Mưa Trong Vườn Nhà Cô Françoise, Truyện ngắn Nguyễn Nghiệp Nhượng


cc30a06a7dc43c54819459680239eb27-460f8

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Vòm kính nháng những tia chớp tím hay hơi nước bay tỏa đã nhuốm mặt nàng trong thứ ánh sáng thật dịu, từ mầu tím chuyển qua những mầu khác hoặc xanh trắng, pha hồng, liên tiếp nháng lên trong bầu trời đen mà chính những tia chớp đó đã làm cho rộng rinh. Hai dẫy cây ương có lá cong; chốc chốc, một cơn rung chuyển nào đó từ ngoài đưa tới, như thể từ phương xa, trong một chuỗi tinh hệ khác, xảy ra từ triệu năm trước mà lúc này ảnh tượng mới chuyển tới. Tôi đi rất nhẹ nhàng chung quanh vòng kính, ngang những cọng lá, những chậu sứ tráng men xanh, qua đầu nàng. Nhưng nàng không hề biết. Đó là một cái đầu nhỏ, tóc dài xuống lưng không buộc lại và có vẻ như ướt nước. Mùi thơm từ mái tóc đó tỏa ra khắp gian nhà lớn. Nàng bất động.

Nhưng chính như thể sự bất động đó của nàng trong gian nhà đầy ánh sáng thay đổi và những cơn rung chuyển xa vắng không tiếng động làm nàng có vẻ như đang trầm tư. Hơn nữa, lúc này, nàng đang với tay tới một cọng lá cong, một cánh tay để trần, trắng và dài. Điều này không chắn chắn mấy.

Nàng nói: “Con ngủ rồi .”

Từ cánh tay trần của nàng, ánh sáng chớp liên tiếp chói lòa như thể cánh tay đó có bôi mỡ và khi nàng thả cọng lá ra, nó bật lên, một vài giọt nước rơi xuống. Nàng cũng dùng cánh tay để trần này xoa nắn hai bả vai, xoa bụng và mạn sườn. Rồi đó, nàng cởi áo khoác thả xuống nền đất. Cái áo mỏng, dài như kiểu áo choàng ngủ, có những lỗ tròn cháy, bằng đồng xu nhỏ. Lớp da bụng của nàng hiện ra căng tròn về phía trước. Nàng thõng tay che một cách chậm chạp phần cuối cơ thể, bắp tay gần như ngáng trên bụng. Nàng mỉm cười và lại bất động.

Chính lúc đó, một người đàn ông hiện ra. Anh mở cánh cửa nào để vào tôi cũng không biết. Chỗ anh đứng, đằng sau là những ô kính vuông liền khít nhau đóng bằng nẹp gỗ. Nhưng một tay anh ngoái lại phía sau như động tác để khóa chốt; rồi đó, anh buông thõng tay xuống.

Tôi nói với nàng: “Có ai vào.”

Nàng nói, lơ đãng: “Ai đó.”

Nhưng hình như nàng mỉm cười mà không nói gì thì đúng hơn. Lúc này, nàng như cục sắt bị nam châm hút cứng xuống đất, không nhúc nhích, không thở, và nụ cười của nàng yên giữ như thế. Mắt nàng nhìn xuống, cũng bất động, ngay cả khi tôi ngó vào. Núm vú nàng đỏ hồng, quầng sưng mộng và nổi ốc.

Người đàn ông đã đứng bên cạnh nàng từ lúc nào. Anh đứng thẳng, mắt hướng về phía trước với một cái nhìn thật xa xăm như thể không thấy nàng.

Anh có những nét duỗi thẳng trên khuôn mặt, khiến cái đầu dài khác thường. Anh đeo một cái mũ rộng vành tô xanh đỏ gì đó bằng một cái quai nơi cổ, hai bên tai thừa ra hai đường cong của vành mũ. Anh thõng tay đứng yên, chỉ có đôi môi bập bập cái tẩu thuốc dài. Anh cao hơn người đàn bà nhiều.

Anh nói: “Mũ cói của Hector gởi tặng. Em thấy có đẹp không ?”

Anh bập bập mấy hơi thuốc, đưa một tay lên giữ ống điếu.

“Cả ống điếu. Bây giờ anh ta đang ở nhà hay đi chơi với bạn bè. Hector Louis Végas, mau thật. Hồi nãy trong khi đi xuống đây, mưa lớn quá anh tới ngồi dưới cái vòm chậu, tự nhiên có cảm tưởng như…như…”

Bây giờ, một tay nàng đặt lên vai anh, mái tóc dài che ra trước ngực. Một chuỗi cười thật dòn dã như ở trên nóc vòm kính đưa xuống rồi đột ngột ngưng hẳn. Nàng trở lại bất động nét mặt có một chút ủ rũ nào đó. Giọng người đàn ông mà lúc này đã đội cái mũ rộng vành lên thật trầm như khi anh đọc một đoạn thơ.

“Xin lỗi, xin lỗi em. Nhưng hễ cứ trời mưa là anh lại vậy.”

Nàng không nói gì, ánh mắt thật mơ màng.

“Thời kỳ này anh sống giật lùi thật xa. À, chỉ tại trời mưa.”

Anh đi tới một bước, hất cái mũ cói xuống ghé sát vào má của nàng và cọ cọ bộ râu vào đó. Anh nói trên gò má:

“Tại mùa mưa này làm anh hỏng.”

Nàng vẫn không nói, mắt nhìn xuống trong im lặng không biết tại sao. Lúc này thì mưa nhỏ hơn, nhưng chớp liên tiếp sáng chói ngòng ngoèo trên bầu trời đen, lâu lâu có những lằn chớp dài chạy nhỏ rức như chỉ trắng, nới rộng trời ra như một tấm màn kéo, và vòm kính chớp nhoáng những tia sáng đỏ. Một đôi khi, ánh sánh tím và nhạt nhạt như soi lên bụng nàng, một mầu nhẹ nhàng huyền hoặc kỳ lạ.

“Anh có kể cho em nghe chuyện trên núi chưa nhỉ? Trên núi, sống thật là tuyệt. Thời kỳ này anh gần với núi hơn. Mầu xanh của núi mát mẻ hơn cái gì khác, lâu lâu anh tưởng như hơn cả em nữa.”

Anh ngừng nói và hút thuốc. Anh cúi đầu đi loanh quanh. Hai tay chấp sau lưng. Trong một lúc nào đó, anh vẫn đi và tiếp tục nói:

“Nhưng mà, hồi nãy, anh nói khi đi xuống đây, khi đi xuống đây đó. Anh sợ sợ. Anh bê bối thật. Em thấy đó, hồi này anh sống như mất trí nhớ. Trí nhớ của anh lúc trước phi thường, hả? ”

Anh đứng lại và ngó ra ngoài. Lát sau, anh tiến tới tỳ trán vào một ô kính, hai tay làm như cái khung bấu vào nẹp gỗ và gần chạm vào thái dương. Cái mũ cói vẫn ở sau lưng.

“Giá mà anh nhớ được. Giá như hồi trước, em hả? Lúc này, anh quên thật nhiều thứ, không nhớ gì hết. Nhưng mà, làm như anh đã thanh toán xong cái của nợ đó chứ không phải anh bị chúng bỏ anh.”

Anh làm một cử chỉ vung tay, rồi cầm cái ống điếu vẫy vẫy.

“Anh nhẹ mình.”

Anh hút vài hơi thuốc và nhả khói:

“Tại anh sống trên núi đó.”

Bất chợt nàng nói:

“Anh sống trên núi với ai ?”

Câu hỏi như câu nói, không cao giọng, như thể là nàng không hỏi anh mà là hỏi một cái tượng gỗ nào đó. Tẩu thuốc lá đã hết, anh bập bập rồi gõ vào thành gỗ, gõ nhẹ vào mặt kính, nhưng không có tiếng động. Những cử chỉ giới hạn nào đó làm anh có vẻ như đang nghĩ ngợi.

“Có ai. Như vậy mới thật tuyệt. Nhưng mà, anh đã nói, hồi này anh sống khó khăn quá. Hừ, anh muốn nói gì với em đây? Cũng như…cũng như…à như là anh tạc nàng đó.”

Anh quay lại, một tay thọc vào túi, tay kia cầm ống điếu vẫy vẫy.

“Anh quên nàng. Khó khăn lắm anh mới nhớ hay nhận ra mặt nàng. Mà không biết anh định tạc nàng làm gì. Anh làm công việc vô ích thật, hả ?”

Tôi bước ra khỏi những chậu sứ tráng men xanh vừa đi vừa nhìn nàng và những cọng lá cong cong. Mưa vẫn đều đều, chớp liên tiếp. Không hiểu gian nhà này làm từ hồi nào nhưng nó có vẻ như sắp nứt đôi. Tiếng động ì ầm xa vắng có một lúc nào đó thốt nhiên rõ lớn trở lại như trước. Người đàn ông đã đi mất và lúc nãy chỉ còn tôi với nàng, với mùi thuốc phảng phất.

Nhưng nàng làm như không có tôi. Nàng cất tiếng hát nho nhỏ và nói:” Con đang ngủ ngon, phải không con ?”, và nàng bước chậm rãi quanh những chậu cây ương.

Những tia chớp xanh và tím vẫn liên tiếp nháng chiếu. Tôi bỗng nhớ tới một giấc mộng đã lâu lắm, trong đó, như ở một gian nhà có mái kính mầu, một đứa trẻ đang khóc và người mẹ bế nó vừa nựng nịu vừa ru. Anh sánh tím nhiều hơn cả chiếu rọi khắp nơi, chiếu lên đứa nhỏ và cánh tay cùng thân thể người mẹ.

“Con sắp ra đời mà anh không thèm để ý gì hết.”

Tôi muốn đi tới, nhưng thân thể tôi bỗng nhiên cứng nhắc.

“Anh xem. Nó quẫy dữ lắm. Đôi khi em thấy một cục cứng. Như cái đầu. Với lại, đôi khi nó quẫy cả hai bên như là….như là có hai đứa. Em sợ quá.”

Tôi cười lớn tiếng, nói:

“Sinh đôi. Như vậy càng nhiều chứ sao.”

Nàng bỗng tới và ghé vào tai tôi. Hơi thơ ấm khiến tôi tỉnh thức như tỉnh thức sau một giấc mơ dài. Trong hơi thở, tiếng nàng nói thật nhỏ:

“Có phải anh không?”

Cũng vẫn ghé sát như thế, nàng thì thầm:

“Ở trên núi của anh, lúc này chắc mưa lớn hơn, nhỉ? Em muốn lên ở đó, mình tìm một cái hang động trú mưa, lót lá ngồi cho tới sáng .”

Thốt nhiên nàng rời xa tôi, tới chỗ lúc nãy của nàng. Tôi bắt đầu cảm thấy nhẹ nhõm hơn, như vừa thoát khỏi một sức hút nào đó. Tôi chậm rãi ra khỏi gian nhà ương cây. Trong một góc tối giữa vườn lớn, người đàn ông đội mũ rộng vành đang đứng bên một mái cong giống như kột cái tàn lớn đúc bằng xi măng.

Mưa nhỏ. Trong những lối đi lót sỏi trắng, một vài vũng nước thỉnh thoảng lấp lánh. Người đàn ông đội cái mũ rộng vành rời cái mái cong đang đi trên những lối đó. Anh dừng lại trước một cây cảnh nào đó, giơ tay vuốt những chùm lá. Anh vẫn hút thuốc.

Anh đứng yên lặng trước bụi cây. Mưa đã ngớt hẳn, chỉ còn những bụi nước rơi cong cong như những sợi chỉ. Đêm yên tĩnh rõ hẳn những giọt nước rớt thánh thót. Đột nhiên, về phía ngôi nhà gạch lớn phía trong, một khung cửa sáng lên và tiếng nhạc thoát từ một loại nhạc khí nào đó, rời rã đưa đến. Anh có vẻ hơi quay lại phía cửa sổ, nhưng tay vẫn đặt trên một chùm lá. Lát sau, anh có vẻ như không chú ý đến tiếng nhạc nữa tuy nó vẫn nhẹ nhàng rời rạc thoát ra. Anh rời bụi cây đi loanh quanh trong vườn.

Người nào đó chơi đàn có lẽ để cho hết thời giờ. Những hợp âm đưa tới khiến tôi biết đó là tiếng Tây ban cầm. Tôi rời chỗ đứng đi lại gần cái cửa sổ sáng ngó vào nhưng không thấy ai. Có lẽ người chơi đàn ngồi khuất sau những tấm màn màu xanh nhạt, bằng nhung, óng ánh và có vẻ hơi buồn bã. Gian phòng không rộng lắm, nhưng cao và có trần. Tường quét vôi vàng nhạt, trong ánh đèn yếu ớt màu vàng nhạt đó tăng thêm một chút đen do những mảng bóng tối từ góc khuất phát ra. Chính giữa gian phòng, đối diện với cửa sổ là một bức chân dung lớn, có lẽ vẽ hơn là ảnh chụp. Người trong bức vẽ béo tốt, râu ria xồm xoàm mặc võ phục có nẹp đỏ, ngang lưng đeo một thanh kiếm chuôi tua chỉ vàng. Một mắt của ông ta đeo kính trắng thêm vẻ dữ tợn nghiêm nghị. Phía trước bức chân dung là một cái tủ kính, trong để các thứ trang trí mỹ thuật gì đó. Cửa ra vào thông với một phòng khác hé mở nhưng không thấy người. Tiếng nhạc có lẽ phát ra từ sau một cái chụp đèn tròn và lớn, gần khuất trong tấm màn nhung.

Tôi rời cái cửa sổ đi theo đường rãnh nước ven tường vào những lối mà người đàn ông đội mũ cói rộng vành lúc nãy đã đi qua. Không biết lúc này anh ở đâu, bốn bề vắng ngắt mờ tối, mưa vẫn rơi cong cong. Gian nhà kính ở về phía trái ngôi nhà lớn, bên này là vườn cây nhỏ và thưa. Có một cái nhà gỗ thấp trong những cây đó.

Có lẽ anh tới nhà kia chăng? Nhưng ở đó tối om, vắng ngắt và không có vẻ gì có người cả. Tôi đi quanh quẩn trong khu vườn thưa, những chiếc lá rớt xẹp xuống dưới chân. Ở đây có vẻ đọng nước, mưa cùng hơi ẩm thấp tạo thành một bầu không khí nằng nặng, ngưng đọng và không chuyển động. Tiếng đàn trong phòng sáng lúc này nghe tiếng được tiếng mất, như thể những âm thanh kia bị chận lại ngoài cửa vườn.

Dù sao tôi cũng đi tới cái nhà gỗ nhìn vào. Bên trong tối nhờ nhờ nhưng không tối đặc như tôi đã tưởng. Vô số những que gỗ, buộc với nhau thành hình này nọ bởi những sợi giây thép và những thanh gỗ đó thì dính đất hay một chất trắng cứng nào đó. Một số khác có hình thù hơn treo lủng lẳng trên những cái móc, trên những thanh gỗ bắc ngang hoặc dựng sát vào tường. Có một pho tượng cao và lớn hẳn so với những hình thù kia, giống như một người đàn ông; đầu và hai tay dài khác thường.

Bất chợt, một giọng nói sau lưng tôi.

“Ông bạn làm gì đó?”

Tôi lạnh toát, quay lại. Người đàn ông đã đứng sau lưng tôi tự lúc nào. Tôi ngạc nhiên vì giọng nói của anh không có gì tỏ vẻ khó chịu hết dù tôi đột nhập lén lút, hơn nữa điều khiến tôi ngạc nhiên hơn là anh trông không giống người đội mũ rộng vành chút nào. Anh có vẻ ốm yếu, mép để ria, hai mắt sâu và lớn, tóc hơi quăn.

“ Ông bạn đừng ngạc nhiên. Tôi thấy ông bạn từ lúc trời mưa.”

Tôi hỏi một câu ngô nghê:

“Ông là ai ?”

“Tôi hả? Hà, buồn thật. Không ai hiểu tôi hết.”

Anh im lặng một chốc, cúi nhìn tôi qua những sợi giây leo ở cửa. Anh nói trong lúc nhìn đó: “ Tôi buồn rầu quá. Tôi nhìn thấy sự buồn phiền.” Anh thò tay vào cửa lấy một cái mũ máng đâu trong vách và đội lên đầu. Anh nói:

“Phải không?”

Tôi nhìn sững người đàn ông, tôi không tìm ra được nét giống nhau nào giữa anh ta và kẻ ở trong nhà ương cây, trừ cái mũ cói rộng vành mà anh ta đang đội. Nhưng ai cũng có thể có một cái mũ cói rộng vành hết.

Người đàn ông vẫn nói bằng giọng đều đều lúc đầu:

“Tôi không biết làm gì bây giờ. Hơn nữa, tôi không biết nói với ai.”

Anh chợt thay đổi giọng nói: “Hà, bây giờ có ông bạn.” Sau đó anh lắc đầu tiếp:

“Có những chuyện không thể nói với đàn bà được.”

Tôi hỏi:

“Ông ở đây phải không?”

Tôi lại hỏi một câu ngô nghê nữa. Người đàn ông cười lớn:

“Tôi đâu ở đây được. Phải sống nơi khác. Ở đây, mùa mưa làm ai cũng thấy buồn cả. Mà mùa mưa thì kéo dài tới tám tháng.”

Anh ngừng nói bằng cả vẻ mặt. Anh có vẻ bồn chồn như đang chờ đợi cái gì đó. “ Tôi muốn nói chuyện, à, muốn kể chuyện với ông bạn…”, anh nói không nhìn tôi như đang chú tâm nghe ngóng đâu đó, “ Nhưng khoang đã, tôi cần tới đây một chút.” Anh vụt rảo bước vào khoảng cây và bóng tối mà lúc nãy anh tới. Anh đi như bóng ma và rất nhanh chóng. Hơn nữa, tôi cũng không để ý mấy. Tôi tiếp tục nhìn ngắm những thứ lủng cũng trong cái nhà gỗ.

260_149_1362582639_33_1362238147_426284_400894609925130_1056361736_n_large

Trời đang có vẻ tạnh bỗng lại mưa. Gió nổi rất lớn, rung ào ào trên đầu tôi. Tôi nép vào mái gỗ, nhưng mưa lớn quá, hai chân tôi bắt đầu ướt. Tôi tìm cửa vào nhưng không thấy, liền trèo cửa sổ. Mái nhà lợp bằng những tấm tôn mỏng, mưa xối ầm ĩ, tôi thu hình ngồi trên một cục gỗ khá lớn không biết dùng làm gì. Chung quanh tôi, những hình thù và các thanh gỗ ngang dọc trở thành đậm mầu hơn, lẫn với bóng tối, như thể chúng là cả một khối đang nổi rõ vài đường nét góc cạnh nào đó. Tôi nhớ người đàn bà trong nhà kính, hình dung sắc đẹp của nàng, hình dung những nét diễm lệ và nhất là vẻ im lặng quá mức của nàng. Ánh sáng tím nhạt cách quãng của những tia chớp, làn da bụng trắng của nàng, cánh tay dài và cọng lá cong cong, những thứ đó hợp thành một khung cảnh rung rinh như giấc mơ, hay chính là giấc mơ thật, nhưng dù sao, đó là một khung cảnh không thể tìm thấy ở đâu khác, huyền hoặc và thơm ngát.

Trận mưa kéo dài không biết bao lâu. Tôi cứ ngồi thu hình yên lặng và nhìn ngó trong bóng đêm những hình thể lờ mờ chung quanh và những hình thể dễ nhận biết khác, như những cụm mây, góc cây, cái bờ tường, cánh cửa sổ, những vũng nước, ở xa tít phía cuối vườn hay trong nhà ở, và những thứ đó càng lúc càng xa thêm, lờ mờ, chập chùng. Một đôi lúc tôi tự hỏi về lai lịch cái nhà và khu vườn này, hay những người sống ở đây, người đàn bà trong nhà kính, người đàn ông đội mũ rộng vành, tiếng đàn, bức chân dung vị võ quan…nhưng những tra vấn này hình như không làm bận tâm trí tôi nhiều. Chúng lướt qua, như thể không phải là lướt qua trí tôi nữa.

Khi mưa tạnh trở lại, tôi bắt đầu thấy mỏi mê cùng khắp. Tôi trèo qua cái cửa sổ đi ra bên ngoài. Tôi đạp lọc bọc trên những vũng nước và lá ướt, trở lại căn nhà ở. Đèn ở cái cửa sổ lúc nãy vẫn sáng, nhưng cửa đã đóng. Tôi đi chậm chậm trong những lối sỏi cũng ướt nước và tiến về cái nhà kính. Ở đây là một cái nền cao, xây bằng gạch miếng không tô vữa, những ô kính loáng thoáng vì ướt nước. Tôi trèo lên nền gạch, bước vô. Nhưng tôi chưa kịp trông thấy người đàn bà thì đụng phải một cô bé.

Cô bé ngẩng nhìn lùi lại như muốn la lớn. Tôi nói:

“Có gì thế ?”

Cô bé đứng tới ngực tôi, tóc gần chấm vai và hơi cong, mắt như vừa khóc. Tôi lập lại: “ Có gì thế ? Cô bé là ai thế ?”, cô bé nói:

“Ông tới đây làm gì ?”

Tôi lúng túng không biết trả lời sao. Sao cùng tôi nói:

“À, tôi đi chơi thôi. Tại sao em khóc ?”

“Ông không phải là bạn của cô Françoise sao ?”

“Cô françoise nào?”

Cô bé nhìn tôi, lau nước mắt bằng một cái khăn mỏng rất lớn và tiệp với mầu áo.

“Ông tới đây từ bao giờ thế?”

Tôi cười cười đáp:

“Hồi nãy.”

Đột nhiên, cô bé tỏ vẻ sợ hãi hỏi:

“Ông đã gặp cô Françoise chưa? Cô Françoise là chủ nhà.”

Tôi đáp: “Chưa. Tôi chưa gặp.”, và ngó chung quanh, “À, nhưng có lẽ tôi gặp rồi. Cô Françoise thật là đẹp phải không?”

“Đẹp.”

Tôi nhớ tới cái bụng trắng nõn và căng tròn của nàng, tôi hỏi cô bé:

“Chồng cô Françoise là ai thế? Cô sắp có con đấy, nhỉ? ”

“Ông nói lạ thật. Cô chưa có chồng.”

“Như vậy…như vậy….Em nói gì thế?”

Đột nhiên cô bé bỏ chạy. Tôi đuổi theo. Thật ra tôi có thể chụp nó dễ dàng nhưng tôi chạy lúp xúp coi sao. Cô bé chạy giữa những hàng chậu sứ, thỉnh thoảng kêu nho nhỏ: “Cô Françoise” như thể một nỗi sợ hãi nào đó làm miệng cứng không há được. Phía cuối góc gian nhà kính, người đàn bà trắng toát vẫn đứng yên, không nói gì, hình như nàng đang chăm chú nhìn tôi và cô bé đuổi nhau. Sau cùng cô bé không chạy giữa những chậu sứ nữa mà thoát ra ngoài thềm gạch. Tiếng kêu nhỏ vẫn gọi tên cô Françoise với nỗi sợ hãi gì đó. Tôi nói hơi lớn:

“Đừng chạy nữa, em nhỏ. Cô Françoise ở đây này”, và tôi hơi dừng lại để nhìn người đàn bà. Bóng cô bé thấp thoáng phía trước trong những lối sỏi, chạy hớt hải kỳ lạ. Tôi lớn bước đuổi theo. Dù sao, tôi vẫn không muốn gây tiếng động gì trong vườn này.

Cô bé đang chạy vào vườn cây, chỗ có cái nhà gỗ. Tôi đuổi kịp không khó khăn lắm. Khi vừa tới trước cái nhà gỗ, tôi nghe bịch một tiếng.

Cửa đã mở. Một cái cửa lớn và quá rộng ngay sát bên cửa sổ mà lúc nãy tôi không biết. Cô bé với quần áo trắng toát ngã sóng soài trên mặt đất. Tôi nói nhỏ: “ Có sao không?” và bước vào kéo tay cô bé. Đầu tôi đụng vào bức tượng cao lớn không biết ai mới treo lên, lủng lẳng, đen ngòm. Bức tượng yên lặng kỳ cuc. Có lẽ cô bé đã va vào đó nên ngã lăn.

Tôi cúi xuống ẵm ngang thân hình bé nhỏ đó lên, bước ra khỏi nhà và đi thẳng tới cái mái cong mà lúc nãy người đàn ông đội mũ rộng vành đứng trú mưa, Tôi đặt cô bé xuống. Nó đã ngất xỉu và lạnh. Tôi ngần ngừ một lát rồi làm loa tay kêu lớn:

“Cô Françoise, em bé ngã.”

Không chờ trả lời, tôi chạy thật nhanh thoát ra đường./.

(Trích Tuần báo Nghệ Thuật số 19. Phát hành ngày 19.2.1966. Và, đối chiếu lại trong tuyển tập truyện ngắn: Dạ Khúc do Hồng Đức xuất bản lần thứ nhất vào tháng 7 năm 1969.
Bản của Thư Ấn Quán)

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Viết Giữa Mênh Mông, Truyện ngắn Nguyên Nhung


10653497_588524887925731_414623437957661785_nVGMM

( Chân dung và tựa đề truyện ngắn của nhà văn Nguyên Nhung)

Cả khu chung cư này gọi hắn là gã khùng, thằng điên hay là ông dở người, hắn chỉ mỉm cười tha thứ. Đối với họ hắn chỉ biết cười ngô nghê như trẻ con, chứ riêng hắn, hắn mới biết mình độ lượng đến đâu, lòng thương hại, nỗi trắc ẩn ấy chỉ mình hắn hiểu khi bọn người lớn mặc kệ lũ trẻ con giễu cợt hắn. Hắn đã thấy nhiều người gầm lên khi cho là mình bị ai xúc phạm, dù người ấy đã được đọc nhiều sách vở nói về cái “ta” của một thực thể, chỉ là hạt bụi vô thường giữa sắc sắc, không không. Dưới mắt hắn, lũ người bảo hắn khùng điên ấy cũng đã từng điên khùng, quanh quẩn trong cái khổ của họ mà họ chưa có can đảm bộc lộ ra bên ngoài cái vỏ của một con người, là vì họ đã khéo léo che đậy được, chứ mở được lòng nhau ra, chưa biết ai điên ai tỉnh.

Hắn là một người điên chữ. Hắn mê sách vở hơn tất cả mọi thứ sinh thú của cuộc đời, cũng chính vì đọc nhiều quá mà hắn đâm rối loạn, mê tỉnh với những điều hắn đọc được. Hắn đọc đủ loại, có những tác phẩm hay, có những tác phẩm dở, mỗi một tác phẩm lại bơm vào đầu hắn một ít suy nghĩ trăn trở, đủ cả hỉ nộ ái ố, đủ cả diễm tình, thù hận, vô luân khiến hắn bị “tẩu hỏa nhập ma”. Vô tình, những tác phẩm của nhiều tác giả đã dàn thành một mặt trận ẩu đả lẫn nhau trong óc hắn, không biết có nên kết tội cho văn chương đã làm băng hoại tâm hồn hắn, hắn không chết được để cứ thế ngẩn ngơ.

Một ngày kia hắn bỗng ngơ ngẩn thật, đi lên đi xuống mấy con đường trong khu chung cư, rồi hắn đi ra biển để hàng giờ cứ lòng vòng trong khu nghĩa trang. Hắn không nhìn ai, lúc nhìn trời, cười, lúc lẩm bẩm câu gì đó trong mồm, cả ngày hắn chỉ thích nói vu vơ với những nhân vật không có thực rồi lại cười một mình. Vợ hắn cho là hắn bị ma ám, còn người đời lại bảo hắn khùng. Hắn đã có một kho tự vị trong đầu, khùng, điên, man man, cám hấp, dở hơi, rồ, tưng tửng, không bình thường đều có nghĩa ám chỉ một người như hắn.

Trước tiên là hắn quên ngay cái việc phải đi làm để kiếm sống. Hắn làm nhiều quá rồi, từ thuở vào đời hắn đã được học để chuẩn bị làm việc, khi ra đời hắn phải lăn xả vào để kiếm miếng cơm nuôi thân, không được ỷ lại vào người khác. Lúc lấy vợ rồi có con, hắn phải làm việc bằng hai, chỉ vì người ta bảo hắn là trụ cột của gia đình. Hắn cứ bị cột chặt vào những vòng luẩn quẩn liên hệ của gia đình và xã hội, đời chả mấy khi vui. Từ lúc điên, hắn quên khuấy ngay cái người đàn bà sống chung với hắn, và cả những đứa con thì hình như không có vẻ dính dáng đến hắn cả. Mỗi ngày, họ bày biện ra đấy cho hắn một phần cơm, hắn lặng lẽ ngồi vào ăn khi bụng đói, hắn lặng lẽ dọn dẹp, lặng lẽ ngồi một mình ngoài hiên đọc sách, ngắm nhìn thế giới loài người bằng ánh mắt xa lạ.

Hắn là một người điên hiền lành không làm phiền cho ai, nhưng người ta vẫn không để hắn yên. Vợ hắn lôi hắn đi nhà thương, hỏi gì thì hắn cũng chỉ cười, nghe rào rào như các nhân vật đang độc thoại trong một tác phẩm. Hắn thú vị thấy anh bác sĩ tâm thần giơ hai tay lên trời, chịu thua không khám phá nổi con người của hắn, bởi vì anh ta hỏi gì thì hắn cũng chỉ cười, nụ cười an nhiên tự tại mà hắn nhìn thấy được trên bức tượng Phật ở ngôi chùa miền quê, hồi còn nhỏ hắn theo mẹ đi chùa, đã có lúc bắt chước nhắm mắt mỉm cười như Phật. Anh ta hỏi gì hắn cũng chỉ cười, như cười vào mũi những kẻ chẳng ra gì mà cứ hay dí mõm vào cuộc đời của người khác, anh ta cỡ nào mà soi thủng nổi tâm hồn của một con người kỳ dị như hắn.

Hắn được cho uống thuốc, uống nhiều, ngủ nhiều, thức dậy thì cuộc đời vẫn vậy, không thay đổi, không đẹp hơn hay xấu đi. Bỗng dưng hắn thấy mình phải viết, cần phải trang trải những suy tư về cuộc đời lên giấy. Hắn thấy không có thứ bút mực nào đủ sức chuyên chở những điều hắn cảm nhận được bằng cái bình mực đầy ắp trong tâm hồn hắn, đơn giản nhất là cứ chấm ngón tay vào ngực, nơi có trái tim, nơi bình mực có sẵn trong người rồi viết lên khoảng không những gì hắn muốn viết. Thứ giấy của trời sao đẹp thế, trong suốt vô ngần, có khi bàng bạc một màu xanh, có khi ửng hồng như má môi người thiếu nữ, lại nõn nà như tơ, không phải bật đèn khi trời tối, không gửi gấm, đăng tải đó đây để mọi người bình phẩm lôi thôi.

Hắn thích viết vào những buổi sáng khi mặt trời vừa lên, chiếu ánh sáng vào cõi đời tối tăm chật chội này, đời lại thêm một ngày đáng ghét. Có thể là buổi chiều khi hoàng hôn xuống, lũ chim chóc đã gọi nhau về tổ, hắn ngồi đấy ngắm nghía ông đi qua bà đi lại, nghe cây cỏ rì rào, than thở. Trong hắn như dục dã hắn phải viết, cứ thế chấm ngón tay vào ngực, viết nhoay nhoáy vào khoảng không , đó là lúc hắn đang viết truyện đấy.

Truyện của hắn nhiều lắm, không ai đọc được nên không ai biết hắn viết gì, chứ hắn thì nhớ từng tác phẩm. Khi viết xong, hắn viết một chữ HẾT thật to, rồi mỉm cười nhẹ nhõm. Có lúc hắn cười hoài với một câu chuyện dí dỏm, có lúc cũng xúc động ứa nước mắt với những tác phẩm buồn. Hắn đã viết xong câu chuyện của một cặp vợ chồng già, sống hẩm hiu với nhau trong khu chung cư, con cháu họ thành đạt cả nhưng không ai chịu sống chung với cha mẹ. Có lẽ tại các cụ khó tính. Có lẽ tại xứ này người ta quan niệm hai chữ Tự Do cao cả hơn đạo lý con người, cho nên mặc nhiên xem đấy là điều phải chấp nhận, không có nghĩa là bất hiếu theo quan niệm Á Đông, không có gì đi ngược với nền văn minh của khoa học và kỹ thuật hiện đại.

Hai cụ già dạo còn khỏe mạnh, cụ bà ngồi xe lăn vì chứng đau đầu gối, cụ ông cũng ngót nghét tám mươi, nhẫn nại ì ạch đẩy chiếc xe lăn cho cụ bà đi chợ, đổ rác. . . Hai cái mồm móm mém, bốn con mắt nhăn nheo, hấp háy cùng cười với hắn mỗi lần gặp, chào hắn tử tế dù biết hắn được gọi là người khùng của khu chung cư. Hắn tưởng tượng năm, sáu mươi năm trước, khi cụ bà là một cô gái xuân mặn mà, cụ ông là một thanh niên hùng dũng, trẻ trung, họ có thể là một cặp uyên ương lý tưởng mà bao người phải thèm thuồng, mơ ước. Mấy mươi năm trôi qua để đâu biết rằng đời có lúc lại hẩm hiu đến thế. Hắn đặt tên cho tác phẩm là “Hai chiếc bóng” trên một nền trời mênh mông màu tím ngắt, như một bức phông đẹp và buồn cho ăn nhịp với cái buồn bã của cuộc đời, sau chữ THE END to tướng, là hình ảnh hai cụ già lủi thủi đẩy xe đi loanh quanh trên con đường đầy lá vàng khô, mỗi lúc lôi ra đọc bằng sự hồi tưởng hắn lại ngậm ngùi ứa ra mấy giọt lệ.

Đấy là một tác phẩm buồn, còn có lúc hắn cũng viết được những truyện vui, trào lộng, qua hình ảnh ông hàng xóm to béo hay chọc ghẹo, trò chuyện với hắn những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Ông ta đã được hắn cho vào tác phẩm “Người hàng xóm” với lối viết trào lộng, chỉ có hắn với trời mới biết được. Ông ta hay hỏi hắn với lối xách mé của một bậc đàn anh hay bỡn cợt, tưởng như hắn là con chó, con mèo đùa chơi cho đỡ buồn:

“ Sao chú mày? Cơm nước gì chưa?”

Ông cười hề hề, vô duyên không ngửi được. Hắn cũng yên lặng cười, mắt nhìn trời, không nói năng. Ông ta tiếp:

“ Suốt ngày nhìn trời, ở đấy có gì mà nhìn mãi thế?”

Mặc ông ta nói, hắn chỉ cười. Hắn có cái bình tĩnh, dịu dàng mà những người tỉnh táo hiếm khi có được, cái im lặng như một câu trả lời ông hàng xóm to béo lúc nào cũng bô lô, ba la, vậy mà khi mụ vợ quát lên, ông nem nép như rắn mùng năm. Không biết ông ta làm gì, thỉnh thoảng thấy ông ta diện đẹp, đi với một đám người cũng ồn ào như ông ta, mụ vợ bĩu môi, nhìn theo với một cái nhìn rẻ rúng. Họ cãi nhau hoài, những lúc ấy chỉ nghe tiếng mụ vợ ong óng rủa sả, còn ông ta ngậm câm như hến. Một buổi chiều ăn cơm xong, hắn ra sân nhìn trời, xỉa răng, ông to béo chỉ trần xì cái quần cụt, áo thung ra sân tưới cây, hôm ấy hắn mới nghe ông ấy nói một câu chí lý:

“ Lắm lúc tao cũng muốn điên như chú mày mà không điên được. Đời chán bỏ mẹ”..

À, có thế chứ! Hôm đó hắn mới biết ông hàng xóm đã nói một câu chân thật nhất, chí lý nhất, câu nói phát xuất tự đáy lòng của một con tim chân chính, hóa ra có lúc con người đã cả đời phải dấu diếm nỗi đau khổ. Thì ra có người cũng ao ước cái điên của một thằng điên. Hê, hê! Có bị đời cột chặt vào những gông xiềng của trăm thứ bổn phận, mới thấy cái Tự do khi rũ ra được những thứ của nợ đó. Hóa ra ông to béo cũng chán đời, chán cái không khí nặng nề trong gia đình, chán vợ, chán con, cái mà người ta ngó vào lại cho là ông ta đang hạnh phúc.

Hắn lại viết, vẫn lối chấm tay vào ngực viết lên trời, tác phẩm “Ông Hàng Xóm” được tả rất tỉ mỉ từng tiếng tru tréo và nét mặt hậm hực của người vợ mỗi khi cãi nhau, bước chân nặng nề của người chồng, cánh cửa xập thật mạnh làm rung rinh nhà hàng xóm. Khi viết xong, chữ HẾT lại được viết nắn nót trên một nền trời xám xịt, đang ngả sang màu đen, với những tia chớp ngoằn nghoèo báo hiệu một cơn giông tố.

* * *

Những ngày không có gì để viết hắn lang thang ra bờ biển, cách khu chung cư mấy con đường đi tìm ý. Bên kia là biển xanh, bên này trên triền đồi thoai thoải là một khu nghĩa trang, những ngôi mộ sơn trắng toát bằng nhau nằm im lặng trong một thế giới không còn màng đến nhà cao cửa rộng, không còn tranh đua cao thấp như xã hội loài người. Ở phía ngoài là một cái nhà quàn bằng đá xám, cũng im lặng nốt. Hôm nào có người mới hắn thấy xe đậu đầy ngoài sân, ánh đèn hắt lên từ cánh cửa đóng im ỉm, u ám như một ngôi mộ lớn. Đi ra đi vào là những khuôn mặt ảm đạm của người sống, quần áo kịt một màu đen, những lúc ấy dường như con người mới thấm thía tận cùng nghĩa “vô thường” của cõi nhân gian.

Chỉ hôm nào đến khu nghĩa trang, hắn mới có cảm giác đi vào một khu toàn những người lịch sự, thích sự yên tĩnh và biết tôn trọng tư duy của người khác. Bỏ lại sau lưng khu chung cư đủ mọi hạng người, đủ mọi âm thanh, đầy mùi vị, mỗi lần đến đây hắn lại có cảm giác được trở về nhà, một thôn xóm bình thường, nhà ai nấy ở, họ có cái yên tĩnh của những trang giấy trắng đầy chữ, yên lặng mà lại nói biết bao nhiêu.

Con đường này hắn đi qua mộ của cụ Mary, cứ xem qua cách trình bày trên bia mộ thì cụ Mary người ở vùng Arizona, nơi ấy chỉ có núi đá và sa mạc, đồi trơ trụi, cây thưa thớt, khí hậu nóng và khô. Chắc cụ lấy chồng rồi trôi giạt sang đây, và khi chết gửi nắm xương tàn trong khu nghĩa trang ven eo biển vắng. Hắn về nhà nghiên cứu cuốn địa lý và thổ nhưỡng nước Mỹ, biết ở đấy chỉ có xương rồng và loại cây thấp, lá nhỏ như lá me keo là sống được. Mấy lần hắn đều tạt vào thăm cụ, lại trồng cho cụ một cây xương rồng có hoa vàng hắn xin được của một nhà trong xóm. Hắn biết nếu còn sống, cụ bà Mary chắc hẳn rất hài lòng trước tấm lòng của hắn, khi nhìn thấy cây xương rồng biểu tượng cho vùng quê hương cằn cỗi, nóng khô người nơi cụ chào đời đã mọc lên ở đây. Ấy là tự hắn “suy bụng ta ra bụng người”, khi đi đâu, bất ngờ nhìn thấy một khóm chuối, một bụi trúc hắn lại thấy lòng dấy lên nỗi nhớ quê kỳ dị. Ngõ vào nhà hắn năm xưa có một bụi trúc mát rượi, có mái nhà tranh, có bà mẹ già, có bụi chuối xiêm bên hè, khoảng sân đất nóng ran bàn chân mỗi trưa hè, vậy mà sao vẫn nhớ, vẫn thương đến thế.

Cạnh nhà cụ Mary là nhà anh David, hắn cứ gọi là nhà cho tiện, vì người sống có nhà, người chết có mồ mà lại. Anh ta là một chiến sĩ Không Quân, chết trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. David chết trẻ lắm, mới hai mươi bốn tuổi, sao anh ta lại lạc lõng ở nơi này trong khi hàng ngàn, hàng ngàn bạn bè anh chen vai thích cánh trong những nghĩa trang Quân Đội rộng lớn. Chắc nơi đây là chốn quê nhà, chim có tổ, người có tông, cha mẹ anh đã mang con về đây cho gần gũi, hai cái thân già một năm đôi ba lần ghé vào để chua sót, ngậm ngùi, thương tiếc đứa con bạc phước.

Cái cảnh này không lạ gì đối với hắn. Ngày xưa, thuở hắn còn trẻ, thời chiến tranh Nam Bắc đang hồi khốc liệt, bạn bè hắn khối người đã ra đi như thế, mới buổi sáng còn giơ tay chào nhau, buổi chiều đã ra người thiên cổ. Hắn sợ nhất phải nghe tiếng khóc nức nở của người còn ở lại, sợ những đôi mắt ngây dại nhìn đăm đắm vào khoảng không để tìm lại những ảnh hình của người thân đã mất. . .

Đã nhiều lần hắn ngồi bệt xuống ngôi mộ của David để trò chuyện với anh ta như một người bạn, vì dù sao anh ta đã từng đổ những giọt máu cuối cùng trên quê hương hắn. Dưới bóng cây phong, hắn nhìn ra mé biển phía bên kia, ở đấy suốt ngày sóng vỗ vào ghềnh đá, ì oạp, xói mòn vào bờ tạo nên những hõm tối âm u. Ngoài xa là biển xanh vẫn rì rào sóng vỗ, một đôi chim hải âu chao lượn trên sóng nước, như hình ảnh hai chiếc phi cơ đang bay theo đội hình, bất chợt chúi xuống mặt đất để thả bom vào mục tiêu của chiến trận. Không hiểu David có bao giờ nhìn ra hình ảnh ấy, như hắn đã nhìn thấy những trận đánh kinh hồn nơi quê hương của mình. Ngày sinh và tháng sinh của David đã gợi cho hắn nhớ về dĩ vãng, cũng hắn những ngày tháng đó, cũng những lần vào sinh ra tử để rồi có một ngày bật khóc khi không biết mình là ai. Cuộc chiến ấy đã nuốt chửng đi hàng triệu sinh linh, hầu hết là những người vô tội, cuối cùng thì hắn tơi tả như chiếc mền rách, còn David lại về nằm ở nơi đây, khi linh hồn đã bay về nẻo hư không.

Hắn cứ tò mò muốn biết anh ta đã nghĩ gì về Việt Nam, đã bỏ gì ở Việt Nam, chắc chắn là có, những giọt máu của anh ta đã đổ xuống trên một chỗ nào nơi vùng đất xa xăm bên kia bờ đại dương, vì lý tưởng cho hai chữ Tự do mà anh ta nghĩ là ai cũng phải hưởng đồng đều như nhau. (…)

Hắn thì thầm nói chuyện với người lính Mỹ chết trận năm xưa, rồi múa may viết lên trời câu chuyện “Người lính Mỹ chết ở Việt Nam”. Công nhận David đẹp trai, nét mặt hiền, dưới chiếc calô đội lệch, anh ta lúc nào cũng cười, đôi mắt anh mơ mộng như khói sóng, lúc nào cũng như muốn bảo hắn rằng:

“Thôi đi anh bạn tội nghiệp, đời như một chỗ tạm, ghé qua rồi lại về, hơi sức đâu mà ngậm ngùi, tiếc nuối.”

Cũng phải thôi, một ngày nào đó hắn cũng sẽ trở về với đất như David, hắn ao ước cái thân xác này được thiêu ra thành tro bụi, được hòa tan theo sóng biển, để linh hồn hắn được lặn ngụp trong cái mát mẻ của đại dương. Về đâu bây giờ? Chỗ nào cũng có loài người hiện diện, một sinh vật siêu đẳng chuyên môn tìm cách làm khổ lẫn nhau, nhân danh đủ thứ chuyện để bắt con người vào cái vòng “kim cô” oan nghiệt không lối thoát. Có lẽ phải hỏi David chuyện này, vì chỉ có anh ta mới có câu trả lời trung thực nhất, như người hàng xóm to béo đã có lúc buột mồm ao ước điên khùng để được yên thân. Nhưng David cũng chỉ im lặng, nhìn hắn cười như hắn cũng chỉ im lặng nhìn trời cười một mình.

Câu chuyện của David hắn đã viết xong, hai chữ THE END trên nền trời nửa sáng nửa tối, giữa cõi bên này và cõi bên kia chỉ đi bằng một bước chân. Hắn vẽ thêm hình ảnh một chiếc trực thăng đang là là đáp xuống một bãi cỏ trống nửa vàng, nửa xanh, lố nhố những chiếc nón sắt, lòa nhòa hình ảnh vài thân cây cháy đen vì bom đạn.

* * *

Nhiều tác phẩm của hắn đã được viết bằng mực của hắn và giấy của trời, mỗi bố cục của truyện có lồng vào một bối cảnh thật của cuộc đời muôn mặt. Hắn đã lặng đi, miên man với tác phẩm của mình, trong những buổi chiều ngồi trước sân nhà sau bữa cơm, hay những lúc lang thang trong khu nghĩa trang bên eo biển vắng. Hắn là một người điên hiền lành, một chứng nhân của cuộc đời ít là ở một khoảnh khắc nào đó, là một nhà văn không tên tuổi nhưng lại viết rất nhiều những gì hắn cảm nhận được.

Ngày đến rồi ngày đi, sáng cũng như chiều, hắn lặng lẽ sống, lặng lẽ đi, lặng lẽ về, hắn nhìn đời dửng dưng và đi tìm hoài cái mênh mông trong vô tận. Thỉnh thoảng hắn lại viết, chấm ngón tay vào ngực, rồi nhoay nhoáy viết lên trời, dường như chỉ có trời mới đủ rộng để chất chứa tất cả những suy nghĩ buồn vui, hóm hỉnh của hắn, cho những tác phẩm viết lên khoảng không gian mênh mông vô tận ấy.

Nguyên Nhung

(Nguồn: https://sites.google.com/site/giadinhkqvnch/trang-truyen-nguyen-nhung)

Lan Man Buổi Chớm Thu, Tạp ghi Đặng đình-Túy


DangDinhTuy1  duongtadidangdinhtuy

(Chân dung và tác phẩm của Đặng đình-Túy)

Đặng đình-Túy, sinh năm 1939 tại Tuy Hòa .Trước, dạy học rồi tham gia chiến sự; sau, trốn cải tạo. Hiện ngụ tại miền đông nước Pháp.

(Nguồn: http://www.gio-o.com/DangDinhTuyLanManChomThu.htm)

Đặng đình-Túy

Chẳng còn bao nhiêu ngày nữa là đến 21 tháng 9, ngày đầu thu. Trời ở đây cao hẳn lên và xanh hơn, trong hơn. Ngoài vườn lá vàng đã rụng bộn rồi, nhất diệp lạc đã là thu mà đây thì vạn diệp lạc. Dấu hiệu của thu là một thứ không khí lắng đọng, bồi hồi ; dường như có cả một chút thanh khiết.

Mùa thu ở miền đông bắc Hoa-kỳ thật thơ mộng. Từ mạng Virginia đi ngược lên hướng bắc nơi nào rừng cây cũng loang-loáng-long-lanh-lung-linh-lênh-láng vàng nếu chưa kịp ngã ra màu chín. Khi hãy còn là mùa hè thì chúng lục thẫm nay biến ra mầu vàng và đỏ, gam đỏ ấy nếu có ý định dùng cọ phết lên mặt vải chắc phải trộn bằng loại bột mầu đỏ cadmium pourpre pha thêm một chút ocre chăng để có được thứ mầu gọi là mầu thu Tiên Điền trong cảnh chia tay chàng nàng, rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. “Muse” của tôi có cách nhìn thi sĩ hơn nhiều, tôi chỉ việc chép lại lối mô tả ấy: “phải đứng trong rừng thu khi lá trở vàng mới hưởng thụ được cái đẹp của ánh sáng lọc qua màn lá. Ta sẽ có cảm tưởng đang lội trong vùng hào quang, ánh sáng màu vàng chanh, giọt nắng liếm từng gốc cây màu hồng lóng lánh như kim tuyến nhưng khi chúng tràn lên những nền trắng của nóc nhà thờ hay các phiến đá thì chúng trở thành những giọt mật ong rót lên lớp kem sữa”. Nghe vừa ngon vừa đẹp bắt phát thèm. Mà quả đúng vậy, mầu vàng nắng bớt rực rỡ mà ngã ra vàng chanh, còn màu trời thì vừa trong vừa xa. Càng trong thì lại càng xa lăng lắc. Thiên nhiên có cách biểu lộ giống con người: khi muốn đe dọa thì kề sát mặt để mình sợ chơi (bầu trời lúc giông tố bão bùng bao giờ cũng sà thấp thiếu điều muốn chạm vào ta) thế mà khi vui khi đẹp thì lại đỏng đảnh giang xa.

he1bb93-trong-re1bbabng1

Thằng tôi là đứa bé được sinh ra ở miền trung chỉ thấy mỗi cái lá bàng là có hơi nhuốm đỏ khi mùa về. Những cây bàng ven bờ biển Nha trang chẳng hạn bắt đầu từ mảnh công viên nhỏ xíu giữa tòa hành chánh tỉnh và ty bưu điện kéo dài xuống đâu cỡ Grand Hôtel là dứt. Vài cây bàng, một ít lá đổ rải rác, mặt biển xám đầy sóng bạc, mấy cây dừa lao xao trên con đường vắng người; khi thiên nhiên cau mặt thì con người chuồn đi vui chơi chỗ khác vì cũng chẳng đẹp đẽ gì mùa thu miền trung khô cằn. Mãi đến khi có được cơ hội đến xứ người thì lại chọn nhầm vùng biển xanh. Mặt trời ở đây dư thừa hào phóng như bên đất tổ, thành ra cây cối không chịu vàng. Ngày xưa hát Mùa Thu Cho Em Ngô Thụy Miên dưới trời đổ lửa Sài gòn, và mỗi khi thấy vài đợt mây kéo ngang là vội vã khoác áo ra đi… giang hồ trên phố Lê Lợi mà tưởng tượng là thu. Bây giờ nơi này cũng vậy, dù lạnh nhưng thiếu vàng thiếu nâu chỉ có xanh lục miên viễn. Cho nên vì không nhìn được mầu thu thì lắng nghe tiếng thu vậy. Tiếng thu ra sao? Tiếng thu của tôi là tiếng kêu của chú cò cô đơn lưu lạc. Lẽ ra chú phải về vùng đông bắc kìa nơi bà con anh em chú nhận làm chốn tạm dung. Họ nghểu nghến trên những mái ngói xuôi xuội để tuyết bớt đóng dày và chọn lập tổ bên cạnh những ống khói lò sưởi ấm áp nơi ấy thế hệ tương lai sẽ chào đời, mọc đủ lông đủ cánh thì vừa xuân tới để kịp lân đầu tháp tùng họ hàng làm chuyến viễn du. Khoảng qua tiết thu phân, trong một buổi chạng vạng nào đấy, chú trở về kêu lên vài tiếng, tiếng kêu vang vọng một vùng trời khiến bọn bồ câu hoảng hồn bay tán loạn. Chúng chưa hề thấy ông bạn đồng chủng nào mà to khiếp vậy. Chú có vẻ quyến luyến vườn tôi vì giữa vô vàn những hoa chăm, cỏ xén và những hồ tắm trong trẻo phẳng phiu, chú bổng có thiện cảm với hồ cá tôi có bụi bờ lau sậy chằng chịt lại nhởn nhơ mấy con cá đỏ lội ngược lội xuôi. Chú sà xuống, mang bộ dạng triết nhân nhưng thình lình ra tay thảo khấu, thò mỏ gắp thử một chú cá mắt lồi. Bọn ngư chất long văn này hoảng hồn lặn một mạch xuống đáy. Cùng lúc ấy tay lính canh nhỏ bé của tôi lần đầu trông thấy tên xâm lược khổng lồ sợ quá vừa sủa ăng ẳng vừa tìm cách thối lui vào sào huyệt định làm kế tử thủ. Còn tên xâm lược thì đâm buồn tình lấy lại dáng triết nhân, ngoẹo đầu tư duy một chốc rồi uể oải cất cánh, bóng rợp cả góc vườn. Mặc thái độ không chính đáng của chú, đối với tôi chú vẫn là sứ giả của mùa thu. Có một năm sứ giả rủ rê được một nàng, họ chắp cánh bay đi bay về có lúc đậu lên cành ô liu trăm năm tuổi trông hài hòa ấm áp. Tưởng họ mãi mãi vợ chồng đầu bạc răng long bên nhau ai ngờ năm sau chàng trở về một mình không thấy nàng bên cạnh. Mùa thu thành thử chỉ còn một nửa.

Nhà soạn nhạc Trần Đình Quân viết về xứ Huế rằng đấy là miền “có nắng hạ giữa mùa thu, mây khắp trời giữa mùa xuân”, nghe nói vậy tôi đoán ông phải là người Bắc vì chỉ người ở miền Bắc Việt-Nam mới biết được bốn mùa rành rọt, nơi thiên nhiên tạo mùa nào ra mùa nấy không lộn xộn như miền nam chúng tôi. Tôi tương tư miền Bắc xứ mình; chắc nơi ấy phải đẹp lắm, tiếc chưa có dịp đi thăm để biết thế nào là đoản khúc thu Hà Nội –lẽ ra thì trường khúc mới phải, cứ riêng cặp Đoàn Chuẩn-Từ Linh đã sản xuất đủ trường khúc thu rồi chớ đừng chờ đến ai khác. Ở miền Nam, nhạc Ngô Thụy Miên cũng là một trường khúc thu khác mang từ ngoài Bắc vào. Một cách ngây thơ ta tưởng tượng rằng có “em bé” và có mùa thu đẹp thì ai cũng có thể trở thành nghệ sĩ. Tôi vẽ. Anh ngâm. Em hát. Nếu chịu lục soạn kho nhạc của chúng ta nhạc tình chắc chắn chiếm đa số, còn nói đến mùa nào được các nhạc sĩ ca tụng nhiều nhất thì chắc chắn là mùa thu; mang hai cái đó làm bài tính cộng, sau dấu thành sẽ cho vô vàn đáp số đẹp đẽ, mê hoặc. Thuở thanh xuân, một buổi chiều nhạt nắng hoàng hôn khi lửa Sài Gòn đã bớt nung nấu, ngồi trong quán kem Hà Nội khoảng giữa Khai trí và rạp Rex nghe bản Thu Vàng Cung Tiến, tôi tưởng mắt nhìn thu Hà Nội của Đoàn Chuẩn chắc cũng bắt gặp cỡ chừng ấy mùi mè hương hoa chứ không hơn được. Những cảm xúc xuân xanh cũng có khác đi so với cảm xúc già nua: ngày nay lần đầu nghe câu có bóng mùa thu thức ta lòng son muộn, trúng phóc tâm tình, đâm choáng váng cả mặt mày, tôi lần mò tìm ông Trần Quang Lộc lại phát giác ra thêm một ông Tô Như Châu. Tháng tám mùa thu lá rơi vàng chưa nhỉ? Từ dạo người đi… Con người trong ấy, đối tượng của nhớ thương, không rõ nét; mà ngay nỗi nhớ thương cũng không rõ nốt. Mà không biết chừng nhờ cái mập mờ đó ta nghe ra lại hay thêm chăng? Cái “em” ở đây khá tượng trưng; không biết em là em hay không phải là em nhưng dù sao nội phát âm được cái từ ngàn năm nhiễu loạn hồn người –dù già hay trẻ– ấy cũng đủ rồi. Đủ làm nên bồi hồi. Ủa mà ta nói bậy không à! Tâm hồn con người dù trẻ dù già vẫn một, cái tâm đắc kể trên chỉ làm rộng thêm chứ nào có làm cho khác đi.

Tôi cho rằng cảm quan trong nghệ thuật không phải là một cảm quan đã được định vị mà là cảm quan của hoàn cảnh. Thời chiến tranh cũng một thằng tôi mà khi về thành phố thì chỉ chịu nghe những Trịnh những Từ những Cung những Vũ vậy mà khi ra ngoài trận địa thì Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Xuân Này Con Không Về, Tình Thư Của Lính… nghe ra lại gần gũi hơn tựa như được ôm người tình chất phác áo cộc khăn rằn. Nhạc mẫu tôi không ưa cải lương nhưng bà kể rằng có lần nghe anh kép ngân nga “cuộc tương phùng ngắn ngủi lắm người ơi” thì bà khóc ròng. Như vậy có nghĩa là một sự trùng nhập hoàn cảnh: ai trong chúng ta không một lần cảm thấy cuộc gặp gỡ nào đó đã quá vội vàng? Điều phỉ báng đau đớn hơn là ngày nay không biết kẻ đầu tiên nào đã gán cho chữ “sến” –nhạc sến, và dựa vào đấy để phân loại nhạc, một bên là loại …cao và một bên thấp nhưng thấp và cao như thế nào thì chẳng có tiêu chuẩn rõ ràng. Nhạc sĩ Thanh Trang trong chương trình Ca Khúc Việt-Nam trên đài VOA cũng có đề cập đến điều đó mà theo ông không phải vấn đề giai điệu mà là ca từ. Thiển nghĩ ca từ cũng chưa chắc lắm. Ngay cả tay phù thủy ngôn ngữ được bạn đồng nghiệp ca tụng vì đặt lời “dễ như lấy chữ từ trong túi” thì hồi đầu cũng hơi cầu kỳ khó hiểu nhưng sau ông cũng dần dần viết giản dị. Nào thử tìm một câu may rủi, “tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài” (Tự tình khúc) có gì trau chuốt khó hiểu đâu? Cái khó hiểu, nếu có, nằm trong ý tưởng, trong chủ đề, loại chủ đề mang tính siêu hình (ý nghĩa đời sống, cái chết, cái vô thường, cái bất biến) không phải trong từ ngữ. Tất nhiên khi viết rằng “đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn” thì quả có hơi nôm na nhưng hãy nghe cho trọn bài ca và nguồn hứng để rốt lại tự hỏi bài ca có làm ta xao xuyến không; nếu ừ thì kể là đã đạt rồi đấy, “tới” rồi đấy, đòi chi hơn. Nhạc sĩ Trúc Phương viết Tàu Đêm Năm Cũ có những câu “trở gót bâng khuâng tôi hỏi người đêm nay buồn không, gió đêm nay lạnh không”, hoặc “trong giây phút này tôi ao ước sao nằm trọn vào tay nhau”… những tình cảm gần gũi chí thiết đôn hậu như vậy không đủ làm người nghe cảm động sao? Trịnh Công Sơn chẻ nhỏ tình yêu lật đủ trăm chiều nên lâu dần ông phải sáng tạo ngôn ngữ ý tưởng để diễn đạt cái muôn vẻ muôn chiều ấy trong khi kẻ khác chỉ nói đến một khía cạnh nhưng điều đó không nhất thiết là tiêu chuẩn định giá. “Chẳng thà không gặp thì thôi, gặp rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn” lời than dân gian được thốt lên giản dị như vậy đó liệu bạn có cho nó là sến không khi gặp hoàn cảnh tương tự bạn nghe rưng rưng trong lòng? Không phải dễ viết những lời giản dị, nhiều khi để có những lời ấy ta phải đổi bao nhiêu máu thịt và nước mắt.

Tôi sắp nói đến một bản nhạc thu mà tôi nghe nhiều bận trong những ngày chớm thu này. Trịnh Công Sơn đã một lần bảo rằng khi ta hát một bài tình ca là ta hát cuộc tình mình. Vậy thì tôi hát đây, Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển. Nếu tôi không lầm thì ngày trước tôi biết tên vị này với tư cách là một nhà thơ, bẵng đi một dạo truân chuyên gió bụi, người thành kẻ soạn nhạc. Nhạc rất gợi cảm. Lời ca lãng đãng bay bướm thích hợp với nhạc nhưng nếu là bài thơ thì sẽ trở nên tầm thường vì khá nhiều sáo ngữ, lập ý khiến chỉ nội hình ảnh đồi sim mà mỗi người nghe liên tưởng về một hình ảnh khác nhau. Liệu có phải cây sim của đói lòng ăn nửa quả sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương hay sim của nhà thơ thất tình : Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau/Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau/Chờ anh dưới gốc sim già nhé/Anh hái đưa em đóa mộng đầu? Còn hoàng hạc thì phải chăng hoàng hạc Thôi Hiệu? Hay hoàng hạc chỉ tượng trưng giản dị của một hình ảnh thân yêu đã mất? Dù gì đi nữa ca khúc vẫn làm mềm lòng người nghe, được chuyên chở bởi giọng hát vút cao (cao đến nỗi có khi mình đâm lo muốn buộc một sợi dây giữ chặt đầu mối nốt nhạc cao nhất kẻo nó bay mất như con diều) của Bằng Kiều hái dâng người một đóa đẫm tương tư. Chao ơi, tương tư đẫm ướt, tương tư tựa sương cứ đêm khuya lại rịn ra không biết bao nhiêu là giọt thủy ngân.

Ngẫm ra mùa thu và người tình có chỗ tương đồng, chỉ lâu lâu mới ló mặt trêu ngươi chút xíu rồi lặn mất. Không biết người tình có vậy không chứ mùa thu thì quả thật là bất thường. Mà chẳng phải là mùa nữa, chỉ là khoảng ngắn thời gian –một giờ một phút một giây nên phải nói là một giờ thu một phút thu một giây thu mới đúng. Thu rất đàn bà, rất đỏng đảnh, chợt mưa chợt nắng, nên ta phải gọi bằng nàng. Khi nắng “nàng” cũng kiểu cách, nắng to nắng nhỏ kiểu Xuân Diệu hoặc nắng dày, nắng thưa kiểu Trịnh Công Sơn. Mà nàng biến hiện nhanh lắm, mới tạnh mưa trưa chiều đã tà. Chắc có khi phải bắt nàng tuân kỷ luật một chút, chắng hạn, bắt nàng phải ngồi trực hăm bốn trên hăm bốn không được bỏ đi đâu hết để màu tím màu vàng của nàng tô sắc cho đời. Tâm tính con người cũng có chỗ kỳ cục, có ta không biết quí, chỉ khi mất rồi mới biết tiếc; tiếc thì đâm ra thèm. Là lý do ta thèm thu ngay cả khi thu còn đấy hay chỉ mới chớm như hôm nay. Tia nắng cuối chiều hiện đến sau một ngày ủ dột mới đẹp làm sao. Tôi bắt gặp tôi hoài trong cái ngẩn ngơ đó. Thường thường là trong phòng giấy, qua cánh cửa gương mở hướng về phía núi. Tia nắng thoáng thấy ngỡ như đóm lửa, đóm lửa nhìn qua gương mà nghe ấm cả người!

Nói như tây, inutile mais indispensable –vô ích nhưng không bỏ qua được. Nghệ thuật cũng tựa hơi thu.

Đặng đình-Túy

Huế Của Một Nửa Tôi, Tùy bút Phan Ni Tấn


phannitan.edsbv_Tinh Khuc Phan Ni Tan

(Chân dung và tác phẩm của Thi – Nhạc Sĩ Phan Ni Tấn)

Phan Ni Tấn

Thỉnh thoảng tôi được đọc những bài viết của Nhóm Huế viết về Huế, về các bạn Huế thật giản di, chân tình, thật thắm thiết, thật hay.

Chữ nghĩa dành cho Huế của các bạn Thái Huỳnh, Tống Mai, Trần Kim Đoàn, Trụ Vũ, Hoàng Xuân Sơn… làm tôi thêm thèm Huế. Tôi chưa ra Huế lần nào, nhưng thơ tôi ở với Huế từ những ngày xưa lắm. Chính vì vậy mà dòng máu Huế trong tôi dù luân lưu một nửa nhưng Huế vẫn quả quyết nhận ra tôi. Bởi vì tôi đâu phải là người khách lạ. Và Huế đâu phải là một miền đất xa xăm, huyền ảo mong manh như một cái gì không thực. Dù Huế có tối tăm trong các đền đài, thành quách rêu phong, ẩm mốc nhưng Huế trong trí tưởng tôi lúc nào cũng trầm mặc, cổ kính nên Huế buồn. Ông bạn già Hoàng Xuân Sơn, người thơ xứ Huế có lần tự vấn:

Huế buồn chi, Huế không vui
Huế o ở lại, Huế tui đoạn đành

Sau cơn bão thời thế, Huế phân ly, kẻ ở người đi biểu sao Huế không buồn.

Huế buồn những đứa con Huế vì vận nước mà đi xa. Huế buồn cả xương cốt của nhừng người con đất Thần Kinh đã phân hủy nơi chốn quê người. Mới đây, ca sĩ Quỳnh Giao của làng Vỹ Dạ bên kia Đập Đá, người bạn hát của tôi xưa ở Sài Gòn, vừa đi vào thiên cổ. Với tôi, cái gì dính tới Huế đều buồn. Bạn hát của tôi đã đi rồi mà câu thơ buồn tôi cứ bịn rịn, nắm níu hoài:

Ngồi đây đi bạn, ngồi đây
Chiếu tôi đã trải dệt đầy Huế xưa
Thôi đừng khóc nữa Huế mưa
Hát cho nghe thuở Huế chưa biết buồn

Các bạn đã nói đến quê nhà và thời thơ ấu của các bạn, thì cái “thuở Huế chưa biết buồn” là cái thuở nào chắc các bạn phải biết. Riêng tôi chỉ biết bây giờ cho tới ngàn sau, Huế vẫn cứ buồn ở Bãi Dâu tang tóc. Huế vẫn cứ sầu thê thiết bên Gia Hội. Huế trong chiến tranh với biết bao tuổi trẻ vì miền đất bên này mà anh dũng hy sinh. Một cỏ xe tang. Một lá cờ. Và máu chảy vào hư vô. Nhiều đêm trong giấc ngủ vật vờ tôi nghe thấy Huế vẫn rên rỉ, khóc than trên bờ sông một đời buồn bã.

Huế nắng không nhiều nhưng mưa thì chì chiết đến thúi trời thúi đất. Mưa trên Lăng Miếu trước cổng trường Đồng Khánh. Mưa trong lòng các chàng trai Quốc Học. Mưa trên sông Hương. Mưa trên con đò. Mưa thê thiết trong câu mái đẩy đến chạnh lòng nước non. Chỉ có mưa tôi mới nghe được tiếng thở dài của Huế.

Nhưng bù lại, Huế có những con đường tình mượt mà, thơ mộng dù đi hoài không tới. Huế của Thúy, của Nguyệt, của Diễm, của Khê, của Ngà, của Lan, của từng người tình…

Bây giờ tất cả đều trôi xa, không còn lại chi ngoài hoài niệm và lời chào. Phải rồi. Xin chào các bạn của tôi, những người đã sinh ra và lớn lên trên đất Thần Kinh, vì vận nước đã trôi giạt ra ngoài đất nước. Tôi chẳng có chi dành cho các bạn ngoài bài thơ:

Huế Và Em
phan ni tấn

Một đời anh chắc chẳng bao giờ tìm ra nổi Huế
Bởi sinh ra chân anh đã có những con đường
Những con đường không kịp nở những đóa hướng dương
Chở súng đạn ra ngoài mặt trận

Sau chiến tranh những trận đánh đều trở nên luộm thuộm
Người ta cất các chiến cụ và những cuộn băng trong các viện bảo tàng
Anh trở về uớc mơ tàn tạ dưới chân
Ngó ra Huế chút Huế cũng đành hanh xa vắng

Con đường Huế bây chừ dù vẫn mưa vẫn nắng
Vẫn hương sen bay trên khắp mặt hồ
Nhưng lâu rồi liệu Huế vẫn còn em ngọt ngào giọng nói
Còn đôi mắt sáng, ngấn cổ cao, thả suối tóc trôi huyền?

Một đời anh chắc chẳng bao giờ quên em quyến luyến
Ngày chia ly tay anh đã có bão giông rồi
Vòng thanh xuân đâu còn quay đều trong sân chơi
Thôi thì nhai chút giọng cười Cẩm Lệ

Sông Hương núi Ngự là khuôn mặt ngó nghiêng của Huế
Cửa Thượng Tứ là ngỏ hẹp chở tình em qua cầu
Chiếc nón bài thơ rụt rè che bớt chỗ khổ đau
Em xuống đò rồi Huế cũng trôi xa ngái

Huế của ngày ấy bị trói thúc ké bằng những cuộn dây thép gai
Và bạo lực được viết bằng những nhát cuốc
Để câu mái đẩy khóc thành câu đứt ruột
Nước mắt khô chan trên mỗi mảnh đời

Trải tuế nguyệt Huế hồi sinh như nếp nhăn già cỗi
Vẫn nhọc nhằn, trầm mặc thiếp sương đêm
Huế cổ kính ngồi chòm hõm xõa tóc hương bồ kết
Gội đền đài thành quách rêu phong thành hoài niệm

Một đời anh chắc chẳng bao giờ tìm ra nổi tím
Áo tím than bay trong gió phất phơ buồn
Em bình minh hay chừ em lom khom
Mà Đồng Khánh cũng già theo tiếng thở dài Quốc Học

Nước sông Hương chia đời nhau hai nhánh tóc
Hút tiếng đò đưa chim lẻ bạn kêu sầu
Chợ Đông Ba ai dời ra bãi dại
Để Huế buồn biền biệt tím mãi đâu.

Phan Ni Tấn

6_48_1320553259_49_111105HDnusinhHue01

Phan Ni Tấn- Huế và Em (Hoàng Lan Chi)

Mọi người đang hoà với sôi động trong nước. Có nhiều người hân hoan khi thấy biểu tình rầm rộ. Tôi ngậm ngùi khi thấy bạn ta, sao quá đỗi thiệt thà. Bao nhiêu năm với cộng nô đè nén, dân chúng ta, có bạo động cũng không thể thế đâu. Chỉ chớp mắt cũng đoán được đâu là sự thật. Chỉ tàu cộng với âm mưu lộ liễu.

Giải pháp nào đây cho một Việt Nam? Tôi không nghĩ tàu chiếm Việt vì tôi vẫn cho rằng Miên, Thái, Nhật, Singapoor, Ấn còn đó và không thể thế giới nhìn Tàu lan vết dầu. Tây tạng: có thể vì người dân hiền hoà. Việt: không thể vì “giống da vàng này là vua đấu tranh”. Sau nữa, Việt còn khối dân đang lang thang toàn thế giới.

Mịt mờ thật.

Trong mịt mờ, lang thang facebook. Gặp bài thơ hay.

Ghi lại đây như những câu thơ tôi thích:

Những con đường không kịp nở những đóa hướng dương
Chở súng đạn ra ngoài mặt trận

Đấy bàn chân anh, người lính, đã không kịp về cho áo tím quấn chân mà phải vội chở ra ngoài mặt trận, những súng gươm của một thuở binh đao

Vòng thanh xuân đâu còn quay đều trong sân chơi
Thôi thì nhai chút giọng cười Cẩm Lệ

Ừ nhỉ, sân chơi đâu còn bóng dáng để tuổi xuân chầm chậm quay đều. Tôi ưa thích câu nhai giọng cười Cẩm Lệ. Thật tượng hình. Các bà mẹ Huệ vẫn nhai thuốc Cẩm Lệ!

Huế của ngày ấy bị trói thúc ké bằng những cuộn dây thép gai
Và bạo lực được viết bằng những nhát cuốc
Để câu mái đẩy khóc thành câu đứt ruột
Nước mắt khô chan trên mỗi mảnh đời

Huế, với câu hò mái đẩy. Tấn đưa vào thơ, quá đỗi tuyệt vời. Câu mái đẩy khóc thành câu đứt ruột.

Trải tuế nguyệt Huế hồi sinh như nếp nhăn già cỗi
Vẫn trầm mặc, cổ kính thiếp sương đêm
Huế chòm hõm chải tóc hương bồ kết
Gội đền đài thành quách rêu phong thành hoài niệm

Hơi hướng “điệu” với ngôn từ cổ kính. Nhưng Huế chòm hõm thì chao ơi, thật đẹp và nhớ làm sao. Tôi cũng một thuở, chòm hõm ngồi gội tóc. Cũng một thời hương bô kết ngát thơm. Chỉ có điều tôi giữ trong tim, những nhung nhớ, tôi kết thành hoài niệm. Tôi không gội đền đài thành quách như Huế của Ni Tấn, nơi đây soi giòng nước chỉ là tượng Nữ Thần Tự Do.

Chợ Đông Ba ai dời ra bãi dại
Để Huế buồn biền biệt tím mãi đâu.

Ái chà, mầu tím than của giòng Hương hai nhánh tóc, tôi có đây, mùa phượng tím mới vừa ươm: phượng tím California

Cám ơn lão, bài thơ buồn muốn chết! Nhưng tôi không khóc đâu lão à. Thơ của lão, chưa đủ làm tôi khóc. Lão hiền hoà như núi Ngự sông Hương, lão làm sao chở được những ngoan cường, những gào thét, sẽ xé lòng tôi nơi xứ lạ?

Nhưng cũng cám ơn lão, bài thơ Huế đáng yêu!

(Hoàng Lan Chi)

Em Tôi, Truyện Ngắn Phan Nhật Nam


mua-he-do-lua

Phan Nhật Nam

Viết dựa theo cuộc đời và bài thơ “Bé” trong tập thơ “Đêm Tận Thất Thanh” của Phan Nhật Nam.

Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.

Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẵm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngồi ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.

Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu Trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết qủa là tôi đã đổ được bằng tiểu học năm đó.

Vào lớp đệ thất trường Phan Châu Trinh, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm đệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung học. Đến niên học đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ thua tôi vài tuổi.

Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi .

Hết năm đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trầm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở…

Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào “tuổi ngọc”, nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi “quyền huynh thế phụ”. Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà Nẵng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm được, tôi phụ mẹ nuôi em.

Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

Lật đật trở vào Đà Nẵng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khóe mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt.

Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và òa lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tĩnh mạch ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa.

Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc …. nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai dòng nước mắt chảy nhạt nhòa trên má.

Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi… Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẫm cả vạt áo me bạc màu. Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi …

Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nửa. Nhưng em thì phải trở lại trường.

Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi . Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi , cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều. Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời.

Tôi vào trường Võ Bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao giờ dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khóa của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người.

Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn… Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhỡ có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ.

Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng. Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già.

Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lễ nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những “kỳ tích ” của bạn tôi, của Mễ, của Lô ….

Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm. Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lễ ở Phan rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim củ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối , tôi thấy mắt Tuấn long lanh …

Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Saigòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo.

Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em xúng xính trong bộ đồ cưới, tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em.
Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nửa ở vùng giới tuyến, thì “tai nạn” xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết qủa là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù.

Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long. An Lộc … đã làm vinh danh binh chủng củ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan rang, gần trường em dạy.

Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rảnh rỗi, tôi lại ra Phan rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lảnh giòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao ước mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này .

Biến cố tháng 4 /75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em …

Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu, đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá …

Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em. Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhòa. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được, bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn người đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.

Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc dến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy.

Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mũi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.

Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi.

Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy trưởng trại tiết lộ về địa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ.

Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng, bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dửng dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình.

Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây giờ tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.

Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khỏe yếu lắm, em sợ nhỡ có mệnh hệ nào …

Tôi thẫn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi, khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nửa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ?

Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi . Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Người chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung úy Trần nguyên Tuấn.

Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng người nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hóa đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhòa, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi …

Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du …

Phan Nhật Nam

Telecom, Trần Thị NgH


nhanrum2_thumbphuong-nam-pnc-9244-81794-1-product

Trần Thị NgH

– Anh Hoàng. Em nè!

– A! Em lại là đà ở Bonneuil?

– Mỗi năm đến hè… A hèm, mừng sinh nhật anh.

– Sinh nhật gì, sắp là ngày giỗ của anh rồi.

– Anh sao? Anh khỏe không?

– SARCOMA.

– Là cái gì?

– Là đau ở cột sống, là phải uống thuốc giảm đau, là không ngủ được, là không còn lái xe đi cà-phê, là sắp chết – hiểu chưa? Là có thể anh sắp được chuyển đi Stanford để chemo thay vì xạ trị như hiện nay.

– Hmmm… cái bịnh quái quỷ sao nó ghé qua nhiều người quen của mình thế?

– Em chỉ nói được có vậy?

– Chứ nói sao nữa? Chỉ biết chúc anh … lì đòn. Hay là anh về Việt Nam một thời gian để em có dịp bày tỏ lòng thành. Dĩ nhiên em không thể chữa bệnh, nhưng chăm bệnh thì được. Nói càn vậy thôi. Đừng tin.

– Quỷ sứ! Sao 50 năm trước em không nói những lời tương tự?

– 50 năm trước em học lớp đệ tam, anh có vợ con; 40 năm trước em chín mùi, anh lại có thêm vợ con; 30 năm trước em trung niên có chồng con, anh lưu lạc cùng vợ con; 20 năm trước em thênh thang, anh vẫn đang trong qui trình sản xuất trẻ con; 10 năm trước anh 66 tuổi, 7 con; bố ai dám tỏ tình!

– Em vẫn không thay đổi, ít ra là giọng điệu của em.

– Có chứ! Bây giờ em lạt hơn, dễ ôi thiu khi mềm nếu không để tủ lạnh, dễ gẫy khi giòn nếu rán quá lửa, không còn học thuộc lòng thơ truyện của anh vì không còn thấy hay tí tẹo tèo teo.

– Em giỏi lắm. Anh thấy cái gì em làm cũng đến nơi đến chốn. Chỉ có anh là chẳng ra làm sao.

– Lại tự ti rồi, hay đang gây ảo tưởng cho kẻ nhẹ dạ sính lời tâng bốc? Đến nơi nào, chốn nào? Em chơi cho vui thôi. Cũng tại anh đưa em vào con đường sa ngã. Ngã vào văn chương là một cú rơi tự do, trước sau gì cũng sẽ chạm đáy. Bị lực ly tâm làm sao vươn đến đỉnh? Anh xem Upside Down của Juan Diego Solanas chưa? Có một thế giới ngược với lực ly tâm của riêng nó, nơi từ dưới này anh phải trang bị nam châm toàn thân mới leo được lên trên kia. Úi trời, phải có tình yêu mới làm nổi – như Jim Sturgess liều mạng cùi đi tìm Kirsten Dunst rồi hai người chui vào trong nhau giữa hai thế giới, bay lơ lửng trong gam màu xanh lè y hệt bức Au-dessus de la ville; chắc Solanas chôm ý tưởng của Marc Chagall rồi!

– Em vẫn bị mê hoặc, gần như mê muội bởi bọn làm phim Hollywood. Vẫn nhớ em của thuở ấy.

– Thuở nào?

– Thuở hồng hoang. Thuở em mê Alain Delon, Anthony Perkins, Audrey Hepburn, Pier Angeli. Thuở em viết nhật ký. Thuở em còn ghiền ăn xí muội, ngồi thu lu dưới gầm bàn vừa chép thơ tình tán gái của các đại thi hào, vừa hóng chuyện đàm đạo văn chương giữa anh và chị Chi. Dạo đó không ngày nào anh không ăn cơm nhà em; má thương anh ghê!

– Vì anh tuổi Dần cùng tuổi với ông anh đã chết của em. Vì anh biết nịnh bà già, biết mét má khi bị vợ đánh đòn vì ghen, biết tán chị Chi bằng Alain Robbe Grillet, Nathalie Sarraute, Gunter Grass, Sartre, Beauvois. Vì anh biết dụ trẻ con bằng cách đều đặn đút dưới gầm bàn những tập bán nguyệt san có in hai chữ Kính biếu ở trang bìa; rồi Thềm Hoang, Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến; sau nâng cấp với Chị Em Hải, Con Đường của Nguyễn Đình Toàn. Đến Thérèse Desqueroux của Mauriac và Of Mice and Men của Steinbeck thì em biết tự mua sách và biết yêu.

– Em sống tội nghiệp quá. Sau kỷ niệm không đẹp với nhà thơ lính, em bay chấp chới, vuột mất ngoài tầm nhìn. Anh chẳng còn thấy em nữa, chỉ nghe thôi.

– Sau kỷ niệm không đẹp, mọi thứ đều đẹp. Em đã có những tháng ngày lãng mạn nhưng hợp vệ sinh với nhà văn này nhà thơ nọ, luôn luôn cảnh giác giữ tư thế ngồi để tránh nhăn lưng áo. Chính anh đã đẩy em vào thế giới sáng tác nơi em không thể không cà-phê phin hoặc trà chanh đường với những văn nhân hàng ngày ngồi chơi xơi nước ở quán Cái Chùa hoặc Givral – khu vực…hmmm…văn hóa nhất của Sài Gòn ngày trước. Kẹt cái là họ đều có vợ, đỡ cái là em không chủ trương làm lẻ làm chẵn để làm chi. Mấy ông kẹ thấy táo hườm hườm thì muốn hái, nhưng đúng ra chỉ là trái cây chín dú.

– Vẫn không quên buổi trưa hai anh em nằm với nhau trong căn phòng 1 giường ở khách sạn Diplomat. Lần ấy thực tình anh chỉ muốn biết táo dú khí đá và chín cây thì khác nhau như thế nào, nhưng anh đã không cắn vì thấy em thực sự còn xanh. Mà hình như em cũng chỉ thích lắt lẻo trên cành thôi.

– À, buổi trưa đó hả? Mình đã giữ vệ sinh chung cho đến lúc nghe mưa ào xuống bên ngoài thì ngồi bật dậy xem đồng hồ rồi trả phòng, men theo hàng hiên tìm quán hủ tíu trên đường Tôn Thất Thiệp. Chỉ có lần đó, một ngày cuối năm, hai anh em mới có dịp nói chuyện nhiều trong cái phòng tránh nắng có máy điều hòa ở nhiệt độ 17. Cũng là lần đầu tiên anh đặt tay lên cái ngực lép của em, phía có trái tim, rồi phát giác ra nó không đập. Màu xanh của táo đi ra từ chỗ có màu đỏ của tim.

– Em đưa cái trí thông minh của em xuống dưới ấy, trái tim chết ngắc là phải rồi. Theo những gì anh biết sau này về em, anh thấy nó ngắc ngứ tùy cơn; có vẻ như em dị ứng với động vật; con nào nhúc nhích thì em đập cho lòi phèo hoặc phun thuốc trừ sâu cho giẫy đành đạch.

– Đã nói là sau kỷ niệm không đẹp ở biển, mọi thứ đều đẹp nhờ em biết vô hiệu hóa bất cứ sinh vật nào ngo ngoe.

– Em lại sống tội nghiệp rồi. Sao em bạc đãi chính mình chi vậy?

– Đâu có! Em an nhiên tự tại mà. Không riêng anh, nhiều người nhìn em như một con bệnh. Bệnh của em, nếu có, nó không làm đau nhức hay chết người như sarcoma. Em lành mạnh và khỏe mạnh hơn anh chứ!

– Có lẽ em nói đúng. Anh đã hậu đãi mình bằng hai cuộc hôn nhân, nhưng thứ này, chậc, có sức tàn phá thật khốc liệt. Anh bị cuốn xiết trong con trốt tình cảm, nghĩa vụ, trách nhiệm, sinh kế, tương quan xã hội. Anh luôn phải đối phó; đến lúc thấm mệt anh nằm xuống nghỉ thì ngóc đầu lên hết nổi. Bây giờ anh đau từng phút từng giây từng cử động. Đêm của anh rất dài. Ngày của anh cũng vậy. Chỉ mới hai tháng nay thôi, nhưng đã dài lắm.

– Em gọi điện để chúc mừng sinh nhật anh, như mọi năm vẫn làm, không ngờ nhận tin xấu. Em thật sự lúng túng không biết hành xử như thế nào trong một trường hợp như vậy.

– Em đã chúc anh lì đòn. Anh không lì thì ai chịu đau giùm anh chứ! Tự nãy giờ em đã giúp anh quên đau, vì mình mải kể chuyện cổ tích. Vì sao khi người ta thất thập nằm chết dí một chỗ thì ký ức tuôn chảy dễ dàng làm dậy lên cơ man là trầm tích. Bấy lâu nay khỏe mạnh sao không có được những lúc như thế này nhỉ?

– Cặn lắng sâu dưới đáy trong khi dòng thủy lưu cứ thoăn thoắt.

– Em còn cuồn cuộn không?

– Á, không. Em lững lờ lâu rồi. Gần như lờ đờ, vì vậy êm ả.

– Bonneuil có nước không?

– Gần chỗ em ở có một cái hồ nhân tạo được đào từ đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, Lac de Créteil, 40 ha. Loại ao tù đó mà, không chảy đi đâu được, nhưng có tí hơi nước với gió hiu hiu vào những ngày đẹp trời thì thiên hạ khoái chí đổ xô ra bờ hồ ngồi tàng tàng cũng đủ lãng quên đời.

– Có ví von gì không?

– Không. Chỉ là cái hồ ở gần nhà.

– Chỗ em ở ra sao?

– Vẫn cái ấp em thuê hàng năm. Một căn hộ 30 mét vuông gọn xinh dành cho người độc thân. Mặt trời phía đông phía tây đều hất nắng vào chỗ em đang ngồi đây. Có cái ban-công be bé có thể kê 5, 6 chậu nhỏ để trồng cây xanh. Em đang ươm ngò rí, tía tô, quế và ngò gai. Đã nẩy lún phún rồi.

– Chi vậy? Nghỉ hè xong trả nhà quay về cố quận, bày đặt trồng trọt chi cho mất công?

– Do có tình yêu vô biên đối với thực vật.

– Hừ! Kể ra em có đời sống vương giả đáng thèm.

– Xa xỉ gì bọn rau nhiệt đới? Sao lúc nãy phê là em sống tội nghiệp, bạc đãi bản thân?

– Là ở khía cạnh tình cảm kìa!

– Cái khía đó hồn ai nấy giữ anh ơi! Ăn thua là an toàn lao động. Mà con người ta đâu chỉ sống nhờ một khía.

– Em nói làm anh nhớ con ba khía quá! Hồi đó má cho ăn hoài. Mắm ba khía xé phay trộn với chanh ớt tỏi đường ăn cay chảy nước mắt nhưng cứ xới thêm cơm, đặc biệt ngon với mưa lầm rầm trên mái tôn.

– Giờ sống văn minh ở Mỹ, ở nhà to, lái xe hơi vèo vèo trên đường cao tốc bày đặt nhớ chùm khế ngọt. Má thì qui tiên rồi. Ba khía dạo này ốm nhách không có thịt. Nhà mái tôn đã được sửa lại, có chỗ khang trang cho anh nằm dưỡng bệnh, có cây xanh từ trên xuống dưới từ trước ra sau cho anh ảo giác vườn quê, có cái bàn 50 tuổi vẫn còn ở vị trí cũ cho anh hồi tưởng những buổi đàm đạo văn chương với chị Chi. Nhưng mà thôi, sarcoma không phải là thứ để nhân danh.

– Em thử nhân danh một thứ khác đi!

– Đừng dạy đời em!

– Trước khi đi biển với nhà thơ lính em đã ngồi uống soda chanh với anh ở Givral để hỏi ý kiến; lần đó em rao là nhân danh tình yêu. Sau khi trở về em lại coi chuyến đi như một tai nạn. Anh đã hăm he trước: hạnh phúc như hòn lửa đỏ ngậm trong miệng, dù sao cũng phải bỏng; em đâu có nghe!

– Hay dạy đời vậy nên em mới cảm tác Bài Đức Dục Của Lão Chăn Trâu.

– Mới mười sáu tuổi đã làm thơ mặn như muối, giọng điệu du côn.

– Trời! Anh còn nhớ ư?

– Sẽ đọc cho nghe.

Chàng dạy tôi cười bằng đuôi con mắt
Và khóc bằng hai bàn tay bụm lấy mặt
Như một kẻ khốn cùng
Tôi chỉ gục gặc

Chàng dạy tôi yêu bằng chân không
Và tập đau bằng lục phủ ngũ tạng
Như một kẻ dốt nát
Tôi dạ vâng

Chàng dạy tôi nói bằng sự lặng im
Và lẩn trốn bằng sự phù phiếm
Như một kẻ vô vọng
Tôi ngậm câm

Lời chàng dạy tôi cho đi qua
Như con nước chảy ra biển cả
Chàng bèn đánh đập
Tôi rên la

– Chà, rõ ràng là em lì như trâu mà! Anh chăn em đâu có được. Còn một bài Cách Ngôn em tán anh nữa, nhớ không? Cái gì mà…

Chàng dạy dỗ tôi bằng những lời này
Tôi gục đầu nghe bằng hai lỗ tai
Giọng chàng hàm hồ giọng chàng đay nghiến
Môi chàng nhịp nhàng lưỡi chàng huyên thuyên

Chàng nói và nói chàng nói như hát
Chân chàng cày bừa tay cấy gặt
Môi chàng chích chòe lưỡi chàng chìa vôi
Tôi càng hỗn mang chàng càng gay gắt

Chàng đổ cát xốp cho dã tràng xe
Chàng nhịp chày cùn vồn vã trên đe
Huy chương mề đay chàng máng trước ngực
Tội nghiệp lời chàng tôi bưng tai nghe

Ngồi trong lòng chàng như ngồi giữa trời
Lần vải áo chàng rịn mồ hôi người
Mặn như muối hột tanh như nước biển
Biển thì mênh mông tôi chìm như chơi

– Ha ha! Sau đó thì anh viết Niềm Yên Lặng Của Biển. Mà có yên lặng gì đâu, dạo ấy sao anh ba hoa thế; lại chỉ nói về mình, khoe khoang với em hằng hà sa số chiến lợi phẩm tình ái.

– Ui, mắc cười quá! Mình đã là nguồn cảm hứng của nhau. Vậy sao mình không trở thành đại văn hào nhỉ?

– Có những người làm một bụm rất nhỏ những chuyện lớn, trong khi mình ôm một bụm lớn những chuyện nhỏ.

– Thời khắc này anh ngộ ra như thế cũng còn kịp lúc.

– Kịp cho cái gì? Cái chết hả?

– Không. Cái sự sống. Bằng cách này hay cách khác nó đã được kéo dài để mình kịp có thì giờ mà ngộ ra điều này điều kia.

– Anh còn ngộ ra một điều nữa: có những thứ nằm bên dưới và bên trong của bên trên và bên ngoài.

– Tưởng gì! Em cũng biết cái đó. Vậy nên em chui ngược trở vô để sống với nó.

– Khi nó tống em ra thì em gọi cho anh hả?

– Đâu có! Em tống nó ra.

– Anh lại nghĩ khác: em cứ nhào ra nhào vô theo các cơn bốc đồng của chính em thôi. Anh biết em quá mà! Chỉ khi bò ra khỏi cái hang ở cố quận, em mới đâm ra hào sảng, hiểu ở nhiều nghĩa.

– Ở trong hang thì làm gì có nhu cầu chi tiêu.

– Thảo nào thấy em toàn cảm tác lăng nhăng khi dạo chơi ở ngoài, và chỉ gọi anh khi đã an tọa đâu đó mà không phải căn nhà trong hẻm.

– Biết hết còn gì để nói nữa!

– Nói cho anh nghe về cái hang của em đi.

– Nó rộng hơn cái ấp này 9 lần, tính luôn không gian dành cho thực vật. Ít khi em chui ra khỏi hang trừ phi đi chợ. Hang không có lóng lánh thạch nhũ hay róc rách khe suối nhưng có điện nước đầy đủ, có lò điện lò gas, quạt máy bàn ủi. Đại khái, những tiện nghi tối thiểu, cho nên hang nhân không phải khắc khoải nhớ tiếc ánh sáng văn minh đô thị. Cái hang hùm của anh mới có nhiều chuyện đáng nói chứ!

– Ứ hự, bây giờ anh như cọp mắc thuốc, ngày ngày lại ngâm bài Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ.

Gặm một mối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài nghe ngày tháng dần qua…

– Lại xạo rồi! Trong cuộc sống vật chất thặng dư, anh chợt

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi.

Trong số mấy triệu khúc ruột ngàn dặm, rất nhiều khúc thành đạt hưởng thụ đã đời xong về thăm quê hương chê dơ chê thúi chê lạc hậu, nhưng lại làm thơ viết văn rên rỉ

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.

Chịu, không hiểu nổi!

– Lại làm bộ rồi! Hiểu chứ sao không hiểu?

– Xạo gặp làm bộ, hèn chi vui quá trời.

– Nè, em gọi cho anh để chúc sinh nhật phải không? Giờ chọc tức cho anh lên huyết áp phải không?

– Không. Hai anh em mình khắc khẩu, gây với nhau nửa thế kỷ nay rồi. Tử tế được một lát thế nào cũng nháng lửa. Thôi, em cúp máy đây. Khi nào ngọa hổ tàng long ở bệnh viện Stanford để làm chemo thì cho em biết để em chọc tiếp. Nhớ đấy, phải lì đòn, bất chấp thập diện mai phục!

– Quỷ sứ!

Trần Thị NgH
Bonneuil, 07.2013

Áo Lụa Phơi Buồn Sân Gió Xưa, Truyện ngắn Hoàng Nga


2926971348_252edd40c2_z

Hoàng Nga

Em mười sáu tuổi trăng mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa
Trần Dạ từ

– Anh đi không được khóc.
Ai thèm. Anh chậc lưỡi:
– Vậy thì cũng không được cười. Cười hở mười cái răng.
Cười hở luôn ba mươi sáu cái. Anh… bật cười:
– Răng khôn mọc đủ chưa mà đòi hở ba mươi sáu cái.
Thật cũng không biết đã mọc đủ hết răng khôn chưa. Bởi thuở ấy mới mười sáu tuổi. Mười sáu tuổi con nít. Làm gì cũng bị dòm ngó. Như chiều hôm anh đến nhà chào từ biệt, chỉ đứng trên thềm nói chuyện là đã ghê gớm lắm rồi. Anh nói nhỏ. Thèm cầm bàn tay chi lạ. Đứng trên thềm, trong nhà nhìn ra, ngoài đường nhìn vào, hàng xóm ngó ngang. Nhất cử nhất động đều không qua mắt được ai. Chuyện cầm tay, nghe như huyền thoại.
Không cầm tay, nên đứng trơ vơ ngó trời ngó đất. Nói chuyện từ biệt. Anh nói mai anh đi. Kính thưa quí vị, tin tức đã được thông báo. Thì thông báo lần chót. Mai anh đi chắc trời hết nắng. Hết nắng lòng chịu ướt với mưa. Mưa đi, mưa trong lòng, chắc vậy. Mai anh đi thời tiết trái mùa. Anh biết bài thơ này của Lê Vĩnh Ngọc không. Em đọc ở đâu. Ở báo Tuổi Ngọc chớ đâu. Anh chưa đọc tới. Anh đọc Văn, Bách Khoa… Vậy anh biết bài thơ của
Nguyên Sa không. Mai tôi ra đi chắc trời mưa. Tôi chắc trời mưa mau.
– Bài đó ai cũng biết.
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội. Nhưng chậm thế nào rồi cũng phải xa nhau. Thuở mười sáu tuổi, chuyện từ biệt, chậm thế nào rồi cũng phải xa nhau, nên chừng không có gì gọi là thảm sầu cho lắm.
– Tết, anh về ăn Tết. Hè, anh sẽ về nghỉ hè. Phải không? Mai anh đi, hè anh về.
– Từ Tết tới hè lâu biết mấy.
Ở khoảng giữa có viết thư. Những tờ thư viết bằng mực xanh và mực tím. Thư màu mực xanh gửi về địa chỉ bà chị họ của anh nhờ đưa giùm. Những lá thư có khi đọc xong phải xé bỏ liền dầu là thư viết rất hay, những trích đoạn văn thơ mềm như hơi thở, ngọt ngào như mật ong. Thư mực tím thì gửi thẳng đi từ cái bưu điện nhìn xuống bờ sông có bóng dừa và hàng khuynh diệp xa xa.
Thuở mười sáu tuổi chia tay hồn nhiên như nắng, ngọt ngào như mưa. Tết, nhớ trời sắp tết nhưng lòng mình đang Tết, và nhớ… phong bì lì xì. Hè, nhớ đến nắng đến biển đến những hàng dương trên bãi cát trắng mịn. Nhưng bỗng dưng cũng nhớ đến những thứ khác, nên nói, hè anh về, mang về cho em chùm lá me của Sàigòn. Làm gì. Để em xem có khác gì với lá me xứ mình không mà không có ai chịu ca tụng me xứ mình. Anh nhìn qua nhìn lại một hồi, rồi nói làm sao cầm tay nhỉ. Câu nói như dội vào thinh không. Hỏi lại. Anh biết ông Du Tử Lê không. Anh nói, chuyến bay sáng mai cất cánh sớm quá.
– Nè anh, ông Du Tử Lê có bài thơ dễ thương lắm, có cây me và lá me. Người về đâu không người không về đâu.Chiều chưa mưa nên chiều chưa thay màu.Tôi cây me đứng run từng lá. Lá đã vàng rồi tôi đã vàng theo.
Anh ờ, bài thơ. Anh chẳng phê bình bài thơ hay hay dở. Dễ thương hay không. Anh nói mái tóc nhỏ mượt mà, đen nhánh như nhung. Bên tai anh không nhận lại lời cám ơn, mà lao xao:
– Me Sài gòn khác gì với me xứ mình nhỉ, mà sao không có ai chịu làm bài thơ lá me cây me xứ mình.
Lại cây me, lá me. Anh thở ra. Sàigòn có những con đường trồng toàn me. Ông Nguyễn Tất Nhiên làm thơ cho hai hàng me ở đường Gia Long.
– Nhưng mà trong bài thơ của ổng đâu có hai hàng, ba hàng me gì đâu. Ổng gọi là lũ lá me. Chiều nắng âm thầm chào biệt lũ lá me.
Anh ngao ngán:
– Vậy chắc tại Sàigòn có mứt me.
Cười:
– Mứt me ngọt ngây, ngon lành gì. Em muốn đọc được một bài thơ nào đó cho cây me, lá me xứ mình ghê.
Anh đáp:
– Thì mai mốt em làm bài thơ lá me rơi rụng.
Tiếng cười vỡ ra:
– Vậy thì em sẽ làm bài thơ… trái me rơi rụng xuống đầu ai kia.
Anh nhìn sang thở dài, ngày mai anh đi rồi. Mai anh đi. Và giờ thì đứng ngó trời ngó đất. Ngó ra ngoài đường. Cười. Anh nhăn mặt. Mai anh đi mà cứ cười hoài. Tại anh không hát, lên xe tiễn anh đi, không nên cười nhiều thế. Anh làm thinh. Ngó tới ngó lui con đường trước mặt xe và người qua lại. Tháng Giêng, mới ra Tết, người và xe không lấy gì làm hối hả. Con đường có vẻ buồn hơn mọi bận. Con đường vắng hơn mọi ngày. Vài chiếc xe GMC chạy qua. Lính ngồi trên xe nhìn xuống.
Anh nói. Có thể anh sẽ nhập ngũ. Sao vậy, tự nhiên cái nhập ngũ. Anh chép miệng:
– Trường anh sinh viên xuống đường hoài.
– Anh đừng thèm xuống đường.
Anh ngó theo chiếc GMC vừa chạy qua. Tụi nó phản chiến, muốn chống chính quyền. Anh không hả. Không. Nên vì vậy phải chọn cách khác.
– Anh có định làm Dũng của Đoạn Tuyệt hay Tuấn chàng trai nước Việt không?
Anh lại ngoái nhìn theo chiếc GMC chỉ còn để lại bụi mù trên đường. Anh không làm ai hết, anh làm anh.
Cười.
– Cười hoài.
– Chứ biết sao giờ.
Vậy đó mà hôm sau anh đi rồi, tháng Giêng tự nhiên trời đổ mưa. Những hạt mưa bụi trong không làm bàn tay trên ghi đông xe lạnh cóng lại như đang ướp nước đá. Đôi con mắt không hiểu sao cứ chớp hoài. Con nhỏ bạn đạp xe bên cạnh hỏi, sao bữa nay nhà ngươi im lặng quá vậy. Đâu có gì. Tại tời mưa nên buồn.
Tháng Giêng, tháng Hai. Có khi trời không mưa, lòng cũng buồn buồn. Anh viết thư nói kể cho anh nghe nhỏ đang làm gì. Trả lời. Em đi học. Như Thanh Tịnh đi học. Như anh đi học. Qua đầu tháng Ba anh hỏi, xứ mình ra sao rồi. Mười sáu tuổi kiêu hãnh, nên không viết xứ mình vẫn vậy, còn người thì không vui, mà trả lời, trời bắt đầu hết lạnh, nắng mới lên, phố xá bình thường. Và rồi cuối cùng không biết nghĩ sao lại viết thêm, hình như có nhiều người đang tản cư từ bên kia đèo vào.
Lá thư gửi đi. Một tuần, hai tuần, không thấy thư trả lời như thường lệ gửi về. Lúc đó đã nửa tháng Ba. Đọc báo thấy tình hình đất nước chừng biến động. Pleiku, Ban Mê Thuột vừa mất. Nhớ trước ngày giã từ, anh nói có thể anh sẽ nhập ngũ. Chạy ngang qua nhà bà chị họ của anh, hỏi anh có nhập ngũ không. Chị nói không biết. Không có thư nên không biết sinh viên Sàigòn có còn xuống đường. Và anh ra sao.
Hạ tuần tháng Ba, chạy ngang nhà chị họ của anh lần nữa. Cửa đóng then cài. Không thấy bóng người. Có vẻ như đã dọn đi. Đến cuối tháng Ba thì thị xã mất, ông anh lớn học chung với anh cũng kẹt lại ở Sàigòn. Cả nhà đi tới đi lui lắng lo. Không còn ai, cũng không còn cách gì để nhắn tin, biết tin. Cả ông anh. Lẫn anh.
Sang tháng Tư, tháng Năm. Chia tay. Lần này thì chia tay thật sự dẫu không còn ai đứng trên hiên nhà nhìn người, nhìn xe qua lại nói chuyện biệt ly. Không còn ai để nghe những câu thơ buồn. Cũng không còn nắng lụa là vấn vương tà áo, không còn mưa rơi mại mềm trên bờ vai. Thị xã chỉ những sáng, những trưa, những chiều và những tối thật hoang vắng, tiêu điều. Những đoàn GMC chở lính ra tiền đồn đã thay bằng những chiếc motolova cồng kềnh, hết chiến tranh vẫn lá ngụy trang, vẫn súng ống tận chân răng và những khuôn mặt nhếch nhác nhưng vênh váo đến khó chịu.
Đời sống cũng nhếch nhác đến khó chịu. Nỗi lao chao trong lòng không có tên nhưng bắt đầu chuyển sang trạng thái khác. Buồn. Buồn tê tái. Lịm người. Cứ mỗi bận tình cờ nhớ đến bài thơ Du Tử Lê là muốn khóc. Người không về nên lòng người dửng dưng. Tình tôi mong nên tình tôi khôn cùng.
Người không về. Anh không về. Nhánh me anh chưa hứa sẽ mang về nhưng bỗng dưng đã chất chứa những chờ mong. Những ngày đầu ngang qua nhà bà chị họ của anh, thấy cửa vẫn đóng, cổng vẫn khóa, nhưng lòng vẫn cứ ngóng trông một khuôn mặt quen thuộc, một nụ cười thân tình. Sau, những bộ mặt nhếch nhác nhưng vênh váo lởn vởn hiện ra bên trong cửa sổ khiến con đường bỗng trở nên tối ám, thành phố bỗng trở nên hoang tàn.
Đăng đẳng đến mấy tháng sau, ông anh từ thành phố có những hàng lá me trở về thị xã, chút hy vọng mới như mong manh trở lại. Trời tháng Bảy trong văng vắc. Mây biêng biếc xanh đến nhức mắt. Hàng hiên buồn tênh những vệt nắng đổ ngang. Ông anh và vài người bạn cũ cũng vừa về, đứng ngó trời ngó đất. Từ phía trong nhà nhìn ra, lòng thấp thỏm hoài một câu hỏi, nhưng không cách gì dám bật ra. Vẫn mười sáu tuổi, dưới cái nhìn của mọi người, làm sao có thể ngang nhiên đến hỏi, anh bây giờ ở đâu, và mọi người đã về mà sao anh không về.
Đến tối, tình cờ ba nhắc đến anh. Hỏi nó đâu. Ông anh chậc lưỡi, trả lời, cái thằng lừng khừng, làm chuyện gì cũng lừng khừng. Ba hỏi lừng khừng sao. Anh nói nó cứ đi ra đi vào, đứng ngồi không yên hỏi có nên đi nhập ngũ. Rồi sao đó lại hỏi có nên di tản ra nước ngoài. Tụi con, nhà kẹt ngoài này, mandat không có, chưa biết sẽ sống bằng cách nào, đi lính hay di tản lúc đó, đều là những câu hỏi không trả lời được. Nên nó lại đi ra đi vào. Cuối cùng nó đi, nhưng chẳng biết đi đâu. Cho đến giờ chẳng tin chẳng tức gì hết. Ba làm thinh. Không biết ba nghĩ ngợi gì. Ông anh đổi giọng bực bội. Cái thằng! Lừng khừng, lừng khừng. Thiệt tình, lừng khừng…
Lừng khừng. Lừng khừng. Không biết đi đâu! Lòng tôi sông nước đủ trăm giòng. Quanh co một nỗi buồn vô hạn. Cái bài thơ cũ rích của ông Du tử Lê, nhưng đọc lên cứ thấy lòng đau điêng điếng. Mười sáu tuổi trái tim thắt cứng lại không biết phải làm sao. Quanh co một nỗi buồn không dám thố lộ, và cũng chẳng còn bè bạn chung quanh để thố lộ.
Qua ngày hôm sau, suốt một buổi chiều đạp xe lòng vòng qua những ngõ ngách của thị xã, chạy dọc xuống bờ sông hiu bóng nước, chạy ngang
qua bưu điện, nước mắt khi không chảy dài. Những tháng năm sau, quẩn quanh trong tuyệt vọng, đời chừng như cũng chỉ quẩn quanh không có nụ cười.
Mười sáu, mười bảy. Trăng tròn, trăng vạnh. Lâu lâu tình cờ nhìn thấy những hạt me rơi trên đất nảy mầm, nhìn nhánh lá nhỏ lắt lay, lòng bỗng xao xác, và mắt lại đỏ rưng rưng. Nhà có miếng vườn nhỏ xíu phía sau, cứ đòi trồng cây khế, cây me. Bị mẹ mắng, ba mắng. Hỏi khi không trồng cây me.
Mười sáu, mười bảy, rồi thì hăm mốt, hăm hai. Sao sáng sao mờ, muốn hay không cũng phải trôi theo với giòng đời. Trở thành người lớn. Tay bế tay bồng. Kỷ niệm cũ đành khép lại cùng tháng năm. Những bài hát, những bài thơ thời khoai củ, bàn tay em xây nông trường, bàn tay em gieo lúa vàng đi chung với hàng me lung linh ánh đèn, hay con đường có lá me bay chiều chiều ta lại cầm tay nhau về quê mùa, thô thiển như muốn đẩy ký ức lùi thêm về góc trú thân nào đó trong trái tim.
*
Vào cái lứa tuổi khi con người ta bắt đầu không còn gì để khoe về mình, khoe về con cái nữa, bởi cuộc đời của chính mình và con cái đã được phân định trong xã hội, với cuộc đời, là lúc người ta bắt đầu nói đến cháu nội cháu ngoại, nhưng lại bỗng thèm được trở về những ngày mười sáu, mười bảy, thì tình cờ, rất tình cờ trong một buổi họp bạn như vậy, có một người đến trước mặt, hỏi. Em còn nhớ chị không?
Nhớ? Hai đồng tử mở thật lớn, nhìn gương mặt
không còn tự nhiên với mí mắt được lấy bớt mỡ, đôi gò má căng cưng cứng như mặt trống múa lân, và đôi môi sưng mọng, đỏ màu tranh bát quái. Một khuôn mặt khi không cười cũng như đang cười cười. Một khuôn mặt mà ký ức nhảy múa đến bất tận vẫn không nhận ra. Một khuôn mặt giống hệt như những khuôn mặt khác được “clone” từ khuôn mặt bà vợ ông bác sĩ thẩm mỹ thường thấy trên video ca nhạc.
Ai đây? Quá khứ réo gọi, trí nhớ đào xới liên tục, mà lạ, vẫn không thấy quen đôi bàn tay no tròn, trĩu nặng nhẫn kim cương. Ai? Ai thế này? Cuối cùng, không biết gì hơn, đành bẽn lẽn thốt nên câu:
– Dạ xin lỗi chị, dạo này trí nhớ em tự nhiên kỳ cục ghê lắm. Đồ đạc cứ để một đường thì lại đi tìm một nẻo. Phim coi ba tháng trước ba tháng sau đã không còn nhớ nội dung.
Sự thật quả là như vậy. Quả là rất dễ quên. Nhưng chừng như cái trường hợp này không phải là vậy. Chừng như nếu đang ngồi trước cái computer, thì sau khi nộp vài dữ kiện tìm kiếm, có lẽ sẽ thấy hiện lên hàng chữ “not found”.
Hồ sơ tìm kiếm có lẽ sẽ không thấy. Không biết là ai. Vậy thì, là ai đây trong số những người tôi từng biết? Là người nào đây, trong số những người quen đã đi qua đời tôi? Người đi qua đời tôi, không nhớ gì sao… tôi? Một nụ cười bèn nở ra cầu hòa:
– Chị cho em một chút xíu gì đó để trí nhớ em có cơ hội làm việc được không?
Cười. Cũng nụ cười không biết có phải vì da mặt bị căng nhiều lần:
– Chị đã nghĩ chị em mình sẽ nhìn không ra nhau. Nhưng bây giờ mới thấy em không nhìn ra chị chứ nụ cười của em thật khó quên. Thấy là nhớ ngay. Vì em bối rối cũng cười. Vui, cười là hẳn nhiên mà buồn cũng cười. Đau khổ cũng cười. Ai thân quen em, hiểu những nụ cười đó, sẽ thương em mãi.
Ai mà thân quen? Lại nụ cười căng căng:
– Chị nhắc điều này có lẽ em sẽ nhớ ra.
Không, có lẽ phải nhiều điều. Định nói vậy, nhưng thấy hơi bất lịch sự nên im lặng đứng chờ. Hai bàn tay với nhẫn kim cương nặng trĩu đưa ra nắm lấy bàn tay xương gầy. Ngày xưa chị hay nhận thư giùm cho em…
Ngày xưa! Ngày xưa! Ngày mười sáu tuổi! Ngày xưa chị nhận thư giùm cho em! Một bước chân, dẫu không muốn, bỗng dưng cũng bật lùi về phía sau. Hai mắt dẫu không muốn, cũng mở to lên chăm chăm nhìn. Miệng dẫu không muốn, vẫn tròn ra ngơ ngác.
Chị của ngày xưa! Người của ngày xưa! Chị của mấy chục năm đã xa xôi tít tắp. Chị hiện ra, ở đây. Còn người ấy, ở đâu? Lưỡi như cứ ríu lại. Ô, em xin lỗi, xin lỗi đã nhìn chị không ra.
– Chị đẫy đà ra nhiều, phải không?
Cười. Lại cười. Nhưng khuôn mặt đối diện dường như không có. Người đối diện không có. Hiện tại chừng cũng biến mất. Chỉ quá khứ ào ào chạy về. Ngày mai anh đi. Lên xe tiễn anh đi. Người về chiều
nắng hay đêm sương. Người về đò dọc hay đò ngang. Làm sao cầm tay. Làm sao…
Bàn tay nhiều gân xanh lạo xạo trong bàn tay đeo nhẫn kim cương:
– Em còn xinh ghê.
Em cám ơn. Cám ơn, như cám ơn những lần chị đưa lại phong bì màu xanh da trời với những hàng chữ mỏng, thật đẹp. Những lá thư nhờ trao giùm mà không ghi tên, không một mẫu tự viết hoa nào đi theo phía sau hai chữ trao giùm, nhưng chưa bao giờ thư đi lạc.
Chị chớp chớp mắt. Còn nhớ người viết thư cho em không. Mắt chớp chớp trả lại chị. Đã không còn mười sáu tuổi, đã không còn phải sợ người lớn đến nỗi thấp thỏm một câu hỏi, nhưng không hiểu sao câu trả lời vẫn không thể nào thốt ra. Chị nói.
– Cậu ấy nhắc em hoài. Bao nhiêu năm vẫn nhớ đến em và những nụ cười của em.
Bao nhiêu năm vẫn nhớ. Vẫn nhớ. Ô hay, vậy sao không ai đi tìm. Ô hay, người không về nên lòng người dửng dưng…Chia tay ở tuổi mười sáu hồn nhiên như nắng, nhưng sao lòng mấy mươi năm vẫn mưa bay.
Hai bàn tay xương gầy rụt về, đặt vào với nhau. Dạ nhờ chị nói lại em cám ơn nhiều lắm. Chúng tôi xin tri ân và thành thật cảm ơn tấm thịnh tình của quí vị. Bàn tay đeo nhẫn kim cương cũng đặt vào với nhau. Chị bỗng dưng như phân bua:
– Đời sống ở bên ấy có nhiều khi cũng kỳ.
Dạ, sao ạ. Ờ, có nhiều khi dính chân vào rồi là gỡ không ra. Vâng. Đáp vâng, nhưng mắt ngơ ngác
nhìn khuôn mặt lạ, lòng chẳng hiểu người đối diện đang nói gì. Đời sống cậu ấy cũng buồn. Dạ. Người ở phương nào người có nghe nôn nao. Tôi ở đây nghe lòng tôi rì rào. Ông Du Tử Lê này mới là buồn cười. Khúc trên viết, khi người về tôi không nhìn không trông, đến khúc cuối lại bảo lòng rì rào. Nhớ có lần hỏi anh, anh nói, chắc ông ấy viết bài thơ lúc lòng đang ngổn ngang.
Ngổn ngang… Chị nói. Đời sống cậu ấy cũng ngổn ngang. Sao ạ. Không hạnh phúc mấy. Cậu ấy buồn. Rồi sao ạ. Ờ thì vẫn phải sống.
À, vẫn phải sống. Vậy thì buồn thật. Ừ, buồn.
Buồn thật. Đứng với nhau thêm vài mươi phút. Nhưng chẳng biết nói gì thêm. Chung quanh người cũ người mới lao xao. Mà lạ, không hiểu sao cứ thấy đời sống mấy mươi năm như không có thật. Người ở phương nào… Người ở phương nào, tôi ở phương này. Tự dưng sực nhớ tới lời ông anh, cái thằng lừng khừng. Đôi bàn tay bỗng dưng trở lạnh. Nước mắt cứ muốn lưng tròng. Mấy câu thơ Trần Dạ Từ lâu rồi không có dịp đọc tới bỗng chạy qua trong trí, bây giờ tôi cách núi xa sông. Bài thơ của thuở trăng mười sáu. Mười sáu trăng chờ em biết không.
Mười sáu trăng xa xôi vàng lạnh. …mười sáu tuổi trăng mười sáu. Áo lụa phơi buồn sân gió xưa… Hơn năm mươi, lụa vẫn còn phơi buồn trên sân gió. Hàng hiên xưa vẫn còn rưng rưng nắng và con đường vẫn ít người xe qua lại đầu tháng Giêng. Mười sáu tuổi. Lòng nhớ lòng thương lòng sắp khóc…
Đêm tàn. Đôi bàn tay ngập ngừng từ giã. Đôi bàn
chân ngập ngừng không bước. Mười sáu tuổi lòng sầu không dám khóc. Hơn năm mươi, lòng sầu mắt cũng chỉ dám rưng rưng.
Mười sáu. Năm mươi. Trăng vàng. Trăng lạnh. Trăng mênh mông. Trăng buồn.
Đêm buồn và đêm đen như thể không ánh điện. Giọt nước mắt cố giữ lại trên mi nặng trĩu cứ muốn rớt xuống thổn thức. Nhưng cuối cùng đành phải quay đi. Nghĩ thầm trong bụng. Chắc thế nào ngày mai cũng phải kêu người đến chặt cây me ở cuối vườn.

Hoàng Nga

Chân Không Diệu Hữu, Nguyễn Tường Bách


index

Nguyễn Tường Bách

Trong năm 2010 có hai biến cố đặc biệt thu hút sự chú ý của giới khoa học. Tháng 9.2010, nhà vật lý học lừng danh Stephen Hawking luận giải một cách chung cuộc rằng vũ trụ xuất phát từ chân không, vũ trụ phát sinh không cần đến một đấng sáng tạo. Tháng 12.2010, Cơ quan Quản trị Hàng không và Không gian NASA thông báo phát hiện của bà Felisa Wolfe-Simon, trong đó người ta tìm thấy một hình thái mới của sự sống, không giống với cấu trúc mà con người biết đến.

Hai biến cố khoa học này làm những ai quan tâm không thể không liên tưởng đến những luận đề cơ bản của Phật giáo trong vũ trụ và thế giới hiện tượng.

Trong tác phẩm mới xuất bản The Grand Design, nhà vật lý 68 tuổi Stephen Hawking viết rằng, các lý thuyết vật lý mới nhất cho thấy vũ trụ của chúng ta đã tự hình thành. Trước khi vũ trụ thành hình thì chỉ là một sự trống rỗng, nhưng tính sáng tạo nội tại trong cái “Không” đó đã hình thành vũ trụ. Hawking thấy “không cần thiết” phải có một Thượng đế, một đấng sáng tạo để tạo dựng nên vũ trụ.

Từ một tình trạng không có gì, phi thời gian không gian, không cần một nguyên nhân ngoại lai, có một sự bùng nổ, phát ra năng lượng và vật chất. Đó là hiệu ứng được mệnh danh là “hiệu ứng lượng tử”, xuất phát từ sự tăng giảm không đều của năng lượng. Nói tóm gọn, vũ trụ là kết quả của một sự sáng tạo mà không có người sáng tạo.

Với nhận thức này, Hawking đã từ chối có một đấng sáng tạo vũ trụ. Nhận thức này không dễ chấp nhận tại phương Tây, kể cả trong giới khoa học vật lý. Lý do không phải là các nhà vật lý kia tin mù quáng nơi một Thượng đế toàn năng mà họ có những lý lẽ hết sức vững chắc khác. Đó là thế giới của chúng ta quá kỳ diệu, rõ rệt là vũ trụ được cấu tạo dường như có chủ đích là sẽ có ý thức tồn tại trong đó. Người ta đã xác định một loạt các thông số trong Thái dương hệ và thấy rằng chỉ cần một thông số lệch đi một chút là đã không thể có đời sống loài người trên trái đất. Mặt trời chỉ cần lớn hơn một chút, thành phần của các hành tinh chỉ khác đi một chút, không có sự hiện diện của mặt trăng… là không thể có loài người. Xác suất để ý thức xuất hiện là quá nhỏ, gần như bằng không. Thế mà vẫn có ý thức cao cấp xuất hiện để chiêm nghiệm ngược lại về vũ trụ.

Một khi đã có một vũ trụ vân hành hoàn hảo như thế, khi có một sự sáng tạo tuyệt diệu thì cần phải có người sáng tạo có ý thức, hay phải có “Thượng đế”. Thế nhưng cũng chính các nhà khoa học theo quan niệm sáng tạo cũng phân vân, nếu có Thượng đế toàn năng thì làm sao lý giải được những cảnh tàn bạo, bất công trong thế giới của con người. Đó là một nan đề của môn bản thể học trong vật lý hiện đại.

Nhận thức của Hawking cho rằng vũ trụ xuất phát từ chân không bằng một sự vận động tự thể. Có sự sáng tạo nhưng không có người sáng tạo. Nhận thức này phần nào lý giải tính chất kỳ diệu của vũ trụ nhưng không dễ hiểu. Nó khó hiểu ở chỗ là nhận thức này từ chối một tự ngã làm chủ cho một hành động. Có hành động nhưng không có người hành động. Nhận thức này tuy xa lạ với phương Tây nhưng nó là một cách phát biểu của thuyết vô ngã trong đạo Phật.

Biến cố thứ hai trong năm 2010 là bài báo cáo của bà Felisa Wolfe-Simon1 (NASA Astrobiology Institude, USA) và cộng sự về một cái nhìn khác về hình thái của sự sống, nhân dịp khám phá một loại vi sinh vật được cấu tạo hoàn toàn khác với quan niệm hiện nay. Theo các lý thuyết sinh học hiện nay, mọi hình thái hữu cơ trên trái đất và cả ngoài trái đất chỉ được xây dựng với 6 nguyên tố: carbon, hydro, nitrogen, oxy, sulfur (lưu huỳnh) và phosphorus (phốt pho). Từ những tế bào giản đơn nhất, đơn bào, sống trong môi trường hiếm khí hay không có ánh sáng cho đến chủng loại cao cấp loài người đều chỉ gồm 6 nguyên tố đó mà thôi. Nay Wolfe-Simon chứng minh rằng đã có sinh vật không chứa phosphorus mà chứa arsenic (thạch tín).Với arsenic, vi sinh vật này cũng tăng trưởng tương tự như các vi sinh vật khác.

Phát hiện này xem ra không quan trọng trong đời sống bình thường, nhưng trong ngành sinh vật học địa cầu và ngoài địa cầu, nó gây “chấn động mãnh liệt”. Người ta bừng tỉnh thấy rằng lâu nay ngành sinh học quan niệm về sự sống một cách hạn hẹp, tự đưa ra hạn chế trong định nghĩa về hình thái của sự sống. Người ta thấy rằng phải từ bỏ hạn chế đó và cần tìm hiểu lại sự sống ngay trên trái đất này. Khi đó, với nghiên cứu về sự sống ngoài hành tinh, người ta hy vọng sẽ mở rộng hơn tầm nhìn và khám phá những hình thái sống không thể ngờ tới. Thực tế là arsenic hiện hữu nhiều trong những môi trường cực lạnh, “linh động” hơn phosphorus và vì vậy dễ sinh ra sự sống hơn. Do đó khi xem arsenic là một nguyên tố của sự sống hữu cơ, người ta có nhiều hy vọng hơn sẽ tìm thấy sự sống khác trong vũ trụ.

Bài báo cáo về vi sinh vật này tuy có tính chất rất chuyên môn nhưng thật ra đã tạo nên một niềm triển vọng và phấn khích mới. Đó là con người chỉ thấy rằng mình chỉ là một hình thái trong vô số hình thái của sự sống. Điều này làm ta nhớ tới khái niệm “Diệu hữu” trong đạo Phật. Sự tồn tại (hữu) là vô tận, số lượng của thế giới và của các loài sinh vật, từ đơn giản đến cao cấp, là vô tận. Có thể con người một ngày kia sẽ đến chỗ thừa nhận là sự sống có những hình thái hoàn toàn khác hẳn, không phải chỉ gồm 6 nguyên tố mà nhiều hơn hẳn. Cũng có thể người ta sẽ đến với nhận thức là tư tưởng và tình cảm cũng là một dạng của sự sống mà “thân” của chúng không phải là các yếu tố “vật chất” mà là những sóng tương tự như những sóng điện từ. Cuối cùng khi con người nhận thấy đời sống là nhất thể, và mọi hình thái của nó, từ vật chất đến phi vật chất, đều là những “pháp” vô ngã, vô thường, khi đó khoa học tạm gọi là sẽ đồng quy với Phật giáo.

Đồng chủ biên cuộc khảo cứu, giáo sư Paul Davies thuộc Arizona State University và Viện Sinh học Không gian của NASA, nói với BBC News2: “Vào lúc này chúng ta không biết sự sống chỉ là một tai nạn ngẫu nhiên xảy ra trên trái đất, hay đó là một phần của một tiến trình sinh hóa tự nhiên qua đó sự sống xuất hiện ở bất kỳ đâu có điều kiện trên trái đất”. Davies ủng hộ quan niệm “… sự sống xuất hiện ở bất kỳ đâu có điều kiện như trái đất” và điều này rất phù hợp với quan niệm Duyên khởi của đạo Phật, tức là cho rằng hễ có điều kiện như nhau thì sự sống phát sinh như nhau chứ một hiện tượng không thể xuất hiện “ngẫu nhiên” một lần rồi thôi.

Hai biến cố kể trên, một bên thuộc phạm vi vật lý lý thuyết, bên kia của vi sinh vật, có một ý nghĩa thú vị ở đây. Nhận thức của Hawking trùng hợp với thuyết “Chân không” và Vô ngã, còn phát hiện của Wolfe-Simon làm ta liên tưởng đến tính “Diệu hữu” và duyên khởi của đạo Phật.

Chân không-Diệu hữu vốn là vấn đề của vũ trụ quan của Phật giáo. Theo đó, mọi hiện tượng đều xuất phát một cách nội tại từ “Không”, không do tác nhân bên ngoài. Chúng xuất hiện trong thế gian và tuân thủ nguyên lý Duyên khởi, đủ điều kiện thì sinh, đủ điều kiện thì diệt. Các hiện tượng đó không ai làm chủ nhân, chúng làm tiền đề cho nhau để sinh và diệt. Khi sinh thì sinh từ chân không, khi diệt thì không còn chút bóng hình lưu lại. Các hiện tượng, mà trong đạo Phật gọi là “pháp”, không chịu sự hạn chế nào cả, không có ai lèo lái chúng cả. Khi đủ điều kiện thì mọi hình thái của sự sống đều khả dĩ, khả năng xuất hiện của chúng là vô tận, “bất khả tư nghì”. Diệu hữu bao trùm mọi hiện tượng, vật lý cũng như tâm lý, nằm ngoài khả năng suy luận của con người chúng ta. Cụ thể, khi nói về con người thì đó là một tổng thể gồm hai mặt tâm lý và vật lý với năm yếu tố mà ta gọi là Ngũ uẩn (sắc thọ tưởng hành thức). Năm yếu tố đó vận hành vô chủ.

Những phát hiện của khoa học làm chúng ta kinh ngạc về tri kiến của Phật và các vị Tổ. Các vị đã phát hiện những quy luật của vũ trụ không bằng phép nghiên cứu thực nghiệm mà bằng trực giác trong một dạng tâm thức phi thường của thiền định. Qua thời gian, thực tế cho thấy các phát hiện của khoa học không hề bác bỏ vũ trụ quan Phật giáo mà ngược lại, chúng trùng hợp một cách kỳ lạ. Tuy nhiên chúng ta cần tránh một thái độ, đó là xem khoa học như thước đo đúng sai đối với nhận thức luận Phật giáo. Lý do là Phật giáo chủ yếu nhận thức về hoạt động của tâm, trong lúc khoa học vật lý hay sinh học thiên về vật chất. Tất nhiên Phật giáo xem tâm-vật nằm chung trong một thể thống nhất và mặt khác, khoa học vật lý hiện đại cũng phải thừa nhận vai trò của người quan sát (tức là vai trò của tâm) trong mọi thí nghiệm. Nhưng phải nói phạm vi nhận thức giữa khoa học và Phật giáo rất khác nhau. Một điều mà ta không quên nữa là Phật giáo nhận thức thế giới với mục đích thoát khổ, thoát khỏi sự ràng buộc của nó bằng các phương pháp tu dưỡng tâm. Còn nhà vật lý hay sinh học chỉ nhận lại ở sự nhận thức. Vì vậy, khi so sánh Phật giáo và khoa học, tuy có nhiều thú vị và hứng khởi, ta cần biết giới hạn của nó.

Chân không-Diệu hữu là một chìa khóa để hiểu nhận thức luận về bản thể và hiện tượng của Phật giáo. Vì mọi hiện tượng xuất phát từ “Không” nên nó không có một bản chất trường tồn và riêng biệt, đó là thuyết Vô ngã. Chỉ có Ngũ uẩn đang vận hành, không có người vận hành chúng. Tương tự, Hawking cho rằng có sự sáng tạo nhưng không có ai sáng tạo cả. Thuyết Vô ngã khó hiểu cho những ai mới làm quen với đạo Phật. Cũng thế, vũ trụ tự sáng tạo và sáng tạo một cách tuyệt diệu, nhưng không có đấng sáng tạo. Đó là điều cũng khó hiểu cho nhiều người phương Tây.

Hawking chứng minh vũ trụ xuất phát từ cái “Không”, ông bác bỏ sự cần thiết của một Thượng đế nhưng có lẽ ông không biết “Không” là gì. Là một nhà vật lý, ông khó có thể biết hơn. Thế nhưng lại đến phiên ta kinh ngạc về khoa học vật lý. Dù tự hạn chế mình trong lĩnh vực vật chất, vật lý đã đi đến tận cùng biên giới của vật chất, gõ cửa ngành bản thể học và gần như chạm đến “chân lý tuyệt đối” của đạo Phật. Vị trí của Hawking làm ta nghĩ đến luận sư Long Thọ, cả hai vị đều cho rằng “Không” là nguồn gốc của muôn vật, nhưng cả hai đến từ hai chân trời khác nhau.

Phật và các vị Tổ Phật giáo biết “Không” là gì bằng trực quan nhưng không miêu tả nhận biết của mình.Tính Không thuộc về một lĩnh vực mà ngôn ngữ không diễn bày được. Cũng như thế trong vật lý lượng tử, người ta thấy ngôn ngữ và cách suy luận thông thường không còn thích hợp. Giữa Phật giáo và khoa học, sự trùng hợp rất lớn mà sự khác biệt cũng rất lớn.

Nhà vật lý tin rằng có một vụ “nổ ban đầu” (Big Bang) cách đây khoảng 14 tỉ năm để sinh ra vũ trụ vật lý. Thiền giả thấy có một sự “bùng nổ” trong tâm xảy ra trong từng sát-na. Đó là cách nói gọn nhất về sự khác biệt giữa Phật giáo và khoa học.

Nguyễn Tường Bách

17-chot-thay

Năm 1948: Sinh ra tại TP Huế.
Năm 1967 – 1971: Du học Đức ngành xây dựng.
Năm 1975 – 1979: Nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành vật lý ĐH Stuttgart.
Năm 1979 – 1992: Giám đốc kinh doanh tập đoàn ABB chuyên sản xuất từ thiết bị phát điện.
Năm 1992 – đầu 2008: Giám đốc điều hành một công ty thương mại chuyên xuất khẩu các thiết bị công nghiệp.
– Tác phẩm dịch: Con đường mây trắng, Đạo của vật lý, Đối diện cuộc đời, Sư tử tuyết bờm xanh.
– Tác phẩm: Đêm qua sân trước một cành mai, Lưới trời ai dệt, Mùi hương trầm, Về một bức tranh của Phật Thích Ca,Sự sống là thiêng liêng, Chân Không Diệu Hữu … v..v..

Chị Lan, Truyện ngắn Michael Bùi


Zyre3rdDrawing

Michael Bùi

Hồi còn ở trung học, chị Lan là hoa khôi trường Kiến Thiết. Với mái tóc thề, hàm răng trắng đều, sống mũi cao dưới đôi mắt sáng ngời long lanh trên một gương mặt đầy đặn, ở chị thể hiện một phụ nữ thanh tao nghiêm túc. Bởi thế mỗi lần đi học ngang qua đầu xóm ở cái khu lao động này, có đứa phải tấm tắc:

– Ê, con gái bà Năm mô tô là Thẩm Thúy Hằng 2 đó nghe tụi bay!

Trước những lời phê bình đại khái như thế, chị chỉ mỉm cười rồi bước nhanh về nhà.

Suốt những năm tháng trong trường Sư Phạm, chị quen và yêu anh Đức, hoa tiêu trực thăng Không Quân oai hùng. Rồi chị lên xe hoa, đám cưới của chị được tổ chức thật cảm động ở Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc trong phi trường Tân Sơn Nhất, mà khách khứa toàn là sỹ quan cùng phi đoàn.

Ngày mất nước, hai vợ chồng di tản qua Guam, chị khóc sướt mướt vì không kịp chạy về xóm rủ gia đình theo, nhất là không đem đi được thằng Út Trung em chị, đứa em mà chị thương nhất, Nó thua tuổi chị đến cả con giáp, đứa em mà trong khi bà Sáu mô tô đầu tắt mặt tối buôn bán phụ tùng xe mô tô ngoài chợ trời Huỳnh Thúc Kháng, thì ở nhà, chị là người chăm lo cho nó từ lúc mới sanh.

Ngược lại thằng Út Trung nó cũng đu theo chị dữ lắm, đi ị, mắc tè, đói bụng, kiến cắn, nhức răng … ôi thôi, chuyện gì nó cũng réo. Có lần nó thọc vào cái quạt bị đứt tay, máu chảy ra lênh láng, chị liền ngậm ngay ngón tay nhỏ síu của nó vào mồm chị để cầm máu; lần khác, thằng Út tinh nghịch đu theo sợi dây điện, kéo rớt, bể tan tành cái TV trắng đen 19 inch mà bà Sáu mô tô mới mua, chị Lan liều đứng ra nhận thế tội cho em, thế là chị bị quất cho một trận nhừ đòn. Đôi khi trái gió trở trời, nó lên cơn sốt rên hừ hừ, chị cũng là người canh thâu đêm ấp nó trong lòng, chỉ mong cho mấy con vi trùng cúm thổ tả này chạy qua người chị để thằng Út hết bệnh.

Tình cảm vừa là mẹ, vừa là chị, nó thiêng liêng dạt dào đến như thế, hèn gì chị không thương nhớ, không ray rứt về thằng bé đang còn kẹt lại tại quê nhà.

Qua tới Mỹ, hai vợ chồng chị bắt đầu lại từ bàn tay trắng, anh Đức may quá kiếm được cái job lái trực thăng cho một giàn khoan dầu ngoài vịnh Galveston, công việc quá đúng sở trường của ảnh, còn chị, sau một thời gian làm cashier cho một tiệm tạp hoá ở Houston, nhìn thấy cái khả năng tiềm tàng trong một con người đầy trách nhiệm, công ty cất chị lên làm quản lý, ba năm sau, bàn nhau, hai vợ chồng chị lại gom tiền mua luôn một chi nhánh của hệ thống “Stop-N-Go” này.

Thế là chỉ trong vòng 5 năm, hai người đã có một tài sản tích lũy do mồ hôi nước mắt cũng tương đối tạm. Bất cứ chuyện gì từ ở trong nhà ra đến ngoài phố, một tay chị lo hết.

Một thời gian sau họ đưa anh qua tuốt xứ Angola – Phi Châu, vài tháng mới được về phép, tuy ít gặp nhau, nhưng nhìn hai anh chị thiệt quá ư là yêu thương gắn bó chẳng bao giờ thấy họ cãi cọ!

Về phần chị, đứng trông cửa hàng cả ngày thiếu gì đàn ông ra vào tán tỉnh, ôi thôi khách vãng lai thượng vàng hạ cám, có người đem quà đem hoa tới tặng nhưng chị không nhận, kẻ dạn hơn thì tỏ tình mời đi ăn tối, chị cũng từ chối, hỏi tại sao, chị nghiêm nghị trả lời thẳng:

– Cám ơn ông tôi đã có chồng.

Riết rồi đàn ong bướm ngoài đó đâm ra kính trọng chị hết dám dở trò. Tất cả mọi chuyện như thế, tối về chị đều gọi phone kể cho anh Đức nghe, nên ảnh lại càng thương vợ thương cho cái tình chung thủy của chị, có lúc anh ôm chị vào lòng rồi hỏi:

– Em à, anh nghĩ mình cũng đâu cần nhiều tiền đâu em, hay là em ở nhà quách đi ra ngoài đó chi cho phiền toái?

Chị nhỏ nhẹ:

– Kệ họ đi anh, em muốn kiếm thật nhiều tiền để cái ngày anh về hưu, anh đưa em đi chơi khắp nơi, mình lại có dư chút đỉnh mà giúp người nghèo, vả lại em còn gia đình ở Việt Nam phải gửi tiền về mỗi tháng, anh biết mà.

Âu yếm anh Đức than:

– Biết chứ, nhưng thấy em cực anh thương quá.

Cười khúc khích chị Lan nũng nịu:

– Nhưng đêm về “chuồng”, nghe giọng anh em thấy hết mệt liền hà.

Thế là hai người lại ôm nhau ngủ vùi để lấy sức sớm mai đi cày tiếp, trong giấc mơ lang thang nắm tay nhau họ cùng xây chung nhiều mộng đẹp.

Đầu năm 1988, có tin bà Năm mô tô bị bệnh nặng, chị Lan bắt chuyến bay sớm nhất để về Việt Nam. Người đầu tiên đón chị ở phi trường là thằng Út, trời ơi bây giờ nó lớn quá, trông già dặn chứ không như ngày xưa, hai chị em ôm choàng lấy nhau, chị khóc nức nở, những kỷ niệm thời xa xưa bỗng tràn về đầy ngập, đây là thằng Út Trung nè, thằng mà chị thương nhất nè, thằng mà chị ước mong gặp lại đã bao nhiêu ngày tháng. Nó cũng khóc hu hu làm con Nhung vợ nó và hai đứa con gái cũng bù lu bù loa theo, cứ loạn cả phi trường.

Mấy ngày sau đó, nhà chị Lan vui như tết, bà Năm mô tô bệnh tình cũng thuyên giảm nhiều. Chắc thấy chị Lan về, bà con chòm xóm hết người này tới người nọ bu lại hỏi thăm, ôi tình gia đình nghĩa chòm xóm sao mà thắm thiết, chả bù như bên Mỹ, gì mà nhà ở kế bên nhau cả chục năm, gặp mặt chỉ hô lên một tiếng “hai” với lại “ba” chứ đến cái tên của nhau cũng chẳng biết.

Người nào cũng khen chị đẹp, khen chị sang, thấy ngộ, sao mà ai cũng khéo léo tốt bụng ghê. Có một điều chị hơi thắc mắc, chả là hôm nọ lúc đi chợ Bến Thành về chị thấy trong xóm không khí có vẻ khác thường, chị hỏi thằng Út:

– Chuyện gì mà tụi con nít chạy nhốn nháo vậy Út?

– Có gì đâu chị, cái con mẹ điên nó leo lên cây rớt xuống gẫy cẳng, khóc quá trời.

Chi Lan hỏi tới

– Trời ơi, tội nghiệp vậy rồi có ai lo cho bả không?

Thằng Út nhếch miệng cười:

– Thì mấy bà hôm nọ tới đây nè, khóc quá phải gọi cấp cứu chứ sao chị, nhưng lâu lắc chẳng thấy ma nào xuống.

Chị Lan mắt tròn xoe:

– Lâu là bao nhiêu lâu?

Nó kể tiếp:

– Cả tiếng đồng hồ.

Miệng chị há hốc:

– Cái gì?

– Dạ gần cả tiếng.

Vẫn chưa tin, chị hỏi tới:

– Trời ơi gần một tiếng?

Nó phân bua:

– Dạ, nhưng khi xe cấp cứu xuống thì mấy bả đuổi họ về.

– Đuổi họ về?

Nó tỉnh bơ:

– Thì mấy bả nói: Thôi mấy ông đi về đi, con mẹ điên chờ lâu quá nó lết qua phường khác rồi.

Chị trợn mắt:

– Quỷ thần ơi, phải đi kiếm bả về chứ em, ở đây sao kỳ vậy?

Thằng Út dòm chị Lan có vẻ ngạc nhiên, rồi lớn tiếng:

– Nó đã lết qua phường khác rồi thì mắc mớ gì, thôi đi chị, chuyện người ta hơi đâu mà xía vào?

Lúc đó nhìn thằng Út, chị không tin nó thốt ra những lời lẽ như vậy, người ta bị gẫy chân đau đớn như thế mà nó xúi đừng xía vào, chị lại càng không hiểu cho mấy bà hàng xóm, hoá ra người ta sợ mất mặt cho điạ phương chứ lo gì đến cái cẳng của bà điên! Thiệt tình!

Sau đó Út Trung kể, nó đang làm nghề đẩy xe ba gác mướn cho một Hợp Tác Xã bán vật liệu xây dựng trong phường, đồng lương tính ra chỉ khoảng vài chục đô la một tháng, công việc chủ yếu là đi giao gạch. Nghe nó kể chị thấy tội nghiệp, nặng như vậy rồi kéo lên cầu lỡ nó chịu không nổi mà để xe trôi xuống thì chết người, vả lại lao lực như thế có ngày chết sớm?

Tuy rằng tiền trợ cấp chị gửi về đều đều, nhưng có lẽ chẳng bao giờ đủ. Nhìn chung quanh chị thấy căn nhà của ba chị để lại sao mà tơi tả, trần nhà thì loang lổ rách nát thế kia, khỏi cần kiểm chính đâu xa ngay hôm chị về, trời đổ mưa lớn nước cống đen ngòm tràn vào đầy nhà, mang theo cả đống rác rưởi hôi thối, thế là cả đám lại phải tót lên cái phản mà hồi xưa chị Lan và thằng Út chuyên dăng mùng ngủ, đó cũng là cái nơi làm bàn ăn cho cả nhà.

Xót xa quá, chị Lan bèn bàn với thằng Út, hay là đập quách đi xây lại căn mới cho gia đình đỡ khổ. Với vẻ hân hoan, thằng Út đồng ý ngay, nó còn sốt sắng đề nghị:

– Đất đai, nhà cửa ở đây bây giờ rẻ lắm, chỉ khoảng 5-10 ngàn một căn à, hay là chị gửi tiền về mua đi chị, em bên này đứng ra lo giấy tờ cho.

Chị nói nhỏ:

– Ờ rẻ nhỉ, nhưng ảnh chắc không cho đâu em ơi.

Nó đáp nhanh:

– Làm gì không cho chị, chị nói ảnh mai mốt về đây dưỡng già, vừa có tiền vừa có nhà cho mướn sướng thấy mồ!

Chị Lan cất giọng thắc mắc:

– Mà anh chị có được đứng tên nhà đâu em?

Thằng Út tự tin:

– Thì em đứng cho, trời ơi chẳng lẽ chị không tin em hả?

Chị Lan nhỏ nhẹ nói:

– Dĩ nhiên chị tin em chứ, không tin em thì tin ai? Thôi được rồi, để chuyện này chị về bàn lại với ảnh.

Trong những ngày kế tiếp, chị Lan đi uỷ lạo khắp nơi, trại Cùi Quy Hòa, nơi Hàn Mạc Tử duỡng bịnh những ngày tháng cuối đời, trung tâm dưỡng lão Thị Nghè, trại người tàn tật, trại mồ côi các nơi.

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương”, tiền mang theo, chị dốc ra chia đều, ở ngoại quốc lâu quá có lẽ người ta quên đi những cảnh thương tâm như thế này, nhưng thôi làm việc thiện cũng tùy tâm, ai có dư, thích thì cho, lại cũng tùy quan điểm chính trị, không thích không cho cũng không sao.

Những ngày còn lại ở Việt Nam, chị Lan và thằng Út đi khắp phố phường coi đất đai cũng vui. Vì làm nghề xây dựng nên đầu làng cuối xóm, ngõ ngách nào nó cũng biết như ma xó, nhà này có gia đình sắp đi đoàn tụ muốn bán, căn kia phải giải quyết gấp, l‎ý‎ do là chủ nhà đã có hộ chiếu đi xuất ngoại vì vớ được đứa con lai, “mà chị ơi, cái miếng đất rộng mấy mẫu xéo xéo tiệm hớt tóc của ông Tư đó, mai mốt họ sẽ cắt đường xuyên lộ, tha hồ mà xây chung cư chị à”.

Trước ngày về mấy bữa, Chị Lan còn vét sạch hầu bao mua cho Út Trung một chiếc xe máy, khi chị hỏi:

– Út, em thích cái gì nhất ở đây vậy nhỏ?

Mắt sáng rỡ nó trả lời:

– Trong đời, em ước nhất chiếc xe “Giấc Mơ Một Trăm” đó chị.

Rồi chép miệng, nó nói tiếp:

– Có chiếc “ Giấc Mơ Một Trăm”, dân ở đây chỉ có lé mắt với em!

Thế là ngay hôm sau, nó đưa chị Lan ra đường Gia Long, kéo về một chiếc Honda Dream-100 màu đỏ chói mới bóc chỉ, rồ một cái, tiếng máy nổ nghe giòn tan, nó còn hớn hở:

– Chị có biết không, “một ngàn lời dụ dỗ, không bằng tiếng nổ xe “rim” đó nhé”

Chị Lan cũng mà vui lây cho cái ước mơ đơn sơ của thằng Út, cái thằng tính vẫn còn hồn nhiên phá phách y như thuở nào, chị nắm lấy bàn tay đen đúa của nó mà bật cười ngặt nghẽo.

Tránh trời không khỏi nắng, trước hôm về, chị mượn chiếc xe “Giấc Mơ” đi khắp nơi để từ biệt họ hàng, đường về đang bon bon qua góc Hồng Thập Tự chị bị một gã Công An áo vàng, tay cầm cây ba toong xấn ra giữa đường xỉa ngay mặt chị miệng thổi còi “roét -roét”. Sợ quá, chị hãm ga, đạp thắng, suýt té trước mặt gã, chị gắt:

– Có gì không ông?

Cười sặc sụa, gã đáp một cách nham nhở:

– Thấy đẹp thổi lại nói chuyện chơi!

Tống tay ga, chị ngoái đầu lại:

– Làm hết hồn à.

Xong chị phóng mất.

Về đến Mỹ, chị huyên thuyên kể đủ thứ chuyện Việt Nam cho anh Đức nghe, cái xã hội lộn ngược nghèo khổ quá tội nghiệp quá. Khi nhắc chị có ý định xây nhà lại cho má thì anh Đức đồng ý ngay, còn cái khoản đầu tư địa ốc nghe không ổn, anh Đức gạt phắt:

– Thôi đi, luật pháp ở Việt Nam bây giờ còn lỏng lẻo, vả lại tiền làm ăn cực khổ đem đi đâu xa xôi để dưới đầu giường cho chắc ăn em ơi.

Chị Lan phản pháo:

– Anh có biết người ta phất lên toàn từ địa ốc không, cơ hội như thế này khó kiếm, vả lại có thằng Út đứng tên giùm thì lo gì mình?

Sẵn trớn, chị Lan bồi thêm:

– Nên đầu tư ngay từ bây giờ, trong tương lai em cũng muốn anh xin nghỉ hưu sớm, lúc ấy đâu đã vào đó thì tha hồ mà đi làm việc thiện.

Anh Đức trầm ngâm không nói, nhưng rốt cuộc cũng chiều vợ, vài đêm sau ảnh bật đèn xanh cho chị.

Thế là từ đó, chị Lan và thằng Út lên kế hoạch mua những căn nhà mặt tiền đường đang dựng bản bán ở khu phường 10 Quận Tân Bình dọc theo hành lang đường Ni Sư Huỳnh Liên, chị cứ đi đi về về, căn nào thu vô thằng Út lo tu bổ, rồi mang đi cho thuê mặt bằng. Đã thế, đến năm 2000 vì mắc phải bệnh cao máu đứng hết nổi, chị Lan còn bán luôn cái tiệm “Stop N Go” để gom vốn đánh lớn; cứ như thế thấm thoát trong vòng 15 năm, chị đã có đến 12 căn nhà và 4 mẫu đất, toàn những góc phố chiến lược .

Cuối năm 2005, bà Năm mô tô qua đời, sau khi lo ma chay mồ mả tươm tất, quay về Mỹ, chị Lan còn mượn luôn quỹ tiền gìa của anh Đức, lấy lại vài căn đang cho thuê rồi mở thêm một Công Ty buôn bán vật liệu xây dựng, một nhà giữ trẻ, và một quán Café có chiếu bóng đá qua Vệ Tinh, tất cả đều giao cho vợ chồng thằng Út Trung/Út Nhung làm quản lý.

Đúng theo ý chị Lan, mấy năm sau, điạ ốc ở Sài Gòn đột nhiên bùng nổ, giá nhà tăng vùn vụt một cách chóng mặt, nhà mặt tiền đường ở Sài Gòn, Phú Mỹ Hưng, An Phú, Thảo Điền, The Manor vv..vv….căn hộ nào cũng hét giá mấy trăm ngàn dollars, có cái lên tới bạc triệu, mà dòm chung quanh đi, thành phố thì khói xe mù mịt nhớp nháp bẩn thỉu tả pín lù, hạ tầng cơ sở yếu sìu, cầu cống đường xá thì đào xới tùm lum, chất lượng xây dựng lại quá tồi vì bị móc ruột, nhà mới nhận cửa nẻo ra vô vài lần đã bắt đầu xệ, tường nhà sơn phết nham nhở vỏ tróc tứ tung.

Đã thế, còn cái khoản “Quyền Xử Dụng Đất” nữa chứ, mua đất mà chỉ được “quyền xử dụng” trong vòng 49 năm, thế thì đến năm thứ 50 chủ hộ hết quyền xử dụng bị tống cổ ra ngoài à, vậy mà dân Sài Gòn kéo theo Việt Kiều Hoa Kiều Ngoại Kiều, cứ ùn ùn tranh nhau mà mua, thiếu điều còn phải bốc thăm mới được phép, làm ông chủ dỏm Út Trung bỗng nhiên trở thành một đại gia giàu sụ.

Thế là đổi mới đổi đời, mới ngày nào còn là một thằng bần cố nông khố rách áo ôm nhưng bây giờ ông chủ lớn đã biết đua đòi chơi đồ hiệu. Tiền lãi từ Café Loan Phụng, Công Ty Vật Liệu Xây Dựng Mai Trang, Nhà Trẻ Sóc Nâu, và 9 cái nhà cho mướn, đầu tháng tiền phố lợi tức thu về vài trăm triệu đồng, hai vợ chồng nó phải xài tới máy đếm, ối giời ơi, chứ không bẩn cả tay mất thời giờ đi làm móng.

Ra đường xách cặp da có nhét theo máy vi tính y hệt đại gia, tay thằng Út Trung đeo đồng hồ Rado lại bồi thêm gọng kiếng hiệu Ray Ban cho ra vẻ trí thức; áo trắng com lê cà vạt thơm phức thiệt đủ bộ, còn giầy tây thì nó phải phang lốp cốp trên hè đường cho oai chứ. Cần đi đâu, nó chỉ nhấp nhấp alô trong vòng 2-3 phút thôi, bác tài sẽ đánh xế hộp tới đón đi ngay, cái dĩ vãng đau thương của thằng Út Trung đẩy xe ba gác mướn ngày xửa ngày xưa… làm ơn quên giùm đi nhé.

Có một điều lạ là tình cảm của thằng Út đối vơí chị Lan bây giờ đã thay đổi nhiều, những emails điện thoại chị gọi về cho nó, nó không thèm trả lời, lẽ ra nó phải báo cáo cho chị biết tiền lời ra vô như thế nào theo thoả thuận chứ, đâu phải tiền của nó đâu? Thế mà nó im re, emails thì bị trả ngược, phone nhắn về kiếm thì vợ nó nói, ảnh đã đi công tác rồi, “ảnh đi công tác rồi” ngẫm nghĩ tới lui, chị chỉ biết lắc đầu!

Nhưng rồi trong tâm xốn xang chị Lan cũng muốn biết đầu đuôi như thế nào, để chị còn nói anh Đức xin nghỉ việc chứ, những toan tính bao nhiêu năm nay đã nằm trong tầm tay, cây trồng đã đến ngày hái quả, anh Đức không còn phải dậy sớm đi làm. Một danh sách nhà dưỡng lão, điên, mù, cùi, mồ côi, chị có một đống ở đây đang cần bảo trợ hàng tháng, càng ngày chị càng hoang mang đi đứng không yên trong lòng cứ rối lên như phải lửa. Chị cố kiếm cách bào chữa cho cái lý do nó trốn chị, ờ….chắc công việc làm ăn đồng ra đồng vô nó đang kẹt, nên nó chưa có cơ hội báo cáo thôi mà.

Năm ngoái anh Đức đến tuổi được nghỉ hưu, vẫn không thấy tăm hơi thằng Út, chị Lan muốn lần này phải đi Việt Nam để điều tra cho ra lẽ chứ mấy năm biền biệt rồi có nhịn thì nhịn, nhưng cũng vừa phải thôi chứ.

Đáp xuống Tân Sơn Nhất đón taxi về tới nhà, có chìa khoá mở cửa vào nhà nhưng chẳng thấy ai, chị gọi di động thì nó cúp máy, nhắn thế nào đi nữa nó cũng không gọi lại. Buồn quá chị đi lang thang tới quán kem bà Tám hỏi thăm cho biết sự tình, khi thấy chị, bà Tám lên tiếng:

– Chào cô Lan

– Dạ chào bà Tám

– Cô Lan mới về hả?

– Dạ, con mới từ bển về, nhà đi vắng hết, bà có thấy Út Trung em con không bà Tám?

Bà Tám ngần ngừ:

– Kiếm tụi nó hả…..thôi tôi chia buồn cho cô, tụi nó đã bán hết ráo nhà đất của cô, nó gởi tiền đưa vợ con đi Úc trước rồi, còn nó, xấu hổ quá mà, sức mấy mà nó dám gặp mặt cô?

Bà Năm lên giọng kể tiếp:

– Lúc trước thấy nó bán nhà, có người sinh nghi gạ hỏi, nó rêu rao là tiền hùn hạp với cô nó đã trả đủ, nhưng ai mà tin tụi nó, nếu trả đủ, tại sao bao nhiêu lần cô gọi về nó trốn mất tiêu vậy? Mà ít ỏi gì cô, nó cầm có đến vài triệu tiền bên bển đó chứ! Ở cái phường này ai mà không biết nó gạt cô, nhục nhã lắm cô ơi!

Vừa nghe xong, thấy choáng váng trong đầu, chị Lan cố gượng:

-Trời ơi! em con nó làm vậy hả bà Tám?

Bà Tám bổng nhiên tru tréo, làm như đang tức giùm cho chị Lan:

– Thằng đó tui còn lạ gì, nó là thằng lưu manh tán tận lương tâm, cô cứu nó chi để bây giờ nó phản cô vậy? Mà trước khi má cô chết, bả có tâm sự với tui nè, bả nói, chắc có ngày con Lan nó cắn lưỡi tự tử vì tin thằng Út này quá, đêm nằm bả nghe hai vợ chồng nó bàn tính gì đó, mà bả không dám nói cô nghe.

Lấy thêm hơi bà Tám nói tiếp:

– Bả thấy cô tin tụi nó quá, bả sợ nói ra tụi nó thù, tại bả sống chung với tụi nó mà.

Nghe vậy, chú Phước con bà Năm từ trong phòng bước ra, chú ôn tồn nhắc:

– Tôi khuyên chị nên cẩn thận, nó tung tin ra, nó nói chính quyền địa phương ở đây nó đả mua đứt anh chị đừng lộn xộn về đây kiếm chuyện, nó xử bằng xã hội đen đó nghen, ờ….tui thấy nó có vẻ ngán ổng , vì ổng Không Quân hồi xưa phải không? Nói thiệt với chị, dân ở đây ai cũng thương chị hết hễ có chuyện gì cho tui biết tui đi làm chứng cho nghen?

Đến lúc đó chị Lan muốn té xỉu, bầu trời mây đen xám xịt như đang đổ xập, đầu chị choáng váng, nước mắt tự nhiên ứa ra, ngực chị đau nhói như có cái gì đang xuyên thấu. Chị cám ơn mọi người rồi quay đi nhưng bước chân trở nên nặng nề xiêu vẹo. Lảo đảo, chị phải ngồi bệt xuống đất ôm mặt khóc tức tưởi, một lúc lâu chị mới gượng dậy được.

Qua ngày thứ ba, chị bị Công An phường mời lên làm việc, lần này nó ra mặt trên tờ đơn tố cáo, viên thượng úy phó Công An phường hăm dọa:

– Chào bà Lan, ông Trung chủ đứng tên nhà, ổng không muốn cho bà tá túc nữa, bà phải dọn ra ngay hôm nay, ổng còn thưa bà về tội ăn cắp, ổng nói bà về đây mấy lần, lần nào gia đình ổng cũng bị mất đồ, đồng thời, chúng tôi đã chuyển hồ sơ về vụ trộm cắp tài sản của bà lên Phòng Quản Lý Người Nuớc Ngoài, có thể bà sẽ bị trục xuất.

Nhưng chị nào ngờ, mời chị lên Công An chỉ là cái cớ khinh binh của thằng Út, khi chị bị kẹt trên phường, thằng Út cho người tới nhà thay toàn bộ ổ khoá, nên khi về tới, gã đàn em đứng canh nhất định cấm cửa không cho chị vào mặc dù chị năn nỉ hết lời chỉ xin lại cái va li mà cũng không được.

Thấy hoàn cảnh tội nghiệp, bà chủ tịch phường nhảy vào can thiệp, gã đàn em đành mở cửa cho chị vào lấy lại hành lý. Nhưng hỡi ơi, khi mở va li ra, thằng Út Trung đã phỗng tay trên toàn bộ chứng từ giấy tờ cam kết mà chị đã tích lũy trên 20 năm nay, cái bộ hồ sơ sẽ chứng minh cho sự công bình cho lẽ phải cho sự thật, chính chị mới là người bỏ tiền ra mua toàn bộ đống tài sản mà thằng Út Trung đang nắm trọn trong tay ngày hôm nay.

Ngoài thủ đoạn đê hèn trắng trợn, Út Trung còn cuỗm luôn sáu ngàn đô la chị Lan đã cẩn thận nhét kỹ dưới đống quần lót. Đêm đó, vì ức quá, chị bị lên cơn “tai biến mạch máu não” phải đi cấp cứu.

Khóc hết nước mắt vì mất của thì chị đau một, nhưng mất thằng em ruột thì chị đau mười, phải chi là người dưng, đằng này nó là thằng Út Trung, thằng em cùng chung máu mủ, thằng em thân thương nhất gần gũi nhất. Hình ảnh những ngày ấu thơ của hai chị em lại lần lượt trở về trong giấc ngủ chập chờn, vậy mà nó nỡ cạn tàu ráo máng, đến những đồng tiền cuối cùng của chị, nó cũng lột sạch. Trời ơi, sao xã hội bây giờ lại sinh ra những hạng người kinh tởm, đốn mạt đến như vậy?

Nghe tin dữ, anh Đức bay về khẩn cấp, khi dìu chị ra khỏi nhà thương, ngoài phố trời đổ mưa tầm tã, phố xá đã lên đèn. Áp mặt vào ngực chồng, chị nấc lên nức nở:

– Mất hết rồi anh ơi, bây giờ em phải làm gì để chuộc lại sự lỡ lầm này

Anh Đức suy nghĩ một lúc rồi cúi xuống hôn vào tóc vợ:

– Thôi đừng tiếc nữa em, Út Trung dù sao nó cũng là thằng em ruột. Cũng vì sống trong cái xã hội đảo điên này nên nó mới ra nông nỗi vậy. Nó ăn ở mất nhân tính như thế thì cả đời nó sẽ sống trong sự nhục nhã ê chề. Có điều cướp ngang số tiền dành cho người nghèo khổ để làm của riêng thì tội đó nặng lắm, gía phải trả anh e không nhẹ đâu…..

Vuốt nước mưa trên mặt, anh nói tiếp:

– Cho dù thời gian không còn để chúng ta làm lại như xưa, nhưng em đừng lo, anh dư khả năng đưa em đi chơi bất cứ chỗ nào em thích, vì ngoài cái quỹ tiền già anh đưa em sử dụng, anh còn đến 3 cái nữa lận. Riêng chuyện làm việc thiện, em yên tâm đi, tụi mình có ít cho ít có nhiều cho nhiều em à.

Anh Đức vừa dứt lời, dòng nước mắt đã cạn bỗng nhiên tuôn ra ướt đẫm bờ mi, từng giọt trôi xuống gò má hoà với những hạt mưa rơi rồi tan vào lưỡi chị. Trong vòng tay anh Đức, nước mắt chị đang nếm không còn nóng hổi mằn mặn như mấy bữa nay nữa, mà chị cảm thấy chúng sao mát rượi ngọt lịm. Chị thầm cảm ơn anh, người bạn đời có tấm lòng vị tha, hy sinh và thương yêu chị vô vàn.

Michael Bùi

Nguyễn Du và Kinh Kim Cang, Phan Đông Bích


Phan Đông Bích

(Phan Quang Việt)

25157509565_451f171be0_z

 Nói ra là bị kẹt
Không nói cũng không xong
Vì anh đưa một nét
Đầu núi ánh dương hồng.
(Thiền Sư Chân Nguyên, Việt Nam, thế kỷ 17)


1. Sơ lược tiểu sử

Nguyễn Du, tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quán tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con thứ bảy Cụ Hoàng Giáp Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm. Thân phụ Ông thi đỗ tiến sĩ và làm quan đến chức Tể Tướng thời Lê-Trịnh. Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765) ở phường Bích Câu, thành Thăng Long (sau này là Hà Nội), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 đời nhà Lê, khi thân phụ đang làm Tể Tướng. Nguyễn Du đỗ tam trường thi Hương khi 19 tuổi, là người học rộng, tinh thông cả Phật học và sành các môn thi họa.

Thân phụ Nguyễn Nghiễm qua đời lúc Nguyễn Du mới 10 tuổi (1775) và thân mẫu của Nguyễn Du là Bà Trần Thị Tần (1740-1778, sinh quán ở tỉnh Bắc Ninh) mất sớm lúc Nguyễn Du 13 tuổi nên Nguyễn Du về sống với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn Nguyễn Du 31 tuổi, Hồng Lĩnh Hầu Nguyễn Khản, trấn thủ Sơn Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng cho thế tử Trịnh Tông) nuôi dưỡng và cho ăn học. (2) (‘Trích giảng Truyện Kiều của Nguyễn Du,’ Giáo Sư Hồ Đình Chữ, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996). Năm 1784, vì đỗ thấp, Nguyễn Du chỉ được thế chân người cha nuôi họ Hà vừa mới mất, làm một chức quan võ ở Thái Nguyên. (2) (sách đã dẫn, trang 5)

Trong suốt mười năm từ 1786-1795, Nguyễn Du lưu lạc ở quê vợ ở Thái Bình. Trong những năm 1796-1802, Nguyễn Du lui về ẩn cư ở quê nhà ở Tiên Điền, Hà Tĩnh, mặc dù sống rất nghèo nhưng an nhiên, tự tại vì Nguyễn Du đọc kinh Phật, tu học thiền để tìm đạo giải thoát. Năm Gia Long nguyên niên (1802), Nguyễn Du được triệu ra làm quan, bắt đầu là Tri Huyện Phụ Dực, Thái Bình; ít lâu sau làm Tri Phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Đông). Năm 1805, Nguyễn Du đã được phong tước là Du Đức Hầu. Sau đó Nguyễn Du cáo bệnh xin lui về quê.

Năm Gia Long thứ 5 (1806), Nguyễn Du được triệu vào kinh đô Huế giữ chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng Bình. Tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống đi Trung Hoa và tháng 4 năm Giáp Tuất (1814) ông trở về Kinh được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), Nguyễn Du sắp sửa đi sứ Trung Hoa lần nữa, nhưng bị bệnh mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, thọ 56 tuổi. Thi văn chữ Hán của Nguyễn Du để lại gồm Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, Bắc Hành Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, Lê Quí Kỷ Sự.

Về thơ Nôm, Nguyễn Du lưu lại trong kho tàng văn học Việt Nam thiên trường thi bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT), được truyền tụng trong dân gian và được liệt vào tài liệu giáo khoa dạy ở bậc trung học. ĐTTT là áng văn chương tuyệt tác, viết theo thể thơ lục bát gồm 3254 câu, dài nhất trong các tác phẩm xưa nay. Ngoài ra, bài thơ chữ Nôm ‘Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh’ là một ngâm khúc gồm có 184 câu theo thể song thất lục bát, trong đó chứa đựng tấm lòng từ bi của người Phật tử Nguyễn Du đối với cảnh khổ của muôn vạn sinh linh, cũng là một tác phẩm giá trị được nhiều học giả nghiên cứu, trích giảng.

indexttt55

2. Hai thời kỳ lưu lạc (1786 – 1795) và ẩn cư (1795 – 1802) của Nguyễn Du

Từ trước tới nay, các nhà biên khảo văn học thường bàn luận nhiều về Nguyễn Du và tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, mà ít khi nói tới hai giai đoạn quan trọng trong đời Nguyễn Du là thời kỳ sống lưu lạc ở quê vợ và việc lui về ẩn cư ở quê nhà và trong thời gian này Nguyễn Du nghiên cứu kinh điển Phật giáo, tu học thiền tông để rồi hơn mười năm sau Nguyễn Du đã chứng ngộ khi đi sứ sang Trung Hoa (1813 – 1814) (sẽ trình bày rõ thêm trong những phần sau của bài viết).

2.1 Thời kỳ lưu lạc từ 1786 – 1795

Trong suốt mười năm, Nguyễn Du lưu lạc ở quê vợ ở Thái Bình, và Ông đã viết: ‘Thập tải phong trần khứ quốc xa’ (xin tạm chuyển sang tiếng Việt: ‘Mười năm gió bụi cách xa quê’) vì hai lý do sau: (i) năm 1784,kiêu binh nổi dậy kéo đến nhà Nguyễn Khản,Ông trốn được lên Sơn Tây ‘rồi về Hà Tĩnh,nhưng dinh cơ ở Thăng Long đều bị phá sạch, (ii) người anh khác mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh, con của bà trắc thất Nguyễn ‘Thị Xuyên, chống lại Tây Sơn nên bị giết, và cũng vì vậy mà Tây Sơn phá hết dinh cơ ‘của họ Nguyễn ở Tiên Điền.

Trong bài thơ Quỳnh Hải Nguyên Tiêu có câu: ‘Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán’ (Ở Hồng Lĩnh không có nhà, anh em tan tác) cho ta thấy được lý do Nguyễn Du phải ‘về sống ở quê vợ.’ Suốt mười năm, Nguyễn Du sống ăn nhờ ở đậu, đau ốm liên miên, nghèo khổ không có ‘tiền mua thuốc, trôi nổi nay đây mai đó, túng quẫn bi thương… Trong những bài thơ Xuân Nhật Ngẫu Hứng, Tự Thán, Bất Mị, Sơn Cư Mạn Hứng, U Cư,… ta ‘bắt gặp được rất nhiều ý tình về cảnh sống xa quê hương, sầu thời thế, nghèo khổ, lưu lạc, ‘tan tác …’ (2) (sách đã dẫn, trang 2-9).

2.2 Thời kỳ ẩn cư từ 1795 – 1802

Năm 1796, Nguyễn Du định rời Hà Tĩnh để vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh nên bị tướng Nguyễn Thận của nhà Tây Sơn bắt giam. Nhưng Nguyễn Thận đã tha cho Nguyễn Du vì nể tình bạn với Nguyễn Nễ, anh của Nguyễn Du. Sau đó Nguyễn Du lui về ẩn cư ở quê nhà. Sách có ghi là Nguyễn Du theo gót La Sơn Phu Tử (9) đi ngao du sơn thủy, đi khắp cả vùng 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, dãy núi vùng Nghệ An – Hà Tĩnh, cách quê của Nguyễn Du khoảng 10 cây số. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền chép ®g trở về, lấy cảnh núi sông làm vui, tự gọi mình là Hồng Sơn Liệp Hộ (người săn bắn núi Hồng) và Nam Hải Điếu Đồ’ (người chài lưới biển Nam).

Về nhân vật lịch sử La Sơn Phu Tử, theo Trần Trọng Kim, là: ®g Nguyễn Thiệp, tự là Khải Chuyên, hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên Thành, thuộc huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La Sơn Phu Tử. Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiệp, đã mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đã đăng cực, lại mấy lần cho người đón mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường theo ý nghĩa của ông đã trình bày.’ (9) (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, Bộ Giáo Dục xuất bản, Sài Gòn 1971, trang 140-141).

2.2.1 Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy là tiên sinh đã chán ngán việc học hành,kiến thức thế gian tầm thường ‘Suốt đời thơ phú ròng vô bổ, Đầy giá sách đàn chất mãi ngu.’ trong bài thơ sau:

Mạn Hứng

Long Vĩ châu biên đa bạch âu,
Lam Giang đường thượng hữu hàn nho.
Nhất sinh từ phú tri vô ích,
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu.
Bách tuế vi nhân bì thuấn tức,
Mộ niên hành lạc tích tu du.
Ninh tri dị nhật tây lăng hạ,
Năng ẩm trùng dương nhất trích vô.
(Long Vĩ bờ bên một đám cò,
Sông Lam trên bến bác hàn nho.
Suốt đời thơ phú ròng vô bổ,
Đầy giá sách đàn chất mãi ngu.
Cuộc sống trăm năm coi mấy chốc,
Chuyện vui tuổi cả tiếc từng giờ.
Phiá tây bãi cỏ khi nằm xuống,
Chén rượu trùng dương ai tưới cho.)

(Nguyễn Vũ My và Trần Thanh Mại dịch) (2) (sách đã dẫn, trang 10-11)

2.2.2 Từ những chán ngán cái học tầm thường của thế gian, Nguyễn Du đã tìm đọc kinh điển Phật (nhất là kinh Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật) và học tu thiền nên dù sống nghèo mà lòng vẫn an nhiên tự tại để ‘Lá rơi hoa nở việc trước mắt, Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng,’ hay là ‘Đạt sĩ, cõi lòng trăng sáng tỏ, Cao nhân, trước cửa núi bao la’ như trong hai bài thơ sau:

Tạp Thi II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch,
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.
Tiếu đề tuẩn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.
(Trên giải non Hồng dưới làn nước
Nho nghèo ở đó cũng thanh nhàn
Nghìn tầm mây bạc quanh giường chiếu,
Một mảnh trăng trong giọi sách đàn.
Cười khóc theo đời qua buổi loạn,
Trầm tiềm giữ miệng dưỡng thân tàn.
Lá rơi hoa nở việc trước mắt,
Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng.)

Tạp Ngâm II

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.
(Đầu sông Long Vĩ một gian nhà,
Ở ẩn buồn teo bỗng thú a !
Đạt sĩ, cõi lòng trăng sáng tỏ,
Cao nhân, trước cửa núi bao la.
Sách chồng cạnh gối đỡ thân mệt,
Rượu nhắp bên đèn đổi sắc da.
Trong bếp suốt ngày không khói lửa,
Ngoài song no với khóm hoàng hoa.)

(Nguyễn Vũ My và Trần Thanh Mại dịch) (2) (sách đã dẫn, trang 10-11)

2.2.3 Nhờ thực hành sâu xa Trí Tuệ Bát-nhã của kinh Kim Cương, Nguyễn Du quán xét tất cả các pháp hữu vi đều không có tự tánh, vô thường sinh diệt. Vì buông xả các pháp và vọng tưởng nên Nguyễn Du cho chúng ta thấy tiên sinh đã ‘hàng phục vọng tâm và an trụ chân tâm’ của mình qua bài thơ ‘Đạo Ý’sau đây: (2) (bài thơ trong sách đã dẫn, trang 27-28)

Đạo Ý

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thủy vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả
Thử tâm chung bất dao
Túng bị nhân khiên xả
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.
(Trăng sáng giọi giếng xưa,
Nước giếng không gợn sóng.
Không ai người khuấy lên
Lòng này không xao động.
Dù ai người khuấy lên
Động qua lặng rất chóng.
Trong vắt một tấm lòng,
Giếng xưa trăng giọi bóng.)

2.2.4 Khi tâm an trụ không dính mắc 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) nên tâm như như chẳng động. Chúng ta hãy đọc bài thơ ‘Đề Tam Thanh Động’ của Nguyễn Du để hiểu rõ ‘tâm’ của thi hào Tố Như ‘thường định không rời cảnh thiền’ vì Nguyễn Du đã đọc và hiểu kinh Kim Cương nên không còn chấp vào ‘ngã tướng,’ ‘nhân tướng,’ ‘chúng sinh tướng’ và ‘thọ giả tướng’ nên quán sát tất cả các cảnh giới đều không có tướng (vô tướng) (‘Mãn cảnh giai không hà hữu tướng,’ Khắp cảnh giới đều trống rỗng thì làm gì còn sắc tướng):

Đề Tam Thanh Động

Vạn ban thủy thạch thiện đại xảo,
Nhất lạp kiền khôn khai tiểu thiên,
Mãn cảnh giai không hà hữu tướng,
Thử tâm thường định bất ly thiền.

Ngàn muôn thứ nào đá,nào nước, xếp đặt tự nhiên,nghệ thuật rất khéo,
Một hạt nhỏ trời đất mở ra một thế giới nhỏ nữa,
Khắp cảnh giới đều trống rỗng thì làm gì còn sắc tướng,
Lòng này thường định không rời cảnh thiền.

(Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang 173).

2.3 Sau này khi đi sứ sang Trung Hoa (1813 – 1814), Nguyễn Du đã viết trong bài thơ ‘Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’ và cho ta thấy Nguyễn Du đã đọc kinh Kim Cương hàng ngàn lần trong những năm Nguyễn Du ở ẩn nơi quê nhà:

‘… Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh;
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung tri: vô tự thị chân kinh.’

Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục:

‘… Tấm gương trong không phải thật có đài gương,
Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,
Ý nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không hiểu;
Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới biết rằng kinh không chữ mới thật là chân kinh.’

(4) (Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang 173)

rt4tr4tr4r3

Chúng ta ai cũng biết là kinh Kim Cương là kinh thường tụng đọc hằng ngày trong Thiền tông và những ai học và thực hành thiền đều đọc kinh này vì Đức Phật đã dạy ông Tu Bồ Đề trong kinh này:

Nếu lại có người nào đối với kinh này, lãnh thọ và hành trì được, cho chí đến bốn câu kệ, và lại đem nói cho người nghe mà làm, thì lại phúc hơn người kia. Vì cớ gì vậy? – Này ông Tu Bồ Đề, hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samyak Sambodhi, tiếng Hán chuyển âm là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề) của chư Phật, cũng đều bởi kinh này mà ra. Ông Tu Bồ Đề, cái pháp ta gọi là Phật pháp đó, tức không phải là Phật pháp.’ (3) (Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, phận thứ 8, ‘Y pháp xuất sinh’Nương theo pháp mà sinh ra, Thiều Chửu dịch và giảng giải, Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức, xuất bản năm 1984, trang 47-49).

Chúng ta có thể hiểu là Nguyễn Du học Phật và tu theo Thiền tông trong thời gian ở ẩn nơi quê nhà và Nguyễn Du cũng đọc cả ‘Pháp Bảo Đàn Kinh’ của Lục Tổ Huệ Năng khi tiên sinh đã trích dẫn hai câu trong bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng:

Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.

(Gương sáng cũng không đài
Bồ đề chẳng có thân.)

3. Vào những năm cuối của đời mình, Cụ Vũ Khắc Khoan (sinh ngày 27 tháng 2 năm 1917 tại Hà Nội và qua đời ngày 12 tháng 9 năm 1986 tại Minnesota, Hoa Kỳ) đã đọc và nghiên cứu kinh Phật do đó trong tác phẩm ‘Đọc Kinh’ Cụ Vũ Khắc Khoan đã có viết về Nguyễn Du, tác giả của tuyệt tác Đoạn Trường Tân Thanh, như sau:

Khoảng đầu thế kỷ thứ 19, nhân một chuyến đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du có dịp đến tham Phân Kinh Thạch Đài. Bấy giờ – trên 1,000 năm đã qua – đá đài Phân Kinh đã mòn. Rêu leo xanh mái, mưa cũ đọng chân tường, cỏ dại lấp lối đi, hoang vu hun hút hành lang vắng lặng. Trời ngả vào chiều. Nắng quái lung linh vách đá. Đâu rồi những vết kinh xưa. Lăng Già, Viên Giác, Bát Nhã, Kim Cương. Kim Cương… Ngã độc Kim Cương thiên biến linh.’

Tôi nghe như vầy: Một hôm tại nước Xá Vệ, Phật và 1250 vị Đại Tỳ Kheo đều ở tịnh xá Kỳ Hoàn, trong vườn của thái tử Kỳ Đà và ông trưởng giả Cấp Cô Độc. Sắp đến giờ ngọ trai, Phật và chúng tăng đều đắp y, mang bình bát vào thành Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực. Khất thực xong, Phật và chúng tăng đồng về tịnh xá để thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Phật xếp y, cất bình bát và rửa chân, rồi trải tọa cụ, ngồi yên tịnh. Khi đó, ở trong đại chúng, ông trưởng lão Tu Bồ Đề đứng dậy, vén tay áo bên hữu, gối bên hữu quỳ xuống, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: – Hy hữu thay, đức Thế Tôn! Ngài thường nhớ nghĩ và bảo hộ các vị Bồ Tát, Ngài rất hay khéo dạy bảo các vị Bồ Tát. Bạch Thế Tôn, nếu có người phát tâm Bồ Đề muốn cầu quả Phật, thì:

Làm sao hàng phục vọng tâm?
Làm sao an trụ chân tâm? …’

(Kinh Kim Cương, phận Pháp Hội Nhân Do,và phận Ngài Tu Bồ Đề (Subhuti) thỉnh cầu Phật thuyết pháp).

‘Hàng phục vọng tâm, an trụ chân tâm, hai niềm thắc mắc không riêng của ông Tu Bồ Đề, mà của toàn thể đại chúng thuở đó, của chúng ta hôm nay, của Nguyễn Du, riêng Nguyễn Du một mình.

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh 1,000 lần, hai niềm thắc mắc đó đặt ra. Và biết bao nhiêu lần nữa, khi cuốn kinh gấp lại? Đôi khi, từ những ngôn từ tường-đồng-vách-sắt dựng lên trong kinh nghe cũng có vọng ra bên ngoài, lọt vào tâm thức Nguyễn Du một chút gì – như vậy, như vậy – tạm gọi là nghĩa của kinh. Nhưng nghĩa đó chắc đâu đã là ý của người nói kinh? Ý của đức Thế Tôn năm xưa đâu phải chỉ là như vậy, như vậy?

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Lần thứ 1,000 lẻ một, không có kinh.
Chỉ có nắng chiều và đá tảng.
Nắng dợn trên đá phân kinh.
Và đá và nắng bỗng nhiên hội duyên nói pháp.

…. Thuở đó, xa rồi.
Chấm dứt.
Giờ đây nắng tắt, đá mòn.
Giờ đây chỉ còn một chút chập chờn.

Trong đêm nghe như đã bắt đầu, lời kinh âm u như vọng như chân, nghĩa kinh ẩn ẩn hiện hiện, ánh lửa chài le lói bên sông lạ, ý kinh tuyệt mù trong mộng và huyễn, là bọt nước mặt hồ trong cơn mưa ngâu, giọt sương chiều đọng lại, giọt sương mai tan đi. Vừa kịp thấy đó, chớp mắt không còn, mới nghe vang lên đã chìm vào sâu lặng, hay, rồi lại lãng đãng, nhạt nhòe, biết mà nói lên thì bất … khả thuyết. Thấy-nghe-hay-biết chỉ là chập chờn cánh con bướm trắng trên luống cải xanh. Hay chỉ là một niệm khởi lên chập chờn sương khói, Nguyễn Du đã lọt vào một khoảng mù khơi tịch mịch?

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Bài Phân Kinh Thạch Đài giữa lòng đá vắng lặng không là một thú nhận nỗi bất lực của riêng Nguyễn Du trước những trang Kim Cương. Bài ký Phân Kinh là một thú nhận nỗi bất lực của ngôn từ và văn tự con người khi muốn nắm bắt cái chập chờn 鯠chỉ’ của cõi vô ngôn đó, bất khả tư nghì. Tôi gắng nhớ lại bài thơ, lõm bõm. Dừng lại ở hai câu:

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Khá lâu. Bâng khuâng nghĩ đến niềm khắc khoải của người xưa tầm đạo. Làm sao hàng phục vọng tâm? Làm sao an trụ chân tâm?

Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa

Như gần như xa nhưng vẫn ở đó, câu trả lời vẫn ở đó, nơi vườn Kỳ Thọ. Và bây giờ, vượt khỏi ngôn từ và văn tự, giữa Kim Lăng, vọng ra từ kẽ đá phân kinh, mờ mờ ảo ảo, như gần như xa, có mà không, không nhưng có, như mộng như ảo, như bọt nổi trên mặt nước, như chớp biển ngoài khơi, như bóng hình lãng đãng trong gương, như giọt sương đêm đọng lại, như giọt sương mai tan đi trên đầu ngọn cỏ, câu trả lời vẫn ở đó, câu trả lời đến thẳng với Nguyễn Du, trong hoang vu Phân Kinh Thạch Đài.

Này Tu Bồ Dề. Hãy nghe lời đá, lời đá nói rằng:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn, bào, ảnh,
Như lộ, diệc như điển
Ưng tác như thị quán

Tất cả, cái gì gọi lên cũng chỉ là tạm gọi. Ngay cả hai chữ Kim Cương. Như lai nói Kim Cương tức không phải Kim Cương, thế mới gọi là Kim Cương.’ (1) (Đọc Kinh, Vũ Khắc Khoan, viết năm 1984, Bà Vũ Khắc Khoan tại Hoa Kỳ và An Tiêm xuất bản, 1988, trang 22 – 26). Khi Vũ Khắc Khoan viết quyển ‘Đọc Kinh’ thì Ông chỉ trích dẫn có hai câu gần cuối bài thơ ‘Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’ của Nguyễn Du.

4. Bốn câu kệ dẫn ở trên là bốn câu kệ lấy từ phận thứ 32 của Kinh Kim Cương ‘ng Hóa Phi Chân’ (ng cơ hiện thân hóa độ không phải là thật) mà Cụ Thiều Chửu đã chuyển sang tiếng Việt như sau: (3) (sách đã dẫn, trang 103-104)

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn, bào, ảnh,
Như lộ, diệc như điển
Ưng tác như thị quán
(Hết thảy pháp hữu vi
Như mộng huyễn, bọt, bóng
Như móc, cũng như chớp
Nên coi như thế này)

Cụ Uyên Như Thiền trong bài ‘Vài lời giới thiệu Kinh Kim Cương’ đã giới thiệu bốn câu cuối của bài thơ Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài của Nguyễn Du và đã viết: ‘Ai cũng biết tác giả truyện Kim Vân Kiều là Cụ Nguyễn Du, nhưng nào có ai ngờ chính Cụ là nhà Phật học thâm thuý về Đại Thừa cho nên Cụ đã có làm bài thơ như sau:

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài thị
Chung tri: vô tự thị chân kinh.

Đại ý nói rằng: Cụ đã tụng Kinh Kim Cương hơn cả nghìn lần mà chưa giác ngộ, sau đến Phẩm Thạch Đài, Cụ mới giác ngộ mà hiểu rằng Kinh thiệt là cuốn Kinh không có một chữ nào. Thảo nào thế nên Cụ đã lồng tư tưởng Phật Giáo vào truyện Kiều mà ít ai lưu ý.’ (3) (Vài lời giới thiệu Kinh Kim Cương, sách đã dẫn, trang 13). Cụ Uyên Như Thiền đã hiểu Nguyễn Du sâu sắc nhưng Cụ chỉ lầm một điểm duy nhất khi viết về ‘Phẩm Thạch Đài’ như trên vì trong Kinh Kim Cương (tất cả có 32 phận) không có phận nào tên là Phẩm Thạch Đài.

tthnn

Theo Cụ Thiều Chửu, dịch giả của quyển Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật (VAJRACCHEDIK PRAJNA PARAMITA) thì:’Kinh này nguyên không có chia ra chương mục gì cả, sau ngài Chiêu Minh Thái Tử nhà Lương chia làm 32 phận. Song, tuy chia làm 32 phận, mà nghĩa văn thì vẫn một mạch liên quán nhau, không thể cắt đứt từng đoạn được. Chia ra từng phận cho người mới học dễ nhớ mà thôi, còn người học tinh thì phải nghiên cứu cho tinh mà dung hóa cả làm một mới có thể hiểu được.’ (3) (sách đã dẫn, trang 27).

5. Cụ Hương Giang Thái Văn Kiểm trong bài khảo luận công phu ‘Lời Bạt: Đầu năm Quý Dậu 1813 Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc’ đã viết (bài này in trong ‘Trích giảng Truyện Kiều của Nguyễn Du,’ Giáo Sư Hồ Đình Chữ, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996, trang 305-329) (2):

Từ trước tới nay, các nhà biên khảo văn học thường bàn luận nhiều về Nguyễn Du và Truyện Kiều, mà ít khi nói tới một trạng thái khác trong đời Cụ là việc đi Sứ sang Trung Quốc.’ (2)

Về việc Nguyễn Du đi sứ, Gia phả chép: ‘Tháng Hai năm Quý Dậu (1813), ông được thăng hàm Cần Chính Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống, cùng với các ông Phó Sứ là Đàm Ân Hầu, Thiêm Sự bộ Lại, và Phong Đăng Hầu, Thiêm Sự bộ Lễ, đi sứ Trung Quốc. Tháng tư năm Giáp Tuất (1814) ông trở về Kinh.’ (2) (sách đã dẫn, trang 315).

Nguyễn Du về Kinh để phúc trình sứ mạng lên nhà vua, đồng thời mang về nhiều quý thư dị vật. Theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, ngoài bản phúc trình thường lệ, Nguyễn Du còn sáng tác Bắc Hành Thi TậpThuý Kiều Truyện. (Vưu trường ư thi, thiên quốc âm, Thanh sứ hoàn dĩ Bắc Hành Thi Tập cập Thuý Kiều Truyện hành thế). (2)

‘Nguyễn Du đã tìm cách viếng thăm hầu hết những danh lam thắng cảnh, di tích văn chương và lịch sử, đền đài, lăng tẩm, miếu điện liên hệ những danh nhân, anh hùng, liệt nữ, nữ lưu mà Cụ đặc biệt có nhiều cảm tình nhất, như hai Bà Nữ Anh và Nga Hoàng mà vua Nghiêu đã gả cho vua Thuấn.’ (2)

‘Trên đường châu du Trung Quốc, Nguyễn Du đã viếng thăm miếu điện, đền đài, lăng mộ của hầu hết những danh nhân kỳ nữ nước bạn, mỗi nơi đều có cảm tác một vài bài thơ diễn tả tâm tình, cảm giác, và phê phán công minh, khen chê đúng mức. Nguyễn Du đã nhắc tới Mã Viện, Hoàng Sào, hai bà vợ vua Thuấn, Dương Quý Phi, Triệu Vũ Đế, Thái Văn Cơ, Trương Thị, Vi Ưng Vật, Tam Tạng Trần Huyền Trang, Liễu Tôn Nguyên, Khuất Nguyên, Giả Nghị, Đỗ Phủ mà Tiên Điền đặc biệt hâm mộ và tôn trọng như bậc thầy.’ (2)

Cụ Hương Giang Thái Văn Kiểm trong bài khảo luận cũng đã trích dẫn nhiều bài thơ trong tác phẩm Bắc Hành Thi Tập mà Nguyễn Du đã sáng tác suốt trong thời gian đi sứ sang Trung Quốc, nhưng tiếc thay Cụ Thái Văn Kiểm đã không trích dẫn bài thơ quan trọng của Nguyễn Du khi Người đến viếng cảnh hoang tàn đổ nát của một di tích lịch sử Trung Quốc: Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài.

Nhưng Lương Chiêu Minh Thái Tử là ai? Lương Chiêu Minh Thái Tử chính là Thái Tử của vua Lương Võ Đế (Liang Wu Ti) ở Trung Hoa. Vua Lương Võ Đế đã có công xây dựng nhiều ngôi chùa Phật giáo, in nhiều kinh Phật và độ các Tăng, và cũng là vị vua Trung Hoa thỉnh mời Tổ Bồ Đề Đạt Ma (sau này là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa) về Kim Lăng để thưa hỏi Tổ về Phật pháp.

Ngoài việc Lương Chiêu Minh Thái Tử chia Kinh Kim Cương ra làm 32 phận (hay là đoạn vì kinh này trước kia không có chia ra làm chương mục), Lương Chiêu Minh Thái Tử còn cho xây dựng Phân Kinh Thạch Đài (đầu thế kỷ thứ 6 tây lịch) để làm một thư viện quốc gia về Phật học, nơi tàng trữ, thu tập tất cả kinh,luật, luận Phật giáo đương thời và là trung tâm nghiên cứu Phật học.

Cứ theo sách ghi chép thì Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) rời nước Quốc Hương, nam Thiên Trúc (Dekhan) để đi đến Việt Nam đầu tiên và có lẽ ngài ở đây một thời gian khá lâu, vì Việt Nam khi đó được coi là trung tâm giao tiếp Ấn Hoa, nơi người ta có thể tìm được những người biết cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng Thiên Trúc. Sự kiện chỉ ghi rằng: Bồ Đề Đạt Ma trước đến Việt Nam sau vượt sông qua Ngụy (nguyên văn: ‘Sơ liên tống cảnh Nam Việt, mạt hựu tỷ độ chí Ngụy,’ sách Tục Cao Tăng Truyện, chương 19, Đại Tạng Kinh, quyển 50). (6) (trích dẫn từ quyển ‘Bồ Đề Đạt Ma, Tuyệt Quán Luận,’ Vũ Thế Ngọc dịch, EastWest Institute xuất bản, Hoa Kỳ, 1983).

ggggg

Theo sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thì khi Bồ Đề Đạt Ma đến Quảng Châu, Trung Hoa, vào khoảng thập niên 470, thì thứ sử tỉnh này lấy lễ nghinh tiếp và dâng biểu về triều báo tin lên vua Lương Võ Đế. Vua sai sứ thỉnh mời Tổ Bồ Đề Đạt Ma về Kim Lăng để thưa hỏi Tổ về Phật pháp. Truyền Đăng Lục ghi lại cuộc đối đáp này như sau:

‘-Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, in kinh, độ tăng rất nhiều. Vậy có công đức gì ‘chăng?

‘Tổ Đạt Ma đáp: – Đều không có công đức.

— Tại sao không có công đức?

— Bởi vì đó chỉ là những tiểu quả của cõi người cõi trời mà thôi, là cái nhân hữu lậu như bóng theo hình, tuy có mà chẳng thật.

— Vậy thế nào mới là thiệt công đức?

— Trí hoàn toàn trong sạch. Thể phải tự nhiên trống vắng, như thế mới là Công Đức. Công Đức là nơi bổn tánh chứ chẳng phải do nơi công nghiệp thế gian (xây chùa, chép kinh…) mà cầu đổi cho được.

— Vua lại hỏi: – Chân lý tối cao của bậc thánh là gì?

— Khi tỉnh rõ thông suốt rồi thì không có gì gọi là thánh cả.

— Đối diện với trẫm là ai?

— Không biết.

Vua Lương Võ Đế không lãnh hội được, lui về nghỉ. Tổ Đạt Ma biết căn cơ không hợp, ngài lưu lại vài hôm rồi qua Giang Bắc, ngài lên núi Tung Sơn, ở chùa Thiếu Lâm trọn ngày ngồi thiền đối vách im lặng trong chín năm.’ (6) (sách đã dẫn, trang 68-70).

Tổ Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa, đã ấn chứng và truyền y bát cho Huệ Khả là vị Tổ Thiền Tông thứ hai, rồi truyền xuống ngài Tăng Xáng, vị Tổ thứ ba, ngài Đạo Tín, Tổ thứ tư, ngài Hoằng Nhẫn, Tổ thứ năm và sau cùng truyền đến Huệ Năng là Tổ thứ sáu.

6. Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, trong quyển ‘Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du’ (4) đã cho người đọc khám phá ra Nguyễn Du là một nhà học Phật, tinh thông Phật pháp qua bài thơ chữ Hán mà Nguyễn Du đã viết khi đến thăm ‘Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’ trong thời gian đi sứ sang Trung Quốc:

LƯƠNG CHIÊU MINH THÁI TỬ PHÂN KINH THẠCH ĐÀI

Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,
Thuyết pháp độ nhân hằng hà sa số.
Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh;
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung tri: vô tự thị chân kinh.

Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục:

Ta nghe nói Thế Tôn ở Linh Sơn,
Thuyết pháp độ người như cát sông Hằng.
Người ta giải được tâm này ấy là mình tự độ,
Linh Sơn chỉ ở tại lòng mình.
Tấm gương trong không phải thật có đài gương,
Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,
Ý nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không hiểu;
Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới biết rằng kinh không chữ mới thật là chân kinh.

(4) (Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang 174)

Nguyễn Du là một thiên tài về thi ca với khả năng uyên bác về văn học thế mà khi đọc Kinh Kim Cương cả ngàn lần Nguyễn Du vẫn chưa hiểu trọn vẹn nghĩa của kinh như Nguyễn Du đã viết. Xin được chuyển hai câu cuối của bài thơ sang tiếng Việt như sau:

Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh.

(Thạch Đài tìm đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời.)

Vì Nguyễn Du học Phật và nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đã nhiều năm một cách hết sức tinh tấn nhất là kinh điển Đại Thừa trong đó có Kinh Kim Cương mà Nguyễn Du đã đọc hàng ngàn lần, do đó vào năm 1813, khi Nguyễn Du đến thăm Phân Kinh Thạch Đài (xây vào khoảng thế kỷ thứ 6) và sau hơn 12 thế kỷ đã trôi qua, kinh điển nào thấy đâu? bao người tụng trì, nghiên cứu đã đi về đâu? Bây giờ ở nơi đó chỉ còn di tích hoang tàn đổ nát của Đài khiến cho Tâm Chân Như của Nguyễn Du bừng sáng để Nguyễn Du chứng ngộ Tánh Không (Sunnyatta) của Kinh Kim Cương và đã thốt lên rằng Kinh Kim Cương chẳng qua không có chữ (vô tự): ‘Chung tri: vô tự thị chân kinh’ (Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời).

Nguyễn Du đã đọc kinh điển Phật để rồi quán sát thông suốt và nhận ra rằng lời kinh Phật nói ra đều là những pháp môn phương tiện dắt dẫn chúng sinh vào Đạo; như nước dùng để rửa bụi, như thuốc dùng để chữa bệnh. Nay chứng được ‘thân không,’ ‘tâm không,’ ‘tánh không’ thì tất cả các pháp đều không, kể cả Phật pháp trong đó có Kinh Kim Cương. Bệnh khỏi thì thuốc cũng trừ, gọi là chứng ngộ ‘Pháp không.’ Đức Phật đã dạy: ‘Như Lai thường nói: Này Tỳ Kheo các ông nên biết ta nói pháp ví dụ như chiếc bè; pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp’ (‘Như Lai thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ Kheo tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.’) (10) (‘Kinh Kim Cang Giảng Giải,’ Thích Thanh Từ, đoạn thứ 6, trang 26-27, Phước Huệ Đạo Tràng, tái bản và ấn tống, Úc Đại Lợi, Phật Lịch 2531, 1987).

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh.
(Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa
Thạch Đài tìm đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời)

7. Hai câu 5 và 6 trong bài thơ trên: ” Bồ đề bản vô thụ (thọ), minh kính diệc phi đài” là hai câu kệ mà Nguyễn Du trích từ bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng (Hui neng, 638 – 713, tây lịch) khi Lục Tổ còn học ở nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (xin tạm chuyển sang tiếng Việt):

Bồ đề bản vô thọ
Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhá trần ai?
(Bồ đề chẳng có thân
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Nào chỗ vướng trần ai?)

Bài kệ nói trên do Lục Tổ Huệ Năng viết sau khi đọc bài kệ của Thượng Tọa Thần Tú là thầy Giáo Thọ và cũng là đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Thượng Tọa Thần Tú viết bài kệ như sau (xin tạm chuyển sang tiếng Việt):

Thân thị bồ đề thọ
Tâm như minh cảnh đài
Thời thời cần phất thức
Vật sử nhá trần ai
(Thân như cây bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Giờ giờ cần phủi sạch
Chớ để vướng trần ai)

(5) (Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng, Thích Minh Trực dịch (Sài Gòn 1944), Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, Phật Lịch 2531, Hoa Kỳ, 1987, trang 25, 29)

Chúng ta cũng không quên là Lục Tổ Huệ Năng đã chứng ngộ chân tánh khi Lục Tổ được nghe kinh Kim Cương:

‘Huệ Năng nầy liền hiểu ý Tổ Sư, đến canh ba vào thất. Ngũ Tổ (Hoằng Nhẫn Đại Sư) lấy áo Ca Sa đắp cho ta; chẳng cho ai thấy, rồi nói kinh Kim Cang cho ta nghe, đến câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Nên không trụ vào chỗ nào mà sanh tâm mình.’ (Để cái tâm trống không, chẳng trụ vào đâu cả) (nguyên văn chữ Hán ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,’ câu này ở phận thứ 10 ‘Trang Nghiêm Tịnh Độ,’ trang nghiêm cõi thanh tịnh, trong Kinh Kim Cương).

‘Huệ Năng nầy nghe nói rồi liền rất tỏ sáng, biết rằng cả thảy muôn pháp chẳng lìa tánh mình, mới bạch với Tổ Sư rằng:

Nào dè tánh mình vốn tự nhiên trong sạch
Nào dè tánh mình chứa đầy đủ (muôn pháp)
Nào dè tánh mình vốn không lay động
Nào dè tánh mình có thể sanh ra muôn pháp.

Nếu chẳng biết Bổn Tâm, thì học pháp vô ích. Bằng biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là Trượng phu, là Phật, Thầy cõi trời và cõi người vậy.’ (5) (sách đã dẫn, trang 32-33)

8. Thi hào Nguyễn Du Đã Đưa Triết Lý Phật Giáo Vào Đoạn Trường Tân Thanh

8.1 Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du đưa triết học và tư tưởng Phật giáo vào trong thi ca như nghiệp, thiện căn, tâm,… thí dụ như trong đoạn thơ sau:

Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần hay xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. (câu thứ 3252, ĐTTT )

Chữ tâm ở câu thứ 3252 trong ĐTTT: ‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài’ cũng là chữ ‘tâm’ mà Nguyễn Du viết ở trong bài thơ Đề Tam Thanh Động đã dẫn ở trên: “Thử tâm thường định bất ly thiền” (Lòng này thường định không rời cảnh thiền),

Hay chữ tâm trong bài Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài:

Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Người ta giải được tâm này ấy là mình tự độ,
Linh Sơn chỉ ở tại lòng mình.

Hay chữ tâm như như trong bài thơ Tạp Thi II đã dẫn ở trên: “Tứ thời tâm kính tự như như” (Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng).

Tâm mà Nguyễn Du nói đến là Tâm chân như vì ‘tâm chơn như là thể, tâm sinh diệt là tướng dụng, tâm này không hư vọng nên gọi là ‘chơn,’ không biến đổi nên gọi là ‘như.’ Thế nên trong Luận ( Đại Thừa Khởi Tín Luận * ) mỗi mỗi nói: ‘Tâm chơn như, tâm sanh diệt.’ (7) (Nguồn Thiền, nguyên tác ‘Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự ‘, Thiền Sư Tông Mật, Hoà thượng Thích Thanh Từ dịch, Phật Lịch 2512, 1969 tây lịch, Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc). Đại Thừa Khởi Tín Luận (Sraddhotpàda) của Bồ Tát Mã Minh viết vào thế kỷ thứ 1, tây lịch.

8.2 Tác giả Mai Hiền Lương trong tác phẩm ‘Tiếng Lòng của Nguyễn Du’ dầy gần 300 trang gồm 21 bài luận, đã dẫn nhiều đoạn thơ trong Đoạn Trường Tân Thanh để giải thích và chứng minh là về mặt tư tưởng Nguyễn Du đã đưa triết lý của đạo Phật vào ĐTTT. (8) (Tiếng Lòng của Nguyễn Du, Mai Hiền Lương, Nhân Duyên ấn hành 1997, Gia Nã Đại).

Một thí dụ dẫn chứng của tác giả Mai Hiền Lương: mở đầu Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT), Nguyễn Du đã đề cập đến cái KHỔ của kiếp người vì làm người là mặc nhiên chấp nhận KHỔ, và đây cũng là chân lý đầu tiên của Tứ Diệu Đế trong giáo lý nhà Phật: khổ, tập, diệt, đạo. Triết học Phật giáo được trình bày rõ ràng trong hai chữ cõi người vì Đức Phật dạy rằng chúng sinh nếu không tu hành theo đạo giải thoát sẽ tái sinh trong chu kỳ luân hồi của sáu cõi (lục đạo): trời, người, atula, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục, và trong sáu cõi này chỉ có cõi người mới có những thuận duyên để tu hành con đường giải thoát theo Phật.

Trăm năm trong cõi người ta (câu thứ 1, ĐTTT)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (2)
Trải qua một cuộc bể dâu (3)
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (4)

Hai chữ tài và mệnh đã được Nguyễn Du gán cho sự tương khắc ‘ghét nhau’ đã khiến nhiều người kết luận đơn giản và đã từng giảng dạy là Nguyễn Du chủ trương thuyết ‘tài mệnh tương đố.’ (8) (sách đã dẫn, trang 37-38).

9. Lược khảo về kinh Kim Cương BÁT NHÃ BA LA MẬT (Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità Sùtra)

9.1 Thiền Sư Thích Thanh Từ trong ‘Kinh Kim Cang Giảng Giải’ đã giảng như sau:

‘Kinh này do Đức Phật nói, nguyên văn bằng chữ Phạn (Sanskrit), sau truyền sang Trung Hoa được dịch ra chữ Hán. Những nhà phiên dịch Phạn-Hán gồm có:

Ngài Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva): ở chùa tại Trường An (chùa Thảo Đường). Vào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ tư, tức là năm 401 tây lịch, thuộc đời Dao Tần. Ngài dịch tên kinh là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Đây là bản có giá trị nhất, được gọi là định bản, vì sau khi dịch đến giờ đều được mọi người dùng để trì tụng. Bản này nằm trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.

Ngài Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruchi): đời Ngụy dịch tên kinh cũng đồng với bản trên tức là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, vào khoảng 508 dương lịch.

Ngài Ba la Mật Đa (Paramârtha) (Trung Hoa dịch Chân Đế): dịch vào đời Trần, khoảng giữa thế kỷ thứ sáu đề tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

Ngài Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta): đời Tùy, khoảng đầu thế kỷ thứ bảy, dịch tên cũng đồng là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

Ngài Huyền Trang (Hiouen-Thsang): đời Đường, khoảng giữa thế kỷ thứ bảy, dịch chung trong bộ Đại Bát Nhã, 600 quyển, gồm 16 hội, ‘Kim Cang’ là hội thứ 9, quyển 577 trong bộ Đại Bát Nhã.

Ngài Nghĩa Tịnh: đời Đường, đầu thế kỷ thứ tám, dịch tên là ‘Phật thuyết năng đoạn Bát Nhã Ba La Mật kinh.’ Ngài có đi Ấn Độ mang chữ Phạn về.

Sáu nhà dịch đồng một bàn kinh, nhưng về sau được chú ý nhất là các bản của ngài Cưu Ma La Thập, ngài Huyền Trang và ngài Nghĩa Tịnh.

Kinh Kim Cang rất được các Thiền Sư và Giảng Sư Trung Hoa chú ý sớ giải. Có cả thảy độ 10 nhà:

1. Ngài Trí Khải đời Tùy đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã kinh sớ’ gồm một quyển.

2. Ngài Kiết Tạng đời Tùy đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã sớ’ gồm 4 quyển.

3. Ngài Khuy Cơ đời Đường đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã Tân Thuật’ gồm 2 quyển.

4. Ngài Tông Mật tức ngài Khuê Phong cũng ở đời Đường, đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã cương sớ luận toát yếu’ gồm 2 quyển.

5. Ngài Trí Nghiêm cũng thuộc đời Đường, đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật kinh lược sớ ’ gồm 2 quyển.

6. Ngài Tư Cừ đời Tống đề tên là ‘Kim Cang toát yếu đại san định ký’ gồm 7 quyển.

7. Ngài Tông Lặc và Như Khôi đời Minh, đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật chú giải’ gồm 1 quyển.

8. ‘Kim Cang Chư Gia’ trích lời giảng của các Thiền Sư.

9. Gần đây có ngài Thái Hư, đề tên là ‘Kim Cang Giảng Lục.’

10. Gần đây nhất là cư sĩ Giang Vị Nông.

Về phần dịch Hán-Việt gồm có:

Hòa Thượng Trí Tịnh dịch trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.

Hòa Thượng Thiện Hoa, dịch trong bộ Phật Học Phổ Thông (tức 12 nấc thang giáo lý).

Thượng Tọa Huệ Hưng dịch quyển ‘Kim Cang Giảng Lục’ của ngài Thái Hư.

Cư sĩ Đồ Nam dịch bản của ông Giang Vị Nông.

Quyển ‘Kim Cang Chư Gia’ cũng được dịch.

rgrg

9.2 Sự Liên Hệ Giữa Kinh Kim Cang và Thiền Tông

Dĩ nhiên ai cũng biết đức Lục Tổ khi gánh củi vào khách điếm bán, thấy có người đang tụng kinh Kim Cang, đức Lục Tổ nghe, tâm liền khai ngộ mới hỏi thăm và được biết là Ngũ Tổ Huỳnh Mai dạy đồ đệ trì tụng Kim Cang, do đó Ngài tìm đến học đạo. Trong Thiền tông, lúc ngài Bồ Đề Đạt Ma truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, Ngài trao 4 quyển kinh Lăng Già (Lankàvatàra) để lấy đó làm tâm ấn. Đến đời Ngũ Tổ, thấy Kim Cang là quyển kinh tối yếu trong nhà Thiền, Ngài dạy: chẳng những Tăng Ni mà cả cư sĩ đều nên trì tụng kinh Kim Cang để an tâm. Thế nên khi Lục Tổ đến học, vào trước giờ truyền y bát, Ngài đem kinh Kim Cang ra giảng. Khi giảng đến câu ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,’ Lục Tổ hoàn toàn liễu ngộ. Như vậy Lục Tổ ngộ đạo và được truyền y bát làm Tổ cũng nhơn nơi Kim Cang. Do đó chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của kinh Kim Cang đối với Thiền Tông.

Sau này trong các chùa và các thiền viện, bộ kinh này được xem như bộ kinh nhật tụng, và kinh Kim Cang được xem như tâm ấn trong nhà Thiền. Ngái Khuê Phong cũng bảo Kim Cang là bộ kinh quí đáng để an tâm. Học kinh Kim Cang là học thẳng vào phương pháp tu Thiền.’ (10) (sách đã dẫn,trang 1-3). Trong Kinh Kim Cang Giảng Giải, Thiền sư Thích Thanh Từ đã giảng một cách hết sức đơn giản và đưa ra nhiều thí dụ để người đọc hiểu và nắm vững được ý chỉ của kinh. Đến cuối sách Ngài cũng tóm tắt như sau:

TOÁT YẾU KINH KIM CANG

1. Lấy Trí Tuệ Bát Nhã quán xét tất cả pháp hữu vi đều không có tự tánh,vô thường sinh diệt.

2. Nhờ quán xét vững chắc nên hàng phục tâm dễ dàng, đưa các vọng tưởng vào Vô Dư Niết Bàn.

3. Vì buông xả các pháp và vọng tưởng nên tâm được an trụ.

4, Tâm an trụ không dính mắc sáu trần nên Như Như bất động.

5. Muốn trụ tâm phải buông xả đừng dính sáu trần (bố thí không chấp tướng).

6. Muốn hàng phục tâm phải đưa vọng niệm vào chỗ Vô Sanh.

(2) (sách đã dẫn, trang 162).

9.3 Giáo Sư F. Max Muller đã dịch kinh Kim Cương (với phần giới thiệu viết tại đại học Oxford ngày 26 tháng Giêng 1894) trực tiếp từ chữ Phạn (Sanskrit) sang Anh ngữ với tên ‘The Vajracchedika or Diamond Cutter’ trong quyển ‘Buddhist Mahàyàna Texts,’trang 109-144, (quyển thứ 49 trong bộ sách ‘Sacred Books of the East Series’ gồm 50 quyển), do Oxford University Press in năm 1894, và nhà xuất bản Motilal Banarsidass ở Ấn Độ tái bản vào những năm 1965, 1968, 1972, 1978. Bản dịch của Giáo Sư F. Max Muller không có phần giảng giải nên đọc khó hiểu.

Ông Lu K’uan Yu (Charles Luk) đã dịch sang Anh ngữ bản Kinh Kim Cương và phần giảng giải viết bằng chữ Hán của Thiền Sư Te Ch’ing (hiệu là Han Shan, Hám Sơn) viết vào năm 1616 tại Chùa Lục Tổ Huệ Năng ở Tào Khê, đời nhà Minh, Trung Hoa.

Thiền Sư Hám Sơn đã viết phần giảng giải kinh Kim Cương sau khi Ngài đã chứng ngộ và theo Ngài kinh chỉ nên chia ra làm hai phần: phần một để phá bỏ những kiến chấp còn thô sơ của những ai học Phật, phần hai để xóa bỏ những kiến chấp vi tế hơn mà những người học Phật vẫn còn giữ lấy nhưng không nhận biết.

Bản dịch Anh ngữ của Ông Lu K’uan Yu (1959) là ‘The Diamond Cutter of Doubts,’ a Commentary on the Diamond Sùtra, Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità Sùtra, by Ch’an Master Han Shan (from the Chin Kang Chueh I) được đăng trong bộ sách ‘Ch’an and Zen Teaching’ First Series (và Second Series, Third Series) do nhà xuất bản Century Hutchinson Australia Pty Ltd., 1987, trang 147-206.

Nhận thấy những lời giảng giải của Thiền Sư Te Ch’ing (hiệu là Han Shan, ‘Silly Mountain,’ Hám Sơn, 1546-1623) hết sức lợi ích cho những ai muốn hiểu rõ thêm về kinh Kim Cương nên trong tương lai chúng tôi nguyện sẽ cố gắng chuyển bản Anh ngữ này sang Việt ngữ để trình bày cùng đồng hương Việt Nam có thêm tài liệu để tham khảo.

Duyên lành bài viết vừa xong,
Quà Xuân Kỷ Mão, tỏ lòng tri âm.

Phan Đông Bích

(Phan Quang Việt)


[Khởi đầu viết đêm 30 tháng 12, 1998, viết xong bản thảo ngày 2 tháng 2, 1999,
những ngày cuối năm trước Tết Nguyên Đán Kỷ Mão 1999,
Sydney, Úc Đại Lợi, Nam Bán Cầu].


 

TÀI LIỆU HỌC HỎI VÀ THAM KHẢO

Lục Tổ Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn Kinh, Thích Minh Trực dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, Phật Lịch 2531, Hoa Kỳ, 1987.

1. Vũ Khắc Khoan, Đọc Kinh, Bà Vũ Khắc Khoan tại Hoa Kỳ và An Tiêm xuất bản, 1988.

2. Giáo Sư Hồ Đình Chữ, Trích giảng Truyện Kiều của Nguyễn Du, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996. Sách có in bài khảo cứu, trang 305, ‘Lời Bạt: Đầu năm Quý Dậu 1813 Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc’ của Hương Giang Thái Văn Kiểm, Paris Chiêu Anh Các, Xuân Ất Hợi 1995.

3. Thiều Chửu dịch, Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức, xuất bản năm 1984.

4. Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu xuất bản, Hoa Kỳ.

5. Vũ Thế Ngọc dịch, Bồ Đề Đạt Ma Tuyệt Quán Luận, EastWest Institute, Hoa Kỳ, 1983.

6. Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch, Nguồn Thiền, nguyên tác ‘Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự ‘, Thiền Sư Tông Mật, Phật Lịch 2512 (1969), Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc.

7. Mai Hiền Lương, Tiếng Lòng của Nguyễn Du, Nhân Duyên ấn hành 1997, Gia Nã Đại.

8. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (quyển 2), Bộ Giáo Dục xuất bản, Sài Gòn 1971, trang 140-141.

9. Thiền Sư Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang Giảng Giải, Phước Huệ Đạo Tràng, tái bản và ấn tống, Úc Đại Lợi, Phật Lịch 2531, 1987.

Phụ chú

Nhà cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu cũng đã từng đọc kinh Kim Cương: Nhà cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu cũng đã từng đọc và nghiên cứu kinh Kim Cương vì Cụ Phan Bội Châu khi viết bộ sách Chu Dịch, Cụ đã viết về quẻ Phong Địa Quán như sau:

‘Quán, quán nhi bất tiến, hữu phu, ngung nhược, hạ quan nhi hóa dã.

‘Theo như Soán từ, thời chỉ dùng một cách chí thành, nghiêm kính, khiến cho kẻ dưới dòm ‘mình mà cảm hóa vậy. ‘Phụ Chú – Ý nghĩa Soán từ đây, tượng như câu: thần võ nhi bất sát. Nghĩa là: dùng uy võ ‘bằng một cách thần diệu, mà không cần phải giết người. ‘Tòng lai, việc võ tất có giết người, võ mà không giết người mới là thần võ. Tế tất có tiến, tế ‘không dùng đồ tiến, mới là ý nghĩa thờ thần rất hay.

‘Kinh Phật có câu: ‘Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất ‘đắc kiến Như Lai.’ Nghĩa là: Phật lý chỉ ở bản tâm, vô thanh vô sắc, nếu ai lấy thanh âm ‘mà ‘cầu ta ở thanh âm, lấy hình sắc mà cầu ta ở hình sắc, người ấy rặt là làm đạo tà, không được ‘thấy Đức Phật Như Lai. ‘Câu kinh ấy ý tứ cũng như lời Soán đây. Lấy mâm cỗ mà cầu thần, có khác gì lấy thanh sắc ‘mà cầu Phật.’ (Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch, quyển thượng kinh, quẻ Phong Địa Quán, trang 414, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969).

Bốn câu kệ mà Cụ Phan Bội Châu trích dẫn ở trên lấy từ kinh Kim Cương, đoạn 26,

‘Pháp Thân phi tướng,’ Pháp thân chẳng phải là tướng. (10) (sách đã dẫn, trang 134).

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai
(Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai.)

Tưởng Nhớ Nhà Thơ Tạ Ký, Phong Châu


NhaThoTaKy03252013   TaKyMoPhan03252013

Phong Châu

Sài gòn năm giờ chiều. Sau cơn mưa lớn trời dịu hẳn lại. Những tàn lá xanh của hàng cây sao được giũ lớp bụi lại càng xanh hơn làm cho không khí ban chiều trở nên dễ chịu. Tôi đang cặm cụi vá ruột xe đạp cho một khách quen thì nghe có tiếng xầm xì ở phía sau lưng. Quay lại nhìn lên thì thấy Tôn Thất Trung Nghĩa với cái miệng mom móm và nụ cười dễ thương đang nhìn xuống tôi. Thoáng thấy đôi mắt của Tôn Thất Trung Nghĩa nhìn tôi hơi là lạ như muốn nói với tôi điều gì đó. Đứng bên cạnh Tôn Thất Trung Nghĩa là một người, không phải là một ông già nhưng tóc đã bạc trắng, người nhỏ thó, khuôn mặt hơi xương có đôi mắt sáng nhưng lộ vẻ lo âu. Tôn Thất Trung Nghĩa không nói gì, ra dấu cho tôi tiếp tục công việc.Tôi nhìn người đàn ông khẻ gật đầu chào. Tôn Thất Trung Nghĩa kéo thùng đạn garant đựng đồ nghề của tôi vào sát bức tường loang lổ và ngồi xuống. Người đàn ông đứng dựa lưng vào tường. Tôn Thất Trung Nghĩa móc trong túi vải màu xanh gói thuốc rê ra vấn bằng mẩu giấy báo. Nghĩa một điếu, người đàn ông một điếu. Họ nói chuyện gì đó nho nhỏ với nhau tôi không nghe được.

Khoảng mười phút sau tôi vá xong ruột xe, lắp vào và bơm. Tôi bỏ đồng bạc giấy vào túi, nhặt miếng giẻ dính dầu mỡ lâu ngày lau vội hai bàn tay bẩn rồi đi đến trước mặt Tôn Thất Trung Nghiã và người đàn ông.Tôn Thất Trung Nghĩa cười, vẫn cái miệng mom móm và nụ cười dễ thương quay nhìn người đàn ông đứng bên cạnh và nói: “đây là Châu, như tôi đã nói với anh, một đứa em rất dễ mến, đang lao động theo kiểu xã hội chủ nghĩa để kiếm cơm…”. Lối nói của Tôn Thất Trung Nghĩa lúc nào cũng pha chút giễu đùa. Tôn Thất Trung Nghĩa chỉ nói vậy thôi. Người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt thông cảm và hình như có chút gì thương hại. Không biết thương hại cho tôi hay thương hại cho anh, cho Tôn Thất Trung Nghĩa và cho cả bao nhiêu bè bạn đang ngơ ngác lang thang khắp các vỉa hè Sàigòn. Người đàn ông bắt tay tôi siết mạnh và giữ một hồi lâu. Tôn Thất Trung Nghĩa đứng lên nhìn tôi nói tiếp: “Và đây là Tạ Ký, bạn của tao vừa đi tù ra”. Người đàn ông mà Tôn Thất Trung Nghĩa vừa giới thiệu là Tạ Ký không nói gì cả, cũng không thấy cười nhưng sao tôi cảm giác rằng anh đã nói và nói nhiều trong cái bắt tay siết mạnh vừa rồi. Tôn Thất Trung Nghĩa lại móc trong túi xách gói thuốc rê vấn hai điếu, đưa cho Tạ Ký một điếu và tôi một điếu. Tôn Thất Trung Nghĩa vấn thêm một điếu nữa cho mình. Tôi lấy bật lửa châm thuốc lần lượt cho cả ba. Tôi cũng không biết phải nói gì trước người đàn ông có tên Tạ Ký vừa mới quen. Nhưng ký ức của tôi hình như cũng bắt đầu làm việc với cái tên nghe quen quen này. Sau khi hít vài hơi cho khói vào tận phổi, Tôn Thất Trung Nghĩa vỗ vai tôi nói: “Tao đưa Tạ Ký đến thăm mày một chút, bây giờ hai đứa tao phải đi thăm mấy thằng bạn nữa, chiều mai hai đứa tao sẽ đến đây và tụi mình sẽ đi làm một xị…”. Nói xong Tôn Thất Trung Nghĩa dắt xe đạp xuống lòng đường. Tôn Thất Trung Nghĩa với thân hình to lớn, ngồi trên chiếc xe đạp ọp ẹp thấy mà tội cho cả xe lẫn người. Tạ Ký ngồi đằng sau dáng nhỏ thó, co rúm như con ếch khô. Đôi mắt anh hình như còn quá xa lạ với thành phố Sàigòn sau mấy năm trong trại tù cộng sản. Một cơn gió nhẹ thoảng qua, vài chiếc lá xoay xoay trong khoảng không rồi rơi nằm trên mặt đường. Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký đi rồi tôi thấy buồn buồn nên thu dọn đồ đạc, buộc thùng đạn garant đựng đồ nghề sau xe và đạp về nhà. Trời cũng vừa sụp tối.

Tôi biết về Tạ Ký rất ít qua một số bài thơ của anh đăng trên báo dạo trước ở Sàigòn. Tôn Thất Trung Nghĩa sau đó có kể nhiều lần cho tôi nghe về Tạ Ký. Sau này mỗi khi có cơ hội chỉ một mình anh và tôi, Tạ Ký kể chuyện về đời anh cho tôi nghe. Không biết nhận ra điều gì nơi tôi khiến Tạ Ký gửi gấm cho tôi một ít tâm sự về đời anh trong khi tôi là người bạn nhỏ tuổi nhất trong số các bạn bè của anh. Hơn nữa, tôi lại là người mới được quen anh sau này. Đã từ lâu Tôn Thât Trung Nghĩa và Tạ Ký là đôi bạn tri kỷ. Hai người lúc nào cũng bên nhau như hình với bóng. Hai người đều là giáo sư của nhiều trường trung học tại Sàigòn. Tôn Thất Trung Nghĩa dạy môn vạn vật còn anh Tạ Ký dạy văn chương.Tạ Ký cũng là một sĩ quan quân đội, có dạo anh lên dạy tại trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt, lúc đó anh cũng có dạy thêm ở một vài trường tư thục trong đó có trường Việt Anh của giáo sư Lê Phỉ và vợ của Tạ Ký là học sinh của trường này. Tôn Thất Trung Nghĩa sau dạy tại trường Sư Phạm Sàigòn cho đến khi đi du học ở Ý và trở về trình luận án tiến sĩ luật và được dạy tại đại học luật khoa Sàigòn về môn toán kinh tế. Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký là đôi bạn chơi thân với nhau vì cả hai có tính nghệ sĩ ngông nghênh bất cần đời mà nhiều bạn bè biết đến. Nơi hẹn hò thường xuyên của hai người là một cái quán nhỏ nằm trong một góc bên trong chợ Đũi. Chợ Đũi nằm ngay ngả tư Trần Quý Cáp và Lê Văn Duyệt, nơi đoạn đường có hai hàng me xanh quanh năm. Chính nơi quán nhậu bình dân này, Tôn Thất Trung Nghĩa là nguồn cảm hứng cho Tạ Ký trong một số bài thơ được in trong tập “Sầu Ở Lại”. Trước 1975, đối với tôi, cái tên Tạ Ký chẳng có gì là đặc biệt so với tên của các nhà thơ như Bùi Giáng hay Nguyễn Đức Sơn là những nhà thơ có nhiều nét riêng hết sức đặc biệt mà giới văn học Miền Nam Việt Nam thường nhắc tới như những nhà thơ “điên điên”. Anh sống giữa thủ đô Sàigòn, dạy học, làm thơ, nhậu nhẹt với bạn bè, thích cá độ đua ngựa và vô số nữ sinh mê anh qua những bài thơ anh đọc trong lớp cho họ nghe. Bạn bè của anh cũng thích thơ của anh. Trong tập thơ “Sầu Ở Lại”, nhiều bài thơ anh ghi tặng bạn bè, ngoài tên Tôn Thất Trung Nghĩa có những tên rất quen như Phạm Công Thiện, Thế Viên, Huy Trâm, Bùi Giáng, Trương Đình Ngữ, Hoài Khanh, Nguyễn Liệu, Lê Khắc Lý, Cao Thế Dung…Trong một bài thơ bốn câu với tựa đề “Trung Thất Trung Nghĩa”, Tạ Ký viết:

Từng đêm chợ Đũi đẫm sầu

Ly la ve đổ gội đầu tóc xanh

Người sơn dã lạc kinh thành

Ngả nghiêng đáy cốc độc hành trong đêm

Tạ Ký ví Tôn Thất Trung Nghĩa như Người Sơn Dã” thật không sai! Cũng trong “Sầu Ở Lại”, Tạ Ký đề tặng và ghi nhận hình ảnh của Tôn Thất Trung Nghĩa trong thơ của mình nhiều hơn bất cứ một người bạn nào khác. Tôi nhiều lần nghe anh đọc thơ, những bài thơ tình, những bài thơ nói về thực trạng xã hội mà anh đang sống, những bài thơ nhắc lại thời kỳ son trẻ, thời kỳ anh chưa nhận chân ra những thực tế phũ phàng khi đa số thanh niên đi theo kháng chiến để rồi mộng vỡ tan tành. Anh nói anh “bị mắc lừa” từ những năm anh mười tám đôi mươi. “Sầu Ở Lại” được giới thiệu    với bạn bè vào cuối thập niên sáu mươi và do bạn bè  “xúi”, “Sầu Ở Lại” được gửi dự thi giải văn học toàn quốc và đã nhận được giải nhất vào đầu thập niên bảy mươi. Theo lời kể của Tôn Thất Trung Nghĩa thì sau khi nhận được một số tiền thưởng từ giải văn học, Tạ Ký ới bạn bè đến chợ Đũi đãi anh em liền mấy chầu và số tiền còn lại đủ để trả nợ vòng vòng các quán nhậu mà anh đã có sổ ghi. Những lần ăn độ đua ngựa, anh nhét tiền đầy trong áo sơ mi, leo lên xích lô về chợ Đũi rồi ới bạn bè đến nhậu suốt đêm và đọc thơ cho bạn bè nghe.

Như đã nói ở trên, Tạ Ký là một nhà giáo nhưng anh không có mấy cái dáng dấp của nhà mô phạm. Với bản chất là một nghệ sĩ, một người ưa phiêu bạc, anh có rất nhiều bạn bè, yêu mê đến cuồng nhiệt cái “chân thiện mỹ” mà anh nói là “khó có được” lẫn những cái “xấu” đáng yêu mà anh bắt gặp rất nhiều. Anh có ký tặng tôi cuốn “Sầu Ở Lại” được in trên giấy hoa tiên. Tôi đọc đi đọc lại nhiều bài trong “Sầu Ở Lại” và thấy anh đã đánh mất một thời hoa niên vì theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc lên đường cứu nước, bỏ lại làng quê thân yêu “đất cày lên sỏi đá”. Đến khi bừng tỉnh thì thấy “mình” và “thế hệ của mình” bị lừa gạt quá nhiều. Anh thấy được bộ mặt lừa dối và thô bỉ của cộng sản nên ân hận và tìm cách cứu mình…Anh đã cùng với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và vài người nữa vượt tuyến, băng qua sông Thu Bồn để về vùng Quốc Gia năm 1952…

Mười tám tuổi, vải thô thay nhung lụa           

                                    Giày vỏ xe hơi mòn gót liên khu…

Để rồi:

…Khi ba mươi biết được chuyện xưa lầm        

                                    Thì đau khổ đã hằn trên trán nhỏ…

Cha mẹ và bà con của anh sống những năm dài dưới gót “dép râu” tại liên khu 5 trong vùng việt minh kiểm soát. Anh kể cho tôi nghe cơn lụt năm 1964 đã cuốn phăng nhà cửa và người mẹ của anh ra lòng biển cả, lúc đó anh đang ở Sài Gòn. Nhắc đến chuyện này anh ân hận vì không có mặt tại quê nhà để có thể cứu mẹ. Vợ của Tạ Ký hình như là một người có nhan sắc (tôi có thấy một lần trong nhà anh nhưng không thấy rõ mặt lúc tôi đưa anh về nhà sau khi bị công an phường bắt) và là học trò của anh lúc anh dạy ở trường Việt Anh – Đà Lạt của giáo sư Lê Phỉ. Sau tôi có hỏi giáo sư Lê Phỉ thì giáo sư cũng cho biết đúng như vậy. Có một điều đặc biệt là không bao giờ nghe anh nhắc đến vợ con trong lúc tâm sự với tôi. Tôn Thất Trung Nghĩa là người cho tôi biết vợ của Tạ Ký đã không còn yêu thương anh nữa sau khi anh đi tù về. Nhiều lần anh tâm sự sau khi đã uống ngà ngà và mặt đỏ gay, anh tỏ ý không vui về tính nết của vợ – và ngay cả lòng chung thủy, nhất là khi anh đang còn trong trại tù của cộng sản. Ở tù ra, anh vẫn trở về căn nhà cũ nhưng anh không còn điểm tựa. Anh trở thành một bóng mờ trong gia đình. Sáng sớm anh rời nhà ra đi mà chẳng biết đi đâu và làm gì. Anh chỉ biết tìm đến với bạn bè và theo họ lang thang khắp nơi trong thành phố. Sống trong thời kỳ hết sức ngột ngạt thì hầu như người đàn ông nào thuộc “chế độ cũ” cũng rời nhà vào mỗi buổi sáng để tránh những cặp mặt dòm ngó của công an và ngay cả với những người trong khu phố, trong phường. Bạn bè kéo đi đâu anh đi đó, từ các quán cà phê “vớ” trên các vỉa hè đến các quán nhậu rẻ tiền. Anh không biết đi xe đạp. Có tiền thì đi xích lô, không có tiền thì cuốc bộ. Nhà anh ở trong con hẻm đường Bùi Chu, góc Hồng Thập Tự. Sau khi đã biết tôi một thời gian ngắn, thỉnh thoảng một mình anh ghé đến “chỗ làm việc” của tôi trước cổng trường văn khoa cũ. Hai anh em nhâm nhi ly cà phê và hút vài điếu thuốc lá lẻ. Sau đó anh lại đi nơi khác, chẳng biết đi đâu. Cũng có nhiều lúc, anh ngồi chơi với tôi một lát thì Tôn Thất Trung Nghĩa đạp chiếc xe đạp cọc cạch tới. Thường thì Tạ Ký và Tôn Thất Trung Nghĩa ghé tôi vào buổi chiều mà hai anh nghĩ là tôi đã rảnh việc để kéo nhau đi làm một xị. Chúng tôi hay đến quán bà Năm Lửa ở đường Cao Thắng nằm sát đường xe lửa. Một hai xị, một hai dĩa nghêu ốc luộc, lúc nào có tiền thì thêm một con khô mực hay một con cua luộc nhỏ. Thế thôi. Tại đây tôi cũng được nghe về một thời vàng son của hai anh. Tôi là người chịu nghe chuyện nên Tạ Ký cứ mỗi lần cần tâm sự lại tìm đến tôi. Anh thủ thỉ với tôi những chuyện có thể tâm sự được. Biết hoàn cảnh của anh sau khi đi tù về, tôi có đề cập đến vấn đề vượt biên thì anh buồn bã nói…Đâu có tiền mà vượt biênBạn bè ai cũng thương anh nhưng không ai có thể đèo bòng cái chuyện nguy hiểm và tốn kém đó. Anh cũng biết như thế nên nói với bạn bè…ai đi được cứ đi, đừng thắc mắc gì về Tạ Ký này cả…

Tôi nhớ mãi một buổi sáng khoảng chín mười giờ anh đến chỗ tôi sửa xe đạp. Lúc này cũng là giờ cao điểm mà công an phường Dakao đi dẹp lòng lề đường tức là xua đuổi bắt bớ những người buôn bán hoặc làm những nghề “linh tinh” như nghề sửa xe đạp, sửa giày dép, bán vé số, bán cà phê… Khi thấy hai công an đang nhắm vào để “hốt” mớ đồ nghề của tôi thì anh đã nhanh tay chộp được cái ống bơm rồi chạy biến đi nơi khác. Tôi thấy anh chạy về phía đường Hiền Vương rồi mất dạng. Công an liệng thùng garant đựng đồ nghề của tôi lên chiếc xe tải nhỏ cùng với những bàn vé số, bàn ghế ly tách…của mấy quán cà phê lề đường. Mấy chị bán hàng chạy theo kỳ kèo vừa xin xỏ vừa chửi bới om xòm. Tôi nản quá bèn thu quén mấy món đồ còn sót lại rồi nhảy lên xe đạp chạy thẳng về hướng Thị Nghè. Đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm tôi vòng lại khu Tân Định rồi ra Hai Bà Trưng, quanh lại nhà thờ Đức Bà và cố tìm nhưng chẳng thấy Tạ Ký đâu cả. Tôi không về nhà mà đạp thẳng qua nhà Tôn Thất Trung Nghĩa ở đường Hồ Biểu Chánh, Phú Nhuận, lúc đó Tôn Thất Trung Nghĩa sắp ra chỗ tôi sửa xe vì đã có hẹn với Tạ Ký. Tôi kể chuyện bị công an đuổi và Tạ Ký xách ống bơm chạy không biết giờ này đang ở đâu. Vừa kể xong câu chuyện thì thấy Tạ Ký đang ngồi chễm chệ trên xe xích lô tiến vô phía cổng nhà Tôn Thất Trung Nghĩa với vẻ mặt hớn hở như vừa lập được một chiến công. Tôi giã từ nghề sửa xe đạp từ đó…

Có một buổi tối chúng tôi hẹn găp nhau ở nhà của bạn tôi là anh Thái Văn Tùng ở đường Đoàn Thị Điểm gần vườn Tao Đàn, anh Tùng là con của hoạ sĩ Thái Văn Ngôn nổi tiếng về vẻ cá vàng trên tranh sơn mài Thành Lễ ở Bình Dương. Khi cộng sản chiếm hết cơ sở Thành Lễ, ông về quê ở Vũng Tàu làm rẩy và vài năm sau ông mất. Ngoài tôi, Tôn Thất Trung Nghĩa, Tạ Ký còn có anh Nguyễn Văn Đức (cựu hiệu trưởng trường Pétrus Ký), anh Phan Ngọc Răng (GS dạy vạn vật) và vài người bạn của Tùng để nghe Tạ Ký đọc một số bài thơ của anh viết trong tù. Theo anh thì lúc đang ở tù, anh đã làm được vài chục bài thơ mà đa số anh nhớ trong đầu để khi ra tù mới ghi lại xuống giấy, một số ghi trên giấy gửi bạn cùng tù và nhờ họ ráng học thuộc mỗi người một hai bài để sau khi ra trại ghi lại rồi đưa cho anh. Mỗi lần bọn quản giáo xét trại là mỗi lần mọi người đều lên ruột. Rất may là chưa bao giờ chúng bắt gặp một bài thơ nào của anh. Một lần có lệnh chuyển trại, mọi người được lệnh phải mang hết đồ đạc ra ngoài, chúng vào lục soát bên trong lán trại, sau đó chúng lùa tù vào lán trại mà không mang theo đồ đạc, chúng lục soát đồ đạc của từng người, không tìm ra được gì chúng mới ra lệnh cho tù mang đồ đạc vào trại. Đó là một lệnh chuyển trại giả để khám xét vì chúng nghe phong thanh Tạ Ký có làm thơ. Tạ Ký có một quy ước với các bạn (chỉ vài người) là khi nào có lệnh khám xét hay những hành động khác thường của bọn quản giáo thì các bài thơ phải được tiêu huỷ ngay bằng cách nuốt vô bụng chứ không xé bỏ vì sợ dấu tích rơi rớt khiến chúng phát giác ra được. Thái Văn Tùng đãi một bữa ăn ngon có rượu ngoại và thuốc lá Pall Mall. Sau đó Tạ Ký đọc thơ. Những bài thơ viết bằng ngôn ngữ giản dị nhưng mang nhiều hình ảnh và âm thanh làm xúc động mọi người có mặt tối hôm đó. Nghe thơ anh, thấy cả một trời đau thương tan tác đọa đày đến xé ruột. Những hình ảnh trong thơ đâm toạc vào tim người nghe, đau thương ướt đẫm lai láng. Chúng tôi, không ai cầm được nước mắt  theo lời thơ của anh. Giọng anh lúc uất nghẹn lúc trầm buồn lúc cay đắng tuyệt vọng. Hai bài thơ gây xúc động mạnh cho anh em là bài “Thăm Chồng”“Chuỗi Hạt Huyền”. Bài thứ nhất nói về một người vợ dắt con đi thăm chồng, đứa con nhìn thấy cha nó nên nó chạy xổ đến, ngờ đâu người cha đứng phía sau hàng rào kẽm gai, mặt đứa bé đâm vào kẽm gai chảy bê bết máu. Lần sau đến thăm chồng, người vợ đi một mình, đứa bé đã chết vì vi trùng uốn ván! Bài thứ nhì với nội dung…ngày xưa anh tặng cho người yêu chuỗi hạt huyền trong ngày cưới, chuỗi hạt huyền lóng lánh kiêu sa…bây giờ trong trại tù anh thấy vô số những chuỗi hạt huyền, mỗi ngày anh đều thấy rất nhiều và nhiều vô kể khi anh bó gối ngồi ngắm để rồi nhớ người yêu xưa…Những chuỗi hạt huyền đó là những đàn ruồi xanh có thân hình no tròn long lánh với đôi cánh óng ánh dưới ánh mặt trời đậu hàng hàng lớp lớp trên những hàng rào giây thép gai quanh những hố tiêu…những lần nghe tiếng động, chúng bay lên và phát ra những âm thanh nghe đến rợn người… “Ruồi từ hố tiêu bay lên. Tiếng ruồi lao xao như sóng gợn. Mắt ruồi nâu làm nhớ tóc tây phương. Ruồi đậu trên giây thép gai như chuỗi hạt huyền

Anh không chép những bài thơ viết trong tù cho bạn bè. Nhưng, người con gái nuôi của anh tên Bảy là người cất giữ những bài thơ đó và vài chục tập “Sầu Ở Lại”mà anh còn giữ được sau những đợt truy quét các sản phẩm văn hóa Miền Nam Việt Nam. Anh đưa Bảy đến gặp tôi nhiều lần và tôi biết chắc chắn cô Bảy là người mà anh tin và giao phó cho cô nhiều thứ kể cả việc cô Bảy sẽ liên lạc với tôi khi có những sự bất trắc xảy ra cho anh (điều này như là một điềm báo). Tôi cũng linh cảm rằng, ngoài cô Bảy, tôi là người anh có thể tin tưởng được, lý do là nhiều lần tâm sự hay có những chuyện cần bàn bạc, anh chỉ gặp tôi chứ không không gặp Tôn Thất Trung Nghĩa. Sau những lần chuyện trò hết sức riêng tư, anh dặn tôi là đừng nói cho Tôn Thất Trung Nghĩa nghe. Tôi có thể giải thích được điều đó: Sở dĩ anh tin tôi là vì lập trường chính trị mặc dù tôi chỉ là loại đàn em và chỉ mới quen anh trong một thời gian rất ngắn. Khi bàn đến tình hình chính trị trong nước, nhất là khi đề cập đến chủ nghĩa cộng sản, anh và tôi có nhiều ý tưởng trùng hợp trên mặt nhận định, quan điểm và lập trường.

Bỏ nghề sửa xe tôi chuyển sang nghề bán sách cũ, bán chui ngoài vỉa hè Lê Lợi. Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký vẫn thường ghé tìm tôi cà phê cà pháo vào buổi sáng và “làm một vài xị” vào buổi chiều. Tạ Ký nói năng rất điềm đạm những lúc uống cà phê nhưng đến lúc nhậu lại là một Tạ Ký khác. Nhiều lúc anh trở nên nóng nảy bất ngờ bạn bè không ai cản ngăn được. Nhiều lần uống rượu với anh em, anh nổi cơn chửi cộng sản khiến anh em xanh mặt. Có một buổi chiều chúng tôi đến một quán nhậu nằm trên đường Bàn Cờ thuộc phường 4 quận 3. Hôm ấy cũng có anh Nguyễn Văn Đức, Phan Ngọc Răng và một người mà tôi gặp lại rất tình cờ, đó là giáo sư Trương Toàn, dạy triết mà tôi là học trò của anh tại Đà Lạt hồi đầu thập niên 60. Thông thường khi gặp nhau như thế, anh em trao đổi cho nhau những tin tức nghe được từ các đài phát thanh BBC và VOA, những tin tức về vượt biên cùng những tin cộng sản đàn áp bắt bớ, đưa ra toà, xử tử…Tạ Ký uống được vài ly là mặt anh đỏ gay và nổi cơn chửi cọng sản (khi uống rượu vào là chửi cọng sản đã trở thành một cái tật của nhiều người, kể cả tôi). Ai cũng khuyên anh đừng chửi, vì đâu đâu cũng có công an. Tôi ngồi đối diện với anh, nhìn anh thông cảm như muốn chia sẻ cùng anh, tôi ôn tồn nói với anh: “Ở đây công an nhiều lắm không nên đụng tới chúng”. Tôi vừa dứt câu thì Tạ Ký đứng bật lên và tay vơ lấy xị đựng rượu. Anh nhìn thẳng vào tôi với ánh mắt rực lửa rồi hét lên “Tao không sợ thằng nào cả…” đồng thời đập ngay xị rượu vào đầu tôi (tưởng đầu tôi là đầu việt cộng chắc!).

Mọi người đều bàng hoàng sửng sốt trước phản ứng quá nhanh của Tạ Ký. Trong nháy mắt, tôi thấy có hai thanh niên mặc sơ mi trắng bỏ ngoài từ bên kia đường phóng qua giữ chặt hai tay Tạ Ký rồi quặt ra phía sau. Có lẽ khi đó anh nhận thấy tình huống quá nguy hiểm nên nhìn vào tôi phán thêm một câu: “Mày kêu công an bắt tao đi, tao cứ uống, tao không về…”. Giọng anh lè nhè, mắt sụp xuống, tay xụi lơ và thân mình như muốn ngả giữa hai tên công an. Đến nước này thì phải một ăn một thua. Trong đám tôi là người nhỏ nhất, tôi lại là “nạn nhân” của Tạ Ký. Tôi cảm thấy đầu tôi hơi ê ê nên đưa tay sờ lên chỗ bị ê. Tôi cảm thấy ướt nơi tay. Tay tôi dính đầy máu. Thật đáng mừng! Tôi vội chìa “bàn tay máu” ra trước mặt hai tên công an phân bua: “ Cha này là anh của tôi, chả làm thợ mộc, làm được bao nhiêu là nhậu hét bấy nhiêu, say sưa tùm lum, ông già thấy chiều không về bảo tôi đi tìm, đến đây thấy chả nhậu, kêu về không chịu về, tôi đòi kêu công an còng đầu chả, chả đập tôi bể đầu…Chả bị bắt cả chục lần về tội nhậu vô rồi quậy mà vẫn chứng nào tật ấy, mấy anh mang thằng chả về đồn nhốt cho chả chừa…”. Chủ quán và các thực khách đều nghe tôi phân bua. Hai tên công an không nói năng gì cả. Tôi quay sang nhìn Tôn Thất Trung Nghĩa đang đứng đực mặt ra: “ Mấy cha làm ơn về báo cho ông già tôi biết là thằng cha mất nết này nhậu say đánh người bị công an bắt, nói ông cầm hộ khẩu đến lãnh ra…”. Được tôi mở đường, mấy anh em dắt xe đạp biến mất. Tôi ngồi xuống bên lề đường tiếp tục phân trần để tạo dư luận cho những người quanh đó nghe hầu có thể làm nhân chứng phòng khi khi công an hỏi đến. Trong khi đó tôi thấy hai tên công an đẩy Tạ Ký qua bên kia đường và đi về hướng Phan Thanh Giản, sau đó đẩy Tạ Ký vô đồn công an phường 4 cách chỗ tôi ngồi độ ba trăm thước. Tôi nghĩ “điệu này là tiêu đời Tạ Ký rồi…”

Tôi sợ chúng hỏi và lục xét giấy tờ của Tạ Ký là bể chuyện vì anh là sĩ quan mới “học tập” về. Còn nước còn tát. Tôi vừa nghĩ cách cứu Tạ Ký vừa phân trần với đám đông bu quanh tôi. Tôi kể tội Tạ Ký nào là uống rượu như hũ chìm, làm được đồng nào là uống hết đồng đó, không vợ không con, báo hại ông bà già, bị công an bắt nhiều lần làm kiểm điểm tại địa phương…Khoảng mười phút sau tôi vẫn không thấy hai tên công an trở lại. Chúng đang tra hỏi ? đang lập biên bản ? Những người đứng chung quanh tỏ vẻ thương hại và thông cảm với tôi. Chốc chốc tôi đưa tay lên sờ vết thương trên đầu cho máu vấy thêm vào tay. Rồi trong nháy mắt, tôi quyết định đánh bài liều có. Tôi dắt xe đạp đến thẳng đồn công an mà trong lòng hồi hộp và sợ không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Tôi dựng xe dưới lề đường nhìn vào thấy Tạ Ký năm sòng xoải trên một chiếc ghế dài, hai mắt nhắm nghiền ngáy khò khò (giả vờ là cái chắc)! Hai tên công an mặc thường phục lúc nãy ngồi sau chiếc bàn đọc báo, một tên công an nữa mặc đồng phục ngồi ở chiếc bàn bên trong đang ghi chép gì đó vào một cuốn sổ. Tôi bước chậm vào phía trước ghế dài Tạ Ký đang nằm, cúi đầu chào ba tên công an và cố tình đưa bàn tay máu cho chúng thấy. Tôi nói: “ Mấy anh làm ơn nhốt dùm cha này, tôi về kêu ông già lấy hộ khẩu ra lãnh…Cả ba tên công an nhìn tôi nhưng chẳng nói năng gì cả. Tôi bước sát tới chỗ Tạ Ký đang nằm và cúi xuống nắm vai lắc mạnh: “Dậy đi cha, dậy xin làm kiểm điểm rồi về, cha gây phiền phức quá…”.

Tôi cố ý tạo cho mấy tên công an cái cảm tưởng Tạ Ký là kẻ nát rượu, hư thân mất nết, bê bối…Trong khi lắc vai, tôi bấm mạnh mấy cái để cho anh biết mà hành động cho phù hợp với lời nói của tôi…may ra…Tôi lại sợ lỡ có một tên công an nào khác đến thấy cái cảnh này lại hạch hỏi lôi thôi thì chỉ có rắc rối thêm. Ba tên công an vẫn “không ý kiến”, tôi bèn đỡ Tạ Ký dậy ngồi trên ghế, mắt anh nhắm nghiền, người ngả qua ngả lại như muốn ngả (đóng kịch giỏi), miệng thì há hốc trông thật buồn cười, đầu gục xuống ra cái điều say ngất ngư và phát ra tiếng khò khò trong cuống họng…Đến lúc này ba tên công an vẫn không có phản ứng gì. Tôi mạnh dạn nói : “ Xin mấy anh cho tôi lôi chả về nhà, chả không còn biết trời trăng gì nữa…”, tôi lại xỉ vả tiếp: “ Cho cha đi cải tạo là vừa lắm, cứ vào công an rồi ra hoài cũng chẳng ăn thua gì, chứng nào tật nấy…Tôi đỡ Tạ Ký đứng lên. Lúc này anh đóng kịch tợn thêm nữa, hai đầu gối xụm xuống, miệng vẫn há hốc, người mềm nhủn và mắt vẫn nhắm nghiền…Cái thân hình gầy còm giờ đây sao mà nặng dữ!

Tôi thấy ba tên công an cười. Tôi mừng trong bụng. Tôi vội lôi Tạ Ký ra ngoài đường đặt ngồi sau xe đạp, hai chân buông thỏng đụng xuống mặt đường, đầu gục trên yên xe. Tôi vội leo lên xe, đỡ đầu Tạ Ký cho dựa vào sau lưng, cầm hai tay cho ôm eo tôi. Không chần chờ, tôi nhấn bàn đạp cho xe chạy về hướng Phan Thanh Giản, quay nhìn lại phía sau nhiều lần nhưng không thấy có công an đuổi theo. Đến Phan Thanh Giản tôi quẹo phải (đường một chiều) chạy đến đường Vườn Chuối rồi đâm qua Phan Đình Phùng. Tôi cố tình chạy như vậy để đánh lạc hướng công an vì sợ chúng nghi ngờ điều gì rồi đuổi theo. Băng qua một con hẻm đến đường Hồng Thập Tự. Lúc này tôi mới thong thả nên đưa tay ra sau đấm vào vai Tạ Ký: “Thôi nhen cha, khỏi cần đóng kịch nữa…”. Lúc đó Tạ Ký mới hoàn hồn và lấy tay đấm thùm thụp vào lưng tôi” “Tao phục mày quá Châu ơi” rồi không quên hỏi mấy người bạn cùng đi nhậu. Tôi nói họ di tản hết rồi, không có ai bị gì cả. Bấy giờ anh mới thấy bàn tay tôi đầy máu nên bảo tôi đạp thẳng về nhà của anh ở trong một con hẻm trên đường Bùi Chu. Đó là lần đầu tiên tôi ghé nhà của anh. Vô nhà, anh chỉ tôi đến lavabo rửa tay dính đầy máu. Tôi thấy có một người đàn bà trong nhà đứng ở một góc bên trong không rõ mặt, mặc áo màu hồng cũ, người nhỏ nhắn. Tôi nghĩ trong bụng người này chắc là vợ anh. Người đàn bà không hỏi han gì đến anh , anh cũng chẳng nói một lời nào cho đến khi tôi rửa tay và mặt xong anh bảo: “Thôi, mày đi về đi, sáng mai gặp lại…”.

Sáng hôm sau Tôn Thất Trung Nghĩa và Tạ Ký ra Lê Lợi gặp tôi cùng uống cà phê, anh kể cho Tôn Thất Trung Nghĩa nghe việc anh đóng kịch giả say và tôi đã cứu anh ra sao. Số anh em cùng nhậu hôm trước ai ai cũng tưởng là Tạ Ký sẽ vô tù trở lại. Sau đó, thỉnh thoảng tôi có gặp lại các anh có mặt chiều hôm đó cho đến lúc họ lần lượt đi vượt biên. Riêng Tôn Thất Trung Nghĩa thì vẫn gặp thường xuyên. Cũng từ đó Tạ Ký càng mến tôi hơn. Có chuyện gì anh cũng đều kể cho tôi nghe, riêng chuyện gia đình thì anh thường than thở rằng vợ anh không còn đối đãi tử tế với anh sau ngày anh đi tù về. Tôi cũng không biết anh có bao nhiêu người con và họ đang làm gì. Có chuyện gì xích mích trong gia đình thì anh lại ghé rủ Tôn Thất Trung Nghĩa rồi hai người ra chỗ tôi đang bán sách cũ ngoài đường Lê Lợi để uống cà phê buổi sáng hoặc đi nhậu một hai xị nếu là buổi chiều.

Tôi hành nghề bán sách không đầy một tháng, biết mình bị công an để ý nên bỏ nghề rồi chuyển qua nghề giữ xe đạp trước cổng trường sư phạm, tức là trường Quốc Gia Sư Phạm cũ ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà. Nói là “nghề” cho xôm chứ tôi làm sao mà có được một bãi giữ xe. Chủ bãi giữ xe là một nhân viên của trường sư phạm cũ còn lưu dụng nên được trường cho đặt một xe bán cà phê trước cổng trường và căng dây giữ xe cho sinh viên. Một hôm Nghĩa rủ tôi và Tạ Ký đến uống cà phê ở đây. Trước 75 Tôn Thất Trung Nghĩa có dạy ở trường sư phạm nên ai cũng biết, Tôn Thất Trung Nghĩa bảo ông chủ bãi cho tôi một chân giữ xe và ông ta vui vẻ nhận lời. Tôi hành nghề giữ xe đạp là nguyên do như thế.

Vào một buổi tối của tháng chín năm bảy tám Tạ Ký đến nhà tôi, khi đó khoảng tám giờ hơn. Tôi thấy anh có vẻ hớt hải lo âu, chắc là có chuyện gì không hay cho anh đây. Tôi nghĩ như thế. Hay là công an đã tìm ra manh mối kẻ say rượu hôm trước ở đường Bàn Cờ. Không lẽ chúng tài ba đến thế. Tạ Ký bảo tôi chở anh ra ngồi ở một quán cà phê vỉa hè, anh bảo: “Vợ con tao đã đi vượt biên hết rồi…”. Tôi hơi sửng sốt khi vừa mới nghe, sửng sốt vì nghĩ rằng tại sao anh không đi vượt biên cùng với vợ con. Vào những năm đó, chuyện vượt biên không phải là chuyện lạ. Lạ đối với tôi là Tạ Ký bị bỏ lại. Tôi trấn an anh: “Có gì mà anh phải hốt hoảng, vợ con anh đi vượt biên chứ phải anh tổ chức cho họ đi đâu mà sợ…”. Anh nói cộc lốc: “ Không được, chúng sẽ đến bắt tao…”. Tôi không biết động cơ nào khiến anh lo sợ thái quá như thế. Vào thời điểm đó những ai có dính dáng đến chuyện vượt biên, dù chỉ nói đến hai chữ “vượt biên” mà công an nghe được cũng đã bị khó dễ với chúng. Tệ hại nhất là những gia đình có người vượt biên, chúng đến đuổi những người còn lại ra khỏi để tịch thu nhà. Tạ Ký sẽ bị đuổi ra khỏi nhà là trăm phần trăm vì anh không có tên trong “sổ hộ khẩu” do mới học tập về và chưa hết thời kỳ quản chế. Anh hốt hoảng cũng phải. Uống vội ly cà phê anh bảo tôi chở anh về nhà ở đường Bùi Chu nơi tôi đã đến một lần sau khi bốc được anh ra khỏi đồn công an ở đường Bàn Cờ.

Anh mở cửa vào nhà lấy mấy bộ áo quần áo, một mớ giấy tờ và quơ chiếc quạt máy để ở bàn rồi vội trở ra khoá cửa, xong anh bảo tôi chở anh ra trước cổng vườn Tao Đàn ở đường Hồng Thập Tự. Thấy anh vô cùng bối rối nên tôi không dám hỏi han gì thêm. Anh dặn tôi khoan cho Tôn Thất Trung Nghĩa và bạn bè hay chuyện vợ con anh đi vượt biên. Tối hôm sau anh và cô Bảy, con nuôi của anh đến nhà và rủ tôi đi. Tôi đạp xe đạp còn anh và cô Bảy ngồi xích lô. Tôi thấy mặt anh rất buồn, mặt cô Bảy cũng buồn. Tôi đạp xe theo anh đến đường Bùi Viện và vào quán ăn Ba Thừa. Anh nói đãi tôi bữa ăn để chia tay. Tôi hỏi có phải anh sắp đi vượt biên không. Anh trả lời không và nói tiếp… “tao phải đi xa rồi sau này mày sẽ biết, con gái của tao”, anh chỉ cô Bảy, “sẽ cho mày biết tao ở đâu…”. Cô Bảy cho tôi biết một số địa điểm khi cần tôi đến gặp cô để biết tin tức Tạ Ký sau này. Đây là bữa ăn chia tay tưởng sau đó còn gặp lại anh, đâu ngờ… Khi chia tay ở quán Ba Thừa, anh dặn tôi ngày mai có mặt ở bến xe Miền Tây lúc mười một giờ. Trên đường về tôi rất hoang mang về dự tính của anh khi quyết định rời thành phố để về Miền Tây. Cả đêm hôm đó tôi không tài nào ngủ được. Hình ảnh Tạ Ký cứ lảng vảng trước mắt tôi. Tôi không hiểu nổi anh. Hôm sau tôi đạp ra bến xe Miền Tây, đến nơi tôi đã thấy anh và cô Bảy. Tôi chẳng nói năng hay hỏi han nhiều với anh, chỉ nói hy vọng sớm biết tin và gặp lại anh. Khi xe chuyển bánh tôi thấy cô Bảy lau nước mắt. Xe chạy ra khỏi bến, tôi đạp thẳng về nhà Tôn Thất Trung Nghĩa để cho hay là vợ con Tạ Ký vượt biên và Tạ Ký đã đi miền Tây. Tôn Thất Trung Nghĩa cũng sửng sốt không kém gì tôi khi mới nghe tin đó.

Tạ Ký đi rồi, như đã giao hẹn trước, một tuần sau tôi tìm cô Bảy để biết tin tức Tạ Ký tại khu chợ trời bán sách cũ đường Bùi Quang Chiêu, cô Bảy bán sách cũ nhưng không có sạp, cô gửi sách ở các sạp quen, khi cần thì cô ghé lấy giao cho khách mua. Lần đầu tiên đến gặp, tôi được cô Bảy kể cho nghe câu chuyện Tạ Ký bị trấn lột trên đường từ Cần Thơ đi Long Xuyên. Những lần sau cô Bảy cho tôi biết tình trạng sinh hoạt của Tạ Ký ở Chợ Mới cho đến khi Tạ Ký bị bắt và chết trong tù. Sau đây là toàn bộ câu chuyện mà cô Bảy kể cho tôi nghe:

Tuần trước, tôi và cô Bảy đưa Tạ Ký lên xe để về Cần Thơ. Khi xe đến Cần Thơ thì trời đã tối. Xe đò chạy rất chậm vì phải ngừng ở nhiều trạm để đóng thuế, xét hàng, xét người…Tạ Ký muốn tranh thủ về quận Chợ Mới, tỉnh An Giang nên anh không ở lại Cần Thơ, anh thuê một chiếc xe ôm để đưa anh thẳng về Long Xuyên. Trong túi xách tay của anh chỉ có vài bộ quần áo, một số giấy tờ và lận trong người độ hơn ngàn bạc. Khi người thanh niên chở anh ra khỏi thành phố Cần Thơ khoảng một tiếng đồng hồ thì tai nạn đã đến với anh. Chính người lái xe ôm này chở anh vào một con đường ruộng vắng vẻ, đập anh một trận bán sống bán chết rồi lấy hết tiền và túi xách của anh. Nằm bất tỉnh dưới ruộng cho đến sáng hôm sau anh mới tỉnh và mò lên đường đón xe trở lại Cần Thơ rồi quay lại Sài Gòn. May mà anh dấu tiền nhiều nơi trong người nên còn một ít tiền để đi xe. Nghỉ ở Sài Gòn hai hôm, anh lại tiếp tục chuyến đi như đã định. Chuyến đi lần này bình yên và anh đến ở nhà của một người người bạn thân cùng quê ở quận Chợ Mới. Anh nói với người bạn là vì chuyện gia đình, anh xin ở tạm vài tuần rồi sẽ ra đi. Anh đưa cho người vợ của bạn một số tiền để phụ vào việc ăn uống. Thời gian đầu cả hai vợ chồng bạn tiếp đãi anh tử tế, nhưng sau khi số tiền của anh đã cạn và thời gian vài tuần đã qua mà anh vẫn chưa đi thì người vợ và người con gái tỏ vẻ khó chịu về sự hiện diện của anh. Lần lữa chưa biết tính toán ra sao, tiền bạc cũng không còn nên thái độ của người vợ và con của bạn càng khiến cho anh hết sức khó chịu, hai mẹ con thường hay lớn tiếng nói bóng nói gió và có những hành vi khiếm nhã với anh. Loay hoay mãi với những buồn bực và cô đơn, thêm nỗi nhớ con, anh trở thành một người hoàn toàn thụ động mặc cho số mạng đưa đẩy. Anh chưa kịp rời nhà người bạn thì chính người vợ của chủ nhà mời công an đến bắt anh vào đêm khuya. Chúng đưa anh về nhà giam của huyện. Với mớ giấy tờ chúng lấy được và qua lời khai để chạy tội “khai báo tạm trú trễ” của người vợ chủ nhà, công an huyện giữ anh một tháng để lấy cung và tra tấn trước khi chuyển lên công an tỉnh.

Tại nhà giam của ban phản gián tỉnh An Giang, anh bị chúng ghép tội làm gián điệp. Chúng dùng nhiều trò tra tấn rất dã man khiến anh bị chết lên chết xuống nhiều lần. Mỗi ngày chúng cho anh hai củ khoai mì chấm muối và một gáo nước lạnh (thời kỳ này cả nước đói trầm trọng). Thân hình gầy còm của anh làm sao chịu nổi những trận tra khảo của chúng! Chúng thường xuyên xích chân anh vào một thanh sắt lớn cùng với nhiều người tù khác. Chúng bắt anh kê khai việc làm gián điệp, những người liên hệ, nhất là nghi vấn việc anh bỏ Sài Gòn xuống Chợ Mới. Trong các tờ khai, sau khi đề ngày tháng năm, anh chỉ viết mấy chữ…Tôi không có gì để khai

Sau một thời gian không nhận được tin tức gì của anh, cô Bảy nóng lòng xuống Chợ Mới thì được gia đình người bạn cho biết là anh đã bị bắt. Cô Bảy đưa cho chủ nhà tiền bạc để lo thăm nuôi dùm. Nhưng trong thời gian Tạ Ký nằm tù, anh không hề nhận được tin tức hoặc thức ăn gì bên ngoài gửi vào. Việc Tạ Ký bị bắt và bị tra tấn đến chết mới kêu người nhà (vợ chồng bạn) đem về chôn không ai biết được nếu không có một người tù tên là  Phạm Hữu bị tù từ 1975, cùng ở chung với Tạ Ký tại trại giam của tỉnh, được Tạ Ký nhờ liên lạc với gia đình cô Bảy nếu ông được về trước. Khi được thả ra, ông Phạm Hữu nhờ người nhà lên Sài Gòn tìm đến nhà cô Bảy và mời cô xuống Long Xuyên gặp để nghe ông kể chuyện Tạ Ký ở trong tù. Cô Bảy kể cho tôi nghe những gì cô nghe ông Phạm Hữu đã kể cho cô. Cô kể trong giàn giụa nước mắt. Tôi nghe mà lòng quặn thắt. Cô Bảy cũng nói với tôi cô không có điều kiện để xuống Chợ Mới dời mộ Tạ Ký về Sài Gòn, cô đang chờ để đi Phi Luật Tân. Sau lần gặp cô Bảy để nghe chuyện Tạ Ký, tôi không còn gặp cô. Tôi hy vọng cô đã sang được Phi Luật Tân và mang theo hình ảnh của một người cha, dù là cha nuôi nhưng tôi biết chắc chắn là cô rất kính yêu Tạ Ký.

Tạ Ký là một nhà thơ sống chí tình với bạn bè. Anh là một nhà giáo. Anh là một sĩ quan, một chiến sĩ Quốc Gia bất khuất trước kẻ thù cộng sản. Anh đã từng nói với tôi, anh sẽ là một trong những người đầu tiên đứng lên diệt cộng sản khi có cơ hội, anh và cộng sản không đội trời chung! Anh cũng mong một ngày mai tươi sáng sẽ về với Việt Nam thân yêu để anh được tiếp tục làm thơ, uống rượu với bạn bè và rong chơi khắp các miền đất nước. Nhưng số phận của anh thật hẩm hiu và bi đát. Lúc ở tù không ai thăm nuôi, lúc trở về vợ hất hủi, bỏ rơi, dắt con cái đi vượt biên không một lời từ biệt. Nỗi cô đơn, đau đớn ê chề đến khủng hoảng phải chạy đi trốn, nương thân nhờ người quen để rồi chết một cách thảm thương dưới tay của kẻ thù độc ác.

Giờ đây, có lẽ vợ con của Tạ Ký đang yên vui ở một nơi nào đó tại đất Mỹ, Úc châu hay Âu châu…có biết chuyện chồng, cha của mình chết trong ngục tù cộng sản? Nếu biết, xin thắp cho anh một nén hương để tưởng nhớ.

Khoảng đầu năm 1980, trước khi đi vượt biên, Tôn Thất Trung Nghĩa có lập bàn thờ tại nhà để bạn bè đến thắp nhang cho Tạ Ký. Tôi đến nhà Tôn Thất Trung Nghĩa nhiều lần để nghe Tôn Thất Trung Nghĩa Nghĩa tâm sự thêm về tình bạn giữa anh và Tạ Ký. Sau đó Nghĩa vượt biên thành công, đến được Songkla Thái Lan và sáu tháng sau được nhận vào Mỹ. Khi còn ở Songkla, Tôn Thất Trung Nghĩa có viết thư cho tôi mô tả chuyến đi của mình. Lúc định cư ở Mỹ, Tôn Thất Trung Nghĩa ở Pennsylvania, sau đó xuống Florida rồi qua California. Tháng 10 năm 1990 tôi nhận được tin Tôn Thất Trung Nghĩa đã chết vì ung thư máu. Hai kẻ tri âm – Tạ Ký và Tôn Thất Trung Nghĩa đều đã vĩnh viễn ra đi. Họ có gặp lại nhau ở bên kia thế giới hay không? Hai người đã ra đi. Chỉ còn Sầu Ở Lại”. Tôi đã mang nỗi sầu đó!

Ngồi viết những dòng này về Tạ Ký, tôi buồn lặng người. Nhớ Tạ Ký. Nhớ Tôn Thất Trung Nghĩa. Dĩ vãng hàng me xanh Chợ Đủi, quán cà phê vỉa hè Lê Lợi, quán nhậu bà Năm Lửa, quán nhậu đường Bàn Cờ, quán Ba Thừa buổi tối chia tay…Có ai còn nhớ đến Tạ Ký? Bài thơ sau đây của anh viết trong tù đã đọc cho bạn bè nghe. Tôi không nhớ hết, nhớ đủ nhưng cũng xin ghi ra đây như đốt lên một nén hương tưởng nhớ đến anh, bài thơ có tựa đề Cúi Xuống”:

…Cúi xuống nhìn hòn sỏi

Hòn sỏi nhìn trời cao

Cúi xuống nhìn luống cải

Luống cải nhìn ông sao

Cúi xuống nhìn cục đất

Cục đất nằm im lìm

Cúi xuống nhìn ngọn cỏ

Ngọn cỏ đợi sương đêm

…..

Cúi xuống nhìn ngón cẳng

Ngón cẳng dài thêm ra

Bàn chân có năm ngón  

Ngón nào riêng của ta ?

…..

Cúi xuống thêm chút nữa

Gục trên đầu gối mình

Phong Châu                                                                              

Tháng 7 – 1992

Ngày Xuân đọc báo Xuân “Phong Hóa” của Tự Lực Văn Đoàn, Nhật Tiến


PhongHoa02112013

Ngày Xuân đọc báo Xuân “Phong Hóa”

của Tự Lực Văn Đoàn

_______________

NHẬT TIẾN

Lời người viết: Phong Hóa là một tờ tuần báo của thế kỷ trước, số 1 ra ngày 16-6-1932, do ông Phạm Hữu Ninh làm quản lý và Nguyễn Xuân Mai giám đốc chính trị.

Nhưng ra đến số 13 thì ban quản trị sang lại cho nhà văn Nhất Linh, nên tờ Phong Hóa  từ số 14 trở đi, Nhất Linh chính thức đứng tên chủ bút dưới tên thật là Nguyễn Tường Tam cùng với sự hợp tác của nhiều nhà văn, nhà báo, họa sĩ mà sau này trở thành đoàn viên của Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Hoàng Ðạo, Thạch Lam, Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu, hoặc có những ngòi bút tên tuổi hợp tác- tuy không phải thành viên của Tự Lực Văn Đoàn nhưng đoạt giải văn chương do Văn Đoàn tổ chức – như  Ðỗ Ðức Thu, Phan Văn Dật, Vi Huyền Ðắc, Nguyên Hồng, Anh Thơ, Tế Hanh…

Ngoài ra, có những chi tiết mà sau này ít ai được đọc lại như mục đích, chủ trương thành lập của Tự Lực Văn Đoàn với văn phong nguyên thủy thưở ban đầu cũng đã được phổ biến trên báo Phong Hóa, số 87 ra ngày 2 tháng 3-1934. Rồi thể lệ cuộc thi sáng tác gọi là “Giải Thưởng Tự Lực Văn Đoàn” được công bố 3 tháng sau ngày Văn Đoàn thành lập, cũng đã được phổ biến trên Phong Hóa số 101  ra ngày 8 tháng 6-1934.

Đoán biết sẽ có ngày Phong Hóa bị chết, Nhất Linh đã xin phép ra một tờ báo dự trữ thứ hai, đó là tờ báo Ngày Nay  chỉ chuyên về mỹ thuật, văn chương.

Báo Ngày Nay số1 ra vào ngày 30-1-1935 và tới ngày 7-9-1944, ra số 224 thì bị chính quyền thực dân rút giấy phép, đóng cửa hẳn.

Tờ Phong Hóa ra tới số 190, ngày 5-6-1936 thì  đổi tên thành Ngày Nay nhưng cũng vẫn do nhóm Tự Lực Văn Đoàn đảm trách.

Tất cả những chi tiết quý báu nêu trên, gần đây đã được nhắc lại trên trang nhà của Đại Học Hoa Sen ( http://tintuc.hoasen.edu.vn ) trong một thông báo về sự  “số hóa” các số báo Phong Hóa và Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn, tức là các trang báo đã được scan lại thành digital (số hóa) và nay sẽ xuất hiện dưới dạng PDF (Portable Document Format) để ai vào Net cũng có thể đọc được. Đây thực sự là một tin vui lớn lao cho những ai đã từng quan tâm tới vấn đề sách, báo “thời tiền chiến”, tức là những năm 30 của thế kỷ 20, trước Đệ nhị Thế chiến 1939-1945.

Công trình đồ sộ, công phu, tốn rất nhiều công sức này là của một nhóm nhân vật đầy thiện chí với công cuộc gìn giữ và bảo tồn văn hóa, bao gồm các vị như Phạm Thảo Nguyên, Martina Nguyễn Thục Nhi, Nguyễn Tường Thiết, Vu Gia ….hợp tác với Nhóm Kỹ Thuật gồm các vị Nguyễn Trọng Hiền, Lê Thành Tôn với sự giúp sức của Đỗ Thị Kim Dung, Lê Huyền Thanh.

Là một độc giả vốn hâm mộ Phong Hóa, Ngày Nay từ thuở thiếu thời, nay được nhìn lại trên màn hình tờ báo gần như còn nguyên vẹn như ngày xưa, tôi vô cùng cảm kích và rất biết ơn các vị đã đóng góp công sức vào công cuộc bảo tồn văn hóa lớn lao này, cũng như các tạp chí Nam Phong, Thanh Nghị, Tri Tân cũng đã được nhiều nhóm thiện chí khác số hóa, để cho mọi người còn được dịp thưởng ngoạn lại những công trình tim óc của nhiều thế hệ đi trước.

***

Nhân dịp đầu Xuân, mở đọc số báo Xuân Phong Hóa năm Giáp Tuất (tức Phong Hóa số 85 ra ngày 11 tháng 2-1934), tôi xin làm một cuộc tường trình sơ lược về số báo này để chia sẻ với bạn đọc về một tờ báo Xuân đã phát hành cách nay cũng đã tròn 80 năm.  Vì trang báo có hạn, tôi chỉ xin lược qua vài nét chính, muốn đọc đầy đủ chi tiết bài vở hơn, xin quý vị vào trang web :

http://tintuc.hoasen.edu.vn/vi/1437/tin-chuyen-de/so-81-den-100-bao-phong-hoa

rồi click vào khung:  PH 085 (11-2-1934)
*****
Ly Toet (2)

Phong Hóa số Mùa Xuân Quý Dậu, 1934 dầy 36 trang khổ lớn, giá bán 20 xu. Bìa in 4 mầu do họa sĩ Le Mûr tức Cát Tường vẽ, nội dung diễn tả cảnh Cụ Lý Toét đi du xuân (xin coi hình mầu ở trên).

Trong hình, ta thấy Cụ Lý choàng khăn đỏ che lấp cái khăn xếp mầu đen cố hữu, vai vẫn vác ô nhưng lại là cái ô “lục soạn” mầu xanh lá cây chứ không phải ô cũ rích mầu đen thường ngày. Lục soạn là một thứ lụa trơn, mỏng người Hà Nội thời đó ưa dùng, cũng để làm ô che, dù che.  Một tay Cụ Lý cầm phong pháo đang đốt, tay kia nâng cái ô trên vai, ở cán ô thấy treo lủng lẳng đôi dép Gia Định buộc chung với vài túm, gói không biết bên trong đựng những gì. Tuy Cụ Lý treo đôi dép trên cán ô, nhưng chân cụ lại đi dép có quai ngang chứ không giẫm đất (tết nhất ai lại đi chân đất !). Ở ngang thắt lưng, Cụ dắt một cây quạt giấy (trời Xuân mát mẻ đâu cần quạt nhỉ ?). Còn ở ngang ngực, Cụ đeo một cái bao kính mà theo nhà thơ Tú Mỡ thì cái bao này có bọc vải thêu bên ngoài cẩn tó (xin coi bài thơ họa bức tranh Bìa của Tú Mỡ ở dưới)

Năm ấy, Dậu vừa qua, Tuất đang tới nên họa sĩ vẽ thêm ở dưới chân cụ Lý có một cái bu gà trong nhốt một anh gà sống thiến đang thò đầu ra khỏi bu kêu quang quác. Bên cạnh bu gà, không hiểu sao lại không có một anh Chó cho đúng năm Tuất mà lại có một Cụ Rùa đang kéo theo nào chai rượu Văn Điển, nào bầu rượu. Lại có cả cuốn sách Niên Lịch cùng nhiều thứ linh tinh khác, đặc biệt là cái bánh chưng, chẳng hiểu sao lại bọc ngoài nhãn hiệu là “Lang Băm” (Không theo dõi thường xuyên báo Phong Hóa chắc ít ai hiểu thâm ý của họa sĩ).

Riêng nhà thơ Tú Mỡ thì nơi trang 7 đã có bài thơ “Lý Toét Chơi Xuân” diễn tả nguyên trang bìa. Xin trích lại ít câu để độc giả thưởng lãm :

LÝ TOÉT CHƠI XUÂN
(tả bức tranh ngoài bìa của họa sĩ LE MÛR)

Đầu năm Lý Toét chơi xuân
Phất phơ bộ cánh, áo quần bảnh bao
Khăn nhiễu đỏ quấn đầu, quấn cổ
Áo láng thâm lót lụa mầu vàng
Quần hồng súng sính, xênh xang
Chân đi giép Nhật quai ngang điếm đời
Ô-lục-soạn vắt vai, ra dáng !
Đầu cán ô giầy láng buộc treo
Trước ngực đeo bao kính thêu
Quạt tầu chổng gọng giắt ngoèo thắt lưng
Trông dáng bộ tưng bừng phớn phở
Mắt gấp gãy nhăn nhở miệng cười
Cụ mừng tết đã tới nơi
Trời cho thăng chức lên ngôi lão làng…..

(bài thơ còn dài, xin ngưng trích)

TÚ MỠ

***

Vì là Số Tết nên nội dung tờ báo tràn ngập không khí Tết.

Như nơi trang 6, tòa soạn dành nguyên cả trang cho mục Thơ có tên gọi là “Hoa Đầu Xuân”. Trong mục này ta thấy có 3 bài thơ của Thế Lữ (Hái Hoa, Tiếng Sáo Thiên Thai, Cây Đàn Muôn Điệu), và 1 bài ký tên Tường Bách chắc là của Nguyễn Tường Bách, bào đệ của Nhất Linh.

Tưởng cũng nên nhắc lại bài hát Tiếng Sáo Thiên Thai là do Phạm Duy phổ nhạc bài thơ cùng tên của Thế Lữ. Nó đã rất được ưa chuộng, ngay cả cho tới tận ngày nay. Thì ra bài thơ này đã xuất hiện lần đầu ở đây, số Xuân Phong Hóa năm Giáp Tuất 1934 :

Tiếng sáo Thiên Thai

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn…

Tiên Nga tóc xõa bên nguồn.
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.

Trời cao, xanh ngắt. – Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai.
Theo chim, tiếng sáo lên khơi,
Lại theo giòng suối bên người Tiên Nga.

Khi cao, vút tận mây mờ,
Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh,
Êm như lọt tiếng tơ tình,
Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không,

– Thiên Thai thoảng gió mơ mòng,
Ngọc Trân buồn tưởng tiếng lòng xa bay…

Thế Lữ

Cũng ở nơi trang 6 này, ta thấy có một khung quảng cáo cho tập thơ nổi tiếng “MẤY VẦN THƠ ” của Thế Lữ. Xin sao lại nguyên văn cái quảng cáo này vì nó cũng là một hình ảnh đáng ghi của quá khứ :

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

MẤY VẦN THƠ
của Thế Lữ

(góp những bài thơ hay của Thế Lữ in thành sách) .

In có hạn và in thật có vẻ mỹ thuật

In trên giấy lệnh Annam thứ trắng và dầy, chữ mực đen đè lên nét vẽ mầu xanh nhạt. Họa sĩ Trần bình Lộc trông nom về mặt mỹ thuật, ông Đỗ Văn trông nom về mặt in.

Mỗi cuốn giá 1$00, cước gửi 0$20. Trả tiền trước bằng ngân phiếu 1$20, gửi về cho người nhận thay ông Thế Lữ: Nguyễn tường Tam, 1 Bd Carnot – Hanoi.

Bao nhiêu người gửi tiền mua thì in bấy nhiêu. Ngoài ra không bán.

Thật là một cuốn sách quý để dành riêng cho bạn yêu thơ Thế Lữ.
(hết quảng cáo)
***

Như ở trên ta thấy, ngay trong số xuân này, tức số 85 ra ngày 11-2-1934,  đã xuất hiện hàng chữ Tự Lực Văn Đoàn đặt ở trên cái tựa đề “Mấy Vần Thơ” của Thế Lữ, nhưng mãi tới số 87, ra ngày 2-3-1934 mới thấy công bố mục đích, tôn chỉ của Văn Đoàn này. Vậy nhân đây, tưởng cũng nên nhắc lại tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn đã công bố trên Phong Hóa số 87, nguyên văn như sau:

Tự Lực Văn Đoàn

Tự Lực Văn Đoàn họp những người đồng chí trong văn giới; người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương.

Người trong Văn Đoàn có quyền để dưới tên mình chữ Tự Lực Văn Đoàn  và bao nhiêu tác phẩm của mình đều được Văn Đoàn nhận  và đặt dấu hiệu.

Những sách của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn là bản thảo gửi đến để Văn Đoàn xét, nếu hai phần ba người trong Văn Đoàn có mặt ở Hội-đồng xét là có giá trị và hợp với tôn chỉ  thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của Đoàn và sẽ tùy sức cổ động giúp. Tự Lực Văn Đoàn không phải là một hội buôn xuất bản sách.

Sau này nếu có thể được, Văn Đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn chỉ của đoàn.

Tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn
1.    Tự sức mình làm ra nhữg sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi : mục đích để làm giầu thêm văn sản trong nước.
2.    Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội chủ ý làm cho Người và cho Xã hội ngày một hay hơn lên.
3.    Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghiã bình dân.
4.    Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách Annam.
5.    Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có  trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
6.    Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái.
7.    Trọng tự do cá nhân.
8.    Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9.    Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Annam.
10.    Theo một điều trong chín điều này cũng được, miễn là đừng trái ngược với những điều khác.

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
(Phong Hóa số 87, ra ngày thứ Sáu 2 tháng 3-1934)

***

Thiep Chuc Xuan (2)

Trở lại nội dung số Xuân Phong Hóa, Tết Giáp Tuất 1934, tôi thấy nguyên trang 2 dành cho những quảng cáo rượu Mai Quế Lộ, Ngũ da bì…của tiệm Hồng Quý Hương, giầy  dép Vạn Toàn, và đặc biệt là về  “Cuộc thi chụp ảnh hoa khôi của toàn cõi Đông pháp” của tiệm ảnh Hương Ký ở số 84 phố Hàng Trống.

Qua trang 3 là một tấm thiệp “Chúc Mừng năm Mới ” (xin coi hình) kèm bài viết “Xuân Về” của Tứ Ly, một bút hiệu của nhà văn Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long, bào đệ của nhà văn Nhất Linh. Trong bài có đoạn :

“ Ta thấy ta vui với gió xuân, đằm thắm với hoa xuân, là vì ta ở trong tuổi thanh niên, cái tuổi xuân đáng mến, hy vọng của các nhà lão thành, hy vọng của cả một nước.”

Mong ý nghĩ này sau 80 năm vẫn còn đúng, nhất là trong tình trạng đạo đức xã hội xuống cấp thảm thê như bây giờ. Thanh niên có sẽ là nguồn hy vọng cứu tinh của cả nước chăng ?

Về mặt phóng sự, nơi trang 8 có bài “Đầu Năm PHONG HÓA đến xông đất Các Nhà Báo” của tác giả ký tên Nhất, Nhị Linh chiếm trọn 2 trang.

Các báo sau đây đã được tác giả tới “xông đất” : Trung Bắc, Bạn Trẻ, Ngọ Báo,  Văn Học, Nhật Tân, Đông Pháp, Xứ Sở, Phụ Nữ Thời Đàm, Tiếng Dân …và lại có cả vụ “xông mộ các báo” nữa, chắc là những tờ đã bị đóng cửa như Bắc Kỳ Thể Thao, Rạng Đông, Đông Phương, An Nam tạp chí…

Với giọng văn trào phúng, tác giả Nhất, Nhị Linh đã trêu chọc nhiều bạn đồng nghiệp. Xin trích nguyên văn 2 cuộc xông đất :

1) Xông đất báo Đông Pháp : Cũng như ở Nhật Tân, tòa báo Đông Pháp thoang thoảng có mùi thơm, một mùi thơm kỳ dị. Ở giữa mâm cỗ có để một bát nấu rựa mận, nực  những mùi mẻ. Ông Hoàng Hữu Huy mời chúng tôi ăn :

– Đây là một con chó chết chẹt ô tô, phóng viên bản báo đi lấy tin  tức, vừa nhặt về . Thơm, béo lắm.

Tú Mỡ thấy ngấy, đưa mắt nhìn Nhát Dao Cạo (một bút danh trong tờ Phong Hóa) ra hiệu bảo từ chối. Của đáng tội, chúng tôi không ai biết ăn thịt chó, mà nhất là thịt chó chết – ăn nhằm vào đầu năm Tuất- Đại  kiêng.

2) Xông đất cô Phụ Nữ Thời Đàm

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa
Xuân, lan, thu, cúc mặn mà cả hai

Đó là tiếng Thế Lữ xúc cảnh mà sinh tình. Nhát Dao Cạo ra ý không bằng lòng về hai chữ cả hai, bảo giá thay vào hai chữ tất cả thì ổn hơn. Nhưng đến khi có cô Phụ Nữ ra mời thì Thế Lữ và Nhát Dao Cạo lại làm lành với nhau ngay. Tứ Ly hỏi thầm Tú Mỡ :

– Này, bác có đem nhiều xu lẻ đấy không ? Vì năm ngoái Phụ Nữ kén chồng mãi, hẳn là nhiều trẻ ? (tức hẳn  sinh nhiều con)

Nhưng may thay khi vào nhà chỉ có một mình ông Tú Xơn (Tout seul). Nhưng thoáng thấy bóng Tú Mỡ vội chuồn ngay, ý hẳn ông về quê.

Một lát, ông Phan Khôi bưng ra một đĩa sò mua ở Lang-Cô mà không mất tiền. Cô Phụ Nữ cũng đem ra một đĩa đầy bánh, nhìn chúng tôi một cách tinh nghịch :

– Bánh này là bánh nhân bi-ve của hai ông Nhất, Nhị Linh phát minh ra. (Ghi chú của người viết : Bi ve là hòn bi (bille) làm bằng thủy tinh (verre), trẻ con thường dùng trong những trò chơi gọi là Chơi Bi, Búng Bi, Bắn Bi). Bây giờ chị em chúng tôi thực hành đúng cân lạng, không sai một li. Vậy đầu năm may mắn, các ngài dùng cho…mời các ngài dùng cho…mời các ngài sơi đi…

Chúng tôi chưa biết xử trí ra sao thì Thế Lữ ngọt ngào nói :

– Ấy ! Xin tiền chủ …rồi hậu khách.

Rồi Thế Lữ quay lại phía ông Phan Khôi, nói :

– Tôi nói câu này, xin ông đừng giận tôi mới nói.

– Không. Tôi không giận ai bao giờ, nếu tôi giận thì …tôi…tôi…ăn….

Thế Lữ vội giơ tay cản:

– Thôi, tôi xin ông. Đầu năm chớ thề độc. Vậy nếu ông không giận thì đĩa sò mua không mất tiền kia ông làm ơn để dành cho ông Tú Xơn ăn một mình, còn bánh nhân-bi ve thì để riêng phần ông. Ấy thế là tiện.

Chúng tôi ra ngoài phục Thế Lữ khéo giàn xếp.

Đi đã xa, Tú Mỡ còn cứ quái cổ lại, hình như chưa nỡ dứt tình.
***

Về mặt sáng tác, nơi trang 12 có truyện ngắn của Khái Hưng với tựa đề “Bên Đường Dừng Bước”. Đây là một truyện ngắn Tết, mang khuynh hướng tình cảm nhẹ nhàng với  những tình tiết cổ điển và hơi gượng ép. Kỹ thuật viết khá đơn sơ nhưng ở vào thời kỳ tác giả sáng tác (1934)  thì đã được coi là mới mẻ, thoáng đạt lắm rồi. Truyện kể về một nhân vật tên Bằng, rời Hà Nội về quê ăn tết ở nhà ông chú họ, nhưng gia đình này không tiếp đón chàng nồng nhiệt lắm, nên mồng Hai Tết chàng đã giã từ, đạp xe  trở  lại Hà Nội trong nỗi buồn ray rứt :  “ai cũng thờ ơ, lãnh đạm như không từng bao giờ quen biết”.

Truyen Khai Hung (4)

Nhưng rồi chàng lại bỗng rơi vào một hoàn cảnh mới. Xe đạp của chàng bị đứt dây xích giữa cánh đồng khiến chàng phải “bên đường dừng bước”, tức xin vào tạm nghỉ chân ở một túp lều tranh, nơi cư ngụ của hai vợ chồng người thợ rèn cũng đang còn ở tuổi thanh xuân.

Bằng bị cuốn hút ngay vì sắc đẹp hồn nhiên và tính tình cởi mở, điệu bộ nhí nhảnh của người vợ trẻ, nhất là đôi mắt long lanh rực sáng bên ánh lửa của lò rèn, nom cứ như “hai viên ngọc thạch lấp lánh”  với  “ luồng hào quang của cặp mắt hoạt động”.

Nhưng rồi xích xe đạp đã được người chồng sửa xong. Sau một bữa ăn vui vẻ, Bằng bó buộc phải lên đường, lòng bịn rịn, quyến luyến. Đến nỗi đã đạp xe đi xa rồi, chàng còn vòng trở lại đường cũ :

“Vượt qua hai trái đồi, chàng đã lại trông thấy nhà người thợ rèn thấp thoáng giữa hai gốc gạo thẳng và cao. Mơ màng chàng tưởng như có hai cái bóng vợ chồng Tị đứng vẫy. Như có mãnh lực giữ xe chàng lại. Chàng chép miệng thở dài  vòng  về Phú Thọ, giơ tay vẫy lại  như để chào lần cuối cùng và lẩm bẩm nói : “Chà ! Trên đường đời còn nhiều phen dừng bước”. Rồi chàng ra sức đạp thực mau để kịp giờ xe hỏa…

Truyện được Khái Hưng kết thúc nhẹ nhàng, giản dị như thế, nghe rất phù hợp với cảm nghĩ của độc giả đương thời, nhất là trong những ngày Xuân không nên bầy ra những cảnh tan nát, chia lìa.

Một truyện ngắn khác của tác giả Nguyễn văn Kiện xuất hiện ở trang 23 có tựa đề “Con Mầu”. Mầu là tên đứa ở gái. Hôm về quê ăn tết, được bà chủ cho mấy hào thì bị cậu con bà chủ lấy cắp mất để đem trả nợ bác bán kẹo dữ dằn. Mất tiền, Mầu không có tiền mua vé về quê, đành quay lại nhà chủ, vừa làm việc vừa khóc.

Cậu chủ bắt gặp cảnh này, lòng hối hận chuyện do mình gây ra, liền thú nhận rằng mình đã lấy cắp của Mầu rồi đem hết tiền mừng tuổi ra cho lại nó. Nhưng hôm sau, con Mầu lại bị nghi là đã ăn cắp tiền của cậu chủ, bị bà chủ đánh đòn rồi đuổi đi. Khi cậu chủ tỉnh dậy thì mọi sự đã xẩy ra xong xuôi qua hai câu đối thoại kết thúc truyện này như sau :

– Xe ! Con Mầu đâu ?

– Thưa cậu, bà đánh nó một trận và bà đuổi nó đi từ sáng rồi ạ !

Nguyễn văn Kiện không phải là một ngòi bút đặc sắc. Ông có thêm truyện nào khác hay ho hơn thì tôi không rõ, nhưng với kỹ thuật viết truyện ngắn kể trên, tôi không thấy tác giả có khả năng hứa hẹn gì ở truyện khác trong tương lai.

Ngoài thể truyện ngắn, tờ Phong Hóa còn có truyện dài nổi tiếng “Gánh Hàng Hoa” đăng từng kỳ với tranh minh họa của họa sĩ Đông Sơn. Truyện này khởi in từ Phong Hóa số 66 ra ngày 29-9-1933. Cái tựa đề “Gánh Hàng Hoa” là do  hai tác giả ghi trích từ mấy câu thơ của Cao Bá Nhạ, một nhà thơ thuộc thế kỷ 19, có chú ruột là nhà thơ Cao Bá Quát. Bài thơ nổi tiếng  Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ có những câu :
……
Nay phó xuống Đông Thành tạm trú
Mai truyền sang Bắc Lộ ruổi ra
Thân sao như gánh hàng hoa
Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều.
…..
Điều đặc biết ít ai để ý tới là khi khởi sự đăng truyện Gánh Hàng Hoa từ số 66 cho tới số 84 thì thấy ghi tên tác giả là “Bảo Sơn và Khái Hưng” , nhưng qua đến số Xuân này, tức số 85 thì tên tác giả đã đổi thành “Khái Hưng và Nhất Linh”. Vậy Bảo Sơn là một bút hiệu khác của Nhất Linh khi khởi sự viết chung Gánh Hàng Hoa với Khái Hưng, rồi về sau Nhất Linh không dùng tên Bảo Sơn nữa mà ký bút hiệu chính thức của mình.

Tác phẩm này sau đó in thành sách dưới tên Nhất Linh và Khái Hưng, tái bản nhiều lần và còn được đưa cả lên phim ảnh.

Ganh Hang Hoa (4)

Kịch là thể khó viết, ấy vậy mà Phong Hóa số Tết Giáp Tuất 1934 lại rất dồi dào về kịch vui, ngắn, tổng cộng có tới 3 vở lần lượt là : Đi tìm Thi Nhân của Phạm Ngọc Thọ, Kiêng của Khái Hưng  và Lý Toét sắm tết của Ng. Ứng. Đây là những vở kịch ngắn, đọc cũng vui, lại vô thưởng vô phạt, thích hợp cho loại bài gọi là “mắm muối”  làm tăng hương vị Tết của một tờ báo Xuân.

Chen giữa các sáng tác vừa kể là những trang hài hước, châm biếm vui nhộn cùng những tranh hí họa khiến cho tờ báo nom rất sinh động, dồi dào bài vở và mang nhiều không khí tết. Có thể kể những bài như Ông Chủ “nhà  Hòm” tiếp khách đến chúc tết (tranh hí họa),  Một Năm Qua ( điểm người, điểm việc của Tứ Ly), Từ Nhỏ đến Lớn (chuyện vui linh tinh) , Giải Nghĩa chữ Tết ( 10 đoạn thơ, mỗi đoạn 4 câu, mỗi câu 6 chữ  trả lời câu hỏi : Tết Là Gì ?), Cung Chúc Tân Niên Thập Bát Tài Tử ( Những đoạn thơ vui  của Tú Mỡ chúc tết 18 nhân vật thời sự như Hi Đình, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Tản Đà, Tú Khôi, Cô Phụ Nữ Thời Đàm..v..v..)

Về mặt hình vẽ, nguyên cả trang 15 còn dành cho tấm tranh  hí họa “Nhị Lang bán tranh tết” với hình cụ Lý ngồi xệp xuống hàng bán tranh, vừa chỉ trỏ, vừa chọn lựa.

Ở hai trang 20, 21, họa sĩ  Le Mûr trình bầy một màn vui, khá độc đáo có tên là “Chiếu Bóng Phong Hóa”, trong đó, họa sĩ bầy cách dùng tay sắp xếp để in lên tường nhiều hình bóng lạ như hình Mèo, hình Chó, Rùa, Heo, có cả hình Lý Toét, hình Thầy Tầu coi tướng, Tây Đoan, Cu li xe, Hầu sáng bưng tô khi hầu bàn ….

Chieu bong-Phong Hoa (3)
****
Nói đến nội dung tờ báo mà không nói đến phần quảng cáo e có phần thiếu sót. Vậy xin trích vài mẫu quảng cáo để bạn đọc hình dung được loại văn chương giới thiệu sản phẩm hay dịch vụ trong thương trường Việt Nam cách nay gần một thế kỷ:

1)    Ở trang 5 :

Từ ngày bản tiệm khai trương đến giờ, được Quý khách chiếu cố rất đông, cảm tấm thịnh tình, nay nhân dịp tết, bản tiệm có trần thiết lại và có mướn thêm đầu bếp rất khéo, để khỏi phụ lòng chiếu cố của các bạn xa gần

HÔTEL  LẠC –XUÂN
No   55 Rue du Coton,  HANOI

2)    Ở trang 11:

XIN MÁCH CÁC NHÀ BUÔN

Muốn làm các quảng cáo bằng thi, ca từ phú, bằng tranh vẽ, hài văn, câu đối, câu đố khiến cho người đọc phải chú ý đến.
Nên đến hỏi ông

Khúc Giang ĐÀO THIỆN NGÔN
55 Bis  Rue du Takou – HANOI
hay 15 Rue des Cuirs –  HANOI

3) Ở trang 26:

Ngỏ cùng các vị thiếu niên anh tuấn

Những trang thiếu niên nam nữ có tài diễn kịch hay chưa có tài nhưng có khiếu thích về kịch, chớp ảnh muốn sau này chiếm được một địa vị danh vọng sung sướng như Maurice CHEVALIER, Henri GRAAT, ANNABELLA, Mariène DIETRICH thì nên hỏi ngay thể lệ cuộc thi tài tử  của Hội kịch Bắc kỳ, 125 phố hàng Bông Hà Nội là một hội buôn đã thành lập theo đúng pháp luật của Nhà nước.

La Scène Tonkinoise
SOCIÉTÉ ANONYME A CAPITAL VARIABLE
__________
3)    Ở trang 35:

Hãng rượu nổi tiếng Văn Điển quảng cáo bằng cách in một tấm hình chiếm nửa trang báo, trong chụp Hoàng đế Bảo Đại (nom trẻ măng !) đang ngồi thưởng thức Rượu Văn Điển tại ngay trụ sở của hãng này. Bên cạnh Hoàng đế là Toàn quyền Pierre Pasquier (Ngôi trường tiểu học mà tôi đã theo học từ nhỏ, lấy tên ông Toàn Quyền này, sau đổi thành trường Sinh Từ-Hà Nội). Ngoài ra, trong hình còn có ông Thống sứ Tholance nữa. Tấm hình được chạy hàng chữ lớn “Một bức ảnh nghênh giá tại sở Rượu Văn Điển” (xin coi hình phía dưới). Dưới bức hình là lời ghi chú như sau :

“ Đức Bảo Đại ngự ở trên Cao- lầu nếm Rượu Văn Điển. Bên tay phải Hoàng- thượng  là quan cố Toàn-quyền Pasquier, tay trái  là quan Thống-sứ Tholance.”

Bao Dai  1 (5)

Ghi chú thêm:

* Thống sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin) được đặt ra để đảm nhiệm các công việc cho chính phủ Pháp ở Bắc Kỳ bên cạnh Kinh Lược Sứ của Nam triều. Ông Auguste Eugène Ludovic Tholance làm Thống sứ  Bắc kỳ từ 1930 đến 1937.

* Quan Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur-général de l’Indochine Française), còn gọi là Toàn quyền Đông Pháp, là chức vụ đứng đầu Liên bang Đông Dương bao gồm cả 3 xứ  Việt, Miên Lào. Ông Pierre Marie Antoine Pasquier là Toàn quyền Đông Dương  từ  năm 1928 đến 1934, vì tử  nạn máy bay ở Pháp ngày 15 tháng 1 năm 1934 nên trong hình ghi là “quan cố Toàn quyền” .
(Tài liệu theo Wikipedia.)
***

Để kết thúc bài viết này, tôi xin trích một đoạn văn ngắn ở trang 14, có tựa đề ‘Một tin lạ đầu năm” mà nội dung châm biếm cung cách làm tin, viết tin của ông Hoàng Hữu Huy, báo Đông Pháp. Theo cảm nghĩ của tôi, đây là một bài có đầy tính sáng tạo, đáng được coi là một trong những bài hài hước xuất sắc trong lịch sử viết châm biếm của làng báo Việt Nam.

Một tin lạ đầu năm

Mồng tám tháng Giêng. Chín giờ sáng một tiếng nổ.

Ông Hoàng Hữu Huy đầu không kịp đội mũ, mình không kịp mặc áo, vội nhẩy lên chiếc ô-tô, sai tài xế mở máy về phía có tiếng nổ để đi nhặt tin.

Hôm sau, tờ Đông Pháp, trang đầu, cột nhất đăng như sau này :

Con cái nhà ai thế ?

Vào khoảng 9 giờ sáng hôm qua, phố xá đương yên tĩnh , bỗng “đoành” một tiếng nổ vang. Bản báo chủ bút đoán là họ giết nhau, vội vàng đi ngay. Sau hai giờ điều tra, bản báo chủ bút mới biết rằng không phải họ giết nhau, mà chỉ là một đứa trẻ đốt cái pháo cối. Không biết có ai mù mắt gì không, bản báo còn cho đi dò. Con cái nhà ai mà tinh ranh vậy.

Bản báo sẽ tường thuật kỹ lưỡng trong số báo ngày mai, vì việc này cũng có quan hệ mật thiết đến nền luân lý Á Đông.

Ai lại hết tết rồi còn đốt pháo!

Lê  Kế  Huy

NHẬT TIẾN (sao lục)
Tháng 1-2013

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: