“Thành Phố Trong Hồi Tưởng” Những Mùa Thu – Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

“Thành Phố Trong Hồi Tưởng” Những Mùa Thu – Nguyễn Mạnh Trinh

Mùa Hạ đã qua. Sân trường với những ô vuông gạch đỏ mấy ngày trước là nơi để nô giỡn của mấy chú sẻ nâu nay ồn ào náo nhiệt. Ngồi trên phòng làm việc nhìn thấy cũng làm sinh động thêm không khí trong campus của mùa tựu trường. “Back To School”, lại một chu kỳ sinh hoạt mới. Thấy lại những khuôn mắt ngơ ngác lẫn háo hức của những cô cậu sinh viên mới. Thấy lại những công việc mà hàng năm tái diễn cùng với một vài thay đổi cho huê dạng và một ít khác lạ. Tự nhiên, thấy lại sự chia sẻ với hồi tưởng một ngày nào, thuở còn sinh viên học sinh ở Việt Nam rồi qua đây làm một sinh viên già vừa làm vừa học rồi trở lại làm việc ở ngôi trường đại học. Bao nhiêu là kỷ niệm. Thời gian đi qua. Thấm thoát cũng đã gần trọn đời người. Tôi đã thấy, ở đây. Bao nhiêu lớp sinh viên đã vào học và ra trường. Bao nhiêu là mộng ước, đã có, thành tựu hoặc tàn lụi. Và, tôi vẫn còn ở lại, nhìn theo, làm một người mà như thơ Hoài Khanh “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng. Nghe trong hồn rêu cỏ mọc hoang vu…” Nước vẫn chảy và, đời cứ theo dòng. Những khuôn mặt sinh viên đi qua. Và, tôi ở lại, như cầu thệ thủy dưới ánh tà huy, của một mường tượng nào xa xăm lãng đãng…

Hình như, tôi thấy lại những cổng trường xưa, những bạn, thầy cũ. Hình như, tôi đi ngược về, những không gian nào, thời gian nào, xưa cũ nhưng không mất hút. Có lúc, mường tượng và sinh động. Một đời sống nào, trở lại. Một giấc mơ nào, tái sinh. Tôi đọc “Thành Phố trong Hồi Tưởng”. Tôi đọc “Tình Khúc Ðại Học”. Tôi đọc “Tuyển tập Trần Hồng Châu”. Bây giờ, ngày khai trường của một năm học mới, fall semester năm nay.

Có lẽ, cả một đời giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, tức nhà thơ Trần Hồng Châu, gắn bó và dính liền với những ngôi trường đại học. Là khoa trưởng của đại học Văn Khoa thuộc Viện Ðại Học Sài Gòn. Là giáo sư thỉnh giảng đại học Southern Illinois University. Là cựu sinh viên luật đại học Hà Nội, cựu sinh viên văn chương đại học Sorbonne.

Thành ra, khi viết “Tình ca Ðại Học”, ông đã có cái tâm cảm của một người sống lại một thời của mình. Những giấc mơ tuổi trẻ, những ấp ủ đi tìm kiếm ngọn nguồn của trí tuệ, cùng với tính tình lãng mạn phóng khoáng, đã hiển hiện trong từng dòng chữ. Không phải là những khoe khoang mà chính là thái độ khiêm tốn kẻ sĩ. Một người có tài năng có danh vị mà cũng đặt tên cho tác phẩm của mình “Dăm Ba Ðiều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật”.

Giở từng trang sách của “Tuyển Tập Trần Hồng Châu”, tôi thấy một trời thơ mênh mông lai láng. Không chỉ ở phần thơ tuyển, mà, tất cả trong tuyển tập từ những tùy bút, đến những trang biên khảo, đều có nét thơ mộng lãng mạn cách riêng. Có một chút bềnh bồng nghệ sĩ, cũng như, một chút suy tư của người đã lỡ bước vào khung cửa triết học. Nhưng ở tất cả, là một khuôn trời mà cánh chim xoải bay cũng chưa về đến đích. Ở đó, là những áng mây phiêu du, bất định…

Jacques Prevert đôi khi đã làm người đọc là tôi nhớ mãi với những câu thơ Barbara của một thời học trò, theo giọng đọc của thầy giáo già mà nghe xôn xao trong lòng những giấc mộng viễn du, của trái mơ cứ chín nẫu trong lòng mà tay không thể với hái…

“Rappelle-toi Barbara.
Il pleuvait sans cesse sur brest ce jour-la
Et tu marchais souriante
Epanouie ravie ruisselante…”

Thì, Trần Hồng Châu cũng làm cho tôi như sống lại một thuở mê say đắm đuối mộng tưởng đến phương trời mà mình đã quen từ sách vở:

“Barbara, Trời Mưa Trên Môi Tả Ngạn

“Barbara!
Trời mưa trên phố biển
Trời mưa trên môi tả ngạn
Trời lặn cùng ta
Em vẫn là em
Hoa ngàn năm hóa thạch…

Ðêm Paris
Một mình một mình
Từng giọt lạnh cường toan mưa trên hồn nhỏ
Anh nằm nhìn quả cầu lửa

Thơ cháy
Chẳng còn đường về mê cung em
Barbara! Trời mưa trên phố biển?
Trời mưa trên môi tả ngạn?…”

Ba tập thơ “Nhớ Ðất Thương Trời “, “Hạnh Phúc Ðến Từng Giây” “Nửa Khuya Giấy Trắng” chọn lại vài chục bài thơ trong tuyển tập như chứa đựng hết những tinh túy của một nhà khoa bảng mà đến khi gần nhắm mắt lìa đời vẫn mong muốn là một thi sĩ. Một thi sĩ hiểu theo ý nghĩa cao đẹp nhất, một người luôn đi tìm cái đẹp và ăn nằm với cái đẹp. Với riêng tôi, tìm trong thơ, quả ông có cái nét đẹp ấy. Của một tấm lòng chân thành muốn đi tìm thẩm mỹ quan vĩnh viễn muôn đời. Ở trong thơ, là một biển trời tâm sự. Trong vần điệu, là nhịp thở của trái tim giàu cảm lụy. Từ ngôn ngữ, đã sẵn lời tâm huyết thiên thu.

Ở thể tùy bút, là những tản văn có phong vị đẹp của những bài thơ âm hưởng. Nhà giáo Nguyễn Khắc Hoạch có lúc trở thành một cậu sinh viên đầy mơ mộng của ngôi trường Sorbonne danh tiếng ngày nào: “…Tôi yêu dáng điệu hồn nhiên và tư tưởng sung mãn của Bachelard trong những bài giảng sớm thứ năm. Bachelard với chòm râu bạc phất phơ như một rừng hoa mai bừng nở với giấc mơ Thơ… Cùng nhau giong buồm lái trở về nguồn Trí Tuệ và Cảm Xúc nguyên thủy… Tôi yêu những hoài bão lớn lao của tuổi trẻ trên lầu tình tự vắng vẻ, cách xa huyên náo hỗn tạp của thị thành và thị dân đang quay cuồng vùng vẫy trong sương mù và trong những vùng lửa đèn màu nửa khuya ở dưới chân đồi Ste. Geneviève mà chúng tôi vẫn thân mật âu yếm gọi là Ste. Ginette như một cô em gái bé bỏng nghịch ngợm.

Ở đây trên đỉnh “đồi” linh thiêng tôi đã mơ tuyệt đối và hiểu tại sao người ta có thể đắm đuối say mê Thơ và Tư Tưởng như nhan sắc của một người tình. Ở đây tôi đã nâng niu những giây phút bé nhỏ trong đó tôi bồi hồi cảm động gặp lại chính tâm hồn mình, diện đối diện giữa thanh vắng và hướng nội trầm tư. Ở đây tôi đã tập thói quen không bằng lòng với cái tầm thường, cái ấu trĩ để cố noi theo hướng đi lên của tinh thần và nghệ thuật…

Tôi đã ngồi rất lâu dưới chân tượng Montaigne, hiện thân của thâm trầm và khoan dung trong những giờ nhập thiền diện bích tuy đây không có bức tường nào cả. Ðể đón hoàng hôn chầm chậm xuống trong những tấm áo mây chiều lượt là màu ngũ sắc. Ðể lắng nghe tâm tư sốt vỡ da và lớn mạnh cùng với cỏ cây quanh khu vườn trước cửa Ðại Học. Ðể thấy trên những nẻo đường của Văn và Triết, lối độc hành cổ điển vẫn có những nét độc đáo và thực là cần thiết, nếu không phải là lối khám phá duy nhất…”

Rồi Cambridge, Heidelberg, Havard, những ngôi trường đại học vang danh của thế giới cũng đầy kỷ niệm với một người luôn mê say đi tìm chân lý cho trí tuệ và chân lý cho cuộc đời. Những con đường, những giảng đường, chỗ nào khi ghé thăm trở lại cũng đầy cảm xúc. Chốn này, đã là nơi miệt mài đi tìm cách thực hiện giấc mộng ấp ủ.

“…Tôi yêu điệu blue “Dòng sông xanh” của Cambdidge, điệu moderato tịch mịch chầm chậm nhẹ nhàng buông lơi, điệu nhạc tươi sáng vừa dựng xong trong tâm tư cho riêng chính mình. Ðể tạm quên ý nhạc waltz cuồng say, dồn dập choáng váng của thành Wien, với sông nước Donau, dòng sông xanh, xanh… màu vàng lá úa, màu buồn tàn thu, màu hoàng hôn mệt mỏi héo hon!…”

Hay: “...Tôi yêu bản trường ca màu hồng của Heidelberg. Màu mong manh sáng chói yêu đời và cũng hơi đàn bà… tình cảm, bâng khuâng… Hồng nhạt, chiếc cầu đẹp như một giấc mơ, vươn mình qua sông Neckar chở đầy lịch sử, thơ, nhạc và tình yêu. Hồng, hồng mấy công thự baroque của đại học và tòa lâu đài trên ngọn đồi xây toàn bằng sa thạch, màu bình minh của núi rừng “từng biếc chen hồng” ở chung quanh vùng…”

Với Havard, cái nôi của những nhà lãnh đạo tương lai của thế giới, của những cô chiêu cậu ấm nắm hết ngày mai của nhân loại:

…Tôi yêu màu nâu pha đỏ, màu đỏ nâu ấm áp bền vững – màu bordeaux hay huyết dụ? – của tường nhà Havard. Ấm áp ngay cả khi tuyết rơi trắng muốt xóa mờ những bãi cỏ xanh. Ấm áp nhưng cũng e dè như người dân Boston cổ kính, như những dãy phố tỉnh nhỏ vùng New England với tường nhà để gạch đỏ lộ thiên, dãi dầu cùng mưa nắng. Màu phù hợp với kiến trúc nhẹ nhàng, mãnh mai thì “lập quốc” khác hẳn với những khối ciment cục mịch vô hồn ở các đại học non trẻ, chào đời sau Thế chiến thứ hai

… Tôi ít yêu hơn bọn thiếu niên con nhà kiều dưỡng được đào tạo ở Havard để sau này bước vào chính trường. Họ mang tên Roosevelt hay Kennedy. Sống trong nhung lụa và vòng tay nuông chiều của các bà mẹ âu yếm nhưng thiển cận lại được chăm sóc trong lồng kính vĩ đại bên bờ Charles River, xa rời cái phức tạp của cuộc sống đích thực. Vì vậy mà họ ra làm lãnh tụ, dìu dắt cả trăm triệu người trong một thế giới chính trị bá đạo, muôn mặt lắt léo và đầy mưu mô xảo quyệt. Cho nên trong việc đối ngoại xứ này đã có những quyết định quá chừng ngây thơ (có người độc miệng hơn còn gọi là… ấu trĩ) và nền ngoại giao Mỹ quốc từ sau thế chiến đã đi hơn một bước giật lùi nguy hiểm tuy về kinh tế đã có nhiều thành tích vẻ vang. Trách nhiệm của học đường, của những kỹ sư tâm hồn! Người tuổi trẻ Harvard hãy cẩn thận!

Chiều hôm nay tạm biệt Harvard. Ánh trời hoàng hôn lọc qua kẽ lá nhuộm vàng từng mảng tường gạch đỏ thành một màu kỳ thú. Tôi ngắt một chiếc lá ivy. Tôi ngắt cả mùa thu kẹp vào tập thơ của một tác giả trẻ tuổi sáng tác sau những khuôn cửa sổ nhìn ra Harvard Yard. Chiếc lá biểu tượng. Chiếc lá kỷ niệm từ một hải đảo trí thức và sáng tạo bập bềnh giữa vô vàn đợt sóng vật chất của một thời đại một thế giới tưởng như cũng đang chìm dần vào ánh trời hoàng hôn…”

Với đại học Văn Khoa, nhà thơ đã mang cái tâm lãng mạn phóng khoáng của mình để gây dựng một nền đại học dân tộc phản ánh được tâm tình của một thời đại Việt Nam nhiều biến cố và mang cái tâm nỗ lực xây dựng tương lai.

“Tôi yêu những tấm lòng trinh bạch và màu trắng đơn sơ hồn hậu màu thanh bần lạc đạo trên sân tường Văn Khoa. Văn Khoa linh hồn thầm kín của đại học và quê hương trong những mùa lịch sử nóng bỏng và sôi động… Tôi yêu màu trắng chiều đông hơi ngả sang xám hay xanh nhạt của trường cũ cũng như trường mới, thoáng gợi cái mong manh u buồn của lớp phấn light blue shadow nằm dài trên mí mắt khi những cửa sổ linh hồn bâng khuâng ngỡ ngàng dường như mở rộng cuốn chúng ta vào muôn vạn nẻo đường mịt mùng xa vời vợi hun hút sâu như vực thẳm giữa lòng đại dương… Nhớ thương luôn nên mắt có quầng viền!”

Tôi muốn trích dẫn nhiều hơn những dòng tuyệt bút mang cái tâm vằng vặc vào văn chương. Nhưng nếu như thế thì phải mang cả cuốn sách vào trong bài viết. Thì, với vài đoạn đơn sơ, chúng ta cũng có thể cảm được cái lòng kẻ sĩ của một người sống trong một thời đại quá nhiều dâu biển biển dâu. Có lúc, như trong bài thơ thi sĩ đối thoại với cụ Tiên Ðiền, người đã mang vào văn chương Việt Nam những vần châu ngọc, để thấm thía cái câu: “bất tri tam bách dư niên hậu”

“…Ðoạn trường gói chặt tấm son
Một thiên bạc mệnh chưa mòn tuyết băng
Bóng ai lãng đãng cầm trăng
Gió thu hồng biếc một vầng quan san
Lửa hương một nắm tro tàn
Hồng Lam trăm mối đoạn trường về đâu

Ðường đời còn mải phân vân
Thì xin ước hẹn vô vàn mai sau
Thì xin tát cạn nguồn sầu
Nghìn thu tuyệt bút điểm màu vấn vương
Phấn hương thừa nhặt nẻo đường
Nòi tình ai cũng đoạn trường với ai?

Ðêm thu mộng triệu khơi miền
Ðoạn trường bướm trắng ưu phiền gió trăng
Gặp người ta lại cố nhân
Bất tri tam bách… một vần cảm thông

Bây giờ, giở từng trang Tuyển tập như thấy lại hình dáng người thầy xưa hiện về. Viết văn, làm thơ, soạn tiểu luận, hay chấm bài, soạn sách giáo khoa, dù đang đứng trên bục giảng đường hay đang trải hồn theo mộng biếc thanh xuân những ngày du học, tất cả chỉ làm rõ nét thêm một vóc dáng thi nhân muôn tuổi. Tôi vẫn nghĩ, trong tâm thức đơn giản của mình, thi ca sẽ có đời sống dài hơn là khoảnh khắc ba trăm năm mà cụ Nguyễn Du đã thắc mắc cho nỗi niềm còn mất của chữ nghĩa riêng mình!

Nguyễn Mạnh Trinh

Bonjour Việt Nam – Người Đi, Người Ở, Người Về… Tùy bút Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh More

Đường Lên Núi Thiên Mã. Truyện dài Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Bạn đọc vừa theo dõi xong một cuộc điều tra của ông Thanh tra Mạc Kính, nữ ký giả Thu Dung và Sơn bán báo.

Đây là một tác phẩm trong loạt truyện trinh thám phiêu lưu do tác giả viết riêng cho lứa tuổi Thiếu Nhi. Qua diễn biến của câu chuyện, tác giả đã du nhập một cách linh động những kiến thức khoa học phổ thông để dẫn giải các sự kiện xảy ra trong đời sống các nhân vật. Ở đây, những phương pháp suy luận theo tinh thần khoa học, những ứng dụng mới mẻ trong lãnh vực điều tra như những kỹ thuật theo dõi kẻ gian, kỹ thuật lấy dấu tay, kỹ thuật giảo nghiệm các tài liệu giả mạo, những ứng dụng mới của khoa học vào lãnh vực truy tầm nghiên cứu v.v… cùng các vấn đề phổ thông liên quan đến sử ký, địa lý, lịch sử địa chất Việt nam v.v… Tất cả sẽ là những bài học linh động vừa giải trí vừa bổ ích cho các em..

HUYỀN TRÂN XUẤT BẢN

Chương Một
BẢN TIN GIỜ CHÓT

Trong suốt một ngày, chỉ trừ lúc báo bắt đầu lên khuôn là tòa soạn mới trở nên yên tĩnh hẳn sau những giờ ồn ào, náo nhiệt.

Ban biên tập chủ lực sau khi thu xếp xong bài vở đã kéo nhau đi hết từ lúc bốn giờ.

Anh thư ký tòa soạn nán lại để cắt tin giờ chót cũng đã rời tòa soạn sau đó ít phút. Kíp thợ sắp chữ làm việc suốt từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều cũng đã về. Chỉ riêng có anh chef- typo (trưởng nhóm thợ xếp chữ) là còn có mặt để phòng hờ có sự thay đổi vào phút chót.

Rút cuộc, cả tòa báo ồn ào suốt từ sáng sớm đến xế chiều bây giờ chỉ còn toán thợ đúc chì. Toán lên khuôn chạy máy là bắt đầu vào việc.

Người thợ đúc chì đắp lên trang báo đã xếp thành chữ những tờ giấy dó mỏng và ướt (như những tờ giấy bản để viết chữ nho – nhúng ướt để giấy ăn sát vào bát chữ), rồi phết từng lớp bột lên mỗi lớp giấy, xong cho vào máy ép nóng, ép thành những khuôn chữ cứng. Sau đó những thanh chì được nấu chảy đem đổ lên cái khuôn này, rồi để nguội sẽ thành những bản chì đúc, khi ghép lại sẽ có nguyên một trang báo. Người thợ chạy máy chỉ việc đóng những bản chì đó lên mặt gỗ của máy in rồi cho máy chạy là từng tờ báo thơm phức được hoàn thành. Một đôi khi người thợ vội vã đóng không lút đinh, nên khi báo in ra có những chỗ còn hằn cả vệt đầu đinh lên trang giấy. Báo tuy ra 8 trang nhưng trang 2 /trang 7 và trang 4/trang 5 gồm những bài không cần theo sát thời sự đã được in từ ba ngày trước. Chỉ có trang 1/trang 8 hay trang 3/trang 6 là ấn hành sau để tòa soạn kịp loan những tin tức nóng hổi trong ngày.

Với cách làm việc ấy, độc giả ở Thủ Đô vào khoảng 6, 7 giờ chiều là đã có báo đọc của ngày hôm sau. Phần còn lại sẽ được in suốt đêm để sáng sớm hôm sau đem phát hành đi các tỉnh. Những khu vực làm việc của toán thợ làm đêm đều được dồn hết về phía dẫy nhà sau của tòa báo, ở đó phòng sắp chữ, lò đúc chì, bàn vỗ bản thảo, máy in…là chen chúc gần như kín mít, chỉ còn chừa có một lối đi hết sức chật hẹp. Phần đông các tòa báo Việt Nam đều nghèo như thế.

Căn phòng dành cho tòa soạn lại còn nghèo hơn, được đặt trên một cái gác xép, mái tôn thấp và nóng, bàn ghế dành cho ký giả thì ọp ẹp và tồi tàn, nhưng ai có thể biết rằng chính những tinh hoa của các bài nghị luận đanh thép, chính những tin tức sốt rẻo, bám sát thời cuộc, những truyện dài với tình tiết lâm ly, hấp dẫn đều hầu như được sáng tác ở đó.

Phần đẹp nhất của tòa báo là căn phòng ngoài cùng, nơi đặt bàn giấy của ty Quản Lý, chỗ tiếp xúc với độc giả thường xuyên vì thế khung cảnh có phần tươm tất hơn, việc sắp đặt được ngăn nắp hơn. Ở ngoài vào, ta sẽ thấy một cái quầy gỗ của nhân viên nhận đăng quảng cáo hay rao vặt, kế đó là bàn giấy của vị quản lý với vài nhân viên phụ tá. Đặc biệt chiếc điện thoại độc nhất của tòa soạn được để trên một chiếc kệ gỗ cho mọi phần hành xài chung, và một cô thư ký xinh như mộng phụ trách trực cái điện thoại đó trong suốt giờ làm việc để ghi nhận các tin tức của mọi nơi, những lời dặn dò của phóng viên đang len lỏi trong khắp mọi sinh hoạt của Thủ đô đã dùng dây nói từ xa gọi về.

Sinh hoạt của tòa báo từ sáng đến xế chiều thật là ồn ào. Và chỉ khi thành phố đã lên đèn, các em bán báo cổ động đã khuân đủ những chồng báo mới tinh còn lóng lánh màu mực mới đem phát hành khắp Thủ đô, thì chừng đó cánh cửa sắt mới được kéo lại, và người làm công già nua mới đem chổi ra quét dọn những tờ bản thảo rơi vương vãi, những tờ bài vỗ đã sửa xong vứt rải rác mỗi nơi một mảnh.

Hôm đó vào khoảng năm giờ chiều, ở tòa báo Ánh Sáng Thời Đàm mọi sự sắp đặt đã hoàn toàn xong xuôi. Bản đúc chì đầu tiên đã được đóng lên máy và người thợ đã lăn thử ấn bản đầu tiên trao cho anh Thư ký Tòa soạn kiểm soát lại. Tờ báo “mi” (Mise en pages=Dàn trang) thật đẹp, chữ vỗ thật sắc nét, mực in xuống đều, bản kẽm in hình thời sự lên thật rõ, mọi người đều mỉm cười hài lòng. Và đúng lúc ấy, chuông điện thoại reo vang. Tất cả mọi người có mặt đều nhìn về phía cô Bích Ngọc, nhân viên trực điện thoại lúc ấy vẫn còn hiện diện. Bàn tay tháp bút của Bích Ngọc nhanh nhẹ nhấc ống nói lên, nàng cất tiếng thỏ thẻ :

– A lô ! Nhật báo Ánh Sáng, chúng tôi nghe đây.

Im lặng choán chỗ trong một phút và cặp mắt dịu dàng của nàng bỗng nhếch lên biểu lộ một sự kinh ngạc làm mọi người quay lại chú ý nhìn. Một lát Bích Ngọc ra hiệu cho anh thư ký tòa soạn, rồi bịt ống nghe lại, nói nhanh :

– Đông Hưng vượt ngục rồi !…

Như bị một luồng điện giật, tất cả mọi người đều ồ lên một tiếng, và anh thư ký tòa soạn hỏi ngay :

– Thật không ? Ai cho tin ấy thế?

Bích Ngọc giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng, lắng nghe một lát nữa rồi cúp máy điện thoại và quay lại trả lời :

– Sở Cảnh Sát Thủ Đô, đích thân ông Thanh Tra Mạc Kính gọi lại. Ông ta báo tin lão Đông Hưng Chủ tịch Hội Phù Dung đã vượt ngục vào giữa buổi chiều hôm nay !

Dân chúng ở Thủ đô không còn ai lạ gì tổ chức Hoa Phù Dung của Đông Hưng. Đó là một tổ chức rất chặt chẽ, qui mô dùng mọi hình thức bất lương và phi pháp để kinh tài. Cầm đầu là một thương gia khả kính ở Chợ Lớn tên là Đông Hưng đã bị bắt sau cuộc âm mưu thanh toán ông già Nguyễn Quốc Viên để đoạt những tài liệu mật thiết đến chiến dịch Kim Cương “Những con đom đóm trời”. (Xin xem Lá Chúc Thư đã in thành sách). Vụ án này gây chấn động dư luận Thủ đô, mới trong vòng không đầy một năm trước đây. Và bây giờ khi đang thọ phạt bản án 10 năm cấm cố thì có tin Đông Hưng vượt ngục.

Anh Thư ký Tòa soạn vội vàng ra hiệu cho máy ngưng chạy và nhảy bổ đến chỗ đặt điện thoại, nhấc lên quay số thật nhanh. Mọi người hồi hộp chờ đợi. Trong vài giây sau, anh đã liên lạc với ông Mạc Kính ở đầu dây. Không biết ông Mạc Kính nói những gì, chỉ biết sau cuộc điện đàm này, anh ra lệnh cho tất cả vào việc. Thợ máy gỡ ngay khuôn báo vừa lên xong. Anh chef- typo sửa soạn xếp bản tin giờ chót, bản tin chắc chắn sẽ nóng hổi và nhanh chóng hơn bất cứ báo nào khác. Còn thợ đúc chì cũng phải sửa soạn để đúc lại bản tin mới. Một bài trên trang nhất không mấy quan trọng sẽ được đục bỏ để có chỗ thay thế. Tất nhiên báo có thể chậm hơn mọi ngày chừng một giờ. Nhưng để bù lại, nhật báo Ánh Sáng chắc chắn sẽ chạy như tôm tươi về một tin tức sẽ làm tất cả độc giả phải sững sờ. Sau đây là nguyên văn bản tin do anh thư ký tòa soạn đã cấp thời viết ngay sau khi phối kiểm tin tức một cách chính xác:

CHẤN ĐỘNG TRONG GIỚI AN NINH NHÀ NƯỚC:
ĐÔNG HƯNG, CHỦ TỊCH HỘI HOA PHÙ DUNG ĐÃ VƯỢT NGỤC

Tin giờ chót: Một nguồn tin từ giới thẩm quyền trong Sở An Ninh Quốc Gia đã cho biết Đông Hưng chủ tịch Hội Hoa Phù Dung đã vượt ngục ngay giữa thanh thiên bạch nhật, vào hồi ba giờ chiều hôm nay 4 tháng 4 khi đương sự đang được di chuyển từ khám đường Trung Ương ra Vũng Tàu để đi Côn Đảo. Tưởng cũng nên nhắc lại rằng trong những năm vừa qua, một tổ chức nguy hiểm cho nền an ninh xã hội mệnh danh là Hội Hoa Phù Dung đã hoạt động mạnh mẽ làm mất ăn mất ngủ nhiều thương gia giàu có và đã khiến giới cao cấp trong ngành an ninh phải điên đầu. Sau đó, nhờ kỳ công của ông Thanh Tra Mạc Kính, phối hợp với sự điều tra khéo léo tuyệt vời của bản báo phóng viên, nữ ký giả Thu Dung và em Sơn, một tài năng điều tra hiếm có chỉ giữ nghề nghiệp khiêm nhường là đi bán báo, toàn thể cơ sở đầu não của Hội Hoa Phù Dung đã bị phá vỡ. Chủ tịch Hội là Đông Hưng, một thương gia có uy thế trong giới tài phiệt đã bị bắt giam và tòa kết án 10 năm. Vào hồi ba giờ chiều hôm nay, tù nhân Đông Hưng dưới danh số A. 18279 đã vượt ngục một cách dễ dàng trên đường di chuyển từ khám đường Trung Ương ra Vũng Tàu để được đi Côn Đảo. Chắc chắn việc tổ chức vượt ngục này đã được nghiên cứu chu đáo kỹ lưỡng và có sự tiếp tay của nhiều đồng lõa. Cuộc điều tra của nhà chức trách đang tiến hành. Nữ bản báo phái viên Thu Dung đang theo dõi vụ này, chắc chắn sẽ cống hiến độc giả thân mến nhiều tình tiết ly kỳ và lý thú. Xin độc giả nhớ đón coi”.

Nhật Tiến

Xem tiếp Chương Hai

 

Sài Gòn Một Thời Của Một Đời – Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Trinh

(Chân dung Nhà Thơ Nguyễn Mạnh Trinh)

Có nhiều bài thơ về Sài Gòn. Thành phố ấy, với nhiều người, là thánh địa của kỷ niệm. Với Nguyên Sa, là Tám Phố Sài Gòn, là “Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều”, là “Sài Gòn phóng solex rất nhanh” “Sài Gòn ngồi thư viện rất ngoan” là “Sài Gòn tối đi học một mình”, là “Sài Gòn cười đôi môi rất tròn”, là “Sài Gòn gối đầu trên cánh tay”.. Với Quách Thoại buổi sáng, là “sáng nay tôi bước ra giữa thị thành/để nghe phố nói nỗi niềm mới lạ/tiếng xe tiếng còi tôi nghe đường xá / cả âm thanh của cuộc sống mọi người/ một nụ cười chạy ẩn giữa môi tươi/trên tim nóng trong linh hồn tất cả /..” Với Trần Dạ Từ là buổi trưa, về Thị Nghè: “vẫn một mặt trời trên mỗi chúng ta/ và mỗi chúng ta trên một bóng hình/tôi vô giác như mặt đường nhựa ẩm/trũng nỗi sầu đau náo nức lưu thông/mùa hạ đi qua tựa hồ giấc mộng/ tôi chạy điên trong một bánh xe tròn / và đứa trẻ hít còi người đàn bà bước xuống/ ôi chiếc cầu , ôi sở thú. ôi giòng sông/..” Với Cung Trầm Tưởng, là mưa, là “mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn / mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi/ mưa hay trời cũng thế thôi/ đời nay biển lạnh mai bồi đất hoang/..” Với Luân Hoán, là ngồi quán, là “ngồi La Pagode ngắm người/thấy em nhức nhối nói cười lượn qua/mini-jupe trắng nõn nà/vàng thu gió lộng chiều sa gót giày/ ngẩn theo tóc, tuyệt vời bay/ hồn thơ thức mộng trọn ngày bình yên/” Với Đỗ Trung Quân, là ngày bãi trường mùa hạ “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng / em chở mùa hè của tôi đi đâu/ chùm phượng vĩ là tuổi tôi mười tám / tuổi thơ ngây khờ dại mối tình đầu..”..

Và với nhiều thi sĩ khác, Sài Gòn là phố cây xanh, là đêm cúp điện, là chiều mưa giọt, là trưa nắng đỏ. Ôi Sài Gòn, của cõi thơ không cùng, của những chân trời thi ca bao la, của những trái tim lúc nào cũng dồn dập nhịp thở của tháng ngày tuy náo động nhưng chẳng thể nào quên.

Đường Tư Do – Sài gòn trước 1975

Với riêng tôi, Sài Gòn là muôn vàn kỷ niệm. Là những con đường quen thân , nhắc lại một thuở ấu thời. Là ngôi trường Chu văn An, nơi tôi miệt mài suốt bảy năm trung học. Là trường Khoa Học, là trường Luật trước khi vào lính. Là cổng Phi Long vào phi trường Tân Sơm Nhứt khi vừa nhập ngũ. Là những mơ mộng tuổi trẻ, lúc vừa bước vào đời sống quân đội trong một đất nước đang trong tình trạng chiến tranh.

Phi trường Tân Sơn Nhất năm 1970

Buổi trưa, nằm dài trên sân cỏ mượt nhìn lên nóc nhà thờ Ngã Sáu, dưới bóng cây dầu cao vút, nghĩ về tương lai nhìn theo những sợi mây bay qua. Nghe xôn xao trong lòng những sợi nắng lung linh. Ôi, thuở còn đi học, mấy ai tiên đoán được số mệnh mình. Mây bay đi, như đời trôi qua.

“nằm trên cỏ nhìn trời cao
lung linh sợi nắng thuở nào phai phai
nhìn tượng Chúa dưới tàng cây
giơ vai chĩu nặng tháng ngày chiến tranh
mùa hạ mấy bước đi quanh
cổng trường đóng những đoạn đành thế thôi
ngày mai đi bốn phương trời
mây phiêu lãng chợt thương đời phù du..”

Sài Gòn những mùa thu. Có những con đường xôn xao áo lụa. Có những buổi tan học nhìn tà áo trắng mà mơ ước vu vơ. Để đêm về, trên trang vở học trò, vẽ bâng quơ đôi mắt ai, mái tóc ai:

“Thành phố ấy , xôn xao tà áo trắng
nắng hanh vàng trải lụa những mùa thu
guốc chân sáo để hồn ai ngơ ngẩn
bước mênh mang nghe quẩn sợi sương mù
mây vào áo lồng lộng bay chiều gió
lụa trắng trong e ấp buổi hẹn hò
sợi mi cong tưởng chập chờn ngực thở
tóc ai buông dài xõa những câu thơ.
Thành phố ấy, mấy ngã tư đèn đỏ
Ai chờ ai khi kẻng đánh tan trường
Bài thơ trao còn nguyên trong cuốn vở
Thuở ngại ngùng lần bước đến yêu thương..”

Sài Gòn của một thời mặc áo lính. Khi ở xứ biên trấn xa xôi, nhớ về thành phố với người thương, với phố quen, trên máy bay lượn vòng thành phố, nghe như mình đã trỡ về quê hương mình. Khi đổi về đơn vị ở phi trường Biên Hòa, mỗi buổi sáng tinh sương ghé phở Tàu Bay, ăn tô phở đầu ngày trong cái không khí trong veo buổi sớm, nay nhớ lại còn trong dư vị miếng ăn ngon của một thời tuổi trẻ.

Năm 1968, lệnh tổng động viên nên vào lính nhập khoá với những người cùng trang lứa. Lúc ấy, với hăng hái của người nhập cuộc, hiểu được bổn phận của một công dân thi hành nghĩa vụ quân sự với đất nước. Lúc ấy, mắt trong veo và tâm hồn như tờ giấy trắng:

“Bọn ta ba trăm thằng tuổi trẻ
Chọn không gian tổ quốc mênh mông
Mắt sáng môi tươi như tranh vẽ
Vào lửa binh không chút nao lòng
Chia sẻ với nhau thời bão gió
Đời muôn nhánh rẽ ngược xuôi nguồn
Cánh chim phiêu bạc ngàn cổ độ
Tử sinh ai luận chuyện mất còn?
Ngồi uống cùng nhau các hảo hán
Tưởng ngày xưa rượu tiễn lên đường
Sách vở giảng đường thành dĩ vãng
Những chàng trai dệt mộng muôn phương..”

Rồi, vận nước đến thời, gia đình ly tán, đi vào trại tù, nếm đủ những cay đắng của đời cải tạo. Khi trở về, Sài Gòn, cảnh vẫn cũ nhưng người xưa đã khác. Như Từ Thức về trần, cả một thế thời thay đổi. Người về, từ trại tù nhỏ sang qua nhà giam lớn, vẫn những con mắt công an cú vọ rập rình, vẫn những lý lịch trích dọc, trích ngang đeo đuổi. Tạm trú, tạm ngụ, ở chính ngôi nhà của mình. Nơi sẽ định cư của những người tù cải tạo, là những vùng kinh tế mới xa xăm, những nơi chốn đầy ải của ngày tuyệt lộ. Trở về xóm cũ, làm người lạ mặt:

“Đỏ bầm mặt nhựt cơn mê
lạnh tanh khuôn mắt người về dửng dưng
vào ra lối rẽ ngập ngừng
mấy năm sao lạ , nỗi mừng chợt xa
cầu thang quẩn dấu chân qua
đời như hạt nước mưa sa bóng chiều
từ rừng máu giọt gót xiêu
thảm thương phố cũ nắng thiêu mộng người
đỏ bầm ánh điện đường soi
cây nhân sinh chợt nẩy chồi cuồng điên
nhìn soi mói nụ cười đen
mắt hằn dấu đóng chao nghiêng một ngày.”

Về trình diện công an khu vực, nhìn nụ cười gằn vừa mỉa mai vừa soi mói, nhìn đôi mắt cú đóng dấu vào một ngày thất thế của người bại binh, ôi đau xót cho một đời ngã ngựa.

Ở Sài Gòn những ngày giặc chiếm, vẫn còn âm hưởng của một cuộc chiến chưa tàn. Trên chuyến xe bus nội ô, một người lính què dẫn dắt người lính mù hát những bài hát ngày xưa ngày còn chiến đấu dưới cờ. Quân lực VNCH là tập thể của những người lính tin tưởng vào công việc làm của mình. Dù thua trận nhưng họ không muốn làm hèn binh nhục tướng…

“trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Dắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời thơ nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa thuở xa xưa
khói mịt mù thời chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thuở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giày buồn còn vết giữa sình lầy
Nghe lời hát tưởng đến người gục ngã
Cả chuyến xe chia sẻ một nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn dù gỗ đá
Thức hồn người vào nhịp thở chưa quên
Ơi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói từ mắt thầm cầu nguyện
Cho lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây thịt xương còn sót lại một đời
Còn ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Dù rã rời nhưng vẫn thắm nụ cười
Ta nghe rực trong hồn trăm bó đuốc
Mặt trời lên xua tăm tối cho đời..”

Ở Sài Gòn năm 1980, là những ngày tôi cựa quậy trong nan lồng. Nghèo đói, bất công, đe dọa, bắt bớ, đủ thứ khổ nạn đổ lên đầu người dân nhất là những người được thả về từ trại tù. Mỗi ngày trình diện công an, rồi mỗi tuần, mỗi tháng nhưng áp lực thì càng ngày càng tăng. Tạm trú, từng tháng, từng ngày. Không có một chỗ nào ở thành phố cho các anh, người thua trận. Tôi, không có hộ khẩu, ở tạm trong nhà của mình. Rồi tham gia tổ chức vượt biên ở Bến Tre bị công an tỉnh này lên Sai Gòn tìm bắt. May là thoát được nên sau đó là phải sống lang thang đêm ngủ chỗ này tối ở chỗ khác. Những buổi tối trời mưa, đạp xe đi tìm chỗ tạm trú, mới thấy ngậm ngùi cho câu than thở trời đất bao la rộng lớn mà sao ta chẳng có chốn dung thân. Những buổi chiều nắng quái, đi trong thành phố, mới thấy cảm gíac của một kẻ cô đơn như con chuột đang cuống cuồng trong lồng giữa cơn mạt lộ. Thấy đi tới đâu cũng gặp những cặp mắt ngại ngùng của những người thân, từ chối thì không nỡ mà chứa chấp thì bị liên lụy nên tôi phải tìm một phương cách để cho qua đêm dài. Thuê phòng trọ hay khách sạn cực kỳ nguy hiểm, nên chỉ có một cách là trà trộn vào những người ngủ ngoài đường. Lúc ấy, ở Sài gòn đầy những người ngủ ở hè phố, Họ là những người từ kinh tế mới về chịu không kham sự khổ cực hay những người vượt biên hụt trở về nhà bị chiếm. Mà chỗ an toàn nhất là bến xe Ngã Bảy. Ở đây là đường ranh của nhiều phường nên chỉ có một quãng ngắn, ở chỗ này bố ráp thì chỗ kia vẫn bình thường như không có gì xảy ra. Tôi có xem một video của trung tâm Asia có ghi lại hình ảnh của nhạc sĩ Trúc Phương cũng hoàn cảnh phải ra xa cảng để ngủ qua đêm mà chạnh lòng. Thì ra, ở lúc ấy, có nhiều người chung cảnh ngộ, phải lang thang ngủ đầu đường xó chợ một cách bất đắc dĩ. Bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt, công an lộng hành, bắt người không cần lý do, kinh tế thì lụn bại, ngăn sông cấm chợ, cả nước nghèo đói không đủ gạo ăn, kỹ nghệ trì trệ không sản xuất được gì đáng kể. Rồi chính sách phân biệt đối xử, giáo dục thì nhồi sọ, hồng nhiều hơn chuyên, thi cử tuyển chọn theo lý lịch hơn là thực tài, y tế thì thiếu thuốc men phương tiện và y sĩ trình độ kém lại làm việc tắc trách. Thật là một thời tệ mạt nhất trong lịch sử dân tộc ta.

Ngủ ở bến xe Ngã Bảy, mướn cái chiếu 1 đồng, kiếm một chỗ qua đêm, tôi đã chứng kiến nhiều chuyện. Có những bà mẹ góp nhóp tiền bạc đi thăm con ở một trại tù nào đó, chờ xe ba bốn ngày, sống lang thang lếch thếch chờ đợi. Cũng có những người không nhà, nằm la liệt dưới mái hiên, sinh sống ăn ngủ và làm tình một cách thản nhiên như đang sống trong nhà mình. Cũng có những trai tứ chiếng, những gái giang hồ quanh quẩn kiếm ăn. Những anh lơ xe, những chị buôn hàng chuyến, những mối tình, hừng hực xác thịt cứ diễn ra hàng đêm. Rồi những đêm mưa gió, ướt át, những tiếng chửi than trời trách đất cứ dòn dã. Hình như, ở gần nỗi khổ, tâm hồn họ bị chai sạn đi. Công an từ phường này qua phường kia luôn luôn bố ráp nhưng như một trò chơi cút bằt. Áo vàng mũ cối đi qua, chỉ ít lâu sau là đâu vẫn đấy.

“ .. hè phố rác lạc loài hoa dại
nở buồn tênh phiến gạch ngậm ngùi
cỏ đớn hèn hạt sầu kết trái
ươm bao năm dầu dãi nụ cười
ngủ chợp mắt đèn khuya vụn vỡ
ho khan ai quằn quại phổi khô
tiếng còi hú nhát đinh vỡ sọ
nghiến xe lăn tim nhịp chày vồ
rưng não tủy bầu trời tháng chạp
cành cỏ khô héo mãi phận mình
ở vu vơ ngỡ ngàng tiếng khóc
đêm bến xe tưởng chốn u minh
đường bảy nhánh chỗ nào phải lối
ngủ nơi đâu còi rúc giới nghiêm
như tiếng cú rúc trong huyệt tối
người lao xao cõi tạm cuồng điên
gío nhọn hoắt ngon lành da thịt
mưa giọt soi mộng dữ chân người
ánh đèn pin mắt ai tội nghiệp
bờ đá xanh lạnh buốt chăn đời..”

Ở một đất nước vào thời kỳ mà cây cột đèn nếu đi được cũng muốn vượt biển, thì còn con đường nào khác hơn là thách đố với định mệnh.

Những lần sửa soạn ra đi, tự nhủ hãy đi một vòng thành phố thân yêu để rồi vĩnh biệt không còn gặp lại. Những khúc sông, những cây cầu, những dãy phố, mỗi mỗi đều nhắc đến kỷ niệm và khi sắp sửa ra đi như mất mát một phần đời sống mình. Có buổi tối, đi trong mưa, để tưởng nhớ lại lúc xa xưa, khi bềnh bồng trong cảm giác lãng mạn của một người đi tìm vần thơ.

Mai ta đi xa. Thôi giã từ thành phố. Lòng đau như cắt trong lúc giã từ “ta thắp nến đọc hoài trang sách kể
Chuyện người tù vượt ngục suốt một đời
Ta hùng hực cánh buồm chờ gió đẩy
Sống một ngày thêm thúc giục khôn nguôi
Đã đắp xóa bao lần cơn mộng biếc
đường phải đi cho đến lúc xuôi tay
sóng loạn cuồng con thuyền trôi biền biệt
giăng buồm lên phương viễn xứ một ngày
Ta cũng biết còn xa vùng đất hứa
Phải đi qua địa ngục chín mươi tầng
Đời hiện tại xích xiềng theu bão lửa
Nỗi niềm riêng còn khóe mắt thương thân
Đã thấm thía ngày qua ngày tù tội
Chim trong lồng mơ vùng vẫy trời cao
Cười khinh mạn những chão thừng buộc trói
Về phương đông nơi bến đỗ tay chào
Mộng ước mãi chiều nao vời cố quận
Chim sẻ ngoan còn ríu rít phố phường
Loài ác điểu vẫn gây căm tạo hận
Bẫy gai chông ngầm phục ở quê hương
Ta tin tưởng có quỉ thần dẫn lối
Dù giặc thù vây bủa cả không trung
Còn một chén nốc ngụm men vời vợi
Gió chuyển rồi thôi đến lúc lên đường
Chuyện sinh tử dỡn chơi thêm ván cuối
cạn láng rồi thử thách với phong ba
ngôi tinh đẩu dẫn ta về bến đợi
đường biển vẽ rối tay lái thẳng lối qua.”

Bây giờ, nhiều người trở lại nói thành phố đã đổi khác. Hết rồi, những con đường cũ, những ngõ hẻm xưa. Hết rồi, những tâm tình thuở nào, của một thời trong một đời người. Tôi, có lúc đọc những bài viết cũ, ngắm lại những hình ảnh xưa, lại nhói đau như vừa đánh mất một điều gì trân quí. Thôi vĩnh biệt Sài Gòn, tiếng kêu thảng thốt của người vừa đánh mất một phần đời sống mình…

Nguyễn Mạnh Trinh

https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2012/05/27/nguyen-manh-trinh-sai-gon-mot-thoi-cua-mot-doi/

Chân dung người nữ diễn viên Truyện NHẬT TIẾN


NHẬT TIẾN

img_3173

Hồi nhỏ, khi còn cắp sách đi học ở lớp nhất trường Hàng Vôi, ngày nào tôi cũng có dịp đi qua nhiều khu phố tráng lệ ở Hà Nội. Tôi học lớp chiều và hay đi học sớm vì có thói quen la cà chỗ này, chỗ kia.

Qua phố Hàng Trống, tôi hay đứng tại tòa báo Giang Sơn hay Liên Hiệp để đọc những tiểu thuyết in từng kỳ trên tờ báo ra trong ngày, được tòa soạn treo trước cửa ở khu chợ người qua lại xem tự do. Qua phố Hàng Khay, tôi hay đứng lại ở khu chợ Hoa ven bờ hồ ngắm nhìn những bông hồng, bông cúc hay glaïeul phô những mầu sắc rực rỡ trên những nền đá xanh biếc. Nhưng điều mà tôi ghi nhớ sâu xa nhất vẫn là bức hình chân dung được trưng bầy tại một tiệm ảnh có tên là Dung Photo ở ngay trên Phố Bờ Hồ.

Tôi không phải là loại người say mê nghệ thuật chụp ảnh. Tôi cũng không quan tâm đến những bức hình chụp phong cảnh hay tĩnh vật trưng bầy ở hai bên tủ kính lồng trong những khung cảnh đẹp đẽ mỹ thuật.

Tôi chỉ chú ý, hay nói đúng hơn bị thu hút bởi mỗi một tấm chân dung chụp hình một thiếu nữ. Nàng là ai, tên là gì, tôi chẳng đủ số tuổi mơ mộng để quan tâm nhưng thực sự tôi đã bị lôi cuốn bởi đôi mắt đó, vầng trán đó, mái tóc đó và nụ cười đó.

Người thiếu nữ trong hình còn rất trẻ, chỉ trạc khoảng mười lăm, hay mười sáu, cái số tuổi chưa làm cho đôi mắt trong veo kia vương vấn một nét buồn, cho nụ cười kia vẫn còn mang đầy vẻ hồn nhiên, vô tư và duyên dáng như những búp hồng mới nở ?

Hôm đầu tiên bức ảnh chân dung được bầy ra trong tủ kính, tôi đã chiêm ngưỡng một cách sững sờ. Rồi kể từ đó, không ngày nào đi qua mà tôi lại không đứng lại, nhìn, ngắm, ghi gói từng chân tóc, từng kẽ mày, từng những nốt đen lốm đốm trên giấy ảnh ở vành môi của nàng, ở khóe mắt của nàng, ở hàm răng trắng nuốt có một cái răng khểnh rất xinh, rất nghịch ngợm và đầy vẻ hồn nhiên, vô tư của nàng.

Thời gian si mê bức chân dung ấy kéo dài có đến trên bốn năm. Bốn năm trời trôi qua, bức ảnh ấy vẫn còn tồn tại ở đó, trong khung kính sáng lòa, ở vị trí chính giữa, thuận tiện cho khách qua lại bên đường ghé lại nhìn ngắm và hầu như chủ nhân của tiệm Dung Photo cũng đắc ý với tác phẩm của mình nên không chịu thay đổi đi mặc dầu những hình ảnh phong cảnh khác cứ vài tháng lại được thay đổi một lần.

Tôi thầm cám ơn ông ta lắm, vì như thế, tôi vẫn còn có dịp hàng ngày nhìn ngắm hình ảnh con người trong mộng của tôi. Rồi sau đó, tôi đã ngồi lên ghế nhà trường bậc trung học. Tôi đã đến số tuổi để mộng mơ. Và trong những phút giây lan man suy nghĩ về những cơn xao động mong manh trỗi dậy trong tâm hồn, tôi vẫn thấy thấp thoáng chân dung của nàng. Tôi đã đặt cho nàng cái tên giản dị nhưng đầy đủ ý nghĩa đối với tôi là “Dung Photo”, lấy ngay tên của tiệm ảnh đã sáng tạo ra bức chân dung của nàng.

Một năm trước ngày có hiệp định chia cắt, anh bạn cùng lớp với tôi bỗng một hôm nêu ra một phát giác hết sức động trời:
– Tớ biết địa chỉ ‘‘Dung Photo’’ của cậu rồi!
Tôi giật nẩy người lên như chưa bao giờ bị hứng chịu một cơn chấn động mạnh mẽ đến thế. Thấy mặt tôi hơi biến sắc, Hòa, người bạn của tôi vỗ vai cười:
– Bộ cậu yêu thật đấy à?
Tôi đỏ mặt lên, cố biện minh:
– Bậy nào! Người ta ít ra cũng hơn mình hai, ba tuổi. Mấy lại đã gặp nhau bao giờ mà yêu với đương.
Hòa thì thào tiết lộ:
– Năm nay cô ấy đúng mườỉ chín ! Sắp lên xe hoa về nhà chồng đấy! Cậu có muốn biết tên thật là gì không?
Tôi vội vã giơ tay cản lại, như muốn chối bỏ tất cả những điều gì do anh bạn đã tiết lộ.
– Khỏi cần! Khỏi cần! Với tôi bao giờ nàng cũng chỉ có một tên là “Dung Photo”.

Tôi nói mà thấy như giọng của mình nghẹn lại. Sự nghẹn ngào này không giấu nổi ánh mắt tinh tế của Hòa, cho nên anh ta biết ý xoay câu chuyện qua một đề tài khác. Tôi cho như vậy là hơn, vì thực sự ngay lúc đó, tôi không có đủ can đảm để nghe rõ hơn về những chi tiết quanh nàng. Còn có gì nữa đâu khi nàng sắp lên xe hoa về nhà chồng.

Một tuần lễ sau ngày tiết lộ của Hòa, tiệm Dung Photo cất bức ảnh chân dung đi, không trưng bầy ra nữa. Có thể nó đã được mua lại bởi người chồng chưa cưới của nàng. Mối tình si mê viển vông của tôi bị cắt đứt phũ phàng nhưng chính điều đó lại càng để lại trong lòng tôi những vết thương khó lành.

Cả khu phố Bờ Hồ như hoang sơ hẳn đi vì thiếu vắng bức chân dung của nàng. Tôi mất thói quen đạp xe nhàn tản trên đường phố lúc về chiều mà không lần nào lại không ghé qua Dung Photo để nhìn ngắm ánh mắt, nụ cười của người thiếu nữ ấy. Gọi là tôi thất tình thì không đúng vì tôi chưa bao giờ được gặp nàng, nhưng những phút nhớ nhung, xao động đã gậm nhấm, làm tôi đã thổ lộ tâm sự của mình trên hàng xấp nhật ký viết riêng cho mình đọc.

Tới tháng Bẩy năm 1954, trước khi giã từ Hà nội để vô Nam, tôi đến chào từ biệt Hòa tại nhà anh ta ở phố Đường Thành. Hòa tiếp tôi ở trên chiếc ghế xích đu đặt ở sân ngoài. Ngồi tại đó, tôi có thể nghe tiếng những âm thanh cười nói phát ra từ phòng khách phía trên, qua một khung cửa sổ mở rộng. Có giọng nói của đàn ông xen với tiếng trả lời ấm áp, rộn rã của thiếu nữ. Hòa chỉ tay về phía ấy và nháy mắt với tôi:
– Dung Photo đấy! Bà ấy sắp trở thành chị dâu của tôi.

A! Thêm một điều mới lạ nữa mà bây giờ tôi mới phát giác ra. Tôi đã từng biết Dung Photo sắp đi lấy chồng, nhưng tôi không thể ngờ được rằng nàng lại sắp lấy anh ruột người bạn cùng lớp của tôi. Chẳng phải Hòa giấu giếm gì nhưng một phần vì tôi không muốn hỏi tiếp tới sau câu chuyện bữa nọ đã xảy ra, phần khác, Hòa đã trông thấy phút nghẹn ngào của tôi qua ánh mắt, qua giọng trả lời đầy xúc động của tôi khi được tin Dung Photo sắp đi lấy chồng.

Nhưng bây giờ thì tôi không còn nhiều thời gian để quan tâm đến những chi tiết ấy nữa. Tôi sắp xa Hà nội. Tôi sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới với một viễn ảnh nhiều khích động, nôn nóng và dĩ nhiên là hoàn toàn mới lạ đi với tuổi trẻ ham bay nhẩy như tôi. Cho nên, tôi vẫn giữ được vẻ thản nhiên khi được Hòa cho biết Dung Photo sắp trở thành chị dâu của anh ta. Tôi biết rõ tôi đang chuẩn bị để dời xa thành phố này. Trả lại đây cơn mơ mộng viển vông của thời thơ ấu. Trả lại phố phường những ngày đạp xe đi dưới bóng mát của những lùm cây đầy ắp âm thanh xao động buổi sáng sớm cũng như lúc xế chiều. Tôi sắp xa tất cả, kể cả người đẹp mà tôi đã từng ấp ủ bóng dáng của nàng qua bức hình ở tiệm Dung Photo với những đêm trằn trọc thao thức, với những trang nhật ký kéo dài liên miên, bất tận hết tập vở này đến tập vở khác.

Lúc tôi sắp sửa ra về thì Dung Photo cũng từ phía nhà trên đi ra cổng. Ngồi ở trên ghế xích đu, qua những cành ngọc lan ngả là là xuống sân sỏi nhỏ, tôi thấy nàng nhí nhảnh đi bên cạnh người chồng chưa cưới, anh Hùng, mà tôi đã có nhiều lần gặp gỡ nói chuyện bâng quơ.

Nàng có mái tóc đẹp hơn cả trong hình, bởi ở tấm hình, tôi chỉ được nhìn thấy phía đàng trước, và tấm hình đen trắng chẳng thể diễn tả được cái vẻ bồng bềnh như mây khói của cả một làn tóc mây dài có màu đen như mun, có dáng óng ả như một mối tơ thả xuống hai bờ vai thon gọn ghẽ trong chiếc áo dài đơn sơ mầu tím Huế của nàng. Lúc nàng quay lại nói với Hòa, tim tôi thắt lại vì hình ảnh lộng lẫy của nàng. Dung Photo quả là có sắc đẹp trên cả những hình ảnh mà tôi vẫn từng ấp ủ.

Dù là lần đầu tiên tôi gặp nàng, nhưng hầu như tôi có cảm giác gặp lại một người thân quen. Tôi đã chẳng có bốn năm dài đằng đẵng mỗi ngày chiêm ngưỡng nàng trong bức ảnh chân dung là gì. Nhưng nàng chẳng thể biết được tôi là ai lúc đó. Nàng nhìn tôi với cặp mắt hững hờ. Tia nhìn chẳng kéo dài quá một giây đồng hồ mong manh. Làm sao nàng có thể hiểu được trên cõi đời này lại có một kẻ đã dành cho nàng bao nhiêu tâm tư và thì giờ đến như thế.

Sau bữa đó, là gần ba mươi năm dài chia xa. Tôi không còn được nghe tin tức gì về Hòa, về anh Hùng cũng như về đám cưới của nàng sắp được cử hành. Cuộc sống mới của tôi ở miền Nam có những lôi cuốn mãnh liệt. Hà Nội lùi xa dần trong trí nhớ của tôi.

Những hình bóng cũ, những kỷ niệm cũ, những tâm tình mơ mộng cũ lâu ngày đã bị chìm khuất sau lớp bụi mỗi lúc một dầy thêm của thời gian, của những va chạm trong cuộc sống, của những biến cố mà con người phải trực diện từng ngày trong một đất nước có chiến tranh.

Mãi tới đầu năm 1978, khi gặp lại Hòa, từ miền Bắc vô Sài Gòn, mọi thứ cũ càng trong quá khứ mới có dịp trỗi dậy. Chúng tôi, sau những phút e dè khởi đầu, đã có thể hàn huyên với nhau đủ thứ chuyện, dĩ nhiên câu chuyện về đời sống của người đẹp năm xưa không thể không đề cập đến. Sau dây là lời kể lại của Hòa:
– Sau khi cậu đi Nam rồi, những ngày đầu của sự tiếp thu Hà nội là những ngày sôi động nhất. Tuổi trẻ thành phố ùa xuống đường cuồng nhiệt như thác lũ đầu mùa. Với tất cả thiện chí và nhiệt thành, cộng thêm cả yếu tố ham vui, ham hoạt động, họ đã đón nhận thể chế mới như một cơ hội làm lại xứ sở sau những năm tháng dài ngủ quên dưới chế độ thuộc địa của Pháp. Chín mươi chín phần trăm đều không biết Cộng sản là gì ngoại trừ một thiểu số thanh niên nhậy cảm như anh Hùng. Điều này đã trở thành một cái hố ngăn cách khởi đầu giữa anh Hùng và chị ‘‘Dung Photo’’. Chị ấy đẹp lại có khiếu văn nghệ, hát hay, đàn giỏi, nên tham gia đủ loại chương trình trình diễn. Trong khi ấy, anh Hùng khép kín mình lại để làm thơ, viết văn mà không bao giờ đăng báo cả. Đám cưới đã dự tính của hai người trên căn bản đó đã bị đình hoãn, rồi mâu thuẩn sâu sắc ngày một gia tăng đến độ phải hủy bỏ. Một thời gian sau, anh Hùng tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đóng góp rất hăng hái cho tờ Nhân Vă n rồi tờ Đất Mới của sinh viên, trong khi ấy chị Dung Photo đã có người yêu mới, một cán bộ Văn công cao cấp, có Đảng tịch và dĩ nhiên là già hơn chị ấy ít ra là mười lăm tuổi.

Trước ngày lên xe hoa về nhà chồng, chị ấy có gặp anh Hùng một lần cuối. Cố gắng cuối cùng của chị là mong cứu vãn tình thế nguy hiểm của anh Hùng trước khi quá trễ. Chị tiết lộ cho anh Hùng hay rằng Đảng Ủy đang chuẩn bị đánh lớn, đánh quyết liệt vào đầu não cũng như những dây mơ rễ má của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ngoài lý do “không còn đường nào khác”, chị ấy còn cố lay chuyển tư tưởng của anh Hùng:
-Anh không thấy đất nước đã đổi mới rồi sao? Độc Lập là ước mơ của toàn thể mọi người. Bây giờ không còn là lúc để ngồi đặt vấn đề mà là thực sự bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước. Dĩ nhiên, một đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ thì ở lãnh vực nào không có sai sót. Chúng ta, nhân danh tuổi trẻ, sẽ nỗ lực sửa chữa những sai sót ấy. Tương lai, vận mệnh của quê hương này ở chúng ta. Thế thì còn có điều gì nữa mà anh ngần ngại?

Anh Hùng chỉ lẳng lặng ngồi nghe mà không phát biểu một lời nào. Thực sự lòng anh vô cùng chua xót khi nhìn thấy người yêu như một cánh chim hăm hở, muốn vụt cất cánh bay lên trời cao mà không biết, hay không muốn biết bầu trời đang vần vũ những cơn bão tố.

Dung Photo có lý tưởng của nàng. Ôi cái lý tưởng của tuổi trẻ bao giờ chẳng được vun đắp bằng những nhiệt tình sôi nổi nhiều hơn là những lý luận dài dòng.

Nửa năm sau đó, chị đi lấy chồng cùng lúc với biến cố anh Hùng bị bắt đem đi cải tạo tập trung.
Hôm công an ùa vào nhà khám xét, căn phòng của anh bị tìm bới tung tóe cả lên. Họ mang đi rất nhiều bản thảo, giấy tờ, và cả những tờ báo anh viết dầy đặc những lời ghi chú lên đó nữa.

Hòa kể đến đây thì chậm rãi rút ở túi ra một bức hình. Vừa thoáng nhìn, tôi đã la lên:
– Hình của Dung Photo.
Hòa gật đầu:
– Đúng rồi! Bản chính, tấm lớn lồng kính mà ngày xưa cậu đã từng chiêm ngưỡng bốn năm liền thì anh Hùng đã trả lại cho chị ấy từ ngày hai người hết liên hệ với nhau. Duy còn có tấm được rửa ra cỡ nhỏ này thì anh ấy không hiểu vô tình hay cố ý giữ lại trong ô kéo, mãi đến lúc công an lục lọi nó mới rơi ra và tôi đã giữ lại sau khi anh ấy bị dẫn giải đi. Không bao giờ anh tôi còn có dịp nhìn lại bức hình này bởi anh ấy đã chết trong lao tù ở Việt Bắc.

Kể đến đó, khuôn mặt xanh xao của Hòa chợt như dắn đanh lại. Tôi thấy ánh mắt của anh gợn lên những tia sáng đục ngầu và long lanh như ngấn lệ. Tôn trọng giây phút cảm xúc chợt đến trong tâm tình của người bạn cũ, tôi lẳng lặng cầm bức hình lên ngắm nghía.

Cả một dĩ vãng xa vời tưởng đã chìm khuất trong lớp bụi chồng chất của thời gian này đột nhiên sống dậy một cách vô cùng mãnh liệt. Tôi như thấy lại tâm tình của tôi năm mười bẩy tuổi. Tôi như vừa đã đứng ở đó, ngày hôm qua, tay còn dắt chiếc xe đạp cũ mầu xanh, đứng say mê nhìn ngắm bức chân dung lộng lẫy bầy trong tủ kính của tiệm Dung Photo ở trên đường phố Bờ Hồ.

Vậy mà hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua. Thời gian thì khoảnh khắc mà tang thương, dâu bể đã chồng chất biết bao nhiêu là nỗi niềm.

Đêm hôm ấy, Hòa lưu lại nhà tôi để còn tiếp tục tâm sự. Tôi thấy rõ những khoảng cách biệt, ngỡ ngàng giữa tôi và Hòa cứ ngày một thu ngắn lại. Thì ra dù đã được tôi luyện, nhào nặn dưới chế độ Cộng sản đến bao nhiêu năm, hầu như mỗi con người miền Bắc đều còn ấp ủ một mối tâm tình riêng biệt, đào rất sâu, chôn rất chặt, và nó chỉ bung ra một cách hiếm hoi khi có dịp.
Tôi được nghe Hòa kể tiếp:
– Chị Hồng….ấy quên, “Dung Photo” của cậu chứ, sau này trở thành một diễn viên nổi tiếng ở miền Bắc. Chị ấy chuyên thủ những vai trò có tính chất khích động tuổi trẻ, làm sống dậy trong tâm hồn tuổi trẻ cái ý thức phục vụ xây dựng trên căn bản nuôi dưỡng sự căm thù. Tôi hiểu rằng chị chỉ là một hòn bột nằm trong tay nhào nặn của người chồng làm văn công ở cấp cao. Chính ông ta viết kịch, hoặc dịch kịch bản từ Trung Quốc hay Liên Xô, rồi cũng chính ông ta đạo diễn cho chị để đặc tả những xen, cảnh mà tình huống mâu thuẫn lên cao nhất, căng nhất.

Sự thành công tột bực của chị đã phủ một hào quang đến nỗi làm cho chính chị bị chóa mắt. Chị ấy có ảo tưởng như mình là một biểu tượng của tuổi trẻ tiến bộ trong một xã hội cũ kỹ đang chuyển mình tiến lên một vận hội mới. Chị ấy say sưa đả phá những động lực làm trì trệ con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trước còn ở trên sân khấu, sau lan ra cả đến cuộc đời thực tế mà nạn nhân bị chĩa mũi dùi đầu tiên chính là người chồng già nua, nhiều tuổi Đảng của chị.

Ông ta đâu có phải là ông thánh. Chẳng có ai là thánh trên cõi đời này kể cả mấy ông trùm nằm trong Trung Ương Đảng. Nói cho rõ hơn, nhiều anh cắc ké cũng muốn hủ hóa nhưng làm gì có điều kiện. Phần lớn đã biến thành những mẫu người gan lì, chịu đựng, nhưng trong thâm tâm vẫn ẩn náu một niềm mơ ước được bung ra như một vẩy sét nằm trong những thanh thép đã được trui rèn. Các ông cán bộ cấp cao thì đời sống hẳn phải khác hơn người. Họ được chế độ đặc biệt ưu đãi. Họ có cái thẩm quyền xét đoán, phê phán người khác mà ngược lại, không ai có quyền thắc mắc gì về những hành vi, về đời sống thực của họ cả.

Quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa chỉ là một cái bánh vẽ trang trí cho bộ mặt của chế độ, trong khi ấy, kẻ làm chủ đích thực lại nằm trong tay một giai cấp mới đã hình thành, giai cấp có đảng tịch nắm quyền chi phối tư tưởng của mọi người. Chồng của chị Hồng là một thành viên của giai cấp ấy.

Ông ta, khi xuất hiện trước đám đông trước các kẻ cộng tác liên hệ đến nhiệm vụ, thì đã mang một bộ mặt hết sức lý tưởng. Và nhân danh cái lý tưởng ấy, ông thôi thúc giới trẻ lăn xả vào đóng góp. Nhưng ngược lại, ở đời sống riêng tư, rõ ràng là ông ấy đang thụ hưởng ngay chính trên những thành quả do mọi người đem lại. Hơn ai hết, trong cương vị của một người sống ngay kề cận, Hồng đã nhận thức được cái thực tế bẽ bàng và chua xót này.

Một lần, trong bữa cơm, vừa bưng bát lên ông ta đã buông xuống và chê gạo hẩm không ăn. Hồng nói rằng trong hoàn cảnh mọi người còn đang thiếu thốn, không ai có quyền đòi hỏi hưởng thụ nhiều hơn. Ông ta đã chỉ vào mặt của Hồng, tác sắc:
– Cô hãy lột cái vỏ diễn viên tuồng tích trên sân khấu ấy đi khi trở về sinh hoạt trong đời sống gia đình.

Hồng cảm thấy bị xúc phạm nặng nề sau câu nói trắng trợn ấy. Lần đầu tiên nàng thấy thấm thía sâu xa về vai trò con bù nhìn bị giật dây cho đóng trò của mình, trong khi ấy nàng vẫn tưởng mình đang ra sức phục vụ cho một lý tưởng tốt đẹp đáng tôn thờ.

Một lần khác, sau một mùa kịch thành công sôi nổi, Hồng đã nhận được rất nhiều thư từ của khán giả gửi về ngợi khen. Đặc biệt có một lá thư chỉ viết vỏn vẹn vài câu nhưng chứa đựng cả một sức nặng đủ khiến cho Hồng choáng váng. Lá thư được gởi từ một nữ công nhân trẻ:
– Chị trình diễn hay lắm. Tài năng của chị đã lôi cuốn cả một Thế hệ tuổi trẻ như tôi. Tôi tin chị đến độ lấy hình ảnh của chị làm mẫu mực, lấy lời nói của chị làm châm ngôn hành động. Và tôi đã lao đầu một cách mù quáng vào mọi công tác, mọi chiến dịch nhằm xây dựng xã hội, cái xã hội mà ở đó tôi đã bị bứng ra khỏi truyền thống gia đình, ra khỏi bàn tay thương yêu của cha mẹ. Rồi chị có biết số phận của những con thiêu thân như tôi hiện nay đang làm gì không? Thưa chị, tôi vừa đang là công nhân cho một hợp tác xã vừa phải đi làm một con điếm mới đủ nuôi thân!”

Hồng đã giấu lá thư không cho chồng biết, bởi nàng đã thấy rõ, cho đến lúc này, ông ta không còn là người có thể chia sẻ được với Hồng trong những cơn giông tố của tâm hồn bắt nguồn từ những nguyên nhân mà ông ta không thể nào cảm thông được.

Sau lần đó, Hồng thoát được ra khỏi cơn mơ chỉ sống trong hào quang của những nhân vật do chính nàng thủ diễn. Nàng khỏi sự quan tâm đến đời sống của mọi người chung quanh. Nàng hay lén đi lang thang trên những con đường quanh co, có khi là ở trong thành phố đông đúc chật hẹp, có khi là ở vùng ngoại ô với những mái nhà xiêu, vách nát. Nàng đã nhìn thấy những mảnh đời tối tăm, cực nhọc. Nàng đã thấy những khuôn mặt bạc nhược của những con người bị thiếu thốn đủ thứ nhưng lại bị những chiến dịch, tuyên truyền, những khẩu hiệu, những nghị quyết, những đợt học tập ngắn hạn, dài hạn thôi thúc tối đa. Những nhận thức mới này đã đánh một đòn nặng lên cân não của Hồng đến độ nó có ảnh hưởng mãnh liệt trên khả năng trình diễn của nàng.

Chồng nàng là người trước tiên nhìn ra cái nhược điểm đó. Ông ta mang đầy vẻ bồn chồn của một kẻ dồn hết vốn liếng vào việc nuôi dưỡng một con ngựa mà nay nó bắt đầu giở chứng không chịu dồn hết sức lực ra bốn vó trong mỗi cuộc đua. Điều này đã nhiều lần gây ra những xô xát, cãi cọ sau mỗi buổi trình diễn, trước thì còn ở nhà riêng, trong sinh hoạt gia đình riêng tư, sau nó bùng nổ ngay cả trên sân khấu.

Lần ấy là một buổi diễn tập cuối cùng trước khi vở kịch khai diễn trước quần chúng, có sự tham dự của nhiều cán bộ cao cấp của nhiều ban ngành thuộc bộ môn sân khấu. Vở kịch bị cắt ngang nhiều lần bởi những nhận xét của ông chồng đạo diễn:
– Chỗ này em chưa đặc tả hết phẩm chất của người nữ công nhân trong chế độ ta. Hãy nghĩ đến sự căm thù của một tầng lớp bị bóc lột tới tận xương tủy. Hãy dồn sự căm thù vào một câu nói. Câu nói ấy ngắn ngủi thôi nhưng nó là biểu tượng của một nhận thức đã chín mùi, đã tới bước nhẩy vọt, bùng vỡ….

Hồng nhẫn nại trong cơn mệt mỏi tận cùng của mình. Nàng nhắm mắt lại để tập trung ý chí và khêu gợi niềm hận thù. Nhưng vô ích! Như một sợi cao su đã bị căng ra nhiều lần, tới giây phút đó, sức đàn hồi chỉ còn là một cái gì nhão nhoẹt. Nàng thấy thấm thía về những nỗi xót xa, ê chề mà từ lâu nàng đã từng có cái cảm giác như nó đã hiện diện, gậm nhấm trong vùng sâu thẳm của tâm tư của mình. Nếu ngay phút này nàng được yên nghỉ, được nằm úp mặt vô trong tấm chăn để khóc vùi thì có lẽ nàng sẽ trấn át được cơn giao động đang làm cho óc nàng căng thẳng như muốn nổ tung ra.

Nhưng thực sự thì nàng đang đứng ở đây, trên bục gỗ sân khấu, dưới ánh sáng của những ngọn đèn chói lòa, trước cặp mắt soi mói của những diễn viên, những công nhân phục vụ sân khấu, những cán bộ văn hóa chỉ đạo và nhất là tiếng nói cứ mỗi lúc một gay gắt của chồng nàng vang dội bên tai:
– Tập trung….căm thù…..nhẩy vọt…..bùng vỡ!
Những âm thanh chát chúa ấy nhóm lên trong lòng nàng sức phản kháng cứ mỗi lúc một gia tăng. Nàng phẫn nộ nhìn xuống dưới sân khấu. Cái lũ ngồi bệ vệ, lom lom dòm ngó từng điệu bộ theo dõi từng cử chỉ, đôn đốc, phê bình, chỉ trích từng câu nói, từng cách lên giọng xuống giọng mà những bản mặt của họ, những bản mặt hưởng thụ, phè phỡn hoàn toàn mâu thuẫn với những điều họ bắt nàng làm, buộc nàng phải đặc tả, lại có thể đòi hỏi, yêu sách đối với những người như nàng ư!

Nàng mơ ước một xã hội công bằng thật đấy, nàng khích động tuổi trẻ xây dựng một tương lai đầy xán lạn mới thật đấy, nhưng nhất định không phải là đi chung một mục đích, một con đường như lũ người đầy quyền hành và ham hưởng thụ này. Trong cuộc đờì, nếu có những giây phút đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt thiêng liêng, đặc biệt mầu nhiệm có thể làm cho con người như sực tỉnh một cơn mơ, đầu óc tràn ngập ánh sáng của sự minh triết để có thể vụt nhận thức thấu suốt được cả một chặng dài mê lộ mà mình vừa trải qua thì đúng giây phút đó đã vừa xẩy đến với nàng.

Nó soi rọi cho nàng thấy hoàn cảnh của những con người lầm than cơ cực dưới xã hội mới. Nó chỉ rõ cho nàng thấy cái công trình ra sức đóng góp bằng tất cả tài năng và nhiệt tình của tuổi trẻ như nàng chỉ là những cố gắng vun đắp cho một đẳng cấp phong kiến mới. Giá trị của nàng do đó chỉ là một con bù nhìn bị giật dây cử động hay một hòn bột được nhào nặn tùy theo cung cách, ý muốn của những kẻ có quyền hành.

Thế là trong một giây phút bất ngờ nhất, nàng như có một động lực sâu thẳm, chất chứa, xúc tích từ bao nhiêu năm nay bật lên như sức bật của một cái lò so, khiến cho nàng có thừa đủ ý chí và sức mạnh để chật cái khăn quàng, (một y phục hóa trang của diễn viên) ra khỏi cổ và ném nó xuống đất. Rồi mắt nàng long lên với vẻ căm hờn nhìn chồng lúc đó đang đứng rất gần.

Phúc, tên chồng của nàng, thừa đủ bén nhậy để thấy sự bất thường đang xẩy đến trong tâm tư, tình cảm của vợ mình. Ông ta nhào lại phía Hồng vừa nói to để lấp liếm, nhưng dụng ý là để che giấu hình ảnh chống đối của Hồng trước đám cán bộ ngồi ngay ở hàng ghế đầu quan sát buổi diễn tập:
– Em cố gắng nhiều quá nên kiệt sức rồi. Thôi! Tôi đề nghị các đồng chí tạm nghỉ giải lao.

Vừa nói ông ta vừa dùng toàn lực để đẩy nàng về phía sau sân khấu. Hồng rợn lên vì cái cảm giác như bị xô bởi cái sức lực mang động cơ của sự hận thù. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi cơn bất kham chợt đến của Hồng có thể gây đổ vỡ trên nhiều mặt: Đoàn kịch nghệ, kịch bản, những buổi trình diễn đã dự liệu và trên tất cả là chính địa vị cũng như uy tín của chồng nàng.

Ngần ấy yếu tố đã đủ để Phúc xô Hồng dưới sức nặng của hai cánh tay và với sự căm ghét tận cùng. Hồng hơn ai hết cảm nhận rõ điều đó. Bởi nhiều năm qua, Phúc chưa bao giờ phản ứng quyết liệt đến như thế, và cũng bởi vì chưa bao giờ Hồng đã giở chứng một cách bất kham ngay trên sân khấu của buổi tập.

Phúc xô Hồng về phía cửa phòng hóa trang của diễn viên. Ông ta đẩy mạnh nàng vô trong, rồi đóng thật mạnh cánh cửa lại. Với hai bàn tay đầy móng sắc, ông ta bấu chặt lấy hai bờ vai của Hồng, trì nặng xuống bằng cả sức nặng của thân hình và bằng tia nhìn đỏ ngầu vì cơn xúc động, giận dữ. Rồi ông ta rít lên qua những kẽ răng nghiến chặt:
– Cô làm cái gì thế? Muốn phá hoại hả?
Hồng không đáp mà chỉ cố vùng vẫy. Hơn bao giờ hết, nàng thấy thực tế đang xẩy ra ứng đúng vào cuộc sống của một nữ diễn viên như nàng. Nghĩa là nàng đã bị bủa vây bởi hàng rào của bạo lực. Bạo lực không phải chỉ ở hôm nay, phút này mới có nhưng nó đã hiện diện từ lâu dưới hình thức bàn tay sắt được bọc nhung. Bao lâu nay nàng cảm thấy làn nhung êm ái, mềm mại là bởi vì nàng chỉ đã tuân phục một cách tuyệt đối. Tình thế đổi khác khi nàng nổi chứng bất kham. Và sự phản ứng của chế độ, mà đại diện gần gũi là chồng nàng cũng đổi khác một cách nhậm lẹ, phũ phàng.

Nghĩ đến những đòn thù mà chế độ trước đây đã đưa ra với biết bao nhiêu con người, Hồng thực sự hoảng sợ. Cơn hoảng sợ ùa đến nhanh chóng không kém, nó gây cho nàng cảm giác buốt nhói ở sống lưng. Nhưng chỉ ít giây sau nó cũng bị nàng nhận chìm xuống bằng những hình ảnh của xã hội lầm than cơ cực bên ngoài, bằng lá thư của người nữ khán giả vừa làm công nhân vừa làm điếm mới đủ nuôi thân.

Những thứ đó không phải hôm nay bây giờ mới có, mà thực sự nó đã âm thầm hiện diện trong tâm tưởng của nàng, giống như những cơn xoáy nước có sức âm thầm bền bỉ có thể làm sụp đổ cả một cây cầu.

Nàng vẫn thường tự nhủ rằng mình cố gắng đến tối đa trong mọi nhiệm vụ hàng ngày đâu phải để chỉ phục vụ cho một tầng lớp giai cấp mới đã thành hình và đang cấu kết với nhau một cách bền chặt. Nhưng rồi càng ngày thực tế càng cho thấy rõ ràng tuổi trẻ và lòng nhiệt thành đã bị lợi dụng một cách triệt để và tinh vi. Hồng không muốn tiếp tục để bị khai thác như những con bù nhìn chỉ biết cử động khi bị giật dây.
Nàng gằn giọng nói với Phúc:
– Anh buông tôi ra! Đối với tôi, từ nay là chấm dứt.
– Chấm dứt cái gì?
– Mọi nhân vật kịch cỡm và những ý đồ gian xảo của anh xây dựng trên những nhân vật ấy.
– Cô mất cảnh giác và sai lập trường một cách nghiêm trọng rồi.
– Thì đã sao!
– Cô không lường được hết mọi hậu quả về thái độ điên rồ của cô đâu !

Hồng vụt nổi giận. Nàng có cảm giác kinh tởm bộ mặt của Phúc đến cùng cực. Nàng hét to lên mà hẳn tất cả mọi người ở bên ngoài cũng đều nghe thấy:
– Anh đừng có dọa dẫm tôi. Tôi chấp nhận hết. Thà hậu quả xẩy ra thế nào thì cũng còn hơn là tôi tiếp tục con đường trình diễn nhớp nhúa này. Anh cút đi! Anh cút đi!

Phúc xô nàng ngã xuống nền gạch và đi ra như một con hổ dữ ! Ông ta đóng sầm cánh cửa phòng lại, mạnh đến nỗi mấy tấm gương treo trên tường bị xao động mạnh, và có một tấm bị rớt xuống sàn gieo lên tiếng vỡ loảng xoảng.

Mọi người đổ xô vào phòng, nhưng không ai lại gần Hồng cả. Họ thực sự e ngại trước vẻ mặt đầy tính chất khác thường của Hồng. Lúc nàng bước ra, cả bọn giạt ra cả hai bên. Hồng không nhìn ai nhưng có cảm giác như cả trăm con mắt đang dồn về phía mình. Khi bước qua dẫy ghế đầu, nàng nghe thấy giọng của Phúc cố gắng phân trần:
– Tôi xin lỗi các đồng chí! Dù cô ấy là ai, tôi cũng sẽ có biện pháp thích đáng.

Đột nhiên Hồng lấy lại được sự bình tĩnh đến độ chính nàng cũng không hiểu được sức mạnh nào đã đem lại cho nàng cái phẩm chất ấy. Có thể là sự khinh bỉ ! Có thể là cơn phẫn nộ, sự oán ghét, lòng căm thù, những tình cảm nàng đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ nhưng không phải để trút lên đầu những con người ưu tú như những người nữ công nhân, như Hùng, như những ngòi bút trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, mà chính là dành cho những cán bộ văn công cấp cao như lũ người trước đây vẫn còn có quyền phán xét và được nàng để cho phán xét.

Hồng quay lại đám người lố nhố để mỉm một nụ cười ngạo nghễ. Nàng không biết Phúc sẽ áp dụng những biện pháp thích nghi nào, nhưng điều đó có gì đáng quan tâm khi nàng đã tự giải phóng chính mình.

Đã từ lâu lắm, hôm nay nàng mới nhớ lại hình bóng của anh Hùng với tràn ngập nỗi xót xa như bị sát muối ở trong lòng.
***
Sau bữa đó, Hồng đã không trở về nhà mà đạp xe về tạm trú ở nhà mẹ của nàng ở mãi khu cư xá tập thể Giảng Võ. Những gì đã xẩy đến cho nàng, chính Hòa cũng không được biết. Hòa chỉ đã kể thêm:
– Lần cuối cùng tôi gặp lại chị Hồng là lần tôi đi công tác trên vùng những đồi trà ở Phú Thọ cách đây vừa đúng năm năm. Chị ấy đã lập gia đình với một bộ đội phục viên đã cụt một chân trong mặt trận chống Pháp ở Điện Biên Phủ. Hai người có vẻ hòa hợp với nhau. Anh ấy thản nhiên ngồi nghe chị kể lại cho tôi nghe tất cả những chi tiết mà tôi vừa thuật lại. Sau cùng, anh ấy chỉ nói thêm:
– Tôi bị loại ra khỏi vòng chiến từ sau năm 1954.Tôi không can dự gì vào với thời cuộc ngoài công tác phục vụ sản xuất những sọt trà. Thiên nhiên đem lại cho chúng tôi đôi chút hơi hướng của sự tự do, và điều này khiến cho chúng tôi bớt ngộp thở. Chú nghĩ mà coi, ở cái xã hội này, sân khấu đã lan ra cả đời sống. Còn có ai trong cái xã hội này mà không là một diễn viên đang thủ lấy vai trò của mình.

Nhật Tiến

Tháng 4,1985

https://nhavannhattien.wordpress.com/truyen-ngan-chan-dung-nguoi-nu-dien-vien/

Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác. Truyện dài Nhật Tiến


Nhật Tiến

nha_giao_mot_thoi_nhech_nhac__nhat_tien

Lời Nói Đầu
(Hồi ký của một nhà giáo sau 30-4-1975)

Trước khi mời độc giả khởi sự đọc cuốn sách nhỏ bé này, tôi xin có một vài lời muốn bầy tỏ.Cứ theo lẽ thông thường, thì khi bước qua tuổi 70 để chuẩn bị đi vào cõi 80, con người ta dẫu có khỏe mạnh cách nào thì năng lực hoạt động cũng bị sút giảm đi rất nhiều, nhất lại là công việc của một người sáng tác.

Cũng thuộc lớp tuổi nói trên, về phần tôi trong mấy năm trở lại đây ( năm nay là 2011), tôi đã tự cho phép mình ngưng việc viết lách. Bởi viết thêm nữa làm gì, khi mà điều mình muốn viết, muốn nói thì cũng đã có nhiều cây viết ở cả trong lẫn ngoài nước viết ra, nói ra rồi, mà có khi những bài viết ấy lại còn chuyên chở đầy đủ hơn những điều mình suy nghĩ.Thế thì một cách đương nhiên, từ vị trí người của viết, tôi đã chuyển sang vị trí người đọc. Tôi đã đọc chăm chỉ, đọc miệt mài những gì tôi thích hay cần đọc, với một lòng biết ơn các tác giả, những người đã cho tôi được thưởng ngoạn các công trình tim óc của họ.

Tôi vẫn nghĩ, con người ta khi ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời mà  đầu óc còn minh mẫn để còn có thể đọc được, rồi lại còn đủ cả nhiệt tâm để thấy tâm tình trỗi dậy, biết cảm thông và chia sẻ với những điều mà tác giả đã phơi bầy trên trang giấy, như thế thì cũng đã là đầy đủ, không còn gì phải tiếc nuối nữa.

Chính từ những ý nghĩ đó mà gần đây, tôi không còn có dự tính làm thêm điều gì trong lãnh vực văn chương chữ nghĩa của mình nữa.

***

Nhưng nào tôi có ngờ đâu rằng trong nếp sống nhàn nhã với thứ tâm trạng bình an ấy, thỉnh thoảng tôi lại cứ thấy trỗi lên trong lòng mình một nỗi niềm thao thức.

Sự thao thức không bắt nguồn từ thói quen viết lách qua nhiều chục năm, bây giờ nó giục giã khiến cho mình  không được phép nghỉ ngơi.

Mà cũng không phải vì tôi  được nghe bạn bè thân quen thỉnh thoảng vẫn khuyến khích việc sáng tác,  riết rồi tôi lại tự hối thúc mình tiếp tục làm việc .

Và nhất là, càng không phải chuyện cứ thấy người khác vẫn thay nhau tiếp tục cho in tác phẩm mới, thì mình đâm ra cũng háo hức muốn đua theo.

Tất cả những nguyên do kể trên đều không giúp tôi giải tỏa được nỗi băn khoăn lâu lâu cứ trỗi dậy, dằn vặt tâm trí của mình.

Sau cùng, kỳ lạ thay, tôi bỗng phát hiện ra rằng nỗi niềm thao thức kể trên lại xuất phát từ một lãnh vực khác, cái lãnh vực mà tôi đã không còn dính líu gì tới trong nhiều năm qua.

Đó là nghề gõ đầu trẻ, cái nghề chỉ chuyên gắn bó với phấn trắng, bảng đen và những đám học trò mà tâm hồn còn trong veo của lứa tuổi đang vô tư trước ngưỡng cửa vào đời.

Rồi những ai đã từng đi dạy học thì không thể không biết tới thế nào là lương tâm và tinh thần trách nhiệm của một nhà giáo ! Vậy thì đích thị những thứ hành trang của nhà giáo mà tôi đã gác bỏ từ bao nhiêu năm qua,  nay đã bất ngờ trở lại để dằn vặt tâm hồn tôi trong nhiều đêm dài mất ngủ.

Đúng vậy, trước khi được gọi là nhà văn thì tôi đã là một nhà giáo. Trong suốt cuộc đời dạy học, tôi đã trải qua nhiều ngôi trường, ở tại nhiều địa phương và giảng dạy cho nhiều thế hệ học trò. Rồi khi  ngành giáo dục mà tôi theo đuổi, do vận nước mà bị nổi trôi theo thời cuộc thì tôi cũng vẫn còn đeo đẳng để rồi lại cũng nổi trôi theo.

Điều đó có nghĩa là khi thời thế thay đổi, nhất lại là sự thay đổi từ ý thức hệ này qua ý thức hệ khác thì hầu như mọi vốn liếng tinh thần của nhà giáo, tưởng sẽ tồn tại lâu dài với những chuẩn mực vốn đã trở thành truyền thống lâu đời, thì nay đã hoàn toàn bị đảo lộn, bị tróc gốc, đến độ như tôi đã có cảm giác rằng mình đang kiêm nhiệm cùng một lúc cả hai vai trò : vừa là thầy giảng dạy, vừa là tên học trò cứ bị nhà trường uốn nắn thường xuyên từ tác phong, cử chỉ cho đến lời ăn tiếng nói.

Nói cho đúng ra, trong suốt cả một đời người, dù bôn ba, bận bịu cách nào thì ai cũng vẫn có cơ hội để học. Cho nên tôi sẽ không buồn phiền gì về cái sự đã làm thầy giáo rồi mà vẫn cứ bị đè cổ ra để bắt học tiếp. Miễn là việc học ấy không bắt tôi phải chối bỏ chính mình, và thực sự đem lại cho tôi những kiến thức tốt đẹp để tôi có thể truyền đạt lại cho học sinh trong vai trò của một nhà giáo.

Nhưng trải gần 4 năm trầy trợt trong một mái nhà trường XHCN, tôi phát giác ra rằng ở đấy người ta không cho phép các thầy cô được làm trọn vẹn trách nhiệm của một nhà giáo lương thiện, đúng nghĩa. Bởi vì, một nhà giáo lương thiện, đúng nghĩa thì không dối trá với học trò ngay trên bục giảng hay ngay trong bài giảng của mình. Nhà giáo cũng không thể tiếp tay với nhà trường để xô đẩy học sinh vào những vùng trời mê muội;  lôi kéo, dụ dỗ, nhồi nhét vào đầu óc non nớt của chúng những thứ không nhằm phục vụ cho tương lai của chúng cũng như của đất nước  mà chỉ cho những ý đồ đen tối của một guồng máy cai trị phi nhân bản.

Nói một cách cụ thể, nếu coi tâm hồn của những trẻ thơ như là một tờ giấy trắng, thì chính lũ nhà giáo chúng tôi đã có một thời bôi tro trát trấu lên những tờ giấy đó bằng thái độ ươn hèn, câm nín, tiếp tay, a dua, bợ đỡ của mình.

Riêng trường hợp của tôi, cái giai đoạn hãi hùng phải kinh qua nhiều nỗi chuân chuyên ấy tuy chỉ kéo dài khoảng bốn năm, nhưng thật sự đã để lại trong tôi quá nhiều ấn tượng.

Đến nỗi trong nhiều năm sau này, đã có nhiều đêm choàng tỉnh dậy, tôi thảng thốt thấy như mình vẫn còn đang dẫn dắt một đám học trò lếch thếch đi khuân từng bó trúc mua ở các hợp tác xã đem về trường để cả thầy lẫn trò đều miệt mài biểu diễn việc sản xuất mành mành trúc trong những giờ học chính thức, được gọi là  giờ lao động sản xuất.

Và cũng có nhiều hôm tôi choàng tỉnh sau một cơn mơ thấy mình đang ngồi chen chúc với các đồng nghiệp khác trong một hội trường chật chội, nóng bức vào mùa hè để nghe những lời giảng dạy của thuyết trình viên mà chúng tôi đều biết rằng ngay cả chính anh ta cũng đang nghĩ là mình đang nói dối. Người nói, người nghe cùng có khả năng nhận biết đó là những màn kịch giả trá, nhưng chẳng ai dám nói ra. Nói sao được, khi chúng tôi đã bị coi như những đứa học trò lúc nào cũng bị rình rập, dòm ngó, nghi ngờ. Và cứ sểnh ra là sẽ bị báo cáo, rồi khiển trách, rồi kỷ luật, dám có thể đi tù.

Cùng trải nghiệm như thế, chắc cũng có nhiều giáo chức đã một thời cùng với tôi lui tới, sinh hoạt dưới những mái nhà trường XHCN ngay sau khi miền Nam đổi chủ. Tôi hy vọng sẽ có nhiều vị còn lưu giữ được những kỷ niệm, còn ghi gói được những kinh nghiệm sống, và còn thấy xót xa cho thân phận của nhiều nhà giáo trong quãng thời gian ấy, để rồi sẽ đưa tất cả vào tác phẩm hồi ký của mình.

Nhưng cho đến nay, số người viết về những điều ấy xét ra không nhiều. Hầu hết nếu có thì cũng chỉ là những bài viết ngắn, được thu gọn trong một vài vụ việc đáng ghi nhớ mà tác giả viết ra để đóng góp cho một tờ báo vào một dịp đặc biệt nào đó trong năm.

Như thế, chúng ta chưa có một cuốn hồi ký nào của một nhà giáo viết về sinh hoạt của Thầy trò sau tháng 4-1975, dưới mái nhà trường XHCN .

Mà có thực sự cần thiết để viết lại những điều như thế hay không ?

Theo tôi nghĩ thì rất cần.

Bởi nó là cội nguồn của những sự tróc gốc đạo đức sẽ diễn ra trong xã hội VN trong nhiều năm sau đó.

Bởi nó xây dựng nền tảng giáo dục các thế hệ đi sau trên những điều giả trá, trên những mưu toan ngoài giáo dục, và bằng những đầu óc thiển cận, hẹp hòi, đầy tự kiêu, tự mãn.

Tất cả những sự kiện như thế, ngày nay không còn thể coi là những lời nói mơ hồ nữa. Bởi vì nó đã trổ hoa, kết trái,  tiết ra nhiều độc tố sau nhiều chục năm được vun trồng.

Bởi chính nó, tức cái thành quả giáo dục ấy, đã tạo nên tình trạng đạo lý suy đồi ở cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội ngày nay. Nó cũng đã thể hiện chính xác câu nói của Lénine về “ quan hệ giữa người với người là cho sói”.  Các trang tin tức quốc nội bây giờ đã đăng lên không thiếu gì những câu chuyện khó tin mà có thật với nhan nhản những con người không còn mang tính người. Mấy chữ “mác-kê-nô” tức “mặc kệ nó” nghe tưởng vô thưởng vô phạt nhưng đã hàm chứa một triết lý sống cực kỳ tồi tệ và bi đát của một xã hội vô cảm mà hàng ngàn năm qua ta chưa bao giờ thấy hiện diện trên đất nước.

Và cũng bởi chính nó mà những điều kiện an toàn của xã hội đã bị đảo lộn, như luật pháp không còn nghiêm minh, tiền bạc mua được công lý, chức quyền có thể đổi trắng thay đen, tiếng kêu của dân oan từ nhiều năm qua vẫn còn vang lên từ khắp mọi miền đất nước ..v..v…

Nói tóm lại, cái thành quả giáo dục trong hơn nửa thế kỷ qua dưới mái nhà trường XHCN cộng với sự tiếp tay của rất nhiều thế hệ những ngòi bút vô lương tâm, chỉ biết tô son điểm phấn cho những sai lầm to tát của chế độ nên đã đem lại cho đất nước triền miên những mùa hoa trái ung thối, nhiễm độc kể từ khi có những vụ Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm…và cho đến tận ngày nay vẫn còn xẩy ra những chuyện lạ lùng như bầy tỏ lòng yêu nước thì bị cấm đoán, triệt hạ, những người yêu nước thì  lại bị bắt giữ, cầm tù.

Thành quả giáo dục đen tối như thế, chất chứa những nguyên nhân còn gây tác họa lâu dài như thế, vậy tại sao không ghi gói lại để các thế hệ sau tìm đến như tìm những vết xe đổ cần tránh xa, để không lập lại ?

Vì những lý do đó, và mặc dù có thể khả năng viết lách nay không còn được như xưa, nhưng tôi cũng cố gắng trong cái sức của mình để viết lên những trang sách này.

Tôi gọi đây là hồi ký của “một nhà giáo”, hiểu theo nghĩa chung chung là của một người đã từng cầm phấn và đứng trước bảng đen. Đấy không phải hoàn toàn là những kinh nghiệm riêng tư của một mình tôi. Bởi nếu chỉ viết riêng có chuyện mình thì bức tranh toàn cục có thể sẽ thiếu sót nhiều mặt, nhiều chi tiết. Chi bằng đặt dưới danh nghĩa “một nhà giáo”, tác phẩm sẽ gom góp được kinh nghiệm sống của nhiều người hơn và việc thể hiện trên trang giấy cũng dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, dù có cố gắng cách nào thì thành quả nếu có cũng sẽ chỉ là nhỏ nhoi trong muôn một.

Ước vọng của người viết là mong mỏi rồi ra còn có nhiều đồng nghiệp đã từng kinh qua những thời gian đó, sẽ ngồi viết lại những trang sách cùng loại, để bức tranh khắc họa về ngành Giáo Dục VN sẽ mang một nội dung phong phú hơn, những sai lầm gây tổn hại lớn lao cho đất nước do những đầu óc thiển cận hẹp hòi trong quá khứ sẽ được nói lên rõ ràng hơn, và những thông điệp gửi gấm lại cho thế hệ đi sau sẽ mang được nhiều tâm huyết hơn.

Được như vậy hẳn chúng ta sẽ vô cùng hoan hỉ vì đã cùng nhau hoàn tất trách nhiệm cuối cùng của những nhà giáo trước khi buông xuôi hai tay về chốn vĩnh hằng.

Nhật Tiến

Tháng 11-2011

Xem Tiếp Chương 1

Chém Treo Ngành – Truyện ngắn Nguyễn Tuân


Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.

Nguyễn Tuân

content_diem-sach_vang-bong-mot-thoi--nguyen-tuan

(Nguyễn Tuân – Vang Bóng Một Thời)

Phía tây thành B. trên một nền đất rộng đổ sát vào chân thành cho lầu gạch ngoài thành được thêm vững chãi, lũ cây chuối mật tha hồ mặc sức mà mọc. Nó um tùm, tàu lá rộng và không bị gió đánh rách, che kín cả bóng mặt trời. Trên áng cỏ bốn mùa ẩm ướt, loài nấm dại sinh nở hết sức bừa bộn.

Khoảng đất ấy ở phía sau kho lúa xây trong thành quanh năm không có vết chân người.

Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mấy con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ. Nhưng thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi lại bay qua ngọn thành. Vào tiết mưa dầm, những trận mưa Ngâu đổ lên vườn chuối một khúc nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu.

Vườn chuối phía tây thành sớm nay quang đãng khác mọi ngày. Trên mặt cỏ ngổn ngang những tàu lá, cuống còn tuôn rỉ ra những dòng nhựa thẫm màu. Nhựa ấy bị không khí làm se lại, kết nên thành những khối keo quyện chặt lấy búi cỏ gà.

Cùng một buổi chiều ấy, mấy người vợ lính cơ đứng trong luống bãi dâu trồng ở dưới chân thành, sát ngay với bờ hào được nghe tiếng người hát trên ngọn thành, ở trên đầu họ, đúng ngay chỗ vườn chuối im lìm của mọi ngày.

Tiếng người trên mặt ngọn thành cũ hát rằng:

“Trời nổi cơn lốc
Cảnh càng u sầu
Tiếng loa vừa dậy
Hồi chiêng mớm mau
Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau
Thừa chịu lệnh cả
Dám nghĩ thế nào
Người ngồi cho vững
Cho ngọt nhát đao
Hỡi hồn!
Hỡi quỷ không đầu!”

Người ở trên mặt thành hát đến đâu thì tiếng những thân cây chuối đổ xuống mặt đất tường thành lại kêu roạt roạt đến đấy. Bọn người đàn bà hái dâu ngừng tay bứt lá, nghiêng đầu lắng kỹ. Cái bài hát năm mươi tư chữ nghe như bài sai của thầy phù thủy, đã hát đi hát lại đến mấy lần. Cứ xong mỗi câu thì lại có một tiếng roạt. Chỉ có cây chuối bị chặt mạnh mình lìa hẳn gốc, đổ vật xuống mặt đất thì mới kêu roạt roạt như vậy thôi. Nhưng mà ai chặt chuối? Không phải hẳn là cấm địa, nhưng góc thành sau kho lúa kia cũng là một miếng đất cấm, ai dám vượt phép quan vào đấy mà hát, mà phá vườn. Có chăng là làm loạn.

Những người vợ lính cơ, quen sống trong không khí loạn lìa, chiều nay và đêm nay bàn tán mãi về cái tiếng hát trên vườn chuối mặt tường thành. Chồng họ cũng lấy làm lạ và tự nhủ ngày mai vào trại sẽ hỏi chuyện cho rõ.

Buổi sáng hôm sau, bọn vợ lính cơ, thêm được ít người tò mò nữa kéo đến vườn dâu ngoài thành, vẫn nghe rõ người ta chặt chuối trên mặt thành, với những câu hát rõ mồn một:

” Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau…”

Khi nghỉ ngơi, lúc họ mang chuyện đó về nhà thì những người lính cơ đều ra vẻ cảm động sợ hãi và cắt nghĩa:

– Ông Bát Lê sắp làm việc đấy.

– ? ? ?

– Ông lớn sắp đem mười mấy người ra chém. Và tiếng người hát trên mặt thành là tiếng ông Bát Lê đang tập múa thanh quất ở vườn chuối đấy.

– Múa thanh quất? Ở vườn chuối? Sao lại hát những câu gì thế? Và ông Bát Lê vốn chém người đã nổi tiếng, còn phải tập với tành gì nữa?

– U mày không hiểu. Lâu nay ông Bát không phải khai đao vì Ông Lớn thấy già yếu muốn cho nghỉ tay. Mỗi lần có án trảm, ông Bát chỉ phải ra pháp trường cho có mặt thôi. Còn công việc thì đã có người khác đỡ tay. Nhưng vẫn cứ được tiền thưởng. Ðã đến gần một năm nay, ông Bát không cầm đến thanh quất. Không hiểu tại sao, lần này Ông Lớn lại cho gọi ông Bát ra cho kỳ được và xem chừng như ngài săn sóc đến cái vụ xử trảm này nhiều lắm.

Lui vào tư thất, quan Tổng đốc sung chức Ðổng lý Quân vụ, nhác thấy lão Lê đang co tay úp lên mang tai nhìn vào đám vàng son lộng lẫy nhà riêng mình, ngài liền quở:

– Ít bữa nay, chú đi đâu? Ta cho thằng Cửu nó sang gọi mấy lần đều thấy đóng cửa.

– Bẩm lạy Ông lớn, ít lâu nay con về nhà quê. Giá như ngày trước, có khi nào con dám đi xa, sớm tối lúc nào con cũng phải ở trong nội thành, phòng những lúc Ông Lớn bất thần gọi đến. Nhưng từ hồi gần đây, Ông Lớn thương phận già nua cho con được nghỉ tay đao, con có mạn phép về thăm nhà. Ðược tin Ông Lớn cho đòi, con vội vã vào hầu, xin Ông Lớn tha tội. Con chờ lệnh Ông Lớn truyền xuống.

– Thôi, cho đứng dậy.

Quan Ðổng lý Quân vụ ngả mình trên ghế bành vàng và son, hất hàm hỏi tên bát phẩm đầy tớ già đang co ro người bên chiếc cột:

– Liệu bây giờ chém còn mát tay nữa không ?

– Dạ.

– Dạ sao ? Chú có biết ta sắp cho xuống cái lệnh chi không?

– Dạ.

– Có mười hai tên tử tù sắp phải hành hình. Quan Công sứ muốn được thị kiến lúc bọn hắn chịu án trảm. Ngươi chém thế nào cho gọn thì chém, hễ chém một đầu đến hai nhát thì không những ta truất tiền thưởng mà ngươi còn bị quở nữa. Chém cho thực ngọt.

– Dạ.

– Tiền thưởng này chính của Quan Công sứ cho. Ta muốn giữ phần cho ngươi nên ta cho gọi vào mà lĩnh lấy việc này, gọi là kiếm một chút bổng để dưỡng cái tuổi già. Chú phải biết khi nhận lấy mười hai tên tử tù là chú phải làm việc cho đầy đủ. Chớ để phiền đến ta. Ta đã trót khoe khoang cái tài chém “treo ngành” của chú với quan Công sứ. Chú nghĩ thế nào?

– Dạ, bẩm Ông Lớn đã thương đến phận tôi tớ chúng con xin hết sức tuân theo. Nhưng bây giờ con già yếu lắm, không biết có còn làm được việc như hồi xưa nữa không. Vả chăng gần một năm nay không cầm đến mã tấu con e có điều hơi lạc mất đường đao.

– Ta đã nghĩ đến chuyện đó rồi. Chú còn đủ thời giờ để tập lại lối chém treo ngành. Nếu cái nghề chém đặc biệt của chú không thể truyền lại cho một người nào được thì một lần cuối cùng này nữa, chú cũng nên cho một vị quan Tây ở đây thấy rõ cái cách chém của một người đầy tớ hầu cận ta là như thế nào.

– Dạ, bẩm Ông Lớn…

– Chú đừng nhiều lời. Ðây này, ta cho chú mượn thanh quất của ta mà làm việc. Sẵn có vườn chuối ở sau kho lúa, cho phép chú lên đó mà tập. Có ai ngăn cản, cứ đưa cái tín bài này ra cho họ nom rõ.

Quan Ðổng lý Quân vụ rút khỏi ống bút trên bàn một lá thẻ đỏ, viết mấy chữ thảo vào mặt thẻ sơn trắng, trao cho Bát Lê.

Thế là từ hôm ấy Bát Lê lĩnh thanh quất của quan Tổng đốc leo lên tường thành, xông xáo trong vườn chuối, hết sức tự do, hết sức tàn nhẫn, chém ngang thân loài thực vật, trước khi chém vào cổ mười hai tên tù đang nằm đợi ngày cuối cùng.

Vườn chuối trên mặt thành vốn mọc không có hàng lối nhất định. Ông Bát phẩm Lê phải chọn lựa mãi mới được mấy dẫy chuối mọc theo hàng lối thẳng thắn. Y soạc cẳng, lấy bước chân đo những quãng trống từ một gốc chuối này đến một gốc chuối khác. Tiến lên, lùi xuống, đo ngang, đo dọc tự cho là tàm tạm được, y bèn nhẹ nhàng phát hết những tàu lá chuối rườm rà. Ðấy là cái khu dọn dẹp sẵn để nhận lấy sự thí nghiệm sau hết của một thanh quất bị bỏ quên đã lâu ngày.

Trước khi hoa thanh quất trong mấy hàng chuối được chọn lựa kỹ càng kia, Bát Lê đã múa đao chém lia lịa vào thân mọi cây chuối khác, chém không tiếc tay, chém như một người hết sức tự vệ trong một cuộc huyết chiến để mở lấy một con đường máu lúc phá vòng vây. Một buổi sớm, y nhảy nhót trong vườn chuối, đưa lưỡi gươm qua bên phải lại múa lưỡi gươm qua bên trái, thanh gươm hai lưỡi đã gọn gàng, nhanh nhẹn phạt qua thân mấy trăm cây tươi còn nặng trĩu lớp sương đêm. Mảnh khăn vuông vải trắng bịt tóc Bát Lê đã đẫm ướt và nhựa chuối chát thấm vào đấy, gặp ánh nắng sớm, đã xuống màu dần dần.

Trên đống thân cây trơn ướt, Bát Lê vẫn làm việc, nhẩy nhót như một kẻ điên cuồng. Cứ mỗi một cây chuối gẫy gục xuống cỏ đánh roạt một cái thì Bát Lê lại cất tiếng hát:

“Sống không thù nhau
Chết không oán nhau

Câu hát được những tiếng cây chuối đổ chấm câu cho và đã vẳng từ trên mặt thành xuống mặt một bãi dâu ở chân thành…

Tập như thế cho thuần tay hết một buổi sớm và một buổi chiều, Bát Lê sớm ngày hôm sau lại trở lại vườn chuối đã rầu cả lá, đã khô cả vết thương. Y hồi hộp chống gươm xuống mặt đất ẩm ngổn ngang sự tàn phá, như một võ sinh sắp trổ tài ở võ trường với sự phân vân, lo ngại của phút biểu diễn. Rồi Bát Lê trịnh trọng tiến vào cái khu vườn chuối đã dọn từ hôm trước để nhận lấy lưỡi gươm thí nghiệm cuối cùng của một cuộc tập chém. Y đứng vào giữa hai dãy chuối, tay phải cầm ngang thanh quất.

Y lùi lại ba bước, lấy hơi thở cho đều, vừa hát to câu:

“Tiếng loa vừa dậy”

Vừa tiến mạnh lên, thuận tay chém vào cây chuối đầu tiên dãy bên phải. Ðà gươm mạnh từ cao soải xuống theo một chiều chếch, tưởng gặp đến gỗ cứng cũng lướt qua. Thế mà thanh quất chỉ ngập vào chiều sâu thân cây độ chín phần mười. Lưỡi thanh quất bị ngừng ở cái cữ ấy, rồi lại được lấy ra khỏi thân cây chảy mủ. Vừa giật lưỡi thanh quất khỏi thân cây đang từ từ gục xuống, vừa hát một câu nữa:

“Hồi chiêng mớm mau”

Bát Lê lại tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dãy bên trái, Bát Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quỳ chịu tội. Thế rồi vừa hát, vừa chém bên trái, vừa chém bên phải. Bát Lê đã hát hết mười bốn câu, và đánh gục mười bốn cây chuối. Bát Lê quay mình lại, ngắm các công trình phá hoại của mình. Thì ở mười bốn cây chuối chịu tội kia, thân trên bị chém vẫn còn dính vào phần gốc bởi một lần bẹ giập nát.

Bát Lê mỉm cười, gỡ cái khăn chùm trên đầu, lau lưỡi gươm vào đấy, vuông vải lại đẫm thêm chất nhựa xám.

Thế là xong một cuộc tập chém lối treo ngành. Và Bát Lê cũng vui vẻ trong lòng đợi ngày nhận tù. Ði từ bề cao nền cỏ xuống chân thành, qua những bậc cấp thúc vào lòng đất, Bát Lê chốc chốc lại dừng bước lại và ưỡn mình về phía sau, ngắm cánh tay khẳng kheo mình đang lăm lăm cầm lưỡi gươm.

Nội cỏ trước dinh quan Ðổng lý Quân vụ một buổi chiều thu quyết đã đổi màu. Mọi khi, ở đấy chỉ có bê, bò được thả lỏng cúi cổ ngốn áng cỏ tươi bên cạnh một tốp lính hiền lành, tay cầm lưỡi liềm cắt cỏ về cho ngựa quan ăn. Bây giờ ở đấy, người ta dựng lên một cái nhà rạp có tàn, có quạt, có cờ ngũ hành. Trước nhà rạp người ta chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh xuống toét cả đầu. Và đánh đai lấy khu nhà rạp rộng độ một mẫu, mấy trăm lính mặc áo có dấu, có nẹp đã tề chỉnh tuốt gươm trần để thị uy.

Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn là nền trời. Nền trời vẩn những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó màu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.

Mọi người chờ đợi một cái gì.

Từ phía nhà ngục, mười hai con người chậm chạp tiến tới giữa hai tốp lính áp giải. Bãi cỏ im lìm đến nỗi tiếng gông lũ tù giây va vào nhau theo một nhịp bước rụt dè nghe cứ rõ mồn một như tiếng sênh người chấp hiệu định liệu bước đi cho cỗ đòn đám.

Không biết từ đâu ra, ông Bát Lê đứng sẵn chỗ cọc tre và trong một lát đã buộc xong bọn người đợi chết vào cọc. Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quỳ gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quỳ phải để được gót chân ngửa đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế, tử tù sẽ phải rướn mình lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ. Trông xa, họ có cái cứng thản nhiên của những tượng đá tạc hình người Chiêm thành quỳ trước sân đền thờ vua Lý.

Tiếng nhạc bát âm thổi bài Lưu thủy trường gần mãi lại. Rồi trong một giây phút mọi người lắng rõ tiếng sênh tiền. Ai nấy nín thở. Trông ra cờ quạt kín cả nền trời và lính tráng kín cả mặt cỏ. Bụi cát bay mù như lúc có cuộc hành quân. Quan Công sứ mặc đồ binh phục trắng có ngù kim tuyến đi ngang hàng cùng quan Tổng đốc. Hai quan đầu tỉnh – một người đi ghệt, một người đi ủng – đều gò bước đi cho nó ăn nhập với cái long trọng của pháp trường. Những tên lính tỉnh gầy ốm che sát vào người hai Ông Lớn mọi thứ tàn vàng, tán tía, lọng xanh.

Cái đầu chúng không dám phạm thượng cúi gầm xuống mặt đất, nhìn cánh cỏ may chọc thủng ống quần mình.

Trong nhà rạp, các quan an vị. Ông thông ngôn người Nam kỳ đứng khoanh tay đằng sau quan Lưu trú Pháp. Quan Tổng đốc nói trước:

– Những người sắp bị hành hình kia là dư đảng giặc Bãi Sậy. Ty chức rất mong rằng đấy là những kẻ phiến loạn cuối cùng. Và nhờ hồng phúc của Quan Lớn, cuộc trị an ở xứ này chóng định.

Bát Lê cầm gươm tiến đến trước nhà rạp, vòng tay thu lưỡi gươm lại, vái một vái, cúi mặt đứng im. Quan Tổng đốc nhớm mình khỏi mặt ghế bành:

– Xin phép Quan Lớn cho ty chức được trình với Quan Lớn một tên đầy tớ trung thành. Hắn là đao phủ thủ tại pháp trường hôm nay.

– Có phải cái người mà Quan Lớn nói là có tài chém đầu người chỉ một nhát mà đầu vẫn dính vào cổ bằng lần da cổ đó không?

– Dạ. Mà hôm nay hắn hạ thủ trong một hơi những mười hai cái đầu. Bây giờ để xin ra lệnh khai đao.

Quan Công sứ gật. Viên giám trảm và Bát Lê đều lùi ra ngoài rất mau.

Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!

Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lớ rờn rợn. Quan Công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quỳ kia chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.

Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi chạy tuốt vào đứng trước nhà rạp. Bấy giờ quan Công sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không có một giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng đốc để nhớ lấy tên họ một người đao phủ có lối chém treo ngành rất ngọt. Ngài thưởng cho Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.

Lúc quan Lưu trú gần cầm mũ cáo từ về tòa Sứ, quan Tổng lý Quân vụ còn ân cần buộc ông thông ngôn Nam kỳ dịch cho đủ câu này:

– Bẩm Quan Lớn, chém treo ngành như thế này là phải lựa vào những lúc việc quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một chiều. Ðại để nó cũng như là cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc ngang như người ta róc mắt mía.

Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu lâu còn dính vào cổ người chết quỳ kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thi.

Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân.

Nguyễn Tuân

Chuyện Giữa Hai Người. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

cropped-bia-cho-blog072820161

(Chân dung và tác phẩm của Nhà Văn Nhật Tiến)

Căn phòng quét vôi màu hồng. Thảm màu da cam mịn mướt. Bộ sa lông bọc đệm màu đỏ sẫm kê chung quanh chiếc bàn kính bóng lộn. Hưng ngồi ở đó, trầm lặng, câm nín dưới ánh đèn tỏa ra từ những cái chụp tô vẽ những bông hoa sặc sỡ. Trời vào hạ. Không gian bên ngoài êm ả dưới bầu trời đã ngả màu tím sẫm có những vì sao long lanh ướt. Chẳng có tiếng động tĩnh gì ngoài âm thanh của một bản nhạc nhẹ như tỏa lan ra khắp căn phòng, len lỏi vào những ý nghĩ của Hưng vốn lúc nào cũng rời rạc, mệt mỏi, đứt quãng. Sức khỏe của chàng, sau bẩy năm học tập cải tạo suy yếu đã đành, nhưng còn nhiều yếu tố khác nó làm cho chàng suy yếu hơn. Như rượu. Như thuốc lá. Như cà phê. Và nhất là tâm trạng hụt hẫng của chàng khi được nhấc từ một hoàn cảnh tối tăm, tuyệt vọng sang một nếp sống mới hoàn toàn khác biệt: sung túc, đầy đủ, choáng lộn nhưng hoàn toàn trống rỗng.

Ngày nhận được giấy tờ đoàn tụ, Hưng tưởng như mình vừa mọc được đôi cánh có thể bay được khỏi địa ngục để lên thiên đàng. Bây giờ thiên đàng ấy đang ở đây, trong căn phòng quét vôi mầu hồng, thảm màu da cam, có bộ salon bọc nệm đỏ bầy chung quanh mặt bàn kính ngổn ngang những vỏ bia và những chai rượu mạnh. Mới buổi chiều, Hưng vừa từ cuộc họp mặt do một nhóm ái hữu tổ chức để nghe chàng thuyết trình. Chàng đã nói, bằng một giọng mệt nhọc, bằng những tư tưởng đứt quãng, lộn xộn mà chàng thấy rõ mình không làm chủ được cả một mớ ý nghĩ lộn xộn, giữa quá khứ với hiện tại, giữa hoàn cảnh tù đày và nếp sống đầy đủ đang có, giữa bạn bè, người còn ở trại cải tạo, kẻ đã ra đi.

Chàng biết rằng mình cũng không đem lại được điều gì mới mẻ cho nội dung câu chuyện. Vẫn chỉ là kềm kẹp, là đói khổ, là lao động vất vả cực nhọc, là ốm đau bệnh tật và những lời chửi rủa của bọn công an mặt còn non choẹt. Chàng lại còn đủ bén nhậy để cảm thấy rằng đám đông lố nhố ngồi nghe ở dưới cũng đã biết rõ những điều đó.

Thế là cơn mệt mỏi cứ uà đến. Nó làm chàng kiệt sức mau chóng, như một con quay đang hết đà, sắp sửa đổ xuống. Bài nói chuyện kết thúc trong nhạt nhẽo, gượng gạo nhưng rất may đã được kéo lại bằng những tiếng cười nói ồn ào về chuyện nhà cửa, chuyện tin tức bạn bè, chuyện job ở sở làm, chuyện cờ bạc ở Las Vegas giữa những vỏ chai bia được khui ra la liệt.

Rồi Hưng trở về trong căn phòng êm ả này. Chàng ngồi rũ liệt như một cái xác bất động, giống hệt như ngày nào chàng cũng đã ngồi như thế ở trại cải tạo Long Giao sau một ngày lao động cực kỳ khổ nhọc.

Hình ảnh này của chàng đã khiến cho Hương tuyệt vọng ghê gớm lắm. Không chỉ một lần mà nhiều lần. Không chỉ một tháng, hai tháng mà đã kéo dài cả năm. Làm sao nàng có thể làm cho chồng hiểu được rằng muốn sống sót ở cái xã hội này, con người phải có can đảm đứng dậy, sốc tới, che giấu tâm sự thầm kín ở bên trong để chỉ phô bầy nổi lạc quan ra bên ngoài. Tươi tắn. Hoạt bát. Vui vẻ. Đó là những điều kiện tối thiểu để làm lại từ lúc khởi đầu.

Từ ngày bảo lãnh được chồng qua, Hương không tìm thấy được ở nơi chồng một sự chia sẻ nào, ngay cả trong lãnh vực tình cảm. Đi làm mệt mỏi về, Hương mong đợi một nụ cười tươi, một lời thăm hỏi nồng nàn, một sự đỡ đần những dịch vụ lặt vặt (không tên nhưng rất nhiều), nhưng ngược lại nàng chỉ cảm thấy trong nhà ngột ngạt hơn, nặng nề hơn vì những vỏ lon bia ngổn ngang, vì vẻ mặt rầu rầu nặng trĩu tâm trạng ưu tư, u sầu, còn nụ cười thì hầu như gượng gạo chỉ khiến cho vẻ mặt của chàng đã rúm ró lại rúm ró thêm.

Tình thế ấy trước sau gì thì cũng có lúc bùng nổ, vì bất cứ lý do gì, dẫu nhỏ nhặt. Ly nước đã đầy tràn, chỉ còn chờ thêm môt giọt cuối cùng.

Giọt nước ấy đã đến vào hôm nay, trong lúc Hưng đang chập chờn trong tiếng nhạc êm dịu và những ý nghĩ miên man, rã rời. Hương đẩy cửa bước vào, theo sau là thằng Dũng, đứa con trai duy nhất của hai người, Hương nói:

– Đi tắm rửa thay đồ rồi ăn cơm. Mà chào bố đi. Mẹ đã dặn bao nhiêu lần là đi phải thưa, về phải chào cơ mà.

Thằng Dũng nhìn về phía bố nó, nói bằng giọng hờ hững:

– Hi, Dad!

Chính cái giọng hờ hững ấy đã khiến cho Hưng nổi sùng bất tử. Chàng ngồi bật dậy và cất tiếng sẵng ngay:

– Mày không mở mồm được một câu tiếng Việt sao, Dũng!

Rồi chàng nhìn nó bằng một cặp mắt hung tợn. Điều này khiến thằng Dũng sợ hãi, thụt lùi một bước và nhìn bố với vẻ mặt ngỡ ngàng. Nó chưa bao giờ từng thấy bố nó hung dữ đến như thế.

Sau đó nó cũng cố chữa lại:

– Thưa bố, con về.

Nói xong ngần ấy câu, nó quay phắt người lại và chạy thẳng lên cầu thang. Bước chân của nó giẫm lên thảm nhung, nghe không mạnh mẽ gì nhưng cũng đủ để cho Hưng thấy nó đang giẫm thô bạo lên lòng tự ái của chàng.

Đầu óc chàng bùng lên những câu hỏi: Nó khinh gì mình mà nó quay đi, nó hỗn quá đáng đến độ giẫm thình thịch lên mặt sàn để trả đũa cái vụ chàng hạch hỏi nó phải nói tiếng Việt, và đau đớn hơn hết là chàng thấy rõ nó với chàng đã trở nên quá xa, xa đến độ hai người chẳng còn bao giờ có thể dính líu gì tới nhau, dù đang ở chung trong một mái nhà.

Hưng muốn ném một cái vỏ chai bia về phía nó. Nhưng những ý nghĩ ngần ngại, thiếu dứt khoát đã làm cho ý định của chàng trở nên chậm trễ. Bao giờ thì chàng cũng bị cái thiếu dứt khoát đó làm chậm trễ đủ mọi công việc. Thằng Dũng đã mất biến sau bức vách tường ở trên cầu thang. Nó bỏ lại đằng sau một bầu không khí nặng nề, đặt sệt khiến cho cả hai người đều như sững lại, ngỡ ngàng, bực bội, não nề.

Một lát sau, Hương ngồi xuống chiếc ghế ở phía đối diện chồng và nói bằng một giọng cố gắng giữ cho được sự dịu dàng:

– Anh Hưng ạ, có lẽ mình phải nói chuyện thẳng với nhau, một lần cho tất cả.

– Cô muốn cái gì thì cứ nói.

– Trước hết anh phải hiểu rằng dù sao thì em vẫn còn yêu anh, quý trọng anh. Bởi có như thế em mới chịu khó làm lụng vất vả, vừa nuôi con, vừa cố bảo lãnh cho anh qua.

– Cô khỏi cần phải kể công.

Hương kiên nhẫn:

– Anh đừng tầm thường như thế. Giữa chúng mình đừng nói bao giờ nói chuyện công lao.

– Cô nói ra điều đó thì được. Tôi thì không.

– Tại sao lại thế? Có cái gì khác giữa anh và em đâu.

– Khác chứ! Khác nhiều chứ. Cô là người đang có tất cả. Còn tôi thì đang mất tất cả.

Đến lúc này thì Hương không còn giữ nổi sự bình tĩnh mà nàng tự nhủ phải có thái độ ấy ngay từ phút khởi đầu. Nàng sẵng giọng:

-Anh ám chỉ cái gì mà nói em đang có tất cả. Bộ ngần ấy nỗ lực của em dành cho anh, cho con vẫn không làm vừa lòng anh sao?

– Cô làm như tôi là người luôn luôn đòi hỏi và không bao giờ vừa lòng. Nhưng cô thấy đó, từ ngày đến đây, tôi câm nín, chịu đựng và có mở mồm đòi hỏi ở cô điều gì đâu.

– Thà rằng anh nói ra. Thà rằng anh bầy tỏ rõ rệt ý muốn của anh. Chứ sự câm lặng, lầm lì của anh mới là điều ghê gớm, không thể chịu đựng nổi.

Vẻ mặt của Hưng hằn xuống, đôi môi của chàng mím chặt, hai bên hàm bạnh thêm ra. Trông chàng lúc này đầy một vẻ vừa khắc khổ, vừa thiểu não. Điều này khiến cho Hương mủi lòng. Nàng nguôi ngay cơn bực bội, vội vàng tiến lại ngồi xuống bên cạnh Hưng, nắm lấy tay chàng và nói:

– Anh Hưng ạ. Anh là người thấy rõ từ gần một năm nay, cả hai chúng mình đều cũng không thấy hạnh phúc gì. Mà đó là điều vô lý, phải không. Cả anh cũng như em đều đã trải qua bao nhiêu là ngày tháng đau khổ chịu đựng kể từ ngày em ra đi và anh còn kẹt lại ở VN. Biết bao nhiêu đêm, ngày em cầu nguyện cho anh đi được, cho gia đình mình có thể đoàn tụ được với nhau. Thế mà đến lúc gặp lại nhau, cả hai đều không có hạnh phúc. Điều đó thật là vô lý quá, phải không?

Thấy Hưng im lặng không trả lời, Hương nói tiếp:

– Anh phải hiểu được rằng chính em là người muốn cứu vãn tình thế chứ không phải buông xuôi để tới một ngày đi đến đổ vỡ. Em thấy rõ mình phải làm một cái gì để thay đổi cái bầu không khí ngột ngạt này, nếu không muốn mất tất cả. Nhất là như anh thấy, giữa anh và thằng Dũng, hai người cứ mỗi ngày một xa thêm nhau hơn.

– Nó Mỹ hóa quá rồi, và tôi không thể chạy theo nó để cầu xin một chút tình thương.

– Nó còn bé quá để đủ tế nhị biết phải nên làm cái này hoặc không nên làm cái kia. Điều cốt yếu là mình phải mở rộng vòng tay với nó.

– Vậy là cô trách cứ tôi không có tình thương yêu đối với nó.

– Không phải vậy. Nhưng cung cách biểu lộ tình yêu thương của anh không thích hợp với nó, do đó nó không cảm nhận được. Và vì thế, khoảng cách giữa hai người càng ngày càng xa hơn.

– Phải rồi, tôi biết rõ là tôi đã lạc hậu ở cái xứ này rồi.

-Anh biết rồi mà anh không sửa, cái đó mới kỳ!

Hưng bất giác nổi sùng :

– Tôi bằng này tuổi đầu rồi mà còn sửa với chữa nỗi gì. Mà tại sao tôi lại phải sửa cơ chứ. Tôi là tôi, Tôi không bao giờ muốn trở thành một kẻ khác.

– Anh tưởng như thế chứ, anh không còn là anh ngày xưa nữa. Anh đã có quá nhiều đổi thay mà anh không biết đấy.

– Cô nói cái gì, tôi không hiểu.

– Đấy là tại anh cố tình không hiểu. Anh trốn tránh mọi sự thực. Anh cố chui rúc vào cái vỏ đậy của anh từ bao nhiêu năm nay. Anh sợ đối phó. Anh ngại đổi thay dù là sự đổi thay thiết thân đến cả đời sống của anh. Nói tóm lại là anh đầy mặc cảm và anh không dám đương đầu đến phá vỡ cái mặc cảm ấy.

– Xin lỗi cô! Tôi chả có gì phải mặc cảm với ai hết. Cô đánh giá như thế là cô hạ thấp giá trị con người của tôi quá.

Hương biết mình đang bị du vào tình thế không thể lùi được nữa, bởi nếu không mổ xẻ toạc móng heo một lần, thì sự hiểu lầm có thể sẽ làm cho mối liên hệ giữa hai người tổn thương nhiều hơn. Nàng dằn giọng:

– Em biết là em có thể dại dột khi đụng đến những tâm tư thầm kín của anh. Nhưng chính vì không muốn mất anh nên em phải nói một lần cho tất cả. Bây giờ anh hãy ngồi nhớ lại đi, những ngày còn gian khổ trong tù, anh mong gì và ước muốn được làm gì. Chắc chắn không phải là anh chỉ mong suốt ngày ngồi gậm nhấm nỗi khắc khoải của mình bằng những ly rượu, những lon bia. Bạn bè còn trong tù ngục của anh nếu biết như vậy chắc họ cũng xấu hổ thay cho anh đấy chứ nhỉ.

– Tôi có thể làm gì được khác hơn ở giữa cái xã hội xa lạ và đầy hưởng thụ này.Từ ngày tới đây, tôi cũng đã đi hội họp, đi thuyết trình, hội thảo và nói lên những điều cần phải nói….

Hương cướp lời:

– Và sau những lần như thế anh buồn rũ rượi hơn ra có phải không?

– Làm sao cô biết được!

– Có gì mà không biết! Lòng anh thì kỳ vọng, sốt sắng quá nhiều mà thực tế chẳng đáp ứng lại bao nhiêu.

Càng thuyết trình, càng hội thảo anh lại càng thấy trống rỗng, vô vị. Bởi vì hầu hết chỉ đánh trống xong bỏ dùi, lúc tan cuộc, ai cũng chỉ mua được cái cảm giác an toàn là đã làm tròn bổn phận của một kẻ lưu vong nhưng thực chất công việc thì chẳng có cái gì đi đến đâu. Anh không có can đảm nhìn thẳng vào sự thực đó sao?

– Thà như thế còn hơn không. Không lẽ cô lại muốn tôi buông xuôi, bỏ cuộc.

– Ai bảo anh rằng em muốn anh bỏ cuộc. Điều mà em muốn là anh hãy loại bỏ bớt những cái gì phù phiếm, bề ngoài vô ích để tập trung vào những cái cần làm, đang làm. Mà điều cần làm, đáng làm trước hết là anh phải nhìn lại chính bản thân của anh trước đã. Bản thân của anh chưa vững, chưa biết mình muốn gì, làm gì, chưa giải tỏa cho mình những nỗi phiền muộn nhỏ nhặt hàng ngày, chưa khuất phục được những giây phút gậm nhấm bên lon bia, ly rượu, thì đừng mong làm được bất cứ điều gì, chứ đừng nói chuyện lớn lao, đại sự.

Ngưng một giây để chờ phản ứng của chồng, thấy Hưng không nói gì, Hương liền tiếp:

– Nói tóm lại là anh hãy phải tự vực anh dậy trước đã. Anh vẫn thường tỏ ra buồn khổ và than rằng mình đã mất hết, không còn gì. Điều đó đúng, những chả lẽ cứ ngồi than hoài mãi sao? Rồi cũng phải tới một lúc anh phải đứng dậy, giẫm chân lên trên tất cả những cái đổ vỡ mất mát ấy mà biết lạc quan để làm lại từ lúc khởi đầu chứ. Bởi không có cái khởi đầu thì không bao giờ có cái kế tiếp, cho dù điểm khởi đầu của anh chỉ là một hạt cát, một hoàn cảnh thấp kém đến tận cùng đi chăng nữa. Điều cốt yếu là anh muốn từ đó đi lên, chứ không phải đắm chìm mãi mãi trong tiếc nuối mà không bao giờ tính chuyện thoát ra cả.

Hưng ngước lên nhìn nàng như dò hỏi, rồi chàng cất tiếng:

– Thế thì cô muốn tính toán, đề nghị tôi làm cái gì đây?

– Anh hãy suy nghĩ về những điều mà em nói đi đã. Khi nào tới lúc anh thấy rằng em có lý thì người đề nghị chính là anh chứ không phải là em.

Nói xong, Hương đứng dậy và đi thẳng lên lầu. Sau một lúc cố gắng hết mình để nói ra những điều mà nàng suy nghĩ, Hương bỗng thấy mệt mỏi đến tận cùng. Nàng muốn chui vào cái vỏ riêng tư của mình. Trong căn buồng biệt lập mà không biết từ bao lâu rồi, Hưng không có quyền bén mảng tới. Căn nhà có cả thẩy ba phòng, thì hai phòng ở trên lầu dành cho hai mẹ con. Hưng ở từng dưới, lủi thủi như một cái bóng mờ. Cái bóng ấy nhiều hôm đối diện với chai rượu thâu đêm, đến sáng ra, lúc tỉnh dậy thì cả Hương và thằng Dũng đã đi học, đi làm từ bao lâu rồi. Quả thực Hương đã nói đúng, không có phút khởi đầu thì không bao giờ có cái kế tiếp. Vậy mà Hưng vẫn tự cho rằng mình đang đi đến chỗ cuối của chặng đường khổ nhọc, không còn lối nào mà thoát ra nữa chứ. Điều này làm chàng nhớ lại một lần ở trong tù, chàng đã có dịp đối thoại với một kẻ cũng mang cái tâm trạng đang ở chỗ cuối của chặng đường mà hắn đang đi.

Vũ, người bạn tù vẫn luôn luôn than thở với chàng là anh ta hết chịu đựng với nỗi dầy vò cả thể xác lẫn tinh thần trong những ngày bị giam hãm đằng đẵng, không có ánh sáng hy vọng của ngày về. Vũ nói:

– Chả có lý do gì mà mình cứ phải giam hãm mãi ở đây. Ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Ở chỗ tận cùng của tuyệt lộ, mình còn có gì để trông đợi nữa đâu.

Hưng an ủi:

– Không có cái gì ở trên đời này gọi là bất biến cả. Vậy đừng bao giờ nghĩ rằng mình đang ở chặng đường tuyệt lộ. Hai chữ tuyệt lộ nghe ghê gớm quá. Mình còn nhiều điều phải làm, do đó phải cố gắng ráng giữ cho mình còn tồn tại.

Vũ nhìn Hưng mỉa mai:

– Cậu còn lạc quan đến thế cơ à. Với tôi thì tất cả đã hết rồi. Vợ đi lấy chồng. Con cái lạc lõng vất vưởng đứa đi chiến trường Kampuchia, đứa lang thang đầu đường xó chợ. Còn thân mình ở đây, đày đọa không còn ai ngó tới, biết tới. Chuyện thay đổi chỉ là chuyện mơ ước hão huyền, làm gì có tướng này, tá kia đang lập chiến khu để tính chuyện lật ngược thế cờ. Bẩy năm mòn mỏi trong hy vọng, bây giờ thì tôi không còn tin tưởng ở điều gì nữa rồi.

– Đành là như vậy, nhưng sống trong tù mà không có lấy một chút niềm tin, niềm hy vọng thì rất dễ dàng suy sụp, và mình tự hủy diệt chính mình.

Vũ cướp lời:

– Nhưng tồn tại thì để làm gì cơ chứ. Ở cái chặng cuối đọa đầy này, càng giải thoát sớm bao nhiêu, càng khỏe bấy nhiêu.

Trước sau thì Hưng cũng chỉ nghĩ rằng đó chỉ là lời than thở. Chàng không thể ngờ được rằng chỉ sau đó ít lâu, Vũ đã tìm phương cách giải thoát cho chính anh ta thực. Một hôm vào khoảng chập tối, sau khi đi lao động về, Vũ đã ngang nhiên chạy thẳng một mạch qua khu vòng rào và lao ra khỏi cổng trại. Lính trên chòi canh chĩa súng vào phía lưng của anh ta mà tuôn đạn xối xả. Thật là dễ dàng, nhanh chóng và giản dị nhưng vẫn khiến cho biết bao nhiêu người ngơ ngẩn, ngỡ ngàng. Người ngơ ngẩn nhất có lẽ là Hưng, bởi sau đó chàng cứ lởn vởn mãi trong đầu câu nói thầm thì với Vũ:

– Sao lại như thế hả Vũ. Mình còn bao nhiêu chuyện phải làm.

Nhưng chuyện phải làm đó, những chuyện mà Hưng ước mơ có thể làm được một khi tháo cũi sổ lồng, thì khi qua đến đây, nó tan xèo như một cánh bướm trước mồi lửa. Có lẽ Hương đã nói đúng, việc đáng làm trước hết là phải nhìn lại chính bản thân mình. Mình chưa vững, chưa biết mình thực sự phải làm gì, chưa thấy rõ mình phải khởi sự từ đâu, mà chưa chi đã muốn ôm cả đại cuộc trong lòng để rồi chán nản, bất mãn, tuyệt vọng, thì việc dìm mình trong những ly rượu đâu có khác gì cung cách chọn lựa lao qua hàng rào như Vũ ngày xưa. Hai hoàn cảnh tuy có khác biệt, nhưng chung quy vẫn chỉ là một bản chất. Đó là sự đầu hàng quá sớm trước hoàn cảnh khắc nghiệt.

Hưng nhớ đến những người bạn tù, những bàn tay nắm chặt lấy nhau trong bóng tối, những nỗi niềm ước ao sẽ thực hiện khi có ngày được giải thoát, và cả những lời nhắn nhủ trước khi chàng lên đường ra đi. Bao nhiêu là gửi gấm. Bao nhiêu là cậy trông. Vậy mà chàng vẫn còn ngồi ở đây, trong căn phòng này, với những lon bia đầy nhu nhược và ỷ lại.

Trong lòng của Hưng bỗng trỗi dậy một niềm xôn xao mới. Ở cái xã hội này , không ai có thể ỷ lại vào ai, dù kẻ đó là vợ mình, con mình. Đó là điều kiện trước tiên để có được niềm tự hào. Và chỉ có sự tự hào thì con người mới có thể tự đứng dậy và đi tới. Bước đi có thể ngắn, chậm, nhưng vững chắc. Nó khiến cho chàng thấy rõ mình đang ở đâu, muốn làm gì và có thể làm được gì. Mọi thứ sẽ ở trong tầm tay với, một cách cụ thể chứ không mơ hồ, huyễn hoặc, tiêu hao thì giờ mà chẳng đem lại được điều gì ngoài sự tự ru ngủ chính mình.

Ngày hôm sau, lúc Hương đi làm về và đón con ở trường ra thì Hưng đã chờ nàng ở trên sân sỏi trước nhà. Chàng nói với Hương bằng một giọng cố hết sức giữ cho được tự nhiên:

– Hương ạ, bây giờ thì chính anh đề nghị với em.

Hương cảm thấy ngay có điều gì khác thường vừa xẩy đến với chàng. Nàng nhìn chồng dò hỏi:

– Đề nghị gì thế hả anh?

– Anh sẽ xa em và con một thời gian để khởi sự lại từ đầu, bằng chính những nỗ lực của anh chứ không phải của ai khác, kể cả em. Em nói đúng, muốn làm gì thì làm, phải cách mạng cái bản thân mình trước đã.

Hương trả lời, giọng đầy xúc động:

– Đó vẫn là điều mà em mơ ước. Không phải anh đã trở nên tồi tệ, xấu xa gì, nhưng thực sự em không muốn anh cứ chìm đắm mãi trong một lối mòn. Bao nhiêu năm sống ở đây, em đã chứng kiến quá nhiều lối mòn đã làm thui chột bao nhiêu con người, bao nhiêu công trình, bao nhiêu nỗ lực mà không đem lại được kết quả gì. Em muốn anh thấy rõ điều đó và vượt qua được điều đó.

– Em đừng kỳ vọng ở anh quá nhiều. Anh mới chỉ khởi sự từ đầu và chưa biết mình sẽ làm được gì.

– Cái khó là người ta biết khởi sự lại từ đầu, không bị ràng buộc bởi những tiếc nuối vì mất mát trong quá khứ. Bây giờ cũng đã quá trễ để biết nhìn về phía trước chứ không phải chỉ quay lại về phía sau lưng. Anh cứ yên tâm mà suy nghĩ về những việc cần làm. Em và con sẽ lại lui tới thăm anh, như ngày nào đã tới thăm nuôi khi em còn ở quê nhà.

Hưng mỉm cười:

– Lại một hình thức cải tạo nữa, phải không?

– Không đâu anh. Cải tạo ở Việt Nam không hy vọng có ngày về. Còn ở đây, hoàn toàn tùy thuộc ở chính mình. Bao giờ anh cảm thấy thoải mái, tự tin, lòng đầy nhiệt thành mà không vướng víu bởi một chút nào tự ti mặc cảm nào, ngày đó anh cứ việc xách va-li trở về. Em sẽ vui mừng mở rộng cửa chào đón anh. Em nghĩ rằng đó là cung cách tốt nhất để cứu vãn hạnh phúc của chúng mình, và cho luôn cả những điều mà anh muốn làm khi anh còn ấp ủ trong vòng rào kẽm gai của một trại tù.

Nhật Tiến
Tháng 6- 1987

Một buổi diễn kịch. Truyện kịch của Nhật Tiến


Nhật Tiến

img_2189-2

(Một buổi diễn kịch. Truyện kịch của Nhật Tiến được trích trong tập truyện Cánh Cửa, Thời Văn ấn hành năm 1990)

Ở NGOÀI CỬA RẠP HÁT, TRƯỚC GIỜ TRÌNH DIỄN

Đó là một rạp hát hạng trung nằm ở ngang cuối phố chợ. Trước cửa rạp là một hàng cây cao. Chen vào giữa những hàng cây là một trụ đèn xi măng, ở trên cao tít có một cái bóng đèn tỏa ra một thứ ánh sáng vàng bệch không đủ soi rõ quang cảnh của hè phố trước rạp. Tuy nhiên vào lúc hơn bảy giờ thì tổ Coi Xe cũng đã cho thắp lên bốn ngọn đèn chai treo ở trên những cái cọc gỗ dùng để chăng một sợi dây thừng trải dài bao bọc khu vực gửi xe.Những chiếc xe đạp của khán giả đến trước tiên đã được đặt ngay ngắn theo thứ tự từ lớp trong ra lớp ngoài. Người gửi xe được trao cho một miếng thẻ bằng bìa nhỏ. Khỏi cần ghi số ở trên. Ai có xe để ở chỗ nào, chốc nữa tan ra cứ lại chỗ đó mà chờ. Tổ gởi xe sẽ luồn qua khung xe một sợi thừng cớ lớn và buộc lại ở phía đầu nút. Nút buộc chỉ được cởi ra khi tan rạp. Do đó, tuần tự ai gởi sau sẽ được ra trước, cho đến người cuối cùng. Đó là một sáng kiến tuyệt hảo để tránh việc lấy lộn xe của nhau. Bởi xe của ai thì người đó đã đứng chờ sẵn tại chỗ rồi.

Duy chỉ có hai điều bất tiện: một là ai gởi xe trước thì phải ra sau, ít lắm cũng mất nửa giờ, và hai là không có cái vụ đang xem hát trong rạp, bỏ về nửa chừng. Muốn bỏ về nửa chừng thì rán cuốc bộ, lát nữa rạp tan, quay trở lại lấy xe. Tuy bất tiện một tí nhưng bảo đảm an toàn. Trong ba quý liền điều hành công tác, Tổ gửi xe không làm mất và phải đền cái xe nào. Điều nầy đã đem lại cho Tổ vô số là bằng khen với lời tuyên dương nhiệt liệt: phục vụ tốt, kết quả công tác tốt, góp phần tốt vào công cuộc xây dựng nếp sống mới con người mới Xã hội Chủ nghĩa.

Ở dưới những gốc cây gần kế với khu vực gửi xe là chỗ quây quần của những hàng quán bán cho khách đi coi ca kịch. Hầu hết là những người bán thuốc lá lẻ và kẹo bánh lặt vặt. Nhưng cũng có hàng bán nước mía, nước trái cây xay, bán chè xôi, và có cả hàng bán lõi thơm (hay lõi dứa). Quả dứa thơm ngon đã được đóng hộp xuất khẩu, cái lõi còn lại được xí nghiệp sản xuất phát huy sáng kiến gọt tỉa lại cho tròn trĩnh và bó lại thành từng bó rồi đem tiêu thụ ngoài quần chúng. Vừa rẻ, vừa mát, lại vừa túi tiền. Nó cũng đáp ứng khẩu vị của người dân đã lâu thèm và nhớ hương vị của mùi dứa. Buôn bán lõi dứa do đó cũng rất phát tài và lương thiện. Các đồng chí công an nếu có xuất hiện để xua đuổi việc chiếm lề đường làm mất vệ sinh và vẻ thẩm mỹ của thành phố thì cũng không nỡ tịch thâu những bó lõi dứa màu vàng óng xếp thành chồng cao trên những cái mẹt có lót lá chuối khô và được che lên bằng một tấm giấy nylon đã ngả màu nâu đục và mất hẳn tính trong suốt của loại nylon bình thường vì đã bị tái sinh nhiều lần.

Chỉ có đám bán thuốc lá lẻ là chạy chối chết. Bởi nếu hạch hỏi ra thì đủ thứ tội: Thuốc lá Sông Cầu, thuốc lá Hoa Mai, thuốc lá Phù Đổng, thuốc lá Trường Sơn… toàn là nhưng đồ phân phối của công nhân viên chức, bán ra ngoài là bất hợp pháp rồi, bất kể người được phân phối không biết hút thuốc và đã hoan hỉ nhượng lại. “Sang đi nhượng lại” là một hành vi phạm pháp, làm ngơ thì chả sao, nhưng hạch sách ra thì nó vẫn là một tội có thể viện dẫn ra để tịch thu. Quầy hàng thuốc lá vì thế đã được người bán bố trí rất đơn giản. Chỉ có một cái càng ba chân bằng que tre, trên để một cái thùng carton nhỏ. Bên trong hầu hết là những vỏ bao trống không hoặc chỉ để sẵn vài ba điếu. Nguồn hàng chính thức được giấu kín trong một cái túi xách và để ở đâu đó khó ai nhận biết được, ví dụ ở trong bọc áo một thằng bé ngồi thu lu ở vỉa hè xa xa chỗ mẹ nó, chị nó bán hàng, hay ví dụ như ở ngay dưới gầm ghế của một nữ đồng chí trong Tổ coi xe, ngồi nghiêm chỉnh ở khu vực đã được chỉ định sẵn, vừa quan sát khu vực để xe, vừa chăm chú đan thêm mảnh áo len kiếm thêm chút tiền đong gạo dưới ánh đèn lù mù của ngọn đèn chai.

Một vài hình ảnh như thế, nghĩ cho cùng, nó quả là rất tương phản với tấm biểu ngữ giăng ngang trước cửa rạp, nền trắng, chữ đỏ kẻ bằng sơn rất trịnh trọng:

Hôm nay long trọng trình diễn vở kịch:
NỀN SẢN XUẤT LỚN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
do đoàn kịch ĐỒNG THÁP đảm trách.

Trong nhân dân, đã được học tập rồi thì ai lại chả biết sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa phải đi đôi với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến của nền đại công nghiệp. Nói chuyện về đại công nghiệp ở nơi chốn lù mù những ánh đèn chai, nếu không là chuyện khôi hài thì cũng là những toan tính quá xa vời với thực tế.

Nhưng cũng chả sao. Có thiếu gì điều ở đây đã được học tập, đã được phát biểu, đã được in thành sách, soạn thành nhạc, viết thành kịch bản để trình diễn mà khi đem so với thực tế thì chả thấy có điều gì ăn nhập với nhau. Riết rồi cũng quen đi. Học một đằng, nghĩ một nẻo, khi nói ra miệng lại là một nẻo khác nữa. Ai cũng thấy thế, ai cũng đã từng làm như thế, cuối cùng sự trục trặc không ăn khớp ấy đã trở thành một thói quen, một quy luật để tồn tại, chỉ những kẻ nào tối dạ lắm thì mới dại dột nêu lên những nhận thức chân thực của mình.

Thế cho nên dù trong ánh đèn lù mù của ngọn lửa đỏ đòng đọc, đong đưa theo hướng động đậy của ngọn đèn chai chao đảo trước gió, người ta vẫn thấy xốn xang, rộn ràng khi nhìn lên tấm biểu ngữ nêu tên vở kịch sắp được trình diễn: NỀN SẢN XUẤT LỚN XÃ HỘICHỦ NGHĨA. Nói cho cùng thì chả cứ tên của vở kịch là cái gì, miễn rằng nó là một vở kịch, một buổi trình diễn, một duyên cớ để tụ tập nhau lại, dù trong một cái rạp chật ních nóng nẩy đến đổ mồ hôi, để được nghe đàn, nghe hát, gái trai đú đởn, đùa nghịch, thế là vui rồi. Đã lâu lắm ở đây có được cái gì để vui đâu !

Thế là thiên hạ ùn ùn kéo nhau vào rạp. Khu vực để xe đã chật ních. Đồng chí trong Tổ coi xe đã sử dụng gần hết cuộn dây thừng để luồn qua vô số là những cái khung xe. Hàng bán lõi dứa đã hết lõi dứa, hàng bán chè đã hết chè, hàng bán trái cây xay đã hết nước đá để xay. Chỉ còn lác đác vài cái thùng carton đựng thuốc lá lẻ đặt trên cái càng ba chân. Mấy thằng nhỏ ngồi ở xa xa trên vệ đường (bụng ôm một bọc toàn nguồn hàng thuốc lá) cũng vẫn còn ngồi ở đó nhưng bây giờ đã ngủ gục. Có còn cái thứ công việc nào chán ngán và dễ buồn ngủ hơn là việc cứ ôm khư khư bọc đựng thuốc lá như thế suốt buổi từ tối đến khuya, cấm di động, cấm chạy nhảy, cấm rời chỗ, tất nhiên là trừ ra những dịp rất bần cùng, chẳng hạn như có tiếng báo động từ xa truyền lại: “Công an tới! Công an tới!”.

À, nếu công an tới thì lại khác. Thằng nhỏ dù đang buồn ngủ rũ mắt thì cũng phải bật lên như một cái lò xo và ôm gói hàng chạy miết vô một ngõ tối. Ở đó, nó có thể thò đầu ra như một con chuột, ngó qua phía bên kia đường để thấy mẹ nó, hay chị nó hoặc là đang nài nỉ, hoặc là đang cãi vã, hoặc là đang bị đồng chí công an dẫn giải về đồn với lệnh tịch thu. Sự mất mát nếu có cũng chả nhằm nhò gì, bất quá thì cũng chỉ vài ba điếu thuốc Sông Cầu, vài cái vỏ bao trống không của thứ thuốc loại xịn và một ngọn đèn Huê Kỳ tù mù dùng để cho khách châm thuốc hút.

Tuy nhiên hôm nay tình hình có vẻ yên tĩnh lạ. Mấy đồng chí công an đã xuất hiện từ chiều ở cửa rạp, nhưng ngó lơ như không bao giờ bận tâm đến lũ hàng quán ngồi la liệt ở dưới gốc cây. Lý do là các đồng chí còn mải bận tâm đến một nhiệm vụ trọng đại hơn nhiều: bảo vệ an ninh cho buổi trình diễn ra mắt vở kịch NỀN SẢN XUẤT LỚN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. Điều đó có nghĩa là khách tới rạp chẳng phải thuần túy chỉ có nhân dân mua vé vào coi. Theo bản tiêu lệnh công tác bảo vệ an ninh thì có nhiều thành phần quan khách đặc biệt tới tham dự như đồng chí Quận ủy, đồng chí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận, đồng chí Ủy viên Thông tin Văn hóa, các đồng chí đại diện Công đoàn, đại diện hội Phụ nữ, đại diện hội Phụ lão, đại diện Quận đoàn Thanh niên, và rất nhiều đại diện các đoàn thể linh tinh khác. Đó là chưa kể các phái đoàn Công nhân Tiên tiến của nhiều xí nghiệp, nhiều hợp tác xã, nhiều trường học trong khu vực cũng được đặc biệt có giấy mời tham dự. Nói chung là buổi hôm nay có nhiều yếu tố quan trọng khiến bộ phận công an phải đặc biệt lưu tâm hơn là càn quét bọn buôn thúng bán mẹt vốn cũng sẵn dịp tổ chức nên bu lại để mong kiếm thêm chút lời.

Mới gần tám giờ tối, toàn thể các ghế trong rạp đã chật như nêm cối.

Ở TRONG RẠP

Đồng chí Bí thư Quận đoàn Thanh niên:
Kính chào đồng chí Quận ủy.

Quận ủy :
A! Chú Sáu! Chú cũng đi coi hả?

Đồng chí Bí thư Quận đoàn Thanh niên:
Dạ. Trình đồng chí, em đi coi để thêm nhận thức về nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa.

Quận ủy:
Phải đấy! Đây là một khâu trọng đại trong công cuộc xây dựng tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa. Các chú nên đào sâu trong lãnh vực nhận thức. Mà hình như tác giả là đồng chí ở tổ Biên kịch cấp Thành đấy có phải không?

Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa:
Dạ thưa phải! Vở kịch nầy là vở thứ hai của đồng chí ấy và đợt trình diễn nầy là đợt thao diễn để rút kinh nghiệm công tác. Sau đó sẽ đưa lên cấp Thành và có hy vọng trình diễn cả ở Trung ương nữa.

Quận ủy:
Cái đó tôi biết. Chính tôi đề nghị với đoàn ĐỒNG THÁP lấy quận ta làm thí điểm trình diễn.

Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa:
Dạ, trình đồng chí, đồng chí quyết định như vậy là sáng suốt lắm. Đề tài của vở kịch rất phù hợp với nghị quyết của Thành ủy liên quan tới công cuộc vận động nhân dân ta tiến mạnh, tiến mau, tiến vững chắc từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa. Trình đồng chí, theo chiều hướng nầy, và trong cương vị của một Ủy viên Thông tin Văn hóa, tôi cũng đang phát động chiến dịch Nếp Sống Văn Hóa Mới nhằm vận động nhân dân sống theo tác phong của nền công nghiệp, từng bước xóa bỏ tàn dư của nền sản xuất nhỏ, manh mún, tản mạn ngày xưa.

Quận ủy:
Cái đó cũng tốt thôi! Nhưng mà nầy, nhạc đâu mà chưa thấy đồng chí cho vặn lên. Đồng bào đã tới đông, trong khi chờ các diễn viên sửa soạn, phải có âm nhạc mới được chớ.

Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa:
Dạ có chớ, có chớ! Trình đồng chí, tôi đã chỉ thị đầy đủ cả, hiềm vì mấy cái loa đang gặp phải sự cố kỹ thuật. Tổ bảo trì đang phấn đấu sửa chữa, chắc chỉ ít phút nữa thôi. Để tôi đi coi lại (nói xong bỏ đi về phía cánh trái sân khấu).

TẠI CÁNH TRÁI CỦA SÂN KHẤU

Kỹ thuật viên 1:
Cái dàn ăm-li nầy chỉ có nước giục mẹ nó vô thùng rác chớ còn làm ăn được gì.

Kỹ thuật viên 2:
Nói nghe ngon không? Dàn nầy mới thay hồi đầu tháng mà, giục thùng rác sao được, cha?

Kỹ thuật viên 1:
Cậu banh mắt ra mà nhìn coi nó là dàn mới thay hay là cái dàn cũ xì từ hồỉ ông bành tổ đây nào. Thằng Ủy viên Thông tin Văn hóa nó đã đổi cha nó cái mới hồi tuần trước rồi mà cậu đâu có hay.

Kỹ thuật viên 2:
Ai cho phép nó đổi chớ?

Kỹ thuật viên 1:
Thì đi tìm nó mà hỏi. Ối chà, linh chửa, mới vừa nhắc mà nó đã thò mặt tới rồi (đổi giọng). Kính chào đồng chí Ủy viên Thông tin Văn hóa.

Đồng chí Thông tin Vãn hóa:
Các cậu làm ăn chả ra cái con mẹ gì hết. Sao giờ nầy chưa cho đĩa nhạc chạy lên?

Kỹ thuật vìên 1:
Trình đồng chí tại cái ăm-li nầy cũ quá. Hơi nóng một tí là nó rè.

Đồng chí Thông tin Vãn hóa:
Nó rè thì sửa chỗ rè…

Kỹ thuật viền 1:
Dạ, em đã sửa nó chán ra rồi, từ hồi nó còn ở nhà đồng chí, mà không hết bệnh.

Đồng chí Thông tin Văn hóa :
Ấy chớ! Cậu đừng nhắc chuyện cũ, bất tiện lắm. Bề gì thì cũng chỉ có tôi với tổ kỹ thuật biết với nhau thôi. Thôi được, rán khắc phục được đến đâu hay đến đó. Chắc cũng sắp sửa tới giờ trình diễn đến nơi, đâu có cần nhạc!!

Kỹ thuật viên 2:
Dạ, đúng đấy. Em thấy trong sân khấu đã kín mít những người là người, và em nghe thấy cả tiếng người ta đi gọi lão kéo màn để chuẩn bị kéo màn lên.

Ở CHỖ LÃO KÉO MÀN

Lão ngồi chồm hổm trên một cái thùng gỗ kê ngay sát một tấm cánh gà. Bên cạnh lão là một túm thuốc rê, cạnh túm thuốc rê là một chai nước ngọt, bên trong chai nước ngọt chẳng có nước ngọt mà là thứ rượu đế trắng nhờ cao đến ngót lưng chừng. Vậy là lão cũng đã tu khan hết ngót nửa xị rồi. Hèn chi đầu lão nóng rực. Mồ hôi đổ ra đầm đìa, đọng lấm tấm trên những cọng râu bạc. Lão thèm một cơn gió mát, nhưng bầu không khí trong hậu trường cứ mỗi lúc một ngột ngạt hơn. Người chạy qua chạy lại phía sau lưng lão rối ren như đèn cù. Thiên hạ hỏi nhau những món đồ hóa trang. Thiên hạ nhắc nhau về những đoạn cần nhấn mạnh trong vở kịch. Thiên hạ cũng cãi lộn với nhau về cả những chuyện chả ăn nhàm tới vở kịch, chả hạn như kỳ nhu yếu phẩm nầy có về hai cái vỏ xe đạp, ai lấy ai đừng, hoặc chuyện vay công mượn nợ eo xèo trả thiếu, trả trễ sao đó .Trong đám tiếng nói hỗn độn, ồn ào đó, bỗng lão nghe thấy mẩu đối thoại thì thầm ở ngay sát phía sau lưng mình:

Tiếng đàn ông:
Chết mẹ tôi rồi! Giờ nầy lão Bảy Đô chưa tới.

Tiếng đàn bà:
Không sao đâu. Chắc là lão hư xe phải đi bộ. Với lại mãi tới màn chót mới cần tới vai của lão mà.

Tiếng đàn ông:
Làm ăn cái kiểu giật gân nầy tôi đến rụng mẹ nó tim ra ngoài mất. Cô nhớ dùm tôi, hết màn đầu mà chưa thấy lão phải tức tốc cho người đi tìm ngay.

Tiếng đàn bà:
Yên trí đi. Em mới gặp lão chiều hôm qua. Lão hãy còn khỏe như voi. Chắc tại trễ đó thôi.

A! Cái lão Bảy Đô này thì lão kéo màn biết rõ. Thân nhau nữa là khác. Hai người ở xế nhà nhau, giải phóng về, cả hai ngán ngẩm nhân tình thế thái, cùng xoay ra uống rượu giải sầu. Rượu vào, lời ra, cả hai cùng đem chuyện Phường, chuyện Khóm, chuyện đoàn thể, chuyện học tập, chuyện kinh tế mới và đủ các loại chuyện khác ra than thở, chửi thề. Lão Bảy Đô bày tỏ cái mộng vượt biên vì lão có nhiều con, cháu lo được cái vụ nầy. Hồi tuần trước, Bảy Đô đã rỉ tai lão nói “tôi sắp đi! “Ờ nói là đi chứ chắc gì cứ đi là được Người ta đi hà rầm và bị bắt lại, bỏ vô tù cũng đông lển nghển”. Lão Bảy Đô biết vậy nên cũng chỉ nói vỏn vẹn có thế thôi. Lão chẳng vì chuyện ấy mà bỏ lơi công chưyện hàng ngày. Vẫn đi bới rác. Vẫn khuân những chai nước tương ở tổ hợp sản xuất đi bỏ mối lấy lời. Và mới đây, lão còn nhận lời cả với thằng cháu trong ban kịch ĐỒNG THÁP để sắm một vai phụ, chỉ cần nói đúng một câu:

Đời tao, tao hy sinh đâu phải cốt để tao hưởng, mà cốt để cho con cháu chúng nó kia kià!

Rõ ra một câu nói khẳng khái của một ông già có trình độ giác ngộ cách mạng cao, làm chết bỏ mà không hề thắc mắc, than phiền. Lão Bảy Đô nhận lời sắm vai đó cũng là có lý do. Một là nó dễ đóng, chả có gì phải nhớ nhiều. Hai là thằng cháu cách mạng sẽ phát cho lão một cái giấy chứng nhận là công nhân viên của ban kịch ĐỒNG THÁP. Thời buổi nầy, được làm công nhân viên không phải là chuyện giỡn chơi. Thằng công an khu vực có thấy cũng nể mặt. Thằng tổ trưởng An ninh tổ dân phố lại càng hết giở bộ mặt hạch xách, eo xèo, mà đến như mấy thằng bên Phường cũng không còn lấy cớ gì để đưa tên lão vào danh sách những kẻ bó buộc phải đi kinh tế mới.

Nhưng cái lợi cực kỳ hơn cả là nhờ cái giấy đó, lão có thể di chuyển dễ dàng mà không sợ bị chận xét bất tử khi đi đường. Nó đúng là bùa hộ mệnh cho lão để giúp lão vượt biên! Lão chỉ hơi ân hận là sao cái bọn tổ chức lại nhè đúng cái ngày lão phải ra sân khấu để ra hiệu cho lão lên đường. Cái nầy thì không phải do lão cố tình chơi khăm thằng cháu cách mạng. Lão có tiếc gì một câu nói:

Đời tao, tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng mà cốt để cho lũ con cháu chúng nó kia kìa!

Dễ ợt khi nói, mà cũng lãng xẹt khi nghe. Mẹ kiếp, cả nước nầy ai mà chẳng biết cứ cái kiểu cai trị thế nầy, thì con cháu, chút chít, mạt đời cũng chả bao giờ có ai được hưởng gì ngoại trừ giai cấp của lũ cầm quyền.

Buổi sáng hôm ra xe đi về lục tỉnh, lão Bảy Đô không khỏi mỉm cười khi nghĩ đến những khuôn mặt nhớn nhác của toàn thể nhân viên đoàn kịch ở phía sau hậu trường sân khấu.

PHÍA SAU HẬU TRƯỜNG SÂN KHẤU

Có hai diễn viên trẻ tuổi đứng ở cửa sổ nhìn ra khu phố chợ ồn ào. Một nam, một nữ.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
Chết chửa. Sao em thấy chóng mặt quá.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Chết! Có sao không ? Có cần bôi dầu nóng không? Chắc em trúng gió.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
Không phải đâu. Chắc là tại lúc đi, em chưa ăn gì.

Nam Diễn viên sắm vai Quý:
(trách) Đáng lẽ em phải pha một ly sữa để uống lấy sức.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
(mỉa mai) Hộp sữa bồi dưỡng em đã đổi ra thành mì sợi cho cả nhà rồi. Mà ngay cả mì sợi thì cũng đã hết nhẵn từ hôm qua!

Gã nam diễn viên sững sờ nhìn người bạn gái. Dưới ánh đèn vàng úa, khuôn mặt của nàng hiện ra vêu vao. Mặc dù nàng đã hóa trang xong nhưng lớp phấn trắng, vành môi đỏ không che giấu được vẻ xanh xao, mệt mỏi nó làm cho những bột phấn không ăn mịn vào làn da, lớp son càng đắp dầy càng hiện ra những vết nứt nẻ, rạn vỡ.

Lòng gã dâng lên một niềm xót xa vô hạn mặc dù chính gã cũng đang lao đao như nàng. Đói. Đói ở nhà. Đói ở sở làm. Đói ngay cả khi sửa soạn bước ra sân khấu. Bây giờ gã mới thấm thía cái điều mà các cơ quan tuyên truyền của nhà nước vẫn nhắc đi nhắc lạì một cách khoe khoang: “Bộ đội ta ăn no và đánh thắng”. Thì ra ưu điểm mà cái xã hội nầy mơ ước được đạt tới chỉ là được ăn no. Hơn ba mươi năm cầm quyền, hơn nửa dân số không bao giờ được ăn no. Vậy mà cũng gọi là đỉnh cao trí tuệ của loài người sao? Gã bỗng thấy nhói ở tim khi nhớ đến một lời đối thoại trong vở kịch sắp sửa trình diễn:

– Dưới sự sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đang ở trên đỉnh cao trí tuệ văn minh của loài người. Điều nầy không làm đồng chí cảm thấy hãnh diện sao?

Thật là một lời dối trá trắng trợn, bởi chính cái gã tác giả viết ra vở kịch nầy cũng chẳng tin gì điều mà hắn viết ra. Cứ nom cái vẻ mặt nhớn nhác của hắn, lúc nào cũng như tránh né tia nhìn của mọi người thì đủ rõ. Con người ấy thật xứng đáng dùng làm biểu tượng cho sự thiếu tự tin. Vậy mà hắn có gan viết kịch để xây dựng niềm tin cho mọi người. Thế là lại thêm một chuyện chéo cẳng ngỗng nữa!

Nhưng gã nam diễn viên không có nhiều thì giờ để bận tâm đến lý do làm nhói con tim gã. Cơn đói của người bạn gái trước giờ nàng phải bước ra sân khấu đã làm gã nhói tim hơn nhiều. Gã khoắng bàn tay khô khan của mình vào trong túi quần để đếm nhẩm mấy đồng bạc lẻ còn sót lại.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Anh còn mấy đồng lẻ. Để anh chạy ra cửa rạp mua cho em gói xôi.

Nữ diễn viên sắm vai Hồng:
Thôi đi anh! Em còn rán chịu được. Mấy lại cũng hết còn ra ngoài được nữa rồi. Nghe đâu có vụ ông Bảy Đô sắm vai lão già công nhân tiên tiến cho tới giờ cũng chưa tới. Ông biên đạo (đạo diễn) đã cho lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập để ngăn chặn diễn viên chuồn ẩu ra ngoài.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Tù túng đến thế cơ à? Thôi để anh nhờ lão kéo màn, lão không là diễn viên, chắc ra được!

Ở CHỖ KÉO MÀN

Lão kéo màn vẫn còn ngồi y nguyên ở đó, duy có xị rượu đế thì đã vẹt hẳn đi, chỉ còn đâu non một đốt ngón tay. Mắt lão lim rim như đang ngủ nhưng tâm hồn của lão thì lâng lâng một cách tỉnh táo. Lão đang vận dụng trí tưởng tượng để theo dõi bước chân đi của người bạn già. Có thể bây giờ lão Bảy Đô đã xuống tới bến. Rồi từ bến lên thuyền đi ra cửa sông. Từ cửa sông đáp thuyền lớn để đi ra biển. Ôi chao! Biển cả mênh mông như chân trời tự do mênh mông mà lão sắp sửa đặt chân tới. Mới nghĩ như thế mà lão kéo màn đã hít hà, tưởng như chính mình cũng đang lênh đênh trên con thuyền trên đường vạch lau lách tiến ra biển cả.

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Cụ kéo màn ơi! Cụ kéo màn ơi!

Lão kéo màn: (giật mình, mở choàng mắt ra)
Cái gì đấy! Tới giờ rồi hả?

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Chưa tới! Nhưng cháu nhờ cụ ra cửa mua giùm gói xôi. Tội nghiệp cô diễn viên, nhà hết gạo, lúc đi trình diễn chưa ăn gì, bây giờ lao đao quá !

Lão kéo màn:
Đi mua thì dễ, mà chỉ hiềm lúc bỏ đi, tới giờ kéo màn không có mặt thì lãnh búa hết!

Tiếng loa phóng thanh:
Đã tới giờ khai mạc! Xin mời toàn thể các đồng chí, đồng bào đứng dậy để làm lễ chào cờ !

Ông biên đạo: Kéo màn lên! Kéo màn lên !

Lão kéo màn vội vã đứng dậy, hai bàn tay sần sùi và thô kệch của lão túm lấy sợi dây thừng treo lủng lẳng ở phía trước mặt. Lão vận dụng hơi sức của mình để níu sợi dây xuống. Tấm màn nhung cũ kỹ có nhiều vết nứt rạn từ từ cuộn lên. Rồi có tiếng rọt rẹt của dàn âm thanh đặt ở bên cánh trái sân khấu. Chen vào giữa những tiếng rọt rẹt là những tiếng rít rít nghe nhức tai. Rồi bản Tiến Quân Ca được phóng ra bằng một giọng ồm ồm, có lúc khụt khịt như bị ngạt mũi, lại cũng có lúc chìm đi như muốn tắt tiếng. Sự kiện nầy làm cho đám khán giả tuy cố làm bộ điệu trang nghiêm lúc chào cờ nhưng không khỏi bụm miệng cười. Chỉ riêng ở hàng ghế đầu, nơi dành cho quan khách là có những ánh mắt giận dữ, tức tối.

TẠI HÀNG GHẾ ĐẦU

Đồng chí Quận ủy (thì thào):
Đồng chí ủy viên Thông tin Văn hóa đâu?

Ủy viên Thông tin Vãn hóa:
Trình đồng chí. có em đây.

Quận ủy:
Ngày mai đồng chí đem hồ sơ lý lịch của mấy thằng trông coi Tổ kỹ thuật lên tôi để đích thân tôi coi lại. Chúng nó có ý đồ phá hoại!

Ủy viên thông tin văn hóa.
Dạ… dạ… xin tuân lệnh đồng chí.

Dù sao thì bản Tiến Quân Ca cũng đã được chơi xong. Mọi người ngồi xuống. Tiếng ồn ào bắt đầu nổi lên, nhất là phía hàng ghế khán giả.

TẠI HÀNG GHẾ KHÁN GIẢ

Nhiều tiếng nói cất lên, không phân biệt được ai với ai :

– Âm thanh kiểu này thì còn kịch với cọt cái gì nữa.

– Thôi đi mà người anh em, rán khắc phục cái lỗ tai giùm chút. Mình đang ở thời kỳ quá độ mà.

– Quá độ đâu ở cái dàn âm thanh cha nội! O ép nó quá thì nó phá bĩnh, có gì đâu!

-Nói đúng đó! O ép người ta thì được, o ép máy thì không xong. Không lẽ bắt cái máy đi học tập cải tạo!

Một tràng rộ lên cười làm cả một góc rạp ồn ào như vỡ chợ khiến cho tất cả mọi người đều quay lại nhìn. Ngay lúc đó, ở trên sân khấu, ông biên đạo hùng dũng bước ra. Một tay ông ấy cầm một xấp bản thảo vở kịch, ý chừng muốn chứng tỏ lúc nào ông cũng bận rộn, chăm sóc đến từng diễn viên, nhắc nhở từng điệu bộ, từng câu nói. Còn tay kia thì ông ấy cầm một cái micro chạy bằng pin. Cái máy đeo lủng lẳng trên một bên vai còm cõi, nó làm cho thân hình của ông lệch hẳn đi, nhưng cũng nhờ thế nó càng chứng tỏ vai trò quan trọng của ông trong những giờ phút trọng đại như thế này.

TRÊN SÂN KHẤU

Ông biên đạo:
Kính thưa đồng chí Quận ủy, kính thưa các đồng chí đại diện các Ban, Ngành, các Đoàn thể, kính thưa toàn thể nhân dân đồng bào… thay mặt ban tổ chức chúng tôi hết sức thành thật xin cáo lỗi về vụ âm thanh có sự cố kỹ thuật. Chúng tôi đang cố gắng khắc phục để đảm bảo tốt cho chương trình trình diễn… Bây giờ tôi xin trình bầy sơ lược về nội dung và ý nghĩa vở kịch…

Ở TRONG HẬU TRƯỜNG

Ông trưởng đoàn Đồng Tháp:
Ai thế? Ai đại diện ban tổ chức ra sân khấu mà nói thế?

Ông phó trưởng đoàn:
Trình đồng chí, đấy là tiếng của ông Biên đạo.

Ông trưởng đoàn:
Cái thằng lanh chanh hớt việc không phải chỗ! Nó đâu có quyền giẫm chân lên cương vị của người khác. Cáo lỗi về sự cố kỹ thuật của buổi trình diễn là phần hành của tôi, bởi vì tôi trách nhiệm toàn bộ buổi trình diễn này…

Ông phó trưởng đoàn:
Trình đồng chí, tôi nhất trí với ý kiến của đồng chí phát biểu. Sau đồng chí là đến tôi chứ đâu đã đến thứ nó.

Ông trưởng đoàn:
Tôi biết nó muốn lấy điểm với đồng chí Quận ủy. Tôi sẽ đem vụ nầy ra kiểm thảo. Chớ làm ăn theo kiểu manh mún, tản mạn này thì đâu còn là tác phong của nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa.

Đồng chí lao công:
Trình đồng chí thủ trưởng, dàn âm thanh mới đã tới.

Ông trưởng đoàn (reo lên):
Hay quá! Ở đâu ra thế? Ai cho mượn thế ?

Đồng chí lao công:
Dạ, của ông Ủy viên Thông tin Văn hóa.

Ông trưởng đoàn:
À ra thế! Phải có tinh thần một người vì mọi người như thế mới xứng đáng là con người mới Xã hội Chủ nghĩa chứ. Chả trách ông ấy được cấp trên giao phó đảm nhiệm chức vụ Thông tin Văn hóa. Còn thằng cha biên đạo, nó vẫn còn nói lảm nhảm cái gì trên sân khấu thế ?

TRÊN SÂN KHẤU

Ông biên đạo:
(vẫn thao thao) Vâng, thưa các đồng chí, con người mới Xã hội Chủ nghĩa là con người được hình thành và được phát triển thông qua ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, và cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng tư tưởng và văn hóa là then chốt. Trên cơ sở đó, ba cuộc cách mạng càng phát triển sâu rộng và thu được nhiều thành quả thì con người mới Xã hội Chủ nghĩa càng phát triển toàn diện, đồng thời tác động trở lại khiến cho ba cuộc cách mạng được thúc đẩy thêm, được phát triển thêm không ngừng…

Ông ta vừa nói vừa nhìn xuống phía hàng ghế khán giả, nói cho đúng hơn, nhìn xuống cái chỗ mà đồng chí Quận ủy đang ngồi. Có thể ông ta sẽ tiếp tục khai triển thêm về cái ý đang nói hơn nữa, nhưng bất ngờ, ông ta bắt gặp đồng chí Quận ủy giơ tay che miệng ngáp. Thế là như một nhân tố có khả năng rất nhạy bén về những tác động khách quan bên ngoài, ông biên đạo đổi ngay đề tài đang nói và sự đổi thay nầy hầu như làm cho cả rạp tỉnh hẳn ngủ.

Ông biên đạo:
Để nói lên được cái ý nghĩa vô cùng sâu xa đó, sau đây chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với các đồng chí, các đồng bào màn đầu của vở kịch nhan đề NỀN SẢN XUẤT LƠN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA do đoàn kịch ĐỒNG THÁP trình diễn, với thành phần diễn viên nòng cốt Thu Lan trong vai Hồng, Năm Bửu trong vai Quý, Mạnh Hoàng trong vai Huy…

Những tràng vỗ tay tán thưởng đồng loạt nổi lên làm át cả lời giới thiệu của ông ta đến nỗi cả một đoạn sau, chả còn ai nghe ông ta nói cái gì. Rõ ra là đồng bào hoan nghênh về sự kiện đã tới lúc chấm dứt phần nói chuyện vừa dài, vừa dai lại vừa dở của ông biên đạo. Ông ta có vẻ cụt hứng, lùi lũi đi vào hậu trường quên cả cúi đầu chào quan khách và khán giả.

TẠI HẬU TRƯỜNG

Ông phó trưởng đoàn đứng chặn ngang lối đi vào của ông biên đạo. Hai người đứng đối diện ngay ở bên cạnh lão kéo màn.

Ông phó trưởng đoàn:
Đồng chí nói thao thao nhưng đồng chí quên mất rằng đã giẫm chân lên cương vị của đồng chí trưởng đoàn.

Ông biên đạo:
Đó là lý do ngoài ý muốn. Lúc có sự cố kỹ thuật về âm thanh, khán giả nhao nhao lên, mà ông ấy biến đi đâu, đâu có mặt để giải quyết. Trong tình huống ấy, tôi phải tranh thủ thời gian để linh động chớ!

Ông phó trưởng đoàn:
Đồng chí ấy ở quanh đây chứ có đi đâu! Mà sau đồng chí trưởng đoàn còn có tôi chớ dâu đến lượt ông. Làm ăn lộn xộn theo kiểu cứt lộn lên đầu, đâu có được!

Ông biên đạo:
A! Đồng chí xỏ lá nhé. Đồng chí nói ai là cứt lộn lên đầu. Tôi sẽ lôi đồng chí ra hội đồng liên tịch để kiểm thảo.

Ông phó trưởng đoàn:
Tôi sẽ kiểm thảo nhà anh trước. Để sau buổi trình diễn này anh sẽ biết !

Ông trưởng đoàn (hớt hải chạy tới):
Chết chửa! Sao giờ này lão Bảy Đô vẫn chưa tới. Đã có ai cử người tới gọi lão ấy chưa?

Ông biên đạo:
Tôi đã cho người đi gọi rồi nhưng chưa thấy về. Đạp xe từ đây tới đấy ít lắm cũng nửa giờ.

Ông trưởng đoàn:
Sao lại đạp xe! Có xe gắn máy của cơ quan sao không lấy mà xài. Chuyện khẩn cấp!

Ông biên đạo:
Trình đồng chí, cái xe hết xăng, bên tiếp liệu chưa cấp phát.

Ông trưởng đoàn:
Sao mà hết xăng sớm thế. Mới xuất ra ba lít ngày hôm kia. Ô! Thế nầy thì tệ thật, tôi phải rà lại toàn bộ cung cách làm việc của các đồng chí. Làm ăn kiểu này thì đâu còn là tác phong của con người mới Xã hội Chủ Nghĩa.

Ông phó trưởng đoàn:
Nếu lão ấy không tới, mình tước bỏ một vai được không?

Ông biên đạo (la lên):
Ông nói chuyện giỡn chơi! Toàn bộ các diễn viên gắn bó hữu cơ với nhau, bỏ đi một vai là toàn bộ vở kịch sụp đổ hết, đâu có thể thế được.

Ông phó trưởng đoàn
:
Ông cứ quan trọng hóa vấn đề, chứ lão Bảy Đô chỉ sắm có mỗi một vai phụ.

Ông biên đạo:
Vai phụ có chức năng của vai phụ. Nếu vai phụ bỏ đi được thì còn ai dựng lên nhân vật ấy làm gì. Ơ kia kìa! Có ông tác giả đang tới. Ông hỏi ông ta bỏ đi một vai phụ có đặng không. Nếu đặng, tôi sẵn sàng đồng ý liền.

Ông phó trưởng đoàn:
Ấy là tôi góp ý để giải quyết vấn đề thôi. Nói cho ngay, phút chót mà lão Bảy Đô không tới thì ông có muốn giữ vai phụ cũng chả có ai mà giữ.

Ông biên đạo:
Đây này, ông tác giả! Ý kiến ông thế nào về việc tước bỏ đi một vai trong vở kịch của ông?

Ông tác giả (nhún vai):
Cái đó đâu thuộc thẩm quyền của tôi. Ông là biên đạo, ông chịu trách nhiệm hết.

Ông biên đạo (to tiếng):
Ơ hay! Sao lại tôi nhỉ. Nhân vật do ông đẻ ra thì ông phải biết bảo vệ nó chứ.

Đồng chí bảo vệ (ở đâu chạy tới, cố hạ giọng xì xào):
Suỵt! suỵt! Chuyện đẻ đái ai lại đem ra ở đây. Các đồng chí to tiếng làm mất trật tự hậu trường ảnh hưởng đến diễn viên ngoài sân khấu. Xin im lặng dùm đi !

NGOÀI SÂN KHẤU.

Vai Hồng:
Má bình tĩnh để con nói má nghe. Cái máy khâu khác với cái tủ lạnh. Cái tủ lạnh không làm ra của cải vật chất, còn cái máy khâu thì có thể làm ra sản phẩm. Vì thế cái máy khâu mới gọi là tư liệu sản xuất.

Vai má của IIồng:
Chả tư liệu tư lẹo gì hết ráo. Hồi nào tới giờ, tao vẫn để cái máy khâu ở nhà, có chết ai đâu.

Hồng:
Hồi xưa khác, hồi nay khác. Hồi xưa, chế độ tư bản bóc lột và bần cùng hóa nhân dân. Hồi nay, chế độ ta xóa bỏ bóc lột và các nguyên nhân sinh ra bóc lột để thỏa mãn nhu cầu ấm no hạnh phúc của nhân dân. Như má giữ làm của riêng cái máy may, một tư liệu sản xuất là một hình thức của nguyên nhân sinh ra bóc lột.

Má của Hồng:
Của tao, tao không giữ thì đem ném nó ra đường à?

Hồng:
Ai biểu má ném nó ra đường. Má đem nó vô tổ hợp để cùng quản lý chung, điều hành chung. Đó là ý niệm làm chủ tập thể Xã hội Chủ nghĩa.

Má của Hồng:
Cha chung chẳng ai khóc. Điều hành kiểu đó thì chỉ có đói rã họng ra thôi.

Câu nói “đói rã họng” của người đối diện khiến cho diễn viên sắm vai Hồng vụt quay về với cơn lao đao, cào xé của mình… Nàng cảm thấy chóng mặt và có những vân hoa nhảy múa trong cái nhìn của mình về phía trước. Nàng cố trấn tĩnh để giữ vững thế đứng của mình. Đáng lẽ ra sau câu nói “cha chung chẳng ai khóc. Điều hành kiểu đó thì chỉ có đói rã họng ra thôi” là nàng phải lớn tiếng biểu lộ sự phẫn nộ trước lời phát biểu đầy tính cách phản động, tiêu cực của người sắm vai má của Hồng. Nhưng nàng cố vận thêm hơi sức mà sinh lực của nàng cứ tiêu tán đi tận đâu. Đã nhiều hôm nàng nhịn đói, nhưng chưa bao giờ cơn đói lại vật vã nàng ghê gớm đến như lúc này.

Có lẽ nàng đã vận dụng quá sức trong những buổi tập dượt. Có lẽ cơn hồi hộp, xúc động trước giờ ra sân khấu đã càng khiến cho nàng thêm kiệt lực. Nàng như một con quay sấp hết đà. Nàng tự nhủ không cố thêm một tí nữa thì chắc chắn mình sẽ ngã quỵ, ngay ở đây, trên sân khấu và tại thời điểm nàng phải diễn xuất một câu nói mấu chốt:

Tư tưởng của má là tưởng manh mún, tản mạn, xuất phát từ sự bắt rễ lâu dài của nền sản xuất nhỏ trong chế độ thoát thai từ phong kiến, thực dân và tư bản bóc lột. Má phải thấy rằng Đảng đã mở ra cho nhân dân ta một chân trời mới, chân trời của nền đại công nghiệp Xã hội Chủ nghĩa dựa trên cơ sở điện khí hóa, hóa học hóa, từng bước tiến lên tự động hóa và có khả năng sử dụng mọi thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật hiện đại…

Một câu nói dài như thế đòi hỏi ở nàng rất nhiều sinh lực. Nàng cố trấn tĩnh cơn cào xé của nàng để tập trung hơi thở. Hai tay nàng bấu lấy mép bàn. Mồ hôi đang vã ra ở những chân tóc. Nàng thấy rõ hai chân của mình run rẩy. Sự chậm trễ của nàng gieo vào vở kịch một khoảng trống. Một khoảng trống tai hại sau câu nói tai hại của diễn viên sắm vai má của Hồng. Cả rạp nín thở chờ đợi phản ứng của nàng. Để càng lâu sẽ càng tệ hại. Một ý tưởng phản động phát ra từ miệng lưỡi một nhân vật, nếu không chặn lại kịp thời thì nó sẽ tác động như những mũi dao phóng vào tim khán giả.

Cha chung không ai khóc. Điều hành kiểu đó thì chỉ có đói rã họng ra thôi.

Gã nhắc vở tưởng nàng quên, vội vã đọc lên:

Tư tưởng của má là tư tưởng manh mún, tản mạn…

Nhưng gã chưa kịp nhắc thêm thì người nữ diễn viên sắm vai Hồng đã buột ra mồm một câu nói hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn đi ra ngoài phần đối thoại của vở kịch:

Má phản động lắm! Thôi con nhức đầu lắm, con không thèm nói với má nữa…

Nói rồi nàng sầm sầm chạy ra và ngã quỵ ngay ở dưới chân lão kéo màn.

CHỖ LÃO KÉO MÀN

Ông biên đạo (sầm sầm chạy lại):
Sao lạỉ thế ! Sao lại thế! Phát ngôn như thế là chết mẹ thằng tôi rồi!

Nam diễn viên sắm vai Quý:
Cô ấy xỉu! Cô ấy xỉu !Không nói như thế thì làm sao mà rút ra khỏi sân khấu được!

Ông biên đạo:
Thằng diễn viên vai Bố của Hồng đâu! Đi ra! Đi ra tiếp nối vở kịch không thì chết mẹ cả lũ bây giờ.

Vừa nói ông ta vừa túm ngay được đúng người diễn viên đang đứng lớ quớ ở gần đó. Thế là ông ta đẩy phắt người này ra sân khấu, mặc dù anh ta chả biết ất giáp cái gì cả. Thôi thì đành cương một đoạn chứ biết làm sao!

NGOÀI SÂN KHẤU

Bố của Hồng:
Mẹ con bà này cãi nhau cái gì mà nó sầm sầm bỏ ra đến té xỉu như chết rồi thế?

Má của Hồng:
Ơ! Nào tôi có làm cái gì đâu. Nó đang nóì với tôi, chuyện chưa ra đâu vào đâu thì nó kêu nhức đầu.

Bố của Hồng:
A! thế ra là tại nó nhức đầu! Nhà có thuốc men gì cho nó uống không?

Má của Hồng:
Thuốc men còn khỉ gì nữa mà cho uống. Bảo nó chịu khó gượng dậy ra Y tế Phường từ sáng sớm mà xếp hàng…

Ở CHỖ NGƯỜI NHẮC VỞ

Người nhắc vở :
Vô đề trở lại đi! “Tôi muốn nói với bà về chuyện cái máy may…”

TRÊN SÂN KHẤU

Bố của Hồng:
Thôi chuyện y tế Phường hãy dẹp qua một bên đi. Xếp hàng cho cố vào thì cũng chỉ có một trái ổi với ba nhánh tỏi! Nó nhức đầu vài ba bữa thì cũng hết. Tôi muốn nói với bà về chuyện cái máy may.

Má của Hồng:
A! Ông về mà coi đấy. Nó đang dụ dỗ tôi đem cái máy may cúng vào tổ hợp. Ông có biết rằng mất cái máy may là chết đói cả nhà hay không!…

Ở CHỖ NGƯỜI KÉO MÀN

Ông biên đạo (thở phào):
Ôi chao! Nhờ ơn Bác, nhờ ơn Đảng, thế là chúng nó “nối” được với nhau rồi.

Ông trưởng đoàn:
Bên Phường ủy họ không tha cho ông đâu. Diễn viên của ông đụng chạm đến Y tế Phường.

Ông biên đạo:
Ô hay! Sao lại là lỗi của tôi mà nói chuyện tha hay không tha. Những cái gì liên quan đến vở kịch thì ông phải hỏi đến tác giả kia chớ!

Ông tác giả:
Sao lại là tôi nhỉ! Kịch bản của tôi đâu có cái vụ y tế Phường với y tế phèo ở chỗ nào đâu.

Ông phó trưởng đoàn (chen vào):
Thôi, xin quý vị hãy bớt tranh luận để lo chuyện trước mắt. Vai Hồng còn nguyên một màn nữa mà quị kiểu nầy chỉ có nước rã gánh. Mà ông biết làm sao không? Tại cô ấy đói!

Ông tác giả:
Làm sao ông biết?

Ông phó trưởng đoàn:
Anh chàng đóng vai Quý cho tôi hay điều đó. Tôi đang chờ ông Trưởng đoàn cho lệnh xuất ngân ra đằng trước cửa mua một tô mì cho cô ấy bồi dưỡng.

Ông trưởng đoàn:
Một tô mì chớ mười tô mì tôi cũng chịu nữa. Con khỉ! Có mỗi chuyện đó mà cũng phải chờ lệnh xuất ngân. Ai có tiền túi ứng giùm ra trước đi.

Ông phó trưởng đoàn:
Vâng! Vâng! Tôi sẽ đi ngay! Mười tô thì không đủ chớ năm tô thì tôi có!

Ông biên đạo:
Thế còn lão Bảy Đô đã tới chưa?

Một anh lao công:
Dạ thưa chưa! Chắc ông ta trốn biệt mất rồi.

Ông biên đạo:
Thế là chết cha tôi rồi. Bây giờ lấy ai mà thay thế được đây.

Ông trưởng đoàn:
Nhờ lão kéo màn được không?

Ông biên đạo:
Hay! Ý kiến hay đó. Này cụ kéo màn ơi. Tôi nhờ cụ ra phía phòng hóa trang tôi nhờ chút.

Lão kéo màn:
Rồi ai kéo màn cho tôi?

Ông trưởng đoàn:
Tôi! Tôi đích thân kéo!

TRONG PHÒNG HÓA TRANG

Ông biên đạo:
Như cụ thấy đó, lão Bảy Đô bỏ đi mất tiêu rồi!

Lão kéo màn (cười đắc ý):
Tôi cũng đồ chừng như vậy. Mà điều chưa chắc thì đừng đổ tiếng oan cho con nhà người ta.

Ông biên đạo:
Nhờ cụ thay thế được không?

Lão kéo màn:
Ới cha mẹ ơi! Ông nói cái gì nghe động trời vậy nè. Tôi mà thay thế lão ta để làm diễn viên.

Ông biên đạo:
Có gì đâu! Vai này chỉ nói có mỗi một câu thôi. Thế này này (ông đổi giọng sảng khoái) “ Đời tao tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng, mà cốt để con cháu chúng nó kia kìa!”

Lão kéo màn:
Nói một câu đó thì có gì là khó!

Ông biên đạo:
Thì thế! Cũng như là trò giỡn chơi. Ông rán tập sự đi. Biết đâu lại chẳng trở thành diễn viên thực thụ.

Lão kéo màn:
Thôi đi ông ơi, từ thuở nào tới giờ tôi vẫn chuyên nghề kéo màn.

Ông biên đạo:
Nhưng ông cũng vẫn nhận cho chứ! Ít ra là hôm nay.

Lão kéo màn:
Tôi nhận chứ sao không! Chả lẽ lão Bảy Đô làm được mà tôi không làm được.

Ông biên đạo nghe nói hớn hở bỏ đi ra. Trong khi đó lão kéo màn soi mặt mình ở trong gương. Mặt lão đỏ ké. Xị rượu lúc chập tối đã cạn queo và lão đang nhấp nhỏm muốn cưa thêm một xị nữa. Có ít tiền để dành dưỡng già, lão cứ bòn rút kiểu này chắc mai mốt nhăn răng ra mất. Nhưng bao giờ thì lão cũng tắc lưỡi buông một câu “Ôi thời buổi nầy ham hố cái gì mà sống tới già. Để nhường cơm lại cho lũ con cháu! “. Thế là lão lại rút một tờ giấy bạc để đổi lấy một chai cỡ chai xá xị con cọp. Hôm nay lại có thêm cớ sự để lão muốn uống say mềm ra hơn nữa. Bởi lão Bảy Đô đã ra đi. Giờ này hẳn lão đã ngồi đâu đó trên một con thuyền đang chòng chành ra khơi. Chung quanh là biển. Chân trời tự do chắc chắn ở phía trước mặt. Như thế thì câu nói của lão lúc nãy đã là sai. Có những điều Bảy Đô làm được, mà lão làm không được. Lão thấy buồn xót xa trong lòng. Lão bèn bỏ ra ngoài cửa rạp để mua lén thêm một xị nữa. Sau đó lão trở lại căn phòng hóa trang, ngồi xệp xuống mặt sàn, ngửa cổ tu ừng ực.

TRÊN SÂN KHẤU

Diễn viên lúc này đã xuất hiện hầu như đầy đủ các nhân vật. Cảnh bây giờ là quang cảnh của một khu vực trong Hợp tác xã. Cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ Hợp tác xã đã đến hồi kết thúc. Dĩ nhiên phần thắng nghiêng về phe Công đoàn cơ sở. Mọi tàn dư của nền sản xuất nhỏ thông qua những loại tư tưởng tiêu cực, manh mún, tản mạn đều bị đánh gục trước khí thế của những công nhân viên trẻ, những người chủ trương công cuộc cách mạng quan hệ sản xuất để làm bàn đạp đưa cả nước tiến lên nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa.

Ở một góc sân khấu, có hai chị công nhân đang giơ cao lá cờ tiên tiến trên một cái máy cày. Cái máy cày làm bằng carton, tuy có xô lệch méo mó nhưng cũng đầy đủ bộ phận chủ yếu: Có cần lái, có bánh xe, có cả một cái loa chạy bằng pin để thông tin, liên lạc. Riêng cái loa này thì là thứ thiệt, mượn của ông Biên đạo. Tác giả vở kịch, muốn đẩy bầu không khí phấn khởi thêm một mức nữa nên đã dàn dựng thêm một xen cuối cùng, trong đó lão công nhân tiên tiến xuất hiện với một cái xe cút kít có càng đẩy. Lão chở đầy một xe đá gạch. Lão giơ tay vẫy chào đoàn công nhân lái xe máy cày đi qua, một biểu tượng của tương lai nền Đại Công nghìệp Xã hội Chủ nghĩa. Và đó là lý do lão nêu câu phát biểu:

Đời tao, tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng, mà cốt để con cháu chúng nó kia kìa!

Bây giờ thì đã tới phiên lão kéo màn xuất hiện trong vai trò của mình. Lão ngật ngưỡng bước ra trong bộ quần áo cũ kỹ cố hữu. Một tay lão phì phèo điếu thuốc rê. Tay kia lão xách cái càng xe chất đầy một đống gỗ với gạch thẻ. Lão thấy vui vui với cái trò chơi bất ngờ lý thú nầy. Lão liếc mắt nhìn xuống sân khấu. Cả rạp tối om om, nhưng vẫn gây cho lão cái cảm giác có cả trăm, cả nghìn con mắt đổ dồn về phía lão. Trong đám bà con khán giả này, có ít lắm thì lão cũng biết được hoàn cảnh của năm bảy chục gia đình. Nhà này có thân nhân đi cải tạo. Nhà kia bị đuổi về kinh tế mới, sống không nổi lại tiếp tục mò về, mất nhà, mất cửa. Có đứa đang phải bán thân nuôi gia đình. Có những đứa khác đã lên đường đi Kăm-pu-chia. Nói chung là ai cũng mất mát chỉ trừ một thiểu số phè phỡn ở ngay kia, trên hàng ghế đầu, những tên Quận ủy, Phường ủy, những những chủ nhiệm Hợp tác xã, những thủ trưởng các cơ quan quản lý của nhà nước.

Lão bỗng nhác trông thấy người nữ diễn viên sắm vai Hồng. Bây giờ thì nàng đã có vẻ tỉnh táo hơn và đang đứng trên một bục cao, tay phất phơ cầm một lá cờ. Lão tự nghĩ nếu không có một tô mì, chắc hẳn nàng đã gục hẳn ngay từ giữa vở kịch. Thế mà mỉa mai thay, nàng vẫn phất ngọn cờ tiên tiến, vẫn gân cổ lên để động viên mọi người đi theo cái chế độ đã đem lại cho nàng những cơn đói triền miên ngay cả trước giờ tiến lên sân khấu. Thật là kịch cỡm! Mọi sự xảy ra ở đây thật đúng là chỉ xảy ra ở một vở kịch, ngoại trừ cơn đói của Hồng và sự ra đi của lão Bảy Đô là sự thật.

Nghĩ như thế, lão kéo màn thấy cơn giận bỗng ùa lên một cách nhanh chóng. Lão giận cái thằng tác giả ăn gian nói dối về những sự thực xẩy ra ở chung quanh mình. Là một đứa cầm bút, đáng lẽ nó phải viết lên những điều chân chính, ngay thẳng chứ? Đó là một điều đòi hỏi giản dị và rõ ràng nhất khi người ta vốn đặt những kẻ viết lách vào những chỗ trang trọng hơn bất cứ vị thế nào của xã hội ở trong lòng mọi người.

Nếu không đủ can đảm để nói ra sự thực, thì không ai bắt buộc nó phải cầm bút cả. Nó có thể đi bán rong, đi làm cu li hoặc đi kéo màn như lão. Như thế, ít ra sự lương thiện của nó cũng không làm cho những nỗi lầm than, khổ ải trong cuộc sống nầy bị che giấu bởi những lời tô vẽ viển vông. Và như thế, nó cũng không đến nỗi tồi tệ đến trở thành những phản động lực làm trì trệ xã hội, tạo thêm cơ hội cho những kẻ có quyền thế mặc sức hưởng thụ trên những nỗi đói khổ, cơ cực của tất cả mọi người.

Từ ý nghĩ này, lão chợt phát giác ra rằng những bài thơ, những bản nhạc, những cuốn tiểu thuyết, và ngay cả vở kịch đang được trình diễn trên sân khấu này, tất cả chẳng phải là một món giải trí cho qua đi những cơn phiền muộn, đau đớn hàng ngày. Nó chính là những duyên cớ của đau đớn, phiền muộn, hay ít ra cũng là những chỗ che giấu, đùm bọc, và nuôi dưỡng để cho những đau đớn ấy, những phiền muộn ấy có cơ hội kéo dài. Nó là đồng lõa của những bất công, những chèn ép, những bóc lột và những thủ đoạn bạo lực.

Trời ơi! Trời ơi! (Lão nghĩ tiếp) Thế thì ra tội ác không chỉ đơn phương phát xuất có mỗi một phía là ở ngay từ những kẻ gây ra tội ác, mà nó còn được nuôi dưỡng, tiếp tay và hỗ trợ từ những kẻ ăn gian nói dối, những đứa nịnh nọt, bợ đỡ, sẵn sàng chịu quỵ lụỵ phục vụ để cầu xin một chút quyền lợi cá nhân riêng tư. Chính từ những kẻ đó, chính từ những thái độ hèn hạ đó mà tội ác đã được tô son vẽ phấn để tiếp tục ngự trị lên đầu lên cổ tất cả mọi người.

Đầu óc lão kéo màn cứ ngùn ngụt những ý tưởng liên tiếp diễn ra ở trong đầu. Điều nầy khiến cho lão đứng khựng lại ở trên sân khấu. Lão như kẻ đang lần mò trong đêm tối bỗng chóa mắt vì những luồng ánh sáng vừa lóe ra ở cuối đường hầm. Lão nhận chân được ra rằng tâm hồn lão đang lảo đảo trong một cơn say, nhưng nhất thiết không phải lão đã say vì mấy cút rượu vừa qua. Lão ngẩng cao đầu để nhìn ngạo nghễ về phía khán giả lố nhố ở dưới. Bây giờ, rõ ràng nhất, lão chỉ thấy cái đám đông ấy chỉ toàn là những nạn nhân, mỗi người có một hoàn cảnh, mỗi kẻ mang một số phận bi thảm. Như vậy lão không thể đồng lõa với những kẻ nói dối. Lão ném ngay mẩu thuốc rê xuống sàn bằng một điệu bộ hách dịch để làm cường điệu thêm cho vẻ ngạo nghễ của mình.

Tiếng người nhắc vở :
Nói đi cha! “Đời tao hy sinh đâu có phải cốt để tao hưởng…”

Câu nói như một gợi ý làm cho lão chợt thấy hăng hái hẳn lên. Lão nhếch một nụ cười vì một ý tưởng chợt thoáng qua trong đầu. Rồi lão nhìn về phía Hồng, lại nhìn về phía khán giả. Rồi lão cất giọng rổn rảng:

Đời tao hy sinh tao đâu có được hưởng…đấy là chỉ để cho bè lũ chúng nó ở ngay chỗ kia kìa!

Cánh tay của lão hoa lên. Bàn tay của lão xỉa về phía hàng ghế đầu nơi có đông đủ tai to mặt lớn của chế độ. Thế là cả rạp chợt như muốn nổ tung lên vì tiếng vỗ tay, tiếng reo hò, tiếng hoan hô của đám khán giả.

Ở TRÊN SÂN KHẤU

Mọi sắp xếp theo thứ tự chỗ đứng cũng bỗng nháo nhác cả lên. Hầu như tất cả mọi người đều bàng hoàng như vừa bị nghe một tiếng sét nổ ngang đầu, ngay giữa lưng chừng trời. Ông trưởng đoàn tức tốc tự tay buông cái màn xuống. Ông biên đạo hò hét trong hội trường loạn xạ:

– Nhạc đâu? Nhạc đâu? Cho trỗi lên đi!

Nhưng hình như trong cơn hỗn loạn, chẳng còn ai nghe thấy lời hò hét của ông cả. Trong hội trường chỉ thấy vang lên những tiếng cười ròn rã. Có kẻ vỗ tay loạn xạ. Có kẻ huýt gió ầm ĩ. Cũng có những giọng quyền uy nói lạc cả tiếng giữa những âm thanh ồn ào:

– Công an đâu? Công an đâu? Làm việc! Làm việc!…

Chỉ riêng có ông tác giả là như một kẻ thất thần. Mặt ông ta nhược hẳn ra. Ông có điệu bộ như một kẻ làm trò ảo thuật nhưng do vụng về đã bị đám đông lột mặt nạ ngay trên sân khấu trình diễn. Trong một cử chỉ cố gắng cuối cùng, ông ném tập bản thảo xuống sàn gỗ và đi một cách thiểu não vào phòng hóa trang. Còn lão kéo màn cũng khật khưỡng rời bỏ chỗ đứng để đi vào hậu trường. Lão nhớ đến xị rượu còn để cạnh tủ gương trong phòng hóa trang. Hai người đụng đầu nhau ở đó một cách vô tình.

TRONG PHÒNG HÓA TRANG

Lão kéo màn:
A! Ông tác giả! Xin lỗi ông nhé. Cái vụ nầy không phải lỗi ông. Tôi tự biên tự diễn mà.

Tác giả:
Hay lắm! Hay lắm! Tuyệt!

Lão kéo màn (ngơ ngác):
Cái gì hay lắm? Cái gì tuyệt?

Tác giả:
Đoạn cuối của vở kịch đó! Hay nói cho đúng hơn, đoạn cuối của buổi diễn kịch ngày hôm nay đó. Cụ đã đem lại cho vở kịch một sự thật. Và rằng dù chỉ là một sự thật cỏn con, duy nhất, qua câu nói ngắn ngủi của cụ cũng đủ làm sụp đổ tan tành cả một công trình dối trá, giảo hoạt.

Lão kéo màn:
Đó là điều mà tôi phải xin lỗi ông. Ông đâu có viết sự thực. Ông chỉ viết kịch để mua vui thôi mà.

Tác giả:
Thì từ trước đến nay, tôi cũng có cùng một ý nghĩ đó như cụ. Nhưng hôm nay, chính cụ đã dạy cho tôi và những kẻ cầm bút như tôi một bài học. Đó là trò chơi mua vui không bao giờ đồng nghĩa với dối trá cả. Mua vui mà dối trá đó là một tội, viết lách mà dối trá còn là một tội to hơn.

Lão kéo màn (ngơ ngác):
Ông nghĩ như thế mà ông không sợ à?

Tác giả:
Ở trong cái xã hội tồi tệ này, muốn trở thành một con người đàng hoàng, người ta đều phải trả giá! Một kẻ cầm bút còn phải trả giá đắt hơn nếu muốn cầm bút trung thực.

Lão kéo màn (nhìn ra cửa sổ thấy lố nhốxuất hiện bóng dáng của những người công an, bất giác cười khà):
Như tôi chẳng hạn! Tôi bắt đầu phải trả giá đây!…

Tác giả (quay lại, nhìn sững ra phía cửa, rồi nắm vội lấy bàn tay sần sùi của lão kéo màn, nói ngậm ngùi):
Cụ kéo màn ơi! Muốn cho đất nước này qua khỏi cơn điêu tàn, ai cũng phải trả giá… ai cũng sẽ phải trả giá cả…

Santa Ana tháng 3/1986
NHẬT TIẾN

( trong tập truyện ngắn Cánh Cửa,
Thời Văn ấn hành năm 1990)

Mẹ trong hồi ức Thi Ca Tôi. Nguyễn Mạnh Trinh.


Nguyễn Mạnh Trinh.

5415f1bd2f3ee63a9b8d1427113e82028974950e

Có những bài thơ, đọc lại là cả một sự hồi tưởng, đối với riêng tôi. Hơn thế nữa, nó còn là một phần đời sống.

Một trong những bài thơ vừa kể, tôi viết năm 1972. Lúc đó, tôi ở Pleiku và quá giang chuyến trực thăng ghé về thăm nhà ở lại một đêm rồi sáng trở lại đơn vị trong cùng một chuyến bay. Khi về nhà, lúc ấy buổi xẫm tối, tôi vội vàng lấy xe để đi chơi thì bất ngờ có một hình ảnh làm tôi khựng lại. Hình ảnh của mẹ tôi ngồi trước bàn thờ Phật với tiếng kinh trầm và mùi hương ngát. Tôi biết mẹ tôi đang cầu nguyện cho đứa con ở xa. Lúc ấy, chiến tranh đang khốc liệt với nhiều chết chóc. Ở xóm tôi, đã có nhiều chiếc xe GMC chở về quan tài phủ cờ của những người lính tử trận là những đứa bạn thuở ấu thời của tôi. Và tự nhiên tôi dắt xe vào nhà,…

“Góc hiên đôi mắt cuộn tròn
dong tay nắng cũng hoàng hôn bóng trời
mẹ ngồi chải tóc sợi rời
đậu vai áo một nụ cười thêu hoa
mây rơi rụng xuống mái nhà
màu lá biếc cũng nhạt nhòa cành vui
cổng gió cửa đóng ngùi ngùi
nghe sóng cuộn giữa ghềnh trôi óc thầm
mẹ ngồi bóng xế trăm năm
tay lần chuỗi tiếng kinh trầm trầm bay
khói sương ở đỉnh núi tây
nên xa xăm lắm tháng ngày mênh mông
đi về xuôi ngược bến sông
chiều như đang rụng xuống lòng phố quên
Mẹ ngồi như tạc nỗi niềm
Tóc phơ phất gọi tịnh yên trong hồn
Kinh đen con nước xuống ròng
Trơ gốc cọc để trống không mặt lầy
Đi về tôi vẫn loay hoay
Chợt nghe lạnh ngọn heo may cuối trời
Me ngồi một thuở ấu thời.”

Tôi nhớ lại lúc ấy trới mờ mờ tối. Tuy vội vàng vì có hẹn với cô bạn gái nhưng có điều gì giữ tôi lại. Không phải là tiếng kimh hay mùi nhang khói, cũng không phải là đôi mắt Phật Bà hiền từ trên bàn thờ. Mà, bởi vì cái vóc dáng của mẹ ngồi, trong không gian, thời gian vô cùng tĩnh lặng cầu nguyện cho mình. Thế mà, bỏ đi thì không đành lòng. Tối hôm ấy, tôi trằn trọc trong chỗ nằm của mình, với cảm giác bâng khuâng khó tả…

Tôi nghĩ mình không phải là một đứa con ngoan ngoãn. Tôi có tuổi nhỏ ngỗ nghịch và ở trong xóm là đứa đầu tiên cho những chuyện nghịch phá. Lớn lên, lại không cố gắng học đại học như anh tôi hoặc đứa em tôi mà lại đi lính. Trong khi mẹ tôi thì chủ trương dù nghèo thế nào chăng nữa các con bà cũng phải học cho đến khi không còn cố gắng được nữa dù bà là một người ít học. Năm mậu thân cha tôi mất, rồi nhà bị cháy, nhưng mẹ tôi vẫn cố gắng xây dựng lại với một nỗ lực vô biên.

Cuộc đời mẹ tôi, trải qua nhiều khó khăn nhiều lo toan khổ cực và với đàn con như một con gà mẹ luôn xòe cánh ra che chở và chống đỡ lại những nghiệt ngã của cuộc đời.

Mẹ hay kể lại những năm đói hay những cuộc chạy loạn trong cuộc đời mình. Bà vẫn nhớ những người đã cưu mang giúp đỡ đến nỗi mấy đứa con khi nghe một câu đầu đã tiếp theo ngay câu thứ hai, và bà cười nhưng vẫn tiếp tục cái câu chuyện đã quá quen thuộc ấy. Bà nhắc đến khi chạy loạn, ghé vào chùa của sư cô Khoa có cây khế đã thành thức ăn thanh đạm trong nhiều ngày cho cả gia đình hay những khi bố tôi phải vào rừng kiếm gỗ đẽo guốc để bán những lúc khó khăn. Thời gian lúc đó, với bà vẫn gần gũi quen thuộc như lúc hiện giờ, sáng sớm ra chợ mở cửa hàng buôn bán như một công việc đã kéo dài năm này qua tháng khác.

Tôi đi xa rồi lại về gần, khi làm việc ở phi trường Biên Hòa gần Sài Gòn nhưng bản tính lông bông nên ít khi ở nhà. Nhưng, bên cạnh tôi hình như lúc nào cũng có cái bóng của mẹ tôi, nương tựa thì không đúng hẳn nhưng vẫn là một điều gì giúp đỡ ân cần. Tôi tin chắc, khi có điều gì khó khăn, sẽ có sự chia sẻ của người thân yêu nhất của mình.

Năm 1975, những phi đoàn F5 dời về phi trường Tân Sơn Nhất lúc đầu tháng Tư. Và tháng chót trong đời quân ngũ của tôi là thời gian ở đây. Tình hình lúc này nặng nề với bao nhiêu biến chuyển của đất nước. Trong đơn vị, câu chuyện hàng ngày là tình hình và thời thế. Lúc gần như thời gian cuối, vẫn bao quanh câu hỏi đi hay ở. Còn ở gia đình, cũng câu hỏi tương tự. Mẹ tôi vẫn một câu nói. Đứa nào đi được thì cứ đi, đừng có lo cho người khác, nhất là những đứa có thể có những phương tiện. Bà nói, mẹ đã có nhiều thời gian sống với bọn “họ” rồi. Khổ sở lắm… Khi sửa soạn những túi xách để ra đi, bà cứ chép miệng. Qua Mỹ rồi, làm gì có trầu mà ăn! Những miếng trầu, là cái thú vui của bà cũng như xem và nghe các tuồng cải lương. Những miếng trầu, suốt mấy chục năm, đã thành một thói quen thân yêu không thể nào bỏ. Thế mà, vì nghĩ đến mấy đứa con, bà quên đi cái tập quán ấy, chấp nhận ra đi…

Rốt cuộc, gần như cả gia đình tôi di tản được năm 1975. Riêng tôi, còn nặng nợ nên kẹt lại, dù đã đi xuống phi trường Bình Thủy nhưng không thoát được phải trở về nhà. Cái giây phút phải leo vào nhà sao thê thảm. Cửa dưới bị niêm phong, nên phải leo lên lầu để vào nhà. Khi nhìn thấy vât dụng của những người thân trong nhà tôi thấy nghẹn ngào. Vật thì còn đây nhưng người thì đã đi xa. Tôi nhìn giường ngủ của mẹ, nhìn đôi dép nhung dưới sàn, nhìn ô trầu, nhìn cái áo vắt trên thành giường, tự nhiên tôi muốn òa khóc. Những lá trầu đã héo vàng, những miếng cau đã quăn queo, những vệt vôi têm đã khô bong ra, như biểu tỏ của nỗi niềm chia ly vĩnh viễn. Lúc đó tôi nghĩ chẳng bao giờ gặp lại được những người thân. Cái cảm giác tuyệt vọng làm tôi như muốn ngạt thở. Nhưng rồi vẫn phải nén cảm xúc và vẫn phải sống và thoát đi cái địa ngục đang dần hiện đến của số phần những người thua trận.

Đi tù rồi trở về Sài Gòn, chờ đợi những chuyến vượt biên, thỉnh thoảng tôi lại đi qua để nhìn vào căn nhà thời xưa của mình cũng như sạp bán vải trong chợ Bình Tiên của mẹ ngày xưa. Cảnh vật cũng thê lương ảm đạm như người lúc đó. Buôn bán khó khăn, phiên chợ mất đi cái náo nhiệt thời xưa và người mua kẻ bán tràn ùa ra lề đường với kiểu buôn bán tạm bợ chỉ biết ngày nay mà không thể mường tượng được sinh kế của ngày mai. Từ những người đàn bà buôn gánh bán bưng trên hè phố tôi lại nhớ đến mẹ tôi. Không biết bây giờ bà ra sao và đời sống thế nào? Sau này, khi nghe kể lại, khi tạm cư ở đảo Wake, mẹ tôi thường xuyên ra cầu tàu nhìn mông về phía biển và đợi một chuyến tàu ghé bến có đứa con của mình. Bà chờ đợi và chờ đợi…

Tôi vượt biển tới đảo Kuku rồi Galang năm 1980. Trong vài tháng chờ định cư, tôi đã sống những ngày tự do thật vui vẻ. Mấy đứa em gửi thư qua nói anh hãy xem thời gian hiện tại như là đi nghỉ hè, qua đây sẽ làm việc học hành đến không kịp thở.

Đến Mỹ, sau một thời gian ngắn tôi lao vào cuộc sống mới. Vừa học vừa làm, với cái tâm tư cố gắng bây giờ cho ngày mai. Mẹ tôi hàng ngày thúc đẩy. Ráng học cho có một cái nghề. Ở đây mà lông bông không nghề nghiệp không bằng cấp thì khổ lắm. Không phải với riêng tôi mà cả với mấy đứa cháu nội, cháu ngoại bà cũng khuyên nhủ như thế. Gia đình mình không có gia tài cha ông để lại, thì phải gắng học để có của cải cho riêng mình. Có lúc có mấy người bạn rủ tôi mở tiệm furniture, lúc ấy làm ăn rất dễ dàng mà vốn liếng chẳng bao nhiêu. Nhưng mẹ tôi cản, nói học phải là công việc chính để chừng nào xong sẽ tính sau.

Mỗi buổi sáng sớm mẹ tôi dậy sớm sửa soạn bữa ăn sáng cho tôi và mấy đứa cháu bới cơm mang đến trường. Trên bàn ăn là một dãy năm cạp lồng cơm để thứ tự và món ăn thay đổi ngon lành. Kết quả là bây giờ, mấy chú cháu, cậu cháu đều tốt nghiệp hậu đại hoc và đều có công ăn việc làm tốt. Và, như thế mẹ tôi hài lòng lắm.

Thời gian qua đi tôi lập gia đình và mẹ tôi già thêm và sức khỏe cũng dần giảm sút. Một điều không may là suốt trong hơn chục năm sau cùng mẹ tôi bị bệnh đau nhức hành hạ. Mà nguyên nhân thật vô duyên. Mẹ tôi bị bệnh mà người mình gọi là bệnh “dời leo”. Nếu chữa trị đàng hoàng thì có lẽ không bị hậu quả như thế. Đằng này ông bác sĩ gia đình mà cũng là một nhà văn có viết lách, lại khám bệnh cẩu thả và cho là bị phản ứng thuốc. Ông ta còn có những chuyện mà tôi gọi là vô trách nhiệm, khi mẹ tôi phải vào bệnh viện ban đêm, gọi ông ta thì ông bịt mũi cho khác giọng và trả lời không có nhà. Với một người có quen biết mà cư xử như thế thì thật là hết ý kiến…

Những lúc buồn suy nghĩ về mẹ tôi hay nghe nhạc bởi vì âm nhạc đã tạo cho tôi thật nhiều xúc động khi nghe những bản nhạc như Ơn Nghĩa Sinh Thành của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân, Bông Hồng Cài Áo của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ…

Bản Lòng Mẹ tôi đã nghe đi nghe lại ở một băng ghi âm còn sót lại sau những ngày ở Sài Gòn tháng 5 năm 75. Lúc ấy, gia đình tôi đã di tản nhưng chưa biết tin tức thế nào và tôi đã nghe bản nhạc có những câu như “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào.Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào. Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…” đã làm lòng tôi như mềm đi trong nỗi bồi hồi khôn xiết. Tôi nghe mãi đến nỗi băng ghi âm bị mòn đi thành những tiếng rè rè. Và tôi vẫn nghe, tưởng âm thanh rè rè đó là tiếng động của chuyến tàu đã đưa những người thân đi xa mất biệt…

Bản nhạc Ơn Nghĩa Sinh Thành làm tôi nhớ đến những ngày của biến cố Tết Mậu Thân. Lúc ấy cha tôi vừa mất ở nhà ông anh cả của tôi và đêm tôi ngồi cạnh bên quan tài của ông mà nghe bản nhạc ấy một mình với tâm tư rối bời và buồn thảm. Lạ một điều, nghe bản nhạc của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước tôi lại nghe như có một chút gì như muốn chia sẻ nỗi ngậm ngùi của riêng tôi. Từ câu học thuộc lòng thời nhỏ: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, để thành một dòng nhạc nhắc nhở đạo làm con. Mà tôi thì tự nhận xét mình là đứa con làm phiền lòng cha mẹ nhiều nhất…

Ca khúc “Bông Hồng Cài Áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ lấy ý và gợi cảm hứng từ một bài đoản văn cùng tên.

Bông Hồng Cài Áo là một đoản văn của Hòa thượng Nhất Hạnh viết năm 1962 ở một trại hè Camp Ockanikon tiểu bang New Jersey Hoa Kỳ và phổ biến trong nội bộ đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn bằng cách chép tay thành 300 bản làm quà tặng cho bạn bè. Mỗi bản chép tay đều gắn thêm một chiếc hoa màu hồng cho người còn mẹ hoặc màu trắng cho người mẹ đã qua đời. Rằm tháng Bảy năm 1962 tức lễ Vu Lan các sinh viên Phật tử tụ họp tại chùa Xá Lợi và cử hành Lễ Bông Hồng Cài Áo đầu tiên. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối của thầy Từ Mẫn in quyển Bông Hồng Cài Áo đầu tiên khổ nhỏ và dài có thể bỏ vào bì thư để gửi tặng bạn bè trong ngày lễ Vu Lan.

Bài viết gửi cả tấm lòng của một người đã xuất gia tặng Mẹ. Giọng văn thật thiết tha, ý nghĩa thật sâu sắc, biểu hiện của một phong thái rất Việt Nam, cô đọng trong từ ngữ nhưng lại mở ra nhiều ý tưởng độc đáo.

Mở đầu với một bài thơ mà ông nhớ từ thuở nhỏ vì nỗi đau mất mẹ:

“năm xưa tôi còn bé
mẹ tôi đã qua đời
lần đầu tiên tôi hiểu
thân phận trẻ mồ côi
quanh tôi ai cũng khóc
im lặng tôi sầu thôi
để dòng nước mắt chảy
là bớt khổ đi rồi
hoàng hôn phủ trên mộ
chuông chùa nhẹ rơi rơi
tôi thấy tôi mất mẹ
mất cả một bầu trời”

Ai đã từng làm cha mẹ mà không phải se lòng với những câu văn thiết tha, với những suy tư rất thực tế mà lại đầy triết lý. Nhất là đoạn cuối có lời nhẹ nhàng hướng dẫn, có ý sâu sắc ngỏ tình, đã mở ra những khung trời yêu thương.

Đoạn văn ấy đã làm rường cột cho bản nhạc của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ khi ông làm bản Bông Hồng Cài Áo:

“Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc khi đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên Mẹ. Sẽ bắt Mẹ dừng kim chỉ mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ anh sẽ hỏi một câu làm mẹ chú ý. Anh hỏi “mẹ ơi, mẹ có biết không? Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh vừa cười vừa hỏi” Biết gì? Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp” Mẹ có biết là con thương mẹ không? Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng sẽ hỏi một câu ấy. Bởi vì anh. Bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, anh sẽ không hối hận đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ. Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm vào trong vô tâm quên lãng. Đóa hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.”

Nghe bản nhạc của Phạm Thế Mỹ, hình như tất cả những điều tuyệt diệu của bài đoản văn đã được lột tả trong âm nhạc. Những thông điệp tình thương được gửi đi không những nguyên vẹn mà làm vỗ cánh bay đi xa hơn, làm xao động cao rộng hơn. Hòa thượng Nhất Hạnh đã nhận xét về bản nhạc như sau: “Phạm Thế Mỹ làm bài Bông Hồng Cài Áo rất dễ dàng như thở vào thở ra, tự nhiên như bước chân đi dạo, tự nhiên như khi nâng chén trà lên uống. Tôi không thấy tôi và nhạc sĩ là hai người khác nhau khi nghe ca khúc Bông Hồng Cài Áo, trước kia cũng vậy và bây giờ cũng vậy…”

Với riêng tôi, ca khúc Bông Hồng Cài Áo nhắc nhở ngày mẹ tôi từ trần. Bà mất vào ngày 3 tháng 5 năm 2003 trước Mother’s Day một tuần và đến lễ Vu Lan là ngày cúng 49 ngày của mẹ tôi. Năm nay, ngày giỗ đúng vào ngày lễ mẹ bởi vì ngày âm lịch và dương lịch chênh lệch nhau.

Hôm ấy, có một cô bé trong đoàn phật tử trong buổi lễ hỏi tôi. Chú cài bông hồng mầu gì? Và tôi trả lời. Mầu trắng. Và cô bé nói con sẽ hát bài Bông Hồng Cài Áo để tặng chú. Khi trả lời cô bé, tôi nhớ lại như một cách phản xạ. Nhớ lại vành khăn trắng, mùi nhang khói, đôi mắt nhắm lại của mẹ ngày nào, tất cả làm tôi như hụt hẫng. Đọc những câu kinh, nhìn lên bàn thờ Phật, để trấn tĩnh lại. Đôi mắt Đức Phật, như có chút gì xẻ chia,như có chút gì an ủi. Mẹ tôi đã đi xa. Bây giờ, hết rồi, không còn nụ cười móm mém mắt cũng cười theo khi nhìn con cháu. Bây giờ hết rồi không còn những chuyện kể ngày xưa lúc ở phố Lạng Sơn hay ở làng Phù Lưu. Bây giờ, mẹ đang nằm trong lòng đất xứ người. Và biết đâu, ở cõi âm phần đó mẹ trở về lại quê hương, để ghé thăm ngôi nhà cũ, ngõ làng xưa. Biết đâu…Và bản nhạc Bông Hồng Cài Áo có khi là một hối tiếc muộn màng của một đứa con nhiều lần làm mẹ buồn như tôi…

Buồi trưa trong nghĩa trang, hình như đầy những chậu hoa. Tôi chợt nghĩ trong đầu những câu thơ… Những suy tư rời rạc của những ngày tháng trôi qua lặng lẽ. Có những người đã ra đi. Vào một thế giới nào, xa vời. Có những bài thơ như một điệp khúc tưởng nhớ…

Bài đầu. Thơ cho ngày giỗ mẹ đầu tiên

1

Có những ngày như sáp nóng chảy
Giữa cơn mơ hừng hực trong đầu
Tháng năm và nụ hoa trắng
Nở vàng trong ký ức.

Khi cơn gió lay ngọn cỏ mơ hồ
Như gót chân một năm đi qua lặng lẽ.
Tôi tự nhủ thầm
Một mình
Trong váng vất dòng sông thao thiết

Một ngày đếm những nụ hoa
Đếm những hạnh phúc hiếm hoi
Đếm những dây vạn niên thanh
Giơ lên những nụ gai thời tuổi trẻ

Chợt nghĩ câu thơ Lưu Trọng Lư
Ngày xưa
Như câu hát ru em ru tôi
Đứt ruột.

Tôi sẽ in những hình bóng
Không bằng dương bản
Trong bộ nhớ tôi
Có câu kinh vời xa
Buổi chiều vàng mầu khói úa

Con chim sáo quen đã về
Màu đen hoang vu
Mổ những hạt cơm cúng khô rời
Cho một phần ăn hữu hạn

2

Tháng năm và nghĩa trang
Tôi giả vờ nghiêm nghị
Đóng vai người thuyết giảng
Cho hạt bụi rơi
Trong nỗi nhớ mơ hồ.

Có câu kinh nào cho tôi
Có câu kinh nào cho chúng ta
Khi
Chuyến xe đi đã chờ góc phố

Nơi đến
Một địa chỉ mơ hồ
Bảng chỉ đường không ánh đèn
Ngọn nến thoáng qua
Con mắt cú mèo trong huyền tích

Có những mộ bia
Viết bằng thời gian vô tận
Nét chữ loang trên bóng chiều
Một nụ cười thân yêu
Vời vợi

3

Một năm
Tôi như kẻ lang thang
Đi tìm giấc mơ
Của nội cỏ hoang vu
Mà vó ngựa phi như hạt bụi
Rơi trong mù mịt vô thường

Một năm
Tôi giấu trong hồn
Một nụ hồng
Màu đỏ đã héo khô
Mà chưa đủ trắng…

Nguyễn Mạnh Trinh.

Nguồn: http://www.vietluan.com.au/2016/05/tap-ghi-van-nghe-me-trong-hoi-uc-thi-ca-toi/

Chuyện Làng Báo. Nhật Tiến


Nhật Tiến

Vách Đá Cheo Leo

(Nhật Tiến Vách Đá Cheo Leo)

……..

Cũng có thể Cúc đã quên rồi, nhưng nếu như thế thì hẳn nàng sẽ vặn vẹo là chàng đã đi đâu, làm gì suốt cả chiều, tối lẫn đêm ngày hôm qua. Chỉ nghĩ sơ như thế là Tân đã mệt lại càng cảm thấy mệt hơn. Viên thư ký thấy chàng không biểu lộ đồng tình nên đã vội đổi giọng:

– À, ông chủ bút đang cần gặp cậu đấy. Vào ngay đi.

Tân uể oải tiến lại phía cánh cửa gỗ ngăn căn phòng rộng rãi ở bên ngoài với một cái buồng nhỏ ở bên trong. Chẳng cần gõ trước, chàng đẩy cửa bưóc vào. Chàng thấy Hoan, viên chủ bút lúc này đang lúi húi trước một chồng sách báo. Ông ta người to béo, dáng dấp bệ vệ, tóc thưa, trán hói, đôi mắt soi mói sau cặp kính to tướng gọng đồi mồi đeo trễ xuống tận sống mũi. Tuy không còn trẻ, nhưng ông ta cũng chưa có nhiều nét già, ngoại trừ vầng trán lan rộng cứ như muốn lấn chiếm hết chỗ mọc của mái tóc lưa thưa. Nhìn thấy Tân bước vào, ông ta ngẩng lên tươi cười:

– A! Cậu Tân! Có việc cho cậu đây. Thằng Sinh bữa nay vô bệnh viện rồi.

Tân giật mình:

– Ủa, Sinh đau bệnh gì vậy?

– Nó thì đã đủ bách bệnh rồi, nhưng lần này thì tại ruột dư.

Tân thở phào:

– Vậy cũng đỡ. Vô bệnh viện cắt một cái là xong ngay. Hai, ba hôm là lại trở về.

– Thì thế, chỉ hai ba hôm thôi. Nhưng có khỏe cách mấy thì nó cũng không viết được. Cái feuilleton của nó cũng đâu có tạm ngưng để chờ nó được.

Tân gật đầu:

– Đúng rồi. Cái tiểu thuyết Gái Gọi in từng kỳ của hắn trên báo mình….

Viên chủ bút tươi mặt hơn:

– Phải rồi. Cậu cũng theo dõi cái truyện tầm phơ ấy hả? Nhưng cũng hấp dẫn đấy chứ…

Tân ấp úng:

– Thú thật với anh, tôi chỉ đọc lõm bõm thôi.

Hoan nhìn chàng:

– Lõm bõm là sao? Tuy không đi vào chi tiết từng câu văn nhưng cậu cũng nắm được tình tiết câu chuyện chứ ?

– Cái đó thì ..thì..cũng chưa chắc lắm.

– Cũng chẳng sao. Cậu ngồi giở báo cũ ra “ngốn” một hơi là nắm vững mọi thứ ngay ấy mà. Vậy tôi nhờ cậu viết thế cho hắn vài ba kỳ nhé…

Tân ngớ người ra:

– Sao được! Hắn giận tôi chết!

Hoan cười phá lên:

– Cậu mới vô ngành báo nên còn lớ ngớ lắm. Giận cái nỗi gì ! Giá cậu viết thế cho hắn vài tuần để hắn được vù đi chơi xa thì hắn còn cám ơn rối rít nữa. Chuyện viết thay cho nhau thì trong làng báo xẩy ra hà rầm….

Tân cãi :

– Nhưng mà phải biết chủ ý của tác giả ra sao đã chứ. Khi không, cứ viết bừa, ngộ nhỡ sai lạc hết ý tưởng của người ta thì sao?

– Ơ ! Cậu cứ lo bò trắng răng! Vấn đề là độc giả ấy chứ. Cứ viết thế nào để cho người đọc không thấy là tác giả …đang đi vắng là được rồi. Còn hợp ý tác giả hay không thì kệ mẹ nó. Trám có vài kỳ, ăn thua gì!

Thấy Tân còn đang tần ngần, Hoan lại nói tiếp:

– Cậu không biết đấy chứ, nhiều khi thằng tác giả lạm dụng cái trò viết thay, cứ đi chơi phứa đi, làm thằng viết trám nổi giận, trong truyện hai nhân vật đang yêu nhau ra rít, nó bèn dựng một màn cãi nhau để cho hai đứa phải bỏ nhau, làm thằng tác giả chửi um thiên địa lên.

– Lại thế nữa kia?

– Ui, thế còn là nhẹ! Nó không dàn một cảnh cho nhân vật chính chết vì tai nạn xe ô tô còn là may lắm đó. Còn cái màn tác giả viết nhân vật chính mặc váy đầm đi chơi, lúc trở về nhà, thằng viết trám lại cho nàng…thay áo dài thì hà rầm! Đại loại cứ ông chẳng bà chuộc như thế có chết thằng Tây nào đâu. Mà như thế mới…. vui!

Tân nhăn mặt:

– Cách gì thì cũng có người đọc tinh ý nhận ra chứ. Người ta kêu chết!

– Ôi, ăn thua mẹ gì. Bất quá thì cũng một cú phôn gọi đến cằn nhằn, rồi cũng xong. Mai mốt, nếu thằng tác giả có đem in thành sách thì nó sẽ sửa lại. Mà nhiều khi nó cũng đếch thèm sửa nữa. Cứ trao nguyên cả sấp báo cho lái sách đem in rồi bầy bán xon ngay ngoài vỉa hè, có ai giảm kí mỡ nào đâu. Miễn là nó có thêm tí tiền còm đi du hí là được rồi.

Tân buột miệng:

– Thật là phi văn nghệ!

Hoan nhìn Tân thương hại:

– Cậu còn viễn mơ lắm. Trách gì mà rặn mãi cả năm không in được lấy một cuốn. Nhưng thôi, đó là chuyện của cậu. Bây giờ cậu làm ơn ngồi đọc lại cái truyện Gái Gọi của nó xem hôm qua đã tới đoạn nào, nhân vật đang đối thoại về những cái gì, rồi cậu cứ thế mà “kéo” tiếp.

Tân thở dài :

– Chuyện ấy tôi có thể làm được. Nhưng nếu khi Sinh nó về, nó có cằn nhằn thì ông chịu trách nhiệm đó nghe!

Viên chủ bút hoan hỉ:

– Được rồi. Được rồi. Cậu khỏi lo. Cứ bảo là lão Hoan nó yêu cầu là xong hết.

Thế là suốt buổi sáng hôm đó, Tân phải ngồi ở tòa soạn để đọc lại hàng chục kỳ báo cũ xem Sinh đã viết những gì trong cái feuilleton của hắn. Sau khi đã nắm vững tình tiết, nội dung câu chuyện đang diễn tiến rồi, Tân mới cầm bút lên để ngồi sáng tác tiếp.

Công việc không dễ dàng gì, vì trong đầu óc của chàng cứ luôn luôn bị lấn quấn bởi những câu hỏi, không biết mình dùng cái từ ngữ này, đưa câu chuyện vào cái chi tiết này, hay diễn tả cái cử chỉ này cho nhân vật thì Sinh có bằng lòng không? Tân nghĩ rằng, thà ngồi sáng tác cho riêng mình có lẽ còn dễ dàng, thoải mái hơn là ngồi viết trám cho kẻ khác.

Đã thế, trong lúc chàng ngồi viết thì một anh thợ xếp chữ cứ đứng chờ ở ngay bên cạnh nách. Hắn giục:

– Ông viết được đoạn nào thì cứ xé ra cho tôi đem xếp chữ trước.

Tân trợn mắt:

– Ý ! Phải để cho tôi viết xong rồi còn đọc lại cái đã chứ?

– Không kịp đâu! Ông cứ nhìn coi, mấy người kia cũng đều như thế cả. Đâu có ai cần đọc lại.

Tân gắt:

– Thì họ làm tin. Tin thì ngắn gọn, đâu có cần trau chuốt. Còn của tôi là trang tiểu thuyết nằm mà.

– Trang gì thì trang, mọi sự cũng đều đâu vào đó cả rồi, ông ơi. Nếu tụi tôi chờ ông thì đám làm bản vỗ cũng đang chờ tụi tôi. Rồi đám đổ chì lại cũng chờ đám làm bản vỗ. Báo mình đâu có độc quyền thuê họ. Còn báo khác nữa chứ. Cả một lò đúc chì mà chỉ trông vào có một tờ báo thì có mà chết.

Trước lời giải thích hợp lý của anh thợ xếp chữ, Tân đành xé nửa trang bản thảo giao cho anh ta để anh chạy qua dàn xếp chữ trao lại cho đám thợ đang làm việc lố nhố trước những kệ gỗ có những ô vuông trong đựng toàn những chữ lẻ đúc bằng chì. Tiếng động khi làm việc của họ nghe rào rào như tiếng những con tằm đang ăn lá dâu trong những nong lớn. Đó là những tiếng phát ra khi họ nhón từng con chữ trong hộc ra để bỏ vào một cái gờ gỗ cầm trên tay. Các con chữ bây giờ nằm theo thứ tự của từng chữ, từng câu đúng như trong mảnh giấy bản thảo đang gắn trước mặt mỗi người.

Sau một thời gian dài chật vật đến vã mồ hôi, cuối cùng thì Tân cũng viết được đến dòng cuối cùng của phần bài viết trám cho ngày hôm sau. Chẳng cần chờ xem lại bản vỗ coi mình đã viết những gì, Tân quẳng xấp giấy vào một góc bàn rồi đứng dậy, không chào ai, đi thẳng ra cửa.

Nhật Tiến

Trích “Vách Đá Cheo Leo” do Đông Phương ấn hành ở Sài Gòn năm 1965

Nguồn: https://nhavannhattien.wordpress.com/truyen-dai-vach-da-cheo-leo-2/

Quê Mẹ. Truyện Ngắn Thanh Tịnh


Thanh Tịnh

Chân dung, tác phẩm và thủ bút của Nhà văn Thanh Tịnh

(Chân dung, tác phẩm và thủ bút của Nhà văn Thanh Tịnh)

Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm Hương – thơ ở làng Mỹ-Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi Yếu-lược không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh ta cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.

Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng – hay nói cho đúng lương năm – của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết.

Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước.

Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác.

Chiều hôm ấy lúc thoáng thấy bóng chồng đi về đến cổng, cô Thảo liền vội vàng ẵm con ra sân để đón. Thấy anh Vận ra dáng mệt nhọc nên cô ta chưa dám hỏi gì hết. Vào tới sân, anh Vận liền đến ngồi trên cái chõng. Cô Thảo để con ngồi một bên chồng rồi đột ngột chỉ cây thanh-trà bên bờ hè nói khẽ:

– Cây thanh-trà mới đấy mà đã có trái rồi cậu ạ.

Anh Vận để con ngồi trên chân, rồi cúi đầu xuống nhìn mặt con dịu lời đáp:

– Thế à, cây thanh-trà ấy trông dáng khô khan không ngờ lại giống tốt.

Cô Thảo ghé ngồi một bên chồng nói tiếp:

– Cây thanh-trà ấy tôi đem từ bên nhà qua đây. Mới hai năm đã có trái ăn được kể cũng nhanh thật.

Anh Vận như sực nhớ một việc gì, nhìn vợ hỏi vội:

– Tôi nhớ ra rồi. Hôm ấy là ngày giỗ ông bên mợ. Mợ về làng ăn giỗ rồi đem cây thanh-trà ấy qua cho tôi. Tôi cũng quên lúc ấy mợ đã có thằng Lụn chưa?

– Rồi, nhưng nó mới được ba tháng.

– Mà tôi quên giỗ ông nhằm ngày mấy?

Cô Thảo nhìn chồng mỉm cười:

– Được vài ông rể quý như cậu thì ngày giỗ của nhà tôi cũng không khỏi hương tàn bàn lạnh. Giỗ ông nhằm một ngày dễ nhớ nhất mà cậu cũng quên.

Anh Vận như nhớ lại được, gật đầu lia lịa:

– Thôi tôi nhớ được rồi. Giỗ ông vào tiết Trung-thu phải không mợ?

– Không phải, ngày rằm tháng tám.

Anh Vận lớn tiếng cười vang làm cho thằng Lụn cũng phải ngẩng mặt lên nhìn ngơ ngác.

– Rõ ngớ ngẩn như đàn bà. Tiết Trung-thu hay rằm tháng tám có khác gì nhau. Có khác là người hay chữ họ thường gọi tiết Trung-thu, còn người … ít hay chữ thì gọi rằm tháng tám…

Cô Thảo nhìn chồng cười mỉm:

– Người hay chữ với lại người ít hay chữ! Thì cậu cứ nói người dốt với người thông có được không.

Thật ra thì anh Vận cũng có ý nói người hay chữ với người dốt, nhưng lại sợ làm mếch lòng vợ.

Anh Vận nhìn ra trước cổng yên lặng. Thằng Lụn cũng muốn tụt xuống đất đùa với đàn gà con đang đi qua gần đấy. Cô Thảo vào nhà thắp đèn rồi lại trở ra ngồi chỗ cũ. Mảnh trăng trong lúc ấy đã bắt đầu giọi ánh sáng dìu dịu qua hàng tre trước cổng.

Trông thấy ánh trăng anh Vận quay lại hỏi vợ:

– Hôm nay là mấy rồi mà trăng sáng quá?

– Ngày mười ba.

Anh Vận thả hai chân xuống chõng nhìn vợ ngơ ngác:

– Thế ngày mốt là ngày giỗ ông rồi à? Và ngày mai là ngày mợ phải về làng.

Cô Thảo cúi đầu nhìn xuống đất đáp khẽ.

– Phải.

Anh Vận đưa tay lên gãi đầu:

– Thật tôi vô tình quá. Ngày kỵ đã gần đến mà cũng quên.

Cô Thảo ngồi yên lặng không đáp. Thật ra tối hôm ấy cô muốn xin chồng về làng giỗ ông, nhưng cô không muốn nói thẳng. Cô tự nghĩ nhắc chồng ngày giỗ ở nhà mình là một việc chướng lắm. Thật tự nhiên để cho chồng nhớ lại thì tốt hơn. Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh-trà để nhắc xa xôi cho chồng nhớ.

Tối hôm ấy, cơm nước xong xuôi, anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ.

Bà Lại nhìn cô Thảo đang ẵm con đứng tựa bên cột bảo khẽ:

– Ừ về thì về. Nhưng bên nhà ngày mai giỗ ai mà tôi cũng quên phắt đi rồi.

– Thưa mẹ, giỗ ông con.

– Thế à.

Nghĩ một lát bà ta nói tiếp:

– Mai mợ chắc phải về làng sớm. Lúc ấy có lẽ tôi cũng chưa dậy. Vậy tối nay mợ ra ngoài vườn cắt một buồng chuối mật – buồng chuối gần bên cái giếng ấy – để về giỗ ông. Năm nay tôi bận việc nhà quá, chắc qua không được. Thôi nhờ trời năm khác.

Nói xong bà Lại lách bàn tay vào túi yếm lấy ra một hào xu rồi đưa cho cô Thảo.

– Thôi cho mợ một hào để đi đò. Và nhớ chớ để em nhìn xuống mặt nước.

Cô Thảo vội vàng đỡ con xuống, đưa hai tay nhận tiền tỏ ra vẻ sung sướng lắm.

Trước khi đi ngủ anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa.

Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.

Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ-Lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ-Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ.

Qua những con đường mòn chạy nắp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất.

Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng bằng như nhau hết.

Đi chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước.

Qua khỏi đầu làng Duyên-Hải thì cô Thảo gặp cô Đài, người bạn cùng làng thường chơi với cô ngày trước. Cô Thảo nhờ cô bạn gánh hộ buồng chuối mật và mấy gói bánh mua bên chơ. Kỳ-Lâm. Cô Đài vui vẻ nhận lời ngay. Vào quán nước ở gần đấy nghỉ một chốc, hai cô lại cùng nhau lên đường chuyện trò không ngớt.

Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tay vàng của cô.

Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết.

Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết.

Sung sướng nhất là cô con gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài.

Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói:

– Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua.

Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu, mới khẽ đáp:

– Dạ, nhà con mắc việc quan.

Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp:

– Thứ đồ làm Hương-thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.

Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má.

Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ-Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm.

Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở.

Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn.

Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận-Lão. Nhưng làng Quận-Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.

Thanh Tịnh

Tay Ngà. Truyện ngắn của Nhật Tiến.


Truyện ngắn của Nhật Tiến

Chân Dung Nhà Văn Nhật Tiến

(Chân dung Nhà văn Nhật Tiến)

Ở mỗi một loại tuổi tác, con người đều có một loại tâm lý tình cảm riêng biệt. Nó đánh dấu từng thời kỳ trong cả chuỗi thời gian của một đời người. Nó ghi sâu trong tâm não con người những hình ảnh, những ý nghĩ, những cảnh vật nhiều khi rất tầm thường và thoáng qua, nhưng đã để lại trong tâm hồn con người một ấn tượng thật dai dẳng, thật sâu sắc, tưởng dẫu cho đến chết cũng vẫn chẳng phai mờ.

Hồi ba mươi năm trước, Lữ chỉ là một cậu học trò mười bốn tuổi. Nhà Lữ ở cuối một con hẻm nhỏ ở Hà Nội. Đầu hẻm thông ra một đường phố lớn, con đường này chạy dọc theo ven một cái hồ chung quanh trồng toàn những cây liễu quanh năm rủ bóng xuống mặt hồ phẳng lặng. Về mùa hạ, sen dưới hồ mọc lan ra, che lấp bóng liễu, nhưng lại có nhiều bông sen màu hồng tía lô nhô giữa những lớp lá xanh ngắt. Mỗi buổi chiều, khi cắp sách đi học về, Lữ thường đứng ở một góc hồ, dựa lưng vào thân liễu để nhìn ra xa, phía có những chiếc thuyền thúng nhỏ len lách qua những tàu lá sen của những người chuyên làm nghề ướp trà. Hương sen ngào ngạt trong gió nhẹ buổi chiều.

Lữ thích bầu không khí của khu vực này vào lúc trời vừa tắt nắng, bốn bề êm ả lạ thuờng, cái âm thanh duy nhất mà Lữ đứng ở đó nghe được là tiếng mái chèo vọc xuống mặt nước và tiếng mạn thuyền cọ sát lên những tàu lá sen nghe thành những tiếng kêu sột soạt.

Mẹ Lữ thì bao giờ cũng cấm Lữ thọc chân xuống nước hồ. Lữ giữ đúng lời khuyên răn đó nhưng chả bao giờ bà biết được rằng đã nhiều lần Lữ đã được bác Nguyên cho leo lên thuyền thúng để ra mãi tít tận ngoài xa, ở đó con thuyền nhỏ xíu như chìm khuất sau những bông sen tỏa hương ngào ngạt. Bác Nguyên làm nghề ướp trà. Bác đã ngoài năm mươi nhưng rất vui tính. Dầu Lữ chỉ là cậu bé chưa đến tuổi mười lăm, nhưng bác chuyện trò với Lữ như một đồng hành. Bác thích nói hơn là nghe Lữ nói. Bác nói đủ thứ chuyện. Khi nào cao hứng bác còn ngâm Kiều và giảng Kiều cho Lữ nghe mặc dù trong đầu óc non nớt của Lữ, Lữ chỉ loáng thoáng hiểu rằng Kiều là một truyện bằng thơ, có nhiều người đọc, nhiều người khen và nhiều người thuộc lòng.

Một lần bác ngắt một cọng sen giơ lên cho Lữ thấy, rồi bác bẻ cọng sen làm đôi và kéo ra thật dài. Những sợi tơ mỏng manh óng ả từ bên trong ruột dính vào nhau, cứ kéo nhau tuôn ra giống những sợi tơ tằm dài tưởng như bất tận. Bác Nguyên cất giọng ngâm:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Cụ Nguyễn Du ví von thật tuyệt. Xa nhau rồi nhưng tình nghĩa suốt đời còn vương vấn. Như cái ngó sen này tuy tách rời nhau ra nhưng những sợi tơ hãy còn dính lại. Sự đời đâu có giản dị phải không?

Hình ảnh cái ngó sen còn vương những sợi tơ óng ả và hai câu thơ do bác Nguyên đọc đã trở thành một ấn tượng trong đầu Lữ suốt những năm lưu lạc sau này. Rồi cũng như bác Nguyên đã từng cao hứng, chính Lữ cũng đã nhiều lần ngâm lại hai câu bất hủ trong Kiều:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Sợi tơ vương đầu tiên trong tâm hồn của Lữ vào thuở mười bốn, mười lăm cũng là một chuyện hi hữu đáng nói.

Thuở ấy Lữ quen Ngọc trong một lớp luyện thi của thầy Nguyễn Vạn Tòng. Ngọc là một cô bé kém Lữ một tuổi. Xinh xắn. Ngây thơ. Ít hờn dỗi và hay nhường nhịn. Ngọc học chăm chỉ nhưng không xuất sắc. Ba tháng hè miệt mài với sách vở. Lữ đậu vào Chu Văn An. Ngọc rớt không được vô Trưng Vương nên ra học tư ở trường Thánh Mẫu. Tuy nhiên tình bạn không vì thế mà gián đoạn, một phần vì nhà Ngọc ở ngay con đường lớn nhìn ra mặt hồ, hôm nào Lữ cũng phải đi ngang qua cổng nhà Ngọc mới rẽ được vô con hẻm nhỏ để trở về nhà. Một phần khác, tính tình Ngọc dễ thương, hồn nhiên, hễ gặp Lữ là tíu tít nói đủ thứ chuyện, nhất là kể từ khi Ngọc xin được vô học ở trường Thánh Mẫu.

Ngọc khoe những tập sách mới, khoe bài ở trường, kể chuyện về các “ma soeur”, về các sinh hoạt đặc biệt ở trường, ở lớp, có nhiều hôm, Ngọc còn bắt Lữ gà giùm bài tập cả Toán, cả Luận văn của Ngọc nữa.

Căn nhà của Ngọc là một ngôi biệt thự nhỏ, chung quanh trồng toàn hoa lan. Vào mùa hạ, búp lan rụng trắng cả cái sân sỏi nhỏ dẫn lên những bậc thềm cao. Hương lan thoang thoảng ở khắp mọi chỗ. Nhất là khi Lữ ngồi coi sách vở hoặc giảng giải lại bài cho Ngọc ở căn phòng nhỏ nhìn ra vườn sau, mùi hoa lan tràn ngập căn phòng lát đá hoa trắng nuốt tạo nên một cảm giác vô cùng êm dịu và mát mẻ.

Nhưng điều mà Lữ ghi nhớ nhất về căn nhà của Ngọc không phải là mùi hoa lan, mà lại là âm thanh của tiếng đàn. Tiếng đàn ấy Lữ nghe được ngay từ khi bước qua cánh cổng sắt lớn ở ngoài đường. Mới đầu chỉ là những âm điệu bay thoảng qua trong gió nhẹ từ mặt hồ thổi vào, nhưng khi bước lên những bậc tam cấp để vào trong nhà thì tiếng đàn ấy trở nên tràn ngập ở mọi chỗ, nhẹ nhàng, thánh thót như đưa con người vào một thế giới khác khiến cho Lữ vụt quên cả cảnh tượng liễu rủ trên mặt hồ, quên những búp lan tỏa hương nằm rải rác trên sân sỏi nhỏ và quên luôn cả người bạn gái đang lăng xăng mở những cánh cửa sổ để cho gió mát lùa thêm vào căn phòng quét vôi màu xanh êm dịu. Mãi đến lúc Ngọc cất tiếng nhỏ nhẹ bên tai thì Lữ mới bừng tỉnh. Ngọc nói:

– Tiếng đàn của chị Thu đấy. Chị Thu tốt nghiệp ưu hạng về dương cầm của trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Vừa nói, Ngọc vừa kéo tay Lữ đi qua căn phòng khách rộng thênh thang. Bây giờ thì Lữ thấy chị Thu đang ngồi trước phím đàn. Chị bận chiếc áo lụa màu xanh hồ thủy. Mái tóc óng ả của chị có một màu đen như hạt huyền và được cột ngang bằng một sơi dây nơ màu đỏ thắm. Chị ngồi quay lưng về phía lối đi nên Lữ không nhìn rõ mặt chị. Nhưng chỉ cần đi qua phía sau, Lữ cũng đã nhìn thấy được đôi bàn tay của chị đang lướt nhẹ trên phím đàn. Từ thuở bé lớn lên, và mãi mãi sau này trong suốt cuộc đời trôi nổi, Lữ cũng không còn tìm thấy ở một người nào khác có đôi bàn tay đẹp hơn như thế. Trước hết là vẻ mềm mại, quí phái của nó. Nó như được sinh ra để dành cho những phím đàn. Những phím đàn dù đã được giữ gìn, lau chùi hết sức cẩn thận để còn giữ nguyên được màu trắng tinh khiết của lúc ban đầu thì mầu trắng ấy cũng vẫn bị lu mờ trước làn da óng ả, mịn màng như màu sữa trên những ngón tay thật thuôn và thật dài của chị. Những ngón tay mềm mại óng ả, tuy để mộc mạc đơn sơ nhưng rõ ra là một công trình trau truốt của tạo hóa. Âm thanh từ đó phát ra những tiếng thánh thót như mỗi lần đầu ngón tay của chị chạy tới đâu thì ở đó nở ra một bông hoa thần diệu đan kết lại thành một chuỗi lời thì thầm, lảnh lót như tiếng nước suối chẩy róc rách giữa một khu rừng đầy hoa thơm chưa từng có ai đặt chân tới.

Trong khi những ngón tay như những đốt ngọc di chuyển trên phím đàn thì hai cổ tay của chị lại có dáng vẻ như đang bất động. Một chiếc vòng huyền ở cổ tay bên trái ôm khít lấy làn da mịn màng của chị nó khiến cho người nhìn có cảm giác chiếc vòng và cổ tay đều rất tròn, rất khít như định mệnh gắn bó đều đã an bài cho cả hai thứ. Không thể còn chiếc cổ tay nào vừa vặn và thích hợp hơn với chiếc vòng đã lên nước sáng ngời đó.

Trong một khoảnh khắc vừa đủ bước chân qua phòng khách để đi vào căn phòng học xinh xắn của Ngọc ở kế bên đó, Lữ đã bị đôi tay ngà của chị thu hút. Lữ quên mất Ngọc đang nhí nhảnh ở bên mình. Lữ quên cả nhiệm vụ của mình hôm ấy là chuẩn bị cho Ngọc ôn bài trong kỳ thi lục cá nguyệt sắp tới. Lữ quên ngay cả chính mình. Chỉ còn đôi tay ngà và những âm thanh thánh thót. Đôi tay đã lởn vởn trong đầu óc của Lữ trên đường về, trong giấc ngủ, những giờ ở lớp, những buổi đứng dựa lưng ở góc liễu nhìn ra bờ hồ tràn ngập những bông sen màu hồng tía.

Đầu óc của Lữ từ hôm đó trở nên thẫn thờ một cách lãng mạn. Lữ chưa đến tuổi để có một tình yêu đúng nghĩa, nhưng Lữ đã có một hình ảnh để tôn thờ. Hình ảnh vỏn vẹn chỉ là đôi bàn tay trắng nuốt thoăn thoắt trên phím đàn. Có thể đó là một trạng thái kỳ cục, nhưng ở tuổi nào, con người chẳng có một loại tình cảm kỳ cục riêng biệt như thế. Cho nên Lữ đã bị mê hoặc hoàn toàn bởi hình ảnh đôi bàn tay chỉ vừa đột ngột hiện đến trước mắt nhưng đã ghi dấu ấn trong tâm hồn suốt cả một đời người. Lữ coi đôi tay của chị Thu như một biểu tượng cao quí. Lữ vui sướng với biểu tượng đó những khi Lữ làm được điều gì tốt đẹp và Lữ cảm thấy khổ sở, đau đớn với nó khi mình trót phạm phải lỗi lầm. Trong khi ấy, đối với chị Thu, Lữ luôn luôn giữ lòng tôn kính.

Một thời gian sau đó, Lữ đã trở thành người quen của cả gia đình. Lữ lui tới căn biệt thự xinh xắn đó như một người con, một người em bé nhỏ. Chị Thu, những khi không bận học hành trong phòng riêng, hoặc không ngồi chơi những bản nhạc cổ điển trước phím đàn thì chị cũng ra trước hàng hiên, ngồi dưới bóng những tàng cây ngọc lan đang tỏa hương thơm ngát để góp lời trò chuyện với Lữ, với Ngọc.

Có lần chị nắm cả bàn tay dịu mát của chị vào tay Lữ để biểu lộ một cảm tình thân thuộc. Nhưng chẳng bao giờ chị hiểu được rằng chính đôi bàn tay đó đã được tâm hồn của một thằng bé như Lữ hết sức tôn thờ.

Lữ chưa đạt đến đủ số tuổi để đánh giá sắc đẹp của chị. Lữ cũng chưa đủ số tuổi để quan tâm đến ngay chính vấn đề đó. Lữ chỉ biết rằng chị có một vành môi đỏ thắm như son và hai hàm răng đều đặn như những hạt lựu. Mắt chị thật to. Mỗi lần chị biểu lộ sự ngạc nhiên, Lữ nhìn thấy những hàng lông mi cong vút dựng lên qua khóe mắt đen mướt và mịn như nhung. Dĩ nhiên là chị Thu phải đẹp. Nhưng Lữ không quan tâm đến sắc đẹp của chị bằng đôi bàn tay trắng nuột với những ngón tay dài óng ả. Và dù chỉ như thế, nó vẫn là một thứ tình yêu, có nhớ nhung, có giận hờn, có ghen tức, nhất là khi Lữ thấy chị Thu nắm tay vị hôn phu của chị, anh Hoàng, đi trên con đường quanh hồ dưới bóng liễu rủ và trong những làn gió nhẹ thoang thoảng đưa vào bờ hương vị ngào ngạt của những bông sen đang ở vào thời kỳ nở rộ.

Hai người như một đôi chim nhỏ đem đến cho khung cảnh tĩnh mịch ở đây thêm hương vị đậm đà. Một người cao dong dỏng, mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ, vầng trán thông minh, cương nghị với tính tình hào sảng, nồng nhiệt và đam mê tột cùng. Còn một người thì nhỏ nhắn, dịu dàng, hiền hậu, tâm hồn vị tha, cao quí. Họ thật đẹp đôi, không còn gì xứng đáng với nhau hơn. Mọi sự tuyệt hảo trong ý nghĩ của Lữ, trừ hình ảnh bàn tay của chị Thu nằm gọn trong bàn tay của anh Hoàng làm Lữ cảm thấy bực bội, ghen tức vẩn vơ. Tuy nhiên điều đó không làm cho Lữ ghét bỏ anh Hoàng mà trái lại tính tình dễ mến, cởi mở của anh đã khiến cho Lữ gần gũi với anh hơn.

Hôm được tin anh bị gọi động viên, cả chị Thu lẫn Ngọc đều khóc. Còn Lữ thì cũng rưng rưng, không phải vì tình thương giữa Lữ và anh Hoàng nhưng chính sự đau khổ của chị Thu làm Lữ thổn thức. Khi anh đi rồi, chị Thu bỏ đánh đàn hàng mấy tuần lễ. Mãi đến lúc nhận được lá thư đầu tiên của anh gửi ra mang dấu bưu điện S.P (Secteur Postal, hồi đó còn xài tiếng Pháp tức Khu Bưu Chính hay KBC ) của trường Võ Bị Thủ Đức ở trong Nam, chị mới lấy lại được nụ cười tươi trẻ mọi ngày. Rồi chị lại ngồi trước phím đàn. Chị dạo đi dạo lại nhiều lần bản Tristesse của Chopin. Tiếng đàn nghe thê lương tha thiết, rã rượi.

Một năm sau đó thì đất nước chia đôi. Anh Hoàng chưa thấy trở về. Gia đình chị Thu quyết định ở lại. Còn Lữ theo gia đình xuống Hải Phòng, lên tàu há mồm xuôi Nam. Trước hôm khởi hành, Lữ đến chào chị Thu và từ giã Ngọc. Ngọc không nói một câu nào suốt từ lúc Lữ đến cho tới lúc Lữ ra về. Cho tới lúc đó, Lữ mới thấy tâm hồn già dặn của Ngọc. Cô bé biết chọn lựa cung cách không nói gì để nói lên tất cả, kể cả sự bất lực không xoay ngược lại được tình cảnh xa cách, chia lìa.

Còn Lữ cảm thấy bạo dạn hơn mọi ngày. Lữ yêu cầu chị Thu đánh đàn cho mình nghe lần cuối. Tình cờ chị Thu hôm đó lại mặc chiếc áo lụa màu xanh hồ thủy. Vẫn những búp tay thuôn dài. Vẫn chiếc vòng huyền sáng ngời ôm khít lấy cổ tay tròn trịa và trắng ngần. Chị ngồi ở đó, quay lưng về Lữ. Chị đánh bản Tristesse của Chopin. Bản nhạc làm Lữ nước mắt ròng ròng. Lúc quay lại thấy Lữ khóc, chị cũng khóc theo. Có thể chị nhớ tới anh Hoàng. Có thể chị xúc động vì giây phút vĩnh biệt với đứa em bé nhỏ mà chị biết sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại. Chị giơ bàn tay lên vuốt má Lữ. Những giọt nước mắt nóng hổi rơi thánh thót trên làn da mịn màng ấm áp của chị. Đó là hình ảnh cuối cùng mà Lữ ghi nhớ mãi mãi sau ngày rời Hà Nội.

Gần ba mươi năm trời lặng lẽ trôi qua. Đời sống bận rộn khỏa lấp dần những kỷ niệm cũ. Trong đầu óc của Lữ, hình ảnh chị Thu đã dần phai mờ, nhưng sự xúc động về đôi tay ngà của chị thì vẫn còn nguyên vẹn. Trong giao dịch hàng ngày, dù hàng mấy chục năm trời đã trôi qua, cứ mỗi lần bắt gặp một đôi bàn tay đẹp là Lữ vụt sống lại y nguyên cái cảm giác cũ, cảm giác ngây ngất đứng ở trong căn phòng quét vôi màu xanh, thoang thoảng hương lan, có chị Thu bận áo lụa hồ thủy ngồi trước những phím đàn với những ngón tay ngà.

Rồi bốn năm sau ngày miền Nam sụp đổ, Lữ có cơ hội trở về chốn cũ. Ngày đầu tiên đặt chân lên Hà Nội, Lữ đã lần mò trở lại ven hồ xưa. Căn biệt thự còn đó nhưng nay trở thành trụ sở của một cơ quan. Dáng liễu vẫn còn nhưng những tàn lá sen xanh mướt thì đã biến mất. Gió buổi chiều đưa lên mùi nồng nồng của làn nước trong xanh trên mặt hồ, hương sen thơm ngào ngạt nay không còn nữa. Lữ nhớ đến bác Nguyên và càng thấm thía giọng ngâm hai câu thơ Kiều của bác ngày nào:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Quả thực tình cảm của Lữ về cảnh cũ người xưa thì vẫn còn nguyên vẹn, như hai cọng sen ngày nào bị bác Nguyên ngắt rời mà vẫn còn dính kết bởi những sợi tơ vương.

Phải mất gần một tháng, sau những dò hỏi tìm kiếm, Lữ mới lần mò tới được căn nhà của chị Thu ở khu tập thể Kim Liên. Hai người đối diện nhau, nhìn nhau, cùng ngỡ ngàng, cùng xa lạ. Làm sao chị Thu có thể tìm lại hình ảnh một cậu bé học trò, tuổi mười lăm ở một người đàn ông đã trải nhiều phong sương và đổi thay của đời sống. Cũng như chị Thu trước mặt, nếu không được cho biết trước là chính chỗ ấy là nhà của chị, thì Lữ cũng không thể tin rằng mình đã tìm gặp lại được người xưa với mái tóc óng ả có dải lụa đỏ cột ngang đầu, đôi mắt đen mướt, mịn như nhung có những hàng mi cong vút. Ba mươi năm qua rồi. Thời gian tuy có tàn phá nhưng Lữ không thể tưởng tượng mức độ tàn phá lại ghê gớm đến thế.

Lữ nói bùi ngùi:

– Chị còn nhớ anh Hoàng không?

Khuôn mặt cằn cỗi của chị bỗng thoáng một vẻ xúc động.

Lữ tiếp:

– Anh ấy đã bị đưa ra Bắc học tập cải tạo. Nghe nói đang ở Lào Cai.

Lữ tưởng sẽ nói được với chị rất nhiều, nhưng mới chỉ có bấy nhiêu lời, Lữ đã cạn ý. Ba mươi năm chia lìa, hai người chỉ trao đổi được với nhau ngần ấy. Còn biết nói gì thêm trong hoàn cảnh đó. Họ như ở hai thế giới khác nhau, cách biệt cả về dĩ vãng, về kỷ niệm, về môi trường sống hàng ngày. Không còn gì để mà hàn huyên, tâm sự. Trong đầu óc của Lữ, mọi sự đều trống rỗng, chai lì. Chàng bối rối. Ngỡ ngàng. Và trong khoảnh khắc, bỗng Lữ như vẳng nghe thấy tiếng đàn, tiếng đàn năm xưa với những âm thanh thánh thót, rã rượi của bài Tristesse.

Chàng ấp úng, nhỏ nhẹ:

– Chị còn tiếp tục chơi đàn dương cầm nữa hay không?

Chị Thu chợt nở một nụ cười héo hắt. Chị xòe đôi bàn tay ra trước mặt Lữ. Hai bàn tay sần sùi, nhăn nhúm và mang một vẻ chai cứng, khô queo. Chị nói một hơi:

– Hai năm sau khi chú rời Hà Nội thì tôi bỏ dương cầm. Lý do: Chế độ mới cần đề cao tinh thần lao động trong mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những nghệ sĩ chơi đàn. Tôi không bị cấm đánh đàn nhưng tôi cũng bị bắt buộc phải lao động để kiếm sống bằng đủ cách, kể cả có khi phải cầm thêm cái cuốc. Cơn tàn phá đối với một bàn tay chỉ trong vòng một tháng là thấy rõ. Những ngón tay chai cứng lại. Nốt nhạc trở nên lạc lõng, xớn xác như tâm hồn lạc lõng, xớn xác của toàn thể con người. Tôi thấy rõ xã hội này không cần đến những bàn tay như bàn tay của tôi. Họ xếp nghệ thuật vào hàng thứ yếu.

Huyền thoại về đôi tay ngà, ám ảnh cuộc đời của Lữ trong suốt ba mươi năm trong khoảnh khắc sụp đổ kể từ giây phút đó.

Nhật Tiến
Santa Ana ngày 4 tháng 8 năm 1982

Bản Thảo Tay Ngà

(Bản thảo Tay Ngà)

Vĩnh Biệt Chim Én. Nhật Tuấn


Nhật Tuấn

nhat-tuan16118545

(Chân dung và tác phẩm Nhà Văn Nhật Tuấn 1942-2015)

Ông tỉnh giấc . Ngoài cửa sổ trời vẫn tối. Chắc mới qua nửa đêm. Ông hé mắt nhìn sang bên. Dưới ánh đèn mờ, bà vợ vẫn há miệng ngủ ngon lành trong cái dáng quen thuộc đến cũ kỹ. Ông nhẹ nhàng nằm xích ra ngoài mép giường tăng thêm chút ít khoảng cách dẫu chẳng được bao nhiêu.

Ông căng đầu nhớ lại giấc mơ ban nãy. Một cảm giác êm dịu khi yêu thời còn trẻ. Chiếc tàu điện sơn đỏ cổ xưa chạy từ Thanh Xuân về Hà Nội . Cô gái đứng trên tàu, gió bay lọn tóc dài, giơ tay vẫy vẫy:

” Nhanh lên…nhanh lên anh…”.

Chàng trai cố dấn thêm mấy bước và nhảy phóc lên tàu. Cô cười sung sướng nhe ra hàm răng nhỏ đều và trắng bóng. Con tàu vẫn chạy xịch xịch giữa đường phố dầy đặc xe đạp.

“ Mình lên thẳng Bờ Hồ đi anh”.

Cô mua một gói lạc luộc và đặt nó vào giữa hai người trên chiếc ghế đá ven hồ. Cô khoe:

“Hôm nay em làm được bài thơ mới , sướng quá cúp luôn giờ văn học hiện đại của thày Đức.”.

Anh mơ màng nhìn tháp Rùa cô độc dưới nền trời xám , tai lắng nghe cô đọc thơ:

”Từng giọt…từng giọt một…mưa rơi thầm trong cây…”.

Một vật nặng làm ông tỉnh giấc tàn nhẫn cắt ngang giấc mơ. Đó là đôi chân xương xẩu của bà vợ chẳng hiểu sao đã nằm xoay ngang và vắt nó nằm đè lên bụng ông. Ông giận dữ “vứt” nó sang bên, cố nhắm mắt nối lại giấc mơ vừa nãy mà không được, đành nằm lắng nghe tiếng dế ngoài vườn “cric…cric” hoà với vô vàn tiếng côn trùng làm thành bản nhạc quen thuộc trong những đêm trằn trọc.

Thế rồi nằm mãi chẳng ngủ được, ông mở cửa ra vườn lần mò tới chiếc ghế đá , khoan khoái ngả lưng ngước nhìn ông trăng mờ lấp ló sau những tàng cây tối. Gió từ xa mang tới cái lành lạnh của núi rừng . Tiếng chim “chót thì bóp” càng về sáng càng khắc khoải. Chao ôi, ước gì cứ được nằm thế này, nằm thế này mãi rồi tan loãng vào thinh không bỏ lại sau lưng tất cả mọi phiền tạp nơi trần thế.

Hơn một năm trước còn tại chức, ngồi một cái ghế khá cao, ông đã quá mệt mỏi với những cuộc họp nói năng khuôn phép và dối trá, những mưu toan đê tiện, những tính toán bẩn thỉu và và những dè chừng hèn nhát làm thần kinh căng thẳng lâu lâu phải thư giãn trong các cuộc vui lén lút do đám thủ hạ dẫn dắt. Từ ngày đó ông đã ngấm ngầm chuẩn bị “hạ cánh”. Ông buông bỏ dần những tranh chấp, khước từ những chia chác do quyền lực đem lại, nhượng bộ những đòi hỏi của đối thủ, rút lui từng bước khỏi các cuộc đấu đá nội bộ. Ông ngấm ngầm mua khu vườn này cách thành phố khá xa làm chỗ rút về tĩnh dưỡng tuổi già. Và rồi ông đã toại nguyện. Ông đã an toàn rút khỏi cái thế giới tràn ngập những giả dối, những bon chen, những luồn cúi để trở về cái thoáng đãng, hoang vắng , dân dã nơi rừng núi với ước vọng tiêu dao nốt những năm tháng cuối đời .

Vậy nhưng cuộc sống chẳng chịu diễn ra như ta sắp đặt.

Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa, thoát được những thắt buộc ở cơ quan ngờ đâu ông rơi vào một kìm kẹp khác kinh hoàng không kém. Bà vợ sau nhiều năm chịu đựng để ông chồng rong ruổi quan trường, nay trở về trong vòng tay của bà, bà phải truy thu cái quyền làm vợ và nhất quyết thiết lập nó một cách trọn vẹn và hà khắc nhất. Càng ngày ông càng như con ruồi giãy giụa trong màng lưới của bà.

Có tiếng động khẽ sau lưng. Bà vợ đứng ngay cạnh từ lúc nào. Ong điếng người như đang trên chín tầng mây rơi tõm xuống vực. Cái cũi khổng lồ hàng ngày vừa chốc lát thoát được nó bỗng dưng lại lù lù xuất hiện. Gương mặt bà lạnh lẽo như mặt cai ngục. Vẻ quyền uy lộ rõ trong cái cười nhếch miệng. Bà nhìn ông lom lom rồi bất chợt sẵng giọng :

“ Nửa đêm sương lạnh ra ngồi đây làm gì ? ”

Ông thở dài não nuột :

”Tôi …tôi ra đây ngồi cho thoáng…”

Bà vợ trợn tròn đôi tròng mắt :

“ Đang đêm ông mò dậy làm tôi mất giấc ngủ. Vào đi, không lát nữa ông làm tôi thức nữa .”

“ Không không…tôi không ngủ nữa. Tôi ngồi đây cho tới sáng …”

“ Không được…ông phải vào ngủ tiếp…đêm hôm tôi không cho ông ra ngồi đây…”

Ông lại thở dài, đành lặng lẽ theo bà không cãi nửa lời, bởi lẽ càng cãi bà càng xổ ra cơn bão ngôn từ than vãn, trách móc, oán giận trút xuống đầu ông. Chao ôi là lời lẽ người đàn bà hận thù. Thực ra hồi mới cưới, bà cũng còn đôi chút dịu dàng, nhân ái chứ đâu có nghiệt ngã, độc địa như ngày nay. Hai mươi năm đủ để một con cừu biến thành một con sói – ông thường buồn rầu nghĩ vậy mỗi khi bà lên cơn quát tháo, rủa xả, đay nghiến :

“ Ông lừa tôi, khi hỏi cưới tôi ông hứa hẹn đủ điều, nào sẽ lo toan cho tôi, nào sẽ mang lại hạnh phúc cho tôi. Vậy rồi sống với ông 20 năm tôi được cái gì ? Con cái chẳng có, hạnh phúc cũng không . Quanh năm ông cứ biền biệt trong công tác, có đoái hoài gì đến con đàn bà này, có yêu thương gì tôi, coi tôi khác nào kẻ ăn người làm. Tôi không chịu đựng nổi ông nữa. Ông buông tha cho tôi…”

Đó là bài ca muôn thủa sáng trưa chiều tối bà ra rả bên tai ông dẫu có quát tháo, van vỉ bà cũng chẳng chịu im miệng cho. Khi còn tại chức, mỗi lần ngự trên chiếc xe đời mới về nhà, nhìn vẻ mặt lạnh băng của vợ, ông chỉ muốn ly hôn phứt theo yêu cầu của bà cho nhẹ. Nhưng ở cương vị phải che chắn, hở ra chút có thằng chọc vào, nếu “đồng chí ly dị vợ “, thiên hạ sẽ xúm vào bàn tán, đơm đặt đủ điều và rồi cái xảy nảy cái ung, liệu còn ngồi yên trên cái ghế phải chầy chật đến bạc cả đầu mới giành được không?

Tuy nhiên ông thừa biết bà cứ nhằng nhẵng đòi giải thoát chỉ để hành hạ ông thôi, cho kẹo chẳng dám ký giấy đưa ông ra Toà. Họ hàng chẳng có, con cái cũng không, trơ ra mỗi cái thân già, dời ông ra bà bám víu vào đâu? Bởi thế về hưu rồi, ông chẳng cần giữ “uy tín” nữa, ông khuyến khích bà làm đơn ly hôn mà bà cứ ậm ừ, ngãng ra.

Cho đến bây giờ, dường như đã trở thành cơn nghiện, suốt ngày bà kè kè bên ông luôn miệng rỉa rói, móc máy, oán trách chẳng để ông yên, sáng sớm, chiều tối, lúc ngồi vào mâm cơm, lúc lên giường ngủ…bà cứ nhèo nhẽo bài ca muôn thủa khiến lắm lúc không chịu nổi, ông gào lên:

“ Vậy bà muốn gì ở tôi? Muốn gì tôi cũng chiều bà hết…”

Không, bà không muốn gì, bà chỉ muốn mỗi một điều là gây sự, chọc cho ông nổi giận cho dù điều đó có thể dẫn ông tới tai biến não bà cũng mặc, miễn sao bà hả hê, thoả mãn cơn nghiện hàng ngày. Nhiều khi vợ chồng có chút vui vẻ hiếm hoi trong ngày, ông đánh bạo hỏi bà:

“ Vì sao bà căm thù tôi dữ vậy ?”

Bà trả lời tỉnh bơ:

“ Ông đã chôn vùi tuổi xuân của tôi trong bốn bức tường để ông mưu cầu sự nghiệp. Bây giờ đã quá trễ để ông sửa sai nên tôi phải bắt ông trả giá…”

Nói xong bà lại mở cái bài ca quen thuộc “ ông lừa tôi, ông không yêu tôi, ông coi tôi như con ở…” khiến ông muốn phát điên , vùng vẫy như Tôn Ngộ Không bị Đường Tạm Tạng đọc thần chú khiến đầu óc nhức buốt mà bà vẫn không tha.

Đêm nay cũng vậy, lôi được ông vào giường rồi, bà bắt đầu lặp lại những lời trách móc, oán hận cũ rích làm ông phải bịt cả hai tai lại, cố lặn sâu vào giấc ngủ. Gần sáng mới thiếp đi được và lạ thay, ông lại nằm mơ thấy cô sinh viên đại học tổng hợp văn, mối tình đầu của ông ngày xưa.

“Anh ơi, mình sang bên kia sông đi…”.

Cô rủ rê anh mỗi khi hai người ngồi bên bờ sông Hồng vào mùa nước cạn. Gió thoang thoảng đưa lên mùi phù sa từ dưới mặt sông, thành phố sau lưng dường như đã chết hết, chỉ còn lại có hai người. Cô tựa đầu vào vai anh, chỉ cho anh coi những con chim én chao liệng trong bầu không khí trong vắt của buổi chiều. Anh thì thầm bên tai cô:

” Yến ơi, từ nay anh gọi em là “én” nhé. Một con én không làm nên mùa xuân nhưng chỉ một mình em cũng đã thành thiên đường cho anh rồi…”

“ Dậy…dậy…ông gọi tên con đĩ nào thế ? Lại nằm mơ hả ?”

Bà đập liên hồi vào người ông miệng la hét:

“ Yến với “én” là con nào? Trời ơi, ông lừa tôi, ông phản bội tôi, nằm với tôi mà ông vẫn nghĩ tới con nào ?”

Cơn bão ngôn từ lại ào ào kéo tới vùi dập ông với những lời lẽ chỉ có ở mấy mụ bán cá ngoài chợ. Ông cảm thấy như có bùn nhơ tới tấp ném vào mặt, rắn rết cuốn lấy tay chân. Rồi như sức chịu đựng của ông đã bị vượt qua, ông thét lên:

“ Câm ngay…mày câm ngay không tao giết mày…”

Cơn giận bùng lên như lửa đổ thêm dầu, ông bật dậy, nhảy xuống giường và vùng chạy ra ngoài vườn. Cái thoáng đãng của rừng núi buổi sớm mai không làm dịu được nỗi uất hận đang cháy đùng đùng trong lòng ông. Trời ơi, nó làm nhục mình, nó khạc nhổ vào tất cả những gì thiêng liêng, đẹp đẽ sót lại trong con người mình.

Có tiếng cười lạnh lẽo phía sau lưng. Bà vợ ông đã lù lù đứng đó với vẻ mặt đắc thắng và tràn đầy thoả mãn vì cái cách phản ứng điên dại của ông chồng.

Không được, tao không cho phép mày hành hạ tao mãi như vậy được. Ông hét lên và bỏ chạy khỏi nhà. Ông cứ chạy mãi, chạy mãi không biết chạy đi đâu chỉ biết làm sao thoát được cái cười hả hê của bà vợ phía sau lưng.

Vài ngày sau ông đã xuống sân bay Nội Bài và có mặt ở Hà Nội. Ông gọi điện cho cô:

“ Yến ơi…anh cần gặp em…anh cần gặp em ngay lập tức , dù chỉ một lần…”

Phía bên kia đầu dây có tiếng phụ nữ hốt hoảng :

“ Trời đất, anh ở đâu thế ? Anh có làm sao không ? Em đang bận họp , chiều mình gặp nhé ?”

Ông van vỉ:

“ Không không, anh muốn được gặp em ngay bây giờ, ngay lúc này, hẹn em ở ghế đá bờ hồ ngày xưa nơi em đọc cho anh bài thơ em làm “ Từng giọt, từng giọt một, mưa rơithầm trong cây nhé. ”

“ Trời đất ơi lâu vậy rồi mà anh vẫn còn nhớ hả ? Thôi được trưa nay mình gặp nhau vậy. Nhưng bờ hồ bây giờ lộn xộn lắm, ngồi đó chẳng trò chuyện được gì đâu. Em hẹn anh trong quán cà phê nhé…”

Ông thở dài đành chấp nhận hy sinh cái thú ngồi bên cô ăn lạc luộc, nghe cô trò chuyện và ngắm tháp Rùa trong sương sớm.

Trưa hôm đó ông tới quán cà phê bên bờ Hồ như cô đã hẹn với nỗi hồi hộp và bồi hồi của người đi xa về thăm quê. Một chiếc xe đời mới lộng lẫy ghé cửa quán, từ trên bước xuống một người đàn bà xinh đẹp và sang trọng. Nàng đó, Yến đó, con chim én của ông đó. Tất nhiên thời gian đã xoá đi những nét thơ trẻ ngày xưa nhưng ông vẫn nhận ra cô gái ngày xưa ngồi trên ghế nhà trường tổng hợp văn và thường cúp cua lẻn đi chơi với ông.

“ Anh khoẻ không ? Ra bao giờ mà không báo trước cho em ? Nghe đồn anh hạ cánh an toàn rồi phải không ? “

Ông nhìn người phụ nữ xinh đẹp ngồi trước mặt và chợt thấy ngỡ ngàng.

“ Nghe đồn anh có trang trại 200 héc ta cao su phải không ? Giá cao su đang “down” dữ lắm, anh tính sao ?”

Những lời lẽ, những câu chuyện ông thường nói hồi ông còn tại chức lại cuồn cuộn trở về qua miệng người phụ nữ xinh đẹp này. Bà vẫy cô hầu bàn:

“ Anh uống gì ? Thôi đừng uống cà phê nữa. Mình uống rượu đi…Em mang cho chị một chai Hennessy nhé…”

Bà rót rượu ra ly nâng lên mời ông rồi bất chợt sa sầm mặt:

“ Dở ẹc…rượu gì nhạt hoét toàn mùi cồn…”

Bà cáu kỉnh cho gọi bà chủ quán tới và một cuộc cãi nhau tay đôi về rượu thật rượu giả diễn ra ngay trước mặt ông. Ông lại buông một tiếng thở dài não nề y như lúc ở nhà bà vợ riếc móc ông. Một xui khiến nào đó làm ông lặng lẽ rời khỏi bàn và bước ra ngoài trong lúc hai người đàn bà vẫn còn giành giật nhau phần thắng. Ông lại lê gót quanh bờ Hồ qua chỗ ông và cô ngồi năm xưa nhưng chiếc ghế đá hồi đó không còn nữa. Ông lảm nhảm:

“ Vĩnh biệt…vĩnh biệt chim én…”

Nhật Tuấn
Tháng 9 – 2015

Xuân, Hạ, Thu, Đông … rồi Xuân. Tùy bút Toại Khanh


Toai Khanh Giac Nguyen

(Chân dung Nhà thơ Toại Khanh – Thượng Toạ Thích Giác Nguyên)

Toại Khanh là bút hiệu của Sư Giác Nguyên thuộc Theravāda, là một vị “thượng toạ”. Ông là nhà văn, nhà thơ, dịch giả của nhiều bộ sách quan trọng. Giỏi Anh, Pāḷi, Hán, Thái, nghiên cứu thêm tiếng Nhật, Sanskrit, Tạng… Hiện giờ muốn đi vào thế giới tư tưởng của một số triết gia Đức nên ông đã sang Đức, đang học đại học ngôn ngữ ở đây. Gia đình ông có 7 anh em trai, đều là nhà sư, đều có tài và có danh cả. Riêng ông sống đời ta-bà vô trú, chiêm nghiệm, học hỏi liên tục; và là giỏi nhất trong số 7 anh em tu sĩ.

Chủ trương trang nhà điện toán toàn cầu: www.luylau.com
Có bài đăng trên báo chí và website Phật Giáo Việt Nam như Phương Trời Cao Rộng, Quảng Đức, Thư Viện Hoa Sen, v.v…

Tác phẩm đã xuất bản:

A Tỳ Đàm Trong Truyền Thống Hữu Bộ – Jintaro Takakusu, Giác Nguyên dịch Việt
Giáo Tài A Tỳ Đàm – Hòa Thượng Saddhammajotika, Giác Nguyên dịch Việt
Văn Học A Tỳ Đàm Ở Miến Điện – Shwe Zan Aung, B.A., Giác Nguyên dịch Việt
Họ Đã Nghĩ Như Thế.

langminh1

Toại Khanh

Buổi chiều ghé ngang bưu điện, ngoài những thư từ tạp nhạp, còn có một gói giấy mỏng như cuốn sách, không biết của ai gửi. Tôi quẳng tất cả vào chiếc thùng giấy sau xe. Trên đường về, có một cú phone đường dài, thì ra anh Dũng, một người quen đã lâu không gặp mặt. Anh bảo vừa gửi tôi một cuốn phim và hỏi đã nhận được chưa. Anh nói lúc xem phim cứ nhớ đến tôi và bất chợt muốn nghe tôi chia sẻ đôi điều gì đó.

Tôi không phải tín đồ của điện ảnh, chẳng mấy khi xem, nói gì là nghiện. Nhưng lúc xem xong cuốn phim đó, xem và hiểu theo cách riêng của mình, chẳng hiểu sao cứ bâng khuâng mấy giờ liền…

Cuốn phim của Hàn Quốc, cái tựa thậm thượt và nghe phát nản: Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring. Và đúng như cái tựa, chuyện đời của các nhân vật trong phim cứ từng bước phù trầm đổi thay qua từng dấu mốc thời gian hệt như bốn mùa trong năm. Cả cuốn phim cơ hồ chỉ nói đến hai người, mà nổi bật có lẽ chính là nó!

Nó hồn nhiên lớn khôn như một hòn cuội, một cánh bướm, một con nhái bén bên hồ. Sư phụ là tất cả đối với nó, và chỗ ở của hai thầy trò có lẽ thơ mộng đáng vào bậc nhất thế giới: Một am gỗ xinh xắn và cổ kính nằm giữa hồ nước mênh mông, bốn bề là cây rừng và đá núi . Nó nghịch ngợm đáo để, nhưng cũng nhiều ngộ tánh. Có lẽ đó là lý do để sư phụ xem nó như chút bận lòng của ông giữa cuộc phù sinh nhất thiết giai không này. Nó lầm lỗi, ông phạt nó, dạy nó. Nó khóc một, ông đau mười, nhưng ông vui vì nó hiểu chuyện nhanh lắm và cũng giàu lòng nhân. Hai cái đó cộng lại cũng đủ biến nó thành ông thầy tu rồi còn gì.

Dòng đời nhanh và gọn như từng mùa mưa nắng trong cõi nhân gian. Thoắt cái, cậu bé kháu khỉnh ngày nào bây giờ đã ra một chàng trai trẻ vạm vỡ, khôi ngô, dù vẫn tiếp tục hồn nhiên tắm gội trong suối nguồn đạo tình thâm hậu của người sư phụ mà mái đầu giờ đã pha sương. Một chuyện nhỏ nhưng lại là một biến cố lớn đã xảy đến với chốn thanh tu tịch mịch này vào một ngày có khách đàn việt ghé chân.

Họ là hai người phụ nữ, một khỏe một bệnh. Sau cuộc thương lượng đơn giản, cô gái mắc trọng bệnh kia được gửi lại chùa để uống thuốc núi. Cô ở lại một mình và sau dăm ngày lạ lẫm với nếp sống tẻ nhạt lặng lẽ ở đây, cô đã tìm thấy một niềm vui mới.

Vị sư già xem cô như một đứa con, và chàng thanh niên vô tư lự kia đã đem cái hồn hậu của núi rừng mà đối xử với cô như một cô em gái. Thế rồi tiếp nối theo đó là những ngày vui bất tận của hai người. Con thuyền nhỏ của chàng đã đưa nàng đến từng bờ cây, hốc đá, nơi đã một thời là thế giới tuổi thơ của chàng, để cùng nghe chim hót, nước chảy.

Chàng lần đầu gặp mặt và sống gần một người không phải sư phụ, và đó lại là một thiếu nữ có nhiều cá tánh. Chàng đã chết ngất trong ánh mắt, nụ cười và cả giọng nói của người bạn mới. Đổi lại, cơn bệnh trầm kha của nàng đã bay biến đâu mất, và thay vào đó là một sức sống mãnh liệt với một thứ ân tình khó gọi tên, đã kín đáo nẩy mầm với ngay người bạn khác phái vẫn gặp gỡ, rong chơi với nhau mỗi ngày.

Vào một chiều nắng quái bên hồ, giữa khung cảnh trời nước bao la gợi cảm, họ đã cuồng nhiệt yêu nhau ngấu nghiến, quên mất người sư phụ bên kia hồ đang sửa soạn buổi kinh chiều. Chuyện vụng trộm giữa hai người dĩ nhiên không thể giữ kín mãi. Hôm đó, sau một cuộc vui cháy bỏng ngay trên con thuyền nhỏ giữa hồ, hai cô cậu đã hồn nhiên ôm nhau ngủ say, bỏ mặc sóng nước vô tình muốn đưa đẩy về đâu cũng được.

Chẳng biết cơn gió quái ác nào đã xô con thuyền tự trôi về phía am. Và người sư phụ đã nhìn thấy cảnh tượng mà ông tuyệt không ngờ được. Ông đã gọi hai người đến để hỏi thăm bệnh trạng của nàng, và sáng hôm sau đã buộc nàng rời am về phố. Nàng đã ra đi trong cái dõi nhìn đau đớn của chàng.

Đạo tâm của gã tiểu tăng bây giờ chỉ còn là một bọt nước sẵn sàng vỡ tan. Hắn đã từ một phút rong chơi bến tục mà quên mất nẻo về bờ giác. Trách gì người Trung Hoa xưa giờ vẫn truyền khẩu câu nói tiểu Hòa thượng miệng niệm Phật mà lòng không có Phật. Phật vẫn ngồi đấy thiêng liêng trong ánh nến của ngôi cổ am, nhưng trong mắt gã tiểu tăng kia, giờ chỉ còn một bóng hồng áo lục đã khuất nẻo từ lâu, mà đến tận buổi khuya này, chừng như vẫn còn lẫn khuất đâu đây với một làn hương nhẹ nhàng mộng mị.

Rạng sáng hôm sau, lặng lẽ rời am với bức tượng Phật cổ trên tay như chút vốn liếng trên đường đời trước mặt, gã tiểu tăng đã bỏ am, bỏ thầy lên đường không một lời chào. Gã đi theo tiếng gọi của Vô minh. Nhưng tất cả những tình tiết nhiều kịch tính từ đầu bài đến đây, thực ra, chỉ là cái nền cho một nội dung nằm ngoài mọi dự tưởng.

Năm tháng lại trôi đi như từng mùa xuân thu. Người sư phụ ngày nào giờ đã là một lão tăng quắc thước. Một chân nhân thâm hậu đạo lực và một cụ già hom hem hẩm hiu – cùng lúc tồn tại trong một hình hài còm cõi già yếu đó. Ông vẫn sáng sáng chèo thuyền vào xóm hóa duyên, lặng lẽ mong manh trên con thuyền nhỏ giữa hồ như một cái bóng câm lặng.

Sáng hôm đó, mở gói giấy báo đựng bánh khất thực để chuẩn bị độ trai, ông bất chợt đọc được lệnh truy nã của nhà đương cuộc đối với một hung thủ sát nhân. Tin đăng kèm ảnh. Ông lặng lẽ đưa mắt nhìn ra mặt hồ mênh mông, như để cố nhớ lại khuôn mặt bầu bĩnh của cậu đệ tử bé xíu năm nào. Ông thấy hết, biết hết, nhưng không sao đổi khác chuyện đời.

Rồi đúng như nhà sư già đã định liệu, hắn đã trở về. Gã đệ tử vô hạnh kia đã trở về ngôi cổ am để gặp ông và mang trả lại thầy bức tượng Phật ngày nào. Ông hỏi chuyện, hắn khóc như đứa trẻ và trả lời không giấu diếm. Bỏ chùa ra đi ngày ấy, hắn đã tìm gặp được nàng và lấy nhau hạnh phúc. Nhưng cái hồn hậu, đơn bạc của núi rừng đã không cho hắn biết được cái mặt trái nghiệt ngã của chợ đời, khi hắn thật ra không có được những gì nàng muốn. Tình phai rồi tình phụ, nàng bỏ hắn để theo một người khác. Yêu cho nhiều để hận cũng lắm, hắn giết nàng rồi tìm về với sư phụ như một phản ứng tự nhiên của đứa bé nhớ mẹ.

Bây giờ hắn đã trở về, đang ngồi đó đau đớn trước mặt ông. Chiều nay hắn khóc vì đã giết nàng, hận nàng, như ngày xưa hắn đã từng khóc vì yêu nàng, xa nàng. Nhà sư già đã lặng lẽ và kiên nhẫn xoa dịu những cơn bồng bột ngu khờ của hắn như vẫn xem hắn bé bỏng như thuở nào. Ông biết tất cả những gì phải đến nhưng không thể sửa được chuyện đời.

Ông chỉ có tấm lòng và tận lực, thế thôi. Ông đã nuôi hắn từ bé, nhìn hắn lớn khôn và vụng dại. Trước sau, với hắn, ông như một người mẹ già góc núi: Cưu mang, đỡ nâng, tha thứ và chờ đợi. Bao năm qua ông chẳng phải vẫn đợi chờ ngày hắn trở về đó sao. Chỉ vì ông hiểu, ông biết, và ông có cõi lòng một bà mẹ.

Như đã đọc được một tương lai nào đó, ông lặng lẽ pha mực rồi khẽ khàng chép lại từng chữ bài Bát-nhã Tâm Kinh ngay trên khuôn sân bằng gỗ của ngôi cổ am, và vẫn bằng thứ khẩu lệnh nghiêm khắc ngày nào, ông bắt hắn dùng chính con dao đã gây án kia để khắc lại từng chữ đại tự mà ông vừa phóng bút trên sân. Hắn khắc chưa xong chục chữ, người ta đến đọc lệnh bắt. Nhà sư già bình thản như không, ông nghiêm trang đề nghị họ hãy đợi hắn khắc xong bài Tâm Kinh, như lời ông bảo đảm, chỉ một đêm thôi. Thời gian chờ đợi đó của mọi người, có lẽ là một trong những giây khắc đẹp nhất trong phim. Đẹp và thật nhiều ý nghĩa.

Sáng hôm sau hắn bị áp giải lên đường và bắt đầu những ngày tù tội. Thời gian trôi đi bao lâu không ai nói được, nhưng rồi gì cũng qua. Mùa đông năm kia, có một viễn khách phong trần ghé về cổ am.

Khách bồi hồi bước qua mặt nước hồ giờ đã đóng băng, và trước sau cổ am vắng ngắt như tờ. Nhìn ra mặt hồ bát ngát, khách chết điếng khi nhìn thấy xác con thuyền xưa đang khuất trong băng giá với những vết lửa cháy nham nhở dở dang. Khách chắp tay cúi đầu như cố hình dung một chuyện cũ. Ngày đó, nhà sư già đã âm thầm hóa thân ngay trên con thuyền với một mồi lửa ngay sau lúc tiễn biệt đứa học trò trên sân.

Vậy là phút cuối, hắn cũng đã trở về. Có điều là lần trở về muộn màng, hắn về cho chính hắn. Sư phụ đã không còn nữa. Hắn quyết định lớn khôn lần nữa trước vong linh của người sư phụ mà hắn không còn cơ hội gặp lại, dù đâu đó quanh quẩn trong ngôi cổ am lúc nào cũng có một con rắn lặng lẽ nhìn hắn như chứng minh, như chia sẻ và cùng vui buồn. Sư phụ đấy chăng?

Hắn đã quay lại con đường mà ngày xưa hắn chưa từng bước đi, dù nó luôn thuộc về hắn. Hắn trần trụi phơi mình trong băng tuyết để tạc tượng, luyện công và sớm chiều hai buổi tụng niệm, như thể không còn kịp nữa. Hắn đi tìm mình, và cũng để gặp lại bóng hình của người sư phụ tình thâm tợ hải. Từng mẩu nến khuya, những tiếng mõ canh tàn hay trong chiều muộn đã từng phút giây đưa hắn trở về ngôi nhà ấu thơ với tất cả niềm nỗi thống hối, bùng vỡ.

Và giai đoạn cuối cùng của cuộc trở về ấy đã đến lúc hoàn mãn. Trong một buổi kinh khuya hắn bỗng nghe tiếng người gọi cửa. Chút bụi trầm luân đã rớt xuống bên hiên cổ am để đưa hắn lại cuối đường. Người thiếu phụ với đứa bé mủm mỉm trên tay đã tìm đến chùa giữa một đêm tuyết lạnh. Không sao nhìn thấy khuôn mặt của nàng. Ở đó lúc nào cũng là một tấm lụa mỏng màu tím. Nàng là ai? Hắn tò mò muốn biết nhưng đành chịu. Lo cho mẹ con nàng một chỗ nằm tạm trong cổ am, một bên bàn Phật, hắn không biết phải làm gì hơn. Chỉ còn biết nhìn nàng và nghe nàng khóc. Giá còn sư phụ!

Sáng hôm sau, nghe tiếng trẻ con khóc bên ngoài, hắn chạy vội ra sân chùa. Trên mặt nước hồ giờ đã thành băng ấy, đứa bé không mẹ đang từng bước bò về phía cổng, nơi hắn đã khoét băng làm một giếng nước dùng qua mùa đông.

Hắn kéo cái xác người lên khỏi giếng. Người thiếu phụ đêm qua đã lọt chân xuống đây khi muốn bỏ con lại cổ am và một mình lẻn đi trong khuya. Đến bây giờ thì tấm lụa che mặt nàng đã có thể gỡ xuống. Hắn đã thấy gì, đó vẫn là một ẩn số của câu chuyện.

Chỉ trong một tích tắc, câu chuyện ấu thơ của hắn từ mấy mươi năm trước bất ngờ sống dậy mãnh liệt với từng chi tiết nhỏ. Ngày đó thằng bé trong cổ am đã trốn thầy vào núi xuống hồ rong chơi. Như điềm báo của một định nghiệp, nó đặc biệt thích thú trò chơi cột đá vào bất cứ con gì bắt được để xem con vật phải vất vả ra sao mà sống còn với một gánh nặng quá sức mình. Sư phụ đã phạt thằng bé đeo một hòn đá nặng trên lưng để hiểu được nó đã làm gì trên chúng sinh khác.

Ngày ấy, trong tâm tưởng một thằng bé, đó chỉ là một bài học về hạnh từ bi. Nó đã biết khóc khi không kịp cứu sống con rắn đã bị nó cột đá. Nó cứ tưởng suốt đời mình sẽ không bao giờ tái phạm trò chơi độc ác đó nữa. Nhưng ngày trưởng thành, biết yêu biết ghét, nó đã làm ngược lại.

Hắn lạnh người khi thấy rõ mình đã cột đá vào không biết bao người. Hai người thân thương nhất trong cuộc đời hắn đã phải vì hắn mà oằn lưng với những hòn đá nặng chết người. Lẽ ra hắn chỉ nên để mọi người, kể cả chính hắn, cùng được thanh thản nhẹ nhàng mà đi. Nhưng tất cả đều ngược lại. Bây giờ sư phụ không còn nữa, hắn phải tự phạt mình, để thấm thía tận cùng cái gì là vướng vít, đè nặng.

Thật khó lòng tìm thấy một hình ảnh nào trong đời có thể bi tráng hơn thế. Hắn một mình kéo lê một hòn đá lớn, tìm lên đỉnh núi giá lạnh không người. Trên tay ôm ghì bức tượng Quán Âm. Một hình ảnh khốc liệt. Tôi muốn gọi hắn lúc này là một hành giả, một hành giả vác tượng lên ngàn. Một hành giả đang ngược nguồn để hành hương giữa mùa đông cuộc đời, mà cũng là mùa đông tâm linh. Nhạc phim lúc này cũng bất chợt trầm hùng vang vọng một thứ âm thanh xa vời, mộng mị.

Bài Bát-nhã Tâm Kinh trong giọng đọc tiếng Hàn của người con gái nào đó như đi về từ một cõi chiêm bao với từng câu chữ Xá-lợi Tử! Sắc Bất Dị Không, Không Bất Dị Sắc… Lần đầu tiên tôi cảm nghe dòng kinh Bắc truyền đó thơ mộng và quyến rũ đến vậy.

Theo từng bước lê chân nặng nhọc của hắn qua những ngõ mòn sỏi đá, lời kinh kia như nương gửi gió rừng mà lan tỏa, phủ đầy một cõi huyền âm. Tiếng kinh thấm đẫm lòng người, len vào từng khe đá, thớ gỗ. Lời kinh làm rung chuyển mọi cõi miền không gian, đánh thức mọi mê lầm ngái ngủ, cho tất cả cùng bật dậy một sức sống tỉnh thức. Biển khổ mênh mông, mà quay đầu lại là bờ. Và bến bờ ấy đã hiện ra trong mắt hắn. Hắn cung kính an vị bức tượng lên mỏm đá trang trọng nhất trên đỉnh núi và cúi đầu chiêu niệm.

Hắn đã bỏ lại tất cả gánh nặng trên từng dặm đường đến đây. Hắn đã diễn dịch huyền nghĩa bài Tâm Kinh ra nhiều tâm ấn cụ thể giữa đời: Tha thứ, can đảm, bao dung, thấu hiểu, cưu mang và buông bỏ. Hắn muốn vác thay cho muôn loài tất cả những gánh nặng. Hắn sám hối và đáp đền cho vạn hữu đã cưu mang hắn, trong đó sư phụ và người đàn bà đã đi qua đời hắn đang là hai giọt nước cùng hòa tan vào đại dương. Và lần đầu tiên trong đời mình, hắn bất chợt thấu hiểu tận cùng câu minh chú ở cuối bài Tâm Kinh đó: Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāha. Lên đường, lên đường đi, hãy qua sông để tìm về bờ bến khác!

Hắn về lại cổ am, và một mùa xuân mới lại bắt đầu trên chính cậu bé mồ côi vừa nhập môn bất đắc dĩ kia. Nó chính là hắn mấy mươi năm trước. Một chu kỳ mới, một tuần hoàn mới. Mọi thứ lại tái hiện trong bối cảnh hồ nước tan băng, hoa cỏ sung mãn, hồ rộng núi xanh và mọi thứ lại bắt đầu. Ngoài kia nắng đã lên giữa một mùa xuân có rừng phong và núi đá xanh rêu. Trong cổ am, con rắn già chậm rãi bò ngang bàn Phật, lặng lẽ, thành kính.

Toại Khanh

Hai Lần Từ Biệt Cha Già. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhân ngày Father’s Day 21/6 , đọc lại:

Hai Lần Từ Biệt Cha Già

Nhat Tien va Cu than sinh-Saigon 1978

Nhật Tiến

Tôi rời Hà nội di cư vào Nam năm 1954, năm tôi vừa tròn 18 tuổi.

Vào thời kỳ ấy, thú thực, tôi chưa biết Cộng sản là gì. Những chuyện đấu tố long trời lở đất ở hậu phương với số phận thảm thương của bà Cát Hanh Long, mẹ nuôi Bộ Đội đã vang vọng về tới Hà Nội nhưng chỉ là nghe phong thanh.

Trong ý nghĩ của tôi, hình ảnh của những anh bộ đội vẫn là những hình ảnh của các chàng trai thế hệ, từ bỏ sách vở, bỏ cuộc sống êm ấm gia đình để đi theo tiếng gọi của non sông. Trung đoàn Thủ Đô dược thành lập bởi những thanh niên hào hoa Hà Nội với những chiến công vang rộng kể từ ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp tháng 12-46, đối với tôi vẫn là một đơn vị hào hùng, đượm một ít huyền thoại có thể không có thật nhưng rất dễ được tin và loan truyền trong giới học sinh Hà Nội cùng lứa tuổi như tôi.

Những bài thơ của Hữu Loan, Hoàng Cầm, Quang Dũng được truyền tay nhau đọc, ngâm đi ngâm lại với tất cả sự rung động sâu xa và mến phục. Trong khi đó, hầu hết những văn nghệ sĩ nổi tiếng trong vùng Quốc Gia đều còn giữ quan niệm sáng tác những truyện tình cảm ướt át và không mấy nhậy cảm đối với những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc. Một Ngọc Giao với nhân vật Xã Bèo trong tác phẩm Đất cho độc giả nhìn thấy thân phận cơ cực của người nông dân Việt Nam ở thời kỳ độc lập phôi thai, nhưng lại làm thất vọng độc giả sau đó với Quán Gió qua hình ảnh của những người thành thị trên đường tản cư. Nhưng dầu sao nhà văn Ngọc Giao vẫn là một cây bút đem vào văn chương nhiều dấu tích của xã hội thực tế bên ngoài, mặc dầu chưa đủ giúp cho những lớp người trẻ như chúng tôi, vào thời kỳ ấy, có được cái nhìn toàn diện về những hoàn cảnh xã hội vây quanh.

Một vài cây bút lẫy lừng khác, có tác phẩm thuộc loại bán chạy nhất như Hoàng Công Khanh với Trại Tân Bồi, Mẹ tôi sớm biệt một chiều Thu, Mối tình đầu hoặc Nguyễn Minh Lang với nhiều tác phẩm tình cảm ướt át khác chỉ làm sống lại bầu không khí văn nghệ của những năm trước chiến tranh. Vấn đề Cộng Sản chưa trở thành mối ưu tư trĩu nặng trong tâm hồn tất cả mọi người như những năm sau này ở miền Nam, sau khi cuộc di cư khổng lồ 1954 đã chấm dứt.
Như vậy, tôi đã vào Nam, dù theo làn sóng di cư trốn chạy Cộng Sản, nhưng lại rất ít hiểu biết về thực chất của Cộng Sản. Tôi đi Nam vì máu giang hồ của tuổi trẻ. Ngày từ giã cha tôi để ra xe, tôi cười nói khơi khơi:

– Con chỉ đi hai năm rồi con về!

Tôi đã tin ở Hiệp Đinh Genève. Tôi tin ở cuộc bầu cử thống nhất đất nước. Đất nước thống nhất rồi, chuyện thực hành một chuyến viễn du Sài Gòn – Hà Nội hay ngược lại chỉ là vấn đề có phương tiện và thời gian. Hình như cha tôi cũng nghĩ như thế. Cụ là người khoáng đạt, giáo dục con cái chỉ bằng thực tế của đời sống, chủ trương cuộc đời của ai kẻ nấy lo, châm ngôn duy nhất mà cụ nhồi vào đầu con cái là “ở hiền gặp lành”, “gieo nhân nào hái quả nấy”, như một hành trang không thể thiếu trong giao tế với đời sống. Ngoài ra cứ tự do bay nhảy nếu có khả năng.

Nhưng tôi không ngờ chuyến từ biệt đơn giản ấy lại là một cuộc chia xa kéo dài gần một phần tư thế kỷ! Và một thoáng ngậm ngùi, nỗi ngậm ngùi chỉ vừa đủ làm cay đôi mắt còn trong veo và rực ngời tin tưởng của tôi vào thuở ấy, đã trở thành những đêm thao thức, dằn vặt, mất ngủ trong suốt hơn 20 năm sau này, khi tôi đã hoàn toàn hòa nhập vào đời sống trong xã hội Tự do ở miền Nam. Tôi đã mặc nhiên đứng vào hàng ngũ những người chống Cộng, dù rằng trong tâm tưởng tôi không bao giờ nguôi niềm nhớ thương cảnh Hà Nội cũ với Hồ Gươm xưa, ở đó vẫn còn có cha tôi mòn mỏi tàn úa hẳn cũng nhiều đêm thao thức nhớ đến đứa con lưu lạc ngày xưa.

Ba mươi tháng tư năm bẩy lăm, tôi không chạy kịp theo làn sóng di tản ra nước ngoài. Đành ở lại chấp nhận số mạng như hàng triệu anh em bạn bè, đồng bào khác đã không kịp ra đi. Đánh đổi lại, tôi đã may mắn có được một cuộc trùng phùng.

Theo lời hứa từ hơn hai mươi năm trước, đáng lẽ tôi sẽ phải là kẻ xách khăn gói trở về, và cha tôi sẽ rộng mở vòng tay đón tôi từ ngoài ngõ. Nhưng ngược lại, Người với bẩy mươi tư tuổi đời trên đôi vai còm cõi, mái tóc bạc trắng, thân hình gầy guộc, đã lặn lội 1.600 cây số xuôi Nam trên chiếc xe đò cũ nát, chật chội, chen lấn suốt ba ngày hai đêm để được gặp lại con trai, tại bến xe Ngã Sáu Sài Gòn, giữa một rừng người hỗn độn ngổn ngang những đống bàn ghế, đồ đạc, những thùng đồ, những túi xách, những tay nải và cả những đống khung xe đạp chất đống chờ tới chuyến để được bốc lên xe.

Tôi đã trùng phùng với cha tôi trong khung cảnh đó.

Lòng vừa mừng vô hạn, vừa đớn đau, chua xót vì cơn sụp đổ toàn diện của miền Nam còn đang tiếp diễn ở toàn bộ những khung cảnh sinh hoạt ở khắp mọi nơi, những pho tượng ở các công viên bị giật sập, những đường phố tràn ngập rác rưởi cũ, những căn nhà của người di tản bị tiếp thu, cửa long, vách bị đục, các cánh cửa sổ bị gỡ tả tơi, sập sệ và một rừng cờ, rừng biểu ngữ chói mắt, nhức tim tràn ngập khắp các đường phố, các cao ốc, các công sở, và còn ở những chiếc cổng chào mọc lên đầy đẫy ngay lối vào những con ngõ nhỏ hẹp.

Thêm vào đó là một rừng người hỗn độn, choáng ngợp màu xanh của quần áo cán bộ, bộ đội, những người ở Bắc vô, ở chiến khu về, những người nằm vùng ở trong thành phố bây giờ mới ló mặt. Một bầu không khí cuồng nhiệt, chiến thắng trong lam lũ, thiếu thốn, nghèo nàn, với những nụ cười tự mãn, những ngôn ngữ khinh miệt, hận thù, tất cả đã úp chụp lên người dân Sài Gòn như một mạng lưới khổng lồ, đi đâu cũng không thoát, ngồi đâu cũng không yên, người ta chạy nháo lên như những con kiến bò quanh miệng một cái chén đang đặt lên lò lửa. Hầu như ai cũng cảm thấy hớt hải, lo âu, tiếc nuối, và sợ hãi cho những ngày sắp đến. Tôi trùng phùng với cha tôi trong bầu không khí đó và với tâm trạng bất an đó. Tuy nhiên tôi vẫn còn đủ sáng suốt để tận hưởng những nỗi vui mừng của cuộc đoàn tụ cha con sau gần một phần tư thế kỷ.

Ban ngày tôi dẫn cụ đi thăm phố xá. Ra Sài gòn, đi trên đường Bonard, Nguyễn Huệ, bến tàu. Vào Chợ lớn đi xem khu vực Đồng Khánh, Khổng Tử, chợ trời Kim Biên, quay về Gia Định xem chùa Ngọc Hoàng, Lăng Ông Bà Chiểu, và ở bất cứ nơi nào tôi cũng lôi cụ về với dĩ vãng hơn hai mươi năm, để qua đó trình bầy với cụ về những sinh hoạt của tôi, bạn bè tôi, đồng bào tôi, những người không nằm trong quỹ đạo của xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

Buổi tối trở về chúng tôi quây quần bên những chung trà nhỏ. Tôi cố quên hết đời sống chung quanh, quên hết những cơn điên loạn đang gậm nhấm tâm hồn của một kẻ đã mất trắng gần như mọi thứ, mất đất đứng, mất cả dĩ vãng của mình khi cứ bị buộc phải rũ bỏ, để chỉ ngồi ôn lại với cha già những kỷ niệm hồi ấu thơ, lên sáu tuổi chạy bom Đồng Minh, mười một tuổi tản cư chạy bom Pháp, và cuộc chiến Quốc Cộng kéo dài trong mịt mù khói lửa ở cả hai miền Nam Bắc, tính ra nếu trừ một vài năm tạm yên, thì cả cái đất nước này đã vang rền tiếng súng không ngơi nghỉ trên ba mươi năm.

Tôi thấm thía nỗi chiu đựng của cha tôi trong suốt tiến trình khổ ải ấy. Để đến bây giờ, tóc Người đã bạc trắng, mắt đã mờ, chân đã chậm nhưng hằng ngày ông vẫn cứ phải đi từ tờ mờ sáng ra đón một cuốc xe điện từ Bờ Hồ xuống Bạch Mai, chen chúc đánh vật với đám đông, cố chen lấy một chỗ đứng và chịu trận cảnh ép bốn bề, xô tới xô lui như thế cả tiếng đồng hồ mới tới được chỗ làm của một chân coi kho cho một Hợp tác xã. Chiều về, cơ thể mệt rã rời, cũng lại chen chúc một lần như thế. Ngày này qua ngày khác. Tháng này qua tháng khác. Năm này qua năm khác. Nếu không đi làm, không đủ sống, mặc dù ông cụ cũng có lương hưu vài chục đồng. Tôi thốt rùng mình ghê sợ thay cho những trái tim sắt đá của tập đoàn lãnh đạo miền Bắc. Họ nhìn “thần dân” dưới bàn tay cai trị của họ không khác gì những công cụ vô tri. Họ vắt sức lao động của con người với tất cả sự tàn nhẫn, phi nhân và lạnh lùng. Mà không chỉ riêng số phận của cha tôi. Tôi đã thấy hầu hết nhân dân miền Bắc cực khổ, lam lũ, và khổ nhọc như thế hay hơn thế. Đó là những con cưng của chế độ, những thành phần vô sản chính cống mà họ luôn luôn đề cao trong tất cả sách vở, triết lý của họ. Đã một lần tôi được nghe một nữ cán bộ lớn tuổi ở miền Bắc nói với tôi rằng:
– Hồi Cách Mạng mới thành công, chúng tôi rất thiếu thốn. Những buổi sáng khi cúi xuống cài chiếc khuy áo cho đứa con gái nhỏ đi học, tôi tự nhủ, thôi thì đời mình có khổ, mình cũng chịu hy sinh để sau này cho con cái nó sung sướng.

Nhưng rồi năm này qua năm khác, đời sống không đi lên mà cứ đi xuống. Con gái tôi lớn lên, đi lấy chồng, sinh con. Bây giờ buổi sáng cúi xuống cài chiếc khuy áo cho đứa cháu ngoại đi học, tôi không còn tin tưởng điều gì nữa. Tôi đã khổ, con gái tôi đã khổ. Và rồi cháu ngoại của tôi, số phận chắc cũng sẽ chẳng hơn gì.

Người cán bộ nói với tôi bằng một giọng bình thản, và đôi mắt tràn ngập u sầu. Nỗi u sầu không phải chỉ lúc phát biểu ra câu nói đó mới có, nhưng là sự tích lũy sâu đậm từ bao nhiêu năm, nó làm cho mái tóc của bà ta bạc đi, khuôn mặt xanh xao cố hữu, nụ cười héo hắt ít nở trên vành môi khô, và đôi mắt sâu thẳm chẳng còn những tia sáng tinh nhanh qua cái nhìn mệt mỏi phản ảnh một tâm hồn suy sụp rã rời.

Sắp tới ngày hết hạn nghỉ phép, cha tôi từ biệt để trở về. Tôi không còn lại gì, không có khả năng hay phương tiện gì để giữ cụ lại. Lòng tôi tan nát vì sự bất lực của mình. Cuộc trùng phùng mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm đã kết thúc nhanh chóng trong bẽ bàng và tức tủi.

Lại bầu không khí ồn ào hỗn độn ở ngoài bến xe, lại chiếc xe đò cũ kỹ chật ních những người và chồng chất nghễu nghện trên mui đủ loại đồ. Ngồi ở băng ghế sau cùng, cha tôi thò bàn tay khẳng khiu và xương xẩu ra nắm lấy tay tôi. Mắt cụ mờ lệ. Tôi hiểu cơn tức tủi đang làm cụ nức nở trong lòng. Cụ cũng bất lực không thể giúp gì được cho tôi trong đoạn đường bất trắc của cuộc đời mà chính tôi sắp phải trải qua.

3777999954_f7489c5fd8_o

Bánh xe lăn dần, chiếc xe rời bến với những làn khói phun ở đằng sau tỏa mù mịt. Hình ảnh khốn khổ của cha tôi bị xóa nhòa trong màu đen của làn khói sặc sụa ấy. Tôi bỗng nhớ đến lần chia tay của hơn hai mươi năm trước. Khi đó, lòng tôi chỉ có một thoáng ngậm ngùi nhưng là cơn ngậm ngùi đã gậm nhấm suốt cuộc đời lăn lộn của tôi trong sinh hoạt xã hội ở miền Nam. Bây giờ, trong làn khói xe mù mịt, tôi tự hỏi hình ảnh của cuộc chia tay lần này với tất cả cơn xúc động sâu xa, tuyệt vọng, chán chường, xót xa, tủi nhục sẽ kéo dài tới bao lâu, khi cha tôi đã già, ngày vĩnh viễn rời khỏi cuộc đời khổ ải này chắc cũng chẳng còn bao xa, so với nếp sống thiếu thốn, cực nhọc mà cha tôi đang còn tiếp tục chiu đựng.

Cụ vẫn mòn mỏi tiêu hao sức lực cuối cùng của cuộc đời vào những buổi sáng dậy sớm khi còn sương mờ, tay xách một cái túi nhỏ trong có một lon cơm, một gói tép rang mặn hay vài miếng cà, và chiếc khăn mặt cũ kỹ, đi bộ tử cuối phố Hàng Bông ra Bờ Hồ. Ở đó, cụ đứng chờ xe điện để xuống Bạch Mai, những toa xe vẫn mầu sơn đỏ cố hữu, ì ạch, chậm rì và con người bu trên đó kín mít như những chùm sung. Sức khỏe của cha tôi tiêu mòn phần lớn vào nhưng cuộc chen lấn hằng ngày trên chuyến tàu đó. Đó là chưa kể những công việc làm ở Hợp tác xã Coi kho, ghi chép, kết toán sổ sách. Và những buổi học tập đường lối, chính sách của nhà nước theo từng nghị quyết mới ban hành.

Giữa năm 1979, trong một thư gửi ra thăm hỏi, tôi ám chỉ việc xin phép cụ cho tôi ra đi. Lý do, tôi không cần trình bày thì cụ đã biết, đã cảm thông. Như một con cá quen với đại dương bao la, tôi không thể sống nổi trong những ao tù chật hẹp. Năm năm qua, có biết bao nhiêu điều tôi đã thấy, đã nghe, đã trực tiếp tham dự, ở trong xã hội cơ cực này. Đối với tôi, ăn độn, xếp hàng cả ngày, bỏ bữa sáng, dẹp cà phê, nhịn thuốc lá, bụng đói, chân run, đạp xe đến trường giảng cho học sinh nghe về những tiến bộ của khoa học qua môn Vật Lý (mỉa mai thay, lớp học có mấy cái quạt máy từ hồi xưa, nay đã bị tháo gỡ đi hết), tất cả tôi chịu đựng được hết. Đất nước nào sau chiến tranh chẳng phải cơ cực.

Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó. Điều kinh khủng nhất trong cái xã hội này là sự độc tôn trong lãnh vực tư tưởng. Không ai được quyền có ý kiến riêng. Cũng không ai được quyền không có ý kiến. Thế nghĩa là phản đối không được, mà muốn mũ ni che tai, quay lưng vào cuộc sống cũng không được nốt. Phải trực diện với cuộc đời, phải nghĩ, phải làm, phải nói những điều mà mình không muốn nói, dù biết rằng có nói ra người nghe cũng không tin, không thích. Xã hội trở thành một sân khấu lớn, và ai cũng phải trở thành một diễn viên. Đóng kịch ở sở, ở xí nghiệp, ở các chỗ công cộng, ở ngoài dường phố, nhiều khi về nhà cũng còn phải đóng kịch vì niềm tin vào những người thân có khi đã sứt mẻ nặng nề. Đó là kể trong những gia đình được coi là bất hạnh, không giữ nổi truyền thống, để cho bàn tay của nhà nước xâm nhập vào. Đây là lý do chính yếu mà nhiều người bỏ nước ra đi, bên cạnh những lý do an ninh bản thân bị đe dọa khác.

Tôi nghĩ là ông cụ tôi đã cảm thông với hoàn cảnh của tôi và một lần nữa, tôi lập lại một hoàn cảnh giống y như hai mươi lăm năm về trước: từ biệt cụ thân sinh để lại ra đi. Điều mà tôi không ngờ tới là dù tuổi già sức yếu, biết được ý định của tôi, ông cụ đã lại lặn lội 1.600 cây số xuôi Nam để được nhìn thấy con cái thêm một lần cuối.

Tình máu mủ ruột thịt quả là đem lại cho con người những sức mạnh phi thường. Lần này tôi dẫn cha tôi ra tận Vũng Tàu, leo lên đỉnh cao của chỏm núi đá, nơi dựng Phật đài và chỉ cho cha tôi nhìn xuống biển bao la phía dưới. Vào một ngày sau cơn bão, mặt biển ngả màu xám xì. Chân mây đục lên một màu trắng sữa và lảng vảng nhiều đám mây đen. Phía dưới chúng tôi, những con thuyền nhỏ như từng chiếc lá tre hiện ra trên mặt sóng như những vệt đen nhấp nhô. Tôi chỉ về phía thật xa, khu vực bờ biển vùng Bà Rịa thăm thẳm giữa mây mù, mặt biển đen xám và nói:

– Con sẽ ra khơi ở chỗ đó. Trên một con thuyền nhỏ như con thuyền dưới kia.

Giọng tôi thản nhiên như đang nói về sự lựa chọn một chuyến xe đò đi về lục tỉnh. Tôi chợt nhớ lại giây phút thản nhiên đúng y như vậy, cách đây hai mươi lăm năm, tôi đã nói với cha tôi về một chuyến xe ca mà tôi sẽ rời Hà Nội để đi xuống Hải Phòng, xuôi Nam. Cũng vì thế, tôi chợt bắt gặp lại cái cảm giác ngậm ngùi trong cuộc chia tay lần trước, nỗi ngậm ngùi đã theo đuổi tôi những ngày, những tháng trong gần một phần tư thế kỷ.

Nhưng so với thời kỳ đó, tâm tư của tôi lúc này trĩu nặng hơn nhiều. Tôi đã mất nơi chốn mà tôi đã quen thuộc trong bao nhiêu năm, tôi lại còn sắp mất vĩnh viễn cha già tuổi hạc đã gần tám mươi.

Và còn chính tôi nữa, tôi sắp đem cả sinh mạng của mình ra thách đố với biển Đông mù khơi trước mặt, trong một chuyến đi mà nào ai biết được sẽ có những gì xảy ra bất trắc?

Santa Ana, tháng 6-1981
Nhật Tiến

Tha Thẩn Sân Trường, Truyện ngắn Nhật Tiến


H 1b

Nhật Tiến

Buổi sáng, trước khi đi học, bao giờ mẹ cũng dúi vào tay của Khoa một khúc bánh mì. Bà vuốt lại vài sợi tóc đang xòa trên trán của nó, sửa lại cái ve áo có khi bị dắt dưới cái cổ áo len. Bà ngắm lại cung cách ăn mặc của nó, xem trời bên ngoài nếu trở lạnh hơn thì đã đủ ấm chưa. Xong xuôi, với một vẻ mặt hài lòng, bà xua nó ra xe. Mọi bổn phận đối với nó, sau chừng ngần ấy động tác, bà hoàn toàn yên tâm và trở lại với những công việc bận rộn, hối hả hàng ngày.
Có nhiều lúc, Khoa muốn níu tay mẹ lại, trong lòng nó chưa nguôi ngoai nỗi niềm thổn thức đã làm nó trằn trọc từ lúc đi nằm của đêm hôm trước, và buổi sáng ra, lúc mở choàng mắt dậy, nó vẫn còn có cái cảm giác ấy hồi đêm. Tuy nhiên, chưa lần nào Khoa làm phiền mẹ trong những giờ phút khởi sự một ngày bận rộn của bà. Nó tự nghĩ, thà chẳng nói ra thì có lẽ tốt hơn, bởi vì, chưa chắc mẹ của nó hiểu được cái tâm tình mỏng manh, ngấm vào lòng nó thì ngấm rất sâu, nhưng diễn tả bằng lời nói có khi lại chẳng ra đâu vào đâu. Người lớn có những cung cách suy nghĩ của riêng họ. Tuy ở vào cái tuổi mười hai, muời ba, Khoa cũng đủ đầu óc nhận xét để thấy rõ điều đó.
Cho nên khi lủi thủi ra xe, Khoa vẫn ôm trong lòng một cảm giác nặng chĩu. Về một chuyện gì đó xẩy ra trong lớp học hôm trước.
Bố thường hay ra xe trước mẹ. Ông có nhiệm vụ phải làm cho máy nổ một thời gian cho động cơ được hâm nóng lên. Trong khi chờ đợi, một tay ông cầm ly cà phê, một tay mở rộng tờ báo trước tay lái và chăm chú đọc một tin tức sốt dẻo nào đó. Lúc thằng Khoa mở cửa sau để leo lên ngồi, ông cũng không quay lại. Hình như mọi công việc săn sóc đứa con trai độc nhất của hai người, ông khoán trắng cho người vợ đảm đang của mình. Trong gia đình, mỗi người có một bổn phận phải lo toan. Những bổn phận ấy, chưa bao giờ hai người phải ngồi lại để phân chia rạch ròi, nhưng mặc nhiên, ai cũng cảm nhận thấy những điều mình phải làm. Và trong cái gia đình nhỏ bé, hạnh phúc của ông từ hơn mười năm qua, lúc nào ông cũng cảm thấy mình chu toàn trách nhiệm làm bóng mát, làm tàn cây che chở cho những người thân yêu. Ngay cả hồi trước, khi còn ở Việt Nam, đời sống khó khăn, cực nhọc là thế, mà ông cũng đã cố gắng hết sức của mình để vợ con không bị thiếu thốn.
Thằng Khoa, nhờ vào những cố gắng đó, cũng đã được cắp sách đi học. Tuổi thơ của nó tràn ngập những kỷ niệm hồn nhiên. Buổi sáng trở dậy, trước khi đến trường, nó được mẹ dúi cho một nắm xôi nóng. Mẹ nó không cho ăn gì khác hơn, kể cả bánh mì kẹp thịt có một mớ đồ chua lổn nhổn ở bên trong. Bà nói ăn xôi lành. Hồi đó cắp sách đi học, đối với Khoa là cả một niềm vui. Một sự bay bổng từ căn nhà chật chội, nhỏ bé, tù túng của gia đình nó để đi đến một khoảng trời rộng rãi, khoảng khoát đầy ắp những nguồn vui và tiếng cười. Nó hay tha thẩn trên con đường khấp khểnh từ đường cái đi vào cổng trường. Hai bên đường có bụi cỏ mọc cao lên, buổi sáng sớm, nó nhìn ngắm hơi sương còn bay là là trên những cọng cỏ, thỉnh thoảng có những bông hoa me vàng chóe mọc chen chúc trong lớp lá cỏ mầu xanh rờn ở trên còn đọng lại những giọt sương đêm đang phản chiếu ánh sáng mặt trời trở nên có mầu sắc lóng lánh. Tâm hồn của Khoa phơi phới niềm vui. Một tay nó cắp một mớ tập có kẹp lỉnh kỉnh cái bút, cái thước ở bên trong, một tay nó thọc vào túi quần và cảm nhận thấy có những hòn sỏi nhẵn bóng, những cái nút phéng hay những sợi cao su còn nằm chen chúc lên nhau. Mỗi một món đồ vật đều có sự ràng buộc với một loại trò chơi cùng với hình ảnh của từng đứa bạn hiện ra lẫn lộn đủ loại khuôn mặt quen thuộc. Mỗi đứa là một thế giới riêng, nhưng tất cả đều hòa hợp với nhau một cách tự nhiên, rất thân ái đủ khiến cho thằng Khoa tìm thấy ở đó là thế giới của mình, là nơi chốn đã đan đầy những kỷ niệm không bao giờ có thể quên trong suốt quãng đời thơ ấu.

H 3

Qua đến đây, lần đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa choáng ngợp ngay về cái vẻ đồ sộ, qui củ, ngăn nắp của ngôi trường, dù đấy chỉ là một ngôi trường tiểu học. Nó cảm thấy xót xa, buồn bã khi nhận ra thế giới nhà trường ở đây chẳng giống một tí tẹo nào cái thế giới mà nó vẫn hình dung ra trong trí tưởng tượng. Trường gì chỗ nào cũng lát xi măng phẳng lì không có chỗ cho những mảnh đất loang lổ, sau những cơn mưa còn đọng lại từng vũng nước, ở đó thỉnh thoảng có những con dế bị ngộp thở phải bò lên, ngơ ngác giơ hai cọng râu ngoe nguẩy dưới ánh nắng đầu hôm xuyên qua những tàn cây che kín cả sân trường. Ở đây nó cũng không thấy có những lớp học san sát bên nhau, chung nhau một dãy hành lang chạy dài, vào lúc buổi học bắt đầu, học trò xếp hàng thành dẫy dài trước mỗi cửa lớp để chờ lệnh thầy cô tiến vào lớp học.

H3

Làm gì có chuyện xếp hàng vào lớp trong ngôi trường đầy rẫy những sự kiện xa lạ này. Vào buổi sáng, trước giờ vô lớp, cái hành lang rộng rãi đến độ có thể chạy được cả một chiếc xe hơi trên đó, học trò ồn ào nhốn nháo đi ngược đi xuôi nhộn nhịp. Tiếng cười có cất lên rộn rã nhưng nghe vẫn lạ tai. Ngôn ngữ thì ríu rít nhưng tự nhiên, mạnh dạn, không mang một đôi chút dáng vẻ nào là nhút nhát hay e dè. Tốc độ đi lại của mọi người thì nhanh đến chóng mặt. Rõ ràng là thằng Khoa nhận thấy cái cảm giác như mình là một thứ chim chích đang lạc vào một khu rừng to lớn, rậm rạp.
Nó cố gắng đi tìm một chỗ bấu víu để không cảm thấy rằng mình đang bị lạc lõng. May thay, Khoa cũng nhận ra được mấy đứa học trò đầu đen, cũng có mầu da và dáng vẻ Việt Nam như mình. Tuy nhiên, hầu hết chúng nó đều là những đứa đã đến trước. Chẳng rõ là bao lâu, nhưng coi bộ chúng đã có những cử chỉ quen thuộc, tự nhiên và dễ dàng hòa hợp được vào bầu không khí ồn ào, xa lạ ở đây.
Buổi học đầu tiên đã qua đi và để lại trong đầu của Khoa một cảm giác như mình vừa trải qua một cực hình. Nó chỉ mong cho mau chóng tới giờ tan học để thoát cho lẹ về căn nhà quen thuộc của mình. Ít ra, ở đó nó còn tìm thấy được sự yên ổn và bình thản trong lòng. Hồi trước còn ở quê nhà, chẳng bao giờ Khoa có nhu cầu kể lể với bố mẹ về những chuyện đã xảy ra ở trong nhà trường. Nhiều khi nó lại còn muốn giấu giếm thêm đi nữa là khác, vì nó nghĩ thế giới ở trường là thế giới của riêng nó, chẳng ăn nhập gì với những người lớn cả, trừ khi nó được hỏi đến và bó buộc phải trả lời. Nhưng ở đây, trong khung cảnh xa lạ này, Khoa muốn chia sẻ những nỗi lo lắng, bồn chồn bất ổn của mình với bố mẹ. Lúc leo lên chiếc xe của bố đi đón mình về, Khoa toan cất tiếng thì bố đã xoải tay vặn to hơn một bản nhạc trong cuốn băng vừa cất lên mà bố cảm thấy ưa thích. Tiếng hát của cô ca sĩ chợt ùa lên, tràn ngập trong lòng xe chật hẹp, giống như một bức tường đột nhiên sừng sững hiện ra ngăn cách Khoa và bố. Nó đành chán nản ngồi co mình lại, buồn bã nhìn ra cảnh bên đường phố đang vùn vụt trôi qua tấm cửa kính. Hai bố con vẫn giữ nguyên sự thầm lặng đó trên suốt đường về.
Khi vào nhà, mẹ đón hai bố con bằng một nụ cười rạng rỡ khi bà đứng trước cái bếp gas đang phừng phực những tia lửa xanh lét bao quanh những cái nồi bằng nhôm láng bóng. Lại một lần nữa, Khoa cảm thấy thất vọng khi mẹ không nhắc nhở gì đến buổi học đầu tiên của mình, mà bà chỉ nói với bố :
– Hôm nay em đã đi gặp chị Thu rồi. Anh chuẩn bị ăn cơm, rồi em sẽ thuật lại cho mà nghe.
Thế là trong suốt bữa cơm của buổi chiều hôm đó, hai người chỉ trao đổi công chuyện làm ăn gì đó với bác Thu, người chị họ của bố, đã qua đây từ bốn, năm năm về trước. Lần đầu tiên Khoa cảm thấy tủi thân về sự đã bị quên lãng của mình. Trái tim nhỏ bé của nó đã bị thương tổn đến độ nó thổn thức riêng trong lòng qua suốt cả bữa cơm. Ðêm hôm đó, lần đầu tiên đặt chân lên xứ Mỹ, Khoa nằm khóc một mình. Nó nhớ trường, nhớ bạn, nhớ thầy cô ở Việt Nam.
Trong suốt thời gian một tuần lễ đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa luôn luôn mang tâm trạng buồn bã đó. Cho đến khi nó tình cờ quen được một người bạn. Anh này, Khoa mới phát giác ra rằng ở Việt Nam, anh ta là dân con nhà lao động, tối ngày phải vật lộn với miếng ăn nên ít có dịp cắp sách đến trường. Trình độ của anh chỉ là biết viết, biết đọc. Vậy mà qua đây, vì to xác, lại lớn tuổi, nên anh bị nhét ngay vào lớp học cao hơn lớp của Khoa đến hai trình độ. Dĩ nhiên là anh ù ù cạc cạc chẳng biết ất giáp gì, suốt buổi ngồi thu ở một cái bàn nhỏ kê gần cuối lớp, mặt anh ta lúc nào cũng buồn thiu, buồn chẩy, còn cử chỉ thì lén lút, tránh né cứ như một anh ăn trộm vặt lo mình bị bắt quả tang.
Khoa gặp anh ta lần đầu ở nơi xếp hàng ăn bữa trưa. Sau khi lãnh xong phần của mình, Khoa định đi lại phía dẫy bàn ăn thì chợt bị anh ta níu lại và nói:
– Ăn…ăn…ăn… giùm…..!….
Ôi dà! Thì ra cái nhà anh này đã thế lại còn nói lắp ! Học hành ở cái xứ Mỹ này, đã đủ thứ khó khăn mà lại còn nói lắp nữa thì hết thuốc chữa. Chả trách, mọi người đã để yên cho anh cố thủ nơi cái bàn cuối phòng học và mặc để cho anh ta ngồi yên gậm nhấm“nỗi bất hạnh vì phải đi học” của mình.
Sự yếu kém về khả năng ngôn ngữ của anh làm Khoa dễ nẩy sinh tình cảm thân thương. Nó hỏi anh tại sao lại nhường phần ăn cho nó. Chừng đó, anh mới giải thích, bằng cung cách nói nghịu của mình. Thì ra hôm nay anh ta đau bụng, lại không nỡ vứt đồ ăn vào thùng rác. Khoa vặn lại:
– Nếu không ăn được thì anh xếp hàng lãnh phần làm gì ?
Anh ta trợn mắt:
– Đâu… đâu…. đâu… được! Mọi…..mọi…mọi người cùng….cùng xếp hàng mà!
Anh thật thà, đơn giản như thế đấy. Điều này khiến Khoa càng có cảm tình với anh hơn. Hai người trở nên thân thiết một cách dễ dàng mau chóng. Anh ta tên là Sửu. Đi Mỹ theo diện di dân, do bố là công dân Mỹ bảo lãnh. Hồi Sửu chưa qua đây, bố của anh vẫn gửi tiền về cấp dưỡng. Nhưng mẹ anh mê bài bạc nên cứ có đồng nào là đem nướng vào quân bài hết cả. Qua tới bên này, thấy anh thất học, hai vợ chồng đánh nhau một trận náo loạn cả làng xóm, một suýt nữa thì bố của anh phải đi ngồi tù.
Sau rồi mọi việc cũng được dàn xếp ổn thỏa và bố của anh nhất quyết bắt anh đến trường để giành lại những thời gian quí báu đã bỏ một cách uổng phí nơi quê nhà.
Trời sinh ra anh có khuyết tật về ngôn ngữ thì lại bù cho anh một khả nàng thiên phú khác. Đó là anh thổi khẩu cầm rất hay. Anh thường hay nhét cây kèn vào tận cùng lớp áo trong. Cây kèn nhỏ xíu bóng loáng vì đã được cầm nhẵn đi nhiều lần, do anh mang đi từ quê nhà. Vào những lúc buồn bã và nhà không có ai, anh hay leo lên cửa sổ ngồi thổi đủ mọi loạt bài. Những lúc như thế, Khoa thấy ở anh hiện ra một con người khác, đam mê, đắm đuối, nồng nhiệt, đúng là một hình ảnh của một nghệ sĩ có tài.
Nhưng chỉ ở những lúc đó thôi. Buông cây kèn ra, thả anh vào sân trường, anh lại trở về bản tính nhút nhát cố hữu của mình. Hình như mọi thứ ở cái xứ Mỹ này đối với anh cái gì cũng to lớn quá, ồn ào quá, nó khiến cho anh sợ hãi và cố tình thu nhỏ mình lại. Anh thổ lộ, chẳng bao giờ anh có thể hội nhập một cách bình thường như mọi người đang sống bình thường ở đây.
Khoa rất muốn đem chuyện của Sửu ra kể lại cho bố mẹ nghe. Nhưng chẳng bao giờ nó có cơ hội chen lấn được vào những câu chuyện làm ăn kéo dài tưởng như bất tận của hai người. Bố mẹ của Khoa có vẻ như đặt hết lòng tin tưởng vào sự hoàn hảo vô song của nhà trường Mỹ. Ông bà ấy tưởng như một khi đã gửi con vô trường rồi thì tự nó, nó có thể gặt hái được mọi sự thành công theo sự dạy dỗ của thầy cô Mỹ, cùng với chương trình giáo dục kiểu Mỹ. Vấn đề còn lại là làm sao kiếm ra thật nhiều tiền để có thể bảo đảm được nếp sống sung túc, tạo cơ hội cho con thường xuyên cắp sách đi học mà không phải đi làm thêm như những học trò khác. Riết rồi thằng Khoa không còn tìm thấy ở nơi bố mẹ mình một niềm an ủi, cảm thông mỗi khi nó gặp chuyện khó khăn nơi nhà trường. Như một lần, trong buổi xếp hàng lãnh phần ăn trưa, Khoa bị một thằng Mễ to con, huých vào mạng sườn một cái đau điếng. Rồi nó nhìn thằng Khoa với cặp mặt đầy vẻ khinh thị và nói :
– Go back to your country! (Cút về xứ mày đi!)
Thằng Khoa tức uất cả người lên, muốn chống trả mãnh liệt bằng bất cứ giá nào nhưng nhìn thằng Mễ Tây Cơ với vóc dáng hộ pháp, đứng cao hơn nó cả một đầu người, có gây gổ cũng thiệt thân, nên nó cắn răng chịu nhục và vùng vằng bỏ đi. Phía sau nó, cả một đám bạn bè thằng Mễ phá lên cười. Tiếng cười ngạo nghễ đó ám ảnh thằng Khoa trong suốt bao nhiêu ngày, thậm chí còn đi vào giấc ngủ trằn trọc của nó làm cho nó thao thức đến độ không cách nào nhắm mắt được cho đến khi ngủ thiếp đi.
Đến chuyện này thì Khoa không còn muốn giấu giếm bố mẹ nữa. Lần ấy, trong bữa cơm, Khoa chen vào ngang xương câu chuyện làm ăn của bố mẹ.
Lập tức, như một kẻ sẵn sàng chịu đựng mọi thiệt thòi khi đặt chân lên xứ sở này để khỏi gây phiền nhiễu, mẹ của Khoa vội trả lời ngay:
– Chuyện chẳng đáng gì, chúng nó nói gì mặc nó, mình cứ mũ ni che tai con ạ.
Khoa nhìn bố, hy vọng ông chia sẻ nỗi uất ức của mình. Nhưng trái lại, ông còn nhăn mặt nhìn nó trách móc:
– Ðừng có sinh sự rồi đâm ra rắc rối lắm chuyện. Hãy cứ lo học hành đi đã!
Lần đầu tiên, Khoa nhận thấy bố mẹ của mình có cung cách suy nghĩ sai lầm, mặc dù trong ngôn ngữ hàng ngày, ông vẫn tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam cùng với hơn bốn nghìn năm văn hiến vẻ vang, đầy kiêu hãnh. Tuy nhiên, vì là đứa con ngoan, nên Khoa không muốn đào sâu những sự suy nghĩ lệch lạc, làm cho mình trở nên bất kính đối với bố mẹ của mình. Nó chỉ mơ hồ cảm thấy lòng tin của mình đối với bố mẹ có phần giảm đi. Thật khó có thể tưởng tượng được rằng, đã có lúc nó không còn cảm thấy hai người vẫn còn là cái phao cho nó tìm đến bấu víu, để được che chở, bảo vệ hay chia sẻ những nỗi buồn vui, phiền muộn. Một cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình bắt đầu có dấu hiệu thành hình. Kể từ câu chuyện đó, Khoa bắt đầu đi tìm sự chia sẻ ở một nơi khác bên ngoài gia đình.
***
Trong trường học, ngoài các Thầy Cô Mỹ ra, còn có một vài chân trợ giáo. Cả thẩy năm người, trong đó có một người Lào, một người Miên và hai người Việt Nam. Trong hai thầy cô trợ giáo người Việt đó, Khoa có cảm tình với Cô Nguyệt nhiều hơn. Cô tuy không đẹp nhưng dáng vẻ hiền hậu, nhu mì. Có lẽ Khoa bị hấp dẫn về giọng nói của Cô nhiều hơn là cái bề ngoài trầm lặng, ít sôi nổi, sốt sắng với mọi người chung quanh.
Cô không bao giờ nổi bật trước đám đông. Có vẻ như Cô có tâm sự buồn bã, u uẩn nào đó đã khiến cho Cô trở nên trầm mặc và chìm khuất trước mọi người. Tuy nhiên. Cô đã làm đầy đủ bổn phận của mình. Mỗi lần đứng trước đám học trò Việt Nam để giảng lại bài học trong lớp hay giải đáp những thắc mắc của mọi người, giọng của Cô hiền hoà, thánh thót như tiếng của một con suối róc rách chẩy. Lũ học trò dù ngổ ngáo cách mấy thì cũng không dám bầy trò phá phách trong giờ giảng bài của Cô. Riêng thằng Khoa thì như được sống lại những giờ phút huy hoàng đầy dẫy những kỷ niệm yêu thương của nhà trường nơi quê nhà. Cô Nguyệt đã hiện ra ở đây, như một hình ảnh nó hằng mơ ước được sống lại trong những đêm nó chìm trong giấc ngủ chập chờn. Cô đã là hiện thân đúng nghĩa của một Cô giáo trong niềm ước mơ của nó. Vì vậy, thật là dễ hiểu khi thằng Khoa đã tìm đến Cô để thổ lộ những điều khiến cho nó băn khoăn, day dứt. Trái với bố mẹ của mình, Khoa đã thấy Cô không đưa ngay ra một lời giải đáp. Cô nắm tay nó và dẫn đi qua dẫy hành lang để tới một khu yên tĩnh, chung quanh có những bồn cây và thảm cỏ xanh rờn. Cô kéo nó ngồi xuống một thềm xi măng, và cất giọng nhỏ nhẹ:
– Khoa ạ! Cái chuyện kỳ thị chỉ là quan điểm của từng cá nhân mà không phải chủ trương của toàn thể nhà trường. Hơn nữa, những cái cá nhân đó rất là thiểu số. Chúng nó thường suy nghĩ là những hạng nhỏ nhoi, yếu kém như mình sẽ không xứng đáng hiện diện ở trong cái xã hội đầy đủ, giầu sang vốn khác biệt hẳn với những xứ sở nghèo khó mà chúng nó hình dung ra ở trong đầu. Như thế, kỳ thị đồng nghĩa với khinh miệt. Khoa có nghĩ rằng mình là hạng người đáng để cho nó khinh miệt không?
Khoa kêu lên:
– Không đời nào!
– Vậy thì hãy chứng tỏ đi! Chứng tỏ rằng mình không phải là loại người để cho nó khinh miệt được. Mà chứng tỏ bằng cách nào, Khoa có biết không?
Khoa suy nghĩ rồi trả lời:
– Con nghĩ rằng cung cách hay nhất là mình học hành khá hơn chúng nó, vượt trội chúng nó về mọi mặt.
Cô Nguyệt vụt tươi mặt lên. Cô nắm lấy tay nó xiết chặt và nhoẻn một nụ cười :
– Khoa giải đáp đúng vấn đề rồi đó. Vậy thì hãy tập trung vào việc học để chứng tỏ không ai có thể khinh miệt mình được.
Lời nói của cô như một tia sáng soi rọi vào tâm hồn u uất của nó.
Trong giờ học, Khoa cố gắng xoá bỏ những giây phút lan man suy nghĩ, hầu hết là những mộng tưởng quay về quá khứ với ngôi trường xinh xắn ở quê nhà. Những ngày trước đây, chuyện gì nó cũng có thể đem ra so sánh cái ngày xưa với cái bây giờ, và lúc nào nó cũng cảm thấy buồn bã vì mọi sự đều đã thay đổi hết. Chẳng hạn cái việc nhỏ nhoi là làm bài, viết bài, ở đây học trò toàn sử dụng bằng cây bút chì. Ở quê nhà hồi trước, chép bài mà dùng cây bút chì thì thể nào cũng bị cô khẻ vào tay và bắt chép lại. Phải dùng mực tím đàng hoàng. Ôi, cái bình mực tím tuy trông nhem nhuốc, sứt mẻ sao mà nó dễ thương thế. Nó nằm êm ả bình an trên bàn học trò ngay trước mặt, nhưng lại luôn luôn gắn bó với cây bút mà thằng Khoa vẫn xài. Cán bút thì bằng gỗ xấu xí, lem luốc. Ngòi bút thì luôn luôn gây trở ngại mỗi lần nó phải chép một bài dài lượt thượt cả một, hai trang giấy. Tuy nhiên Khoa vô cùng quen thuộc với động tác thò cây bút vào miệng bình mực để nghe thấy tiếng động của ngòi bút lúc chạm vô tới tận đáy bình. Những hôm bình cạn mực, Khoa phải nghiêng nó đi, ngoáy mãi vào trong miệng bình để vớt vát lấy một vài giọt có thể bám được vào thân ngòi bút. Có hôm nó lấy nước máy đổ thêm vào bình để đủ mực viết cho một buổi trước khi đem đi châm bình mới. Mầu mực tím loang ra bàn tay, dây lên cả vạt áo hay ống quần. Có thánh mà giặt sạch được những vết mực này, nhưng Khoa chẳng bao giờ quan tâm. Trái lại nó còn hãnh diện nữa là khác, bởi vì chân tay có dính mực là dấu hiệu của kẻ đang được cắp sách đến trường, điều mà có nhiều đứa cùng xóm, cùng ngõ trông thấy rất thèm thuồng. Có bao nhiêu là đứa cũng muốn đi học nhưng hoàn cảnh gia đình đâu có cho phép.
Cho nên Khoa phải khổ sở, vất vả lắm mới làm quen được với cung cách, suốt đời đi học, học trò chỉ sử dụng có cây viết chì. Tập vở cũng là điều trái ý với Khoa. Không có loại vở đóng sẵn, ngoài bìa có in hình cái xe gắn máy, hay xe cần trục như những tập vở nó dùng nơi quê nhà. Ở đây, ai cũng xài những tờ giấy rời có đục lỗ. Việc xé giấy liệng bỏ nguyên một tờ tuy mới chỉ viết có một hai chữ lên trên, là chuyện bình thường.
Quanh nhà trường, chỗ nào cũng có thùng rác, loại thùng rác vừa to, vừa cao, có lót bao rác bằng nhựa để tiện việc đem đổ. Chỉ việc túm lấy nguyên bao đem đi, rồi thay thế bằng một bao mới. Ngày nào bao rác cũng ngập ứ lên những giấy là giấy. Có đủ loại giấy nằm chen chúc nhau bên cạnh những chiếc vỏ chai, lon hộp và những gói đồ ăn dư thừa. Mức độ phí phạm ở đây đã khiến Khoa lắm lúc phải nhăn mặt. Đem so sánh cái cảnh phí phạm này với hoàn cảnh chắt chiu từng khoanh bánh, từng củ khoai, hay những lúc học trò phải ngồi cặm cụi mài lại cái ngòi bút cùn đã hoen gỉ, Khoa thấy lòng xót xa cho bạn bè cho thầy cô ngày trước rất nhiều. Có hôm nó đem điều này kể cho mẹ nghe thì bà đã cau mặt lộ vẻ không bằng lòng:
– Con học không lo học, lại cứ lẩn thẩn về những chuyện không đâu. Sao lại thế ?
Thật là chán chường, riết rồi đến độ Khoa chẳng còn muốn thổ lộ bất cứ điều gì đã xảy ra trong trường học. Sự bận rộn của bố mẹ đã đẩy nó vào vị trí phải phấn đấu cô đơn một mình trước bao nhiêu là điều thay đổi. Lại bị ngăn cấm không được nói ra. Vậy mà bố mẹ Khoa lại hay than thở về sự khác biệt giữa đời sống ở quê nhà với đời sống ở đây. Giá thuê nhà cao, tiền thuê đắt đỏ gấp mấy chục lần nơi quê nhà. Xe cộ di chuyển là một điều không thể thiếu, so với việc có thể cuốc bộ mà vẫn làm được đủ mọi thứ trong đời sống hồi trước. Rồi đủ mọi loại than phiền về sự khác biệt giữa hai nơi. Thì ra người lớn quả là có bất công đối với tâm hồn của những đứa trẻ thơ mới tới. Chúng nó cũng có những lý do để cho mình buồn tủi hay xót xa, mặc dù nguyên do của những mối tình cảm ấy chỉ là chuyện cỏn con xẩy ra dưới mái học đường.
May cho thằng Khoa ở chỗ là nó còn có cô Nguyệt. Cô chẳng có chồng con gì, nhưng sao Cô có thể kiên nhẫn với chúng nó đến thế. Chuyện gì của chúng nó, sau khi giải quyết xong, qua mấy hôm sau Cô vẫn còn nhắc lại và hỏi han thêm để tin chắc rằng vấn đề đã được ổn thỏa. Hình như, Cô đã tìm thấy sự thoải mái, an toàn trong công việc giúp đỡ bọn trẻ. Khi có đứa nào tìm đến Cô để bầy tỏ điều gì, Cô biểu lộ niềm vui trong cả nụ cười lẫn ánh mắt. Cô không mong gì hơn là được chúng nó khẳng định một cách gián tiếp là sự có mặt của Cô ở đây là điều cần thiết. Ðiều đó chứng tỏ là Cô cũng đã gặp quá nhiều khó khăn kể từ ngày khởi sự làm việc ở đây. Bọn học trò người Mỹ, hay Mễ, nhiều đứa đã có thái độ coi Cô chẳng ra cái gì. Chúng nó thường ngổ ngáo ngay trước mặt Cô. Tuy lối đi chật hẹp, gặp Cô đi ngược hướng, không bao giờ chúng nó nhường bước. Lại còn nhìn Cô trừng trừng như muốn nuốt tươi. Ngồi trong lớp thì bất chấp cả thầy lẫn cô, mồm miệng chúng vẫn nhóp nhép nhai kẹo cao su, chán thì ghếch lên ghế trước, còn người thì ngả lên thành ghế. Chúng nó có thể cười rúc rích với nhau ngay trong lúc thầy cô đang giảng bài. Lúc cần ra khỏi lớp giữa giờ học, chúng đứng dậy tự nhiên đi ra, khỏi cần xin phép ai, cứ y như là ở chỗ không người. Xứ sở này tự do, và người ta diễn dịch cái nghĩa tự do là như thế. Và cung cách này, nhiều học trò Việt Nam học lâu ở đây cũng bắt chước rất nhanh. Mấy cô nữ sinh, mặt non choẹt, vậy mà đi học cũng bôi môi son đỏ choét. Dáng dấp thì nghênh ngang, điệu bộ cố làm ra vẻ ta đây đã Mỹ hóa. Dĩ nhiên lũ này thân thiết với bọn học trò người ngoại quốc hơn là đối với những đồng hương. Đó là lý do Khoa chẳng ngạc nhiên khi thấy những đứa học trò Việt Nam tìm đến Cô Nguyệt để tâm sự hay giãi bầy chỉ là một thiểu số so với đám đông trong cả trường học. Nhưng dù ít, dù nhiều, thì chúng cũng vẫn đem lại nhiều an ủi cho tâm hồn dịu dàng, nhậy cảm của Cô. Trong số này, ngoài Khoa ra còn có thêm cả Sửu. Sửu đến với Cô là do Khoa lôi kéo chứ tuyệt nhiên Sửu không cảm thấy có vấn đề gì phải nhờ đến Cô giải đáp hay giúp đỡ ý kiến. Cái mặc cảm nói nghịu của nó làm cho nó luôn luôn nín thinh, dù gặp bất cứ sự gì thua thiệt.
Dĩ nhiên Cô Nguyệt nhận ra sự yếu kém này nên Cô đặc biệt chú ý đến nó. Lòng thương cảm của Cô càng tăng thêm khi một hôm cô bắt gặp nó ngồi ở một góc sân trường với hai cặp mắt đỏ hoe. Một thằng cao lớn tồng ngồng như nó, khóc trong sân trường là một sự kiện bất thường. Cô Nguyệt đã rút khăn tay lau nước mắt cho nó và kéo nó trở lại khu vực bên trong trường học. Tuyệt nhiên cô không hỏi han một lời nào, nhưng nhìn ánh mắt của cô, Sửu cảm thấy ngay một nguồn an ủi mà trước đây chưa một lần có ai ban phát cho nó. Trong giờ ra chơi kế tiếp, cô đi tìm Khoa và được Khoa giải thích:
– Bố mẹ của Sửu đã đem nhau ra tòa ly dị. Bà ta qua đến đây vẫn không chừa cái tật đánh bạc.
Có đủ mọi loại cờ bạc người ta có thể tham gia tại vùng đông đảo người Việt cư ngụ này. Dĩ nhiên là bất hợp pháp, vì luật lệ ở đây cấm đoán mọi trò chơi giải trí có tính cách ăn thua bằng tiền bạc. Nhưng chỉ cần biết mối dẫn dắt là người ta có thể lui tới những sòng bài nằm riêng lẻ trong khu dân cư, xì phé có, tứ sắc có, tổ tôm, tài bàn có, thậm chí có cả sòng xóc đĩa mà tiền bạc ném xuống chiếu như mưa vào những ngày cuối tuần. Mẹ thằng Sửu bị cuốn hút ngay vào những cuộc chơi mà bà ta tưởng qua đến Mỹ rồi thì không bao giờ còn gặp lại nữa. Người cha đau khổ của nó không thể nào chịu đựng hơn, nên đành phải chọn giải pháp chia tay. Tấm huy chương nào cũng có bề mặt trái của nó. Ở đằng sau cái dáng vẻ phồn vinh, sung túc và phát triển một cách rất mau chóng với một tốc độ chóng mặt của khu Bolsa Tiểu Sài Gòn này, đã có biết bao nhiêu là thảm kịch gia đình. Chưa ai có đủ khả năng làm một cuộc thống kê về tỷ lệ gia đình Việt Nam tan vỡ ở đây, nhưng chắc phải là con số không nhỏ. Thảm kịch gia đình kéo theo một loạt những tệ đoan khác trong bầy con cái tự nhiên bỗng bị xẩy nghé, tan đàn. Xì ke, ma túy, băng đảng và bỏ nhà đi hoang. Đây có lẽ là một cái giá phải trả của một cộng đồng còn quá non trẻ, phải đối phó với biết bao nhiêu vấn đề xã hội phức tạp khi bị bứng từ một vùng đất này để hồi sinh trên một vùng đất khác. Cho nên người ta chỉ săm soi vào những trường hợp thành công, tiến bộ để làm liều thuốc an ủi trước những mất mát, thua thiệt. Mà những trường hợp này kể ra cũng không thiếu, nhất là sự thành công của đám trẻ may mắn có được một căn bản gia đình vững chắc. Trẻ em Việt Nam học hành thông minh, luôn luôn đạt thành tích xuất sắc trong bất cứ lãnh vực học vấn nào. Chúng nó đang đi vào công cuộc xây dựng một thế hệ di dân thứ hai với những bước vững chãi. Thôi thì đó cũng là niềm an ủi cho những ông già, bà cả Việt Nam nơi xứ người.
Không lâu sau ngày đó, Cô Nguyệt, Sửu và Khoa đã trở thành bộ ba vô cùng quấn quít với nhau. Ngoài việc tận tình giúp Khoa dần dà vượt qua những trở ngại khi phải thích ứng với bài vở và sinh hoạt nơi trường học, Cô còn bàn với nó những phương cách làm cho thằng Sửu nói năng bớt ngọng nghịu. Cô nhẫn nại mỗi ngày soạn ra những câu nói thật ngắn, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt rồi bắt thằng Sửu chép đi chép lại. Vừa chép vừa nhẩm một mình. Ðến lúc gặp mặt hai người thì cô bắt nó nói to, nói dõng dạc.
Cô cũng hay tổ chức những cuộc đi chơi cuối tuần cho ba người, với sự đồng ý của bố mẹ Khoa và ba của Sửu. Cô đưa chúng nó vào những công viên rộng mênh mang, đầy cây to bóng mát, có cả những cái hồ phẳng lặng ở trên có những đàn vịt hoang nô rỡn, bơi lội rất bình an. Ba người thường chọn lựa một nơi yên tĩnh nhất để trải khăn lên ngồi. Cô hay kể nhiều về thời kỳ cô đi dạy học ở quê nhà. Thế giới học đường là cả một khung trời kỷ niệm đẹp đẽ mà Khoa cũng có dịp được ôn lại. Rồi cô đặt nhiều câu hỏi cho thằng Sửu trả lời. Bây giờ nó nói năng dễ dàng hơn trước rất nhiều. Mặc cảm trong lòng nó bớt đi, niềm tự tin lại được cô Nguyệt vun xới thêm. Chỉ cần nhìn vào ánh mắt rạng rỡ, sáng ngời mỗi lúc nó cất tiếng, cũng đủ biết nó đang trên đà thay đổi một cách sâu xa. Rồi cô Nguyệt yêu cầu nó đem chiếc khẩu cầm ra thổi. Tiếng kèn của nó vừa tha thiết, vừa sôi nổi. Cô bảo nó trình diễn rất có hồn, và Cô bầy tỏ dự kiến sẽ thu xếp để nó có thể góp phần vào chương trình văn nghệ nhà trường trong dịp cuối năm.
Mùa hè năm ấy là một mùa hè chia tay đầy nước mắt. Cô Nguyệt không còn được lưu giữ làm chân trợ giáo nữa vì ngân sách nhà trường bị cắt cắt giảm. Cô nói có thể Cô sẽ đi xa, mặc dầu trong suốt cả năm học Khoa không hề thấy Cô có một người bạn hay họ hàng thân thích nào.
Ngày mãn khóa học, nhà trường tổ chức một đêm họp mặt có sự tham dự của toàn thể phụ huynh. Bố mẹ của Khoa vẫn không tới vì càng ngày ông bà càng bù đầu vào công việc. Nhưng Ba của Sửu thì đưa nó đến rất sớm. Ông mang theo một bó hoa hồng tuyệt đẹp có bao giấy bóng kính và cột bằng một giải lụa dài. Ông trao tận tay Cô Nguyệt và nói bằng một giọng xúc động:
– Tôi không biết bầy tỏ thế nào về lòng nhớ ơn của tôi đối với sự tận tình chăm sóc của Cô dành cho cháu.
Cô Nguyệt cũng cảm động không kém. Cô đỡ lấy bó hoa hồng, cùng lúc kéo tay thằng Sửu lại sát gần mình. Cô nhìn Sửu với tất cả niềm hãnh diện chan hòa trong đôi mắt cũng nhòe những giọt lệ của Cô.
Sửu hôm nay trông rất bảnh. Nó bận quần tây, áo sơ mi trắng lại còn thắt cả một cái cà vạt người lớn. Trông rõ ra là một thanh niên chứ không còn là một anh học trò ngù ngờ như lúc trước. Điều quan trọng hơn nữa là bữa nay, Sửu có mười phút để tham gia phần trình diễn khẩu cầm của mình. Đó là công trình sắp xếp của Cô Nguyệt với ban giám đốc nhà trường. Trong mười phút ngắn ngủi ấy, Sửu có một phút để bầy tỏ lòng cám ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong trường. Mà lại nói bằng tiếng Anh nữa chứ! Ðây là một chuyện vĩ đại, không một thầy cô giáo nào có thể tưởng tượng được nổi. Có ai mà quên được hình ảnh một tên học trò lúc nào cũng ngồi ru rú ở một cái bàn cuối lớp, vẻ mặt thì ngơ ngác, buồn thiu không một chút gì gọi là hoạt bát sinh động.
Vậy mà hôm nay, dưới ánh sáng chói lòa của hàng trăm ngọn đèn chiếu sáng rực rỡ trên sân khấu, Sửu đã tỏ ra chững chạc và tự tin vô cùng. Giọng nói của nó mạnh mẽ và rõ ràng. Cái âm thanh nồng ấm của nó như được nhân lên bởi dàn máy khuếch âm cực kỳ hiện đại. Rồi tiếng kèn của nó cất lên chan hòa trong cả hội trường. Rộn ràng. Sôi nổi. Thiết tha. Nó đã lôi cuốn trọn vẹn sự theo dõi chăm chú của hàng mấy trăm con người ngồi kín mít trên tất cả mọi hàng ghế. Ðến khi bản nhạc chấm dứt, những tràng pháo tay vang lên như muốn nổ tung hội trường. Ngồi ở một ghế phía dưới, cô Nguyệt cứ để cho những giọt nước mắt trào ra, chan hòa hai bên má.
Sau buổi trình diễn, bố của Sửu ngỏ ý mời tất cả đi ăn cơm tối, nhưng cô Nguyệt từ chối. Ðối với Sửu, cô tự cho mình là đã hoàn tất nhiệm vụ. Cô không muốn bịn rịn tạo thêm kỷ niệm để khiến cho mọi người phải quyến luyến. Ngoài ra, cô cũng còn cả một tương lai đầy bất trắc trước mặt phải đối phó. Những ngày êm ả ở ngôi trường này qua đi như một giấc mơ. Hãy chỉ nên coi đó như một giấc mơ vì không có gì bền vững ở cái xứ sở luôn luôn sinh động và thường trực đổi thay này.
Lúc ra khu vực đậu xe, Cô ôm cả hai đứa trong vòng tay và thì thào:
– Chúc hai em may mắn. Nếu còn nhớ tới Cô thì hãy luôn luôn cố gắng học hành.
Thằng Khoa bật lên như mếu :
– Còn Cô, Cô sẽ đi đâu?
Cô Nguyệt chi xiết chặt thêm vòng tay của mình mà không trả lời, bởi vì chính Cô, Cô cũng chưa biết ngày mai mình sẽ đi đâu, về đâu. Một lát sau, Cô lủi thủi tiến lại phía đậu xe của mình. Hai bố con của Sửu và Khoa đứng ở bên lề đường chờ Cô lái xe đi qua. Cô thò đầu qua hẳn kính cửa, vừa cười vừa giơ tay vẫy. Nụ cười đầy vẻ gượng gạo vì Cô đang muốn nén cho mình khỏi phải bật lên khóc.
Đó là hình ảnh cuối cùng của Cô mà Khoa ghi nhận được. Nó có cảm giác như Cô là một nàng tiên, vừa chắp cánh baỵ đi sau khi đã đến với nó với tràn đầy niềm yêu thương trong một thời gian ngắn ngủi. Có lẽ thằng Sửu cũng cùng chia sẻ với nó cái cảm giác ấy. Mặt Sửu lúc này như một kẻ mất hồn. Nhưng không phải là một thứ vô hồn ngu ngơ như ngày nào đó còn ngồi thu nhỏ mình lại sau chiếc bàn kê ở cuối lớp. Bây giờ nó có vẻ cứng cỏi hơn trước rất nhiều. Trong ánh mắt như nhìn vào khoảng không vô định trước mặt, Khoa nhận thấy như nó đang đắm chìm vào một thế giới khác. Nào ai biết được nó đang suy nghĩ những gì ở phía sau nỗi niềm u uẩn đó.
Ba của Sửu thả Khoa xuống trước cửa nhà. Căn nhà nằm im trong bóng tối. Tất cả các căn phòng đều chưa được lên đèn. Ðiều đó có nghĩa là bố mẹ Khoa cũng chưa về. Có lẽ ông bà ấy đi dự tiệc tùng hay đang hiện diện ở một buổi dạ vũ nào đó. Những thời gian sau này, vắng mặt vào đêm cuối tuần đã trở thành thói quen của cả hai người. Ðiều này không còn là mối bận tâm của Khoa nữa. Nó cảm thấy rất dửng dưng mỗi lần thấy bố mẹ ăn diện thật đẹp đẽ đi ngang qua phòng khách để ra xe. Bao giờ mẹ của nó cũng nói một câu:
– Khoa ở nhà ngoan nhé.
Khoa không buồn quay lại để chào hai người. Cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình đã trở nên trầm trọng, mà duy chỉ có một mình nó cảm nhận được.
Bây giờ nó lủi thủi ngồi một mình ở bực thềm trước cửa. Tuy có chìa khóa, nhưng Khoa không muốn bước vô nhà. Nó cảm thấy chán chường khi nghĩ đến những căn phòng trống trải nằm im bất động dưới ánh đèn sáng. Thà là ngồi ở đây, dưới bóng tối của tàn cây hoa giấy che kín cả khoảng sân trước mặt. Bóng tối như đùm bọc lấy nó, che chở nó, gây cho nó một cảm giác yên ổn, riêng tư. Nó nhắm mắt lại và thấy mình tiếc nuối những ngày ở quê nhà một cách xót xa. Trường học. Thầy cô. Bạn bè. Và vòng tay yêu thương của bố mẹ. Bây giờ tất cả những thứ ấy đã bay xa. Bay đi rất xa…

Nhật Tiến
California, 13-3-1994

Một Chuyến Đi, Đỗ Phương Khanh


do-phuong-khanh-thieu-nhihinhbiatruoc2

(Chân dung và tác phẩm của Nữ Sĩ Đỗ Phương Khanh)

Đỗ Phương Khanh

Chiếc xe Jeep chồm lên rồi ngừng lại. Ân nhẩy xuống, tay xách va li của Hạnh:

– Tới rồi chị ạ. Đợi tôi một chút tôi trình giấy nhé.

Rồi Ân buông cái va li, đi vùn vụt. Hạnh leo xuống đất. Trời mới hơi hừng sáng. Sương phủ mờ mờ. Xa xa, từng dãy phi cơ nằm im lìm. Cách chỗ nàng đứng chừng hai chục thước là hai chiếc máy bay lớn mầu trắng bạc, thấp thoáng bóng người qua lại. Văng vẳng bên tai Hạnh có tiếng ồn ào, tiếng gọi nhau ơi ới. Một bà mẹ dắt đứa con đứng bên cạnh cửa máy bay cứ vẫy mãi ông chồng đứng dưới đất. Cạnh đó là một cặp vợ chồng coi bộ như mới cưới. Cô vợ trẻ đưa khăn lên lau nước mắt hoài. Còn anh chồng thì cứ nắm lấy bàn tay vợ mà vuốt. Chắc là anh chàng dỗ dành. Bất giác, Hạnh thở dài. Nàng tưởng tượng ra cái anh chàng ấy trong tương lai, sẽ sống trong một căn nhà chật hẹp, với một bầy con nghịch ngợm bẩn thỉu, anh chàng sẽ cau có, hết cả sự dịu dàng âu yếm như lúc này. Hạnh thấy chán nản cùng cực. Nàng chỉ muốn chóng được lên máy bay, chóng ra tới Huế.

Nàng tưởng tượng tới lúc nằm vào giường chị Dung, trong lòng chị mà nói, mà than thở cho vơi nỗi buồn bực. Nàng sẽ ở lại chơi với chị mãi cho tới bao giờ Khánh đi tìm nàng. Nếu Khánh không tìm, nàng sẽ đi luôn. Nàng chán quá rồi. Chán đời sống buồn tẻ, ngày nào cũng như ngày nào. Chán bộ mặt khó đăm đăm của Khánh. Chán sự cau có gắt gỏng. Nàng muốn đạp đổ tất cả. Tình yêu là như thế sao. Là sự nhàm chán, bình thản đến thế hay sao. Hạnh muốn đi thật mau, thật mau, để được nằm vào lòng chị cho vơi niềm u uất.

6887555230_3c1dd70e30_z

Nàng đã cầy cục cả ngày hôm qua để mua vé máy bay mà không được. Chiến tranh làm đường bộ trở nên gần như vô dụng. Sự di chuyển trông cả vào đường hàng không. Mua vé phải chen chúc như đi lĩnh chẩn. Hạnh đã tìm bao nhiêu người quen nhờ mua hộ mà đành chịu. Sau cùng may gặp Ân, chồng một người bạn cũ, làm phi công. Ân sốt sắng đề nghị sẽ xin cho Hạnh đi bằng máy bay quân sự.

Với Hạnh bây giờ thì tất cả phương tiện nào đưa nàng tới Huế đều tốt. Nàng thèm được nép vào lòng chị, nàng cần được bàn tay xinh xắn gầy gò có nốt ruồi nơi ngón cái của chị vuốt vào mái tóc. Nàng nhắm nghiền mắt lại cho hai hàng nước mắt lăn xuống. Sương lạnh thấm vào người Hạnh. Nàng rùng mình. Có tiếng Ân bên cạnh làm Hạnh mở choàng mắt. Ân chỉ vào cái máy bay gần nhất có người lên xuống tấp nập và nói:

– Tôi vừa cố dàn xếp cho chị đi cái này mà không thể được. Máy bay chở nặng rồi. Thôi chị đành đi chuyến sau vậy.

Hạnh hỏi :

– Chuyến sau thì bao giờ khởi hành hở anh ?

Ân chỉ tay qua phía bên kia trả lời ngập ngừng:

– Khởi hành thì cũng ngay bây giờ đây. Nhưng chỉ hiềm vì …

Vừa nói, Ân vừa xách va li lên. Hạnh bỡ ngỡ bước theo. Bỗng nhiên, nàng đứng sững lại. Trước mặt nàng là ba chiếc quan tài phủ cờ chung quanh có mấy người lính ôm súng ngồi la liệt. Ân dừng lại nhìn vào mắt nàng :

– Đó, tôi cũng hơi ngại chị sợ. Vậy nếu chị không muốn thì để tôi xin lại giấy phép cho chị đi ngày mai.

Thoáng nghĩ lại nỗi bực bội âm ỷ từ mấy tháng nay, nhớ lại nét mặt buồn tẻ của Khánh, Hạnh vội vã:

– Thôi, anh cho tôi đi ngay chuyến này.

Vừa lúc đó, một xe nhà binh chở tới mấy đứa trẻ con và bốn người đàn bà. Tất cả đều chít khăn tang trắng và có người mặc áo trắng nữa. Xe vừa ngừng thì một người đàn bà đã lao xuống đâm bổ vào chiếc quan tài nằm giữa gào lên :

– Anh ơi ! Anh nằm đây cả đêm có lạnh không? Nói đi anh, trả lời em đi. Nói với em một lời đi…

Tiếng khóc khàn khàn như đặc lại ai oán. Hạnh sững sờ cả người. Mấy đứa trẻ trên xe đã tụt cả xuống đất, đứng sau lưng bà ta. Bây giờ thì bà ta ôm lấy quan tài mà khóc. Mấy đứa bé cũng bật lên khóc.

Mé bên kia một người đàn bà ngồi ôm mặt bên chiếc quan tài ngoài cùng. Đầu bà ta gục xuống. Mái tóc loà xòa phủ lên lá cờ ngay cạnh chỗ tấm ảnh một người đàn ông mặc quân phục. Lẫn trong tiếng khóc, Hạnh nghe có tiếng “con ơi”. Tiếng khóc nghe não nuột như từ chốn xa xăm nào vọng về. Hạnh chợt nghĩ đến con mình, bé Nga. Con bé Nga với đôi má xệ, với cái bụng phệ, với bàn chân thô. Không biết lúc này nó đã dậy chưa. Chị vú có có pha sữa cho nó không? Nó có đái dầm ra quần không? Hạnh muốn quay về với nó. Nhưng nghĩ đến chồng, nàng lại bực. Thật ra thì nàng cũng không có cớ gì lớn lao để giận chồng. Chỉ là sự bực bội chán nản mà thôi. Nàng thèm được thay đổi không khí. Thèm được thấy lại mình xưa kia. Nàng nôn nóng nhìn về phía chiếc máy bay.

Những anh lính hồi nãy ngồi la liệt dưới đất đã đứng thành hai hàng dọc nối liền với cửa máy bay. Tất cả đều bồng súng chỉnh tề. Một tiếng hô vang, Hạnh thấy sáu người lính khác cúi xuống từ từ nâng chiếc áo quan ngoài cùng lên vai. Bây giờ Hạnh mới trông thấy người ngồi khóc là một bà cụ già, mái tóc đã bạc. Bà cụ ôm chặt bát hương trong tay, ôm trong đôi cánh tay mà ngày xưa đã dùng để ôm người con khi còn nhỏ. Hạnh nhắm mắt lại. Hình ảnh con bé Nga lại chập chờn ẩn hiện. Hạnh như còn thấy nó nhe răng cười, tay nó vẫy vẫy nàng mỗi khi nàng đi đâu về. Có tiếng người đàn bà thét :

– Ới anh ơi ! Nay anh về quê cha đất tổ. Ngày anh đi, anh hẹn nghỉ phép sẽ về sửa lại cái mái nhà dột, anh nói dối em, anh bỏ em lại, anh đi một mình…

Chiếc áo quan thứ nhì đang từ từ tiến vào lòng máy bay. Dưới sân chỉ còn lại một chiếc và người đàn bà gục đầu suốt từ lúc nãy vẫn như ngồi bất động.

Ánh nắng ban mai chiếu le lói vào thân máy bay. Hạnh nghĩ đến Khánh lúc này chắc đang sửa soạn đi làm. Hình ảnh Khánh hiện lên với nét mặt buồn buồn lúc nàng ra xe hẹn một tháng mới trở về. Khánh nghĩ gì? Hạnh không muốn tưởng tượng lan man thêm nữa.

Trên sân đã vắng. Ân xách chiếc va li dùm Hạnh tiến về phía máy bay. Rồi chàng đỡ Hạnh bước vào. Nàng đưa mắt nhìn. Ngay dưới về phía đuôi, mấy người lính ngồi ngổn ngang, súng dựa vào mấy chiếc ba lô. Có người đang tháo giầy bốt, có người đang moi móc tìm thuốc lá. Trên hai hàng ghế sát thành máy bay từ mé giữa trở xuống, người ngồi chật ních. Nhưng từ giữa máy bay trở về phía đầu chỉ có thưa thớt mấy người mặc đồ tang mà thôi. Giữa hai hàng ghế là ba chiếc quan tài nằm nối đuôi nhau. Rồi tới cái rương bằng thiếc mầu xanh để sát chiếc áo quan thứ ba, trên mặt cũng cắm mấy nén hương.

Hạnh đứng ngập ngừng. Chợt nàng có cảm tưởng như có người nhìn mình. Hạnh ngẩng lên vừa gặp ánh mắt người đàn bà xõa tóc hồi nãy. Ánh mắt thản nhiên lạnh lùng. Bụng bà ta lớn vượt mặt. Nàng cúi xuống xách va-li tiến lại phía bà ta. Cửa phi cơ đóng lại. Máy nổ ầm ỳ. Người đàn bà có bầu sửa lại cái bát hương trên mặt áo quan cho ngay ngắn. Đầu kia, sát phòng máy, bà cụ già giở tràng hạt lẩm bẩm tụng kinh.

Máy bay bò đi từ từ rồi dừng lại, rồi rú lên, phóng nhanh. Thảm cỏ xanh lao vun vút giật lùi. Ruột gan Hạnh nhẹ bỗng. Trước mặt Hạnh, ba đứa trẻ ôm chầm lấy mẹ. Đứa giữa là con gái cỡ năm tuổi, tai đeo đôi khuyên vàng, tóc nó uốn quăn tít giống mẹ. Mẹ nó mặc chiếc áo dài trắng. Tay bà ta đánh móng đỏ nhưng đã tróc loang lổ verni với những ngón thô kệch nổi gân. Trên miệng chiếc giỏ bên cạnh bà, Hạnh còn thấy một chiếc guốc cao gót mầu xanh lá cây.

Phi cơ đang bay lướt trong từng đợt mây. Hơi lạnh tỏa ra làm Hạnh rùng mình. Nàng mở va-li lấy chiếc khăn quàng. Thoang thoảng đâu đây có mùi ung ủng. Ngồi cạnh Hạnh về mé ngoài là một bà trạc bốn mươi. Người bà mập mạp và đẹp. Bà móc túi lấy lọ dầu ra bôi rồi trao cho Hạnh:

– Cô xoa đi. Quái, nghe như có mùi sầu riêng ấy. Cái giống này cứ lúc nào máy bay lên cao là tỏa mùi ra, úi dà, tệ lắm. Tôi đã bị một lần rồi. Của cô đấy hả?

Hạnh lắc đầu. Nàng cảm thấy choáng váng. Bà kia vội dí lọ dầu vào mũi Hạnh. Mắt Hạnh hoa lên. Trước mặt Hạnh, cái áo hoa của bà nhảy múa nhòe nhoẹt. Đôi môi mọng đỏ của bà như cười. Hơi dầu làm Hạnh tỉnh dần. Nàng cảm ơn bà bạn tốt bụng. Bà ta chuyển chai dầu cho Hạnh bảo đưa cho bà có bầu. Chiếc máy bay lắc mạnh. Chiếc bát hương trên quan tài giữa chao đi. Bà có ba đứa con chụp lấy ôm vào lòng rồi oà lên khóc:

– Ối anh ơi! Anh bảo anh nghỉ phép anh về với em. Anh bảo chúng mình sẽ về quê ngoại. Anh bảo em uốn tóc. Anh bảo em may áo giống bà thiếu úy San. Nay anh đi đâu bỏ em bơ vơ thế này.

Mọi người nhìn về phía bà. Tiếng bà gào át cả tiếng máy bay:

– Anh ơi ! Anh mua guốc cho em làm gì. Em có thích uốn tóc hồi nào đâu. Bây giờ anh ở đâu…

Mấy anh lính choàng dậy càu nhàu vu vơ. Mé đầu máy bay bà cụ già tụng kinh lớn hơn. Hạnh nghe loáng thoáng… “vạn kiếp nan tao ngộ… “. Khuôn mặt bà cụ nhăn nheo. Nước mắt bà cụ lăn chậm chạp trên hai gò má đen sạm. Bà cụ tụng kinh không ngừng. Ba đứa bé thì ngơ ngác nhìn tất cả mọi nơi, từ trần xuống sàn máy bay. Thỉnh thoảng thằng lớn nhất lại nhìn ra cửa. Hạnh đoán có lẽ chúng đi máy bay lần đầu. Con bé giữa mặc áo đầm nylon. Bà mẹ cúi xuống lục ở cái giỏ lấy ra hai quả xoài đặt lên lá cờ phủ áo quan rồi lại kể lể:

– Hôm anh đi em đã bảo anh ăn xoài. Anh kêu đau bụng không ăn để nhường cho con. Bây giờ anh ăn đi anh ơi! Anh thích ăn xoài mà.

Bỗng nhiên, bà có bầu ngồi canh Hạnh gục xuống. Hạnh vội đỡ bà ta lên. Mặt bà ta xanh xám. Bà mặc áo hoa ngồi bên trái Hạnh vội dốc lọ dầu vào đầu bà có bầu rồi phân trần:

– Đấy cái hơi độc thế đấy. Phải đổ dầu vào kẻo nguy.

Lúc này thì hầu như cả mọi người đều biết là không phải hơi sầu riêng. Nhưng không ai xác nhận rõ là mùi gì cả. Máy bay lượn làm chiếc áo quan ngoài cùng hơi nghiêng về phía Hạnh. Nàng hoảng hốt rút chân lên, e dè nhìn vào những vết loang lổ trên lá cờ.

Mé sau, cái rương xanh xô vào phía mấy người lính. Một anh đẩy cái rương lại chỗ cũ rồi chép miệng:

– Cái ông này thì còn được vài ký thịt, quá lắm là thêm bàn tay thôi chứ gì mà cũng chạy tới chạy lui.

Người bên cạnh cãi :

– Bậy nào, đâu đến nỗi.

Người thứ nhất trợn mắt:

– Cậu thì biết cái cóc gì. Hồi nãy, chính tớ rinh lên mà. Nhẹ hểu à.

Hạnh vỗ vỗ lưng bà bụng bầu. Bà ta đã tỉnh tỉnh. Đầu bà ngả vào vai Hạnh. Hạnh gục đầu vào cửa sổ nhìn xuống. Dưới kia là dòng sông uốn khúc, nhỏ như trong mô hình triển lãm với những thửa ruộng như ô bàn cờ. Những mái nhà nhỏ bé làm Hạnh liên tưởng đến những mái nhà, mái chùa mà dạo bé Hạnh vẫn loay hoay ngắm nghía ở trong bể non bộ của ông ngoại. Tất cả lướt qua phía dưới, thanh bình và êm đềm quá. Nhưng những mái nhà hiền lành kia liệu có bao bọc những cuộc đời êm đềm hạnh phúc, hay cũng đầy dẫy những trái tim tan nát như những gia đình này. Bất giác Hạnh gợn lên niềm nhớ thương chồng con. Nàng cũng có một mái nhà mà sao nàng lại bỏ đi. Đời sống bình thản và hiền lành. Nó không có gì ầm ỹ đặc sắc. Nhưng khi sự ầm ỹ đặc sắc xẩy đến, như sự chết, sự chia ly, thì trái tim đã tan nát rồi.

Máy bay đi trong đám mây. Hạnh nhìn thấy như từng quả núi nhỏ bằng mây trắng vây phủ quanh nàng. Nàng nhớ lại thuở bé cứ ước ao sau làm nữ hiệp để đằng vân đi cứu nhân độ thế. Nàng ngậm ngùi nghĩ đến chồng. Nàng lại tự trách mình sao hay đòi hỏi. Giá nàng biết tự quên mình thì có lẽ Khánh sung sướng hơn nhiều. Nàng chợt nhớ lại vẻ ngượng nghịu của Khánh lúc nàng bóng gió so sánh cảnh nghèo nàn của nàng với sự giầu sang của các bạn. Nàng thấy mình quá tàn nhẫn….

Vai Hạnh nhẹ bỗng hẳn đi. Bà có bầu đã ngồi dậy. Hạnh liếc bà ta. Mắt bà cứ nhìn đăm đăm về phía đầu quan tài. Có tiếng bà lẩm bẩm rất bình thản:

– Tôi đi tìm nhà tôi từ ngoài mặt trận. Tôi đi tìm khắp các nhà thương, nhà xác. Tôi lật từng cái xác để tìm nhà tôi đã mười hai ngày. Lật từng cái xác…

Mắt bà như bất động. Mặt bà cũng bất động, chỉ có miệng bà mấp máy :

– Từng cái xác, từng cái xác đã thối, đã xình…

Hạnh bỗng rợn cả người. Nàng kinh hoàng nhìn bà ta. Bà ta gầy gò xanh xao là thế, bụng chửa vượt mặt, lại yếu đuối như thế, sao bà có thể làm được công việc cực nhọc nhường ấy. Đôi mắt bà nhìn vào phía quan tài không chớp, vẻ quê mùa của bà làm cho Hạnh khó tìm thấy cái sức mạnh nào đã đẩy bà đi mười hai ngày trời để mà lật từng cái xác tìm chồng.

Phi cơ chao đi. Một quả xoài rơi xuống sàn, thằng bé út chộp lấy. Bên này, bà có bầu vội đỡ lấy bát hương vào lòng thì thầm:

– Anh ơi! Em còn làm gì cho anh, còn làm gì cho anh được nữa, anh ơi!

Hạnh xiết chặt tay bà. Bà mới đáng thương chứ không phải người nằm trong kia. Nằm đấy là yên nghỉ rồi. Vậy mà bà không nghĩ tới mình, chỉ nghĩ tới sự gì còn có thể làm được cho chồng. Chao ôi! Lòng người đàn bà này sao mà rộng rãi và đầy tình thương yêu đến thế.

Bỗng bà ngồi thẳng dậy đăm đăm nhìn áo quan. Hạnh tưởng như xuyên qua lớp gỗ, đôi mắt người chồng đang mở ra tha thiết nhìn vợ. Đôi mắt đầy yêu thương trìu mến. Đôi mắt của Khánh vẫn nhìn nàng. Hạnh phúc ở bên cạnh nàng như đôi tay đối với người lành mạnh. Đối với người lành mạnh, sự hiện hữu của đôi tay không có nghĩa gì cả. Nhưng nếu có một tai nạn xẩy đến thì sự mất mát đôi tay mới thật sự là một tai họa hãi hùng và đã quá trễ rồi.

Hạnh nhìn suốt một lượt từ bà cụ già tới bốn mẹ con, những người lính, lá cờ, tất cả đều mơ hồ nhòe nhọet một mầu mờ nhạt, hai hàng nườc mắt lăn dài. Nàng quay về phía cửa sổ máy bay nhìn xuống, dưới kia là Ngũ Hành Sơn xa lạ. Hạnh muốn chiếc máy bay quay trở lại. Nàng thấy tiếc những thời giờ phí phạm đang trôi. Nàng muốn chắt chiu níu giữ thời khắc của tình yêu như người biển lận xót những đồng tiền phung phí.

Nàng thiết tha muốn trở về để được xà ngay vào lòng Khánh. Và Khánh sẽ hôn lên tóc nàng. Rồi nàng sẽ ôm con đi tắm. Con bé Nga bé bỏng của nàng, với hai cái má xệ xệ, cái bụng phệ phệ và bàn chân mũm mĩm thô kệch.

Mơ hồ, Hạnh thoáng thấy chị Dung mỉm cười trìu mến.

Đỗ Phương Khanh

(Trong tập truyện ngắn Hương Thu)

Mưa Trong Vườn Nhà Cô Françoise, Truyện ngắn Nguyễn Nghiệp Nhượng


cc30a06a7dc43c54819459680239eb27-460f8

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Vòm kính nháng những tia chớp tím hay hơi nước bay tỏa đã nhuốm mặt nàng trong thứ ánh sáng thật dịu, từ mầu tím chuyển qua những mầu khác hoặc xanh trắng, pha hồng, liên tiếp nháng lên trong bầu trời đen mà chính những tia chớp đó đã làm cho rộng rinh. Hai dẫy cây ương có lá cong; chốc chốc, một cơn rung chuyển nào đó từ ngoài đưa tới, như thể từ phương xa, trong một chuỗi tinh hệ khác, xảy ra từ triệu năm trước mà lúc này ảnh tượng mới chuyển tới. Tôi đi rất nhẹ nhàng chung quanh vòng kính, ngang những cọng lá, những chậu sứ tráng men xanh, qua đầu nàng. Nhưng nàng không hề biết. Đó là một cái đầu nhỏ, tóc dài xuống lưng không buộc lại và có vẻ như ướt nước. Mùi thơm từ mái tóc đó tỏa ra khắp gian nhà lớn. Nàng bất động.

Nhưng chính như thể sự bất động đó của nàng trong gian nhà đầy ánh sáng thay đổi và những cơn rung chuyển xa vắng không tiếng động làm nàng có vẻ như đang trầm tư. Hơn nữa, lúc này, nàng đang với tay tới một cọng lá cong, một cánh tay để trần, trắng và dài. Điều này không chắn chắn mấy.

Nàng nói: “Con ngủ rồi .”

Từ cánh tay trần của nàng, ánh sáng chớp liên tiếp chói lòa như thể cánh tay đó có bôi mỡ và khi nàng thả cọng lá ra, nó bật lên, một vài giọt nước rơi xuống. Nàng cũng dùng cánh tay để trần này xoa nắn hai bả vai, xoa bụng và mạn sườn. Rồi đó, nàng cởi áo khoác thả xuống nền đất. Cái áo mỏng, dài như kiểu áo choàng ngủ, có những lỗ tròn cháy, bằng đồng xu nhỏ. Lớp da bụng của nàng hiện ra căng tròn về phía trước. Nàng thõng tay che một cách chậm chạp phần cuối cơ thể, bắp tay gần như ngáng trên bụng. Nàng mỉm cười và lại bất động.

Chính lúc đó, một người đàn ông hiện ra. Anh mở cánh cửa nào để vào tôi cũng không biết. Chỗ anh đứng, đằng sau là những ô kính vuông liền khít nhau đóng bằng nẹp gỗ. Nhưng một tay anh ngoái lại phía sau như động tác để khóa chốt; rồi đó, anh buông thõng tay xuống.

Tôi nói với nàng: “Có ai vào.”

Nàng nói, lơ đãng: “Ai đó.”

Nhưng hình như nàng mỉm cười mà không nói gì thì đúng hơn. Lúc này, nàng như cục sắt bị nam châm hút cứng xuống đất, không nhúc nhích, không thở, và nụ cười của nàng yên giữ như thế. Mắt nàng nhìn xuống, cũng bất động, ngay cả khi tôi ngó vào. Núm vú nàng đỏ hồng, quầng sưng mộng và nổi ốc.

Người đàn ông đã đứng bên cạnh nàng từ lúc nào. Anh đứng thẳng, mắt hướng về phía trước với một cái nhìn thật xa xăm như thể không thấy nàng.

Anh có những nét duỗi thẳng trên khuôn mặt, khiến cái đầu dài khác thường. Anh đeo một cái mũ rộng vành tô xanh đỏ gì đó bằng một cái quai nơi cổ, hai bên tai thừa ra hai đường cong của vành mũ. Anh thõng tay đứng yên, chỉ có đôi môi bập bập cái tẩu thuốc dài. Anh cao hơn người đàn bà nhiều.

Anh nói: “Mũ cói của Hector gởi tặng. Em thấy có đẹp không ?”

Anh bập bập mấy hơi thuốc, đưa một tay lên giữ ống điếu.

“Cả ống điếu. Bây giờ anh ta đang ở nhà hay đi chơi với bạn bè. Hector Louis Végas, mau thật. Hồi nãy trong khi đi xuống đây, mưa lớn quá anh tới ngồi dưới cái vòm chậu, tự nhiên có cảm tưởng như…như…”

Bây giờ, một tay nàng đặt lên vai anh, mái tóc dài che ra trước ngực. Một chuỗi cười thật dòn dã như ở trên nóc vòm kính đưa xuống rồi đột ngột ngưng hẳn. Nàng trở lại bất động nét mặt có một chút ủ rũ nào đó. Giọng người đàn ông mà lúc này đã đội cái mũ rộng vành lên thật trầm như khi anh đọc một đoạn thơ.

“Xin lỗi, xin lỗi em. Nhưng hễ cứ trời mưa là anh lại vậy.”

Nàng không nói gì, ánh mắt thật mơ màng.

“Thời kỳ này anh sống giật lùi thật xa. À, chỉ tại trời mưa.”

Anh đi tới một bước, hất cái mũ cói xuống ghé sát vào má của nàng và cọ cọ bộ râu vào đó. Anh nói trên gò má:

“Tại mùa mưa này làm anh hỏng.”

Nàng vẫn không nói, mắt nhìn xuống trong im lặng không biết tại sao. Lúc này thì mưa nhỏ hơn, nhưng chớp liên tiếp sáng chói ngòng ngoèo trên bầu trời đen, lâu lâu có những lằn chớp dài chạy nhỏ rức như chỉ trắng, nới rộng trời ra như một tấm màn kéo, và vòm kính chớp nhoáng những tia sáng đỏ. Một đôi khi, ánh sánh tím và nhạt nhạt như soi lên bụng nàng, một mầu nhẹ nhàng huyền hoặc kỳ lạ.

“Anh có kể cho em nghe chuyện trên núi chưa nhỉ? Trên núi, sống thật là tuyệt. Thời kỳ này anh gần với núi hơn. Mầu xanh của núi mát mẻ hơn cái gì khác, lâu lâu anh tưởng như hơn cả em nữa.”

Anh ngừng nói và hút thuốc. Anh cúi đầu đi loanh quanh. Hai tay chấp sau lưng. Trong một lúc nào đó, anh vẫn đi và tiếp tục nói:

“Nhưng mà, hồi nãy, anh nói khi đi xuống đây, khi đi xuống đây đó. Anh sợ sợ. Anh bê bối thật. Em thấy đó, hồi này anh sống như mất trí nhớ. Trí nhớ của anh lúc trước phi thường, hả? ”

Anh đứng lại và ngó ra ngoài. Lát sau, anh tiến tới tỳ trán vào một ô kính, hai tay làm như cái khung bấu vào nẹp gỗ và gần chạm vào thái dương. Cái mũ cói vẫn ở sau lưng.

“Giá mà anh nhớ được. Giá như hồi trước, em hả? Lúc này, anh quên thật nhiều thứ, không nhớ gì hết. Nhưng mà, làm như anh đã thanh toán xong cái của nợ đó chứ không phải anh bị chúng bỏ anh.”

Anh làm một cử chỉ vung tay, rồi cầm cái ống điếu vẫy vẫy.

“Anh nhẹ mình.”

Anh hút vài hơi thuốc và nhả khói:

“Tại anh sống trên núi đó.”

Bất chợt nàng nói:

“Anh sống trên núi với ai ?”

Câu hỏi như câu nói, không cao giọng, như thể là nàng không hỏi anh mà là hỏi một cái tượng gỗ nào đó. Tẩu thuốc lá đã hết, anh bập bập rồi gõ vào thành gỗ, gõ nhẹ vào mặt kính, nhưng không có tiếng động. Những cử chỉ giới hạn nào đó làm anh có vẻ như đang nghĩ ngợi.

“Có ai. Như vậy mới thật tuyệt. Nhưng mà, anh đã nói, hồi này anh sống khó khăn quá. Hừ, anh muốn nói gì với em đây? Cũng như…cũng như…à như là anh tạc nàng đó.”

Anh quay lại, một tay thọc vào túi, tay kia cầm ống điếu vẫy vẫy.

“Anh quên nàng. Khó khăn lắm anh mới nhớ hay nhận ra mặt nàng. Mà không biết anh định tạc nàng làm gì. Anh làm công việc vô ích thật, hả ?”

Tôi bước ra khỏi những chậu sứ tráng men xanh vừa đi vừa nhìn nàng và những cọng lá cong cong. Mưa vẫn đều đều, chớp liên tiếp. Không hiểu gian nhà này làm từ hồi nào nhưng nó có vẻ như sắp nứt đôi. Tiếng động ì ầm xa vắng có một lúc nào đó thốt nhiên rõ lớn trở lại như trước. Người đàn ông đã đi mất và lúc nãy chỉ còn tôi với nàng, với mùi thuốc phảng phất.

Nhưng nàng làm như không có tôi. Nàng cất tiếng hát nho nhỏ và nói:” Con đang ngủ ngon, phải không con ?”, và nàng bước chậm rãi quanh những chậu cây ương.

Những tia chớp xanh và tím vẫn liên tiếp nháng chiếu. Tôi bỗng nhớ tới một giấc mộng đã lâu lắm, trong đó, như ở một gian nhà có mái kính mầu, một đứa trẻ đang khóc và người mẹ bế nó vừa nựng nịu vừa ru. Anh sánh tím nhiều hơn cả chiếu rọi khắp nơi, chiếu lên đứa nhỏ và cánh tay cùng thân thể người mẹ.

“Con sắp ra đời mà anh không thèm để ý gì hết.”

Tôi muốn đi tới, nhưng thân thể tôi bỗng nhiên cứng nhắc.

“Anh xem. Nó quẫy dữ lắm. Đôi khi em thấy một cục cứng. Như cái đầu. Với lại, đôi khi nó quẫy cả hai bên như là….như là có hai đứa. Em sợ quá.”

Tôi cười lớn tiếng, nói:

“Sinh đôi. Như vậy càng nhiều chứ sao.”

Nàng bỗng tới và ghé vào tai tôi. Hơi thơ ấm khiến tôi tỉnh thức như tỉnh thức sau một giấc mơ dài. Trong hơi thở, tiếng nàng nói thật nhỏ:

“Có phải anh không?”

Cũng vẫn ghé sát như thế, nàng thì thầm:

“Ở trên núi của anh, lúc này chắc mưa lớn hơn, nhỉ? Em muốn lên ở đó, mình tìm một cái hang động trú mưa, lót lá ngồi cho tới sáng .”

Thốt nhiên nàng rời xa tôi, tới chỗ lúc nãy của nàng. Tôi bắt đầu cảm thấy nhẹ nhõm hơn, như vừa thoát khỏi một sức hút nào đó. Tôi chậm rãi ra khỏi gian nhà ương cây. Trong một góc tối giữa vườn lớn, người đàn ông đội mũ rộng vành đang đứng bên một mái cong giống như kột cái tàn lớn đúc bằng xi măng.

Mưa nhỏ. Trong những lối đi lót sỏi trắng, một vài vũng nước thỉnh thoảng lấp lánh. Người đàn ông đội cái mũ rộng vành rời cái mái cong đang đi trên những lối đó. Anh dừng lại trước một cây cảnh nào đó, giơ tay vuốt những chùm lá. Anh vẫn hút thuốc.

Anh đứng yên lặng trước bụi cây. Mưa đã ngớt hẳn, chỉ còn những bụi nước rơi cong cong như những sợi chỉ. Đêm yên tĩnh rõ hẳn những giọt nước rớt thánh thót. Đột nhiên, về phía ngôi nhà gạch lớn phía trong, một khung cửa sáng lên và tiếng nhạc thoát từ một loại nhạc khí nào đó, rời rã đưa đến. Anh có vẻ hơi quay lại phía cửa sổ, nhưng tay vẫn đặt trên một chùm lá. Lát sau, anh có vẻ như không chú ý đến tiếng nhạc nữa tuy nó vẫn nhẹ nhàng rời rạc thoát ra. Anh rời bụi cây đi loanh quanh trong vườn.

Người nào đó chơi đàn có lẽ để cho hết thời giờ. Những hợp âm đưa tới khiến tôi biết đó là tiếng Tây ban cầm. Tôi rời chỗ đứng đi lại gần cái cửa sổ sáng ngó vào nhưng không thấy ai. Có lẽ người chơi đàn ngồi khuất sau những tấm màn màu xanh nhạt, bằng nhung, óng ánh và có vẻ hơi buồn bã. Gian phòng không rộng lắm, nhưng cao và có trần. Tường quét vôi vàng nhạt, trong ánh đèn yếu ớt màu vàng nhạt đó tăng thêm một chút đen do những mảng bóng tối từ góc khuất phát ra. Chính giữa gian phòng, đối diện với cửa sổ là một bức chân dung lớn, có lẽ vẽ hơn là ảnh chụp. Người trong bức vẽ béo tốt, râu ria xồm xoàm mặc võ phục có nẹp đỏ, ngang lưng đeo một thanh kiếm chuôi tua chỉ vàng. Một mắt của ông ta đeo kính trắng thêm vẻ dữ tợn nghiêm nghị. Phía trước bức chân dung là một cái tủ kính, trong để các thứ trang trí mỹ thuật gì đó. Cửa ra vào thông với một phòng khác hé mở nhưng không thấy người. Tiếng nhạc có lẽ phát ra từ sau một cái chụp đèn tròn và lớn, gần khuất trong tấm màn nhung.

Tôi rời cái cửa sổ đi theo đường rãnh nước ven tường vào những lối mà người đàn ông đội mũ cói rộng vành lúc nãy đã đi qua. Không biết lúc này anh ở đâu, bốn bề vắng ngắt mờ tối, mưa vẫn rơi cong cong. Gian nhà kính ở về phía trái ngôi nhà lớn, bên này là vườn cây nhỏ và thưa. Có một cái nhà gỗ thấp trong những cây đó.

Có lẽ anh tới nhà kia chăng? Nhưng ở đó tối om, vắng ngắt và không có vẻ gì có người cả. Tôi đi quanh quẩn trong khu vườn thưa, những chiếc lá rớt xẹp xuống dưới chân. Ở đây có vẻ đọng nước, mưa cùng hơi ẩm thấp tạo thành một bầu không khí nằng nặng, ngưng đọng và không chuyển động. Tiếng đàn trong phòng sáng lúc này nghe tiếng được tiếng mất, như thể những âm thanh kia bị chận lại ngoài cửa vườn.

Dù sao tôi cũng đi tới cái nhà gỗ nhìn vào. Bên trong tối nhờ nhờ nhưng không tối đặc như tôi đã tưởng. Vô số những que gỗ, buộc với nhau thành hình này nọ bởi những sợi giây thép và những thanh gỗ đó thì dính đất hay một chất trắng cứng nào đó. Một số khác có hình thù hơn treo lủng lẳng trên những cái móc, trên những thanh gỗ bắc ngang hoặc dựng sát vào tường. Có một pho tượng cao và lớn hẳn so với những hình thù kia, giống như một người đàn ông; đầu và hai tay dài khác thường.

Bất chợt, một giọng nói sau lưng tôi.

“Ông bạn làm gì đó?”

Tôi lạnh toát, quay lại. Người đàn ông đã đứng sau lưng tôi tự lúc nào. Tôi ngạc nhiên vì giọng nói của anh không có gì tỏ vẻ khó chịu hết dù tôi đột nhập lén lút, hơn nữa điều khiến tôi ngạc nhiên hơn là anh trông không giống người đội mũ rộng vành chút nào. Anh có vẻ ốm yếu, mép để ria, hai mắt sâu và lớn, tóc hơi quăn.

“ Ông bạn đừng ngạc nhiên. Tôi thấy ông bạn từ lúc trời mưa.”

Tôi hỏi một câu ngô nghê:

“Ông là ai ?”

“Tôi hả? Hà, buồn thật. Không ai hiểu tôi hết.”

Anh im lặng một chốc, cúi nhìn tôi qua những sợi giây leo ở cửa. Anh nói trong lúc nhìn đó: “ Tôi buồn rầu quá. Tôi nhìn thấy sự buồn phiền.” Anh thò tay vào cửa lấy một cái mũ máng đâu trong vách và đội lên đầu. Anh nói:

“Phải không?”

Tôi nhìn sững người đàn ông, tôi không tìm ra được nét giống nhau nào giữa anh ta và kẻ ở trong nhà ương cây, trừ cái mũ cói rộng vành mà anh ta đang đội. Nhưng ai cũng có thể có một cái mũ cói rộng vành hết.

Người đàn ông vẫn nói bằng giọng đều đều lúc đầu:

“Tôi không biết làm gì bây giờ. Hơn nữa, tôi không biết nói với ai.”

Anh chợt thay đổi giọng nói: “Hà, bây giờ có ông bạn.” Sau đó anh lắc đầu tiếp:

“Có những chuyện không thể nói với đàn bà được.”

Tôi hỏi:

“Ông ở đây phải không?”

Tôi lại hỏi một câu ngô nghê nữa. Người đàn ông cười lớn:

“Tôi đâu ở đây được. Phải sống nơi khác. Ở đây, mùa mưa làm ai cũng thấy buồn cả. Mà mùa mưa thì kéo dài tới tám tháng.”

Anh ngừng nói bằng cả vẻ mặt. Anh có vẻ bồn chồn như đang chờ đợi cái gì đó. “ Tôi muốn nói chuyện, à, muốn kể chuyện với ông bạn…”, anh nói không nhìn tôi như đang chú tâm nghe ngóng đâu đó, “ Nhưng khoang đã, tôi cần tới đây một chút.” Anh vụt rảo bước vào khoảng cây và bóng tối mà lúc nãy anh tới. Anh đi như bóng ma và rất nhanh chóng. Hơn nữa, tôi cũng không để ý mấy. Tôi tiếp tục nhìn ngắm những thứ lủng cũng trong cái nhà gỗ.

260_149_1362582639_33_1362238147_426284_400894609925130_1056361736_n_large

Trời đang có vẻ tạnh bỗng lại mưa. Gió nổi rất lớn, rung ào ào trên đầu tôi. Tôi nép vào mái gỗ, nhưng mưa lớn quá, hai chân tôi bắt đầu ướt. Tôi tìm cửa vào nhưng không thấy, liền trèo cửa sổ. Mái nhà lợp bằng những tấm tôn mỏng, mưa xối ầm ĩ, tôi thu hình ngồi trên một cục gỗ khá lớn không biết dùng làm gì. Chung quanh tôi, những hình thù và các thanh gỗ ngang dọc trở thành đậm mầu hơn, lẫn với bóng tối, như thể chúng là cả một khối đang nổi rõ vài đường nét góc cạnh nào đó. Tôi nhớ người đàn bà trong nhà kính, hình dung sắc đẹp của nàng, hình dung những nét diễm lệ và nhất là vẻ im lặng quá mức của nàng. Ánh sáng tím nhạt cách quãng của những tia chớp, làn da bụng trắng của nàng, cánh tay dài và cọng lá cong cong, những thứ đó hợp thành một khung cảnh rung rinh như giấc mơ, hay chính là giấc mơ thật, nhưng dù sao, đó là một khung cảnh không thể tìm thấy ở đâu khác, huyền hoặc và thơm ngát.

Trận mưa kéo dài không biết bao lâu. Tôi cứ ngồi thu hình yên lặng và nhìn ngó trong bóng đêm những hình thể lờ mờ chung quanh và những hình thể dễ nhận biết khác, như những cụm mây, góc cây, cái bờ tường, cánh cửa sổ, những vũng nước, ở xa tít phía cuối vườn hay trong nhà ở, và những thứ đó càng lúc càng xa thêm, lờ mờ, chập chùng. Một đôi lúc tôi tự hỏi về lai lịch cái nhà và khu vườn này, hay những người sống ở đây, người đàn bà trong nhà kính, người đàn ông đội mũ rộng vành, tiếng đàn, bức chân dung vị võ quan…nhưng những tra vấn này hình như không làm bận tâm trí tôi nhiều. Chúng lướt qua, như thể không phải là lướt qua trí tôi nữa.

Khi mưa tạnh trở lại, tôi bắt đầu thấy mỏi mê cùng khắp. Tôi trèo qua cái cửa sổ đi ra bên ngoài. Tôi đạp lọc bọc trên những vũng nước và lá ướt, trở lại căn nhà ở. Đèn ở cái cửa sổ lúc nãy vẫn sáng, nhưng cửa đã đóng. Tôi đi chậm chậm trong những lối sỏi cũng ướt nước và tiến về cái nhà kính. Ở đây là một cái nền cao, xây bằng gạch miếng không tô vữa, những ô kính loáng thoáng vì ướt nước. Tôi trèo lên nền gạch, bước vô. Nhưng tôi chưa kịp trông thấy người đàn bà thì đụng phải một cô bé.

Cô bé ngẩng nhìn lùi lại như muốn la lớn. Tôi nói:

“Có gì thế ?”

Cô bé đứng tới ngực tôi, tóc gần chấm vai và hơi cong, mắt như vừa khóc. Tôi lập lại: “ Có gì thế ? Cô bé là ai thế ?”, cô bé nói:

“Ông tới đây làm gì ?”

Tôi lúng túng không biết trả lời sao. Sao cùng tôi nói:

“À, tôi đi chơi thôi. Tại sao em khóc ?”

“Ông không phải là bạn của cô Françoise sao ?”

“Cô françoise nào?”

Cô bé nhìn tôi, lau nước mắt bằng một cái khăn mỏng rất lớn và tiệp với mầu áo.

“Ông tới đây từ bao giờ thế?”

Tôi cười cười đáp:

“Hồi nãy.”

Đột nhiên, cô bé tỏ vẻ sợ hãi hỏi:

“Ông đã gặp cô Françoise chưa? Cô Françoise là chủ nhà.”

Tôi đáp: “Chưa. Tôi chưa gặp.”, và ngó chung quanh, “À, nhưng có lẽ tôi gặp rồi. Cô Françoise thật là đẹp phải không?”

“Đẹp.”

Tôi nhớ tới cái bụng trắng nõn và căng tròn của nàng, tôi hỏi cô bé:

“Chồng cô Françoise là ai thế? Cô sắp có con đấy, nhỉ? ”

“Ông nói lạ thật. Cô chưa có chồng.”

“Như vậy…như vậy….Em nói gì thế?”

Đột nhiên cô bé bỏ chạy. Tôi đuổi theo. Thật ra tôi có thể chụp nó dễ dàng nhưng tôi chạy lúp xúp coi sao. Cô bé chạy giữa những hàng chậu sứ, thỉnh thoảng kêu nho nhỏ: “Cô Françoise” như thể một nỗi sợ hãi nào đó làm miệng cứng không há được. Phía cuối góc gian nhà kính, người đàn bà trắng toát vẫn đứng yên, không nói gì, hình như nàng đang chăm chú nhìn tôi và cô bé đuổi nhau. Sau cùng cô bé không chạy giữa những chậu sứ nữa mà thoát ra ngoài thềm gạch. Tiếng kêu nhỏ vẫn gọi tên cô Françoise với nỗi sợ hãi gì đó. Tôi nói hơi lớn:

“Đừng chạy nữa, em nhỏ. Cô Françoise ở đây này”, và tôi hơi dừng lại để nhìn người đàn bà. Bóng cô bé thấp thoáng phía trước trong những lối sỏi, chạy hớt hải kỳ lạ. Tôi lớn bước đuổi theo. Dù sao, tôi vẫn không muốn gây tiếng động gì trong vườn này.

Cô bé đang chạy vào vườn cây, chỗ có cái nhà gỗ. Tôi đuổi kịp không khó khăn lắm. Khi vừa tới trước cái nhà gỗ, tôi nghe bịch một tiếng.

Cửa đã mở. Một cái cửa lớn và quá rộng ngay sát bên cửa sổ mà lúc nãy tôi không biết. Cô bé với quần áo trắng toát ngã sóng soài trên mặt đất. Tôi nói nhỏ: “ Có sao không?” và bước vào kéo tay cô bé. Đầu tôi đụng vào bức tượng cao lớn không biết ai mới treo lên, lủng lẳng, đen ngòm. Bức tượng yên lặng kỳ cuc. Có lẽ cô bé đã va vào đó nên ngã lăn.

Tôi cúi xuống ẵm ngang thân hình bé nhỏ đó lên, bước ra khỏi nhà và đi thẳng tới cái mái cong mà lúc nãy người đàn ông đội mũ rộng vành đứng trú mưa, Tôi đặt cô bé xuống. Nó đã ngất xỉu và lạnh. Tôi ngần ngừ một lát rồi làm loa tay kêu lớn:

“Cô Françoise, em bé ngã.”

Không chờ trả lời, tôi chạy thật nhanh thoát ra đường./.

(Trích Tuần báo Nghệ Thuật số 19. Phát hành ngày 19.2.1966. Và, đối chiếu lại trong tuyển tập truyện ngắn: Dạ Khúc do Hồng Đức xuất bản lần thứ nhất vào tháng 7 năm 1969.
Bản của Thư Ấn Quán)

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Không Còn Ai Trả Lời, Hoàng Ngọc Tuấn


imageschandunghnttrinhcongson-2

(Chân dung và tác phẩm của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn 1947 – 2005)

Hoàng Ngọc Tuấn

Sau một buổi sáng ngồi trong lớp học với sách vở, bút mực, và tiếng giảng bài của thầy giáo, buổi chiều đến với nàng thật thảnh thơi, hình như là quá dài.
Ngày nào cũng thế, nàng thức dậy sau giấc ngủ trưa, chiếc khăn ướt làm nàng tỉnh táo. Nếu nàng là con trai, có lẽ nàng sẽ hút một điếu thuốc lá cho đỡ buồn miệng, nhưng vì trái lại, nên nàng chỉ ăn một cây kẹo ngọt của mấy đứa em bỏ rơi trên sàn nhà. Ở nhà dưới, có tiếng chân chạy rầm rầm và nói cười ồn ào của lũ em đang đuổi bắt nhau, mẹ nàng la rầy một câu gì đó không nghe rõ. Trên lầu bây giờ chỉ có mình nàng, vài tập báo trẻ con, cái tủ áo với những chiếc áo dài trắng dành cho ngày đi học, vài áo lụa màu vàng, bàn học, chồng sách, một chiếc máy magnétophone, khi nàng bấm chiếc nút nhỏ, bài tình ca quen thuộc vang lên. Nàng nghe lơ đãng, nhìn bóng mình trong gương; mình đã được 19 tuổi rồi, tháng tới sẽ đến ngày sinh nhật, dầu bận rộn công việc đến đâu ba cũng sẽ đem đến một chiếc bánh ngọt có cắm 19 ngọn nến.

thu-gui-co-gai-dang-ngoi-dau-do-va-khoc-hom-nay-dbdf26e66d9d92002e10675d361c789491761ebb

Chiếc áo cánh ngắn tay của nàng màu vàng nhạt, da nàng trắng vì ít khi nàng dạo chơi ngoài đường phố. Phố phường không biết bây giờ có gì lạ, rạp chiếu bóng đã đổi phim mới chưa… Chiếc máy điện thoại đặt gần giường ngủ, nàng có thể vừa nằm ôm gối vừa nói chuyện được. Ngón tay nàng lướt trên những con số quen thuộc: 4..0..0..3..8.
– A lô, xin lỗi có phải số 40038 không ạ, cho tôi nói chuyện với ông …
– Tôi đây, sao chiều nay Thư gọi muộn thế.
– Ông…đấy hả?
Nàng giật mình vì giọng nói của chàng thanh niên đột ngột vang lên từ bên kia đầu dây. Anh chàng có vẻ suốt ngày ngồi thường trực bên máy điện thoại, chuông vừa reo chỉ một lần là có tiếng nhấc máy, và không bao giờ để nàng nói cho hết câu đầu tiên, đôi khi nàng vừa nói A lô, anh chàng cũng nhận ra nàng liền.
Nàng ngập ngừng trước ống nói vì không biết nói gì bây giờ. Tiếng nói của anh chàng chợt vang lên trong ống nghe, kèm theo vài tiếng cười khoái trá:
– A lô, này Thư, tôi biết nhà của Thư ở đâu rồi.
– Ấy chết, làm sao ông biết được?
– Khó gì đâu. Tôi tìm thấy trong một cuốn Niên Giám Điện Thoại.
Nàng giật mình lặng yên, nghĩ rằng mình thật dại dột khi cho gã thanh niên này biết số điện thoại của mình trong khi lại muốn giấu địa chỉ.
Cái trò đùa điện thoại này có vẻ bắt đầu tiến tới từng bước một. Vào tuần trước, trong một đêm vắng vẻ, ba nàng đi công tác xa, mẹ nàng và mấy đứa em đi ăn giỗ và nàng vừa học thuộc những đoạn sau cùng của bài vạn vật. Nàng cảm thấy trống không như một khoảng trời đêm nhìn thấy bên ngoài cửa sổ. Gia đình nàng mới dọn lên Sài-Gòn, từ khi ba nàng có một chức vụ quan trọng ở đây. Ba má ít khi cho nàng đi chơi đâu, thật ra nàng cũng không thích đi dạo chơi trong một thành phố quá lớn và ồn ào, đầy những người xa lạ đối với nàng. Ở lớp học, nàng chưa có cô bạn nào thân, bạn trai càng ít hơn và việc một anh chàng nào mời nàng đi chơi thật là một chuyện quan trọng và ít khi được phép của gia đình. Nàng ngồi lắng nghe từng tiếng gõ của chiếc đồng hồ treo trên tường, và chợt nhìn thấy ống điện thoại bên cạnh.
Nàng nghĩ một trò đùa tinh nghịch. Nàng nhấc ống nói, nhanh chóng quay 5 con số nào đó một cách vô tình, rồi hồi hộp chờ nghe một tiếng nói ở bên kia đầu dây. Lần đầu tiên: “A lô, đây là tiệm đóng hòm Vạn Phước, xin lỗi quý khách cần gì ạ…” Nàng cúp vội máy. Lần thứ hai là tiếng nói của một người Mỹ nào đó nghe léo nhéo nàng không hiểu gì hết, nàng nín thở nói nhanh một tiếng goodbye rồi cúp máy, bậm môi cười khi mường tượng đến khuôn mặt ngây ngô kinh ngạc của gã ngoại quốc. Nàng quay nhanh một hàng số khác, nghĩ rằng trò đùa của mình đến đây là lần cuối cùng, có lẽ nên chấm dứt. Có tiếng chuông reng từng hồi ngắn trong ống nói và tiếng nhấc máy. Một giọng nói đàn ông, hơi nặng và khó nghe, tiếng nói của những người miền Trung.
– Alô, tôi nghe đây. Xin lỗi, ai ở đầu dây đó ạ ?
Nàng đưa tay giữ ngực mình để nén cơn hồi hộp, nàng định cúp máy nhưng rồi cố gắng nói một câu, nàng nghĩ rằng mình nên nói một câu cho người lạ nào đó đang nói chuyện ngạc nhiên chút chơi.
– Xin lỗi ông, tôi… cũng muốn biết ai ở đầu dây ạ…
Tiếng nói của gã đàn ông gần như la lớn lên bực bội:
– Đây là số 40038. Cô có gọi nhầm số không?
– Dạ không, tôi gọi đúng số rồi…nhưng phiền ông cho biết…ông là ai được không ạ?
Yên lặng ở trong ống nói, nàng chờ đợi một tiếng cúp máy cộc lốc, nhưng sau một lát có tiếng nói của người lạ chậm chạp:
– Alô, được rồi. Tôi không biết cô định đùa nghịch kiểu gì, nhưng cô muốn gì cứ nói đi. Tôi nghe đây.
Nàng đã bình tĩnh trở lại. Nàng mỉm cười, dĩ nhiên là người lạ không thấy được nụ cười của nàng.
– Nhưng…ông là ai mới được chứ ? Ông tên gì…, cho tôi biết để tôi gọi cho tiện.
– Tôi tên là Văn. Nào, nói đi, nếu ở nhà cô có đồng hồ thì cô nên nhìn xem mấy giờ rồi.
– Tôi biết, gần mười hai giờ.
Giọng người lạ có vẻ thích thú vì được một lời mỉa mai:
– À, tốt lắm. Cô biết vào giờ này người ta thường làm gì rồi: Người ta đi ngủ. Dĩ nhiên là ngoại trừ những kẻ quấy rầy người khác và những kẻ bỗng dưng bị người ta quấy rầy như tôi chẳng hạn.
Nàng đỏ mặt, giận hờn:
– Ông có thể cúp máy đi, tôi xin lỗi đã làm phiền ông.
Trong ống nói lại im lặng, chỉ có tiếng vo vo nghe thật khó chịu. Nhưng người lạ không cúp máy. Nàng và người ở bên kia đầu dây cùng yên lặng trước ống nói nhưng không ai nói gì cả, có lẽ cả hai đều cố gắng tưởng tượng đến kẻ đang nói chuyện với mình. Nàng là ai, làm gì … Gã đó là ai, làm nghề ngỗng gì. Một lát sau…
– Alô…Cô gì đó, cô còn đấy không?
– Còn. Ông chưa ngủ à.
Tiếng nói của người lạ có vẻ hơi ngập ngừng.
– Tôi không thấy buồn ngủ. Tôi vừa uống một ly cà phê đậm nên hơi khó ngủ. Vả lại…
Nàng cười nhỏ. Nếu đêm nay gặp thời tiết tốt, những đường dây điện thoại liên lạc với nhau rõ ràng thì người lạ có thể nghe tiếng cười của nàng.
– Vả lại…sao ạ?
– Vả lại…cái giọng nói của cô, giọng con gái Bắc kỳ hơi pha lẫn tiếng Nam một chút nghe cũng…dễ chịu, dễ thương lắm.
Nàng cảm thấy thích thú. Bất cứ một người đàn ông nào, ngoại trừ ba nàng, khen nàng một điều gì cũng đều làm nàng sung sướng.
– Cảm ơn ông Văn. Tôi chỉ sợ làm ông bực mình.
Lần đầu tiên nàng nghe thấy tiếng cười của người lạ trong ống nói. Giọng nói của anh chàng bây giờ đã hết khó chịu, và có vẻ đang bắt đầu bày trò làm quen với nàng, gã con trai nào cũng bắt đầu như thế cả.
– Xin lỗi cô, tôi chưa biết tên cô…
– Ông biết để làm gì ?
– Để gọi cho tiện, chẳng lẽ cứ gọi bằng “cô” mãi, nghe cũng hơi xa lạ.
Nàng cười, người đối thoại với nàng bây giờ chắc đã hết buồn ngủ và gã có vẻ không muốn cúp máy chút nào.
– Thì tôi với ông xa lạ đấy chứ.
– Mình mới quen nhau rồi.
Nàng đùa nghịch:
– Bây giờ nếu muốn hết quen thật dễ dàng, tôi chỉ việc cúp máy và không bao giờ gọi ông nữa.
Tiếng nói người đàn ông hấp tấp vang lên:
– Ấy, đừng cúp máy… Cô không cho biết tên thì thôi.
Không hiểu sao nàng bỗng nói tên thật của nàng:
– Tôi tên là Thư.
– Chắc cô vừa tưởng tượng cái tên đó chứ gì.
Nàng giận dỗi:
– Ông bảo tôi nói dóc hả, tôi cúp máy cho mà xem.
– Đừng, cô Thư. Cô làm gì vội thế, bây giờ còn sớm mà.
Nàng bật cười, liếc nhìn cây kim đồng hồ trên tường, nàng giả giọng ra vẻ thật nghiêm trang:
– Hơn mười hai giờ rồi. Ông biết vào giờ này người ta làm gì không? Người ta đi ngủ. Dĩ nhiên là ngoại trừ những kẻ…
– Ồ, tôi xin lỗi. Trước khi cô gọi đến, tôi đang mệt, cáu sườn vì không ngủ được. Tôi đã tắt hết đèn và thề rằng sẽ ném chiếc gối vào bất cứ ai gõ cửa phòng tôi.
Nàng nhướng mắt, làm bộ sợ sệt, nhưng không ai nhìn thấy cử chỉ của nàng cả.
– Ghê thật ! Chắc ông Văn đi chơi khuya dữ lắm nên mới không ngủ được, hay là ông phải suy nghĩ về những vấn đề gì to tát lắm. Đàn ông thì luôn luôn có chuyện quan trọng.
– Vâng, kể ra thì cũng có một vài vấn đề làm tôi bận tâm. Chẳng hạn như tôi băn khoăn không biết sáng mai mình nên uống một ly cà phê đen hay cà phê sữa ?
Nàng bật cười. Nàng cười hơi lớn nên có lẽ người đàn ông nghe rõ. Giọng anh chàng khoan khoái:
– Cô Thư, tôi cam đoan 100% là cô đang cười.
– Cam đoan gì nữa, thì tôi đang cười đây.
– Giọng cười nghe như tiếng kim cương vỡ…
– Trời ơi! Ông đừng nhái theo tiểu thuyết chứ, hay ông là một văn sĩ ?
Nàng ngạc nhiên khi nghe giọng nói trịnh trọng xác nhận nghề nghiệp của người đàn ông:
– Cô đoán đúng. Tôi là một.. nhà văn đã viết nhiều cuốn truyện.
– Ồ ! Rất hân hạnh được quen với một văn sĩ. Hèn gì cái tên của ông giống như nghề của ông, ông là cái gì .. Văn?
Người đàn ông có vẻ lưỡng lự khi nghe nàng hỏi, bỗng nhiên anh chàng buột miệng nói:
– Hoàng Văn, tác giả của cuốn tiểu thuyết đang bày bán khắp các hiệu sách: ” Tình Yêu Hai Mươi”.
Nàng xuýt xoa khen ngợi:
– Chà ! Nghe cái nhan đề cũng thấy hay rồi. Chắc câu chuyện của ông hấp dẫn lắm?
– Hôm nào tôi sẽ gởi tặng cho cô một cuốn. Cô có thường vào các nhà sách?
– Không.
– May thật !
– Ông nói gì?
Giọng nói của người đàn ông có vẻ bối rối:
– Không… Tôi nói may là cô chưa mua cuốn sách đó, tôi gởi cho cô đọc chắc cô sẽ thích hơn. Tôi chỉ sợ là cô đọc cuốn đó rồi.
– Tôi làm biếng đọc sách lắm. Tôi chuyên môn đọc những tờ báo có hình vẽ của mấy đứa em. Tôi thích nhạc hơn ông ạ …
Nàng nhìn chiếc máy Magnétophone của nàng đang đều đặn vang lên những câu cuối cùng của một bài hát:
– Trước khi gọi ông, tôi đang nghe một cuộn băng nhạc tiền chiến.
– Nhạc tiền chiến, thật tuyệt. Chắc là một bài của Đoàn Chuẩn?
– Ông đoán tài quá. Bài ” Lá đổ muôn chiều”.
– Thật tuyệt. Alô.. Cô Thư, tôi nhắc lại: thật tuyệt.
– Alô. Tôi nghe rõ lắm rồi.
Nàng nhìn đồng hồ bây giờ đã khuya. Ngoài đường bỗng có tiếng chó sủa nhẹ vài tiếng. Mẹ nàng vừa mới về tới, nàng nghe rõ những bước chân của bà vang lên mồn một như đánh thức nàng, không phải khỏi giấc ngủ mà là khỏi trò vui này. Nàng nói nhanh:
– Alô. Ông Văn ơi, giờ tôi phải đi ngủ đây.
– Còn sớm quá.
– Sớm gì nữa, mai tôi còn phải dậy sớm đi học.
– Cô Thư học trường nào?
Nàng cười:
– Ông Văn bắt đầu tò mò rồi ! Thôi chúc Ông Văn ngủ ngon…
– Tôi chưa biết số điện thoại của cô…
– Ấy, không được. Nếu ông gọi lại, ông sẽ gặp ba má tôi nhiều hơn là gặp tôi. Hôm nay cả nhà đi vắng nên tôi mới gọi nói chuyện chơi đấy chứ… Alô, Ông Văn, chúc ông đêm nay ngủ ngon nhé.
Không hiểu sao nàng có cảm tưởng rằng ở bên kia đầu đây, người đàn ông đang mở mắt tỉnh táo như một con đom đóm. Giọng anh chàng hơi buồn một chút, và điều này làm nàng vui thích.
– Cảm ơn Cô Thư, tôi cũng chúc cô được như thế. Nhưng đêm nay tôi không ngủ ngon đâu. Tôi còn phải nghĩ nhiều về cô nữa , một cô gái có tiếng nói êm đềm…
Nàng kêu lên:
– Này thôi đi ông Văn. Nếu ông thích tán nhảm như thế, tôi sẽ không gọi lại cho ông nữa đâu. Alô… tôi cúp máy nhé.
– Alô, khoan đã… Alô…
Mẹ nàng đã gọi cửa và gọi tên nàng. Nàng nghe rõ tiếng nói của bà vọng lên, cho biết bà có đem về nhiều bánh và trái cây từ đám giỗ.
– Alô, ông Văn. Chào ông nhé, mẹ tôi vừa mới về.
Nàng gác ông điện thoại xuống, sau khi nghe loáng thoáng nhưng tiếng nói gì đó của người đàn ông. Cuộn băng nhạc trong chiếc máy thâu băng đã chạy hết.
Gần như tất cả mọi đêm trong tuần lễ sau, nàng và người thanh niên lạ mặt có cái tên là Văn đều nói chuyện qua điện thoại. Mỗi lần khoảng mười phút, khi về khuya, nàng đã học thuộc bài xong. Bài vở, thật dễ sợ, tâm lý học, đạo đức học này, tân đại số này… Trời ơi, vạn vật này… Ối giời ! Sao mà nàng lại chọn đi ban A thế không biết, cuốn sách dày cộm với đầy hình vẽ rối rắm và chữ nghĩa chằng chịt.
Cũng một phần tại cái anh chàng này nữa. Hắn bắt đầu làm nàng “chia trí”. Nàng cứ nghĩ ngợi lơ mơ hoài khi cầm cuốn sách, những chữ nhảy múa không nhìn thấy gì hết. Đồng hồ chỉ mười một giờ rưỡi. Nàng mỉm cười chắc anh chàng chưa đi ngủ vội đâu. Hắn còn đợi ngay ngáy bên ống điện thoại chờ nàng chứ, nói vẩn vơ đôi ba chuyện rồi mới thấy “thơ thới hân hoan” đi ngủ được.
Nàng thở dài, e mình cũng thế mất. Đêm nào có thằng em chúa tò mò và mách lẻo lên gác ngủ với nàng, nàng ngại không gọi cho anh chàng, cũng thấy băn khoăn như thiếu thốn một cái gì.
Nàng viết những chữ và hình vẽ vô nghĩa trên trang giấy. Chuông đồng hồ đánh “bong” một tiếng. Nàng nhấc ống điện thoại, năm con số đã thuộc lòng…
– Alô, xin lỗi cho tôi được nói chuyện với…
– Văn đây, tôi đây, tôi tưởng điện thoại của nhà Thư hôm nay hư rồi.
– Sao ông không nghĩa là tôi sẽ không gọi cho ông nữa, chắc thế nào cũng có ngày đó mà.
– Đâu được, cô Thư. Thư đâu làm thế được, phí phạm quá.
– Ơ kìa .. Tại sao lại phí phạm?
– Thế người ta phát minh ra máy điện thoại làm gì, nếu không phải là để cho thiên hạ nói chuyện với nhau?
– Nhưng nói chuyện công việc làm ăn, cần thiết thôi. Có lại cứ nói vẩn vơ dai dẳng như … chúng mình.
– A lô … “chúng mình”… cô làm ơn nhắc lại cái chữ dễ thương đó đi.
Nàng đỏ mặt lúng túng, phải im lặng một lát. Giọng nói của anh chàng bên kia lại ráo rức:
– Alô … Thư nói tiếp đi … “Chúng mình” thế nào ?
Nàng giận dỗi nói:
– Không thế nào cả, và cũng không phải là chúng mình chúng ta gì hết. Tôi nói nhầm chữ rồi.
– Không sao đâu Thư ạ. Đó là cái lầm đáng yêu nhất đời.
– Này ông Văn, nếu ông đùa quá đáng thì biết sẽ có chuyện gì không? Nhà tôi chắc sẽ phải nhường máy điện thoại cho một ông hàng xóm. Và tôi sẽ biến mất.
– Đừng … Thư. Thôi, tôi xin lỗi. Tôi hứa từ bây giờ sẽ nói chuyện rất đứng đắn.
Nàng cười nhỏ cho anh chàng nghe thấy.
– Rồi, nếu thế thì ông có thể bắt đầu được rồi.
– Biết bắt đầu nói chuyện gì bây giờ? Nói về tôi thì khó mà có chuyện đứng đắn. Hỏi về Thư thì có vẻ tò mò quá rồi Thư lại giận. Thôi, tôi sẽ nói chuyện bên… Tây, bên Mỹ là bảo đảm đứng đắn.
– Ông Văn đi ngoại quốc rồi sao ?
– Chưa bao giờ cả. Nơi mà tôi có thể đi xa nhất, giới hạn ở … Cầu Kiệu.
– Sao thế ?
– Thôi, không có gì cả. Tôi không nói về cầu cống gì nữa. Bây giờ tôi nói chuyện bên Mỹ đây. Ở Mỹ có một cô đào tên là Faye Dunaway…
– Tên nghe lạ quá. Có đẹp bằng Liz Taylor không?
– Ồ, Liz xưa rồi. Bây giờ Faye Dunaway là số một, nàng mới nổi nhưng thật tuyệt vời … Làm sao tôi có thể diễn tả được. Tóm lại nàng có vẻ đẹp vừa thánh thiện vừa lẳng lơ, vừa già dặn vừa ngây thơ … và vừa đủ thứ cả.
– Nghe ông ca tụng tôi cũng thấy mê nàng rồi. Nhưng cô đào ấy làm sao nữa …
– Mới có một phim do Dunaway đóng vừa chiếu ở Sài Gòn, một phim vĩ đại nhất trong năm, một chuyện tình tuyệt đẹp : Bonnie và Clyde, không thua gì Romeo và Juliette …
– Thế hả, nghe ông kể mê lắm, nhưng mà rồi sao nữa ông?
– À, bây giờ đến đoạn này mới thật là quan trọng … Cô Thư, chiều thứ bảy tới tôi mời Thư đi xem phim này nhé.
Nàng cắn môi bật cười. Gờm, cái anh chàng này vô đề dài dòng văn tự quá.
– Chà, bây giờ mới biết tài của ông Văn. Ông nói chuyện bên Tây bên Mỹ xa tít rồi khi không lại kéo về Sài Gòn.
– Thì rốt cuộc cũng phải trở về với “quê hương dân tộc” chứ. Thư đừng từ chối nhé.
– Ông đừng nói tôi là khách sáo ông Văn ạ. Nhưng nếu có phim hay như thế, thế nào con bạn của tôi nó cũng lại kéo tôi đi cho bằng được. Tôi với nó trót hứa sẽ đi xem chớp bóng chung với nhau hoài rồi.
Giọng nói của anh chàng có vẻ hơi buồn rầu và nản chí:
– Đi xem xi nê với bạn gái hoài, chán lắm Thư à.
– Có gì mà chán. Mình xem màn ảnh chứ có xem người bên cạnh đâu. Vả lại từ trước đến nay tôi chưa bao giờ đi xem chớp bóng với một người đàn ông nào khác, ngoại trừ ba tôi mỗi đầu tháng khi tôi được xếp hạng cao trong lớp.
– Xin lỗi, tôi tò mò một chút. Thư được mấy tuổi rồi ?
Nàng ngạc nhiên, ngần ngại một lát nhưng rồi cũng trả lời:
– 19. Mà ông hỏi làm gì thế ?
Giọng nói của anh chàng như bực tức hờn giận:
– Làm ơn nhắn với ba Thư rằng ông giữ độc quyền Thư trong 19 năm như thế là đủ rồi. Nhường cho người khác với chứ.
– Ông Văn lại nói đùa rồi. Thôi, ông đi xem một mình đi rồi thứ bảy tới kể lại cho tôi nghe cũng được.
Anh chàng gần như hét lớn:
– Xem cái gì nữa ? Tôi xem phim đó đã hai ba lần rồi, gần như thuộc lòng rồi.
– Trời ơi. Thế mà ông còn định rủ tôi đi xem nữa.
– Thì đi xem chớp bóng có phải chỉ là để xem không thôi đâu.
Anh chàng đột ngột ngừng lại, như biết mình lỡ lời. Nàng cũng im lặng bối rối … Bỗng có tiếng ba nàng gọi từ nhà dưới vẳng lên:
– Thư à, con gọi điện thoại cho chú Tư nhờ chú sáng mai lấy cho ba cái giấy máy bay đi Đà Lạt…
– Dạ.
Nàng vội vã nói nhỏ:
– Thôi ông Văn à, tôi phải cúp máy đi ngủ đây. Ba tôi sắp lên đây gọi điện thoại.
– Chết cha ! Gọi cho tôi hả ?
– Không phải đâu, chuyện công việc của ba tôi mà. Thôi chúc ông Văn ngủ ngon nhé. Đêm mai nhớ kể chuyện phim cho tôi nghe.
Nàng tần ngần nghe lời chúc ngủ ngon tương tự của anh chàng rồi khẽ ấn nút nhỏ cúp máy.
Nàng không còn nghe chuông đồng hồ vừa đánh thêm một tiếng ngân dài buồn tênh.
Tối hôm sau, lần này đến phiên anh chàng lại đề nghị thêm một chuyện mới lạ, sau vụ rủ đi xem chớp bóng bị thất bại.
– Thư à, chiều mai Thư có ở nhà không? Tôi đến nhà thăm Thư nhé.
– Ồ, không. Nói chuyện qua điện thoại là đủ rồi ông Văn ạ.
– Nhưng tôi muốn … biết mặt Thư. Đừng bắt tôi mỗi đêm cứ nằm nặn óc tưởng tượng chứ.
– Ai bảo ông tưởng tượng làm gì ? Biết mặt mà làm gì ông Văn?
– Thì … ít ra là mình cũng biết đã quen với một ai, người đó như thế nào chứ?
– Thư là thế .. đấy ấy . Nhưng thôi, nếu ông cứ đòi mãi chắc Thư phải xiêu lòng mất, nhưng sợ khi thấy mặt rồi, ông chê Thư “xí” mà không thèm nói chuyện nữa thôi.
– Đời nào có chuyện đó. Chiều mai tôi lại nhà Thư nhé.
– Không được đâu. Ông cho Thư biết địa chỉ đi.
Nàng ghi vội cái địa chỉ trên giấy rồi ngạc nhiên nói:
– Ủa. Thế là nhà ông nằm trên đường Thư đi đến trường đấy. Chiều mai 5 giờ Thư đi học về, ông cứ ra đứng đợi trước nhà là biết.
– Trời ơi. Làm sao biết ai là Thư được. Mỗi chiều có cả ngàn cô gái đi qua trên đường.
Nàng bật cười, mình ngốc thật, làm sao anh chàng nhận ra mình được. Nàng cắn môi suy nghĩ một chút rồi mỉm cười nói:
– Thôi được rồi. Chiều mai Thư sẽ đi bằng một chiếc Cady mầu nâu. Thư mặc áo tím dễ nhận ra lắm. Ông nhớ đấy nhé, một lần thôi đó. Ông có cận thị thì ráng chịu.
– Nhớ kỹ lắm rồi. Áo tím đẹp lắm.
– Thôi đi. Vì ông mà Thư phải mặc áo tím đó. Chứ trời Sài Gòn nóng như thế này, ai mà mặc màu đó bao giờ, quê quá. Nhưng … làm sao mà nhận ra ông ?
– Tôi sẽ ra đứng trước nhà. Thư biết nhà tôi rồi.
– Ông mặc một cái áo gì đặc biệt một chút đi.
– Tôi làm sao có áo tím. Thôi, tôi sẽ cầm một cuốn sách to tướng như cuốn tự điển. Buổi chiều xe cộ đầy đường mà Thư thấy ai đứng cầm sách chứ không đọc, mắt lại lò dò quan sát từng người đi qua. Chắc chắn là tôi đó.
– Chiều mai nhớ từ 5 giờ ông Văn nhé. Thôi bây giờ Thư phải cúp máy đây.
– Trời ơi, sao bữa nay nói chuyện ít vậy?
– Để bắt đền ông đó. Vì ông mà mai Thư phải lục cái áo tím ra này, phải đi học về đúng giờ kẻo ông chờ này, phải đi xe chầm chậm để ông nhìn cho kịp này … phải … đủ thứ cả.
– Phải … đánh một chút phấn hồng cho đẹp này.
– Thôi đi ông. Đi học mà phấn sáp gì. Thư cũng làm biếng sửa soạn lắm, có xấu cấm ông không được phê bình nha.
– Đâu dám. Nhưng mà …
– Thôi, bữa nay ngủ sớm đi ông Văn. Ông ngủ ngon nhé, và đừng uống cà phê ban đêm nữa.
Giọng anh chàng hối hả kêu lên ơi ới nhưng nàng vội cúp máy cho bỏ ghét, mình mới bằng lòng anh chàng một chuyện rồi, không nên để anh chàng khoái chí thấy thắng thế mà vòi vĩnh mãi.
Buổi chiều, khi tan học, nàng phải rủ thêm một con bạn cùng về. Nàng ngại đi một mình qua nhà anh chàng Văn, không hiểu sao nàng vừa thấy thích thú hồi hộp vừa sợ.
Nàng bắt con bạn phải lái chiếc xe Cady đèo nàng, còn nàng ôm cặp ngồi sau cho yên bụng. Con đường vẫn còn nhiều nắng, đầy những xe cộ chen chúc, và không hiểu tránh lách thế nào mà con bạn lại cho xe chạy sát trong lề, gần trước cổng nhà anh chàng.
Ngay lúc đó tim nàng đập thình thịch. Nàng vừa thấy một lũ đàn ông tụ năm tụ bảy trước công nhà khá lớn để đúng con số địa chỉ của anh chàng. Không biết trong đám đó ai là Văn. Nàng không dám nhìn kỹ. Nhưng nàng bỗng giật mình khi nhận ra một người tay cầm sách đứng ngó mông ra đường. Hắn mặc một chiếc sơ-mi ca rô đỏ chói thật khó chịu, đeo kính cận thị to tướng và lại đẫy đà to béo.
Nàng thấy thất vọng quá, người cầm sách đúng là Văn rồi, nhưng trái ngược hẳn sự tưởng tượng của nàng.
Bọn đàn ông bỗng chú mục đến hai cô gái đi xe Cady, họ chỉ trỏ cười cợt gì đó. Nàng nóng bừng mặt, thúc cùi chỏ vào lưng con bạn:
– Phóng nhanh lên mày.
– Sao vậy?
Con bạn tỏ vẻ ngạc nhiên vì nó không biết chuyện kết bạn “tâm giao điện thoại” này. Nhưng rồi chiếc xe cũng vọt đi bỏ mặc cổng nhà xa dần sau lưng. Tự nhiên nàng thấy hơi hối hận trong vụ gặp mặt chớp nhoáng này. Anh chàng Văn có giọng nói nghịch ngợm dễ thương, lại có thể béo phục phịch thế kia ư ? Áo đỏ cao bồi nữa, “quê” chết được.
Đêm đó nàng gọi điện thoại trễ hơn thường lệ. Khi giọng nói của Văn vang lên trong ống nghe, nàng lại thấy cái cảm giác ấm áp vui vẻ như mọi đêm, nỗi bực dọc vô cớ tiêu tan mất.
– Cô Thư, thế là tôi biết mặt cô rồi.
Không hiểu tại sao nàng vẫn không tin giọng nói thân thiết này là của người đàn ông áo đỏ hồi chiều.
– Thư cũng biết mặt ông rồi. Ông Văn có cái áo đỏ nổi quá nhỉ, lại đeo kính cận thị trong oai ra phết.
Giọng anh chàng ngạc nhiên:
– Thư nói sao? Tôi mặc áo đỏ bao giờ đâu? Tôi cũng đâu đeo kính cận thị.
Nàng ngạc nhiên không kém:
– Thì ban chiều trước cổng nhà ông đó. Cái ông mặc áo đỏ cầm sách chẳng phải là ông là gì ?
Anh chàng la lên một tiếng rồi hấp tấp nói:
– A lô, cô Thư. Thư nhìn lầm rồi, cũng vì lỗi tại tôi cả. Đang đứng chờ Thư thì lũ bạn kéo đến tán gẫu, cái thằng mặc áo đỏ ấy là bạn trên trường với tôi. Hắn thấy tay tôi đang cầm cuốn sách là giật ngay lấy, hắn là một thằng mọt sách…
Nàng à lên một tiếng, hiểu hết đầu đuôi. Tự dưng nàng thấy nhẹ người, anh chàng là ai cũng được nhưng ít nhứt không phải là gã có bộ mặt khờ khờ đó.
Nàng trách móc:
– Trời ơi. Đã dặn kỹ mà, thì Thư cứ đúng theo ám hiệu của ông, tìm người nào cầm sách thôi.
– Xui thật. Cái thằng quỷ quái ấy không hiểu sao lại giật cuốn sách đúng lúc Thư đi qua, tôi không kịp giải thích. Thế Thư có nhìn thấy tôi không, tôi đứng bên cạnh hắn đó.
Nàng nhíu mày cố tưởng tượng lại nhưng không tài nào nhớ được mặt mày của một bọn người đó. Lúc ấy nàng chỉ bối rối nhìn anh chàng cầm sách thoáng nhanh rồi quay mặt đi.
– Ông Văn ơi, làm sao Thư thấy ông được. Bạn ông đông quá làm Thư thấy khớp, đâu dám nhìn ai nữa.
– Thế thì uổng thật. Nhưng tôi hên hơn Thư rồi. Tôi thấy rõ mặt Thư rồi, cô gái lái xe Cady mặc áo tím.
Nàng bỗng phá ra cười ròn tan, tay nàng che lại ống nghe nhưng anh chàng vẫn nghe thấy. Nàng cố nín cười nhưng không được. Giọng của Văn vang lên, ngạc nhiên lẫn bực tức:
– Có gì mà Thư cười dữ vậy?
Nàng vẫn ôm bụng cười đến chảy nước mắt. Giọng anh chàng ngạc nhiên hỏi mãi. Một lát sau, nàng cắn môi cố nén cười, nói chậm rãi:
– Ông Văn, Thư nói này ông hứa đừng giận Thư mới dám nói.
– Thư nói đi. Có gì mà rào đón thế, tôi không giận đâu.
Khi nghĩ đến chuyện hồi chiều nàng lại muốn bật cười nữa. Nhưng nàng cố nghiêm giọng, nói sự thật, và sự tinh nghịch của nàng.
– Cô mặc áo tím ban chiều không phải là Thư đâu, bạn của Thư đấy. Thư phải xúi mãi nó mới lấy áo tím của Thư mặc, còn Thư mặc áo trắng ngồi đằng yên sau đó. Ông Văn không nhận ra được Thư sao?
Anh chàng lặng yên một lát, có vẻ ngạc nhiên và chắc là cũng như nàng đang cố nhớ lại buổi chiều gặp gỡ rắc rối đó. Nàng nói tiếp:
– Tự dưng Thư thấy sợ. Thư muốn ông Văn khoan biết mặt Thư đã, nên mới bày trò đổi áo “Lê Lai cứu chúa” ấy.
Anh chàng vẫn yên lặng giây lâu rồi giọng nói nhỏ vang lên có vẻ trầm ngâm và buồn:
– Tôi thì vô tình, nhưng Thư đúng là cố ý gạt tôi. Thư à, tự dưng tôi có cảm tưởng rằng Thư .. không phải là người thành thật. Tôi … hơi buồn.
Tiếng nói buồn bã giận dỗi ấy bỗng như làm nàng nhói đau nhè nhẹ, cảm giác mà nàng chưa hề có bao giờ, ngay cả khi giận lẫy với bạn bè. Nàng hối hận, vội vàng nói nhanh:
– Cho Thư xin lỗi. Ông Văn đừng giận Thư nữa, ông đã hứa trước là không giận rồi mà.
Bên kia đầu dây lặng thinh, chỉ có tiếng vo vo buồn tẻ trong ống nói. Nàng băn khoăn đợi một lúc lâu mới nghe có tiếng của anh chàng nặng nề vang lên:
– Thư không muốn cho biết mặt thì thôi, không muốn nói chuyện nữa cũng được. Tôi sẽ không đòi gì nữa.
Nàng cắn môi muốn bật khóc. Nàng cầm ống điện thoại đi về phía giường, và nàng ngã xuống, má tựa êm ái lên chiếc gối. Giọng nàng chợt mềm đi:
– Đừng giận Thư, anh …
Nàng vô tình thốt ra từ “anh” thật dễ dàng và không hối hận chút nào, dầu chưa hề biết mặt nhưng nàng nghĩ rằng chàng là một điều gì thân yêu nhất của nàng.
Mặt nàng bỗng đỏ hồng sung sướng khi vừa nghĩ đến ngày sinh nhật sắp tới của nàng, thông thường vào ngày đó ba má cho phép nàng tha hồ mời bạn bè lại nhà. Nàng mừng rỡ nói:
– Thôi để Thư nói cái này, anh sẽ không còn giận Thư nữa. Thứ ba tới là ngày sinh nhật của Thư. Thư có mời vài đứa bạn thân lại thôi. Mời anh Văn đến cho vui nhé.
Giọng anh chàng có vẻ tươi ngay:
– Trời ơi, tôi bay cả hai cánh đến liền ngay chứ.
Nàng bĩu môi chế giễu, nhưng ở VN chưa có điện thoại truyền hình nên dĩ nhiên anh chàng làm sao thấy được. Nàng nói bằng giọng tinh nghịch:
– Rồi anh sẽ hết tưởng tượng về Thư nữa. Anh tha hồ mà quan sát. Thư sẽ giới thiệu cô áo tím cho anh nữa.
– Sinh nhật… Tôi cảm ơn nhưng ngày sinh nhật. Thứ ba sinh nhật của Thư … Thế mà thứ tư đúng là ngày sinh nhật của tôi rồi. Tôi đến mừng Thư rồi Thư cũng phải đến nhà chia vui với tôi nhé.
– Thôi đi. Sao mà Thư nghi ngờ cái ngày sinh nhật của anh thế. Chuyện đó tính sau, bây giờ anh phải lo kiếm quà cho Thư là vừa.
– Dĩ nhiên rồi. Một món quà vĩ đại … Một con búp bê biết đánh đàn dương cầm và hát.
– Thôi. Thư có nhiều búp bê rồi, Thư cũng không thích đâu. Hay là anh đem cho Thư cuốn sách gì gì của anh viết đó.
– Trời ơi !
– Sao thế ? Anh Văn?
– Không … không có gì cả. Chỉ sợ tôi không còn cuốn nào, in lâu rồi … và nhà xuất bản đem đi phát hành hết.
– Thôi thế để Thư vào tiệm sách tìm cũng được. Cái nhan đề gì Thư quên rồi … Tình yêu … đôi mươi … hả anh ?
– “Hai mươi” nhưng đôi mươi hay hai mươi gì cũng được. Nhưng Thư đừng đi tìm mất công, để tôi đem đến cho.
– Anh nhớ đừng quên đấy nhé, và cũng đừng quên tối thứ ba tới, khoảng 8 giờ. Thư để dành bánh ngọt chờ anh đến mới ăn đó.
– Chắc chán tôi sẽ đến chứ. Dầu bất cứ điều gì xảy ra, ngoại trừ …
Nàng lo sợ hỏi:
– Ngoại trừ điều gì thế anh?
– Không … tôi nói đùa.
– Anh Văn? Anh có cái gì giấu Thư phải không?
Anh chàng trả lời nàng. Giọng anh chàng hấp tấp nói trong máy: “Đêm thứ ba, tôi sẽ đến”, và lần đầu tiên từ đêm hai người nói chuyện với nhau, anh chàng chúc nàng ngủ ngon trước và cúp máy.
Nàng cảm thấy thoáng buồn bâng khuâng. Trời đổ mưa giông lớn, giọt nước và gió bập bùng ngoài cửa kính.
Đêm nay sinh nhật, nàng buồn giận chết được. Đồng hồ đã chỉ 9 giờ vẫn không thấy Văn đâu cả. Địa chỉ nhà nàng đâu có khó mà tìm và anh chàng có lần nói là đã đi qua đi lại trước nhà nàng rồi mà.
Nàng không nghe gì hết tiếng cười đùa nói chuyện của lũ bạn đang xúm xít ngồi quanh bàn. Băng nhạc mới mua vang lên những âm thanh làm nàng nôn nao thêm.
Nàng chạy vội lên gác, gọi đến chàng nhưng giọng nói của một người lạ nào đó cho biết Văn đã đi đâu từ hồi gần 8 giờ rồi. Nàng cắn môi muốn khóc, thế mà dám hứa chắc với mình, chắc là anh chàng vô tâm ấy quên khuấy mất đêm này và đã đi chơi với bạn bè, hay là với một “cô” nào rồi. Nàng nói thầm trong đầu, mình ngu quá. Người ta là đàn ông, đàn ông thì quen nhiều người, có ai hơi đâu để ý đến một kẻ xa lạ không hề thấy mặt trong ống điện thoại này đâu. Người ta đời nào xem cái vụ chuyện trò lẩm cẩm này ra gì đâu.
Có tiếng kêu của con bạn nàng:
– Thư ơi, mau xuống thổi tắt nến rồi khai mạc đi. Thiên hạ đang ngồi chờ chia bánh đây.
Nàng lau vội giọt nước mắt, thẫn thờ bước xuống. Cảnh tượng như mơ hồ. Màu đèn đỏ và hoa giấy, những bộ mặt tươi cười, vui vẻ, ngọn nến lung linh cắm trên chiếc bánh có đề tên nàng.
Nàng gượng cười tiến lại. Khi nàng thổi tắt phụt những ánh nến trong tiếng vỗ tay reo mừng, nàng bỗng sợ hãi, có cảm giác như những ngọn lửa tắt đi là tắt luôn một hạnh phúc mới lạ êm đềm nào, là tan biến niềm vui, là một kẻ thân yêu biến mất trong bóng tối.
Một cái gì đã mất đi ánh sáng, đêm nay đổ vỡ tan tành trong tâm hồn nàng.
Nàng tự hứa sẽ không bao giờ nhớ đến những con số điện thoại của chàng nữa. Nhưng một tuần lễ đi qua, nàng bỗng thấy mình cầm lấy ống điện thoại. Nhưng bên kia đầu dây, chỉ có tiếng nổ lốp bốp đều đều, dấu hiệu cho biết điện thoại nhà chàng bị hỏng hoặc khu phố đó bị đứt đường dây điện rồi. Nàng bỏ mạnh ống nói xuống, cơn giận lâu ngày đã nguội phần nào và bây giờ chỉ thấy buồn bã.
Những chiều đi học về, nàng liếc vội vào nhà chàng. Một cư xá đông người ở, lố nhố bọn đàn ông đứng trước cổng nhưng biết ai là Văn hay chàng biết có đó không.
Vào tháng sau, trước khi theo ba má lên Đà Lạt nghỉ hè, nàng quyết định gọi cho chàng lần chót. Lần này có tiếng trả lời, nhưng là tiếng nói có vẻ của một lão già.
– Ông vui lòng cho tôi nói với ông Văn.
– Ông Văn hả … ông ấy không ở đây cả tháng nay rồi.
Nàng giật mình suýt kêu lên thành tiếng. Giọng lão già nặng nhọc cất lên:
– Alô… Cô gì đó … Cô còn đấy không?
– Dạ… còn, nhưng thôi cảm ơn bác. Ông Văn đã hết ở đó rồi thì thôi…
– Alô…cô khoan cúp máy đã. Tôi là quản lý cư xá này đây. Hôm qua tôi mới nhận được một lá thư của ông Văn không biết nhờ gởi cho ai đây … cô chờ một chút nhé.
– Dạ.
Tim nàng đập mạnh, nàng áp sát tai vào ống nghe, thầm mong đường dây điện thoại đừng bị đột ngột cắt đi. Giọng lão già vang lên:
– Alô. Thư của ông Văn nhờ gởi… không phải … nhờ đọc dùm cho … sao kỳ cục thế này … cho “Cô Thư, người sẽ gọi tôi mỗi đêm từ 11 giờ”.
Nàng kêu lên:
– Đúng rồi. Cháu tên Thư, nhờ bác đọc cho nghe một chút… có dài lắm không.
– Không, cũng ngắn. Cô chờ chút nhé … gớm, chữ gì khó đọc thế này … Alô, cô chờ chút nhé. Nhỏ ơi, lấy cho tao cặp kính.
– Sao bác?
– Không… Tôi không nói với cô … xong rồi, tôi bắt đầu đọc đây “Ngày…tháng…năm…Thư mến. Tôi đã nói dối với Thư nhiều điều. Tha lỗi cho tôi nhé vì dù sao thì tôi cũng chẳng bao giờ gặp Thư nữa…”
– Sao thế?
– Trời ơi, cô đừng ngắt lời. Làm sao tôi biết được. Alô…tôi không có nhiều thời giờ đâu, cô cứ yên mà nghe.
– Dạ… xin lỗi bác. Bác cứ đọc đi ạ.
– Được rồi, lúc nãy là “Chẳng bao giờ gặp Thư nữa …Bây giờ đến ” giờ đây tôi phải nói thật với Thư một lần cuối, tôi chẳng phải là một văn sĩ gì ráo. Thư có tìm khắp các tiệm sách cũng chẳng thấy được cuốn nào gọi là Tình Yêu Hai Mươi của tác giả Hoàng Văn cả. Trước đây tôi là một sinh viên, nhưng thi rớt vài lần, người ta gọi đi lính, tôi không đi và trở thành một kẻ trốn tránh. Cứ ở mãi trong nhà, chỉ có một công việc là chờ Thư gọi điện thoại mỗi tối. Tóm lại, tôi là một kẻ học hành dang dở, một văn sĩ quèn dang dở và từ khi biết Thư lại có thêm một tình cảm dang dở nữa …
Nàng bắt đầu cảm thấy mình khóc, những giọt nước mắt chảy dài trên mặt. Giọng của lão già vẫn đều đều:
– Tôi là một người không ra gì, cả mấy tháng nay không dám đi đâu xa. Tôi sợ mọi người, tưởng chừng ai cũng có thể là một gã cảnh sát hỏi giấy hợp lệ quân dịch…
Đêm tôi đi xa nhất là đêm sinh nhật của Thư, phải qua một cây cầu quái ác, và thế là tôi bị ốp nơi đó.
Giờ thì chắc Thư đã hiểu tại sao đêm đó tôi không đến được, phải không?
– Em đã hiểu… Em xin lỗi anh.
Lão già bực bội cằn nhằn:
– Cái cô này, đã bảo đừng ngắt lời… Người ta nói với cô chứ phải là tôi đâu mà trả lời.
– Dạ… xin lỗi bác, cháu sẽ không nói gì nữa.
– Nghe tiếp đây. “phải không” rồi gì nữa… À… đây này: Tôi cũng không dám hẹn Thư một ngày nào nữa. Bây giờ tôi đã ở một nơi xa lắm rồi, một nơi không có sinh nhật, không có quà tặng, không có tiếng cười, không có áo tím hay sách vở gì hết. Có lẽ khi ra trường, tôi sẽ bị đưa đến một đồn trại nào xa hơn nữa. Thư hãy quên tôi đi như tôi đã cố quên Thư rồi. Và hãy tìm một con số điện thoại khác, biết đâu…
Ký tên, chấm hết. Hết rồi đó cô.
Nàng nói nghẹn ngào:
– Anh ấy có cho địa chỉ lại không?
– Không, cũng không có dấu bưu điện. Thơ nhờ người nào đưa tay mà. À… còn nữa… may không tôi quen cái tái bút này. Cô nghe nhé.
– Dạ.
– Tôi không sống nổi. Thế giới này có quá nhiều cơ hội cho bọn phè phỡn ngồi trên đầu thiên hạ nhưng không có chỗ cho người chỉ muốn có một đời bình yên tầm thường, chỉ muốn làm những điều nhỏ mà hắn ao ước.
Tôi đã chết trong đám người ngợm ấy. Không còn dịp nào để cho tôi nói với Thư điều mà tôi ôm ấp, tưởng chừng hư ảo quá, nhưng càng ngày tôi càng biết điều đó có thật.
Nàng khóc:
– Anh nói đi, em nghe …
Lão già thở dài:
– Hết rồi, thơ viết ngang đó là chấm hết. Thôi, cô còn cần gì nữa không?
– Dạ… không. Cám ơn bác nhiều … chúc bác ngủ ngon… cháu cúp máy đây ạ.
– Chúc cô ngủ ngon, và đừng có khóc. Nãy giờ tuy không hiểu gì cả nhưng cũng đoán là chuyện buồn… Thôi chào cô nhỏ.
Từ đó nàng bỗng sợ hãi chiếc máy điện thoại, nó làm nàng đau đớn. Trong một đêm hoang vắng nào, nàng thẫn thờ nhấc ống nghe và tay quay một cách máy móc hàng số quen thuộc.
Nhưng bên kia đầu dây, không còn ai trả lời.

Hoàng Ngọc Tuấn

Previous Older Entries

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: