Tha Thẩn Sân Trường, Truyện ngắn Nhật Tiến


H 1b

Nhật Tiến

Buổi sáng, trước khi đi học, bao giờ mẹ cũng dúi vào tay của Khoa một khúc bánh mì. Bà vuốt lại vài sợi tóc đang xòa trên trán của nó, sửa lại cái ve áo có khi bị dắt dưới cái cổ áo len. Bà ngắm lại cung cách ăn mặc của nó, xem trời bên ngoài nếu trở lạnh hơn thì đã đủ ấm chưa. Xong xuôi, với một vẻ mặt hài lòng, bà xua nó ra xe. Mọi bổn phận đối với nó, sau chừng ngần ấy động tác, bà hoàn toàn yên tâm và trở lại với những công việc bận rộn, hối hả hàng ngày.
Có nhiều lúc, Khoa muốn níu tay mẹ lại, trong lòng nó chưa nguôi ngoai nỗi niềm thổn thức đã làm nó trằn trọc từ lúc đi nằm của đêm hôm trước, và buổi sáng ra, lúc mở choàng mắt dậy, nó vẫn còn có cái cảm giác ấy hồi đêm. Tuy nhiên, chưa lần nào Khoa làm phiền mẹ trong những giờ phút khởi sự một ngày bận rộn của bà. Nó tự nghĩ, thà chẳng nói ra thì có lẽ tốt hơn, bởi vì, chưa chắc mẹ của nó hiểu được cái tâm tình mỏng manh, ngấm vào lòng nó thì ngấm rất sâu, nhưng diễn tả bằng lời nói có khi lại chẳng ra đâu vào đâu. Người lớn có những cung cách suy nghĩ của riêng họ. Tuy ở vào cái tuổi mười hai, muời ba, Khoa cũng đủ đầu óc nhận xét để thấy rõ điều đó.
Cho nên khi lủi thủi ra xe, Khoa vẫn ôm trong lòng một cảm giác nặng chĩu. Về một chuyện gì đó xẩy ra trong lớp học hôm trước.
Bố thường hay ra xe trước mẹ. Ông có nhiệm vụ phải làm cho máy nổ một thời gian cho động cơ được hâm nóng lên. Trong khi chờ đợi, một tay ông cầm ly cà phê, một tay mở rộng tờ báo trước tay lái và chăm chú đọc một tin tức sốt dẻo nào đó. Lúc thằng Khoa mở cửa sau để leo lên ngồi, ông cũng không quay lại. Hình như mọi công việc săn sóc đứa con trai độc nhất của hai người, ông khoán trắng cho người vợ đảm đang của mình. Trong gia đình, mỗi người có một bổn phận phải lo toan. Những bổn phận ấy, chưa bao giờ hai người phải ngồi lại để phân chia rạch ròi, nhưng mặc nhiên, ai cũng cảm nhận thấy những điều mình phải làm. Và trong cái gia đình nhỏ bé, hạnh phúc của ông từ hơn mười năm qua, lúc nào ông cũng cảm thấy mình chu toàn trách nhiệm làm bóng mát, làm tàn cây che chở cho những người thân yêu. Ngay cả hồi trước, khi còn ở Việt Nam, đời sống khó khăn, cực nhọc là thế, mà ông cũng đã cố gắng hết sức của mình để vợ con không bị thiếu thốn.
Thằng Khoa, nhờ vào những cố gắng đó, cũng đã được cắp sách đi học. Tuổi thơ của nó tràn ngập những kỷ niệm hồn nhiên. Buổi sáng trở dậy, trước khi đến trường, nó được mẹ dúi cho một nắm xôi nóng. Mẹ nó không cho ăn gì khác hơn, kể cả bánh mì kẹp thịt có một mớ đồ chua lổn nhổn ở bên trong. Bà nói ăn xôi lành. Hồi đó cắp sách đi học, đối với Khoa là cả một niềm vui. Một sự bay bổng từ căn nhà chật chội, nhỏ bé, tù túng của gia đình nó để đi đến một khoảng trời rộng rãi, khoảng khoát đầy ắp những nguồn vui và tiếng cười. Nó hay tha thẩn trên con đường khấp khểnh từ đường cái đi vào cổng trường. Hai bên đường có bụi cỏ mọc cao lên, buổi sáng sớm, nó nhìn ngắm hơi sương còn bay là là trên những cọng cỏ, thỉnh thoảng có những bông hoa me vàng chóe mọc chen chúc trong lớp lá cỏ mầu xanh rờn ở trên còn đọng lại những giọt sương đêm đang phản chiếu ánh sáng mặt trời trở nên có mầu sắc lóng lánh. Tâm hồn của Khoa phơi phới niềm vui. Một tay nó cắp một mớ tập có kẹp lỉnh kỉnh cái bút, cái thước ở bên trong, một tay nó thọc vào túi quần và cảm nhận thấy có những hòn sỏi nhẵn bóng, những cái nút phéng hay những sợi cao su còn nằm chen chúc lên nhau. Mỗi một món đồ vật đều có sự ràng buộc với một loại trò chơi cùng với hình ảnh của từng đứa bạn hiện ra lẫn lộn đủ loại khuôn mặt quen thuộc. Mỗi đứa là một thế giới riêng, nhưng tất cả đều hòa hợp với nhau một cách tự nhiên, rất thân ái đủ khiến cho thằng Khoa tìm thấy ở đó là thế giới của mình, là nơi chốn đã đan đầy những kỷ niệm không bao giờ có thể quên trong suốt quãng đời thơ ấu.

H 3

Qua đến đây, lần đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa choáng ngợp ngay về cái vẻ đồ sộ, qui củ, ngăn nắp của ngôi trường, dù đấy chỉ là một ngôi trường tiểu học. Nó cảm thấy xót xa, buồn bã khi nhận ra thế giới nhà trường ở đây chẳng giống một tí tẹo nào cái thế giới mà nó vẫn hình dung ra trong trí tưởng tượng. Trường gì chỗ nào cũng lát xi măng phẳng lì không có chỗ cho những mảnh đất loang lổ, sau những cơn mưa còn đọng lại từng vũng nước, ở đó thỉnh thoảng có những con dế bị ngộp thở phải bò lên, ngơ ngác giơ hai cọng râu ngoe nguẩy dưới ánh nắng đầu hôm xuyên qua những tàn cây che kín cả sân trường. Ở đây nó cũng không thấy có những lớp học san sát bên nhau, chung nhau một dãy hành lang chạy dài, vào lúc buổi học bắt đầu, học trò xếp hàng thành dẫy dài trước mỗi cửa lớp để chờ lệnh thầy cô tiến vào lớp học.

H3

Làm gì có chuyện xếp hàng vào lớp trong ngôi trường đầy rẫy những sự kiện xa lạ này. Vào buổi sáng, trước giờ vô lớp, cái hành lang rộng rãi đến độ có thể chạy được cả một chiếc xe hơi trên đó, học trò ồn ào nhốn nháo đi ngược đi xuôi nhộn nhịp. Tiếng cười có cất lên rộn rã nhưng nghe vẫn lạ tai. Ngôn ngữ thì ríu rít nhưng tự nhiên, mạnh dạn, không mang một đôi chút dáng vẻ nào là nhút nhát hay e dè. Tốc độ đi lại của mọi người thì nhanh đến chóng mặt. Rõ ràng là thằng Khoa nhận thấy cái cảm giác như mình là một thứ chim chích đang lạc vào một khu rừng to lớn, rậm rạp.
Nó cố gắng đi tìm một chỗ bấu víu để không cảm thấy rằng mình đang bị lạc lõng. May thay, Khoa cũng nhận ra được mấy đứa học trò đầu đen, cũng có mầu da và dáng vẻ Việt Nam như mình. Tuy nhiên, hầu hết chúng nó đều là những đứa đã đến trước. Chẳng rõ là bao lâu, nhưng coi bộ chúng đã có những cử chỉ quen thuộc, tự nhiên và dễ dàng hòa hợp được vào bầu không khí ồn ào, xa lạ ở đây.
Buổi học đầu tiên đã qua đi và để lại trong đầu của Khoa một cảm giác như mình vừa trải qua một cực hình. Nó chỉ mong cho mau chóng tới giờ tan học để thoát cho lẹ về căn nhà quen thuộc của mình. Ít ra, ở đó nó còn tìm thấy được sự yên ổn và bình thản trong lòng. Hồi trước còn ở quê nhà, chẳng bao giờ Khoa có nhu cầu kể lể với bố mẹ về những chuyện đã xảy ra ở trong nhà trường. Nhiều khi nó lại còn muốn giấu giếm thêm đi nữa là khác, vì nó nghĩ thế giới ở trường là thế giới của riêng nó, chẳng ăn nhập gì với những người lớn cả, trừ khi nó được hỏi đến và bó buộc phải trả lời. Nhưng ở đây, trong khung cảnh xa lạ này, Khoa muốn chia sẻ những nỗi lo lắng, bồn chồn bất ổn của mình với bố mẹ. Lúc leo lên chiếc xe của bố đi đón mình về, Khoa toan cất tiếng thì bố đã xoải tay vặn to hơn một bản nhạc trong cuốn băng vừa cất lên mà bố cảm thấy ưa thích. Tiếng hát của cô ca sĩ chợt ùa lên, tràn ngập trong lòng xe chật hẹp, giống như một bức tường đột nhiên sừng sững hiện ra ngăn cách Khoa và bố. Nó đành chán nản ngồi co mình lại, buồn bã nhìn ra cảnh bên đường phố đang vùn vụt trôi qua tấm cửa kính. Hai bố con vẫn giữ nguyên sự thầm lặng đó trên suốt đường về.
Khi vào nhà, mẹ đón hai bố con bằng một nụ cười rạng rỡ khi bà đứng trước cái bếp gas đang phừng phực những tia lửa xanh lét bao quanh những cái nồi bằng nhôm láng bóng. Lại một lần nữa, Khoa cảm thấy thất vọng khi mẹ không nhắc nhở gì đến buổi học đầu tiên của mình, mà bà chỉ nói với bố :
– Hôm nay em đã đi gặp chị Thu rồi. Anh chuẩn bị ăn cơm, rồi em sẽ thuật lại cho mà nghe.
Thế là trong suốt bữa cơm của buổi chiều hôm đó, hai người chỉ trao đổi công chuyện làm ăn gì đó với bác Thu, người chị họ của bố, đã qua đây từ bốn, năm năm về trước. Lần đầu tiên Khoa cảm thấy tủi thân về sự đã bị quên lãng của mình. Trái tim nhỏ bé của nó đã bị thương tổn đến độ nó thổn thức riêng trong lòng qua suốt cả bữa cơm. Ðêm hôm đó, lần đầu tiên đặt chân lên xứ Mỹ, Khoa nằm khóc một mình. Nó nhớ trường, nhớ bạn, nhớ thầy cô ở Việt Nam.
Trong suốt thời gian một tuần lễ đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa luôn luôn mang tâm trạng buồn bã đó. Cho đến khi nó tình cờ quen được một người bạn. Anh này, Khoa mới phát giác ra rằng ở Việt Nam, anh ta là dân con nhà lao động, tối ngày phải vật lộn với miếng ăn nên ít có dịp cắp sách đến trường. Trình độ của anh chỉ là biết viết, biết đọc. Vậy mà qua đây, vì to xác, lại lớn tuổi, nên anh bị nhét ngay vào lớp học cao hơn lớp của Khoa đến hai trình độ. Dĩ nhiên là anh ù ù cạc cạc chẳng biết ất giáp gì, suốt buổi ngồi thu ở một cái bàn nhỏ kê gần cuối lớp, mặt anh ta lúc nào cũng buồn thiu, buồn chẩy, còn cử chỉ thì lén lút, tránh né cứ như một anh ăn trộm vặt lo mình bị bắt quả tang.
Khoa gặp anh ta lần đầu ở nơi xếp hàng ăn bữa trưa. Sau khi lãnh xong phần của mình, Khoa định đi lại phía dẫy bàn ăn thì chợt bị anh ta níu lại và nói:
– Ăn…ăn…ăn… giùm…..!….
Ôi dà! Thì ra cái nhà anh này đã thế lại còn nói lắp ! Học hành ở cái xứ Mỹ này, đã đủ thứ khó khăn mà lại còn nói lắp nữa thì hết thuốc chữa. Chả trách, mọi người đã để yên cho anh cố thủ nơi cái bàn cuối phòng học và mặc để cho anh ta ngồi yên gậm nhấm“nỗi bất hạnh vì phải đi học” của mình.
Sự yếu kém về khả năng ngôn ngữ của anh làm Khoa dễ nẩy sinh tình cảm thân thương. Nó hỏi anh tại sao lại nhường phần ăn cho nó. Chừng đó, anh mới giải thích, bằng cung cách nói nghịu của mình. Thì ra hôm nay anh ta đau bụng, lại không nỡ vứt đồ ăn vào thùng rác. Khoa vặn lại:
– Nếu không ăn được thì anh xếp hàng lãnh phần làm gì ?
Anh ta trợn mắt:
– Đâu… đâu…. đâu… được! Mọi…..mọi…mọi người cùng….cùng xếp hàng mà!
Anh thật thà, đơn giản như thế đấy. Điều này khiến Khoa càng có cảm tình với anh hơn. Hai người trở nên thân thiết một cách dễ dàng mau chóng. Anh ta tên là Sửu. Đi Mỹ theo diện di dân, do bố là công dân Mỹ bảo lãnh. Hồi Sửu chưa qua đây, bố của anh vẫn gửi tiền về cấp dưỡng. Nhưng mẹ anh mê bài bạc nên cứ có đồng nào là đem nướng vào quân bài hết cả. Qua tới bên này, thấy anh thất học, hai vợ chồng đánh nhau một trận náo loạn cả làng xóm, một suýt nữa thì bố của anh phải đi ngồi tù.
Sau rồi mọi việc cũng được dàn xếp ổn thỏa và bố của anh nhất quyết bắt anh đến trường để giành lại những thời gian quí báu đã bỏ một cách uổng phí nơi quê nhà.
Trời sinh ra anh có khuyết tật về ngôn ngữ thì lại bù cho anh một khả nàng thiên phú khác. Đó là anh thổi khẩu cầm rất hay. Anh thường hay nhét cây kèn vào tận cùng lớp áo trong. Cây kèn nhỏ xíu bóng loáng vì đã được cầm nhẵn đi nhiều lần, do anh mang đi từ quê nhà. Vào những lúc buồn bã và nhà không có ai, anh hay leo lên cửa sổ ngồi thổi đủ mọi loạt bài. Những lúc như thế, Khoa thấy ở anh hiện ra một con người khác, đam mê, đắm đuối, nồng nhiệt, đúng là một hình ảnh của một nghệ sĩ có tài.
Nhưng chỉ ở những lúc đó thôi. Buông cây kèn ra, thả anh vào sân trường, anh lại trở về bản tính nhút nhát cố hữu của mình. Hình như mọi thứ ở cái xứ Mỹ này đối với anh cái gì cũng to lớn quá, ồn ào quá, nó khiến cho anh sợ hãi và cố tình thu nhỏ mình lại. Anh thổ lộ, chẳng bao giờ anh có thể hội nhập một cách bình thường như mọi người đang sống bình thường ở đây.
Khoa rất muốn đem chuyện của Sửu ra kể lại cho bố mẹ nghe. Nhưng chẳng bao giờ nó có cơ hội chen lấn được vào những câu chuyện làm ăn kéo dài tưởng như bất tận của hai người. Bố mẹ của Khoa có vẻ như đặt hết lòng tin tưởng vào sự hoàn hảo vô song của nhà trường Mỹ. Ông bà ấy tưởng như một khi đã gửi con vô trường rồi thì tự nó, nó có thể gặt hái được mọi sự thành công theo sự dạy dỗ của thầy cô Mỹ, cùng với chương trình giáo dục kiểu Mỹ. Vấn đề còn lại là làm sao kiếm ra thật nhiều tiền để có thể bảo đảm được nếp sống sung túc, tạo cơ hội cho con thường xuyên cắp sách đi học mà không phải đi làm thêm như những học trò khác. Riết rồi thằng Khoa không còn tìm thấy ở nơi bố mẹ mình một niềm an ủi, cảm thông mỗi khi nó gặp chuyện khó khăn nơi nhà trường. Như một lần, trong buổi xếp hàng lãnh phần ăn trưa, Khoa bị một thằng Mễ to con, huých vào mạng sườn một cái đau điếng. Rồi nó nhìn thằng Khoa với cặp mặt đầy vẻ khinh thị và nói :
– Go back to your country! (Cút về xứ mày đi!)
Thằng Khoa tức uất cả người lên, muốn chống trả mãnh liệt bằng bất cứ giá nào nhưng nhìn thằng Mễ Tây Cơ với vóc dáng hộ pháp, đứng cao hơn nó cả một đầu người, có gây gổ cũng thiệt thân, nên nó cắn răng chịu nhục và vùng vằng bỏ đi. Phía sau nó, cả một đám bạn bè thằng Mễ phá lên cười. Tiếng cười ngạo nghễ đó ám ảnh thằng Khoa trong suốt bao nhiêu ngày, thậm chí còn đi vào giấc ngủ trằn trọc của nó làm cho nó thao thức đến độ không cách nào nhắm mắt được cho đến khi ngủ thiếp đi.
Đến chuyện này thì Khoa không còn muốn giấu giếm bố mẹ nữa. Lần ấy, trong bữa cơm, Khoa chen vào ngang xương câu chuyện làm ăn của bố mẹ.
Lập tức, như một kẻ sẵn sàng chịu đựng mọi thiệt thòi khi đặt chân lên xứ sở này để khỏi gây phiền nhiễu, mẹ của Khoa vội trả lời ngay:
– Chuyện chẳng đáng gì, chúng nó nói gì mặc nó, mình cứ mũ ni che tai con ạ.
Khoa nhìn bố, hy vọng ông chia sẻ nỗi uất ức của mình. Nhưng trái lại, ông còn nhăn mặt nhìn nó trách móc:
– Ðừng có sinh sự rồi đâm ra rắc rối lắm chuyện. Hãy cứ lo học hành đi đã!
Lần đầu tiên, Khoa nhận thấy bố mẹ của mình có cung cách suy nghĩ sai lầm, mặc dù trong ngôn ngữ hàng ngày, ông vẫn tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam cùng với hơn bốn nghìn năm văn hiến vẻ vang, đầy kiêu hãnh. Tuy nhiên, vì là đứa con ngoan, nên Khoa không muốn đào sâu những sự suy nghĩ lệch lạc, làm cho mình trở nên bất kính đối với bố mẹ của mình. Nó chỉ mơ hồ cảm thấy lòng tin của mình đối với bố mẹ có phần giảm đi. Thật khó có thể tưởng tượng được rằng, đã có lúc nó không còn cảm thấy hai người vẫn còn là cái phao cho nó tìm đến bấu víu, để được che chở, bảo vệ hay chia sẻ những nỗi buồn vui, phiền muộn. Một cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình bắt đầu có dấu hiệu thành hình. Kể từ câu chuyện đó, Khoa bắt đầu đi tìm sự chia sẻ ở một nơi khác bên ngoài gia đình.
***
Trong trường học, ngoài các Thầy Cô Mỹ ra, còn có một vài chân trợ giáo. Cả thẩy năm người, trong đó có một người Lào, một người Miên và hai người Việt Nam. Trong hai thầy cô trợ giáo người Việt đó, Khoa có cảm tình với Cô Nguyệt nhiều hơn. Cô tuy không đẹp nhưng dáng vẻ hiền hậu, nhu mì. Có lẽ Khoa bị hấp dẫn về giọng nói của Cô nhiều hơn là cái bề ngoài trầm lặng, ít sôi nổi, sốt sắng với mọi người chung quanh.
Cô không bao giờ nổi bật trước đám đông. Có vẻ như Cô có tâm sự buồn bã, u uẩn nào đó đã khiến cho Cô trở nên trầm mặc và chìm khuất trước mọi người. Tuy nhiên. Cô đã làm đầy đủ bổn phận của mình. Mỗi lần đứng trước đám học trò Việt Nam để giảng lại bài học trong lớp hay giải đáp những thắc mắc của mọi người, giọng của Cô hiền hoà, thánh thót như tiếng của một con suối róc rách chẩy. Lũ học trò dù ngổ ngáo cách mấy thì cũng không dám bầy trò phá phách trong giờ giảng bài của Cô. Riêng thằng Khoa thì như được sống lại những giờ phút huy hoàng đầy dẫy những kỷ niệm yêu thương của nhà trường nơi quê nhà. Cô Nguyệt đã hiện ra ở đây, như một hình ảnh nó hằng mơ ước được sống lại trong những đêm nó chìm trong giấc ngủ chập chờn. Cô đã là hiện thân đúng nghĩa của một Cô giáo trong niềm ước mơ của nó. Vì vậy, thật là dễ hiểu khi thằng Khoa đã tìm đến Cô để thổ lộ những điều khiến cho nó băn khoăn, day dứt. Trái với bố mẹ của mình, Khoa đã thấy Cô không đưa ngay ra một lời giải đáp. Cô nắm tay nó và dẫn đi qua dẫy hành lang để tới một khu yên tĩnh, chung quanh có những bồn cây và thảm cỏ xanh rờn. Cô kéo nó ngồi xuống một thềm xi măng, và cất giọng nhỏ nhẹ:
– Khoa ạ! Cái chuyện kỳ thị chỉ là quan điểm của từng cá nhân mà không phải chủ trương của toàn thể nhà trường. Hơn nữa, những cái cá nhân đó rất là thiểu số. Chúng nó thường suy nghĩ là những hạng nhỏ nhoi, yếu kém như mình sẽ không xứng đáng hiện diện ở trong cái xã hội đầy đủ, giầu sang vốn khác biệt hẳn với những xứ sở nghèo khó mà chúng nó hình dung ra ở trong đầu. Như thế, kỳ thị đồng nghĩa với khinh miệt. Khoa có nghĩ rằng mình là hạng người đáng để cho nó khinh miệt không?
Khoa kêu lên:
– Không đời nào!
– Vậy thì hãy chứng tỏ đi! Chứng tỏ rằng mình không phải là loại người để cho nó khinh miệt được. Mà chứng tỏ bằng cách nào, Khoa có biết không?
Khoa suy nghĩ rồi trả lời:
– Con nghĩ rằng cung cách hay nhất là mình học hành khá hơn chúng nó, vượt trội chúng nó về mọi mặt.
Cô Nguyệt vụt tươi mặt lên. Cô nắm lấy tay nó xiết chặt và nhoẻn một nụ cười :
– Khoa giải đáp đúng vấn đề rồi đó. Vậy thì hãy tập trung vào việc học để chứng tỏ không ai có thể khinh miệt mình được.
Lời nói của cô như một tia sáng soi rọi vào tâm hồn u uất của nó.
Trong giờ học, Khoa cố gắng xoá bỏ những giây phút lan man suy nghĩ, hầu hết là những mộng tưởng quay về quá khứ với ngôi trường xinh xắn ở quê nhà. Những ngày trước đây, chuyện gì nó cũng có thể đem ra so sánh cái ngày xưa với cái bây giờ, và lúc nào nó cũng cảm thấy buồn bã vì mọi sự đều đã thay đổi hết. Chẳng hạn cái việc nhỏ nhoi là làm bài, viết bài, ở đây học trò toàn sử dụng bằng cây bút chì. Ở quê nhà hồi trước, chép bài mà dùng cây bút chì thì thể nào cũng bị cô khẻ vào tay và bắt chép lại. Phải dùng mực tím đàng hoàng. Ôi, cái bình mực tím tuy trông nhem nhuốc, sứt mẻ sao mà nó dễ thương thế. Nó nằm êm ả bình an trên bàn học trò ngay trước mặt, nhưng lại luôn luôn gắn bó với cây bút mà thằng Khoa vẫn xài. Cán bút thì bằng gỗ xấu xí, lem luốc. Ngòi bút thì luôn luôn gây trở ngại mỗi lần nó phải chép một bài dài lượt thượt cả một, hai trang giấy. Tuy nhiên Khoa vô cùng quen thuộc với động tác thò cây bút vào miệng bình mực để nghe thấy tiếng động của ngòi bút lúc chạm vô tới tận đáy bình. Những hôm bình cạn mực, Khoa phải nghiêng nó đi, ngoáy mãi vào trong miệng bình để vớt vát lấy một vài giọt có thể bám được vào thân ngòi bút. Có hôm nó lấy nước máy đổ thêm vào bình để đủ mực viết cho một buổi trước khi đem đi châm bình mới. Mầu mực tím loang ra bàn tay, dây lên cả vạt áo hay ống quần. Có thánh mà giặt sạch được những vết mực này, nhưng Khoa chẳng bao giờ quan tâm. Trái lại nó còn hãnh diện nữa là khác, bởi vì chân tay có dính mực là dấu hiệu của kẻ đang được cắp sách đến trường, điều mà có nhiều đứa cùng xóm, cùng ngõ trông thấy rất thèm thuồng. Có bao nhiêu là đứa cũng muốn đi học nhưng hoàn cảnh gia đình đâu có cho phép.
Cho nên Khoa phải khổ sở, vất vả lắm mới làm quen được với cung cách, suốt đời đi học, học trò chỉ sử dụng có cây viết chì. Tập vở cũng là điều trái ý với Khoa. Không có loại vở đóng sẵn, ngoài bìa có in hình cái xe gắn máy, hay xe cần trục như những tập vở nó dùng nơi quê nhà. Ở đây, ai cũng xài những tờ giấy rời có đục lỗ. Việc xé giấy liệng bỏ nguyên một tờ tuy mới chỉ viết có một hai chữ lên trên, là chuyện bình thường.
Quanh nhà trường, chỗ nào cũng có thùng rác, loại thùng rác vừa to, vừa cao, có lót bao rác bằng nhựa để tiện việc đem đổ. Chỉ việc túm lấy nguyên bao đem đi, rồi thay thế bằng một bao mới. Ngày nào bao rác cũng ngập ứ lên những giấy là giấy. Có đủ loại giấy nằm chen chúc nhau bên cạnh những chiếc vỏ chai, lon hộp và những gói đồ ăn dư thừa. Mức độ phí phạm ở đây đã khiến Khoa lắm lúc phải nhăn mặt. Đem so sánh cái cảnh phí phạm này với hoàn cảnh chắt chiu từng khoanh bánh, từng củ khoai, hay những lúc học trò phải ngồi cặm cụi mài lại cái ngòi bút cùn đã hoen gỉ, Khoa thấy lòng xót xa cho bạn bè cho thầy cô ngày trước rất nhiều. Có hôm nó đem điều này kể cho mẹ nghe thì bà đã cau mặt lộ vẻ không bằng lòng:
– Con học không lo học, lại cứ lẩn thẩn về những chuyện không đâu. Sao lại thế ?
Thật là chán chường, riết rồi đến độ Khoa chẳng còn muốn thổ lộ bất cứ điều gì đã xảy ra trong trường học. Sự bận rộn của bố mẹ đã đẩy nó vào vị trí phải phấn đấu cô đơn một mình trước bao nhiêu là điều thay đổi. Lại bị ngăn cấm không được nói ra. Vậy mà bố mẹ Khoa lại hay than thở về sự khác biệt giữa đời sống ở quê nhà với đời sống ở đây. Giá thuê nhà cao, tiền thuê đắt đỏ gấp mấy chục lần nơi quê nhà. Xe cộ di chuyển là một điều không thể thiếu, so với việc có thể cuốc bộ mà vẫn làm được đủ mọi thứ trong đời sống hồi trước. Rồi đủ mọi loại than phiền về sự khác biệt giữa hai nơi. Thì ra người lớn quả là có bất công đối với tâm hồn của những đứa trẻ thơ mới tới. Chúng nó cũng có những lý do để cho mình buồn tủi hay xót xa, mặc dù nguyên do của những mối tình cảm ấy chỉ là chuyện cỏn con xẩy ra dưới mái học đường.
May cho thằng Khoa ở chỗ là nó còn có cô Nguyệt. Cô chẳng có chồng con gì, nhưng sao Cô có thể kiên nhẫn với chúng nó đến thế. Chuyện gì của chúng nó, sau khi giải quyết xong, qua mấy hôm sau Cô vẫn còn nhắc lại và hỏi han thêm để tin chắc rằng vấn đề đã được ổn thỏa. Hình như, Cô đã tìm thấy sự thoải mái, an toàn trong công việc giúp đỡ bọn trẻ. Khi có đứa nào tìm đến Cô để bầy tỏ điều gì, Cô biểu lộ niềm vui trong cả nụ cười lẫn ánh mắt. Cô không mong gì hơn là được chúng nó khẳng định một cách gián tiếp là sự có mặt của Cô ở đây là điều cần thiết. Ðiều đó chứng tỏ là Cô cũng đã gặp quá nhiều khó khăn kể từ ngày khởi sự làm việc ở đây. Bọn học trò người Mỹ, hay Mễ, nhiều đứa đã có thái độ coi Cô chẳng ra cái gì. Chúng nó thường ngổ ngáo ngay trước mặt Cô. Tuy lối đi chật hẹp, gặp Cô đi ngược hướng, không bao giờ chúng nó nhường bước. Lại còn nhìn Cô trừng trừng như muốn nuốt tươi. Ngồi trong lớp thì bất chấp cả thầy lẫn cô, mồm miệng chúng vẫn nhóp nhép nhai kẹo cao su, chán thì ghếch lên ghế trước, còn người thì ngả lên thành ghế. Chúng nó có thể cười rúc rích với nhau ngay trong lúc thầy cô đang giảng bài. Lúc cần ra khỏi lớp giữa giờ học, chúng đứng dậy tự nhiên đi ra, khỏi cần xin phép ai, cứ y như là ở chỗ không người. Xứ sở này tự do, và người ta diễn dịch cái nghĩa tự do là như thế. Và cung cách này, nhiều học trò Việt Nam học lâu ở đây cũng bắt chước rất nhanh. Mấy cô nữ sinh, mặt non choẹt, vậy mà đi học cũng bôi môi son đỏ choét. Dáng dấp thì nghênh ngang, điệu bộ cố làm ra vẻ ta đây đã Mỹ hóa. Dĩ nhiên lũ này thân thiết với bọn học trò người ngoại quốc hơn là đối với những đồng hương. Đó là lý do Khoa chẳng ngạc nhiên khi thấy những đứa học trò Việt Nam tìm đến Cô Nguyệt để tâm sự hay giãi bầy chỉ là một thiểu số so với đám đông trong cả trường học. Nhưng dù ít, dù nhiều, thì chúng cũng vẫn đem lại nhiều an ủi cho tâm hồn dịu dàng, nhậy cảm của Cô. Trong số này, ngoài Khoa ra còn có thêm cả Sửu. Sửu đến với Cô là do Khoa lôi kéo chứ tuyệt nhiên Sửu không cảm thấy có vấn đề gì phải nhờ đến Cô giải đáp hay giúp đỡ ý kiến. Cái mặc cảm nói nghịu của nó làm cho nó luôn luôn nín thinh, dù gặp bất cứ sự gì thua thiệt.
Dĩ nhiên Cô Nguyệt nhận ra sự yếu kém này nên Cô đặc biệt chú ý đến nó. Lòng thương cảm của Cô càng tăng thêm khi một hôm cô bắt gặp nó ngồi ở một góc sân trường với hai cặp mắt đỏ hoe. Một thằng cao lớn tồng ngồng như nó, khóc trong sân trường là một sự kiện bất thường. Cô Nguyệt đã rút khăn tay lau nước mắt cho nó và kéo nó trở lại khu vực bên trong trường học. Tuyệt nhiên cô không hỏi han một lời nào, nhưng nhìn ánh mắt của cô, Sửu cảm thấy ngay một nguồn an ủi mà trước đây chưa một lần có ai ban phát cho nó. Trong giờ ra chơi kế tiếp, cô đi tìm Khoa và được Khoa giải thích:
– Bố mẹ của Sửu đã đem nhau ra tòa ly dị. Bà ta qua đến đây vẫn không chừa cái tật đánh bạc.
Có đủ mọi loại cờ bạc người ta có thể tham gia tại vùng đông đảo người Việt cư ngụ này. Dĩ nhiên là bất hợp pháp, vì luật lệ ở đây cấm đoán mọi trò chơi giải trí có tính cách ăn thua bằng tiền bạc. Nhưng chỉ cần biết mối dẫn dắt là người ta có thể lui tới những sòng bài nằm riêng lẻ trong khu dân cư, xì phé có, tứ sắc có, tổ tôm, tài bàn có, thậm chí có cả sòng xóc đĩa mà tiền bạc ném xuống chiếu như mưa vào những ngày cuối tuần. Mẹ thằng Sửu bị cuốn hút ngay vào những cuộc chơi mà bà ta tưởng qua đến Mỹ rồi thì không bao giờ còn gặp lại nữa. Người cha đau khổ của nó không thể nào chịu đựng hơn, nên đành phải chọn giải pháp chia tay. Tấm huy chương nào cũng có bề mặt trái của nó. Ở đằng sau cái dáng vẻ phồn vinh, sung túc và phát triển một cách rất mau chóng với một tốc độ chóng mặt của khu Bolsa Tiểu Sài Gòn này, đã có biết bao nhiêu là thảm kịch gia đình. Chưa ai có đủ khả năng làm một cuộc thống kê về tỷ lệ gia đình Việt Nam tan vỡ ở đây, nhưng chắc phải là con số không nhỏ. Thảm kịch gia đình kéo theo một loạt những tệ đoan khác trong bầy con cái tự nhiên bỗng bị xẩy nghé, tan đàn. Xì ke, ma túy, băng đảng và bỏ nhà đi hoang. Đây có lẽ là một cái giá phải trả của một cộng đồng còn quá non trẻ, phải đối phó với biết bao nhiêu vấn đề xã hội phức tạp khi bị bứng từ một vùng đất này để hồi sinh trên một vùng đất khác. Cho nên người ta chỉ săm soi vào những trường hợp thành công, tiến bộ để làm liều thuốc an ủi trước những mất mát, thua thiệt. Mà những trường hợp này kể ra cũng không thiếu, nhất là sự thành công của đám trẻ may mắn có được một căn bản gia đình vững chắc. Trẻ em Việt Nam học hành thông minh, luôn luôn đạt thành tích xuất sắc trong bất cứ lãnh vực học vấn nào. Chúng nó đang đi vào công cuộc xây dựng một thế hệ di dân thứ hai với những bước vững chãi. Thôi thì đó cũng là niềm an ủi cho những ông già, bà cả Việt Nam nơi xứ người.
Không lâu sau ngày đó, Cô Nguyệt, Sửu và Khoa đã trở thành bộ ba vô cùng quấn quít với nhau. Ngoài việc tận tình giúp Khoa dần dà vượt qua những trở ngại khi phải thích ứng với bài vở và sinh hoạt nơi trường học, Cô còn bàn với nó những phương cách làm cho thằng Sửu nói năng bớt ngọng nghịu. Cô nhẫn nại mỗi ngày soạn ra những câu nói thật ngắn, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt rồi bắt thằng Sửu chép đi chép lại. Vừa chép vừa nhẩm một mình. Ðến lúc gặp mặt hai người thì cô bắt nó nói to, nói dõng dạc.
Cô cũng hay tổ chức những cuộc đi chơi cuối tuần cho ba người, với sự đồng ý của bố mẹ Khoa và ba của Sửu. Cô đưa chúng nó vào những công viên rộng mênh mang, đầy cây to bóng mát, có cả những cái hồ phẳng lặng ở trên có những đàn vịt hoang nô rỡn, bơi lội rất bình an. Ba người thường chọn lựa một nơi yên tĩnh nhất để trải khăn lên ngồi. Cô hay kể nhiều về thời kỳ cô đi dạy học ở quê nhà. Thế giới học đường là cả một khung trời kỷ niệm đẹp đẽ mà Khoa cũng có dịp được ôn lại. Rồi cô đặt nhiều câu hỏi cho thằng Sửu trả lời. Bây giờ nó nói năng dễ dàng hơn trước rất nhiều. Mặc cảm trong lòng nó bớt đi, niềm tự tin lại được cô Nguyệt vun xới thêm. Chỉ cần nhìn vào ánh mắt rạng rỡ, sáng ngời mỗi lúc nó cất tiếng, cũng đủ biết nó đang trên đà thay đổi một cách sâu xa. Rồi cô Nguyệt yêu cầu nó đem chiếc khẩu cầm ra thổi. Tiếng kèn của nó vừa tha thiết, vừa sôi nổi. Cô bảo nó trình diễn rất có hồn, và Cô bầy tỏ dự kiến sẽ thu xếp để nó có thể góp phần vào chương trình văn nghệ nhà trường trong dịp cuối năm.
Mùa hè năm ấy là một mùa hè chia tay đầy nước mắt. Cô Nguyệt không còn được lưu giữ làm chân trợ giáo nữa vì ngân sách nhà trường bị cắt cắt giảm. Cô nói có thể Cô sẽ đi xa, mặc dầu trong suốt cả năm học Khoa không hề thấy Cô có một người bạn hay họ hàng thân thích nào.
Ngày mãn khóa học, nhà trường tổ chức một đêm họp mặt có sự tham dự của toàn thể phụ huynh. Bố mẹ của Khoa vẫn không tới vì càng ngày ông bà càng bù đầu vào công việc. Nhưng Ba của Sửu thì đưa nó đến rất sớm. Ông mang theo một bó hoa hồng tuyệt đẹp có bao giấy bóng kính và cột bằng một giải lụa dài. Ông trao tận tay Cô Nguyệt và nói bằng một giọng xúc động:
– Tôi không biết bầy tỏ thế nào về lòng nhớ ơn của tôi đối với sự tận tình chăm sóc của Cô dành cho cháu.
Cô Nguyệt cũng cảm động không kém. Cô đỡ lấy bó hoa hồng, cùng lúc kéo tay thằng Sửu lại sát gần mình. Cô nhìn Sửu với tất cả niềm hãnh diện chan hòa trong đôi mắt cũng nhòe những giọt lệ của Cô.
Sửu hôm nay trông rất bảnh. Nó bận quần tây, áo sơ mi trắng lại còn thắt cả một cái cà vạt người lớn. Trông rõ ra là một thanh niên chứ không còn là một anh học trò ngù ngờ như lúc trước. Điều quan trọng hơn nữa là bữa nay, Sửu có mười phút để tham gia phần trình diễn khẩu cầm của mình. Đó là công trình sắp xếp của Cô Nguyệt với ban giám đốc nhà trường. Trong mười phút ngắn ngủi ấy, Sửu có một phút để bầy tỏ lòng cám ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong trường. Mà lại nói bằng tiếng Anh nữa chứ! Ðây là một chuyện vĩ đại, không một thầy cô giáo nào có thể tưởng tượng được nổi. Có ai mà quên được hình ảnh một tên học trò lúc nào cũng ngồi ru rú ở một cái bàn cuối lớp, vẻ mặt thì ngơ ngác, buồn thiu không một chút gì gọi là hoạt bát sinh động.
Vậy mà hôm nay, dưới ánh sáng chói lòa của hàng trăm ngọn đèn chiếu sáng rực rỡ trên sân khấu, Sửu đã tỏ ra chững chạc và tự tin vô cùng. Giọng nói của nó mạnh mẽ và rõ ràng. Cái âm thanh nồng ấm của nó như được nhân lên bởi dàn máy khuếch âm cực kỳ hiện đại. Rồi tiếng kèn của nó cất lên chan hòa trong cả hội trường. Rộn ràng. Sôi nổi. Thiết tha. Nó đã lôi cuốn trọn vẹn sự theo dõi chăm chú của hàng mấy trăm con người ngồi kín mít trên tất cả mọi hàng ghế. Ðến khi bản nhạc chấm dứt, những tràng pháo tay vang lên như muốn nổ tung hội trường. Ngồi ở một ghế phía dưới, cô Nguyệt cứ để cho những giọt nước mắt trào ra, chan hòa hai bên má.
Sau buổi trình diễn, bố của Sửu ngỏ ý mời tất cả đi ăn cơm tối, nhưng cô Nguyệt từ chối. Ðối với Sửu, cô tự cho mình là đã hoàn tất nhiệm vụ. Cô không muốn bịn rịn tạo thêm kỷ niệm để khiến cho mọi người phải quyến luyến. Ngoài ra, cô cũng còn cả một tương lai đầy bất trắc trước mặt phải đối phó. Những ngày êm ả ở ngôi trường này qua đi như một giấc mơ. Hãy chỉ nên coi đó như một giấc mơ vì không có gì bền vững ở cái xứ sở luôn luôn sinh động và thường trực đổi thay này.
Lúc ra khu vực đậu xe, Cô ôm cả hai đứa trong vòng tay và thì thào:
– Chúc hai em may mắn. Nếu còn nhớ tới Cô thì hãy luôn luôn cố gắng học hành.
Thằng Khoa bật lên như mếu :
– Còn Cô, Cô sẽ đi đâu?
Cô Nguyệt chi xiết chặt thêm vòng tay của mình mà không trả lời, bởi vì chính Cô, Cô cũng chưa biết ngày mai mình sẽ đi đâu, về đâu. Một lát sau, Cô lủi thủi tiến lại phía đậu xe của mình. Hai bố con của Sửu và Khoa đứng ở bên lề đường chờ Cô lái xe đi qua. Cô thò đầu qua hẳn kính cửa, vừa cười vừa giơ tay vẫy. Nụ cười đầy vẻ gượng gạo vì Cô đang muốn nén cho mình khỏi phải bật lên khóc.
Đó là hình ảnh cuối cùng của Cô mà Khoa ghi nhận được. Nó có cảm giác như Cô là một nàng tiên, vừa chắp cánh baỵ đi sau khi đã đến với nó với tràn đầy niềm yêu thương trong một thời gian ngắn ngủi. Có lẽ thằng Sửu cũng cùng chia sẻ với nó cái cảm giác ấy. Mặt Sửu lúc này như một kẻ mất hồn. Nhưng không phải là một thứ vô hồn ngu ngơ như ngày nào đó còn ngồi thu nhỏ mình lại sau chiếc bàn kê ở cuối lớp. Bây giờ nó có vẻ cứng cỏi hơn trước rất nhiều. Trong ánh mắt như nhìn vào khoảng không vô định trước mặt, Khoa nhận thấy như nó đang đắm chìm vào một thế giới khác. Nào ai biết được nó đang suy nghĩ những gì ở phía sau nỗi niềm u uẩn đó.
Ba của Sửu thả Khoa xuống trước cửa nhà. Căn nhà nằm im trong bóng tối. Tất cả các căn phòng đều chưa được lên đèn. Ðiều đó có nghĩa là bố mẹ Khoa cũng chưa về. Có lẽ ông bà ấy đi dự tiệc tùng hay đang hiện diện ở một buổi dạ vũ nào đó. Những thời gian sau này, vắng mặt vào đêm cuối tuần đã trở thành thói quen của cả hai người. Ðiều này không còn là mối bận tâm của Khoa nữa. Nó cảm thấy rất dửng dưng mỗi lần thấy bố mẹ ăn diện thật đẹp đẽ đi ngang qua phòng khách để ra xe. Bao giờ mẹ của nó cũng nói một câu:
– Khoa ở nhà ngoan nhé.
Khoa không buồn quay lại để chào hai người. Cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình đã trở nên trầm trọng, mà duy chỉ có một mình nó cảm nhận được.
Bây giờ nó lủi thủi ngồi một mình ở bực thềm trước cửa. Tuy có chìa khóa, nhưng Khoa không muốn bước vô nhà. Nó cảm thấy chán chường khi nghĩ đến những căn phòng trống trải nằm im bất động dưới ánh đèn sáng. Thà là ngồi ở đây, dưới bóng tối của tàn cây hoa giấy che kín cả khoảng sân trước mặt. Bóng tối như đùm bọc lấy nó, che chở nó, gây cho nó một cảm giác yên ổn, riêng tư. Nó nhắm mắt lại và thấy mình tiếc nuối những ngày ở quê nhà một cách xót xa. Trường học. Thầy cô. Bạn bè. Và vòng tay yêu thương của bố mẹ. Bây giờ tất cả những thứ ấy đã bay xa. Bay đi rất xa…

Nhật Tiến
California, 13-3-1994

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2016, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. ****** Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: