Việt Nam qua tác phẩm của Nhật Tuấn và Nhật Tiến, Tản Văn Thế Uyên


Thế Uyên
(tạp chí Văn Học Nam Cali- Số 75-tháng 7-1992)

ácc Hanh trinh chu nghiaa NhatTuan

(Chân dung ba nhà văn từ trái qua phải: Thế Uyên, Nhật Tiến, Nhật Tuấn)

Đi về nơi hoang dã, truyện dài của Nhật Tuấn, ấn bản Hoa Kỳ do nhà xuất bản Việt Nam in năm 1990, sách dày 268 trang, tranh bìa Hồ Thành Đức, lời giới thiệu của Vũ Huy Quang, giá đề 11 Mỹ kim, không ghi địa chỉ phát hành cũng như nơi xuất bản.

Mồ hôi của đá, truyện dài của Nhật Tiến, Tủ Sách Cành Nam xuất bản tại Arlington, Virginia, năm 1988, bìa và phụ bản của Trương Anh Thụy, sách dày 276 trang, giá đề 8 Mỹ kim. Địa chỉ phát hành: Tủ Sách Cành Nam 2607 N. Military Road, Arlington, VA 22207 USA.
*****

Tại Việt Nam từ lâu đã có hiện tượng nhiều nhà văn, nhà thơ thành danh có liên lạc huyết thống với nhau. Trong những thế kỷ gần đây chúng ta có dòng họ Ngô Thì, dòng họ Nguyễn Tiên Điền (trong đó có Nguyễn Du), dòng họ Nguyễn Huy (trong có Nguyễn Huy Tự), dòng họ Phan Huy (trong có Phan Huy Vịnh), v.v…

Trong thế kỷ 20, thời kỳ tiền chiến, chúng ta đã có hai cha con Nguyễn văn Vĩnh – Nguyễn Nhược Pháp; Phạm Duy Tốn và các con Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy. Nổi danh từ thời tiền chiến tới hiện nay là ba anh em dòng họ Nguyễn Tường: Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Kế tiếp bằng thế hệ sau là Tường Hùng, Duy Lam và Thế Uyên. Gần đây nhất chúng ta có hai chị em Nguyễn Thị Thụy Vũ – Hồ Trường An; Trần Thị NgH – Trần Thị Kim Lan; Phan Thị Trọng Tuyến – Nguyễn Thị Ngọc Nhung – Nguyễn Thị Ngọc Diễm, và hai anh em Nhật Tiến – Nhật Tuấn.

Dĩ nhiên là dù có liên hệ huyết thống gần gũi, một nhà văn hoặc nhà thơ dù là anh em ruột chăng nữa, mỗi người vẫn có một bút pháp, một tư duy và nhận thức khác nhau. Lấy thí dụ gần gũi nhất là hai anh em Duy Lam và Thế Uyên. Duy Lam chỉ viết truyện ngắn, truyện dài và lập trường chính trị thì hữu khuynh, trong khi Thế Uyên viết đủ loại, từ sáng tác tới biên khảo, dịch thuật, và lập trường chính trị thì tả khuynh.

Nhưng độc đáo nhất vẫn là trường hợp hai anh em Nhật Tiến và Nhật Tuấn.

Năm 1954, Nhật Tiến di cư vô Nam, viết văn rất sớm và thành danh đã lâu, trong khi người em Nhật Tuấn ở lại Hà Nội đã viết văn rất trễ. Sau 1970 mới có những truyện ngắn đầu tiên và chỉ thành danh sau 1985. Ở miền Nam, Nhật Tiến làm nghề nhà giáo, rồi do chế độ động viên, đã thành lính Việt Nam Cộng Hòa, rồi làm giảng viên chính trị trong quân đội. Ở miền Bắc, Nhật Tuấn đi vào ngành kiều lộ, chuyên về nghiên cứu và thiết kế những tuyến đường mới – do nghiệp vụ này, Nhật Tuấn đã đội nón cối, đi dép râu, đeo sà cột vào Sài Gòn ngay từ những ngày đầu của tháng 5-1975.

Hai anh em ruột nhưng lớn lên trong hai chế độ Bắc – Nam, cộng sản – quốc gia thù nghịch nhau, nội chiến máu lửa suốt mấy chục năm. Anh ở bên này chiến tuyến, em ở bên kia, đương nhiên khi viết văn, những tác phẩm của họ, dù chọn đề tài trong đất nước Việt Nam, vẫn có những sắc thái khác nhau . Nếu họ có giống nhau chăng, là cách thế họ nhìn chế độ cộng sản và quốc gia trong quá khứ. Nếu họ có tương đồng nào chăng, đó là cách thế họ nhìn về tương lai.

Đi về nơi hoang dã với Nhật Tuấn

Bia DI VE NOI HOANG DA

Nội cái nhan đề sách đã mang nặng tính cách “phản động” rồi. Ai đi về nơi hoang dã? Dân miền Bắc. Ai bắt dân phải đi về nơi khốn cùng như thế ? Đảng cộng sản Việt Nam với thứ chủ nghĩa Mác-Lê Nin, Mác-Mao nhập cảng. Nhật Tuấn đã bắt đầu truyện dài của mình bằng đoạn văn sau:

“ Chúng tôi có năm người, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà đằng đãng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến một tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng. (trang 11)

Năm người đàn ông đó là ai ? Nhật Tuấn không hề đặt cho họ một cái tên rõ rệt, chỉ gọi họ bằng chức vụ trong toán người đi mở tuyến đường tới đỉnh Hua Ca. Ông già là “ông trưởng toán”, tượng trưng cho thành phần đảng viên cộng sản trung kiên. “Thằng học giả” tượng trưng cho thành phần trí thức “đã đầu hàng giai cấp vô sản” (nghĩa là đảng). “Thằng hộ pháp” thân hình lực lưỡng, tính tình chất phác, tượng trưng cho giai cấp nông dân lao động chân chính. “Thằng cấp dưỡng” (làm bếp và tiếp vận), cháu của ông trưởng toán, tượng trưng cho mẫu người trung bình yếu đuối trong xã hội, ai sao ta vậy. Còn nhân vật thứ năm, xưng “tôi” trong truyện, tượng trưng cho người trí thức có lương lri.

“Đỉnh Hua Ca” là cái chi vậy? Với Nhật Tuấn, đó là cái thiên đường xã hội chủ nghĩa, ước mơ của biết bao thế hệ đảng viên cộng sản từ đầu thế kỷ này, từ Moscow, Bắc Kinh tới Hà Nội và Havanna. Đó là thứ thiên đường mà Dương Thu Hương gọi là thiên đường mù, Xuân Vũ gọi là thiên đường treo. Nhưng đó là chuyện về sau này. Còn vào thời điểm trong truyện, chưa ai tới được đỉnh Hua Ca cả, nên nàng Sao, cô gái miền núi, người yêu của nhân vật “tôi” …. mới nghĩ rằng:

“Phà ơi – nàng kêu lên – anh lên đỉnh núi Hua Ca. Cao lắm, sát tầng mây kia đấy. Hua Ca có nghĩa là “đầu quạ”, nghe nói ở cái mỏ của nó phun ra một dòng nước, nếu hai người cùng uống nước đó trong một cái chén thì không bao giờ quên được nhau . . . “
” Thật không? Em nói thật không?”
“Thật chứ, ông nội em kể lại cho bố, bố kể lại cho em. Nhưng phải thực bụng với nhau mới uống được, người nào không thực bụng uống vào chết ngay.”
Tôi nói với nàng nếu vậy nhất quyết tôi sẽ tìm bằng được lên đỉnh Hua Ca lấy một chai nước về tặng nàng để mai kia uống chung với ai đó .” (trang 227)

Toán người mở tuyến đường này chỉ có những phương tiện thô sơ như dao chặt cây nên cuộc sống vô cùng khốn khó. Ăn thì đói vì cơm ăn không đủ no, đừng nói gì đến thức ăn. Bởi thế họ đã từng phải ăn thịt chó ghẻ hấp hối, đào con bò chết bệnh lên mà ăn thịt, và đôi khi may mắn được ăn thịt tươi thì cái thú vị, niềm hạnh phúc lúc đó của họ chỉ có những sĩ quan cải tạo miền Nam sau này mới chia sẻ được. Nhật Tuấn tả họ ăn thịt con cheo như sau:

“Quả thực suốt từ ngày bắn được con lợn rừng, ba tháng nay chúng tôi không động tới miếng thịt tươi, thiếu đạm động vật, người mệt mỏi, da khô, mắt mờ, đêm nằm mơ thường chỉ thấy mình sắp được ăn món này món kia, món nào cũng kề miệng rồi tỉnh giấc. Bởi vậy mới chỉ đặt miếng thịt cheo vào đầu lưỡi đã thấy cái vị bùi bùi của nó chạy lan khắp người, rung chuyển cả hệ thần kinh và rồi dạ dày như được đánh động co bóp thật chặt để đón chờ những dưỡng chất thần kỳ, từ lâu rồi vắng mặt. (trang 133)

Năm con người này là những con người thực sự, không hề là “bọn quỉ đỏ”, bọn “ác ôn cộng phỉ”. Ngay ông trưởng toán, đảng viên trung kiên mấy chục năm, cũng có lần sa ngã mê một “bà trưởng phòng”, làm tình với bà để có một đứa con hoang. “Thằng học giả” chiều nào ăn xong cũng ngồi giữa rừng núi viết thư cho người yêu là “nàng búp bê” ở Hà Nội . “Thằng cấp dưỡng” không dám chi một đồng lương nào, dành dụm tiền để mang về cho mẹ già sửa mái nhà mưa dột. “Thằng hộ pháp”, mặc dù to khỏe đẹp trai, đi tới đâu là phụ nữ mê tới đó, làm tình bừa bãi, nhưng lúc nào cũng chỉ yêu “con vợ thằng xã đội” ở quê nhà. Còn “tôi” thì cô đơn hoài, mãi cho tới khi đến bản Mù Cang được gặp nàng Sao. Tai họa dồn dập tới với họ. Bệnh kiết lỵ, bệnh rắn lục cắn, rớt xuống thác, tuột tay trên vách núi. Nhưng tất cả những tai nạn kiểu đó không làm cho họ đau khổ bằng những thay đổi khác. Thí dụ như nàng búp bê không đợi chờ được, đi lấy chồng khác, làm “chàng học giả” suýt nữa dùng súng tự tử. Chàng cấp dưỡng bị rớt mất gói tiền dành dụm trong lúc tấn công đỉnh núi cao. Chàng hộ pháp trốn về quê, dự tính rủ nàng vợ ông xã đội trốn theo lên rừng núi yêu nhau tự do, nhưng không thành. Có thể nói Nhật Tuấn đã thật can đảm khi dám bước ra khỏi thứ văn chương phải đạo (tất cả nhân vật đều là anh hùng, dũng sĩ, cách mạng chân chính, lao động tiên tiến . . . ). Các nhân vật của anh đều rất “người” với tất cả những giấc mơ bình thường, những tâm tình yêu đương và nhu cầu sinh lý.

Con người, dưới ngòi bút Nhật Tuấn, được mô tả trọn vẹn hơn là những nhân vật của ông anh Nhật Tiến. Nghĩa là con người vừa biết yêu thương vừa có nhu cầu về tính dục. Chính vì lối miêu tả này mà Nhật Tuấn ở trong nước đã bị mấy ông đảng viên già kết tội là viết văn khiêu dâm. Sự thực những đoạn nói về sex ấy không thấm vào đâu với những nhà văn của miền Nam trước đây như Túy Hồng, Thế Uyên, Dương Nghiễm Mậu. Và còn xa mới bằng những Kiệt Tấn, Khánh Trường, Đỗ Kh. của hải ngoại. Chúng ta hãy đọc một vài đoạn:

* Tôi thò đầu ra khỏi võng kêu lên: Lạ nhỉ, đói rét mất ngủ đã đành, no ứ bụng mà cũng không ngủ được thì là sao ? Thằng học giả cất giọng giảng giải. Chúng mình không ngủ được là đúng thôi. Tình dục là nền tảng cho các hoạt động của con người. Bởi thế “‘cái đó ” mới nằm bên dưới cái đầu. Nó thuộc hạ tầng cơ sở nhưng lại chi phối chặt chẽ thượng tầng kiên trúc. Cho nên chúng mày thử ra lệnh cho nó rụt lại xem có được không? Không được . . . (trang 35)
* Kỳ phép vừa rồi tao (thằng hộ pháp kể) vừa đặt chân xuống bến ô-tô phố huyện thì đổ mưa như trút, xung quanh trốn sạch cả, tao còn đang khoác áo nylông đứng giữa trời, giữa bến xe ngơ ngơ ngác ngác như quạ vào chuồng lợn thì bỗng từ quán ăn đằng xa có một em ướt như chuột lột, chạy tới, chui tọt vô nylông của tao. Trời ơi, tưởng ai hóa ra con vợ thằng xã đội, nó cứ run lên cầm cập, ôm lấy tao khóc rưng rức: “Ôi anh ôi, anh bỏ em đi đâu cho em khổ thế này”. Tao càng dỗ, nó càng khóc to, hai quả dừa của nó cứ đè chặt lấy ngực, nóng ran khắp người. Mưa lại ào ào mỗi lúc mỗi to. Biết làm sao giờ, tao đành buông cái ba lô trên vai xuống rồi cứ đứng thế mà quấn chặt lấy nhau như bện thừng, may có miêng nylông trùm kín hết chẳng sợ ai nhìn thấy. Chưa giập bã trầu, nó đã giẫy lên đành đạch, miệng gù gù: “ôi anh ôi, anh nàm gì em thế này . . .(trang 92)

Mùa mưa ào ào chụp lên toán mở tuyến đường khi họ không còn xa đỉnh Hua Ca. Ông Trưởng toán ngã bệnh, tình nguyện ở lại một cái lán làm tạm, để những người còn lại tiếp tục leo lên đỉnh. Lúc này chỉ còn có hai người, “thằng học giả” thay ông già làm trưởng toán, và anh trí thức lè phè nhưng sáng suốt “tôi”. Và đây là đỉnh Hua Ca:

“ Tôi ngơ ngác nhìn quanh, nửa tin nửa ngờ, không lẽ tôi đã đi một vòng ngay trên đầu con quạ ấy ư ? Vậy còn cái mỏ của nó phun ra dòng nước thần đâu ? Chẳng lẽ cái vùng đất huyền diệu nàng Sao kể cho tôi nghe lại tầm thường toàn sương mù gai góc và đầy những vũng nước vàng ố và bẩn thỉu thế kia ư ? Không thể như thế được, cái đỉnh Hua Ca thần thánh ấy chắc không phải nơi tôi đang đứng đây, nó phải ở đâu đó cao tít từng mây kia chứ . . .
Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ. Tôi không thể bắt chước thằng học giả, không thể mang thứ nước vàng đục kia và gọi nó là nước thần về cho nàng Sao. Tôi bước nhanh ra khỏi vũng lầy đầy những bọ gậy và lá mục . . .
**
Đoạn kết luận thật buồn và có “tính phản động” cao độ. Nhật Tuấn đã cho thấy ông trưởng toán trong những ngày đau ốm chót, đã kín đáo trao cho nhân vật “tôi” tất cả tiền bạc dành dụm, nhờ nhân vật này khi trở về đến đồng bằng, hãy đi kiếm mẹ con “bà trưởng phòng” đang sống lam lũ trong một nông trường tặng ngân khoản ấy với lời xin lỗi và hối tiếc. Xét về tình người muôn thuở, thì sự kiện ấy rất được. Nhưng sự kiện khai tử ông đảng viên trung kiên một đời cho sự nghiệp cách mạng, là một thị kiến làm nhức nhối rất nhiều ông trung ương ủy viên già của đảng cộng sản Việt Nam vào thời điểm Boris Yeltsin chưa giải thể liên bang Sô Viết. Quí ông không thể tới đỉnh Hua Ca được và có tới cũng chẳng có gì ngoài sương mù, gai góc và những vũng nước vàng dơ bẩn. Thời và giấc mơ của quí ông và ngay bản thân của quí ông nữa đã qua rồi.

Đó là thứ thông điệp nhà văn Nhật Tuấn muốn gửi tới đảng.

Nhưng chỉ có đảng cộng sản là phải chết, qua đi thôi. “Thằng cấp dưỡng” dù phát quang cả sườn núi cũng không kiếm ra gói tìên đánh mất, đã trở lại. “Thằng hộ pháp” không rủ được nàng xã đội ra đi, cũng một mình trở lại miền Hua Ca. “Bốn thằng” này, tượng trưng cho nhân dân trường tồn ngàn đời của Việt Nam, đã trịnh trọng mang xác ông trưởng toán lên chôn trên đỉnh Hua Ca. Sống, ông đã không lên được nhưng ông đã thiện chí và cố gắng tối đa, thì chết, cho ông lên nằm ở đó – phản ứng đúng tình nghĩa của dân Việt.

Nhưng kết luận của Nhật Tuấn cũng không đến nỗỉ bi quan. Dưới dây là những dòng chót của Đi về nơi hoang dã :

Trong đêm cuối cùng trên đỉnh núi Hua Ca, chúng tôi lại đốt một đống lửa, ngồi quây quần như những ngày trước. Không ai hé răng một lời. Tất cả đều ngồi thẫn thờ trước ngọn lửa đang bốc cao kéo những tàn đỏ đuổi nhau và mất hút trong bóng đêm. Mọi việc giữa bọn tôi rồi cũng qua đi như thế. Sáng mai sẽ xuống núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên KHÔNG VÌ THẾ CON NGƯỜI KHÔNG THỰC BỤNG YÊU NHAU. . .

*****

Mồ hôi của đá của Nhật Tiến

Bia MO HOI CUA DA-

Nếu bảo rằng đa số những người cầm bút ra hải ngoại đều hay bóp méo sự thực khi cầm bút viết về Việt Nam thì là điều quá đáng, nhưng nếu bảo rằng ai cũng trung thực với sự thực của lịch sử, lại là điều hoàn toàn không đúng. Trong những người cầm bút có can đảm tả tả đúng những gì đã xảy ra trước và sau 1975 tại Việt Nam, chúng ta có không nhiều, và đương nhiên trong thành phần nhà văn trung thực này có mặt Nhật Tiến.

Đọc Mồ hôi của đá, độc giả không thấy những huyền thoại kiểu: cả trăm ngàn quân nhân tự sát vì không chịu buông súng, giáo chức thì bỏ dạy để phản đối chính quyền cộng sản, các mật khu kháng chiến mọc ra như nấm, đánh cộng sản tơi bời hoa lá,.. v.v… Nhật Tiến đã có can trường tả đúng những gì xảy ra tại miền Nam sau tháng 4-1975, và nhất là tại Sài Gòn. Ông đã, qua những nhân vật Nguyệt, Vũ, Toàn, ông Hồng Phát . . miêu tả rõ tâm trạng thực sự của dân miền Nam những năm đầu.

Đó là thứ tâm trạng thoả hiệp với chính quyền mới.

Chính quyền cũ và quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tan rã, nay có muốn chống đối tiếp cũng không thể nổi. Dân thời này hay nói với nhau: Lúc còn cả triệu quân có súng còn chẳng đánh nổi cộng sản nữa là bây giờ. Thứ tâm trạng cầu an này không có gì để ngạc nhiên vì đó là thứ tâm trạng phổ biến trong nhiều thời đại tại các không gian khác nhau. Điểm đặc biệt Nhật Tiến đã nêu lên được là sự quyến rũ đầu tiên của “chính nghĩa cách mạng” do đảng cộng sản đưa ra. Từ bộ đội miền Bắc đến bộ đội của Nguyễn Hữu Thọ, từ quân sự đến dân sự, đều lớn tiếng nhấn mạnh đến công cuộc cách mạng của họ, không phải chỉ có một, mà tới “ba dòng thác cách mạng”. Không phải nhắc ngày nhắc đêm, mà bắt toàn dân miền Nam đều phải học tập cho hiểu và cho nhớ. Và đương nhiên đa số dân đều bị tác động, chỉ có điều tin nhiều hay ít hay bán tín bán nghi, thì tùy từng người mà thôi. Nhật Tiến đã tả đúng thứ tâm trạng này trong đoạn văn sau:

Mỗi người vì mọi người. Mọi người vì mỗi người. Một xã hội như thế ai mà không mơ ước! Phải chăng, mấy trăm ngàn sĩ quan các cấp thuộc quân lực cũ sẵn sàng đi trình diện học tập trong khi guồng máy công an, cảnh sát của chế độ mới hãy còn ở giai đoạn phôi thai chưa đủ khả năng ruồng bắt, tóm gọn, ấy cũng là vì xuất phát từ một tấm lòng tha thiết muốn được góp phần vào công cuộc xây dựng lại quê hương sau bao nhiêu năm hoang tàn vì chiến tranh (trang 55)

Đối với những người lớn tuổi, kể cả thành phần quân cán chính của chế độ cũ, đa số đều bán tín bán nghi: Họ (cộng sản Việt Nam) nói họ làm cách mạng xã hội để xây dựng một xã hội lý tưởng, hay hơn, công bằng dân chủ hơn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, vậy thì ta “hãy cứ chống mắt” lên xem họ làm. Còn đối với lớp trẻ, thì chính nghĩa cách mạng cộng sản quyến rũ hơn nhiều. Thí dụ như nhân vật chính Nguyệt. Là nữ sinh Nguyễn Bá Tòng mới trở thành sinh viên Đại học Văn Khoa chưa được bao lâu, Nguyệt đã nhiệt thành tin tưởng ở chính nghĩa vô sản, do đó đã trở thành Bí thư Chi đoàn trong nhà in Hồng Phát nơi cô đang làm việc. Với chế độ xã hội chủ nghĩa, kể như Nguyệt trở thành general manager, cô giám đốc có toàn quyền sinh sát đối với toàn thể công nhân, kể cả ông chủ nhà in thực sự là ông Hồng Phát.

Nguyệt có hai người yêu. Người đầu là Vũ, sinh viên y khoa năm thứ ba bỏ ra bưng theo mặt trận Nguyễn Hữu Thọ. Người yêu thứ hai là Toàn, cựu sinh viên Luật, động viên thành thiếu úy, bị thương giải ngũ nên không phải đi cải tạo năm 1975. Ba người này tượng trưng cho giới trí thức trẻ của miền Nam.

Về phía cộng sản đang nắm quyền, có hai nhân vật xuất hiện. Một là ông Sáu Thu theo đảng từ mấy chục năm nhưng trong thâm tâm đã mất lòng tin ở chủ nghĩa Mác-Lê. Bây giờ ông chỉ lo giữ ghế và hưởng thụ tối đa những gì miền Nam có thể mang lại.

“ Như ông Sáu Thu là một trường hợp điển hình. Ông đã miệt mài đấu tranh để loại bỏ một giai cấp, nhưng ông lại đang ở trên đà trở thành kẻ thay thế lớp người cũng ở giai cấp đó. Nói khác đi, cách mạng đâu có xóa bỏ nổi giai cấp áp bức, bóc lột. Nó chỉ thay thế lớp người làm công cuộc áp bức, bóc lột đó mà thôi.” (trang 65)

Ông Năm Tỏa thì trái lại. ông thuộc thành phần cán bộ miền Nam, theo đảng vì tưởng đảng mang lại cho dân một chế độ tốt hơn hẳn chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà ông biết trước đây. Bây giờ cách mạng thành công rồi, đất nước đã thống nhất, ông mới chua xót nhận ra là chế độ xã hội chủ nghĩa nhập cảng từ lục địa phương Bắc, là một chế độ tồi tệ đến độ ông thường cay đắng than:

“Cả cuộc đời tôi đi làm cách mạng đâu phải để thể hiện một cái xã hội như thế này.”

Nhận định này biểu lộ tâm trạng chung của những người đảng viên cộng sản đổi mới bất cứ ở đâu, từ Hungary, Ba Lan tới Liên bang Sô Viết. Chính cái ông cộng sản có tâm thức glasnost, đổi mới này đã khuyên Nguyệt như sau:

“ Thôi Nguyệt ạ, đừng loay hoay làm gì cho mất công. Cái đời chó đẻ này, ở đâu cũng thế. Lý thuyết một đằng, thực hành lại đi một đằng khác. Như tôi, đấu tranh gần cả một đời, gian nan nào cũng vượt, khó khăn nào cũng qua, ấy thế mà, lúc cầm đưọc vinh quang trong tay lại là lúc chao đảo niềm tin một cách não nề nhất. Chẳng phải chỉ có một mình Sáu Thu đâu, chúng nó mất phẩm chất la liệt. Trước thì còn nghĩ được rằng đó chỉ là hiện tượng nhưng rồi không thể chối cãi được rằng hiện tượng đó đã trở thành bản chất mất rồi !” (trang 69)

Trong những năm đầu sau tháng 4-75, dân miền Nam có thói quen coi bất cứ ai đội nón cối đi dép râu đều là “cán bộ và bộ đội cộng sản”. Nhưng rồi với thời gian, dân miền Nam dần dần hiểu ra rằng ngoài Bắc cũng có hai thành phần dứt khoát: thành phần thống trị là đảng, và thành phần bị trị là dân – và dân thì đói khổ vô cùng tận. Kể từ đó dân bị trị hai miền thông cảm với nhau hơn, cùng ngấm ngầm ghét cay ghét đắng “tụi nó” (từ thông dụng mà dân Bắc hay dân Nam cùng dùng mỗi khi nói tới đảng và công an). Làm sao dân miền Nam không chấm dứt hiện tượng vơ đũa cả nắm dân miền Bắc khi chính một người miền Bắc đã nói với bà con miền Nam như sau:

“ Đừng tin những gì chúng nó nói, cháu ơi. Xã hội miền Bắc sau gần 30 năm tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa, đời sống vật chất càng ngày càng nghèo đi, mà đời sống tinh thần cũng theo đó mà suy sụp theo nữa. Con người không còn tâm trí nào khác hơn là chỉ lo toan đến những nhu cầu vật chất tối thiểu. Như một đàn cừu dưới làn roi vọt, con thì được chia nhiều cỏ hơn, con thì được ít hơn. Nhưng chung quy vẫn chỉ là những con cừu thụ động đi theo sự hướng dẫn của đảng và nhà nước. (trang 82)

Đó là nói về quảng đại quần chúng miền Bắc. Vậy còn giới trí thức mà mọi người nội địa hay gọi đùa là “giới sĩ phu Bắc hà” thì sao? Giới này vẫn còn tồn tại nhưng nín khe sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm. Đa số những người này suy nghĩ như nhân vật nhà văn miền Bắc tên Hoàng:

“ Từ khước phương tiện văn chương chỉ là một thái độ tiêu cực. Điều đó có nghĩa là phó mặc mọi việc nước cho một thiểu số mặc sức tung hoành. Kết quả, kẻ đứng ngoài cũng vẫn chịu ảnh hưởng đến đời sống của mình chứ không phải vì thế mà tránh thoát. Cho nên hãy cứ xông vào, chấp nhận qui luật của chế độ mới để tạo một đất đứng cho mình. Dần dà, số người tham gia sẽ trở thành những nhân số tích cực, ảnh hưởng vào cơ chế mới, khiến cho nó thay đổi. Nhân số tích cực càng nhiều, thời gian thay đổi càng rút ngắn. Đó là quan điểm phổ biến của nhiều người cầm bút miền Bắc . . . (trang 89)

Chính nhà văn miền Bắc này đã nhận định:

“ Miền Bắc, sau gần 30 năm kìm kẹp, không trông mong gì được về một phong trào chống đối nào. Mọi người đã kiệt quệ, mòn mỏi. Tuổi trẻ thì khi sinh ra đã ở trong lòng chế độ. Họ hoàn toàn xa lạ với những tin tức bên ngoài và những tư tưởng tự do. Họ không đủ yếu tố để trở thành những hạt nhân của sự suy nghĩ mới. Xã hội bế tắc nhưng vẫn cứ tồn tại. Tồn tại trong những điều kiện thấp kém nhất của nhu cầu tối thiểu làm người.
Hoàng hướng về quần chúng miền Nam với một ước vọng thầm kín. Lịch sử không thể tái diễn đối với phần đất đã từng có hơn 30 năm tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Đảng và nhà nước có trấn áp, có tiêu diệt, có áp dụng triệt để bạo lực cách mạng thì những gì đã xảy ra ở miền Bắc vẫn không thể xảy ra trọn vẹn ở miền Nam.” (trang 93)

Chính với một ý hướng như thế, Hoàng đã gặp những Nguyệt, những Toàn của miền Nam để phổ biến bản tuyên ngôn của “Nhóm Văn Nghệ Chân Đất”, hoạt động bí mật trong giới cầm bút gốc miền Bắc, trong có đoạn như sau:

“ Chúng tôi, những con người vốn sinh ra như con người dưới mặt trời muôn thuở, kêu gọi tất cả mọi sáng tác phẩm được viết phải dành cho mọi trái tim yêu thương chứ không dạy mọi người phải căm thù và chuyên chính !
Với bộ ngực trần, chúng tôi tuyên chiến với mọi thứ văn hóa bịp bợm, lố bịch đang ngày đêm làm bẩn bầu không khí xung quanh chúng ta.
Hãy chống mọi thứ ô nhiễm đang đầu độc nền văn hiến 4.000 năm. . . . (trang 159)

Mồ hôi của đá được xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1988, nghĩa là Nhật Tiến đã hoàn tất cuốn truyện trước đó. Vào thời điểm ấy, sự hiện diện và nỗ lực của Nhóm Chân Đất kể như không mấy ai chịu tin. Nhưng những năm về sau, thực tế đã trả lời là họ có thật và làm được thật. Những Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Nhật Tuấn, Nguyễn Duy . . . đã xuất hiện thật mạnh mẽ với nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng cũng như nghệ thuật.

Nhưng đó chỉ là trong địa hạt văn nghệ và vận động tư tưởng quần chúng cho một sự đổi thay lớn lao cho một tương lai chưa tới. Về thực tế, cụ thể, trong cuộc sống chính trị xã hội kinh tế hằng ngày thì sao? Câu trả lời khá giản dị: Đổi Mới đã có, đã xảy ra và đang diễn tiến, dù con đường dẫn tới một “C.I C Việt Nam” thay cho Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa vẫn còn dài. (nhà văn Thế Uyên không ghi chú 3 chữ tắt này nên không rõ ông ngụ ý gì, ghi chú của người đăng bài)

Dù là đi “chân đất, ngực trần” như nhân vật Hoàng trong truyện, hay “ngồi bệt xuống cỏ” mà nói lên tiếng nói của lương tri như Dương Thu Hương, người trí thức, người nhà văn dấn thân của Việt Nam cũng đã hoàn tất đáng khen thiên chức của mình.

Nhật Tiến đã kết thúc tác phẩm của mình bằng cách cho Nguyệt bị ông Sáu Thu (vẫn mê nàng một cách rất xác thịt từ lần dầu gặp gỡ) lừa cho uống thuốc mê để phá trinh nàng. Sự kiện này là giọt nước làm tràn cái ly: Nguyệt đi tới chỗ không còn tin tưởng ở “cách mạng nói chung” nữa. Nhưng Nguyệt biết làm gì bây giờ, một khi nàng từ khước giải pháp bỏ cuộc, quay lưng lại với nỗi khốn khổ của dân tộc, vượt biên ra đi đến Canada hay Mỹ để làm lại cuộc đời nhỏ bé của mình trong bình yên ?

Nguyệt không còn tin ở phe chiến thắng cũng như phe chiến bại bởi vì những người :

” . . . như Sáu Thu, như Vũ, và những cán bộ được chuyển từ miền Bắc vào. Họ luôn luôn tự mãn với thành quả chiến thắng vừa đạt được. Họ làm như đã đạt tới tột đỉnh của vinh quang và không bao giờ muốn đổi thay nó. Nghĩ tới đổi thay bây giờ là đụng chạm tới húy kị” . . . “Còn cái vỏ thứ hai thì dành cho những kẻ như Toàn. Chàng tiếc nuốí quá khứ và do sự tiếc nuối này, chàng không chấp nhận bất cứ cái gì không thuộc về quá khứ. Thật ra có ích gì đâu khi đứng bên lề cuộc sống và gậm nhấm tất cả những nỗi buồn tủi, ê chề, thiếu thốn do chính cuộc sống đem lại mỗi ngày . . . “ (trang 162)

Phe chiến thắng không còn tin được, phe chiến bại cũng không xài vào việc gì, vậy giải pháp nào đây cho toàn dân Việt Nam?
Nhật Tiến đưa ra giải pháp “Năm Tỏa”, kẻ ngay từ lúc xuất hiện trong truyện đã nổi danh vì câu: Tôi đi làm cách mạng, hy sinh cả một đời, đâu có phải để thực hiện một xã hội như thế này!

“ Hẳn lòng ông mang đầy mặc cảm tội lỗi. Nhiều đảng viên, đoàn viên, cán bộ chắc cũng đã mang mặc cảm tội lỗi như thế, nhất là những thành phần trong đám đã từng tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, không vì xã hội chủ nghĩa mà vì lòng yêu nước. Nhưng ông Năm Tỏa đã hơn hẳn nhiều người có cùng một tâm sự như ông. Ở chỗ ông không dừng lại. Dừng lại là phủ nhận lý tưởng của mình, là tiếp tay cho bạo lực, là có tội chứ không có công với tổ quốc, với đồng bào. Ông đã lẳng lặng tiếp tục bước đi nữa trên con đường chông gai của mình. (trang 165-166)

Khi thấy Nguyệt (và khối người như Nguyệt thật là đông đảo) lâm vào bế tắc, ông Năm Tỏa đề nghị mời Nguyệt tham gia vào mật khu mới của phe ông:

“ Cô sẽ không thấy một chiến khu rầm rộ súng ống và những chiến sĩ thao dượt ngày đêm như cái danh từ vốn mang đầy đủ hình ảnh đẹp đẽ ấy . . . anh em chúng tôi ở đây quan niệm rằng súng ống của chúng tôi là súng ống mà chính quyền hiện đang có, quân đội của chúng tôi là quân đội đang phục vụ chế độ ở dưới cờ. Tất cả những phương tiện đó sẽ là của chúng ta nếu chúng ta thành công trong công cuộc thay đổi não trạng của tất cả mọi người. Chúng ta sẽ nhóm lên những ngọn lửa và trông chờ nó lan thành những cơn bão lớn, chứ không phải trông chờ ở những ai bật đèn xanh, đèn đỏ gì hết. (trang 170)

Những điều ông Năm Tỏa nói trên, vào thời điểm những năm 1987-88, còn mang tính cách dự tri, hơi nặng phần văn chương khoa học giả tưởng. Nhưng thực tế của những năm sau đó đã chứng tỏ sự thay đổi não trạng của những lãnh tụ và đảng viên cộng sản đã xảy ra thật.

Bắt đầu từ Ba Lan, lan dần khắp Đông Âu. Để rồi tận cùng, tại Liên bang Sô Viết, nơi phát sinh ra các chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế gian, chính những người đảng viên cộng sản cao cấp như Gorbachev, Yeltsin . . . đã đứng lên giải tán các đảng cộng sản, để mặc dân đập tan các thần tượng và tượng thật của những thánh tổ đỏ xưa kia như Mác, Lê-nin.

Tại Việt Nam, những ông Năm Tỏa đã xuất hiện và đã đổi mới được một phần nào chế độ. Nhưng với Nhật Tiến thì không phải chỉ có những ông Năm Tỏa mà thôi. Trong đoạn chót của Mồ hôi của đá, Nhật Tiến đã cho nhân vật chính Nguyệt gặp gỡ trong mật khu kiểu mới của Năm Tỏa một đại úy của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đó là một hình ảnh tượng trưng cho giải pháp mơ ước của Nhật Tiến:

“ Những người cộng sản trong sạch và biết nhận ra sai lầm trong quá khứ sẽ hợp tác với những người tốt của Việt Nam Cộng Hòa xưa kia, kể cả các sĩ quan cải tạo để cùng làm một cuộc cách mạng mới hay một công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.”

Nếu có một vấn nạn nào có thể nêu ra để kết thúc bài này, thì đó sẽ là:

Vào thời điểm Nhật Tiến viết Mồ hôi của đá, chưa hề có chương trình H.O. cho phép các sĩ quan cải tạo mang vợ con đến Mỹ làm lại cuộc đời trong khiêm tốn nhưng an bình. Bây giờ các sĩ quan ấy đã, đang và sẽ còn ra đi đều đặn . . . đến độ những người đọc đến trang chót Mồ hôi của đá có thể tự hỏi : Đến cái ngày mà những người trong nước, chủ yếu là các đảng viên cộng sản đổi mới, viết lại một lần nữa hiến pháp, xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lê và chuyên chính vô sản, thì liệu có còn một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa nào nữa không, để đứng cạnh những cô Nguyệt, những ông Năm Tỏa của Việt Nam?

Thế Uyên
(Văn Học- tháng 7-1992)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: