Những Vết Chân Trâu – Nhật Tiến


Truyện Song Ngữ :

 

MOT THOI DANG QUA nho (2)

NHỮNG VẾT CHÂN TRÂU

 

Truyện ngắn NHẬT TIẾN

(trong tập MỘT THỜI ĐANG QUA  do Tạp chí Xác Định- Hội Văn Hóa VN tại Bắc Mỹ và Tủ Sách Cành Nam ấn hành tại Hoa Kỳ năm 1985)

Hôm được Tổ Sản Xuất phân công bừa mảnh ruộng có bốn sào ở cạnh con ngòi chạy qua cổng Quán, Vịnh mừng rơn. Nghĩ ra còn nhẹ tội hơn là gánh đất về cho Hợp tác xã  làm gạch nung. Nhưng điều mà  không bao giờ Vịnh nghĩ tới là cái thái độ  lừ đừ bất thường của con trâu. Đã đành rằng nó là một con trâu già. Đã đành rằng nó gầy nhom và yếu sức  hơn hết thẩy mười bốn con trâu khác của Hợp tác xã Nông nghiệp có tên là “3 Tháng 2” này. Nhưng làm thân trâu mà lại ngại ngần chuyện cầy bừa  thì là điều không thể chấp nhận được.

Cho nên Vịnh sử dụng  tối đa ngọn roi tre để quất lên làn da mốc thếch của nó, vừa làm bộ hung hăng giận dữ vừa hò hét tưởng đến khan cả cổ họng. Trời nắng cháy làm mồ hôi bốc ra che mờ cả ánh mắt của Vịnh. Nước bùn lệt sệt  ở dưới chân được hun nóng từ buổi sáng bây giờ trở nên bóng nhẫy. Vậy mà con trâu vẫn cứ bước chậm rì. Vịnh biết là nó mệt mỏi. Vịnh nghe  rõ cả tiếng thở phì phò của nó qua cái miệng há hốc ra, lòng thòng những rớt rãi. Cả đến cái khung xương của nó cũng như gồ lên dưới làn da tong teo đến độ Vịnh có thể đếm được từng chiếc xương sườn.

Hình như đã có lần lão Thược cảnh báo mọi người về sự khai thác sức lao động quá mức của con trâu. Cầy. Bừa. Kéo gỗ. Thồ hàng. Chở gạch. Và cả việc lôi cái cần máy cán- ép bên lò nung nữa. Lão phát biểu công khai trong các buổi họp chung :

– Phải dưỡng sức trâu thì nó mới phục vụ được lâu dài. O ép nó quá mức, tới lúc nó quỵ rồi mới cho mà  biết ….

Lão nói vậy vì chỉ nghĩ đến con trâu, một tài sản hiếm quý của Hợp tác xã. Con trâu mà se mình thì còn đáng sợ hơn con người bị nhiễm cảm. Người nhiễm cảm thì chỉ ít bữa đâu lại vào đó, chứ trâu se mình dám làm cả bầy ngã quỵ.

Nhưng thiện ý của lão lại bị gã Bí thư bẻ queo đi. Hôm họp riêng Chi bộ chỉ có vài tay chân thân tín, gã đặt vấn đề :

– Lão Thược phát ngôn như vậy là sao? Lão ám chỉ cái gì thế ? Ai o ép ai? Ai làm cái gì mà lão cho là o ép quá mức? Lại còn nói “ Rồi cho mà biết !”. Ái chà ! Bộ tính nổi loạn đấy chắc ?

Một tay cán bộ chợt bật lên:

– Cực kỳ phản động !

Thế là từ bữa đó, lão Thược bị lãnh đạo nhìn bằng một con mắt khác, mặc dù mọi người dân thường trong cái Hợp tác xã này ai cũng đều biết rằng cái thứ như lão Thược thì có gan gì mà dám nổi loạn. Nhưng thôi. Kệ lão. Ai có thân thì người nấy lo. Thứ nhất ngồi lỳ. Thứ nhì đồng ý.  Cái kinh nghiệm sống ấy, ai mà chả rõ.

Sự việc ấy lâu ngày rồi cũng tạm êm. Lão Thược không dấn thêm vào một sai sót nào mới cả, mà ngược lại, cả hai vợ chồng đều sẵn sàng đảm nhận bất cứ công tác nào được giao phó. Rồi lại tới vụ thằng con của lão đăng ký nghĩa vụ quân sự nữa. Thế là lão đã trở thành “bố anh bộ đội” rồi còn gì. Vì thế, dù cảnh giác cách nào thì Hội đồng Liên tịch trong Hợp tác xã cũng không thể từ chối ban phát một tấm giấy khen cho vợ chồng lão. Lão trịnh trọng dán tấm giấy “Gia đình Tiên tiến” ấy lên vách gỗ. Đó là thành quả lao động của những ngày bì bõm dưới đồng sâu hay oằn lưng vác gạch.

Một thời gian sau, lão được cất nhắc lên làm Tổ trưởng sản xuất bên lò nung gạch. Vợ lão thì tham gia Hội Phụ Lão, chẳng biết làm cái gì, quanh năm đi họp chẳng phát biểu được câu nào, chỉ thấy luôn tay nâng cái giải yếm lên lau đôi mắt toét nhèm và khi biểu quyết thì mụ cũng giơ cánh tay lên cao hơn chút đỉnh.

Đùng một cái, có văn thư của Quận uỷ gửi xuống truy lùng thằng con lão Thược can tội đào ngũ ! Cả làng nhao lên là thằng đó ăn phải bả phồn vinh giả tạo trong Sài Gòn nên quên phứt nhiệm vụ quốc tế vô sản đáng lẽ phải xung phong sang Kampuchia trợ giúp nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nhưng cái quân có gan tầy trời như thế, đã đào ngũ trong Sè Goòng rồi thì nó dại gì lại quay về quê cũ để lực lượng an ninh ở đây mất công sục sạo, truy lùng. Hẳn bây giờ thì nó đã tan biến vào đâu đó trong cái xã hội bầy hầy, đầy rẫy tàn dư phản động ở trong Nam kia kìa. Tuy nhiên các đồng chí công an xã cũng như lực lượng dân phòng cũng chấp hành nghiêm chỉnh và rất tận tình văn thư của Quận ủy. Họ súng ống, gậy gộc ùa vào nhà lão Thược như đi bắt giặc. Nhà cửa của lão thì sộc sệch, tuyênh toang, có cái gì mà có thể giấu giếm được. Ấy vậy mà cả đám cũng xông xáo, đi tới đi lui, đục, cậy cả giờ, và chủ yếu là hoạnh hoẹ:

– Nó mới mò về đêm qua phải không ? Lão giấu nó ở đâu ?

– Gia đình tiên tiến con mẹ gì mà có thằng đào ngũ.

– Xé cái bằng khen đi. Phen này thì Hợp tác xã mất mẹ nó điểm thi đua.

Mụ Thược càng nghe càng tu lên khóc, giọng mụ cứ kéo dài ra nghe thê thảm:

– Ới con ơi ! Con bỏ mẹ mà đi đâu thế hả con….

 Riêng lão Thược thì ngồi bó gối ở dưới chân một cây cột nhà, lầm lì chẳng nói chẳng rằng. Trong thâm tâm, lão giận thằng con lắm. Nó tìm cách an thân đã đành, nhưng gieo tai họa tầy trời cho cả bố lẫn mẹ. Lão thấy trước những gì rồi sẽ xẩy ra cho cái gia đình này. Ít lắm thì cũng mất chức, mất việc, rồi bị cô lập trong mọi sinh hoạt thường ngày. Cũng phải thôi. Người ta phải làm dữ để dằn mặt bọn trai trẻ thuộc những gia đình khác, hãy nhìn vô đó mà làm gương.

Quả nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, hai vợ chồng lão bỗng nhiên trở thành hai kẻ tội đồ sống bên lề xã hội. Ra đường, gặp người quen chào hỏi, ai cũng giả bộ làm ngơ ngoảnh mặt quay đi. Một vài người còn đôi chút tình nghĩa thì ném cho một cái nhìn chia sẻ cảm thông nhưng rồi cũng hốt hoảng làm bộ ngó quanh, len lét như sợ hãi có cặp mắt nào đang theo dõi hành vi của mình. Nhưng cái đáng sợ hơn cả là biện pháp cắt hộ khẩu, ngưng tem phiếu. Còn tem phiếu thì còn được mua nhu yếu phẩm theo giá chính thức. Không tem phiếu thì kể như đã bị gạt ra khỏi mâm cơm chung của  toàn xã hội dù cái mâm chỉ được bầy biện những khoai cùng sắn, quanh năm chỉ được ăn một hai bữa cơm tuyền có thêm vài miếng thịt vào dịp tết nhất hay dịp liên hoan mừng những ngày lễ lớn.

Lão Thược phải đôn đáo chạy qua tận xã bên xin làm đổi công cho những nhà có máu mặt. Vợ lão thì lặn lội vô tận đồng sâu, lội bì bõm từ sáng đến chiều mò cua bắt ốc để kiếm thêm bất cứ chút gì có thể ăn được. Cả hai bây giờ nom thảm hại như những con ma vùi. Điều này khiến đồng chí Bí thư Chi bộ cười vẻ đắc ý và nói như nhắc nhở bà con:

– Đó là hậu quả của những tên phản lại đường lối, chính sách của Đảng. Tất yếu là như vậy thôi !!

                                                            ****

Vào đúng cái lúc mà Vịnh loay hoay với con trâu già dưới thửa ruộng quánh bùn thì vợ lão Thược cũng lõm bõm ở con ngòi với cái giỏ ốc đeo bên lưng. Mụ ta nghe rõ tiếng thằng Vịnh chửi rủa con trâu. Mụ cũng thấy rõ bàn tay của gã múa lên chiếc roi làm bằng đọt tre non và đập liên hồi lên cái khung xương còm cõi của con vật. Bước chân của nó tuy thế lại vẫn ngày càng chậm rì. Cho đến một lúc thì nó run lên bần bật. Nó làm như không còn đủ sức để rút một cẳng chân ra khỏi lớp nước sền sệt bùn. Cái bừa thì trì lại. Nước bỏng rẫy dưới chân làm Vịnh muốn nổi cơn điên lên thêm. Gã quất lên con vật tưởng đến bật máu ở một bên gò xương hông. Nhưng con vật bây giờ thì đã hoàn toàn khựng lại. Nó đổ mồ hôi đầm đìa. Cổ nó vươn lên. Mặt nó ngửa ra. Rồi nó thốt lên một tiếng kêu như một tiếng rống nhỏ rồi cả thân mình còm cõi của nó quỵ xuống. Con trâu đã hoàn toàn gục ngã trên thửa ruộng như một người lính can trường gục ngã trên chiến địa. Sự kiện bất ngờ làm Vịnh phát hoảng lên. Gã sững sờ nhìn con trâu nằm tênh hênh trên thửa ruộng mà chân tay của gã như quíu lại. Rồi bỗng gã vứt cái roi tre xuống cạnh con trâu và cất tiếng la bảì hải :

– Ối các đồng chí ôi !!! Ối các đồng chí ôi ! Ra mà coi con trâu nó chết rồi này…

Vừa la gã vừa co giò chạy lên mặt lộ. Gã bắt gặp ngay cặp mắt mở to thao láo của vợ lão Thược lúc ấy cũng mang đầy vẻ sững sờ. Con trâu tội nghiệp này đối với vợ chồng lão cũng như thể một người thân quen. Mụ biết rõ gốc gác của nó từ ngày nó mới sinh ra, đã ở những nhà nào, chủ là ai. Mụ cũng biết trên đầu của nó có bao nhiêu cái khoáy, sừng của nó có bao nhiêu khoanh vòng, và ngay cả tính nết của nó nữa. Vậy mà bây giờ nó chết !

Trong tình cảnh tứ cố vô thân chẳng còn ai, họ hàng thân quen nay đã ruồng bỏ, mụ Thược chợt thấy rằng chỉ có mỗi con trâu này là kẻ thân thiết gần gũi. Nó đâu có nhìn mụ bằng đôi mắt hằn học, rẻ khinh kể từ ngày thằng con trai của mụ dại dột  đi đào ngũ. Nó cũng đâu có ngoảnh mặt quay đi mỗi khi mụ đến gần nó thân mật, vỗ về. Thế là tự nhiên mụ tu lên khóc như khóc một người thân, thân đúng nghĩa chứ chẳng  phải ví von một cách quá lời.

Cái tin sét đánh của Vịnh chạy về hớt hải tung ra chỉ một thoáng là loan truyền khắp Hợp tác xã. Mọi người bỏ cả công việc để đổ xô về phía cổng Quán. Rõ ra là một con trâu quý giá hơn một con nguời. Trong chiến tranh, ở đây có bao nhiêu là người chết, nhưng có cái chết nào lại gây ra một sự khích động mạnh mẽ như thế cái chết của con trâu này đâu. Rõ nhất là ở nơi ông Chủ nhiệm Hợp tác xã.  Người ông to béo, phục phịch. Chỉ thấy ông đi, người ta đã thấy mệt, huống hồ lại chạy. Vậy mà bữa nay ông chạy. Lại chạy nhanh khiến bọn trẻ con ùa theo cũng muốn hụt hơi. Khi tới nơi, ông thở như con bò rống. Mặt của ông đỏ gay. Đôi mắt của ông long lên giận dữ. Ông vung cái gậy tre  trong tay, vừa vụt  vào khoảng không vừa  tác xác nói với cả đám đông đang bu chung quanh ông bên bờ ruộng :

  – Đứa nào lo cái việc cắt cỏ cho trâu ở Tổ 4 đây ? Tổ sư chúng mày ham chơi rồi bỏ trâu đói, làm sao nó không quỵ. Ông sẽ lột mẹ hết khăn quàng đỏ cho chúng mày chừa thói ham chơi…

 Trên nguyên tắc, nói như vậy là ông đụng đến danh dự đoàn thể. Phải như kẻ khác mà phát ngôn như thế thì vấn đề sẽ xé ra to không biết tới đâu. Nhưng đồng chí Bí thư chi bộ cũng đang chia sẻ sự giận dữ ấy với ông, chỉ khác cái cung cách phát biểu. Một đằng thì lu loa, chửi rủa om sòm, một đằng thì mặt cứ tím đi, cặp môi bậm sịt lại. Vả chăng lũ nhi đồng quàng khăn đỏ thì cũng đều là con cháu trong nhà cả, nghe ông quát cả bọn đã sợ chết rúm lại rồi, hơi sức đâu mà đặt vấn đề danh dự đoàn thể. Mấy đứa  nhỏ đứng ở vòng ngoài ghé tai vào nhau xì xào:

– Tuần này đến phiên đội nào chăn trâu Tổ 4? Phải đội thằng Năng không?

– Không ! Đội thằng Quý. Mà tao thấy tụi thằng Quý kéo nhau đi bắt cua trên đồng Ông Súng.

Một đứa hớt lẻo, nói to giọng cốt để ông Chủ nhiệm ở xa nghe thấy :

– Kỳ này tới phiên đội thằng Quý cắt cỏ.

Ông Chủ nhiệm quay phắt lại. Ông nhìn thằng nhỏ mới phát ngôn như túm lấy được bằng cớ hiển nhiên. Ông định tuôn ra một hồi chửi rủa, đào mả cha, mả ông thằng Quý lên, nhưng ông kịp bụm miệng ngay lại vì phát hiện ra thằng Quý là con ông Uỷ viên An ninh. Vuốt mặt còn nể mũi, huống chi lại là thứ dữ. Vì vậy ông chỉ khua cái gậy thêm một vòng nữa rồi nói bâng quơ:

– Thằng nào thì thằng, kỳ này tao phạt hết. Giấy khen có ký rồi tao cũng dẹp !

Nói rồi ông quay sang đám thanh niên ra lệnh khiêng con trâu lên bờ đường.

Mọi người phát hiện ra rằng con trâu chưa chết. Nó chỉ bị kiệt sức đó thôi. Ông Chủ nhiệm hợp tác xã nhỉnh mặt lên được một tí và ông hơi hối tiếc là mình đã quá nặng lời. Ông liền đổi giọng dễ nghe hơn:

– Nó đói đấy thôi. Cho nó nghỉ ngơi dưỡng sức, bồi dưỡng rơm cỏ đầy đủ là khoẻ ra ngay.

Thế là con trâu được một dịp không phải lao động mà không nhân danh một ngày Lễ lớn nào. Tuy nhiên lời nhận xét của ông Chủ nhiệm đã chẳng đúng như những điều mà ông mong mỏi. Kể từ lúc khiêng con trâu về chuồng là nó nằm liệt luôn. Nó không đói. Cả một sọt cỏ xanh mơn mởn đem kề vô miệng mà trâu không hề nhếch mép. Nó chỉ như một con quay đắp hết đà, chẳng mấy chốc sẽ quỵ xuống  và không bao giờ còn gượng dậy được nữa. Bây giờ thì nó nằm xuội lơ ở một góc chuồng, giương đôi mắt đục lờ nhìn ra phía ngoài một cách đờ đẫn. Ở hai bên mép, những dòng bọt trắng xoá cứ xùi ra, mỗi lúc một nhiều. Đồng chí Phó Chủ tịch buông sõng một câu :

– Đem thịt quách đi thôi !

Mấy người quanh năm ước mơ một miếng thịt không giấu được vui mừng, nhẩy reo lên ngay :

– Phải đó ! Phải đó ! Thịt đi thôi. Làm ngay còn được ăn trâu lành, chờ ít bữa là hoá trâu toi đó !

Ý kiến vừa nêu ra làm ai nấy đều thích mê. Ngàn năm một thuở mới có một bữa thịt ngoài tiêu chuẩn. Vả chăng trâu già cỡ đó, có chạy chữa cách mấy cũng chẳng còn khai thác ở nó được thêm chút lao động nào. Tuy nhiên, trâu vừa ngã xuống, Hợp tác xã  còn phải đương đầu với khó khăn mới do cái chết của nó gây ra, chuyện chưa giải quyết mà lại bàn đem trâu ra làm thịt thì có vẻ thiếu tinh thần trách nhiệm quá. Cho nên ông Chủ nhiệm không muốn phát biểu ý kiến đồng tình ngay.

Tối hôm đó, ông triệu tập một phiên họp Liên tịch để bàn chuyện bù đắp chỗ khuyết của con trâu. Có người phát biểu:

– Không có trâu thì kể như một số phần vụ bị tê liệt, mà Hợp tác xã ta đang ở vào thời điểm các công việc đang căng nhất. Đề nghị xuất quỹ ra mua một con trâu khác.

 Ý kiến này lập tức bị ông Chủ nhiệm bác bỏ với lý do : “ Nếu giải quyết vấn đề mà giản dị như thế thì ai cần triệu tập phiên họp liên tịch làm gì ”. Thật ra trong thâm tâm, ông không muốn quỹ bị hao hụt đi một đồng xu trời ơi đất hỡi nào. Nó còn phải được vun đắp thêm để Hợp tác xã có thể mua được một chiếc xe con, tức là xe hơi loại nhỏ. Ông vẫn luôn luôn bầy tỏ ý kiến rằng cái xe con là vô cùng quan trọng với Hợp tác xã. Bởi có nó, ông mới rộng cẳng chạy đây chạy đó, nay Tỉnh, mai Quận, liên hệ với các Ban, Ngành, các cơ quan để mậu dịch mua bán các loại sản phẩm, các mặt hàng tiêu dùng nào hột giống, nào phân bón, nào xăng dầu….Ông làm như cái xe con để ông sử dụng giống như một cái chìa khoá có thể cứ mở cánh cửa ra là được cung ứng đủ mọi thứ.

Bên phía phụ nữ thì bàn thảo lạc đề với ý kiến đề nghị mua một dàn máy bơm thay thế cho hệ thống gầu giai, gầu sòng vừa chậm chạp vừa phải bổ sung một lực lượng lao động đông đảo cho việc tát nước. Đồng chí ấy giải thích :

– Chúng ta đang ở vào thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến, do đó phải biết vận dụng phương tiện khoa học kỹ thuật vào công tác sản xuất.

Nhưng có kẻ bàn ngang:

– Đồng ý là có khoa học kỹ thuật thì cũng tốt thôi. Nhưng đồng chí cũng nên nhớ rằng sức người mà quyết tâm thì sỏi đá cũng biến thành cơm đấy nhé !

Chị phụ nữ nói dỗi:

– Thế thì đồng chí kéo cầy thay trâu đi. Rồi cũng sẽ có cơm như lúc còn trâu vậy.

Câu nói này thốt nhiên làm bừng lên trong đầu óc mọi người một sáng kiến nghe khá tuyệt vời : “Kéo cầy thay trâu”. Ông Chủ nhiệm vỗ đùi đánh đét một cái rồi reo lên:

– Đồng chí Tài bên Công đoàn nói đúng đấy. Ta mà quyết tâm thì chẳng khó khăn nào không thể vượt qua. Sỏi đá cũng biến thành cơm mà. Như vụ con trâu đang gây khó cho ta về lực lượng lao động. Bộ nó chết rồi là chúng ta khoanh tay nhìn hết cả sao ? Đề nghị các đồng chí  thảo luận về cái giải pháp tạm lấy sức người thay trâu.

Chị phụ nữ trợn mắt lên nhìn:

– Nghĩa là người kéo cầy thay trâu ?

– Có sao đâu ! Trước đây trong chiến tranh, nhiều Hợp tác xã Nông nghiệp đã phát huy cái sáng kiến này để tranh thủ thêm công tác sản xuất và giải quyết được  những thiếu thốn khó khăn trước mặt.

Chẳng ai có thể cãi được với lập luận khắc phục khó khăn theo kiểu đó, nhưng buổi họp lại bế tắc ở chỗ ai là kẻ chịu đứng ra làm trâu để đi kéo cầy đây ? Bên cánh phụ nữ thì dứt khoát là không rồi. Không thể buộc cho họ cái nhiệm vụ khó khăn cần nhiều sức lực đó, dù từ lâu họ vẫn bênh vực quan niệm phụ nữ phải bình quyền. Bình gì thì bình, các khó khăn phải để bên Thanh niên gánh vác trước. Mà bọn thanh niên thì cứng đầu. Thích thì làm. O ép quá, chúng nó phá đám thì Hợp tác xã chỉ có con đường phá sản.

Dầu vậy, ông Chủ nhiệm cũng động viên một cách vớt vát không che giấu được sự khẩn khoản :

– Thôi để bên các đồng chí Thanh niên họp riêng với nhau đề cử người luân phiên, mỗi người một buổi cầy thay trâu. Mong các đồng chí thể hiện tinh thần : “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Anh đại diện Chi đoàn Thanh niên biết ngay đang đụng phải một vấn đề hóc búa. Anh biết rõ chẳng có tên thanh niên nào chịu đứng ra làm trâu kéo cầy. Không phải vì không có sức vóc, nhưng đã làm trâu rồi thì còn đâu thể diện mà đi tán gái. Nó sẽ không gọi tên thực mình ra mà lại cứ kêu “anh Trâu” thì có mà độn thổ ! Đó là nguyên do chính, ai cũng nghĩ tới mà ai cũng chẳng dám nêu ra.

Quả nhiên, sau tới hai buổi họp Chi đoàn và dùng đủ mọi biện pháp động viên vẫn chẳng có ai chịu đứng ra xung phong hết. Trong khi ấy, Vịnh bám sát tình hình sức khoẻ của con trâu  để báo cáo thường xuyên từng giờ từng phút, như thể “ Nó hết ngóc được cái đầu rồi”, “Nó bắt đầu ngáp mỗi lúc một nhiều”, “Hai chân nó bắt đầu rẫy rẫy”. Và cứ mỗi lần loan một tin như thế, gã lại kèm theo một câu :

– Thịt đi thôi, kẻo lại hoá trâu toi !

Qua ngày hôm sau nữa, bỗng mọi người thấy bóng dáng của lão Thược đứng khúm núm trong phòng làm việc của ông Chủ nhiệm Hợp tác xã. Có cả sự hiện diện của đồng chí Bí thư Chi bộ. Ngàn năm một thuở lão Thược mới có cơ hội xin “ đái tội lập công”, dù tội của lão chỉ là cái tội có một đứa con dám bạo gan đi đào ngũ.  Lão cũng tự biết mình cũng chẳng mạnh khoẻ gì hơn con trâu lúc này, nhưng còn nước còn tát. Sau gần một năm trời sống bên lề xã hội, lão đã quá hãi hùng với bầu không khí bị xóm làng cô lập và bị nhà nước cúp mất hộ khẩu. Nghĩa là bị chặt đến tận gốc rễ về cả phương diện vật chất lẫn tinh thần. Như vậy thì có xá gì cái chuyện đưa vai ra kéo cái cầy thay chỗ cho con trâu. Lão khẩn khoản nói:

– Trình với hai đồng chí, tôi tuy già nhưng sức lực còn dẻo dai lắm, dư kéo một cái cầy. Vả chăng lại còn có con mụ vợ tôi nó phụ một tay nữa. Mụ tiếng thế mà dai như đỉa ấy.

Vừa nói lão vừa ngước mắt nhìn ra ngoài. Qua cánh cửa sổ mở rộng, cả đồng chí Bí thư lẫn ông Chủ nhiệm Hợp tác xã đều cùng nhìn thấy mụ Thược đang ngồi bó gối thu lu ở một gốc cây trong sân trụ sở. Bên cạnh mụ còn có một cái giỏ cua. Mụ ngồi so ro như một con mèo ốm, đôi mắt đăm đăm nhìn ra phía bên kia hàng rào trên một khoảng sân rộng mênh mông có nhiều bóng người lố nhố đi lại khuân vác những chồng gạch mầu máu bầm mới được chuyền ra khỏi lò nung. Tuy từ đây tới đó còn cách nhau một khoảng xa nhưng mụ vẫn có thể nhận biết được hình dáng của những người quen thuộc. Lão Ấu. Mụ San. Mụ Hào. Lão Hối. Và cả những đứa trẻ mười một, mười hai. Họ đang khuân những viên gạch từ trong khu vực lò đem ra xếp thành hàng dài ở trên sân đất nom như những con kiến đang tha những vật liệu đem về làm tổ. Tất cả họp thành một xã hội, cái xã hội lam lũ, nghèo nàn mà trong đó con người đang bị vắt cho tới lúc sức cùng, lực kiệt. Nhưng tuy vậy chỗ đó vẫn còn là ước mơ mong được đạt tới của vợ chồng lão Thược bây giờ.

            Gần một năm nay mụ chưa được sờ lại tờ tem phiếu, mẩu này là gạo, mẩu kia  là muối, là dầu, là củi, là sợi chỉ, cây kim, lâu lâu còn có ký đường, vuông vải. Cũng đã lâu lắm mụ cũng không được cái hân hạnh chen chúc xếp hàng, vật lộn, cãi vã nhau ở trước cửa hàng mậu dịch, có hôm thì dưới trời mưa rả rích, có ngày dưới nắng chang chang, chung quanh bốc sặc lên mùi nồng nặc chua loen loét của đủ loại mồ hôi.

            Những hôm lội lõm bõm mò cua ở dưới đồng sâu, mụ cầu Trời khấn Phật cho thằng con ham chơi của mụ lang thang đâu đó rồi sẽ có ngày sẽ lại quay về. Bất quá đi tù, nhưng còn mẹ còn con. Rồi mãn hạn tù, nhà nước khoan dung, nhà lại có hộ khẩu, tem phiếu.  Mụ nghĩ đến tem phiếu như nghĩ đến một ước mơ thật xa vời.

            Có hiểu được tâm tình của mụ lúc này thì mới thấy được hiện bây giờ mụ đang nôn nóng biết bao. Thỉnh thoảng mụ lại liếc về phía cửa sổ văn phòng để ngóng chờ tin vui của lão Thược. Mụ ngồi đấy chờ chồng với tất cả nỗi băn khoăn, hồi hộp của một kẻ tội đồ chờ đợi phiên toà sắp tuyên ra một bản án.

Cho đến lúc có bóng của lão Thược xuất hiện ở ngoài khung cửa chỗ văn phòng của ông Chủ nhiệm hợp tác xã thì mụ vội vã đứng bật dậy, giương cả hai cặp mắt lên nhìn. Mụ thấy lão Thược đang nhe hàm răng móm mém ra cười.

Thôi thế là Trời Phật đã chứng giám cho lời cầu xin chân thành của mụ rồi. Mụ thấy lão Thược đi xộc về phía mụ. Chân lão bước thoăn thoắt. Hai bàn tay của lão múa lên. Lão lên tiếng thật to, giọng đầy vẻ vui mừng:

– Bà ơi ! Các ông ấy chấp thuận rồi ! Mình sẽ được thế chỗ của con trâu !

                                                                                                            NHẬT  TIẾN

In the Foosteps of a Water Buffalo

 NHAT TIEN

                                    Translated by Huynh Sanh Thong

(Former Director of Southeast Asian Refugee Project – Yale University)

                     

Nhat Tien is one of Vietnam’s foremost authors.

Born Bui Nhat Tien in Hanoi in 1936, he was raised in the North but left for the South when the country was separated in 1954 by the geneve accords.Until South Vietnam fell to the communists he worked as a chemistry teacher, and at carving out a literary career. He is known as an essayist, editor, and author of short stories and children’s books. In 1962, Nhat Tien won the national Literture Award  for his fifth book, Them Hoang, an he later became vice-chairman of the Vietnamese Chapter of PEN. Although he was permitted by the new communists regime to continue teaching, he despaired at the repression it brought  to the defeated South and joined the fleeing refugees known to the world  as the Boat People. While in passage, his overcrownded boat was attacked by pirates in the Gulf of Thailand, and he was strandes for more than three weeks on a deserted island with over one hundred others. He later reported on this experience in the Pirates on the Gulf of Siam. Nhat Tien resides in exile in California, where he continues to write and lobby in behalf of Vietnamese refugees around the world. In the story that follows, he offers a lamentably realistic window into the vindictive nature of the bureaucratic regime that forced so many of his compatriots abroad.

 

When the production unit assigned him the task of harrowing the little patch of rice field along the creek flowing past Cong Quan, Vinh was beside himself with joy. At least that was a less punishing job than carrying baskets of clay from the ends of a shoulder pole for the local brick-making cooperative.

But Vinh had not reckoned with the abnormal sluggishness of the water buffalo. Admittedly, it was an old, old heast-a scrawny thing, weaker than the other fourteen buffalo belonging to their February 3 agricultural cooperative, but a water buffalo balking at the plow or harrow – that was unacceptable behavior. So Vinh made maximum use of the bamboo whip, lashing at the beast’s ash gray skin while blustering and shouting himself hoarse. The torrid sun had him sweating profusely, and his eyes were blurry. Under his feet, the paddy slosh that had been baking since daybreak was scorching hot. And the water buffalo kept plodding on his way ever so slowly and wearily. Vinh could hear its labored breathing through the gaping mouth dribbling saliva and froth. Its entire skeleton jutted against wrinkled skin, and he could count every rib.

Apparently, Old Man Thuoc had once warned everyone against overworking the water buffalo. The creatures were always being called upon to do this or that. Plowing. Harrowing. Hauling lumber. Transporting goods. Carrying tons of brick. Old Man Thuoc had spoken up at a general meeting: “ You comrades should go easy on the buffalo if you want them to work for many years. Overtax their bodies and they’ll give out on you in no time.”

Thuoc had spoken without malice or innuendo. He only worried about the draft animals, and far from his mind were all those aged humans on whose wizened backs were saddled sundry chores in the cooperative. To his simple way of thinking, water buffalo re- presented the most precious capital: when one fell sick it was cause for grave concern. If a man was ill, well, that was different: he could get back to work in a few days.

The secretary of the Party branch, however, chose to interpret Thuoc’s guileless words in a completely different manner. At a restricted session of the village council, which included leaders of various groups-workers, women, youth, and the supervisory board of cooperatives – he pronounced his verdict: “Old Man Thuoc holds the most reactionary views possible. All of you, comrades, must maintain your vigilance and keep to a minimum his remarks in public on any subject.”

All present understood. While innocent enough, Thuoc’s words unwittingly reflected the truth of their lives. Old men and women had to bend their shrunken backs hauling bricks, pushing carts, and lugging baskets of dirt with shoulder poles like beasts of burden, yet nobody dared emit one peep in their defense. Why contradict the most powerful voice in the village and court trouble? “The best thing is to sit still, and the next best thing is to say yes.” So went proverbial wisdom at meetings under the socialist regime.

Thuoc’s incident eventually blew over, and he avoided pu­rsuing the issue any further. On the contrary, both he and his wife eagerly took on any task entrusted to them. So later, when their son signed up for military service, no matter how vigilant the village council wished to appear, it was obliged to offer one of its “progressive family” certificates of merit to Thuoc and his wife. Thuoc was promoted to foreman of the production unit at the brick kiln, and his wife was admitted to the Association of Elderly Women and put on the advisory committee, even though she never opened her mouth or ventured a single opinion at any meeting. From start to finish, she could be seen lifting her apron to her rheumy eyes and dabhing at them all the time.

 

***

Then one day, from out of the blue, a warrant from the district came for the arrest of Thuoc’s son for desertion. Now, if a young man fell for the “artificial prosperity” of Saigon, or flinched from his international proletarian duty in fraternal socialist Kampuchea, he would hardly be so foolish as to return to his native village. In all probability, the boy had disappeared into the corrupt society of the South, but the comrades of the security police intended to carry out the directives of the district Party committee to the letter and in earnest. Flourishing their weapons, they stormed Thuoc’s house as if they were hunting enemy troops. The hut was virtually bare of furniture, and there was not much worth rummaging through, but, all the same, the gang went through the motions of searching, strutting back and forth and turning the place upside down for a whole hour. During all that time Thuoc’s wife sobbed and bluh-bered, crying again and again, “O my son! Where have you gone? Why have you left your ma ?”

As for Thuoc himself, he simply squatted at the foot of a post and hugged his knees in stony silence. He was very angry with his boy. The brat might have found a refuge somewhere for himself but he had brought disaster down on both his father and his mother. In a twinkling their so-called revolutionary contribution to the cooperative, what they had achieved over many years, went up in smoke. Thuoc and his wife would lose their positions in the commumty and their jobs. They would he ostracized and punished not only in reprisal but as a pointed warning to any other youngsters who might feel tempted to follow their son down the reactionary road to decadence and hooliganism.

All of a heap, man and wife became outlaws and pariahs, doomed to live apart from society. When they met someone out on the road and ventured a hello, that person would look the other way, feigning nonrecognition. A few friends or acquaintances in whom persisted some shreds of decency might bestow on them a commiserative glance, but they would at once look around nervously as if they had committed a crime and were afraid of being observed.

What they had dreaded, and what hurt most was that from now on Thuoc and his wife would be cut off the ration-coupon system. With ration coupons they had found it possible to buy staples at official prices. Without the coupons, they would consider themselves evicted for good from the community dining table, even if what was spread upon the board was nothing more than potato and cassava.

Thuơc now had to journey all the way to the next village and beg better-off families for work on mutual-help teams. His wife was forced to search through the mire of flooded fields and creeks for crabs and snails to help eke out their meager fare. Both came to look like woebegone souls risen out of the mud. Their plight gave the Party branch secretary much occasion for gleeful gloating. He kept repeating, as if to drill a lesson into the village folks,  “This is what will befall all those who go against the Party line and state policy! It’s historical necessity-there’s no getting around it.”

 

**

At the very moment when Vinh was struggling with his old water buffalo in the slush of the rice field, Thuoc’s wife was floundering in the creek with a basket for collecting snails hung on her back. She clearly heard Vinh curse the beast. She clearly saw his hand wave the bamboo whip and lash repeatedly at its wizened skeleton. But instead of hastening its pace, the buffalo slowed down little by little until it came to a standstill, trembling all over. Utterly exausted, it seemed unable to pull its foot out of the mire for even one more step. The harrow stuck fast. The steaming paddy slosh beneath burned at Vinh’s feet and drove him close to frenzy. He flogged the beast so hard he drew blood from its flank, yet still the buffalo would not budge. lts body was bathed in sweat when, stretching out its neck and rearing its head, it exhaled something like a soft moan. Then the whole mass slumped down. The decrepit animal collapsed in the paddy like some old soldier fallen on the battleground.

This unexpected turn of events stunned Vinh. At first, he stood there staring dumbfounded at the beast asprawl in the field, his every limb numb with fear. Then he flung the bamboo whip down beside the buffalo and rushed off screaming, “Comrades! Comrades! Come out, take a look – the buffalo is dead ! ”

As he reached the road running and screaming, Vinh bumped into Thuoc’s wife, whose eyes were wide with astonishment. The wretched buffalo had been not unlike a close acquaintance to her and her husband. They knew all about it, when and where it had been born, to whom it had belonged. They knew how many cowlicks there were on its head, how many rings there were around its horns, even what made it tick. And now it was dead!

Forsaken by kith and kin, Thuoc’s wife suddenly realized what the buffalo had meant to her. Never had it glowered at her with contempt or hatred since the day her wretched boy had bolted from the army. Never had it averted its gaze when she came up to it and patted it on the back. Thuoc’s wife dissolved into tears, mourning a good friend.

Vinh’s news struck the cooperative like a thunderbolt.  They all dropped whatever they were doing and hurried toward Cong Quan. Water buffalo were more valuable than people. During the war, many people had perished, but no death had ever caused as much consternation as that of this animal.

The person most shocked and astounded was the cooperative chief, a fat, heavy man who never walked quickly, let alone run. Today he broke into a gallop, and younger folks had trouble keeping up with him. His crimson face and eyes glared fury, and in his hand he held a bamboo cane, which he flourished to make his point as he talked to the crowd clustered around him by the paddy:

“ Which boys are in charge of gathering hay on Team Four ? Damn you all, little rascals ! You were too busy with your fun and games to feed the buffalo – no wonder it’s dropped dead. I’ll strip those red scarves off your necks and teach you to love games and sports less!”

In principle, what the cooperative chief had said was a grave offense to the whole Ho Chi Minh Vanguard Youth Corps, an attack on its honor. Had anyone else made the same statement it would have provoked an uproar, but the Party branch secretary shared in his comrade’s anger completely. Indeed, the two men differed only in the way they expressed their displeasure. While one burst into shouts and curses, the other clamped his lips tightly with a livid look on his face . Children young enough to be the cooperative chiefs sons and daughters were too intimidated to make an issue of their corporate pride.

Some boys standing on the fringe of the crowd whispered among themselves:

“Whose turn is it this week to tend the buffalo of Team Four? Is it Nang’s group ?”

“No. It’s Quy’s group. And I’ve seen Quy and his teammates catching crabs up there around the Ong Sung fleldsl”

A young tattletale, overhearing the conversation, spoke out loud enough to be heard by the cooperative chief :  “It’s the turn of Quy’s team to cut grass for the buffalo!”

The chief swung sharply toward the boy, pouncing on him as if he were a piece of irrefutable proof. On the tip of his tongue was a string of epithets unbattering to Quy’s ancestors, which he was just about to rattle off before discovering in time that the culprit was a son of the village security commissioner. As the proverb says:

“Before you stroke the face, beware the nose.”. You don’t touch relatives of an acquaintance, let alone one who wields much clout.

And so the cooperative chief twirled his cane once more and said, addressing no one in particular, ” I don’t care whose shift it isl This time I’m going to punish them all. No letters of commendation from me, not even those I’ve already signed!”

Then he turned to the boys and asked them to carry the beast onto the roadside. Here they found out that the buffalo, while far from well, was not dead: it had simply collapsed from exhaustion.

Relieved, the cooperative chief looked less glim. Somewhat ashamed of his outburst, he now spoke in a more conciliatory tone. ‘The buffalo is hungry-that’s all. Give it a good day’s rest and plenty of straw to eat and it’ll be back on its feet in a jiffy. ”

So the water buffalo enjoyed a vacation without benefit of a national holiday to thank. However, the cooperative chiefs veterinary assessment fit his own hopes better than it did the facts, soon to transpire, for, on being hauled hack to the barn, the buffalo simply lay there like an inert hulk. It was not hungry. A rough full of tender, mouth-watering grass was placed right next to its chops, but it would not even bother to open them. A top whose spinning force runs out will drop to the ground, and the buffalo was like that. There was no way it could pick itself up and go again. It lay there lifeless in the barn, staring stupidly with the glazed vacancy of its eyes, dribbling froth and saliva out of both corners of its mouth.

The deputy chief of the cooperative made a flat statement, mincing no words: “Let’s butcher the bufìalo. ”

People who all year round had been dreaming of meat rejoiced, hollering, “That’s right! Let’s slaughter it now while it’s still alive. In a few days we’ll have to eat carrion from a dead animal!”

The idea received collective approval. Here was a rare opportunity to forget their starvation diet and feast on meat. Surely, not much more service could be squeezed out of that old water buffalo anyhow, even if it could be cured of whatever ailed it. But, with the buffalo out of commission, the cooperative had to confront and solve another problem, and to talk of butchering the beast at this moment seemed out of place; it smacked of irresponsible gluttony. So the cooperative chief refrained from giving his consent immediately.

That night he convoked an emergency session of the village council to discuss how to replace the sick buffalo. Somebody suggested, “Without the buffalo, a number of our tasks will be crippled. And our cooperative also happens to be in the period of most intense activity. Let’s lay out funds and purchase another buffalo. ”

The cooperative chief dismissed that idea out of hand for this reason: “ If the solution were so simple, why hold a special session of the village council at all?”

The truth of the matter was that, deep in his heart, he did not want to spend one damn penny from the budget on anything whatsoever. It had to be further replenished until his cooperative could afford a small autumobile. He had always put forward the view that an automobile would be of critical importance to the growth of the cooperative. It would give its chief mobility, allowing him to travel one day to the district seat and the next to the provincial capital. He could keep in touch with various commissionsand agencies and arrange trade or exchange for all sorts of products and commodities: seed, fertilizer, gasoline, kerosene, and whatnot. A car would be the magic key to unlock and open wide the door to the world of abundance.

The women had their say too. One comrade recommended that a set of water pumps be purchased to replace the old-fashioned system of irrigation scoops and buckets, all those gau-dais and gau songs,  which not only did a slow job but also involved. a large labor force-made up primarily of women.

She said, “We are living in the age of science and technology. Let’s bring science and technology to bear on production!”

But one brother countered the sister’s proposal with this heroic argument: ” I agree with our sister that it would be better if we could use science and technology. However, let’s not forget the words of our communist poet: “Our hands turn even pebbles and rocks to rice!”

The sister huffily retorted, “If so, then why don’t you take the place of the buffalo and pull the plow yourself, brother ? We’ll have rice to eat just like when we still had the buffalo!”

 That was it! What the sister said in pique struck the cooperative chief as a brilliant idea, a stroke of genius. He slapped his thigh and exclaimed, “Sister Tai is right on target! With determination we can overcome any and all difficulties. Like this problem of the buffalo. I propose that you brothers and sisters discuss the substitution of human strength for animal motive power as a stopgap measure.”

In amazement, the sister asked, “You mean somebody will have to pull the plow?”

“What’s wrong with that ? Years ago, during the war, many agricultural cooperatives took that measure to make up for shortages and to push production.”

No one quarreled with the idea that the problem could be solved in that fashion. But the meeting was deadlocked on who was to fill in for the buffalo pulling a plow or harrow. The women, who had always defended equal rights, preferred to forgo this privilege and pass it on to the male members of the Ho Chi Minh Vanguard Youth Corps. But the boys had minds of their own. They would and could do anything only if they cared to. One couldn’t lean too hard on them or they might sabotage the cooperative, put it out of business. The cooperative chief knew that. Nevertheless, he made a perfunctury attempt to enlist them, virtually pleading for their help. “Well, let me suggest that the comrades in the Youth Corps hold a separate session and agree among themselves to take turns substituting for the buffalo. I hope that you all will carry out in practice the spirit of your proud motto: “Where they are needed,Youth Corpsmen will be there; where the job is tough, there will be Youth Corpsmen!’ “

The comrade who represented the Youth Corps realized at once that he’d been given a tough nut to crack. He suspected, and rightly, that none of the boys would take the place of the buffalo and pull a plow. Not that any of them lacked the physical strength and  stamina to do it. But once you’­ve played buffalo, how on earth can you face a girl and talk to her seriously ? That would be the overriding reason for the boys’ inevitable lack of enthusiasm. It was on everybody’s mind but went unspoken.

Sure enough, after the local branch of the Youth Corps held two meetings and all means of persuasion were applied, no one volunteered with socialist “joy and zeal” to be cast as a buffalo. A daylong palaver failed to force the impasse.

Meanwhile, Vinh kept a close eye on the buffalo’s deteriorating health and reported it hour by hour, minute by minute. The beast could no longer raise its head. It had begun to gasp for breath. Its hind legs had gone into spasms. And he would conclude each account with the refrain “Butcher it now or we’ll end up picking the bones of a rotten dead buffalo!”

The next day, Thuoc could be seen cringing and fawning in the cooperative chiefs office. The Party branch secretary was also present. It seemed a unique opportunity had arisen for the old man to atone for his son’s sins and to earn his way back into the Party’s favor. After living as an outcast for almost a year, Thuoc had learned with terror what it meant to lose ration coupons and to suffer social quarantine: the State had cut out all roots, both material and psychic, from under him. Now he begged for mercy and a second chance. “May I submit a request to the two comrades ? Though advanced in years, I’m still strong enough to pull a plow. And I have my wife to lend me a hand. She may not look it, but she’s as tough and resilient as a leech!”

As he said that, Thuoc glanced outside. Through the wide open window, both the Party branch secretary and the cooperative chief could see Thuoc’s wife in the courtyard, squatting under a tree with her arms clasped around her knees. Beside her there was a basket for crab collecting. She sat there huddled up like a sick cat, gazing fixedly beyond the hedgerow toward a vast field where shadowy figures scurried back and forth lugging stacks of  blood-red bricks.

Despite the distance, she could spot friends and acquaintances, even the teenagers as they moved bricks from the kiln to the dirt floor, piling them up in long rows. They looked like ants busily gathering materials for a nest, and they formed a community – a famished and tattered society in which the last ounce of energy was being squeezed out of each of them. But from Thuoc and his wife, that society still withheld its ultimate blessing, and hope seemed far beyond their reach.

 Over the past year, Thuoc’s wife had never had a chance to touch and fondle sheets of ration coupons: this one good for rice, that one for potatoes, another for oil or firewood, for some thread or a needle, and, once in a long while, for a kilo of sugar or a square of cloth. And she had been denied the privilege of standing in line and jostling, of squabbling and fighting outside the state-run store, sometimes in the rain, sometimes under broiling sun, while all around the air was thick with the composite odor, sour and pungent, of many types of sweat.

When Thuoc’s wife slogged through the mud for crabs in flooded flelds, she often prayed to both Heaven and the Buddha that her prodigal son would come back home after he’d had his lark.

At worst he might go to jail, but she would at least still have her boy. Time served, he’d be set free, and the state might then relent and restore the family to the ration-coupon system. She thought longingly of the ration-coupon sheet – her pipe dream.

Now she waited for her husband under the tree with all the anxiety and dread of a convict on whom the judge is about to pronounce sentenee. As soon as he appeared in the doorway to the cooperative chief ’s office, she sprang to her feet. She saw him toothlessly grinning fírom ear to ear. Both Heaven and the Buddha had heard and granted her prayer! Indeed, her hushand came running toward her, waving both his hands and shouting jubilantly,  “Those gentlemen said yes!  We’ll take the place of the buffalo!”

 

 

               Translated by Huynh Sanh Thong

******

About The Translator:

Huynh Sanh Thong(1926-2008), considered the preeminent translator of Vietnamese poetry and literature into English and the former director of the Yale Southeast Asian Refugee Project, died on Nov. 17-2008  of sudden heart failure. He was 82 years old.

Huynh dedicated much of his life to bringing the achievements of Vietnamese literature and culture to Western audiences. He was awarded a MacArthur Fellowship in 1987 for his efforts to keep alive the Vietnamese culture for future generations and for making it known to the English-speaking world.

He is best known for his English translation of Nguyen Du’s “The Tale of Kieu” — published by Random House in 1973 and reissued as a revised edition 10 years later by Yale University Press — and his “An Anthology of Vietnamese Poems: From the Eleventh through the Twentieth Centuries,” published by the Yale Press in 1996.

In 1984, his translation of “Flowers from Hell,” a collection of poems written by Vietnamese dissident Nguyen Chi Thien during his imprisonment, was published in bilingual format by the Yale Council on Southeast Asia Studies (SEAS). The book won the International Poetry Prize in Rotterdam the following year, even though the prize committee was not certain that Nguyen — who spent a total of nearly 30 years as a political prisoner — was still alive.

Born on July 15, 1926, in Hoc-mon, Vietnam, Huynh came to the United States in 1948 as a political refugee after being imprisoned for one year by the French colonial government in Vietnam for his involvement in the independence movement. After graduating from Ohio University in 1951 with a B.A. in economics, he taught Vietnamese language at the Foreign Service Institute of the State Department in Washington, D.C., and also served as an aide to Ngo Dinh Diem, who later became president of Vietnam. A political disagreement with Diem forced a break in their relationship, and Huynh came to Yale in 1957 to teach Vietnamese language and literature. In 1960, he co-authored a Vietnamese language textbook.

He began translating “The Tale of Kieu” — a narrative poem considered to be the masterpiece of pre-modern Vietnamese literature — when Yale’s Vietnamese language program was shut down in 1972. He then translated nearly 500 traditional Vietnamese poems for his book “The Heritage of Vietnamese Poetry.”

Huynh returned to Yale in 1981 as director of SEAS’ new Southeast Asian Refugee Project, an archive for oral accounts, memoirs, histories and writings contributed by refugees from Southeast Asia, particularly Vietnam. Huynh helped found and was editor of two of the project’s publications series, “The Viet Nam Forum,” which featured collections of literary works on Vietnamese history, folklore, economy and politics, and the “Lac-Viet,” volumes of poetry, essays and novels written by individual authors. He translated many of these from Vietnamese to English.

“Huynh Sanh Thong did more to introduce the English-speaking world to the glories of Vietnamese literature and poetry than anyone in the world,” says Huynh’s friend and colleague James C. Scott, Sterling Professor of Political Science and Anthropology and former chair of SEAS. “His selfless dedication to faithful and felicitous translation and his gift for the ‘mot juste’ [right or exact word] was such that he belongs in the small pantheon of great 20th-century translators.”

Huynh was known for completing his Yale publication projects almost single-handedly. In an interview in a 2008 issue of the Journal of Vietnamese Studies, he commented, “Since I was not used to giving out orders, I preferred to work alone, doing everything all by myself: soliciting and selecting articles, typing, setting up pages, and so on.”

In addition to the MacArthur Prize, Huynh’s honors include the Harry J. Benda Prize in Southeast Asia Studies, which he was awarded in 1981.

 

(Source : Yale News from http://news.yale.edu)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: