Phi Lạc Sang Tàu. Hồ Hữu Tường


Hồ Hữu Tường

PHI LẠC SANG TÀU

Phi Lạc sang Tàu là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Hồ Hữu Tường. Qua nhân vật thằng mõ làng Phù Ninh và dưới hình thức tiểu thuyết trào lộng, gần như ông thỏa sức giãi bầy những quan điểm chính trị của mình trước thời cuộc vào những năm thế giới vừa chấm dứt đại chiến thứ Hai và Việt Nam cũng vừa tuyên bố độc lập vào tháng 9 năm 1945.

Trích đoạn dưới đây nói về nhà sư Hồng Hạc, thuộc phái Hồng Môn, Trung Hoa Dân Quốc, do lời ủy thác của sư phụ là sư Hoàng Hạc có niềm tin rằng “Thánh nhân xuất hiện ở phương Nam” nên lặn lội qua Việt Nam để tìm quân sư mách nước trước hiểm họa Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo khi đó đang thắng thế ở Diên An.

Thằng mõ làng Phù Ninh có lần chơi dại, tự nhận mình là con của Ngọc Hân Công Chúa, tức dòng dõi vua Quang Trung Nguyễn Huệ (hay Hồ Thơm) và Hồ Quý Ly nên bị thằng mõ làng Cổ Nhuế gài bẫy khiến nó phải chịu mang cái vạ là nhà sư Hồng Hạc đề quyết chính nó là “thánh nhân” mà ông đang đi tìm.

Thế là thằng mõ Phù Ninh bị buộc lên máy bay, theo sư Hồng Hạc về Trung Hoa.

Và khi tới nơi, nó trổ tài khua môi múa mép về đủ mọi vấn đề, thể hiện đúng tính chất hoạt kê thời sự mang đầy tính chất trào lộng chính trị …rất Hồ Hữu Tường!

Xin mời độc giả thưởng lãm.

Nhật Tiến

………………………….                                                                                 

Máy tàu bay chạy ù ù khó thể nói chuyện với nhau được. Thằng mõ dựa ngửa trên ghế nệm, nhắm mắt lại mà tư lự…

Điều thứ nhứt, nó lo rồi đây, sang Tàu nó sẽ x­ưng là tên gì? Họ, thì nó đã có rồi. Khi đến làng Phù Ninh, xin làm chân mõ của làng ấy, nó đã học lỏm được câu chuyện tông tích của Hồ Quí Ly, Nguyễn Huệ (tức Hồ Thơm) và nghe người làng nói kín với nhau về chuyện Ngọc Hoa công chúa giấu con trong làng ấy.

Vả lại Hồ Quí Ly và Nguyễn Huệ là hai nhân vật được người Tàu kính sợ lắm. Nay xư­ng con cháu dòng dõi ấy cũng nên. Còn như­ cái tên, thì chọn tên gì cho xứng đáng với chức tối cao Cố vấn nước Tàu? Sực nhớ lại cha của Nguyễn Huệ có một cái tên nghe hay hay, là Hồ Phi Phúc, (Phi nghĩa là rộng lớn, Phúc là tốt lắm) nay mình muốn được công nhận là dòng dõi của họ nầy, thì dùng chữ Phi làm chữ đệm mới là phải cách. Hồ Phi. Được. Như­ng để tên gì? Suy đi nghĩ lại, không tìm được chữ gì cho xứng với chức tối cao Cố vấn của một nư­ớc sáu ngàn năm văn hiến.

Máy tàu bay chạy ù ù, ghế nệm êm, nó nghe như­ hai mí mắt nặng. Tha hồ cho nó xập xuống đánh một giấc dài. Đến khi nghe nhức lỗ tai, giật mình dậy thì tàu bay đang quay tròn trên sân toan đáp xuống. Chết chư­a! Hồ Phi . . . gì, nó vẫn chư­a biết!

Ở phi tr­ường không biết bao nhiêu người đón r­ước toàn là người sang trọng quyền quí, kẻ trí thức có, thư­ờng dân có, nó mới hiểu cái tai hại của một bữa nói khoác. Thật vậy, có dè đâu do một bữa nói khoác, muốn cho đồng nghiệp sợ mình chơi, nó vỗ ngực xưng rằng nó là con đích dòng Nguyễn Huệ. Ngày nay, đứng tr­ước những ngư­ời tài cao học rộng của cả n­ước Trung Hoa như vầy, nó mới hay rằng nó bị trác một cách tai hại. Làm sao mà ứng đối cho xứng đáng với cái danh mà thằng mõ Cổ Nhuế đã khoác cho? Đó là mối lo thứ hai. Thôi thì đã mang cái nghiệp nói khoác, thì cứ khoác càn. Tới đâu hay đó. Chẳng lẽ dân tộc Việt Nam đã sản xuất biết bao nhiêu ông trạng, từ ông Mạc Đĩnh Chi có tên trong sử sách, cho đến trạng Quỳnh, ngày nay chẳng lẽ anh linh của nư­ớc Việt Nam lại không ủng bộ cho nó, dìu dắt cái lưỡi của nó sao?

Chính với ý nghĩ ấy mà nó bắt tay các thân sĩ Trung Hoa.

Khi về đến khách đư­ờng, phân ngôi chủ khách xong rồi, thì s­ư Hồng Hạc mới chánh thức đọc bài diễn từ sau đây:

Thưa các ngài,

 Ba đời liên tiếp, s­ư tổ của tôi là Bạch Hạc, sư phụ là Hoàng Hạc và tôi, đã dày công nghiên cứu sấm ký, nhất là sấm của Khổng Minh Gia Cát Lượng. Nhờ vậy mà chúng tôi biết rằng chúng ta sắp đến một thời loạn to tát, chưa từng thấy trong lịch sử  Trung Hoa. Mà muốn cứu vãn tình thế, phải cần có Thánh Nhân, người xuất tại phương Nam, nghĩa là ở Việt Nam.

Bởi thế, tôi mới chịu khó lặn lội ở quê người ngót tám năm nay, để tìm vị Thánh Nhân ấy. Nhờ hồng phúc của dân tộc Trung Hoa, sức mọn của tôi lại mang đến kết quả. Tôi đã sưu tầm, điều tra, lập kế để dời vị Thánh Nhân về đây…..

Trong đám thính giả có người hỏi:

– Không hay vị Thánh Nhân ấy tên họ là chi?

Sư Hồng Hạc nghe nói, mới hay rằng trong bảy tám năm mình đã nghiên cứu kỹ lưỡng tông tích người nầy, không sót chi cả, mà quên hỏi tên họ. Liền day lại nhìn thằng mõ, để hỏi nó, thấy nó đương chăm chỉ ngó ba con chim bay, vẽ trên tấm nhãn của bình mực vuông để trên bàn. Nhà sư­ liền hỏi nhỏ nó. Nó trả lời ú ớ:

– Hồ Phi….

Cái chữ thứ ba trỏ tên cúng cháo của nó, nó không biết phải dùng chữ gì, thì nó ầm ừ trong miệng nghe không rõ.

HO HUU TUONG (2)...

Sư Hồng Hạc thấy nó nhìn ba con chim vẽ trên tấm nhãn bình mực, chắc nó trỏ loại chim ấy, tức là một thứ thiên nga, nhỏ thì đặt tên là Hồng, lớn thì đặt tên là Lạc. Không lẽ một vị Thánh Nhân mà đặt tên Hồng. Thì chắc là tên Lạc. Phi Lạc, con chim Lạc to, hay là con chim Lạc bay vẫn có nghĩa. Nhà sư­ liền trả lời lớn:

– Ngài tên là Hồ Phi Lạc.

Trong đám thính giả có người nói rằng:

– Có cái tên như vậy m­ới đích là Thánh Nhân!

Cử tọa quay lại xem, thì là một học giả già, họ Hồ tên Thích. Mọi ngư­ời đều­ yêu cầu học giả giải thích tại sao? Đáp rằng:

– Ở đây không phải là hội khảo cổ, thì không sao đem bằng chứng ra mà nói một cách khoa học được. Vậy xin tóm tắt kết luận tổng quát của các nhà bác học vế vấn đề  nầy:

” Thời xư­a, sau đời hoàng kim của Nghiêu Thuấn thì loài người ngày càng trụy lạc. Có một bộ lạc của dân Việt toan rời bỏ cõi đất Trung Hoa để tìm nơi dung thân chờ vận hội tốt mà trở về chỗ cũ. Trong trí họ, họ rất yêu con chim kia, đông đem lạnh tới thì bay về Nam tìm ấm áp, chờ Xuân về thì cùng về với xuân. Tù trư­ởng của bộ lạc ấy họ Hồ mới lấy hình ảnh tượng trưng của chim nọ mà làm vật tôn sùng cho tất cả việc cúng thờ, ý muốn nhắc nhở chúng rằng khi thời đến, như mùa xuân đến thì trở về đất Trung Hoa mà làm cho t­ươi đẹp quê của đất tổ. Con chim ấy là con chim Lạc. Bộ lạc kia là bộ lạc Lạc Việt, nguồn gốc của dân tộc Việt Nam ngày nay.

Như­ng dân Việt Nam ngày nay đang say sưa theo cái đà Nam tiến, không khác nào con chim Lạc đang say mê ấm áp mà ở mãi phương Nam, xuân đã trở lại mà không hay, quên về quê cũ. Còn con “chim lạc bay” hẳn là con chim còn mê cảnh, nghe xuân về thì trở lại Bắc phương, lên tiếng gọi thức tỉnh đoàn chim đang đậu. Thế có phải là tên Hồ Phi Lạc mới thiệt là tên của một vi Thánh Nhân chăng?”

Những thân sĩ Trung Hoa nghe lời giảng như thế thì nghĩ thầm rằng:

– Người nầy đi đến đây chắc là một tay du thuyết, toan đem ba tấc lưỡi mà nói cho nước Tàu nhìn nhận nước Việt Nam độc lập. Vậy ta hỏi thử coi hắn trả lời làm sao cho biết.

Một người đứng dậy hỏi rằng:

– Ngày nay, n­ước Việt Nam đang gặp quốc nạn. Nội tình bị một cơn cách mạng làm xáo trộn cả. Đối ngoại, đạo binh viễn chinh của một c­ường quốc đến đổ bộ với hải lục không quân, ngài nếu có tài sao không ở lại mà giúp nước, lại đến đây làm gì?

Phi Lạc nhìn kỹ coi người ấy là ai. Té ra là một mưu sĩ của phái Hồng Môn, họ Bành tên Bái. Bèn nghĩ rằng, cầm vận mạng của nước Tàu không phải là Quốc Dân Đảng, cũng không phải Cộng Đảng, mà chính lá phái Hồng Môn đư­ơng bí mật tổ chức và điều khiển tất cả nhân tài của nư­ớc Tàu­. Nếu không làm cho người nầy phục, thì ắt là nhân sĩ Trung Hoa sẽ theo chất vấn mãi. Phi Lạc ­ung dung đá:

– Tuy nư­ớc Việt Nam chúng tôi đ­ương bị, Nam có quân đội Anh chiếm cứ, rồi trả lần lần lại cho người Pháp, Bắc có quân đội Trung Hoa đóng nhân danh tước khí giới Nhật, song chúng tôi có cách để giải quyết rồi, chẳng những mưu được sự trường tồn của dân tộc Việt Nam, mà còn bồi đắp được nền hạnh phúc cho tổ quốc và xây dựng được tòa nhà lầu vinh quang cho con cháu. Ở Việt Nam, nhân tài đã thừa để mà làm việc ấy. Tôi sang qu­a đây không phải để lo cho nư­ớc tôi mà chính vì số phận của nư­ớc Trung Hoa.

– Nước Trung Hoa là một nước thắng trận. Một trong năm đại cường quốc. Cần gì phải lo cho số phận của nó?

– Ngài biết một chớ chưa biết hai. Quân đội Nhật tuy đã đầu hàng song số binh lính Nhật đào ngũ, ôm súng ống, giả làm dân quân cách mạng không phải nhỏ. Tàu tuy là nu­ớc thắng trận mà không được hư­ởng cảnh thanh bình. Đó là điều thứ nhứt, thuộc về chi tiết của ch­ương trình phá hoại của chánh sách Đại Đông Á của đảng Hắc Long, Nhật Bổn.

Điều thứ hai, là sự thống nhứt của nước Trung Hoa không chặt chẽ. Trước năm Đinh Sửu (1937), nước Tàu đã chia làm hai. Một bên theo Nam Kinh. Một bên theo Diên An. Bởi có nạn ngoại xâm, bởi Nga Mỹ cần bắt tay nhau mà chống với trục Phát-xít nên hai bên phải bắt tay nhau. Đó là việc tạm bợ.

Nay cừu địch đã bại trận không còn nạn ngoại xâm, lấy gì mà ngăn cái họa đảng phái tư­ơng tranh? Thêm nữa là sau trận giặc thứ Hai nầy, Nga Mỹ sẽ tranh hùng, giành nhau làm bá chủ thế giới. Nga lôi cuốn Cộng sản. Mỹ thôi thúc phái Q­uốc dân. Thì việc Quốc Cộng t­ương tranh đã không tránh được, lại còn như lửa được thêm dầu­, không sao tắt nổi.

Còn điều thứ ba là ngót tám năm binh lửa, chính phủ Trung Hoa vay nợ rất nhiều. Nay lấy đâu mà lo kiến thiết nước nhà, lấy đâu mà nuôi dân bị đói khát sau hồi khủng khiếp của chiến tranh?

Tôi xem ngài là kẻ rnư­u sĩ của phái Hồng Môn. Họa sờ sờ tr­ước mắt lẽ nào chẳng thấy? Sao không lo cứu vãn nước nhà để tránh cái họa của một n­ước mang tiếng là cường quốc mà không có chút thiệt lực?

Bành Bái nghe nói không biết đáp làm sao. Bỗng có người cất tiếng nói rằng:

– Phi Lạc là người khua môi múa mỏ. Đồng bào của ngư­ời qua đây khóc lóc cầu đảng ta ủng hộ không biết bao nhiêu, sao dám nói rằng dân Việt Nam đã có kế lớn và thừa nhân tài lo kế ấy?

Phi Lạc nhìn xem, người ấy là Trần Nguyên Bội giữ chức Đổng Lý Sự Vụ của phòng Trung Nam, tức là phòng để nghiên cứu chánh sách đối ngoại của nước Tàu đối với các xứ Miền Nam của mình. Phi Lạc biết rằng Trần Nguyên Bội muốn nói đến những chánh khách đã hì hụp sang Tàu mà cầu cạnh Quốc Dân Đảng ủng hộ. Điều ấy có thật. Nh­ưng không trả lời cho xứng đáng thì làm sao cho họ kiêng nể được, bèn đáp rằng:

– Kẻ trí phải biết phân biệt hư­ và thiệt. Kẻ thức phải rõ đâu là nhỏ đâu là lớn. Trong một cuộc v­ươn mình chỗi dậy của một dân tộc hai m­ươi lăm triệu người, tránh sao cho khỏi việc có người thấy không hết cả đại thể của cuộc vận động, rồi sanh ra băn khoăn, thắc mắc.

Nh­ưng tôi xin hỏi lại ngài: Những người đến cầu cạnh với nước Tàu có phải là những nhà văn, nhà tiểu thuyết, hay một số ít võ tướng nào đó phải không? Thế thì họ  làm sao có tầm mắt rộng rãi bao quát cả đại thể? Nhứt là những nghệ sĩ ấy dễ cảm xúc, bị một vài tiểu tiết ghi một ấn tượng nào đó là phóng đại ra làm một kết luận tổng quát rồi.Vậy thì sự lo lắng của họ không phải là sự lo lắng của cả dân tộc Việt Nam.

Tôi còn hỏi ngài lại một điều nữa: Ngài có thể tưởng t­ượng rằng họ đến với ngài vì kế chớ không phải vì thật tình chăng? Còn tôi, tôi dám quả quyết rằng đó là vì kế.

Cả trong phòng đều ngạc nhiên vì lời quyết đoán ấy, nên trố mắt nhìn, chờ xem Phi Lạc giải nghĩa tại sao lại là kế. Phi Lạc tằng hắng lấy giọng rồi nói:

– Thấy các ngài chăm chú nghe, chắc các ngài muốn biết kế ấy là gì? Nhưng không lẽ tôi là công dân Việt Nam lại mang lỗi lầm tiết lậu việc bí mật của quốc gia? Và không lẽ các ngài là con cháu của Trư­ơng Lương, Khổng Minh lại không biết kế ấy là kế gì nữa.

Trần Nguyên Bội nghe vậy, phát cáu nói rằng:

– Ngư­ơi đừng vì túng lý mà nói chận người khác. Ta đã biết rồi. Không có kế gì đâu mà hòng nói khoác!

– Ngài muốn cho tôi mang lỗi với n­ước tôi? Được! Xét ra, kế đã thành rồi, dầu có nói ra cũng không hại. Chỉ có ích lợi là giúp cho ngày sau, nhà làm sử hiểu rõ mà phê bình cho đúng thôi. Tôi chỉ ngại có một điều, kế ấy gạt n­ước Tàu. Mà nay tôi đến đây nói thẳng với các ngài vốn là mưu sĩ của nước bị gạt thì là hỗn láo một cách trắng trợn quá. Các ngài không tha trước, tôi không thể cắt nghĩa kế ấy ra làm sao. Tôi là khách, tôi phải giữ lễ. Chừng nào các ngài ép lắm, tôi mới chịu vô lễ mà vâng theo ý muốn của các ngài.

Cử tọa ồn ào kịch liệt, cãi nhau lăng xăng. Người thì bảo thôi bỏ việc chất vấn đi, kẻo hắn phanh phui ra không tốt gì. Kẻ thì trách sao Trần Nguyên Bội lại khởi sự vô lễ trước, hỗn láo với hắn, để cho hắn khinh miệt lại. Kẻ lại tức mình, ủng hộ Tr­ần Nguyên Bội, một hai yêu cầu Phi Lạc nói toạc móng heo ra. Nếu không đúng lý, thì phạt tội vô lễ đối với một cường quốc. Cãi vã như “bị chìm tầu” một lúc, lần lần khuynh hướng thứ ba  nầy thắng. Trần Nguyên Bội thay mặt cho tất cả mà nói rằng:

– Thay mặt cho cử tọa, tôi yêu cầu ngài nói rõ ra kế ấy làm sao? Nếu là phải, thì chúng tôi hứa hẹn không giận oán gì cả. Chúng tôi cũng hứa hẹn là chúng tôi không chấp những lời lẽ phạm đến chúng tôi. Nh­ưng mà…

Phi Lạc đứng dậy, ra dấu chận ngang lại và nói:

– Cho phép chúng tôi vô lễ mà chận ngang tại đây. Nhưng mà thái độ khoan hồng của các ngài chưa phải là thái độ cứu nước Trung Hoa được. Các ngài có thể tha thứ những lời đả động đến lòng tự ái của cá nhân các ngài. Biết nước Trung Hoa có rộng lượng như vậy chăng ? Không khéo thì Bộ Ngoại Giao của các ngài gởi thông điệp cho chính phủ Việt Nam, tỏ ý không bằng lòng. Rồi chánh phủ của nu­ớc tôi sẽ trách móc trừng phạt, tôi chịu sao nổi

– Không sao đâu! Câu chuyện này là câu chuyện ta nói riêng với nhau, một câu chuyện dầu nói thật cũng kể là nói đùa, là một thứ văn chương trào phúng. Ai mà nhột thì rán chịu, không được lòng ròng cái gì hết.

– Có vậy tôi mới dám nói chớ ! Số là nước Việt Nam chúng tôi là nước nhỏ. Sau khi Nhật bại trận, chúng tôi chịu một số rất nhiều tai ách.

– Tai ách thứ nhứt là mấy chục ngàn lính Nhật đào ngũ, toan ở lại làm mưa làm gió. Chính phủ chúng tôi khó cởi cái ách ấy bằng vũ lực được.

Tai ách thứ hai là quân đội lấy tư cách đến tước khí giới quân Nhật rồi chiếm đóng luôn xứ tôi. Làm sao mà mời họ đi?

Tai ách thứ ba là hình như một số thực dân toan đặt lại những quyền lợi đặc biệt của họ trên xứ sở. Làm sao mà tránh được?

Thử hỏi các ngài có kế gạt những tai ách ấy qua một bên chăng?

Phi Lạc dừng lại, nhìn cử tọa. Ai nấy đều lặng thinh.

Một chập, Phi Lạc nói tiếp:

– Ấy vậy mà việc các nhà văn, nhà báo đến cầu cạnh với các ngài, đó là cái kế mọn ấy! Họ đến kêu ca nói rằng nước Việt Nam xích hóa hết. Chánh phủ Tàu nghe vậy phát sợ. Việt Nam mà xích hóa  thì đường vận tải Vân Nam, Tứ Xuyên, Tây Tạng bị chận nghẹt. Nước Tàu đâm ra lo, phải bàn với Mỹ, với Anh. Nh­ưng dù là Tàu, hay Anh, hay Mỹ đều không thể lấy danh nghĩa nào mà can thiệp vào nội trị của nước Việt Nam cả. Họ phải nhờ nước Pháp tính giùm. Rồi rút lui hết, giao việc chiếm đóng và săn bắt Nhật cho quân đội Pháp.

Có phải là không kế ấy, cuộc vận động giải phóng của Việt Nam phải gặp đến bốn năm đối phương, cả thảy đều là cường quốc; còn với kế mọn ấy, cho mấy anh văn sĩ  chạy chọt chút đỉnh, mà Mỹ, Anh, Tàu đều rút lui, mà dân tộc Việt Nam chỉ còn lo nói chuyện với một nước là nước Pháp mà thôi không?

Cử tọa đếu khen hay. Còn Trần Nguyên Bội nín thinh, chịu phục.

Bỗng trong đám có người đứng dậy nói lớn:

– Các ngài làm gì mà hoan nghênh một kẻ khua môi múa mỏ, đang làm nhục chúng ta. Hỏi hắn có mưu chước gì làm cho dân hắn đừng quay đầu về vòng nô lệ thì nói thử ra coi.

Mọi người đều day lại xem là ai, thì ra là Trương Thế Hùng, người trong phái Hồng Môn, đương ngấm nghé cái ghế bộ trưởng Ngoại Giao mà chưa có cơ hội để chiếm lấy.

Phi Lạc không đáp, ngồi lặng thinh.

Ai nấy cũng chờ xem. Ban đầu êm, rồi lần lần xì xào có ý chê rằng Phi Lạc đã hết ý. Phi Lạc vụt đứng dậy. Ai nấy nín lặng nghe hắn trả lời làm sao. Thì hắn nghiêng mình tới trước, vói tay lấy bao diêm, đánh một que, đốt thuốc hút, có vẻ thản nhiên lắm.

Người ta lại ồn ào nữa.

Trương Thế Hùng lại đứng dậy nói:

– Các ngài đã rõ rồi đó! Hắn có mưu chước gì đâu! Chẳng qua hắn định uốn ba tấc lưỡi nhưng mà không tài, muốn học đòi Trương Nghi, Tô Tần mà kém sức.

Phi Lạc chờ tràng pháo tay dứt rồi mới đứng dậy ung dung đáp:

– Phàm nói chuyện phải biết đặt vấn đề. Tôi sang đây không phải tự tôi cầu. Điều này sư Hồng Hạc thừa biết. Sẵn ngài đây, ngài có thể nói rõ việc ấy. Tôi sang đây cũng chưa hề tỏ ý cầu cạnh gì với nước Tàu. Ông Trần Nguyên Bội làm chứng điều đó. Và tôi hứa ngày nào tôi còn ở trên đất Tàu, tôi không nói một điều gì để nhờ nước Tàu giúp nước tôi cả. Việc cầu cạnh giữa nước nầy với nước kia đã sẵn có sứ thần, ngoại trưởng hay ít nhất có đại biểu có ủy quyền. Còn tư nhơn mà lặn lội ở xứ người để kêu ca thì chỉ là kẻ không có tư cách…hay là kẻ dùng hư gây thiệt.

Tôi mới vừa nói đến vai trò của các nhà văn của nước tôi đến đây dùng kế, mà làm cho bộ ngoại giao Tàu bấn loạn. Ấy là tôi đã mách cho các ngài rõ vai trò của những người không tư cách, không thẩm quyền, đem chuyện xứ mình mà nói ở xứ người. Nếu tôi làm như thế nữa, sao cho phải phép.

Còn phần ngài, sau khi tôi đã trỏ một ngón ngoại giao khôn khéo của người nước tôi, ấy là việc các văn sĩ, nghệ sĩ đấn cầu cạnh nơi nước Tàu, thì ngài nên biết cho rằng mình mới được một bài học về ngoại giao, chớ nên sơ sót nữa.

Nghĩa là: gặp người ngoại quốc đến, không nên hỏi đến việc nước nhà của người. Hỏi như thế, họ có thể mượn dịp ấy mà gạt mình, bịp mình…Bài học chưa tiêu, ngài lại rơi vào lầm lỗi nữa. Buộc tôi trả lời làm chi? Tôi thấy ngài lăm le chiếc ghế bộ trưởng Ngoại Giao. Xin khuyên ngài hãy dằn lòng để cho nước Tàu được nhờ vậy!

Thế Hùng nghe nói đỏ mặt tía tai, bẽn lẽn rút lui ra ngoài.

Phi Lạc cung kính nói:

– Tôi lấy lòng thành thật mà nói với các ngài. Tôi đến đây không vì quyền lợi của nước tôi. Tôi đến đây không có mục đích gì khác. Tôi không đến cầu cạnh việc gì hết, các ngài tất nhiên không có quyền chất vấn tôi điều gì, bởi lẽ tôi không phải kẻ có tội ra trước công lý. Nếu các ngài không có điều chi lợi cho các ngài để bàn, thì xin phép cho tôi về xứ.

Sư Hồng Hạc lật đật đứng dậy can:

– Xin ngài chớ phiền. Cuộc gặp gỡ hôm nay đổi thành một trường thiệt chiến, điều ấy rất đáng tiếc. Đáng lẽ chúng ta nên cùng nhau xét những vấn đề tương lai của nước Trung Hoa như thế nào? Cách giải quyết nó làm sao? Chính vì những lẽ ấy nên tôi mới chịu khó nhọc rước ngài sang nước tôi để giúp ý kiến…

– Và chính vì lẽ ấy mà mở đầu câu chuyện tôi đã nói rõ rằng: “Tôi đến đây không phải vì nước Việt Nam mà là vì nước Trung Hoa vậy.”

– Vậy thì ta phải đặt vấn đề cho trúng cách. Vấn đề như thế này: Làm sao mà chủng hoạn cứu nạn cho nước Trung Hoa?

Cử tọa đều hoan nghinh lời hòa giải của sư Hồng Hạc…..

thumbnail

Hồ Hữu Tường

(trích Phi Lạc sang Tầu- Hồi Ba)

f6f908ab-e4cc-4557-9fe1-ccec841615e7

 

Advertisements

Phạm Công Thiện, Hố Thẳm của Tư Tưởng


web_gntt_719c217.jpg;jsessionid=06AAD32CEEEA3A05958B51DE97E22300PCThien_Hotham

Tiểu sử Phạm Công Thiện

Giáo sư Phạm Công Thiện sinh ngày 01 – tháng 06 – năm Tân Tỵ 1941 tại Mỹ Tho, Việt Nam.

Tiến sĩ Triết học tại Đại học Sorbonne Pháp .
Giáo sư Triết Đại học Toulouse Pháp
Nguyên Khoa trưởng Đại học Văn khoa và Khoa học Nhân văn Viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn.
Nguyên Giám đốc soạn thảo chương trình giảng dạy cho tất cả các phân khoa của viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn từ 1966 tới 1970.
Chủ biên tạp chí Tư tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
Giáo sư Phật học tại các học viện, Cao đẳng Phật học tại Hoa Kỳ
Nguyên Tổng vụ Trưởng Văn hóa Giáo hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất văn phòng 2 Viện Hóa Đạo hải ngoại.

Ai cũng biết tên tuổi Phạm Công Thiện không chỉ là một nhà văn, nhà thơ lớn. Ông còn là một Giáo sư học giả uyên bác hiếm hoi của Văn học Việt Nam.

Ông qua đời tại thành phố Houston, Texas, Hoa Kỳ, ngày 8/3/2011 (mùng 04 tháng Hai năm Tân Mão), hưởng thọ 69 tuổi.

Ông đã để lại một di sản văn hóa lớn lao cho dân tộc. Những tác phẩm đã xuất bản từ 1964 ở Việt Nam cho đến nay ở Hoa Kỳ như:

Tiểu Luận Về bồ Đề Đạt Ma, Tổ Sư Đạt Ma ( 1964 )
Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Và Triết Học ( 1965 )
Ngày Sinh Của Rắn ( 1967 )
Trời Tháng Tư ( 1966 )
Im Lặng Hố Thẳm ( 1967 )
Hố Thẳm Tư Tưởng ( 1967 )
Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực ( 1967 )
Bay Đi Những Cơn Mưa Phùn ( 1970  )
Đi Cho Hết Một Nơi Hoang Vu Trên Mặt Đất ( 1988 )
Sự Chuyển Động Toàn Diện Tâm Thức Trong Tư Tưởng Phật Giáo ( 1994 )
Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên ( 1995 )
Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bậc Bồ Tát ( 1998 )
Sáng Rực Khắp Bốn Phương Trời ( 1998 )
Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo ( 1998 )
Trên Tất Cả Đỉnh Cao Là Im Lặng ( 1998 )
Một Đêm Siêu Hình Với Hàn Mạc Tử
Khai Ngôn Cho Một Câu Hỏi Dễ Hiểu: Triết Học Là Gì?
Đối Mặt Với 1000 Năm Cô Đơn của Nietzch  ( 1991 )

Những tác phẩm dịch thuật

Jddn Krishnamuti, Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng ( 1968 )
Martin Heidegger, Về thể tính Của Chân Lý ( 1968 )
Martin Heidegger, Triết Lý Là Gì?  ( 1969 )
Friedrich Nietzche , Tôi Là Ai?  Đây Là Người Mà Chúng Ta Mong Đợi ( 1969 )
Nikos Kazantzakis, Rèn Luyện Tâm Thuật Huyền Linh ( 1991 )

( Nguồn: vanchuongviet.org )

Trích văn Phạm Công Thiện

“Đi vào cầu tiêu là đi vào cõi chết; chỉ khi nào đi vào cõi chết mới có được nỗi cô đơn khôn cùng của lúc đi trong cầu tiêu. Đi vào cõi chết là cởi truồng ra, duỗi hai chân ra và ngồi trên địa cầu, để hồn bay lênh đênh trên không trung đóng chặt, tư tưởng loãng ra và biến mất theo tư tưởng loài người; ngoài cánh cửa cầu tiêu là nói chuyện, lựa lời nói chuyện cho có duyên dáng, thanh lịch và quý phái, hoặc lựa lời nói chuyện cho vũ bão, tục tĩu, hoang đàng cộc lốc, ngang tàng hoặc la hét lên hoặc nói khe khẽ thủ thỉ như đôi nhân tình đầu thu chớm lạnh; ngoài cánh cửa cầu là phải nói chuyện, nói chuyện để cho mặt trời vẫn mọc, để đi, đứng, ngủ thức, thở, ăn, đợi, yêu, ghét, và nhìn những chiếc tàu đi mất.Khi tới Rome, nhớ đến thăm mộ K…
K. đã đi vào cầu tiêu ở Rome và đã đóng cửa lại và đã không còn nghe bên ngoài nói chuyện nữa.”
Phạm Công Thiện, Trời tháng tư

“Chưa bao giờ tôi mệt như chiều hôm nay, tất cả trôi lềnh bềnh, tôi ngạt thở, tôi nằm dài trên giường trong cơn hấp hối tuyệt vọng. Sống, sống lên, tôi mệt quá rồi, mây trắng vẫn còn bay?”
Phạm Công Thiện, Mặt trời không bao giờ có thực

“Cái gì làm tôi không hiểu, cái ấy làm tôi say sưa yêu dấu.”
Phạm Công Thiện, Mặt trời không bao giờ có thực

“Đêm qua mưa ào ào tuôn chảy hơn thác nước; trời xuất tinh sau những ngày nóng dữ dội. Mưa đổ ào ào suốt buổi chiều, suốt buổi tối và suốt đêm. Tôi ngủ sớm, vì lâu lắm tôi mới được ngủ trong tiếng ru thơ mộng của cơn mưa lũ; tôi đắp mền kín cả người, thức giấc thì thấy thành phố đẹp lạ thường vào lúc bình minh; những mái nhà đen xanh, màu huyền lam, ửng lên một chút đỏ phượng trên chân trời mây xám. Tôi tưởng đang sống trong thế giới của nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn mà tôi đã sống lúc còn bé nhỏ. Tách cà phê sữa và vài điếu thuốc bastos đưa tôi trở lại thế giới người đời. Mặt trời hừng sáng, tràn ngập vào phòng tôi; tôi nghe một trăm con chim đang nhảy trong tim.
Lâu lắm rồi, tôi mới được nghe tiếng chổi quét bên hàng xóm. Tim tôi nhói lên vì bao nhiêu hình bóng thơ mộng bay về lào rào theo tiếng chổi sau cơn mưa. À ơi, mẹ ru con ngủ…
Tôi hạnh phúc quá sức, còn đòi hỏi gì hơn? Chỉ nằm trên giường, mở rộng ba cánh cửa sổ, nằm kê gối đầu giường ngước nhìn ra chân trời cây mọc đàng xa, dở vài ba trang sách, mắt ve vuốt mực in màu đen, ngửi mùi giấy thơm của trang sách in ở Paris, của một tác giả xa lạ; mộng và thực xoắn vào nhau như lá bí và bông bụt, lòng tôi tràn trề như sữa chảy bất tận từ lòng trời. Cơ thể tôi run run như khi giao hợp; ồ ồ, tôi sung sướng ngất ngư tắm trong mật ngọt của những đài hoa, của hương phấn bông rừng. Hơi thở tôi nhẹ quá, tôi không còn nghe được hơi thở tôi nữa. Tôi cũng không còn là tôi nữa. Cái tôi quá nhỏ bé và cạn cợt; tôi bay lên trên nóc nhà ướt mưa đêm qua. Tôi bay lên tiếng kêu của trẻ con bên xóm. Tôi không còn mang tên, mang tuổi; một tiếng chim con vừa kêu, tôi sụp lạy.”
Phạm Công Thiện, Mặt trời không bao giờ có thực

“Viết điên lên. Viết bất cứ cái gì; viết về gió, nước mắt, mây đen, tàn thuốc, bình minh, tiếng xe cộ, vệt mây đỏ, tiếng va chạm của kim khí, chậu hoa héo, chim, áo phơi, hang xóm, máu, bàn tay. Viết cho mệt nhoài thân thể, rã rời trí óc, tê chết ngòi bút, lạnh buốt hơi thở. Viết như chưa từng viết bao giờ. Viết cho hoang phí hết sức khoẻ, tiêu tán hết những con đường, mòn nát hết những trang giấy trắng trên đời. Viết cho chết lẵng hồn tất cả những hi vọng của trái đất. Viết như giã biệt đời sống, tuyệt bút gửi lại miền Bắc Cực và Nam Cực. Tôi ôm cả địa cầu trong đại dương chưa khám phá của Mực và Máu.”
Phạm Công Thiện, Mặt trời không bao giờ có thực

“Triết lý là biến hơi thở thành khói thuốc, và triết gia là những kẻ bị ung thư tinh thần.”
Phạm Công Thiện, Mặt trời không bao giờ có thực

“Viết là đâm nổ mặt trời.”
Phạm Công Thiện, Trời tháng tư

“Nguyên vừa bước vào gần nơi tôi nằm, anh đem đến cho tôi một điếu xì gà, tôi rủ anh vào ngồi ghế kế bên tôi cho vui, tôi bảo anh ngồi viết tiểu thuyết bên cạnh tôi. Ừ, tôi cần một sự có mặt nào đó. Nguyên ngồi tư lự; mỗi khi tư lự, anh thường nhổ mấy chân râu sót lại trên cằm. Anh đang suy nghĩ tìm ý tưởng. Tôi không suy nghĩ, tôi không tìm ý tưởng; tất cả ý tưởng đều như nhau. Tôi viết như tôi nói, tôi viết theo dòng máu chảy, máu tôi chảy quá nhanh, ngòi bút tôi chạy theo không kịp.”
Phạm Công Thiện, Trời tháng tư

Trích thơ Phạm Công Thiện

Ngày Sinh Của Rắn

I

tôi đi đông chìm
trời âm u thung lũng khô
nhiều mây chim bay không nổi
tôi đi
dưới kia sụp đổ
núi cấm nổ tôi ra
cửu long ca từ tây tạng
tôi về
tôi hiện
đèn tắt trời gió tắt trăng
chim lạ
kêu tiếng người
hố thẳm ra đời
tôi bay trên biển

II

tôi nằm cho rã chiếu cạp điều
nước chảy lên vùng phố tịch liêu
tôi nhớ một lần cây quế mọc
tôi đứng gọi hương trọn buổi chiều

III

mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
cây khế đồi cao trổ hết bông

IV

trời mưa nữu ước cây mọc
nhớ hương trời mưa ngày tháng
nhớ hương đường hoang mái vắng
nữu ước chỉ còn hương trong giấc ngủ
tim anh tràn máu
con chim đã bay về rừng đạn
anh không còn làm tu sĩ
anh chỉ còn hương trong giấc ngủ
anh chỉ còn máu để đổ vào tim hương
đổ vào tám tách cà phê đen
anh uống mỗi đêm
tại greenwich village
tại làng thi sĩ
tại đường khói bay
tại hương trong giấc ngủ
tại chiều ba mươi tết ở việt nam
bây giờ anh xa hương đến
mấy đại dương xanh
mấy phương trời cỏ mọc
mấy phương trời hương khóc
hương còn ca hát
hương còn phơi áo giữa phố buồn
hương còn cười
mười năm rồi cây quế
vẫn mọc trên đời anh
trên mắt anh
môi anh
trên bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
trên bước chân chiều phố lạ hôm nay
mưa làm tóc anh thơm
mùi cây quế
giữa hồ
mọc giữa hồ quế hương
tóc anh mọc dài
che chở hương
lúc mưa rơi
lúc đông lạnh
lúc chim chiều đi mất
mưa trên phố đêm
trên quán cà phê ý đại lợi
trên chiến tranh
của quê hương
của quế hương
còn anh

V

rạng đông tôi xin thề
thức dậy ba giờ sáng
đợi kinh đào chảy ngược
cửa nhỏ đóng kín
những chiếc cầu tuổi dại
mười sáu năm tôi thức trong đời
mười sáu con kinh đào
không bao giờ chảy ngược
đứng ngang cầu pont-neuf
nhìn sông seine tôi thấy cửu long
paris đuổi mất mây mộng hoang đường
đập vỡ cơn điên trên triền đá sương
tôi trốn giặc đời
tắm trong hồn hương
trái đu đủ
trong khu vườn xưa
con rắn nhỏ

VI

tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm paris

VII

tôi nuốt nọc đen giữa
đường guillaume apollinaire
từ xóm saint-germainđes-prés
mọc lên giáo đường hang động
cà phê biến hồn đầu thai
hoá thành một triệu con ma đen
nhảy múa trên núi lửa đầu tôi
tôi mặc đồ xanh
và mang đồng hồ da đen
tôi chứa chấp sáu ngọn lửa điên
trong sáu diêm quẹt còn rớt lại
tôi gọi hương và tôi chết giấc
tôi chạy lên trời làm rắn thâu đêm
máu đổ mưa đen
ồ cây mồng tơi
của thời trẻ dại
tôi gọi thầm
rắn cuộn tròn
tương lai

VIII

mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông

IX

rắn trườn vỡ trứng chim rừng
tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm
khuya buồn tủi nhục môi em
mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ
tiếng ru chín đỏ điện thờ
hoang vu tôi đứng đợi chờ chim kêu
tay còn ôm giữ tình yêu
tôi về phố động những chiều hư vô
đời đi trên những nấm mồ
đau tim em hát cơ hồ khăn tang
phố chiều tôi bước lang thang
nuôi con sông nhỏ mơ màng biển xanh
nửa đêm khói đốt đời anh
yêu em câm lặng khô cành thu đông
lời ca ru cạn dòng sông
trọn đời chạy trốn mống vòng cầu điên
bỏ mình nước chảy đồi tiên
theo con chim dại lạc miền thiên hương
về đâu thương những con đường
lê thê phố cũ nghe buồn hè xưa

X

mùa xuân bay thành khói
tôi ca hát một mình
suốt đời không biết nói
nước chảy tràn con kinh
quá khứ bay lên trời
biến thành cánh chim non
tôi quì hôn lá mới
đau khổ trắng linh hồn
hư không đổ ra khơi
kỷ niệm trôi qua cầu
bãi chiều chưa người tới
tình nhỏ quên từ lâu
xuân bay trắng núi đồi
tôi nằm ngủ mơ chim
bỗng hét lên trong tối
ngồi thức dậy bảy đêm
trời cuối năm gác trọ
đèn tắt suốt đêm dài
con chim mười năm nhỏ
bay về đậu nơi đây
hơi thở giết thời gian
bướm nằm chết thang lầu
tiếng chim ru ngày tháng
máu chảy về sông sâu
suốt đời không biết nói
tôi ngồi thức một mình
đốt thuốc lên nhìn khói
đêm rạng niềm hư linh

XI

tôi lái ô tô buýt
giữa thành phố new york
mỗi ngày tôi lái ô tô buýt
đi trên những con đường không
người những con đường chim chết
những con đường của mỗi ngày
từ riverside drive đến broadway
đến đại lộ thứ năm đến
washington square
công trường nghệ sĩ tóc bay hương hát
từ greenwich village tôi đi về chinatown
mười lăm xu mỗi chuyến
xa hay gần hay mau hay chậm
tôi vẫn lái cuộc đời tôi trên những
con đường quen thuộc
không mây
mùa lá hay mùa kèn nửa đêm
dong buồm thổi đến honolulu lặng gió
xa việt nam đà lạt và cà phê tùng cuối năm
tôi cúi đầu trong hầm cà phê figaro nữu ước
chuyến ô tô buýt của đời tôi vẫn chạy hoài
trên những con đường mỹ châu trống rỗng
chuyến xe không về harlem đói lửa
vì mỹ châu trống rỗng
trên chuyến ô tô buýt chiều nay tóc bay
hương khóc
tôi vẫn lái chuyến xe này đi về đêm tối
đêm tối nữu ước là đêm tối nhà xác
tôi đốt đèn cầy để nhìn xác tôi giữa
nhà mồ mỹ châu lạnh lẽo mưa đen
đêm qua tôi thấy máu đổ trong hầm xe điện irt
giữa con đường 42nd hay times square
tôi thấy việt nam ngang tàng cho mặt trời
vẫn mọc trên rắn lửa
trên mái ô tô buýt chiều thu

XII

buổi chiều mưa đụng tim
mưa đụng máu
đèn đường đổ xuống nước xanh
xin hét lên rừng u minh đầu đông
tử hình trong ngục
nhốt vào trong ngục
suốt đời trong ngục
khói vóc lửa núi
nhóm nước đầu thu
xin đừng nói
lá chuối
lá me non
xanh nhà thương
ngồi trong thành phố
hoa trắng không còn
con chó đứng nhìn xe lửa mỗi ngày
chùm hoa trắng rụng một hai bông rất nhỏ
bông trắng quá nhỏ
buổi chiều ích kỷ
con đường quá dài
những cây trắc bá chùi đầu lên nghĩa địa
một người họa sĩ thất tình
nhân loại đều thất tình
nói đi thật nhiều
khoai tây
lang thang ngược vòng những vũ trụ
anh nói gì
tôi không nghe
xuống phố và lên phố
chạy hun hút qua hai nghĩa địa
cây trắc bá
chôn vùi con chó nhà ga

Phạm Công Thiện

Nhu Yếu Phẩm, Nhật Tiến


rr

Nhật Tiến

Giờ “đứng lớp” của tôi hôm nay vẫn diễn ra như thường lệ mọi ngày. Hai chữ “đứng lớp” này hồi mới nghe nói thì có vẻ chối tai. Nhưng riết rồi cũng quen đi. Đối với các thầy cô ở đây, nó nghiễm nhiên trở thành một từ ngữ thông dụng, phát ngôn hằng ngày một cách tự nhiên cùng với  nhiều từ ngữ khác xoay quanh đời sống, cứ như chúng đã lặn sâu vào trong đầu óc người ta tự bao giờ.

Như thể khi tôi nói “hôm nay tôi có 4 tiết Lý, 2 tiết Hóa, 2 tiết phụ đạo, tối về còn phải soạn giáo án cho tuần tới nữa”, thì chắc chỉ những giáo viên của nhà trường xã hội chủ nghĩa mới hiểu ngay. Mà thật ra nó cũng chẳng có gì bí hiểm. Ngày trước nói dạy học một giờ thì bây giờ đổi là đứng lớp một tiết. Hai chữ “đứng lớp” nghe có vẻ nôm na, không hay ho gì nhưng đổi chữ giờ thành chữ tiết là có cả một dụng ý.  Trong vụ này, các nhà giáo dục của nhà nước XHCN biết phân biệt rạch ròi, tỉ mỉ lắm đấy. Bởi khi ta nói dạy 1 giờ nhưng có bao giờ thầy giáo vào lớp dạy đủ 1 giờ đâu. Nội việc khi có kẻng đầu giờ, nào thu vén tài liệu, nào sắp xếp cặp táp rồi di chuyển đổi từ lớp này qua lớp kia cũng mất của học trò 5, 7 phút rồi. Vậy phải gọi là một “tiết” thì mới hợp lẽ công bằng, để không mang tiếng ăn gian, ăn lận của học trò lấy một phút. Thực tình, vào cái thời gian đó, tôi đã phục lăn tính chất công bằng, minh bạch, đâu ra đấy của chế độ mới chỉ thông qua cái vụ gọi giờ thành tiết này.

Thế còn “phụ đạo” là cái quỷ gì ? Hồi mới nghe Ban Giám Hiệu phát ngôn, tôi có hơi bỡ ngỡ. Nhưng rồi tôi hiểu ngay ra rằng đấy là công việc nhà giáo phải tình nguyện dạy thêm giờ cho những học trò ‘cá biệt” tức là đám học trò có thành tích nghịch như ma, lười học như quỷ.

Nhưng đến cái vụ soạn “giáo án” thì mới thật là nỗi kinh hoàng của đám giáo viên mới bước chân vào nhà trường XHCH như tôi. Thật ra, nó cũng chỉ là sự soạn bài. Ai đã đi dạy học mà chẳng phải soạn bài. Đây là công việc âm thầm của riêng mỗi cá nhân thày hay cô giáo. Tức là tùy theo cung cách trình bày bài giảng của mỗi người, mạnh ai nấy soạn, chẳng phải trình ai, chẳng phải chờ ai thông qua. Bọn nhà giáo chúng tôi quen lệ như thế từ mấy chục năm qua rồi. Nhưng bây giờ, khi nói đến giáo án là nói đến những nguyên tắc chỉ đạo, đến những mục đích yêu cầu, đến những trình tự sinh hoạt từng phút của thầy và trò trong lớp học. Thậm chí thầy sẽ hỏi trò cái gì, câu giải đáp của thầy ra sao, lại còn cả cái vụ dự trù học trò hỏi quàng xiên thế này thế khác, thầy cũng phải dự bị sẵn câu đối phó để trả lời. Ôi, những thứ này tuy nhiêu khê, lỉnh kỉnh nhưng cũng có nhiều điều đáng nói đến. Xin sẽ đề cập tới ở những phần sau.

Nói chung thì từ ngữ nào tuy mới mẻ đến đâu cũng chỉ trong vòng vài tháng đầu các thầy cô ai cũng ngốn được hết, nhưng với riêng tôi, hai chữ “đồng chí” thì không đâu nhé. Ở ngôi trường này người ta gọi các giáo viên là đồng chí, một số giáo viên cũng gọi nhau là đồng chí. Nhưng với tôi thì nó quả một thứ rất khó nuốt vô. Đồng chí cái nỗi gì, khi mà trước ngày 30-4, tôi còn xán lại đám đông bu quanh tiệm hớt tóc ở đầu ngõ để nghe lỏm những lời bán tán om sòm. Giọng ông hớt tóc cứ oang oang :

– Các cô phen này là hết bôi son, má phấn nhớ. Lại còn cái vụ móng tay đỏ choét như tiết gà nữa. Việt Cộng mà vô thì nó chặt phăng đi hết!

Khi nghe những lời đồn đại ấy lòng tôi bán tín bán nghi, lại còn nghĩ rằng “ Việt Cộng dám làm đủ mọi thứ lắm”. Kiến thức về Việt Cộng đã mơ hồ đến như thế, lại nữa tôi có ra bưng ngày nào đâu mà xưng hô “đồng chí” với nhau được !  Hình như các cô giáo dạy môn Sinh vật, Vật Lý, Hóa Học ở cùng tổ Khoa Học Tự Nhiên cùng với tôi cũng thầm chia sẻ những ý nghĩ này nên các cô vẫn gọi tôi là thày, và tôi cũng gọi lại là các cô. Mấy chữ đồng chí, thì chỉ có Ban Giám Hiệu hay Chi đoàn Thanh Niên trong trường là ưa xài nhiều nhất !

Buổi sáng hôm ấy, tôi ôm sách vở, tài liệu đi vào lớp như thường lệ. Học trò vẫn đứng hết cả lên như nhiều năm trước đó. Chỉ riêng ở hai bàn đầu là tôi thấy những khuôn mặt lạ. Đó là những con em cán bộ từ miền Bắc vào và được xếp lớp theo tiêu chuẩn : lớp 7 ngoài Bắc thì vào ngồi lớp 9, lớp 8 leo lên lớp 10…v..v.. Lý do là bậc trung học của miền Bắc chỉ có 10 năm, còn trong Nam, học trò phải trải qua tới 12 năm lận.

Đối với tôi, học trò “miền” nào thì cũng như nhau. Tuổi trẻ ở đâu thì cũng hồn nhiên, trong sáng, nếu ham học hỏi thì chúng nó cũng đều tiến bộ như ai. Nhưng sở dĩ tôi gọi “những khuôn mặt lạ” là ở chỗ chúng nó có cùng một nước da sạm tái như nhau, y phục thì chỉ sơ mi trắng với quần tây màu cứt ngựa, và nhất là tia nhìn thì xoay xoáy cứ như muốn xuyên qua cái đầu của thầy giáo xem ông ấy đang nghĩ gì.

Nói đúng ra, tôi chẳng có ý nghĩ gì hết ngoài bài giảng tôi sắp trình bầy. Tôi chẳng dại gì mà làm cái việc lợi dụng bục giảng để đưa ra những lời nhạo báng chế độ qua đầy dẫy những chuyện bất toàn xẩy ra chỉ nội trong khuôn viên trường học. Như thể ông  Hiệu trưởng, người sau này thay thế cho anh sinh viên Đại Học Vạn Hạnh vốn chỉ làm đại diện Ban Giám Hiệu có vài tháng rồi không biết bị rút đi đâu mất tăm, không có một lời thông báo chính thức. Còn ông Hiệu trưởng mới đổi về này, không cần giới thiệu chúng tôi cũng biết ông ta là gốc bộ đội vừa được chuyển ngành. Bởi trong cương vị một Hiệu trưởng một trường Trung học, ông ta vẫn bận bộ quần áo bộ đội tới trường để điều hành công việc. Hơn thế nữa, bên hông ông ta lúc nào cũng kè kè một khẩu súng lục, không biết để làm gì ngoài chuyện thị uy với đám giáo viên trong vùng mới “giải phóng”. Ấy vậy mà ông ta vẫn gọi chúng tôi là “các đồng chí”.

– Các đồng chí phải ráng phấn đấu để trở thành người giáo viên gương mẫu của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa.

– Các đồng chí cũng nên nhớ rằng nhà nước chuyên chính vô sản sẵn sàng đập tan mọi âm  mưu  bạo loạn của bọn phản động, tàn dư của bè lũ tay sai nước ngoài để bảo vệ vững chắc nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta dân chủ với mọi đồng chí, nhưng dứt khoát là phải chuyên chính với mọi tàn dư phản động.

– Các đồng chí nên nhớ dạy theo đúng sách giáo khoa với giáo án đi kèm chính là một Pháp Lệnh. Ai không tuân thủ Pháp Lệnh là chống đối Nhà Nước, là phản động, là bán nước !

Nói xong câu này, ông ta còn đưa tay xốc cái thắt lưng quần khiến cho khẩu súng lục cứ bị đẩy lên, chìa ra trước mắt mọi người. Tôi không nhớ là ai, nhưng rõ ràng là một anh bạn đồng nghiệp ngồi bên cạnh tôi đã giơ khuỷu tay ra hích vào mạng sườn tôi một cái. Tôi muốn bật lên cười nhưng may quá, tôi còn đủ tỉnh táo để không làm cái chuyện khờ dại đó.

Bài giảng môn Vật Lý của tôi hôm ấy là một bài thuộc môn Quang Học. Sau khi vẽ hình trên bảng đen, ngay lúc tôi vừa bắt đầu nói : “ những tia sáng song song với trục chính sau khi đi qua Thấu kính sẽ hội tụ tại một điểm F gọi là Tiêu điểm chính. Khoảng cách từ tiêu điểm chính đến quang tâm O gọi là Tiêu cự ….” thì chợt tiếng loa từ khu văn phòng chính đã dội vào khắp các lớp. Cái giọng nghe đã oang oang mà lại còn có đôi chút gắt gỏng cứ như vừa hối thúc mà lại vừa giận dỗi :

– Yêu cầu đồng chí Bùi Nhật Tiến xuống ban tiếp liệu nhận nhu yếu phẩm.

Khổ thân tôi vì thấy tên của mình bị réo gọi, mà nó bị réo gọi tới hai ba lần. Hẳn điều này sẽ là nguyên do để tôi bị nhiều lớp khác nguyền rủa vì có mỗi chuyện như thế mà đến nỗi để loa phải réo làm mất sự yên tĩnh của các lớp khi thầy, cô giáo đang giảng bài. Mà đây đâu phải chuyện phân phối nhu yếu phẩm đột xuất. Ngay từ sáng, lúc vừa bước chân vô cổng trường thì cô giáo cũng thuộc bộ môn của  tôi đã rỉ tai:

– Hôm nay nhu yếu phẩm về, Tổ mình phải cử người vào giúp Ban phân phối.

Tôi nhìn cô nài nỉ:

– Thôi, cô xuống giúp họ một tay đi. Khỏi họp Tổ, phân công lôi thôi.

Tưởng mọi sự thế là xong. Ai ngờ tên tôi vẫn bị réo gọi. Mà gọi để xuống nhận nhu yếu phẩm chứ đâu có phải làm lụng gì.

Phải nói rằng sau bao nhiêu ngày tháng triền miên trong thiếu thốn, nhu yếu phẩm là một niềm mơ ước của nhiều người. Đám giáo viên thuộc chế độ cũ chúng tôi, bất kể thâm niên hay cấp lớp giảng dạy, trong niên học đầu tiên mọi người đều được lãnh đồng đều mỗi tháng 30 đồng, và chỉ thay đổi bậc lương khi mỗi người được chính thức vào “biên chế”. Lương 30 đồng mà thời giá khi đó là 10 đồng 1 kí gạo, 1 đồng 1 lon ngô đong vừa đầy một ống lon đựng sữa bò, thì tất nhiên là phải có thêm nhu yếu phẩm cấp phát đi kèm. Hầu như mỗi tháng 2 kỳ, mỗi giáo viên được lãnh 1 hộp sữa bò, một túi đường trắng có khi là đường bổi, đường miếng (tôi chưa bao giờ cân xem nó nặng bao nhiêu gam), một túi nhỏ đậu xanh hay đậu đen, 1 thếp giấy viết khổ đôi, 2 cuộn giấy đi cầu ( loại giấy đã tái chế biến, dầy xộp, có mầu đỏ hồng chứ không phải mầu trắng). Lâu lâu thì có thêm 1 chai bia hay một gói thuốc lá. Nhưng mấy thứ này thì phải chia nhau. Bia thì cứ hai người một chai, thuốc lá hai người một gói. Ai không uống bia, hút thuốc thì đổi lấy đường, lấy đậu xanh, hay ngay cả cuộn giấy đi cầu. Nếu cả hai cùng muốn uống bia thì rút thăm, hoặc mở tại chỗ uống chung, thay phiên nhau mỗi người một ngụm !

Vào cái ngày được phát nhu yếu phẩm thì học trò cả trường đều biết, thậm chí dân chúng trong những khu phố gần trường cũng đều biết, vì khi tan trường thầy cô giáo ra về, trên tay ai cũng có một bịch ny lông, bên trong thồn đủ thứ, nhưng nhìn rõ nhất là lon sữa bò hay cuộn giấy vệ sinh.

Đấy là những thứ hàng tiêu dùng. Riêng về thực phẩm thì lại khác. Nó không có tiêu chuẩn nào theo định kỳ hay món ăn nào nhất định cả. Phần đông, thì giáo viên được lãnh thêm thịt, thêm cá, đôi khi lại còn được phân phối thêm cả nước mắm hay xì dầu nữa.

Hôm nào thịt về hay cá về thì ngôi trường như chộn rộn hẳn lên. Các cô giáo thì thào hỏi nhau :

– Bữa nay cá tươi không ?

– Thịt hôm nay nhiều mỡ không ? Nhớ dặn để cho tôi ít thịt nhưng nhiều mỡ.

– Tôi dạy tới tiết 4 xong mới về, nhớ dành giùm tôi một chỗ trong tủ lạnh. Kẻo thịt mang về thiu mẹ nó hết.

Mà thật tội nghiệp cho cái tủ lạnh ở trường tôi. Trước tháng Tư năm 75, nó chỉ là một cái tủ nhỏ đặt ngay tại phòng của các giáo sư, trong để vài chai nước lạnh mà ít ai buồn uống. Nhưng bây giờ thì nó khứ khự chứa đủ loại túi, gói mà  bên trong là thịt, là mỡ, là những khoanh cá nhòe nhoẹt cả vẩy lẫn máu cá. Phía ngoài túi thì có người đánh dấu bằng những sợi dây mầu đỏ, mầu xanh, hay dây lạt có đeo thêm mảnh giấy ghi tên rõ ràng : Cô A, thầy B…lớp này lớp kia. Bởi chưng tủ thì nhỏ, điện thì yếu, mà đồ thì chen chúc nhau khứ khự nên hơi lạnh tỏa ra thì ít, khi mở ra chỉ thấy toát lên một mùi vừa chua, vừa hôi nó khiến cho ai cũng phải giật lùi người lại và đưa tay lên che mũi.

Đúng lý ra, khi thấy tên bị réo gọi thì tôi phải buông phấn mà chạy đi lãnh khẩu phần của mình. Nhưng khổ nỗi, bài giảng của tôi chưa chấm dứt. Tôi không muốn vì bất cứ lý do gì mà cái phần quan trọng nhất này của một buổi học lại phải gián đoạn. Đây là một nguyên tắc mà tôi tự ý đề ra, không phải bây giờ mà đã từ nhiều năm trước trong nghề. Tôi còn nhớ cái năm còn dạy ở trường Bồ Đề gần chợ Cầu Ông Lãnh do Thượng Tọa Quảng Liên làm Hiệu trưởng. Có lần tôi đang giảng bài thì thư ký văn phòng đi vào đưa cho tôi một danh sách gồm cả chục tên học trò cuối tháng chưa đóng học phí.

Theo nguyên tắc thì tôi phải đọc tên những trò này lên và mời chúng ra khỏi lớp học.  Nhưng tôi đang giảng bài, và tôi không muốn vì hoàn cảnh khốn khó mà mấy đứa học trò bất hạnh của tôi bị mất bài giảng hôm đó. Vì thế tôi thản nhiên nhét cái danh sách vào túi rồi tiếp tục giảng bài trước con mắt bực tức của viên thư ký. Sau đó tôi được gọi lên văn phòng Hiệu Trưởng để nghe lời cằn nhằn. Nhưng tôi đã không nhượng bộ. Nguyên tắc đơn giản của tôi là : “Gọi lúc nào thì gọi, nhưng tuyệt đối không xâm phạm vào lúc nghe giảng bài của học sinh”. Có thể nhà trường bực bội vì tính bướng bỉnh của tôi, nhưng cuối cùng thì vẫn nhượng bộ để cho tôi làm theo ý mình. Như thế thì làm sao tôi có thể ngưng giảng bài để chạy đi “lãnh nhu yếu phẩm” !

Ở dưới lớp, tôi nghe có vài tiếng học trò nhắc nhở :

– Nhu yếu phẩm kìa thầy !!

– Thầy xuống mau lãnh phần ngon. Xuống chậm toàn đồ dỏm, uổng quá thầy !

Rồi lại có tiếng chúng nó hỏi nhau:

– Không biết hôm nay có cá hay có thịt?

– Cá hay thịt cũng chả tới phần tụi bay. Nghèo mà ham !!”

Ôi, mấy tiếng “nghèo mà ham” tôi vừa nghe thấy trong hoàn cảnh này, sao mà trọn ý, trọn lời đến thế ! Nhưng tôi cứ tảng lờ như không nghe thấy bất cứ tiếng xì xào nào. Tôi chỉ tay lên hình vẽ trên bảng định cất lời. Nhưng sao cổ họng của tôi cứ nghẹn lại. Tôi hình dung được rất rõ hình ảnh của những đứa học trò xanh xao, hai gò má đã hóp lại vì thiếu ăn và vành môi đã thiếu vắng những nụ cười hồn nhiên, tươi sáng. Tôi tự nhủ “mọi sự thay đổi rồi”, ở nhà, trong ngõ, ngoài phố và ở ngay cả nơi đây, trên cái bục giảng mà tôi đang cố nuốt nghẹn để cất lên lời.

Cuối cùng thì tôi cũng đã lấy lại được bình tĩnh để lên tiếng giảng bài mặc dù tôi biết lúc đó sẽ chẳng còn có đứa học trò nào để tâm tới :

– Tiêu cự của Thấu kính thì tỷ lệ nghịch với độ Hội tụ, nếu gọi độ Hội tụ là C, tiêu cự là f thì ta có C=1/f…

Vừa lúc đó thì một cô giáo trong Tổ Vật Lý của tôi xuất hiện ở ngay cửa lớp. Những con mắt của đám học trò đang nhìn hình vẽ trên bảng đen bỗng dồn hết cả ra phía ngoài. Tôi cũng quay ra nhìn. Hẳn ai cũng trông thấy trên tay cô cầm một xâu cá vì cô vừa cầm vừa giơ cao nó lên. Tôi không nhận ra được đó là thứ cá gì, nhưng vẻ mặt hí hởn của cô thì tôi thấy rõ. Cô làm cứ như mình vừa trải qua một cuộc đấu tranh mà phần thắng đã về mình. Bây giờ thì cô vừa giơ xâu cá lên cao rồi lại làm một cử chỉ nhử nhử như hàm ý để cho tôi biết rằng “ Phần cá của thầy đây ! Ngon nhất đấy nhá !”.

Nhã ý của cô không khiến cho tôi vui vẻ được chút nào. Lòng tôi lại bỗng còn nhen nhúm một sự bực bội nữa ấy chứ. Tôi có nhờ vả gì cô đâu mà sao cô tự ý sốt sắng đến vậy. Đã thế, cô còn du tôi vào một tình trạng khó xử. Tôi đang giảng bài. Lớp học của tôi đang thơm tho mùi phấn trắng. Tôi sẽ phải làm gì với xâu cá tanh tưởi mà cô đã sốt sắng mang tới, lại bầy ngay ra trước cả trăm con mắt học trò đang hau háu nhìn ra.

Cái đồ nhanh nhẩu đoảng ! Tôi hậm hực thoáng nghĩ về cô như thế. Nhưng tôi không thể giận cô. Rõ ràng cô là một người tốt bụng. Cô đã vì tôi mà mua thêm việc chứ có đòi chia chác phần cá này bao giờ đâu. Hẳn cả giờ trước đây, trong khi chia cá cho mọi người, cô đã thay tôi lãnh phần, mà chắc chắn không phải là thứ cá dư thừa dồn lại cho những kẻ hẩm hiu vắng mặt. Đã thế cô lại còn sốt sắng mang tới tận lớp cho tôi để tên tôi khỏi bị tiếp tục réo gọi trên loa. Thế thì rõ ra mình là đồ vô ơn nên mới chê trách cô như vậy !

Loay hoay với những ý nghĩ đó trong đầu, rồi cuối cùng tôi cũng đành phải bước ra nhận xâu cá và cất lên một lời cám ơn cô, nghe rất nhạt nhẽo. Chắc cô cũng đã thấy vẻ mặt khó đăm đăm của tôi lúc đó, nên thẩy xâu cá vào lòng bàn tay của tôi xong là cô quay ngoắt đi thẳng, không bình luận thêm một lời về công khó của mình nữa.

Khi cô giáo đã đi khỏi rồi, tôi mệt mỏi tay cầm xâu cá, chân bước lên bục giảng. Đột nhiên cả lũ học trò cùng ùa lên cười,  xen vào đó, tôi còn nghe thấy cả những tiếng vỗ tay. Tôi đột nhiên biến thành một thứ diễn viên hề đang ra mắt khán giả trên sân khấu. Vào cái giây phút này, bài giảng Quang Học về Thấu Kính chẳng có liên hệ gì tới xâu cá tôi cầm trên tay. Tôi có cảm giác như mình vừa bị đẩy tuột từ vai trò của một thầy giáo nghiêm chỉnh xuống vai trò của anh đứng bán xâu cá ngay ở giữa chợ trời! Còn bọn học trò thì chắc chẳng nghĩ ngợi gì sâu xa hay dè bỉu gì về cái chuyện ấy đâu. Chắc chúng nó chỉ thấy vui vui khi thấy ông Thầy đang đứng trên bục mà tay lại cầm xâu cá, một hình ảnh trái khoáy so với dáng vẻ nghiêm chỉnh của thầy mọi ngày. Có lẽ trong cả cuộc đời lấm lem cùng bụi phấn, cả Thầy lẫn Trò chúng tôi chưa bao giờ lại bị nhập vai trong một pha như thế này, trên bục giảng và trong lớp học.

Thế rồi “Niềm vui” của lũ học trò bỗng đem lại cho tôi một ý nghĩ bất cần. Tôi chẳng còn ngần ngại hay giữ  gìn ý tứ gì nữa. Cầm xâu cá trên tay, tôi cũng giơ lên cao cho cả lớp nhìn thấy. Bây giờ thì tôi nhận ra đó là một xâu độ 4, 5 con cá bạc má có vẻ còn tươi vì máu cá còn dính đỏ trên sợi lạt buộc. Qua sợi lạt buộc, tôi cũng thấy cả gần trăm con mắt của lũ học trò đang dổ dồn vào xâu cá. Một đứa lên tiếng:

– Cá còn tươi đó a thầy !

Một đứa khác ngồi ở cái bàn gần xế chỗ tôi đứng cũng lên tiếng:

– Xâu này đem chiên giòn với mỡ thì phải biết ! Hết cỡ !

Tôi bỗng liếc mắt về phía nó. Nó là một đứa học trò trước đây cũng thuộc loại hiền lành, ít nói, rất chăm chỉ học hành. Tuy nhiên dần dà tôi nhận biết được sự đổi thay trên nét mặt của nó. Xanh xao hơn. Vêu vao đi. Cặp mắt đôi lúc thấy thất thần. Đó là dấu hiệu của những cơn đói. Không chỉ một đôi lần mà hẳn phải là triền miên. Cho nên điều ước ao mà nó vừa nói ra, không phải chỉ là một câu nói vui đùa. Trong đầu nó hẳn đã nổi lên những cảm giác thèm thuồng khi nghĩ tới những con cá chiên mỡ cháy xèo xèo trong một cái chảo gang để trên lò lửa đỏ. Khuôn mặt của tôi bất chợt cũng thấy nóng lên. Tôi vụt hít một hơi thật dài để dằn một cơn giận dữ bỗng dưng nổ bùng lên trong đầu óc của tôi. Cái xã hội này, cái ngôi trường này từ ngày đổi thay sao đầy vô cảm đối với mọi thứ bất toàn đang hiện lên đầy dẫy ở chung quanh. Rồi cái số phận trớ trêu nào đã bắt tôi phải trực diện với một hoàn cảnh trái khoáy, tay cầm phấn, tay cầm xâu cá ở ngay trên bục giảng vốn là chỗ đứng quen thuộc của tôi từ bao nhiêu năm nay. Qua sợi dây lạt buộc, tôi nhìn lên bảng thấy cái hình vẽ ký hiệu Thấu kính Hội tụ với những tia sáng chạy song song với trục chính, sao trông nó cũng giống như hình thù của mấy con cá này.

Cuối cùng tôi cũng đành phải buông xuôi. Thôi thì dù Cá hay Thấu Kính vào lúc này cũng đều như bị cào bằng, cũng giống như ngoài xã hội mọi thứ cũng đều đang được cào bằng như nhau. Thế là tôi thản nhiên treo xâu cá vào một cái móc ở ngay dưới tấm bảng đen, cái chỗ mà lớp vẫn dùng để treo giẻ lau bảng. Tôi nghe thấy đám học trò lại đang rúc rích cười. Nhưng tôi vẫn cầm cục phấn và cất to giọng :

– Các trò lấy giấy bút ra làm bài tập. Cho một thấu kính có tiêu cự là 25 centimét….Vẽ đường đi của một chùm tia sáng song song với trục chính. Tìm độ Hội tụ…

Và vừa ngay lúc đó, tiếng kẻng chợt vang lên. Báo hiệu đã hết giờ học.

Nhật Tiến

(Được trích từ tập hồi ký “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác” của Nhật Tiến do Huyền Trân xuất bản 2012)

Bìa một số tác phẩm của Nhà Văn Nhật Tiến:

DQtn

qe

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: