Nồi Cháo Thịt – Nhật Tiến


bia-tieng-ken-21

TRUYỆN SONG NGỮ :

Nồi Cháo Thịt

truyện ngắn của NHẬT TIẾN

Lão Quới đứng chết lịm ngay trên nền đất ẩm. Cơn giận kéo đến quá nhanh đến độ lão thấy cổ họng của mình như bị chận ngang tưởng muốn ngộp thở. Đôi mắt của lão nóng lên dần dần. Lão cảm thấy mạch máu ở hai bên thái dương chảy rậm rật. Trước mắt lão là lớp giậu thưa bị xé toang một mảng. Bên dưới chỗ bị xé toang một mảng là những lốt chân trên nền đất dẫn tới một luống khoai. Luống khoai bị xới tung ngổn ngang như vừa trải qua một cơn tàn phá. Những lá khoai xanh mướt bị vùi giập dưới từng nhát cuốc sâu. Đất ẩm bị bươi nát thành từng cục đè nát gí những cọng rau tươi mơn mởn.

Cả một khu vườn xinh đẹp với những luống khoai thẳng tắp bây giờ bị vẹt đi một mảng trông xấu xí hẳn đi. Lão tiếc cái công trình vun bón, chăm sóc trong bao nhiêu ngày tháng của mình. Lão càng tiếc hơn nữa khi nghĩ tới những củ khoai đỏ au và mập ú đã không cánh mà bay mất sau một đêm sơ hở không canh chừng. Miệng lão bắt đầu làu bàu những tiếng chửi thề mà chỉ mình lão nghe rõ. Rồi lão nhìn ra chung quanh.

Khu nhà tranh lụp xụp của hàng xóm vẫn nằm êm ả trong lớp sương mờ buổi sáng. Vài đợt khói xanh lơ bắt đầu bốc lên từ những căn bếp nhỏ. Một vài tiếng chim hót lảnh lót trong lùm cây gần đó. Có cả tiếng vó ngựa gõ lốc cốc từ xa của mấy cái xe thổ mộ đang trên đường lên chợ.

Khung cảnh vẫn hiền hòa quen thuộc như mọi ngàỵ Bốn bề chung quanh toàn là bà con, thân hữu, chẳng mặt nào có thể nỡ lòng đang đêm lén vào xới từng vuông khoai của lão lên cả. Như vậy chỉ còn khu xóm hỗn độn ở bên kia đường lộ.

Đúng hơn là một bãi rác hoang, ở đó là cả một đám đông nghèo nàn, hỗn tạp, sống chui rúc với nhau như những ổ chuột. Hình ảnh thiếu thốn cực nhọc của họ làm cơn giận của lão dịu xuống. Lão nghĩ tới những đứa trẻ xanh xao suốt ngày lảng vảng như những bóng ma gầy ở mấy cái quán nhỏ để tranh nhau liếm láp những cái lá bánh đầy ruồi bâu hoặc húp cho đến những cặn cuối cùng của một bát ăn thừa.

Đó là sản phẩm mới mọc ra ở khu vực này sau một cơn đổi đời ghê gớm. Đa số những con người vất vưởng này bị lùa ra từ những khu trại gia binh ở gần mé chợ. Những người đi trình diện học tập không hy vọng có ngày trở về. Những người mẹ mỏi mòn trong chờ đợi với một bầy con thơ ốm đau, bệnh tật và no đói thất thường.

Họ xuất hiện ở đây từ ngày nào chẳng ai rõ, những khu đất trống cứ thấy mọc dần lên những túp lều lụp xụp cất bằng đủ loại thứ vật liệu, những mảnh giấy thùng, mảnh tôn, mảnh ván, những tấm nylon chắp vá đủ loại mầu. Và ở đó, những con người chui ra, chui vô, nét đói khổ in hằn lên từng khuôn mặt xanh xao vàng vọt.

Cơn giận tan trong lòng lão Quới cũng nhanh như lúc nó ùa đến. Trong cơn xuống dốc của toàn thể mọi người, lão cũng mới chỉ từ nồi cơm trắng xuống đến rổ khoai luộc. Rổ khoai cho hai vợ chồng già, đèo đẹt vài củ, nhưng bữa nào lão cũng được ăn no. Thời buổi này dầu là ăn gì, nhưng cứ được no đã là quý. Trọn gần một đời người, lão chưa biết đến mùi đói khổ, tuy nhiên lão đã thấy dấu vết hãi hùng của nó in trên những khuôn mặt trẻ thơ quanh xóm, với lớp da ngả màu xanh mét, những hàm răng nhô ra và những hố mắt sâu như lỗ đáo.

Một cơn xúc động chạy qua ý nghĩ của lão, bất giác làm lão buông một tiếng thở dài. Lão trở lại với bộ điệu bình thản mọi ngày. Lão ngồi sụp xuống, chậm rãi quơ từng sợi dây khoai đem xếp gọn ở một góc vườn rồi dùng cây cuốc nhỏ vun lại đám đất vương vãi ở chung quanh. Làm xong ngần ấy công việc thì vợ lão cũng đã giặt giũ xong mớ quần áo ở ngoài giếng nước. Bà lão đem chậu đồ ra phơi ở những sợi dây mắc bên hàng rào. Tiếng động của bà làm lão Quới quay lại. Lão thấy đôi mắt của bà nheo lại dưới những tia nắng đầu tiên trong ngày. Lão nói:

– Đêm qua có đứa vào nhổ trộm khoai.

Bà lão hơi điếc nên ngẩng lên nhìn. Lão nhắc lại câu nói thêm một lần nữa. Bây giờ thì bà ta kêu lên:

– Ối chà! Quân bất nhân nào thế?

Giọng lão Quới vẫn tiếp tục nhỏ nhẹ:

– Chả biết ai, nhưng đói quá đấy thôi !

Bà lão trợn mắt:

– Đói thì đói chớ!

Lão nhún vai:

– Thì biết vậy. Nhưng.. thôi đi! Mình chưa đói mà!

Bà lão nhìn chồng một giây lâu. Bà hơi bực dọc về thái độ bình thản của lão. Rồi bà ngúng nguẩy xách cái chậu đi lên nhà, miệng lầu bầu cái gì nghe không rõ.

Tới bữa ăn buổi trưa, bà lão trở lại với nỗi hậm hực của mình:

– Trẻ không tha, già không thương. Hồi xưa đâu có thế.

Lão Quới làm ngơ ngó ra ngoài. Lão nhẩm tính phải một hai tuần nữa vườn khoai mới tới kỳ đem rỡ được. Mối bận tâm của lão là phải làm sao đối phó với mấy tên cán bộ bên Ủy Ban đã lấp lửng đặt vấn đề đòi thu mua. Nhưng bà lão vẫn lôi chồng trở về đề tài câu chuyện của mình:

– Mất mà không la, rồi chúng nó sẽ còn bươi hết cả vườn cho coi.

Lão Quới bực mình trước cơn dai dẳng của vợ. Lão quay đầu lại nhìn bà ta rồi đáp:

– Mất rồi, la ích gì? Mình bị một lần thôi. Lần sau đứa nào rớ vào, bắt được quả tang rồi sẽ biết!

Bà lão nhếch miệng cười mỉa mai:

– Bộ nó rớ vào nó báo cho mà biết chắc?

– Mình dòm chừng chớ! Nếu quen mùi, nó sẽ tới. Tới lần này tui không tha đâu!

Bà lão ngúng nguẩy đứng dậy. Những điều lão nói không làm giảm được sự hậm hực cứ lởn vởn trong đầu óc của bà từ sáng. Nghĩ đến những củ khoai đỏ au, bà tiếc đứt ruột. Bà ra đứng ở đầu hè, bên kia là khu xóm nhỏ. Nắng đã quá đỉnh đầu chiếu lên những tấm mái tôn thành từng mảng trắng xóa. Cũng như lão Quới, bà cũng không thể nghi ngờ được ai ở quanh khu vực toàn người quen biết này. Chợt một ý nghĩ thoáng qua đầu, bà vội quay vào nói to với chồng:

– Tôi đi trình đây!

Lão Quới đang lúi húi làm cái gì đó, chợt ngửng phắt lên, giọng xẵng lại:

– Cái gì? Bà nói cái gì?

Mặt bà lão hơi có vẻ ngỡ ngàng trước cơn giận dữ đến với chồng một cách dễ dàng. Bà ta đổi giọng lí nhí:

– Tôi đi trình…

– Trình cái gì? Trình ai?

– Thì công an nhà nước đó!

Bây giờ thì lão Quới để nổ bùng sự giận dữ của mình. Mắt lão quắc lên. Lão nói như quát:

– Bà tiếc của rồi đâm khùng rồi đó chắc. Không trình báo gì hết trơn đó. Tôi đã bảo không bao giờ thèm dính dáng tới tụi nó mà.

– Mà điều, nó phải lo an ninh trật tự trong chòm xóm chớ.

– Nó lo gì mặc xác nó, không dính tới mình. Mà lo cái gì? Bà thấy nó lo cho mình cái gì?

Bị dồn một hồi, bà lão sợ hãi len lén bước ra ngoài sân đất. Cơn tiếc xót về mớ khoai bị đào đêm hôm trước cũng hoàn toàn biến mất khỏi tâm trí của bà. Bà có cảm giác như nếu mình còn đôi co thêm vài ba câu nữa, lão Quới sẽ làm um sùm nhà cửa lên. Lúc này hai làn môi của lão đã mím lại. Cặp mắt của lão long lên. Lão phải nắm chặt lấy bên mép giường để giữ cho bàn tay bớt run rẩy. Lão không thể ngờ được rằng vợ lão lại có thể nghĩ tới sự đi tố cáo với công an, dù chỉ là tố cáo một kẻ vô danh đã đào trộm khoai trong vườn của lão. Mấy năm nay, lão vẫn thường nhắc nhở với lũ con cháu xa gần:

– Tụi bay làm chi thì làm, nhưng đừng có đứa nào đi tính cái việc bất nhân tố cáo mọi người. Đứa nào không nghe, đi tố cáo ai thì đừng có nhìn tới tao nữa.

Ở khu xóm này, nhờ thái độ quyết liệt đó của lão mà thấy đỡ cái vụ nhà này báo cáo nhà kia, chòm xóm nương nhau cứ thầm lặng mà sống cho qua ngày. Cơn giận bà lão, làm lão Quới ngủ trưa không được. Lão nằm xoay trở một lát rồi nhỏm dậy lầm lũi đi ra bờ rào. Dưới ánh nắng chói chang của buổi trưa mùa hạ, lão cắm cúi ngồi ráp vá chỗ hàng rào đêm trước bị xé thủng.

Ráp vá cho có lệ mà thôi, chứ cung cách này rồi ai cũng sẽ đói hết. Đói ăn vụng, túng làm càn, một hàng rào chớ bao nhiêu hàng rào rồi cũng sẽ bị xé tuốt, có trời mới can nổi những con người lang thang vất vưởng như bóng ma ngoài chợ sẽ còn xông vào xâm phạm đến vườn khoai của lão.

Lão bắt đầu suy tính đến công việc phải thức đêm canh chừng. Chiều tôi hôm đó lão leo lên giường đi ngủ sớm. Tới nửa khuya thì lão bò dậy, ra ngồi thù lù như một cây củi mục ở đầu hè. Lão thấy rõ cái kỳ cục trong hành động rình mò của mình. Mấy luống khoai có là cái gì để lão phải khốn khổ như thế. Nhưng ở thời buổi này, không gìn giữ để phải đói cũng chết. Lão mở to mắt ra nhìn vào khoảng tối đen mịt mù trước mặt. Hai tai của lão vểnh lên. Lão có thể phân biệt từ tiếng dế kêu đến tiếng sóc chạy nhẩy trên những tàu dừa. Nhưng cả đêm hôm đó lão đã toi công vì chẳng có ma nào bén mảng đến vườn khoai của lão cả. Rồi đêm sau, đêm sau nữa. Lão cười hề hề nói với vợ:

– Tôi đã biểu mà. Đói quá làm bậy một lần rồi thôi, đâu có phải dân chuyên nghiệp.

Bà lão thấy chồng ba đêm liền mất ngủ nên cũng ậm ừ:

– Chắc vậy rồi. Chẳng nên rình nữa làm chi cho nó mệt xác. Trời bao giờ cũng có mắt mà.

Tối hôm đó lão Quới được ngủ thẳng một giấc ngon lành. Một ngày nữa êm ả qua đi, nhưng vừa đúng lúc nửa đêm hôm sau, lão đang ngáy phì phò thì thấy có ai lay nhẹ chân mình. Lão giật mình choàng dậy. Trong ánh đèn tù mù để ở xế đầu giường lão thấy vợ ghé vào tai thì thào:
– Nó tới rồi đó !

Lão tỉnh ngay ngủ và choàng dậy. Bà lão vẫn nói tiếp:

– Tôi nghe có tiếng chó cắn ở tuốt mé bên kia đường.Tôi tỉnh dậy nằm cố ý dòm chừng. Rồi tôi nghe thấy có tiếng bẻ rào loạt xoạt, chẳng nó thì ai nữa.

Lão Quới ngồi phắt ngay dậy. Lão quơ xuống gậm giường tìm con dao rựa. Lão nắm chắc lấy con dao trong tay rồi phóng ra phía cửa. Trời tối đen. Mọi vật chìm trong làn sương đục lờ. Lão chăm chăm nhìn về phía vườn khoai để làm quen với bóng tối. Hai tai lão vểnh lên. Lão nghe thấy tiếng gió rì rào, tiếng cành khô xao động và có cả tiếng cuốc đào trên nền đất. Lão lủi thật nhanh về phía giếng nước, con dao rựa lão vẫn nắm chắc ở trong tay.

Bây giờ thì lão nghe thấy cả tiếng loạt xoạt của đám lá bị bứt nhổ ở phía luống khoai. Lão lủi tới đó thật gần. Rồi bất chợt, lão chồm tới để chụp lấy bờ vai của tên trộm, cái bờ vai gầy guộc, mảnh mai tưởng như muốn sụm xuống dưới sức mạnh của bàn tay cứng cỏi của lão.

Lão quát lên như để trấn át kẻ gian phi:

– Hôm nay thì mày sẽ biết!

Lão tì mạnh hơn nữa hơi sức của mình lên bờ vai mà lão vừa tóm được. Lần này thì tên trộm ngã khụy ngay xuống làm cho lão mất đà cũng ngã chúi xuống theo. Lão nghe thấy một tiếng rên nhỏ:

-Trời ơi là trời.

Đó là tiếng của một người đàn bà chắc còn trẻ. Bà ta vừa rên lên, vừa cố vùng vẫy để thoát thoát khỏi cánh tay cứng như sắt nguội đang đè lên vai mình. Lão Quới không còn bụng dạ nào để sử dụng võ lực đối với kẻ gian phi. Lão buông bàn tay của mình ra rồi lùi lại quát khẽ:

– Ai đó?

Có tiếng khóc nức nở vang lên thay cho câu trả lời. Lão vội vã móc túi lấy bao diêm rồi xòe lên. Ánh sáng bùng lên trong chớp mắt rồi teo lại. Nhưng thời gian khoảnh khắc ấy thừa đủ để lão nhìn rõ khuôn mặt của người đàn bà đối diện. Lão chết lặng người đi như chính lão cũng vừa bị bắt quả tang trong một hành vi tội lỗi. Người đàn bà mà lão vừa nhận diện chẳng phải ai xa lạ trong khu vực này. Ngày trước chồng bà ta là sĩ quan làm việc trong một Quân Y viện ở gần đó. Cái Quân Y viện mà, dù không phải quân nhân, lão cũng đã được cấp tốc đưa vào để được cấp cứu một lần. Lão Quới không bao giờ quên được khuôn mặt khả ái của người sĩ quan trẻ tuổi, xông xáo khắp các phòng, vượt qua mọi thủ tục để có thể giúp đỡ lão vượt qua cơn hiểm nghèo.

Sau này khi xuất viện, lão đã dẫn vợ tới khu gia binh để cả hai cùng chắp tay cảm ơn. Người đàn ông mỉm cười xuề xòa và không để cho lão mở miệng nói dài dòng. Ông ta lúc nào cũng bận rộn, kể cả sự bận rộn lâu lâu lại chở vợ con ngồi đầy nhóc trên chiếc xe jeep lùn chạy từ khu gia binh lên phía chợ.

Dưới mắt mọi người, đó là một gia đình tràn ngập hạnh phúc với người vợ trẻ tươi tỉnh như hoa và năm sáu đứa nhỏ kháu khỉnh như một bầy gà con lít nhít.

Nhưng rồi cơn đại họa đã ùa tới. Người chồng lên đường đi “cải tạo”, vợ bị đuổi ra khỏi khu gia binh, kéo một bầy con nheo nhóc ra bãi hoang sống dưới túp lều lụp xụp với những người cùng chung cảnh ngộ.

Từ một bà đại úy trở thành một kẻ xé rào đi ăn trộm, dưới ánh sáng hiu hắt của một que diêm, tuy chỉ bị soi mặt trong khoảnh khắc nhưng cũng đủ xấu hổ cả một đời người. Có lẽ vì thế mà bà ta khóc to hơn. Tiếng khóc làm lão Quới bối rối. Lão không biết phải làm gì trong hoàn cảnh này.

Vừa may lúc đó có ánh đèn tù mù của vợ lão từ trong nhà đi ra. Bà lão xăm xăm đi xuống phía cuối vườn. Làn ánh sáng đỏ đòng đọc tỏa ra hai bên làm héo úa lớp lá khoai xanh mướt ở những chỗ bà đi qua. Lúc tới gần, bà giơ cao cây đèn lên nhìn về phía lão Quới. Ánh đèn bây giờ soi rõ người đàn bà tội nghiệp với bộ quần áo rách bươm, bê bết đất bẩn. Mái tóc của bà xổ tung che gần lấp khuôn mặt còm cõi xanh xao. Gió lùa qua cái thông phong trên ngọn đèn làm chao đi chao lại ngọn lửa leo lét khiến cho thân hình của bà ta trở nên chập chờn như một bóng ma vừa đội mồ sống dậy. Có tiếng bà Quới kêu lên:

– Phải bà đại úy Sáu đó không?

Người đàn bà bật lên khóc và chạy lại phủ phục dưới chân của bà lão. Lão Quới không thể chịu nổi quang cảnh đó đã nghẹn ngào quay đi. Hai mắt của lão cay xè. Lão thấy rõ những giọt nước mắt của mình đang ứa ra ở hai bên bờ mi.

Một lát sau, cả ba người lầm lũi đi lên phía sân đất. Bà Quới xách theo cái sọt nhỏ của thiếu phụ, lẳng lặng đem vào phía nhà sau. Trong lúc đó lão Quới lần ở thắt lưng lấy ra tờ giấy 50 đồng mà lão từng dắt kỹ trong mấy lớp bọc bằng nylon. Lão dúi tờ giấy bạc vào trong tay người đàn bà, lão định nói thêm một câu gì nhưng cổ họng của lão như tắc lại.

Lão nhớ đến hình ảnh tươi cười đầy vẻ xuề xòa của ông đại úy. Lão nhớ đến cả khuôn mặt xinh đẹp của bà ta vẫn thường tươi như hoa giữa bầy trẻ nhỏ nom lít nhít như đàn gà. Nếu chẳng đổi đời thì chẳng bao giờ lão lại có thể làm được cái công việc như ngày hôm nay.

Trong bóng tối, mồm lão xệch đi. Lão thương cho người đứng trước mặt, thương tất cả mọi người, thương ngay cả chính mình. Cơn sụp đổ toàn diện trên quê hương chưa bao giờ hiện lên rõ nét trong lòng lão bằng chính lúc này. Lão bước ra đầu hè để hỉ mũi rồi lui vào phía nhà trong.

Vừa lúc đó, bà lão đã lại cầm cây đèn leo lét đi ra. Ở tay kia, bà xách theo cái sọt nhỏ. Bây giờ ở trong sọt đã thấy lăn lóc hơn chục củ khoai và một túi gạo nhỏ. Hai người đàn bà dìu nhau đi ra phía cổng. Dưới ánh đèn vàng vọt, bóng của họ đổ xuống nom dài ngoẵng như hai cái bóng chập chờn quái dị.

Cách một hôm sau,vào lúc xế trưa, lão Quới đang lúi húi ở giếng nước thì gã Tổ trưởng dân phố dẫn theo một đồng chí công an bận đồng phục áo vàng đi vào. Bà Quới đứng ở gần đó ngẩn mặt ra nhìn. Cả bốn người gặp nhau ở trên thềm đất. Đồng chí công an lên tiếng trước:

– Cách đây một ngày, phải nhà bác có kẻ đào trộm khoai không?

Lão Quới giật mình. Quả nhiên là ghê gớm. Chẳng có cái gì qua mắt được bọn người này. Lão lấy làm tiếc rằng đã không dặn vợ giữ kín câu chuyện xẩy ra trong đêm hôm trước. Thay vì trả lời câu hỏi, lão quay sang vợ cằn nhằn :

-Bà kể lể làm chi vậy?

Nhưng bà lão đã la lên:

-Tôi kể cái gì? Tôi có nói cái gì, ở đâu?

Gã Tổ trưởng hơi nhếch môi định cười nhưng gã đã kìm ngay được trước vẻ mặt lầm lì của người bận đồng phục. Anh ta còn quá trẻ nhưng cố làm ra vẻ ta đây có quyền uy, liếc lão Quới một cách láo xược rồi quay lại nhìn bà lão cũng theo một cung cách như thế. Rồi anh ta vừa khoát tay vừa nói bằng một giọng khô khan :

-Đi theo tôi!

Chẳng đợi cho lão Quới kịp có phản ứng gì, anh ta đã quay lưng xăm xăm đi trước. Gã tổ trưởng lót tót chạy theo sau. Lão Quới đành rảo bước tiến theo họ, trong lòng đầy phân vân.

Cả toán người bước nhanh trên con đường dẫn ra mặt lộ. Bà Quới không dằn được nỗi thắc mắc đành phải nắm lấy tay gã Tổ trưởng và cất tiếng hỏi:

– Có cái gì dính líu tới tụi tui sao, chú Bảy?

Chú Bảy gỡ bàn tay của bà cụ ra không trả lời. Gã chỉ hất hàm ra dấu về phía khu đất hoang ở bên kia mặt đường lộ.

Mọi người bây giờ đã băng qua con đường cái để tiến vào một lối đi hẹp hai bên có những đống rác nằm cạnh những mô, gò lổn nhổn. Một đám trẻ con rách rưới bẩn thỉu chạy túa ra nhìn. Một vài người lớn tuổi đứng ở gần đó lô nhô chỉ trỏ. Có lúc họ đã phải dạt ra để lấy chỗ cho toán bốn người đi vào.

Mọi người dừng lại ở trước một túp lều nhỏ, mái đụp đơn sơ, tường vách xộc xệch. Đứng ở ngoài, lão Quới có thể dòm qua những khoảng trống tuênh toang để thấy một quang cảnh bầy ra trước mắt. Trên một tấm ván mỏng, một người đàn bà đang nằm dài. Bên cạnh đó là một loạt năm đứa nhỏ nằm xếp song song. Tất cả đều mang một vẻ nhăn nhúm dễ sợ. Lão Quới bấu chặt lấy mảnh gỗ ở trên vách ngoài để cố giữ cho mình khỏi khuỵu xuống. Lão không tin ở mắt mình, không thể tin ngay cả chính cái điều đang bầy ra ở trước mắt là một quang cảnh thực. Bàn tay của anh công an khẽ đặt lên vai lão. Anh ta nói:

– Có thư gửi bác đây.

Lão Quới run rẩy đón lấy mảnh giấy vừa được trao cho. Lá thư không dài và được viết bằng một nét chữ mềm mại:

“ Xin hai bác tha thứ cho cháu. Cháu không còn đường nào khác để giúp cho bầy con tội nghiệp của cháu khỏi phải trầm luân trong cái xã hội đầy rẫy cơ cực này. Năm mươi đồng và gói gạo mà bác cho cháu, cháu đã nấu đủ một nồi cháo thịt, nồi cháo mà bầy con của cháu vẫn thường mơ ước hàng ngày. Nhưng kể từ nay, hẳn chúng nó sẽ không bao giờ còn phải ước mơ những điều nhỏ nhoi, tầm thường như thế nữa ”.

Lá thư chưa chấm dứt ở đó. Nhưng mầu mực tím đã trở nên nhạt nhòa bởi vì khuôn mặt của lão Quới đã đầm đìa nước mắt.

NHẬT TIẾN
Viết tại Trại tỵ nạn Songkhla, Thái Lan ngày 22-1-1980

(Trong tập truyện ngắn TIẾNG KÈN- nxb Văn Học 1982)

vietnamse-short-stories-by-james-banerian-2

Bản dịch ra Anh ngữ:
A POT OF GRUEL
by Nhat Tien
Translated from the story NOI CHAO THIT by James Banerian
(Vietnamese short stories- An Introduction by James Banerian 1986)

Old Quoi stood dead in his tracks in the moist ground. The fury rose in him so fast that it seemed to stick in his throat and cut off his breath. Slowly his eyes began to burn. He could feel his temples throb.

Before his eyes, a section of his bean plants had been ripped apart. Below that spot was a smattering of footprints in the dirt. The foot prints led to a bed of yams. The garden was torn up as apparently someone had recently tried to destroy it. The dark green leaves had been roughly thrown about by the hard strokes of a tool. The soil had been dug up in chunks, breaking and crushing the stems of the fresh vegetables. A whole beautiful garden with straight furrows of yams was scraped up in one place, ruining its symmetry.

Old Quoi thought of all the work he had put into that garden, packing the earth and fertilizing the plants, tending them over the months. Even more, he thought of the fat, red yams that, although wingless, had flown away during a careless night when he had not stood watch.

He began to utter curses to himself. Then he looked around him. The hamlet of squatting thatch huts lay peacefully in the early morning mist as always. Puffs of blue smoke could already be seen rising from the tiny kitchens. Birds chirped in the trees nearby. The old gentleman could even hear the clopping of horses’ hooves on the road down where the wagons were heading off to market. It was the same tranquil scene he witnessed every day.

All about him lived his relatives and good friends, not a one of whom would take it into his heart to sneak into his garden by night and dig it up. It could only have been someone from that other part of the village across the road. Or, to say it more correctly, the garbage heap over there, because that was where the destitute lived in utter filth and disorder, packed like rats in a nest.

This picture of poverty and suffering calmed some of Old Quoi’s anger. He thought of the sickly-looking children who stood around the small shops all day like scrawny ghosts fighting for the pieces of rice cake covered with flies that had fallen on the ground, or lapping up what was left in a customer s bowl. This was the new product of the country resulting from an atrocious change. Many of these desperate people had been herded out of the old camps for military families located beside the market* (* During the war, the families of South Vietnamese soldiers had been permitted to live near the soldiers’ camps.) Those who reported for reeducation did not have any hopes of returning. The women withered away waiting with young children diseased and starving. When these people first appeared no one knew. But in time, one could see, springing up on the once vacant field, huts and shelters made of every kind of material- cardboard, tin, planks, pieces of plastic of all colors. And in these sorry places lived a band of people slipping in and out, their hunger and suffering imprinted on their jaundiced faces.

The ire left the old man as quickly as it had come. In the downward slide that he had experienced just like everyone else, Old Quoi, too, found himself going from a pot of white rice to a basket of boiled yams. A load of yams for himself and his wife- and some of them rotten – but at least he could eat his fill every day. These days, no matter what you had to eat, it was wonderful enough that you should not go hungry. As his own life was nearly rounded out, Old Quoi had never suffered terribly, but he could see the frightening traces of this in the faces of the children around the village with their sagging pale flesh, teeth that jutted out and sunken eyes.

A flood of emotion ran through the old man and without thinking he let go a sigh. He continued on with the same composed demeanor he assumed every day. He sat down and slowly gathered in all the broken vines, placing them neatly in one corner of the garden. Then, taking a small ax he replaced the soil that lay scattered around the garden.

Even as he completed that task, his wife was coming up from washing clothes at the well. She hung the clothing out to dry on a line strung by the hedgerow. Hearing her working behind him, Old Quoi turned around. He could see her eyes squinting in the early light of morning.
” Some kid came and swiped our yams last nigh” he told her.

The missus being a little hard of hearing, she looked up at him and Old Quoi repeated his words.

“My father!” she cried. “What kind of person would do that?”

The old gentleman’s voice remained soft.

“Don’t know who, but mighty hungry, that’s for sure.”

Madame Quoi gaped at him.

“If they’ re hungry, then let them be hungry! ”

Old Quoi just shrugged.

“Yup. But . . . oh, forget it. We’ve never been without”

His wife stared at him for a long time, somewhat peeved by his indifferent attitude. Then she picked up her clothes basket and went into the house, muttering under her breath.

At lunchtime, she resumed her annoyance.

“The young are not spared, neither the old, ” she quoted from an old saying. “Wasn’t like that in the old days!”

Old Quoi just pretended to look away. He figured it would be a week or two before the yam garden would be ripe for picking His real concern was how to deal with the People’ s Committee cadres who had already come by talking about the harvest collection. But his wife would not let him move off the subject.

” If we don’ t say something, they’ll come and take the whole garden. You’ll see! ”

The old man was beginning to get upset at his wife’s harping. He turned to her and said, “What’ s done is done. What good’ll it do to say anything? It only happened once. Next time if some kid tries to get in there I’ll catch him and we’ll see !”

” Do you think they’ re going to let everyone know when they plan to try again?” his wife sneered.

“I’ ll be waiting for them! If they make a habit of this, then they’ll come back. But this time they won’t get away!”

Madame Quoi got up in a huff. Her husband’ s words did nothing to mitigate her anger. Worrying about the precious yams they had lost, she felt a pain inside her stomach. She went outside and stood by the path across from the little hamlet. The sun had passed the zenith and shone on the tin roofs in white patches. Like her husband, she could not suspect anyone from their hamlet, all of whom they knew well.

Just then she had a thought and ran back, speaking to her husband in a loud voice.
” I’ ll go report it! ”

Old Quoi looked up startled.
“What ? What’d you say ?” he asked gruffly.

His wife’ s eyes seemed to dim before the swiftness of the old man’s anger.

” I’ ll go report . . . ,” she repeated, her voice smaller this time.

“Report what ? To who?”

“The government security police !”

Now Old Quoi exploded. His eyes flamed.

“You lose something and you go crazy ! You are not reporting anything, do you hear? I already told you I don’ t want anything to do with them !”

“But they’re responsible for taking care security and order in the village !”

” Let them take care of what they want ! That has nothing to do with me! And besides, what do they take care of ? What have you seen them take care of for you?”

Stunned by this attack, Madame Quoi became frightened and slipped outside to the dirt yard. Her regret at having lost the yams in the night disappeared completely from her mind. She had the feeling that if she argued with her husband even just a little bit, he would raise the roof.

Now the old man’ s lips were still. His eyes glared. He had to grip the side of the bed to keep his hands from shaking. Old Quoi could not believe that his wife would think of denouncing someone to the security police, even if it was only an unknown thief who had taken a few yams from their garden. Over the past several years, the old gentleman had told all the children, “You kids do what you want. But don’t anyone ever do something as inhuman as accuse another. Any of you who denounce another person had better not come looking to me any more! ”

His resolute attitude helped check the problem of one family denouncing the next and the hamlet stuck together quietly and lived to get through the day.

Incensed at his wife, Old Quoi was unable to take his noontime nap. He tossed and turned for awhile, then got up and went out by the ledge. In the burning heat of a summer’s midday, the old gentleman sat himself down and repaired the place in the hedge that had been torn open the night before. He did this for its own sake – it wasn’ t going to keep anybody from being hungry. The hungry will scrape and the needy will steal – one hedge or a hundred hedges, nothing will stop a person who is desperate enough. The sorry people who wandered like ghosts at the market would still invade his garden.

He began to ponder the task of staying up at night to stand guard.

That evening he went to bed early. As midnight approached, he crawled out of bed and sat huddled up li ke a rotting log beside the path. He saw well the peculiarity of his actions. What were a few furrows of yam that he should go to so much trouble ? But in these times in you weren’t careful, you could starve to death.

He opened his eyes wide to stare in to the pitch blackness before him. His ears pricked up. He could make out the crickets chirping and the squirrels scurrying up the palm trees. But that night his efforts were wasted because not a spook or a haunt came anywhere near his garden.

The next night, too. And the next.
” I told you! ” the old man laughed to his wife. “Somebody got hungry and took to swiping some yams just that one time. It’s no professional”

Madame Quoi had watched her husband lose sleep over the past several nights.

“It seems so,” the stammered. “There’s no need to say up and watch any more. It’ll only wear you out. Heaven always has eyes!”
That night, Old Quoi had a long peaceful, uninterrupted sleep. It was the same the following day, but at midnight the very next night, the old man was sawing logs when he felt someone giving his leg a quiet shove. He awoke with a start. By the dim light of the lamp at the head of the bed, he could make out his wife bending close by his ear to whisper.

“He’ s back?”

Old Quoi roused himself fully awake.
” I heard a dog barking yonder across the road, ” his wife went on. ” I got up to take a look. Then I heard the hedge breaking. Who else could it be ?”

The old man bolted up in bed. He bent down and groped along the floor for his field knife.

Then, gripping the weapon firmly in his hand, he headed for the door.

The night was black. Everything was obscured by the mist. Old Quoi stared out towards the garden to adjust his eyes to the darkness. His ears became alert. He heard the wind whistle and the dry tree limbs rustle and even the sound of digging in the earth.

The old man made his way to the well, the knife still in his hand. Now he could hear clearly the noise of the yams being pulled up from the ground. He advanced slowly. Then all at once he sprang forward and quickly found the thief ’s shoulder, a shoulder so thin and frail he almost thought it would break under his grip. He cried out as he tried to overpower the thief.

“Today you will find out !” .

He leaned his weight harder on the shoulders he had grabbed. This time, the thief buckled and Old Quoi toppled over the figure. He heard a soft cry.

“Oh, my heaven…l”

The voice was that of a woman, and certainly not an old one. As she cried, she tried to squirm out of the old man’s grasp. Quoi had lost his desire to use force on the culprit. Letting go of her shoulders, he staggered back with a shout.

“Who are you?”

Instead of an answer, he heard only desperate weeping. The old man took some matches from his pocket and lit one in front of him. The flame lasted only a moment, but it was long enough for him to observe the face of the woman. He was aghast, as if he himself had been caught red-handed in some improper action.

The woman he recognized was not a stranger to the hamlet. Her husband had been an officer in the military hospital nearby. Although Old Quoi had not been in the army at the time, he had once been taken to that clinic in an emergency. The old gentleman never forgot the kind face of the young officer breezing through the room, skipping over formalities to help this new patient in his plight. Later, after his release, Old Quoi took his wife to the camp for military families so that both of them could shake his hand. The officer smiled amiably and would not let him say much. He was always busy. You might even see him at times filling a jeep with his wife and children and taking them to market. To the eyes of all, this was a happy family, with a young wife, lovely as a flower, and five pretty children following after like a flock of chicks.

But then came the great disaster. The husband was sent to a re-education camp. His wife was driven from the camp for military families to live with her children in a field under a makeshift tent with others in similar circumstances. From a captain’ s wife she had become a thief tearing through hedges, exposed in the tiny light of a match, which, though showing her face for only an instant, nontheless evealed her life’s shame.

It was perhaps that which made her weep louder. Old Quoi did not now what to do. At that moment they were met by the dull light of the lamp carried by the old man’s wife. She walked straight up to them. The reddish light emitted from both sides of the lamp gave the yam leaves a more dried and shriveled look as she passed.

Approaching them, the old woman lifted the light high to look at her husband. The lamp shone as well on the unfortunate woman in her ragged and filthy clothes. Her dissheveled hair fell in front of her face to partially cover her gaunt form. The lamp’s flame flickered in the breeze, giving the woman more the appearance of a ghost just come back from the grave. Madame Quoi called out.
“It’ s Madame Captain Sau, isn’t it?”

The woman sobbed quietly and threw herself at Madame Quoi’ s feet. The farmer, unable to witness this any further, turned away. His eyes stung with bitterness. He could feel the tears welling in them.

A while later, all three made their way quietly to the yard. Madame Quoi took the woman’s basket and went to the back shed. When she was gone, Old Quoi took from his belt a packet of piaster bills wrapped in nylon. From this he removed 50 piasters. He thrust the money into the woman’s hand and though he tried to say something the words stuck in his throat. He pictured in his mind the pleasant, smiling captain. He recalled, too, the pretty face of the young woman, fresh as a flower amid the flock of little children. If their lives had not changed, never would the old man have been able to do what he did today.

In the dark he grimaced. He felt pity for the woman standing before him and for all people. He pitied even himself. Never before had the total collapse of his homeland made such an impression on him as now. He stepped aside to blow his nose, then went back to the house.
His wife was then emerging from the darkness with the lamp in one hand and the little basket in the other. Now the basket contained about a dozen yams and a small bag of rice. The two women went out to the gate. In the yellow lamplight their shadows stretched long and wavered like ghostly forms.

The next day about noontime, Old Quoi was working at the well when the cell leader (under the Communist system, the population was divided up into small groups called “cell”) came up to him with a comrade from the security police wearing the yellow uniform of his station. Madame Quoi was standing nearby and she looked up as they approached. They met together outside the door. The security officer spoke first.

“One day ago, is it not true that someone came here to steal yams ?”

The old farmer became upset. This was horrible. Nothing got past these people. He wanted to kick himself for not having reminded his wife to keep the events of that night a secret. Instead of answering the cadre, he turned to the old woman and grumbled. .

“Why did you go and tell it ?”

“Tell what ?” she protested. “When did I say anything?”

The cell leader curled his lip in a sneer, but kept from laughing out loud in front of the silent man in uniform. The cadre was young but he tried his best to appear imposing and authoritative. He gave Old Quoi an insolent glance, then turned and addressed the question to the old woman. Finally he motioned with his hand and spoke in a harsh voice.
” Follow me ! ”

Without waiting for a response, he spun around and strode off, the cell leader scrambling after him. Old Quoi had no choice but to follow, his heart troubled.

All four walked out toward the road. Madame Quoi could not contain herself any longer. She took the cell leader by the arm and asked him, “Is there something that has to do with us, uncle?”

The man shook back his arm and did not reply, only pointing with his chin to the field across the road. By then they had come to a narrow path surrounded on both sides by heaps of refuse beside uneven mounds. A gang of ragged children raced over to watch. A number of adults standing nearby also gaped and pointed. Once or twice these people had to step back to let the four pass by.

They stopped before a small sagging hutch with crumbling walls. From where he stood, Old Quoi could look through the open spaces in the walls to see what was inside. Stretched out on a thin plank lay the body of a woman. Beside her in neat rows lay five little children. Each had a most gruesome expression on his face.

Old Quoi held onto the wall railing to keep from falling. He did not believe his eyes or the scene there before him. The security police cadre touched him lightly on the arm.

“There’s a letter for you.”

With trembling hands, Old Quoi accepted the paper from the cadre.

It was a brief letter written in scrawled lines.

Please, Aunt and Uncle. forgive me. There was no other way for me to keep my poor children from spending the rest of their lives in this society full of misery. The 50 piasters you gave me I used to cook a pot of gruel with meat, a pot of meet that my children have longed for these past several years. But from now on, they will no longer have to wish for something as small and simple as that . . . .

There was more, but the ink became smeared by the tears falling from the old man’s eyes.

Translated by James Banerian

___________________________
About Translator: James Banerian studied Vietnamese language at Southern Illinois University at Carbondale from 1975 – 1978. Since then he has translated a number of stories, articles, songs and poems from Vietnamese into English. Banerian began working with Indochinese refugees in 1979. His translation of letters from three boat people was published in 1981 by the Boat People S. O. S. Committee in the book Pirates on the Gulf of Siam. Two years later he edited and translated the story of a land refugee, which was published under the title Report on the Vietnamese Land Refugees by the Boat People Committee. Advocating the view point of the refugees, Banerian wrote a lengthy critique of Public Television’s documentary on the Indochina War first printed in 1984.
This is his first book of short story translations.
(Vietnamese short stories- An Introduction by James Banerian 1986 – page 161)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Copyright (c) Ilu Production

Designed by Người Tình Hư Vô. Copyright © 2012-2017, Ilu Productions. All Rights Reserved. Excerpts and links may be used if full credit is given to www.nguoitinhhuvo.wordpress.com. *******Bài trích từ Blog này xin ghi nguồn từ www.nguoitinhhuvo.wordpress.com.

Chủ Biên: Người Tình Hư Vô

%d bloggers like this: