Một Chuyến Đi. Truyện ngắn Đỗ Phương Khanh


Đỗ Phương Khanh

Do các xướng ngôn viên của Hồn Việt TV và LittleSaigonRadio thực hiện.

Hình Như Là Tình Yêu. Hoàng Ngọc Tuấn


Hoàng Ngọc Tuấn


Buổi chiều thật lặng lẽ. Ðường phố nhảy múa với màu áo và hình người qua lại. Khi ngọn đèn ở ngã tư đường bật sang màu xanh, đoàn xe cộ hối hả hướng nhanh về phía trước chen chúc nhau trong tiếng còi ồn ào. Con đường của thành phố bao giờ cũng quay cuồng trong tiếng động náo nhiệt.

Nhưng chiều nay, buổi chiều thật lặng lẽ.

Bên trong cánh cửa kính thủy tinh, bàn ghế sắp đặt cạnh nhau. Mỗi ghế một người ngồi. Trên bàn là một ly rượu gì đó, một ly bia, nước ngọt hay cà phê. Một điếu thuốc lên khói từ giữa hai ngón tay, điếu thuốc không còn biết hiệu gì vì mùi vị đã dửng dưng trong miệng. Từ một chỗ ngồi như thế nhìn ra ngoài đường. Trời đã chiều nhưng vẫn còn chói chang ánh nắng. Thành phố nóng bức này đã đến mùa nóng nhất, cơn mưa không hề thấy từ hơn tháng nay.

Sự khao khát bóng mát của những cây cổ thụ trong rừng, cơn mưa mát lạnh của miền núi, đám mây đẹp của không khí vùng cao nguyên luôn luôn có một vẻ sầu muộn. Tất cả đã xa tôi trong một khoảng thời gian dài. Cũng như Châu. Tôi đã xa Châu thật lâu, năm hay sáu năm gì đó không một lần gặp lại, hình bóng tưởng bám chặt trong người như loài hoa bí leo kín mái hiên, nhưng thật ra dần dần buông thả, rơi lìa. Một trái cây trứng cá đã chín mùi cũng lìa cành như thế, rơi trên đất không vang một tiếng động nhỏ.

Khuôn mặt của người thiếu nữ giờ đây mơ hồ lạ lùng như một người bộ hành nào đó đi dưới cơn mưa. Giọt nước mưa chảy đầy bao phủ trên khuôn mặt một màu trắng lóng lánh, thật huyền ảo nhưng dấu kín hết những dấu hiệu nào quen thuộc. Bây giờ nếu Châu có đứng ở góc phố kia, thật gần với chỗ tôi ngồi, cho dù trời không mưa, trời soi sáng cho mọi người nhìn thấy từng lớp bụi bặm trên vỉa hè, tôi vẫn không nhận ra Châu, tưởng chừng như một cô gái nào lạ mặt như trăm nghìn cô gái chiều nay đã đi qua trước mắt.

Bây giờ có lẽ tôi không còn phân biệt được Châu với người khác. Sự xa lạ ấy đáng kinh ngạc và làm tôi buồn bã.

*

Con đường từ thành phố Ban Mê Thuột đi lên Suối Nhà Ðèn, đến ngã rẽ có một trũng đất thấp hơn mặt đường, ngôi trường Châu học ở đó. Hai hàng nhà lợp tôn thấp, sân đất đỏ bốc mùi bụi dưới gót chân của học trò trong ngày nắng, hay lầy lội thứ bùn đỏ ngầu đặc biệt của miền núi này. Châu ngồi trong lớp học có cánh cửa quay ra đường và thế là trên con đường ấy mỗi ngày tôi đi qua lại cả chục lần để nhìn soi mói vào lớp học. Nhưng khoảng cách khá xa từ mặt đường đến chỗ ngồi của Châu ở góc lớp không bao giờ cho phép tôi nhìn thấy Châu. Tôi chỉ nhìn thấy cặp mắt bực dọc của lão thầy giáo nhìn tôi và những nụ cười đùa cợt của bọn con gái. Nếu Châu đừng chăm chú với bài giảng của thầy (Châu lúc nào cũng có vẻ chăm học cả), Châu cũng đừng thì thầm nói chuyện với lũ bạn bên cạnh, Châu nhìn ra ngoài khung cửa sổ một đôi lần thì sẽ nhìn thấy tôi rất rõ ràng. Một thằng con trai ít khi hớt tóc, đôi mắt lúc nào cũng ngơ ngác tìm kiếm ai, và mặc dầu trời chỉ hơi lạnh cũng mặc cho bằng được một chiếc áo len màu đỏ chói để cho người khác dễ nhận thấy (thật ra là cho Châu). Tôi đó.

Trước giờ vào học và sau khi tan học, tôi bắt gặp đôi mắt Châu nhìn tôi đúng hai lần. Tôi không biết làm gì hơn là nhe răng ra cười và chờ đợi một nụ cười trả lại. Tính tôi đơn giản đến nỗi có thể hạnh phúc trọn ngày khi được ai đó cười với mình. Và Châu đã cười, nụ cười tươi tắn không có vẻ gì là điệu bộ cả. Tôi yêu chết được những nụ cười tự nhiên như thế, nó dễ nhận thấy hơn là một cái nhếch mép. Mẹ tôi thường bảo con gái cười như thế là cười toe toét trông vô duyên lắm, nhưng tôi không đồng ý với mẹ tôi về điều này chút nào. Châu có duyên chết đi được chứ, đôi mắt không phải là thứ mắt bồ câu hay nai vàng thường tả trong tiểu thuyết, đôi mắt ấy nhỏ và sáng rực rỡ cùng với đôi môi. Thời tiết của Ban Mê Thuột gần như lạnh thường trực, Châu cũng chưa đến tuổi được ba má cho phép dùng son môi, nên đôi môi của Châu thường xanh xao. Nhưng điều ấy có hề gì đâu, tôi vẫn yêu màu xanh từ khi mỗi lần đi học Châu đều mặc một chiếc áo dài xanh (cái trường Trung học Công lập Ban Mê Thuột bê bối này có một quy luật thật thơ mộng là bắt buộc tất cả học trò đều phải mặc đồng phục xanh, áo trắng ở đây rất mau bẩn vì đường xá nhiều bụi bặm).

Về sau tôi yêu thương những màu xanh đó suốt đời. Có lần tôi dã ngạc nhiên vì điều ấy và sự hồi tưởng về Châu đã trả lời cho tôi. Bắt đầu từ màu áo xanh của Châu trong những buổi chiều màu xám tro, rừng cây xa xanh màu rêu và con đường đất đỏ nâu. Rồi đến tất cả những màu xanh, màu xanh của da trời, của biển, ngọc thạch, của rêu rong, của sông, của mắt đàn bà Tây phương, của lá cây, bao thuốc Bastos xanh, và cả màu xanh nhạt của khói thuốc.

Ngoài hai lần gặp nhau ở trường, tôi và Châu gần như gặp nhau và trò chuyện suốt ngày. Nhà của hai đứa cách nhau một bãi cỏ và vườn cây đu đủ cao lêu nghêu. Những cây đu đủ không biết ai đã trồng từ bao giờ, chỉ biết khi nhà tôi đến ở đó, trái đu đủ đã chín ửng vàng thật nhiều. Thằng em trai tôi thường leo lên hái, tôi cũng thường leo lên nhưng không phải để hái trái cây, chỉ cốt cho tầm mắt nhìn thấy xa hơn, nhìn thấy Châu đang lui hui đổ thóc vào chuồng gà sau nhà bếp.

Người ta, dầu đã già hay chưa già, thường có thói quen tìm lại những giây phút ban đầu của một thời, hay của một tình yêu. Tôi cũng có thói quen ấy. Ban đầu của tôi như thế nào nhỉ?

Gia đình tôi mới dọn lên Ban mê Thuột, ở trong một khu cư xá quân đội, tôi chưa quen biết ai ở chung quanh cả. Tôi ở mãi trong nhà, đứng bên cạnh cửa sổ để nhìn ra khung cảnh cao nguyên thật mới mẻ đối với tôi. Ðường đất gập ghềnh, những chiếc xe ngựa lóc cóc đi chậm rãi, ngôi chợ nhỏ lúp xúp ở cổng số một, và thỉnh thoảng một hai người đàn bà Thượng đóng khố để ngực trần đi qua. Cảnh tượng trầm tĩnh của miền núi có một vẻ đẹp làm tôi ngây ngất như không khí lạnh của trời. Tôi đứng lặng người như thế hoài nên khi Châu vào nhà đứng gần bên tôi, tôi cũng không hề biết. Ðến khi giọng nói lạ lùng ấy vang lên:

  • Ðứng làm gì mà thừ người ra thế?

Tôi giật mình và không biết trả lời ra sao, Châu tiếp tục:

  • Sao không có ai ở nhà cả? Tôi sang mượn cái bàn là, nhà tôi ở sát bên cạnh, chỗ kia kìa…

Tôi nhìn theo ngón tay chỉ của Châu và cũng chưa nói được gì. Châu quan sát tôi chăm chú như một bà soeur trìu mến nhìn cậu học trò nhỏ mới ghi tên học nội trú. Giọng nói con gái Bắc nghe đáng yêu biết bao, giọng ấy khi nói những câu tầm thường nhất như là “mượn cái bàn là” nghe vẫn êm đềm ghê gớm. Châu ngạc nhiên:

  • Sao không nói gì cả thế? Nhà có bàn là cho tôi mượn một lát đi, không tôi về liền bây giờ à.

Cái chữ “về” của Châu làm tôi kinh hãi. Tôi gật đầu và lí nhí nói đại ý sẽ lấy bàn là cho Châu mượn ngay. Tôi chạy đi tìm trong khi Châu ngồi xuống tự nhiên trên ghế, trong trí óc non dại của tôi thầm mong rằng Châu sẽ ngồi đó suốt đời. Nhưng Châu bỗng đứng dậy khi thấy tôi loay hoay khắp các xó xỉnh mà vẫn không tìm thấy gì cả.

  • Thôi để lát nữa tôi qua mượn cũng được, tôi về nhé.

Lại chữ “về” đáng sợ ấy. Tôi cố gắng tìm một câu để nói với Châu.

  • Chị ngồi xuống đó một tí, tôi kiếm được liền mà.

Châu ngồi xuống, mắt vẩn vơ nhìn bức hình con cá voi trắng dán trên bàn tôi, và nói:

  • Ðừng tìm nữa, tôi ngồi chơi đây một lát được không?
  • Ðược quá. Chị ngồi đây suốt ngày cũng được.

Châu mỉm cười có vẻ thân mật, đôi mắt Châu dịu dàng hơn nhưng giọng nói vẫn hất hàm như một người chị.

  • Này, nhà mới dọn lên đây phải không? Trước kia ở đâu thế?
  • Ở Qui Nhơn.
  • Qui Nhơn là ở đâu?
  • Ở biển… ở đó có biển, biển cũng đẹp như núi ở đây. Chị chưa bao giờ thấy biển à?

Ðôi mắt Châu hình như lùi xa để nghĩ ngợi, tôi rất buồn khi thấy ai có một đôi mắt xa xăm như thế.

  • Có chứ… có một lần thôi. Trước kia nhà tôi ở ngoài Bắc, di cư vào đây bằng tàu biển, chỉ thấy biển có lần đó mà bây giờ không nhớ gì cả. Rồi cả nhà lên Ban Mê Thuột, ba me ở đây hoài buồn ghê… nhưng này tên gì thế?
  • Tên ai?

Châu đưa ngón tay chỉ vào tôi. Tôi thầm nghĩ sao Châu làm phách quá trời, nhưng tôi cũng trả lời:

  • Tôi tên Tuấn, nhưng tôi ghét cái tên đó lắm. Chị có thể gọi tôi bằng tên khác, gọi là Ngự được không?
  • Ðược chứ. Nhưng sao lại gọi là Ngự?
  • Vì hình như tôi sinh ra ở Bến Ngự.
  • Bến Ngự là ở đâu thế?

Tôi đứng dậy đưa tay chỉ vào một chấm nhỏ trên bức bản đồ Việt Nam dán trên vách tường. Tôi bỗng nói như học thuộc lòng một bài học địa lý:

  • Ðây là Huế, cái thành phố này buồn nhất Việt Nam. Từ Huế lên Ban Mê Thuột xa lắm, đi máy bay mất vài giờ còn đi xe hơi lâu hơn nhiều, đến ga Ninh Hòa phải đón xe lên Ban Mê Thuột, đường này đi rộng rãi lắm và có hai ngọn đèo, nhưng đèo ở xứ này không thấm vào đâu so với đèo Hải Vân ở giữa Huế và Ðà Nẵng…

Tôi khoái chí vì lần đầu tiên nói với con gái một câu như thế. Châu vẫn tiếp tục hỏi:

  • Ngự học lớp mấy rồi đấy?

Tôi trả lời và Châu ngạc nhiên:

  • Thế là học bằng tôi rồi, còn nhỏ mà học giỏi nhỉ.

Tôi nổi sùng chết được. Châu làm ra vẻ người lớn thế nhưng có lẽ chỉ bằng hay hơn tôi một tuổi là cùng. Tôi không thèm nhìn Châu nữa và cầm bâng quơ mấy tập báo trên bàn. Tôi lật từng trang nhưng không nhìn thấy gì hết ngoài những hình vẽ và những chữ đầy trang giấy. Châu cũng quay mặt nhìn ra ngoài đường và một thằng quỷ quái nào đó đạp xe ngang qua cười tình với Châu làm tôi buồn chết được. Tôi định nói Châu về đi cho rồi, nhưng Châu lại gợi chuyện, bao giờ Châu cũng nói trước cả:

  • Ngự bao nhiêu tuổi rồi đấy?

Tôi trả lời và Châu ngạc nhiên, Châu bớt cái vẻ đàn chị đối với tôi:

  • Thế là bằng tuổi tôi rồi. Thôi đừng gọi tôi là chị nữa, gọi là Châu đi nhé. Lúc nào rỗi qua nhà tôi chơi, nhà tôi kìa kìa… có chuồng gà vui lắm và mấy đứa em trai lớn cũng gần bằng Ngự.

Châu bỗng nhíu mày, hay có lẽ cố làm ra thế.

  • Lạ thật! sao tụi mình cái gì cũng giống nhau, học cùng lớp lại cùng một tuổi.
  • Có cái khác chứ. Tôi là con trai và Châu là con gái.
  • Dĩ nhiên rồi. Ngự ăn nói gì vô duyên thế!

Môi Châu trề ra như một múi cam tươi gợi cảm ngon lành. Con gái khi có đôi môi đẹp thì nó làm cái trò gì cũng đẹp, dầu cho có trề môi dưới ra dài thòng.

  • Thôi Châu về đây. Chiều Châu qua lại nhé.

Tôi buồn buồn gật đầu và nhắc đi nhắc lại cả trăm lần là chiều Châu nhớ qua chơi. Tôi ở nhà đã quá buồn với mấy cuốn sách báo cũ, cái máy hát nhỏ, hai đứa em trai và một đứa em gái của tôi cứ chụm đầu với nhau ngoài vườn chơi cái trò “buôn bán”, đứa em gái xắt vỏ trái thanh trà thành từng miếng nhỏ giả làm thịt cá, hai đứa em trai xé giấy làm một xấp tiền dầy cộm trong túi, rồi ngồi mua từng miếng thịt nhỏ làm bộ nhai ngấu nghiến, ăn hết lại mua nữa. Chúng say mê làm cái trò đó cả trăm lần và dĩ nhiên tôi chẳng thấy thú vị gì để tham dự vào cả. Tiếng kẻng đằng xa vang lên báo hiệu giờ tan sở. Châu hoảng hốt:

  • Chết, đồ ăn chưa làm xong gì cả mà ba sắp về nhà rồi. Tại Ngự đấy, thôi Châu về đây.

Những bước chân tinh nghịch nhanh nhẹn như con sóc của Châu dẫm nát cả một lớp cỏ cao đến tận đầu gối. Trước khi mất hút vào trong nhà, khuôn mặt của Châu quay lại, dựa cánh cửa và nhìn tôi. Và nụ cười. Nụ cười mê hoặc ấy.

*

Một tháng đã trôi qua ở xứ này. Tôi dần dần có đông bạn bè ở trường học, những vụ rủ nhau đi tắm suối Buji, suối Ðê, suối Nhà Ðèn hay đạp xe đi khắp hết những con đường khúc khuỷu trong thành phố, thỉnh thoảng vào sâu trong những đồn điền cà phê ở ngoại ô.

Châu cũng đã trở nên thân mật với tôi hơn. Buổi trưa sau giờ cơm ngồi dưới bóng mát sau nhà, bên cạnh vườn bắp đầy trái. Buổi tối cùng với lũ con trai con gái trong những trò chơi trẻ nít, nhưng bao giờ hai đứa cũng tìm cách gặp nhau một mình. Châu ham đi chơi nhiều, hay quanh quẩn đến nhà những đứa bạn gái để trò chuyện. Nhưng Châu cũng dành ít thì giờ qua nhà tôi nói chuyện vẩn vơ. Con gái người Bắc thật lắm chuyện, hình như có trong đầu óc Châu cả một triệu câu chuyện, từ chuyện học hành, bạn bè, áo quần, gia đình. Châu kể không sót kể cả những chuyện như trên trường mới có một ông giáo sư chuyên tán tỉnh nữ sinh hay là rạp Lido đang chiếu phim Vérité do Bardot đóng. Còn tôi thì chẳng có chuyện gì để nói cả. Tôi chỉ thích hỏi thật nhiều cho Châu trả lời và cứ như thế làm cho câu chuyện giữa hai người kéo dài thêm mãi. Tôi thường hỏi Châu về chuyện “tình yêu”, hỏi Châu có “bồ” chưa, dĩ nhiên Châu trả lời: chưa; tôi không tin điều này cho lắm vì thấy Châu có rất nhiều bạn trai lại nhà chơi, người nào trông cũng bảnh bao chững chạc hơn tôi nhiều. Châu cũng hỏi tôi về điều ấy, tôi bịa ra là đã có một hai cô bồ, tôi nghĩ ra được một cái tên con gái thật đẹp. Châu chú ý nghe và tôi sung sướng chết được khi nhìn thấy đôi mắt Châu hình như giận hờn hay buồn buồn gì đó. Tôi rất thích cho con gái giận, giận đến nỗi phải khóc là tôi khoái, chết được.

Ban đêm cả nhà tôi quây quần trong phòng, mẹ tôi đan áo len và lũ em tôi thi nhau học bài ầm ĩ. Bây giờ tôi đã ít thích không khí ấm cúng ấy. Tôi ra đứng một mình trước nhà, một góc tối tăm nhờ rặng mía dày bao quanh. Có lẽ ở nhà bên kia, Châu cũng đang chờ mẹ sai đi sang nhà hàng xóm về một chuyện vặt vãnh nào đó. Và thế nào Châu cũng có cớ để đi, khi đi ngang qua chỗ tôi đứng, cả hai đứa nhìn nhau mỉm cười và nụ cười đằm thắm trong bóng tối của Châu cho biết Châu sẽ trở lại. Châu trở lại nhưng làm bộ bỏ đi nhanh, tôi gọi Châu để nói một chuyện thật quan trọng, nhưng dĩ nhiên cóc có gì quan trọng cả, chẳng hạn như hỏi hồi sáng đi học vui không, sáng mai mấy giờ đi học, Châu mới may thêm chiếc áo xanh phải không. Châu khoe:

  • Mẹ mới may cho Châu một cái áo dài đẹp lắm, tuần sau là có áo mới mặc rồi.
  • Màu gì?
  • Màu đỏ thẫm, mặc “nổi” lắm.
  • Màu gì kỳ cục, sao không may áo màu xanh?
  • Có nhiều áo xanh rồi, mặc chán chết.
  • Tôi ghét màu đỏ lắm, vứt cái áo ấy đi, may áo khác màu xanh, xanh gì cũng được.
  • Trời ơi, vứt rồi lấy tiền đâu may nữa.

Tôi quả quyết nói:

  • Tôi cho. Hai ba trăm bạc là cùng chớ gì.
  • Trời ơi, lớn rồi mà không biết gì cả, áo của người ta cả ngàn bạc chớ bộ…

Một ngàn đồng lúc này đối với tôi quả như là giấc mơ, phải đợi trúng số mới có được nên tôi im lặng. Cả hai đứng nói chuyện với nhau thật gần và câu chuyện vẩn vơ kéo dài không muốn chấm dứt chút nào. Trời dần dần khuya, Châu có vẻ sắp về nhà, tôi cố tìm một câu gì để nói, một câu gì để làm Châu giận càng tốt. Tôi thích Châu giận dỗi thề rằng sẽ không bao giờ thèm nói chuyện với tôi nữa, rồi hai đứa sẽ làm mặt lạ với nhau chừng hai ba ngày, qua ngày thứ ba là tôi sẽ xin lỗi và Châu hết giận. Tôi nói:

  • Tụi bạn của tôi nói hồi trước Châu là bồ của thằng Mặt Mụn phải không?

Cái thằng vừa nói dĩ nhiên không có cái tên xấu như thế, nó khá trắng trẻo đẹp trai, nhưng tôi ghét nó vì hay đến nhà Châu hoài. Giọng của Châu giận dữ:

  • Bồ gì? Thằng ấy học cùng trường, quen sơ sơ thôi. Châu đã nói cả trăm lần là Châu không có bồ gì hết, sao Ngự không tin!
  • Tin gì nổi, con gái hay nói dối lắm. Mấy bữa nay Châu đi đâu lên phố hoài, ít khi qua đây quá trời.
  • Thì mẹ bảo đi mua đồ. Qua đây với Ngự hoài, Ngự hay làm mặt phách thấy ghét lắm.

Ðôi mắt Châu giận hờn óng ánh trong bóng tối làm tôi cảm thấy sung sướng vô cùng. Ðôi mắt ấy mà ứa ra vài giọt nước mắt là tuyệt. Hai ngón tay của Châu béo vào vai tôi đau điếng người nhưng thú vị biết mấy. Châu nói:

  • Châu qua nhà Ngự bị mẹ la hoài, mẹ Ngự cũng khó chịu nữa. Còn Ngự có bao giờ qua nhà Châu đâu?
  • Tại mấy con chó, chó nhà Châu chuyên môn nhảy chồm vào cắn người lạ. Cũng tại ông nội của Châu nữa, ông ấy già rồi mà mắt nhìn dữ thấy khiếp.
  • Ngự nhát gan quá. Ông nội hiền lắm, cả ngày không nói một tiếng.
  • Cần gì nói, thấy ông nhìn là đủ ớn rồi. Mà ông nội Châu năm nay bao nhiêu tuổi?
  • Gần tám mươi.
  • Già rồi sao còn sống dai thế?

Châu béo mạnh vào cánh tay tôi.

  • Này, Ngự không được hỗn nghe không.

Rồi thôi, tôi bắt đầu không tìm được chuyện gì để nói. Châu có vẻ chờ đợi tôi tiếp tục nhưng tôi chỉ đứng yên nhìn Châu. Một con chim bồ câu nào đó bỗng đập cánh bay ra khỏi chuồng làm cả hai đứa cùng giật mình. Nhà tôi có một chuồng bồ câu khá nhiều, ban đêm chúng đều ngủ say rất sớm, không hiểu giờ này con chim bồ câu ấy sao lại bỏ đi chơi khuya như thế. Tôi nhìn theo cánh chim bồ câu trắng xóa thoáng qua nhanh và tôi bỗng sực nhớ đến bộ mặt trắng và vài hạt mụn trên lỗ mũi của thằng Mặt Mụn. Tôi lại bực dọc nói:

  • Thằng Mặt Mụn có chiếc xe gắn máy đẹp ác, hôm qua nó chở Châu đi chơi phải không?

Châu kêu lên:

  • Trời ơi, đặt điều vừa thôi chứ. Ði chơi hồi nào đâu?
  • Thôi đừng xạo nữa.
  • Ngự dám nói Châu xạo phải không?
  • Dám. Châu hay nói xạo, nói láo, nói dóc, Châu làm điệu bộ đủ thứ. Châu quen biết với cả trăm thằng thằng nào Châu cũng làm bộ dễ thương cả.

Ðôi mắt ấy đã hơi ướt như tôi chờ đội. Khoái trá giờ lẫn hối hận tràn ngập trong người làm tôi bất động như có vẻ thản nhiên. Châu bỗng nói:

  • Châu về đây. Từ bây giờ trở đi Châu chẳng bao giờ nói chuyện với Ngự nữa đâu, Châu không quen với Ngự nữa.

Rồi Châu vùng chạy. Sợ hãi đã làm tôi can đảm, tôi nắm chặt lấy bàn tay Châu và nghe da thịt lạnh của người con gái nóng và êm vô cùng trong bàn tay của mình. Khi Châu đứng yên, tôi làm cái cử chỉ học được trong tiểu thuyết là đưa tay vuốt ve mái tóc Châu nhưng bàn tay tôi run rẩy. Hơi thở và tiếng khóc của Châu thật gần gũi như đang trộn lẫn với nhịp tim đập bồi hồi của tôi. Mùi hương của da thịt con gái, mùi thơm của những cây gia vị nhỏ trồng trong vườn, cây ớt, cây rau quế và đám hoa cỏ dại. Tất cả ngây ngất như một thứ rượu mạnh chưa hề uống và tôi không còn biết gì cả. Hai đứa ôm lấy nhau từ bao giờ, không biết ai có cử động ấy trước, gần như bàn tay ma quái của ai xô đẩy hai thân thể vào nhau. Tôi mê mẩn ôm chặt thân thể Châu trong người, da thịt mềm mại mà tôi chưa biết bây giờ đè nặng ngực tôi. Tôi hôn khắp mặt mũi, tóc tai, chiếc gáy trắng của Châu như một đứa trẻ con, cuối cùng tôi cảm thấy một đôi môi con gái mềm và ướt. Tôi không bắt gặp mùi vị gì ngọt ngào như người ta thường nói, cả hai đôi môi nối liền với nhau bất động và tê dại. Sợ hãi và hoan lạc lan khắp thân thể như vừa nếm mùi mật ong tinh tuyền. Tôi không còn nhận thấy điều gì cả. Thân thể Châu vừa nặng trĩu vừa nhẹ bổng, trống không như khói. Tất cả như một giấc mơ ngắn nhiều đêm tôi nằm mơ thấy mình hôn Châu.

Dĩ nhiên giây phút say sưa nhưng có vẻ không thực ấy đã có một chỗ ngồi trong trí nhớ của tôi suốt đời. Không biết Châu có quên đi mau chóng không?

Những ngày kế tiếp theo thật đẹp. Buổi sáng nụ cười của Châu không còn được tự nhiên, trên đôi má đã thoáng nét ngại ngùng và đôi mắt nhìn càng thêm âu yếm. Nhìn cô gái mặc chiếc áo dài xanh e ấp, dáng điệu đoan trang như người lớn, tôi không thể nào tưởng tượng ban đêm tôi đã ôm người ấy. Da thịt kín đáo trong làn vải áo, ban đêm đã gần gũi trong vòng tay.

Hai đứa ít gặp nhau hơn. Châu có vẻ ngượng ngùng trước đôi mắt dò xét của mẹ tôi và những đứa em của tôi bây giờ hay chọc ghẹo Châu. Một ngày vắng Châu tôi không thể nào chịu nổi, có đêm mẹ không sai Châu đi đâu, Châu phải ở mãi trong nhà để học bài hay may vá gì đó. Tôi liều mạng sang nhà Châu, lấy cớ mượn một cuốn sách. Hai đứa ngồi cùng một bàn học, ba má Châu đã đi đâu vắng, lũ em của Châu đã ngủ, chỉ còn ông nội Châu vẫn còn thức. Ông già ấy thường đi ngủ rất khuya và bây giờ lại không tỏ vẻ gì buồn ngủ cả. Ông già ngồi trong chiếc ghế bành và tay cầm một tờ nhật báo nhưng tôi biết ông nhìn hai đứa nhiều hơn là đọc tin tức thời sự.

Châu bịa ra một bài toán khó và tôi giải tỉ mỉ cho Châu, nghĩa là với một phương pháp thật dài dòng không bảo đảm trúng gì hết. Xen lẫn với những định lý hình học, những con số chán ngắt là những lời của hai đứa thật nhỏ, nhỏ vừa đủ để lỗ tai yếu của ông già không thể nghe được: Nhớ Châu quá trời. Thật không? Châu cũng nhớ Ngự lắm, ngồi trong lớp cứ kể cho con bạn nghe về Ngự mãi.

  • Trời ơi! nói với người khác làm chi kỳ vậy?
  • Không nói nó cũng biết, con bạn Châu tinh mắt lắm, nó thấy Châu cứ loay quay trên giấy hoài, rồi vô tình Châu viết tên Ngự.
  • Sao cái gì mình cũng giống nhau vậy? Tôi cũng thế, giờ frère Léon giảng giáo lý không nghe gì cả, viết đầy tên Châu trong vở, viết cả chục lần cho đến khi hết chỗ để chép bài.
  • Ngự có đạo đâu mà học giáo lý?
  • Cái trường của mấy ông thầy dòng kỳ như vậy, sáng nào cũng bắt học một giờ giáo lý, lại còn đọc kinh nữa.
  • Học môn đó vui không?
  • Chán chết, không hiểu gì cả, chỉ nhớ Jésus có nói một câu thật hay: “Khi những bông hoa mật ong đã nở trên cây, các con hãy thương yêu nhau và cũng đừng buồn khi một ngày nào đó các con hết yêu nhau, vì tình yêu cũng giống như mật ong, có thứ thật có thứ giả khó lòng phân biệt được” (dĩ nhiên câu này tôi bịa ra chứ Jésus đời nào nói một câu lẩm cẩm như vậy).
  • Trời ơi, câu đó hay quá nhỉ!
  • Không, nghĩ đến Jésus không thấy gì cả, còn nghĩ đến Châu khoái chết được. Ở trong vở, viết tên Jésus và Maria nhỏ lắm, còn viết tên Châu thật lớn: Minh Châu, Minh Châu… viết hoài hoài.
  • Thôi cám ơn, chiều mai Châu đi học lúc 3 giờ.
  • Tôi sẽ đi sớm hơn để đón Châu trước cổng trường. – Ðón làm gì thế?
  • Ðể nhìn Châu một cái, Châu gặp đừng làm lơ, nhớ cười nghe, tôi sẽ rủ một thằng bạn đi theo, tôi đã nói về Châu cho nó nghe rồi. Châu mà không cười với tôi thằng ấy sẽ tưởng tôi nói láo.
  • Trời ơi! nói chuyện đó với người lạ làm gì, bọn con trai ác lắm, tụi nó đồn ầm lên là Châu chết mất.
  • Yên chí, chỉ nói cho một thằng bạn thân thôi mà không nói không chịu nổi, Châu cũng thế phải không?

Những chữ viết, những hình thể toán học trở nên những vai phụ mờ nhạt. Ông già ngồi soi mói cũng mờ nhạt. Tôi không còn nghe thấy gì ngoài âm thanh của chính mình và của Châu trộn lẫn với nhau như một điệu nhạc tuyệt vời. Bàn tay của hai đứa lật một trang sách, chỉ một trang và không lật thêm trang nào nữa vì hai hai bàn tay đã nắm lấy nhau, che khuất sau những trang giấy (lần đầu tiên tôi thấy sự ích lợi của sách vở).

Không biết như thế trong bao nhiêu lâu rồi giọng nói lụ khụ khó chịu của ông già:

  • Châu à, cháu chưa đi ngủ sao? Mai còn đi học sớm.
  • Thưa ông chưa ạ, cháu làm bài toán này mãi mà chưa xong, ông cứ đi ngủ trước đi, cháu treo mùng cho ông rồi.

Ông già quay sang phía tôi và đôi mắt rất ít cảm tình:

  • Cậu cũng học cùng lớp với con Châu à?

Tôi cố gắng nói với giọng lễ phép nhất của tôi:

  • Dạ, cùng lớp nhưng khác trường. Bài toán này khó lắm, cháu phải giảng cho thật kỹ.
  • Cậu học giỏi thế à.

Tôi nói nhỏ chỉ cho Châu nghe: không giỏi gì lắm đâu, càng ngày dốt và làm biếng vì cô cháu gái của ông đấy. Châu lườm: giận Ngự cho mà xem, con trai mà học dốt xấu lắm.

  • Nói gì thế?
  • Dạ không có gì ạ. Cháu sắp làm xong rồi.

Ông già lừ mắt nhìn tôi làm tôi phải giả bộ lơ đi chỗ khác, tôi bỗng chốc trở nên lì lợm, ông già quay lại với tờ báo. Tôi viết trên trang giấy trắng tên tôi và tên Châu nối liền với nhau. Châu cười với tôi âu yếm làm tôi sung sướng chết được, tôi muốn ôm chặt khuôn mặt ấy vào lồng ngực, dùng môi mình mở đôi mắt đang nhắm nghiền của Châu và hôn lên sự âu yếm ấy.

Ðồng hồ treo trên tường kêu long cong mấy tiếng cho biết giờ đã khuya rồi. Tôi vẫn chưa muốn về, ông già lần nầy quả quyết đứng lên, buông thỏng tờ báo mà có lẽ nãy giờ ông không đọc một chữ. Rồi ông giận dữ nói:

  • Thôi khuya rồi, còn cái gì cũng để sáng mai rồi hay. Cậu nên về đi cho con Châu nó ngủ. Con trai con gái có chuyện gì để ban ngày nói, nói chuyện ban đêm như thế này không tiện đâu.

Tôi hổ thẹn chết người, mặt mũi và hai tai bừng nóng như uống rượu. Không ngờ cái ông lão này lại ăn nói thẳng thừng như thế. Tôi nghiến răng trong miệng và đứng dậy. Ðôi mắt Châu van lơn khổ sở: Ngự đừng giận nghe, mai gặp lại. Rồi Châu bỏ đi nhanh vào phòng ngủ, tôi bỏ ra về mà không thèm gật đầu chào ông già. Khi ra ngoài trời đêm, cỏ ướt dưới chân làm tôi lạnh và buồn.

Có lẽ trong tình yêu, người nào đam mê nhiều nhất là người bị thua thiệt hơn cả. Tôi dần dà nhận thấy sự thua thiệt của mình (cái chữ “thua thiệt” có vẻ mua bán này thật kỳ cục). Bởi vì tất cả đời sống lúc này hoàn toàn dành cho Châu, điều này thật khó nói cho Châu biết. Tôi xao lãng những giờ học, bỏ hết những cuộc đi chơi với bạn bè, không còn chiều chiều đi tắm suối hay lên rừng lên rẫy, bỏ hết những sách báo mà tôi mê đọc, cả đến những giờ phút êm ấm nhất trong gia đình. Tôi nghĩ đến Châu luôn luôn trong ngày. Ban đêm tôi cố tưởng tượng đến một sự đổ vỡ, chia lìa để rồi trằn trọc mãi trong trái tim đau nhói.

Châu thì không thế bao giờ, Châu vẫn sống bình thường, vẫn đi học chăm chỉ, đi chợ nấu ăn hàng ngày, vẫn vui đùa với bạn bè trong những cuộc dạo phố, vẫn cứ giao thiệp với các bạn trai và với ai Châu cũng tỏ ra dễ thương được cả. Ðiều này làm tôi rất buồn. Tôi không còn phân biệt được nụ cười của Châu cho tôi và cho người khác. Châu mới 17 tuổi, nhưng đã lớn lắm rồi, khuôn mặt và thân hình rạng rỡ như một bông hoa lẳng lơ, một bông hoa có nhiều đứa con trai chạy quanh. Tự nhiên tôi cảm thấy sự lạnh nhạt càng ngày càng lộ trên đôi mắt hay lời nói của Châu đối với tôi.

Một hôm tôi nhờ thằng Y-Brư đưa cho Châu một lá thư ngắn. Thằng Y-Brư người Rhadé, bạn của mấy đứa em tôi trong những vụ đá dế, thằng nhóc này bắt chước người Việt từ chiếc áo ny-lông mỏng dính cho đến mái tóc chải dầu láng bóng nhưng chẳng bao giờ đi học tiếng Việt cả, nên nó chỉ nói được lõm bõm và không biết đọc biết viết gì cả. Như thế khỏi lo thằng Y-Brư đọc trộm thư khi nó thản nhiên bóc miếng giấy trắng ra xem chăm chú nhưng dĩ nhiên không hiểu gì.

“Châu,

Lâu nay không thấy Châu qua chơi, chắc Châu chán tôi rồi. Tụi bạn trên trường kể nhiều chuyện về Châu, tôi nghe rất buồn và không muốn nói lại chút nào cả. Châu bây giờ có vẻ thay đổi, hay không còn muốn gặp mặt tôi nữa.

Ngự”

Lời lẽ ghen tương thật trẻ con. Tôi chờ đợi một lá thư giải thích và vuốt ve sự hờn giận của tôi. Nhưng trái lại thằng Y-Brư chạy về, nó nói:

  • Chị Châu xé tờ giấy của anh rồi, chị không nói gì cả.

Tôi đau điếng người, bỗng dưng bộ mặt đen thui của thằng Y-Brư trở nên đần độn, tôi muốn đá nó một cú nhưng cố dằn lại và nói:

  • Mày qua đưa cho chị Châu thêm một lá thư nữa của tao, chờ tao viết một chút, chốc nữa về tao cho mười đồng mua bánh mì thịt.

Tôi lại cặm cụi viết, lần này tôi bỏ trong phong bì bức hình của Châu cho tôi hôm trước. Tôi nhìn khuôn mặt Châu trên tấm hình, khuôn mặt buồn và hình như trách móc làm tôi cảm thấy thương Châu hơn. Nhưng lòng tự ái trẻ con đã bùng lên không gì ngăn cản được.

“Châu

Không ngờ Châu khinh tôi như thế. Tôi gởi trả lại Châu tấm hình, tôi không muốn nhìn thấy nó nữa. Thôi bây giờ tụi mình coi như không quen biết nhau.

Ngự”

Tôi định đề thêm một chữ “vĩnh biệt” thật kêu nhưng lại thôi. Tôi ngán chữ này kinh khủng và biết rõ mình chẳng bao giờ thích vĩnh biệt Châu cả. Thằng Y-Brư lại trở về, lần này có cầm theo một miếng giấy nhỏ, mới nhìn qua nét chữ tôi biết ngay là của Châu.

“Ngự,

Ngự làm Châu bực mình quá, khi không bày đặt giận chi vậy? Ngự nghe tụi bạn nói gì về Châu, sao Ngự không nghe chính Châu nói? Mà thôi. Châu có làm gì mặc Châu, Ngự thắc mắc làm gì? Ngự không hiểu Châu gì cả, Ngự trả lại hình và muốn không gặp Châu nữa cũng được.

Châu”

Tôi buồn bã chết đi. Tôi cho thằng Y-Brư mười đồng bảo nó cút khỏi chỗ này để trả lại sự vắng vẻ hoàn toàn, nằm dài trên chiếc ghế dựa, tôi cảm thấy như thân thể chết lạnh ngắt, nhịp tim không còn đập nữa. Tôi muốn chết kỳ lạ. Hình ảnh của Châu chờn vờn khi thì méo mó như một ác quỷ khi đẹp lộng lẫy như một thiên thần.

Thế là hai đứa không nhìn mặt nhau đến ba ngày. Qua ngày thứ tư, tôi không chịu nổi tôi tìm đến xin lỗi và “làm quen” Châu trở lại. Ðã lâu rồi hai đứa mới có dịp đứng gần nhau và tôi ngần ngại ôm Châu vào lòng, hôn lên mùi thơm của mái tóc tôi đã quen hơi. Châu không nói gì cả, tôi không hiểu Châu có hài lòng hay sung sướng gì không. Tôi hỏi nhưng Châu không trả lời, Châu chỉ nói:

  • Sao Ngự hay kiếm cớ để giận Châu thế? Ngự thích làm Châu khổ lắm phải không?

Tôi thấy thương Châu như một đứa em nhỏ.

  • Không, từ giờ trở đi tôi không giận Châu nữa đâu. Châu làm gì cũng không giận hết, dù có gặp Châu đi chơi với thằng Mặt Mụn.
  • Nữa, lại nhắc đến chuyện ấy hoài.
  • Thôi không nhắc nữa.

Cùng một lúc, trong bóng đêm vắng lặng chỉ có tiếng gáy rù rù của bầy chim bồ câu trong chuồng, trong vòng tay ôm và những cái hôn vụng về, tôi cảm thấy hạnh phúc lẫn đau đớn ngập tràn trong người. Bởi vì tôi thấy không thể nào dửng dưng được với bất cứ hành động nào của Châu. Dầu cho là một nụ cười nhỏ của Châu đối với bạn bè, đối với những thằng anh bà con, đối với ông bố. Tôi ghét tất cả những người nào nhận được nơi Châu một nụ cười.

Nhưng một người đòi hỏi tuyệt đối, đòi hỏi quá nhiều không bao giờ hài lòng cả. Tôi càng thấy khổ sở vò xé mình vì những điều rất vô lý. Lại giận hờn, lại trả hình, lại xin lỗi, lại làm quen trở lại… Tất cả những vụ lôi thôi đó lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần. Tôi cảm thấy ghét Châu vì Châu hình như ngày càng thờ ơ với tôi và đôi khi tỏ ra bực mình vì tôi nữa. Tôi biết mình ích kỷ như một đứa trẻ con, nhưng làm sao sửa đổi được. Có lẽ đến năm 90 tuổi, tôi vẫn thích được vuốt ve và nuông chiều như một trẻ thơ đòi sữa mẹ.

Cái gì rồi cũng đến lúc chấm dứt. Tình yêu của tôi và Châu cũng thế (không biết có phải là tình yêu không). Vì lý do gì tôi cũng không biết rõ. Như ánh nắng của mặt trời cứ đến chiều là tắt hẳn, tình yêu đến một lúc nào đó cũng hết, không ai hiểu rõ tại sao ngay cả những người trong cuộc.

Gia đình tôi đổi đi xa lần nữa. Tôi xa Châu, không có trong người một nét chữ nhỏ, một bức hình nào của Châu. Trời sớm mai ở Ban Mê Thuột giá lạnh làm tôi run rẩy dầu đã ngồi kín đáo trong chiếc xe đò, bến xe bên ngoài lầy lội bùn đỏ. Không có cuộc chia tay hay gặp gỡ lần cuối nào thật đẹp giữa hai đứa. Nếu không có chuyến đi này, Châu cũng đã xa tôi. Tôi còn nhớ Châu có giữ kín một cuốn nhật ký, không biết trong muôn ngàn chữ ấy có chữ nào dính dấp đến tôi không. Tôi cũng muốn bắt đầu một cuốn nhật ký bằng hình ảnh của Châu. Nhưng bao giờ bắt đầu được vì khuôn mặt Châu vừa sống động vừa tan loãng mờ nhạt. Tất cả những chữ viết, ngôn ngữ tài tình nào cũng đành chịu. Hình ảnh Châu tốt hơn nên nằm êm ái trong tâm hồn mãi mãi.

*

Bây giờ buổi chiều đã hết. Ánh sáng của mặt trời đã tắt. Ánh sáng không biết của ai đang thắp nhỏ nhoi trong những ngọn đèn đường. Ký ức làm buổi chiều nặng trĩu, người cũng lặng lẽ như một bóng vô hình với hiện tại. Ðường phố, những người, những tiếng động như hư không, không thấy, không nghe gì cả. Người bỏ đi cho ghế trống trơn, khói thuốc đã hết bay lên từ chiếc gạt tàn…

Có những quá khứ thật êm đềm khiến người ta phải bỏ hết một đời để hồi tưởng. Tôi không phí phạm cuộc đời tôi như thế. Tôi không phải là kẻ ngưỡng mộ dĩ vãng, cuộc đời tôi còn dành cho nhiều điều khác, và cho tôi.

Bởi thế tôi đã quên. Chúng ta đều đã quên.

Hoàng Ngọc Tuấn

Những Mẩu Dây Leo. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)


Từ con lộ chính mang tên đường Prespect phía Nam, qua một cột trụ điện thì có lối rẽ vào khu vực đậu xe được bao quanh bằng những luống dày đặt loại dây leo Ivy tứ thời xanh mướt mà không bao giờ có hoa. Ở bãi đậu xe lại có một con đường trải sỏi rộng rãi dẫn vào bên cánh trái của toà buiding ba tầng lầu. Đằng sau tầng buiding ba tầng lầu là một dãy nhà kho. Phía sau dãy nhà kho là một khoảng đất trống có hàng rào kẽm gai ngăn thưa thớt giữa cơ sở thương mại này với xa lộ suốt ngày có xe cộ chạy qua như một dòng nước chảy liên tu bất tận. Đó là sở làm của Vũ.

Hôm đến nhận công việc, người bạn đồng nghiệp của Vũ (nay sắp nghỉ và Vũ phải thế chân) đã giơ cánh tay khoác một cử chỉ bao quát bốn bề chung quanh và nói bằng một giọng Anh ngữ của người dân gốc Mễ:

– Không có gì nhiều lắm đâu. Tôi sẽ chỉ cho anh đủ mọi thứ.

Nói rồi anh ta sâm sâm kéo Vũ vô một cái bàn giấy nhỏ kê thêm ở sát góc tường ngay gần chỗ cầu thang lối dẫn lên các tầng lầu. Rồi anh ta nói lia chia mà Vũ cố gắng lắm cũng chỉ lõm bõm hiểu câu được câu chăng. Đại khái là phải đi rải vòng quanh cơ sở mỗi giờ một lần, từ parking lot cho tới hàng rào kẽm gai, từ toà buiding cho đến dãy nhà kho, từ lầu trên cho xuống tới lầu dưới và phải ghi báo cáo vào cái bản in sẵn gọi là daily activity report. Cuối cùng anh ta trao cho Vũ một cái hộp đen xì có quai xách trên có gắn một mặt đồng hồ và nói:

– Ở đây có tất cả hai mươi lăm cánh cửa có gắn chìa khoá của cái “round clock” này. Mỗi giờ anh phải đi xoay đủ hai mươi lăm cái. Nó có tape ở trong đó, bỏ sót là không được đâu. Sáng nào manager cũng mở ra, chỉ cần coi cái tape ghi như thế nào là nó biết anh có làm việc hay không.

Sau đó anh ta lôi tuồn tuột Vũ đi qua hai mươi lăm cánh cửa trong số cả trăm cánh cửa chằng chịt ở trong cơ sở này. Vũ bỗng trở nên như ở trên mây. Có tài thánh chỉ trong mấy phút mà người ta có thể nhớ hết vị trí của 25 cái chìa khoá treo lủng lẳng ở hai mươi lăm nơi khác nhau từ lầu trên xuống lầu dưới, từ sân trước xuống sân sau để có thể mỗi giờ người ta đến đúng vị trí của nó, thọc nó vô cái hộp đen kỳ cục này, xoay nó một vòng để nó in cái vòng ám số lên cuộn hàng giấy nằm bên trong. Cuộn băng chạy theo cùng với trục kim đồng hồ. Lố giờ nào, sót cái chìa khoá nào, tự nó có thể tố cáo ra hết! Đúng là cái xứ văn minh kỹ thuật, xài rất ít người nhưng lại có thể kiểm soát tối đa, Vũ có ác cảm ngày với cái hộp đen mà anh chàng Mễ kia gọi nó là cái “round clock” từ mấy phút trước.

Màn bàn giao công tác kể như tạm xong, anh Mễ có vẻ hí hởn như một con chim đang được tháo cũi sổ lồng. Hẳn anh ta vừa kiếm được cái job thơm hơn. Hẳn vĩnh viễn từ từ nay anh sẽ không còn là nô lệ cho cái hộp đen vô tri cục mịch lạnh lùng và vô tình cảm này. Bây giờ thì Vũ treo cái hộp lên chiếc đinh đóng ở ngay trên mé tường kế chỗ Vũ ngồi. Tại vị trí đó, nom nó đúng là một cái đồng hồ như tên gọi của nó, nhưng là một cái đồng hồ kỳ cục ở chỗ ngay chính giữa nó lại có cái lõm sâu hoắm, chỗ mà Vũ sẽ phải tra chiếc chìa khoá, mỗi chiếc vừa to vừa nặng không nhỏ hơn một ngón tay trỏ của một con người. Lúc này thì Vũ có thể nghe thấy tiếng tích tắc của nó phát ra như hơi thở đều hoà của một sinh vật sống, loại sinh vật được sinh ra ở cõi đời này để chỉ làm có mỗi công việc là KIỂM SOÁT và TỐ CÁO kẻ khác. Nó làm cho Vũ liên tưởng ngay đến những khuôn mặt đáng ghét của những anh công an khu vực ở quê nhà, hể để cho bọn chúng bước qua ngưỡng cửa rồi thì mọi ngõ ngách, ngọn nguồn trong nhà đều bị những cặp mắt soi mói, tọc mạch ghi gói hết. Vũ nhớ lại một lần, có hôm một anh công an ghé vô, chưa kịp chào hỏi thì anh ta đã kêu lên:

– Ủa, cái kệ gỗ mọi hôm ở đây, anh chị đem đi đâu rồi?

Vũ ngạc nhiên nhìn về phía góc tương. Quả nhiên cái kệ gỗ mọi khi vẫn để những món đồ linh tinh nay đã bị rời đi từ lúc nào mà chính Vũ cũng không hay. Vừa may lúc đó vợ Vũ đã chạy ra trả lời đon đả:

-Bán rồi anh! Hết tiền, hết gạo thì phải bán. Của trong nhà cứ đội nón ra đi đó anh à!

Vũ nhìn vợ như trách móc, chẳng phải vì nàng tự tiện quyết định để lại món này, bán đi món kia, nhưng vì nàng bán đi rồi mà chẳng thèm thông báo cho Vũ biết.

Những kỷ niệm như thế vẫn lổn nhổn đầy dẫy trong đầu Vũ như những hạt sạn dù rằng chàng đã vượt biên được tới đây. Mấy năm qua rồi mà trí nhớ chàng vẫn còn in nguyên những ấn tượng cũ giống như những tâm hồn đã bị bầm dập, chỉ một lần thoáng xao động là cũng đủ đem lại một cơn đau đớn thảng thốt, xót xa.

Đó cũng là những lý do mà Vũ có ác cảm ngay với cái hộp đồng hồ đen đang yên nguyên tự tại trên tường với những tiếng tích tắc đều hoà. Vũ tránh không nhìn tới nó nhưng vẫn có cảm giác kể từ nay nó bắt đầu đè nặng lên tâm hồn mỏi mệt của mình. 

Chàng lại bàn giấy và kéo ghế ngồi phịt xuống. Trước mặt chàng là một xấp giấy in sẵn để bên cạnh một cây viết được cột bằng một sợi dây xích nhỏ. Lại một hình ảnh trói buộc làm Vũ thêm khó chịu. Bất giác chàng nhớ lại bộ đồng phục mình đang mặc trên mình. Cái quần quá rộng, cái ống quá dài. Nhất là cái thắt lưng đen to bản, thật không tương xứng chút nào với con người vừa nhỏ thó, vừa gầy gò, yếu đuối như chàng. Hôm đầu tiên đóng bộ này trên mình, Vũ soi mặt trong gương. Rõ là một sự tương phản gay gắt giữa bộ quần áo có chức năng bảo vệ, hùng dũng với khuôn mặt có làn da xám như màu chì và nhăn nhúm ở mọi chỗ của chàng.

Vũ lại nhớ lời khuyên chí tình của một worker:

-Ăn cho nhiều, ngủ cho đầy giấc đi. Béo khỏe ra ngây thì kiếm việc mới dễ. Ông mà cứ giữ cái vẻ mặt rầu rầu thế này thì có gõ vào nhiêu cửa cũng thế thôi.

Ai mà chả biết! Ở cái xứ này tuổi trẻ có lợi kiếm việc hơn ông già, bà già. Kẻ nhanh nhẹn hoạt bát dễ có cảm tình hơn những kẻ u sầu, ủ dột mới nhát thấy đã lây ngay bệnh chán đời. Nhưng ăn cho nhiều, ngủ cho đầy giấc để “béo khỏe ra ngây” là một chuyện không dễ gì làm được. Không phải Vũ chê gì đồ ăn xứ Mỹ, nhưng hể mỗi lần Vũ giơ gậm một cái đùi gà, dù là đùi gà để cả lố trong gói ướp lạnh, bán rẻ rề ở các chợ Mỹ, thì chàng lại nhớ đến những dòng chữ của đứa con gái út viết trong thư gửi qua cho mình. “Hôm qua nhận được món quà bố gửi, hôm nay mẹ bỏ tiền ra mua xương phở cho cả nhà được gậm. Ngon lắm bố. Lâu lắm rồi không được ăn thịt”. Hôm đầu tiên vừa ăn tối vừa đọc thư, tới chỗ đó. Vũ liệng ngay cái đùi gà đang gậm và bỏ lên giường nằm đắp chăn khóc rấm rức.

Giấc ngủ của Vũ vì thế vẫn tràn đầy mộng mị và chàng hay choàng dậy thảng thốt vào lúc nửa đêm. Mấy năm rồi mà chàng vẫn có cảm giác mình tỉnh giấc trên chiếc phản gỗ trong căn phòng nhỏ nơi quê nhà. Chàng tưởng rằng sẽ cảm thấy ngay được hơi hướng ấm áp của vợ mình ở ngay bên cạnh hay nghe tiếng nói mê ú ớ của con bé út ở ngay chiếc giường nhỏ kê dưới cuối phòng. Nhưng lúc tỉnh trí lại, Vũ chỉ thấy mình đang bị giam hãm bởi một khoảng sâu mênh mang, vô tận, bốn bề lạnh lẽo, cái mạnh lẽo sâu buốt như những mũi kim gắn ngay ở giữa trái tim của mình. Rồi cơn bất ngủ kéo đến, lâu ngày nó làm cho da mặt của Vũ nó rão ra, nhăn nhúm lại, cặp mắt hõm sâu, mỗi ngày một thêm bạc nhược thẩn thờ. Tuổi của chàng mới bốn mươi mà trông như đã ngoài năm mươi.

Hậu quả là chẳng nơi nào nhận cho chàng làm việc, trừ loại công việc mà mới nghe tưởng như một trái khoán rỡn đùa nhân viên an ninh bảo vệ tiếng Mỹ gọi là Security Guard!

Cái dáng dấp chậm chạp, ủ rủ ấy, cái khuôn mặt khắc khổ u sầu ấy coi vậy mà được dễ dàng chấp nhận hơn những thanh niên trai trẻ tràn đầy sức sống hoạt bát và linh động. Lý đó là các ông trẻ dễ nản, dễ chán và thường gây bốc đồng vô trách nhiệm. Điều này thật tối kỵ đối với ngành an ninh bảo vệ, không phải là thứ an ninh bảo vệ cần đeo súng đứng gác ở các nhà băng nhưng là thứ an ninh chỉ cần có đủ sức khỏe lê hết cánh cửa này đến cánh cửa kia để xoay những cái ổ khoá cứ mỗi giờ một lần.

Văn phòng nhân viên của cơ sở Certified Protection Service bắt Vũ ký lia chia đủ thứ giấy tờ, từ giấy cam kết đối vói nhiệm vụ cho tói giấy mượn đồng phục, từ đơn xin nhập học cho tới giấy lãnh các sách vở tài liệu chỉ dẫn. Trong vòng không đầy năm phút, nghiễm nhiên Vũ trở thành một thứ Guard chính hiệu, hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt, lại tốt nghiệp về khóa học an ninh bảo vệ với số điểm tối đa 100 trên 100. Đó là điều kiện bắt buộc theo luật của tiểu bang đối với những loại chức vụ dù muốn dù không thì cũng là loại được trao cho quyền hạng bắt giữ kẻ bất lương gọi là có “powers to arrest”

Bây giờ thì họ đẩy Vũ tới đây, trong vòng rào cơ sở của một hảng tư , có những luống dây leo xanh rì, có một bãi đậu xe mênh mông bát ngát, một tòa buiding rộng ba tầng lầu và một dãy nhà kho chằng chịt ngõ ngách.

Trước khi giả từ Vũ, anh chàng người Mễ còn dặn vớt:

-Hai mươi lăm cái chìa khóa đó nhé. Nhớ đừng có quên cái nào. Cuộc truyền nghề diễn ra trong vòng không đầy nửa tiếng. Bây giờ thì đầu óc của Vũ lộn phèo, chẳng còn nhớ được vị trí của cánh cửa nào có gắn sợi dây xích đeo lủng lẳng cho cái chìa khóa cần xoay cho cái hộp đen “round clock” hay cánh cửa nào đó chỉ cần kiểm soát sơ qua mà không có gắn sợi xích vô chìa.

Rồi Vũ khởi sự công tác thực sự về ngành an ninh bảo vệ đầu đời của mình. Chàng đeo cái hộp đen lên vai. Nó không nặng lắm nhưng nó gây cho Vũ một cái cảm giác mình có bạn đồng hành, đúng hơn một loại công an áp tải không bao giờ biết mệt mỏi hay lơ đểnh.

Phòng ốc của Mỹ coi bên ngoài thì có vẻ ngăn nắp, gọn ghẽ, nhưng có đến bên trong mới thấy nó chằng chịt, ngăn chỗ này, chia khu vực chỗ kia, cửa này bít không xài, cửa kia coi như một cái ngách vậy mà lại là chỗ nhân viên ra vô thường xuyên. Tủ, kệ, hồ sơ chất cao như núi, bàn ghế nhiều cái không xài tới hay còn chờ chỉnh trang, sửa chữa nằm choáng chỗ ở nhiều nơi, đã thế lại còn những kiện hàng mới tới , kiện hàng đang khui, nằm chen chút với chỗ này là dãy bình pha cà phê hâm suốt ngày, chỗ kia là mấy bấm kim, máy cắt bìa, máy xẻ rốc. Đó là chưa kể tới những giàn máy computer cái thì in ra thành giấy, cái thì chớp xanh chớp đỏ trên màn ảnh, còn máy chữ tự động thì nhiều vô cùng, Vũ nhìn mà cứ hoa cả mắt chẳng còn nhớ đâu là cánh cửa mà mình đã đi qua, đã xoay ổ khoá, cửa nào còn sót lại chưa đi, cửa nào là lối ra, cửa nào là lối đi sâu thêm vào, cứ cái điệu này thì đến suốt ngày loay hoay với những cái ổ khoá chứ chẳng phải nói nghe ngon ơ có hai mươi lăm cái chìa chỉ cần xoay có mỗi giờ một lần.

Nhưng rút cục rồi Vũ cũng lần ra hết thảy. Chàng chơi cái trò chia vòng đi tuần của mình ra từng móc nhỏ cho dễ nhớ, mỗi móc nhỏ đánh dấu bằng một hình ảnh, thí dụ như đi qua cái bàn hẹp trên có bày một lũ vỏ ốc vỏ sò của bà Mỹ già hay sưu tập những thứ lẩm cẩm là chàng đã xoay đủ năm vòng khoá đầu tiên. Rồi đi tới một vách tường trên có ghim hình ảnh ba bốn cầu thủ nổi tiếng về football là Vũ biết rằng mình phải vòng qua tay trái. Chàng sẽ gặp một cánh cửa bằng tôn gần bị che lấp bằng một tủ hồ sơ vĩ đại. Có một cái chìa khoá nằm ở đó nó mang số Z7. Từ cái chìa Z7 chàng sẽ phải tới cái chìa L.15 ở đằng sau bàn giấy của một cô Mỹ mập như một con voi. Giỏ rác ở dưới chân cô ta chứa toàn một loại đồ ăn, đồ uống để diet. Sau cái chìa L.15 thì sẽ đến cái chìa R9. Lắm lúc Vũ bực bội chửi thề rằng sao nó không để theo thứ tự cho con người ta dễ nhớ. Vì nhớ không được nên Vũ có khi đã xoay một cái chìa tới hai lần, ba lần mà cứ tưởng rằng nó là cái chìa chưa được xoay tới. Rồi chàng đâm ra oán cái đồng hồ hộp đen. Phải chi không có nó thì muốn chìa nào xoay hay không xoay thì cũng mặc xác nó. Nhưng nếu được như vậy thì đã chẳng phải nói và Vũ đã chẳng phải đánh vật với những màn đếm nhẩm, tính toán lầm nhầm như một kẻ tội đồ vừa đi vừa đọc kinh khấn nguyện. Cái Z7 rồi thì đến cái L.15, sau cái L.15 thì phải đến cái R9, không gặp cái R9 là mình đi lộn, khi đi lộn thì ra ở cửa này, lộn vào ở cửa kia, phải gặp cái bàn để linh tinh đủ loại vỏ nghêu, sò, ốc, hến..vân vân…

Những ngày đầu tiên ở đây, Vũ làm việc phờ phạc. Khởi sự đi tua lúc đầu giờ, leo hết được ba dãy lầu và một dãy nhà kho, xoay đủ hai mươi lăm cái chìa khoá Vũ phải tiêu mất bốn mươi lăm phút đồng hồ. Ngồi thở dốc được 15 phút thì lại tới đầu giờ kế tiếp và lại leo lên cầu thang của ba tầng lầu. Lắm lúc Vũ lại tự ví mình như một con sên bò lên vách tường. Leo cho đã rồi bị tụt xuống. Tụt xuống rồi lại leo lên nữa. Một ngày tám tiếng, mỗi tuần năm ngày, có hai ngày được nghỉ thì lại không phải là thứ bảy hay chủ nhật. Thứ bảy, chủ nhật hay ngay cả ngày lễ nữa là ngày không thể xin nghỉ được đối với những làm nghề security. Bởi vì ngày nghỉ thiên hạ về hết thì còn ai trông coi phòng ốc nếu không là những anh bảo vệ.

Vào những hôm đó, sở làm vắng hoe không có một móng, tuy nhiên không phải vì thế mà Vũ bớt đi một chút xíu công việc nào. Cái hộp đen đồng hồ quái ác vẫn lủng lẳng treo trên vách tường nó vẫn sẵn sàng tố cáo nếu Vũ lười đi tua một lần hay nhảy cóc không xoay đủ hai mươi lăm lần chìa khoá. Quyền năng của văn minh, kỹ thuật thế mới biết là ghê gớm. Lần đầu đối với Vũ không còn là công việc phải nhớ vị trí của từng chiếc chìa nữa mà là sự chạy đua với thời gian của một lần gọi là clock, round. Lúc trước hết một vòng Vũ phải dành hết bốn mươi lăm phút. Dần dà chàng rút xuống có nửa giờ, rồi hai mươi lăm phút, và chàng đang cố đạt tới kỹ lục hai mươi phút. Chàng tự tiêu khiển với chính mình bằng cuộc chạy đua này với cây kim đồng hồ của chiếc hộp đen. Bây giờ thì những ngón tay của Vũ đã đạt tới mức độ chính xác hết chỗ chê, dù cái chìa có treo ở đâu trên vách, bằng sợi xích ngắn hay dài, ở chỗ có thuận tay hay trái tay thì Vũ cũng chỉ cần với một cái là đã đặt đúng cái đầu chìa vào ổ khoá trên đồng hồ. Rồi chàng cũng chỉ cần xoay với một tốc độ vừa phải không mạnh quá mà cũng không nhẹ quá, sẽ có một tiếng “cốc” vang lên, trái với hồi đầu Vũ phải luôn luôn xoay cái chìa tới hai lần để cho nó chắc ăn là hàng số ám trên chìa đã được in trên giấy. Vũ chưa từng được thấy cuộn băng khi được mở ra kiểm soát hàng ngày sẽ ra sao nhưng chàng tin chắc trong phần việc của chàng, những chữ số sẽ rất đều, rất đẹp. Không đậm mực quá, cũng không lợt quá do bàn tay “xoay chìa khoá” một cách thiện nghệ của mình.

Mọi thủ tục chàng đã hoàn tất trong vòng hai mươi phút cho mỗi giờ phải đi tua. Nói cho chính xác ra là phải mất hai mươi phút và hai mươi giây. Thêm mười phút nữa là ngồi thượt ra thở dốc cho tim bớt đập mạnh và hoàn tất thủ tục báo cáo trên tờ report từng giờ với vỏn vẹn một hàng chữ “clock round on secure”. Còn có dữ kiện gì phải báo cáo thêm đối với loại công việc buồn nản này. Một nửa giờ còn lại Vũ không biết làm gì hơn là ngồi khoanh tay hút thuốc tại bàn giấy của mình. Hồi mới đến, nói cho ngay chàng còn có thể coi sách hay đọc báo. Nhưng rồi sau một đợt “cải tiến” lề lối làm việc cho tăng uy tín của sở bảo vệ, ngay chỗ chàng ngồi có thêm một cái bảng hiệu mới “Cấm đọc sách trong giờ làm việc”. Thế là mọi thứ bị tém dẹp hết. Vũ trở nên ngồi hêu ra trong mỗi nửa giờ của tám tiếng làm việc. Chàng bắt đầu chán cái thú chạy đua với thì giờ và khởi sự là cà ở hành lang này hay tầng lầu kia. Chàng có dư thời giờ để so sánh mầu xanh của lá chậu cây này với mầu xanh của lá chậu cây kia, toàn là những loại cây Vũ chẳng bao giờ thấy ở quê nhà đặt rải rác ở đầu cầu thang, ở dọc lối đi, được nuôi sống không phải vì đất mà chỉ là những mớ bùi nhùi được tẩm hoá chất. Có lần Vũ tò mò tới sờ mó từng sớ lá, từng vẩy thân cây xem là đồ thật hay đồ giả. Vậy mà Vũ cũng không kết luận được cây nào giả cây nào thật. Cái xứ Mỹ này có lắm cái thật kỳ chỉ thiếu điều chúng phải bẻ ngay ra một cành và ngửi tận mũi để phân biệt thì họa là may ra mới biết được. Nhưng chưa bao giờ Vũ làm chuyện ấy cả. Chàng chỉ đứng trước bồn cây một cách tần ngần và một đôi khi cử chỉ này của chàng bị một vài nhân viên bắt gặp. Họ đã ngó chàng với cặp mắt kỳ lạ như đang đối diện với tên mất trí, hay ít ra là một kẻ bất bình thường. Không bất bình thường sao được. Khi mà có một kẻ không biết làm gì khác hơn là đứng ngây người ra để ngắm một chậu cây chỉ có toàn lá xanh mà không có lấy một bông hoa. Lá xanh thì có điều gì lạ để mà ngắm nghía hay sờ mó kia chứ.

Điều này đối với Vũ, thoạt tiên chàng tưởng là chuyện không có gì đáng phải quan tâm. Mỹ quốc là một xứ tự do, dĩ nhiên là sự tự do không xâm nhập đến quyền lợi hay những điều riêng tư của kẻ khác. Đứng ngẩn người để ngắm một chậu cây xem nó là thứ giả hay thứ thiệt, nếu có giơ bàn tay xương xẩu ra mà rờ mó một cành lá một khúc cành thì cây cối đâu biết phiền hà gì mà đáng phải quan tâm. Vậy mà Vũ đã vi phạm một lỗi lầm trầm trọng trong cuộc đời đi làm sở Mỹ của mình.

Có một hôm chàng bị gọi về sở làm trình diện ông Manager. Ông ta hỏi chàng đủ thứ về lãnh vực sức khoẻ của mình, đặc biệt là câu hỏi: “Có bao giờ anh phải đi bác sĩ về bịnh Mental health không?”

DĨ nhiên Vũ phủ nhận tất cả những luận điệu chụp mũ đó. Đồng ý là chàng có nhiều tâm sự buồn chán, xa quê, nhớ vợ, thương con nhưng chưa bao giờ Vũ cảm thấy quẩn trí. Quẩn trí sao được khi vợ con chàng hàng tháng vẫn hằng ngóng đợi ở nơi chàng gởi về chia xẻ từng gói quà nhỏ nhặt trong vòng 2 pounds. “Hôm nay mẹ bỏ tiền ra mua xương phở cho cả nhà được gậm. Ngon lắm bố. Lâu lắm rồi con không được ăn thịt”

Đó là lý do tình cảm quan trọng nhất bắt buộc chàng phải đứng dậy, phấn đấu với mọi nỗi mệt mỏi, chán chường để chen chân lấy một chỗ đứng trong cái xã hội xa lạ, lạnh lùng này. Đó cũng là lý do mà dù tâm trạng của Vũ tràn ngập những nỗi ê chề, chua xót nhưng chàng vẫn cứ phải gân cổ lên cải.

-Tôi rất khỏe mạnh. Tôi rất yêu đời. Đời sống này quá tốt đẹp, có điều gì khiến tôi phải rơi vào tình trạng “mental health” đâu.

Viên manager nhìn chàng thêm một lần nữa để đánh giá con người của chàng rồi buông sổng một câu:

-Vậy từ nay đừng có ngẩn người trước những chậu cây nữa. Có người complain anh về chuyện đó.

À! Thì ra người ta tưởng Vũ điên, hay có dấu hiệu của kẻ đang đi đến chỗ mất trí. Từ hôm đó, chàng đi qua những chậu cây mà không dám liếc nhìn. Chàng có cảm giác như lúc nào cũng có hàng chục cặp mắt ở chung quanh, bên trái, bên phải, đàng trước, đàng sau, sẵn sàng bắt được chàng trong tư thế quả tang “biểu lộ một sự mất quân bình về tâm trí”. Nỗi ám ảnh này cứ mỗi ngày một gia tăng, dần dà tệ đến nỗi ngay khi chàng cô đơn lủi thủi trong căn phòng chật hẹp của riêng mình, chàng cũng có cảm giác như mình đang bị bao vây, theo dõi. Có đêm Vũ choàng thức giấc, chàng vừa mơ thấy một giấc mơ hãi hùng, ở đó chàng bị sa thải về bịnh “mental health”, chàng thất nghiệp, chàng không có tiền gửi về cho gia đình ngay đến cả một gói quà hai pounds. Hình ảnh của con bé út nhạt nhoà chen lấn với những khúc xương phở, những bát bo bo và chiếc đồng hồ hộp đen mà ngày ngày chàng vẫn đeo lủng lẳng trên vai. Giấc mơ không phải chì thoáng qua dễ dàng. Nó thật sự gây cho chàng nhiều nỗi rối rắm trong đầu. Nó xen vào những ý nghĩ đang thứ tự lớp lang theo một chuỗi tư tưởng xuôi dòng nào đó, và làm cho tất cả những thứ tự này trở nên lộn phèo. Tình trạng này trước còn xãy ra thưa thớt, dần dà Vũ phát hiện được ra rằng nó đến với mình có vẻ thường xuyên hơn. Như một con kiến đang bò trên sợi chỉ căng thẳng bất chợt đụng phải nút buộc con kiến bò quanh, bò quanh có lúc lộn đường bò ngược lại. Nhưng nút buộc trên sợi dây chỉ cản chàng nếu đem ví chàng với con kiến, thì cứ ngày một nhiều hơn. Nó vây quanh lấy ý nghĩ của chàng và lại làm cho chàng cái cảm giác của con thú bị săn đuổi. Chàng tự nhủ “mình phải chống lại chúng nó chứ. Phải chống trả bằng bất cứ giá nào để chứng minh với tất cả mọi người rằng tôi là một kẻ bình thường chứ”. Ý nghĩ chống trả này đã có lần thôi thúc chàng vòng lại cửa phòng lão manager đạp rầm rầm. Khi đối diện với lão, chàng nói bằng một giọng quả quyết, chắc nịch như một kẻ chưa bao giờ tin tưởng mạnh mẽ vào lời nói của mình đến như thế:

-Thưa ông John, xin ông đừng có hiểu lầm rằng tôi khao khát ngắm nhìn những loài cây èo uột, cằn cổi nuôi một cách tù túng trong những chậu cảnh của ông đặt trong cơ sở này. Những thứ đó thua xa các loại cây cảnh ở xứ tôi. Nếu ông có dịp qua xứ tôi, ông sẽ thấy tôi không thèm đoái hoài những loại cây cỏ ở đây. Ông nhớ chứ. Đứa nào tố cáo với ông như vậy, chính nó là đứa có bệnh “Mental health” đó thưa ông.

Nhật Tiến

05/05/1984

Mưa Không Ướt Đất. Trùng Dương


Trùng Dương


– Năm 1956 tôi vượt tuyến vào đây với hai bàn tay trắng. Nói là vượt tuyến thì không đúng. Thực ra tôi vào đây với sự thỏa thuận của ông Hồ, sau khi chịu thế chân bằng những sản nghiệp tôi có dạo ấy. Nếu tôi không trở về thì coi như mất cả sản nghiệp đó. Cố nhiên là tôi chẳng dại gì trở về. Tôi ở lại đây, vay tiền buôn bán làm ăn và tạo nên cơ nghiệp như ngày nay. Năm nay tôi ba-sáu tuổi đầu rồi mà vẫn chưa lập gia đình. Tôi không được may mắn như các anh các chị được học hành. Điều mà tôi ân hận là đã không làm sao mang được mẹ tôi vào để cùng hưởng với tôi…

Tiếng người đàn ông chủ nhà tan loãng vào trong bầu không khí cổ tích của buổi chiều nơi cư xá. Xa xa có tiếng trẻ con hát líu lo trong một cuộc rước đèn. Mặt trời đã lặn nhưng bóng tối chưa kịp buông xuống.

Thư dựa đầu vào thành ghế, lơ đãng nghe. Những âm thanh vội vã hấp tấp của người đàn ông có giọng nói đặc biệt của những người Bắc sinh sống trong các trại định cư, thỉnh thoảng có đá vào một đôi tiếng Nam với một pha trộn ngây ngô vụng về – những âm thanh ấy rơi xuống khô khan, không đủ khơi dậy một hào hứng nào. Thư xoãi chân trong một dáng ngồi thoải mái, đôi mắt khép hờ nhìn về phía Phấn, góp chuyện một cách uể oải:

– Chưa lập gia đình, chắc tại anh còn kén đấy chứ phải không ạ?

Người đàn ông đối diện với Thư, hơi có vẻ lúng túng. Duẩn quay nhìn Thư bắt gặp cái cười mỉm trên khuôn mặt trắng im lìm trong bóng chiều chạng vạng. Tự nhiên anh có cảm tưởng đó là khuôn mặt của một pho tượng. Cái ý nghĩ đó Duẩn có từ dạo quen biết Thư khi hai người còn học ở Dự Bị Văn khoa. Thuở ấy còn có cả Cương. Dạo ấy thật vui. Mỗi người đều như có điều gì muốn nói nhưng họ muốn nói lảng sang những chuyện khác để vui nhộn và quên đi những xao động mà chính họ không biết phải đặt tên cho chúng là gì. Duẩn, như tất cả những người đàn ông mập mạp khác, ưa giễu cợt, mặt luôn đỏ gay (có nhẽ vì cười nhiều?) và không có ác ý. Anh quen với Thư qua lời giới thiệu của Cương. Về sau anh được biết hai người yêu nhau. Nhưng anh không hiểu được vì sao họ có thể yêu nhau, vì theo Duẩn nhận xét, họ như hai thái cực. Cương yếu ớt, hơi giống con gái, mặc dù nhiều lúc anh tỏ ra là một người trầm tĩnh – thực ra, Cương thiếu tính chất nóng nảy của một người đàn ông thật sự và vì người anh quá mảnh khảnh. Thư, ngược lại tính nết cứng cỏi hơi lạnh nhạt, mặc dù vẻ dịu dàng của những đường nét trên khuôn mặt và thân hình. Rồi Cương du học, Duẩn mất tin Thư. Bây giờ gặp lại, bắt chợt cái vẻ im lìm cố hữu trên nét mặt người con gái, Duẩn tưởng mọi sự chả thay đổi bao nhiêu. Có nhẽ trông Thư trầm hơn, ở vẻ đẹp và lối nói chuyện. Ba năm rồi còn gì.

– Tôi đã gặp nhiều cô, nhưng họ làm tôi thất vọng. Tôi mong lấy được một người vợ – làm cô giáo, làm cô giáo thì hẳn là biết dạy con hơn…

Duẩn cười trong cổ, vẻ ngơ ngẩn:

– Thật hả anh?

Phấn, người chủ nhà, cười hờ hờ. Thư tự hỏi không biết Phấn có biết là Duẩn đùa anh ta không. Thư có ý nghĩ mỗi lần gặp lại Duẩn, nàng thấy anh béo hơn và giễu hơn – phải chăng những người béo thường hay giễu? Thư không tin như vậy. Ông cụ nàng béo, nhưng ông chẳng giễu bao giờ. Lúc nào cũng lầm lì. Có nhẽ ông không giễu được vì tuổi già và cái chết đang chờ ông. Những lúc về sau này ông đánh bạc nhiều hơn và thua đậm hơn, lầm lì và buồn bã hơn. Thư sống trong gia đình với cái bóng của ông đè nặng trong tâm hồn. Nói như vậy không có nghĩa là Duẩn hay giễu vì Duẩn trẻ và cái chết còn ở xa tầm tay anh.

Vài đứa trẻ cầm lồng đèn đi qua, gọi nhau ríu rít, mắt nhìn bọn người ngồi bên trong hàng rào, vẻ tò mò. Thư nhìn quanh lơ đãng:

– Có nhẽ nên có vài cái đèn xếp treo lủng lẳng cho nó có vẻ…

Phấn bảo:

– Tôi quên mất vụ đó. Nhà có trẻ con thì tự nhiên mình nghĩ đến điều đó…

Giọng anh ta có vẻ bùi ngùi. Thư kiếm một cái cớ để đi ra ngoài. Nàng thấy thèm đi tung tăng – vẫn thèm đi tung tăng.

– Duẩn đi ra chợ Thủ Đức với tôi đi. Hình như nhà cũng không có đèn cầy phải không anh? Chả lẽ lại ăn và nhảy dưới ánh đèn tube trong bóng tối mò?

Duẩn:

– Định chơi “lumière” hay sao?

Tuy vậy anh cũng đứng dậy, bảo Khánh đưa chìa khóa xe và theo Thư ra ngoài. Một đôi người trong bọn ngồi hoặc đứng rải rác trên nền đất lẫn lộn gạch vụn và cát, hỏi Duẩn đi đâu đấy.

– Ra chợ mua đèn, Duẩn đáp.

Lúc hai người ra khỏi cư xá trời đã bắt đầu tối. Thư ngồi sát vào người Duẩn, Duẩn nhấn ga cho xe vọt đi. Con đường dẫn vào Thủ Đức cong cong. Những cây thánh giá trắng nhờ nhờ trong một nghĩa địa bên đường. Những ánh đèn dầu le lói trong một vài mái tranh. Tòa nhà cao của một trường Đạo đối diện với những bức tường dài của trại lính bên kia đường. Chợ Thủ Đức tưng bừng dưới những ngọn đèn sáng. Những buổi chiều tan học kéo nhau lên đây cả bọn bốn năm đứa duy có mình Thư là con gái. Tại sao thích tham dự vào những buổi họp mặt của bọn con trai hơn là gần gũi với các bạn gái mà Thư thường cảm thấy quá e dè ngại ngùng? Duẩn nhớ rằng mình vẫn chỉ coi Thư là một người bạn trai, dù Thư là người yêu của Cương. Cương vừa thích có Thư tham dự vào những cuộc họp mặt này vừa không. Ở người con trai ấy có nhiều điều u ẩn và hơi lãnh đạm. Từ ngày anh đi ngoại quốc, trong những lá thư gửi về, Thư chợt “nhận ra” Cương. Người ta yêu người khác không vì những tương đồng mà vì những điều có thể rất trái ngược. Thư sống như một con mèo hoang thì Cương khép mình trong khuôn khổ mực thước, hoàn toàn lệ thuộc gia đình. Cố nhiên chẳng phải vì người này hay người kia muốn thế, hay có muốn thì cũng chỉ một phần. Đứng trước Cương, Thư cảm thấy quá cô đơn nhưng không thể không yêu. Cương thương và yêu người con gái với một lý do gần giống thế.

– Thư nghĩ gì vậy?

Thư cười một tiếng ngắn:

– Ngày xưa dạo bọn mình thường kéo nhau lên đây ăn và bây giờ tôi thấy đói. Có nhẽ mình nên ăn một cái gì đi.

Duẩn tán thành. Hai người vào một quán ăn trong chợ.

– Duẩn còn nhớ anh chàng Vinh không nhỉ?

– Nhớ, nhớ quá ấy chứ. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp hắn ở phố.

– Còn sống với “ma đàm” kia không không biết?

– Hình như còn. Không thấy nói đến. Hắn vào biệt kích rồi.

– Tôi không thấy ghét anh ta một mảy may. Tôi phục tài hoạt bát của anh ta. Làm sao mà anh ta đóng kịch giỏi thế?

– Thư còn nhớ một hôm ngồi ở trên xe đi chơi suối Lồ ồ, anh ta giảng cho Thư nghe về danh từ “biên tế” không?

– Nhớ. Tôi chỉ thấy mơ hồ hơn sau khi nghe anh ta giảng – mơ hồ như… biên tế vậy! Nhưng tôi lại nghĩ những người học cao thường có một lối định nghĩa tối tăm nên tôi vẫn tin được. Đâu ngờ anh ta chỉ là một thứ mật vụ quá tài tình! Chính vì cái tài tình đó tôi lại thấy quí anh ta mới lạ chứ! Tôi còn nhớ một hôm anh ta cho tôi xem lá thư tình của một cô mà anh ta bảo là fiancée, cùng học lớp với bọn mình. Anh ta bảo cho tôi cô gái ấy. Tôi cũng có dịp đứng ở xa nhìn thấy anh đi cặp kè và nói chuyện với cô nàng. Cô ta là một cô gái e lệ, tóc thề buông xõa vai, lúc nào cũng ngậm góc khăn tay, ở xa nhìn vào, làm gì mà không tin là nàng đang e thẹn trước vị hôn phu. Nghĩ cũng buồn cười. Tôi thấy thương bọn mình dạo ấy lạ, thương cái quá khứ hồn nhiên đến thơ ngây, thuở đó. Sau vụ phát giác đó, tôi thấy như có một mối nghi kỵ rơi xuống giữa bọn mình… Không biết Duẩn ra sao, tôi thấy Cương có vẻ buồn thành thật. Anh ta vốn sẵn tính đăm chiêu…

Những kỷ niệm kéo về chập chùng chập chùng và ô hợp. Giọng Duẩn trầm hẳn xuống:

– Cũng may hắn chưa khai thác gì được ở bọn mình. Mà nói cho ngay mình có hoạt động gì đâu mà khai thác? Toàn một bọn chỉ đấu láo phất phơ…

Ừ tại sao mình chưa hề một lần tham dự? Mình sống như một kẻ đi dạo vậy, một kẻ đi dạo không mấy chút hăng hái hay thảnh thơi. Làm như thể sinh ra thì phải sống, sống cho hết cuộc sống, để chết, và sống trở thành một bổn phận. Một bổn phận? Phải chăng tôi khất lần việc lấy Thục cũng chỉ vì sợ không dám chuốc thêm một thứ bổn phận nào khác? Tại sao không đủ can đảm hủy bỏ lễ đính hôn để cho Thục đi lấy chồng? Tôi không yêu nàng, không hề yêu nàng. Tôi không hủy bỏ lễ đính hôn vì có lẽ tôi chẳng đủ can đảm để cố gắng làm một việc như vậy. Tôi có hèn nhát lắm không? Tôi có bi quan không? Bạn bè thấy tôi cười nhiều – mặt tôi lúc nào cũng đỏ gay, hiện tượng của một người nhiều sinh lực? Buồn cười thật thôi! – chúng nó tưởng tôi không lo âu. Thực ra, tôi ngao ngán quá đấy thôi, ngao ngán hơn cả là mỗi bữa cơm tối về nhà, thấy mâm cơm úp lồng bàn phần tôi trên bàn và mẹ tôi đi với một-trăm-lẻ-hai-quân, thằng em mười-bốn tuổi bỏ đi lang thang. Chẳng có gì giữ tôi ở trong gia đình cả. Tôi cũng thiếu một cái điều mà tôi cho là đẹp và đáng theo đuổi ở ngoài đời. Tôi đi dạy như một cái máy, mê học trò con gái (một cách thầm kín cố nhiên vì bắt buộc thế) như một cái máy và không thấy điều đó là quan hệ, lê la các tiệm cà phê quen tán dóc với tụi bạn như một cái máy, và đây chính là điều tôi cần.

Duẩn nốc cạn ly ba-ba, nhìn người con gái đối diện, đôi mắt cận thị không đeo kính. – (Duẩn kỵ đeo kính cận) – hồn buồn bã…

*

Duẩn bước ra hiên, mở banh khuy áo ngực và thở ra: Một ly “sec” làm anh chuếnh choáng. Thư ngồi bó chân trên bậc thềm, ngẩng lên, thấy anh, mỉm cười. Không biết có phải rượu làm Duẩn thấy Thư đẹp lạ thường hay vì khuôn mặt trắng của Thư hiện trong bóng mờ mờ trông đẹp như một pho tượng. Duẩn có cái cảm giác như một người sống ở ngoài thời gian. Mọi sự vật như ngưng đọng lại, ngưng đọng lại trên khuôn mặt im lìm của Thư. Anh hỏi mà như không nghe tiếng mình hỏi:

– Ngồi ở đây à?

– Trong ấy ngột ngạt quá.

– Có lẽ vì thế mà vừa nhảy với tôi cô Thủy vừa quạt… Cũng có lẽ cô ấy quạt hơi rượu.

Thư cười nhẹ, ngồi nhích sang một bên khi thấy Duẩn ngất ngưởng bước xuống khỏi thềm nhà. Tự nhiên Duẩn có cái ý thích ngồi dưới chân Thư. Điều đó gây cho anh một cảm giác vỗ về. Điều đó làm cho Thư cảm thấy dịu vợi.

– Còn nói được như vậy à?

Duẩn ngơ ngẩn một lúc, rồi bật cười:

– Thư tưởng tôi say à?

Thực sự là Duẩn chuếnh choáng. Mấy lần trong khi ôm Thủy, anh dẫm phải chân nàng. Duẩn tưởng tượng lại lúc ôm Thủy trong vòng tay. Ở Thủy có một vẻ mộc mạc của một cô gái miền Nam. Nàng không tỏ vẻ bực bội mỗi lần Duẩn dẫm phải chân, cũng như Duẩn coi việc nàng phe phẩy chiếc quạt trên tay là một điều thú vị. Ý nghĩ đó làm cho Duẩn bật cười một mình.

Bên ngoài, tiếng hát của bọn trẻ rước đèn quanh cư xá đã ngưng từ hồi nào. Trăng đã lên cao. Ánh sáng như có màu xanh. Trước giậu, vài ba cái đèn xếp bị cháy xém còn treo lủng lẳng.

– Trông Thư có vẻ buồn?

Duẩn rút điếu thuốc xòe lửa châm hút. Anh đưa bao thuốc mời Thư. Nàng mỉm cười lắc đầu :

– Tôi bỏ thuốc từ gần mấy tháng nay vì tự nhiên sợ mùi khói thuốc.

– Tôi hút có phiền không?

– Không, không …

Thư nói như cố không nói ra một điều mà trong thân tâm nàng muốn nói, muốn khoe, với tất cả sự hân hoan. Duẩn cất bao thuốc vào túi áo, thở ra từng vòng tròn khói nhìn theo chúng uốn éo dưới ánh trăng thành từng sợi mỏng dài và tan loãng. Một sự im lặng bao quanh hai người. Tiếng một bản nhạc có tên “Adieu Tristesse” từ trong phòng vẳng ra hòa lẫn tiếng giày đi trên sàn nhà của những người đang khiêu vũ. Máy hát cũ quá. Tiếng kèn nghe rè rè.

– Bao giờ thì mình có thể “Adieu tristesse” được?

Thư lên tiếng. Duẩn quay lại, anh có giọng nói hơi cao, như có một cái gì vừa gay gắt vừa giễu cợt ở trong đó:

– Hết buồn thì còn vui thế quái nào được!

– Nói là nói vậy thôi… Nỗi buồn thực ra tô điểm cho cuộc sống…

– Tối nay Thư vui chứ?

– Vui. Và thanh thản nữa … Mặc dù bữa tiệc có phần nào luộm thuộm. Tôi tưởng Duẩn quen với anh Phấn.

– Quen gì. Tôi mới biết ông ta sáng nay.

– Nhân vật ấy cũng hay hay.

– Bây giờ ông ta chỉ thiếu có một cái, là một cô vợ có học thức một chút để cho ông ta có cái cảm giác là mình cũng có dính dáng tí chút trí thức.

Thư cười một tiếng ngắn:

– Kể ra việc đó đâu khó gì, đối với một người có của như ông ta. Nghĩ cũng buồn cười. Không biết ông ta nghĩ sao… Theo tôi, báu gì cái trí thức, nhất lại là một người đàn bà trí thức.

Duẩn quay nhìn Thư:

– Sao có vẻ chửi bới ghê thế?

– Nhiều khi tôi có ý nghĩ giá đừng học, đừng đọc nhiều, mình lại sống dễ hơn. Suy nghĩ lắm đầu óc đâm trì trệ. Lỡ rồi, đành chịu. Tôi có con, sẽ để nó sống hồn nhiên, như cây cỏ… Nói vậy, cũng khó làm như mình muốn. Có thể, rồi thế hệ con mình sẽ khác, không như bọn mình. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng thế hệ bọn mình sinh ra để chịu một cuộc thí nghiệm…

– Thư nói như thể là Thư sắp có con rồi ấy!

Thư bỗng im, xúc động. Một lát nàng cười nhẹ.

– Tôi sắp có con thật, chẳng phải “như thể” đâu.

Duẩn không tin. Thư cảm thấy không thể không bộc lộ niềm vui lẫn lo âu của mình với Duẩn.

– Không tin tôi nói thật à? Hai tháng rồi…

Thư nói giọng run, nhưng vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh. Duẩn nhìn Thư, vẻ ngạc nhiên pha lẫn nét vui mừng trên khuôn mặt. Anh đặt tay lên bụng Thư giản dị, tự nhiên như Thư là người yêu của anh, và dường như đó là điều anh mong đợi.

– Thế.. sao trông Thư… tỉnh thế?

Hỏi xong, Duẩn mới thấy mình có vẻ ngây ngô. Giọng Thư ráo hoảnh thật nhỏ:

– Không tỉnh, thì say à?

Duẩn rút tay về, nói như nói một mình:

– Vui nhỉ?

Trong phút giây, Duẩn có cái ao ước được úp mặt vào lòng Thư và được Thư lùa những ngón tay vào trong tóc anh, cái cử chỉ những người yêu nhau thường làm. Nhiều lúc Duẩn cảm thấy quá thiếu thốn, Duẩn cần một thứ tình yêu pha lẫn tình bạn trong đó. Điều đó nghe thật giản dị. Nhưng sao trong thực tế thật hiếm.

Duẩn nghĩ đến Thục. Mặc dù đã đính hôn với nhau, Duẩn vẫn nghĩ đây là một việc làm trái với ý muốn của anh. Tại sao Thư không là Thục nhỉ? Và tại sao Duẩn không là người đàn ông đã cho Thư đứa con nhỉ? Duẩn lần thần tự hỏi. Tiếng Thư nghe xa vắng:

– Tôi giữ đứa nhỏ lại, dù tôi biết mình sẽ phải trả một giá rất đắt. Tôi nghĩ biết đâu sự có mặt của nó sẽ thay đổi cuộc sống và những suy nghĩ của mình phần nào chăng? Có thể nó sẽ là sợi giây ràng buộc tôi vào với cuộc sống mà nhiều lúc tôi thấy quá chán ngán?…

Thư cảm thấy bị lôi cuốn bởi chính những điều nàng vừa nói ra. Mình có đang ngụy biện? Nàng thầm hỏi. Thực sự Thư không biết những gì đang chờ đón nàng cuối cùng chặng đường này. Mặc, nàng cứ dấn bước.

Duẩn cảm thấy bất cứ câu hỏi nào đặt ra bây giờ cũng là thừa. Anh hút hơi thuốc cuối cùng, khum hai ngón tay cái và ngón giữa, búng điếu thuốc văng ra xa sang bên kia hàng rào, điếu thuốc đụng phải bức tường của ngôi nhà trước mặt, những tia lửa tóe vỡ như một quả pháo bông tí hon, và rơi xuống trong đám cỏ dưới chân tường. Anh đứng dậy:

– Thư vào nhảy với tôi bản này đi.

– Không. Tôi muốn ngồi nghỉ. Tôi muốn yên tĩnh, Duẩn vào nhảy đi.

Duẩn tần ngần một lát, rồi quyết định đi vào nhà:

– Tôi đi kiếm rượu uống… Thư uống một li nhé!

Tiếng Duẩn ngập đi trong tiếng nhạc dồn dập ồn ào…

*

Chiếc xe rời đường Võ Di Nguy rẽ qua đường Chi Lăng. Trời về khuya, đường phố xe cộ thưa thớt. Thư tưởng tượng cách đây vài tiếng, từng bầy trẻ náo nức cầm lồng đèn đi tung tăng trên các đường phố, và trên những sân thượng, từng mâm cỗ trông trăng được bày ra với bưởi, cam, hồng, bánh nướng bánh dẻo, và những con giống xinh xắn đủ màu. Xa rồi những ngày rằm cùng anh chị em náo nức mua sắm. Thư nhớ lại mùa Trung Thu dạo nào, mấy bố con xúm lại làm một cái đèn kéo quân. Thư có bổn phận vẽ và cắt những hình người – những hình người vẽ lại những mẩu chuyện cóp nhặt trong thần thoại cổ tích. Ông Lư và Thức vót tre làm đèn và dán giấy. Đèn đốt lên, ba vòng tròn đầy những hình người quay tròn quay tròn. Bố con cùng ngắm tác phẩm hoàn thành và đang sinh hoạt. Cô bé Lọ Lem đuổi theo nàng Bạch Tuyết và những chú Lùn nối đuôi cô bé quàng khăn đỏ, xen vào đó, là những nàng công chúa Thủy cung nửa người nửa cá, những Hoàng tử cưỡi ngựa uy nghi… Cả một thế giới thần thoại được dựng lên, đúc kết, sống động. Bây giờ là những buổi tối trống rỗng cần sưởi ấm bởi một ngọn lửa từ bên ngoài, từ những người bạn, từ một vòng tay của người khác phái. Nhưng những tìm kiếm đó chỉ khơi thêm lỗ hổng cô đơn. Vẫn mặc. Như bị lôi cuốn bởi cơn thác lũ, Thư vẫn tiếp tục lao đầu vào, với một đam mê cuồng nhiệt không tên. Bất giác Thư đặt tay lên bụng. Giọt máu này cũng giống như cơn đam mê kia. Nó chưa có hình dạng, chưa có giống, chưa có tên gọi và chưa được nhìn nhận bởi một ai ngoài người mang nó. Và Thư nhìn nhận nó với một nỗi ngây ngất kỳ diệu. Phải chăng đó chính là cái bản năng đầy nữ tính? Cử chỉ của Thư làm Duẩn thôi nhìn về phía trước quay nhìn theo bàn tay của Thư rồi nhìn Thư, mỉm cười. Thư tìm đọc trong nụ cười đó một ý nghĩa. Nàng chỉ thấy trong đó một sự bao dung có pha lẫn vẻ lạ lùng.

– Nó… đạp chưa?

Duẩn hỏi nhỏ vừa đủ cho Thư nghe. Thư lắc đầu, cười nhẹ:

– Làm gì mà mau thế?

Phấn im lặng lái xe không nghe những lời đối thoại giữa hai người. Với hắn, buổi họp mặt vừa rồi coi như lui vào dĩ vãng. Hắn không đạt được điều mà hắn mong muốn, là tìm được một cô vừa ý hắn. Có nhẽ hắn thích Thư. Khuôn mặt có vẻ trong sáng. Cái nhìn khôn ngoan lanh lợi. Lối nói chuyện chứng tỏ người có học. Tính nết thâm trầm. Nhưng từ lúc Thư nhận lời đi với Duẩn, hắn tự ý loại nốt Thư khỏi đầu óc.

Thư cảm thấy bàn tay Duẩn vỗ vỗ nhẹ lên vai nàng. Và chiếc xe rẽ vào một ngõ hẻm đường Chi-Lăng. Đường hẻm vẽ một hình cong, vắng ngắt, không một ánh đèn. Lờ mờ một vài bóng cây màu đen sậm. Chiếc xe quẹo thêm một lần nữa về tay trái và nằm lọt giữa hai dãy nhà có những bức tường cao, vôi loang lổ, ít những khung cửa sổ. Hẻm có vẻ một nơi gồm những xưởng – xưởng gì Thư không rõ – nhưng Thư có cảm tưởng như vậy. Vành trăng hiện ra trên bờ một bức tường cao đổ xuống lòng hẻm một ánh vàng nhạt mờ mờ. Thư có cảm giác đang đi vào một thế giới xa lạ không tên gọi. Điều đó gây cho Thư một thích thú như người tham dự vào một cuộc phiêu lưu. Thư có thể hỏi Phấn và sẽ được giải thích. Nhưng nàng im lặng để giữ cho mình cái cảnh giác lúc ban đầu. Thư cũng có thể bảo với Phấn và Duẩn nàng muốn về nhà và nàng sẽ trở về nhà, sẽ dùng chìa khóa riêng mở cửa, sẽ bỏ giầy leo lên căn gác nhỏ bé thiếu khí trời, sẽ thay quần áo trong im lặng, sẽ nằm sấp trên chiếc giường sắt một người của nàng và sẽ tiếp tục nghe ngóng cái sự sống nhỏ bé đang nảy mầm trong thân thể nàng với một niềm lo-âu-pha-lẫn-thích-thú-riêng-tư-không-chia-sẻ, không-thể-chia-sẻ. Nhưng một sức lôi kéo làm Thư vẫn tiếp tục im lặng. Bất giác Thư tự hỏi mà mình mong đợi gì ở họ, ở Duẩn chứ? Thư biết rằng nếu nàng cứ tiếp tục im lặng, như thế có nghĩa là ngày mai trở về nhà, nàng phải chịu đựng cái nhìn trách móc và dò hỏi của bà Lư. Tại sao từ bao giờ đến giờ hai mẹ con vẫn vô cùng cách biệt? và dường như bà Lư cũng chẳng tỏ vẻ buồn bã, hay ít ra, ý thức về sự cách biệt này. Bà chỉ có một mối bận tâm: đi nhà thờ và cầu nguyện, cầu nguyện như một cái máy cho bà và cho phần hồn của cả gia đình đang dần dần phân tán, mỗi người một ngả. Từ đó Thư có ý tưởng cầu nguyện là một chứng tỏ của sự bất lực. Và Thư khước từ sự bất lực đó. Thư muốn được tin tưởng ở tương lai, tương lai của cuộc sống này, chẳng phải cuộc sống ở bên kia cõi sống phân cách bằng sự chết.

Phấn cho xe dừng lại trước một khung cửa sắt. Ánh đèn từ bên trong hắt ra đổ dài trên mặt hẻm thành một vệt sáng mờ. Một con chó bẹc-dê từ bên trong nhảy xô ra sủa vang. Âm thanh chát chúa như chợt đánh thức Thư dậy cùng với tiếng máy xe vừa tắt ngấm. Không gian tĩnh mịch của con hẻm bị xé toang, kéo theo vài tiếng sủa khác lập lại từ xa. Phấn mở cửa xe xuống, quát khẽ:

– Ky Ky! Im nào! Đi vào trong nhà!

Con chó nghe tiếng chủ, im bặt, nhưng vẫn còn gầm gừ trước hai người khách lạ lúc ấy cũng vừa bước xuống xe. Tiếng giày đi, lết trên sàn xi măng. Phấn loay hoay mở cửa sắt. Tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa và đoạn xích sắt đập vào cửa vang lên những tiếng động khô khan. Con chó quýnh quít đập đuôi phía bên trong. Nhưng cửa vừa mở nó thoát ngay ra ngoài. Phấn quát gọi:

– Ky Ky! Đi đâu? Vào nhà mau!

Con chó không nghe, làm một vòng quanh chiếc xe đậu trước cửa rồi cuối cùng theo ba người vào nhà, lúc quấn bên chân chủ, lúc theo đánh hơi hai người khách. Thư bước chậm chạp, nhìn những khung gỗ la liệt trong ánh đèn vàng kệch hắt tại từ một ngọn đèn tù mù treo lủng lẳng cuối xưởng. Nàng đoán chừng đây là một xưởng dệt. Đồ đạc lộn xộn chật chội. Phấn bước vội vào phía trong bật thêm một ngọn đèn nữa rồi trở ra loay hoay tra chìa khóa vào ổ khóa một cái cửa ăn thông sang căn bên mặt. Thư đứng lại trong bóng tối. Bây giờ nàng mới cảm thấy mỏi rã rời, chỉ muốn được ngả lưng xuống một cái giường nệm nào đó. Nàng ngó Duẩn lúc ấy đang nhìn quanh dáo dác, vẻ chán chường. Tuy nhiên Duẩn đã có vẻ tỉnh táo hơn lúc ngồi ở tiệm cà phê. Anh thọc tay vào túi tìm diêm quẹt lửa châm điếu thuốc. Bàn tay run run. Ánh sáng rung động hắt lên khuôn mặt nhiều thịt, lúc nào cũng đỏ gay của anh và mái tóc bơ phờ. Các bạn thường gọi đùa Duẩn là “Tây Say”. Duẩn nhận biệt hiệu đó không phản kháng, không buồn phiền một cách dễ dãi như anh đã dễ dãi chấp nhận nhiều sự việc khác, như việc đính hôn với Thục, chẳng hạn. Tất cả chỉ là một lô những sự tình cờ đến nỗi đôi khi làm Duẩn ngơ ngác mỗi lần nghĩ lại. Duẩn còn nhớ những lý lẽ người ta đưa ra để buộc anh phải làm lễ đính hôn với Thục. Giá Duẩn đừng ra thăm Thục khi nhận được điện tín của nàng báo tin mẹ nàng chết… Thật ra mùa hè đó Duẩn cũng muốn có một lý do để rời Saigon. Những người như Duẩn có thể làm bất cứ việc gì, đi bất cứ nơi nào không cần có lý do. Nhưng đôi lúc để thi-vị hóa cho một chuyến đi, Duẩn mong có một cái cớ. Và không có cái cớ nào lại thi vị cho bằng ra thăm người yêu và chia sẻ với người yêu nỗi buồn mất mẹ. Sự hiện diện của Duẩn trong đám tang đó ngày hôm sau được truyền đi khắp cái thành phố nhỏ bé nơi ông cụ thân sinh ra Thục giữ một chức vụ quan trọng, để rồi tiếp đó là một cuộc lễ đính hôn giữa Duẩn và người con gái hơn anh đến ba tuổi. Vì thể diện của gia đình Thục và cá nhân Thục, Duẩn về Saigon với chiếc nhẫn đính hôn trên ngón tay mà bà cụ Duẩn đã nghiêm trang đeo vào tay anh, chiếc nhẫn cưới của bà. Bà mẹ anh lại quí Thục vì tính nết hiền lành, ngoan ngoãn. Duẩn chỉ ý thức một điều là anh không hề yêu Thục và ngược lại anh không thể làm trái ngược với ý muốn của mẹ anh. Anh thường ngơ ngẩn mỗi khi nhắc lại cuộc đính hôn bất đắc dĩ này. Duẩn chỉ còn một cách là kéo dài thời kỳ đính hôn để có thể tự do sống với mấy người bạn trai mà anh thương hơn bất cứ ai, ngoài mẹ anh, ở trên đời, kể cả những người con gái mà anh đón nhận bằng một đam mê cuồng nhiệt nhưng chỉ trong một thời gian ngắn ngủi vài ba tháng để rồi lại nguội lạnh. Mặc dù Duẩn ý thức mình sống không đam mê một hình bóng, nhưng đồng thời không thể sống mãi với một đam mê, Duẩn nghĩ mình là một người tình nhân không chung thủy song không thể không yêu đương. Cái gì đã thúc đẩy Duẩn muốn đổi mới mãi? Có lẽ vì mỗi ngày anh mỗi phải tiếp xúc với bầy học trò con gái lúc nào cũng nao nức trong lứa tuổi dậy thì, những người con gái mang đầy sức sống, những người con gái chứa đựng trong họ sự tươi mát mà cuộc sống nhàm chán và tù túng đang tước đi dần ở người con trai hai nhăm là anh, là những người bạn đồng nghiệp còn trẻ của anh. Chỉ ở họ, ở những người con gái mới lớn, nhiều mơ mộng ấy còn mang cái nguyên vẹn, không âu lo về thời cuộc về trận chiến đang cướp đi dần của anh những người bạn, những người bạn hôm nay còn cười nói trong một kỳ nghỉ phép, ngày mai ngày mốt đã nghe tin chết hay bị cụt tay, cụt chân trong một trận đánh nào đó trong trăm ngàn những trận đánh đang diễn ra mỗi ngày. Tuy nhiên Duẩn cũng tự hào là anh chưa để khổ cho một người con gái nào. Bởi tình yêu của anh dành cho họ đến mau rồi cũng rụng mau, trước khi nó đưa đến những liên hệ sâu xa. Điều mà anh quan tâm, mà anh tha thiết, vẫn là những người bạn trai, cái đám bạn trai còn sót lại, đi học, đi dậy, tụ họp, đấu hót, giễu cợt – nhất là giễu cợt và càng giễu cợt mỗi khi cuộc sống dồn họ vào ngõ bí, khép họ vào những mặc cảm nặng nề, không lối thoát, hoặc có, thì cũng là một ngõ thoát để rồi lại rơi vào một bế tắc khác. Thỉnh thoảng, một đôi người trong bọn anh, như Cương, may mắn, có một lối thoát không phải là lên đường nhập ngũ, mà là du học. Và trong những lá thư họ gửi về, Duẩn đọc thấy một chán nản khác mọc rễ, một thứ mặc cảm khác nẩy sinh. Trong bọn, có người, như Quảng, đi xây dựng lại một mớ giá trị đã bị vuột mất, đã bị giễu-cợt-hóa bằng cách đi xa, nhận việc huấn luyện những lớp người từ các nông thôn về theo học các lớp đào tạo một căn bản chính trị, tại Vũng Tàu. Quảng đã thành công một phần nào trong việc đi tìm lại những giá trị cần thiết đó. Nhưng phải nhận là Quảng trước đó, vẫn còn ít nhiều quan niệm đứng đắn trong đầu, nhờ giáo dục của ông bố. Duẩn bỗng nhớ đến cái nhìn tha thiết của Quảng lúc anh quyết định lên xe với Thư về đây và nhờ Quảng sáng mai đến trường xin phép hộ. Duẩn, mày về tao ngủ đi sáng mai mọi sự sẽ bình thường lại, hoặc mày sẽ đi dạy, hoặc mày sẽ nghỉ và ở chơi với tao. Duẩn nói như gắt, sáng mai nếu tao chưa về kịp mày cứ đến trường bảo là tao ốm tao chán lắm mai phải nhìn mặt tụi học trò, vì thực sự tao cũng đang chán tao chán nữa đây này. Khi Duẩn nói điều đó Duẩn nghĩ là đêm nay sẽ được nằm trong vòng tay Thư, có thể chỉ nằm trong vòng tay Thư hoặc anh sẽ ôm Thư vào vòng tay vuốt tóc nàng, an ủi nàng để nghe như chính mình an ủi mình. Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây. Duẩn cảm tưởng từ mấy năm nay quen biết với Thư, lần đầu tiên anh biết nàng. Lúc ấy Thư im lặng trong xe nhìn Duẩn và Quảng dằng co nhau trên hè đường sau khi cả bọn ra khỏi tiệm cà-phê. Cuối cùng, Duẩn lên xe, đóng cửa lại, bảo Phấn anh cứ lái đi. Phấn cho xe chạy đi. Tiếng Quảng gọi với theo Duẩn và mất hút ở phía sau. Có lẽ chính Quảng cũng đang cần sự có mặt của Duẩn. Qua tấm kính chiếu hậu, Duẩn thấy Quảng lầm lũi băng qua đường. Tự nhiên Duẩn thấy thương Quảng xót xa.

Phấn xô cánh cửa mở rộng. Duẩn bước theo Phấn vào phòng. Căn phòng bừa bãi những sổ sách và thư từ. Đằng cuối phòng có một khung cửa che rideau thông vào một căn buồng phía trong. Duẩn thả người xuống một chiếc ghế sa lông kiểu cũ không có nệm đặt ngay chỗ ra vào, thở ra, đôi mắt nhắm lại. Phấn bật đèn ở trong buồng trong rồi quay ra nói với Duẩn:

– Trong này có giường màn, anh với cô Thư có thể nằm nghỉ.

Duẩn ôm lấy đầu bắt đầu nặng chình chịch. Mỗi lần uống rượu vào, Duẩn thường bị nặng đầu khi cơn say bắt đầu nhạt. Biết vậy nhưng Duẩn vẫn không thể không uống.

– Anh nhức đầu à? Có thuốc đấy. Hồi nãy uống có nhiều không? Nhảm quá. Lẽ ra phải có soda. Tôi quên khuấy mất chỉ vác có chai whisky lên… Để tôi lấy thuốc cho anh uống.

Duẩn xua tay, nói và cảm thấy xa lạ với giọng mình:

– Không sao đâu. Anh cứ để bọn này tự nhiên. Làm phiền anh quá đi.

– Có gì mà phiền. Bây giờ tôi để hai người ở đây. Cần gì cứ tự tiện. Có nước lạnh ở phía sau.

Thư bước vào phòng ngồi xuống trên chỗ tì tay của chiếc ghế Duẩn đang ngồi bóp trán:

– Anh không ở lại với tụi này? Anh đi đâu bây giờ?

Giọng nàng bình thản, hơi mệt mỏi.

– Không, tôi phải trở về Thủ Đức.

– Bây giờ có thể đã tới giờ giới nghiêm, anh về tận Thủ Đức, làm sao kịp?

– Kịp mà. Mới có mười một giờ rưỡi. Cô đi ra phía sau với tôi, tôi chỉ cho một vài nơi cần thiết.

Thư rời chỗ Duẩn, đặt chiếc ví tay lên mặt bàn, bước ra sau với Phấn. Phía sau là một cái xưởng lớn hơn chiếm cả hai căn, nhưng trống hơn. Những khung cửì đặt ngổn ngang. Thư ngước nhìn mái nhà cao, xung quanh gần như không có gì che đậy từ mép tường cao hai thước là đến mái. Phấn trỏ tay về phía một khung cửa nhỏ nằm tận cuối xưởng:

– Nếu cô có cần đi ngoài, lại đó …

Thư nói cảm ơn anh. Thấy nàng nhìn cái máy điện đặt ở giữa xưởng, Phấn giải thích:

– Ở đây chúng tôi dùng điện để chạy máy.

Thư bắt gặp cái cảm giác lạc lõng giữa khung cảnh của một xưởng dệt vào lúc ngưng hoạt động. Nàng thấy mệt mỏi. Thoạt tiên là một bữa tiệc, rồi Duẩn say rượu và yêu cầu nàng ở lại với anh. Thư nhận lời với ý nghĩ là Duẩn đơn độc và cần sự có mặt và săn sóc của nàng. Thư đã từng có những lần say rượu nhưng lần say rượu làm Thư nhớ hơn cả là hôm đi ăn với Cương và Duẩn sau khi tan học ở Văn khoa. Lâu rồi. Hôm ấy Cương đã thức cả đêm với Duẩn, để săn sóc cho nàng. Trong cơn nửa say nửa tỉnh, Cương đã hỏi nàng nhiều lần lý do khiến nàng khóc sướt mướt trong khi say. Làm sao có thể nói được? Một nỗi cô đơn thình lình úp chụp xuống mà nàng bị mất hút trong đó, và cái thế giới vô thức trong phút chốc được cởi tung như một đoàn quân ô hợp kéo vây kín mọi ngả tâm hồn. Từ đó mở đầu cho một rạn nứt trong tình yêu giữa Cương và nàng. Tôi tưởng sự có mặt của mình có thể làm gì được cho Thư nhưng bây giờ tôi thấy rõ là mình chẳng làm được gì cả tôi bất lực hơn tôi tưởng. Thư cố níu kéo, anh nhầm rồi em không thể nói chẳng phải vì cố tình muốn giữ cho mình sự riêng tư, lỗi không ở anh, đừng nói như vậy. Nhưng dù muốn dù không, họ đã xa nhau. Một hôm, Cương đến cho Thư biết anh sắp đi Pháp. Họ trải qua với nhau một ngày trong dịp Cương có việc phải đi Kiến Hòa và đến rủ Thư đi cùng cho biết. Thư vẫn thích những chuyến đi xa gọi là giang hồ vặt như vậy. Thư nhớ lúc hai người ngồi ở bờ một cái hồ ở tỉnh Kiến hòa và tưởng tượng như đó là hồ Hoàn kiếm Hànội – cái kỷ niệm cuối cùng họ có với nhau trước khi Cương lên đường sang Pháp. Chúng mình đã cùng ngu xuẩn đâm đầu đi tìm cái tuyệt đối. Nhưng lạ là tôi chẳng hề hối tiếc. Mỗi một vấp ngã của tuổi trẻ là một kinh nghiệm, một kỷ niệm đáng yêu, nó giúp cho cuộc sống thêm sâu thêm phong phú có nhẽ một đôi khi tôi thèm cái tuổi trẻ bình thản của nhiều người con gái bình thản và an phận. Nhưng tôi cũng còn kiêu hãnh về cuộc sống nhiều gai góc của tôi hơn. Phải chăng vì điều đó làm tôi thấy tôi là “một-người-nào-đó” chẳng thuộc về cái số đông?

Thư quay lại:

– Xưởng này của anh?

– Vâng.

– Ở tuổi anh mà gây dựng được một cơ nghiệp như thế này, thật là giỏi. Bọn chúng tôi bị chữ nghĩa, sách vở làm mù đi và mất hẳn vẻ hoạt bát linh động cần thiết…

Phấn nói:

– Nhưng cô và các bạn cô có tuổi trẻ, có học thức…

Phấn có vẻ thành thực mến phục bọn Thư. Thư bật cười lên một tiếng ngắn, nói và biết là chẳng bao giờ Phấn nghĩ và thông cảm với điều nàng nói:

– Tuổi trẻ và học thức như bọn tôi, mà làm gì, hả anh? Ra đời, có thể còn thua những người tháo vát như anh.

Thư bắt gặp một nỗi chua chát. Hình như chính mình cũng còn thích làm ra vẻ chua chát như vậy nữa? Thật khôi hài. Mình có đang sống thực tại hay thật ra đây chỉ là một lớp kịch? và Thư cũng ý thức là tra hỏi xem mình có thực không, chỉ làm cho mình trở nên không thực, mơ hồ hơn.

Thư hỏi mượn Phấn khăn mặt. Gã đàn ông sốt sắng một cách không ẩn ý; chạy đi lấy khăn mặt và không quên mang ra cho Thư một bánh xà bông thơm.

Thư nói:

– Cám ơn anh. Thật phiền anh quá!

Rồi nàng nói luôn, không đợi Phấn lên tiếng:

– Có nhẽ Duẩn vẫn còn say. Duẩn là bạn thân với tôi từ dạo ở Văn khoa. Tôi không muốn để Duẩn nằm một mình đêm nay…

Thư ngừng lại, bỗng thấy sự lố bịch của mình. Việc gì phải phân trần với Phấn? Đêm nay mình sẽ trải qua một đêm ở đây với Duẩn, ngày mai rời đây, không tìm hiểu không cần tìm hiểu nơi này, và gã đàn ông này rồi sẽ chẳng bao giờ mình gặp lại, hắn không có gì để mình lưu luyến bận tâm, thì việc gì phải phân trần làm chi vô ích? Thư múc nước xấp tay cho ướt rồi sát xà bông và rửa tay. Nàng tưởng tượng khi vục nước lên rửa mặt, mùi thơm của xà bông còn vương lại trên hai bàn tay sạch sẽ sẽ tỏa ra ôm lấy khuôn mặt mệt mỏi của mình, và làm dịu đi những suy nghĩ day dứt đang xâm chiếm tâm tư nàng. Thư rửa sạch nước xà bông ở tay, múc một gáo nước khác và thực hiện ý nghĩ trên. Nước lạnh thấm vào da mặt, thấm vào đầu óc, thấm vào tâm hồn! Nàng nghe người nhẹ nhõm. Nàng muốn cứ tiếp tục vục nước lên mặt như vậy hoài hoài. Thư nhớ có một dạo nàng thích tắm buổi sáng, và ra phố với những hạt nước lấm tấm trên da thịt. Từ cái ý thích đó, ở nàng nảy sinh ra cái dầm mình dưới mưa cho nước mưa ngấm vào tận tâm tư. Nhưng từ hai tháng nay, Thư mất thói quen tắm sáng. Nàng đâm sợ nước.

Tiếng giày của Phấn đi lên đi xuống thu xếp một vài vật dụng. Có tiếng hắn bảo Duẩn đi rửa mặt cho mát. Tiếng Duẩn đáp lại vâng anh mặc tôi, phiền anh quá bây giờ anh lại về Thủ Đức à. Tiếng Phấn đáp thường tôi về trên ấy ngủ đêm, nhưng nhiều khi bận công việc tôi cũng ngủ lại dưới này, anh thấy bớt chưa. Dạ cũng khá ạ. Tiếng Phấn, chắc hồi nãy ở tiệm càphê anh ói ra hết. Duẩn nói vậy cũng nhờ ói ra hết với ly nước chanh nên mới khá thế này, không hiểu sao lần này tôi uống rượu tồi thế, bậy thật. Phấn nói may mà lúc nãy không gặp gió, anh có nóng cứ bật cái quạt này nó tự động, mà cứ chạy một giờ thì nó ngừng lại, tôi gắn thêm cái đồ tự động này để đề phòng đêm mình có ngủ quên đi cũng không sợ, à tôi dặn anh và cả cô Thư đừng đụng gì đến những lọ thuốc này của tôi. Duẩn hỏi sao thế anh. Phấn nói dặn là dặn phòng hờ vậy vì có thể nguy hiểm. Duẩn cười, được mà anh yên chí…

Thư đổ gáo nước xuống hai bàn chân trong khi dùng khăn mặt lau khô nước trên da mặt, và cọ hai chân vào với nhau gượng nhẹ, cố không gây tiếng động. Phấn trở xuống nhà:

– Tôi phải xem xét lại một vài thứ máy móc xem buổi chiều họ đã tắt đi chưa…

Tiếng giầy của Phấn đi về cuối xưởng. Thư chống tay lên miệng lu nước, một nửa người nghiêng về phía trước, nàng soi bóng mình trong nước. Mái tóc xõa về phía trước. Mặt nàng là một khoảng tối tăm. Trong cái khoảng tối tăm ấy, những ý nghĩ ngổn ngang. Mình đến đây trong đêm nay, làm gì nơi nầy. Nơi đây là sự xa lạ. Duẩn cũng trở thành một kẻ xa lạ. Thư nhớ lại ngày nào còn có cả Cương. Bây giờ hình ảnh đó không còn đủ sức gợi cho nàng dù một chút thương nhớ. Lâu quá rồi. Sau Cương đã có những khuôn mặt khác đến thay thế. Họ đến rồi đi như những cái bóng. Thư chấp nhận dễ dãi và cũng dễ dãi buông lỏng vòng tay khi thấy đã đến lúc không thể lưu giữ. Buồn chán ngập tràn. Tình yêu chẳng phải là một phép mầu. Nhưng mình vẫn cố sục sạo tìm kiếm ở mỗi một người đàn ông – tìm gì? một mảnh bản ngã chưa chịu tìm lấy đường về? Cũng phải có một thay đổi nào đó. Thư đã lựa chọn, dù biết rằng mình sẽ phải trả một giá rất mắc về sự hiện diện của đứa con trong tương lai. Vả lại, có gì đâu mà phải băn khoăn, kia chứ? Thư mơ hồ cảm thấy như chính nàng cũng muốn nhận một thử thách. Thư nhớ dạo còn ở bậc Trung Học, mỗi lần phải lựa một trong những đề tài giáo sư ra, Thư thường chọn những đề khó và phức tạp – Đôi khi phải bỏ dở và lựa một đề khác dễ hơn. Nhưng Thư biết lần này không thể bỏ cuộc. Thư đã đánh cuộc và nàng sẽ phải đi đến cùng. Phấn trở ra, móc túi đưa cho Thư mớ chìa khoá:

– Tôi đưa cho cô chìa khóa cổng sắt. Sáng mai khi rời đây cô mở cổng rồi để chìa khóa lên nóc cái hộp đựng công-tơ điện ở bên tay mặt – tôi sẽ chỉ cho cô thấy cái hộp đó – rồi cứ thế dập cửa vào. Nếu mấy người thợ của tôi lại, cô cứ để cho họ vào nhung nhớ là để chìa khóa nơi tôi dặn cô…

Thư gật đầu nói vâng vâng. Hai người cùng lên nhà. Thư có ý nghĩ giá hồi nãy cứ đóng kịch với Phấn và biết đâu…Nàng mỉm cười với ý nghĩ đó. Hắn có của nhưng hắn không phải là type người của mình và nhất là hắn có nhiều cái tinh ranh nhỏ nhặt và buồn cười. Vả lại, dẫu chưa có ý niệm gì về giọt máu trong người, Thư cũng cảm thấy không muốn đứa nhỏ sẽ có một ngộ nhận về người cha của nó. Mình đã đang và sẽ còn nhìn thẳng vào cuộc sống với đôi mắt mở lớn, không lý gì đứa con làm bằng xương bằng thịt bằng máu của mình lại có thể mang trong nó một sự sự ngộ nhận lớn lao như vậy về cái thân thế của nó. Hãy phán đoán tôi, hãy xa lánh, nếu cần. Nhưng xin cho tôi được sống chân thực. Thư cúi mặt nhìn xuống hai chân, nghe xót xa dâng lên. Phấn đi rồi, Thư dập và khóa cổng xong bước chầm chậm trở vào nhà. Duẩn đã bỏ ra sau rửa mặt. Tiếng nước rơi lã tã trên nền xi măng vỡ. Thư nghe cả tiếng súc miệng xục xục của Duẩn. Nàng kéo chiếc rideau che cửa thông vào buồng trong sang một bên và bước vào. Bên trong đồ đạc cũng gồm những sổ sách và chai lọ lộn xộn bừa bãi. Một chiếc tủ gương kê tại cuối phòng. Các bàn kê gần bên. Không có ghế. Nơi duy nhất có thể ngả lưng là một chiếc divan. Một đống chăn màn xếp tại góc divan. Không có chiếu. Thư ngó chiếc divan, nàng thất vọng vì đó không phải là một nơi nằm mà nàng mong muốn, vừa ngượng ngập. Thư vẫn thường có những ngượng ngập như vậy mỗi khi nhìn vào nơi nằm nghỉ của một người đàn ông. Thư chưa làm quen được với hình ảnh về nơi sinh hoạt thân thiết đó của người đàn ông, dù người đó là một người bạn thân hoặc có thể là một người tình. Thư cũng biết là nỗi ngượng ngập của mình có vẻ vô lý. Thư không xa lạ gì với người đàn ông cả. Nhưng nàng cũng không cố gắng bỏ sự ngượng ngập đó. Đối với nàng đó là sự nguyên vẹn duy nhất nàng còn giữ được. Thư bước lại đứng trước gương. Nàng nhìn vào đôi mắt mình rồi thả cái nhìn xuống thân thể đang nẩy nở hơn lúc bình thường. Thư đưa tay vuốt bụng. Nàng rời chỗ đứng lại divan ngồi khi nghe tiếng chấn Duẩn bước vào phòng. Duẩn vừa đi vừa lau mặt lau cổ bằng khăn mùi xoa riêng. Anh dừng lại nhìn quanh căn buồng rồi đến ngồi xuống bên Thư. Một bầu không khí im lặng bao phủ lên hai người. Duẩn úp hai bàn tay lên đầu gối. Một lát Thư lên tiếng:

– Duẩn thấy đỡ chưa?

– Còn mệt. Đầu nhức như búa bổ.

Anh ngó xung quanh, như chợt ngạc nhiên về sự có mặt của mình giữa một nơi hoàn toàn xa lạ này. Duẩn bật cười một tiếng ngắn, tiếng cười nhuốm vẻ chua chát thoát ra từ một bất lực. Những cố gắng để thoát ra khỏi cuộc sống chật chội tù túng chỉ làm cho con người một ngạt hơn và muốn phát điên. Chấp nhận không phải là một ổn định cho tất cả. Đó chỉ là một giải pháp tạm thời để rồi đến một lúc nào đó… Duẩn nắm lấy bàn tay Thư áp lên má. Những giọt nước lạnh còn lấm tấm nơi chân tóc anh. Tiếng Thư hỏi nhỏ:

– Cười gì vậy?

Duẩn lắc đầu từ chối trả lời. Anh khép đôi mắt lại trong giây lát, nghe sự êm ả thoát ra từ lòng bàn tay người con gái.

– Duẩn biết tôi đang nghĩ gì không?

Duẩn đáp không, vẻ chờ đợi, Thư nói, mắt ngó thẳng về phía trước, giọng mơ hồ:

– Tôi nghĩ giá mình đang sống ở miền biển lúc này đây tôi sẽ chạy ra bãi biển, sẽ bỏ dép chạy chân không trên nền cát ướt lạnh và đôi khi dừng lại lắng nghe tiếng sóng từ xa dội lại như những lời thì thầm đầy bí mật.

– Còn tôi, tôi tưởng như ngày mai mà phải thức dậy, phải vác bộ mặt mô phạm vào lớp, phải nhìn bọn học trò chắc tôi chịu không nổi. Nhiều buổi sáng thức dậy, chỉ còn mười lăm phút để rửa mặt đánh răng mặc quần áo và uống vào một ly cà phê pha vội, tôi thấy ngao ngán kinh khủng. Nhưng vẫn không đủ can đảm thay đổi lại cuộc sống. Cuộc sống mà tôi hiện đang sống tuy cũng đòi hỏi sự cố gắng, nhưng là những cố gắng thụ động. Có nhẽ tôi hèn nhát. Có nhẽ…

Duẩn chặc lưỡi, ngưng nói. Nét mặt anh đăm chiêu, buồn bã. Anh ngửa bàn tay trên đùi và nhìn vào đó, bất động.

– Độ nhỏ tôi có một giấc mơ, cho đến bây giờ mỗi lần nghĩ đến tôi vẫn còn tưởng như mới đêm qua mình nằm mơ vậy thôi. Tôi mơ thấy tôi trôi giạt vào một hòn đảo nhỏ xíu ở giữa biển sóng lớn nước mênh mông, ở giữa đảo là một cái cây trụi lá, lớn như một cây cổ thụ và rễ chiếm hết đảo. Tôi như không thấy mình đâu nữa. Và tôi mơ hồ lo sợ một lúc nào đó cái cây bị sóng biển đánh bật rễ và mình sẽ không còn nơi nào để bấu víu…

Duẩn im lặng nghe Thư kể. Anh cảm thấy một nỗi xúc động mãnh liệt đang xâm chiếm người con gái.

– Rồi ra sao?

– Chả ra sao cả. Những giấc mơ vẫn vậy. Duẩn tưởng tôi nghĩ đó là một cái điềm gì à? Không đâu. Tôi vẫn nghĩ và tin là cuộc sống của tôi do tôi tự tạo một phần lớn. Tôi kể lại giấc mơ đó vì thấy là đã lâu rồi mà cái hình ảnh đó vẫn có thể làm tôi thấy sởn gai ốc mỗi khi nghĩ đến.

Duẩn châm điếu thuốc, hút một hơi, rồi sực nhớ ra cơn nhức đầu của mình, anh dụi điếu thuốc, đứng dậy đi vòng quanh phòng nhìn vào đống chai lọ nhiều màu sắc lộn xộn trên các kệ đóng sát vào tường. Thư giải một tấm mền lên divan và ngả lưng nằm xuống, tâm hồn lãng đãng. Một tay nàng để sau đầu làm gối, tay kia đặt trên bụng. Mong con sẽ là con trai, làm con trai để chịu đựng, chịu đựng cuộc đời, và nhất là để thương mẹ. Đôi khi tôi cũng tự hỏi mình có đang bi thảm hoá cuộc sống? hay thực sự tự nó cuộc sống đã có cái vẻ bi thảm? Tôi băn khoăn và thường chọn thái độ dửng dưng. Chả ích gì. Tất cả chả ích gì. Tôi nhắm mắt lại và tôi tự nhủ với tôi tạm thời hãy quên đi hãy quên đi hết cả. Tôi cảm thấy Duẩn đang đến và ngồi xuống bên tôi, cúi nhìn tôi. Tự nhiên tôi muốn khóc la. Tôi lấy tay bưng lấy mặt và cười lên một tiếng ngắn, nghe khô và buồn, như tiếng một viên sỏi bị vất xuống lòng giếng cạn nước, mất hút trong bóng tối của đáy sâu.

*

Vào cái lúc người con gái chờ đợi nhất để sẵn sàng buông thả vào trong cơn sốt rạo rực của cơ thể, Duẩn bỗng ngừng lại, im lặng, đăm chiêu. Hơi thở anh bớt dồn dập hơn trong một cố gắng tự kìm hãm, Duẩn mím môi, thở một cách khó khăn như người bị nghẹt mũi, khoảng cách còn lại thật dễ dàng để vượt qua. Duẩn dừng lại, ngơ ngẩn, chợt nghe buồn bã. Anh khẽ buông tiếng thở dài, gục đầu xuống vai người con gái, mắt nhắm lại. Rất lâu, trong bóng tối, anh nghe tiếng người con gái cất lên, rụt rè:

– Sao thế?

Có một cái gì như hờn tủi và cũng thật ráo hoảnh trong giọng nói: “Tôi cũng không hiểu sao tôi lại ngừng lại. Tôi tự thấy mình không có quyền tiến xa hơn.” Duẩn đáp và cũng nghe giọng mình thật ráo hoảnh:

– Tại… không muốn…

Duẩn bỏ lửng câu nói một sự im lặng rơi xuống giữa hai người. Duẩn mơ hồ thấy mình khổ sở, day dứt: Trong phút giây tôi muốn được gọi Thư là “em” và xưng “anh” với em, Thư ạ. Em im lặng, có thể em đang hờn giận. Nhưng anh không muốn anh sẽ ân hận bởi anh bắt đầu cảm thấy yêu em yêu em. Điều đó có vẻ khôi hài. Nhưng điều đó làm anh xúc động. Cũng như anh vẫn khôi hài trong cuộc sinh hoạt của anh đồng thời cảm thấy một xúc động sâu xa. Hình như trong khi mình giễu cợt là lúc mình ý thức rõ hơn cả về cái thân phận của mình giữa cuộc sống ồ ạt xô bồ này, giữa cuộc sống mà cá nhân chẳng nghĩa lý gì và người ta bị cưỡng bức phải làm những việc mà mình không muốn. Và anh, anh muốn không làm cái việc mà anh rất đang thiết. Để mọi sự còn nguyên vẹn. Vả lại, cái giọt máu mà em đang mang trong người với anh đã là một cái gì, một con người mà anh tự thấy mình không được quyền xúc phạm. Cho anh được quý trọng. Đó là điều duy nhất anh muốn giữ lại, một cách tự nhiên, không cố gắng, như một thứ báu vật.

Thư trở mình, vuột khỏi tay anh, xoay lưng lại phía Duẩn. Duẩn cảm thấy có một sự vùng vằng: Lẽ ra anh phải kéo em lại, ôm chặt lấy em, vuốt ve và nếu cần giải thích. Nhưng anh sợ chính anh rồi sẽ không giữ nổi bởi thằng người phá phách trong anh đang trỗi dậy, đòi hỏi. Duẩn nằm yên lặng nhìn khoảng da thịt trắng hiện ra mờ mờ dưới mắt thành một vệt chảy dài bất động. Một nỗi nghẹn ngào chận ngang cổ. Tự nhiên anh thấy thèm vô cùng được gục vào chỗ trũng nơi chiếc gáy trắng mờ mờ kia, và nếu có thể, để khóc lặng lẽ…

Thư mở mắt. Phải một lúc nàng mới định thần và nhớ ra mình đang nằm ở đâu. Bên cạnh gã con trai đã thiếp ngủ, lưng trần lớn quay lại phía nàng trong một dáng nằm rút cong như con tôm hơi thở đều đều của một người say ngủ. Thư nghe cổ họng mình khô ran. Thư cảm thấy muốn ra sau vô cùng. Nhưng nàng nằm nán lại, ngần ngại khi nghĩ đến lối đi chật chội, lồ mồ và tối mò của xưởng dệt. Trong yên lặng có tiếng vó ngựa gõ lóc cóc và tiếng xe thổ mộ lăn uể oải qua trước nhà. Có nhẽ vào khoảng bốn năm giờ sáng gì đó. Thư cảm thấy rã rời và nghe cô đơn kỳ lạ. Hình ảnh những đêm thao thức bên người đàn ông thiếp ngủ một cách thoả mãn đến trong trí nhớ. Tại sao không bao giờ mình thấy thỏa mãn cả? Luôn luôn là một khoảng trống sau đó với những dày vò không nguyên do không đối tượng. Và với một biến đổi một mình mình biết một mình mình hay. Tôi bỗng cảm thấy tất cả cái cô đơn mênh mông của một Grégoire khi hóa thân thành con bọ để rồi chết khô trong sự đơn độc và bị ruồng bỏ. Tôi đã khủng khiếp khi đọc đến đoạn Grégoire tuyệt vọng nhìn xuống sự thay đổi của thân thể mình. Có nhẽ tôi tuyệt vọng và bàng hoàng, nhưng tôi còn cảm thấy một-cách-không-thể-tự-kềm-chế được một sự rung động kỳ lạ…

Tôi đang hoá thân để trở thành một người mẹ, một người đàn bà thực sự. Có nhẽ tôi đang tìm về tôi, cái TÔI thực sự…? Thư khóc lúc nào không hay.

Thư mở mắt lại vào lúc có những tiếng đổ xuống, thoạt tiên từ từ, đều đều rồi nhanh dần và nàng bỗng cảm thấy bị vây tỏa trong một thứ âm thanh dồn dập của một cơn mưa rào. Trời mưa! Thư nhẩm với mình. Căn phòng vẫn tối om. Thư nghe một cảm giác lành lạnh. Nàng kéo tấm mền lên ngang ngực, lần hồi nhớ lại những việc đã xảy ra. Thư thấy hai má mình khô. Nàng nhớ ra vào lúc gần sáng hình như nàng đã khóc. Cũng có thể mình khóc trong giấc mơ. Trời mưa…! Trời mưa làm Thư thấy nhẹ nhõm hay chính vì những giọt nước mắt trong đêm…? Thư chỉ thấy một sự thanh thản. Bên cạnh Duẩn vẫn thiếp ngủ. Vẫn dáng nằm cũ. Và một hơi thở đều đặn, mệt nhọc. Thư cảm thấy tức bụng. Nàng lần mò trở dậy vén màn bước ra, lấy chiếc sơ-mi của Duẩn vất trên bàn mặc vào rồi lặng lẽ vén rideau bước ra. Trời đã sáng rõ. Thư sững sờ nhìn qua lớp cửa sắt. Bên ngoài trời khô ráo. Thư chợt nhận rõ tiếng rào rào mà nàng nghe lúc còn nằm trong màn thực ra là tiếng của những chiếc khung cửi bắt đầu hoạt động ở xung quanh hàng xóm. Thư bước nhanh ra phía sau. Những khung gỗ nằm bất động. Lát nữa đây bọn thợ sẽ đến và bắt đầu làm việc một cách ồn ào… Thư bỗng cảm thấy bị tràn lấn bởi những tiếng động đều đều dồn dập xung quanh. Nàng súc miệng rửa mặt, rồi trở lên nhà. Duẩn vẫn còn ngủ. Thư mặc quần áo, chải đầu xong vén màn lay bạn dậy. Duẩn ú ớ một lúc rồi tỉnh hẳn. Sự mệt mỏi còn nặng trĩu trên đôi mắt đỏ ngầu. Anh ngáp dài, nhận ra Thư.

– Sáng rồi à ? Ủa… Trời mưa?!

Thư bật cười:

– Không phải đâu! Tiếng máy dệt đấy. Lúc nãy tôi cũng có cảm giác như Duẩn…

Duẩn nhỏm dậy, hai tay vòng lấy đầu gối, vẻ ngơ ngẩn, giọng anh đặc sệt:

– Thế à?

Thư nói

– Duẩn dậy sửa soạn đi. Bọn thợ sắp đến bây giờ. Mình nên rời đây trước khi họ đến.

Duẩn uể oải đứng dậy, bước ra sau. Khi Thư đang loay hoay thu dẹp chăn màn thì có tiếng gọi và đập vào cửa sắt. Tiếng Duẩn trả lời tôi ra đây. Thư đứng trong phòng ngó ra, Duẩn mình trần loay hoay mở cửa. Một tốp bốn, năm người đàn ông kéo vào, tiếng nói chuyện giọng ngái ngủ, đứt quãng.

Lúc Duẩn trở vào, Thư đang dở xem một tập hình trên bàn. Anh nhìn mái tóc nghiêng của Thư và cảm thấy một bông hoa nhỏ vừa hé nụ trong anh. Anh đứng lại bên khung cửa, bỡ ngỡ ngây ngất. Anh tự hỏi tại sao từ mấy năm nay, bây giờ anh mới cảm thấy thế, từ dạo quen Thư đến giờ? Người con gái có cảm giác bị nhìn. Nhưng nàng vẫn giữ nguyên thế đứng cũ, không nhìn thấy gì trong những tấm hình trên tay – như thể nàng biết là quay lại sẽ làm cho bông hoa e thẹn không nở nữa.

Sàigòn 13-10-66

Trùng Dương

Một Ngày Của Nhiều Người. Truyện Ngắn Nhật Tiến



Nhật Tiến


1. Chuông đồng hồ tự động đánh thức Hải bừng dậy vào lúc 6 giờ. Như một cái máy chính xác, anh mở choàng mắt ra và cắt đứt lìa ngay với giấc mơ hình như hết sức êm đềm, hết sức yêu thương mà anh đang trải qua trong giấc ngủ. Anh chỉ lưu luyến gợi nhớ đến nó trong vòng mười lăm giây (nhưng trí óc tỉnh táo của anh không cho phép anh thấy được điều gì trong giấc mơ cả, ngoại trừ cái cảm giác hết sức êm đềm, hết sức yêu thương), và anh đã tung chăn bật dậy. Trời còn tối mò nhưng anh không cần bật đèn cũng quơ được đôi dép, tìm được lối đi đến phòng tắm. Anh đã quen thuộc với căn phòng gần hình vuông, có một cái giường nệm hai lớp, có một ngăn sách nhỏ ở đầu giường, có một dàn dụng cụ âm thanh với những băng nhạc, đĩa hát kê bên cạnh cái tivi mầu và bừa bãi chung quanh là một số tạp chí, sách báo, những bộ quần áo hoặc chưa giặt, hoặc đang xài vứt rải rác trên lớp thảm êm và mịn như nhung. Cũng nên kể thêm một cái bàn nhỏ để ngồi viết, chung quanh bừa bải những phong bì, những tờ quảng cáo, những tờ biên nhận của những món lặt vặt mua sắm và cả những cái bill trả tiền gas, tiền điện thoại, tiền mua trả góp dàn âm thanh, cái máy truyền hình và cả chiếc xe hơi anh đang xài. Gọi là bàn viết nhưng anh chỉ xử dụng vào việc viết lách có đúng một việc ký tên trên những tấm chi phiếu. Dĩ nhiên anh còn nhiều việc phải làm nữa, như viết thư về Sài Gòn thăm cha mẹ già, trả lời thư cho một người bạn vừa ở trại tỵ nạn qua định cư ở một tiểu bang miền Đông Bắc, và kể cả ý định anh thấy cần phải viết một lá thư phàn nàn về thái độ ấu trĩ của một bài báo nào đó, đăng trên một tờ báo nào đó trong tháng vừa qua. Những công việc ấy kể như đã gần ngập đầu, anh tự hứa sẽ giải quyết nó dần dần, mặc dầu anh chưa có thì giờ để thực hiện lời hứa đó và mỗi ngày trôi qua, một cảm giác bứt rứt lại tăng thêm lên trong đầu óc lúc nào cũng căng thẳng của anh. Rất may là anh cũng chỉ để cho mình bứt rứt trong khoảng mươi lăm giây đồng hồ. Anh còn phải dành đầu óc cho những việc cấp bách hơn. Nhào vô phòng rửa mặt năm phút, tắm dưới vòi nước nóng mười phút, bận bộ quần áo ba phút, và đến khi anh đánh được cái xe ra đến đường phố thì đồng hồ đã chỉ đúng sáu giờ hai mươi tám phút rồi. Anh còn mười bẩy phút nửa để vượt qua hai đường phố, vào xa lộ 22 West, chuyển qua xa lộ 57 North, rồi ra exit ở một đường phố có tới hai cái đèn đỏ ở ngã tư trước khi chui vào khu vực đậu xe ở sở làm. Anh phải bấm cái thẻ tính giờ tại cái máy tự động vào lúc bẩy giờ thiếu mười lăm.

2. Hôm nay, trên cái thẻ tính giờ hiện ra con số bảy giờ bốn mươi sáu phút. Như vậy là trễ mất một phút. Toản hơi nhen nhúm một sự bực bội. Trên khoảng đường ngắn ngủi đi vội vã qua một dãy hành lang còn đèn sáng để tới chỗ làm việc, anh duyệt nhanh lại công việc đã làm từ sáng để truy ra nguyên do sự chậm trễ một phút này của mình. Đồng hồ đánh thức anh dậy lúc 6 giờ, anh không bịn rịn gì với giấc ngủ. Đánh răng, rửa mặt, tắm dưới vòi nước nóng, thay quần áo và nhào xuống garage để đánh xe ra đường. Anh chợt phát giác ra chỗ trục trặc trong cái thời khắc biểu của mình. Hôm nay cái xe nổ máy hơi khó. Nó lêu ủng oảng và xịt khói mù mịt. Rồi chết máy. Rồi cảnh cũ tiếp điễn. Rất may anh chỉ phải “đề” lại có hai lần và rú nhiều ga để cho nó chóng nóng máy. Nhưng ngần ấy việc cũng đủ tiêu đi mất của anh thời gian một phút rồi. Nếu chậm thêm bốn phút nửa thôi anh sẽ bị kẹt xe ở lối vào xa lộ và ở mấy cái đèn đỏ trên đường rẻ vào sở làm. Anh nghĩ đến chuyện phải tune-up cái xe. Sợ hơn thế nửa. Người chủ garage quen thuộc đã từng nói với anh cả hai tháng nay rằng cái xe của anh phải build-up. Anh nghĩ đến số tiền phải chi ra. Anh nghĩ đến những cái bill hàng tháng. Tiền điện thoại. Tiền gas. Tiền nước. Tiền Tivi. Tiền dàn âm thanh. Và những gói quà 2 pounds gởi về cho gia đình ở Sài Gòn. Đầu óc của anh như bị xiết lại. Anh muốn ngộp thở về những ý nghĩ ấy ở trong đầu, diễn ra rất nhanh như một dòng điện tử xẹt qua óc trong thời gian vừa đủ để anh bước vội vã qua dẫy hành lang còn đèn sáng để tới chỗ làm việc. Tất nhiên trong lúc đầu óc căng thẳng như thế anh chẳng chú ý gì đến ai. Hình như có ai đó kêu tên anh. Hình như có ai đó đi ngược chiều gật đầu, nhìn anh cười cười. Anh như một kẻ sắp chết đuối giữa một con sông đầy những ngọn sóng. Mỗi ngọn sóng là một ý nghĩ, một công việc, một chi tiết của đời sống, một nỗi ray rức về sự toan tính định làm một việc nhưng chưa làm…
Nhưng dù sao thì anh cũng phải tỉnh táo, và anh đã rất tỉnh táo. Anh cắt đứt sự lo lắng, bận tâm một cách mau chóng khi ngồi vào bàn làm việc. Anh biết ở phía sau lưng của anh, lùi về phía cửa ra vào ở góc phòng, có một kẻ đang lom lom quan sát anh từng cử chỉ, từng điệu bộ. Mụ Jeannie, lít (leader) của anh đó. Mụ này rất khó chịu, soi mói, xét nét mọi người từng cử chỉ, từng việc làm. Chỉ cần anh quay lại cười cười, trả lời một câu hỏi nào đó của một đồng nghiệp ngồi ở dẫy sau lưng anh hỏi vọng sang là mụ ta đã sẵn sàng tiến tới bên cạnh anh với một vẻ mặt khó chịu. Rồi trên “lít” còn có visor, trên visor còn có supervisor. Cả một hệ thống nó cưỡng ép anh bắt làm đủ 8 giờ vàng ngọc không tính vào một lần nghĩ 10 phút để xả gân cốt, uống cà phê, và 20 phút để ăn bữa trưa một cách vội vã với mấy mảnh sandwich, một khúc thịt dồi và một trái táo.
Nghĩ đến thời gian một ngày còn đằng đẵng trước mặt, anh muốn mệt xỉu. Nhưng kinh nghiệm cho biết ngay lúc bắt đầu làm thì đừng vội nghĩ đến giờ về. Phải quên nó đi. Cũng như đầu tuần vào ngày thứ hai thì đừng vương vấn gì đến những chuyện cuối tuần, vì nó còn xa vời. Càng trông đợi, nó càng gây cho mình nỗi mệt mỏi chán chường. Hãy chịu khó gồng mình cho đến ngày thứ tư trong tuần. Thứ tư mà nghĩ đến ngày thứ năm thì rất thoải mái vì hôm đó là ngày phát paycheck. Lãnh xong paycheck thì ngày thứ sáu còn lại chỉ là chuyện nhẹ tênh vì những ngày cuối tuần đang mỉm cười đón chào. Thank God It’s Friday. Cám ơn Thượng Đế đã cho chúng con ngày thứ sáu. Ngày cả kẻ thả câu sắp kéo lên một con cá bự. Ngày của chú rể sau bao nhiêu lao tâm khổ trí, xoa tay mỉm cười chuẩn bị bước vô phòng hoa chúc. Trong một tuần lễ, ngày thứ sáu là ngày có nhiều ý nghĩa nhất đối với những kẻ lao động triền miên như Toản. Anh không chỉ đi làm mà lại còn đi học thêm. Sau cuộc đổi đời ở quê nhà bị ném từ vị trí của một chủ sự phòng dưới tay có hàng chục nhân viên xuống cái chỗ thấp kém nhất chịu sự kiểm soát của một mụ “lít” vô học, anh quyết phải ngoi lên. Anh sẽ phải đi từ assembler lên technician, từ technician lên engineer, anh quyết sẽ có ngày quay trở lại điều khiển “chúng nó”, rầy la “chúng nó ” như những ngày dài thăm thẳm hiện nay'”chúng nó” đang xét nét anh, soi mói anh, dằn vặt anh từ một nụ cười, từ một câu nói, từ một lần đi trễ một phút như ngày hôm nay.

3. Khi tới giờ tan sở, Bình bao giờ cũng là người phóng ra ngoài hành lang trước tiên. Anh chỉ có trước mắt ba phút để ra tới khu vực đậu xe, hai phút để lái được cái xe ra khỏi cổng, ba phút nữa để tới được lối vào xa lộ nếu như anh không bị kẹt ở cái bảng Stop, mất quyền ưu tiên trước cả một dòng xe nhiều khi tưởng như bất tận qua lại ở cả hai bên tay trái lẫn tay mặt. Nhiều hôm kẹt cứng ở đó, anh ước gì mình là Thị Trưởng thành phố, Thống Đốc tiểu bang, Tổng Thống Hoa Kỳ để gắn cho cái chỗ chờ xe đó một cái đèn xanh đèn đỏ. Có đèn thì đông xe cách mấy anh cũng chỉ phải chờ 48 giây là thoát ra được đường cái. Không có đèn, lắm khi anh đã phải tiêu vô ích ở đó đến năm bẩy phút. Có lúc sốt ruột quá, anh đã nhào càn ra, và dĩ nhiên là phải lãnh những tiếng còi xe, những cặp mắt nhìn hằn học. Rất may là ở chỗ đó ít có mặt cảnh sát, và dĩ nhiên nếu cảnh sát có mặt thì dù nóng lòng các mấy anh cũng tỏ ra (và ai cũng tỏ ra) là người lái xe hiền như bụt.
Vào được xa lộ rồi thì anh chỉ còn hai mươi hai phút nữa để băng qua hai cái xa lộ, ba đường phố chính, một đường phố phụ, một khu rộng bát ngát đậu kín mít những xe hơi của các sinh viên đã đến trước anh, tìm được chỗ đậu và chạy tất tưởi thông qua bốn dẫy hành lang mới vào tới lớp học. Bao giờ thì anh cũng trễ ít nhất là năm phút. Anh len lén như một kẻ phạm tội luồn qua mấy dẫy ghế để vào chỗ ngồi. May mà anh đã nói lót trước với những ông thầy, bà thầy. Tôi đi làm fulltime, đi học fulltime, xin cảm thông những lần đi trễ. Cái đó thì cảm thông được, nhưng đối với những homework thì không có ngoại lệ, Đã nhiều khi Bình ví homework như những cái đầu của Pham Nhan trong chuyện dã sử. Chặt đầu này, nó mọc ra đầu khác. Mới góp xong bài này đã nợ thầy giáo bài khác. Suốt đời đi học là một chuỗi dài lo toan trả nợ những bài homework. Nó ám ảnh anh trong những giờ ở sở làm, trong lúc lái xe trên xa lộ, ngay cả trong lúc anh trệu trạo nuốt mấy lát sandwich, một khúc dồi, hay ngoạm vội vã một quả táo cho qua bữa trưa thông lệ.
Tuy nhiên bầu không khí trong lớp học vẫn là những giờ vui tươi, thoải mái nhất trong ngày. Nó làm cho anh quên những nỗi lo toan hàng ngày. Ba tháng nay chưa viết thư về Sài Gòn thăm gia đình, món nợ đó nằm sẵn trong đầu óc của anh sẵn sàng lúc nào cũng nhắc anh như lương tâm sẵn sàng lên án một tội ác. Được cái là không tháng nào anh lơ là chuyện gửi quà về cho gia đình. Món quà kể như là trọn vẹn tình nghĩa nếu như anh kèm vô đó một lá thư thăm hỏi. Anh biết rõ điều đó mà không cách nào thực hiện được. Làm sao người ở nhà thông cảm được với anh rằng, trong hoàn cảnh của anh hiện nay, gửi quà thì dễ nhưng viết được một lá thư thì khó. Riết rồi anh đâm sợ hãi khi có ai nhắc đến chuyện thư từ. Anh sợ luôn cả những lúc mắt nhìn thấy một con tem, một cái phong bì, hay một cái xe sơn hai màu xanh, trắng chạy lũn cũn trong đường phố của những người đi phát thư. Đã có lúc anh nảy ra sáng kiến, nếu một mai thất nghiệp, anh ra mở một văn phòng viết thư giùm cho thiên hạ. Anh tưởng tượng rằng với mỗi thân chủ của anh, anh sẽ mở một hồ sơ, trong kê khai đầy đủ tình trạng gia đình, tên tuổi mọi người cả hai bên nội, ngoại, một vài đặc tính của mỗi người và những chi tiết sinh hoạt chính yếu của họ. Với ngần ấy dữ kiện, anh có thể sẽ viết giùm cho thân chủ một cái thư lâm ly. Như ông bác bây giờ ra sao, có còn lên những cơn suyễn kéo dài suốt cả mùa đông như năm ngoái, hay bà dì lúc này thế nào, cái nhọt ở lưng đã tuyệt nọc chưa hay là trị dứt chỗ này nó lại chạy ra chỗ khác. Rõ ra một thằng cháu hiếu đễ lúc nào cũng quan tâm đến cả họ hàng nội ngoại. Lá thư sẽ đánh máy sạch sẽ, thân chủ chỉ cần “Ký” một cái là sẽ sẵn sàng được gửi đi, nhưng nếu cần anh cũng có thể ký thay cho thân chủ bằng một kiểu chữ ký mới sau khi xếp đặt một màn thông báo về nhà rằng “kể từ nay con xử dụng chữ ký mới cho mọi công việc được hạnh thông “.
Một dịch vụ như thế sẽ giải tỏa cho nhiều người những cơn ác mộng về chuyện nợ nần thư từ. Nó cũng giống như sáng kiến của nhiều ngân hàng hiện nay nhận lãnh dịch vụ ký check thanh toán đủ mọi thứ bill cho thân chủ để mọi người được sống trong cái cảm giác thoải mái “sống trong xã hộ Mỹ mà không hề vương vấn nợ nần”.

4. Ở lớp học tan ra, không cần nhìn đồng hồ, Sảnh cũng biết lúc đó là hai mươi giờ thiếu mười. Anh không còn phải chạy như lúc đã chạy từ nhà đến sở làm hay từ sở làm đến trường học. Bây giờ là cái phút mà anh đã chấm dứt một ngày lao động. Chân tay anh bải hoải, đầu óc anh rã rời. Anh như người hết hơi, đến độ chẳng còn đủ sinh lực để hưởng thụ cái thú xoa tay rũ bỏ một ngày phải chạy đua với thời gian. Anh không còn đi nữa mà như muốn lết qua những dãy hành lang của trường đại học cộng đồng. Đèn ở đó sáng choang nhưng anh chỉ thấy mọi người qua lại như những cái bóng. Anh chẳng buồn nhìn ai, thấy ai. Anh cũng mang máng thấy như có kẻ nào vừa đi ngang qua mặt mỉm cười chào. Buổi sáng anh không đáp lại vì vội vã. Buổi tối thì lại vì quá mệt mỏi. Anh biết thiên hạ đã chửi mình là một thứ khùng, một loại sống mất quân bình đến nỗi quên cả những phép lịch sự tối thiểu. Thời gian, công việc ở sở, công việc ở trường gò anh lại như một cái vỏ ốc và anh đã bó tròn mình ở trong cái vỏ ốc đó.
Quê hương là cái gì xa thẳm hết sức nhạt nhòa, mỗi tháng chỉ hiện hữu bên anh qua hình ảnh một vài gói quà, mỗi gói cân nặng vừa đúng hai pounds. Bạn bè thì lẩn quẩn đâu đó trong trí nhớ, lâu lâu tình bạn trỗi dậy qua những cuộc điện đàm. Anh bận rộn đến nỗi không kịp có cả một người yêu hay tệ hơn nữa, không có đến cả một hình ảnh lộng lẫy nào đó để tôn thờ. Ngày xưa khi còn ở quê nhà anh đã lao vào tình yêu với tất cả sự mù quáng của tuổi trẻ. Bây giờ thì tình yêu được đem lên bàn cân để tính toán. Anh đã cảm thấy ngay (rất nhậy bén!) rằng yêu nhau thì phải gặp gỡ, hẹn hò, mất công dỗ dành, dàn xếp những chuyện tình cảm vụn vặt, lỉnh kỉnh và dĩ nhiên là phải tốn tiền. Làm gì ở trên đời này lại có thể có những cuộc tình không tốn kém dù chỉ là tiền đi ăn tại một nhà hàng, đi nghe nhạc ở một quán cà phê hoặc điện thoại com-măng một tiệm bán hoa để gửi đến nhà người yêu một bó hoa nồng nàn trong một dịp đặc biệt nào đó. Trong hoàn cảnh hiện nay, anh biết rõ mình không đủ điều kiện để chu toàn những công việc đó. Điều đáng buồn cho anh là cái “hoàn cảnh hiện nay ” ấy đã kéo dài tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, đã đủ thời gian chín mùi để cho mấy cô sinh viên trẻ trong trường buông một câu kết luận “thằng ấy khùng” và gán cho anh cái danh hiệu “thằng Sảnh khùng”.

5. Khi Dũng lái xe về đến nhà, lên mở cửa phòng, bật đèn sáng thì bao giờ đồng hồ cũng chỉ tám giờ hai mươi. Anh ném chồng sách xuống một góc nhà rồi tiến lại dàn âm thanh để vặn lên một đĩa hát. Âm thanh thánh thót từ tiếng dương cầm trong một bản nhạc cổ điển làm đầu óc của anh dịu lại. Cả một ngày dài, suốt từ 6 giờ sáng cho đến bây giờ, anh mới có cảm giác lúc này là của riêng anh. Anh có quyền nằm vắt ngang trên giường đệm hai chân ghếch lên thành ghế, anh có quyền nhắm mắt lại không phải để ngủ mà để nghiền ngẫm cái cơn thú vị đang ùa đến sau một ngày dài mệt mỏi. Anh cũng có quyền ngáp thật dài, há mồm thật to, điều mà anh không được quyền làm ở sở, dưới cặp mắt soi mói của lão “lít” già thỉnh thoảng hay xuất hiện ở khung cửa sổ xế chỗ anh làm việc và nhìn anh chằm chặp như muốn soi mói, tìm tòi ở những hành động của anh một vài cử chỉ lỗi lầm. Những phút đó anh rất thèm ngáp. Cơn “buồn ngáp” có lúc thôi thúc anh nổ bùng không chỉ chống lại lão già có cái tên kỳ cục là Boebel (mà các bạn đồng nghiệp của anh phiên âm thành tiếng tục tĩu) nhưng là chống lại cả cái đời sống tôi mọi này, cái xã hội máy móc này và cả cái cuộc đời lưu vong khốn khổ này. Nhưng bao giờ thì anh cũng nén được cơn bùng nổ bất trắc của mình. Mắt của anh chỉ đỏ ngầu lên. Những giọt nước mắt ứa ra mấp mé bờ mi, nhìn qua đó anh thấy hình ảnh của lão Boebel nhòa nhoẹt ra nom giống như hình nhân bằng đất thó bị nhão nhoét dưới sự tàn phá của một trận mưa.
Tuy nhiên sự thú vị chỉ có thể kéo dài tối đa cho đến tám giờ rưỡi là cùng. Anh còn phải nhỏm dậy đun cho mình một ấm nước sôi, đủ pha một bình cà phê và một tô mì gói. Trong lúc đun nước, anh vào phòng để xối mình dưới vòi nước nóng. Rồi thay quần áo ngủ. Rồi ăn mì. Uống cà phê. Xong xuôi bắt đầu mở sách vở ra làm homework. Bài làm dù ngắn, dù dài, dù khó, dù dễ bao giờ anh cũng buộc phải đứng dậy tắt đèn đi ngủ vào lúc đồng hồ chỉ mười giờ ba mươi. Nếu không, ngày mai anh không thể dậy nổi lúc 6 giờ, xách xe ra cửa lúc sáu giờ hai mươi tám phút để có mặt được ở sở vào lúc bẩy giờ thiếu mười lăm.
Thường thường thì anh không thể đặt mình lên giường lúc mười giờ ba mươi mà ngủ ngay được lúc đó. Tùy theo mức độ mệt mỏi của từng ngày, anh có thể sẽ thao thức thêm tám phút, mười phút hoặc tối đa mười hai phút, đó là lúc anh để cho đầu óc tự do thả hồn về quê nhà, ở đó có cha mẹ già, có những đứa em nhỏ, có những bạn bè thân quen đang kéo dài một kiếp sống đọa đầy thiếu thốn từng một bữa ăn no, một bộ quần áo lành lặn hay từng một giây phút được tự do nói gì thì nói, đi đâu thì đi, không phải băn khoăn gì tới chuyện bắt bớ, tù đầy.
Anh hay đi vào giấc ngủ bằng những hình ảnh của các người thân quen xơ xác, tiều tụy đó. Lòng thương yêu của anh đối với họ dâng lên xót xa, mặc dầu chính anh, buổi sáng vô rửa mặt, soi gương anh cũng đã tiều tụy, xác xơ từ lúc nào mà chính anh không nhận ra.

Nhật Tiến
Santa Ana ngày 10 tháng 11 năm 1982

Tiếng Kèn. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

Mỗi lần gã xuất hiện ở đầu ngõ là trẻ con trong xóm dù đang mải mê chơi trò gì cũng bỏ giở để bu lại. Gã báo hiệu sự hiện diện của mình bằng một hồi kèn dài:

– Ò…Ò…ò…ò…..

Tiếng kèn mang đầy sinh lực như hai buồng phổi của gã. Thân hình gã cao lớn lực lưỡng. Gã có vóc dáng của một tay đô vật nhà nghề. Đôi vai như vai gấu. Hai cánh tay thật dài. Cái bụng nở nang xệ xuống sau lớp áo thung mỏng. Đầu gã hớt cao. Vầng trán rộng và phẳng. Cả khuôn mặt vuông chữ điền của gã như bị nuốt bởi đôi mắt kính đen gắn trên cái gọng đồi mồi giả. Gã mù. Sự mù lòa không tương xứng với vẻ võ biền nên trông gã có vẻ tội nghiệp. Hình như ngày trước gã đã đi lính. Hình như gã đã bị hỏng mắt sau một cuộc hành quân. Hình như vợ gã đã bỏ, để bây giờ gã sống lủi thủi độc một thân mình giữa thành phố chen chúc chật chội này. Lai lịch của gã mù mờ về những dữ kiện “hình như” theo kiểu đó. Nhưng cũng không thấy ai bàn tán gì nhiều, ngoài sự mọi người đều biết có gã hiện diện trên cõi đời này và thỉnh thoảng đôi ba ngày, gã lại xuất hiện ở đầu ngõ với cây kèn trên tay, mở đầu bằng một

kiểu cách quen thuộc:

– Ò…Ò…ò…ò…..

Sau một hồi thổi thật dài, gã buông cây kèn xuống. Mặt hơi ngẩng cao, gã nhoẻn một nụ cười để lộ hai hàm răng trắng nhởn. Bờ môi của gã nhếch lên, trông gã vừa có vẻ ngạo nghễ, vừa có vẻ ẩn nhẫn tội nghiệp. Gã thò tay vào túi tìm chiếc khăn tay cũ kỹ, lôi ra một cách chậm rãi rồi đưa lên lau những giọt mồ hôi đang chẩy dài từ hai bên thái dương xuống phía cần cổ có những hàng gân nổi lên thành cục. Rồi gã lau tiếp đến cây kèn đồng. Gã nâng niu cây kèn thấy rõ. Bàn tay sần sùi của gã trau chuốt từng chút một trên thân cây kèn lấp loáng dưới ánh nắng của buổi trưa đầu hạ. Cử chỉ của gã giống như gã đang tô điểm một cách trịnh trọng cho một công trình mỹ thuật tỉ mỉ. Gã lau cây kèn thật lâu.

Thời gian lâu lắc đó vừa đủ để cho trẻ con trong xóm bu đen lại. Gã lại nhếch miệng cười. Hai hàm răng nhe ra trắng nhởn. Lần này nụ cười của gã tươi rói. Gã biết mình đang được tiếp đón một cách nồng nhiệt và gã đền đáp bọn trẻ bằng nụ cười của mình. Rồi gã nâng cây kèn bằng cả hai tay. Cặp môi dầy tụp của gã chụm lại đặt vào ống thổi, chúm chím một cách điệu nghệ kiểu cách. Rồi hai má của gã phùng to lên. Gã dồn tất cả làn hơi phong phú của mình vào đó. Hai mắt của gã nhắm nghiền lại. Gã như quên mình đang đứng ở đầu ngõ. Gã quên luôn cả tiếng ồn ào chung quanh. Gã chỉ còn thấy được một điều duy nhất là tiếng kèn dâng lên bao phủ con người gã, bao phủ tâm hồn gã, đưa nguồn cảm hứng mỗi lúc một lên cao. Những ngón tay của gã lướt nhẹ trên hàng nút đồng sáng bóng. Bài Lòng Mẹ qua điệu nghệ của hắn, nghe rền rĩ như một lời than van.

Mấy cánh cửa sổ ở gần đó chợt mở tung. Có nhiều người lớn lố nhố ngó ra. Gã không nhìn thấy mọi người nhưng hình như gã cảm thấy được điều đó. Niềm hứng khởi vì thế càng gia tăng hơn nữa. Gã dồn thêm hơi sức vào cây kèn. Hai hàm của gã bạnh thêm ra. Những hàng gân ở cổ căng lên như những mối dây chằng chịt. Mười ngón tay của gã như múa trên hàng nút đồng. Ở một vài nốt nhạc, gã cố ý thổi sai đi, gã cho rằng trình diễn như thế mới là tài hoa. Chỉ có điều gã lợi dụng cái cung cách biểu diễn tài hoa này hơi nhiều nên tiếng kèn của gã có lắm chỗ lạc điệu. Nhưng điều đó không có gì là tai hại cả. Bọn trẻ chung quanh vẫn hứng chí một cách ồn ào. Một vài tờ giấy lẻ đã thấy dúi vào cái túi bằng vải ka-ki mà gã vẫn đeo bên mình. Cái túi càng được nhiều bàn tay mó vào thì niềm hứng khởi của gã càng lên cao, gã càng thổi không biết mệt. Từ bài Lòng Mẹ, gã chuyển qua bài Xuất Quân. Hết bài Xuất Quân, gã quay về chơi nhạc cổ điển với bài Thiên Thai, bài Bến Cũ, rồi hứng chí, gã quay ra thổi nhạc Tây, nhạc Mỹ với những bài phổ biến như bài Cầu Sông Kwai, Que Sera Sera…

Nhưng đúng vào cái lúc gã đang gân cố thổi theo lời “Vài hàng gửi anh trìu mến, vừa rồi làng mới được tin …” thì bỗng một bàn tay khô khan nắm cứng lấy bờ vai của gã. Gã hốt hoảng quay đầu lại. Tiếng kèn của gã đang lên một nốt cao vì thế bỗng oằn xuống rồi tắt ngóm. Gã nghe rõ một giọng khàn khàn cất lên:

– Công an khu vực đây! Đi theo tôi!…

Mặt gã hơi biến sắc. Gã cố phác trong đầu thật nhanh để tìm xem cơn xui xẻo nào đã dẫn gã tới gần cái loài cô hồn các đảng này. Nhưng đầu óc gã mù tịt. Gã không thể nào kiếm ra được lý do gì đã khiến cho mình phải dây với loại thành phần gớm ghiếc này. Cho nên gã đành phải nhoẻn một nụ cười đầy vẻ cầu tài thấy rõ:

– A!… Chào đồng chí công an…!

Gã không thấy tiếng trả lời, nhưng bàn tay khó chịu lúc nãy vẫn bám cứng lấy vai gã, có lẽ lại còn bấu lấy da thịt của gã mạnh mẽ hơn, rồi bây giờ đẩy gã đi tới. Gã hoang mang cực độ nhưng cũng đành để cho bị xô đi, chập choạng trên nền đất khấp khểnh. Bọn trẻ chung quanh hình như đã giạt ra thật xa. Chúng quây lấy hai người thành một hình vành cung rộng. Nhiều đứa giơ tay chỉ trỏ. Một vài đứa bạo mồm cất tiếng “ê! ê! ê! ” Anh công an khu vực tức tối trừng mắt lên nhìn. Nhưng hắn càng nhìn thì bọn trẻ càng thích thú để trêu chọc. Những tiếng “ê” bây giờ đã lan thật nhanh như một mồi thuốc súng và trở thành những tiếng hỗn loạn ồn ào. Bà con bênh gã thổi kèn ra mặt. Vào những lúc khác thì gã sẽ khoái chí lắm, nhưng đang lâm vào hoàn cảnh bó buộc phải dây dưa với công an nhà nước, càng được bà con ủng hộ, sự ủng hộ quá lộ liễu, càng làm cho gã bối rối hơn. Gã không muốn làm cho đồng chí công an phật lòng. Cái đó mệt lắm, dù gã cũng chưa biết là mình đã phạm cái tội gì. Gã muốn tìm một câu nói gì đó để làm giảm nhẹ bầu không khí nhột nhạt ở chung quanh. Đáng tiếc cho gã là gã đã không thể thốt thêm được một lời nào. Gã đành quay lại phía sau để nhoẻn thêm một nụ cười cầu tài nữa. Cuối cùng gã nhăn nhở:

– Hì… Thưa đồng chí… Em mù!… Em đâu có nợ máu gì…

Đồng chí công an đang bận tâm với lũ trẻ chung quanh nên không nghe thấy lờì phân trần của gã. Bây giờ thì đồng chí đã được tăng cường bởi hai tay cớm chìm. Mấy tay này không hiểu xuất hiện ở đâu, từ lúc nào nhưng họ đã rất nhanh chóng hiện diện mỗi khi có đám đông tụ tập. Một tay thì giơ khẩu súng lục ra thị uy. Còn tay kia thì giật lấy chiếc kèn đồng của gã mù, cung cách cũng giống như khi muốn bắt bà hàng cháo thì giữ lấy rổ bát đũa, muốn bắt cô hàng chè xôi thì giật lấy thúng xôi. Thủ tục là vậy.

Bị mất đồ nghề, gã thổi kèn bắt đầu nổi sùng. Gã la lối:

– Tui làm gì mà mấy anh bắt tui ? Tui thổi kèn kiếm ăn mà.

Nhưng không ai trả lời gã cả. Tay cớm chìm cầm súng vẫn giơ cây súng. Tay giật của gã cây kèn vẫn cầm cây kèn. Còn đồng chí công an khu vực thì vẫn bám cứng bàn tay trên vai gã để đẩy gã đi tới. Một lát sau gã đoán mình đã được đưa tới trụ sở công an Phường. Có tiếng máy chữ gõ lách cách. Tiếng quạt chạy vù vù. Có tiếng lào xào đang năn nỉ vì một vụ bắt bớ nào đó. Rồi có một tiếng nạt lên:

– Thằng cha này gián điệp địch!…

Gã thổi kèn tá hỏa lên vì câu nói ngắn ngủi đó. Gã có cảm giác như ai vừa dội lên lưng gã một gáo nước sôi. Gã la lên như người sắp ngộp thở:

– Ý chèn đét ơi ! Mấy cha giỡn kíểu gì ác ôn côn đồ dữ vậy. Tôi mù mà gián điệp nỗi gì!

Rồi gã giải thích thêm:

– Từ ngày Cách mạng vô, tôi vẫn thổi kèn kiếm ăn, đâu có làm gì sai trái.

Vẫn cái giọng khàn khàn lúc nẫy, nhưng lần này bớt khô khan hơn:

– Mẹ kiếp, nó thổi nhạc Ngụy ngay giữa đám đông mà còn đám cãi là không làm gì sai trái. Thằng này ngoan cố lắm !

Một giọng khác hù thêm:

– Thổi nhạc Ngụy à? Ái chà, cho đến bây giờ mà còn ngang nhiên phổ biến văn hóa đồi trụy, vậy đích thị là thằng này do xê-i-a Mỹ gài lại rồi còn gì.

Bị choang cho mấy đòn liên tiếp, toàn những thứ lỗi tầy trời mà không bao giờ có thể nghĩ ra, gã cảm thấy người mệt nhược ngay ra. Nguồn sinh lực của gã như tan biến đi mau chóng. Gã muốn sụm ngay xuống. Gã không còn đủ hơi sức đến độ dù chỉ cãi thêm lấy một câu. Mà với loại cô hồn các đảng này có cãi thì cũng vô ích. Cho nên gã đổi chiến thuật xuống bài năn nỉ. Giọng gã lí nhí yếu xìu:

– Trăm lạy các đồng chí. Cháu là nghệ sĩ. Cháu lại mù. Cháu có biết chính chị chính em gì đâu. Cháu chỉ thổi những bài hay để giải trí cho bà con cô bác đôi ba phút quên sầu.

Giọng đồng chí công an la lên:

– Thằng này ghê không! Nó cãi mà như nó chửi xéo mọi người. Nó nhận nó là nghệ sĩ, vậy thì mình là cái gì? Mình lên án văn hóa đồi trụy, nó lại khen là hay. Bài nào hay nó mới thổi. Nó lại nhận là chỉ thổi giải sầu cho bà con. Thế ra cả nước này, cách mạng về rồi không có ai hồ hởi để đến nỗi nó phải đi thổi kèn giải sầu. Đ.M. Thằng này vua phản động, lôi nó ra bắn bỏ đi cho rồi.

Gã thổi kèn lại một phen choáng người lên. Gã thấy rõ cái sự dại dột của mình. Mới chỉ cãi có một câu mà gã đã để lộ ra bao nhiêu khe hở để cho lũ cô hồn này túm lấy mà buộc tội chết người. Gã rất muốn không nói thêm một lời nào cả để khỏi phải sa thêm vào những cái hớ hênh, nhưng sự thể đã nguy hiểm đến tính mạng rồi, gã không thể không cãi lại. Nếu không cãi lại, nó cho là mình đã nhận tội, còn nguy hiểm gấp mười. Vì thế gã đành cất giọng:

– Thưa các đồng chí…

– Không ai đồng chí với nhà anh hết.

Gã vội sửa lại:

– Thưa các anh. Các anh buộc tội như vậy oan em quá. Em nói quên sầu ở đây thì cũng có nghĩa là mua vui. Đã hồ hởi, lại mua vui thì càng hồ hởi thêm…

– Hồ hởi bằng mấy cái bản nhạc vàng rên rỉ, lãng mạn ấy hả. Cách mạng về có bao nhiêu là bài hay, sao không thổi ?

Gã mù được mở ra một lối thoát, vội vàng liếng thoắng ngay:

– Chèn ơi! Bài hay của cách mạng em có nghe chớ. Mà điều em có son-phe son-pheng gì đâu. Phải nghe lâu, riết rồi mới thuộc. Thuộc rồi mới lần mò ra nốt nhạc. Có nốt nhạc rồi mới lên xuống bổng, trầm mới lôi cuốn được bà con. Em cũng đang tập đó. Em thích nhất bài Tiếng chầy trên sóc Bom Bo…

Nói xong một hơi, gã cảm thấy mình đã biện bạch đúng đường. Gã không còn nghe thấy tiếng đập bàn nạt nộ này khác. Thiếu chút nữa thì gã đã đứng dậy biểu diễn vài câu trong bản nhạc Tiếng chầy trên sóc Bom Bo. Nhưng gã chợt nhớ ra rằng cây kèn thân yêu của gã đã bị tước đoạt từ lúc khởi sự có vụ rầy rà này. Bây giờ gã mới thấy trống trải ở hai bàn tay. Bao nhiêu năm nay rồi, cây kèn như một phần thân thể của gã, ít khi nào gã chịu rời ra. Điều này làm cho gã lại buồn thỉu đi như muốn sụm xuống.

Một bàn tay bỗng ấn mạnh vai gã làm gã loạng quạng ngã ngồi trên một băng ghế gỗ. Gã quơ tay ra phía trước và đụng phải một chiếc bàn gỗ. Gã ngửi thấy cả mùi khói thuốc khét lẹt hình như từ một cái gạt tàn thuốc bốc lên. Mũi gã chun lại. Gã cảm thấy những nét nhăn trên gò má rúm ró lại. Gã chợt giật mình vì cái vẻ mặt nhăn nhúm như thế sẽ biểu lộ một sự chống đối nhà nước. Mà chống đối thì đồng nghĩa với phản động. Phản động đồng nghĩa với xê-i-a. Xê-i-a là đi cải tạo mút mùa. Vậy chun mũi là một cử chỉ dại dột dù chỉ là sự chun mũi vì mùi khét lẹt của khói thuốc. Gã vội vàng sửa ngay cái nét mặt của mình cho thêm tươi tỉnh. Gã muốn nhoẻn lên một nụ cười nhưng cười được trong tâm trạng này không phải chuyện dễ. Gã không thể nhếch nổi hai làn môi. Cổ họng cúa gã đắng nghét và khô queo. Gã thấy rõ mình bất lực khi muốn làm theo ý của mình. Bỗng một giọng uy quyền lại cất lên:

– Gỡ cái kiếng ra coi !

Gã nhanh nhẩu vâng lời. Hai tay gã đưa lên gỡ đôi mắt kiếng đã gẫy một bên gọng và được đeo lên bằng một sợi dây thung. Hai mắt gã mở thật to như cố trình diễn hai ổ mắt với hai cục thịt đục mờ của mình để mong gợi được sự thông cảm của kẻ đối diện. Nhưng gã vẫn chẳng nhìn thấy gì ngoài sự ước đoán cơn giận dữ của mấy đồng chí đã nguôi ngoai đi phần nào. Điều đó làm gã nhen nhúm được một vài tia hy vọng, vui mừng, mặc dầu niềm vui đó không đủ để xóa hết cái cảm giác phải tuột kính ra trước mắt mọi người, giống một kẻ bị bắt buộc phải làm cái việc thoát y trước mặt đám đông vậy.

Tiếp theo đó là gã phải ngồi để nghe kẻ trước mặt đi một màn lên lớp về những thứ lỉnh kỉnh của cái gọi là văn hóa đồi trụy. Nào trụy lạc tâm hồn thanh niên. Nào tiếp tay cho đế quốc. Gã không thể ngờ được rằng cái sự mù lòa phải đi thổi kèn kiếm ăn lại dính líu đến đủ thú tội trạng nặng nề như thế. Cuối cùng gã phải ký tên vào một tờ giấy cam đoan do đồng chí công an thảo một cách nguệch ngoạc và đọc cho gã nghe. Gã chẳng nhớ được điều gì ngoài mấy câu “tôi cam đoan thế này, tôi cam đoan thế khác”. Nhưng dù có phải cam đoan bao nhiêu điều đi nữa, cái cốt yếu là gã vẫn còn được tiếp tục hành nghề, dù rằng kể từ nay gã chỉ được phép thổi kèn những bản nhạc được gọi là nhạc cách mạng. Gã tự rủa thầm cho số phận hẩm hiu của mình. Đã phải hành đến cái nghề mạt rệp như thế này mà cũng không được yên thân. Vốn liếng về loại nhạc gọi là “cách mạng” này của gã lại quá ít. Gã nhớ lại những ngày đầu tiên của thời kỳ quê hương bị hoàn toàn sụp đổ, tuy không được chứng kiến tận mắt khung cảnh kinh hoàng trước mặt, nhưng những âm thanh đến từ bên ngoài cũng đủ để gã ý thức được thế nào là một sự đổi đời. Những bài hát quen thuộc phải nhường chỗ cho nhưững bài hát mới. Ngôn ngữ cũng dần dần biến chất. Chỉ có con người của gã là ít đổi thay. Một góc nhà nhỏ, một cây kèn đồng, và một mớ bản nhạc xưa. Gã vẫn tiếp tục đi khắp các hang cùng ngõ hẻm nhởn nhơ như một kẻ sống bên ngoài xã hội. Chưa có ai sờ đến gã, bởi vì người ta có quá nhiều công việc để đối phó. Niềm tin tưởng vững chắc ẩn sau cố tật mù lòa, rằng mình sẽ chẳng bao giờ ai đụng tới, cho tới hôm nay đã bắt đầu lung lay. Bàn tay vững chắc nắm chặt lấy vai gã đẩy đi hồi chiều có vẻ mở đầu cho một thái độ quyết liệt. Dĩ vãng trong phút chốc đã bị xóa toẹt như thể một món hàng bất hợp pháp không được quyền nhắc tới. Bên tai gã như vẳng lên tiếng kèn đồng rộn rã với những âm điệu quen thuộc ngày xưa. Bây giờ thì nó sẽ chỉ còn âm vang trong tâm tưởng của gã. Cũng như hình ảnh thế giới bên ngoài đã từng vụt tắt vĩnh viễn trước mặt gã nay chỉ còn lưu lại trong ký ức mỗi ngày một nhạt nhòa. Một giọt lệ long lanh tự nhiên ứa ra bên bờ mi. Nhưng gã chưa kip lấy khăn tay ra lau thì đồng chí công an đã kéo gã đứng dậy và nói:

– Tha cho một lần. Còn vi phạm lần nữa sẽ bắt đi cải tạo đó nghe.

Gã muốn nở một nụ cười cám ơn nhưng giọt nước mắl đang cộm ở bờ mi làm gã không thể nhếch mép lên được. Gã lí nhí cám ơn và lủi thủi vác cây kèn đi ra cửa. Gã đứng lại tần ngần ở hè phố để hít vào một hơi thật dài. Gió mát làm dịu đi phần nào cơn căng thẳng trong đầu. Gã đoán trời đang xế chiều. Gã lần mò từng bước đi về phía chợ. Sự may mắn được tha cho về thong thả không làm cho gã có được một niềm vui. Gã thấy rõ lòng mình đang thổn thức. Giọt nước mắt lúc nãy như còn để lại trên mắt gã cái cảm giác nghẹn ngào. Gã ngừng lại ở bên hông chợ để mua một khúc bánh mì rồi ngồi nhá ngay dưới chân một chiếc cột đèn. Gã tưởng sẽ ăn được rất ngon, nhưng chỉ mới nhai được mấy miếng đầu, gã đã thấy no ứ mặc dầu từ sáng gã chưa ăn gì. Một con chó gầy sán lại gần chỗ gã ngồi, thè lưỡi ra liếm bàn tay của gã. Gã cúi xuống mỉm cười với con chó và bẻ cho nó những mẩu bánh vụn. Dù nó chỉ là một con chó, nhưng gã cũng cảm thấy tâm sự của mình được chia xẻ. Gã thấy bớt hiu quạnh hơn. Nhưng con chó chỉ đến với gã trong một thoáng, gậm được mẩu bánh mì rồi nó cũng vội lảng xa, chắc nó chui vô hốc kẹt nào đó để thảnh thơi nhá bánh một mình. Gã cảm thấy thấm thía cuộc sống cô đơn của mình. Không có ai, không còn gì. Kể cả những bản nhạc thân thiết đã từng gắn bó với gã từ xưa.

Tờ giấy cam đoan mà gã vừa ký hồi chiều bây giờ đã thực sự trở thành cơn ray rứt trong lòng gã. Gã sẽ còn gì trong cuộc đời này nếu từ nay gã không được thổi lên những bản nhạc cũ. Tờ giấy cam đoan như một lưỡi dao oan nghiệt cắt lìa con người mù lòa của gã với những vốn liếng cuối cùng. Bây giờ thì cơn khát khao được thổi lên bất cứ bản gì mình thích bỗng bùng dậy như một sự thôi thúc không thể cưỡng lại. Tay gã rờ rẫm vào cây kèn. Nó vẫn nằm nguyên đó, ngoan ngoãn như một người bạn bé nhỏ thân yêu. Gã nghĩ đến cây kèn, nghĩ đến bầu không khí ngột ngạt buổi chiều mà gã đã trải qua. Gã thấy rõ mình đã bị tước đoạt dĩ vãng giống như cây kèn bị tước đoạt khả năng của nó. Nó sẽ còn gì khi những bản nhạc xưa bị cấm đoán. Sự mất mát không nhỏ nhoi, gọn gàng như cái lệnh ngắn ngủi mà đồng chí công an đã ban ra cho gã. Đằng sau đó là một thảm kịch lớn lao trong tâm hồn của gã. Nhưng thảm kịch này không đến với gã ngay một lúc. Nó lan tới dần dần, khởi đầu nhen nhúm trong lòng gã một sự tiếc nuối mơ hồ, rồi càng lúc gã càng thấy ray rứt, thấm thía như mình vừa phải rời xa một người thân yêu không bao giờ còn được gặp lại. Bây giờ thì gã không còn ngăn lại những giọt lệ ứa ra ở hai bên bờ mi.

Lúc gã đứng dậy thì thành phố hình như đã lên đèn. Gã đoán được điều đó qua những âm thanh thay đổi ở chung quanh. Thành phố này đối với gã đã quá quen thuộc với từng thay đổi theo thời khắc trong từng ngày. Nhưng rồi nó cũng sẽ lại cùng chung một số phận như gã. Tất cả mọi vật chung quanh đang bị tẩy xóa đi dần dần. Cho đến khi không còn một dấu tích gì của dĩ vãng.

***

Một tuần lễ sau, gã trở lại xóm cũ. Gã đã lấy lại được sự tươi tỉnh mọi ngày. Dầu sao thì gã cũng phải sống trước đã. Và sống bằng cây kèn quen thuộc. Sau bẩy ngày chạy theo một cách tội nghiệp một vài bản nhạc mới, gã đã có một số vốn tạm để tiếp tục hành nghề. Gã lại báo hiệu sự hiện diện của mình bằng một hồi thổi dài:

– Ò….Ò..ò…ò … .

Bọn trẻ trong ngõ lại túa ra. Nhiều đứa lại nhẩy quẫng lên, vỗ tay reo mừng. Thì ra gã không bị đem đi cải tạo như trong tuần lễ gã vắng mặt mọi người đã xì xào như thế. Âm thanh của cây kèn xoáy vào lòng ngõ như thông báo lên điều đó. Những cánh cửa sổ lại bật mở và người lớn lại lố nhố ngó ra nhìn. Bầu không khí bỗng mang một vẻ vui mừng hớn hở như chào đón một người hùng trở về. Dưới mắt mọi người, gã không phải chỉ đơn thuần là một anh thổi kèn dạo, nhưng chính là một kẻ đã chống đối chế độ, đã bị bắt và được thả về. Tất cả mọi người đều dồn mắt về phía gã và gã đã làm xong đầy đủ lệ bộ của mình: Cười thật tươi với hai hàm răng trắng nhởn, rút chiếc khăn tay đen đúa ra lau mồ hôi ở trán, ở cổ, rồi tới cây kèn đồng. Sau cùng gã cầm cây kèn đưa lên miệng. Gã trịnh trọng dồn hết làn hơi của mình để cất lên bản nhạc thứ nhất:

– Như có Bác Hồ trong ngày vui giải phóng….

Tiếng kèn của gã vừa rúc lên một câu đầu thì một làn sóng ồn ào ở bốn phía bỗng nhiên ùa tới. Có tiếng huýt sáo. Có tiếng cười ồ lên chế nhạo. Có cả tiếng nguyền rủa bằng những lời lẽ thô tục. Gã như một con bò mộng giữa đấu trường đang tới tấp nhận lãnh đủ loại dáo nhọn cắm vào mình. Vì thế gã chưa kịp ngân lên theo đúng điệu thì tiếng kèn đã đột nhiên tịt ngẵng lại. Mặt gã đỏ nhừ. Những ngón tay của gã mềm nhũn đi trên hàng nút đồng. Gã có cảm giác như mình là kẻ phạm tội đang bị dẫn đi trên đoạn đầu đài có cả ngàn người vây quanh nguyền rủa. Gã xấu hổ với mọi người. Xấu hổ với chính mình. Xấu hổ với cả cây kèn trên tay. Gã bỗng nghĩ đến sự mất mát của mình sau khi đã phải ký tên vào tờ cam đoan trong tuần trước. Cơn phẫn nộ của kẻ bị tước đoạt cho đến cả dĩ vãng bỗng nhiên ùa tới. Những cảm giác tiếc nuối, ray rứt gậm nhấm trong lòng gã suốt một tuần qua bây giờ sống lại và đẩy cơn phẫn uất của gã lên cao. Gã nghĩ tới tất cả dĩ vãng của mình. Gã tự nhủ con người đã bị mất dĩ vãng rồi thì mình đâu còn là mình. Điều đó không thể nào chấp nhận được. Thế thì phải giữ lại nó trước khi nó bị tước đoạt hết. Gã chợt cảm thấy mình khỏe khoắn hơn lên. Gã nghểnh mặt lên nhìn về phía mọi người. Lòng gã tự nhủ “ thằng thổi kèn thì cũng có giá trị của nó chớ”. Thế là làn hơi bỗng căng phồng trong hai buồng phổi. Hai tay gã nắm chặt lấy cây kèn và giơ lên. Lòng gã xúc động đến nghẹn ngào. Gã dồn làn hơi của mình vào ống thổi. Tiếng kèn vụt bừng đậy, vút lên cao, sừng sững như tâm hồn ngạo nghễ của gã lúc đó rồi tỏa ra, ngân dài xuống tận cuối xóm:

– Việt Nam! Việt Nam nghe từ vào đời…

Hồn gã bay bổng theo tiếng kèn. Lòng gã như bơi trong nốt nhạc. Gã không nghe thấy tiếng vỗ tay của bọn trẻ chợt bùng lên, vang dậy ở chung quanh. Gã cũng không thấy cả những bàn tay nhỏ bé đang rúi những nắm tiền lẻ vào cái túi của gã vẫn đeo bên mình. Gã đã đắm mình vào làn âm thanh bao phủ quanh gã, những âm thanh cứ mỗi lúc một dồn dập và nâng bổng thêm tâm hồn của gã lên cao…

NHẬT TIẾN

Sợi Tóc. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

Đôi nét về tiểu sử nhà văn Thạch Lam

Nhà văn Thạch Lam, tên thật là Nguyễn Tường Vinh (1910 – 1942), sau đó đổi tên thành Nguyễn Tường Lân và lấy bút danh là Thạch Lam. Nguyên quán của ông là tại Hà Nội, ông sống trong một gia đình công chức gốc quan lại trong giai đoạn đất nước sa sút.

Cha của ông là Nguyễn Tường Nhu, sinh năm 1881, là một người thông thạo cả chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông Phán Tòa Sứ. Mẹ của Thạch Lam là bà Lê Thị Sâm, con gái cả của Lê Quang Thuật, người gốc Huế, đã 3 đời làm quan võ cùng thời với Huyện Giám (tức ông nội Thạch Lam).

Ông bà Nhu sinh cả thể được 7 người con, trong đó có 6 người con trai và 1 người con gái. Trong 7 người con thì ngoài người con trai tên Tường Thụy làm công chức, tất cả những người con lại ít nhiều đều tham gia và con đường sự nghiệp văn chương. Trong số đó nổi bất nhất có Tường Tam, Tường Long và Tường Vinh (nhà văn Thạch Lam).

Vào năm 1918, ông Nguyễn Tường Nhu cha của nhà văn Thạch Lam mắc bạo bệnh và qua đời. Kể từ đó, một mình mẹ phải mua bán tần tảo để nuôi một người mẹ chồng và 7 đứa con.

Ở Cẩm Giàng, Thạch Lam học tại trường tiểu học Hải Dương, nay là trường tiểu học Tô Hiệu. Cho đến khi người anh cả là Nguyễn Tường Thụy đã học xong ra trường và về dạy học ở Thái Bình, mẹ ông quyết định đưa cả nhà về Thái Bình sinh sống.

Nhưng sống ở đây được 1 năm, làm vẫn không nuôi đủ mấy miệng ăn, mẹ ông lại quyết định dẫn các con về Hà Nội ở nhà thuê và sinh sống ở đây.

Nhiều năm sau đó, Thạch Lam thi đỗ vào trường Cao Đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng sau đó một thời gian ông chuyển vào trường trung học Sarraut để học thi Tú tài.

Sự nghiệp văn chương của nhà văn Thạch Lam

Sau khi đã đỗ Tú Tài lần thứ nhất, Thạch Lam thôi học để chuyển về làm báo với 2 người anh trai. Những buổi đầu, nhà văn Thạch Lam tham gia vào Tự Lực văn đoàn do người anh trai là Nguyễn Tường Tam sáng lập và được phân công biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của văn đoàn này. Đến năm 1935, ông được giao làm chủ bút của tờ Ngày nay.

Khoảng năm 1935, khác với các anh trai là đều lấy vợ qua mai mối và được bố mẹ chấp nhận mới cưới, còn Thạch Lam lấy vợ hoàn toàn do sự lựa chọn của cá nhân. Năm 1935 ông lấy vợ và được người chị là Nguyễn Thị Thế nhường lại cho căn nhà nhỏ ở tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây.

Nhà văn Thạch Lam được biết đến là một cây bút thiên về tình cảm, hay viết lại chính những cảm xúc của mình trước những số phận hẩm hiu, nghèo khổ của người nghèo, nhất là phụ nữ trong xã hội cũ nát, sống vất vả, chịu đựng, thầm lặng và trong đó có cả sự hy sinh (trong tác phẩm Cô hàng xén).

Có truyện ông viết với sự cảm thông sâu sắc về một gia đình đông con, sống một cuộc sống cơ cực trong xóm chợ (trong tác phẩm Nhà mẹ Lê). Ngoài ra ông còn viết tiểu luận kiểu tùy bút, ghi lại những gì mà ông suy nghĩ về nghệ thuật. Cuốn Hà Nội ba sáu phố phường được nhà văn Thạch Lam miêu tả lại có trong đó hương vị đậm đà của quê hương, nhưng cũng vô cùng gợi cảm.

Ngày 27/06/1942, nhà văn Thạch Lam ra đi khi mới ở độ tuổi 32 vì mắc phải căn bệnh lao phổi. Ông ra đi, để lại người vợ trẻ và 3 người con trong gia cảnh nghèo khó.

Những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Thạch Lam

Hầu hết những tác phẩm của nhà thơ Thạch Làm đều được đăng báo trước khi in thành sách, một số những tác phẩm nổi tiếng của ông phải kể đến như:

• Tác phẩm Gió lạnh đầu mùa – Tập truyện ngắn (NXB Đời nay, 1937);
• Tác phẩm Nắng trong vườn – Tập truyện ngắn (NXB Đời nay, 1938);
• Tác phẩm Ngày mới – Tập truyện dài (NXB Đời nay, 1939);
• Tác phẩm Theo giòng – Bình luận văn học (NXB Đời nay, 1941);
• Tác phẩm Sợi tóc – Tập truyện ngắn (NXB Đời nay, 1942);
• Tác phẩm Hà Nội ba sáu phố phường – Tùy bút (NXB Đời nay, 1943);
• Tác phẩm Quyển sách và Hạt ngọc – Truyện viết cho thiếu nhi (NXB Đời nay, 1940);

Những tác phẩm của nhà văn Thạch Lam có rất nhiều những yếu tố hiện thực. Tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao, hay cuộc đời tăm tối không lối thoát như Chị Dậu của Ngô Tất Tố,… Nét riêng, độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, đó chính là lòng nhân ái và những vẻ đẹp tâm hồn trong mọi tác phẩm của ông.

Những nhân vật trong các tác phẩm của ông dù ở bất cứ hoàn cảnh nào đi chăng nữa nhưng trong tâm hồn của hộ vẫn ánh lên cái chất lòng nhân ái của con người Việt Nam. Đọc truyện ngắn Thạch Lam ta thấy được sự yêu thương và quý trong con người với nhau hơn và cũng chính từ đó tác cảm thấy được sự thương cảm trong mỗi một con người.

Nhà văn Thạch Lam – Một cây bút giàu xúc cảm, qua những dòng thông tin trên, hy vọng bạn đã có cái nhìn rõ ràng hơn về tiểu sử, cuộc đời sự nghiệp, cũng như những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn này.


Truyện ngắn: SỢI TÓC
Thạch Lam

Anh Thành nhỏm dậy, nghiêng mình chống khuỷu tay xuống giường rồi bắt đầu nói với một giọng trầm và thong thả khiến người nghe hiểu được hết các ý tứ của câu chuyện:

Tôi có một người anh họ rất giầu và rất ngốc (có lẽ mình cho anh ta là ngốc, bởi vì hắn không xử sự như mình, không có những quan niệm về cuộc đời như mình; nhưng thật ra biết đâu cách ăn ở của anh ta lại không khôn ngoan hơn, bởi vì anh ta đã giầu và sung sướng?). Tên anh ta là Bản, Bản rất phục tôi, coi tôi là một người sành sỏi, thạo đời và nhất là thạo các ngón ăn chơi. Bởi vậy, động có việc gì, hoặc là muốn mua bán cái gì, anh ta đều không quên đến hỏi tôi trước.

Hôm ấy, Bân đến rủ tôi cùng đi mua một cái đồng hồ. Anh ta muốn mua hạng thật tốt, và nhờ tôi xem hộ. Hai chúng tôi đến hiệu Chabot ở phố Tràng Tiền. Đồng hồ ở hãng này thì không còn phải nói gì nữa: Thật là những đồng hồ các hiệu có tiếng, có bảo hành chắc chắn và cố nhiên là giá đắt. Tôi chọn cho hắn ta cái đồng hồ đeo tay hiệu Movado, xuống nước hay vùi cát cũng không hề gì. Chiếc đồng hồ trông rất đẹp. Tôi thấy anh ta mân mê cầm lên ngắm nghía, xem chừng cũng muốn mua lắm. Nhưng cái tính hà tiện của anh ta lại thắng cái thích, nên rồi lưỡng lự một lát, anh ta trả lại nhà hàng, kéo tôi đi ra và bảo:

– Đẹp thì đẹp thật, nhưng mà đắt quá, anh ạ. Thôi, chúng ta lại các hiệu khách mà mua thì hơn.

Tôi yên lặng gật đầu, và theo đi, cũng chả muốn nói gì. Trong bụng nghĩ anh chàng này thật là ngốc, có tiền mà không biết chơi đồng hồ tốt. Lại kiệt nữa. Không biết hắn để tiền làm cái gì?

Vào một hiệu ở Hàng Ngang, sau khi mặc cả ráo riết từng hào, anh ta bằng lòng mua một cái đồng hồ hiệu không mấy ai biết tiếng. Hắn có hỏi ý kiến tôi, song tôi cũng ừ hữ bảo dùng được cho xong chuyện, vì hắn có mua được thứ tốt hay không, bấy giờ tôi thực không thấy quan hệ mấy.

Lúc trả tiền, tôi thấy hắn giở ra một cái ví da lớn, phồng chặt. Hắn đếm giấy bạc thong thả và cẩn thận. Thoáng nhìn qua, tôi cũng biết trong ví nhiều tiền lắm: ngoài số tiền bạc lẻ hắn mang ra trả, tôi còn thấy gấp ở ngăn trên đến năm, sáu cái giấy bạc một trăm nữa, những giấy bạc mới, màu còn tươi nguyên – “Quái, thằng cha này làm gì mà lắm tiền thế? Mình thì chả bao giờ có đến được một trăm bạc bỏ túi!” Tôi nghĩ thầm và so sánh thế.

Mua xong đồng hồ. Bân rủ tôi đi ăn:

– Ta lên hiệu chén, rồi lát nữa làm một chầu chứ, – hắn vỗ vào túi – tôi có đủ tiền đây!

Chúng tôi vào hiệu. Bân ăn vui vẻ lắm, có lẽ hắn vừa ý vì cái đồng hồ mua rẻ. Tôi thì trong óc cứ vơ vẩn cái ý nghĩ sao một thằng ngốc như hắn – tôi thấy hắn càng ngốc – lại có lắm tiền thế, còn mình…

Tuy vậy, ý nghĩ cũng không làm tôi ăn mất ngon. Tôi tỏ mặt sành, gọi những thức ăn quý và đắt tiền, và hai chúng tôi uống rượu say sưa.

Cơm xong, Bân đưa tôi xuống Vạn Thái, vào nhà một người nhân tình của hắn. Hình như đã lâu không được đi hát, nên hắn có vẻ tha thiết và sung sướng đến đáng ghét. Về phần tôi, không thấy hứng lắm, – đi chơi với một anh có nhiều tiền mà mình lại khinh là ngốc, không có thú vị mấy – nhưng chẳng lẽ lại bỏ hắn nửa chừng. Tôi định bụng ở chơi qua quýt đến nửa đêm thì về.

Nhà hát, ngoài cô nhân tình của Bân, các con em khác trông cũng khá. Tôi nằm bên bàn đèn nói vài câu chuyện tầm phơ. Còn Bân, hắn không nghe hát hiếc gì cả. Ngồi nói chuyện với tôi một lát lấy lệ, rồi hắn cùng với cô nhân tình vào buồng trong đi nằm một chỗ. Hắn không quên – tính cẩn thận của anh kiệt! – đem cả cái áo tây trong có ví tiền vào chỗ nằm, vất trên thành đầu giường.

Một mình tôi ở ngoài đâm chán. Nằm một lát rồi tôi cũng đứng dậy sửa soạn ra về; Bân vẫn ở trong màn, nói vọng ra giữ lại:

– Anh hãy ở chơi đã, về làm gì vội. Ngày mai chủ nhật cơ mà.

– Thôi, tôi phải về. Sáng mai còn có việc.

Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên có cái gì chuyển mạnh qua tim: tay tôi yên hẳn lại; tôi vừa mới nhận ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là áo của tôi. Thì ra lúc mang áo vào giường nằm, Bân đã mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lẫn lắm. Tôi ghé nhìn vào phía trong áo thấy cái ví tiền ở túi thò ra ngoài một ít. Cái ví tiền… mấy tờ giấy bạc…

– Ở chơi đã anh. Ở chơi sáng sớm mai về với tôi một thể.

– Ờ… ờ…

Tôi điềm nhiên treo cái áo vào chỗ cũ, quay ra. Mấy chị em cũng phụ họa vào lời mời của Bân, nài nỉ:

– Tội gì mà về bây giờ anh, khuya và lạnh chết.

Tôi chỉ thoáng nghe thấy, trong trí như còn bận sự gì. Bâng khuâng tôi lại gần giường; một chị nâng chén mời:

– Anh uống chén nước nóng. Rồi nằm xuống đây có hơn không?

– Ờ thì hẵng nằm một lát đã.

Tiếng Bân trong màn đưa ra:

– Phải đấy, đến mai hẵng về. Tôi bảo chị Lan phải làm thế nào giữ anh ấy lại thì làm…

– Không… thể nào tôi cũng phải về, anh ạ…

Những lời đối đáp ấy cứ tự nhiên buột miệng ra, tôi không để ý đến. Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví, hiện ra rất rõ rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ – tại sao lại hai? Tôi không biết – thật dễ dàng quá. Tôi cứ việc điềm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ, rồi khoác áo ở trên vai, ra ý sắp sửa về. Rồi chọn lúc mọi người vô ý – mà dẫu có ý cũng không ai biết được – tôi đổi lấy áo của tôi vắt ở đầu giường Bân… Thế là xong, và gọn. Mai dậy Bân biết mất chắc chẳng bao giờ dám nghi ngờ cho tôi. Mà nghi ngờ thế nào được?

Tôi về từ đêm cơ mà! Vả lại cái áo đựng tiền hắn đã cẩn thận mang vào giường ngay từ chập tối, vậy nếu có người lấy, thì chỉ có người nhà cô đầu mà thôi. Mà người nhà thì cũng khó lòng đến đấy lấy được, họa chăng có ngay cô nằm với Bân. ừ, có lẽ Bân sẽ nghi cho nhân tình của hắn lấy… Chắc thế. Tôi mỉm cười: Bân sẽ không dám nói gì đâu; biết nhân tình lấy, hắn sẽ im lặng, sợ làm cho nhân tình xấu hổ, và sợ làm tai tiếng chủ nhà. Hắn vốn tính nhát, với lại hai trăm đối với hắn chắc chả là bao.

Tất cả những cách xếp đặt ấy diễn qua rất nhanh trong trí tôi. Chỉ một thoáng thôi, tôi đủ tưởng trước được các việc xảy ra như thế, êm thấm và yên lặng, và trôi chảy… dễ dàng quá, mà không còn sợ cái gì cả…

– Mời anh xơi thuốc.

Tôi giật mình đỡ lấy dọc tẩu. Cô Lan đã tiêm xong điếu thuốc từ bao giờ, quay dọc sang mời. Mắt cô nhìn tôi âu yếm. Tôi đưa mắt nhìn xuống, cầm lấy dọc hút. Điếu thuốc kêu vo vo, tiếng như ở đâu đưa lại. Qua làn khói trắng tỏa ra, tôi tưởng nhìn thấy tập giấy bạc một trăm, còn mới nguyên gấp trong ngăn ví. Hắn làm gì mà có lắm tiền thế? Lại mang để trong ví làm gì? Rõ anh chàng ngốc không biết dùng đồng tiền, tiền ở trong tay hắn cũng uổng. Ngộ có đứa lấy đi thì sao? Để thế có bữa mất thật…

– Anh nghĩ gì mà thần người ra thế? Say thuốc có phải không?

Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi. Tôi giả vờ cười không đáp, rồi xoay nằm ngửa, nhìn lên trần nhà. Trong người bứt rứt không yên… Lắng nghe thấy tiếng Bân thì thào và tiếng cười khúc khích của nhân tình hắn trong màn. Chiếc áo vắt ở đầu giường – chiếc áo của tôi – chắc vẫn còn y nguyên ở đấy.

Tôi tưởng tượng khi có hai trăm trong túi rồi, lên xe về điềm tĩnh đi nằm ngủ. Sớm mai mất tiền, thế nào hắn chả về qua nhà mình. Hắn gọi cửa vào, đánh thức mình dậy và bơ phờ bảo:

– Tôi mất hai trăm bạc tối hôm qua rồi, anh ạ…

Tôi thấy trước bộ mặt ngạc nhiên của tôi lúc bấy giờ – một vẻ mặt rất tự nhiên, – và tôi hỏi: “Chết chửa, mất bao giờ? Ở đâu?” – Hắn sẽ thuật lại buổi tối hôm nay, lúc mang áo vào giường, đến lúc thấy mất: “Chỉ có con nhân tình tôi nó lấy thôi, anh ạ. Chả còn ai vào đấy nữa…”

– Thế giấy bạc của anh có biên số không?

Nếu hắn không biên số thì mình cứ việc tiêu tự nhiên! Vạn nhất hắn có biên số rồi, thì bảo hắn đi trình cẩm. Nhưng mình sẽ tiêu ngay hôm ấy… Một người như mình cầm tờ giấy trăm vào Gô Đa mua hàng, ai dám nghi ngờ?…

Tôi nhớ lúc ấy tuy vẫn nói chuyện với mấy cô em, tôi xếp đặt đâu vào đấy rất chu đáo, phòng ngừa đủ mọi việc xảy ra. Chỉ còn việc lấy, và đổi áo nữa là xong. Rất dễ.

– Ấy kìa, anh đi đâu đấy?

– Tôi đi về đây, mai có việc bận, không thể ở lại được.

Tôi đã nhổm dậy đến bên mắc, với áo, chiếc áo của Bân. Qua lần vải tôi thấy chiếc ví kềnh kệnh răn rắn. Khoác áo lên một bên vai, tôi đi lại trong nhà, bồn chồn nóng ruột. Một cô đầu lê guốc ra hé cửa, nhìn ra ngoài trời:

– Tối lắm. Phải vạ gì mà đi bây giờ anh ạ.

– Đâu xem nào…

Tôi cũng đến bên cửa nghiêng nhìn ra ngoài. Tay tôi đưa vào trong áo, luồn vào khe ví, sờ vào mấy tấm giấy bạc. Tôi rùng mình. Mấy ngón tay mân mê đầu tấm giấy, một cái, hai cái…

– Thôi, vào không gió, anh ạ. Vào nằm cho ấm…

Tôi bỏ tay ra – thong thả, không vội gì, – theo vào, cái áo vẫn đè trĩu trên vai. Tôi ngồi ghé xuống cạnh giường, cầm chén nước lên nhấp, rồi lại đặt xuống.

Tiếng Bân trong nhà cất lên:

– Ông ấy về rồi à?

Tôi đáp:

– Không, đã về đâu. Tí nữa.

Bân nói câu gì sau, tôi cũng không nghe thấy. Tâm hồn tôi lúc bấy giờ thế nào, tôi không biết rõ. Tôi đứng lên, ngồi xuống, như một cái máy. Tôi chỉ băn khoăn, bứt rứt, và thời giờ qua… tôi cảm thấy đi qua tâm hồn tôi từ bên này sang bên kia… như thế không biết trong bao nhiêu lâu… Tôi khẽ thở dài, đứng lên lần này thì nhất định.

– Về thôi. Không mai đi sớm lại nhọc chết.

Bân hỏi vọng ra:

– Ồ, anh về à? Mấy giờ rồi đấy nhỉ?

– Gần một giờ rồi. Anh cứ ở đây. Cả mấy cô này nữa, đi ngủ đi cho béo mắt. Bận sau tôi ở lâu nhé.

Tôi đưa tay vuốt mái tóc một cô sán đến gần, hai tay để lên vai tôi, mắt nhìn ra vẻ âu yếm. Hai cô khác ngồi yên trên giường, cũng đưa mắt nhìn tôi như chờ đợi.

– Thôi đi ngủ đi.

Tôi gạt tay cô ấy ra, gấp cái áo tây trên cánh tay, rồi đi vào phía giường Bân nằm. Tôi cúi xuống, tì vào thành giường – cố ý tì vào chỗ vắt cái áo – nhìn vào trong, qua màn.

– Anh ở lại nhé – tôi mỉm cười – tri kỷ hết đêm nay cho nó sướng…

Cô nhân tình khúc khích trong chăn. Và Bân ngửa đầu trông lên, tay với vào tấm màn:

– Mai nhé.

– Oui, à demain.

Nhưng tôi chưa quay ra. Tôi vẫn cứ tì mình trên thành giường, lưỡng lự, một lát bấy giờ sao lâu thế. Rồi, không biết tại sao, bỗng nhiên:

– Áo anh đây này, đây là áo của tôi.

Và nói thêm bằng tiếng Pháp:

– Anh đếm lại tiền đi. Và để cẩn thận vào trong ấy.

Bân nhỏm nửa người dậy, cầm lấy áo:

– Merci, được rồi.

Tôi bước một bước lùi ra. Thế là hết. Bây giờ thì không sao đụng đến ví được nữa. Tôi bần thần ngơ ngẩn, mặc lấy chiếc áo của tôi, và đội mũ… Vừa gài khuy, tôi vừa nói mấy câu bông đùa vô vị với cô ả đứng ở chân giường sắp tiễn tôi về. Tôi trùng trình uống nước và hút thuốc, muốn cái thời khắc này cứ kéo dài ra mãi.

Đến khi ngồi trên xe về qua những phố khuya vắng vẻ, tâm trí tôi mới dần bình tĩnh lại. Gió lạnh thổi mát trên vừng trán nóng, và cái cảm giác mát ấy khiến tôi dễ chịu. Tôi nghĩ lại đến những cử chỉ và dự định của tôi lúc nãy, thật vừa như một người khôn khéo lại như một người mất hồn. Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ. Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc.

Sáng hôm sau tỉnh dậy ở nhà, tôi ngẩn ngơ nghĩ lại các việc tối hôm trước, y như trong một giấc mộng, chứ không phải việc đã xảy ra… Tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình hãy còn là người lương thiện, không phải là kẻ ăn cắp. Mà tôi thú thực rằng nếu bấy giờ tôi đã là kẻ ăn cắp, cái đó cũng không khiến tôi lấy làm ngạc nhiên hơn. Mà còn là người lương thiện, tôi tự thấy cũng chẳng có gì là đáng khen. Tôi nhớ rõ lúc đó không có một ý nghĩ nào về danh dự, về điều phải, điều trái ngăn cản tôi, và khiến tôi đi vào con đường ngay, như người ta vẫn nói. Không, không có một chút gì như thế. Cái gì đã giữ tôi lại? Tôi không biết… Có lẽ chỉ một lời nói không đâu, một cử chỉ nào đấy, về phía này hay phía kia, đã khiến tôi có ăn cắp hay không ăn cắp. Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên… Tôi có tiếc đã không lấy hay không, hay bằng lòng mình vì đã chống giữ lại cái ý xấu? Tôi cũng không tìm biết rõ hơn. Hình như ý nghĩ ham muốn hay trù trừ tối ấy không phải là của tôi, hình như của ai ấy, của một người nào khác lạ, khác với cái người thường của tôi bây giờ…

Chúng tôi đều yên lặng. Anh Thành nói xong, với cái điếu hút một hơi thuốc lào rất kêu. Rồi anh thở ra thong thả, mắt lờ mờ nhìn dõi theo làn khói đi.

Thạch Lam


Bức Tường Xanh. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)

Căn phòng vỏn vẹn có ba thước bề dài và hai thước bề ngang. Chung quanh là những tấm mắt cáo đóng bằng gỗ nẹp. Nắng đã xế qua lớp mái tôn của dẫy nhà bên kia sân, nên những khoảng đốm sáng trên sàn gạch bây giờ bò dần lên vách gỗ. Mặt gạch còn hấp đầy hơi nóng. Cái nóng nung nấu từ buổi trưa đã làm mảng lưng của Thiện như muốn rộp lên. Trong lúc ngủ, mồ hôi ở lưng áo đổ ra ướt đẫm sàn gạch rồi bốc hơi mau chóng. Bây giờ đã bắt đầu có gió hiu hiu thổi. Gió lùa qua khe gỗ đưa vào hơi mát xen lẫn mùi nồng nồng của những cái hôi hám hỗn tạp. Đám rãi rớt của tên áo xanh nằm ở góc phòng còn nguyên sau cơn nôn ọe buổi trưa. Vết loét lở ở ống chân của tên cởi trần đã bị sút băng, bông để lộ ra một vết sâu hoắm, lốm đốm những con ruồi đen đang bám chặt. Hơi thở nặng nề trong giấc ngủ mệt nhọc của sáu, bẩy tên khác nằm ngổn ngang khắp căn phòng. Hai, ba tên khác chập chờn trong tình trạng nửa ngủ, nửa thức vẫn rên rỉ từ mấy tiếng đồng hồ qua.

Thiện thấy miệng mình khô đắng lại. Cảm giác buồn nôn chờn vờn trong cổ họng. Hắn cố nhịn để đám rãi trong miệng khỏi ùa ra. Rồi hắn nuốt đánh ực. Hắn cảm thấy dạ dầy nôn nao khiến đầu hắn chòng chành. Hắn chống tay ngồi dậy. Ánh sáng chói lọi ở lớp mái tôn của dẫy nhà bên kia làm mắt hắn tối sầm. Hắn nhè nhẹ xoay lưng lại rồi cố lết về phía vách gỗ. Giấc ngủ vừa qua không làm hắn dễ chịu hơn. Đầu hắn nặng như búa bổ. Vành mắt như dầy cộm lên. Tròng con ngươi cứng đơ lại. Hai bên vành môi thưỡn ra không thể mấp máy. Nước rãi lại ứa ra ở chân răng, nhễu xuống mép và chỉ đến lúc thấy mát ở xương quai cằm, hắn mới nhận thấy và giơ tay lên quệt ngang.

Hắn mệt nhọc nhìn quanh một lần nữa khung cảnh buồn chán trước mặt. Những đốm sáng hình ô vuông lên cao hơn nữa trên vách gỗ. Vài mảng màng nhện rách rưới đu đưa trong gió nhẹ. Mái tôn nóng hổi như đang cựa mình lách cách. Thằng áo xanh vẫn nằm ngoẹo đầu ngủ li bì. Đám rãi rớt xen lẫn những hạt lấm tấm trắng lúc ọe ra bây giờ như đã se mặt. Những con ruồi vẫn bám riết lấy đám mủ bầy nhầy vừa xanh, vừa vàng trên vết thương sâu hoắm. Một vài tiếng ú ớ vang lên. Tiếng ngáy khò khè vẫn như một điệu nhạc buồn nản kéo dài từ trưa. Mùi hôi nồng thoảng trong gió ùa vào đầy ắp tới cổ họng của hắn. Hắn lại nuốt ừng ực để chăn cơn nôn ọe vẫn đang rập rình trồi lên từ đáy dạ dầy.

Thiện đổi thế ngồi một lần nữa để dựa một bên vai vào vách gỗ. Qua các lỗ ô vuông của tấm mắt cáo, khoảng sân đất hiện ra chói lòa ánh nắng. Ở dẫy nhà bên kia đã thấy lác đác có bóng người qua lại. Toán trực nhật lo cơm chiều bắt đầu khiêng những thùng nhôm đi xuống bếp. Khu bếp núc trông thẳng được ra dẫy hàng rào ngoài cổng trại, nhưng ngồi ở đấy, Thiện chỉ thấy dẫy bể nước thấp lè tè bằng xi măng có những khóa đồng sáng bóng. Hắn thèm được thấy con lộ đầy bóng mát chạy ven theo hàng rào. Con lộ thẳng tắp, hai bên là cây cao. Qua lùm cây xanh, phía bên kia là con sông êm đềm với tiếng sóng vỗ róc rách.

Đã hai tuần nay rồi Thiện chưa được trông thấy con sông, cũng chưa được thấy cả con lộ thẳng tắp chạy men theo hàng rào. Lộ trình một ngày của hắn chỉ là bước qua khu sân đất để sang dẫy nhà tôn ở mé đằng sau. Một ngày ba lần. Hai lần cho bữa cơm và một lần ở phòng thuốc. Giọng nói ngọt ngào quen thuộc của viên y tá già còn vẳng bên tai:

– Ráng đi con. Chỉ cực mấy ngày đầu. Rồi sẽ êm hết. Sẽ êm hết thiệt đó mà…

Thiện đã từng đón những viên thuốc mầu hạt dẻ như một cái máy vô tri. Mầu xanh của khói thuốc như đang dựng trước mắt hắn một bức tường xanh. Bức tường cao vòi vọi, cuồn cuộn nung nấu, sôi sục rồi bủa ra, vây quanh che mờ lấy mắt Thiện. Nó thấm vào từng lỗ chân lông, bám riết lấy từng sợi máu, ùa vào lục phủ ngũ tạng biến thành những con sâu gậm, nhấm, đục, khoét. Thiện rú lên như con vật bị chọc tiết. Hắn quờ tay về phía trước. Đầu hắn chúi xuống. Hắn muốn với tới bức tường xanh. Nhưng hai tay hắn đã bị kìm cứng lại. Tiếng khóa sắt lách cách hình như xen lẫn với chính tiếng hắn gào. Hắn gào thật to như trút tất cả sức lực vào cổ họng. Rồi hắn rũ xuống. Hắn thấy bức tường đổi sang sắc đỏ, rồi sắc tím, rồi tất cả tối đen lại. Hình như có nhiều tiếng người lao xao. Hình như vòng xích đang cột sát hắn vào vách tường. Hình như những đứa khác cũng đang kêu gào. Hắn mệt quá. Hắn muốn níu lấy một cái gì có thể bấu víu.

Hắn nghĩ đến mẹ và em gái. Hình ảnh cằn cỗi của mẹ hắn hiện ra chập chờn. Căn nhà cũ. Căn phòng cũ. Tiếng khóc nỉ non của đứa em gái ở đầu thềm. Tiếng con heo đất rơi vỡ tan tành trên sàn gạch. Tất cả những cái đó đã xẩy ra. Như mới xẩy ra. Hắn còn giữ nguyên cái cảm giác lúc hồi hộp rón rén đem con heo đất từ đầu giường mẹ (lấy dưới lớp giẻ rách bùi nhùi) để đi ra cửa phòng. Rồi hắn vấp phải chiếc ghế. Con heo vỡ tan tành. Hắn đứng chết trân ở đó, trước những đồng bạc cắc vừa chạy, vừa reo trên kháp mọi ngõ ngách trong căn buồng chật hẹp. Mẹ choàng dậy. Tiếng khóc bắt đầu cất lên kéo theo tiếng khóc của đứa em gái. Hắn nổi giận với tất cả mọi người, mọi vật chung quanh. Hắn xô cái ghế báo hại nằm giữa lối ra vào. Hắn muốn gầm lên để bịt lỗ miệng đứa em gái. Nó có quyền gì. Nó là cái thá gì chứ. Hắn trút nỗi giận vào đám ly tách sứt mẻ, cáu ghét trên mặt bàn. Có tiếng thủy tinh vỡ. Hắn nghe như sự đổ vỡ của chính lòng mình.


Hắn vội vã quơ mớ tiền giấy nằm ngổn ngang trên mặt đất rồi vùng lên như chạy trốn. Tiếng khóc còn như đuổi theo sau. Nhất là khuôn mặt của mẹ. Khuôn mặt khô cằn, hốc hác với đôi mắt lõm sâu bám riết lấy hắn. Hắn thấy tức thở. Đầu óc như bị bó chặt lại. Hắn vùng vẫy để thoát khỏi cơn ám ảnh của khung cảnh kinh hoàng vừa xẩy đến. Cảm giác ngỡ ngàng lúc con heo rớt xuống đất như đóng đinh trên mặt hắn, không rời. Hắn nghĩ đến những điếu thuốc. Hai ngày rồi hắn chưa nhìn thấy khói mầu xanh. Mầu xanh như thôi thúc, hối dục. Hắn chạy mau hơn, và không biết bằng cách nào, hắn đã giải quyết được nhu cầu của hắn như trong một cơn mơ. Lúc tỉnh táo hẳn lại, hắn thấy mình ngồi bên bờ tường của một căn nhà đổ nát. Bức tường xanh tan biến thành những cảm giác đê mê đưa hắn lên cao bồng bềnh. Hắn nhớ đến những chuyện đã xẩy ra.


Hắn bưng mặt lên khóc.


Và bây giờ thì hắn đã ở đây. Một tổ chức tư nhân dậy dỗ trẻ bất trị, kể cả việc trị bệnh ghiền ma túy tiếp hắn khi hắn tình nguyện đến. Hắn đã đánh đổi tất cả để được cầm tay mẹ. Bàn tay run rẩy già nua đã lâu lắm mới vuốt lên mái tóc bù xù của hắn một lần. Ánh mắt tha thiết của đứa em gái rạng ngời lên niềm tin. Hắn đã đưa tiễn và nhìn theo hai người khốn khổ ấy cho đến khi họ khuất sau rặng cây xanh. Gió ở sông đưa lên làm phổi hắn căng phồng. Hắn như còn lẩm bẩm nhắc lại câu nói mà hắn đã nói nhiều lần “Con hứa với mẹ. Con hứa với mẹ”. Rồi sau đó là cả một chuỗi ngày phấn đấu. Bức tường xanh. Những con sâu đục khoét. Những cơn vật vã nôn ọe. Hắn không có gì để tự vệ ngoài làn da tay chai cứng của mẹ còn vương vất trên mái tóc. Bàn tay mẹ yếu đuối run rẩy trong tay hắn… Mắt mẹ như ẩn nụ cười, dù cay đắng, dù chịu đựng nhưng chan chứa tình thương.


Đến giờ phát thuốc buổi chiều, cả bọn bị dựng hết dậy và lùa ra. Một vài đứa cứng đầu cự nự trước cái roi mây kè kè trên mỗi tay của ba người giám thị. Thiện nhớ đến những khẩu hiệu sơn lên từng tấm gỗ bằng mầu sơn lòe loẹt la liệt khắp nơi, từ ngoài văn phòng đến hành lang các tiểu trại: “Tình cảm trước – Roi vọt sau” “Roi vọt là biện pháp cuối cùng của dậy dỗ” – “Đã phải trừng trị thì sẽ trừng trị nghiêm khắc đến cùng”. Vừa vuốt ve. Vừa đe dọa. Đó là chủ trương của Ban Giám Đốc điều hành.


Sau một hồi quát tháo, nạt nộ, những đứa hiền lành đã xếp hàng sẵn ở cửa. Thằng bị thương ở chân không chịu đứng dậy, lết vào một góc giả bộ ôm chân nhăn nhó. Hai người giám thị tiến lại xốc nó lên. Nó chùn lại. Nhưng rồi nó cũng bị xách ra khỏi buồng như người ta xách một con gà. Riêng thằng áo xanh thì rũ liệt hoàn toàn. Nó không giả vờ. Nó đói thuốc từ sáng. Và nó nằm lì lại, nhất định không nhúc nhích. Theo sự hiểu biết của Thiện thì nó là một dân trùm ở bên ngoài. Nhà nó khá giả, nhưng vì đua đòi nên cuộc đời đã dẫn nó xuống hố thẳm. Gia đình đã áp dụng đủ mọi biện pháp để lôi kéo nó trở lại tuổi trẻ hồn nhiên. Việc gửi nó tới Trung Tâm này là biện pháp cuối cùng. Nếu thất bại, cuộc đời của nó coi như bỏ đi hoàn toàn. Nó mới được gửi tới trong vòng không đầy bốn ngày. Và nó bị nhốt riêng trước khi hòa đồng với tập thể ở dẫy tiểu trại bên kia sân đất. Như Thiện. Như thằng bị loét ở chân. Như những đứa khác lúc này đang lục tục xếp thành hàng đôi trước cửa phòng.


Mấy người giám thị chào thua thằng áo xanh. Cũng như ngày hôm qua, sẽ có y tá xuống tận nơi chích thuốc cho nó. Ít ra làm như vậy còn đỡ vất vả hơn là phải khiêng nó đi qua ba bốn khu tiểu trại để xuống tới phòng thuốc. Thiện đi theo toán người xếp hàng đôi, trí óc bồng bềnh như trong cơn mơ. Hắn bắt đầu thấy cảm giác buồn buồn hiện ra ở những đầu ngón tay. Hắn còn đủ sáng suốt để nghĩ rằng lại sắp sửa phải qua một cơn phấn đấu kịch liệt. Ruột gan lộn phèo, rãi rớt đầy ứ ở miệng, những con trùng vô hình bò đi khắp châu thân, đến từng mạch máu, tế bào.


Thiện cố nghĩ đến hình ảnh khác. Mẹ bây giờ ở đâu, làm gì nhỉ. Thành phố sắp lên đèn, chắc là bữa cơm tối đang diễn ra trong bầu không khí tẻ nhạt dưới ánh sáng đục ngầu của ngọn đèn thắp bằng điện yếu. Hồi trước, Thiện rất sợ phải ngồi tham dự những bữa cơm tẻ nhạt như thế. Hắn sợ thứ ánh sáng chỉ đủ làm sáng đôi mắt sâu thẳm của mẹ và hai con ngươi lóng lánh như hai hòn ngọc của đứa em gái. Cơ hồ tất cả tinh túy của hai người chỉ còn dồn lên đôi mắt. Những đôi mắt linh hoạt, biết dò xét, biết phán đoán và hầu như biết đọc tất cả những ý nghĩ đang xoay chuyển trong đầu óc của Thiện. Bữa cơm nào cũng vì thế mà Thiện buông đũa trước khi no. Hắn không chịu được cái nhìn của mẹ và em, không chịu được cả bầu không khí vắng lặng, âm thầm chỉ còn vang lên tiếng bát, đũa va chạm lách cách và tiếng nhai nhóp nhép của từng người. Bây giờ trong khung cảnh tranh tối, tranh sáng của một ngày đang tàn lụi, Thiện bỗng thấy tiếc nuối vô cùng khung cảnh xum họp đã qua. Mẹ bây giờ ở đâu, đang làm gì?


Những ý nghĩ của Thiện bị cắt ngang khi toán xếp hàng đứng khựng lại ở trước một hành lang hẹp. Tiếng người ồn ào. Đèn sáng choang. Mùi thuốc, mùi alcool tràn ngập.

Thiện hoàn tất thủ tục thường ngày hai mươi phút sau đó. Bây giờ hắn buồn nản đứng dựa lưng vào vách tường chờ đợi các bạn đồng hành. Hắn đứng không được bao lâu thì có bàn tay lôi hắn tách ra khỏi hàng và kéo vào một góc tối. Hắn không thấy mặt kẻ đối diện nhưng nghe rõ lời thì thào bên tai:
– Anh Tư hôm nay không xuống phải không?

À bây giờ hắn mới biết tên thằng áo xanh còn nằm ở phòng là anh Tư. Hắn cố nhìn cho rõ mặt kẻ đối diện, nhưng bóng tối thật lờ mờ. Hắn gật đầu, không lên tiếng đáp. Hắn thấy kẻ lạ dúi vào tay hắn một gói nhỏ rồi căn dặn, giọng nói bây giờ sắc và gọn đến rợn người:

– Trao cho anh Tư giùm nhé Thiện!

Hắn chưa kịp ruỗi ra thì kẻ lạ đã rời bóng tối đi ra. Nó to lớn, cao hơn Thiện đến một đầu. Bước chân vững vàng, chắc nịch. Thiện tự hỏi Tư đã có tài cán gì mà thu phục được những đàn em sức lực đến như thế. Nhưng sự lo ngại ùa đến thật nhanh làm hắn thấy ớn lạnh ở xương sống. Nội một điều kẻ lạ gọi tên hắn một cách ngon lành cũng đủ khiến cho Thiện rùng mình. Hắn thấy rõ ràng là mình mới bị giao phó một trọng trách. Hắn biết hậu quả sẽ thế nào nếu trọng trách không được thi hành nghiêm chỉnh. Hắn khẽ đưa cái gói nhỏ ra mé có ánh sáng. Hắn nhận biết thật nhanh ở bên trong có gì. Đó là một lưỡi cưa nhỏ sáng quắc màu thép xanh và mấy điếu thuốc có ma túy.

Thiện thủ thật nhanh cái gói nhỏ vào bụng quần. Đã hơn mười ngày nay, Thiện chưa được trông thấy điếu thuốc. Mầu khói xanh lơ chợt hiện ra chập chờn như đánh thức tất cả tế bào của hắn sống dậy. Hắn muốn bỏ đi thật nhanh. Kiếm một cớ gì đó để vô nhà cầu. Hắn sẽ tan thành khói để bay bổng lên tận cùng của bức tường xanh cao vòi vọi. Chỉ một điếu thôi. Một điếu cho đã thèm rồi trả hết cho anh Tư, thằng áo xanh còn nằm lết bết ở trong phòng. Mất mát gì đâu. Chẳng ai biết. Mà anh Tư không chừng còn thưởng cho công lao của hắn thêm một điếu nữa. Khuôn mặt bạc nhược vêu vao của anh Tư bỗng hiện trước mắt chập chờn. Rồi cái vêu vao của nó bỗng trở thành hình dáng vêu vao trên khuôn mặt của mẹ hôm chia tay. Mẹ không nói gì nhiều nhưng cặp mắt hàm chưa biết bao nỗi lòng cần bầy tỏ. Bàn tay của mẹ như còn hơi hướng ấm áp, run rẩy trong tay hắn. Thiện có cảm giác như bị giằng xé. Hắn muốn đầu hàng. Nhưng rồi hắn lại muốn cưỡng lại. Cái bọc nhỏ vẫn còn cộm ở thắt lưng quần. Ở trong có một lưỡi cưa và có mấy điếu thuốc.

Bây giờ thì cả toán đã được khám bệnh và phát thuốc xong. Mấy người giám thị đang lùa cả bọn vào hàng ngũ. Nhiều đứa đang bắt đầu lên cơn nên có điệu bộ rũ rượi như những con gà bị cắt tiết. Có đứa ói mửa ngay trên sàn gạch. Một vài đứa khác khỏe mạnh hơn, giữ bộ mặt thản nhiên. Mọi người đã đi qua một khu tiểu trại. Còn hai tiểu trại nữa là về đến căn phòng chật hẹp. Thiện bối rối cùng cực. Giọng nói lạnh lẽo của kẻ lạ như còn văng vẳng bên tai:

– Trao cho anh Tư giùm nhé. Thiện!

Thiện! Thiện! Thiện! Tên của hắn dội lên chát chúa như lời điểm danh của định mệnh. Hắn tự hỏi tại sao bọn thằng Tư lại chọn đúng hắn để giao phó nhiệm vụ ấy chứ. Hắn muốn bình thản như hôm qua, hôm kia, như mười ngày đã trôi qua, như một cơn mộng dữ sắp phai tàn. Hắn muốn được trông thấy mẹ ngay bây giờ. Mẹ là nguồn an ủi độc nhất có thể giúp hắn trong cơn khó khăn này. Hắn thầm kêu lên: Mẹ ơi! Mẹ ơi! Gió ở sông đưa theo mùi nước đọng vừa mát, vừa nồng thoảng qua trong bầu không khí tĩnh mịch. Hắn bỗng nhớ đến không khí tĩnh mịch của buổi trưa hôm được mẹ dẫn vào nhập trại. Không gian êm ả. Tiếng sóng vỗ róc rách. Mùi tanh nồng tỏa trong gió mát. Và bàn tay run rẩy, yếu đuối của mẹ trong tay hắn. Tất cả vụt bừng dậy mãnh liệt khiến Thiện thấy rõ việc của mình sẽ phải làm. Hắn quyết định thật nhanh, như nếu chỉ chậm lại một chút là sẽ đổi ý. Mầu khói xanh lơ vẫn chập chờn cám dỗ hắn ở đâu đó trong ý nghĩ.

Thiện chọn ngay thằng bị thương ở chân không biết từ lúc nào, đã được ghép vào hàng ngũ đi bên cạnh hắn. Bây giờ chân hắn được băng bó cẩn thận hơn. Mầu bông băng sáng lên theo nhịp chân đi khập khiễng của nó. Thiện chép miệng nói:

– Mẹ kiếp, chân có ròi như thế, tối nay tránh xa tao ra đó, nghe con!

Thằng đau chân đang đi lặng lẽ bỗng choàng dậy như một con thú vừa bị chọc giận lúc đang ngủ. Nó quay ngay sang nhìn Thiện, cặp mắt bốc lửa. Thiện nhìn nó, mỉm cười ngạo nghễ rồi bồi thêm một câu nữa điếng người:

– Đồ hôi thối, nghe rõ tao nói không?

Thiện chẳng cần khiêu khích thêm và chờ đợi lâu hơn nữa. Thằng đau ở chân đã dùng tất cả sức lực của nó đề đánh vào mặt Thiện một quả đấm dữ dội. Tuy nhiên, cẳng chân đau làm nó mất đi rất nhiều sự nhặm lẹ. Thiện tránh thoát được quả đấm dễ dàng. Hắn liền xô tới, nhè ngay bên cẳng đau của địch thủ mà khều một cái nhẹ. Lập tức cái thân bồ tượng của gã ta ngã bổ nhoài ngay xuống sân cỏ. Nó gầm lên như một con thú dữ. Thiện cũng cất mồm la lối theo. Hàng ngũ của cả bọn bỗng náo loạn hẳn lên. Lập tức cả một đoàn sáu bẩy viên giám thị cùng ùa tới. Tiếng roi mây quật vun vút. Thiện thấy rát phỏng ở lưng như vừa bị dội lên những dòng nước sôi. Rồi hai bên cánh tay của hắn bị ghì cứng lại bởi hai viên giám thị lực lưỡng.

Họ lôi hắn ra khỏi đám đông. Hắn cố ngoái đầu về phía thằng đau chân chửi bới thêm nữa, chửi thật to như cố ý để cho đồng bọn, lũ đàn em của anh Tư nghe thấy. Nếu coi như sự việc vừa xẩy ra là một màn kịch thì Thiện đã sắm vai trò của mình thật là tuyệt diệu. Hắn sẽ bị cô lập ở một phòng riêng. Hắn sẽ bị khám xét. Người ta sẽ phanh phui ở lưng quần của hắn có một lưỡi cưa và mấy điếu thuốc. Hắn sẽ bị trừng trị nặng nề. Nhưng để đánh đổi sự chịu đựng ấy, hắn sẽ thoát được khỏi vòng kiềm tỏa của bọn anh Tư. Bất quá, bọn chúng chỉ coi như hắn vụng về mà làm hỏng việc chứ không bị liệt vào hạng phản bội hay cứng đầu không chịu tuân phục. Hình phạt của bọn chúng hẳn sẽ ghê gớm hơn nhiều. Trong bóng tối, Thiện khẽ nhếch một nụ cười mãn nguyện. Hắn nghĩ đến mẹ và em gái. Hắn thấy như mình đang lớn lên, lòng tràn ngập niềm kiêu hãnh, một cảm giác mà từ bao nhiêu năm nay, bây giờ hắn mới tìm thấy…

NHẬT TIẾN
Saigon ngày 24-1-1973

Cô Giáo Xóm Nhỏ. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

8E2069FA-F982-4873-9142-55886448A59D

– Ê! Tụi bay có im đi không nào. Nghe tao nói đây.
Tiếng ồn ào như chợ vỡ chợt lắng đi, nhưng tiếng khóc lè nhè ở một vài chỗ thì vẫn còn. Lần này tiếng bà Hiệu trưởng trở nên gay gắt hơn:
– Chết đòn bây giờ. Đứa nào có em sao không dỗ cho nó nín đi.
Rồi dường như cảm thấy sự đòi hỏi cả lớp phải im lặng đến đó là mức tối đa, bà đổi giọng:
– Hôm nay các em có cô giáo mới. Cô giáo cũ bận công chuyện, không tiếp tục được. Vậy phải ngoan mà học, cô giáo đây hiền lắm, nhưng chỉ hiền với đứa ngoan. Đứa nào hư sẽ chết đòn. Nghe rõ không?
Hơn năm chục cái miệng cùng la lên:
– Nghe!
Bà Hiệu trưởng gật đầu hài lòng, rồi bà đảo mắt một lần để quan sát toàn thể lớp học. Bỗng ngón tay của bà chỉ về phía góc trong cùng và nói lớn:
– Ai cho tụi bay ngồi lộn xộn thế kia! Thằng On lớp Ba ngồi ở đâu? Thằng Tư, thằng Thịnh lớp Tư ngồi ở đâu? Con Sương học Mẫu giáo sao mày leo tới đó mà ngồi! Cha! Tụi bay hết đường rồi đó!…
Lớp học lại nháo lên như ong vỡ tổ. Những đứa ngồi lộn xộn vội vã di chuyển để về chỗ của mình. Vài đứa leo qua mặt bàn. Vài đứa khác đi chênh vênh trên ghế. Có đứa đã chen lại phải bế một thằng nhỏ hầu như chỉ mới vừa cai sữa, làm nó quai mồm khóc ré lên. Ở góc này có hai đứa giằng nhau tấm giẻ lau bảng. Ở góc kia mấy đứa khác đang chơi trò búng dây thung trên mặt bàn. Ngay sát vách tường ba bốn đứa tay vẫn còn ôm khư khư cái cặp ở nách chưa thèm giở ra, vì trên tay chúng nó còn nguyên khúc bánh mì hay nắm xôi, mồm miệng nhai nhồm nhoàm.
Thì ra đây là một trường học! Ngôi trường nằm ngay giữa một xóm lao động đông đúc, nghèo nàn. Cả trường chỉ vỏn vẹn có một căn buồng dài rộng mỗi bề hơn bốn thước, nền đất, vách ván thùng, mái lợp tôn thấp lụp sụp.
“Trường” có ba dẫy bàn, qui tụ một lúc đủ các trình độ, đủ các loại tuổi: vài đứa Mẫu giáo, vài đứa lớp Năm, non chục đứa lớp Tư, chục đứa lớp Ba, kèm thêm dăm bẩy đứa chưa đến tuổi đi học, nhưng cũng được gửi đại vô ngồi lê la chửng giỡn, bởi như thế còn hơn là khóa cửa nhốt nó một mình ở nhà trong thời gian bố mẹ đi làm suốt buổi.
Trường ở ngay bên lề một lối đi hẹp, trên mặt đường đi la liệt những hàng quà buổi sáng: mẹt xôi, gánh bún, thúng bánh mì, có cả quầy kính quay xổ số ăn những túi đựng khô bò hay đậu phụng chiên nữa. Đây là nơi tập trung của các hàng quà bánh, vì thế buổi sáng rất ồn ào. Còn ồn ào hơn cả lớp học cách nhau chỉ bằng một cái vách đóng bằng ván thùng. Trong khi đám người lớn ở bên ngoài cũng trò chuyện, cười đùa, chửi bới, khích bác nhau, hò hét như họp chợ thì Cô giáo dù tận tâm đến mấy cũng không có cách gì cai quản lớp học cho xuể. Cho bài lớp Ba làm thì lớp Tư ngồi nghịch. Gò được bọn lớp Tư vào kỷ luật chép tập trên bảng thì lớp Năm, lớp Mẫu giáo còn đó, làm sao bắt chúng ngồi được yên. Thế cho nên người dạy ở đây phải lì, có thể ngồi đan đôi vớ trong khi chúng nó hò hét, hoặc khảo bài cho một đứa mà bất cần những đứa khác đang làm gì.
Cô giáo cũ vì có bệnh đau tim nên không thể kham nổi quá một tháng rưỡi.
Bây giờ là Thúy thay thế. Thúy nhận lời thay thế là do sự giới thiệu của chú Phong!
* * *
Bà Hiệu Trưởng hò hét một lát rồi rút lui, sau khi hất hàm ra hiệu cho Thúy bắt đầu làm nhiệm vụ. Thúy nhìn theo bà ta với cảm giác như mình vừa bị tuyên án khổ sai và sắp sửa bắt đầu phải thọ hình. Mới chỉ vô đây không đầy năm phút mà lưng áo của bà ta đã ướt đẫm mồ hôi, thì không biết giam hãm ở đây một ngày hai buổi, Thúy sẽ có thể chịu đựng được bao nhiêu ngày. Mơ hồ, Thúy như thấy bao nhiêu mộng đẹp do mình xây đắp hồi đêm trước đang thi nhau sụp đổ. Khi nghe chú Phong nói sẽ giới thiệu cho mình một chân làm cô giáo, Thúy đã mường tượng đến ngay một ngôi trường xinh xắn có nhà gạch, mái đỏ, bốn bề có sân rộng, có tàn lá che rợp sân, đầy bóng mát, lớp học khang trang, có cửa kính, cửa chớp, nhìn qua bên kia bờ tường là những giàn hoa leo rực rỡ. Đó là quang cảnh ngôi trường mà Thúy đã in sâu vào tâm trí từ hồi nhỏ còn đi học, phải học thuộc lòng bài “Trường tôi”.
Ngôi trường xinh đẹp đã không đến với Thúy như Thúy đã ấp ủ từ bao nhiêu năm. Bây giờ nó là đây, một căn phòng tồi tàn, chật chội, một lũ học trò nghèo khó, rách rưới, bẩn thỉu và nghịch như giặc. Nó không phải trường, cũng chẳng ra lớp học, nó là một tập thể hổ lốn, tạp nhạp, và tất nhiên chẳng còn cái ý nghĩa gì của danh từ giáo dục.
Nghĩ đến chú Phong, Thúy cảm thấy vừa tức lại vừa tủi. Chú nói chú quí mình, mà thật ra chú coi thường mình hết sức. Nếu chú chịu khó hơn một chút, có thể chú sẽ thừa sức tìm cho mình một chỗ dạy khá hơn, ít ra thì cũng là một lớp học đúng nghĩa. Ít ra thì cũng có thể biết mình phải dạy chương trình nào, soạn bài nào, giảng bài nào, và bọn học trò có dốt lắm cũng chẳng đến nỗi chênh lệch quá đáng như ở đây. Vào đến đây, trong lớp học giữa đám con nít hỗn loạn này, Thúy có cảm tưởng như mình bị ném vào một cơn lốc khủng khiếp, tối tăm mặt mày và không biết đằng nào mà định hướng hết cả. Thúy muốn cất tiếng nói, nhưng cảm thấy ngay giọng của mình quá yếu ớt so với tiếng cãi cọ của người lớn bên ngoài và tiếng ồn ào ở bên trong. Ở góc này, mấy thằng nhóc vẫn búng dây thung trên mặt bàn, ở góc kia thêm một đứa nữa khóc còn to hơn vì bị một đứa nào đó lấy mất cây bút chì hay bút mực gì đó, còn ở sát vách thì đứa ngồi xổm ăn bánh mì, đứa ngồi xổm ăn xôi vẫn tiếp tục nhai, chiếc cặp sách còn y nguyên ở trong lòng, chưa được mở ra. Tự nhiên Thúy muốn bật lên tiếng khóc, muốn gào tên chú Phong thật to, muốn có chú ở ngay trước mặt để hét vào tai chú “Cháu ghét chú! Cháu ghét chú!”.
Nhưng rồi Thúy cố nén được lòng mình để đàn áp cơn xúc động. Những giọt nước mắt ngưng lại trên bờ mi, chỉ vừa đủ để Thúy cảm thấy hơi cay cay ở mắt. Thúy nén lồng ngực để thở một hơi dài. Rồi Thúy tiến lại cái bàn ọp ẹp kê sát vào vách tường là bàn dành riêng cho cô giáo. Lúc ngồi yên vị, Thúy ngẩng mặt lên nhìn. Mái tôn không cách đầu Thúy bao xa. Hơi nóng hầm hập bắt đầu phà xuống. Thúy cảm thấy mồ hôi đang rịn ra từ khắp các chân tóc. Thúy mở thử chiếc ngăn kéo ra xem. Bên trong có vài hòn phấn, dăm ba cái quản bút gẫy, một đống vỏ đậu phọng luộc, và một hòn đá xanh, nhẵn bóng. Thúy cau mày moi óc để suy nghĩ về công dụng của hòn đá ở trong chiếc ngăn kéo xộc xệch này. Và Thúy mỉm cười tìm thấy lời giải đáp không khó khăn gì. Thúy lôi nó ra, đem gõ lên mặt bàn. Tiếng động chát chúa làm tiếng ồn ào hỗn loạn bỗng vơi hẳn đi. Nắm được giây phút lợi thế đó, Thúy mới bắt đầu cất tiếng nói:
– Bây giờ tất cả các em yên lặng nghe cô hỏi nhé. Các em có biết hát không?
Nghe thấy vấn đề hát hỏng thú vị, cả bọn có vẻ chú ý hơn. Một vài đứa nhao nhao:
– Hát bài gì cô?
– Cô hát trước, tụi em hát sau.
– Phải đấy, cô hát trước!…
– Cô hát trước !…
Thúy như thấy lòng nhẹ đi một phần nào nỗi ưu tư, bực dọc. Nụ cười hồn nhiên làm khuôn mặt của Thúy rạng rỡ hơn. Thúy nói:
– Được rồi! Cô hát trước! Nhưng tất cả phải im lặng. Hoàn toàn im lặng!..
Lớp học bỗng chìm hẳn đi. Mấy đứa đang nói vội ngừng lại. Mấy đứa đang cựa quậy vội ngồi ngay ngắn lại. Bọn ăn sáng ở sát vách tường cũng ngừng nhai. Chúng giương cặp mắt thật to lên nhìn Thúy. Thúy chợt thoáng thấy một cảm giác hồi hộp như mình đang sắp sửa ra trình diễn trước khán giả, mặc dầu đây chỉ là một lớp khán giả tí hon, chưa đứa nào vượt quá tuổi lên mười. Thúy nhìn một lượt khắp lớp học một lần nữa rồi cất tiếng hát:
– Kìa đàn vịt bơi dưới ao hồ, thằng bờm xờm vác que đuổi đánh…
Bài hát quen thuộc với lũ trẻ làm cả bọn không ai bảo ai cất tiếng hát theo:
– A… a… a… nó kêu quác quạc, quác quạc. Chạy xơ xác tan đàn…
Bài hát ngắn ngủi chấm dứt bằng một tiếng reo hò. Thoảng qua tai, Thúy nghe thấy một vài đứa la “Quê! Bài hát cũ rích à ơi!…”. Quả nhiên khi tiếng hò chấm dứt, một đứa nói to:
– Cô phải hát bài khác. Bài nào tụi em chưa biết hát thì tụi em mới chịu.
Thúy chăm chú nhìn nó. Nó trạc lên bẩy. Đầu trọc, trán dô, mắt xếch, vẻ mặt ngỗ ngược, nước da đen đúa, thân hình còm cõi. Nó mang đầy vẻ một con nhà bị thả rông, ít được chăm sóc. Thúy chỉ về phía nó và hỏi:
– Em tên là gì?
Thằng nhỏ rụt rè đứng dậy, trả lời một cách ngượng nghịu:
– Dạ tên Tư!
– Gì Tư?
– Dạ, Tư là Tư, không có gì Tư hết.
– Ồ, phải có họ chứ. Nguyễn Văn Tư, Trần Văn Tư hay Lê Văn Tư chẳng hạn.

Một đứa khác nhanh nhẩu đáp theo:
– Thưa cô, nó là Huỳnh Văn Tư!
Thúy nhắc lại:
– Huỳnh văn Tư phải không?
Thằng bé gật đầu. Thúy hỏi tiếp :
– Em muốn cô hát bài gì? Bài Làng Tôi nhé.
Thằng bé có vẻ cảm động. Nó không ngờ lời yêu sách của nó lại được đáp ứng một cách dễ dàng như vậy. Nó lại gật đầu một cách bẽn lẽn. Trong khi ấy Thúy đã cất tiếng hát:
– Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lờ lững vờn quanh…
Tiếng hát của Thúy vừa bay bổng lên cao thì một đám thanh niên ở phía ngoài đã chồm lên vách ván vừa đập thình thịch lên mặt gỗ vừa la:
– Hay! Hay!…
– Ca sĩ hay ác!…
Mặt Thúy đỏ bừng, Thúy nhìn ra phía ngoài. Trước mặt Thúy là cả chục con mắt nhìn Thúy hau háu như muốn ăn sống nuốt tươi. Thúy vừa mắc cỡ, vừa tức ứ lên tận cổ, chỉ thiếu chút nữa thì nước mắt lại trào ra. Lần này Thúy có cảm giác như vừa bị dội vào một bức tường đá mà Thúy thấy khó có thể vượt qua, nhất là đối với đám thanh niên du đãng, ít học ở khu xóm hỗn độn này.
Thúy lại nghĩ đến chú Phong và cơn oán giận chú lại nổi lên dữ dội. Tai sao chú lại đẩy Thúy đến cái chốn cơ cực này. Chú phải biết Thúy đâu có chết đói. Thúy cũng chẳng tha thiết gì đến đồng lương ít ỏi mà bà Hiệu trưởng đã so kè, bắt Thúy phải dạy đủ ba tháng tập sự mới trả cho bằng cô giáo cũ. Thúy tự nhủ hôm nay đã chót vô đây rồi ta sẽ ở lại cho đến hết giờ. Nhưng ngày mai đừng hòng cho ta quay trở lại. Ta khinh bỉ những nhân vật ở đây, thù ghét bầu không khí xa lạ này. Ta sẽ chỉ coi như vừa sống qua một cơn ác mộng. Tìm được giải pháp đào nhiệm ấy rồi, Thúy thấy lòng thanh thản hơn. Thúy ngưng hát và quay về phía bọn trẻ con và nói:
– Thôi để ngày mai hát tiếp. Bây giờ chúng ta tiếp tục học đi nhé.

Lệnh của Thúy vừa ban ra, thì ba bốn đứa đã xô ghế, thi nhau ùa đến chỗ bàn Thúy ngồi. Chỉ trong một chốc, chúng đã bu đen kín lấy Thúy, làm Thúy không thấy gì hơn là những mái đầu bẩn thỉu, chốc lở đưa thoảng qua mũi Thúy một mùi tanh tưởi chen lẫn mùi mồ hôi chua nồng. Thúy lại phải đập hòn đá lên mặt bàn lia lịa để trấn áp làn sóng hỗn độn cứ mỗi lúc mỗi lúc một gia tăng. Lại phải một thời gian lâu, Thúy mới bắt được chúng nó trở về yên vị. Lần này Thúy bảo những đứa cùng một lớp phải giơ tay lên cho Thúy kiểm soát và phân biệt được đâu là ranh giới của lớp Ba, đâu là ranh giới của lớp Tư cũng như lớp Năm và lớp Mẫu giáo. Tuy vậy sự phân chia này cũng chỉ là tương đối. Bởi vì có những đứa nhỏ nhất định không rời anh hay chị của nó. Cho nên có nhiều bàn thằng lớp Tư ngồi cạnh con em học Mẫu giáo. Đứa lớp Ba ngồi chung với đứa lớp Năm. Thúy cảm thấy mình điên cái đầu và không hiểu cô giáo cũ đã dùng phương pháp nào để có thể cai trị được cái đám hỗn độn này đến hơn một tháng. Cuối cùng Thúy lấy phấn chia bảng ra làm bốn ô. Cái bảng thật nhỏ, bằng một tấm carton nhầu nát được sơn đen lên bằng những nét chổi cẩu thả. Ở ô thứ nhất, Thúy cho bọn học lớp Ba tập viết câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Một đứa hỏi:
– Ăn quả gì hở cô?
Vài đứa khác trả lời thay:
– Xoài!
– Dừa xiêm!…
– Im đi! Tụi bay tầm bậy, tầm bạ. Nói giỡn hoài cô đánh cho bây giờ.
Thúy nghe thấy hết, nhưng lờ đi. Ở ô thứ nhì, Thúy cho bọn lớp Tư làm hai bài tính cộng. Còn hai ô dưới Thúy vẽ hình cái nhà bằng những nét thẳng và nét gẫy rồi bắt bọn lớp Năm cũng như lớp Mẫu giáo phải vẽ theo y hệt như vậy.
– Vẽ cho đúng, cho sạch rồi cô sẽ chấm điểm. Đứa vẽ đẹp nhất được 10 điểm nghe không.
Lớp học nhờ thế bớt hỗn loạn đi. Nhưng Thúy thấy mình rõ ràng là vừa sử dụng một phương pháp dối trá và trốn trách nhiệm. Thúy tự hiểu rằng dạy đến nơi đến chốn thì không thể nào làm như thế. Đây chỉ là một cách giết thì giờ cho qua buổi và chế ngự một phần nào sự hỗn loạn của đám trẻ gồm đủ mọi thành phần. Niềm kiêu hãnh, tự tin của một cô giáo mà Thúy nuôi dưỡng từ bao lâu bây giờ hoàn toàn sụp đổ. Thúy thấy rõ lúc này mình chỉ là một vú em có bổn phận trông nom đám con nít này trong khi bố mẹ chúng nó vắng nhà. Làm gì cũng được, miễn là cho qua thì giờ. Dạy thêm được vài ba chữ càng hay, mà không thì cũng chẳng có ai trách móc, la rầy. Có lẽ cô giáo lúc trước cũng đã nhìn ra được vấn đề như vậy, và chắc bí quyết của cô khi phụ trách lớp học này là phải bịt mắt để khỏi nhìn cái cảnh nháo nhào, cũng bịt luôn cả tai để không cần nghe bất cứ một lời ồn ào của lũ trẻ con trong này, cũng như người lớn ngoài kia.
Nhưng đối với Thúy thì sự việc không có giản dị như vậy. Thúy nhìn thấy trước mắt Thúy là cả một đám mầm non. Thúy cảm thấy như các mầm non này đang trông cậy vào bàn tay vun tưới của Thúy. Vầng trán cao này, cặp mắt sáng long lanh kia, khuôn mặt bụ bẫm, ngây thơ, hồn nhiên đó, tất cả đều được giao phó cho Thúy ở những bước đầu chập chững trên đường học vấn. Thúy không thể tàn phá tương lai chúng nó bằng phương pháp giảng dạy là chỉ đi tìm mọi cách để hoãn binh sự nghịch ngợm nô đùa của lũ trẻ. Đứa bé cắp sách đến đây từ lúc tám giờ, cặp sách vẫn còn y nguyên đó chưa được mở ra, nó vẫn ngồi xổm ở bên cạnh vách và miệng vẫn nhồm nhoàm gậm nhấm từng hạt đậu phụng lẫn giữa đám xôi óng ả và thơm phức mùi hành mỡ. Thế mà nó đã đi học. Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác và cả năm này qua năm khác. Thúy không muốn nhận lãnh trách nhiệm đã giam hãm sự học hành của nó vào cai khung cảnh hỗn độn này. Thúy cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Thúy muốn chạy bay về nhà úp đầu vào tường mà khóc lên rưng rức. Thực tế đối với Thúy đã quá phũ phàng. Chú Phong đối với Thúy đã quá tàn tệ. Cháu oán chú. Càng lúc cháu càng oán chú. Chú nói thì rất hay, nhưng chú làm thì thật là dở ẹt. Việc làm mà chú giới thiệu cho cháu đây là một minh chứng hùng hồn và cụ thể.
Thúy như nhược thêm người ra. Phải cố gắng lắm Thúy mới lê được lại phía bàn và ngồi phịch xuống. Mái tôn trên đầu như đã xuống thấp hơn. Mặt trời lên cao làm cơn nóng mỗi lúc một gia tăng dữ dội. Chiếc áo dài của Thúy đã ướt đẫm mồ hôi. Thúy nhìn đồng hồ. Hãy còn quá sớm để rung chuông loan báo đã tan học. Ở lớp Năm đã có mấy đứa đòi góp hình vẽ cái nhà. Thúy hoảng sợ bầu không khí ồn ào lúc trước lại sắp sửa trở lại nên vội vàng điểm thêm vài nét nữa cho kéo dài thêm thì giờ ra. Có nhà thì phải có sân. Đây là cái sân lát gạch đàng hoàng. Phía trước là cổng ra vào. Phía sau là hàng rào. Chung quanh có cây cối. Thúy vừa giảng vừa vẽ lia lịa. Mấy đứa ở lớp Tư thích quá, bỏ luôn làm tính cộng, xé giấy soàn soạt để ngồi vẽ cái nhà. Chúng đòi nhau gôm, đòi nhau thước, bút và cãi nhau ỏm tỏi. Thằng nhỏ này cái trán khá thông minh, không biết sau này nó sẽ làm gì và nó làm thế nào để phát triển được trí thông minh của nó. Con bé kia có đôi mắt thật đen, khuôn mặt thật bầu bĩnh, dễ thương. Nó sẽ khá, nhưng Thúy không biết sẽ khá bằng cách nào? Đột nhiên Thúy nghĩ đến những đứa em của mình. Chúng nó đồng một lứa tuổi. Tâm hồn trong sáng và hồn nhiên như nhau. Nhưng chắc chắn các em của Thúy không thể bị dồn vào những cái “lò sát sinh” theo kiểu như những lớp học tương tự lớp học này. Bỗng nhiên lòng Thúy nhen nhúm một cảm giác hổ thẹn về tính ích kỷ của mình. Giữa các em Thúy và bọn trẻ này có điều gì khác nhau đâu. Chúng nó cũng có quyền được lớn lên và làm người theo đúng ý nghĩa cao quý ấy. Bàn tay của Thúy nhỏ bé, hẳn nhiên không thể che được mặt trời. Vậy ít ra Thúy cũng không thể tiếp tay cho những tên lái buôn giáo dục như bà Hiệu trưởng mà Thúy mới chỉ gặp mặt cách đây không quá một giờ với một loạt ý nghĩ rằng ta sẽ nghỉ, ta sẽ tránh thật xa cái xã hội kỳ quặc này. Rồi sẽ không nhờ đến chú Phong nữa. Ta sẽ tự lực đi tìm ra một ngôi trường lý tưởng ở trong có một lớp học lý tưởng và một đám học trò lý tưởng cho đúng với lý tưởng mà ta hằng mong thực hiện. Thúy lan man suy nghĩ và quên bẵng hẳn đi tiếng ồn ào trước mặt. Hình như vài đứa ở ở góc tay mặt vẫn đang nằm bò xoài trên mặt bàn búng dây thung. Hai đứa nhỏ ngồi mé sát vách vẫn chưa ăn hết gói xôi và khúc bánh mì của chúng. Bây giờ Thúy mới nhận ra rằng các chỗ ngồi trong lớp đã chật cứng. Chúng nó không còn cách nào khác hơn là ngồi xổm, tựa lưng vào vách gỗ. Kìa con bé thật dễ thương. Da nó trắng nhưng cổ đầy ghét bẩn. Khuôn mặt nhếch nhác mũi và rãi. Nếu chú ý nhìn thật kỹ, Thúy thấy nó như một viên ngọc quí còn nằm vùi trong cát sỏi. Ai sẽ làm công việc của người thợ rũa? Chính là kẻ đang ngồi trên bàn này. Ít ra là trên lý thuyết. Còn trong thực tế thì chắc gì viên ngọc đã được lôi ra ngoài ánh sáng. Có bao nhiêu viên ngọc tương tự chưa được lôi ra ngoài ánh sáng.
Thúy khẽ rùng mình khi thấy mình chợt đối diện với một tương lai đen tối khủng khiếp, không chỉ riêng với em bé này, nhưng mà là của cả hàng trăm, hàng ngàn những đứa trẻ khác đang lớn lên và được trao phó vào những ngôi trường tương tự như thế này đã mọc lên đầy rẫy ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. Đã một lần chú Phong nói: “Xứ mình nghèo, lại triền miên trong chiến tranh. Thế cho nên làm hết bổn phận của mình chưa thể coi là đủ. Mỗi người nên cố gắng hơn một chút nữa, bởi chính những nỗ lực phụ trội này sẽ mau chóng đem được quê hương đau khổ này ra khỏi cảnh lầm than.” Ở một vài khía cạnh, Thúy thấy chú Phong tuy lý tưởng, nhưng có lý một phần nào. Cũng như câu nói của một danh nhân đã nhiều lần đi qua ý nghĩ của Thúy: “Các bạn trẻ, tương lai của xứ sở là ở trong tay các bạn đó”.
Tâm hồn của Thúy bỗng thoáng qua một cơn xúc động nhẹ nhàng. Thúy có cảm giác như giữa mình với em bé hồn nhiên này chợt nẩy ra một sự liên hệ tuy xa vời nhưng thấm thía. Có phải chăng đây là sự liên hệ của Thúy với một thế hệ mầm non vừa bắt đầu nẩy nở. Thúy nhìn nó một cách chăm chú hơn. Và con bé giương cặp mắt thật to lên nhìn lại. Ánh mắt trong vắt và sâu thăm thẳm. Thúy muốn bồng nó lên, lau thật sạch khuôn mặt nhếch nhác của nó và chắc chẳng hình ảnh nào đẹp cho bằng những giây phút Thúy cầm bàn tay xinh xắn kia của nó để tập tô lên trang giấy trắng ngần những nét chữ đầu tiên. Thúy bỗng quay lại nhìn tất cả đám học trò nhốn nháo trước mặt. Thúy so sánh nhiệm vụ chăn dắt đám trẻ thơ này với bất cứ nhiệm vụ nào khác mà Thúy ước ao. Chẳng hình ảnh nào khác làm Thúy hãnh diện hơn khi Thúy tưởng tượng ra lúc mình chu toàn công việc ở khung cảnh thiếu thốn chật chội này. “ Xứ mình nghèo, lại triền miên trong chiến tranh…” Vậy hãy bắt đầu từ mọi sự thiếu thốn, điều đó quả thực là đã mang một ý nghĩa sâu xa.
​Thúy lan man suy nghĩ và quên bẵng hẳn đi tiếng ồn ào ở trước mặt. Ngoài đường, lác đác đã thấy một vài người lớn đến đón vào giờ tan học. Thúy nhìn thấy một bà cụ già với nước da sù sì, nhăn nhúm, mái tóc bạc phơ, thân hình còm cõi, đôi vai gầy nhô lên sau lần áo mỏng rách vá tứ tung. Chỉ còn đôi mắt của bà cụ là thấy sáng lên một niềm vui, niềm hãnh diện có cháu đi học. Đứng cạnh bà cụ là một người đàn bà xanh rớt, vẻ mặt đầy nét cằn cỗi, lo âu, cặp mắt lờ đờ của sự thiếu ngủ thường xuyên. Thỉnh thoảng bà ta lại nghển đầu nhìn vào lớp học để dò tìm đứa con yêu dấu của mình. Chắc bà ta hài lòng khi thấy nó cũng sinh họat như ai trong cả tập thể này. Chắc đầu óc bà ta xây dựng biết biết bao nhiêu mộng đẹp. Con sẽ học hành chăm chỉ. Con sẽ lớn lên vẻ vang. Con sẽ mang má ra khỏi đời sống tối tăm khổ cực này. Nguồn hy vọng tràn ngập làm tươi thêm đôi môi đượm chút cuộc đời héo úa, quanh năm không thấy nhếch lên một nụ cười.
Rồi số người đến đón mỗi lúc một đông hơn. Họ đứng xúm xít ở ngay cửa ra vào. Người nào cũng cố chen vào để được nhìn thấy con mình, cháu mình đang thực sự hòa mình vào đời sống tập thể. Mỗi người đều nhen nhúm lên một nguồn hy vọng vô biên. Con bé ăn nắm xôi ở sát tường bây giờ đã ăn xong nắm xôi của nó. Cái cặp sách vẫn chưa được mở ra. Nhưng nó nhẩy quẩng lên gọi “Má ơi, Má ơi” bằng một giọng to nhất. Một người đàn bà xồ xề cố chen vào, giơ tay vẫy và nhoẻn với nó một nụ cười. Ánh mắt của bà ta đầy trìu mến. Bà ngắm cái cặp trên vai nó một cách hãnh diện. Ôi, cái cặp đã chưa được mở ra, và cả một buổi sáng trong tuổi ấu thơ của nó đã qua đi với chỉ một nắm xôi nhôi nhai ở trong miệng. Ai hay được điều đó, ngoại trừ Thúy. Thúy tự hỏi trong những giờ của cô giáo cũ trước đây, đã có bao nhiêu buổi sáng tuổi ấu thơ của nó vẫn chỉ qua đi không ngoài một gói xôi sáng, và đã có bao nhiêu lần vẻ mặt của người đàn bà kia bừng lên một tia hy vọng sáng ngời, vành môi héo úa kia nhoẻn lên một nụ cười trìu mến, kiêu hãnh.
Lúc đúng giờ tan học, Thúy giơ tay cho học trò ra về. Thúy đi giữa những tiếng động ồn ào. Bọn trẻ chúi đầu qua chân của Thúy để lẩn đi như những con chuột. Chúng nó chạy huỳnh huỵch trên con đường đất gồ ghề, hai bên có rãnh, cống đen sì chảy róc rách. Nếu nhắm mắt lại để khỏi trông thấy cảnh nghèo khó chung quanh, thì tai Thúy chỉ còn nghe thấy muôn ngàn tiếng cười của giọng trẻ hồn nhiên và thơ ngây. Những giọng trong trẻo biểu lộ cả một thế hệ mầm non đang bắt đầu nhô lên giữa lòng cuộc đời. Vậy chúng nó có gì khác đâu so với những đứa trẻ cùng lứa mà Thúy mường tượng qua ý nghĩ về ngôi trường lý tưởng của mình. Dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, thì chúng nó cũng chỉ là một. Một thế hệ của tổ quốc, một tương lai của đất nước, một nguồn hy vọng của quê hương. Thúy chợt nghĩ đến nỗi gian nan trong những công cuộc khai sơn, phá thạch của cha ông vẫn được mô tả trong sách vở. Hãy nối gót cha ông, thầy cô giáo của Thúy hồi mấy năm trước vẫn nhắc nhở như thế.
Vậy thì riêng với Thúy, nơi bắt tay khởi sự “nối gót cha ông ” là ở đây rồi. Thúy sẽ vất vả, Thúy sẽ tủi cực, nhưng chắc chắn Thúy sẽ được bao dung bằng những nụ cười hy vọng như nụ cười của bà cụ già với mái tóc bạc phơ, ánh mắt trìu mến, hy vọng chứa chan, hay của người đàn bà gầy còm với vành môi héo hắt, chỉ trông vào sự lớn lên của con mình làm nguồn vui bất tận.
Dưới ánh nắng chói chang, lũ trẻ ùa đi như đàn ong vỡ tổ. Khung cảnh của giờ tan trường không giống bất cứ một cảnh tan trường nào đã được tả trong sách vở. Bởi quê hương mình nghèo. Bởi đất nước mình triền miên trong ba mươi năm khói lửa. Hãy bằng lòng với hiện tại và khởi sự từ những gì mình đang có. Chính vì lẽ đó, ta còn đáng kiêu hãnh hơn người. Những ý nghĩ đã làm cho Thúy cảm thấy mình như đang lớn lên. Thúy đứng lại nhìn đám đông quanh Thúy tản mác dần. Bên tai Thúy tiếng nước róc rách chảy vang lên từ hai bên cống rãnh đen sì. Những mái nhà tôn thấp chói lòa ánh sáng. Hình ảnh lớp học chật hẹp hiện ra với đám học trò chen nhau hỗn loạn. Bàn tay của Thúy tuy bé nhỏ nhưng thừa sức nắm chặt và lôi đi những bàn tay xinh xắn và bé nhỏ hơn. Lớp học này phải tiến bộ để tránh xa hố thẳm chôn vùi những viên ngọc quí của đất nước.

Chú Phong
Bây giờ thì cháu hiểu chú rồi. Chú có thể xếp cho cháu một chỗ dạy học tốt đẹp hơn, nhưng cháu lại thấy không nơi nào cần cháu bằng lớp học nghèo nàn mà cháu đã nhận từ sáng hôm nay. Có thể nhiều người sẽ cho sự lựa chọn của cháu là kỳ quặc. Nhưng có như thế mới đúng nghĩa là sự lựa chọn của tuổi trẻ. Và chỉ có thế cháu mới xứng đáng là cháu của chú, phải không chú nhỉ.

NHẬT TIẾN
(1970)

Đôi Guốc Trắng. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)

Tôi đứng trên vệ đê nhìn xuống. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng trên những tầu lá. Vào buổi trưa, bốn bề êm ả quá. Chỉ có tiếng gió rì rào, tiếng chim chiêm chiếp và mơ-hồ có tiếng một nhà máy ở xa xa vẳng lại.

Qua những gốc chuối, bên kia là mặt sông. Nước xanh ngắt. Sóng nước nhòe trong ánh nắng loang-loáng như bạc.Tôi đi xuống dưới ấy. Lối cát trong vườn chuối phẳng lì. Hơi đất phù sa từ mé sông đưa lên âm ẩm. Quanh tôi đầy bóng mát; ánh nắng nghiêng nghiêng trên những tầu lá xanh và mỏng. Những bẹ chuối đang nở hoa.

Có vết chân ai đi trên lối cát. Tôi nhìn ra bờ sông. Bốn bề vắng lặng. Vết đi in sâu xuống thành một hố xinh xinh. Những vết guốc gót nhỏ với bàn chân thon. Tôi lại chăm chú nhìn ra bờ sông. Nắng nhấp nháy chói mắt. Không có ai ở ngoài ấy cả.

Vết guốc quanh co trong vườn chuối. Tôi nghĩ đến một thiếu nữ có mái tóc đen dài, có cặp môi mộng đỏ. Lần theo vết guốc ấy, tôi tưởng tượng đến một cuộc đi chơi của hai người trong bóng mát.

Vết guốc mất dấu ở ven sông. Cát ở đây đẫm nước nên mịn hẳn. Sóng giạt lên bờ rồi rút ra xa. Mấy lớp bọt vàng bị bỏ rơi lại, sùi lên rồi ngấm xuống.

Tôi nhìn vào những lùm cây chìa ra mặt nước. Mấy quả sung chín rơi lõm bõm. Và có một đôi guốc. Đôi guốc trắng nằm ở ven sông, lấm-tấm đất phù sa đỏ.

Tự nhiên tôi hồi hộp. Ở đây không phải có một mình tôi. Có hai người. Tôi và một thiếu nữ đang tắm ở sau bụi cây sung; tôi nhìn về phía ấy, và tưởng tượng sau bụi cây phải là một tà áo trắng mắc vào cành, gió đưa phơ phất. Tôi không nghĩ đến một mảnh quần lụa vo tròn trên bờ cỏ, nhưng nghĩ đến một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng, một thân hình óng ả đang đắm mình dưới làn nước veo. Có tiếng chim hót gần đây. Tôi ước gì mình được là con chim.

Ngoài mặt sông, sóng vẫn nhấp nhô rồi giạt lên bờ cát. Trời xanh lơ lơ. Khúc sông lấp loáng ánh nắng, lượn mình quanh những lùm cỏ, bụi cây. Bờ bên kia là ruộng mía. Đằng sau tôi là lối cát đi trong vườn chuối. Lối cát in những vết guốc lốm đốm chạy vòng lên chân đê.

Ở đây không có mình tôi. Có hai người. Hai đứa. Tôi mỉm cười, trầm ngâm.

Nhưng rồi tôi cũng phải ngược lại lối cũ. Bịn rịn đấy, nhưng cũng đành. Nếu không tôi sẽ xấu hổ với những con chim đang hót ở bờ sông.

Tôi bỏ lại phía sau đôi guốc trắng. Đôi guốc trắng nằm trên lòng cát mịn, có lấm tấm đất phù sa đỏ. Giá mang về được một chiếc để sau này khi quen nhau, lấy nhau rồi hai đứa cùng giở ra xem. Yêu biết mấy.

Và rồi tôi lại đứng trên vệ đê nhìn xuống dưới ấy. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng qua những tầu lá. Có những con chim đang chuyền cành. Có một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng và có một đôi guốc trắng nằm ở bờ sông.

Đôi guốc mà chẳng bao giờ còn có người đi.

Vì sáng hôm sau… có tin một thiếu nữ trầm mình ở chỗ ấy.

Nhật Tiến
(Văn Hóa Ngày Nay-Tập 2-Tháng 7-1958)

80E1E28D-8F83-4F9A-B343-DB51C4698B0C

Chặng Đường Cuối. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Chân dung nhà văn Nhật Tiến)

Một thời như thế…..

Cả hai người đều ăn mặc quần áo bộ đội. Một anh trẻ tuổi và một gã trung niên. Anh trẻ tuổi, mới chạc khoảng ngoài hai mươi, đầu hớt ngắn, chải gọn ghẽ, quần áo phẳng phiu, mầu nhuộm của vải kaki còn nguyên vẹn nước hồ mới. Trên người anh chỉ có ngôi sao quân hàm là cũ kỹ đã bong sơn, ngôi sao màu đỏ chói gắn ở hai bên trên ve cổ áo. Gã trung niên thì có vẻ xuề xòa hơn. Quần màu xanh đậm, áo mầu lá úa, cả hai đều đã bạc mầu. Gã không đeo một loại quân hàm nào cả nhưng cử chỉ lại đủng đỉnh, chững chạc hơn là cái anh trẻ trẻ kia nhiều. Ông chủ quán cà phê đang ngồi ngáp vặt bên chiếc tủ kính cũ kỹ đựng những bao thuốc lá bán lẻ, thấy hai người
bước vào vội vã đon đả:
– Chào Thiếu Tướng. Mời Thiếu Tướng vô uống cà phê.
Gã trung niên đột nhiên phá lên cười. Gã quay ngay sang người bạn đồng hành, giơ tay vỗ lên lưng anh ta nghe bồm bộp rồi nói:
– Sướng nhé! Thế là từ sáng, cậu được phong lên Tướng cả thẩy ba lần rồi.
Mặt ông chủ quán nghệt ra. Ông ta ngó một lúc cả hai người với một vẻ vừa bỡ ngỡ vừa sượng sùng. Gã trung niên lên tiếng giải thich:
– Quân hàm của chúng tôi không giống bọn ngụy quân, ngụy quyền đâu. Các đồng chí trong Quân Đội Nhân Dân ở cấp binh nhì mang một sao, binh nhất hai sao. Hạ sĩ quan thì vừa có sao vừa có vạch. Cấp sĩ quan thì chỉ có vạch mà thôi. Một vạch là Thiếu Úy, hai vạch là Trung Úy, ba vạch là Thượng Úy….
Ông Hưng, chủ quán làm bộ ngạc nhiên:
​-Ủa! Lại có cả chức Thượng Úy nữa cơ à.
Bây giờ thì tiếng anh binh nhì đeo ngôi sao đỏ lên tiếng giải thích:
​- Có chứ. Thượng rồi mới lên Đại. Thượng Úy rồi mới lên Đại Úy. Thượng Tá rồi mới lên Đại Tá.
Ông Hưng giả bộ lè lưỡi:
​-Thế thì leo lên được tới chức Đại Tá Quân đội Nhân dân cũng mệt lắm nhỉ!
Anh binh nhì quay sang nhìn gã trung niên rồi cất giọng nịnh khéo:
​- Sao lại không mệt! Chả nói xa xôi, nội cứ leo lên được tới quân hàm Đại úy của Thủ trưởng tôi đây thì chiến công phải đã nhớ không hết rồi.
Ông Hưng lại “à” lên một tiếng nữa rồi quay sang phía gã trung niên đổi giọng trịnh trọng:
-Thưa chào Đại Úy!
Mặt gã trung niên hơi thoáng một vẻ hài lòng. Gã chọn một cái ghế thấp sát vách, ngồi quay mặt ra phía ngoài để có thể dòm chừng luôn được cả hai cái xe đạp dựng ở ngay bên ngưỡng cửa ra vào. Có đủ loại đồ đạc lỉnh kỉnh cột chung quanh hai cái xe đó, nào khung xe, nào vành bánh, nào túi gói, nào tay nải. Đó là chưa kể hai cái ba lô to kềnh mà cả hai người đã ngả xuống dựa nó vô vách gỗ. Trong lúc lúi húi pha cà phê, ông Hưng có ý lắng nghe câu chuyện trao đổi giữa hai người:
– Kỳ này về mà đời sống không cải thiện, Thủ trưởng dời vào trong này đi.
– Để coi sao đã!
– Bên địa phương của Thủ Trưởng thế nào thì không biết, chứ ở nhiều nơi, bộ đội phục viên rồi chẳng được phân biệt đối xử gì hết.
Rồi vẫn cái giọng của anh trẻ trẻ:
-Thủ trưởng có nhớ Trung úy Lộc bên quân khu Bảy không? Giải ngũ hơn ba năm nay rồi bây giờ đứng bán quần áo cũ ở chợ trời. Dân buôn chui chính tông đấy.
Gã Đại úy thốt lên:
– Thằng ấy nhảm!
– Thì làm sao hơn được. Chiến công, thành tích đâu có liên hệ gì tới sản xuất. Muốn sản xuất thì phải có tay nghề. Đi lính mười năm, toàn bắn súng, tay nghề ở đâu ra?
– Thì cũng phải có công việc văn phòng dành cho các đồng chí ấy chứ. Trong lãnh vực điều hành, có thiếu gì cương vị chỉ cần có mỗi một bộ óc suy nghĩ, xếp đặt mọi công việc hợp lý theo khoa học kỹ thuật.
Tiếng anh lính trẻ cười rích lên:
– Những chỗ như thế mà còn chen được chân vào, em xin đi bằng đầu.​ ​- Chú đừng lo! Đất nước mình đã hòa bình, thống nhất rồi. Có bao nhiêu là lãnh vực mới sẽ mở ra thu hút các loại lực lượng lao động. Chỉ sợ mình không đủ nhận thức để cung ứng hết mà thôi.
Anh lính trẻ đổi giọng an ủi:
– Thì em cũng tin tưởng như vậy. Mấy năm trước khác, còn bây giờ khác. Với lại những người có khả năng như Thủ trưởng, thiếu gì nơi cần dùng. Bỏ rẻ ra Thủ Trưởng cũng được giao trách vụ Chủ nhiệm một cái Hợp Tác Xã.
​- Chủ nhiệm Hợp Tác xã thì chẳng tới phiên mình đâu. Nhưng làm gì trong Hợp Tác Xã cũng được. Tôi thích cái không khí thoải mái ở Hợp Tác Xã hơn là ngồi ở các cơ quan.
​- Thế thì mèng ra Thủ trưởng cũng phải là Bí Thư Chi Bộ. Có được chỗ tốt rồi, Thủ trưởng cũng nên tính chuyện lập lại gia đình đi thôi….
Buột miệng xong câu nói, anh lính trẻ biết mình lỡ lời nên vội vàng im thít lại. Vẻ mặt của anh thoáng một nét sợ hãi. Anh biết rõ Thủ trưởng của mình thù ghét những kẻ nào khơi lại hoàn cảnh gia đình bi đát mà ông ta đã trải qua. Khi bước chân ra đi, cả làng xóm tiễn chân linh đình. Người vợ trẻ sụt sùi trong chiếc khăn tay đẫm lệ. Ngoảnh đi ngoảnh lại, mới có vài năm, cô ả tót đi lấy một anh chồng khác, địa vị cao, nhiệm sở công tác tốt, đời sống thấy cải thiện hẳn ra. Chuyện này địa phương bưng bít mất mấy năm sau gã đàn ông mới hay biết. Nhưng ai làm gì được trong thời buổi chiến tranh này. May mà gã chưa có con. Gã chỉ còn có một bà mẹ già, bà mẹ mà gã đi lính hơn mười năm chưa có dịp gửi về tặng được lấy một mảnh vải để may áo, trừ những lá thư gửi về kể lể đủ loại chiến công. Hồi bị thương nằm ở quân y viện và bị cưa xoẹt mất một ngón tay, gã vẫn mơ đến một ngày phục viên để về chăm lo cho mẹ. Bây giờ thì ước mơ ấy sắp hoàn thành.
Chuyến về này là chặng chót của cuộc đời quân ngũ của gã. Gã cũng ký luôn cho anh lính trẻ một cái giấy nghỉ phép để chuyến ra có bạn đồng hành. Thằng nhỏ nhanh nhẩu dễ thương, học lực cũng quá tốt, lớp 10 rồi chớ đâu phải ít. Lúc bưng hai ly cà phê ra cho hai người, ông Hưng mới nhận ra bàn tay thiếu ngón của gã đàn ông trung niên. Gã không che đậy, không giấu diếm chỗ làn da bị rúm ró, sần sùi. Ở thời buổi này, thương tích là mốt cái mà ai cũng muốn phô ra để chứng tỏ công lao đóng góp của mình. Nó cũng giống như những bà cán bộ mới ở rừng về, cố làm ra vẻ mệt mỏi hơn, lừ đừ hơn, trời chưa trở gió đã khoác một chiếc áo len mỏng, cộng thêm với chiếc khăn rằn ri quàng kín quanh cổ. Chỉ cần thoáng trông là ngườì ta như đã thấy hết được cả cái quá trình gian khổ chui rúc nhiều năm dưới hầm hố, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chịu đựng, cái hình ảnh này hoàn toàn tương phản với hình ảnh phây phây, nõn nà, tràn đầy sức sống của những thiếu nữ, phụ nữ Sài Gòn, những bà, những cô mà cho tới lúc này vẫn chưa biết mùi ăn độn là gì do hoàn cảnh kinh tế riêng tư vẫn còn phong phú, dồi dào.
Thí dụ như Hồng là một. Hồng ào vào quán cà phê của ông Hưng mang theo một mùi nước hoa thơm ngào ngạt. Nước da của nàng trắng như trứng gà bóc. Nàng bận một chiếc quần lụa thâm óng ả và mềm đến độ mỗi lần cất bước, lớp lụa in rõ cả hình dáng đôi chân thon và dài. Chiếc áo cánh mầu mỡ gà cổ thêu ren tỉ mỉ bó sát lấy thân hình tròn lẳn mang lại cho nàng một vẻ sinh lực hết sức tràn đầy, nhất là ở bộ ngực cao che giấu sau lớp áo phin mỏng được thêu thùa bằng những cánh hoa xếp đặt rất ỡm ờ, khéo léo. Nhận ra khách quen của mình, ông Hưng cất giọng đon đả:
– Chào cô Hồng. Sao bữa nay khá không?
Hồng trả lời lại câu hỏi bằng cách bưng mấy ngón tay thon dài có tô những móng lấp lánh ánh bạc kêu thành tiếng đánh “tách” một cái rồi nhoẻn một nụ cười. Hai hàm răng của nàng đều và trắng bong. Mới chỉ biểu diễn có thế thôi nhưng Hồng đã thực sự làm ngây ngất tất cả mọi người hiện diện. Cổ họng gã trung niên tự nhiên se khô lại. Anh lính trẻ trẻ thì vừa giương tròn đôi mắt lén nhìn vừa đưa lưỡi ra liếm mép. Ông Hưng luống tuổi đến như thế mà ánh mắt lúc này cũng thấy đĩ hẳn ra. Ông cất tiếng hỏi:
– Thuốc lá bữa rầy lên giá chút đỉnh. Cô lấy không?
Hồng lẳng lặng móc ở cái ví xinh xinh ra một cuồn giấy bạc và đặt lên bàn tờ giấy năm chục đồng còn mới tinh. Ông Hưng mở tủ kính lấy ra một gói Salem và thối lại năm đồng bạc lẻ. Chỉ thiếu một chút nữa là anh lính trẻ xuýt xoa bật lên thành lời. Hút một gói thuốc mà chi ra tới bốn mươii lăm đồng. Bốn mươi lăm đồng là chín tháng lương lính của anh. Không biết cái thứ thuốc lá này có nạm vàng, nạm bạc gì ở trong mà sao nó đắt thế. Lúc Hồng mở gói thuốc ra châm một điếu, mũi của anh lính trẻ hơi hỉnh lên . Anh cũng có ý hít thử xem cái khói thuốc đắt đỏ ấy thì mùi vị nó ra làm sao. Và anh tự nghĩ thơm thì có thơm thật nhưng đốt một cái nhấp nháy mà văng nguyên một lúc cả chín tháng lương thì vô lý quá. Còn Hồng thì như đo lường được cái mức độ ảnh hưởng về sự hiện diện của mình nên nàng cử động rất khoan thai, dềnh dàng. Vẻ mặt của nàng đầy chất tự mãn của một người đàn bà đẹp vẫn thường được tất cả mọi người chung quanh chiêm ngưỡng. Chợt ông Hưng lên tiếng giới thiệu một cách bâng quơ:
– Đại Úy đây sắp về Bắc. Cô Hồng có món hàng gì mới giới được thì giới thiệu đi.
Hồng được lời xoay mình hẳn lại phía đối diện hai người và nhìn về phía gã trung niên với cặp mắt tìm hiểu đánh giá. Lúc gã ngẩng đầu lên, Hồng liền nhoẻn một nụ cười. Rồi không chờ cho gã lên tiếng, Hồng tiến lại phía bàn gỗ thấp, kéo ngay một chiếc ngồi và vô đề một cách ngon ơ như mọi sự ở trên đời này đều ngon ơ dễ dàng như vậy cả:
– A! Anh Đại úy hả? Để tôi đề nghị với anh chuyến này kiếm ít tiền đem về Bắc xài chơi.
Câu chuyện của nàng là một áp phe còn đang nóng hổi. Nàng nói là nàng có một người bạn buôn bán chung. Buôn bán cái gì nàng chẳng tiết lộ, nhưng chỉ biết cô bạn hàng mới buổi chiều hôm nay bị bọn Phường Đội Phường 10 hốt luôn cả hàng họ lẫn người đem về tạm giam ở trụ sở. Nàng cong cớn:
─ Tụi nó bắt oan con người ta. Lại đòi tịch thu cả hàng hóa. Cách mạng cách mung gì mà ăn hiếp bà con lao động theo kiểu đó. Lộng còn hơn mấy ông trời con nữa.
Rồi nàng đề nghị:
─ Vụ này dễ ợt. Chỉ cần Đại úy ghé qua, nhận cô ta là em để xin thả về. “Chúng em” xin biếu Đại úy hai nghìn đem về Bắc mua quà cho các cháu.
Anh lính trẻ nghe nói liền món tiền khổng lồ hai nghìn bạc thì chịu quá, cứ nhấp nhổm như muốn thúc giục Thủ trưởng của mình chơi càn một vố. Dính dấp vô vụ này bỏ rẻ ra anh ta cũng ké được vài ba trăm. Mà đâu có gì là khó. Mấy thằng Phường đội, thứ lính bán chính quy nom thấy quân hàm Đại úy là chết khiếp. Nói ngọt trước. Hù sau. Nhấp nhấy trong mười lăm phút sơi ngon hai nghìn, thật là tiền ở trên trời rơi xuống.
Ấy thế mà gã Thủ trưởng khờ khạo của hắn lại lắc đầu mới chết cha con nhà người ta chớ. Gã đàn ông trung niên nghe Hồng nói xong mới cất tiếng:
─ Tôi muốn giúp cô lắm nhưng không thể được đâu. Các đồng chí bên ấy nếu có phải bắt là họ có lý do chính đáng.
Hồng nổi đóa lên, đổi giọng chanh chua ngay:
─ Chính đáng cái con mẹ gì. Người ta buôn bán thì cũng đổ mồ hôi sôi máu họng mới kiếm ra lời chớ đi ăn cướp của ai. Làm sao không dưng đi bắt cả người lẫn hàng họ của người ta.
Nghĩ một giây rồi nàng tiếp:
─ Thôi dứt khoát ba nghìn đấy. Ba nghìn đem được nguyên vẹn cả người lẫn hàng trở về. Mà Đại úy có mất công khó gì đâu.
Gã Đại úy vẫn lắc đầu:
─ Không được! Tôi không thể dính dấp vô chuyện này được.
Đến lúc này thì Hồng thực sự nổi giận. Nàng rít một hơi thuốc lá, thổi phà ngay về phía trước mặt làm cho làn khói bay tỏa ra mù mịt rồi đứng phắt dậy. Cử chỉ này làm cho anh lính trẻ tiếc ngơ ngẩn như rõ ràng nhìn thấy ba nghìn bạc vừa vuột ra khỏi bàn tay mình. Anh ta đâm tức mình với gã Đại úy. Lúc Hồng bước ra khỏi tiệm rồi, anh ta cất giọng bực tức, vẻ trọng nể lúc trước mất hẳn đi:
─ Chuyện nhỏ như thế sao mình không làm. Ba nghìn bạc chứ đâu có phải chuyện chơi.
Gã Thủ trưởng nghiêm nét mặt lại:
─ Chú đừng có ham tiền mà mất cảnh giác. Chuyện chót lọt thì không sao, nhưng đổ bể ra là tiêu tùng sự nghiệp cách mạng. Tôi chả dại.
Bầu không khí giữa hai người tự nhiên đâm ra nặng nề hẳn ra. Gã đàn ông thì xoay xoay ly cà phê đã nguội ngắt của mình và nghĩ đến chức vụ Bí Thư Chi Bộ trong một Hợp Tác Xã mà gã hy vọng khi trở về, cả làng xã sẽ mời gã đến để trịnh trọng đưa ra một lời đề bạt. Chiến công của gã, thương tích của gã với hàng xấp giấy ban khen chẳng là một vinh dự cho cả xã hay sao. Còn anh lính trẻ thì vẫn không quên được hình ảnh của một xấp tiền mới dẫn đến quá nhanh mà tan biến đi cũng hết sức dể dàng. Hắn rủa thầm trong lòng về sự ngờ nghệch của gã Thủ trưởng. Hắn nghĩ rằng cứ đi về làng xóm đi rồi biết bộ đội phục viên được đối xử ra sao. Có khả năng, có sức khỏe còn đỡ. Bị thương tích, bị tàn tật là thấy cuộc đời như cái mền rách ngay. Chế độ này là chế độ “vắt chanh bỏ vỏ” mà. Câu nói này không phải là của hắn nghĩ ra nhưng chính hắn đã nghe thấy hồi còn ở làng, chưa đi nhập ngũ. Một anh phế binh đã đứng ở cửa trụ sở cơ quan hành chính xã lớn tiếng thóa mạ như thế. Chẳng ai muốn phản ứng gì cả vì anh ta là một phế binh. Nhưng cũng chẳng ai có thể làm gì cho anh được khi mà tất cả cũng đang đều gặp khó khăn. Hình ảnh của anh vẫn còn như mới trong đầu óc của người lính trẻ. Và hắn nghĩ rằng rồi đây Thủ trưởng của hắn cũng đến cùng một hoàn cảnh như thế mà thôi. Vậy mà có tới ba nghìn làm vốn liếng thủ cẳng, gã lại chê thì có tức không.
Một lát sau, cả hai người đều đứng dậy. Gã đàn ông trung niên móc túi trả tiền cho nhà hàng. Đồng hồ mới chỉ gần chín giờ nhưng cả hai đều đồng ý nên ra ga sớm cho kịp chuyến tàu Thống Nhất khởi hành lúc mười giờ. Ông Hưng nói với theo một câu:
─ Chúc Đại úy về Bắc bình yên nhé. Khi nào có dịp vô Nam nhớ ghé lại đây uống cà phê.
Bóng dáng cồng kềnh của hai chiếc xe đạp chất đầy đồ đạc trong khoảnh khắc hòa lẫn vào khung cảnh ồn ào, đông đúc của thành phố, ông Hưng quên ngay mọi chuyện vừa xẩy ra vì những nhân vật, những tâm tình, những hoàn cảnh tương tự như thế vẫn xẩy ra hàng ngày ở đây. Bóng dáng của cán bộ, bộ đội, hình ảnh của những chiếc xe đạp cũ kỹ, những chiếc ba lô, túi sà-cột, những khuôn mặt xanh xao với nước da bì bì, tái tái, những chiếc áo cánh mầu trắng hay xanh lơ, chiếc quần thâm ngắn cũn cỡn, cái nón cối hay mũ tai bèo cùng những đôi dép râu hay dép xăng-đan thô kệch, tất cả đã hòa vào vẻ nguy nga tráng lệ của thành phố này một cách gượng gạo khiến cho cảnh vật đều nhuộm một mầu sắc quen thuộc, cũ kỹ đến độ nhàm chán.
Tuy nhiên, lâu lâu thì cũng có một vài biến cố bất ngờ, giống như một hòn sỏi nhỏ ném xuống mặt nước của một cái ao tù. Như trường hợp của gã đàn ông trung niên mang cấp bậc Đại úy là một thí dụ. Gã đang ở trên đường phục viên. Gã đang ướm một giấc mơ giản dị là khi trở thành dân thường gã sẽ được đề bạt một chân gì đó trong một Hợp Tác Xã để khởi đầu cho cuộc đời phục viên của gã. Và gần gũi nhất là niềm vui lần đầu được trao về tận tay bà mẹ già những món quà mà trước đó cả hàng chục năm, gã chưa có dịp mua được cho bà đến một vuông vải may áo.
Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc niềm vui và ước mơ của gã bỗng tan tành ra mây khói. Tài sản của gã bị cuỗm mất trước khi tàu chạy. Rồi con tầu Thống Nhất khởi hành đã hơn hai mươi phút mà gã vẫn còn hiện diện trong thành phố này, chỉ có thằng lính là vẫn an nhiên đi về phép.
Gã chạy đôn đáo đây đó như một thằng điên. Gã lớn tiếng mạt sát mấy cậu Công an bên cục đường sắt hết lời. Gã chửi Mỹ chửi Ngụy như điên. Nhưng rồi rốt cục gã cũng lại phải phóng về tiệm cà phê của ông Hưng vừa nói vừa thở hổn hển:
─ Cô Hồng đâu? Cô Hồng đâu ?
Ông Hưng ngạc nhiên nhìn thân hình tơi tả của gã. Quần áo thì xốc xếch. Đầu tóc thì rối bù. Vẻ mặt tái xanh tái xám một cách vô cùng thê thảm. Đến lúc gã la lối tiếp thêm thì ông Hưng mới vở lẽ ra:
─ Tiên sư nó! Tiên sư cả lò nhà chúng nó. Mới ngoảnh đi ngoảnh lại mà nó đã lấy mất cái xe đạp đầy hàng của tôi rồi. Thế có chết tôi không. Thế thì làm sao tôi dám vác mặt về thăm nhà, thăm mẹ tôi đây…
Chỉ thiếu điều gã ta bật lên tiếng khóc. Gã cố giữ cho cơn nghẹn ngào khỏi trào ra khóe mắt. Tuy nhiên giọng của gã cũng đã thấy lạc đi, mất vẻ bình thường. Gã nói tiếp:
─ Ông làm ơn dẫn tôi đi gặp cô Hồng lúc này. Tôi bằng lòng đi bảo lãnh cho người bạn của Cô ấy ra. Phải kiếm ít tiền bù vào cả cho bị mất cấp chứ…
Ông Hưng luôn mồm chép miệng về cơn sui sẻo của gã. Cấp này dân chúng đói khát nên lắm kẻ sinh làm càn. Nhất là ở nhà ga. Trộm cắp ở đó như rươi, có thiếu gì cảnh mấy anh bộ đội ngủ lại qua đêm để chờ giờ tầu chạy, sáng sớm ra bỗng thấy mình bị lột sạch!
Ông Hưng hỏi:
─ Thế còn chuyến tàu Thống Nhất hôm nay ra sao?
─ Tôi bán vé lại cho người khác rồi!
─ Vậy là Đại úy còn thời giờ để sắp xếp công việc. Vào giờ này thì chịu không thể kiếm đâu ra được cô Hồng đâu. Mời Đại úy sáng mai trở lại. Tôi sẽ dẫn Đại úy ra chợ trời. Tôi biết chỗ của cô ấy hay lui tới với bạn hàng.
Không có cách nào hơn, gã trung niên đành phải trở lại nhà ga. Đêm hôm đó, gã nằm ngủ ngoài trời để có dịp trằn trọc suy gẫm về con đường mà gã đã trải qua trong suốt bao nhiêu năm. Mọi sự đều hầu như trọn vẹn trừ sự mất mát một cô vợ trẻ và một ngón của bàn tay trái. Bây giờ gã đang ở trên chặng đường cuối. Chặng ngắn ngủi nhất, chỉ dài không quá ba ngày tàu chạy, tưởng sẽ trôi qua dễ dàng nhất, ấy thế mà lại đẩy gã vào tình thế kẹt cứng. Suốt đêm gã đã ngủ một giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị. Có lúc gã thấy mình vẫn còn đang ở nhà, chưa biết mùi vị đời lính, bên cạnh gã vẫn còn nhí nhảnh tiếng nói của người vợ trẻ. Có lúc gã lại thấy hình ảnh của Hồng hiện ra choáng lộn che kín tất cả tâm tư, tình cảm của gã. Rồi gã lại thấy mình bị lột lon nhục nhã giữa bao nhiêu là con mắt châm chọc của bạn bè đồng ngũ. Khi tỉnh dậy, trời mới mờ mờ sáng. Gã ghé vô một quán cà phê bán ở đầu đường, ngồi nhâm nhi suy nghĩ về những việc sắp tới của mình. Cuối cùng gã tặc lưỡi đứng dậy. Chẳng có đồng chí nào có thể giúp được gã qua cơn khó khăn này. Gã đành liều nhắm mắt mà đưa chân.
Mãi tới gần xế trưa gã mới được ông Hưng dẫn tới gặp được Hồng. Nàng đang ngồi trên một chiếc ghế salon bằng mây kê ở phía sau một căn hàng quán ở giữa khu chợ trời. Trước mặt nàng la liệt những bát và đĩa. Chắc nàng mới vừa ăn điểm tâm xong. Nàng vẫn giữ cái cốt cách đủng đỉnh ngày hôm qua. Khi hai người ghé vào, nàng không đứng dậy. Cũng chẳng thèm lấy một chiếc ghế nữa để mời khách ngồi. Nàng không quan tâm đến chuyện đó mà chỉ mở bóp lấy ra thỏi son môi. Nàng vừa thoa son vừa nghe ông Hưng trình bày tự sự. Một lát, nàng nhìn gã đàn ông trung niên rồi buông lời chỏng lỏn:
─ Anh khờ bỏ mẹ! Cờ đến tay cho phất mà không chịu phất. Sáng hôm nay tụi Phường Đội nó giải con bé lên công an Thành rồi. Có họa ông Lê Duẩn nhà anh nhúng tay vào thì mới gỡ được!
Gã đàn ông nghệt mặt hẳn ra. Thêm một lần thứ hai, niềm hy vọng của gã bị tan tành ra mây khói. Trông gã thất sắc một cách thiểu não. Cứ cung cách này thì đến một cái vé tàu ra Bắc gã cũng sẽ chẳng còn đủ tiền mà mua. Ông Hưng thấy thế thương hại vội nói vun vào:
─ Thì chẳng vụ này có vụ khác, cô thì thiếu gì cơ hội có thể giúp cho đồng chí ấy.
Gã đàn ông cũng tiếp lời:
─ Tôi không cần gì nhiều. Chỉ mong kiếm cho đủ số bị lấy mất rồi trở về.
Hồng lại nhìn gã từ đầu đến chân như đánh giá. Rồi nàng hỏi:
─ Giấy tờ anh còn đủ cả chứ ?
Gã nhanh nhẩu gật đầu.
─ Đưa tôi coi!
Thế là có một màn chớ trêu, một cô gái Ngụy mở ra kiểm soát đủ loại giấy tờ của một ông sĩ quan Cách mạng đứng xớ rớ trước mặt. Vừa coi Hồng vừa tra hỏi như người thẩm vấn: “Cái này là giấy gì? Con dấu này ở đâu? Của ai? Cấp bậc gì? v…v…” Cuối cùng nàng buông một câu làm cho cả gã đàn ông lẫn ông Hưng thở phào nhẹ nhõm:
─ Được đấy! Sẽ có việc cho anh làm. Vài ba vố dư tiền về Bắc tậu nhà.
Sau lần gặp gỡ đó, hai người toan tính gì với nhau, ông Hưng không quan tâm tới. Ông trở về với quán cà phê bình dân của mình. Bẵng đi tới hơn hai tháng sau, bỗng nhiên ông gặp lại người khách có tuổi trung niên của mình. Gã ta trông trẻ người lại và linh động hoạt bát hẳn ra. Bộ quân phục bây giờ đã được thay thế bằng một cái quần Jean và chiếc áo sơ mi trắng toát. Chỉ có bàn tay trái với bốn ngón tay là dấu tích cũ còn sót lại. Bây giờ gã đã lái được xe Honda đàng hoàng. Hồng ngồi vắt vẻo ở đàng sau. Trông nàng vẫn đầy vẻ kiêu sa một cách bệnh hoạn với điếu thuốc không ngừng cháy giữa những ngón tay thon dài chải chuốt bằng lớp sơn mầu ánh bạc. Ông Hưng mỉn cười hỏi kháy:
─ Đủ tiền ra Bắc chưa, ông Đại úy?
Gã đàn ông nhoẻn miệng cười không đáp. Làm sao gã có thể dám thổ lộ ra rằng đối tượng của gã theo đuổi bây giờ không chỉ còn là hai nghìn bạc ít ỏi mà chính là cô gái nõn nà đang đứng trước mặt. Một mục tiêu lúc nào cũng đẹp phây phây như thế hẳn sẽ còn cần nhiều khổ công để chinh phục. Đường về miền Bắc vì thế vẫn còn xa xôi, thăm thẳm mịt mù…..

California, tháng 12,1983.
NHẬT TIẾN

Chuyến Xe Về Giữa Mùa Xuân. Truyện Ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

chuyến xe về giữa mùa xuân

Theo lời bác tài thì chuyến xe này là chuyến chót. Chuyến cuối cùng của một năm sắp đi qua. Ba mươi Tết rồi còn gì.

Trời xẩm tối rồi. Hành khách thở phào như vừa được ban một ân huệ may mắn. Không may sao được, khi chuyến xe chạy qua cả một đoạn đường gồ ghề, lắt léo mang đầy vết tích của những cuộc giao tranh mà không va phải một trái mìn nào!

Tất cả có bốn mạng ngồi rộng tuyênh toang trên hai hàng ghế. Một người đàn bà chít khăn tang. Một bà cụ mái tóc như sương tuyết. Một cái lồng gà trong nhốt một con chó nhỏ. Và một gã đàn ông thương tật vừa được giải ngũ. Như thế, kể cả bác tài thì chuyến xe có năm mạng sống: bốn người và một con chó nhỏ. Con chó lông đen tuyền, mắt đen tuyền, mõm cũng đen tuyền, cả thân hình của nó là một khối đen cục mịch, lũn chũn, lâu lâu lại thấy phát ra những tiếng rít lên ư ử. Tiếng rít của nó bị át đi bởi tiếng động cơ nổ ồn ào của chiếc xe lam cũ kỹ. Đường nhiều ổ gà. Chiếc xe lồng lên. Lắc bên này. Ngả bên kia. Chồm tới. Giật lui. Đảo lên từng vòng.

Bà cụ có vẻ mệt. Thiếu phụ cũng ngả đầu lim dim lên vách gỗ. Chỉ có gã đàn ông là ngồi lầm lì. Gã mơ màng nhìn ra hai bên đồng lầy. Lúa đang mọc nhưng lưa thưa. Nhiều thửa ruộng xám đen, còn ghi rõ những nét toác nứt nẻ. Một màu xám ảm đạm chạy dài hun hút tới chân trời. Trên cao, mây đục như màu chì đang ngả màu tím thẫm. Gió lồng lộng thổi lùa qua khung cửa hẹp. Chiếc xe vẫn lắc lư. Hai bắp tay của bác tài xế vồng lên. Những đường gân nổi lên cuồn cuộn để chế ngự chiếc xe vật vã.

Vội lắm rồi! Bây giờ là chiều Ba mươi. Chuyến xe này là chuyến chót….Tốc độ xe chợt vọt lên chút nữa theo sự hứng khởi của bác tài. Kim đồng hồ chỉ tốc lực tới tám cây số giờ. Đường sóc như vậy kể là nhanh. Đây là hố mìn chưa lấp. Nọ là di tích của của những chướng ngại vật. Cái xác xe đò cháy rụi hôm nào còn nằm tênh hênh bên lề đường. Rồi những chiếc xe bò vụn nát không còn nhận ra hình thù. Còn có cả những đám tàn than chất đen thui thành từng đụn nhỏ: Xác người, xác trâu bò hay chỉ là dấu tích của những kiện hàng?

……

Bỗng cái xe chợt hãm bớt đà và từ từ chậm lại. Trước mũi xe là một cái hố lớn. Dưới lòng hố là một cái thùng xe đã han gỉ. Sau cái khung xe có bóng một người bận áo đen. Bóng người áo đen bị che lấp chỉ còn một bàn tay gầy guộc giơ lên vẫy. Bác tài xế chùn tay ga, giọng sững sờ sau khi thoáng thấy có cả một họng súng đen ngòm:

– Thôi chết….mình tới số rồi!!

Bóng đen bây giờ đứng hẳn lên. Một khuôn mặt trắng bệch hiện ra sau mớ tóc bù xù. Khuôn mặt rất trẻ, chưa quá hai mươi, đáng gọi là cậu hơn là anh, là chú hay bác. Cậu ta là người “bên kia”. Khẩu súng nói lên điều đó, nhưng nói một cách hiền từ chứ không dữ dằn như bất cứ lúc nào nhào lên xung kích.

Mọi người đổ dồn cả về phía đó. Sự ước lượng bây giờ chính xác hơn. Nhất định cậu này chỉ tới mười lăm. Cậu giơ khẩu súng lên ngang đầu bằng cả hai cánh tay gầy guộc. Vẻ mặt không giấu được sự lo âu, bối rối, cậu ta ấp úng:

– Em…em…hồ…ồi… ch..á..ánh ! Nhờ các bác dẫn về đồn ….

Bác tài trở nên bình tĩnh hơn. Bác đáp lại bằng giọng nửa như giễu cợt, nửa như phân trần:

– Lộn rồi chú ơi! Ở đây đâu có ai là lính. Muốn trở về, chú phải lên tuốt mé trển kìa!

Cậu nhỏ vẫn giữ nguyên cái thế để súng lên ngang đầu, từ tốn bước lên khỏi miệng hố. Rồi như không thấy bóng dáng bộ đồ lính treillis nào, cậu buông khẩu súng xuống, tiến lại gần bác tài :

– Thế thì chỗ nào có lính Quốc Gia, bác chở tôi tới!

Bác tài lắc đầu lia lịa:

– Trễ quá rồi. Tôi đâu có quay lại mé trển. Mà chỉ ở trển mới có lính đóng thôi.

– Xa không?

– Năm bẩy cây số lận!

– Vậy miệt dưới không có ai hết cả sao?

– Không có ai hết! Qua Giêng chắc mới có lính mở đường tới đó.

– Vậy cho tôi theo bác để rồi nằm chờ được không?

– Ý! Làm sao được. Tui có gia đình, tội nghiệp tui!

– Thì bác giữ cây súng này làm bằng. Có khi còn lãnh thưởng!

– Tui hổng ham. Tui không dính vô chuyện gì hết. Tui làm ăn chất phác mà.

Cậu nhỏ sẵng giọng:

– Bác không cho tôi theo thì bác ở đây với tôi luôn!

Bác tài dẫy nẩy lên:

– Ý! Cha Nội! Chơi cửa cha con nhà người ta đó sao! Vậy là tác phong Việt Cộng, chớ hồi chánh nỗi gì!!!

Gã thương binh ngồi ở sau xe, từ nẫy vẫn theo dõi câu chuyện bây giờ mới lên tiếng:

– Theo tôi về được không? Mai mốt tôi dẫn lên đồn.

Bác tài múa hai tay lên:

– Ui da! Vậy là ngon quá cỡ rồi còn gì.

Cậu cán binh rời chỗ đứng, tiến lại phía sau xe. Cậu giương cặp mắt bạc nhược lên nhìn gã đàn ông. Gã nói tiếp:

– Cậu đưa súng cho tôi.

– Bác biết xài hả?

– Mấy thứ này nhằm nhò gì! Lính Quốc gia thu được dài dài..

Cậu cán binh thở phào:

– Vậy mà tôi cứ ngỡ….

– Ngỡ gì?

– Ngỡ bác là người của Mặt Trận.

– Thì sao?

– Thì tôi phải bắn bác trước kẻo bác bắn tôi.

Gã đàn ông mỉm cười :

– Ui ! Đồng chí với nhau cả, sao nỡ tay thế!

Cậu nhỏ ấp úng:

– Tại tôi “quay”. Ở trỏng, tội quay đáng bắn bỏ!

Bác tài xế chờ đợi thấy lâu, vội nói:

– Thôi mời lên xe đi. Trễ rồi.

Chiếc xe lại bắt đầu chuyển động. Nó bò qua một mô cao rồi lũn cũn men theo một lối đi được in dấu bởi chiếc xe mười bánh băng qua những chướng ngại vật.

Cái cảnh len lỏi theo lốt bánh xe này không ai lấy làm lạ. Chuyện ấy bình thuờng. Như một chuyến xe bình thường trở về giữa mùa Xuân trên một giải đất vẫn đang còn triền miên trong khói lửa.

Nhật Tiến

Ngày Cưới. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

961F5B3B-6C7E-4952-88C7-5607C3478B56

– Nào…nào tỉnh dậy kẻo trễ rồi…con gái của mẹ…

Tiếng gọi ngọt ngào vẳng qua tai Thu xa rồi thật gần. Bàn tay quen thuộc vuốt từ trán Thu xuống má. Bây giờ thì mẹ không còn cù vào cổ Thu như những năm còn bé nhưng mơn nhẹ ở chỗ má lúm đồng tiền. Thế cũng đủ nhột lắm rồi và vì thế Thu đã thức giấc.

Nhưng Thu chưa mở mắt ra vội. Có một cái gì mù mờ chen lấn, xô đẩy trong đầu óc của Thu. Cả người Thu như đang trôi bồng bềnh. Phía dưới là vực thẳm sâu hun hút mà hình như Thu đã ngã xuống đấy và đã kêu gào thảm thiết. Phải rồi, Thu đã gào thảm thiết. Cảm giác nức nở còn như vướng lấy cổ họng, còn như đọng trên bờ mi, còn như làm run rẩy vành môi khô héo. Nhưng thực sự cái gì đã xẩy ra vậy kìa. Thu cố níu lấy một phần nào ý nghĩ để mong chụp bắt được những mảnh sống thực và mộng đã rã rời như sự rã rời mệt mỏi cũng cực đã khiến Thu không thể mở mắt ra, không thể nhấc nổi cánh tay trở dậy. À! Hình như có một biến cố nào vô cũng quan trọng xẩy ra đâu đó trong cuộc đời hai mươi năm làm con gái của Thu. Giọng mẹ vẫn thì thào như luồng gió ấm thổi qua tai:

– Trễ rồi…trễ rồi…con gái của mẹ…

Óc Thu vụt sáng rỡ như bầu trời tăm tối vụt được rọi một luồng hào quang. Thôi khỏi cần thắc mắc nữa rồi. Khỏi cần tỉnh dậy. Khỏi cần mở mắt ra Thu có thể nằm yên đó nhắm mắt thật kỹ cũng biết được cái gì đang xẩy ra ở quanh đó. Hẳn nhiên mẹ đang mỉm cười ánh mắt trìu mến.

Căn phòng quét vôi màu xanh tràn ngập ánh sáng. Ở góc kia một tấm gương chói lòa. Tấm gương của chiếc tủ phấn do anh chị Thúy mua tặng vào dịp cưới của Thu này đây. Tấm gương cao vừa đúng đầu người, đúng đầu của Thu thì phải hơn. Thu đã soi mình vào đấy. Áo cô dâu rực rỡ như cánh bướm đầu xuân. Chiếc voan choàng đầu mềm như suối tơ, nhẹ như cánh hồng dìu được tâm hồn của Thu bay bổng lên trời cao. Vòm trời chan hòa hạnh phúc. Có Thu có anh Sơn. Anh Sơn vững chãi như một cây thông giữa trời mà Thu chỉ ví mình như một cánh bướm nhỏ xíu bám trong vòng tay của anh. Đám cưới xẩy ra như một giấc mơ. Tất cả mọi người thấp thoáng ẩn hiện như đoàn người trong mộng tưởng. Không thể nhớ được. Không thể phân biệt được chuyện gì xẩy ra trước, chuyện gì xẩy ra sau. Kể cả cái hố sâu thẳm mà Thu đã té xuống rồi kêu gào. Nhưng tội gì mà nhớ cho đầy đủ. Hãy chỉ níu lấy giây phút làm Thu sung sướng nhất. Giây phút tưng bừng ở nhà thờ, có cha Thành trang nghiêm đọc những lời cầu chúc cho đôi lứa. Rồi anh Sơn…Ôi! Anh Sơn của em. Có phải anh đã đeo vào ngón tay em , ngón áp út chiếc nhẫn cưới xinh xắn nhất trên đời. Chiếc nhẫn ràng buộc đời em với đời anh. Chiếc nhẫn sẽ theo em suốt đời và em cũng sẽ đi theo anh suốt cuộc đời khổ nhọc mà anh đang mang đi. Phải…em sẽ theo anh cho đến suốt cuộc đời. Khởi sự từ giây phút này đây. Giây phút mẹ kêu em ở đầu giường. Bàn tay của mẹ mơn man trên má. Chỗ có lúm đồng tiền. Hì. Đến thánh cũng không thể nhịn cười được vì nhột nhạt. Mình sẽ mở mắt ra và sẽ thấy mẹ cười. Căn phòng sáng rạng rỡ. Ở góc phòng là một tấm gương gắn trước tủ phấn. Đấy là tủ phấn của cô dâu. Dậy…con gái của mẹ…bao nhiêu là việc phải làm mà cô ngủ ưỡn ra thế này thì hỏng hết. Ngủ dậy trễ, sau chồng nó chê đó!

Thế là Thu mở bừng mắt ra. Mỉm cười một nụ cười. Cơn nấc như còn vướng nghẽn trong cổ họng. Sức nặng nào vẫn còn làm nặng trĩu riềm mi. Vành môi khô héo. Nhưng việc đầu tiên là Thu nhìn vào góc phòng. Hai chiếc tủ phấn cô dâu còn đó. Tấm gương chói lòa. Những hộp son, phấn, bàn chải, lược còn nguyên ở đó. Mình sẽ trang điểm cho kỹ càng. Bao nhiêu người ngó chớ ít sao. Bộ áo trắng cô dâu rực rỡ như cánh bướm. Chiếc voan choàng đầu mềm như suối tơ. Ta cùng Sơn bay bổng lên trời cao. Thu lại mỉm cười nhìn mẹ. Cặp mắt long lanh sáng. Sáng hơn bất cứ vì sao nào sáng nhất trên bầu trời. Mẹ nhìn Thu bỗng nước mắt ràn rụa. Mẹ quay đi thật nhanh. Ồ! Anh Sơn không có gia đình. Anh Sơn chịu ở rể mà, sao mẹ còn buồn. Mẹ vui lên đi cho ngày cưới của con được trọn vẹn. Áo của con đâu. Chiếc áo mà suốt đời người phụ nữ nào cũng mơ ước được mặc một lần.

Mẹ nhoài tay lên rút xuống chiếc áo trắng. Có cả tấm voan, Thu nhẩy bổ lại trước gương. Vừa mặc vừa ngắm nghía. Thu vui sướng quên bẵng ngay mẹ mình vừa chạy vụt ra khỏi phòng đóng cửa lại. Ở phía tường bên kia, có tiếng mẹ khóc vẳng lại. Mẹ thật buồn cười. Con đi lấy chồng. Nhưng chồng con đi hành quân xa thỉnh thoảng mới về. Con vẫn ở với mẹ mà, sao mẹ buồn.

Chiếc áo này có vừa không. Nó rộng và dài. Nhưng nó là áo cô dâu. Mình là cô dâu, choàng khăn này. Còn phải đi hài nữa chứ ! Thu lăng xăng đi tìm đôi hài. Đôi hài đâu nhỉ. Thu nhớ mình dã xài và đã cất kỹ đâu đó trong một ngăn tủ. Thu lại mở tủ. Những bộ quần áo của anh Sơn xếp ngay ngắn bên cạnh những bộ quần áo của Thu. Ôi, anh Son. Anh mới đi không đầy năm ngày mà sao em nhớ anh quá đỗi. Hơi hướng của anh còn phảng phất đâu đây. Nhất là mùi thuốc lá đã từng ướp lên tóc của em. Mùi quen thuộc không thể quên đươc.

Thu ngẩn ngơ với đám quần áo, mãi rồi mới nhớ ra rằng mình đang đi tìm hài. Nàng thu được đôi hài ở góc tủ, trong một chiếc hộp còn thơm mùi giấy mới. Thu đi hài. Thu lại ngắm mình trong gương. Thật đủ bộ cho một cô dâu. Áo voan trắng, đầu trùm voan trắng, chân đi hài. Bộ quần áo hơi thô nhưng miễn mình là cô dâu. Suốt ngày hôm nay mình sẽ là cô dâu. Bao nhiêu người sẽ ngắm, bao nhiêu người sẽ trầm trồ khi mình xuất hiện. Thu lắng tai nghe. Quả nhiên ở nhà dưới đang ồn ào. Đông thật. Mẹ đâu rồi. Mẹ dẫn con xuống không thì con ngượng chết. Mẹ hiện ra ở cửa phòng. Mẹ ôm chầm lấy Thu khóc nức nở, Thu cũng sung sướng chẩy cả nước mắt. Nhưng rồi Thu cười ngay. Lấy anh Sơn chứ lấy ai mà sợ. Chắc anh chàng đang sốt ruột lắm phải không. Em xuống với anh đây. Thu mở cửa phòng. Đôi mắt rực lửa. Miệng Thu mỉm cười. Thu cố gắng lấy vẻ duyên dáng.

Nàng tự nhủ mình phải đi thật thẳng. Bước thật chậm. Bao nhiêu là người nhìn kìa. Khi bước xuống bậc cầu thang, quả nhiên tiếng ồn ào đông đảo bỗng dưng tắt ngúm. Tất cả mọi người đều nhìn lên. Thu muốn xốc lại chiếc áo, nhưng làm thế kỳ quá mặc dù Thu thấy mình luộm thuộm.

Chỉ có chiếc voan trên đầu là sửa được. Nó sụp xuống mắt. Thu thò tay ra mé sau, kín đáo kéo cái giải xuống thêm một chút. Chiếc voan nhích qua vầng trán rịn mồ hôi. Thu lại nhìn rõ mọi người. Tất cả là người quen thuộc đây, nhưng Thu không thể phân biệt ai với ai, đông lắm. Người nối người. Cả ngần ấy khuôn mặt đều hướng về phía Thu. Mắt Thu càng thêm sáng. Thu bước thật chậm. Ồ! Mình sẽ đi tới đâu kìa. Bạn phù dâu tệ thế, không biết chạy cả đi đâu. Anh Sơn đâu ? Anh Sơn đứng chỗ nào nhỉ?

Thu quay lại tìm mẹ. Bao giờ thì mẹ cũng gỡ cho Thu qua khỏi cơn bối rối. Quả nhiên mẹ đã năm lấy tay Thu. Bàn tay già nua, run rẩy, Thu thấy yên tâm hn đi. Tất cả mọi người đều đi ra. Thu đi theo họ, Thu hỏi:

– Mình đi đâu hả me.

Mẹ ấn Thu vào một chiếc xe hơi rồi thì thào:

– Lên nhà thờ con ạ.

A! Nhà thờ của cha Thành. Anh Sơn sẽ đeo cho mình chiếc nhẫn thật là xinh.

Thu lần tay xuống ngón áp út. Chiếc nhẫn còn nguyên ở đó. Nó làm cho Thu lại nhớ đến anh Sơn. Anh Sơn ngồi xe nào kìa. Nhưng không hề gì. Ta sẽ gặp nhau lại trong nhà thờ. Dưới tượng Chúa. Trước mặt cha Thành. Mình sẽ nguyện cầu hai đứa suốt đời không xa nhau. Nhà thờ đây rồi. Cha Thành đứng trang nghiêm như tất cả mọi lần. Quyển sách nhỏ mở sẵn cha cầm trên tay. Cha bảo Thu quì xuống. Nhưng Thu hỏi còn anh Sơn. Anh Sơn đâu rồi. Chồng con đâu rồi. Thưa Cha. Cha không đáp, nhìn Thu đăm đăm. Thu nhớn nhác nhìn quanh nơi làm lễ. Vẫn đám đông quì gối ngoan ngoãn. Vẫn tiếng cầu kinh rì rào. Khung cảnh y hệt như cách đó vài hôm, đúng ra là một tuần lễ, khi Sơn đeo cho Thu chiếc nhẫn này. Bây giờ Sơn đâu. Thu muốn kêu to lên để gọi cho Sơn nghe thấy. Nhưng đây là nhà thờ. Có cả cha Thành. Hãy hỏi cha. Thưa cha, chồng con đâu. Mấy hôm trước chồng con còn đứng đây. Sao cha không nói. Sao cha không trả lời. Còn mẹ Thu đâu. Bà đã khóc ngất đi ở chiếc quan tài. Trên có phủ quốc kỳ. Có cả những vòng hoa cườm. Thu nhẩy bổ lại. Thu hét lên. Thì ra cái vực thẳm chập chờn trong giấc ngủ hôm qua ấy là đây. Nó hiện ra trong khoảnh khắc. Thật phủ phàng. Thu như được rọi thêm đôi chút ánh sáng vào đầu óc mù mịt bồng bềnh của mình. Nàng nhìn lại tấm áo cưới. Nàng nhìn lại tấm khăn choàng cô dâu. Thu hét lên điên cuồng. Nàng quên cả là mình đang đứng trong nhà thờ. Quên cả cha Thành đang đứng trước mặt. Chỉ còn một vật vô tri mà nàng phải cấu xé. Nàng đã cấu xé gào thét. Anh Sơn Anh Sơn. Chiếc áo đại tang và vành khăn xô đang xụp xuống đôi mắt rực lửa của nàng đã rách bươm ra tơi tả.                                                                           

Nhật Tiến

Giấc Ngủ. Truyện ngắn Duy Thanh


Duy Thanh

Giấc Ngủ

À mày lại còn chối hả? im miệng hả? Thằng nào nó ngủ với mày thì phải khai ra, cái bụng mày nó chương phềnh ra thế kia thì còn giấu vào đâu hở con mụ ranh. Mày định làm xấu mặt cả làng này hay sao? Nói ngay để tao bỏ tù nó. Phép tắc luân lý ở đây đâu có đốn mạt như thế bao giờ? Mày làm bêu mặt chúng tao. Rồi mai đây báo chí đăng rầm cái tin khốn nạn này thì thể thống làng này còn ra cái gì hở… hở?

Y hồng hộc chỉ vào mặt tôi mà mắng như tát nước. Phải, tôi chửa hoang. Con mụ Tư thọt này chửa hoang đây, đứa nào làm gì thì làm, tôi hét to trong bụng tôi như vậy. Nếu tôi mà đứng được dậy thì thách y chửi tôi đấy. Tôi sẽ chồm lên mà xé tan cái mặt y ra, chứ tôi sợ gì cái mặt thịt ngồng ngộng bộ râu cá trê đáng ghét.

Y quay ra như phân vua với mọi người: Tiên nhân nó chứ, cái mặt nó cứ lầm lì như thế kia thì làm sao mà khảo được. Cái thá mày thì gọi là cho lên máy chém. Y lại xổ vào tôi mà thét: Gan, gan hở? ông thời bóp chết như ngoé. Tôi giơ tay chùi những tia nước bọt phì cả vào mặt. Nơi tay áo vải nâu đã bạc phếch, sờm ra và có mùi khăn khẳn. Ánh nắng chói làm tôi bật hắt hơi. Tức thì y lùi lại dang tay tát tôi đánh bốp kèm theo một câu chửi thật bẩn. Mấy mụ đàn bà ở bên ngoài cười rộ vì thấy tôi hực lên rồi vật đầu vào vách. Nhưng họ lại im ngay. Một không khí lo ngại trùm trong căn nhà họp của xóm. Trong đám đông có người nói to:

– Thôi đi ông Xã, nó đã không khai thì khảo mãi cũng vô ích, nhất là chị ta cũng đương bụng mang dạ chửa.

Một giọng khác phản đối:

– Sao lại không, phải bắt nó khai chứ còn thế nào. Cứ đánh bỏ mẹ thì thế nào nó cũng phải nói. Thế mà mấy tháng nay cứ tưởng chị chàng bị báng hay bệnh gì. Ðến bây giờ nó chềnh ềnh như cái trống mới thấy nhé.

Lão Xã trưởng được thể quay lại doạ tôi:

– Mày mà không khai thì còn là khổ, con ạ.

Giọng y ngọt hơn: Ờ thì cứ nói xem thằng nào, rồi tao bắt nó phải lấy mày. Chứ không biết ai thì cứ gọi là tức hộc máu.

Y hoa tay một vòng rồi nói với đám người xung quanh:

– Tôi nói thế có phải không các ông các bà?

– Kể cũng tức thật đấy, nhưng chị ta cứ không chịu nói là ai thì làm thế nào. Hay là cứ để cho chị ấy đẻ đi đã rồi trông đứa bé nó giống ai thì nó sờ sờ ra chứ còn gì nữa.
Một giọng nữa tiếp:

– Ấy chết không được, sợ cứ trông rồi đoán tầm bậy thì lại khốn khổ nhiều anh.
Mấy cô gái làng thấy câu nói lý thú bấm nhau cười cung cúc.

Tôi trông thấy chúng nó mà ghét tệ. Chúng nó đẹp, chúng nó xinh, chúng nó có chồng con, có nhân tình nhân ngãi. Còn tôi thì sống lết lê, chẳng ai thèm để ý. Hai chân tôi nó quặt đi nhỏ bằng cái ống sậy. Tôi đi bằng tay lê la như một con chó. Con chó còn sướng hơn bởi nó có bốn chân nó chạy. Còn tôi từ xó nhà ra đầu ngõ, rồi từ ngõ vào đến vườn là hết. Từ xưa chưa hề có ai để ý đến tôi cả, họ nhìn tôi như một con vật. Với ai tôi cũng phải ngửa đầu nhìn lên. Cho đến bây giờ tôi có chửa họ mới vụt nhận ra tôi cũng là người như họ. Tôi có chửa. Con mụ Tư thọt có chửa thì còn trời đất nào. Với ai? Có lẽ họ muốn biết để thoả tính tò mò, tôi còn lạ gì. Lão Xã trưởng nó hứa hẹn với tôi rằng khai ra thì gả kẻ đó cho tôi, lúc thì y lại bảo khai ra để y bỏ tù người ấy. Dễ tôi mới đẻ hôm qua chắc. Năm nay tôi ba mươi hai tuổi đầu và chưa hề nằm ngủ với người đàn ông nào trong đời, trừ một lần cách đây năm tháng. Cái bào thai trong bụng này là của anh ta. Nhưng đừng có hòng tôi nói ra… Tôi giữ cái kỷ niệm, cái hình ảnh ấy cho mình tôi. Tôi cho là đẹp, tôi ôm ấp cái hình ảnh ấy mặc cho họ rủa sả. Tôi chắc anh ta còn hối hận về phút cuồng dâm bữa ấy. Với tôi thì không. Tôi yêu. Tôi chắc anh ta sẽ tự tử nếu tôi khai tên anh ta ra. Mà sao tôi lại nói? Tôi thì mong lấy gì ai? Tôi lê đi dưới đất như một con chó. Tôi với cái bướu trên lưng. Tôi với hình người chẳng ra người. Ai cười thì cười. Ðứa trẻ nào trông thấy tôi cũng chế nhạo. Lũ người lớn thì coi tôi như không có trên thế gian này. Mỗi lần nhìn tôi sao họ có vẻ hợm hĩnh thế. Tôi thù họ. Cho đến ngày nay thì tôi trả được cái thù này. Tôi có chửa với một người của họ. Một gã đàn ông. Tôi sướng khoái với cảm giác thấy họ bị dằn vặt đau khổ. Thì ra lần đầu tôi được chú ý tới. Tôi là cái mốc cho họ bàn tán, ghen ghét. Lần đầu tiên họ nhận thấy có tôi trên cõi đời.

Mẹ tôi mang một nắm lạt tre để xuống bên cạnh tôi. Tôi vẫn tiếp tục đan thành hình một cái giỏ. Thấy người thở dài, tôi chỉ bảo:

– Bầm khỏi phải lo, chẳng ai làm gì được mẹ con ta cả. Còn người ấy thì nhất định con không nói ra đâu. Anh ta chẳng có tội gì hết. Con cũng không, con sẽ đẻ. Và sẽ nuôi đứa trẻ này.

Mẹ tôi nắm lấy tay tôi, tôi nhìn xuống bàn tay gầy guộc đầy gân xám to bằng con giun. Bàn tay tôi cũng sần lên như một bàn chân. Chưa ai ở làng này xấu bằng tôi. Thế mà tôi sắp có con với anh ta, với đứa con giai có vợ sắp cưới là cái Gái ở xóm dưới. Con bé vào loại nhất nhì trong làng. Tiếng mẹ tôi run run khàn khàn trong cái tĩnh mịch của chiều xuống. Tiếng lạt tre cọ vào nhau dưới ngón tay tôi đưa đẩy.

– Buổi chiều ông Xã có bảo với bầm rằng phải về dỗ ngon dỗ ngọt cho mày nói tên người ấy ra, không thì ông ấy đuổi ra khỏi làng. Bây giờ bầm già rồi, chỉ muốn yên phận. Vậy tùy mày xử trí thế nào thì xử. Đời bầm đã khổ nhiều từ ngày lấy bố mày.

Mẹ tôi không nói hết câu, cái hình ảnh cuối cùng là người bố chìm và tan trong một tiếng nấc. Buổi chiều lạnh và mênh mông như một cánh rừng: chơ vơ, lạc hướng. Tôi hình dung lại hình dáng người cha từ thuở nào xa lắm, cái hơi nồng của men rượu, những câu rủa tục tằn lúc nào cũng đeo trên đôi môi dày thâm sịt. Tôi biết mẹ tôi khổ nhiều, kể cả vì tôi. Không hiểu sao những kiếp người như chúng tôi lại cứ có trên cuộc đời. Đã thế lại còn bám vào cái sống không chịu buông. Ngày bố tôi chết vì say rượu trượt chân ngã xuống ao thì cả làng như bớt một gánh nặng. Chính tôi cũng không cảm thấy thương tiếc. Chúng tôi vẫn sống cái kiếp sống của con người vật, dài và buồn nản.

Tôi sờ tay lên gò má còn hằn ngón tay của lão xã, chưa bao giờ tôi thù y đến như thế. Y lại còn muốn làm khổ mẹ tôi. Với tôi như thế chưa đủ hay sao? Đã thế tôi sẽ làm cho y điên đảo. Tôi sẽ khai quách cho cháu y rồi muốn ra sao thì ra. Tôi nhớ lại cái gã đàn ông nặng nề và chậm chạp thỉnh thoảng qua ngõ nhà tôi. Đã có lần tôi ước ao ngủ với hắn và được hít cái mùi hoi hoi của chính người hắn đang vương trong không khí.

Cúi đầu xuống, tôi lại nghĩ đến cái thằng người con ngoi ngóp trong ấy. Nó đương ngọ nguậy, nhè nhẹ nhè nhẹ, nhưng nhiều khi nó cũng làm tôi đau nghiến. Tôi kéo bàn tay mẹ tôi để lên bụng:

– Bầm sắp có cháu bế.

Mẹ tôi yên lặng một lúc rồi bỗng nhiên nói:

– Mày đã định đặt tên nó là gì chưa?

– Chưa, bầm ạ.

Ba chúng tôi cùng ngồi yên, cùng nghĩ tới nhau, chưa bao giờ tôi thấy yêu mẹ tôi, yêu con tôi và yêu anh ta đến thế. tại sao tôi không đối phó để giữ những gì tôi ấp ủ?

– Bầm ạ, tôi thấy nóng mặt vì sắp nói dối mẹ tôi. Anh Ba đấy.

– Ba nào? Tiếng mẹ tôi lo âu.

– Ba, cháu ông Xã ấy mà.

Mẹ tôi chậm rãi đứng dậy chép miệng thở dài. Tôi biết người lo ngại viên xã trưởng. Tôi thì chẳng sợ gì. Y là một thứ vũ phu, y khảo tôi vì tò mò mà cũng để sĩ diện với làng xóm là mình có uy quyền. Đời nào y dám đuổi mẹ con tôi ra khỏi làng này.

– Thôi tao đi nằm đã, rồi cũng liệu mà đóng cửa Tư ạ, xẩm tối rồi.
Mẹ tôi quờ quạng tìm chiếc đèn dầu mắc ở xó nhà, châm lửa. Ánh đỏ chập chờn hoa lên trong chạng vạng của bóng tối vừa xuống. Tôi nói:

– Để con cố đan nốt chiếc giỏ này đã bầm ạ, gần xong rồi.

– Liệu mà nghỉ sớm cho khoẻ.

Mảnh trăng thượng tuần nhô lên sau đám mây dầy, lạnh lùng, đơn độc.
Tôi nhớ lại cái đêm tôi gặp anh ta, trăng cũng như thế này nhưng vào khuya hơn chút nữa. Lần đầu tôi biết một người đàn ông. Từ đó đêm nào tôi cũng nghĩ đến anh ta, cái hình ảnh ấy đến với tôi như một ám ảnh vĩnh viễn. Tôi mê cái ám ảnh đó mỗi buổi chiều tắt đi.

– Đừng anh, đừng ở đây.

Tiếng người con gái van vỉ. Giọng người đàn ông như lạc đi:

– Không, để yên nào.

– Nhưng anh vừa uống rượu với lại…

Câu nói bị đứt quãng bởi một bàn tay giật mạnh. Người con gái kêu lên một tiếng nhỏ rồi giằng ra. Tiếng xoạt của vải rách kèm theo một tiếng rủa ngắn. Tiếng chân chạy xa và gã đàn ông rên lên. Hắn loạng choạng bíu vào cành tre lả gần mặt. Tôi nghe thấy tiếng thở hừng hực. Lúc hắn đi quành ra đằng sau cậy rơm để ngồi xuống thì hắn há miệng vì ngạc nhiên. Một hình thù ngồi đấy tự bao giờ. Đó là tôi, một con vật giống cái. Thỉnh thoảng tôi vẫn bò ra ngồi chỗ này hóng mát, vì nó ở ngay phía sau nhà tôi, cạnh con đường ven làng. Lần này tôi đã thiu thiu chợp được một giấc khá dài. Trăng lấp sau bụi tre và bóng người đàn ông chỉ còn là một khối đen lớn trên nền sẩm của lá.

Anh ta chập choạng đi đến phía tôi rồi quỳ thụp xuống nhìn vào tận mặt. Hơi rượu cay cay làm tôi muốn bật ho. Một con muỗi bay bên lỗ tai vo vo, anh ta giơ tay đập cái đét rồi ôm choàng lấy tôi.

Tôi không kêu nhưng cố đẩy anh ta ra kịch liệt. Mà tại sao tôi lại chống cự cơ chứ? Tôi thường mơ ước được ngửi hơi thở một người đàn ông và lần này tôi đã được. Anh ta ở ngay trên tôi. Anh ta với những bắp thịt rắn đanh. Tay tôi ghì lấy lưng áo sâm sấp mồ hôi hay vì sương xuống tôi không biết. Ánh trăng rất mờ, đám mây xám đảo trên trời như bão hay bão ở lòng tôi, tôi cũng không hay.

Rồi anh ta buông tôi và bỏ đi giữa lúc tôi nằm yên trên cỏ. Mùi rơm hăng và thơm như lúa mới, nhưng không làm tôi quên cái mùi người anh ta, và tiếng chân bỏ xa trên đất cũng không làm tôi trở mình. Tôi nằm đấy suốt đêm với con trăng ướt lạnh, với những vòng hào quang thần thánh quay cuồng không gian.

Quả nhiên sự báo thù của tôi lại công hiệu. Viên xã trưởng thấy mẹ tôi nói là cháu hắn ta thì tái người. Y cũng không dám đánh tôi vì có người nói tôi mà trụy thai thì y không khéo mất chức mà lại khốn khổ. Mẹ tôi chỉ luôn miệng van xin. Người này, người nọ mỗi người hỏi một câu, chêm vào một chuyện. Lúc tôi trông thấy cái mặt tái xám của anh Ba thì lại không cầm lòng thương. Tôi bèn đổ đại cho một chàng khác. Rồi lại một tên nữa bay ra, khiến cả làng hoang mang. Họ càng tra hỏi thì lại càng lúng túng bởi những câu trả lời của tôi. Tôi dám chắc rằng cả đời chưa bao giờ tôi lại nguy hiểm đến như thế. Tôi không còn là một con chó thường nữa mà là một con chó dại khiến mọi người sợ điên lên. Tôi thú vị vì trả thù được những đứa con gái hợm hĩnh có tình nhân hoặc chồng bị ghép ngủ với tôi. Bao nhiêu chàng ê chề, nhục nhã và ngượng đến phát sốt rét vì bị mang cái tiếng tăm đó. Thế ra tôi đã ngủ hết với họ theo tưởng tượng của mọi người. Tôi trở thành một thần tượng cho mọi người sợ và ghét.

Chỉ vì mày đấy con ạ, ôi cái hòn máu bé nhỏ là con của mẹ. Mẹ ước ao rằng sinh ra con hoàn toàn là một người chứ không phải là con vật nữa. Mẹ mang con trong bụng mẹ và lê con trên mặt đất. Mỗi một thước dài là mẹ lại cảm thấy sự có mặt của con và nỗi yêu đương của mẹ.

Tôi thấy nó cười trong tôi, tê tái như sau đêm anh ta đến, và tự nhiên tôi thấy yêu cả cuộc đời. Lão xã trưởng với bộ râu trê ngồng ngộng không còn đáng ghét nữa, y có thể tát tôi dăm bảy cái liền. Tôi cũng không còn ghét những đứa con giai, con gái làng lầm lì nhìn tôi một cách hằn học. Bởi vì tôi đã báo được thù, tôi đã cho họ nhận thấy là tôi ngang hàng với họ, những kẻ có hai cẳng đứng hẳn hòi. Ý tưởng đó làm tôi suýt bật cười thành tiếng. Một người đàn bà sấn đến cạnh tôi vừa chửi vừa định đánh. May mà có một người khác giữ lại:

– Tiên sư nó chứ, chồng bà đâu có ngủ lang với cái thứ mày hởi con giời đánh kia. Bà chỉ cho mấy thanh củi là mày chết bỏ đời.

– Thôi thì bác chấp làm gì. Chị ta dở hơi đấy mà. Đánh chửi lắm nó lại càng khai tầm bậy. Với lại cái mã ấy cũng chẳng sống được đâu. Người như thế làm sao mà đẻ với đái được.

Câu nói đâm vào phổi tôi buốt như một cây kim nhọn.

Tôi nghĩ đến thằng người con trong bụng. Không! Nó còn sống, nó đang sống, nó phải sống. Nó đang ngọ nguậy trong tôi, làm sao nó lại chết được. Tôi bằng lòng chết cho nó sống. Tôi bằng lòng chết mà không cần oán hờn gì ai hết, kể cả anh ta. Mà tôi phải biết ơn mới đúng chứ. Anh ta đã cho tôi dư vị của sự sống. Sự sống tràn trề bùng lên như lửa.

– Không, tôi không chết, các người đi đi.

Tôi hét lên, và mọi người lầm lũi tản ra.Họ vẫn sợ tôi như một con chó dại.
Thế rồi câu chuyện cũng hơi nguôi mặc dầu bụng tôi ngày mỗi lớn. Tôi không lê được nữa. Tôi ở nhà. Mẹ tôi cũng lo ngại bảo với tôi:

– Bầm hỏi bà mụ ở làng thì bà ấy bảo phải đem mày ra tỉnh mới đủ thuốc.

Người lại chép miệng: Thì người ta cũng sợ không làm nổi, nhỡ có sao lại khốn cả hai mẹ con.

Tôi phải đi vì tôi muốn con tôi sống, nó sống để làm người. Mà tôi còn tiếc gì cái làng này khi người ta nhìn đến tôi như một con người vật.

Chúng tôi thu xếp lên tỉnh.

Lần đi này, tôi có cảm giác sẽ không bao giờ trở về nữa. Giã từ tất cả, căn nhà, bụi tre, đống rạ sau nhà. Tôi chỉ mang đi toàn hình ảnh. Những hình ảnh se thắt lại trong những cơn đau dữ dội từng hồi.

Vị bác sĩ khám cho tôi xong quay lại bảo nhỏ với cô nữ y tá tay cầm bút ghi chép. Mẹ tôi thì lo âu nhìn hai người.

– Sản phụ phải ở đây tĩnh dưỡng cho đến ngày sinh nở. Vị bác sĩ nói. Trường hợp này phải mổ để lấy đứa bé ra mới hy vọng cứu cả hai mẹ con. Nhưng tình trạng của sản phụ nguy hơn. Dù sao chúng tôi cũng cố gắng.

Không, nó sẽ sống, tôi kêu thầm như vậy. Tôi bằng lòng hy sinh để nó sống.

Nằm trên giường sắt trắng, tôi như chói mắt vì sắc trắng của trần nhà và buồn nôn vì cái không khí của nhà thương. Những sản phụ khác cũng nhìn tôi bằng con mắt tọc mạch. Chắc họ cũng tự hỏi làm sao một người như tôi lại có chửa như họ được. Và loáng thoáng tôi cũng nghe thấy những tiếng xầm xì từ giường này qua giường khác. Nhưng tôi thì cần gì nghĩ đến họ. Tôi nghĩ đến đứa con tôi, đến cái đêm mà trời như đổ xuống. Da tôi tê đi, ràn rạn như có sự cọ sát của những sợi râu thưa đâm vào má. Mẹ tôi nói:

– Tao lo cho mày, Tư ạ… nhỡ làm sao.

Tôi ngắt lời khe khẽ:

– Bầm khỏi lo, rồi bầm có cháu bế mà. Còn con thì…

Tôi cũng không nói hết câu nhưng mẹ tôi cũng thừa hiểu.

– Có gì bầm nuôi nó.

Giọng nói của tôi nghẹn trong cuống họng, chúng tôi im lặng mỗi người một ý nghĩ. Đêm ấy tôi mơ thấy tôi đi về làng như một người thường. Bằng hai chân. Ai nấy đều chào hỏi tôi như chính tôi cảm thấy từ trước mình vẫn là người thường. Đến nhà thì có một thằng nhỏ ra đón với mẹ tôi. Trông tôi thằng bé chỉ cười. Mẹ tôi dắt nó đến và bảo: Sao không chào mẹ mày đi. Tôi giơ tay bế nó hôn, rồi hai mẹ con dong chơi trong vườn. Giữa lúc đang đùa với con và đang sống tràn trề hạnh phúc thì tôi hãi hùng chợt thấy cảnh vật như lớn lên và tôi nhỏ dần, nhỏ dần lại. Một cảm giác ớn lạnh suốt sống lưng và tôi chợt thức dậy. Bấy giờ còn là đêm. Đầu phòng một ngọn đèn còn le lói và qua khung kính nhỏ trời sao lấp lánh. Căn phòng lặng lẽ như một chiếc quan tài.

Tôi đặt tay lên bụng mỉm cười nghĩ đến nó rồi lại ngủ thiếp đi.

Duy Thanh

(Nguồn: FB Tien Dang)

Đường Vào Trần Gian. Truyện ngắn Nhật Tiến.


Nhật Tiến

Mịt mù khói lửa binh đao
Thiên Thần gẫy cánh lạc vào trần gian

– Nào! Một, hai, ba, hấp!

Lưng của Tư Híp khom xuống và thằng Út đứng ở xa, vừa toét miệng ra cười, vừa phóng tới, hai cánh tay gầy guộc và đen đủi của nó ôm chầm lấy cổ anh, đồng thời cái mông ốm tong teo của nó theo đà phóng tới. Trong một thoáng, thằng bé đã bíu gọn gàng được trên mảng lưng to như cánh phản của anh nó, như một con nhái bấu trên một ống tre vầu. Tư Híp xốc lại mình một lần nữa cho chắc ăn rồi đứng dậy. Gã hỏi:
– Tè rồi chưa?
Thằng bé đáp lại bằng cách nhún nhẩy như nó đang ngồi trên mình một con ngựa. Anh nó tiếp:
– Mày vô trỏng mà đái dầm người ta cắt cu.
Vừa nói gã vừa nghiêng mình xuống nhấc cái tay nải lên đeo ở cánh tay. Gia tài của anh em gã chỉ có thế. Vài cái quần áo, một mảnh chăn chằng đụp và một cái mùng rách bươm. Gã đảo mắt nhìn căn buồng tối tăm như hũ nút một lần cuối với vẻ quyến luyến rồi khom lưng bước qua cánh cửa thấp và hẹp. Ở ngoài sân đất, bà cụ chủ nhà đã đợi sẵn với quả chuối trong tay. Bà trao cho thằng Út với vẻ trìu mến, rồi hỏi:
– Anh Tư đi rồi bao giờ về?
Tư Híp đáp:
– Ý chà, chắc là lâu vài ba năm.
– Rồi cũng được nghỉ phép chớ bộ đánh nhau hoài sao?
– Có chứ! Tới chừng có dịp là cháu về thăm cụ ngay.
Bà cụ nhìn thằng Út thở dài:
– Vậy là anh nhất định kéo nó đi theo thiệt đó à. Vô đó ai người ta chịu?
Tư Híp mỉm cười:
– Hổng chịu thì cũng đành vậy thôi chớ, cháu bỏ nó mà đi thì lấy ai nuôi nó? Mình cứ trình bày hoàn cảnh thì rồi mấy ổng cũng phải thông cảm cho mình chớ.
Vừa nói Tư Híp vừa xốc lại thằng Út trên vai. Gã đứng tần ngần bên cạnh bà cụ một giây rồi chậm rãi đi ra cửa. Bà cụ lặng lẽ theo sau. Phút chia tay chẳng có gì thế mà bịn rịn. Dầu sao thì anh em thằng Tư Híp cũng đã chui rúc ở đây mấy năm rồi. Đối với họ, bà cụ coi như con cháu trong nhà. Ra tới ngoài, bà cụ mới móc ra tờ giấy bạc nhét vào túi áo thằng Út. Tư hỏi:
– Cái gì thế?
– Để cho nó ăn quà, tội nghiệp.
Tư Híp lúng túng cám ơn trong khi ấy thằng Út đã tẻm hết một nửa quả chuối và vất nguyên cái vỏ ra thềm đất. Bọn trẻ con đang chơi nhộn nhịp ở ngoài ngõ bỗng ùa lại. Một vài đứa hét:
– Ê! Út, mầy đi đâu đó mậy.
Út nhấp nhổm trên lưng anh và giơ tay lên vẫy. Tư Híp trả lời thay em:
– Đi quân dịch đây. Đứa nào khoái bắn súng thì theo tao.
Cả bọn nhao nhao:
– Tôi!
– Tôi!
– Tôi! Tôi nè!
Thế là cả bọn nó xúm xít bu lấy anh em Tư Híp như một chùm sung rồi cả chùm sung đó ùn ùn kéo nhau đi chật cả lòng ngõ. Tư Híp phởn chí toét miệng ra cười. Gã cất giọng ngêu ngao:

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng quốc gia đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống.

Đường Vào Trần Gian

Đám đông ra tới đường cái thì gặp một vụ đánh lộn. Thế là lũ trẻ túa lên chạy. Trong chớp mắt chỉ còn anh em Tư Híp đứng một mình ở bên vỉa hè. Thằng Út nhấp nhổm định đòi tụt xuống, nhưng anh nó đã vội nói:
– Ý! Mình đi quân dịch mà. Đâu có theo tụi nó được.
Út hậm hực lúc lắc trên vai anh nó một chút rồi lại ngồi yên. Nửa quả chuối còn lại bây giờ nó đã tẻm nốt và chùi bàn tay lên vai áo của anh nó. Gã đàn ông thủ thỉ:
– Từ bây giờ mình phải tập vô kỷ luật thì mới được. Nhà binh ác ôn lắm mày biết không.
Thằng Út buồn bã không trả lời nhưng anh nó vẫn tiếp:
– Nghĩa là mình phải theo lời mấy ông sĩ quan. Mấy ổng thổi toe một tiếng còi là phải sắp hàng ngay cái tróc, thổi toe một tiếng nữa là im lặng như điên, toe cái nữa là hấp nhào vô tập tành ngoan ngoãn, chăm chỉ. Mà điều đó phần tao. Còn mày khỏi! Đếch phải sắp hàng sắp lề gì hết ráo. Cho mày chạy chơi như điên, chỉ cần tao đi đâu mày lót tót theo đó là “năm bờ oăn” rồi, nghe Út!
Út chẳng đáp vì nó đang nhìn quả bóng xanh đỏ bay phất phơ trên tay một thằng bé bán bóng mới xuất hiện ở bên kia đường phố. Sự im lặng của nó làm Tư Híp phải ngoái lại nhìn. Gã cằn nhằn:
– Đếch nghe gì cả, ông nội! Bộ ông nội tưởng cóc có gì quan trọng lắm sao. Vô đó mà ông láng cháng làm trật lất thì họ ghét họ cắt cu. Lính thứ thiệt chớ bộ rỡn với ông sao?
Vừa nói gã vừa xốc lại thằng bé, đổi cái tay nải sang tay bên kia cho bớt mỏi, rồi gã lại thủ thỉ:
– Phải nhớ đó nghe. Hể mà ai đụng tới thì mày phải gào to lên, gào chừng nào tao nghe tiếng, tao chạy tới thì thôi. Mà ý chà! Cái gì chớ cái gào thì đếch cần phải dặn ông kỹ. Cái họng nhà ông mà gang ra thì cả nước phải điếc tai.
Vừa nói, Tư Híp cười hì hì. Hai hàm răng của gã nhăn ra như răng ngựa. Lớp thịt ở hai bên má của gã nhúm lại, đội cho vành mi dưới trồi lên hàng mi trên, khiến cặp mắt của gã đã bé lại càng bé thêm. Chả trách hàng xóm người ta không kêu tên thật của gã mà chỉ gọi gã là Tư Híp. Người ta không biết dĩ vãng của Tư như thế nào, nhưng chỉ biết Tư sống độc thân với thằng em ruột vừa gầy vừa choắt, so với gã thật là một sự tương phản mạnh mẽ. Tư Híp quí em như vàng. Điều mà gã lo sợ nhất là sau này, nếu gã chết đi, để lại một mình nó bơ vơ trong cuộc đời thì nó sẽ không biết làm gì để xoay xỏa lấy đời sống, Tư sợ cái hình ảnh đó lắm, và gã thường cầu trời cho đừng bao giờ xẩy ra cái chuyện khủng khiếp như thế cả. Buổi tối khi đi làm về, Tư ít đi chơi hay đi nhậu lai rai, gã chỉ thích ở nhà đùa nghịch với thằng Út trong bóng tối lờ mờ của ngọn đèn dầu hôi đặt trên vách gỗ. Nhưng Út thì không khoái nghe gã rủ rỉ chuyện trò bằng sự chạy lồng lên như chó điên với bọn trẻ ở trong ngõ. Thành ra nó chỉ láng cháng với anh nó một lát là lại tìm cách chuồn đi mất biệt. Tư Híp nằm buồn tình, cằn nhằn một mình trong bóng tối rồi chỉ một chốc gã đã lăn ra ngủ. Giấc ngủ đến với gã quá dễ dãi như bản tính dễ dãi của gã. Gã không mong gì hơn là được kéo dài cuộc sống bình thản như thế cho đến trọn cuộc đời. Thằng bé cứ bé như thế mãi, và gã thì lúc nào cũng khỏe mạnh để làm được thêm nhiều, bữa cơm chiều sẽ chẳng có vài đồng thịt quay thì cũng có mấy khoanh tiết nóng cho thằng Út.
Thế là gã mãn nguyện vô cùng rồi.
Nhưng vào một đêm có lính xét sổ gia đình và gã bị chớp lên xe vì gã ở trong tuổi quân dịch. Gã như điên lên khi thấy rằng chẳng cần đợi chờ lúc gã chết đi thì hình ảnh bơ vơ của thằng Út mới thực sự trở về. Gã đã van nài lạy lục tất cả mọi người, nhưng chẳng có ai nghe lời trần tình của gã. Cuối cùng gã phải tự thoát thân lấy bằng cách liều lĩnh nhẩy ùm xuống lạch nước khi được dẫn qua cây cầu khỉ và lặn một hơi qua những gậm nhà sàn tối tăm để thoát thân sang tận bên kia. Bữa đó trở về, gã nằm ngất ngư hết mấy hôm vì uống no một bụng toàn nước sông đen ngòm, sặc mùi sú khí.
Sau hôm đó, gã tự nghĩ rằng thà đem thằng Út vô lính cùng với gã còn hơn là lại tới một hôm nào đó người ta bắt giải gã đi một mình, để thằng Út bơ vơ, không ai chăm nom săn sóc.
Thế là gã gom góp đồ lề, sửa soạn hành lý để lên đường thi hành nghĩa vụ công dân. Hành trang của gã gồm có:
– Bốn bộ quần áo
– Một cái mền
– Một cái khăn mặt
– Một đôi dép cao su
– Và thằng Út năm nay vừa tròn sáu tuổi.
Ở quân vụ thị trấn, người ghi danh sách không nín được cười trước cái cảnh tay bồng tay mang của Tư Híp. Anh ta la lên:
– Trời ơi! Sao anh không đem cả vợ lớn vợ bé đi luôn có hơn là xách theo mỗi thằng nhỏ nầy.
Tư Híp gãi đầu gãi tai:
– Xin xếp thông cảm giùm. Em chưa có vợ.
– Chưa có vợ mà bế con vô hả?
– Dạ không phải! Nó là em.
Người đàn ông giận dữ:
– Em hay cháu hay chắt thì cũng phải để nó ở nhà chớ đi lính đánh giặc chớ bộ đi nghỉ mát sao mà bồng bế nhau um sùm tới đây vậy.
– Dạ để nó ở nhà thì không có ai nuôi. Nó còn con nít quá mà xếp. Xin xếp thông cảm giùm em..
– Cảm với cúm gì. Rồi anh coi, vô trại nhập ngũ người ta tống nó ra còn thêm tội cho nó hơn nữa.
Tư Híp đặt ngay thằng bé xuống, chấp hai tay định xá một xá, nhưng nghe lời dặn của anh, thằng Út nhất định không chịu rời cái lưng êm ái của anh nó. Hai tay nó níu chặt lấy cổ Tư Híp còn hai chân thì nó quắp chặt lấy mạng sườn khiến Tư Híp giằng cũng không ra và cử chỉ lễ phép của hắn trở nên lúng túng. Người đàn ông ngước mắt lên nhìn thân hình cõi của thằng bé với bộ mặt vêu vao đen thui thủi rồi bỗng chép miệng thở dài. Ông ta gõ cái bút chì lên trán Tư Híp rồi nói:
– Không bảo đảm đâu đó nghe! Xuống đó người ta đuổi, tôi mặc kệ đa…
Mặt Tư Híp tươi hẳn. Gã biến ngay thành con ngựa nhẩy quẫng lên, Tư xóc thằng Út trên lưng khiến nó khoái chí toét miệng ra cười và quắp chân thêm chặt hơn nữa. Lần này Tư Híp phải la lên:
– Thôi đi Ba. Nới nới ra chút giùm. Bộ tôi làm ngựa cho Ba cỡi suốt ngày đó sao.
Vừa nói gã vừa gỡ thằng bé, đặt xuống sàn đá hoa rồi vươn vai răng rắc. Mặt gã rạng rỡ hẳn lên. Nhìn đâu gã cũng thấy niềm vui chan hòa. Cử chỉ của gã cũng trở nên khép nép như để biểu lộ thêm lòng biết ơn của gã đối với sự dễ dãi mà người ta đã dành cho gã.
Một lát sau gã được xua vào đứng ở một góc sân cũng với mấy chục người khác. Thằng Út lót tót đi theo. Mắt nó dáo dác nhìn cảnh vật chung quanh với cặp mắt tò mò. Rồi chỉ một lát nó đã tót lại sờ mó những chiếc xe bóng loáng đậu ven bờ tường hay đứng ngẩn người ra ngắm khẩu súng lục trên dây lưng của người lính ngồi gác giữ an ninh gần đó. Sự táy máy của nó làm Tư Híp vừa cằn nhằn vừa chìa cái lưng ra nói:
– Thôi, mời bố phốc lên đây. Bố mà cà rà ra đó người ta tống ra ngoài đừng có mà hòng xin ai nữa.
Thằng Út nheo mắt nhìn anh mỉm cười. Nó lùi ra xa ba bốn bước để lấy đà rồi mới nhào người lại như kiểu anh hiệp sĩ trong phim cao bồi phóng mình lên lưng ngựa. Lúc Tư Híp đứng dậy thì nó chồm lên, thúc đùi vào mạng sườn của anh nó rồi cười như nắc nẻ…
Vào đến trại nhập ngũ, càng thấy đông người, Út càng trở nên nghịch ngợm. Giữa đám đông toàn thanh niên trai tráng, bóng dáng loắt choắt của nó bỗng trở thành một hình ảnh ngộ nghĩnh và đặc biệt thu hút được sự chú ý của mọi người. Suốt ngày nó nhẩy quẵng lên như con chó động cỡn, len lỏi hết đám đông này đến đám đông khác, la cà ở khu này tới khu khác, khi mệt mỏi nó lại tìm về chỗ của Tư Híp mà nằm lăn ra ngủ một cách dễ dãi. Trời nắng như thiêu đốt. Tư Híp kê đầu của nó lên chiếc tay nải rồi phủ người nó bằng tấm mền hôi và bẩn để kiếm chút bóng mát. Còn gã thì ngất ngư sau một ngày chờ đợi mệt mỏi. Mặt gã đỏ rừ. Mồ hôi tháo ra đầm đìa ở mặt và ở cổ. Miệng gã khô đắng lại. Suốt từ sáng gã chỉ dám liều ra quán uống có chai nước ngọt vào lúc trời nắng gay gắt nhất. Chai nước ngọt được chia làm hai. Non một nửa cho gã, và già một nửa nhường cho cái bụng ỏng kếch sù của thằng Út. Giờ ăn, gã được lãnh một phần cơm với hai miếng thịt. Gã tưới thực nhiều nước thịt kho để cơm được chan bằng thứ nước mằn mặn. Gã tưởng phải nhường phần cho thằng Út nên không được no, nhưng đến lúc chỉ lùa được hai muỗng vào miệng, gã đã thấy cổ họng mình bứ lại. Cái khát làm cho gã hết cả đói. Môi gã rộp lên, miệng đắng nghét, cặp mắt đỏ ngầu. Chưa bao giờ gã lại mong trời mưa đến như thế. Nhưng trời trong xanh và cao thăm thẳm. Không có một làn mây, không có một ngọn gió, bốn bề chung quang chỉ hầm hập hơi nóng. Hơi nóng làm héo úa những cọng cỏ mọc ngổn ngang trên nền đất, làm khô bỏng những lớp cát rải rác trên lối đi, làm cả lớp mái tôn của dẫy nhà chật ninh ních những người như cong lên, vênh lại.
Sự sinh hoạt ồn ào lúc buổi sáng cứ theo sức nóng của buổi trưa mà chìm dần trong êm ả. Sự êm ả bức bối, nực nội, mệt mỏi và rã rời, chỉ đến lúc chiều dần xuống, cái nóng dịu đi, những ngọn gió thần tiên bắt đầu thổi hây hây trong bầu không khí dịu mát, thì tiếng hò hét, nói cười lại trở về và kéo dài liên miên cho đến đêm khuya.
Bữa cơm sáng thằng Út chỉ ăn vã đúng có hai miếng thịt kho. Đến chiều nó ngắm nghía mấy sợi măng sào trên bát cơm nguội lạnh rồi lắc đầu và vùng lên chạy. Tư Híp chẳng kịp phân trần hay khuyến khích sự can đảm chịu đựng của nó thì bóng dáng loắt choắt của nó đã mất biến ngay trong đám người đứng ngồi ngổn ngang phía trước mặt.
Mãi đến lúc sẩm tối, Út mới tha thẩn đi về. Bộ điệu của nó có vẻ như mới được ăn no, tay nó cầm một mớ nút chai. Nó ngồi xuống nệm cỏ chơi đánh phén một mình chán rồi nằm phưỡn rốn ngửa mặt lên nhìn bầu trời bắt đầu lấp lánh mấy vì sao ướt mới mọc. Bầu không khí bây giờ lại dịu hẳn đi. Gió mát thổi lồng lộng làm tung những sợi tóc lòa xòa trên trán và má của Tư Híp. Sự khoan khoái hiện tại xen với nỗi cực nhọc của suốt một ngày chờ đợi hoàn tất mọi thủ tục khiến cho gã thiu thiu buồn ngủ. Gã gối đầu lên cái tay nải, một chân của gã khều về phía mộng đít của thằng Út như để gã cảm thấy yên tâm trông coi nó ngay cả trong giấc ngủ, còn hai tay của gã ruỗi ra thật dài. Gã sung sướng nhắm nghiền hai mắt để cho từng ngọn gió lùa qua cổ áo mơn man ở khắp ngực và bụng. Cứ như thế, chỉ trong khoảnh khắc gã đã quên bẵng khung cảnh ồn ào trước mặt và cả cuộc đời dở dang của gã để ngáy như kéo gỗ.
Trong giấc mơ, gã thấy mình bơ vơ giữa một khoảng trời ngùn ngụt lửa cháy và tơi bời bom đạn. Tiếng đạn nổ, tiếng người la, tiếng động cơ gầm thét trong bầu trời đỏ rực, gã thất thanh gọi tên thằng Út nhưng chung quanh gã chỉ có những hình thù đầy máu me chạy nhẩy hỗn loạn như những hình nhân gớm ghiếc. Tư Híp rú lên thất thanh và gã choàng dậy nhớn nhác nhìn quanh. Bên tai gã tiếng súng máy, tiếng động cơ vẫn ầm ĩ nổ rôn. Gã nhận ra những âm thanh đó phát ra từ chiếc máy phóng thanh và ở gần đó người ta đang chiếu cho tân binh quân dịch coi một cuốn phim giải trí. Gã hoàn hồn giơ bàn tay lên vuốt những giọt mồ hôi vã ra ở trần và ngực.
Thằng Út bây giờ cũng đã biến đi đằng nào. Chắc nó đã len lỏi vào đám đông trước mặt để nhìn cho rõ những hình ảnh nhấp nháy nhức mắt trên tấm khung vải xộc xệch căng bằng những sợi dây buộc trên xà gỗ. Tư Híp lơ đãng nhìn về phía đó một lát rồi lại nằm xuống. Gã cảm thấy cơ thể rã rời mệt mỏi và trí óc trĩu nặng những nỗi lo âu thấp thỏm. Gã nghĩ đến những đêm nằm nghe tiếng súng nặng nề làm rung chuyển nhà cửa trong thành phố, những trái hỏa châu bắn lên soi sáng vàng úa trên mặt đường nom thê thảm như những cây nến chết chóc sừng sững leo lét ở giữa bầu trời. Gã tự hỏi rồi ngày mai gã sẽ làm được gì và phải làm những gì. Nhưng đối với gã, dù có xẩy ra bất cứ điều gì gã cũng sẽ chịu đựng tất cả, miễn là anh em gã còn được gần nhau, thằng Út không phải bơ vơ trong mớ tuổi nhỏ nhoi của nó.
Nghĩ đến thế, bỗng nhiên Tư Híp thấy sốt ruột. Gã trở mình vài ba lần rồi thốt nhiên nhỏm dậy. Gã cố nghển cổ lên nhìn, cặp mắt hướng về phía đám đông như muốn chọc thủng bóng tối để tìm bóng dáng loắt choắt của thằng em. Nhưng đám người đứng đông nghìn nghịt khiến gã thấy ngay khó mà tìm ra được thằng Út trước giờ vui giã đám. Chán nản, Tư Híp lại tiếp tục nằm ngửa mặt nhìn lên bầu trời lấp lánh mấy vì sao. Không gian thật hoàn toàn êm ả nếu thỉnh thoảng không có những đốm đỏ của từng chiếc máy bay di chuyển nặng nề qua vùng trời trước mặt. Rồi chỉ một lát, có tiếng bom ầm ĩ vọng về. Tiếng bom thật xen lẫn với tiếng súng giả nổ ròn rã trên màn bạc. Hình ảnh của những vùng đất bị cầy, xới, khoét, phá xen lẫn với những đám lửa ngùn ngụt cháy. Những rừng cây xơ xác, những làng xóm hoang tàn như điên đảo, quay cuồng trong đầu óc của Tư Híp khiến gã thấy mình như bị ném vào một cơn lốc lớn, ở trong đó con người nhỏ bé của gã bị rang phỏng lên, đầu óc căng nứt ý nghĩ chập chờn, và gã bắt đầu cảm thấy mình đang tách rời cuộc sống hiện tại để đi vào một giấc ngủ chập chờn, mộng mị.
Đến lúc gã tỉnh dậy vì sương đêm ướt lạnh cả mảng lưng dưới nệm cỏ thì bốn bề đã trở nên im lặng hoàn toàn. Bên tai gã chỉ còn tiếng những con muỗi vo ve tạt đi tạt lại ở cổ, ở má và chân tay. Phía đằng xa, trên những tấm hàng rào kẽm gai trải thẳng tắp trên vùng đất rộng bao la, những ngọn đèn ủ rũ hắt xuống một thứ ánh sáng vàng vọt, héo úa. Tư Híp quờ quạng tay sang hai bên và gã bắt gặp thằng Út lúc nầy đang rúc đầu vào chiếc tay nải ngủ cách ngon lành. Khuôn mặt của nó bây giờ nom bình thản và thơ ngây một cách tội nghiệp. Tư Híp nghĩ đến cái giường ấm cúng trong căn buồng ấm cúng ở nhà. Gã bỗng thấy lòng dâng lên một niềm thương vô hạn trước sự gian truân mà thằng Út đang phải chịu đựng. Gã vội kéo nó nằm sát lại gần rồi rũ tấm mền ra đắp lên bụng nó. Trong giấc ngủ, thằng Út trông như một con chó nhỏ nằm mệt vùi sau một ngày rông dài, chạy nhẩy…
Những ngày tiếp theo, anh em thằng Út vượt qua trót lọt tất cả những chặng đường để vẫn còn được ôm nhau trong giấc ngủ. Chẳng ai nỡ dứt thằng bé loắt choắt ra khỏi tình thương của anh nó cả. Thật sự thì Út thừa đủ tinh khôn để tự lo lấy được cho mình. Ban ngày, trong lúc Tư Híp phải rời em làm phận sự thì Út lảng vảng ở dưới khu nhà thầu. Nó kết bạn với hầu hết mọi người làm việc ở đó. Chẳng cần để anh nó phải nhường nhịn, mỗi ngày Út cũng xoay xở được hai bữa cơm no. Thường thường Út chỉ trở lại tìm anh vào lúc trời tối hẳn. Ở giai đoạn đầu, Tư Híp chưa phải vất vả học tập bao nhiêu nên ban đêm hai anh em vẫn có thể la cà đây đó hay nằm trên giường tán róc trước khi ngủ. Cũng có nhiều hôm Út đi biệt hai ba ngày liền không trở về. Lần đầu tiên Tư Híp tưởng nó bị tống ra khỏi trại nên chạy đi xông xáo tìm kiếm và bỏ cơm đúng hai ngày.
Nhưng rồi bỗng nó lại lù lù, dẫn xác trở về trong bộ quần áo không mới lắm nhưng khác lạ.
Thằng ranh con thế mà tài. Mái tóc sù lên như ổ quạ rối của nó đã được hớt lên sạch sẽ. Trong túi của nó đã thấy rủng rẻng mươi đồng tiền cắc. Sự chĩnh chạc, phong lưu của nó khiến gã đàn ông quên cả buồn, quên cả giận. Gã đá phốc ngay vào cái lon sữa bò ở gần đó như chứng tỏ cơn giận gã trút hết cả vào đó, rồi gã hét lên:
– Thằng mắc dịch, mày đi đâu tao kiếm hụt hơi muốn chết mà không ra.
Út mỉm cười, móc túi lấy ra chiếc kẹo chanh đưa lên khoe rồi thản nhiên bóc giấy bóng và cho vào miệng. Tư Híp hỏi gặng:
– Mày đi đâu vậy Út?
Út giơ ngón tay chỉ về phía trước mặt, không trả lời. Miệng của nó còn mắc lúng búng với viên kẹo thơm phức. Gã đàn ông hậm hực một lát rồi nói:
– Coi chừng cà rà cho lắm vào mấy ổng sút cho một cái là bay về tới nhà đấy nhóc con. Lần sau thì cấm đấy, nghe chưa.
Nhưng lời nói của Tư Híp đối với Út cũng chẳng khác nước đổ đầu vịt. Thằng bé vẫn ham chơi, vẫn chạy nhẩy như con chó động cỡn, và từ hôm đó về sau lâu lâu nó mới chịu nằm ngủ gọn trong lòng anh một lần. Một hôm Tư Híp bắt gặp nó theo chân hai người đàn bà, một già một trẻ, khiêng một sọt su su từ chỗ đậu xe xuống nhà bếp.
Lúc đó Tư Híp đang làm tạp dịch ở ngoài hàng rào. Gã chú ý đến người thiếu nữ khiêng sọt vừa đi vừa nô với thằng Út. Tiếng cười trong trẻo của hai người làm ấm cúng hẳn khung cảnh buồn chán ở chung quanh với những mái tôn thấp, những hàng rào kẽm gai chạy dài và những chiếc mũ sắt thấp thoáng trong từng lô cốt. Khuôn mặt của nàng đầy quyến rũ với nước da ửng hồng, từng giọt mồ hôi chẩy vã xuống hai gò má còn dính những sợi tóc dài và ướt. Dưới vầng trán phẳng, cặp mắt bồ câu long lanh sáng. Nàng cười tươi như bông hoa buổi sáng và giọng nói lanh lảnh của nàng bỗng gieo vào lòng gã đàn ông nhiều cảm xúc xao xuyến.
Thằng Út mải đùa nên không để ý đến anh nó. Nhưng hình như thiếu nữ nhận ngay ra được Tư Híp. Nàng ghé vào tai Út thì thào và Út reo to lên quay lại nhìn về phía hàng rào. Nó giơ bàn tay lên vẫy vẫy. Tư Híp bối rối vẫy lại. Mắt gã vẫn không rời khuôn mặt của người thiếu nữ lúc tiến gần ngang qua chỗ gã đứng. Gã bắt gặp cái nhìn soi mói của nàng hướng về phía gã. Điều đó làm gã lúng túng vô cùng. Gã không dám nhìn ai nữa mà chỉ cúi vội xuống vờ lúi húi trong công việc.
Đến tối, gã thủ thỉ với Út trên giường nằm:
– Ai khiêng sọt su su hồi chiều đó, Út?
Út đáp:
– Chị Hiên nhà bếp đó
– Mầy quen hả?
– Quen
– Rồi mầy nói hay sao mà cổ cũng biết cả tao.
– Biết chớ! Em chỉ anh cho cổ mấy lần.
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Mầy kỳ thấy bà, khi không “chỉ” tao làm gì, làm tao mắc cỡ muốn chết.
Út yên lặng không đáp khiến Tư Híp chờ lâu không được nên lại tiếp tục hỏi:
– Mầy chỉ tao làm sao Út?
– Thì chỉ vào anh đó.
– Rồi mầy nói chi?
– Chả nói gì hết.
– Ngu thấy bà! Chỉ rồi thì cũng phải nói lai rai chớ bộ, im thì ai mà biết.
Út mỉm cười:
– Thế thì em chẳng có nói cái gì hết.
Sự ngu độn của nó làm Tư Híp bực mình. Gã vặc lên:
– Không nói cái gì hết mà cổ lại biết tao là anh mày. Thằng ngu quá đi!
– Vậy thì em có nói. Em nói anh Tư của em đó.
Mặt Tư Híp tươi lên. Lòng gã bỗng rung động. Gã hỏi dò một cách hồi hộp:
– Thiệt không?
– Thiệt!
– Ừ! Rồi cổ bảo sao?
– Không bảo sao hết đó.
Tư Híp thất vọng, vén đùi lên gãi sồn sột. Một lát gã tỉ tê:
– Vậy từ hồi đó tới giờ, mầy ăn uống ở đó, đó hả?
– Ừ!
– Bộ mầy xin hay sao!
– Em không xin mà đều cổ cứ giữ lại.
– Kỳ! Không quen mà giữ lại.
– Thiệt đó!
Mặt Tư Híp tươi lên lần nữa. Gã nói:
– Rồi mầy nói sao?
– Chả nói sao hết.
– Mầy nói ngang như cua đó. Bộ chả nói, cứ việc xông đại vô ăn cơm nhà người ta đó chắc.
– Chớ sao. Người ta mời mình mà.
– Mời sao?
– Mời là mời chớ còn mời sao. Anh hỏi kỳ thấy bà.
Nói rồi Út giận dỗi nằm quay lưng về phía Tư Híp, co hai tay lên đầu nhất định không nói nữa. Thái độ của nó làm Tư Híp ngán ngẩm. Suốt đêm hôm ấy, Tư trằn trọc mãi không ngủ. Hình ảnh của người con gái đã gieo vào lòng gã biết bao nhiêu nỗi niềm xao xuyến.
Những ngày sau đó, cũng có một vài dịp Tư được đối diện với nàng, nhưng gã không thể nào cất lời nói được với nàng một lời nào cả. Tình yêu của gã chỉ biểu lộ qua cặp mắt nồng nàn say đắm mà gã chăm chú nhìn nàng vào những lúc nàng không nhìn gã. Gã biết mình quá nhút nhát nhưng gã không thể vượt qua được cái trở lực đó. Thấm thoắt hơn hai tháng trôi qua, chương trình học của gã mỗi ngày một thêm bận rộn và gay go. Có khi suốt cả một tuần gã không còn có dịp để tâm tới cả thằng Út. Mãi tới một hôm vào ngày nghỉ, gã mới đi tìm nó và gặp Hiên đang ngồi gọt su su với nó ở đầu hè. Lần này gã lấy hết can đảm để nói được một câu:
– Tôi cám ơn cô nhiều lắm, cô Hiên ạ..
– Cái gì anh Tư
Tư bắt đầu thấy lúng túng, mặt gã nóng rực lên. Gã ấp úng:
– Thằng Út! Thằng Út đó…
– Làm sao, anh?
– Nhờ cô đã nuôi dùm nó, tôi cám ơn cô vô cùng…
– Thôi, anh cho nó làm con nuôi má tôi đi! Má tôi cũng thương nó lắm đó..
– Thiệt không?
– Thiệt chớ!
– Mầy chịu không Út?
– Chịu!
– Vậy thì tôi cũng chịu đó. Nay mai tôi sắp đi rồi. Cho nó theo chẳng biết có yên không?
Mặt Hiên đang tươi bỗng buồn hẳn đi. Nàng cố nén tiếng thở dài:
– Tôi cũng đã nghĩ đến đó rồi. Đem nó vô đây thì dễ chớ mang đi trận sao được.
Tư đứng im lặng, tần ngần. Thấy gã có vẻ buồn, Hiên an ủi:
– Anh đi yên chí. Tôi coi nó như em ruột mà.
Tư nói:
– Vậy thì may cho tôi quá. Rồi những kỳ được nghỉ phép, tôi sẽ về thăm cô và nó luôn.
Hiên ngẩng mặt lên nhìn. Trong ánh mắt của nàng bỗng chứa chan niềm thương xót. Nàng mấp máy định nói gì nhưng rồi lại thôi. Thốt nhiên giữa hai người như có một khoảng ngăn cách nặng nề mà Tư Híp cảm thấy như bị ám ảnh bởi chiến tranh, bởi bom đạn và bởi những mạng sống bất trắc của cuộc đời người lính chiến. Điều đó khiến gã không muốn phát biểu nhiều hơn. Gã lặng lẽ ngắm hai bàn tay mềm mại của người thiếu nữ thoăn thoắt trên những lớp vỏ xanh rờn của trái su su. Một lát sau gã tức tưởi từ giã ra về.
Đêm hôm ấy gã lại trằn trọc không ngủ. Có lúc gã lại muốn im lặng để khỏi ràng buộc bất cứ ai vào cuộc đời gian lao sắp tới của gã. Chưa bao giờ gã cảm thấy tủi thân và cô độc, như đêm đó. Ngay cả thằng Út đứa em ruột thịt của gã mà gã tưởng như không bao giờ rời xa lại cũng như đang sắp sửa vuột khỏi cuộc đời gian lao của gã. Đêm hôm nay thằng Út không thấy trở về. Có lẽ nó quấn quít ở bên cạnh Hiên hay ngủ vùi ở một chỗ nào đó trong gian nhà ấm cúng của nàng. Gã bỗng thèm được ôm nó vào lòng, muốn được nghe giọng nó nói, tiếng nó cười và được trông thấy những vẻ láu lỉnh trên khuôn mặt vêu vao đen đủi của nó. Lần đầu tiên trong cuộc đời gã ôm mặt khóc thúc thít.
Sau hôm đó trở đi Hiên đối với Tư có vẻ gần gũi hơn. Nàng thường gởi thằng Út những món quà vặt vãnh khi thì một trái cam, khi thì gói thuốc lá, nhưng tuyệt nhiên Hiên không nhắn gì thêm cho Tư cả. Nhưng dù sao những món quà thân yêu ấy cũng đượm vẻ đầm ấm và lôi kéo thời gian đi quá mau. Ngày mãn khóa, Hiên mời gã đàn ông đến ăn cơm vào một buổi chiều. Gã náo nức chờ đợi.
Lần đầu tiên từ ngày nhập ngũ, gã thuê giặt bộ đồ treillis để được người ta sịt hồ lên đó và ủi cho thẳng nếp. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, gã lại cầm bộ đồ cứng như mo nang lên ngắm nghía. Gã đã hình dung ra hình ảnh tươm tất, gọn ghẽ, oai nghi của gã ở trong bộ đồ đẹp đẽ đó.
Trước kỳ hẹn hai ngày, gã lại chịu khó đi hớt tóc, mặc dù lần hớt trước đây mới chỉ được gần hai tuần lễ. Hai ngày hẹn cuối cùng đối với gã dài như thế kỷ. Gã mong nó tới, rồi lại mong nó chậm chậm đừng vội xẩy ra, và rút cục gã lại thấy giờ, phút bò đi quá nặng nề đến độ như thời gian đã ngừng lại. Nghĩ đến Hiên, tim gã đập rộn ràng, ý nghĩ của gã xáo trộn, và chân tay của gã bắt đầu bối rối. Chính vì thế mà gã thích được ngồi riêng ra một chỗ để nhẩm lại những điều mà gã sẽ nói với nàng. Ngày mai, ngày kia trên đường hành quân đầy cát bụi, biết còn lúc nào rảnh rỗi để về thăm chốn cũ, người xưa. Cho nên nói thẳng với nàng là điều tất nhiên rồi . Nhưng nói thế nào, nói làm sao, nói những gì? Ôi, lần đầu tiên Tư Híp bị rơi vào một vấn đề gai góc mà không một ai có thể giúp đỡ gã được.
Đã có lúc Tư chong đèn cầy, kê giấy lên thùng gỗ để viết cho Hiên một lá thư. Nhưng nét chữ vụng về của gã không đem lại cho gã niềm tin tưởng nào. Không hiểu sao, Tư có cảm giác như văn hóa của Hiên cao hơn mình. Như vậy thì đường vào tình yêu theo ý gã, không phải là con đường “văn hóa”. Nó cũng không phải là con đường “chính trị”. Bởi vì với một bữa cơm ngắn ngủi, gã không có cách nào, mà cũng chẳng có tài cán gì để đưa nàng vào thế giới tình yêu bằng những đòn phép chính trị cả. Cuối cùng, nát óc quá, gã phải đi tới kết luận là phải làm liều. Chỉ một cái cầm tay, một câu nói cộc lốc “Tôi thương cô, cô có thương tôi không”, là gã thấy có vẻ dễ dàng nhất. Miễn là biết liều, mặc dầu cái liều tình cảm này còn khó gắp mười lần cái liều ôm súng lao vào vị trí địch.
Rồi như để đo cái mức nguy hiểm của sự liều lĩnh đó đên chừng nào, Tư hay dò hỏi thằng Út về thái độ của Hiên. Gã hỏi:
– Mày ưa nói chuyện với chị Hiên thường hôn?
Út đáp:
– Thường!
– Nói kí gì?
– Nói kí gì thì ai mà nhớ.
– Thằng ngu hôn! Hổng nhớ mười thì cũng nhớ một chớ.
– Thế thì thiếu gì.
Mặt Tư tươi lên:
– Ờ! Phải vậy chớ. Nói nghe chơi.
– Chỉ kể “chiện”thanh xà, bạch xà, chiện ông Hoàng ốc, chiện…
Tư ngắt lời:
– Cái đó thì nói làm chi. Tao nói là nói chuyện mầy, chuyện tao, chuyện bình phẩm này nọ. Như thể chị đó khen mầy ngoan hay mầy hư, mầy mất dạy hay đạo đức, tao..tao… bảnh hay không bảnh ấy chớ.
Út phá lên cười:
– Ý! Anh thì bảnh với ai. Chỉ la anh cù lần!
Mặt Tư đỏ rừ lên như chính gã vừa nghe lời bình phẩm đó từ miệng của người yêu phát ra. Rồi gã cãi một cách tức tối:
– Tao mà cù lần! Mầy nói thiệt hôn?
– Thiệt. Chỉ nói vậy hoài mờ!
– Hừ! Cù lần ở chỗ nào mới được chớ
– Thiếu gì! Anh bận đồ lính trông như áo thụng tế nè, anh đội mũ chùm hụp như đội đầu ông địa nè…
Tư la lên:
– Tại người ta phát cho tao như vậy chớ! Mắc học thấy bà, ai mà lo đi sửa được. Mầy biết hôn, cái quần mà tao không cuộn lên thì nó còn dài tới ót!
– Vậy mới cù lần!
– Cái đó khó gì! Mai mốt tao sửa! Còn gì nữa hôn?
– Gì là gì?
– Chỉ nhắc tới tao hoài hôn?
– Cái đó thì hoài. Chỉ cứ đem anh ra đe em hoài. Chỉ la chỉ mách.
Mặt Tư tươi lên:
– À! Vậy đó! Mầy thấy hôn. Miệng chị nói cù lần vậy mà chỉ đâu có khi tao. Đờn bà, con gái làm duyên thôi đó mà!
Nói rồi Tư cười, hai má hây đỏ, lòng dạ ngất ngây, gã có cảm giác như vừa được uống một ly rượu. Lúc đó gã thấy mình đầy đủ can đảm để làm thừa sức cái việc tỏ tình với người con gái. Gã lại ngồi ôn lại những điệu bộ sẽ làm: cầm tay thế nào, mắt nhìn thế nào, miệng nói thế nào, và gã cương quyết sẽ thực hiện.
Nhưng buồn thay, sắp sửa tới lúc Tư thi thố lòng cương quyết đó của mình thì cấp trên cấp tốc đưa xuống lệnh cấm trại một trăm phần trăm. Rồi trước giờ hẹn bữa ăn lịch sử của đời gã vừa đúng tám tiếng đồng hồ, gã và anh em đồng đội được lùa lên một đoàn xe đỗ dài trước cổng trại. Vị Thiếu Úy Đại Đội Trưởng chỉ nói vắn tắt với anh em là do nhu cầu chiến dịch, đại đội phải lên đường khẩn cấp.
Mười lăm phút trước khi lên đường, Tư tìm cách lỏn vào được khu gia binh cơ hữu để tìm Hiên. Nàng vắng mặt! Bà cụ nói nàng đi chợ để sửa soạn làm bữa cơm tối. Tư lặng người đi và như có điều gì nghẹn ngào chẹn tức lấy cổ họng của gã. Gã nhìn quanh như cố thu thập lấy hình ảnh căn nhà ấm cúng mà người yêu của gã vẫn ra vào. Thằng Út hình như cảm thấy điều gì quan trọng nên không giám nhẩy phóc lên lưng gã làm ngựa nhong nhong như mọi lần. Đến lúc gã quì gối xuống, hai bàn tay cục mịch nắm chắc hai cánh tay khẳng khiu của thằng bé thì những giọt nước mắt của gã chợt long lanh chẩy qua hàng mi rồi rơi ròng ròng xuống hai bên má.
Lúc đứng dậy, Tư dốc tất cả món tiền còn lại trong túi ra trao cho thằng Út. Gã cố nén xúc động:
– Anh cho em ăn quà đấy nhe!
Đó là những tiếng ngọt ngào, kiểu cách đầu tiên gã dùng ở trong đời, nhưng đối với gã cũng là lời thành thực nhất. Bàn tay của Út ruỗi ra, nó dẫy nẩy không nhận. Và đó cũng là lần đầu tiên Út từ chối một món tiền do anh nó đem cho. Bầu không khí vì thế bỗng nghiêm trọng hẳn lên. Tư muốn nói thật nhiều mà thành ra không nói được gì cả. Một lát, gã vùng dậy. Thằng Út vứt mớ tiền rơi vung vãi rồi cũng bén gót đi theo. Tư đứng lại tần ngần:
– Em ở nhà ngoan nhé.
Út lẳng lặng gật đầu. Tư tiếp:
– Nói với chị Hiên là anh sẽ về sớm nhe. Thể nào anh cũng về.
Út lại gật đầu. Lần này nước mắt của nó cũng bắt đầu long lanh. Tư cầm lòng không được, cúi xuống ôm chầm lấy nó. Thế là thằng Út òa lên khóc. Ngoài xa, tiếng còi tập hợp mỗi lúc một réo lên gay gắt. Tư hốt hoảng buông thằng Út ra và nói:
– Thôi, anh đi đây. Dăm bảy tháng nữa anh về. Dăm bảy tháng nữa anh cưới chị Hiên làm vợ. Em nói thế hộ anh nhé, nghe Út.
Thằng Út gật đầu và Tư vùng lên chạy.
Đất nước còn đang tràn ngập đau thương và khói lửa thì có đáng kể gì lời hứa của một kẻ ra đi. Dưới ánh nắng thiêu đốt của một buổi chiều đầu hạ, đoàn xe chuyển bánh tung lên lớp bụi mù mịt.
Thằng Út trèo lên một cái ụ đất để nhìn cho rõ đoàn quân lên đường. Hình ảnh của anh nó bị che lấp đi trong lớp bụi mù mịt…

Nhật Tiến
(Sài Gòn-1968)

Dưới Làn Sóng. Truyện ngắn Hoàng Đạo


Hoàng Đạo

Presentation3

(Báo Ngày Nay, Số 27 in tại Hà Nội Tháng 09/ 1936)

Đã mươi hôm, mưa tầm tã. Mực nước lên cao dần. Trống hộ đê đánh liên thanh không dứt. Tiếng trống đều đều gợi trong linh hồn dân quê những nỗi hãi hùng man mác, nghe buồn thảm như tiếng trống ngũ liên một đêm tối trời. Dân phu từng đám trên đê, đắp cừ, đan tre trong không khí yên lặng ghê sợ. Mấy ông kỳ mục, quần ống cao ống thấp, ngồi xổm dưới túp lều trống gió, vẻ mặt bơ phờ nhìn theo chiếc xe “quan” đi về phía huyện lỵ. Chiếc xe tay khấp khểnh nhọc mệt lăn trên con đường gồ ghề; một chú lính lệ tay xách chiếc điếu ống chạy theo sau.

Trong một đám dân phu, Mịch đang nai lưng làm việc. Anh vác từng thúng đất đào ở một thửa ruộng gần đấy đem lên mặt đê để đắp cừ. Thỉnh thoảng, mệt, anh đứng lại thở, nhìn ra mặt sông, lắc đầu lo ngại. Sông đỏ mênh mông, chảy từ từ như một huyết quản khổng lồ của một con quái vật nào. Mịch đưa mắt theo những đám bọt vẩn, những thanh củi lạc từ từ trôi về miền hạ du, mơ màng nghĩ đến cảnh rừng thẳm âm u là nơi mưa lũ đuổi những lá, những cành các thứ cây lạ trôi về. Cảm giác ấy thoáng qua trong óc Mịch như một tia chớp rồi Mịch lại quay trở lại với công việc. Mịch hì hục vác, nhanh nhẹn, nhịp nhàng, không hề nghĩ đến cái cớ bắt Mịch ra đây làm việc công.

Trưa hôm ấy, trời hửng nắng. Mọi người trông nhau, tươi tỉnh hẳn lại. Mịch vui vẻ ngồi ăn bữa cơm trưa. Anh đói nên ăn rất ngon miệng. Vài bát cơm khoai, mấy con cá kho muối, anh thấy hương vị đậm đà, nên lúc giỏ cơm đã hết, anh chép miệng nói một mình:

– Giá có cơm nữa mà ăn nhỉ!

Bỗng Mịch nghĩ đến gia đình. Anh băn khoăn tự hỏi:

– Chẳng biết hôm nay mẹ cái ốc có mò được con cua nào không? Rõ khổ… Mình ở đây còn có cơm ăn, chứ mẹ con nó biết nuôi nhau bằng cái gì?

Mịch thở dài nghĩ đến cảnh nhà bần bách.

Có vài sào ruộng công để cày cấy thì đã đem cầm cố đi cả; anh chỉ còn nghề làm mướn để sinh nhai. Nhưng anh không bao giờ bận lòng oán thán, vì yên chí rằng ở trên đời, sự khổ sở, cơ cực là phận của anh, còn sung sướng, thong thả là phận của người khác.

Chiều đến, công việc hộ đê có vẻ uể oải. Mấy ông kỳ mục, được hôm tạnh ráo, ngồi đánh tổ tôm với nhau trong điếm. Dân phu thì tụm năm túm ba ngồi trên bờ đê than thở.

– Nước năm nay to y như năm Dần…

– Có lẽ hơn, bác ạ.

Ai nấy buồn bã nhìn ra ngoài đê. ánh tà dương viền bạc đám mây xám nằm ngang phương tây, nhuộm tía mấy đám mây lơ lửng trôi ở trên không, phản chiếu xuống mặt sông, mặt đê, xuống cánh đồng lúa non rợn xanh đến chân trời. Không một ngọn gió trong không khí nặng nề. Lòng sông mênh mông cũng ngừng lại không chảy nữa. Người và vật chìm đắm trong một giấc mơ êm tĩnh lạ thường…

Bỗng trong đám mây xám, Mịch nhác thấy một tia chớp. Một lúc sau, trời tự dưng tối sầm lại; mầu nước, mầu mây biến ra nhợt nhạt trong một thứ ánh sáng mờ ảo. Mặt sông gợn sóng. Mây kéo lên khắp trời. Khoảnh khắc, dưới ngọn cuồng phong, sóng bạc đầu theo nhau nổi lên trên mặt sông mỗi lúc một mau. Mưa đổ xuống như thác. Trời tối hẳn. Tiếng trống hộ đê lại bắt đầu gieo nỗi kinh hoàng vào lòng người. Lẫn trong tiếng tre sột soạt, tiếng sóng ì ầm vỗ vào mạn đê, tiếng trống nghe bổng trầm như tiếng kêu cứu của một người hấp hối. Thỉnh thoảng, trong khoảng trời mù mịt, hiện ra một bó đuốc gieo ánh sáng đỏ thê thảm ra chung quanh rồi biến đi, khiến đêm tối lại càng thêm tối. Mịch, thân thể ướt át, đứng ở mạn đê cắm cọc tre xuống một cách mạnh mẽ, nhưng tuyệt vọng. Anh cảm thấy sự kinh khủng bao bọc lấy mình, như nom được sự hung hãn dị thường của những sức mạnh huyền bí vô cùng của trời đất. Trước những mãnh lực tàn khốc ấy, Mịch có cái cảm tưởng rõ rệt rằng cả anh và những người khác bên cạnh đều nhỏ nhặt, yếu hèn như giống kiến, giống trùng, không thể cản trở hay kháng cự lại được.

Như đáp lại tư tưởng của Mịch, gió gào một khắc một mạnh. Hạt mưa nặng rơi trên chiếc nón lá bắn nước tung tóe ra chung quanh, gió thổi tạt vào một phía, khiến chàng tối tăm cả mặt mũi. Mỗi khi Mịch cúi xuống đổ đất, anh lại nghe thấy tiếng sóng vỗ mạnh vào mạn đê như tiếng gầm giận dữ của một con mãnh thú trong cơn điên cuồng.

Bỗng cách Mịch vài trăm thước, ầm lên một tiếng lớn vang động như sấm. Theo ngay sau một tiếng kêu thất thanh rơi vào trong bóng tối. Giật mình, dân phu ai nấy đều dừng tay, yên lặng. Họ đều có cái cảm giác rằng một tai nạn ghê gớm vừa tới. Trước mặt họ, những hình ảnh khốc hại thoáng hiện ra, những hình ảnh họ đã từng biết: cánh đồng lúa xanh mềm biến đổi ra hồ nước mênh mông, nhà cửa đổ sụp trôi theo dòng nước, đàn bà trẻ con nheo nhó chạy lụt… Mịch sực nhớ đến vợ con. Anh kinh động lo lắng. Nhà anh ở ngoài đầu làng, gần cây đa lớn bên đường và nếu nước chảy xiết về, anh sợ không đủ vững.

– Phải về, phải về mới được.

Tiếng nước reo mỗi giây một rõ. Mịch hồi hộp nhìn lên. Hai bên bờ hội khẩu, dưới ánh trăng mờ tỏ của vài bó đuốc bạt ngọn trước luồng gió dữ, bóng người lung lay trên nền trời đen thẫm, dệt nên một cảnh tượng ghê sợ. Mịch rùng mình. Anh nhìn con nước xói vào cánh đồng ầm ầm như thác ngàn đổ, mãnh liệt không có sức nào cản nổi. Anh nhìn chung quanh. Toàn những bộ mặt nhợt tái diễn tả bao nhiêu nỗi khủng khiếp ngấm ngầm.

Hơn một giờ sau, Mịch mới tìm được chiếc thuyền nan. Anh nhân lúc lính vô ý, trốn thoát nhảy xuống thuyền, tâm trí để hết đến việc trở về làng. Một tay anh cầm gáo tát nước ứ ra ngoài, còn một tay ra sức chèo. Trong đêm tối, hạt mưa nặng vẫn ào ào đáp lên chiếc nón lá, gió vẫn thổi mạnh. Con thuyền bị trôi băng trên mặt nước, Mịch phải để ý giữ gìn từng li từng tý mới khỏi sóng đánh úp. Anh thuộc đường lắm nên khi ngược nước, chiếc thuyền con có chòng chành nhưng đi vẫn thoát.

Nửa giờ qua. Mịch thoáng thấy bóng cây đa cổ thụ in đám lá đen kịt lên mầu trời đen xám. Lòng anh hồi hộp, phấp phỏng. Anh vẫn biết trong lúc nguy kịch, trong làng không còn ai nghĩ đến vợ con anh. Anh chỉ còn cậy vào sức mình. May mà vài mươi con sào nữa là anh về đến nhà. Vợ anh chắc lúc này đâng ngồi ẵm con trên nóc túp lều tranh. ý tưởng ấy khiến Mịch chèo thêm mạnh tay. Giây phút, con thuyền đã vượt qua con đường bên gốc đa. Ngọn nước kéo chiếc thuyền về phía dưới, anh ra sức chèo ngược lên, con thuyền ở giữa hai cái mãnh lực gần thăng bằng đứng im một chỗ. Bỗng Mịch nghe trong khoảng đêm tối một tiếng kêu cứu, tiếng kêu hốt hoảng bao hàm bao nhiêu nỗi kinh khủng. Chàng ráng hết sức, vượt qua ngọn sóng, giơ tay vơ lấy một cành đa. Con thuyền nhẹ bồng lên, những đợt sóng réo theo nhau chạy về phía dưới. Mịch bật bồng nhìn về nhà, kêu:

– Mẹ cái ốc đâu?

Tiếng gió trả lời anh. Anh gọi luôn mấy tiếng nữa cũng không ai đáp lại. Lòng Mịch rạo rực; trái tim anh đập rất mau. Hết sức, anh dún mình đưa con thuyền đè sóng đâm ngang vào bụi tre mà anh biết là ở cạnh cổng nhà, rồi hai tay anh với cành tre giữ thuyền lại. Mắt tre đâm vào cánh tay, anh cũng không thấy đau. ánh sáng của bó đuốc nhỏ chiếu tỏa ra chung quanh. Mịch rên lên một tiếng khổ não. Anh đăm đăm nhìn về phía nhà và chỉ trông thấy vũng nước đỏ ngầu lấp lánh dưới ánh đuốc. Mắt mở to, anh trừng trừng nhìn lên mặt sóng bấp bênh chiếc mái nhà lật ngược. Tuyệt vọng, Mịch sực nhớ đến tiếng kêu ban nãy, tiếng kêu cuối cùng của vợ anh có lẽ đang ẵm con thơ. Mịch run bắn cả người, hai tay rời cành tre. Một làn gió mạnh, một đợt sóng qua. Chiếc thuyền nghiêng ngửa, Mịch không vững chân, ngã ngửa người vật xuống…

Vài giờ sau, vừng thái dương xán lạn mọc lên trong bầu trời quang đãng, âu yếm nhuộm hồng mấy sợi mây tơ chăng lên trên da trời màu bạch nguyệt, dịu dàng mơn trớn cánh đồng nước lặng sóng như mặt hồ. ánh sáng buổi bình minh tinh khiết như hồi thiên địa mới sơ khai. Nếu không có vài chiếc thuyền thỉnh thoảng lách vào mấy ngọn tre xơ xác, những sự khủng bố hồi hôm có lẽ khách du chỉ cho là một giấc mơ dữ dội.

Hoàng Đạo

Đợi Chờ. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Truyện ngắn này được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 17, in ngày chủ nhật 19/ 07/ 1936 tại Hà Nội)

img_5119

Cây im, sông lắng đợi xuân về
Thế Lữ

Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua dặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.

Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi rộng trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhẩy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay, từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.

Chàng đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.
Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây yên lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn với hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẩn trong không. Cả những làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây, nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ…
Nhưng qua giậu nứa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung.
*
* *
Cách đây hai năm, và cũng trong tháng chạp. Một hôm cưỡi ngựa đến bên sông thăm vườn cam sắp trẩy, Linh gặp một chiếc ô tô đỗ cạnh đồi. Tưởng đó là xe khách đến chơi và tài xế không biết lối vào trong ấp, Linh cho ngựa lại gần, nghiêng mình nhòm qua cửa xe. Trong xe, một bà ngót năm mươi tuổi và một thiếu nữ đầy đặn nở nang, nước da hồng hào rám nắng, mà thoạt trông chàng ví ngay với màu da cam bắt đầu rám chín dưới luồng gió heo may.
Chàng ngồi thẳng người lên, lễ phép nói:
– Xin cụ tha lỗi cho, tôi tưởng bạn đến chơi.
Nhưng thiếu nữ rất lịch thiệp đã thò đầu ra ngoài mỉm cười đáp lại:
– Thưa ông, me tôi không dám. Vả lầm thì ai chả có khi lầm.
Câu trả lời, Linh cho là vô vị. Song nụ cười tình tứ điểm theo, chàng ngắm thấy ngọt như mật ong, thơm như hoa cam sành mới nở, và có mãnh lực làm cho chàng lúng túng mất vài giây. Sự lúng túng ấy chàng che đậy bằng một câu hỏi, giọng run run:
– Thưa cô, xe liệt máy?
Nụ cười càng tình tứ hơn, tuy đôi lông mày bán nguyệt tô thêm chỉ hơi díu lại một cách rất nũng nịu, dễ yêu.
– Thưa ông, xe không chết máy, nhưng hết dầu xăng.
– Vậy ý hẳn bác tài đi mua dầu xăng?
– Không, anh ấy đến hàng nước kia hỏi xem có thể mua lại ở đâu được vài lít xăng để đủ chạy từ đây đi Kép. Vậy thưa ông, ông có biết thì xin ông làm ơn bảo giùm cho.
Linh mỉm cười:
– ồ! Tưởng hỏng máy, chứ nếu chỉ hết dầu xăng, thì tôi xin biếu cụ và cô.
Bà cụ sung sướng vội hỏi.
– Thưa ông, nhà ông ở gần đây?
– Thưa cụ, cũng không xa. Đây là đồn điền của tôi.
Thiếu nữ vẻ mặt ngạc nhiên.
– Đồn điền của ông? Chắc là rộng lắm!
– Thưa cô, cũng không rộng lắm, độ hai nghìn mẫu thôi.
Thiếu nữ mở cửa xe bước xuống, gọi:
– Anh tài!
Tức thì một người vận âu phục màu vàng từ trong hàng nước cạnh bến phà đi lại. Linh xuống ngựa, nói:
– Bác cưỡi ngựa theo con đường này vào ấp bảo người nhà tôi đưa cho một bi đông ét xăng, rồi cầm ngay ra đây…
– Thưa ông, cháu không cưỡi ngựa bao giờ.
– Chà, khó gì!
Linh ngẫm nghĩ một giây rồi chép miệng nói tiếp:
– Thôi được, để tôi đi lấy cho.
Thiếu nữ vội gạt:
– Chết thế thì phiền ông quá!
Nhưng Linh đã nhẩy lên lưng ngựa, dựt cương ra về, và nháy mắt, chàng đã biến vào trong cỏ tranh cao, rậm.
*
* *
Lúc trở lại, Linh chỉ thấy người tài xế nằm ngủ trên nệm xe. Chàng dừng lại ngồi thở, trời rét, cái áo lót của chàng ướt đẫm mồ hôi, vì chàng đã cho ngựa phi mau quá.
Bỗng có tiếng cười nói trong vườn cam. Linh vội vàng cởi bỏ vào trong xe cái bi đông dầu xăng buộc sau yên, rồi cho ngựa thong thả lên đồi. Tiếng thiếu nữ nói qua hàng giậu:
– Chúng tôi đương đợi ông ra để xin ông một quả cam.
Linh hấp tấp rẽ cương qua cửa vườn.
– Thưa cụ, cam ở đây còn chua lắm, chưa ăn được. ở trong ấp có một ít đã thực chín rồi và ngọt lắm, xin mời cụ và cô quá bộ vào chơi.
Bà cụ từ tạ:
– Xin cảm ơn ông, chúng tôi xin về… Ông đã cho chúng tôi vay dầu xăng?
Linh buồn rầu đưa mắt nhìn thiếu nữ:
– Thưa cụ, có dầu xăng rồi.
– ồ! thế thì may quá. Cảm ơn ông quá. Không có ông giúp thì mẹ con tôi chẳng biết làm thế nào mà về được đến nhà.
– Thưa cụ, ấp cách đây có hơn hai cây số, xin mời cụ quá bộ vào chơi. Thưa cụ, tôi ở nơi hẻo lánh này chẳng mấy khi được hân hạnh đón tiếp khách quý.
Thiếu nữ nể lời ân cần mời mọc của chủ ấp, áy náy nhìn mẹ:
– Thưa me, hay là me vào chơi một lát cho ông chủ bằng lòng. Vào ăn quả cam Bố Hạ rồi lại đi ngay.
Quay về phía Linh, nàng mỉm cười, láu lỉnh nói tiếp:
– Rồi ông để chúng tôi đi ngay nhé?
Linh, trên mặt lộ đầy vẻ biết ơn:
– Xin vâng.
– Vậy vào nhé, me nhé?
Bà mẹ mắng yêu con
– ừ thì vào. Gớm chết! Cô Phụng đi đâu cô cũng la cà hết ngày hết buổi.
Linh sung sướng chạy vội ra cửa vườn gọi tài xế.
*
* *
Một giờ sau, Linh đưa Phụng đi xem khắp vườn cam, quýt, trong khi bà mẹ ngồi nghỉ bên lò sưởi, vì đứng ở ngoài lâu chân tay bà rét buốt.
Nhờ có một nền giáo dục lịch thiệp nhận được ở trường học và ở một gia đình theo lối mới Phụng đối với ông chủ ấp không chút ngượng ngùng, e lệ. Nàng cười nói dễ dàng, hỏi nhiều câu mà Linh phải lấy làm kinh ngạc, tưởng các cô thiếu nữ không bao giờ dám nghĩ tới.
Đến một gốc quít cỗi, nàng ngắt một quả rồi vờ quay đi ăn vụng. Nhưng nàng quay lại ngay, phá lên cười và kêu:
– Bắt lấy con ăn cắp quýt cho tôi!
Linh cũng cười, nói một câu mà vừa buột miệng thốt ra, chàng cho là rất sáo:
– Nó được hân hạnh cô chiếu cố là may cho nó.
– Vậy tôi lại muốn chiếu cố đến nó nữa.
Vừa nói Phụng vừa với một quả ở cành cao nhưng không tới.
– Cô để tôi lấy giùm.
Linh phải nhảy lên mới với được cả cành quít chĩu chịt gần chục quả.
– ồ phí quá, ông nhỉ?
Linh toan ngắt ra từng quả nhưng Phụng vội gạt.
– ấy, ông cho xin cả để tôi mang về giữ làm kỷ niệm.
Hai tiếng kỷ niệm ở miệng mỹ nhân nói ra, Linh nhận thấy âu yếm, thấm thía tâm hồn. Chàng toan đáp lại một câu tình tứ, nhưng không tìm ra được, đành chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn thiếu nữ. Giữa phút thần tiên ấy, có tiếng gọi:
– Phụng, xin phép ông về thôi!
Lần đầu tiên trong đời, Linh cảm thấy tất cả cái ý nghĩa buồn rầu, sầu thảm của chữ “về”.
– Phụng, đi về!
– Vâng, con đây.
Nàng bỏ cả nửa quả quít vào mồm nhai ngốn ngấu. Còn một nửa có lẽ vì đãng trí, nàng đưa cho Linh:
– Trời ơi! Quít ngọt quá! Ông nếm thử mà xem.
Rồi nàng chạy vội lại chỗ mẹ.
Linh thở dài, lững thững theo sau…
*
* *
Lúc xe mở máy. Linh mới chợt nhớ ra rằng chưa hỏi địa chỉ của Phụng.
Trong một giờ được một mình ở bên người đẹp, Linh chỉ mê man nghĩ đến hiện tại mà chàng biết rằng ngắn ngủi. Và chàng chỉ cảm thấy từng phút từng giây đương lạnh lùng rơi vào quãng không.
Kẻ ở người đi rồi hiện tại sẽ thành dĩ vãng sẽ thành một kỷ niệm như cành quít mà Phụng đã đem về nhà để giữ làm kỷ niệm.
Nhưng cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn thiêng liêng.
Năm, năm, cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quít.
Linh chờ đợi, mong ngóng.
Chàng chờ đợi, mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao trong câu truyện thù ứng. Nhưng Linh tin là lời hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế nhưng chàng cũng không thể không tin được.
Đã hai năm chàng chờ đợi…
Và trên bờ sông cao khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẫn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại. Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Khái Hưng

Phong Lan. Truyện ngắn Khái Hưng


Khái Hưng

(Phong Lan. Truyện ngắn của Khái Hưng đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 22, in ngày chủ nhật 23/08/1936 tại Hà Nội)

Phất tì tay lan can ngồi ngước mắt ngắm khóm phong lan trong cái cũi nhỏ làm bằng gỗ thông treo ở hiên dưới cái gian cẩm leo nụ màu hồng nhạt vừa bắt đầu lấm tấm. Những chùm hoa vàng điểm chấm đen nhung óng ánh phản nắng chiều và se sẽ rung động đưa trước gió, trông như đàn bướm xòe cánh rập rờn bên những lá lan dài và nhọn rũ lỏa tỏa bốn phía.

Phất thở dài lẩm bẩm: “gần ba năm rồi”.

Chàng vẫn muốn quên, quên nhãng hẳn, vì chàng hiểu rằng khi nào người ta tìm nhớ thời dĩ vãng, thì thường những kỷ niệm buồn trở lại trong ký ức. Kỷ niệm vui, làm gì có kỷ niệm vui. Sự vui chỉ có trong hiện tại. Vui qua, còn lại cái buồn man mác, sự nhớ tiếc ở trong lòng, phảng phất như chút hương tan của bông hoa khô héo.

Năm ấy lần đầu Phất lên chơi Chapa. Nhà chàng không giàu, nhiều khi lại túng bẩn là khác. Chàng cũng không ưa gì cái thú nghỉ mát mà chàng cho là cái thú xa xỉ của riêng các gia đình phú quý. Hơn nữa, chàng rất khỏe mạnh, chẳng mấy khi ốm đau và cần đi nghỉ mát để dưỡng sức, tuy chàng vẫn chăm chỉ học lấy trong mấy tháng, để thi đậu tú tài phần hai.

Vậy Phất đi Chapa chỉ vì một lẽ riêng: Lẽ riêng ấy đối với cái tuổi ngoài hai mươi, chín mươi phần trăm thuộc phạm vi ái tình.

Chính thế, Chapa mà trước khi chàng không hề nghĩ đến, và cũng không biết ở về phía nào, vụt trở nên một thành phố đầy ánh sáng, đầy hy vọng, một thành phố ái tình. Vì Lan vừa cùng mẹ và em trai lên đó nghỉ mát.

Tình yêu của Phất đối với Lan thực là ly kỳ. Ngày chàng còn theo học tại trường Bảo Hộ, một hôm đến hội quán Tri Trí dự một cuộc âm nhạc tổ chức lấy tiền giúp việc thiện. Trong bọn tài tử có một thiếu nữ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, ngồi trước cây phong cầm đánh một bài độc tấu. Thế là Phất yêu ngay.

Chàng nhớ mãi khúc nhạc réo rắt và cái dáng ngồi yểu điệu của thiếu nữ: Cái đầu hơi nghiêng, một bên má phản chiếu ánh điện nhuốm sắc hồng hồng, đôi mắt buồn yên lặng ngước nhìn trần, hai bàn tay mềm, giẻo, thoắt chạy, thoắt ngừng trên hàng phím xương trắng muột. Có lúc sung sướng, mê man trong điệu trầm bổng, du dương, thiếu nữ se sẽ rung động toàn thân và bao nhiêu nếp áo của nàng đều uyển diệu rung rinh.

Hình ảnh ấy Phất chôn sâu ngay trong ký ức, trong tâm hồn. Và chàng chân thành thờ nó như thờ một lý tưởng thiêng liêng tuyệt đích.

Chàng hỏi thăm biết nhà thiếu nữ giàu, giàu lắm. Nhưng đó không phải một cớ khiến chàng tuyệt vọng. Chàng nghèo nhưng tri thức chàng giàu, tâm hồn chàng giàu. Và chàng thấy rõ rệt sự tương đương, sự cân đối của chữ “tài” và chữ “sắc” mà trước kia chàng cho rằng hai chữ sảo trong văn chương, không có một chút nghĩa lý gì thiết thực.

Từ đó, đời Phất chia hẳn ra hai phần đầy thú vị và có sự liên lạc mật thiết với nhau: học và yêu.

Yêu, nghĩa là mỗi ngày để ra chút thời gian nhàn rỗi mà tưởng nhớ tới người đánh đàn. Rồi chủ nhật, thứ năm được nghỉ học ra ngoài, khi qua nhà nàng, dừng lại trước cửa vài phút – vài phút thôi – mà ngắm cây liễu rũ lá thướt tha bên hàng giậu sắt. Hôm nào thoáng nghe thấy mấy tiếng phong cầm hay nhác trông thấy tà áo hồng phấp phới bên luống hoa chân chim thì buổi chiều về trường Phất nhảy múa, ca hát huyên thiên.

Còn học? Học như mọi ngày thường, Phất cho không thể xứng đáng với tình yêu kia được. Chàng liền bỏ trường về nhà học lấy cho chóng hơn. Thấy vậy, người ta tưởng Phất lười biếng bỏ học. Nhưng năm sau ai nấy phải kinh ngạc khi đọc nhật trình thấy tên chàng trên bảng những người đậu tú tài phần thứ nhất vào hạng bình thứ. Phất sung sướng mỉm cười nghĩ thầm: “Ảnh hưởng của ái tình. Cứ thế này thì không biết mình còn đi xa đến đâu?”

Nhưng ái tình của chàng ngoài chàng ra không ai biết, không ai có mộ tia ngờ. Chàng giữ nó âm thầm trong trái tim với cái hình ảnh cô đánh đàn diễm lệ.

Trong hai năm chàng chờ đợi, yêu, nhớ, thương thầm, chàng biết đích rằng không một ai đến hỏi Lan. Phất cho sự ngẫu nhiên ấy có ý nghĩa thiêng liêng, huyền bí và nhân duyên của chàng với Lan là một cuộc thiên duyên tiền định. Và lòng mong ước của Phất, hơn nữa lòng tín ngưỡng của Phất càng thấm thía, vững vàng.

Một hôm người ta bảo cho Phất biết rằng trong số tranh trưng bày ở phòng triễn lãm mỹ thuật có bức ảnh cô Lan, một trang tuyệt sắc Hà Thành. Phất vội thuê xe đến phòng triễn lãm, và suốt ba hôm, trừ hai bữa cơm ra, chàng ở luôn bên bức tranh thiếu nữ. Và chàng nghĩ thầm: “Biết thế mình học vẽ!”

***

Đầu mùa hè năm ấy thấy vắng bóng Lan tha thướt trong vườn. Phất hỏi thăm biết nàng cùng mẹ và em lên Chapa đã hơn nửa tháng. Lan đau phổi, thầy thuốc khuyên nên đi nghỉ mát ở vùng núi cao.

Trong mấy hôm liền, Phất chạy nháo đi khắp nơi thân thuộc vay được ba chục bạc rồi vội vàng hấp tấp lên thẳng Chapa.

Hôm đầu gặp Lan đi với mẹ và em ở trước cửa nhà bưu điện. Phất cảm động, luống cuống, toan cất mũ chào. Lan thản nhiên nhìn chàng, thản nhiên quay đi như đối với mọi người không quen biết.

Thì ra những bài thơ âu yếm phản chiếu hình ảnh nàng, vang động linh hồn nàng mà Phất đã viết và gửi đăng trên các báo, nàng không biết tác giả là ai. Lòng tự phụ, tự tin của Phất cho không thể nào như thế được. Thục ra, những bài thơ ấy Lan chưa từng đọc qua: Vì ngoài âm nhạc, nàng không thích một nghệ thuật nào khác nữa.

Hai tuần lể ở Chapa – cái ví nhẹ của chàng không cho phép chàng ở lâu hơn nữa – Phất mơ màng tưởng tượng ra mấy năm Từ Thức sống trong động Phi Lai, tuy tiên nữ của chàng đối với chàng vẫn thờ ơ, lãnh đạm, không ngờ có một khối tình vĩ đại ở dưới gót chân mềm yếu.

Nhưng chẳng vì thế mà mười lăm hôm nghỉ mát của Phất giảm phần lạc thú. Chàng yêu để yêu. Cần gì có ai yêu lại hay không! Chàng nghĩ thầm: “Ái tình mà có đi có lại thì gọi sao được là ái tình, họa chăng nó là việc buôn bán, hay một ván bạc “ăn miếng trả miếng”

Vả chàng còn ao ước vì hơn nữa. Ngày nào chàng không gặp mặt Lan ít ra một lần, hoặc ở rừng, hoặc ở Núi Đen. Câu truyện gặp gỡ trong giây phút ấy đối với chàng cũng đủ là một thiên trang thiên tiểu thuyết rồi.

Sáng, chiều, chàng đứng rình lúc Lan cùng mẹ và em ra đi. Xa xa chàng theo sau. Nếu bọn kia vào rừng thì chàng đợi đến chỗ đường hẻm để vượt qua, như thế cái mỉm cười kèm theo cái cất mũ ngả đầu chào của chàng mới có ý nghĩa:“Xin lỗi bà và cô, tôi xin phép tiến lên trước”

Cái cất mũ để vượt qua ngày ngày nhắc lại, lâu cũng thành ra có vẻ cố ý. Phất muốn tránh điều đó, nên chàng không vượt nữa, chàng gặp mặt. Cảnh gặp gỡ ấy chàng bố trí như thế này: Biết hai người đàn bà vào rừng, chàng hết sức đi thực mau, hầu như chạy về phía khách sạn lớn rồi theo con đường đồi bên kia mà vòng đến cầu. Gặp Lan, chàng vờ coi như một sự ngẫu nhiên may mắn.

Một hôm, Lan và mẹ đi qua nhà bưu điện lên Núi Đen. Phất vội rẽ đường tắt lên đó trước. Nhưng lúc nghe tiếng giày đè sỏi, chàng ngượng và sợ bà cụ ngờ vực, liền ngồi khuất sang phía bên kia mỏm đá, để nhường cái ghế dài cho hai người đàn bà.

Tiếng cười của Lan làm cho chàng sung sướng, ngây ngất. Lần ấy là lần đầu chàng nghe rõ tiếng Lan và chàng nhận thấy giọng Lan hơi khàn khàn. Chàng buồn rầu nghĩ đến bộ phổi ốm của người yêu. Bỗng Lan hỏi mẹ:

– Ồ, mẹ trông cây phong lan. Đẹp quá!

Ngừng vài giây, nàng lại nói:

– Con yêu phong lan lắm.

Bà mẹ đáp:

-Vì nó trùng tên với con đấy mà.

-Ồ nhỉ! Mẹ ạ, làm thế nào lấy được thì thích quá nhỉ. Con sẽ treo nó ở bên cái piano của con.

Phất muốn nhảy xổ ra leo lên cây lấy cho bằng được khóm phong lan để tặng người yêu. Nhưng chàng nhận thấy cử chỉ ấy không tự nhiên chút nào, nên thôi ngay.

Lúc hai người đàn bà về rồi, Phất ra đứng ngắm khóm phong lan mọc trên cây bồ kết dại, lá và hoa rũ xuống lòa xòa. Chàng buồn bã thở dài.

Hôm sau, vào giữa trưa – giờ ấy ở Núi Đen người vắng hẳn – Phất trở lại nơi hôm trước. Nhìn không thấy ai qua lại, chẳng tháo giầy, liều trèo lên cây, lấy được khóm phong lan, gói vào cái khăn rộng đem theo.

Chàng moi óc suy nghĩ mãi chưa tìm được cách biếu Lan khóm hoa rừng, thì vì cạn tiền, chàng phải về Hà Nội. Nhưng chàng thề với chàng rằng món quà kia thế nào cũng sẽ đến tay người yêu.

*****

Mùa rét năm ấy, bệnh đau phổi cướp Lan đi.

Phất ở trên đời với khóm phong lan.

Và năm năm, mỗi lần hoa phong lan bắt đầu nở, chàng lại như nghe tiếng đồng vọng trong không:

-“Ồ! Mẹ trông, cây phong lan! Đẹp quá!”

Khái Hưng

 

 

 

 

Một Vạt Nắng Xuân Trên Hè Phố. Truyện ngắn Nhật Tiến


Nhật Tiến

(Một vạt nắng xuân ngang vườn Tao Đàn, Sài gòn)

Con bé ì ạch đạp. Mấy chồng báo tuy không nặng lắm nhưng cũng đủ làm cho cả người của nó vẹo đi mỗi lần nó mắm môi lấy gân sức. Chỉ còn mấy quãng phố nữa thì tới nơi trả báo ế, lấy báo mới, nhưng mà sao kìa, cái xe cứ mỗi lúc một nặng hơn. Một tay nào đó phóng xe hon-da chợt xẹt qua người nó như một lằn chớp và ném lại phía sau cho nó một câu gọn ghẽ:

– Xẹp lốp rồi!

Nó thốt ngừng ngay lại và lái cái xe chúi mũi vào vỉa hè. Không còn nghi ngờ gì nữa, cả cái bánh sau của nó bẹp gí không còn lấy một chút hơi. Nó ngơ ngẩn xòe bàn tay nhỏ xíu ra vuốt lên vành bánh, và nó chợt phát giác ra một điều đáng nguyền rủa: Cái xe bị cán đinh!

Vào đúng cái lúc nó nhớn nhác nhìn dọc theo hè đường để tìm xem kẻ nào đã làm cái việc thất nhân ác đức đó, thì một thằng nhỏ đứng ở một gốc cây đang nhìn nó và nhoẻn miệng cười:

– Lại đây vá cho. Lấy rẻ!

Con bé gân mặt lên:

– Rẻ mắc gì! Phải anh rải đinh từ mé đằng kia lại, có phải không?

Thằng nhỏ, áng chừng hơn nó vài tuổi, cũng vênh mặt lên:

– Này đừng có mà ăn nói bặm trợn. Tao rải đinh hồi nào. Cái xe của mày cũ mèm thì có.

Con bé nhìn thằng nhỏ một cách kỹ càng hơn. Tóc bờm sờm, da đen đúa, mặt mũi vêu vao, chỉ được có mỗi một vẻ là khi cười, nó phô ra hai hàm răng trắng nhởn. Thấy con bé không nói gì, thằng nhỏ giọng sốt sắng hơn:

– Người ta hai ngàn, tớ lấy một ngàn thôi! Sáng mở hàng lấy hên.

Con bé vùng vằng:

– Tiền đâu mà sẵn thế. Không dưng làm xẹp bánh xe người ta rồi đòi tiền.

– Mày thử đi khắp cái phố Sì-Gòn này coi, có ai chịu vá xe một ngàn không. Cái ngữ xẹp kiểu đó bỏ rẻ cũng phải ba lỗ vá.

Con bé không thèm đáp lại nữa. Nó hầm hầm dắt cái xe đi ngang qua mặt thằng nhỏ. Cũng không thèm nhìn nữa. Nó đã có chủ đích rồi. Ráng dắt xe cuốc bộ vài quãng, về tới nhà thì ba của nó cũng có đủ đồ nghề làm chuyện đó. Hơi sức đâu mà thí cho quân ác ôn đến ngàn bạc.

Thế là con bé ráng đẩy cái xe đi. Người nó ốm nhách, giò cẳng khẳng khiu, so cái xe với chồng báo tú hụ, nó cứ như một con nhái bén đang hì hục xoay vần. Được một quãng xa, nó đã thấy mệt bở hơi tai. Mồ hôi rịn ra ở những chân tóc, nhễu xuống trán và nhỏ xuống hai bờ mi. Con bé phải dừng lại để vén vạt áo lên chùi. Bỗng có tiếng la bải hải phía đằng sau, cùng một lúc có tiếng xe hon-da trờ tới. Nó nhận ra ngay bác hàng xóm nhà mình.

– Chèn ơi, giờ này mà mầy còn lang thang ở đây làm tao kiếm hụt hơi. Có về ngay không, má mầy té xẩy thai, đang nằm liệt kìa…

Con bé run rẩy:

– Nằm …nằm..ở đâu?

– Nhà mụ Xoài mé bển đó! Tới mau đi…

Vừa nói hết câu là người hàng xóm đã lại vụt lao đi, nhanh như một cú điện xẹt. Con bé chẳng buồn nhìn theo vì trong đầu của nó đang bận rộn tính toán. Tiếp tục đẩy cái xe trở về hay là quay lại vá cái bánh xe. Nghĩ đến mẹ nó đang nằm ở một chỗ, chắc đang cần tới nó để bảo ban công việc, ruột nó bỗng nóng sôi lên và nó hối hả quay lại chỗ thằng nhỏ vừa nãy. Nhìn thấy nó, thằng nhỏ lại nhăn ra cười. Ơi, dưới ánh nắng bình minh, sao mà hàm răng của nó nom trắng nhởn như răng bò đến thế. Con bé hậm hực:

– Một ngàn đấy, vá đi.

Thằng nhỏ hỏi móc:

– Sao tính không vá, bây giờ lại vá.

Con bé nguýt nó một cái thật dài:

– Thế đấy. Nẫy không thích, bây giờ thích. Có sao không?

Ui da, cái con nhỏ sao mà chanh chua. Nhưng nghĩ cho cùng, phải thế mới được. Sống ở giữa đám người lam lũ, rách rưới đông nghìn nghịt như kiến cỏ trong cái thành phố này, không cứng cựa làm sao yên. Thằng nhỏ nghĩ thế nên nhìn con bé một cách cảm tình rồi xăng xái bầy đồ ra vá cái vỏ xe. Trong lúc làm việc, nó tỉ tê:

– Này! Cái vỏ đã bốn miếng vá rồi. Liệu mà thay đi.

– Nói dễ nghe nhỉ! Bộ giầu lắm sao mà muốn thay là thay.

– Giầu nghèo gì cái xăm xe. Phải chi như mấy ổng, đổi xe hơi đời này sang đời khác, mô-đen này qua mô-đen khác thì mới nói chớ.

– Ơi! Nói chuyện như thế mà đòi nói. Mà điều mấy ổng giầu, thay cái xe còn dễ hơn mình vá cái lốp kìa. Đúng không?

Thằng nhỏ nhìn con bé, bỗng cảm thấy cảm tình hơn. Nhãi con bằng từng nấy sao mà suy nghĩ đã khôn lanh quá trời. Nó bỗng cười toe toét:

– Mày nói đúng đó. Thiên hạ tiền muôn, bạc triệu, thay có cái xe hơi thì nhằm nhò gì. Nhưng mà về phần mầy, nom đâu đã đến nỗi mà vá có cái xăm xe cũng phải cò cưa.

Con bé dẩu mồm lên:

– Không cò cưa thì có đói nhăn răng ra. Sáng nay, má xẩy thai, nằm một chỗ rồi.

Thằng nhỏ kêu lên:

– Ý cha! Chuyện thật hay rỡn đó mậy?

Con nhỏ tốc vạt áo lên lau thêm mấy giọt mồ hôi đọng trên trán. Rồi nó thở dài, giọng than vãn:

– Má sắp tới cữ rồi mà vẫn còn đi vác gạch, tui nói không nghe.

– Mày nói…mà nói sao?

– Tui nói má ơi, nghỉ đi. Má làm nữa, vác nặng, em bé trong bụng nó chịu hổng nổi đâu.

– Cái đó thì má mày cũng biết rồi.

Con bé trợn mắt:

– Biết rồi thì cũng phải nói chớ. Mà nói riết thì cũng vậy thôi. Có dư được đồng nào, ba moi bằng hết mang đi uống rượu với đánh bạc cha nó hết.

Thằng bé xuýt xoa:

– Ui choa, cái thằng cha bất nhân.

Con bé chợt sửng cồ lên:

– Này, đừng có kiếm cớ mạt sát cha tui nhé. Bề gì thì ông cũng là ổng.

Thằng nhỏ vội vã xua tay:

– Đâu có…. đâu có… Tớ nói vậy thôi, chớ ba của đằng ấy, tớ đâu dám!

Con bé ngồi im không nói gì thêm nữa. Nó cũng chẳng nhìn xem thằng nhỏ đã loay hoay những gì với cái xe của nó. Chừng mười lăm phút sau, thằng nhỏ cất tiếng:

– Rồi! Bi giờ thì có đạp lên cung trăng cũng chẳng hề hấn gì.

Con bé phủi đít, đứng dậy. Nó toan móc túi lấy tiền trả thì thằng nhỏ đã xua tay:

– Tiền nong gì! Cất đi!

– Ô hay, sao lại không lấy?

– Không lấy vì tao thích không lấy. Có sao không?

– Chả sao hết. Không lấy thì đây cám ơn.

– Ơn huệ gì. Lần sau mà mày còn vác xác tới, tao tính tiền gấp ba. Hôm nay hãy để đó.

Con bé nhoẻn miệng cười:

– Ui cha, anh lại định dở trò rải đinh nữa ra với tôi phải không? Ê! Bữa nay thì êm đó, chớ lần sau thì tôi đi thưa.

Thằng bé nhăn ra cười:

– Ừa, thưa đi. Mày thưa tao, tao thưa lại.

– Tôi làm gì mà anh thưa?

– Thưa mày không lo cho má, để má vác nặng tới xẩy thai. Ôi chà! Tù mọt gông đó nghe “em”!

Con bé nguẩy người, lườm thằng nhỏ một cái thật dài rồi dắt xe xuống đường. Lúc nó đạp được vài vòng thì thằng nhỏ đã nói với theo:

– Tao mới ráp thêm hai cái má thắng đó. Ui da, xe cộ gì mà thắng không có, chạy loăng quăng có ngày mất mạng như chơi!

Con bé ngó xuống mé bánh sau. Quả nhiên nó nhìn thấy cái má thắng mòn vẹt gần hết nay đã được thay bằng hai miếng cao su dầy dặn và trắng phau. Nó thử thắng cái xe lại. Ôi chao, vừa mới nhấp một tí mà cái xe đã giật đứng ngay lại, chả bù cho lúc trước, vừa phải ghì cái xe, vừa phải lết cả hai bàn chân xuống mặt đường mỗi khi cần ngừng gấp. Nó ngoái đầu nhìn lại chỗ sửa xe. Thằng nhỏ vẫn còn đứng đó nhìn theo. Hình như nó đang nhe răng ra cười. Hai hàm răng, nhìn từ xa mà vẫn thấy trắng nhởn. Sao mà lại có người có cái cười ngạo nghễ đến thế!

Hai hôm sau, vào đúng chiều hai mươi tám Tết, con bé đạp xe trở lại hè đường cũ. Hôm nay cái xe của nó nhẹ tênh vì chẳng có chồng báo nào đèo sau lưng của nó. Chỉ có gói giấy dầu nhỏ xíu, bên trong có một cái bánh bao còn nóng hổi. Con bé ngơ ngáo nhìn hết gốc cây này tới gốc cây khác. Chẳng thấy thằng nhỏ đâu. Bên đống đồ nghề sửa xe, chỉ có một ông già đang ngồi chúi mũi vào tờ giấy dò vé số. Nó cất tiếng hỏi:

– Ông ơi, cái anh…. cái anh sửa xe mọi khi ở đây đâu rồi?

Ông già ngẩng đầu lên, bộ râu lởm chởm như cố đỡ lấy cái gọng kính đồi mồi cũ kỹ:

– A! Thằng Tín. Cháu cần hỏi gì nó?

Con bé tự nhiên nóng cả mặt. Chân tay của nó luống cuống hẳn ra. Nó ấp úng:

– Cháu…. cháu tìm anh ấy.

– Hôm nay nó không ra. Có chuyện gì thế?

– Dạ…. cháu…. cháu…. mua cho ảnh cái bánh bao.

– Ý chà! Sao mà sang thế!

Con bé càng quíu hơn. Hai bên má của nó nóng rực và hồng lên trong sáng sớm:

– Dạ…. Tại vì…. tại vì bữa nọ ảnh sửa xe cho cháu…. tốt quá!

Ông già vui vẻ:

– Thế hử. Cái thằng nom thế mà tay nghề nó cũng vững lắm. Bánh bao hả? Cứ để đây, chốc về, ông mang về cho nó.

Con bé bẽn lẽn nhìn ông già:

– Ông là ông của anh Tín hả.

– Ừ! Ông ngoại! Bố nó chết rồi. Mẹ nó đi lấy chồng. Nó về ở với ông. Chỉ có mỗi nó thôi.

Con bé trao gói bánh cho ông già rồi rồi vội vã đạp xe mất hút trong lòng thành phố. Tim nó đập thình thịch. Nó thấy mình sao mà liều lĩnh quá. Không dưng lại đi trao bánh cho ông già. Phải chi chờ thằng Tín ra thì sự việc có vẻ suông sẻ hơn. Bên sửa xe, bên cho bánh, có cái gì là không nên không phải đâu. Không biết lúc thằng Tín nhận gói bánh thì sẽ nghĩ sao. Nó lại cũng tiếc là không nán lại chút xíu nữa để hỏi thêm về Tín. Nhà ở đâu? Có đi học trường nào không? Lớp mấy? Nhưng mà thôi, trao được cái bánh là đủ rồi. Mai mốt sẽ còn có dịp đạp xe qua mà.

Rồi nó lại lan man nghĩ đến cái bánh bao còn nóng hổi. Tối hôm qua nó đã ngồi lột củ cải cho bà Hưng mãi đến tận hai giờ sáng. Hàng Tết đổ về, ngoài linh tinh mọi thứ, nhà bà Hưng còn tràn ngập những củ cải trắng, cái nào cái đó to bằng bắp tay. Từ phòng trong ra nhà ngoài, tràn xuống cái sân con rồi tuôn ra cả cái con hẻm còn lép nhép nước mưa, toàn là những củ cải chỗ thì trắng phau, chỗ thì nhoe nhoét đất với bùn. Bà Hưng đã huy động mấy đứa con, lớn thì mười sáu mười bẩy, bé thì lên tám, lên chín, tất cả xúm vào, mỗi đứa một con dao sắc lẻm, chém, vạt, xả, cắt…. làm túi bụi mà vẫn không xuể. Những đống củ cải đã làm xong được thồn vào những cái bao tải chất cao như núi trong nhà. Ấy vậy mà khắp mọi chỗ, từ trong nhà ra ngoài ngõ vẫn bề bộn vương vãi từ củ đến lá, từ vỏ đến ruột, tất cả nom cứ như một bãi xây cất ngổn ngang, chồng chất những vật liệu. Đến nỗi ông Tổ trưởng Dân phố cứ soạch một cái lại thò đầu ở bên kia ràng rào ra đe:

– Quá lắm rồi đó chị Hưng ơi! Chị bày ra kiểu này… chết bà con, rồi chết tới tui luôn.

Bà Hưng xoắn xuýt:

– Hết rồi…. Hàng về hết rồi. Chỉ loáng cái là xong thôi.

Rồi bà nháy mắt cho thằng con lớn. Nó biết ý, ngưng tay dao, lại tủ bán thuốc lá của con em nhón ra một gói ba số rồi lẻn ra ngoài. Một lát sau quay về cười tủm tỉm. Bà Hưng thấy thế cũng tủm tỉm cười theo.

Rồi bà lại cho đi gọi con bé hàng xóm sang phụ, thế là nó có thêm việc từ tối tới quá nửa khuya. Xong xuôi nó được rúi vào tay những mười nghìn. Thế là nó nghĩ ngay tới cái bánh bao thơm phức nằm trong cái nồi hơi bốc nghi ngút khói của ông già vẫn ngồi bán ở đầu ngõ. Tín vá xăm xe, lại tự ý sửa hai cái má phanh cho nó, cả đời nó chưa bao giờ được hưởng cái sự mình không nói ra mà lại có người tự ý làm cho mình. Chính cái đó làm cho nó thấy bứt rứt, người cứ nao lên mà chẳng biết vì cái gì.

Sáng hôm sau, theo thông lệ, nó chở báo đến nhà phát hành để đổi báo cũ, lấy báo mới thì đã thấy thằng Tín ngồi chồm hổm ở vỉa hè, ngay chỗ mọi người đang kiểm báo. Nó thấy choáng cả người và thốt lên:

– Úi chao ơi….

Tín nom thấy nó thì đứng phắt dậy và nhe răng ra cười. Hai đứa nhìn nhau mãi mà không đứa nào lên tiếng. Rút cục, con bé phải lên tiếng hỏi, giọng như người hết hơi:

– Kiếm ai vậy?

– Còn phải hỏi. Đang sùng lắm đây.

Con bé mở to mắt lên nhìn. Mặt nó hơi thoáng một vẻ sợ hãi khiến cho thằng Tín phải nhỏen thêm một nụ cười nữa như để trấn an, rồi cố lấy giọng dịu dàng:

– Đã không có tiền, sao còn đi mua bánh bao?

Mặt con bé chợt đỏ bừng lên. Nó thấy nóng ran cả người từ chân ngọn tóc cho đến các đầu ngón chân. Nó ấp úng:

– Ơ…. tại hôm qua làm thêm được mớ củ cải.

Tín sấn lại gần nó, giơ cả bàn tay nhem nhuốc vì dầu mỡ lên rồi dằn giọng:

– Lần sau thì đừng, nghe không. Xắt mớ củ cải thì được bao nhiêu. Má hôm nay sao rồi?

– Má xẩy xong rồi, cái nhau bự cho thấy là con trai.

Rồi nó bùi ngùi:

– Tiếc quá…. tui đang mong có em trai. Nhưng cũng đỡ, nhà nghèo quá, có thêm thì chỉ khổ cả nó lẫn má thôi.

Tín cầm tay nó lên, cũng cất giọng bùi ngùi:

– Thôi quên chuyện đó đi. Đời còn dài. Chẳng có ai khổ mãi suốt đời đâu.

Tự nhiên con bé ứa nước mắt. Nó cũng không rõ tại sao mình lại khóc dễ dàng thế. Mấy hôm trước, chính tay nó bưng cái hũ thai xẩy của mẹ nó ra góc nghĩa địa vùi xuống mà nó có khóc đâu, mặc dù nó cũng đã lâm râm khấn:

– Em ơi. Em tìm nhà khác mà đầu thai. Ở đây mẹ với chị quần quật lắm cũng không đủ nuôi cho em sung sướng đâu.

Thế mà bây giờ nó lại khóc. Những giọt lệ long lanh trong khóe mắt rồi lăn dài xuống hai má. Tín thấy thế cũng cuống quýt cả lên. Nó muốn lau mặt cho con bé mà chân tay cứ quều quào, không thực hiện được. Cuối cùng nó kêu to:

– Thôi, gửi cái xe lại rồi lên đây.

Con bé ngơ ngác nhìn. Rồi nó hỏi:

– Đi đâu?

Tín nhoẻn miệng cười. Nó lấy lại được sự thoải mái bình thường sau câu hỏi đó. Nó cất giọng rõng rạc:

– Đi chợ Tết!

Mặt con bé thoáng lên một niềm vui hồn nhiên như thể ngày xưa còn bé, hồi bà ngoại nó còn, bà hứa cho nó một cái kẹo chanh. Hai má của nó chợt hồng lên, đôi mắt long lanh như vừa có một vạt nắng xuân le lói chiếu vào. Nhưng nó vẫn hỏi:

– Mà đi chợ Tết thì mua gì cơ chứ?

Tín nói như ra lệnh:

– Mua cho đằng ấy cái lược!

Con bé dẫy nẩy lên:

– Ui! Em thì cần gì lược.

– Nói không cần lược nên cái đầu mới xù lên như cái tổ quạ thế này. Năm mới, phải chải cái đầu cho bảnh thì mới ra dáng con người mà ăn Tết chớ.

Con bé ngúng nguẩy:

– Không đi đâu, cũng chẳng mua bán cái gì hết.

Tín giở giọng ngang tàng:

– Không đi thì đây bế lên mà đi, ráng chịu!

Vừa nói nó lại vừa sấn tới. Cái thằng sao mà ngang tàng, coi trời bằng vung đến thế. Nhưng con bé lại không lấy thế làm bực mình. Nó chỉ cuống quýt lên và la bải hải:

– Đi… Ừ….. đi thì đi…. Mà hượm để gửi xe cái đã.

Vừa nói, con bé vừa chen vào đám đông lúc ấy đang nhốn nháo với những chồng báo cao ngất nghểu. Chợt Tín gọi giật lại:

– Ê…. này….. ấy ơi….

Nó chưa biết tên con bé là gì nên giọng rõ ra vẻ lúng túng. Từ bữa hổm tới giờ, nó cứ xuýt xoa là quên mất không hỏi con bé tên gì. Cái sự lúng túng này cứ đeo đẳng trong đầu nó mãi, ngay cả khi hai đứa đã len lỏi vào rừng người đông nghẹt trong chợ Tết. Nhưng cuối cùng thì nó cũng chợt vùng lên nói:

– Này…. gì ấy nhỉ?

– Gì là gì?

– Tên ấy! Phải có tên mà gọi chứ!

– Em biết tên của anh rồi, anh Tín!

– Thế còn…..

Nó chợt ngừng lại. Miệng tắc tị. Nó thấy rõ là chẳng có khi nào mình phát ngôn lại khó khăn như lúc này. May quá, con bé thông minh, đã trả lời ngay:

– Còn em ấy à? Gọi em là Hoa.

– Hoa gì?

Con bé nhìn Tín, hai mắt long lanh, giọng tinh nghịch:

– Anh thích hoa gì?

– Hoa Mai ! Ở làng anh, mỗi lần giáp Tết, hoa Mai nở rộ cả một vùng.

Hoa mỉm cười:

– Vậy em cũng thích hoa Mai. Chừng nào hết nghèo, được về quê ăn Tết, em sẽ trưng hoa Mai khắp trong nhà.

Tín nắm ngay lấy bàn tay xinh xắn của nó rồi lôi đi:

– Nghèo giầu gì! Mình sẽ đi mua cả cái lược lẫn một cành Mai!

Chẳng cần bảo nhau, cả hai đứa cùng như cảm thấy cả một vườn hoa Mai rực rỡ ở chốn xóm làng xưa cũ hiện ra trước mắt làm cho chúng nó thấy rộn rã trong lòng.

Thế rồi vô tình con bé cũng nắm chặt lấy cánh tay của Tín và cả hai cùng mất biến trong đám người lố nhố, cũng đang ồn ào chen chúc nhau để vội vàng mua sắm Tết.

Nhật Tiến

Những Ngày Mới. Truyện ngắn Thạch Lam


Thạch Lam

(Những Ngày Mới. Truyện ngắn Thạch Lam đã đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 19 in ngày Chủ nhật 02/08/1936 tại Hà Nội)

img_5131

Những bông lúa vàng mới cắt xong đều xếp rải rác từng hàng trên bờ ruộng, trong đám cỏ xanh mọc dầy. Mỗi khi gặt được vài lượm lúa người thợ hái ôm sát bó lúa thơm vào người, đem ra xếp vào chỗ lúa trước. Rồi họ lại trở vào ruộng, đứng theo hàng những người bạn gặt. Tiếng hái đưa vào gốc lúa xoàn xoạt như tiếng trâu bò ăn cỏ.

Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý gì đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rỏ ở trên trán xuống. Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phản phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm cho chàng say sưa như men rượu. Tân lại cố hết sức gặt, chỉ lo không theo kịp hàng những người thợ khác.

Buổi sáng khi Tân ngỏ ý cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:

– Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn lúa.

Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.

Người già nhất trong bọn, một ông cụ râu tóc đã bạc, nhưng da xém đen và khỏe mạnh, lẳng lặng đem một cây hái ra mài trên bờ ruộng. Khi mọi người sửa soạn xong, ông cụ đưa cho Tân cây hái, lưỡi sáng loáng nói:

– Lưỡi sắc thế này thì cắt cứ ngọt như cắt cỏ.

Cắt được mấy lượm lúa, Tân thấy cánh tay mỏi rã rời. Chàng tưởng không thể nào gặt được nữa. Tuy vậy, cố hết sức chàng cũng chưa theo kịp bọn thợ gặt. Nhưng được vài bước, Tân lại phải dừng lại để thở. Chàng nhận thấy cô gái ban nãy, tuy tay đưa hái thoăn thoắt nhưng vẫn để ý nhìn chàng. Còn ông cụ già cứ điềm đạm gặt, bên cạnh ông ta, những bông lúa đã xếp thành đống. Tân lại cúi xuống làm việc. Dần dần mềm dẻo, Tân thấy dễ chịu. Chàng luôn đưa lưỡi hái, vui vẻ khi thấy những bông lúa chắc, vàng ngả sát vào người. Tân thấy tâm hồn khoan khoái như không bận một ý nghĩ gì.

Từ bờ ruộng đằng xa đi lại, một người đàn bà gánh hai gánh đầy. Ông cụ già thẳng người đứng lên nói với các bạn gặt:

– Thôi, hãy nghỉ tay ăn quà đi.

Tân cũng ngừng tay lại. Chàng đương thích làm việc, nói: “Đã nghỉ rồi cơ à? Sao chóng thế”. Chàng quên rằng bọn thợ đã gặt luôn bốn giờ đồng hồ chưa nghỉ, họ làm việc từ buổi sáng sớm, trong lúc chàng còn ngủ.

Bọn thợ gặt tìm chỗ có bóng mát ở chân đồi nghỉ. Chung quanh đấy, ở các ruộng khác, những thợ hái cũng đều nghỉ cả, mỗi người chọn một chỗ dưới gốc cây, tay cầm bát cơm nếp ăn rất ngon lành. Đấy là bữa quà buổi trưa, vì sáng sớm trước khi ra đồng, người nào cũng ăn cơm cả rồi.

Mấy người thợ Tân mượn nhìn chàng ra dáng cám ơn lắm vì Tân rộng rãi, bữa cơm sáng đã cho họ ăn một ít cá vụn mà em chàng mua của bọn đánh dậm. Đến lúc đổi đồng, chàng lại cho phép họ được đem lúa đổi lấy một ít chả để ăn với xôi và bao diêm, gói thuốc cho mọi người. Bởi vậy, họ rất sung sướng vì ngày công tám xu của họ còn nguyên không phải tiêu dùng đến.

Thấy Tân dễ dãi vui tính, họ cũng vui vẻ trò chuyện trước mặt chàng, không còn ngượng nghịu hay giữ gìn gì nữa. Ông cụ già gọi chàng đến bên cạnh mời hút thuốc lào và uống nước. Cụ rót trong cái vò sành ra một bát nước đỏ thẫm ra đưa cho Tân:

– Cậu thử uống bát nụ vối này mà xem. Không có thứ nước nào ngon hơn nữa.

Thật đúng như vậy, Tân chưa uống bát nước nào ngon hơn bát nước vối của ông cụ. Chàng nghĩ đến khi còn ở Hà Nội, uống rượu bia và nước chanh ngâm đá, nhưng chưa thấy bao giờ khoan khoái như bây giờ.

Ăn xong, trên ven đồi, bọn thợ gặt nằm dài trên cỏ ngủ. Các thợ đàn bà họp nhau lại một chỗ ăn trầu và nói chuyện mùa màng còn ông cụ thì loay hoay buộc lại mấy cái hái để dùng đến buổi gặt chiều.

Cánh đồng lúa chín lóe vàng dưới mặt trời buổi trưa. Từng chỗ, ở thửa ruộng nào đã gặt rồi, gốc rạ lấp lánh như dát bạc. Phía xa, làng mạc ở chân trời rung động trong ánh nắng.

Tân nằm trên thảm cỏ, nhìn lên. Qua khe lá lung lay, chàng thấy trời xanh trong và mát. Mùi cỏ và mùi lúa thơm bốc lên xung quanh, Tân cảm thấy cái sung sương của một người làm xong công việc. Chàng thấy vui vẻ, một mối tình nảy nở giữa tâm hồn Tân với những người thợ gặt giản dị và mộc mạc chung quanh chàng.

Họ làm việc xong cũng vui vẻ, sung sướng tuy những lúa gặt không phải là của họ. Tân cũng vậy, chàng biết rằng những bó lúa kia đem bán đi thì có lẽ không đủ tiền trả công người làm. Song những bông lúa ấy đối với Tân quý lắm và như có một ý nghĩa thiêng liêng, đấy là kết quả của cả một năm làm lụng khó nhọc và vất vả.

Tân nhìn xuống đồi, ngắm nghía những dải mây trắng lững thững ở phía xa. Từ khi trở về quê, chàng quen nhìn xét những đám mây mà trước kia ở tỉnh chàng không bao giờ để ý đến. Tân nhớ lại tất cả quãng đời niên thiếu của mình đã qua ở tỉnh thành. Ngay từ khi còn nhỏ tuổi, cha mẹ chàng đã gởi chàng ở nhà ông chú làm việc trên Hà Nội. Nhà chàng cũng không lấy gì làm giàu có, nhưng cũng vào bậc nhất nhì trong làng. Quanh năm cày cấy mươi mẫu ruộng ở ven đồi và chăm bón mấy nương chè, sắn, cũng thừa đủ chi dụng trong nhà.

Cũng như tất cả những nhà giàu khác ở trong làng, cái hy vọng của cha mẹ Tân là cho chàng đi học để trở nên thầy thông hay thầy ký… Mà lúc bấy giờ, chí nguyện của Tân cũng chỉ có thế, chàng hết sức chăm học nên năm mười tám tuổi đã đạt được cái hy vọng của gia đình.

Tân mỉm cười khi nghỉ đến cái tâm trạng của mình lúc mơi đi làm; nghĩ đến cái anh chàng lúc nào cũng ăn bận chải chuốt như một cô gái, lúc nào cũng nghĩ đến cái quan trọng của mình. Hình như mỗi cử chỉ của thầy ký trẻ tuổi đều có ảnh hưởng đến mọi người.

Khi có nạn kinh tế, chàng mất việc. Cái chán nản của Tân và của cha mẹ chàng lúc bấy giờ thực đến cực điểm. Cha chàng buồn rầu từ trần. Còn chàng cứ lang thang ở Hà Nội mấy tháng trời, sống cái đời vất vưởng của anh thất nghiệp. Chàng đã biết cái thất vọng của những lúc đợi chờ, cái khổ sở của những đêm không có chỗ trọ, vì trong lúc ấy ở nhà quê có mình bà mẹ trông nom ruộng nương không xuể, và giá thóc hơn, nên không có tiền gửi cho chàng.

Nhưng một hôm rét mướt, một ý nghĩ bỗng nảy ra trong trí, nếu ở đây không đủ sống, tại sao không trở về quê sống cái đời giản dị của người làm ruộng?

Thế là hôm sau, Tân xách khăn gói về. Rồi từ đấy chàng hoàn toàn là một người nhà quê dễ dãi. Mới đầu Tân cũng thấy nhiều sự thiếu thốn khổ sở. Nhưng dần dần chàng nghiệm ra rằng những cái thiếu thốn đó, không phải là những cái cần dùng cho cuộc đời, mà là những cái thừa. Sự cần dùng là ăn với mặc, chàng đã có đủ. Dần dần chàng mới thấy cái đời chàng sống trước ở tỉnh thành là một cuộc đời phức tạp và vô vị, không có nghĩa lý gì. Chỉ việc có ăn ở theo mọi người, nghĩ ngợi theo mọi người, và đi tìm cái vui chốc lát trong những cuộc hành lạc để mua lấy cái chán nản về sau.

Tân tiếc hồi thủa nhỏ không sống ở thôn quê để được gần gũi với cảnh vật. Chàng thích sống bên cạnh những người nhà quê chất phác và mộc mạc. Bấy giờ chàng mới biết đến trời đất, đến thời tiết, đến sự thay đổi của mùa nọ sang mùa kia. Một cơn gió hay một cái mầm cỏ non, đối với chàng đều có ý nghĩa riêng.

Tân không dửng dưng như trước với những cái chung quanh mình. Tâm hồn chàng có liên lạc và rung động cùng với cảnh vật. Chàng có cái cảm giác rằng mình sống…

Buổi chiều, thửa ruộng của Tân đã gặt xong. Cả một cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ. Bọn thợ gặt đều thu xếp liềm hái để trở về. Trên con đường vào làng, các lực điền gánh những gánh lúa vàng nặng trĩu. Mặt trời đã xế phía bên kia đồi. Ở dưới thung lũng, sương mù lạnh trắng xóa lan ra lẫn với làn khói tỏa ở xung quanh các làng. Cỏ bên đường đi đã ướt. “Về phía xa, có ngọn lửa của ai đốt trên sườn rặng núi mờ ở chân trời. Tân với bọn thợ bước đều trở về nhà, ai nấy yên lặng không nói gì,như cùng kính trọng cái thời khắc của một ngày tàn. Trong cái thời khắc này, Tân như thấy cảnh vật đều có một tâm hồn, mà lớp sương mù kia là tâm hồn của đất màu, đã nuôi hạt thóc cần cho sự sống của loài người.

Khi vào đến con đường khuất khúc trong làng, trời nhá nhem tối. Qua hàng rào cây, Tân thấy lấp lánh đèn ở sân các nhà, tiếng néo đập lúa trên cối đá, tiếng hạt thóc bắn vào nia cót như mưa rào. Đâu đâu cũng thấy tiếng cười nói vui vẻ, cảnh đêm trong làng thôn quê vẫn yên lặng âm thầm thì chiều nay hoạt động vô cùng. Mùi lúa thơm vương lại trong các bụi cây hòa lẫn với mùi đầm ấm của phân cỏ, bốc lên khắp cả.

Về đến sân nhà, mọi người ăn xong lại bắt đầu làm việc. Đàn bà vừa đập lúa vừa hát, còn bọn thợ hái ngồi quây quần bên chiếc đèn con nói chuyện. Ai cũng cười đùa tự nhiên. Họ đã tận tâm làm việc suốt ngày. Những lượm lúa vàng sẫm đem đến cho họ cái vui của ngày được mùa, cái hình ảnh của sự no ấm trong đời.

Tân thấy mình cũng sung sướng như họ, chàng thấy tấm lòng mình rộng rãi ra, tâm hồn thân thiết, và yêu mến với cả mọi người.

Sau khi hẹn thưởng cho bọn thợ nồi cơm nếp mới, Tân bước ra ngõ, nhìn xuống dưới đồi. Trên trời, ngàn sao lấp lánh. Gió dưới ruộng đưa lên mùi rạ ướt và hơi sương lạnh. Cả một vùng đêm rộng rãi và bình tĩnh trên cánh đồng yên lặng.

Tân chợt thấy ở chân phía trời xa, cái khoảng ánh sáng mờ của tỉnh thành Hà Nội…

Chàng sung sướng nghĩ đến những ngày đầy đủ của mình ở chốn thôn quê này. Một cuộc đời mới đương chờ đợi chàng…

Thạch Lam

Previous Older Entries

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô. huvoanxuyen@yahoo.com.au

%d bloggers like this: