giờ trông có vẻ lơ thơ, buồn bã.

Những thuyền chở gỗ từ Yên Báy, Phú Thọ, chở than từ Đông Triệu, Quảng Yên, chở muối từ Nam Định, Thái Bình, tuy vẫn lui tới, nhưng chỉ còn ít. Ngoài cái nguyên nhân từ khủng hoảng kinh tế ra, còn vì lẽ những hàng hóa ấy người ta chở bằng tầu hỏa hay tầu thủy, nhanh chóng hơn và giá vận tải cũng không cao hơn là mấy.

May ra có những thuyền những thuyền Nghệ chở nước mắm là còn giữ được chút phồn thịnh ngày trước. Những chiếc thuyền đi bể này, trông to lớn, cột buồm cao vút với lá cờ phấp phới trên ngọn, hai bên mui vẽ mắt như mắt cá và rồng phượng nhiều màu như để dọa nạt những cơn sóng ngất trời ở giữa bể khơi. Một chiếc thuyền ghé vào bến Hà Nội như thể mang tới một chuyến hàng độ bốn năm trăm tấn, ngày trước có khi đến hằng nghìn. Hàng ấy chứa đầy trong đáy thuyền tối om và sâu như cái giếng, thường thường chỉ có một cái lổ vuông bằng cái bàn con để thò gáo xuống múc lên.

Bán hết rồi, họ xuôi về Nghệ. Về mùa này, phần nhiều họ đợi được gió bấc rồi mới quay mui. Người Nghệ đi bể quen nên đoán thời tiết rất giỏi. Nhiều khi, trời nắng chang chang, gió nồm thổi ẩm ướt, mà họ cũng sửa soạn cho thuyền quay về: thế là tối hôm ấy tự nhiên trời đổi lạnh, gió bấc thổi vù vù đưa những thuyền Nghệ xuôi ra bể nam.

Đời những người làm thuyền thật vất vả. Quanh năm sống trên mặt nước, những công việc khó nhọc và nắng mưa, gió bể đã khiến cho tay, chân họ thành chai và da dẻ xám đen già cỗi. Lắm khi còn phải chống cự với nhưng cơn gió táp lúc đang lênh đênh trên mặt sóng.

Mà những phu-phen làm việc ở bờ sông cũng khó nhọc như vậy. Họ phải vác những bao to hay gánh những gánh nặng đầy sỏi, cát hay than đá đen sì, trèo từ dưới thuyền lên bờ sông, dốc và gồ ghề. Những phu kéo gỗ nhiều khi phải giắt giây nhau chừng hai mươi người mới kéo nổi một cây gỗ lên cạn. Mồ hôi chảy nhễ nhại trong lúc trời rét như cắt, họ vừa ra sức vừa hát những câu tình ái kéo dài bằng những tiếng “ới a”, và thỉnh thoảng lại điểm một tiếng “dô ta” vang động cả bờ sông. Mỗi ngày như thế, tiền công được độ hai ba hào không cơm là nhiều lắm. Ăn uống lẽ tất nhiên là rất khổ sở. Và tối đến, họ chui rúc vào những nhà nứa lợp gianh ở Cấu Đất, những nhà thấp nhỏ, chật chội, bẩn thỉu và tối tăm không chút vệ sinh.

************

Bãi Cầu Đất cũng như mọi nơi khác, bên bờ sông, thật là chỗ tụ họp của người nghèo: phu phèn, thợ thuyền, buôn bán lặt vặt, như quà bánh chẳng hạn, chen chúc nhau trong dãy phố tồi tàn ấy. Đã vậy, nhiều khi nước lên to, tràn ngập cả, tình cảnh lúc đó mới thật là khốn đốn, vì còn biết chạy đi đâu. Ở bãi Cầu Đất, ta thấy rõ cái cảnh nghèo hèn, cách ăn ở khốn nạn của bọn mà ta gọi chung cả một tiếng là bọn hạ lưu. Nhưng khốn nạn thì khốn nạn, bao giờ họ cũng tìm được cách mua vui, những cuộc vui tai hại như rượu chè, cờ bạc.

Ở bến tàu thuỷ, quang cảnh vui vẻ hơn, vì sạch sẻ, sáng sủa hơn đây là lẽ tự nhiên. Nhưng lắm khi ta thấy, giữa đám đông người vừa ở dưới tàu lên, một cô gái quê ngớ ngẩn, tay cắp thúng trông bốn phía như tìm đường đi. Rồi có một người đàn bà chạy đến, nói cười một lúc rồi dắt cô đi theo. Người nhà hay quân giỗ người? Không biết chắc, nhưng ta đã nghĩ rằng cô gái quê ấy đã bước bước đầu trên con đường trụy lạc trong thành phố Hà Nội mà cái tiếng phồn hoa đã gọi cô đến nơi.

Ngoài những kẻ giỗ người, còn có những kẻ rủ người đi để bóc lột nữa. Một hôm, tôi đương đứng hứng gió bên bến tàu, bỗng có một anh quần áo cánh trắng tiến lại sẽ hỏi:

– Gỡ không?

Tôi chợt nghĩ đến bao nhiêu người ở dưới tàu lên thì giàu có, rồi chỉ vì một tiếng gỡ, mà phải ăn mày về tàu. Muốn cùng chung một số phận như họ, tôi đáp:

– Gỡ gì?

– Xốc dĩa, xì phé gần đây

Anh ta đưa tôi qua bãi cát, tới gần cầu, và lên một chiếc thuyền con chở ra giữa sông đến một cái nhà bè rộng rãi. Trong đó, đủ các hạng người đang sâu sé nhau. Mà trong đó, người hạ lưu không phải ít. Trong bộ quần áo bẩn thỉu, rách vá, họ ngồi để bị bóc lột, hình như sung sướng lắm. Trông những đồng tiền họ vứt đi, tôi lại nhớ đến bao nhiêu ngày họ phải khó nhọc, vất vả mới kiếm ra được.

Dưới bãi bờ sông thật là nơi tụ tập của người tứ xứ. Chỉ có những người các tỉnh khác, vì kinh tế phải rời làng đi kiếm ăn ở Hà Nội. Nghèo thì làm phu, làm thợ, mà giàu có hơn thi buồn bè, buồn nứa.

Cách sinh hoạt trên những nhà bè cũng có nhiều cái thú vị. Lênh đênh trên mặt sóng, nước lên đến đâu dâng cái bè lên đến đấy. Nhiều người quanh năm ở trên nhà bè, sống về nghề chài lưới. Còn những người buồn nứa, đến mùa nước cạn, họ làm một cái nhà trên bãi cát để ở.

Trông chỗ nhà bé ấy với cái nhà gianh thấp hẹp, nhiều nhất là những cái vòm tựa như cái cống làm bằng mui thuyền cũ, dưới đặt mấy cây nứa để ngủ, nằm rải rác trên bãi cát rộng, ta tưởng tượng như đứng giữa một bãi sa mạc bên Phi châu. Mà nói cho đúng, cách ăn ở của người mình ở đây cũng chẳng hơn người da đen là mấy.

Ngày họ đi làm, chẻ nứa hay bó nứa, tiền công độ một hào, hào rưởi, mà là công việc nhẹ, phần nhiều đàn bà trẻ con làm. Con bọn đàn ông thi đi giắt bè, những bè nứa từ trên Chèm về, đóng thành từng lớp, hay khuân vác những cây nứa. Như thế, họ sống cũng phong lưu. Phong lưu đối với họ, chứ trông bữa cơm với nhà cửa của họ, ta không thể hiểu sao họ sống lượm thượm đến như thế được.

Những cái nhà vòm, nhiều cái chỉ rộng bằng miệng cống, mà ở trong, nếu kê một cái giường có lẽ không đủ chỗ. Anh sáng chiếu vào chỉ rõ những cái chiếu cũ, rách giải trên sàn, và trong một góc, bát đĩa, quần áo để lộn xộn. Thế mà đêm đến, trong cái cống ấy, năm sáu người đàn ông, đàn bà, trẻ con lăn lộn co quắp ngủ trong một giấc say sưa.

Còn những cái nhà hơi ra hồn nhà một tí, thì cũng bẩn thỉu, chật chội như thế. Và mùa đông những tấm phên mỏng đầy lổ hở, chống sao nổi với cái lạnh căm căm theo luồng gió bấc thổi mạnh trên bãi cát mông mênh –  mà những ngày nắng rát, trên mặt trời chiếu xuống chói lọi, dưới hơi cát bốc lên, tưởng không còn chỗ nào nóng hơn được nữa.

Họ sống như thể, nhưng họ không lấy làm khổ lắm.  Họ hình như thản nhiên chịu cái số phận vất vả, khốn nạn, mà ít khi, ta thấy họ kêu ca oán thán lấy nữa lời.

Nhẫn nhục, biết phục tòng số mệnh, có nhẽ là cái đức tính to nhất của dân ta, dù ở nơi trên biển, dưới thuyền hay trong luỹ tre xanh cũng vậy.

Tường Bách

 

 

Đợi Chờ. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Truyện ngắn này được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 17, in ngày chủ nhật 19/ 07/ 1936 tại Hà Nội)

img_5119

Cây im, sông lắng đợi xuân về
Thế Lữ

Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua dặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.

Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi rộng trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhẩy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay, từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.

Chàng đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.
Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây yên lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn với hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẩn trong không. Cả những làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây, nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ…
Nhưng qua giậu nứa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung.
*
* *
Cách đây hai năm, và cũng trong tháng chạp. Một hôm cưỡi ngựa đến bên sông thăm vườn cam sắp trẩy, Linh gặp một chiếc ô tô đỗ cạnh đồi. Tưởng đó là xe khách đến chơi và tài xế không biết lối vào trong ấp, Linh cho ngựa lại gần, nghiêng mình nhòm qua cửa xe. Trong xe, một bà ngót năm mươi tuổi và một thiếu nữ đầy đặn nở nang, nước da hồng hào rám nắng, mà thoạt trông chàng ví ngay với màu da cam bắt đầu rám chín dưới luồng gió heo may.
Chàng ngồi thẳng người lên, lễ phép nói:
– Xin cụ tha lỗi cho, tôi tưởng bạn đến chơi.
Nhưng thiếu nữ rất lịch thiệp đã thò đầu ra ngoài mỉm cười đáp lại:
– Thưa ông, me tôi không dám. Vả lầm thì ai chả có khi lầm.
Câu trả lời, Linh cho là vô vị. Song nụ cười tình tứ điểm theo, chàng ngắm thấy ngọt như mật ong, thơm như hoa cam sành mới nở, và có mãnh lực làm cho chàng lúng túng mất vài giây. Sự lúng túng ấy chàng che đậy bằng một câu hỏi, giọng run run:
– Thưa cô, xe liệt máy?
Nụ cười càng tình tứ hơn, tuy đôi lông mày bán nguyệt tô thêm chỉ hơi díu lại một cách rất nũng nịu, dễ yêu.
– Thưa ông, xe không chết máy, nhưng hết dầu xăng.
– Vậy ý hẳn bác tài đi mua dầu xăng?
– Không, anh ấy đến hàng nước kia hỏi xem có thể mua lại ở đâu được vài lít xăng để đủ chạy từ đây đi Kép. Vậy thưa ông, ông có biết thì xin ông làm ơn bảo giùm cho.
Linh mỉm cười:
– ồ! Tưởng hỏng máy, chứ nếu chỉ hết dầu xăng, thì tôi xin biếu cụ và cô.
Bà cụ sung sướng vội hỏi.
– Thưa ông, nhà ông ở gần đây?
– Thưa cụ, cũng không xa. Đây là đồn điền của tôi.
Thiếu nữ vẻ mặt ngạc nhiên.
– Đồn điền của ông? Chắc là rộng lắm!
– Thưa cô, cũng không rộng lắm, độ hai nghìn mẫu thôi.
Thiếu nữ mở cửa xe bước xuống, gọi:
– Anh tài!
Tức thì một người vận âu phục màu vàng từ trong hàng nước cạnh bến phà đi lại. Linh xuống ngựa, nói:
– Bác cưỡi ngựa theo con đường này vào ấp bảo người nhà tôi đưa cho một bi đông ét xăng, rồi cầm ngay ra đây…
– Thưa ông, cháu không cưỡi ngựa bao giờ.
– Chà, khó gì!
Linh ngẫm nghĩ một giây rồi chép miệng nói tiếp:
– Thôi được, để tôi đi lấy cho.
Thiếu nữ vội gạt:
– Chết thế thì phiền ông quá!
Nhưng Linh đã nhẩy lên lưng ngựa, dựt cương ra về, và nháy mắt, chàng đã biến vào trong cỏ tranh cao, rậm.
*
* *
Lúc trở lại, Linh chỉ thấy người tài xế nằm ngủ trên nệm xe. Chàng dừng lại ngồi thở, trời rét, cái áo lót của chàng ướt đẫm mồ hôi, vì chàng đã cho ngựa phi mau quá.
Bỗng có tiếng cười nói trong vườn cam. Linh vội vàng cởi bỏ vào trong xe cái bi đông dầu xăng buộc sau yên, rồi cho ngựa thong thả lên đồi. Tiếng thiếu nữ nói qua hàng giậu:
– Chúng tôi đương đợi ông ra để xin ông một quả cam.
Linh hấp tấp rẽ cương qua cửa vườn.
– Thưa cụ, cam ở đây còn chua lắm, chưa ăn được. ở trong ấp có một ít đã thực chín rồi và ngọt lắm, xin mời cụ và cô quá bộ vào chơi.
Bà cụ từ tạ:
– Xin cảm ơn ông, chúng tôi xin về… Ông đã cho chúng tôi vay dầu xăng?
Linh buồn rầu đưa mắt nhìn thiếu nữ:
– Thưa cụ, có dầu xăng rồi.
– ồ! thế thì may quá. Cảm ơn ông quá. Không có ông giúp thì mẹ con tôi chẳng biết làm thế nào mà về được đến nhà.
– Thưa cụ, ấp cách đây có hơn hai cây số, xin mời cụ quá bộ vào chơi. Thưa cụ, tôi ở nơi hẻo lánh này chẳng mấy khi được hân hạnh đón tiếp khách quý.
Thiếu nữ nể lời ân cần mời mọc của chủ ấp, áy náy nhìn mẹ:
– Thưa me, hay là me vào chơi một lát cho ông chủ bằng lòng. Vào ăn quả cam Bố Hạ rồi lại đi ngay.
Quay về phía Linh, nàng mỉm cười, láu lỉnh nói tiếp:
– Rồi ông để chúng tôi đi ngay nhé?
Linh, trên mặt lộ đầy vẻ biết ơn:
– Xin vâng.
– Vậy vào nhé, me nhé?
Bà mẹ mắng yêu con
– ừ thì vào. Gớm chết! Cô Phụng đi đâu cô cũng la cà hết ngày hết buổi.
Linh sung sướng chạy vội ra cửa vườn gọi tài xế.
*
* *
Một giờ sau, Linh đưa Phụng đi xem khắp vườn cam, quýt, trong khi bà mẹ ngồi nghỉ bên lò sưởi, vì đứng ở ngoài lâu chân tay bà rét buốt.
Nhờ có một nền giáo dục lịch thiệp nhận được ở trường học và ở một gia đình theo lối mới Phụng đối với ông chủ ấp không chút ngượng ngùng, e lệ. Nàng cười nói dễ dàng, hỏi nhiều câu mà Linh phải lấy làm kinh ngạc, tưởng các cô thiếu nữ không bao giờ dám nghĩ tới.
Đến một gốc quít cỗi, nàng ngắt một quả rồi vờ quay đi ăn vụng. Nhưng nàng quay lại ngay, phá lên cười và kêu:
– Bắt lấy con ăn cắp quýt cho tôi!
Linh cũng cười, nói một câu mà vừa buột miệng thốt ra, chàng cho là rất sáo:
– Nó được hân hạnh cô chiếu cố là may cho nó.
– Vậy tôi lại muốn chiếu cố đến nó nữa.
Vừa nói Phụng vừa với một quả ở cành cao nhưng không tới.
– Cô để tôi lấy giùm.
Linh phải nhảy lên mới với được cả cành quít chĩu chịt gần chục quả.
– ồ phí quá, ông nhỉ?
Linh toan ngắt ra từng quả nhưng Phụng vội gạt.
– ấy, ông cho xin cả để tôi mang về giữ làm kỷ niệm.
Hai tiếng kỷ niệm ở miệng mỹ nhân nói ra, Linh nhận thấy âu yếm, thấm thía tâm hồn. Chàng toan đáp lại một câu tình tứ, nhưng không tìm ra được, đành chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn thiếu nữ. Giữa phút thần tiên ấy, có tiếng gọi:
– Phụng, xin phép ông về thôi!
Lần đầu tiên trong đời, Linh cảm thấy tất cả cái ý nghĩa buồn rầu, sầu thảm của chữ “về”.
– Phụng, đi về!
– Vâng, con đây.
Nàng bỏ cả nửa quả quít vào mồm nhai ngốn ngấu. Còn một nửa có lẽ vì đãng trí, nàng đưa cho Linh:
– Trời ơi! Quít ngọt quá! Ông nếm thử mà xem.
Rồi nàng chạy vội lại chỗ mẹ.
Linh thở dài, lững thững theo sau…
*
* *
Lúc xe mở máy. Linh mới chợt nhớ ra rằng chưa hỏi địa chỉ của Phụng.
Trong một giờ được một mình ở bên người đẹp, Linh chỉ mê man nghĩ đến hiện tại mà chàng biết rằng ngắn ngủi. Và chàng chỉ cảm thấy từng phút từng giây đương lạnh lùng rơi vào quãng không.
Kẻ ở người đi rồi hiện tại sẽ thành dĩ vãng sẽ thành một kỷ niệm như cành quít mà Phụng đã đem về nhà để giữ làm kỷ niệm.
Nhưng cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn thiêng liêng.
Năm, năm, cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quít.
Linh chờ đợi, mong ngóng.
Chàng chờ đợi, mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao trong câu truyện thù ứng. Nhưng Linh tin là lời hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế nhưng chàng cũng không thể không tin được.
Đã hai năm chàng chờ đợi…
Và trên bờ sông cao khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẫn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại. Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Khái Hưng

Phong Lan. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Phong Lan. Truyện ngắn của Khái Hưng đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 22, in ngày chủ nhật 23/08/1936 tại Hà Nội)

Phất tì tay lan can ngồi ngước mắt ngắm khóm phong lan trong cái cũi nhỏ làm bằng gỗ thông treo ở hiên dưới cái gian cẩm leo nụ màu hồng nhạt vừa bắt đầu lấm tấm. Những chùm hoa vàng điểm chấm đen nhung óng ánh phản nắng chiều và se sẽ rung động đưa trước gió, trông như đàn bướm xòe cánh rập rờn bên những lá lan dài và nhọn rũ lỏa tỏa bốn phía.

Phất thở dài lẩm bẩm: “gần ba năm rồi”.

Chàng vẫn muốn quên, quên nhãng hẳn, vì chàng hiểu rằng khi nào người ta tìm nhớ thời dĩ vãng, thì thường những kỷ niệm buồn trở lại trong ký ức. Kỷ niệm vui, làm gì có kỷ niệm vui. Sự vui chỉ có trong hiện tại. Vui qua, còn lại cái buồn man mác, sự nhớ tiếc ở trong lòng, phảng phất như chút hương tan của bông hoa khô héo.

Năm ấy lần đầu Phất lên chơi Chapa. Nhà chàng không giàu, nhiều khi lại túng bẩn là khác. Chàng cũng không ưa gì cái thú nghỉ mát mà chàng cho là cái thú xa xỉ của riêng các gia đình phú quý. Hơn nữa, chàng rất khỏe mạnh, chẳng mấy khi ốm đau và cần đi nghỉ mát để dưỡng sức, tuy chàng vẫn chăm chỉ học lấy trong mấy tháng, để thi đậu tú tài phần hai.

Vậy Phất đi Chapa chỉ vì một lẽ riêng: Lẽ riêng ấy đối với cái tuổi ngoài hai mươi, chín mươi phần trăm thuộc phạm vi ái tình.

Chính thế, Chapa mà trước khi chàng không hề nghĩ đến, và cũng không biết ở về phía nào, vụt trở nên một thành phố đầy ánh sáng, đầy hy vọng, một thành phố ái tình. Vì Lan vừa cùng mẹ và em trai lên đó nghỉ mát.

Tình yêu của Phất đối với Lan thực là ly kỳ. Ngày chàng còn theo học tại trường Bảo Hộ, một hôm đến hội quán Tri Trí dự một cuộc âm nhạc tổ chức lấy tiền giúp việc thiện. Trong bọn tài tử có một thiếu nữ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, ngồi trước cây phong cầm đánh một bài độc tấu. Thế là Phất yêu ngay.

Chàng nhớ mãi khúc nhạc réo rắt và cái dáng ngồi yểu điệu của thiếu nữ: Cái đầu hơi nghiêng, một bên má phản chiếu ánh điện nhuốm sắc hồng hồng, đôi mắt buồn yên lặng ngước nhìn trần, hai bàn tay mềm, giẻo, thoắt chạy, thoắt ngừng trên hàng phím xương trắng muột. Có lúc sung sướng, mê man trong điệu trầm bổng, du dương, thiếu nữ se sẽ rung động toàn thân và bao nhiêu nếp áo của nàng đều uyển diệu rung rinh.

Hình ảnh ấy Phất chôn sâu ngay trong ký ức, trong tâm hồn. Và chàng chân thành thờ nó như thờ một lý tưởng thiêng liêng tuyệt đích.

Chàng hỏi thăm biết nhà thiếu nữ giàu, giàu lắm. Nhưng đó không phải một cớ khiến chàng tuyệt vọng. Chàng nghèo nhưng tri thức chàng giàu, tâm hồn chàng giàu. Và chàng thấy rõ rệt sự tương đương, sự cân đối của chữ “tài” và chữ “sắc” mà trước kia chàng cho rằng hai chữ sảo trong văn chương, không có một chút nghĩa lý gì thiết thực.

Từ đó, đời Phất chia hẳn ra hai phần đầy thú vị và có sự liên lạc mật thiết với nhau: học và yêu.

Yêu, nghĩa là mỗi ngày để ra chút thời gian nhàn rỗi mà tưởng nhớ tới người đánh đàn. Rồi chủ nhật, thứ năm được nghỉ học ra ngoài, khi qua nhà nàng, dừng lại trước cửa vài phút – vài phút thôi – mà ngắm cây liễu rũ lá thướt tha bên hàng giậu sắt. Hôm nào thoáng nghe thấy mấy tiếng phong cầm hay nhác trông thấy tà áo hồng phấp phới bên luống hoa chân chim thì buổi chiều về trường Phất nhảy múa, ca hát huyên thiên.

Còn học? Học như mọi ngày thường, Phất cho không thể xứng đáng với tình yêu kia được. Chàng liền bỏ trường về nhà học lấy cho chóng hơn. Thấy vậy, người ta tưởng Phất lười biếng bỏ học. Nhưng năm sau ai nấy phải kinh ngạc khi đọc nhật trình thấy tên chàng trên bảng những người đậu tú tài phần thứ nhất vào hạng bình thứ. Phất sung sướng mỉm cười nghĩ thầm: “Ảnh hưởng của ái tình. Cứ thế này thì không biết mình còn đi xa đến đâu?”

Nhưng ái tình của chàng ngoài chàng ra không ai biết, không ai có mộ tia ngờ. Chàng giữ nó âm thầm trong trái tim với cái hình ảnh cô đánh đàn diễm lệ.

Trong hai năm chàng chờ đợi, yêu, nhớ, thương thầm, chàng biết đích rằng không một ai đến hỏi Lan. Phất cho sự ngẫu nhiên ấy có ý nghĩa thiêng liêng, huyền bí và nhân duyên của chàng với Lan là một cuộc thiên duyên tiền định. Và lòng mong ước của Phất, hơn nữa lòng tín ngưỡng của Phất càng thấm thía, vững vàng.

Một hôm người ta bảo cho Phất biết rằng trong số tranh trưng bày ở phòng triễn lãm mỹ thuật có bức ảnh cô Lan, một trang tuyệt sắc Hà Thành. Phất vội thuê xe đến phòng triễn lãm, và suốt ba hôm, trừ hai bữa cơm ra, chàng ở luôn bên bức tranh thiếu nữ. Và chàng nghĩ thầm: “Biết thế mình học vẽ!”

***

Đầu mùa hè năm ấy thấy vắng bóng Lan tha thướt trong vườn. Phất hỏi thăm biết nàng cùng mẹ và em lên Chapa đã hơn nửa tháng. Lan đau phổi, thầy thuốc khuyên nên đi nghỉ mát ở vùng núi cao.

Trong mấy hôm liền, Phất chạy nháo đi khắp nơi thân thuộc vay được ba chục bạc rồi vội vàng hấp tấp lên thẳng Chapa.

Hôm đầu gặp Lan đi với mẹ và em ở trước cửa nhà bưu điện. Phất cảm động, luống cuống, toan cất mũ chào. Lan thản nhiên nhìn chàng, thản nhiên quay đi như đối với mọi người không quen biết.

Thì ra những bài thơ âu yếm phản chiếu hình ảnh nàng, vang động linh hồn nàng mà Phất đã viết và gửi đăng trên các báo, nàng không biết tác giả là ai. Lòng tự phụ, tự tin của Phất cho không thể nào như thế được. Thục ra, những bài thơ ấy Lan chưa từng đọc qua: Vì ngoài âm nhạc, nàng không thích một nghệ thuật nào khác nữa.

Hai tuần lể ở Chapa – cái ví nhẹ của chàng không cho phép chàng ở lâu hơn nữa – Phất mơ màng tưởng tượng ra mấy năm Từ Thức sống trong động Phi Lai, tuy tiên nữ của chàng đối với chàng vẫn thờ ơ, lãnh đạm, không ngờ có một khối tình vĩ đại ở dưới gót chân mềm yếu.

Nhưng chẳng vì thế mà mười lăm hôm nghỉ mát của Phất giảm phần lạc thú. Chàng yêu để yêu. Cần gì có ai yêu lại hay không! Chàng nghĩ thầm: “Ái tình mà có đi có lại thì gọi sao được là ái tình, họa chăng nó là việc buôn bán, hay một ván bạc “ăn miếng trả miếng”

Vả chàng còn ao ước vì hơn nữa. Ngày nào chàng không gặp mặt Lan ít ra một lần, hoặc ở rừng, hoặc ở Núi Đen. Câu truyện gặp gỡ trong giây phút ấy đối với chàng cũng đủ là một thiên trang thiên tiểu thuyết rồi.

Sáng, chiều, chàng đứng rình lúc Lan cùng mẹ và em ra đi. Xa xa chàng theo sau. Nếu bọn kia vào rừng thì chàng đợi đến chỗ đường hẻm để vượt qua, như thế cái mỉm cười kèm theo cái cất mũ ngả đầu chào của chàng mới có ý nghĩa:“Xin lỗi bà và cô, tôi xin phép tiến lên trước”

Cái cất mũ để vượt qua ngày ngày nhắc lại, lâu cũng thành ra có vẻ cố ý. Phất muốn tránh điều đó, nên chàng không vượt nữa, chàng gặp mặt. Cảnh gặp gỡ ấy chàng bố trí như thế này: Biết hai người đàn bà vào rừng, chàng hết sức đi thực mau, hầu như chạy về phía khách sạn lớn rồi theo con đường đồi bên kia mà vòng đến cầu. Gặp Lan, chàng vờ coi như một sự ngẫu nhiên may mắn.

Một hôm, Lan và mẹ đi qua nhà bưu điện lên Núi Đen. Phất vội rẽ đường tắt lên đó trước. Nhưng lúc nghe tiếng giày đè sỏi, chàng ngượng và sợ bà cụ ngờ vực, liền ngồi khuất sang phía bên kia mỏm đá, để nhường cái ghế dài cho hai người đàn bà.

Tiếng cười của Lan làm cho chàng sung sướng, ngây ngất. Lần ấy là lần đầu chàng nghe rõ tiếng Lan và chàng nhận thấy giọng Lan hơi khàn khàn. Chàng buồn rầu nghĩ đến bộ phổi ốm của người yêu. Bỗng Lan hỏi mẹ:

– Ồ, mẹ trông cây phong lan. Đẹp quá!

Ngừng vài giây, nàng lại nói:

– Con yêu phong lan lắm.

Bà mẹ đáp:

-Vì nó trùng tên với con đấy mà.

-Ồ nhỉ! Mẹ ạ, làm thế nào lấy được thì thích quá nhỉ. Con sẽ treo nó ở bên cái piano của con.

Phất muốn nhảy xổ ra leo lên cây lấy cho bằng được khóm phong lan để tặng người yêu. Nhưng chàng nhận thấy cử chỉ ấy không tự nhiên chút nào, nên thôi ngay.

Lúc hai người đàn bà về rồi, Phất ra đứng ngắm khóm phong lan mọc trên cây bồ kết dại, lá và hoa rũ xuống lòa xòa. Chàng buồn bã thở dài.

Hôm sau, vào giữa trưa – giờ ấy ở Núi Đen người vắng hẳn – Phất trở lại nơi hôm trước. Nhìn không thấy ai qua lại, chẳng tháo giầy, liều trèo lên cây, lấy được khóm phong lan, gói vào cái khăn rộng đem theo.

Chàng moi óc suy nghĩ mãi chưa tìm được cách biếu Lan khóm hoa rừng, thì vì cạn tiền, chàng phải về Hà Nội. Nhưng chàng thề với chàng rằng món quà kia thế nào cũng sẽ đến tay người yêu.

*****

Mùa rét năm ấy, bệnh đau phổi cướp Lan đi.

Phất ở trên đời với khóm phong lan.

Và năm năm, mỗi lần hoa phong lan bắt đầu nở, chàng lại như nghe tiếng đồng vọng trong không:

-“Ồ! Mẹ trông, cây phong lan! Đẹp quá!”

Khái Hưng

 

 

 

 

Một Vạt Nắng Xuân Trên Hè Phố. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Một vạt nắng xuân ngang vườn Tao Đàn, Sài gòn)

Con bé ì ạch đạp. Mấy chồng báo tuy không nặng lắm nhưng cũng đủ làm cho cả người của nó vẹo đi mỗi lần nó mắm môi lấy gân sức. Chỉ còn mấy quãng phố nữa thì tới nơi trả báo ế, lấy báo mới, nhưng mà sao kìa, cái xe cứ mỗi lúc một nặng hơn. Một tay nào đó phóng xe hon-da chợt xẹt qua người nó như một lằn chớp và ném lại phía sau cho nó một câu gọn ghẽ:

– Xẹp lốp rồi!

Nó thốt ngừng ngay lại và lái cái xe chúi mũi vào vỉa hè. Không còn nghi ngờ gì nữa, cả cái bánh sau của nó bẹp gí không còn lấy một chút hơi. Nó ngơ ngẩn xòe bàn tay nhỏ xíu ra vuốt lên vành bánh, và nó chợt phát giác ra một điều đáng nguyền rủa: Cái xe bị cán đinh!

Vào đúng cái lúc nó nhớn nhác nhìn dọc theo hè đường để tìm xem kẻ nào đã làm cái việc thất nhân ác đức đó, thì một thằng nhỏ đứng ở một gốc cây đang nhìn nó và nhoẻn miệng cười:

– Lại đây vá cho. Lấy rẻ!

Con bé gân mặt lên:

– Rẻ mắc gì! Phải anh rải đinh từ mé đằng kia lại, có phải không?

Thằng nhỏ, áng chừng hơn nó vài tuổi, cũng vênh mặt lên:

– Này đừng có mà ăn nói bặm trợn. Tao rải đinh hồi nào. Cái xe của mày cũ mèm thì có.

Con bé nhìn thằng nhỏ một cách kỹ càng hơn. Tóc bờm sờm, da đen đúa, mặt mũi vêu vao, chỉ được có mỗi một vẻ là khi cười, nó phô ra hai hàm răng trắng nhởn. Thấy con bé không nói gì, thằng nhỏ giọng sốt sắng hơn:

– Người ta hai ngàn, tớ lấy một ngàn thôi! Sáng mở hàng lấy hên.

Con bé vùng vằng:

– Tiền đâu mà sẵn thế. Không dưng làm xẹp bánh xe người ta rồi đòi tiền.

– Mày thử đi khắp cái phố Sì-Gòn này coi, có ai chịu vá xe một ngàn không. Cái ngữ xẹp kiểu đó bỏ rẻ cũng phải ba lỗ vá.

Con bé không thèm đáp lại nữa. Nó hầm hầm dắt cái xe đi ngang qua mặt thằng nhỏ. Cũng không thèm nhìn nữa. Nó đã có chủ đích rồi. Ráng dắt xe cuốc bộ vài quãng, về tới nhà thì ba của nó cũng có đủ đồ nghề làm chuyện đó. Hơi sức đâu mà thí cho quân ác ôn đến ngàn bạc.

Thế là con bé ráng đẩy cái xe đi. Người nó ốm nhách, giò cẳng khẳng khiu, so cái xe với chồng báo tú hụ, nó cứ như một con nhái bén đang hì hục xoay vần. Được một quãng xa, nó đã thấy mệt bở hơi tai. Mồ hôi rịn ra ở những chân tóc, nhễu xuống trán và nhỏ xuống hai bờ mi. Con bé phải dừng lại để vén vạt áo lên chùi. Bỗng có tiếng la bải hải phía đằng sau, cùng một lúc có tiếng xe hon-da trờ tới. Nó nhận ra ngay bác hàng xóm nhà mình.

– Chèn ơi, giờ này mà mầy còn lang thang ở đây làm tao kiếm hụt hơi. Có về ngay không, má mầy té xẩy thai, đang nằm liệt kìa…

Con bé run rẩy:

– Nằm …nằm..ở đâu?

– Nhà mụ Xoài mé bển đó! Tới mau đi…

Vừa nói hết câu là người hàng xóm đã lại vụt lao đi, nhanh như một cú điện xẹt. Con bé chẳng buồn nhìn theo vì trong đầu của nó đang bận rộn tính toán. Tiếp tục đẩy cái xe trở về hay là quay lại vá cái bánh xe. Nghĩ đến mẹ nó đang nằm ở một chỗ, chắc đang cần tới nó để bảo ban công việc, ruột nó bỗng nóng sôi lên và nó hối hả quay lại chỗ thằng nhỏ vừa nãy. Nhìn thấy nó, thằng nhỏ lại nhăn ra cười. Ơi, dưới ánh nắng bình minh, sao mà hàm răng của nó nom trắng nhởn như răng bò đến thế. Con bé hậm hực:

– Một ngàn đấy, vá đi.

Thằng nhỏ hỏi móc:

– Sao tính không vá, bây giờ lại vá.

Con bé nguýt nó một cái thật dài:

– Thế đấy. Nẫy không thích, bây giờ thích. Có sao không?

Ui da, cái con nhỏ sao mà chanh chua. Nhưng nghĩ cho cùng, phải thế mới được. Sống ở giữa đám người lam lũ, rách rưới đông nghìn nghịt như kiến cỏ trong cái thành phố này, không cứng cựa làm sao yên. Thằng nhỏ nghĩ thế nên nhìn con bé một cách cảm tình rồi xăng xái bầy đồ ra vá cái vỏ xe. Trong lúc làm việc, nó tỉ tê:

– Này! Cái vỏ đã bốn miếng vá rồi. Liệu mà thay đi.

– Nói dễ nghe nhỉ! Bộ giầu lắm sao mà muốn thay là thay.

– Giầu nghèo gì cái xăm xe. Phải chi như mấy ổng, đổi xe hơi đời này sang đời khác, mô-đen này qua mô-đen khác thì mới nói chớ.

– Ơi! Nói chuyện như thế mà đòi nói. Mà điều mấy ổng giầu, thay cái xe còn dễ hơn mình vá cái lốp kìa. Đúng không?

Thằng nhỏ nhìn con bé, bỗng cảm thấy cảm tình hơn. Nhãi con bằng từng nấy sao mà suy nghĩ đã khôn lanh quá trời. Nó bỗng cười toe toét:

– Mày nói đúng đó. Thiên hạ tiền muôn, bạc triệu, thay có cái xe hơi thì nhằm nhò gì. Nhưng mà về phần mầy, nom đâu đã đến nỗi mà vá có cái xăm xe cũng phải cò cưa.

Con bé dẩu mồm lên:

– Không cò cưa thì có đói nhăn răng ra. Sáng nay, má xẩy thai, nằm một chỗ rồi.

Thằng nhỏ kêu lên:

– Ý cha! Chuyện thật hay rỡn đó mậy?

Con nhỏ tốc vạt áo lên lau thêm mấy giọt mồ hôi đọng trên trán. Rồi nó thở dài, giọng than vãn:

– Má sắp tới cữ rồi mà vẫn còn đi vác gạch, tui nói không nghe.

– Mày nói…mà nói sao?

– Tui nói má ơi, nghỉ đi. Má làm nữa, vác nặng, em bé trong bụng nó chịu hổng nổi đâu.

– Cái đó thì má mày cũng biết rồi.

Con bé trợn mắt:

– Biết rồi thì cũng phải nói chớ. Mà nói riết thì cũng vậy thôi. Có dư được đồng nào, ba moi bằng hết mang đi uống rượu với đánh bạc cha nó hết.

Thằng bé xuýt xoa:

– Ui choa, cái thằng cha bất nhân.

Con bé chợt sửng cồ lên:

– Này, đừng có kiếm cớ mạt sát cha tui nhé. Bề gì thì ông cũng là ổng.

Thằng nhỏ vội vã xua tay:

– Đâu có…. đâu có… Tớ nói vậy thôi, chớ ba của đằng ấy, tớ đâu dám!

Con bé ngồi im không nói gì thêm nữa. Nó cũng chẳng nhìn xem thằng nhỏ đã loay hoay những gì với cái xe của nó. Chừng mười lăm phút sau, thằng nhỏ cất tiếng:

– Rồi! Bi giờ thì có đạp lên cung trăng cũng chẳng hề hấn gì.

Con bé phủi đít, đứng dậy. Nó toan móc túi lấy tiền trả thì thằng nhỏ đã xua tay:

– Tiền nong gì! Cất đi!

– Ô hay, sao lại không lấy?

– Không lấy vì tao thích không lấy. Có sao không?

– Chả sao hết. Không lấy thì đây cám ơn.

– Ơn huệ gì. Lần sau mà mày còn vác xác tới, tao tính tiền gấp ba. Hôm nay hãy để đó.

Con bé nhoẻn miệng cười:

– Ui cha, anh lại định dở trò rải đinh nữa ra với tôi phải không? Ê! Bữa nay thì êm đó, chớ lần sau thì tôi đi thưa.

Thằng bé nhăn ra cười:

– Ừa, thưa đi. Mày thưa tao, tao thưa lại.

– Tôi làm gì mà anh thưa?

– Thưa mày không lo cho má, để má vác nặng tới xẩy thai. Ôi chà! Tù mọt gông đó nghe “em”!

Con bé nguẩy người, lườm thằng nhỏ một cái thật dài rồi dắt xe xuống đường. Lúc nó đạp được vài vòng thì thằng nhỏ đã nói với theo:

– Tao mới ráp thêm hai cái má thắng đó. Ui da, xe cộ gì mà thắng không có, chạy loăng quăng có ngày mất mạng như chơi!

Con bé ngó xuống mé bánh sau. Quả nhiên nó nhìn thấy cái má thắng mòn vẹt gần hết nay đã được thay bằng hai miếng cao su dầy dặn và trắng phau. Nó thử thắng cái xe lại. Ôi chao, vừa mới nhấp một tí mà cái xe đã giật đứng ngay lại, chả bù cho lúc trước, vừa phải ghì cái xe, vừa phải lết cả hai bàn chân xuống mặt đường mỗi khi cần ngừng gấp. Nó ngoái đầu nhìn lại chỗ sửa xe. Thằng nhỏ vẫn còn đứng đó nhìn theo. Hình như nó đang nhe răng ra cười. Hai hàm răng, nhìn từ xa mà vẫn thấy trắng nhởn. Sao mà lại có người có cái cười ngạo nghễ đến thế!

Hai hôm sau, vào đúng chiều hai mươi tám Tết, con bé đạp xe trở lại hè đường cũ. Hôm nay cái xe của nó nhẹ tênh vì chẳng có chồng báo nào đèo sau lưng của nó. Chỉ có gói giấy dầu nhỏ xíu, bên trong có một cái bánh bao còn nóng hổi. Con bé ngơ ngáo nhìn hết gốc cây này tới gốc cây khác. Chẳng thấy thằng nhỏ đâu. Bên đống đồ nghề sửa xe, chỉ có một ông già đang ngồi chúi mũi vào tờ giấy dò vé số. Nó cất tiếng hỏi:

– Ông ơi, cái anh…. cái anh sửa xe mọi khi ở đây đâu rồi?

Ông già ngẩng đầu lên, bộ râu lởm chởm như cố đỡ lấy cái gọng kính đồi mồi cũ kỹ:

– A! Thằng Tín. Cháu cần hỏi gì nó?

Con bé tự nhiên nóng cả mặt. Chân tay của nó luống cuống hẳn ra. Nó ấp úng:

– Cháu…. cháu tìm anh ấy.

– Hôm nay nó không ra. Có chuyện gì thế?

– Dạ…. cháu…. cháu…. mua cho ảnh cái bánh bao.

– Ý chà! Sao mà sang thế!

Con bé càng quíu hơn. Hai bên má của nó nóng rực và hồng lên trong sáng sớm:

– Dạ…. Tại vì…. tại vì bữa nọ ảnh sửa xe cho cháu…. tốt quá!

Ông già vui vẻ:

– Thế hử. Cái thằng nom thế mà tay nghề nó cũng vững lắm. Bánh bao hả? Cứ để đây, chốc về, ông mang về cho nó.

Con bé bẽn lẽn nhìn ông già:

– Ông là ông của anh Tín hả.

– Ừ! Ông ngoại! Bố nó chết rồi. Mẹ nó đi lấy chồng. Nó về ở với ông. Chỉ có mỗi nó thôi.

Con bé trao gói bánh cho ông già rồi rồi vội vã đạp xe mất hút trong lòng thành phố. Tim nó đập thình thịch. Nó thấy mình sao mà liều lĩnh quá. Không dưng lại đi trao bánh cho ông già. Phải chi chờ thằng Tín ra thì sự việc có vẻ suông sẻ hơn. Bên sửa xe, bên cho bánh, có cái gì là không nên không phải đâu. Không biết lúc thằng Tín nhận gói bánh thì sẽ nghĩ sao. Nó lại cũng tiếc là không nán lại chút xíu nữa để hỏi thêm về Tín. Nhà ở đâu? Có đi học trường nào không? Lớp mấy? Nhưng mà thôi, trao được cái bánh là đủ rồi. Mai mốt sẽ còn có dịp đạp xe qua mà.

Rồi nó lại lan man nghĩ đến cái bánh bao còn nóng hổi. Tối hôm qua nó đã ngồi lột củ cải cho bà Hưng mãi đến tận hai giờ sáng. Hàng Tết đổ về, ngoài linh tinh mọi thứ, nhà bà Hưng còn tràn ngập những củ cải trắng, cái nào cái đó to bằng bắp tay. Từ phòng trong ra nhà ngoài, tràn xuống cái sân con rồi tuôn ra cả cái con hẻm còn lép nhép nước mưa, toàn là những củ cải chỗ thì trắng phau, chỗ thì nhoe nhoét đất với bùn. Bà Hưng đã huy động mấy đứa con, lớn thì mười sáu mười bẩy, bé thì lên tám, lên chín, tất cả xúm vào, mỗi đứa một con dao sắc lẻm, chém, vạt, xả, cắt…. làm túi bụi mà vẫn không xuể. Những đống củ cải đã làm xong được thồn vào những cái bao tải chất cao như núi trong nhà. Ấy vậy mà khắp mọi chỗ, từ trong nhà ra ngoài ngõ vẫn bề bộn vương vãi từ củ đến lá, từ vỏ đến ruột, tất cả nom cứ như một bãi xây cất ngổn ngang, chồng chất những vật liệu. Đến nỗi ông Tổ trưởng Dân phố cứ soạch một cái lại thò đầu ở bên kia ràng rào ra đe:

– Quá lắm rồi đó chị Hưng ơi! Chị bày ra kiểu này… chết bà con, rồi chết tới tui luôn.

Bà Hưng xoắn xuýt:

– Hết rồi…. Hàng về hết rồi. Chỉ loáng cái là xong thôi.

Rồi bà nháy mắt cho thằng con lớn. Nó biết ý, ngưng tay dao, lại tủ bán thuốc lá của con em nhón ra một gói ba số rồi lẻn ra ngoài. Một lát sau quay về cười tủm tỉm. Bà Hưng thấy thế cũng tủm tỉm cười theo.

Rồi bà lại cho đi gọi con bé hàng xóm sang phụ, thế là nó có thêm việc từ tối tới quá nửa khuya. Xong xuôi nó được rúi vào tay những mười nghìn. Thế là nó nghĩ ngay tới cái bánh bao thơm phức nằm trong cái nồi hơi bốc nghi ngút khói của ông già vẫn ngồi bán ở đầu ngõ. Tín vá xăm xe, lại tự ý sửa hai cái má phanh cho nó, cả đời nó chưa bao giờ được hưởng cái sự mình không nói ra mà lại có người tự ý làm cho mình. Chính cái đó làm cho nó thấy bứt rứt, người cứ nao lên mà chẳng biết vì cái gì.

Sáng hôm sau, theo thông lệ, nó chở báo đến nhà phát hành để đổi báo cũ, lấy báo mới thì đã thấy thằng Tín ngồi chồm hổm ở vỉa hè, ngay chỗ mọi người đang kiểm báo. Nó thấy choáng cả người và thốt lên:

– Úi chao ơi….

Tín nom thấy nó thì đứng phắt dậy và nhe răng ra cười. Hai đứa nhìn nhau mãi mà không đứa nào lên tiếng. Rút cục, con bé phải lên tiếng hỏi, giọng như người hết hơi:

– Kiếm ai vậy?

– Còn phải hỏi. Đang sùng lắm đây.

Con bé mở to mắt lên nhìn. Mặt nó hơi thoáng một vẻ sợ hãi khiến cho thằng Tín phải nhỏen thêm một nụ cười nữa như để trấn an, rồi cố lấy giọng dịu dàng:

– Đã không có tiền, sao còn đi mua bánh bao?

Mặt con bé chợt đỏ bừng lên. Nó thấy nóng ran cả người từ chân ngọn tóc cho đến các đầu ngón chân. Nó ấp úng:

– Ơ…. tại hôm qua làm thêm được mớ củ cải.

Tín sấn lại gần nó, giơ cả bàn tay nhem nhuốc vì dầu mỡ lên rồi dằn giọng:

– Lần sau thì đừng, nghe không. Xắt mớ củ cải thì được bao nhiêu. Má hôm nay sao rồi?

– Má xẩy xong rồi, cái nhau bự cho thấy là con trai.

Rồi nó bùi ngùi:

– Tiếc quá…. tui đang mong có em trai. Nhưng cũng đỡ, nhà nghèo quá, có thêm thì chỉ khổ cả nó lẫn má thôi.

Tín cầm tay nó lên, cũng cất giọng bùi ngùi:

– Thôi quên chuyện đó đi. Đời còn dài. Chẳng có ai khổ mãi suốt đời đâu.

Tự nhiên con bé ứa nước mắt. Nó cũng không rõ tại sao mình lại khóc dễ dàng thế. Mấy hôm trước, chính tay nó bưng cái hũ thai xẩy của mẹ nó ra góc nghĩa địa vùi xuống mà nó có khóc đâu, mặc dù nó cũng đã lâm râm khấn:

– Em ơi. Em tìm nhà khác mà đầu thai. Ở đây mẹ với chị quần quật lắm cũng không đủ nuôi cho em sung sướng đâu.

Thế mà bây giờ nó lại khóc. Những giọt lệ long lanh trong khóe mắt rồi lăn dài xuống hai má. Tín thấy thế cũng cuống quýt cả lên. Nó muốn lau mặt cho con bé mà chân tay cứ quều quào, không thực hiện được. Cuối cùng nó kêu to:

– Thôi, gửi cái xe lại rồi lên đây.

Con bé ngơ ngác nhìn. Rồi nó hỏi:

– Đi đâu?

Tín nhoẻn miệng cười. Nó lấy lại được sự thoải mái bình thường sau câu hỏi đó. Nó cất giọng rõng rạc:

– Đi chợ Tết!

Mặt con bé thoáng lên một niềm vui hồn nhiên như thể ngày xưa còn bé, hồi bà ngoại nó còn, bà hứa cho nó một cái kẹo chanh. Hai má của nó chợt hồng lên, đôi mắt long lanh như vừa có một vạt nắng xuân le lói chiếu vào. Nhưng nó vẫn hỏi:

– Mà đi chợ Tết thì mua gì cơ chứ?

Tín nói như ra lệnh:

– Mua cho đằng ấy cái lược!

Con bé dẫy nẩy lên:

– Ui! Em thì cần gì lược.

– Nói không cần lược nên cái đầu mới xù lên như cái tổ quạ thế này. Năm mới, phải chải cái đầu cho bảnh thì mới ra dáng con người mà ăn Tết chớ.

Con bé ngúng nguẩy:

– Không đi đâu, cũng chẳng mua bán cái gì hết.

Tín giở giọng ngang tàng:

– Không đi thì đây bế lên mà đi, ráng chịu!

Vừa nói nó lại vừa sấn tới. Cái thằng sao mà ngang tàng, coi trời bằng vung đến thế. Nhưng con bé lại không lấy thế làm bực mình. Nó chỉ cuống quýt lên và la bải hải:

– Đi… Ừ….. đi thì đi…. Mà hượm để gửi xe cái đã.

Vừa nói, con bé vừa chen vào đám đông lúc ấy đang nhốn nháo với những chồng báo cao ngất nghểu. Chợt Tín gọi giật lại:

– Ê…. này….. ấy ơi….

Nó chưa biết tên con bé là gì nên giọng rõ ra vẻ lúng túng. Từ bữa hổm tới giờ, nó cứ xuýt xoa là quên mất không hỏi con bé tên gì. Cái sự lúng túng này cứ đeo đẳng trong đầu nó mãi, ngay cả khi hai đứa đã len lỏi vào rừng người đông nghẹt trong chợ Tết. Nhưng cuối cùng thì nó cũng chợt vùng lên nói:

– Này…. gì ấy nhỉ?

– Gì là gì?

– Tên ấy! Phải có tên mà gọi chứ!

– Em biết tên của anh rồi, anh Tín!

– Thế còn…..

Nó chợt ngừng lại. Miệng tắc tị. Nó thấy rõ là chẳng có khi nào mình phát ngôn lại khó khăn như lúc này. May quá, con bé thông minh, đã trả lời ngay:

– Còn em ấy à? Gọi em là Hoa.

– Hoa gì?

Con bé nhìn Tín, hai mắt long lanh, giọng tinh nghịch:

– Anh thích hoa gì?

– Hoa Mai ! Ở làng anh, mỗi lần giáp Tết, hoa Mai nở rộ cả một vùng.

Hoa mỉm cười:

– Vậy em cũng thích hoa Mai. Chừng nào hết nghèo, được về quê ăn Tết, em sẽ trưng hoa Mai khắp trong nhà.

Tín nắm ngay lấy bàn tay xinh xắn của nó rồi lôi đi:

– Nghèo giầu gì! Mình sẽ đi mua cả cái lược lẫn một cành Mai!

Chẳng cần bảo nhau, cả hai đứa cùng như cảm thấy cả một vườn hoa Mai rực rỡ ở chốn xóm làng xưa cũ hiện ra trước mắt làm cho chúng nó thấy rộn rã trong lòng.

Thế rồi vô tình con bé cũng nắm chặt lấy cánh tay của Tín và cả hai cùng mất biến trong đám người lố nhố, cũng đang ồn ào chen chúc nhau để vội vàng mua sắm Tết.

Nhật Tiến

Những Ngày Mới. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

(Những Ngày Mới. Truyện ngắn Thạch Lam đã đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 19 in ngày Chủ nhật 02/08/1936 tại Hà Nội)

img_5131

Những bông lúa vàng mới cắt xong đều xếp rải rác từng hàng trên bờ ruộng, trong đám cỏ xanh mọc dầy. Mỗi khi gặt được vài lượm lúa người thợ hái ôm sát bó lúa thơm vào người, đem ra xếp vào chỗ lúa trước. Rồi họ lại trở vào ruộng, đứng theo hàng những người bạn gặt. Tiếng hái đưa vào gốc lúa xoàn xoạt như tiếng trâu bò ăn cỏ.

Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý gì đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rỏ ở trên trán xuống. Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phản phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm cho chàng say sưa như men rượu. Tân lại cố hết sức gặt, chỉ lo không theo kịp hàng những người thợ khác.

Buổi sáng khi Tân ngỏ ý cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:

– Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn lúa.

Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.

Người già nhất trong bọn, một ông cụ râu tóc đã bạc, nhưng da xém đen và khỏe mạnh, lẳng lặng đem một cây hái ra mài trên bờ ruộng. Khi mọi người sửa soạn xong, ông cụ đưa cho Tân cây hái, lưỡi sáng loáng nói:

– Lưỡi sắc thế này thì cắt cứ ngọt như cắt cỏ.

Cắt được mấy lượm lúa, Tân thấy cánh tay mỏi rã rời. Chàng tưởng không thể nào gặt được nữa. Tuy vậy, cố hết sức chàng cũng chưa theo kịp bọn thợ gặt. Nhưng được vài bước, Tân lại phải dừng lại để thở. Chàng nhận thấy cô gái ban nãy, tuy tay đưa hái thoăn thoắt nhưng vẫn để ý nhìn chàng. Còn ông cụ già cứ điềm đạm gặt, bên cạnh ông ta, những bông lúa đã xếp thành đống. Tân lại cúi xuống làm việc. Dần dần mềm dẻo, Tân thấy dễ chịu. Chàng luôn đưa lưỡi hái, vui vẻ khi thấy những bông lúa chắc, vàng ngả sát vào người. Tân thấy tâm hồn khoan khoái như không bận một ý nghĩ gì.

Từ bờ ruộng đằng xa đi lại, một người đàn bà gánh hai gánh đầy. Ông cụ già thẳng người đứng lên nói với các bạn gặt:

– Thôi, hãy nghỉ tay ăn quà đi.

Tân cũng ngừng tay lại. Chàng đương thích làm việc, nói: “Đã nghỉ rồi cơ à? Sao chóng thế”. Chàng quên rằng bọn thợ đã gặt luôn bốn giờ đồng hồ chưa nghỉ, họ làm việc từ buổi sáng sớm, trong lúc chàng còn ngủ.

Bọn thợ gặt tìm chỗ có bóng mát ở chân đồi nghỉ. Chung quanh đấy, ở các ruộng khác, những thợ hái cũng đều nghỉ cả, mỗi người chọn một chỗ dưới gốc cây, tay cầm bát cơm nếp ăn rất ngon lành. Đấy là bữa quà buổi trưa, vì sáng sớm trước khi ra đồng, người nào cũng ăn cơm cả rồi.

Mấy người thợ Tân mượn nhìn chàng ra dáng cám ơn lắm vì Tân rộng rãi, bữa cơm sáng đã cho họ ăn một ít cá vụn mà em chàng mua của bọn đánh dậm. Đến lúc đổi đồng, chàng lại cho phép họ được đem lúa đổi lấy một ít chả để ăn với xôi và bao diêm, gói thuốc cho mọi người. Bởi vậy, họ rất sung sướng vì ngày công tám xu của họ còn nguyên không phải tiêu dùng đến.

Thấy Tân dễ dãi vui tính, họ cũng vui vẻ trò chuyện trước mặt chàng, không còn ngượng nghịu hay giữ gìn gì nữa. Ông cụ già gọi chàng đến bên cạnh mời hút thuốc lào và uống nước. Cụ rót trong cái vò sành ra một bát nước đỏ thẫm ra đưa cho Tân:

– Cậu thử uống bát nụ vối này mà xem. Không có thứ nước nào ngon hơn nữa.

Thật đúng như vậy, Tân chưa uống bát nước nào ngon hơn bát nước vối của ông cụ. Chàng nghĩ đến khi còn ở Hà Nội, uống rượu bia và nước chanh ngâm đá, nhưng chưa thấy bao giờ khoan khoái như bây giờ.

Ăn xong, trên ven đồi, bọn thợ gặt nằm dài trên cỏ ngủ. Các thợ đàn bà họp nhau lại một chỗ ăn trầu và nói chuyện mùa màng còn ông cụ thì loay hoay buộc lại mấy cái hái để dùng đến buổi gặt chiều.

Cánh đồng lúa chín lóe vàng dưới mặt trời buổi trưa. Từng chỗ, ở thửa ruộng nào đã gặt rồi, gốc rạ lấp lánh như dát bạc. Phía xa, làng mạc ở chân trời rung động trong ánh nắng.

Tân nằm trên thảm cỏ, nhìn lên. Qua khe lá lung lay, chàng thấy trời xanh trong và mát. Mùi cỏ và mùi lúa thơm bốc lên xung quanh, Tân cảm thấy cái sung sương của một người làm xong công việc. Chàng thấy vui vẻ, một mối tình nảy nở giữa tâm hồn Tân với những người thợ gặt giản dị và mộc mạc chung quanh chàng.

Họ làm việc xong cũng vui vẻ, sung sướng tuy những lúa gặt không phải là của họ. Tân cũng vậy, chàng biết rằng những bó lúa kia đem bán đi thì có lẽ không đủ tiền trả công người làm. Song những bông lúa ấy đối với Tân quý lắm và như có một ý nghĩa thiêng liêng, đấy là kết quả của cả một năm làm lụng khó nhọc và vất vả.

Tân nhìn xuống đồi, ngắm nghía những dải mây trắng lững thững ở phía xa. Từ khi trở về quê, chàng quen nhìn xét những đám mây mà trước kia ở tỉnh chàng không bao giờ để ý đến. Tân nhớ lại tất cả quãng đời niên thiếu của mình đã qua ở tỉnh thành. Ngay từ khi còn nhỏ tuổi, cha mẹ chàng đã gởi chàng ở nhà ông chú làm việc trên Hà Nội. Nhà chàng cũng không lấy gì làm giàu có, nhưng cũng vào bậc nhất nhì trong làng. Quanh năm cày cấy mươi mẫu ruộng ở ven đồi và chăm bón mấy nương chè, sắn, cũng thừa đủ chi dụng trong nhà.

Cũng như tất cả những nhà giàu khác ở trong làng, cái hy vọng của cha mẹ Tân là cho chàng đi học để trở nên thầy thông hay thầy ký… Mà lúc bấy giờ, chí nguyện của Tân cũng chỉ có thế, chàng hết sức chăm học nên năm mười tám tuổi đã đạt được cái hy vọng của gia đình.

Tân mỉm cười khi nghỉ đến cái tâm trạng của mình lúc mơi đi làm; nghĩ đến cái anh chàng lúc nào cũng ăn bận chải chuốt như một cô gái, lúc nào cũng nghĩ đến cái quan trọng của mình. Hình như mỗi cử chỉ của thầy ký trẻ tuổi đều có ảnh hưởng đến mọi người.

Khi có nạn kinh tế, chàng mất việc. Cái chán nản của Tân và của cha mẹ chàng lúc bấy giờ thực đến cực điểm. Cha chàng buồn rầu từ trần. Còn chàng cứ lang thang ở Hà Nội mấy tháng trời, sống cái đời vất vưởng của anh thất nghiệp. Chàng đã biết cái thất vọng của những lúc đợi chờ, cái khổ sở của những đêm không có chỗ trọ, vì trong lúc ấy ở nhà quê có mình bà mẹ trông nom ruộng nương không xuể, và giá thóc hơn, nên không có tiền gửi cho chàng.

Nhưng một hôm rét mướt, một ý nghĩ bỗng nảy ra trong trí, nếu ở đây không đủ sống, tại sao không trở về quê sống cái đời giản dị của người làm ruộng?

Thế là hôm sau, Tân xách khăn gói về. Rồi từ đấy chàng hoàn toàn là một người nhà quê dễ dãi. Mới đầu Tân cũng thấy nhiều sự thiếu thốn khổ sở. Nhưng dần dần chàng nghiệm ra rằng những cái thiếu thốn đó, không phải là những cái cần dùng cho cuộc đời, mà là những cái thừa. Sự cần dùng là ăn với mặc, chàng đã có đủ. Dần dần chàng mới thấy cái đời chàng sống trước ở tỉnh thành là một cuộc đời phức tạp và vô vị, không có nghĩa lý gì. Chỉ việc có ăn ở theo mọi người, nghĩ ngợi theo mọi người, và đi tìm cái vui chốc lát trong những cuộc hành lạc để mua lấy cái chán nản về sau.

Tân tiếc hồi thủa nhỏ không sống ở thôn quê để được gần gũi với cảnh vật. Chàng thích sống bên cạnh những người nhà quê chất phác và mộc mạc. Bấy giờ chàng mới biết đến trời đất, đến thời tiết, đến sự thay đổi của mùa nọ sang mùa kia. Một cơn gió hay một cái mầm cỏ non, đối với chàng đều có ý nghĩa riêng.

Tân không dửng dưng như trước với những cái chung quanh mình. Tâm hồn chàng có liên lạc và rung động cùng với cảnh vật. Chàng có cái cảm giác rằng mình sống…

Buổi chiều, thửa ruộng của Tân đã gặt xong. Cả một cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ. Bọn thợ gặt đều thu xếp liềm hái để trở về. Trên con đường vào làng, các lực điền gánh những gánh lúa vàng nặng trĩu. Mặt trời đã xế phía bên kia đồi. Ở dưới thung lũng, sương mù lạnh trắng xóa lan ra lẫn với làn khói tỏa ở xung quanh các làng. Cỏ bên đường đi đã ướt. “Về phía xa, có ngọn lửa của ai đốt trên sườn rặng núi mờ ở chân trời. Tân với bọn thợ bước đều trở về nhà, ai nấy yên lặng không nói gì,như cùng kính trọng cái thời khắc của một ngày tàn. Trong cái thời khắc này, Tân như thấy cảnh vật đều có một tâm hồn, mà lớp sương mù kia là tâm hồn của đất màu, đã nuôi hạt thóc cần cho sự sống của loài người.

Khi vào đến con đường khuất khúc trong làng, trời nhá nhem tối. Qua hàng rào cây, Tân thấy lấp lánh đèn ở sân các nhà, tiếng néo đập lúa trên cối đá, tiếng hạt thóc bắn vào nia cót như mưa rào. Đâu đâu cũng thấy tiếng cười nói vui vẻ, cảnh đêm trong làng thôn quê vẫn yên lặng âm thầm thì chiều nay hoạt động vô cùng. Mùi lúa thơm vương lại trong các bụi cây hòa lẫn với mùi đầm ấm của phân cỏ, bốc lên khắp cả.

Về đến sân nhà, mọi người ăn xong lại bắt đầu làm việc. Đàn bà vừa đập lúa vừa hát, còn bọn thợ hái ngồi quây quần bên chiếc đèn con nói chuyện. Ai cũng cười đùa tự nhiên. Họ đã tận tâm làm việc suốt ngày. Những lượm lúa vàng sẫm đem đến cho họ cái vui của ngày được mùa, cái hình ảnh của sự no ấm trong đời.

Tân thấy mình cũng sung sướng như họ, chàng thấy tấm lòng mình rộng rãi ra, tâm hồn thân thiết, và yêu mến với cả mọi người.

Sau khi hẹn thưởng cho bọn thợ nồi cơm nếp mới, Tân bước ra ngõ, nhìn xuống dưới đồi. Trên trời, ngàn sao lấp lánh. Gió dưới ruộng đưa lên mùi rạ ướt và hơi sương lạnh. Cả một vùng đêm rộng rãi và bình tĩnh trên cánh đồng yên lặng.

Tân chợt thấy ở chân phía trời xa, cái khoảng ánh sáng mờ của tỉnh thành Hà Nội…

Chàng sung sướng nghĩ đến những ngày đầy đủ của mình ở chốn thôn quê này. Một cuộc đời mới đương chờ đợi chàng…

Thạch Lam

Ánh Sáng. Truyện ngắn Hoàng Đạo


Hoàng Đạo

(Truyện ngắn Ánh Sáng của Hoàng Đạo đã được đăng lần đầu trên Tuần Báo Ngày Nay số 18, in ngày  chủ nhật 26/07/1936 tại Hà Nội)

img_5120

– Phở có nóng không bác?
– Nóng.
– Vậy bác bán cho tôi ba xu.
Cậu bé đặt sáu đồng trinh lên mặt gánh, lặng yên đứng nhìn người bán phở nhấc môi bánh nóng hôi hôi đặt vào bát. Hơi nóng trong nồi nước dùng bay tỏa ra từng đám trắng, gió chiều thổi tạt về đầu phố.
Bằng đứng phía cuối gió, đương thẫn thờ cúi xuống nhìn cỏ, bỗng giật mình ngước mắt lên. Vô tình ngọn gió đã đột ngột đem theo mùi thơm ngào ngạt làm giác quan chàng rung động. Bằng quen tay thò vào túi, và sực nhớ rằng đồng hào cuối cùng chàng đã tiêu hết từ chiều hôm trước, cả gia tài chỉ còn một đồng trinh.
Lại một làn gió thơm đưa tới, nhẹ nhàng vờn mớ tóc rối của Bằng. Như đột nhiên nghĩ đến một việc cần, Bằng hấp tấp rảo bước đi thật nhanh. Qua gánh phở, chàng ngoảnh mặt chăm chú nhìn một bông hồng lách qua giậu sắt, rung rinh trước gió, hình như không nghe thấy tiếng hàng phở chào:
– Mời thầy mua cho một bát.
Thực thì Bằng vẫn nghe rõ lắm. Nhưng chàng không muốn lên tiếng từ chối trong khi lòng chàng rạo rực nôn nào Chàng đói Chàng đói lắm: từ sáng đến giờ, chưa có một hột cơm nào trong bụng, mà cứ thế lang thang hết phố này sang phố khác.
Bằng lang thang đi tìm việc làm. Đã hai tháng nay, từ hôm Sở dầu thải hơn sáu chục người làm công, không có ngày nào là Bằng không đi như vậỵ Chàng chỉ biết có một nghề đánh máy chữ và tính sổ, mặc dầu cha mẹ chàng xưa kia chuyên nghề làm ruộng. Đáng lẽ như người khác, Bằng bây giờ đã vác cày ra đồng, khó nhọc kiếm lấy miếng ăn dưới ánh nắng thiêu, trong những ruộng lầỵ Nhưng thuở nhỏ chàng chăm chỉ và thông minh hơn trẻ khác, nên cha mẹ chàng cố nuôi chàng ăn học, có mấy sào ruộng bán dần đi hết. Bằng vì thế trở nên một thầy ký. Công việc có nhẹ nhàng nhưng cảnh người làm công, cảnh bức bách. Có điều mỗi lúc về quê, họ hàng đối với chàng đều có vẻ trọng vọng tôn kính. Còn chàng chắc cũng an phận, nếu kinh tế không khủng hoảng. Nhưng đã gần một năm nay, sở nào cũng nghe thấy nói đến việc thải người làm. Trong Sở dầu, anh em thường thì thầm bàn đến một cách sợ sệt. Duy ai nấy cũng thầm tưởng, thầm mong rằng có thải cũng không đến mình. Bỗng một hôm, đương lúc mọi người cặm cụi làm việc, người loong toong chạy vào:
– Mời các ông lên quan Đốc gọi.
Trong phòng giấy rộng rãi, sang trọng, ông Đốc đứng nghiêm trang trong bộ áo là nếp thẳng thắn. Ông cám ơn mọi người đã làm hết phận sự, rồi ông tỏ nỗi lòng ông băn khoăn, khổ sở mấy hôm vừa qua:
– Các ông ạ, sự khủng hoảng bắt buộc chúng tôi phải rời các ông, tôi lấy làm tiếc vô hạn. Tôi mong sẽ có ngày kia, kinh tế vững chãi và các ông sẽ lại về làm ở đâỵ
Nói xong, ông Đốc xem vừa ý lắm, thắt lại cái cà vạt, vuốt lại mái tóc mượt, vẻ mặt sung sướng khoan khoái, ông bước lên xe ô tô hòm giục tài xế đưa đến một khách sạn sang để dự bữa tiệc chiều.
Trong khi ấy, các ông Ký bị thải ngơ ngác nhìn nhau, rồi buồn bã người nào trở về nhà nấy với mâm cơm cà và rau muống luộc.
Ngày theo ngày, những ngày dài dằng dặc, những ngày ngồi rỗi với một tâm hồn chán nản, với cuộc tương lai mập mờ bất trắc. Mâm cơm cà và rau muống dần dần cũng không có nữa Bằng đã tới cái cảnh ngao ngán ấy. Về quê làm nghề nông thì không còn một thửa ruộng – Bằng cũng tự biết không đủ sức cầy sâu, cuốc bẫm – và làm thợ thì không biết nghề gì, Bằng chỉ còn mong tìm được một chân bàn giấy. Chàng tiêu dần hết cả tiền dành dụm, mà không có chút hy vọng nào.
Ngày hôm nay, chàng không còn một đồng xu dính túi. Đã vậy, chủ nhà, bà Cai Đá, lại nhất định đòi tiền thuê nhà, và sau một hồi thuyết lý mỉa mai, bà ta hẹn lại cho Bằng đến sáng mai phải trả, nếu không thì đứng trách.
– Đừng trách!
Bằng nhếch mép cười một cách chua chát, tâm trí đầy rẫy nỗi uất ức, tức giận. Chàng ngẫm nghĩ:
– Dốt nát ngu xuẩn như mụ Cai Đá thì chỉ việc ngồi duỗi mà sống một cách sung sướng đầy đủ, còn mình muốn làm vất vả cả ngày để nuôi thân mà cũng không được. Ông trời bất công thực.
Bằng ngửa mặt nhìn lên không trung. Trời chiều trong xanh như ngọc thạch. Mấy đám mây hồng nhẹ nhàng trôi. Bằng cảm thấy rõ sự vô lý của lòng oán hận một cảnh vật vô tình, thản nhiên…
Bỗng chàng giật mình. Một tiếng còi gắt gỏng, một câu nói bẳn và một cái xe ô tô vụt qua trước mặt chàng. Chỉ chậm một giây nữa thì Bằng bị ô tô cán phải. Thì ra chàng bước xuống đường nhựa lúc nào không biết.
Sợ hãi, Bằng lùi lên bờ hè, mới hay mình ở trước vườn hoa nha Đốc lý. Mệt nhọc, chàng ném mình xuống một cái ghế dài gần đấy, ôn lại cái nạn vừa xảy ra:
– Thật là chết hụt!
Ngẫm nghĩ, chàng tắc lưỡi:
– Chà! Chết mà lại hay…Sống khổ sở thế này thì cũng chẳng nên sống làm gì.
Thở dài, chàng xua đuổi ý nghĩ chán nản nhìn ra chung quanh. Trời đã nhá nhem tối, những bông cúc trắng rung rinh trong ánh sáng mờ mờ khiến Bằng nhớ đến cảnh xa hoa của tết năm nào.
Có tiếng nói sẽ như đáp lại ý nghĩ của Bằng:
– Lạy thầy dón tay làm phúc.
Trông người ăn mày hốc hác, rách rưới, đứng chĩa tay trước mặt. Bằng nở một nụ cười buồn tênh, lắc đầu ra hiệu rằng mình không có tiền. Người ăn mày vẫn nhẫn nhục đứng lải nhải xin. Bằng đứng dậy móc túi lấy đồng trinh còn lại ném cho, rồi vừa đi vừa nói một mình.
– Thế là hết.
Chàng lần theo những phố đông đúc, trong lòng thấy vui vui vì đã cứu một người nghèo khó hơn mình. Thấy đói và mệt, chàng dừng lại nhìn một cửa hàng bán vàng bạc, tò mò ngắm nghía những chiếc nhẫn dát kim cương lóng lánh bên cạnh mấy đôi xuyến huyền nạm vàng.
– Nếu ta có một chiếc xuyến kia nhỉ?
Bỗng một ý nghĩ bất chính nẩy ra trong trí Bằng. Như muốn tránh sự cám dỗ, chàng ngoảnh nhìn sang một cửa hàng ở dãy bên kia phố. Trong khung kính, mấy miếng xúc xích đương lơ lửng trên vài chiếc bánh tây ngon lành, và những chiếc bánh sữa đương phơi màu vàng ngọt dưới ánh điện sáng trưng. Bằng rùng mình, tưởng tượng ra một bữa tiệc long trọng, những chiếc bánh đặt trong giỏ mây bên cạnh những cốc pha lê trắng muốt, những đĩa thịt thơm thọ Bằng rùng mình, vì ý nghĩ chiếm đoạt tiền của người khác đã hình thành trong óc chàng và xui giục chàng thò tay vào lấy trộm chiếc xuyến.
– Họ có mất chiếc xuyến cũng không sao, mà ta lại được một bữa cơm ngon.
Bằng thò đầu vào cửa hàng bỏ vắng, bỗng chàng nhìn thấy bóng trong gương, mặt mày len lét, bơ phờ. Chàng kêu rú lên một tiếng rồi cắm cổ chạy như tội nhân đi trốn.
Về đến nhà, Bằng mới hoàn hồn, chàng nằm vật xuống phản, thở hồng hộc, như vừa mới thoát khỏi một cái nạn to: thiếu chút nữa, chàng đã thành một thắng ăn cắp. Nhưng nghĩ đến cách sống ngày mai, Bằng càng bối rối. Biết làm gì mà nuôi được thân bây giờ, ngoài việc bất chính? Hay là đi hành khất? Bằng nhớ lại người ăn mày ở vườn hoa Đốc lý, nhớ lại cái nạn ô tô suýt nữa xảy rạ Chàng than thở:
– Nó chẳng đè chết đi cho rảnh chuyện.
Một tư tưởng vụt ra trong trí, khiến chàng thẫn thờ lẩm nhẩm:
– Âu là…
Rồi Bằng ôm mặt nức nở khóc.
* * *
Mặt trời đã lên caọ ánh nắng êm đềm xiên qua cửa sổ. Bà Cai Đá trỗi dậy, với lấy ống nhổ, gọi con sen:
– Đỏ, mày chạy xuống đòi thầy Bằng tiền nhà đi.
Rồi bà lẩm bẩm:
– Lần này mà không trả thì bà bảo cho. Đã hai tháng của người ta rồi, mà cứ chây ra, người đâu mà trơ đến thế!
Con sen vừa mới bước xuống cầu thang, bà Cai Đá khoác vội cái áo dài, chạy liền theo, nét mặt hầm hầm.
Đến cửa phòng Bằng ở, bỗng bà đứng dừng lại, ngạc nhiên. Bà trông thấy Bằng ngồi trên thành cửa sổ tay gõ dịp xuống tường, miệng hát nghêu ngao…
– Thế nào, thầy trả tiền nhà tôi đi chứ?
Như không nghe thấy câu hỏi của bà Cai, Bằng cúi hẳn người ra ngoài, nhìn chòm lá long não phấp phới rung rinh trước gió, tươi cười như một cô con gái nhí nhảnh. Bằng không hiểu sao mình vẫn còn sống mà ra đây nhìn ánh sáng và chàng lấy làm lạ rằng sao lúc nãy chàng lại cảm thấy một cách đằm thắm hơn mọi khi, cái vui, cái đẹp của đời.

Hoàng Đạo

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng. Truyện ngắn Nhất Linh


Nhất Linh

(Tặng tâm hồn Bồ Tùng Linh, tác giả Liêu Trai)
Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng của cố Văn Hào Nhất Linh. Đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 10, in tại Hà Nội năm 1935

Một đêm trăng mờ trên sông Thương. Con thuyền lờ đờ trôi bên cạnh một dảy lau cao, gió thổi qua xào xạc. Sinh ngồi dựa vào mạn thuyền, đôi mắt mơ màng nhìn một thiếu nữ tóc trần, mặc áo lụa trắng, đương ôm vào lòng một cây đàn hờ hững gảy vài tiếng rời rạc. Một cơn gió mạnh thoảng qua. Sinh hỏi thiếu nữ:

– Ở giữa sông, mà lạ thật, có mùi hoa nhài thơm lạ?

Thiếu nữ nghiêng đầu để Sinh nhìn rõ trên mái tóc mấy bông hoa nhài trắng cài trong làn tóc đen, rồi thiếu nữ đăm đăm nhìn nước trôi cạnh thuyền như muốn ôn lại trong trí những việc xảy ra từ thời quá khứ ra xa xăm. Một lát thiếu nữ thở dài, buồn rầu nói:

– Em thích nhứt hoa nhài…vì hình như kiếp trước đời em là đời hoa nhài .

Sinh cười nói đùa:

– Tuyết của tôi có linh hồn một nhà thi sĩ

Tuyết nghiêm nét mặt:

– Em không nói đùa đâu. Anh không thấy người ta vẫn bảo hoa nhài là một bông hoa đĩ, vì hoa nhài chỉ nở ban đêm, thế mà đời em – em nói ra cũng không hỏi thẹn gì – là đời một gái giang hồ.

Rồi nửa buồn rầu nửa đùa cợt, Tuyết cất tiếng hát:

Ngẫm xem hoa ấy thân này…

Tuyết đặt đàn ngồi sát lại gần Sinh:

– Anh muốn tin hay không tin tuỳ ý anh, nhưng em thì em cho đời em với đời hoa nhài có liên lạc với nhau. Mà người ta bảo hoa nhài là một thứ hoa đĩ, thật đúng lắm. Để em kể anh nghe lại cái hồi em mới bắt đầu bước chân vào cuộc đời giang hồ này:

“Năm ấy em mới mười sáu tuổi. Một đêm nhà vắng, cũng về mùa hè, có cả trăng mờ như đêm nay. Em nằm một mình ở ngoài hiên cho mát và vơ vẩn nhìn ra ngoài. Bỗng em thấy trên cái sân gạch rộng, lờ mờ dưới bóng trăng hiện ra ba người con gái mặc toàn đồ trắng, nhẹ nhàng đi lướt qua sân. Em thấy làm lạ, vì trong nhà, ngoài em ra, không có một người con gái nào khác nữa. Em ngồi nhổm dậy nhìn ra thì thấy ba người con gái đi đi lại lại chơi bời cười nói trên sân coi như nhà của họ. Em ngạc nhiên bước ra sân, toan hỏi, thì cả ba cô con gái cùng đến xúm lại bên em, cầm tay em tỏ nỗi mừng rỡ, rồi bảo em:

– Chị Tuyết đây rồi! Chúng em tìm chị mãi. Thấy em ngạc nhiên, một cô hỏi:

– Chị quên chúng em rồi sao? Sao mà chóng thế. Bạn cũ của chị đây mà, chị nhớ ra chưa?

Thế là từ lúc ấy, em mang máng nhớ dần ra rồi, em thấy hình như có gặp họ ở đâu nhiều lần rồi. Em chỉ nhớ mang máng thế thôi, chưa kịp nghĩ ngợi gì cả, thì ba cô đã cầm tay em kéo đi, vừa đi vừa nói chuyện, nói chuyện lâu lắm, nhưng em không nhớ nói những chuyện gì. Lúc đi với họ, em thấy trong người nhẹ nhõm và quanh người lúc nào cũng phảng phất một thứ hương thơm ngát, nhưng không đoán ra được là thứ hương gì. Bỗng một cô nói:

– Thôi khuya rồi, xin từ biệt chị

Rồi cả ba cô sát lại người em, ôm lấy em: em thấy hoa cả mắt, cả hương thơm ở người ba cô bạn làm em choáng váng, tê mê, thiêm thiếp đi một lúc. Khi tỉnh dậy thì cả ba cô đi đâu mất và khi em giơ vạt áo lên thì thấy đẫm mùi hoa nhài. Có tiếng cười khúc khích. Em giật mình thức dậy mới biết là mình vừa nằm mê.

Em quay mặt ra ngoài cho tỉnh hẳn, thì thấy ngay ở đầu phản bên gối em, ba bông hoa nhài trắng và to vừa mới nở, gió thổi chùm lại với nhau và quay cả về phía em nằm, hương thơm đưa thoang thoảng”.

Sinh cười bảo Tuyết:

– Nằm bên hoa, ngửi thấy mùi hoa mê như thế là thường.

Tuyết nói:

– Anh để em kể hết đã… “Từ lúc ấy trở đi, em thấy em đổi khác hẳn, rồi ngay ngày hôm sau, em gặp một chàng trẻ tuổi, em mê người ấy, và từ đó, thân em không còn là thân một cô con gái mười sáu tuổi trong sạch nữa. Em trở về thì mấy bông hoa hôm trước, cánh đã héo tàn, vàng úa. Bắt đầu từ đó, em bước dần mãi vào con đường nhơ nhuốc…cho đến ngày nay. Nhiều lúc em muốn trở về với cái đời trong sạch kia, nhưng không thể nào được nữa, hình như có một sức mạnh vô hình bắt em phải sống, phải mãi mãi sống cái đời khốn nạn này”.

Tuyết nhắc cây đàn lên gẩy xong bài Xuân Nữ Thân, rồi cúi mặt buồn rầu, hai bên má nước mắt chảy ràn rụa. Muốn khuây buồn cho người bạn một đêm, Sinh giơ tay khẽ rứt mấy bông hoa nhài ở mái tóc Tuyết, rồi cầm vứt xuống sông. Hai người cùng nhìn theo mấy bông hoa trôi theo giòng nước. Một cơn gió thoảng qua, Sinh nói:

– Để làm gì cái bông hoa ấy nó quấy rầy cuộc vui của hai người đêm nay. Hết hoa, một cơn gió qua là hết cả hương thơm ám ảnh…

Tuyết mỉm cười chua chát:

– Hết thế nào được. Cái hương ấy nó đã thấm sâu vào da thịt em, nó đã tắm cả linh hồn em, gió nào thổi cho sạch được.

Mặt trăng lộ ra, trời sáng hẳn. Tấm áo của Tuyết đã trắng lại trắng thêm, nổi hẳn lên trên nền lá sậy đen. Bỗng Sinh chăm chú nhìn vào mặt Tuyết, và ngạc nhiên thấy mặt Tuyết dưới ánh trăng mỗi lúc mặt trắng dần…trắng như mầu trắng của một bông nhài mới nở. Chàng ngạc nhiên hơn nữa, khi một cơn gió thoáng qua đưa lại phía chàng mùi hương nhài thơm nức như ở trong áo Tuyết bay ra….

Sinh dụi mắt. Lúc bỏ tay ra, thì thấy ánh sáng soi vào giữa mắt mình và thấy mình nằm trên cái ghế mây giải ở đầu hiên nhà. Lúc đó Sinh mới hay rằng mình mới vừa nằm một giấc chiêm bao. Thấy lẫn trong gió có mùi thơm hoa nhài, Sinh quay mặt nhìn ra: ngay ở đầu ghế, một cánh nhài gió thổi hắt về phía chàng để lộ ra trong đám lá một bông hoa nhài mới nở trắng nuột dưới ánh trăng. Hương thơm vẫn thoang thoảng và bông hoa rung rinh trước gió, Sinh tưởng tượng như đương còn thì thầm kể lại câu truyện chàng được nghe trong giấc mộng.

Nhất Linh

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Bến Đò Năm Xưa. Truyện ngắn Khái Hưng.


Khái Hưng

(Bến Đò Năm Xưa. Truyện ngắn của Khái Hưng đã đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 21, in ngày chủ nhật, 16/08/1936 tại Hà Nội)

78cd5e6d-e0a9-4833-bb57-5d99bb5e45ee

Nguyên dừng lại trên đê cao, nhìn xuống con sông sâu. Và chàng mang máng nhận thấy rằng mười lăm, mười sáu năm về trước chàng đã đến đó một lần.

Dòng nước về mùa đông cũng cạn, cũng chảy lờ đờ. Bụi lau mọc ven bờ, lá vẫn xơ xác như xưa, hàng bông trắng vẫn se sẽ lao đao trước gió. Nhất là cây gạo thân thẳng và cao, ngạo nghễ đứng bên sườn đê rướn ngọn chọc trời, thì chàng không thể nhầm nó với một cây gạo khác được. Gốc nó phía trên tựa da trăn đầy những khoanh mốc trắng, phía dưới nổi lên những bướu tròn hùng tráng như những bắp thịt rắn chắc của nhà lực sĩ.

Nguyên đương tỉ mỉ nhận xét điều ấy, thì đưa chàng đi sâu thêm vào thời ký vãng một làn khói lan tỏa ra ôm ấp lấy cái mái rạ rồi từ từ bay tản mạn trong đám lá xanh. Bấy giờ chàng mới kịp để ý đến túp lều bé nhỏ, xiêu vẹo, túp lều mà mười lăm năm về trước chàng đã thấy nằm núp dưới gốc cây gạo. Cho đến cả mảnh lưới nâu vắt phơi trên cái lao sặt, vại nước đặt trên khóm mía ở đầu nhà, mọi vật đối với ký ức chàng như đối với con mắt nhà mỹ thuật, một bức tranh sơn bỏ quên lâu năm trong xó tủ, bây giờ bỗng đem ra lau sạch bụi và treo lên tường.

Chiếc xe sắt đã trèo hết cái dốc đê và phăng phăng xuống bến để khiêng vào thuyền sang sông. Nguyên lững thững theo xuống. Nghe tiếng gầm gừ, chàng quay lại giật mình kinh ngạc: Con chó trắng bông dương cặp mắt thao láo dữ tợn nhìn chàng đi qua. Chàng nhớ lần trước chàng cũng thấy con chó bông trắng như hệt thế nằm bên khóm chuối kia gần đàn gà con đang bới đống rác bẩn tìm sâu. Chàng chau mày tự nhủ thầm: “Hình như ta đã để ở nơi này một kỷ niệm trong giây phút.”

a0678cc7-3c50-4896-8bb8-1fb693002648

Ý nghĩ ấy làm cho chàng bật cười. Nào phải bây giờ chàng mới có cái cảm tưởng, cái cảm giác như thế về dĩ vãng. Nhiều khi lần đầu bước chân vào một phòng khách lạ chàng chẳng thấy bàn ghế, đồ đạc bầy ở đó có nhiều quen thuộc, thân mật với chàng là gì?

– Mời ông xuống đò cho thuyền sang ngang. Chúng tôi ngồi chờ tê cả chân.

Ðương tò mò ngắm những xác vờ rải trắng trên làn cát ướt, nghe lời thúc giục, Nguyên quay lại. Trong chiếc thuyền nan, ngồi bên cái xe kéo, hai người đàn bà và một người đàn ông khoác áo tơi lá, gió thổi kêu lạt sạt. Và đứng ở đằng lái, lả lơi vịn vào con sào, một thiếu nữ óng ả, thon thon, tấm áo nâu đổi vai, hai vạt trước buộc gọn gàng ra phía sau lưng.

Nguyên bước lên thuyền trân trân nhìn cô lái, khiến cô bẽn lẽn cuối gằm mặt xuống, cắm sào xoay mũi, “Lạ! người này nữa! Ta cũng đã gặp rồi, mà gặp ở đây, ở bến đò này!”

– Cô vẫn chở đò ở đây?

Cô lái cho đó là một câu trêu ghẹo, bỡn cợt, nên lặng ngảnh trông đi, không đáp.

– Tôi nhớ mang máng lần trước tôi gặp cô cũng ở bến đò nầy, nhưng đã lâu lắm, đến hơn mười lăm năm rồi.

Tiếng cười rộ của bọn sang ngang làm cho Nguyên ngơ ngác:

– Mười lăm năm trước mà ông gặp chị Thà thì chị ấy đương chập chững tập đi.

– Ờ nhỉ!

Nguyên ngây người suy nghĩ “Ô! mình lẩn thẩn quá thực. Hồi đó, cô ta mới độ lên hai, lên ba!” Rồi chàng cũng cười theo. Nhưng chàng vẫn ngờ vực: “Chẳng lẽ mình mơ mộng đến thế được?” Một câu nói tiếp của một người đàn bà khiến chàng tỉnh ngộ:

– Mười lăm năm về trước thì họa chăng ông gặp bu chị Thà.

Người ấy quay ra nói chuyện với người ngồi bên:

– Chị Thà, chị ấy giống bu chị ấy như đúc.

Nguyên mỉm cười: “Phải, bu chị ấy. Có thế chứ, ta lầm sao được.” Chàng lấy làm tự phụ về trí nhớ của mình. Rồi chàng lại đăm đăm ngắm nghía cô lái đò: “Xinh xắn thế kia thảo hèn ta nhớ lâu, nếu quả thực người mẹ ngày xưa cũng đẹp như cô con ngày nay.”

Giữa lúc ấy anh sẩm cất tiếng hát. Cái giọng khàn khàn, đùng đục. Nguyên nhận thấy như đã rầu rãi nắng mưa, chẳng khác thanh sắt vứt lay vứt lắt, bị rỉ ăn luỗng từng chỗ. Nhưng cái giọng ấy, cũng vẫn cái giọng lần trước. “Hừ! chẳng lẽ anh sẩm này lại cũng là con anh sẩm ngày xưa.”

Anh mù ngửa mặt như nhìn qua đôi kính râm, đầu lắc lư, tay kéo nhị, há hốc miệng gào:

“Công cha như núi Thái Sơn, sữa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

Người đàn ông chừng một ngày mấy lần qua sông nên thuộc lòng câu sẩm chợ, ngồi đập chân xuống sàn thuyền gõ nhịp, môi mấp máy lẩm bẩm hát theo. Còn hai người đàn bà thì thản nhiên như chỉ có bọn họ trong thuyền, oang oang nói chuyện:

– Sợi nhà bà ngâm được mấy buổi?

– Sợi nhà tôi ngâm được bốn đêm.

– Ờ! khá đấy! Nhà bà tràng vốn nên ngâm được lâu.

Nguyên kinh ngạc. Mấy mẩu chuyện, lần trước chàng đã nghe thấy không thiếu không thừa, không sai một tiếng. “Thì ra dưới trời này mọi vật không bao giờ thay đổi.”

Anh sẩm hát: “Ba năm bú mớm…”

Nguyên ném một xu vào cái thau sắt tây thủng, rồi cúi xuống ngắm bóng mây trắng lướt theo con thuyền êm lặng, trên giòng nước trong xanh.

Bài Lưu Thủy của anh sẩm nhắc Nguyên biết rằng thuyền đã tới bến. Chàng mỉm cười vơ vẩn, lấy làm lạ rằng mình đã lắng tai nghe hết bài hát. Mọi lần ở các bến phà, hễ anh sẩm cất tiếng, là Nguyên vội đãi anh một, hai xu để xin anh ngồi im cho. Nhưng lần này, bài ca tầm thường đã gợi trong lòng chàng một mối cảm hoài man mác, và đưa chàng trở lại với thời xưa. Vì thế chàng đã im lặng để những câu hát vô vị chạy lướt qua trí nhớ như bóng mây lướt trên mặt nước im trong.

Nguyên trả cô lái năm xu, rồi toan nhảy lên bờ.

– Ấy, ông để cháu giữ thuyền cho chắc chắn đã, chẳng ngã.

Nguyên đứng dốn lại hỏi:

– Bến đò này ở nơi hiu quạnh lắm nhỉ?

– Vâng, ở đây buồn lắm. Nhưng được cái cách phố phủ có sáu, bẩy cây số.

Lúc ấy có một người đứng trên đường gọi:

– Thà ơi, mày đi hộ tao, để tao chở thuyền cho. Tiền đây này!

Người đàn ông quẩy gánh củ cải nặng, bước xuống nước, bảo Nguyên:

– Bu chị Thà đấy. Có phải người thầy gặp lần trước không?

Nguyên ngửng đầu lên nhìn: “Ừ, bu con giống nhau thực!”

Cô lái đò nghe nói, mủm mỉm cười, gọi mẹ:

– Bu ơi, tiền đò đây này, bu giữ lấy. Ông cho năm xu đấy.

Người đàn bà quần áo lôi thôi nhem nhuốc chạy vội lại:

– Cám ơn thầy.

Bác gánh củ cải bảo bà ta:

– Này bà, bà có nhận được ông nầy không?

Nguyên cười, cho câu hỏi ấy vô lý hết sức. Nhưng chàng kinh ngạc xiết bao, khi thấy người đàn bà đăm đăm nhìn mình rồi vui vẻ chào:

– Ồ chào thầy! Trông thầy vẫn thế nhỉ. Không già đi mấy.

Nguyên còn ngơ ngác cố nhớ lại thì người đàn bà đã nói tiếp:

– Ngày ấy thầy mặc áo tơi dạ, chứ không phải áo sơn này. Với lại cái “bao-ly” của thầy có quai mà to hơn nhiều, tôi xách lên bờ nặng sái cả cánh tay. Mà thầy vui tính lắm, nói đùa luôn mồm.

Nguyên đáp:

– Bây giờ già rồi, nên mất cả vui tính.

Thế rồi Nguyên lên xe. Cái xe gỗ lạch cạch lắc lư, nhảy trên con đường gồ ghề, lồi lõm, không mấy khi được hân hạnh có chiếc ô-tô qua lại. Nhưng Nguyên không thấy khó chịu như lúc ở quãng đường bên kia sông. Còn văng vẳng bên tai câu nói của người đàn bà chở đò: “Thầy mặc cái áo tơi dạ… cái bao-ly của thầy có quai.” Và chàng nghĩ thầm: “Sau mười lăm, mười sáu năm, người ấy còn nhớ mình mặc áo tơi dạ và cái va-li của mình có quai! Người ấy lại nhớ cả mình vui tính nữa.”

Chàng tưởng tượng – tưởng tượng chứ không phải nhớ vì chàng không còn nhớ – chàng tưởng tượng ngay ra một cảnh gặp gỡ ở bến đò, cuộc gặp gỡ giữa cô lái xinh tươi với ông khách có duyên qua bến và như nghe thấy tiếng cười ròn tan trong luồng gió lạnh, như nhìn thấy cái liếc mắt lẳng lơ đưa theo dịp chèo đập nước.

Rồi kẻ đi người ở. Tình vẫn man mác phảng phất như chút hương nhạt trong hai tâm hồn có lẽ không bao giờ gặp nhau.

“Cái áo tơi dạ của thầy… cái bao-ly có quai của thầy…”

Cùng với cảnh chuyến đò gặp gỡ, một cảnh khác hiện ra trong tưởng tượng. Cảnh chờ đợi, nhớ mong. Nguyên như được ngắm cô lái, một đêm trăng ngồi tựa gốc cây gạo nhìn xuống dòng nước mà gửi hồn ruổi theo người khách lạ. Qua khóm lau thưa, lấp ló ngọn lửa con thuyền đánh cá. Xa xa, tiếng chó sủa trong lũy tre âm u.

Rồi hình ảnh người qua đò một ngày một phai cho đến khi mười lăm năm sau, một hôm người ấy trở lại…

Trên đường đất gồ ghề, lồi lõm, chiếc xe sắt hục hặc nhảy chồm như con ngựa bất kham… Nhưng Nguyên vẫn yên lặng bình tĩnh theo giấc mộng liên miên…

Khái Hưng

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

(Trở Về. Truyện ngắn Thạch Lam đã được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 18, in ngày chủ nhật 26/07/1936 tại Hà Nội)

Mùa hè năm nay, Tâm và vợ chàng về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê. Khi người bạn mời thì Tâm nhận lời ngay, vì chàng tính được chỗ nghỉ mát suốt một tháng hè không phải mất tiền, vả lại tiện hơn nữa, chàng có dịp về thăm nhà cũng ở gần đó.

Hôm ấy trời nắng mà có gió. Buổi sáng, ăn điểm tâm xong, hai vợ chồng Tâm bắc ghế ngồi ngoài hiên hưởng gió mát. Người bạn Tâm vì có việc phải ra tỉnh từ sớm. Tâm sực nhớ đến việc về thăm nhà, mà từ khi về nghỉ đến giờ, chàng cứ để lần lữa mãi. Chàng nói với vợ:

– Hôm nay thế nào tôi cũng phải về thăm nhà mới được.

Vợ đáp:

– Thế còn tôi, tôi làm gì cho hết ngày hôm nay? Ngồi đây mãi thì chán chết.

– Độ năm giờ chiều tôi đã về đây rồi.

Vợ Tâm nũng nịu:

– Thế thành ra suốt một ngày tôi ở đây một mình à? Cậu ích kỷ lắm, chỉ biết nghỉ đến công việc của cậu, mà không nghĩ đến tôi cả.

Tâm ngẫm nghĩ. Muốn chiều vợ chàng bàn:

– Hay là thế này thì tiện nhất. Mợ cùng đi với tôi. Đến ga, chúng ta rẽ vào cao lâu ăn cơm sáng. Rồi mợ đợi tôi ở đấy, tôi về thăm nhà độ một giờ, rồi tôi lại ra ngay.

Vợ chàng bằng lòng. Hai người đánh xe ô tô nhà đi đến nhà ga xe hỏa cách đấy độ một chục cây số. Đến nơi, hai người dạo chơi phố, rồi vào hàng cơm nghỉ.

Tâm bảo:

– Bây giờ mợ đợi tôi ở đây, tôi về thăm bà cụ.

– Phải đấy, nhưng đừng có ở lâu nhé. Cậu chớ quên rằng tôi đợi cậu ở đây đấy.

Tâm mặc áo đi ra, để vợ ngồi trong căn phòng mát mẻ ở hàng cơm. Chàng đi theo một con đường đất đỏ, hai bên toàn cây dâm bụt lá xanh thẳm.

Có đến năm, sáu năm nay, tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế riễu mình, khi còn nhỏ, đã có cái đời ở thôn quê là giản dị, và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bạch dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười.

Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải vượt qua để có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết! Có khi chàng nghĩ giận bà mẹ, vì bà mà chàng phải giấu diếm như thế.

thumbnail

Tuy vậy, khi đến gần đầu làng, Tâm trong lòng cũng thấy cảm động. Hai bên cánh đồng lúa xanh gió đưa như nổi sóng. Trên đường giải đá, mặt đất khô rắn lại và nứt nẻ nhiều chỗ. Tâm nhớ lại cái đất ấy đã làm đau đớn bàn chân non nớt của chàng khi còn nhỏ ngày ngày cắp sách đi học.

Một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai: Tâm ngửng đầu lên nhìn, chàng vừa đi vừa bước vào dưới vòm lá tre xanh trong ngõ. Mấy đứa trẻ nhà quê trần truồng và đen sạm đương chơi khăng ở vệ đường. Khi thấy chàng đi qua, chúng đưa những cặp mắt bẩn thỉu nhấp nháy nhìn, và chùi tay giây bùn vào bắp chân. Nghĩ đến thuở nhỏ, chàng cũng chỉ là một đứa bẩn thỉu như những đứa trẻ này, Tâm tự phụ vì mình bây giờ đã vượt hẳn được cái bực nghèo hèn ấy.

Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân đồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiến gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.

Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:

– Con đã về đấy ư?

– Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? – Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được, vì Tâm thấy cái lãnh đạm của mình.

– Bà ở đây một mình thôi à?

Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:

– Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.

– Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng. Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.

Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:

– Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. – Bà cụ yên lặng một lát. – Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.

Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.

Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:

– Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?

Tâm nhìn ra ngoài đáp:

– Như thường rồi. – Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:

– Ở làng có việc gì lạ không?

Bà cụ trả lời:

– Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm.

Có tiếng người đi ở ngoài vườn. Bà cụ ngừng lại: Có lẽ nó về đấy. Rồi bà cụ cất tiếng gọi:

– Trinh đấy phải không con? Vào đây, có cậu Tâm vừa về chơi.

Một thiếu nữ lách cửa liếp bước vào. Tâm trông ra thấy một cô gái quê ăn mặc giản dị, nhưng sạch sẽ. Đôi mắt Tâm gặp đôi mắt cô ta, đen láy, mở to nhìn chàng:

– Cậu Tâm đấy, con không nhớ ư?

Cô Trinh mỉm cười:

– Thưa, có ạ, ai chứ cậu Tâm thì quên thế nào được.

Hình như lỡ lời, cô thiếu nữ cúi mặt, hơi e lệ. Cái cử chỉ ấy, và lời nói đã không làm cho Tâm cảm động, lại làm cho chàng hơi ghét. Cô gái quê mùa tưởng chàng để ý đến chắc? Vì vậy, Tâm cất tiếng hỏi hơi sẵng:

– Thế nào, cô Trinh còn đợi gì mà không lấy chồng đi cho tôi ăn mừng.

Thấy thiếu nữ không trả lời, Tâm để ý nhìn. Chàng thấy cô ta không thay đổi, tuy có nhớn lên mà vẫn là cái cô bé chơi đùa với chàng thuở còn nhỏ. Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không thay đổi mấy, và tính tình vẫn giữ được y nguyên. Nhưng chàng, thì chàng thay đổi khác hẳn rồi. Những kỷ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa chàng và cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cái đời tối tăm nghèo khổ.

Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả.

Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.

Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy. Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:

– Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.

– Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm.

Tâm lại an ủi:

– Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.

Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:

– Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho.

Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.

Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra:

– Thôi, bà ở lại. Chào cô Trinh nhé. Bảo tôi có nhời hỏi thăm tất cả họ hàng.

Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận.

Khi Tâm bước vào hàng cơm, vợ chàng vui mừng lộ ra nét mặt, vì không ngờ chàng chóng thế. Trời hãy còn sớm. Hai vợ chồng rủ nhau đi ngắm cảnh, đợi đến chiều mát sẽ đi ô-tô về hứng gió.

Hai người đi quanh quẩn trong phố, nhìn những cửa hàng nước tiều tụy của ta và những hiệu lớn của người Khách. Mặt trời xế ngang chiếu ánh nắng lóe vào mắt, và giải vàng lên trên những mái nhà tranh. Chợ đã vãn: những người đàn bà gồng gánh sắp ra về, trên mặt đất đầy những rác bẩn, những vỏ dưa, những lá gói: một cái mùi âm ấm bốc lên, cái mùi đặc biệt, hình như lẫn mùi đất, mùi ẩm, và mùi rác đốt. Tâm nhớ lại rõ rệt những ngày trẻ.

Bỗng nhiên, Tâm giật lùi lại: Một bà cụ già khom lưng dựa bên một cô con gái, đi ra phía ga. Tâm nhận ra bà mẹ. Có lẽ bà cụ muốn được trông thấy con một lần nữa. Chắc bà tưởng Tâm đi xe hỏa. Chàng lộ vẻ khó chịu. Bà cụ còn ra đây làm gì? Tâm sợ lúc bà cụ lại khóc lóc, để cố giữ chàng lại. Hay nắm lấy áo chàng mà kể lể giữa chốn đông người. Chàng tưởng nghe thấy những câu bình phẩm to nhỏ, và trông thấy những cái mỉm cười chế riễu của mọi người. Vợ chàng sẽ nói thế nào?

– Thôi, chúng ta về ngay đi.

Tâm nói như người sốt ruột, giật cánh tay vợ rảo bước mau.

Đợi bà cụ đi khuất đầu phố, Tâm và vợ trở lại nhà hàng trả tiền, rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm ru bắt đầu lướt trên đất.

Khi đến chỗ quặt quá ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô con gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây, Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn mình.

Tâm không ngoảnh lại, chàng nghĩ đến bà mẹ, đến cô Trinh vẫn chơi đùa với chàng thuở nhỏ. Song những hình ảnh ấy như xa xăm lắm, và Tâm vẫn thấy dửng dưng không bận tâm trí. Giữa những kỷ niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản: xe ô tô, vợ chàng, cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ.

Phong cảnh đồng ruộng hai bên đường vùn vụt trốn lại sau như càng làm xa cách chàng với cảnh thôn quê cũ.

Thạch Lam

Tặng Phẩm Cho Em. Truyện ngắn Nhật Tuấn


Nhật Tuấn

(Nhà Văn Nhật Tuấn sinh năm 1942, mất ngày 06 tháng 10 năm 2015)

TÁC PHẨM CHÍNH:

-Trang 17 (tập truyện, 1978)
-Con chim biết chọn hạt (tập truyện, 1981)
-Bận rộn (tiểu thuyết, 1985)
-Mô hình và thực thể (tiểu thuyết, 1986)
-Lửa lạnh (tiểu thuyết, 1987)
-Biển bờ (tiểu thuyết, 1987)
-Tín hiệu của con người (tiểu thuyết, 1987)
-Đi về nơi hoang dã (tiểu thuyết, 1988)
-Niềm vui trần thế (tiểu thuyết, 1989)
-Những mảnh tình đã vỡ (tiểu thuyết, 1990)
-Quê nhà Quê người (chung với Nhật Tiến, 1994)
-Tặng phẩm cho em (tập truyện, 1995)
-Một cái chết thong thả (tập truyện, 1995)

***

Tặng Phẩm Cho Em

Truyện ngắn Nhật Tuấn

Người đàn ông ngồi cuối xe khóc lặng lẽ. Không ai nhìn thấy những giọt nước mắt đang làm nhòa cặp kính đen to tướng. Chiếc xe buýt chạy rất chậm. Con đường dọc theo những ngôi nhà nhiều tầng đang xây. Buổi chiều thu muộn trong veo làm rõ những đường gờ đỉnh núi lãng đãng mây trắng. Trên đó là vệt mòn chân thú chạy ngoằn ngoèo qua tầng lá mục. Những cây đại thụ cổ kính. Chú sóc nào đó nhởn nhơ và vô tư trên sợi dây leo đu đưa. Trên đó nữa là…bầu trời.

“Nó mới nói cuối năm hai đứa sẽ làm đám cưới”.

Cô gái nói bâng quơ bên tai người đàn ông mang kính đen. Trong xe, những người ngồi và những người đứng vẫn im lìm. Tiếng máy rù rì chảy dài trên đường. Bắt đầu lên dốc, người lái gạt cần chuyển số và bất ngờ lên tiếng:

“Chiếc xe này lẽ ra sáng nay chở khách về Hà Nội. Hôm trước nó mới xin tôi cho nó đi nhờ. Nhà chồng nó ở phố Bà Triệu phải không?”.

Không ai trả lời. Xe vẫn chạy rất chậm và lên cao dần. Chiều thu muộn trải ra mênh mông trên dòng sông quanh co. Ven bờ, những máy san màu vàng đang gạt đất, lầm lũi như con dế trũi. Xa hơn nữa những cánh tay cần trục đang quay trên những hàng giáo nhọn hoắt.

“Năm ngoái đã có một người ngã từ giàn giáo tầng năm xuống đất, chết ngay…”.

“Tại sao không đeo dây phòng hộ? Tại sao an toàn viên không kiểm tra? Tại sao…”.

Giọng gay gắt của một người ngồi đầu xe chìm vào tiếng động cơ rầm rì. Không ai trả lời ông ta. Mắt mọi người dường như đang nhìn xuống.

Người đàn ông dừng khóc, đưa khăn tay lau kính. Cô gái ngồi bên nói rất khẽ:

“Ông ấy mới trên tổng công đoàn xuống. Ông ấy đã hỏi rất nhiều câu “tại sao” mà không ai trả lời được”.

“Rồi sẽ phải trả lời. Tại tôi, tại các anh hay tại nó?”.

“Ồ…không đâu. Đã có nhiều chuyện xảy ra không quy được tại ai cả”.

Cô gái nghĩ một điều gì đó, chợt trừng mắt:

“Nhưng rút cuộc, vẫn do một người nào đó chứ”.

“Tôi không biết. Tôi không được biết chuyện đó”.

“Nó hiền như đất ấy. Nó sợ tất cả mọi người. Bố chết, mẹ đi lấy chồng từ khi nó còn bé. Nó ở thuê cho người ta rồi lớn lên, đi công trường”.

Ngưòi đàn ông quay đi và lại khóc trong cặp kính. Xe buýt đi vào thung lũng, không còn nhà cao tầng, không còn cần trục, không còn giàn giáo. Phía trước, những nếp nhà sàn nằm nép mình trong lùm cây xanh tươi. Đường máng nước mảnh khảnh đổ xuống từ sườn núi. Chiếc cối cổ xưa nặng nhọc kéo cần và tự rơi buồn bã. Một con trâu đen bỗng nhô ra từ bụi rậm. Nó nhìn ngây ngô, chớp chớp đôi mắt ướt nhoèn và nhảy quàng lên đồi. Tiếng lục lạc trên cổ lóc cóc điểm vào không gian ngưng đọng.

Sau đó, người đàn ông ngồi cuối xe không còn nhìn thấy gì nữa, ngọai trừ cặp mắt kính đen nhòa nước.

Cô gái ngồi bên nhìn thấy những gương mặt căng thẳng. Tất cả mọi người đều đang nghĩ. Trong giây phút này, không ai là không nghĩ một điều gì đó.

Nguời có tuổi đứng giữa xe nghĩ về trách nhiệm của mình. “Tôi đã đôn đốc thực hiện mọi quy tắc. Tất nhiên, là giám đốc tôi không thể đi lay từng cái cột giáo xem có chắc chắn hay là không”.

Chàng kỹ sư ngồi đầu xe nghĩ về cái “ngày hôm ấy. Thật là may, ngay từ đầu giờ, mình đã đến giao việc tỉ mỉ, đầy đủ cho bà đội trưởng”.

Bà đội trưởng đang âm thầm ngồi ở gần cửa xe. Hai hôm nay, bà luôn luôn cảm thấy bị nhìn bằng những con mắt kết tội.

“Các đồng chí kết tội tôi sao được? Tôi không thể chờ phòng vật tư cấp cho tôi gỗ tốt hơn để làn giàn giáo. Ai cho phép tôi chờ? Tiến độ là cái cao hơn hết thảy. Thành tích của chúng tôi ở đó. Trong hàng trăm cây gỗ, làm sao biết đuợc cây nào đã mục ruỗng ở bên trong? Không ai có thể biết được. Năm nay, đội tôi mất danh hiệu đội lao động xã hội chủ nghĩa là cái chắc. Nhưng cái đó đâu phải tại tôi…”.

Vậy ai là người phải chịu trách nhiệm về nó trong tất cả những gương mặt căng thẳng kia? Ông giám đốc,anh kỹ sư hay bà đội trưởng? Không, không ai cả. Thế còn ông thư ký công đoàn đang trầm tư và ông trưởng phòng tổ chức đang nhìn xuống cuốn sổ ghi chép kia? Cũng không phải nốt. Thôi thì …tại trời.

Nhưng ông trời cũng đã chết từ lâu rồi, chết trong từng mỗi nguời. Trong chuyến xe này, không có ai còn tin cái điều nhảm nhí nói rằng có một ông trời ở trên cao và ở cả trong từng mỗi con nguời. Đó là một bày đặt nhảm nhí, mê tín, dị đoan. Tít trên cao kia có con tàu vũ trụ và sâu mãi trong ta chỉ có ta mà thôi. Và những “cái ta” ấy đều đã sắp sẵn một cung cách tự bào chữa một khi bị hỏi tới trách nhiệm về nó.

Riêng người lái xe, từ nãy vẫn chăm chú nhìn con đường, nghĩ về những chiếc ổ gà sẽ phải tránh, chợt quay lại hỏi to:

“Cái thằng chồng sắp cưới của nó có lên kịp không hả các ông?”.

“Có biết đâu mà lên”.

“Tại sao ông không điện cho người ta?”.

“Nó chưa xin giấy chứng nhận để làm giá thú. Trong lý lịch, nó cũng chưa khai tình trạng hôn nhân. Vậy hà cớ gì phải đánh điện?”.

Rồi ông trưởng phòng tổ chức nói thật to cho mọi người đều nghe thấy:

“Trong mục “Khi cần báo tin cho ai” nó cũng không khai ai cả”.

Người lái xe lại hỏi tiếp:

“Vậy ai sẽ lĩnh tiền tuất? Tài sản của nó sẽ thuộc về ai?”.

Bà tài vụ ngồi ghế trên cùng trả lời rành rọt:

“Không ai được lĩnh tiền tuất cả. Tài sản của nó sẽ bán hóa giá nhập công quỹ. Ngay sau cái lúc đó, chúng tôi đã cử người phối hợp với công đoàn làm bản kiểm kê. Một cái hòm gỗ, hai bộ quần áo, một chăn bông vỏ hoa, một cái gương con và một cái chậu thau”.

Bà tài vụ quay xuống nhìn ông giám đốc và yên tâm về câu trả lời của mình, bà trở lại vẻ mặt rầu rĩ cần thiết.

Trong buổi chiều thu êm đềm chiếc xe buýt chạy rất chậm. Nó đã đi hết đọan đường lớn trải nhựa chạy qua công trường. Nó đã leo đường dốc sang bên kia dãy núi. Nó đang đi vào thung sâu để đến một nơi mà mọi người đều nóng lòng muốn đến: nghĩa trang.

Lẽ ra sáng nay nó chở cô ấy về phố Bà Triệu gặp chồng sắp cưới. Bây giờ nó đang chạy rất chậm theo sau chiếc xe tải chở cô ấy. Đó là đọan đường đi xe cuối cùng của một cô gái công trường. Nhưng lần này, cô không mang theo chiếc hòm gỗ tùy thân chứa đựng tất cả gia tài góp nhóp được sau bao chuyến đi qua các công trường.

Trong chuyến di chuyển này, cô chỉ mang theo chiếc hòm gỗ dài, chứa đựng hình hài của chính cô.

***

Cô nằm trong đó, chiếc quan tài màu đỏ xung quanh đặt những vòng hoa rừng sặc sỡ. Hoa bằng lăng tím ngát, hoa mò o đỏ tươi, hoa tóc tiên vàng dịu. Không tìm được đâu ra bông hoa màu trắng để biểu thị sự trinh nguyên của cô…

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình – đó là lỗi tự thiên nhiên.

Chiếc xe tải đi rất chậm rất chậm cũng không sao tránh hết được những lồi lõm mặt đường. Mỗi lần ổ gà, chiếc quan tài giật nảy, gõ vào thùng xe, gõ vào đầu anh lái, gõ vào chiều thu mênh mông. Con đường, con đường – xin đừng gồ ghề cho cô được nằm yên để đi cho hết đọan cuối cùng. Phađin… Cam Đuờng… Trái Hút…

Những chặng đường cầm mòn cán cuốc, người con gái công trường không bao giờ còn vần chiếc hòm gỗ lên những chuyến xe di chuyển, không bao giờ còn thức dậy trong tiếng kẻng thúc vào giấc ngủ chập chờn, không bao giờ còn bịt khăn vuông kín mặt chống che nắng gió. Màu da cô, thân xác cô sắp được ấp ủ trong lòng đất kín.

Chiếc xe tải đi rất chậm, rất chậm. Đã nhìn thấy màu đất đỏ bãi san sườn núi dùng làm nghĩa địa.

”Ngát ơi..Ngát ơi…”.

Tiếng kêu than níu kéo thảng thốt chấn động trời chiều. Một cô gái ngồi trên xe tải chợt ôm cứng lấy chiếc quan tài đỏ. Đó là người duy nhất phá bỏ tập tục, chít vành khăn đại tang để trở bạn. Suốt dọc đường, cô ngồi bên thùng xe như hóa đá. Đôi mắt cạn khô và vô tri. Dường như cô không còn nhìn cái gì nữa. Cô chỉ thấy ở bên trong cô “cái Ngát”. Nó đấy. Miệng cười mơ hồ, ánh mắt xa xăm, thân quen lắm và cũng xa lạ nhiều.

“Ngát ơi, có đau lắm không?”.

“Không đau đâu, chỉ thấy tối sầm lại rồi có còn biết gì nữa đâu…”.

“Tại cái xô đấy. Lúc giàn gíáo đổ xuống, cái xô úp lên đầu Ngát, hai trăm viên gạch đè lên người Ngát. Rồi thì… thôi, đừng nhắc lại chuyện ấy nữa. Không có cái chuyện ấy đâu. Ngát không chui xuống giàn giáo để gánh nước đâu, cái xô vẫn treo ở đầu hồi đấy. Ngát về Hà Nội với anh Uyên rồi. Vài ba hôm nữa Ngát lại lên, đúng không?”.

“Không đúng đâu…”.

“Đúng đấy, hôm nào Ngát lên, mình phải đi dỡ sắn đấy. Tháng này mỗi người phải trừ một cân gạo tiết kiệm. Cả năm phải cắt đi một tháng đấy. Mình chẳng sợ Ngát nhỉ. Mình đã thái và phơi đuợc ngót một yến sắn khô rồi. Chẳng đói đuợc đâu mà lo. Mình lại còn vạt khoai lang đằng sau nhà kho nữa à… Ngát này, con gà mái tơ sáng nay nó đẻ đấy. Trứng to lắm. Tớ đã cất vào thùng gạo rồi. Chả mấy chốc mà đủ một chục. Dành cả cho Ngát bồi dưỡng anh Uyên đấy. Phấn khởi nhé. Dậy đi…”.

“Không dậy được đâu…”.

“Tháng hai này hai đứa có bảy công tăng ca đấy. Dành cả tiền cho Ngát để mua lụa cung cấp nhé. Về Hà Nội đi chơi với người yêu mà cứ diện mãi quần ta tăng cũ chẳng sợ người ta cười cho. Còn tiền bán đỗ xanh thì để cuối năm Ngát làm đám cưới nhé. Lo cho cô đến vậy, mai kia cô mải chồng quên tôi, mất chị mất em thì đừng có trách. Dậy đi, anh Uyên anh ấy ở Hà Nội về kìa…”.

“ ….”

“Giời ơi… Ngát đâu rồi. Ngát đi đâu thế này. Đêm nay Ngát ngủ đâu. Ngày mai, ngày kia… Ối Ngát ơi là Ngát ơi…”.

Cô gái òa khóc và kể lể. Chiếc quan tài giật nảy trong vòng tay cô khi chiếc xe tải dừng sững lại. Xe buýt cũng vừa tới nơi. Nghĩa trang là một vạt đất do xe ủi san bằng ven sườn núi. Màu đất đỏ, ráng chiều đỏ. Những hàng cây trang nghiêm. Những con bướm trắng bay chập chờn. Tất cả mọi người đều đã xuống xe và vây quanh chiếc áo quan đang được buộc dây.

Ông giám đốc ra lệnh khẽ:

“Nhanh tay lên…”.

Đám ma đi trong sương chiều, tiếng khóc và những bước chân bấm trên mặt đất trơn lầy. Huyệt mộ đã được đào sẵn. Những búi cỏ giập nát đã chớm héo vàng. Người đàn ông mang kính đen đứng lẫn vào đám người xung quanh huyệt. Hai sợi dây ni lông trắng chầm chậm đưa xuống chiếc quan tài đỏ. Từ đâu đó, anh cán bộ nhân sự bước ra cầm mảnh giấy đọc những lời điếu viết sẵn. Trong im lặng nặng trĩu, giọng anh khê nặc và trầm bổng.

“Cô Phạm Thị Ngát sinh năm 1960, bố chết, từ nhỏ ở với mẹ, năm mười lăm tuổi theo tiếng gọi của đoàn và của đảng, cô xung phong đi làm công nhân công trường…”.

Người đàn ông khóc nức lên sau cặp kính. Cổ ông tắc nghẹn trong lúc chính ông muốn ông phải nói: “Không đúng, không đúng đâu. Bố “nó” không chết. Bố “nó” còn sống đấy. Tôi đã im lặng từ hai mươi năm nay và cho tới bây giờ tôi vẫn còn im lặng”. Ông ta chới với níu cong xuống một cành cây gần đó.

Người con gái nằm xuống không được nói đúng về mình, đó là lỗi tự con người.

“Hãy biến đau thương thành hành động. Hãy ra sức thi đua hoàn thành kế họach của tổng công ty giao cho. Phút mặc niệm bắt đầu…”.

Cô ấy sắp đi hẳn rồi. Đi về đâu em ơi? Về những nếp nhà sàn có chiếc cối nước rơi buồn bã. Về ngôi nhà đang xây với cánh tay cần trục quay tròn trên hàng giáo nhọn hoắt. Đi về đâu em ơi? Về đỉnh núi có chú sóc nhỏ vô tư hay về bầu trời mây trắng lãng đãng. Không ai biết, không ai có thể biết được. Cái điều huyền bí ấy là của riêng em, là tặng phẩm duy nhất em mang theo được cho một đời nỗ lực.

Những hòn đất đỏ đã rơi xuống rồi. Ngôi mộ đầy lên và sau cùng người ta đặt lên đó một bát cơm và một quả trứng bửa đôi. Gió đưa khói hương bốc lên cao và tan đi mất.

Một cánh bướm chập chọang trong nhá nhem tối. Hai chiếc ô tô nổ máy trở về công trường.

Người đàn ông mang kính đen ngồi bên ngôi mộ mới. Ông còn ngồi lại làm gì? Người con gái do chính ông sinh ra và ông đã chối từ cho tới tận lúc nó chết chỉ vì sự bình yên cho chức quyền của riêng ông, đâu còn nói được những lời tha thứ nữa…

Và ông cầu xin ai?

Nhật Tuấn

(Nguồn: Khai Phóng)

Gió Bấc Lạnh Lùng. Tùy bút của Tường Bách


Tường Bách

(Tùy bút của nhà văn Tường Bách đã được đăng lần đầu trên báo Ngày Nay số 1, in tại Hà Nội ngày 30/01/1935.)

Tiểu sử Cụ Nguyễn Tường Bách

Tốt nghiệp bác sĩ năm 1946, cùng thời với Bác Sĩ Ninh (Viện Việt Học), Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàng (cùng lãnh đại Đại Việt Quốc Dân Đảng với GS Nguyễn Ngọc Huy). Trước năm 1946, Pháp không công nhận bằng bác sĩ cho người Việt mà chỉ gọi họ là y sĩ.

Là con út tư trong một gia đình bẩy anh chị em: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), và Nguyễn Tường Bách.

Tác phẩm đã xuất bản:

Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn, truyện dài
Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua, hồi ký
40 Năm Sống Ở Trung Quốc, hồi ký

Ngày Nay

Mùa đông đã đem lại cho ta cái cảnh gió bấc mưa phùn trong những ngày âm-u thảm đạm. Những cánh bàng xơ xác, những chiếc lá rụng rắc đỏ trên đường phố, với những buổi sáng sương mù xuống bao bọc cả thành phố Hà Nội trên các nóc nhà đỏ và các rặng cây còn xanh tươi, gieo vào lòng người một nỗi buồn thoáng qua nhưng sâu xa, thắm thía.

Nhưng mùa đông cũng đem lại cái thi vị và những cái thú vui riêng, mà chỉ trong ngày lạnh lẽo, người ta mới hiểu rõ hết được. Những làn gió thoáng trên các vườn, phảng phất đưa đến mùi hương thanh đạm của bao thứ hoa vừa nở, của những hoa cẩm chướng hay vạn thọ nhiều sắc rực rỡ, và nhất là của những hoa cúc mềm mại như lụa hay những cành đào vừa hé nụ cười điểm màu tươi lộng lẫy trên nền trời u-ám. Mà cảnh đông lạnh lẽo thật đáng nên thơ cho những người muốn tìm lấy cảm giác hay.

Một buổi sáng, trong bộ quần áo ấm, điếu thuốc lá ngậm trên môi, hai tay đút túi, ta dạo quanh bờ hồ Tây để ngắm cảnh sương mù nhẹ lan trên mặt nước bao la, che phủ cả những xóm xa xa thấp thoáng ở chân trời. Lúc đó, những cơn gió lạnh vụt thổi xào xạc qua cành lá gợi bao cảm giác mơ màng trong tâm hồn thơ của nhà thi sĩ nếu ta là thi sĩ.

Những thú vị của mùa đông lại càng rõ rệt hơn đối với hạng người phong lưu, nhàn nhã, không phải lo âu về vật chất. Trong khi ngoài đường gió bấc đưa những giọt mưa bay đập tí tách vào cửa kính, người ta thích quây quần trong những gian phòng ấm áp bên cái lò sưởi than hồng vui cháy, bên cạnh một bàn tổ tôm hay bên cạnh cái bàn đèn đầy mới là tuyệt nhất. Những lúc ấy người ta mới cảm thấy rõ rệt cái hạnh phúc không gì bằng của gia đình.

Mùa đông tới, người ta vẫn thản nhiên sung sướng vui chơi. Vài chiếc lá bàng rụng đủ là một dịp cho trái gái Hà-thành phối phang quần áo rét. Như thế cũng hay, vì ta được ngắm những cô tân thời yểu điệu trong bộ quần áo mới kiểu Lemur bằng len mùi dịu với cái khăn san phất phơ theo chiều gió cùng mấy sợi tóc vấn vương.

0011-2

Năm nay, nhiều khi ta thấy được những ngày nắng ấm, khô ráo thỉnh thoảng nhẹ bay qua một cơn gió hây hẩy mát. Đây là những tháng ngày thích nhất trong cả năm, vì người ta thấy trong lòng hăng hái, hăng hái làm việc hay ăn chơi. Nhất là ăn chơi.

Sau khi dạo chơi quanh các phố để ngắm các cô tiểu thư lộng lẫy trong cảnh rực rỡ, huy hoàng, hay đi mấy bài trong các dancing tưng bừng đàn hát, tiết trời êm ái, hơi lành lạnh như dục người quây quần bên cái bàn đèn ấm cúng hay mua một “đêm- ái -tình” tuỳ ý. Mùa đông đối với hạng thượng lưu thực là vui vẻ nhất, vì đã đem lại cho họ bao nhiêu thú vui mua được. Nhưng hơn thế nữa, mùa đông là mùa của ái tình, vì theo câu thơ của Bán than:

“Mùa đông gió bấc lạnh lùng
Gợi tình lắm cậu, dục tình lắm cô…”

Nên trong ba tháng mùa đông có biết bao nhiêu là đám cưới! Trong ba tháng ấy, biết bao là hạnh phúc đã xây dựng lên. Những xác pháo đỏ nằm rải rác trên thềm, những con lợn quay vàng với những chiếc ô tô hòm kết hoa trắng, gợi cho ta mơ tưởng tới cái diễm phúc đầy thi vị của đôi vợ chồng mới cưới giữa lúc gió đập vi vút vào cửa sổ và sương mù xuống bao tỏa những khóm cây xanh. Nhưng nếu những bông cúc mềm mại và những dò thủy tình xinh xắn phảng phất cái hương vị của ngày Tết tưng bừng hớn hở để mừng cuộc ái ân đằm thắm, thì cũng nhắc cho ta rằng sắp tới mùa xuân nặng nề ướt át.

*

Người phong lưu trông các mùa qua bằng con mắt thân- nhiên, không những thế, họ coi như là một sự thay đổi cần phải có, vì đối với họ, trời cứ nóng hay lạnh mãi, thì còn thú vị gì nữa? Vì họ chỉ biết cái lạnh thoáng qua trên những toà nhà cao, tường dây cửa kín, chứ chưa từng biết cái lạnh căm căm buốt đến tận xương trong những gian nhà tranh lụp sụp, trống hở tứ tung và chốc chốc lại rung động theo luồng gió. Mà các cô thiếu nữ xinh tươi nơi thành thị, xin lỗi các cô – có rõ đâu nỗi khổ của những cô gái quê cao váy, mờ sáng đã phải đi tát nước hay cấy lúa, dưới những cơn gió bấc thổi vù vù trên ruộng đầy nước.

Phải đứng trên cánh đồng bát ngát, nghe tiếng gió đập xào xạc vào nhưng bụi cây khô, mới hiểu rõ nỗi buồn vô cùng của những ngày đông u ám.

*

Ngay ở Hà Nội, sống trong cảnh đầy đủ, lộng lẫy, xa hoa, ta không bao giờ để ý đến một số đông người co ro với mảnh áo rách, ngày, đêm lang thang vất vưởng trong cảnh rực rỡ, nguy nga của thành phố để ngắm nhìn cái sung sướng, vui vẻ của người khác. Những buổi tối lạnh lẽo, mưa bay, ta thấy họ tránh nấp dưới mái hiên những toà nhà đồ sộ và thỉnh thoảng ghé mắt nhìn vào trong gian phòng ấm cúng, đầy những hạnh phúc gia đình mà họ không bao giờ được hưởng. Rồi khi đường phố đã vắng, họ đi tìm chỗ ngủ với một manh chiếu trên các bực cửa, dưới gầm cầu hay trong cổng những đền, chùa. Vào khoảng 9-10 giờ trở đi, ở nhiều phố – phố hàng Than chẳng hạn – người ta thấy những bọn ăn mày, những đứa trẻ mồ côi, những người nghèo khổ kiếm công ăn việc làm, mà vì nhiều lẽ không muốn vào Dạ Lữ hay Tế Bần Viện – co quắp nằm thành những đống thịt lù lù dưới ánh đèn điện lạnh lẽo.

Mùa đông đến đem lại cho họ những nỗi lo sợ, buồn rầu – không phải nỗi lo sợ, buồn rầu nên thơ của nhà thi sĩ, mà là nỗi lo sợ thiết thực, lo sợ những hạt mưa phùn ném lạnh qua làn áo mỏng và lo sợ những cơn lạnh buốt đến tận xương.

Và đối với họ, mùa đông hẳn là không có thú vị.

Tường Bách

Chuyện Phố Tôi. Nhật Tiến


Nhật Tiến

Sau khi duyệt xét kỹ lưỡng lý lịch của tất cả các chủ hộ, Phường uỷ quyết định chọn dì Năm làm tổ phó an ninh. Quyết định này được thông báo đến lão Phú, Tổ trưởng tổ 3, Phường 15, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Lão phát biểu:

– Tôi hoàn toàn nhất trí với “trên” về việc lựa chọn này. Chị Năm xuất thân từ thành phần cơ bản, công tác tích cực, tư tưởng chuyển biến tốt…

Lão nói đến đó thì kịp thời ngừng lại. Đáng lẽ, lão còn thêm  : “ Hiềm vì văn hoá dì Năm còn rất hạn chế”. Nói nôm na là dì Năm mù chữ. Nhưng lão ý thức được ngay sự nguy hiểm nếu phát biểu ra trọn vẹn ý nghĩa ấy. Trong Phường còn thiếu gì kẻ dốt, kể cả đồng chí Sáu Đăng người xuất thân từ chân thợ nề, theo Cộng sản, nằm vùng được hơn hai năm thì bị bắt và đày đi Côn Đảo tới hơn bốn năm mới được giải phóng. Về Sài Gòn, đồng chí Sáu Đăng ra mắt bà con lần đầu ở trường tiểu học, đồng chí đánh vần mãi mới xong bài phát biểu dĩ nhiên là được viết trước. Về văn hoá thì vậy, nhưng so thành tích cách mạng thì cả Phường này chẳng có ai hơn. Ở thời buổi này, cái danh hiệu người về từ Côn Đảo vẫn luôn luôn là cái gì sáng lóa để chẳng có ai dám thắc mắc, nhỏ to điều gì. Dĩ nhiên bên cạnh đồng chí Phường uỷ phải có nhiều phụ tá. Thân cận nhất là Liễu, gái Sài Gòn, gọi ông Sáu Đăng bằng cậu ruột. Những ngày đầu tiên sau 30 tháng 4 năm 1975, Liễu đã có mặt đều đặn trong các buổi sinh hoạt ở trụ sở Thành đoàn Thanh niên đường Duy Tân. Nàng đã theo học ở đó một khoá cấp tốc về chính trị. Rồi được kết nạp đối tượng Đoàn. Đồng chí Văn ở ban Tuyên Huấn đã dặn dò :

– Thời gian xuống sinh hoạt ở Chi đoàn Thanh niên các khóm, Phường là một việc để các đồng chí phấn đấu tiến lên một bước nữa trên con đường cách mạng. Nếu các đồng chí chuyển biến tốt, khắc phục bản thân tốt, hoàn tất công tác tốt thì các đồng chí sẽ được kết nạp Đoàn. Đoàn viên Thanh niên là cánh tay mặt của Đảng, các đồng chí nhớ kỹ như thế để thấy rõ vai trò mũi nhọn xung kích tiền phong của mình…

Liễu nhận nhiệm vụ lệnh về trình diện ngay ông cậu ruột của mình. Nàng mè nheo ngay:

– Có cái tiệm điện lạnh hai tầng lầu ở ngay kế bên chợ đó cậu, chủ nhà bỏ trốn ra nước ngoài, cậu cho chúng cháu làm trụ sở Chi Đoàn Thanh niên nhé.

Nhà cửa hồi đó không thiếu. Ông Sáu Đăng ký ngay một cái giấy cho Liễu tiếp thu căn nhà khang trang đẹp đẽ đó. Hai tuần lễ sau, nơi đó đã biến thành chỗ sinh hoạt nhộn nhịp. Liễu có văn phòng riêng, có đội trực gác, có ban thông tin văn hóa, có ban văn nghệ. Riêng ban văn nghệ được chiếm nguyên cả một tầng lầu để dượt nhạc với kèn, trống om sòm từ sáng đến đêm.

Liễu đã trút bỏ bộ áo dài cổ hữu để thay bằng một loạt áo cánh may bằng soie đen. Hôm gặp Liễu ở đầu phố, nhìn thân hình tròn lẳn của Liễu trong chiếc áo nịt chật cứng, dì Năm la lên:

– Chèn ơi con Liễu, mày đổi bộ này ngó coi ngộ quá ta !

Liễu thẹn đỏ cả mặt nhưng không khỏi bực mình. Nàng cằn nhằn:

– Dì Năm ăn nói gì bô lô, ba la ngoài phố nghe lỗ mãng quá vậy.

Dì Năm cười ngỏn ngoẻn:

– Ờ ! thì mày “ ngộ” tao nói “ngộ” chứ sao . Coi chừng mấy thằng thanh niên sinh hoạt với mày chết giấc hết.

Liễu nghiêm mặt lại :

– Dì nói năng phải giữ lời chứ. Bây giờ cách mạng về rồi, đâu còn có lối sống đồi trụy như xưa .

Thấy con nhỏ bắt đầu giận, dì Năm bỏ qua mé chợ. Nó với dì chẳng có họ hàng gì với nhau. Dì cũng chẳng có họ hàng gì với ai ráo trọi ở khu phố này. Nhưng dì đã sống ở đây mấy chục năm liền, ai dì cũng quen, nhà ai dì cũng biết, ngõ ngách nào trong khu phố này dì cũng thông thuộc. Tất cả bà con đều kêu dì bằng dì. Tiếng là dì vậy thôi, chứ năm nay răng dì cũng đã rụng hết ráo, gần 70 rồi đấy chớ. Được cái dì Năm vẫn mạnh. Đi đứng nhanh nhẩu. Tính tình hồn nhiên cởi mở, một đôi lúc chanh chua, cái chanh chua của một kẻ ỷ vào thế của tuổi già, và mặt khác cũng là ở cái tuổi đang lần hồi biến chuyển tâm lý trở thành con nít. Dì Năm ở thuê một căn phòng xép nhỏ của gia đình chú Lý đạp xích lô. Cái nhà này đông con dữ, vợ Lý sòn sòn năm một, hồi dì mới tới chỉ có hai, nay đã chòm chèn cả chục đứa. Lắm lúc dì cũng vui, nhưng lắm lúc dì muốn phát khùng vì chúng nó. Nhất là càng về sau này, đời sống khó khăn, chỉ nge mấy đứa khóc đòi ăn khoai, ăn mì là cũng đủ héo trời, héo đất.

Nhưng dì Năm ít khi ở nhà. Nghề của dì  là đi lang thang khắp các cửa tiệm tạp hoá, các tư gia để bỏ mối cho một hãng sản xuất hương vòng và nhang. Hồi trước dì còn bán cả vàng mã nữa. Nhưng cách mạnh về rồi, giấy vàng mã không thịnh thành như trước, lại khan hiếm giấy, nên chỉ còn có nhang và hương vòng. Dì gửi cả nhang và hương vòng ở cửa hàng Hợp tác xã nhờ bán giùm. Đồng chí quản lý ở đó dẫy nẩy lên:

– Chết mẹ tôi rồi. Thời buổi cách mạng thế này mà dì đòi khuân hương vòng vào cửa tiệm Hợp tác xã để bán có khác gì muốn đưa cả cơ quan đi học tập cải tạo mút mùa.

Dì Năm tác xác:

– Hương vòng thì có cái gì phản động. Tao làm nghề bỏ mối hương vòng này mấy chục năm nay, đâu có thiệt hại gì tới ai.

Bà quản lý, cũng là dân trong khu phố với nhau cả, cãi lý với dì không được, tức quá đến cầu cứu với Liễu. Liễu chào thua bà cụ vì làm thế nào có thể giảng được cho bà cụ nghe và hiểu về con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho nên nàng chỉ buông xuôi:

– Thôi kệ, cứ để từ từ rồi dì ấy sẽ chuyển biến nhận thức và tự giác ngộ.

Đồng chí quản lý hoan hỷ ra mặt. Ít ra là bà cũng trút được cái trách nhiệm đó cho Liễu. Liễu không là gì nhưng là cháu đồng chí Phường uỷ. Đồng chí Phường uỷ là nhân vật to nhất Phường. Vậy là khỏi băn khoăn. Hương thẻ, hương vòng của dì Năm nhờ thế vẫn chiếm một kệ kín đáo trên quầy hàng Hợp tác xã . Thật ra bày là chỉ để mà bày, chứ rõ ràng món hàng dì Năm gởi ở Hợp tác xã đã ế sưng ra. Có ma nào dại gì đút đầu vào Hợp tác xã, nơi đầy rẫy tai mắt cán bộ để hỏi mua nhang hay hương vòng. Cắp nhang hay hương vòng đi ngờ ngờ ở trụ sở Hợp tác xã thì có khác gì tự tố cáo bản thân là “ tôi hãy còn nhiều tàn dư phản động!” . Mọi người thừa trí khôn để không làm chuyện đó. Nhưng mọi người cũng lại thừa trí khôn để mua nhang lấy lòng dì Năm kể từ khi dì được phong chức tổ Phó an ninh. Nhất là những anh lười đi họp. Vắng mặt trong buổi họp hôm trước là hôm sau dì Năm đã tò tò tới nhà tác xác:

– Ê ! Hôm qua mày làm cái giống gì ở nhà mà không đi họp tổ dân phố hả ?

Kẻ trốn họp phải cười giả lả:

– Tội con quá dì Năm ơi! Hôm qua đứng nắng xếp hàng mua gạo, về lên một cơn trúng cảm những tưởng đã vô nhị tì Quãng đông rồi ấy chớ!

Hay là:

– Chèn ơi ! Thằng nhỏ lên kinh hôm qua tưởng phải vô nhà thương rồi ấy chớ. Bụng dạ nào bỏ nó ở nhà mà đi họp, dì Năm!

Và sau một câu kể khó, kể khổ là bao giờ đương sự cũng chuyển ngay qua đề tài khiến dì Năm rất dễ nghe:

– Nhà em hết nhang rồi đó dì Năm. Bữa nào xin dì Năm cho em thêm một gói hương vòng với một chục thẻ nhang.

Cơn giận của dì Năm tan xèo ngay trong giây lát. Dì vui vẻ kể chuyện Khóm, chuyện Phường, chuyện nhà nào sắp đi kinh tế mới, chuyện thằng Phường đội nào hôm qua say, chuyện ai bị phê bình phát ngôn bừa bãi…vân…vân… Rồi trước khi về, dì không quên nhiệm vụ của mình:

– Kỳ tới phải nhớ đi họp đó nghe. Đi họp là phát huy quyền làm chủ tập thể mà, bộ tụi bây không biết sao !

Có hôm, một chị ngứa mồm hỏi lại:

– Làm chủ tập thể là làm sao dì Năm há?

Dì Năm trả lời ngay, giọng trách móc ngụ ý sao tới bây giờ mà còn có đứa không biết:

– Làm chủ tập thể tức là cách mạng giải phóng chứ làm sao. Trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đàng sau có nhân dân làm chủ tập thể. Tụi bây trốn đi họp như ranh, làm sao mà hiểu rõ được chính sách mới của nhà nước.

Lời giải thích ấy không biết cách nào lại lọt vào tai Liễu. Nàng chờ một hôm rảnh rỗi, kéo dì Năm vô trụ sở thì thào:

– Bây giờ dì là người của đoàn thể. Dì không thể phát ngôn bừa bãi tự ý được.

Dì Năm trợn mắt lên:

– Tao nói cái gì sai trái mà gọi là bừa bãi?

– Dì phải học mới biết được cái gì là sai, cái gì là đúng.

Dì Năm nổi sùng lên:

– Xí! Tao già đầu thế này mà còn phải học à?

– Chớ sao! Ai mà không học. Không học thì không có cơ sở nhận thức. Từ chỗ không có cơ sở nhận thức sẽ đi đến sự suy nghĩ sai, lập luận sai, phát biểu sai, hành động sai…

Dì Năm nói dỗi:

– Phải rồi! Cái gì tôi cũng sai hết. Chỉ có cô là đúng thôi. Cô là cháu ông Phường uỷ mà!

Liễu dẫy nẩy lên:

–  Ấy chết! Đâu phải thế. Cháu là gì đi nữa mà không học tập thì cũng sai nữa. Dì cũng vậy.

– Ờ! Thế tôi sai chỗ nào, cô nói tôi nghe coi.

– Như hôm nọ dì nói trên có Đảng, dưới có Nhà Nước, đằng sau có nhân dân làm chủ tập thể là sai!

– Sao sai?

– Dì phải nói cơ chế tổ chức của xã hội ta là Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý và nhân dân làm chủ tập thể thì mới đúng. Chớ làm gì có chuyện ai ở trên, ai ở dưới, ai ở đằng sau lưng như dì nói.

Dì Năm cười khanh khách:

– Tưởng cái gì chớ mấy chữ nghĩa đó nhằm nhò gì. Tao thì tao cứ nghĩ mấy ông Đảng uỷ ở tuốt trên cao thì là ở trên, như trên Phường thì có Phường uỷ, dưới Phường uỷ là ông chủ tịch Phường, tức là ông Nhà Nước, rồi sau cùng mới tới mình. Thế thì mình chả ở sau lưng là gì?

Liễu vò đầu bứt tai:

– Thế nhưng mà không phải thế. Phường uỷ chỉ lãnh đạo thôi chớ không ở trên. Chủ tịch Phường chỉ quản lý thôi chớ không ở dưới. Còn ai nói nhân dân ở mé sau lưng hồi nào?

Câu chuyện đấu lý nhùng nhằng đó rút cục cũng chẳng đi đến đâu. Trình độ hiểu biết của bà Năm như thế thì có nhồi nhét lý luận cả đời dì cũng không thể vỡ lẽ được thế nào là lãnh đạo nhưng không phải là ngồi trên, quản lý lại không phải là ngồi dưới.

Tuy nhiên không phải lý do đó mà dì Năm bị giảm lòng tin cậy của Uỷ ban Nhân dân Phường. Cảm thông với người dốt nát, ít học bao giờ chẳng xuất phát từ tình cảm hữu ái giai cấp. Hơn nữa, dì Năm lại là người tuệch toạc, có gì nói nấy, ai cũng thấy rõ là không âm mưu. Cán bộ rất sợ những người âm mưu. Càng có học, càng dễ âm mưu, cho nên cần thì vẫn xài, nhưng hết cần thì vắt chanh xong bỏ vỏ. Vấn đề chính yếu là phải nắm chắc lấy chính quyền, bằng mọi cách, mọi giá, triệt để và không khoan nhượng!

Trong thời gian giữ chức vụ tổ Phó an ninh, dì Năm thường tự hào về thành tích đối phó được với lão già cứng đầu nhất trong tổ dân phố là lão Trương Sanh. Bà con lối xóm cũng rất hả hê được nhiều dịp chứng kiến cuộc đấu trí giữa hai nhân vật cùng già nua tuổi tác này. Sau ba mươi tháng tư, con cái của Trương Sanh di tản hết. Chẳng hiểu kẹt giỏ thế nào, chỉ có một mình ông cụ ở lại. Gần một năm sau thì cụ nối liên lạc được với gia đình. Lá thư đầu tiên gửi từ Pháp về, người con lớn của cụ căn dặn: “ Ba cứ yên tâm, con đang làm giấy tờ bão lãnh cho ba đi. Từ nay tới đó chưa biết bao lâu, nhưng trễ lắm thì cũng chỉ trong vòng một năm là cùng. Con đã nhờ người quen chuyển tiền về để ba xài. Có tin gì mới, con sẽ đánh điện cho ba biết gấp!”.  Thế là ông cụ tự xếp mình vào vị trí bên lề xã hội, mặc cho thiên hạ đảo điên, xoay vần chung quanh, cụ chỉ còn có việc tiêu dao ngày tháng chờ ngày có giấy tờ bảo lãnh để rời quê hương.

Ước nguyện này mới nghe thì nhỏ nhoi, nhưng trong thực tế không giản dị chút nào. Đã có lần Liễu giải thích với cụ:

– Thưa bác, dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, lợi ích của mỗi người gắn chặt và thống nhất với lợi ích của tập thể. Vì vậy không có ai là không có trách nhiệm đối với vận mệnh chung của xã hội, lại không quan tâm đến công việc chung của tập thể…

Ông cụ Trương Sanh cau mày:

– Thế thì làm sao?

Liễu cười ngỏn ngoẻn:

– Dạ, thưa bác thế thì xin bác lưu ý đi họp đều cho. Cháu nghe dì tổ trưởng nói bác không chịu đi họp tổ dân phố.

Cụ Trương Sanh vỗ cái quạt đến đốp vào mông mình rồi văng một câu trước khi lùi lũi bỏ đi:

– Đếch!

Liễu cáu lắm nhưng nể ông cụ tuổi già, không dám láo lếu nhiều hơn. Nhưng nàng lập tức đi tìm dì Năm tổ phó an ninh:

– Ông Trương Sanh là người ở ngay trong tổ dân phố của dì. Dì chịu để ông ấy buông tuồng được sao?

Dì Năm bực bội:

– Lão già dịch đó không chịu đi họp thì biết làm sao bây giờ?

– Đó là việc của dì. Trách nhiệm của tổ Phó an ninh mà!

Nói rồi Liễu bỏ đi, mặc cho dì Năm đứng chết trân lại, vừa giận con nhỏ đáo để, vừa tức lão già đầy bản chất lạc hậu, phản động. Đến kỳ họp tổ dân phố lần sau, đích thân dì Năm đến nhà ông Trương Sanh để thông báo ngày, giờ họp. Ông lão khôn hồn rút tuốt lên tận lầu hai, cửa sắt dưới nhà kéo kín mít, thêm một lớp cửa gỗ kín bưng ở bên trong. Dì Năm gõ đùng đùng lên cánh cửa:

– Ông Trương Sanh ơi! Đi họp!

Giọng của dì trước còn hùng dũng, mạnh bạo, nhưng chỉ gào độ mươi mười lăm phút sau là nó thất thanh hẳn đi.  Bà con lối xóm chỉ còn nghe mấy tiếng:

– Sanh…ơi…họp!…

Bà con cả phố có lẽ đều nghe tiếng gào của dì Năm, trừ ông cụ đang ngồi tình queo đâu đó trên lầu hai ngay đấy. Ai cũng đều phục lăn cái tính lì của ông cụ, và càng nghe dì Năm gào thét, càng bụm miệng cười. Cuối cùng dì thua cuộc bỏ đi sau khi đã xỉa xói trước cánh cửa gỗ:

– Rồi nhé! Biết nhé! Lần sau đừng hòng đi mua nhu yếu phẩm nữa nghe ông Trương Sanh! Không đi họp là không có được mua gì hết ráo!…

Nhưng ông Sanh chẳng cần. Ông sống một mình, tiền bạc lại dư dả, ông nghe thấy hết, nên sau này chỉ cười hề hề với bà con :

– Tôi đâu cần. Nhu  yếu phẩm nhằm nhò gì tới tôi.

Thế là cuộc đấu trí giữa dì Năm và ông Trương Sanh kết thúc ở giao đoạn một. Dì Năm tức điên lên, không phải vì buổi họp thiếu người mà vì cái chức tổ Phó an ninh của dì không ăn thua gì tới lão già dịch đó cả.

Bỗng một hôm dì nẩy ra được một sáng kiến đáng giá ngàn vàng. Dì chạy đi gặp lão tổ trưởng dân phố hớt hải:

– Anh Phú đi với tui. Tui sẽ moi lão Trương Sanh ra để anh cho lão một bài học. Nó sống ở đây mà làm như đang sống trên cung trăng, không biết ai vào với ai hết.

Lão tổ Trưởng dân phố nhăn nhó lắc đầu:

– Dì kêu cách mấy lão cũng không ra đâu. Vô ích mà!

– Thì theo tôi đi! Nhớ túm được nó thì cho nó một bài học nghe.

Hai người lót tót đến cửa nhà Trương Sanh. Dì Năm gõ thình thịch lên cánh cửa gỗ:

– Ông Trương Sanh ơi! Ra mà nhận điện tín ngoại quốc nè!…

Lão tổ Tưởng dân phố giật nẩy mình:

– Chết cha! Ẩu nào dì Năm!

Dì Năm ngoảnh ra nhìn lão, khoái chí cười khà. Rồi dì lại gõ tiếp:

– Điện tín nè! Ông Trương Sanh!…

Lão tổ Trưởng không còn bụng dạ nào giảng giải nghĩa vụ công dân trong xã hội mới nữa, vội vã lủi mất. Lủi còn nhanh hơn cả ông Trương Sanh đang cuống cuồng nhảy bổ từ lầu hai xuống, lính quýnh mở mấy lần cửa khoá, then cài. Lúc ông ló mặt ra , dì Năm cười hề hề:

– Còn trốn nữa hay thôi?

Lão Trương Sanh mỉm cười cầu tài:

– Trốn! Ai thèm trốn chi!

Rồi lão hỏi:

– Đâu? Điện tín đâu?

Dì Năm dẩu môi:

– Ham lắm! có điện tín của nhà nước thì có. Điện tín mời đi họp tổ dân phố nè!

Thấy bị lừa bịp quá trắng trợn, lão Trương Sanh la lên:

– Trời đánh mụ lắm đó nghe! Người đâu mà mặt sứa quá vậy!

Dì Năm chỉ rộ lên cười. Đến lúc Trương Sanh đùng đùng kéo cánh cửa sắt lại và đóng thêm cánh cửa gỗ kêu đánh rầm thì dì còn kêu to:

– Tối nay tám giờ nghe ông Trương Sanh. Đúng tám giờ khai mạc buổi họp đó!

Cái trò loan tin trắng trợn này dì Năm không chỉ áp dụng một lần. Nói cho ngay, cũng có hôm dì nài bằng được ông phát điện tín để cho dì trao tận tay Trương Sanh một kỳ.

Lần đó dì kêu ông Trương Sanh bằng giọng quả quyết hơn khiến cho ông bán tín bán nghi. Ông chỉ đứng thập thò mà không thèm mở cửa. Đến lúc dì Năm la lên:

– Không mở cửa ra tui trả cho bưu điện rán chịu à nghe.

Chừng đó Trương Sanh mới chịu kéo cánh cửa ra. Và lần này thì lão toại nguyện. Lão quên những cơn giận dữ lần trước. Lão vồ lấy cái điện tín và cảm ơn dì Năm rối rít. Nhưng trước sau thì cũng có mỗi một lần. Còn kỳ dư những bận khác, dì Năm cho lão leo cây cả. Lão tức điên người lên, nhưng chẳng lần nào lão có đủ kiên gan để mà bỏ ngoài tai câu réo ầm ĩ của dì Năm:

– Ông Trương Sanh ơi, có điện tín ngoại quốc nè!

Riết rồi ông phát bệnh lên vì cái trò trắng trợn ấy. Có lần ông tức quá đứng chết trân ở ngay ngưỡng cửa. Lúc dì Năm đi rồi, ông quị ngay xuống đó. Cơn tức khiến cho ông muốn ngộp thở. Nhưng cả tháng mòn mỏi chờ điện tín của thằng con, lúc nghe có điện, dẫu thế nào ông cũng mừng quýnh lên, mừng xong thì đến lượt bứt râu, đấm ngực thùm thụp “ già rồi mà vẫn còn dại với con mẹ trời đánh thánh vật đó!”.

Nói cho ngay, trong một hai năm  đầu, mọi thứ chưa ổn định ra đâu và đâu thì bầu không khí sinh hoạt trong Phường còn mang cái vẻ ỡm ờ kiểu đó. Vả chăng mọi người vẫn còn rủng rỉnh tiền bạc, đời sống có khó khăn nhưng còn có cái đem bán để mà ăn. Chừng hai năm sau, mọi sinh hoạt đều như ngả sang màu tái xám. Nhịp độ ồn ào chậm đi. Nụ cười của mọi người đã thấy gượng gạo, héo hắt. Nhìn mặt ai cũng thấy vêu vao, cặp mắt lờ đờ thiếu linh động, rõ ra là thiếu chất thịt trong dinh dưỡng hàng ngày. Guồng máy chính quyền cứ siết chặt lại. Trước tiên là đồng chí Sáu Đăng, Phường uỷ, được tổ chức sắp xếp đi học bổ túc văn hoá. Căn trụ sở chi đoàn thanh niên của Liễu cũng lập tức bị thu hồi. Liễu nghe “trên” giải thích:

– Địa bàn xung kích của thanh niên bây giờ là vùng kinh tế mới. Đồng chí hãy cố gắng vận động thanh niên trong Phường hăng hái tham gia nhiệm vụ đó. Vậy mới xứng đáng với danh hiệu “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Liễu thừa thông minh để hiểu được rằng viên Phường uỷ mới nhậm chức muốn mình nộp đơn xin xung phong đi vùng kinh tế mới. Nàng vụt thấy mọi sinh hoạt, cố gắng của mình trong hơn một năm qua chỉ là một thứ trò rỡn chơi.

Nàng đã có thể phát biểu như vẹt bất cứ vấn đề gì trong các tài liệu học tập, nhưng từ lý thuyết bước sang thực hành, nó là cả một sự biến chuyển sâu xa từ cội rễ. Trong hai năm qua, Liễu nói bằng mồm rất nhiều, nhưng nàng luôn luôn che  giấu trái tim của mình. Nay đã đến lúc nàng phải moi trái tim đen ra ngoài ánh sáng để biểu lộ sự tuyệt đối trung thành với xã hội mới. Cọng rơm ba mươi của nàng chỉ qua một lời phát biểu của viên Phường uỷ mới tới đã phút chốc cháy xèo. Liễu thấy đắng ở miệng và nàng lẳng lặng rút lui. Cô gái Sài Gòn trước sau gì cũng chỉ là cô gái Sài Gòn, mặc dù trước đó có thử đội lên đầu đủ thứ nón tai bèo, bộ đội hay xỏ vào chân đôi dép râu kệch cỡm. Liễu ghé qua nhà cậu Sáu Đăng để thông báo cho ông ta biết ý định của Phường uỷ là vận động một đợt thanh niên đi tham gia vùng kinh tế mới. Cậu Sáu Đăng phát biểu ngay:

– Cháu tới đó không được đâu. Chỗ người nhà cậu nói thiệt!

Liễu mỉm cười:

– Cháu biết. Cháu có nhiều người quen đã đi về đó. Họ kể nghe thấy mà ớn. Cán bộ giao cho căn nhà thì xiêu vẹo như đồ chơi trẻ con, cỏ trong nhà mọc cao tới đầu gối, lúc tiếp thu phải khua gậy khắp nơi để đuổi rắn ra khỏi nhà.

Rồi Liễu chép miệng:

– Vậy mà Phường của mình cũng có tới mấy trăm gia đình rỡ nhà đi vùng kinh tế mới rồi đó chứ.

Liễu nói với cậu mà như thốt ra lời thú tội với chính mình. Trong quá trình công tác, Liễu tham gia tích cực nhất trong công cuộc vận động bà con trở về vùng kinh tế mới. Rất may, ông Sáu Đăng đã giải tỏa cho nàng ít ra là một phần mặc cảm tội lỗi. Ông ấy nói:

– Chúng nó nói một đằng, làm một nẻo. Kế hoạch thì hay ho lắm, mà điều chỉ toàn trên giấy tờ. Mình nghỉ thôi, cháu ạ.

Nói xong ông Sáu Đăng lẵng lặng rút vào trong nhà, Liễu nô rỡn với mấy đứa em một lát rồi cũng về. Trên đường phố Liễu gặp dì Năm đang ôm một lẵng đựng đầy thóc những thẻ nhang và hương vòng. Hồi nầy trông dì cũng có vẻ già sọm đi. Công việc buôn bán của dì ngày càng tệ. Bây giờ ai cũng lo chạy gạo, tiền đâu ra mà mua hương cúng bái. Thôi thì tâm thành là chính, vái suông cũng đủ tâm động quỷ thần linh. Mặt của dì vêu vao thấy rõ. Có nhiều hôm dì không bán được lấy một thẻ nhang. Buổi tối trở về căn phòng xếp tối om, dì không buồn châm lên ngọn đèn dầu hay nhóm bếp để đun lấy ấm nước. Dì nằm lẳng lặng xuống tấm ván gỗ kê bên vách tường xoay trở trong tiếng muỗi vo ve nhức óc. Đói. Cái đói hành hạ làm dì trằn trọc. Ở phía bên kia vách tường, mấy đứa con của Lý cũng ti tỉ khóc. Tiếng khóc của lũ trẻ vì thiếu ăn, tiếng trăn trở của bà cụ già trên ván gỗ vì nhịn đói, đã xẩy ra hàng đêm, riết rồi cũng trở thành những âm thanh bình thường sau ngày Sài Gòn được giải phóng.

NHẬT TIẾN
Santa Ana 29.3.1983

Những Con Đường Việt Nam. Tùy bút của Mai Thảo.


Mai Thảo

Những con đường Việt Nam

Đất nước chúng ta, trong cái muôn vàn điệp điệp của những đời sống nhỏ và những thân thế nhỏ- để riêng chỉ là những phiến lẻ và những tờ rời, nhưng cùng đựng chung một lẵng thời gian, là một tổng hợp làm nên Đời Sống Lớn và Thân Thế Lớn- đã có những đời sống và những thân thế dài thẳm ấy của những con đường. Tỏa thành nan quạt trên ba miền quê hương, vẽ thành bàn cờ, mê cung trên địa hình đất nước, từ rất nhỏ và mang linh hồn ngõ, tới rộng xa bát ngát mênh mông chân biển chân trời, những con đường Việt Nam, đã có một tiến trình đường và một lịch sử đường toàn vẹn hơn tất cả những đời đường và những kiếp đường thế giới.

Tôi đã nghĩ đến những con đường của hiện tại Việt Nam như vậy. Như những hiện tượng đời sống sinh động, mất và còn, thay hình và đổi dạng, theo một quy luật biện chứng. Tôi đã nhìn thấy những lòng đường của thời chiến và thời bình Việt Nam như vậy. Đường bước cùng thời thế. Đường đi theo đời người. Mỗi dặm biếc là một đánh dấu, mỗi dặm hồng là một chứng tích, ở đó đã biểu hiện đằm thắm và đau đớn rực rỡ những dấu chân ta và những khởi hành ta. Nói đến những con đường Việt Nam, nói làm sao hết chuyện của những cây cột trắng. Kể chuyện những đời đường đất nước, kể làm sao hết tâm sự của sỏi, linh hồn của đá. Đường có máu chảy và có tim đập. Đường có tiếng nói và có sống chết. Những con đường rất già, những con đường thật trẻ, đi từ những bình minh anh đi tới những hoàng hôn tôi, đó là những con đường Việt Nam.

Huyền thoại về đường phát sinh từ chính cái muôn vàn và muôn mặt của đường. Con đường không chỉ còn là một hình thể, một chiều dài, một diện tích. Định mệnh của lối, hiện hữu của ngã, không chỉ còn giản đơn là một nơi để đi, một chốn để về. Mà hòa nhập bằng một hòa nhập tận cùng của chuyển mình đất nước một đêm kia, dưới một chùm sao báo tin cách mạng, những con đường Việt Nam hai mươi năm nay đã đồng loạt thức giấc, đi ngút ngàn thành ba mươi triệu dấu chân đi. Con đường đã trở thành một ý, một sự. Một hiện tượng và một trạng thái đường. Mỗi lối về đã trở thành một tấm gương soi, thấy mưa bay và giông bão. Mỗi ngã đến đã trở thành một giai đoạn sống, dừng lại thấy quá khứ, đi nữa thấy tương lai, quay sang tả thấy máu chảy, ngó sang hữu thấy lúa xanh, cái trước mặt và cái sau lưng của một đời người, một đầu này, một đầu kia cùng hiện rõ. Những con đường của chúng ta đều vang dậy trong chúng những vang động không cùng như vậy. Chúng là suối róc rách, là sóng ào ào, là biển bao la, là triều dào dạt. Những con đường đứng lên. Và sống. Dũng mãnh. Những con đường ngã xuống. Và chết. Tan nát. Đưa tới những chân trời, bằng dặm vàng xe lăn gấp gấp, ruổi tới những xóm làng bằng chân chuyển tấp nập, của tản cư trong đêm, chuyển quân dưới nắng, tiễn biệt lúc sương mù, trùng phùng khi nắng dấy, băng qua những chiến hào, vượt qua những hầm hố, một vĩ tuyến bỏ qua, một mật khu bỏ lại, từ độc đạo trong rừng, tới xa lộ giữa lúa, nghiêng nghiêng bóng dừa miền Nam, lượn lượn lũy tre miền Bắc, xanh bóng núi từ Nam Quan đường xuống, vàng dáng biển từ Cà Mau đường về, đón cách mạng lên, mời đảo chính tới, những con đường có tim đập và có hơi thở ấy là những con đường Việt Nam, tôi muốn nhớ lại tất cả một lần. Bằng những dấu chân một đời đã gặp.

Những con đường thứ nhất của người cũng là của một thời thanh bình đã mất, là những lối đi dưới lá, trong cây, nhỏ, yên, lắng động và thơ mộng hiền hậu. Đó là những sợi chỉ hồng múa lượn dịu dàng giữa hai bờ cỏ, lòng đất mát thơm da thịt. Đó là những sợi chỉ biếc thả luồn trong nắng, mỗi buổi sáng mùa xuân mưa phùn lất phất, mỗi buổi trưa mùa hè chập chờn những cánh bướm lang thang. Chiều, hoàng hôn màu tím đến êm như tình nhân. Đêm, cái mái tóc óng ả của con trăng hiền là một mái tóc bằng hữu. Đom đóm bay theo vui tôi ở đó, vui của đầu đời lớn dần với tuổi. Tiếng gà gáy, tiếng chim hót, tiếng rì rào của lá tre múa múa, của trâu bò về chuồng, của lúa rơi ngày mùa, của gió trong vườn, của mưa đầu ngõ, tôi đã nghe thả xuống những lòng đường ấu thơ thuở ấy, mỗi con đường là một dàn nhạc, đất đựng âm thanh, đường trong đất là một phím dương cầm, đất trong đường là một phòng vi âm, thu và phát hết những lời ru và những ca khúc sáng tươi trăm nghìn của thôn dã. Chân chim sẻ nhảy trên lối tuổi hồng. Lối đến của ca dao, ngã vào của lục bát, lá trên đầu lợp mái, cỏ hai bờ trải thảm, tôi là con sáo nhỏ ngậm một bông hồng hàm tiếu bay hồn nhiên trên đường thơ thơ. Rồi thình lình là chấn động và phá vỡ lớn. Cùng với đất nước, người người lớp lớp đứng lên bằng những dấu chân chuyển núi của khởi nghĩa và cách mạng, là sự hiện hình kinh dị, thảng thốt của những đời đường và những kiếp đường mới.

Những con đường Việt Nam

(Khu phi quân sự vĩ tuyến 17)

Lửa tiêu thổ cháy bùng ngọn đỏ. Những thị trấn san phẳng. Những xóm làng mất tích. Và những con đường Việt Nam hùng hậu, từ lối mòn tới nẻo khuất, từ cái quan tới quốc lộ, đã đổi ngược hẳn đi cái ý nghĩa, cái thực thể đường. Hết là một nối liền, lối là một chặt đứt. Thôi là một dẫn tới, ngã là một đứt rời. Khi chiếc ụ đất đầu tiên được đắp lên trong đêm đen đặc, tối tăm thứ nhất của hủy phá toàn diện, trong tiếng thét dậy đất của bạo động khởi sự, còn là tiếng kêu thất đảm của giao thông tử thương và rãy chết cùng khắp vang lên. Búa chim bổ xuống đầu. Xẻng cuốc đâm trúng tim. Mìn nổ. Bằng những con dốc chênh vênh khóc xuống những cây cầu đổ sập, bằng những khúc quành chi chít những nhát đâm, lỗ chỗ những vết chém, bằng sắt đường tàu cắm tua tủa vào thân thể tan nát như từng chùm lông nhím, bằng chông dựng ngược và bằng bẫy đặt ngầm, là những tay chân óng ả uyển chuyển của đường bị chặt cụt, là những đời đường thương phế binh. Trí nhớ của tôi, trí nhớ nằm trong những bước chân đã đi qua suốt một thời kỳ lưu động lang thang từ rừng xuống biển, còn nguyên vẹn cái cảnh tượng hồng hoang ấy của những đời đường lâm nạn. Đường là một nghĩa địa. Mỗi cột cây số còn sống sót là một mộ chí màu trắng. Thân cây nằm dọc. Chướng ngại đứng nghiêng. Trên những chữ chi của hố chữ nhật, trên những khúc quanh của hố hình tròn, bằng biểu ngữ chăng ngang, bằng cổng chào dựng thẳng, những con đường Việt Nam bị cắt gân, tùng xẻo, điểm huyệt. Và chết. Tôi đã đi trên những đường đời lâm chung ấy. Nghe sỏi nức nở. Nghe đá quằn quại. Thấy đất hủy thể. Thấy cỏ tan tành. Những bước chân người vì vậy mà cũng đổi khác. Từ một hóa thân tập thể của đường, những huyền thoại bắt đầu. Kẻ lữ hành phải tập cho mình một lối đi mới. Những con đường của chiến thời đã thay đổi hẳn bộ mặt đất nước. Bằng một thay đổi hoàn toàn. Chúng ta đã đi như thế nào từ hai mươi năm nay. Con đường nào là con đường dài thẳm nhất. Chân bước về phía tả hay chân đi về phía hữu. Những tên đường đã có, đã mất, đã lỡ và đã lạc. Đi cho chân cứng đá mềm. Đi cho trời yên bể lặng. Hành trang nào và lúc nào là giờ hoàng đạo. Những con đường riêng, kín thầm, nhỏ nhỏ. Những con đường chung, bát ngát mênh mông. Điều đáng nói và đáng tìm hiểu nhất là những dấu chân của người trên những thân thế và những đời sống ấy như thế nào? Riêng tôi, bước chân đã mỏi, con đường còn dài. Trên một trạm mang tên là hoài nghi, những dặm biếc, những dặm hồng từ lâu không thấy nữa.

Mai Thảo

https://123hoang.wordpress.com/2012/08/25/nhung-con-duong-viet-nam/

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: