Bông hồng nào cho mẹ ? Nhật Tiến


TRUYỆN  SONG  NGỮ

BONG HONG NAO CHO ME-05062013 

                        Truyện ngắn của NHẬT TIẾN

Giang sơn của cụ Giáo Thìn bây giờ chỉ thu vào đúng hai khoảnh nhỏ : một dẻo đất hẹp chạy dọc theo bờ tường của cái garage và một vùng trí nhớ lãng đãng với một mớ kỷ niệm xô bồ, không thứ tự, dấu hiệu của sự tàn phai trước tuổi già.

Về cái dẻo đất hẹp thì phải nói rằng đó là kết quả của một công trình chăm sóc tuyệt hảo. Bề ngang đâu được thước hai, bề dọc cỡ độ bẩy thước, cụ Thìn đã đổ  gần như tất cả thời giờ  trong một ngày của mình vào đó để vun sới. Có ba cây ớt, một khoảnh ngò, một khoảnh hẹ, răm bẩy gốc tía tô, chừng mươi gốc húng và một nhúm hành ta. Đủ lệ bộ cho một đĩa rau thơm vào cái hôm mà cả nhà muốn ăn món bò nhúng giấm hay món gỏi cuốn chấm mắm nêm. Đó là những dịp duy nhất  mà cả nhà lên tiếng khen  bà cụ do công trình tưới bón, chăm sóc của bà. Tuấn nói :

– Tụi  bay còn cứ chê “mom” trồng trọt lẩm cẩm làm gì nữa đi. Sao bảo mấy thứ đó chạy ào ra chợ là có, đâu có thấy đứa nào vác xác ra chợ đâu !

Thuý nhìn anh bĩu môi :

– Tụi này đã không đi thì sao anh không đi đi, ở đó mà nói.

Thu họa theo:

– Nói cho hay, anh mà không chuẩn bị cơm nước chợ búa trước, tới chừng lấy chị Hương xong rồi ở đó mà chờ cái cảnh cơm bưng nước rót.

Tuấn cãi lại :

– Tao chờ chứ sao không  ! Tao lấy vợ Việt Nam chớ đâu có phải lấy vợ Mỹ !

Thu trợn mắt nhìn anh :

– À, thế ra cứ lấy vợ Việt Nam là bắt vợ  làm mọi cho mình đấy có phải không ? Xí ! Còn lâu !

– Thì mày hỏi mẹ coi. Tứ đức tam tòng, công dung ngôn hạnh là những thứ hàng đầu của con gái, phải không mẹ ?

Bà cụ nhìn mấy đứa con không trả lời. Bà chẳng còn cái thói quen lên tiếng phát biểu ý kiến  riêng của mình từ ngày qua đây. Mọi thứ chung quanh đối với bà  đều trở nên choáng ngợp, vuột tầm tay, bứt rời mọi thứ kinh nghiệm sống mà bà đã thu lượm được trong suốt gần cả một đời người. Nghĩa là đứng trước điều gì ở đây  bà cũng đều bỡ ngỡ, rụt rè, nói ra cái gì là sai lầm cái đó, rút cục lại bà chỉ như một thứ trẻ nít  trong nhà đi đâu  cũng phải có người dẫn đi, làm gì cũng phải hỏi ý kiến con cái, mà có những điều cả lũ đã xúm lại giải thích nhưng bà vẫn ù ù cạc cạc, chẳng hiểu mô tê gì hết ráo.

Từ ngày thằng Tuấn  kiếm được việc làm, nó đổi cái ti-vi cũ để thay bằng một cái mới tinh. Tuấn dặn mẹ :

– Cái này có remote control. Mẹ muốn coi thì đừng có rờ mó gì vào những cái nút ở ti-vi cả. Họ đã set up đầy đủ hết rồi. Chỉ cần ngồi ở salon mà nhấn vào những cái nút ở trên cái này thôi.

Tuấn ấn vào tay bà  cụ cái remote control. Bà miễn cưỡng đón lấy nó bằng tất cả sự rụt rè, tưởng như bàn tay của mình mà đụng vào đâu lầm chỗ thì nó sẽ dở chứng hư ngay lập tức. Tuấn tiếp tục giảng giải :

– Cái này là nút on, cái này là nút off, cái này là volume tiếng to nhỏ, cái channel này là để đổi đài, cái mute này lúc đang xem mà có điện thoại, mình muốn cho âm thanh nó tạm im đi thì chỉ nhấn khẽ vào…

Đầu óc của bà Thìn cứ bấn loạn cả lên và cuối cùng bà dúi trả vào tay Tuấn:

– Thôi ! Rắc rối quá, tao chịu !

Rồi bà tần ngần :

– Mấy lại tao đâu có thiết gì ti-vi. Nó nói nhăng nói cuội, tao có hiểu ất giáp gì đâu !

Tuấn nằn nì :

– Thì mẹ nghe nhạc.

– Ôi ! Cái thứ nhạc cứ như đấm vào tai, càng nghe càng nhức đầu.

Rút cục, thú giải trí của bà chỉ còn là mấy cuộn băng cải lương mà bà đã nghe đi nghe lại nhiều lần trên cái máy cassette tuy cũ sì  nhưng được cái nó đơn giản, dễ sử dụng. Chỉ có điều không phải lúc nào bà cứ muốn nghe thì nghe đâu. Con Thuý còn đỡ, chớ con Thu mà thấy mẹ vặn cải lương  khi có mặt nó  thì bao giờ nó cũng nhằn :

– Thôi tắt bớt đi một chút cho đỡ nhức đầu. Nhạc lải nhải thế  mà mẹ nghe mãi được.

Có lúc Tuấn cảm thấy bất nhẫn, phải gắt lên :

– Thì mẹ có mỗi cái thú nghe cải lương mày phải để cho mẹ nghe chứ.

Thu cãi lại :

– Thiếu gì lúc  mẹ có thể nghe được. Chờ cả nhà đi học đó, rồi mẹ tha hồ nghe.

Dĩ nhiên rằng bà Thìn chẳng bao giờ muốn chính mình trở thành cái duyên cớ để anh em nó hục hặc với nhau, nên bà thò tay nhấn cái nút trên máy để cho cuộn băng ngưng lại. Bà nhìn các con bằng đôi mắt  buồn thảm rồi mở cửa ra đứng ở phía sau.

Qua một cái sân cỏ nhỏ là một dẫy bờ tường chắn ngang tầm mắt. Dẫy tường quét bằng mầu vôi hồng sậm, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời tháng Sáu, bà thấy nhức mắt. Bà lại nhớ đến cái giang sơn nhỏ bé của mình. Khu vườn nhỏ, một thước hai bề ngang, bẩy thước bề dài  có hẹ, có húng, có ngò, có tía tô. Mấy tuần lễ trước gặp cụ Cả Phong ở ngoài chợ. Cụ có hứa sẽ bứng cho bà mấy rễ rau rớp cá khi nào bà tới chơi. Bà hoan hỉ báo tin cho lũ con ở nhà với lời đề nghị rụt rè :

– Bữa nào rảnh có đứa nào lái xe chở mẹ tới lấy rau rớp cá về trồng.

Thuý nhún vai, lè lưỡi :

– Eo ơi ! Rau rớp cá thì con chào thua. Chĩ nghĩ tới là đã muốn xỉu rồi !

Thu nói :

Me too ! Rau gì mà mùi tanh thấy ớn !

Lại đến lượt  Tuấn phải can thiệp vào :

– Tuỳ gu mỗi người chứ. Rau rớp cá có biết bao nhiêu người thích ăn. Tụi bay không ăn nhưng mẹ ăn. Cứ lái xe đưa mẹ  tới xin  về để mẹ trồng.

Thuý nói :

– Tuần này em có hẹn ! Thứ Bẩy phải tới phụ đằng con Liên làm sinh nhật của nó. Chủ nhật thì bạn của anh có party, mời cả em đấy thôi.

Tuấn quay sang Thu :

– Vậy con Thu đưa mẹ đi. Weekend này mày làm gì ?

Thu hỏi ngay lại :

– Thế còn anh làm gì ?

Tuấn trừng mắt nhìn em thì mặt con nhỏ cũng vênh đáp lại. Thế là bà giáo Thìn lại vội vã xen vào hoà giải :

– Chẳng tuần này thì tuần sau. Đâu có vội.

Nhưng cái tuần sau đó đã trôi qua cả tháng nay rồi mà bà thì vẫn chưa có dịp ghé lại được đằng cụ Cả Phong. Câu chuyện rau rớp cá chỉ thoáng qua trong giây lát  rồi mọi người đã quên đi, trừ bà Giáo.

Hồi còn ở quê nhà, bà là người nghiện ăn trầu, xỉa thuốc vào hạng nặng. Khi còn sinh thời, ông Giáo ưu ái trồng riêng ở vườn sau trong căn nhà khang trang ở Sài Gòn cho bà một giàn trầu không leo kín cả  một mái liếp. Có lẽ trong cái vùng trí nhớ lãng đãng của bà, hình ảnh sâu đậm nhất đối với bà  không chỉ là kỷ niệm của một thời còn nghiện trầu và được ăn trầu mà còn là sự gợi nhớ lại tất cả tấm lòng yêu thương mà ông Giáo đã  dành cho bà. Khi ông Giáo mất đi, giàn trầu vẫn xanh tốt, nhiều hôm ra hái trầu bà đã đứng nép ở sau giàn cây  mà khóc sụt sùi một mình. Đó là một trong những giây phút bà nhớ ông nhất. Đến lúc vô nhà, mắt của bà còn đỏ hoe.

Hồi đó Thu mới lên năm, cái Thuý lên tám và thằng Tuấn thì mười hai. Tất cả còn bé dại và bà đã dành tất cả quãng đời còn lại của mình để yêu thương và chăm sóc chúng nó. Khi lớn lên được một tí,  cái Thu và cái Thuý tranh nhau học têm trầu cho mẹ. Nhìn những bàn tay xinh xinh bụ bẫm của hai đứa trịnh trọng xếp từng nếp trên lá trầu để hoàn tất những miếng trầu méo mó, xô lệch bà cảm thấy lòng hết sức thoải mái và yên vui.

Nhưng từ ngày qua tới đây, cả hai đứa đều đồng thanh đề nghị mẹ phải bỏ cái thói quen nhai trầu. Thu giải thích :

– Ăn trầu ở bên này không được đâu. Mồm miệng đỏ lòm, người ta cho mình là savage !

Thuý phụ thêm :

– Đấy, mẹ coi đàn bà cả nước Mỹ này đâu có ai nhai trầu. Mẹ mà ra phố nhai trầu, cả bàn dân thiên hạ sẽ xúm lại ngó mẹ cho mà coi !

Tuấn tuy cảm thông với mẹ hơn nhưng cũng phải đồng tình với các em :

– Thôi để chúng nó mua chewing-gum cho mẹ nhai đỡ buồn mồm. Cái Thu chiều nay đi học về tạt qua đâu đó mua cho mẹ loại chewing-gum có quế đó, mẹ dễ ăn.

Lần đầu tiên Thu không phản đối gì ông anh về đề nghị đó cả. Có lẽ vì nhiệm vụ tiêu diệt cái thói quen nhai trầu của bà giáo là một nhiệm vụ trọng đại mà tất cả mọi người trong nhà đều phải xúm lại, góp công sức vào để quật ngã nó. Cho nên Thu sốt sắng khuân về đủ loại kẹo cao su, thứ dẹp và dài có, thứ viên vuông vuông mầu trắng có và dĩ nhiên có cả loại Dentyl mùi quế mà Tuấn đã đề nghị nữa. Bà giáo thấy con mua tốn tiền đã dẫy nẩy lên :

– Làm gì mà mày khuân về lắm như thế. Bỏ thì bỏ chớ việc gì phải nhai kẹo cao su.

Rồi bà nói tiếp, giọng buồn buồn :

– Nhập gia cũng phải tuỳ tục chứ.

Quả nhiên bà Giáo bỏ đứt cái thói quen ăn trầu. Bà cũng chẳng cần dùng đến một chiếc kẹo nào  do Thu mua về. Thói quen ấy của bà có thể đã bị tiêu diệt nhưng giàn trầu không xanh um trong trí nhớ của bà thì chẳng bao giờ bà có thể quên. Những hôm cả nhà đi vắng hết, bà ngồi thu lu trên bộ salon ở phòng khách nhìn ra khung cửa kính sáng loà. Thân hình còm cõi của bà co gọn trên chiếc sofa rộng thênh thang trông lạc lõng và cô đơn như một con mèo già. Mái tóc của bà mới đó có vài năm đã bạc trắng ra. Bà giương cặp mắt hấp háy nhìn ra sân sau, lòng thì  nghĩ như mình đang ngồi trong căn phòng khách nhỏ bé ở Sài Gòn nhìn ra khoảnh vườn có giàn trầu không  leo lên những tấm nan tre do chính bàn tay của ông Giáo đã dựng lên. Bà nghe như ở phía bên kia bờ tường có tiếng động cơ xích lô máy chạy qua con đường bên hông chợ. Bà cũng như nghe thấy cả tiếng ồn ào ồn ào từ cái máy nước công cộng, tiếng hàng quà rong rao lảnh lót, có cả tiếng con tầu từ Biên Hoà  chạy qua cổng xe lửa vang lên xậm xịch. Quê hương thật đã xa tít mù và chỉ còn tồn tại trong cái khoảng trí nhớ lãng đãng của bà.

Những ngày mới qua Mỹ, lúc bốn mẹ con ngồi ăn cơm với nhau, mỗi người thi nhau nhắc chuyện dĩ vãng. Kỷ niệm cũ với ông Giáo. Kỷ niệm cũ với Sài Gòn, trường học, đường phố, bà con, bạn bè. Lâu dần, rút cục chỉ còn có mỗi bà giáo là thích nghe và thích kể về chuyện quê nhà. Mà những dịp này thì cũng hiếm hoi dần đi. Bữa cơm trong nhà không còn là một cái gì gọi là sinh hoạt thường nhật. Buổi trưa, lũ trẻ ăn ở trong trường. Đến chiều, mỗi đứa về một giờ giấc. Thu về sớm nhất, háu ăn nhất, lao vào bếp nấu một tô súp rau ( loại súp bán sẵn trong những cái túi bằng nhựa) và một vài lát sandwiches. Bà giáo kêu ca :

– Ăn cái gì nhẹ thôi. Để đến tối cả nhà cùng ngồi ăn đông đủ.

Cùng ngồi ăn đông đủ ! Đó là niềm hạnh phúc và ước mơ nhỏ bé cuối cùng của bà trong căn nhà này. Nhưng trong thực tế, thật khó mà kiếm được dịp cả nhà ngồi chung với nhau, trừ một hai bữa trong những ngày cuối tuần. Khi Tuấn về đến nhà thì Thu và Thuý đã rút vô phòng riêng, đóng kín cửa lại. Bà giáo thì ngồi thiu thiu trên ghế chờ con về. Mâm cơm nguội lạnh đã bầy sẵn. Có dưa muối. Có thịt kho. Có canh cải hay nước rau rền. Tuấn ngồi vào bàn, nể mẹ sới được lưng bát cơm. Sau đó, chàng ăn tiếp một tô mì gói. Tuấn có thể ăn mì gói kinh niên mà không bao giờ ngán. Những hôm ăn một mình, Tuấn bưng nguyên cả tô mì ra ngồi ở salon, vừa ăn vừa coi ti-vi. Thành ra nồi cơm trắng phau, tuy sốt rẻo  như thế mà bao giờ cũng ế. Cơm ế, không đời nào bà giáo đem đổ đi. Bà đem cất tủ lạnh để sáng hôm sau hâm  lại làm bữa trưa cho mình. Nhiều hôm bà đổ thêm nước vào để nấu thành cháo. Riết rồi bà cũng mặc nhiên trở thành một người kinh niên ăn cháo, âu nó cũng thích hợp với hai hàm răng cũng đã bắt đầu lung lay của bà.

Trong cuộc đời của bà Giáo, bà sợ hãi  nhất là hai tiếng “đổ đi” ngay cả khi còn ở Sài Gòn vào thời kỳ bà đang giầu có, sung túc nhất. Các con của bà luôn luôn được nghe câu nói : “Phí của giời, mười đời không có”, bà làm như lúc nào cũng có con mắt của Trời, Phật ngó vào khi bà lỡ đánh rơi  vài hạt cơm hay rúm gạo. Cho nên cái gì dư thừa, bao giờ bà cũng cất vô tủ lạnh, từ một chén ăn giở cho đến đĩa đầu tôm rang mặn hay những mẩu vụn vặt của một nồi cá kho. Có lần Thuý phải kêu lên:

– Mẹ suốt đời ăn đồ thiu. Coi chừng mắc bệnh, kính chả bõ phiền. Mà ở bên này đồ ăn thiếu gì!

Bà Giáo cãi lại :

– Mẹ mày ! Thiu đâu mà thiu !

Thu cũng bực bội chen vào :

– Không thiu thì cũng đun đi đun lại cả tuần. Mẹ không đổ đi thì con đổ cho mà coi.

Và Thu làm thật. Chờ lúc bà Giáo lúi húi ở vườn sau, Thu dọn sạch banh cái tủ lạnh. Ít lắm thì Thu cũng lôi  ra được nửa xoong cháo, một tô cơm nguội, một đĩa cải sào, một chén mắm ruốc kho và một lưng niêu nhỏ chứa cái gì “đen sì sì’ thịt không ra thịt, mỡ không ra mỡ lại lẫn lộn  cả mấy cọng râu tôm.

Nhưng rồi chỉ tuần lễ sau, mọi sự đâu lại vào đấy. Chán rồi, tất cả đều để mặc cho bà tự  do ăn uống theo ý mình, giống như Thu thì thích súp rau, Thuý thì thích bún thịt nướng, còn Tuấn thì  thích ôm  tô mì mì gói ra ngồi ở salon trước ti-vi. Ăn xong, đứa nào về phòng của đứa đó.

Trong căn nhà của xã hội Mỹ có những cánh cửa phòng khi đóng lại thì kín như bưng đã là cái hình ảnh khủng khiếp nhất đối với tâm trạng của bà Giáo. Khi bầy con của bà rút vô phòng rồi thì  bà không biết chúng nó đang làm gì ở trong đó, hay nhỡ có chuyện gì không may xẩy ra đối với chúng nó ? Đứng ở ngoài hành lang thấp thoáng ánh đèn vàng vọt héo úa, bà với chúng nó tuy thật gần nhau về khoảng cách nhưng tâm tình thì thật đã xa cách nghìn trùng, đến nỗi bà nhiều khi có cảm giác như những cánh cửa phòng vô tri kia đã cắt lìa bà ra khỏi cuộc đời của chúng nó. Nào chúng nó có biết rằng rất nhiều hôm mủi lòng, bà đã tựa đầu vào vách gỗ để sùi sụt khóc mùi.

Hồi ngày xưa, bà có thể nắm vững tình hình sinh hoạt hằng ngày của từng đứa. Về quần áo, mỗi đứa có bộ nào, chiếc quần nào của Tuấn có vết mạng, cái áo nào của Thuý hay Thu sứt chỉ hay được đơm lại khuy, vết sước trên tay Thu khởi sự từ bao giờ và nó đã được chữa trị ra sao, hôm nào thì liền da, bong vẩy, thậm chí đến từng cái răng lược bị gẫy, cái quai dép bong keo hay chiếc khăn tay bị ố mầu mực tím, nhất nhất bà Giáo đều nắm vững như tất cả những thứ đó nằm trên đường chỉ tay của bà.

Bây giờ thì bà rất hiếm hoi có dịp được bước chân vô phòng của cả mấy đứa. Muốn kêu đứa nào, bà phải đứng ngoài gõ cửa. Nhiều hôm cái Thu hay Thuý chỉ hé một chút xíu cánh cửa gỗ rồi thò đầu ra, trao đổi vài câu ngắn ngủi với bà rồi lại khép sập lại. Bà thấy rõ các con đã vượt  xa tầm tay của bà. Mỗi đứa đều có thế giới riêng của mình kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Một lần Tuấn bị đau nằm liệt trên giường ba ngày liền.

Ôi thôi, bà Giáo thấy mình linh hoạt hẳn lên. Bà lăng xăng nấu cháo nóng, thái củ hành, vắt nước cam, giặt khăn nước lạnh, pha sữa hộp, quơ đồ cũ của Tuấn mang giặt và đem phơi. Bà tự do ra vô căn phòng của Tuấn mà không cần gõ cửa. Bà lại có thể ngồi hàng giờ ở cuối chân giường của Tuấn, lâu lâu lại sờ đầu, sờ chân, kéo mép chăn, căng mép vạt trải giường và nghe ngóng từng hơi thở khó khăn nặng nề của Tuấn.

Nhưng sự bận rộn đầy yêu thương và hạnh phúc đó của bà cũng chỉ kéo dài được ba ngày. Sau hôm Tuấn khỏi bệnh và đã đi làm  được ngày đầu, buổi tối bà Giáo tiến lại cánh cửa của phòng Tuấn với dáng điệu rụt rè. Rồi bà ngập ngừng gõ nhẹ lên phiến gỗ. Tuấn hỏi vọng ra:

– Ai đó ?

– Mẹ đây !

– Có việc gì không hả mẹ?

– Không ! Mẹ hỏi thăm xem hôm nay con khá hơn chưa?

Giọng Tuấn đáp to : “ Khoẻ như voi rồi, mẹ khỏi lo!”

Bà Giáo đứng tần ngần một lát rồi quay ra. Trong lòng bà dâng lên một niềm vui nghe con khỏi bệnh nhưng đồng thời cũng xen vào đó là cảm giác tiếc nuối, nôn nao như bà vừa bị đánh mất một cái gì thân thương khó tả.

Bà lại ra ngồi ở trên ghế salon, thu mình lại như một con mèo già ốm yếu, già nua. Phía bên kia cánh cửa kính là khoảng trời sâu hun hút  điểm mấy vì sao thưa. Bà nghe văng vẳng  hình như có âm thanh của những bản nhạc vọng lại từ rất xa phát ra từ những cánh cửa phòng đóng kín mít của các con bà.

Bà chợt thấy hối hận ngay với ý nghĩ điên rồ vừa chợt nẩy ra trong đầu :

“ Con Thu, con Thuý sao chẳng bao giờ thấy chúng nó ốm đau cả !”.

                                                                                                NHẬT TIẾN

                                                                            California, 1983

What Color Rose-Color-1 (5)

The following is a translation of a short story by the famous Vietnamese writer, Nhat Tien. The story first appeared in a Vietnamese magazine published in California in 1983 at the time of the Vu-Lan Festival, Ullambana, which is the Buddhist Wandering Souls Day celebrated at the time of the full moon of the 7th lunar month. On this day Mahayana Buddhists commemorate and pay homage to the devotion of one of the Buddha’s chief disciples, Maudgalyayana, (Viet: Muc Kien Lien) who, according to legend, refused to enter Nirvana until his sinful mother had been saved from the suffering of Hell. Maudgalyayana visited his mother in Hell and with the help of the Buddha’s other disciples saved her. Buddhists believe that on this day the wandering souls can enter the world of Man and partake of the offerings provided. Because of the legend Vietnamese Buddhists also use the day to show particular respect to their mothers and go to the pagoda to pray and make offerings. Those whose mothers have died wear a white rose, while those whose mothers are still alive wear a red rose. –

 

The world of Thin, widow of the late school teacher, has now been whittled down to two small spaces: the narrow strip of land running along the garage wall and that corner of her mind where her fading memory conjured up a jumbled host of fond reminiscences: a sign of approaching old age.

One must admit that the narrow strip of land is the result of perfect care. Its width is about 1.20 meters and its length about 7 meters. Most of the time in her day is swallowed up in cultivating the garden. There are chilli bushes, as well as patches of coriander, sweet leek, perilla, mint and spring onions. There’s always enough to provide a full plate of vegetables any time the family sits down to enjoy bo nhung giam (fondue-style beef) or goi cuon cham mam nem ( seafood salad rolled in rice-paper and dipped in fish pickles)

It is only at times like this that the family fully appreciate the work Thin puts in watering and fertilizing the garden.

Tuan said, “Now that you eat the vegetables you don’t think Mom’s garden is a waste of time do you? You keep insisting that we should just race down to the supermarket and buy the vegetables but I haven’t yet seen either of you willing to get off your backsides and do that.’

Thuy looked at her brother, pursing her lips, she said, “It’s all very well for you to criticize us but I don’t see you going to the supermarket.’

Thu joined in, “If you’re not prepared to help with the cooking and shopping, what’s going to happen when you marry Huong? Will you just sit there while she pours your drinks and serves you meals.’

“Why wouldn’t I? I’m marrying a Vietnamese girl not an American girl,’ retorted Tuan.

Thu’s eyes stared in amazement as she looked at her brother, “Ha! So you believe that if you marry a Vietnamese girl you will be able to force her to be your slave and she will do your bidding. No way! I can’t see that happening.’

“Go and ask Mom if you don’t believe me. The most important things a Vietnamese girl learns is submitting to three in life: Father, Husband, and Son. She also must learn four virtues: proper work, proper demeanor, proper speech, proper conduct. Isn’t that true, Mom?’ he replied.

Thin just looked at her children, not saying anything. Ever since the day she arrived in America, she had given up voicing her opinion. To Thin everything around her was bewildering and beyond her understanding, completely severing her from the experiences gathered in a lifetime. That is to say, when confronted with anything here she was bewildered and confused. Everything she said was wrong and she had become a child in her own household. Everywhere she went she had to be taken by the hand and in anything she wanted to do she had to first ask her children’s opinion. Even when her children were gathered trying to explain something to her she still couldn’t make head or tail of what was going on. The day Tuan got a regular job, he replaced the old TV with a brand new one. Tuan had said, “This set has remote control, Mom. If you want to watch TV, whatever you do don’t touch any buttons on the TV itself. Everything is set up, so all you need to do is sit on the sofa and press the buttons on this thing.’

Tuan had handed the remote control to the old lady. She took it timidly as if it would break the minute she touched it…’

He continued to explain, “…This is the on button, this is the off button and this is the volume. This one here is to change the channel and this one is the mute button; so if the telephone rings while you’re watching you can pause the sound.’

Her brain was totally confused and couldn’t take everything in. When she handed it back to Tuan, she had said impatiently, “That’s too complicated and anyway I don’t like TV very much, it talks a lot of nonsense and I don’t understand any of it.’

“Then just listen to the music Mom.’

“I don’t like the modern music, it seems to punch at my ears and my head starts to ache.’

In the end her entertainment was confined to a few cassette tapes of Vietnamese classical theatre which she had listened to time and time again on her ancient cassette player. She didn’t mind the cassette player as it was simple and easy to operate. The only trouble was that when she listened to the tapes, Thuy didn’t seem to mind, but Thu would grumble anytime the tapes were on.

Thu would say, “Switch it off please because I get a headache from that droning, nagging sound. I don’t know how you can listen to that.’

There were times when Tuan felt a bit sorry for his mother and thought his sisters were being a bit cruel. He shouted at them, “This is the only enjoyment Mom has, why don’t you let her listen to her music.’

Thu would retort, “Why doesn’t she wait for us to go to school and then she can listen all day if she wants to.’

Naturally, Thin never wanted to become the cause of her children’s arguments so she reached out to press the button to stop the tape. She looked at her children through sad eyes and opened the back door to go and stand in the backyard. She stared at the wall on the other side of the lawn. The wall, painted in a dark pink lime wash, reflected the hot June sunshine and the glare hurt her eyes. She thought about her own tiny world, the little garden plot, 1.2 meters by 7 meters, with its shallots, mint, coriander and perilla.

A few weeks ago she had met Old Phong at the shopping centre, who promised that the next time Thin came to visit her she would pull up some rop ca (an aromatic herb which has a distinct fishy smell  (Saururaceae = “Lizard Tail’)  plants and give to Thin. Thin had happily announced this piece of news to her children and had suggested timidly, “When someone can spare the time, would one of you drive me to Old Phong’s place so that I can pick up the rop ca plants to put in the garden here.’

At this, Thuy had shrugged her shoulders and stuck out her tongue, “Yuk! rop ca , no way. I give up. I feel like fainting just thinking about it.’

Thu said, “Me too! How on earth can you like such a vegetable?’

Again Tuan intervened on behalf of his mother, “Mom likes to eat it even if you don’t. Why don’t one of you drive her there so she can get the plants.’

“I’m busy this week because I’ll be helping Lieu to plan her birthday this Saturday and on Sunday one of your friends is having a party and I’m invited’, Thuy replied.

Tuan turned to Thu, “Then Thu, why don’t you drive Mom to Old Phong’s place? What are you doing this weekend?’

Thu shot back defiantly, “And what are you going to do?’

Tuan stared at her defiantly jutting chin. Thin hurriedly intervened, “It’s alright, if everyone’s too busy this week, next week will do.’

But the next week had passed into a month. The subject of rop ca had come and gone in minutes and was immediately forgotten except by Thin. She was still waiting for the chance to drop in to see Old Phong.

Back in Vietnam, Thin had been addicted to the habit of rubbing her teeth with tobacco and chewing betel. When her husband was alive, out of affection for her he had planted a vine of betel next to a trellis in the backyard of their spacious house in Saigon. The plant had grown gradually covering the overhead trellis. In the corners of her mind the memory which stood out the most was the image of the trellis of betel leaves but not simply because she was so addicted to chewing betel at the time but it reminded her of all the love and care her husband had for her. When her husband died, the trellis had been covered in luxuriant green, and many a time, as she stood by herself picking the leaves, she allowed herself to sob, hidden by the trellis. Her eyes would still be red when she went back into the house. At that time, her children had been young and innocent. Thu had only just turned 5, Thuy was 8 and Tuan, a boy of 12. She then devoted her days to love and care for the children. As they got a little older, Thu and Thuy enjoyed helping her fold the betel leaves around a mixture of tobacco, areca nut and lime. She smiled to herself as she thought about their small chubby hands awkwardly filling the leaves and finally stabbing with a betel stem to hold it all in place. The results were often less than neat and very lopsided but it was a happy time and Thin remembered feeling happy and at peace watching them solemnly completing their task.

Ever since arriving in America both Thu and Thuy had been in agreement suggesting their mother stop her betel chewing habit. Thu explained, “Chewing betel is not done in this country. If your mouth is covered in blood-red they think we are savages.’

Thuy added, “You see! There’s not a soul in the whole of America who chews betel. If you chew betel in this country everyone will stand and stare at you.’

Although more sympathetic Tuan was inclined to agree with his sisters and said, “Why don’t you let them buy you some chewing gum if you want to keep your mouth busy. Thu! after school this afternoon can you drop in somewhere and buy some of that cinnamon-flavoured gum, which might be more to Mom’s taste.’

It was the first time Thu had agreed to any of her brother’s suggestions. All three of them had joined together as one to break Thin’s betel chewing habit. So Thu energetically went about the task of bringing home many varieties of chewing gum; long flat pieces, small white squares, as well as the cinnamon-flavoured Dentyl gum that Tuan had suggested.

When Thin realized the amount of money spent on the gum she had said emphatically, “No! No! Why on earth did you buy so much gum? If you want me to stop chewing betel, I will. I don’t need chewing gum…’.

She continued in a sadder tone, “…When in Rome… Now I live in a different place I will conform.’

Indeed, Thin stopped betel chewing for good. She never ate any of the gum Thu had brought home. Her habit had been crushed but the memory of a trellis of lush green betel leaves would stay with her forever. There were days when the children were out that Thin would sit on the sofa with her arms wrapped around her knees, looking at the glass window which became blurred in the glare. She looked so thin and small curled up on the immense sofa looking like an old lost cat. Only a few years had passed since coming to America but already her hair had gone completely white. As her eyes blinked from the glare, her heart was in the tiny living room in Saigon looking out into the yard where the betel leaves climbed over the trellis. With his own hands her husband had made the bamboo trellis. The sounds of the street on the other side of the wall reached her and she thought she could hear the sound of a motor-pedicab as it passed the street beside the market. She heard once again the sounds coming from the public water tap and those of peddlars shouting out their food wares as well as the train from Bien Hoa chuffing past the level crossing. Her homeland was far away and out of sight and could only exist now in a corner of her mind. Her thoughts drifted back to when the four of them first arrived in America. They would all sit down together to a meal eagerly competing with each other to talk about something they remembered about Vietnam. Such fond memories of her late husband, Saigon, school, streets, relatives and friends. These occasions became more and more rare until it was only Thin who was left telling the stories. They hardly ever ate as a family anymore. At noon, the children had lunch at school and in the evening they arrived home at different times. Thu was usually the earliest and the hungriest. She would go to the kitchen and heat a bowl of vegetable soup (ready made in a cellophane bag) and eat it with several slices of bread.

Thin would implore, “Only eat a little bit, not too much, wait until the evening when the whole family can eat together.’

Eating together! That was the one small dream Thin still held for this household. It was only on very rare occasions now that the whole family ever sat down to a meal together; perhaps occasionally on weekends. By the time Tuan arrived home at night, Thu and Thuy had already retired to their room and closed the door.

Early evening would often find Thin, sad and lonely, dozing off in the chair waiting for her children to come home. The dishes she’d laid out on the table for their meal, grew cold. There might be pickles, meat cooked in fish sauce and vegetable broth. Some nights Tuan would sit down to the food out of kindness to his mother. He wasn’t really hungry but he would scoop half a bowl of rice instead of a full bowl. After that he would continue his meal by making up some packet noodle soup. Tuan was absolutely addicted to noodle soup. He never seemed to grow tired of it. At other times, Tuan would carry a big bowl of noodle soup into the living room and eat it while he watched TV. So a pot of nicely cooked white rice would often be left sitting on the table. Thin never threw anything out. After she cleared the table she would put the leftover food in the refrigerator to re-heat for her lunch the next day. Many a time Thin added a little bit of water and made herself a bowl of rice soup from the leftovers of the night before. As time passed, her lunch of rice soup became an established habit. For the whole of her life Thin had a horror of throwing anything away. Even, in Saigon, at a time when she was quite comfortably off she never believed in waste. Her children had often heard her use the expression: “If you waste what is given by God, you won’t have it again for another ten generations’. Thin lived her life as though the eyes of Heaven or Buddha were always looking down. So she worried even if she spilled as much as a grain of rice on the floor.   That’s why any leftover food was always put in the fridge, even if it was only salted fish sauce, salted prawn heads or crumbed fish that had been simmered in fish sauce.

Thuy had once shouted, “Mom, there’s plenty of food in this country, but you spend your life eating food that’s off.’

Thin retorted, “Damn you! It’s good food and it’s not off!’

Thu joined in, “If it’s not off then you keep re-heating it all week. If you don’t throw the food out, I will!’

Thuy was as good as her word. She would wait until her mother was absorbed in the garden and set about cleaning out the fridge. Out would go rice soup, old cooked rice, fried Chinese cabbage, cooked shrimp paste, and something “blackened’ which looked like neither meat nor fat, intermingled with some shrimp barbel. The clean fridge would last about a week then Thin would be back to her old habits again, storing leftover food. Eventually the children didn’t bother any more and let her free to adhere to her own eating and drinking habits, just as her children each had a favourite dish. For Thu it was the vegetable soup, Thuy loved rice vermicelli with barbecued pork and Tuan sat with his bowl of noodle soup as he watched T.V. After each of them had finished eating they would head for their separate rooms and shut the door. The image of the shut door in American homes left Thin with the feeling of horror; she was not only shut out of their rooms but out of their lives. She had no idea what her children did behind their doors. Sometimes she stood out in the corridor under the weak yellow light. In reality she was only a few feet from each of them but in loving closeness she was at a great distance. They would never know, there were many a day when she would be so overcome by emotion that she would lay her head against the wall and sob.

In the past she could have a thorough knowledge of her children’s daily activities. She would be able to tell whose piece of garment it was, which of Tuan’s trousers had been mended, which of Thuy’s or Thu’s tops had a split seam or needed a button. She could also tell if Thu had scratched her hand, when the wound had healed or when the scab had eventually dropped off. She could even tell what tooth of their comb had broken, which of their sandal straps had come unstuck and whose handkerchief had been stained with purple ink. In those days she’d known her children as well as she could read her own palm.

Now she was barely allowed to step through the doors of their rooms. If she wanted any of them she had to stand outside and knock on the doors. Sometimes, when Thin wanted to speak to one of the girls, Thu and Thuy might open their wooden doors a fraction, just enough to put their heads out and exchange a few words with Thin and then the door would be snapped shut again. Thin had come to realise that in every way the children had flown out of her reach. Each of them now had his or her own world both in its strict and figurative sense of the word.

Once Tuan had been ill and lay in bed for three days. Thin had then found herself rejuvenated. She bustled about the kitchen making hot rice soup, chopping onions, squeezing orange juice, soaking hot face towels and preparing condensed milk and gathering Tuan’s dirty laundry and washing and hanging it to dry. During this time she was able to come and go from Tuan’s room as she pleased without knocking. She gave herself up to the luxury of sitting at the end of his bed for hours. Sometimes she would put her hand to his forehead or stroke his feet or simply pull the covers around him. At other times she would straighten the bed clothes or listen attentively to his laboured breathing. She was so busy and full of love but it only lasted three days.   In the evening of Tuan’s first day back at work, Thin hesitantly approached Tuan’s tightly closed door. She knocked softly.

Tuan called out, “Who’s there?’

“It’s Mom.’

“What do you want Mom?’

“I just wanted to know if you’re feeling alright today.’

“Fit as a fiddle. No worries! Mom,’ replied Tuan loudly.

Thin stood thoughtfully by his door for a moment and turned and walked away. Intermingled with the joy she felt at Tuan’s recovery, was an indescribable feeling of anxiousness that she had lost something precious. She again went to sit on the sofa, curling up like an old sick cat. She looked through the glass window into the deep hollow of the dark sky thinly dotted with stars. As if from afar the sound of music reached her vaguely, echoing from behind the doors of her children’s rooms. She immediately regretted her very foolish thought, “Thu, Thuy, I have never ever seen them sick!’.

                                                                                                 

                                                                                                               Nhat Tien

               California, 1983

                                                                                                                      Translated by

                                                                            Frank Nhat Trinh

                                                                                                                                Sydney 1994

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: