Một Cuốn Sách, Một Thời Đạo Diễn – Yêu và Đỗ Tiến Đức. Nguyễn Mạnh Trinh


do_tien_ducphim_1

(Đạo Diễn Đỗ Tiến Đức và Phim Yêu phỏng theo tiểu thuyết của Nhà Văn Chu Tử)

Nguyễn Mạnh Trinh

Tôi đọc “Yêu-Truyện Phim & Đạo diễn Đỗ Tiến Đức” trong tâm cảm của người đi tìm kiếm lại những tháng ngày đã qua, đã mất. Dù rằng đây là một cuốn sách tái bản mà nguyên tác in năm 1972 ở quê nhà, nhưng là một di sản quý báu của một nền văn hóa có nhiều thành quả tốt đẹp mà điện ảnh đã có những bước đi chuyển mình, thay đổi cả về ý thức nghệ thuật cũng như phương cách điều hành vượt qua các trở ngại do các chú ba Tàu tài phiệt tung tiền ra để lũng đoạn và thủ lợi.

Cầm cuốn sách trên tay tôi có cảm giác bồi hồi y hệt như lúc tôi xem trên internet hình ảnh những rạp cinéma của thành phố Sài Gòn thuở hơn 60 năm về trước. Ôi thật là cảm động khi nhìn những mặt tiền của những rạp chiếu bóng mà ngày xưa tôi đã có viết bao nhiêu kỷ niệm. Điện ảnh Việt Nam qua rất nhiều thập niên vẫn là một khía cạnh gắn liền với tiến trình hình thành và phát triển xã hội. Những rạp như Cathay, Nguyễn Văn Hảo,… thời Sài Gòn cổ xưa thời Pháp thuộc đến những rạp trung bình như Văn Cầm, Casino Dakao, Cao Đồng Hưng,… đến những rạp sang trọng như Đại Nam, Rex, Eden,… một thời đã quen thuộc với tâm tư người dân Sài Gòn thuở đó. Có rạp đã là nơi chốn để nhớ về một thời học sinh, một thời còn cắp sách đến trường, của những phim được coi là thời thượng, phần đông là phim Pháp với sự lãng mạn tuổi trẻ như rạp Vĩnh Lợi trên phố Bonard đầy ắp kỷ niệm ngaỳ xưa. Tôi giở đọc những trang sách của “Yêu- Truyện Phim & Đạo Diễn” như đang giở đọc những mảnh yêu thương của những người một thời Sài Gòn.

Tôi thích xem phim và có phần nào chia sẻ với nhà đạo diễn Đỗ Tiến Đức khi ông trả lời nhà báo Trùng Dương hỏi ông cơ duyên nào đưa ông đến điện ảnh: “lý do sâu xa nhất là tôi thích điện ảnh. Hồi học tiểu học ở Hà Nội tôi là một cây ‘sưu tầm” mấy tờ chương trình của các rạp chiếu bóng đấy. Tôi cũng thường “ mánh mung” kiểu này nữa. Nhiều buổi tối tôi ăn mặc “lịch sự” chải đầu chải tóc quần áo đàng hoàng rồi tới trước cửa rạp hát. Khi thấy cặp vợ chồng nào “dễ thương” tôi tà tà bám theo họ, đóng vai là con cái họ tay thì cầm tờ chương trình, cúi xuống đọc miết theo kiểu “gian thì phải ngoan” để qua mặt người soát vé… Vậy chứ có khi thoát, có khi bị túm…

Khi tôi vào Sài Gòn vừa học trung học vừa đi bán báo với Hà Huyền Chi, vừa viết báo, thế mà khi nghe tin có ‘dzụ” người ngoại quốc tới quay phim ở đâu là tôi tới bằng được để mê mẩn xem người ta “mần tuồng”. Vì còn nhiều người khác cũng hiếu kỳ như tôi nên có khi bị đoàn làm phim gọi xe cứu hỏa tới xịt nước để giải tán tôi và mọi người ướt như chuột lột vậy mà vẫn nhe răng cười khoan khoái lắm”

Tuổi ấu thơ nào mà không có những nghịch ngợm như vậy. Tôi chợt mỉm cười một mình khi nghĩ lại những thành tích nghịch phá động trời của tôi. Đọc trang sách sao thấy như tìm lại một chút tuổi thơ của mình trong đó.

Đỗ Tiến Đức là người may mắn, ít nhất là trên con đường điện ảnh. Được làm những công việc mà mình mê thích phải là một đặc ân của trời đất. Ông là Giám đốc Nha Điện Ảnh trực thuộc Bộ Thông Tin đầu tiên cho đêán khi giải tán. Cũng là cái duyên mà cũng là cái nghiệp. Ông Tổng Trưởng Thông Tin Nguyển Ngọc An và phụ tá tổng trưởng Bùi Quang Định đã chấp thuận việc bổ nhiệm nhà văn Đỗ Tiến Đức vào chức vụ trên. Mặc dù cả hai ông đều ngạc nhiên và ông tổng trưởng đã hỏi nhà văn Đỗ Tiến Đức: “Nhưng em là ngạch đốc sự hành chánh, em biết gì về điện ảnh mà làm cái công việc chuyên môn đó?” và ông Đức trả lời là ông đến Trung Tâm Điện Ảnh không phải để làm một công việc chuyên môn như quay phim, ráp nối mà tới là để quản trị tạo sự phát triển. Mà khả năng quản trị thì ông đã học và đã thực hành nhiều năm qua nhiều chức vụ.

Tình hình điện ảnh Việt Nam trước khi có Nha Điện Ảnh èo uột vì bị phim nhập cảng ngoại quốc độc chiếm thị trường. Chính phủ có Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh là cơ quan sản xuất phim thời sự hàng tuần và phim tài liệu tuyên truyền. Đôi khi cũng sản xuất phim truyện với nội dung chống Cộng để cung cấp cho các Ty Thông Tin và các cơ quan chính phủ. Trung tâm này không có trách nhiệm về ngành điện ảnh trong nước do đó không quan tâm tới những sinh hoạt điện ảnh tư nhân.

Còn điện ảnh tư nhân lúc đó rất yếu kém. Cả nước chỉ có hai hãng phim hoạt động tương đối là Mỹ Vân và Alpha. Mỹ Vân thì làm phim chiếu vào dịp Tết nên chú trọng chọc cười như Năm Vua Hề Về Làng chẳng hạn, Hãng Alpha thì hoạt động chính là phụ đề chữ Việt cho phim ngoại quốc.

Khi được chấp thuận nâng cấp lên Nha Điện Ảnh, thì nhà văn Đỗ Tiến Đức học nghề … điện ảnh. Ông kể:

“Các anh chị em chuyên viên các ngành từ thu hình, ráp nối, viết truyện phim vân vân là người hướng dẫn cho Giám Đốc học nghề. Mấy ông đạo diễn như Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Hoàng Hoa, Thân Trọng Kỳ… nhìn tôi bằng nửa con mắt, coi tôi là kẻ “Ngoại Đạo” vì khi tôi tới nhậm chức, trước anh em nhân viên, tôi nói lời đầu tiên đại ý là “Xin anh chị mang cái máy quay phim ra đây cho tôi được sờ mó một cái vì tôi chưa bao giờ được đứng sát bên nó cả” Nhân viên tôi sau này nhắc lại chuyện đó với tôi khen là tôi “ngây thơ, thành thật khai báo”.

Trong khi đó tôi tiếp xúc với giới điện ảnh tư nhân thuyết phục họ hợp tác với tôi để tổ chức Ngày ĐiệnẢnh Việt Nam làm điểm xuất phát làm phim Việt. Ngày điện ảnh ấy là ngày 22 tháng 9 năm 1969, Ngày đó các rạp trên toàn quốc đều chiếu phim Việt miễn phí cho đồng bào. Một buổi hội thảo lớn tại rạp Rex và chiếu lần đầu phim Xin Nhận Nơi Đây Làm Quê Hương do Trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh sản xuất, đạo diễn là Hoàng Vĩnh Lộc. Ông Tổng Trưởng Nguyễn Ngọc An đọc diễn văn về chính sách điện ảnh đưa ra ba mục tiêu lớn là giúp phương tiện và nhân sự cho tư nhân làm phim, thứ hai là các nhà nhập cảng phim sẽ được thêm quota nếu sản xuất phim Việt Nam và thứ ba là Nha Điện Ảnh và các hãng phim tư nhân sẽ hợp tác sản xuất những cuốn phim có nội dung thích hợp. Về lâu dài sẽ soạn thảo Luật Điện Ảnh trong đó miễn thuế cho ngành sản xuất phim ảnh trong một thời gian từ năm đến mười năm”

Nhà văn Đỗ Tiến Đức hãnh diện đã tổ chức được Ngày Điện Ảnh cũng như đã mở được Ban Điện Ảnh thuộc Phân Khoa Nhân văn và Nghệ Thuật của Viện Đại Học Minh Đức. Việc giáo dục về kỹ thuật chuyên môn rất cần cho một nhân lực vốn dĩ có nhiều hạn chế. Với những chươg trình học cho văn bàng Cử nhân, ngành điện ảnh sẽ được cung cấp nhiều chuyên viên cần thiết cho giai đoạn phát triển.

Nhờ có Ngày Điện Ảnh Việt Nam mà ông Tổng Trưởng Nguyễn Ngọc An chính thức ban hành chính sách điện ảnh và sau đó thì hãng phim mọc ra như nấm trên dưới khoảng ba chục hãng phim. Rất nhiều nữ tài tử như Kiều Chinh, Kim Cương, Túy Hồng, Thẩm Thúy Hằng đều mở hãng phim. Nhiều doanh gia cũng mở hãng phim như ông Phạm Hoàng Kim mở hãng Lidac. Hãng nhập cảng phim Consunam, Tân Kiệt Yoan cũng mở hãng phim. Như thế tất nhiên là số lượng phim ra đời phải tăng nhiều. Năm 1971 có khoảng 20 cuốn phim được thực hiện. Phim Chiều Kỷ Niệm của nhóm Thẩm Thúy Hằng được chiếu tuần lễ đầu tiên tại 10 rạp gồm cả rạp lớn nhất là Rex. Nghe nói số thu lên đến trăm triệu đồng nên làm nức lòng giới điện ảnh. Có thể kế hoạch đó quá chú trọng về lượng? Đúng thế, ở Việt Nam thời đó số người được học về điện ảnh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các chuyên viên điện ảnh chỉ là nhân viên của Nha Điện Ảnh. Mà những người này do chính phủ huấn luyện để làm phim thời sự chứ không phải phim truyện. Thành ra cứ làm nhiều phim rồi nghề dạy nghề là phương cách tốt nhất.

Tôi là một độc giả của Yêu- Truyện Phim & Đạo Diễn Đỗ Tiến Đức cũng có một kỷ niệm nhỏ với Ngày Điện Ảnh Việt Nam khi được nghe các nhân vật đã tham dự vào ngày lễ hội đó sau hơn bốn chục năm ở hải ngoại. Tôi và Nhã Lan trong Chương Trình Tản Mạn Văn Học trên đài phát thanh Little Sài Gòn Radio và trên màn hình của Hồn Việt TV đã thực hiện một chủ đề đàm thoại về Ngày Điện Ảnh này. Đó là dịp chúng tôi nói chuyện về ngày điện ảnh Việt Nam và nhìn lại nền điện ảnh VNCH trước ngày 39/4/75. Ngày điện ảnh đầu tiên được tổ chức ở toàn quốc ngày 22 tháng 9 năm 1969. Và một chính sách mới về điện ảnh được áp dụng để vực dậy nền điện ảnh còn khá thô sơ lúc ấy. Trước đây các hãng phim thường chú trọng về công việc nhập cảng phim để chiếu và lơ là với việc đầu tư để tạo dựng những phim ảnh có giá trị nghệ thuật.

Ngày điện ảnh đầu tiên thổi một luồng gió mới vào sinh hoạt điện ảnh lúc ấy. Tham dự cuộc mạn đàm xoay quanh ngày chuyển mình của điện ảnh hôm ấy là một dịp coi như nhớ lại kỷ niệm những ngày điện ảnh xưa cũ, là những nhân vật đã một thời là nồng cốt của nền điện ảnh Việt Nam. Nhà văn, đạo diễn Đỗ Tiến Đức, Giám đốc Nha Điện Ảnh thuộc Bộ Thông Tin Chiêu Hồi. Ông Nghiêm Xuân Trường, Giám đốc Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh trực thuộc Nha Điện Ảnh. Nữ tài tử Kiều Chinh được biết đến không những với điện ảnh Việt Nam mà cả với điện ảnh thế giới, là tài tử nữ chính của nhiều phim VN và Hoa Kỳ có giá trị nghệ thuật cao và rất nổi tiếng và được hâm mộ. Nhà đạo diễn Võ Doãn Châu, đạo diễn phim Lệ Đá, đã chiếm giải về đạo diễn xuất sắc nhất của giải văn học nghệ thuật Tổng Thống năm 1971, và người cuối cùng là là một người thuộc giới trẻ Y Sa chủ tịch hội văn học VALA, người đã tổ chức liên tiếp 6 năm đại hội phim ảnh VN ở hải ngoại và có nhiều sinh hoạt gần gũi với các sinh hoạt điện ảnh hiện nay.

Trong cuộc mạn đàm, chúng tôi đã rất thích thú với những người có thể nói là đại diện cho điện ảnh Việt Nam thời đó nói về những hoạt động cũng như kỷ niệm của mình. Như ông Nghiêm Xuân Trường nói về Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh, nhiệm vụ sinh hoạt cũng như các thnah quả đạt được. Như nữ tài tử điện ảnh Kiều Chinh nói về Giao Chỉ Phim, về cuốn phim đắc ý nhất của mình “Người Tình Không Chân Dung” cũng như số phận truân chuyên của cuốn phim khi gặp trở ngại về kiểm duyệt thời đó. Như đạo diễn Võ Doãn Châu với phim Lệ Đá với những giai thoại và kỷ niệm đáng nhớ. Và đặc biệt là phần nói chuyện về VIFF của Y Sa. Điện ảnh Việt Nam tại hải ngoại có gì khởi sắc trong năm tới? Câu hỏi ấy lúc nào cũng vương vấn trong óc những người yêu thích nghệ thuật thứ bảy. Đối với nền điện ảnh Hoa kỳ ở Hollywood, thì sinh hoạt của những người gốc Việt trong bộ môn này chỉ là lẻ tẻ coi như không đáng kể. Những bộ phim đã hoàn thành của người Việt có tầm phổ biến hạn hẹp và những tài tử, đạo diễn người Việt cũng chỉ đóng những vai trò phụ thuộc trong các giải thưởng điện ảnh quốc tế. Nhưng, điện ảnh Việt Nam ở hải ngoại không phải là không có những hoạt động đáng nói, với những nỗ lực của những người trẻ tuổi, có căn bản nghề nghiệp và giáo dục đã nỗ lực trong hoàn cảnh của mình để tạo những công trình nghệ thuật có giá trị và gây nhiều tiếng vang khích lệ trên trường quốc tế. Một nhóm người trẻ có sự hỗ trợ và cộng tác của những người đã có kinh nghiệm từ điện ảnh Việt Nam trước 1975 đã tổ chức những đại hội điện ảnh với mục đích hỗ trợ và quảng bá những tác phẩm của các đạo diễn Việt Nam trên thế giới. Những bộ phim này được trình chiếu có khi là đề tài về con người hoặc văn hóa Việt Nam do các đạo diễn không phải là gốc Việt. Đó là Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival) viết tắt là VIFF được tổ chức tại Nam California với những buổi trình chiếu phim, những buổi tiếp tân, lễ khai mạc, lễ trao giải và những buổi hội luận, workshops do các đạo diễn và diễn viên hướng dẫn.

cuocdoi-cuonsach-03

Tôi tiếp tục đọc “Yêu-Truyện Phim & Đạo Diễn Đỗ Tiến Đức” và tìm hiểu tại sao mà nhà văn kiêm đạo diễn lại chọn tiểu thuyết Yêu của nhà văn nhà báo Chu Tử để chuyển thành phim ảnh. Tôi nghĩ rằng giữa văn chương và phim ảnh tuy có nhiều tương đồng nhưng nhà đạo diễn phim ảnh cũng phải sáng tạo bằng ngôn ngữ riêng và kỹ thuật riêng để biểu tỏ được những thông điệp đến khán giả. Tôi là một người ngoại đạo đúng nghĩa (nghĩa là kiến thức về điện ảnh ở mức không đáng kể) nên thú thực phải rất khó khăn khi đọc những trang phân cảnh và đối thoại. Tôi chỉ hiểu rằng nhà đạo diễn đã phải sử dụng rất nhiều kỹ thuật để phim ảnh vừa có nét riêng của nghệ thuật thứ bảy mà vừa lại có chất văn chương của tiểu thuyết.

Nhà đạo diễn Đỗ Tiến Đức thố lộ với nhà báo Trùng Dương: “Cuốn truyện Yêu của anh Chu Tử rất ăn khách thời đó. Nhưng chị cũng biết anh Chu Tử viết truyện này cho báo hàng ngày nên phóng bút tùy hứng mỗi ngày. Vì thế khi chuyển thể sang điện ảnh thì rất phức tạp. Thành ra tôi chỉ lấy được một số tình tiết trong truyện và dựa vào truyện để tạo những chủ đề cho phim. Chẳng hạn như trong cuốn phim yêu chủ đề của nó là “Tình yêu là định mệnh hay do con người xếp đặt? Và “đích thực của Tình Yêu là khổ đau?”

Trả lời câu hỏi những động lực đã thúc đẩy nhà đạo diễn chọn cuốn tiểu thuyết đã xuất bản từ cả thập niên trước để dựng thành phim trong một xã hội bị chiến tranh và những ảnh hưởng từ bên ngoài đã và đang thay đổi dữ dội khiến chuyện một thiếu nữ trẻ yêu thầy giáo và là bạn của bố mình chắc không còn là điều lạ lùng? nhà đạo diễn nói: “Lúc đó tôi nghĩ rằng cuốn truyện Yêu đã tái bản nhiều lần, ăn khách với nhân vật Chú Đạt thì đó đã là lợi thế lôi cuốn người xem rồi. Thứ hai là nhóm Phim Nghệ Thuật do chị làm giám đốc mà chị lại đang là chủ nhiệm báo Sóng Thần của anh Chu Tử nên tôi mang truyện của anh Chu Tử làm phim mà nhóm Sóng Thần “quậy” lên thì cũng là một yếu tố dễ thành công về tài chánh.”

Nhà đạo diễn đã nhận xét về “tài tử đóng phim Chu Tử:” Lúc đầu khi tôi đề nghị đóng phim thì anh Chu Tử dãy nảy lên, từ chối rất quyết liệt. nhưng thuyết phục mãi thì anh “đành” phải nhận lời. Tôi nhớ khi anh Chu Tử viết báo mục Ao Thả Vịt thì hung hăng coi trời bằng vung. Thế nhưng khi bước vào phim ảnh anh ấy nhút nhát gì đâu. Nhất nhất cử động anh đều trông chờ xem tôi nói phải làm thế nào. Có lần tôi phải nói với anh “Nhân vật thầy giáo Thức là do anh dựng lên coi như đứa con của anh thì anh cứ việc diễn như anh nghĩ cần gì phải tới tôi chỉ dẫn” Kỷ niệm làm phim với anh Chu Tử là… tội nghiệp cho anh ấy.

Tôi thấy rõ là mỗi lần lôi anh ấy ra trước máy quay phim thì anh ấy “mất tinh thần” thấy rõ. Tôi cứ thúc đẩy anh ấy rằng: “Anh đã dựng lên ông giáo Thức anh cho ông ấy suy nghĩ ra sao, ăn nói ra sao thì bây giờ anh lập lại như thế chứ có gì mà không làm được? Những cảnh quay với Chu Tử phải làm đi làm lại nhiều lần, tốn phim và tốn thì giờ lắm. Có lần anh ấy quạu với tôi: “Này, Đỗ Tiến Đức, hãy nhớ là chỉ có mình cậu “hành” được thằng già này thôi đấy nhé!”

Chu Tử đóng vai người tình với nhà văn Nguyễn Thị Vinh nhưng trong phim sau cùng thì lại không có bà Vinh. Nhà đạo diễn giải thích: “Thì tại ông Chu Tử. Khi quay cảnh ông giáo Thức (Chu Tử) tới nhà bà Hằng (Nguyễn Thị Vinh) hai người tâm sự bên hồ nước. Bà Hằng mặc áo cánh ngắn tay,không mặc nịt ngực, trông bà hấp dẫn vô cùng. Bà Hằng hấp dẫn quá càng khiến ông giáo Thức run rẩy. Tôi bảo ông ngồi sát vào người bà Hằng, ông cứ né. Tôi bảo ông đặt tay lên vai bà, ông không dám. Thế thì còn gì là…tình. Tôi sẵng giọng với ông Chu Tử: “Cái đoạn này trong truyện anh viết thế nào? Anh nói đi?” Ông Chu Tử cười một cách vô cùng đau khổ. Thế là chúng tôi bàn nhau phải thay diễn viên, hoặc là thay anh Chu Tử hoặc là thay chị Nguyễn Thị Vinh. Vì đã thu hình anh Chu Tử nhiều rồi nên chúng tôi quyết định giữ anh Chu Tử. Anh Viên Linh giới thiệu chị Thanh Khiết. Sau đó anh Chu Tử đóng với chị Thanh Khiết thoải mái hơn.”

Kết cuộc ra sao? Nhà báo Trùng Dương cho rằng phim Yêu đã thất bại về thu và Nhóm Phim Nghệ Thuật cũng rã gánh, mỗi cổ đông nếu không mang nợ thì cũng mất sạch vốn. Có một giai thoại tôi nghe, tuy khôi hài nhưng khá tiêu biểu cho sự thất bại của phim Yêu. Một người thân của một người trong nhóm làm phim kể là hôm ấy chị đi xem phim này ở rạp chiếu bóng Hòa Bình ở Đà Lạt về kể là hôm ấy ngồi trong rạp chị sợ ma quá. Hỏi “Ủa phim Yêu đâu có cảnh nào rùng rợn ma quái đâu mà nói sợ” Thì được trả lời là tại trong rạp vắng người xem quá. Chuyện xưa nói lại cho vui. Theo nhà báo Trùng Dương nhận định thì thấy việc chọn một tác phẩm ăn khách vào đầu thập niên 1960 vì tính cách “bạo” của nó để dựng cho khán giả đã trở thành chai đá vì chiến tranh, xã hội và con người đã đổi thay của đầu thập niên 1970 có vẻ không thích hợp nữa. Ngoài ra diễn viên phần lớn là người gốc Bắc nhưng phải chuyển âm bằng giọng Nam thành ra vừa xa lạ với khán giả gốc Nam vì diễn viên ai cũng biết là người gốc Bắc.

Nhưng nhà đạo diễn Đỗ Tiến Đức thì cho rằng phim Yêu chỉ thất bại về tiền bạc thôi. Nhóm làm phim đã để lại cho nền điện ảnh Việt Nam thời đó một phim tương đối nghệ thuật. Và lý do tại sao không thu hút khán giả thì theo các nhà phát hành phim và chủ rạp thời đó, họ cho ý kiến là cái dở của phim Yêu là không có dàn tài tử tên tuổi, chẳng hạn sao không để Hùng Cường thay chỗ của ca sĩ Anh Ngọc, Thanh Nga hay Thẩm Thúy Hằng thay thế chỗ của Mai Trang…

Đọc “Yêu- Truyện Phim& Đạo Diễn Đỗ Tiến Đức” tôi thực sự đã biết được những điều xác thực về tình hình điện ảnh Việt Nam lúc ấy. Và từ đó, trong cách so sánh với điện ảnh miền Bắc thời đó hay với điện ảnh bây giờ 60 năm sau thời điểm ấy, tôi đã thấy được tính chất khai phóng của văn hóa thời chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Dù trong một thời kỳ chiến tranh và xã hội nhiều biến động, nhưng vẫn có những cố gắng để làm thăng hoa nghệ thuật và trong hoàn cảnh bị hạn chế nhiều mặt, vẫn có sự vươn lên của những cố gắng làm đẹp cho đời.

Nguyễn Mạnh Trinh

(Nguồn:http://vietluan.com.au/thong-tin-mot-cuon-sach-mot-thoi-dao-dien-yeu-va-do-tien-duc)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2016, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. ****** Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: